Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Giao Duc’ Category

►Đại học miền Nam trước 1975: hồi tưởng và nhận định

Posted by hoangtran204 on 29/04/2017

Đại học miền Nam trước 1975: hồi tưởng và nhận định

 

Gs Lê Xuân Khoa*

511px-saigonuniversitycollegeofpedagogy

 

Đọc tiếp »

Posted in Giao Duc, Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Sự liên tục Lịch Sử trong nền Giáo dục của miền Nam thời trước năm 1975 (Phạm Cao Dương)

Posted by hoangtran204 on 29/04/2017

Sự liên tục Lịch Sử trong nền Giáo dục của miền Nam thời trước năm 1975

giao-duc-mien-nam-2_1

Gs Phạm Cao Dương

Một trong những đặc tính căn bản của sinh hoạt ở Miền Nam thời trước năm 1975 nói chung và văn hóa miền Nam nói riêng là sự liên tục lịch sử. Nói như vậy không phải là trong thời gian này miền đất mà những người Quốc Gia còn giữ được không phải là không trải qua nhiều xáo trộn. Chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác luôn luôn tồn tại và có những thời điểm người ta nói tới các chế độ độc tài hay quân phiệt và luôn cả cách mạng. Nhưng ngoại trừ những gì liên hệ tới chế độ, quân sự hay an ninh quốc gia, sinh hoạt của người dân vẫn luôn luôn được tôn trọng. Sự liên tục lịch sử do đó đã có những nguyên do để tồn tại, tồn tại trong sinh hoạt hành chánh, tồn tại trong sinh hoạt tư pháp, trong văn chương và nghệ thuật và tồn tại đương nhiên trong sinh hoạt giáo dục. Trong bài này tôi chỉ nói tới tới giáo dục và giáo dục công lập. Đây không phải là một bài khảo cứu mà chỉ là một bài nhận định và những nhận định được nêu lên chỉ là căn bản, sơ khởi, đồng thời không đầy đủ. Một sự nghiên cứu kỹ càng, có phương pháp hơn và đầy đủ hơn là một điều cần thiết.

Giáo dục là của những người làm giáo dục

Giáo dục công lập ở Viẽt Nam đã có từ lâu đời và tùy theo nhận định của các sử gia, tới một mức độ nào đó định chế này đã tồn tại trên dưới mười thế kỷ. Mục đích của nó là để đào tạo nhân tài cho các chế độ, nói riêng, và cho đất nước, nói chung. Các vua chúa Việt Nam thời nào cũng vậy, cũng coi trọng việc học. Có điều coi trọng thì coi trọng, các vua Việt Nam, nói riêng và các triều đình Việt Nam, nói chung, chỉ vạch ra nhữn g đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn ngưới tài mà không trực tiếp can dự vào sinh hoạt giảng dạy của các trường, hầu hết là các trường tư ở rải rác khắp trong nước. Sinh hoạt này hoàn toàn do các thày ở các trường tự do đảm trách. Giáo dục là của những người làm giáo dục, và cho đến khi người Pháp sang, nó là của giới trí thức đương thời, đúng hơn là của các nhà Nho với tất cả những học thuyết, nhửng nguyên tắc căn bản của giới này. Sang thời Pháp, do nhu cầu bảo vệ và phát triển văn minh và văn hóa của họ, người Pháp lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành, việc soạn thảo chương trình vẫn được giao cho các nhà giáo được huấn luyện chuyên môn hay ít ra là lựa chọn nghề dạy học với tinh thần quí trọng kiến thức và yêu mến nghề dạy học dù chỉ là tạm thời về phía người Pháp cũng như về phía người Việt.

Đặc tính kể trên đã liên tục được tôn trọng trong suốt thời gian miền Nam tồn tại và luôn cả trước đó, từ thời Chính Phủ Quốc Gia của CựuÏ Hoàng Bảo Đại. Chức vụ bộ trưởng hay tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng trong việc lựa chọn nhân sự điều hành trong bộ, ngoại trừ các chức vụ có tính cách chính trị như đổng lý văn phòng, bí thư tức thư ký riêng của bộ trưởng… tất cả các chức vụ chỉ huy khác trong bộ, từ thứ trưởng, tổng thư ký, tổng giám đốc, giám đốc cho tới các hiệu trưởng các trường và đương nhiên là các giáo sư, giáo viên đều là những nhà giáo chuyên nghiệp. Lý do rất đơn giản: họ là những người biết việc, rành công việc và có kinh nghiệm, chưa kể tới sự yêu nghề. Chính trị đối với họ chỉ là nhất thời, tương lai của cả một dân tộc hay ít ra là của những thế hệ tới mới là quan trọng. Trong phạm vi lập pháp, rõ hơn là ở quốc hội, các chức vụ đứng đầu các ban hay tiểu ban, dù là thượng viện hay hạ viện đều do các nghị sĩ hay dân biểu gốc nhà giáo phụ trách. Ngọại trừ ở những vùng mất an ninh, những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đã ngưng lại trước ngưỡng cửa của học đường.

Tôn chỉ và mục đích nhằm hướng tới quốc gia, dân tộc và con người, dựa trên những truyền thống cũ

Nói tới ba nguyên tắc căn bản, đồng thời cũng là tôn chỉ và mục đích tối hậu của nền giáo dục của miền Nam trước năm 1975, có người tỏ ý không thích. Lý do có lẽ, tôi chỉ đoán như vậy, là vì ba nguyên tắc này phần nào đã được người Cộng Sản nêu lên trong Đề Cương Văn Hóa 1943 của họ. Ba nguyên tắc đó là Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng, sau này là Nhân Bản, Dân Tộc và Khoa Học trong khi trong Đề Cương Văn Hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì là Dân Tộc, Đại Chúng và Khoa Học.. Ở đây người viết không đi sâu vào khía cạnh này vì dù không thích hay không đồng ý, ba nguyên tắc này vẫn đã trở thành căn bản của nền giáo dục của miền Nam. Chúng đã giúp cho nền giáo dục này giữ được những truyền thống cơ bản của dân tộc và phát triển một cách vững vàng từng bước một để theo kịp với đà tiến triển của cả nhân loại mà không chạy theo những gì của thời thượng để trở thành lai căng, mất gốc, đồng thời cũng không bị gán cho là bảo thủ, lỗi thời.. Tính cách liên tục lịch sử của nền giáo dục của miền Nam sở dĩ có được phần nào là dựa trên những nguyên tắc này, đặc biệt là nguyên tắc Dân Tộc. Nó cho phép người ta đề cao và bảo tồn những truyền thống dân tộc trong học đường, dù đó là những truyền thống thuần túy Việt Nam hay những truyền thống của Khổng giáo, một học thuyết coi giáo dục là công tác cơ bản của con người. Đôi câu đối được khắc trên cổng chính của một trong những trường trung học lớn nhất của miền Nam là trường Petrus Trương Vĩnh Ký sau đây là một trường hợp điển hình:

Khổng Mạnh cương cường tu khắc cốt

Âu Tây khoa học yếu minh tâm

Sự liên tục trong phạm vi nhân sự

Nhân sự ở đây không ai khác hơn là các nhà giáo, căn bản là các nhà giáo chuyên nghiệp. Tôi muốn nói tới các nhà giáo tốt nghiệp từ các trường sư phạm, những người ngay từ thuở thiếu thời đã chọn nghề dạy học làm lý tưởng cho mình và chỉ sống bằng nghề dạy học, vui với nghề dạy học hãnh diện với vai trò làm thày, làm cô của mình, dù đó là sư phạm tiểu học hay sư phạm trung học. Tất cả các vị này vẫn còn nguyên vẹn khi đất nước bị qua phân và đã ở các trường trong Nam khi các trường này được mở cửa trở lại sau một thời gian chiến tranh bị tạm đóng cửa. Sau khi đất nước bị chia cắt và qua cuộc di cư của non một triệu người từ miền Bắc vô Nam, họ lại được tăng cường thêm bởi một số đông các đồng nghiệp của họ từ miền Bắc vô cùng với các trường được gọi là Bắc Viêt di chuyển. Tất cả đã cùng nhau hướng dẫn và điều hành các học đường miền Nam trong thời kỳ chuyển tiếp từ Pháp thuộc sang độc lập, đồng thời cũng là những giảng viên cơ bản trong các trường huấn luyện giáo chức thuộc thế hệ mới.Từ phong thái đến cách giảng dạy, từ cách vào lớp tới cách viết bảng và xóa bảng, các vị này đã để toát ra một sự chừng mực của những nhà sư phạm nhà nghề, khác hẳn với các đồng nghiệp của họ từ ngoại quốc về chỉ lo dạy các môn học chuyên môn. Học đường do đó đã tránh được nạn chánh trị hóa, tránh được nạn cán bộ chánh trị xâm nhập. Nhiều vị vào những lúc tình thế vô cùng tế nhị đã giữ được thế vô tư và độ lập của học đường. Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này nhiều vị xuất thân là cử, tú, kép, mền, luôn cả tiến sĩ của thời trước, những người tinh thâm Nho học, vẫn còn có mặt ở các học đường, đặc biệt là các đại học văn khoa ở Saigon và Huế.

Hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử và chương trình học vẫn giữ được những nét chính của chương trình Pháp và chương trình Hoàng Xuân Hãn

Đây là một trong những đặc tính căn bản của nền giáo dục của miền Nam trong suốt thời kỳ nền giáo dục này tồn tại. Những gì người Pháp thiết lập không những không bị hủy bỏ, coi như tàn tích của chế độ thực dân, đế quốc mà còn được thận trọng giữ gìn, song song với việc bảo tồn truyền thống văn hóa cổ truyền và đạo đức của dân tộc. Người Việt ở miền Nam trong tinh thần cởi mở và tự do đã biết phân định những gì là kìm kẹp và những gì là hay đẹp mà một chế độ chính trị đem lại thay vì cứ nhắm mắt đập bỏ để sau này hối tiếc. Các nhà làm giáo dục ở miền Nam đã tỏ ra vô cùng thận trọng trong mọi quyết định. Những gì gọi là cách mạng vội vã, nhất thời dường như không được chấp nhận. Họ chủ trương cải tổ để thích ứng với hoàn cảnh mới và cải tổ từ từ, kể cả khi thế lực và ảnh hưởng của người Mỹ, từ đó áp lực của họ, đã trở nên rất mạnh qua những chương trình viện trợ của họ. Hệ thống giáo dục do người Pháp từ tiểu học cho đến đại học đã tồn tại dưới hình thức Việt hóa bắt đầu từ thới chính phủ Trần Trọng Kim với chương trình Hoàng Xuân Hãn, vị bộ trưởng giáo dục đương thời. Nó cho phép người ta, từ thày đến trò dễ dàng chuyển sang một nền giáo dục mới của một quốc gia độc lập không hề có chuyện trục trặc. Ngay từ cuối niên học 1944-1945 người ta đã tổ chức đươc những kỳ thi ở bậc tiểu học bằng tiếng Việt mà không hề có chuyện than phiền, khiếu nại. Điều nên nhớ là chính phủ Trần Trong Kim chỉ tồn tại có vẻn vẹn bốn tháng trời hay hơn một trăm ngày với những phương tiện giao thông và liên lạc hết sức nghèo nàn. Sau này khi gửi sinh viên ra ngoại quốc du học, miền Nam đã không gặp phải những khó khăn trong việc đối chiếu bằng cấp và khả năng của các đương sự, không phải chỉ riêng cho những ai muốn sang du học bên Pháp mà luôn cả cho những ai muốn sang các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc, Nhật… vì đó là một hệ thống giống như các hệ thống khác thuộc thế giới tây phương, một hệ thống gần với hệ thống chung của quốc tế.

Duy trì mối liên tục lịch sử cũng cho phép người ta sử dụng được các sách giáo khoa của người Pháp và những sách giáo khoa về lịch sử và văn chương Việt Nam do chính người Việt soạn thảo từ thời trước năm 1945 và sau đó là từ năm 1947 đến năm 1954 ở những vùng đất của người quốc gia. Điển hình là các sách toán và khoa học bằng tiếng Pháp, do các tác giả Pháp soạn và xuất bản ở bên Pháp nhưng đã được không những các thày mà luôn cả các trò sử dụng làm tài liệu hay để tự học. Trong phạm vi Văn chương, những sách của Dương Quảng Hàm, đặc biệt là hai cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển đã được dùng rất lâu dù cho nhiều sách giáo khoa khác đầy đủ hơn đã được soạn thảo. Cũng vậy, trong phạm vi sử học với cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Về nội dung, đặc biệt là trong văn học, người ta cũng thấy nền giáo dục của miền Nam vẫn giữ được tinh thần tự do, cởi mở. Các tác giả được đem dạy hay trích dẫn đã được lựa chọn căn cứ vào giá trị của các công trình của họ thay vì gốc gác và sự lựa chọn chế độ của họ, thay vì họ ở miền Bắc hay ở miền Nam trong thời gian này. Tô Hoài, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân… là những trường hợp điển hình.

Trong phạm vi thi cử, các kỳ thi được thiết lập từ thời Pháp hay có ở bên Pháp vẫn được duy trì, đặc biệt là hai kỳ thi tú tài. Ở bậc đại học hệ thống tổ chức cũng

tương tự. Ảnh hưởng của người Mỹ chỉ được chấp nhận một cách từ từ với nhiều thận trọng, mặc dầu người Mỹ đã bỏ ra nhiều tiền bạc và nhân sự qua các chương trình viện trợ. Hình thức thi trắc nghiệm áp dụng cho các kỳ thi tú tài chỉ được thực hiện rất trễ về sau này và dư luận đã đón nhận nó với những nhận định khác nhau. Tiếc rằng chỉ vài năm sau miền Nam đã không còn nữa.

Trong phạm vi tổ chức thi cử, người ta có thể thấy không riêng gì quan niệm, cách tổ chức, cách coi thi và chấm thi cũng như cách cho điểm, định kết quả và công bố kết quả hãy còn chịu ảnh hưởng nhiều của người Pháp mà còn luôn cả những thời quân chủ trước đó nữa. Quyền uy của các giám khảo, các chánh phó chủ khảo, các giám thị đã luôn luôn được tôn trọng và nhiều vị chủ khảo đã tỏ ra vô cùng can đảm giữ thế độc lập cho mình hay biết khôn ngoan né tránh cho mình và cho các đồng nghiệp của mình khi phải lãnh nhiện vụ ở những vùng xa thủ đô Saigon. Về phía chính quyền thì từ trung ương đến địa phương hầu như không hề có sự trực tiếp can thiệp . Báo chí, các cơ quan truyền thông vẫn luôn luôn hiện diện và sẵn sàng phanh phui mọi chuyện.

Một Xã hội tôn trọng sự học và những người có học

Đây là một trong những đặc tính cơ bản của văn hóa Việt Nam mà xã hội miền Nam nói chung và nền giáo miền Nam nói riêng thời trước năm 1975 được thừa hưởng. Đặc tính này đã được biểu lộ không riêng qua tinh thần tôn sư trọng đạo mà còn được coi như một giá trị và là một giá trị đứng đầu trong mọi giá trị.

