Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một, 2012

►Về …

Posted by hoangtran204 trên 30/11/2012

Trong câu chuyện do anh Lê Thăng Long kể lại trong bài viết dưới đây, không phải chỉ có anh Trần Huỳnh Duy Thức biết động lòng trắc ẩn trước cụ già ở bùng binh Quách Thị Trang chợ Bến Thành, mà đa số thanh thiếu niên nhi đồng được sinh ra ở miền Nam, hoặc chỉ ra đời vài ba năm trước năm 1975, họ cũng có cùng lối đối xử với người nghèo đang gặp hoạn nạn như THDT đã gặp cụ già ấy.  Mầm mống tốt đẹp về giáo dục, văn hóa, truyền thống tốt đẹp ở miền Nam mà các chế độ dân chủ ngắn ngủi ở đây đã gieo vào đầu óc các thế hệ thanh thiếu niên nhi đồng miền Nam mà THDT chỉ là người đại diện.

Trước năm 1975 ở miền Nam, ngày nào cũng có tin bộ đội cộng sản miền Bắc pháo kích vào khu dân cư trong các thành phố, du kích CS đặt chất nổ trên đường tỉnh lộ, đặc công CS ném lựu đạn vào các đám đông, trường học, chợ búa, các tụ điểm văn nghệ…nhưng việc tham gia các chuyến chữa bệnh miễn phí và phát chẩn ở những vùng xa nghèo khổ, các cô nhi viện, các trại dưỡng lão…cũng được thanh niên sinh viên học sinh miền nam, các hội đoàn Hướng Đạo, Phật Tử, tổ chức các tôn giáo tham gia hưởng ứng rất mạnh mẻ chứ không chỉ có người giàu có tham gia như hiện nay.

Khi cộng sản vào miền Nam 1975, chúng phá tan tành những mầm mống tốt đẹp về giáo dục, văn hóa, truyền thống tốt đẹp ở miền Nam mà các chế độ dân chủ ngắn ngủi ở đây đã gieo vào đầu óc các thanh thiếu niên miền Nam.

Riêng nhóm sinh viên học sinh tham gia đấu tranh chính trị ở miền Nam, từ 1963-1975, thực chất chỉ là bọn cộng sản, hoặc do cộng sản đứng sau giựt dây, hoặc nghe lời đường mật chạy theo cộng sản, bọn này có một điểm chung là tuy đậu được tú tài vào đại học, nhưng sau đó không theo kịp chương trình ở đại học, học hành rất sa sút, điểm rất kém,  điểm thi các môn học rất thấp, sắp bị đuổi khỏi trường và đi lính, nhắm chừng không thể thi đậu các kỳ thi lên lớp hàng năm,  nên chỉ còn tham gia các phong trào biểu tình để phá rối, để có tiền ăn ở do Việt Cộng cấp phát.

********

Kính gửi: BBT báo Dân Luận

Ngày 29 tháng 11 là sinh nhật anh Trần Huỳnh Duy Thức. Tôi xin gửi đến BBT báo Dân Luận bài viết dưới đây.
Xin đề nghị BBT báo Dân Luận giúp đăng tải để làm món quà tặng sinh nhật anh ấy.
Chân thành cảm ơn BBT báo Dân Luận!
Kính chào trân trọng,
Lê Thăng Long

 

VỀ MỘT CON NGƯỜI ĐỜI THƯỜNG

Giờ này không biết anh đang làm gì, đọc một cuốn sách, sáng tác một bài thơ? Nhưng tôi đoan chắc một điều là anh không bao giờ thôi suy nghĩ về người khác. Có thể là một người bạn cũ, một nhân viên bảo vệ công ty trước đây hoặc những người mà anh chỉ gặp một lần nhưng không bao giờ quên được những cảnh đời của họ. Gần 5 năm làm bạn học, 15 năm làm đồng nghiệp và gần 2 năm làm bạn tù với anh tôi thường được nghe và chứng kiến nhiều câu chuyện đời thường xung quanh anh. Chúng rất dung dị nhưng thật đáng học hỏi.

Dịp sinh nhật 46 của Thức tôi nghĩ mãi cả tuần nên viết gì tặng anh. Trải qua một thời gian dài hơn 26 năm thâm tình với anh, tôi chứng kiến và học hỏi ở anh rất nhiều, từ nhỏ nhặt đến lớn lao. Ngẫm nghĩ kỹ thì tôi nghiệm ra rằng những điều có giá trị nhất là chính từ cuộc sống đời thường của anh mà ít người được biết. Chính cách sống đó đã làm nên một con người có những suy nghĩ và bài viết rất gần gũi với cuộc sống, chứ không phải từ những tư tưởng to tát, những lời đao to búa lớn.

“Trao đổi để nhìn vào chiều sâu của cuộc sống. Xã hội cần được xây dựng từ dưới lên” là câu mà Thức dùng để làm phương châm cho blog Trần Đông Chấn, bây giờ vẫn còn nguyên tại địa chỉ trandongchan.wordpress.com Khi suy nghĩ, anh luôn vươn xa, mở rộng để phóng tầm nhìn đến những điều lớn lao, táo bạo. Nhưng khi hành động thì anh luôn bắt đầu từ những gì cụ thể, từng bước và chăm hỗ trợ những người khác để họ có điều kiện tốt mà cùng tiến đến tầm nhìn đó. Đó là lý do vì sao những bài viết của anh dù đề cập đến những vấn đề hết sức to lớn, phức tạp nhưng lại rất dễ hiểu và thực tế.

Anh nhìn vào hiện thực cuộc sống để tìm ra giải pháp làm nó tốt dần lên, cao dần lên. Chứ không bê những lý thuyết cao siêu vô hồn từ đâu đó và áp xuống một cách độc đoán bất chấp thực tế, rồi cố gắng tô vẽ cho đẹp. Muốn vậy phải thấu cảm được hoàn cảnh sống của người khác. Anh thường nhắc tôi phải đặt mình vào vị trí của người khác mà nghĩ, đừng chỉ nghĩ theo hoàn cảnh của mình và đừng bao giờ vô cảm với những cảnh đời cơ nhỡ.

Một lần vào khoảng năm 2007, tôi bay từ Hà Nội vào Sài Gòn làm việc. Tài xế riêng của anh ra sân bay đón tôi. Cậu ấy kể câu chuyện này để giải thích vì sao cậu ấy đến trễ để tôi chờ. Trước khi đi sân bay cậu ấy phải chở anh đến một nơi hẹn. Tới bùng binh Quách Thị Trang chợ Bến Thành anh nhìn thấy một bà cụ đang chống gậy đi qua khu tam giác dành cho người đi bộ thì bị ngã quỵ. Anh ra lệnh quay đầu xe lại chạy đến chỗ bà cụ. Anh lao xuống xe và bế xốc bà cụ vào dưới mái che cây xăng cạnh đó, kêu tài xế lấy dầu xức cho bà. Anh hỏi bà đi đâu mà để như thế này. Bà thều thào rằng bà đi ăn xin nhưng sáng giờ chưa xin được gì nên đói quá mà ngã. Anh kêu tài xế chạy ngay đến bánh mì Như Lan gần đó mua cho bà, cả nước uống. Anh hỏi nhà bà ở đâu, con cháu đâu mà để bà phải làm như vậy. Bà nói nhà ở tận Củ Chi, con cháu đứa nào cũng nghèo, có đứa cũng đi xin nên đâu lo cho bà được.

Bà ăn xong, anh hỏi bà đã đỡ mệt chưa, thực sự không có gì nguy hiểm trong người nữa phải không, rồi anh móc hết trong bóp ra còn một vài triệu đưa hết cho bà. Anh dặn tài xế ở lại đưa bà đến trạm xe buýt, phải đưa lên tận trong xe kiếm chỗ cho bà ngồi rồi mới được về. Trước khi đi anh dặn bà rất kỹ là hôm nay phải về, không được đi nữa, về nhà cũng phải nghỉ ngơi vài tuần cho lại sức. Rồi anh mượn tài xế ít tiền và bắt taxi đến chỗ hẹn. Tôi hỏi vui cậu tài xế: “anh Thức mượn tiền em có trả không?” Cậu ấy cười hì hì và nói: “ảnh mượn tiền em hoài, không trả ai cho mượn nữa.”

Thỉnh thoảng Thức lại rủ một số đồng nghiệp công ty và cả hai đứa con nhỏ của mình tham gia các chuyến chữa bệnh miễn phí và phát chẩn ở những vùng xa nghèo khổ. Những chương trình này được hội cứu tế Tzu-Chi của Đài Loan do bạn anh làm đại diện ở Việt Nam tổ chức. Những chuyến đi như vậy anh làm tình nguyện viên đưa đón, bồng, cõng những người bệnh già yếu suốt cả ngày. Anh tận dụng thời gian đó để tìm hiểu cuộc sống của họ. Trong tù anh vẫn không quên viết thư dặn dò con mình hãy quan tâm và dành ít thời gian tham gia vào những chuyến đi như vậy. Anh nói với con rằng những ánh mắt hạnh phúc của người nghèo khó được chăm sóc, trân trọng là những phần thưởng không có gì mua được cả.

Thức kể với tôi anh chọn hội Tzu-Chi để làm tình nguyện viên vì hội đó rất trân trọng người được cứu tế. Cho quà phải nâng bằng hai tay và gập người xuống. Họ dặn các tình nguyện viên rằng: “Của cho không bằng cách cho. Người nghèo thường ít được tôn trọng, do vậy đây là dịp để họ nhận được những sự đối đãi trọng thị.”

Thức nói rằng những người đang khốn khổ như vậy còn quá nhiều, việc thiện nguyện dù rất ý nghĩa cũng không giúp được bao nhiêu. Nhưng nó sẽ làm mình thực sự hiểu được những cuộc sống mà mình không phải trải qua hàng ngày. Chỉ như thế mới nhìn ra được những cách giải quyết thực tế và căn cơ. Anh cũng thường phê phán hiện tượng một số người làm giàu trên sự thiệt thòi của người khác rồi vun tiền đóng góp cho từ thiện để được danh nghĩa vì người nghèo.

Triết lý kinh doanh của Thức rất dứt khoát: “Không kiếm lời từ bất kỳ công việc nào mà nó không tạo ra lợi ích cho nhiều người hoặc cậy thế chèn ép người khác”. Anh khuyến khích sự sáng tạo để có lợi thế cạnh tranh về công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh, và không cho phép các hoạt động đầu cơ chụp giật. Cá nhân anh không bao giờ mua bán đất đai, bất động sản hoặc chứng khoán vì anh nói các lĩnh vực này đang là bong bóng không tạo ra giá trị thật nên khi mình kiếm được tiền thì sẽ có ai đó mất. Anh cũng chỉ có một căn nhà và không đầu tư thêm bất kỳ bất động sản nào khác, dù mọi người thường ngạc nhiên trước những dự báo chính xác của anh về các cơn sốt nhà đất, chứng khoán.

Thức là thế, luôn nhất quán trong suy nghĩ, lời nói và hành động, cho dù đó không phải là cách luôn có lợi trong một xã hội đang có quá nhiều các giá trị bị đảo lộn. Anh luôn kiên trì với cách đó và rất phê phán các kiểu sống cơ hội. Thức là người nóng tính (và còn rất nhiều những tật xấu khác nữa :D) nên những người thân cận với anh thường thấy anh nổi xung trước những hành động theo kiểu sống này. Nhưng đó cũng là cách để anh duy trì nhiệt huyết của mình để không bị nhiễm những cái xấu tràn lan trong xã hội. Anh thích câu danh ngôn của ông Adam: “Hãy biết giận nhưng đừng giận”. Đó cũng vừa là triết lý sống vừa là bản tính của Thức, không bao giờ để bụng hay thù hận ngay cả với những người đã làm hại mình, nhưng cũng không xem sai trái của họ là điều chấp nhận được.

Không mấy người biết mẹ anh Thức đã từng bị ngồi tù. Những năm 1978, 1979 Việt Nam không những bị nạn thất mùa trên khắp cả nước mà còn phải chịu đựng gánh nặng trả nợ cho Trung Quốc. Đó là những năm mà ngay cả vùng đồng bằng sông Cửu Long còn gặp phải cảnh thiếu gạo. Vào lúc đó mẹ anh Thức làm nông ở Đất Đỏ (Bà Rịa – Vũng Tàu), gia đình rất đông con mà mùa màng lại thất bát. Nhưng chính sách những năm đó phải đóng thuế theo hạn mức cố định mà không xét được hay thất mùa. Thu hoạch được chẳng bao nhiêu, nếu đóng lúa thuế thì hết sạch lấy gì để cả nhà dùng để độn khoai mà ăn đến mùa vụ tới. Nên bác gái quyết định không đóng lúa thuế và xin khất qua mùa sau, nhưng không được chấp nhận.

Sau nhiều lần đọc tên trên loa phóng thanh mà bác vẫn không đi nộp thuế, du kích xã vào bắt giam bác trong lúc bác đang trốn dưới gầm giường. Họ lôi bác đi trước tiếng khóc của bầy con còn nhỏ. Rồi bác bị đưa ra tòa xử 6 tháng tù vì tội trốn thuế và còn phải đóng thuế phạt. Hơn 20 năm sau Thức có lần về quê dự giỗ ông ngoại, anh gặp lại những người đã từng ức hiếp gia đình mình, bỏ tù oan sai mẹ mình và còn làm rất nhiều điều cường bạo khác. Nhưng anh vẫn bắt tay họ. Họ mời anh ghé nhà chơi, thấy có người gặp hoàn cảnh khó khăn anh vẫn lấy tiền giúp họ.

Anh kể tôi nghe câu chuyện này và nói rằng: “Họ cũng chỉ là nạn nhân của những sai lầm có hệ thống gây ra giáo điều và ngu muội. Ngay cả đến bây giờ mà những người có học cao còn không tránh được bị cái hệ thống đó biến thành sai trái và thiếu hiểu biết, đừng nói gì đến những người dân quê thiếu học mà được nắm quyền hành.”

Rồi anh phân tích rất nhiều những sai trái, vi hiến của các thông tư liên bộ giữa Bộ công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc định tội và kết án cho một số loại hành vi mà bản chất của chúng không vi phạm các điều luật được qui định trong bộ luật hình sự. Những thông tư như vậy lại rất phổ biến và ngang nhiên trở thành căn cứ pháp lý được dẫn ra trong các bản án và cáo trạng. Bằng một cách đơn giản như vậy thì công an, kiểm sát, tòa án dễ dàng đứng trên mọi quốc hội hoặc các thiết chế quyền lực khác để giải thích luật hình sự tùy tiện theo cách của họ để kết tội oan trái cho người dân, bất chấp bản chất của hành vi có phạm tội hay không. Thức hiểu biết sâu về lĩnh vực tư pháp này vì lúc đó anh đang cùng luật sư Lê Công Định nghiên cứu để viết về cải cách pháp luật trong quyển sách Con đường Việt Nam nhằm chỉ ra nguồn gốc và đề nghị loại bỏ những cách thức sai trái, vi hiến của các hoạt động tư pháp gây ra oan sai phổ biến cho người dân, không chỉ trong các vụ án chính trị mà còn trong rất nhiều vụ án hình sự.

Nhiều người ngạc nhiên về sự hiểu biết sâu rộng của Thức. Anh có khả năng tự học rất đặc biệt nhờ luôn quan sát kỹ, phân tích sâu và suy luận rộng các hiện tượng để thấu rõ bản chất cốt lõi của chúng. Nhưng gần Thức rất lâu nên tôi hiểu rằng khả năng đó trước hết xuất phát từ một tính cách luôn nghĩ đến người khác của anh. Nghe, thấy một hiện tượng hoặc sự kiện nào đó. Việc đầu tiên anh luôn đánh giá xem tác động của nó đối với những đối tượng khác nhau chịu ảnh hưởng như thế nào. Từ đó anh mới phân tích sâu xa nguyên nhân của các tác động, ảnh hưởng đó và nghĩ ra các giải pháp tối ưu cho vấn đề. Đó có thể là những việc không thuộc trách nhiệm thường xuyên của mình nhưng anh vẫn luôn nghĩ đến nó. Còn nếu là những vấn đề quốc kế dân sinh thì anh chẳng bao giờ bỏ qua.

Đã 4 sinh nhật anh trải qua trong tù – thời gian để một người như anh làm được rất nhiều việc lớn có ích cho đời nếu không bị giam cầm tùy tiện. Và cũng trong thời gian đó nền kinh tế đất nước tiếp tục trượt dài đúng như anh đã cảnh báo và phê phán. Nhưng tôi biết rằng anh không hề hối tiếc. Anh cho rằng những gì đã xảy ra với mình và đất nước là điều khó tránh được để dẫn đến những thay đổi tốt đẹp. Nên anh chấp nhận những nghịch cảnh ấy như một sứ mệnh mà mình nhận lãnh.

Phong trào Con đường Việt Nam sắp phát hành trong tháng tới một quyển sách viết về anh và biên tập, tổng hợp lại những bài nghiên cứu tình hình đất nước và cảnh báo nguy cơ về kinh tế – chính trị – xã hội của nhóm Chấn (cùng với luật sư Lê Công Định). Dù đã được viết cách đây 5 năm nhưng vẫn còn nguyên tính thời sự và giá trị của nó. Cuốn sách cũng giới thiệu rõ hơn nội dung của quyển sách “Con đường Việt Nam” mà anh Thức đang viết dở về các biện pháp cải cách, chấn hưng đất nước.

Quyển sách sắp phát hành cũng mong muốn thức tỉnh lương tri của cộng đồng về một con người bị cầm tù vì nặng lòng với đất nước mà nói lên chính kiến của mình để anh không phải trải qua thêm một sinh nhật nữa trong tù.

Những nỗ lực vận động của gia đình, bạn bè và cộng đồng quốc tế đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhóm công tác của Liên Hợp Quốc chống giam giữ tùy tiện (WGAD) đã phán quyết việc bắt giữ anh và những người bạn mình là vi phạm luật pháp quốc tế mà Việt Nam ký kết và sẽ đưa vấn đề ra Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nếu Chính phủ Việt Nam không đáp ứng việc trả tự do cho anh, anh Lê Công Định và anh Nguyễn Tiến Trung. Nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế cũng đã tiến hành và chuẩn bị những chiến dịch vận động mạnh mẽ cho anh và những tù nhân chính trị khác. Liên minh Châu Âu và chính phủ nhiều nước cũng đã và sẵn sàng tiếp tục lên tiếng để tiếp sức cho những tiếng nói của lương tri đòi tự do cho anh và nhiều tù nhân lương tâm nữa.

Chỉ cần thêm những tiếng nói mạnh mẽ hơn nữa từ cộng đồng thì sẽ dẫn đến tự do cho anh và nhiều người khác. Đó cũng sẽ là sự khởi đầu cho những điều tốt đẹp đến với đất nước.

Và ngay bây giờ, ai đọc được bài viết này thì xin hãy thầm gửi anh một lời chúc sinh nhật. Tôi tin người có tâm hồn như anh sẽ cảm nhận được và thấy rất ấm lòng nơi ngục tối lạnh lẽo, hoang vắng. Xin cảm ơn.

Chúc mừng sinh nhật bạn. Hãy giữ sức khỏe và yên tâm rằng con đường bạn đi đang ngày càng có nhiều người bước tới.

Lê Thăng Long

1h sáng, 28/11/2012, một ngày trước sinh nhật Thức.

Tác giả gửi tới Dân Luận

http://www.x-cafevn.org/node/4125

Advertisements

Posted in Nhan Vat | Leave a Comment »

►Sau bao nhiêu kiếp nạn do chính ông ta gây ra cho Việt Nam, nhưng tới giờ phút này, “Cụ Hồ” vẫn là thần tượng của dân Miền Bắc!?!

Posted by hoangtran204 trên 29/11/2012

 

Tiến sĩ Nguyễn Quang A với “cụ Hồ”: Hơn một điều buồn

TS. Nguyễn Quang A

Trong phỏng vấn của RFI ngày 22/11/2012 vừa qua về việc Quốc hội Việt Nam ra nghị quyết về việc bỏ phiếu bất tín nhiệm các viên chức cao cấp của chính quyền, Tiến sĩ Nguyễn Quang A có bày tỏ hai quan điểm đáng ghi nhận.

Thứ nhất, ông vẫn đặt một hi vọng và trông chờ sẽ có tiến bộ thực tế từ nghị quyết đó. Theo ông, khẳng định ngay bây giờ nghị quyết đó là có hay không có hiệu quả là một việc “hơi sớm.

Thứ hai, vào cuối cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Quang A đã trích dẫn và có ý lấy Hồ Chí Minh ra làm tấm gương để thúc đẩy tiến bộ, ông nói: “… Tất nhiên, không có gì có thể thay thế mạnh bằng quyền của người dân, được đuổi chính phủ’, như là lời của cụ Hồ đã nói nhiều chục năm trước, trong trường hợp chính phủ không làm được việc.

Về quan điểm thứ nhất, theo tôi có thể đó là sự thể hiện chân thành và thận trọng đến từ một nhãn quan nghiêng nhiều về lí thuyết hơn là thực tế. Mặc dù quan điểm của tôi ngược hẳn, cá nhân tôi vẫn trân trọng quan điểm đó của Tiến sĩ Nguyễn Quang A và cũng chỉ mong muốn thực tế sẽ cho thấy quan điểm của tôi là sai.

Về quan điểm thứ hai kể trên của Tiến sĩ Nguyễn Quang A thì tôi thấy hoàn toàn không ổn và rất đáng lo. Theo tôi, hiện nay nếu muốn đất nước có tiến bộ, có dân chủ thực sự hay thậm chí là chỉ muốn chính quyền phải cương quyết hơn với sự đe dọa, xâm lấn từ Trung Quốc thì chúng ta rất không nên lấy “cụ Hồ” ra làm tấm gương, trừ khi chúng ta không có đủ thông tin hoặc chỉ muốn có tiến bộ giả dối, nửa vời và chỉ muốn chính quyền vẫn lệ thuộc Trung Quốc. Chỉ cần xem lại một chút lịch sử chúng ta sẽ thấy điều này rất rõ.

Lãnh tụ nào và chính thể nào đã đưa vòng lệ thuộc, cống triều phương Bắc trở lại Việt Nam gần 80 năm sau khi sự phụ thuộc đó đã bị hủy bỏ hoàn toàn kể từ Hiệp ước Patenôtre 1884[i]? Còn lãnh tụ nào và chính quyền nào nếu không phải là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắc những cây cầu “răng môi”, “núi liền núi sông liền sông” cho sự lệ thuộc, cống triều (kiểu mới) phương Bắc trở lại Việt Nam từ năm 1950?

Ai là người đã làm trưởng ban soạn thảo Hiến pháp 1946 và sau đó cũng chính là người đã lại góp phần khai sinh ra Hiến pháp 1959 (ở miền Bắc) để đưa đất nước quyết tiến lên Chủ nghĩa Xã hội? Người nào có thể thay thế được Hồ Chí Minh ở những vai trò hệ trọng và tầm nhìn xa cho dân tộc như thế?

Ai là người đã ký sắc lệnh về biểu tình số 31 ngày 13/09/1946 để chứng tỏ với công luận quốc tế rằng chính thể lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính thể cũng biết tôn trọng quyền tự do bày tỏ của dân chúng, nhưng thực tế thì từ đó trở đi quyền biểu tình của người dân (đã được người Pháp cho thực hiện một phần trước đó) hoàn toàn chỉ còn được thực thi trên giấy? Nhà lãnh đạo nào có thể có sự bén nhạy ngoại giao và sự khéo léo chính trị đến thế trong việc nhấc hết đi những tự do của dân đã có trong thời thuộc Pháp, nếu không phải là Hồ Chí Minh?

Ai là người có thẩm quyền chính trị cao nhất đã để cho đất tư từ hàng ngàn năm biến hết thành đất “sở hữu toàn dân”, đã tiến hành cuộc “cách mạng long trời lở đất” ở nông thôn cách đây hơn nửa thế kỷ mà vẫn khiến lòng người hôm nay bấn loạn, hãi hùng, rồi cũng chính người ấy lại đưa tay chấm nước mắt tiếc thương nhưng vẫn giữ trọn ngai vàng cho tới lúc chết? Còn ai có thể có tài an dân và có cái tâm quyết liệt đến cùng cho quyền lực độc đoán đến thế ngoài “Bác Hồ kính yêu”?

Ai là người vừa là Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch đảng cầm quyền trong lúc ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng hạ bút ký một công hàm công nhận lãnh hải Trung Quốc bao phủ cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (1958)? Chắc chắn 54 năm chưa phải là thời gian quá lâu để mọi người quên mất người đó là Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tại miền Bắc Việt Nam), kiêm chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam và là một chí hữu, một “người thầy vĩ đại” đương thời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Nhưng việc chính quyền hiện nay vẫn không ngừng nghĩ ra nhiều kế sách, vẫn không tiếc tiền của (của dân) liên tục đầu tư vào việc tô vẽ, duy trì, tôn tạo sự sùng kính Hồ Chí Minh trong dân chúng như một bậc thánh, một vị Phật cứu nhân độ thế là vấn đề không có gì khó hiểu vì đó là logic tất yếu của mọi chế độ độc tài. Chúng ta cũng không nên phải quá phàn nàn hay quá đau buồn về những việc đó, vì họ là những kẻ cầm quyền thừa kế trong một chế độ phi dân chủ, họ là những người đã công khai sự quyết tâm và đòi hỏi cả dân tộc phải “sống, học tập và làm việc” theo tư tưởng, tác phong của một lãnh đạo độc tài. Họ là những người đang cố duy trì một thần tượng có thể tiếp tục gây mê hoặc, ru ngủ dân chúng trên con đường lầm lạc, độc ác chỉ có lợi cho họ.

Cái đau xót và đau buồn chính là việc những người bị trị, những người đang mất tự do, bị áp bức, những người không muốn đi theo cái ác lại vẫn quì lạy, sùng kính một con người đã đưa họ từ những xiềng xích thô kệch, rỉ sét sang những gông xiềng êm ả, tinh vi, bền chắc hơn, đã khai sinh ra một chế độ suy đồi mà họ đang ta thán, đã là một ông trùm của các thủ đoạn dân chủ giả hiệu vẫn được duy trì cho tới hôm nay, đã là một chuyên gia về các kỹ thuật mị dân lão luyện tới mức khiến cho cả một dân tộc đa phần vẫn cứ an tâm, ngáo ngác, trông đợi tự do trong gông cùm và thờ kính chính kẻ đã quàng vào họ bộ gông cùm mới.

Nhưng sự đau xót, buồn phiền đó có phần nào nguôi ngoai, và chúng ta cũng không nên trách cứ những người đó, nếu họ chỉ là những người “toan lo nghèo khó”, chưa quan tâm việc triều chính, không thể đọc được một vài ngôn ngữ Âu Mỹ hoặc không có khả năng cập nhật thông tin ngoài những gì nhà nước độc tài ban phát.

Song, Tiến sĩ Nguyễn Quang A hoàn toàn không thuộc số những người như thế. Ông không chỉ là một trí thức lớn trong xã hội hiện nay, một doanh nhân lớn thành đạt bằng thực lực mà còn làm ra và sở hữu một “tủ sách SOS2”. Ông là người đã từng góp ý, phê bình thẳng thắn với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng là người kĩ tính, theo tôi là đúng đắn, khi không hài lòng chữ “về” khi người khác dịch giới từ “to” (tiếng Anh) trong nhan đề The Road to Serfdom[ii] thành Đường về nô lệ. Ông là người gần đây rất quan tâm, rất ủng hộ nông dân bị cướp đất, rất nhiệt tình và sáng kiến trong việc chống “lưỡi bò” No U… Bản thân kẻ đang viết những dòng này cũng là người được ông “khai sáng” qua những dịch phẩm của ông như Hệ thống xã hội chủ nghĩa-chính trị kinh tế học phê phán, tổng quan kinh tế xã hội chủ nghĩa[iii], Lịch sử với những bài học[iv]…

Đương nhiên động lực trong thể hiện ngưỡng mộ Hồ Chí Minh của ông Nguyễn Quang A không thể giống với động lực trong sự sùng kính, ngưỡng mộ, quì lạy mà những kẻ cầm quyền độc tài vẫn thường thao diễn, chào mời, rao giảng, ép buộc. Nhưng có sự ngưỡng mộ nào mà lại không góp phần làm cho thần tượng, đang ngày đêm được tôn tạo, to thêm ra, lại không làm cho sự sụp lạy, vốn đã còng lưng, thêm cúi rạp? Thế mà một người như Tiến sĩ Nguyễn Quang A lại lấy Hồ Chí Minh ra làm gương soi vào đúng lúc này. Đó chẳng phải là một điều thật đáng buồn lắm sao? Nhưng tôi tuyệt không tin vì thế mà chính quyền sẽ có những hành xử văn minh hơn đối với tất cả những thiện ý mà Tiến sĩ Nguyễn Quang A đã muốn và sẽ muốn dành cho xã hội. Thế mới là điều lo lại thêm vào điều đã rất buồn.

© 2012 Phạm Hồng Sơn & pro&contra


[i] Đây là hiệp ước kí kết giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn (Việt Nam) vào năm 1884, thường lấy theo tên gọi của viên công sứ người Pháp (Patenôtre). Hiệp ước này có 19 điều khoản, trong đó có điều khoản: nước Nam chấp nhận cho nước Pháp bảo hộ, có việc gì giao thiệp với ngoại quốc thì do nước Pháp chủ trì, nước Nam không phải thần phục nước nào nữa. Thực ra điều khoản vừa kể không khác mấy so với hai hiệp ước đã kí trước đó vào các năm 1874 và 1883, nhưng ở Hiệp ước Patenôtre có hai chi tiết đáng lưu ý: 1. Viên công sứ Pháp (ở Bắc Kinh), tức đại sứ, đại diện của chính quyền Pháp lúc đó, chủ động tới triều đình ở Huế để thương thảo. 2. Sau khi kí hiệp ước thì chiếc ấn của Trung Quốc phong cho các vương triều Việt Nam đã bị đem ra “thụt bễ nấu lên và hủy đi”. (Nguồn: Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử lược, quyển II, Bộ Giáo dục Trung Tâm Học liệu xuất bản, Sài Gòn 1971.)

[ii] The Road to Serfdom của F. A. Hayek, tác phẩm của Friedrich August Hayek (1899-1992), bản dịch của Phạm Nguyên Trường (dựa theo một bản tiếng Anh rút gọn) với nhan đề Đường về nô lệ, Nxb Tri thức, 2009. Bản đầy đủ do Nguyễn Quang A dịch với nhan đề Con đường tới chế độ nông nô.

[iii] Tác giả Kornai János, Nguyễn Quang A dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002.

[iv] Tác giả Kornai János, Nguyễn Quang A dịch, Nxb Tri thức, 2008.

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Từ Ủy viên Trung ương Đảng kiêm Thống đốc ngân hàng cho đến cảnh sát giao thông đều có cách kiếm tiền như nhau

Posted by hoangtran204 trên 28/11/2012

Sau khi vụ án nhận hối lộ để cho công ty Securency in tiền polymer bị lộ ra 2010, ông Lê Đức Thuý đã được cho nghĩ hưu ở tuổi 63 từ ngày 1/5/2011 theo quyết định của  Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cho “nghĩ theo chế độ một số quan chức thuộc Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng”.

Sinh năm 1948 ở Hà Tỉnh,  ông Lê Đức Thúy  từng giữ chức thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1999 -2007), Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, và là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi làm thư ký cho cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười.

Cơ quan Điều tra Chống Lừa đảo Nghiêm trọng của Anh (SFO) kết hợp với Cơ quan Cảnh sát Liên Bang Úc (AFP) phối hợp điều tra. SFO và cảnh sát Úc cáo buộc các chuyên viên của Securency hối lộ ông Lê Đức Thúy,  để ông Thúy cho công ty Securency lãnh được hợp đồng in tiền polymer hồi năm 2003.

Con trai ông Thúy là Lê Đức Minh, học cao học tại Đại học Durham trong giai đoạn 2003-2004.

Chân dung bị cáo hối lộ con ông Thúy

19-9-2011

Vào một ngày tháng 10 năm ngoái, 80 nhân viên điều tra chống lừa đảo Anh Quốc (SFO) đã ập vào công ty của ông Bill Lowther, khi đó 70 tuổi, một doanh nhân có tiếng của vùng Cumbria.

Ông Lowther là thành viên của hội đồng quản trị Securency. Securency, một công ty in tiền polymer từ một vài năm nay đã mang tai tiếng đưa hối lộ tại Việt Nam, Indonesia và  Malaysia. Công ty Securency được Ngân hàng Trung ương Úc ủy thác làm dịch vụ in tiền.

Ông Lowther bị buộc tội hối lộ cho quan chức Việt Nam để đổi lấy các hợp đồng in tiền polymer cho ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/09/110919_uk_securency_lowther_profile.shtml

Bị cáo nói ‘không hối lộ ông Lê Đức Thúy’

 10 tháng 3, 2012

Một thương nhân người Anh đã phủ nhận trước tòa cáo buộc “có âm mưu hối lộ” cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bằng cách chi trả học phí cho con trai ông này đi học ở Anh.

Bị cáo William Lowther, 72 tuổi, đã không nhận tội khi ra Tòa án Southwark Crown ở London, hôm thứ Sáu, 9/3/2012.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/03/120310_securency_lowther_denial.shtml

Anh xử vụ án đưa hối lộ cho Lê Đức Thúy

————————————–

Thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ  công khai biện hộ và bảo vệ hành vi cho cảnh sát giao thông tiếp tục đứng đường đòi tiền mãi lộ.

Đánh tráo khái niệm để né tránh?

Minh Diện

Theo blog Bùi Văn Bồng

Bùi Văn Bồng: Kỳ họp Quốc hội trước, Thống đốc Bình nói: “Tôi không dùng từ “nhóm lợi ích”, mà đây chỉ là “lợi ích cục bộ” (?!). Mới đây, thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ nói về việc CSGT thường tìm đủ cách hạch sách, gây phiền, dọa phạt để nhận tiền của lái xe: “Tôi cho rằng ở đây chỉ là những tiêu cực chứ không thể nói là tham nhũng. Bây giờ nghiên cứu thế nào là tham nhũng, thế nào là tiêu cực tôi cho rằng nó chưa rạch ròi…”.

Ông Tuyên muốn rạch ròi ư? Thì đây, mời ông hãy đọc từ điển Wikipedia tiếng Việt ghi rõ: “Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công. Tham nhũng, tham ô sinh ra tiêu cực trong xã hội. Tham nhũng và tham ô là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế – xã hội lỏng lẽo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực, hiện tượng tham nhũng và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế.

“Tham nhũng và tham ô làm nặng nề thêm tiêu cực, làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế – xã hội” …Về việc này, nhà báo Minh Diện vừa gửi bài viết sau đây đến trang BVB, xin giới thiệu với bạn đọc:

Từ khi nhà báo Hoàng Khương, phóng viên báo Tuổi trẻ ra tòa lãnh án bốn năm tù giam, để lại phía sau người vợ sắp sanh và đứa con bệnh tật, những câu chuyện về mãi lộ của cảnh sát giao thông vắng bóng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Anh em làng báo bảo nhau, thôi kệ, nhúng vào làm gì cho mang vạ!?

Và hiện tượng mang tính quy luật lại xảy ra, là khi cơ quan ngôn luận bỏ ngỏ thì tiêu cực bùng phát, như những mảnh ruộng ngừng phun thuốc trừ sâu, sâu mặc sức sinh sôi! Dư luận cho rằng, xử tù nhà báo Hoàng Khương để CSGT rộng đường ngoắt nghéo nhiều kiểu phạt nhằm tăng thu nhập…

Tệ nạn mãi lộ của cảnh sát giao thông đã lên tới mức báo động khi Thanh tra chính phủ Việt Nam và Ngân hàng thế giới vừa công bố kết quả khảo sát mang tên “Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp, và cán bộ, công chức, viên chức”. Theo đó bốn lĩnh vực bị đánh giá tham nhũng nhiều nhất ở nước ta là cảnh sát giao thông, quản lý đất đai, hải quan và xây dựng. Trong đó ngành cảnh sát giao thông đứng đầu.

Khi kết quả trên vừa được công bố, thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục trưởng cục cảnh sát giao thông đường bộ, đã  phản đối gay gắt. Ông Tuyên cho rằng, việc cảnh sát giao thông lấy của người lái xe và người tham gia giao thông dăm ba chục, một vài trăm ngàn đồng mà gọi là tham nhũng là không thỏa đáng.

Hãy nghe nguyên văn lời ông Nguyễn Văn Tuyên: “Tôi cho rằng ở đây chỉ là những tiêu cực chứ không thể nói là tham nhũng. Bây giờ nghiên cứu thế nào là tham nhũng, thế nào là tiêu cực tôi cho rằng nó chưa rạch ròi. Nhận của lái xe, nhận của người tham gia giao thông dăm ba chục, một vài trăm ngàn mà đó là tham những thì theo tôi ý đó là không thỏa đáng”.

Cũng theo thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên thì “Tham nhũng là những người có chức, có quyền nhưng lợi dụng chức quyền đó bớt xén, móc nối lấy tiền của nhà nước. Tôi cho rằng dùng từ tham nhũng phải ở đối tượng đó và hành vi đó. Từ xưa đến nay chúng ta vẫn nói rằng CSGT tiêu cực thì nên ở mức độ đó nó dễ chấp nhận hơn”.

Có lẽ Bộ công an nên cho thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên nghỉ việc một thời gian để học lại Luật phòng chống tham nhũng ra đời từ 2005, bởi có lẽ ông Tuyên chưa được học, hoăc ông Tuyên đã quên?

Thứ nhất, về khái niệm tham nhũng rất ngắn gọn, một ngu dân như tôi cũng hiểu: Tham nhũng theo Từ điển Tiếng Việt là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân lấy của. Mở rộng định nghĩa đó ra, tham những được hiểu là hành vị của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ quyền hạn nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 cụ thể hơn: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn đó vì vụ lợi. Chủ thể thực hiện hành vi là những người có chức vụ, quyền hạn gồm: Cán bộ, công chức, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân”.

Là một người dân mà nói về luật pháp với một ông tướng, lại tướng công an đương chức thì chả khác gì dạy khỉ leo cây!? Nhưng kẻ hèn này cũng mạo muội nhắc ông Tuyên rằng: Luật phòng chống tham nhũng như vậy là chi tiết rạch ròi rồi, chứ không như ông nói là chưa rạch ròi. Cứ theo luật, thì từ anh trung sỹ đến anh trung tá đứng chốt ngã ba, ngã tư đường phố hoặc cưỡi ô tô, mô tô tuần tra trên đường đều là chủ thề tham nhũng. Bởi vì họ đã được trao cái quyền kiểm soát toàn bộ phương tiện giao thông trong một không gian, thời gian họ được giao làm nhiệm vụ. Đó là quyền lợi, nghĩa vụ, và trách nhiệm rõ ràng không ai có thể bàn cãi. Với quyền ấy, một anh trung sỹ có thể thổi phạt một ông tướng, một vị bộ trưởng chứ đừng nói gì dân đen. Quyền hành thế mà ông bảo lính ông không có quyền không sợ người ta cười cho?

Về hành vi, ông Tuyên bảo, phải là móc nối, bớt xén tiền nhà nước mới là tham những, còn nhận của lái xe dăm ba chục, một vài vài trăm ngàn của người tham gia giao thông không phải là tham nhũng? Ông Tuyên đã sai lầm khi cho rằng, chỉ lấy tiền của nhà nước mới là tham nhũng, còn lấy tiền của dân thì không. Nhưng, ngay đưa ra cái khái niệm kỳ cục ấy, ông Tuyên cũng lờ tịt đi một thực tế là, đâu phải lính ông chỉ lấy tiền của dân, mà họ còn trực tiếp móc tiền nhà nước. Thực tế ấy xảy ra nhan nhản trên khắp nẻo đường. Rất nhiều người khi phạm luật, chỉ bằng một cú nháy mắt, bắt tay, đã thỏa thuận được với cảnh sát giao thông tỷ lệ ăn chia số tiền xử phạt. Ví dụ phạm lỗi lái ô tô chạy quá tốc độ, sai lằn ranh phải phạt 1.500.000 đồng, thì giúi cho cành sát giao thông 750.000 đồng hoặc 1.000.000 đồng, rồi vù xe đi, khỏi phải lập biên bản lôi thôi. Thế là, thay vì nộp 1.500.000 đồng vào kho bạc nhà nước, họ móc ngoặc chia nhau, đó chằng phải đã tham nhũng, vì tham mà sinh nhũng nhiễu, như định nghĩa trên đây là “lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân” hay sao, thưa tướng Tuyên!?

Ông Tuyên cho rằng chỉ có dăm ba chục đến một vài trăm ngàn không đáng gọi là tham những? Có lẽ ông Tuyên muốn so sánh với những vụ Vinashin, Vinaline, hoặc thâu tóm ngân hàng để cho rằng CSGT lấy của dân vài trăm ngàn không đáng gọi là tham nhũng chăng? “Dù lấy của dân một đồng cũng là tham nhũng!” (Hồ Chủ tịch). Cho nên, tướng Tuyên đừng cố tình ‘chẻ chữ’ để né tránh.

Nhưng tôi có thể bảo đảm rằng, CSGT không thèm ăn dăm ba chục một trăm ngàn như ông nói đâu. Nếu chỉ dăm ba chục hoặc vài trăm ngàn thì lính ông không hăng hái quần đảo trên khắp các nẻo đường bất kể ngày đêm mưa nắng? Tôi còn nhớ có lần thượng tướng Lê Thế Tiêm, nguyên Thứ trường Bộ công an đã phải thốt lên: “Không biết ngoài đường có cái gì mà anh em cảnh sát giao thông giành nhau ra ngoài đó? Cái gì, dày mỏng ra sao, tôi nghĩ tướng Nguyễn Văn Tuyên nên mở cuộc điều tra khắc biết? Người viết bài này có thể đưa ra những con số rất hấp dẫn, nhưng nếu không nêu bằng chứng thì sẽ can tội vu khống, mà để có bằng chứng thì e lại như đồng nghiệp Hoàng Khương.

Điều cuối cùng, là tướng Nguyễn Văn Tuyên thừa nhận có tệ nạn mãi lộ của cảnh sát giao thông, nhưng cho rằng, từ xưa đến nay chúng ta gọi là hiện tượng tiêu cực thì bây giờ cứ gọi như thế dễ chấp nhận hơn.

Quả thật, tôi không hiểu ý tứ của tướng Tuyên thế nào, mà lại sử sụng cách cân đong từ ngữ như vậy? Không biết ông Tuyên có hiểu một cách sơ đẳng rằng, tham nhũng, tiêu cực đều xuất phát từ bản chất vụ lợi, nhũng nhiễu dân, đục khoét dân và nhà nước. Phải chăng trong luật không có từ tiêu cực, nên ông Tuyên dùng nó để né hình sự hóa hành vi mãi lộ của cảnh sát giao thông? Nếu vậy thì đáng buồn về sự hiểu biết pháp luật của một ông tướng. Xin hãy nhớ rằng, có tham nhũng thì mới có tiêu cực! Tham nhũng đẻ ra tiêu cực! Tham nhũng là cái gốc phát triển cái ngọn tiêu cực với bao nhiêu trạng thái khác nhau! Tiêu cực là hệ quả của hành vi tham những chứ không phải là một mệnh đề mang tính đặc thù.

Bởi thế đừng chơi trò đánh tráo khái niệm, chặt cái gốc tham nhũng đi, xử cái ngọn tiêu cực bằng những cuộc kiểm điểm nội bộ trên tình đồng chí thương yêu nhau, rồi đâu lại vào đó!

Có hòa vào những dòng người lưu thông trong các thành phố và trên các nẻo đường đất nước mới thấy hết sự bức xúc của người tham gia giao thông, dù đi xe máy, xe du lịch hay xe khách, xe tải. Nạn tắc đường, kẹt xe chưa hẳn đáng sợ bằng việc chặn xe làm luật của cảnh sát giao thông. Bất kỳ chỗ nào, bất kỳ phương tiện gì đều có thể bị làm luật. Có đoạn đường chỉ vài km mà có hai ba tốp cảnh sát giao thông. Những chiếc xe mô tô chuyên dụng lạng lướt khắp nơi, dường như không phải để giữ gìn trật tự giao thông mà chủ yếu là săn xe làm luật. Kết quả cuộc khào sát do Thanh tra nhà nước Việt Nam và ngân hàng thế giới đưa ra là một thực tế khách quan, mà Bộ công an nói chung Cục cảnh sát giao thông đường bộ nói riêng phải quan tâm, để có biện pháp cương quyết hơn giải quyết vấn nạn đó.

Không nhìn thẳng vào sự thật, tránh né, làm giảm tính chất nghiêm trọng nạn tham nhũng trong ngành CSGT, chẳng khác gì tạo lá chắn, là dung dưỡng cho cái xấu ngày càng phát sinh và phát triển.

M.D

 
 

Ý kiến bạn đọc về bài này trên Danluan.org

* Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 20:15, 26/11/2012 – mã số 73394

Đ*t mẹ cái tên tướng Tuyên! Tướng gì cái ngữ đó! tướng cướp cũng còn không đáng mặt như Bạch Hải Đường, Tín Mã Nàm, Đại Cathay! lũ CSGT hiện nay ăn bẩn ăn thỉu kinh hoàng trên mọi ngã đường, đặc biệt vào ban đêm từ 22h cho đến 24h. Chúng nó lợi dụng lúc này luôn kiếm tiền của dân. Bọn nó tranh nhau ra đứng đường để ăn và chia tiền “xâu” về cho bọn cấp trên của nó đầy ra, ai mà không biết!

Tên Tuyên nói là vài chục, vài trăm ngàn à?! đồ láo lếu, mỗi tối mỗi tên CSGT kiếm chí ít cũng cả triệu bạc.

Chính tôi cũng bị một lần vào lúc 23h đêm: tôi đang đi rất bình thường, đúng luật. Tự nhiên 2 thằng CSGT chạy vọt lên bảo tôi ngừng lại. Tôi ngừng lại, tấp xe vô lề, 2 thằng nhỏ này chẳng chào hỏi cái mẹ gì mà đòi giấy tờ của tôi.

Tôi lịch sự hỏi: “Các anh cho biết tôi phạm lỗi gì?’.

Nó nói: “chú đi vượt đèn đỏ”.

Tôi ớ người một chút, rồi hỏi lại: “Tôi vượt đèn đỏ khi nào?”

Nó nói: “Tại chú chạy lên rồi, tụi tui mới vọt lên theo”.

Tôi nói: “Lạ vậy, sao ngay khi tôi vượt, các anh không chặn tôi lại ngay, bây giờ không chứng không cớ anh nói tôi vượt, tôi lại nói không thì có gì làm bằng chứng, giữa lúc đường sá khuya khoắt thế này?”.

Nó nói: “thôi chú cho tụi cháu ít tiền cafe”.

Nói nói kiểu đó, hổng lẽ mình không đưa, cuối cùng tôi đưa cho 2 thằng đó 100.000. Coi như thí cô hồn các đảng!

Cảnh báo cho bà con biết, ở SG dạo này, bọn CSGT rất lưu manh, không chơi màn chặn, bắt tại chỗ mà tự nhiên dí theo người đi đường để làm tiền như tôi.

Tụi nó rất láo, chơi màn lưu manh như trên, may là tôi cũng đáng cha chú nó, nên nó còn không dám hỗn, chứ mấy cậu thanh niên trẻ mà tranh luận lại như tôi là nó lôi xe về ngay và muốn hành xử kiểu gì thì như mọi người đã thấy. Giữa đêm hôm, báo ai cho kịp, chỉ có tụi nó với nhau, người dân trơ trọi và cô độc giữa đường khuya, lãnh đủ là cái chắc!

*BD (khách viếng thăm) gửi lúc 19:36, 26/11/2012 – mã số 73392

ông tướng này nói đúng rồi, chặn xe ngoài đường lấy một vài trăm sao gọi tham nhũng được, phải gọi là Cướp ngày mới đúng. Một ngày chặn khoảng 100 xe x  100.000 đồng thì cảnh sát kiếm được bao nhiêu hả ông tướng của bọn cướp? Quê tôi có nhà hàng sang trọng chỉ dành riêng cho bọn cướp này nhậu đấy, dân thì ko dám bén mảng vào vì quá mắc!

* Xích-lô Hải Phòng (khách viếng thăm) gửi lúc 20:34, 26/11/2012 – mã số 73395

Đến thành phố lạ, trời nhá nhem tối, đèn đường tù mù nên ủi vào đường cấm. Mô tô trắng với hai thằng em CSGT xuất hiện như dưới đất chui lên giơ tay chào nghiêm chỉnh.

Sau khi cầm cà vẹt, bằng lái thằng em nghiêm giọng: Anh vi phạm đi vào đường cấm. Theo nghị định xxxx (trong tay cầm sẵn, mở ngay ra, chỉ vào, đổi thái độ thân thiện). Đây này, anh đọc mà xem, lỗi này nếu em lập biên bản thì có mức phạt triệu rưởi. (Nhìn mặt đương sự đánh giá thái độ rất bài bản). Bây giờ anh tính sao?

Thôi biên bản quái gì, anh em mình cưa đôi đi (móc ví, thằng em quan sát ví). Đây cầm lấy bảy trăm rưởi.

Rào đón) Cái này là ông anh tự nguyện đấy nhé. Nhưng anh à, chúng em có 2 người, anh cho chúng em một (đổi giọng sang) chai.

Anh hết tiền rồi, còn có mấy xị phòng thân. Thôi 2 thằng em làm tám xị.

Dạ, tụi em xin. (Trả lại giấy tờ bằng 2 tay) Anh đi đường nhớ cẩn thận nhé (rất quan tâm).

* Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 16:04, 27/11/2012 – mã số 73436

Con trai Phó giám đốc công an tỉnh bị loại khỏi ngành vì “nghiện”
Thứ ba 27/11/2012 08:02
(GDVN) – Cha là lãnh đạo ngành công an nhưng vì sử dụng ma túy nên Minh bị loại ngũ, trả về địa phương khi đang được huấn luyện nghiệp vụ công an.

Sáng ngày 27/11, Công an tỉnh Long An cho biết, một trong 8 thanh niên bị buộc thôi học, trả về địa phương khi đang huấn luyện nghiệp vụ công an vì dính đến ma túy là Đỗ Công Minh, con một lãnh đạo Công an tỉnh Long An.

