Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2014

►Biển Đông bên bờ vực của chiến tranh- Điên lên vì các hòn đảo

Posted by hoangtran204 trên 31/05/2014

Bọn bán biển đảo của cha ông ta sẽ cảm thấy nhục nhã sau khi xem phim nầy.

Một phóng viên của đài truyền hình ABC của Úc đã muốn thăm viếng vùng đảo Trường Sa trong 20 năm qua nhưng lần nào cũng bị từ chối, mãi tới tháng 5/2014, ông mới được toại nguyện theo chân một tàu tiếp tế cho các đảo TS do Phi Luật Tân đang chiếm giữ. 

Các nước đều TIN rằng khu vực biển đảo này rất giàu tài nguyên dầu khí, nên họ tranh chấp nhau chiếm và giữ đảo. 

Đảo Trường Sa gồm hàng trăm đảo nhỏ, rặng san hô chìm dưới nước biển, các bãi các, các vùng đá ngầm,…và 6 quốc gia đang tranh giành quần đảo Trường Sa. Chuyến đi tiếp tế lương thực và nước uống cho 2 hòn đảo thuộc Phi Luật Tân. 

-Đảo Pagasa (đảo Thị Tứ): Đảo nầy Philippines đã chiếm của  VNCH trong những năm 1970s. 

-Đảo Ayungin Shoal. 

Một toán lính Thủy Quân Lục Chiến Phi Luật Tân đã ở trên một con tàu hư hại và rách nát đã đậu tại đây từ 1999. Họ ở trên con tàu ma nầy để bảo vệ chủ quyền một hải đảo ngập nước. Chung quanh họ, là hai tàu Trung Quốc vây  hãm suốt ngày đêm và có ý định chiếm đảo ngầm nầy bất cứ lúc nào. Các tàu TQ cô lập lính Phi và ngăn chận các con tàu tiếp tế chở đến cho họ nguồn thức ăn, nước uống, và các thứ nhu yếu của đời sống. Mỗi tháng 1 lần, có máy bay tiếp tế hàng hóa và thức ăn cho họ bằng cách thả dù. Gần đó, là nơi TQ đang khai thác và phá hủy các vùng san hô nằm dưới mặt biển...

Biển Đông bên bờ vực của chiến tranh-

Điên lên vì các hòn đảo

Phóng sự truyền hình của đài ABC ÚC, tháng 5-2014 

 

———-

 

Điều gì xảy ra nếu Trung Quốc chiếm đảo Thị Tứ,

Trường Sa?

Nhật Huy – theo Trí Thức Trẻ | 17/01/2014 

(Soha.vn) – Theo “kịch bản” mà báo Trung Quốc vạch ra, Philippines sẽ gần như không có thời gian để chuẩn bị và đảo Thị Tứ có thể bị chiếm chỉ trong vòng vài giờ.

Việc giới truyền thông Trung Quốc tiết lộ kế hoạch đánh chiếm đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trong năm nay đã khiến dư luận trong khu vực quan tâm, lo ngại. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu nhận định của GS Carl Thayer, giáo sư danh dự Đại học New South Wales (Australia) về vấn đề này. Bài viết đăng trên tạp chí The Diplomat (Nhật Bản).

Trong bối cảnh căng thẳng dâng cao do quy định khai thác hải sản mới mà Trung Quốc áp đặt lên 60% phần diện tích Biển Đông, một tờ báo mạng Hoa ngữ có tên là Qianzhan đã cho đăng bài viết của một tác giả ẩn danh, trong đó lập luận rằng việc đánh chiếm đảo Thị Tứ (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, hiện đang bị Philippines chiếm đóng trái phép -ND) trong năm nay như là một bước trong kế hoạch dài hạn mở rộng hải quân, tăng cường bành trướng ở Biển Đông.

Bài viết này có lẽ đã không được quốc tế biết đến nếu không có một bài dịch tóm tắt bằng Tiếng Anh xuất hiện trên tờ China Daily Mail ngày 13/01 vừa qua, với tiêu đề: “Trung Quốc và Philippines: Lý do tại sao một trận chiến ở đảo Thị Tứ là không thể tránh khỏi.”

Việc những sĩ quan quân đội về hưu hay những người mang tư tưởng dân tộc cực đoan viết các bài báo về Biển Đông và đe doạ trừng phạt Việt Nam, Philippines vì lý do mà họ đưa ra là “chiếm lãnh hải của Trung Quốc” diễn ra khá thường xuyên. Theo bài viết của Qianzhan thì hải quân Trung Quốc đã lập kế hoạch chi tiết để chiếm Thị Tứ trong năm nay vì tầm quan trọng chiến lược của nó.

Đảo Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì trong quần đảo Trường Sa, với diện tích 0,36 kilomet vuông, sau đảo Ba Bình rộng 0,5 kilomet vuông, hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng trái phép. Thị Tứ là một đảo san hô, nằm tách biệt ở rìa góc tây bắc của Trường Sa. Kể từ khi chiếm đóng trái phép hòn đảo này, Philippines coi Thị Tứ là một đơn vị hành chính thuộc tỉnh Kalayaan, với dân số gần 200 người. Trên đảo có 1 số công trình, gồm toà thị chính, hội trường, trung tâm y tế, nhà trẻ, nhà máy lọc nước, đài thông tin và đường băng.

Được gọi là sân bay Rancudo, đường băng này dài 1.400m và phục vụ cả máy bay dân sự và quân sự, trong đó có C-130 của không quân Philippines. Tháng 3/2011, tổng tham mưu trưởng quân đội Philippines, Eduardo Oban, thông báo một kế hoạch nâng cấp sân bay này và doanh trại quân đồn trú. Hiện có khoảng 50 lính Philippines đóng tại đây.

Việc chiếm đảo và xây dựng căn cứ hải quân, không quân ở đây sẽ giúp Trung Quốc kiểm soát một phần lớn diện tích Biển Đông. Theo lời tác giả bài báo thì ‘tàu sân bay lớn nhất thế giới hiện nay, USS Gerald Ford, tốn 13 tỷ USD, nhưng chỉ có diện tích 0,026 kilomet vuông. Một căn cứ không quân ở Thị Tứ sẽ có diện tích lớn hơn nhiều, nhưng cũng rẻ hơn nhiều, không thể bị đánh chìm, và có tuổi thọ rất cao”.

Kịch bản của Qianzhan và hậu quả của nó

Trung Quốc có thể tạo ra sự bất ngờ mang tính chiến lược và đánh chiếm đảo Thị Tứ. Nước này có thể nguỵ trang cuộc hành quân như là một đợt diễn tập tại Biển Đông. Như tháng 3, tháng 4 năm ngoái, Trung Quốc cũng đã cử một hải đội nhỏ ra Biển Đông thao diễn.

Khi hải đội này, bao gồm tàu hỗ trợ đổ bộ Tỉnh Cương Sơn, 2 tàu hộ tống, 1 tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường, tới vùng biển quanh Đá Vành Khăn (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép – ND), truyền hình nhà nước Trung Quốc CCTV đã chiếu cảnh lực lượng thuỷ quân lục chiến của quân đội Trung Quốc trên các tàu đệm khí đổ bộ lên đảo dưới sự yểm trợ của trực thăng được trang bị vũ trang.

Một hải đội của Trung Quốc tương tự như thế này có thể xuất phát với “vỏ bọc” là một cuộc tập trận chiến đấu bình thường, sau đó đột ngột chuyển hướng và tấn công đảo Thị TứPhilippines sẽ gần như không có thời gian để chuẩn bị và đảo có thể bị chiếm chỉ trong vòng vài giờ.

Kịch bản này giả định rằng tình báo Mỹ cũng như các phương tiện kĩ thuật quốc gia có liên quan không phát hiện được sự chuẩn bị của Trung Quốc và không kịp hành động để ngăn chặn. Việc Trung Quốc trái phép chiếm đảo Thị Tứ, nếu diễn ra thì nhiều khả năng là sau khi có sự leo thang căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines hoặc tình hình an ninh trong khu vực xấu đi – đây có thể là một dấu hiệu cho thấy sự thay đổi về chính sách của Trung Quốc. Điều này thường sẽ dẫn đến việc tình báo Mỹ để mắt nhiều hơn tới các hoạt động của không quân và hải quân Trung Quốc.

Việc Trung Quốc chiếm đảo Thị Tứ là một hành động gây chiến. Trong tình thế hiện nay, phía Philippines không thể thực hiện một cuộc phản công. Các tàu khu trục và tàu hộ tống Trung Quốc có thể lập lưới phòng không ngăn chặn máy bay Philippines bay ra từ đảo Palawan, cách đó 480km. Hải quân Phillipines sẽ bị hoàn toàn bị áp đảo. Philippines khi đó sẽ ngay lập tức tham vấn với phía Mỹ, theo như các điều khoản trong Hiệp ước phòng thủ chung, để có hành động thích hợp.

Hậu quả chính trị của cuộc tấn công đánh chiếm đảo Thị Tứ sẽ là một bước lùi lớn đối với hoạt động ngoại giao của Trung Quốc. ASEAN nhiều khả năng sẽ giữ vững lập trường chính trị kiên định của mình và yêu cầu Trung Quốc ngay lập tức rút khỏi đảo. ASEAN cũng có thể nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Hành động xâm lược của Trung Quốc thậm chí có thể được đưa ra thảo luận tại Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên Trung Quốc sẽ phủ quyết bất kì cuộc thảo luận nào tại Hội đồng Bảo an.

Việc Trung Quốc đánh chiếm đảo Thị Tứ sẽ khiến các quốc gia đang có tranh chấp lãnh thổ tăng cường các biện pháp phòng thủ tại những đảo mà mình đang quản lý, bao gồm việc tăng cường các chuyến bay tuần tra, diễn tập hải quân, triển khai tàu ngầm. Một số đảo lớn thậm chí có thể được trang bị tên lửa hành trình diệt hạm.

Tuy nhiên, kịch bản được nêu ra trong bài viết trên tờ Qianzhan, cũng giống nhiều bài viết khác của những sĩ quan quân đội Trung Quốc về hưu hay những người mang tư tưởng dân tộc cực đoan, chỉ đề cập đến chiến thắng chớp nhoáng cho Trung Quốc mà không suy xét đến những hậu quả đối với vị thế trên trường quốc tế, thiệt hại về kinh tế của nước này cũng như nguy cơ xung đột quân sự leo thang trong khu vực.

Phát ngôn viên chính thức của Philippines từ chối bình luận về bài viết với lí do nó không phải là thông tin chính thức và không kiểm chứng được. Truyền thông Trung Quốc cũng đã bác bỏ tính xác thực của bài báo.

Advertisements

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

►Tại Cửa Khẩu Lào Cai: TRANH DÀNH ĐƯA HẢI SẢN, TRÁI CÂY SANG TRUNG QUỐC BÁN

Posted by hoangtran204 trên 30/05/2014

Ơn đảng, ơn chính phủ…Nhờ sự chỉ đạo sáng suốt của đảng ta nên sau 40 năm cả nước ta đang TIẾN LÊN XHCN tươi đẹp. Đất nước ổn định, người dân khắp nước hát khúc hoan ca, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc, hàng hóa sản suất năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước, xuất khẩu hàng hóa giồi dào…giống như phim dưới đây thực hiện vào ngày 30-5-2014.

Dân chúng xuất khẩu hàng hóa tại cửa khẩu Lào Cai.

Họ sử dụng đủ thứ phương tiện của thời 1950. Họ đi bộ bưng bê hàng hóa, nhiều người sử dụng xe đẩy, xe kéo, xe đạp, xe lôi,…

Họ đi mua hàng, và bán hàng nhưng với nét mặt âu lo và vội vội vàng vàng cứ như chạy giặc.

“người dân TQ và VN khổ giống nhau, ôi dưới chế độ CS họ bần cùng lầm than mưu sinh như thế đó.”

Chợt nhớ ông TBT Nguyễn Phú Trọng nói câu nầy: “Không biết đén cuối thế kỷ nầy, Việt Nam đã hoàn thiện chủ nghĩa xã hội chưa.” nay xem phim mới thấy có lý. 

Published on May 30, 2014

VIDEO#1 ĐƯA HẢI SẢN, TRÁI CÂY SANG TRUNG QUỐC

 

VIDEO# 2: TRANH DÀNH ĐƯA HẢI SẢN, TRÁI CÂY SANG TRUNG QUỐC BÁN

Và cũng chính người VN mua và vận chuyển trái cây và hàng hóa độc hại về Việt Nam. Công An và Hải Quan cửa khẩu không quan tâm và không kiểm tra hàng hóa vì…

Khi cổng mở là con buôn giành nhau chạy tới trước để khỏi bị sắp hàng dài, hơn nữa tới trước thì được con thương lái TQ mua trước, khỏi sợ ế hàng…khi đi trên cầu Lào Cai đường bộ thì phải xuống đẩy xe máy sang chứ không được ngồi phía trên lái sang…

Nông dân thất mùa thì chắc chắn lỗ và mang nợ. Nhưng nếu trúng mùa cũng khổ vì bị ép giá…cả nước không ai có kế hoạch mua lại trái cây của nông dân và xất khẩu…

Thanh long còn có 2000đ/kg, như vậy thì nông dân làm sao mà sống nổi chứ…
Các thứ trái cây khác chỉ còn vài ngàn/ 1 kg.

FB Thùy Trang Nguyễn

 

——–

Trên đây là nói về biên giới phía Bắc. Tiếp theo, về phần biển đảo thì cũng không mấy khả quan. Đảng và quân đội núp sau lưng ngư dân.

Bình thường thì biểu ngữ đỏ lòm dán đầy đường và ba hoe chích chòe như này:

…người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

…quang vinh muôn năm

…là các đỉnh cao trí tuệ của loài người

…bách chiến bách thắng

Nhưng tới khi đụng chuyện thì mới biết đá, biết vàng…và đây mới là thực tế

AI…xúi giục  và AI chui rúc sau lưng nhân dân ở ngoài Biển Đông

Phóng viên hỏi ngư dân: Anh bị nó bắt mấy lần rồi?

Ngư dân: 3 lần

PV: Lần nầy  đi anh không sợ à?

Ngư dânKhông, thằng Thưởng (Võ Văn Thưởng– Bí thư tỉnh Quảng Ngãi ) nó bảo ngoài đó là biển của Việt Nam mình, ra đó có Hải Quân bảo vệ” 

Khi ngư dân VN tin lời, ra tới nơi…thì đây.

Ô Hô! Hải quân VN bảo vệ ngư dân bằng cách: cung cấp xăng... Nhờ đó ngư dân vừa đánh cá, vừa chạy lòng vòng và đàng sau thì tàu Trung Quốc rươtj đuổi>>>>

Nhà báo phỏng vấn ngư dân:

Photo: Đọc cái này cười ra nước mắt . Bác ngư dân này có phương pháp đối phó với tàu lớn của Trung quốc khá thông minh nhưng cũng ngàn cân treo sợi tóc . Qua đó cũng thấy được sự tầm bậy và vô trách nhiệm của chính quyền ....

 

 Mời các bạn đọc tiếp

 

Cập Nhật 31-5-2014: Chúng ta đừng quên anhbasam và cộng tác viên Minh Thúy đã bị bắt 25 ngày rồi.
 
Công an Hà Nội đã đàn áp quyền tự do ngôn luận và  vi phạm nhân quyền khi bắt giữ anh Nguyễn Hữu Vinh và chị Nguyễn Thị Minh Thúy 5-5-2014.  Hai trang chepsuviet.com  và  diendanxahoidansu.wordpress.com  cũng đã bị hack vào ngày 5-5-2014 nên đã không còn truy cập được. 
 
Các trang khác vẫn hoạt động như thường lệ. Comment đã mở lại tại trang  anhbasam.wordpress.com  mời các bạn đọc ghé thăm.
 
Nguyen Huu Vinh
 

 Nguyễn Hữu Vinh 

Posted in Đời Sống | 3 Comments »

►Quan Hệ Nga Trung có Thực sự Hữu Hảo?

Posted by hoangtran204 trên 30/05/2014

Các bạn nhớ đọc 2 bài sau đây của tiến sĩ chính trị học Aaron I. Friedberg, Tạp chí Đối Ngoại, Số tháng 1 và 2 năm 2009, khi TT Obama vừa mới đắc cử, và chuẩn bị tuyên thệ nhậm chức ngày 20-1-2009, nhiệm kỳ 2008-2012. (chú ý, tờ báo này thường phát hành trước 1 tháng so với ngày trên tạp chí). Những gì mà TT Obama thực hiện với TQ và Châu Á từ đó cho đến nay là đi đúng theo kế hoạch của Friedberg. 

Châu Á Đứng Dậy « Trần Hoàng Blog (phần I)

Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II)

Bài dưới đây là về quan hệ Nga Trung.

 

Quan Hệ Nga Trung có Thực sự Hữu Hảo?

29-5-2014

procontra.asia

Trần Hoàng

Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong tháng này, người ta thấy Nga và Trung Quốc có vẻ ngày càng thân thiện hơn, gần gũi hơn. Quan hệ song phương giữa hai nước được chính phủ hai nước này đánh giá là “tốt đẹp chưa từng có”. Quả thật, hai quốc gia lớn này đã không ngừng tăng cường cộng tác trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, an ninh, ngoại giao, quân sự, năng lượng v..v. Trong lúc hải quân hai nước đang có một cuộc tập trận chung trên Biển Hoa Đông những ngày này thì Tổng thống Nga Vladimir Putin có chuyến đi thăm chính thức Trung Quốc nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ tư về phối hợp hành động và các biện pháp củng cố lòng tin ở châu Á (CICA). Hai bên đã dành cho nhau những lời lẽ đặc biệt tốt đẹp, ông Putin nhận xét về Trung Quốc là “người bạn tin cậy của Nga” và thêm rằng hai quốc gia đã đạt tới một giai đoạn mới trong quan hệ song phương và quân sự. Còn ông Tập Cận Bình, người đã tới Moskva trong chuyến đi công du nước ngoài đầu tiên của mình từ khi trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào tháng Ba năm ngoái thì hứa hẹn một hợp tác chiến lược với Nga.

Tuy nhiên, có những nhìn nhận cho thấy thực chất “tình bạn tin cậy” giữa hai cường quốc này không được tốt đẹp, hữu hảo như những biểu hiện bề ngoài. Có một số căng thẳng đáng nói trong mối quan hệ giữa họ.

Trong cuốn Theo dõi an ninh toàn cầu – Trung Quốc (Global Security Watch – China) xuất bản vào tháng 7 năm 2013, một cuốn sách trong bộ Theo dõi an ninh toàn cầu của Nhà xuất bản Praeger, tác giả Richard Weitz đã đặt chú trọng vào việc xem xét các chính sách ngoại giao và quốc phòng có tính nguyên tắc của Trung Quốc.

Nhiều thí dụ được nêu ra trong cuốn sách này khiến cho độc giả phải suy nghĩ về bản chất mối quan hệ Nga-Trung: đó là một liên minh chiến thuật hay cộng tác chiến lược?

Nêu ra ở đây một thí dụ khá điển hình: Ai cũng biết là trong nhiều thập kỷ, Nga đã sẵn lòng bán cho Trung Quốc nhiều hệ thống vũ khí trọn bộ, bao gồm các tàu chiến, tên lửa phòng không tối tân… Nhưng Trung Quốc đã không chỉ còn là người mua công nghệ quân sự mà đang dần dần xâm nhập vào thị trường cung cấp vũ khí hiện đại. Ở Trung Cận Đông, Trung Quốc đã có cạnh tranh trực tiếp với Nga, tìm cách bán vũ khí tối tân cho các nước trong khu vực này. Khi Mỹ và Israel tìm cách phong tỏa Nga trước một hợp đồng tên lửa đất đối không S-300 béo bở với Iran, và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký sắc lệnh ngừng bán mặt hàng này cho Iran tháng 9 năm 2010, Trung Quốc đã nhảy vào cuộc, mời bán cho Iran một phiên bản riêng S-300 của nước này nhưng không thành công. Có nhiều những thí dụ tương tự như vậy. 

Ông Weitz nhắc lại cho người đọc rằng về mặt lịch sử, quan hệ Nga-Trung được đặc trưng bởi những cuộc chiến tranh đẫm máu, các cuộc xâm lấn đế chế và lên án, tố cáo lẫn nhau. Nghi ngờ sâu sắc tiếp tục hiện hình trong thời Xô-viết, đặc biệt là trong thời kỳ Nikita Khrushchev nắm quyền lực ở Nga. Cuộc chia tay Nga-Trung vào năm 1961 được tiếp nối bởi cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước năm 1969. Ngay cả tới những năm 70 và 80 thế kỷ trước, quan hệ giữa hai quốc gia cộng sản cũng không được mấy tốt đẹp.

Tuy nhiên, thời thế thay đổi, cũng tương tự như những bất đối xứng quyền lực. Từ năm 2001, khi Nga và Trung Quốc ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Cộng tác, quan hệ song phương tiến triển và nâng cấp thành cái mà ông Weitz gọi là “tạm ước hài hòa”. Cho tới năm 2008, Trung Quốc và Nga đã cùng vạch định những đoạn cuối cùng trên đường biên giới chung dài nhất thế giới 4300 km của họ.

Điểm tương đồng cơ bản giữa Nga và Trung Quốc là ở chỗ chính sách ngoại giao của họ có chung vấn đề trung tâm: làm thế nào với vai trò bá chủ đơn phương của Mỹ. Vì thế nội dung then chốt trong chính sách đối ngoại của cả hai nước này là mong muốn, tìm cách xây một thế giới đa cực. Chính điều này là yếu tố quyết định, nếu không muốn nói là duy nhất, khiến hai quốc gia này tăng cường cộng tác với nhau trong những năm qua. Nga và Trung Quốc hoàn toàn không có điểm chung xét theo khía cạnh tư tưởng. Người Nga luôn coi mình là dân tộc châu Âu, có định hướng tương lai ở châu Âu, có các câu hỏi, vấn đề sống còn, cốt lõi ở phương Tây. Trung Quốc tự coi mình là cường quốc đang lên không chỉ ở châu Á mà còn trên phạm vi toàn thế giới, dường như họ có nhìn nhận rằng Nga là cường quốc của quá khứ, ngày càng đi xuống, ngày càng mất đi chỗ đứng trên trường quốc tế.

Hệ quả là các mối quan hệ, cộng tác giữa hai cường quốc này có tính chiến thuật hơn là chiến lược, phát triển trong mối tương quan với việc theo đuổi các mối quan tâm, lợi ích ngắn hạn. Chúng có thể nhanh chóng thay đổi hướng diễn biến, các nhân tố làm thay đổi hướng diễn biến chính là các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội tiềm ẩn trong hai quốc gia này, và thêm vào đó nhưng không kém phần quan trọng là các chính sách, chiến lược, suy tính địa chính trị toàn cầu của Mỹ.

Ông Bobo Lo, chuyên gia về quan hệ Nga-Trung, giám đốc phụ trách các chương trình nghiên cứu về Nga và Trung Quốc của Viện Chính sách Trung tâm Cải cách châu Âu (CER) quả thật rất có lý khi gọi bộ đôi Nga, Trung Quốc là “trục của sự tiện lợi” trong một bài phỏng vấn có tựa đề “Nga – Trung: Trục của sự tiện lợi” (Russia-China: Axis of Convenience) đăng trên trang điện tửopenDemocracy ngày 20.5.2008.

Một cách đơn giản, chỉ cần xem xét các thực tế cơ bản – Trung Quốc hiện đang có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, nhưng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng rất cao, có lượng dân số khổng lồ vẫn đang gia tăng, lại có tham vọng đánh bật Mỹ khỏi vị trí bá chủ thế giới; Nga thì có nền kinh tế lớn thứ mười trên thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng đang chững lại một cách đáng lo ngại, dân số chỉ bằng khoảng một phần tám dân số Trung Quốc nhưng lại đang giảm và già đi, tuy vậy lại có quân đội và nền kỹ thuật quân sự trội hơn nhiều so với Trung Quốc, lại cũng không giấu giếm tham vọng khôi phục vị trí cường quốc xứng đáng trên trường quốc tế – thì sẽ thấy trong quan hệ hai nước, khả năng bất hòa là cao hơn so với khả năng hữu hảo.

 


Không có gì đáng ngạc nhiên khi khái niệm “frenemies” (kẻ thù giả bộ bạn bè) càng ngày càng được dùng nhiều hơn để chỉ cặp đôi Nga-Trung Quốc (thí dụ xem bài “Best frenemies” đăng trên The Economist ngày 24.5.2014).

Những điểm căng thẳng nổi bật nhất trong quan hệ Nga – Trung có thể kể đến: Trung Á, Viễn Đông và châu Á-Thái Bình Dương (ngoài Viễn Đông).

1. Trung Á

Trong thời gian gần đây, có thể nhận biết ngày càng rõ là người Nga nói chung, đặc biệt là ông Putin nói riêng, chứa sâu trong tâm tư một hội chứng về sự tan rã của Liên bang Xô-viết. Người Nga coi đó là một sai lầm không dễ tha thứ và không ngừng mong muốn và nuôi hy vọng khôi phục lại một “nước Nga vĩ đại”. Điều này lý giải những nỗ lực không ngừng nghỉ của giới hoạch định đường lối, chiến lược chính trị nước này trong việc tìm cách khôi phục và tăng cường vị thế và ảnh hưởng của Nga ở các quốc gia thuộc Liên bang Xô-viết cũ. Ukraine là một thí dụ gần đây nhất và gây nhiều ngạc nhiên, ấn tượng nhất.

Kể từ khi Liên bang Xô-viết tan rã năm 1991, Nga đã tìm cách thông qua nhiều hiệp ước chính trị, an ninh và kinh tế khác nhau để phục hồi sự kiểm soát của mình với các nước cộng hòa Trung Á. Hiệp ước đầu tiên như thế, đồng thời được biết tới nhiều nhất, là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập gồm 12 nước cộng hòa mới độc lập, được thành lập năm 1991. Tiếp theo là một loạt các hiệp ước thương mại, kinh tế như hiệp ước thành lập Liên minh Thuế quan (1995), Cộng đồng Kinh tế Âu Á (Eurasia) (2000), Liên minh Âu Á (2011). Tháng 10 năm 2002, Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể (SCTO), một liên minh quân sự, đã được Nga cùng 5 nước Trung Á khác ký kết thành lập… Ý tưởng một cộng đồng chung cho khu vực ngày càng phát triển và từ năm 2013, các đợt hội đàm nhằm thành lập và mở rộng Cộng đồng Kinh tế Âu Á và Liên minh Âu Á được tiến hành, cho phép mở rộng cửa cho các quốc gia nằm ngoài biên giới Trung Á.

Các phân tích của hai ông Baktybek Beshimov và Ryskeldi Satke trong bài viết có tựa đề “Cuộc đấu giành Trung Á: Nga vs Trung Quốc” (The struggle for Central Asia: Russia vs China) đăng trên trang Aljazeera ngày 12.3.2014 cho biết:

“Tấn công kinh tế của Điện Kremlin là nhằm mục đích kiềm chế giới lãnh đạo ở Trung Á đang ngày càng trở nên độc lập hơn. Ảnh hưởng của Nga ngày một tăng ở các nước Trung Á nghèo nhất như Kyrgyzstan và Tajikistan, nhưng lại giảm sút ở các nước giàu nhất như Kazakhstan hay Uzbekistan. Dự án địa chính trị của Nga ở Trung Á đang đối mặt với nhiều khó khăn hơn khi những đối thủ từ phía Đông (Trung Quốc) và từ phía Nam (Thổ Nhĩ Kỳ) xuất hiện, thách thức sức mạnh của Nga trong vùng… Có lẽ dự án hội nhập khu vực của ông Putin không ngăn chặn, mà thậm chí còn mở đường cho sự bành trướng kinh tế toàn diện của Trung Quốc. Trong khi Nga cần các nước Trung Á thuộc Liên minh Thuế quan nhằm duy trì sự hiện diện địa chính trị của mình thì Trung Quốc theo đuổi các lợi ích kinh tế. Nga dựa vào sức mạnh quân sự và sức mạnh mềm truyền thống của mình trong vùng, còn Trung Quốc dùng con bài tài chính.”

Vì thế, theo hai tác giả trên, “Bắc Kinh kiềm chế không xung đột lợi ích với Nga (ngược lại với quan điểm diều hâu của nước này ở Đông và Đông Nam Á), các nhà thiết kế chính sách Trung Quốc chắc hẳn muốn lợi dụng những sai lầm và khả năng hạn chế của Kremlin.”

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (STO), tổ chức an ninh chung liên chính phủ do Trung Quốc khởi xướng thành lập năm 1996, đã được Trung Quốc sử dụng triệt để cho các mục đích của họ ở Trung Á. Dưới ô che của tổ chức này, Trung Quốc có thể dễ nói hơn khi tự gọi mình là một thành viên trong khu vực.

Trong lĩnh vực thương mại, Trung Quốc hiện đã bỏ xa Nga, trở thành bạn hàng chủ yếu đối với tất cả các nước Trung Á thuộc Liên bang Xô-viết cũ, chỉ trừ Uzbekistan, nơi Trung Quốc chịu xếp thứ hai. Không những đẩy mạnh thương mại, Trung Quốc còn tăng cường đầu tư trực tiếp vào các láng giềng xa gần của mình ở Trung Á, trở thành một trong những nguồn cung cấp đầu tư nước ngoài chủ yếu của các nước này. Trung Quốc đã và đang thực hiện những dự án kinh tế lớn, điển hình là các dự án khai thác, xây dựng đường ống dẫn dầu và khí đốt, tinh lọc dầu khí, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng… trong khắp khu vực. Chỉ nửa năm sau khi chính thức trở thành chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vào tháng 9 năm 2013, ông Tập Cận Bình đã thực hiện đợt thăm chính thức bốn quốc gia lớn nhất ở Trung Á là Turkmenistan, Kazakhstan, Uzbekistan và Kyrgyzstan. Ông Tập đã đưa ra đề xuất thành lập và xây dựng cái gọi là vành đai kinh tế “Con đường Tơ lụa” với Âu Á nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư của Trung Quốc.

Giới quan sát cho rằng Trung Quốc hiện tại đang nắm thế thượng phong trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng ở Trung Á, đẩy Nga vào thế bí. Đó không chỉ là do tiềm năng kinh tế của họ hơn hẳn Nga mà còn vì cách tiếp cận khôn ngoan của họ – khác với Nga, họ tránh không động chạm tới các công việc chính trị nội bộ và tránh để các quốc gia đối tác có cảm giác bị thiệt thòi về chủ quyền dân tộc – và xu hướng muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Nga trong các quốc gia nằm trong khu vực.

Tuy hiện có nhiều bất lợi, hiển nhiên là Nga sẽ không dễ dàng bỏ cuộc, để Trung Quốc “nẫng” mất Trung Á, để khu vực này rơi sâu vào vòng ảnh hưởng, tạm thời trước mắt là kinh tế của Trung Quốc. Theo như bài viết “Cuộc đấu giành Trung Á: Nga vs Trung Quốc” nói tới ở trên thì Nga đã có những nỗ lực mạnh mẽ phục hồi lại vị thế ở các nước Trung Á yếu nhất như Kyrgzstan, Tajikistan, mở rộng sự có mặt về quân sự tại các quốc gia này (thí dụ như chi 1,5 tỉ USD cho việc tái trang bị vũ khí cho quân đội hai nước). Hiện tại, vị thế của Kremlin ở Kyrgyzstan và Tajikistian được cho là khá vững chắc.

Cũng trong bài phỏng vấn đăng trên openDemocracy đã nhắc tới ở trên, ông Bobo Lo, giám đốc phụ trách các chương trình nghiên cứu về Nga và Trung Quốc thuộc Viện chính sách Trung tâm Cải cách châu Âu CER cho biết: “Người Nga hiểu trò chơi của Trung Quốc, vì thế họ đã trở nên thờ ơ với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải STO. Với Trung Quốc, tổ chức này có vai trò tương tự như Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể SCTO đối với Nga. Tổ chức Hiệp định An ninh tập Thể, do Nga thành lập vào năm 2002 có một đặc tính tối cao theo cách nhìn của Moskva: Trung Quốc không phải là thành viên. Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể giúp Nga tái khẳng định ảnh hưởng ở Trung Á. Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể thực chất là các tổ chức cạnh trạnh với nhau.”

Viễn Đông

Vùng Viễn Đông là một vùng đất rộng lớn nằm ở rìa phía Đông của nước Nga, trải dài từ hồ Baikal ở phía Tây tới tận Thái Bình Dương ở phía Đông. Tên gọi hành chính của vùng này là Vùng Liên bang Viễn Đông, nó tiếp giáp với Vùng Liên bang Siberia không kém phần rộng lớn ở phía Tây. Người Nga đã khai phá vùng đất này từ lâu đời, tới giữa thế kỷ 17 họ tiến sát tới bờ Thái Bình Dương, thành lập thành phố Okhotsk, từ đó, đặc biệt là trong thế kỷ 19, người Nga đã củng cố kiểm soát của họ ở Viễn Đông.

Viễn Đông bao gồm một vùng địa lý đáng lưu ý tới, đó là vùng Priamurye hay theo như cách người Trung Quốc cố tình gọi là Ngoại Mãn Châu. Nga tiếp quản vùng này theo Hiệp ước Aigun (1858) và Hiệp ước Bắc Kinh (1860) từ triều Mãn Thanh. Người Trung Quốc xếp hai hiệp ước này vào nhóm các hiệp ước mà họ gọi là “bất bình đẳng” mà Trung Quốc buộc phải ký kết với các nước phương Tây trong “thế kỷ nhục nhã”. Nên nhớ là Bắc Kinh chưa bao giờ chính thức công nhận hai hiệp ước này.

Mãi đến một vài thập kỷ trước, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố địa lý và tập trung phát triển kinh tế ở các vùng trọng điểm trung tâm, Nga không chú trọng nhiều tới vùng này. Về phía Trung Quốc thì sự quan tâm của họ tới vùng này cũng chỉ bắt đầu trở nên rõ rệt khi nhu cầu mở rộng địa bàn hoạt động kinh tế và nguồn cung cấp tài nguyên khoáng sản trở nên cấp bách hơn.

Trong bài phân tích có tiêu đề “Viễn Đông của Nga đang dần trở thành của người Trung Quốc” (Analysis: Russia’s Far East Turning Chinese) đăng trên trang mạng ABC News ngày 14.7.2013, tác giả Peter Zeihan cảnh báo: “Người Trung Quốc đang xâm nhập nước Nga – không phải với xe tăng, mà với va ly hành lý”. Ông Zeihan cho biết: “Không thể biết được chính xác lượng người Trung Quốc di cư vào vùng Viễn Đông của Nga; Nga không tiến hành kiểm tra dân số trong hơn một thập kỷ gần đây. Nhưng theo các dấu hiệu thì có một dòng người đáng kể đang tràn qua biên giới”. Và tuy có chênh lệch lớn trong số liệu dòng nhập cư từ Trung Quốc từ các nguồn khác nhau, nhưng “Cục Xuất nhập cảnh Liên bang lo ngại một dòng lũ. Cục này đã nhiều lần cảnh báo rằng người Trung Quốc có thể sẽ trở thành dân tộc thiểu số lớn nhất ở Nga trong 20-30 năm tới.” Về phương diện nhân lực cũng như kinh tế và tài chính, người Nga kém thế hơn so với người Trung Quốc trong khả năng khai thác và phát triển vùng Viễn Đông, nếu họ được cho phép làm điều này. Viễn Đông là vùng đất khổng lồ, nhưng có thể nói là hoàn toàn trống trải, chỉ có hơn 7 triệu người Nga sinh sống ở đây. Trong khi đó ở các vùng Đông Bắc Trung Quốc có tới hơn 70 triệu người. Đó lại là một vùng được cho là giàu có về tài nguyên khoáng sản, với các hải cảng giá trị, rất hấp dẫn đối với người Trung Quốc đang không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động và tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu mới phục vụ cho nền kinh tế đang phát triển chóng mặt của họ.

Ông Zeihan lưu ý: “Bất kỳ sự bành trướng nào của người Trung Quốc trong trong khu vực này đều đưa đến câu hỏi: Bắc Kinh có đòi hỏi gì ở đây? Phần lớn vùng biên – một vùng với diện tích tương tự Iran – là nơi sinh sống của người Trung Quốc. Nga tiếp nhận vùng này vào năm 1858 và 1860, sau các Hiệp ước Aigun và Bắc Kinh. Trong số các hiệp ước ‘không công bằng’ mà Trung Quốc dưới triều đại nhà Thanh bị buộc phải ký kết với nước ngoài thì chỉ còn hai hiệp ước này là Trung Quốc chưa xử lý được.”

Theo ông Vasily Kashil, cán bộ nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Công nghệ, Moskva, đồng thời là cán bộ của Viện Nghiên cứu Viễn Đông, Moskva, cho biết trong bài viết có tựa đề “Tổng các mối lo sợ” (The Sum Total of All Fears) đăng trên trang mạng Russia in Global Affairs ngày 15.4.2013 thì người Nga ý thức được rằng những nguy cơ tiềm năng trong vùng Viễn Đông có khả năng phát sinh từ phía Trung Quốc.

Ông Kashil cho biết: “Phân tích số liệu liên quan tới việc cung cấp vũ khí mới cho các lực lượng của Quân lực Nga cho thấy Khu vực Quân sự miền Đông có tốc độ tái trang bị vũ khí thuộc loại cao nhất trong cả liên bang. Điều động quân lực từ phần châu Âu của Nga tới Viễn Đông là một trong những kịch bản then chốt cho các đợt tập trận qui mô lớn của nước này. Phần lớn các tuyên bố báo chí của Cục An ninh Liên bang FSB về hoạt động gián điệp có liên quan tới Trung Quốc. Thêm vào đó, Nga rõ ràng là có hạn chế đầu tư của Trung Quốc trong các khu vực chiến lược của nền kinh tế quốc gia.”

Trong mối liên hệ này, đáng nhắc lại ở đây là vào tháng 7 năm 2013, khi Nga có một cuộc tập trận chung qui mô lớn với Trung Quốc ở vùng bờ biển Thái Bình Dương phía Bắc Trung Quốc thì quân đội nước này cũng có một cuộc tập trận được cho là có qui mô lớn nhất trong kỷ nguyên hậu Xô-viết tại Viễn Đông. Giới quan sát cho rằng đây là một phản ứng của Nga trước nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Quốc, một cử chỉ nhắm vào Trung Quốc lưu ý họ phải “cẩn thận”.

Ông Kashil viết tiếp: “Rõ ràng là mọi biện pháp phòng ngừa của Nga không liên quan tới các mối đe dọa trực tiếp, mà tới các mối đe dọa tiềm năng cho lợi ích, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ có khả năng xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng một đe dọa tiềm năng từ phía Trung Quốc cũng đã là một yếu tố đáng kể trong chính sách ngoại giao và quốc phòng của Nga.”

Ông Kashil cảnh báo người Nga phải tiếp tục tăng cường chú ý tới các “đe dọa tiềm năng” từ phía Trung Quốc:

“Người Nga ung dung ngồi xem cảnh các cửa hàng, công ty của Nhật ở Trung Quốc bị quấy phá trong đợt sóng giận dữ của người Trung Quốc trong vụ xung đột liên quan tới quần đảo Senkaku năm 2012, một đợt vận động chống các siêu thị Carrefour của Pháp do quan điểm của Pháp về Tibet năm 2008, các trừng phạt chống Philippines, các bản tin xuất hiện đây đó về một cuộc chiến sắp tới với Philippines, Việt Nam hay Nhật Bản. Nhưng nếu sự căm ghét của công chúng có thể hướng về một nước nhỏ, vô hại như Philippines, thì bất kể một quốc gia nào cũng có thể trở thành mục tiêu, hoàn toàn phụ thuộc vào chủ ý chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Vấn đề là ở chỗ không ai có thể biết chủ ý chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ hướng về đâu, thậm chí chỉ trong 10 năm tới đây. Cũng như Nga, Trung Quốc là nước có hệ thống chính trị đang chuyển đổi. Tương lai dự tính của nước này được công nhận và ghi trong các tài liệu của Đảng Cộng sản, và một số lớn các tuyên bố về đường lối của giới lãnh đạo Trung Quốc nói tới cải tổ chính trị không thể tránh được.

Những cải tổ như thế làm sao có thể đặt được dưới tầm kiểm soát? Trung Quốc đang trên con đường đô thị hóa và chuyển hóa dân số, tương tự như các nước châu Âu đã trải qua cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tương tự như châu Âu, Trung Quốc đang trải nghiệm sự bất bình đẳng kinh tế, bất công xã hội nghiêm trọng cũng như khoảng cách phân biệt trong giáo dục ngày càng lớn giữa các tầng lớp trung lưu thành thị và các tầng lớp thấp hơn.

Tình hình trên bị làm thêm nghiêm trọng bởi khủng hoảng tư tưởng trong Đảng Cộng sản cầm quyền, họ càng ngày càng sử dụng nhiều nỗ lực tuyên truyền cho các tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và tư tưởng siêu cường quốc.

Đối đầu với Nga hoàn toàn vô nghĩa, nếu xét theo các lợi ích lâu dài của Trung Quốc, nhưng ngay cả trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh cũng chẳng có cớ gì để Trung Quốc đối đầu với Nga. Chính sách đối đầu này xuất phát từ các lợi ích chính trị nội bộ của Mao Trạch Đông và nhóm kề cận ông ta. Nga bắt buộc phải tính đến khả năng này.” (Hết trích dẫn)

Theo ý kiến nhận xét của nhiều chuyên gia phân tích thì cuộc khủng hoảng gần đây ở Crimea đặt Nga vào thế bất lợi mới. Nga rất cần Trung Quốc im lặng, tránh đả động tới hành vi của Nga, nhưng chính sách của Nga trong vụ Crimea – khẳng định chủ quyền lãnh thổ có tính lịch sử – có thể tạo ra một tiền lệ pháp lý cho các quốc gia khác đang có ý định thay đổi biên giới lãnh thổ quốc gia theo hướng có lợi cho họ. Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc đưa ra ý tưởng đòi lại một phần Viễn Đông, vốn nằm trong lãnh thổ của họ trong lịch sử gần đây?

Châu Á-Thái Bình Dương ngoài Viễn Đông

Như đã có nhắc tới ở phần trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, Nga chỉ mới tăng cường chú ý của mình tới vùng Viễn Đông của Nga cũng như toàn bộ châu Á-Thái Bình Dương trong những năm gần đây.

Khoảng từ năm 2010, nhu cầu nhiên liệu năng lượng của vùng châu Á-Thái Bình Dương tăng mạnh, trong khi tiêu thụ nhiên liệu năng lượng cũng như nguyên vật liệu của Mỹ và Liên minh châu Âu lại giảm; thêm vào đó Liên minh châu Âu lại có chính sách bớt phụ thuộc năng lượng vào Nga, vì thế việc Nga có ý định tăng cường định hướng về châu Á-Thái Bình Dương, khu vực năng động kinh tế nhất thế giới, là điều dễ hiểu, hợp lý, nếu không muốn nói là bắt buộc.

Yếu tố địa chính trị cũng không kém phần quyết định cho chiến lược châu Á của Nga. Với hoài bão khôi phục lại vị trí cường quốc xứng đáng trên thế giới, Nga muốn trở thành một trong các thế lực quyết định trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cùng với Mỹ và Trung Quốc. Trong bước đi này, Nga cảm nhận được một thuận lợi rất đáng kể là vai trò suy yếu của Mỹ và thái độ cảnh giác, nghi ngờ của các nước trong khu vực trước một Trung Quốc đang lên.

Điểm mốc quan trọng trong việc phục hồi sự hiện diện của Nga tại châu Á-Thái Bình Dương là Hội nghị thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương tháng 9 năm 2012 tại Vladivostok. Tại hội nghị này ông Putin đã có lời phát biểu nhấn mạnh Nga là một bộ phận của khu vực châu Á-Thái Bình Dương đầy năng động, khu vực này là chìa khóa cho thành công của toàn bộ nước Nga, đặc biệt là cho công cuộc phát triển vùng Viễn Đông. Nga cũng kêu gọi các nước thành viên tăng cường giúp đỡ đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông vận tải ở khắp các vùng rộng lớn của nước Nga. Một năm sau, tháng 6.2013, ông Putin đã gây nhiều chú ý với bài phát biểu của mình tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại thành phố St. Peterburg khi thông báo một kế hoạch đầy hoài bão nhằm thúc đẩy nền kinh tế nước Nga thông qua việc chuyển định hướng về phía châu Á-Thái Bình Dương thay cho các thị trường truyền thống ở châu Âu. Ông cũng đề xuất các dự án khổng lồ trong hệ thống cơ sở hạ tầng, gồm nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Siberia để nối nước Nga tốt hơn với vùng Thái Bình Dương. Bài phát biểu này được giới chuyên gia coi như một tuyên bố chính sách “xoay trục” của Nga về phía châu Á-Thái Bình Dương, nơi Nga có một vị trí đáng kể trong quá khứ gần đây.

Để thực hiện việc này, trước hết Nga thiết lập các quan hệ gần gũi với nhóm các nước ASEAN. Từ năm 2010, Nga có các cuộc gặp gỡ Nga–ASEAN, đầu tiên là ở cấp nguyên thủ quốc gia, sau đó là ở cấp bộ trưởng, có sự tham gia của đại diện giới kinh doanh và văn hóa. Tuy nhiên, dường như người Nga nhận thấy vai trò và vị thế yếu kém của nhóm này nên dần mất đi hào hứng.

Nga đặc biệt đẩy mạnh quan hệ cộng tác với Trung Quốc, coi Trung Quốc là đối tác chính trong toàn bộ khu vực. Tuy nhiên, chính sách coi Trung Quốc là chìa khóa trong quan hệ với khu vực nhanh chóng biểu lộ hạn chế. Người Nga thấy rõ, nếu chỉ dựa vào Trung Quốc thì do kém thế về mọi mặt, họ mãi mãi sẽ chỉ đóng vai trò phụ, ngẫu nhiên giúp sức cho Trung Quốc củng cố thế lực trong khu vực. Vì thế, ông Putin đã mở rộng nỗ lực theo một hướng khác, đầu tiên với hai nước Đông Á là Nhật Bản và Hàn Quốc, những nước có nền kinh tế mạnh nhất ở châu Á, và sau đó là Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế năng động, lại là đồng minh gần gũi cũ của Nga.

Cuối năm 2013 có thể được gọi là thời gian châu Á của ngoại giao Nga. Tháng 11, Nga và Nhật Bản đã có một cuộc đàm phán lịch sử 2+2 giữa các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng hai nước ở Tokyo, được đánh giá là sự kiện “mở ra một trang mới” trong quan hệ giữa hai nước. Tại đây, hai bên đồng ý đẩy mạnh quan hệ an ninh, song song với quan hệ kinh tế và trao đổi chuyên gia. Vài ngày sau, Tổng thống Nga Putin đã có cuộc đi thăm chính thức Hàn Quốc, với mục tiêu thúc đẩy cộng tác thương mại và kỹ thuật, đồng thời cũng trao đổi về các vấn đề an ninh trong khu vực. Tiếp theo, ông Putin đã thăm Việt Nam, một đồng minh cũ mà Nga đang cung cấp trang bị vũ khí quân sự và giúp xây dựng nhà máy điện hạt nhân; hai nước cũng có quan tâm thiết lập quan hệ cộng tác chiến lược.

Nếu để ý, người ta có thể dễ dàng nhận ra một điều là hai trong số ba nước mà Nga đặc biệt quan tâm ở Đông và Đông Nam Á nói trên – Nhật Bản và Việt Nam – đang có những vấn đề nghiêm trọng liên quan tới tranh chấp lãnh thổ chủ quyền với Trung Quốc. Hàn Quốc thì được biết đến như một nước luôn khá “rắn” với Trung Quốc. Người Nga biết rõ là trước hết các nước này, và sau đó là các nước Đông, Đông Nam Á khác, tuy ở mức độ thấp hơn, chắc chắn sẽ có những nhìn nhận tốt đẹp, khuyến khích và ủng hộ hơn cho sự tái hiện diện của Nga trong một khu vực có nhiều căng thẳng, đặc biệt là khi sự can thiệp, hỗ trợ từ phía Mỹ ngày càng suy yếu và thái độ quả quyết, hung hăng từ phía Trung Quốc ngày càng gia tăng. Nga chưa bao giờ chính thức ủng hộ các đòi hỏi lãnh thổ của Trung Quốc cả ở Biển Hoa Đông cũng như ở Biển Đông.

Tóm lại, quan hệ Nga -Trung trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương có thể nói là có tính cạnh tranh, ganh đua nhiều hơn là tính cộng tác.

Thay cho phần kết

Cuộc khủng hoảng Crimea và diễn biến của nó chắc chắn đã tạo nhiều thay đổi trong chính sách, chiến thuật ngoại giao của Kremlin. Trong quan hệ với Trung Quốc, chuyến đi thăm vừa qua của ông Putin hé lộ Nga sẽ dựa vào Trung Quốc nhiều hơn, thay thế cho quan hệ với phương Tây đang xấu đi nghiêm trọng. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng điều này là bắt buộc đối với Nga hơn là sự lựa chọn tự nguyện. Nga tính đến đẩy mạnh xuất khẩu nhiên liệu năng lượng, nguyên vật liệu và công nghệ sang Trung Quốc và lôi kéo các nguồn đầu tư từ Trung Quốc, thay cho các nguồn đầu tư từ phương Tây. Theo bản tin “Nga ký kết với Trung Quốc một hợp đồng khí đốt 30 năm” (Russia signs 30-year gas deal with China) của BBC ngày 21.5.2014 thì sau 10 năm đàm phán kéo dài, cuối cùng Nga và Trung Quốc đã ký kết thỏa thuận với giá trị được cho là khoảng 400 tỉ USD cung cấp khí đốt cho Trung Quốc trong vòng 30 năm; tuy nhiên, có nhiều nhận xét nghi ngờ rằng các điều kiện của thỏa thuận này, đặc biệt là giá cả, khó có thể làm cho phía Nga hoàn toàn hài lòng. Trung Quốc cũng hứa hẹn trước mắt sẽ đầu tư khoảng 5 tỉ USD vào vùng Viễn Đông của Nga.

Trong bài viết có tiêu đề “Ông Putin tìm kiếm các nguồn tài chính Trung Quốc nhằm chèo chống nền kinh tế đang sa sút của Nga” (Putin Going After Chinese Money to Sustain Sagging Russian Economy) đăng trên trang điện tử của Bloomberg ngày 9.5.2014, các tác giả Evgenia Pismennaya, Yuliya Fedorinova and Ilya Arkhipov chỉ ra:

“Nga đã xây dựng các mối quan hệ thương mại với Trung Quốc, bao gồm các thỏa thuận dầu khí với giá trị hàng trăm tỉ đô la, để cung cấp năng lượng cho Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ nhiều nhất ở châu Á, trong hoàn cảnh kinh tế châu Âu đang chững lại. Trung Quốc là bạn hàng thương mại lớn nhất của Nga với tổng giá trị kim ngạch 95.6 tỉ vào năm 2012, theo sau là Đức, theo số liệu của Bloomberg.

Tuy vậy, Trung Quốc chỉ có vài dự án lớn ở Nga, đó là dấu hiệu cho thấy có các hạn chế không chính thức cho đầu tư của nước này, như một quan chức Nga kho biết. Trong tháng 5 này, ít nhất có hai cuộc thảo luận của chính phủ để định ra các nguyên tắc cho phép giới đầu tư Trung Quốc làm việc ở Nga.

Ngoài hạn chế quyền xâm nhập vào các ngành kim loại quí và kim cương, có thể Nga cũng hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào các dự án công nghệ cao. Chính phủ Nga cũng xem xét không cho phép người Trung Quốc thành lập các khu dân cư lớn để tránh gây các căng thẳng sắc tộc.”

Điều này, ngoài các hệ quả khác, củng cố nhận định rằng mặc dù tăng cường quan hệ với Trung Quốc nhưng mãi cho tới gần đây, người Nga vẫn có thái độ nghi ngờ và cảnh giác trước Trung Quốc và việc ngày nay Nga quay sang dùng đến các nguồn tài chính từ phía Đông là có phần miễn cưỡng.

Bài viết “Xoay trục của Nga sang Trung Quốc không làm thay đổi hình dạng kinh tế Nga” (Russia’s Pivot to China Won’t Reshape Russian’s Economy”) của tác giả Alexey Eremenko đăng trên trang điện tử The Moscow Times ngày 21.5.2014 tìm cách phân tích các hiệu quả kinh tế của ý định sử dụng Trung Quốc như là đồng minh kinh tế chính của Kremlin. Bài báo cho biết:

“Giới chuyên gia (Nga) cho rằng Trung Quốc có khả năng thay thế Liên minh châu Âu trong phần lớn các khu vực của nền kinh tế Nga, bao gồm cả xuất khẩu dầu khí, công nghệ và đầu tư. Nhưng liên minh với một nước đang phát triển chỉ làm co cứng hiện trạng của nền kinh tế, các chuyên gia cảnh báo, điều này không giúp Nga tăng cơ hội thoát khỏi vị thế một nền kinh tế cung cấp nguyên liệu.

Thêm vào đó, dựa vào Trung Quốc như là đồng minh kinh tế duy nhất chứa nguy cơ mặc nhiên trao cho Bắc Kinh khả năng kiểm soát nền kinh tế Nga – tuy rằng điều này có thể tránh được nếu Moskva lưu ý đến việc đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế.”

Hơn nữa, giới chuyên gia lưu ý: “Xuất khẩu của Nga sang Liên minh châu Âu trong (năm 2012) đạt 238 tỉ USD, hơn hẳn nhập khẩu với tổng giá trị 134 tỉ, theo số liệu của Tổng cục Thuế quan Nga. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 35 tỉ trong cùng thời kỳ, trong khi nhập khẩu từ nước này đạt 53 tỉ… Về mặt đổi mới công nghệ, sản phẩm Trung Quốc không thể thay thế được châu Âu.”

Các chuyên gia thống nhất quan điểm rằng nguy cơ chủ yếu của Nga là sẽ quá phụ thuộc vào Trung Quốc – Trung Quốc sẽ không từ khai thác triệt để một nước Nga quá phơi bày, một khi có điều kiện.”

Qua bài viết trên, có thể thấy là người Nga ý thức rõ ràng rằng ngoài các lợi ích trong việc cộng tác gần gũi hơn với nền kinh tế thứ hai trên thế giới, cần phải tính đến các mặt hạn chế cũng như các mối nguy cơ tiềm ẩn. Điều này có thể sẽ có nhiều ảnh hưởng tới chiều sâu và tính lâu dài của đường lối Trung Quốc của ông Putin.

Trong một bài viết gây nhiều chú ý trong thời gian vừa qua với tựa đề “Ông Putin tái sáng chế công tác chiến tranh như thế nào” (How Putin Is Reinventing Warfare) đăng trên trang Foreign Policyngày 5.5.2014, tác giả Peter Pomerantsev đưa ra khẳng định: Kremlin đang theo đuổi đường lối chiến lược gọi là “chiến tranh phi tuyến” (non-linear war), khái niệm được sử dụng trong một truyện ngắn của ông Vladislav Surkov, một trong những cố vấn chính trị gần gũi nhất của ông Putin, được đăng tải dưới bút danh của ông này là Nathan Dubovitsky, chỉ vài ngày trước khi Crimea bị sáp nhập vào Liên bang Nga. Surkov là người được cho là tác giả của hệ thống “dân chủ có/được điều hành” thống lãnh tư tưởng ở Nga trong thế kỷ 21 và những định hướng tập trung mới trong đường lối ngoại giao.

Surkov cho rằng “trong các cuộc chiến tranh sơ khai thế kỷ 19 và 20 thường là có hai phía đối chiến. Hai nước, hai khối hay hai liên minh. Nhưng giờ đây bốn liên minh đối kháng nhau. Không phải hai đối hai, hay ba đối một. Tất cả đối đầu với tất cả.” Trong một cuộc chiến tranh như thế, “một vài vùng có thể đứng về phía này, một vài vùng lại đứng về phía khác. Một thành phố hay thế hệ hay phái giới có thể tham gia một phía khác nữa. Rồi sau đó lại đổi bên, đôi khi chính giữa cuộc chiến. Mục đích hoàn toàn khác nhau. Phần lớn coi chiến tranh như một bộ phận của một quá trình. Không nhất thiết phải là bộ phận quan trọng nhất.”

Nếu quả thật Kremlin đang theo đuổi chiến lược “phi tuyến” như thế, hẳn người ta sẽ còn được chứng kiến nhiều thay đổi, diễn biến bất ngờ trong quan hệ Nga-Trung.

© 2014 Trần Hoàng & pro&contra

**** Nga chỉ có hai món hàng để bán cho Âu Châu, TQ, và thế giới đó là kỹ nghệ quốc phòng và dầu khí

*Ngân sách của Nga xây dựng theo giá dầu khí. Khi giá dầu hạ, Nga lao đao, xã hội biến động. Lịch sử cho thấy có 2 lần xảy ra gần đây;

-1980-1991: khi giá dầu hạ còn 12-29 đô 1 thùng dầu, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô 1986-1991.

-1991-1998: Thời kỳ này, giá dầu vẫn còn rất thấp, xã hội Nga biến động và thay đổi tận gốc, dân Nga lưu lạc khắp thế giới, nhiều người đã tiếc thời yên bình của Liên Xô. Tổng Thống Elsin mất uy tín dần dần.

-2000-2014: Giá dầu dần dần gia tăng theo thời gian và cao điểm 2008 (giá dầu lên 145 đô / 1 thùng), Putin được may mắn. Nước Nga hồi phục hơn thập niên 1990s.

-“vụ mua bán hệ thống phòng không S-400 gần đây giữa TQ và Nga. “Việc này đã cho người ta thấy gì về tình hình liên bang Nga khi họ sẵn sàng bán S-400 cho Trung Quốc? Khi mà Putin đã sẵn sàng để bán hạt bắp giống của mình là điều rất đáng chú ý.” Tại sao? Nga đang rất cần tiền nên mới bán một giàn S-400 cho TQ.”

***Trung Quốc: Nhờ sự đầu tư của Mỹ và Âu châu vào TQ kể từ 1980s, 1990s cho đến nay, TQ đã thành cường quốc. Năm 2011, theo Bloomberg đưa tin, 20 công ty của Mỹ muốn đem 1000 tỷ đô la về Mỹ sau một thời gian dài đầu tư ở nước ngoài. Họ đã cố gắng thương lượng với chính phủ Mỹ để xin giảm bớt mức thuế, nhưng đã không nhận được sự đồng ý. Những công ty nầy đã đầu tư ở Trung Quốc.

Theo tạp chí đối ngoại của Mỹ, Foreign Affair, hàng năm, chính quyền TQ in thêm tiền nhân dân tệ (khoảng 15-25% so với số lượng tiền lưu hành) để đổi lấy tiên đô la Mỹ và các dòng tiền ngoại hối khác để làm giảm bớt lạm phát. Sau khi xuất khẩu hàng qua Mỹ, họ đã để lại số tiền lớn ở đây bằng cách mua công khố phiếu của Mỹ. Tiền lời của công khố phiếu Mỹ thì rất thấp, nhưng nhờ đó thì doanh nghiệp Mỹ có thể mượn được tiền để đầu tư mở thêm hãng xưởng ở  Trung Quốc, và chính quyền TQ nhờ đó mà giải quyết việc làm cho 13 đến 26 triệu người hàng năm tham gia vào lực lượng lao động (khi họ đến tuổi đi làm việc. Tỉ lệ sinh đẻ hàng năm ở TQ là 1-1,5%, và dân số là 1,3 tỷ người.) Trung Quốc không dám bán số công khố phiếu nầy, vì sẽ lỗ lớn, và doanh nghiệp Mỹ sẽ không còn đầu tư vào TQ, và điều này sẽ dẫn đến sự biến động của xã hội TQ. Dân chúng đang đi làm, có tiền tiêu, mua nhà trả gops, nếu không có việc làm, họ sẽ nổi loạn. Thêm vào số học sinh và sinh viên TQ ra trường hàng năm, cùng dân chúng ở miền quê đén tuổi lao động CẦN việc làm. và chính quyền TQ biết rằng họ không thể giải quyết được.  

 

 

 

Posted in Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc | 1 Comment »

►Hãy tỉnh lại đi: Muốn thoát Trung phải vượt qua chính mình

Posted by hoangtran204 trên 30/05/2014

May 29, 2014

Song Chi.

Cổ nhân có câu “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Lịch sử mấy ngàn năm sống bên cạnh nước láng giềng lớn mạnh hơn gấp bao nhiêu lần, từng bị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm, nhưng chưa bao giờ ông cha ta chịu sống hèn, chưa bao giờ ông cha ta chịu mất một tấc đất vào tay quân bành trướng. Để xảy ra tình trạng Trung Cộng ngày càng ngang nhiên lấn lướt, hành xử như thể chúng muốn gì được nấy như ngày hôm nay, một phần lớn là do lỗi của nhà cầm quyền VN.