Sự học là một giá trị và giáo dục là một giá trị. Sự học hay giáo dục làm nên con người chứ không phải là những yếu tố khác, dù đó là quyền uy và tiền bạc. Người làm công tác giáo dục được tôn trọng và từ đó có được những điều kiện ít ra là về phương diện tinh thần để thực thi sứ mạng của mình mà những người làm chánh trị, những nhà chủ trương cách mạng, kể cả những người cấp tiến nhất cũng phải kiêng nể. Giữa những người cùng làm công tác dạy học cũng vậy, tất cả đã tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng các bậc tôn trưởng, kể cả những người đã khuất. Sự thiết lập những bàn thờ tiên sư ở các trường trung học Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho và Phan Thanh Giản ở Cần Thơ phải được kể là tiêu biểu cho tinh thần giáo dục của miền Nam.

Tạm thời kết luận

Bài này được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục hiện tại ở Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định còn có những hình ảnh của các kỳ thi đi kèm. Tất cả đã xảy ra hàng ngày và đã chiếm những phần không nhỏ trong thời lượng phát thanh hay phát hình hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ bãi trường hay khởi đầu của một niên học. Mọi chuyện đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chời đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến. Nhiều người còn dùng hai chữ phá sản để hình dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người tỏ ý nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975. Ở đây, như đã nói trong phần mở đầu, người viết chỉ vắn tắt ghi nhận một số những dữ kiện căn bản . Một công trình nghiên cứu qui mô hơn và kỹ càng hơn còn cần phải được thực hiện trước khi người ta có thể khẳng định những nhận xét này.

Tuy nhiên có một điều người ta phải để ý và thận trọng khi nói tới cách mạng và đặc biệt khi làm cách mạng. Người ta có thể xóa bỏ một chế độ chính trị bằng cách mạng, từ đó đoạn tuyệt với quá khứ nhưng người ta không thể theo đà đó mà làm cách mạng trong những phạm vi sinh hoạt khác trong đó có giáo dục. Nhận định này có thể bị coi là bảo thủ, nhưng đó là một sự thật và một sự thật bắt đầu bằng kinh nghiệm. Có điều vì bằng kinh nghiệm nên khi biết được thì đã quá muộn.

_______

http://daihocsuphamsaigon.org/index.php/bienkhao/153-phamcaoduong/131-sulientuc

Posted in Giao Duc, Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, tác giả ‘Cây Cỏ Việt Nam,’ qua đời tại Canada

Posted by hoangtran204 on 03/02/2017

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, tác giả ‘Cây Cỏ Việt Nam,’ qua đời

Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ Hình: khoahocsaigon.com)

MONTRÉAL, Canada (NV) –

 

Đọc tiếp »

Posted in Giao Duc, Nhan Vat | Leave a Comment »

►Cô giáo lấm lem bùn đất đến trường hàng ngày lay động mạng XH

Posted by hoangtran204 on 15/01/2017

Vietnamnet.vn
9-1-2016
Hình ảnh nữ giáo viên trong bộ quần áo dính đầy bùn đất, ngồi trên chiếc xe máy cũ, vượt hơn 50km để đến trường ở Điện Biên khiến nhiều người cảm phục.
Cô Hòa chia sẻ dù khó khăn nhưng để tiếp tục gieo con chữ, các nữ giáo viên vẫn học cách đi xe để chống trượt và làm quen với việc khắp người đầy bùn đất.

 

Đọc tiếp »

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

►Một Đóa Hoa (Nhầu) Cho Người Ngã Ngựa– Thời đại HCM là rực rỡ nhất?

Posted by hoangtran204 on 22/08/2016

Một Đóa Hoa (Nhầu) Cho Người Ngã Ngựa

Tưởng Năng Tiến

Nhật ký Vương Trí Nhàn, ghi ngày 14 tháng 8 năm 1979, có đoạn rất xúc cảm. Đọc mà không ứa nước mắt (chắc) cũng ứa gan: “Các bệnh viện quá đông người. Bệnh viện St. Paul khoa nhi ba trẻ con một giường, đêm có đứa ngã xuống đất chết luôn. Không có điện, nhiều trẻ bị chết, các bà mẹ trông cả về Lăng Bác mà khóc.”

Ba mươi năm sau, vào ngày 1 tháng 12 năm 2008, báo Tuổi Trẻ đi tin: “Tám bệnh nhân trên một giường… tại các khoa hô hấp, sốt xuất huyết BV Nhi Đồng 1, bệnh nhân nằm gần kín các hành lang… Ban ngày hành lang còn có lối nhỏ để đi, chứ đến đêm kín mít chiếu. Mỗi gia đình là một khoảnh chiếu, cứ nằm vậy để thay nhau chăm con…”

Những bà mẹ hồi năm 1979 nay đã phải thành nội/ngoại hết trơn. Những em bé thơ, vào thời điểm đó (nếu còn sống sót) hẳn cũng đều làm mẹ cả rồi. Phụ nữ thuộc thế hệ này, chắc chắn, không còn ai “trông về Lăng Bác mà khóc” nữa. Dân Việt – cũng may – tuy ngây thơ thật, ngây thơ lâu, và ngây thơ lắm nhưng không ngây thơ mãi!

Ảnh: vhea.org

Khóc lóc không giải quyết được gì. Để cho người thân có một chỗ nằm ở nhà thương thì điều cần là vài cái phong bì, chứ không phải là những giọt nước mắt.

Ở nhà giam cũng thế, theo lời của cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên: “Cánh sĩ quan được tắm hàng ngày vào các buổi chiều. Một tuần được 3 lần gội đầu. Nước và thời gian cũng được nhiều gấp đôi cánh tù bình dân. Sĩ quan, là những người tù có tiền. Nói cho chính xác, đám này thuộc diện có gia đình ở ngoài khá giả… Ngay cả chỗ họ nằm, cũng là gia đình lo lót, mua cho. Thời điểm tôi bị giam ở Trần Phú (2008- 2009) mỗi xuất nằm trên sàn trung tâm có giá từ 2 đến 3 triệu đồng. Sàn đối diện giá rẻ hơn một chút, dao động từ 1 đến dưới 3 triệu, tùy theo vị trí.”

Một “xuất nằm” trong nhà thương, hay trong nhà lao mà cũng cần chạy tiền thì có chỗ nào ở nước CHXHCNVN mà không phải lo lót – kể cả chỗ đứng rất khiêm tốn, trước bảng đen/phấn trắng (với đồng lương còm cõi) của những người dậy học.

Trong bức Thư Ngỏ Gửi Quốc Hội & Ba Bộ Trưởng, gửi hôm 17 tháng 10 năm 2015, nhà báo Nguyễn Thu Trang viết:

“Từ năm 2009 đến nay, 185 giáo viên của huyện Sóc Sơn được UBND huyện nhận vào làm với mức giá, trên, dưới 50 triệu đồng/1 người. Không có tiền thì không bao giờ xin nổi việc và ngược lại. Vì muốn có việc làm, nhiều giáo viên phải vay mượn tiền để chạy việc, thông qua các đường dây cò mồi, một số trường, đích thân hiệu trưởng nhận tiền theo giá chung. Nhưng mọi quyết định cuối cùng đều nằm ở huyện…”

Tôi đã đặt bản thân mình vào hoàn cảnh của họ để viết giúp họ một bức thư, như một tiếng kêu cứu thống thiết, gửi đến những người có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cao nhất có thể xem xét lại giúp họ…”

Nguyễn Thu Trang chắc cũng không ngờ rằng những kẻ “quyền hạn cao nhất” mà bà vừa gửi đến “tiếng kêu cứu thống thiết” cũng phải chạy (thấy mẹ luôn) mới thành được bộ trưởng hay dân biểu quốc hội, chớ chức tước đâu phải là đồ miễn phí. Điều khác biệt duy nhất giữa họ và những cô/thầy giáo (đáng thương) là một đằng chạy chỗ để kiếm sống qua ngày, còn đằng khác chạy chức để đầu tư.

Đại Biểu Quốc Hội Lê Văn Cuông cho biết: “Bây giờ chạy vào Quốc hội là bình thường, có tiền là chạy được, có quan hệ thân là chạy được.” Và chạy xong thì “tránh sao khỏi tâm lý ít nhất là hoàn vốn,” theo lời của nhà báo Bùi Hoàng Tám.

Sao hoàn vốn thôi sao, cha nội? Đâu có quan chức nào chịu (“huề”) như vậy? Họ đầu tư là để kiếm lời, bằng mọi cách, càng nhiều càng tốt, bất kể nhân phẩm và đạo lý. Xin đơn cử một trường hợp tiêu biểu, theo Wikipedia:

Võ Kim Cự (sinh 1957) là một chính khách Việt Nam, Bí thư, Chủ tịch đoàn Liên minh HTX Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13, khóa 14 thuộc đoàn đại biểu Hà Tĩnh, thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

Không phải khi khổng khi không mà ông Võ Kim Cự trở thành Bí Thư Tỉnh Ủy, Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân, Đại Biểu Quốc Hội… Ở một xứ sở mà một chỗ nằm trong nhà thương, hay nhà tù, đều phải mua bằng tiền thì để được trở thành chính khách – tất nhiên – là phải chạy điên luôn!

Ông Cự rất chịu chạy, và chạy rất nhanh nhưng – đôi lúc – có lẽ vì chạy bạo quá nên không tránh khỏi dăm ba điều tiếng (eo sèo) của người dân địa phương:

Ông Võ Kim Cự xuất thân từ cán bộ phong trào đoàn xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên. Ông chưa học hết cấp 3, nhưng nghe nói đã có bằng bổ túc công nông.

Khi lên làm đoàn xã rồi đến đoàn huyện ở Cẩm Xuyên, ông có một lần bị kỉ luật vì làm cho một cô giáo mầm non bầu bí.

Năm 1991, sau khi Hà Tĩnh tách ra từ Nghệ Tĩnh, Hà Tĩnh thành lập công ty khai thác Titan liên kết với Úc có tên là Khoảng sản Hà Tĩnh, tiền thân của tổng công ty Khoáng sản Thương Mại bây giờ. Trong quá trình làm ở Mitraco, ông Cự theo học lớp đại học tại chức luật được tổ chức ở thị xã Hà Tĩnh năm 1995-1997. Khi đó ông Cự là lớp trưởng, một người có vai trò tổ chức đưa đón thầy cô giáo và bố trí nơi ăn, chỗ nghỉ cho các thầy cô về dạy tại chức. Nên khi tốt nghiệp ông Cự đại loại cao, nhiều người thắc mắc thì có thầy giáo đã trả lời. “Chúng tôi nhờ có anh Cự giúp đỡ trong khi đi dạy ở đây nên chúng tôi cho anh điểm cao là chuyện dễ hiểu“.

Sau khi có bằng đại học tại chức, ông Cự lên giám đốc rồi công ty chuyển thành tổng công ty nên ông mang danh Tổng giám đốc.

Sau đó vài năm ông lên chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh. Có nghịch lý là trong những năm ông Cự làm giám đốc Mitraco, nhiều dự án được vẽ ra và không thu được gì. Cuối cùng, các dự án này đều được bán dần để trả nợ (mà nhiều người cho là ông dùng tiền để chạy chức phó chủ tịch tỉnh). Trong khi làm phó chủ tịch, ông học Thạc sỹ MBA theo chương trình liên kết với đại học Western Pacific University. Trường này cũng nằm trong danh sách những Scam Universities mà báo chí đã từng nêu. Trớ thêu hơn, ông lại là sinh viên “thủ khoa” của khóa học này!

Trớ trêu hay không thì ông VKC vẫn là người có bằng cấp, học vị “được công nhận” bởi nhà nước hiện hành. Nhờ thế, ông ấy được bầu vào vị trí Phó Chủ Tịch UBND tỉnh, kiêm Trưởng Ban Khu Kinh Tế Vũng Áng. Sau đó là Chủ tịch UBND tỉnh rồi Bí Thư Tỉnh Ủy…

Ở địa vị này, ông VKC đã góp phần không nhỏ vào việc cấp phép cho công ty Formosa mở nhà máy thép ở Hà Tĩnh, và nhận được nhiều ưu đãi “kịch trần” – theo như (nguyên văn) cách dùng từ của báo Đất Việt: “Được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% (doanh nghiệp trong nước là 22%), miễn thuế thu nhập trong bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo; được miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị; miễn thuế tài nguyên…”

Tổng cộng là hơn mười ngàn tỷ đồng tiền hoàn thuế. Theo phỏng tính của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phỏng tính: “Hơn 10.000 tỷ đồng nếu tính vào thời giá cuối năm 2014, đầu năm 2015 thì nó tương đương với 500 triệu USD.”

Thiệt là quá đã, và quá đáng!

Nếu phần lại quả là hai chục phần trăm thì số tiền sẽ là một trăm triệu Mỹ Kim. Ông VKC – tất nhiên – ăn chia tử tế, theo đúng qui trình: đầu tư – hoàn vốn – kiếm lời. Việc làm này hoàn toàn không có gì sai trái nên đương sự được sự tán trợ và ủng hộ nhiệt tình của mọi giới quan chức (lớn/nhỏ) từ trung ương đến địa phương.

Vấn đề chả qua, và chả may, là Formosa lại là đồ độc. Nuốt vào rồi mới biết là lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và e (cả đám) sẽ lôi thôi lớn!

Chủ tịch UBND tỉnh Võ Kim Cự đón tiếp Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm Vũng Áng hồi tháng 9/2014

Vậy mà sau khi sự việc lỡ vỡ thì không thấy người gian nào (khác) mắc nạn hết trơn hết trọi, ngoài cái ông Kim Cự. Sao kỳ vậy chớ?

Câu hỏi thượng dẫn được blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trả lời rành rọt và chính xác: “Dồn hết sức tấn công ông Võ Kim Cự lúc này là cách cứu vãn hệ thống đúng đắn nhất mà đảng Cộng sản đã chọn.”

Thôi thế cũng đành. Chỉ có điều (hơi) khó đành và rất đáng phàn nàn là Đảng còn nhẫn tâm và trơ tráo xua ngay cả một bầy chó dại ra sủa nhặng xị cái người đồng chí (vừa mới vừa bị lộ) hôm qua:

Báo Tiền Phong(18/07/2016): “Formosa và Ba Lần Đụng Độ Ông Võ Kim Cự”

Báo Tuổi Trẻ (22/07/2016): “Ông Võ Kim Cự Có Trách Nhiệm Gì Trong Vụ Formosa Thuê Đất”

Báo Vnexpress (24/07/16) “Formosa Chôn Lấp Chất Thải ở Đâu”

Báo Dân Trí (25/07/2016): “Trả Lời Của Ông Võ Kim Cự Là Lấp Liếm”

Báo Người Lao Động26/07/2016: “Ông Cự quyết cho Formosa thuê đất 70 năm trước khi xin ý kiến”

Báo VnMedia (26/07/2016): “Cận Cảnh Biệt Thự Khủng Của Nguyên Bí Thư Tỉnh Ủy Võ Kim Cự”

Báo Tin Nhanh (27/07/2016) “Phát hiện căn biệt thự ‘khủng’của nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh Võ Kim Cự”

Cái biệt thự to đùng, xây từ 2010, chớ có phải cái kim đâu mà sáu năm sau mới “phát hiện” ra – mấy cha? Trơ tráo tới cỡ đó mà vẫn được xem như là chủ trương “đúng đắn” thì chung cuộc chỉ có sự lựa chọn của ông VKC là sai lầm, và sai ngay từ đầu lận.

Hồi đó, thay vì vào ĐCSVN, nếu ông Võ Kim Cự gia nhập vào một thứ băng đảng nào khác thì đã không đến nỗi. Giới giang hồ đối với những kẻ đồng đảng, hay đồng vụ, tử tế và nghĩa khí hơn nhiều.

 

______

Ngày 24-8-2014, Báo VNExpress đưa tin

Ảnh bệnh nhân đắp nilon nằm dưới mưa gây sốc trong tuần

24-8-2014

Bệnh nhân được người nhà che ô, bịt nilon kín người xếp hàng chờ vào phòng chụp X quang kiểm tra lại vết mổ đã gây chú ý nhất cộng đồng tuần này.

Bệnh nhân đắp nilon dưới mưa chờ kiểm tra vết mổ

“Trời ơi! Thương quá, không thể tưởng tượng nổi. Một bệnh viện lớn ở giữa thủ đô sao lại có cảnh này được”, facebooker Pham Lan Anh chia sẻ.

1-4188-1408760137.jpg

Bệnh nhân đắp nilon dưới mưa chờ kiểm tra lại vết mổ ở Bệnh viện Việt Đức. Ảnh Facebook

Trời mưa nhỏ, các bệnh nhân sau mổ được người nhà che ô, chùm kín nilon quanh người xếp hàng chờ chụp Xquang để kiểm tra lại vết mổ. Hình ảnh được chụp tại Bệnh việt Việt Đức (Hà Nội).

___

Ngoài ra trong tuần còn có những hình ảnh quan tâm khác như: Đường phố Hà Nội với hàng trăm chiếc ôtô hỗn loạn sau cơn mưa, dàn xe siêu sang phủ bụi khi đại gia bị bắt…

_____

Vậy mà TBT Nguyễn Phú Trọng nói:
 
…Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam , là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội…
(Trich, Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại kỷ niệm sinh nhật Bác
VOV13:28 ngày 18/05/2015)
_______
 

Chúng ta không vô can!

FB Trần Thị Lam

1-7-2016

Sau khi tiến hóa từ loài thủy sinh, con người lại gây ô nhiễm, ngược đãi chính môi trường sống của mình. Ảnh: Internet

Sau khi tiến hóa từ loài thủy sinh, con người lại gây ô nhiễm, ngược đãi chính môi trường sống của mình. Ảnh: internet

Vậy là sau bao nhiêu ngày chờ đợi, cuối cùng dù đau đớn, ta cũng phải chấp nhận một sự thật là biển đã bị đầu độc.

Chúng ta tạm bằng lòng vì thủ phạm của tội ác đã được gọi tên.

Những người thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý… rồi đây phải trả lời trước công luận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Nhưng còn chúng ta, chúng ta có thật sự vô can?

Chúng ta đã thờ ơ với tình hình chính trị xã hội của đất nước khi nghĩ rằng mọi việc đã có Đảng và chính phủ lo.

Chúng ta nghĩ chỉ cần chăm sóc cho cái tổ của mình là đủ, những biến động ngoài cánh cửa không ảnh hưởng đến gia đình mình.

Chúng ta chỉ cần yên ổn.

Chúng ta dửng dưng trao vận mệnh của mình và con cháu mình vào tay của những kẻ tham lam và năng lực quản lý yếu kém.

Chúng ta sợ hãi đủ thứ, sợ một từ nhạy cảm, sợ cả cái bấm like với một bài viết bày tỏ quan điểm trên các trang facebook, sợ một tiếng nói thầm, sợ thể hiện chính kiến.

Chúng ta sống câm lặng như những cái bóng hoặc phù phiếm, sặc sỡ như loài côn trùng.

Chúng ta vô cảm.

Chúng ta hèn nhát.

Cho đến một ngày chúng ta hoảng sợ nhận ra rằng, mâm cơm nhà mình đã thiếu khuyết đi món ăn từ biển, hạt muối ta ăn không biết có an toàn, món rau không thể không chấm nước mắm… mùa hè ta đến biển chỉ để đứng trên bờ ngắm nhìn những con sóng.

Tai hoạ đã gõ cửa nhà tất cả chúng ta, không trừ một ai.

Chúng ta nơm nớp lo sợ cho tương lai.

Chúng ta sống trong môi trường xã hội nhưng quên mất một điều chúng ta được mẹ thiên nhiên bao bọc và nuôi dưỡng.

Khi mẹ thiên nhiên nổi giận thì không có biệt lệ cho bất kì ai.

Sự hèn nhát, sự sợ hãi, sự dửng dửng, vô cảm đã biến chúng ta thành những kẻ đồng loã với cái ác.

Chúng ta đã phản bội thiên nhiên, phản bội quê hương và cái giá chúng ta phải trả là môi trường sống của chính mình bị đầu độc, là sức khoẻ, sinh mạng, sự tồn vong của nòi giống.

Để xảy ra thảm cảnh môi trường như ngày hôm nay, tôi, bạn, tất cả chúng ta đều không vô can.

anhbasam

______

 

Bài thơ của cô giáo Trần Thị Lam ở Hà Tỉnh làm nức nở lòng người
By Viet Luan

1-5-2015

Cô giáo Trần Thị Lam đứng giữa (hình từ Facebook)

Sau khi xảy ra vụ cá chết làng loạt ở Miền Trung bắt đầu vào ngày 9/4, chủ yếu do đường ống dẫn độc tố từ nhà máy thép Formosa chảy ra biển Vũng Ánh (Hà Tỉnh), làm cho những ai còn mang trong người dòng máu Việt Nam đều phải đau xót.

Ngày 25 tháng 4, cô giáo Trần Thị Lam, đang dạy văn tại trường Trung Học Phổ Thông Hà Tỉnh đã post lên facebook của cô(https://www.facebook.com/an.nhu.775) bài thơ “ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH”.Ngay lập tức bài thơ đã gây tiếng vang, Chỉ từ 20 giờ ngày 25.4.2016 tới 23 giờ ngày 26.4.2016 đã có hơn 2000 lượt chia sẻ.

Hôm sau công an Hà Tỉnh đã mời cô giáo Lam lên trụ sở “làm việc” và ép lực cô phải rút bài thờ này xuống.

Mặc dầu sau đó bài thơ bị rút xuống, nhưng đã quá trễ, đến hôm nay bài thơ được phổ biến rộng rải khắp nơi, từ trong nước ra đến hải ngoại, và chắc chắn sẽ còn lưu lại trong lòng người Việt Nam trong một thời gian rất dài như một dấu tích của một giai đoạn đau thương nhất của đất nước VN.

Dưới đây là bài của cô giáo Trần Thị Lam sáng tác:

ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…
Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

Sau khi nghe tin cô giáo Lam bị sách nhiễu, bài thơ càng trở nên nổi tiếng và thậm chí đã có người tìm cách phổ nhạc. Cũng có người họa lại bài thơ:

Đảng ta ánh sáng soi đường

Đất nước mình chẳng có ngộ đâu em
Năm ngàn năm, dân cũng không cần lớn
Bởi ngày ngày đảng chăm cho bú mớm
Dân đói dài… đảng, nhà nước phải “no”

Đất nước mình chẳng có lạ đâu em
Nồi lầu, bánh chưng… hay tượng đài nghìn tỉ
Từ biển rộng, sông dài và giang sơn hùng vĩ
Cả 90 triệu con người là “của đảng” mà em!

Đất nước mình vui quá chứ em
Biển giao “bạn vàng”, rừng cho Tàu thuê nốt
Rừng chẳng cần, biển chết thì cứ chết
Khẩu hiệu bây giờ là “còn đảng, còn ta”

Đất nước mình, sao em lại phải thương
Lũ trẻ kia làm mầm non của đảng
Một số đứa sẽ được sang tư bản
Cứ cúi đầu… tiếp bước đảng quang vinh

Đừng hỏi anh, đất nước sẽ về đâu!
Mỗi lời em, như một đường dao cắt
Lưỡi dao ấy không bằng đồng, sắt
Mà thấu tận tim mình…
Hãy hỏi “đảng”…
… Nghe em!

Bài thơ được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Vĩnh Điện

và Mai Đằng.

_________

Tân chủ tịch và phó chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh dùng bằng giả từ Mỹ

Tiến Dũng

1-8-2010

Mấy ngày nay dân Hà Tĩnh xì xào bàn tán về hai vị tân chủ tịch và phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh. Hai ông này có nhiều điểm chung: một là, đều xuất phát từ tổng công ty khoáng sản thương mại Hà Tĩnh; hai là, hai ông này đều có học vị tiến sỹ, thạc sỹ từ các trường dỏm của Mỹ. Câu chuyện như sau.

Ong Vo Kim Cu.jpg

Ông Võ Kim Cự sinh năm 1957, là thạc sĩ kinh tế (Theo VOV News)

Ông Võ Kim Cự xuất thân từ cán bộ phong trào đoàn xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên. Ông chưa học hết cấp 3, nhưng nghe nói đã có bằng bổ túc công nông. (Khi thi tốt nghiệp, chỉ cần 3 điểm mỗi môn là đỗ).

Khi lên làm đoàn xã rồi đến đoàn huyện ở Cẩm Xuyên, ông có một lần bị kỉ luật vì làm cho một cô giáo mầm non bầu bí.

Năm 1991, sau khi Hà Tĩnh tách ra từ Nghệ Tĩnh. Hà Tĩnh thành lập công ty khai thác Titan liên kết với Úc có tên là Khoảng sản Hà Tĩnh, tiền thân của tổng công ty Khoáng sản Thương Mại bây giờ (Mitraco).

Trong quá trình làm ở Mitraco, ông Cự theo học lớp đại học tại chức luật được tổ chức ở thị xã Hà Tĩnh năm 1995-1997. Khi đó ông Cự là lớp trưởng, một người có vai trò tổ chức đưa đón thầy cô giáo và bố trí nơi ăn, chỗ nghỉ cho các thầy cô về dạy tại chức. Nên khi tốt nghiệp ông Cự đại loại cao, nhiều người thắc mắc thì có thầy giáo đã trả lời. “Chúng tôi nhờ có anh Cự giúp đỡ trong khi đi dạy ở đây nên chúng tôi cho anh điểm cao là chuyện dễ hiểu“.

Sau khi có bằng đại học tại chức, ông Cự lên giám đốc rồi công ty chuyển thành tổng công ty nên ông mang danh Tổng giám đốc Mitraco. Sau đó vài năm ông lên chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.

Có nghịch lý là trong những năm ông Cự làm giám đốc Mitraco, nhiều dự án được vẽ ra và không thu được gì. Cuối cùng, các dự án này đều được bán dần để trả nợ (mà nhiều người cho là ông dùng tiền để chạy chức phó chủ tịch tỉnh). Trong khi làm phó chủ tịch, ông học Thạc sỹ MBA theo chương trình liên kết với đại học Western Pacific University. Trường này cũng nằm trong danh sách những Scam Universities mà báo chí đã từng nêu. Trớ thêu hơn, ông lại là sinh viên “thủ khoa” của khóa học này.

Về ông Nguyễn Nhật thì cũng từ Mitraco và theo con đường đàn anh Kim cự đã chọn. Nguyễn Nhật có bằng MBA từ đại học Irwine và tiến sỹ từ ĐH dỏm Nam Thái Bình Dương. Dân tình Hà Tĩnh thắc mắc là không biết “ông Nhật đi học khi mô mà có bằng tiến sỹ kinh tế mau rứa?” Ông Nhật mới chạy vô được chân đại biểu quốc hội hồi cuối năm 2007. Sau khi vô quốc hội được anh cả Trần Đình Đàn tạo cho chức vụ ủy viên ủy ban kinh tế QH rồi thì lấy thời gian đâu mà đi học. Thế mà bây giờ lại là “tiến sỹ kinh tế Nguyễn Nhật”!!! Thật là trơ trẽn hết chỗ nói.

Dân tình Hà Tĩnh rất bức xúc với nhiều dự án bánh vẽ mà báo chí đã nêu. Nay thêm nạn quan tham và bằng dỏm nữa. Không biết rồi tình sự sẽ ra sao. Kính đề nghị các cơ quan chức năng vào cuộc làm sạc bộ máy công quyền ở hà Tĩnh nói riêng và Việt nam nói chung.

Tiến Dũng

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Giao Duc, Y te | Leave a Comment »

►Tiền thuế của dân, không phải lá cây để ném qua cửa sổ – học phí 386 triệu đồng nhận bằng tiến sĩ trong vòng 3 tháng rưỡi!

Posted by hoangtran204 on 30/07/2016

Tiền thuế của dân, không phải lá rừng để ném qua cửa sổ

30-7-216


Dân trí Anh đi học lấy kiến thức cho anh, sao lại lấy ngân sách nhà nước mà cụ thể là lấy tiền thuế của dân để trả cho khoản học phí này? Hãy hoàn trả lại số tiền 386 triệu đồng cho ngân sách. Đó là tiền mồ hôi nước mắt, không phải lá rừng để ném qua cửa sổ…

 (Minh họa: Ngọc Diệp)

(Minh họa: Ngọc Diệp)

Chuyện bằng giả, bằng “mượn” ở ta thời nay không hiếm, thậm chí rất phong phú và đầy… sáng tạo.

Cách đây chưa lâu, Tỉnh ủy Hậu Giang phát hiện ra ông Trưởng Ban tổ chức Thành ủy Lê Thành Nhân “sáng tạo” ra hình thức… “mượn bằng”.

Ông Nhân đã “mượn” cái bằng Trung học cơ sở (cấp II) của người cùng họ, cùng tên, chỉ khác mỗi tên đệm là Hoàng (Lê Hoàng Nhân) để theo học hệ Bổ túc phổ thông nhằm “nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ” như lời giải trình của ông Nhân với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Hậu Giang và cho rằng việc “mượn” này chỉ là “do suy nghĩ chưa đến nơi đến chốn, cứ nghĩ “mượn” bằng cấp 2 là đơn giản”.

Gần đây, trong bài “ Phó bí thư Tỉnh ủy Bình Định khai học tiến sĩ chính quy” – báo Tuổi trẻ ngày 28/7 cho biết , một bác quan chức to, rất to của tỉnh Bình Định cũng “xài nhầm” một cái bằng cũng rất oách. Đó là ông Lê Kim Toàn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bình Định sử dụng bằng tiến sĩ không được Bộ Giáo dục & Đào tạo công nhận.

Ông Phó Bí thư Toàn đã làm nghiên cứu sinh tiến sĩ quản lý giáo dục do Trường ĐH Đại Nam (Hà Nội) và Trường ĐH Bulacan State (Philippines) tổ chức theo hình thức đào tạo bán du học, quá trình học và hướng dẫn làm đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội mỗi tháng 4 ngày, bảo vệ đề tài tại Philippines trong 10 ngày trong thời gian 2 năm (từ tháng 9-2011 đến tháng 9-2013).

Không biết Bộ Giáo dục & Đào tạo không công nhận (bằng tiến sĩ  của Phó Bí thư Toàn) vì lý do gì, nhưng chỉ nhìn thấy thời gian học, đã thấy đây là hình thức… siêu siêu tốc, bởi mỗi tháng học 4 ngày X 12 tháng X 2 năm cộng với 10 ngày bảo vệ, vị chi tất tần tật chỉ có vẻn vẹn… 106 ngày, tức là ba tháng rưỡi. Ba tháng rưỡi, cho ra lò một mẻ tiến sĩ thì khác gì giống lúa… ngắn ngày.

Thực ra, việc ham học là tốt, rất tốt. Nhất là đối với những vị cán bộ chủ chốt, có chức, có quyền cao. Nó không những trang bị kiến thức cho cá nhân họ mà còn là tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo.

Thế nhưng khốn nỗi ở đây, cái “bằng dởm” này lại được “trả” với cái giá 386 triệu đồng được trích từ ngân sách nhà nước.

Điều này đặt ra câu hỏi, tại sao anh đi học lấy kiến thức cho anh, nếu anh làm tốt, anh sẽ nhanh chóng được thăng tiến, nhanh chóng được lên lương, nhanh chóng… hoàn vốn. Sao lại lấy ngân sách nhà nước mà cụ thể là lấy tiền thuế của dân để trả cho khoản học phí này?

Điều thứ hai, tại sao một số cán bộ lại có “đặc lợi” này mà không thuộc về những người nghiên cứu chuyên môn thuần túy khác?

 

Trở lại với việc của bác Lê Kim Toàn, dù Bộ Giáo dục & Đào tạo công nhận hay không công nhận thì bác ấy đã học rồi. Hãy để tấm bằng của bác ấy giữ làm kỉ niệm.

Chỉ xin một điều, hãy hoàn trả lại số tiền 386 triệu đồng cho ngân sách. Đó là tiền đóng thuế của dân, tiền mồ hôi nước mắt nên không ai có quyền đem số tiền đó đi “mua” bằng cấp cho mình, nhất là một khi, đó lại là bằng “dởm”.

Hãy nhớ lời phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong lễ tuyên thệ: “Chúng ta cần có trách nhiệm đối với từng đồng tiền thuế của dân, phải sử dụng minh bạch, hiệu quả, vì lợi ích chung của người dân và của toàn xã hội”.

Tiền thuế của dân vốn nhiều mồ hôi, nước mắt, không phải lá rừng để ném qua cửa sổ, muốn tiêu gì thì tiêu, phải không các bạn?

Bùi Hoàng Tám

__________

 

Posted in Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Giao Duc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Bob Kerrey – từ Tôn nữ Thị Ninh đến Nguyễn Thanh Việt

Posted by hoangtran204 on 26/06/2016

 

Trần Giao Thủy

24-6-2016

Đừng xen vào nội bộ tự trị của Đại học.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/0607_bob-kerrey-getty-1024×682.jpg

Bob Kerrey Chủ tịch Hội đồng Quản trị FUV không từ chức. Nguồn: Neilson Barnard/Getty Images for The New York Times

Cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Bob Kerrey được chọn giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị (Board of Trustees / Governors) của đại học Fulbright Việt Nam.

Đây là một đại học tư, độc lập, và bất vụ lợi đầu tiên của người Mỹ, sẽ bắt hoạt động ở Sài Gòn vào năm 2017.

Lựa chọn này đã trở thành đề tài tranh luận trong và ngoài nước cả tháng nay.

Bắt đầu với bài “Lẽ nào nước Mỹ không còn ai ngoài Bob Kerrey?” của Tôn Nữ Thị Ninh trên trang báo Zing.vn, này 1 tháng 6. Ninh viết,

“Tuy nhiên, khi biết rằng cựu thượng nghị sĩ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm chủ tịch của Đại học mới, tôi vô cùng bàng hoàng và không thể hiểu nổi.

Ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2/1969. Điều này không thể chối cãi và chính ông Kerrey cũng thừa nhận.”

Sau bà Ninh còn nhiều người khác, cùng luận cứ, cho rằng Bob Kerrey là kẻ giết thường dân trong chiến tranh, không thể tha thứ được hoặc không xứng đáng đứng đầu một đại học, biểu tượng cho sự hoà giải và hợp tác giữa hai nước thù nghịch trong chiến tranh. (Thái Bảo Anh và Nguyễn Thanh Việt là hai người có chung quan điểm với bà Ninh)

Thái Bảo Anh, một luật sư quản lý tập đoàn “Bao & partners”, một liên doanh luật pháp Mỹ-Việt hoạt động tại Việt Nam, cũng là một sinh viên được học bổng Fulright 2003, theo học ở đại học Arizona về Luật Thuong mại Quốc tế, nói ông ủng hộ mục đích hoạt động của FUV nhằm nâng cao phẩm chất đại học ở Việt Nam, nhưng không thể nào tha thứ cho Bob Kerrey được,

“Tôi không có quyền làm điều đó vì nó là quyền của các nạn nhân đã chết và các thành viên gia đình của họ vẫn còn sống.”

“Làm ơn cho tôi biết tên của bất kỳ trường đại học có uy tín nào trên thế giới này, lại có một kẻ lạnh lùng giết phụ nữ và trẻ em – như đã thú nhận và không bị tuy tố – có thể trở thành Chủ tịch Hội đồng Tín thác.”

Trên Facebook ông Anh viết

“Tôi tự hỏi sẽ trả lời thế nào nếu một ngày con tôi đến dự buổi khai trường đại học đầu tiên và sau đó hỏi tôi về sự liên quan giữa ông chủ tịch hội đồng tín thác với hai người đàn ông trong ảnh.

Có thể tôi sẽ trả lời ‘ba không biết, ba già rồi, ba không muốn nhớ nữa, ba không muốn nghĩ nữa’ hoặc có thể tôi sẽ nói ‘ba thấy nụ cười của 03 người đàn ông trong ảnh đều đẹp!”

Dưới status đó ông luật sư quản lý tập đoàn “Bao & partners” kèm theo hai tấm ảnh hai người Mỹ, không chú thích, không ghi nguồn.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/TrungDuong.jpg

Trí tuệ cộng sản Việt Nam. Nguồn: Trùng Dương

Và gần đây nhất, một người khác không đồng ý với lựa chọn Bob Kerrey vào vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị (“HĐ Tín thác” nhóm chữ đang dùng trong nước để dịch “Board of Trustees”), không phải người trong nước mà là một nhà văn Mỹ vừa nổi tiếng, I, tác giả cuốn “The Sympathizer” (Kẻ nằm vùng), được giải Pulitzer về tiểu thuyết năm 2016.

Ông nhà văn vừa có bài xã luận trên tờ New York Times hôm 20 tháng 6, tựa đề “Bob Kerrey và “thảm kịch Mỹ” của Việt Nam” (Bob Kerrey and the ‘American Tragedy’ of Vietnam). Nguyễn Thanh Việt viết,

“Tôi không đồng ý. Ông không phải là người để giữ vai trò này. Và coi ông [Kerrey] như một biểu tượng của hòa bình là một thất bại của sức tưởng tượng về đạo đức.”

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/20nguyen-master768.jpg

Minh hoạ của Matt Huynh / TNYT

Nội dung bài nghị luận tập trung vào “thảm kịch”. Tác giả đặt trọng tâm vào “thảm kịch Việt Nam” bằng phép tương phản với nhóm chữ “Thảm kịch Mỹ” đặt ngay ở tựa của bài viết.

Ông cảm nhận được rằng chiến tranh Việt Nam là một thảm kịch đối với những người tị nạn cộng sản đang sống quanh mình; nhưng Nguyễn Thanh Việt không đồng tình và phê phán những người đặt tiêu cự vào sự cứu rỗi của lính Mỹ, “thảm kịch Mỹ” khi nói về chiến tranh Việt Nam hay những câu chuyện chung quanh vai trò của ông Kerrey tại FUV mà quên đi thảm kịch Việt Nam.

Khi đưa ra những ví dụ, Nguyễn Thanh Việt  đưa Bảo Ninh – một nhà văn ủng hộ sự bổ nhiệm Bob Kerrey, và Tổng thống Mỹ Barack Obama – chỉ nói đến cái chết của 50.000 lính Mỹ mà không đả động gì đến những người lính và vô số thường dân của của hai miền Nam Bắc đã gục ngã trong chiến tranh – trong bài phát biểu niệm 50 năm chiến tranh Việt Nam, năm 2012.

Nguyễn Thanh Việt cũng coi những nhận định cho rằng Bob Kerrey cũng là nạn nhân cuộc chiến tranh phi lý và tập đoàn lãnh đạo tệ hại là một sự mỉa mai, lố bịch khi so sánh danh vọng của Bob Kerrey với cuộc sống vô danh của nạn nhân còn sống của Kerrey, và thân nhân của những người người đã chết – một cảnh trong “Thảm kịch Việt Nam”.

Rồi nếu Bob Kerrey vẫn tiếp tục vai trò của ông với Đại học Fulbright Việt Nam, Nguyễn Thanh Việt cho rằng, người Mỹ và người Việt Nam nên cùng nhau đòi hỏi phải có một số thái độ thực tiễn và biểu tượng đối với những nạn nhân đã chết và những người liên hệ trong vụ thảm sát Thạnh Phong. Những cái chết ở Thạnh Phong và tất cả những người dân thường đòi câu trả lời một Việt Nam giầu mạnh sẽ nhớ đến họ ra sao, phát triển kinh tế kiểu Mỹ có đem lại phúc lợi nhân dân Việt Nam hay chỉ biến những người nghèo thấp cổ bé miệng làm nạn nhân một lần nữa.

Tương tự như nhận định của ông về cuốn tiểu thuyết đoạt giải Pulitzer 2016, khi trả lời báo The Guardian“Tiểu thuyết của tôi có những điều để xúc phạm tất cả mọi người”, bài xã luận của ông Nguyễn Thanh Việt có thể không xúc phạm tất cả mọi người nhưng ít nhất nó có thể không được sự đồng tình của (rất) nhiều người.

Trước nhất, người viết, không đồng ý với quan điểm của tác giả khi ông phê bình Obama chỉ chú trọng đến “thảm kịch Mỹ”. Tốt nhất thì đây là một phê bình thiếu sót của một “học giả”, “I’m a scholar” – như ông xác định với David Streitfeld của tờ New York Times hôm 21 tháng 6, 2016. Tệ hơn nữa, nó có thể là một sự “bỏ quên có chọn lựa” của một nhà văn. Nguyễn Thanh Việt nhắc bài phát biểu của Barack Obama năm 2012 mà bỏ đi lời phát biểu của Tổng thống Mỹ ở Mỹ Đình trong chuyến viếng thăm Việt Nam cuối tháng 5, 2016. Barack Obama nói,

“Tại đài tưởng niệm chiến tranh của các bạn cách đây không xa, và với bàn thờ gia đình trên khắp đất nước này, các bạn đã đang thương nhớ khoảng 3 triệu người Việt Nam, những người lính và thường dân, cả hai bên, đã chết. Tại bức tường tưởng niệm của chúng tôi ở Washington, chúng tôi có thể sờ tay vào tên của 58.315 người Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến. Trong cả hai nước chúng ta, các cựu chiến binh và gia đình của những tử sĩ vẫn còn đau đáu nhớ thương những người bạn và những người thân yêu đã mất. Cũng như chúng tôi đã học được ở Mỹ rằng, ngay cả khi không đồng ý với nhau về một cuộc chiến, chúng tôi vẫn phải luôn luôn trân trọng những người lính chiến, đã phục vụ quê hương và chào đón họ trở về với sự tôn trọng xứng đáng với họ.”

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/obama_MD.jpg

Barack Obama tại Hội trường Mỹ Đình, Hà Nội (24/5/2016). Nguồn: Tuoitre News

Đấy, đối với người dân Mỹ – mà Obama là người đang đại diện – thảm kịch chiến tranh có mặt ở khắp nơi, ở mọi phía và “chúng ta, người Việt Nam và người Mỹ, hôm nay có thể cùng nhau nắm tay và nhìn nhận nỗi đau và sự hy sinh của cả hai bên.” (Barack Obama, Hà Nội, 24/5/2016)

Kế đến, người viết không đồng ý với đề nghị một chiều của tác giả Nguyễn Thanh Việt muốn Bob Kerrey phải đến Thạnh Phong xin lỗi những người sống sót và gia đình của 20 nạn nhân đã chết.

Đúng thế, hoà giải không chỉ là tấn tuồng của, và về, các cựu chiến binh, mà nó phải có cả thảm kịch của những nạn nhân.

Thế nhưng, đây chỉ là một thí du, năm 1991 khi nước Đức hoàn toàn thống nhất, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – CHDC Đức (1958), trung tâm giải phẫu lớn nhất Việt Nam tại Hà Nội, đã được đổi tên thành Bệnh viện Việt Đức (1991 đến nay).

Khi ấy, và ngay cả bây giờ, không có một người Đức hay người Việt Nam nào ( kể cả ông nhà văn Nguyễn Thanh Việt) đòi Việt Cộng đã bắt cóc và giết chết bác sĩ Raimund Discher, bác sĩ Alois Old Köster, bác sĩ Horst-Günther Krainick và vợ ông Elisabeth Krainick phải qua Đức xin lỗi thân nhân và gia đình của những giáo sư tình nguyện đến dạy học ở Huế để rồi bị giết trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế cùng với hàng ngàn thường dân khác.

Người viết tin rằng hiện nay tại Bệnh viện Việt Đức ở Hà Nội không có bàn thờ hay tượng đài tưởng nhớ những nạn nhân vừa kể.

Tác giả Nguyễn Thanh Việt nhận biết rằng ở Việt Nam có quá nhiều khu nghĩa trang và tượng đài “liệt sĩ” trong khi đài tưởng nhớ nạn nhân chết trong chiến tranh Việt Nam lại rất hiếm. Nhân đây, người viết xin góp ý với nhà văn Nguyễn Thanh Việt, ông nên vận động người Mỹ cùng người Việt Nam, đòi lập ít nhất một tượng đài tưởng nhớ các nạn nhân bị thảm sát trong dịp Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, và đồng thời vận động dựng lại một tượng đài khác ngay Nghĩa trang Bình An (xưa là Nghĩa trang Quân đội Biên hoà) lại để tưởng nhớ các chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà đã bỏ mình trong cuộc chiến.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/biagalang.jpg

Bia tưởng niệm thuyền nhân vượt viển tìm tự do bị CSVN đòi chính quyền Ìndonesia đập bỏ. Nguồn: OntheNet

Cứ tạm thử vận động như thế xem sao đi ông Nguyễn Thanh Việt. Thực sự đó chỉ là một hành động biểu trưng kêu gọi đối xử công bằng đối với tất cả những người lính đã nằm xuống ở dọc Trường Sơn, ở A Shau, ở Hạ Lào, An Lộc, v.v., những người dân đã chết trên khắp dải đất Việt Nam, và cả những người còn sống, đã vượt biển hoặc đã bị trù dập nhiều năm trong các trại tù “học tập cải tạo”, vẫn còn mang vết thương chiến tranh trong tim trong óc như ông vừa phát biểu, “Một cuộc chiến kết thúc không chỉ đơn giản là vì chúng ta nói nó đã chấm dứt, và một chiến tranh không phải là chỉ đơn giản là những điều xảy ra trên chiến trường.” (David Streitfeld, “For Viet Thanh Nguyen, Author of ‘The Sympathizer,’ a Pulitzer but No Peace”, TNYT, Jun 21, 2016).