Ngoài ra còn có Huỳnh Thanh Điền là con một Phó Công an huyện, Phạm Ngọc Quế và Nguyễn Thái Trung là con hai Đội trưởng nghiệp vụ của Công an tỉnh Long An.

Đây là những chiến sĩ nghĩa vụ được Công an tỉnh Long An tuyển chọn phục vụ có thời hạn (3 năm). Trong thời gian học tập tại Trung tâm Huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ Công an tỉnh Long An, tối ngày 30/10, cán bộ đội đào tạo nghi một nhóm trong 70 học viên tuyển chọn đợt 2 của năm nay có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Sự việc được báo cáo đến cấp trên và Đại tá Phan Chí Thanh -Giám đốc Công an tỉnh Long An đã chỉ đạo làm rõ để xử lý nghiêm, không bao che dung túng.

Qua các xét nghiệm, đủ cơ sở xác định 8 học viên dính đến ma túy nên buộc thôi học, trả về địa phương. Trong đó thanh niên cầm đầu là Nguyễn Thành Hiếu Trung, con một lãnh đạo Viện KSND TP Tân An (Long An).

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Con-trai-Pho-giam-doc-cong-an-tinh-bi-loai-khoi-nganh-vi-nghien/253784.gd

Cả cha và con mấy thằng này đúng là hết thuốc chữa!

 

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Việt Nam: nhà tù giam giới báo chí lớn thứ nhì ở Á châu!

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2012

Việt Nam: nhà tù giam giới báo chí lớn thứ nhì ở Á châu!

nguồn DCVOnline.net Tin Asia Sentinel

Hội nghị Đông Tây hằng năm của Việt Nam bắt đầu trong tuần này, ông Bill Hayton, cựu phóng viên hãng thông tấn BBC từng làm việc ở Hà Nội trước đây, người được nhóm chuyên cung cấp dịch vụ cố vấn của Bộ Ngoại giao Việt Nam mời tham dự, đã bị Bộ Công an cấm vào Việt Nam.

Việt Nam là một nước cấm tác giả vào Việt Nam vì những gì họ viết,” ông Hayton nói trong một e-mail. “Tôi biết điều này vì nó đang xảy ra với tôi. Hai tháng trước, Học viện Ngoại giao Việt Nam mời tôi tham dự cuộc hội nghị Đông Tây hằng năm ở Việt Nam. Hôm nay, ngay tại quầy chờ làm thủ tục lên phi cơ ở phi trường Heathrow (Luân Đôn), tôi  đành phải bỏ những nỗ lực đi Việt Nam lần này.”  (Tên của ông nằm trong danh sách những người đã bị Bộ Công an cấm vào Việt Nam- TH).

Một người tham dự hội nghị khác nói qua e-mail: “Việc cấm ông Hayton vào Việt Nam chỉ có nghĩa khi nhìn qua lăng kính “tay trái không biết tay phải đang làm gì”.

Cuộc họp hằng năm này, lần này là lần thứ tư, là nỗ lực đứng đắn duy nhất của Việt Nam để đối thoại với các chuyên gia quốc tế về mối quan hệ Á châu, trước sự khủng hoảng do những người theo chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc gây ra khi họ cho mình có chủ quyền ở biển Nam Hải.”

Những cuộc họp trước đã mang nhiều lợi ích cho Việt Nam, nguồn tin cho hay, xét từ số người bình luận có cùng quan điểm ngày càng nhiềulà họ không còn xem tất cả các nước có tranh chấp lãnh hải đều có lỗi như nhau trước những sự chạm trán này.

“Có thể một số công an nội an lo lắng người ta sẽ xấu đối với nước láng giềng lớn của Việt Nam, nhưng không có lý do đặc biệt nào mà họ lại sợ điều ông Bill Hayton nói hơn những người tham dự hội nghị khác nói.”

Người ta nói rằng ông Hayton đã có một cuộc xung đột kéo dài với nhà cầm quyền Việt Nam. Ông là tác gỉả của cuốn sách Việt Nam: Con Rồng Đang Trỗi Dậy, được nhà xuất bản Yale University cho ra đời năm 2010, là một cái nhìn mang tính chỉ trích Việt Nam.

Lý do duy nhất mà Bộ (Công an Việt Nam) cấm tôi vào Việt Nam là vì họ không thích cuốn sách tôi xuất bản hai năm trước đây,” ông nói với đồng nghiệp qua e-mail. “Đó có thể là lý do duy nhất – Tôi không liên hệ gì với những tổ chức đối kháng, tôi không bao giờ có âm mưu lật đổ đảng hay nhà nước và tôi không bao giờ vi phạm luật di trú của Việt Nam. Dĩ nhiên, khi tôi làm phóng viên cho hãng BBC ở Hà Nội sáu năm về trước, tôi thường vi phạm Luật Báo chí – nhưng ở thời điểm đó nhà báo ngoại quốc nào làm việc ở Việt Nam cũng thường vi phạm luật Báo chí, hầu như hằng ngày. Không thể có nhà báo ngoại quốc nào làm việc ở Việt Nam mà không vi phạm những hạn chế cực kỳ khắc khe của Luật Báo chí Việt Nam.”

Tuy nhiên, đây không chỉ là những hục hặc của ông Hayton với Bộ Công an.

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới nói là tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng tệ, trượt dốc trong danh sách các nước nơi tự do báo chí bị hăm dọa. Việt Nam hiện đứng thứ 172 trên thế giới, chỉ hai bật trước Trung Quốc ở thứ 174. Quyết định cấm ông Hayton vào Việt Nam tuồng như tượng trưng cho thái độ khắc nghiệt dành cho một nền tự do báo chí.

Theo bản báo cáo của Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CPJ) của ông Shawn W. Crispin, đại diện cho RWB đặc trách vùng Đông Nam Á châu, Ủy ban Bảo vệ Nhà báo cho hay 14 nhà báo và bloggers đã bị tù vì chỉ trích nhà nước và tường thuật tham nhũng. Nhà nước Việt Nam dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản duy trì sự kiểm soát truyền thông khắc nghiệt và ngặt nghèo nhất Á châu trong lúc nhà nước muốn Việt Nam được biết đến như là một đất nước với nền kinh tế cởi mở,” ông Crispin viết. “Qua những phương cách đổi mới và mở rộng nền kinh tế, bắt đầu với cải cách hướng về nền kinh tế thị trường vào giữa thập niên 1980 và lên đến cao điểm khi Việt Nam được gia nhập vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO), lãnh đạo Việt Nam đã làm việc nhằm đưa nước này vào cộng đồng quốc tế.”

Cho dẫu Việt Nam vẫn duy trì sự cởi mở ở một mức độ nào đó, bao gồm cơ sở hạ tầng trong lãnh vực truyền thông trong lúc hội nhập vào nền kinh tế hoàn cầu, bản báo cáo của CPJ nói, “Nhà cầm quyền cùng lúc tấn công những nhà bất đồng chính kiến và những nhà báo tự do, hoạt động độc lập đang dùng mạng internet như phương tiện truyền thông. Sự phẫn nộ ngày càng tăng đối với việc bị nhà nước lấy đất, nhận thức việc nhà nước hiến lãnh thổ và nhượng bộ trước Trung Quốc, và giờ đây là nền kinh tế trì trệ được tường thuật bởi những blogs độc lập.”

Nhà nước do ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo đã trấn áp nặng nề sự bất đồng quan điểm, bỏ tù hằng chục người bất đồng chính kiến, người hoạt động đòi hỏi tự do tôn giáo, và những bloggers làm việc độc lập, và nhiều người khác vì họ lên tiếng đòi hỏi một nền dân chủ đa đảng, bảo vệ nhân quyền, và đòi hỏi một nhà nước minh bạch, có trách nhiệm hơn, theo bản báo cáo của ông Crispin. Việt Nam giờ đây đang trở thành nhà tù tồi tệ đứng hạng nhì ở Á châu chuyên bỏ tù nhà báo, chỉ đứng sau Trung Quốc, theo sự nghiên cứu của CPJ.

Nhà báo ngoại quốc làm việc ở Việt Nam chỉ được chiếu khán có giá trị trong sáu tháng, sau đó có thể xin gia hạn lại, đây là một cơ chế khuyến khích những nhà báo nào muốn làm việc lâu dài ở Việt Nam phải tự kiểm duyệt, trưởng phòng báo chí của một hãng thông tấn quốc tế cho CPJ hay và yêu cầu được ẩn danh.

Sau khi một nhà báo ngoại quốc tường thuật sự đàn áp của nhà nước đối với người bất đồng chính kiến và những bloggers độc lập, nhà nước Việt Nam đã giảm chiếu khán của ông ta xuống còn ba tháng và yêu cầu những bài tường thuật ông mới viết gần đây nhất cần đưa cho nhà nước duyệt.

Trong lúc đó, những nhà báo ngoại quốc vào Việt Nam làm việc ngắn hạn, bị đòi hỏi phải thuê một người VN đi theo và người này do nhà nước VN chỉ định với giá 200 đô-la một ngày, đây là một sự thu xếp có tính theo dõi, làm khó cái khả năng tiến hành những cuộc phỏng vấn kín đáo, riêng tư với nguồn cung cấp tin độc lập và hạn chế sự tác nghiệp của nhiều hãng thông tấn lớn cho dẫu họ có khả năng xùy tiền ra trả cho dịch vụ thuê người độc đáo này.

© DCVOnline


Nguồn:

(*) Press Freedom in Vietnam Fades from View. Asia Sentinel, 21 November 2012
(*) Tựa đề do DCVOnline đặt.

Comment trên dcvonline.net

Minh Đức  http://www.minhduc7.blogspot.com/

Trích: Có thể một số công an nội an lo lắng người ta sẽ xấu đối với nước láng giềng lớn của Việt Nam, nhưng không có lý do đặc biệt nào mà họ lại sợ điều ông Bill Hayton nói hơn những người tham dự hội nghị khác nói.

Tác giả bản tin này cho rằng không cho ông Bill Hayton đến Việt Nam dự hội nghị là sợ ông này nói xấu Trung Quốc. Phần trước đó thì bài này viết sau các hội nghị trước “số người bình luận có cùng quan điểm ngày càng nhiều là họ không còn xem tất cả các nước có tranh chấp lãnh hải đều có lỗi như nhau trước những sự chạm trán này”, có nghĩa là các cuộc hội nghị trước vạch ra cho thế giới thấy là Trung Quốc là thủ phạm trong các vụ tranh chấp về biển, đảo chứ không phải là vì mọi người đều làm trái như nhau cả. CSVN tổ chức hội nghị mà không muốn cho thế giới thấy rằng Trung Quốc là đế quốc bành trướng.

Câu tay trái không biết tay phải làm gì có lẽ là để nói chính quyền CSVN vừa tránh làm mất lòng Trung Quốc vừa vờ vịt tổ chức hội nghị.

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền biển đảo…là Ai?

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2012

Những người VN nào có đầu óc tỉnh táo và thường ôn lại các biến cố lịch sử VN trong 60 năm qua đều biết rõ AI đã thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền biển đảo…vào các năm 1950, 1954, 1958, 1999; tài liệu của đảng CSVN và báo chí khi viết tường thuật cũng đều đã ghi  rõ các biến cố này. Thế nhưng mỗi khi có người nào can đảm bình luận và dám nói ra sự thật cho nhiều người khác biết, thì lập tức họ sẽ bị đảng và nhà nước sai công an nhân dân đi bắt bớ, tù đày, và kêu báo đài  viết bài tố ngược: đây là bọn phản động chống nhân dân và phá nhà nước…Bài viết dưới đây của Nguyễn Hưng Quốc nói về việc này như sau, mời các bạn đọc:

Ai chống nhân dân và phá nhà nước?

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

Biếm họa Babui (DCVOnline.net)

Nhà cầm quyền Việt Nam, từ đảng đến chính phủ, thường chơi trò ăn gian. Hình thức ăn gian phổ biến, lộ liễu và trắng trợn nhất là ăn gian trong lãnh vực chữ nghĩa. Trong lãnh vực chữ nghĩa, hai chữ hay bị ăn gian nhiều nhất là: nhân dân và nhà nước.

Nhân dân, trên nguyên tắc, là toàn bộ những người mang quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, với nhà cầm quyền Việt Nam, chữ nhân dân vừa bị lạm dụng một cách bừa bãi lại vừa bị bóp méo một cách tùy tiện.

Lạm dụng ở chỗ: cái gì cũng nhân dân. Quân đội nhân dân. Công an nhân dân. Ủy ban nhân dân. Nhà sách nhân dân. Rồi chính quyền nhân dân. Ở điểm này, chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa Việt Nam (cũng như các nước theo chế độ cộng sản khác) và các quốc gia dân chủ ở phương Tây: Ở phương Tây, người ta rất hiếm khi dùng chữ “nhân dân”. Lý do là nó quá mơ hồ. Mơ hồ đến độ nó không có một nội dung cụ thể nào cả.

Nhớ, cách đây mười mấy năm, có một nữ giáo sư từ Việt Nam sang thăm một trường đại học Úc ở Melbourne. Buổi tối, một giáo sư Úc tại trường đại học ấy mời chị cùng một số bạn bè nữa, trong đó có tôi, đi ăn ở một tiệm Việt Nam. Giữa bữa ăn, chị giáo sư từ Việt Nam xin phát biểu. Chị cám ơn trường đại học đã mời chị sang thăm. Chị cám ơn các giáo sư trong trường đã tiếp đãi chị một cách nồng hậu. Và chị, một cách hết sức trang trọng, nhờ vị giáo sư Úc có mặt trên bàn tiệc, chuyển lời cám ơn của chị đến “nhân dân Úc” về việc chào đón chị, người khách từ một nước xa xôi như Việt Nam. Lúc ấy, người bạn của tôi, một giảng viên về thông ngôn và phiên dịch, đang giúp dịch lời phát biểu của chị sang tiếng Anh cho các vị khách Úc hiểu, bỗng đâm ra lúng túng thấy rõ. Nhưng rồi anh cũng dịch. Vị giáo sư người Úc nghe xong, không giấu được một nụ cười kín đáo và ý nhị. Đến lúc về, ở bãi đậu xe, vị giáo sự ấy đùa với chúng tôi, sau lưng chị giáo sư nọ: “Mấy ông bày tôi cách chuyển lời cám ơn đến ‘nhân dân Úc’ đi chứ!”

Vì khái niệm ‘nhân dân’ rất mơ hồ, nhà cầm quyền tha hồ bóp méo nó theo bất cứ hướng nào mà họ thích. Họ tuyên bố họ được nhân dân tín nhiệm và ủy thác cho trách nhiệm lãnh đạo nhân dân dù họ chưa bao giờ tổ chức bất cứ một cuộc bầu cử nào cho đàng hoàng, tự do và minh bạch. Họ cũng thường xuyên tuyên bố nhân dân ủng hộ các chính sách của họ dù họ không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, thậm chí, một cuộc thăm dò dư luận nào cả. Khi người dân, dù đông đảo, lên tiếng phê phán hay phản đối họ, họ đạp vào mặt, cho đó không phải là…nhân dân.

Nhân danh nhân dân, họ trấn áp ngay chính nhân dân. Mở miệng là phục vụ nhân dân, nhưng trên thực tế, họ sẵn sàng chà đạp lên nhân dân. Mọi quyết định của cái chính phủ được gọi là “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” ấy bao giờ cũng được thông qua từ một nhóm nhỏ của Bộ chính trị, gồm 14 người, hoặc rộng hơn một chút, Ban chấp hành trung ương, 175 người. Dường như, với họ, chỉ có những người ấy mới là nhân dân.

Chữ nhà nước cũng thế. Một trong những tội danh họ thường sử dụng để trấn áp những người đối lập, thậm chí, chỉ độc lập với họ là tội “chống phá nhà nước”.

Nhưng nhà nước là gì và là ai?

Chữ ‘nhà nước’ có thể dịch sang tiếng Anh bằng hai chữ: state và government. Nhưng trong tiếng Anh, hai khái niệm này khác nhau. Thứ nhất, khái niệm ‘state’ bao gồm bốn yếu tố chính: dân chúng, lãnh thổ, chủ quyền và chính phủ. Như vậy, government chỉ là một trong bốn thành tố tạo nên state. Thứ hai, state thì trường cửu trong khi government thì chỉ tạm thời, có thể thay đổi, hơn nữa, cần và nên thay đổi. Thứ ba, state bao gồm toàn bộ công dân, trong khi government thì chỉ bao gồm các cán bộ được ăn lương. Thứ tư, state là một khái niệm trừu tượng trong khi government rất cụ thể với những bộ máy và nhân sự cụ thể. Thứ năm, state gắn liền với yếu tố chủ quyền và quyền lực của nó được xem là tuyệt đối và vô giới hạn. Trong khi đó government không có chủ quyền: quyền lực của government là do hiến pháp quy định, giới hạn trong từng nhiệm kỳ. Thứ sáu, do tính phổ quát, tất cả state đều giống nhau trong khi government lại thay đổi trong cả thời gian lẫn không gian với những thể chế khác nhau.

Trong bản tiếng Anh của các bản án tại Việt, người ta dịch tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” lúc là “anti-government propaganda” lúc thì là “anti-state propaganda”. Nhưng dưới mắt người nói tiếng Anh trong các chế độ dân chủ, cả hai đều vô nghĩa.

Thứ nhất, nếu “tuyên truyền chống phá nhà nước” là anti-government thì tại sao lại buộc tội những người làm việc đó? Ở các nước dân chủ, do chủ trương government là cái nên và cần thay đổi nên không ai cấm việc tuyên truyền “anti-government” cả. Tổ chức lật đổ government bằng bạo động thì dĩ nhiên bị cấm và bị nghiêm trị. Nhưng tuyên truyền thì xin cứ tự nhiên. Đó là cái quyền của công dân. Tất cả các đảng đối lập được bảo vệ, thật ra, là để làm cái việc anti-government ấy. Ở Úc, đảng đối lập, do Tony Abbot lãnh đạo, suốt ngày cứ ra rả lên án Thủ tướng Julia Gillard là phản phúc (trong việc lật đổ cựu Thủ tướng Kevin Rudd), là nói láo (hứa rồi không làm), là bù nhìn của các thế lực đen tối trong đảng Lao Động. Không sao cả. Ở Mỹ, trước cuộc bầu cử ngày 6/11/2012, đảng Cộng Hòa, đại diện là Mitt Romney, lúc nào cũng lên án Tổng thống Barack Obama là dẫn đất nước theo một hướng hoàn toàn sai, là đã gây nên khủng hoảng kinh tế và nạn thất nghiệp trầm trọng, là bất lực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, v.v. trong các diễn văn cũng như trong các quảng cáo trên radio và truyền hình. Không sao cả. Chả có ai bị bắt vì tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” cả.

Thứ hai, nếu “tuyên truyền chống nhà nước” là anti-state thì lại càng nghịch lý và phi thực.

Phi thực ở chỗ không ai có thể “anti-state” – hiểu theo nghĩa là chống lại một phức thể bao gồm cả dân chúng lẫn lãnh thổ, chính phủ và chủ quyền quốc gia bằng một vài bản nhạc như Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, bằng một số bài báo như Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, một lá truyền đơn như Nguyễn Phương Uyên…Càng phi thực và phi lý hơn nữa khi nội dung của các bản nhạc, bài báo và truyền đơn ấy là chống lại sự áp bức của công an, sự độc tài của Nguyễn Tấn Dũng hay sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam một cách ngang ngược của Trung Quốc. Nguyễn Tấn Dũng chỉ có thể buộc tội những người chống đối ông, kể cả tờ báo mạng Quan Làm Báo gần đây, nếu ông, cũng như vua Louis XIV của Pháp, người tương truyền từng tuyên bố: “Ta là Nhà nước” (L’État, c’est moi / I am the state).

Buộc tội “anti-state” cho những người dân như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phương Uyên, Cù Huy Hà Vũ, v.v…nghịch lý ở chỗ: Họ là người dân; họ không thể chống lại chính họ vì trong khái niệm “state” có cả khái niệm dân chúng.

Người ta chỉ có thể có hành động “anti-state” nếu người ta ở bên ngoài. Thuộc nước khác. Từ bên ngoài, người ta mới có thể chà đạp lên người dân, cướp đoạt lãnh thổ, xâm phạm chủ quyền của một nước được. Hành động “anti-state” thường bao gồm hai hình thức chính: xâm lược và khủng bố. Ở trong nước, người ta chỉ có thể có hành động “anti-state” khi người ta tiếp tay (ví dụ dưới hình thức làm gián điệp hay tay sai) với người nước ngoài để xâm lược hay để khủng bố đất nước của chính mình. Trong trường hợp đó, thứ nhất, họ tự động ly khai khỏi dân tộc, tự xem mình là người lạ với dân chúng; và thứ hai, phải dựa vào một thế lực từ bên ngoài.

Hiểu theo nghĩa đó, tất cả những người đã bị tòa án Việt Nam kết tội là “chống phá nhà nước”, anti-state, đều vô tội. Đó là điều họ không làm. Và không đủ sức để làm.

Những kẻ thực sự thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền của đất nước và chà đạp lên số phận của dân chúng mới là những kẻ “anti-state”.

Những kẻ ấy là ai, hẳn mọi người đã rõ.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

danchimviet.info (re-post)

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►TT Obama và bà Ann San Suu Kyi

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2012

‘Sức mạnh của tự do’

Obama đã ca ngợi bà Suu Kyi trong diễn văn của ông

Trong chuyến thăm 6 giờ đồng hồ đến Miến Điện, Tổng thống Mỹ Barack Obama có bài diễn văn tại Đại học Rangoon vào chiều ngày 19/11. BBC Việt ngữ lược dịch và trân trọng giới thiệu:

Tôi rất vinh hạnh được đến đây ở trường đại học này và là tổng thống đầu tiên của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đến thăm đất nước các bạn.

Tôi đến đây vì tầm quan trọng của đất nước này. Các bạn nằm ở ngã ba đường của đông Á và nam Á. Các bạn tiếp giáp với quốc gia đông dân nhất hành tinh. Các bạn có lịch sử trải dài suốt mấy ngàn năm và các bạn có khả năng quyết định vận mệnh của khu vực phát triển nhanh nhất thế giới.

Tôi đến đây vì lòng kính trọng dành cho trường đại học này. Chính tại ngôi trường này mà phong trào đấu tranh chống lại chế độ thực dân bắt đầu bén rễ. Chính tại đây Tướng Aung San đã biên tập một tạp chí trước khi lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Chính tại đây mà Ngài U Thant đã tìm hiểu về hoạt động của thế giới trước khi trở thành lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc.

Trên hết, tôi đến đây vì niềm tin của nước Mỹ vào phẩm giá con người. Trong suốt các thập niên vừa qua, hai nước chúng ta là những kẻ xa lạ. Nhưng hôm nay, tôi có thể nói rằng chúng tôi vẫn luôn tràn đầy hy vọng về người dân của đất nước này. Các bạn đã đem đến cho chúng tôi hy vọng và chúng tôi đã chứng kiến lòng can đảm của các bạn.

Chúng tôi đã chứng kiến các nhà hoạt động áo trắng đến thăm hỏi thân nhân tù chính trị vào các ngày Chủ nhật và chư tăng khoác cà sa tuần hành ôn hòa trên đường phố. Chúng tôi đã biết chuyện những thường dân tổ chức những nhóm cứu trợ bão và nghe thấy tiếng nói của sinh viên cũng như nhịp điệu của những nghệ sỹ hip-hop đang phát đi âm thanh của tự do. Chúng tôi đến đây để biết những người dân Miến lưu vong và tỵ nạn không bao giờ mất liên hệ với gia đình và nguồn cội. Và chúng tôi cũng được truyền cảm hứng bởi phẩm giá mạnh mẽ của Aung San Suu Kyi vì bà đã chứng tỏ rằng không một ai thật sự bị cầm tù nếu niềm hy vọng vẫn cháy bỏng trong tim.

Khi tôi lên làm tổng thống, tôi đã gửi đi một thông điệp đến các chính phủ cai trị bằng sự sợ hãi. Tôi đã nói trong diễn văn nhậm chức rằng: “Chúng tôi sẽ giơ tay ra nếu quý vị cũng sẵn sàng nới lỏng nắm đấm.”

Trong vòng một năm rưỡi qua đã bắt đầu một chuyển biến bất ngờ khi chế độ độc tài trong suốt năm thập niên đã nới lỏng ách cai trị của mình. Dưới chính phủ của Tổng thống Thein Sein, khát vọng thay đổi cùng với nghị trình cải cách đã gặp nhau.

Một nhân vật dân sự giờ đây đã lãnh đạo chính phủ và một Quốc hội đang khẳng định mình. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ từng một thời bị đặt ra khỏi vòng pháp luật đã tham gia tranh cử và Aung San Suu Kyi đã trở thành đại biểu Quốc hội.
Hàng trăm tù nhân lương tâm đã được phóng thích. Lao động khổ sai đã bị cấm. Đã đạt được các lệnh ngừng bắn ban đầu với các nhóm vũ trang sắc tộc và các đạo luật mới ra đời đã tạo điều kiện cho một nền kinh tế cởi mở hơn.

Do đó hôm nay tôi đến đây để giữ lời hứa và chìa bàn tay hữu nghị. Nước Mỹ giờ đây đã có đại sứ trở lại ở Rangoon. Các lệnh cấm vận đã được nới lỏng, và chúng tôi sẽ giúp tái thiết nền kinh tế để đem đến các cơ hội cho người dân và để trở thành động cơ tăng trưởng của thế giới.

Tuy nhiên hành trình đặc biệt này chỉ mới bắt đầu và đoạn đường trước mắt còn xa. Các cuộc cải cách được khởi động từ thượng tầng xã hội cần phải đáp ứng nguyện vọng của những người dân vốn là nền tảng của xã hội. Những đốm lửa tiến bộ mà chúng ta đã thấy không thể để cho tắt ngúm – chúng phải được thổi bùng lên. Chúng phải trở thành Bắc đẩu tinh sáng ngời cho toàn thể người dân của đất nước này.

Tất cả những thành công của các bạn đều quan trọng với nước Mỹ cũng như đối với bản thân tôi. Ngay cả khi chúng ta đến từ những nơi khác nhau, chúng ta vẫn chia sẻ cùng ước mơ: được lựa chọn lãnh đạo của mình, được chung sống trong hòa bình, được học hành và có cuộc sống tốt, được yêu thương gia đình và cộng đồng. Đó là lý do tại sao mà tự do không phải là thứ mơ hồ – tự do chính là điều giúp cho nhân loại đạt được tiến bộ – tiến bộ không chỉ ở thùng phiếu mà còn trong cuộc sống hàng ngày.

Một trong những tổng thống vĩ đại nhất của Mỹ là Franklin Delano Roosevelt hiểu rõ điều này. Ông xác định chính nghĩa của nước Mỹ không chỉ là quyền được bỏ phiếu. Ông hiểu rằng dân chủ không chỉ là bầu cử. Ông kêu gọi thế giới hãy tôn trọng bốn quyền tự do cơ bản: tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do trước nhu cầu và tự do trước nỗi sợ. Bốn quyền tự do này bổ trợ cho nhau. Chúng ta không thể hoàn toàn thực hiện một quyền mà không có được các quyền còn lại.

Đó là tương lai mà chúng ta phấn đấu cho chính chúng ta và cho toàn thể người dân. Đó là điều mà tôi muốn nói với các bạn hôm nay.

Trước hết, chúng tôi tin tưởng vào quyền tự do ngôn luận để cho tiếng nói của những người dân bình thường được lắng nghe và chính phủ thể hiện ý chí của họ – ý chí của nhân dân.

Chúng tôi nhìn nhận rằng không hai quốc gia nào có thể đạt được những quyền này một cách giống hệt nhau, nhưng điều không thể nghi ngờ là quốc gia các bạn sẽ trở nên hùng mạnh hơn nếu phát huy được sức mạnh của toàn thể người dân. Đó là điều giúp các quốc gia thành công.

Và để bảo vệ quyền tự do của tất cả người dân, những người cầm quyền phải chấp nhận bị kiểm soát. Chế độ chính trị của Mỹ được định hình theo hướng này.

Giờ đây nước Mỹ có thể có quân đội hùng mạnh nhất thế giới, nhưng quân đội này phải nằm dưới sự kiểm soát dân sự. Tôi, với tư cách là tổng thống Mỹ, ra các quyết định mà quân đội phải thi hành chứ không phải ngược lại. Là tổng thống và tổng tư lệnh, tôi phải có trách nhiệm đó bởi vì tôi phải chịu trách nhiệm trước người dân của tôi.

Mặt khác, là tổng thống, tôi không thể áp đặt ý mình lên Quốc hội mặc dù đôi lúc tôi cũng ước gì mình có thể làm được. Nhánh lập pháp có quyền lực riêng và đặc quyền riêng nên họ kiểm soát và cân bằng quyền lực của tôi.

Tôi chỉ định các vị thẩm phán nhưng tôi không thể chỉ đạo họ phán quyết bởi vì tất cả mọi người ở Mỹ, từ một đứa trẻ bần hàn cho đến chính bản thân tôi, tổng thống, đều bình đẳng trước pháp luật. Và các vị thẩm phán có thể phán quyết liệu tôi có tuân thủ pháp luật hay vi phạm pháp luật hay không.

Tôi mô tả hệ thống chính trị ở Mỹ bởi vì đó là con đường mà các bạn phải vươn đến trong tương lai mà các bạn đáng được hưởng – tương lai mà chỉ một tù nhân lương tâm cũng là quá nhiều. Các bạn phải vươn tới một tương lai mà luật pháp có sức mạnh hơn bất kỳ một nhà lãnh đạo nào, một tương lai mà an ninh quốc gia được củng cố bằng một quân đội do lãnh đạo dân sự chỉ huy và một Hiến pháp đảm bảo rằng chỉ những người được người dân bầu lên mới lãnh đạo đất nước.

Lịch sử đã chỉ ra rằng chính phủ của dân, do dân và vì dân có sức mạnh vô cùng trong việc đem đến sự thịnh vượng.

Khi những thường dân có tiếng nói đối với tương lai của chính mình thì đất đai của họ không thể bị lấy đi. Đó là lý do tại sao các cuộc cải cách phải đảm bảo rằng người dân của đất nước này phải có những quyền sở hữu cơ bản nhất – quyền được sở hữu mảnh đất mà họ đang sống và làm việc.

Khi các tài năng của các bạn được giải phóng thì cơ hội sẽ được tạo ra cho tất cả mọi người. Giờ đây khi mà của cải đang chảy vào đất nước này, chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ giúp nâng đỡ nhiều người. Nó không chỉ đem đến lợi ích cho những người ở trên cao. Nó phải giúp ích cho tất cả mọi người. Và mô hình tăng trưởng kinh tế như thế, nơi mà ai cũng có cơ hội – nếu anh làm việc chăm chỉ, anh sẽ thành công – đó là điều sẽ giúp một đất nước tiến nhanh.

Nhưng sự tăng trưởng như thế chỉ có thể có nếu tham nhũng bị đẩy lùi. Để cho đầu tư có thể tạo ra cơ hội, cải cách phải làm sao cho ngân sách minh bạch và các ngành kinh tế nằm trong tay sở hữu tư nhân.

Khi mà tiếng nói của người dân được chính phủ lắng nghe thì rất có thể các nhu cầu cơ bản của họ sẽ được đáp ứng. Đó là lý do tại sao cải cách phải chạm đến cuộc sống của những người đang thiếu đói và những người đang bệnh tật.

Sự sợ hãi là thế lực ngăn trở giữa con người và ước mơ của họ. Trong những khoảnh khắc đen tối nhất của cuộc đời khi mà Aung San Suu Kyi bị giam cầm, bà đã viết về sự tự do trước nỗi sợ. Bà nói nỗi sợ đã làm suy đồi những người đang mang nỗi sợ đó. Bài viết: “Nỗi sợ mất quyền lực làm suy đồi những kẻ nắm quyền, và nỗi sợ bóng ma quyền lực làm suy đồi những người bị quyền lực khống chế.”

Đó là nỗi sợ mà các bạn có thể bỏ lại phía sau. Chúng tôi đã nhìn thấy cơ hội đó ở những lãnh đạo mà đã bắt đầu hiểu được quyền lực đến từ việc nghe theo nguyện vọng của nhân dân chứ không phải lợi dụng nỗi sợ của họ.

Ngày hôm nay tôi nói với các bạn ở đây – và tôi nói với tất cả mọi người có thể nghe thấy tôi – rằng Hoa Kỳ sẽ sát cánh cùng với bạn, trong đó có những người đã bị lãng quên, những người bị cướp đoạt tài sản, những người bị tù đày, những người nghèo khó. Chúng tôi sẽ ghi nhớ hoàn cảnh của các bạn trong đầu và đem theo hy vọng của các bạn trong tim bởi vì trong thế kỷ 21 cùng với sự lan truyền kỹ thuật và sự dỡ bỏ các rào cản, tiền tuyến của tự do là trong lòng mỗi quốc gia và mỗi cá nhân.

Một cựu tù đã từng nói với các đồng bào của mình: “Chính trị là việc của quý vị chứ không phải chỉ dành riêng cho các chính trị gia.” Và chúng tôi cũng có một câu nói ở Mỹ rằng cơ quan quan trọng nhất trong một nền dân chủ là văn phòng của người dân chứ không phải văn phòng của tổng thống hay chủ tịch Hạ viện.

Do đó dù cho cuộc hành trình này có khó khăn, thách thức và đôi khi nản lòng, cuối cùng thì các bạn, công dân của đất nước này, là những người phải xác định thế nào là tự do. Các bạn chính là những người phải giành lấy tự do bởi vì cuộc cách mạng thật sự của tinh thần bắt đầu trong tim của mỗi chúng ta. Nó cần sự can đảm mà nhiều vị lãnh đạo của các bạn đã thể hiện.

Con đường phía trước sẽ còn những thách thức lớn lao và sẽ có những kẻ kháng cự lại dòng chảy thay đổi. Nhưng tôi đứng ở đây với lòng tin rằng điều gì đó đang xảy ra ở đất nước này là không thể đảo ngược và ý chí của người dân sẽ nâng quốc gia này đứng dậy và tạo thành tấm gương lớn cho thế giới. Và các bạn sẽ có Mỹ là bạn đồng hành trên cuộc hành trình dài đó.

Nguồn: BBC

danchimviet.info (re-post)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Thầy Đinh Đăng Định bị án tù 6 năm chỉ vì bài viết: Những Nhận thức cá nhân về tình hình đất nước

Posted by hoangtran204 trên 21/11/2012

Đảng hổng thích bài viết này, nên đã sai công an nhân dân bắt, và chánh án phạt tù 6 năm.

Trên Facebook, có bài viết  của tác giả Gió Lang Thang như sau:

Gọi điện cho bé Thảo, con thầy giáo Đinh Đăng Định; nghe nó kể chuyện mà nổi đóa.
Phiên tòa hèn hạ chỉ diễn ra một giờ đồng hồ với 3 mẹ con,  1 bị cáo, 1 luật sư xót xa và hơn 100 thằng CA.
Lúc thầy Định tố cáo chúng đánh đập, bức cung, bắt thầy viết theo những gì chúng đọc thì chúng kéo bàn để không ai nghe rõ tiếng.

Kết thúc một vở kịch hèn hạ, (chánh án) Nguyễn Văn Bường đọc lời y án 6 năm. Thầy vẫn kiên định rằng mình vô tội, lên tiếng tố cáo tội ác của chúng.

Lúc đưa ra xe, thầy ngoái loại nhìn vợ con thì bị chúng dùng dùng cui đánh như đánh heo, xô lên xe.
Vợ con thầy bị chúng bắt lại; chỉ biết gào bố.

Cảm phục một người thầy.

Nguồn  Gió Lang Thang

danluan.org (repost)

————————————

 

Chủ tọa phiên tòa: “Đinh Đăng Định ‘hạn chế về nhận thức’”

Theo BBC Vietnam

21-11-2012

Ông Đinh Đăng Định, giáo viên Hóa ở tỉnh Đắc Nông, đã bị tòa giữ nguyên mức án sơ thẩm là sáu năm tù trong phiên phúc thẩm vừa kết thúc sáng nay thứ Tư ngày 21/11.

Ông Định bị kết tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật hình sự.

‘Chỉ muốn đóng góp’

Từ Đắc Nông, vợ ông Định là bà Đặng Thi Dinh, người đến dự phiên tòa cùng hai con và em gái ông Định, nói với BBC rằng ông Định vẫn nói trước tòa rằng ông không có tội.

“Anh ấy nói là không có tội gì cả và tòa phải thả tự do cho ông ấy,” bà Dinh thuật lại lời ông Định, “Đó là quyền con người theo công ước quốc tế nên không ai có quyền cấm.”

Tuy nhiên, tòa đã không chấp nhận lý lẽ tự bào chữa của ông Định, bà cho biết, vì tòa cho rằng ‘anh Định hạn chế về nhận thức’.

“Những người nào không nhận thức được thì tòa vẫn phải tuyên phạt theo như bản án cũ thôi. Những người chống lại Nhà nước thì sẽ bị xử theo điều luật Tuyên truyền chống Nhà nước,” bà Dinh thuật lại lời vị chủ tọa phiên tòa.

Trước đó ông Nguyễn Thanh Lương, luật sư của ông Đinh Đăng Định, đã nói với BBC rằng thân chủ của ông chỉ có thể được giảm án nếu chịu thừa nhận tội.

Vợ ông Định cho biết gia đình sẽ tiếp tục khiếu nại bản án lên giám đốc thẩm.

“Những người nào không nhận thức được thì tòa vẫn phải tuyên phạt theo như bản án cũ thôi. Những người chống lại Nhà nước thì sẽ bị xử theo điều luật Tuyên truyền chống Nhà nước.”

» Bà Đặng Thị Dinh, vợ ông Định, thuật lại lời chủ tọa phiên tòa

“Chồng tôi là một nhà giáo hết lòng vì sự nghiệp. Anh ấy không có suy nghĩ gì chống phá đất nước cả mà chỉ muốn đóng góp cho Nhà nước thôi,” bà Dinh trả lời khi được hỏi về nguyên nhân hành động của ông Định.

Bà cho biết là sau khi phiên tòa kết thúc và ông Định được đưa trở lại xe tù thì ‘công an đã đẩy anh ấy vào thùng xe, xô anh ngã và lấy dùi cui đập vào đầu’.

“Con tôi gào thét lên là công an đánh người, công an đánh bố tôi,” bà kể và cho biết phiên tòa sáng nay có sự hiện diện đông đảo của hàng trăm công an nổi lẫn chìm.

Theo bà thì phiên tòa đã kết thúc nhanh gọn chỉ trong vòng 45’.

Suy nghĩ ‘không phù hợp’

Trao đổi với BBC sau phiên xử, luật sư Nguyễn Thanh Lương cũng xác nhận phiên tòa diễn ra từ 7h30 cho đến 8h15 thì kết thúc.

Lý do tòa xử chóng vánh như thế, theo ông Lương, là về nguyên tắc phúc thẩm thì tòa chỉ xem xét những vấn đề do bị cáo đặt ra.

“Hội đồng xét xử cho rằng ông Định đã có hành vi. Bản thân ông Định cũng thừa nhận có hành vi làm ra tài liệu và lưu hành chúng nhưng ông Định cho rằng những việc đó không vi phạm pháp luật,” luật sư Lương nói.

Ông Lương cho biết phần tự bào chữa của bị cáo về các công ước quốc tế đã bị tòa cắt ngang vì cho rằng ‘đó là suy nghĩ của riêng ông Định và không phù hợp’.

“Ông Định có tư tưởng đa nguyên đa đảng, đòi sửa điều 4 Hiến pháp, đòi phi chính trị trong giáo dục, đề cao xã hội dân chủ,” ông Lương giải thích, “Hội đồng xét xử cho rằng không phù hợp và đi ngược lại đường lối của Nhà nước và pháp luật.”

“Nếu nói sự thật thì nguyên do ông Đinh Đăng Định ra tòa hôm nay là vì ông ấy dám sử dụng Internet để bày tỏ những ý kiến mà chính phủ không muốn người dân nghe thấy.”

» Phil Robertson, phó giám đốc khu vực châu Á của tổ chức Theo dõi nhân quyền

“Tòa cho rằng bản án sơ thẩm đúng quy định pháp luật nên giữ y án là 6 năm tù,” ông nói thêm.

Tuy nhiên ông Lương cũng nói có sự mâu thuẫn giữa luật pháp Việt Nam hiện hành vốn xem tư tưởng của ông Định là không phù hợp với công ước quốc tế vốn xem đó là điều bình thường.

Về trình tự tố tụng, luật sư cho biết ‘đảm bảo hơn so với phiên tòa xử các blogger trước đây khi mà các luật sư bị hạn chế bào chữa và bị cáo cũng không nói được lời sau cùng.’

Ông nói ông có 15’ để trình bày lập luận bào chữa cho ông Định.
Về việc khiếu nại lên giám đốc thẩm, ông nói ông đã giải thích với gia đình là làm được nhưng ‘không có tác dụng gì’.

Phản ứng quốc tế

Sau khi bản án được công bố, ông Phil Robertson, phó giám đốc khu vực châu Á của tổ chức Theo dõi nhân quyền đã lên tiếng rằng ‘việc truy tố như thế đã làm dấy lên những quan ngại cơ bản về ý định của Việt Nam đối với quyền tự do bày tỏ trên Internet’.

“Nếu nói sự thật thì nguyên do ông Đinh Đăng Định ra tòa hôm nay là vì ông ấy dám sử dụng Internet để bày tỏ những ý kiến mà chính phủ không muốn người dân nghe thấy,” ông Robertson nói trong một thông cáo.

“Lẽ ra ông ấy không thể bị bắt bởi vì tất cả những gì ông ấy làm là thực hiện quyền cơ bản là tự do bày tỏ ý kiến,” ông nói, “Đinh Đăng Định giống như một con cờ domino bị đánh đổ trong một chiến dịch có hệ thống của chính quyền Việt Nam nhằm bịt miệng những người dám chỉ trích bằng cách nhốt họ trong lao tù trong thời gian dài.”

Thầy giáo môn Hóa: Đinh Đăng Định đang bị công an hỏi cung

 Viết bài đóng góp cho đảng và nhà nước như thế này, sao lại phải ngồi tù:

 
Dưới đây là bản đánh máy, bản viết tay của bài này đã giao cho cơ quan an ninh chính trị nội bộ Daknong ngày 25-10-2010.
 
Dakrlap – Daknong, ngày 25-10-2010.
 
Đinh Đăng Định

SUY NGHĨ CÁ NHÂN (TÓM TẮT) THỂ THEO YÊU CẦU CỦA CƠ QUAN AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TỈNH DAKNONG

Do giới hạn hiểu biết về tình hình đất nước, khả năng bản thân, thời gian quá eo hẹp (khoảng 2 ngày) để trình bày những vấn đề lớn tầm quốc gia quả là không thể đối với một giáo viên hóa học THPT là tôi trong bối cảnh này. Với tinh thần hợp tác tôi cố gắng trình bày tóm lược những suy nghĩ của mình về các vấn đề sau đây, theo yêu cầu của Cơ quan An Ninh Chính Trị Nội Bộ Daknong.

  1. Bô xít Tây Nguyên,
  2. Hiện tình xã hội Việt Nam,
  3. Dân chủ – đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam,
  4. Điều 4 – Hiến pháp (1992),
  5. Phi chính trị hóa quân đội, công an, giáo dục-đào tạo.

VÀI NÉT ĐẠI CƯƠNG

Việt Nam hiện nay có dân số khá đông, khoảng 86 triệu (chưa kể số người Việt hải ngoại), những con người cần mẫn, giàu lòng vị tha; đất nước ở địa lý thuận lợi; có tiềm năng của một nước lớn và giàu có, giữ địa vị quan trọng trên thế giới.

Dù vậy, chúng ta (VN) cho đến nay vẫn là một quốc gia gia nghèo nàn, lạc hậu tốp cuối của thế giới. Mâu thuẫn đau lòng đó là câu hỏi thường trực trong lòng mỗi con dân nước Việt trước một tương lai chưa hứa hẹn ở thế kỷ 21.

Những chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển của các dân tộc là hậu quả của điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là cách thức tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội tốt hay xấu có thể làm thay đổi hẳn số phận của một đất nước, một dân tộc. Thế giới đã chứng kiến nhiều quốc gia mặc dù đất đai ít, tài nguyên thiên nhiên nghèo, nhờ có tổ chức xã hội tốt đã vươn lên (Nhật Bản là ví dụ rất gần với Việt Nam); bên cạnh đó nhiều quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, sau nhiều chục năm xây dựng vẫn quằn quại trong nghèo đói, đồng hành với tài nguyên cạn kiệt…Chúng ta càng ý thức được việc tổ chức xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng như thế nào khi so sánh lợi tức của người Nhật gấp tới hơn 40 lần người Việt (đây mới chỉ là con số về GDP!). Sự thua kém, tủi hổ này buộc người VN phải tự suy xét về bản thân mình, tìm lối đi cho mình, cho phép ta tin rằng nếu tổ chức lại giang sơn đất nước một cách khoa học, hiệu quả thì người Việt Nam chúng ta chắc chắn sẽ thoát khỏi nghèo hèn (gồm cả đói ở một bộ phận mỗi khi có thiên tai giáng xuống vùng đó) hiện nay và đủ sức vươn lên.

Nhưng chúng ta đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội rồi.

Cơ hội lớn nhất là chế độ thực dân sụp đổ sau chiến tranh thế giới II, cơ hội giành độc lập và vươn lên đã bị bỏ lỡ! Nội bộ quốc gia – dân tộc bị chia rẽ sâu sắc, lên án nhau, mạt sát nhau và tiêu diệt nhau khi có cơ hội và tìm mọi cơ hội! Chính nó tạo ra sự rạn nứt trong lòng quốc gia – dân tộc, thật khó có thể hàn gắn. Kết quả cuối cùng là chúng ta thu được chế độ chính trị Cộng Sản Toàn Trị (độc tài, đảng trị) cho đến tận bây giờ! Trong khi đó, các dân tộc khác dù tốn rất ít xương máu, thậm chí không, cũng đã có độc lập và còn xây dựng xã hội dân chủ từ nhiều chục năm qua. Vì thế mà họ đã bỏ xa chúng ta!

Ngày nay, nhân dân cùng cực và chán ngán chế độ sinh ra chán nản với cả quê hương đất nước mình, đất nước đã kiệt quệ, tụt hậu và bế tắc. Nguy cơ thua kém vĩnh viễn là nguy cơ mất nước trở thành thách thức đang hiện hữu. Nhưng, quốc gia không mang lại hạnh phúc, niềm tự hào và hy vọng vươn lên không sớm thì muộn sẽ bị giải thể theo quy luật đào thải – chọn lọc và phát triển một lẽ tự nhiên.

Con đường thoát khỏi bế tắc để vươn lên là DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN VÀ NHÂN QUYỀN. Dân chủ là động lực phát triển; đa nguyên tự nó tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội làm xã hội càng phong phú và thực hiện hòa giải dân tộc sau những xung đột đẫm máu; nhân quyền phát huy sinh lực, nguồn lực, sáng kiến và ý kiến mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc và đặc biệt là tôn vinh con người.

Nhìn lại, nguyên nhân dẫn đến những rạn nứt mà nước ta phải gánh chịu chính là vì chúng ta không đầu tư đủ tư duy để nhận diện những vấn đề trọng đại đặt ra cho mình và tìm hướng giải quyết. Chúng ta thiếu hẳn một DỰ ÁN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của đất nước. Cuối cùng người đồng bào, con lạc cháu hồng đã tàn sát lẫn nhau vì ý thức hệ không phải của mình mà sự tàn sát còn đẫm máu hơn, bảo vệ say sưa hơn ở các dân tộc khởi xướng ra nó, thảm bại thay!

Bài học đau đớn đó, dứt khoát chúng ta từ bỏ đầu óc độc quyền lẽ phải, tôn trọng sự khác biệt, đối thoại, thảo luận và thỏa hiệp trong tinh tần tương kính với thái độ lương thiện, xây dựng từ nhận thức rằng người VN rang buộc trong một than phận chung rằng, nếu đất nước giàu mạnh, cuộc sống khá hơn và tất cả chúng ta được kính trọng; ngược lại nếu đất nước ta nghèo nàn, lạc hậu, đói khổ tất cả chúng ta đều bị coi thường bất kể ta thuộc xuất xứ tôn giáo nào, đảng phái chính trị nào hay theo chủ nghĩa gì. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, điều tốt nhất cho một người cũng là điều tốt nhất cho mọi người và ngược lại.

I. VẤN ĐỀ BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN

Tôi hoàn toàn ủng hộ bản kiến nghị được khởi thảo bởi các nhà trí thức yêu nước và tinh hoa của đất nước, gồm 10 chữ kỹ khởi thảo của các thành viên IDS (cũ) và nhóm BVN đã loan tải trên BVN, tuanvietnam.net… Trong bản văn này tôi không viết thêm nữa.

Tôi đã ký ở số thứ tự 629.

II. HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

Nổi lên trên hết vấn đề hệ trọng nhất của xã hội VN hiện nay là SỰ BẤT CẬP, theo nhà giáo lão thành Phạm Toàn ở Hà Nội, một thành viên của BVN. Gồm:

  1. Bất cập về hiểu biết. Tầng lớp trí thức trong nước hiện nay hoàn toàn lạc hậu không biết làm gì cho Tổ Quốc sống lại dẫn đến bất cập về tổ chức đất nước nên có tổ chức mà KHÔNG hiệu quả mọi mặt.
  2. Bất cập về luật pháp. Luật gốc là hiến pháp đầy bất cập, đang đòi hỏi phải làm lại. Các bộ luật trong khi thực hành đều gặp mâu thuẫn hoặc sai hoặc không đầy đủ. Nếu có luật nào đúng thì cũng không thực thi đầy đủ do hệ thống quan chức tòa án, công chức hành chính đã bất cập sẵn…
  3. Bất cập về trình độ văn hóa tối thiểu của một dân tộc trong một thời đại văn minh dẫn tới bất cập về tâm lý sẵn sàng xây dựng Tổ Quốc rạng rỡ, thể hiện ở sự vô cảm của mọi người, thiếu trách nhiệm với chính mình, bản chất con người đang bị lưu manh hóa theo cách cynical của quan chức chỉ giỏi nói- mà nói cũng không giỏi – sểnh ra là hối lộ, chạy chọt, đút lót, luồn lách! Trách nhiệm công dân bị lột bỏ.