Có thể thấy suốt bao nhiêu năm là “bạn bè, đồng chí” môi hở răng lạnh, rồi là kẻ thù, sau đó lại quay lại bắt tay nhau, dường như nhà cầm quyền VN đối với tập đoàn Trung Nam Hải vẫn chưa thoát ra được những điểm yếu sau:

1. Không học được những bài học cũ.

Không phải đợi đến bây giờ bộ mặt thật của Bắc Kinh với Hà Nội và với nhân dân VN mới lộ ra. Nhưng dường như đảng và nhà nước cộng sản VN vẫn không chịu thấy, hoặc có thấy mà vẫn ru ngủ mình bằng thứ “tình hữu nghị viễn vông” (dùng đúng từ của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng), hoặc vẫn không tìm cách thoát ra, trái lại, ngày càng lún sâu, lệ thuộc thêm.

Cứ cho như trong giai đoạn đánh Pháp rồi đánh Mỹ, mục tiêu của đảng cộng sản VN lúc bấy giờ là bằng mọi giá phải chiếm cho được miền Nam, thống nhất toàn bộ đất nước vào tay mình nên bỏ qua những lấn cấn trong mối quan hệ với các nước cộng sản “đàn anh”. Hơn nữa, giai đoạn đó Liên Xô và Trung Cộng (cạnh tranh nhau lấy lòng Hà Nội nên) giúp đỡ, chi viện cho Bắc Việt rất nhiều, vì món nợ đó mà đảng cộng sản VN mê muội không nhìn ra dã tâm của Trung Cộng giúp miền Bắc đánh Mỹ cũng chính là làm lợi cho Trung Cộng. Tuy vậy, quan hệ hai bên đã không phải hoàn toàn tốt đẹp, bằng chứng là miền Bắc từ từ ngả dần về phía Liên Xô. (khởi đầu từ 1972 sau khi TQ đồng ý làm đồng minh với Mỹ để Mỹ bao vây Liên Xô )

Nhưng đến khi Trung Cộng bắt tay với Mỹ, đem quân đánh Việt Nam trong cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1979 thì lẽ ra sau đó tình hữu nghị giữa hai bên phải hoàn toàn chấm dứt. Và thực tế đã chấm dứt nhiều năm sau đó, nếu như không vì hoảng sợ trước sự sụp đổ của Liên Xô và khối XHCN ở Đông Âu 1990-1991, VN lại tự chui đầu vào thòng lọng lần thứ hai khi bình thường hóa quan hệ với Trung Cộng trong thế yếu, qua Hội nghị Thành Đô 1990, mở đầu cho một thời kỳ Hán thuộc mới.

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

Chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế, bao nhiêu năm qua báo chí, dư luận đã lên tiếng rất nhiều về những mối nguy lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Trung Quốc.

Từ cán cân chênh lệch ngày càng cao giữa nhập siêu và xuất siêu với Trung Quốc.

Từ việc Trung Quốc trúng thầu đến 80% các dự án lớn ở VN, trong đó phần lớn là xây dựng, khai thác khoáng sản, thủy điện…Ai cũng biết, chất lượng, kỹ thuật cho đến tay nghề của các công ty Trung Quốc thua xa các nước phương Tây, chỉ vì họ bỏ thầu thấp, biết “chung chi, lại quả” đậm mà trúng thầu, sau đó hậu quả thường là công trình bị kéo dài, chất lượng kém, phải sữa chữa, đội vốn lên rất nhiều. Trong quá trình thực hiện dự án, TQ đem sang tất cả nguyên vật liệu cho đến con ốc, cây đinh, VN không được lợi gì, về nhân lực họ mang theo từ kỹ sư, chuyên viên cho đến công nhân lao động phổ thông, người VN cũng không có thêm công ăn việc làm từ những dự án này.

Từ việc Trung Quốc tuồn hàng hóa kém chất lượng, hàng nhái, hàng giả, hàng độc hại, thực phẩm không an toàn sang nước ta bằng con đường buôn lậu, phá hoại nền kinh tế, đầu độc sức khỏe người VN. Thương lái Trung Quốc thường xuyên qua VN, vơ vét thu mua nông ngư sản, đánh bẫy nông dân, ngư dân Việt bằng những chiêu lúc đầu hét giá cao, nông dân đua nhau trồng, nuôi mặt hàng mà thương lái cần, sau đó họ hạ giá hoặc không mua nữa, nông dân lại lỗ chổng gọng, nền sản xuất bị xáo trộn.

Đó là chưa nói những chiêu đi tìm mua những mặt hàng không giống ai, không biết để làm gì, từ móng trâu, móng bò, ốc bươu vàng…, vài năm trở lại đây thì đỉa, lá điều khô, dừa khô, rễ tiêu, rễ sim, lá khoai mì, lá khoai lang, ong bầu, gián đất v.v…Trước mắt là làm xáo trộn sản xuất, gây thiệt hại cho người dân, về lâu dài là làm mất cân bằng sinh thái, gây hại cho môi trường, phá hoại nền kinh tế.

Câu hỏi là những chiêu trò này có phải chỉ mới xảy ra? Không, đã từ hàng chục năm nay. Cái hại đã quá rõ. Vậy tại sao nhà nước vẫn không thể kiểm soát, ngăn chặn? Song song bên cạnh đó, tại sao trong hàng chục năm qua không âm thầm, tích cực tìm cách chuyển đổi, thay thế dần sự phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc bằng cách nỗ lực xây dựng quan hệ đối tác làm ăn với các nước khác, đồng thời tháo gỡ mọi khó khăn, tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp trong nước làm ăn hầu kinh tế nội địa mạnh lên?

Để đến hôm nay khi quan hệ giữa hai bên căng thẳng, VN còn phải đối diện với nỗi lo sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề về kinh tế nếu Trung Quốc cắt quan hệ, hoặc tìm cách trả đũa, “trừng phạt” bằng các biện pháp kinh tế.

Về mặt chính trị, quân sự, quốc phòng, sau cuộc chiến biên giới 1979 cũng như hàng loạt sự kiện mất đất, mất đảo, mất biển, VN đã rút ra bài học gì đề phòng một ngày nào đó Trung Cộng lại chơi xấu, tấn công chiếm thêm vài hòn đảo hay nổ ra một cuộc chiến mới?

Có người sẽ bảo VN ta cũng mua sắm vũ khí rất nhiều, mở rộng quan hệ với bao nhiêu nước trên thế giới v.v…Nói thật, VN sắm được một, thì Trung Cộng sắm mười, so sánh về chuyện đầu tư quốc phòng với một nước lắm tiền thì làm sao cho lại. Còn mở rộng quan hệ theo kiểu làm bạn với tất cả các nước cũng có nghĩa không có ai là bạn thật sự cả, nhất là khi VN khăng khăng giữ nguyên tắc Ba không trong quốc phòng: “Không tham gia liên minh, đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở VN và không dựa vào nước này để chống nước kia.”    ►Trong khi TBT đảng CSVN nói: Tình hình Biển Đông không có gì mới, thì Trung Quốc đã xây xong một hòn đảo nhân tạo ở GẠC MA, dùng làm căn cứ quân sự bảo vệ tuyến đường biển vận chuyển 3/4 tổng số hàng hóa của TQ bán ra thế giới

Chỉ riêng với Hoa Kỳ, VN đã bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ năm 1995, nhưng từ đó đến nay quan hệ giữa hai bên, chỉ trừ trong lĩnh vực thương mại, phải nói là phát triển hết sức dè dặt.

2. Luôn luôn trong thế bị động, đỡ đòn, phản ứng thì vô cùng chậm chạp.

Chỉ một ví dụ, giàn khoan “khủng” HD-981 của Trung Cộng không phải được lắp ráp ngày một ngày hai, mà đã lắp ráp có nghĩa là sẽ có ngày chúng đưa ra biển thăm dò dầu khí (chính thức giàn khoan này được Trung Quốc đưa vào hoạt động ngày 9 tháng 5 năm 2012). Lẽ ra ngay từ lúc đó, tập đoàn lãnh đạo VN đã phải ngồi lại tính toán xem nếu một ngày nào đó nó kéo giàn khoan vào nước mình thì mình sẽ đối phó cách nào chẳng hạn.

Đến khi Trung Cộng cho kéo giàn khoan vào vùng biển VN vào ngày 2.5.2014, ba ngày sau, báo chí VN mới loan tin. Ngày 10 tháng 5, Hội nghị Trung ương 9 Đảng CSVN đang họp cùng lúc nhưng không bàn công khai và tuyên bố về vụ giàn khoan. Chỉ đến khi kết thúc phiên họp, vào ngày 14 tháng 5, Hội nghị ra thông báo trong đó có đề cập về vấn đề này.

Ở cấp lãnh đạo cao nhất, mãi đến ngày 11 tháng 5, thủ tướng VN mới lên tiếng công khai tố cáo Trung Quốc và kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế, nhưng là ở ngoài nước, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar.

Ngày 21 tháng 5, trả lời qua email cho phóng viên của các hãng thông tấn AP và Reuters, ông Thủ tướng có có đề cập đến việc sẽ sử dụng khía cạnh pháp lý theo luật pháp quốc tế, để đấu tranh với Trung Quốc vụ giàn khoan, nhưng cũng chưa chính thức lên tiếng là sẽ kiện TQ ra tòa án quốc tế, và bao giờ kiện, trong khi ai cũng biết một vụ kiện như thế sẽ mất thời gian hàng năm như thế nào.

Ngoài ra, không thấy các ông lãnh đạo khác có lời tuyên bố cứng rắn tương tự hay có công hàm chính thức phản đối gửi đến Tập Cận Bình. Ngược lại, trong nhiều phát biểu, từ ông Vũ Mão-nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, ông Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho tới ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang… đều cho thấy hoặc trong nhận thức vẫn còn mơ hồ về tình “hữu nghị” đôi bên, hoặc hèn nhát, hoặc không đủ mạnh mẽ, đanh thép.

Suốt hơn 3 tuần qua, VN vẫn chỉ dám cử đội tàu chấp pháp, số lượng ít, nhỏ và yếu hơn hẳn lực lượng tàu bảo vệ giàn khoan của Trung Cộng, chạy vòng vòng bên ngoài phản đối, chưa có thêm “miếng võ” nào khác, trong lúc giàn khoan của Trung Cộng cứ ì ra đó và chắc chắn đã thực hiện việc khoan thăm dò dầu khí, mặt khác tàu TQ vừa tấn công tàu chấp pháp, tấn công đánh chìm tàu cá VN như chốn không người!

3. Có hai nhược điểm trên là vì không có tầm nhìn chiến lược.

Phải nói thật, so với các lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc từ trước đến nay, các lãnh đạo đảng cộng sản VN nhìn chung có tầm nhìn kém hẳn. Ngay từ khi còn đang quan hệ thắm thiết như “môi với răng” với VN, Mao Trạch Đông đã khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1965 rằng: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore… Sau khi giành được Đông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”. (“Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, NXB Sự Thật, 1979)

Cách họ chọn thời cơ tiến chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, bắt tay với Mỹ v.v…càng chứng tỏ điều đó. Còn VN, chỉ riêng chuyện Hoàng Sa, bản công hàm của Phạm Văn Đồng hay những suy nghĩ của một số lãnh đạo Bắc Việt thời đó “Quần đảo Hoàng Sa thà để cho Trung Quốc đồng chí anh em của ta giữ giùm còn hơn nằm trong tay bọn “ngụy quân ngụy quyền” là đủ thấy tầm nhìn kém, chỉ biết quyền lợi của đảng mà không biết đặt quyền lợi đất nước, dân tộc lên trên.

Đến hôm nay, Hà Nội lại bị Bắc Kinh làm nhục một lần nữa qua sự kiện giàn khoan, đồng thời khả năng mất biển, thậm chí mất nước lại trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Khắp nơi, lòng dân kêu gọi hãy “thoát Trung, thoát Hán”. Muốn vậy, có lẽ nhà cầm quyền phải tận tâm tận lực, quyết liệt gỡ thế khó trên cùng lúc nhiều mặt trận chính trị, quân sự, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế…

Đã bao nhiêu lần đảng cộng sản VN đi sau, bị động, làm cái bóng của đảng cộng sản TQ. Lần này, lối thoát cho họ mà cũng là lối thoát cho dân tộc VN là phải đi trước TQ một bước, phải nhanh, bất ngờ, quyết liệt, làm những điều mà Trung Quốc sợ hoặc chưa dám làm, hoặc không nghĩ là VN sẽ làm. Chẳng hạn, thay đổi thể chế chính trị, bắt tay với phương Tây, ký kết là đồng minh của Hoa Kỳ và các nước dân chủ.

Về kinh tế, thay vì chờ bị Trung Cộng chơi xấu, trừng phạt về kinh tế phải tìm cách chuẩn bị, đặt ra hết mọi tình huống xấu nhất sẽ xảy ra và tính trước v.v…

Như nhiều người cũng đã bàn, sự kiện giàn khoan lần này có thể là nguy cơ mà cũng có thể lại là một cơ hội tuyệt vời cho dân tộc VN thoát Trung, chuyển mình bước hẳn sang dòng chảy của các nước tiến bộ. Giống như sự kiện đập Myitsone là giọt nước làm đầy tràn cái ly phẫn nộ của người dân Myanmar, buộc Tổng thống Thein Sein phải ra lệnh dừng xây đập, từ chối TQ, mở đầu hành trình thoát Trung, cải cách dân chủ, hướng về phương Tây.

Tất cả tùy thuộc: với nhà cầm quyền là vượt qua chính mình, với người dân VN là thực sự thức tỉnh.

 

———————-

Bài viết của đạo diễn Song Chi rất chính xác và đúng tâm trạng của đảng csvn và nhà nước.

Thật ra, đảng CSVN và nhà nước đi theo một lộ trình vạch sẵn là cha truyền con nối (ngôi) và bởi vậy tạo ra tình thế không có lối thoát cho chính họ. Đối với người dân trong nước, họ chủ trương dùng bạo lực và sử dụng công an để cai trị. Chủ trương của đảng là phải nắm chính quyền, và không chia sẻ quyền lực cho bất cứ ai ngoài đảng. Không cho thành lập hội đoàn và đảng phái đối lập, không cho ai nói khác với ý kiến của đảng. 

Hiến pháp cùng luật pháp VN đều do đảng sáng tác, và nằm dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên Giáo. Bản chất và mọi lý luận của Đảng chỉ nhằm đàn áp nhân quyền, không cho tự do ngôn luận, không cho báo chí tư nhân, không cho thành lập công đoàn…Vì các lý do nầy, mà không một quốc gia Phương Tây nào muốn thân thiện với Việt Nam. 

Bản thân của đảng CSVN và nhà nước cũng thấy thoải mái hơn khi chơi với Trung Quốc. Dẫu mất bieent đảo và đất đai biên giới vào tay TQ, thì đảng và nhà nước VN vẫn không coi là quan trọng, miễn đảng csvn tiếp tục cầm quyền. Một mai, khi TQ rút giàn khoan khỏi Biển Đông, và vỗ đầu khuyên bảo, thì Hà Nội lại sẽ tiếp tục chạy theo sau TQ.

 

——

Một biểu ngữ trong cuộc biểu tình tại Hungary ngày 18-5-2014 .

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

►Việt Nam có chiến lược gì để chống lại sự chèn ép của Trung Quốc?

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

Việt Nam có chiến lược gì để chống lại sự chèn ép của Trung Quốc?

29-5-2014

Carl Thayer | The Diplomat, 28-5-2014
Trần Ngọc Cư dịch

.

Theo thời gian, đã trở nên yên ắng việc truyền thông quốc tế theo dõi cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam về sự kiện Bắc Kinh hạ đặt một giàn khoan khủng trong vùng nước được Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng những đối đầu hàng ngày vẫn còn tiếp diễn. Tình hình hiện nay không phải là một bế tắc, mà là một nỗ lực có quyết tâm của Trung Quốc nhằm thay đổi nguyên trạng bằng cách đẩy lùi các lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư Việt Nam lùi vào bên trong đường chín đoạn mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố.

Các nguồn tin của chính phủ Việt Nam bày tỏ mối quan ngại là Trung Quốc sẽ dời giàn khoan này tới một địa điểm gần Việt Nam hơn vị trí ban đầu. Họ lo lắng về nơi giàn khoan sẽ được hạ đặt vì, những người đưa tin này lý luận, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không biết chính xác đường chín đoạn nằm ở đâu.

Các hãng truyền thông đưa tin tàu Hải giám Trung Quốc dùng vòi rồng bắn nước vào tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc húc vào tàu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam, cho ta thấy những đoạn phim bắt mắt nhưng chưa phải là những phân tích tình hình nghiêm túc. Trung Quốc đang tiến hành một “chiến tranh tiêu hao” với Việt Nam trong tư thế mạnh hơn đối phương nhiều lần. Trung Quốc dùng chiến thuật húc vào tàu Việt Nam có trọng tải nhỏ hơn từ hai đến bốn lần tàu của mình – đây là một chiến thuật được thiết kế để gây hư hại khiến các tàu Việt Nam cần phải vào bờ để sửa chữa.

Một số nhà phân tích Việt Nam phỏng tính rằng nếu tỉ lệ tổn thất hiện nay tiếp tục, Việt Nam có thể không có đủ tàu để tiếp tục đối đầu với Trung Quốc trong vùng nước quanh giàn khoan.

Theo Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam Ngô Ngọc Thu, vào ngày 3 tháng Năm tàu Hải giám Trung Quốc số 44044 đã húc vào tàu Cảnh sát biển Việt Nam số 4033, để lại một vết nứt dài 3 mét rộng 1 mét, gây hư hại toàn bộ đầu máy bên phải. [Đại tá] Thu còn mô tả chi tiết những hư hại khác của các tàu Việt Nam.

Nghiên cứu gần đây của Scott Bentley cho thấy Trung Quốc cố tình dùng vòi rồng gây hư hại các cột truyền tin và ăng ten trên tàu Việt Nam. Các đoạn video trên Youtube cho thấy rõ ràng những cột truyền tin này bị sức nước thổi bay khỏi bong tàu Việt Nam. Chiến thuật này làm giảm khả năng truyền tin của các tàu Việt Nam với các tàu khác và như thế buộc chúng phải quay vào bến cảng để sửa chữa hư hại.

Hơn nữa, những đối đầu Việt-Trung bằng tàu trên biển có tính nghiêm trọng chết người. Theo Scott Bentley, hầu hết tàu Hải giám Trung Quốc đều có trang bị vũ khí hải quân. Cả tàu Hải giám Trung Quốc lẫn các tàu khu trục của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân đều bố trí xạ thủ cho các ổ súng đã để lộ nòng và cố tình nhắm vào các tàu Việt Nam trong cuộc đối đầu chung quanh giàn khoan.

Cho đến nay Việt Nam đã đáp trả những hành vi quyết đoán hung hăng này của lực lượng hải giám Trung Quốc như thế nào? Đâu là chiến lược của Việt Nam nhằm chống cự lại sự chèn ép của Trung Quốc?

Việt Nam đang duy trì một sự hiện diện liên tục ở vòng ngoài của đoàn tàu Trung Quốc triển khai chung quanh giàn khoan. Hàng ngày, tàu Cảnh sát biển Việt Nam dùng loa phóng thanh phát đi các tuyên bố khẳng định chủ quyển Việt Nam và kêu gọi phía Trung Quốc rời khỏi lãnh hải Việt Nam.

Theo Scott Bentley, phía Việt Nam đã hết sức thận trọng, cố giữ kín các vũ khí nhẹ trên tàu, việc này rõ ràng đưa tín hiệu cho thấy Việt Nam đang theo đuổi lập trường không khiêu khích.

Việt Nam vẫn còn để các chiến hạm và tàu ngầm của mình nằm yên trong cảng hay nằm khá xa vùng biển tranh chấp quanh giàn khoan. Các quan chức Việt Nam liên tục kêu gọi Trung Quốc thảo luận vấn đề. Họ đề nghị sử dụng đường dây nóng giữa các lãnh đạo cấp cao và họ đã yêu cầu phía Trung Quốc tiếp Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã điện đàm với người đồng nhiệm Trung Quốc, ông Vương Nghị [Wang Yi]. Và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã tiếp xúc ngắn ngủi với người đồng nhiệm phía Trung Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Thường Vạn Toàn [Chang Wanquan], bên lề cuộc họp các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN gần đây tại [Thủ đô Miến Điện] Nay Pyi Taw.

Trung Quốc đã bác bỏ các đề nghị nói trên của Việt Nam, trong khi các tiếp xúc cá nhân thì rất lạnh nhạt.

Nỗ lực ban đầu của Việt Nam nhằm đưa ra một lập trường hòa giải đã bị đẩy lùi bởi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của công nhân tại các khu công nghiệp. Những cuộc biểu tình này bất ngờ trở nên bạo động và nhắm vào các nhà máy và công nhân Trung Quốc. Các quan chức chính phủ và công an Việt Nam đã nhanh chóng tái lập luật pháp và trật tự, đồng thời bắt giữ một số đông công nhân bị qui trách nhiệm gây ra cuộc bạo loạn. Trung Quốc đã gửi tàu và máy bay để di tản hàng ngàn công nhân của mình về nước. Vào lúc tôi viết bài này, các tòa án Việt Nam đang tuyên án tù giam đối với những người sách động bạo loạn.

Phản ứng của Việt Nam đối với cuộc khủng hoảng giàn khoan gồm có các đề nghị ngoại giao gửi đến Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và kêu gọi hậu thuẫn từ cộng đồng quốc tế. Trong một cách ứng xử mới, Việt Nam đang cân nhắc hành động pháp lý, chưa được tiết lộ chi tiết, nhằm chống lại Trung Quốc. Người ta suy đoán, việc này có thể mang hình thức một nỗ lực pháp lý độc lập hoặc là Việt Nam sẽ hậu thuẫn Philippines tại Toà án Trọng tài Quốc tế hiện đang tiến hành.

Theo các cuộc trao đổi riêng với một số quan chức chính phủ Việt Nam và các chuyên gia an ninh, Việt Nam cũng đang vạch ra một chiến lược dài hạn nhằm chặn đứng các hành vi xâm lược tương tự của Trung Quốc trong tương lai. Phần thảo luận dưới đây chỉ là nỗ lực nắm bắt một số ý kiến đang được trao đổi, chưa phải là thành tố của một chính sách được chính phủ Việt Nam chính thức phê chuẩn.

Cốt lõi của chiến lược đang hình thành của Việt Nam là tránh trực diện đối đầu với Trung Quốc trong một nỗ lực buộc họ phải rút giàn khoan và các tàu hải quân Trung Quốc ra khỏi Khu Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam. Nói đúng ra, các nhà chiến lược Việt Nam chỉ tìm cách ngăn chặn các hành động tương tự của Trung Quốc trong tương lai.

Vào thời điểm này, hình như Việt Nam đang cân nhắc hai chiến lược để ngăn chặn Trung Quốc –một là, dùng đòn bẩy của các quan hệ đồng minh giữa Mỹ với Nhật Bản và Philippines, vàhai là, trong trường hợp có xung đột vũ trang, dùng “hiểm họa hai bên chắc chắn hủy diệt lẫn nhau” [mutually assured destruction]. Các quan chức Việt Nam trong tiếp xúc riêng tư đã nhấn mạnh rằng tất cả những hành động được thực thi dù theo bất cứ chiến lược nào cũng sẽ hoàn toàn minh bạch để giảm đến mức tối thiểu các tính toán sai lầm từ phía Trung Quốc.

Mục đích chính của chiến lược mới thành hình của Việt Nam là không trực tiếp đối đầu với Trung Quốc nhưng chỉ ngăn chặn họ bằng cách tạo tình huống theo đó Trung Quốc sẽ phải hoặc là chấp nhận nguyên trạng hoặc là leo thang xung đột. Việc này sẽ kéo theo nhiều rủi ro cho Trung Quốc vì các lực lượng Việt Nam sẽ hoạt động bên cạnh hai đồng minh của Hoa Kỳ để theo đuổi mục tiêu của mình bằng phương cách hòa bình.

Trước khi cuộc khủng hoảng giàn khoan xảy ra Việt Nam đã đề nghị một cuộc đối thoại an ninh ba bên với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Hình như đề nghị này đã nhận được một phản ứng dè dặt từ phía Nhật Bản, nhưng nó vẫn còn ở trên bàn chờ cơ hội xét lại. Trong tình hình hiện nay, một dàn xếp ba bên có thể là cách để cùng nhau phác họa một chiến lược đa phương nhằm chặn đứng Trung Quốc.

Việt Nam đã tiếp cận Nhật Bản và Philippines trong một nỗ lực nhằm đẩy mạnh sự tương tác với các lực lượng biển của những nước này, gồm cả lực lượng Cảnh sát biển và Hải quân. Việt Nam hi vọng sẽ tham dự các cuộc huấn luyện hỗn hợp và các hình thức diễn tập trên biển khác, kể cả tuần tra hỗn hợp, trong biển Hoa Nam [tức Biển Đông Việt Nam]. Các cuộc diễn tập này sẽ diễn ra ở một địa điểm khá xa vị trí đang có những căng thẳng hiện nay. Chúng sẽ được tiến hành ở ngoài khơi và trong Vùng Đặc quyền Kinh tế Việt Nam băng qua đường chín đoạn của Trung Quốc.

Việt Nam cũng đang cân nhắc đến việc cầu thân với Hoa Kỳ. Một đề nghị được đưa ra là thúc đẩy hiệp định hợp tác giữa hai Lực lượng Cảnh sát biển. Như thế, Lực lượng Cảnh sát biển Hoa Kỳ có thể được triển khai trên lãnh hải Việt Nam để tham dự các cuộc huấn luyện hỗn hợp. Hai bên có thể trao đổi quan sát viên với nhau.

Việt Nam gần đây đã tham gia Sáng kiến an ninh chống phổ biến vũ khí giết người hàng loạt. Sự kiện này có thể tạo cơ hội để Hoa Kỳ trợ giúp Việt Nam phát triển khả năng giám sát vùng biển thuộc trách nhiệm của mình. Trước đây, Việt Nam đã bày tỏ ý muốn mua máy bay hải giám của Mỹ. Hoa Kỳ có thể gửi đến Việt Nam một mẫu máy bay mà Việt Nam muốn mua và tiến hành các chuyến bay biểu diễn có nhân viên quân sự Việt Nam trên đó.

Ngoài ra, các máy bay không vũ trang thuộc lực lượng hải giám của Hải quân Hoa Kỳ, có căn cứ tại Philippines theo hiệp định tăng cường hợp tác quốc phòng mà hai nước vừa ký kết, có thể triển khai đến Việt Nam trên cơ sở tạm thời. Chúng có thể tiến hành các phi vụ giám sát biển hỗn hợp cùng với các máy bay Việt Nam. Nhân viên quân sự Mỹ có thể bay trên các máy bay thám thính Việt Nam với tư cách quan sát viên, và ngược lại.

Các quan chức và các nhà phân tích Việt Nam dự kiến Trung Quốc sẽ tung ra các cuộc diễu võ giương oai của hải quân trên biển Hoa Nam [Biển Đông] hàng năm từ tháng Năm đến tháng Tám. Đây cũng là cơ hội để Hoa Kỳ và Nhật Bản tổ chức một loạt các cuộc thao diễn hải quân kéo dài và các chuyến bay giám sát biển với Việt Nam ngay trước khi các lực lượng Trung Quốc xuất hiện và suốt trong thời gian từ tháng Năm đến tháng Tám. Chi tiết của tất cả các hoạt động này sẽ hoàn toàn minh bạch đối với mọi quốc gia trong khu vực, kể cả Trung Quốc.

Chiến lược gián tiếp này của Việt Nam tạo phương tiện cho Hoa Kỳ bày tỏ một cách cụ thể chính sách công khai chống lại việc sử dụng hình thức đe dọa và chèn ép để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Chiến lược gián tiếp của Việt Nam không đòi hỏi Hoa Kỳ phải trực tiếp đối đầu với Trung Quốc. Chiến lược của Việt Nam đặt gánh nặng lên vai Trung Quốc trong việc quyết định có nên hay không nên chấp nhận rủi ro do việc tấn công các đội hình quân sự hỗn hợp gồm tàu Hải quân và máy bay Việt Nam hoạt động cùng với các đồng minh của Mỹ, tức Philippines và Nhật Bản, hoặc với nhân viên quân sự Mỹ.

Những lực lượng hải quân và không quân này sẽ hoạt động trong vùng biển và vùng trời quốc tế. Mục tiêu là duy trì một sự hiện diện liên tục của hải quân và không quân để ngăn chặn việc Trung Quốc dùng đe dọa và chèn ép đối với Việt Nam. Khả năng ngăn chặn có thể được tăng cường bằng cách trao đổi các thủy thủ đoàn và các phi hành đoàn trong tất cả các cuộc diễn tập. Phạm vi và cường độ của những cuộc diễn tập này có thể thay đổi tùy theo mức độ của các căng thẳng.

Chiến lược ngăn chặn thứ hai mà Việt Nam có thể dùng đến, là “bảo đảm hủy diệt lẫn nhau”, chỉ được áp dụng cho một tình thế nghiệt ngã khi quan hệ Việt-Trung tồi tệ đến mức trở thành xung đột vũ trang. Các nhà chiến lược Việt Nam lý luận rằng mục đích của chiến lược này không phải là đánh bại Trung Quốc mà chỉ gây đủ thiệt hại vật chất và bất ổn tâm lý khiến giá bảo hiểm của Công ty Lloyd đối với các tàu biển tăng vọt và khiến các nhà đầu tư nước ngoài hoảng hốt bỏ chạy.

Theo chiến lược này, nếu xung đột vũ trang bùng nổ, Việt Nam sẽ dành ưu tiên cho việc nhắm vào các thương thuyền và các tàu chở dầu mang cờ Trung Quốc hoạt động trong vùng cực nam biển Hoa Nam [Biển Đông]. Việt Nam hiện có tên lửa đạn đạo phòng duyên có thể bắn đến các căn cứ hải quân Trung Quốc trên đảo Hải Nam và đảo Phú Lâm.

Một số nhà chiến lược Việt Nam còn tranh luận rằng Việt Nam phải mua ngay nhiều số lượng lớn các tên lửa đạn đạo có khả năng bắn đến Thượng Hải và thậm chí đến cả Hồng Kông. Trong trường hợp có xung đột vũ trang, những thành phố này và nhiều thành phố khác có thể trở thành mục tiêu pháo kích nhằm gây rối loạn rộng lớn cho nền kinh tế Trung Quốc. Việc này sẽ có một tác động toàn cầu. Các nhà chiến lược Việt Nam tin chắc rằng các cường quốc quan trọng sẽ can thiệp để chống lại hành động xâm lược của Trung Quốc.

Việt Nam đang cân nhắc một chiến lược mới, gồm việc gián tiếp lôi kéo các nước khác vào cuộc đối đầu với Trung Quốc của mình. Đây là một chỉ dấu cho thấy các quan chức và các nhà chiến lược Việt Nam coi những căng thẳng hiện nay như là một chiến lược dài hạn của Trung Quốc nhằm quyết đoán địa vị bá quyền không những tại biển Hoa Nam [Biển Đông] mà còn tại biển Hoa Đông. Sức thu hút của một chiến lược gián tiếp, minh bạch, và không khiêu khích nằm ở chỗ là nó cung cấp cho Nhật Bản, Philippines và Hoa Kỳ một phương cách ngặn chặn đường lối nguy hiểm hiện nay của Trung Quốc.

C. T.

Dịch giả gửi BVN.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Nhật Bản can dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông- Nhật cung cấp tàu tuần duyên cho Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

Biển Đông là con đường độc đạo để Trung Quốc và Nhật Bản và Nam Hàn…vận chuyển hàng hóa xuấtnhập khẩu.

Tất cả các cường quốc đều nhận ra vị trí chiến lược của Cam Ranh, của Biển Đông, của Hoàng Sa và Trường Sa…trừ chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhân vật lãnh đạo trong BCT và đảng csvn.  Bỏn không biết các món nầy. Hồ Chủ Tịch nói quần đảo HS và TS là các hòn đảo chim ỉa, nên bacs đã đổi chúng cho Trung Quốc để lấy vũ khí đánh Pháp, đánh Mỹ-Ngụy, giải phóng Miền Nam…

Riêng bọn nước ngoài coi Biển Đông là cực kỳ quan trọng. 

Khoảng 3/4 hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc là đi qua vùng Biển Đông. 

Trường hợp của Nhật Bản cũng vậy. “95% nhu cầu nhiên liệu trong nước và hầu hết số dầu nhập khẩu là được vận chuyển ngang qua Biển Đông. Ngoài ra, 99% hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu của Nhật cũng dựa vào đường biển, trong đó các loại hàng hóa bán sang các thị trường Âu châu, Đông Nam Á và Úc châu được vận chuyển qua Biển Đông.”

Bởi vậy,  Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe:  “những hoạt động khoan dầu đơn phương”của Trung Quốc làm cho căng thẳng leo thang và Nhật Bản “sẽ không bao giờ chấp nhận việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép.”

Ông Abe nói với tờ Wall Street Journal ông đã gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Vũ Đức Đam một ngày trước đó và được thông báo là Việt Nam “muốn được cung cấp các tàu tuần duyên đó càng sớm càng tốt”. Nhà lãnh đạo Nhật cho biết ông cũng muốn gia tốc tiến trình này.

Trích: “Tờ Yomiuri Shimbun ngày 28/5 trích nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Nhật cho hay lực lượng duyên phòng Nhật sẽ tới Biển Đông tham gia các cuộc diễn tập hỗ trợ nhân đạo tại Việt Nam, Campuchea, và Philippines vào tháng sau. Tàu Kunisaki của lực lượng tuần duyên Nhật dự kiến có mặt tại Việt Nam vào ngày 6/6.” 

(Việt Nam Muốn Tăng Cường Hợp Tác Quốc Phòng với Nhật Bản, (28-5-2014),  VOA )

Tàu Kunisaki của lực lượng tuần duyên Nhật dự kiến có mặt tại Việt Nam vào ngày 6/6.”

Nhật luôn luôn chơi rắn mỗi khi ngư dân TQ xâm phạm lãnh hải của họ. Họ dùng tàu tuần tra rượt đuổi tàu Trung Quốc và áp dụng luật pháp để phạt ngư dân Trung Quốc nào cố tình vi phạm đánh bắt cá trong vòng 200 dặm đăc quyền kinh tế đánh bắt cá dành riêng cho ngư dân Nhật. 

Nhật thường cho máy bay lên kèm sát hai bên, và ra lệnh  máy bay quân sự Trung Quốc phải rời khỏi không phận chủ quyền của Nhật. Năm 2013, máy bay Nhật rượt đuổi máy bay quân sự Trung Quốc  450 lần.

Nhật Bản can dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông

Thứ Tư, 28/05/2014

 VOA  Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ 

 

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe nói rằng Nhật Bản sẽ không bao giờ chấp nhận việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép

Trung Quốc mới đây lại lên tiếng cảnh báo Nhật Bản đừng can dự vào vụ tranh chấp lãnh thổ giữa Bắc Kinh với Việt Nam ở Biển Đông và tố cáo Tokyo có âm mưu khuấy động căng thẳng ở khu vực này để đạt mục tiêu “đục nước béo cò.”

Các nhà quan sát cho rằng sự can dự tích cực hơn của Nhật Bản vào vấn đề Biển Đông phát sinh từ mối lo ngại của chính phủ ở Tokyo về an ninh của tuyến đường hàng hải vô cùng quan trọng cho sự sống còn của nền kinh tế lớn hàng thứ 3 thế giới.

Hôm thứ ba (27-5-2014), không lâu sau khi có tin tàu đánh cá Việt Nam bị tàu đánh cá Trung Quốc đâm chìm gần giàn khoan Trung Quốc hạ đặt trong vùng biển mà Việt Nam cho là thuộc khu vực đặc quyền kinh tế của mình, hai giới chức cấp cao của chính phủ Nhật Bản đã lên tiếng chỉ trích điều mà họ gọi là “hành động cực kỳ nguy hiểm” của Trung Quốc.

Chánh văn phòng nội các Nhật Yoshihide Suga phát biểu tại một cuộc họp báo ở Tokyo rằng “Đây là một hành động cực kỳ nguy hiểm, có thể đe dọa tới sinh mạng con người.” Ông nói thêm rằng các nước liên hệ cần phải tránh thực hiện những hành động đơn phương làm cho căng thẳng gia tăng, phải tuân thủ luật pháp quốc tế, và xử lý các vấn đề một cách bình tĩnh.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Itsunori Onodera cũng cho báo chí biết rằng “vụ việc nghiêm trọng” này làm cho mọi người cảm thấy bất an. Ông cũng yêu cầu cộng đồng quốc tế làm rõ những sự việc liên quan tới vụ tàu cá Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam.

Phát biểu vừa kể của các giới chức ở Tokyo đã nhanh chóng gặp phải sự chỉ trích của phía Trung Quốc, là nước cũng đang có vụ đối đầu gay gắt với Nhật Bản về vấn đề chủ quyền của một nhóm đảo không người ở ở Biển Đông Trung Hoa mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku.

Tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm thứ ba, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương hối thúc “Nhật Bản tôn trọng sự thật và ngưng đưa ra những phát biểu vô trách nhiệm.”

Ông Tần cũng lập lại tố cáo là Nhật Bản đang tìm cách khuấy động tình hình Biển Đông để đạt mục tiêu mà ông gọi là “đục nước béo cò.”

Cuộc khẩu chiến hôm thứ ba giữa Tokyo và Bắc Kinh diễn ra trong lúc Nhật Bản ra sức tăng cường các mối quan hệ với những nước vùng Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền chồng lấn với yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là với Việt Nam và Philippines.

Trong cuộc phỏng vấn hôm thứ 6, (23 tháng 5, 2014) dành cho tờ Wall Street Journal, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã một lần nữa chỉ trích việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 tới vùng biển có tranh chấp với Việt Nam. Ông nói rằng “những hoạt động khoan dầu đơn phương”của Trung Quốc làm cho căng thẳng leo thang và Nhật Bản “sẽ không bao giờ chấp nhận việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép.”

Tháng 12 năm ngoái, chính phủ Nhật Bản đã tặng 10 chiếc tàu tuần duyên cho Philippines và cho biết một cuộc điều đình đang được tiến hành để cung cấp một sự trợ giúp tương tự cho Việt Nam.

Ông Abe nói với tờ Wall Street Journal ông đã gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Vũ Đức Đam một ngày trước đó và được thông báo là Việt Nam “muốn được cung cấp các tàu tuần duyên đó càng sớm càng tốt”. Nhà lãnh đạo Nhật cho biết ông cũng muốn gia tốc tiến trình này.

Theo các nhà phân tích, sự can dự nhiều hơn của Nhật Bản vào vấn đề Biển Đông phát xuất từ mối lo ngại đối với an ninh của tuyến đường hàng hải vô cùng quan trọng cho nền kinh tế Nhật, giữa lúc Trung Quốc không ngừng gia tăng sức mạnh quân sự và thực hiện những hành động ngày càng hung hãn trong những vụ tranh chấp chủ quyền với các lân bang ở Á châu.

Các nhà quan sát nói rằng Nhật Bản phải dựa vào nhập khẩu để thỏa mãn 95% nhu cầu nhiên liệu trong nước và hầu hết số dầu nhập khẩu là được vận chuyển ngang qua Biển Đông. Ngoài ra, 99% hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu của Nhật cũng dựa vào đường biển, trong đó các loại hàng hóa bán sang các thị trường Âu châu, Đông Nam Á và Úc châu được vận chuyển qua Biển Đông. Theo ước tính của các chuyên gia, trong trường hợp phải đi đường vòng sang phía đông Philippines, giá thành của các sản phẩm chế tạo của Nhật Bản sẽ tăng 25%. Do đó, Nhật Bản xem Biển Đông là “tuyến đường huyết mạch” của mình và tìm đủ mọi cách để bảo vệ.

Theo tường thuật của báo chí Nhật Bản và Trung Quốc, tại một cuộc hội thảo ở Tokyo hôm 22 tháng 5, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nói rằng Trung Quốc và Nhật Bản có thể xảy ra chiến tranh trong vòng 20 năm tới đây.

Nhà lãnh đạo Singapore cho rằng Á châu có thể có một tương lai tốt đẹp nếu cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều muốn làm việc chung với Hoa Kỳ để duy trì sự ổn định và thịnh vượng của khu vực. Ông Lý Hiển Long nói thêm rằng trong trường hợp giới lãnh đạo ở Bắc Kinh không chịu hợp tác với Nhật Bản và các nước khác trong vùng, Trung Quốc có thể xảy ra chiến tranh với Nhật Bản vì vụ tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư hay với các nước Á châu khác vì vụ tranh chấp Biển Đông dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Ông Lý Hiển Long cho rằng chính vì lý do đó mà Hoa Kỳ nên tiếp tục duy trì sự hiện diện trong khu vực, và ông tin rằng với sự trợ giúp của Washington, Á châu có thể né tránh được nhiều phần của tương lai u ám đó.

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Giàn khoan 981 di chuyển qua vị trí mới nhưng cũng vẫn còn xâm phạm vào vùng lãnh hải đặc quyền kinh tế EEZ của Việt Nam theo luật và lệ quốc tế cũng như chính luật của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

 

Có gì thay đổi với vị trí mới của giàn khoan 981?

Phan Văn Song
29-5-2014

Theo thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc ngày 27/05/2014, giàn khoan 981 của họ sẽ dời sang vị trí mới ở toạ độ 15°33.38′ N và 111°34.62’E (lưu ý 111 độ 34.62 phút chứ không phải 111 độ 34 phút 62 giây như một vài báo đưa tin – phút viết dưới dạng thập phân).

Theo Google Earth thì vị trí mới cách đảo Lí Sơn khoảng 142 hải lí (trước là 119 hải lí), cách ranh ngoài của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khoảng 57 hải lí. (xem bản đồ)

hd_981new.jpg

Như vậy, việc di chuyển này không làm thay đổi tình trạng Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam vì giàn khoan 981 vẫn còn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Lưu ý rằng vị trí mới cách đảo Tri Tôn (mà họ chiếm của Việt Nam bằng vũ lực hồi năm 1974) khoảng 25 hải lí và cách đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa (mà họ tự tuyên bố năm 1996) khoảng 17 hải lí. Do đó, chắc chắn Trung Quốc sẽ dùng lập luận cũ để biện bạch cho việc đặt giàn khoan rằng vị trí này nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa mà họ có chủ quyền. Cách lập luận của họ có thể làm cho số đông công chúng không có điều kiện theo dõi luật lệ, lịch sử cũng như các hiểu biết về thực tế các đảo trên biển Đông dễ tin rằng việc làm của họ là chính đáng, hợp pháp. Chẳng hạn, họ như họ nhấn mạnh khoảng cách khá gần của giàn khoan với đảo Tri Tôn, làm người nghe dễ bị thuyết phục rằng giàn khoan nằm trong vùng biển được hưởng của đảo này vốn đang do họ quản lí. Nhưng sự thực, theo những nghiên cứu về địa pháp lí thì đảo Tri Tôn không thể là một đảo theo nghĩa của Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) mà chỉ là đảo đá. Tức là nó chỉ có lãnh hải 12 hải lí, không có EEZ lẫn thềm lục địa (CS). Do đó, dù ở gần đảo Tri Tôn nhưng giàn khoan vẫn nằm ngoài vùng biển mà đảo này có thể được hưởng theo UNCLOS, chưa kể đảo đó là do họ chiếm bằng vũ lực như đã nêu.

Hoặc Trung Quốc cũng nói rằng đảo Tri Tôn là một điểm cơ sở thuộc đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa. Điều khiến người nghe có thể suy rằng giàn khoan sẽ nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa được hưởng theo luật quốc tế. Tuy nhiên, đường cơ sở thẳng của quần đảo Hoàng Sa (đa giác màu hường trong bản đồ trên) do họ tuyên bố không theo quy định nào trong Công Ước LHQ về luật biển (trong Công ước chỉ có quy định đường cơ sở vẽ theo cách này cho các quốc gia quần đảo như Philippines, Indonesia…), chưa kể tới việc họ dùng vũ lực để chiếm nó từ Việt Nam hồi năm 1974. Vì đường cơ sở này có vấn đề nên khó nói tới lãnh hải, EEZ hay thềm lục địa của toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Do đó, nói vị trí giàn khoan (cũ lẫn mới) nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa dù theo nghĩa là lãnh hải (chắc chắn không được vì quá 12 hải lí đối với đảo Tri Tôn và đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa) hay EEZ hoặc CS chỉ là nói bừa.

Một vài học giả Trung Quốc cũng đưa thêm luận điệu là giàn khoan nằm trong EEZ của đảo Phú Lâm vì vị trí mới cách đảo này 88 hải lí (< 200 hải lí). Trước nhất, cần lưu ý rằng đảo Phú Lâm nằm trong tình trạng tranh chấp, và ngay cả khi chủ quyền đảo này thuộc Trung Quốc thì cũng còn nhiều lỗ hổng trong lập luận đó. Dù đảo Phú Lâm là lớn nhất, có diện tích khoảng 200 ha nhưng nó không có nước ngọt, phải nhờ vào việc tích trữ nước mưa và nước ngọt đưa từ Hải Nam tới để sinh hoạt. Do đó, khó có cơ sở để cho rằng nó có thể ‘duy trì được sự cư trú của con người và có đời sống kinh tế riêng’ để được hưởng quy chế đảo như quy định trong điều 121 UNCLOS. Lưu ý thêm rằng tỉ lệ khoảng cách từ vị trí mới của giàn khoan tới đảo Lí Sơn so với khoảng cách từ đó đến đảo Phú Lâm là 142:88 (tức vào khoảng 1,6:1). Tỉ lệ này bé hơn nhiều so với tỉ lệ mà các toà án quốc tế hay các hiệp định đã dùng để điều chỉnh trung tuyến phân chia EEZ chồng lấn cho tới nay (ví dụ tỉ lệ 3:1 trong vụ Nicaragua kiện Colombia, hoặc tỉ lệ 4:1 trong hiệp ước phân giới vịnh Bắc bộ cho trường hợp đảo Bạch long Vĩ của Việt Nam – đảo này có diện tích tương đương đảo Phú Lâm và hơn nữa lại có nước ngọt tại chỗ). Do đó, ngay cả khi đảo Phú Lâm đúng là đảo theo nghĩa của UNCLOS thì theo các cách phân chia như vừa nêu và kể cả nguyên tắc công bằng trong luật về EEZ và CS năm 1998 1của chính Trung Quốc thì EEZ của nó cũng không thể vươn hơn 88 hải lí. Tức là, lập luận cho rằng vị trí (cũ lẫn mới) của giàn khoan nằm trong EEZ của Phú Lâm cũng không có cơ sở trong luật 2 lệ quốc tế.

Để ý rằng từ khi bắt đầu vụ đặt giàn khoan trái phép đến nay họ chưa dùng đường lưỡi bò để bào chữa cho hành vi ngang ngược của mình. Đây là điều có thể hiểu được vì đường này vốn bị công luận thế giới phản đối. Hơn nữa, nếu dùng đường lưỡi bò làm cơ sở chắc chắn họ sẽ bị các nước ASEAN có tranh chấp trong biển Đông như Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia… cùng lên tiếng phản đối. Đó là điều thất lợi cho họ, đấu đá với một mình Việt Nam dễ hơn nhiều.

Họ cũng chưa dùng EEZ của đảo Hải Nam để bào chữa cho việc đặt giàn khoan dù nó cách đảo này dưới 200 hải lí. Có lẽ họ thấy rõ nếu dùng cơ sở này thì công chúng dễ phát hiện là Trung Quốc đã không đảm bảo nguyên tắc công bằng khi giành EEZ quá xa 183 hải lí cho vị trí cũ (hay 190 hải lí) so với 119 hải lí (hoặc 141 hải lí) phía Việt Nam. Do đó, họ dễ bị công chúng phản đối hơn.

Tóm lại, dù giàn khoan 981 ở vị trí nào thì Trung Quốc cũng đã xâm phạm vào EEZ của Việt Nam theo luật và lệ quốc tế cũng như chính luật của Trung Quốc. Tức là, vẫn không có biến chuyển gì theo hướng tích cực từ phía Trung Quốc trừ khi họ rút giàn khoan ra xa khu vực quần đảo Hoàng Sa về phía bên kia trung tuyến giả định (màu xanh sậm trong bản đồ trên).

Phan Văn Song
____________________________________________________________

1 Đoạn 3 trong Điều 2 của luật này nêu: “Các yêu sách mâu thuẫn liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ được giải quyết, trên cơ sở luật pháp quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc công bằng (người viết nhấn mạnh), bởi một hiệp định phân định cho các khu vực yêu sách đó.”

2 Điểm 1 Điều 74 của UNCLOS nêu: “Việc hoạch định ranh giới EEZ giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diên nhau được thực hiện bằng con đường thoả thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Ðiều 38 của Quy chế Toà án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng (người viết nhấn mạnh).”

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Con đường nào cho Việt Nam để gỡ thế bí ở Biển Đông ?

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

Con đường nào cho Việt Nam để gỡ thế bí?

 

 

Người Việt xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, ngày 11/5/2014. 29-5-2014

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài phát biểu tại Philippines mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu đích danh Trung Quốc là kẻ “vi phạm luật pháp quốc tế”, “xâm phạm nghiêm trọng vùng biển của các quốc gia ven biển”, “đe doạ nghiêm trọng hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải tại Biển Đông.”Sau đó, trong cuộc tiếp xúc với báo chí, ông khẳng định: “Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”

Nghe những lời tuyên bố hùng hồn ấy, rất nhiều người ở Việt Nam cảm thấy an tâm, và nhiều người đặt hết sự tin tưởng vào Nguyễn Tấn Dũng; họ hy vọng, qua ông, đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam sẽ lãnh đạo đất nước vượt qua những thách thức hiểm nghèo trong hiện tại.

Tôi cũng hy vọng vậy, nhưng tiếc, tôi lại không thể tin tưởng và an tâm. Tôi không thể không nhớ giữa năm 2011, lúc tàu hải giám Trung Quốc ngang nhiên tiến sâu vào hải phận Việt Nam, cắt dây cáp ngầm của tàu thăm dò dầu khí được hải quân Việt Nam bảo vệ, giới lãnh đạo Việt Nam cũng lên tiếng một cách cứng rắn như vậy.

Tàu hải giám Trung Quốc ở ngoài khơi tỉnh Phú Yên hôm 26/5/2011 

Ngày 7/6, khi đến thăm huyện đảo Cô Tô, Chủ tịch nước (lúc ấy) Nguyễn Minh Triết khẳng định:“Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước. Biết bao thế hệ đã hi sinh xương máu để có được Tổ quốc như ngày nay. Vì vậy, chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng tất cả để bảo vệ quê hương, bảo vệ chủ quyền biển đảo.”

Ngày 8/6, tại Nha Trang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” Đồng thời, ông khẳng định: “Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.”

Rồi sao nữa? Sau đó, chả có gì xảy ra cả. Tàu Trung Quốc vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền trên con đường lưỡi bò của họ; tiếp tục sách nhiễu các tàu đánh cá Việt Nam; tiếp tục bắt nạt chính quyền Việt Nam; và mới đây nhất, đưa giàn khoan HD-981 vào ngay thềm lục địa Việt Nam. Trong suốt thời gian ấy, dân chúng vẫn tiếp tục bị cấm biểu tình, những người tiếp tục kiên cường lên tiếng chống Trung Quốc vẫn bị bôi nhọ, hơn nữa, còn bị bắt bớ và bỏ tù. Không có gì thay đổi, từ cả hai phía: sự hung hãn và ngang ngược của Trung Quốc cũng như sự bất động đầy nhu nhược của Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF). 

Bây giờ Nguyễn Tấn Dũng cũng lặp lại những gì chính ông đã nói và Trương Tấn Sang cũng lặp lại những gì người tiền nhiệm của ông, Nguyễn Minh Triết, đã nói. Xin lưu ý một điều: trong cả biến cố tàu Bình Minh 02 bị tàu hải giám Trung Quốc uy hiếp vào ngày 26 tháng 5 và ngày 9 tháng 6 năm 2011 cũng như hiện nay, Nguyễn Phú Trọng vẫn im thin thít. Ông không hề phát biểu bất cứ điều gì cả. Chỉ có tin đồn là ông xin qua Trung Quốc để gặp Tập Cận Bình hai lần nhưng không được. Vậy thôi. Không ai nghe được từ ông bất cứ một lời phát biểu nào. Trong khi đó, trên nguyên tắc, chính ông, với tư cách Tổng bí thư đảng, có quyền lực hơn hẳn cả Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang. Vậy mà ông lại im lặng.

Mai này, nếu có ai đó hỏi Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang tại sao Việt Nam không chịu kiện Trung Quốc ra trước toà án quốc tế hoặc không tìm kiếm sự giúp đỡ của các nước khác trong thế trận đương đầu với Trung Quốc, không chừng lúc ấy, cả ông Sang và ông Dũng sẽ lại than thở: Đảng chưa cho phép!

Rồi thôi. Đâu lại vẫn vào đó. Việt Nam lại để mặc cho Trung Quốc lấn từ từ. Từ từ. Hơn nữa, nếu chính quyền Việt Nam làm thật những điều họ nói thì họ có thể làm được gì?

Trước hết, về phương diện quân sự, với ngân sách quốc phòng chỉ bằng 1 phần 60 của Trung Quốc, người ta dễ dàng nhận thấy Việt Nam hoàn toàn không phải là đối thủ của Trung Quốc. Không nên dùng cuộc chiến biên giới năm 1979 để vớt vát niềm tin. Trung Quốc bây giờ không phải là Trung Quốc lúc ấy và Việt Nam bây giờ cũng khác hẳn những năm sau 1975, lúc lực lượng phòng không còn rất mạnh khiến Trung Quốc phải e dè không dám sử dụng không quân và cũng là lúc từ bộ đội đến tướng lĩnh đều dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.

Bây giờ thì về mọi mặt, Việt Nam đều ở thế yếu. Nếu chiến tranh bùng nổ, liệu có nước nào sẵn sàng ra tay để cứu Việt Nam? Nước duy nhất Việt Nam có thể hy vọng là Mỹ. Nhưng Mỹ chả có lý do gì để giúp Việt Nam khi Việt Nam chưa phải là một người bạn thân thiết của Mỹ. Hơn nữa, nếu chính phủ Mỹ muốn giúp, Quốc hội Mỹ chưa chắc đã đồng ý. Nếu Quốc hội đồng ý, dân chúng Mỹ chưa chắc đã đồng tình. Nếu dân chúng Mỹ không đồng tình, chính phủ Mỹ cũng đành thúc thủ.

Về phương diện pháp lý, gần đây, một số người trong giới lãnh đạo Việt Nam úp úp mở mở về việc họ có thể kiện Trung Quốc ra trước tòa án Liên Hiệp Quốc. Trên các diễn đàn mạng, hầu như mọi người đều hoan nghênh sáng kiến ấy. Nhưng theo tôi, đó là một công việc phức tạp mà chính quyền Việt Nam cần phải cân nhắc thật kỹ.

Lý do, rất đơn giản:

  1. Nếu Trung Quốc thua kiện và bị tòa ra án lệnh phải rút giàn khoan ra khỏi thềm lục địa Việt Nam, hoặc xa hơn, rút quân ra khỏi đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa và không được cho các tàu hải giám quấy nhiễu các tàu đánh cá Việt Nam thì chắc chắn Trung Quốc sẽ phớt lờ án lệnh ấy, và, cũng chắc chắn, sẽ chả có ai dám làm gì Trung Quốc.
  2. Nhưng nếu vì lý do nào đó, ví dụ vì cái công hàm do Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, toà án ra phán quyết Việt Nam thua thì chắc chắn Việt Nam sẽ phải tuân theo án lệnh ấy, ngay cả việc thừa nhận con đường lưỡi bò ngang ngược của Trung Quốc. Nếu Việt Nam kháng cự lại án lệnh ấy, Trung Quốc càng có thêm lý do chính đáng để tấn công Việt Nam. Lúc ấy, sẽ chả có ai dám bênh vực Việt Nam cả.

Trong trường hợp thứ nhất, thắng trước tòa, nhưng thật ra, Việt Nam chỉ thắng về phương diện tuyên truyền. Trong trường hợp thứ hai, Việt Nam thua trắng tay.

Như vậy, Việt Nam có thể làm điều gì?

Chính quyền Việt Nam hay nói đến biện pháp giải quyết xung đột bằng ngoại giao. Ừ, thì cũng được. Nhưng nên nhớ điều này: Trên bàn hội nghị, một nhà ngoại giao giỏi là người có một thứ vũ khí gì đó mạnh hơn đối phương. Đừng hy vọng gì Việt Nam có thể dùng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông khi Việt Nam rõ ràng là đang ở thế yếu, rất yếu. Đừng hy vọng. Vô ích.

Cuối cùng, biện pháp duy nhất Việt Nam có thể làm được là chuẩn bị chiến tranh để chiến tranh không xảy ra. Bằng cách nào? Chỉ có một cách: Sử dụng sức mạnh của quần chúng. Bằng cách nào? Chỉ có một cách: Cho phép dân chúng bày tỏ lòng yêu nước và sự căm ghét ngoại xâm của họ, và tạo nên sự đoàn kết thực sự giữa chính quyền và dân chúng để Trung Quốc thấy là họ không thể khuất phục dân tộc Việt Nam bằng các biện pháp quân sự.

Điều duy nhất khiến Trung Quốc có thể e dè trước Việt Nam không phải là tài trí của giới lãnh đạo, sự tối tân của vũ khí hay sự thiện chiến của quân đội Việt Nam (thật ra, hầu hết bộ đội Việt Nam, từ lính đến tướng, đều không có hoặc có rất ít kinh nghiệm chiến trường!) mà chính là con người Việt Nam vốn nổi tiếng bất khuất.

Bởi vậy, đàn áp dân chúng, không cho dân chúng biểu tình là một cách giấu giếm sức mạnh lớn nhất của mình: Đó là một quyết định dại dột.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

—————–

KHÔNG QUÊN ĐƯỢC

22-5-2014

Rất nhiều lần trong ngày, tôi cứ tự nhủ thầm: Thôi, đừng viết về chính trị nữa. Thôi, quên đi cái giàn khoan HD-981. Quên đi những âm mưu đen tối ở Biển Đông của Trung Quốc. Quên đi những ông Trọng, Sang, Dũng, Hùng với những lời nói và những việc làm nếu không điên rồ thì cũng ngu xuẩn. Quên đi những đứa bạn ở Việt Nam đi đâu cũng có công an theo dõi, thậm chí, ngồi trong nhà cũng có công an rình rập ngoài ngõ. Quên hẳn đi cái nước Việt Nam khốn khổ ở xa, thật xa, xa lơ xa lắc, có khi đến chết, mình vẫn không về được. Quên, quên hết. Vậy mà tôi vẫn không quên được. Bật computer, vào các trang báo mạng, ngay cả bằng tiếng Anh, tôi cứ loay hoay tìm những tin tức liên quan đến Việt Nam để đọc trước; bằng tiếng Việt, tôi cứ chăm chăm tìm những tin tức liên quan đến cách giải quyết các tranh chấp ngoài biển khơi và các hậu quả của chúng. Không quên được. Không thể nào quên được. Tôi cứ khổ sở về cái không-thể-quên-được ấy của mình. Tôi phải làm gì bây giờ nhỉ? (Nguyễn Hưng Quốc)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►TT Obama: Hoa Kỳ sẵn sàng đáp lại sự gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

[​IMG]

.Đường lưỡi bò

Theo đài RFA

29-5-2014

Bắc Kinh cho rằng hầu như toàn bộ Biển Đông là lãnh hải của họ.

Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền hầu hết Biển Đông, bất chấp sự phản đối của các nước láng giềng, đang gây ra nhiều căng thẳng về an ninh trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, nơi bao gồm cả các quyền lợi của Mỹ.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trong bài nói chuyện về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại học viện quân sự West Point ngày hôm qua, tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẵn sàng đáp lại sự gây hấn của Trung Quốc đối với các nước láng giềng của họ.

Ông Obama nói: “Một hành động gây hấn dù là ở Nam Ukraine, Biển Đông hay bất cứ nơi nào khác trên thế giới đều có ảnh hưởng đến đồng minh của Hoa Kỳ và có thể kéo theo hành động quân sự của nước Mỹ”.

Tuy nhiên Tổng thống Barack Obama nhấn mạnh là cần phải cẩn trọng khi sử dụng vũ lực. Ông còn cho rằng ảnh hưởng của Hoa Kỳ luôn mạnh hơn khi nước Mỹ làm gương đi đầu.

Theo Tổng thống Barack Obama thì Hoa Kỳ không thể giải quyết được vấn đề tại Biển Đông khi mà từ chối không phê chuẩn Công ước về luật biển.

Hiện Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn công ước này.

Xin nhắc lại rằng khi bắt đầu cuộc khủng hoảng giàn khoan của Trung Quốc trong thềm lục địa Việt Nam, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã gọi hành động của Trung Quốc là khiêu khích.

Nghị quyết về Biển Đông

Cùng với hành pháp Mỹ, các nhà lập pháp tại Thượng viện Hoa Kỳ cũng tỏ ra bất bình trước các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thượng nghĩ sĩ Benjamin Cardin hiện đang dẫn đầu một phái đoàn các nghị sỹ Mỹ thăm Việt Nam nói rằng hành động đơn phương nguy hiểm của Trung Quốc là không thể chấp nhận được.

Đây là phát biểu được ông Benjamin Cardin đưa ra trong cuộc họp báo hồi chiều nay tại Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội, liên quan đến việc tàu cá Việt Nam lại vừa bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở Biển Đông.

 

Video: Tàu Trung Quốc lại đâm chìm tàu cá Việt Nam

.

http://youtu.be/Wp8LrDXzxpA   

.