Cùng hướng suy nghĩ đó, khi đòi Đại học Fulbright Việt Nam mở những chương trình giáo dục cho trẻ em ở Thạnh Phong để dẫn đến những học bổng toàn phần cho các em theo học ở đó, người viết cũng xin một lần nữa góp ý với ông vận động cho trẻ em ở Cai Lậy cũng được đối xử như thiếu niên ở Thạnh Phong vì ngày 9 tháng 3, 1974 phe cộng sản Việt Nam đã pháo kích vào trường tiểu học ở đó, giết 32 học sinh và làm 23 em khác bị thương cùng một cô giáo và hai người lớn. (Ông nhà văn Nguyễn Thanh Phong, ông Thái Bảo Anh, bà Tôn nữ thị Ninh không bao giờ nhắc đến Việt Cộng giết và chôn sống hơn 7000  nạn nhân Tết Mậu Thân 1968, và vụ pháo kích Trường Cai Lậy 9-4-1974, sau khi cộng sản VN đã ký Hiệp định Hòa Bình Paris 27-3-1973)

Cuộc khủng bố nhằm vào trường học, giết học trò không vũ khí này xảy ra sau khi Hiệp định Paris 1973 đã được ký kết, buộc mọi bên ngừng bắn trên toàn cõi Việt Nam bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973.(1)

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/NTViet_Oriana-Koren-for-The-New-York-Times.jpg

Tác giả Nghuễn Thanh Việt tại nhà riêng ở Los Angeles. Nguồn: Oriana Koren / The New York Times

Hơn nữa, đề nghị của Nguyễn Thanh Việt với FUV về tượng đài và học bổng còn có một vấn đề khác. Bob Kerrey đã nói, về sau vai trò của ông hẳn sẽ do một người Việt Nam đảm trách, như vậy lúc đó không lẽ FUV lại phải phá tượng đài, cắt học bổng cho thiếu niên vùng Thanh Phong hay sao?

So sánh sự thành đạt của Bob Kerrey với đời sống vô danh của những người dân Thạnh Phong hiện nay là một so sánh vô cùng khập khễnh. Bob Kerrey có là gì hôm nay cũng vì những cố gắng của ông trong một xã hội dân chủ như nước Mỹ. Dân Thạnh Phong vô danh nay vì họ là công dân của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Cuộc sống của họ có lẽ không khác gì với cuộc sống của đại đa số các cựu chiến binh Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hay những người lính của Mặt Trận Giải phóng miền Nam.

Riêng về đề nghị của ông với Đại học Fulbright Việt Nam nên đưa những người lãnh đạo tâm linh, người vận động hoà bình và giáo sư ủng hộ một viễn tượng nhân bản vào Hội đồng Quản trị thay vì chỉ có những nhân vật trong doanh nghiệp, tôi xin không có ý kiến vì tin rằng việc vận hành, chọn lựa thành viên của Hội đồng Quản tri Đại học tư, độc lập, vô vị lợi như FUV hoàn toàn thuộc trách nhiệm, quyền hạn và lựa chọn của Quỹ vì Đổi mới Đại học tại Việt Nam (Trust for University Innovation in Vietnam, TUIV) và Hiệu trưởng của FUV.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/ms-dam-bich-thuy-1463720038.jpg

Bà Đàm Bích Thủy Nguồn: VIỆT DŨNG/Giaobao.com

Một thành viên của TUIV, bà Đàm Bích Thuỷ, đồng thời là Hiệu trưởng (President) của FUV đã đích thân mời Bob Kerrey vào vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị của FUV trong một bữa ăn tối với một số nhân vật khác để thảo luận về việc thành lập Hội đồng Quản trị cho FUV. Trả lời câu hỏi, “Điều gì đã thôi thúc ông, một cựu binh trong chiến tranh Việt Nam nhận lời làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của Trường Đại học Fulbright Việt Nam, một quyết định mà tôi nghĩ là ông biết rằng sẽ gây ra tranh cãi?” của phóng viên VietNamNet, Bob Kerrey nói,

“… Chức danh này ở Việt Nam thì nghe có vẻ to tát nhưng ở Hoa kỳ, bản chất thực sự của công việc này là người đóng vai trò chính trong việc gây quỹ cho trường.”

Bob Kerrey cũng nói thêm về Hiệu trưởng Đàm Bích Thuỷ của FUV,

“Cô ấy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Cô ấy vẫn nhớ về cuộc chiến tranh. Cô ấy vẫn nhớ trận ném bom đêm Giáng sinh. Cô ấy vẫn nhớ sự đổ nát, hoang tàn của thời đó. Nhưng cô ấy không căm ghét chúng tôi. Cô ấy coi chúng tôi như những người bạn, người đồng nghiệp. Tôi nghĩ, chúng tôi cần phải làm tất cả để xứng đáng với niềm tin đó.”

Xin trở lại với những người miệng hô hào hoà giải, xoá bỏ quá khứ quên hận thù.

Tôn Nữ Thị Ninh | Cũng trong bài báo trên Zing.vn ngày 1 tháng 6, về chuyện Bob Kerrey hối hận, bà Ninh viết, “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết.”

Đây là một câu rất có vấn đề. Bà Ninh nói như thế vì không tin rằng ông Kerrey đã hối hận, bất kể những tuyên bố – mà mọi người đều biết – từ 18 tháng 4, 2001?

“Đó không phải là chiến thắng quân sự, đó là một thảm kịch…
Tôi đau khổ từ ngày đó, tôi có thể phạm một lỗi lầm như thế sao?
… Tôi không thể bình yên với chính mình với những gì xảy ra đêm hôm đó. Tôi luôn bị nó ám ảnh suốt 32 năm qua.”

(Trích Bob Kerry, bài phát biểu trước học viên tại Viện Quân sự Virginia “Speech by Bob Kerrey at the Virginia Military Institute”, TNYT, April 25, 2001)

Rather: Đích thân ông có giết người nào không?

Kerrey: Không, tôi không giết ai, nhưng trong tâm trí, chính tôi đã giết tất cả những người đó, tôi nhận hết trách nhiệm cho đồng đội vì tôi phụ trách tiểu đội này.”

(Trích Phỏng vấn của Dan Rather (CBS) với Bob Kerrey trong chương trình “60 Minutes II”)

Nếu thực như thế thì bà còn nói chuyện được với ai nữa? Không ai sẽ có thể tin lời bà nói.

Có thể bà không hề biết về bài phát biểu dẫn trên của Bob Kerrey tại Viện Quân sự Virginia 15 năm về trước. Cũng có thể bà Ninh không biết về cuộc phỏng vấn của Dan Rather (CBS) với Bob Kerrey trong chương trình “60 Minutes II” tựa đề, “Ký ức về một cuộc thảm sát” (“Memories of a Massacre”, 1/5/2001). Và cũng có thể Tôn Nữ Thị Ninh cũng không biết đến quyển “Khi tôi còn trẻ: Một hồi ức” Bob Kerrey đã viết 14 năm trước (Kerrey, Robert. “When I Was a Young Man: A Memoir”. New York: Harcourt, Inc., 2002.)

Nếu như thế, thì đây lại là một vấn đề khác, nhưng nó là của riêng bà Tôn Nữ Thị Ninh.

Bà Ninh đòi ông Kerrey từ chức ngay, không chần chờ, và nói

“Nếu phía Mỹ khăng khăng giữ quyết định của mình, thì đối với tôi, không còn có thể coi đây là một dự án chung như nhóm sáng lập vẫn khẳng định. Vì rằng như trong một cuộc hôn nhân, hai bên cần phải lắng nghe, tôn trọng cảm xúc và suy nghĩ của nhau.”

Đây lại là quan điểm rất có vấn đề và một phát ngôn rất bừa bãi. “Phía Mỹ” là ai? Ở Đại học Fulbright chỉ có Quỹ vì Đổi mới Đại học tại Việt Nam (TUIV), Hội đồng Quản trị làm việc với Hiệu trưởng, bà Đàm Bích Thuỷ, là những người lãnh đạo, thiết kế và điều hành FUV. Ở đó không có “đế quốc” Mỹ, không có chính phủ Mỹ nào có thể can thiệp vào hoạt động nội bộ của FUV vì khái niệm tự do học thuật, và đại học tự trị của các nước dân chủ phương Tây, ngay cả khi FUV nhận một phần tài trợ của Mỹ được Quốc hội ở đó cho phép. Ở FUV không có hàm giáo sư do Nhà nước ban phát hay chức danh Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội Đồng Tín thác do đảng chỉ định. Về phía Việt Nam, chính phủ cộng sản cũng đã cùng với chính phủ Mỹ ủng hộ việc thành lập Đại học Fulbright như một chỉ dấu của những ích lợi nhờ quan hệ sâu đậm giữa hai nước như đã được nêu lên trong bảnTuyên bố chung của Barack Obamma và Trương Tấn Sang ngày 25 tháng 7, 2015 tại Washinton. D.C.. Đóng góp của chính phủ địa phương ở Tp Hồ Chí Minh là cấp đất để FUV xây dưng cơ sở giáo dục.

Tôn Nữ Thị Ninh, hiện bà là cái gì trong chính phủ CHXHCNVN? Bà không phải là cô dâu, và hẳn không thể là chú rể; may lắm thì bà có thể là một khách mời; như thế thì hai họ việc gì phải “lắng nghe, tôn trọng cảm xúc” của bà về hôn nhân của đôi trẻ. Thiển nghĩ bà nên quay về với cái doanh nghiệp mã số 0305475216, được cấp vào ngày 3/02/2008 tên là Trung Tâm Nghiên Cứu Xã Hội Và Giáo Dục Trí Việt. Việc trước nhất là thống nhất tên giao dịch đã “đăng ký” — Tri Viet Center For Education Research And Development — và tên tiếng Anh ghi trên Internet, Trí Viet Center for Social & Educational Studies. Kế đến bà nên điền vào những chỗ còn trống trên trang mạng quảng cáo cái gọi là “Trung tâm Nghiên cứu” vì hiện nay nó trống rỗng dù được phép hoạt động từ ngày 1/3/2009; bẩy năm hoạt động mà “Trung tâm” không có gì cả trừ “Đôi nét” về Trung tâm và “Tiểu sử nhà sáng lập – Giám đốc Trung tâm” bên cạnh tấm hình của bà. Tổng số lần truy cập vào trang “Trí Việt” tính đến nay (6/2016) là 4210 lần.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/triviet.jpg

Trang Trung Tâm Nghiên Cứu Xã Hội Và Giáo Dục Trí Việt. Nguồn: triviet.org

Còn nếu thật sự đã thất bại như tác giả Xuan Loc Đoan viết trong bài “Vietnam’s Kerrey dilemma: Fulbright U appointment is lightning rod for US ties” đăng ngày 21/06/2016 ở tờ Á châu Thời báo thì bà nên dẹp cái trang giả vờ “Trí Việt” đi. Để trống như vậy, chẳng khác gì bà bảo trí Việt chẳng có gì, trí Việt trống rỗng, là chửi cha (già) Việt (cộng).

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/tahibaoanh_fbjun4.jpg

Facebook Thai Bao Anh. Nguồn: Facebook

Thái Bảo Anh | Trong một status ở Facebook Bao Anh Thai kèm hai tấm hình không ghi nguồn, không chú thích – nhằm ám chỉ người lính Mỹ dẫm chân lên xác chết là ông Bob Kerey thời đi biệt kích ở Việt Nam – là một hành động bất lương của những người trí tuệ rỗng, trí tuệ lùn ở thời đại công nghê thông tin.

Chỉ trong giây phút người đọc chú ý cũng tìm biết đó là tấm ảnh người lính Mỹ trên chiến trường sau khi Việt Cộng mở cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, tháng 1, 1968.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/GI_ori.jpg

Tấm ảnh người lính Mỹ có nguồn và chú thích.

Ông Joseph Robert Kerrey là Trung uý Biệt kích Hải quân Mỹ chuyên về đặt mìn dưới nước (Lieutenant (junior grade), BUD/S) phục vụ từ tháng 1 – tháng 3, 1969, gần Nha Trang, Việt Nam. Nghĩa là Bob Kerrey chỉ có mặt ở Việt Nam 1 năm sau Tết Mậu Thân.
http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/06/BK_training.jpg

Ảnh chụp Boob Kerey trong thời gian huấn luyện trước khi tham chiến ở Việt Nam. Nguồn: AP

Như thế, Thái Bảo Anh và  Trùng Dương dùng tấm ảnh người lính Mỹ đứng dẫm chân lên xác người một với ác ý, tệ mạt hơn nữa Trùng Dương chú thích, “Ảnh và chú thích ảnh: Chân dung Bob Kerry thời còn trẻ với những hành động vô nhân đạo (Nguồn: Internet)” phản ảnh trung thực bản chất lừa lọc, gian xảo, bất lương, rất cộng sản của họ.

Những tấm gương hoà giải của Nelson Mendela, của Angela Merkel, của Louis Zamperini (tha thứ cho những cai tù Nhật, kể cả Mutsuhiro “Bird” Watanabe đã tra tấn ông, trong Đệ nhị thế chiến), của John McCain, v.v. không có nghĩa hay giá trị gì với những người cộng sản vô thần.

Đừng xen vào nội bộ tự trị của Đại học. Hãy để Bob Kerrey góp phần đổi mới đại học để giúp tuổi trẻ Việt Nam mau hội nhập với xã hội công bằng dân chủ văn minh trên thế giới.

© 2016 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”

*

Nguồn: Bài của tác giả gởi. DCVOnline minh hoạ.

(1) “GVN note to Paris participants on Cai Lay Massacre”, Date:1974 March 14, 11:25 Canonical ID:1974SAIGON03400_b, Declassified/Released US Department of State EO Systematic Review 30 JUN 2005 và “Thư của Văn phòng Quan sát viên Thường trực của Chính phủ VNCH tại LHQ gởi TTK LHQ, Kurt Waldheim”, Số 2158 UN/VN, 13/03/1974)

————————————

BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN TÔN NỮ THỊ NINH

 Một mũi dao đâm bất ngờ của bà Tôn Nữ… (Hạ Đình Nguyên – 16/6/2016)

THƯ NGỎ GỬI BÀ TÔN NỮ THỊ NINH (Thu Phong – Da Màu)

Đại học Fulbright Việt Nam: Hãy công bằng trọn vẹn! (Cao Huy Huân – VOA)

FUV & SỰ LẠC HƯỚNG CỦA DƯ LUẬN (Bùi Quang Vơm)

VỀ CASE-STUDY MANG TÊN TÔN NỮ THỊ NINH (Dr. Nikonian)

Nguyễn An Dân: Thư ngỏ gửi bà Tôn Nữ Thị Ninh

LỊCH SỬ KHÔNG THỂ QUÊN (Nguyễn Thị Cỏ May)

HÀ SĨ PHU & TÔN NỮ THỊ NINH (S.T.T.D Tưởng Năng Tiến)

THỬ LÝ GIẢI SỰ KIỆN BOB KERREY (Trần Văn Nam)

TRÊN THÙ HẬN KHÔNG THỂ GIEO HẠT GIỐNG TƯƠNG LAI (Tuấn khanh)

TƯ DUY TRONG TIỂU THUYẾT 1984 CỦA GEORGE ORWELL (BS Hồ Hải)

BÀ NINH ĐI CHẾT ĐI ! (Nguyễn Văn Do)

THÓI QUEN “QUA MẶT” NHÂN DÂN hay là “HỘI CHỨNG MỸ TRONG LÒNG VIỆT NAM” ? (Nguyễn Trọng Bình)

ĐẠI SỨ MỸ Ở VIỆT NAM LÊN TIẾNG VỀ VỤ CÁ CHẾT & ÔNG BOB KERREY (VOA)

GỬI THỊ NINH (Phạm Toàn – Bauxite VN)

NÓI RÕ VỀ TIỀN TÀI TRỢ FUV TỪ TÀI SẢN CỦA CHÍNH PHỦ VNCH Ở HOA KỲ (BS Hồ Hải)

FUV PHẢN HỒI VỀ KHOẢN TIỀN TÀI TRỢ TỪ CHÍNH PHỦ HOA KỲ (ĐẠI HỌC FULBRIGHT VIỆT NAM)

NHỮNG KẺ ĐỐT ĐỀN (Đồng Phụng Việt)

CÁNH ĐÀO TÔN NỮ TRÊN DÒNG THẾ CUỘC (Trần Quí Cao)

TA LÀ AI ? (Luật sư Lê Đức Minh)

TÔN NỮ THỊ NINH, ĐẠI BIỂU XUẤT SẮC CỦA “TRÍ THỨC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” (Trần Trung Đạo)

THƯ NGỎ CỦA ÔNG LƯƠNG HOÀI NAM GỬI BÀ TÔN NỮ THỊ NINH (Nguyễn Xuân Diện-Blog)

  1. Chu Hảo: BOB KERREY NÊN Ở HAY NÊN ĐI? (Nguyễn Xuân Diện-Blog)

HÃY VIẾT THƯ CHO ÔNG BOB KEREY ĐỂ ÔNG ẤY THẤY CÔNG SỨC CỦA ÔNG BỎ RA KHÔNG UỔNG (FB Giang Lê)

ĐẠI HỌC FULBRIGHT VN DƯỚI QUAN ĐIỂM CỦA GS NGUYỄN MẠNH HÙNG (Mặc Lâm – RFA)

BẢN CHẤT THẬT CỦA BÀ TÔN NỮ THỊ NINH & NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO CỘNG SẢN (FB Nguyễn Kim)

SUY NGHĨ VỀ ÔNG BOB KERREY VÀ XIN KÍNH GỞI BÀ TÔN NỮ THỊ NINH MỘT CÂU HỎI (Trần Quí Cao)

BOB KERREY & BÁC HỒ, AI ÁC HƠN AI ? (Lê Nguyên Thành)

SO SÁNH BOB KERREY & TÔN NỮ THỊ NINH (Thạch Đạt Lang)

TRÍ VIỆT KHÔNG THỂ LÀ MỘT TRÍ THỨC CƯU MANG HẬN THÙ (Hồ Phú Bông

TRƯỜNG FULBRIGHT VIỆT NAM & VẤN ĐỀ KÝ ỨC CHIẾN TRANH (Nguyễn Hưng Quốc)

VẤN ĐỀ “HÒA GIẢI” GIỮA VIỆT NAM & MỸ QUA TRƯỜNG HỢP BOB KEREY (FB Trương Nhân Tuấn)

HỌC THỨC KHÔNG THỂ KHIẾN CON NGƯỜI THÀNH TỬ TẾ. . . (FB Chau Doan)

THẢM SÁT MAN RỢ Ở XUÂN LỘC: BAO GIỜ CÔNG KHAI XIN LỖI NẠN NHÂN, TRỪNG PHẠT KẺ GÂY TỘI ÁC?
BOB KERREY – PHÉP THỬ CHO LỜI KÊU GỌI HÒA GIẢI CỦA VIỆT NAM (Vũ Thành Tự Anh)
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ FULBRIGHT UNIVERSITY VIETNAM (BS Hồ Hải)

 

 

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Giao Duc, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Lịch sử không thể quên (… láng giềng tiết lộ Tôn Nữ Thị Ninh đã làm gì trong mấy hôm trước ngày 30-4-1975)

Posted by hoangtran204 on 15/06/2016

Lịch sử không thể quên

Nguyễn Thị Cỏ May

12-6-2016

Đàn Chim Việt

anh-Ton-nu-thi-ninh-1-1820-1400044981

 

Tổng thống Obama tới viếng thăm chánh thức Việt Nam 22-5-2016, không đặt những vấn đề “dân chủ hóa chế độ “, phải tôn trọng ” nhân quyền ” như Hà nội đã cam kết, mà khi ra về còn để lại hai món quà quí giá, ngoài ước mơ của Hà nội . Nói món quà vì ông Obama không đòi hỏi phải “có lại” ở phía Việt nam . Món thứ nhứt là tháo gỡ sự cấm vận bán võ khí cho Việt nam .

Dĩ nhiên, muốn có võ khí để bảo vệ đất nước, Việt Nam phải mua. Lệnh cấm vận cực kỳ quan trọng vì khi bị cấm, Việt Nam có tiền cũng không mua được võ khí . Không phải chỉ không mua của Mỹ, mà các loại võ khí có liên hệ với Mỹ, cả nước sản xuất có liên hệ với Mỹ, cũng đều bị luật cấm chi phối . Hơn ai hết, Hà nội đã có kinh nghiệm về lệnh cấm vận của Mỹ rồi . Trước đây, khi khai thác dầu hỏa ở biển sâu, Liên-xô không đủ khả năng, Hà Nội nghĩ có thể mua dụng cụ hay hợp tác với các nước khác ngoài Mỹ nhưng rốt cuộc, đều không thoát ra khỏi vòng cấm vận . Như mua mũi khoan Mitsubishi của Nhựt bổn cũng không được vì hảng có vốn đầu tư và kỹ thuật của Mỹ và đồng thời là đồng minh của Mỹ.

Món quà thừ nhì là giúp Việt nam xây dựng và phát triển giáo dục đào tạo nhằm đầu tư nhơn lực vào việc phát triển kinh tế xã hôi, cụ thể là thành lập Đại học chuyên nghiệp Fulbright ở Sài gòn, với kinh phí dự trù lên tới hằng trăm triệu đô-la Mỹ. Món quà này, Việt nam chỉ hưởng chớ không phải mua. Có lẽ vì vậy mà nảy sanh ra sự phản đối quyết liệt một người Mỹ được đề cử làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị thay vì một người Vìệt nam .

Lập luận cho rằng ông Bob Kerry vốn là ” tội phạm chiến tranh” . Đứng đầu một cơ quan giáo dục phải là người trong sạch, có đạo đức .

Sự phản đối không phát xuất mạnh mẽ từ phia dân chúng, càng không phải từ phía gia đình nạn nhân ở Thạnh Phong, (Bến Tre, 1969), mà từ đảng cộng sản, như báo chí của đảng cộng sản, của bà cựu phát ngôn Phan Thanh Thúy, bà cựu Chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, bà cựu Đại sứ Tôn nữ thị Ninh, …Trái lại, quan điểm bênh vực, dựa theo chánh sách cũng của đảng cộng sản chủ trương “xóa bỏ hận thù, quên quá khứ để hướng về tương lai”, đồng ý sự đề cử ông Bob Kerrey lại phát xuất từ nhiều cá nhơn tư nhân có tư cách .

Chống ông Bob Kerrey

Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngoại Giao Hà Nội khẳng định Bob Kerrey đã phạm tội ác chiến tranh trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong, tỉnh Bến Tre . Việt Nam chưa kiện Bob Kerrey ra tòa án diệt chủng. Nhưng Việt Nam cũng chưa từng hủy các cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh .

Nhà nước cộng sản ở Việt Nam hài ra 5 tội của ông Bob Kerrey để bênh vực lập luận chống đối ông Kerrey được đề cử làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Fulbright ở Sài Gòn vừa được phép thành lập .

Sau khi đã đọc một số ý kiến về việc ông Bob Kerrey làm Chủ tịch trường Đại học Fulbright, bà cựu Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình chia sẻ ý kiến của một số người trong đó có ý kiến của Tôn nữ thị Ninh không ủng hộ việc bổ nhiệm ông Bob.

Theo bà, đây không phải chỉ là vấn đề ngoại giao, hay chính trị, mà chủ yếu về giáo dục văn hóa và tâm lý. Ông Bob được giao việc này là không thích hợp . Nói như vậy không phải là không đánh giá cao sự đóng góp của ông và nhiều người vào quá trình vận động và hình thành nhà trường .

Riêng bà Tôn nữ thị Ninh lớn tiếng công kích ông Bob Kerrey hung hăn hơn hết . Để yểm trợ lý do chống ông Bob Kerrey, bà Ninh khoe thành tích thời đi học ở Paris từng tưng bừng tham gia phong trào phản chiến chống «chiến tranh Việt Nam», thật ra chỉ chống Miền nam và Huê kỳ để yểm trợ Hà nội . Khi làm ngoại giao, bà xây dựng được mối quan hệ với thành phần phản chiến ở Mỹ và Âu châu, tức những thành phần chống lại chánh phủ của họ . Rất tiếc bà lại quên kể thêm năm 1972, bà nghỉ dạy Anh văn Trung học ở Paris vì đã gặp được bác sĩ Đại tá công an Nguyễn Ngọc Hà sẽ đưa bà về Sài gòn nằm vùng Ban Anh văn của trưòng Đại Học Sư Phạm .

Sự chọn lựa của bà Ninh cho thấy bà quả thật là người phụ nữ thông minh vì bà thấy xa . Với cộng sản, chỉ có nghề công an mới giúp làm nên sự nghiệp lớn. Nguyễn Tấn Dũng, Trần Đại Quang, .. Xa hơn là Hồ Chí Minh cũng bắt đầu bằng nghề chỉ điểm, rồi xách động-tuyên truyền (agit-prop) . Lẽ ra bà Ninh phải làm Chủ tịch Quốc Hội hay Thủ tướng. Phải chăng vì bà không hợp nhản ổng Tổng Bí thư Trọng nên đã không được « cơ cấu »?

Bà nóí bà sẵn sàng gạt quá khứ sang một bên để hướng tới tương lai, là người ủng hộ mọi chủ trương hợp tác xây dựng và phát triển quan hệ giữa hai nước Huê kỳ và Việt nam . Nhưng khi biết rằng cựu Thượng Nghị sĩ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Đại học Fulbright, bà lại vô cùng bàng hoàng và không thể hiểu nổi .

Vì, theo bà, ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2/1969. Điều này, chính ông Kerrey cũng thừa nhận . Sự việc đó là đủ để kết luận Bob Kerrey, nói theo cách nhẹ nhất, hoàn toàn không thể giữ vị trí Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật đó . Vì, vẫn theo bà Ninh, việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong, bà nói bà không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết . Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ .

Bà Ninh còn hỏi ông còn chần chừ gì nữa mà không rời vị trí ngay bây giờ như ông tuyên bố “sẵn sàng” . Bà cho rằng cử chỉ đó là cử chỉ tự trọng và sẽ được người Việt Nam đánh giá cao. Và cả nhiều người Mỹ sẽ đồng tình với quyết định đó của ông .

Trả lời những người liên quan trực tiếp đến dự án công khai khẳng định rằng Bob Kerrey là người “hoàn toàn phù hợp” để giữ vị trí lãnh đạo đó, bà Ninh hỏi lẽ nào nước Mỹ không còn ai có thể vận động vốn cho trường Fulbright Việt Nam ngoài Bob Kerrey?

Ủng hộ ông Bob Kerrey

Sau những lời chống ông Bob Kerrey ở vị trí lãnh đạo Đại học Fulbright, không ít người ở Việt Nam lên tiếng đả kích tác giả của những lời đó . Họ là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, từng chiến đấu trên chiến trường, cả người trẻ, …Những người không giử vai trò cốt cán của chế độ . Họ chống không phải là vì họ không được hưởng bổng lộc, mà chống vì họ không thể chịu nổi những lập luận nặc mùi công an tư tưởng, làm nhớ lại ý hệ “ai thắng ai” của thời còn Liên-xô . Họ chống bà Tôn nữ thị Ninh mạnh hơn hết cũng vì bà này hung hăng nhứt, oang oang bằng lưỡi gỗ.

TỄU Blog nhắc lại một trong những câu phát biểu “nổi tiếng” của bà Tôn Nữ Thị Ninh tại buổi họp báo ở Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2004 khi Việt nam bị chỉ trích vi phạm thường xuyên nhân quyền, đàn áp người dân. Bà Ninh nói : “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi” .

Minh Phương Nguyên bình luận “ khi bà Ninh muốn ông Bob Kerrey “không chần chừ gì nữa” rời bỏ vị trí này, phải chăng chỉ vì động cơ hoàn toàn cá nhơn thúc đẩy?

Theo Minh Phương Nguyên, bà Ninh không sẵn sàng gạt quá khứ sang một bên để hướng tới tương lai cùng với nhân dân hai nước vì lợi ích chung”, như bà nói . Trái lại, rỏ ràng bà đã xách động tạo dư luận chống lại Bob Kerrey và FUV.

Cũng nên nhớ bà Ninh đã sang California để tìm sự ủng hộ, đầu tư cho trường Trí Việt của bà, và bà đã bị tẩy chay . Hơn nữa, bà Ninh không hội đủ điều kiện pháp lý vì chưa có «Văn bằng Tiến sĩ xây dựng đảng» .

Ông Trân Trương đốp chát bà Ninh rất cân xứng, tuy lời lẽ có quá nặng, chẳng hạn như « bà Ninh là thứ ăn cháo, đá bát …. » . Ông nhắc lại khi phóng viên BBC hỏi : “Bà đã từng tham gia hoạt động đấu tranh cho dân chủ khi còn là thanh niên đi du học bên Pháp, vậy bà có biết các tổ chức thanh niên ngày nay đang hoạt động dân chủ ở Việt Nam không?” thì bà trả lời một cách khinh mạn rằng : “Tôi rất bận rộn nên ít có thời giờ quan tâm đến các việc này nên cũng không rành lắm…”.

Thật ra bà Ninh lúc còn sinh viên ở Paris chạy theo UNEF, (

Liên Đoàn Sinh viên Pháp, tổ chức khuynh tả, ngoại vi của đảng cộng sản pháp), có « bồ » người ma-rốc, cán bộ UNEF, biểu tình chống Chánh phủ Sài gòn và chống Mỹ cứu nước, chớ có tranh đấu dân chủ gì đâu .

Thị Ninh làm phản chiến để chạy theo VC . Thị được Gs Trần văn Tấn đem về làm Assistante (Giảng nghiệm viên) ở Ban Anh văn Đại Học Sư phạm Sài gòn, chớ không phải Phó Ban (Không đủ bằng cấp và trình độ – chỉ có Maîtrise d’anglais, tức Tú Tài +4 – Cài « Luận án » mà Thị nói, chính là Tiểu luận – Mémoire de Maitrise ). Ngày 1/5.75, Thị Ninh mang băng đỏ, tiếp quản Đai Học Sư phạm, làm Trưởng Ban, quyết định nhân viên ai đi, ai ở, ai làm việc gì, …vì liên tiếp mấy hôm trước 30/04, Thị chạy đi chạy về phi trường Tân Sơn Nhứt vì vẫn không leo lên được máy bay đi Mỹ trốn VC, về nhà, Thị Ninh khóc hơn bố chết (Kim Chi, nữ sinh viên Ban Sử Địa, láng giềng của Thị Ninh kể lại) . Con người thật của Thị bắt đầu từ đây .

Tưởng cũng nên nói thêm Thị Ninh phản chiến ở Paris như vậy, mà tại sao được về Sài gòn làm việc? Đó là khuyết điểm cơ bản của Sài gòn . Riêng Gs Trần văn Tấn « có tiếng theo VC » nhưng nhiều người bạn thân lâu năm với ông thì quả quyết ông « không phải VC » . Ông chỉ là người có họ hàng với « Bà Tư Phải » và thường thích nước chanh thêm chút đường !

Giáo sư Chu Hảo, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Xuân Thành, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà báo Nguyên Ngọc, … đều bày tỏ lập trường ủng hộ ông Bob Kerrey ở chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Fulbright, theo chủ trương « xóa bỏ hận thù, cùng hướng về tương lai » của nhà cầm quyền ở Việt Nam .

Riêng nhà báo Nguyên Ngọc không ngần ngại nói rõ lý do ông ủng hộ ông Bob Kerrey . Ông nhận thấy ông Bob Kerrey thật lòng tự kiểm thảo, lương thiện hơn ai hết . Ông không để cho ai bào chữa cũng quyết không tự bào chữa cho mình, ông biết ông là một tội phạm không cầu mong được tha thứ, nhưng đồng thời, bằng trải nghiệm đau đớn nhất của mình, ông cũng chỉ ra mâu thuẫn chết người trong “chiến thuật của chúng tôi”, tức của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: để tiêu diệt Việt Cộng phải đánh bật họ ra khỏi dân thường (tát nước để bắt cá) . Mà điều ấy là vô phương, bởi vì, đặc biệt ở nông thôn, thời ấy, hai thực thể đó, về căn bản, là một. Không thể đánh trúng cái này mà không đánh trúng cái kia! Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân. Bob Kerrey là tội phạm, điều ấy ông đã đau đớn nhận, nhưng ông cũng là nạn nhân . Nhận ra mâu thuẫn ở chiến thuật ấy, nhưng ông không dùng nó để bào chữa cho mình. Điều đó là vĩ đại. FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và lựa chọn của FUV là thật nhân văn .

Còn riêng đối với chúng tôi thì sao ? Chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che chở chúng tôi? …

Những người cộng sản, đặc biệt là Thị Ninh, lên án ông Kerrey lại chưa từng chiến đấu trên chiến trường . Họ đặt vấn đề không thể quên lịch sử nhưng họ ngụy tạo lịch sử, có khi xóa lịch sử cho phù hợp xu thế đồng chí . Còn lịch sử tội ác của họ có nên quên không ?

Nay, sau hơn sáu mươi năm, họ có một lời « nói phải » với hơn nửa triệu nạn nhơn cải cách ruộng đất do họ vâng lời Trung cộng tiến hành trên đất nước của họ chưa ? Rồi cũng theo Trung cộng, họ tiếp tục gây tội ác Nhân văn Giai phẩm, cải tạo Công Thương nghiệp, đánh Tư sản mại bản, Kinh tế mới, Học tập cải tạo, …Và với những phụ nữ, trẻ con đã chết để che chở họ, ngày nay, nắm trọn chánh quyền, họ có một lần nhớ tới không ? Đó là những tội ác chống nhơn loại . Bởi họ không giết người trong lúc đang giao chiến hay hành quân . Họ vẫn chưa từng nhìn nhận, trái lại, còn triển lảm thành tích giết người này . Cả những dụng cụ như cái búa với lời ghi chú « đã đập được bao nhiêu cái đầu » của những người không theo cộng sản .

Chúng ta đừng bao giờ quên …bởi vì « đó là cộng sản ! » .

Hồ chí Minh đã viết (báo Thanh Niên Quảng Châu, 20-12-1926) « Cái danh từ Tổ quốc là do các chánh trị gia đặt ra để đè đấu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của của giai cấp tư sản . Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có bìên giới » .

Trong gần đây, để bày tỏ lập trường cộng sản kiên cường, Gs Ts, Hiệu trưởng Đại học Quốc Gia Hà nội, Vũ Minh Giang, tuyên bố « Đào mồ, cuốc mả tổ tiên của tôi thì được . Chớ đập bỏ tượng Lenin là vô văn hóa » .

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

Posted in Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Giao Duc, Lưu manh đỏ, Nhan Vat Chinh tri | 2 Comments »

►Tôn Nữ Thị Ninh, đại biểu xuất sắc của “trí thức xã hội chủ nghĩa” ( Trần Trung Đạo)

Posted by hoangtran204 on 15/06/2016

nguoivietboston

Trần Trung Đạo

5-6-2016

Khi phê bình đảng CS, có người mạnh miệng nhận xét “Đảng CS thực tế chỉ là một đảng Mafia”. Ý nói đảng CS chỉ là tổ chức tội ác giết người cướp của trên một tầm vóc quốc gia chứ chẳng còn ý thức hệ CS như thời Liên Xô chưa tan rã. Thật ra, nói vậy không đúng và nếu có cũng chỉ một góc cạnh “giết người cướp của”. Nếu đảng CS là đảng Mafia thì đã sụp đổ lâu rồi.

Định nghĩa đúng nhất cho trường hợp chế độ CS Trung Cộng và Việt Nam là định nghĩa của giáo sư sử học Roderick Macfarquhar, thuộc đại học Harvard khi ông gọi rằng chủ nghĩa CS hiện nay là một loại chủ nghĩa Lenin không có Marx.

Chủ nghĩa Lenin do hai bộ phận cấu thành (1) một nhà nước chuyên chính sắt máu và (2) tuyên truyền lý luận tư tưởng tinh vi.

Bộ phận nhà nước chuyên chính rất rõ nét và gần như ai cũng thấy, nhưng đảng CS không tồn tại chỉ bằng nhà tù sân bắn mà còn được che chở bằng một hàng rào lý luận tuyên truyền vô cùng tinh vi thâm độc.

Tuyên truyền là cột xương sống của chế độ CS. Như người viết đã có dịp trình bày trong những bài trước, sau cách mạng CS Nga 1917, công việc đầu tiên Lenin là thành lập cơ quan tuyên truyền Agitprop và trong giai đoạn đầu còn do chính ông ta đích thân lãnh đạo.

Tại Trung Cộng cũng vậy, trong đại hội đảng CS Trung Quốc lần đầu vào năm 1921 chỉ bầu ra vỏn vẹn ba ủy viên trung ương nhưng một trong ba ủy viên đó chịu trách nhiệm tuyên truyền.

(Trong Bộ Chính Trị của Đảng CSVN luôn luôn có 5-6 ủy viên xuất thân từ ban tuyên truyền; Trọng, Dũng, Huynh, Lê Hồng Anh,…)

Tầng lớp “trí thức xã hội chủ nghĩa”

Bộ máy tuyên truyền sẽ không chạy được nếu thiếu đi một tầng lớp có học, có địa vị xã hội tự nguyện làm xăng nhớt. Thành phần đó gọi chung là “trí thức xã hội chủ nghĩa”.

Trước khi viết tiếp, người viết xin dừng lại ở đây để bày tỏ lòng biết ơn dành cho những trí thức chân chính và xứng đáng được kính trọng. Họ là những người có trình độ văn hóa giáo dục cao, những văn nghệ sĩ đang công khai hay âm thầm tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, tốt đẹp, tự do và dân chủ trong điều kiện và hoàn cảnh riêng của họ. Họ không thuộc thành phần mà người viết sắp bàn.

Thành phần “trí thức xã hội chủ nghĩa” chia sẻ ba đặc điểm chung: (1) có học, khoa bảng (2) chủ nghĩa cơ hội, (3) bồi bút, uốn lưỡi bảo vệ đảng trung thành.

Một đại biểu xuất sắc trong tầng lớp này và có đủ ba đặc điểm vừa nêu là bà Tôn Nữ Thị Ninh.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh thỏa mãn đặc điểm thứ nhất dễ dàng vì bà thuộc thành phần khoa bảng. Phần lớn thời tuổi trẻ của bà lớn lên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và được đi du học tại các trường nổi tiếng tại Pháp, Anh. Bà về nước dạy đại học Sư Phạm Sài Gòn và từng là Phó Ban Anh Ngữ của trường.

(Ghi chú: Bà Ninh sinh tháng 10/1947, có nghĩa là bà sẽ nhập học lớp 1 chung với lứa tuổi sinh 1948. Đến năm 1971, bà 24 tuổi, quay trở về VN làm phó ban Anh văn trường ĐH Sư Phạm Sài Gòn 1972. Như vậy, bà chỉ có bằng cao học Anh văn. Nguyễn Khoa Thái Anh (2006) viết một bài báo đăng trên trang mạng talawas.org, và ca tụng bà này lên tận mây xanh, đọc mà phát ngượng cho thói nịnh bợ của ông ta. Ông ta cũng viết rằng bà Ninh dạy Anh văn tại 4 đại học nổi tiếng hàng đầu của Pháp (lúc bà mới 23 hay 24 tuổi!? Làm như Pháp không ai nói được tiếng Anh. Bà Ninh có việc làm ở đại hoc Pháp,  lương chắc chắn cao hơn ở VN, vậy tại sao bà về VN làm gì.) 

Trong thời gian ở Pháp, bà Ninh quen biết các thành viên của phái đoàn CS “Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” và phụ giúp công việc phiên dịch (1969) tại những buổi gặp gỡ không chính thức của họ. Như bà kể lại trong bài báo Paris: ‘Vườn ươm’ lực lượng, bà “không được chứng kiến các cuộc đàm phán chính thức”, phần lớn những gặp gỡ đều qua trung gian của các “hội yêu nước” và được bà Nguyễn Thị Chơn, vợ ông Trần Bạch Đằng, “bồi dưỡng chính trị”. Thành phần có học nhưng bị lá bùa “độc lập, tự do” của CS mê hoặc tại Pháp thời đó rất nhiều như bà thừa nhận với phóng viên Hoàng Thi trên báo Nhân Dân “tại Pháp, tôi đã tham gia phong trào phản chiến đang diễn ra rất sôi nổi nơi đây”.

Sau 30-4-1975, bà Tôn Nữ Thị Ninh cũng chỉ sinh hoạt trong “Hội trí thức yêu nước” như phần lớn các nhà giáo, văn nghệ sĩ thuộc “thành phần thứ ba” ở Sài Gòn.Thành phần này, trong đó có bà, được đảng thưởng công bằng chuyến “tham quan” các nước CS như Lý Quí Chung kể lại trong hồi ký của ông ta.

Đường công danh dưới chế độ CS của bà Ninh chỉ thật sự bắt đầu khi tình cờ gặp ông Xuân Thủy năm 1978. Từ đó, trong giai đoạn giao thời đảng đang cần người có khả năng giao tiếp với thế giới mà họ chưa từng biết qua, và bà nắm lấy cơ hội. Không giống như những người CS theo đuổi mục đích CS, vào tù ra khám hiến thân cho canh bạc của cuộc đời họ, bà chỉ là một kẻ cơ hội chủ nghĩa.

Hai đặc điểm, khoa bảng và chủ nghĩa cơ hội nói trên, dù không mấy tốt đẹp, cũng chỉ có tính cách cá nhân và không phải là tội ác, đặc điểm bồi bút trung thành và uốn cong ba tấc lưỡi để bảo vệ đảng CS của bà Ninh mới thật sự là một tội ác trí thức vì đã gây tác hại đến nhiều người. Dưới đây là vài ví dụ chứng minh bà Ninh bẻ cong ngòi bút.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh và nguyên tắc dân chủ kiểm soát và cân bằng (checks and balances)

Trong Tạp Chí Cộng Sản số tháng 6, 2007, bà Tôn Nữ Thị Ninh viết về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam: “Cần có một cơ chế “đối trọng” (phương Tây gọi cơ chế này là checks and balances). Đối trọng của ta là trong phạm vi chế độ, là sự kiểm tra giám sát của các đoàn thể quần chúng, chứ không phải là đối trọng về chính trị. Quốc hội có vai trò, tư pháp cũng phải độc lập, đoàn thể phải vào cuộc, nếu không hệ thống chính trị của ta sẽ không có cơ chế tự điều tiết.”

Hẳn nhiên, với trình độ giáo dục cao và tiếp cận nhiều với sinh hoạt chính trị dân chủ Âu Châu trước đây, bà Ninh biết rõ khái niệm kiểm soát và cân bằng (checks and balances) nhằm sự kiểm soát lẫn nhau để giữ sự cân bằng và công bằng giữa các ngành trong các chế độ dân chủ pháp trị. Nguyên tắc này ra đời nhằm giới hạn quyền hành của chính phủ (hành pháp) thường rất dễ bị lạm dụng. Sự đối trọng giữa các ngành trong cơ chế chính trị chỉ hữu hiệu khi các ngành đó có được sự độc lập về quyền hạn và trách nhiệm. Một sinh viên lấy lớp chính trị học nhập môn cũng nắm vững định nghĩa căn bản đó.

Thế nhưng bà uốn cong định nghĩa “checks and balances” giữa các ngành trong chế độ dân chủ pháp trị thành một khái niệm giữa quần chúng (không có tiếng nói) và nhà nước (nắm hết quyền lực). Tại Việt Nam ai đối trọng với ai, ai kiểm soát ai và ai cho phép tạo nên sự cân bằng quyền lực trong hệ thống chính trị bị chỉ đạo bởi một đảng duy nhất là đảng Cộng sản?