Với ba bất cập này, xã hội VN hiện tại rơi vào tình trạng mất dần kiểm soát, mạnh ai nấy giành từ quan tới dân đều hối hả vội vã vơ vét về như là ngày mai không còn sống để vơ vét nữa, rõ nhất là các tấm gương của hệ thống quan chức tham nhũng mà hàng ngày các báo “lề phải” cũng không thể che dấu!

Trước hiện tình xã hội VN đang rối ren, bất cập, hậu quả thật khôn lường thể hiện trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc gia bị đe dọa từ nhiều phía; đạo đức xã hội, đạo lý băng hoại. Tôi hoàn toàn đồng ý với kiến nghị (nếu được) của nhà giáo Phạm Toàn để giải thoát tình hình đất nước hiện nay.

Nếu có một Hội Nghị Quốc Gia – Đồng Bào, như Hội Nghị Diên Hồng để hòa giải – hòa hợp dân tộc, sẽ trình kiến nghị:

  1. Thành lập hội đồng luật pháp viết lại Hiến Pháp cho 100 đến 1000 năm của nước Việt tương lai xây dựng Tổ Quốc mà không cần thay đổi hay sửa chữa nhiều, đủ sức trưng cầu ý dân cả nước.
  2. Thành lập ở các cấp, các ngành… mỗi hội đồng kiểm điểm công khai có trách nhiệm báo cáo công khai mọi ưu khuyết điểm của các tổ chức, mọi tầng lớp nhân dân đều biết, đều nghe trong khoảng thời gian chí ít là từ 30-4-1975 đến nay.
  3. Thành lập Hội Đồng Quốc Gia về kinh tế, nghiên cứu và đưa ra đường lối phát triển kinh tế đất nước, sao cho đảm bảo chắc chắn rằng: Người học ở bậc phổ thông(trước hết) không mất tiền; người bệnh đến bệnh viện không mất tiền ở hệ thống công lập, nhà nước quản trị.

III. DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG CHO VN

Trước hết xin trích phát biểu gần đây của ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc:

Dân chủ và tự do là khát khao và ý chí của nhân dân không gì có thể ngăn cản. Kẻ đi theo thời đại sẽ phát triển; kẻ đi ngược thời đại bị đào thải” (hết trích).

Tự do dân chủ là giá trị căn bản mà loài người tranh đấu với thiên nhiên, với chính mình trải hàng ngàn năm mới có được. Dân chủ nhất quyết không thể do ai ban phát.

Tổng thống lập quốc của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ngài Thomas Jefferson nói: “Chính phủ lập ra không phải để ban phát tự do, mà để bảo vệ nó”. Tình trạng không có tự do dân chủ ở VN thể hiện: Luật báo chí không cho phép tư nhân ra báo. Rõ ràng vi hiến. Các-Mác ông tổ của học thuyết CNXH và CNCS nói: “Đối lập với báo chí tự do là báo chí bị kiểm duyệt”; ông còn nói báo chí bị kiểm duyệt là ”con quái vật được văn minh hóa, cái quái thai được tắm nước hoa”.

Điều 19 công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,(1966 của LHQ, VN ký công nhận 1982) viết rằng:

  1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm chính trị của mình mà không ai có quyền can thiệp vào.
  2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền như: truyền miệng, viết, in… hay các phương tiện truyền thông khác tùy theo sự lựa chọn.

Điều 69 – Hiến Pháp 1992 nước CHXHCNVN thừa nhận tự do ngôn luận,tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do lập hội,đoàn… theo quy định luật pháp.

Luật báo chí đã vi hiến và đi ngược với giá trị tự do dân chủ căn bản; luật biểu tình không có chứng tỏ nhà nước CHXHCNVN vi phạm chính hiến pháp mà mình làm ra.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn nói: ”Kiên quyết không tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và để cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng gây tổn hại cho đất nước”.

Thực tế, chế độ chính trị VN đã chống lại các giá trị nhân bản tự do dân chủ xét trên phương diện báo chí là sự thật không thể bác bỏ!

Thực tế không thể chứng minh được tự do báo chí, báo chí tư nhân gây tổn hại cho đất nước. Rằng, bất kỳ hành vi nào gây tổn hại cho đất nước đều không thể dung tha cho dù xuất phát từ cá nhân, tập thể, hay đảng phái chính trị nào kể cả là đảng cầm quyền. Người ta – những người cộng sản đang cầm quyền ở đất đất nước VN này đã quên rằng, chính lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng cộng sản VN của họ đã nói rằng: “dân chủ là để cho người dân được mở mồm nói”. Ông muốn nói tới con người dân cụ thể, chứ không phải đại từ nhân dân chung chung. Chỗ để nói có văn hóa chính là báo chí.

Nhà văn, triết gia Pháp Voltaire(1694-1778) từng nói (đại ý): Tôi không tin những điều anh nói, nhưng tôi sẵn sàng hy sinh bảo vệ quyền anh được nói. Vâng, thật sự là văn hóa của xã hội có tự do ngôn luận.

Cần phải nói thêm rằng, từ 1936 – 1938 tờ Dân Chúng (báo cộng sản) và 11 tờ báo tư nhân khác đều tán thành tự do dân chủ và đòi ân xá các chính trị phạm ở Đông Dương. Chẳng lẽ ngày nay, chế độ chính trị cộng sản lại kiểm soát đồng bào mình gay gắt hơn cả bọn thực dân Pháp hay sao? Nguy cho dân tộc quá!

Lịch sử sự sụp đổ các chế độ chính trị độc tài ở Đông Âu là bài học máu thịt cho ĐCS, thiết nghĩ các đảng viên cao cấp của ĐCS VN và ban lãnh đạo cần rút tỉa bài học là: vì đảng hay vì quốc gia – dân tộc. Cuộc sống đã và đang đặt ra một đòi hỏi chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên mà hệ quả hiển nhiên là đa đảng chính trị như một tất yếu của lịch sử để giải quyết các vấn đề có tính quyết định của đất nước hiện tại và mai sau.

Dân Chủ – Đa Nguyên với nền tảng là tư tưởng đa nguyên, chủ nghĩa đa nguyên. Nó tiếp nhận, chứa đựng mọi sự khác biệt về ý thức, ý thức hệ càng gia tăng tính phong phú cho xã hội, xã hội càng giàu có về văn hóa.

Trong môi trường xã hội dân chủ – đa nguyên, các đảng phái sẽ cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển thân thiện, thay vì cạnh tranh kiểu “địch ta”, tiêu diệt đẫm máu như từng xảy ra trong lịch sử hơn 60 năm qua; sẽ là thảo luận, đối thoại tiến tới đồng thuận quốc gia trên những nét chung nhất: hiến pháp, luật pháp, an ninh quốc gia, an sinh xã hội… Đặc biệt và đương nhiên là loại trừ các yếu tố bạo lực tận gốc rễ xã hội – đạo lý.

Các tầng lớp xã hội cùng nhau tham gia thảo luận tích cực và tự giác, đóng góp ý kiến cho một xã hội thăng tiến, chống tụt hậu. Nước ta hiện là một trong các nước nghèo nhất thế giới, lạc hậu cả về văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, kinh tế và quốc phòng…

Trong chế độ chính trị độc đảng hiện nay, các thành viên tham gia làm chính trị chủ lả tìm kiếm danh lợi cá nhân và phe nhóm (cronny) bằng cố gắng cá nhân và phe nhóm kể cả là luồn lách, các thủ đoạn chính trị hèn mạt (giăng bẫy, ngụy tạo nhân cách…). Lẽ ra, làm chính trị là bổn phận đạo lý của công dân. Chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên nhất định tháo bỏ văn hóa chính trị bệnh hoạn này; không thể xây dựng gì cho xã hội với những cá nhân, phe nhóm với đầy ắp tham vọng ích kỷ, bản vị này.

Nền chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên là nơi hội tụ của Quốc Gia – Dân Tộc với quyết tâm đánh bại mọi sự tồi, dở, gian ác, tham lam, tàn bạo, lưu manh… để thay đổi phương thức tổ chức xã hội với mục tiêu tôn vinh con người và phẩm giá con người đem lại phúc lợi tối đa cho con người. Lương tri dân tộc thôi thúc không ngừng nghỉ cuộc đấu tranh về Dân Chủ – Đa Nguyên cho nước nhà, cho dù vô cùng khó khăn nhưng, sẽ gặp vô cùng thuận lợi nếu ban lãnh đạo ĐCS hiện thời nhận thức rằng Quốc Gia – Dân Tộc phải được hưởng phúc, chế độ Dân Chủ – Đa Nguyên là sản phẩm của xã hội văn minh được nhân loại đem tới. Với sự hợp tác của ĐCS VN đứng đầu là Ban chấp hành Trung Ương và Bộ Chính Trị, dân tộc ta sẽ hân hoan bắt tay nhau trong tình nhân ái cùng làm lại một nước VN đã tan hoang, tàn tệ sau nhiều chục năm bị tàn phá bởi chiến tranh và cả hòa bình làm cho đất nước tụt hậu toàn diện, để tránh cho đất nước ta một lần nữa rơi vào tình trạng vô chính phủ thậm chí thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng chế độ độc tài khác đều nguy khốn cho Quốc Gia – Dân Tộc.

Dân Chủ – Đa Nguyên không thuần thúy chỉ là ứng cử, bầu cử tự do hay tam quyền phân lập giản dị mà là thành quả của dòng tư tưởng mãnh liệt phát xuất từ quá khứ chảy tới tương lai. Cuộc đấu tranh thay thế chế độ độc tài đảng trị cộng sản hiện nay bằng chế độ dân chủ đa nguyên là cuộc cách mạng tư tưởng vĩ đại nhất kể từ xưa mà nó nhất định phải xuất hiện, có thật trên đất nước VN thân yêu của chúng ta. Đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã thật kém may mắn, bất hạnh vì đã thuộc quyền lãnh đạo, cai trị toàn trị của ĐCS VN.

Nhưng, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” (lời cổ nhân). Lịch sử dân rộc ta tuy đau thương vô cùng nhưng, dân tộc ta khoan dung độ lượng vô cùng, chấp nhập mọi quá khứ chính trị, văn hóa, tư tưởng và lịch sử. Tư tưởng Dân Chủ – Đa Nguyên và những con người Dân Chủ VN đã có, còn có ở ngay trong các đảng viên cao cấp của ĐCS VN. Tôi rất hy vọng cuộc hợp tác vĩ đại của Dân Chủ và Cộng Sản, của Dân Tộc VN và ĐCS VN sẽ thành công để cùng ngồi vào bàn ĐẠI HỘI QUỐC GIA – DÂN TỘC bàn thảo làm lại giang sơn xã tắc (mượn ý của ông Nguyễn Trung, một trí thức yêu nước).

Cá nhân tôi sẵn sàng đóng góp cho cuộc chuyển hóa về Dân Chủ cho nước Việt thân yêu với điều kiện tiên quyết loại trừ các yếu tố bạo lực, bạo động trong tất thảy các sinh hoạt chính trị, văn hóa xã hội để hạn chế tối đa những đổ vỡ đáng tiếc cho đất nước. Kiên quyết không để có KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC.

 

———————————–

Đinh Đăng Định ‘quyết không nhận tội’

Ông Đinh Đăng Định, người sắp ra tòa phúc thẩm về tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’, vẫn một mực nói mình không có tội như cáo trạng, luật sư của ông Định cho biết.

Trao đổi với BBC, luật sư Nguyễn Thanh Lương nhìn nhận rằng hầu như không có cơ hội giảm án hay trắng án đối với ông Định trong phiên phúc thẩm ngày mai tại tòa án tỉnh Đắc Nông.

Ông Định từng là sỹ quan trong quân đội Việt Nam. Tuy nhiên ông đã giải ngũ và trở thành giáo viên Hóa.

Ông bị bắt hồi tháng 10 năm 2011 và bị đưa ra xét xử sơ thẩm hồi tháng 8. Ông bị tuyên án 6 năm tù theo điều 88 Bộ Luật hình sự.

Ông Định kêu gọi người dân ký tên phản đối dự án bô xít do chứng kiến những tác động môi trường của việc khai thác bô xít gây ra tại Đắc Nông, nơi ông đang sinh sống.

Vì ngày nhà giáo?

Phiên tòa phúc thẩm lúc đầu dự kiến sẽ diễn ra vào sáng thứ Ba ngày 20/11.

Tuy nhiên vào giờ chót, Tòa án nhân dân tối cao Đà Nẵng đã thông báo dời phiên tòa một ngày sang thứ Tư ngày 21/11.

Luật sư Lương cho biết nguyên nhân tòa hoãn xử là ‘bận công tác đột xuất’.

Ngày 20/11 là ngày tôn vinh các nhà giáo Việt Nam mà bản thân ông Định cũng là một nhà giáo. Có lẽ giới chức Việt Nam không muốn phiên tòa gây ra tác động phản cảm.

“Cũng như những phiên tòa khác mà tôi đã tham gia liên quan đến điều 88, cơ hội của những người bị truy tố rất thấp,” ông Lương nói.

“Trắng án tuyệt đối không có,” ông nói thêm, “Còn giảm án thì tùy thuộc vào việc bị cáo có nhận tội hay không nhận tội.”

“Ở đây Đinh Đăng Định không nhận tội nên khả năng giảm án không có.”

Chính vì vậy mà trong phiên tòa ngày mai luật sư Lương cũng không thể xin tòa giảm án cho ông Định mà chỉ có thể bào chữa theo hướng không có tội theo đúng nguyện vọng của thân chủ, ông Lương giải thích.

“Nói thẳng tôi không có hy vọng và phấn khởi gì,” ông nói.

‘Không làm gì sai’

Trong phiên tòa sơ thẩm, ông Định từng tuyên bố rằng ông không làm gì sai.

Khi đến gặp thân chủ trước phiên tòa phúc thẩm, luật sư Lương cho biết ông đã thử ‘thăm dò’ để có cơ sở xin giảm án thì ông Định ‘đã không đồng ý rồi’ mặc dù ông chưa hề động viên ông Định nhận tội
“Anh Định giữ lập trường không có tội,” ông kể, “Anh dựa vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Tuyên ngôn về nhân quyền để cho là mình không vi phạm pháp luật.”

“Tôi biết anh đã lường trước bản án rồi. Y án hay 6 năm tù đối với anh không quan trọng,” ông nói.

“Anh cho rằng mình đã theo đúng Công ước quốc tế về nhân quyền. Điều đó làm tôi cảm thấy xấu hổ,” luật sư Lương nói.

“Tôi cho là giữa pháp luật trong nước và ngoài nước có sự xung đột,” ông nhận định, “Trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến công ước quốc tế cũng cần phải xem lại.”

Chính vì ông Định kiên quyết không nhận tội nên luật sư Lương cho biết ông sẽ bào chữa theo hướng một số vấn đề về trình tự tố tụng dựa trên hồ sơ.

Về tình hình ông Định, ông Lương cho biết ông đang bị nhiều bệnh như nhồi máu não, đau dạ dày, thị lực kém nhưng ông nói sẽ ‘cố gắng phục vụ phiên tòa’.

——————-

 

danluan.org

 

 

 

 

 

 

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►TT Obama nói với người dân Miến Điện: Nước Mỹ “đang hổ trợ các bạn”

Posted by hoangtran204 trên 20/11/2012

Obama to people of Myanmar: America ‘is with you’

 (AP Photo/Pablo Martinez Monsivais) 

TT Obama chắp tay cầu nguyện trước khi chấm dứt bài diễn văn đọc tại Đại Học Ngưỡng Quãng, Miến Điện, vào ngày Thứ Hai, 19-11-2012. Trong chuyến viếng thăm lịch sử tới miền đất bị bỏ quên (và thế giới  từ lâu nay không chú ý đến), Obama bày tỏ sự ca ngợi và những hứa hẹn mà nước Mỹ sẽ hổ trợ tới Miến Điện nếu quốc gia này tiếp tục xây dựng nền dân chủ mới của họ. “Mục đích của chúng tôi là hổ trợ và  duy trì đà (xây dựng dân chủ) này”.  Obama đã tuyên bố với lòng hãnh diện như là một vị TT Mỹ đầu tiên đã viếng thăm đất nước Miến Điện.

Trong một diễn biến có tính chất lịch sử, TT Obama vào hôm thứ Hai, đã đặt chân xuống miền đất Miến Diện và  được hân hoan đón nhận vẫy cờ chào đón của những người dân Miến Điện, những người dân  đã từng bị đàn áp (bởi chính quyền Miến Điện tứ 1962-2010). TT Obama đã tuyên bố: “Các bạn đã ban cho chúng tôi niềm hy vọng”,

YANGON, Myanmar (AP) — Hàng chục ngàn người Miến Điện đã đổ vào các đường phố để chào đán TT Obama tới một quốc gia vẫn còn đang học hỏi những quyền tự do cơ bản của con người.

 

Trong bài nói chuyện hướng tới khán giả toàn quốc Miến Điện tại Đại Học Ngưỡng Quãng, Obama đã đề nghị “một tình bạn” và trách nhiệm và lời hứa bền lâu, và kèm theo một lời cảnh báo. Ông nói chính quyền dân sự Miến Điện nên nuôi dưỡng chế độ dân chủ, hay chính quyền này sẽ chứng kiến các sự hổ trợ và lời húa hẹn cùng trách nhiệm của Hoa Kỳ sẽ biến mất.

The visit to Myanmar was the centerpiece of a four-day trip to Southeast Asia that began in Bangkok and will end Tuesday in Cambodia, where Obama will attend an East Asia Summit.

Cuộc viếng thăm Miến Điện là trọng tâm của 1 chuyến viếng thăm 4 ngày tới Đông Nam Á, cuộc viếng thăm đã bắt đầu ở Bangkok Thái Lan và sẽ chấm dứt ở Cambodia, nơi đây TT Obama sẽ tham dự Hội Nghị các Nước Đông Á.

(Chính quyền của đảng CSVN trước đó đã ra sức vận động TT Obam viếng thăm VN, nhưng họ đã thất bại trong thầm lặng. Lý do TT Obama từ chối thăm VN là vì trong 3 năm qua, và đặc biệt trong vòng 6 tháng qua, chính quyền do đảng CSVN lãnh đạo đã không ngừng bắt bớ, giam cầm, đưa ra xét xử, và tù đày những người VN đòi hỏi dân chủ, những người VN  chống Trung Quốc, những người chỉ trích những  đảng viên cao cấp của đảng CSVN tham nhũng, cướp đoạt đất đai của dân chúng…Những việc này đã bị Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phản đối, nhưng cộng sản làm thì cứ làm, bất chấp tất cả vì …đã có sự che chở của Trung Quốc. Thậm chí, cứ mỗi lần các nhân vật cao cấp trong chính quyền Hoa Kỳ tỏ thiện chí viếng thăm VN, thì y như rằng ngay sau đó, các nhân vật trong Bộ Chính Trị chạy qua chầu TQ như thể nhận tội, hoặc báo cáo  với TQ về những gì Hoa Kỳ đã bàn bạc chuyện gì trong chuyến viếng thăm vừa qua. Đảng  và Nhà Nước vừa  tàn ác với dân chúng , giam tham trong việc cướp đất đai của nông dân, và vừa tráo trở đi hàng hai như thế thì không một nguyên thủ quốc gia nào  tin cậy để giao du, và viếng thăm? )

TT Obama xem ra rất hân hoan về những gì ông đã chứng kiến ở Miến Điện- một quốc gia bị tàn phá trong nhiều năm dưới chệ độ quân phiệt, và mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Miến Điện đang thay đổi rất nhanh chóng.

(Nước Ba Lan phải đợi 14 năm mới được Hoa Kỳ tin tưởng hứa hẹn đặt dàn vũ khí chống hạt nhân trên đất Ba Lan, để ngăn chận các hỏa tiển có đầu đạn nguyên tử mà Nga đang chỉa sang các nước Châu Âu và Hoa Kỳ. Từ khi Ba Lan tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa xã hội 1989, đặt đảng CS Ba Lan ra ngoài vòng pháp luật 1990, Ba Lan xin gia nhập khối NATO (Minh Ước Bắc Đại Tây Dương), và phải chờ đợi trong hơn 10 năm mới được gia nhập, suốt thời gian này, chính quyền Ba Lan cổ vỏ dân chủ, người dân Ba Lan đi bầu cử và ứng cử tự do, chính quyền không bắt bớ đàn áp dân chúng đòi hỏi tự do và nhân quyền, chính quyền minh bạch hơn và giảm bớt tham nhũng…đến năm 2003 thì Ba Lan vào được tổ chức NATO, và Mỹ hứa sẽ đặt dàn hỏa tiển chống lại hỏa tiển của Nga năm 2006; Nga quá hoảng sợ nên đã thương thuyết với Mỹ 2009 và đồng ý giảm các khiêu khích liên quan tới vũ khí hạt nhân, cũng như Nga trở nên rất nhân nhượng với khối NATO.)   

“TT Obama đã phát biểu: “Mối quan hệ rất đáng chú ý giữa Hoa Kỳ và Miến Điện chỉ vừa mới bắt đầu,”

Trong một thay đổi đáng chú ý của chính quyền Hoa Kỳ, TT Obama đã nhắc đến tên của quốc gia này là: liên bang Miến Điện, chính quyền mới hiện nay và chế độ quân phiệt cũ đều ưa thích tên gọi ấy, thay vì là gọi Miến Điện, là tên gọi cũ và tên gọi được ưa thích của những người bênh vực cho dân chủ và ngay cả chính quyền Hoa Kỳ.

Trong chuyến công du đầu tiên ra nước ngoài kể từ khi tái đắc cử vào đầu tháng 11, Obama đã nhận được lời chúc mừng nồng nhiệt ở Miến Điện, ông ôm bà Aung San Suu Kyi, nhà lãnh đạo đối lập của Miến Điện, và ông đã ca ngợi bà như là một người khích lệ đối với cá nhân ông.  Nhiều đám đông dân chúng đã tụ tập nhau tại các ngã tư đường, và reo lên những lời chúc mừng TT Obama và bà Ngoại Trưởng  Hillary Rodham Clinton.

Một biểu ngữ có hàng chữ: “Quý vị là các bậc anh hùng của thế giới”

“Obama thừa nhận vẫn còn nhiều thiếu sót về dân chủ ở Miến Điện, nhưng ông nói: “Nước Mỹ đang hổ trợ các bạn” Obama đã nói chuyện tại Đại học Ngưỡng Quãng, nơi đây đã từng là một tâm điểm cho các cuộc phản đối chính quyền, và bài nói chuyện của TT Obama là lời kêu gọi Miến Điện hãy tiếp tục thực hiện các hành động đầy hứa hẹn của họ  khi  nước này đã chấp thuận hướng tới chế độ dân chủ.  

  TT Obama đã nói chuyện tại Đại Học Ngưỡng Quãng, nơi đây từng là trung tâm của sự phản đối chính quyền.

Trùng hợp với sự viếng thăm của TT Obama, chính quyền Miến Điện đã thông báo những hành động tôn trọng nhân quyền hơn nữa như xem xét lại các trường hợp của các tù nhân và giảm bớt các mâu thuẩn tranh chấp ở các  miền đất trong quốc gia này.  

Nhưng TT Obama đã khuyến khích chính quyền Miến Điện nhiều hơn nữa: “Những ai đang nắm quyền lực nên chấp nhận các sự  chống đối,  các sức ép từ dân chúng, và quyền lực có tính chất giới hạn của người cầm quyền”

“The flickers of progress that we have seen must not be extinguished,” Obama said in an address televised to the nation.

“Những ngọn lửa chưa đều đặn  của sự tiến bộ mà chúng ta đang nhìn thấy không nên bị dập tắt.” TT Obama phát biểu.

Obama cũng gọi phone nói chuyện với bà Suu Kyi. Bà Aung San Suu Kyi cho rằng:

Thời gian khó khăn nhất trong bất cứ sự chuyển đổi nào là khi chúng ta nghĩ rằng sự thành công đang ở trong tầm nhìn,” bà nói. “Sau đó chúng ta phải rất cẩn thận mà không bị khuyến dụ  bởi ảo ảnh của sự thành công”

Trước đó, cùng với Tổng thống Thein Sein đang ở  bên cạnh, TT Obama nói rằng mối quan hệ giữa hai quốc gia Miến Điện và Hoa Kỳ chỉ vừa mới bắt đầu. “Nhưng, chúng tôi nghĩ rằng tiến trình về cải thiện về dân chủ và  kinh tế ở Miến Điện đã và đang bắt đầu trước đó bởi TT Thein Sein là người  dẫn đầu hướng tới  các cơ hội phát triển kỳ diệu và vượt bực “

Obama đã đi cùng với Ngoại trưởng Hillary Clinton  viếng thăm Miến Điện, cả hai bước xuống phi cơ, chụp chung với nhau những tấm hình cho chuyến công du sau cùng của họ.  Bà Clinton đang có kế hoạch rời khỏi chức vụ ngoại trưởng trong thời gian ngắn sắp tới. 

Rất nhiều người dân Miến Điện đã đứng hai bên đường phố  Yangon để nhìn đoàn xe của TT Obama chạy ngang qua. Hàng trăm học sinh mặc đồng phục áo sơ mi trắng và quấn xà rông màu xanh lục đậm. Nhiều học sinh cầm trên tay máy IPads và điện thoại hiệu Iphone để chụp hình đoàn xe chạy ngang qua.

TT Obama đã tưởng thưởng cho các hành động cải thiện về dân chủ nhanh chóng ở Miến Điện bằng cách bãi bỏ các trừng  phạt về kinh tế. TT Obama đã bổ nhiệm một đại sứ đến Miến Điện, và hứa hẹn nhiều cuộc đầu tư về kinh tế lớn hơn nếu Miến Điện tiếp tục hướng tới sự tiến bộ sau 50 năm quân đội Miến cầm quyền.

Các lời chỉ trích của các tổ chức nhân quyền nói rằng chính phủ Miến Điện vẫn còn giam giữ hàng trăm tù nhân chính trị và đang tranh đấu để giải quyết cuộc chiến giữa các nhóm chủng tộc, và các tổ chức này cho rằng Miến Điện chưa thực hiện đầy đủ để nhận được 1 chuyến viếng thăm của TT Obama. 

Lời đáp ứng của TT Obama là: Sự tiến bộ nhanh chóng của Miến Điện xứng đáng nhận được sự chú ý của cả  thế giới.

“Khi tôi nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ đầu năm 2009, tôi đã đọc diễn văn nhậm chức và nhắn các chính quyền độc tài đang cai trị dân chúng của họ bằng cách hăm dọa và tạo ra nổi sợ hải, rằng : chúng tôi sẽ chìa bàn tay thân hữu ra nếu như các ông có ý muốn nới lỏng bàn tay cai trị của các ông trước”  “…và hôm nay, tôi đến đây để giữ lời hứa, và đưa tay ra nối tình thân hữu.”

___

Associated Press writer Julie Pace contributed to this report.

http://news.yahoo.com/obama-people-myanmar-america-083759312–politics.html

* TT Bill Clinton viếng thăm VN cuối  năm 2000 khi nhiệm của ông chỉ còn hơn 1 tháng nữa thì kết thúc. Có lẻ, ông viếng thăm với niềm hy vọng nhỏ là VN giống như Miến Điện ngày hôm nay, vì  trong thời gian từ 1990-2000, có lúc  người ta đã hy vọng VN  sẽ  từ bỏ chế độ cộng sản, hy vọng đảng  CSVN từ bỏ sự bắt bớ và đàn áp dân chúng,  đảng sẽ không nắm quyền lực cai trị nữa, đảng sẽ cải tổ hiến pháp, cho đa đảng và chuyển đổi qua thể chế dân chủ, nhưng trước đó, đảng CSVN đã chạy qua họp với Trung Quốc ở Thành Đô, vào ngày 3 và 4 tháng 9, năm 1990. Ở đó, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu đã   ký hiệp mật ước như Hồ Chí Minh qua gặp Mao Trạch Đông 3-1950, và đảng đã nhận sự bảo hộ của Trung Cộng, trong Hội Nghị  ở Thành Đô.

* TT George Bush đã đến VN 2006 để họp hội nghị APEC 2006.

*TT Obama vừa mới đắc cử chưa tới 2 tuần thì đã ghé thăm Miến Điện; mặc dù sự sắp xếp cuộc viếng thăm này đã có từ mấy tháng trước, cũng như chuyến viếng thăm này cũng  sẽ có cơ nguy bị hủy bỏ nếu chính quyền Miến Điện bắt bớ và đàn áp những người dân của họ trong thời gian 2 năm vừa qua. 

*giống như  Liên Xô và khối X HCN 16 nước ở Đông Âu đã làm từ 1989-1990;  thậm chí có  nước  Ba Lan đã sửa đổi hiến pháp và đặt đảng CS ra ngoài vòng pháp luật.).

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ 62 tỷ 400 triệu đô la

Posted by hoangtran204 trên 17/11/2012

Nước Việt Nam không may đã bị cộng sản cai trị. Các lãnh đạo của đảng học hành rất kém, từ ông HCM cho đến nay là Nguyễn Tấn Dũng không ai học quá lớp 6. Lê Duẩn chỉ học lớp 3, Lê Đức Thọ thì không bao giờ công bố trình độ học vấn, Lê Đức Anh chỉ học tiểu học, Đỗ Mười lớp 5…Bởi vậy, từ 1954 cho đến nay, họ chỉ biết nhận viện trợ và đi vay mượn nước ngoài để sinh sống, và không đủ tài điều hành nền kinh tế. Tất cả đường sá, công trình công cộng hiện nay mà ta nhìn thấy là do các nước cho vay, và thực hiện công trình xây dựng. Số tiền vay mượn rất lớn như trong 2 bài dưới đây nhắc tới, nhưng số công trình xây dựng có được rất là ít. 

Tuy nợ nhiều như thế, và hàng năm vẫn tiếp tục thua lỗ, có năm 2011, 81 trong tổng số 91 tập đoàn và tổng công ty đều thua lỗ – 10 tập đoàn còn lại  lấy cớ chưa kiểm toán xong nên chưa kịp báo cáo-,  nhưng đảng vẫn chủ trương: kinh tế quốc doanh tiếp tục đóng vai trò chủ đạo! 

Thật ra, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là nơi làm việc của con cháu và phe đảng của bọn 14 đảng viên cao cấp trong bộ chính trị và 175 ủy ban trung ương đảng. Đây là các công ty để bọn này ăn chia và đục khoét tiền thuế của người dân, và đánh cắp các tài nguyên dầu hỏa, than đá,…và bán cho nước ngoài. Tiền đô la chúng thu được thì để dành chia nhau hưởng. Giá in một tờ giấy bạc polymer 500.000 đồng  là 5-6 cents, chỉ cần in 4 tờ giấy bạc 500.000 đồng, giá vốn chưa tới 25 xu hay 1/4 của 1 đô la, là các ngân hàng đổi lấy được 100 đô la của dân chúng. Lời chán. Cũng vì thế mà đồng tiền VN mất giá hàng năm. Chúng cũng in tiền polymer  ra để mua vàng, đẩy giá vàng lên cao ngất ngưỡng.

91 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh này chiếm hết tất cả các ngành nghề có ăn nhất, dễ kiếm tiền nhất trong nền kinh tế. Thậm chí các tập đoàn như PVN chỉ cần bơm dầu ở dưới đất lên và chở qua Nhật, Singapore, Nam Dương, Trung Quốc, Mã Lai để bán, mà cũng báo cáo thua lỗ. Tập đoàn Than và Khoáng Sản chỉ có đào than lên bán cho Trung Quốc mà cũng báo cáo là thua lỗ. Công ty Điện lực VN (EVN) chỉ bán điện mà cũng thua lỗ…tất cả công ty nào cũng báo cáo thua lỗ năm này qua năm khác, nhưng tiền thưởng hàng năm mà họ chia nhau vào dịp Tết thì dân chúng phát thèm.  

……………Cập nhật 23-11-2013

 »

Tập đoàn tổng công ty đang nợ 1,3 triệu tỷ đồng hay 65 tỷ USD  (16-1-2013)

>> Năm nay 2014 Việt Nam sẽ trả bao nhiêu nợ? 208.883 tỷ đồng

>>Năm nay Việt Nam sẽ vay bao nhiêu nợ? 6,3 tỷ USD cộng thêm tiền phát hành công khố phiếu bán cho nước ngoài

 

Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ gần 1,3 triệu tỷ đồng

Theo VnEconomy

16-11-2012

Nhiều con số đáng chú ý về tình trạng nợ nần của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ “tiết lộ”.

Tại văn bản chất vấn gửi đến Bộ trưởng, bên cạnh tình hình nợ trong, ngoài nước của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, đại biểu Quốc hội còn muốn biết Nhà nước có phải dùng ngân sách hàng năm để trả nợ thay cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hay không, nếu có là bao nhiêu?

Tính đến thời điểm 31/12/2011, văn bản trả lời chất vấn cho hay tổng số nợ phải trả của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là 1.292.400 tỷ đồng, tăng 18,9% so với 2010. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2011 là 1,77 lần.

Đặc biệt, có đến 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong đó có 8 đơn vị có tỷ lệ trên 10 lần, 10 doanh nghiệp từ 5 – 10 lần, 12 tập đoàn, tổng công ty từ 3 – 5 lần.
Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản theo báo cáo hợp nhất là 0,34 lần, tổng nợ phải trả/tổng nguồn vốn bình quân tính theo số liệu báo cáo hợp nhất là 0,62 lần.

Với tổng tài sản/tổng nợ phải trả, theo báo cáo hợp nhất bình quân năm 2011 là 1,62 lần, theo Bộ trưởng, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang hoạt động phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn vay, dẫn đến chi phí tài chính lớn và khả năng thanh toán nợ đến hạn thấp.

Cụ thể hơn, ông Huệ cho biết, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang nợ quá hạn 10.149 tỷ đồng. Văn bản trả lời mở ngoặc đơn giải thích rằng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện khoanh nợ khoản tiền mua điện của Petro Vietnam.

Trong khi đó, Tập đoàn Dầu khí vẫn đang nợ quá hạn 1.731 tỷ đồng (nợ của Công ty TNHH Một thành viên Công nghiệp tàu thủy Dung Quất – nhận bàn giao từ Vinashin). Rồi nợ quá hạn của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam 467 tỷ đồng, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6 là 128 tỷ đồng, Tổng công ty Rau quả nông sản 30 tỷ đồng.

Theo báo cáo của công ty mẹ, tổng số nợ phải trả là 606.606 tỷ đồng, tăng 22% so với 2010, nợ nước ngoài là 142.853 tỷ đồng, bằng 23,5% tổng nợ phải trả, tăng 14% so với năm 2010.

Đáng chú ý, Công ty mẹ – EVN nợ nước ngoài lên tới 99.260 tỷ đồng (do vay đầu tư nhà máy điện). Công ty mẹ – Tổng công ty Hàng không Việt Nam là 24.027 tỷ đồng (do vay đầu tư mua máy bay mới). Có đến 18 công ty mẹ, tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, trong đó 5 công ty mẹ trên 10 lần.

Với nợ nước ngoài, Bộ trưởng Huệ cho hay, theo quy định của Luật Quản lý nợ công thì trong trường hợp doanh nghiệp khó khăn Bộ Tài chính sẽ ứng tiền từ quỹ tích lũy trả nợ để trả nợ thay, không lấy từ ngân sách hàng năm. Các doanh nghiệp phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm hoàn trả dần số tiền được ứng cho quỹ.

Cho tới thời điểm hiện tại, quỹ tích lũy trả nợ đang ứng trả thay cho Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tổng công ty công nghiệp Xi măng, đều là các doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh vay và đang gặp khó khăn trong việc trả nợ với tổng số tiền là 109,7 triệu USD.

Các dự án trên hiện nay đang thực hiện tái cơ cấu và cam kết sẽ hoàn trả hết số tiền nhận tạm ứng trong 5 năm tới đây, Bộ trưởng cho biết.

Dòng cuối cùng văn bản, Bộ trưởng Huệ viết, “Bộ Tài chính xin trả lời đại biểu để thông báo cho cử tri được biết”.

Theo VnEconomy

  danluan.org (re-post)

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | 1 Comment »

►Cương quyết không từ chức! Dù ai nói thẳng, nói xỏ xiên thì cũng vậy thôi

Posted by hoangtran204 trên 16/11/2012

 

Văn hóa từ chức phải khởi đầu từ Thủ tướng

Quỳnh Chi, phóng viên RFA

       Audio phỏng vấn GS Nguyễn Minh Thuyết 

 

Trong phiên chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa qua, ĐBQH Dương Trung Quốc cho rằng phải hướng tới đoạt tuyệt với việc xin lỗi và thay bằng một văn hóa từ chức và đây là điều mà các quốc gia tiên tiến hay làm.

Giữa lúc TT Nguyễn Tấn Dũng đang bị chỉ trích về những sai phạm nghiêm trọng trong kinh tế, phát biểu này  được đánh giá là “mạnh mẽ” và lập tức thu hút sự quan tâm trong nước và quốc tế. Trao đổi với Quỳnh Chi cùng ngày sau sau khi cuộc chất vấn kết thúc, GS Nguyễn Minh Thuyết, cựu ĐBQH cho rằng ông Dương Trung Quốc đang thực hiện trách nhiệm của mình:

GS Nguyễn Minh Thuyết: Tôi có đọc lại bản gỡ băng của Chính phủ thì tôi thấy rằng ĐHQH Dương Trung Quốc đã đặt vấn đề rất thẳng thắn nhưng cũng rất tế nhị. Ông còn viện dẫn một số tiền lệ trong lịch sử. Tôi nghĩ là ĐBQH Dương Trung Quốc đã nói lên ý kiến của số đông người dân.

Nói về trách nhiệm của ĐBQH thì ông đã thực hiện được trách nhiệm của mình. Đặc biệt là so với phát biểu, hoạt động của ĐBQH nhiều nước khác thì phát biểu của ông Dương Trung Quốc cũng chỉ là thực hiện đúng nhiệm vụ của mình thôi.

Quỳnh Chi: Văn hóa từ chức ít được nói đến nhiều tại Việt Nam và hiện tượng này cũng ít xuất hiện ở Việt Nam. Vì sao đây là lúc người ta nói đến văn hóa từ chức?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Trong lịch sử Việt Nam cũng đã có rất nhiều người treo ấn từ quan vì nhiều lý do khác nhau nhưng đều xuất phát từ lòng tự trọng cao. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, rất nhiều công việc Nhà nước được giao vào tay một số vị mà không hoàn thành đầy đủ công việc của mình; thậm chí có những sai phạm rất lớn đáng lẽ phải chịu trách nhiệm, bị cách chức. Tuy nhiên, đến từ chức còn không thấy. Như thế thì sẽ ảnh hưởng đến công việc quốc gia. Vì vậy mà ĐBQH Dương Trung Quốc và nhiều người đã phải nói đến văn hóa từ chức.

Quỳnh Chi: Một số người cho rằng chủ trương “phê và tự phê” của ĐCSVN ở một khía cạnh nào đó làm giảm đi sự xuất hiện của văn hóa từ chức. Ông có đồng ý với ý kiến này?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Tôi không nghĩ điều này đúng. Bởi nếu thực hiện đúng nguyên tắc “phê bình và tự phê bình” một cách nghiêm túc thì người có khuyết điểm phải tự phê bình một cách sâu sắc nhất và phải tự mình áp dụng hình thức chế tài thích hợp vì quyền lợi chung. Một trong những chế tài là từ chức. Nếu “phê bình và tự phê bình” được thực hiện nghiêm túc thì dẫn đến kết quả như vậy. Tuy nhiên, theo quan sát cho thấy nhiều người đã không thực hiện nhiệm vụ, thậm chí có những sai phạm lớn mà vẫn không chịu từ chức. Điều này chứng tỏ “phê bình và tự phê bình” chưa được thực hiện tốt.

Quỳnh Chi: Thế thì một văn hóa từ chức có thể mang đến những ảnh hưởng như thế nào?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Quan sát chính trường của rất nhiều nước, nhất là những nước văn minh và dân chủ thì tôi thấy những người được giao trách nhiệm và thấy mình không đủ sức khỏe hoặc năng lực để đảm nhận công việc, hoặc khi phải chịu trách nhiệm về những sai phạm lớn trong công việc mình phụ trách thì họ từ chức. Việc này thể hiện lòng tự trọng cao và cũng giúp có lợi cho công việc. Nước Việt Nam có gần 90 triệu dân, không thiếu gì người tài. Nếu ai cứ được cử vào một chức vụ nào đó mà dù làm không được việc  mà vẫn “ngồi” đấy cho đến hết khóa thậm chí kéo dài nhiều khóa thì làm sao chọn được những người tài để gánh vác công việc? Như thế thì hỏng việc chung của đất nước.

Phải có người khởi đầu

Quỳnh Chi: Nghĩa là ông cũng đồng ý với ý kiến của ông Dương Trung Quốc khi nói rằng văn hóa từ chức là “cho sự tiến bộ của Chính phủ”?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Vâng, tôi đồng ý và tôi cũng tán thành ý kiến của ông Dương Trung Quốc là phải có người khởi đầu.

Quỳnh Chi: Vậy thì tại sao sự khởi đầu ấy phải bắt đầu từ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Trước hết, Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ. Nếu Thủ tướng có những động thái rất quyết liệt và gương mẫu thì cũng làm gương cho những người khác. Thứ hai, thực sự công việc của Chính phủ có rất nhiều yếu kém, nhiều sai lầm dẫn đến nền kinh tế xuống dốc. Thứ nữa là có khá nhiều tập đoàn kinh tế được mở ra một cách vội vàng nhưng hoạt động yếu kém mà còn để xảy ra thất thoát, tham nhũng, thua lỗ, nợ nần chồng chất. Tôi nghĩ phải có người chịu trách nhiệm về vấn đề đó. Và, có rất nhiều quyết định, dự kiến của các bộ, ngành mà khi đưa ra công luận thì rất là phi lý.

Quỳnh Chi: Nên hiểu về văn hóa từ chức như thế nào? Nó có thay thế được trách nhiệm pháp lý kể cả đối với những người lãnh đạo đất nước và những người giữ các chức vụ cao?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Ở nhiều nước, người ta phải từ chức vì bên cạnh việc muốn thể hiện lòng tự trọng, tin thần trách nhiệm đối với công việc của mình, đối với đất nước, đối với nhân dân thì còn vì một lý do nữa. Đó là nếu không từ chức thì đằng nào cũng bị cách chức. Cho nên, pháp luật vẫn là tối thượng. Chế tài pháp luật là điều mà trước tiên phải đượcxem xét, tôn trọng và nhìn nhận.

Quỳnh Chi: Câu hỏi cuối thưa ông, phát biểu của ông Dương Trung Quốc cùng với bình luận của giáo sư khá thẳng thắn. Các ông có quan ngại nó sẽ ảnh hưởng đến cá nhân mình?

GS Nguyễn Minh Thuyết: Tất cả mọi người đều phải nghĩ đến cuộc sống của mình và lo cho mình. Đó là chuyện tự nhiên. Chúng tôi là những người trí thức thì không thể nói dối hay che giấu ý kiến của mình. Đặc biệt với trách nhiệm trước nhân dân, tổ quốc thì chúng tôi thấy là dù có phải như thế nào cũng phải nói lên ý kiến của mình. Dĩ nhiên những ý kiến ấy phải đảm bảo đúng sự thật và pháp luật. Còn nếu vì nói những ý kiến thẳng thắn ấy mà bị lãnh hậu quả thì nói thật là những điều ấy chỉ xảy ra ở những nước phát xít và độc tài thôi.

Quỳnh Chi: Xin cám ơn GS Nguyễn Minh Thuyết.

Xin được nhắc lại. Trong phiên trả lời chất vấn được truyền hình trực tiếp hôm thứ Tư (14 tháng 11) của TT Nguyễn Tấn Dũng, ĐBQH Dương Trung Quốc cho rằng “Đã đến lúc phải đề cao trách nhiệm pháp luật” và khuyến nghị khởi đầu cho sự tiến bộ của Chính phủ hướng đến một văn hóa từ chức. Phát biểu được đưa ra trong bối cảnh có nhiều sai phạm, tuột dốc và bất cập trong hoạt động của Chính phủ và Nhà nước ở lĩnh vực kinh tế và quản lý. Trả lời chất vấn của ông Dương Trung Quốc, TT Nguyễn Tấn Dũng nói rằng vẫn sẽ “tiếp tục nhiệm vụ” của mình.

nguon: RFA tiếng Việt

anhbasam.wordpress.com   (re-post)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Làm từ thiện mà không qua TRUNG GIAN là không được!

Posted by hoangtran204 trên 16/11/2012

Thư ngỏ gửi ông bộ trưởng Bộ Nội vụ

Trần Đăng Tuấn

Theo Tuổi Trẻ

TT – Năm ngoái, chứng kiến bữa ăn chỉ có cơm trắng và canh loãng của các cháu học sinh trong khu nội trú dân nuôi tại một trường ở xã vùng cao Suối Giàng, Văn Chấn, Yên Bái, tôi và vài người bạn rủ nhau góp tiền gửi lên hằng tháng để mua thêm thức ăn, mong sao mỗi bữa ăn mỗi cháu có thêm một, hai miếng thịt.

 


Một tờ rơi giới thiệu dự án “Cơm có thịt” ở Mỹ do sinh viên thực hiện

 

Chúng tôi có viết về chuyện đó trên các blog cá nhân của mình, khi đó không phải là kêu gọi ủng hộ mà chỉ là những dòng tâm sự. Nhưng rồi hàng trăm người đã qua mạng thúc giục lập ra một địa chỉ để cùng chung tay “gắp thịt” vào bát cơm cho các bé học sinh vùng cao, và rồi chúng tôi tạm lập một tài khoản để nhận và chuyển những đóng góp đó lên các trường thuộc các khu vực khó khăn nhất ở Tây Bắc.

Sau một thời gian, rất nhiều bạn chưa từng quen biết đã đăng ký ủng hộ thường xuyên hằng tháng. Và chúng tôi cũng quyết tâm sẽ theo đuổi dự án “Cơm có thịt cho học sinh vùng cao” dài hơi hơn. Do đó đã lập hồ sơ xin thành lập quỹ từ thiện “Cơm có thịt” gửi Bộ Nội vụ vào cuối tháng 5-2012. Trong những ngày đầu, người đại diện cho tôi và nhóm sáng lập viên được chuyên viên của bộ hướng dẫn bổ sung vào hồ sơ. Sau đó mỗi khi liên lạc hỏi kết quả, chuyên viên đó đều nói rằng sẽ trình khi lãnh đạo đi công tác về.

Cuối tháng 10-2012, tức là tròn năm tháng sau khi nộp hồ sơ, sốt ruột quá, qua điện thoại tôi đã đề nghị chuyên viên thụ lý hồ sơ giải thích tại sao hồ sơ chưa được xem xét và không có một thông báo văn bản nào về kết quả xem xét. Theo chuyên viên này thì chẳng có vướng mắc gì, chẳng qua lãnh đạo đi công tác suốt nên chưa trình được. Cũng có một điều nữa là chuyên viên có vẻ không thích cái tên quỹ “Cơm có thịt”.

Có vậy thôi mà năm tháng trôi qua không có một hồi âm, dù chúng tôi hàng chục lần hỏi. Nghị định 30/2012/NĐ-CP ngày 12-4-2012 ghi rõ thời gian tối đa để trả lời chấp nhận hay không chấp nhận hồ sơ xin phép lập quỹ xã hội – từ thiện là 45 ngày.

Tôi sẽ không nói gì về chuyện có hay không có việc lãnh đạo vụ và bộ bận đến mức suốt năm tháng chỉ có đi hết chuyến công tác này đến chuyến khác, đến mức chuyên viên chẳng thể trình được hồ sơ. Chuyện đó ông bộ trưởng biết hơn tôi. Còn về chuyện thứ hai là cái tên quỹ “Cơm có thịt”, dù chưa nhận được đề nghị bằng văn bản nào từ quý bộ đề nghị giải trình, tôi cũng xin giải thích: Nhóm tham gia từ đầu của hoạt động này chủ yếu là những nhà văn, nhà báo. Họ chắc không thiếu chữ nghĩa để đưa ra những cái tên sang trọng. Nhưng rồi chúng tôi đã quyết định để nguyên cái tên ban đầu đó, vì hai lẽ: Một là, nó đúng là mục tiêu, nguyện vọng mà chúng tôi muốn góp phần nhỏ bé để hiện thực hóa nó trong cuộc sống học sinh nội trú vùng cao. Hai là: nhiều ngàn người góp tiền cho hoạt động này đã chẳng thấy cái tên ấy có gì không hay, không tốt. Hiện nay không chỉ trong nước mà sinh viên Việt Nam ở nhiều nước, bắt đầu từ Úc, cho đến Mỹ, Phần Lan, Thụy Điển, Nhật Bản, Singapore… đang gọi nhau đến với “Cơm có thịt”, và chưa thấy ai không hài lòng với cái tên đó. Khi cái tên (dẫu hay, dẫu chưa hay) nhiều người ủng hộ đã biết, việc thay đổi sẽ không tốt cho hiệu quả hoạt động.

Tôi viết thư ngỏ này không nhằm mục đích đề nghị ông bộ trưởng đôn đốc việc cấp phép cho quỹ “Cơm có thịt”. Bộ trưởng dẫu có đích thân làm thay nhân viên thì cũng chỉ được một vài lần. Chúng tôi sẽ có cách làm phù hợp luật pháp để tiếp tục giúp các em vùng cao mà không cần thành lập quỹ như nhiều, rất nhiều người Việt Nam đang làm. Tôi viết thư này là mong bộ trưởng bỏ thời gian để xem xét hai việc.

Thứ nhất, mong bộ trưởng cho rà soát lại có bao nhiêu hồ sơ đề nghị thành lập quỹ xã hội – từ thiện còn đang nằm tắc đâu đó ở bộ. Nguyên do ở đâu, có phải là sự chậm trễ quan liêu đơn thuần, hay có sự e ngại nào với việc quản lý hoạt động thiện nguyện?

Thứ hai: trước khi làm hồ sơ xin cấp phép thành lập quỹ, chúng tôi đã vất vả để tìm cách có nguồn tiền ở mức 2 tỉ đồng để sau này được Bộ Nội vụ công nhận có đủ điều kiện hoạt động. Nhưng sau khi chúng tôi nộp hồ sơ, theo quy định mới mức tiền mà quỹ nhất định phải có từ ban đầu đã cao hơn gấp vài lần (theo nghị định 30/2012-NĐ/CP đã nói ở trên là 5 tỉ đồng trở lên). Quy định này tất nhiên xuất phát từ những điều hợp lý, nhưng không phải cho mọi trường hợp. Thành lập quỹ không phải lúc nào cũng là người hay đơn vị nhiều tiền. Quan trọng là quỹ có vận động được nhiều người ủng hộ không. Nếu cứ phải có nhiều tiền mới lập được quỹ thì mới chỉ là “Lá lành đùm lá rách”. Thậm chí không phải lá lành, mà lá rất lớn mới được quyền đùm lá rách. Nhưng chúng ta chẳng vẫn thường hay nói tiếp nữa là: “Lá rách ít đùm lá rách nhiều” đó sao.