Thượng nghĩ sĩ Benjamin Cardin cũng nói rằng ông có theo dõi việc di chuyển dàn khoan của Trung Quốc và vị trí mới của giàn khoan vẫn còn nằm trong thềm lục địa Việt nam.

Ông tiết lộ là Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ mà trong đó ông là Chủ tịch Tiểu ban Châu Á Thái Bình Dương, đang cân nhắc việc ra một nghị quyết về tình hình hiện nay ở Biển Đông.

Ông nói thêm là sau chuyến làm việc ở Việt Nam, khi sang Singapore tham dự diễn đàn an ninh khu vực mang tên Shangrila, ông sẽ đưa sự việc giàn khoan Trung Quốc ra trước diễn đàn này.

Được biết là trước cuộc họp báo ông Benjamin Cardin có buổi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và trong buổi gặp này Thủ tướng Viêt Nam có đề nghị phía Hoa Kỳ có tiếng nói mạnh mẽ hơn về hành động bất hợp pháp của Trung Quốc.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Mặc cho Trung Quốc chửi bới thế nào đi nữa cũng vẫn theo – Trái tim nhầm chỗ để trên đầu

Posted by hoangtran204 trên 28/05/2014

Trái tim nhầm chỗ để trên đầu

26-5-2014

Nguyễn Quang A

TS Nguyễn Quang A

Không đứa trẻ Việt Nam nào không biết câu đánh giá “trái tim nhầm chỗ để trên đầu” về sai lầm của Mỵ Châu và vua cha đã dẫn đến thảm họa cho dân tộc. Đó là một nét hay trong văn hóa Việt Nam: chúng ta biết tự phê phán mình. Và tư duy phê phán ấy phải được nuôi dưỡng, khuyến khích để tạo nên sức mạnh của dân tộc này.

Đáng tiếc chế độ toàn trị đã tìm mọi cách hủy diệt tư duy phê phán và trong cái tội tầy đình này với dân tộc thì cảnh sát tư tưởng đứng ở vị trí hàng đầu. Cảnh sát thông thường cung cấp cho dân chúng những dịch vụ thiết yếu: buộc thực thi pháp luật, trật tự, sự bình yên, trấn áp tội phạm; để đổi lại nhân dân phải đóng thuế để nuôi lực lượng đó và trong bất cứ chế độ nào đều cần đến cảnh sát. Tuy vậy, cảnh sát tư tưởng, lực lượng phản động nhất, phản dân tộc và dân chủ nhất chỉ tồn tại trong các chế độ độc tài và nó không mang lại bất cứ giá trị nào cho xã hội ngoài sự hủy hoại và sự đồi bại.

Trong bối cảnh cảnh sát tư tưởng hoành hành, không lạ là rất rất nhiều người Việt Nam đã để nhầm trái tim lên đầu.

Một tay phóng viên nào đó của hãng thông tấn Nga, RIA Novosti, trong một bài báo nhân dịp Nga và Trung Quốc ký hợp đồng 400 tỷ USD về khí đốt, về việc Nga cung cấp cho Trung Quốc nhiều máy bay lên thẳng quân sự hiện đại, đã cho rằng “Hoàng Sa là của Trung Quốc”. Bài báo ấy đã gây sự phẫn nộ đùng đùng trên mạng và báo chí chính thống.

Rất nhiều người Việt nam đã học ở Nga, họ yêu nước Nga và vun đắp cho tình hữu nghị Việt-Nga (cũng thế với Trung Quốc). Rất đúng. Nhưng không ít người do để nhầm trái tim lên đầu đã tỏ ý tán thành những hành động của Sa hoàng mới với Crimea và Ukraina. Cảnh sát tư tưởng đi đầu: chỉ ngó cách đưa tin của TV và báo chí chính thống thì rõ.

Bài báo của tay phóng viên [Nga] kia cũng khiến nhiều người đặt nhầm trái tim lên đầu phải thức tỉnh. Nhân dân Nga vĩ đại là khác với chính quyền Sa hoàng mới và những kẻ bồi bút. Và nhận ra thế là điều tốt. Đừng trách cái tay phóng viên ấy, những người Việt Nam hãy trách chính mình: sao họ lại quên bài học mà đứa trẻ nào cũng biết (nhưng “nhờ ơn” cảnh sát tư tưởng nên họ, những người trưởng thành, đã quên mất rồi).

Đúng ¼ thế kỷ trước, tôi có dịp gặp ông Đỗ Mười, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng khi đó, để đề xuất cho chúng tôi mua lại món nợ của Việt Nam với Liên Xô có giá trị hơn 12 tỷ rúp chuyển nhượng (tỷ giá chính thống khi đó 1 USD = 0,6 Rúp chuyển nhượng). Ông bảo thế các chú định lừa ông anh cả à? Tôi bảo ông, bọn kinh doanh chúng tôi thuận mua vừa bán, chẳng lừa ai cả. Tôi đưa hợp đồng ra nói với ông rằng cái máy xúc đặc biệt này mà Nhà nước Việt Nam đã mua của ông anh cả theo nghị định thư có giá 500.000 rúp chuyển nhượng và tạo thành một phần của món nợ khủng ấy, còn tôi mua đúng cái máy đó chỉ có 5.000; chẳng ai lừa ai cả. Con số đó làm ông sốc, làm ông thức tỉnh. Tay phóng viên RIA Novosti đó nói bậy, hãy hiểu hắn và phản bác hắn nhưng không cần quá nhiều xúc cảm.

Trái tim để lên đầu tai hại thế đó: với dân thường đã là nguy hiểm, với các nhà lãnh đạo đó là tai họa cho dân tộc.

Việc nhà cầm quyền Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan HD-981 tại vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam làm cho một số nhà lãnh đạo Việt Nam bừng tỉnh. Quá lâu họ đã đặt trái tim lên đầu và không nghe nhân dân những người đã thức tỉnh từ lâu. Cái mặt nạ 4 tốt, 16 chữ vàng đã rớt xuống tan tành. Và sự bừng tỉnh đó, việc đặt trái tim đúng chỗ và dùng cái đầu lạnh để phán xét, để kích thích tư duy phê phán, để xây dựng tình hữu nghị đích thực với Trung Quốc là một dấu hiệu hết sức đáng mừng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều kẻ ăn phải bùa mê, thuốc lú đang lấp lửng, chần chừ, luyến tiếc, thậm chí vẫn coi những thứ bùa mê ấy của nhà cầm quyền bành trướng là bảo bối phải giữ gìn. Cũng chẳng lạ, hóa ra họ toàn là cảnh sát tư tưởng và vài kẻ ăn theo! Không rõ các đảng viên của Đảng CSVN để cho những kẻ lú lẫn như vậy lãnh đạo mình có cảm thấy xấu hổ hay không? Người tử tế chắc chắn phải xấu hổ. Những người còn lương tri trong hàng ngũ các đảng viên của Đảng CSVN, mà tôi tin còn khá đông, hãy đặt trái tim mình đúng chỗ và hãy lên tiếng, hành động, ngăn cản hoặc vô hiệu hóa ngay lập tức những kẻ như vậy đang lãnh đạo mình, nếu họ còn muốn có đóng góp tích cực nào đó cho đất nước và dân tộc. Khác đi, tiếp tục đặt trái tim nhầm chỗ, ù lì, vô cảm, cam chịu, không thức tỉnh, không xổ cái bù mê thuốc lú ấy ra khỏi mình, thì các vị cũng sẽ bị lịch sử vất vào sọt rác và bị ô danh với con cháu muôn đời. Đừng để điều đó xảy ra với các bạn.

Hãy để trái tim đúng chỗ, hãy thức tỉnh và đi cùng dân tộc. Chỉ có việc xây dựng nền dân chủ thực sự, từ bỏ chế độ độc tài toàn trị, xây dựng nền pháp trị hiện đại, tôn trọng các quyền con người, các quyền dân sự và chính trị của người dân mới là con đường tự cứu được các vị và là con đường cứu nước, cứu dân tộc, và cũng là con đường đưa đất nước tiến lên. Không liên minh để chống nước thứ ba, nhưng cần liên minh để bảo vệ đất nước.

Cơ hội ngàn năm có một để thoát Hán, để xây dựng tình hữu nghị đích thực, chứ không phải thứ hữu nghị “viển vông, lệ thuộc” với Trung Quốc (hay các quốc gia khác). Đừng bỏ phí cơ hội, hãy chung tay hành động cùng nhân dân.

© Nguyễn Quang A

nguồn: danchimviet.info

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Trong khi TBT đảng CSVN nói: Tình hình Biển Đông không có gì mới, thì Trung Quốc đã xây xong một hòn đảo nhân tạo ở GẠC MA, dùng làm căn cứ quân sự bảo vệ tuyến đường biển vận chuyển 3/4 tổng số hàng hóa của TQ bán ra thế giới

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2014

(Cập nhật 19-6-2014) – Muốn thắng, phải có lý của kẻ mạnh- (Nguyễn Thanh Giang): CIA đặt văn phòng ở Hà Nội- Mỹ vào đặt căn cứ  quân sụư ở Cam Ranh-. ..

 

3 điểm chính của  bài dưới đây như  sau:

*Nhà nước tuyên bố, tin tưởng vào TQ tuyệt đối

*Trung Quốc xây đảo Gạc Ma

*Xúi giục ngư dân ra Biển Đông đối đầu với TQ

 

Nguyễn Phú Trọng: Tình hình Biển Đông không có gì mớihttp://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/397259/De-nghi-bao-cao-Quoc-hoi-tinh-hinh-Vinashin.html

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tuyên bố: “Trên biển Đông là yên tĩnh, tôi chỉ huy quân đội hằng ngày, hằng giờ, tôi nắm tình hình hoạt động của chúng ta hết sức bình thường. Vẫn làm, vẫn hoạt động kinh tế bình thường, hàng hải bình thường, du lịch bình thường, làm ăn bình thường và không có vấn đề gì trở ngại cả.” (Không nên làm nóng tình hình biển Đông)

Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Thanh thì tỏ ý tin tưởng: “Trung Quốc không sử dụng sức mạnh của mình để làm phương hại đến lợi ích của các nước khác, không làm phương hại đến hoà bình, ổn định của khu vực và trên thế giới”.

Chính sách ‘ba không’ của quốc phòng Việt Nam: – Nên có thêm: chính sách KHÔNG PHÒNG BỊ cho chẵn 4 không.

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định chính sách “ba không” của Việt Nam, và nhấn mạnh rằng mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước láng giềng là “tốt đẹp”.

Mọi chuyện không nên lo, đã có nhà nước lo…

Đảng CSVN và BCT do tứ trụ H,D,S, T cầm đầu đã có công giúp Trung Quốc  tiếp thu quần đảo Trường Sa.

Đường Lưỡi bò 9 đoạn  trở thành hiện thực. Tính đến nay 64 năm, kể từ ngày Hồ Chủ Tịch qua Trung Quốc cầu viện, và coi các  hòn đảo HS và TS là đảo cứt chim, rồi dùng nó để đổi chác cho sự nghiệp thành công của đảng.

>>PTT Vũ Đức Đam: Độc lập dân tộc quý hơn vàng | giadinh 

  •  May 17, 2014 – Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tới Bệnh viện Nhi TƯ thăm bệnh nhân sởi›› … Đời tôi và các bạn chưa đòi được thì đời con cháu chúng ta sẽ đòi … Không liên minh với nước nào để chống lại một nước thứ ba”, ông khẳng định.

Bình thường thì biểu ngữ đỏ lòm dán đầy đường và ba hoe chích chòe như này:

…người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

…quang vinh muôn năm

…là các đỉnh cao trí tuệ của loài người

…bách chiến bách thắng

Nhưng tới khi đụng chuyện thì mới biết đá, biết vàng…và đây mới là thực tế

AI…xúi giục  và AI chui rúc sau lưng nhân dân. 

Phóng viên hỏi ngư dân: Anh bị nó bắt mấy lần rồi?

Ngư dân: 3 lần

PV: Lần nầy  đi anh không sợ à?

Ngư dân: Không, thằng Thưởng (Võ Văn Thưởng– Bí thư tỉnh Quảng Ngãi ) nó bảo ngoài đó là biển của Việt Nam mình, ra đó có Hải Quân bảo vệ” 

Khi ngư dân VN tin lời, ra tới nơi…thì đây.

Ô Hô! Hải quân VN bảo vệ ngư dân bằng cách: cung cấp xăng... Nhờ đó ngư dân vừa đánh cá, vừa chạy lòng vòng và đàng sau thì tàu Trung Quốc rươtj đuổi>>>>

Nhà báo phỏng vấn ngư dân:

Photo: Đọc cái này cười ra nước mắt . Bác ngư dân này có phương pháp đối phó với tàu lớn của Trung quốc khá thông minh nhưng cũng ngàn cân treo sợi tóc . Qua đó cũng thấy được sự tầm bậy và vô trách nhiệm của chính quyền ....
Cứ tin vào bọn bây rồi sẽ có ngày thác…

 

>>>Theo nhận định của Trần Hoàng, các đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ trở thành các căn cứ quân sự nhằm bảo vệ tuyến đường biển vận chuyển 3/4 tổng số hàng hóa của TQ bán ra thế giới, và các tàu dầu mà TQ mua được ở các nước ngoài . Hiện nay, mỗi ngày TQ tiêu thụ 11 triệu thùng dầu thô. TQ đã hợp đồng mua dầu của Nga vào tuần trước, để có được ống dẫn dầu chạy xuyên qua biên giới Nga- Trung quốc. Nếu Mỹ bao vây tại eo biến Malacca, thì TQ vẫn còn dầu ở Nga.

Chuyện “TQ tranh chấp và quấy nhiễu ở Biển Đông không phải là vì dầu và cá”, mà vì Biển Đông là con đường chiến lược để TQ liên lạc với thế giới, là đường vận chuyển dầu tiêu thụ trong nước, vận chuyển nguyên vật liệu để cung cấp cho nền kinh tế, và đường vận chuyển 3/4 tổng số hàng xuất khẩu của TQ. 

Không biết trong tương lai việc  thăm do trữ lượng dầu của Biển Đông có gia tăng hay không, nhưng hiện nay, theo nhiều nguồn, trử lượng dầu ở Biển Đông không nhiều. VN chỉ sản suất mỗi ngày 400.000 ngàn thùng dầu so với nhu cầu của TQ là 11 triệu thùng dầu/ ngày. 

TQ chiếm Biển Đông để bảo vệ đường vận chuyển dầu, và khóa chặc mọi cuộc tấn công bằng đường biển vào TQ. Sau khi ký với Nga hợp đồng mua 450 tỷ đô la dầu thô vào tuân trước,  TQ hiện có 2 hướng cung cấp dầu: Nga và các quốc gia Trung Đông

Nếu hải lộ Biển Đông  bị bao vây, đặc biệt là bị chận ở eo biển Malacca (Singapore) nền kinh tế của TQ chết chắc.

Tất cả các chiến lược của TQ từ thời Mao cho đến nay là PHÁ thế bị bao vây mà TQ đã từng chịu vào thời chiến tranh lạnh 1945-1990, cụ thể là 1953-1990

Bây giờ mời bạn đọc:  Tranh chấp biển – Trung Quốc xây đảo nhân tạo (Phan Ba dịch từ bản tiếng Đức)

*Trần Hoàng có đối chiếu với  bản tiếng Anh,  sửa các chi tiết  trong bản dịch của tác giả để bản dịch chính xác hơn, giải nghĩa thêm ở nhiều chỗ để giúp các bạn dễ đọc, và bổ sung 1 tấm ảnh có chú thích của nhóm Aibus Defense and Space để các bạn có thể so  sánh với 4 tấm hình  của chính quyền Philippines.

Tranh chấp biển – Trung Quốc xây đảo nhân tạo

26-5-2014

Phan Ba (dịch)

Trung Quốc, Việt Nam và Philippines tranh chấp nhau nhiều đảo ở biển Đông. Bây giờ, Bắc Kinh củng cố tuyên bố chủ quyền của họ bằng một cách hết sức quyết liệt, và cho xây một hòn đảo nhân tạo

(Đảo nhân tạo chính là đảo Gạc Ma. Đảo nầy là dãy đá ngầm, ngập nước, nay TQ dùng tàu vét, nạo vét, múc và thổi cát và san hô lên bờ, để bồi đắp thành hòn đảo nổi. Sau này, TQ có thể xây nhà, xây căn cứ quân sự, để theo dõi các hoạt động trên vùng Biển Đông. TQ có thể vận dụng luật biển nội dung như sau: đảo nào có người ở, có nguồn nước ngọt tự nhiên,  thì từ đảo ấy tính ra thêm 200 hải lý, gọi là vùng lãnh hải đặc quyền kinh tế. Trong vùng nầy, nước có chủ quyền có thể đánh bắt cá, khai thác dầu khí- theo Trần Hoàng)

 

Tấm ảnh chụp đảo Gạc Ma này theo thông tin của Bộ Ngoại giao Philippines được chụp vào ngày 13 tháng 3 2012. Ở bên phải có thể nhìn thấy giàn bê tông mà Trung Quốc để lại sau một cuộc chiến đẫm máu năm 1988. Hình: DPA/ DFA

Đảo Gạc Ma, ngày 13 tháng 3 2012 Theo thông tin của Bộ Ngoại giao Philippines.
Ở bên phải hình là giàn bê tông mà Trung Quốc để lại sau một cuộc chiến đẫm máu năm 1988. Hình: DPA/ DFA

 

Đảo Gạc Ma vào ngày 28 tháng Hai 2013: Bức ảnh này của chính phủ Philippines cho thấy vào thời điểm này cũng chỉ có nhà giàn bê tông của người Trung Quốc nằm ở rạn san hô. Nhưng tròn một năm sau đó… Hình: DPA/ DFA

Đảo Gạc Ma,  ngày 28 tháng Hai 2013: Bức ảnh này của chính phủ Philippines cho thấy vào thời điểm này cũng chỉ có nhà giàn bê tông của người Trung Quốc nằm ở rạn san hô.
Nhưng tròn một năm sau đó… Hình: DPA/ DFA

… vào ngày 25 tháng Hai 2014, bức ảnh này được chụp. Nó cho thấy Trung Quốc đã xây một hòn đảo nhân tạo trên rạn san hô. Bên cạnh nhà giàn cũ (ở phía dưới bên trái) đã có thêm nhiều kết cấu vào thời điểm này, trong số đó rõ ràng là một đường băng. Hai tuần sau đó…. Hình: AFP/ DFA

Đảo Gạc Ma, ngày 25 tháng Hai 2014, hình cho thấy Trung Quốc đã xây một hòn đảo nhân tạo trên dãi đá ngầm và san hô. Bên cạnh nhà giàn cũ (ở phía dưới bên trái) đã có thêm nhiều kết cấu vào thời điểm này. Một tàu vét ở góc hình cao, hướng 12 giờ,  đang vét đào cát ở đáy biển. Có dấu vết của kênh đào ở bờ biển sau khi hút cát bồi đắp lên dãi đá ngầm. Ở hướng 9 giờ, là con đường dành cho xe vận chuyển san hô và cát để bồi đắp lên thành đảo Gạc Ma (xem hình cuối cùng của Air Defense and Space với các chú thích trên hình bằng mầu đỏ.)
Hình: AFP/ DFA

 

… vào ngày 11 tháng Ba 2014, các công trình xây dựng dường như đã tiếp tục tiến triển. Hình: AFP/ DFA

Đảo Gạc Ma, ngày 11 tháng Ba 2014, các công trình xây dựng đang tiếp tục tiến triển. Hình: AFP/ DFA

 

Mới trước đây vài ngày, ở Việt Nam xảy ra những cuộc bạo động chống Trung Quốc sau khi Bắc Kinh cố định một giàn khoan dầu trước bờ biển Việt nam. Nhiều người đã bị thương, một phần bị thương nặng, chính phủ Trung Quốc cho mang hàng ngàn người ra khỏi Việt Nam tới nơi an toàn. Nguyên nhân của những cuộc bạo động này là việc Trung Quốc đã đưa một giàn khoan dầu vào trước quần đảo Hoàng Sa.

Bây giờ mới biết rằng Bắc Kinh không chỉ dùng GIÀN KHOAN  nổi để nhấn mạnh chủ quyền của họ: không ảnh và ảnh vệ tinh cho thấy rằng trong những tháng vừa qua, Trung Quốc đã xây một hòn đảo nhân tạo trong quần đảo Trường Sa giữa lúc đang có tranh chấp.

Những hình ảnh liên quan trong bài nầy đã được chính phủ Philippines công bố từ tuần rồi. Những hình ảnh nầy chứng minh rằng hòn đảo mới trên Gạc Ma đã hiện diện từ cuối tháng Hai. Tuy vậy, các bức không ảnh đó có đáng được gọi là bằng chứng hay không thì còn chưa rõ, vì cả Philippines cũng tuyên bố chủ quyền vùng biển này.

Nhưng bây giờ thì rõ ràng là đã có xác nhận độc lập: theo một báo cáo của công ty chuyên cung cấp thông tin về quân sự và an ninh “Jane’s”, xuất trình những hình ảnh vệ tinh của Công ty Airbus Defense and Space (một chi nhánh của Airbus Group) cũng cho thấy đảo mới này ở Biển Đông.

Một hòn đảo lớn 300.000 mét vuông

Rạn san hô Johnson Nam được biết đến dưới nhiều tên.

Ở Philippines nó được gọi là Mabibi Reef,

ở Trung Quốc là  Chigua Reef (Xích Qua Tiêu),

ở Việt Nam là Gạc Ma.

Cái chấm nhỏ giữa đại dương đó đã là sân khấu cho những cuộc xung đột vũ trang. Năm 1988 hàng chục người Việt đã chết khi Trung Quốc giành quyền kiểm soát rạn san hô này và để lại đó một nhà giàn bê tông với thiết bị vô tuyến. Trên ảnh, nhà giàn bê tông này được bao quanh bởi một diện tích cát tròn 300.000 mét vuông và nhiều công trình xây dựng khác. Dường như người Trung Quốc còn xây cả một đường băng nữa.

Chính phủ Philippines cáo buộc Bắc Kinh có “những hành động gây bất ổn định” và vi phạm luật pháp quốc tế. Theo “Jane’s” Trung Quốc biện minh cho động thái của họ: một nữ phát ngôn viên của Bộ Ngoại gia tuyên bố “chủ quyền không tranh cãi” của đất nước bà với quần đảo Trường Sa, ở Trung Quốc được gọi là Nam Sa quần đảo, cũng như đảo Gạc Ma thuộc vào đó là vùng biển xung quanh. “Tất cả các biện pháp xây dựng mà Trung Quốc tiến hành ở Xích Qua Tiêu đều nằm dưới quyền của Trung Quốc.”

Marie Harf, nữ phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tuyên bố rằng Washington biết các bản báo cáo về hòn đảo nhân tạo này. “Mở rộng lớn hay quân sự hóa đất đang bị tranh cãi ở biển Đông có thể làm tăng căng thẳng”, Harf nói.

Trung Quốc và Viẹt nam tranh chấp từ hàng mấy chục năm nay về những hòn đảo ở biển Đông. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên hầu như toàn bộ vùng biển mà người ta phỏng đoán có nhiều nguyên liệu ở dưới đáy biển. Nhưng cả những nước Đông Nam Á khác. Bên cạnh Việt Nam trước hết là Philippines, cũng tuyên bố chủ quyền. Đóng một vai trò trong cuộc xung đột hải đảo này là tình cảm quốc gia bị tổn thương, an ninh cho các tuyến đường hàng hải – và rất nhiều tiền. Ai thống trị các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ kiểm soát được đoạn đường quan trọng giữa Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Spiegel Online

Phan Ba dịch từ:

http://www.spiegel.de/wissenschaft/natur/china-schafft-kuenstliche-insel-im-suedchinesischen-meer-a-971062.html

———————————————————————-

Trần Hoàng bổ sung và chú thích

Dưới đây là hình ảnh của Aibus Defense and Space chụp chung với 4 tấm hình của chính phủ Philippines để các bạn có thể so  sánh (Trần Hoàng)

Airbus Defence and Space imagery shows land reclamation ongoing at Johnson South Reef in the South China Sea. Images released by the Philippine Ministry of Foreign Affairs on 15 May 2014 (left) show the progress of construction on the island) 
ng
C
Các chữ chú thích trên hình
Dredger: Tàu vét cát 
 Dredged channel: dấu của Kênh đào dưới nước sau khi vét cát
 Original structure: Cấu trúc ban đầu, cấu trúc nguyên thủy 
Material dumping: vật liệu bồi đắp (đổ vật liệu thành đống)
New land material being formed: Vùng đất mới được hình thành
.n
Hình của Airbus Defence and Space , Bên phải,  cho thấy  vùng đá ngầm bị ngập dưới mực nước biển  đang được bồi đắp thành ĐẢO GẠC Ma, thuộc quần đảo TRƯỜNG SA. (Xem bản đồ để so sánh vị trí của đảo GẠC MA với Sài Gòn) ..
Bên trái là  4 tấm hình vừa mới được được Bộ Ngoại Giao Philippines đưa ra vào ngày 15-5-2014 cho thấy diễn tiến của việc xây dựng bồi đắp giải đá ngầm thành Đảo GẠC MA. .
Dưới đây là phim 64 công binh và hải quân của Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã bị đảng CSVN, Bộ Chính Trị, đồng ý cho hy sinh theo tuồng cũ 1950-1975,  kịch bản ĐỔI CHÁC biển đảo lấy vũ khí, quân trang, quân dụng, dép râu, nón cối, lương khô…để “giải phóng Miền Nam”,  đánh đuổi thực dân Pháp, làm cải cách ruộng đất…Màn kịch nầy nằm trong vở kịch mà ông Hoàng Văn Hoan đã kể lại rõ ràng trong cuốn Giọt Nước Trong Biển Cả – Hoàng Văn Hoan – (Hồi ký cách mạng) 16 kì
.
Mục đích của việc tạo ra vở kịch chiếm rặng đá ngầm Gạc Ma 14-3-1988 là: ” VN vờ đem bộ đội xây dựng căn cứ trên đảo để bảo vệ chủ quyền. Nhưng quân TQ đã ngang nhiên đánh lực lượng của ta, và vì  lực lượng của Trung Quốc quá mạnh, nên ta đành thất trận”.
Trong cuốn Giọt Nước Trong Biển Cả, Hoàng Văn Hoan thuật lại ngọn ngành cuộc đổi chác. Theo đó, “Bác Hồ” đã coi các đảo HS và TS như các đảo chim, nên đã đổi chác biển đảo (trong chuyến ông HCM thăm TQ năm 1950)  để lấy vũ khí, đạn dược,…làm cuộc “cách mang đánh đuổi thực dân Pháp”, rước quân TQ đánh trận Điện Biên Phủ 1954, và rước 320.000 bộ đội Trung Quốc đóng quân ở chung quanh Hà Nội 1965-1973 để bộ đội Miền Bắc rãnh tay đi B Giải Phóng Miền Nam 1975 .
.
Vở kịch “trận chiến” GẠC MA đã lộ ra công chúng khi TQ công khai trình chiếu các hình ảnh nầy lên truyền hình và internet 2005. Việt kiều và các blogger đã phát hiện và phổ biến phim nầy để nhiều người trong nước xem. Tin lan nhanh khắp thế giới lên. Biết không thể nào giấu được nhân dân trong nước nữa, dư luận ngày càng gây nhiều “bất lợi cho uy tín của đảng và nhà nước”,  nhà nước VN đã dùng công tác tuyên truyền và phổ biến phim nầy trên đài truyền hình VTV năm 2009 theo một cách khác; và giả vờ dựng kịch bản tưởng niệm 64 chiến sĩ hy sinh trong “trận chiến” Gạc Ma.
Các nhà lãnh đạo nào ban lệnh cho công binh và  hải quân VN đi  giữ biển đảo, nhuưng RA LỆNH không cho bộ đội mang theo súng để tự vệ. Vì sợ hai bên bắn nhau sẽ gây nhiều thiệt hại nhân mạng cho quân đội TQ, có thể làm TQ tức giận, và do đó có khả năng TQ sẽ xì ra các hiệp định bí mật về đổi chác đất đai biển đảo lâý vũ khí của BCT đảng CSVN.
Kết quả, quân Trung Quốc đã bắn 64 hải quân VN như tập bắn bia ngày 14-3-1988.
Phim tiếng Trung Quốc 
Phim tiếng Việt 
 
 

 

Hình phóng đại của đảo Gạc Ma ngày 15-5-2014

...am 25. Februar 2014, soll dieses Luftbild entstanden sein. Es zeigt, dass...

 

 

►Tài liệu Mật: Bản Tuyên Bố của Chu Ân Lai 4-9-1958- TT Phạm Văn Đồng thừa nhận bằng công hàm 14-9-1958- Đường lưỡi bò là do Đài Bắc vẽ 1947, và TQ chộp lấy bản vẽ ấy và quãng bá vào năm 2005

Còn bệnh giả dối ư? GIẢ DỐI là tên húy của tất cả các đảng cộng sản cầm quyền, giải thích nữa là thừa. Một người cộng sản lớn hơn ông Trọng nhiều lần là Tổng Bí thư đảng CS Liên xô Gorbachev đã để lại cho nhân loại một danh ngôn “Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản ; nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn tuyên bố rằng : Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nóiláo”.  Nói một đằng làm một nẻo, dùng một lý thuyết ảo tưởng làm kim chỉ nam lừa một dân tộc, trong khi họ đang dùng quyền lực để mở tốc lực tư bản hóa, con cái họ đều gửi sang nước thù địch của chủ nghĩa là Hoa Kỳ, đã là một cuộc “đại dối trá” thì tất cả mọi sự dối trá, lừa lọc tất yếu trong xã hội, lừa lọc đến chịu án tử hình cũng chỉ là những hệ quả, chẳng qua là những “tiểu dối trá” mà thôi, đáng kể gì mà ông TBT phê phán?”  –http://nguoivietdiendan.com/vi/news/Chinh-Tri/Giu-vung-ky-cuong-nhu-duoi-uoi-giu-ong-2048/

*THƠ NGÂY TIN TƯỞNG vào TQ

TBT Nguyễn Phú Trọng: Tình hình Biển Đông không có gì mới...http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/397259/De-nghi-bao-cao-Quoc-hoi-tinh-hinh-Vinashin.html

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tuyên bố: “Trên biển Đông là yên tĩnh, tôi chỉ huy quân đội hằng ngày, hằng giờ, tôi nắm tình hình hoạt động của chúng ta hết sức bình thường. Vẫn làm, vẫn hoạt động kinh tế bình thường, hàng hải bình thường, du lịch bình thường, làm ăn bình thường và không có vấn đề gì trở ngại cả.”

 Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Thanh  tin tưởng: “Trung Quốc không sử dụng sức mạnh của mình để làm phương hại đến lợi ích của các nước khác, không làm phương hại đến hoà bình, ổn định của khu vực và trên thế giới”.

Giọt Nước Trong Biển Cả – Hoàng Văn Hoan – (Hồi ký cách mạng) 16 kì

—————-

Không nên làm nóng tình hình biển Đông

09/06/2010

Bên hành lang QH ngày 8.6, Đại tướng Phùng Quang Thanh – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – đã dành cho các phóng viên báo chí cuộc phỏng vấn về tình hình an ninh khu vực biển Đông và vai trò của Việt Nam với các nước lớn sau khi Bộ trưởng tham dự Hội nghị an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Thưa Bộ trưởng, nhiều nước đều cho rằng an ninh ở biển Đông rất quan trọng, vậy diễn đàn này nhìn nhận thế nào về những tranh chấp ở đây có những nguy cơ nào cho an ninh khu vực và có giải pháp nào để giải quyết nó?

– Tranh chấp trên biển Đông như các bạn đã rõ rồi, 5 nước 6 bên. Nhưng nếu để xảy ra xung đột quân sự thì nó đều ảnh hưởng đến các quốc gia không chỉ khu vực Đông Nam Á, mà cả khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (CA-TBD) và thậm chí là cả thế giới. Nó còn là thảm họa đối với các nước ở khu vực này, do đó để đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và cùng nhau phát triển thì đó là lợi ích quốc gia của các nước.

Cho nên các nước phải hết sức bình tĩnh, phải hết sức kiềm chế, phải xử lý nó ở tầm cao chiến lược vì lợi ích không phải chỉ của quốc gia, của khu vực, mà còn của thế giới. Để giải quyết vấn đề này thì phải bằng đàm phán hòa bình, phải bằng DOC, bằng luật pháp quốc tế, bằng Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và phải hết sức sáng suốt, hết sức khôn ngoan để không bị các lực lượng chia rẽ quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân về vấn đề biển Đông.

Vậy, trong chuyện đó thì quan điểm giữa các nước lớn và các nước ASEAN có gì khác nhau về cách nhìn nhận vấn đề?

– Về vấn đề này thì quan điểm của các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc hoặc các nước khác đều thống nhất với nhau một điểm là phải duy trì môi trường hòa bình ổn định ở trên biển Đông. Tất cả các nước đều nhận thức được điều đó. Duy trì hòa bình ổn định trên biển Đông không chỉ lợi ích riêng của từng nước, mà còn là cả khu vực và thế giới.

Mỹ tuyên bố sẽ không đứng về phía nào, nhưng phải đảm bảo an ninh hàng hải, đảm bảo các hoạt động trên vùng biển quốc tế và bảo vệ lợi ích các công ty của Mỹ và các nước khác làm ăn hợp pháp với các nước khác trong khu vực này. Trung Quốc tuyên bố không bá quyền, không bành trướng và luôn luôn phải xây dựng khu vực hài hòa, thế giới hài hòa, giữ môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước Trung Quốc. Những điều này cũng là phù hợp với lợi ích chung của các nước trong khu vực hiện nay.

Vậy diễn đàn này có mở ra hướng để chúng ta giải quyết những căng thẳng về tranh chấp trên biển Đông thời gian qua không?

– Hướng mở ra là các nước có lợi ích, có quyền lợi ở đây phải ngồi lại với nhau, bàn bạc với nhau, cùng đưa ra những nhận thức chung về an ninh khu vực, đưa ra những biện pháp để hợp tác mà hợp tác ở đây là hợp tác cấp cao tức là hợp tác Bộ Quốc phòng trong khu vực CA-TBD. Tôi nghĩ điều đó có đóng góp hết sức tích cực, tránh được sự hiểu nhầm, hiểu sai và tránh những xử lý sai về vấn đề trên biển. Điều này là hết sức quan trọng.

Hội nghị có đề cập đến sự lo lắng về vấn đề lấn lướt về sức mạnh quân sự của một nước nào trong khu vực này không?

– Tình hình hiện nay chưa đến mức như vậy. Quan điểm của chúng ta là nếu Trung Quốc, một nước lớn, một nước XHCN, một nước đông dân, kinh tế phát triển mà có đường lối đối ngoại hòa bình, quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam theo tinh thần đối tác, hợp tác toàn diện, phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt thì đó là điều kiện thuận lợi cho chúng ta chứ không phải là mối đe dọa, thách thức với chúng ta.

Trung Quốc đã tuyên bố sẽ xây dựng một nước Trung Quốc hòa bình và thế giới, khu vực hòa bình để giữ môi trường hòa bình ổn định để tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước, mở cửa thì đó là những điều kiện thuận lợi.

Vậy, còn nội dung cuộc tiếp xúc với Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Mã Hiểu Thiên?

– Cuộc tiếp xúc với Thượng tướng Mã Hiểu Thiên – Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc phụ trách về tình báo và đối ngoại, diễn ra trên tinh thần hết sức thân tình, hữu nghị, đúng là tinh thần láng giềng, đồng chí, anh em và là những người bạn tốt của nhau.

Hai bên trao đổi thân tình, cởi mở, thẳng thắn tất cả các vấn đề, nhưng điều quan trọng là, chúng ta không làm nóng lên tình hình ở biển Đông. Trên biển Đông là yên tĩnh, tôi chỉ huy quân đội hằng ngày, hằng giờ, tôi nắm tình hình hoạt động của chúng ta hết sức bình thường. Vẫn làm, vẫn hoạt động kinh tế bình thường, hàng hải bình thường, du lịch bình thường, làm ăn bình thường và không có vấn đề gì trở ngại cả.

Còn tranh chấp giữa hai bên là lâu dài do vấn đề lịch sử để lại. Nhưng mà điều quan trọng của thế hệ chúng ta là phải đứng ở tầm cao chiến lược, lợi ích của quốc gia, của dân tộc, để giữ được chủ quyền lãnh thổ nhưng cũng phải giữ được hòa bình ổn định thì mới phát triển được. Phải giữ được tình hữu nghị với Trung Quốc, nếu để xảy ra những vấn đề như trước đây thì là điều không có lợi cho cả chúng ta và cho cả Trung Quốc, cả ở trong khu vực và cả nhiều nước khác trên thế giới.

Chúng ta ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, các mặt của thế giới, một quốc gia có ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia khác, tùy thuộc lẫn nhau. Nên nếu một nước mất ổn định thì các nước khác cũng bị ảnh hưởng. Cho nên, các nước đã có nhận thức giống nhau đó là phải giữ hòa bình ổn định ở trên biển Đông, phải bằng đàm phán hữu nghị trên tinh thần láng giềng, anh em, tinh thần đồng chí, tinh thần luật pháp quốc tế: Đó là DOC, đó là Công ước luật biển năm 1982 mà tìm giải pháp hai bên có thể chấp nhận được.

Và các nhà báo cũng phải chú ý không để cho các nước khác kích động vấn đề này, người ta sử dụng vấn đề biển Đông để kích động, chia rẽ quan hệ VN-TQ, chia sẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân chúng ta.

Xin cảm ơn Bộ trưởng!

http://www.baomoi.com/Khong-nen-lam-nong-tinh-hinh-bien-Dong/122/4380876.epi

—————–

Cập nhật 19-6-2014

Muốn Thắng phải có cái lý của kẻ mạnh

Tiến sĩ Vật Lý Nguyễn Thanh Giang- (Hà Nội)

Mồng 2 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Hoàng Sa, mở đầu một bước xâm lăng mới đối với Việt Nam. Gần 50 ngày đã qua, những biện pháp đấu tranh hòa bình của ta không đem lại kết quả gì, Trung Quốc vẫn không ngừng lấn tới:

– Khoan xong điểm cách đảo Tri Tôn 34 km về phía nam, cách đảo Lý Sơn 221 km về phía đông, Trung Quốc lại lững thững đưa giàn khoan đi cắm cách đó hơn ba mươi hải lý, vẫn trong thềm lục địa thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế của ta.

– Từ chỗ chỉ huy động 80 tầu thuyền các loại, nay Trung Quốc đã cho tung hoành ngang dọc trên vùng biển quanh HD 981 140 tàu, gồm tàu quân sự, tàu hộ vệ tên lửa, tàu đổ bộ, máy bay chiến đấu …

– Trung Quốc đang huy động toàn lực để đóng giàn khoan Hải Dương 982 tại nhà máy đóng tàu Đại Liên trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu CSIC. Ngay trong bản thuyết minh thiết kế người ta đã ghi rõ HD 982 sẽ được sử dụng tại Biển Đông, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa. Với hệ thống định vị bằng hệ định động học cấp 3, HD 982 có thể chống chịu được những trận bão khủng khiếp nhất trong 200 năm qua tại vùng biển này. Ngoài Hải Dương 982, theo dự kiến còn có thêm HD 983 và HD 984 sẽ đựoc bàn giao vào tháng 9, tháng 10 năm 2015 và tháng 8 năm 2016.

– Ngày 5 tháng 6 năm 2014, Trung Quốc cho khởi công xây dựng sân bay trên đảo Gạc Ma đã chiếm của ta năm 1988. Khi sân bay này đi vào hoạt động, họ sẽ xác lập vùng nhận diện phòng không của Trung Quốc, chiếm luôn cả vùng trời của ta ở đó.

– Ngày 14 tháng 6 năm 2014 Trung Quốc làm lễ động thổ xây dựng trường học và bệnh xá trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa. Cách nay hai năm, Bắc Kinh đã thiết lập một đơn vị hành chính mới là thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây được xem là thành phố cực nam của Trung Quốc với số dân là 1.443 người. Chính quyền thành phố Tam Sa ra thông cáo cho biết trường học này sẽ được hoàn thành trong 18 tháng.

Vậy là họ cứ lấn tới và sẽ còn lấn tới mặc dù ta đã chịu nhịn hết mức. Thậm chí ta đã chịu nhục!

(Nghe nói Nguyễn Phú Trọng đã hai lần đề nghị gặp Tập Cận Bình nhưng đều bị khước từ. Sao Nguyễn Phú Trọng lại làm thế! Đánh có chắc thắng thì mới động binh. Trên chính trường ngoại giao, có chắc được nắm tay thì mới chìa tay. Ở đây biểu lộ óc phán đóan của Trọng rất kém. Yếu tố mạo hiểm chỉ cho phép đối với người làm khoa học. Làm chính trị thì không được. Nguyễn Phú Trọng làm nhục quốc thể! Không biết ông ta xin gặp TCB để làm gì? Trong tình thế này người bình thường cũng có thể biết chắc chắn gặp chẳng giải quyết được gì. Chẳng lẽ gặp để xin? Xin người có lương tri may ra còn được. Xin bọn bần tiện, tham tàn, vô lương thì xin sao được. Nhớ lại, cách đây mấy năm, dự cảm vấn đề Biển Đông sẽ trở thành đại quốc sự, Quốc hội đề nghị cho nghe báo cáo để cùng bàn thảo. Sự kiện Nguyễn Phú Trọng gạt đi và nói “Vấn để Biển Đông không có gì mới” chỉ có thể được nhận thức theo hai giải đoán. Hoặc do Nguyễn Phú Trọng quá đần độn, không có khả năng tư duy, không có khả năng phán đóan. Hoặc ông ta là nội gián của Trung Quốc. Để một người như vậy tiếp tục trị vì Đảng, trị vì Đất nước thêm một ngày thì hậu quả sẽ tai hại khôn lường. Trả giá cho những hậu quả đó có thể không chỉ là sự tụt hậu, sự nghèo khổ của Đất nước mà cả núi xương sông máu lại sẽ phải đổ ra. Nếu ngày ấy Nguyễn Phú Trọng để cho Quốc hôi được bàn bạc dân chủ, công khai thì rất có thể tình hình Biển Đông không xấu đến như bây giờ. Thật đáng giận. Nguyễn Phú Trọng rất đáng bị xử tội).

Lý lẽ của ta rất xác đáng, chứng cứ xác định chủ quyền của ta đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông hoàn toàn đủ sức thuyết phục lương tri cộng đồng nhân loại, nhưng Trung Quốc đã bỏ ngoài tai và chắc chắn sẽ tiếp tục dầy xéo lên tất cả.

Vì sao vậy? Một là, vì bản chất Đại Hán vốn cuồng bạo, tham tàn, vô liêm sỉ. Hai là, vì trên chiến trường Biển Đông lực lượng của ta quá mỏng so với họ.

Ta có cái thế của lẽ phải, của công lý nhưng lực quá yếu nên dù cố níu giữ hòa bình để chỉ đấu lý ta cũng không thể nào thắng được. Lý thắng bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh (La raison du plus fort est toujour la meilleur).

Hiện nay lực của ta yếu không chỉ vì nước ta nhỏ hơn, dân ta ít hơn mà còn vì khối đại đoàn kết dân tộc đã bị ĐCSVN dày vò tan nát do:

– Những chủ trương, chính sách sai lầm, phi nhân tính đã gây nên óan thù chất chứa trong lòng những người đã bị đánh bật khỏi Tổ quốc.

– Hậu quả của CCRĐ, Nhân văn Giai phẩm, Xẻt lại Chống Đảng …. còn để lại những vết thương sâu trong lòng người.

– Những vụ cướp đất, cướp nhà … để phục vụ lợi ích nhóm đang tạo ra lớp lớp dân oan nuốt hận, dồn căm….

Càng nguy hiểm hơn là, ngày nay dân không còn tin mà căm ghét, khinh bỉ lãnh đạo.

Thế của ta cũng hầu như không có gì do ta vẫn giữ khoảng cách khá xa, nếu không muốn nói là, do bị Trung Quốc xúc xiểm, vẫn đối đầu với Hoa Kỳ. Những lãnh đạo chóp bu vẫn bắt thuộc hạ phải quán triệt tinh thần coi Trung Quốc là bạn, Hoa Kỳ là thù. Nói chung, họ tâm niệm: thà mất Nước chứ không chịu mất Đảng. Một số đã bị Trung Quốc mua bằng tiền, bằng ơn tác thành. Số ít còn luẩn quẩn với ý thức hệ, trong đó có kẻ chỉ vì ngoan cố với những lập luận đã được bảo vệ trong luận án tiến sỹ của hắn.

Tuy nhiên, thế và lực của ta sẽ hoàn toàn áp đảo được Trung Quốc nếu:

– Về đối nội, cải tạo triệt để những đường lối, chủ trương, chính sách sai lầm. Trước mắt, bỏ Điều 4 Hiến pháp, cho tự do lập Hội, Đoàn để xã hội dân sự có thể hình thành lành mạnh, từ đấy động viên và quy tụ được sức đóng góp của mọi cá nhân, mọi cộng đồng dân tộc trong và ngoài nứoc.

– Về đối ngoại, khẩn trương thiết lập liên minh toàn diện, trong đó có liên minh quân sự, với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Trong mấy bài viết trước, tác giả đã phân tích, trình bầy khả năng hiện thực hóa khối liên minh thần thánh này.

Giữa chừng bài viết hôm nay, bỗng xuất hiện một tin mới, được xem như một trong những tin vui lớn nhất lúc tuổi già của chúng tôi. Xin chép nguyên văn phần chính của bản tin đó:

“HANOI/WASHINGTON: Một cách lặng lẽ, hai chính phủ Mỹ và Việt Nam đang kết thân hơn, trong đó có những dấu hiệu không được loan tin nhưng đầy minh bạch: cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA đã mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội, và chính phủ VN nói với Hoa Kỳ rằng Vịnh Cam Ranh có thể mở cửa đón tàu chiến Mỹ.

Các thông tin trên đăng trên bài viết nhan đề “A long reconciliation” (Một cuộc hòa giải lâu dài) của Richard Halloran trên báo Honolulu.

Bài báo cho biết Đaị Sứ Lê Công Phụng đã bay tới Hawaii mới 1 ngày trước để họp với Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Vùng Thái Bình Dương, Đô Đốc Robert Willard, và mang thông điệp ngắn gọn, “Coi chừng Trung Quốc.”

Trong ngôn ngữ ngoaị giao hơn, theo lời tiết lộ của các viên chức Mỹ và Việt, ông Phụng nói, “VN và Hoa Kỳ nên hợp tác để chống lại việc TQ tranh lãnh thổ, lãnh hải và lộ ý đồ cản trở thông thương vùng Biển Đông.”

… Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng, nơi đã gửi khoảng nửa tá tàu chiến sang thăm các hải cảng VN các năm gần đây, dự định mở một hội nghị với các cấp chỉ huy tương nhiệm vào mùa xuân này để thu xếp thêm các chuyến tàu chiến Mỹ thăm VN. Trong một quyết định có tính đột phá, Việt Nam báo rằng hải cảng ở Vịnh Cam Ranh sẵn sàng mở ngõ đón tàu chiến hải quân nước ngoài. Hình ảnh một hàng không mẫu hạm trang bị vũ khí nguyên tử, nặng 90,000 tấn, vào Vịnh Cam Ranh sẽ là biểu tượng minh bạch của sự hòa giải Mỹ-Việt,vì vịnh này là nơi hải quân Mỹ trú đóng thời chiến tranh. Việc taù chiến Mỹ vào Cam Ranh cũng là dấu hiệu cho các nước Châu Á rằng Mỹ muốn giữ an ninh khu vực và nhắc TQ rằng Mỹ sẽ là một đối thủ khổng lồ. Năm ngoái, phi cơ từ mẫu hạm USS George Washington đã chở nhiều lãnh tụ quân sự và chính trị VN bay ra tàu chiến đậu ngoaì khơi. Mẫu hạm USS John Stennis cũng làm như thế trước đó cùng năm, cả 2 lần đều bị Bắc Kinh phản đối vì nói rằng vi phạm vùng Biển Đông của TQ.

Nhưng dấu hiệu rõ nhất là việc mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội bởi sở tình báo Mỹ CIA. Không ai nhầm lẫn nữa về các dấu hiệu hợp tác về an ninh”.

Nếu bản tin trên đây là thật thì ta rất có thể yên tâm. Đối với lũ tướng tuồng Đại Hán này, cứ già đòn thì sẽ non nhẽ thôi mà.

Liên minh Mỹ – Nhật, liên minh Mỹ – Phi, liên minh Ấn – Nhật, liên minh Úc- Nhật- Ấn đã và đang tích cực hình thành.

Liên minh quân sự giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và Nhật Bản được thiết lập nữa thì hẳn Trung Quốc phải bớt ngang ngược, hung hăng, cứ thế lùi lũi chui vào khuôn phép. Năm 1909 Trung Quốc từng nhảy vào định chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của ta đấy chứ. Đầu năm ấy, đô đốc Tàu Lý Chuẩn chỉ huy ba pháo thuyền đã đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm nhưng ngay sau đó phải cụp đuôi rút chạy khi đụng độ với quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được Chính quyền Pháp, đại diện cho Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý, thực thi chủ quyền tại quần đảo này.

Thực ra Trung Quốc không mạnh khi mà nền kinh tế nước họ đang trên bờ vực thẳm và nguy cơ vỡ các mảng Tân Cương, Tây Tạng đã nhỡn tiền.

Ta cũng không phải lo sợ về cuộc chiến đối với Trung Quốc nếu xẩy ra. Chỉ cần có những lãnh đạo tài ba, có tướng giỏi, ta có thể tổ chức cuộc chiến dưới dạng chiến tranh ủy nhiệm và chiến tranh cục bộ. Chiến tranh ủy nhiệm đã được đề cập trong bài “Bộ trưởng Quốc phòng chống lại Thủ tướng”. Chiến tranh cục bộ sẽ được diễn giải trong một bài khác. Tinh thần của nó là hạn chế để chiến tranh chỉ diễn ra ở Biển Đông và trên các đảo.

Phải chi họ bị thay thế. Trước mắt chỉ cần họ bớt lú lẫn, ngu xuẩn đi, Đất nước chắc chắn sẽ hồi sinh mạnh mẽ.

Hà Nội 19 tháng 6 năm 2014

Nguyễn Thanh Giang

Mobi: 0984 724 165

Email: thanhgiang36@yahoo.com

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 7 Comments »

►Tài liệu: Chính Quyền Việt Nam chi 180.000 USD cho một tổ chức vận động ở Mỹ để tiếp tục Đàn Áp Nhân Quyền

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2014

Trần Hoàng [Trích dịch từ văn bản của Bộ Tư Pháp Mỹ]

Tòa Đại sứ Việt Nam ở Mỹ đã trả cho Podesta Group, Inc. số tiền 180.000 USD. Hợp đồng chi trả là 30.000 đô la mỗi tháng. Nguời đứng tên trả tiền là Nguyễn Vũ Tùng, địa chỉ: Tòa Đại sứ Việt Nam

Bên A: Nguyễn Vũ Hùng, the Embassy of the Socialist  Republic of Vietnam, 1233 20th Street NW, Suite 400 ,Washington, DC 200036.

Bên B: Podesta Group

Các dịch vụ mà Podesta Group sẽ làm

Podesta Group sẽ nói tốt về Chính phủ Việt Nam. Podestra Group sẽ kết hợp vận động những nhà làm chính sách (ở quốc hội); Podesta Group sẽ dùng lãnh vực chuyên môn của mình về giao tế và cung cấp các dịch vụ khác mà hai bên (tòa đại sứ VN và Podesta)  đồng ý với nhau theo văn bản của hợp đồng

Thời gian thực hiện hợp đồng: 2-12-2013 đến 2-6-2014

http://democraticvoicevn.files.wordpress.com/2014/01/vn-embassy-lobbying-contract-with-podesta-group.pdf

Nhờ chính sách minh bạch và hợp pháp của luật pháp ở Mỹ mà chúng ta mới đọc được các tài liệu này. Bạn cứ tới Bộ Tư Pháp Mỹ hỏi “Tôi muốn biết Tòa Đại Sứ VN ở Mỹ có ký hợp đồng với các tổ chức doanh nghiệp nào không trong năm ngoái và năm nay”, là thư ký ở đó sẽ vui vẻ in ra ngay bản copy như trong link dưới đây. Họ không bắt bạn phải chờ đợi quá 2 phút, hoặc hỏi han làm khó dễ “tại sao cần có giấy nầy, chứng minh thư đâu” như ở xứ thiên đàng. Tất cả các tài liệu, văn bản, đơn khai báo với Bộ Tư Pháp thì người dân đều có quyền đọc. Dân quyền, nhân quyền, và quyền được đối xử bình đẳng là vậy đó. Bởi vậy chúng ta phải tranh đấu nhân quyền cho Việt Nam. 

Chính Quyền Việt Nam Chi 180 Nghìn USD Để Tiếp Tục Đàn Áp Nhân Quyền

Mạch Sống, ngày 26 tháng 5, 2014

http://machsong.org

Việt Nam đã ký hợp đồng mướn một tổ chức Hoa Kỳ đối phó với cuộc quốc tế vận của người Việt ở hải ngoại.

Tháng 12 năm ngoái, Toà Đại Sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn chi 180 nghìn USD, trả trong 6 tháng, cho Podesta Group, Inc. Đây là một trong hai tổ hợp hàng đầu ở Hoa Kỳ chuyên vận động hành lang với Quốc Hội. (Xem bản hợp đồng:

http://democraticvoicevn.files.wordpress.com/2014/01/vn-embassy-lobbying-contract-with-podesta-group.pdf

Theo Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS, điều này cho thấy cuộc tổng vận động của người Việt ở Hoa Kỳ đang làm cho chính quyền Việt Nam lo lắng và chính quyền Việt Nam sẵn sàng tung tiền để đối phó.

Hiện nay, hai quan tâm lớn của chính quyền Việt Nam là Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam và Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam đã thông qua Hạ Viện với đa số áp đảo và đã được chuyển sang Uỷ Ban Đối Ngoại của Thượng Viện. Trong khi đó, triển vọng Việt Nam được vào TPP ngày càng xuống thấp do bị phần lớn các dân biểu và thượng nghị sĩ Hoa Kỳ chống đối.

————–

Đoàn nghị sĩ Thượng viện Mỹ sang VN bàn về Biển Đông

Mỹ nên bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho  – Tuổi Trẻ

Hiện nay họ đã có mặt ở Hà Nội (27-5-2014)

Thật ra là đang qua VN điều tra về Nhân Quyền của VN. Dịp nầy, chắc chắn họ sẽ tìm gặp Ls Nguyễn Văn Đài, Bs Phạm Hồng Sơn, Bs Nguyễn Đan Quế và rất nhiều nhà bất đồng chính kiến khác. 

 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Đỗ Thị Minh Hạnh: Khúc Xương Chặn Đường vào TPP

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2014

Vừa đối phó với TPP, mà vừa phải diễn màn kịch dầu khí ở Biển Đông, đảng và nhà nước hiện nay đang rất bận rộn. Muốn vào TPP, mà không thông hiểu chính trị và xã hội Mỹ. 
Các cuộc bầu cử ở Mỹ đang được tổ chức vào năm 2014, với các cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra vào ngày  4-11-2014. Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm nay,  tất cả 435 dân biểu quốc hội sẽ phải ra ứng cử trở lại, và sẽ bầu lại 33 trên 100 thượng nghị Sĩ.  
Elections in the United States are being held throughout 2014, with the general elections scheduled for Tuesday, November 4, 2014. During this midterm election year, all 435 seats in the United States House of Representatives and 33 of the 100 seats in the United States Senate will be contested;
Nếu VN không nhanh tay thả tất cả tù nhân lương tâm, thì việc xin vào TPP của VN sẽ rơi vào một tương lại vô định.

Đỗ Thị Minh Hạnh: Khúc Xương Chặn Đường vào TPP

26-5-2014

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Khi chính quyền Việt Nam vừa trả tự do cho 5 tù nhân lương tâm, lập tức có dư luận kháo rằng có lẽ để đánh đổi lấy Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tôi không nghĩ rằng chính quyền Việt Nam lại thiếu hiểu biết đến mức ấy.

Dẫu Việt Nam có trả tự do cho hết các tù nhân lương tâm nhưng thiếu Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương thì vẫn không giải quyết được bế tắc TPP. Từ đầu năm nay chúng tôi đã gắn liền việc trả tự do cho ba người hoạt động trẻ này với sự tôn trọng quyền lao động, điều kiện bất khả nhượng của các công đoàn lao động Hoa Kỳ đối với TPP. Các công đoàn này có ảnh hưởng lớn đến Quốc Hội Hoa Kỳ. TPP dù có được Hành Pháp ký mà Quốc Hội không phê chuẩn thì cũng vô hiệu lực. Hơn nữa, chính Hành Pháp Hoa Kỳ bây giờ trở nên cứng rắn đối với Việt Nam về các điều kiện để tham gia TPP.

Quyền lập và tham gia nghiệp đoàn độc lập và tự do đang là điều kiện quan trọng nhất của các công đoàn lao động và Quốc Hội Hoa Kỳ khi đối với việc cho Việt Nam tham gia TPP hay không. Việt Nam hiện không đáp ứng điều kiện này. Chế độ cộng sản quan niệm rằng họ phải giữ quyền kiểm soát giai cấp công nhân, nên không thể buông thả cho công nhân được quyền lập nghiệp đoàn độc lập với đảng cộng sản. Chính quyền Việt Nam đang đề nghị với Hoa Kỳ giải pháp là sẽ cho các công đoàn địa phương thêm quyền tự trị đối với Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam do đảng cộng sản kiểm soát.

Đề nghị này hoàn toàn không thoả đáng đòi hỏi của Hoa Kỳ. Các công đoàn lao động ở Hoa Kỳ, với truyền thống hoạt động độc lập, nhìn thấu “quỷ kế” này và dứt khoát không chấp nhận.

Kế thứ hai của Việt Nam là hứa hẹn sẽ cho công nhân quyền lập và tham gia nghiệp đoàn độc lập nhưng phải mất 5 năm. Các công đoàn lao động và Quốc Hội Hoa Kỳ hồ nghi kế hoãn binh này và có hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất là chấp nhận cho Việt Nam 5 năm để từng bước cải thiện quyền lao động và trong 5 năm “thử thách” Việt Nam chỉ là thành viên dự bị của TPP. Trong tư cách dự bị, Việt Nam chỉ được hưởng quyền lợi tăng dần mỗi năm nếu theo đúng lộ trình đã cam kết với Hoa Kỳ. Khuynh hướng thứ hai là nói Việt Nam ra ngoài chơi, chừng nào hội đủ tiêu chuẩn thì quay lại đàm phán TPP.

Khuynh hướng thứ hai là gạt Việt Nam ra khỏi các cuộc đàm phán TPP. Chừng nào Việt Nam hội đủ tiêu chuẩn thì quay lại xin tham gia TPP.

Sau vụ giàn khoan HD 981, khuynh hướng thứ hai xem chừng thêm mạnh thế vì không còn nhu cầu dùng TPP để kéo Việt Nam ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc. Trong vài tuần qua, tôi để ý thấy các công đoàn lao động Hoa Kỳ nói mạnh hơn, chọn thái độ quyết liệt hơn. Nhiều vị dân biểu và thượng nghị sĩ Hoa Kỳ cũng dứt khoát hơn về lập trường.

Bất luận khuynh hướng nào, một khi Việt Nam cam kết thoả đáng đòi hỏi của Hoa Kỳ về quyền lao động, thì sẽ lập tức vi phạm điều cam kết nếu vẫn còn giam giữ Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Những người trẻ này không làm gì khác là đã thực thi chính điều mà chính quyền Việt Nam phải cam kết để hội đủ tiêu chuẩn tối thiểu để tham gia TPP.

Tuần này, một thượng nghị sĩ Hoa Kỳ có ảnh hưởng lớn đến TPP sẽ đi Việt Nam. Ông đã từng tuyên bố, không TPP cho Việt Nam nếu không cải thiện nhân quyền đáng kể. Tôi tin rằng vị Thượng Nghị Sĩ này sẽ giúp Việt Nam hiểu rõ phải làm những gì để thoả đáng các đòi hỏi của Hoa Kỳ về quyền lao động.

Ông đã cầm trong tay hồ sơ của Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương.

Chiến Dịch Đòi Tự Do Cho Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam mà chúng tôi phát động ngày 24 tháng 7 năm ngoái có mục đích bảo vệ và đòi tự do cho tất cả tù nhân lương tâm Việt Nam. Tuy nhiên, riêng trường hợp của ba người trẻ hoạt động cho quyền lao động kể trên thì chúng tôi lại gắn liền với TPP. Và Việt Nam sẽ không thể nào thoả đáng đòi hỏi của Hoa Kỳ nếu vẫn bỏ tù họ.