Một người có hiểu biết căn bản nào cũng trả lời được, dưới chế độ CS không ai, không một tập thể, không một thành phần nhân dân nào đứng trên quyền lực của đảng CS. Thời gian 2006 bà Ninh là “Đại biểu Quốc hội” đơn vị Vũng Tàu và hơn ai hết bà biết chức “Đại biểu Quốc hội” của bà chẳng phải do người dân Vũng Tàu nào tự nguyện bầu bà lên mà chỉ là hư danh do đảng CS trả công cho bà.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh chống đối Bob Kerrey

Theo phóng sự điều tra của Gregory L. Vistica trên New York Times phát hành ngày 25 tháng Tư, 2001, vào đêm 25 tháng Hai, 1969, đội SEALs (đơn vị đột kích tinh nhuệ của hải quân Mỹ viết tắt của chữ Sea, Air and Land Teams) dưới quyền chỉ huy của Trung Úy Bob Kerrey, 25 tuổi, tiến vào làng Thạnh Phong với mục đích tiêu diệt một phiên họp của Việt Cộng với sự tham gia của một lãnh đạo quân sự. Sau khi thanh toán mục tiêu thứ nhất bằng dao để khỏi lộ mục tiêu, đơn vị SEALs bị trong làng bắn ra. Với tin tức tình báo nhận được, đội SEALs đinh ninh một phiên họp của lãnh đạo CS cao cấp đang diễn ra và đã bắn trả quyết liệt. Đừng quên, lúc đó đã sau 9 giờ tối trong một đêm không trăng tại ngôi một làng hẻo lánh tối tăm chứ không phải trưa ban ngày giữa đồng rộng hay đường lớn để có thể nhận diện dễ dàng. Bob Kerrey kể lại ông ta không thấy ai hết. Khi phản công chấm dứt, toán SEALs tiến vào các chòi lá và hình ảnh mà Bob Kerrey sẽ nhớ đến giờ chết là không có một chỉ huy Việt Cộng nào mà chỉ toàn là thường dân, đàn bà và trẻ con bị giết. Tuy nhiên, Gerhard Klann, một đội viên SEALs dưới quyền Kerrey kể khác rằng trong chòi lá thứ nhất không chỉ có đàn ông mà còn có đàn bà và trẻ em, và chính Bob Kerrey không những ra lịnh mà còn tham gia vào việc giết những người trong chòi lá thứ nhất. Lời kể của Klann trùng hợp với kể của nhân chứng Việt Nam Pham Tri Lanh. Bob Kerrey không đồng ý với Klann nhưng nhận lỗi lầm với tư cách chỉ huy. Các đội viên khác có người ủng hộ lời kể của Bob Kerrey và có người từ chối trả lời. Nói chung các lời kể rất rời rạc, trước sau không thống nhất. Kerrey nhắc lại nhiệm vụ chính của các toán SEALs là tiêu diệt một mục tiêu được giao phó và nhiệm vụ của đội SEALs vào làng Thạnh Phong đêm đó là tiêu diệt chứ không phải bắt tù binh.

Sau khi bị thương và giải ngũ về nhà, Kerrey kể lại thảm sát Thạnh Phong cho mẹ nghe và mẹ ông ta khóc.

Với nhiều người khác, biến cố là một tai nạn giết lầm, đổ thừa cho tình báo, cho cấp chỉ huy, cho chiến tranh và rồi ăn ngon ngủ kỷ. Nhưng với Bob Kerrey, lương tâm ông bị cắn rứt và đã làm rất nhiều trong lãnh vực giáo dục để xoa dịu vết thương giữa hai dân tộc cũng như đau đớn tinh thần của riêng ông. Với kinh nghiệm chín năm làm chủ tịch của New School University ở New York, ông hy vọng sẽ áp dụng những vốn liếng đó vào việc lãnh đạo Fulbright University Vietnam và nâng trường lên đẳng cấp quốc tế. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng nhấn mạnh yếu tố chuyên môn kết hợp với tình cảm cá nhân trong diễn văn đầy tinh thần hòa giải của ông khi giới thiệu Fulbright Vietnam. Bob Kerrey với kinh nghiệm lâu năm trong ngành giáo dục, một cựu Thượng Nghị Sĩ, cựu ứng cử viên tổng thống, nhà chính trị có quan hệ rộng rãi với chính giới Hoa Kỳ và gắn bó tinh thần với Việt Nam xứng đáng để lãnh đạo Fulbright University Vietnam.
Thay vì thuận theo tinh thần hòa giải được khơi dậy trong diễn văn của Ngoại trưởng John Kerry và mở rộng hơn cánh cửa giáo dục cho các thế hệ Việt Nam, máu cơ hội ”chống Mỹ cứu nước” trong bà Tôn Nữ Thị Ninh sôi sục lên và bà phán: “Ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2/1969. Điều này không thể chối cãi và chính ông Kerrey cũng thừa nhận. Có thể nhìn nhận vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau, cả phía Việt Nam và phía Mỹ. Nhưng một điều chắc chắn, sự việc đó là đủ để kết luận Bob Kerrey, nói theo cách nhẹ nhất, hoàn toàn không thể giữ vị trí Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật đó. “

Khi nhắc đến câu “không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật”, không biết bà có nhìn quanh thử mình đang sống ở đâu không. Bà đang sống trong một đất nước mà nơi đó sự thật chỉ là chiếc bánh tuyên truyền rẻ tiền và hư thối đến nỗi một đứa bé đói khát cũng không thèm cầm lấy. Chắc bà không lạ gì những nhãn hiệu “Nhà Xuất bản Sự Thật”, “Báo Sự thật” v.v.

Nếu bà thật sự quan tâm đến sự thật và căm ghét những kẻ đã giết dân vô tội, hãy về Huế một lần trong dịp Tết để hỏi thăm đồng bào Huế của bà những ai là kẻ giết người và những ai là người có thân nhân bị giết (vào dịp Tết Mậu Thân 1968), không phải 24 người mà nhiều ngàn người. Những kẻ chôn sống nhiều ngàn dân Huế không nói tiếng Anh như Bob Kerrey mà có một giọng nói rất giống bà. 

Nếu bà quan tâm đến sự thật hãy tìm đến các “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân” và hỏi họ đã giết bao nhiêu “Mỹ Ngụy” còn mặc tả ở nhà hàng Mỹ Cảnh, bao nhiêu mái đầu xanh ở rạp hát Kinh Đô, bao nhiêu em bé chết trong tay còn ôm cặp ở trường Tiểu học Cai Lậy (9-3-1974) v.v.. Hàng ngàn cuộc thảm sát do CS gây ra trên đất nước Việt Nam đang cần được đưa ra dưới ánh sáng, sự thật và công lý.

Bob Kerrey có lỗi với ai?

Bà Ninh phát biểu bằng một giọng trịch thượng và hằn học “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ”. Việc bà “không thể biết” là tại bà kém thông tin nhưng cựu TNS Bob Kerrey hay Ngoại trưởng John Kerry không cần phải báo cho bà biết.

Người viết không binh vực cho Bob Kerrey. Bob Kerrey dù trực tiếp ra tay, ra lịnh hay không vẫn là người có lỗi. Nhưng ông ta chỉ có lỗi với nhân dân Việt Nam, với thân nhân những người bị toán SEALs của ông giết chứ không có lỗi gì với đảng CS và nhà nước CS mà bà Ninh đang cung phụng. Dưới các chế độ dân chủ, vai trò, chức năng và sự phân định giữa nhân dân và chính phủ rõ ràng chứ không đánh lận con đen đảng cũng chính là dân tộc, đảng cũng chính là tổ quốc như dưới chế độ CS.

Một lỗi lầm của Bob Kerrey trong chiến tranh không làm cuộc chiến bảo vệ tự do của miền Nam mất đi chính nghĩa và cũng không giúp đảng CSVN có chính nghĩa.

Hôm 27 tháng Năm 2016 vừa qua, trong chuyến viếng thăm Hiroshima, Nhật Bản, TT Barack Obama bày tỏ lòng thương tiếc đối với nạn nhân bom nguyên tử của Mỹ và cảm tình đối những người sống sót nhưng ông không xin lỗi. Cuộc chiến chống Phát Xít Nhật là cuộc chiến chính nghĩa. Những kẻ phải chịu trách nhiệm cho điêu tàn của nước Nhật và chết chóc của nhân dân Nhật là lãnh đạo chế độ quân phiệt Phát Xít Nhật thời đó chứ không phải Mỹ.

Tương tự, trong lúc không thể so sánh nỗi đau bằng một nỗi đau, thảm sát Thạnh Phong cũng phải được nhìn từ nguyên nhân đến hậu quả của cả cuộc chiến Việt Nam.

Cái chết của 24 người dân làng Thạnh Phong, phân tích cho cùng, cũng không khác gì cái chết của năm ngàn người dân Huế, của 32 học sinh trường tiểu học Cai Lậy, của 13 cô gái Thanh niên Xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc, của Nguyễn Văn Thạc, của Đặng Thùy Trâm, của bao nhiêu thế hệ thanh niên miền Bắc và nói rộng hơn của ba triệu người dân Việt khắp hai miền do âm mưu Bolshevik hóa Việt Nam bằng bạo lực của đảng CSVN.

Chủ trương CS hóa Việt Nam đã được in đậm trong cương lĩnh đầu tiên của đảng CS từ 1930 chứ không phải sau khi Mỹ đổ bộ xuống Đà Nẵng 1965. Dù Mỹ có đến hay không thì mục tiêu tối hậu của đảng CSVN vẫn không thay đổi. Bà Ninh hãy trả lời giùm câu hỏi “Nếu đảng CSVN không chủ trương thôn tính miền Nam bằng võ lực thì thảm sát Thạnh Phong có xảy ra không?”

Thành phần “trí thức xã hội chủ nghĩa” như bà Tôn Nữ Thị Ninh chẳng những không đóng góp được gì vào việc làm thăng tiến xã hội, thúc đẩy nhanh hơn cuộc cách mạng tự do và nhân bản đất nước, giúp đưa dân tộc chúng ta vượt qua những bế tắc tư tưởng và chính trị để hội nhập vào dòng thác tiến bộ của nhân loại, mà với khả năng bồi bút, uốn cong ba tấc lưỡi, thành phần này đã trở thành bức tường chắn ngang tiến trình khai phóng đất nước và đó là một tội ác.

Trần Trung Đạo

 

(Ghi chú: chữ màu đen, in nghiêng trong bài là của TH.)

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Giao Duc, Lưu manh đỏ, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Chào mừng quyết định trụ lại của ông Bob Kerrey

Posted by hoangtran204 on 10/06/2016

Chào mừng quyết định trụ lại của ông Bob Kerrey

Tác giả:

8-6-2016

Ảnh news.zing.vn

Ảnh news.zing.vn

Tôi chào mừng quyết định này của ông Bob Kerrey bằng câu tự hỏi: Tại sao ông quyết định trụ lại? Chắc phải có những lý do tôi không biết. Nhưng tôi nghĩ hai lý do dưới đây có thể có vai trò lớn.

1) Lý do thứ nhất: Sự bài xích của bà Tôn Nữ Thị Ninh

Hai bài viết của bà Tôn Nữ Thị Ninh (1) và (2) xuất hiện trong vòng vài ngày với văn phong khiến nhiều người cảm nhận là hằn học. Bài sau hằn học hơn bài trước.

Cả hai bài cho thấy một sự bài xích ông Kerrey với các lý do không vững chắc, một sự triệt ha không xứng tầm. Bởi thế nên chúng có một số lập luận và chứng cớ vòng quanh chứ không đi thẳng vào chủ đề. Lập luận đó, nói một cách thẳng thắn, là không trung thực! Những sự việc có thật được nêu lên để ủng hộ cho lập luận không trung thực.

Luận cứ chính của hai bài chỉ là lôi sự việc hiện nay trở về thảm kịch trong chiến tranh nửa thế kỷ trước! Tinh thần hòa giải hiện nay lại bị trói chung với hận thù năm xưa! Việc làm xây dựng trong hòa bình hiện nay lại bị trói chung với tàn phá trong chiến tranh năm xưa!

Người đọc có thể không đồng ý với giải pháp được bà Ninh đề nghị là ông Kerrey từ chức, nhưng có thể cảm thông với cảm xúc của một người còn bị ám ảnh bởi tấn thảm kịch năm xưa. Bà Ninh càng viết và càng bài xích kịch liệt, khổ thay, người đọc không cảm nhận bà đau khổ, lại thấy bà cay cú vì cái chức danh Chủ tịch Hội đồng tín thác FUV!

Ngoài ra, người ta còn cảm nhận có một cái gì đó sâu xa hơn ở đằng sau hậu trường…

Một tầm vóc từng trải như ông Kerrey làm sao không cảm nhận hết các điều này? Dễ gì ông để mình và sự nghiệp của mình bị dắt dẫn bởi những việc nhỏ mọn và không trung thực? Dễ gì ông để mình bị dẫn dắt bởi các khiêu khích về lòng tự trọng tầm thường?

2) Lý do thứ hai: Lòng ủng hộ của dân Việt

Lòng dân Việt Nam hướng về mở rộng bang giao với Hoa Kỳ được thể hiện quá rõ qua việc họ chào đón Tổng thống Obama.

Hoa Kỳ đã đem lại cho dân Việt cơ hội trang bị vũ khí tối tân. Hoa Kỳ đã đem lại cho dân Việt viễn cảnh kinh tế thoát khỏi sự lệ thuộc nguy hiểm trước Trung Quốc đang xâm chiếm từng phần lãnh thổ tổ quốc. Hoa Kỳ đã đem lại cho dân Việt cơ hội tạo dựng xã hội rộng mở, khai phóng làm nền cho đất nước ấm no, hùng cường và tự chủ. Tầm nhìn xa, tri thức cao và tác phong trẻ trung thân mật của Tổng thống Obama cùng ngoại trưởng Kerry đem lại cho dân Việt một sự so sánh trực tiếp về sự khác nhau giữa chính quyền của chính thể dân chủ tự do so với chính thể chuyên chính…

Người dân đã chủ động đổ ra đường chào đón cái mà họ đang thiếu, đang khao khát. Sự chào đón diễn ra một cách văn minh, trật tự và thật lòng, thật sự đã chạm vào tình cảm của ông Obama và nước Mỹ.

Lòng dân cũng được thể hiện qua các bài trên các trang mạng tự do lên tiếng ủng hộ ông Kerrey và phản đối lập luận của bà Tôn Nữ Thị Ninh. Lòng dân cảm phục ông Kerrey biết nhận trách nhiệm, biết kiên trì tiến hành các dự án giúp Việt Nam trong lãnh vực giáo dục đem lại lợi ích khai phóng và nâng cao dân trí dài lâu…

Lòng dân đó cho các ông Kerrey, ông Kerry và ông Obama thấy sự ủng hộ của Việt Nam vào hệ thống tự do dân chủ, thấy Việt Nam thực sự xứng đáng được đầu tư cho phát triển về hướng tự do.

Một đất nước càng xứng đáng thì xác suất bị bỏ rơi càng ít.

Quyết định trụ lại của ông Kerrey càng cho thấy tầm vóc trí tuệ và đạo đức của ông khác xa của bà Tôn Nữ Thị Ninh và của những người đứng sau lưng bà.

© Trần Quí Cao

© Đàn Chim Việt

Vì sao Trần Đại Quang lườm Obama bằng “đôi mắt hình viên đạn”?

– Bị bỏ rơi không ai ngó tới nên ghanh tức.

Người VN says:

Bà “thị Ninh” càng viết đả kích ông Kerrey, thì càng cho người đọc nhận rõ 2 tính cách khác biệt giữa bà và người bị bà cố tình đả kích:
– Bà Ninh: một trí tuệ hẹp hòi, một tâm hồn nhỏ mọn ích kỷ và đầy thù hận, một kẻ cơ hội và tham lam, một tính cách CS thâm độc, phá hoại và không bao giờ biết hối lỗi, và là một con kỳ đà tay sai của Tàu cộng, nhằm cản trở cơ hội thăng tiến của dân tộc VN, một kẻ thù của dân Việt!
– Và ông Kerrey: một tấm lòng vị tha, một tâm hồn đạo đức, luôn biết nhìn lại, hối tiếc những việc làm gây hậu quả không tốt cho người khác, để sẵn sàng đền bù cho cân xứng, thật đáng nêu gương cho mọi người! Ông xứng đáng là một ân nhân của dân Việt!
Nguyện xin Thượng Đế xuống phước lành cho những tâm hồn ngay lành và vị tha, và loại trừ những kẻ lòng dạ xấu xa, hại dân hại nước!

——

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Nhan Vat | Leave a Comment »