Đây là quy định của Chính phủ, nhưng ta đều biết các nghị định dẫu do Thủ tướng hay Phó thủ tướng ký đều được soạn thảo và đề xuất từ các bộ, ngành. Hi vọng ông bộ trưởng nghiên cứu và nếu thấy điều kiện mức tiền góp để được lập quỹ từ thiện có cái chưa hợp lý, ông hãy tham mưu, đề xuất sửa đổi cho hợp lý hơn.

Chúc ông bộ trưởng sức khỏe.

Trân trọng.

TRẦN ĐĂNG TUẤN

5.841 học sinh được ăn cơm có thịt

Bắt đầu từ bài viết “Hôm nay lên Suối Giàng”, đăng ngày 18-10-2011 trên blog của ông Trần Đăng Tuấn (nguyên phó tổng giám đốc Đài truyền hình Việt Nam), dự án “Cơm có thịt” đã được lập ra để giúp trẻ em các trường mầm non vùng cao không phải triền miên ăn những bữa cơm chỉ với muối và canh loãng.

Đến nay đã có 5.841 học sinh ở 46 trường thuộc các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai được hỗ trợ với tổng số tiền hơn 5,4 tỉ đồng.

T.C.

 

* * *

 

Cậu chủ quán trước cửa trường, sau mới biết rằng có vợ là giáo viên, cho biết: Trường tiểu học có 80 đứa nội trú. Phải có từ 100 đứa nội trú trở lên mới có chế độ hỗ trợ của Nhà nước. Khu nội trú này dân nuôi hoàn toàn. Cha mẹ góp gạo mỗi tuần 2kg và 5.000 đồng tiền thức ăn. Bọn mình không tin, cứ lục vấn mãi: Sao lại 5.000 đồng thì chúng nó ăn uống kiểu gì? Cậu ta cứ khăng khăng đúng thế, đúng thế… (trích).Trong bếp ngoài nồi cơm đang nấu, một nồi nữa chắc để nấu canh, còn thì chẳng có đồ đạc gì cả.Hỏi: 80 đứa chỉ ăn cái nồi cơm này đủ à? Bác người Mông nói: Nồi to lắm đấy, 13-14 cân gạo mới đầy đấy. Lại hỏi: Thế ăn cơm với cái gì? – Với canh rau… Bây giờ mới nhìn ra chỗ tôi tối có mấy bó rau cải bé tẹo, mà lại đã úa vàng một nửa. Không hiểu canh nấu với gì, vì mắm muối giấu ở đâu chứ không có trong bếp. Hỏi: Sao ít rau thế? – Ừ, không đủ đâu, phải mua thêm nữa đấy. Thế có thịt cá ăn bao giờ không? – Không có đâu, bao giờ bố mẹ đóng thêm tiền thì mua cho ăn một bữa có thịt…(Trích bài “Hôm nay lên Suối Giàng” 18-10-2011- blog Trần Đăng Tuấn)

____________________

Lãnh đạo Bộ Nội vụ chưa tiếp cận hồ sơ

Trao đổi với Tuổi Trẻ qua điện thoại, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh khẳng định lãnh đạo Bộ Nội vụ chưa tiếp cận hồ sơ xin thành lập quỹ từ thiện “Cơm có thịt”.

* Theo phản ảnh của ông Trần Đăng Tuấn thì chuyên viên giải quyết hồ sơ nói rằng do lãnh đạo bộ bận quá nên chưa trình lên được?

– Không phải như vậy. Nếu trình lên thì bất cứ lúc nào chúng tôi cũng xem xét. Có thể là đang trong quá trình trao đổi, thống nhất với nhau. Ví dụ như thủ tục có khi nghiên cứu không đầy đủ cho nên phải trao đi đổi lại. Thông thường, chuyên viên trực tiếp làm việc gần hoàn chỉnh các vấn đề có liên quan với ban sáng lập rồi mới báo cáo lên lãnh đạo phê duyệt.

* Thưa ông, việc thành lập một quỹ từ thiện có khó không?

– Quy trình lập quỹ như vậy không khó nếu chuẩn bị đầy đủ theo pháp luật. Trong việc thành lập các hội, các quỹ có vấn đề là điều lệ hoạt động thường phải làm đi làm lại. Ví dụ như hội thì còn chờ đại hội, còn đối với quỹ khi ra quyết định thành lập đồng thời công nhận điều lệ luôn, cho nên điều lệ phải được hoàn chỉnh kỹ lưỡng.

* Ông Trần Đăng Tuấn băn khoăn xung quanh vấn đề thời gian tối đa để trả lời chấp nhận hay không chấp nhận hồ sơ xin phép lập quỹ xã hội – từ thiện là 45 ngày, mà nay đã năm tháng chưa có hồi âm?

– Có thể là các vụ chuyên môn xem hồ sơ xong lại chuyển cho các anh điều chỉnh. Các vụ chuyên môn làm xong thì mới trình chúng tôi để ký hay không ký. Về thủ tục, đặc biệt là điều lệ, nếu chưa hoàn thiện thì phải trao đi đổi lại.

* Theo quy định hiện nay, mức tiền mà các quỹ nhất định phải có từ ban đầu (các sáng lập viên phải góp) là từ 5 tỉ đồng trở lên, như vậy liệu có quá nhiều cho hoạt động từ thiện đôi khi là “lá rách ít đùm lá rách nhiều”?

– Nghị định trước đây quy định là 2 tỉ đồng, nhưng nghị định mới điều chỉnh lên 5 tỉ đồng, và không chỉ điều chỉnh về tiền mà còn một số vấn đề khác. Quỹ từ thiện cũng phải đảm bảo các nguyên tắc pháp luật và còn phải chặt hơn vì liên quan nhiều đến kinh tế, vì sau này ngoài tiền đóng góp ban đầu thì các nhà lập quỹ còn có thể có những hoạt động như vận động, quyên góp cả xã hội. Một số vấn đề khác, ví dụ liên quan đến tên quỹ, đều được quy định cụ thể trong nghị định 30.

V.V.THÀNH

Nguon: danluan.org

Làm từ thiện mà không thông qua TRUNG GIAN…

Việt Kiều Nauy làm từ thiện bị chặn tại phi trường Tân Sơn Nhất không cho nhập cảnh  Việt Nam và bị trục xuất qua Thái Lan

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Đại biểu Dương Trung Quốc: thủ tướng có tán thành là sẽ khởi đầu cho một sự tiến bộ của chính phủ, hướng tới một văn hóa từ chức? _TT Nguyễn Tấn Dũng: …Đảng đã quyết định phân công tôi ứng cử làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ…Và Quốc hội đã bỏ phiếu bầu tôi làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ…Tôi sẽ tiếp tục thực hiện và nghiêm túc thực hiện như tôi đã làm trong suốt 51 năm qua.

Posted by hoangtran204 trên 14/11/2012

Dương Trung Quốc hỏi 2 câu hỏi rất cụ thể và rõ ràng. Câu trả lời là có hay không, nhưng câu trả lời của TT Nguyễn Tấn Dũng cho thấy NTD  không chịu từ chức. 

“…Đảng đã lãnh đạo, quản lý trực tiếp tôi, hiểu rất rõ về tôi. Và Đảng ta cũng là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Đảng đã quyết định phân công tôi ứng cử làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ, Trung ương phân công.

Và Quốc hội đã bỏ phiếu bầu tôi làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ thì tôi sẵn sàng chấp nhận, sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi quyết định của Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương đảng, của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất đối với tôi.

Tóm lại là có thể nói là gần suốt cả cuộc đời tôi đi theo Đảng hoạt động cách mạng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp quản lý của Đảng, tôi cũng không có chạy, tôi cũng không có xin và tôi cũng không có thoái thác, từ chối bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng, Nhà nước quyết định phân công, giao phó cho tôi.

Tôi sẽ tiếp tục thực hiện và nghiêm túc thực hiện như tôi đã làm trong suốt 51 năm qua. Xin cám ơn đại biểu!”

Các bạn đọc lời bình của các blogger ở đây anhbasam.wordpress.com

Đại biểu Dương Trung Quốc chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Quốc hội sáng 14-11-2012

Hỏi: Kính thưa quốc hội, kính thưa thủ tướng,

 Câu hỏi của tôi sẽ giúp cho thủ tướng và chính phủ sẽ có đủ sức mạnh để thực hiện các giải pháp của mình.

Trước kỳ họp, toàn dân đều được chứng kiến các nhà lãnh đạo cao nhất của đảng, trong đó có thủ tướng đã có lời xin lỗi và xin trung ương đảng kỷ luật. Còn tại quốc hội, thủ tướng chỉ xin lỗi về trách nhiệm chính trị liên quan đến một số tập đoàn nhà nước mà thôi, khiến người dân tự đặt câu hỏi “Dường như thủ tướng xem nhẹ trách nhiệm trước dân hơn trước đảng … “

Dẫu sao thì việc thủ tướng đã có lời xin lỗi trước quốc hội cũng là một điều đáng ghi nhận, vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử.

Nhưng nhìn ở một góc độ khác, thì thấy việc xin lỗi, một hành vi văn hóa rất đáng khích lệ trong dân cần được giới hạn trong mối quan hệ giữa bộ máy công quyền với nhân dân.

Không thể giới hạn hành vi xin lỗi của ngành hàng không mà bỏ qua những chế tài xử phạt đã quy định nếu gây thiệt hại với khách hàng. Khánh nước ngoài họ gọi hàng không nước ta là “SorryAirLine” là vì thế.

Việc làm cho dân hiểu là nhà nước tạo độc quyền vàng cho SJC khiến dân bất an và chịu thiệt thòi kéo dài, để rồi thống đốc ngân hàng chỉ xin lỗi, vì đã không giải tích rõ khiến dân hiểu lầm v.v..

Đã đến lúc phải đề cao trách nhiệm pháp luật chứ không phải chỉ là lời xin lỗi.

Phải chăng thủ tướng nên nhân dịp này thể hiện lòng quyết tâm sửa chữa của mình bằng cách khởi động cho một cuộc phấn đấu của chính phủ, hướng tới đoạn tuyệt với những lời xin lỗi, thay bằng tập quán phù hợp với một xã hội hiện đại – là văn hóa từ chức với một lộ trình là các quan chức của ta làm được cái điều mà các quốc gia tiên tiến vẫn làm. 

Xin nhắc lại rằng, xa xưa các cụ nhà ta cũng coi việc cáo quan hồi hương là một cách giữ tiết tháo. Còn đảng ta cũng đã từng có một vị tổng bí thư, người có công lớn trong Cách mạng tháng 8 năm 45′, sau khi nhận trách nhiệm chính trị về những sai lầm trong Cải cách ruộng đất 1956, đã từ chức và tiếp tục phấn đấu, để rồi 3 thập kỷ sau trở lại với cương vị  tổng bí thư, kịp góp phần khởi động công cuộc “Đổi mới”, trước khi từ trần.

Kính thưa thủ tướng, tóm lại xin có hai câu hỏi.

1./ thủ tướng nghĩ gì về ý kiến cho rằng, mình đã nặng trách nhiệm với đảng, mà nhẹ trách nhiệm với dân?

2./ thủ tướng có tán thành là sẽ khởi đầu cho một sự tiến bộ của chính phủ, hướng tới một văn hóa từ chức, để từng bước đoạn tuyệt với lời xin lỗi hay không?

Xin cám ơn thủ tướng, cám ơn quốc hội.          

Nghe: Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc & Thích Thanh Quyết chất vấn Thử tướng.

Trả lời: Xin thưa với đại biểu, là đồng chí đại biểu Dương Trung Quốc có nêu một cái ý là có nghĩ đến cái từ chức không? Thì tôi xin trình bày ý kiến thế này.

Đối với tôi đó thì, hôm nay còn 3 ngày nữa là tròn 51 năm tôi theo Đảng hoạt động cách mạng, chịu sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của Đảng trong 51 năm qua đó tôi không có xin với Đảng cho tôi làm, cho tôi đảm nhiệm một chức vụ này hay một chức vụ khác.

Và mặt khác thì tôi cũng không có từ chối, không có thoái thác bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng, Nhà nước giao phó cho tôi.

Là một cán bộ đảng viên của Đảng thì cũng báo cáo Quốc hội là tôi cũng có nghiêm túc báo cáo đầy đủ với Đảng về bản thân mình, báo cáo với Bộ Chính trị, báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương một cách nghiêm túc, đầy đủ về bản thân mình.

Và Đảng, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã hiểu rõ về tôi cả về ưu điểm, khuyết điểm, cả về phẩm chất đạo đức, cả về năng lực, khả năng, cả về sức khỏe thương tật, cả về tâm tư nguyện vọng của tôi.

Và Đảng đã lãnh đạo, quản lý trực tiếp tôi, hiểu rất rõ về tôi. Và Đảng ta cũng là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Đảng đã quyết định phân công tôi ứng cử làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ, Trung ương phân công.

Và Quốc hội đã bỏ phiếu bầu tôi làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ thì tôi sẵn sàng chấp nhận, sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi quyết định của Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương đảng, của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất đối với tôi.

Tóm lại là có thể nói là gần suốt cả cuộc đời tôi đi theo Đảng hoạt động cách mạng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp quản lý của Đảng, tôi cũng không có chạy, tôi cũng không có xin và tôi cũng không có thoái thác, từ chối bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng, Nhà nước quyết định phân công, giao phó cho tôi.

Tôi sẽ tiếp tục thực hiện và nghiêm túc thực hiện như tôi đã làm trong suốt 51 năm qua. Xin cám ơn đại biểu!

NgheTT Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn của ĐB Dương Trung Quốc

tt-nguyen-tan-dung-tra-loi-chat-van-cua-db-duong-trung-quoc.mp3

————————————————–

Một người lính biết suy tư

Nguyễn Thanh Giang

Tác giả gửi đến Dân Luận

…Về nhà văn Phạm Đình Trọng.

Vốn là một người lính, như ông đã kể:   

“Tôi vào bộ đội trước khi cuộc kháng chiến chống Mĩ nổ ra và tôi rời quân ngũ khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc kéo dài suốt mười năm trời, 1979 – 1989, vừa kết thúc. Cuộc đời lính của tôi gánh trên vai trọn vẹn ba cuộc chiến tranh, chống Mĩ, chống Pôn Pốt và chống bành trướng. Chiến tranh chống Mĩ tôi có mặt ở Tây Nguyên. Trong chiến dịch đánh đuổi bọn Pôn Pốt giải phóng nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, tôi là nhà văn đi với tàu chiến của hải quân, lên tàu từ cảng An Thới đảo Phú Quốc đổ bộ lên cảng Công Pông Xom, Campuchia. Trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc và giữ quần đảo Trường Sa, tôi có mặt ở mặt trận Cao Bằng, mặt trận Hà Giang và quần đảo Trường Sa. Cả tuổi trẻ của tôi đã hiến dâng cho cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước, bảo vệ nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng những gì đang diễn ra của chính sự hôm nay cho tôi cảm nhận rằng những người lãnh đạo đất nước hôm nay đang phản bội lại máu những người lính đã đổ ra hôm qua!” (1)

Hầu hết đoạn văn trên là lời kể, riêng dòng cuối là suy tư: “Nhưng những gì đang diễn ra của chính sự hôm nay cho tôi cảm nhận rằng những người lãnh đạo đất nước hôm nay đang phản bội lại máu những người lính đã đổ ra hôm qua!”.

Với cả dặm đường trường chinh dài dặc như vậy, nếu Phạm Đình Trọng suy tư bằng cái đầu của Đảng thì rất có thể ông đã thành tướng lĩnh hoặc được chuyển ngành để thành tiến sỹ, thành giáo sư. Tuy nhiên, ông không phải giáo sư, không phải tiến sỹ, không biết ông có quân hàm gì nhưng tôi nghĩ ông là một trí thức. Bởi vì, ông đã dám nghĩ bằng cái đầu của chính ông.

Tướng lĩnh, tiến sỹ, giáo sư, ủy viên Trung ương nọ, đại biểu Quốc hội kia … chưa hẳn là trí thức. Để được thăng tiến thành những thứ đó đôi khi (chứ không phải tất cả) chỉ cần biết nịnh Đảng, biết nói theo Đảng hay hay một chút để được Đảng cầm tay cắt đặt là thế nào cũng được. Có khi còn trở thành Tổng Bí thư.

Giáo sư mà làm gì, tiến sỹ mà làm gì, chức sắc này nọ mà làm gì, khi mà:

“ … đảng Cộng sản Việt Nam đã thoải mái sử dụng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân dựng lên hàng loạt viện hàm lâm khoa học về chủ nghĩa Marx, thực tế là những viện vô tích sự và phản khoa học: Viện Marx Lénine, Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Viện tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện lịch sử đảng … với hàng ngàn giáo sư, tiến sĩ được đãi ngộ hậu hĩ, lương bổng, xe cộ, nhà cửa! Rồi hệ thống các cơ quan tuyên giáo các cấp, từ phường xã tới trung ương với hàng chục ngàn cán bộ đều có bằng cấp, học hàm học vị từ cử nhân trở lên! Rồi ban Lí luận trung ương tập hợp vài chục nhà lí luận hàm vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng! Đông đảo như vậy, danh xưng hào nhoáng như vậy, tốn kém tiền bạc của dân như vậy, nhưng khi những vấn đề lí luận của chủ nghĩa Marx Lénine đối mặt với cuộc sống cần sự giải đáp của những nhà lí luận Marxist, cần có tiếng nói của cơ quan Tuyên giáo cộng sản thì chẳng thấy ai! Chỉ thấy sự có mặt tức thì, hùng hổ, sôi sục, tàn bạo của công an, công cụ bạo lực!” (1)

Riêng ông, để xứng đáng là một trí thức, Phạm Đình Trọng đã phải trả giá. Một cái giá chua xót như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Phạm Quế Dương, Vũ Cao Quận, Vi Đức Hồi …

Sáng ngày 26 tháng 4 năm 2010, bí thư chi bộ đến tận nhà tống đạt quyết định khai trừ ông ra khỏi ĐCSVN mặc dù trước đó gần nửa năm, ngày 23 tháng 11 năm 2009, PĐT đã đưa Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản cho chi bộ.

Nói chua xót vì, cái Đảng mà ông đã tưởng xả thân cho lý tưởng cùng nó mà sao nó nỡ tệ hại, sao nó hiếu thắng trẻ con đến nỗi ông đã từ bỏ đảng tịch mà nó vẫn còn bám đuổi theo ông để hạ nhục bằng quyết định khai trừ. (Họ từng làm như vậy với Phạm Quế Dương, Vũ Cao Quận …).

Chả trách mà Bùi Minh Quốc từng đã phải ngậm ngùi thốt lên:

 

“Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính cỗ máy này”
“Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi”

Phạm Đình Trọng phải quyết lòng từ bỏ ĐCSVN là để cùng các đồng chí, các bậc đàn anh khảng khái sáng suốt trên đây, bằng hành động cụ thể của mình “Chỉ ra những sai lầm tệ hại của học thuyết Mác Lênin, của chủ nghĩa xã hội. Chỉ ra mối nguy cơ đe dọa đất nước từ đế quốc cộng sản Trung Hoa, nơi những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam gửi lòng tin, mộng tưởng tìm kiếm liên minh, tìm kiếm chỗ dựa để duy trì chủ nghĩa xã hội mất lòng dân. Chỉ ra những quyết sách, những toan tính thiển cận chỉ vì lợi ích phe nhóm mà hại dân, hại nước như bất chấp pháp luật, bất chấp ý chí nhân dân cho Trung Hoa vào Tây Nguyên khai thác bô xít, cho Trung Hoa thuê dài hạn diện tích rộng lớn rừng đầu nguồn, chấm cho Trung Hoa thắng thầu mọi công trình xây dựng lớn nhỏ để Trung Hoa tiêu thụ vật tư, kĩ thuật phế thải của Trung Hoa, để Trung Hoa ồ ạt đưa người xâm nhập, cài cắm khắp lãnh thổ Việt Nam” (2).

Chỉ ra rằng, ông không thể còn đồng hành với cái Đảng mà “Từ khi đảng thâu tóm đất nước trong tay, đất nước gấm vóc, nhân dân cần cù sáng tạo nhưng xã hội Việt Nam càng ngày càng tụt lại sau so với các nước vậy mà từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến chót mũi Năm Căn, Cà Mau, nơi nào cũng thấy hàng chữ cao ngạo Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm! Muôn năm cả cái Xã hội chủ nghĩa hư vô, không có thật. Chủ nghĩa xã hội không có thật đã gây bao đau khổ và nhiều nợ máu với nhân dân mà vẫn muôn năm: Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm! Còn nhân dân hết đời này đến đời khác lấy máu viết lên chữ Việt Nam thì Đảng không cần biết tới, thì chỉ là hư vô! (3)

“Cao ngạo như vậy làm sao thấy được sự thật! Cao ngạo như vậy làm sao đến được với những lo toan, vất vả, khổ đau của dân! Cao ngạo như vậy nên ai thẳng thắn nói điều trái ý Đảng, đụng đến cái sai, cái yếu của Đảng, của Nhà nước, đều bị Đảng khép vào tội tuyên truyền chống Nhà nước của Đảng, đều bị Đảng trừng trị khắc nghiệt”
 (3).

Thâu tóm đất nước trong tay, Đảng độc chiếm cả Quốc hội:

“Tính số tròn, dân số Việt Nam đến hôm nay là chín mươi triệu người, đảng viên cộng sản chỉ có ba triệu người, những người cộng sản chỉ chiếm hơn 3% dân số. Nhưng 500 Đại biểu Quốc hội khóa XIII của nhiệm kì 2011 – 2016 vừa bắt đầu, có tới 458 Đại biểu là đảng viên cộng sản. Hơn 3% dân số chiếm hơn 90 % ghế trong Quốc hội! Một sự bất công ngang nhiên ở ngay cơ quan lập pháp, nơi xác lập kỉ cương, công bằng xã hội! Một sự coi thường Dân đến đau lòng, đến xấu hổ! Chỉ một con số khách quan đã chứng minh Quốc hội đó là Quốc hội của một đảng chứ đâu phải của toàn Dân! Toàn bộ thành viên cơ quan thực quyền cao nhất của đảng Cộng sản là Bộ Chính trị và Ban Bí thư đều là Đại biểu Quốc hội. Ban chấp hành Trung ương đảng có 175 ủy viên chính thức thì 84 ủy viên Trung ương đảng, một nửa Ban chấp hành Trung ương đảng tràn vào Quốc hội, chiếm ghế trong Quốc hội!” (4)

Dưới Quân kỳ, dưới Đảng kỳ ông từng cùng đồng đội tâm niệm với khúc quân hành dội lên từ lồng ngực: “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh, anh em ơi vì nhân dân quên mình. Đoàn Vệ quốc chúng ta ở nhân dân mà ra … ” nhưng nay tất cả đã phải tráo trở hô vang: “Quân đội ta trung với Đảng”, cho nên ông không thể còn đồng hành nữa với cái thực thể mà ngày nay “… với sự độc quyền thống trị xã hội của đảng Cộng sản thì gần chín mươi triệu người dân Việt Nam chỉ là con số không tội nghiệp, không có vai trò gì đối với nhà nước của đảng Cộng sản! Bộ máy nhà nước do đảng dựng lên không mang ý chí của dân, chỉ mang ý chí của đảng! Ý chí của dân là độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Suốt chiều dài lịch sử, người dân Việt Nam đã không tiếc xương máu, hết thế hệ này đến thế hệ khác đổ máu hi sinh để giành độc lập và giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ! Còn ý chí của đảng là chủ nghĩa xã hội! Vì chỉ có duy trì chủ nghĩa xã hội mới duy trì được vị trí độc tôn thống trị xã hội của đảng! (2)

ĐCSVN bỏ nhân dân để “định hướng XHCN” và, có phải vì “định hướng XHCN” mà ĐCSVN phải bỏ Tổ quốc để dốc lòng phụng thờ Trung Quốc?:

“Chủ nghĩa xã hội cho những người lãnh đạo cấp cao của đảng Cộng sản Việt Nam quyền lực vô hạn, quyền lực không bị giám sát, thì đế quốc Cộng sản Trung Hoa là sự bảo lãnh cho quyền lực đó tồn tại, bảo lãnh cho những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững quyền lực đó! Họ bảo lãnh không phải vì nghĩa tình đồng chí Cộng sản mà chỉ để họ thực hiện mưu đồ thôn tính Việt Nam! Chỉ vì quyền lợi ích kỉ của đảng, những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam duy trì chủ nghĩa xã hội! Lại vì quyền lợi ích kỉ của đảng, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam thí bỏ lợi ích dân tộc đánh đổi lấy sự bảo lãnh của bành trướng Trung Hoa!” (4)

“ … cắt nhượng cho phương Bắc nửa thác Bản Giốc hùng vĩ ở Cao Bằng, cắt nhượng cho phương Bắc cả tòa thành cổng nước cổ kính ở Lạng Sơn đã in bóng sừng sững trong lịch sử Việt Nam thì không thể lén lút giấu dân được mãi. Sự thật mất đất đai của tổ tiên phơi bày ra rồi, nhân dân chỉ còn biết nghẹn ngào, đau xót, khóc cho cơ thể Tổ quốc Việt Nam bị cắt xẻo ứa máu, khóc cho lịch sử Việt Nam phải ghi lại những năm tháng tủi nhục!” (3) chưa đủ, để “đánh đổi lấy sự bảo lãnh của bành trướng Trung Hoa!” những người lãnh đạo ĐCSVN sẵn sàng mở đường rước con voi Trung Hoa về giày mả tổ mình:

“Đảng Cộng sản Trung Hoa phát động cuộc chiến tranh biên giới đánh Việt Nam ác liệt suốt mười năm, 1979 – 1989. Tháng chín, năm 1989, Trung Hoa vừa ngừng đánh Việt Nam thì tháng chín năm 1990 các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vội hấp tấp sang gặp các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Hoa ở tỉnh lẻ Thành Đô cầu thân với Trung Hoa để dựa vào Trung Hoa duy trì sự thống trị xã hội của đảng Cộng sản Việt Nam, mở đường cho Trung Hoa trở lại tiếp tục công việc đồng hóa chính trị để xâm lược kinh tế và lãnh thổ Việt Nam mà họ đã thực hiện ngay sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, tháng mười, năm 1949 và sau khi Việt Nam quét sạch quân Pháp khỏi đường số Bốn, năm 1950, mở thông biên giới Việt – Trung! Đặt lợi ích của đảng Cộng sản Việt Nam lên trên lợi ích dân tộc Việt Nam, coi sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam cao hơn sự tồn tại của Tổ quốc Việt Nam, những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã làm một việc vô cùng nguy hại cho Tổ quốc, cho dân tộc Việt Nam, mở đầu cho những việc làm nguy hại ngày càng lớn sau này như nhân nhượng cho Trung Hoa lấn đất, lấn biển Việt Nam, nhân nhượng cho Trung Hoa vào khai thác bauxite ở Việt Nam! Từ tháng chín, năm 1990, đảng Cộng sản Việt Nam lại đưa dân tộc Việt Nam đến trước một hiểm họa ngày càng rõ, hiểm họa Bắc thuộc!” (1).

Cái hình ảnh ông Đỗ Mười đến Thành Đô hớn hở chạy tới, ngước lên, ôm chầm lấy Giang Trạch Dân trong khi ông này không buồn cúi xuống, đã làm cho không người dân Việt Nam có lòng tự trọng nào không khỏi tủi nhục thay. Tưởng rằng đấy chỉ là biểu hiện ngốc nghếch của một ông già lẩm cẩm, nào ngờ, ngài gíáo sư – tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng cũng thật đáng phàn nàn khi uốn lưỡi nịnh nọt ngoại bang một cách rất không phải lối:

“Ngày đó ngài Nguyễn Phú Trọng vừa được đảng của ngài phân chia cho chức Chủ tịch Quốc hội, ngài vội mau mắn sang ngay Trung Hoa hớn hở khoe với những người đứng đầu đảng cộng sản đàn anh rằng Trung Hoa là hướng tốt lành ngài chọn xuất ngoại đầu tiên ngay sau khi trở thành người đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam!Không cần nói ra, ai cũng biết điều đó! Nhưng chẳng biết nói gì để giãi bày lòng trung, ngài chủ tịch Quốc hội Việt Nam liền hồ hởi nói ra như một lời khoe về tấm lòng thơm thảo của ngài với Thiên triều! Câu nói của ngài làm cho những người Việt Nam còn chút lòng tự trọng đều phải cúi mặt lắc đầu nhưng sẽ làm đẹp lòng những người Trung Hoa đang đối thoại với ngài! Hảo lớ!” (5)“Ôi chao, nhục nhã, ê chề quá! Cố giữ liên minh với sức mạnh bạo lực Trung Hoa làm điểm tựa cho đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại, dân tộc Việt Nam phải chịu hết nỗi nhục này đến nỗi nhục khác rồi tất yếu dẫn đến tận cùng nỗi nhục là mất nước!” (2).“Đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất Nhà nước Việt Nam có lòng thành với Trung Hoa như vậy nên tàu chiến Trung Hoa cứ mặc nhiên ngang dọc trên biển Việt Nam, ngang nhiên bắn giết, cướp bóc dân chài Việt Nam, cấm dân chài Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam, xua đuổi công ty nước ngoài vào thăm dò dầu khí trên biển Việt Nam! Trước thực tế đau lòng đó, chủ nhiệm ủy ban an ninh – quốc phòng của Quốc hội Việt Nam nêu ý kiến đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có báo cáo với Quốc hội Việt Nam về tình hình biển Đông để Quốc hội xem xét, cho ý kiến, ngài liền gạt phắt: Tình hình biển Đông có gì mới đâu mà phải báo cáo!” (5)“Nay một người Việt Nam hiếm hoi có tấm lòng thơm thảo với tham vọng bành trướng Đại Hán Trung Hoa, một người Việt Nam hiếm hoi không có được một chút khí phách làm nên lịch sử Việt Nam “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” đã trở thành Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, đã trở thành người đứng đầu hệ thống quyền lực Nhà nước Việt Nam, trở thành bí thư Quân ủy trung ương, Tổng tư lệnh quân đội! Đó là sự kích thích, khích lệ tham vọng bành trướng Đại Hán Trung Hoa lấn tới!” (5).

Thôi rồi! Lượm ơi!

Cái cổ Việt Nam mỗi ngày càng bị các ông TBT ĐCSVN, người sau hơn người trước, ấn càng sâu vào thòng lọng Trung Quốc.

Đau nỗi đau của toàn dân tộc, người lính trường chinh Phạm Đình Trọng lại xót thương cho mỗi đồng chí, đồng đội mình:

“Nhiều mảnh đất của tổ tiên người Việt để lại đã thấm đẫm máu nhiều thế hệ người Việt Nam đã không còn là đất đai Việt Nam nữa! Đặc biệt đất đai biên cương phía Bắc càng thấm đẫm nhiều hơn máu những người lính và cả nước mắt cha, mẹ, vợ, con người lính! Tháng ba năm 1987, chiến tranh biên giới Việt – Trung đang còn ác liệt, tôi ngồi cùng ô tô với phó tư lệnh Đặc công, Anh hùng, đại tá Đỗ Văn Ninh đưa mẹ con chị Nguyễn Thị Định là vợ và con của liệt sĩ thượng úy đại đội trưởng Cao Hoàng Việt lên viếng mộ anh Việt vừa hi sinh trước đó ít ngày trong cuộc chiến đấu giành lại điếm cao Xê Ba (C3) ở Vị Xuyên, Hà Giang. Đại đội đặc công của anh Việt vừa giành lại điểm cao Xê Ba thì pháo từ Trung Hoa bắn sang. Đạn pháo xé làm thân thể anh Việt không còn nguyên vẹn. Một phần thân thể người lính Cao Hoàng Việt đã lẫn ngay vào đất đá trên mỏm núi đá Xê Ba. Người đàn bà trẻ, nhân viên đánh máy viện Văn học Việt Nam mới ngoài hai mươi tuổi, vợ liệt sĩ Cao Hoàng Việt, khóc lặng lẽ bên nấm mộ còn tươi màu đất mới đắp trên sườn đồi hoang lạnh. Chị khóc cho cuộc đời tận tụy hi sinh cống hiến cho đất nước mà quá ngắn ngủi của anh! Chị khóc cho thân phận góa bụa còn quá trẻ của chị! Chị khóc cả cho đứa con trai côi cút mới bốn tuổi còn chưa biết khóc cha. Cho đến nay giọt nước mắt của người vợ liệt sĩ khóc chồng ở sườn đồi hoang lạnh biên giới phía Bắc vẫn còn mặn chát trong lòng tôi!” (1).

Xót thương mỗi đồng đội, đồng chí của mình, Phạm Đình Trọng càng oán giận mấy vị “lãnh tụ” bạo tàn quyết xây vinh quang cho Đảng, quyết “làm công một người” bằng “giãi thây trăm họ”

“Kế hoạch Tổng tiến công, Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 được soạn thảo theo ý chí của bí thư thứ nhất (Lê Duẫn), người thực sự nắm toàn quyền trong đảng. Đinh ninh cú Mậu Thân 1968 là cú quyết định cuối cùng để ca khúc khải hoàn, trước khi mở màn Tổng tiến công, người nắm toàn quyền trong đảng liền đưa Hồ Chí Minh, danh nghĩa là chủ tịch đảng sang Trung Hoa an dưỡng dài ngày, uống thuốc bắc bồi dưỡng sức khỏe và đưa Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh quân đội sang Hungari nghỉ ngơi ngắm cảnh đẹp hồ Balaton để thế giới hiểu rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đều ngoài cuộc trong chiến thắng Mậu Thân 1968, để sử sách phải ghi chép rằng chiến công hiển hách Mậu Thân 1968 đánh thắng Mĩ, kết thúc chiến tranh là do thiên tài của bí thư thứ nhất đảng Lao động Việt Nam lúc đó  (Lê Duẫn). Là nhà quân sự thao lược, nắm chắc tình thế chiến trường và thực lực hai bên, là người cầm quân có lương tâm, biết quí từng giọt máu của lính, khi được bàn thảo chiến cuộc Mậu Thân 1968, Võ Nguyên Giáp chủ trương Mậu Thân 1968 chỉ thực hiện cuộc tập kích chiến lược, bất ngờ tập kích vào cơ quan đầu não chiến tranh, đồng loạt tập kích các căn cứ quân sự của địch. Lực lượng địch còn mạnh nhưng yếu tố bất ngờ sẽ đảm bảo cho thắng lợi của trận tập kích đánh đòn đau vào ý chí chiến tranh và tiêu hao lớn sinh lực địch, làm thay đổi cục diện chiến tranh. Khi yếu tố bất ngờ không còn nữa cần thu quân bảo toàn lực lượng để gia tăng những nhịp độ hoạt động quân sự tiếp theo mới dẫn đến kết thúc chiến tranh ở những chiến dịch gối đầu sóng nối tiếp” (1).

Nghĩ đến “giọt nước mắt của người vợ liệt sĩ khóc chồng ở sườn đồi hoang lạnh biên giới phía Bắc”, nghĩ đến từng lớp mảnh xương còn vùi trong bùn dưới đáy sông Thạch Hãn, PĐT thấy rợn người khi hát câu “cờ in máu chiến thắng mang hồn nước” nên đã nêu một đề xuất làm cho chính người đang viết cũng sửng sốt, nhưng, nghĩ kỹ lại thấy có lý:

“ … chính những người cộng sản Việt Nam đã làm cho lá cờ của khởi nghĩa Nam Kỳ, lá cờ của cách mạng Tháng Tám không còn là lá cờ của cả dân tộc Việt Nam nữa! Và một vấn đề nghiêm túc, lớn lao, khẩn thiết đang đặt ra: Đã đến lúc cần có lá cờ tập hợp cả dân tộc Việt Nam! Không thể là lá cờ đỏ nhỏ nhen của một giai cấp, lá cờ lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc! Không thể là lá cờ vàng vốn xuất xứ là lá cờ của một nhà nước chỉ là công cụ của nước ngoài! Cần có lá cờ mới mẻ, tinh khôi của cả dân tộc Việt Nam, của chín mươi triệu người Việt Nam đang sống trên đất nước Việt Nam thống nhất và đang sống trên khắp thế giới! Lá cờ xanh màu rừng, xanh màu biển, xanh màu đồng ruộng Việt Nam và sáng chói tinh thần yêu nước Nguyễn Thái Học!” (6).

Mong sao mỗi người lính, mỗi người dân Việt Nam đều biết suy tư, đều dám suy tư như người lính – nhà văn Phạm Đình Trọng.

Rút trong cuốn ‘ĐÊM DÀY LẤP LÁNH’

Nguyễn Thanh Giang

Mobi: 0984 724 165

Websitewww.nguyenthanhgiang.com

Ghi chú:

(1) Phạm Đình Trọng – Thưa chuyện với công cụ bạo lực chuyên chính vô sản

(2) Phạm Đình Trọng – Không thể đi ngược ý chí của nhân dân

(3) Phạm Đình Trọng – Bi kịch Việt Nam

(4) Phạm Đình Trọng – Ngước nhìn Quốc hội

(5) Phạm Đình Trọng – Thói ngạo mạn AQ

(6) Phạm Đình Trọng – Đi xa nhìn về

Phạm Đình Trọng chụp ảnh với Cù Huy Hà Vũ tại đại hội Nhà Văn Việt Nam. Hà Nội 8.2010

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Quảng Nam cho 1 công ty Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50 năm, giá thuê 1 mét vuông là 2 đồng 75 xu/ 1 năm.

Posted by hoangtran204 trên 14/11/2012

Lời tựa: Công ty TNHH Innov Green (Hồng Kông)  văn phòng đại diện lấy địa chỉ ở Hồng Kông, nhưng thật ra, công ty mẹ của công ty Innov Green  đóng ở Trung Quốc.  Báo chí và các blogger đã từngviết về công ty Innov Green mấy năm trước nhân vụ việc  công ty Innov Green thuê được 272.000 hecta đất rừng ở 18 tỉnh miền Bắc với giá rẻ như bèo.  Sau khi báo chí đưa tin về các cuộc điều trần của Quốc hội về chính quyền trung ương và UBND các tỉnh cho nước ngoài thuê đất 50 năm-99 năm, mọi chuyện ồn ào một lúc rồi sau đó tất cả mọi chuyện đều rơi vào quên lãng và sự im lặng.

18 tỉnh Việt Nam cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê mướn đất đai với giá cực kỳ rẻ, sao không bị chính quyền cưỡng chế?

Cho thuê đất rừng … giá bèo!

Chủ Nhật, 11/11/2012 22:45

Báo Người Lao Động

Mặc dù người dân và doanh nghiệp thiếu đất sản xuất nhưng nhiều địa phương đã cho nước ngoài thuê đất trồng rừng với giá rẻ mạt

Báo cáo tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết hiện còn 8 tỉnh cho nước ngoài thuê hơn 19.000 ha đất trồng rừng, trong đó nổi bật là Bình Định, Quảng Nam và Bình Phước.

Nghịch lý

Năm 1995, Công ty TNHH Trồng rừng Quy Nhơn (gọi tắt là QPFL, trụ sở ở TP Quy Nhơn) được UBND tỉnh Bình Định cấp phép hoạt động và cho thuê 10.000 ha đất để trồng rừng, thời hạn 35 năm với giá chỉ… 21 đồng/1 m2/ 1 năm.

Đến nay, QPFL đã triển khai trồng rừng trên tổng diện tích 9.762 ha tại 8 huyện trong tỉnh, cây trồng chủ yếu là keo và bạch đàn. Sau 7 năm triển khai (từ năm 2002), mỗi năm, QPFL khai thác và trồng mới khoảng hơn 1.000 ha rừng. Trong khi đó, tại tỉnh này vẫn còn không ít người dân đang thiếu đất canh tác, dẫn đến xung đột lợi ích giữa người dân nơi có dự án trồng rừng và QPFL trong thời gian qua.

Bao đời nay, chúng tôi sống nhờ vào rừng. Vậy mà mấy năm gần đây, đụng chỗ nào chính quyền cũng nói là đất dự án trồng rừng của QPFL. Cứ như thế thì đời con cháu chúng tôi lấy gì mà sống?” – ông Nguyễn Văn Tạo (ngụ xã Ân Hảo Đông, huyện Hoài Ân) bức xúc.
Thiếu đất sản xuất, người dân huyện Tây Giang – Quảng Nam phá rừng lấy gỗ để bán. Ảnh: HOÀNG DŨNG

Một nghịch lý nữa là trong khi tỉnh Bình Định “hào phóng” cho doanh nghiệp nước ngoài thuê gần 10.000 ha đất trồng rừng với giá chỉ 21 đồng/m2/năm thì nhiều doanh nghiệp tại tỉnh này lại phải “khăn gói” ra nước ngoài… thuê đất trồng rừng. Điển hình, trong gần 10 năm qua, 2 doanh nghiệp lớn ở Bình Định là Công ty Dược trang thiết bị y tế Bình Định và Tổng Công ty Sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định đã sang Lào thuê hơn 10.000 ha đất để trồng rừng.

Thuê đất để… bán

Sau khi được ông Nguyễn Huy Phong, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước, ký văn bản thuận quy hoạch đất lâm nghiệp vào ngày 8-11-2006 cho Công ty TNHH Tehlim Engineering & Construction (Hàn Quốc) đầu tư, đến ngày 8-12-2006, ông Phạm Văn Tòng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ký cấp giấy chứng nhận đầu tư lần thứ nhất cho công ty trên đăng ký kinh doanh với tên của doanh nghiệp tại Việt Nam là Công ty TNHH Vina Phygen (Công ty Vina Phygen, 100% vốn Hàn Quốc), vốn điều lệ 48 tỉ đồng, người đại diện theo pháp luật là giám đốc Lee Jun Hee (quốc tịch Hàn Quốc).

Ngày 6-7-2007, ông Phạm Văn Tòng ký quyết định phê duyệt phương án sử dụng đất lâm nghiệp tại tiểu khu 199 và 205 thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Nai cho Công ty Vina Phygen thực hiện dự án trồng cây xoan chịu hạn với tổng diện tích là 966 ha đất ở xã Phước Sơn, huyện Bù Đăng. Theo đó, trồng 754,66 ha cây xoan chịu hạn và phải có trách nhiệm bảo vệ 196 ha rừng/966 ha được cấp. Tháng 6-2008, UBND tỉnh Bình Phước ban hành quyết định thu hồi 671 ha tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Nai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (671 ha) cho Công ty Vina Phygen thuê với thời hạn
30 năm.

Thế nhưng, khi chưa có các quyết định trên, ngay từ năm 2006, Công ty Vina Phygen đã thu hồi đất của hơn 103 hộ dân đang canh tác trên diện tích 196 ha nhưng đền bù không thỏa đáng. Điều đáng nói là sau khi thu đất, Công ty Vina Phygen không thực hiện dự án mà rao bán với giá 12 tỉ đồng (671 ha). Thấy quá rẻ, những “cò” đất đã bắt mối bán cho Công ty TNHH Cầu đường Đồng Phú (trụ sở tại thị xã Đồng Xoài – Bình Phước) với giá 15 tỉ đồng, sau đó tăng lên đến
39 tỉ đồng.

Ngay sau khi phát hiện Công ty Vina Phygen bán đất dự án, tháng 2-2012, Tỉnh ủy Bình Phước chỉ đạo thu hồi đất đã cho Công ty Vina Phygen thuê nhưng các cơ quan chức năng vẫn không thực hiện. Ngày 22-6, Thường trực Tỉnh ủy Bình Phước đã giao công an tỉnh xin ý kiến của Bộ Công an và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Nguyễn Văn Khánh, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Bình Phước, cho biết đến nay, Công ty Vina Phygen vẫn khẳng định đang tiếp tục triển khai dự án. “Sau khi có bản hợp đồng đã công chứng giữa Công ty Vina Phygen với Công ty TNHH Cầu đường Đồng Phú, cơ quan chức năng đã mời đại diện doanh nghiệp này đến làm việc thì họ khẳng định chỉ bán cây trồng trên diện tích đất thuê chứ không bán dự án” – ông Khánh nói.

Theo ông Khánh, hiện hợp đồng giữa 2 doanh nghiệp trên đã được rút lại và Công ty Vina Phygen đang tiếp tục trồng cao su. Sau này, nếu phát hiện có việc sang nhượng dự án thì UBND tỉnh sẽ thu hồi số diện tích đất đã cho Công ty Vina Phygen thuê để giao lại cho Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé quản lý.

Cho khôngTheo tìm hiểu của phóng viên Báo Người Lao Động, ngày 10-7-2008, UBND tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty TNHH Innov Green (Hồng Kông) về việc đăng ký thành lập Công ty TNHH một thành viên Innov Green Quảng Nam để thực hiện dự án trồng rừng nguyên liệu tại 9 huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Quế Sơn, Hiệp Đức, Nam Trà My, Bắc Trà My và Tiên Phước. Diện tích đất dự kiến sử dụng là 30.000 ha, trong đó có 20.000 ha thuê đất để công ty tự trồng và 10.000 ha hợp tác với người dân để trồng, thời gian thực hiện là 50 năm.Theo hợp đồng giữa nhà đầu tư với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, giá thuê đất chỉ là 2,75 đồng/m2/năm. Ông Dương Chí Công, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, cho biết sau khi có sự phản ánh của dư luận, tháng 8-2010, UBND tỉnh đã yêu cầu Công ty TNHH một thành viên Innov Green Quảng Nam dừng việc triển khai trồng rừng trên diện tích mà UBND tỉnh đã cấp.

Hiện nay, UBND tỉnh đã giao các cơ quan chức năng làm thủ tục để thu hồi lại đất cho công ty nước ngoài này thuê. “30.000 ha chỉ là diện tích đất dự kiến của dự án. Thực chất, từ cuối năm 2009 và đầu năm 2010, UBND tỉnh Quảng Nam mới hoàn thành thủ tục cấp 1.002 ha đất tại 4 xã của huyện Tây Giang cho Công ty TNHH một thành viên Innov Green Quảng Nam” – ông Công giải thích.

ANH TÚ – TÂN TIẾN – HOÀNG DŨNG

*18 tỉnh Việt Nam cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê mướn đất đai với giá cực kỳ rẻ, sao không bị chính quyền cưỡng chế?

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | 6 Comments »

►chính phủ Việt Nam đã nỗ lực vận động mời TT Obama tới thăm Việt Nam, nhưng bất thành…Vì sao?

Posted by hoangtran204 trên 14/11/2012

– Khi nào Tổng thống Obama đến thăm Việt Nam? (VNHRC). “… chính phủ Việt Nam đã nỗ lực vận động mời TT Obama tới thăm Việt Nam, nhưng bất thành … Nhưng các quan chức ngoại giao Hoa Kỳ đã nói rõ với chính phủ Việt Nam rằng chỉ khi nào Việt Nam cải thiện tình trạng nhân quyền thì TT Obama sẽ tới thăm… Và TT Obama không tới Việt Nam do những vi phạm nhân quyền ngày càng tồi tệ hơn”

*Độc giả/ nhà giáo Hà Văn Thịnh bình luận lúc 2h22′: “Đem một thầy giáo ra xử vào ngày 20.11, kể ra sự tàn nhẫn và độc địa của cách chọn ngày giờ, sự kiện chẳng kém gì cách thức tàn độc của chuyện chưởng bên tàu.

Đòn răn đe và cảnh báo này buộc tất cả các thầy giáo, cô giáo nói riêng, giới trí thức nói chung, và những gì gần với tầng lớp này – như học sinh, sinh viên chẳng hạn, ngay lập tức phải hiểu vấn đề… Nhưng, đừng tưởng rằng cái gọi là thông điệp của sự xúc phạm ấy có thể làm cho người dân hoảng sợ! Sẽ có ngày, người dân VN được xét xử lại chúng.

*- Nhà văn Võ Thị HảoQuốc hội không thể mũ ni che tai được mãi (BBC/ Boxitvn). “Đó là việc bắt người như bắt cóc, xử người như xử lén, mở chiến dịch bôi nhọ, hãm hại họ và truy bức ngay cả gia đình nạn nhân bị oan ức. Điều đó hoàn toàn trái với Hiến pháp Việt Nam, gây những bản oan án chấn động thế giới”.

– Đơn đề nghị thầy giáo Đinh Đăng Định được khám chữa bệnh   –   (DLB). “Chồng tôi đã xin giám thị trại tạm giam đi khám và điều trị tại bệnh viện nhưng không những không được chấp nhận mà còn bị giám thị trại tạm giam xông vào BÓP CỔ, ĐÁNH VÀO CẰM… Từ ngày vào trại tạm giam công an tỉnh đến nay, đây là lần thứ 2 chồng tôi bị xuất huyết dạ dày…

Phóng viên VRNs

VRNs (09.11.2012) – Phiên tòa xét xử phúc thẩm thầy giáo Đinh Đăng Định sẽ diễn ra ngày 20/11/2012 tại tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông (Đường Lê Duẩn, phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa). Chủ tọa phiên tòa là thẩm phán Nguyễn Văn Bường. Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã thông báo cho luật sư của thầy giáo Đinh Đăng Định (sinh năm 1963, thường trú tại số nhà 214, đường Nơ Trang Long, Khối 4 – thị trấn Kiến Đức – huyện Đăk R’Lấp – tỉnh Đăk Nông) biết tin này.

Hôm qua người vợ của ông Định đi thăm ông tại trại tạm giam cho biết sức khỏe ông Định rất yếu. Ông bị chứng loét dạ dày hành hạ nên đề nghị trại tạm giam cho ông đi chữa bệnh. Nhưng công an trại giam chẳng những không cho mà còn đánh đập ông 2 lần khiến ông ngã bệnh, đi tiêu ra máu khiến họ phải đưa ông đi trạm xá địa phương cấp cứu đến 3 ngày. Cho đến hôm qua ông Định cũng chưa biết ngày 20/11 sẽ đưa ông ra xử phúc thẩm.