 

Ghi chú: Vào đây để vượt tường lửa: http://anonymouse.org/anonwww.html

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Tài liệu Mật: Bản Tuyên Bố của Chu Ân Lai 4-9-1958- TT Phạm Văn Đồng thừa nhận bằng công hàm 14-9-1958- Đường lưỡi bò là do Đài Bắc vẽ 1947, và TQ chộp lấy bản vẽ ấy và quãng bá vào năm 2005

Posted by hoangtran204 trên 26/05/2014

 

3Sam-981

Nguyễn Hữu Vinh, anh Ba Sàm, của Thông Tấn Xã Vỉa Hè đã bị bắt ngày 5-5-2014 cùng cộng tác viên Nguyễn Thị Minh Thúy ở Hà Nội.  (nguồn ảnh Đinh Tấn Lực)

 

 

Đường lưỡi bò 11 đoạn là do Đài Bắc vẽ 1947, và Trung Quốc chộp lấy bản vẽ ấy làm như là của TQ năm 2004, và sử dụng nó để làm cơ sở đòi chủ quyền ở Biển Đông.

Trước năm 2004, trên bản đồ TQ vẫn chưa có đường Lưỡi Bò. 

Chỉ sau năm 2006, hình ảnh đường lưỡi bò được TQ quãng bá rầm rộ.

Một Gs Việt Nam đi du lịch TQ, ông muốn mua 1 bản đồ in trước năm 2004, người bán hàng TQ không chịu bán sau khi biết vị Gs nầy là người VN. Sau đó, ông đã nhờ người hướng dẫn du lịch mua giúp. Trên tấm bản đồ này không có đường lưỡi bò. (blog Trần Hoàng có đăng bài trong tháng 5-2014)

Đây là Công Hàm của TT Phạm Văn Đồng bấm vào đây >>>    rfa.org/vietnamese

Hoặc đây: tuanvietnam.vietnamnet.vn

TT Phạm Văn Đồng ký công hàm 14-9-1958 là để trả lời Tuyên Bố của Chu Ân Lai vào ngày 4-9-1958.

Đây là Tuyên Bố của Chu Ân Lai  (tài liệu mật)

.

[​IMG]    

Bản dịch  Tuyên Bố của Chu Ân Lai qua tiếng Việt được đăng bởi các trang mạng nầy:

Bùi Như Hùng  (9-5-2009)  – website này có bàn thảo về sự ra đời cuả Công hàm của Phạm Văn Đồng rất hay

vietlandnews.net (21-6-2011)

Từ bản tiếng Trung nói trên, Trần Đông Đức dịch qua tiếng Việt như sau:

Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa

Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội uỷ viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua quyết định phê chuẩn về tuyên bố lãnh hải của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Quyết Định

* Một: Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc

Hai: Lãnh hải của Trung Quốc đại lục và duyên hải của các đảo được tính theo đường thẳng nối liền những điểm mốc ven bờ làm đường biên cơ sở, thuỷ vực từ đường biên cơ sở này hướng ra ngoài 12 hải lý là lãnh hải của Trung Quốc. Phần nước thuộc đường biên cơ sở này hướng vào bên trong, bao gồm vịnh Bột Hải, phần trong hải vực Quỳnh Châu, đều là phần nội hải của Trung Quốc. Các đảo thuộc đường biên cơ sở này hướng vào trong, bao gồm đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, đảo Mã Tổ, đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khưu, đảo Kim Môn lớn nhỏ, đảo Nhị Đảm, đảo Đông Định đều thuộc về các đảo thuộc nội hải của Trung Quốc.

* Ba: Tất cả phi cơ và thuyền bè quân dụng của ngoại quốc, chưa được chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho phép, không được tiến nhập vào lãnh hải vào không gian trên lãnh hải. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào vận hành tại lãnh hải của Trung quốc, phải tôn trọng pháp lệnh hữu quan của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Bốn: Dựa trên nguyên tắc quy định 2, 3 áp dụng cho cả Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc. Đài Loan và Bành Hồ địa khu hiện nay đang bị Mỹ dùng vũ lực xâm chiếm. Đây là hành vi phi pháp xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn của lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đài Loan và Bành Hồ đang chờ đợi để thu hồi, chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa sử dụng tất cả những phương pháp thích đáng tại một thời điểm thích đáng để thu phục những khu vực này, đây là chuyện nội bộ của Trung Quốc, không cho phép ngoại quốc can thiệp.

—————————————-

7.
Công hàm của Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai xảy ra 2 năm sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam) ra tuyên bố tái xác nhận chủ quyền trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa vào tháng 4 năm 1956.

Điều này cho thấy là phía chính quyền miền Nam Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền trên các quần đảo của mình sau Hiệp định Genève năm 1954; trong khi Cộng sản Việt Nam ở miền Bắc thì lại phủ nhận sự kiện này, đứng về phía chủ trương của Trung Quốc.

8.
Sáng ngày 21.9.1958, đồng chí Nguyễn-Khang, Đại sứ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tại Trung-quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa và đã chuyển bức công hàm của ông Phạm Văn Đồng đến ông Chu Ân Lai.

Nguồn Bùi Như Hùng  (9-5-2009)  (website  này có bàn thảo về sự ra đời cuả Công hàm của Phạm Văn Đồng rất hay.)

—————————————–

Mỹ yêu cầu Đài Bắc làm rõ ý nghĩa ‘đường lưỡi bò’

25-5-2014   Nguồn   VOA – Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ

.

Các học giả Đài Loan mới đây cho biết Hoa Kỳ đã yêu cầu chính phủ ở Đài Bắc làm rõ ý nghĩa của đường 11 đoạn mà Đài Loan vẽ ra năm 1947 và được Trung Quốc dùng để làm cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông.

Các học giả này nói rằng yêu cầu mà Washington đưa ra 2 lần trong 3 tháng vừa qua vẫn chưa được thỏa mãn vì chính phủ của Tổng thống Mã Anh Cửu e rằng việc đó sẽ làm bùng ra một cuộc khủng hoảng chính trị trong nước.

Giữa lúc cuộc đối đầu kịch liệt giữa Việt Nam và Trung Quốc vì vụ giàn khoan đang tiếp diễn ở Biển Đông, các học giả Đài Loan cho biết Hoa Kỳ hồi gần đây đã yêu cầu chính phủ của đảo quốc tự trị này làm rõ ý nghĩa của đường 11 đoạn, thường được gọi là đường lưỡi bò, mà họ vẽ ra năm 1947 và đang được Trung Quốc sử dụng để khẳng định yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

Theo tường thuật của thông tín viên Hải Nhan của ban Hoa Ngữ đài VOA tại Hồng Kông, việc này được giáo sư Trần Nhất Tân của Đại học Đạm Giang tiết lộ tại một cuộc hội thảo ở Hồng Kông về vấn đề Biển Đông hôm 19 tháng 5 vừa qua.


Ông Trần Nhất Tân cho rằng yêu cầu của Washington đối với Đài Bắc có mục đích làm suy yếu lập trường của Bắc Kinh đối với đường 9 đoạn mà họ dùng từ năm 1949 để cho rằng hầu như toàn bộ Biển Đông là lãnh hải của mình.


[​IMG]

.Chính phủ Tổng thống Mã Anh Cửu e rằng việc ‘làm rõ ý nghĩa của đường 11 đoạn’ sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị trong nước.

Giáo sư Trần Nhất Tân nói rằng Đài Loan không thể thỏa mãn yêu cầu của Mỹ vì họ e rằng làm như thế sẽ gây phương hại cho mối quan hệ hài hòa giữa hai bờ eo biển Đài Loan và tạo ra rất nhiều vấn đề chính trị vì Đài Loan sẽ phải tu chính hiến pháp.

Ông Tôn Dương Minh, Phó Chủ tịch Quỹ Viễn cảnh Giao Lưu Đài Loan-Trung Quốc, cũng tán đồng nhận định đó. Ông nói rằng việc thỏa mãn đòi hỏi mà Hoa Kỳ đã 2 lần đưa ra trong 3 tháng vừa qua là rất nguy hiểm, vì Đài Loan sẽ phải tu chính hiến pháp, xác định lại đường biên giới của Trung hoa Dân quốc; và như thế có thể bị diễn giải là một hành động tuyên bố Đài Loan độc lập trên pháp lý, làm phát sinh rất nhiều vấn đề chính trị phức tạp.

Vào cuối năm năm 1947, Trung Quốc, với quốc hiệu lúc đó là Trung Hoa Dân Quốc và do chính phủ Quốc Dân Đảng lãnh đạo, đã vẽ đường 11 đoạn trên biển Đông, gọi đó là quốc giới.

Tháng 2 năm 1948, bản đồ lưỡi bò xuất hiện công khai lần đầu tiên với bốn nhóm đảo mà Trung Quốc gọi là Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa. Trong 4 quần đảo này, quần đảo vốn có tên Nam Sa được đổi thành Trung Sa và quần đảo Đoàn Sa được đổi thành Nam Sa.

Việt Nam gọi Tây Sa là Hoàng Sa và Nam Sa là Trường Sa và cũng dựa trên các yếu tố lịch sử và pháp lý để tuyên bố là thuộc chủ quyền của mình.


[​IMG]

.Việt Nam gọi Tây Sa là Hoàng Sa và Nam Sa là Trường Sa và cũng dựa trên các yếu tố lịch sử và pháp lý để tuyên bố thuộc chủ quyền của mình.

Trong khi đó, các nước khác ở Đông Nam Á, trong đó có Philippines, Malaysia, Brunei và mới đây là Indonesia, cũng có yêu sách chủ quyền đối với các quần đảo mà Trung Quốc gọi là Đông Sa và Nam Sa.

Từ khi công bố đường lưỡi bò tới nay, Đài Loan và Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ ý nghĩa của ranh giới đó là gì, dù hai chính phủ ở Đài Bắc và Bắc Kinh đã có nhiều hành động trên thực tế trong ranh giới này.

Theo Bách Khoa Mở Trung Quốc, có 4 cách giải thích về ý nghĩa pháp lý của đường 9 đoạn:

(1) đó là đường ranh giới quốc gia hay quốc giới: có nghĩa là các đảo và vùng biển bên trong lằn ranh là lãnh thổ của Trung Quốc và khu vực bên ngoài lằn ranh là thuộc về các nước khác hoặc là hải phận quốc tế;

(2) đó là vùng biển lịch sử: Trung Quốc có quyền lợi lịch sử đối với tất cả các đảo và vùng biển bên trong lằn ranh;

(3) đó lằn ranh trên biển, với các đảo trong lằn ranh thuộc chủ quyền Trung Quốc và Trung Quốc có quyền chủ quyền đối với vùng biển và tài nguyên dưới đáy biển không thuộc vùng nội thủy bên trong lằn ranh; và

(4) đó là đường ranh phạm vi các đảo, với các đảo bên trong lằn ranh và vùng biển lân cận là một phần lãnh thổ Trung Quốc, do Trung Quốc quản hạt và kiểm soát.

Chẳng những các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc và Đài Loan phản đối và bác bỏ đường 9 đoạn, nhiều nước khác trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, cũng không ngớt Trung Quốc yêu cầu làm rõ ý nghĩa của đường ranh mà chính các chuyên gia công pháp quốc tế của Bắc Kinh và Đài Bắc cũng không thống nhất ý kiến với nhau.

Tại một cuộc họp hôm 17 tháng 5 ở Đài Bắc, cựu dân biểu Lâm Trọc Thủy của Đảng Dân Tiến cho biết ngay cả các học giả về công pháp quốc tế của Quốc Dân Đảng cũng cho rằng các qui định của luật pháp quốc tế và luật biển hiện nay đều vô cùng bất lợi cho yêu sách về “vùng biển lịch sử”. Một học giả khác của Trung Quốc, ông Lý Lệnh Hoa, cũng cho rằng đường chín đoạn không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp lý.


[​IMG]

.Bắc Kinh cho rằng hầu như toàn bộ Biển Đông là lãnh hải của mình.

Ông Lâm Trọc Thủy, lý thuyết gia nòng cốt của phong trào đòi Đài Loan tách khỏi Trung Quốc để độc lập, nói rằng đường lưỡi bò không hề có trong lịch sử Trung Quốc trước đây mà thật ra là bắt nguồn từ Quần đảo Tân Nam mà Nhật Bản tuyên bố đòi chủ quyền từ năm 1939 và đặt dưới sự quản hạt của huyện Cao Hùng ở Đài Loan, khi đó là một phần lãnh thổ của Đế quốc Nhật. Ông Lâm nói rằng sau khi Nhật Bản bị đánh bại trong thế chiến thứ hai, chính phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch mới thừa hưởng quần đảo mà Nhật Bản gọi là Shinnangunto và xem đó là vùng biển của Trung Quốc.


Ông Lâm Trọc Thủy cũng cho rằng Trung Quốc có thể tranh giành chủ quyền quần đảo “Tây Sa” (Hoàng Sa), nhưng không thể đòi chủ quyền đối với quần đảo “Nam Sa” (Trường Sa); và đó chính là lý do tại sao Bắc Kinh cực lực phản đối việc Philippines đưa vụ tranh chấp biển đảo này ra trước tòa án trọng tài quốc tế.


Cũng tại cuộc họp báo ở Đài Bắc, một học giả Đài Loan cho rằng chính quyền Tưởng Giới Thạch đã làm bừa khi đưa quân đến chiếm đảo Thái Bình (Việt Nam gọi là Ba Bình) ở “Nam Sa”. Tiến sĩ Hứa Văn Đường, thuộc Ban Nghiên cứu Lịch sử Cận đại của Viện Nghiên cứu Trung ương (Academia Sinica) của Đài Loan, cho biết tại Hòa hội Cựu Kim Sơn năm 1951, Nhật Bản tuyên bố từ bỏ Shinnangunto nhưng không nói là từ bỏ cho nước nào. Thế mà Đài Loan vào năm 1956 đã đưa quân đến chiếm hòn đảo “Thái Bình”, nơi mà ông nói không phải là ngư trường truyền thống của ngư dân Đài Loan.


Ông Hứa Văn Đường cũng tiết lộ là sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, quân đội của Tưởng Giới Thạch đã “tiện thể” tiếp thu Quần đảo Tân Nam từ tay Nhật Bản, nhưng lại không biết quần đảo này ở đâu, nên phải chạy tới Bộ Tư lệnh Mỹ ở Philippines để mượn bản đồ. Nhà sử học Đài Loan này nói rằng nhóm đảo mà Trung Quốc gọi là Nam Sa thật ra là nằm trong khu vực của nhóm đảo mà hiện nay có tên là Trung Sa.

Nguồn : http://www.voatiengviet.com/content/my-doi-dai-bac-lam-ro-y-nghia-duong-luoi-bo/1920510.html

———–

Khoảng thời gian 2006-2014 là thời kỳ TQ tung hoành ở Biến Đông. TQ tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa và Biến Đông là của TQ. 

Tháng 4/2005: “Ðây là quyển sách dạy tiếng Hoa, tác giả: Ngọc Huyên, do doanh nghiệp sách Thành Nghĩa liên kết xuất bản với Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành từ quý 4-2005 (giấy CNKHXB 316/1528 CXB cấp ngày 9-9-2005).”

Nhà Xuất Bản Thanh Niên ở Hà Nội -thuộc Bộ TT và TT, bộ này được sự chỉ đạo của Ban Tuyên Giáo Trung Ương đảng CSVN- đã cho phép in sách phổ biến ĐƯỜNG LƯỠI BÒ.  

Khi Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng 2006, nhận ra đây là thời kỳ vàng son, Trung Quốc đã cương quyết khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa, và phát động mạnh mẻ chiến dịch đường lưỡi bò 9 đoạn.

Trong thời gian nầy, toàn bộ đảng viên đảng CSVN và các nhân vật cao cấp nhất trong Bộ Chính Trị, Chính phủ, Quốc Hội đều im hơi lặng tiếng và tránh né không bàn thảo và có kế hoạch gì để phản tuyên truyền. Đặc biệt, đây là lãnh vực thuộc quyền và trách nhiệm của Ban Tuyên Giáo trung ương đảng CSVN. Vậy mà ban Tuyên Giáo đã im lặng. 

Nếu có ai chất vấn, câu trả lời là: Đã có Đảng và Nhà Nước Lo…Ta sống bên một nước lớn, cần nhẫn nhịn…

Thời gian 2006-2011, Chủ Tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và Chính phủ của TT Nguyễn Tấn Dũng đã không bao giờ ra tuyên bố phản đối TQ, hoặc l ên tiếng bênh vực ngư dân Việt Nam bị tầu Trung Quốc bắt bớ, đánh đập, giam tù, đòi tiền chuộc,…

Trong lúc đó, nhiều người dân đã lên tiếng phản đối, và nổ ra các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Nhưng nhà cầm quyền Việt Nam đã đàn áp và bỏ tù bất cứ ai phản đối công khai và ngay cả có tư tưởng chống lại TQ. Những bản án tù 7-17 năm dành cho những ai động chạm và phản đối Trung Quốc. Hơn 400 blogger, nhà hoạt động về dân chủ và nhân quyền đã bị bắt trong giai đoạn này, theo Hội Ân Xá Quốc Tế. Nhiều blogger lên tiếng nói chống TQ đã bị đánh đập, hành hạ, bị bệnh và bị bỏ mặc cho chết vì bệnh hoạn trong thời gian ở tù. (Thầy Đinh Đăng Định chết, Lê Chí Quang bị thủ tiêu ở Campuchia…) 

Cuộc bắt bớ gần đây nhất là ngày 5-5-2014. Blogger anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng tác viên Nguyễn Thị Minh Thúy ở Hà Nội đã bị bắt hơn 20 ngày qua. 

Về tấm bản đồ do Trung Quốc ấn hành năm 2004: 10 năm trước, Trung Quốc vẫn chưa dám khẳng định Hoàng Sa là của họ

(LĐ) – Số 110
15/05/2014

“Chí ít cho tới tháng 3.2004, Trung Quốc vẫn chưa dám khẳng định vùng biển Nam Hải – tức biển Đông của Việt Nam, gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – là thuộc chủ quyền của họ”.

Tháng 5.2006, tôi có dịp sang chơi Trung Quốc, ở một thị trấn nhỏ – thị trấn Hà Khẩu, đối diện với TP.Lào Cai của Việt Nam qua sông Nậm Thi. Tôi ghé thăm một hiệu sách nhỏ để tìm sách về lịch sử hay văn hóa của Trung Quốc mà tôi muốn xem nguyên bản.

Tuy không có cuốn nào vừa ý, nhưng bù lại, ở đó có bán bản đồ Trung Quốc mà tôi cũng háo hức muốn có để làm đồ dùng trực quan cho các bài giảng liên quan tới lịch sử và văn hóa Trung Quốc. Không ngờ, cô nhân viên bán hàng hỏi tôi: “Anh là người Việt Nam?” Tôi trả lời: “Đúng”. Lập tức, cô này nói luôn: “Không bán cho người Việt Nam!”. Tôi hỏi lại: “Tại sao?”. “Không bán là không bán. Không giải thích” – cô nhân viên bán hàng trả lời dứt khoát.

Tôi ra ngoài, tìm cô hướng dẫn viên (người Việt), kể lại chuyện vừa xảy ra. Cô hướng dẫn viên bảo: “Không sao, em sẽ nhờ bác lái xe mua hộ thầy”. Người lái xe vui vẻ nhận lời và độ chừng năm, bảy phút sau trở lại cùng tấm bản đồ. Ông đưa cho tôi tấm bản đồ với vẻ mặt hết sức căng thẳng và dặn kỹ: “Không được nói với ai là tôi mua tấm bản đồ này hộ anh”. Tôi cám ơn và hứa. Đương nhiên là tôi rất vui vì có được tấm bản đồ ưng ý.

Đây là loại bản đồ giao thông của Trung Quốc. Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Thành Đô. Chịu trách nhiệm biên tập là Trương Quốc Dũng. Ngày ấn hành hàng loạt: 20.3.2004. Số lượng bản in (ấn số): 245001 – 255000, giá bán 8 nguyên (tương đương 16.000 đồng) vào thời điểm đó (ảnh). Đây cũng chỉ là một loại bản đồ thông thường như bao tấm bản đồ khác, chỉ khó hiểu là vì sao họ kiên quyết không bán cho người Việt Nam?

Tôi tiếp tục xem kỹ hơn các chi tiết trong bản đồ và đã tìm ra câu trả lời: Đó chính là phần phụ lục Nam Hải chư đảo (“các đảo ở Nam Hải” – tức biển Đông của Việt Nam) ở góc phải phía dưới bản đồ với “hình lưỡi bò 9 đoạn”, nhưng điều quan trọng hơn là phần chú thích bản đồ (đồ lệ) giải thích ký hiệu của 9 đoạn đó là: Vị định quốc giới – nghĩa là vùng lãnh địa chưa xác định thuộc quốc gia nào.

Và như thế mọi việc đã rõ ràng, cho đến năm 2004, Trung Quốc vẫn chưa dám khẳng định với nhân dân Trung Quốc, vùng biển Đông (mà họ gọi là Nam Hải), bao gồm cả “Tây Sa quần đảo” (tức quần đảo Hoàng Sa) và “Nam Sa quần đảo” (tức quần đảo Trường Sa), kéo dài cho tới sát đảo lớn Kalimantan của Indonesia, là thuộc chủ quyền Trung Quốc. Với tôi, như vậy là đã có thêm một cứ liệu để khẳng định, chí ít là cho tới tháng 3.2004, Trung Quốc vẫn chưa dám khẳng định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ.

Đó có lẽ cũng là một phần giải đáp cho thắc mắc: “Tại sao Trung Quốc kiên quyết không muốn bán cho người Việt Nam tấm bản đồ do chính họ xuất bản?”.

—————————————–

Hà Nội giúp Trung Quốc quãng bá >>>

Đường lưỡi bò trong sách Việt Nam! 2005

Tuổi Trẻ – Thứ hai, ngày 25 tháng bảy năm 2011

Cộng đồng mạng đang xôn xao về trường hợp quyển sách Luyện kỹ năng đọc hiểu tiếng Hoa “có in bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc“, đã tồn tại trên thị trường suốt sáu năm nay.

Thông tin này gây bất bình trong nhiều người. Ðây là quyển sách dạy tiếng Hoa, tác giả: Ngọc Huyên, do doanh nghiệp sách Thành Nghĩa liên kết xuất bản với Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành từ quý 4-2005 (giấy CNKHXB 316/1528 CXB cấp ngày 9-9-2005).

Sách bao gồm các bài khóa, hướng dẫn cách đọc tiếng Trung Quốc, qua đó người học làm quen với một số thông tin về đời sống học sinh, khí hậu các vùng, thói quen du lịch, các quan hệ giao tiếp, lễ kỷ niệm… của Trung Quốc.

Nhưng tại trang 274, thuộc chủ điểm 2 của bài 17, phần giới thiệu các thông tin cơ bản của quốc gia Trung Quốc, sách in kèm một hình vẽ bản đồ Trung Quốc với cả đường lưỡi bò (đường chữ U đứt đoạn) thể hiện như một đường biên bao trùm các đảo.

Giới quan sát cho rằng đây là cách làm việc cẩu thả và tắc trách của người soạn sách và lãnh đạo Nhà xuất bản Thanh Niên – nơi cấp phép và chịu trách nhiệm nội dung sách này.

Đọc tiếp bài báo ở >>> đây 

——

>>>Nhà xuất bản Thanh Niên thuộc Bộ Thông Tin Truyền Thông, được chỉ đạo bởi Ban Tuyên Giáo Trung ương Đảng CSVN. Vậy, chính đảng CSVN đi quãng bá đường Lưỡi Bò cho Trung Quốc! Giặc là đây chứ đâu. Đi chết đi …

Thậm chí văn phòng của TT Nguyễn Tấn Dũng cũng treo bản đồ LƯỠI BÒ của TQ (đường chữ U đứt đoạn). 

“Trong bản tin thời sự 19h ngày 17/03/2014, khi nói về việc thủ tướng Malaysia liên lạc nói chuyện với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về chiếc máy bay mất tích, máy quay cho thấy một bản đồ Việt Nam với đường “lưỡi bò” của Trung Quốc. Đường “lưỡi bò” này gồm chín đoạn thể hiện chủ quyền mà Trung Quốc đơn phương áp đặt trên biển Đông. Không biết vì lý do gì nó được treo trong phòng họp của Thủ tướng:

Video đây các bạn.

—————–

 

Công Hàm Phạm Văn Đồng được báo Nhân Dân đăng lên trang nhất ngày 22-9-1958.

—————-

Dũng Nguyen's photo.

*Khi TQ chiếm Hoàng Sa ngày 19-1-1974, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đề nghị chính phủ VNDCCH cùng nhau lên án TQ chiếm Hoàng Sa Nhưng Đảng CSVN đã bác bỏ đề nghị của VNCH. (coi hình báo)

*Trung Tướng Ngô Du, trưởng đoàn đàm phán của chính phủ VNCH đề nghị Tướng Lê Quang Hòa  nói với Lê Đức Thọ ngưng bắn, hoặc giảm các cuộc tấn công vào miền Nam để VN rãnh tay chiếm lại Hoàng Sa. Nhưng Lê Đức Thọ, Lê Duẩn và đảng CSVN đã không đồng ý.

Chuyện dưới đây do sĩ quan bảo vệ an ninh của đoàn do tướng Lê Quang Hòa cầm đầu phái đoàn, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại.

Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng 

hoangtran204.wordpress.com/…/tướngngodu-noi-gi…

Đăng ngày 19-1-2012 – 
Tướng Ngô Du nói gì với tướng  Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1974 …  … Trong phiên họp này, phía Việt Nam Cộng  Hòa   đã đưa văn bản đề nghị chính thức

 

Tướng Ngô Du nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1974

Tướng Ngô Du, đại diện cho VNCH tại Ủy Ban Quân Sự 4 bên

Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VN DC CH

Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị của Đảng  CSVN, (tức đảng LĐVN),

—————

***Nguyễn Hữu Vinh và Trần Hoàng là những người đã lên tiếng công khai và sớm nhất trên mạng để cảnh báo nguy cơ của Trung Quốc . Yahoo360°blog basam viết, đưa tin, tổng hợp, bình luận, dịch nhiều bài báo có liên quan tới Trung Quốc kể từ  năm 2007 và 2008, lúc ấy là thời bình minh của các blogger…tác nghiệp…kế đó là các blogger bị bắt khi viết về Trung Quốc…

…Cho đến 5-5-2014, Nguyễn Hữu Vinh đã bị bắt ở Hà Nội cùng một cộng tác viên Nguyễn Thị Minh Thúy.

►Nguyễn Hữu Vinh ĐÃ bị bắt, nhưng blog Ba Sàm thì không-   anhbasam.wordpress.com đã mở lại phần comment

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 7 Comments »

►Fidel Castro: Hoàng đế Cuba đội lốt cách mạng?

Posted by hoangtran204 trên 26/05/2014

Thứ bảy 24 Tháng Năm 2014
Tú Anh

Tình hình bất trắc tại Ukraina, đảo chính tại Thái Lan, những ẩn số của cuộc bầu cử nghị viện Châu Âu. Đó là những đề tài chung của báo chí Pháp cuối tuần. Trong khi đó, L’Express giới thiệu trích đoạn quyển sách “bộ mặt thật của lãnh đạo Cuba Fidel Castro” do một sĩ quan cận vệ tiết lộ.

Quyển sách “La Vie cachée de Fidel Castro”, mà sĩ quan cận vệ Juan Reinaldo Sanchez suốt 17 năm theo chân nhà cách mạng Cuba và một đầu bếp tiết lộ chắc chắn sẽ là một quả bom tại Cuba, do có nội dung vạch trần bộ mặt thật của ông Fidel Castro. Tuần báo L’Express trích ra nhiều tình tiết:

“Cả cuộc đời, Fidel Castro khẳng định ông không có tài sản, chỉ có một chiếc lều câu cá. Thực tế, căn lều của lãnh đạo Cuba là một hệ thống biệt thự sang trong, huy động những phương tiện hậu cần khổng lồ, chiếm trọn hải đảo Cayo Piedra mà giới lãnh đạo xã hội chủ nghĩa thường sang thăm Cuba ít ai biết.

Cayo Piedra thực ra là hai đảo nằm gần nhau và để đi lại dễ dàng Fidel Castro cho xây một chiếc cầu dài 215 mét nối hai đảo nam và bắc. Để cho ba chiếc du thuyền của gia đình ông cập bãi cát mịn, nhà cách mạng đã cho đào một con kênh dài một cây số. Trừ văn hào Gabriel Garcia Marquez, người bạn thân thiết nhất được mời đến chơi không biết bao nhiêu lần, Fidel Castro che giấu rất kỹ, hiếm khi nào mời khách quen lạ. Khách mời chỉ được lưu trú trong một căn nhà ở phía bắc với một hồ bơi 25 mét.

Ở phía nam, có một nhà hàng nổi, nơi gia đình Fidel Castro thường hay dùng cơm. Viên cựu sĩ quan cận vệ cho biết trong 17 năm hầu cận Fidel Castro, ông có gặp một số lãnh đạo chính trị như Tổng bí thư cộng sản Đông Đức Erich Honecker, chủ nhân đài CNN Ted Turner, vua gà của Pháp Gerard Bouroin khi ông này qua Cuba tìm thị trường. Tuyệt nhiên không bao giờ thấy Raul Castro.

Dân chúng Cuba ăn uống kham khổ còn Chủ tịch nước ăn uống ra sao ? Ở La Habana, một bà gia nhân giám sát hai đầu bếp … bửa ăn của nhà cách mạng được một ông quản gia chuyên nghiệp phục vụ tận bàn như trong nhà hàng. Mỗi chiều, Dalia, vợ của « Phi-đen » soạn ba thực đơn : ăn sáng, ăn trưa và ăn tối cho ngày hôm sau nhưng không phải chung cho gia đình mà là cho từng « cá nhân một, với sở thích, thói quen, và yêu cầu riêng ».

Buổi sáng, chủ tịch thức giấc lúc 11 giờ để ăn sáng, hiếm khi nào dậy trước 10 giờ và bắt đầu ngày làm việc vào khoảng 12 giờ trưa. Khi ông dùng sữa, thì sữa do bò nuôi trong nông trại gia đình cung cấp và mỗi thành viên gia đình có một con bò riêng. Sữa đưa lên bàn ăn đựng trong chai có số riêng. Chai sữa bò của Fidel Castro mang số 5. Gia trưởng Cuba có vị giác tinh tế phân biệt được mùi vị nếu sữa không xuất phát từ con bò cái của ông.

Về an ninh, luôn luôn có 15 vệ sĩ túc trực bên mình. Hầu hết được tuyển chọn theo khả năng tác xạ và cận chiến. Đặc biệt là trong số vệ sĩ có một người có diện mạo rất giống chủ tịch tên Silvino Alvarez. Dáng thấp hơn nhưng nếu ngồi trong xe thì không thể phân biệt được, ai giả ai thật. Năm 1992, khi lãnh đạo Cuba lâm bệnh nặng, nằm liệt giường, ông “Phi-đen” giả được cho lên xe chủ tịch chạy vòng vòng đường phố, cố ý qua những nơi đông người như đại lộ Prado dọc bãi biển và khu có sứ quán Anh, Pháp. Ngang qua đám đông, chủ tịch giả cũng đưa tay chào như chủ tịch thật, để qua mắt dân chúng.

Castro giống nhà độc tài Mussolini

Sự kiện Fidel Castro sống một hoàng đế cũng được một người bạn cũ của ông xác nhận và thuật lại trong bài phỏng vấn trên tuần báo l’Express: sử gia Elisabeth Burgos, mang hai dòng máu Pháp và Venezuela, một chuyên gia chế độ cộng sản Cuba, hoạt động sát cánh với Fidel Castro từ thời đầu cách mạng chống nhà độc tài Batista trước khi bỏ đi.

Theo sử gia Elisabeth Burgos, Fidel Castro là một nhân vật tài ba, có sức thu hút, có khả năng phân tích và tổng hợp rất cao và lúc nào cũng thủ sẵn 4,5 giải pháp. Nếu Che Guevara là một nhà cách mạng sắt máu, giết người không gớm tay thì Fidel Castro là một người nhiều mưu mô thủ đoạn, thích thao túng hơn là ra tay hạ sát.

Một khác biệt nữa là Che Guevara là một lý thuyết gia, viết nhiều, Fidel Castro ngược lại có đầu óc thực dụng, không bao giờ viết nhưng tài hùng biện thì khỏi chê. Cho đến nay, vẫn còn nhiều nhà lãnh đạo châu Mỹ La tinh và nhiều nước kém phát triển khác thường lui tới Cuba để nghe ông cố vấn và chia sẻ kinh nghiệm quý báu.

Chìa khóa để bền vững là xây dựng mạng lưới nhân sự hậu thuẫn bằng ý thức hệ. Giới trẻ châu Mỹ La tinh được mời sang Cuba học tập, thụ huấn chính trị và quân sự. Sau một thời gian họ trở về nước hoạt động trong công đoàn, trong đoàn thể sinh viên, đảng phái…. Từng đợt này đến đợt kia, ngày nay khắp châu Mỹ la tinh, nơi nào cũng có cán bộ của La Habana.

Nhưng vì sao sử gia Elisabeth Burgos lại bỏ chế độ Castro? Bà cho biết đã sinh ra và lớn lên trong chế độ quân phiệt ở Veneezuela nên khi sang Cuba bà “linh cảm” được ngay điều bất ổn. Đến năm 1971, thì bà và nhiều trí thức Tây phương không thế chấp nhận được vụ oan án Heberto Padilla. Nhà thơ nổi tiếng bị Fidel Castro xử tội vì dám chỉ trích chế độ.

Trong số những nhà trí thức Tây phương tỉnh ngộ sớm nhất là nhà văn Ý Alberto Moravia. Sử gia Elisabeth Burgos kể lại vào ngày đầu năm 1966, khi đứng nghe thông điệp của chủ tịch Cuba tại quảng trường Cách Mạng, Alberto Moravia mặt không đổi sắc, nói nhỏ vào tai của bà: “Phi-đen” làm tôi nhớ Mussolini.

Thái Lan: Long thể bất an, vương quốc rối loạn

Quân đội Thái Lan đẩy đất nước vào vòng bất trắc. Bên cạnh bức ảnh chụp một toán quân mặc áo ngụy trang tay cầm M16 đứng trước tượng đài “Dân Chủ” ở thủ đô Bangkok, phóng viên Bruno Philip của báo Le Monde thuật lại vụ đảo chính.

Trưa thứ năm, phái đoàn hai phe chính trị đối đầu đàm phán thất bại vì không bên nào nhượng bên nào. Lập tức các thượng nghị sĩ và ủy viên hội đồng bầu cử được quân đội mời ra khỏi phòng họp trong khi đó lãnh đạo chính trị hai phe đối kháng bị bắt ngay. Tổng tham mưu trưởng quân đội Thái Lan, trung tướng Prayut Chan-Ocha đập tay xuống bàn: tôi nắm chính quyền.

Câu hỏi đặt ra là tại sao quân đội đảo chính? Để lật đổ chính phủ của bà Yingluck Shinawatra mà người thương xem bà là biểu tượng của phong trào chống chế độ vương quyền, còn kẻ ghét thì nói bà là tàn dư của truyền thống chính trị gia tham ô, nhũng lạm quyền thế, bảo vệ ông anh bị lật đổ.

Giáo sư chính trị Thitinan Pongsudhirak bình luận: Ý đồ của quân đội là gây sức ép để chính phủ từ chức, chính phủ không từ chức thì họ đảo chính”

Theo phân tích của thông tín viên Le Monde thì phía sau biến cố này ẩn giấu một sự thật mà không ai ở Thái Lan dám nói ra vì sợ bị trừng phạt vì tội phạm thượng : đó là chuyện nối ngôi. Quốc vương Bhumibol, 86 tuổi, trị vì từ năm 1946, sức khỏe suy sụp trầm trọng. Thái tử Maha Vajiralongkorn, 61 tuổi, sẽ lên nối ngôi. Vấn đề là dư luận Thái cho rằng thái tử Maha là một người gần gũi với Thaksin khi nhân vật này nắm ghế Thủ tướng.

Đó là lý do tại sao thành phần chính trị gia Bangkok muốn nhanh chóng “bứng rể” phe Thaksin trước khi quốc vương băng hà. Trong những ngày tới, Thái Lan sẽ phải bổ nhiệm một Thủ tướng mới để tạo hình ảnh một chính phủ hợp pháp và nhân vật này có thể là cựu Tổng tham mưu trưởng quân đội Prawit Wongsuwan, thân cận với hoàng gia.

Nhóm chuyên gia tư vấn Siam Intelligence Unit dự báo là tình hình sắp tới “sẽ rất xấu vì đám tướng lãnh cực đoan đã nắm chính quyền”. Trang mạng của tổ chức tư vấn này còn tiên đoán là các thủ lãnh phe bảo hoàng (áo vàng) sẽ sớm được tự do trong khi các lãnh đạo đảng Peua Thái của bà Yingluck sẽ bị giam giữ lâu hơn.

Tuy nhiên, cũng theo nguồn phân tích này thì nếu “quân đội ban hành hiến pháp mới phản dân chủ và đình chỉ bầu cử Quốc hội vô thời hạn thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi một cuộc nổi dậy ở các tỉnh phía bắc và đông bắc, thành trì của phe áo đỏ.

Nurul Izzal Anwar: Ngôi sao sáng trên chính trường Malaysia

Một phụ nữ Thái Lan bị lật đổ, một phụ nữ Malaysia vươn lên: “chống lại bầu không khí bất an, Maysia có nàng tiểu thư cải cách”. Với tựa đề này, đặc phái viên của Libération, Arnaud Dubus phân tích tình hình chính trị tại quốc gia hồi giáo Malaysia mà thực tế đa sắc tộc, đa văn hóa đang bị bóp nghẹt vì liên minh UMNO cầm quyền liên tục từ năm 1957 đến nay với xu hướng dân tộc chủ nghĩa.

Cứu tinh của Malaysia, theo Libération, là nữ dân biểu Nurul Izzal Anwar, một phụ nữ trẻ đẹp 34 tuổi. Bà chính là con gái của nhà lãnh đạo đối lập Anwar Ibrahim, một cựu Phó Thủ tướng rất được Tây phương kính trọng nhưng từ hàng chục năm nay bị vùi dập vì hàng loạt vụ án từ tham ô cho đến đồng tính luyến ái phạm pháp (?). Hiện nay, Nurul Izzal Anwar là phó chủ tịch đảng đối lập Công lý và Dân tộc, được giới trí thức Malaysia mô tả là một nhà chính trị “thông minh, ôn hòa, nắm rõ những khó khăn mà dân chúng đang gặp phải”.

Theo Libération thì vị nữ dân biểu trẻ tuổi này đại diện cho thế hệ mới, có cơ may trở thành Thủ tướng đầy uy tín. Bà nhận định hệ thống chính trị hiện nay không tránh khỏi sụp đổ vì nó là mô hình tuyệt vời cho những kẻ cầm quyền muốn thao túng hết trong tay. Họ đắc cử nhờ vào cách chia cắt đơn vị bầu cử và thay đổi liên tục sao cho có lợi. Thứ hai là định hướng công luận với 90% báo chí thân chính quyền. Điều sai lầm của chế độ là họ bất chấp khổ đau của dân chúng và lầm tưởng rằng chỉ cần bôi nhọ, nói xấu đối thủ chính trị là sẽ làm suy yếu đối lập.

Tổng thống Ukraina và Nghị viện châu Âu: Hai cuộc bầu cử bất trắc

Nếu Le Monde nhận định Ukraina sẽ bỏ phiếu trong tình thế “căng thẳng cao độ” thì nhật báo Le Figaro dự báo người dân sẽ đi bầu dù cho bị phe thân Nga ly khai cản trở. Cả hai nhật báo Pháp đều tin chắc nhà tỷ phú Petro Porochenko làm giàu nhờ bán sôcôla sẽ đắc cử vì đang bỏ xa đối thủ nặng ký nhất là cựu Thủ tướng Ioulia Timochenko.

Nhưng theo Le Figaro nếu ông Petro Porochenko chờ qua vòng hai đấu tay đôi với nữ chính trị gia Ioulia Timochenko thì kết quả sẽ rõ nét dân chủ hơn nhưng ngược lại sẽ có ảnh hưởng xấu cho ổn định xứ sở. Một nhà ngoại giao Tây phương e ngại hai nhân vật này khó hòa giải nhau nếu phải “tử chiến” ở vòng chung cuộc.

Le Monde thì lo ngại quyền lực của Tổng thống Ukraina bị hiến pháp giới hạn và trong khả năng bà Ioulia Timochenko liên kết với đảng Cấp Vùng của Tổng thống bị lật đổ Ianoukovitch để lên làm Thủ tướng, không rõ tương lai Ukraina sẽ ra sao? Nói cách khác, ước mơ thực hiện các mục tiêu của cách mạng dân chủ màu cam cách nay 10 năm vẫn còn xa vời trong lúc miền đông rơi vào vòng bạo lực.

Tình hình bất ổn tại Ukraina cũng là nguồn cảm hứng của các nhà bình luận Pháp trước cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu, bắt đầu từ thứ năm với Anh và Hà Lan và sẽ kết thúc vào ngày mai với Pháp và Đức.

Hầu hết các báo đều lo ngại các phe cực hữu, cực tả, bài ngoại giành được tỷ lệ phiếu đáng kể để “phá hoại giấc mơ sống còn của châu lục” theo như nhận định của Libération. Nhật báo cánh tả khai phóng đề tựa trên trang bìa: Tại sao phải đi bầu: vì Mặt Trận Quốc Gia (cực đoan) dẫn đầu hay vì sợ tỷ lệ cử tri vắng mặt cao?

Một bài bình luận mà tác giả là một nhóm giáo chức đại học đã đưa ra nhận định chung như sau: Châu Âu trừu tượng, vô tích sự trong các hồ sơ như nội chiến ở Syria hay chống thiên đường trốn thuế. Ngược lại chương trình trao đổi sinh viên Erasmus là ngon lành nhưng phải có tiền.

Trong bài này có phát biểu của một sinh viên sắp ra trường lý luận dí dõm: là doanh nghiệp tương lai, tôi phải theo phe hữu, nhưng tôi nhờ học bổng nên trái tim nghiêng về phía tả. Đảng cực hữu chống châu Âu, cho nên tôi không bỏ phiếu cho họ.

Le Figaro chú ý nhiều về hệ quả trong chính trường Pháp sau ngày 25/05: Báo động bảo tố, tựa của bài xã luận: nếu đảng Xã hội về hạng ba thì liệu chính phủ sẽ phản ứng ra sao: hủy bỏ đường lối cải cách kinh tế hay tăng tốc? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu đảng cựchữu về đầu qua mặt Liên minh UMP giành vị trí “đảng chính trị số một” tại Pháp?

Le Monde thì đặt thẳng một sự lựa chọn: hoặc con đường hội nhập, con đường mà Pháp đã chủ động, con đường Liên Hiệp Châu Âu, cho phép quốc gia bảo vệ quyền lợi và giá trị vào giờ phút mà cạnh tranh quốc tế trở thành gay gắt, xung khắc.

Con đường thứ hai là co cụm, từ bỏ tương lai của một quốc gia đầy cao vọng như nước Pháp. Tuy nhiên, Le Monde đòi hỏi các định chế châu Âu phải mạnh, mà muốn mạnh thì phải cải cách, phải đơn giản hóa cung cách điều hành. Và như thế khi đi bầu phải bỏ phiếu cho những đảng muốn xây dựng chứ không phải chọn kẻ phá hoại.

Theo Đài RFI

 

——————–

 

 

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Tin Nóng: Lần đầu tiên Mỹ phái 2 máy bay do thám tới vùng Biển Đông và vùng Biển Hoa-Đông để quan sát các hoạt động quân sự trên biển và trên bộ của TQ và Bắc Triều Tiên

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2014

Tin Thứ Bảy 24-5-2014 (Trần Hoàng)  http://wp.me/po94e-6gz

Nguồn tin tổng hợp từ Japan Today và Asahi Shimbun, Ariran News 

Hai máy bay do thám của Mỹ đã được phái đến Nhật Bản để quan sát Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. 

Hai máy bay do thám không người lái của Mỹ đã được phái đến (căn cứ quân sự của Mỹ ỏ) Nhật Bản để quan sát các hoạt động quân sự của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Hãng tin Asahi Shimbun của Nhật đã tường thuật vào Thứ Bảy 24-5-2014 rằng chiêc máy bay do thám Global Hawk đã đến Phi trường quân sự Misawa Air Base của Mỹ nằm trên đất Nhật vào sáng sớm thứ Bảy (24-5-2014),…và chiếc thứ nhì sẽ đến vào thứ Tư (28-5-2014.)

Hai phi cơ do thám này sẽ bay trên vòm trời Biển Đông và Biển Hoa Đông…và trên bán đảo Triều Tiên, 2 lần mỗi tuần, cho tới tháng 10. 

Không Lực Mỹ cho biết, đây là chuyến biệt phái đầu tiên của phi cơ do thám loại này tới Nhật.  Mỗi chuyến bay kéo dài 30 giờ, và bay ở cao độ 18 km, gấp hai lần độ cao của các máy bay phản lực chở hành khách.

Theo trang mạng thông tin của Không Lực Mỹ, các máy bay này có mục đích là hổ trợ các công tác tình báo của Mỹ, các tin tức và hoạt động quân sự trên măt đất, các công tác do thám các hoạt động quân sự trong các vùng nầy. Thêm vào đó là để theo dõi các cơn bão biển thường trực đánh vào Đảo Guam vào mùa hè. 

Hoạt động gây hấn của Trung Quốc trên biển và chương trình phát triển vũ khí phi đạn và hạt nhân của Bắc Triều Tiên đã làm gia tăng mối quan tâm về an ninh tại Nhật. 

Trong lúc đó, TQ chỉ trích Mỹ, Nhật và Nam Triều Tiên đã gia tăng dùng các hoạt động qdo thám bằng quân sự nơi các khu vực có các hoạt động khoan dầu ngoài biển của Trung Quốc đang hợp tác với Nga.

TQ nói cả 3 quốc gia Mỹ Nhật và Nam Hàn đã phái các máy bay tuần tra để quan sát các hoạt động khoan dầu sẽ hoàn tất vào thứ Hai (26-5-2014) .

 

Published on May 24, 2014

Two U.S. drones deployed to Japan to monitor China, North Korea

 

 

Bản đồ chỉ những quần đảo đang ở trong vùng tranh chấp trong vùng biển South China Sea và East China Sea; Biển Đông và Biển Hoa-Đông

CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC Ở VÙNG ĐÔNG NAM Á

Trần Hoàng* (2008-2009)

Biển Đông là hải lộ vận chuyển 2/3 của tổng số hàng hóa của thế giới, và 3/4 của tổng số hàng hóa của Trung Quốc. Tất cả hàng hóa đường biển của TQ đều phải đi qua eo biển Malacca, giữa , Singapore Malaysia, và Indonesia.

Biển Đông là hải lộ sống còn của TQ và TQ rất sợ bị bao vây như hồi Chiến Tranh Lạnh (bị LX vây ở phía Bắc, các nước Asean vây ở phía Nam; chỉ còn ngọ nguậy ở Bắc Việt. Hạm Đội 7 tuần tra khóa chặt Biển Đông. Ngay khi Hạm Đội 7 của Mỹ rút đi, TQ lập tức chiếm Hoàng Sa 19-1-1974. TQ sẽ chiếm toàn bộ Trường Sa, xây căn cứ quân sự, phi trường, và sẽ vĩnh viễn ở lại đây.

Ông HCM và Đảng CSVN có tội rước Trung Quốc vào Việt Nam năm 1950, và suốt thời gian chiến tranh VN đã có 320.000 quân TQ đóng quân ở Miền Bắc, để bộ đội miền Bắc đi B (Nam Tiến).  Dùng HS và TS để đổi chác lấy vũ khí đánh Điện Biên Phú, chiếm Miền Bắc 1954, và giải phóng Miền Nam…đó là hình thức bán nước cầu vinh.  

Năm 2012, Mỹ đã phái 2 trong 4 chiến hạm  tuần tiểu cận duyên tối tân nhất (có phi đạn có bãi đáp cho trực thăng) đóng chốt tại quân cảng Singapore, gần eo biển Malacca, để tuần tra và quan sát các hoạt động của tàu thuyền qua lại. 

Năm 2006, TQ dụ Thái Lan rằng họ sẽ biếu Thái Lan 20 tỷ đô la, nếu Thái lan đồng ý XẺ một con KÊNH ỏ ngay gần Mergui (mũi teen trên bản đồ), để Tàu thuyền của TQ có thế đi từ Biển Đông, qua Vịnh Thái Lan vào Ấn Độ Dương, khỏi vòng qua eo biển Malacca, nhưng Thái Lan đã từ chối.  (coi bản đồ thứ 3)

Năm 2005, TQ dụ Miến Điện làm đường ỐNG DẪN DẦU đi từ TQ xuyên qua Miến Điện, để TQ vânj chuyển dầu từ Ấn Độ Dương về TQ khỏi đi qua eo biển Malacca (Singapore). TQ bỏ ra hơn 5 tỷ, và mới hoàn thành được 1/2 , thì Mỹ nhảy vào và thuyết phục Miến Điện ngưng lại dự án ấy, Mỹ và Châu Âu sẽ tái thiết Miến Điện…thế là Thủ tuonwgr Thein Sein, nhưng trước hết, Miến Điện phải trả tự do cho bà Aung San Suiki và tất cả các tù nhân lương tâm Miến. Thủ tutướng Thein Sein đã đồng ý, và chuyển qua thể chế dân chủ, dân chúng được ra ứng cử và bầu cử tự do.

Năm 2004, TQ đã đầu tư 500 triệu đô la vào Sihanoukville (tên cũ là Kompong Saom) và Cảng Sihanouk Port, Cambodia, dự tính dùng cảng nầy là nơi tiếp nhận và vận chuyển hàng hóa của TQ trong trường hợp Biển Đông bị Hạm Đội Mỹ bao vây. Tại khu vực gần cảng, TQ xây hàng một công ty, có hàng rào cao, không cho ai có thế nhìn thấy từ bên ngoài. TQ đã xây dựng gần hoàn tất các xa lộ chạy từ TQ, qua Lào, xuống Cambodia và vào Cảng Sihanouk.

Kể từ trước năm 2000, TQ đã xâm chiếm dần vùng biên giới Lào- Trung, định cư dân TQ bên trong phần đất của Lào, cung cấp học bổng cho các sĩ quan trẻ của Lao qua TQ du học. Những sĩ quan lớn tuổi thân với VN.

Ngày 15-5-2014, trong khi Tướng Khổng Vạn Toàn, Bộ trưởng Bộ QP Trung Quốc viếng thăm Lào 4 ngày, thì ngày 17-5-2014, 4 nhân vật hàng cao cấp nhất của Lào đã bị rớt máy bay trên đường tới dự lễ kỷ niệm thành lập sư đoàn 2. Nơi phi cơ rớt, chỉ cách phi trường  1000 mét. Một người bị thương nặng và 16 trong tổng số 17 người đã chết, trong số người chết có Bộ Trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Công An, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào; ông Soukanh Mahalat – bí thư Trung ương Đảng, bí thư Thành ủy, đô trưởng thủ đô Vientiane (Lào). 

(Bản gốc của bài nầy được Tràn Hoàng viết và đưa lên 360!yahoo blog năm 2008 và hoangtran204.ửodpress.com @ 2009. Cập nhật các tin thời sự 2004 về vụ rớt máy bay ở Lào và bản đồ dưới đây).
 
.
Photo: TRƯỚC CON CÙ CHINA MANH ĐỘNG VÀ . . . NHIỀU HƠN THẾ NỮA<br /><br /><br />
Hà Hưng Quốc, Ph.D.<br /><br /><br />
28-5-2014</p><br /><br />
<p>(Dàn khoan 981 chỉ là diện, đây mới chính là điểm, mong các bạn tiếp tay phổ biến)</p><br /><br />
<p>Những náo nhiệt ở mặt Biển Đông, thực có và hư có, là một phần trong chiến sách trá ngụy  để Trung Cộng thuận lợi tiến hành âm mưu nắm lấy đường không-địa dọc hành lang Đông Dương để một mặt (a) an ninh thủy lộ cho Cù China ra biển hóa rồng, còn một mặt khác là (b) chuẩn bị cho chiến tranh thôn tính trong tương lai.  </p><br /><br />
<p>Đọc tiếp:<br /><br /><br />
http://www.trinhanmedia.com/2014/05/truoc-con-cu-china-manh-ong-va-nhieu.html
Cập nhật 30-5-2014  Bản đồ – nguồn khoahocnet.com   và  trinhanmedia.com

BÀI LIÊN QUAN

►“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? – Nhờ vậy mà ngày nay TQ có cớ đi khoan dầu ở Biển Đông

[Trích]… Nếu Mao Trạch Đông không chiếm được TQ 1949, chắc chắn ông HCM và đảng CSVN không thể đánh thắng Điện Biên Phủ 1954 và chiếm được Miền Bắc 20-7-1954.

Ngay sau khi Mao chiếm được TQ, ông HCM đã viết thư thỉnh cầu TQ xin giúp đỡ vào năm 1949, và còn đích thân qua TQ diện kiến Mao vào tháng 2-1950 để thỏa thuận đổi chác với Mao để nhận được sự giúp đỡ về viện trợ vũ khí, lương thực, quân trang, quân dụng, tiền bạc… Trần Hoàng mời các bạn đọc thêm tại liệu của 3 tướng lãnh TQ nói về giai đoạn này qua bài (Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam, 1-5-2009, Báo Quân đội Nhân dân). Từ đó, chúng ta có bằng chứng thêm để biết ông HCM và đảng CSVN cõng rắn cắn gà nhà và mãi quốc cầu vinh như thế nào.

Cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam (1950-1952) 

Ngày 9 tháng 2 năm 1964, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô đưa tin, một đoàn đại biểu của Đảng Lao Động Việt Nam do ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất dẫn đầu, đã đến thăm Liên Xô.  [Le Duan đến LX xin thêm tiền để đánh Miền Nam]

Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam

Tất cả các sự kiện trên được ghi lại ở đây ►“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? – Nhờ vậy mà ngày nay TQ có cớ đi khoan dầu ở Biển Đông

*** Nguyễn Hưng Quốc- May 21

YÊU NƯỚC VÀ BÁN NƯỚC

Slavoj Žižek, một triết gia người Slovenia (sinh năm 1949), có một câu nói thật hay: “Điều khủng khiếp của chế độ Cộng sản và chủ nghĩa Stalin không phải ở chỗ những người xấu làm những điều xấu xa: Thật ra, lúc nào họ cũng làm như vậy cả. Điều khủng khiếp là cả những người tốt cũng làm những điều khủng khiếp mà lại nghĩ là mình đang làm những điều vĩ đại.”

Mô phỏng cách diễn đạt ấy, ứng dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, chúng ta có thể nói: Điều đáng lo, đáng giận và đáng nguyền rủa nhất không phải là việc những tên bán nước mang nước đi bán. Thì thời nào và ở đâu cũng vậy: tất cả bọn bán nước đều làm vậy. Điều đáng lo, đáng giận và đáng nguyền rủa là việc những kẻ bán nước bán nước mà lại nghĩ và muốn cho mọi người nghĩ là chúng đang cứu nước.

Những tên bán nước ở trên ít khi lừa dối được ai; những tên bán nước dưới không những lừa dối chính chúng mà còn lừa dối được nhiều người khác.

Những tên bán nước ở trên ít nguy hiểm hơn những tên bán nước dưới: vì lừa dối được nhiều người, việc bán nước có thể được sự đồng thuận của cả dân tộc!

Bởi vậy, không hiếm người dân cứ tưởng là mình yêu nước và đang làm điều gì thật có lợi cho đất nước trong khi, trên thực tế, họ đang đồng lõa hoặc tham gia vào một âm mưu bán nước.

***Nguyễn Hữu Vinh là một trong những người đã lên tiếng công khai và sớm nhất trên mạng để cảnh báo nguy cơ của Trung Quốc . Yahoo360°blog basam viết, đưa tin, tổng hợp, bình luận, dịch nhiều bài báo có liên quan tới Trung Quốc kể từ  năm 2007 và 2008, lúc ấy là thời bình minh của các blogger. 

►Nguyễn Hữu Vinh ĐÃ bị bắt, nhưng blog Ba Sàm thì không- basam.info đã mở lại phần comment

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 2 Comments »

►”Hữu Nghị viển vông, lệ thuộc”…, Quả bồ hòn đắng quá…đã thực sự nhả ra chưa?

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2014

“Hữu Nghị viển vông, lệ thuộc”…, Quả bồ hòn đã thực sự nhả ra chưa?

Nhạc sĩ Tô Hải
.

.

Nhật ký mở lần thứ 94

Ngày 23 /5/2014

Nói thiệt để ông thủ tướng rõ: từ bài thông điệp đầu năm 2014, tới nay, ông có một số điều tuyên bố công khai khá là ….“tự diễn biến”…dễ bị ông tổng Trọng yêu cầu “xử lý” lắm, …

Và lần này, tại Philippines, khi trả lời AFP và Reuters ông lại khá là hùng hồn và dứt khoát, “…. hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó ….”

Chẳng biết những điều ông nói đã được nhiều người hoan hô, đã được Bộ Chính Chị các ông thông qua chưa? Chứ theo tôi phán đoán thì….chưa! hoặc “chưa thống nhất trong cả 16 vị vua tập thể”!

Lý do: Không một ai trong “tứ trụ triều đình” dám nhắc lại lời hoặc ý của ông cả. Họp quác hội, cơ quan quyền lực (gọi là cao nhất) cũng phải.. “bí mật”!?) để rồi “phóng” ra được một bản tuyên bố sặc mùi “hòa bình hữu nghị viển vông” ….Xin trích:

“…Kiên trì đấu tranh, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; kiên trì bảo vệ, giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc.”…(Tuổi Trẻ ngày 22/5/2014)

Còn tại Myanmar. Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng thì ngậm đắng nuốt cay trước lời đe dọa của tên đồng cấp Thượng Vạn Toàn rằng thì là:

“Thời gian qua, Việt Nam tiến hành quấy nhiễu tác nghiệp khoan thăm dò bình thường và hợp pháp của Trung Quốc tại vùng biển quần đảo Tây Sa, đặc biệt là gần đây Việt Nam xảy ra các vụ bạo lực đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt nhằm vào doanh nghiệp và công dân Trung Quốc, Trung Quốc kiên quyết phản đối và lên án việc này. Hoạt động tác nghiệp chính đáng trên vùng biển Tây Sa là quyền lợi của Trung Quốc, không có ai có thể ngăn cản được. Việt Nam cần tôn trọng lịch sử, nhìn thẳng vào thực tế, xuất phát từ đại cục hữu nghị Trung-Việt, không nên đã sai lại càng sai, trở thành sai lầm lớn.

 

 

Ấy vậy mà cái ông Đại Tướng chỉ huy tất cả lực lượng bộ binh, pháo binh tên lửa, tầu bay, tầu bò, tầu thủy, tầu ngầm, xe tăng,..dân quân du kích và cả bộ máy “chiến tranh toàn dân” với truyền thống “còn cái lai quần cũng đánh”… lại lúng ba, lúng búng trả lời y như có một cái máy ghi âm gắn sẵn chủ trương của những ai đó trong cổ họng:

“Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam cực kỳ coi trọng phát triển đoàn kết và hữu nghị với Trung Quốc, quân đội Việt Nam sẽ không áp dụng hành động làm phức tạp tình hình, sẵn sàng cùng với Trung Quốc duy trì trao đổi về các vấn đề liên quan.”

Tất cả những sự phản ứng của các nhà lãnh đạo Việt Nam gần như ai cũng bị những quả “bồ hòn hữu nghị viển vông” nó làm…cứng họng hết!

Nguy hiểm hơn nữa, mọi điều “cả vú lấp miệng em” chửi bới xấc xược của những cơ quan truyền thông Tầu bành trướng, thậm chí những nhận định, đánh giá sai lầm, xuyên tạc về sự kiện HD981 của các cá nhân, báo chí nước ngoài, bộ máy của anh Huynh đều cấm không cho phổ biến, không cho phản biện công khai (để nhân dân cùng góp sức) mà chỉ cho phóng lên những điều “bốc thơm” đường lối “trước sau như một bảo vệ hòa bình, hết sức kiềm chế” của mấy ông mà thôi!

Mãi tới hôm nay 23/5/2014, mới có một bài viết của một ông có cái tên lạ hoắc Nguyễn Đăng Phát phản biện một tên Dimitry Kosyrev nào đó đã viết bài trên hãng Thông Tấn chính thức của Nhà Nước Liên Bang Nga Rossiya Segodnya công khai bầy tỏ quan điểm của hắn đứng hẳn về phiá Trung Quốc về vụ giàn khoan HD 981 là đã được đặt “hợp pháp” vì chỉ cách bờ biển Trung Quốc có…27km còn cách bờ biển VN tới…241 km (Tuổi Trẻ ngày 23/5 trg 19)!!!

Đặc biệt cái công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng nó là thế nào? Giá trị pháp lý của nó ra sao? Tất cả đều bị bịt kín nếu không có ông Trần Công Trục phát biểu thẳng thừng trên Tivi I đêm 22/5/204 về hoàn cảnh Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về chính phủ có đầy đủ quyền lực Việt Nam Cộng Hòa. Việc Tầu cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974 không có liên quan gì đến công hàm 1958 cả!

Hậu quả của mọi thủ đoạn bưng bít, cắt cúp, xuyên tạc thông tin, không cần đến sự góp sức của nhiều người hơn mấy ông cả chục cái đầu đã nhân dịp này được thây tác dụng ngược của nó! Các ông đã đơn độc và yếu thế trong lý luận! Chẳng biết các người có trách nhiệm các ông đã nhìn rõ hay chưa?

 

 

.

Ông Dũng nè! Tôi có thể kể ra đây hàng chục ý kiến “chủ bại” khác, thậm chí những tư duy mốc meo đang cố bám lấy người bạn vĩ đại, cùng chí hướng, tốt đẹp không ai có thể hơn (Nguyễn Chí Vịnh) là Trung Hoa, là bác Mao là bác Hồ…(ta đó cũng là bác Mao) của những tên như Vũ Mão, và đồng bọn để ông….đề phòng….

Nhưng tôi biết những gì tôi e ngại cho ông, ông cũng biết và chắc ông cũng thừa kinh nghiệm để tồn tại cho tới ngày hôm nay rồi!

Tuy nhiên

1- Nhân danh một người hơn ông đúng 21 năm 8 tháng 7 ngày (ông sinh 17/1/1949, tôi sinh 24 tháng 9/1927)

2- Nhân danh một người đã từng ngậm cả tấn bồ hòn mà phải kêu lên “Hảo lớ!” “Ngọt lắm! ngọt lắm!” từ hơn 60 năm trước, khi cái nước cộng sản Mao hình thành (1949) và cái “nước đàn em” đã bị lệ thuộc trên mọi phương diện!

Với giới văn hóa nghệ thuật chúng tôi thì…Đường lối Văn Nghệ Diên An đã như một cái lệnh của Tần Thủy Hoàng đốt sách, khai tử toàn bộ những gì là 15 năm văn hóa huy hoàng, văn nghệ hoàng kim nhất của nước Việt Nam dù dưới ách đô hộ của thực dân Pháp.

Chính cái đường lối văn nghệ “công nông binh”được cụ thể hóa bởi cái đề cương văn hóa sát khí đằng đằng của cái tên Trần Phú, tổng bí thư đầu tiên của cái đảng cộng sản du nhập ở Nga, ở Tầu về: “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” đã giết hết các tên tuổi và tác phẩm của một thế hệ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng…của nhóm Tự Lực Văn Đoàn ….và sau này giết luôn cả phần xác, lẫn phần hồn của những Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo …

Ai còn lại mà có điều kiện đều phải cao chạy xa bay (ngày nay trở về với đầy vinh quang và tiền bạc!!) Những kẻ còn lại thì 60 năm ngậm bồ hòn làm công cụ tuyên truyền cho đảng và nhà nước vô sản dỏm của các ông đấy!

Phải nói thật là: Lũ chúng tôi, kể từ khi “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông” …. “chung một Biển Đông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông” và sau này … “Sơn thủy tương liên/lý tưởng tương thông /văn hóa tương đồng/vận mệnh tương quan …

Thì….chúng tôi giới văn nghệ ăn lương nhà nước để tồn tại đã phải ngậm hàng tấn bồ hòn mà phải kêu là “Ngọt, ngọt!”

Còn toàn dân thì sao? Chỉ nhắc tới cái bài học bác Mao “Cải cách ruộng đất” thôi cũng đã thấy. Chính các bậc cha chú cộng sản của các anh đã phải ngậm bồ hòn biết bao nhiêu khi phải nhận tội trước nhân dân về những lỗi lầm muôn đời không thể sửa chữa trong tâm hồn của người nông dân Việt…Hết nuốt xong quả đắng cải cách ruộng đất nhưng cuối cùng ruộng đất lại trở thành “sở hữu toàn dân” do các lý trưởng, chánh tổng, quan huyện, quan phủ, tổng đốc, khâm sai, hoàng đế kiểu mới quản lý….nông dân Viêt Nam, cho đến hôm nay đã phải nuốt bao tấn bồ hòn?

Công nhân, thương gia, trí thức …chẳng ai không phải ngậm bồ hòn làm ngọt, trong đó có một số không phải là nhỏ, đã quen dần nên thấy bồ hòn Tầu ….cực ngọt!

Lý do: Không có Tầu bành trướng, không có chúng! Cho nên, cái tình hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa đối với chúng không hề viển vông mà là Lẽ Sống …đấy.

Gần như cả dân tộc Việt đều căm giận Tầu xâm chiếm nước ta, nhưng với chúng, bỏ núm vú Tầu ra là chúng ….chết liền!.Cho nên ai chống Tầu bành trướng là chống bản thân chúng, chúng đều đàn áp, bắt bớ, bỏ tù thẳng tay, thậm chí mới…mở miệng đã bị chúng bịt liền!

Lần này, chính anh Ba đã làm một cái việc vứt bỏ hẳn khỏi miệng quả bồ hòn mà chính các anh và toàn dân Việt Nam ngậm đắng nuốt cay bao lâu(?) nay…

Rất nhiều ý kiến đã hua-ra anh. Tôi, dù có nhiều điều không tán thành gì anh cả, nhưng xin hô to:

TIẾN LÊN ANH BA! VẠCH MẶT THẬM CHÍ GẠT PHẮT NHỮNG KẺ VẪN NGẬM CHẶT QUẢ BỒ HÒN, NGÁNG ĐƯỜNG ĐI CỦA ANH.

HAI NHIỆM KỲ LÀM THỦ TƯỚNG, 65 TUỔI RỒI!

MỌI VINH QUANG CAY ĐẮNG ĐỀU ĐÃ QUÁ ĐẦY ĐỦ RỒI! TIẾC NUỐI CÁI GÌ NỮA MÀ CỨ PHẢI ÔM BA CÁI THỨ “VIỂN VÔNG-VU VƠ-GIẢ DỐI’ ẤY MÃI LÀM CHI?

 Nhạc sĩ Tô Hải 

 

Bài này làm Trần Hoàng sực nhớ tới 3 bài.

1.  Chính sách ‘ba không’ của quốc phòng Việt Nam (26-8-2010) Thứ Trưởng QP Nguyễn Chí Vịnh

2. Bài phỏng vấn Dương Danh Dy, cựu Tổng Lãnh Sự tại Trung Quốc: Thủ đoạn Thủ đoạn ‘vừa đấm, vừa xoa’ của Trung Quốc năm 2011 Đời nầy không lấy được HS TS thì đời con, đời cháu lấy lại HS, TS…

3. Đáng chú ý là Ngày 17-5-2014PTT Vũ Đức Đam đã trả lời phỏng vấn và lập lại  y hệt như  ông Dương Danh Dy đã trả lời phỏng vấn đài RFA v 7-9-2011:  Ớn chè đậu! Phó Thủ Tướng: đời con cháu chúng ta sẽ đòi 

***Mời các bạn đọc 3 bài này để hiểu chiến lược quốc phòng CẦU XIN của nhà nước.

*** Thứ năm, 26/8/2010
Phát biểu trước báo giới trong chuyến thăm Trung Quốc, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định chính sách “ba không” của Việt Nam, và nhấn mạnh rằng mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước láng giềng là “tốt đẹp”.

Chính sách “ba không” mà Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh nhắc đến, bao gồm:

không tham gia các liên minh quân sự,

không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào,

không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi của phóng viên liên quan đến việc Việt Nam có liên minh quân sự với Mỹ hay không, cũng như phản ứng của Việt Nam trước sự lớn mạnh không ngừng của quốc phòng Trung Quốc.

Cuộc họp báo trên diễn ra trong chuyến thăm của Đoàn đại biểu Bộ quốc phòng Việt Nam do Trung tướng Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh dẫn đầu sang thăm Trung Quốc từ ngày 22-25/8 để chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) dự kiến tổ chức tại Hà Nội vào 12/10 tới.

…Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh nói, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có “đại cục quan hệ tốt đẹp”, Việt Nam ủng hộ trước sự phát triển của Trung Quốc, trong đó có phát triển quốc phòng. Sự ủng hộ ấy xuất phát từ lòng mong muốn và niềm tin Trung Quốc không sử dụng sức mạnh của mình để làm phương hại đến lợi ích của các nước khác, không làm phương hại đến hoà bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.

———–

>>>Lời bàn của Trần Hoàng: Phải lắm, bấy lâu nay, khi chưa gặp Nguyễn Chí Vịnh và Phùng Quang Thanh,  TQ bỏ ra ngân sách quốc phòng hàng năm là 150 tỷ đô la, luyện tập quân đội, trang bị tàu ngầm, hỏa tiển, hàng không mẫu hạm…để chuẩn bị chiến tranh, NAY nghe theo lời nói của Nguyễn Chí Vịnh, TQ đã tin theo, và tự nguyện BẺ RĂNG, để làm vui lòng kẻ ủng hộ.

————

 Thủ đoạn ‘vừa đấm, vừa xoa’ của Trung Quốc

*Bài phỏng vấn Dương Danh Dy, cựu Tổng Lãnh Sự tại Trung Quốc, Đời nầy không lấy được HS TS thì đời con, đời cháu lấy lại HS, TS…

http://www.youtube.com/watch?v=hm05t6n8jbU#t=358

www.rfa.org/…/interview-duongdanh
Sep 7, 2011 – Ông Dương Danh Dy, nhà nghiên cứu về Trung Quốccựu lãnh sự Việt Nam tại TQ. 
Gia Minh: Thưa ông, vừa rồi trong chuyến làm việc ‘Đối thọai chiến lược an ninh quốc phòng’ lần thứ hai giữa hai phía, trưởng phái đòan Việt Nam là tướng Nguyễn Chí Vịnh trong cuộc gặp với bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt sau cuộc đối thọai, có nói rằng Việt Nam không thể dựa vào ai khác hơn là 1,3 triệu dân Trung Quốc, cũng như chính quyền Việt Nam sẽ kiên quyết dẹp những người ‘tập trung tự phát’ chống Trung Quốc. Phải chăng đó là những ‘nhượng bộ’ từ phía Việt Nam đối với Trung Quốc?
.
Dương Danh Dy: Quả thật tôi không muốn bình luận về chuyến đi của ông Vịnh; nhưng tôi biết rõ một điều là sau khi ông Vịnh rời Trung Quốc về nước, báo chí- phương tiện truyền thông Việt Nam được lệnh không đăng những bài đụng đến Trung Quốc nữa…Một điểm thứ hai mà tôi muốn nói thẳng ra…Đó là việc, trước đó ít ngày Trung Quốc lợi dụng trắng trợn, không hay việc cấm tụ tập, cấm tuyên truyền biểu tình. Báo chí Trung Quốc trên mạng nói rằng họ coi tất cả những cuộc biểu tình chống Trung Quốc từ tháng sáu năm Người dân biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội sáng 14-08-2011.AFP
2011 cho đến nay không phải biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm Hòang Sa, Trường Sa của Việt Nam mà chống lãnh đạo Việt Nam. Họ xuyên tạc như vậy Tôi không biết những nhà lãnh đạo Việt Nam có biết họ xuyên tạc như thế không; nhưng tôi buộc phải nói với họ là Trung Quốc đối xử với những việc làm của họ như thế đó.
.
Gia Minh: Thông tin không được minh bạch; nhưng vừa qua có tin nói trong vòng đàm phán ngọai giao gần đây, Trung Quốc vẫn không chịu đưa vấn đề Hòang Sa vào đàm phán song phương?
.
Ông Dương Danh Dy: Điều đó chắc chắn. Từ khi tôi còn làm việc, Trung Quốc không bao giờ chịu đàm phán về Hòang Sa, họ xem như đã chiếm xong, đã ‘ăn tươi, nuốt sống’ Hòang Sa rồi, họ không bao giờ chịu bàn vấn đề Hòang Sa với chúng ta nữa đâu. Vấn đề bây giờ chỉ để lịch sử giải quyết, con cháu chúng ta giải quyết. Tôi đã có lần nói về điều này: vấn đề Hoàng Sa, Việt Nam dứt khóat không bao giờ từ bỏ lập trường.  Đời tôi, đời con tôi, đời cháu tôi chưa lấy được thì đời chắt tôi, tòan thể nhân dân Việt Nam phải đòi lại chủ quyền Hòang Sa chứ không thể để Trung Quốc trắng trợn chiếm đóng như vậy được.
.
[Đảng csvn đổi chác biển đảo lấy vũ khí để gây chiến tranh VN 1950-1975, và lên cầm quyền. Nay thì bắt con cháu chắt phải giải quyết lấy lại biển đảo cho chúng. Dảng và nhà nước là thứ hèn nhát là vô trách nhiệm. Đảng rước voi giày mã tổ, bán nước cầu vinh, nay  lại bắt con cháu đổ máu thay cho chúng? Điều đó có công bình không? Trần Hoàng ]
.
Gia Minh: Để đạt được mong muốn đó, ngay từ bây giờ phải làm những gì?
.
Ông Dương Danh Dy: Theo tôi việc tuyên bố xác lập chủ quyền: báo chí, các nhà khoa học Việt Nam đưa ra những luận chứng xác nhận Việt Nam có chủ quyền tại Hòang Sa và bác bỏ những luận cứ của Trung Quốc.
Tất cả những họat động của Trung Quốc trong vùng biển của Việt Nam đều bị Việt Nam lên án. Theo tôi thái độ của chính phủ Việt Nam trong vấn đề này rất rõ ràng, và nói rõ dù Trung Quốc không chịu bàn nhưng đây là vấn đề lâu dài, không bàn không được.
.
Gia Minh: Ngòai vấn đề biên giới như thế, còn trong đối sách chung để có thể giữ vững độc lập chủ quyền của Việt Nam thì ra sao?
Ông Dương Danh Dy: Tôi có viết nhiều bài về vấn đề này rồi, tôi không muốn nhắc lại nữa. Tuy nhiên rõ ràng trong một thời gian khá dài, chúng ta, tôi muốn nói rõ là những lãnh đạo cấp cao qua nhiều khóa chứ không phải khóa bây giờ hay khóa mới về hưu, đã buông lỏng quản lý trong việc làm ăn với Trung Quốc khiến xảy ra tình trạng có thể nói chưa bao giờ Trung Quốc có thể thâm nhập một cách tùy tiện, tự ý vào Việt Nam như vậy.Như có lần tôi nói họ đầu tư vào cho chúng ta vay rất ít nhưng họ thắng thầu rất lớn. Họ làm thuê cho chúng ta nhưng họ chây lỳ ra chậm nhà máy điện  chậm hai năm, hai mươi tháng. Nhà máy này, nhà máy nọ công nghệ chúng ta không thể biết, không thể xử lý. Ngay cả công nhân của họ sang Việt Nam không đủ giấy phép mà nay chỗ này đổ chỗ kia, trên đổ cho dưới, dưới đổ cho trên không giài quyết được.
Tôi nghĩ nếu lãnh đạo đồng lòng thì những việc đó chỉ trong ba ngày là giải quyết xong.
Điều đó chứng tỏ Việt Nam đang có vấn đề trong việc đó.

Còn bây giờ tôi nghĩ chúng ta cũng có thể hóa giải những ý đồ không tốt đẹp của họ. Đó là không đi với người khác để chống lại họ, chúng ta cũng không ươn hèn khuất phục họ, mà phải động viên được sức mạnh của tòan dân, phải tranh thủ được sự đồng tình của nhân dân tòan thế giới

ông Dương Danh Dy
.

Gia Minh: Gần đây có nhiều người đặt lại vấn đề tổng bí thư Lê Duẩn có thấy ý đồ của phía Trung Quốc, nhưng vì sao không thể thực hiện, ngăn chặn việc họ thâm nhập như thế?

.

Ông Dương Danh Dy: Tôi mặc dù là thế hệ con cháu Ông Duẩn, tôi nhận thấy ông Duẩn thấy vấn đề nhưng trong biện pháp xử lý ông Duẩn có những biện pháp, chủ trương chưa thỏa đáng lắm. Trung Quốc họ xâu, có những âm mưu như thế nhưng ta cần phải hóa giải những âm mưu đó một cách khôn khéo chứ không phải  bằng cách đi với người khác để chống lại họ. Điều mà tôi không hài lòng nhất, trong bụng cũng băn khoăn chính là điều đó. Còn bây giờ tôi nghĩ chúng ta cũng có thể hóa giải những ý đồ không tốt đẹp của họ. Đó là không đi với người khác để chống lại họ, chúng ta cũng không ươn hèn khuất phục họ, mà phải động viên được sức mạnh của tòan dân, phải tranh thủ được sự đồng tình của nhân dân tòan thế giới, trong đó có cả nhân dân Trung Quốc. chúng ta có thể hóa giải được những âm mưu, ý đồ không đúng của Ban lãnh đạo Trung Quốc hiện nay.
Gia Minh: Cám ơn ông Dương Danh Dy về những ý kiến vừa rồi.

 —

 Ớn chè đậu! Phó Thủ Tướng: đời con cháu chúng ta sẽ đòi ..

Ngày 17-5-2014PTT Vũ Đức Đam đã trả lời  y hệt như  ông Dương Danh Dy đã trả lời phỏng vấn đài RFA  7-9-2011:

Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa và chúng ta nhất định phải đòi lại. Đời tôi và các bạn chưa đòi được thì đời con cháu chúng ta sẽ đòi được theo đúng luật pháp quốc tế…”.

>>>Trần Hoàng Ngay cả chuyện đưa TQ ra tòa án quốc tế mà cũng không dám làm. Đánh TQ thì cũng không dám đánh. Vậy thì dân chúng còn trông cậy gì vào đảng, nhà nước và quân đội?

Thật là hèn nhát và vô trách nhiệm. Đảng csvn đổi chác biển đảo lấy vũ khí và sự giúp đỡ của TQ để gây chiến tranh VN 1950-1975, và lên cầm quyền. Nay thì bắt con cháu chắt phải giải quyết lấy lại biển đảo cho chúng.  Đảng rước voi giày mã tổ, bán nước cầu vinh, nay  lại bắt con cháu đổ máu thay cho chúng? Điều đó có công bình không? 

Dưới đây là website có các bài liên quan tới Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh. 

http://vnexpress.net/trung-tuong-nguyen-chi-vinh/topic-9555.html

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? – Nhờ vậy mà ngày nay TQ có cớ đi khoan dầu ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2014

Học lực thấp kém, tài hèn mọn, đạo đức kém… thì nên làm những việc nhỏ và sống một đời bình thường và có ích. Nhưng, có những kẻ lúc nhỏ lêu lổng, không có khả năng và điều kiện để học hành, lại không chí thú làm ăn, mà chỉ thích tụ tập thành bè đảng, rồi tự nhận là học trò của bon ác quỷ. Những kẻ nầy lấy học thuyết  đấu tranh bằng bạo lực, mã tấu, búa liềm, súng đạn là phương tiện sinh nhai, nhưng lại núp bóng dưới các chiêu bài đánh đuổi thực dân, mà thật ra là mời bọn xâm lược vào quê nhà trợ giúp chúng chiếm đất giành quyền cai trị.

Tiếng tăm của bọn xâm lược là đi chiếm đất và đồng hóa dân Việt đã được tổ tiên ta ghi lại rành rành trong sử sách vài ngàn năm qua. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Người có chút đạo đức thì chắc chắn phải né tránh bọn nầy mà không đánh bạn. Nhưng, ở đời này, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, những kẻ đạo đức thấp kém thì lại thích giao du, thỉnh cầu, mời bọn cướp đất tới giúp đỡ, và lấy biển đảo đất đai của tổ tiên làm quà đổi chác. Đó chính là hành động của những kẻ bán nước cầu vinh. Hậu quả là ngày nay TQ mới có cớ để cướp thêm biển đảo và khoan dầu trong vùng lãnh hải chủ quyền của VN.

Mời các bạn đọc 5 bài báo dưới đây.

-Hai bài báo của Ngọc Trân. (2011 và 2014)

-Một bài báo trên tờ QĐND (Thứ sáu, 01/05/2009 )

-Hai bài báo của đài BBC. (3-2014)

Về bài báo của tác giả Ngọc Trân. Bài thứ nhất đã đến tay bạn đọc năm 2011, và 3 năm sau chúng ta mới đọc được phần 2. Điều này cho thấy tác giả đã dành nhiều thời gian khảo cứu, đối chiếu,  đọc lại lịch sử của nhiều nguồn, suy tư, và chọn lọc những điểm cốt lỏi để cô đọng thành hai biết viết ngắn gọn.

Bản thân Trần Hoàng  rất cảm kích tác giả, và tự nghĩ là mình có dịp may đọc được hai bài báo xúc tích, các sự kiện lịch sử và lời phát biểu của các nhà lãnh đạo cs trong 2 bài báo của Ngọc Trân cũng dễ dàng kiểm chứng, nhờ đó mà Trần Hoàng biết thêm một nguồn tài liệu về tai họa cộng sản – đã hoành hành trên đất nước ta suốt gần 85-90 năm qua- có nguyên nhân từ đâu và để lại hậu quả gì cho hôm nay và ngày mai.

Ngọc Trân, thông tín viên RFA
2014-04-29

“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? (Phần 2)

Hàng năm, cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng 4, Đảng và Nhà nước Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày “giải phóng miền Nam”.

Trong dịp này, những người “chiến thắng” luôn tự hào và hãnh diện vì đã đánh thắng đế quốc Mỹ, một cường quốc hùng mạnh nhất thế giới. 

Cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” mà những người Cộng sản Việt Nam đã tiến hành, ngoài mục đích xóa bỏ chế độ tư bản, kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Mác – Lênin, những người Cộng sản Việt Nam còn bị chi phối bởi mục đích nào khác? 

Con cờ trong bàn cờ của Trung Quốc

Khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc. 

Dựa trên các tài liệu đã được giải mật, do kế hoạch của Mao Trạch Đông muốn bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á trong tương lai, nên lãnh đạo Trung Quốc không muốn cuộc chiến Việt Nam sớm kết thúc, mà muốn chiến tranh kéo dài để làm Việt Nam suy yếu. 

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông (công khai lập lại lời) tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Và những người Cộng sản Việt Nam đã giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này. Trong số các tài liệu đã được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẩn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch…Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Ở một tài liệu khác, cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” – do Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành – tại trang 53, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người… Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”.

Những lời thú nhận

Tuy tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” là nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thể làm hài lòng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Vì sao?

Cùng là Cộng sản, nhưng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc không thể “đoàn kết” với nhau, bởi bên nào cũng muốn tạo ảnh hưởng, chi phối khu vực Đông Dương và rộng hơn là khu vực Đông Nam Á.

 

000_ARP2093992-250.jpg
Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhận thấy Việt Nam có vẻ muốn ngả hẳn về phía Liên Xô, năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tràn sang Việt Nam, nhằm “dạy cho Việt Nam một  bài học”. Đến lúc này, Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam – mới công bố những bí mật trong quan hệ Việt – Trung ở giai đoạn tiến hành “giải phóng miền Nam”, “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”.  
Tại trang 5 của tác phẩm vừa dẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận: “Trên thế giới chưa có người lãnh đạo một nước nào mang danh là ‘cách mạng’, là ‘xã hội chủ nghĩa’ và dùng những lời lẽ rất ‘cách mạng’ để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc”. 

Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc…Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

Cũng trong tác phẩm vừa dẫn, ở trang 100, Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết âm mưu của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam như sau: “Họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để  đưa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên địa vị ‘siêu cường thứ ba’ và đổi chác việc giải quyết vấn đề Đài Loan”.

Mười một năm trước khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra và thú nhận những điều vừa kể, vào  tháng 3 năm 1968, khi phát biểu tại trường Đại học Kansas, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã tuyên bố, mục tiêu của cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật ra chỉ vì Trung Quốc muốn Mỹ sa lầy.

Ông Robert Kennedy nhận định: “Mao Trạch Đông và các đồng chí Trung Quốc của ông ta yên lặng ngồi nhìn: [Việt Nam] đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ xem chúng ta làm suy yếu một nước, là hàng rào vững chắc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam. Họ hy vọng sẽ buộc chúng ta chặt hơn trong cuộc chiến kéo dài ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Họ tự tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam ‘sẽ càng làm cho Mỹ sa lầy, hủy hoại tài nguyên, mất uy tín về sự kỳ vọng của các nước vào sức mạnh của Mỹ, chúng ta bị đồng minh xa lánh, xung đột với Liên Xô, và bất đồng gia tăng trong dân chúng Mỹ’. Như một nhà quan sát Mỹ đã nói: ‘chúng ta dường như đang bị chơi đúng kịch bản mà Mao đã viết ra’.”

Ba mươi sáu năm sau khi cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” kết thúc, Trung Quốc càng ngày càng hùng mạnh hơn và sự hùng mạnh đó đang gây trăn trở cho hàng triệu người Việt. Còn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự hào vì đã “giải phóng miền Nam”.

“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? (Phần 1)

Tháng 4 năm 1975, những người cộng sản tiến vào Sài Gòn “giải phóng miền Nam” kết thúc cuộc chiến giữa hai miền Bắc – Nam, kéo dài trong 21 năm.
.
000_ARP2238192-305.jpg
Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ (P) ăn trưa cùng ông Hồ Chí Minh (T) vào tháng 8/1959 tại Bắc Kinh.
AFP photo
.

Ba mươi sáu năm sau cuộc chiến này, dựa trên các tài liệu đã được giải mật thời gian gần đây, nhiều người nhận ra, cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” do những người Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật sự không phải vì Việt Nam.

Vì Liên Xô vào để truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản

Sau Đệ nhị Thế chiến, Joseph Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình bằng cách hỗ trợ nhiều quốc gia tiến hành cách mạng vô sản, sử dụng bạo lực để lật đổ các chính thể hiện hành, thiết lập các nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản.

Tác giả Ngọc Trân dường như bỏ sót sự kiện chính của Giai đoạn 1945-1954. Nếu Mao Trạch Đông không chiếm được TQ 1949, chắc chắn ông HCM và đảng CSVN không thể đánh thắng Điện Biên Phủ 1954 và chiếm được Miền Bắc 20-7-1954  Ông HCM đã viết thư thỉnh cầu TQ xin giúp đỡ vào năm 1949, và còn đích thân qua TQ diện kiến Mao vào tháng 2-1950 để thỏa thuận đổi chác với Mao để nhận được sự giúp đỡ về viện trợ vũ khí, lương thực, quân trang, quân dụng, tiền bạc… Trần Hoàng mời các bạn đọc thêm tại liệu của 3 tướng lãnh TQ nói về giai đoạn này qua bài (Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam, 1-5-2009, Báo Quân đội Nhân dân). Từ đó, chúng ta có bằng chứng thêm để biết ông HCM và đảng CSVN cõng rắn cắn gà nhà và mãi quốc cầu vinh như thế nào.

Năm 1958, ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo chính quyền Cộng sản ở miền Bắc, Việt Nam, tuyên bố: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý, xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết cho phép các lực lượng Cộng sản miền Nam sử dụng bạo lực để lật đổ chính quyền miền Nam. Và rồi cuộc chiến Bắc – Nam đã được những người Cộng sản khơi mào bằng các phong trào kiểu như “Đồng khởi” ở Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam Bộ, sách động quần chúng đấu tranh vũ trang kết hợp với chính trị. 

Thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng, cuối năm 1960, Đảng Cộng sản cho ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một tổ chức chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản, hoạt động ở miền Nam với mục đích lật đổ chính quyền miền Nam, thống nhất Việt Nam, để biến Việt Nam thành một khối thống nhất, thành viên của cộng đồng các quốc gia xã hội chủ nghĩa.  

Trong giai đoạn vừa kể, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Liên Xô liên tục qua lại thăm viếng nhau. Đến cuối năm 1960, hai bên bắt đầu ký nhiều thỏa thuận, trong đó, Liên Xô cam kết viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ miền Bắc, để giúp miền Bắc “giải phóng miền Nam”. 

Ngày 6 tháng 1 năm 1961, hai tuần trước khi ông Kennedy tuyên bố nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Nikita Khrushchev, Thủ tướng Liên Xô, tuyên bố, Liên Xô sẽ hỗ trợ “các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” trên toàn thế giới, trong đó có Cuba và Việt Nam. Khrushchev gọi đây là những cuộc chiến tranh “thần thánh”. Ông Ilya Gaiduk, nhà sử học người Nga, tiết lộ, trong kế hoạch của Moscow, Việt Nam trở thành một kênh chính để tạo ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
Ngày 31 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố, những diễn biến vừa kể là bằng chứng về tham vọng muốn thống trị thế giới của Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc.

“Tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”

Ngoài việc Liên Xô muốn vào truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản, những người Cộng sản Việt Nam cũng muốn biến đất nước trở thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”. 
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, năm 1959, nêu rõ: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á. Đế quốc Mỹ chiếm cứ miền Nam, âm mưu xâm lược miền Bắc là để tấn công phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên, thắng lợi của cách mạng Việt Nam quan hệ trực tiếp đến phe xã hội chủ nghĩa, làm cho phe xã hội chủ nghĩa càng rộng lớn, vững mạnh”.

Ngày 9 tháng 2 năm 1964, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô đưa tin, một đoàn đại biểu của Đảng Lao Động Việt Nam do ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất dẫn đầu, đã đến thăm Liên Xô. Theo đó: “Hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của phe XHCN và phong trào cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng Lao động Việt Nam, giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và các nguyên tắc của phong trào vô sản quốc tế”.

 

Kể từ đó, khối cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, đã gia tăng viện trợ quân sự, từ vũ khí, đạn dược, xe tăng, tên lửa, máy bay…cho đến các cố vấn quân sự, thậm chí cả binh lính, cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, để lật đổ chính quyền miền Nam, thực hiện cuộc cách mạng vô sản, biến Việt Nam thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.  

Trong bài nói chuyện đăng trên báo Nhân Dân, ngày 20 tháng 7 năm 1965, ông Hồ Chí Minh đã cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc về sự giúp đỡ này, ông nói: “Tôi thay mặt đồng bào cả nước nhiệt liệt cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em khác, cảm ơn nhân dân tiến bộ khắp năm châu. Nhân dân Việt Nam quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng, giải phóng Tổ quốc của mình, chặn tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giữ vững tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN giúp đỡ lãnh đạo miền Bắc với mục đích truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam và rộng hơn là các nước Đông Nam Á, thế nhưng ông Hồ Chí Minh chỉ thấy sự giúp đỡ này là “vô tư”, “không vụ lợi”. Ông cho biết: “Các nước bạn giúp ta một cách khẳng khái, vô tư, như anh em giúp nhau, tuyệt đối không có chút gì vụ lợi. Các nước bạn chỉ mong chúng ta cố gắng làm cho nhân dân ta thắng lợi trong cuộc đấu tranh”. Và ông  ông Hồ Chí Minh cho biết, ông “luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”.

Tháng 2 năm 1966, khi đến Moscow tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 23, ông Lê Duẩn tuyên bố, ông có hai tổ quốc, đó là Tổ quốc Việt Nam và Tổ quốc Liên Xô. Ông Lê Duẩn cũng cám ơn Liên Xô về sự “viện trợ to lớn và nhiều mặt” cho chính phủ miền Bắc. Trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, ông Lê Duẩn cho biết: “Liên Xô giúp chúng tôi bằng trái tim của họ, và họ đã giúp chúng tôi nhiều hơn chúng tôi có thể sử dụng, và Trung Quốc cũng giúp đỡ chúng tôi”. 

Sử gia Douglas Pike nhận xét về cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do miền Bắc khởi xướng như sau: “Bản chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi trên thực tế: từ một anh Việt Cộng chân đất với khẩu súng ngắn tự tạo, cho tới những lực lượng quân đội Cộng sản Việt Nam được trang bị những thứ vũ khí hiện đại nhất mà thế giới cộng sản có thể sản xuất”.

Cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng miền Nam”, ngoài mục đích Liên Xô muốn đưa Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, biến Việt Nam thành tiền đồn của phe Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Nam Á, những người Cộng sản Việt Nam đã “giải phóng miền Nam, là “giải phóng” cho ai? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

—————-

Trần Hoàng bổ sung thêm đoạn này để bạn đọc hiểu thêm về con người của ông Lê Duẩn:

Giữa trưa 7-1-1979, khi nghe con rể là Giáo sư Hồ Ngọc Đại đánh thức báo tin, “Quân ta đã vào Phnom Penh”, ông Lê Duẩn chỉ “ừ” rồi ngủ tiếp.

Ông Hồ Ngọc Đại nói: “Tôi rất ngạc nhiên. Khi nhận được điện thoại từ Cục Tác chiến tôi cũng không ngờ chuyện long trời lở đất như thế mà ông vẫn ngủ”.

Đưa đại quân đến thủ đô một quốc gia khác tưởng nhẹ tựa giấc ngủ trưa của một đấng quân vương, nhưng phải mười năm sau Quân đội Việt Nam mới rút được chân ra khỏi đó.”

Trích : Đức, Huy (2012-12-06). Bên Thắng Cuộc (Giải phóng)

————–

Trần Hoàng trích thêm nơi đây bài của tờ Báo Mới có các chi tiết về sự thiệt hại khổng lồ về nhân mạng mà đảng CSVN gây ra:

*Cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1954-1975 đã làm cho
1.146.250 liệt sĩ (đa số là Bộ đội Miền Bắc tử thương).
trên 780.000 thương binh
3.000 nghĩa trang liệt sĩ với tổng số trên 780.000 ngôi mộ
-300.000 bộ đội vẫn còn bị mất tích.
3.000 Bà mẹ VN anh Hùng còn sống (2012); được phong bà mẹ VN AH là: có chồng và từ 2-5 con, hoặc hơn.
cả nước hiện có trên 8,8 triệu đối tượng người có công (chiếm 10% dân số cả nước 2012)
*Cuộc chiến tranh xâm lăng Kampuchea 1978-1989 đã làm cho 70.000 bộ đội tử thương; 200.000 thương binh phần lớn bị cụt chân vì mìn. Hàng chục ngàn Thanh Niên Xung Phong đã chết vì đi tải đạn và lương thực cho bộ đội. 
————–

Tuần trước, nhân chuyện giàn khoan TQ HD 891 kéo vào Biển Đông khoan dầu, cư dân mạng bỗng sục sôi;

Yesterday

(chú ý, hàng chữ trên cổng được ghép vào. Nhưng câu nói ấy là của LD))

Ðồng chí LD nói rằng “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.”

Chuyện tri ân đ/c Lê Duẩn tại sao không để cho Trung Quốc và Liên Xô làm mà người dân Việt Nam phải ghi ơn?

Trong khi đ/c Lê Duẩn đem lại chiến thắng cho Trung Quốc và Liên Xô, thì đã làm tổn thất sinh mạng của hơn 2 triệu người Việt trong cuộc chiến VN từ 1954-1975.

.

Photo

.

Làm TAY SAI CHO LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC:

Lê Duẩn nói: “TA ĐÁNH MỸ LÀ ĐÁNH CHO LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC…” Thế mà giờ đây lại có Đền Thờ, có Quân đội Nhân Dân VN đứng gác 4 góc đền!

Chuyện tri ân đ/c Lê Duẩn tại sao không để cho Trung Quốc và Liên Xô làm mà người dân Việt Nam phải ghi ơn?

Trong khi đ/c Lê Duẩn đem lại chiến thắng cho Trung Quốc và Liên Xô, thì đã làm tổn thất sinh mạng của hơn 2 triệu người Việt trong cuộc chiến VN từ 1954-1975.

—————

 

Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam

QĐND – Thứ sáu, 01/05/2009 | 22:20 GMT+7

QĐND Online – Báo điện tử “Hoa Hạ kinh vĩ”(Trung Quốc), ngày 7-4-2007 truy nhập Hồi ức của ba tác giả: Trương Đức Duy, Nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam; Văn Trang, Nguyên cán bộ Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt nam; Vương Đức Luân, Nguyên cán bộ Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam công bố nhân dịp 50 năm (7/5/1954-7/5/2004) Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chúng tôi xin giới thiệu Hồi ức trên, qua bản dịch của Nhà báo-Dịch giả Vũ Phong Tạo từ nguyên bản Trung văn, để bạn đọc tham khảo.

Giao thời Xuân Hè năm 1954, địa danh “Điện Biên Phủ” này đã thu hút ánh mắt của nhân dân toàn thế giới.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch quy mô lớn nhất, mang ý nghĩa quyết định trong cuộc chiến tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Chiến dịch này kết thúc, cuối cùng quân đội nhân dân Việt Nam thắng lợi triệt để tiến công làm chủ Điện Biên Phủ, tiêu diệt toàn bộ binh lực quân đội thực dân Pháp với trên 16.000 tên, đánh một dấu son viên mãn trong cuộc Chiến tranh chống Pháp 8 năm của nhân dân Việt Nam.

Nhớ lại năm xưa, năm nay đúng là Kỷ niệm 50 năm Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc Chiến tranh chống Pháp thắng lợi. Chúng tôi bỗng nhớ lại nội dung bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp viết bằng Hán văn nói:

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, là do nhân dân Việt Nam giành được, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ tiến hành cuộc Chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp. Thắng lợi này cũng là một thể hiện sinh động của tình hữu nghị chiến đấu của nhân dân hai nước Trung Việt.

Thủ trưởng của Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại mặt trận Điện Biên Phủ: (từ trái sang)Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, La Quý Ba, Vi Quốc Thanh.Ảnh tư liệu

Năm ấy, chúng tôi vinh hạnh được cử vào Đoàn Cố vấn Trung Quốc, đã tham gia rất nhiều công tác cụ thể của Đoàn Cố vấn, cùng các đồng chí Việt Nam chiến đấu 5 năm dòng, đã kinh lịch vô số sự kiện xúc động lòng người, trực tiếp cảm thụ được tình cảm sâu đậm và chân thành của tình bạn chiến đấu Trung Việt, những hình ảnh ấy khiến suốt đời không thể nào quên.

Năm 1949, khi cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam bước vào giai đoạn cầm cự, cuộc đấu tranh ở vào thời khắc vô cùng gian khổ, nặng nề, cuộc Chiến tranh giải phóng của nhân dân Trung Quốc giành được thắng lợi mang tính toàn quốc, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập. Sự kiện này tạo ra hoàn cảnh vô cùng có lợi cho sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam, cũng khiến cho Trung Quốc có khả năng ra sức chi viện cho cuộc kháng chiến của Việt Nam.

Hai nước Trung Việt núi liền núi sông liền sông, sướng khổ có nhau. Bắt đầu từ thập niên 20 của thế kỷ trước, những người cách mạng hai nước đã ủng hộ lẫn nhau, giúp đỡ lần nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh và một loạt thanh niên tiến bộ Việt Nam trước sau đã tham gia cuộc Chiến tranh cách mạng và Chiến tranh kháng Nhật của Trung Quốc.

Khi nhận được tin vui nước Trung Quốc mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh lập tức cử hai cán bộ đắc lực mang theo thư tay bằng Hán văn của Người, chia nhau đi theo hai con đường (đường bộ và đường biển) bí mật đến Bắc Kinh, thỉnh cầu Trung Quốc viện trợ.

Trong thư tay, chủ tịch Hồ Chí Minh viết rằng:

Ân ca, Dĩnh thư (Tức anh Chu Ân Lai và chị Đặng Dĩnh Siêu):

Em đã xa anh, chị mười năm, luôn luôn nhớ nhung, và có rất nhiều việc mới muốn bàn với anh chị. Em xin thay mặt tệ điếm chúc mừng sự phát triển vĩ đại của quý Công ty. Tệ điếm (cửa hàng nhỏ của tôi) mấy năm qua kinh doanh khá tốt, ý muốn tranh thủ thời cơ, đánh thắng đối phương, xin cử hai người nhân viên thân tín, cấp tốc khẩn cầu anh chị giúp đỡ.

Đinh (Bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Tháng 10 (năm 1949), Mao Chủ tịch nói: “Cố vấn thì là cố vấn, trên thực tế chính là tham mưu…”

Tháng 1 năm 1950 sau đó, sau khi đã hoá trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh không từ gian khổ nguy hiểm, vượt núi băng sông, đi bộ tới Trung Quốc, lần lượt cùng với Chủ tịch Mao Trạch Đông và cá đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, v.v… thương nghị vấn đề Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam kháng chiến.

Mao Chủ tịch nói: Cách mạng Trung Quốc đã thắng lợi, có nghĩa vụ giúp đỡ nhân dân Việt Namđang đấu tranh giải phóng dân tộc.

Đáp ứng thỉnh cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Việt Nam, Mao Chủ tịch và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định ra sức chi viện cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, đồng thời lập tức cử đồng chí La Quý Ba, Chủ nhiệm Văn phòng Quân uỷ Trung ương làm Đại biểu liên lạc của Đảng Cộng sản Trung Quốc đi trước sang Khu giải phóng Việt Nam tìm hiểu tình hình, để cung cấp viện trợ.

Tiếp theo, lần lượt cử Đại tướng Trần Canh thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đoàn Cố vấn Quân sự do Thượng tướng Vi Quốc Thanh đứng đầu và Đoàn Cố vấn Chính trị do đồng chí La Quý Ba đứng đầu, sang Việt Nam giúp đỡ Việt Nam kháng chiến. Trong thời gian này, chúng tôi công tác tại Đoàn Cố vấn lần lượt nhiều lần lắng nghe lãnh đạo Đoàn truyền đạt chỉ thị và căn dặn của Mao Chủ tịch và của các đồng chí lãnh đạo Trung ương, cho đến nay vẫn nhớ như mới rợi.

Đêm trước khi Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc lên đường sang Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Phó chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ, Tổng tư lệnh Chu Đức cùng tiếp kiến Cán bộ cấp Đoàn trở lên của Đoàn Cố vấn khi ấy đã đến Bắc Kinh.

Ba vị lãnh đạo đều có chỉ thị và căn dặn quan trọng, nhiều lần nhấn mạnh phải phát huy tinh thần quốc tế chủ nghĩa, thành tâm thành ý giúp đỡ các đồng chí Việt Nam, tôn trọng các đồng chí lãnh đạo Việt Nam, thực hiện đoàn kết tốt, yêu quý nhân dân Việt Nam.

Mao Chủ tịch nói: “Lần này các đồng chí đi làm cố vấn, là một việc lớn, việc mới. Đảng và Nhà nước, quân đội chúng ta lần đầu tiên cử cố vấn ra nước ngoài. Việc này có ý nghĩa rất trọng đại, là niềm vẻ vang của chúng ta… Nhiệm vụ của các đồng chí đi Việt Nam, đầu tiên phải giúp đỡ đánh trận tốt. Hiện tại họ vẫn là chủ yếu đánh du kích chiến, chưa đánh qua những trận đánh tương đối lớn. Nhưng, chỉ đánh du kích chiến là không ổn, muốn giành được thắng lợi còn phải đánh những trận lớn hơn. Phải có thể đánh công kiên chiến, có thể đánh vận động chiến, mới có thể chuyển vào phản công, đánh bại quân Pháp”.

Về vấn đề làm cố vấn như thế nào, Mao Chủ tịch nói: “Cố vấn thì là cố vấn, nhưng trên thực tế chính là tham mưu, làm tham mưu tốt cho các đồng chí lãnh dạo của người ta. Tham mưu chính là đề xuất chủ trương, nghĩ biện pháp, hiệp tác giúp đỡ lãnh đạo. Cho nên không thể bao biện làm thay, càng không thể làm Thái Thượng hoàng, ra lệnh chỉ huy… Trước mặt quần chúng Việt Nam, không thể biểu hiện ra thái độ kiêu ngạo của chúng ta là người chiến thắng. Phải thực hiện tốt đoàn kết với các đồng chí Việt Nam, đặc biệt là phải thực hiện tốt đoàn kết với những người lãnh đạo Việt Nam. Phải yêu quý bảo vệ từng gốc cây từng ngọn cỏ, từng ngọn núi từng dòng sông ở nơi đó. Phải yêu quý bảo vệ nhân dân ở nơi đó. Phải tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân, tuân thủ ba kỷ luật lớn tám điều chú ý, giống như ở Trung Quốc”.

Những lời căn dặn của Mao Chủ tịch và của các đồng chí lãnh đạo Trung ương như vậy, luôn luôn là tư tưởng chỉ đạo mà chúng tôi thường xuyên tuân theo trong nhiều năm công tác ở Việt Nam.

Chiến dịch Biên Giới: Chiến dịch Biên Giới lần đầu tiên Trung Việt hợp tác, tạo cơ sở vững chắc cho thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1950, nhằm khiến cho vũ khí trang bị và các loại vật tư do Trung Quốc viện trợ có thể thuận lợi tiến vào Việt Nam, khai thông tuyến giao thông biên giới Trung Việt bèn trở thành nhiệm vụ vô cùng trọng yếu. Vì vậy, khi ấy Trung ương hai đảng Việt Trung thương thảo quyết định mở một chiến dịch tại vùng biên giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn đồng chí Trần Canh mà Người đã quen thân trên 20 năm trước sang Việt Nam hiệp tác giúp đỡ đánh tốt trận này.

Trung tuần tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đồng chí Trần Canh làm đại biểu sang Việt Nam, giúp đỡ tổ chức thực thi chiến dịch Biên Giới.

Sau khi đến Việt Nam, đồng chí Trần Canh lập tức hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo với Hồ Chủ tịch ý tưởng tác chiến tại biên giới đã suy nghĩ suốt dọc đường, đồng thời lập tức bôn tập ra tiền tuyến cùng với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam trù hoạch tỷ mỷ kế hoạc tác chiến.

Kế hoạch tác chiến do Bộ Tổng quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng trước là đầu tiên tấn công Cao Bằng. Kinh qua nghiên cứu tỷ mỷ, đồng chí Trần Canh cho rằng tình hình binh lực, công sự, địa hình của quân Pháp đồn trú ở Cao Bằng, dễ thủ khó công, cộng thêm xem xét về sức chiến đấu của quân đội Việt Nam khi ấy khó nắm chắc giành thắng lợi. Qua bàn bạc với đồng chí Võ Nguyên Giáp, quyết định đầu tiên không đánh Cao Bằng, chuyển sang đánh Đông Khê, điều động quân địch ở Thất Khê, Cao Bằng ra chi viện, để tiêu diệt quân địch tại dã chiến ngoài công sự. Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tán thành và căn cứ theo hướng đó đã điều chỉnh lại sự bố trí.

Thượng tướng Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Điện Biên Phủ.Ảnh internet

Khi ấy, Đoàn Cố vấn quân sự do đồng chí Vi Quốc Thanh lãnh đạo cũng đã đến tiền tuyến. Trong toàn bộ quá trình chiến dịch Biên Giới, cố vấn Trung Quốc cùng hợp tác mật thiết với cán bộ chỉ quy quân đội Việt Nam, cùng ra tuyến đầu. Quân đội nhân dân không quản mệt nhọc, liên tục tác chiến, giành toàn thắng to lớn.

Kết quả chiến đấu lớn hơn nhiều so với dự kiến. Từ đó, sự phong toả của quân Pháp đối với biên giới Việt Trung bị đập tan triệt để, đường giao thông biên giới giữa hai nước thông thoáng không còn trở ngại, trang bị và vật tư do Trung Quốc viên trợ được ùn ùn vận chuyển liên tục vào Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam cũng giành được kinh nghiệm quý báu về đánh vận động chiến.

Trong mấy năm sau đó, làm những công tác phiên dịch, thư ký, chúng tôi lại hiểu sâu sắc rằng, Trung ương hai Đảng Trung Việt thường xuyên giữ liên hệ vô cùng mật thiết, gặp phải những vấn đề trọng đại vẫn thường trao đổi ý kiến qua lại, do Trung ương Đảng Việt Nam ra quyết định cuối cùng. Quan hệ hợp tác giữa các đồng chí lãnh đạo của Đảng, chính quyền, quân đội của Việt Nam với Đoàn Cố vấn vô cùng ăn ý, có thể nói là quan hệ rất thân mật, rất tín nhiệm lẫn nhau. Tất cả những điều kiện ấy đã chuẩn bị rất tốt cho tổ chức chiến dịch Điện Biên Phủ với quy mô to lớn hơn nhiều.

Chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch động viên toàn dân, là một chiến dịch quy mô lớn nhất, thời gian dài nhất trong cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam.

Cuối năm 1953, kinh qua trao đổi ý kiến sâu sắc giữa lãnh đạo cao cấp của hai đảng, hai quân đội Việt Trung, Trung ương Đảng Việt Nam ra quyết định trọng đại tiến hành đòn quyết chiến chiến lược với quân Pháp tại Điện Biên Phủ.

Thời gian trôi qua, chiến dịch này tuy cách hôm nay đã tròn 50 năm (Bài viết nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954- 7/5/2004) – ND), song ngày hôm nay hồi tưởng lại vẫn hiện ra rõ mồn một trước mắt.

Trong quá trình chuẩn bị và thực thi chiến dịch, khối lượng nhân lực vật lực mà phía Việt Namđộng viên khổng lồ chưa từng có. Quân chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam tập trung đến chung quanh Điện Biên Phủ, đã hình thành thế bao vây lớn đối với quân Pháp.

Sự điều động tập kết vú khí đạn dược, sự bố trí cao độ hoả lực thì khỏi phải nói, sự động viên dân công phục vụ tiền tuyến càng có quy mô chưa từng có từ khi Việt Nam chống Pháp.

Trên con đường hiểm trở quanh co, gập ghềnh đến Điện Biên Phủ, chúng tôi nhìn thấy nam nữ dân công kết thành đoàn đội, từ các khu vực xuất phát, như những dòng sông đổ ra tiến tuyến. Họ có người gồng gánh, có người gùi thồ trên vai, có người đội trên đầu, cứ vậy bằng nhiều cách vận chuyển khối lượng vật tư khổng lồ chi viện cho mặt trận.

Sự hấp dẫn nhất đập vào mắt mọi người là những đội vận tải lương thực bằng xe đạp. Những đội viên xe đạp thồ mỗi người đẩy một chiếc xe đạp đã qua cải tạo để tăng trọng tải, mỗi xe đều thồ được từ 200 đến 300 ki-lô-gam lương thực, hoạt động trên con đường dài mấy trăm cây số, rồng rồng rắn rắn lũ lượt không dứt! Đây là một cảnh tượng của cuộc kháng chiến toàn dân của Việt Nam đặc sắc biết nhường nào!

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận công kiên chiến quy mô lớn. Trang bị vũ khí, bổ cấp đạn dược, tổ chức hoả lực, cung ứng hậu cần, v.v… số lượng đều cực kỳ khổng lồ. Phía Trung Quốc quyết định toàn lực chi viện, chiến trường cần thứ gì, cần bao nhiêu, đều cố gắng cung cấp nhanh nhất.

Nhằm đối phó với ưu thế trên không và pháo hoả mãnh liệt của quân Pháp, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc mệnh lệnh cho Quân giải phóng nhân dân điều động tập kết 24 khẩu lựu pháo 105 tốt nhất, cao xạ pháo và hàng trăm loại hoả pháo, cấp tốc vận chuyển đưa vào Việt Nam. Sườn núi chung quanh Điện Biên Phủ dốc đứng hiểm trở, pháo lớn muốn tiến vào ẩn náu trong trận địa chỉ có thể dựa vào sức người tay kéo vai vác. Chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam quen tác chiến trong điều kiện khó khăn gian khổ, một lần nữa thể hiện rõ tinh thần chịu đựng khó khăn gian khổ, kiên cường lao động. Một khẩu lựu pháo nặng mấy tấn, đương nhiên do hàng trăm chiến sĩ dùng mấy dây thừng to lớn buộc vào kéo như trò chơi kéo co, hò dô theo từng đợt nhịp nhàng, chuyển bánh từng bước một, tiến vào trận địa đã được chuẩn bị sẵn. Thực sự khiến mọi người thán phục!

Sự hợp tác thân mật của tình bạn chiến đấu Việt Trung đã được thể hiện đầy đủ nhất trong chiến dịch này.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Vi Quốc Thanh là Tổng cố vấn quân sự. Cố vấn quân sự các cấp của phía Trung Quốc ra tiền tuyến dốc toàn lực hiệp tác giúp đỡ.

Sự hợp tác giữa hai bên vô cùng ăn ý, cùng tiến hành nghiên cứu bố trí tác chiến, phương pháp tác chiến, vận dụng chiến thuật, kế hoạch rất chu toàn bí mật.

Đứng trước tình hình quân địch bố phòng nghiêm mật, công sự kiên cố, hoả lực mãnh liệt, cố vấn Trung Quốc đã giới thiệu cách đánh gần, đào giao thông hào sát địch, còn cử những chuyên gia đào hào của Quân chí nguyện từ Triều Tiên về nước sang Điện Biên Phủ, giúp đỡ chỉ đạo thực thi tác chiến hầm hào, thu được hiệu quả rất tốt.

Trước khi tiến công Điện Biên Phủ, bước vào chiến dịch “Véc-đoong ở Đông Nam Á”, quân Pháp còn đầy tự tin. Viên chỉ huy cao nhất quân Pháp tại Điện Biên Phủ – Thiếu tướng Đờ Cát vô cùng kiêu căng ngạo mạn cho máy bay thả truyền đơn thách thức Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nói: “Tôi biết bộ đội của Ngài đã bao vây Điện Biên Phủ, song vì sao không tiến công? Chúng tôi đã không còn kiên nhẫn chờ đợi được nữa rồi. Nếu Ngài có gan, dám phát động tiến công, thì bắt đầu ngay đi! Tôi đang chờ đón sự khiêu chiến của Ngài, quyết sống mái một phen với ngài!”.

Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp mỉa mai nói: “Đồ nhãi ranh, hãy đợi đấy!”.

Đồng chí Vi Quốc Thanh cũng nói: “Tên Đờ Cát thật ngông cuồng! Sau khi chiến dịch mở màn, có lúc nó sẽ phải khóc!”.

Giai đoạn thứ nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu chiến đấu từ ngày 13 tháng 3 năm 1954. Trước khi bộ binh công kích, cuộc đấu pháo của hai bên xé nát bầu trời đêm, ngẫu nhiên còn có đạn pháo bay lên chọi nhau trên không, ánh lửa khói đạn mù trời; mặt đất rung lên tiếng pháo bốn phía, tiếng hô xung phong giết giặc của quân đội nhân dân Việt Nam vang động rừng hoang núi vắng chung quanh.

Trong cuộc chiến đấu này, quân đội nhân dân Việt Nam vô cùng anh hùng dũng cảm, lần lượt công phá ba cụm cứ điểm phòng ngự ở phía bắc Điện Biên Phủ, tiêu diệt gọn 3 tiểu đoàn đủ quân Pháp và nguỵ quân, giành chiến thắng đầu tiên.

Khi giai đoạn thứ hai tiến công khu Trung tâm, hai bên tranh giành vô cùng quyết liệt, trên chiến trường ở vào trạng thái giằng co.

Đứng trước tình hình mới xuất hiện, những người bạn chiến đấu Việt Trung cùng nhau nghiên cứu tiếp tục áp dụng cách đánh đào chiến hào ngang dọc, đánh dũi đánh lấn, chia cắt bao vây, tiêu diệt từng lô cốt quân địch, khi đó gọi cách đánh này là chiến thuật “Bóc măng tre”.

Thế là, các cụm cứ điểm của quân Pháp ở Điện Biên Phủ cuối cùng đã bị bóc đi dần từng mảng từng lớp một.

Trải qua trên 50 ngày đêm chiến đấu anh hùng dũng cảm, quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hành tổng công kích vào ngày 7 tháng 5, tấn công tiêu diệt toàn bộ Điện Biên Phủ, giành thắng lợi hoàn toàn.

Lúc một tổ mũi nhọn của quân đội nhân dân xung phong vào Sở chỉ huy quân Pháp, Đờ Cát và nhân viên tham mưu của y kinh hoàng giơ cao hai tay, mặ tái mét, cúi đầu bước ra khỏi hầm cố thủ của chúng. Vẻ ngạo mạn ngông cuồng trước đó đã mất hết sạch sành sanh!

Trong Bộ Tổng chỉ huy của quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng cố vấn Vi Quốc Thanh phấn khởi nắm chặt hai tay, những người bạn chiến đấu Việt Trung xúc động ôm chặt lấy nhau, khắp phòng tràn đầy không khí hân hoan chiến thắng.

Sau khi chiến đấu làm chủ Điện Biên Phủ, một số đồng chí trong Đoàn Cố vấn chúng tôi tiến vào pháo đài “Véc-đoong ở Đông Nam Á” này. Nhướng mắt quan sát bốn phía, trên mặt đất nóng bỏng lửa đạn vừa trải qua cuộc chiến đấu quyết liệt, khói đạn đã tan dần, những tàn tích của chiến tranh vẫn còn nguyên đó: Xác mấy chiếc máy bay, những khẩu lựu pháo 155 chưa bị phá huỷ hoàn toàn và những khẩu súng máy, những mảnh dù loang lổ màu sắc phủ kín mặt đất rộng lớn. Nơi đây chỉ cách hôm nay ít lâu còn được coi là pháo đài vững như bàn thạch, nay đã trở thành những lô cốt nham nhở vết đạn pháo thảm hại ê chề.

Hồi tưởng lại giai đoạn lịch sử khó quên này, chúng tôi càng cảm thụ sâu sắc thêm tình bạn chiến đấu của nhân dân hai nước Trung Việt là do thế hệ lãnh đạo tiền bối Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dầy công vun đắp, kinh qua những người bạn chiến đấu hai nước chi viện lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, không ngừng được củng cố và tăng cường. Đúng như câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thâm tình miêu tả:

Mối tình hữu nghị Việt Hoa,

Vừa là đồng chí, vừa là anh em.

VŨ PHONG TẠO dịch theo Hồi ức của Trương Đức Duy, Văn Trang, Vương Đức Luân (Trung Quốc)

—————–

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040318_chineseadvisers.shtml

BBC – 18-3-2014

Cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam (1950-1952)

Nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, vai trò của Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam được nói đến nhiều.

Trong những năm qua, các sử gia Việt Nam có thiên hướng lướt qua vai trò Trung Quốc nhằm hoàn thiện ‘lịch sử dân tộc’, trong lúc việc không tiếp cận được với nguồn tư liệu Trung Quốc đã cản trở các học giả phương Tây trong việc tìm ra thái độ và chính sách của Bắc Kinh trong cuộc xung đột ở Đông Dương.

Bắt đầu từ thập niên 1990, có thêm một số tác phẩm mới. Gần đây nhất, đáng chú ý là “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” của Qiang Zhai (xuất bản 2000) và “Mao’s China and the Cold War” của Jian Chen (2001). Cả hai tập sách do NXB đại học North Carolina ấn hành trong khuôn khổ sêri về lịch sử chiến tranh Lạnh.

Sử dụng các thông tin do Trung Quốc công bố vài năm qua (gồm tài liệu nội bộ mới giải mật, hồi ký, nhật ký và các quyển sử của các tác giả Trung Quốc), hai học giả quốc tịch Mỹ này tái hiện chính sách của Bắc Kinh trong hai cuộc chiến ở Đông Dương.

Quyển sách “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” (Trung Quốc và các cuộc chiến của Việt Nam, 1950-1975) của Qiang Zhai (Tường Trạch?), giáo sư lịch sử thuộc Auburn University Montgomery, dành hai chương bàn về vai trò của các cố vấn Trung Quốc trong cuộc chiến chống Pháp ở Việt Nam.

 Việt Nam miễn cưỡng nhắc đến vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng đối với người Pháp bởi vì tình cảm dân tộc mạnh mẽ của họ. Họ muốn chứng tỏ với thế giới rằng chiến thắng là kết quả của những nỗ lực anh hùng riêng của họ. Về tính khả tín của các nguồn tư liệu Trung Quốc, tôi nghĩ về phần lớn, chúng có thể tin được. Các tư liệu này thậm chí có thừa nhận những sai lầm mà cố vấn Trung Quốc phạm phải ở Việt Nam.
GS. Qiang Zhai, trả lời câu hỏi của ban Việt ngữ BBC

.

Không dễ để có câu trả lời có thể cân bằng giữa hai khuynh hướng: một nhấn mạnh các yếu tố ‘bản địa’ do xuất phát từ tinh thần dân tộc chủ nghĩa và một khuynh hướng từ thời Chiến tranh Lạnh xem Bắc Việt đơn thuần là tay súng bóp cò theo hiệu lệnh từ Maxcơva hay Bắc Kinh. Quyển sách của Qiang Zhai được nhiều tờ báo đánh giá là ‘nghiên cứu cân bằng và sâu sắc nhất về quan hệ Trung-Việt thời chiến tranh’, trong lúc cũng có người phê phán là quyển sách mô tả Việt Nam quá thụ động.

Với mong muốn giới thiệu các nghiên cứu lịch sử mới liên quan chủ đề mà nhiều người Việt Nam quan tâm, chúng tôi xin tóm tắt nội dung chính mà tác giả Qiang Zhai trình bày trong quyển sách. Nó có thể giúp người ta nắm bắt phần nào những gì công bố tại Trung Quốc trong mấy năm qua.

.

Tác giả Qiang Zhai cũng thừa nhận trong một bài viết năm 1993, “Do bài viết chủ yếu dựa trên tư liệu Trung Quốc, nó không tự xem là đã thể hiện đầy đủ về quan hệ Trung-Việt trong cuộc chiến Việt Nam lần thứ nhất.” Và như trong ý kiến khép lại hội thảo Pháp-Việt về Điện Biên Phủ tổ chức năm ngoái ở Paris, Điện Biên Phủ vẫn là đề tài hấp dẫn cần tìm hiểu thêm và việc biết thêm các tư liệu gần đây cũng chỉ là một gạch nối trong quá trình tìm hiểu toàn bộ những gì đã xảy ra trong các năm dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954.

.

Người bạn lớn đầu tiên

Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Ngày 15-1-1950, VNDCCH đánh điện cho Bắc Kinh yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Mao Trạch Đông, lúc này đang ở thăm Liên Xô, gửi điện về cho Lưu Thiếu Kỳ, tổng bí thư Đảng Cộng sản TQ, chỉ thị tiếp nhận đề nghị của VNDCCH đồng thời bảo Bộ Ngoại giao chuyển đề nghị của Bắc Việt Nam cho Liên Xô và các nước Đông Âu khác.