Xin được nhắc lại, ông Đinh Đăng Định bị công an tỉnh Đăk Nông bắt hồi tháng 10 năm 2011. Lý do ông viết những bài đỏi hỏi đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Ông cũng có những bài viết phản đối việc chính quyền cho Trung Quốc khai thác bauxite tại Đăk Nông. Toà án tỉnh Đăk Nông ngày 9/8/2012 đã tuyên án nhà giáo Đinh Đăng Định 6 năm tù giam về tội “lợi dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước”, hoạt động và tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam theo điều 88 Bộ Luật hình sự trong một phiên tòa không có luật sư bào chữa cho ông Định tham dự, bên trong phòng xử đa số là công an.

Quyền tự do ngôn luận, mặc dù được qui định trong Hiến pháp, nhưng thực tế vẫn bị đàn áp tại Việt Nam.

PV. VRNs

_______________________________

Đặng Thị Dinh – Đơn đề nghị thầy giáo Đinh Đăng Định được khám chữa bệnh

Chồng tôi đã xin giám thị trại tạm giam đi khám và điều trị tại bệnh viện nhưng không những không được chấp nhận mà còn bị giám thị trại tạm giam xông vào BÓP CỔ, ĐÁNH VÀO CẰM. Nhưng sau đó giám thị trại tạm giam cũng cho chồng tôi ra trạm xá của trại tạm giam điều trị 3 ngày. Hiện tại sức khỏe của chồng tôi rất yếu, bản thân đã mắc bệnh nhồi máu não (phải đi điều trị ở bệnh viện 175 vào năm 2009), lại còn bị chứng huyết áp cao. Từ ngày vào trại tạm giam công an tỉnh đến nay, đây là lần thứ 2 chồng tôi bị xuất huyết dạ dày…

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

Kiến Đức, ngày 10 tháng 11 năm 2012

 

ĐƠN ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC KHÁM CHỮA BỆNH 

Kính gửi:

– Ông trưởng giám thị trại tạm giam công an tỉnh Đắk Nông.
– Ông Võ Văn Đủ, giám đốc công an tỉnh Đắk Nông.
– Ông Trần Đại Quang, bộ trưởng bộ công an.

Tôi tên là: Đặng Thị Dinh. Sinh năm 1962. Số CMND 245006036 cấp ngày 18/04/2004 do công an tỉnh Đắk Nông cấp. Thường trú tại số 214, khối 4, thị trấn Kiến Đức, huyện Đăk’R Lấp, tỉnh Đắk Nông.

Tôi làm đơn này đề nghị ông trưởng giám thị trại tạm giam công an tỉnh Đắk Nông, ông giám đốc công an tỉnh Đắk Nông, ông bộ trưởng bộ công an một việc như sau:

Chồng tôi là Đinh Đăng Định, sinh năm 1963, nguyên là giáo viên bộ môn hóa học trường THPT Lê Quý Đôn, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Đắk Nông sau phiên sơ thẩm ngày 09/08/2012 về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, điều 88 bộ luật hình sự. Ngày 08/11/2012, tôi có vào thăm nuôi chồng tôi thì thấy sức khỏe của chồng tôi rất yếu: sụt cân, mắt mờ, da dẻ xanh xao… (do thiếu ánh nắng mặt trời). Bên cạnh đó, đặc biệt nguy hiểm hơn, chồng tôi cho biết, hiện đang bị xuất huyết dạ dày: đau bụng, chóng mặt, đi ngoài ra phân màu đen như bã cà phê, nôn ra máu đen, máu hồng.

Chồng tôi đã xin giám thị trại tạm giam đi khám và điều trị tại bệnh viện nhưng không những không được chấp nhận mà còn bị giám thị trại tạm giam xông vào BÓP CỔ, ĐÁNH VÀO CẰM. Nhưng sau đó giám thị trại tạm giam cũng cho chồng tôi ra trạm xá của trại tạm giam điều trị 3 ngày. Hiện tại sức khỏe của chồng tôi rất yếu, bản thân đã mắc bệnh nhồi máu não (phải đi điều trị ở bệnh viện 175 vào năm 2009), lại còn bị chứng huyết áp cao. Từ ngày vào trại tạm giam công an tỉnh đến nay, đây là lần thứ 2 chồng tôi bị xuất huyết dạ dày.

Nhận thấy tình hình sức khỏe của chồng tôi cực kỳ yếu, có thể nguy hại tới tính mạng bất cứ lúc nào, nếu không được điều trị kịp thời. Nên gia đình tôi làm đơn này, rất mong ông trưởng giám thị trại tạm giam công an tỉnh Đắk Nông, ông giám đốc công an tỉnh Đắk Nông, ông bộ trưởng bộ công an xem xét và giải quyết cho chồng tôi được đi bệnh viện khám và điều trị kịp thời.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người làm đơn:

Đặng Thị Dinh

 

dinhangdinh-dondenghikhambenh.jpg 

Theo Dân Làm Báo

 

Thầy giáo Đinh Đăng Định bị kết án 6 năm tù

Sáng nay, 09/08/2012, sau phiên tòa chóng vánh kéo dài 3 tiếng đồng hồ, Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Nông đã kết án thầy giáo Đinh Đăng Định bản án 6 năm tù giam. Phiên tòa diễn ra không có luật sư, không người tham dự. Thầy Định bị cáo buộc Tuyên truyền chống phá Nhà nước XHCN theo điều 88 Bộ luật hình sự.

clip_image001

Ông Đinh Đăng Định, trước đây là giáo viên trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn, huyện Tuy Đức, bị khởi tố với tội danh ‘tuyên truyền chống Nhà nước’. Hình: danlambao

Nhà giáo Đinh Đăng Đinh trong một 
buổi thẩm vấn khi đang  bị tạm giam.
Chưa khởi tố, chưa xử đã bị mặc áo tù rồi!

Không phạm tội

Do gia đình không có điều kiện mời luật sư, thầy giáo Đinh Đăng Định tự đứng ra bào chữa trước tòa.

Khi được phát biểu, thầy Định cho rằng bản thân mình không làm điều gì sai, không hề phạm tội như cáo buộc của Viện kiểm sát.

Phiên tòa sáng nay diễn ra tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông (Đường Lê Duẩn, phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa), chỉ có thân nhân và các nhân chứng được mời. Người dân không được vào tham dự, bên trong phòng xử đa số là công an.

Trong lời phát biểu sau cùng, thầy giáo Đinh Đăng Định tiếp tục khẳng định bản thân không làm điều gì vi phạm pháp luật, yêu cầu được thực thi công lý.

Bản án bỏ túi

Sau thời gian nghị án mau chóng, Tòa án Nhân dân Đắc Nông đã quyết định tuyên án thầy giáo Đinh Đăng Định 6 năm tù giam theo một bản án bỏ túi. Phiên tòa kết thúc lúc 12 giờ ngày 09/08/2012, màn hài kịch “xử án” kéo dài khoảng 3 tiếng đồng hồ.

Đây là một bản án nặng nề, mang tính chất đe dọa và trả thù những người đã can đảm đã lên tiếng nói đòi hỏi quyền tự do, dân chủ.

Thầy giáo Đinh Đăng Định sinh năm 1963, sống cùng vợ và ba cô con gái tại tổ 4, thị trấn Kiến Đức, huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông. Hai cô con gái sau vẫn còn nhỏ, hiện đang đi học. Vợ thầy là cô Đặng Thị Dinh một mình lo toan cho cuộc sống gia đình và nuôi con ăn học.

Thầy Định bị bắt từ tháng 10/2011 và bị giam giữ từ đó đến nay. Trước khi bị bắt, thầy là giáo viên môn Hóa tại trường THPT Lê Quý Đôn. Từng tham gia  quân đội với quân hàm trung úy. Do bất đồng quan điểm với Đảng Cộng Sản, thầy rời khỏi quân đội và chuyển sang làm nghề giáo. (thầy dạy môn hóa học).

Trước đó, do sống tại Đắk Nông, chứng kiến sự tàn phá môi trường của dự án Bauxite, thầy giáo Đinh Đăng Định đã tích cực tham gia kêu gọi người dân ký tên phản đối. Hoạt động trên của thầy Định đã thu hút sự hưởng ứng của nhiều người dân địa phương, và cũng là nguyên nhân khiến thầy bị sách nhiễu.

Trong bài xã luận phản ánh quan điểm chính thức của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đăng trên VOA, Hoa Kỳ đã lên tiếng phản đối việc bắt giam và tố giác thầy Đinh Đăng Định về tội có những “hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước.”

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ khẳng định: “Hoa Kỳ quan tâm đến chuyện bắt giữ ông Định vì những cáo buộc có liên quan đến các bài viết của ông trên mạng”. 

 

 

Nguồn: Dân Làm Báo.

 

 

Đọc thêm về thầy giáo Định

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Lợi dụng chức vụ và cố ý làm trái luật để cướp đất đai của nông dân (Phần 2)

Posted by hoangtran204 trên 13/11/2012

Các bạn đọc kỹ bài này sẽ thấy lòi ra nhiều mưu mô cướp đất rất đểu. Đại khái:  Hiến pháp do đảng xào nấu viết ra lý luận và phương pháp cướp đất bằng câu này: đất đai thuộc sở hữu toàn dân! Dân chúng hiểu câu này như vậy: dân chúng có quyền làm chủ đất đai. Nhưng khi có chuyện tranh giành nhau, thì đảng cắt nghĩa: Ơ! Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mà sở hữu toàn dân có nghĩa là sở hữu quốc doanh, và sở hữu quốc doanh có nghĩa là thuộc sở hữu của nhà nước! Dân chúng chỉ có quyền sử dụng đất. 

Cướp đất thời internet có phần bài bản hơn và cần qua vài lớp lang. Đảng và chính phủ dựng ông Đặng Hùng Võ, (là một trí thức) và đưa ông này lên làm Thứ trưởng Bộ TN-MT.   

Đạo diễn của vở kịch này luôn ở trong bóng tối,  khi muốn tịch thu hoặc mua rẻ đất đai ở đâu thì sai ông Đặng Hùng Võ làm điều tra kinh tế và làm tờ tường trình về lợi ích phát triển đô thị ở vùng đó… Khi làm xong 2004, ông này nộp  cho phó thủ tướng N.T. Dũng ký… nghị định  thu hồi đất đai của nông dân để làm dự án trọng điểm, mang lại lợi ích cho tỉnh ABC và nhân dân XYZ!

Sau khi có nghị định, thì “bọn cướp ngày” mua lại đất của nông dân với giá rẻ như bèo do chính chúng áp đặt giá cả. Cứ 1 mét vuông giá 50.000 đồng. Ai không đồng ý bán đất thì có công an nhân dân, và bộ đội đến cưỡng chế lấy đất.

Chừng vài tháng sau, “bọn cướp ngày” sang tay hoặc bán cho các công ty xây dựng cao ốc giá 40-60 triệu đồng/ 1 mét vuông. Và các công ty này xây cao ốc 10-15 tầng bán giá trên trời. Từ 1 mét vuông đất, xây xong cao ốc 10-15 tầng biến thành 10-15 mét vuông.  Lấy con số 10 và 15 ấy nhân với 60 triệu sẽ thành 600 triệu hoặc 900 triệu/1 mét vuông đất. Các đảng viên cao cấp và bọn đặc quyền đặc lợi làm giàu hàng chục ngàn tỷ đồng theo kiểu ấy, nên sẽ cương quyết hy sinh nắm quyền lãnh đạo cả nước thêm vài chục năm nữa, ngày nào mà bọn này còn sai được công an nhân dân và quân đội nhân dân VN bảo vệ cho 175 ủy viên T.Ư. Đảng tiếp tục chia nhau cướp phá. 

Có gần 1 triệu vụ khiếu kiện đất đai thì đủ biết là các đảng viên cao cấp cướp đất của nông dân nhiều biết chừng nào.

Chuyên chính vô sản (công an, ủy ban nhân dân quận huyện thành phố) nhảy vào giải tỏa cướp đất  nếu như không chấp nhận giá cả đền bù của nhà nước.

Trong vụ  cướp đất ở Huyện Văn Giang, nằm sát Hà Nội,   ông  giáo sư Đặng Hùng Võ làm 2 tờ trình về đất đai của huyện Văn Giang…cần được phát triển và quy hoạch…để giao cho 1 Nhà đầu tư…Và nhà đầu tư đó là AI? Mời các bạn đọc tiếp.

Nhà đầu tư mà ông Võ nói chính là Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (VIHAJICO), thành lập tháng 08/2003, vốn điều lệ 70 tỷ đồng, không có cổ đông nào có kinh nghiệm về xây dựng giao thông đường bộ. Một nhà đầu tư như vậy khó có thể tin cậy để giao 02 Dự án có giá trị gần 4500 tỷ đồng (theo dự toán tại thời điểm năm 2004), trong đó có một Dự án giao thông trọng điểm. ( »)

Trong khoảng thời gian từ 1993-2004, có đến hơn 3.000 văn bản Thủ tướng Chính phủ ký sai thẩm quyền liên quan đến đất đai…tương tự như ở huyện Văn Giang;  và có gần 1 triệu đơn khiếu nại.

Khoảng thời gian  1993-2004 có các ông Võ Văn Kiệt, và Phan văn Khải làm thủ tướng. 

Bình luận của Luật sư Trần Vũ Hải về những ý kiến của Giáo Sư Đặng Hùng Võ

LS Trần Vũ Hải

Cuộc trao đổi giữa Giáo sư Đặng Hùng Võ với đại diện những người dân bị thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên tại trụ sở Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT) chiều ngày 08/11/2012 tập trung vào 02 Tờ trình của Bộ TN-MT mà  ông đã ký số 14/TTr-BTNMT ngày 12/03/2004 để Thủ tướng ký quyết định 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004; số 99/TTr.BTNMT ngày 29/06/2004 để Thủ tướng ký quyết định 742/QĐ-TTg, giáo sư Đặng Hùng Võ thừa nhận những điểm sau:

1. Ông ký 02 Tờ trình này trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định là trái pháp luật, vì thẩm quyền quyết định những nội dung liên quan là Chính phủ (không phải là Thủ tướng Chính phủ) theo quy định tại những thời điểm này.

2. Hai Tờ trình này (để thẩm tra nội dung đề nghị từ UBND tỉnh Hưng Yên) đã không thẩm tra việc phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đai đã được duyệt cho tỉnh Hưng Yên, thực tế những nội dung này không phù hợp với Quy hoạch đã duyệt. Nói cách khác, các quyết định liên quan của Thủ tướng Chính phủ (do ông Võ tham mưu) không phù hợp quy hoạch theo quy định của Luật đất đai tại thời điểm đó.

3. Quyết định 742/QĐ-TTg tuy có tiêu đề là quyết định giao đất, nhưng thực chất là quyết định thu hồi đất, không phải là quyết định giao đất và ông Võ có sai sót khi không làm rõ trong Tờ trình này. Quyết định 742/QĐ-TTg không có hiệu lực ngay với các hộ dân Văn Giang vì không ghi tên các hộ dân và diện tích đất cụ thể của họ bị thu hồi.

4. Biên bản thẩm định hồ sơ đất đai đề ngày 20/06/2004 (là ngày chủ nhật) được coi do Sở Tài nguyên và Môi trường Hưng Yên lập và cấp cho ông Võ có ghi: “Biên bản lập xong vào hồi 17 giờ cùng ngày, đọc cho mọi người cùng nghe nhất trí ký tên”. Nhưng trong 35 người tham gia, chỉ có ông Bùi Thế Cử – cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường ký tên, nhưng không đóng dấu. Vì vậy, biên bản này không có giá trị.

5. Tờ trình số 211/TT-UB ngày 25/02/2004 của UBND tỉnh Hưng Yên để xin xét duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2004, 2005 là trình không đúng thời điểm theo quy định của Nghị định 68/2001/NĐ-CP và Thông tư 1842/2001/TT-TCĐC (nếu điều chỉnh bổ sung kế hoạch năm 2004 phải trình sau ngày 01/07/2003 và trước ngày 15/09/2003; điều chỉnh bổ sung kế hoạch năm 2005 phải trình sau ngày 01/07/2004 và do đó phải theo điều chỉnh của luật Đất đai năm 2003).

LS Trần Vũ Hải và GS Đặng Hùng Võ. Ảnh: VNExpress.

Tuy nhiên, giáo sư Đặng Hùng Võ đã giải thích rằng do Dự án xây đường liên tỉnh Hưng Yên – Hà Nội đã được xác định là dự án trọng điểm, mang lại lợi ích cho tỉnh Hưng Yên và nhân dân Văn Giang. Hưng Yên là tỉnh nghèo, khi có nhóm nhà đầu tư cho Dự án này nên cần phải tạo mọi điều kiện cho họ, cuộc sống không đợi luật. Nói cách khác, giáo sư Võ cho rằng tuy làm trái luật nhưng mục đích vì nước vì dân. 

Ngoài ra, từ 15/03/1993 đến 30/06/2004, đã có hơn 3.000 văn bản Thủ tướng Chính phủ ký sai thẩm quyền liên quan đến đất đai. Trường hợp ông ký 02 Tờ trình sai không phải là ngoại lệ.

Chúng tôi hoan nghênh ông Đặng Hùng Võ đã thừa nhận lỗi và trách nhiệm của mình, nhưng thấy cần phải làm rõ về những lý do nêu trên của ông Võ:

1. Dự án xây dựng đường liên tỉnh Hưng Yên – Hà Nội thực chất là một dự án xây đường quốc lộ. Tuy nhiên, chúng tôi không thấy dự án này trong quy hoạch về giao thông đường bộ đang có hiệu lực của toàn quốc và tỉnh Hưng Yên tại thời điểm 2004. Nếu là một Dự án giao thông trọng điểm, lẽ ra Bộ Giao thông vận tải (Bộ GTVT) phải có ý kiến đề xuất, phê duyệt hoặc trình duyệt. Nhưng đến 30/06/2004, chưa thấy Bộ GTVT có ý kiến như vậy. Phải chăng đây là dự án chui?

2. Nhà đầu tư mà ông Võ nói chính là Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (VIHAJICO), thành lập tháng 08/2003, vốn điều lệ 70 tỷ đồng, không có cổ đông nào có kinh nghiệm về xây dựng giao thông đường bộ. Một nhà đầu tư như vậy khó có thể tin cậy để giao 02 Dự án có giá trị gần 4500 tỷ đồng (theo dự toán tại thời điểm năm 2004), trong đó có một Dự án giao thông trọng điểm. ( »)

3. Thực chất nhóm nhà đầu tư trên chỉ mong muốn 500 ha đất để làm khu đô thị với giá đền  bù rẻ mạt, đường giao thông mới nếu xây cũng chỉ phục vụ tăng giá trị cho Khu đô thị. Thực tế, mặc dù đã được giao đất làm đường, nhà đầu tư này vẫn chưa làm xong đường theo cam kết (hoàn thành trong năm 2009), và chưa thấy có dấu hiệu con đường này  sẽ hoàn thành trong thời gian sắp tới.

4. Khi BộTN-MT được thành lập tháng 11/2002, Chính phủ đã chấn chỉnh việc ban hành quyết định liên quan đến đất đai không phù hợp Luật đất đai. Cụ thể Nghị định 66/2001/NĐ-CP đã sửa đổi Nghị định số 04/2000/NĐ-CP, theo đó Chính phủ đã thay thế Thủ tướng Chính phủ để quyết định các vấn đề về đất đai. Nghị định 91/2002/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của BộTN-MT đã nhắc lại điều đó (BộTN-MT trình Chính phủ, không trình Thủ tướng Chính phủ để ban hành những quyết định về đất đai). Như vậy, ông Võ phải biết rõ điều đó và khi nhận nhiệm vụ Thứ trưởng BộTN-MT vào năm 2002 phải tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ về nội dung này, không thể lấy lý do thông lệ trái luật để trình sai địa chỉ và trái  luật Đất đai.

Chúng tôi hi vọng giáo sư Đặng Hùng Võ sẽ nhận thức được những vấn đề trên để  thành thật nhận lỗi và trách nhiệm./

T.V.H.

____________________

Mời xem các bài liên quan:  + 1377. GS Đặng Hùng Võ: vụ 3.000 văn bản sai phạm – phá luật là để đơn giản thủ tục hành chính, vì dân, vì đầu tư nước ngoài; +  1376. GS Đặng Hùng Võ: Cầu viện Quốc hội cứu vụ 3.000 “con cá nằm trên thớt” của Thủ tướng?; + 1375. Vụ Ecopark: Thư ngỏ của LS Trần Vũ Hải gửi Cty Việt Hưng; + 1367. Ông Đặng Hùng Võ: ‘Vụ Văn Giang không đơn giản’; + 1366. Chính phủ có cố ý làm trái luật đất đai?; + 1362. Vụ Văn Giang-Ecopark: Giáo sư Võ nhận thiếu sót, bà con Văn Giang cảm thông.

 + 1325. Thư ngỏ của nông dân Văn Giang gửi GS Đặng Hùng Võ;  + ; + 1160. Kiến nghị Số 03 – Ecopark, Văn Giang; + 1094. Kiến nghị Số 02 liên quan đến dự án Ecopark;  + 999. Thư Xin ý kiến thẩm định pháp lý của LS Trần Vũ Hải liên quan dự án Ecopark;  +  982. Dự án Ecopark không xứng đáng được nhận giải Kiến trúc Xanh;  + 971. Vụ Ecopark: LS Trần Vũ Hải đề nghị Văn phòng CP cung cấp thông tin; + 963.Vụ Ecopark-Văn Giang: Đơn tố giác nghi vấn giả tài liệu của Chính phủ;+ 959. Vụ Ecopark-Văn Giang: LS Trần Vũ Hải trao đổi với GS Đặng Hùng Võ.

Nguồn: Ba Sàm
————————–

Người phụ nữ biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc năm 2007 là ai?

Người phụ nữ ‘bí ẩn’ trong bức ảnh năm 2007

Xem chùm ảnh biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc tháng 12/2007, ấn tượng nhất đối với tôi là hình ảnh người phụ nữ giơ nắm tay chĩa thẳng vào tòa đại sứ. Nhìn cũng biết là thái độ chị rất quyết liệt đầy căm phẫn và hô rất to.

Tôi cứ băn khoăn mãi về người phụ nữ ấy, không biết chị là ai. Hẳn có nhiều người cùng chung câu hỏi với tôi.

Tình cờ tối hôm qua, 11/11, tôi được gặp người phụ nữ ấy, trong tiệc tổ chức liên hoan đón Bùi Thị Minh Hằng.

Tình cờ hơn, chị chính là Trần Thị Hài, dân oan mất đất, bị tòa án tỉnh Bình Dương kết án 9 tháng tù giam về tội “gây rối trật tự công cộng” hôm 28/9/2012. Nhưng xem ảnh chị trước sứ quán TQ, lúc ấy (lúc ấy thôi) là sự căm hờn kẻ thù xâm lược, chứ không phải là lòng căm thù những kẻ lấy đất của chị.

Và người đàn bà gặp nhiều oan trái ở ngoài đời.

Chuyện chị Hài thì tôi không lạ, chỉ không biết chị chính là người phụ nữ trong ảnh biểu tình dạo nọ.

Chị đến sau, mọi người sắp xếp cho chị ngồi giữa tôi và Minh Hằng. Chị bảo chị bị cướp đất, đi kiện đã nhiều năm nhưng họ không giải quyết mà lại kết án chị 9 tháng tù giam.

Nói chuyện với chị, có những chuyện khôi hài đến mức khó tin. Tôi bảo: Tôi hỏi thật chị nhá, việc chị tụt quần là do chị tự tụt hay thế nào?

Chị bảo tôi hơn 60 tuổi rồi, đời nào tôi lại làm thế. Hôm đó tôi bị rất đông người bắt đi. Tôi ngắt lời: “Đông là bao nhiêu hở chị”, chị bảo hơn chục đứa. Tôi tối tăm mặt mũi lại, chẳng biết bị đau những đâu, giằng co với chúng nó, cố giành lại những cái băng rôn. Rồi có đứa nó giẫm vào quần tôi, quần tôi tụt xuống, tôi mặc quần chun mà. Tôi cúi xuống định kéo quần lên thì quần đã đi đâu mất. Không có quần, tôi cứ mặc quần xà lỏn đi kiện và đi … đòi quần.

Lại hỏi chị, tại sao họ xử chị 9 tháng tù hôm 28/9 mà bây giờ chị vẫn ở ngoài, lại còn ra Hà Nội được?

Chị nói họ xử nhưng có chứng cứ gì đâu. Bảo tôi có 5 cái biên bản gây rối trật tự công cộng, tôi có biết đâu. Họ chỉ giao cho tôi 1 cái, còn 1 cái đưa cho chồng tôi. Còn 3 cái kia tôi không hề biết. Không đủ chứng cứ, họ cứ tuyên án bừa rồi trốn luôn chỉ còn trơ lại thư ký.

Họ bảo tôi về làm kháng cáo thi tôi làm kháng cáo. Rồi tôi ra đây…

Câu chuyện rất dài nên tôi không kể hết ra ở đây.

Chuyện về chị, ta chỉ cần gõ từ khóa Trần Thị Hài là ra nhiều kết quả, có mấy đường link sau:

Nỗi uất ức của một người đi tìm công lý

Dân Oan Trần Thị Hài – Tỉnh Bình Dương – Tố Cáo

Đòi giải quyết đất đai, bị 9 tháng tù giam

Phỏng vấn bà Trần Thị Hài

v.v…

12/11/2012

Nguồn: Blog Nguyễn Tường Thụy

danchimviet.info  (re-post)

.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Lợi dụng chức vụ và cố ý làm trái luật để cướp đất đai của nông dân

Posted by hoangtran204 trên 10/11/2012

Cũng may giáo sư Đặng Hùng Võ còn có đạo đức nên mới nhìn nhận việc ông đã làm trong năm 2004 là sai, và qua cuộc họp báo với nông dân,  ông cũng đã đưa ra các chi tiết cho thấy  bọn vô lại mượn tay ông và cố ý làm trái pháp luật để cướp đất đai của nông dân huyện Văn Giang để xây Ecopark như thế nào.

Chính phủ có cố ý làm trái luật đất đai?

Nguyễn Quang A

Gs. TsKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường (TNMT), đã mạnh bạo lên tiếng về sự thu hồi đất trái pháp luật của chính quyền Hải Phòng đối với gia đình anh Đoàn Văn Vươn. Ông được đánh giá là chuyên gia đất đai số một của Việt Nam và sự lên tiếng này của ông được báo giới đánh giá rất cao.

Bà con nông dân Văn Giang liên quan đến dự án Ecopark đã liên tục khiếu kiện suốt 8 năm nay. Và vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Văn Giang ngày 25-4-2012 với lực lượng vũ trang hùng hậu đã gây xôn xao dư luận trong nước và quốc tế.

Ba ngày sau, 28-4-2012 BBC phỏng vấn chuyên gia đầu ngành về đất đai, Gs. TsKH Đặng Hùng Võ. Với câu hỏi của BBC “quyết định thu hồi đất của chính quyền Văn Giang có đúng với pháp luật hay không?” ông trả lời “Tôi cho rằng đây là một quyết định đúng”.  Ông cho rằng những bất cập của dự án Ecopark “chủ yếu thuộc về khung pháp luật mà không thuộc về phần thực thi pháp luật”. Nói cách khác việc thực thi pháp luật là đúng (thẩm quyền, thủ tục) nhưng do pháp luật chưa hoàn chỉnh nên đã nảy sinh những rắc rối.

Rồi những người nông dân Văn Giang cho biết: Ngày 28/6/2004 UBND tỉnh Hưng Yên ký tờ trình lên Bộ TNMT; ngày 29-6-2004 thứ trưởng Bộ TNMT Đặng Hùng Võ đã ký tờ trình số 99/TTr-BTNMT gửi Thủ tướng Chính phủ về việc giao đất để xây dựng tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên-Hà Nội và xây dựng Khu đô thị thương mại-Du lịch Văn Giang;

trên cơ sở đó phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30-6-2004 về việc thu hồi đất và giao đất cho dự án (đổi đất lấy hạ tầng) này đúng (chưa đầy) một ngày trước khi Luật Đất đai 1993 (đã được sửa và bổ sung năm 1998 và 2001) hết hiệu lực và Luật Đất đai 2003 (được thông qua ngày 26-11-2003) bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1-7-2004. Luật 1993 còn cho phép “đổi đất lấy hạ tầng”, luật 2003 thì không.

Bà con nông dân Văn Giang rất bức xúc với phát ngôn của Gs. Võ. Bà con nông dân Văn Giang đã nhờ các luật sư tư vấn cho mình và đã có một cuộc đối thoại rất văn minh và mang tính xây dựng với Bộ TNMT tại trụ sở của Bộ vào ngày 21-8-2012. Bà con nông dân nói các quyết định thu hồi và giao đất là trái pháp luật, Bộ nói không sai và đã cung cấp cho bà con các bản sao của các tờ trình của Bộ khi đó do thứ trưởng Đặng Hùng Võ ký.

Bà con, thông qua các luật sư của mình, đã gửi ý kiến của họ đến Gs. Võ và yêu cầu có đối thoại với ông.

Ngày 7-11-2012 Gs. Võ trả lời phỏng vấn nhiều báo rằng ông sẽ mượn hội trường của Bộ TNMT để đối thoại với bà con nông dân Văn Giang từ 2 giờ chiều ngày 8-11-2012.

Trong các phỏng vấn này ông vẫn nhấn mạnh: “Thanh thiên bạch nhật mà nói thì thủ tục thu hồi đất của dự án này, tôi nhắc lại, không có gì sai pháp luật”; “Việc ký 2 tờ trình vào thời điểm đó là đúng đắn và tốt cho đại cục, tốt cho sự phát triển kinh tế của Hà Nội và Hưng Yên, như vậy có nghĩa là người dân cũng sẽ được hưởng lợi”; ông muốn “giúp bà con hiểu về pháp luật đất đai”; làm cho “bà con hiểu rõ tính chính đáng của dự án và tôi tin rằng không ai có thể cãi về điều này”.  Ông cũng mời các nhà báo đến dự và đưa tin.

Có thẻ nhà báo từ cả chục năm rồi nhưng năm nay không được cấp lại, nên tôi chỉ ké các nhà báo thật để vào quan sát để học hỏi.

Hàng trăm nông dân Văn Giang tụ tập bên ngoài Bộ TNMT. Chỉ có một số đại diện của họ, các luật sư, các nhà báo (có cả 3-4 đài TV ghi hình liên tục), khoảng 50-60 người dự đối thoại. Cuộc đối thoại đã kéo dài gần 3 giờ liên tục, không có giải lao. Nội dung chỉ xoay quanh 3 câu hỏi mà bà con nông dân Văn Giang đã gửi cho Gs Võ:

1) Quyết định thu hồi đất và giao đất số 742/QĐ-Ttg do Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 30-6-2004 dựa trên tờ trình số 99/Ttr -BTNMT do chính Gs. Võ ký có đúng thẩm quyền hay không?

2) Quyết định giao đất cho chủ đầu tư (mà bà con cho là không đúng quy hoạch và chủ đầu tư chưa đủ điều kiện được giao đất theo luật lúc đó) có đúng luật hay không?

3) Quyết định giao đất có đúng không khi không nghi rõ tên người sử dụng đất (mà bà con cho rằng thực chất là ủy quyền cho cấp dưới [UBDN tỉnh Hưng Yên] là không phù hợp với Điều 25 của Luật Đất đai 1993]?

Chỉ cần ít nhất một 3 câu trả lời cho 3 câu hỏi trên là không [đúng] thì có nghĩa là Quyết định 742/QĐ-Ttg do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký là trái luật và trong trường hợp đó tất cả các quyết định của các cơ quan cấp dưới dựa vào Quyết định đó cũng trái luật và bà con yêu cầu Gs Võ chính thức cải chính lời tuyên bố của ông với BBC (ngày 28-4-2012) và với các phóng viên báo chí (ngày 7-11-2012).

Cuộc trao đổi đã hết sức sôi nổi, đôi khi khá gây cấn.

Gs. Võ lúc đầu vẫn giữ quan điểm của mình như đã nói với BBC và phóng viên các báo ngày 7-11-2012.

Đại diện của bà con nông dân Văn Giang (và các luật sư của họ) đã trưng ra hết bằng chứng này đến bằng chứng khác của Luật đất đai khi đó (1993 và được sửa đổi bổ sung 1998 và 2001), tranh cãi khá gay gắt về sự hiểu luật kém cỏi của những người ký các tờ trình. Gs Võ đã thực sự bị các đại diện của bà con Văn Giang áp đảo về lý lẽ. Nhưng sau hơn 2 giờ trao đổi ông vẫn không nhận mình sai khi ký các tờ trình.

Tôi có cảm giác rằng những người nông dân Văn Giang hiểu luật đất đai sành hơn ông Giáo sư và chính họ đã giúp ông “hiểu về pháp luật đất đai” chứ không phải ngược lại. Mỗi lần ông thanh minh hay giải thích khá lòng vòng, thì luật sư hay bà con nông dân đưa ra những lý lẽ, bằng chứng bằng các điều khoản của luật, nghị định, thậm chí thông tư của chính Bộ của ông để bác lại.

Về thẩm quyền ký quyết định thu hồi đất và giao đất bà con lập luận: luật đất đai 1993 đã giao cho thủ tướng chính phủ quyết định; nhưng sau đó do thấy tập trung quyền lực vào ta một người dễ gây ra sự lạm dụng hay quyết định thiếu cơ sở nên Quốc hội (trong đợt sửa 1998 và 2001) đã chuyển quyền đó sang cho Chính phủ chứ không phải Thủ tướng.

Thế nhưng trong tờ trình số 99/Ttr –BTNMT Gs. Võ đã ghi “kính gửi Thủ tướng Chính phủ” chứ không phải Chính phủ và khiến cho phó Thủ tướng đã ký Quyết định 742/QĐ-Ttg (chứ không phải Chính phủ có một nghị quyết rồi trên cơ sở đó Thủ tướng thay mặt Chính phủ ra Quyết định).

Gs. Đặng Hùng Võ nói, Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng. Bị truy, quyết định ủy quyền đâu? Ông trả lời có nghe nói thế và ông nói thêm tất cả các dự án tương tự từ trước đến nay đều làm thế chứ không chỉ dự án này.

Tôi phát hoảng nên nói xem vào: Xin Gs. Võ thận trọng bởi vì nếu đúng như Giáo sư nói là Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng quyết định về thu hồi đất và giao đất đối với các dự án như vậy, thì không khác gì bảo “Chính phủ đã cố ý làm trái luật vì trước kia do ngại một mình Thủ tướng quyết định là không tốt nên Quốc hội mới bỏ việc đó và bắt Chính phủ phải quyết định. Nay nếu Chính phủ lại ủy quyền cho Thủ tướng thì chẳng phải Chính phủ (tất cả các thành viên Chính phủ) đã cố tình vi phạm luật hay sao?”

Kết quả có hậu là, cuối cùng Gs Võ đã được bà con nông dân và các luật sư của họ thuyết phục và đã thừa nhận và trả lời rành rọt cho các câu hỏi:

1) không đúng thẩm quyền và thậm chí ông còn nói là trái luật; với câu hỏi

2) ông thừa nhận mình đã sai vì đã dùng từ “giao đất” [mà lẽ ra phải là từ “thu hồi đất”] trong Tờ trình số 99 [trong đó có 7 lần nhắc đến “giao đất” (4 lần của Bộ TNMT), 2 lần của Hưng Yên, 1 lần của Bộ Tài chính], nói cách khác câu trả lời cho câu hỏi 2 cũng là không; về câu hỏi thứ

3) quyết định thu hồi đất không ghi tên từng người bị thu hồi đất (được quy định bởi luật lúc đó và hiện hành) cũng như không ghi tên người được giao đất cũng là sai luật.

Mỗi lần Gs Võ trả lời “không” cho các câu hỏi trên thì bà con tham dự đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh. Bà con đã đại xá cho Gs Võ.

Thật đáng trân trọng sự dũng cảm của Gs Võ khi ông thực sự hiểu mình đã sai và thừa nhận sự sai đó. Sai là chuyện con người, ai cũng mắc phải. Vấn đề là có dám nhận sai không để tìm ra cách khắc phục những sai lầm đó, thay cho việc coi bà con đi khiếu kiện là bị “các thế lực thù địch” xúi giục.

Đối thoại trên tinh thần xây dựng để tìm ra sự thật như đã xảy ra tại Bộ Tài Nguyên Môi trường lần trước và lần này rất đáng được hoan ngênh. Và đấy là cách duy nhất để giải quyết thấu đáo các rắc rối hiện tại sao cho có lợi cho bà con nông dân, cho chủ đầu tư và cho chính nhà nước, rút kinh nghiệm để cho việc sửa đổi Luật đất đai hiện thời tốt hơn.

Các quan chức nhà nước khác và cơ quan nhà nước khác có thể lấy đấy làm tấm gương.

Giá mà có cuộc đối thoại tương tự giữa bà con nông dân Văn Giang với nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và giá như ông cũng can đảm nhận sai lầm, nếu ông đã sai, và trong trường hợp ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định của nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì uy tín của Thủ tướng chắc sẽ lên cao.

Giá mà các quan chức nhà nước và các cơ quan nhà nước bớt được 50% (hay hơn) số vụ họ vi phạm luật do chính họ (nhà nước) làm ra, thì sự phát triển của đất nước đã tốt đẹp hơn rất nhiều.

N.Q.A.

———————————-

Tại sao người dân Văn Giang phải vỗ tay?

Theo dõi cuộc gặp gỡ giữa ông Gs Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường với bà con Văn Giang chiều nay 8/11/2012, người ta thấy có nhiều bài học cần được rút ra.

Ông Đặng Hùng Võ trong cuộc gặp chiều nay

Cuộc chiến giữ đất của người dân Văn Giang kéo dài đến 8 năm, ở đó đã có đầy đủ đoạn trường gian nan vất vả, có đạn dược và quân lính, có súng nổ và bạo lực rồi máu đổ. Ở đó cũng có tấm lòng người dân ba xã Xuân Quan, Cửu Cao, Phụng Công thuộc huyện Văn Giang muôn đời vẫn là người nông dân muốn giữ lại mảnh đất cha ông của mình đã bao đời kiến tạo và giữ gìn.

Buổi gặp gỡ chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, đã giải tỏa được khá nhiều vấn đề người dân ba xã nói chung và nhân dân cả nước nói chung mong đợi. Kết luận cuối cùng là Giáo sư Đặng Hùng Võ xin lỗi người nông dân Văn Giang. Và bà con nông dân Văn Giang vỗ tay.

Như vậy, lòng vòng qua lại cả mấy năm, mọi chuyện trắng đen, sai đúng được giải tỏa chỉ trong có 3 tiếng đồng hồ. Vậy lý do gì mà cuộc gặp này không được tiến hành sớm hơn để cho những uẩn khuất, những thắc mắc được giải tỏa, để người dân Văn Giang không phải cứ hàng tuần, hàng ngày lo lắng đạp xe sang Hà Nội cả mấy chục cây số đi biểu tình? Để góp phần cho đường phố Hà Nội hàng đoàn, hàng đoàn người dân oan ngày càng đông đúc đến kêu cứu hết mọi cơ quan “của dân, do dân, vì dân” và nhận được những sự im lặng đáng sợ sau những cánh cổng im ỉm đóng. Để những người dân, người chủ đất nước này nhận được sự gườm ghè, bắt bớ của lực lượng an ninh, cảnh sát, dân phòng. Để đến giờ này trên mạng vẫn loang rộng tin tức là đêm qua bà con dân oan đã bị xúc sang Lộc Hà mấy chục người, kẻ bị thương, kẻ ốm đang kêu cứu bên đó. Để đến mức nơi vui chơi của người dân là các công viên bị giăng dây, đặt biển cấm người dân sinh hoạt mà chỉ để dành cho chó tập tành? Và nói như Nguyễn Thế Thảo, ủy viên trung ương Đảng CS, Chủ tịch Hà Nội là “biểu tình làm xấu hình ảnh Thủ đô”, lại còn “ảnh hưởng đến ngoại giao”?

Theo như quan chức Hà Nội cũng như các quan chức nói chung thì mọi chuyện phức tạp đều do dân, do các thế lực thù địch nhan nhản trong dân mà ra. Còn quan chức nhà nước này thì mọi chuyện đều tuyệt vời, chỉ có “một bộ phận không nhỏ” bị hư hỏng, biến chất và trở thành “bầy sâu” đục khoét, tham nhũng, cướp bóc của dân mà thôi(!) Thực ra cũng đúng, nếu như dân cứ im lặng, nhà nước muốn lấy bao nhiêu đất, dù là đất hương hỏa ngàn đời, mồ mả cha ông, dù là mảnh ruộng cày cuối cùng nuôi đàn con dại, dù là nơi an nghỉ cuối cùng của người chết hay đất nhà thờ, tu viện, nơi thờ tự… dân cứ thế câm miệng mà chấp nhận. Nếu nhà nước hô hào góp vàng, góp bạc, góp cửa nhà hay mạng sống, cứ thế mà góp, đừng một lời kêu ca, đói ráng chịu, khổ đừng kêu… thì đâu có những chuyện biểu tình, làm “xấu hình ảnh thủ đô”.

Tiếc rằng, bọn dân này cũng là con người, cũng cần sống, cần ăn, cần ở, cũng cần nuôi con cái. Cũng chính vì bọn dân này là con người, nên mới có thể làm lụng, chắt chiu, chịu thương chịu khó đổ mồi hôi sôi nước mắt làm nên của cải vật chất nuôi một bầy sâu “không nhỏ”. Chính vì vậy mà họ có nhận thức, họ biết phân biệt đúng, sai, ân, oán và họ hiểu được ai vì họ và ai đang nô lệ hóa cuộc đời họ. Và chính cũng vì vậy, từ chỗ được coi là liên minh của giai cấp tiên tiến, là cha mẹ của quan chức, nuôi nấng quan chức, người nông dân bỗng nhiên được chuyển đổi thành thế lực thù địch rất nhanh chóng và bị đối xử như thù địch.

Trong buổi gặp gỡ chiều nay, ông Đặng Hùng Võ đã có một câu nói rất hay: “Khi cuộc sống cần thì không thể chờ luật”. Nếu như câu nói này, được nói để ông Nguyễn Thế Thảo biết khi nói về những cuộc biểu tình của những người yêu nước chống Trung Quốc hoặc dân oan mất đất thì ý nghĩa biết chừng nào? Chắc chắn là sẽ hơn dùng để biện minh cho cái sai của nhà nước.

Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, mọi chuyện đã rõ, quan chức sai, nhà nước sai và dân đúng.

Hèn chi, Bộ Tài Nguyên – Môi trường đã không đồng ý cho ông Võ gặp dân sớm hơn, vì mọi việc đã có “Bộ” lo. Bộ lo ngày lo đêm nên dân dãi dầm mưa nắng tháng này qua năm khác. Bộ lo nên máu người dân đã đổ, công an, chiến sĩ, nhà báo đã đánh nhau chí tử, bạt mạng như một trận chiến còn khốc liệt hơn đánh Trung Quốc năm 1979. Sở dĩ khốc liệt hơn, vì ở đây là người Việt đánh người Việt. Người ta ước mơ rằng, trong đoạn video đánh người dân tại Văn Giang đó, thay người nông dân bằng một tên lính Tàu đang cướp chiếm Hoàng Sa thì người dân Việt Nam đỡ tủi hổ biết bao?

Thực ra, ông Gs Đặng Hùng Võ nhận sai và xin lỗi nhân dân Văn Giang ở đây là chưa đúng, ông Võ giờ đây cũng chỉ là một công dân như bà con Văn Giang không hơn. Cái sai mà ông Võ nhận ở đây, là cái sai của Bộ Tài Nguyên môi trường mà ông Võ giữ chức Thứ trưởng chứ không phải là cái sai của cá nhân công dân Đặng Hùng Võ với bà con nông dân Văn Giang. Còn cái sai cuối cùng để đẩy người dân Văn Giang đến tình cảnh hôm nay, là chính Thủ tướng bằng những quyết định sai trái của mình. Vì thế, người xin lỗi nhân dân Văn Giang, phải là Bộ Tài nguyên – Môi trường và Thủ tướng chứ không phải cá nhân ông Đặng Hùng Võ.

Qua buổi gặp gỡ, mới biết được rằng, cái cố hữu, cái kiêu ngạo và bệnh điếc của người Cộng sản là quá nặng. Dù với tư cách một công dân bình thường, trước đó chỉ có một ngày, ông Đặng Hùng Võ, người được coi là một chuyên gia đầu ngành về đất đai vẫn còn phát biểu lại rằng: “Thanh thiên bạch nhật mà nói thì thủ tục thu hồi đất của dự án này, tôi nhắc lại, không có gì sai pháp luật” Tôi tự tin mình không sai ở Văn Giang”.Thậm chí  ông còn muốn biến cuộc gặp gỡ này thành một buổi để giải thích pháp luật cho bà con hiểu. Nhưng chỉ một ngày sau, sau 3 giờ tiếp xúc với dân, ông đã phải nhận lỗi. Vậy thì ở đây, người được giải thích pháp luật cho hiểu là chính ông Giáo sư đầu ngành này chứ không phải là mấy ông bà nông dân chân lấm tay bùn kia. Thế mới hiểu, nguồn gốc nhiều vấn đề hiện nay, là ở chỗ cái nhà nước “của dân, do dân, vì dân” nhưng đã coi thường, xa lánh và không chấp nhận hiểu dân đã đến độ nào. Dù cho hôm qua, ông Võ đã xác nhận rằng “không có vấn đề “chạy” dự án Ecopark”, nhưng điều đó đúng hay không chắc chưa ai kiểm chứng được, bởi cũng chính ông Võ tháng trước đã nói rằng “không có tiền bôi trơn không chạy được đất đâu”. Vậy chẳng lẽ duy nhất dự án này nằm ngoài “thông lệ” đó?

Buổi gặp gỡ chiều nay, ông Đặng Hùng Võ đã nhận lỗi với bà con nông dân, nhưng như trên đã nói việc nhận lỗi này chỉ có một ý nghĩa duy nhất là khẳng định Bộ Tài nguyên – Môi trường và Thủ tướng chính phủ đã quyết định sai đối với người dân Văn Giang. Vấn đề tiếp theo là nhận lỗi rồi thì sao, sửa lỗi ra sao? Nếu như người ta cứ gây lỗi lầm, rồi nhận lỗi là xong, thì chắc rằng ai cũng muốn phạm lỗi. Vì phạm lỗi là thỏa mãn được những thứ cá nhân mình muốn, mình cần mà bất chấp luật pháp. Chính vì vậy phải sòng phẳng mà nói: Nhận lỗi phải có mục đích bắt đầu cho việc thực hiện sửa lỗi, đền bù thiệt hại từ những lỗi lầm của mình gây ra. Còn theo kiểu nhận lỗi suông là xong, để rồi lại tiếp tục lỗi mới, thì việc nhận lỗi đó càng thể hiện sự trơ tráo, đồi bại và bất lương.

Lời nhận lỗi của ông Đặng Hùng Võ chiều nay, nói ra nhẹ nhàng đơn giản. Nhưng hậu quả của lỗi đó, là người nông dân cay đắng đã 8 năm nay trên quê hương, đất đai của mình, cha ông họ bị đào xới, đất đai, ruộng vườn của họ bị chiếm đoạt. Đó là sự chia ly gia đình, mất đi nghĩa tình làng xóm, đặc biệt là làm rạn vỡ truyền thống yêu thương, đùm bọc nhau vốn có tự ngàn đời nay trong nông thôn Việt Nam.

Thế nhưng, sau lời nhận lỗi của ông, bà con nông dân Văn Giang đã vỗ tay nhiệt liệt. Tại sao vậy?

Có phải họ nghĩ rằng cuộc đấu tranh của họ tám năm nay, chỉ là để nhận được lời xin lỗi của một quan chức hồi hưu, mà thân phận giờ đây cũng chỉ bằng họ là xong, là thỏa mãn? Có lẽ không phải thế.

Trước hết, phải hiểu rằng tấm lòng người dân vẫn bao dung, vẫn luôn rộng mở cho những ai biết “chạy lại” mà không nỡ đánh thêm. Dù họ đã gây cho người dân bao đau khổ khi còn quyền chức trong tay. Thế nhưng khi đã biết hướng thiện, nhìn nhận trách nhiệm của mình, thì họ sẵn sàng cảm thông và đón nhận. Đức tính đáng quý này may vẫn còn ở người nông dân Việt Nam, là nét văn hóa của người Việt dù mai một vẫn chưa mất hẳn.

Những tràng vỗ tay chiều nay khi ông Võ nhận lỗi, là một minh chứng cho thấy rằng việc họ gian nan đấu tranh bao tháng năm qua của người dân Văn Giang là cuộc đấu chính nghĩa, sự thật và lẽ phải thuộc về họ. Vì thế họ vui, họ phấn khởi khi lời nhận lỗi là một bằng chứng sống động.

Và như thế, họ sẽ còn đấu tranh, còn tiếp tục khẳng định những giá trị của mình và họ tin rằng cuối cùng thì công lý sẽ phải đứng về phía họ.

Vấn đề là với những con người, cơ quan, nhà nước đã gây lỗi với họ sẽ làm gì trong thời gian tới.

Hãy chờ xem.

Hà Nội, ngày 8/11/2012

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Đọc thêm: Khi người cộng sản nhận lỗi

danluan.org (re-post)

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải bị giam ở Chí Hòa – trong khu AB, là nơi giành cho tù nhân đã bị án tử hình!

Posted by hoangtran204 trên 09/11/2012

Chi tiết cuộc gặp mặt Blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải

Nguyễn Trí Dũng

Theo Dân Làm Báo

 

Thứ ba ngày 6 tháng 10 sau nhiều ngày xin giấy thăm gặp bố tôi là blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải tại các cơ quan: số trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, Chí Hòa, VKSNDTP, TANDTP, UBND Phường 6 Quận 3, TANDTC, và cuối cùng là VKSNDTC (tại Sài Gòn), gia đình đã được cấp giấy thăm gặp “có giá trị một lần”. Tôi và mẹ tôi là bà Dương Thị Tân đã được VKSNDTC duyệt để thăm gặp.

Khi gia đình vào trại giam Chí Hòa nộp giấy vào lúc 10 giờ sáng ngày 7 tháng 10 thì các cán bộ trại đã hẹn “đến 2 giờ chiều mới giải quyết vì đã trễ giờ làm việc rồi”. Không nằm ngoài dự đoán, khi quay lại vào buổi chiều thì cán bộ trại đã gạch bỏ tên mẹ tôi là bà Dương Thị Tân trong giấy thăm gặp với lý do “bà là vợ cũ và không có quan hệ gì với ông Hải nữa”. Cũng chính miệng vị cán bộ này hơn hai tuần trước nói “không trực tiếp có trách nhiệm phê duyệt việc thăm gặp mà gia đình phải làm đơn xin VKSNDTC” nay lại có toàn quyền gạch bỏ tên người thăm gặp đã được VKSNDTC đồng ý trên văn bản.

Cần phải nói thêm rằng câu trả lời “chị là vợ cũ, không liên hệ với ông Hải” đã được dùng vô số lần để khước từ trách nhiệm trả lời đơn khiếu nại cũng như tránh né thực hiện quyền lợi chính đáng của bà Dương Thị Tân. Trong khi thực tế họ đã hai lần chính thức khám xét cả hai căn nhà riêng của bà Tân và tịch thu nhiều đồ đạc, không cần kê biên để tìm bằng chứng buộc tội bố tôi cũng như bất cứ ai trong gia đình (nếu có thể).

Sau khi đã gạch tên bà Tân không cho thăm viếng, cán bộ trại giam đã cử một người mặc sắc phục dắt tôi vào sâu trong cổng trại sau khi đã kiểm tra người bằng máy dò kim loại. Đến cửa phòng thăm gặp đã có một công an khác đón sẵn và dắt vào trong phòng. Bố tôi đã ngồi trong phòng từ trước cùng 4 công an mặc sắc phục và 1 người mặc thường phục cầm sổ ghi chép. Tôi đã dễ dàng nhận ra người mặc thường phục vì ông ta vì luôn xuất hiện trong những đợt bắt bớ mẹ tôi trước đây (vào sáng ngày 20 tháng 10 năm 2010 – ngày bố tôi lẽ ra được trả tự do sau án tù dàn dựng – và phiên xử án ngày 24 tháng 9 năm 2012) và vô số buổi làm việc khác tại đồn công an. Người này tự xưng là Hưng.

2 công an chặn giữa cố gắng ngăn để bố và tôi không với đến nhau được, nhưng bố tôi kéo mạnh nên tôi đã với được vai bố. Ông vẫn gầy nhưng khi gặp tôi ông cười rất tươi. Biết bố băn khoăn tại sao lâu vậy mới vào gặp, tôi không chờ ông hỏi mà trả lời “họ gạch tên mẹ ra dù VKSNDTC đã cho gặp, mẹ đang đứng ở ngoài”. Tôi tiếp chuyện bằng một loạt những ngày tôi và mẹ đi đưa đơn và làm thủ tục để xin được cái giấy “Có giá trị một lần” đó để bố hiểu và nói bố vững tin dù sau lần gặp này sẽ lâu có lần gặp khác. Ông cười và trả lời gọn lõn “Bố lúc nào cũng vững tin”.

Tôi hỏi thăm bố đã bị đưa đi những đâu? Thì ông cho hay “21 tháng 9 bố ở B34, ngày 27 tháng 9 chuyển về PA24, và 5 tháng 10 thì về Chí Hòa” tôi lấy giấy bút ra ghi chép thì người công an ngồi bên cạnh nhắc “thăm gặp chỉ hỏi thăm chứ không được ghi chép”. Tôi trả lời “tôi cần ghi những gì bố tôi dặn vì tôi không nhớ hết được” và tiếp tục ghi.

Tôi hỏi “bố bị giam ở đây thế nào?” thì ông nói “họ đang giam giữ sai quy định…” Người mặc thường phục bật dậy rất nhanh cắt lời ngay, người này nói với giọng thấp “tôi nói lại lần nữa nha, vào đây chỉ hỏi thăm sức khỏe không được nói chuyện ngoài lề”. Những công an mặc sắc phục khác cũng hùa theo đọc luật đọc quy định gì đó. Tôi không cần nghe mà chỉ trả lời “tôi hỏi thăm điều kiện giam giữ ở đây, thì không là hỏi thăm sức khỏe thì là gì?”. Tôi quay sang bố tôi và đề nghị ông cho tôi biết đã xảy ra chuyện gì trong lúc hơn 4 người quản chế trong phòng nói lớn và đe dọa ngừng thăm gặp. Ông tiếp “họ giam bố ở khu AB cùng các phạm nhân khác. Mà bố là bị can bị cáo. Quy định về điều kiện giam giữ khác nhau nên họ giam chung như vậy là trái pháp luật”.

Xin nói sơ về khu AB trong trại giam Chí Hòa bằng đoạn trích sau:

Trở lại câu chuyện của các tử tù. Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, tất cả họ đều bị đưa vào một khu giam giữ riêng. Tùy từng trại giam, khu này sẽ được đặt theo các tên gọi khác nhau. Như ở trại tạm giam Hà Nội thì gọi là “K”, còn từng buồng giam riêng sẽ được đánh số thứ tự. Còn ở trại giam Chí Hòa thì gọi là khu AB. Nhưng dù gọi tên theo cách nào đi chăng nữa thì đó vẫn là một khu giam riêng, chỉ dành cho những người bị kết án tử hình, tách biệt hẳn với các khu giam chung dành cho các thường phạm. Thiết kế loại buồng giam riêng cho các tử tù cũng khác với các buồng giam chung giam thường phạm. Buồng giam cho tử tù diện tích hẹp, với hai bệ xi măng làm “giường”. Cuối “giường” là cùm. Mỗi buồng giam như vậy được thiết kế cho hai tử tù nhưng tùy từng điều kiện, có trại hai phạm nằm chung một buồng nhưng có trại thì mỗi tử tù được ở một buồng. Một bệ xi măng dùng để nằm còn bệ kia thì dùng làm nơi để vật dụng cá nhân hoặc tắm rửa.

Sống trong buồng biệt giam chờ chết nên hầu hết các tử tù đều âm thầm chuẩn bị cho cuộc ra đi. Một số người cẩn thận tự chuẩn bị cho mình áo trắng (coi như áo liệm), chuẩn bị găng tay, tất chân (loại bằng nilon) để sau này giữ được nguyên vẹn xương khi bốc mộ. Có người thì ngày ngày viết nhật ký vào lớp trong của chiếc áo khoác để sau này khi đi rồi còn có cái gì đó để lại cho gia đình. Lại có người thì chỉ chú tâm vào chuyện xem bói, ngày nào cũng lập quẻ xem bao giờ thì đến lượt mình sẽ phải đặt chân xuống “chuyến đò âm phủ”.

Trích: http://2sao.vn/p0c1048n20110104115858968/tu-tu-trong-nhung-ngay-cung-thang-tan.vnn

Tôi bàng hoàng nhận ra cách thức trấn áp tinh thần kinh khủng bằng cách cho bố tôi sống biệt giam chung với những người chờ chết. Đó là chưa nói đến việc những tù nhân này có thể làm bất cứ gì để được giảm án và sống sót.

Nhận thấy mình sẽ bị ngừng sớm nên hỏi ngay ý bố về phiên tòa như thế nào thì người mặc sắc phục ra lệnh ngừng gặp ngay và 3 công an sau lưng tôi đứng dậy. Bố tôi trả lời rằng phiên tòa đó là hoàn toàn trái pháp luật và ông đã viết tất cả trong đơn kháng cáo, ông cũng cho biết rằng đã viết đơn mời LS Hà Huy Sơn từ lâu. Người mặc thường phục lúc này đã lao đến bẻ tay tôi để lấy tờ giấy nhỏ tôi ghi chép vài con số về ngày tháng. Tôi nghĩ bố tôi cần phải biết tên này là ai nên đã nói “chính người này đã chặn bắt và hành hung mẹ ngày ra tòa, con bị bắt ngay tại nhà”. Thấy bố tôi đứng lên nhìn thì người mặc thường phục này mới buông tay tôi ra không cướp mẩu giấy nữa.

Khi 1 công an dắt tôi ra ngoài thì người mặc thường phục này vẫn đi theo nói “mày ăn nói cho cẩn thận, ai đánh mẹ mày”. Tôi chỉ ra cổng nơi mẹ đang đứng nói “mẹ tôi nói là không sai, ông có thể ra kiểm chứng”. Người này không bước thêm bước nào nữa mà để cho người công an nọ dắt tôi ra ngoài một mình.

Tóm lại, sau bao nhiêu ngày bị “đá qua đá lại” giữa các bộ phận, cơ quan để có giấy phép gặp mặt, chỉ có mình tôi là được gặp bố trong một thời khắc rất chóng vánh, hầu như 1/3 thời gian là giằng co và nghe đọc luật. Tổng thời gian vỏn vẹn hơn 5-7 phút nói chuyện dưới sự theo dõi tại chỗ và nạt nộ của công an.

Xin mọi người lưu ý sự kiện là bố tôi – blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đang gặp đe dọa và trấn áp tâm lý trong nhà lao số 42 khu AB trại giam Chí Hòa.

Tôi xin lỗi mọi người, những cô chú bác, bạn bè thân thiết của bố là tôi đã không thể gửi lời nhắn nhủ thương yêu của mọi người đến cho bố. Tất cả câu chuyện tôi có thể nói tôi đã kể. Tôi ra về với tâm trạng vô cùng tức giận về cuộc gặp mặt ngày hôm đó với những hành xử vô đạo đức của cán bộ và công an trại giam.

Gia đình tôi sẽ làm đơn khiếu nại việc trại giam tự ý làm trái phê duyệt của VKSTC.

Xin cảm ơn các bác, cô, chú và các anh chị đã thương mến và đồng hành với gia đình của bố tôi – Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trong suốt nhiều năm tháng qua.

 

Tờ giấy nhỏ ghi ngày tháng

 

Giấy cho phép của VKSNDTC

 

Giấy xin thăm gặp với 3 bước chứng thực tại 3 địa điểm : hình 1422

 

Người chuyên chặn bắt bà Tân, tự xưng là Hưng

 

 Tờ giấy nhỏ ghi ngày tháng chuyển trại giam (mà người công an mặc thường phục tự xưng tên là Hưng muốn giựt)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Gần một triệu vụ khiếu nại, tố cáo về cướp đất đai của dân- Diễn văn cám ơn của TT Obama trong đêm tái đắc cử

Posted by hoangtran204 trên 08/11/2012

Thật là đáng xấu hổ cho đảng cộng sản VN, đến năm 2012 mà những tên già đầu trong Bộ Chính Trị và 175 Ủy viên Trung ương Đảng vẫn còn họp kín, vào đầu tháng 10-2012, để bàn bạc chia chác tiền thu được từ việc bán dầu thô 34 tỷ đô hàng năm, để bàn việc ăn chia đất đai cướp được của hàng triệu nông dân và người dân các tỉnh thành, và để bàn bạc làm cách nào để bắt bớ những người dân dám đứng lên có tiếng nói chống lại việc làm của đảng.  

“…kết quả của Thanh tra Chính phủ lại cho thấy trong số 840 ngàn trường hợp khiếu nại tố cáo … Như vậy mỗi năm có cả trăm ngàn trường hợp được xác định là sai phạm về quản lý đất đai. Liệu con số này có được coi là “một bộ phận” và chỉ xảy ra ở “cấp cơ sở”?!

“Nguyên nhân bùng phát tiêu cực trong lĩnh vực đất đai những năm qua xuất phát từ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa khiến các dự án, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị mới đồng loạt nở rộ trên khắp cả nước, cùng hoạt động chia tách sáp nhập địa giới hành chính… liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, tái định cư.

Từ 2005 đến tháng 6/2009, cả nước có hơn 3.800 đoàn khiếu nại, tố cáo đông người. Năm 2010 có trên 3.200 đoàn, năm 2011 có gần 4.200 đoàn. Trên 70% số vụ là khiếu nại, còn lại là tố cáo hoặc vừa khiếu nại, vừa tố cáo. Đa phần đơn thư đều xuất phát từ việc người dân không đồng tình với các quyết định của chính quyền. Số lượng khiếu nại, tố cáo đông người ngày càng tăng. (Chủ nhiệm UB Kinh tế của QH Nguyễn Văn Giàu)”   (Gần một triệu vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai: Có điểm mặt chỉ tên được “một bộ phận”?!)

 

Diễn văn thắng cử của Obama

 

Lời Dịch giả: Trong khi cuộc họp kín của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vừa qua đã làm cho nhiều người dân thất vọng và xấu hổ, thì trong cuộc bầu cử gay go nhưng phơi bày đầy đủ những kịch tính của một thể chế Dân chủ Hoa kỳ, người ta đã thấy ông Obama xuất hiện một lần nữa với nhiệm kỳ tổng thống mới. Bài diễn văn thắng cử của ông bày tỏ đầy đủ những ý tưởng khiêm tốn, đoàn kết, chân thành và minh bạch. Một điều còn nằm trong mơ ước xa xôi cho Việt Nam.

———————————————————————

Cảm ơn quý vị. Cảm ơn quý vị. Cảm ơn các bạn thật nhiều.

Đêm nay, hơn 200 năm sau khi thuộc địa cũ giành quyền định đoạt định mệnh của mình, nhiệm vụ hoàn thành một hợp quần của chúng ta tiếp tục tiến về phía trước.

Tiến về phía trước vì các bạn. Tiến về phía trước vì các bạn đã xác nhận một lần nữa tinh thần đã giúp chúng ta chiến thắng cả chiến tranh và suy thoái, tinh thần đã đưa đất nước này khỏi vực thẳm của tuyệt vọng tới đỉnh cao của niềm tin. Niềm tin rằng trong khi mỗi chúng ta sẽ theo đuổi một giấc mơ riêng, thì chúng ta vẫn là một gia đình Mỹ và chúng ta cùng đi lên hay thất bại với nhau trong tư cách một quốc gia, một dân tộc.

Trong cuộc bầu cử tối nay, các bạn, những công dân Mỹ, nhắc nhở chúng ta rằng con đường vẫn còn chông gai, trong khi hành trình của chúng ta vẫn còn dài, chúng ta phải tự vực mình dậy để phấn đấu trở lại, và từ trong tim chúng ta biết rằng điều tốt đẹp nhất sẽ đến với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Tôi muốn cảm ơn mọi người dân Mỹ đã tham gia vào cuộc bầu cử, dù các bạn được bỏ lá phiếu đầu tiên hay phải xếp hàng dài chờ đợi. Đây là một chuyện, chúng ta phải cải thiện.

Dù cho bạn dẫm những bước dài trên vỉa hè hay gọi điện dục đầu phiếu, dù các bạn giơ biểu ngữ ủng hộ Obama hay Romney, thì các bạn cũng đã làm cho tiếng nói của mình được lắng nghe. Các bạn đã tạo ra thành quả.

Tôi vừa nói chuyện với Thống đốc Romney để chúc mừng ông ấy và ông Paul Ryan trong cuộc tranh cử quyết liệt của họ. Chúng tôi có tranh đấu dữ dội, cũng vì chúng tôi thực sự yêu đất nước này. Và chúng tôi thực sự quan tâm tới tương lai của đất nước này.

Từ George đến Lenore đến con trai của họ là Mitt, gia đình Romney đã lựa chọn cách đền đáp Hoa Kỳ bằng con đường phục vụ xã hội. Đó là di sản mà chúng ta trân trọng và hoan nghênh trong đêm nay.

Trong những tuần tới, tôi mong sẽ có dịp ngồi với Thống đốc Romney để bàn thảo về vấn đề liệu chúng tôi có thể cùng nhau làm việc để đưa đất nước này đi lên hay không.

Tôi muốn cảm ơn một người bạn và là người đã chung vai sát cánh với tôi trong suốt 4 năm qua, một chiến sĩ tích cực của Hoa Kỳ, một phó tổng thống trên cả tuyệt vời mà bất kỳ ai cũng mong đợi: Joe Biden.

Và tôi cũng không là một người đàn ông như ngày hôm nay nếu không có người phụ nữ đã đồng ý lấy tôi làm chồng 20 năm trước. Tôi muốn tuyên bố trước công chúng: Michelle. Anh yêu em hơn bao giờ hết. Anh chưa bao giờ cảm thấy tự hào hơn khi thấy cả nước Mỹ cũng yêu quý em trong vai đệ nhất phu nhân.

Sasha và Malia ngay trước mắt chúng ta đang trưởng thành để trở nên những người phụ nữ khoẻ mạnh, thông minh và xinh đẹp, giống như mẹ các con. Bố rất tự hào về các con. Nhưng bố phải nói nuôi một con chó cũng đủ rồi.

Này đội ngũ trong chiến dịch tranh cử, này những tình nguyện viên tuyệt vời nhất mà trong lịch sử của chính trường chưa bao giờ có, xin gởi đến các bạn, những chiến sĩ can trường nhất lời cảm tạ và chúc tụng chân thành nhất. Đối với một số các bạn mới đây là lần đầu ra trận, các bạn khác đã sát cánh bên tôi từ những ngày đầu tiên. Nhưng tất cả các bạn đều là quyến thuộc trong một gia đình. Không cần biết các bạn đang làm gì và sẽ chọn hướng đi nào bắt đầu từ đây, các bạn sẽ khắc ghi trong tâm trí cuộc hành trình chung mà ta đã đi qua và bạn sẽ được vị tổng thống này cả đời thành thật nhớ ơn. Cảm ơn các bạn đã vững niềm tin xuyên suốt, qua những đèo dốc cheo leo, qua những vực sâu thung lũng. Các bạn đã nâng tôi lên suốt cả chặng đường, và tôi nguyện sẽ mãi mãi tri ơn tất cả những đóng góp tuyệt vời không thể tưởng tượng được của các bạn.

Tôi biết rằng những chiến dịch trong chính trường nhiều lúc có vẻ nhỏ mọn và vớ vẩn. Và điều đó giúp đầy đủ vũ khí cho phe đả kích để họ tuyên bố rằng chính trị không gì hơn một cuộc tranh đua về lòng tự cao tự đại, và phạm trù quyền lợi riêng của các phe nhóm. Nhưng nếu các bạn có dịp nói chuyện với những người có mặt trong các cuộc vận động bầu cử của chúng tôi, chen nhau dọc theo dây thừng trong sân bóng của các học đường trung học, hay gặp những người làm việc khuya ở những quận hạt xa nhà, các bạn sẽ phát hiện ra những sự kiện khác.

Bạn sẽ nghe sự quyết tâm trong tiếng nói của một tổ chức viên trẻ đang làm việc để kiếm tiền theo học đại học và họ muốn cho những em trẻ khác sẽ có những cơ hội như họ. Bạn sẽ nghe sự kiêu hãnh trong tiếng nói của một tình nguyện viên đi gõ cửa từng nhà vì anh hay em của họ vừa được xưởng xe mướn khi công ty này mở thêm một ca làm việc khác. Bạn sẽ nghe lòng yêu nước trong tiếng nói người vợ của một chiến binh khi cô làm việc khuya khoắt ở tổng đài điện thoại để cho không một ai khi đấu tranh cho đất nước này phải tranh đấu để có được mái nhà khi họ mãn dịch trở về.

Đó là lý do tại sao chúng tôi tranh cử. Đó là chuyện của chính trường. Đó là tại sao chúng ta cần thiết phải có chuyện bầu cử. Chuyện này không nhỏ nhặt. Chuyện này thật lớn lao. Chuyện này thật quan trọng. Nền dân chủ trong một quốc gia của 300 triệu dân thật là ồn ào, thật là náo nhiệt, và thật sự rắc rối. Chúng ta, ai cũng có quan điểm riêng của mình. Mỗi người trong chúng ta đều có một niềm tin sâu xa. Và khi chúng ta kinh qua những thời buổi khó khăn, khi chúng ta có những quyết định trọng đại trong một quốc gia, tất nhiên sẽ khuấy lên lòng cuồng nhiệt, khuấy lên những tranh cãi sôi nổi.

Điều đó sẽ không thay đổi sau đêm nay, mà nó cũng không cần phải như vậy. Những tranh luận mà chúng ta có đây là chỉ dấu của sự tư do. Chúng ta không thể quên rằng khi thốt lên những lời này có những người dân ở những quốc gia xa xôi hiện đang liều mạng sống của mình để có những cơ hội được tranh cãi về những vấn đề thiết thực trong đời sống của họ, để họ có cơ hội đầu phiếu như chúng ta đã thực thi hôm nay.

Nhưng bất chấp mọi khác biệt, phần lớn chúng ta đều chia sẻ một số niềm tin về tương lai của nước Mỹ. Chúng ta muốn con cái chúng ta trưởng thành ở một đất nước với những trường học tốt nhất, những thầy cô giỏi nhất.

Một đất nước xứng đáng được thừa hưởng địa vị đứng đầu thế giới về công nghệ, phát minh và cải tiến, với tất cả những việc làm và doanh nghiệp tốt nhất theo sau. Chúng ta mong muốn con cái mình được sống ở đất nước Mỹ không bị suy yếu vì sự bất công, một đất nước không bị đe dọa bởi sức mạnh vũ bão của thiên nhiên đến từ mối hiểm nghèo hâm nóng của quả đất. Chúng ta muốn để lại một đất nước an toàn, được khắp nơi trên thế giới nể trọng và ngưỡng mộ. Một đất nước được bảo vệ bởi quân lực hùng mạnh nhất địa cầu, những quân sĩ thượng thặng nhất mà thế giới được biết đến.

Nhưng cũng là một đất nước đang đi lên với sự tự tin rời xa, đoạn tuyệt với chiến tranh hầu tạo nên nền hòa bình được xây dựng trên những chân giá trị của tự do và phẩm giá của mọi con người. Chúng ta đặt niềm tin vào một nước Hoa kỳ rộng lượng, một nước Hoa kỳ vị tha, một nước Hoa kỳ bao dung sẽ tạo dựng giấc mơ chongười con gái của một di dân đang đi học, và chào quốc kỳ của chúng ta. Cho một em trai trẻ ở miệt Nam Chicago hình dung được đến một cuộc sống xa hơn góc đường.

Cho một người con của nhân viên bán đồ nội thất ở North Carolina muốn trở thành bác sĩ hay khoa học gia, trở thành kỹ sư hay doanh nhân, một nhà ngoại giao thậm chí là một tổng thống. Đó là một tương lai mà chúng ta đang đeo đuổi. Đó là một viễn kiến chúng ta đang nhắm tới. Đó là một mục tiêu chúng ta cần tiến tới.

Đó là nơi chúng ta cần đi.

Đúng, chúng ta sẽ bất đồng ý kiến, đôi lúc thật mãnh liệt, về phương cách để đến đó. Chẳng khác gì hơn 200 năm vừa qua, cải tiến sẽ đến theo từng giai đoạn. Không phải lúc nào cũng đi theo lộ trình đường thẳng trơn tru.

Tự nó, chuyện nhìn nhận rằng chúng ta chia sẻ những niềm tin và những giấc mơ chung sẽ không loại bỏ mọi bế tắc hay giải quyết tất cả mọi vấn đề, hay có thể thay thế những nỗ lực cam go nhằm xây dựng đồng thuận và thực thi những tương nhượng cần thiết để đưa đất nước này tiến tới. Nhưng những gắn bó chung đó phải là khởi điểm để chúng ta cất bước. Kinh tế đất nước đang hồi phục. Cả một thập kỷ chiến tranh cũng đang hạ màn. Một chiến dịch dai dẳng cũng đã chấm dứt.

Và dù tôi có được các bạn bỏ phiếu hay không, thì tôi vẫn lắng nghe các bạn. Tôi đã học được nhiều điều từ các bạn và các bạn đã làm tôi trở nên một Tổng thống hoàn hảo hơn. Với những chuyện kể và đấu tranh của các bạn, tôi trở lại Nhà Trắng với quyết tâm cao hơn, cùng với nguồn cảm hứng mãnh liệt hơn bao giờ hết để tiếp tục những công việc ở đó và những gì tương lai đang mong đợi.

Tối nay các bạn đã bầu cho hành động, chứ không cho chuyện chính trị như lâu nay. Các bạn bầu chúng tôi để tập trung vào việc làm của các bạn, chứ không phải cho công việc chúng tôi.

Trong những ngày tháng tới, tôi mong sẽ với tay ra, làm việc với lãnh đạo của cả hai đảng để cùng đương đầu với những vấn đề chỉ có thể giải quyết được với sự hợp lực của cả hai đảng, như: giảm thiểu thâm thủng, cải tổ luật thuế, cải tổ hệ thống quản lý nhập cư, giải thoát chúng ta khỏi chuyện phụ thuộc vào dầu nhập cảng của nước ngoài, và nhiều công việc cần phải giải quyết khác.

Nhưng không phải công việc của các bạn đã hoàn tất. Vai trò công dân trong một nền dân chủ như chúng ta không chỉ kết thúc ở lá phiếu. Nước Mỹ chưa bao giờ đồng nghĩa với những việc được làm cho chúng ta, mà là những việc chúng ta có thể làm cùng nhau, qua những khó khăn và bực dọc, nhưng cần thiết cho một chính phủ do dân tự trị. Đó là nguyên tắc đã tạo dựng nên chúng ta.

Đất nước này thịnh vượng hơn bất kỳ quốc gia nào, nhưng chúng ta không giàu vì điều đó. Chúng ta có quân đội hùng mạnh nhất trong lịch sử, nhưng điều đó không khiến chúng ta hùng cường. Những trường đại học, nền văn hóa của chúng ta đều khiến thế giới tị hiềm nhưng lại không làm cư dân thế giới đến với chúng ta.

Điều giúp nước Mỹ trở nên khác thường chính là mối keo sơn gắn bó một quốc gia đa dạng nhất trên trái đất.

Niềm tin về một sứ mạng chung. Nghĩa là Hoa kỳ chỉ sẽ mạnh khi chúng ta biết chấp nhận những nghĩa vụ nhất định đối với nhau và các thế hệ tương lai. Tự do mà bao người Mỹ đã tranh đấu và hy sinh phải đi cùng với trọng trách cũng như quyền lợi. Và trong những quyền đó có tình thương, công tác từ thiện, nghĩa vụ và lòng yêu nước. Đó là những điều khiến nước Mỹ trở nên vĩ đại.

Tôi mang nhiều hy vọng tối nay vì tôi đã thấy tinh thần đó được thực thi tại Hoa kỳ. Tôi đã thấy tinh thần này thể hiện trong những doanh nghiệp gia đình mà những người chủ thà chịu cắt giảm lương tiền của mình thay vì phải sa thải người hàng xóm của họ, và trong những nhân viên thà chịu giảm số giờ làm của mình thay vì chứng kiến người bạn mình bị mất việc.

Tôi đã thấy những người lính tái tòng quân sau khi bị cụt tay hay què chân và những cảm tử quân SEAL xông vào hiểm nguy trong những thang lầu tối đen, vì họ biết rằng có đồng đội sau lưng đang bọc hậu, bảo vệ cho mình.

Tôi đã thấy ở bờ biển New Jersey và New York, nơi các những quan chức ở mọi cấp chính quyền đã gạt bỏ sự khác biệt giúp người dân khắc phục, xây dựng cộng đồng sau cơn tàn phá của trận bão lụt kinh hoàng.

Và một ngày kia ở Mentor, bang Ohio nơi người cha kể chuyện em bé gái 8 tuổi con ông bị bệnh bạch cầu dai dẳng đã làm gia đình gần sạt nghiệp, nếu không có đạo luật y tế vừa được thông qua vài tháng trước đây giúp đỡ trước khi bị công ty bảo hiểm cắt tài trợ chi phí chữa bệnh cho em.

Tôi không chỉ có cơ hội nói chuyện với người cha mà còn được gặp em bé gái đáng nể của ông. Khi người cha để chuyện cho đám đông nghe chuyện thương tâm của con mình, mọi bậc cha mẹ trong phòng đều nước mắt đoanh tròng, vì họ biết rằng cô bé gái đó có thể đã là con gái của chính mình.

Và tôi tin rằng mọi người Mỹ đều muốn tương lai của mình được sáng lạn. Đó là con người của chúng ta. Đó là một đất nước mà tôi có nhiều vinh dự lãnh đạo.

Và tối nay, bất chấp rất nhiều khó khăn mà chúng ta đang trải qua, bất chấp mọi niềm thất vọng của Washington, tôi cảm thấy lạc quan về tương lai hơn bao giờ hết.

Tôi cảm thấy lạc quan về Hoa kỳ hơn bao giờ hết. Tôi yêu cầu các bạn giữ lấy niềm hy vọng đó. Tôi không nói về niềm tin mù quáng. Tôi không nói về niềm hy vọng hão huyền khiến chúng ta làm ngơ trọng trách lớn lao đang làm rào cản chắn lối tiến của chúng ta. Tôi không nói về lý tưởng mơ hồ khiến chúng ta ngồi bên lề, trốn tránh nhiệm vụ hay bỏ cuộc.

Tôi luôn luôn tin tưởng rằng niềm tin là tia lửa nung nấu trong lòng đang kêu réo, bất kể thực tế trái ngang, cho thấy có những điều tích cực đang chờ đón chúng ta, miễn là chúng ta giữ đủ can trường với tới, tiếp tục tranh đấu, tiếp tục vươn lên.

Hỡi nước Mỹ, tôi tin chúng ta có thể tiến lên từ bồi đắp, những tiến bộ mà chúng ta đã tạo dựng, và tiếp tục phấn đấu để tạo thêm công ăn việc làm và những cơ hội mới và sự bảo toàn mới cho tầng lớp trung lưu.
Tôi tin rằng chúng ta có thể giữ lời hứa với những người đã lập quốc này, với tiêu chí là nếu bạn sẵn sàng làm việc hăng hái, không cần biết bạn là ai, bạn ở đâu tới, bạn trông như thế nào hay bạn yêu nơi nào. Chẳng có nghĩa lý gì dẫu bạn là người da trắng hay da đen, gốc Mễ, hay châu Á, hay người Mỹ bản địa, người già hay trẻ, giàu sang hay nghèo hèn, lành mạnh hay khuyết tật, đồng tính hay không đồng tính, bạn có thể thành công nếu chịu gắng sức.

Tôi tin rằng chúng ta có thể cùng nhau nắm lấy tương lai. Vì chúng ta không bị chia rẽ như trong chính trường. Chúng ta không tiêu cực hay chua cay như những người đối nghịch nghĩ, chúng ta vĩ đại hơn tất cả sự tổng kết của những tham vọng riêng của mỗi người. Và chúng ta không chỉ là tập hợp của những tiểu bang xanh và đỏ. Chúng ta đang và mãi mãi sẽ là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Cùng với nhau và sự trợ sức của các bạn và lòng đại lượng của Chúa, chúng ta sẽ tiếp tục hành trình về phía trước. Xin nhắc nhở thế giới rằng vì đâu mà chúng ta sống trong một quốc gia vĩ đại nhất hoàn cầu. Cảm ơn Hoa Kỳ. Chúa phù hộ cho các bạn. Chúa phù hộ cho nước Mỹ.

(Bản tiếng Việt: Nguyễn Khoa Thái Anh)

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/68518

Nguồn: http://www.christianpost.com/news/president-obama-acceptance-speech-2012-transcript-text-video-of-victory-speech-84544/

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►TT Obama đã tái đắc cử

Posted by hoangtran204 trên 07/11/2012

Nếu nhiều người dân phải sắp hàng trong nhiều giờ dưới trời mưa, và có những người không nhà cửa vì cơn bão Sandy cũng đã sắp hàng đi bầu, hôm qua, một phụ nữ trên đường tới bệnh viện sinh con cũng muốn lá phiếu của mình được ủy ban bầu cử  đếm; tháng trước, một cụ già người Mỹ gốc Nhật 89 tuổi, hấp hối đang chờ chết, cũng đã yêu cầu con cái gởi đi lá phiếu của mình…cuộc bầu cử ngày 6-11 ở Mỹ nói lên rất nhiều về sức mạnh và quyền lực của những người dân Mỹ. Và chỉ những ai sống ở Mỹ, theo dõi diễn biến bầu cử thì mới biết.  (Nhiều người có xu hướng tiêu cực, thiếu hiểu biết về chính trị, xã hội, thiếu sự  phân tích kỹ quan điểm lập trường của  từng ứng cử viên, thiếu hiểu biết về lòng dân…cũng  có cơ may đoán trúng kết quả bầu cử TT Mỹ 50%, vì nói chung là chỉ có 2 ông đại diện cho 2 đảng ra tranh cử).

TT Obam đã tái đắc cử, ông có được 303 đại cử tri đoàn bầu cho ông, so với ông Thống Đốc Romney có 206 đại cử tri đoàn. Cuộc chiến thắng lần này của ông Obama coi bộ còn lớn hơn kỳ ông ra tranh cử năm 2008, thật là một điều hiếm hoi cho đa số các vị TT ra tái cử ở nhiệm kỳ thứ 2. Tính trên số người đi bầu,  TT Obama đã có được 50% số phiếu của cử tri, trong lúc Thống Đốc Romney có được 48%; 2% số phiếu còn lại là dân chúng bầu cho một cử tri thuộc đảng Tự Do, hoặc phiếu bầu không hợp lệ.

Cuộc bầu cử năm 2012 trở nên rất gay cấn và hồi hộp. Buổi  tối ngày 6-11, lúc gần 7 giờ ở California và 10 giờ ở thủ đô Washington, ông Romney đã có 159 phiếu của đại cử tri đoàn, trong lúc TT Obama chỉ có 143 đại cử tri đoàn. 

Lúc ấy, nhìn lên bản đồ bầu cử, ông Romney đã có rất nhiều hy vọng thắng cử, vì tất cả các tiểu bang nằm ở khu vực trung tâm,  và từ bắc xuống nam đều bầu cho ông ta.  Trong khi TT Obama chỉ thắng ở một số các tiểu bang miền Đông nằm dọc theo bờ biển. 

Vào giờ ấy, vẫn chưa có kết quả ở các tiểu bang Virginia,Pennsylvania, Colorado, Ohio, Wisconsin, Iowa, Florida, California, Oregon, Washington State, Nevada…là những tiểu bang mà mãi đến 12 giờ khuya cho đến gần 1 giờ sáng, ngày 7-11,  mới biết là TT Obama đã thắng. 

Khoảng gần 1 giờ sáng, sau khi gọi phone chúc mừng TT Obama, Thống Đốc Romney, đang ở Boston, đã lên đọc diễn văn chấp nhận chịu thua TT Obama, ông chúc mừng  và cầu nguyện cho TT Obama  sẽ thành công trong việc lãnh đạo đất nước.  Ông nói giờ đây,  mọi người nên vì đất nước mà phục vụ  mà không nên vì phe đảng.

TT Obama lên đọc diễn văn cám ơn mọi người đã đi bầu cho ông và cám ơn những cử tri đã không bầu cho ông. Ông nói rằng lá phiếu của các cử tri đã cho ông biết ông cần phải làm gì thêm và tiếp tục làm những gì đã và  đang làm trong 4 năm qua. Ông nói là sẽ mời Thống Đốc Romney tới gặp gỡ trong các tuần sắp tới để lắng nghe những ý kiến và kế hoạch của ông Romney để phục vụ đất nước có hiệu quả hơn.

Dân chúng đã tụ tập suốt đêm để chờ đợi kết quả “ai thắng ai” ở thủ đô Washington, ở quãng trường Times Square ở New York, ở Chicago, ở Boston…Những người đủ mọi thành phần và lứa tuổi đang chờ đợi kết quả đã ôm nhau, chúc mừng nhau khi hay tin TT Obama đã đạt được 275 phiếu của đại cử tri đoàn (trong khi chỉ cần 270 là đủ thắng cử) vào khoảng 1 giờ sáng 7-11; cũng vào lúc ấy Thống Đốc Romney chỉ mới  có 202 phiếu đại cử tri đoàn (về sau, ông có tổng cộng 206 phiếu của đại cử tri đoàn). 

Ông Romney đã thua cuộc vì ông đã không nói rõ cho dân chúng biết là ông có kế hoạch cụ thể sẽ làm gì để vực dậy nền kinh tế vẫn còn số thất nghiệp khá cao, 7,9%; cũng cần nói thêm rằng: nước Mỹ chỉ  thịnh vượng khi nào mà chỉ số thất nghiệp là 5%, như đã từng xảy ra dưới thời TT Bill Clinton 1992-1999 và trong khoảng thời gian  2003-2006, thời TT George W. Bush. Ông Roney cũng đã không nói rõ ông sẽ làm gì để cải thiện nền y tế đang tiêu tốn tiền bạc rất nhiều, nhưng có quá nhiều dân chúng phàn nàn.  Người ta không phàn nàn về phẩm chất của nền y tế của Mỹ, nhưng phàn nàn về chuyện đã đóng tiền bảo hiểm quá nhiều, và còn có hàng 45 triệu người chưa có bảo hiểm y tế, trng số này có nhiều người làm các nghề tự do, lương 60 đến 70 ngàn đô/ 1 năm, nhưng không thích mua bảo hiểm, hoặc có người không có đủ tiền mua bảo hiểm y tế, hoặc có người muốn có bảo hiểm, nhưng chưa có việc làm. May thay, nhóm 45 triệu người không có bảo hiểm  vẫn được hưởng chăm sóc y tế thỏa đáng 100%  và không bị đối xử phân biệt khi họ đi cấp cứu tại bệnh viện. Luật pháp Mỹ buộc  tất cả các bệnh viện phải chăm sóc thuốc men, cứu sống bệnh nhân trước, khi người này bước vào phòng cấp cứu (dù chỉ là bị đi cầu tiêu chảy, bị sốt, viêm, nhiễm trùng, hay bị tai nạn xe, bị đâm chém…nguy hiểm đến tính mạng…Tất cả bệnhviện không được thu tiền của dan chúng khi người này bước chân vào phòng cấp cứu,  chuyện tiền bạc  sẽ được chính phủ trả cho bệnh viện sau, nếu như bệnh nhân không có bảo hiểm.

Ông Romney thất cử cũng vì không hợp lòng dân trong nhiều quan điểm khác của riêng ông hoặc quan điểm của đảng phái do ông đại diện.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Luật pháp… độc đảng và bạo lực

Posted by hoangtran204 trên 05/11/2012

Luật pháp không thể đem ra thi hành ở các nước độc đảng chuyên dùng bạo lực để bức cung các nạn nhân. Bắt bớ nạn nhân, cầm giữ 4 tháng, và trong thời gian đó không cho nạn nhân gặp mặt luật sư là thủ đoạn quen thuộc ở VN.

Ở Mỹ, khi  cảnh sát bắt một người nào đó vì tình nghi người này phạm tội hình sự, thì cảnh sát phải cảnh báo trước cho nạn nhân biết rằng: ông/bà không cần phải khai gì hết, trừ khi có sự hiện diện của luật sư. Các lời khai của ông bà đều không có hiệu quả nếu không có sự có mặt của luật sư (tư hoặc L.S. do chính quyền chỉ định). Và các lời khai này sẽ không có giá trị khi đem ra xử trước tòa án. 

(Miranda rights) hay còn gọi là Miranda warning ra đời từ 1966 trong vụ án ở  tiểu bang Arizona. Nguyên văn như sau:  Trước khi chất vấn, cảnh sát phải nói rõ cho người bị bắt giữ rằng ông ta hay bà ta có quyền giữ im lặng không nói, không khai gì với cảnh sát, và rằng bất cứ điều gì mà người này nói ra với cảnh sát sẽ được dùng để chống lại ông/bà trước tòa án. Cảnh sát cũng phải nói rõ cho người bị bắt biết rằng họ có quyền tham khảo hỏi ý kiến của luật sư trước khi trả lời một câu hỏi nào của cảnh sát và có quyền yêu cầu phải có sự có mặt của luật sư trong lúc cảnh sát đang hỏi, và cảnh sát cũng phải nói rằng nếu ông/bà không có đủ tiền thì tòa sẽ cung cấp một luật sư để đại diện cho họ, và luật sư này sẽ có mặt bất cứ khi nào cảnh sát hỏi cung người bị bắt.

Cái hay của Miranda là: cảnh sát không được hỏi cung giữa đêm khuya, không được đánh đập, tra tấn người bị tình nghi phạm tội, lời khai của người bị tình nghi với cảnh sát sẽ luôn luôn có luật sư đại diện ký tên làm chứng. Luật sư dựa trên các điều luật nào đó để bảo nạn nhân không cần trả lời, phản đối cảnh sát không được hỏi câu đó, và có quyền không ký tên vào một điều nào đó trong biên bản hỏi cung nếu cảnh sát cứ ngang ngược làm theo ý riêng. Và nếu điều này xảy ra, biên bản hỏi cung sẽ không có giá trị trước tòa án.     

Liệu đảng và nhà nước VN có đủ can đảm thực hiện được quyền Miranda như tư bản đang giãy chết làm hay không? Liệu một nước từng rêu rao: VN có dân chủ gấp triệu lần các nước tư bản (bà phó CT nước Nguyễn thị Doan), có dám thực thi như LS Ngô Ngọc Trai đề nghị hay không?

…The person in custody must, prior to interrogation, be clearly informed that he or she has the right to remain silent, and that anything the person says will be used against that person in court; the person must be clearly informed that he or she has the right to consult with an attorney and to have that attorney present during questioning, and that, if he or she is indigent, an attorney will be provided at no cost to represent her or him. (Miranda warning)

 

Các luật sư công (public defender) do chính quyền chỉ định và  hoạt động độc lập. Họ lãnh lương từ một ngân sách riêng biệt, và không chịu sự sai khiến, hay áp lực của chánh án, cảnh sát, hay công tố viện (ở VN gọi là Viện Kiểm Sát).  

Kiến nghị chấn chỉnh lại hoạt động bắt giam và hỏi cung của cơ quan điều tra

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Theo blog Anh Ba Sàm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Hà Nội, ngày 4 tháng 11 năm 2012

ĐƠN KIẾN NGHỊ

 

(Đề nghị chấn chỉnh lại hoạt động bắt giam và hỏi cung của cơ quan điều tra)

 

Kính gửi: – CHỦ TỊCH NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG- QUỐC HỘI VIỆT NAM- BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN TRẦN ĐẠI QUANG- THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN ĐIỀU TRA CÁC CẤP- CÁC LUẬT SƯ VIỆT NAM
– CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ

I/ NGƯỜI KIẾN NGHỊ

Tôi là: Ngô Ngọc Trai

Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Nam Định

II/ CĂN CỨ PHÁP LÝ THỰC HIỆN VIỆC KIẾN NGHỊ

Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: Điều 53. Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Điều 93 quy định: Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

III/ NỘI DUNG VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ

Bắt tạm giam là một biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, mục đích là nhằm ngăn chặn bị can bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc bắt tạm giam đã biến tướng thành một hình thức truy bức nhục hình, và thực chất đó chính là một hình thức truy bức nhục hình.

Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 6 quy định: Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình.

Xét điều kiện giam giữ người trong giai đoạn điều tra ở Việt Nam hiện nay, phòng giam thì chật hẹp, điện nước sinh hoạt thiếu, thức ăn nghèo dinh dưỡng, có hiện tượng bị người giam giữ chung hành hạ, không được thăm gặp người thân, không được tiếp cận với sách báo truyền hình… Với điều kiện giam giữ như vậy con người sẽ suy kiệt về sức khỏe, sa sút về tinh thần, lợi dụng tình trạng đó để lấy lời khai đó chính là một hình thức truy bức nhục hình.

Một bị can tại huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tĩnh Gia khởi tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, giai đoạn đầu điều tra khi được tại ngoại bị cáo chối tội. Sau đó cơ quan điều tra liền ra lệnh bắt giam, kể từ đó lời khai của bị cáo là nhận tội. Khi ra tòa bị cáo khai rằng đã bị cán bộ điều tra cho uống rượu và dụ dỗ nếu khai nhận tội sẽ cho về với vợ con, thế là bị cáo nhận tội. Bị cáo cũng khai rằng trong thời tiết mùa đông rét mướt nhưng bị những người giam giữ cùng bắt phải tắm mỗi ngày hai lần. Do đó mà khi ra tòa bị cáo đã suy kiệt sức khỏe, tòa án phải dừng phiên tòa để cán bộ y tế bệnh viện huyện sang cấp cứu, phiên tòa phải hoãn lại.

Bị cáo Hàn Đức Long bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang tuyên án tử hình về tội Giết người và hiếp dâm trẻ em, bị cáo hiện đang chờ thi hành án. Trong các lời khai bị cáo đều nhận tội, bản tự khai do chính tay bị cáo viết cũng nhận tội, nhưng khi ra tòa bị cáo lại chối tội. Khi được hỏi tại sao bị cáo khai nhận tội với cơ quan điều tra, có biết rằng với tội danh như thế nhận tội là chịu mức án tử hình không thì bị cáo trả lời rằng: Bị cáo bị hành hạ tưởng rằng sẽ chết ngay trong khi giam giữ, bị cáo phải nhận tội để có cơ hội được sống ra trước tòa mà nói lên sự thật không phạm tội, bị cáo sợ rằng mình sẽ chết mà không được gặp mặt vợ con để nói rằng mình bị oan. Bị cáo khai rằng bị cán bộ điều tra yêu cầu viết theo lời cán bộ điều tra đọc, khi không viết liền bị cán bộ điều tra dùng chiếc bút bi đâm thẳng vào bàn tay. Đây là vụ án thảm thương oan khuất kéo dài từ năm 2005, cơ quan điều tra vụ này chính là cơ quan điều tra vụ án Lê Văn Luyện, thẩm phán xử án vụ này chính là thẩm phán xử vụ Lê Văn Luyện. Vụ Lê Văn Luyện các cơ quan đã làm rất tốt, nhưng trong vụ án Hàn Đức Long các cơ quan đều đã sai lầm.

Thực tế lâu nay một số cơ quan điều tra đã lạm dụng việc bắt tạm giam gây phản ứng bất bình. Vụ việc nhà báo Hoàng Khương bị khởi tố điều tra về tội đưa hối lộ, là một nhà báo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, không có dấu hiệu gì sẽ bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội, có thể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, nhưng cơ quan điều tra cũng bắt giam.

Gần đây cô gái Nguyễn Phương Uyên bị bắt giam về hành vi tuyên truyền chống nhà nước. Một cô gái sinh viên mới 20 tuổi có gương mặt hiền lành xinh xắn, có nhân thân và nơi cư trú rõ ràng, không có gì cho thấy cô gái sẽ bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội, chỉ cần giao cho địa phương và cấm đi khỏi nơi cư trú là được, việc gì phải bắt giam?

Vụ việc cô Nguyễn Thị Bích Trang nhân viên của trường Đại học Tân Tạo bị bắt giam về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ cũng bộc lộ sự lạm dụng của cơ quan điều tra. Đây là tội danh thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có thể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng cũng bị bắt giam. Có thông tin cho biết khi mới bị bắt cô gái bị buộc gọi điện về cơ quan nói dối rằng bận việc riêng không đi làm được. Một chi tiết nhỏ như thế cho thấy hiện tượng bức cung, khi mới bị bắt đã như vậy liệu khi bị giam giữ nhiều tháng cô gái còn bị buộc khai báo nói dối những điều gì khác nữa?

Xét về bản chất con người thì không ai phản bội lại chính mình. Việc có lời khai ngày hôm nay có thể là tài liệu chống lại mình ngày mai thì bình thường không ai muốn khai báo. Trong thực tế, chỉ do bị truy bức nhục hình thì người ta mới phải khai báo.

Xét về bản chất của luật pháp, việc điều tra xử lý tội phạm chính nhằm bảo vệ luật pháp, bảo vệ các quyền công dân, như vậy việc bức hiếp buộc bị can phải khai báo lại đã xâm phạm tới một quan hệ pháp luật khác cũng được pháp luật bảo vệ, đó là quan hệ pháp luật về quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của công dân.

Như vậy việc xử lý vụ án ban đầu mang ý nghĩa tốt, tích cực đã được thực hiện bằng những cách thức phản lại chính ý nghĩa ban đầu của nó. Đây rõ ràng là sự bất dung hòa về thang giá trị giữa phương tiện và mục tiêu.

Hiện tượng lạm dụng việc bắt giam xuất phát từ quy định pháp luật mang nặng yếu tố bạo lực không phù hợp với các giá trị của luật pháp văn minh. Với điều kiện giam giữ như nêu trên và thời gian giam giữ kéo dài sẽ khiến bị can tuyệt vọng buông xuôi, lợi dụng tình trạng đó để lấy lời khai đó chính là lạm dụng việc bắt giam, nhiều trường hợp dẫn đến oan sai như vụ án Hàn Đức Long ở Bắc Giang và vụ án ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa như nêu trên.

Để tránh tình trạng lạm dụng việc bắt tạm giam, cần sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự, thay vì quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, nên quy định bị can có quyền giữ im lặng hoặc chỉ đồng ý khai báo khi có sự tham gia của luật sư bào chữa. Khi đó việc bắt tạm giam vẫn có tác dụng ngăn chặn mà không bị lạm dụng để bức cung vì khi lấy lời khai đã có mặt luật sư bào chữa, việc bắt tạm giam trở lại nguyên nghĩa là một hình thức ngăn chặn.

IV/ KIẾN NGHỊ

– Chủ tịch nước Trương Tấn Sang là Trưởng ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, kính mong chủ tịch lưu tâm tới hoạt động điều tra, bắt giam và hỏi cung hiện nay. Cải cách tư pháp là vấn đề rộng lớn lâu dài, qua từng sự việc cụ thể sẽ cho thấy những khiếm khuyết của luật pháp ảnh hưởng tới sự yên lành của nhân dân, kính mong chủ tịch lưu tâm.

– Quốc hội là cơ quan ban hành Bộ luật tố tụng hình sự, văn bản này hiện đang được lấy ý kiến góp ý sửa đổi, kính mong Quốc hội lưu tâm tới hoạt động bắt giam và hỏi cung. Đề nghị sửa đổi quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình thành quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quyền giữ im lặng, và chỉ chấp nhận lời khai là chứng cứ khi việc lấy lời khai có sự tham gia của luật sư bào chữa.

– Đề nghị Bộ trưởng Bộ công an, Thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp quan tâm tới vấn đề bắt giam và hỏi cung của các cơ quan điều tra, đề nghị có hoạt động thanh tra kiểm tra và xử lý những sự việc sai phạm.

– Đề nghị các luật sư đồng nghiệp hưởng ứng chương trình cải cách tư pháp của nhà nước, có tiếng nói phản ánh những khiếm khuyết của pháp luật và những lạm dụng trong thực thi luật pháp, góp phần xây dựng một nền tư pháp tốt đẹp cho Việt Nam.

– Kính mong các cơ quan báo chí quan tâm đưa tin phản ánh, ủng hộ chương trình cải cách tư pháp do chủ tịch nước đứng đầu.

Xin trân trọng cảm ơn!

Người kiến nghị

Đã ký

Luật sư Ngô Ngọc Trai

——————————–

Nhớ Huỳnh Văn Đông

Người Buôn Gió

Theo blog Người Buôn Gió

danluan.org (re-post)

Nếu sau này tôi là bị cáo (đừng bảo tôi nói gở, tôi sẽ có bài Chúng Ta Đều Ở Trong Rọ viết tới đây). Tôi chỉ nhắc nhở gia đình tôi một điều. Nếu thuê luật sư chỉ cần thuê luật sư có bộ nhớ thật tốt, ghi nhớ lại những diễn biễn ở phiên toà và những lời tôi tại đó rồi trung thực kể lại cho mọi người. Công bố những lời khai, bút lục của tôi trong quá trình điều tra để bạn bè, anh em, người thân của tôi được biết. Hãy chọn cho tôi luật sư nào làm được điều đó, còn việc tranh luận bào chữa ở toà để phần tôi nói, tránh cho luật sư bị ghép tội “lợi dụng dân chủ, lợi dụng phiên toà để…”

Lâu lắm rồi không liên lạc gì với LS Đông. Sau cái vụ xử giáo dân Cồn Dâu năm nào, chia tay ở Đà Nẵng. Kẻ lên Tây Nguyên, người ngược ra Hà Nội đúng ngày 27 tết âm lịch.

Phiên toà mà một số “quần chúng nhân dân” được mời đến dự chứng kiến thấy luật sư Đông  đốp chát với chủ toạ khiến họ phải thốt lên rằng “luật sư này bị đứt dây à?”

“Đứt dây” tiếng lóng của người Đà Nẵng là khùng, điên, thần kinh. Sở dĩ những “quần chúng nhân dân” này nghĩ vậy bởi họ không thể hình dung rằng có luật sư dám tranh luận với toà, đưa bằng chứng, và đòi đối chất. Trong cái tư duy bị nhốt của họ thì toà là nơi có quyền uy nhất, thể hiện cho sức mạnh của chính quyền, không ai được cãi lại. (Trong phiên tòa có LS Đông bào chữa,)  Lần đầu tiên trong đời họ thấy có một luật sư trẻ mạnh mẽ phản bác lại những lời kết tội thiếu căn cứ của VKS trước toà. Thế nên họ ngạc nhiên trước một điều mà lẽ ra nó là điều tự nhiên nhất của việc tố tụng là dễ hiểu.

LS Đông bào chữa cho vụ nào thì sau đó cũng phát biểu công khai, LS Đông sẵn sàng trả lời quan điểm của mình, diễn biến của trình tự tố tụng đến đâu. Sau khi xử cũng công khai diễn biến phiên toà, ngoài ra còn cho biết tâm tư của các bị cáo, tình trạng của họ đang ra sao.

Cuối cùng Đông bị tước thẻ luật sư, có công văn đòi xử lý vì tội “lợi dụng phiên toà, lợi dụng dân chủ để…”. Suýt còn bị đe doạ truy tố. Nhưng truy tố một luật sư vì những biện hộ cho bị cáo ở toà thì quả là lý do nực cười. Cho nên người ta chỉ tước thẻ và cấm xuất cảnh cùng nhiều biện pháp khác với Huỳnh Văn Đông. Đó là những điều mà chàng trai trẻ vóc dáng nhỏ bé này biết từ trước và sẵn sàng đón nhận.

Trở về nhà với rẫy cà fe, phụ mẹ bán hàng, chàng trai trẻ ấy chìm vào yên tĩnh. Những vụ bào chữa cho giáo dân Thái Hà, Cồn Dầu, Nguyễn Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Bến Tre….đã khiến sục sôi dư luận thuở nào đã trở thành xa xôi.

Bỗng nhiên hôm nay nhận ra một điều.

Là các vụ xử tội “an ninh” dạo này hầu như yên ắng hơn ngày trước. Người thân không biết hoặc có vẻ giấu thông tin với dư luận, luật sư dường như cũng thế. Những cây bút chiến của lề trái dẫu cố gắng lắm thì cũng chỉ viết bài theo cảm tính dựa trên vài thông tin sơ sài, không quan trọng. Các vụ xử khi kết thúc là xong, người ta chỉ biết mức án. Chẳng ai rõ trong phiên toà diễn ra thế nào, tranh luận ra sao? Luật sư nhận bào chữa, đến toà tranh luận, đọc luận cứ… toà kết án. Vậy là xong, kết thúc bằng án tù. Dư luận chỉ biết uất ức khi nghe bản án tuyên bao nhiêu năm. Mọi diễn biến trong toà chỉ được nghe lại từ trên tivi.

Không nói thì ai cũng hiểu, việc tranh luận của luật sư chẳng bao giờ được đánh giá và coi trọng trong phiên toà. Thậm chí luật sư bị cắt lời, bị đe doạ đuổi ra khỏi phiên toà nếu cứ tranh luận với chủ toạ, VKS. Thế nhưng mỗi vụ như thế vẫn cần đến luật sư.

Nhưng nếu biết tranh luận của luật sư, luận cứ bào chữa của luật sư không được coi trọng tại toà án. Vậy, nhờ luật sư để làm gì?

Để được tiếp xúc với bị cáo trước hôm xử và về nói lại vài câu với gia đình như “anh ấy khoẻ”, “cậu ấy vững vàng” ư ?… rồi khi ra toà kết án xong, luật sư cắp cặp ra về, và vụ án coi như đã xong.

Nếu sau này tôi là bị cáo (đừng bảo tôi gở miệng, tôi sẽ có bài Chúng Ta Đều Ở Trong Rọ viết tới đây), tôi chỉ nhắc nhở gia đình tôi một điều. Nếu thuê luật sư chỉ cần thuê luật sư có bộ nhớ thật tốt, ghi nhớ lại những diễn biễn ở phiên toà và những lời tôi tại đó rồi trung thực kể lại cho mọi người. Công bố những lời khai, bút lục của tôi trong quá trình điều tra để bạn bè, anh em, người thân của tôi được biết. Hãy chọn cho tôi luật sư nào làm được điều đó, còn việc tranh luận bào chữa ở toà để phần tôi nói, tránh cho luật sư bị ghép tội “lợi dụng dân chủ, lợi dụng phiên toà để…”

Còn thuê luât sư để mà chỉ gặp trước phiên xử một vài buổi, vào toà có tranh luận hăng đến đâu cũng không ai biết, thì đừng thuê còn hơn.

Đừng nghe những lời tốt đẹp hứa hẹn như – gia đình đừng làm gì ầm ĩ, bất lợi cho cậu ấy, cứ để yên thì toà sẽ xem xét, cứ nói này nói nọ bọn chúng lợi dụng vào xuyên tạc thì chỉ khổ con mình bị kết án nặng hơn thôi.

Và tôi cũng khuyên những luật sư bào chữa cũng đừng nghe lời nhắc nhở – Cậu cứ việc bào chữa, nói theo ý cậu tại toà, nhưng đừng trả lời phỏng vấn, đừng nói gì bên ngoài trước hay sau phiên xử.

Hãy nhớ rằng bị cáo, thân nhân, bạn bè không trong mong luật sư cãi mạnh mẽ ở toà ,vì như đã nói, điều đó không giá trị ở những phiên toà xét xử theo cách ai cũng biết. Mà họ cần những điều xảy ra ở phiên toà, những tình tiết trong hồ sơ vụ án, những lời trạnh tụng, luận tội… được bên ngoài biết đến trong cái vụ án mà nhà nước gọi là “công khai xét xử”.

Bỗng nhiên nhớ Huỳnh Văn Đông là vậy, càng chú ý theo dõi các phiên toà gần đây, càng nhớ người luật sư trẻ tuổi, nhỏ bé này hơn.

———————

Posted in Luật Pháp | Leave a Comment »

►Thực trạng đời sống của công nhân Việt Nam: An Cư chẳng có, Lạc Nghiệp cũng không

Posted by hoangtran204 trên 03/11/2012

 Đảng và nhà nước lấy cớ: cần có ổn định chính trị, nên ra sức đàn áp những người VN phản đối chống Trung Quốc chiếm biển đảo và đất biên giới của Việt Nam.  3 tuần trước,, cuộc họp của 175 Ủy viên Trung ương đảng cũng quyết định không kỷ luật “đồng chí X” và Bộ Chính Trị…vì lý do cần có ổn định chính trị.

Đảng và nhà nước VN, từ lâu nay,  cũng đã để cho Trung Quốc hoành hành chiếm hai quần đảo HS và TS, chiếm lấy Biển Đông, chiếm lấy ngư trường của ngư dân VN ở Biển Đông, nay Trung Quốc đã kéo dàn khoan vào khai thác mỏ dầu ở vùng HS và TS mà nhà nước VN cũng phản đối chiếu lệ, rồi còn ký hiệp định biên giới 31-12-1999 để nhường 3400 km vuông đất chạy dọc theo biên giới Việt Trung, cho doanh nghiệp TQ chiếm hơn 90% các hợp đồng xây dựng xây dựng đập thủy điện, cầu, và các cơ sở hạ tầng khác…nhập cảng hàng hóa độc hại, máy móc dỏm của TQ mỗi năm hơn 21 tỷ đô la (năm 2011),…tất cả các hành động này được đảng và nhà nước gọi là cần ổn định chính trị vì “sợ TQ giận”.

Lâu nay, nhà nước rất thành công và họ đã bắt bất cứ ai mà họ muốn bắt giữ, cầm tù những người này bao nhiêu năm tùy ý thích của họ, bất chấp luật pháp và hiến pháp do chính họ làm ra. Duy trì sự ổn định chính trị như thế hơn 22 chục năm qua (tạm cho là như thế), nhưng thử hỏi đảng và nhà nước đã làm được gì cho hàng chục  triệu  công nhân VN?  (

“Cả nước có hơn 9,5 triệu công nhân: VnMedia) – Theo con số thống kê được đưa ra tại hội thảo Chiến lược Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước (2010-2020) do Tổng Liên đoàn Lao động VN tổ chức ngày 26/2/2009, tại Hà Nội, tính đến nay cả nước ta có hơn 9,5 triệu công nhân, chiếm 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội.”  (baomoi.com

Lực lượng công nhân 9,5 triệu người cùng nông dân nghèo nàn ở dưới thôn quê cày ruộng và phải è cổ nuôi các đảng viên cao cấp và nhà nước.

Bên cạnh đó, vào tuần  trước, ông Bộ trưởng Tài chánh Vương đình Huệ nói có 22 triệu người lãnh lương của nhà nước►VN trả lương 7 triệu công chức, 8,8 triệu người có công với cách mạng…so với dân số 87 triệu dân!

Thống kê mới đây cho thấy: “Có trên 50  triệu người VN ở trong độ tuổi lao động… Hiện lao động Việt  Nam đã có mặt trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề các loại. Riêng trong giai đoạn 2006-2010, đã đưa được 409 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó, có trên 30 tỉnh, thành phố có trên 1 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài/năm.  (dantri.com

Chúng ta hãy đọc thêm một bài viết dưới đây nói về thực trạng đời sống hiện nay của người công nhân VN. 

An Cư chẳng có, Lạc Nghiệp cũng không

Minh Văn

Tác giả gửi đến Dân Luận
 
Cổ nhân có câu: “An Cư Lạc Nghiệp”. Thật vậy, dù người ta có làm gì, ở đâu thì trước tiên phải có nơi ăn chốn ở đàng hoàng, kế đó mới có thể ổn định và phát triển sự nghiệp. Đó là chân lý và lẽ thường xưa nay, cũng là một quan niệm về cuộc sống nhân sinh của chúng ta vậy.

Việt Nam chúng ta, kể từ đảng Cộng Sản nắm quyền cai trị đã mấy mươi năm. Đây là đảng của giai cấp Công Nhân và nhân dân lao động, giai cấp được coi là tiên phong cách mạng. Theo đó mà suy, thì người lao động ở Việt Nam bây giờ thực sự giàu có và hạnh phúc, đặc biệt là người Công Nhân. Sự thực lại trái ngược với điều đó, khi mà người Công nhân phải sống thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần. Những điều kiện tối thiểu để đảm bảo cho cuộc sống của họ không hề được đáp ứng: Đó là nơi ở và việc làm. Họ phải bươn chải để tự tìm kiếm công việc, tự lo chỗ ở cho mình với một mức lương hạn hẹp. Bởi vậy mà sự an cư, lạc nghiệp của người Công Nhân còn lắm nổi gian nan.

Hiện nay, đất nước Việt Nam đang trong tiến trình “Hiện đại hoá – Công Nghiệp hoá”. Ngoài mấy trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng thì hầu như địa phương nào cũng có ít nhất một vài khu công nghiệp cho riêng mình. Kéo theo đó là lực lượng lao động ở các địa phương đổ về các trung tâm này để làm việc. Ngoài các tệ nạn là môi giới, lừa đảo việc làm hay bóc lột người lao động, thì ở đây chúng ta chỉ nói đến sự gian khổ và thiếu thốn nơi ăn chốn ở của người Công Nhân lao động.

Mức lương thu nhập hiện nay của người Công Nhân Việt Nam là rất thấp, trung bình chỉ từ 2 – 3 triệu đồng/tháng, nhiều nơi chỉ ở mức 1,5 triệu đồng/tháng. Họ không được các công ty bố trí nhà ở, vì vậy mà phải tự tìm kiếm chỗ trọ cho mình. Với mức lương như vậy, mọi chi tiêu đều gộp trong đó, thì điều dễ hiểu là người công nhân khó mà tìm được cho mình một chỗ trọ tươm tất. Sự an cư vì vậy khó mà được như ý. Họ chỉ có thể tìm cho mình những chỗ trọ nhếch nhác và thiếu thốn đủ thứ tiện nghi. Mức thuê mỗi phòng trọ này có giá chỉ từ 500 – 700 ngàn đồng/tháng, chẳng những vậy họ còn phải rủ nhau 3 – 5 người ở chung một phòng. Vì như vậy sẽ tiết kiệm được tiền, dành phần lương còn lại cho các khoản chi tiêu khác. Thử đặt mình vào vị trí của người công nhân, các bạn sẽ thấy họ phải tài năng thế nào mới có thể làm được những phép tính tằn tiện cho sự chi tiêu của mình. Làm sao mà vẫn sống được với mức lương đó để còn sức cho chủ lao động tiếp tục bóc lột cái thân thể còm cõi của mình. Người Công Nhân (giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng) phải tính toán chi tiêu từng đồng bạc lẻ, còn các quan chức (đầy tớ của nhân dân) lại giải trí bằng cách đánh mỗi ván cờ tướng trị giá 5 tỉ đồng?. Thế mà chưa thấy đình công phản đối, quả là sức chịu đựng của người Công Nhân xứ ta cũng thật dẻo dai và mãnh liệt dường bao.

Những ngôi nhà trọ vách bằng ván ép, mái tôn, nền xi măng ẩm thấp là nơi ưa thích của người Công nhân khi thuê nhà trọ. Không phải vì họ thích gian khổ và thiếu thốn, mà họ buộc phải chấp nhận như vậy, họ không có sự lựa chọn nào khác. Trung bình mỗi người công nhân chỉ có khoảng 2 m2 để ăn, ở và ngủ nghỉ. Nơi vệ sinh công cộng lại rất bẩn thỉu và hôi hám, vô cùng ảnh hưởng tới sức khoẻ của chủ nhân thuê trọ. Mùa hè, những dãy nhà trọ dài lê thê này nóng hầm hập bởi mái tôn hấp thụ nhiệt rất tốt, người Công nhân như bị quay chín tại nơi ở của mình. Máy điều hoà thì chắc chắn là không rồi, vì vậy dù có bật cái quạt điện cũ chạy hết công suất cũng không thể cải thiện được nhiệt độ trong phòng. Chẳng những vậy, họ còn thường xuyên chịu cảnh thiếu điện nước, luôn lo sợ nạn mất cắp và thiếu trị an.

Một dãy nhà trọ của công nhân ở khu Công Nghiệp/ảnh: Báo Đất Việt

Lực lượng lao động, và đặc biệt là lao động nhập cư hiện nay đang gia tăng ở Việt Nam. Nguyên nhân chính là sự phát triển của các khu công nghiệp. Điều này thu hút người lao động từ các địa phương đổ về tìm kiếm việc làm. Vấn đề nhà ở cho người Công Nhân là điều cấp thiết và không thể né tránh. Người lao động cần có chỗ ở tốt hơn cho mình trước khi họ được ổn định công việc. Nhà nước hay các công ty sử dụng lao động không thể mãi vô cảm và vô trách nhiệm đối với đời sống của người công nhân, lực lượng chính để “Hiện đại hoá, công nghiệp hoá” đất nước. Nghe đâu Chính phủ có chủ trương xây dựng nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp. Chờ mãi chẳng thấy địa phương hay khu công nghiệp nào thực hiện điều này, chỉ thấy họ cướp đất của dân để bán, trong khi người công nhân thì mãi bơ vơ tìm nơi ăn chốn ở cho mình.

Với thực trạng trên, quả là an cư chẳng có, lạc nghiệp cũng không đối với người Công Nhân Việt Nam hiện nay.

Để ghi nhớ cảnh này, Minh Văn tôi có xúc cảm mà làm mấy câu thơ sau:

Búa Liềm đã mấy mươi năm
Mà dân lao động ăn nằm chẳng yên
Lang thang đi khắp ba miền
Áo cơm chẳng có nhân quyền cũng không

 

Kể từ thống nhất non sông
Toàn dân lưu lạc vào vòng bể dâu
Công Nhân giai cấp đi đầu
An cư lạc nghiệp ở đâu bây giờ?

 

Mong rằng từ nay về sau, người Công Nhân ở nước ta không còn phải chịu cảnh như vậy nữa.

2.11.2012

Minh Văn

Posted in Cong Nhan Viet Nam | 1 Comment »

►Thành quả của 22 năm ổn định chính trị

Posted by hoangtran204 trên 02/11/2012

* Chúng ta nên đặt ngược lại câu hỏi: Việt Nam đã ổn định chính trị hơn mấy chục năm qua (cứ cho là ổn định từ 1990 đến nay), vậy chính quyền của đảng và nhà nước đã làm được những gì?  Các đảng viên cao cấp và (một số trong hơn 3 triệu đảng viên được gì? Đại bộ phận hơn 90% dân số được gì? (hãy khoan nói tới mất biển, đảo, đất đai biên giới phía Bắc vào tay Trung Quốc). 

Thành quả của sự tiến bộ là gì trong các mặt như: kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do ra báo chí tư nhân?

Chỉ cần đọc bài này ký sự này thôi, là đủ biết rõ về giao thông, vệ sinh, tự do…tiến bộ ra sao sau 22 năm ổn định chính trị và dân chúng sống như thế nào dưới chế độ xã-nghĩa.

Ra đất Bắc   

►Dự án Ecopark: Nhà nước cướp đất của Nông dân huyện Văn Giang : Đặng Hùng Võ ký 2 tờ trình

►Những kẻ bắt người và bọn trộm cướp chỉ là một – Thực trạng đời sống công nhân nữ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản và đẩy giá bất động sản lên cao: là sai lầm

Trần Hoàng Lan

Theo Dân Làm Báo

Dân Luận:

Cái gọi là “ổn định chính trị” này về lâu về dài sẽ đẩy Việt Nam vào con đường cụt, nó còn nguy hại gấp trăm ngàn lần “bất ổn chính trị” như chúng ta thấy ở Thái Lan thời gian vừa qua.

***

Trước hội nghị TƯ 6 đã có nhiều phán đoán, đồn đại về sự ra đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nó gần như trở thành khẳng định khi biết trước đại hội mỗi đại biểu được phát một tập tài liệu dài 313 trang A4, trong đó thể hiện đầy đủ các số liệu báo cáo, hình ảnh, bảng biểu, đồ thị… về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội và những hệ lụy của nó mà cha con ông Dũng cùng nhóm lợi ích đã phạm phải.

Ngoài ra trong những trang cuối còn có hình ảnh từ bên ngoài lẫn bên trong của tòa nhà thờ họ quá hoành tráng của ông.

Nhưng sau đại hội kết quả thật bất ngờ. Hình ảnh ông Dũng tươi cười đứng cạnh hai ông Sang, Trọng vẻ mặt tiu nghỉu, buồn bã cho thấy:

Một lần nữa ông lại thoát hiểm một cách ngoạn mục.

Nhiều, nhưng trong số đó có một nguyên nhân rất quan trọng được ông tổng bí thư “kín đáo” nhắc đến trong diễn văn bế mạc “Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận rất kỹ, cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị.” là ổn định chính trị.

Ổn định chính trị là chiêu bài để những kẻ tham quyền cố vị này tồn tại muôn đời!

Nếu coi ổn định chính trị là ít thay đổi chính phủ, ít có biểu tình, bạo động chống đối thì có thể nói ổn định chính trị là một truyền thống của chế độ cộng sản Việt Nam.

Lãnh đạo đất nước thì từ 1945 đến nay chỉ có họ.

Từ một nửa là miền Bắc 1954, tiến tới cả nước sau khi thôn tính xong miền Nam năm 1975.

Thời gian đầu các đảng phái khác còn được hoạt động nhưng rồi đều lần lượt bị gắn cho nhãn, mác “phản động” thành ra nếu không chạy bán xới cũng bị tiêu diệt.

Kể từ khi “đảng cộng sản Việt Nam giữ độc quyền lãnh đạo”chính thức được đưa vào trong điều 4 hiến pháp thì mặc nhiên các đảng phái chính trị khác đều bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Những “chóp bu” cũng rất ít khi có thay đổi bất ngờ. Bất kể những tội lỗi gây ra ông Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên chức chủ tịch nước kiêm chủ tịch đảng cho đến tận cuối đời. Lê Duẩn dù gây ra bao hệ lụy, đưa cả nước tới bên bờ vực thẳm vào những năm đầu 80 của thế kỷ trước cũng vẫn làm tổng bí thư một lèo từ khi thay ông Trường Chinh 1956 cho đến lúc chết. Thủ tướng Phạm Văn Đồng tác giả của “công hàm bán nước 1958” đã có lúc tự hào mình làm thủ tướng lâu nhất thế giới.

Sau thời những ông trên, các lãnh đạo đảng, nhà nước thì cứ theo nhiệm kỳ mà làm, tuổi cao thì nghỉ. Có ông bất tài, gia đình có liên quan tới tham nhũng như ông Nông Đức Mạnh vẫn làm Tổng Bí thư tới hai khóa liền. Gần đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với tội lỗi ghi kín cả 313 trang A4 vẫn yên vị hai nhiệm kỳ liền. Ngoài “chóp bu”, những ông khác trong Bộ Chính trị nếu sai lầm không thuộc loại đòi “đa nguyên đa đảng, cải cách thể chế” như ông Trần Xuân Bách thì dù có tội “tày đình” vẫn được bao che, ém nhẹm.

Các vụ tham nhũng PCI (tham nhũng trong xây dựng xa lộ đông tây), in tiền polime có liên quan tới một số UVBCT nên đều có kết cục là hoặc đưa ra các con “dê tế thần”, hoặc từ chối hợp tác với nước ngoài để điều tra.

Biểu tình, bạo động đòi thay đổi chính phủ thì tuyệt nhiên không có. Bởi mới chỉ manh nha nghĩ tới, viết ra, trao đổi với một người khác chưa cần thực hiện là đã bị chính quyền coi là “thế lực thù địch”, phạm vào một số tội trong “bộ luật hình sự”, “an ninh quốc gia”.

Ngay cả những cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Quốc dù chỉ lẻ tẻ, ít ỏi vẫn bị chính quyền vu cho là gây rối trật tự công cộng để đàn áp, bắt bớ, sách nhiễu.

Anh em ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng Hải Phòng tuy chỉ dùng vũ khí tự tạo chống lại lệnh cưỡng chế đất sai luật, nhưng chính quyền đã huy động một lực lương công an, quân đội hùng hậu trang bị vũ khí hiện đại coi như một trận “hợp đồng tác chiến tuyệt vời”để bắt và phá tan hoang ngôi nhà cùng tài sản của ông.

Dĩ nhiên là chẳng có đảng cầm quyền nào lại muốn quốc gia của mình có bất ổn về chính trị. Nghĩa là đều muốn giữ vai trò lãnh đạo càng lâu càng tốt. Để có được điều này đảng cầm quyền ở các nước tự do dân chủ, đa nguyên phải cạnh tranh quyết liệt, nhưng công bằng trước pháp luật với các đảng khác. Cho nên dù rất muốn nhưng nếu “lực bất tòng tâm” vẫn phải chấp nhận bị thay thế. Nhưng kẻ thất bại cũng không đến nỗi thất vọng lắm vì mất mát không phải là lớn vả lại vẫn có cơ hội để chiến thắng ở cuộc sau. Điều bất ngờ là sau cuộc chiến của các “ngao cò” này, người dân đóng vai là “ngư ông” đã được hưởng lợi. Đó cũng là lý do mà nhiều nước tư bản “thối nát” biểu tình chống đối xảy ra như cơm bữa, chính phủ thay đổi xoành xoạch nhưng kinh tế vẫn phát triển, dân tình vẫn sung sướng, vẫn là địa điểm mà con cái của các lãnh đạo, các nhà giàu ở các nước XHCN “ưu việt” chen chúc nhau đến du học, sinh sống.

Ở Việt Nam, Hiến pháp quy định đảng cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo xã hội nên bất kỳ đảng nào “nhòm ngó” vai trò này đều là bất hợp pháp. Thực tế đã có nhiều đảng chỉ vừa mới “chân ướt chân ráo” đã phải nhận đủ loại nhãn mác như “phản động”, “khủng bố”, “tay sai của các thế lực thù địch”,… để nhận được số phận tương ứng.

Tuy không có đối thủ cạnh tranh nhưng vì không phải do dân bầu ra nên đảng cộng sản vẫn canh cánh nỗi lo bị mất vai trò lãnh đạo. Mà so với đảng cầm quyền ở các nước dân chủ thì còn lớn hơn rất nhiều. Bởi mất đồng nghĩa với mất các đặc quyền đặc lợi mà chỉ các lãnh đạo ở chế độ độc tài độc đảng mới có. Bị trừng trị vì những tội lỗi mắc phải mà những kẻ đứng trên pháp luật thì thường có rất nhiều.

Những năm gần đây, sau khi Liên Xô và các nước cộng sản ở Đông Âu tan rã, Bắc Phi Trung Đông xảy ra hàng loạt các cuộc cách mạng xóa bỏ các chế độ độc tài, nhân dân thời bùng nổ thông tin khác xa thời “chân đất mắt toét kéo nhau phá kho thóc Nhật” nên nỗi lo trên đã trở thành nỗi sợ hãi tột bậc ám ảnh họ hàng ngày. Đúng như lời một tiền bối của chính quyền cộng sản đã nhắc nhở cảnh báo “Giành chính quyền đã khó, nhưng giữ chính quyền còn khó hơn”. Buộc họ phải dốc toàn tâm toàn lực, dùng đủ mọi thủ đoạn, vào hầu như mọi lĩnh vực để trấn an nỗi lo này.

Với lợi thế giữ độc quyền thông tin qua “luật kiểm soát báo chí truyền thông”bưng bít, che giấu các sự thật ảnh hưởng tới uy tín của đảng và nhà nước. Không ngừng thổi phồng, tô vẽ về “công lao” trước đây để biện minh cho một đảng cộng sản thối nát, biến chất vẫn cố bám lấy vị trí lãnh đạo. Hù dọa nhân dân về chế độ đa nguyên đa đảng dễ dẫn tới hỗn loạn. Hù doạ đảng viên, các lực lượng vũ trang về có những “thế lực thù địch” chống phá cách mạng để phát động chống “diễn biến hòa bình”.

Sau điều 4 hiến pháp các điều 88, 79 một loạt các nghị định phản dân chủ khác cũng được đưa vào trong”bộ luật hình sự”, “bảo vệ an ninh quốc gia” với mục đích hạn chế, cấm đoán các quyền tự do, dân chủ của công dân và bưng bít, che đậy sự thối nát của chế độ. Dựa vào các điều luật này chính quyền tùy tiện bắt giam những người bất đồng chính kiến, những người đấu tranh chống tham nhũng, đấu tranh vì tự do dân chủ, vì sự tiến bộ của xã hội.

Công an thay vì bảo vệ an ninh lại chuyên làm nhiệm vụ theo dõi, trấn áp dân. Để kiểm soát tư tưởng, hành động của công dân nhà nước đã tổ chức một lực lượng an ninh khổng lồ để xâm nhập vào nhiều lĩnh vực như an ninh mạng, an ninh tôn giáo, an ninh trong người Việt ở hải ngoại…

Quân đội đáng lẽ ra chỉ có nhiệm vụ huấn luyện, bảo vệ đất nước thì nhà nước cho làm kinh tế với mục đích gắn quyền lợi của các cán bộ cao cấp trong quân đội với sự tồn tại của đảng nhằm tăng lòng trung thành với đảng. Công ty viễn thông quân đội Viettel, các xí nghiệp quốc phòng làm kinh tế, ngân hàng quân đội… đã làm ăn phát đạt là những ví dụ cho các chủ trương đó. Đặc biệt những vụ chống đối lại lệnh cưỡng chế đất đai, dân oan khiếu kiện tập trung đông người, biểu tình chống Trung Quốc xâm lược,… thường bị chính quyền huy động một lực lượng vũ trang đông đảo trấn áp thẳng tay để nhanh chóng dẹp bỏ ngăn chặn nguy cơ bùng phát.

Quốc hội cơ quan quyền lực cao nhất lại là cơ quan đảng cử dân bầu nên chỉ được phép nói những gì, đồng ý những gì theo kịch bản đảng đã soạn sẵn và có trách nhiệm hợp pháp hóa các chủ trương dù đúng dù sai của đảng trước toàn dân. Các tổ chức đoàn thể như công đoàn, mặt trận tổ quốc, đoàn thanh niên cộng sản, hội cựu chiến binh, hội nông dân tập thể, hội liên hiệp phụ nữ… thực chất là những cánh tay nối dài của đảng tuy được ăn lương, nhưng chỉ có mỗi một nhiệm vụ là vỗ tay tán thành các chủ trương của đảng.

Giống như Trung Quốc nhà nước cộng sản Việt Nam luôn tán thành nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của các nước khác để lấy lý do bác bỏ việc quốc tế tố cáo những hành động vi phạm nhân quyền.

Sau hội nghị Thành Đô 1990, nhà nước cộng sản Việt Nam càng ngày càng lún sâu vào vòng lệ thuộc Trung Quốc. Mặc dầu bị lấn đất, lấn biển, ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển của mình liên tục bị Trung Quốc bắn giết, bắt giữ đòi tiền chuộc. Nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn khăng khăng cam kết giữ tình hữu nghị “4 tốt, 16 chữ vàng”, vẫn tiếp tục ký kết các hợp tác toàn diện với Trung Quốc trên đủ mọi phương diện, vẫn tiếp tục đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước, vẫn trừng phạt những người chống trung Quốc xâm lược bằng những bản án rất nặng. Chỉ có thể lý giải những hành động hèn hạ khó hiểu trên bằng chủ trương “thà mất nước chứ không chịu mất đảng” của nhà nước cộng sản.

Năm vừa qua để an lòng dân trước sự suy thoái biến chất tột cùng của một bộ phận không nhỏ các cán bộ, đảng viên, sự bức xúc trước nạn tham nhũng trầm trọng, sự tuột dốc không phanh của kinh tế đất nước, đời sống ngày càng khó khăn của những người dân lương thiện. Các lãnh đạo cộng sản diễn lại vở tuồng cũ “chỉnh đốn đảng bằng phê và tự phê” và để người xem khỏi nhàm chán họ cho thêm màn “hội nghị TƯ 6”. Nhưng vì sự ổn định chính trị họ đã biến vở tuồng thành một vở hài kịch nhạt nhẽo, một vết nhơ trong lịch sử đảng cộng sản.

Tính đến giờ phút này có thể nói nhà nước cộng sản Việt Nam đã “thành công” trong việc giữ ổn định chính trị. Từ cương vị thấp nhất đến cương vị cao nhất của chính quyền vẫn do các đảng viên nắm giữ. Các cuộc tập trung đông hoặc ít người có đe dọa tới sự ổn đinh chính trị dù chỉ mới manh nha cũng đã bị dập tắt ngay tức khắc.

Các lãnh đạo cộng sản từ thấp tới cao cũng đã “thu nạp” được một lượng tài sản “kha khá” đủ để nếu có chuyển đổi chế độ ôn hòa họ vẫn ở trong hàng ngũ có “tên tuổi số má”. Dù khó tính và ghét bõ chế độ cộng sản đến đâu cũng phải thừa nhận một thực tế là các lãnh đạo của nó là “quá giỏi” trong lĩnh vực này.

Chỉ có điều để (các lãnh đạo cộng sản từ thấp tới cao) có được”thành công” đó, nhân dân, đất nước Việt Nam đã phải trả một giá quá đắt: Đó là người dân bị tước đoạt hầu hết những quyền tự do cơ bản kể cả quyền yêu nước.

Cuộc sống của nông dân không ổn định trước nguy cơ đất đai có thể bị thu hồi bất kỳ lúc nào. Công nhân làm việc trong các nhà máy với mức lương rẻ mạt vì bị tư bản nước ngoài cấu kết với chính quyền cùng bóc lột. Các trí thức tiến bộ bị trù dập bị “bịt miệng”. Tham nhũng ngày càng trầm trọng và phổ biến. Các tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn thua lỗ gây ra cảnh nợ nần đẩy lạm phát tăng cao. Đất nước ô nhiễm, xác xơ, cạn kiệt tài nguyên, trở thành bãi phế thải khổng lồ chứa những thiết bị cũ kỹ lạc hậu của Trung Quốc. Việt Nam vẫn chỉ là nước chuyên xuất khẩu tài nguyên thô và lao động, tụt hậu với ngay cả các nước nằm trong khu vực tụt hậu của thế giới. Hàng chục nghìn cây số vuông đất biên giới, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, quần đảo Hoàng Sa mất và biển Đông cũng sắp mất. Ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ đòi tiền chuộc ngay trên quê hương mình. Các giá trị đạo đức truyền thống bị băng hoại, đảo lộn, tệ nạn xã hội ngày càng tăng…

Tới đây chắc hẳn những người còn ngây thơ tin vào ước mong “Việt Nam muốn ổn định chính trị để phát triển” của các lãnh đạo cộng sản phải thấm thía câu nói “Đừng tin những gì cộng sản nói hãy nhìn những gì cộng sản làm” của ông Thiệu.

11/2012
Trần Hoàng Lan
danlambaovn.blogspot.com

danluan.org (re-post)

*Hơn 20 năm (qua) ổn định chính trị, đảng và nhà nước mượn nước ngoài hơn 57 tỷ đô la (gọi là nợ công) tính tới năm 2011, nhưng chỉ làm được một vài cái cầu, vài con đường chung quanh Hà Nội và Sài Gòn. Cầu Bắc Mỹ Thuận thì do Úc xây, viện trợ biếu không hoàn lại. Đường cao tốc Trung Lương 43 km thì do mượn tiền ODA và FDI để xây và phải trả tiền lại cho nước ngoài

20 năm qua ổn định chính trị, làm chủ đất đai của cả nước, mà đảng và nha nước cũng vẫn không xây được thêm 1 xa lộ mới chạy song song với quốc lộ 1. Đường bộ Bắc Nam vẫn là quốc lộ 1 xây dưới thời Pháp; đường xe lửa chạy từ Bắc vào Nam cũng do Pháp xây dựng hơn 80 năm trước. Các cây cầu nhỏ bắc qua các con kinh ở miền Tây thì do Việt Kiều chung tay nhau đóng góp xây hơn 268 cây cầu. Hơn 283 trường tiểu học ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh do Nhật viện trợ xây dựng mà không cần trả lại. Tất cả bệnh viện lớn nhất ở miền Nam, miền Trung, miền Tây đều do chế độ Việt Nam Cọng Hòa xây và để lại. Các bệnh viện tư nhân mới mở trong vòng 10-15 năm qua thì rất nhiều, nhưng không có một bệnh viện nào khả dĩ có thể so sánh với các bệnh viện do VNCH để lại.

Tất cả các trường đại học ở miền Nam cũng do VNCH để lại, chế độ xã nghĩa (sau mấy chục năm ổn định chính trị, mượn ngoại quốc 57 tỷ đô, bán dầu hỏa hàng năm thu được 34 tỷ…) cũng chẳng xây được 1 trường đại học nào ra hồn so sánh với các trường đại học do VNCH xây dựng. Có một số trường đại học do các đại gia và tư nhân xây dựng, nhưng học sinh cũng chỉ chọn vào học các trường này SAU khi không thể thi đậu vào các trường đại học danh tiếng ở miền Nam.

Hệ thống các trường trung học ở miền Nam cũng do VNCH để lại. Có trường trung học cơ sở hay trung học phổ thông nào mới xây trong hơn 20 năm ổn định chính trị, hay 37 năm dưới chế đố xã-nghĩa? Có, nhưng rất ít và các trường mới xây này không thể so sánh với các trường cũ về mặt đào tạo học sinh giỏi.

. Nhật, Đài Loan, Nam Hàn, Thái, Mã Lai…cùng nhau cho VN mượn tiền, đổi lại họ được khai thác nhân công VN giá rẻ hơn bèo, lương hàng tháng chỉ đủ mua thức ăn tiện tặn cho 1 người. Nhà nước và đảng CSVN bắt tay với các tư bản nước ngoài để áp đặt một mức lương thấp nhất trả cho công nhân VN, mức lương 60-80 đô/ 1 tháng là miếng mồi dụ các công ty nước ngoài vào VN mở hãng xưởng. Nhà nước qui định mức lương tối` thiểu 850 ngàn/ 1 tháng, và công ty nước ngoài chiếu theo mức lương ấy để trả cho khỏi vi phạm pháp luật, và tránh bị các tổ chức nhân quyền và lao động nước ngoài phản đối. Với mức lương này thì hàng chục triệu công nhân đi làm về chỉ có nấu ăn và đi ngũ, chứ không có đủ tiền mua sách đọc, học thêm các nghề khác để tiến thân…và suốt đời sẽ làm lụng như thế để…đảng và nhà nước an tâm cai trị).

Tất cả các hãng xưởng ở VN đều là gia công các mặc hàng như may mặc, dệt vải, giày dép (chiếm 22 tỷ đô la, thống kê 2011); các hãng chế biến thủy sản như cá, tôm (4 tỷ); các hãng trồng và xuất khẩu hạt cafe (3 tỷ đô); xuất khẩu gạo (3 tỷ đô la); xuất khẩu gỗ và đồ gỗ (4 tỷ đô); ngành xuất khẩu dầu thô, khí đốt và các sản phẩm trị giá 34 tỷ (năm 2011); xuất khẩu than  ( gần1 tỷ đô/ 1 năm); xuất khẩu các kim loại quí hiếm như wolfram (tungsten), Titanium (cát đen ở bờ biển Qui Nhơn, Thanh Hóa), (hơn 1,5 tỷ đô la)…

Nói chung là VN  xuất khẩu các nguyên liệu thô, hay nói thẳng ra là bán tất cả các tài nguyên khoáng sản, thủy sản, dầu, ga để cung phụng cho 175 ủy viên Trung Ương đảng, các cán bộ đảng đang làm trong các cơ quan chính quyền của nhà nước, và gia đình của họ cùng các đại gia cũng là con cái của đám cán bộ cao cấp (về hưu hoặc đã chết)  chia nhau hưởng. Dân chúng chẳng được hưởng chút gì về các tài nguyên khoáng sản của đất nước trong hơn 20 năm ổn định chính trị.  

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Những kẻ bắt người và bọn trộm cướp chỉ là một – Thực trạng đời sống công nhân nữ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Posted by hoangtran204 trên 01/11/2012

Các bạn liên kết một loạt 5 bài sau đây để hiểu thực trạng xã hội VN.  Các  bài này cùng xuất hiện trong tháng 10-2012,  đã vẽ ra một bức tranh hoàn chỉnh của Việt Nam về chính trị, xã hội, đời sống của nông dân, công nhân dưới chế độ xã-nghĩa, mà theo bà phó chủ tịch nước  Nguyễn thị Doan là “ưu việt gấp triệu lần tư bản” .

Các bạn sẽ nhìn thấy chính phủ mượn tay công bộc viết tờ trình, và dùng mãnh giấy ấy để hợp pháp hóa việc cướp đất và chia nhau ra sao ở dự án Ecopark huyện Văn Giang; các bạn sẽ thấy các “sói Nga” kết hợp với chính quyền chiếm đất, mua đất, đầu tư vào các dự án xây dựng những khu nghỉ dưỡng, chung cư và thương xá trung và cao cấp như thế nào. “Một lời bình luận tiếp theo bài viết trên Bloomberg cho biết công ty Viet Capital Securities tức công ty chứng khoán Bản Việt là của bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, có những mối quan hệ làm ăn mật thiết với chủ tập đoàn Vincom.”…

Chiến thắng của những kẻ yếu đuối

Nguyễn Hưng Quốc

Theo VoA Blog

Cô Nguyễn Phương Uyên, sinh viên đại học Công nghệ Thực phẩm, bị công an bắt đi từ nhà trọ hôm 14/10 với cáo buộc tham gia rải truyền đơn kêu gọi chống Trung Quốc và chống tham nhũng

Nguyễn Phương Uyên là sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Nhà em ở Bình Thuận. Để theo đuổi việc học, em phải thuê nhà ở trọ với bạn bè. Trưa ngày 14/10/2012, khoảng 10 công an ập vào nhà trọ của các em, bắt Uyên cùng với ba người bạn khác. Ba người bạn ấy, sau đó, được tha về, riêng Uyên thì bị chở đi đâu đó, biệt tích.

Bố mẹ của Uyên, từ Bình Thuận, tất tả chạy đến công an quận Tân Phú tìm con. Công an ở đó chối phăng, bảo là không hề bắt ai cả.Bạn học của Uyên viết thư gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang để kêu cứu.

Bức thư được đăng tải rộng rãi trên khắp các cơ quan truyền thông quốc tế cũng như trên các tờ báo mạng thuộc lề trái tại Việt Nam. Ông Trương Tấn Sang im lặng. Công an cũng im lặng.

Cuối cùng, gần 10 ngày sau, bố mẹ của Uyên mới biết con mình bị giam giữ tại tỉnh Long An với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”. Các bạn học của Uyên thì cho biết cô ấy chỉ tham gia tuyên truyền chống Trung Quốc mà thôi. Một người bạn bị bắt một lần (sau đó được thả) với Uyên kể, ở văn phòng công an phường Tây Thạnh, Tân Phú, khi bị công an hỏi, Uyên đáp: “Cháu ghét Trung Quốc.”

Chưa biết chính quyền Việt Nam sẽ đối xử với Nguyễn Phương Uyên như thế nào. Chỉ biết là, từ mấy tuần vừa qua, vụ bắt bớ một nữ sinh nhỏ nhắn, hiền lành như thế đã gây chấn động dư luận. Vào internet, thấy ở đâu người ta cũng bàn luận. Ở đây, nổi bật lên hai hình ảnh đối nghịch: một mặt, cô gái còn trẻ măng, đeo kính cận, mắt sáng và nụ cười hiền, không làm gì khác ngoài việc bày tỏ thái độ chán ghét Trung Quốc; mặt khác, hình ảnh công an hành xử như những tên côn đồ: chúng ập vào nhà trọ bắt em rồi chối biếng là không biết gì về vụ bắt bớ ấy cả.

Vụ bắt bớ Nguyễn Phương Uyên khiến nhiều người liên tưởng đến cô bé Malala Yousafzai, người Pakistan, bị hai tên sát thủ Taliban bắn vào đầu vào ngày 9 tháng 10.

Báo chí tường thuật: hôm ấy, trên một chiếc xe buýt, Malala và các bạn cùng nhau chuyện trò và hát hò với các thầy cô giáo. Vừa mới thi cuối học kỳ, ai cũng vui vẻ. Nhưng khi chiếc xe vừa ra khỏi thành phố Mingora thì có hai người đàn ông cầm súng chận lại. Chúng bước lên xe, hỏi: “Đứa nào là Malala Yousafzai?” Mọi người đều im lặng, nhưng một cách tự phát, một số em quay nhìn Malala. Theo hướng mắt ấy, hai tên sát thủ nhận diện ra ngay được Malala. Không nói không rằng, một tên giơ sung lên, chĩa thẳng vào em. “Đoành! Đoành”. Hai phát súng vang lên khô khốc. Một phát trúng đầu và một phát trúng cổ. Sẵn trớn, tên sát thủ bấm cò, bắn thêm hai phát nữa vào đám bạn của Malala khiến hai em bị thương. Xong, chúng xuống xe. Và tẩu thoát.

Tại sao các tên Hồi giáo quá khích lại muốn giết một nữ sinh mới 15 tuổi như vậy?

Có hai lý do chính: Thứ nhất, em đi học, và thứ hai, em khuyến khích các bạn gái ở địa phương cùng đến trường đi học như em.

Với những người bình thường, hai lý do ấy hầu như không thể tin được. Tại sao đi học và khuyến khích bạn bè đi học mà lại bị thù ghét và bị bắn một cách dã man như vậy? Nguyên nhân: Taliban chủ trương phụ nữ thì phải ở nhà. Và phải mù chữ.

Chủ trương quái đản ấy đã được nhiều người biết. Người ta biết, cho là quái đản, và rồi, quên phắt đi. Người ta lại quay cuồng với đời sống hàng ngày với vô số những lo toan của chính họ. Taliban dường như thuộc về một thế giới khác. Bây giờ, trước sự việc một cô bé ngây thơ, mới 15 tuổi đầu, bị bắn một cách tàn nhẫn như vậy, người ta sững sờ và thấm thía hơn về tính chất man rợ của những kẻ cuồng tín. Càng thương Malala bao nhiêu, người ta càng căm ghét Taliban cũng như các lực lượng Hồi giáo cuồng tín bấy nhiêu. Lần đầu tiên tại Pakistan, tất cả các đảng phái chính trị cũng như các tôn giáo đều thống nhất với nhau trong việc lên án hành động vô nhân đạo của Taliban và cùng cầu nguyện cho em Malala.

Phát biểu trước bệnh viện Birmingham ở Anh trong chuyến thăm viếng Malala đang được điều trị, ông Yousafzai, bố của Malala, tuyên bố: “Khi Malala ngã xuống, nước Pakistan đứng dậy và cả thế giới trỗi lên.”

Bởi vậy, nhiều người mới nhận định: trong cuộc khủng bố nhắm vào em Malala, kẻ bị thua cuộc trước hết chính là Taliban. Chúng hiện hình, trước mắt thế giới, như một lũ ác quỷ. Ngay những người theo Hồi giáo cũng không thể biện minh được cho chúng. Chúng trở thành những phần tử cô đơn. Hung hãn nhưng cô đơn. Trong khi đó, hào quang chung quanh em Malala lại tỏa sáng. Như một thiên thần.

Vụ bắt bớ Nguyễn Phương Uyên ở Việt Nam cũng vậy.

Lâu nay, ai cũng biết chính phủ Việt Nam độc tài và tàn bạo. Tính chất độc tài và tàn bạo ấy thể hiện, trong mấy năm gần đây, qua các vụ đàn áp biểu tình và đàn áp các nông dân chống nạn cướp đất, và qua các phiên tòa xét xử những người đòi tự do hoặc phản đối Trung Quốc, từ vụ Cù Huy Hà Vũ đến vụ Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Việt Khang… Nhưng dù sao, hình ảnh hiên ngang của những người ấy phần nào cũng làm mờ nhạt tính chất nạn nhân của họ. Người ta nhìn họ như những anh hùng mà có khi quên họ, trước hết, là những nạn nhân.

Nguyễn Phương Uyên thì khác. Em chỉ là một sinh viên. Em nhỏ nhắn và yếu đuối. Em hồn nhiên và còn vô tư lắm. Em chỉ có một vấn đề, như chính em thừa nhận: Em “ghét Trung Quốc”.

Trước hình ảnh nhỏ nhoi và yếu ớt ấy, hình ảnh mười tên công an ập vào nhà trọ bắt em, hình ảnh công an phường và công an quận bai bãi chối việc giam giữ em, hình ảnh cả một hệ thống tuyên truyền của nhà nước xúm vào xuyên tạc và bôi nhọ em, và cuối cùng, hình ảnh cả một guồng máy quyền lực âm mưu giày xéo lên em bỗng dưng đậm nét thêm lên.

Tính chất nạn nhân của Nguyễn Phương Uyên càng được tô đậm, tính chất độc tài và tàn bạo của chính quyền cũng theo đó bị gia tăng theo cấp số nhân.

Ít nhất dưới mắt dư luận, trong cũng như ngoài nước, với người Việt Nam cũng như người ngoại quốc, kẻ thua cuộc vẫn là nhà cầm quyền.

Theo VoA Blog

danluan.org (re-post)

…”Một đứa trẻ 20 tuổi không thể nào có đủ sức mạnh và bản lãnh để làm một cái việc tuyên truyền chống đối XHCNVN. Đó là một điều quá sức. Nếu một đất nước vững mạnh, với một chính quyền vững chắc thì một đứa trẻ 20 tuổi không có thể là một mối nguy hại lớn, đó là điều bức xúc thứ nhất.  Điều bức xúc thứ hai là khi gửi quà cho cháu, chị viết có ba chữ “Mẹ Yêu Con” ghi lên tờ giấy gửi quà mà họ cũng không chấp nhận…! Họ hết sức vô lương tâm, họ hoàn toàn không có lương tâm gì khi đối xử với con người.” – Mẹ Phương Uyên khóc khi trả lời phỏng vấn.

—————————-

Khi kẻ trộm cướp không chỉ là kẻ bần cùng

Hai Lúa

Hồi còn bé, những bài học làm người đầu tiên là những bài học mà Lúa tích cóp được từ mẹ. Có thể vì Lúa là con gái, gần mẹ nhiều nhất lại rất hay để ý… Một lần, Lúa nhìn thấy mẹ ngồi nấp trong bụi tre, nhìn một ông hàng xóm chặt trộm buồng chuối sim sau nhà, khi Lúa ra đến nơi, mẹ đưa tay lên miệng yêu cầu Lúa không được la lên, đợi ông ta vác buồng chuối bước xuống xuồng và chèo đi, mẹ ngồi dậy rồi bước vào nhà. Lúa hỏi, sao mẹ không la lên cho ông ấy bỏ buồng chuối lại? mẹ nhìn Lúa rồi bảo “họ nghèo, nhà đông con nên mới ăn cắp… thôi hãy ngoảnh mặt đi cho người ta đở tủi thân…… mình còn nhiều buồng chuối khác….”

Ca dao Việt Nam có câu “nhàn cư vi bất thiện”, hiểu nôm na là không có công ăn việc làm thì sẽ nảy sinh những việc làm sai trái . Điều đó cũng dễ hiểu thôi vì con người ai cũng cần có cái ăn để mà sống, vì thế nếu không có công ăn việc làm, không có thu nhập đủ để trao đổi, mua lấy những nhu cầu tối thiểu sẽ dễ dẫn tới những hành động sai trái, khuất tất, lỗi đạo khi họ không muốn chết. Một câu tục ngữ khác có lẽ mang tính chất khẳng định hơn “bần cùng sinh đạo tặc”, tức là khi con người bị đẩy vào thế bần cùng sẽ sinh ra trộm cướp, họ biết là họ phải vi phạm đạo đức, vi phạm luật pháp nhưng vẫn vi phạm vì họ đã bần cùng rồi.

Xã hội tiến bộ là một xã hội mà ở đó người ta khống chế con số những người bần cùng này, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều có điều kiện để lao động. Khi đó họ không nhàn cư nữa để mà bất thiện, họ cũng có thu nhập thì không thể rơi vào cái thế của kẻ bần cùng. Trong trường hợp không thể tìm việc làm, họ có một khoản trợ cấp gọi là trợ cấp thất nghiệp, đủ cho nhu cầu tối thiểu về thực phẩm của họ. Ở Nhật, nếu bị bắt gặp ăn cắp một lần thì đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải đi ăn mày mà sống vì không một nơi nào, một cơ quan nào chịu nhận một kẻ có cái điểm đen trong lý lịch là “ăn cắp”. Tuy nhiên, nếu ăn cắp một hộp cơm, khi bị bắt chỉ cần bạn nóí, tôi đói quá, lập tức sẽ được tha bổng và không bị ghi chú trong lý lịch. Họ coi việc một người bị đói là trách nhiệm của xã hội, công việc được phân công như thế nào, nguồn quỹ cho phúc lợi xã hội ra sao mà lại có người phải đi ăn cắp vì họ đói.

Thế nhưng một xã hội mà người ta vẫn có việc làm nhưng thu nhập lại không đủ bù đắp, tái tạo sức lao động đã bỏ ra; như thế, sức lao động sẽ ngày càng bị mai một, liên tục bị “thâm hụt” cũng sẽ dẫn đến tình trạng bần cùng nếu chẳng may họ bị bệnh mà số tư bản tích lũy không đủ khả năng chi trả cho việc chữa bệnh. Vì thế thu nhập (từ lương) luôn được tính toán sao cho con người ít nhất cũng đáp ứng được những chi phí đó. Trong trường hợp ngược lại thì người lao động bị “lỗ vốn sức khoẻ” hay nói một cách dễ hiểu là “thu không đủ chi”.

Việt Nam được xếp vào một trong những nước có tỉ lệ tham nhũng là quốc nạn. Trước đây người ta còn né tránh, không nói đến nó nhưng bây giờ thì tất cả, tất cả từ cao xuống thấp, từ trên xuống dưới quan chức đều công nhận. Tham nhũng chính là hình thức ăn cướp của công làm của tư thông qua quyền lực, ảnh hưởng mà cá nhân đó, tổ chức đó có được. Vậy thì, ai, ai là người có quyền lực, có quyền ra những cái quyết định để tạo ra những kẻ hở cho tham nhũng hoành hành? Chắc không phải là những người dân nghèo, thấp cổ bé họng. Bây giờ, hóa ra cái bài học những kẻ ăn cắp thường là những kẻ nghèo xem ra không còn đúng nữa, mà những kẻ ăn cắp này giàu, rất giàu, chúng không hề nhàn cư nhưng vẫn bất thiện, chúng không hề bần cùng nhưng vẫn là đạo tặc. Và chúng không chỉ câu trộm con cá, bắt trộm con gà, chặt trộm buồng chuối để ăn vì thiếu thốn, vì đói; mà chúng ăn những thứ to lớn hơn, “cồng kềnh hơn”, từ sắt thép, tàu thuyền, ụ nổi,…. chúng cũng không phải ăn cắp của một người hay vài người mà ăn cắp của cả xã hội, ăn cắp của cả những người dân nghèo khổ, những người tất tả lao đao vì kiếm sống, những người với đàn con xanh mắt vì đói, mòn mỏi chờ những đồng cứu trợ của những tấm lòng hảo tâm gửi đến.

Bài học mà mẹ dạy cho Lúa đã hơn 20 năm qua có lẽ nào đã là lạc hậu, cũ kỹ rồi chăng? Hay chính cái đạo đức, luân lý đã bị đảo lộn?

—————————–

Đừng bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo”!

Hoàng Kim  (Đồng Tháp)

Tại sao Đảng và Nhà nước đưa ra một quy định đi ngược lại tâm tư và nguyện vọng của tất cả nông dân?

Đây là câu hỏi mà Đảng và Nhà nước phải trả lời công khai cho nông dân chúng tôi được biết:Tại sao Đảng lại chiếm quyền sở hữu ruộng đất của nông dân chúng tôi, tại sao Đảng và Nhà nước quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân chúng tôi?

Để lãnh đạo xã hội một cách anh minh, Đảng phải tạo sự công bằng cho mọi thành phần trong xã hội. Bắt nông dân như những con tốt một mình tiến lên Chủ nghĩa xã hội, bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo” bằng cách chiếm quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, buộc nông dân ngày càng nghèo hơn trong khi mọi thành phần khác ngày càng giàu lên khi đất nước phát triển, là một chính sách bất công đối với người nông dân.

Đừng bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo”

Đảng đã trả lại quyền tư hữu cho tất cả mọi thành phần kinh tế khác, thì tại sao lại tiếp tục quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân? Tại sao lại bắt nông dân phải một mình tiến lên Chủ nghĩa xã hội?

Ở miền Nam, sau năm 1975, để tiến lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng quốc hữu hoá mọi tư liệu sản xuất, Đảng và Nhà nước là chủ sở hữu của mọi tư liệu sản xuất. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt nên đất đai phải thuộc sở hữu Nhà nước.

Thế nhưng, sau đó, Đảng đã lùi một bước từ Chủ nghĩa xã hội về Chủ nghĩa xã hội có định hướng, chấp nhận kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, Đảng đã trả lại quyền tư hữu cho tất cả mọi thành phần kinh tế khác, thì tại sao lại tiếp tục quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân? Tại sao lại bắt nông dân phải một mình tiến lên Chủ nghĩa xã hội?

Trước đây, Đảng đưa cả nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội, nay, tất cả mọi thành phần, mọi giai cấp khác điều dừng lại chưa tiến lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng đã trả quyền tư hữu lại cho mọi giai cấp khác, mà không trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân là Đảng đối xữ không công bằng với nông dân.

Quốc hữu hoá ruộng đất chỉ đúng khi đã tiến lên Chủ nghĩa xã hội, nay, chưa tiến lên Chủ nghĩa xã hội mà bắt nông dân phải hy sinh quyền lợi để tiến lên một mình, tức là bắt nông dân gánh “Chủ nghĩa xã hội treo”.

Đất đai thuộc sỡ hữu toàn dân hay sỡ hữu của Đảng?

Điều 5 khoản 1 qui định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”.

Điều 5 khoản 2 mục c lại quy định Nhà nước có quyền thực hiện quyền định đoạt: “Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất”, với quy định này, Đảng và Nhà nước chính thức chiếm đoạt quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, bằng cách quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân.

Chúng ta điều đã biết: “toàn dân” tức là không phải của ai cả, không của ai cả mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước lại có quyền thu hồi đất thì có nghĩa là đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước. Đảng bộ các cấp lãnh đạo chính quyền các cấp, thế nên, thực chất của Điều 5 khoản 1 nói cho đúng sẽ như sau:

Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước do Đảng đại diện sở hữu”.

Nông dân có đồng ý cho Đảng và Nhà nước chiếm quyền sở hữu ruộng đất của mình không?

Câu trả lời tất nhiên là không.

Đất đai là tài sản thiêng liêng của nông dân, không nông dân nào lại muốn Đảng và Nhà nước chiếm quyền sở hữu của mình, để có thể bị thu hồi và bị cưỡng chế bất cứ lúc nào với giá đền bù rẻ mạt.

Nếu bây giờ, Đảng và Nhà nước thử trưng cầu nông dân ý về quyền sở hữu đất đai, tôi tin rằng 99,99% nông dân sẽ không đồng ý cho Đảng và Nhà nước chiếm quyền sở hữu ruộng đất của mình (không được 100% là do tôi trừ hao một số đảng viên có đất, nhưng vì tấm thẻ đảng nên buộc phải đồng ý với Đảng).

Cho nên, cần phải khẳng định rằng quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” mà thực chất là: “Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước do Đảng là đại diện sở hữu” là một quy định đi ngược lại tâm tư, nguyện vọng của tất cả nông dân.

Tại sao Đảng và Nhà nước đưa ra một quy định đi ngược lại tâm tư và nguyện vọng của tất cả nông dân?

Đây là câu hỏi mà Đảng và Nhà nước phải trả lời công khai cho nông dân chúng tôi được biết: Tại sao Đảng lại chiếm quyền sở hữu ruộng đất của nông dân chúng tôi, tại sao Đảng và Nhà nước quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân chúng tôi?

Cần phải khẳng định: Thay đổi quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” hay không, không phải là công việc nội bộ của Đảng, mà liên quan đến quyền lợi của tất cả nông dân, mà là tâm tư, nguyện vọng của tất cả nông dân.

Vì thế, Đảng phải có nhiệm vụ giải thích cho tất cả nông dân biết, lợi ích to lớn nào của quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” khiến cho Đảng quyết tâm bám giữ quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” – một quy định đi ngược lại nguyện vọng của nông dân.

Tốt nhất, Đảng hãy đưa những ông đảng viên nào quyết tâm nhất trong việc bám giữ quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” trong đại hội Đảng vừa rồi, đăng đàn giải thích rõ ràng lợi ích tuyệt đối của “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” so với  “đất đai thuộc sở hữu nông dân” cho nông dân chúng tôi được “sáng mắt sáng lòng”.

Tôi dám đảm bảo, các ông đảng viên cương quyết nhất này nếu không bị nông dân chúng tôi phản biện cho cứng họng, thì Đảng xử tội gì tôi cũng chịu.

Riêng Hoàng Kim tôi, nếu được tranh luận trực tiếp với đại diện của Đảng về quyền sở hữu ruộng đất, một mình tôi xin chấp một chục ông chuyên gia của Đảng.

“Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước” tạo ra nửa triệu dân oan

Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, kể từ khi luật đất đai năm 2003 bắt đầu có hiệu lực, đã có gần 1 triệu lượt đơn thư, khiếu nại tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai. Trong số này số lượng các vụ khiếu nại tố cáo đúng, hoặc có đúng có sai chiếm tỷ lệ gần 50%. Cũng có nghĩa là 10 năm qua, trong lĩnh vực đất đai đã có xấp xỉ gần 500.000 sai phạm của các cấp chính quyền.

Những con số thống kê cho thấy, luật đất đai 2003 đang tồn tại nhiều bất cập. Đó cũng chính là nguyên nhân của tình trạng lạm quyền và hoặc tham nhũng của cán bộ, thiệt thòi và bức xúc của nhân dân.

10 năm thực hiện luật đất đai 2003 cho thấy: Những công trình mà người dân mất đất chịu nhiều thiệt thòi nhất lại thường là những công trình do nhà nước đứng ra thu hồi đất. Có thực tế, đất đai mặc dù ở cùng một khu vực nhưng có thể được các địa phương định giá đền bù quá chênh lệch.

Bên cạnh đó, người dân trong cùng một địa phương, nhưng nếu nhà nước thu hồi đất thì giá đền bù có thể thấp hơn nhiều so với việc được chủ đầu tư tự thỏa thuận. Thậm chí trong cùng một dự án, ở cùng một địa phương, nhưng vẫn lại có thể có sự chênh lệch về giá đền bù khác nhau do sự khác biệt về thời điểm thu hồi đất và cách vận dụng văn bản quy phạm pháp luật” – Đài Truyền hình ViệtNam cho biết.

Trong vòng 10 năm bắt đầu phát triển, cán bộ đảng viên đã gây oan ức, đau khổ cho 500.000 gia đình nông dân, nếu tính mỗi gia đình nông dân có 4 người, thì có 2 triệu con người bị cán bộ, đảng viên đưa vào vòng oan ức, khiến cho 2 triệu con người đau khổ triền miên vì tài sản lớn duy nhất của mình bị tước đoạt bất chính là cả một tội ác.

10 năm tới con số sẽ là bao nhiêu triệu gia đình nông dân bị oan khuất?

Đất nước càng phát triển nông dân biến thành dân oan càng nhiều, đất nước càng phát triển, mọi thành phần khác điều giàu lên nhờ quyền tư hữu tư liệu sản xuất nên hớn hở vui tươi, chỉ có nông dân một mình than khóc vì mất đất do ruộng đất bị thu hồi, bị cưỡng chế là một nghịch lý vô đạo đức, đầy bất công với nông dân, sẽ đẩy nông dân vào thế đối kháng với Đảng và Nhà nước.

“Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước” đẻ ra “liên minh ma quỷ” giữa đảng viên ăn hối lộ và các chủ dự án

Ở Văn Giang, tiền đền bù cho nông dân là 135.000 đồng/m2, nhưng giá bán đất rẻ nhất là 20 triệu đồng/m2, đắt nhất là 45 triệu đồng/m2.

Dù lấy giá rẻ nhất là 20 triệu đồng/m2 thì chênh lệch giữa đền bù cho nông dân và giá bán là 19.865.000 đồng/m2, trừ cho chi phí đầu tư các chủ dự án vẫn đạt được siêu lợi nhuận.

Siêu lợi nhuận này, khiến cho chủ dự án đủ sức mua đứt mọi đảng viên lãnh đạo các cấp liên quan đến việc thu hồi đất.

Siêu lợi nhuận này sẽ tạo ra “liên minh ma quỷ” giữa chủ dự án và đảng viên lãnh đạo ăn hối lộ.

Thu hồi đất càng nhiều, đền bù đất càng rẻ thì chủ dự án càng lời to, có lời to các chủ dự án hối lộ cho đảng viên lãnh đạo càng nhiều, nhận được hối lộ càng nhiều đảng viên lãnh đạo thu hồi đất càng tăng, đền bù đất càng rẻ để nhận hối lộ nhiều hơn, “ liên minh ma quỷ” này sẽ càng ngày càng gia tăng việc thu hồi đất của nông dân.

Điều đặc biệt là “ liên minh ma quỷ” này lại nhân danh những điều tốt đẹp, nhân danh quy hoạch, nhân danh phát triển đất nước… để giựt đất của nông dân, và chúng trở lại tố cáo nông dân vi phạm pháp luật để xua quân cưỡng chế.

“Liên minh ma quỷ” này nằm ngoài tầm kiểm soát của Đảng Trung Ương.

Thay đổi Luật Đất Đai đúng đắn phải trả quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân

Khi đất nước chưa tiến lên Chủ nghĩa xã hội, để công bằng, Đảng phải trả quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân.

Nếu đất đai thuộc quyền sở hữu của nông dân, ai muốn sở hữu đất này phải thoả thuận mua của nông dân, nông dân có quyền ấn định giá bán, nông dân có quyền không bán đất nếu không muốn.

Thế nhưng, nay Đảng lại chiếm quyền sở hữu đất đai của nông dân, rồi lại giao cho đảng viên của mình quyền thu hồi đất, quyền cưỡng chế đất, khiến cho nông dân mất cả hai quyền là quyền ấn định giá bán và quyền không bán đất nếu không muốn.

Ở Văn Giang, tiền đền bù cho nông dân chỉ có 135.000 đồng/m2, sau đó chủ dự án chỉ đầu tư vào một ít, giá đất lên đến 20 – 45 triệu đồng/m2, giá trị gia tăng do chuyển mục đích từ đất làm lúa sang đất đô thị chủ dự án hưởng trọn, nông dân chỉ được đền bù rẻ mạt theo giá đất nông nghiệp.

“Về giá đất bồi thường cho người có đất bị thu hồi, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho biết: “nhiều ý kiến tán thành việc định giá đất để bồi thường cho người sử dụng đất phải theo mục đích sử dụng tại thời điểm thu hồi, có tính đến công sức đầu tư, bồi bổ của người sử dụng đất, nhưng không tính phần giá trị tăng thêm do quy hoạch của Nhà nước vì phần này không do đầu tư của người sử dụng đất tạo ra. Ngoài giá đất bồi thường, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống, việc làm cho người có đất bị thu hồi”” – theo báo Tuổi Trẻ.

Thưa ông Giàu:

Cha ông của nông dân chúng tôi mấy đời bám trụ ở mảnh đất khỉ ho cò gáy, chịu cực khổ thiếu thốn đủ điều để gìn giữ và truyền lại mảnh đất đó cho nông dân chúng tôi, nay mảnh đất khỉ ho cò gáy đó nằm ở địa thế phát triển thành đô thị, gía đất sẽ tăng, vậy tại sao nông dân chúng tôi lại không được nhận phần giá trị gia tăng đó?

Mấy đời bám trụ của ông bà, cha mẹ chúng tôi ông không thèm tính, vậy theo ông ai xứng đáng hưởng giá trị tăng thêm do đất đó phát triển thành đô thị? Đảng của ông xứng đáng hơn nông dân chúng tôi chăng? Hay các tay trọc phú là chủ dự án xứng đáng hưởng hơn chúng tôi?

Trong thực tế, hiện nay, chính “liên minh ma quỷ” giữa đảng viên ăn hối lộ và các chủ dự án táp hết giá trị gia tăng này đấy, và cả sau khi luật đất đai sửa đổi theo kiểu không sửa gì cả này “ liên minh ma quỷ” sẽ tiếp tục táp hết giá trị gia tăng khi chuyển từ đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác.

Tôi đưa thêm một thí dụ làm sáng tỏ rằng Luật Đất Đai dù có sửa đổi vẫn bất công với nông dân:

Giả sử tôi có 1 ha đất là lúa nằm cặp lộ lớn, có một người muốn mua đất của tôi để xây dựng nhà máy, giá thoả thuận là 1 triệu đồng một mét vuông, thế nhưng tôi bán không được, vì muốn chuyển từ đất lúa sang đất phi nông nghiệp phải trình đến Thủ tướng, thế rồi có dự án thành lập khu công nghiệp, đất tôi lọt vào qui hoạch, bị thu hồi và đền bù có 100.000 đồng/m2, vì tôi không được hưởng giá trị gia tăng, không cho tôi bán đất giá cao 1 triệu đồng/m2 rồi thu hồi đền bù giá thấp 100.000 đồng/m2 liệu có hợp lý không thưa ông Giàu?

Đất tăng giá mà nông dân không được hưởng, để cho các chủ dự án và đảng viên ăn hối lộ hưởng là một chính sách ngu xuẩn và bất công đấy, ông Giàu ạ.

Không trả quyền tư hữu đất đai cho nông dân thì dù có đổi: “Nhà nước xác định giá đất sát với giá thị trường” thành “giá đất do Nhà nước quy định theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm định giá, đảm bảo phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” cũng sẽ tiếp tục đẻ ra “liên minh ma quỷ” và tiếp tục tạo ra dân oan.

Không thay đổi Luật Đất Đai để trả quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân, Đảng treo trên đầu nông dân thanh gươm Damocles thu hồi, cưỡng chế đất. Nhưng không trả lại quyền sở hữu đất đai cho nông dân Đảng cũng tự treo thanh gươm Damocles dân oan, dân đối kháng trên đầu chính mình.

H.K.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

Theo Bauxite Việt Nam

danluan.org (repost)

—————

 

—————

Báo Mỹ viết về tỉ phú Phạm Nhật Vượng, tài sản $1.3 tỉ

Friday, October 26, 2012

HÀ NỘI (NV) -Báo tài chính của Mỹ Bloomberg hôm Thứ Năm vừa qua có một bài ký sự khá dài về một trong những người giàu có nhất tại Việt Nam hiện nay mà tờ báo nói có trị giá tài sản ròng ước lượng $1.3 tỉ USD.

Ở một xứ sở nghèo khó, lợi tức đầu người trung bình chỉ có $1,300 USD/năm ông Phạm Nhật Vượng, 44 tuổi, từ đầu thập niên 2000 đến nay đổ tiền đầu tư vào các dự án xây dựng những khu nghỉ dưỡng, chung cư và thương xá trung và cao cấp.

Giá bán 1 mét vuông ở những nơi đó rẻ thì từ $1,800 USD đến $2,500, và cao cấp ở trung tâm Sài Gòn bán với giá $8,000 USD  (khu Eden cũ trên đường Tự Do gần trụ sở Quốc Hội cũ)…

Mời các bạn đọc tiếp ở đây ( 2 bài báo này cùng tựa, nhưng khác nhau về các chi tiết; rất đáng chú ý)

http://nongnghiep.net.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Doanh-nhan/Vi-ty-phu-an-danh-o-Viet-Nam-758

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=156930&zoneid=1

————

Thực trạng đời sống công nhân nữ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Báo Nhân Dân

8-10-2012

Chợ cóc phục vụ công nhân ở khu nhà trọ xã Kim Chung (Đông Anh, Hà Nội).

Kỳ 1: Nhọc nhằn mưu sinh

Tâm lý muốn thoát ly khỏi đồng ruộng, tìm kiếm cơ hội đổi đời, việc làm có thu nhập ổn định đã cuốn hút lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị ngày càng đông. Trong đó, lao động nữ (LÐN) chiếm số lượng không nhỏ. Ước mơ đổi đời là khát vọng chính đáng. Tuy nhiên, với đồng lương ít ỏi nơi phố thị, trước mắt, cuộc sống của họ vẫn mịt mờ cơ hội đổi đời.

Thiếu thốn trăm bề

Ðã nhiều lần, chúng tôi chứng kiến cảnh hàng nghìn công nhân vội vã trở về khu nhà trọ sau giờ làm việc tại khắp các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) trên cả nước. Nhưng buổi tan ca tại KCN Sóng Thần (Dĩ An, Bình Dương) trong cơn mưa như trút nước vào một ngày cuối tháng 9 vừa qua dễ dàng nhận ra trong chiếc áo mưa mỏng manh gồng mình đạp xe, nhấn ga, ngược chiều mưa gió, thậm chí có nữ công nhân đang mang thai. Người tấp nhanh vào vệ đường, nơi có những quầy hàng, nhìn qua đã biết không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, mua vội vài mớ rau, dăm quả trứng, ít cá khô. Nhiều người trong số họ trở về nhà trọ mà không biết bữa tối lấy gì cho vào bụng.

Vội vã theo bánh xe của cô công nhân Hoàng Thị Linh (Công ty ACTIVE, sản xuất yên xe đạp), chúng tôi tới nhà trọ tại khu dân cư Ðồng An, cách công ty hơn ba km. Thực đơn của hai vợ chồng hôm ấy không khác mấy so với các bữa cơm chiều khác: rau muống, vài miếng khổ qua kho thịt ba chỉ lõng bõng nước. Có lẽ ngượng với khách, Linh cúi mặt nhặt mớ rau đã héo phần nửa, lúng túng thanh minh: “Giá trời không mưa, em mua thêm ít đậu phụ hoặc cá khô. Mấy món này ăn hai tối rồi, cũng ngán”. Linh sinh ra trong một gia đình có sáu anh em ở một làng quê thuần nông huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Năm 2004, cô theo chân các cô gái trong làng vào đây làm công nhân với hy vọng thoát ly cảnh”chân lấm, tay bùn”, kiếm tiền đỡ đần bố mẹ nuôi các em ăn học. Tìm được tấm chồng sau một thời gian làm công nhân như Linh được coi như may mắn hơn nhiều nữ công nhân khác. Linh cho biết, với thu nhập của hai vợ chồng son, việc chi tiêu hết sức tằn tiện coi như tạm đủ, nếu như không có chuyện hai năm qua, có đồng nào dành dụm, cô đổ vào việc chữa trị tại Bệnh viện Từ Dũ, hy vọng có được mụn con. Chia tay chúng tôi, cũng là lúc bữa cơm đạm bạc hoàn tất vào lúc tám giờ tối, Linh nói: “Cho dù phải trở về quê hương với hai bàn tay trắng, thì việc có một, hai đứa con vẫn”lãi” hơn so với nhiều nữ công nhân quá lứa, lỡ thì khác. Nói rồi, cô quay vào với bốn bức tường trong căn nhà trọ rộng chừng tám mét vuông, không máy thu hình, không đài, báo, chờ chồng về trong cơn mưa dai dẳng.

Cuộc sống thiếu thốn, không dám mơ ước gì cao sang là tình trạng chung của hàng triệu lao động trong các KCN. Chưa đủ, LÐN càng thiệt thòi hơn khi họ đang phải sống cảnh “năm không”: Không nhà cửa do công nhân ngoại tỉnh chiếm hơn 70%, đa số phải thuê nhà trọ. Không gia đình, do nhiều doanh nghiệp sử dụng tỷ lệ LÐN tới 80-95%. Quanh năm, họ mải miết tăng ca mới mong đủ tiền trang trải cuộc sống, không có thời gian giao lưu, tìm hiểu bạn trai. Không được hưởng thụ các hoạt động văn hóa. Không quan tâm và mơ hồ về chính trị. Không được khám sức khỏe định kỳ, vốn quý nhất của NLÐ. Khi chưa lập gia đình, cuộc sống nữ công nhân ngoại tỉnh đã thiếu thốn, vất vả là thế, nhưng khi lập gia đình, họ lại phải đối mặt nhiều khó khăn khi sinh con. Thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản. Trước và sau khi sinh không được bồi dưỡng, thiếu thốn thời gian chăm sóc con nhỏ và gia đình. Ðiều kiện sinh hoạt kham khổ, ít được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, con cái không được nuôi dưỡng, giáo dục chu đáo do phải gửi con về quê nhờ ông bà trông giúp, là bức tranh chung của cuộc sống sau kết hôn của LÐN.

Câu chuyện của chị Nguyễn Thị Ngần, quê ở Hà Giang tại khu nhà trọ tại phường Bình Chiểu (quận Thủ Ðức, thành phố Hồ Chí Minh) là một thí dụ. Trước khi sinh đứa con thứ hai, chị là công nhân Công ty May Sài Gòn 3. Chị Ngần cho biết: “Ði tăng ca quần quật cũng chỉ đủ tiền gửi hai đứa con vào nhà trẻ tư nhân, cho nên quyết định ở nhà trông con. Bốn miệng ăn trông vào chưa đầy bốn triệu đồng lương thợ mộc của người chồng”. Chúng tôi thắc mắc làm sao gia đình nhỏ của chị”sống” nổi với số tiền khiêm tốn ấy, chị bảo:”Hai vợ chồng chỉ ăn rau qua ngày. Hằng tháng trả tiền nhà trọ, điện nước hết một triệu đồng, còn bao nhiêu mua sữa, thịt cho con ăn. Tháng nào chúng nó ốm đau đi viện thì vay tiền bà chủ trọ, hoặc của những người đồng hương… Ðược cái, cùng cảnh nghèo cho nên mọi người thương yêu, đùm bọc nhau. Cũng đành”hy sinh đời bố, củng cố đời con vậyể. Ðược hỏi: “Chị định”củng cố” đời bọn trẻ như thế nào trong xóm trọ tồi tàn, thiếu thốn đủ thứ này, chị Ngần lạc quan cho biết: “Thì phải cố gắng. Tằn tiện, chờ đợi đến bao giờ có năm, sáu chục triệu đồng, sẽ trở về quê chồng ở Nam Ðịnh, xin ông bà đất, dựng căn nhà, cùng nhau cày cấy, trở về điểm xuất phát vậy. Chồng tôi chăm mua vé số lắm. Biết đâu, lại có ngày trúng số độc đắc, đổi đời ngay. Các cụ chẳng bảo”nghèo thì lâu, giàu thì mấy”. Trường hợp trở về tay trắng, vẫn có hai của để dành đây. Còn người còn của, sá gì cơ cực, đói nghèoể. Nghe chị nói cười chúng tôi cũng thấy ấm lòng hơn. Có lẽ lâu lắm rồi, trong các khu nhà trọ, mới bắt gặp sự lạc quan hiếm hoi như thế. Phải chăng sức chịu đựng và khả năng vượt qua hoàn cảnh luôn là đức tính tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. Bất giác, chúng tôi kỳ vọng vào một phép nhiệm mầu sẽ tới với gia đình bé mọn của người đàn bà tên Ngần ấy.

Tương lai nào đối với lao động nữ?

Tới khu nhà trọ nằm trong hẻm 149, đường Dương Thị Hoa (Thủ Ðức, TP Hồ Chí Minh) vào lúc sáu giờ chiều, chúng tôi thật khó khăn mới tìm được một căn phòng mở cửa. Ra đón khách là cô công nhân mặc chiếc áo Công ty giầy da An Thịnh. Nhìn em gầy guộc và rất trẻ, anh bạn đồng nghiệp buột mồm: Em đã 18 tuổi chưa vậy? Mặt cô đỏ bừng, lúng búng cho biết tên là Trần Thị Cẩm Hường, quê ở Chợ Mới, An Giang, 19 tuổi. Căn nhà trọ chưa tới chục mét vuông, một hình ảnh điển hình đến ngột ngạt, bức bối trong các khu nhà trọ công nhân từ nam ra bắc, bao gồm cả bếp, khu vệ sinh, nơi ăn uống, ngủ nghỉ của Hường và hai vợ chồng chị gái. Trò chuyện một lát, chúng tôi thấy một người phụ nữ đứng tuổi tay bế, tay dắt hai đứa trẻ đi vào. Hường giới thiệu đó là má và hai đứa con của chị gái. Bà Thu thấy khách lạ nhưng rất vồn vã: Chị con Hường bỏ hai đứa con cho tôi ở dưới quê từ khi đứa thứ hai mới hai tháng tuổi, giờ nó đã gần một tuổi rồi. Cách đây năm hôm, tôi mang hai nhỏ lên thăm má nó mổ ruột thừa. Lúc gặp má trong bệnh viện, đứa lớn nhận ra ngay, con nhỏ thì khóc thét khi má nó giơ tay bế. Tận tối qua, nó mới chịu theo má, rồi quấn riết. Thiệt khổ, vừa bén hơi nhau thì mai tôi lại đưa bọn chúng về dưới quê. Chẳng biết đến bao giờ vợ chồng, con cái mới được ở cùng nhau dưới một mái nhàể. Than thở là vậy, nhưng khi chúng tôi hỏi, dù bà biết đời sống của công nhân rất khó khăn nhưng sao vẫn để đứa con gái út đi làm công nhân? Bà Thu bảo: “Cực thì có cực, nhưng làm lụng chăm chỉ cũng có đồng ra đồng vào, còn hơn làm thuê làm mướn dưới quê. Tôi cũng tính bảo nó, làm công nhân khi nào có vài chỉ vàng lận lưng thì về quê kiếm tấm chồng. Cắm mặt riết vào cái máy khâu thì ế mất”.

Việc đưa chị em gái, họ hàng lên thành phố, ở trọ cùng tiết kiệm tiền thuê nhà, chi phí sinh hoạt là xu hướng mới của LÐN tại các KCX. Tại một khu nhà trọ phường Thủ Ðức (TP Hồ Chí Minh) chúng tôi không khó để tìm một căn phòng có hai, ba chị em ruột cùng ở trọ. Trong căn phòng chật hẹp của ba chị em ruột quê ở Yên Khánh, Ninh Bình, cô út tên là Phạm Thị Quyết tiếp chuyện chúng tôi. Người chị cả tên Phạm Thị Xuân chỉ im lặng, cắm cúi nhặt túi nấm kim châm, không một lần ngước mặt lên nhìn khách. Quyết giải thích: Không có nhiều tiền mua thịt, bọn em chuyển sang mua nấm, rẻ mà vẫn có chất đạm thực vật. Chỉ sau khi Xuân ra ngoài bể tập thể rửa nấm, Quyết mới cho hay: Chị gái em vào thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân may khi 24 tuổi. Ở quê, tuổi ấy khó lấy chồng, chị hy vọng vào môi trường nhiều công nhân dễ lấy chồng. Thấm thoắt đã 16 năm trôi qua, quanh năm ngày tháng chỉ biết con đường duy nhất từ công ty về nhà trọ. 40 tuổi rồi vẫn không chồng, không con, không gia đình, không sổ tiết kiệm, và không biết tương lai sẽ ra sao. Trò chuyện cùng các nữ công nhân khác ở khu nhà trọ này, chúng tôi được biết từ Tết Nguyên đán đến nay, gần chục công nhân quá lứa nhỡ thì trở về quê. Năm, sáu người khác tuổi ngoài bốn mươi, không đủ sức khỏe làm công nhân, cũng không muốn về lại nhà đành bỏ công ty, ra ngoài làm tạp vụ, bưng bê tại các quán ăn, nhà hàng với mức lương hai triệu đồng/tháng.

Trao đổi ý kiến với một số lãnh đạo LÐLÐ các tỉnh, chúng tôi được biết, tại một số KCN, xuất hiện tình trạng nhóm đối tượng xã hội đen cho vay nặng lãi. Công nhân thất nghiệp hoặc đồng lương không đủ trang trải sinh hoạt hằng ngày, chấp nhận vay tiền với lãi suất cao. Khi lãi mẹ đẻ lãi con, LÐN không có tiền trả, chúng ép nữ công nhân “làm thêm” tại các quán cà-phê đèn mờ. Bên cạnh đó, rời quê lên thành phố làm công nhân, sự hiểu biết hạn chế, không được trang bị kỹ năng, kinh nghiệm sống để tự phòng vệ, dễ choáng ngợp trước cuộc sống đô thị trong điều kiện cuộc sống của mình nhiều vất vả, lo toan; thiếu sự quan tâm và hỗ trợ của các đoàn thể, chính quyền địa phương. Không ít LÐN rơi vào cám dỗ, cạm bẫy cuộc sống, sống thử trước hôn nhân, góp gạo thổi cơm chung, chấp nhận trở thành “vợ hờ”, vợ bé của những người đàn ông có gia đình. Hậu quả là những đứa con ra đời không hôn thú… Không thể phủ nhận một điều, hàng triệu nữ công nhân ngoại tỉnh đang làm việc trong các KCN, KCX thoát ly đồng ruộng, không chỉ tìm kiếm cơ hội đổi đời cho bản thân mà còn vì thế hệ con em họ. Nhưng với tất cả những gì đã và đang diễn ra trong những khu nhà trọ tồi tàn và nhọc nhằn ấy, không một nữ công nhân nào trả lời được câu hỏi: tương lai của họ sẽ đi về đâu? Trong khi đó, một thế hệ mới đã và đang ra đời trong các xóm trọ này. Tương lai nào cho những đứa trẻ, thiếu dinh dưỡng, thiếu sự chăm sóc của người mẹ, không được giáo dục bài bản, không được hưởng các quyền vui chơi, học hành như bao trẻ em khác?

Bài 2: Chung tay chăm lo cuộc sống người lao động

Dây chuyền sản xuất máy in, máy fax tại Công ty TNHH Brother (Hải Dương)

Bà Trần Thị Bưởi (An Giang) lên khu chế suất ở Bình Dương, trông cháu cho con yên tâm lao động sản suất.

(Tiếp theo và hết) (*)

Ðời sống của nữ công nhân trong các khu nhà trọ tồi tàn vất vả, thiếu thốn là thế nhưng càng cơ cực hơn khi thời gian gần đây, nền kinh tế bị ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Hoạt động của các doanh nghiệp (DN) lâm vào cảnh lao đao. Công nhân lao động, trong đó phần lớn lao động nữ (LÐN) một lần nữa bị đè nặng khoán sản phẩm, khoán dây chuyền trên đôi vai vốn đã gầy guộc.

Còn nhiều nghịch lý

Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, tính đến hết năm 2011, cả nước có 283 KCN, KCX được thành lập, trong đó có 180 KCN, KCX đang hoạt động, thu hút gần hai triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp. Gần 20% số LÐN phải làm việc bảy ngày trong tuần. Thu nhập trung bình rất thấp, đa số từ 1,6 đến ba triệu đồng.  Cường độ làm việc “chóng mặt” nhưng thu nhập lại không tương xứng. Mặc dù thời gian qua, các DN đã điều chỉnh theo hướng tăng tiền lương tối thiểu do Chính phủ quy định, tuy nhiên hầu hết LÐN cho rằng, tiền lương DN trả chưa tương xứng với thời gian và công sức lao động mà họ bỏ ra. Song, nhu cầu có việc làm ổn định, có thu nhập khiến đa số LÐN chấp nhận thực tại, không đòi hỏi, thậm chí không biết tới khái niệm thương lượng, thỏa thuận về tiền lương, thu nhập, cũng như thời gian tăng ca.

Tại các DN lớn, đơn đặt hàng giảm sút, số công nhân bị sa thải hoặc không chịu được cảnh đồng lương eo hẹp, đành trở về quê, hoặc tìm kiếm việc làm mới. Số công nhân còn bám trụ, muốn ổn định với hy vọng sẽ qua “cơn bĩ cực” lại đang bị áp lực công việc đè nặng. Bảy rưỡi tối, ánh sáng lờ mờ từ những căn phòng trọ tại phường Cẩm Thượng (Thanh Miện, Hải Dương) mới bật sáng. Ấy là khi, công nhân mới tăng ca lục tục trở về. Sự mệt mỏi hiện rõ trên gương mặt cô công nhân Vũ Thị Mến (Công ty TNHH Global). Mến cũng như nhiều nữ công nhân khác, trong cuộc đời làm thuê của mình từng nhảy việc hai đến năm lần với hy vọng tìm kiếm một chế độ đãi ngộ tốt hơn. Trước khi chuyển sang Công ty Global, Mến làm tại Công ty May Hưng Long do khi ấy, Global áp dụng chế độ khoán thời gian. Tuy nhiên, sau khi chuyển sang công ty mới một thời gian, theo xu hướng của nhiều DN khác, Công ty Global chuyển sang khoán dây chuyền. Trước đây, 7 giờ 30 phút sáng mới bắt đầu một ngày làm việc, nhưng từ Tết ra, nhằm bảo đảm chỉ tiêu, công nhân công ty phải có mặt tại xưởng từ bảy giờ kém 15 phút. Bữa cơm trưa trước  kéo dài một tiếng, nay chỉ còn 15 phút ăn suất cơm đạm bạc qua quýt cho đỡ đói. Mến cho biết, áp lực công việc khiến nhiều chị em ngất xỉu ngay trên bàn máy. Chưa kể, nhiều nữ công nhân mới tuyển dụng, tay nghề thấp, bị tổ trưởng các dây chuyền, trưởng ca, quản đốc mắng chửi, sỉ nhục do tiến độ công việc chậm, làm hỏng sản phẩm, ảnh hưởng tới năng suất cả tổ. Mến thở dài: “Thực ra cũng chả trách được họ, vì họ cũng chịu áp lực của chủ DN, nhục chẳng khác gì chúng tôi. Một số tổ trưởng, trưởng dây chuyền, chịu không nổi cũng bỏ việc”. Ði với chúng tôi hôm ấy còn có chị Nguyễn Thị  Láng, Trưởng ban Tuyên giáo LÐLÐ tỉnh Hải Dương. Chị Láng cho biết, cách đây vài ngày, LÐLÐ tỉnh có nhận được lá đơn cầu cứu của một công nhân nữ (xin giấu tên, để tiếp tục thẩm tra thông tin) cho biết nhiều công nhân lớn tuổi ở công ty này bị chủ DN lấy tay hất mặt công nhân khi họ đang mải miết đạp máy khâu, quát: tại sao già thế này vẫn còn làm ở đây? Những hành vi, lời nói nhục mạ công nhân không chỉ gây ức chế cho bản thân người đó, mà ảnh hưởng tới tâm lý nhiều người khác trong dây chuyền. Khi chị Láng hỏi, hiện tượng đó có xảy ra tại Công ty Global không, Mến lảng tránh câu trả lời. Có lẽ, cô sợ liên lụy.

Nhằm ổn định tình hình sản xuất, doanh thu, nhiều DN chuyển từ khoán thời gian sang khoán sản phẩm, khoán dây chuyền, tăng ca dẫn tới tình trạng vi phạm quy định của Luật Lao động, Luật Công đoàn. Ðiển hình, Công ty TNHH Uniden Việt Nam (Hải Dương) chỉ tính riêng trong năm 2011 đã có 2.811 người lao động làm thêm từ hơn 300 đến 600 giờ/năm. Thật đắng lòng khi nghe Nguyễn Thị Trang, công nhân Công ty TNHH Việt Pháp (Hải Dương) giãi bày: “Tăng ca cũng chết, không tăng ca còn chết hơn. Ðối với nữ công nhân có gia đình, có con, thì muốn không phải tăng ca để về chăm sóc con cái. Nhưng đối với nữ công nhân chưa có gia đình, hoặc đem con gửi về cho ông bà ở quê, thì về sớm để chòng chọc nhìn nhau trong bốn bức tường chật chội, bí bách này ư? Chưa kể, tăng ca còn được ăn thêm bữa tối, tiết kiệm điện, nước, chi phí. Vậy nên, bọn em chỉ muốn càng tăng ca càng tốt, hòng kiếm thêm được chút thu nhập”.

Tình trạng vi phạm chính sách, pháp luật đối với CNLÐ nói chung, LÐN nói riêng tại nhiều DN diễn ra phổ biến, phần lớn vi phạm về chế độ thai sản, chế độ BHXH, không được ký hợp đồng lao động (HÐLÐ). Khi  nữ công nhân mang thai, hoặc nghỉ thai sản mà HÐLÐ hết hạn, phần lớn các DN không muốn ký tiếp. Nhiều doanh nghiệp ép LÐN thỏa thuận những điều khoản bất lợi như: không được lấy chồng hoặc sinh con trong một khoảng thời gian nhất định. Không bố trí thời gian làm việc phù hợp sức khỏe và chức năng làm mẹ của LÐN. Tuy nhiên, Phó trưởng Ban Nữ công, Tổng LÐLÐ Việt Nam Phạm Thị Thanh Hồng cho rằng: “Nhiều DN vì lợi nhuận mà làm ngơ không thực hiện đầy đủ chính sách đối với LÐN. Nhưng trong nhiều trường hợp, do thiếu hiểu biết về quyền và lợi ích chính đáng của mình, bản thân LÐN vô tình trở thành chủ thể vi phạm pháp luật lao động. Thí dụ, Luật Lao động quy định, nữ công nhân mang thai đến tháng thứ bảy sẽ được chuyển sang công việc nhẹ nhàng hơn, hưởng lương cơ bản. Nhưng nhiều chị em lại xin giữ nguyên vị trí làm việc, tăng ca, tăng giờ để có thêm thu nhập”. Việc khám sức khỏe định kỳ, khám phụ khoa, đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho LÐN không được quan tâm thực hiện. Thời gian gần đây, đứng trước tình hình khó khăn về việc làm, nhiều DN công khai đăng thông báo chỉ tuyển nam giới với lý do: nam giới có thể đi xa, làm đêm, tăng ca thoải mái, thể hiện sự bất bình đẳng giới trong vấn đề  tìm kiếm việc làm. 

Quan tâm mọi mặt đối với người lao động

Nếu như tiền lương là mối quan tâm hàng đầu của LÐN các tỉnh phía bắc, thì nhà giữ trẻ lại là nỗi ám ảnh, lo lắng của LÐN ở các tỉnh phía nam. Còn nhớ năm 2009, dư luận xã hội bất bình trước sự việc cháu Hồ Thị Thúy Ngân, ba tuổi bị bảo mẫu Trần Thị Phụng (xã Thuận Giao, huyện Thuận An, Bình Dương) hành hạ qua clip được truyền tải trên mạng. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hậu quả này, nhưng nguyên nhân chính là chị Nguyễn Thị Thanh, mẹ cháu là lao động nhập cư, không có cơ hội, điều kiện gửi con vào nhà trẻ công lập. Nhà trẻ tư thục có chất lượng thì không có tiền gửi, cha mẹ cháu đành đưa con tới gửi ở chỗ quen biết, gần nhà trọ. Thấm thoắt đã hơn hai năm kể từ  tai nạn đó, chúng tôi tới thăm gia đình anh chị ở hẻm 2/84 ấp Bình Thuận 1. Chị Thanh đang nghỉ việc để chờ sinh đứa con thứ hai. Chị khoe: Sau khi vụ việc xảy ra, công đoàn công ty, chính quyền địa phương can thiệp cho cháu học tại Trường mầm non công lập Hoa Mai, được nhà trường miễn phí tiền đóng học, tiền ăn một năm. Chị Thanh cũng chia sẻ, dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng sau khi sinh bé thứ hai, anh chị không còn lo lắng chỗ gửi trẻ nữa bởi sắp tới, công ty sẽ mở cửa nhà trẻ đón con em công nhân. Ðồng chí Trịnh Anh Tuấn, Chủ tịch Công đoàn cơ sở Công ty TNHH công nghiệp Hài Mỹ, giải thích thêm: Ngay sau vụ việc xảy ra, BCH công đoàn công ty đã mạnh dạn đề xuất, được Ban giám đốc  đồng ý xây nhà trẻ. Do quy trình thủ tục cấp phép xây nhà trẻ cho chủ đầu tư nước ngoài phức tạp, cho nên địa phương chỉ được cấp giấy phép thành lập nhóm trẻ. Ðến tháng 2-2012, nhóm trẻ được xây dựng trong khuôn viên công ty với diện tích 361 m2 với cơ sở hạ tầng đầy đủ, đội ngũ giáo viên theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Ðào tạo. Bước đầu nhóm trẻ đón 75 cháu theo quy định. Anh Tuấn cũng cho biết, dưới sự  hướng dẫn của Sở Giáo dục và Ðào tạo tỉnh Bình Dương, công ty đã hoàn tất các thủ tục cấp phép hoạt động trường mầm non. Khoảng giữa tháng 10 sẽ được công nhận là trường mầm non, khi ấy sẽ đón khoảng hơn hai trăm trẻ, đáp ứng 80% nhu cầu gửi trẻ của nữ công nhân công ty. Ðây là việc làm thiết thực, góp phần tạo sự gắn bó lâu dài của công nhân với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, những “điểm sáng” kiểu thế này khá hiếm hoi. Theo số liệu từ Ban Nữ công (LÐLÐ tỉnh Bình Dương), hiện toàn tỉnh có  28 KCN, trong đó có 26 KCN đi vào hoạt động với hơn hai nghìn DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng mới chỉ có chín DN trong các KCN xây nhà trẻ. Không có nhà trẻ, mẫu giáo, CNLÐ đành gửi con ở những điểm giữ trẻ tự phát, thiếu thốn cơ sở vật chất với những chủ nhóm trẻ không có chuyên môn nghiệp vụ. Trong khi các KCN, KCX liên tục hình thành và phát triển, CNLÐ ngày càng gia tăng về số lượng; hơn bao giờ hết, cần có nhà trẻ, mẫu giáo là nhu cầu cấp bách của NLÐ hiện nay.

CNLÐ nói chung và công nhân nữ đang làm việc trong các KCX, KCN cần và ước mơ nhiều thứ. Một công việc ổn định với điều kiện làm việc tốt. Một chế độ đãi ngộ thỏa đáng với mức thu nhập xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra. Một mái nhà đúng nghĩa với những đứa con được gửi trong những nhà trẻ đủ tiêu chuẩn giúp họ yên tâm làm việc. Một mơ ước chính đáng về sự hưởng thụ các giá trị, văn hóa tinh thần… Ðể thực hiện những ước mơ tối thiểu ấy, cần sự vào cuộc quyết liệt và sát sao của rất nhiều bộ, ngành. Trước mắt, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội LHPN Việt Nam, Tổng LÐLÐ Việt Nam và các bộ ngành có liên quan tiếp tục nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội cho phù hợp tình hình hiện nay. Khẩn trương nghiên cứu đề án xây dựng Luật tiền lương tối thiểu nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho NLÐ. Chỉ khi nào, NLÐ có một việc làm ổn định, với mức thu nhập tương xứng với sức lao động bỏ ra, khi ấy họ mới có thể yên tâm gắn bó với DN, phát huy sáng kiến, sáng tạo đóng góp cho sự phát triển chung của DN và đất nước.

Một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay, môi trường xã hội và hạ tầng dịch vụ xã hội trong KCN, KCX chưa tạo điều kiện thuận lợi cho LÐN. Quan niệm về KCN như một khu biệt lập thuần túy sản xuất, không có cơ sở hạ tầng xã hội là nguyên nhân đầu tiên khiến cho hầu hết các KCN mọc lên nhưng lại thiếu thốn các hạ tầng dịch vụ xã hội. Trong đó, thể hiện rõ nét nhất là việc không dành quỹ đất xây nhà ở, nhà trẻ. Giải pháp đưa ra trong tình thế này là Chính phủ cần chỉ đạo UBND các tỉnh chịu trách nhiệm tạo quỹ đất liền kề, xen kẽ các KCX, KCN để chính quyền địa phương xây dựng nhà trẻ, mầm non dưới sự hỗ trợ của doanh nghiệp theo Luật Lao động sửa đổi. Bên cạnh đó, Chính phủ cần ban hành những văn bản bổ sung chính sách ưu đãi đối với các DN sử dụng nhiều LÐN; sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc phân cấp trực tiếp trách nhiệm quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu, cụm công nghiệp tập trung cho Ban quản lý các KCN.

Với tư cách là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLÐ, Phó Chủ tịch Tổng LÐLÐ Việt Nam Nguyễn Hòa Bình cho biết: Thời gian tới, Tổng LÐLÐ Việt Nam đẩy mạnh phối hợp các cơ quan hữu quan tham mưu với Chính phủ ban hành các giải pháp bảo đảm nhà ở cho NLÐ có thu nhập thấp trong các KCN theo hướng Nhà nước hỗ trợ, kết hợp huy động nguồn lực từ địa phương và trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Tổng LÐLÐ Việt Nam đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của LÐN, tập trung đối tượng LÐN ngoại tỉnh.

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 8-10-2012.

(Còn nữa)

Bài và ảnh: ÐẶNG THANH HÀ

Posted in Uncategorized | 1 Comment »