Trung Quốc trở thành nước đầu tiên công nhận VNDCCH vào ngày 18-1-1950. Stalin theo sau vào ngày 30-1-1950, để tiếp theo đó là các nước Cộng sản khác ở Đông Âu và Bắc Hàn.

Đến tháng Tư, ông Hồ Chí Minh đề nghị Trung Quốc gửi chuyên viên quân sự đến Việt Nam với tư cách cố vấn ở đại bản doanh Việt Minh và ở cấp độ sư đoàn, và với tư cách chỉ huy ở cấp độ trung đoàn và tiểu đoàn. Trung Quốc trả lời rằng họ sẽ gửi cố vấn, nhưng không gửi chỉ huy. Ngày 17-4-1950, quân ủy trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lệnh thành lập nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc. Nhóm này sẽ gồm 79 cố vấn, cùng một số trợ lý.

Từ tháng Tư đến tháng Chín năm 1950, Trung Quốc gửi cho Viêṭ Minh số lượng lớn viện trợ quân sự và phi quân sự, gồm 14.000 súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, và 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2800 tấn thực phẩm (số liệu lấy từ quyển ‘Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam và chống Pháp’, xuất bản ở Trung Quốc 1990).

Việc Trung Quốc quyết định giúp Việt Nam xuất phát từ ba lý do chính:

Thứ nhất, Đông Dương là một trong ba mặt trận, cùng với Triều Tiên và Đài Loan, mà Bắc Kinh xem là dễ bị nước ngoài can thiệp. Lãnh đạo Trung Quốc không chỉ lo ngại về khả năng thù địch nước ngoài xuất phát từ Đông Dương mà lo cả tàn quân Quốc Dân Đảng ở Việt Nam. Sau khi đảng Cộng sản chiếm Quảng Tây tháng 12-1949, một số đơn vị Tưởng Giới Thạch đã trốn sang miền Bắc Việt Nam, trong lúc số khác lẩn trốn vào vùng núi tại Quảng Tây. Sau khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, tàn quân này bắt đầu tấn công quân chính phủ mới. Nhìn trong hoàn cảnh này, việc đánh bại quân Pháp ở Bắc Việt sẽ củng cố đường biên giới Trung Quốc.

Thứ hai, nghĩa vụ giúp đỡ một nước cộng sản anh em khiến Bắc Kinh không từ chối yêu cầu từ phía Việt Minh. Một chỉ thị nội bộ do Lưu Thiếu Kỳ chuẩn bị ngày 14-3-1950 là ví dụ cho thấy Bắc Kinh liên kết cách mạng Trung Quốc và quốc tế: “Sau khi cách mạng chúng ta chiến thắng, việc giúp đỡ bằng mọi cách để các đảng Cộng sản và nhân dân ở mọi quốc gia bị áp bức tại châu Á giành thắng lợi là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc không thể thoái thác.”

Thứ ba, sự can dự của Bắc Kinh ở Đông Dương cần được nhìn theo quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc và láng giềng. Các vua Trung Quốc vẫn thường xem Việt Nam nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của phương bắc. Truyền thống này hẳn được Mao và các đồng chí của ông – những người xem lịch sử là chuyện nghiêm túc- tiếp nối. Còn người Việt vẫn có truyền thống tìm kiếm mô hình và cảm hứng từ Trung Quốc. Nên quyết định của ông Hồ Chí Minh nhờ Mao giúp đỡ không chỉ xuất phát từ lý do ý thức hệ. Quyết định đó cũng tương thích với thói quen tìm kiếm mô hình từ Trung Quốc, đồng thời tìm cách duy trì độc lập cho người Việt.

Tháng Tám 1950, ông La Quý Ba trở thành người đứng đầu một phái đoàn cố vấn chính trị sang Việt Nam. Trong bức điện gửi La Quý Ba, Lưu Thiếu Kỳ dặn La không áp đặt quan điểm lên người Việt và đừng làm mếch lòng nếu phía bên kia không chịu làm theo các đề nghị. Những dặn dò như vậy có vẻ cho thấy Bắc Kinh nhạy cảm trước lòng tự hào dân tộc của Việt Nam và mối thù địch truyền thống giữa hai nước. Tuy vậy, như những đoạn sau sẽ cho thấy, người Trung Quốc sẽ tỏ ra thất vọng và giận dữ khi các đồng chí Việt Nam của họ đi chệch khỏi đường lối Trung Quốc.

Chiến dịch Biên giới
Trận đánh đầu tiên Việt Minh thực hiện với lời khuyên và hỗ trợ của cố vấn Trung Quốc là chiến dịch Biên giới năm 1950, với mục đích liên thông mạng lưới liên lạc với Trung Quốc. Quân Pháp lúc này kiểm soát các tiền đồn dọc biên giới Trung Quốc. Việc loại bỏ các vị trí này sẽ giúp củng cố căn cứ Việt Minh ở khu Việt Bắc, thông thương đường tiếp vận từ Trung Quốc và giúp cho lực lượng Việt Minh có vị thế tốt hơn nhằm tấn công xuống khu vực đồng bằng sông Hồng trong tương lai.

Ban đầu, Việt Minh dự định tấn công Lào Cai và Cao Bằng, hai cứ điểm quan trọng. Sau khi suy tính, Việt Minh thay đổi kế hoạch, chỉ tập trung vào Cao Bằng. Bên cạnh việc yêu cầu Trung Quốc gửi viện trợ và gửi nhóm cố vấn quân sự đến Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng đề nghị gửi sang một cố vấn quân sự cao cấp để điều phối chiến dịch biên giới.

Lúc này, Trung Quốc cử vị tướng nổi danh Trần Canh (1903-1961) sang Việt Nam ngày 7-7-1950. Như Trần Canh viết trong nhật ký, thì ông này phát hiện Việt Minh bỏ qua việc huy động phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và nói điều này với bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Nếu là như vậy, Trần Canh đã áp dụng học thuyết ‘chiến tranh nhân dân’ của Mao vào Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Nhật và chống Quốc Dân Đảng, Mao đã thành công trong việc huy động phụ nữ cho chiến tranh.

Vai trò Trần Canh
Ngày 22-7, Trần Canh gửi báo cáo về cho Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Một số đơn vị Việt Nam có tinh thần cao sau khi nhận huấn luyện và thiết bị tại Vân Nam và Quảng Tây, nhưng các cán bộ Việt Nam trên mức tiểu đoàn lại thiếu kinh nghiệm chỉ huy trong các trận đánh thật sự.” Trần Canh đề nghị nguyên tắc của Chiến dịch Biên giới nên là “hủy diệt lực lượng cơ động của kẻ địch trên các chiến trường và chiếm một số đồn nhỏ, cô lập nhằm giành thắng lợi ban đầu trong lúc tích lũy kinh nghiệm và thúc đẩy tinh thần chiến sĩ. Sau khi giành thế chủ động hoàn toàn, chúng ta có thể dần dần tiến tới các trận đánh quy mô lớn.”

sử tướng Trần Canh
1922: Gia nhập Đảng Cộng sản TQ
Phó chỉ huy tình nguyện quân TQ ở Triều Tiên
1959: Thứ trưởng quốc phòng TQ
1961: Qua đời ở Thượng Hải
1984: Quyển nhật ký được xuất bản
.

Về kế hoạch tấn công Cao Bằng của Việt Nam, Trần Canh đề nghị có chiến lược “bao vây đồn bốt trong lúc tấn công quân cứu viện.” Đặc biệt, Trần Canh đề xuất Việt Minh nên tấn công một số đồn bốt biệt lập gần Cao Bằng trong lúc thu hút cứu binh của Pháp từ Lạng Sơn. “Nếu chúng ta có thể tiêu diệt ba đến năm tiểu đoàn cơ động từ Lạng Sơn, như thế sẽ dễ hơn trong việc chiếm Cao Bằng và một số đồn gần Lạng Sơn.” Nếu thành công, Trần Canh tin rằng tình hình ở vùng đông bắc và miền Bắc Việt Nam ‘sẽ thay đổi lớn.’ Trong bức điện tín ngày 26-7, quân ủy trung ương Trung Quốc đồng ý kế hoạch này.

Ngày 28-7, Trần Canh đặt chân tới căn cứ Việt Minh ở Thái Nguyên, nơi ông gặp ông Hồ Chí Minh và La Quý Ba. Trần Canh bảo với người lãnh đạo Việt Nam rằng Việt Minh chưa nên đánh chiếm Cao Bằng, là một cứ điểm mạnh lúc ấy, mà nên trước tiên tấn công các đồn nhỏ của Pháp để rèn quân. Về mặt chiến thuật, Việt Minh nên áp dụng kiểu bao vây một đồn bốt trong lúc tiêu diệt viện quân trong các trận đánh cơ động. Cụ thể, Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt. Ông Hồ chấp thuận kế hoạch này.

 Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt.
Qiang Zhai

.

Ngày 16-9, Việt Minh tấn công Đông Khê và chiếm đồn này hai ngày sau đó. Nhưng Trần Canh vẫn chưa hài lòng với hiệu quả của Việt Minh. Quân Pháp tại Đông Khê có khoảng 260 lính, trong lúc người Việt khoảng 10.000 lính. Khi trận đánh chấm dứt, Việt Minh có khoảng 500 thương vong và để hơn 20 lính Pháp trốn thoát. Trong nhật ký (xuất bản ở Trung Quốc sau khi Trần Canh qua đời, năm 1984), Trần Canh nói phía Việt Nam có một số khiếm khuyết. Đầu tiên, họ không tuân theo thời điểm tấn công như trong kế hoạch. Cuộc tấn công dự định bắt đầu vào chập tối 16-9, nhưng các đơn vị Việt Minh chỉ bắt đầu vào sáng hôm sau. Khi mặt trời mọc, họ phải rút lui vì đe dọa không kích của Pháp. Sau đó họ phải tấn công lần hai vào hoàng hôn của ngày 17. Thứ hai, các chỉ huy Việt Minh ngại ra trước tiền tuyến, nên mất liên lạc với các đơn vị tấn công. Thứ ba, một số cán bộ báo cáo sai lạc nhằm che dấu tin xấu. Trần Canh đã nói với tướng Võ Nguyên Giáp các vấn đề này.

Tuy vậy, việc chiếm được Đông Khê vẫn là thắng lợi lớn cho Việt Minh vì từ nay, Cao Bằng bị cô lập. Quân Pháp gửi tiếp viện đi từ Lạng Sơn qua ngả Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Cùng lúc đó, một đơn vị Pháp khác hướng về đại bản doanh Việt Minh tại Thái Nguyên. Trần Canh đánh giá rằng bước tiến của Pháp về Thái Nguyên nhằm thu hút quân Việt Minh từ Đông Khê để quân Pháp ở Cao Bằng có thể thoát ra. Vì vậy, Trần Canh đề xuất quân Việt Minh vẫn ở nguyên tại Đông Khê.

Ngày 30-9, quân Pháp do Lepage chỉ huy đến đánh Đông Khê từ ngả Thất Khê, nhưng bị phục kích. Hôm 3-10, trung tá Charton bỏ Cao Bằng và dẫn quân chạy về Nam. Nhằm ngăn đơn vị của Lepage và Charton hội quân, Việt Minh đưa quân bao vây đơn vị Lepage trước khi tấn công đơn vị của Charton. Ngày 8-10, quân của Lepage bị tiêu diệt. Hai ngày sau, đơn vị của Charton cũng bị chặn đánh. Cả Lepage và Charton bị bắt sống. Trong các trận tiếp sau, Việt Minh chiếm được Cao Bằng và Thất Khê. Quân Pháp tiếp tục rút khỏi Lào Cai, Lạng Sơn và Hòa Bình, để lại 11.000 tấn đạn dược và để trống gần như toàn bộ khu vực phía bắc đồng bằng sông Hồng.

.

Chiến dịch biên giới quan trọng ở chỗ Việt Minh từ nay thông thương được với biên giới Trung Quốc. Việc Pháp rút khỏi Hòa Bình cũng mở đường liên lạc giữa Việt Bắc và vùng Bắc Việt ‘giải phóng’, kết thành một khu vực do Việt Minh kiểm soát.

Sau chiến dịch biên giới, Mao Trạch Đông gửi điện tín cho Trần Canh, bày tỏ lòng vui mừng. Trần Canh sau đó đi nhiều nơi, tổ chức các lớp cho các chỉ huy Việt Minh. Ngày 11-10, Trần Canh nói chuyện với ông Hồ và ông Giáp, đưa ra các đề nghị cải tiến lực lượng, gồm các việc như tặng thưởng cán bộ, đối xử tù binh. Trần Canh yêu cầu các lãnh đạo Việt Minh tổ chức các buổi mừng công để quảng bá thắng lợi, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chọn lựa và tặng thưởng các gương anh hùng. Về việc đối xử tù binh, Trần Canh đề nghị Việt Minh trước tiên yêu cầu họ viết thư cho gia đình và bạn bè để làm lung lay tinh thần đối phương, và rồi cố gắng chiêu mộ các tù binh Việt Nam trong lúc thả người Pháp và Marốc sau khi đã ‘giáo dục’ những người này. Theo nhật ký của Trần Canh, ông Hồ và ông Giáp ‘vui vẻ’ chấp nhận các đề xuất này.

Từ 27 đến 30-10, Việt Minh tổ chức các cuộc họp tổng kết cho các chỉ huy trên mức tiểu đoàn. Thay mặt Việt Minh, ông Trường Chinh đọc báo cáo đánh giá chiến dịch biên giới. Theo đề nghị của ông Hồ Chí Minh, Trần Canh trình bày trước cuộc họp trong bốn ngày liền. Ông phân tích các lý do cho thành công của Việt Minh, ca ngợi lòng dũng cảm của chiến sĩ. Sau đó lại nhắc các khiếm khuyết, như việc sĩ quan thiếu quan tâm binh sĩ, việc chậm thi hành mệnh lệnh, và khuynh hướng chỉ báo cáo tin tốt.

Ông Hồ yêu cầu Trần Canh ở lại Việt Nam, nhưng Trần Canh nhận lệnh mới từ Bắc Kinh và rời Việt Nam đầu tháng 11-1950. Giữa năm sau, ông được bổ nhiệm làm phó chỉ huy tình nguyện quân Trung Quốc chiến đấu tại Triều Tiên. Sau khi Trần Canh ra đi, nhóm cố vấn Trung Quốc chịu trách nhiệm cho việc cố vấn cho Việt Minh.

Tổn thất và tái tổ chức năm 1951
Cuối năm 1950, Việt Minh và nhóm cố vấn cùng quyết định thực hiện tấn công xuống đồng bằng sông Hồng. Một số cán bộ cao cấp xem chiến dịch biên giới là một phần bước tiến mà sẽ từ từ dẫn tới tổng phản công.

Ông Võ Nguyên Giáp soạn thảo tài liệu năm 1950 nói về việc chuẩn bị cho cuộc tổng phản công. Trong đó, ông nói điều kiện đã chín muồi cho lực lượng cách mạng chuyển sang tổng tiến công để loại bỏ quân số lớn đối phương và chiếm các thành phố. Cũng có nhiều thành viên trong đảng ủng hộ việc chiếm đồng bằng để giảm bớt gánh nặng thiếu gạo tại các khu giải phóng.

Tháng Giêng 1951, tướng Giáp cho tấn công Vĩnh Yên, cách Hà Nội 37 dặm, áp dụng chiến thuật biển người đang được Trung Quốc dùng tại Triều Tiên. Tướng Jean de Lattre de Tassigny, tổng tư lệnh Pháp tại Đông Dương, đưa quân phản kích, dùng cả bom napalm. Việt Minh tổn thất ít nhất 6000 chiến sĩ.

.

Điện Biên Phủ

.

 Các trận đánh này thực hiện với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc. Và thất bại khiến cố vấn Trung Quốc nhận ra họ phải thực tế và thận trọng hơn. Qiang Zhai 

Đến tháng Ba, trận tấn công Mạo Khê, gần Hải Phòng, lại thất bại. Cùng một định mệnh rơi xuống quân Việt Minh trong tháng Năm khi họ đánh Phủ Lý và Ninh Bình. Các trận đánh này thực hiện với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc. Và thất bại khiến cố vấn Trung Quốc nhận ra họ phải thực tế và thận trọng hơn.

Đầu năm 1951, nhóm cố vấn Trung Quốc đề xuất một kế hoạch tăng hiệu năng cho cơ cấu lãnh đạo. Với sự đồng ý của ông Hồ, nhóm cố vấn giúp Bộ tổng tham mưu, tổng cục chính trị và tổng cục hậu cần cùng các sư đoàn ‘giảm biên chế’. Các cố vấn Trung Quốc ở tầm mức sư đoàn mở lớp huấn luyện cho các cán bộ Việt Nam.

Phương pháp giáo dục ý thức hệ mà các cố vấn Trung Quốc đưa vào Việt Nam có tên gọi ‘chỉnh huấn’. Phương pháp Mao-ít dựa trên truyền thống Tống Nho nhấn mạnh tầng lớp ưu tú hãy tự rèn luyện để tu dưỡng chính trị và đạo đức. Với ảnh hưởng Nho giáo ở Việt Nam, không khó để cố vấn Trung Quốc tìm ra một lớp thính giả chấp nhận ‘tư tưởng đúng đắn’ trong hành động chính trị.

Nỗ lực củng cố quân đội là một phần trong chiến dịch xây dựng bộ máy nhà nước của nước VNDCCH trong năm 1951. Trong năm này, một nhóm cố vấn chính trị Trung Quốc, do La Quý Ba làm trưởng đoàn, được thành lập. Họ sẽ bận rộn tạo lập luật lệ và chính sách liên quan tài chính, thuế khóa, quản lý báo chí và phát thanh, đối xử với các nhóm thiểu số…

Một trong những diễn biến quan trọng nhất là thuế nông nghiệp, với cả địa chủ lẫn nông dân đều đóng thuế. Phần trăm thuế sẽ do các viên chức quyết định dựa trên lợi tức và chi phí các nhân khẩu. Do hệ thống thuế mới là mượn từ Trung Quốc, nên Đảng Lao động Việt Nam thành lập một cục thuế nông nghiệp đặc biệt để khảo sát hệ thống, mở lớp huấn luyện và giải thích luật mới cho dân chúng. Chính phủ cũng thành lập Ngân hàng nhà nước Việt Nam và công bố đồng tiền mới, mà tiền giấy in tại Trung Quốc.

……………………………………………………………………………………………..

Tuần sau, bài viết sẽ đề cập tiếp về chiến dịch Tây Bắc 1952 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Trong các bài tới, chúng tôi cũng sẽ trình bày quan điểm của Việt Nam về sự trợ giúp của Trung Quốc

—————-

24-3-2014

Cố vấn Trung Quốc và đường đến Điện Biên

Trong bài trước, chúng tôi đã tóm tắt những ý chính của tác giả Qiang Zhai về sự hình thành và đóng góp của nhóm cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam, 1950-1952.

Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của nhóm chuyên gia Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952.

Giáp với biên giới Lào, vùng Tây Bắc là nơi lực lượng Pháp khá yếu. Việc giải phóng vùng này sẽ dỡ bỏ đe dọa từ mặt sau đối với khu Việt Bắc đồng thời mở rộng địa bàn kiểm soát cho Việt Minh.

.

.

.

.

Chiến dịch Tây Bắc

La Quý Ba chịu trách nhiệm hoạch định chiến dịch. (Lúc này La tạm lãnh đạo nhóm cố vấn, trong lúc Vy Quốc Thanh về Trung Quốc chữa bệnh). Ngày 16-2-1952, ông La gửi báo cáo về quân ủy trung ương Trung Quốc phác họa kế hoạch mà ông định chuẩn bị cho Việt Minh. La đề nghị trong nửa đầu năm này, Việt Minh dưỡng quân đồng thời tiếp tục chiến tranh du kích; đến nửa cuối năm, thì sẽ tấn công Nghĩa Lộ và Sơn La ở Tây Bắc. La nói tiếp khi đã chiếm được Tây Bắc, Việt Nam có thể gửi quân sang Lào vào năm sau. Chuẩn y kế hoạch của La, quân ủy trung ương Trung Quốc chỉ đạo ông trung thành với nguyên tắc “tiến chắc chắn và bảo đảm thắng lợi trong từng trận đánh” trong chiến dịch này. Lưu Thiếu Kỳ bảo La “nhất định phải giúp Lào giải phóng.” La chuyển kế hoạch cho ông Giáp và được chấp nhận. Đến tháng Tư, bộ chính trị Việt Minh thông qua chiến dịch.

Một số tác phẩm của Qiang Zhai
Sách:
China and the Vietnam Wars, 1950-1975
The Dragon, the Lion, and the Eagle: Chinese-British-American Relations, 1949-1958
Bài viết:
American Policy toward Sino-Soviet Relations, 1952-1954
Transplanting the Chinese Model: Chinese Military Advisers and the First Vietnam War, 1950-1954
China and the Geneva Conference of 1954
An Uneasy Relationship: China and the DRV during the Vietnam War

 

Ngày 14-4, La Quý Ba phác họa cho Bắc Kinh kế hoạch chiến dịch Tây Bắc: Việt Minh sẽ bắt đầu tập kích vào giữa tháng Chín với việc tấn công Nghĩa Lộ; tiếp theo sẽ đánh Sơn La; rồi chiếm phần lớn Tây Bắc vào cuối năm; và đến năm sau thì tấn công Lai Châu. Năm ngày sau, quân ủy trung ương Trung Quốc đồng ý đề xuất này với lời dặn thêm là Việt Minh chú ý vấn đề thiểu số ở Tây Bắc. Ngày 11-7, La gửi về Bắc Kinh kế hoạch chi tiết. Kế hoạch cũng bao gồm thêm yêu cầu của Việt Nam rằng Trung Quốc hãy gửi quân từ Vân Nam sang Việt Nam để điều phối chiến dịch. Ngày 22-7, quân ủy trung ương trả lời Trung Quốc giữ nguyên tắc không gửi quân sang Việt Nam, nhưng họ có thể điều động một vài đơn vị dọc biên giới để thể hiện sự ủng hộ.

Ngày 31-7, La nói với quân ủy trung ương rằng Việt Minh sẽ bắt đầu mở lớp về vấn đề thiểu số cho chiến sĩ vào đầu tháng Chín trước khi tiến về Tây Bắc vào giữa tháng Chín. Ngày 8-8, quân ủy trung ương trả lời rằng còn quá sớm không nên mở đầu chiến dịch vào giữa tháng Chín, mà nên đình hoãn đến tháng Mười hoặc tháng 11 để Việt Nam đủ thời gian chuẩn bị.

Đầu tháng Chín, Bộ chính trị Việt Nam mở cuộc họp và mời La tham dự. Ông Giáp tường trình sự chuẩn bị cho chiến dịch biên giới. Ông chỉ ra các khó khăn, đặc biệt liên quan cuộc tấn công Sơn La. Đến cuối tháng Chín, ông Hồ Chí Minh có chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh để thảo luận chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược chiến thắng quân Pháp. Trung Quốc đề nghị Việt Nam nên chiếm Tây Bắc và miền bắc Lào trước tiên, và rồi đưa quân xuôi nam để đánh đồng bằng sông Hồng. Ông Hồ chấp thuận đề xuất này, và trong một bức điện gửi ông Giáp và La ngày 30-9, ông cho họ biết quyết định mà ông có với lãnh đạo Trung Quốc, rằng: chiến dịch Tây Bắc sẽ chỉ đánh Nghĩa Lộ, không bao gồm Sơn La; sau khi chiếm được Nghĩa Lộ, Việt Minh cần đặt căn cứ cách mạng tại đây.

Tây Bắc
 Đến cuối tháng Chín, ông Hồ Chí Minh có chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh để thảo luận chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược chiến thắng quân Pháp.
Qiang Zhai

 

Đến đầu tháng Mười, Bộ chính trị Việt Minh thảo luận về hướng dẫn của ông Hồ và đồng ý bỏ Sơn La ra ngoài chiến dịch Tây Bắc. Lúc này, ông Giáp đã có mặt ở mặt trận Tây Bắc, và Trường Chinh thông báo cho ông Giáp về quyết định của bộ chính trị. Ngày 14-10, Việt Minh tập trung tám tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bốt gần đó. Ngày 16-10, Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng La Quý Ba chỉ đạo chiến dịch Tây Bắc. Sau khi Việt Minh chiếm được Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 22-11. Đến ngày 10-12, Việt Minh đã giải phóng một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép Việt Minh có lợi thế để tiến hành hoạt động ở Lào.

Cải cách ruộng đất 1953
Trong mấy năm đầu kháng chiến, Việt Minh đã duy trì chính sách trung dung – tức là giảm thuế – vì ngại rằng một cuộc cải cách ruộng đất triệt để cô lập giới địa chủ. sẽ hủy hoại tình đoàn kết kháng chiến.

Tuy vậy, cuộc chiến chống Pháp khó khăn hơn dự liệu, mặc dù sức mạnh của Việt Minh tăng theo thời gian. Để nhanh kết thúc chiến cuộc và giảm gánh nặng kinh tế cho đảng, lãnh đạo Việt Minh quyết định vào cuối năm 1952 sẽ huy động nông dân cho cuộc chiến. Phần thưởng sẽ là ruộng đất cho họ. Cải cách ruộng đất phục vụ hai mục đích: loại bỏ những phần tử ‘yếu kém’ trong đảng và huy động sự ủng hộ của nông dân. Tháng Giêng 1953, đại hội lần Bốn của Đảng Lao động Việt Nam thông qua nghị quyết kêu gọi cải cách ruộng đất ở các khu giải phóng.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm về việc này, nên Việt Nam nhờ các cố vấn giúp đỡ. Mùa xuân 1953, Zhang Dequn trở thành lãnh đạo ban củng cố đảng và cải cách ruộng đất (thuộc nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc). Để tăng lực lượng, Bắc Kinh gửi thêm 42 chuyên viên sang Việt Nam trong năm này.

Nhóm cố vấn cho chiếu phim ‘Bạch Mao Nữ’, nói về cô con gái nhà nông chịu ách áp bức của địa chủ. Nhiều người lính Việt Nam đã khóc khi xem phim. Một người lính giận dữ đến nỗi khi tay địa chủ xuất hiện trên màn hình, anh nâng súng trường lên và bắn. Trong chiến dịch củng cố chính trị, nhiều người có nguồn gốc nông dân và công nhân được thăng chức. Chiến dịch đã giúp tăng tinh thần cho quân đội, chuẩn bị họ cho cuộc quyết chiến với Pháp tại Điện Biên Phủ.

Nhà sàn Tây Bắc
 Mặc dù cải cách ruộng đất thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu ruộng cho nông dân và huy động họ về với đảng, nhưng nó cũng để lại các hậu quả.
Qiang Zhai

 

Cải cách ruộng đất 1953 đem lại các thay đổi lớn cả trong cơ cấu nông nghiệp và trong đảng. Trong hai năm tiếp theo, không chỉ các địa chủ thân Pháp hay trung lập, mà cả những người từng ủng hộ Việt Minh đã bị phạt, mất tài sản, đôi khi bị xử bắn. Mặc dù cải cách ruộng đất thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu ruộng cho nông dân và huy động họ về với đảng (thể hiện qua việc 200.000 nông dân vận chuyển hàng hóa qua đèo, qua núi để giúp Việt Minh), nhưng nó cũng để lại các hậu quả. Cuộc đấu tranh giai cấp trong cải cách ruộng đất đi ngược với chính sách mặt trận thống nhất của đảng và cô lập một bộ phận quan trọng trong dân số. Mang theo tinh thần quá khích, các cố vấn Trung Quốc chịu trách nhiệm cho việc giới thiệu phương thức đấu tranh giai cấp vào Việt Nam. Tác động tiêu cực này là một lý do quan trọng cho việc Việt Nam sau này chỉ trích mô hình Trung Hoa.

Đối phó kế hoạch Navarre
Tháng Năm 1953, tướng Henri Navarre đảm trách việc chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Ông đề nghị chiến lược ba bước: bảo đảm kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng trong mùa thu đông 1953-54, bình định các khu do đảng Cộng sản kiểm soát ở miền trung và nam Việt Nam trong mùa xuân 1954 và mở tổng phản kích tiêu diệt cứ địa chính của Việt Minh tại miền bắc. Tháng Chín 1953, chính phủ Eisenhower của Mỹ đồng ý cho Paris 385 triệu đôla trợ giúp quân sự để thực thi kế hoạch Navarre.

Ngày 13-8-1953, Việt Nam gửi điện cho Trung Quốc yêu cầu trợ giúp trong việc “xem xét tình hình và tìm hướng đi cho nỗ lực chiến tranh tương lai.” Cùng lúc đó, Việt Minh từ bỏ kế hoạch ban đầu định tập trung tại Tây Bắc và Lai Châu. Lần này, Việt Minh đề xuất tấn công đối phương tại đồng bằng sông Hồng. La Quý Ba dự cuộc họp của Bộ chính trị Việt Minh ngày 22-8. Tại đây, ông Võ Nguyên Giáp nói về các hoạt động ở khu đồng bằng, bỏ qua Lai Châu và hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. La tường trình lại cho Bắc Kinh về cuộc thảo luận. Ngày 27 và 29 tháng Tám, Bắc Kinh gửi hai bức điện cho La nhấn mạnh Việt Nam cần giữ nguyên kế hoạch ban đầu, tức là tập trung vào Tây Bắc và Lào. Bức điện ngày 29-8 nói: “Bằng cách tiêu diệt kẻ thủ ở khu vực Lai Châu, giải phóng khu miền bắc và trung Lào, và rồi mở rộng chiến trường sang miền nam Lào và Campuchia để đe dọa Sài Gòn…Việt Minh có thể ngăn chặn bớt sự hỗ trợ lính và tiền cho quân đội bù nhìn, xé lẻ quân Pháp….mở rộng chính lực lượng Việt Minh, và làm suy yếu rồi tiêu diệt kẻ thù dần dần và riêng rẽ.” Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương. Hiện thời, Trung Quốc nhấn mạnh, Việt Minh cần chiếm Tây Bắc và miền bắc Lào trước khi tiến về nam.

Tuân lời, nhóm cố vấn Trung Quốc đề nghị Việt Nam chọn Tây Bắc làm địa bàn chính để chiếm Lai Châu. Nhóm cố vấn nhấn mạnh đồng bằng sông Hồng chỉ là địa bàn thứ hai, nơi mà Việt Minh có thể tấn công du kích để phối hợp với địa bàn thứ nhất và lập tiền đề cho việc sau này giải phóng Hà Nội và Hải Phòng.

Tháng Chín, bộ chính trị Việt Minh thảo luận kế hoạch cho mùa đông 1953-54. Ủng hộ ý tưởng của Trung Quốc, ông Hồ Chí Minh kết luận “phương hướng chiến lược không thay đổi”, nghĩa là Việt Minh sẽ tập trung vào Tây Bắc và bắc Lào. Ông phủ quyết kế hoạch của ông Giáp muốn tập trung vào đồng bằng sông Hồng.

Đèo Pha Đin
Xe pháo qua đèo Pha Đin bị máy bay Pháp đánh phá ác liệt

 

Bắc Kinh, vào ngày 10-10, thông báo cho ông Hồ rằng họ đã bổ nhiệm Vy Quốc Thanh làm tổng cố vấn quân sự và La Quý Ba làm tổng cố vấn chính trị cho Việt Minh. Sau khi quay lại Việt Nam, Vy Quốc Thanh, vào ngày 27-10, tái khẳng định đề nghị của Bắc Kinh xoay quanh chiến lược quân sự của Việt Minh. Ông cũng trao cho ông Hồ một bản chép lại kế hoạch Navarre mà Trung Quốc thu được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo Việt Minh nói đề nghị của Trung Quốc là đúng và rằng nếu Việt Minh làm theo, họ có thể phá vỡ kế hoạch Navarre. Việc Bắc Kinh trao bản kế hoạch Navarre cho ông Hồ chứng tỏ sự hợp tác chặt chẽ trong việc chia sẻ tin tình báo giữa hai đảng Cộng sản trong cuộc chiến Đông Dương lần một.

Đến giữa tháng 11, sư đoàn 316 và một phần sư đoàn 325 và 304 của Việt Minh tiến về Lai Châu. Theo đề nghị của Trung Quốc muốn tiếp cận Nam Việt Nam qua ngả Lào, chính quyền ông Hồ lúc này cũng soạn thảo kế hoạch làm đường cho năm 1954. Kế hoạch dự kiến làm nhiều con đường qua Lào. Nhưng Chu Ân Lai thấy nó quá tham vọng. Trong bức điện gửi La Quý Ba ngày 12-12, Chu nói “số nhân công đòi hỏi quá lớn” và rằng nó sẽ “làm tăng gánh nặng nhân dân và gây thiệt hại năng suất”. Chu thúc giục Việt Nam giảm bớt tầm mức kế hoạch bằng cách tập trung cho ba tuyến quan trọng nhất, gồm một đường đi qua Sầm Nưa.

Sau khi nhận tin tình báo về sự di chuyển của Việt Minh về hướng Lai Châu, tướng Navarre quyết định đưa quân đến Điện Biên Phủ, một thung lũng nhỏ tại cao nguyên tây bắc, trên đường sang Luang Prabang của Lào. Khi tin này đến tai Vy Quốc Thanh, ông này đang trên đường đến Tây Bắc. Sau khi thảo luận tình hình mới với ban cố vấn, Vy Quốc Thanh đề nghị Việt Minh mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ trong lúc vẫn tiếp tục duy trì kế hoạch tấn công Lai Châu. Ông cũng báo cáo kế hoạch cho Bắc Kinh. Chấp nhận đề nghị của Vy, quân ủy trung ương Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự-chính trị mà có cả ảnh hưởng quốc tế. Hứa cung cấp mọi vũ khí mà Việt Nam cần, các lãnh đạo Trung Quốc chỉ thị ban cố vấn giúp Việt Nam “quyết định” và giúp đỡ việc chỉ đạo chiến dịch.

Đường hào đồi A1
Đằng sau chiến thắng Điện Biên còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ

 

Rõ ràng, Mao Trạch Đông đang nghĩ đến ngoại giao quốc tế khi xem xét diễn biến quân sự ở Việt Nam. Vào tháng Chín 1953, thế giới Cộng sản đã bắt đầu nỗ lực hòa bình. Ngày 28-9, Liên Xô kêu gọi hội nghị năm bên , gồm Trung Quốc, để xem xét các cách giảm xung đột quốc tế. Mười ngày sau, thủ tướng Chu Ân Lai ra tuyên bố ủng hộ đề nghị này. Ngày 26-11, ông Hồ Chí Minh nói với báo Thụy Điển Expressen là ông sẵn sàng thương lượng với Pháp về vấn đề Đông Dương. Mao muốn có chiến thắng ở Điện Biên Phủ để củng cố vị trí của phe Cộng sản tại bàn đàm phán. Ngày 6-12, bộ chính trị Việt Minh thông qua kế hoạch đánh Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ được lập ra với ông Võ Nguyên Giáp làm tổng tư lệnh và Vy Quốc Thanh là trưởng cố vấn.

Nhìn lại, cuộc họp tháng Chín 1953 của bộ chính trị Việt Minh là điểm bước ngoặt cho cuộc chiến. Khi xét Navarre điều động quân tại Điện Biên Phủ tháng 11 chính là để phản ứng việc Việt Minh đưa quân đến Lai Châu và bắc Lào, thì như vậy việc ông Hồ Chí Minh bác bỏ kế hoạch tập trung cho đồng bằng của ông Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò quan trọng. Nếu ông Hồ thực thi kế hoạch của ông Giáp, có lẽ đã không có cuộc quyết chiến Việt-Pháp ở Điện Biên Phủ.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040321_chineseadviserstwo.shtml

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | 1 Comment »

►Hãy hổ trợ cho nhân quyền ở Việt Nam- Cù Huy Hà Vũ

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2014

Hãy hổ trợ cho nhân quyền ở Việt Nam

17-5-2014

Quan điểm của Ts. Cù Huy Hà Vũ trên tờ The Washington Post

Đối mặt với áp lực gia tăng từ cộng đồng quốc tế và phải tìm kiếm các cam kết thương mại và an ninh từ cộng đồng này, chính quyền Việt Nam mới đây đã phóng thích năm tù nhân lương tâm. Tôi là một trong số đó.

Những cuộc phóng thích tù nhân lương tâm như vậy luôn được hoan nghênh nhưng không được nhầm lẫn với những cải thiện nhân quyền thực sự. Ước tính có khoảng 400 tù nhân lương tâm tại Việt Nam. Ngay khi vài ba nhà bất đồng chính kiến ​​được thả, thì cùng lúc một số lượng lớn hơn vừa mới bị bắt giam, hoặc bị kết án tù.  [Thả CHHV, Nguyễn Tiến trung, Vi Đức Hồi, nhưng bắt giam Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh 5-5-2014, bắt giam Bùi Hằng, bắt giam Nguyễn Thị Thúy Quỳn, kết án tù Trương Duy Nhất, kết án tù Phạm Viết Đào,…]

Nhiều người ở Đông Nam Á tin rằng Việt Nam đã thay thế Miến Điện ở vị trí nước có vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất trong khu vực.

Cộng đồng quốc tế thường chú trọng vào việc gây sức ép với Việt Nam để có thêm tù nhân được phóng thích. Trong khi tôi được hưởng lợi thoát khỏi nhà tù nhờ sự chú trọng như vậy , thì nó lại thường phản tác dụng như một cách tiếp cận ngoại giao. Chính phủ Việt Nam coi tù nhân lương tâm như hàng hóa để đổi chác lấy các lợi ích an ninh và thương mại cũng như viện trợ từ Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác. Việt Nam đã tích trữ cả một kho tù nhân lương tâm cho việc mặc cả trong tương lai.

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và đạt được bình thường hoá quan hệ thương mại với Hoa Kỳ vào đầu năm 2007, chính quyền Việt Nam đã phát động một cuộc đàn áp tàn bạo nhằm vào các trí thức, nghệ sĩ, blogger, nhà báo, nhà hoạt động công đoàn và lãnh đạo tôn giáo. Cho đến bây giờ cuộc đàn áp này vẫn còn tiếp diễn.

Các chính phủ thuộc thế giới tự do cần yêu cầu chính quyền Việt Nam hủy bỏ kho công cụ đàn áp của họ – bắt đầu bằng việc bãi bỏ các Điều 79 , 88 và 258 Bộ luật hình sự – và gắn lợi ích thương mại và an ninh trong tương lai với những cải cách pháp luật như vậy. Yêu cầu này không phải là quá nhiều: các điều luật hình sự này không chỉ vi phạm Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982 mà còn mâu thuẫn với chính Hiến pháp Việt Nam.

Mục đích duy nhất của những điều luật hình sự này là giữ cho chế độ của Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại. Điều 88 cấm “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là để bịt mồm những người chỉ trích Đảng cộng sản Việt Nam – các nhà báo và blogger và các nhà bất đồng chính kiến khác. Đây là một sự vi phạm trực tiếp Điều 16 Hiến pháp theo đó ” không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị ”- hay nói cách khác: không ai có thể bị sách nhiễu hay bị đàn áp, càng không thể bị bắt hay bị bỏ tù, do có quan điểm chính trị trái với quan điểm của Nhà nước.

Trong khi đó, Điều 258 lại nhằm vào những người “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Việt Nam không có “tự do dân chủ” thực sự nhưng Hiến pháp VN lại hứa hẹn cho công dân quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội. “Lợi dụng quyền” là một khái niệm mà chính quyền Việt Nam thêu dệt tạo ra nhằm phá hoại Hiến pháp để sự tự do thực thụ duy nhất mà người công dân Việt Nam có được là phải hoàn toàn đồng ý và tán thành các chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu như Điều 88 và Điều 258 nhằm vào những người bất đồng chính kiến với tư cách cá nhân, thì Điều 79 được thiết lập để ngăn cản những người bất đồng chính kiến ​​tập hợp thành tổ chức cho chính họ để cạnh tranh chính trị (với đảng CSVN). Điều luật hình sự này được sử dụng để chống lại bất kỳ ai tổ chức phản đối một cách ôn hòa sự thống trị của Đảng cộng sản Việt Nam hoặc các chính sách của đảng này. Các công đoàn lao động độc lập, các đảng phái chính trị mới bắt đầu ra đời, các tổ chức tôn giáo, các hội đoàn xã hội dân sự không chịu sự giám sát của chính quyền – tất cả đều có khả năng bị nghiền nát bởi Điều 79.

Hai phần ba số tù nhân lương tâm bị kết án theo 3 điều luật hình sự này, bao gồm Nguyễn Văn Hải (blogger Dieu Cay), linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Dương Kim Khải, Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích Khương, Võ Minh Trí, Nguyễn Văn Lía, Đặng Xuân Diệu và Trần Huỳnh Duy ThứcNhững tù nhân lương tâm này có thể không được nhiều người ở đây, tại Hoa Kỳ, biết tới nhưng họ là những anh hùng với nhiều người trong chúng tôi, những người muốn xây dựng một nước Việt Nam vừa thịnh vượng vừa bảo vệ các quyền con người cơ bản và tôn trọng pháp luật.

Cư trú tại Hoa Kỳ cho tôi quyền tự do bày tỏ quan điểm và đó là điều tôi biết ơn nhất. Vì vậy, tôi trân trọng yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ sử dụng tất cả mối liên hệ song phương và đa phương vào bất cứ lúc nào, bao gồm các cuộc đàm phán về thương mại và an ninh, cũng như các khoản cho vay từ các tổ chức tài chính quốc tế, để buộc chính quyền Việt Nam hủy bỏ ngay lập tức các điều 79, 88 và 258 Bộ Luật hình sự, và trả tự do vô điều kiện cho tất cả các tù nhân lương tâm bị đã bị kết án vì những điều luật này.

Chỉ có loại bỏ các công cụ đàn áp (các Điều 79 , 88 và 258 Bộ luật hình sự) của chính quyền VN thì mới có thể có những cải thiện nhân quyền thực sự và không thể đảo ngược tại Việt Nam.

——————————————————————————

*Cù Huy Hà Vũ là một học giả về Hiến pháp, đã hai lần kiện ra tòa đương kim Thủ tướng Việt Nam do có hành vi bất hợp pháp. Ông hiện sống ở Bắc Virginia sau khi được phóng thích từ một nhà tù Việt Nam vào tháng trước.

Bài liên quan:

Quan điểm của Ts. Cù Huy Hà Vũ trên báo The Washington Post

http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2856

Nguồn http://www.danchimviet.info/archives/87340/doi-chac-te-hai-voi-viet-nam/2014/05

————

Bài viết bằng tiếng Anh rất xúc tích, ngắn gọn, và đầy đủ. Bài dịch qua tiếng Việt (trên tờ Mạch Sống) cũng khá. Tuy vậy, tựa đề dịch qua tiếng Việt hoàn toàn không đúng:Đổi chác tệ hại với Việt Nam. Trần Hoàng đã dịch lại tựa đề, và chỉnh sửa lại nhiều đoạn trong bài dịch của tờ Mạch Sống cho thêm phần chính xác; và bổ sung thêm tên của những tù nhân lương tâm mà tờ Mạch Sống đã bỏ sót. 

“Two-thirds of the known prisoners of conscience are imprisoned under these three articles, including Nguyen Van Hai (blogger Dieu Cay), Catholic priest Nguyen Van Ly, Protestant pastor Duong Kim Khai, Ta Phong Tan, Ho Thi Bich Khuong, Vo Minh Tri, Nguyen Van Lia, Dang Xuan Dieu and Tran Huynh Duy Thuc. While these names may not be familiar to many here in the United States, they are heroes to those of us who want to build a Vietnam that is both prosperous and protects fundamental human rights and the rule of law.”

Standing up for human rights in Vietnam  May 17, 2014

 

       Mục sư Dương Kim Khải bị bắt

Aug 13, 2010 – Mục sư Tin lành Dương Kim Khải – “vị mục sư ở trong chuồng bò” ven sông Sài Gòn – vừa bị công an bắt đi vào trưa 10/8/2010.

 

Aug 30, 2010 – Mục sư Dương Kim Khải, người bị bắt đi một cách bất minh từ trưa ngày 10 tháng 8 đến nay đã hơn nửa tháng. Đến hôm qua, gia đình ông …

 

 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Phật tử GHPGVNTN tự thiêu để bảo vệ Đạo pháp, chống Trung Quốc xâm lược- tự thiêu lúc 5:30 sáng, 23/05/2014, trước cổng Dinh Độc Lập, Sài Gòn

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2014

Có người tự thiêu trước Dinh Thống nhất

10: 08 GMT- 23-5-2014

BBC

Sau khi có tin một người phụ nữ đã tự thiêu trước Dinh Thống Nhất ở TP. HCM hôm 23/5, theo các báo Việt Nam, ông Võ Văn Ái, người phát ngôn Phòng Thông tin Phật giáo VN, nói với BBC từ Paris rằng người đó là bà Lê Thị Tuyết Mai, thành viên Gia Đình Phật tử Việt Nam, đã tự thiêu lúc 5h30 sáng.

Danh tính của ‘người tự thiêu’ cũng vừa được báo Thanh Niên xác nhận là bà Lê Thị Tuyết Mai từ Quận Bình Thạnh.

Còn ông Võ Văn Ái nói “rất đông” thành viên của Gia Đình Phật tử Việt Nam, một tổ chức trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, xin tự thiêu.

“Người ta rất bức xúc vì nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp Giáo hội, và đặc biệt gần đây, Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam,” ông Ái giải thích.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, với người đứng đầu hiện nay là Hòa thượng Thích Quảng Độ, không được chính phủ Việt Nam công nhận.

Ông Võ Văn Ái nhấn mạnh Viện Hóa Đạo của Hòa thượng Thích Quảng Độ không đồng tình chủ trương tự thiêu.

BBC sẽ đăng tải bài phỏng vấn với ông Võ Văn Ái trong chốc lát.

—–

BBC

Một người đã ‘tự thiêu’ trước Dinh Thống nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh sáng sớm ngày 23/5, theo báo trong nước nhưng cũng có tin nói hành động tự thiêu này là của một Phật tử vì ‘bức xúc với Trung Quốc’.

BBC đã liên lạc với Công an quận 1 ở TP Hồ Chí Minh và được biết “các chuyên viên đã vào cuộc để điều tra vụ việc”, nhưng không được cung cấp thêm chi tiết.

Nhân viên tại Dinh Thống nhất nói với BBC qua điện thoại rằng hiện di tích vẫn đang “hoạt động bình thường”, nhưng từ chối bình luận về sự kiện này.

Video quay lại hiện trường đã được một nhân chứng quay lại và đăng tải trên mạng xã hội.

Chủ nhân của video này viết trên tài khoản Facebook cá nhân rằng cô “không nhìn thấy rõ do trời lất phất mưa”, nhưng được tài xế taxi nói nạn nhân là một người phụ nữ.

Một video khác trên Youtube thì diễn tả: “Xác chết cháy khô, trong tư thế ngồi co chân dựa lưng vào cổng rào của Dinh.”

Báo BấmTuổi Trẻ vào chiều tối cùng ngày chạy bài với tựa Một phụ nữ tự thiêu phản đối Trung Quốc.

“Khoảng 5g58 phút, hai bảo vệ của Hội trường Thống Nhất phát hiện có ngọn lửa cháy tại khu vực cổng chính nên đã chạy lại xem thì thấy có người dùng xăng tự thiêu. Các bảo vệ trên đã dùng bình chữa cháy để dập lửa cứu người trong khoảng 3 phút thì ngọn lửa được dập tắt” theo Tuổi Trẻ.

Báo điện tử Soha của Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam – VC Corp trước đó chạy tin và cho biết “người dân đã gọi điện cho công an địa phương để báo cáo về vụ việc, tuy nhiên đến 7h sáng, lực lượng này mới có mặt tại hiện trường nhưng bài báo này sau đó không truy cập được nữa.

‘Phật tử phản đối Trung Quốc’

Phòng Thông tin Phật giáo tại Paris vừa ra thông cáo nói người tự thiêu hôm 23/5 là bà Lê Thị Tuyết Mai, Huynh trưởng Cấp Tấn, Phó Trưởng ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử Miền Quảng Đức, đơn vị trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ông Võ Văn Ái, Phòng Thông tin Phật giáo tại Paris nói với BBC tại London cuối giờ sáng ngày 23/5 qua điện thoại rằng Viện Hóa Đạo của Hòa thượng Thích Quảng Độ từ TP. HCM thông báo rằng về danh tính của người tự thiêu.

Ông cho biết thời gian qua, “rất đông” thành viên của Gia Đình Phật tử Việt Nam, một tổ chức trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, xin tự thiêu.

“Người ta rất bức xúc vì nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp Giáo hội, và đặc biệt gần đây, Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam,” ông Ái giải thích.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, với người đứng đầu hiện nay là Hòa thượng Thích Quảng Độ, không được chính phủ Việt Nam công nhận.

Ông Võ Văn Ái nhấn mạnh Viện Hóa Đạo của Hòa thượng Thích Quảng Độ không đồng tình chủ trương tự thiêu.

“Bất cứ ai cũng phải sống để đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền,” ông Ái nói.

Ông Ái nói việc tự thiêu của bà Tuyết Mai là do “xúc cảm, phẫn uất”.

“Họ không xin phép, cũng không được phép của Giáo hội,” theo ông Ái.

Báo BấmThanh Niên tại Việt Nam cũng dẫn lời chính quyền xác nhận tên người phụ nữ là bà Lê Thị Tuyết Mai, 67 tuổi.

Ông Lê Trương Hải Hiếu, Phó chủ tịch UBND Q.1, TP.HCM, được báo Thanh Niên dẫn lời nói “theo điều tra ban đầu, nguyên nhân khiến người phụ nữ này tự thiêu là do bế tắc về cuộc sống và bức xúc việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép, xâm phạm chủ quyền Việt Nam”.

Theo tờ báo, sau khi người phụ nữ tử vong, công an “thu giữ 1 cái can loại 5 lít, 1 quẹt ga và một bịch đồ chứa 7 biểu biểu ngữ viết tay phản đối Trung Quốc”.

 

Ông Hiếu được báo Thanh Niên dẫn lời nói về 6 biểu ngữ như sau: “Yêu cầu đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc”; “Ủng hộ Cảnh sát biển và ngư dân Việt Nam”; “Yêu cầu Trung Quốc rút khỏi biển Việt Nam”; “Trả lại biển đảo cho Việt Nam”; “Đốt ánh sáng soi đường cho những người yêu nước”; “Xưa kia cho bà Trưng và Triệu đứng lên đánh giặc”.

Hiện chưa rõ số biểu ngữ là 7 (theo Thanh Niên) hay 6 (theo Tuổi Trẻ).

Báo An ninh Thủ đô (ANTĐ) trong tin sáng 23/5 dẫn lời các nhân chứng có mặt tại hiện trường cho biết vào lúc 5h30 sáng, một phụ nữ trẻ đã “đi bộ đến trước cổng Dinh Thống Nhất sau đó lấy xăng rưới lên người rồi châm lửa đốt.”

“Ngọn lửa nhanh chóng bùng lên, nhiều người đi đường không kịp dập lửa, ít phút sau thì nạn nhân đã bị ngọn lửa thiêu cháy đen, co quắp”.

Bài báo của An Ninh Thủ đô sau đó không còn truy cập được nữa.

—-

Dan Luận: Tin Nóng

Vào hồi 06h sáng nay 23/05/2014, trước cổng Dinh Độc Lập (Dinh Thống Nhất), Sài Gòn, bất ngờ đã xảy ra một vụ tự thiêu, một đám lửa bùng lên rất lớn trong cơn mưa rào nhẹ buổi sáng.

Ghi nhận tại hiện trường, Xác chết cháy khô, trong tư thế ngồi co chân dựa lưng vào cổng rào của Dinh. Nạn nhân được cho là một phụ nữ, tuy nhiên điều này chưa khẳng định bởi khi đám cháy bùng lên dữ dội, mọi người mới phát hiện và hầu như không ai kịp phản ứng hay có biện pháp ứng cứu nào. [Nguyên nhân của vụ tự thiêu vẫn chưa được xác định. Có nguồn tin chưa kiểm chứng cho rằng, đây là cô Nguyễn Thị Hoa, dân oan Bà Rịa – Vũng Tàu. Được biết, hiện xung quanh cổng Dinh có đông lực lượng an ninh vây quanh. Người đi đường chỉ kịp nhìn đám cháy dần tắt trong bất lực, đau đớn. Cầu mong cho linh hồn nạn nhân sớm siêu thoát và không còn những cảnh tượng tương tự như thế diễn ra.]

Đính chánh “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế gửi đến Danlambao cho biết, người phụ nữ tự thiêu trước Dinh Độc Lập vào sáng ngày 23/5/2014 là bà Lê Thị Tuyết Mai – một huynh trưởng Gia đình Phật tử thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN).”

Được biết, hiện xung quanh cổng Dinh có đông lực lượng an ninh vây quanh. Người đi đường chỉ kịp nhìn đám cháy dần tắt trong bất lực, đau đớn. Cầu mong cho linh hồn nạn nhân sớm siêu thoát và không còn những cảnh tượng tương tự như thế diễn ra.

 

 

Video: Cati Pham

 


An Ninh Thủ Đô – TP.HCM: Một phụ nữ tự thiêu trên phố
 

Một phụ nữ đến trước cổng Dinh Thống Nhất từ tờ mờ sáng, sau đó tự tưới xăng lên người rồi châm lửa đốt…

 

 

Vụ tự thiêu kinh hoàng xảy ra vào khoảng 5h30 sáng 23/5 tại trước cổng Dinh Thống Nhất, trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Nghé, quận 1, TP.HCM.

Theo các nhân chứng thuật lại, vào thời điểm trên họ thấy một phụ nữ (khoảng 30 tuổi) đi bộ đến trước cổng Dinh Thống Nhất sau đó lấy xăng rưới lên người rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa nganh chóng bùng lên, nhiều người đi đường không dịp dập lửa, ít phút sau thì nạn nhân đã bị ngọn lửa thiêu cháy đen, co quắp.

Ngay sau sự việc trên xảy ra, cơ quan công an địa phương đã có mặt khám nghiệm hiện trường, đồng thời đưa thi thể nạn nhân đi phục vụ công tác điều tra. Công an không tìm thấy bất kỳ giấy tờ tùy thân nào nên chưa thể xác định được danh tính người phụ nữ trên. Vụ việc đang được điều tra, làm rõ.

http://www.anninhthudo.vn/Xa-hoi/TPHCM-Mot-phu-nu-tu-thieu-tren-pho/551971.antd

 

 

Theo Mít Tơ Đỗ:

“Một phụ nữ tên Tuyết Mai (67 tuổi, Bình Thạnh) tự thiêu trước Dinh Độc Lập lúc 6 giờ sáng 23.5.2014. Người này mang theo một số khẩu hiệu phản đối Trung Quốc.

Nội dung 7 biểu ngữ như sau: “Yêu cầu đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc”; “Ủng hộ Cảnh sát biển và ngư dân Việt Nam”; “Yêu cầu Trung Quốc rút khỏi biển Việt Nam”; “Trả lại biển đảo cho Việt Nam”; “Đốt ánh sáng soi đường cho những người yêu nước”; “Xưa kia bà Trưng và bà Triệu đã đứng lên đánh giặc”; “Nam mô a di đà phật”.

Hiện công an đang điều tra.

Theo Con Đường Việt Nam lúc 16h40 ngày 23/5:

NGƯỜI PHỤ NỮ TỰ THIÊU SÁNG NAY LÀ PHẬT TỬ LÊ THỊ TUYẾT MAI

Theo nguồn tin mà Con Đường Việt Nam mới nhận được, sáng nay, Phật tử Lê Thị Tuyết Mai – pháp danh Đồng Xuân, sinh năm 1947, là huynh trưởng Cấp tấn Gia đình Phật tử Việt nam, Phó Trưởng ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật tử Miền Quảng Đức – trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã tự thiêu vào hồi 05h30 trước cổng Dinh Độc lập để bảo vệ Đạo Pháp và Chủ quyền dân tộc.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, nhà cầm quyền Saigon đã đưa phần xác vào bệnh viện và canh giữ nghiêm ngặt, không ai có thể tiếp cận.

Được biết, Miền Quảng Đức là đơn vị hoạt động của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại thủ đô Saigon trước kia.

Con Đường Việt Nam kính mong hương hồn Phật tử Lê Thị Tuyết Mai an lạc. A di đà Phật.

Có lẽ vì lý do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một giáo hội Phật giáo bị đặt ra ngoài vòng pháp luật ở Việt Nam, nên báo An Ninh Thế Giới đã gỡ bài về vụ tự thiêu.

danluan.org

————————-

Phật tử GHPGVNTN tự thiêu để bảo vệ Đạo pháp, chống Trung Quốc xâm lược

23-5-2014

danlambao

 

Di ảnh bà Lê Thị Tuyết Mai, nữ phật tử thuộc GHPGVNTN đã tự thiêu trước Dinh Độc Lập (Ảnh: Nhà báo Trương Minh Đức) 

“Suốt mười ngày qua tôi sống thầm lặng và sôi sục lòng yêu nước, hôm nay tôi quyết chí đốt thân mình hòa ánh đuốc soi đường do những người xâm lược và ngoan cố chiếm đóng lãnh hải chúng tôi… Nguyện hồn thiêng đất nước cho con làm một việc yêu nước không gặp trở ngại, không có gì ngăn cản và đừng tìm cách cứu sống… Xưa kia hai bà Trưng hy sinh Thy Sách để nung nấu ý chí quân sỹ và nhân dân để chiếm đánh thành Ngọc Hồi, hôm nay tôi nguyện làm ngọn đuốc để hậu thuẫn, thêm sức mạnh cho cảnh sát biển cùng ngư dân”- Bà Lê Thị Tuyết Mai

Danlambao – Nguồn tin từ Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế gửi đến Danlambao cho biết, người phụ nữ tự thiêu trước Dinh Độc Lập vào sáng ngày 23/5/2014 là bà Lê Thị Tuyết Mai – một huynh trưởng Gia đình Phật tử thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN).

Được biết, việc bà Lê Thị Tuyết Mai phát nguyện tự thiêu là để ‘bảo vệ Đạo Pháp và Chủ quyền Dân Tộc’. Tại hiện trường, bà Mai để lại nhiều biểu ngữ có nội dung chống Trung Quốc xâm lược và kêu gọi lòng yêu nước như: “Đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc”, “Đốt ánh sáng soi đường cho những người yêu nước”, “Nam mô a di đà phật”…


Bảo vệ đạo pháp và chủ quyền Dân Tộc

Khoảng 6 giờ sáng ngày 23/5/2014, bà Mai đến trước cổng chính Dinh Độc Lập, sau đó bất ngờ tưới xăng lên người rồi châm lửa tự thiêu. Ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt khiến nạn nhân tử vong ngay tại chỗ, xác cháy đen.

 

 

Thi hài bà Mai sau đó được đưa vào bệnh viện, Lực lượng công an lập tức được huy động nhằm phong tỏa bệnh viện, đồng thời ngăn chặn không cho bất cứ ai đến thăm viếng hay liên lạc.

Ông Lê Công Cầu, Vụ trưởng Gia Đình Phật tử Vụ thuộc GHPGVNTN đã gửi thông báo khẩn cho biết nguyên nhân dẫn đến vụ tự thiêu.

Theo ông Cầu, trước tình hình GHPGVNTN liên tục bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp, bên ngoài thì đất nước bị Trung Cộng xâm chiếm lãnh hải, trong các tuần lễ vừa qua, “nhiều Huynh Trưởng gửi thư về Gia Đình Phật Tử Vụ phát nguyện Tự Thiêu để bảo vệ Đạo Pháp và Chủ quyền Dân Tộc, trong số này có Huynh trưởng Đồng Xuân Lê Thị Tuyết Mai.”

Mặc dù đã khuyên nhủ nhau nên bình tĩnh, tuy nhiên sang đến sáng ngày 23/5, phật tử Lê Thị Tuyết Mai – pháp danh Đồng Xuân ‘đã vị Pháp, vị Quốc thiêu thân’.

Nhà báo Trương Minh Đức cho biết, bà Lê Thị Tuyết Mai sinh năm 1947, địa chỉ gia đình tại: 253/1, đường Bùi Đình Tuý, quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Theo dự kiến, tang lễ của bà sẽ được tổ chức tại chùa Tập Thành, đường Bùi Đình Tuý, phường 24, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.

Trước khi qua đời, bà Mai là Phó Trưởng ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử Miền Quảng Đức, trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.

Miền Quảng Đức là tên gọi của một đơn vị hoạt động trực thuộc GHPGVNTN tại Sài Gòn trước đây. Sau năm 1975, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đã bị nhà cầm quyền CSVN cấm hoạt động, nhiều tài sản của giáo hội cũng bị quốc hữu hóa, thành viên giáo hội bị bỏ tù…

 

 

 

 

 

Lời trăn trối của bà Lê Thị Tuyết Mai 

Trong những thư để lại bà Mai đã nói lên những tâm tư của bà trước tình trạng của đất nước:

“Suốt mười ngày qua tôi sống thầm lặng và sôi sục lòng yêu nước, hôm nay tôi quyết chí đốt thân mình hòa ánh đuốc soi đường do những người xâm lược và ngoan cố chiếm đóng lãnh hải chúng tôi… Nguyện hồn thiêng đất nước cho con làm một việc yêu nước không gặp trở ngại, không có gì ngăn cản và đừng tìm cách cứu sống… Xưa kia hai bà Trưng hy sinh Thy Sách để nung nấu ý chí quân sỹ và nhân dân để chiếm đánh thành Ngọc Hồi, hôm nay tôi nguyện làm ngọn đuốc để hậu thuẫn, thêm sức mạnh cho cảnh sát biển cùng ngư dân”.

Cán bộ đảng vu khống: “Bế tắc về cuộc sống”!!!

Sau khi nguyên nhân dẫn đến vụ tự thiêu dần sáng tỏ, nhà cầm quyền CSVN đã tìm cách che dấu thông tin. Trang web báo An Ninh Thủ Đô vội vàng gỡ bỏ bản tìn có tiêu đề “Một phụ nữ tự thiêu trên phố” chỉ sau vài tiếng đăng tải.

Đến chiều ngày 23/5, sau khi Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế loan báo nguyên nhân chi tiết vụ tự thiêu, các quan chức cộng sản liền tổ chức họp báo nhằm định hướng dư luận về vụ việc.

Theo báo Thanh Niên, ông Lê Trương Hải Hiếu – phó chủ tịch ủy ban nhân dân Quận 1 nói rằng nguyên nhân khiến bà Lê Thị Tuyết Mai tự thiêu là do ‘bế tắc về cuộc sống’

”Nguyên nhân khiến người phụ nữ này tự thiêu là do bế tắc về cuộc sống và bức xúc việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép, xâm phạm chủ quyền Việt Nam”, báo Thanh Niên trích lời phát biểu của ông Lê Trương Hải Hiếu trong cuộc họp báo diễn ra tại trụ sở UBND phường Bến Thành.

 

 

 

Ông Lê Trương Hải Hiếu, phó chủ tịch UBND Quận 1 phát biểu tại cuộc họp báo (Ảnh: Báo Thanh Niên) 

Ông Lê Trương Hải Hiếu là con trai của bí thư thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải.

Tương tự, báo VietNamNet trích lời Thượng tá Nguyễn Thanh Liêm, đại diện CA Quận 1 đưa ra kết luận: “Bà Lê Thị Tuyết Mai dùng xăng tự thiêu vì bế tắc trong cuộc sống, vì bệnh tật và kết hợp với vụ việc Trung Quốc hạ đặt dàn khoan trái phép trên Biển Đông nước ta”.

Truyền thông nhà nước không hề đả động thông tin gì về nguyên nhân chính khiến bà Lê Thị Tuyết Mai tự thiêu là để bảo vệ Đạo pháp, phản đối nhà cầm quyền CSVN liên tục đàn áp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Gia đình cũng khẳng định rằng trước đó, sức khỏe và tâm lý bà Mai rất ổn định. Trước khi qua đời, bà thường xuyên đi chùa và là một phật tử nhiệt thành trong các hoạt động của Gia đình Phật tử thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.

Địa điểm bà Mai tự thiêu diễn ra ngay trước cổng chính Dinh Độc Lập – một chứng tích có nhiều ảnh hưởng về văn hóa, lịch sử và chính trị đặc biệt quan trọng tại Sài Gòn. Vụ việc đang tiếp tục gây xôn xao dư luận cả trên mạng xã hội cũng như trong đời sống.

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Rơi vào cảnh cô đơn -bị dân chúng VN hất hủi- lại thêm Trung Quốc vây tứ phía, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bật ra câu nói của cựu TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu…

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2014

Đừng tin những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm.

23-5-2014

Photo: Những gì TQ đang làm khác xa nhưng gì TQ nói !</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Đúng vậy, Thế giới có thể không biết chứ dân VN là biết là tin điều Thủ Tướng nói !</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Nhưng chúng tôi cần:<br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
- Chừng nào VN không còn là bạn vàng, bỏ 16 chữ vàng 4 tốt với thằng nói và làm khác xa nhau đó.<br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
- Chừng nào VN từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, cái chủ nghĩa mà nói và làm luôn khác xa nhau đó.</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Thời gian không dừng lại đợi ai, cơ hội không khi nào cũng có. Mong ông nhanh chóng cho chúng tôi nhờ !

.

*Trong khi đó, Đinh Thế Huynh,Trưởng Ban Tuyên Giáo đảng CSVN, đang thắp nhang khấn vái cầu nguyện và chuẩn bị đốt vàng mã…ở chùa Bái Đính.

Trước đây,  TBT Nguyễn Phú Trọng nói: tình hình biển Đông không có gì mới!

Giờ đây, Đinh Thế Huynh sai cán bộ tuyên giáo về tận các phường/xã phổ biến: tình hình là biển Đông có “chửa” rồi. (Đặng Phương Bích)

Nguyen Xuan Lien's photo.
NÓ KHẤN VÁI cầu xin CÁI GÌ vậy ta? Có nguyên xấp vàng mã để trước mặt, chắc để hối lộ đám âm binh!
Mấy năm nay cứ hy vọng Nga chống lưng, nhưng “nguời bạn” Nga đã đẩy đảng và nhà nươc VN vào thế CÔ ĐƠN
“Tại sao Việt Nam lại là Ukraine của Trung Quốc: đó là lịch sử lâu đời.
Hai ngàn năm trước, Việt Nam là một phần của Trung Quốc.
Nhưng từ năm 880 – thì không còn.
Tất cả các thế kỷ tiếp theo giới trí thức Việt Nam đã bỏ ra rất nhiều công sức để chứng tỏ: Việt Nam – không phải Trung Quốc.” (Theo VTC)

 

TÌNH HÌNH 23-5-2014 ở Sài Gòn và Hà Nội.

*một mặt vẫn canh giữ,kềm chặt những người biểu tình ôn hòa , một mặt chỉ đạo báo lề phải gây không khí chiến tranh có định hướng [ sự kiện người phụ nữ tự thiêu sáng nay trước dinh Thống Nhất, báo TN xác định có yếu tố phản đối TQ xâm lược biển đông VN ]
sắp xảy ra chuyện gì đây hỡi các nhà bình luận Osin HuyDuc & Hồ Ly Tiên. tôi là nhà thơ hiểu chết liền !

*Trước tình hình Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải, cướp phá tài nguyên của Đất Nước.Mấy tuần lễ qua, nhiều Huynh Trưởng gởi thư về Gia Đình Phật Tử Vụ phát nguyện Tự Thiêu để bảo vệ Đạo Pháp và Chủ quyền Dân Tộc. Trong số này có Huynh trưởng Đồng Xuân Lệ Thị Tuyết Mai.

Các blogger đăng tin bà Lệ Thị Tuyết Mai (1947) đã tự thiêu trước Dinh Độc Lập lúc 5:30 sáng 23-5-2014 để bảo vệ Đạo Pháp và Chủ quyền Dân Tộc, và đã được công an đưa vào Bệnh Viện.

 

Thời sự tuần qua 

 

Photo: nếu quả này không phải photoshop  thì trước sau ông cụ cũng vặn họng tất tật bọn lếu láo nhá

Bình thường thì biểu ngữ vẫn ba hoe chích chòe như này: Đảng CSVN người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Đây là thực tế

đảng và quân đội…xúi và chui rúc sau lưng nhân dân. 

“Không, thằng Thưởng ( Võ Văn Thưởng – Bí thư tỉnh Quảng Ngãi ) nó bảo ngoài đó là biển của Việt Nam mình, ra đó có Hải Quân bảo vệ” 

Khi ngư dân VN tin lời, ra tới nơi, thì đây, hải quân vn bảo vệ ngư dân bằng cách cung cấp xăng >>>>

 

Photo: Đọc cái này cười ra nước mắt . Bác ngư dân này có phương pháp đối phó với tàu lớn của Trung quốc khá thông minh nhưng cũng ngàn cân treo sợi tóc . Qua đó cũng thấy được sự tầm bậy và vô trách nhiệm của chính quyền ....

Đảng viên cao cấp đảng CSVN đang “tự diễn biến” ?

Năm 2007, bà Nguyễn Thị Quyết Tâm phản đối dân chúng biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của Việt Nam. Bà ta ra tận công viên trước Dinh Độc Lập khuyên mọi người đừng đi biểu tình, “mọi chuyện để đảng và nhà nước lo. Nhà nước dùng ngoại giao” để nói chuyện và Trung Quốc sẽ trả biển đảo lại cho VN, và sẽ không xâm phạm lãnh hải VN…

Nay, có tin bà Quyết Tâm gợi ý luật biểu tình.

Chính vì thế tôi đặt vấn đề là khi đất nước có sự việc xảy ra ở biển Đông như vậy mà không có tổ chức để người dân biểu thị lòng yêu nước của mình là không ổn. Mình muốn giữ hòa bình, độc lập, muốn giải quyết vấn đề bằng con đường đàm phán, ngoại giao… thì trước hết nhân dân Việt Nam phải biểu thị lòng yêu nước. Do vậy, tôi đề xuất phải có tổ chức để người dân biểu thị lòng yêu nước và điều đó còn thể hiện niềm tin của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân. Chính tiếng nói của người dân sẽ là hậu thuẫn rất quan trọng để lãnh đạo Đảng, Nhà nước ngồi vào bàn đàm phán, vừa tạo được thế về mặt chính trị vừa là sức mạnh của dân tộc. Đó còn là tiếng gọi của đồng bào trong nước đối với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế.
Đại biểu Quốc hội NGUYỄN THỊ QUYẾT TÂM
(chủ tịch HĐND TP.HCM)


Link bài này : http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/608824/quyèn-duọc-biét-của-nguòi-dan.html

 

NĂM 2007, hình và tiếng nói của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm

 http://www.youtube.com/watch?v=NJ_XcKqjh9A

 

– Hoàng Mai: TIẾNG GỌI CỦA NON SÔNG: THOÁT HÁN! (BVN/ Ba Sàm). “Một khi Bắc Kinh đã kéo chiếc mặt nạ ra khỏi khuôn mặt thật của họ, thì Bộ Chính trị, Đảng CSVN, cũng không còn lý do gì để nhân nhượng“.

– Hãy can đảm cắt đứt mọi quan hệ chính trị với Trung Quốc (FB Mạnh Kim). “Không còn lý do nào có thể biện minh việc chúng ta tiếp tục quan hệ chính trị với Trung Quốc ở tư thế kẻ nhún nhường yếu thế sau sự kiện này. Đây thật sự là một cơ hội mà Việt Nam không thể và không nên bỏ qua. Một cơ hội đứng thẳng để nói chuyện sòng phẳng với lịch sử. Sự chọn lựa lịch sử tất yếu luôn có kết quả lịch sử tất yếu“.

– Nhà văn Nam Dao: Nói với những ai sợ buông Trung Quốc (BBC).

– Võ Văn Tạo: Sợi xích nào trói chặt Hà Nội vào Bắc Kinh? (Ba Sàm). “Ngưu tầm mưu, mã tầm mã, không chỉ bám lưng Bắc Kinh, Hà Nội luôn đứng về phía các nhà độc tài, tham nhũng khét tiếng như Sadam Hussen, Kadaphi, Putin (kể cả trong vụ thôn tính Crimée vừa qua)… mặc dù đám này chẳng ‘khoái’ cái gọi là CNXH như Hà Nội quan niệm.  Trong khi vụ giàn khoan HD981 gây chấn động thế giới, Putin sang Bắc Kinh hội kiến họ Tập, Nga tập trận chung với TQ ở biển Đông. Điều đó cho thấy nhãn quang và ‘viễn kiến’ của Hà Nội ở tầm mức ra sao.  Vì những lẽ trên, rõ ràng, tuyệt nhiên không phải ý thức hệ, mà chính quyền lực và lợi ích vị kỷ của ‘vua tập thể’ mới là sợi xích trói chặt Hà Nội dưới chân Bắc Kinh“.

– Thoát khỏi kiềm toả (Người Đô Thị).

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Những sự mất mát trên Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2014

23-5-2014

Nguyễn Hưng Quốc

Cuộc tranh chấp ở Biển Đông, xoay quanh việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 đến khu vực thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, chưa biết sẽ dẫn đến đâu. Tuy nhiên, hiện nay, người ta đã thấy rõ một số khá lớn những sự mất mát.
 
Mất mát đầu tiên, thuộc về chính quyền Việt Nam, là uy tín về khả năng đối phó với hiểm họa xâm lấn biển và đảo của Trung Quốc. Từ cả chục năm nay, một số khá đông giới trí thức Việt Nam đã nhận ra sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam trong các chính sách liên quan đến Trung Quốc, chủ yếu tập trung vào khẩu hiệu Bốn Tốt và phương châm 16 Chữ Vàng. Nhưng chính quyền vẫn bất chấp những lời phê phán và cảnh báo ấy. Nhiều người vẫn cứ tin chính phủ. Tin một cách mù quáng, nhưng vẫn tin. Bây giờ, khi tranh chấp nổ lớn, giới quan sát quốc tế, trên các tờ báo lớn, đều nhận thấy rõ là chính quyển Việt Nam hoàn toàn lúng túng, không biết đối phó ra sao cả. Sự lúng túng ấy cho thấy, lâu nay, mặc dù được nhiều người cảnh giác, họ vẫn ngây thơ hoặc lì lợm không tin và do đó, không chuẩn bị trước một chiến lược nào cho nhất quán và hiệu quả. Sự lúng túng ấy, như tôi đã từng phân tích trong bài “Trung Quốc đã thắng trên Biển Đông”, là một sự thua cuộc. Thua ngay từ ván đầu.
 
Mất mát thứ hai, thuộc lãnh vực kinh tế, qua các cuộc xuống đường bạo động của các công nhân Bình Dương và Hà Tĩnh khiến nhiều nhà máy và công ty bị đập phá, hôi của, hoặc phải đóng cửa. Trước mắt, các cuộc bạo loạn này sẽ dẫn đến ba cái hại: Một, số công nhân thất nghiệp sẽ gia tăng; hai, số nhà máy và công ty cần một thời gian mới phục hồi lại nhịp điệu sản xuất như trước; và ba, nhiều công ty và nhà máy của Trung Quốc sẽ ngần ngại trong việc đầu tư vào Việt Nam. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng xấu đến tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới. Khi sự phát triển chậm lại, gánh nặng sẽ oằn lên, trước hết, trên đôi vai của giới thợ thuyền.
 
Nhưng mất mát thứ ba này, theo tôi, là quan trọng nhất: dân chủ và nhân quyền có nguy cơ bị đe dọa nặng nề.
 
Khi cuộc tranh chấp mới bùng nổ, chính quyền tự đứng ra tổ chức và cho phép một số nhóm xã hội dân sự tổ chức xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại ba thành phố lớn: Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng (ngày 10 và 11-5-2014). Ngỡ như từ đó, chính quyền sẽ dần dần hợp pháp hóa các cuộc biểu tình chống ngoại xâm của dân chúng. Nhưng có vẻ như không phải. Sau các cuộc bạo loạn của các công nhân ở Bình Dương và Hà Tĩnh (13, 14 và 15-5-2014), nhân danh việc tái lập trật tự và an toàn xã hội, chính quyền ra tay bắt bớ những người họ cho là đứng sau lưng xúi giục quần chúng (18-5-2014). Và, quan trọng hơn, tăng cường sự theo dõi đối với những người vốn thường xuyên mang tư tưởng chống Trung Quốc. Trên facebook, mấy ngày vừa qua, khá nhiều người cho biết chung quanh nhà của họ lúc nào cũng đầy nhóc công an và an ninh khu vực canh giữ cả ngày lẫn đêm. Họ đi đâu cũng có người bám theo sau. Mức độ theo dõi, như vậy, nghiêm trọng hơn hẳn trước đây. Chúng ta không thể loại trừ khả năng, sắp tới, có thể sẽ có một số người bị bắt với lý do xúi giục dân chúng bạo loạn.
 
Hầu như đã thành quy luật trong sinh hoạt chính trị trên thế giới từ trước đến nay: Khi đất nước đối diện với đe dọa từ bên ngoài, cái bị bóp chết đầu tiên chính là dân chủ và nhân quyền. Điều đó xuất phát từ hai nguyên nhân chính: Một, trong văn hóa chiến tranh, quần chúng thường có khuynh hướng tạm gác lại các bất đồng và tinh thần phản kháng để tập hợp chung quanh chính quyền. Tinh thần phê phán thường bị thay thế bởi tinh thần phục tùng. Kẻ thù càng lớn, nguy hiểm càng nhiều, người dân càng dễ quay về với chính phủ để chờ đợi mệnh lệnh. Hai, các chính phủ cũng thường lợi dụng văn hóa chiến tranh ấy để củng cố quyền lực của mình và loại trừ dần những kẻ đối lập hoặc bất đồng chính kiến trong xã hội.
 
Một trong những luận điểm nhà cầm quyền thường đưa ra nhiều nhất là: Để bảo vệ độc lập và chủ quyền, cần, trước hết, đánh thắng kẻ thù; muốn đánh thắng kẻ thù, cần sự đoàn kết; để đoàn kết, mọi người phải ủng hộ chính quyền; và để ủng hộ chính quyền, mọi người phải tự hy sinh những sự khác biệt về quan điểm, hay rộng hơn, tư tưởng; nói cách khác, hy sinh tự do. Và khi mỗi người tự hy sinh tự do của mình, cả nước sẽ hy sinh dân chủ.
 
Các luận điểm, nghe, có vẻ có lý, nhưng vì tính chất “có vẻ có lý” ấy, chúng trở thành nguy hiểm. Lý do: mọi người phải ngoan ngoãn đứng sau lưng chính phủ, nhưng nếu chính phủ sai thì sao? Hoặc, ngay cả khi chính phủ không hoàn toàn sai nhưng họ lại lợi dụng điều ấy cho các mưu đồ độc tài và trục lợi cho riêng họ thì sao? Một ví dụ rất rõ: Từ khi vụ tranh chấp chung quanh giàn khoan HD-981 bùng nổ, người được hưởng lợi đầu tiên có lẽ là bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế. Trước, bà bị phê phán gay gắt vì cả sự bất lực lẫn sự vô cảm trước sự xuống cấp của ngành y tế, và nhất là, trước sự lan tràn của bệnh sởi. Bây giờ, hầu như không ai quan tâm đến những vấn đề ấy nữa. Ngay cả khi có thêm vài chục hay vài trăm trẻ em bị chết vì dịch bệnh ấy, người ta cũng không quan tâm: Mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía Biển Đông.
 
Đó là lý do tại sao, trên khắp thế giới, từ trước đến nay, tất cả các chế độ độc tài đều muốn chiến tranh: Họ dùng chiến tranh bên ngoài để trấn áp người dân trong nước. Chắc chắn chính quyền Việt Nam đã học và ứng dụng bài học ấy, không phải bây giờ, mà từ cả sáu, bảy chục năm qua.
 
Với những kẻ nhẹ dạ, luận điệu ấy dường như có sức thuyết phục lớn. Sau năm 1975, có lúc có người đổ trách nhiệm làm mất miền Nam cho những người hay lên tiếng chống lại chính quyền. Hiện nay, không ít người cũng hăm he như thế với kiểu nghĩ: trong cuộc đấu tranh chống lại Trung Quốc, không những mọi sự phê phán nhắm vào chính quyền có hại mà bất cứ ý kiến đượm vẻ hoài nghi nào cũng đều có tác dụng tiêu cực: Chúng làm nản lòng mọi người để người ta chấp nhận thua cuộc ngay cả trước khi thực sự chiến đấu.
 
Chưa biết có đánh nhau hay không, và chưa biết ai thua ai thắng, nhưng hai nạn nhân đầu tiên đã xuất hiện: dân chủ và nhân quyền.

 

Nguồn: Nguyễn Hưng Quốc blog trên đài VOA:

http://www.voatiengviet.com/content/nhung-su-mat-mat-tu-bien-dong/1920603.html

 

———–

23-5-2014

*một mặt vẫn canh giữ,kềm chặt những người biểu tình ôn hòa , một mặt chỉ đạo báo lề phải gây không khí chiến tranh có định hướng [ sự kiện người phụ nữ tự thiêu sáng nay trước dinh Thống Nhất, báo TN xác định có yếu tố phản đối TQ xâm lược biển đông VN ]
sắp xảy ra chuyện gì đây hỡi các nhà bình luận Osin HuyDuc & Hồ Ly Tiên. tôi là nhà thơ hiểu chết liền !

*Trước tình hình Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải, cướp phá tài nguyên của Đất Nước.Mấy tuần lễ qua, nhiều Huynh Trưởng gởi thư về Gia Đình Phật Tử Vụ phát nguyện Tự Thiêu để bảo vệ Đạo Pháp và Chủ quyền Dân Tộc. Trong số này có Huynh trưởng Đồng Xuân Lệ Thị Tuyết Mai.

*

———–

Trung Quốc đã thắng ở Biển Ðông

14-5-2014

Blog / Nguyễn Hưng Quốc

Trên các diễn đàn mạng, trước sự hoài nghi của nhiều người đối với khả năng ứng phó của Việt Nam về vụ Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, các dư luận viên của Hà Nội đều đưa ra luận điệu giống nhau: Đừng coi thường Việt Nam! Việt Nam đã có sẵn kế sách đối phó với Trung Quốc. Việt Nam sẽ ra tay ở một thời điểm thích hợp nào đó. Và chắc chắn họ sẽ thắng.
 
Thật ra, một chiến thắng về quân sự trên mặt trận trên biển của Việt Nam đối với Trung Quốc, với giới quan sát quốc tế, là một điều không tưởng. Nhiều người lập luận: Về quân sự, Việt Nam đứng vào hàng thứ mười mấy trên thế giới. Thì đành vậy. Có điều, khi nói như thế, người ta quên nhìn vào Trung Quốc: Bây giờ họ chỉ thua Mỹ. Khoảng cách giữa Việt Nam và Trung Quốc, do đó, vẫn còn rất xa.
 
Hơn nữa, ở khía cạnh này, sức mạnh chủ yếu của Việt Nam là ở con người, một yếu tố chỉ phát huy hết tiềm lực của nó trong cái gọi là chiến tranh nhân dân. Nhưng không ai có thể sử dụng chiến tranh nhân dân trên biển được. Đưa cả hàng chục ngàn chiếc tàu đánh cá ra khơi để tham gia vào trận chiến chỉ là một cách tự tử tập thể. Trên biển, chỉ có một yếu tố quan trọng: vũ khí; trong vũ khí, chỉ có hai đặc điểm đáng kể: số lượng và trình độ kỹ thuật. Ở cả hai, Việt Nam đều thua Trung Quốc rất xa. Sự thua kém này có thể bù đắp được với một điều kiện: Việt Nam có thêm nhiều đồng minh giúp đỡ. Nhưng chuyện đồng minh, những nước có thể tham gia chia lửa với Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung Quốc hiện nay, gần như là một con số không to tướng.
 
Trước mắt, trong hơn hai tuần hục hặc, chủ yếu chỉ lấy vòi rồng xịt nước vào nhau, chứ chưa có tiếng súng nào nhắm vào nhau nổ cả, người ta có thể đánh giá: Trung Quốc đã thắng. Thắng đến cả mấy bàn.
 
Tuy nhiên, trước khi nói đến chuyện thắng hay thua, chúng ta cần phải căn cứ vào mục tiêu của Trung Quốc trong việc gây hấn ấy. Thắng, khi người ta đạt được mục tiêu; và thua, khi người ta không đạt được tất cả hoặc phần lớn các mục tiêu ấy.
 
Vậy, mục tiêu của Trung Quốc trong việc đưa giàn khoan đến khu vực Biển Đông là gì?
 
Hầu như mọi người đều đồng ý với nhau, có hai mục tiêu chính: kinh tế và chính trị. Kinh tế chỉ là phụ: Một là, đây chỉ là giai đoạn thăm dò chứ không phải khai thác; hai là, theo sự đánh giá của các chuyên gia quốc tế, triển vọng khai thác được dầu khí ở khu vực này (lô 143) khá thấp. Chính trị mới là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Tầm quan trọng ấy nằm ở hai điểm: Một, nó là một bước mới trong cả tiến trình cưỡng đoạt Biển Đông từ Việt Nam; và hai, nó nhằm trắc nghiệm phản ứng của ba đối tượng chính: Việt Nam, khối ASEAN và Mỹ.
 
Có thể nói, một cách tóm tắt và rõ ràng, ở cả ba cuộc trắc nghiệm ấy, Trung Quốc đều thành công.
 
Thứ nhất, về phía Việt Nam, cho đến nay, họ vẫn sử dụng một sách lược mà Trung Quốc cũng như cả thế giới đã biết rõ từ lâu: cứng rắn nhưng tự kiềm chế đến tối đa. Dù Trung Quốc ngang ngược đến mấy, Việt Nam cũng vẫn muốn giải quyết tranh chấp bằng hoà bình, nghĩa là luôn luôn cố gắng tránh việc sử dụng bạo lực để có thể làm bùng nổ một cuộc chiến tranh mà họ nắm chắc phần thua. Sự tránh né ấy khiến cái gọi là “cứng rắn” chỉ còn là một động thái mang tính chất tu từ học. Nói cách khác, người ta tin là Việt Nam sẽ tiếp tục kéo dài cuộc chiến tranh tu từ (rhetoric war) ấy cho đến khi Trung Quốc chấm dứt cuộc thăm dò vào tháng tám tới. Khi Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 về sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ, họ sẽ tuyên bố với nhân dân trong nước: Họ đã “chiến thắng”!
 
Thứ hai, về phía ASEAN, chiến thắng của Trung Quốc càng dễ thấy. Trong cuộc Hội nghị cao cấp của khối vào ngày 11 tháng 5 tại Miến Điện, Nguyễn Tấn Dũng đã đọc một bài diễn văn khá mạnh mẽ, trong đó, lần đầu tiên ông gọi đích danh Trung Quốc, kẻ đang hung hăng đe doạ hoà bình trong khu vực và ông cũng kêu gọi các nước trong Khối cùng nhau bày tỏ sự phản đối đối với Trung Quốc.
 
Tuy nhiên, kết quả là gì? Trong thông báo chung cuối hội nghị, người ta chỉ đồng ý với nhau ở lời kêu gọi chung chung và đầy khuôn sáo: “Hai bên Trung Quốc và Việt Nam nên kiềm chế và tránh các hành động có thể làm phương hại đến hòa bình và ổn định của khu vực; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.” Coi như huề. Họ không phê phán Trung Quốc. Họ cũng không hề bày tỏ là sẽ đứng vào phe nào nếu cuộc xung đột nổ lớn.
 
Thái độ này, thật ra, cũng chả có gì khó hiểu. Có hai lý do chính. Một là, giữa Việt Nam và một số nước khác trong khối cũng đang tranh chấp với nhau về một số hòn đảo, và vì những tranh chấp ấy, cho đến nay, hầu như họ vẫn từ chối hợp tác với nhau trong cuộc đương đầu với Trung Quốc. Hai là, ngoài một số nước đã bị Trung Quốc mua chuộc (trong đó có nước láng giềng và xưa nay vốn bị xem là đàn em thân tín của Việt Nam: Campuchia), và tất cả các nước đều lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, bởi vậy không ai thấy có lợi gì trong việc liên kết với Việt Nam để chống lại Trung Quốc cả. Nếu có một số nước muốn làm điều đó, thì các nước còn lại sẽ tìm cách phá đám để cuối cùng không đi đến một thông báo chung, như điều đã xảy ra trong cuộc hội nghị tại Campuchia năm ngoái.
 
Thứ ba, về phía Mỹ, cho đến nay, đó là nước lên án Trung Quốc một cách mạnh mẽ nhất với việc cho hành động của Trung Quốc ở Biển Đông là “khiêu khích”. Tuy nhiên, chắc chắn là Mỹ sẽ không đi xa hơn việc phê phán gay gắt ấy. Có nhiều lý do. Một là, do những khủng hoảng kinh tế và những khó khăn ở Afghanistan cũng như do tâm lý mệt mỏi của quần chúng Mỹ, chính phủ Mỹ không hề sẵn sàng để dấn thân vào bất cứ một cuộc tranh chấp nào khác nữa. Hai là, một trong những nguyên tắc căn bản làm nên chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Obama là “lãnh đạo từ đằng sau” (lead from behind), mà điển hình là việc tham gia vào cuộc lật đổ Muammar Gaddafi ở Libya vào năm 2011. Theo nguyên tắc này, có thể nói Mỹ chỉ có thể giúp đỡ Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông với hai điều kiện: Việt Nam phải quyết tâm chống lại Trung Quốc trước và phải có một số đồng minh khác sẵn sàng nhảy vào góp sức với Việt Nam. Ngoài ra, còn có thêm yếu tố này nữa: Mỹ chỉ có thể tham dự nếu họ tin cậy Việt Nam. Không có sự tin cậy ấy, không thể có quan hệ hợp tác chiến lược để tiến hành chiến tranh. Kinh nghiệm ở Syria chứng minh điều đó: Mấy năm qua, các cuộc xung đột ở đó đã giết chết cả trăm ngàn thường dân vô tội và làm cho cả triệu người phải chạy sang các nước láng giềng để tị nạn, Mỹ vẫn án binh bất động. Lý do, ai cũng biết: Mỹ, dù rất ghét nhà độc tài Bashar al-Assad, nhưng vẫn nghi ngờ các thành phần đối kháng, trong đó, có những nhóm vốn bị xem là bài Mỹ và khủng bố. Dưới mắt Mỹ, giới lãnh đạo Việt Nam không phải là khủng bố, nhưng lại là những kẻ bài Mỹ. Không ai đem xương máu dân chúng nước họ để hy sinh cho những kẻ cứ ra rả chửi mình!
 
Nếu cả ba cuộc trắc nghiệm trên của Trung Quốc đều thành công, chả có gì quá đáng nếu chúng ta nói: cho đến nay, ở thời điểm này lúc chưa có bên nào nổ súng cả, Trung Quốc đã thắng Việt Nam trong cả ba ván.
 
Với ba chiến thắng ấy, Trung Quốc không cần đánh Việt Nam, họ cũng thắng ở trận cuối cùng: Làm cho mọi người mặc nhiên thừa nhận là Trung Quốc có toàn quyền trên Biển Đông. Khi việc thăm dò chấm dứt, họ có thể mang giàn khoan HD-981 về nước và sau đó, khi cần, họ có thể ung dung trở lại. Chiến tranh, nếu có, cũng chỉ là những trận đánh võ mồm, chủ yếu để lừa dân trong nước.
 
Chưa bao giờ tôi viết bài nào mà lại có tâm trạng đau đớn và tức tối như lúc viết bài này. Nhưng chúng ta chỉ có thể hy vọng nếu chúng ta can đảm nhìn vào sự thật. Cả  việc bị lừa dối hay tự lừa dối đều chỉ làm tăng thêm và/hoặc kéo dài thảm kịch.
 
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

*Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Hai bước cần thiết-

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2014

Hai bước cần thiết

Jonathan London
.
.

Tình trạng hiện nay của Việt Nam là khá phức tạp. Hành vi bất chính đáng của phía Bắc Kinh thực sự là khó xử lý. Nhưng có hai vấn đề mấu chốt lại khá đơn giản và phải giải quyết ngay.

Vấn đề thứ nhất là thiếu thống nhất. Vấn đề thứ hai là hiện nay Việt Nam không có một người bạn thân thiết nào cả. Nếu cứ tiếp tục thờ ơ với hai vấn đề vừa lớn vừa đơn giản này, tôi e rằng đất nước sẽ rất khó mà thoát khỏi tình trạng hiện nay. Mặt khác, hai bước này sẽ giúp Việt Nam một cách đang kể và cực nhanh.

Hãy bắt đầu với việc thống nhất. Mới hôm qua, Ông Trương Tấn Sang có phát biểu rằng

“Tôi mong bà con trong những tình huống khó khăn như thế này cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt và nhắc nhở nhau tăng cường đoàn kết xung quanh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và phải hết sức cảnh giác trước những thông tin mang tính chất chia rẽ nội bộ.”

Dù vẫn hiểu được ý ông nói nhưng tôi lại thấy tuyên bố kiểu này chưa hay lắm vì rất khó có thể giành được sự ủng hộ và thống nhất của toàn bộ người Việt Nam. Chẳng hạn, có ai trên cấp cao dám tuyên bố:

“Vào thời điểm lịch sử này mong toàn dân Việt Nam, không phân biệt quan điểm chính trị nào, dù ở trong hay ngoài nước, cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt và nhắc nhở nhau tăng cường đoàn kết xung quanh tổ quốc”?

Ý ở đây là toàn xã hội Việt Nam cần phải bắt đầu có một tình thần mới!

Hỡi các bạn Việt Nam! Việc quyết định tương lai của đất nước riêng là quyết định của các bạn. Và tôi không giả định những quan điểm của tôi là hoàn toàn đúng, thậm chí phần lớn đúng. Tuy nhiên, Việt Nam phải thực sự khắc phục sự thiếu thống nhất trong nội bộ và toàn xã hội vào đúng thời điểm này.

Tất nhiên không tể đề cập những vấn đề trên biển trước mặt một mình. Như đã nói trước, Việt Nam phải thể hiện cho thế giới những lý do thuyết phục để làm sao cho họ thấy nên ủng hộ Việt Nam. Việc gửi thông điệp tới LHQ là được cũng như cố gắng giải quyết tranh chấp bằng những phương điện luật pháp. Nhưng xin nghe tôi: nếu không có những tiến bộ rõ nét về mặt thế chế và nhân quyền, thì 100% sẽ không có một nước nào sẽ ủng hộ Việt Nam. Đừng phản ứng với những vụ việc Bình Dương và Hà Tĩnh bằng hành vi đàn áp. Hãy tìm những con đường mới để làm cho Việt Nam được thế giới tôn trọng.

Nếu thấy hai bước này là quá lớn, thì đề nghị bạn nghĩ lại Vì nếu có đủ dững cảm đề thay đổi, Việt Nam sẽ thành một nước hừng mạnh hơn và sẽ cũng có rất nhiều nước sẵn sàng bắt tay và giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền và tiến vào một thời kỳ mới.

JL, Hà Nội

 

——–

danluan.org

Lê Văn Mọi  gửi lúc 18:33, 22/05/2014 –

Ý kiến của ông London rất hay và không mới, nhưng lại rất cần làm theo. Có điều xin nói về Đảng hay ông TT Sang là chính Đảng CS gây ra mất đoàn kết toàn dân. Mọi người dân Việt Nam đều coi Tổ quốc trên hết. Tổ quốc chẳng có gì trừu tượng cả, cũng có thể hiểu đó là đất nước Việt Nam từ Mục Nam quan đến mũi Cà Mâu bao gồm vùng trời vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, tức là chủ quyền của trên 90 triệu người Việt Nam.

Thế hệ trước tôi, và thế hệ chúng tôi sẵn sàng hy sinh tất cả để lên đường cầm súng bảo vệ đất nước (hay bảo vệ Tổ quốc) chính là nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc (điều này dã được thực tế chứng minh, nhiều người ngã xuống, nhiều người may mắn về thì chẳng mấy ai thân hình lành lặn) không ai nghĩ về Đảng hay CNXH hay chủ nghiã Mác Lê nin cả. Như vậy chính là Đảng CS lừa dối cả mấy thế hệ chúng tôi từ chỗ thay khẩu hiệu “Quân đội trung với nước” (cũng là trung với tổ quốc) thành “quân đôi trung với Đảng”. Đảng gây mất đoàn kết hay gây chia rẽ là phân biệt giữa đảng viên và người ngoài đảng, giống hệt Khơ me đỏ phân chia ra công dân loại 1 và công dân loại 2.

Nay muốn toàn dân đoàn kết vì Tổ quốc thì phải xóa ngay Đảng CS. Nếu còn chia ra người trong đảng và người ngoài đảng để đối xử (giống như các công ty nước ngoài) thì không thể đoàn kết toàn dân được. Các công ty nước ngoài thì phân biệt ngược lại, chỉ nhận người ngoài đảng mà không nhận người là đảng viên. Tại sao họ làm thế thì ta phải tự trả lời, họ ghét CS nhưng họ không ghét người Việt Nam.

Rõ ràng chỉ còn con người công dân với nhau thì không có người nào chống Đảng CS cả, như vậy thì cũng bớt được vấn đề nhân quyền và dân chủ. Có như thế ta mới hoà được vào thế giới văn minh và mới có đồng minh, mới có bạn bè. Có thể hết luận

VÌ ĐẢNG CS MÀ NHÂN DÂN TA MẤT HẾT BẠN BÈ

Không những ta mất bạn bè mà mất cả đồng bào là Việt kiều ở nước ngoài, cũng vì Đảng CS.

——-

Lê Văn Mọi gửi lúc 21:15, 22/05/2014 –
Hiện này ở Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất nên tôi mới đưa ra ý kiến XÓA BỎ ĐẢNG CS, còn nếu như ở các nước khác thì đảng phái là đảng phái, nhà nước là nhà nước thì khác. Nếu còn Đảng CS thì phải cho người ta lập ra các đảng phái khác. Trên Dân luận cũng đã có ý kiến nêu ra “anh lập ra đảng của anh thì tôi được quyền lập ra đảng của tôi, thế mới gọi là BÌNH ĐẲNG”. Ở Việt Nam chỉ Đảng CS còn cấm người ta lập ra đảng khác là mất bình đẳng, như vậy thì không có đảng nào cả mới bình đẳng. Mất bình đẳng gia]x con người với nhau thì đoàn kết làm sao được.

Có điều dễ thấy là khi hoạn nạn khó khăn cần sự tham gia (và cả hy sinh) của mọi người thì Đảng CS kêu gọi đoàn kết, thế nhưng những khi bình yên vô sự thì

HƯỞNG THỤ LẠI THUỘC VỀ ĐẢNG CS

như vậy thì chẳng ai muốn đoàn kết với Đảng CS mà muốn xóa bỏ Đảng CS.

Thử hỏi con cháu bà Nguyễn Thị Năm và con cháu ông Trịnh Văn Bô (những người đã làm Mạnh thường Quân cho Đảng CS trong những ngày khó khăn) xem có ai muốn đoàn kết với Đảng CS không? Thế nhưng nếu vì quyền Tổ quốc thì mọi người đều sẵn sàng đoàn kết để tạo thành sức mạnh.

Cũng cần nhớ rằng hiện nay cả đảng viên về hưu và đương chức, trong đó có những đảng viên lão thành và đảng viên giữ chức vụ cao cũng muốn xóa bỏ Đảng CS HIỆN NAY, không xóa bỏ được thì họ xin ra ngoài Đảng. Hiện nay có tình trạng rất kỳ là có khá nhiều người có thẻ đảng nhưng lại phản đối CS. Xóa bỏ cái Đảng HIỆN NAY mang danh CS là ý muốn của nhiều người. Có người công khai nói ra trong các cuộc họp chi bộ. Họ đưa ra ý kiến: Đảng CS bây giờ thoái hóa, biến chất, suy thoái đạo đức, tư tưởng và lối sống, không thể chữa được thì

TỐT NHẤT LÀ XÓA BỎ ĐẢNG CS HIỆN NAY ĐI.

Nếu muốn kiểm nghiệm ý kiến trên thì xin Dân luận mở mục thăm dò ý kiến. Nhiều người muốn XÓA BỎ CÁI ĐẢNG CS HIỆN HỮU, còn sau này có Đảng CS khác thì lại có ý kiến sau, một vài nước có tới hai (hoặc hơn) đảng CS cơ mà.

Bác Ngự chú ý là ý tôi nói là xóa bỏ Đảng CS HIỆN NAY, còn sau này có nhiều đảng phái trong đó có Đảng CS thì lại khác, ĐA ĐẢNG như nhiều nước khác để không độc tài thì là điều tốt chứ sao, nhiều nước tư bản vẫn có đảng CS đấy thôi. Phải không thưa bác?

——

mai trâm gửi lúc 17:56, 22/05/2014 –

Đoàn kết, gắn bó với ai thì cả hai đều san sẻ và cùng một bậc thang giá trị và đều hưởng lợi như nhau.

Đoàn kết với đảng với Nhà Nước  theo ông Sang kêu gọi để: nếu là nông dân, thì đất bị cướp; nếu là công nhân, thì nai lưng làm mà vẫn ốm đói; nếu nhà văn viết lên sự thật, thì bị ở tù; nếu là thương buôn, thì bị xà xẻo chỉ còn đủ  để sinh tồn ư?

Bỏ đi tám, đoàn kết kiểu này là giết nhau rồi!!!

———

Van Lang  gửi lúc 17:40, 22/05/2014 –

Và trong trong thời điểm cấp thiết này cũng khẩn tâm yêu cầu lãnh đạo CSVN hiện nay đủ dũng cảm, nghị lực công bố những gì họ đã thỏa thuận với CSTQ năm 1991 ở Thành Đô.

Nên nhớ rằng đoàn kết không phải là con đường một chiều để đảng CSVN mặc sức lợi dụng, mà chính là một sự thông cảm và tin cậy lẩn nhau. Điều này chỉ có khi người ta biết Ăn Năn và hiểu Sự Thật.

——-

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►CNN phỏng vấn Đại sứ TQ ở Mỹ về: Mối quan hệ giữa Trung Quốc – Nga- Và các sự kiện gần đây giữa Mỹ-Nhật- Trung Quốc; Việt Nam và Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2014

Thôi Thiên Khải, Đại sứ Trung Quốc tại Hoa Kỳ, trả lời phỏng vấn CNN: Mối quan hệ Trung Quốc – Nga – Nhật – Việt Nam

20-5-2014

Bản dịch của Hoàng Triết  (Trần Hoàng có sửa lại nhiều đoạn trong bản dịch của Hoàng Triết. )
danluan.org 

CHRISTIANE AMANPOUR, CNN HOST: Đại sứ Cui Tiankai, cho tôi hỏi chính xác về chuyện Tổng thống Nga hiện đang họp mặt với Chủ tịch Tập Cận Binh  ở Thượng Hải. Hình như có một điều gì đó rất cấp bách đối với Vladimir Putin trong việc ký kết một thỏa thuận về năng lượng với Trung Quốc.

Điều này đã diễn ra hơn cả một thập niên nay và ông ta đã không thể thực hiện được, và hiên nay đang mặc cả về giá cả. Ông nghĩ việc ký kết thỏa thuận về năng lượng có thể xảy ra không?

Cui Tiankai: Tôi nghĩ rằng các trao đổi cấp cao xảy ra thường xuyên một cách bình thường giữa Trung Quốc và Nga vì hai nước là láng giềng lớn nhất của nhau. Chúng tôi có nhiều mối quan hệ khác nhau giữa hai nước, cho nên một cuộc thăm viếng cao cấp bình thường cũng không có gì là và TT Putin hiện đang ở Thượng Hải để thăm viếng và tham dự một hội nghị quốc tế.  (Cui tránh không trả lời câu hỏi.)

CHRISTIANE AMANPOUR: Vâng. Đại sứ nói đây là chuyện bình thường, nhưng ông có nhìn nhận cuộc thăm viếng này xảy ra ngay trong bối cảnh Vladimir Putin hiện đang bị cô lập với phương Tây hay không? Ông ta [Putin] đang  nhấn mạnh rằng hãy nhìn đây, Trung Quốc sẽ là một nền kinh tế lớn mạnh hơn Hoa Kỳ. Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc trong nay mai, như thể nói rằng, này, bọn phương Tây kìa, chúng tôi không cần các người. Chúng tôi quyết định sẽ bán (dầu khí) cho Trung Quốc.

Đại sứ có thấy như vậy không?

Cui Tiankai: Tôi tin rằng báo chí Mỹ chính là nơi đầu tiên công nhận Trung Quốc sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, mặc dù chính chúng tôi không tin là như vậy. Nhưng tôi nghĩ TT Putin sẽ đến (bán dầu khí cho) Trung Quốc dù giữa Nga và phương Tây có xảy ra chuyện gì đi nữa, bởi vì Nga là láng giềng lớn nhất của chúng tôi.

CHRISTIANE AMANPOUR: Vâng.

Cui Tiankai: Chúng tôi có nhiều mối quan hệ mật thiết với Nga.

CHRISTIANE AMANPOUR: Đúng là TQ có nhiều quan hệ rất mật thiết với Nga. Tất nhiên, chính World Bank gần đây đã nói về sự phát triển của Trung Quốc vượt qua nền kinh tế Hoa Kỳ; Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF không đồng ý (với ý kiến của WB) và ông rõ ràng cũng không nghĩ vậy.

Nhưng cho tôi hỏi ông điều này: Nếu Trung Quốc là một bạn tốt của Nga như ông đã nói, tại sao Trung Quốc đã và đang rất thận trọng, im tiếng,  không công khai đứng về phía Nga, thí dụ như trường hợp trong Hội đồng Bảo an LHQ qua việc sáp nhập Crimea, qua những gì đang xảy ra ở vùng Đông Ukraine?

[Lúc nầy, có lẻ TQ đang tái lắp ráp giàn khoan gần Hoàng Sa (đảo Tri Tôn), nên rất thận trọng, im tiếng, không công khai ủng họ Nga chiếm Crimea. Vào tháng 3-2013, nhiều blogger VN đã từng đưa ra dự báo rằng: TQ sẽ xâm chiếm Biển Đông, sẽ chiếm lấy Trường Sa bởi vì TQ đã không lên án Nga sau khi Nga đem quân đội đến chiếm vùng đất Crimea (của Urkainia) ngày 23-3-2014.]

Ông có đồng ý với sự sáp nhập của Crimea (vào nước Nga) hay không?

Cui Tiankai: Chúng tôi luôn tuân theo chính sách đối ngoại của mình về sự độc lập, hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới. Cho nên chúng tôi đưa ra quyết định về đúng và sai trong từng vấn đề. Chúng tôi không đi theo quan điểm của bất kỳ quốc gia nào. [Việt Nam cũng nói y như TQ khi được phỏng vấn hay nói về chính sách đối ngoại- TT Nguyễn Tấn Dũng, BT Phùng Quang Thanh, và PTT Vũ Đức Đam gần đây cũng nói vậy]

CHRISTIANE AMANPOUR: Nhưng vì – các ông thường hay bỏ phiếu với Nga. Các ông thường cùng phủ quyết hoặc cùng biểu quyết với nhau thông qua sự việc của Syria và một số các vấn đề khác cần phải giải quyết trước Hội đồng Bảo an.

Ông đã không hành xử tương tự như vậy đối với chuyện này (Crimea sáp nhập vào Nga).

Ông có những lo ngại gì đối với những chuyện đang xảy ra tại Crimea và Đông Ukraine, trong khu vực đó?

Cui Tiankai: Trước hết thì, nếu cô kiểm tra cẩn thận lại hồ sơ biểu quyết của Trung Quốc trong Hội đồng Bảo an LHQ, có thể cô sẽ nhận ra một sự độc lập trên các nguyên tắc thay vì ăn theo quan điểm của một quốc gia nào đó. Điều này rất rõ ràng.

Tiếp theo thì, chúng tôi thực sự lo lắng và quan tâm đến tình hình ở Ukraine và khu vực đó. Chúng tôi muốn thấy tình hình lắng dịu xuống và người Ukraine có thể tự quyết định đường hướng phát triển và vận mệnh của họ. Chúng tôi cũng hy vọng rằng giữa Nga – Hoa Kỳ – và châu Âu, mọi người có thể giải quyết mọi chuyện thông qua đàm phán và tham vấn.

Chúng tôi không muốn thấy bất kỳ sự leo thang nào trong tình hình ở đó. [Vào tháng 3-2013, nhiều blogger đã từng đưa ra dự báo rằng: TQ sẽ xâm chiếm Biển Đông, sẽ chiếm lấy Trường Sa bởi vì TQ đã không lên án Nga sau khi Nga đem quân đội đến vùng đất Crimea (của Urkainia), và thu tóm Crimea vào tay họ  ngày 23-3-2014.]

CHRISTIANE AMANPOUR: Ông có nghĩ Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ chuyển thông điệp này đến với TT Putin hay không? Như là… hãy rút tay ra, để yên cho người Ukraine…

[nhiễu âm]

CHRISTIANE AMANPOUR: … làm điều đó.

Cui Tiankai: Tôi tin rằng đó là quan điểm của chúng tôi từ trước đến nay, và chúng tôi lúc nào cũng công khai rõ điều này. Quan điểm của Trung Quốc về chuyện này không có gì là bí mật cả.

CHRISTIANE AMANPOUR: Cho tôi chuyển đề tài sang Tổng thống Obama và trục thảo luận sang châu Á. Trong một phần của chuyến viếng thăm các đồng minh ở châu Á tháng vừa rồi, TT Obama đã dừng chân lại ở một nơi rất gần khu vực của các ông; nhưng ông ta đã không ghé thăm Trung Quốc. Và theo lời chỉ đạo của ông ta, theo các viên chức của ông ấy, là để trấn an các đồng minh rằng Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ họ trong mọi vấn đề và đồng thời sẽ không khiến Trung Quốc cảm thấy bị đe dọa.

Ông có nghĩ rằng Tổng thống Obama đã đạt được điều này không?

Cui Tiankai: Vậy thì bà cần phải kiểm tra dư luận công chúng ở Trung Quốc.

CHRISTIANE AMANPOUR: Tôi đang hỏi ông ở vị trí của một quan chức chính phủ. Vì thế, ông hãy cho tôi biết ý kiến.

Cui Tiankai: Vâng, tôi không chất vấn về ý định của chính phủ Hoa Kỳ. Tôi nhìn vào hiệu quả, kết quả của các chính sách Hoa Kỳ đối với châu Á, đối với Trung Quốc, và những gì họ đã nói và làm gần đây. Thành thật mà nói thì tôi nghĩ mấu chốt của việc tái định cân bằng này là để duy trì một mối quan hệ tốt với tất cả các đối tác ở châu Á Thái Bình Dương, kể cả Trung Quốc. Và với ý nghĩa đó, tôi nghĩ chính sách tái cân bằng của Mỹ có thể cần sự tái cân bằng trong chính bản thân của nó.

CHRISTIANE AMANPOUR: Vâng, để tôi phát cho ông xem Tổng thống Obama đã nói gì ở Tokyo về quần đảo Senkaku, quần đảo mà Trung Quốc gọi là quần đảo Điếu Ngư, cũng như ông ta đã nói gì khi đứng cạnh Thủ tướng Nhật Bản, Ông Abe.

[ĐOẠN VIDEO BẮT ĐẦU]

Obama: Cam kết của chúng tôi về hiệp ước giữa Hoa Kỳ với Nhật trong vấn đề an ninh của Nhật là tuyệt đối. Và Điều 5 được áp dụng trên tất cả lãnh thổ thuộc quyền quản lý của Nhật Bản, kể cả quần đảo Senkaku.

[Hiệp ước an ninh hổ tương đã được Mỹ ký kết với  Nhật 8-9-1951, theo đó, Nhật đồng ý cho Mỹ đóng quân trên đất Nhật, và ngăn cấm Nhật không được cho bất cứ thế lực ngoại quốc nào hay quân đội của bất cứ nước nào được đóng quân trên lãnh thổ của Nhật mà không có sự đồng ý của Hoa Kỳ. Hiệp định này đã được phê chuẩn bởi Thượng Nghị Viện Mỹ ngày 20-3-1952, và TT Mỹ phê chuẩn thêm lần nữa vào ngày 15-4-1952 ]. (nguồn) [1960s, TT Ngô Đình Diệm đã từng đòi hỏi Quốc Hội Mỹ phải ký một hiệp định với Miền Nam VN nếu như Mỹ muốn đem quân vào VN…coi tiếp ở cuối bài này]

[ĐOẠN VIDEO KẾT THÚC]

CHRISTIANE AMANPOUR: Ở đây, ông ta [Obama] đã thật sự nói rằng, đừng can thiệp, chúng tôi sẽ bảo vệ đồng minh của chúng tôi nếu cần.

Cui Tiankai: Cô thấy không, quần đảo Điếu Ngư luôn luôn là một phần di sản của người Trung Quốc. Điều này rất rõ ràng. Và chúng tôi đã duy trì quan điểm này từ lâu nay. Cho nên, nó thật sự thuộc chủ quyền của Trung Quốc và chúng tôi có quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ này.

CHRISTIANE AMANPOUR: Nhiều người lo ngại rằng đây có thể là tia lửa khiến một mối quan hệ căng thẳng trong vùng biến thành một cuộc chiến bắn nhau. Ông có tin rằng điều đó có thể xảy ra trong một thời gian ngắn sắp tới không?

Cui Tiankai: Chúng tôi cũng đang lo ngại về khả năng này và không muốn nó xảy ra. Điều này khá rõ ràng. Chúng tôi không muốn thấy xung đột xảy ra trong phạm vi chung quanh mình.

Nhưng điều này sẽ không hoàn toàn do chúng tôi quyết định, như cô thấy đó. Những người khác cũng cần có thái độ và chính sách có tính chất xây dựng tương đương như vậy.

CHRISTIANE AMANPOUR: Vâng. Nhưng họ đang chỉ trích Trung Quốc trong việc sử dụng vùng không gian và kể cả chuyện đang xảy ra ở Việt Nam hiện nay, việc Trung Quốc đặt một giàn khoan trong vùng biển một bên đang tuyên bố chủ quyền và đang trong vòng tranh chấp. Trung Quốc các ông đã phải gửi cả tàu sang để di tản dân mình ra khỏi Việt Nam.

Tại sao Trung Quốc lại lại muốn sửa mũi mọi người về những chuyện này vậy?

Cui Tiankai: Hãy cho tôi nói rõ sự thật về vấn đề đối với Việt Nam. Thứ nhất, các công ty Trung Quốc đang hoạt động trong phạm vi 17 hải lý cách một hải đảo của Trung Quốc, và 150 hải lý cách bờ biển của Việt Nam. Đó là điều thứ nhất.

[Hòn đảo mà Cui Tiankai nhắc ở trên là do TQ chiếm của VN năm 19-1-1974. Đây là một đảo nhỏ không có người ở. ]

Thứ nhì, đây là giàn khoan dầu duy nhất của chúng tôi trong vùng. Nhưng phía Việt Nam lại có hơn 30 giàn khoan đang hoạt động trong các vùng biển đang tranh chấp. Khác với giàn khoan duy nhất của chúng tôi, chúng tôi đang hoạt động trong vùng biển không có tranh chấp.

Thứ ba, chúng tôi chỉ có tàu dân sự và tàu chính phủ ở đó mà thôi. Nhưng Việt Nam có cả các tàu quân sự, những tàu có trang bị vũ khí. Đó là sự thật. Cô cũng có đề cập đến những gì đã xảy ra và đang xảy ra tại Việt Nam, họ đang tấn công các công ty ngoại quốc; họ đang phóng hỏa đốt các nhà máy; và họ đang giết những người vô tội ở đó. Tôi nghĩ những chuyện đang xảy ra ở Việt Nam (trên đất liền), có bản chất tương tự như những gì đang xảy ra trên biển. Điều này khá rõ ràng.

[Trong khi TQ nói láo như thế, nhưng Đại Sứ VN tại Mỹ không phản bác, không gọi điện thoại cho Christiane Amanpour để có ý kiến. Nhưng chắc chắn là Hà Nôị không ra lệnh, nên đại sứ sẽ không làm]

CHRISTIANE AMANPOUR: Tương tự như điều gì, xảy ra ở đâu?

Cui Tiankai: Trên biển. Họ đang tấn công các tàu thuộc các công ty của chúng tôi…[nhiễu âm]

Cui Tiankai: … họ đã đi từ đất liền – họ vượt 150 hải lý, đến tận đó để tấn công chúng tôi.

CHRISTIANE AMANPOUR: Được rồi. Đại sứ Cui Tiankai, cám ơn ông rất nhiều về sự có mặt của ngày hôm nay với chúng tôi.

Cui Tiankai: Cám ơn cô.

CHRISTIANE AMANPOUR: Để tôi phát âm lại cho đúng. Tôi xin lỗi đã phát âm sai tên của Ngài.

[PHÁT BIỂU OFF MIC]

[nhiễu âm]

[PHÁT BIỂU OFF MIC]

CHRISTIANE AMANPOUR: Đại sứ Cui Tiankai….

[nhiễu âm]

CHRISTIANE AMANPOUR: Đại sư Cui Tiankai, cảm ơn ông rất nhiều về sự có mặt hôm nay với tôi.

Cui Tiankai: Cám ơn cô. Lần này tốt hơn nhiều. (CƯỜI) [PHÁT BIỂU OFF MIC]

CHRISTIANE AMANPOUR: Cám ơn. Ông nghĩ mọi chuyện, nhất là chuyện giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, rồi sẽ diễn tiến ra sao, thưa Đại sứ?

Cui Tiankai: chẳng có cách nào khác. Tôi nghĩ cần phải có một cuộc đối thoại và tham vấn. Nhưng trước hết, Hoa Kỳ cần phải rút lại quyết định sai lầm của mình. Nếu không, vì Hoa Kỳ đã đi bước đầu tiên, họ cần phải có một bước đi đúng đắn hơn hiện nay.

(Hết)

Nguồn: CNN

 

—–

[Hiệp ước an ninh hổ tương đã được Mỹ ký kết với  Nhật 8-9-1951, theo đó, Nhật đồng ý cho Mỹ đóng quân trên đất Nhật, và ngăn cấm Nhật không được cho bất cứ thế lực ngoại quốc nào hay quân đội của bất cứ nước nào được đóng quân trên lãnh thổ của Nhật mà không có sự đồng ý của Hoa Kỳ. Hiệp định này đã được phê chuẩn bởi Thượng Nghị Viện Mỹ ngày 20-3-1952, và TT Mỹ phê chuẩn thêm lần nữa vào ngày 15-4-1952 ]. (nguồn)

TT Ngô Đình Diệm cũng đã từng nhiều lần công khai đòi hỏi chính quyền Mỹ rằng: Nếu Mỹ muốn đem quân vào VN 1960s, thì phải thảo một hiệp định an ninh hổ tương với Miền Nam Việt Nam, và đem vấn đề này trình lên cho Thượng Nghị Viện Mỹ biểu quyết, nhưng chính phủ của TT Kennedy đã không làm hay không chấp thuận lời đề nghị này. Có lẻ trong thời gian nầy xẩy ra vụ Liên Xô đặt căn cứ quân sự ở Cuba, chính trường Mỹ rất khó chịu về việc nầy, nên vụ đề nghị của TT Diệm đã không được đưa ra bàn bạc rộng rãi. 

TT Diệm đã rất sáng suốt về vấn đề này, ông muốn biết chiến lược của Mỹ là lâu dài, hay chỉ là chiến thuật ngắn hạn, và sẽ thay đổi. Sự cương quyết không cho Mỹ đem quân vào VN đã làm cho TT Diệm phải ra đi. Với sự đồng ý của Kennedy, Bộ ngoại giao và tòa đại sư Mỹ đã lên kế hoạch lật đổ ông Diệm…để đạt mục đích là đem quân Mỹ vào Miền Nam để ngăn chận cộng sản.

Nếu HCM, LD và đảng CSVN có đủ sự thông minh, nhìn thấy miền Nam dựa lưng Mỹ để phát triển giống như các nước khác đang làm vào lúc ấy như Nhật, Tây Đức, Nam Hàn, Thái Lan,…và ai ở đâu, ở yên đó. Miền Bắc lựa thế và dùng đòn ngoại giao để tranh thủ  sự kèn cựa tranh nhau làm đồng minh giữa  Liên Xô và Trung Quốc. Theo đó, Miền Bắc cứ đòi hỏi LX và TQ viện trợ kinh tế để phát triển hậu phương mạnh mẻ, thay vì trong thực tế  họ  đã đòi viện trợ quân sự để có súng đạn đi giải phóng MN và thống nhất đất nước (một cách vớ vẫn)… Hai miền cùng phát triển. Cứ mặc kệ các nước lớn tranh chấp gì thì cứ tranh chấp.  Rồi thủng thẳng theo thời gian về sau mà cả hai miền tìm cách thống nhất một cách hòa bình. Cứ theo cách hai nước Đức đã làm, và đã thống nhất năm 1990 mà không cần đổ máu. Trước đó, bên Tây Đức cho Mỹ đóng quân; và bên Đông Đức có Liên Xô đóng quân; Mỹ đã viện trợ tái thiết Tây Đức, LX thì giúp Đông Đức…Nếu được vậy, thì cả hai miền Nam Bắc VN sẽ không có chiến tranh 21 năm. Người dân MB sẽ không chịu thiệt hại quá nặng: 1.251.000 bộ đội tử thương; 780.000 thương binh; 300.000 bộ đội còn mất tích, 780.000 ngôi mộ. 3000 nghĩa trang liệt sĩ, và cho đến năm 2013 hiện vẫn còn nuôi 8,8 triệu người lãnh lương vì có công với cách mạng. Nguồn  Baomoi.com ]

* Bạn search trên google câu này: How many US Military Bases in Germany? , sẽ thấy số căn cứ của Quân Đội Myx hiên nay còn trên Đức là 42 căn cứ. Trước 1990, số căn cứ Mỹ tại Đức là 192. Chính quyền  Đức, Nhật, Nam Hàn và các đảng phải của họ KHÔNG AI lên tiếng ĐUỔI MỸ về nước. Chỉ trừ ông HCM, LD, và đảng CSVN.  http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_United_States_Army_installations_in_Germany

* Hiện nay, Quân đội Mỹ vẫn duy trì sự hiện diện của 50.000 quân ở Nhật, và 37.000 quân ở Nam Hàn. Ngoài khơi, của Nhật và Nam Hàn, các tàu tuần tiểu của Hạm Đội 7 vẫn tuần tra. Phi cơ không người lái bay suốt 24/24 trên bầu trời Nhật Bản và dò xét mọi động tỉnh của TQ. 

Trung Quốc không dám đụng đến Nhật, và Nam Hàn (LX hay Nga không dám đụng độ với Đức) vì sự hiện diện thường trực của quân đội Mỹ ở đó. Hơn mấychục năm qua, Đức, Nhật và Nam Hàn quá cảm kích sự hiện diện của quân đội Mỹ, và họ đã trích ngân sách quốc phòng “chia xẻ” hay “trả tiền” nhờ quân đội Mỹ “chiếm đóng”. Bà Thủ Tướng Đức Angela Merkel khi viếng Quốc Hội Mỹ 2012, bà đã thẳng thắn CAMS ƠN quân đội Mỹ đã CHIẾM ĐÓNG nước Đức từ 1945 đến nay…bà nói, nhờ thế mà Đức đã yên bình và phát triển trong 67 năm và còn kéo dài trong tương lai. Quân đội Đức hiện chỉ có rất ít, vì đã có Mỹ và NATO bảo bọc, không cần nhiều chi phí cho quốc phòng, không cần trả lương quá nhiều cho  cho quân đội, và không cần chạy đua bỏ hàng chục tỉ đô la hàng năm trang bị khí giới. 

Ba Lan sau khi bị Mỹ và NATO thử thách từ 1990-1999 thì mới cho gia nhập khối NATO. Điều lợi nhất là ngay sau đó, quân đội Ba Lan giảm quân số từ 400.000 chỉ còn 180.000 người 2003, và hiện giảm xuống còn dưới 150.000. Lý do, quân đội khối NATO trám vào các địa thế chiến lược của Ba Lan và máy bay không người lái có máy quay phim truyền ảnh về căn cứ của NATO xem xét các động tác chuyển quân của Nga hướng về biên giới Ba Lan. Nhờ thế,  GDP của BALAN hiện nay trên 1000 tỷ đô la, không thua kém gì Nam Hàn. Hóa ra Đức, Mỹ và các nước chung quan đã đầu tư vào Ba Lan xây dựng các nhà máy chế tạo và lắp ráp xe hơi, đã kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ, và kinh tế của Ba Lan nở hoa. Dân chúng sống sung sướng, và họ ra luật đặt đảng cộng sản ra ngoaì vòng pháp luật. Cũng phải, vì ngay trong lý thuyết và thực hành của đảng CS là: phải dùng bạo lực, phải đấu tranh giành chính quyền, phải tiêu diệt các đảng phái khác, phải trở thành  độc đảng cai trị nước, và không chia sẻ quyền lợi cho đảng nào khác, phải tiêu diệt các tôn giáo chính thống, để thành lập tôn giáo quốc doanh do đảng và Mặt Trận Tôr Quốc Việt Nam đứng đầu (!).

Đảng viên đảng CSVN vì quá tham lam, ngu dốt, tất cả các lãnh đạo cao cấp và có quyền lực nhất – theo đúng truyền thống- đều không “được” học quá lớp 7-nên tầm nhìn của họ rất hạn hẹp. Tuy vâỵ, cái độc ác, cách xử dụng bạo lực, cái khôn lỏi của họ dành cho bản thân và đảng của họ THÌ KHÔNG AI QUA ĐƯỢC. 

 

Tham khảo:

1. Ba Lan giảm quân số 2002.

Reforming Poland’s military – Nato

http://www.nato.int/&#8230;Polandmilit

North Atlantic Treaty Organization (NATO)

Today, the 350,000-strong armed forces of the 1980s have been reduced to about … 

Posted in Thời Sự | 5 Comments »

►QH phải khẩn cấp trả lời dân: có phải đảng CSVN lựa chọn làm đồng chí tốt của đảng CS Trung Quốc là đứng chung chỗ với bọn ăn thịt người, là đã tự loại mình ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam?

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2014

QH phải khẩn cấp trả lời dân

20-5-2014

Bùi Minh Quốc (Đà Lạt)

Nhân dân Việt Nam luôn coi nhân dân Trung Quốc là bạn. Đó là một sự thật hiển nhiên.

Nhưng đảng cộng sản Trung Quốc, mà đại diện là tập đoàn lãnh đạo đảng và nhà nước Trung Quốc, là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Đó là một sự thật không thể chối cãi.

Đảng cộng sản Trung Quốc mà đại diện là tập đoàn lãnh đạo, cũng là kẻ thù của nhân dân Trung Quốc; chúng là bọn ăn thịt người, ăn thịt ngay chính nhân dân Trung Quốc, thậm chí ngay trong đảng thì đồng chí ăn thịt đồng chí. Đó là một sự thật không thể chối cãi.

Đảng cộng sản Việt Nam, mà đại diện là tập đoàn lãnh đạo đảng và nhà nước – Vua tập thể – coi đảng cộng sản Trung Quốc là đồng chí tốt. Với sự lựa chọn chỗ đứng làm đồng chí tốt của đảng cộng sản Trung Quốc, hiển nhiên đảng cộng sản Việt Nam đã tự loại mình ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam để đứng chung chỗ với bọn ăn thịt người, có phải thế không?

Đó là câu hỏi bức thiết nghiêm gắt mà toàn thể quốc dân Việt Nam, trong đó có hơn 3 triệu đảng viên đảng CSVN đặt ra với Quốc Hội Việt Nam.

Quốc Hội Việt Nam, từng đại biểu Quốc Hội Việt Nam, phải KHẨN CẤP trả lời ngay câu hỏi này, không thể lẩn tránh.

Đà Lạt 20.05.2014

Nguồn: danchimviet.info

*Nhà thơ Bùi Minh Quốc, đã từ bỏ đảng CSVN năm 1988…vào cùng thời gian với hai anh em Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn; họ đã trả lời phỏng vấn qua bài

  …

– Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm.

Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc…Tôi có lỗi với dân tộc.

Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng”, nhưng thực chất là vì quyền lực, tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam…

.

*Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã không ngừng lên tiếng từ 1988 cho đến nay…Năm ngoái, ông đã tiết lộ câu chuyện bí mật

.

Mời quí bạn khi nào rãnh ghé chơi:  Thư Viện các bài được đọc nhiều nhất 

(Nằm trên đầu của blog này)

 

*Nhà thơ Bùi Minh Quốc luôn mở miệng đúng lúc. Tôi sực nhớ đến Nhóm Mở Miệng. Mòi các bạn nghe bài thơ của Lý Đợi viết cho Hoàng Sa và Trường Sa  18-12- 2007

“nhóm Mở Miệng bị xem là phản động và lấy văn chương kích động người đọc ra sao, mời quý vị nghe bài thơ mang tên “chúng nói: “sông có thể cạn, núi có thể mòn” của Lý Đợi qua giọng đọc của chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, ông Hữu Thỉnh”:

“Chúng nó nói

Chúng nói

Sông có thể cạn

Núi có thể mòn

Chúng nói

Sông có thể cạn

Núi có thề mòn

Và tôi thấy chúng làm:

Chúng đuổi người đi đường

Chúng không cho người dân cất tiếng nói

Chúng bao vây và trấn áp người biểu tình chống xâm lăng

Chúng cho người trà trộn vào đám đông biểu tình để phá thối, gây chia rẽ

Chúng bảo chúng ta bị xúi giục

Chúng coi thường sự hiểu biết của nhân dân

Chúng bảo mất Hoàng Sa – Trường Sa không phải lo.

Hãy về nhà ngủ và tin vào Cộng sản và nhà nước.

(Tin chúng mày để hôm nay thấy Sài Gòn & Hà Nội đầy một lũ tay sai Bắc Kinh à?)

Chúng vu khống những người yêu nước là phản động

Chúng muốn chúng ta vĩnh viễn là nô lệ

Chúng đã lăng mạ lòng tự trọng dân tộc

Chúng đã phỉ nhổ vào lịch sử

Chúng đã đập bàn thờ tổ quốc

Chúng đã ném cứt vào xương máu những người đã chết cho quê hương

Chúng tóm cổ các nhà báo tự do

Chúng đe doạ, đánh đập văn nghệ sĩ

Chúng khủng bố các nhà trí thức

Chúng theo dõi điện thoại, email

Chúng hiếp dâm nhân quyền…

Và chúng nói tiếp, sau khi làm: “song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

Quý vị vừa nghe ông Hữu Thỉnh đọc bài thơ của Lý Đợi.

Dĩ nhiên ông đọc lên để phê phán và kết án bài thơ này trong hội nghị của Hội Nhà Văn Việt Nam nhưng có một điều nghịch lý là khi nghe bài thơ qua giọng đọc hùng hồn của ông, người ta có cảm giác ông đang khen bài thơ, khen một cách chân thành vì ngôn ngữ bài thơ sống động bất ngờ đã lái cảm xúc của ông qua một hướng khác, hướng “Mở Miệng” ra để nói những lời chân thật?

Nhóm “Mở Miệng”: Từ trái sang Bùi Chát, Khúc Duy, Lý Đợi, Nguyễn Quán, ảnh chụp năm 2006. Courtesy PhanNguyenBlog

*

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Phát ớn: Bộ trưởng Quốc phòng TQ Thường Vạn Toàn gặp Bộ trưởng Quốc phòng VN Phùng Quang Thanh

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2014

Bộ trưởng QP TQ Thường Vạn Toàn gặp Bộ trưởng QP VN Phùng Quang Thanh

21-5-2014

 

Theo Tân Hoa xã: Chiều 19/5, tại Nây Pi Đô, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đến Mi-an-ma dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc-ASEAN, đã gặp Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh.

Bộ trưởng Thường Vạn Toàn cho biết, thời gian qua, Việt Nam tiến hành quấy nhiễu tác nghiệp khoan thăm dò bình thường và hợp pháp của Trung Quốc tại vùng biển quần đẩo Tây Sa, đặc biệt là gần đây Việt Nam xảy ra các vụ bạo lực đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt nhằm vào doanh nghiệp và công dân Trung Quốc, Trung Quốc kiên quyết phản đối và lên án việc này. Hoạt động tác nghiệp chính đáng trên vùng biển Tây Sa là quyền lợi của Trung Quốc, không có ai có thể ngăn cản được. Việt Nam cần tôn trọng lịch sử, nhìn thẳng vào thực tế, xuất phát từ đại cục hữu nghị Trung-Việt, không nên đã sai lại càng sai, trở thành sai lầm lớn.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết, Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam cực kỳ coi trọng phát triển đoàn kết và hữu nghị với Trung Quốc, quân đội Việt Nam sẽ không áp dụng hành động làm phức tạp tình hình, sẵn sàng cùng với Trung Quốc duy trì trao đổi về các vấn đề liên quan.

Nội dung cuộc tiếp xúc song phương giữa Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc

21-5-2014

(VTV Online) – Bên lề Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN lần thứ 8, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, đã có cuộc tiếp xúc song phương với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn.

Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh hai nước đang có những căng thẳng trên Biển Đông sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào hoạt động trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Để giúp quý vị có thêm thông tin về buổi làm việc này, các phóng viên Đài THVN đã có cuộc phỏng vấn với Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam.

 

Ảnh: VTV Online 

PV: Thưa Bộ trưởng, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN lần này diễn ra trong bối cảnh có những căng thẳng xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông và đây là vấn đề được dư luận quan tâm. Được biết, Bộ trưởng đã có cuộc gặp trực tiếp với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn. Xin Bộ trưởng cho biết nội dung và kết quả của buổi làm việc này?

Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam: Trong cuộc gặp này, chúng tôi đã trao đổi một số vấn đề. Đặc biệt là những hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc đang phát triển rất tốt đẹp, nhưng rất đáng tiếc là xảy ra vụ việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam gây ra lo ngại của khu vực, cũng như bức xúc trong dư luận.

Chúng tôi cũng trao đổi thẳng thắn với các bạn Trung Quốc quan điểm của Việt Nam đó là đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng bằng biện pháp hoà bình. Đó là bằng luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển LHQ năm 1982 và theo tinh thần tuyên bố 6 điểm của ASEAN, tinh thần DOC.

DOC là gì, đó là giữ nguyên trạng những tranh chấp và phải đàm phán hoà bình, không dùng vũ lực và không có đe doạ sử dụng vũ lực, đảm bảo an ninh an toàn dự do hàng hải, hàng không ở trên khu vực này.

Chúng tôi cũng trao đổi với phía Trung Quốc là Việt Nam chỉ dùng lực lượng tàu chấp pháp, ví dụ tàu Cảnh sát biển, tàu kiểm ngư, một số tàu cá của ngư dân đánh cá ở khu vực này – đó là ngư trường của Việt Nam và phối hợp lực lượng chấp pháp để đấu tranh bảo vệ chủ quyền, nhưng không hề dùng lực lượng chiến đấu như máy bay, tàu tên lửa, tàu pháo, các lực lượng đặc công nước… để phá hoại giàn khoan của Trung Quốc.

Do vậy, đề nghị phía Trung Quốc hết sức kiềm chế, dùng biện pháp hoà bình, không trực tiếp dùng tàu pháo, tàu tên lửa, không nên dùng máy bay, không nên đâm va, phun vòi rồng vào tàu làm nhiệm vụ của phía Việt Nam gây ra thương vong cho kiểm ngư viên, gây ra bức xúc trong dư luận và như thế sẽ tổn thương đến tình cảm hữu nghị của nhân dân hai nước.

Tôi cũng nói rõ là Việt Nam bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng phải bảo vệ được môi trường hoà bình và bảo vệ được ổn định chính trị, ổn định xã hội ở trong nội địa của Việt Nam. Và phải tiếp tục đoàn kết, hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc theo tinh thần đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, tập trung vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, không làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.

Chúng tôi trao đổi với phía các bạn Trung Quốc và cũng mong hai bên cùng nhau kiềm chế trên thực địa, tích cực tham mưu với lãnh đạo Đảng, Nhà nước để xử lý vụ việc ổn thoả, sớm ổn định lại tình hình và khôi phục, phát triển sản xuất.

http://vtv.vn/Thoi-su-trong-nuoc/Noi-dung-cuoc-tiep-xuc-song-phuong-giua-Bo-truong-Quoc-phong-Viet-Nam-voi-Bo-truong-Quoc-phong-Trung-Quoc/116885.vtv

 

Sẽ không có chiến tranh xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam. Mời đọc:

Vì mục đích để dành chức vụ lãnh đạo cho con cháu của họ nối ngôi, Đảng và Nhà Nước là các con dân ngoan hiền của Trung Quốc.

  • Trích: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu khai mạc Đối thoại Shangri-La 31-5-2013 

“Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác.”

“Việt Nam kiên định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam không ngừng nỗ lực làm sâu sắc thêm và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác hợp tác cùng có lợi với các quốc gia. Chúng tôi mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ một khi nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi được cam kết và nghiêm túc thực hiện.”

baodientu.chinhphu.vn

Nội dung đối thoại của Thủ tướng tại Shangri-La  (hỏi và trả lời)

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►TQ cố làm cho thế giới có cảm nhận rằng họ là nạn nhân của Việt Nam-

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2014

*Về việc 5 Tầu TQ đến Vũng Áng, Hà Tỉnh để di tản 3000 công nhân TQ về nước: Jonathan London, một nhà chuyên môn nghiên cứu về VN tại Đại học Hong kong’s City Uninersity ghi nhận rằng nhiều quốc gia thường bị bó buộc phải giúp đỡ công dân của họ.

Jonathan London cũng cho rằng chính quyền TQ gởi những tầu nầy (qua VN chở công nhân về nước) “là để làm cho thế giới có cảm giác Trung Quốc là một nạn nhân (của Việt Nam), là tạo ra hình ảnh một nước Việt Nam bất ổn định và truyền đi những dấu hiệu không thân thiện và những hăm dọa ngầm về hành động  sẽ trừng phạt Việt Nam. 

Chinese nationals ferried home after Vietnam riots 
.
*Theo blogger Galahad  và Jonathan London trao đổi với nhau trong mục ý kiến, cả hai đều không có nguồn tin nào xác nhận  tin đồn  nói rằng Quân đội Trung Quốc đang tập trung gần biên giới Việt Trung.  (Tin đồn này xuất phát từ mạng weibo của TQ- Weibo hay tung các tin đồn)
.
.
*CHỈ CÓ GIỚI LÃNH ĐẠO LÀ KHÔNG BIẾTNguyễn Hưng Quốc

.
Mấy tuần nay, trên những tờ báo nổi tiếng và có uy tín ở Tây phương, hầu như mọi nhà bình luận đều cho giới lãnh đạo Việt Nam hoàn toàn bị động và lúng túng trước sự gây hấn của Trung Quốc.
.
Ngay trong Bộ chính trị, người ta cũng không thống nhất với nhau được về chiến lược trả đũa Trung Quốc hay để bảo vệ vùng biển Việt Nam.
.
Sự bị động và lúng túng ấy rất đáng kinh ngạc. Bởi, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, từ năm bảy năm nay, hầu như bất cứ người nào có chút lương tri cũng đều có thể biết trước những gì hiện đang xảy ra trên Biển Đông.
.
Chỉ có giới lãnh đạo là không biết.
.
Nguyễn Hưng Quốc's photo.
Nguyễn Hưng Quốc's photo.
  Chúng ta là anh em thân thiệnNguyễn Hưng Quốc's photo.
CHẾ ĐỘ
.
Bất cứ một chế độ nào đòi hỏi dân chúng phải từ bỏ lý trí và óc phê phán để chỉ biết tuân phục một cách mê muội đều là những chế độ khốn nạn: Nó đang hủy hoại văn minh và hơn nữa, hủy hoại con người.
.
Để biết ai (tổ chức nào) đang thống trị bạn, cách đơn giản là tìm xem người nào bạn không được phép chỉ trích- Voltaire
.
Photo: CHẾ ĐỘ</p><br /><br /><br /><br />
<p>Bất cứ một chế độ nào đòi hỏi dân chúng phải từ bỏ lý trí và óc phê phán để chỉ biết tuân phục một cách mê muội đều là những chế độ khốn nạn: Nó đang hủy hoại văn minh và hơn nữa, hủy hoại con người.

Hôm qua, các bài dưới đây được bạn đọc chú ý nhất

►Đã có 26 người chết và vô số người bị thương tại Khu Công Nghiệp Formosa Vũng Áng – Hà Tĩnh khi cuộc tuần hành ôn hòa ngày 14/5 đã chuyển sang bạo động kinh hoàng
►Biểu tình bạo động diễn ra khắp nơi: Bình Dương, Đồng Nai, Dĩ An, Thủ Đức bùng nổ biểu tình
Home page / Archives
►Tường Thuật về đình công và biểu tình ở Bình Dương và Biên Hòa ngày 14-5-2014
►Bình Dương: 460 trên tổng số 2000 doanh nghiệp bị đập phá tan tành- NHA TRANG: Khách sạn thông báo ‘Không phục vụ khách Trung Quốc’ cho đến khi dàn khoan HD891 rút khỏi Việt Nam
►Các ý kiến về việc công nhân ở Bình Dương biểu tình đập phá các hãng xưởng Trung Quốc
►Đi Bình Dương ngày 14-5-2014 tìm hiểu vì sao lại có những chuyện đập phá và cướp bóc như trên các trang mạng xã hội mô tả: Đi giữa dòng bạo động (P.1)
►Báo The NY Times loan tin: TBT Nguyễn Phú Trọng đề nghị gặp Tập Cận Bình ở Bắc Kinh về vụ khoan dầu của TQ bên trong lãnh hải Việt Nam, nhưng đã bị từ chối
►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.    
►Tiếp tục sợ, hay thôi sợ Trung Quốc – Bước ngoặt chính trị tại Việt Nam    
►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)    
►Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra trọng tài quốc tế?    
►Hơn 20.000 công nhân ở Bình Dương đang làm trong các hãng có vốn đầu tư của Trung Quốc và Đài Loan đang biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông (13-5-2014)    
►Dự án cho các nước ngoài thuê đất từ 50-210 năm của Bộ Chính Trị    
►Mất Biển Rồi Mất Nước Chẳng Còn Bao Xa
►Các blogger tiếp tục biểu tình phản đối Trung Quốc chiều ngày 13/5/2014
►Biểu Tình Thành Công Hay Thất Bại? chính quyền Việt Nam sẽ làm gì để đối phó với TQ?
►Sau 5 năm phí tiền của, nay chính thức: đình chỉ khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên và ngưng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà – Bình Thuận
Thư Viện các bài được đọc nhiều nhất
Cuoc Bieu Tinh tiep dien o Ha Noi va Saigon
►Đàng sau công an và xã hội đen là…
50 ngàn công nhân Trung Quốc Đang có mặt ỏ VN
►Nợ xấu bất động sản sẽ làm sụp đổ các ngân hàng, bùng vở nợ xấu quốc gia và nợ của doanh nghiệp nhà nước…dẫn đến khủng hoảng chính trị 2014-2017
►UBND tp đã phá thối “Cuộc biểu tình tại Nhà Hát Thành Phố của Nhóm 54 nhân sĩ trí thức” như thế nào?    
►BCH Trung Ương Đảng CSVN bận họp, không rãnh để ra tuyên ngôn phản đối TQ xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam    
►Hôm nay, Trung Quốc dịu giọng, kêu gọi đàm phán- Trước đó, TQ đã triệu đại sứ về và không để lại đại diện lâm thời    
►Biểu tình chống TQ xâm lược: Nên tham gia hay không? RFA Phỏng vấn nhiều bloggers    
►Cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc ngày 11/5/2014 tại Sài Gòn, Hà Nội, và Đà Nẵng    
►Có chiến dịch “phá đám” không cho Việt Nam xích lại gần phương Tây?    
“Biểu tình để đánh động dư luận, từ cấp cao nhất”
►Hãy trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh, người sinh viên bị bắt – bị hành hạ – bị đánh đập trong tù và những phiên toà bất minh
About
►Lằn đỏ trong chính sách đối với Trung Quốc-Việt Nam đang tiến đến gần nguy cơ đối đầu với Trung Quốc
►Đây là lập trường của Trung Quốc về khoan dầu ở Biển Đông
►Sẽ Không có đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông vì tranh chấp dầu khí
►Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản và đẩy giá bất động sản lên cao: là sai lầm
►Điều gì đã khiến TBT Nguyễn Văn Linh tìm cách trả thù ông Võ Văn Kiệt cho đến cuối đời?
►Biểu tình tại Sài Gòn ngày 11-5-2014 theo lời kêu gọi của 20 Tổ Chức Dân Sự
►Đặng Tiểu Bình và quyết định của Trung Quốc đi đến chiến tranh với Việt Nam
►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945    
►Bình Dương: ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ “CHINA TOWN” do Công Ty của Bộ Quốc Phòng Việt Nam xây dựng tại Thành Phố Mới BÌNH DƯƠNG    
►Những kẻ đã làm mất biển đảo và đẩy Việt Nam vào con đường nô lệ cho Trung Quốc    
►Việt Khang đang ở tù, nhưng anh không cô đơn vì đã có hơn 100 ngàn người Việt ở Mỹ ký thỉnh nguyện thư gởi tòa Bạch Ốc    
►Đảng CSVN và Nhà Nước cần phải dùng pháp lý để đưa Trung Quốc ra tòa – Làm cách nào chứng tỏ chó có răng?    
►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI 185 hecta ĐẤT VƯỜN CAO SU
►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF
►Hàng ngàn người Trung Quốc đến Hà Tỉnh mua đất và định cư
►Cuộc chiến tranh tiền tệ giữa các quốc gia ảnh hưởng đến tỷ giá giữa đồng nội tệ VNĐ và các loại ngoại tệ khác, đang hội tụ và ngày càng tạo ra những vùng áp lực đánh vào chế độ độc tài toàn trị
Cuộc Biểu Tình ngày 25-7-2011 vẫn diễn ra ở Hà Nội…
►Ngay cả lúc sắp chết, các đảng viên đảng CSVN vẫn rất tham quyền lực vì họ biết rõ: giữ chức vụ càng cao thì càng có nhiều bổng lộc đi kèm
►Câu chuyện của hai bà quả phụ tử sĩ Hoàng Sa – ‘Sau 40 năm chồng tôi mới được nhớ đến’
►TRỰC TIẾP TỪ HÀ NỘI – Biểu Tình Chống Trung Quốc 2-6-2013
►Năm 2004, tác giả cuốn sách “TQ và Các Cuộc Chiến Tranh Việt Nam 1950-1975″ nói với đài BBC rằng: Đảng CSVN miễn cưỡng nhắc đến vai trò của Trung Quốc vì họ muốn chứng tỏ với thế giới rằng chiến thằng là kết quả của những nổ lực anh hùng của riêng họ    
►Rước voi giày mã tổ và cõng rắn cắn gà nhà    
Các Văn Bản- Tài liệu Lịch sử…    
►“xuất cảng tù chính trị để đổi chác quyền lợi” – Quốc tế yêu cầu Việt Nam ngừng sử dụng tù chính trị như những con tin để đem ra đổi chác với cộng đồng quốc tế    
►Cuộc gặp gỡ bí mật Trung – Việt ở Thành Đô, Trung Quốc, vào tháng 9 năm 1990 (2)    
►Xin 5000 giấy phép khai mỏ khoáng sản, sau đó bán 3000 giấy phép cho Trung Quốc khai thác!    
►Thủ Tướng Đức Angela Merkel : Trung Quốc không có chủ quyền ở Biển Đông, Hoàng Sa, và Trường Sa – Bằng chứng lịch sử không thể chối cãi    

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Thượng Nghị Sĩ John McCain: Chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cho phép TQ thống trị Á châu và VN thêm 1 lần nữa

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2014

USA- Arizona (17-5-2014)-Thượng Nghị Sĩ John McCain gửi thông điệp đến cộng đồng Việt Nam:

“Chúng tôi muốn gửi môt thông điệp đến với tất cả mọi người VN trên toàn thế giới rằng, chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cho phép TQ thống trị Á châu và VN thêm 1 lần nữa.

Lịch sử cho thấy rằng, dân tộc VN trên 1.000 năm nay đã chống lại ách thống trị và đô hộ của TQ. Người dân Hoa Kỳ sẽ sát cánh với người dân VN ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới để chống lại sự bành trướng và thống trị của Trung Quốc”. 

.
.

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tôi đi biểu tình (18-5-2014)…bị lạc tới bãi biển Cần Giờ

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2014

ĐẸP LÒNG KẺ XÂM LƯỢC
NỖI ĐAU CỦA NHÂN DÂN, CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM

19-5-2014

Nguồn: FB PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Sáu giờ sáng chủ nhật, 18.5.2014, tôi đi xe máy chưa ra khỏi nhà hầm để xe thì ông Lâm Ngọc Thích, trung tá, trưởng công an xã Phước Kiển cùng năm sáu người nữa chặn xe tôi. Một ông giải thích bác không nên đi biểu tình bị lợi dụng. Tôi hỏi: Ông là ai? Tôi là hội nông dân. Tôi bảo, tôi không có việc gì liên quan đến hội nông dân. Ông Mặt trận Tổ quốc tiếp lời ông hội nông dân. Tôi bảo Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam bằng việc đưa giàn khoan vào biển Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc phải vận động người dân đi biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc xâm lược chứ không phải là ngăn cản người dân biểu tình. Tôi nói có việc phải đi rồi nổ máy ra khỏi nhà xe. Tưởng đi sớm trước khi công an đến chặn cửa nhưng công an còn đến sớm hơn!

Đến gần dinh Độc lập, tôi dừng xe đợi đèn xanh ở ngã tư Trương Định – Nguyễn Thị Minh Khai thì phát hiện ngay cạnh xe tôi là xe anh thanh niên to đậm, mắt hiếng. Những lần có biểu tình chống Trung Quốc xâm lược trước đây anh này vẫn thường bám theo tôi. Đèn tín hiệu đã chuyển sang xanh, tôi không đi, anh ta cũng không đi. Tôi vừa cất tiếng định bảo lại vẫn là anh à nhưng âm đầu tiên của tôi vừa cất lên anh ta đã xuống xe đến sát tôi trừng mắt, vung tay: Muốn gì? Ông muốn gì? Tôi biết anh ta sẽ hành hung tôi để công an xô đến đưa tôi về đồn nên tôi lẳng lặng phóng xe đi. Còn sớm quá. Tôi vòng quanh mấy phố quan sát lực lượng biểu tình và lực lượng công an. Anh chàng mắt hiếng vẫn bám sát tôi. Tôi không nhận ra bóng dáng người biểu tình nhưng công an thì rải đầy đường.

Tôi phone cho anh Tô Lê Sơn rồi gửi xe máy, đến chỗ anh Sơn thì anh Sơn cũng có một nữ và một nam an ninh bám sát bên cạnh. Chúng tôi đang ngồi nói chuyện trên ghế trong vườn cây trước dinh Độc Lập chỗ gần đầu đường Alexandre de Rhodes thì anh thanh niên mắt hiếng lại đến gây sự định đánh anh Sơn. Chúng tôi đều phải im lặng để người muốn gây sự không thể gây sự được.

Nhìn quanh tôi nhận ra những người lảng vảng đầy công viên phần lớn đều có dáng vẻ an ninh. Tuyệt nhiên không thấy ai có dáng vẻ là người biểu tình. Tình hình này, biểu tình không thể tổ chức được rồi. Tôi định ngồi nán lại chút nữa rồi về. Có thêm anh Lê Anh Hùng và anh Nguyễn Bá Thuận đến góp chuyện. Anh Thuận vốn là nhà khoa học làm việc ở bộ Nghiên cứu và phát triển khoa học Đan Mạch đã nghỉ hưu, người thứ 35 trong số 54 trí thức ngày 9.5.2014 gửi thư cho chủ tịch thành phố đề nghị được biểu tình phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan HD981 vào biển Việt Nam. Tôi bảo anh Thuận có bộ râu đẹp như bộ râu của nhà văn Nga Anton Chekhov. Thời đi học, tôi mê mệt nền văn học Nga và văn học Pháp nên tôi nhớ gương mặt từng nhà văn của hai nền văn học đó. Chúng tôi đang nói chuyện văn chương thì tôi thấy có rất nhiều bộ mặt an ninh dồn lại chỗ chúng tôi. Tôi đứng dậy đi dạo quanh ngắm những vòm lá rung rinh nắng, những dáng cổ thụ rất đẹp thì có hai cánh tay cứng như hai gọng kìm thép xốc hai nách tôi, một bàn tay to và dầy bịt chặt mồm tôi, lôi tôi đi trên con đường láng ciment trong vườn cây, lôi tôi xuống đường Lê Duẩn, đẩy vào chiếc xe du lịch năm chỗ ngồi đã mở cửa đợi sẵn. Một cách bắt cóc thô bạo, phi pháp nhưng quen thuộc của công an nhà nước cộng sản Việt Nam với những người dân có tiếng nói đòi tự do, dân chủ. Khi xuống xe ở điểm dừng cuối cùng tôi mới được biết chiếc xe mang biển trắng với hàng số 51A 535 20.

Hàng ghế trước là người lái xe và người có cung cách chỉ huy. Đó là người da ngăm đen. Tóc cứng, cắt ngắn chỉ trên dưới một centimet. Mặt ngắn. Trán ngắn. Cơ bắp chắc nịch trên vai, trên cánh tay. Hàng ghế sau là hai người tuổi khoảng trên dưới bốn mươi ngồi kẹp chặt hai bên sườn tôi. Tất cả đều mặc đồ dân sự. Người chỉ huy ngồi trên ra lệnh cho hai người phía sau: Kiểm tra điện thoại. Lập tức, từ hai phía, hai bàn tay thọc vào hai túi quần tôi lôi ra ở túi bên trái là điện thoại, túi bên phải là máy ảnh rồi mỗi người một máy, xục vào thẻ nhớ, xăm soi. Người chỉ huy lại lệnh cho lái xe dừng lại đầu đường Calmette rồi phone gọi người đi xe máy đến và lệnh cho tôi đưa chìa khóa xe máy và phiếu gửi xe của tôi cho người đó.

Khi ô tô chui vào đường hầm Thủ Thiêm, tôi chắc mẩm ô tô sẽ vòng sang Bình Thạnh đưa tôi về số 4 Phan Đăng Lưu, nơi đã từng giam giữ vợ chồng đại tá Phạm Quế Dương, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Lê Công Định . . . và giam giữ tất cả những tiếng nói đòi tự do dân chủ bị bắt. Nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu của bộ Công an. Như vậy những người bắt tôi là công an bộ. Tôi bỗng bần thần tiếc sẽ phải bỏ dở bao việc gấp gáp đang làm. Nhưng ô tô không rẽ trái sang Bình Thạnh mà cứ phăm phăm phóng thẳng trên con đường thênh thang mới mở hướng về quận Chín. Quẹo vào đường đi Cát Lái rồi lại quẹo tiếp vào đường qua cầu Phú Mỹ, quay về đường Nguyễn Văn Linh, quận 7. Tôi lại đinh ninh rằng từ đường Nguyễn Văn Linh, ô tô sẽ rẽ vào đường Nguyễn Hữu Thọ, đưa tôi về nhà, đọc lệnh bắt tôi mà họ đã mang theo.

Nhưng đến Phú Mỹ Hưng, ô tô lại vòng trái vào đường Nguyễn Lương Bằng, đi qua lối rẽ vào nhà Hoàng Hưng, băng sang đường Hoàng Quốc Việt, quẹo vào đường Huỳnh Tấn Phát. Tôi đang phân vân không biết ô tô sẽ đưa tôi đến đâu thì người chỉ huy quay lại đe nẹt: Tôi nói cho chú biết. Từ nay có người giám sát chú hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Chú ra khỏi nhà là bị bắt! Đúng là tư duy công an, ngôn ngữ công an của nhà nước độc tài, muốn bắt ai thì bắt, như xã hội đen, không cần biết đến pháp luật, không cần biết đến quyền con người. Nhưng chính câu đe nẹt vô lối đó lại làm cho tôi yên tâm. Tôi còn được về nhà để họ giám sát tôi 24/24 tức là hôm nay tôi chưa phải “nhập kho”. Còn việc giám sát tôi cũng không phải là điều mới mẻ gì vì ông Tuấn suốt mấy năm nay đã làm rất sốt sắng, bền bỉ rồi. Tôi cũng nhận ra họ là công an thành phố chứ không phải công an bộ.

Người kèm bên trái tôi căng giọng mạt sát, trấn áp tôi. Với ngôn từ xấc xược anh ta bảo tôi gây rối, phá hoại. Tôi bảo anh ta: Khi tôi chịu bom đạn, sốt rét ở mặt trận miền Nam chiến đấu vì sự sống còn của nhà nước này thì anh chưa ra đời. Tôi không phải là tội phạm. Anh không được xấc xược như vậy. Biểu tình là quyền công dân chính đáng của người dân. Chính các anh mới là người gây rối. Người chỉ huy bảo tôi rằng chú đã từng là đảng viên, được nhà nước cưu mang mà còn chống phá nhà nước. Tôi nói: Tôi không phải là người vô tích sự để nhà nước phải cưu mang. Toàn bộ tuổi trẻ đẹp nhất của tôi đã ném vào cuộc chiến đấu cho sự tồn tại của nhà nước này. Nhà nước này phải cảm ơn tôi mà có cưu mang gì tôi đâu. Nhà nước lại đang đi theo hướng sai lầm và tôi thấy như bị phản bội nên phải lên tiếng.

Cũng trên đường Huỳnh Tấn Phát người chỉ huy phone cho ai đó hẹn mười giờ sẽ đến. Lúc đó là hơn tám giờ. Như vậy ô tô còn chạy gần hai giờ nữa. Giọng dịu lại, người chỉ huy bảo tôi: Hôm nay ra biển đổi gió, chú cháu vui vẻ với nhau. Chú cũng mới đi biển phải không? Tôi bảo: Hôm nay các anh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngăn chặn được cuộc biểu tình chính đáng của chúng tôi thì các anh vui, chứ tôi làm sao vui được. Tên tôi thì các anh biết rồi. Xin lỗi, anh có thể cho tôi biết tên được không. Thấy sự ngần ngại của ông chỉ huy, tôi bảo: Anh không muốn cho biết tên thì thôi, không sao cả.

Qua phà Bình Khánh, ô tô hướng ra biển Cần Giờ, rẽ phải vào khu du lịch 30 Tháng tư, dừng lại trước Resort Cần Giờ. Năm 2002 mẹ mất, tôi rầu rĩ mãi, con trai tôi liền đưa cả nhà ra biển Cần Giờ và cũng đến đây. Lúc đó bãi biển còn hoang sơ, đường xá, nhà cửa còn ngổn ngang, tuềnh toàng. Phòng trọ gia đình tôi thuê trong ngôi nhà cũ, chật chội, kín mít như gian nhà kho, ngoài trời gió lồng lộng mà trong phòng nóng ngột ngạt. Bây giờ mấy ông an ninh dẫn tôi vào một nhà hàng đẹp giữa rừng dương cao vút và những bóng dừa hiền hòa. Nhưng vào trong nhà hàng liền có sự tách nhóm. Ông chỉ huy ngồi bàn riêng, có người ban quản lí Resort ra ngồi tiếp. Còn lại, hai người kèm tôi cùng lái xe và tôi ngồi ở bàn cách xa.

Tôi hiểu họ đưa tôi đến đây chỉ để cách li tôi thật xa với không khí chính trị nóng rực trực chờ bùng nổ biểu tình ở thành phố. Như hôm tôi đến dự phiên tòa phúc thẩm xử Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, họ đã bắt tôi đưa về giam giữ ở trụ sở công an phường Bến Thành suốt một ngày. Đến khi phiên tòa kết thúc, họ mới áp giải tôi về tận nhà.

Bữa cơm được dọn ra ở hai bàn cách biệt đó. Ông chỉ huy đến chỗ tôi mời tôi ăn cơm. Tôi hỏi: Tôi được anh mời cơm tức là tôi là khách mời của anh phải không? Vâng, tôi mời. Với khách mời cần có lịch sự tối thiểu. Tôi đề nghị cần có hai điều lịch sự tối thiểu là. Một, các anh trả lại cho tôi điện thoại và máy ảnh các anh đã thọc tay vào túi tôi lấy. Ông chỉ huy liền bảo chưa được. Tôi nói tiếp. Hai, tôi cần được biết ai mời cơm tôi chứ. Đến bây giờ tôi vẫn không biết các anh là ai, xã hội đen hay công an. Vì cách các anh bắt tôi như xã hội đen bắt người. Ông chỉ huy đưa tay cho tôi bắt và nói: Tôi tên Tâm. Tôi bắt tay người xưng tên Tâm và nói: Cảm ơn lời mời của anh nhưng tôi không ăn uống gì để phản đối cách bắt người phi pháp của các anh. Tôi ra chiếc bàn trống ngồi quay lưng lại bàn mấy người ăn uống nhưng tôi cứ phải thấy nhân viên nhà hàng diễu ngang qua mặt tôi mang đặc sản biển đến tiếp cho bàn ông chỉ huy. Ăn xong ông chỉ huy được dẫn đi nghỉ. Ba người an ninh cùng tôi vạ vật trên mấy chiếc ghế nhà hàng qua buổi trưa nắng nóng.

Hơn hai giờ chiều. Tôi và hai người đi kèm ngồi đợi ra ô tô. Để kiểm tra tên ông chỉ huy là thật hay giả, tôi đột ngột hỏi: Anh Tâm ra chưa? Bị bất ngờ, người được hỏi chưa kịp nhớ ra cái màn tự giới thiệu “Tôi là Tâm” của ông chỉ huy nên ngẩn ra, hỏi lại tôi: Tâm nào? Tôi cười: Người chỉ huy các anh tự giới thiệu “Tôi là Tâm” đó. Vậy là anh đó không phải tên Tâm rồi. Ngồi trong ô tô trở lại thành phố, tôi bảo ông chỉ huy: Tôi biết tên anh không phải là Tâm. Ông chỉ huy phủ nhận điều tôi nói một cách yếu ớt. Tôi tiếp: Làm việc không đàng hoàng, đến cái tên cũng phải giấu giếm. Người kèm bên trái tôi, quát: Sao không đàng hoàng? Cách các anh bắt tôi phi pháp là không đàng hoàng.

Hai người kèm tôi, người bên trái luôn gây sự, sừng sộ, trấn áp tôi, người bên phải chỉ im lặng. Lần duy nhất anh ta lên tiếng là khi tôi bảo biểu tình là quyền công dân chính đáng của người dân, anh ta khẽ hỏi: Điều luật nào cho phép biểu tình. Nghe tôi nói: Điều 69 Hiến pháp 1992 và điều 25 Hiến pháp 2013 đều cho người dân được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình, anh ta lại im lặng. Ở chỗ nghỉ trưa, khi chỉ có tôi và anh ta, tôi nói: Các anh quá lạm quyền trong việc bắt người, phá biểu tình. Không còn biết đến pháp luật. Không còn biết đến quyền con người. Không còn biết rằng đất nước đang vô cùng nguy khốn. Anh ta cũng im lặng.

Trên đường trở về, con người công cụ hung hăng và xấc xược lại căng giọng mạt sát tôi: Bảy, tám mươi tuổi mà chạy xe trốn lui lủi không biết nhục. Văn hay chữ tốt chẳng làm được việc gì có ích, chỉ đi gây rối. Nhà văn cái gì loại đó. Tôi cũng lớn tiếng với anh ta: Tôi với các anh chỉ bất đồng chính kiến. Tôi không phải tội phạm. Anh không được xúc phạm tôi. Chỉ là con người công cụ, không có lí lẽ gì nên anh ta vẫn lặp đi lặp lại nhiều lần những điều vừa nói.

Thông tin cá nhân trong điện thoại cũng là bí mật riêng tư được pháp luật bảo đảm nhưng khi ô tô dừng đợi xuống phà Bình Khánh, con người công cụ đó lại mang điện thoại của tôi ra khởi động máy và nói: Xem đám bạn có nhắn tin gì không. Anh ta lại thản nhiên chăm chú đọc từng tin nhắn còn lưu trong thẻ nhớ. Bỗng điện thoại của tôi mà anh ta đang cầm đổ chuông. Anh ta đưa điện thoại lên tai và giục người gọi đến: Nói đi!

Đưa tôi về trước khối nhà tôi ở, anh ta mới trả lại tôi điện thoại và máy ảnh. Xe máy của tôi cũng đã có người đưa về hầm để xe dưới nhà tôi. Con người công cụ lại vằn mắt bảo tôi: Tôi nhắc lại. Ông ra khỏi nhà, tôi bắt! Nói với con người này là thừa, tôi chỉ trừng mắt nhìn thẳng vào mắt anh ta. Quen phách lối ra uy và quen với sự phục tùng khiếp sợ của đối tượng bị trấn áp nên trước cái nhìn đáp trả của tôi, anh ta giận dữ dướn người muốn đánh tôi. Nhìn vẻ hung dữ, nhìn cái dướn người của sức mạnh bạo lực, tôi hiểu vì sao nhiều người dân bị đánh chết trong trụ sở công an đến thế. Những con người công cụ này chỉ được giáo dục và rèn luyện về bạo lực. Bạo lực được tuyệt đối hóa. Lòng trung thành cũng được thể hiện bằng bạo lực. Với họ, chỉ có một giá trị là đảng cộng sản của họ. Còn lại, tất cả những gì không phải đảng, trái với đảng đều là xấu xa, tội lỗi, chẳng ra gì, chẳng có giá trị gì, kể cả mạng sống của người dân lương thiện!

Về đến nhà dù đói và mệt rã người, tôi cũng mở ngay máy vi tính vào các trang mạng xem tin tức cuộc biểu tình sáng nay. Cuộc biểu tình của những mưu đồ phá hoại đen tối thì được làm ngơ để diễn ra suốt hai ngày, đánh phá tan hoang nhiều doanh nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai, đánh sập lòng tin của nhà đầu tư với Việt Nam. Cuộc biểu tình ôn hòa trật tự của lòng yêu nước, của ý chí quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của người dân Sài Gòn thì bị lực lượng công an đông đảo và hung hãn dẹp tan. Nhiều bạn trẻ vừa đến nơi tham dự biểu tình đã bị bắt, bị đánh trong đồn công an. Đọc tên các bạn trẻ bị bắt, bị đánh tôi lại nhớ đến những lời mạt sát tôi của người bắt tôi. Với những người có tuổi như tôi, họ đánh vào danh dự, vào nhân cách, họ sử dụng bạo lực tinh thần. Với những người trẻ, họ đánh vào thân xác, họ sử dụng bạo lực cơ bắp.

Cuộc biểu tình chính đáng là tiếng nói của khí phách, của lịch sử Việt Nam với quân xâm lược. Dẹp tan cuộc biểu tình đó đã làm đẹp lòng quân xâm lược và là nỗi đau của nhân dân, của lịch sử Việt Nam.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Chế độ toàn trị không có khả năng gìn giữ “ổn định chính trị” như nhiều người vẫn tưởng lầm- Mồi lửa đã ở dưới đống củi.

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2014

Mồi Lửa & Đống Củi

19-5-2014

Huy Đức

Theo FB Osin Huy Đức

Sự kiện Bình Dương – Vũng Áng cho thấy, khi gậy gộc đã ở trong tay đám đông, mọi giá trị đều trở nên vô nghĩa[1]. Tuy nhiên, còn “vô nghĩa” hơn nếu sự kiện “Bình Dương – Vũng Áng” được sử dụng như những con ngoáo ộp để dọa dân chúng nhằm củng cố độc tài, toàn trị.

Một Thế Lực Bành Trướng & Một Nền Kinh Tế

Trong số 315 nhà đầu tư chịu thiệt hại trong vụ Bình Dương, có 12 công ty bị cháy lớn (nhiều nhà xưởng bị cháy rụi), 3 công ty bị cháy nhỏ, 33 công ty bị trộm cướp tài sản, 196 nhà xưởng bị đập phá, 241 văn phòng bị hư hại, có nhiều văn phòng bị đốt sạch, phá sạch. Con số thiệt hại chưa được quy thành tiền nhưng cho dù nó lớn tới mức nào, đó cũng chỉ là những tổn thất có khả năng đo, đếm được.

Chưa biết bao giờ các nhà máy trong 29 khu công nghiệp ở Bình Dương mới có thể trở lại hoạt động bình thường. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp ngay tới hơn hai trăm ngàn lao động Việt Nam. Thiệt hại vì sự sút giảm uy tín của môi trường đầu tư còn khó định lượng hơn.

Trong mấy năm gần đây, Trung Quốc là thị trường có mức độ phát triển tốt nhất của ngành hàng không Việt Nam. Trước 13-5-2014, trung bình mỗi ngày có gần 20 chuyến bay Việt – Trung. Nay con số đó đang có nguy cơ bằng không. Thiệt hại cho Hàng không Việt Nam có thể lên đến hàng nghìn tỷ.

Chủ một resorts thường xuyên có 30% khách đến từ Trung Quốc ở Hội An cho biết, tất cả khách đặt phòng người Trung Quốc đều đã “cancelled”. Hàng nghìn biệt thự trên bãi biển Đà Nẵng vốn lâu nay sống nhờ khách Trung Quốc nay đang lần lượt bị trả lại…

Những phản ứng vừa qua cho thấy, người Việt Nam chỉ mới nhạy cảm trước một Trung Quốc bành trướng, trong khi, Trung Quốc còn là một nền kinh tế lớn.

Yếu Tố Bên Trong

Người Việt có vẻ như đã xích lại gần nhau trong những ngày vừa qua. Dân chúng dễ dàng bỏ qua những chính sách đã đưa đất nước lún sâu. Một vài nhà lãnh đạo bỗng dưng sáng lên. Nhưng, chúng ta sẽ làm gì nếu giàn khoan HD 981 vẫn nằm lì ngoài biển đông. Chúng ta sẽ làm gì nếu tất cả những nguyên nhân làm cho đất nước thất thế, tụt hậu vẫn tiếp tục phát huy; những kẻ bảo thủ, trì trệ vẫn bình chân và bọn tham nhũng vẫn tiếp tục ngự trị.

Một quốc gia không thể giữ yên bờ cõi nếu không đoàn kết. Nhưng nếu một quốc gia chỉ thực sự đứng bên nhau khi “tổ quốc bị xâm lăng” thì bi kịch còn lớn hơn. Nếu không sớm tìm ra một yếu tố bên trong để đoàn kết quốc gia, chủ nghĩa dân tộc cực đoan sẽ luôn dễ dàng bị các bên lợi dụng (cả Chính phủ và những người được coi là “dân chủ”).

Cái giá mà dân tộc Việt Nam phải trả cho cuộc chiến kéo dài mười năm, 1979-1989, là không chỉ bằng sự kiệt quệ nội lực, sự cô lập trên trường quốc tế mà còn bằng xương, máu của hàng triệu thanh niên. Chúng ta cần một chính phủ ứng xử với Trung Quốc bằng tư thế của một quốc gia có chủ quyền chứ không phải một chính phủ, lúc thì quá lệ thuộc, lúc lại đẩy dân ra chỗ hòn tên mũi đạn.

Sáng 1-1-2014, khi nói chuyện với chúng tôi, ông Trần Việt Phương, người giúp việc của nhiều nhà lãnh đạo Hà Nội – từng sống và làm việc bên cạnh Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh từ 1949 – 1969 – nói: Trong lịch sử nghìn năm giữ nước, chưa có thời nào Việt Nam mất cảnh giác và chịu lệ thuộc vào Trung Quốc như ‘triều đại’ ngày nay. Sở dĩ có điều đó là vì chúng ta đã nhiều lúc ứng xử với tư thế một ông em ngoan, ngây thơ tin các ông anh cũng vì tinh thần quốc tế vô sản. Theo ông Trần Việt Phương, thời còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã từng ở trong một nền thực dân kém văn minh hơn nền thực dân trước kia.

Trong những ngày giàn khoan HD 981 đang ở trong vùng biển Hoàng Sa nhiều người Việt bàn đến chuyện “thoát Trung”. Nhưng theo tôi trước khi “thoát Trung”, người Việt phải thoát ra khỏi chính vấn đề đang ở trong tay người Việt.

Năm 1974, nếu người Việt chúng ta ở chung một chiến hào, chắc chắn Hoàng Sa không thể rơi vào tay Trung Quốc. Chắc chắn không có sự kiện HD 981. Chắc chắn Trung Quốc không thể khoan vào những nơi người Việt Nam rất dễ bị tổn thương.

Theo tôi, điều cấp bách nhất mà chúng ta, bao gồm cả những người cầm quyền, phải làm là phải thoát hoàn toàn ra khỏi ý thức hệ, điều khiến cho Chính quyền có những lúc “ngây thơ” tin vào “mười sáu chữ vàng”; điều đã khiến cho lãnh thổ quốc gia bị hơn hai mươi năm chia cắt; điều khiến cho người Việt Nam, gần 40 năm sau chiến tranh, vẫn không thể nào ngồi bàn với nhau hòa giải.

Giai Cấp Trai Làng

Nói chuyện với hàng chục chủ doanh nghiệp và công nhân ở Bình Dương, chúng tôi nhận thấy cách lôi kéo công nhân biểu tình hôm 13-5-2014 gần giống như cách mà các cuộc đình công vẫn diễn ra ở đây. Liên đoàn Lao động không bao giờ có vai trò nào ngoài việc buộc các doanh nghiệp phải trả công đoàn phí hàng tháng một khoản tiền bằng 2% quỹ lương. Đứng sau các cuộc đình công thường là một bọn người giấu mặt.

Bọn người tương tự đã xuất hiện vào ngày 13-5-2014, xông vào các nhà máy, yêu cầu giới chủ phải cho công nhân nghỉ để đi “biểu tình chống Trung Quốc”. Đề nghị này ngay lập tức được công nhân hoan nghênh. Một số bỏ về nhà nghỉ ngơi, vui vì được “hưởng nguyên lương”. Một số khác đi theo những người cầm đầu cuộc “biểu tình”. Những công nhân vô tội này không ngờ rằng, họ đang bị kéo vào một âm mưu nguy hiểm.

Người lao động ở Bình Dương mà những người Marxists thích gọi là “giai cấp công nhân”, thực chất vẫn là những nông dân. Trong số 235.800 lao động làm việc trong 29 khu công nghiệp ở Bình Dương chỉ có 9,8% là người địa phương. Họ phải rời bỏ quê hương vì chính sách đất đai và chính sách công nghiệp hóa sai lầm.

Chính sách đất đai không cho phép tích tụ những mảnh ruộng manh mún để hình thành các trang trại lớn, nơi có thể hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp chế biến nông sản, nơi các trai làng có thể ở tại chỗ mà ly nông thay vì phải ly hương.

Họ bị dồn vào một nơi cách xa lũy tre, vẫn chất phác nông dân nhưng bị lẫn trong bộ đồng phục, không danh tính, không làng xóm. Họ ngây thơ đi theo đoàn “biểu tình chống Trung Quốc”, bị cuốn trong một cơn kích động, nghĩ là mọi hành động đập phá, lấy cắp của họ sẽ bị lẫn vào đám đông.

“Ý Thức Hệ”

Hôm 29-4-2014, Cựu Bộ trưởng Trương Đình Tuyển đã được hoan nghênh khi ông phát biểu công khai ở Diễn đàn kinh tế mùa xuân Hạ Long: “Đã đến lúc phải thừa nhận xã hội dân sự”.

Nhưng, cũng ông Trương Đình Tuyển vào ngày 17-4-2014, khi nói chuyện nội bộ về TPP với các đại biểu quốc hội ở Văn phòng Quốc hội phía Nam lại cho rằng, phá bỏ thế độc quyền của Liên đoàn lao động Việt Nam (cho công nhân lập các công đoàn độc lập), là điều không thể thương nghị.

Hy vọng ông Trương Đình Tuyển, người đang cố vấn cho Chính phủ về đàm phán TPP, tìm hiểu vai trò Liên đoàn lao động trong các vụ đình công, bạo động, ở Bình Dương, để thấy, chỉ vì ngăn cản công nhân hình thành các tổ chức đại diện cho mình (điều kiện mà TPP đòi), khi lâm sự, chủ doanh nghiệp cũng như Đảng, Nhà nước đã không có ai để mà “thương nghị”. Công nhân nhanh chóng bị cuốn vào những đám đông không còn khả năng kiểm soát. 

(Công đoàn tại mỗi doanh nghiệp là một tổ chức của nhà nước, trực thuộc đảng. Ông  Chủ tịch Tổng Liên đoàn LĐVN Đặng Ngọc Tùng là Ủy viên Trung Ương đảng csvn. Tổng liên đoàn là cơ quan lãnh đạo của các cấp Công đoàn (nguồn)Công đoàn có nhiệm vụ theo dõi  công nhân nào có hoạt động bất thường khả nghi để báo cáo với công an và đảng ủy địa phương, hòng dập tắt ngay từ sớm các cuộc tổ chức biểu tình đòi quyền lợi, tăng lương… Công đoàn không đại diện cho quyền lợi của công nhân. Bởi vậy, thực tế cho thấy, công đoàn cơ sở tại mỗi doanh nghiệp hay công ty không có thể ngăn cản công nhân trong các ngày biểu tình 12,13, và 14-5-2014 tại Bình Dương và Hà Tỉnh- theo Trần Hoàng

Cũng hôm 17-4-2014, ông Trương Đình Tuyển giải thích, Liên đoàn lao động là tổ chức của Đảng, giữ vị trí độc quyền của nó là giữ một đặc trưng của chế độ. Tiền thuế của dân đang được chi để nuôi các đoàn thể quốc doanh. Điều này rất dễ ru ngủ Chế độ khi trong ấm, ngoài êm. Nhưng, khi lâm trận thì mới thấy những tổ chức rình rang tốn kém đó nhanh chóng trở nên vô dụng.

Cựu Phó thủ tướng Trần Phương, một nhà lý luận gần gũi với Tổng bí thư Lê Duẩn thừa nhận: “Cho đến trước khi Liên Xô sụp đổ, đầu óc chúng tôi vẫn bị cầm tù trong sự giáo điều của chủ nghĩa Marx – Lenin”. Thật khó để biết một cách chắc chắn, thế hệ lãnh đạo hiện nay đã để cho đầu óc của mình ra khỏi “nhà tù ý thức hệ” như thế hệ Trần Phương hay chưa. Một người được coi là cởi mở như ông Tuyển, mà vẫn tư duy như vậy thì liệu có ai thực sự đã thoát khỏi “chiếc còng tư tưởng”.

“Mồi Lửa Đã Ở Dưới Đống Củi”

Nếu có một xã hội dân sự trưởng thành, công nhân có các tổ chức đại diện cho mình, chắc chắn sẽ không dễ bị kéo vào một đám đông như thế. Nếu có một nhà nước pháp quyền (và có luật biểu tình), cảnh sát tự tin vào tính chính danh của quyền lực công, chắc chắn đã có hành động thích hợp trước khi đám đông phạm tội.

Không chỉ gây ra thiệt hại, phải coi sự kiện “Vũng Áng – Bình Dương” là những cảnh báo sớm. Một chế độ toàn trị rõ ràng đã không có khả năng gìn giữ “ổn định chính trị” như nhiều người vẫn tưởng lầm. Mồi lửa đã ở dưới đống củi.

Đi đến tự do chính trị mà không có lộ trình thích hợp thì rất dễ gây rối loạn. Nhưng khước từ dân chủ hóa thì sự sụp đổ là chắc chắn xảy ra. Khi đó, bạo loạn sẽ không còn ở mức độ “Vũng Áng – Bình Dương” như chúng ta vừa chứng kiến.

Việt Nam đã rất cô độc trong xung đột Biển Đông không chỉ vì không có ai thực sự là đồng minh, mà còn, thay vì hòa vào xu thế của thời đại văn minh, Hà Nội lại tự xích mình trong nhóm những quốc gia bị “loài người (thực sự) tiến bộ” đặt sang bên lề thương hại. Cho dù không thể có ai là “bạn vĩnh viễn”, nhưng nếu Việt Nam có một chế độ chính trị tiến bộ, bên trong tôn trọng dân chúng, bên ngoài chỉ “trao đổi vàng” với những nhà nước dân chủ văn minh, chúng ta chắc chắn sẽ có rất nhiều bạn đồng hành.

Trong những ngày này, tôi tin là có hàng triệu người Việt Nam tuy không xuống đường biểu tình nhưng vẫn đang nung nấu trong mình lòng yêu nước. Nhưng tôi tin, không ai, không riêng một đảng phái nào, đứng riêng lẻ mà có thể tìm được cho Việt Nam một con đường đi đến dân chủ, văn minh mà tránh được những tháng năm tao loạn.

Mỗi chúng ta phải bắt đầu làm gì đó trong nỗ lực của mình, để Đảng cầm quyền ngồi lại với nhân dân, cùng đối thoại để tìm ra lối thoát. Để đất nước rơi vào nông nỗi này, chúng ta có thể đổ lỗi cho những người cộng sản. Nhưng, nếu cứ để đất nước tiếp tục tình trạng này, mỗi chúng ta đều phải cộng đồng trách nhiệm.

Không ai thách thức quyền lực của những người cộng sản nếu như quyền lực đó không đặt chế độ lên trên sự phát triển bền vững của quốc gia. Không ai có thể ngồi mãi trên đỉnh cao quyền lực, Nếu anh thiết lập trên đầu dân chúng một phương thức cai trị thực dân, sẽ có ngày anh trở thành nô lệ trong nền thực dân do chính anh tạo lập.

Đừng cố gắng giữ nền độc tài cho tới ngày con cháu có thể thừa kế ngai vàng. Hãy thiết lập một thể chế mà nếu con cái quý vị xứng đáng, nhân dân sẽ trao “ngai vàng” cho chúng.

________________________

[1] Đám đông không còn phần biệt Hàn Quốc, Nhật hay Đài Loan, trong số 315 công ty có nhà xưởng bị đập phá ở Bình Dương chiều 13 rạng sáng 14-5-2014, chỉ có 12 công ty của Trung Quốc và 5 liên doanh có đối tác là Trung Quốc (không tính Hong Kong).

—————–

[Trích] Đừng cố gắng giữ nền độc tài cho tới ngày con cháu có thể thừa kế ngai vàng. Hãy thiết lập một thể chế mà nếu con cái quý vị xứng đáng, nhân dân sẽ trao “ngai vàng” cho chúng.…bằng lá phiếu.

Nhưng thực tế cho thấy, con cái của các lãnh đạo đảng CSVN  chỉ muốn cha của chúng trao ngai vàng.

>>> Đọc tiếp ở đây,  Con cháu các cụ (4C) ở Việt NamLâm Văn Bé , 
daihocsuphamsaigon.org

————–

►Đi Bình Dương ngày 14-5-2014 tìm hiểu vì sao lại có những chuyện đập phá và cướp bóc như trên các trang mạng xã hội mô tả: Đi giữa dòng bạo động (P.1) -nhạc sĩ Tuấn Khanh

►Bình Dương “Những nhân vật bí ẩn trong dòng người” Đi giữa dòng bạo động (P.2)   nhạc sĩ Tuấn Khanh

 (Trương Minh Đức) 13-5-2014

►Tường Thuật về đình công và biểu tình ở Bình Dương và Biên Hòa ngày 14-5-2014 (Huỳnh Ngọc Chênh)

 

►Đã có 26 người chết và vô số người bị thương tại Khu Công Nghiệp Formosa Vũng Áng – Hà Tĩnh khi cuộc tuần hành ôn hòa ngày 14/5 đã chuyển sang bạo động kinh hoàng

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »