Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư, 2013

30-4-2013

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2013

Có Ai Thích Được Giải Phóng đâu !!!???

Hoàng Dược Sư – X.Cafe.VN

Mon, 05/02/2011 – 02:25

http://www.x-cafevn.org/node/2097

 

Vậy là đúng 36 năm, kể từ ngày mất miền Nam thân yêu. Mất cả tên Saigon thân thương, mất cả tên những con đường với muôn vàn kỷ niệm. Và rồi còn bao nhiêu thứ mất mát đáng sợ hơn.

Ngày ấy, ngày 30/4/75, ngày mà cả miền Nam sống trong sợ hãi. Những chiếc xe tăng T54 ngênh ngang tiến vào thành phố, nghiến nát những con đường, những bãi cỏ xanh tươi mơn mởn. Ngày ấy dân miền Nam sợ xanh mặt, họ bồng bế nhau chạy trốn loạn lạc. Họ có muốn các anh vào giải phóng đâu!!

Ngày 30/4 là một ngày định mệnh đau buồn cho nước VN. Ngày đánh dấu cho một kiếp ô nhục, ngày mà đánh dấu những tang thương, mất mát, đoạ đày sau này cho con dân VN, ngày tiên đoán cho kiếp bị đô hộ, nô lệ cho giặc Tàu gần kề.

Chúng tôi có mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì đến giải phóng. Các anh mập mờ đánh lận con đen. Các anh dùng mỹ từ giải phóng để che giấu sự ăn cướp trắng trợn và dã man cuả các anh. Nếu các anh thật sự giải phóng chúng tôi thì tại sao chúng tôi lại bồng bế nhau chạy trốn. Chúng tôi chạy bán sống bán chết, chúng tôi bỏ cuả chạy lấy người. Vì sao? Vì chúng tôi ghê tởm các anh.

Các anh còn nhớ sau hiệp định Geneve 1954, tại sao cả triệu người bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả ông bà, bỏ tài sản mà trốn chạy các anh. Vì người ta đã quá biết bộ mặt đểu giả, giả nhân giả nghiã cuả các anh. Nếu các anh không ngăn cản để cho đồng bào miền Bắc tự do di cư vào miền Nam, thì số người di cư phải tới hơn 5 triệu người là ít. Những cảnh chia lià vợ chồng, con cái, chết chóc, thất lạc…là do ai tạo ra?

Sau ngày 30/4, khi nhà văn Dương thu Hương, lúc ấy còn là bộ đội, vào miền Nam thì quá ngỡ ngàng đến té ngửa ra, vì bị lường gạt bao nhiêu năm. Miền Nam văn minh, trù phú và đầy ắp tình người. Bà ta đã ngồi bệt xuống lề đường mà khóc, vì sự thật phũ phàng. Đó chính là tâm sự cuả bà đã được in thành sách. Các anh mới chính là những người cần được giải phóng!!!

Các anh reo vui trong chiến thắng, các anh ca hát “chưa thấy hôm nào đẹp như hôm nay, non nước tưng bừng lòng ta mê say…” Các anh hứa hẹn mang thanh bình cho đất nước.

Thế rồi các anh đánh tư sản, các anh vơ vét vàng bạc, tài sản cuả dân chúng. Các xí nghiệp công xưởng lớn nhỏ thì các anh tịch thu, phá hủy, cả nền công nghiệp cuả miền Nam bị phá sản. Mấy trăm ngàn quân nhân cán chính thì các anh trả thù, cho họ tù đày, với mỹ từ học tập cải tạo. Các anh tạo ra cảnh thê lương chia lià, vợ xa chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Như vậy các anh còn chưa hài lòng, các anh còn đì con cái họ bằng cách phân biệt lý lịch ngụy quan, ngụy quyền…khi họ thi tốt nghiêp, đi học, hay xin việc làm. Chưa hết, các anh còn kiểm soát tự do cuả người dân bằng những công an khu vực, giấy đi đường, bằng những tem phiếu, bằng những bobo, khoai, sắn. Người dân co cụm lại vì sợ hãi, vì đói rách, vì nghi kỵ lẫn nhau, vợ tố chồng, con tố cha…đưa đến một sự suy đồi về đạo đức trầm trọng. Cuối cùng các anh lại đổi tiền, để thừa dịp cướp bóc công khai giữa ban ngày.

36 năm rồi, các anh đã làm gì cho đất nước, hay chỉ thêm hoang tàn đổ nát, nghèo khổ và thất vọng. Các anh đã biến VN thành nước lạc hậu và nghèo nhất thế giới, phải ngửa tay đi xin khắp nơi trên thế giới. Các anh đã bán đất bán biển cuả tiền nhân tổ tiên cho Tàu Cộng, các anh nịnh nọt, đút lót cho kẻ thù, các anh hèn hạ gọi kẻ thù từng đô hộ mình cả ngàn năm là quan thầy, là mẫu quốc. Các anh còn biết xấu hổ hay không?

Các anh sợ mất Đảng, mất chỗ đứng mà không sợ mất nước. 36 năm rồi các anh vẫn còn nguyền ruả Mỹ,Ngụy. Các anh chửi họ là bọn Nguỵ quân, ngụy quyền, bọn Diệm Nhu, Thiệu kỳ…là bọn phản động, tay sai cho ngoại bang…chỉ biết ăn canh thừa, cá cặn cuả đế quốc…Các anh, cũng như các tờ báo lề phải không ngừng đả kích, chửi bới những người mà các anh gọi là phản động, là tàn dư Mỹ ngụy..Như vậy làm sao các anh đòi hoà hợp hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù để xây dựng đất nước được. Ai sẽ tin lời các anh, các anh muốn hoà hợp, hoà giải mà cứ chửi cha, chửi tổ tiên người ra, thì hoà giải cái nỗi gì.

Ngày 30/4 mỗi năm các anh tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng, thì hoà hợp ở đâu? Các anh đâu có thật sự muốn hoà giải. Các anh chỉ thích tiền và đô la cuả họ mà thôi. Các anh sợ 3 triệu Việt kiều Hải ngoại tạo phản, tạo áp lực với thế giới, nên phải vuốt ve, nịnh nọt Việt Kiều như khúc ruột ngàn dặm, để mỗi năm đám phản động đó gởi về cả chục tỷ mỹ kim cho các anh. Các anh hô hào, cổ võ cho Việt kiều về VN làm ăn, quê hương là chùm khế ngọt…Tất cả chỉ là dối trá và lường gạt mà thôi.

Thật vô phước cho đất nước VN. Mấy ngàn năm tổ tiên dựng nước thì tới thời CS là thời mạt kiếp. Tội lớn nhất cuả Hồ chí Minh là mang cái học thuyết CS ngoại lai, láo lếu, phi lý mất tính người vào VN, để rồi con dân VN chịu muôn vàn đau khổ.

Ôi đã 36 năm rồi, quê hương tôi còn đọa dày cho tới bao giờ!!?? Biết đến bao giờ các bạn thanh niên, các trí thức còn u mê, mê man bất tỉnh mở mắt ra nhìn vào sự thật…Giờ phút này có bao nhiêu triệu người đang ăn mừng ngày 30/4 tưng bừng náo nhiệt, và cũng có bao nhiêu người ngậm ngùi làm lễ giỗ cho vợ chồng,cha mẹ, hay anh em cuả họ…Như vậy có nên hoà hợp, hoà giải hay không? Tôi tin rằng 3 triệu người Việt lưu vong sẽ sẵn lòng độ lượng và tha thứ cho tất cả những nỗi nhục nhằn, cay đắng mà họ đã gánh chịu vì CS, nhưng họ không bao giờ quên. Họ nhớ để ôn cố tri tân, để không đi vào vết xe lịch sử cũ.

Hoàng dược Sư
30/4/2011.

Trần Hoàng điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

1./ Nhiều sách báo và tài liệu gần đây cho thấy rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger đã ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris 27-1-1973 kết quả là đã đưa tới sụp đổ miền Nam.

Nay nhiều bí mật khác nữa đã được tiết lộ, việc Mỹ cắt giảm quân viện cho miền Nam mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 cho biết cựu Bộ trưởng quốc phòng Laird, thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

Cụ thể, tiền quân viện của Mỹ dành cho miền Nam đã giảm dần từ sau năm 1973:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ), giảm 33% so với năm trước

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ), giảm 66% so với năm 1973.

Trong thời gian nầy, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng dầu tăng lên gấp bốn lần. Bởi vậy ngân khoản năm 1975 ấy chỉ có giá trị mãi lực trên dưới 350 triệu. Khoản quân viện 350 triệu vào năm 1975 đã thua kém quân viện cho miền Nam hồi năm 1963 là 384 triệu đô la.

Đại tướng  Cao Văn Viên nói: Vào tháng 1 năm 1975, quân đội miền Nam chỉ còn đủ số đạn được để đánh nhau trong 3 tuần. TT Nguyễn văn Thiệu lên truyền hình nói: Vì hết thuốc men và dụng cụ y tế, thậm chí ở các bệnh viện, các bác sĩ và y tá quân đội phải giặt lại các băng bông y tế cho sạch máu, để băng lại cho những chiến sĩ bị thương. Về đạn dược, mỗi khẩu súng đại bác chỉ được bắn mỗi ngày 2 quả.

Trong khi đó, CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự. Và trong giai đoạn 1965-1975, viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn hàng hóa quân sự, tức là viện trợ gia tăng gấp hơn 10 lần.

Trong khi đó, Trung Quốc và Liên Xô tranh nhau tăng viện trợ để dành ảnh hưởng của CSVN. Trung Quốc viện trợ 2 tỷ đô la mỗi năm, và Liên Xô viện trợ còn hơn thế nữa; tổng viện trợ của Trung Quốc dành cho Miền Bắc là 14 tỷ.

So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt ngầm của các siêu cường.

2./ Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược toàn cầu của Mỹ như sau: ‘Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế ‘sống chung nào đó’ với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần ‘cục kê’ của tụi nó’. Để rồi tướng Đính kết luận: ‘Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của VNCH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết mặc cho nền hoà bình này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội” Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 635, của tác giả Nguyễn Đức Phương.

Nguyễn Đức Phương kết luận.
Như vậy cả hai miền Nam, bắc Việt Nam đều không nhìn thấy được chính sách ngoại giao của Mỹ từ đầu thập niên 70 để tiếp tục cuộc chém giết. Mùa hè năm 1972 không cần thiết phải là một mùa hè rực lửa. Những trận đánh đẫm máu tại Cửa Việt, tại Sa Huỳnh đã hầu như vô nghĩa. Hiệp định Ba lê chỉ là một biên lai để khách hành nhận lại tù binh và đoạn chiến. Số phận của VNCH đã được định đoạt từ lâu và cũng không phải tại chiến trường.” CTVNTT trang 635, 636.

Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng nói.
 Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để ‘ngăn chặn làn sóng đỏ’ đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của thế giới Tự Do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi” Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 456, 457.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng các nhà chính trị Mỹ đã bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS.

Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Bắc Việt lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .

Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm.

Tháng 4-1945 , Tướng Paton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân, họ chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Constantin Virgil Gheorghiu trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Một thí dụ nữa về sự phản bội đồng minh mà người Mỹ từng làm. Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.

(Gần đây nhất là vào năm 1979,  người đồng minh Mỹ đã phản bội Đài Loan. Giới chính trị gia và tư bản Mỹ hy vọng rằng họ sẽ  nhiều quyền lợi kinh tế hơn một khi họ giao thiệp được với Trung Quốc, Năm 1979, Mỹ đã đóng cửa tòa đại sứ và ngưng bang giao với Đài Loan, không công nhận Đài Loan trên chính trường quốc tế, rồi đẩy Đài Loan ra khỏi Liên  Hiệp Quốc.  Cùng lúc ấy Mỹ quay sang công nhận và hổ trợ cho Trung Quốc vào  Liên Hiệp  Quốc).

Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có. Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng sản chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung Cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước.

Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kimtrong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”

Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho miền Nam VN số tiền khổng lồ ấy, mà tiền chiến phí cho chiến tranh VN là một chi phí tổng gộp bao gồm cả việc trả lương lính Mỹ, nhân viên quốc phòng Mỹ, cố vấn Mỹ, công nhân chế tạo vũ khí người Mỹ, chi phí di chuyển… những khoản tiền ấy lưu hành và chi tiêu trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước Mỵ hơn là ra ngoại quốc.

Chính phủ miền Nam VN chỉ nhận được chừng 2 tỉ đô la mỗi năm. Còn vũ khí thì tính cho đến năm 1971, chỉ trừ 3 sư đoàn TQLC, sư đoàn Nhảy Dù, các liên đoàn Biệt Động Quân là được trang bị súng tự động AR 15 hoặc M 16.

Hơn 10 sư đoàn còn lại chỉ được trang bị súng carbin M1, tiểu liên Thompson, súng trường là các vũ khí thời thế chiến thứ 2 hoặc của thế chiến thứ nhất còn sót lại trong kho, hoặc là các vũ khí mà quân đội Mỹ trang bị mới cho các đơn vị của họ, thải ra và cho quân đội miền miền Nam.

Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã chết tại VN, nhưng họ không hề đoái thương tới hàng mấy triệu người Việt Nam và Đông Dương chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. 

{VN trả lương 7 triệu công chức, 8,8 triệu người có công với cách .  (8,8 triệu người có công với cách mạng là các gia đình có con đi bộ đội vào Nam chiến đấu và đã chết trong chiến tranh VN 1954-1975 chiếm đa số, một số ít là những gia đình có con em chết trong chiến tranh 1979 với Kampuchia và Trung Cộng. Chí ít là có hơn 4 triệu bộ đội VN đã chết vì đảng CSVN đã gây ra 3 cuộc chiến tranh].

Người Mỹ cũng không hề thương tiếc cho 4 triệu người dân Miên vô tội đã bị Khmer đỏ tàn sát vì Mỹ đã bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn vào năm 1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng nói Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa.

nguồn: Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh của Trọng Đạt

(còn cập nhật thêm)

Advertisements

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975 ở Việt Nam?

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2013

30-4-1975: Thắng cuộc hay tội

đồ?

Trần Gia Phụng

25-4-2013

nguồn: danchimviet.info

Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30-4-1975.  Cho đến nay, cộng sản Việt Nam (CSVN) thường tự hào họ là bên thắng cuộc.  Nhân mùa Quốc hận năm nay, có lẽ nên thử trở lại vấn đề ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?
30-4-75-sai-gon-that-thu
1. Thế nào là bên thắng cuộc?
Trước hết cần phải xác định thế nào là thắng cuộc thì mới có thể biết bên nào thắng cuộc?  Thông thường, bên thắng cuộc là bên thực hiện được mục đích do chính bản thân đặt ra trước khi tham chiến.
Những bên tham chiến vừa qua là: 
-Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt Nam (BVN), 
-Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN),
-Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN). 
-Ngoài ra, phía BVN có Liên Xô và Trung Quốc viện trợ và gởi quân làm cố vấn và bảo vệ BVN. 
-Phía NVN có Hoa Kỳ viện trợ và gởi quân tham chiến.
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và MTDTGPMN tuy hai mà một, do đảng Lao Động (LĐ) điều khiển.  Tại Hà Nội, từ 5-9 đến 10-9-1960, diễn ra Đại hội đảng LĐ lần thứ III, được mệnh danh là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà”, đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa và “giải phóng hoàn toàn miền Nam…” (Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 2001, tt. 154-155.)  Sau Đại hội nầy, đảng LĐ thành lập MTDTGPMNVN, ra mắt tại Hà Nội ngày 12-12-1960 và ra mắt tại xã Tân Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (vùng chiến khu Dương Minh Châu) ngày 20-12-1960.
Trong chế độ dân chủ, quyền tuyên chiến, quyền quyết định chiến tranh, một vấn đề tối quan trọng, liên hệ đến vận mạng đất nước, thuộc về quốc hội, đại diện toàn dân quyết định.  Ở BVN, quyết định chiến tranh và tuyên chiến, lại do đảng LĐ quyết định, chứ không do quốc hội, chứng tỏ rõ ràng rằng đảng LĐ nắm quyền tuyệt đối ở BVN, và nhà cầm quyền Hà Nội chỉ là bù nhìn của đảng LĐ mà thôi.  Thế là BVN khởi binh đánh NVN.
Tuy viện cớ thống nhất đất nước, nhưng thực sự đảng LĐ quyết tâm đánh chiếm miền Nam vừa vì tham vọng bành trướng cố hữu của CS, vừa làm tay sai quốc tế cho Liên Xô và Trung Quốc.  Lê Duẫn bí thư thứ nhất đảng LĐ, đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” (Vũ Thư Hiên,Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)
Liên Xô (LX) và Trung Quốc (TQ) đều mang đặc tính chung của các nước CS là luôn luôn chủ trương bành trướng ( chiếm các nước láng giềng nhỏ), và bá quyền. Tại LX, ngày 1 5-10-1964, Leonid Brezhnev đảo chánh và lên làm thư ký thứ nhất đảng CSLX thay Nikita Khrushchev.  Brezhnev, tăng cường viện trợ BVN, gởi quân và chuyên viên sang giúp BVN.  Đây là khởi đầu chủ trương can thiệp mới của Liên Xô, mà về sau các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev, theo đó. “Nguyên lý Xô viết về luật quốc tế khẳng định quyền của Cộng đồng Cộng sản can thiệp bất cứ ở đâu mà các lực lượng nội tại và ngoại lai thù địch đối với chủ nghĩa cộng sản tìm cách biến đổi sự phát triển một nước theo chủ nghĩa xã hội hướng về chủ nghĩa tư bản, một tình thế được xem có tính cách đe dọa đối với tất cả các nước cộng sản.” (The New Lexicon Webster’s Encyclopedic Dictionary of English Language, Nxb. Lexicon, New York, 1988, mục “Brezhnev Doctrine”.)
Trung Quốc ở sát ngay phía bắc của Việt Nam.  Từ năm 1950, TQ giúp CSVN vừa vì sự cầu viện của CSVN và của Hồ Chí Minh, vừa vì lợi ích an ninh bản địa TQ.  Mao Trạch Đông đã từng nói: “Không thể chỉ nói Trung Quốc giúp Việt Nam, phải nói rằng Việt Nam cũng giúp Trung Quốc là sự giúp đỡ lẫn nhau.”(La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch. Montreal: Nxb. Tạp chí Truyền Thông (in lại), số 32 & 33, 2009, tr. 27.)
Thật vậy, từ năm 1956, mối bang giao TQ – LX rạn nứt.  Liên Xô bao vây TQ ở phía bắc và phía tây.  Phía tây nam, Ấn  Độ chận TQ.  Phía đông (biển Thái Bình) là hàng rào ba nước đồng minh của Hoa Kỳ và ký hiệp ước phòng thủ song phương với Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Nếu để cho Hoa Kỳ bao vây luôn Bắc VN, thì TQ bị chận hết các đường ra biển.  Vì vậy, TQ giúp BVN chẳng những do ý thức hệ CS và sự cầu viện của BVN, nhưng đồng thời cũng do TQ bị bao vây các mặt, trừ một phần phía nam TQ là BVN.
Năm 1954, chính phủ Quốc Gia Việt Nam không đồng ý chia hai đất nước, nhưng nghiêm chỉnh thi hành hiệp định Genève (20-7-1954).  Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa năm 1955.  Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ tự do dân chủ, dầu hạn chế vì chiến tranh, duy trì nền văn hóa dân tộc cổ truyền, hệ thống giáo dục khai phóng, cởi mở, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại cuộc xâm lăng của BVN.  Tuy nhiên, vì yếu sức, VNCH phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.
Sau thế chiến thứ hai, từ năm 1946, trên thế giới bắt đầu xảy ra chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và CS.  Hai khối tư bản và CS tranh chấp quyết liệt trên toàn cầu.  Tuy vậy Hoa Kỳ và Liên Xô tránh đụng độ trực tiếp vì cả hai đều thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai đều thiệt hại.  Tình trạng tranh chấp căng thẳng nhưng không đánh nhau nầy, gọi là chiến tranh lạnh.
Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô và khối CS dùng chiêu bài giải phóng dân tộc để tuyên truyền và bành trướng thế lực.  Hoa Kỳ và khối tư bản cho rằng khi một nước bị CS chiếm quyền, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay CS, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo.   Đó là nguồn gốc thuyết domino tại các nước Tây phương, nhất là Hoa Kỳ.
Vì vậy, khi TQ (ngày 18-1-1950) rồi LX (ngày 30-1-1950) thừa nhận nhà nước VNDCCH do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, thì Hoa Kỳ (ngày 4-2-1950) và Anh (ngày 7-2-1950) thừa nhận chính phủ QGVN do Bảo Đại làm quốc trưởng.  Từ đó, Hoa Kỳ giúp Pháp và QGVN chống lại CSVN.
Sau hiệp định Genève, Việt Nam bị chia hai.  Để ngăn chận làn sóng CS ở Đông Á, nhất là ngăn chận Trung Quốc xuống phía nam, Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á(Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954.  Từ đó ra đời Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization, SEATO), gồm các nước Australia (Úc), France (Pháp), New Zealand (Tân Tây Lan) Pakistan (Hồi Quốc), Philippines (Phi Luật Tân), Thailand (Thái Lan), United Kingdom (Anh), và United States of America (Hoa Kỳ).
Trong phụ bản (protocol) của hiệp ước SEATO, ba nước Cambodia (Cao Miên), Laos (Lào) và NVN được liệt kê trong vùng lãnh thổ được SEATO bảo vệ.  Hoa Kỳ dựa vào phụ bản nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á, và giúp xây dựng NVN thành một “tiền đồn chống cộng”.  Lúc đầu, Hoa Kỳ chỉ gởi cố vấn sang giúp NVN.  Từ năm 1965, Hoa Kỳ đưa quân trực tiếp tham chiến.
Tuy nhiên, vào cuối thập niên 60, tình hình thay đổi.  1) Giới phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam. 2) Trong khối CS, cuộc tranh chấp LX-TQ càng ngày càng trầm trọng.  Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chính sách ngoại giao toàn cầu.  Khi lên cầm quyền năm 1969, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon quyết định rút quân ra khỏi NVN bằng kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh nhằm yên lòng dân chúng Hoa Kỳ; đồng thời Nixon thay đổi chính sách ngoại giao đối với khối CS, hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô, đào sâu sự chia rẽ giữa LX và TQ.
Richard Nixon sang thăm TQ từ 21-2 đến 28-2-1972, và ký kết với thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai  bản Thông cáo chung Thượng Hải (Shanghai) ngày 28-2-1972, làm nền tảng cho chính sách của cả hai bên về Đông Á cho đến ngày nay.  Tiếp theo, Richard Nixon thăm Liên Xô từ 22 đến 30-5-1972, cùng Leonid Brezhnev ký kết hiệp ước SALT (Strategic Arms Limitation Treaty = Hiệp ước giới hạn võ khí chiến lược) ngày 26-5-1972, và hứa hẹn sẽ cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc (most favored nation).
Sau hai cuộc viếng thăm nầy, Hoa Kỳ ký hiệp định Paris ngày 27-1-1973, đơn phương rút quân khỏi Việt Nam.  Quốc hội Hoa Kỳ giảm viện trợ cho VNCH.  Quân đội VNCH thiếu nhiên liệu, thiếu phương tiện chiến đấu, đành buông súng; VNCH sụp đổ ngày 30-4-1975.
2.  Ai là bên thắng cuộc
Dựa trên mục đích của các bên tham chiến và diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam được sơ lược trên đây, vấn đề đặt ra là ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?
30-4-75-sai-gon-that-thu-2
Trước hết và rõ ràng nhất, sau cuộc chiến vừa qua, người CS thường huyênh hoang tự hào là họ là kẻ thắng cuộc.  Quả thật, ngày 30-4-1975, VNCH sụp đổ, VNDCCH chiếm được NVN, thực hiện mục tiêu “giải phóng” miền Nam đã được đề ra trong Đại hội III đảng LĐ ở Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960.  Tuy nhiên, sau khi CS làm chủ toàn bộ đất nước, CS có thật sự là bên thắng cuộc hay không?
Ngay tức khắc, sau khi CS chiếm NVN, khoảng 150,000 người di tản ra nước ngoài.  Tiếp đến là phong trào vượt biên.  Dầu CS kiểm soát gắt gao, khoảng trên 1,500,000 bỏ nước ra đi bằng tất cả các phương tiện, “cây cột đèn cũng muốn ra đi”, trong đó khoảng 500,000 người bỏ mình ở biển Đông.  Biển Đông trở thành nghĩa địa biển lớn nhất thế giới.  Ở trong nước, nhiều phong trào nổi lên chống đối CS đều bị đàn áp.  Như thế, CS chiến thắng bằng súng ống, chiếm được đất đai, nhưng hoàn toàn thất bại về nhân tâm, không chiếm được lòng người, không thống nhất được lòng dân.
Những người ra đi bị ghép tội “phản động”, chạy theo bơ sữa “đế quốc Mỹ” năm 1975, sau đó bỗng chốc trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, “Việt kiều yêu nước”.  Nhà nước CS kêu gọi hòa giải hòa hợp với “khúc ruột ngàn dặm”, nhưng chỉ có một nhóm người đếm được trên đầu ngón tay, tìm kiếm chút hư danh, về nước nói là “đóng góp xây dựng đất nước”, trong khi đại đa số người Việt hải ngoại chẳng có nhu cầu hòa giải hòa hợp với CS toàn trị.  Về Việt Nam du hí thì có, nhưng về Việt Nam để giúp chế độ CS thì không.  Như thế, CSVN có phải là “bên thắng cuộc” hay không?
Phải vay nợ súng ống thì mới có súng ống chiến đấu.  Cộng sả n Vay nợ LX và TQ.  Vay nợ thì phải trả nợ.  Sau năm 1975, CSVN trả nợ LX, giao hải cảng Cam Ranh cho LX và muốn chạy theo LX để xù nợ TQ, liền bị TQ dạy cho một bài học năm 1979, làm 6 tỉnh biên giới tan hoang.  Năm 1990, khối Đông Âu sụp đổ, CSVN quay qua đầu phục TQ ở Thành Đô (TQ), đưa đến các hiệp ước 1999 và 2000, mất đất mất biển.  Sau đó còn nhiều chuyện tiếp theo, thuê rừng, khai thác bauxite, tấn công ngư dân…
Sau năm 1975, một điểm nổi bật là hầu hết người BVN, từ cán bộ, bộ đội, đến thường dân, khi vào Nam đều học theo cách sống của người Nam, chứ hầu như người Nam không học theo người Bắc.  Người Bắc (1975) thích ăn bận theo người Nam, đua đòi thời trang miền Nam, nghe nhạc Nam mà CS gọi là “nhạc vàng”, đọc sách Nam, từ tiểu thuyết  trữ tình, tiểu thuyết kiếm hiệp đến văn chương, triết học, và làm tất cả các cách để thành người Nam.  Ngay cả những cán bộ cao cấp trong Bộ chính trị đảng LĐ (năm 1976 cải danh thành đảng CS) cũng từ bỏ bộ áo quần đại cán cao cổ để ăn bận Âu phục theo kiểu người Nam.  Chẳng những thế, hầu như toàn thề BVN cũng được Nam hóa, trang bị bằng sản phẩm của NVN, nghĩa là được đồng hóa theo NVN. Cho đến nay, CSVN muốn trở lại con đường của NVN, duy chỉ muốn bảo vệ quyền lực đảng CSVN.  Ngang đây, cũng tạm đủ để cho thấy CSVN có phải là kẻ thắng cuộc hay không?
Về phần VNCH, ngày 30-4-1975, quân đội VNCH bị thiếu tiếp liệu, súng ống, đành phải ngưng chiến đấu.  Chính phủ VNCH sụp đổ.  Cộng sản đặt ách thống trị lên NVN.  Tuy nhiên, dân chúng còn bị kẹt lại ở trong nước, vẫn quy hướng về chính thể VNCH, vẫn mong muốn hít thở không khí tự do dân chủ của VNCH, luôn luôn tưởng nhớ VNCH, nghĩa là linh hồn VNCH vẫn còn đó.  Vì bị đàn áp, dân chúng đành lặng thinh, nhưng ai ai cũng mong sẽ có ngày giải trừ CS, tái xây dựng chế độ Cộng hòa.  Vậy làm thế nào giải thích hiện tượng nầy?  Phải chăng VNCH chỉ tạm thời thất bại năm 1975 nhưng vẫn chưa bị tiêu diệt.  Anh linh VNCH còn đó.  Ai cũng tin sẽ có ngày VNCH phục sinh.  Thời gian sẽ trả lời.
Về các nước ngoài:  Hoa Kỳ mang tiếng là đã bị CSVN đánh cho “Mỹ cút”, nhưng thật sự Mỹ không cút, Mỹ cũng chẳng “tháo chạy” (như tựa đề quyển sách Khi đồng minh tháo chạy), mà phải nói cho thật đúng diễn tiến lịch sử là Mỹ tức Hoa Kỳ ngưng, không tiếp tục hiện diện ở Việt Nam vì thay đổi chiến lược toàn cầu của họ, và Hoa Kỳ đã thành công trong các mục tiêu chiến lược của họ:  Rút quân khỏi Việt Nam, giải quyết chuyện nội bộ Hoa Kỳ, bắt tay với Trung Quốc, và cuối cùng chiến thắng cuộc chiến tranh lạnh với LX khi LX sụp đổ năm 1991.  Riêng nội bộ Hoa Kỳ, nhân dân Hoa Kỳ mất gần 60,000 thanh niên ưu tú trong chiến tranh Việt Nam.  Đổi lại Hoa Kỳ thí nghiệm nhiều loại võ khí tối tân tại Việt Nam, kể cả những chuyến oanh kích thử nghiệm đầu tiên của B52.  Tư bản kỹ nghệ võ khí Hoa Kỳ thu lợi như thế nào thì không được thống kê đầy đủ.
Ngoài ra, một số đồng minh của Hoa Kỳ cũng hưởng lợi:  Nhật Bản phục hưng nhanh chóng nền kỹ nghệ sau thế thiến thứ hai nhờ cung cấp hàng tiêu dùng cho Việt Nam, nhất là cho quân nhân Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam.  Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân nhờ VNCH làm lá chắn ngăn chận làn sóng CS và các nước nầy kịp phục hồi kinh tế và an ninh để chống lại sự bành trướng của TQ.
Trung Quốc thu lợi nhiều mặt.  Trước hết, thông qua chiến tranh Việt Nam, TQ bắt tay được với Mỹ năm 1972, được Mỹ thừa nhận chỉ có một nước TQ, công nhận Đài Loan là một phần lãnh thổ TQ, công nhận không kiếm cách làm chủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chống đối bất kỳ nước nào hay nhóm nước nào muốn làm bá chủ vùng nầy, ý ám chỉ Liên Xô.  Đó là những điều TQ mong muốn nhất.
Về biển Đông, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ để TQ viện trợ cho BVN đáng NVN.  Vì vậy năm 1974, nhân cơ hội VNCH bị Mỹ bỏ rơi, bị BVN tấn công dồn dập, TQ ra tay cướp đoạt Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VNCH.  Sau năm 1975, khi CSVN chạy theo LX, muốn trốn nợ TQ.  Trung Quốc liền đánh 6 tỉnh biên giới năm 1979, dạy cho CSVN một bài học.  Vì vậy, khi Đông Âu lung lay, CSVN qua Thành Đô xin đầu hàng TQ năm 1990, đưa đến hai hiệp ước 1999 và 2000.  Trung Quốc chiếm đất, chiếm biển của Việt Nam.  Như vậy, tuy không được tiếng là bên thắng cuộc, nhưng TQ là kẻ thu hoạch nhiều nhất sau chiến tranh Việt Nam.
Liên Xô viện trợ cho BVN không kém gì TQ.  Đầu năm 1975, viện trợ của LX cho BVN để BVN đánh NVN tăng gấp bốn lần so với trước. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.)  Sau năm 1975, Việt Nam gia nhập khối COMECON (Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế) ngày 27-6-1978.  Ngày 3-11-1978, Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN, sang Liên Xô và ký với Leonid Brezhnev, tổng bí thư đảng CSLX, Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa hai nước.  Từ sau hiệp ước nầy, hải quân Liên Xô bắt đầu tiến vào sử dụng hải cảng Cam Ranh làm căn cứ tại Viễn đông.
Có hai ảnh hưởng gián tiếp đáng ghi nhận sau chiến tranh Việt Nam:  1) Khi rời bỏ Việt Nam năm 1975, Hoa Kỳ chủ trương để lại nguyên vẹn và không phá hủy tất cả máy móc thiết bị mà Hoa Kỳ giao lại cho VNCH.  Cộng sản rất mừng tiếp nhận được những chiến lợi phẩm nầy.  Sau ngày 30-4-1975, đại diện các nước CS trên thế đến thăm viếng NVN, chúc mừng sự thành công của CSVN, rất ngạc nhiên về những chiến lợi phẩm nầy, sự tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, y khoa của Hoa Kỳ so với Liên Xô mà lâu nay Liên Xô bưng bít, giấu kín.  Nhờ đó, các nước Đông Âu mới biết rõ sự cách biệt giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, khiến họ giảm tin tưởng đối với đàn anh Liên Xô và bắt đầu nhìn về phía Hoa Kỳ, nhập cảng sản phẩm của Hoa Kỳ, tạo tâm lý thuận lợi cho sự sụp đổ của khối CS.  2) Làn sóng vượt biên vĩ đại của người Việt Nam chạy ra nước ngoài tỵ nạn CS sau năm 1975, khiến cho lương tâm thế giới, nhất là các nước Tây Âu, lâu nay thiên tả là một “thời trang”, bừng tỉnh về giấc mộng “xã hội chủ nghĩa”, ghê sợ và chán ghét các chế độ CS.  Các nước Tây Âu quay qua giúp đỡ các phong trào kháng chiến ở các nước CS Đông Âu, góp phần dần dần đưa đến sự sụp đổ của hệ thống CS Đông Âu.
Kết luận
Đặt kết quả chiến tranh Việt Nam trong chiều rộng của không gian và trong chiều dài của thời gian, mà vẫn khó có thể thẩm định ai là bên thắng cuộc.  Tuy nhiên chắc chắn có hai điều rất rõ ràng: 1) Toàn dân Việt Nam ở cả Bắc và Nam Việt Nam đều thua cuộc về nhiều mặt.  Ngoài thiệt hại vật chất, nhà cửa, ruộng vườn, hàng triệu gia đình tan nát vì chủ nghĩa CS, hàng triệu người tử vong vì chiến tranh do CS gây ra, nền văn hóa và đạo đức suy đồi trầm trọng.  2)  Thủ phạm của tấn thảm kịch nầy chính là kẻ đã du nhập chủ nghĩa CS ngoại lai bạo tàn, chính là kẻ đã rước voi về giày mồ tổ tiên, chính là kẻ chủ trương gây chiến để phục vụ quyền lợi ngoại bang và chỉ làm lợi cho ngoại bang dù là CS hay tư bản.  Chúng là những tên phản quốc dâng đất, dâng đảo, dâng biển cho kẻ thù phương bắc.  Đám nầy không ai khác hơn là tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN.  Sau năm 1975, chúng dần dần lộ diện.  Chúng mất trắng tất cả vốn liếng chính trị mà chúng đã dày công lừa phỉnh toàn dân Việt Nam và thế giới.  Chúng không phải là bên thắng cuộc.  Chúng chẳng những trở thành kẻ thua cuộc, mà chúng còn là tội đồ dân tộc.  Lịch sử sẽ ghi tội, hậu thế sẽ đời đời lên án.

(Toronto, Quốc hận 2013)

© Trần Gia Phụng

© Đàn Chim Việt

——————–

Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

25-2-2013

Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2 đưa phát biểu tại Vĩnh Phúc của TBT ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng như sau: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức … Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không? Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!”(*)

Nghe âm thanh tại đây

Bằng tất cả sự tôn trọng dành cho người đang đứng đầu một đảng chính trị của VN, tôi xin nói với ông Nguyễn Phú Trọng vài lời như sau:

Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách. Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ “suy thoái” thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước. Nếu ông và các đồng chí của ông muốn giữ Điều 4, muốn giữ vai trò lãnh đạo, muốn chính trị hóa quân đội, không muốn đa đảng, không muốn tam quyền phân lập, thì đó chỉ là ý muốn của riêng ông và ĐCS của ông. Ông không thể quy kết rằng đó là ý muốn của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, nhữngý muốn trên chỉ nên xem là của riêng ông TBT Trọng, chưa chắc đã là tâm nguyện của toàn bộ đảng viên cộng sản hiện nay.

Tiếp theo, xin đi vào nội dung, ông nói suy thoái về đạo đức. Tôi muốn hỏi ông, đạo đức của ông đang muốn nói là đạo đức nào? Đạo đức làm người? Đạo đức công dân? Đạo đức dân tộc VN? … Tôi tạm đoán là ông đang muốn nói đến đạo đức người cộng sảncủa các ông. Vậy, các ông cho rằng chỉ có đạo đức cộng sản của các ông là đạo đức đích thực? Thế ra, cha ông tổ tiên chúng ta, khi chưa có chủ nghĩa cộng sản vô đạo đức hết à? Thế ra, những người không theo đảng cộng sản trên thế giới là vô đạo đức hết à?

Tiếp theo, xin đi vào nội dung suy thoái chính trị, tư tưởng. Tôi muốn hỏi ông, chính trị, tư tưởng ông đang muốn nói là chính trị, tư tưởng nào? Có phải chính trị, tư tưởng của đảng cộng sản? Vậy ra chỉ có đảng cộng sản của các ông là duy nhất đúng à?Cá nhân tôi cho rằng, không một người có lương tri bình thường nào thừa nhận như thế. Cùng lắm ông chỉ có thể nói với các đảng viên cộng sản như vậy, nhưng ngay cả với các đảng viên cộng sản, ông cũng không thể quy kết tội suy thoái cho họ. Nếu không tin, ông thử đọc lại Cương lĩnh chính trị và Điều lệ đảng các ông ban hành xem. Không có điều nào nói xóa bỏ Điều 4 là suy thoái, muốn đa nguyên về chính trị là suy thoái, muốn phi chính trị hóa quân đội là suy thoái, chỉ có tham ô, tham nhũng…  đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc là suy thoái. Ông đương kim Tổng bí thư ĐCS VN thử đọc lại và nghĩ lại chỗ này xem.

Bây giờ, tôi trân trọng tuyên bố những điều tôi muốn:

  1. Tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới thực sự là ý chí của toàn dân Việt Nam, không phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện hành.
  2. Tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước.
  3. Tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tức là tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách, tham nhũng của cải của nhân dân, phá hoại niềm tin, ý chí và tinh thần đoàn kết dân tộc.
  4. Tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội. Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào.
  5. Tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng; quyền này mỗi người sinh ra đã tự nhiên có, nó được nhân dân Việt Nam thừa nhận và tôn trọng; quyền này không phải do đảng cộng sản của các ông ban cho, nên các ông cũng không có quyền tước đoạt hay phán xét nó. Vì thế, tôi có thể xem những lời phán xét trên của ông, nếu có hướng đến tôi là một sự phỉ báng cá nhân. Và tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

Nguyễn Đắc Kiên

Nhà báo, Báo Gia đình & Xã hội

(*)Nguồn: Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2; phần âm thanh và gỡ băng của Anhbasam.

632 phản hồi

———————

Về Những Xác Chết Biết Đi

Nguyễn Đắc Kiên

04-04-2013

Tôi không thấy mức án VKS đưa ra là nhẹ, dù ông Quý đã vừa khóc vừa nói, mong tòagiữ nguyên mức án VKS đã đề nghị áp dụng cho anh trai – ông Vươn, 5-6 năm tù. Nhưng tôi cũng sẽ không nhìn vào mắt các vị quan tòa để tìm kiếm tia hy vọng mong manh cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, được xử trắng án.

Những người chịu trách nhiệm phán xử trong vụ án Nọc Nạn năm xưa là những con người tự do. Ngoài mệnh lệnh chính trị của chính quyền thực dân, họ còn phải chịu sự phán xét của tòa án, một tòa án cấp cao hơn, cấp tối cao trong mỗi con người, đó là tòa án lương tâm. Đây chính là khác biệt căn bản của họ với những người đang chịu trách nhiệm phán xử vụ án Tiên Lãng, những nô lệ khoác bộ áo quan tòa.

Khi người ta không được tự do trong hành xử của mình thì họ cũng thấy mình không phải chịu trách nhiệm với những phán quyết mà họ đưa ra. Tất nhiên khi đó họ cũng không phải đối mặt với tòa án lương tâm của chính họ. Giả sử nếu có lúc nào đó họ phải đối mặt thì họ cũng tìm ngay ra một kẻ để đổ lỗi, đó là cấp trên, là lãnh đạo, là hệ thống… Rồi họ tự kết luận, họ vô tội. Họ cũng chỉ là nạn nhân.

Điều tồi tệ hơn, trong xã hội Việt Nam ngày nay, những ông quan tòa của chúng ta không phải là những kẻ hiếm hoi, lạc loài, trái lại, họ dễ dàng tìm thấy những kẻ đồng lõa với mình ở khắp mọi nơi. Đó là ông bác sỹ, anh công an, chú nhà báo, ông bạn kỹ sư, cô hàng nước gần nhà, anh xe ôm đầu ngõ… họ tìm thấy một tình trạng nô lệ, một sự sự vô trách nhiệm, vô trách nhiệm như một lẽ tất yếu, nô lệ như một lẽ tất yếu, được phổ biến khắp nơi, len lỏi đến từng ngõ ngách của cuộc sống.

Trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt, nghệ sỹ Kim Chi nhận định rằng: “Nếu người ta thả bổng cho Đoàn Văn Vươn, cho gia đình anh ta, thì điều đó sẽ thu phục được lòng dân. Còn nếu mà lấy quyền, lấy luật rừng để mà trừng trị một người lương thiện như thế, thì nhất định là tức nước thì phải vỡ bờ thôi”.

Tôi có thể phần nào đồng ý với nghệ sỹ Kim Chi ở vế thứ nhất, còn ở vế thứ hai thì chắc chắn không. Dù kết quả vụ án Đoàn Văn Vươn thế nào thì cũng không dễ gì có chuyện “tức nước vỡ bờ” trong hoàn cảnh hiện nay. Đa số người dân chỉ “tức nước vỡ bờ” khi những quyền lợi thiết thân của họ bị xâm phạm, như đầm tôm với gia đình ông Vươn, còn ngược lại, sự cảm thông với hoàn cảnh bất hạnh, hay bất bình vì oan trái cùng lắm chỉ gây nên xót xa – căm hận ở trong lòng mà thôi. Một số ít sẽ tỏ thái độ, còn đa phần sẽ làm ngơ. Và cũng như các vị quan tòa trong vụ án Đoàn Văn Vươn, những người làm ngơ sẽ có đủ lý lẽ để biện hộ cho mình.

Đó chính là điều tồi tệ nhất mà một hệ thống toàn trị có thể tạo ra. Những lầm lỗi, thậm chí là tội ác về kinh tế dễ gây bất bình, phẫn nộ cho công luận, nhưng suy cho cùng nó lại là những tội lỗi để lại ít hậu quả và dễ khắc phục. Còn những tội ác làm phá hủy tận căn để lương tri con người thì khó nhận biết hơn, gây phẫn nộ ít hơn, lại khó cứu vãn và để lại hậu quả ghê gớm hơn gấp nhiều lần. Tình trạng nô lệ, sự vô trách nhiệm được gieo rắc phổ biến nơi con người trong các chế độ toàn trị là một trong những tội ác như thế. Nó như một thứ thuốc độc ma mãnh, từng lúc từng lúc len lỏi vào tận xương cốt mỗi con người phá hủy tận gốc dễ, căn để, bòn rút toàn bộ sức mạnh sáng tạo, động lực phát triển của xã hội.

Không có chuyện “tức nước vỡ bờ”, nhưng nếu vụ án Đoàn Văn Vươn kết thúc bằng một bản án khắc nghiệt, một sự hủy hoại trong mỗi con người, niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội chắc chắn sẽ gia tăng. Khi niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội bị xói mòn, con người sẽ bị đẩy sâu hơn vào các lợi ích thiết thân. Họ sẽ tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, gia đình mình, lợi ích riêng tư của mình và không ngần ngại nếu có thể, xâm phạm vào lợi ích người khác, lợi ích xã hội. Đồng thời cũng chính những con người này, họ cũng sẽ sẵn sàng kháng cự lại bằng “luật rừng” nếu có thể với mọi sự xâm hại đến lợi ích bản thân và gia đình họ.

Những người có trách nhiệm với đất nước cần nghĩ đến những hệ quả sâu xa này.Étienne Vacherot, triết gia, chính trị gia Pháp thế kỷ 19 đã viết: “Chế độ chuyên quyền là trường học tồi tệ nhất cho nền dân chủ”. Tôi đồng ý với nhận định này. Người ta hay lấy những cuộc biểu tình, những bất ổn chính trị ở Thái Lan để chỉ trích chế độ dân chủ. Nhưng tôi thì lại thấy rằng đó là những sự “tập dượt dân chủ” không tránh khỏi và tin rằng không lâu nữa, người Thái sẽ có một chế độ dân chủ đủ trưởng thành để đưa đất nước họ vào một quỹ đạo phát triển bền vững. Sau khi viết những lời trên trong cuốn La Démocratie, năm 1859, tức là 70 năm sau cách mạng Pháp 1789, Étienne Vacherot đã bị bắt vào tù, với mức án 1 năm (sau được giảm xuống còn 3 tháng). Rõ ràng người Pháp đã chẳng được cho không nền dân chủ tự do của họ có bây giờ.

Thật nực cười khi muốn đất nước có dân chủ tự do mà lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo gọi là “mất ổn định”. Với cá nhân mỗi con người, tôi không thấy những người lúc nào cũng chỉ chăm chăm một cuộc sống bình yên có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa trong cuộc đời của họ.

Xin hãy nghe lại lời Patrick Henry, lãnh tụ Cách mạng Mỹ, phát biểu ngày 23/3/1775: “Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”

Nguyễn Đắc Kiên

dackien.wordpress.com

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►‘Bất mãn chưa từng thấy’?

Posted by hoangtran204 trên 24/04/2013

‘Bất mãn chưa từng thấy’?

 thứ tư, 24 tháng 4, 2013

– Nhật báo New York Times hôm thứ Tư ngày 24/4 vừa đăng một bài báo về lòng tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tình hình khó khăn hiện nay.
 
Dưới tiêu đề ‘Những lúc khó khăn cũng là lúc bất đồng và trấn áp công khai nở rộ ở Việt Nam’, nhà báo Thomas Fuller của New York Times đã đưa ra quan sát này trong một lần đi tìm hiểu thực tế mới đây ở thành phố Hồ Chí Minh.
 
Nhân vật chủ đạo trong bài báo là giáo sư Nguyễn Phước Tương (tức Tương Lai), cựu cố vấn của hai đời thủ tướng Việt Nam.
 
Ngoài ra ký giả này cũng đã trao đổi với ông Trương Huy San (tức nhà báo Huy Đức), một cựu cố vấn khác của thủ tướng là Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh, cũng như một số nhà quan sát khác để tìm hiểu về tình hình kinh tế chính trị của Việt Nam hiện nay.
‘Không tin Đảng nữa’
 
“Trên các kệ sách chất đầy các tuyển tập của Marx, Engels và Hồ Chí Minh, dấu ấn của một đời trung thành với Đảng Cộng sản, nhưng ông Nguyễn Phước Tương, 77 tuổi, nói ông không còn tin vào Đảng nữa,” bài báo bắt đầu từ tư gia của GS Tương Lai ở ngoại ô thành phố lớn nhất nước.
 
“Ông Tương, cũng giống như rất nhiều người khác ở Việt Nam hiện nay, đang lên tiếng phản đối chính quyền mạnh mẽ.”
 
“Chế độ của chúng tôi là độc tài toàn trị,” ông Tường được dẫn lời nói, “Tôi là người sống trong lòng chế độ – tôi biết tất cả những khiếm khuyết, những sai lầm sự suy thoái của nó.”
 
“Trong vòng 21 năm sống ở đất nước này tôi chưa bao giờ sự bất mãn với chế độ của trí thức và doanh nhân đến mức độ như hiện nay.”
 
Peter R. Ryder, giám đốc điều hành của Quỹ đầu tư Indochina Capital
 
“Nếu chế độ này không được sửa đổi thì tự nó sẽ sụp đổ,” ông nói thêm.
 
Theo Fuller thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với sự giận dữ ngày càng tăng của người dân về sự trượt dốc của nền kinh tế và nội bộ Đảng đang bị chia rẽ giữa một bên là những người bảo thủ muốn vẫn duy trì những nguyên tắc soi đường của chủ nghĩa xã hội và sự độc quyền lãnh đạo và một bên là những người kêu gọi một xã hội đa nguyên và chấp nhận hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
 
Tuy nhiên quan trọng nhất là Đảng đang đối phó với một xã hội thông tin ngày càng rộng mở và khán giả ngày càng tỉnh táo trước các thông tin khi mà có nhiều tin tức và ý kiến khác nhau lan truyền trên mạng làm ảnh hưởng đến sự tuyên truyền của truyền thông Nhà nước.
 
Bài báo dẫn nhận định của ông Carlyle A. Thayer từ Học viện Quốc phòng Úc, một trong những học giả nước ngoài hàng đầu về Việt Nam, cho rằng giờ đây sự chỉ trích Đảng đã ‘bùng nổ trên toàn xã hội’.
 
Đây là khác biệt lớn nhất so với các thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng trải qua kể từ khi Đảng này thống nhất đất nước 38 năm trước đây như cuộc chiến với Trung Quốc và Campuchia, khủng hoảng tài chính và chia rẽ nội bộ.
 
Cũng theo quan sát của ông Thayer thì ‘bất đồng nở rộ nhưng đồng thời sự đàn áp cũng gia tăng’.
 
‘Bi quan sâu sắc’
 
* Kinh tế Việt Nam đang bộc lộ hết tất cả những khiếm khuyết mà thời gian dài không được khắc phục
 
“Có thêm nhiều người muốn bày tỏ chính kiến phê phán chính phủ của mình hơn trước và những gì họ chỉ trích cũng nghiêm trọng hơn,” ông Trương Huy San (tức nhà báo, blogger Huy Đức – tác giả Bên Thắng Cuộc), nói với New York Times.
 
Vấn đề đăṭ ra ở đây, theo nhà báo Fuller, là ‘khó mà hiểu được sự bi quan sâu sắc’ của người dân trên đất nước này nếu nhìn vào bề mặt của sự tăng trưởng kinh tế.
 
Theo bài báo này thì nhiều người cho rằng Việt Nam đang mất phương hướng mặc dù đất nước này có dân số trẻ và làm việc chăm chỉ.
 
“Trong vòng 21 năm sống ở đất nước này tôi chưa bao giờ sự bất mãn với chế độ của trí thức và doanh nhân đến mức độ như hiện nay,” ông Peter R. Ryder, giám đốc điều hành của Quỹ đầu tư Indochina Capital, được dẫn lời nói.
 
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức hồi đầu tháng Tư năm nay, các diễn giả đã ‘tranh nhau nói trước micro’, kinh tế gia Lê Đăng Doanh thuật lại với New York Times.
 
Ông cho biết nhiều người đã chỉ trích mặc dầu nền kinh tế cần phải được tái cơ cấu sâu rộng nhưng ‘gần như chẳng ai làm gì cả’.
 
“Đó là sự khủng hoảng lòng tin,” ông Doanh được dẫn lời nói, “Năm nào người ta cũng nghe hứa hẹn là thời gian tới mọi việc sẽ được cải thiện nhưng họ không thấy gì cả,” ông nói.
 
“Đó là sự khủng hoảng lòng tin. Năm nào người ta cũng nghe hứa hẹn là thời gian tới mọi việc sẽ được cải thiện nhưng họ không thấy gì cả.”
 
Kinh tế gia Lê Đăng Doanh
 
Bài báo đã nêu đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là trung tâm của cơn bão chính trị hiện nay.
 
“Sự tự tin thái quá và các chương trình đầy tham vọng của ông Dũng lúc đầu giúp ông có người ủng hộ bởi vì ông đã đoạn tuyệt với khuôn mẫu một cán bộ Đảng xơ cứng,” bài báo viết.
 
Tuy nhiên, sau đó ông làm nhiều người bất mãn với việc giải tán ban cố vấn vốn là động lực phía sau chương trình cải cách kinh tế mà ông Tương Lai là một thành viên.
 
Bên cạnh đó, chính sách kinh tế mang dấu ấn cá nhân ông Dũng là thúc đẩy thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc, đã đem lại hiệu quả ngược.
 
Điều hành các tập đoàn này những người thân cận với Đảng Cộng sản, những người đã biến các tập đoàn thành nhiều công ty khác nhau mà họ không đủ khả năng điều hành cũng như đầu cơ trên thị trường chứng khoán và bất động sản.
 
Hai tập đoàn trong số này đã gần như sụp đổ và đang đứng bên bờ vực phá sản.
‘Căng thẳng trong Đảng’

* Báo Mỹ viết Đảng Cộng sản ngày càng mất đi sự ủng hộ trong lòng người dân Việt Nam

 
Ông Nguyễn Phước Tương nói với New York Times rằng những khó khăn của nền kinh tế đã khiến cho căng thẳng trong nội bộ Đảng Cộng sản dâng cao.
 
Hồi tháng Hai, ông đã tham gia soạn thảo một thư kiến nghị gửi đến lãnh đạo Đảng Nguyễn Phú Trọng để kêu gọi thay đổi Hiến pháp theo hướng đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Ông nói đến nay ông chưa nhận được phản hồi gì cả.
 
Giờ đây ông đang cảm thấy áp lực thời gian, ông cho biết. Căn bệnh ung thư của ông, mặc dù đang thuyên giảm, giống như là sự giải phóng tư tưởng thôi thúc ông phải nói lên điều mà ông cho là sự thật, ông nói.
 
“Nói cho cùng, Marx là một nhà tư tưởng vĩ đại,” ông nói, “Nhưng nếu như thế giới này chưa từng có Marx thì có lẽ sẽ tốt đẹp hơn.”
 
Bản điện tử của bài báo này trên trang chủ của New York Times đã nhận được một số ý kiến phản hồi của độc giả.
 
Một người ký tên là R. Vasquez đến từ tiểu bang New Mexico của Hoa Kỳ bình luận:
 
“Đảng (Cộng sản Việt Nam) đã cạn nhiệt huyết và ý tưởng. Những người thật sự còn trung thành với lý tưởng cộng sản giờ cũng đã 70, 80 tuổi… Các thế hệ tiếp nối sẽ thấy ngày càng khó mà hài hòa giữa những lý luận của các nhà tư tưởng ở châu Âu vào thế kỷ 19 với nhu cầu và khát vọng của nước Việt Nam trong thế kỷ 21.”
 
Còn Party State đến từ thành phố Vancouver của Canada thì viết:
 
“Đảng Cộng sản Việt Nam đã suy đồi cả về tinh thần lẫn đạo đức. Sự mục nát sẽ dẫn đến chỗ Đảng sụp đổ. Vấn đề ở đây là điều gì sẽ xảy ra sau đó? Liệu Việt Nam có trở thành một chế độ độc tài quân sự hay sẽ có một nhân vật như Hun Sen lên nắm quyền? Tương lai, tôi sợ rằng, sẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với hiện tại.”
‘Giá đừng phản chiến’
 
“Nói cho cùng, Marx là một nhà tư tưởng vĩ đại. Nhưng nếu như thế giới này chưa từng có Marx thì có lẽ sẽ tốt đẹp hơn.”
 
GS Tương Lai
 
Charles ở Slough, Vương quốc Anh, tự vấn phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Độc giả này viết:
 
“Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin lỗi người dân Việt Nam. Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì chúng ta đã góp phần đảm bảo cho chiến thắng của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta.
 
Lại nữa, hãy thử nghĩ xem nếu không có cuộc cách mạng này thì ngày nay Việt Nam đã tốt hơn như thế nào? Ba mươi năm chiến tranh, số người chết không kể xiết, thiệt hại và đau thương vô cùng lớn – tất cả chỉ để đem đến kết cục là một chế độ kinh tế Marxist không khả thi do một Đảng cộng sản suy đồi và tàn bạo lãnh đạo.
 
Hãy nghĩ xem giờ này Việt Nam sẽ như thế nào nếu họ trải qua 60 năm thị trường tự do giống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Singapore. Chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và lại không có chết chóc hay tàn phá.”
 
Tuy nhiên ý kiến này đã bị một công dân mạng khác có tên là Khang Duong từ Việt Nam phản bác:
 
“Ông chỉ đọc từ một phía và ông không hiểu gì về Việt Nam cả. Tôi không nghĩ rằng Việt Nam sẽ tốt hơn nếu không làm cách mạng. Đất nước của ông bị nước khác tàn phá, người dân của ông mất hết quyền lực và bị đối xử như súc vật? Miền Nam điêu tàn dưới tay của một kẻ độc tài. Ngô Đình Diệm không phải do người dân Việt Nam mà là người Pháp, người Mỹ đưa lên. Nếu Hồ Chí Minh không làm cách mạng thì cũng sẽ có một cuộc cách mạng khác mà thôi.”

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/04/130424_nyt_dissent_vn.shtml

 

►Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ
►Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi, nhưng tung tin đổ thừa cho Tổng Thống Thiệu lấy
►Rước voi giày mã tổ và cõng rắn cắn gà nhà
►Liên quan đến việc tranh chấp chủ quyền HS và TS để giành quyền khai thác dầu khí: Liệu Hà Nội phải công nhận chính thể VNCH là hợp pháp duy nhất từ 1954-1975…
►Chỉ đổi tên nước để làm gì? Nếu chuyện này xảy ra, thì chắc chắn sẽ có đổi tiền
►Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, ngày ấy và bây giờ
►Tranh chấp quyền lực-quyền lợi… trong nội bộ đảng CSVN (Vinashin và kinh tế tập đoàn)
►Vàng, Đô la ở Việt Nam 2009, 2010, và đầu năm 2011 ra sao
►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Việt Nam và Hoa Kỳ quá xa cách về Quyền con người

Posted by hoangtran204 trên 21/04/2013

Chris Brummitt

20-4-2013

Lê Quốc Tuấn X-CafeVN dịch Việt ngữ

nguồn:  x-cafevn.org

Chia sẻ bài viết này

Cuối tuần rồi, để ngăn không cho nhà ngoại giao Mỹ gặp một nhà hoạt động dân chủ nổi tiếng, chính quyền Việt Nam đã dùng đến một loại vũ khí bất thường – một nhóm các phụ nữ lớn tuổi.

Những người phụ nữ này bít đường vào nhà của người bất đồng chính kiến, ngăn không cho chiếc xe Đại sứ quán Mỹ vào. Chiếc xe được dùng chở nhà bất đồng chính kiến ​​đến một khách sạn tại trung tâm thành phố để gặp Phó Trợ lý Ngoại trưởng Dan Baer, ​​người đã cố gắng để có được những giải thích chân thực từ các nhà hoạt động và gia đình của những người bị giam cầm trong một đất nước độc tài độc đảng.

Một người hoạt động khác trên danh sách khách mời bị lôi vào đồn công an cho đến khi khách Mỹ đã rời đi.

Những nỗ lực ngăn chặn họ của chính phủ Việt Nam cho thấy khoảng cách giữa hai quốc gia về quyền con người và tiếp tục là một trở ngại trong việc tạo dựng mối quan hệ mạnh mẽ hơn giữa Washington và một quốc gia được coi có thể là đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á.

Baer đã tới Việt Nam trong một phần của cuộc “đối thoại nhân quyền” lâu nay giữa hai Chính phủ để chính thức hóa những nỗ lực của Mỹ khiến Việt Nam phải nới lỏng kiểm soát về chính trị và tôn giáo và chấm dứt việc bắt giữ những người thúc đẩy dân chủ đa đảng. Hôm thứ bảy, Baer đã cách gặp gỡ những người bất đồng chính kiến sau khi cuộc đàm phán giữa hai bên về mối quan tâm của Mỹ kết thúc vào ngày thứ Sáu.

“Rõ ràng là việc này làm ô uế chuyến viếng thăm”, và đặt ra sự nghi ngờ về lời hứa của chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện tiến bộ về quyền con người, Baer cho biết qua điện thoại từ Oslo, nơi ông dừng chân trước khi trở về từ Hà Nội.

“Chuyến viếng thăm đáng lẽ đã trở thành nền tảng cho một sự đi lên vững chắc, nhưng bây giờ nó đã bị hủy hoại bởi hành vi khiến người ta phải đặt câu hỏi về sự chân thành của bất kỳ cam kết nào mà họ từng hứa hẹn”, ông nói.

Khi gia tăng sự chú ý vào châu Á trong chính sách đối ngoại của mình, Hoa Kỳ muốn các liên kết an ninh, ngoại giao và kinh tế mạnh mẽ hơn với Việt Nam. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng đã nói rõ ràng cho phía VN thấy rằng tiến bộ trong thành tích về quyền con người của Việt Nam là cần thiết để sự tham gia này có thể xảy ra nhanh chóng và đầy đủ. Cho đến nay, Đảng Cộng sản cho thấy vài dấu hiệu của nhường nhịn. Trong khi một số đảng viên tỏ ra cởi mở khi thảo luận về sự thay đổi dần dần, thì các lãnh đạo đảng vẫn không chịu lắng nghe, lo ngại bị mất quyền lực và mất khả năng truy cập vào những miếng ngon của nền kinh tế.

Cuộc Đối Thoại Nhân Quyền năm nay đã bị trì hoãn nhiều tháng do các lo ngại từ phía Mỹ rằng lần gặp gỡ trước tại Washington trong tháng 11 năm 2011 đã không mang lại bất kỳ thay đổi nào đáng kể. Theo Human Rights Watch, trong năm 2012 ít nhất đã có 40 nhà bất đồng chính kiến ​​bị kết tội và kết án tù, 40 người khác bị giam giữ trong sáu tuần đầu tiên của năm 2013.

Baer muốn gặp Nguyễn Văn Đài và Phạm Hồng Sơn, hai nhà bất đồng chính kiến ​​nổi tiếng đối với các chính phủ phương Tây và các tổ chức nhân quyền. Họ đã từng ngồi tù bốn năm trong quá khứ. Cả hai đều bị giám sát thường xuyên và thường bị quấy rối, nhưng vẫn công khai thách thức đảng CS, sẵn sàng chấp nhận rủi ro cho họ và gia đình khi hành động như thế.

Đài cho biết ông đã thông báo cho các viên chức chính trị tại Đại sứ quán Mỹ biết rằng các công an và nhân viên an ninh khác đã tụ tập ở nhà ông, khiến ông không thể rời nhà đi đến cuộc họp. Viên chức nói với ông rằng họ sẽ lái xe đến nhà để đón ông đi. Nhưng khi đến, chiếc xe đã bị khoảng 10 phụ nữ từ các khu phố được chính quyền đưa ra đứng giữa đường để chặn lại, Đài cho biết.

“Tôi không biết tại sao họ lại sử dụng cách điên rồ này”, Đài nói. “Tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên.”

Khi được yêu cầu bình luận, chính phủ Việt Nam trả lời trong một tuyên bố: “Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện cho đoàn đại biểu của Daniel Baer để gặp được một số cá nhân mà phía Mỹ quan tâm.”

Baer nói rằng ông đã có thể gặp gia đình của hai tù nhân chính trị – Lê Quốc Quân và Cù Huy Hà Vũ – trong vòng 1 giờ rưỡi hôm thứ Năm, mặc dù chính quyền đã gây khó khăn khiến họ không thể ra khỏi nhà để gặp ông. Quân, một luật sư từng học tại Hoa Kỳ, đã bị bắt vào cuối năm ngoái sau khi ông và gia đình đã phải chịu đựng nhiều tháng bị quấy rối. Baer cũng đã đến một nhà tù để gặp Cha Lý, một linh mục Công giáo đang chịu án tù tám năm.

Bằng cách sử dụng các thành phần công chúng để chặn xe đại sứ quán, có thể chính phủ Việt Nam đã phải tìm cách khéo léo để chối vai trò của họ trong việc ngăn chặn không cho Baer gặp Đài.

“Nếu chính phủ không muốn con đường bị chặn, họ đã có thể thông đường,” ông Phil Robertson từ Human Rights Watch nói. “Kết quả họ muốn là đạt được sự ngăn cản mà không gây nên các hậu quả xấu hoặc những lời chỉ trích có thể nhắm vào chính phủ nếu có công an ngăn chặn”.

Cả Đài và Sơn đã từng gặp gỡ các quan chức cấp cao của Mỹ trong quá khứ, và Baer ngạc nhiên khi các cuộc gặp lần này bị ngăn chặn.
“Tôi không có thói quen phải xin phép để gặp gỡ các công dân”, Baer nói. “Ở Mỹ, chúng tôi chắc chắn không hạn chế những ai mà họ muốn gặp.”

Một số nhà báo Việt Nam đã tham dự cuộc họp báo do Baer tổ chức vào tối thứ sáu, nhưng sự kiện này đã không được đưa tin từ các phương tiện truyền thông địa phương, do Đảng Cộng sản sở hữu và kiểm soát. Một bài bình luận đăng trên báo hàng đầu của đảng, Nhân Dân, một vài ngày trước khi đến Baer đã gợi ý là ông sẽ ở trong một chuyến đi khó khăn.”

“Nhìn vào vấn đề nhân quyền tại Việt Nam qua con mắt của những kẻ chống cộng cực đoan người Mỹ gốc Việt, chẳng lẽ Daniel Baer không nhìn thấy vấn đề?” tờ Nhân Dân hỏi, lặp đi lặp lại một niềm tin thường được trích dẫn rằng những người miền nam Việt Nam rời đất nước sau chiến tranh Việt Nam là nguồn gốc của sự thù địch đối với Hà Nội tại Hoa Kỳ. “Người ta không thể tin một nhóm người vẫn còn cảm thấy cay đắng về thất bại của gần 40 năm trước đây. Daniel Baer và một số chính trị gia Mỹ nên sớm thay đổi thái độ của họ về vấn đề này.”

Hoa Kỳ có một mục tiêu xác định trong việc tuyên truyền vận động các tiêu chuẩn quyền con người trên toàn thế giới, nhưng một nhóm thành viên Quốc hội có cộng đồng cộng đồng người Việt Nam trên địa bàn của họ đang gây sức ép để chính quyền phải đặc biệt nhấn mạnh vấn đề quyền con người tại Việt Nam. Cộng đồng người tị nạn này trốn sang Mỹ sau thất bại trước quân đội Công Sản Bắc Việt của Hoa Kỳ và đồng minh Nam Việt Nam.

Sơn cho biết ông đã gặp Baer trong năm 2010 và 2012 trong lần ghé thăm trước tại Việt Nam, và mô tả ông Baer là “rất người rất tốt và nhiệt tình trong mối quan tâm về quyền con người “

Nhà bất đồng chính kiến ​​cho biết công an đã đến nhà mình vào sáng thứ bảy và ra lệnh cho ông phải đến trạm công an địa phương, mặt nổi là vì một người dân đã phàn nàn về một cuộc phỏng vấn mà ông thực hiện với đài phát thanh tiếng Việt của BBC, nơi ông thảo luận về đề nghị thay đổi hiến pháp của đất nước. Ông đã đi cùng với họ, nhưng ở đó chẳng hề có hỏi han gì về những khiếu nại cáo buộc ấy.

“Tôi chỉ cười,” ông nói. “Tôi đã gặp những sự cố tương tự như thế này nhiều lần. Nói rõ hơn là chính phủ của chúng tôi, đảng của chúng tôi có nhiều cách xảo quyệt để quấy rối dân chúng. Đảng không muốn những người như tôi gặp gỡ những người từ nước ngoài như Tiến sĩ Baer.”

Nguồn: ABC News

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Phỏng vấn blogger Mẹ Nấm về Lời kêu gọi đi dã ngoại để trao đổi về Quyền Con Người

Posted by hoangtran204 trên 21/04/2013

Phỏng vấn blogger Mẹ Nấm về Lời

kêu gọi  dã ngoại trao đổi về Quyền

Con Người

 

Gia Minh, biên tập viên RFA

Theo Đài RFA

danluan.org (repost)

Chia sẻ bài viết này

 

Nhóm ra Tuyên bố Công dân Tự do vừa có thông báo về những buổi dã ngoại để trao đổi về Quyền Con Người. Dự kiến các buổi dã ngoại như thế sẽ diễn ra tại ba thành phố Hà Nội, Sài Gòn và Nha Trang.

Chia sẻ kinh nghiệm

Gia Minh hỏi chuyện Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một thành viên của nhóm ra Tuyên bố Công dân Tự do về những sinh hoạt đó. Trước hết cô cho biết:

Blogger Mẹ Nấm: Cái ý tưởng này, ngay từ đầu nó xuất phát tiếp theo cái bước tuyên bố của các Công dân Tự do. Trong tuyên bố của Công dân Tự do này, có một phần tuyên bố quyền con người có nghĩa là con người có quyền tuyên bố và đòi hỏi những gì thuộc về cái quyền mình và quyền đó phải được thực hiện. Chương trình đi dã ngoại lần này là hành động của các bạn trong nhóm Công dân Tự do để một phần chứng minh cho mọi người thấy được rằng nếu như mình bị ngăn cản thì cái tuyên bố về quyền của mỗi con người trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này là một tuyên bố nửa vời, chỉ mang tính chất là xoa dịu thôi. Thật sự với cái đà phát triển như thế này thì mọi người cũng cần phải có những cái buổi trao đổi, gặp gỡ để chia sẻ kinh nghiệm của mình với những người khác. Về quyền con người thì mỗi người có một trải nghiệm riêng và do đó cần có những buổi gặp nhau như vậy.

Nếu mà anh ngăn cấm, cản trở những hình thức sinh hoạt công khai như vậy thì chẳng còn gì để nói nữa mà làm cho bức tranh nhân quyền không thể vẽ thêm một màu tối nào nữa. 

» Blogger Mẹ Nấm

Gia Minh: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh vừa nói thì mọi người gặp nhau và chia sẻ những trải nghiệm của bản thân về vấn đề nhân quyền. Nhân quyền là một vấn đề rất phổ quát khắp trên thế giới nhưng mà chuyện hiểu và ý thức và dám lên tiếng đòi hỏi cho những cái quyền của mình đối với tất cả các công dân thì có khác nhau. Như vậy trong những cuộc gặp gỡ đó thì nhóm có nghĩ rằng là sẽ có người nào có thể có kiến thức rộng hơn, nhiều hơn để giúp cho những người khác và có thể nói họ là những người hướng dẫn cho những bạn khác được không ạ?

Blogger Mẹ Nấm: Dạ trên tinh thần chung thì vẫn biết có một số các anh chị có những trải nghiệm thật sự về cái việc đòi hỏi quyền con người trong cuộc sống thì có thể chia sẻ. Qua điện thoại đăng ký của nhiều bạn, em biết chắc không phải chỉ có những bạn có va chạm với an ninh như em thì mới có kinh nghiệm. Những người khác, những người thầm lặng thì họ cũng đang rất nuốn biết về vấn đề này. Có những người chia sẻ rất hay qua điện thoại. Hy vọng vẫn còn có rất nhiều người không phải vì sợ hãi mà người ta cần một cái chỗ để gặp nhau bàn luận. Em nghĩ quyền con người thì rất rộng nhưng áp dụng trong cuộc sống thì anh cần biết có quyền gì ở những nơi như văn phòng của chính phủ, phường, ấp… Công dân có quyền ở những nơi đó chứ. Không phải đến đó mà mất cái quyền của mình đi. Ở nơi làm việc thì có quyền như thế nào, phải được bảo vệ như thế nào. Em có mời một số các anh chị và em hy vọng các anh chị đó sẽ có những chia sẻ hữu ích cho tất cả những người tham gia.

Đấu tranh ôn hòa

Gia Minh: Qua thực tế lâu nay có những lần mọi người tập trung thì không những là các bạn trẻ mà nhiều người khác cũng tập trung lại để có những hoạt động mà theo họ, nó có ý nghĩa như là việc tập trung để mà phản đối Trung Quốc có những hành động gây hấn với Việt Nam ở tại Biển Đông chẳng hạn thì những hành động đó đều đã bị phía cơ quan an ninh, công an ngăn chận rất là mạnh mẽ. Như vậy với thông báo kêu gọi sinh hoạt về những vấn đề trao đổi nhân quyền do nhóm Công dân Tự do đưa ra trước cả gần mấy tuần lễ như vậy thì nhóm của những Công dân Tự do có quan ngại là hoạt động của mình sẽ bị ngăn chận như những tình huống vừa qua không?

Về quyền con người thì mỗi người có một trải nghiệm riêng và do đó cần có những buổi gặp nhau như vậy. 

» Blogger Mẹ Nấm

Blogger Mẹ Nấm: Khi mình công bố thì mình phải tính đến phương án bị ngăn chận. Với một tuyên bố ôn hòa và là sự cần thiết cho việc phát triển nhận thức của một công dân trong xã hội như thế thì em không nghĩ là bị ngăn chận. Chắc là cũng sẽ có người tò mò hay theo dõi hoặc muốn đến coi xem như thế nào. Mình đã công khai tức là mình muốn họ cũng hãy đến lắng nghe cùng với tất cả những bạn trong nhóm Công dân Tự do khác. Trong trường hợp có xảy ra những ngăn chận thì các công dân tự do sẽ cho lực lượng an ninh thấy rằng công dân tự do yêu chuộng hòa bình phải có thái độ hòa nhã chứ không muốn đẩy lực lượng an ninh, công an hay dân phòng gì đó vào vị trí đối lập. Thật sự ở đây mình chỉ có những hoạt động xã hội dân sự rất là nhẹ nhàng và nếu mà anh ngăn cấm, cản trở những hình thức sinh hoạt công khai như vậy thì chẳng còn gì để nói nữa mà làm cho bức tranh nhân quyền không thể vẽ thêm một màu tối nào nữa.

Gia Minh: Đối với những nhóm như là nhóm 72 Nhân sĩ Trí thức và những kiến nghị cũng cho biết là trong thời gian vừa rồi cũng có những người ký tên đã bị gặp trở ngại như bị phía an ninh đến để dò hỏi thế này thế kia. Vậy đối với nhóm Tuyên bố Công dân Tự do có gặp trường hợp tương tự như thế không?

Blogger Mẹ Nấm: Dạ vẫn có một vài trường hợp là có được hỏi về việc ký tên vào Tuyên bố Công dân Tự do nhưng việc xảy ra rất nhẹ nhàng bởi vì an ninh không thể làm khó những người đang đòi hỏi cái quyền hoàn toàn chính đáng như vậy. Do vậy những người làm việc với an ninh họ cũng không muốn công bố là khó dễ bởi vì theo như cái chia sẻ của các anh chị thì phía an ninh rất là hòa nhã và cũng phải để cho họ có một cái đường để mà đối thoại. Do vậy, an ninh có đến hỏi thăm với những người ký tên là một chuyện hết sức bình thường. Mình công khai đòi hỏi thì cái việc họ tìm hiểu nơi mình cũng là chuyện bình thường thôi. Và bên phía an ninh em nghĩ là cũng vậy.

Gia Minh: Chân thành cảm ơn Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã có một số những chia sẻ về thông báo đối với những dự án mà nhóm sẽ tiến hành nhằm trao đổi về các quyền của con người.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Doanh nghiệp báo Nhân Dân (cơ quan trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, nhà nước) thua lỗ hơn trăm tỷ đồng (?)

Posted by hoangtran204 trên 20/04/2013

Doanh nghiệp báo Đảng thua lỗ hơn trăm tỷ

đồng(?)

nguon: anhbasam04.wordpress.com

Chia sẻ bài viết này

Đôi lời: Bài viết dưới đây cùng tài liệu kèm theo được một độc giả gửi tới. Do tính chất quan trọng của vụ việc, chúng tôi đã liên lạc với một vài nhà báo có khả năng nắm được sự vụ và được biết những nội dung này là chính xác.

Ngoài ra, còn có thông tin đã có đoàn thanh tra của Văn phòng TƯ Đảng vào làm việc. Đoàn này muốn “hành chính hóa” vấn đề trong khi mức độ thiệt hại là nghiêm trọng và có nhiều biểu hiện khuất tất.

Hy vọng các cơ quan chức năng, báo giới vào cuộc để làm rõ và đưa ra công luận. 

N.V.C.

Quá trình xây dựng nhà in mới của Công ty in báo Nhân Dân tại TP Hồ Chí Minh đã xảy ra việc vay vốn tín dụng quá lớn của một số ngân hàng và dùng vốn ngắn hạn để xây dựng cơ bản dài hạn. Việc vay vốn tùy tiện, vi phạm nghiêm trọng quy chế của nhà nước và quy định của chính báo Nhân Dân – vẫn xưng danh cơ quan trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam!

Báo Nhân Dân là cơ quan cấp bộ, chủ quản của các công ty in trực thuộc, trong đó có Công ty in báo Nhân Dân tại TP Hồ Chí Minh. Theo quy định, những khoản vay vốn, đầu tư lớn phải có sự thảo luận, nhất trí của Ban biên tập – tập thể lãnh đạo đặc thù của báo Nhân Dân, với các thành viên gồm Tổng biên tập, Phó tổng biên tập và các Ủy viên ban biên tập (một chức trên vụ trưởng một chút, nhưng có quyền lực lớn, nhất là trong phần việc được phân công phụ trách).

Lợi dụng chủ trương đưa nhà máy khỏi nội thành, ông Ung Tấn Thể, giám đốc Công ty in (hàm vụ trưởng, đảng ủy viên báo Nhân Dân) và ông Lê Quang Tụ, Ủy viên ban biên tập, Trưởng ban trị sự, chủ tài khoản cơ quan, đã cùng nhau tùy tiện lập một công ty con để vay vốn các ngân hàng và xin đi nước ngoài, rồi tự ý quyết định mua thiết bị in qua một số chuyến công du hải ngoại tốn kém, không loại trừ có khoản “gửi giá bẫm” vì giá mua rất “trên trời”…

Tổng số vốn vay các ngân hàng lên tới 170 tỷ đồng. Nếu tính cả lãi mà không được khoanh nợ thì chắc chắn lên tới trên 200 tỷ đồng. Trong khi đó, kết quả sản xuất kinh doanh đi xuống, nguy cơ vỡ nợ, phá sản ngày càng lớn. Đến khi thấy không thể bưng bít được nữa thì mới báo cáo Ban biên tập, xin giúp “tháo gỡ khó khăn”.

Điều trớ trêu là sự việc bắt đầu từ khóa trước và hai ông Thể, Tụ là những cánh tay đắc lực của ông Đinh Thế Huynh – Tổng biên tập báo Nhân Dân thời đó. Nay vụ việc đổ bể thì ông Thuận Hữu – Tổng biên tập mới phải lo gỡ và chống đỡ, lại đúng lúc cao trào thực hiện nghị quyết của Trung ương đảng về chống tham nhũng. Nếu thật sự nghiêm túc xử vụ này thì là chấp hành tốt nghị quyết, nhưng lại khó xử và có thể bất lợi trong cái gọi là “ngó chúa” tiền nhiệm! Được biết, Thanh tra Văn phòng trung ương đảng cũng đã vào cuộc, nhưng “xử lý” hay “làm lơ” thì chưa biết.

Có tin ông Tổng biên tập báo Nhân Dân hiện nay cũng muốn kiên quyết lắm, đã từng nói tội đó đáng phải mời công an vào điều tra xử lý theo luật hình sự, nhưng rồi vẫn đành phải ra sức nhờ ngân hàng giúp “khoanh nợ”. Hiện đang tiến hành các bước xử lý nội bộ với hai vụ trưởng nêu trên và có thể phải bán nhà đất, xưởng máy, trụ sở để trả nợ một phần những khoản nợ đã quá hạn mà ngân hàng ráo riết đòi. Nhưng dù có bán nhà đất, trụ sở cũ thì cũng chưa đủ trả nổi số lẻ của nợ gốc, nghĩa là chắc chắn bị thất thoát, mất vốn trên 100 tỷ do hai ông nói trên, không loại trừ trách nhiệm của bề trên hai ông. Còn nếu bòn rút, giảm lương, phúc lợi của công nhân để lấy thu nhập của Công ty trả nợ thì nửa thế kỷ chưa trả hết nợ gốc, hoặc không đủ trả lãi sinh sôi hàng năm chứ chưa nói đến trả khoản nợ gốc to lớn kia.

Đây là vụ tham nhũng, thất thoát chưa từng có của báo Đảng, có dấu hiệu của tội tham ô, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Nếu để chìm xuồng, xử lý nội bộ thì hết sức nguy hại cả về kinh tế và uy tín báo Đảng. Đang có sự bưng bít. Bởi thế, có lẽ Bộ chính trị, Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng và Ban nội chính trung ương chưa được báo cáo (!).

ông Đinh Thế Huynh – Tổng biên tập báo Nhân Dân thời đó– hiện nay đang là Ủy viên Bộ Chính Trị.

33.png 

23.png

110.png

Ý kiến bạn đọc

*Xem ra thì anh Đinh thế Huynh ( hay là thế Hung ? ) khó trả lời nhân dân đích thực về cái sự tham nhũng của báo  “nhân dân” rồi.  Đạo đức giả và dọa nạt, bịp bợm và đe nẹt quần chúng thì ắt phải suy thoái thế thôi.

*Đây là một trong những điển hình tiên tiến sản xuất kinh doanh thời mở cửa và đổi mới có hiệu quả mà Báo Nhân Dân cần kịp thời biểu dương cho các đơn vị khác học tập!

*Chết thật các bác ạ! đến nay em mới biết có hẳn một công Ty ” TNHH một thành viên in báo Nhân Dân tp HCM.”
(Chỉ in báo Nhân Dân thôi? Không in gì khác?…Nếu thế,  chi cần  thuê cái nhà in nào đó là đủ cần gì phải có doanh nghiệp?)
Chả hiểu ra làm sao cả?

*Đặc biệt của tham nhũng là các cơ sở của đảng và nhà nước làm ăn gây thất thoát triền miên, nhưng bộ máy lãnh đạo của những nơi này thì tiền đầy túi, vàng chật nhà!?
VN cần có đa nguyên.
Vì khi VN có đa nguyên, lợi ích thấy rõ nhất là ngân sách quốc gia không còn nuôi các cơ quan đảng và đoàn thể nữa.
Mỗi tháng tiết kiệm không dưới 1000 tỉ đồng trên toàn quốc, đủ xây 1 bệnh viện đồ sộ như BV ung thư Đà nẵng, hoặc 3 bệnh viện cấp tỉnh…
như vậy tính lên 12 tháng, 1 năm, 10 năm thì tiết kiệm biết bao nhiêu là tiền….tiền…tiền…

*Báo đảng làm sai, làm thất thoát thì lấy từ quỹ đảng (phí của đảng viên đóng) mà bù lỗ.
Không được lấy ngân sách nhà nước (thuế của dân) bù vào

*Đảng CSVN rất giàu. Các đảng viên phải đóng 1% tiền lương hàng tháng cho đảng. Vậy tại sao đảng không lấy tiền quỷ để xây nhà in và trả tiền lương cho Ban Biên Tập báo Nhân Dân, và công nhân viên điều hành nhà in?  Tại sao báo Đảng cứ ăn bám vào tiền thuế của người dân, rút tiền lương trong ngân sách quốc gia, để trả lương cho những người làm việc cho báo Nhân Dân?

*Báo Nhân Dân là cơ quan cấp bộ! Báo Nhân Dân vẫn xưng danh cơ quan trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, nhà nước…nhưng lương của Ban Biên Tập báo Nhân Dân  của đảng lại ăn bám vào ngân sách quốc gia, lấy từ tiền thuế của người dân! Thế là ăn bám rồi còn gì nữa.

 Thật là đáng xấu hổ, một đảng đã thành lập từ năm 1930, tự xưng là ” đảng CSVN quang vinh muôn năm”, nhưng hóa ra là đang ăn bám tiền thuế của nhân dân để tồn tại!

*Tưởng bọn xấu như Bầu Kiên mới đục khoét ngân hàng. Hóa ra báo Đảng cũng…

*Rồi cũng lại hoà cả làng thôi, chúng nó hỏng từ đầu đến chân, từ tim đến não rồi mà! Cay đắng là chúng vẫn đang đè đầu cưỡi cổ thiên hạ, còn ta thì hì hục đóng thuế cho đám dòi bọ đục khoét! Thật đáng kinh tởm!

*Để vươn lên trong cơ chế thị trường, các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên… mới đây, đều phải hiện đại hóa khâu in ấn, đều đầu tư thiếp bị nhập ngoại hiện đại cho nhà in. Nhưng họ đâu có thua lỗ, phá sản các dự án đó.
Không những vậy, các báo đó còn phải tự hạch toán, lời ăn lỗ chịu, tự nuôi nhau bằng bán báo và nhận quảng cáo, chưa kể còn phải chịu “vòng kim cô”, liên tục bị “định hướng” tẻ nhạt, bị thổi còi…
Thế mà họ vẫn trụ vững, phát triển.
Báo Nhân Dân được nhà nước ưu ái bao cấp, mọi chi bộ đều buộc phải mua báo bằng tiền dân đóng thuế. Báo Nhân Dân được bao cấp bằng tiền dân đóng thuế để biếu không các đảng viên lâu năm. Không thể phủ nhận báo Nhân Dân hưởng ưu ái đặc quyền đặc lợi có một không hai, vậy mà làm ăn thua lỗ bạc trăm tỷ. Có trời mới hiểu!
Thất thoát bạc trăm tỷ, nếu là các báo khác hay doanh nghiệp nhà nước khác thì lãnh đạo bị tống giam tức khắc. Không biết, vụ này, báo Nhân Dân có “ngồi xổm trên pháp luật”?
Cơ quan của Trung ương Đảng, vi phạm pháp luật hình sự đặc biệt nghiêm trọng như vậy mà không bị xử lý nghiêm minh, Đảng nói ai nghe?

* Ha ha ha! Lòi đuôi ăn bám và tham nhũng rồi nha.  “Báo Nhân Dân vẫn xưng danh cơ quan trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, nhà nước…”

Posted in Đảng CSVN | 1 Comment »

►Suy dinh dưỡng, thiếu niềm tin và mất phương hướng: Người Việt trẻ tự đốt đuốc mà đi

Posted by hoangtran204 trên 20/04/2013

Lời tựa: Năm 1954, bằng những lời nói dối, mưu mẹo, lừa đảo, mãi quốc cầu vinh và mắc mưu Trung Cộng, ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã chiếm được miền Bắc 1954. Trước đó vài năm, ông HCM và đảng CSVN đã khởi động cuộc cải cách ruộng đất 1952-1956: muốn mượn tay của nông dân nghèo để cướp đoạt tất cả ruộng đất của những người có ruộng ở miền Bắc. Một vài năm sau, 1958-1959, bằng chính sách hợp tác xã nông nghiệp và công xã (cho giống với Liên Xô và Trung Cộng), đảng CSVN lại cướp đoạt ruộng đất khỏi tay của những nông dân nghèo, họ chính là những người đã tham gia vào tội ác cải cải cách ruộng đất cướp đoạt đất đai và vừa mới được cấp ruộng chỉ vài năm trước đó.

Bằng một cú lừa đảo công khai và nhẹ nhàng “tiến lên hợp tác xã nông nghiệp” vào năm 1958,  tất cả đất đai ở miền Bắc đã lọt vào tay đảng cộng sản, hay nói đúng ra là lọt vào tay của các đảng viên cao cấp.

1954-1960, ông HCM và Lê Duẫn nhận ra không thể trồng lúa để nuôi sống dân miền Bắc, dân chúng miền Bắc thiếu gạo và đói hàng năm kể từ khi cộng sản lên nắm quyền từ 1954. Để lâu sinh loạn, và cần phải tạo ra chiến tranh để giải quyết nạn dân số đông mà không có việc làm.

Vào thập niên 1950 và 1960, Liên Xô và Trung Quốc đã hục hặc nhau và đều muốn làm đàn anh để tranh giành ảnh hưởng trong khối cộng sản. Cả hai đều muốn giành vị trí chiến lược ở Việt Nam. Từ 1905, Liên Xô đã đánh giá rất cao vịnh Cam Ranh, còn Trung Cộng thì ngay từ 1950 đã muốn sử dụng miền Bắc như  một trái độn để bảo vệ các tỉnh phía nam của chúng (y như Trung Cộng đã dùng Bắc Triều Tiên như trái độn, để ngăn cản chủ nghĩa tư bản không ở  sát bên sườn của Trung Cộng).  

Ông HCM và Lê Duẫn (kể cả các đảng viên cao cấp hiện nay) thuộc loại không có viễn kiến và thiếu tầm nhìn quốc gia, bản thân của hai ông không học quá lớp 7 thì làm sao mà có tầm nhìn xa quá 30 năm. Tất cả  các đảng viên đảng CSVN đều xuất thân nghèo khó, nên tính tình của họ đóng khung trong sự tham lam, và tàn bạo; họ thích dùng bạo lực khi có ai dám nói ngược lại lời của bọn họ.    

Với bối cảnh ấy, họ đã gây ra cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975. Họ quyết đánh chiếm Miền Nam bằng mọi giá để thoát khỏi thế kẹt.

Nhưng thế chính trị thay đổi vào khoảng 1968-1972 khi  các nhà chiến lược của Ngũ Giác Đài đã nhận ra có cách giải quyết khác về chiến tranh Việt Nam nói riêng và đánh thắng chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Trung Cộng nói chung. Năm ấy, Mao Trạch Đông  của Trung Cộng đã già, và nhận ra rằng dẫu làm cách mấy thì dân chúng Trung Cộng cũng đói kém hàng năm, GDP của Trung Cộng vào năm 1970 khoảng 400 tỷ đô la và Trung Cộng bị cấm vận bao vây kinh tế của Mỹ và của Châu Âu. Trung Cộng đang ở vào thế cùng vào năm 1970-1972.

Sẵn dịp Mỹ đang bị kẹt về chuyện Hiệp Định Ba Lê kéo dài từ 1968-1972 mà chưa có kết quả, và các nhà ngoại giao của Mỹ  phải móc nối nhờ Trung Cộng làm trung gian dàn xếp với Việt Cộng để Mỹ giải quyết chiến tranh VN làm êm bớt dân chúng Mỹ đang quá mệt mỏi vì chiến tranh kéo dài và kinh tế suy thoái, thất nghiệp gia tăng, và giá dầu tăng cao 1972. 

Trung Cộng đã chớp được thời cơ và gỡ được thế bí về kinh tế lẫn chính trị của họ khi Mỹ bắt đầu chuyển hướng chiến lược. Mỹ muốn bắt tay với Trung Cộng để bao vây Liên Xô ở vùng biên giới phía Nam giữa LX và Trung Cộng để  làm cho Liên Xô suy yếu, đẩy LX vào thế bị kẹt, phải có quân số 2 triệu người đóng quân thường trực ở vùng biên giới phía nam phòng ngừa Trung Cộng đánh tràn qua biên giới. 

Mỹ bắt tay được với Trung Cộng thì chiến tranh Việt Nam phải kết thúc, không còn lo sợ cộng sản đánh tràn qua vùng Đông Nam Á  và sự diện diện của Mỹ ở Châu Á không còn cần thiết giống như giai đoạn 1950- 1970. 

Đảng CSVN chiếm được miền Nam trong bối cảnh chính trị ấy. Và các khó khăn về kiến thiết một quốc gia trong thời bình bắt đầu nổi lên. Như đã viết ở trên các đảng viên cao cấp và có quyền hành của đảng CSVN không học quá lớp 7, nên tầm nhìn của họ bị hạn hẹp rất nhiều. Và họ đã từng không có khả năng xây dựng và phát triển làm nông nghiệp để cho dân khỏi đói sau khi chiếm được miền Bắc 1954, thì nay, năm 1975, họ lại càng không đủ khả năng làm bất cứ thay đổi nào với quy mô nay đã lớn gấp 2 lần: Miền Bắc và Miền Nam. Thực tế cho thấy dân chúng VN chịu cảnh thiếu thốn và đói kém diễn ra từ 1976-1989.   

Nhờ thương thảo với các quốc gia tư bản trong thời kỳ cuối năm 1980 nên nắm biết trước các kế hoạch kinh tế chính trị. Các đảng viên cao cấp trong đảng CSVN đã nhanh tay chia nhau chiếm đoạt đất đai tốt nhất trên toàn cả nước, và tự cấp sổ hồng, sổ đỏ để tư hữu hóa sự chiếm đoạt.  

Từ thập niên 1950s cho đến 1992, Đảng viết lại và sửa đổi hiến pháp nhiều lần, trong đó có câu:  “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, chữ toàn dân ở đây không phải theo nghĩa thông thường mà đa số mọi người chúng ta đều hiểu,  mà đảng cắt nghĩa rất rõ rằng: sở hữu toàn dân chính là sở hữu của nhà nước. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật Đất đai năm 2003  xác định rõ: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”  Thế mới đểu! Nói trắng ra, người VN  phải hiểu:  đất đai thuộc quyền ban phát, quản lý và làm chủ của các đảng viên cao cấp của đảng CSVN.

Sau khi các đảng viên cao cấp nhanh tay chiếm đoat và chia nhau chiếm  đất đai từ cuối thập niên 1980-và đầu 1990, bọn họ và gia đình trở nên giàu có. Các đảng viên cao cấp từ quận ủy, huyện ủy trở lên đều giàu có nhờ đất đai, và tiếp đó, bọn này còn chia nhau thành lập 91 tổng công ty và tập đoàn với hơn 12.000 công ty con, để nắm trọn nền kinh tế của cả nước. Các đảng viên cao cấp và con cháu họ nắm tất cả các lãnh vực của nền kinh tế và tài chánh như:  nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp xuất nhập khẩu, và đặc biệt là ngân hàng, khai thác mỏ dầu và khí đốt… Nhóm này được báo chí gọi là nhóm lợi ích,  chiếm chừng vài trăm ngàn người, nhưng lại sở hữu hơn 80% của cải của nước. 

Hơn 90% người dân Việt Nam còn lại tất nhiên phải rơi vào cảnh nghèo. Bài dưới đây mô tả sự nghèo khó và mất phương hướng của các thành phần rường cột của nước nhà. Cho ta thấy tương lai 20-30 năm sắp tới của VN sẽ như thế nào. 

Người Việt trẻ tự đốt đuốc mà đi

Theo blog Giáp Văn

Thứ bảy, ngày 20 tháng tư năm 2013

Chia sẻ bài viết này

1. Thời gian gần đây, chúng tôi hay có những trao đổi về tương lai của Việt Nam trong cơn gian khó: Trong đất liền thì lạm phát cao, kinh tế khó khăn, sức sản xuất giảm, doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Ngoài biển Đông thì Trung Quốc liên tục gây căng thẳng, gia tăng tranh chấp không chỉ với Việt Nam mà còn cả khu vực. Nhìn xa hơn sang các nước Âu – Mỹ, tình hình cũng không sáng sủa hơn bao nhiêu. Châu Âu vẫn ngập trong khủng hoảng. Một số nước nếu chỉ năm ngoái thôi còn được coi là vững vàng, như Pháp chẳng hạn, thì sang năm nay, đã bị nhiều chuyên gia coi là một “quả bom hẹn giờ” mới.

Trước tình hình đó, nhiều người đã rất bi quan. Nhiều lúc chúng tôi có cảm giác, sự bi quan chán nản đã rút hết sinh khí của ngay cả những người được coi là từng trải và vững vàng nhất. Nhưng với riêng tôi, cảm thức bi quan chưa bao giờ là chủ đạo. Lý do: Thay vì nhìn mãi vào bức tranh màu xám, tôi nhìn vào những người Việt trẻ.

Tôi tin vào sức trẻ. Tôi tin đó là tài sản lớn nhất của dân tộc. Và tôi tin, chính tuổi trẻ chứ không phải các lý thuyết kinh tế xã hội kinh điển và nhiều tranh cãi, hay những lý tưởng khuôn sáo đã không còn sức sống, sẽ là cứu tinh của đất nước.

Tôi đi tìm tương lai của đất nước trên khuôn mặt những người Việt trẻ.

2. Có những ngày, tôi dành hàng giờ để quan sát những người trẻ tuổi, nghe họ nói, họ cười, họ đi lại, họ tranh cãi, họ thở dài… Ở hai đầu đất nước, và ở cả những nơi khác mỗi khi tôi có dịp. Tôi quan sát họ trong quán nước vỉa hè, trước cổng trường đại học, giữa đám tắc đường trên phố, trên mạng xã hội, trong các buổi nhóm họp tán gẫu…

Những quan sát này mách bảo tôi điều gì? Có phải người Việt trẻ không có lý tưởng? Có phải người Việt trẻ không có hoài bão lớn? Có phải người Việt trẻ không còn yêu nước? Có phải người Việt trẻ đang ngày càng vô cảm? Có phải người Việt trẻ đang ngày càng ích kỷ và thực dụng?

Tôi không phán xét. Tôi chỉ quan sát.

Không. Tôi không thấy như vậy. Tôi thấy họ đang sống. Họ đang sống theo cách của họ và giao tiếp bằng thứ ngôn ngữ của họ. Cách sống này, thứ ngôn ngữ này, có thể xa lạ với nhiều người có tuổi, nhưng không thể coi đó là không tốt, là đáng lo ngại.

Chúng ta chỉ có thể ghi nhận và tôn trọng họ.

Họ đang sống. Đôi khi hết mình. Đôi khi dật dờ. Đôi khi chao đảo. Nhưng chắc chắn là họ đang sống. Mà tôi tin rằng, ở đâu có sự sống thì ở đó có sự phát triển.

Chính vì vậy mà tôi không bi quan.

Tôi cũng không quá hân hoan. Vì đằng sau những gương mặt trẻ trung kia, ẩn sau bộ tóc xanh đen kia, có thể là những trống rỗng, những đổ vỡ và hoang mang mà người ngoài không thể hiểu hết được. Những lo toan thường ngày có thể quật ngã họ bất cứ lúc nào. Giữa bộn bề của khó khăn chung, người trẻ và người nghèo bao giờ cũng bị ảnh hưởng lớn nhất. Vì thiếu vị thế và không được tôn trọng đúng mức.

Nhưng tôi lo lắng. Đôi khi đến mức dằn vặt, thậm chí cáu bẳn vì cảm giác bất công và bất lực. Trong số những người Việt trẻ tôi gặp thì phần đông là sinh viên, tức thành phần ưu tú của đất nước, nhưng tôi không thấy một sự rực rỡ hiện lên trên khuôn mặt, trong ánh mắt, trong sự tự tin quả cảm. Tôi không thấy được sự lan tỏa của một tuổi trẻ tự do phóng khoáng, sự rực sáng của khát vọng.

Rất ít lửa trong những đôi mắt. Rất nhiều lảng tránh xa xôi. Rất dài những tiếng thở. Và rất thường xuyên cam chịu.

Rất ít ngọn đuốc trên những con đường.

3. Tôi đã đi qua một rừng sinh viên trong ngày hội “Sáng tạo vì khát vọng Việt” ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23 tháng 11 vừa qua. Tôi đã nhìn sâu vào những gương mặt trẻ mà tôi gặp. Cảm giác đau nhói vì có quá nhiều khuôn mặt sạm đen, tuy chưa đến mức tiều tụy nhưng thiếu sắc khí. Tôi nhìn một người, rồi nhìn mọi người, cảm giác mặn chát vì thấy quá nhiều người trẻ gầy gò ốm yếu. Nhiều người còn còi cọc hơn cả thế hệ chúng tôi khi đất nước đang trong thời bao cấp khó khăn, còi cọc hơn cả thế hệ trước tôi khi đất nước đang trong chiến tranh. Tôi chợt nghĩ: suy dinh dưỡng?

Suy dinh dưỡng giữa thời bình.

Tôi tự hỏi vì đâu? Tôi không tin đó là vì họ thức khuya học nhiều. Tôi cũng không tin đó là vì chủng tộc hay khí hậu vùng miền. Những sinh viên Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… mà tôi gặp đều học hành chăm chỉ dữ dội, chủng tộc và khí hậu cũng tương tự như mình, nhưng đôi má họ căng phính, giọng nói và ánh mắt đầy vẻ tự tin. Chiều cao cân nặng của họ cũng đều vượt xa những sinh viên tôi đang trò chuyện trong sân Dinh Thống Nhất này.

Tôi hỏi họ vì sao? Tụi em khó khăn. Khó khăn với cả chuyện ăn uống hàng ngày? Vâng…

Tôi và họ không còn dám nhìn vào mặt nhau nữa. Không xa xôi nhưng ngăn cách bởi một chông chênh. Bảng lảng xa xôi. Nỗi đau riêng người ta chỉ có thể hiểu chứ không thể xoáy mãi vào.

Tôi lắng nghe lòng mình. Có một cái gì rất vô lý ở đây. Có thể gọi đó là sự bỏ rơi chăng? Nhiều người đã bị bỏ rơi, tự bươn chải để tự đánh vật với những nhu cầu tối thiểu hàng ngày. Sự bươn chải này nhiều khi làm họ kiệt sức.

4. Ngoài hội trường, có bạn tìm mọi cách gặp tôi chỉ để hỏi một câu: Em muốn trở thành doanh nhân, vậy thì em phải quan tâm đến loại người nào nhất? Một thoáng sửng sốt trước câu hỏi đó. Dù không phải là doanh nhân, tôi cũng trả lời ngay lập tức: Doanh nhân thì cần quan tâm đến khách hàng nhất.

Trong hội trường, có bạn trẻ bật khóc vì không tìm được việc làm thêm. Có quá ít cơ hội dành cho người trẻ tuổi. Cảm giác bất lực và bị bỏ rơi hiện lên rất rõ. Rất nhiều trẻ đã hoàn toàn đánh mất sự tự tin vào bản thân mình. Ý niệm về một đời sống trẻ tuổi sung mãn đầy hoài bão hoàn toàn vắng bóng.

Tôi chợt nhớ đến những buổi tranh luận với bạn bè quốc tế, khi tôi cho rằng không nên quá bi quan: Việt Nam là một đất nước trẻ. Tuổi trung bình của toàn dân chưa đến 30. Hãy nghĩ xem, trước 30 tuổi thì người ta làm gì? Người ta sẽ khám phá và hừng hực sức sống. Người ta sống. Và khi người ta sống thì người ta phát triển.

Vì thế không nên quá bi quan.

Nhưng lúc này đây, giữa quảng trường này, lập luận của tôi dường như đã bị lung lay. Khi người trẻ và bị bỏ rơi, người ta mất hết tự tin thì không chắc người ta đang sống. Họ chỉ đơn giản là đang tồn tại.

Khi người ta bị bỏ rơi và mất tự tin, không chắc người ta sẽ khám phá và hừng hực sức sống. Người ta cũng sẽ mệt mỏi, chán nản và tiều tụy như thường.

5. Người Việt trẻ nhưng không hẳn là trẻ. Tôi đã nhìn thấy sự mệt mỏi và chán nản trên gương mặt họ. Tôi đã nhìn thấy sự tiều tụy trong cơ thể họ. Tôi mong đợi một sức sống hừng hực, một tinh thần phóng khoáng, một sự tò mò tươi mới, một bạo dạn khám phá dấn thân. Nhưng điều tôi thấy lại quá ít so với trông đợi.

Có một cái gì đó thiếu vắng ở đây. Có một cái gì đó như bị bóp nghẹt không thoát ra được. Một cảm giác như bất lực, như hờn trách, như dằn dỗi dâng trào.

Nhiều người trẻ đã vô tình đánh mất tài sản quý giá nhất của mình. Đó là tuổi trẻ. Những vật lộn và toan tính đời thường đã quật ngã họ. Ý niệm về một sức trẻ dũng mãnh, một tinh thần tự do bay bổng, giờ đây bỗng trở thành xa lạ.

Lỗi tại ai? Không hẳn đã là lỗi của người trẻ tuổi. Nhưng chắc chắn là lỗi một phần của những người đi trước, của hệ thống, của xã hội, đã phần nào bỏ rơi họ.

6. Câu chuyện của người Việt trẻ chính là câu chuyện của đất nước. Vì tuổi trẻ không phải là một tương lai xa xôi, mà chính là hiện thực của đất nước này. Hiện thực ở đây và ngay lúc này. Gương mặt của người trẻ chính là gương mặt của đất nước. Khi tuổi trẻ bị bỏ rơi thì cũng chính là đất nước bị bỏ rơi. Khi tuổi trẻ bỗng nhiên trở nên già nua mệt mỏi thì cũng chính là đất nước đã trở nên già nua mệt mỏi.

Không gì đáng sợ hơn tuổi trẻ mỗi ngày mỗi trở nên tiều tụy. Không gì xót xa hơn khi nhìn thấy những người Việt trẻ ốm yếu còi cọc hơn so với bạn bè đồng lứa năm châu. Với sức vóc đó, với tinh thần đó, đòi hỏi họ phải gánh vác giang sơn, đưa đất nước đến bến phồn vinh là một đòi hỏi quá lớn và quá vô lý. Vì thế, những người đi trước, những người hữu trách trong hệ thống công quyền, cần thiết nhìn lại xem mình đã làm được gì cho người trẻ, trước khi đặt lên vai họ những gánh nặng quá lớn như vậy.

7. Đất nước cần vượt lên. Vì thế, với người Việt trẻ, một cuộc vượt lên chính mình là cần thiết. Khi còn mò mẫm trong sáng tối, khi còn chao đảo giữa muôn vàn xô đẩy của cuộc đời, thì không còn cách nào khác là phải tự đốt đuốc cho mình, phải tự mình vạch đường mà tiến bước.

Sức trẻ là tài sản quý giá nhất mà mỗi người đang nắm giữ. Vậy thì đừng bỏ phí nó.

Hãy sống.

Hãy sáng tạo.

Hãy bay bổng.

Hãy tò mò khám phá.

Hãy cất bước dấn thân.

Hãy tin vào bản thân mình.

Hãy vun đắp những khát vọng lớn.

Hãy xây dựng cho mình hình ảnh về một con người tự do một công dân.

Vì không phải ai khác, mà chính người Việt trẻ mới là cứu tinh của đất nước.

Bài đã đăng trên Tạp chí Lifestyle, số Xuân 2013.

Theo blog Giáp Văn

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Cương quyết không đi theo ai, để đến cái nơi mà mình không hề biết !

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2013

Trích:

Suốt chặng đường 38 năm nay, một con đường mờ mịt quanh co, lúng túng không có lộ trình, không biết nơi đến, không rõ khuôn mặt, mà tuyệt nhiên, thực chất, chẳng có ai biết nó ra sao, kể cả mấy anh lớn dẫn đường ! Anh cả Liên Xô thì đã bỏ cuộc, một đi không trở lại. Anh Ba Trung quốc thì thành“Bá quyền”, bầy hầy, lếu láo mà lại phản bội. Bây giờ thì đi đâu ? Hiện nay, không ai biết nước Việt Nam trong tương lai sắp đến như thế nào !.

Chưa ai từng biết chủ nghĩa xã hội (chủ nghĩa cộng sản) nó như thế nào ngoại trừ nghe lời mô tả của các ông Việt Cộng nói: chủ nghĩa xã hội tươi đẹp lắm…khi cả nước tiến đến giai đoạn đó, lúc ấy thì  mọi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu…đất đai là thuộc quyền sở hữu toàn dân…các đảng viên cao cấp của đảng CSVN chỉ nói những lời vớ vẫn thế thôi mà có cả hàng triệu người VN tin tưởng và nghe theo.  

Tính từ 1945 cho đến nay, đã có hơn 5 triệu người VN đã chết vì những lời nói xí gạt và bá láp của các nhà lãnh tụ và lãnh đạo của đảng CSVN.

Sau khi nhờ Trung Cộng giúp đỡ mà chiếm được miền Bắc vào năm 1954, đảng CSVN nhận ra là không thể tự làm ăn sinh sống và cung cấp nổi thực phẩm cho dân chúng miền Bắc. Lúc ấy  ông Hồ Chí Minh, Lê Duẫn ngộ ra rằng cần phải gây chiến tranh mới có cái ăn và cái mặc nếu không dân chúng miền Bắc sẽ chết đói, sẽ nổi dậy…thế là cả hai ông đã tuân lệnh của Mao Trạch Đông để đánh chiếm Miền Nam Việt Nam. 

Trung Cộng và Liên Xô đứng ra cung cấp lương thực, vũ khí đạn được, và gạo để nuôi dân miền Bắc. Bởi thế Lê Duẫn mới công khai tuyên bố trước dân chúng miền Bắc vào năm 1965: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc.” 

Trung Cộng hổ trợ cho  miền Bắc VN đánh miền Nam Việt Nam tựa như đã giúp Bắc Hàn đánh Nam Hàn 1953. Khi Hồ Chí Minh qua cầu viện Trung Quốc vào năm 1950, ông HCM đã ký mật ước với Mao Trạch Đông để nhường quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng để lấy vũ khí, lương thực và quân trang quân dụng.  Ngay sau khi đã giúp ông HCM và đảng CSVN chiếm lấy miền Bắc VN qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954, Trung Cộng lấy công bằng cách chiếm lấy Hoàng Sa năm 1956 và buộc Phạm Văn Đồng ký công hàm 19-8-1958 để công nhận biển đảonày là  của Trung Cộng.    

Muốn có cớ  đánh miền Nam, đảng CSVN do HCM và Lê Duẫn đã thành lập  Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) 1960 và kêu gọi dân chúng miền Bắc đi vào miền Nam đánh bọn Mỹ xâm lược và “bọn Ngụy” làm tay sai cho Mỹ. 

Kết quả của chiến tranh VN do đảng CSVN gây ra là tang tóc và đổ nát. Trong các thập niên 1960 và 1970, đã có hàng triệu thanh niên và thiếu nữ  VN đã bị đảng dùng bạo lực (của công an, nhà tù, chuyên chính vô sản, và cắt thực phẩm của cả gia đình nếu như không nghe theo lời kêu gọi) đi vào miền Nam để chiến đấu).  (« )

Mời các bạn đọc tác phẩm Đường Đi Không Đến của nhà văn Xuân Vũ, một đảng viên cộng sản bị ép buộc vào miền Nam để chiến đấu, nhưng ông đã ra chiêu hồi và viết tác phẩm ĐĐKĐ để kể lại câu chuyện vượt Trường Sơn vào Nam.

http://vietmessenger.com/books/?title=dduongdikhongden 

Tác giả Hạ Đình Nguyên đã từng ở trong nhóm sinh viên tranh đấu ở  Miền Nam, ông đã bị đảng dụ khị và lừa gạt suốt cả thời tuổi trẻ. Nhưng nay ông đã giác ngộ và viết  bài dưới đây. Ngoài ra, các bạn có thể đọc nhiều bài viết khác của tác giả Hạ Đình Nguyên ở đây:

http://tiengnoidanchu.wordpress.com/tag/h%E1%BA%A1-dinh-nguyen/

Cương quyết không đi theo ai, để đến

cái nơi mà mình không hề biết !

Hạ đình Nguyên

nguồn: quechoa.vn

clip_image002[3]

 1. Từ câu chuyện nhỏ

Cách đây đã khá lâu, khi quét dọn căn phòng trọ, tôi nhặt lên một mảnh nhật báo cũ ai đó bỏ rơi. Dừng chổi, tôi đọc lướt qua một câu chuyện rất ngắn, có tựa đề : “ nhớ về một chuyện đụng xe” của Nhà văn NQS. Câu chuyện nhỏ theo tôi đến tuổi già. Chuyện như sau, lược theo trí nhớ.

… “Hôm ấy, tôi đạp xe theo sau một người bạn đi về hướng Chợ Lớn, để tới một nơi hẹn. Khi đến một ngã tư, anh bạn đã vượt qua, tôi qua chưa kịp thì đèn chuyền sang màu vàng báo hiệu dừng lại. Nghĩ rằng tôi có thể vượt qua nên cố sức nhấn bàn đạp dấn tới. Một xe đạp khác băng qua. Chúng tôi đã va vào nhau, đều té ngã. Đứng dậy, chúng tôi cãi nhau chuyện phải quấy. Ai cũng đưa ra lý lẽ của mình. Tôi kịch liệt bảo vệ lập trường của tôi. Giao thông bị trở ngại. Một Cảnh sát tiến đến. Anh ta nói : “hai bác cũng đã lớn

tuổi, hai xe không hư hại gì, cũng chẳng ai trầy sướt, hai bác nên hòa nhau, đừng cãi nữa”. Chúng tôi đồng ý giải hòa và sau đó, phần ai nấy đi, theo hướng của mình. Tôi mất hút ông bạn. Tôi ăn năn tư nhủ, lẽ ra tôi phải dừng xe lại khi đèn vàng báo hiệu, nhưng tôi cố tình vượt qua, vì sợ lạc ông bạn, tôi sẽ không biết đi đâu, vì không biết địa chi rõ ràng, lại trong cảnh phố rộng người đông.!

Xét cho cùng, tôi kết luận: ở đời phải biết chổ đến của mình, nếu đi theo người ta mà không biết về đâu, sẽ rước lấy tai họa, có khi phí cả cuộcđời. ”./.

Câu chuyện nầy làm tôi nhớ mãi, về sự đi theo mà không biết rõ nơi đến. Tình cảnh nầy có lẽ không riêng ai, có khi là cả dân tộc ?

 Nhân dân VN đã đi theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, suốt 2/3 thế kỷ, để đấu tranh giành Độc lập, Tự do, Dân chủ, đem hạnh phúc về cho nhân dân.

Mục tiêu như thế đã rõ, chỗ đến đã được minh định, với Hiến pháp năm 1946. Dù rằng trong quá trình kháng chiến, ĐCS VN cũng đã hứa hẹn thêm cho tương lai một CNXH tươi sáng, “Đem nhu yếu ra mà dẫn dắt nông dân đến chiến trường”! (Luận cương Đảng CS năm 1930)

Nhưng nhiều thế hệ đã hy sinh đời mình, kể cả những người đang sống sót, cũng không biết CNXH là gì, và họ cũng đã từng “chưa quan tâm”. Chiến đấu vì Độc lập Tự do trước đã !. Như cô gái Lai Vu, theo nhà thơ Tố Hửu: “Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù”.

Chuyện thật hư chưa ai biết, nhưng ví phỏng việc rắn quấn vào chân còn gác lại, huống là cái chủ nghĩa cao siêu mộng tưởng ấy.

 Ông Hồ Chí Minh, năm 1946 đã gọi lớn : Hởi đồng bào cả nước ! Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, Tạo hóa cho họ những quyền không ai xâm phạm được,trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tư do và quyền mưu cầu hạnh phúc… (Tuyên ngôn Dộc lập)

Cả nước đã vào cuộc chiến tranh.

Và 30 năm chiến tranh kết thúc, Độc lập thì “tạm xem như” đã có. Tư do Dân chủ thì chưa.! Nó được thay thế bằng từ ngữ “CNXH” rất rỗng rang, do Đảng CS hiện nay tiếp tục lãnh đạo, dưới bộ máy chuyên chính vô sản.

Suốt chặng đường 38 năm nay, một con đường mờ mịt quanh co, lúng túng không có lộ trình, không biết nơi đến, không rõ khuôn mặt, mà tuyệt nhiên, thực chất, chẳng có ai biết nó ra sao, kể cả mấy anh lớn dẫn đường ! Anh cả Liên Xô thì đã bỏ cuộc, một đi không trở lại. Anh Ba Trung quốc thì thành“Bá quyền”, bầy hầy, lếu láo mà lại phản bội. Bây giờ thì đi đâu ? Hiện nay, không ai biết nước Việt Nam trong tương lai sắp đến như thế nào !.

2.Sự đi theo

Con đường có nhiều khúc quanh.

Năm 1959, ông Hồ Chí Minh nói : “Từ khi Đảng CSĐD thành lập, nhân dân VN luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại, và coi Liên Xô là Tổ quốc Cách Mạng, Tổ quốc thứ 2 của mình” (1). Chuyện nầy, thuộc về quá khứ, nó nằm trong zig zag mà lịch sử đã vượt qua. Nhưng chuyện hôm nay, khi cái cột mốc vĩ đại đó chì còn là một phế tích, thì sự thật đã quá lõa lồ.

Năm 2013 của thế kỷ 21, thời đại của toàn cầu hóa, nhưng trên đống tro tàn vẫn còn gầm lên một thứ “triết lý bọc thép”, bất chấp thời đại: “Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng 10 (Nga) đã dẫn đầu sự ra đời của Tổ quốc XHCN, một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại, đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN” Người phát ngôn những lời xanh rờn, bí hiểm một cách vô nghĩa đó, là một Trung tướng, Tiến sĩ!(2)

Tìm đâu thấy ?. Việt Nam là ai, mà muốn làm “Tố quốc kiểu mới” vượt lên trên nhân loại, lại còn đặc trưng, đặc sản nữa ! Mà chỉ thấy “Sự diễn trò rập khuông ngông nghênh quẩn đục phi sáng tạo” (3), như cơn bốc đồng của một kẻ say xỉn.

Những người “dẫn đường” của Việt Nam hiện nay vẫn cương quyết dẫn đường.! Vì lý do rõ nhất, trong khi dẫn đường, họ được tự do gấp vạn lần tự do của nhân dân, được tham nhũng thoải mái vì có luật pháp của mình che chắn, được ăn uống tất cả các thứ mà con người có thể ăn uống được…

Cái triết lý duy nhất, cuối cùng để biện minh: “Mọi con vật sinh ra đều bình đẳng, nhưng có một số con bình đẳng hơn những con khác”(4). Cái bình đẳng của “một số con” nầy, đã nhân danh nhân dân, nhân danh chính nghĩa, đã vượt thời đại để lao lại về… một quá khứ tối tăm.

 Nhân danh sự bình đẳng ấy, lực lượng tuyên truyền đề cao Đảng với một thứ ‘triết lý bọc thép”, có thể tóm tắt: công giành được giang san nầy là của Đảng, do đó đất nước nầy là sở hửu của Đảng, dân tộc nầy là thuộc quyền điều khiển của Đảng, nhờ Đảng mà có, do Đảng mà sống, nên Đảng có quyền muốn dẫn đi đâu thì dẫn ? Hiểu khác, là đồng nghĩa với phản bội, là phủ nhận “công ơn” của đảng.

Phải chăng hình mẫu đặc sắc của VN mà Đảng muốn là mô hình Bắc Triều Tiên, ở đó nhân dân chịu lép một bề dưới quyền cai trị của một nhóm người ?

Lối suy nghĩ nầy thuộc về thời tiền sử, tồi tệ hơn phong kiến, thực dân và đế quốc cộng lại, mà ĐCS trước đây, luôn lưôn tuyên bố chống lại nó !.

 Lẽ nào, cuộc chiến tranh giành độc lập nầy không phải là ý chí và xương máu của toàn dân ?, của hàng hàng lớp lớp thế hệ thanh niên con em của nhân dân, là tim, là máu, là thịt với gần một thế kỷ đã hy sinh ? Hay chì có Đảng CS, và đặc biệt được rút gọn lại thành chỉ là các anh hôm nay ? Đảng có thể là “đại diện”, chứ không là tất cả, trong một giai đoạn đã qua, xin tạm để dành lại cho lịch sử . Nhưng hôm nay, dù Đảng nầy vẫn còn danh nghĩa

là Đảng ấy, nhưng Đảng ấy đã biến thành Đảng nầy, khi mà, nếu nó không còn chứng tỏ được trái tim có phẩm chất xứng đáng, và một trí tuệ bắt kịp thời đại, thì sẽ không còn là đại diện cho ai nữa, dù là đại diện giai cấp nầy nọ, hay đại diện của nhân dân.

 Không thể đồng hóa lợi ích và một mớ di sản khẩu hiệu giáo điều của một số ít người với cả lịch sử của Đảng và cuộc kháng chiến của toàn dân. Cái món nợ gần 70 năm qua của Tuyên ngôn Độc lập và Hiến Pháp 1946 hãy còn nguyên. Nước Nhật trong đống tro tàn, đã cùng một thời điểm xuất phát đó, cũng vào năm 1946 đó, với 30 năm của một Hiến pháp Dân chủ tiến bộ, đã trở thành một cường quốc. Xét cho cùng, nhân dân Việt Nam lấy cái gì để tự hào và lên giọng, ngoài cái hy sinh 30 năm xương máu, và 38 năm đi quanh quẩn cùng với các khẩu hiệu và cờ trống ? Ăn vào quá khứ, vơ vào mình những công lao moi lên từ những nấm mồ, mà không làm nên được một đột phá nào để thoát tình cảnh lùng bùng và tụt hậu hôm nay, đúng là điều sỉ nhục của trí tuệ và lương tri, là biểu hiện của những lời huênh hoang.

 Đảng đã tư nhận là suy thoái – mà là suy thoái toàn diện – đã nhận ra là đánh mất niềm tin của nhân dân, thì thái độ tự cao, tư tưởng bảo thủ, lý sự đúc sẳn theo khuông, chắc chắn không phải là giải pháp ứng xử thích hợp cho tình thế hôm nay.

Sửa đổi Hiến pháp là cơ hội để thay đổi não trạng, để có thể nhìn lại lịch sử, để điều chỉnh hướng đi, là xây dựng một đích đến cụ thể. Dân tộc không thể chấp nhận việc “tiến lên”, “tiến tới” một cái nơi mơ hồ, được ngụy biện bằng những từ ngữ không có nội dung.

Nhân loại đã dành sự ngưỡng mộ cao nhất cho chính trị, ở nơi người lãnh đạo, đó là đạo đức, là tư tưởng nhân bản, là một nhân cách cao hơn hẳn, và phải là một trí tuệ sáng suốt, có khả năng nhìn thấy được tương lai. Nếu không được như thế, hàm lượng của những tố chất nói trên quá ít ỏi, thì đó là một tai họa khủng khiếp cho dân tộc. Người ta vẫn cho rằng, làm chính trị sai, hại cả một thế hệ, làm văn hóa giáo dục sai, hại nhiều thế hệ. Điều đó sẽ không đúng trong một chế độ chính trị ‘toàn trị”. Toàn trị sẽ đem lại hệ quả rất khủng khiếp, nó bít kín tất cả, không cho phép có một kẻ hở nào để có bất cứ một sự nẩy mầm tươi mới tốt đẹp hơn xuất hiện. Vì văn hóa giáo dục cũng chỉ trở thành một thứ “chiến binh”, là một sắc lính trong các sắc lính, được trang bị một loại tư duy theo kiểu công cụ, đồng đẳng với các công cụ bạo lực khác.

 3. Sự khoán gọn

Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, phải chăng Điều 4, là một thứ văn kiện “hợp đồng khoán gọn”, giao cả sinh mệnh trước mắt và lâu dài của cả dân tộc cho một “đội thầu”, mà đội thầu đó lại có quá nhiều quyền hạn, từ thiết kế đến thi công, kiêm giám sát công trình, làm báo cáo hoàn công; và đặc biệt, thay mặt cả “chủ đầu tư”, có quyền đánh, bắt, bỏ tù “chủ đâu tư”. Phương chi, đội thầu ấy, đang thoái hóa đến toàn diện, mất hết niềm tin của “chủ đầu tư”. Nếu “hợp đồng khoán gọn” nầy có tồn tại trong Hiến Pháp, thông qua cuộc “lobby” hoành tráng bằng các kỷ xảo bạo lực, thì Hiến Pháp ấy cũng không có trong lòng dân.

Cho dù có kẻ quan niệm trắng trợn rằng, chính trị là thủ đoạn, đời sống là thực dụng, quyền lực là ưu thế chăng nữa, thì sự khinh-trọng trong nhân dân vẫn là chuẩn mực của giá trị sống hằng ngày và lâu dài, nó có sức mạnh vĩnh cửu trong lòng dân tộc. Đoàn người sẽ ngày càng đông, giới trẻ càng nhập cuộc, vẫn đang tiến về phía trước, hướng về mục tiêu dân chủ, chỉ vì con tàu của đất nước, đặc biệt đang đứng trước họa xâm lăng của “Chủ nghĩa Xã hội” Đại Hán. Ngoài ra, không có một giá trị nào khác được so sánh, như sự “tồn vong” của Đảng chẳng hạn…Vả lại, sự “tồn vong” nầy nằm trên nền tảng dân chủ hay không. Thế giới từng cảnh báo : Với Trung Hoa Cọng sản, hòa bình chỉ đến khi họ thống trị thiên hạ mà không còn sự đề kháng nào xảy ra.

 Bức họa đồ cho cuộc hành trình mà điểm đến phải là bản Hiến Pháp của toàn dân. Không thể hồ đồ vu cáo cho ai là thoái hóa, hay có âm mưu chia rẽ dân tộc. Chỉ bằng cái nhìn khách quan cũng thấy rõ, thông qua đợt góp ý sửa đổi HP, có 2 luồng chảy, như Đảng đã tự phân chia “lề phải và lề trái”, người ta thấy nó đồng nghĩa với “lề đảng và lề dân”, trong đó có một phía là Đảng CS lãnh đạo, và luồng chảy kia là trong lòng nhân dân. Chừng nào chưa có một cuộc trưng cầu ý dân một cách chân thực, dân chủ, minh bạch, thì không ai có thể nhân danh được, theo cách có danh dự, hai chữ Nhân dân, Tổ quốc, hay Công lý ! Dù có 20 triệu lượt ý kiến góp ý về Hiến pháp, hay 100 triệu đi nữa, theo cái cách đó,

thì cũng vô nghĩa, vì không có giá trị về sự trung thực. Tiếc thay, niềm tin đã mất, càng thêm mất, đến chẳng còn gì !

 Còn quá xa vời để so sánh với quốc gia cùng một thời điểm xuất phát, nước Nhật với Minh Trị Thiên Hoàng và nhà tư tưởng Fukuzawa : “Xây dựng và bảo vệ tự do của một quốc gia, là thông qua xây dựng và bảo vệ tự do của mỗi công dân”.

Họ đã nói thật, nên họ đã làm được, đã qua 100 năm.(1912- 2013).Thực tế chứng minh : Tư tưởng tự do đã đem đến tiến bộ. Tư tưởng toàn trị chỉ kéo lùi lịch sử.!

 Đèn vàng đã báo hiệu dừng lại, là sự nhắc nhở cần thiết cho toàn dân, kẻ dẫn đường, lẫn kẻ đi theo mà không biết đích đến, sẽ gặp tai họa, mà một số trong số những kẻ dẫn đường, sẽ nhanh chóng biến mất ở một con hẻm nào đó, như một kẻ cắp, sau khi đã làm kẻ cướp. Quả thật, nếu vai trò dẫn đường nằm trong tay người không lương thiện, hoặc là loại vớ vẫn, thì tai họa cho dân tộc biết chừng nào !

Nhất Đảng “công mình”, vạn cốt khô !

 Tôi luôn nhớ câu chuyện nhỏ nầy và cương quyết không đi theo ai, để đến cái nơi mà mình không hề biết ! ./.

HĐN, 2-4-2013

Tác giả gửi Quê choa

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

 ……………………………………..

(1) Chuyện xưa : Phát biểu 1959, HCM toàn tập, tập 11, trang 166

(2) Chuyện nay: Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Tiến Bình, tạp chí CS số 19/139-2013

(3) Câu trích trong bài : Tết nầy thiền định “ao ta”, của Hoàng Hồng Minh,

http://nuocdenchayn.com,1-3-2013)

(4)Khẩu hiệu cuối cùng của Trại súc vật, trong tác phẩm Trại Súc Vật.

——————

Hòa bình thống nhất xong, đảng cũng không biết làm gì để phát triển đất nước, ngoài chuyện đi mượn tiền nước ngoài để chi tiêu, mà tính đến nay nhà nước VN đang mắc nợ ngoại quốc hơn  60 tỷ đô la (57% GDP) và in tiền tung vào thị trường hàng năm để mua lại 10 tỷ đô la mà Việt kiều gởi về hàng năm giúp gia đình của họ. Vì in tiền đồng và tung vào thị trường hàng năm nên đã làm cho đồng tiền mất giá, và vật giá ngày càng mắc. 

18 tỉnh Việt Nam cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê mướn đất đai với giá cực kỳ rẻ, sao không bị chính quyền cưỡng chế?

►Quảng Nam cho 1 công ty Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50 năm, giá thuê 1 mét vuông là 2 đồng 75 xu/ 1 năm.

►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Chỉ đổi tên nước để làm gì? Nếu chuyện này xảy ra, thì chắc chắn sẽ có đổi tiền

Posted by hoangtran204 trên 17/04/2013

 Chỉ đổi tên nước để làm gì?

Tô Văn Trường

Lâu nay, mỗi khi được đoc bài phát biểu của số vị lãnh đạo cấp cao do ai đó trong Hội đồng lý luận soạn thảo trước, suy ngẫm tôi hiểu vì sao đất nước ta, dân tộc ta sẽ còn bị trầm luân bởi vì họ:

Nói những điều không biết
Viết những điều không hiểu
Sợ mất những điều không đáng có

Ngay từ khi đọc thông tin công bố khuyên khích người dân cả nước không có vùng cấm tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp, những người tỉnh táo biết rằng “trò chơi” nửa vời, hình thức này sẽ tốn kém rất nhiều tiền thuế của dân và thời gian, công sức của giới trí thức. Trong bài viết: ”Hiến pháp của ai”, tôi đã nêu 4 vấn đề cốt lõi bất cập của việc sửa Hiến pháp cho đến nay vẫn mang nguyên tính thời sự!

Mấy ngày gần đây, lại rộ lên thông tin ban soạn thảo Hiến pháp đưa ra phương án đổi tên nước. Có ý kiến tán thành hay phản đối là tùy theo nhận thức và góc nhìn của mỗi người đừng ném đá nhau làm gì. Chỉ cần nói chủ quyền là của dân, nếu dân quyết định đổi tên nước thì đó là việc không ai có quyền ngăn cản.

Nếu “mổ xẻ” sâu xa hơn thì việc đổi tên nước cũng chỉ như cốc nước tạm thời “an thần” cho người đang bị trọng bệnh nan y chưa có thuốc giải. Tiến sĩ Hoàng Lê Tiến đang làm việc ở xứ người nhưng luôn quan tâm đến vận nước mới gửi mail tâm sự nguyên văn như sau: “Nhiều khi Tiến tự hỏi, ở nước ta có bao nhiêu người thực sự hiểu chủ nghĩa Mác, rồi vào những năm cuối thể kỷ 20 chắc chúng ta chưa có tiến sĩ về chuyên môn này thế ai là người hướng dẫn tiến sĩ cho một loạt các tiến sĩ rồi sau đó qua hội đồng phong giáo sư nhà nước (trong hội đồng có bao nhiều người có chuyên môn về chủ nghĩa Mác). Cho nên mới có một loạt GS … như thế!. Cho nên phải nhắc lại câu nói của Bác Hồ: đi lên chủ nghĩa xã hội “bò” qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa., Thế nhưng các chú đâu có hiểu tiếng Nghệ – bác nói bò qua thì các chú lại hiểu là “bỏ”, qua thế mới chết chứ!

Tạm gác câu chuyện có tính truyền thuyết nói trên, trao đổi với vị trưởng thượng, chúng tôi hiểu vấn đề không chỉ là đổi tên nước mà đã tới lúc phải từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa gắn với chế độ toàn trị. Chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lênin dựa trên ba trụ cột coi như nguyên lý: thứ nhất là đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản; Thứ hai là xóa bỏ tư hữu (về tư liệu sản xuất, trong đó có đất đai); Thứ ba là không chấp nhận kinh tế thị trường (thay bằng kế hoạch hóa tập trung). Cuộc đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI thực chất là thay đổi hai nguyên lý sau nhưng chưa triệt để. Còn nguyên lý thứ nhất thì không nói tới trong các văn kiện nữa (nhớ rằng nghị quyết Đại hội III, IV và V đều đặt “nắm vững chuyên chính vô sản” lên đầu tiên trong đường lối chung) nhưng về tư duy lãnh đạo cũng như hoạt động thực tế thì hầu như không thay đổi mà vẫn củng cố chế độ toàn trị.

Trước đây, khi được mời tham luận trong Hội nghị toàn quốc về cải cách hành chính quốc gia do Bộ Nội vụ và báo điện tử của Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức ở Hà Nội tôi viết bài “Suy nghĩ về cách tiếp cận và lộ trình cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam” đã đụng chạm đến quan điểm chuyên chính vô sản! Đây chính là thực chất của chế độ chính trị ở những nước còn tự nhận đi con đường xã hội chủ nghĩa. Định nghĩa về chế độ toàn trị trong từ điển Larousse năm 2002 (cả tiếng Pháp nguyên gốc và bản dịch sang tiếng Việt

Định nghĩa trong từ điển Petit Larousse 2002

Totalitarisme: Système politique caracterisé par la soumission complète des existences individuelles à un ordre collectif que fait régner un pouvoir dictatorial. Encycl. La fusion des pouvoirs exécutif, législatif et judiciaire, l’existence d’un parti unique, la diffusion d’une idéologie hégémonique, la mobilisation des masses, le contrôle policier, la repression, l’élimination des catégories de la population designées comme boucs emissaires sont des traits partagés par les régimes totalitaires, dont l’étude a été developpée notamment par H.Arendt, soucieuse de penser les similitudes des régimes nazi et stalinien

Chủ nghĩa (chế độ) toàn trị: Hệ thống chính trị được đặc trưng bởi sự phụ thuộc hoàn toàn của các cá nhân vào một trật tự chung theo sự cai trị của một chính quyền độc tài. Từ điển bách khoa: Sự hợp nhất các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, sự tồn tại một đảng duy nhất, sự phổ cập một ý thức hệ thống trị, sự huy động quần chúng, sự kiểm soát của cảnh sát, sự đàn áp, loại trừ các nhóm dân cư được coi như bung xung, đó là những nét chung của các chế độ toàn trị mà việc nghiên cứu được mở rộng, đặc biệt là nhờ H.Ariendt, quan tâm tới sự đồng dạng của chế độ phát xít và chế độ Stalin.

Ngẫm suy, nếu bây giờ ta đổi lại Việt Nam dân chủ cộng hòa thì rõ ràng cũng khác với VNDCCH năm 1954 – 1975 rồi. Thế giới đều nghĩ vậy, chỉ có ta không chịu nên mới có Việt Nam Cộng hòa là “bù nhìn” của đế quốc Mỹ mà thôi. Cái vòng nhân quả của thủ đoạn chính trị tất nhiên là vậy đấy. Càng bày lý lẻ càng oan trái nhiều (nhại Kiều)! Nhưng rõ ràng sau 30/4 /1975 thì hai Chính phủ VNDCCH và Cộng hòa miền nam Việt Nam hiệp thương thống nhất đất nước, lập ra Chính phủ Cộng hòa XHCNVN. Về mặt pháp lý thì CHXHCNVN là nối tiếp và kế thừa VNDCCH và VNCH-CHMNVN chớ không phải chỉ liên tục của riêng VNDCCH. Và tất nhiên càng không phủ định VNCH.

Về chính trị đến đây ta mới thấy vấn đề đại đoàn kết toàn dân, HÒA GIẢI rồi mới HÒA HỢP DÂN TỘC do Cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đề xuất là thấu tình đạt lý và cũng rất biện chứng, không thể không làm. Và nếu không làm thì lịch sử dân tộc nầy không thể là một dòng chảy thông suốt. Lý lẽ nầy, chắc trên thế giới không ai mà không công nhận, chỉ trừ Trung Quốc! Nhưng ta và Trung Quốc từng cùng phe không công nhận VNCH, vậy coi trong văn kiện, lời hứa có gì mắc mớ với họ không mà thôi. Nhưng dù ta không có sơ hở gì đi nữa thì “mưu Tàu” thâm ác là vô biên. Việc ta phải ta cứ làm. Nhưng để cho chắc ăn từ hình thức lẫn nội dung thì sửa lại “CỘNG HÒA VIỆT NAM” như phổ biến ở các nước đều có ý nghĩa hơn thực tế hơn quốc hiệu hiện thời CHXHCNVN. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi cần nhớ rằng nếu chỉ đổi tên nước mà không chuyển từ toàn trị sang dân chủ thì vô nghĩa, chưa kể các “ẩn số” hệ lụy đằng sau của việc đổi tên nước!

Thay cho lời kết

Lúc này, ta vẫn còn đủ thời gian, lực lượng và cả uy tín để sửa sai, sửa cái chưa hợp lý, sửa cái dân chưa đồng tình. Cơ hội đi qua là không trở lại, cần bình tĩnh nhìn lại đất nước ta từ ngày hội nhập chẳng những không rút ngắn khoảng cách mà còn tụt hậu xa hơn, cho dù ta có tiến bộ xa một trời một vực so với 1985. Nhưng nếu chỉ có ta so với ta thì có khác nào cứ lải nhải với con cháu về bài ca “ăn mày dĩ vãng” mà thế hệ trẻ chỉ so sánh với cái mà chúng thấy, quốc gia mà chúng biết. Hãy thật lòng, cho dù có đau, nhìn cách Hunsen hành xử sau 1991 mà nên cả cơ đồ, Myanmar trở mình sau một giấc mơ thế kỷ vv… là những bài học thực tế vì họ biết vượt lên chính mình!

T.V.T

Theo blog Nguyễn Xuân Diện

Chia sẻ bài viết này

danluan.org  (repost)

*Nếu có đổi tên nước, thì chắc chắn sẽ có đổi tiền. Vì tên nước in trên tờ giấy bạc phải thống nhất với tên của quốc gia. Vậy bà con nên chuẩn bị sẵn để đối phó với bọn cướp.   

 

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

►Liên quan đến việc tranh chấp chủ quyền HS và TS để giành quyền khai thác dầu khí: Liệu Hà Nội phải công nhận chính thể VNCH là hợp pháp duy nhất từ 1954-1975…

Posted by hoangtran204 trên 15/04/2013

Lời tựa của Trần Hoàng: Từ năm 1960, đảng cộng sản VN và nhà cầm quyền Hà Nội đã cố tình không công nhận chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam là một chính phủ hợp pháp từ 1954-1975. Mục đích của họ là viện vào cớ này để gây ra cuộc chiến tranh VN 1954-1975 và chiếm miền Nam Việt Nam. Nhưng nay thì tình thế đã khác, buộc họ phải thay đổi, phải công nhận chính thể VNCH nếu như họ muốn tuyên bố Việt Nam có chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vùng này ngoài địa thế chiến lược còn được xem là nơi chứa nguồn dầu khí khổng lồ. 

Vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều dầu hỏa và khí đốt. Dầu hỏa và khí đốt chiếm 30- 40% Tổng sản phẩm và Dịch vụ (GDP) của Việt Nam trong suốt 20 năm qua. Nhà cầm quyền cộng sản VN sống được và đứng vững được trong hơn mấy chục năm qua đó là là vào việc bán 400.000  thùng dầu thô mỗi ngày, và 9 tỷ tấn ga hàng năm. 

Cuối năm 2011,Trung Cộng đã kéo dàn khoang dầu vào khu vực Biển Đông và đang ở trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò dầu khí ở quanh vùng quần đảo HS và TS. Khi làm vậy, Trung Cộng đã và đang chạm vào nọc hay tử huyệt của đảng CSVN  và nhà nước.

Nhưng Việt Cộng không dám đối diện trực tiếp với Trung Cộng bởi vì Trung Cộng nắm được nhiều bí mật về những cam kết và trao đổi giữa ông Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông vào năm 1950. Mỗi khi Trung Cộng cần bắt buộc đảng CSVN và Nhà Nước phải thực hiện chuyện gì, và nếu đảng và nhà nước cứng đầu không nghe theo, thì Trung Cộng tung ra một vài tài liệu bí mật. Thí dụ vào năm 1999, khiTrung Cộng muốn ép đảng và nhà nước phải cấp tốc ký kết Hiệp Định Biên Giới để nhường hơn 3000 km vuông cho Trung Cộng, trong khi đảng và nhà nước chần chừ, thì Trung Cộng tung lên mạng Công Hàm công nhận biển đảo mà  ông Phạm Văn Đồng  đã ký vào ngày 14-9-1958.  Quá hoảng sợ, đảng và nhà nước bị Trung Cộng dồn vào thế bí, nên phải nhanh chóng ký kết Hiệp Đinh Biên Giới vào ngày cuối năm 31-12-1999. (nguồn)

Trong lúc ông HCM đi sứ  qua Trung Quốc  vào năm 1950 để CẦU VIỆN nước ngoài: xin Trung Cộng giúp đỡ súng đạn, thực phẩm, và mời quân Trung Cộng vào VN đánh Pháp. Việc giúp đỡ của Trung Cộng  dành cho ông HCM và đảng CSVN  có ý nghĩa to lớn là:  chiến thắng trận Điện Biên Phủ 1954  và tiếp đó, Trung Cộng cũng đã giúp cho đảng CSVN chiếm được một nửa nước VN qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954 chia đôi nước VN làm 2 miền. Và sau cùng, chính Trung Cộng đã viện trợ hơn 21 tỷ đô la từ 1954-1975 và cũng đã gởi 300.000 bộ đội Trung Quốc sang đóng quân ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1965-1975 trong chiến tranh VN.

Trung Cộng chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đang tìm kiếm thăm dò dầu khí ở quanh quần đảo HS và TS là chạm vào miếng ăn hay tử huyệt sống còn của đảng CSVN. Vì thế, bằng mọi cách, đảng CSVN phải cố giữ quyền khai thác dầu khí trong vùng  này để sống còn (dầu khí chiếm 40% GDP, theo Tập Đoàn Dầu Khí VN (PetroVietNam) công bố.

Vì vậy, trong mặt trận pháp lý, muốn khẳng định chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của VN, nhà cầm quyền Hà Nội phải công nhận Việt Nam Cộng Hòa là một chính phủ hợp pháp trong giai đoạn 1954-1975. 

“Việc có hai quốc gia là cơ sở để cho rằng VNCH có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ gì đối với hai quần đảo đó…

Ngày nay, chính phủ Việt Nam một mặt viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng mặt kia vẫn e ngại việc công nhận cụ thể và rộng rãi rằng Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia, mặc dù trong quá khứ Hà Nội đã công nhận rằng Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một quốc gia.

Việc không công nhận cụ thể và rộng rãi rằng VNCH đã từng là một quốc gia làm giảm đi tính thuyết phục của việc viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của VNCH về Hoàng Sa, Trường Sa, vì các tuyên bố và hành động chủ quyền phải là của một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý.

Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải bỏ sự e ngại này…

Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?

Dương Danh Huy và cộng sự
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Theo BBC

Chia sẻ bài viết này   Tưởng niệm các quân nhân Việt Nam từ cả hai phía hy sinh ở Hoàng Sa – Trường Sa Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.

Quốc gia duy trì chủ quyền

Trong phán quyết năm 2008 về tranh chấp cụm đảo Pedra Branca giữa Malaysia và Singapore, Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng ban đầu Malaysia có chủ quyền đối với đảo Pedra Branca.

Tòa nói công hàm 1953 của Johor, nay là một tiểu bang của Malaysia, trả lời Singapore rằng Johor không đòi chủ quyền trên đảo này, không có hệ quả pháp lý mang tính quyết định và không có tính chất ràng buộc cho Johor.

Nhưng Tòa lại dựa vào việc trước và sau đó Johor và Malaysia không khẳng định chủ quyền và dùng công hàm 1953 của Johor như một trong những chứng cớ quan trọng cho việc Malaysia không đòi chủ quyền, để kết luận rằng tới năm 1980 chủ quyền đã rơi vào tay Singapore.

Bài học cho Việt Nam là: bất kể ban đầu Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và dù cho chúng ta có biện luận thành công rằng công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng không có tính ràng buộc về hai quần đảo này đi nữa, việc VNDCCH không khẳng định chủ quyền trong hơn 20 năm, trong khi các quốc gia khác làm điều đó, có khả năng sẽ làm cho VNDCCH không còn cơ sở để đòi chủ quyền nữa.

Vì vậy, trong lập luận pháp lý của Việt Nam phải có sự khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo này từ một chính phủ khác, lúc đó là đại diện hợp pháp cho một quốc gia Việt nào đó.

Trên lý thuyết, nếu chứng minh được từ năm 1954 đến 1975 chỉ có một quốc gia, và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là đại diện hợp pháp duy nhất của quốc gia đó, thì điều đó cũng đủ là cơ sở cho lập luận pháp lý của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa.

Trên thực tế, thứ nhất, chưa chắc chúng ta sẽ chứng minh được điều đó; thứ nhì, chính phủ Việt Nam ngày nay sẽ khó chấp nhận một chiến lược pháp lý dựa trên giả thuyết này.

Vì vậy, chiến lược khả thi hơn cho lập luận pháp lý của Việt Nam cần dựa trên điểm then chốt là từ năm 1958 đến 1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất nước Việt Nam.

Phân tích này sử dụng ba khái niệm sau.

Đất nước, là một khái niệm địa lý, bao gồm một vùng lãnh thổ với dân cư. Chính phủ, là cơ quan hành pháp và đại diện. Quốc gia (trong bài này từ “quốc gia” được dùng với nghĩa State/État), là một chủ thể chính trị và pháp lý.

Trong Công ước Montevideo 1933, một quốc gia phải có lãnh thổ, dân cư, chính phủ, và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Thực chất, trong công pháp quốc tế chỉ có định nghĩa quốc gia như một chủ thể có năng lực pháp lý và năng lực hành vi (tức là có các quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ luật quốc tế) và chính phủ là thành phần của chủ thể đó, chứ không có khái niệm đất nước.

Một lãnh thổ – hai quốc gia

Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự. Mặc dù không chia Việt Nam thành hai quốc gia, Hiệp định đã tạo ra một ranh giới tại vĩ tuyến 17 giữa hai chính phủ đang tranh giành quyền lực, và ranh giới đó đã tạo điều kiện cho sự hiện hữu của hai quốc gia.

Việc VNCH không chấp nhận thực hiện tổng tuyển cử vào năm 1956 đã làm cho ranh giới đó trở thành vô hạn định.

Một cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa

Sự hiện hữu của hai chính phủ hai bên một ranh giới vô hạn định ngày càng củng cố sự hình thành và hiện hữu trên thực tế của hai quốc gia trên lãnh thổ đó.

Điều có thể gây nghi vấn về sự hiện hữu của hai quốc gia là hiến pháp của VNDCCH và VNCH có vẻ như mâu thuẫn với sự hiện hữu đó.

Tới năm 1956, Hiến Pháp VNDCCH viết “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”, và Hiến Pháp VNCH viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan” và “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.”

Nhưng sự mâu thuẫn đó không có nghĩa không thể có hai quốc gia.

Hiến pháp của Bắc Triều Tiên viết Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là đại diện cho dân tộc Cao Ly, hiến pháp của Nam Hàn viết lãnh thổ của Đại Hàn Dân Quốc là bán đảo Cao Ly và các hải đảo, nhưng Bắc Triều Tiên và Nam Hàn vẫn là hai quốc gia.

Như vậy, có thể cho rằng từ năm 1956 hay sớm hơn đã có hai quốc gia, trên lãnh thổ Việt Nam, với vĩ tuyến 17 là biên giới trên thực tế giữa hai quốc gia đó.

Việc có hai quốc gia là cơ sở để cho rằng VNCH có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ gì đối với hai quần đảo đó.

Khi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLT) ra đời ngày 8/6/1969, có thể cho rằng trong quốc gia với tên VNCH, về mặt pháp lý, có hai chính phủ cạnh tranh quyền lực với nhau: chính phủ VNCH và CPCMLT.

Khi VNDCCH công nhận CPCMLT là đại diện hợp pháp cho phía nam vĩ tuyến 17 thì có nghĩa VNDCCH công nhận trên diện pháp lý rằng phía nam vĩ tuyến 17 là một quốc gia khác.

Nhưng tới năm 1969 CPCMLT mới ra đời, và cho tới năm 1974 mới có một tuyên bố chung chung về các nước liên quan cần xem xét vấn đề biên giới lãnh thổ trên tinh thần bình đẳng, vv, và phải giải quyết bằng thương lượng.

Vì vậy, nếu chỉ công nhận CPCMLT thì cũng không đủ cho việc khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ thập niên 1950.

Quá trình thống nhất

Ngày 30/4/75, VNCH sụp đổ, còn lại duy nhất CPCMLT trong quốc gia phía nam vĩ tuyến 17. CPCMLT đổi tên quốc gia đó thành Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), nhưng đó chỉ là sự thay đổi chính phủ và đổi tên, không phải là sự ra đời của một quốc gia mới.

Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa

Năm 1976, trên diện pháp lý, hai quốc gia trên thống nhất lại thành một, và từ đó Việt Nam lại là một quốc gia với một chính phủ trên một đất nước (lãnh thổ).

Sự thống nhất này đã không bị Liên Hiệp Quốc hay quốc gia nào lên tiếng phản đối.

Năm 1977, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được chấp nhận tham gia Liên Hiệp Quốc.

CHXHCNVN kế thừa vai trò của hai quốc gia VNDCCH và VNCH/CHMNVN trong các hiệp định và các tổ chức quốc tế, kế thừa lãnh thổ và thềm lục địa của VNCH/CHMNVN trong các tranh chấp với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, và mặc nhiên có quyền kế thừa Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN.

Lịch sử pháp lý trên nghe có vẻ sách vở, nhưng thực tế của nó là bom đạn, xương máu, và nhiều cảnh huynh đệ tương tàn.

Mặc dù lịch sử pháp lý đó đã kết thúc bằng một quốc gia trên đất nước (lãnh thổ) Việt Nam thống nhất, nó là một cuộc bể dâu làm đổ nhiều xương máu.

Nhưng quá khứ thì không ai thay đổi được, và tương lai thì không ai nên muốn đất nước Việt Nam lại bị chia đôi thành hai quốc gia lần nữa.

Cuộc bể dâu đó cũng đã góp phần làm cho Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng, và để lại cho Trung Quốc một lập luận lợi hại, rằng trước 1975 Việt Nam không tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và đã công nhận chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo này.

Nhưng việc đã từng có hai quốc gia trên một đất nước (lãnh thổ) Việt Nam trong giai đoạn 1956 đến 1976, và việc, vào năm 1976, hai quốc gia đó thống nhất thành một một cách hợp pháp, là một yếu tố quan trọng trong lập luận về Hoàng Sa, Trường Sa.

Ngày nay, chính phủ Việt Nam một mặt viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng mặt kia vẫn e ngại việc công nhận cụ thể và rộng rãi rằng Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia, mặc dù trong quá khứ Hà Nội đã công nhận rằng Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một quốc gia.

Việc không công nhận cụ thể và rộng rãi rằng VNCH đã từng là một quốc gia làm giảm đi tính thuyết phục của việc viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của VNCH về Hoàng Sa, Trường Sa, vì các tuyên bố và hành động chủ quyền phải là của một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý.

Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải bỏ sự e ngại này.

Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Dương Danh Huy, Phạm Thanh Vân và Nguyễn Thái Linh từ Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Các tác giả cảm ơn GS Phạm Quang Tuấn đã góp ý cho bài.

nguồn BBC

danluan.org (repost)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

►Những công dân bị bạo hành bởi tà quyền xuống đường cùng dân oan

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2013

Những công dân bị bạo hành bởi tà quyền xuống đường cùng dân oan

Bùi Thị Minh Hằng – Chỉ trong vòng một tuần lễ mà 2 người anh em của chúng tôi nhận những trận đòn thù từ bàn tay bạo hành côn đồ của công an 2 thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng.

Mấy ngày nay thật sự tôi không ăn, không ngủ. Thương xót anh em thì đành rồi. Nhưng không lẽ cứ để tình trạng bọn cô đồ thảo khấu ra tay với những con người lương thiện? 

Nghĩ mãi chúng tôi quyết định mang biểu ngữ xuống đường phản đối chứ đơn từ họ có thèm xem đâu? Có người viết đơn cả năm mà cứ bị đá như đá bóng. 

Ngay như tôi đây, thưa kiện từ 2009 đến giờ mà rồi đến những nơi từng gửi đơn họ nói không biết..Coi như lại làm từ đầu. Rồi họ nhận xong họ lại “Bỏ xó”.  

Cuối cùng 3 chị em chúng tôi thống nhất: In khẩu hiệu rồi đi tuần hành- Có lẽ bằng biện pháp này hy vọng nếu quan chức chính quyền không thèm ” ngó ngàng” thì đã có Nhân Dân – có người đi đường ngó. Mà không chừng rồi họ sẽ “Học và nhân rộng” thì sao. 

Kính mới quý độc giả xem tường thuật bằng hình ảnh cuộc “Xuống đường ” hôm nay

Lên Đường
HÒA CÙNG DÂN OAN TẠI NGÔ QUYỀN- HOÀN KIẾM
CÁC CHÚ HÔM NAY BỊ BINH VẬN- ĐỨNG HIỀN KHÔ
CHÍ ĐỨC 2 LẦN ĐAU “THẤM THÍA
Bùi Thị Minh Hằng
* “Vì sáng nay, 12-4-2013, có cuộc họp đối thoại Nhân quyền Việt – Mỹ  diễn ra tại Hà Nội ngày 12/4/2013 nên bọn chúng sẽ không dám làm gì những người tuần hành phản đối đâu!”
Cuộc họp này nhằm mục đích là cứu xét xem: liệu Việt Nam có hội đủ điều kiện để được Mỹ cho vào nhóm các nước Đối Tác Liên Thái Bình Dương Trans Pacific Partners (TPP). Một trong điệu kiện để được cho gia nhập vào TPP là: nhà nước VN có tôn trọng nhân quyền hay không?  Nhà nước có sai công an đánh đập, bắt giam những người dân bất đồng chính kiến, những người dân đang thực thi các quyền tự do cơ bản như biểu tình phản đối nhà nước, tự do ngôn luận,…
Nếu VN được cho vào nhóm TPP, thì các công ty xuất nhập cảng của VN sẽ được rất nhiều quyền lợi, chẳng hạn như VN sẽ  được giảm thuế nhập khẩu khi đem hàng hóa sang bán tại các nước thuộc  nhóm TPP.  Các công ty của nhà nước được lợi rất nhiều vì được miễn giảm thuế.
Ai được hưởng lợi trức tiếp khi VN được cho vào nhóm TPP? Chính là các công ty xuất nhập khẩu hàng hóa. Con cái của đám cán bộ cao cấp thường làm chủ các doạnh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa. Cho nên nếu VN được cho vào TPP, thì đám tư bản đỏ này được hưởng lợi lớn. Do đó mà sáng nay, 12-4-2013, công an được lệnh không đánh đập người dân di biểu tình trong giai đoạn đàm phán này.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Truy bức đến ba đời: Cha, con, cháu…thế mới tự gọi là Quang Vinh muôn năm

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2013

Truy bức đến ba đời?

Nguồn: Blog Huỳnh Ngọc Chênh

Đứa bé một tháng tuổi và người mẹ trẻ nầy là tội phạm quốc gia cần phải trừng trị?

Thời phong kiến, vua tự cho mình là con trời, ai có ý gì không đồng tình với vua liền bị ghép vào tội phản nghịch, bị tru di đến ba họ và xử trảm đến ba đời.

Tưởng cái thời mông muội ấy đã qua, đất nước đi vào thời kỳ văn minh dân chủ, quyền con người được tôn trọng như pháp luật đã ghi, người dân có quyền nói lên bất kỳ ý kiến nào của mình, dù cho tiếng nói ấy có khác với đường lối của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, miễn không vi phạm pháp luật.

Ấy vậy mà không phải như thế. Ông Huỳnh Ngọc Tuấn vì những bài viết đi ngược lại chủ trương đường lối của đảng cầm quyền cách đây trên mươi năm, đã phải bị đi tù.

Tưởng rằng chỉ mình ông làm thì ông chịu (dù không đúng). Nhưng không, các con ông đều bị liên lụy. Con gái lớn của ông là Huỳnh Thục Vy đã không vào được đại học, phải tự học ở nhà rồi sau đó bị biết bao điều phiền nhiễu kể ra không hết. Con trai ông là Huỳnh Trọng Hiếu, mới đây bị cấm đi ra nước ngoài một cách bất ngờ, khi đã ra đến sân bay, mà không cần có lý do chính đáng. Rồi mới đây nhất, con gái út của ông là Huỳnh Khánh Vy, được học bổng đi Úc thì bị gây cản trở một cách khó hiểu để rồi phải bỏ học.

Nhưng vẫn chưa hết, việc trả thù còn được đẩy đến tận cùng của sự ti tiện mà ngay cả quan lại nhũng nhiễu thời phong kiến thối nát cũng không thể nào hạ tư cách của mình xuống thấp hơn nữa để gây ra. Khi Huỳnh Khánh Vy lập gia đình, hai vợ chồng trẻ không dám ở trong nhà của ông Tuấn, nơi liên tục bị quấy nhiễu, bèn thuê một căn phòng tạm trú tại Đa Nẵng để tìm sự yên ổn cho sự ra đời của đứa con đầu lòng.

Thế nhưng thế hệ thứ ba của gia đình họ Huỳnh nầy vẫn không được yên ổn kể từ lúc chưa sinh ra đời. Chủ nhà cho đôi vợ chông trẻ thuê và đôi vợ chồng trẻ liên tục bị hạch sách quấy nhiễu. Đứa bé trong bụng mẹ phải liên tục theo mẹ di chuyển chỗ ở, từ khi thụ thai cho đến lúc chào đời, đến 5 lần.

Cuối cùng khi bé chào đời, hai vợ chồng trẻ phải đành đưa cháu về Tam Kỳ, nhà ông ngoại Tuấn để trú ẩn vì không còn chỗ nào để thuê được nhà dù biết về đây cũng chẳng an toàn gì.

Tội phạm một tháng tuổi?

Quả nhiên đúng như vậy, chỉ ở được vài đêm, nhà ông ngoại Tuấn liền bị bọn xấu (???) lén lút ném mắm tôm và cá thối vào nhà. Nôi đứa bé chưa tròn tháng tuổi cũng ướt đẩm nước cá thối. Đứa bé một tháng tuổi ấy cũng là tội phạm quốc gia hay sao?

Nếu xét thấy ba đời nhà ông Huỳnh Ngọc Tuấn đều có tội trước pháp luật thì cứ mang cả ba đời ấy ra xét xử và cần thiết cứ xử trảm hết kể cả đứa cháu ngoại chưa tròn tháng tuổi như thời phong kiến cho hả dạ. Còn nếu không căn cứ vào pháp luật để buộc tội được ba đời nhà họ thì hãy để họ sống tối thiểu cho ra những con người.

Chúng ta có còn đang sống trong thời đại văn minh và trong xã hội loài người hay không đây?

Xem nhật ký trên Facebook của Jane Hoàng Huỳnh Thục Vy để cảm nhận cái cùng cực của sự ti tiện mà ba đời nhà nầy phải gánh chịu.

nguồn Blog Huỳnh Ngọc Chênh

 (repost)

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Ông Lê Hồng Hà, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Công an, phát biểu về sửa đổi Hiến pháp

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2013

Ông Lê Hồng Hà phát biểu về sửa đổi Hiến pháp

lehongha

1-    Qua nghiên cứu lại 4 bản Hiến Pháp trước đây của nước ta, trừ bản Hiến Pháp năm 1946 là đúng đắn, tốt đẹp, còn 3 bản Hiến Pháp sau tuy có nhiều điểm tốt, nhưng cả 3 bản ( năm 1959,1980,1992) đều mang nặng đường lối CM XHCN thể hiện thể chế chính trị chuyên chính vô sản (theo Nghị quyết của của Đại hội Đảng III, IV, V, VI, VII) tức là rất nhiều sai lầm.

2-    Nội dung đặc trưng của đường lối xây dựng CNXH ở Việt Nam có thể tóm lại:

Về kinh tế:  kế hoạch tập trung, phủ nhận kinh tế thị trường, quốc doanh là chủ đạo, xóa bỏ kinh tế tư nhân.

Về chính trị: Là thực hiện chuyên chính vô sản, Đảng lãnh đạo độc tôn và Đảng lấy Chủ nghĩa Mác Lê Nin là thống soái, cán bộ, đảng viên và thanh niên đều phải học tập CN Mác Lê Nin.

Đến Đại hội VI, có đổi mới chút ít, nhưng chỉ là nửa vời và vẫn một mực kiên trì Chủ nghĩa Mác Lê.

Qua thực tế của các nước trên thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN cuối thế kỷ 20, đã chứng minh CN Mác Lê Nin là sai lầm, mô hình CNXH Xô Viết là sai lầm thế nhưng Đảng ta vẫn một mực phải đề cao Chủ nghĩa Mác Lê Nin kiên trì đường lối CNXH ở Việt Nam.

3- Do mấy chục năm qua,  cả nước ta đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa sai lầm nói trên, nên đất nước ta lâm vào tình trạng suy yếu, xuống cấp về hầu hết các mặt của đời sống xã hội (không chỉ kinh tế mà cả chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức vv…) và tụt hậu so với nhiều nước xung quanh, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm. Chưa bao giờ lòng tin của dân đối với sự lãnh đạo của ĐCSVN và Nhà nước ta thấp như ngày nay và tình hình nghiêm trọng tới mức trở thành nguy cơ lớn đối với sự sống còn của chế độ, của ĐCSVN.

Nguyên nhân gốc rễ của tình hình ấy, chính là do chế độ toàn trị của một đảng trên thực tế đang chi phối toàn bộ quyền lực Nhà nước và hệ thống chính trị đứng trên nhà nước và pháp luật, đứng trên nhân dân, vô hiệu hóa nhiều quyền tự do, dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp.

4 – Để cứu đất nước ra khỏi tình hình nghiêm trọng nói trên thì phải đổi mới căn bản thể chế chính trị, chuyển từ độc tài đảng trị sang dân chủ là cơ hội tốt, là bước đi đầu tiên mở đường cho đất nước đổi mới toàn diện, phát triển bền vững và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

5 – Đối với  bản “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” tôi thất vọng vì nó không góp phần đổi mới căn bản thể chế chính trị, mà lại …! Toàn bộ những sai lầm của các bản Hiến pháp trước đây không thể là cơ sở để xây dựng một bản Hiến pháp mới thực sự là của nhân dân.

6 – Trong thư này, tôi đề nghị cụ thể một số vấn đề về nội dung:

a / Không nên dùng từ Nước CHXHCNVN …, mà nên dùng từ ông Hồ đã dùng: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa …, vì mô hình XHCN là một mô hình sai lầm.

b / Không nên đề cao chủ nghĩa Mác Lê Nin vì đó là một học thuyết sai lầm, hông nên nói dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lê Nin.

c / Bỏ điều 4 nói về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản vì Đảng chưa xứng đáng lãnh đạo việc xây dựng và phát triển đất nước (chưa kể những chính sách sai lầm như cải cách ruộng đất, cải tạo Xã Hội Chủ Nghĩa, đàn áp Nhân Văn Giai Phẩm)…

d / Quân đội phải trung thành với Tổ Quốc, với Nhân Dân, không được nêu quân đội trung thành với Đảng.

e / Không nên đặt vấn đề Hiến Pháp nước ta phải thể chế hóa cương lĩnh xây dựng CNXH của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hà Nội 02-4-2013

Người góp ý

© Lê Hồng Hà

(Nguyên Chánh Văn phòng Bộ Công an)

nguon: danchimviet.info

 

 Vụ án Xét lại Chống Đảng   

Chẳng nhẽ độc quyền cả nói dối hay sao?

 

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Trần Huỳnh Duy Thức- Một người có tâm và có tầm

Posted by hoangtran204 trên 10/04/2013

Từ 2006, Trần Huỳnh Duy Thức có lẻ là người Việt Nam duy nhất tiên đoán có cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh ở Việt Nam (và có thể nói là cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới vào năm 2008); cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh ở VN đã và đang diễn ra từ 2008 cho đến tận bây giờ và kéo dài trong những năm sắp đến, và đã làm cho hơn 600 ngàn công ty phá sản tính cho đến năm 2012; 81 tổng công ty và tập đoàn của nhà nước đã phá sản hay đang ở bên lề của việc thua lỗ mất hết tài sản;… 

Tất cả những rối loạn về tiền đồng, tiền đô, và các thua lỗ của hệ thống ngân hàng  ở VN trong 5-6 năm qua cũng đều đã được Trần Huỳnh Duy Thức báo động và viết rõ từ 2007-2008. Những gì xảy ra hiện nay và trong các năm qua cho thấy anh THDT dự báo rất chính xác. 

Điều đáng ngạc nhiên là cả hệ thống đảng lãnh đạo, các đỉnh cao của trí tuệ của loài người, và nhà nước, cùng hàng trăm nhà kinh tế tài chánh ở Việt Nam đang là cận thần cho nhà nước cùng các tổ chức kinh tế tài chánh đang hoạt động ở VN đã nhỡn nhơ, bình chân như vại, không hề biết về cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh sắp diễn ra và đã được anh THDT tiên đoán và cảnh báo (dưới bút danh Trần Đông Chấn).   

trandongchan.blogspot.com

trandongchan.wordpress.com

Một người có tâm và có tầm

Nguyễn Thanh Giang

9-4-2013

Tài –

Sinh ra trong một gia đình nghèo khó; đến nỗi: mẹ phải đi tù chỉ vì chưa chạy đủ số thóc để nạp thuế, em trai tử nạn trên đường đạp xe mang gạo đi bán để phụ giúp gia đình; anh là con thứ bẩy, mười tuổi, sáng đi học, chiều, đi chăn bò, tối, phải đi ngủ ở một chòi nhỏ cách nhà mười cây số để canh trộm thuê cho một chủ vườn cây trái ở Long Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu.

Đến khi lập nghiệp thì chỉ từ hai bàn tay trắng. Chính xác hơn, từ cái ống thụt cầu tiêu.

Sinh ngày 29 tháng 11 năm 1966 tại Gia Định, Sài Gòn (nay thuộc quận Bình Thạnh – Tp. HCM), ngay từ năm học thứ ba, chàng sinh viên giỏi toán-lý này đã phải tạm lơi những ước mơ nghiên cứu khoa học xa vời để lao vào kiếm sống. Anh mày mò tự chế tác ra cái ống thụt cầu tiêu để tự đem đi bán rong khắp hang cùng ngõ hẻm … Thế mà rồi chỉ ít năm sau, ở cái tuổi ngoài ba mươi, chính anh chàng đó đã bay sang Mỹ mua lại một công ty điện thoại internet đem về lập công ty cổ phần Công nghệ thông tin EIS (EIS, Inc.) với lời tuyên bố tự trao sứ mệnh: “Tiến công mạnh mẽ vào thị trường công nghệ thông tin quốc tế, chuyển tri thức Việt Nam thành những giá trị cao trong nền kinh tế tri thức thế giới”.

Như thần thông biến hóa, cái anh chàng “ai mua ống thụt cầu tiêu ê” bỗng sử dụng được tiếng Anh lưu loát như Việt kiều khi đứng ngang mặt các doanh nhân tầm cỡ thế giới. Người đó chính là Trần Huỳnh Duy Thức.

Trần Huỳnh Duy Thức

Cuối năm 1992, nhờ chút ít vốn liếng thu được từ cái doanh nghiệp ống thụt cầu tiêu, Thức mới mở được một cửa hàng dịch vụ đánh máy thuê, photocopy và bán đĩa mềm để rồi từ đấy ước mơ khoa học của chàng kỹ sư công nghệ tin học THDT mới có dịp phục hồi.

Chỉ sau vài tháng tiếp cận thị trường, Thức đã cập nhật được công nghệ rồi nhập linh kiện rời về ráp thủ công thành những bộ máy vi tính mang nhãn hiệu riêng của mình là EIS. Đến 1995 máy PC EIS của công ty TNHH Tin học Duy Việt (tên tiếng Anh là EIS Co., Ltd.) không chỉ chiếm phần lớn thị phần máy tính cá nhân lắp ráp cho hộ gia đình tại Tp.HCM mà còn mở rộng mạnh mẽ ra cả Hà Nội.

Nhớ lại, cho đến cuối năm 1997, các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) ở Việt Nam còn dẫm chân trong tình trạng sử dụng công nghệ truy cập analog qua đường điện thoại cho nên dung lượng và tốc độ truy cập rất hạn chế. Công ty Duy Việt đã tiên phong đưa vào thị trường Việt Nam công nghệ truy cập digital, cho phép mở rộng nhanh dung lượng lẫn tốc độ truy cập nhiều lần so với công nghệ analog.

Tuy nhiên, do không tương thích giữa các chuẩn viễn thông, các thiết bị truy cập digital mà Duy Việt nhập về không vận hành được với mạng điện thoại của Việt Nam. Hãng Racal và Bay Networks với các chuyên viên đầy kinh nghiệm từ Singapore và Mỹ đã được vời sang để trực tiếp lắp đặt và tương thích hoá, nhưng đều thất bại. Công ty Duy Việt đứng trước nguy cơ vỡ nợ rất lớn.

Racal và Bay Networks thông báo rằng họ cần đến 3 – 6 tháng để xử lý vấn đề này từ khâu sản xuất. Một khoảng thời gian như thế đủ dài để đánh sụp mọi cơ hội còn lại của Duy Việt. Nói chi nữa đến ước mơ “chuyển tri thức Việt Nam thành những giá trị cao trong nền kinh tế tri thức thế giới”!

Không cam chịu, Thức đã cùng một kỹ sư lúc đó chưa tốt nghiệp đại học mở lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, đảm đương công việc của các chuyên gia Singapore và Mỹ. Ngày quên ăn, đêm quên ngủ, nhưng rồi công trình đã được hoàn thiện trong một thời hạn ngắn hơn.

Đến giữa năm 2002, đội ngũ nghiên cứu phát triển (R&D) của Duy Việt đã có mặt ở 3 nơi: San Jose (Mỹ), Sài Gòn (Việt Nam) và Singapore để đảm bảo vận hành thiết bị do mình cung cấp.

Cuối năm 2002, EIS, Inc. lập đồng thời 2 công ty con cùng mang tên One-Connection (Một kết nối) tại Việt Nam và Singapore để áp dụng công nghệ này (được đặt tên là Sáng tạo để đột phá) cung cấp dịch vụ điện thoại Internet.

Tại Singapore One-Connection nhanh chóng nổi lên thành một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trên môi trường Internet toàn cầu và đã ký nhiều hợp đồng làm đại lý bán hàng địa phương với các hãng viễn thông ở Malaysia, Nga, Mỹ. Các hãng thông tấn, truyền hình quốc tế và Singapore đưa tin rầm rộ sự kiện công nghệ Việt Nam xuất hiện cạnh tranh vững chãi trên thị trường toàn cầu. Kênh truyền hình Channel Asia lớn nhất Singapore phát lại 3 lần bản tin về One-Connection trong vòng 24 giờ với thông điệp chính: “One-Connection từ Việt Nam thách thức các dịch vụ viễn thông truyền thống”. Các tạp chí công nghệ nổi tiếng thế giới thì giật tít “Việt Nam ghi bàn”, “Bước đột phá ngoạn mục trong cách sử dụng và mô hình kinh doanh điện thoại Internet từ Việt Nam”…

Với hàng trăm nhân viên và nhà khoa học, các Cty Global EIS và Cty OCI đã lập được các “Giác đấu trên đất Mỹ” và từng được báo chí của ĐCSVN đánh giá là niềm tự hào của Công nghệ Thông tin Việt Nam.

Kể về chiến công hiển hách trên, không thể không nhắc đến sự đóng góp cuả hai người bạn chí cốt của THDT: luật sư Lê Công Định và kỹ sư Lê Thăng Long; đặc biệt là Lê Thăng Long. Long với Thức không chỉ chia ngọt sẻ bùi, chung lưng đấu cật mà còn dấn thân vì nhau. Họ như Lê Lợi – Lê Lai, Lưu Bình – Dương Lễ.

Tâm –

Lúc chưa đầy 5 tuổi, khi đang nghe ba đọc một quyển truyện tranh kể về một ông tiều phu bị những kẻ ăn thịt người bắt, chuẩn bị cho vào nước sôi làm thịt, Thức giật lấy quyển truyện rồi nhằm vào những hình ảnh của những kẻ xấu mà bấu nát ra với thái độ rất phẫn nộ. Hỏi vì sao (xé cuốn truyện), thì Thức nói là để cứu ông tiều phu.

Lê Thăng Long – người bạn đồng môn của Thức – thì kể rằng, một hôm, trên đường đến văn phòng công ty, Thức thấy một bà lão ngã rụi bên vệ một bùng binh. Thức bảo lái xe dừng lại, tự mình xuống đỡ cụ dậy. Sau khi hỏi han để biết cảnh ngộ éo le, Thức đã vay tiền người lái xe biếu bà cụ, rồi mời cụ lên xe của mình, và bảo lái xe đưa cụ đến bệnh viện. Hôm ấy Thức phải đi xe ôm đến Công ty.

Tháng 9 năm 2010 tại trại giam Xuân Lộc, trong một buổi thẩm vấn, các sĩ quan của tổng cục An ninh hỏi: “Chắc anh thù ghét những anh em bên an ninh lắm hả?”. Thức cười và đáp: “Các anh chỉ là những người thừa hành phải cố gắng thực hiện những chủ trương sai lầm. Tôi chỉ đấu tranh để thay đổi những đường lối đó để đất nước không rơi vào thảm họa và phát triển tốt đẹp như tôi đã từng làm ở lãnh vực viễn thông chứ chẳng bận tâm đến vấn đề cá nhân nào cả”.

Dễ mủi lòng trước cảnh khốn khó, thân ái với cả kẻ quấy nhiễu mình, nhưng THDT rất quyết liệt với cường quyền. Trước phiên tòa dẫn đến bản án khắc nghiệt, bất công “16 năm tù giam, 5 năm quản chế” anh vẫn ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Tôi không lật đổ chính quyền gì cả. Tôi chỉ chống cường quyền và tôi sẽ còn chống nó đến khi nào còn thấy nó”.

Giao thừa Canh Dần 2010, trong lao tù, ta vẫn nghe như âm vang từ lồng ngực Thức giọng thơ sang sảng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ:

Canh Dần khai đại cuộc
Cứu chúng tầm chân như
Khí như tùng bách mộc
Vươn thẳng giữa trời cao
Chống cường quyền hung bạo
Đối mặt phá cuồng phong
Quyết không làm nô lệ
Xứng Nam quốc Lạc Hồng.

Tầm –

Đầu năm 2006, sau gần 2 năm nghiên cứu nghiêm túc, nhóm nghiên cứu Chấn của THDT đã đưa ra một bản đánh giá toàn diện các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Tóm tắt của bản đánh giá này được viết thành bài “Khủng hoảng kinh tế – Nguy cơ và cơ hội”.

Ngày 21 tháng 03 năm 2006, Thức đã gửi một bức thư tâm huyết kèm bài viết trên cho ông Nguyễn Minh Triết – khi đó là Bí thư thành ủy Tp.HCM. Dù không được đoái hoài, ngày 14 tháng 4 năm 2007, Thức vẫn kiên trì gửi liên tiếp 2 lá thư đến TBT Nông Đức Mạnh và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Bản đánh giá nêu những luận cứ khoa học và cảnh báo nghiêm túc về nguy cơ khủng hoảng kinh tế sẽ nổ ra sau chừng 2 năm nữa (tức sẽ vào khoảng 2008).Thức cho rằng nếu không thực thi một số giải pháp khoa học cấp thiết như được nêu để cải cách, ngăn chặn khủng hoảng, phát triển đất nước thì cuộc khủng hoảng còn kéo dài trên 5 năm nữa và dẫn theo những khủng hoảng xã hội, chính trị trầm trọng, làm cuộc sống của nhân dân khó khăn và đất nước bị lệ thuộc.

Hiện thực đang chứng minh tiên đóan của Thức.

Thời kỳ cuối năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam căng phồng như bong bóng. Không chỉ các công chức, doanh nhân ào ào lao vào các sàn chứng khoán, mà không ít bà nội trợ, không ít nông dân lam lũ cũng dốc hết những đồng tiền tiết kiệm ít ỏi của mình rót vào các phiên giao dịch chứng khóan để cầu may. Sự xuất hiện bài viết “Việt Nam đồng đang ở đâu và sẽ về đâu” của Thức dưới bút danh Trần Đông Chấn đã như liều thuốc giải “say”, cứu vớt nhiều người thóat cơn khánh kiệt.

Bài “Đồng đô-la ngoại sẽ đi về đâu?” với hàng loạt số liệu cụ thể về tỷ trọng của GDP theo các thành phần kinh tế và tỷ trọng đầu tư từ các nguồn khác nhau đã chỉ ra rằng nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng lệ thuộc vào đầu tư nước ngoài một cách thụ động. Bài viết cũng đồng thời chỉ ra tình trạng nhập siêu do hàng hóa trong nước không đáp ứng được nhu cầu nội địa sẽ là nguyên nhân gây lạm phát ngày càng cao của kinh tế Việt Nam.

Trần Đông Chấn cực lực phản đối chính sách kiềm chế lạm phát bằng cách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất ngân hàng để giảm lượng tiền đang lưu hành của chính phủ vì cho rằng biện pháp này ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp trong nước, gây ra sự phá sản của các doanh nghiệp dẫn đến thất nghiệp của người dân cùng hàng loạt các hậu quả tai hại khác mà chính phủ không thể kiểm soát được.

Trong khi rất không hài lòng với những kẻ ngạo mạn vô lối dám thóa mạ không chỉ giới trí thức mà cả dân tộc Việt Nam thì tôi thật hỉ hả gặp được sự biểu lộ niềm tự hào tự tôn dân tộc thật sáng suốt của THDT:

Việt Nam có thế mạnh về địa thế, giá trị của nguồn nhân lực dồi dào, siêng năng, có văn hóa và nhanh thích nghi với cái mới. Việt Nam là đất nước thanh bình và cởi mở. Những điều này dẫn hướng đến một tầm nhìn lớn về chiến lược giao thoa văn hóa và giao lưu kinh tế giữa đông và tây. Đây thực sự là lợi thế về đặc tính của con người Việt Nam trong việc hấp thụ rồi tạo nên những thành tựu mới về văn hóa và kinh tế. Việt Nam là nước có nền văn hóa và tiếng nói phương đông nhưng lại có chữ viết theo kiểu phương tây, đó chính là những di sản do lịch sử tạo lợi thế cho dân tộc ta trong một môi trường đa phương toàn cầu của hệ thống quốc tế mới đang hiện hữu”.

Không biết có viển vông quá không, nhưng nếu niềm mơ ước sau đây của Thức có triển vọng hiện thực thì hãy ráng sống để được cùng góp sức cho đến hơi thở cuối cùng:

Nếu dân tộc Lạc Hồng ta tiên phong và thành công theo một tiến trình như vậy – tiến trình bắt đầu từ xây dựng sự tự tin và có ý thức của người dân sử dụng tối đa quyền làm chủ của mình như đã phân tích từ đầu – thì sẽ truyền cảm hứng cho người dân Trung Quốc và tạo niềm tin cho giới cầm quyền ở đó dẫn đến sự thay đổi tích cực. Lúc đó Trung Quốc sẽ trở thành một nền dân chủ lớn nhất thế giới. Là một nền dân chủ thực chất nên cũng sẽ là một trung tâm thịnh vượng nhất thế giới và cũng tất yếu tạo ra một nền văn minh phương Đông hiện đại mới, tạo nên những chuẩn tắc chung mới cho thế giới toàn cầu với sự ảnh hưởng cân bằng giữa Đông và Tây ”.

Một cuốn sách – Một con đường – Một tấm gương –

Đầu năm 2008, nhóm nghiên cứu Chấn quyết định viết quyển sách Con đường Việt Nam do Trần Huỳnh Duy Thức chủ biên, cùng phối hợp với Lê Công Định, Lê Thăng Long và dự định mời thêm nhiều nhân sĩ, trí thức cùng hợp tác. Cuốn sách đặt mục tiêu giải đáp hoàng loạt câu hỏi lớn:

 Làm sao để Việt Nam phát triển bền vững, nhanh chóng thành một nước dân chủ thịnh vượng? Làm sao lý tưởng “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” trở thành thực tế? Làm sao để Việt Nam không bị biến thành một dạng nô lệ kiểu mới trong thời đại toàn cầu hóa?

“sao Việt Nam đã đổi mới và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong hơn 23 năm qua nhưng vẫn còn là nước nghèo? Vì sao rất nhiều nước đã có thể chế chính trị đa đảng hơn nửa thế kỷ rồi mà vẫn dậm chân ở mức thu nhập trung bình trong hơn 20 năm qua, thậm chí nhiều nước vẫn còn nghèo đói và đầy rẫy các vấn nạn tham nhũng cường quyền?

“Tại sao Trung Quốc chỉ có một đảng cầm quyền lại có thể tạo ra sự phát triển nhanh chóng liên tục hơn 30 năm qua, nhưng phải đến hơn 40 năm nữa (2050) mới chỉ tới được giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Liệu nước này có tránh được cái bẫy thu nhập trung bình nhiều nước đã bị mắc vào để tiếp tục phát triển đạt được sự dân chủ và thịnh vượng, hay sẽ sụp đổ bất ngờ như Liên Xô trong giai đoạn đầu phát triển đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và những thành tựu lớn hơn nhiều những gì Trung Quốc làm được 30 năm qua?

“Làm sao mà đảng Dân chủ tự do (LDP) tại Nhật và Hành động nhân dân (PAP) tại Singapore là đảng duy nhất cầm quyền liên tục trong một thời gian dài ở các nước này lại đưa đất nước họ phát triển bền vững, nhanh chóng trở thành các nước thuộc thế giới thứ nhất trong thời gian cầm quyền của những đảng đó? Vì sao mà nghèo đói, tham nhũng, cường quyền có thể tồn tại phổ biến và hoành hành tại bất kỳ nước nào dù ở đó có một hay nhiều đảng chính trị, bất chấp ý thức hệ chính trị khác nhau dù ý thức hệ nào cũng đều hướng tới những mục đích tốt đẹp vì con người và được khẳng định, bảo vệ bằng hiến pháp?

“Một nền dân chủ được hình thành chỉ bởi ý muốn chủ quan của con người hay tồn tại những quy luật khách quan chi phối sự vận hành của xã hội loài người trong quá trình vận động của nó để đạt đến một nền dân chủ? Và liệu một xã hội dân chủ có tất yếu dẫn đến một xã hội thịnh vượng không? Có hay không những quy luật khách quan chi phối sự vận hành của một thế giới toàn cầu hóa tương tự như quy luật kinh tế thị trường đối với các hoạt động kinh tế?

“Những đặc tính căn bản của toàn cầu hóa là gì, và có những đặc tính nào từ bản sắc và văn hóa của dân tộc Việt Nam phát huy được thế mạnh do phù hợp với đặc tính của toàn cầu hóa này hay không? Liệu sự hình thành và phát triển của các hình thái xã hội loài người từ lúc nguyên thủy đến phong kiến, tư bản…là tất yếu theo một quy luật khách quan nào đó bất chấp ý muốn chủ quan của con người, hay các hình thái này chỉ là sản phẩm của nhân sinh quan?

“Mức độ tồn tại và ảnh hưởng của các tính chất đối ngược nhau trong một xã hội (như lạc hậu và văn minh, cường quyền và dân chủ, tham nhũng và công bằng) có tuân theo những quy luật khách quan nào đó mà con người cần hiểu biết nếu muốn thiết lập những cơ chế hiệu quả để giảm thiểu cái xấu và phát huy cái tốt không? Có những chỉ dấu nào của một xã hội mà có thể đo lường được dễ dàng nhưng lại cho thấy và dự báo tốt mức độ ổn định/bất ổn, phát triển bền vững/khủng hoảng sụp đổ của xã hội đó không?

“Vì sao chủ nghĩa Mác bị mất tính hấp dẫn trong khi lý tưởng mà chủ nghĩa này hướng đến là rất cao đẹp, và Mác lại là người đầu tiên dự báo chính xác được hình thái và bản chất của thế giới toàn cầu hóa ngày nay? Diễn biến hòa bình là gì và vì sao Liên xô sụp đổ? Và đây là minh chứng cho sự sai lầm của chủ nghĩa Mác hay đó là bài học quý giá để tránh sự giáo điều, duy ý chí, áp đặt quan điểm chủ quan (của những người vận dụng chủ nghĩa Mác) trở thành quy luật khách quan mà không hề đảm bảo tính logic biện chứng của chính Mác đưa ra?

“Vì sao khá nhiều nước liên tục thay đổi hiến pháp theo hướng tốt hơn nhưng vẫn bất ổn hoặc càng bất ổn, không phát triển được nữa? Những động lực gì sẽ dẫn đến sự thay đổi và phát triển xã hội một cách tốt đẹp và ngược lại? Làm sao để những động lực này thuần túy kinh tế có thể thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển xã hội một cách cân bằng và công bằng?.

Đặt ra được hàng loạt câu hỏi tầm cỡ như vậy đã chứng tỏ một tầm tư duy thật lớn lao. Riêng dự kiến về một cuốn sách như thế đã là một giấc mơ vĩ đại.

Tiếc rằng vào ngày 24 tháng 5 năm 2009 người ta đã bắt Trần Huỳnh Duy Thức, tiếp đó là Lê Thăng Long, ngày 04 tháng 6; rồi đến Lê Công Định, 13/ 6.

Người ta đã phá tan những giấc mơ đẹp, những hoài bão lớn lao mà thánh thiện!

Tôi may mắn được đọc bản thảo cuốn “Con đường Việt Namsắp phát hành trên mạng, nói về cuốn sách dở dang trên và về người chủ biên đang phải khắc khoải vật lộn với những ước muốn cao đẹp của mình trong tù và thấy không thể không phát biểu về nó.

Bài viết này nhắm khẩn khoản khuyến nghị các nhà lãnh đạo, những người đang có quyền quyết định đến sinh mệnh của THDT hãy bớt chút thời giờ đọc cuốn sách này để hiểu đúng về THDT, để xét lại quyết định xử trí sai lầm đối với một trong những hiền tài, đặng cứu lấy nguyên khí quốc gia.

Xin đồng bào hãy đọc để biết và cùng nhau lên tiếng đấu tranh giải thoát một ngôi sao của đất nước đang bị nhốt.

Mong các nam nữ thanh niên hãy tìm đọc đặng soi vào một tấm gương rất đáng noi theo để rèn luyện mình thành người có ích cho đất nước, cho nhân quần xã hội.

Hà Nội 6 tháng 4 năm 2013

© Nguyễn Thanh Giang

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/74853/mot-nguoi-co-tam-va-co-tam/2013/04

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat | Leave a Comment »

► Người Trung Quốc vào Quảng Nam rầm rộ khai thác đào vàng đã hơn 10 năm qua!

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2013

Chính quyền Huyện cướp đất của dân và giao đất cho người Trung Quốc khai thác vàng đã hơn 10 năm qua.

 

Người Trung Quốc “mò” tới 

Quảng Nam đào vàng

Cập nhật 04/04/2013.

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/541270/nguoi-trung-quoc-mo-toi%C2%A0quang-nam-dao-vang.html


10  năm đi kiện vì đất bị thu hồi làm vàng, gia đình bà Năm bị lâm vào cảnh nợ nần chồng chất. Khu đất này trước kia là rừng trồng của bà Năm, nay đã tan hoang – Ảnh: Tấn Vũ

TTO – Việc bới núi đào vàng ở Quảng Nam diễn ra hàng chục năm nay ở các cánh rừng già. Tuy nhiên, hiện tượng người Trung Quốc đến đây thăm dò, khai thác, chế biến vàng ở tại xã Sông Trà (huyện Hiệp Đức) khiến nhiều người dân địa phương bức xúc.

Cách trung tâm hành chính huyện Hiệp Đức khoảng 20km, nằm sát tuyến quốc lộ 14E, nhưng khu vực khai thác vàng của Công ty TNHH khoáng sản Phúc Thuận rất im ắng. Bao bọc bởi cánh rừng trồng che phủ và một ngọn đồi bát úp nên người đi đường không thể nhận thấy quy mô đồ sộ của việc khai thác chế biến vàng tại đây.

Nắng như nung. Mùi hóa chất khét nghẹt xộc tận óc. Máy ủi, máy đào, máy nổ, máy xay rầm rập cả cánh rừng. Từng tốp công nhân bên các bể chứa, trong các giàn khoan đang xử lý công việc. Cánh rừng bị cày nát, từng ngọn đồi bị san phẳng, đất đá ngổn ngang, những hố hầm sâu hoắm cắm vào lòng núi. Con khe Hố Chuối bên dưới nước đọng thành từng vũng đen ngòm, bốc mùi nồng nặc.

Anh Trần Hữu Hải, người từng có thời gian lái xe múc cho công ty này, tiết lộ: “Ở đây người Trung Quốc nhiều lắm! Họ ở mấy năm nay rồi”. Theo lời Hải thì người Trung Quốc đến đây khoảng từ năm 2008. Lúc đầu họ đến thăm dò địa chất, dân địa phương còn gọi là đi “tăm vàng”.

Khu vực đào đãi vàng của Công ty TNHH khoáng sản Phúc Thuận rộng hơn 12 ha, được UBND huyện Hiệp Đức thu hồi của bà Trần Thị Năm năm 2008, và giao cho công ty này thuê để hoạt động khoáng sản. Khai hoang trồng rừng quanh khu vực Hố Chuối từ năm 1990, bà Năm không hề biết phía dưới đất có nhiều vàng. Bà Năm mở gần 15 ha để trồng keo, xoan, đào ao nuôi cá. Năm 2008, chính quyền huyện Hiệp Đức thu hồi trang trại này của bà, nhưng theo bà Năm thì việc đền bù không thỏa đáng khiến tình trạng khiếu kiện, khiếu nại kéo dài hơn 10 năm qua. Chính vì theo kiện mà gia đình bà lâm vào cảnh khốn cùng.

Ngồi trước mảnh đất xưa là trang trại của bà, nay ngổn ngang hố hầm, máy móc, bà Năm nói như mếu: “Tôi bán 20 con bò, vay 150 triệu ở ngân hàng để đi kiện. Tuần trước cầm luôn cái nhà 300 triệu rồi. Đâu biết chữ đành thuê luật sư, chạy đôn đáo ra trung ương, về tỉnh, hầu tòa kêu oan hơn 10 năm qua. Đơn thư phải tính bằng ký nhưng chưa giải quyết xong”.

Bà Năm có 8 người con, gia cảnh khốn khó không ai học hết cấp II, khai hoang trồng rừng bà mong những đứa con bám rẫy, rừng mà sống. Khi chính quyền huyện thu hồi đất, tiền đền bù 600 triệu đồng nhưng bà không nhận. Bởi theo bà Năm việc đền bù này không thỏa đáng. “Rứa rồi họ cưỡng chế. Tôi đi kiện cứ kiện. Họ vẫn ngang nhiên chặt cây, cày núi, bạt đồi, ủi rừng của tôi để đào lấy vàng. Thấp cổ bé họng biết kêu ai. Nếu đất nớ không có vàng tôi đâu khổ như ri” – bà Năm than vãn.

Chủ tịch UBND huyện Hiệp Đức, ông Đào Bội Thuyên, không bình luận thêm về việc người Trung Quốc xuất hiện ở địa bàn. Ông Thuyên cho rằng người Trung Quốc này đến dưới dạng chuyên gia của công ty, và việc đúng sai trong vụ khiếu kiện của gia đình bà Năm đã có tòa án ở các cấp giải quyết. 

Còn luật sư Nguyễn Sơn, chủ nhiệm Đoàn luật sư Quảng Nam, cho biết đất của người dân đang quản lý sử dụng ổn định và hợp pháp gồm đất sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản nếu muốn khai khoáng thì phải chuyển đổi mục đích sử dụng. Chính quyền địa phương không chuyển đổi mục đích mà đã giao cho doanh nghiệp khai thác khoảng sản là không hợp pháp. Cũng theo luật sư Sơn thì việc khai thác tận thu ưu tiên cho tổ chức, cá nhân tại địa phương nhưng lại giao cho người ngoài và tiếp tục chuyển nhượng cho người khác ngoài địa phương là trái với Nghị định 160/2005/ NĐ-CP của Chính phủ.  

TẤN VŨ

*Giám đốc Sở Lao động – thương binh và xã hội tỉnh Quảng Nam, ông Võ Duy Thông, cho biết theo danh sách đăng ký của Công ty TNHH khoáng sản Phúc Thuận, có 3 người Trung Quốc hoạt động tại đây. Phòng Lao động và việc làm của sở đã hướng dẫn cách thức đăng ký từ 2 tháng trước nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành.

“Tôi vừa nghe thông tin là họ ở lại đã lâu. Chúng tôi sẽ cùng công an xuất nhập cảnh lập tức kiểm tra lại thông tin này” – ông Thông nói.

Trong khi đó, giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Nam Dương Chí Công cho biết vừa nhận được đơn nhiều người dân phản ảnh tình trạng có người nước ngoài vào khai thác vàng tại Hiệp Đức. “Chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại việc này” – ông Công nói.

* Theo giấy phép của UBND tỉnh Quảng Nam do ông Lê Minh Ánh, chủ tịch tỉnh, ký năm 2008, trữ lượng vàng tại Hố Chuối xác định là 39kg vàng. Khoảng 190.300 tấn quặng, mỗi năm khai thác khoảng 7,5kg vàng.

————————-
Dân đào vàng ở tỉnh Quảng Nam đang xôn xao vì tin xuất hiện của một số người Trung Quốc tại xã Sông Trà, huyện Hiệp Ðức thuộc tỉnh Quảng Nam.Nhiều phu đào vàng Việt cho rằng một tổ chức khai thác vàng của người Trung Quốc đang núp bóng công ty tư nhân Phúc Thuận để hoạt động. Ðịa điểm khai thác của công ty Phúc Thuận chỉ cách trung tâm huyện lỵ Hiệp Ðức khoảng 20 cây số.

Tuy nhiên, hoạt động khai thác vàng quy mô của họ hầu như rất kín đáo, khó theo dõi nhờ khu rừng dầy và một ngọn đồi bao bọc chung quanh.

Một số thợ đào vàng người Việt Nam quả quyết rằng khu rừng bên trong đã bị san phẳng. Ðủ loại máy ủi, máy đào, máy nổ, máy xay… đào xới đất đá, tạo nên những hầm hố sâu hoắm vào lòng núi.

Một cựu nhân viên lái xe của công ty Phúc Thuận, ông Trần Hữu Hải tiết lộ: “Người Trung Quốc ở đây ít nhất đã 5 năm rồi, đông lắm.”

Người chủ cũ vùng đất rộng 12 ha thuộc khu vực Hồ Chuối, hiện đang được công ty Phúc Thuận khai thác, là bà Trần Thị Năm, cư dân địa phương. Bà Năm cho biết đã mở trang trại để trồng nhiều loại cây, kể cả đào ao, nuôi cá, nhưng không biết lòng đất Hồ Chuối có mỏ vàng.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời của bà Trần Thị Năm cho biết, chính quyền địa phương đã thu hồi đất giao cho bà Trần Thị Năm từ 10 năm nay. Ðất này sau đó được giao cho công ty Phúc Thuận để khai thác vàng. Lấy cớ có sự hiện diện của người Trung Quốc tại khu vực này, bà Năm làm đơn kiện công ty Phúc Thuận để đòi lại đất.

Tuy nhiên, chủ tịch huyện Hiệp Ðức không buồn đả động đến sự có mặt của “chuyên viên Trung Quốc” tại đây. Ông này nói rằng nội vụ sẽ do tòa án địa phương giải quyết.

Còn theo ông chủ nhiệm luật sư đoàn Quảng Nam, việc công ty Việt giao cho người Trung Quốc tại vùng đất trên là phạm pháp./Nguồn: Nguoiviet

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Cựu Thủ Tướng Anh Margaret Thatcher qua đời

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2013

Cựu Thủ Tướng Anh, bà Margaret Thatcher đã qua đời sáng nay vì tai biến mạch máu não (đột quỵ). Bà là phụ nữ đầu tiên làm thủ tướng của Anh Quốc, và cũng là vị thủ tướng giữ  chức vụ này lâu nhất của nước Anh trong thế kỷ 20 – từ năm 1979 đến năm 1990.

Bà Thatcher đã có nhiều vấn nạn về sức khỏe trong những năm gần đây, bà đã bị nhiều cơn đột quỵ nhẹ và bà cũng bị lú lẫn mất trí nhớ, theo người con gái của bà cho biết. 

Lúc đám tang của TT Reagan vào năm 2004, bà Thatcher đã từng bị vài ba cơn đột quỵ trước đó.  Bà đến chứng kiến đám tang người bạn của bà trong im lặng (có lẻ do hậu quả của tai biến mạch máu não nên bà đã không thể phát biểu được- TH), nhưng bà đã tiên liệu để thu âm một bài điếu văn cho TT Reagan từ nhiều tháng trước đó.   

“Hoàn cảnh của hai người giống nhau, thật khó tin rằng Ronald Reagan một tài tử điện ảnh lại là thủ lĩnh của đảng Cộng Hòa, đảng của TT Lincoln, và không thể nào tin được rằng con gái của một chủ tiệm thực phẩm nhỏ có thể lãnh đạo đảng Bảo Thủ — đảng của Thủ tướng Churchill and William Pitt– đó là Margaret Thatcher.”

Vào tháng 12- 2012, bà đã trải qua cuộc giải phẩu cắt bỏ túi mật. 

————

Mời các bạn đọc bài dịch dưới đây của Vivian trên danluan.org để có dịp so sánh các chính trị gia thế giới với các nhà lãnh đạo của đảng CSVN cùng thời và để thấy bọn bần nông dùng bạo lực cướp chính quyền và cai trị người VN dưới họng súng của công an đưa đất nước và người dân tới chỗ tuyệt vọng. 

Cựu Thủ Tướng Anh Margaret Thatcher qua đời

Vivian tổng hợp tin và chuyển ngữ

Dân Luận

 

Cựu Thủ Tướng Anh Margaret Thatcher (13-10-1925 * 08-04-2013)

 

Cựu Thủ Tướng Anh Margaret Thatcher đã qua đời, hưởng thọ 87 tuổi. Bà là người phụ nữ đầu tiên làm thủ tướng của Anh Quốc, và cũng là vị thủ tướng giữ cương vị này lâu nhất của thế kỷ 20 – từ năm 1979 đến năm 1990. Trong suốt sự nghiệp lâu dài trên chính trường, bà Thatcher được mệnh danh là “Người Đàn Bà Thép,” một nhà vô địch của chính sách thị trường tự do, và là kẻ thù của Liên Xô. Những năm cuối đời, sức khoẻ của nữ Nam Tước Thatcher có những biểu hiện không tốt. Bà thường đột qụy, bị chứng mất trí nhớ.

Nhiều người công nhận bà là Tổng thống Ronald Reagan của Anh Quốc. Thật không sai, Tổng Thống Reagan và Thủ Tướng Thatcher là đôi bạn tâm đầu ý hợp trên chính trường. Tổng Thống Reagan gọi là bà “một người tuyệt vời của Anh Quốc,” còn bà khẳng định ông là “người thứ hai quan trọng nhất trong cuộc đời của tôi.” Cả hai cùng chia sẻ lòng căm thù chủ nghĩa cộng sản, cộng hưởng niềm say mê đối với một chính quyền nhỏ ( tinh giản bộ máy hành chánh để giảm bớt số lượng công chức làm việc trong chính quyền-TH).  Những gì Mỹ Quốc biết đến như “Học Thuyết Reagan – Reaganomics” thì Anh Quốc gọi là “Học Thuyết Thatcher – Thatcherism.” Giống hệt Tổng Thống Reagan, Thủ Tướng Thatcher không phải là người xuất thân từ giới qúy tộc, không “đồng hội đồng thuyền” với những người hùng thời đó. ( Giống hệt Tổng Thống Reagan, Thủ Tướng Thatcher không xuất thân từ giới chính trị gia. …TH)

Không tin được dù là sự thật khi Ronald Reagan – một tài tử – là lãnh tụ Đảng Cộng Hòa của Tổng Thống Lincoln, thì cũng là chuyện khó tin nhưng có thật khi Magaret Thatcher – con gái của người bán tạp hóa – trở thành nhà lãnh đạo Đảng Bảo Thủ của Thủ Tướng Churchill và Thủ Tướng William Pitt. Bà thống lãnh Đảng Bảo Thủ từ năm 1975 đến năm 1990, là người phụ nữ duy nhất có thể làm được điều này.

Thủ Tướng Thatcher nhũ danh Margaret Hilda Roberts, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1925 ở Grantham, Anh Quốc. Bà theo ngành Hóa tại phân khoa Somerville của Đại Học Oxford, bà học ngành hóa học, và sau đó, vào năm 1953, bà trở thành luật sư chuyên về thuế.

Ngày 13 tháng 12 năm 1951, bà kết hôn với ông Denis Thatcher. Cuộc hôn nhân của họ kéo dài gần 52 năm, cho đến khi ông qua đời hồi tháng 06-2003. Hai người con sinh đôi của họ: Mark và Carol, chào đời năm 1953.

Khi được bầu chọn vào Hạ Nghị Viện Anh năm 1959, bà Thatcher là thành viên nữ trẻ tuổi nhất. Năm 1970 Đảng Bảo Thủ nắm chính quyền, bà là Bộ Trưởng coi về Giáo Dục và Khoa Học của Anh Quốc. Năm 1975 bà được chọn đứng đầu Đảng Bảo Thủ, trở thành Thủ Tướng năm 1979. Chính sách của bà gây nhiều tranh cãi. Bà nắm giữ công đoàn lao động quốc gia, buộc các thợ mỏ phải trở lại làm viêc sau một năm đình công. Tháng 5-1978 bà tuyên bố: “Chúng ta cần hỗ trợ công nhân, chứ không phải những kẻ trốn tránh nhiệm vụ.” Bà thúc đẩy lãnh vực kinh tế tư nhân, đánh thuế thấp, bãi bỏ gần như tất cả mọi ngành thương nghiệp của chính phủ. Bà cũng tìm cách để Anh Quốc dần dần bỏ chủ quyền với Liên Minh Châu Âu.

Những người hâm mộ Thủ Tướng Thatcher cho rằng, bà đã trẻ trung hóa nền kinh tế sút kém của Anh Quốc. Ngược lại, những người chỉ trích nói bà làm cho người giàu sang càng ngày càng phú qúy, còn người nghèo khổ bị vứt bỏ ở phía sau. Thủ Tướng Thatcher là một trong số những nhà lãnh đạo trên thế giới cương quyết nói KHÔNG với chủ nghĩa cộng sản, tuyệt đối không ủng hộ dạng thương nghiệp quốc doanh. Học thuyết Thatcher của bà tạo ra những phản ứng bạo lực, ở ngay trong lòng đô thị của Anh Quốc. Đảng Bảo Thủ nhiều lần kêu gọi thay đổi. Nhưng Thủ Tướng Thatcher chống lại. Tháng 10-1980 bà nói: “Nếu qúy vị muốn, hãy cứ thay đổi. Nữ Nam Tước không thay đổi.”

Thủ Tướng Thatcher kiên định một cách đáng ngưỡng mộ. Trong các cuộc đàm phán, không bao giờ bà chịu hy sinh những gì bà coi là đặc quyền hay ưu quyền của “xứ sở sương mù.” Chính bà đưa ra quyết định làm thay đổi hẳn ngành khai thác than của Anh Quốc. Bà ra lệnh đóng cửa nhiều hầm mỏ “làm của để dành” cho tương lai. Những cuộc biểu tình phản đối rầm rộ trên toàn quốc, không khiến bà chồn chân chùn bước, không thể buộc bà rút lại quyết định này.

Biệt danh “Bà Đầm Thép – Iron Lady” xuất hiện vì cá tính kiên định, cứng rắn của bà. Trên thực tế, biệt danh này quả thật rất xứng hợp với người phụ nữ quyết đoán như Thủ Tướng Thatcher.

*. Năm 1982, khi Á Căn Đình xâm lược quần đảo Falkland, bà tuyên bố chiến tranh, và đã chiến thắng.

*. Năm 1984, bà thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, khi IRA (Irish Republican Army) bỏ bom tại khách sạn bà đang chủ tọa buổi họp của đảng Bảo Thủ. Sáng ngày hôm sau, bà tiếp tục triệu tập hội nghị theo đúng lịch trình – không hề nao núng.

Thủ Tướng Thatcher công nhận ông Mikhail Gorbachev là người có thể giúp kết thúc Chiến Tranh Lạnh, đã đưa ra lời bình luận nổi tiếng: “Tôi thích ông Gorbachev. Chúng tôi có thể làm việc với nhau.” Tổng Thống Ronald Reagan cũng nghĩ như bà. Cả hai vị lãnh đạo – Thủ Tướng Thatcher và Tổng Thống Reagan – cùng thưởng thức thắng lợi của Chiến Tranh Lạnh, xem đây là thành tích đáng tự hào nhất của họ. Bệnh Alzheimer khiến Tổng Thống Reagan phải ra khỏi đời sống công cộng, thì ngược lại sau khi rời Phố Dowing, Thủ Tướng Thatcher vẫn tiếp tục xuất hiện trước công chúng. Bà trở thành Nữ Nam Tước Thatcher – nhà lãnh đạo tiêu biểu – đấu tranh để tìm người kế nhiệm xứng đáng.

Năm 2004 khi tang lễ của Tổng Thống Ronald Reagan được cử hành, cựu Thủ Tướng Thatcher cũng đã bị nhiều đột qụy nghiêm trọng. Bà là chứng nhân thầm lặng, trong ngày vĩnh biệt người bạn thân qúy đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu trên chính trường. Nhưng dự kiến đặc biệt đã giúp bà ghi lại bài điếu văn dành cho Tổng Thống Reagan vài tháng trước đó, bằng những lời vô cùng thân thiết như sau:

“Chặng cuối cùng của người khách hành hương trung thành này đã đưa ông vượt qua hoàng hôn, khi hừng đông vừa xuất hiện, tôi thích nghĩ — bằng câu chữ của Bunyan — kìa ‘mọi tiếng kèn vang ở phía bên kia.”

As the last journey of this faithful pilgrim took him beyond the sunset, and as heaven’s morning broke, I like to think — in the words of Bunyan — that ‘all the trumpets sounded on the other side.”

Nguyện chúc Nữ Nam Tước Thatcher an giấc ngàn thu.

 

 

 

 

*. Vivian chuyển ngữ và tổng hợp tin, theo các tài liệu sau đây:

http://gma.yahoo.com/margaret-thatcher–britain-s–iron-lady–prime-minister–dies-120034251.html
Margaret Thatcher, Britain’s ‘Iron Lady’ Prime Minister, Dead at 87

http://en.wikipedia.org/wiki/Margaret_Thatcher

http://en.wikipedia.org/wiki/Thatcherism

http://en.wikipedia.org/wiki/Irish_Republican_Army

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Cái tội là con cháu của một người cầm viết

Posted by hoangtran204 trên 07/04/2013

Ở miền Nam, trước 1975, chính quyền VNCH không có thói quen chính trị hóa mọi sự. Trong trường học, hoc sinh và sinh viên không cần phải học chính trị, không cần biết và không cần học chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa cộng sản. Tuyệt đối không có chuyện họp đảng, họp đoàn trong trường học, bệnh viện, và các cơ quan của chính quyền. Ai muốn thành lập đảng phái, tổ chức, hội đoàn gì thì cứ thành lập. Muốn công khai để hoạt động chính trị thì đi xin giấy phép, không muốn công khai thì cứ việc thành lập sinh hoạt như thường lệ. Nói chung là chính quyền VNCH có cách tổ chức giáo dục, dân sự, xã hội, chính trị…y hệt như các nước Mỹ, Pháp và Anh hiện nay.

Trước 1975, một số gia đình sống ở miền Nam có cha tham gia cho Măt Trận Giải Phóng Miền Nam (tức là tổ chức ngoại vi của đảng CSVN thành lập 1960), hoặc đã ra Bắc tập kết từ hồi 1954…lúc ấy, chính quyền miền Nam dẫu có biết các gia đình này, thì họ cũng đối xử với gia đình ấy như bao nhiêu gia đình có người ở trong quân đội hoặc cảnh sát quốc gia. Chính quyền không tìm cách soi mói, cô lập gia đình ấy. Người mẹ của gia đình ấy vẫn đi làm trong các cơ quan chính quyền miền Nam, hoặc đi dạy;  con cái của họ vẫn đi học, và vẫn thi đậu vào đại học hoặc được học bổng xuất ngoại du học.

Nhưng khi cộng sản chiếm được miền Bắc 1954 và chiếm miền Nam vào 1975, thì chính quyền do đảng csvn cai đã chính trị hóa xã hội, giáo dục, và dùng lý lịch của cá nhân và gia đình để cho các cá nhân trong gia đình ấy tham dự vào trường học, xã hội, hoặc cô lập về kinh tế, giáo dục và chính trị…  

Mời các bạn đọc bài dưới đây để hiểu thêm chi tiết.

Cái tội là con cháu của một người

cầm viết

Tác giả

Huỳnh Khánh Vy

Huỳnh Khánh Vy

Đến lúc này thì tôi thấy mình không thể yên lặng thêm được nữa, dù tôi có yên lặng họ cũng không để yên cho vợ chồng tôi. Thế nên hôm nay tôi quyết định lên tiếng và từ nay về sau tôi sẽ còn tiếp tục nói để họ thấy rằng tôi không bị đè bẹp như họ nghĩ.

Huỳnh Khánh Vy (em của Huỳnh Thục Vi)

——————————————–

Trong số những người nhẩy núi đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, có hai nhân vậtt rất tăm tiếng (và cũng hơi hơi tai tiếng) mà nhiều người đã biết: ông Lữ Phương và ông Trương Như Tảng. Hai ông đều được trao cho những chức danh quan trọng. (Trương Như Tảng Bộ Trưởng Tư Pháp (1969-1978) , vàLữ Phương là  Thứ Trưởng Văn Hoá).

Tuy thế, những trang bút ký viết về cuộc “hành trình cách mạng” của cả hai nhân vật này lại chất chứa rất nhiều điều chua chát và cay đắng!

Đã có người nhận xét buồn phiền rằng

A Vietcong Memoir by Truong Nhu Tang is about the death of a dream, a dream of an independent, peaceful and democratic Vietnam.” (Robert Manning. “Defeated by Victory.”  The New York Times 26 May 1985). 

“Cuốn Hồi Ký của Một Việt Cộng của tác giả Trương Như Tảng là viết về cái chết của một giấc mơ, một giấc mơ độc lập, hòa bình và dân chủ cho Việt Nam.” (Robert Manning. ” Bị Đánh Bại bởi Chiến Thắng”, The New York Times, ngày 26-5-1985)

Dù vậy, ở điểm tận cùng của cái ước mơ (đã chết) này – nơi hai trang 260-260, trong cuốn hồi ký thượng dẫn –  nhà văn Phan Nhật Nam vẫn tìm ra được đôi chút  “an ủi” khiến người đọc cũng cảm thấy ấm lòng:

“Chỉ có điều an ủi khi (năm 1978) ông Tảng nghĩ đến Loan, cô con gái đầu lòng hiện nay đang ở Mỹ. Cô Loan đi Mỹ trước 1975 do Bà Nguyễn Văn Thiệu bảo lãnh vì Loan học cùng lớp với con gái bà ở Ðà Lạt từ tấm bé.

Năm 1967, khi Trương Như Tảng vào tù, Ông Thiệu, tổng thống ‘chế độ phản động Mỹ -Ngụy’ có nói riêng với Loan: “Cháu yên tâm, ba cháu với tonton là kẻ đối nghịch.. Nhưng, cháu luôn luôn được coi như là con cháu trong nhà nầy, chuyện kia không ăn nhằm gì cả…”  (tonton = bác hoặc chú)

Trong cuốn bút ký Những Chuyến Ra Đi của ông Lữ Phương, nơi trang  56 và 57, cũng có vài câu “an ủi” tương tự:

“Vào mùa khô năm ấy, tôi xin cơ quan cho tôi đến vùng biên giới Bố Bà Tây, liên hệ với gia đình. Lần này ngoài vợ và đứa con gái lớn, còn có em gái tôi cùng với hai đứa con gái nhỏ của nó đi theo, lúc nhúc một đoàn, không tưởng tượng nổi!”

“Nhờ chuyến thăm này tôi mới rõ được chuyện nhà từ lúc tôi ra đi. Vợ tôi ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh nữa. Những người quen biết đều biết vợ tôi có chồng là VC, bị cảnh sát Sài Gòn o ép, dụ dỗ nhiều cách, nhưng đều hết lòng giúp đỡ, che chở (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn): chẳng phải vì lý do gì khác hơn là ở đây người ta chưa có thói quen ‘chính trị hoá’ mọi quan hệ xã hội.”

Khác với ông Bộ Trưởng Tư Pháp Trương Như Tảng, ông Thứ Trưởng Văn Hoá Lữ Phương coi sự kiện vợ tôi ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh,” và “được mọi người quen biết (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn) hết lòng giúp đỡ và che chở một cách rất tự nhiên (và hơi khinh bạc) chẳng phải vì lý do gì khác hơn là ở đây người ta chưa có thói quen ‘chính trị hoá’ mọi quan hệ xã hội.”

Hai chữ “ở đây” (trong đoạn văn dẫn thượng) tức là miền Nam Việt Nam, vùng địch tạm chiếm. Mảnh đất này, cuối cùng, cũng đã được giải phóng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ba mươi tám năm sau, sau cái ngày lịch sử đó – vào hôm 18 tháng 3 năm 2013 – trên trang Đàn Chim Việt có bài viết (“Cái “Tội” Vì Là Con Gái Của Người Bất Đồng Chính Kiến?!” ) của một ngòi bút mới xuất hiện lần đầu:

Tôi, Huỳnh Khánh Vy là một trong những trường hợp sống động của một nguyên tắc sống dưới chế độ Cộng sản: Bạn càng im lặng nhẫn nhịn, bạn càng bị đè bẹp bởi chính sách đàn áp của cộng sản. Họ không để cho một người sống khép kín như tôi được sống một cuộc sống bình thường, giản dị và yên tĩnh.

Sau một thời gian suy nghĩ, hôm nay tôi quyết định lên tiếng. Một phần để bày tỏ quan điểm cá nhân mà xưa nay vì nhiều lý do nên tôi phải yên lặng. Một phần nữa là để công khai những trò xấu xa mà chính quyền CSVN dùng để sách nhiễu tôi cũng như gia đình.

Trước tiên phải kể tới việc tôi được sinh ra trong một gia đình được coi là “phản động”. Năm 1992, ba tôi bị chính quyền CSVN bắt giữ với tội danh “tuyên truyền chống chế độ XHCN” theo điều 88 (bây giờ là “chống Nhà nước”). Ông bị kết án 10 năm tù giam và 4 năm quản chế.

Lúc bấy giờ chị em tôi vẫn còn rất nhỏ. Chị tôi, Huỳnh Thục Vy mới lên 8, tôi 6 tuổi và em trai tôi Huỳnh Trọng Hiếu 4 tuổi. Tuy mới 6 tuổi nhưng hình ảnh ba bị đám công an còng tay bắt đi vẫn hằn sâu trong ký ức non nớt của tôi.

Rồi sau đó, gia đình tôi sống trong lo lắng và hoang mang. Cô tôi – Huỳnh Thị Thu Hồng- không ít lần bị mời lên đồn công an để “làm việc” và họ đã hù dọa sẽ bắt bỏ tù luôn cả cô tôi. Bởi ai cũng biết rằng tình hình Việt Nam lúc đó rất tối tăm, cộng sản VN chưa bị áp lực từ cộng đồng quốc tế như bây giờ, nên họ rất hung hăng và lộng hành.

Đến năm 2002, ba hết hạn tù nhưng vẫn còn 4 năm quản chế nên ba không thể làm bất cứ việc gì, gánh nặng kinh tế đều đổ dồn lên vai hai cô tôi. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, cùng với sự sách nhiễu không ngừng của nhà cầm quyền cộng sản, nên việc học hành của 3 chị em chúng tôi đều bị gián đoạn.

Năm ba tôi ra tù, chị Thục Vy của tôi học lớp 12 nhưng chị phải bỏ không thi đại học sau khi tốt nghiệp cấp 3, do hoàn cảnh gia đình không cho phép, dù chị là một học sinh học rất khá của một trường tốt nhất tỉnh Quảng Nam lúc đó. Em trai tôi – Huỳnh Trọng Hiếu thì bị cấm thi tốt nghiệp cấp 2 sau khi học hết lớp 9 với xếp loại giỏi, vì lý do mà Hiệu trưởng và Hiệu phó đưa ra là “thiếu tuổi” và nhà trường tuyên bố: nếu không học lại một năm lớp 9 nữa thì vẫn tiếp tục không được thi tốt nghiệp.

Sau sự việc này, con trai thầy Hiệu phó của trường em trai tôi nhận được việc làm ngay trong một công ty quốc doanh lớn, rồi được thăng chức thành trưởng phòng không lâu sau đó, rồi được cấp đất ở thành phố Tam Kỳ. Sự việc này đường như khó tin nhưng đó là sự thật – một sự thật về sự đàn áp bẩn thỉu mà chính quyền này đã áp đặt lên việc học hành của em trai tôi. Nhưng lúc đó gia đình tôi không biết kêu gọi sự giúp đỡ của ai. Từ một vùng quê nghèo khổ, cả gia đình tôi phải sống trong sự sách nhiễu thường xuyên, trong sự nghèo đói và bị bỏ rơi.

Tôi là người duy nhất trong gia đình được đi học đại học sau 3 năm đi làm công nhân cho một công ty của Nhật Bản. Gia đình đã đặt rất nhiều hy vọng vào tôi, rằng sau khi tốt nghiệp đại học tôi có thể có việc làm tốt và chia sẻ bớt gánh nặng kinh tế của gia đình. Nếu tôi cũng lên tiếng, tôi sẽ bị đuổi học và ai sẽ là người hiểu cho hoàn cảnh thất học của tôi?

Đó là lý do khiến cho tôi phải yên lặng, không hề tham gia bất cứ hoạt động lên tiếng nào cùng với gia đình. Mặc dù, tôi nhận thức rõ những bất công cũng như tội ác kinh khủng của CSVN đã gây ra với đất nước và dân tộc này. Tôi nghĩ rằng nếu mình yên lặng thì họ sẽ để yên cho tôi và như vậy tôi có thể đi làm và giúp đỡ gia đình và đó cũng là cách tôi ủng hộ những việc làm của ba, của chị Hai và em trai tôi.

Nhưng mọi việc không như tôi nghĩ, đến tháng 12 năm 2011 sau hai trận bố ráp của an ninh tỉnh Quảng Nam và sau đó là ba Quyết định xử phạt được áp đặt cho ba, chị Hai và em trai tôi là những trò xấu xa đối với vợ chồng tôi. Đầu tiên, an ninh thành phố Đà Nẵng tới Công ty tôi thực tập (ở Đà nẵng) đe dọa Giám đốc để họ không ký giấy thực tập Tốt nghiệp cho tôi. Cũng may Hồ sơ thực tập của tôi đã được ký trước đó hai ngày.

Tiếp đó, họ đến khoa Ngoại Ngữ trường đại học nơi tôi đã từng theo học, để “làm việc” với Khoa trước khi tôi bảo vệ luận văn tốt nghiệp. Luận văn Tốt nghiệp của tôi là Bản dịch thuật một báo cáo hằng năm của Human Rights Watch về tình hình đàn áp Nhân quyền ở Ai Cập trước khi chế độ Hosni Mubarak sụp đổ. Họ cố tình can thiệp, đe dọa Nhà trường nhằm mục đích không cho tôi tốt nghiệp, nhưng do kết quả học tập cũng như sự bảo vệ của cô giáo chủ nhiệm, tôi đã được ra trường với kết quả bảo vệ luận văn không cao như tôi nghĩ.

Đến ngày 1/7/2012 hai vợ chồng tôi cùng với vợ chồng chị Thục Vy và em trai tham gia biểu tình chống Trung Quốc để bày tỏ lòng yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đổi lại, những gì chúng tôi nhận được từ chính quyền CSVN là sự bắt bớ và đánh đập, chị gái tôi bị bắt cóc đưa về Quảng Nam, riêng chồng tôi bị tịch thu laptop chuyên dụng trị giá gần 20 triệu với lý do là “khấu trừ vào tiền phạt” của chị Thục Vy.

Cũng từ khi đó, họ tăng cường sách nhiễu vợ chồng tôi như: nửa đêm đến đập cửa quát tháo đòi kiểm tra tạm trú, chặn xe giữa đường kiểm tra xe và đòi tịch thu giấy tờ xe, cho côn đồ lấy cắp máy tính ở nhà trọ của vợ chồng tôi, áp lực với chủ nhà không cho tôi thuê nhà, gọi điện sách nhiễu giám đốc Công ty nơi chồng tôi làm việc, nghe lén điện thoại…

Còn buồn cười hơn nữa là ngày đám cưới tôi có một tên an ninh Đà Nẵng tới “hỏi thăm” và đi theo chúng tôi tới tận nhà hàng, đợi đến khi hết tiệc mới ra về. Những sách nhiễu đó không đủ để truyền thông quan tâm đến vợ chồng tôi nhưng là quá nhiều để vợ chồng tôi có thể sống một cuộc sống bình thường.

Bao lâu nay, vợ chồng tôi vẫn âm thầm chịu đựng những sách nhiễu bẩn thỉu như thế, vì không có sự quan tâm của truyền thông, cũng vì chúng tôi là những người vô danh. Những lần lên tiếng của ba và chị tôi về tình hình bị sách nhiễu của vợ chồng tôi cũng không được ai quan tâm, chúng tôi cảm thấy vô cùng cô đơn. Tôi thực sự muốn biết mình đã làm gì khiến chính quyền này phải “bận tâm” như vậy.

Gần đây, tôi làm hồ sơ xin học bổng du học tại Úc. Cách đây hơn hai tuần tôi có nhờ giáo viên chủ nhiệm – người mà xưa nay tôi thầm kính trọng về tư cách – làm người viết thư giới thiệu tôi. Ban đầu cô vui vẻ đồng ý nhưng hai hôm sau tôi đến gặp, cô nói có một vài việc gia đình nên chưa ký được. Cô hẹn tuần sau sẽ ký. Nhưng hai ngày sau thì tôi sinh em bé. Tôi nhờ chồng liên lạc với cô. Qua điện thoại, cô nói đã có việc rắc rối và cô mời chồng tôi lên Khoa Ngoại ngữ của trường nói chuyện. Chồng tôi lên, được cô cho biết là công an Đà Nẵng đã gửi công văn xuống cho trường yêu cầu không được dùng con dấu của trường vào mục đích khác (?!) và cấm sinh viên dùng Facebook.

Tôi nghĩ việc xác nhận và giới thiệu cho một sinh viên cũ của mình là một việc hoàn toàn bình thường và không có gì là khó khăn cả. Nhưng cả đến việc nhỏ như vậy chính quyền CS cũng phải dùng tới một công văn chỉ đạo cấm đoán. Chắc hẳn, họ phải thù ghét gia đình tôi đến tột cùng nên muốn chặn mọi đường sống và tiến thân của chúng tôi như thế.

Đến lúc này thì tôi thấy mình không thể yên lặng thêm được nữa, dù tôi có yên lặng họ cũng không để yên cho vợ chồng tôi. Thế nên hôm nay tôi quết định lên tiếng và từ nay về sau tôi sẽ còn tiếp tục nói để họ thấy rằng tôi không bị đè bẹp như họ nghĩ.

 Tôi sẽ lên tiếng bảo vệ cuộc sống của vợ chồng tôi, cũng là để bảo vệ cuộc sống của cô con gái mới sinh của mình, góp phần vạch trần những bất công trong xã hội cộng sản này, đặc biệt là những sách nhiễu nhắm vào những gia đình bất đồng chính kiến như gia đình tôi. Tôi sẽ làm tất cả để sát cánh cùng gia đình mình lên tiếng phản đối những thối nát của hệ thống cộng sản này. Và tôi rất mong công luận sẽ ủng hộ, bảo vệ vợ chồng tôi.

17/3/2013

Mấy hôm sau, vào ngày 20 tháng 3 năm 2013, cũng trên trang Đàn chim Việt, độc giả lại được đọc thêm một bài viết nữa (“Những Sách Nhiễu Bẩn Thỉu”) của cô Huỳnh Thục Vy, trưởng nữ của ông Huỳnh Ngọc Tuấn:

Em gái tôi-Huỳnh Khánh Vy mới sinh em bé được 20 ngày. Em bé sinh thiếu tháng nên rất yếu và bị nhiễm trùng từ lúc mới sinh ra. Gia đình chúng tôi lại mới đưa em bé mới sinh nhập viện lần thứ hai ở Đà Nẵng cách đây hai ngày, vì sau khi về nhà cháu lại bị thiếu máu, nhiễm trùng rốn và vàng da. Các em tôi phải trở lại Đà Nẵng để chăm lo cho cháu bé.

Giữa lúc chúng tôi đang lo lắng cho sức khỏe của cháu bé và của em gái tôi Khánh Vy thì công an lại dở trò bẩn thỉu. Sáng nay, công an Đà Nẵng đã tới phòng trọ của Khánh Vy gây rối đòi Khánh Vy, Hiếu và Minh Đức xuất trình giấy tờ. Các em tôi không cho công an vào phòng trọ vì Khánh Vy chưa hết thời gian ở cữ, rất yếu và dễ bị bệnh hậu sản. Họ  đã quát tháo to tiếng và  đe dọa sẽ bắt các em tôi vì tội chống người thi hành công vụ.

Sự sách nhiễu này của an ninh đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của Khánh Vy. Bây giờ Khánh Vy đang bị chặn ở nhà trọ không lên bệnh viện thăm cháu bé được. Ngay lúc tôi viết những dòng này, an ninh Đà Nẵng đang làm việc với chủ nhà trọ. Trong những ngày sắp tới, không biết các em tôi sẽ ở đâu? Nếu không được lưu trú ở Đà Nẵng, Khánh Vy làm sao đến  thăm em bé đang nằm bệnh viện? Những đàn áp xấu xa này nhắm vào sản phụ và trẻ sơ sinh đã cho thấy bộ mặt phi nhân cùng cực của Chính quyền Cộng sản Việt Nam.

“Bộ mặt phi nhân cùng cực của chính quyền Cộng Sản” thì rất nhiều người Việt Nam đều đã rõ, và rõ ngay cả trước ông Huỳnh Ngọc Tuấn chào đời – vào năm 1959. Tuy thế, sự phi nhân này vẫn có thể tiếp tục ngự trị và di lụy đến hết thế hệ này sang thế hệ kế khác!

Tại sao? Có lẽ đã đến lúc mà tất cả chúng ta nên vấn tâm tự hỏi có phải vì vận nước tới hồi suy hay chỉ vì dân tộc nào thì số phận đó thôi?

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt

Nguồn:

danchimviet.com

 

————————-

Trích từ website:  www.nsvietnam.com

  • Cuốn sách Thứ Ba: Trương Như Tảng (Co Translators: Chanoff David &ø Ðoàn Văn Toại), Journal of A Vietcong; Johnathan Cape, London, England 1986.

Ðây không là một cuốn sách thông thường, với nội dung là một tác phẩm văn học, hoặc hồi ký hoạt động của một nhân vật chính trị nào đó. Nhưng qua đấy, chúng ta sẽ nhận thấy ra sự tai hại chính trị – đúng ra là thảm họa chính trị (không phải xẩy ra riêng đối với mỗi cá nhân đã gây nên sự kiện, hoặc trách nhiệm thuộc về một tập thể đặc biệt nào) mà là BI KỊCH CHUNG CHO TOÀN DÂN TỘC VIỆT- THỰC HIỆN BỞI THÀNH PHẦN GỌI LÀ “TRÍ THỨC ƯU TÚ”- NHỮNG NGƯỜI HIẾN DÂNG HẾT CUỘC ÐỜI (với hậu quả không chỉ tác động giới hạn trên cá nhân bản thân họ, mà liên hệ trực tiếp đến gia đình, những người chung huyết thống, giới thân cận, bạn bè, người cộng tác) VỚI MỤC TIÊU CAO THƯỢNG: ÐỘC LẬP DÂN TỘC – HẠNH PHÚC TOÀN DÂN.

Chúng ta hãy cùng xem lại một hành trình thảm hại và tai họa trong sáu-mươi năm dài từ 1945-2005, mà mỗi người chúng ta hẳn cũng đã chia phần trách nhiệm gánh vác, hoặc chịu đựng sự khốn cùng gây nên từ bộ máy bạo lực gọi là chế độ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lập lại thêm một lần cũng không thừa – Trường hợp Trương Như Tảng là một điễn hình sắc nét, cụ thể nhất – Ðến hôm nay, Thế kỷ 21 vẫn còn giá trị của một lời cảnh cáo nghiêm trọng nhất đối với cái gọi là “thành phần trí thức khoa bảng trẻ tuổi yêu nước”. Biết đến bao giờ mới đủ cho một tấm gương phản tỉnh cho nhữngngười gọi là “trí thức thiên tả“? Hở biết đến bao giờ?

Màn Một. Trương Như Tảng đến với chủ nghĩa cộng sản, chiến đấu cho phía chế độ chuyên chế sau một quá trình tham gia lâu dài, với căn bản hiểu biết, kinh nghiệm kết tập của một trí thức khoa bảng Miền Nam. Với tình yêu nước sâu sắc, thêm tìm hiểu, phân tích, đánh giá thời cuộc theo cùng chuỗi biến chuyển của vận mệnh quê hương suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, nơi địa bàn quốc nội, cũng như tại một trung tâm chính trị thế giới, Paris, nước Pháp. Trương Như Tảng tiến tới “chủ nghĩa yêu nước”ø vị thế một đại gia họ Trương (người Việt gốc Hoa), sở hữu một căn lầu ba tầng đường Lê Thánh Tôn, con đường và vị trí cơ sở có giá trị thương mải số một của Sài Gòn ở thời điểm trước kia cũng như hiện nay. Tài sản họ Trương không chỉ có thế, họ còn có đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một (Bình Dương), nhà in tại Sài Gòn, nhà nghỉ mát Ðà Lạt cho mùa Hè, biệt thự Vũng Tầu cho mùa Ðông. Vị thế nhà giáo của người cha nơi Trường Chasseloup Laubat (Sài Gòn, trước 1954) chỉ cốt tăng thêm phần “trí thức” chứ không phải là nguồn lợi kinh tế để sinh sống, vì gia đình bên ngoại hằng tặng biếu cho tổ chức Ðạo Cao Ðài ba trăm mẫu đất để xây Toà Thánh Tây Ninh. Từ giòng giỏi giàu sang, phú quý như kia, sáu anh em trai (không con gái) nhà họ Trương đồng được theo học các trường dành cho trẻ con Pháp tại Sài Gòn, đại học Hà Nội, và tiếp theo các đại học tại Thủ Ðô Paris, hoặc các nước Tây Âu để thành bác sĩ, kỹ sư. Nhưng dẫu có đời sống vật chất đầy đủ thế kia, (mỗi cậu nhà họ Trương có một có một á mẫu người Hoa chăm sóc đời sống vật chất; có có gia sư chuyên dạy học, đờn, ca..), cậu ấm Tảng vẫn mang nặng mặc cảm “ghét Tây”- Mặc cảm thời niên thiếu nẩy sinh do bị các trẻ con phương Tây cùng trường gọi một cách khinh miệt là bọn “nhaque- nhà quê”, hoặc là lũ mọi rợ “Annamite-An-nam mít”. Mặc cảm ngày nhỏ nầy là động cơ đầu tiên thúc đẩy cậu dấn thân vào đường cách mạng một cách sớm sủa vì cậu xem đấy là một xúc phạm trầm trọng (TNT trg 5). Người thanh niên 22 tuổi lên đường cách mạng thật sự vào tháng, ngày lịch sử, 2 tháng 9, 1945 khi nghe lời kêu gọi từ Công Trường Ba Ðình, Hà Nội: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng.. Họ được đấng tạo hoá trao gởi cho những quyền hạn không thể phủ nhận..” Người nói lời hàm xúc cao quý nầy ngừng lại để hỏi câu thắm thiết: “Ðồng bào có nghe rõ tôi không?”(TNTg trg 6). Từ thúc dục hứng khởi nầy, Tảng có mặt ngay tại đội ngũ đầu tiên của đoàn Thanh Niên Tiền Phong với khẩu súng săn của người anh để lại (không hề có lắp đạn), nhận lãnh nhiệm vụ (được chỉ định) người chỉ huy, vì sức học cao của cậu so với đám thanh niên cùng lứa. Một thanh niên của đoàn Tiền Phong bị bắn hạ khởi động làn sóng phẫn nộ khắp thành phố, đoàn người tràn vào các khu vực Pháp kiều trú ngụ để trả thù. Anh thanh niên Tảng chứng kiến cảnh tượng đoàn biễu tình hành hung một Pháp kiều cô thế – Anh có nghi vấn: “Cách mạng đâu phải là bạo lực, “vinh quang”giải phóng dân tộc đâu phải cần đến máu người vô tội?!” Anh giao khẩu súng lại cho người bạn thân Albert, để người nầy tiếp tục làm cách mạng, và đáp tàu tới Paris, kinh đô nước Pháp – Nơi đây anh gặp một người gây nên ảnh hưởng quyết định đối với sinh mệnh chính trị bản thân – Bác Hồ, Hồ Chí Minh. Cũng cần nói thêm chi tiết, người bạn thân tên Albert kia là Phạm Ngọc Thảo, em Phạm Ngọc Thuần, Phó chủ tịch Uûy Ban Hành chánh Nam Bộ. Toàn là những người trẻ tuổi trí thức, cách mạng yêu nước (TNTg trg 7).

“Bác” dạy cho cậu thanh niên Trương Như Tảng nhiều điều quý giá, kỳ lạ với cung cách cha dạy con (Bác gọi Tảng: “Nầy, con ạ..“) về văn học, ngôn ngữ, lịch sử và cuối cùng (lẽ tất nhiên), chính trị. Trước tiên, bác chỉ cho Tảng việc tên của anh có điều nhầm lẫn: “Tên anh phải là “Toản chứ không là Tảng”. Vì tên ấy viết theo chữ Hán thuộc bộ “Ngọc”, chỉ loài ngọc quý, chứ nếu là “Tảng” chỉ là một cục đá tầm thường.” Bác hình như không biết, hoặc cố ý không biết để tránh rơi vào việc xúi cậu thanh niên làm một việc vô lễ: Lấy tên một bậc cha, chú làm tên mình. Vì đại tộc Trương (gốc Minh Hương) đã có một người tên Toản, Trương Duy Toản, viết báo Lục Tỉnh Tân Văn (1907), liên lạc viên của Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể. Bác dạy tiếp cho Tảng về chiến công giữ nước của Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, và Quang Trung; bác chỉ cho Tảng sự kết hợp giữa thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam trong quá trình bóc lột nhân dân; bác giải thích về “Cách Mạng Tháng Tám“, và cuộc chiến đấu không những chỉ chống xâm lược, nhưng còn chống dốt nát, nghèo đói.. Cuối cùng, bác kết luận: “Không có gì quý hơn độc lập-tự do”.

Lần đầu tiên cậu thanh niên Trương Như Tảng nghe được lời quý giá nầy, đời cậu đã có hướng đi quyết định: Vì độc lập, tự do chứ không còn gì khác. (TNTg trg 14-15) . Trước ngày rời đất Pháp, bác gọi Tảng và một nữ sinh viên người Việt (cô Lý) đến nhà riêng vùng Montmorency, cho Tảng tấm ảnh với lời: “Tặng cháu “Toản” với tất cả lòng thương mến”.Qua hai lần gặp gỡ, Tảng (nay đúng ra là Toản như tên bác sửa lại) đánh giá: “Bác là tổng hợp của nhiều tính chất tương phản.. Quốc gia, Nhân chủ, Mác-xít, Lê-nin-nít, Mác-chi-ven-li-an, và cả Khổng Tử! Bác quả thật hơn hẳn nhiều lãnh đạo thế giới khác!” (TNTg trg 16-17).

Tất cả sự việc kể trên có một nghi vấn về thời điểm: Hồ Chí Minh (thật ra đang là Nguyễn Tất Thành)đã rời Paris từ 1923 với tư cách là đảng viên cộng sản Pháp đi Mạc-tư-khoa để dự Hội Nghị Nông Dân Quốc Tế dự trù khai mạc ngày 10/10/1923. Sau một thời gian dài được huấn luyện ở Nga, ông về hoạt động ở Ðông-Nam Á. Có chăng, là “Bác gặp cháu Toản” trong thời đoạn ngắn ngủi khi qua dự Hội Nghị Fontainbleau (7-9/1946). Một hội nghị bế tắc toàn diện vì không ai tương nhượng ai. Hồ Chí Minh phải ký Tạm Ước Sống Chung với Bộ Trưởng Thuộc Ðịa Marius Moutet để mua thời gian. 19/9 ông Hồ về nước. 19/12, chiến tranh Pháp-Việt Minh bùng nổ. Vậy trong thời hạn ngắn ngủi, giữa tình thế căng thẳng của hội nghị, và thời cuộc, chắc chắn “Bác không thể dạy cho cháu Toản” điều gì nhiều hơn ngoài đôi ba câu chuyện giữa hai người mới lần đầu gặp mặt.

Từ căn bản chính trị, hướng dẫn chỉ đạo nhận trực tiếp từ bác, Trương Như Tảng là thành viên năng động nhất trong phong trào chống “Chiến tranh bẩn thỉu – La sale guerre” ở Ðông Dương trong giai đoạn sau 19 tháng 12, 1946 – Ngày chiến tranh Pháp- Việt Minh bùng nổ. Anh cùng những đồng bạn trong cộng đồng người Việt tiếp xúc, vận động những “trí thức tiến bộ” tại Pháp, Tây Aâu ủng hộ cuộc chiến đấu cao cả kia, đối tượng (vận động) chủ yếu là tập thể người cộng sản Pháp. Nhưng Tảng không thể không nhận ra tính “không thực của những người bạn chiến đấu nầy”, điễn hình qua lời tuyên bố (mang tính thực dân phản động) của Maurice Thorez, Tổng thư ký đảng cộng sản Pháp: “Nếu chúng ta không đạt được nhượng bộ, thoả thuận với họ (những người Việt có tinh thần dân tộc- Ở đây chỉ người cộng sản Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo), thì chúng ta buộc phải nói chuyện với họ bằng nòng súng.” (TNT trg 23). Cho dẫu Tảng đã một lần xử dụng ngay đến người vợ mới cưới của mình tự thân trao tặng bó hoa cho Bà Jeannette Versmersch (vợ Thorez) trong một đại hội để thắt chặt thêm tình chiến đấu của hai đảng, giữa những người (cộng sản) tiến bộ đấu tranh cho Tự Do- Bình Ðẳng- Huynh Ðệ! Sự kiện cô vợ của Tảng tặng hoa cho vợ Thorez gây phẫn nộ đối với hai người cha ở Việt Nam; ông thân sinh Tảng (cùng ông sui gia) quyết định: Tảng và vợ phải trở về nước. Cuối cùng hai vợ chồng trẻ phải chọn một biện pháp đầy tính bi kịch: Chỉ cô vợ trở về (đang mang thai đứa con đầu lòng), Tảng ở lại tiếp tục việc học, và nhất là đi đến cùng con đường cách mạng cứu nước (theo hướng cộng sản). Hai người cha quyết liệt hơn: Cắt yểm trợ tiền bạc, hiện thực dứt bỏ tình phụ tử, buộc người vợ trẻ phải ký giấy ly dị. Không nao núng, sờn lòng, Tảng đi rửa chén, lột khoai ở nhà hàng, quyết định sống tự lập, thực hiện hoài bão chính trị “cứu nước dành độc lập” của mình. Anh đã bỏ ngành Dược để theo học Ðại Học Quốc Gia về Khoa Học Chính Trị. Cao thượng thay và cũng bi thảm thay. Bi kịch của cá nhân người có tên Trương Như Tảng mới trình diễn màn đầu. (TNT trg 20- 24)

Màn Hai: Năm 1951, Trương Như Tảng tốt nghiệp cao học chính trị, ghi danh học luật, và có những vấn đề được đặt ra bởi trong nước xẩy ra những biến chuyển quan trọng: Chiến trận quân sự bùng vỡ lớn với sự tăng cường của hai phía, phía người Pháp nhận thêm nguồn quân viện của chính phủ Mỹ; phiá Việt Minh được yểm trợ trực tiếp do biên giới Hoa-Việt thông thương sau khi quân đội Mao Trạch Ðông thâu tóm Hoa Lục, 1949. Về mặt chính trị, chính phủ Bảo Ðại được tăng cường củng cố qua hiện diện của chế độ Quốc Gia Việt Nam được cộng đồng thế giới công nhận (Tháng 2, 1950); chính phủ Hồ Chí Minh cũng được Liên Sô và khối cộng sản Ðông Âu thừa nhận sau chuyến công du của Hồ qua ngã Tàu (tháng 3, 1950). Tảng có những chọn lựa: Về chiến khu dưới quyền lãnh đạo của Việt Minh để chiến đấu trực tiếp kháng Pháp- Nhưng ý niệm, dự định nầy bị gạt bỏ ngay, vì người trong Hội Người Việt (tổ chức ngoại vi của cộng sản Việt Nam nhằm vận động Việt kiều ở Pháp) có nhận định: Tảng sẽ gây gánh nặng cho kháng chiến hơn là góp phần vào cuộc chiến đấu. Tảng cũng tự đánh giá: “Mình chỉ là người có khả năng tổ chức cho cuộc đấu tranh chính trị nơi hậu trường, ở đất Pháp, chứ không là một chiến sĩ nơi rừng rậm“. Nhưng cuối cùng, Tảng về Sài Gòn để giúp cha gầy dựng lại các cơ sở kinh doanh bi hư hại, suy thoái qua chiến tranh, cũng để cho các anh, em được tiếp tục việc học (ở những đại học Tây Âu) (TNT trg 25-27). Về đến Sài Gòn, để tránh lệnh động viên của chính phủ Bảo Ðại, Tảng xuống Châu Ðốc (vùng châu thổ sông Cửa Long, nơi có nhiều người gốc Hoa sinh sống) lập trường dạy học. Nhưng tiếng gọi cách mạng không hề tắt: Thầy giáo Trương Như Tảng bắt liên lạc với tổ chức cộng sản địa phương để đưa anh vào chiến khu. Và thêm một lần, Tảng được trông thấy tận mắt cảnh tượng tàn sát của lực lượng cộng sản phục kích đoàn tàu người Pháp trên kênh Châu Văn Tiếp và anh lại hiểu rõ thêm một lần : Chỗ đứng của anh không phải nơi tuyến chiến đấu với những du kích. Anh đã có liên hệ chặt chẽ với trường học, môi trường giáo dục, các học sinh, và nhất là cơ sở thương mãi, hệ thống kinh tài của gia đình ở Sài Gòn mà nay anh đã thay mặt cha quán xuyến tất cả, bởi các anh, em vẫn còn ở ngoại quốc chưa về. Mối lợi lớn do cơ sở giáo dục ở Châu Ðốc, hệ thống kinh tài đồn điền ở Sài Gòn, miền Ðông Nam bộ hồi phục, giúp phát triển lại tình trạng tài chánh của tộc họ Trương. Ðể tránh tình trạng chiến tranh đang mở rộng, lệnh trưng binh khẩn cấp, một lần nữa, Trương Như Tảng trở lại đất Pháp với vị thế sinh viên sĩ quan Trường Hàng Hải Toulon. Tháng 7, 1955 Tảng trở về Sài Gòn, các anh, em đồng tốt nghiệp sau nhiều năm du học ở Anh, Ðức, Pháp..v..v Trương Như Tảng trở về lại quê hương với hãnh diện do chiến thắng của lực lượng cộng sản ở mặt trận Ðiện Biên Phủ và sự khinh miệt giới cầm quyền Việt Nam hiện tại. Tảng đánh giá: “Vua Bảo Ðại chỉ là một tay chơi được biết tên ở những sân golf, sòng bàibởi những tay pha rượu; Thủ tướng Ngô Ðình Diệm thì hoàn toàn không có một khả năng nào cả.” (TNT trg 27-32).

Quả thật, chế độ Thực Dân Pháp “gian ác bóc lột”, và những chế độ “bù nhìn, hư hại” của Miền Nam trong các thời kỳ từ 1945 đến 1975 đã rất rộng lượng, hào hiệp đối với rất nhiều người, nhiều giới người – Gia đình và bản thân “người cách mạng Trương Như Tảng” là kẻ thụ hưởng nhiều nhất, đủ nhất, và lâu dài nhất. Chẳng cần đợi đến phần cuối của cuốn sách, đến đây chúng ta đã có thể xác định như thế mà không sợ nhầm lẫn.

Giai đoạn về nước lần thứ hai sau 1955, người thanh niên Trương Như Tảng đã hoàn toàn trưởng thành về mọi mặt. Ông đã có một tư thế chính trị, sở học, và bằng cấp chuyên môn – Trên cơ sở nầy thái độ chống đối chính quyền của Thủ Tướng, hoặc sau đó của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm càng thêm dứt khoát, mãnh liệt. Chế độ mới với nền cộng hòa đối với ông là bất khả dung hợp do phạm những lỗi: Không kết hợp được “thành phần thân Pháp – Ðiễn hình là giai cấp quan lại, đại điền chủ, tư sản Miền Nam như gia đình ông“; người quốc gia kháng chiến chống Pháp (những thành phần giáo phái, Cao Ðài (bên ngoại ông là những chức sắc cao cấp), Hòa Hảo.vv); nhất là thành phần theo Việt Minh (mà theo kinh nghiệm bản thân là toàn thể nhân dân có mặt trong kháng chiến chống Pháp vừa qua). Ông chủ trương không nên khơi động hận thù Bắc- Nam mà nên mở rộng dân chủ như theo chiều hướng của cộng hòa Pháp.Tóm lại, chỉ còn Hồ Chí Minh với chủ trương nhận viện trợ của Nga và Tàu nhưng vẫn giữ nguyên tính chất của một người quốc gia là giải pháp cuối cùng cho vấn đề Việt Nam.

Một ngày tháng Giêng năm 1956, sau mười năm xa cách Trương Như Tảng gặp lại người bạn thiết từ thuở thiếu niên, Albert Phạm Ngọc Thảo. Lần gặp gỡ và những câu chuyện sau sau đó có tác động như đặt xuống viên đá tảng bắt đầu cho một sự nghiệp lớn: LẬT ÐỔ CHÍNH QUYỀN MIỀN NAM – Tuy cả hai không nói ra (sẽ nói thành lời vào một thời điểm thuận tiện sau nầy) nhưng ngầm ý với nhau rằng: Chúng ta luôn là Bạn thiết của thời thơ ấu, và bây giờ cùng đi một đường, tuy hai phương tiện, và vị thế khác nhau. Ngay từ lần đầu tiếp xúc nầy Phạm Ngọc Thảo đã tiết lộ với Trương Như Tảng về “âm mưu nằm vùng trong Dinh Ðộc Lập qua việc chiếm lòng tin của Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục, Tổng Thống Diệm, Cố Vấn Nhu, kể cả của Bác Sĩ Tuyến, Giám Ðốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị” (TNT trg 42-50).. Gần hết một đời người, thật tình chúng tôi chưa hề nghe, biết được một cán bộ cộng sản (loại chiến lược) nào mau mắn, cả tin, và thẳng thắng như hai người bạn nầy – Ngay buổi gặp mặt đầu tiên đã nói cho nhau nghe về những dự mưu chết người (không phải chỉ một vài người mà cả Miền Nam, toàn dân tộc). Chúng ta có thể tạm chấm dứt phần liên hệ giữa Trương Như Tảng và Phạm Ngọc Thảo ở nơi đây qua sự kiện Tảng bị bắt vào khám Chí Hòa (tháng 1, 1965) do có liên hệ mật thiết với người bạn, “Chuyên viên tình báo số 1″ đánh giá của Tảng đối với Thảo, người bạn thân. Riêng phần những hoạt động lật đỗ, đão chánh, chống đão chánh của Phạm Ngọc Thảo trong suốt năm 1965 – Hành động mà ông ta đã thực hiện từ bước đầu dự mưu đảo chánh của biến cố 1 tháng 11, 1963 – Tất cả được Trương Như Tảng nhận định nằm trong mục đích mà hai người đã một lần cùng nhau bàn định : “..Ðiều tốt nhất là làm sao mà thống nhất đất nước bằng lối hoà bình, và nếu ai có thể làm công việc ấy thì tôi sẽ cộng tác…” (TNT trg 44). Ý niệm nầy được nói lại rõ ràng hơn qua trao đổi thân mật, kín đáo, ngắn gọn giữa hai người:

– “Ba!“, Thảo gọi tôi với tên tộïc với giọng nói có chủ ý. “Tôi nhận thấy bồ vừa có ý gì? Bồ có với trong bưng phải không?”

– “Albert”, Tôi đáp: “Tôi cũng thấy cái điệu ấy nơi bạn.”(TNT trg 55)

Trương Như Tảng nghe tin về cái chết của Phạm Ngọc Thảo khi đang còn bị giam ở Chí Hòa (tháng7, 1965), và ông có kết luận: Thất bại lớn nhất của Thảo – Cũng như của Mặt Trận Giải Phóng vào những năm đầu 60 – là không lường được quyết định tham chiến của Mỹ. Cũng không thể trách ông ta (PNThảo) đã không vạch rõ ra đủ sự bất lực trầm trọng của hệ thống chính trị Nam Việt Nam – Ðể từ đó, chính phủ Mỹ áp dụng toàn bộ chiến lược mới mẻ của họ. (TNT trg 62)

Chúng tôi có nhận định hoàn toàn khác hẵn quan điểm trên. Phạm Ngọc Thảo bị bức tử do không phải đã đánh giá không đủ về người Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng Hòa – Những nhân sự và sự việc ông ta hằng coi thường bởi đã biết tường tận. Ông đã từng gọi Nguyễn Khánh là “thằng chó đẻ” qua lần nói chuyện với Nguyễn Cao Kỳ (có mặt của Trương Như Tảng) từ một phòng điện thoại công cộng ở Ðường Hàm Nghi dẫu đang ở thời kỳ lẫn trốn truy lùng của Nguyễn Khánh. (TNT trg 60). Nhưng Phạm Ngọc Thảo quả đã chết vì KHÔNG LƯỜNG ÐƯỢC SỰ ÁC ÐỘC TÀN NHẪN CỦA NHỮNG NGƯỜI ÐỒNG CHÍ CỦA ÔNG – GIỚI LÃNH ÐẠO ÐẢNG CỘNG SẢN TRIỆT ÐƯỜNG TRỞ VỀ KHI MỘT CÁN BỘ TÌNH BÁO ÐÃ HOÀN TOÀN BỊ LỘ.

Sinh mệnh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cùng thành phần nhân sự lãnh đạo (gồm bản thân Trương Như Tảng) cũng sẽ được quyết định theo một cách thế tương tự. Và chương kế tiếp sẽ là câu trả lời chính xác cho vấn nạn vừa nêu.

Màn Ba: Cao điểmbi kịch của Trương Như Tảng là buổi chiều ngày 16 tháng 6, 1967 khi ông trở về từ văn phòng bị một chiếc xe của mật vụ văn phòng Tướng Ngọc Loan chận lại. Ông bị đưa về trung tâm thẩm vấn đặc biệt của Tổng Nha Cảnh Sát ở Chợ Lớn để đối mặt cùng Ba Trà, liên lạc viên mà Mặt Trận Giải Phóng bố trí để làm việc với ông trong buổi họp của Phong Trào Tự Quyết ở Thủ Ðức từ tuần trước. Trong giai đoạn nầy Trương Như Tảng đang là chủ tịch của Liên Hiệp Thanh Niên, một tổ chức ngoại vi của Mặt Trận. Ba Trà là em rể của Bác sĩ Phùng Văn Cung, thành viên trong chủ tịch đoàn của tổ chức nầy. Nhân viên thẩm vấn (có sự hiện diện của Ba Trà), buộc Tảng phải thú nhận: “Ông là đảng viên đảng cộng sản”. Lời thú nhận thừa thãi và vô nghĩa lý nầy không được xác nhận. Toán thẩm vấn ra tay như nghề nghiệp cho phép. Tảng vẫn giữ nguyên ý chí: “Ông là người của Mặt Trận, không phải là đảng viên cộng sản!” Cuộc hỏi cung không kéo dài, một hôm vợ ông vào thăm và được phép nói chuyện riêng.. Người vợ nói: “Ông cứ nhận là đảng viên đi có khác gì nhau (!); bà đã có những đường giây để lo riêng (theo ngã hối lộ).. Làm sao phải ra khỏi phòng giam đặc biệt nầy để được trả về giam chính thức bên tổng nha, vì nơi đây có thể bị thủ tiêu bởi là chỗ hỏi cung, thẫm vấn đặc biệt.” Ông theo lời người vợ, phần cũng biết có giàn xếp giữa Trần Bạch Ðằng ( Bí thư thành ủy Sài Gòn ở giai đoạn 1967-68) và Toà Ðại Sứ Mỹ để trao đổi mật những nhân sự (tình báo) cao cấp. Phía cộng cộng sản có Tảng, và vợ của Trần Bạch Ðằng. Cũng trong những ngày nầy, mật vụ Tướng Loan đã ra tay thủ tiêu Trần Văn Kiều, bí thư công đoàn thành phố và Lê Thị Riêng, hội trưởng hội phụ nữ. Trước một nguy hiểm như thế, nhận hay không nhận (một vấn đề hiễn nhiên) thì nào có nghĩa lý gì. Một ngày cuối tháng 2, 1968, Tảng cùng hai người khác, Sáu Nổ, Duy Liênra khỏi nhà giam tổng nha, được chở lên Tân Sơn Nhất, nằm đợi trong một căn phòng đẹp như khách sạn bốn sao, hai ngày sau được trực thăng Mỹ chở đến một sân bay ở Trãng Bàng, Hậu Nghĩa. Ở đây, có một viên đại uý quân đội Miền Nam đợi sẵn với một chiếc xe Lambretta ba bánh. Xe chạy đến quán cà-phê có một chiếc khác đợi sẵn, viên đại úy trở lại. Cuộc trao trả hoàn tất. Tảng và hai người kia được đưa về Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) gặp Trần Nam Trung, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Mai Chí Thọ.. Ðể làm báo cáo cuộc trao đổi và hoạt động vừa qua – Thuần là cán bộ trung ương đảng cộng sản Việt Nam – Không có một chức sắc nào của Mặt Trận Giải Phóng có mặt trong buổi “hỏi cung” ngụy danh nầy. Ngày 8 tháng 6, 1969, Chính Phủ Lâm Thời cộng Hòa Miền Nam được thành lập để “hợp thức hoá” sự có mặt tại hòa hội Paris (khai diễn chính thức vào tháng 10, 1968), Trương Như Tảng nhậm chức Bộ Trưởng Tư Pháp – Bộ trưởng của một chính phủ không có hệ thống toà án, hành chánh, tài chánh, bởi không thể kiểm tra dân chúng, không đất đai quản trị, kể cả không có một địa vực gọi là thành phố, thủ đô. Chúng ta không hề thắc mắc về tính cách và khả năng của chính phủ cách mạng nầy, nhưng những người đặt vấn đề đối với ông và các thành viên trong chính phủ lâm thời lại là những “giảng viên” của đợt học tập chính trị theo lệnh của Lê Duẩn tiến hành trong ba tháng của mùa Thu 1971. Ðợt chính huấn để tẩy rửa tính chất phản động của lớp tiểu tư sản thành thị được nuôi dưỡng từ chế độ thực dân cũ và mới ở Miền Nam.. Ðứng trước cao trào cách mạng mạnh mẽ… Thành phần trí thức thuộc giai cấp tư sản dân tộc phải có những tiến bộ, biết tách rời khỏi giai cấp của mình và thúc dẩy con em mình cũng phải chấp hành như thế.. ” Lê Duẩn răn đe dạy dỗ không che dấu. (TNT trg 197). Không chỉ một mình Lê Duẩn lên mặt dạy dỗ mà ngay cả đám cán bộ trường Ðảng Nguyễn Aùi Quốc thực chất chỉ là những “lý thuyết gia” hạng thứ yếu, chỉ biết lập đi lập lại những từ ngữ sáo rỗng vô nội dung của đảng cộng sản Liên Sô viết nêân từ đầu thế kỷ.. “tiến bộ nhất định; triệt để tẩy rửa tính giai cấp phản độn; nhiệt liệt thành tâm tin tưởng vào giai cấp vô sản..” (TNT trg 197). Hành vi thô bạo trắng trợ của “giới cầm quyền Hà Nội” không chỉ giới hạn trong buổi học tập, về những lý thuyết, chúng được “chuyển biến thực tế” bằng cách cắt cử một người miền Bắc thuần gốc, Ba Cấp ( không rõ tên thật) thay thế Chín Chiến (người Nam) làm ủy viên điều hành Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Tranh Thủ Hòa Bình – Một cơ quan lập nên do ý đồ của Hà Nội muốn cột chặt Mặt Trận Giải Phóng vào sự chi phối trực tiếp của họ. Trịnh Ðình Thảo được chỉ định giữ chức chủ tịch tổ chức nầy nhưng quyền hành thực sự nằm ở tay Ba Cấp, nhận lệnh trực tiếp từ Lê Duẩn. Người có khí tiết trong mặt trận như Huỳnh Văn Nghi (chồng Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Bộ Trưởng Y Tế của chính phủ lâm thời) phải nói lên lời cay đắng, phẫn uất: “Nếu chúng tôi nhận sự chỉ đạo chính trị của đảng Lao Ðộng là bởi đến nay đảng đã theo đúng con đường độc lập dân tộc. Chúng tôi tham gia kháng chiến là do trái tim, lý trí, lòng yêu nước thúc dục đáp ứng lời kêu gọi của Tổ Quốc – Không là lời kêu gọi của cách mạng vô sản.”(TNT trg 197) Lời phẩn uất của Huỳnh Văn Nghi không được hưởng ứng, bởi Bùi thị Nga (vợ Huỳnh Tấn Phát) đã lu loa kể khổ: “Chúng tôi đội ơn đảng một món nợ không trả được..”(TNT trg 198) Nga thuộc về một gia đình quan lại phong kiến miền Bắc trước 1945.

Màn Cuối: Sáng 15 tháng 5, 1975, Lần trả lời trọn vẹn đối với màn kịch dài của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, của chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, của Liên Minh Dân Chủ Tranh Thủ Hòa Bình, lẽ tất nhiên cũng đối với chính cá nhân Trương Như Tảng.. Và hằng ngàn (có thể là vạn, triệu) người đã từ một thuở thanh xuân đi theo tiếng gọi “cứu nước“, những người “vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng..”, kể cả những kẻ “đi B-xẽ dọc Trường Sơn chống Mỹ, diệt Ngụy “- Tất cả những người chiến đấu dưới ngọn cờ hai mầu “Ðỏ-Xanh với Ngôi Sao Vàng” của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Trên lễ đài được thiết lập trước Dinh Ðộc Lập (nay đổi tên là Thống Nhất) với Lê Ðức Thọ chiếm giữ vị trí trung tâm đoàn chủ tịch nhìn xuống những đơn vị quân đội duyệt binh.. Ðạo quân vừa “thâu giang sơn về một mối”, lực lượng vừa “giải phóng Miền Nam” theo như câu hát hàm xúc hứng khởi của mặt trận. Các đơn vị lần lượt đi qua.. Bộ binh, chiến xa, thiết giáp, tên lửa, pháo binh, hải, lục, không quân của bộ đội Miền Bắc hiện diện đủ. Nhưng, dần đến tàn cuộc lễ, những viên chức lãnh đạo của “mặt trận, của chính phủ lâm thời” đưa mắt hỏi thầm nhau.. Những “đơn vị của mình“, những “công trường của chúng ta”, những Sư Ðoàn 5,7, 9.. của miền Ðông Nam Bộ, của đồng bằng Sông Cửu Long.. Tất cả bây giờ ở đâu? Ở đâu? Cuối cùng, không thể chịu đựng thêm, Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Tư Pháp Chính Phủ Lâm Thời nghiêng vai hỏi Văn Tiến Dũng, đứng cạnh ông: “Những sư đoàn của chúng tôi đâu rồi, những sư đoàn Một, Ba, Năm, Bảy và Chín? Dũng đưa mắt nhìn Tảng như nhìn một thứ, vật quái dị: “Hả, mấy thứ đó hả.. Bộ đội đã biên chế thống nhất rồi”. Xong Dũng quay đầu nhìn xuống đường khoé miệng trề xuống khinh miệt. (TNT sđd trg 264-265)

Sự cay đắng lập lại lần thứ hai, tàn nhẫn và lạnh lùng hơn. Tháng 6, 1976 Trương Như Tảng trở lại Hà Nội để dự lễ phê chuẩn Văn Kiện Hội Nghị Hiệp Thương “Thống nhất Nước Nhà về mặt Nhà Nước” (Kể ra cách chơi chữ sống sượng tàn nhẫn đến thế nầy là tối đa). Trong buổi tiếp tân, có một người vỗ vai Tảng. Ông quay lại.. Trường Chinh. Chinh nhìn Tảng với cách nhìn của Văn Tiến Dũng hôm Tháng 5 năm trước trên lễ đài ở Sài Gòn: “Tôi trông đồng chí có vẻ quen quen?!” Ðồng chí “Bộ Trưởng Tư Pháp Chính Phủ Cộng Hòa Miền Nam ngớ người.. Mới năm ngoái, trước khi trở lại Miền Nam (sau ngày 30 tháng Tư), toàn bộ viên chức “Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam” đã được chiêu đãi, chào mừng cũng ở căn phòng nầy, với những con người nầy, những “đồng chí lãnh đạo”, Trường Chinh, Lê Ðức Thọ.. Trương Như Tảng ấp úng: “Tôi là Bộ Trưởng Tư Pháp của Miền Nam!” Mắt Trường Chinh sáng lên khoái trá: “Thế à.. Thế tên là gì? Bây giờ đồng chí làm cái gì?” (TNT sđd trg 286).Viết hồi ký mà thực đến thế quả là “đạt tiêu chuẩn”.

Chúng ta có thể chấm dứt câu chuyện không mấy vui trên bằng cách nhắc lại vài điều phấn khởi. Cuối cùng, chịu không nỗi cách “xách mé đểu cáng cộng với kỹ thuật ăn cướp công khai xã hội chủ nghĩa” của những “đồng chí” đến từ Hà Nội, Trương Như Tảng với Tôn, một người bên vợ đường quyết định vượt biên từ Long Xuyên. Trong lòng chiếc ghe dơ bẩn, chật chội, Tảng có ý nghĩ: “Nếu bị bắt lại thì nhảy xuống biển trầm mình thà chết chứ không để bị bắt.” Ông nhớ lại chặng đường cách mạng mấy mươi năm đi qua từ thuở còn trai trẻ.. Hồi ức dừng lại nơi lần gặp gỡ với cha ông ở Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn (1967, năm ông bị bắt vì hoạt động trong phong trào Liên Hiệp Thanh Niên). Cha ông đã nói: “Con ơi, cha không thể nào hiểu được.. Con đã bỏ tất cả: Gia đình êm ấm, hạnh phúc, giàu sang.. để theo bọn cộng sản. Rồi đây, chúng sẽ không trả lại cho con một chút gì so với những gì con đã hiến dâng. Rồi con sẽ thấy. Chúng sẽ phản bội con, và con sẽ đau khổ suốt đời..” Trương Như Tảng nhói đau trong hầm chiếc ghe khi nhớ lại “lời tiên tri” của người cha.. Chỉ có điều an ủi khi ông nghĩ đến Loan, cô con gái đầu lòng hiện nay (năm 1978) đang ở Mỹ. Cô Loan đi Mỹ trước 1975 do Bà Nguyễn Văn Thiệu bảo lãnh vì Loan học cùng lớp với con gái bà ở Ðà Lạt từ tấm bé. Năm 1967, khi Trương Như Tảng vào tù, Ông Thiệu, tổng thống “chế độ phản động Mỹ -Ngụy” có nói riêng với Loan: “Cháu yên tâm, ba cháu với tonton là kẻ đối nghịch.. Nhưng, cháu luôn luôn được coi như là con cháu trong nhà nầy, chuyện kia không ăn nhằm gì cả..”(TNT sđd trg 260-261)

À, hóa ra chế độ, và con người (ở Miền Nam) bị cả thế giới chê trách, bêu xấu lại tốt đẹp gấp vạn lần so với người và chế độ ở Hà Nội. Sự việc đơn giản nầy mấy người nào hay?

Sau Mười-hai năm ở Mỹ 
Cũng để hiểu đôi điều của Việt Nam. 
Santa Ana, 11/ 2005 
Phan Nhật Nam

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Việt Nam che giấu núi nợ xấu khổng lồ

Posted by hoangtran204 trên 06/04/2013

 

NHA TRANG (NV) – Kinh tế Việt Nam ngày càng tồi tệ có thể dẫn đến khủng hoảng vì nhà cầm quyền che giấu sự thật về núi nợ xấu khổng lồ trong hệ thống ngân hàng.

 


Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, báo động kinh tế Việt Nam đang chờ khủng hoảng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013 do Ủy ban Kinh tế Nhà nước CSVN tổ chức trong hai ngày 5 và 6/4 tại Nha Trang. (Hình: VNEconomy). 

Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cảnh cáo như vậy tại “Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013 do Ủy ban Kinh tế” nhà nước CSVN tổ chức trong hai ngày 5 và 6/4/2013 tại Nha Trang.

Con số nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam là bao nhiêu, không ai biết rõ vì không mấy ai tin các con số được công bố trước đây là con số thật, qua tường thuật của báo điện tử VNEconomy.

Theo ông Thiên, có những thứ “còn xấu hơn cả nợ xấu” bởi vì không có những con số chính xác, đáng tin cậy thì “không thể xây dựng chiến lược đúng để giải quyết vấn đề”.

Ông cho biết nhiều doanh nghiệp chủ lực của lực lượng tăng trưởng kinh tế “đã chết”.

“Hiện tượng số doanh nghiệp đóng cửa của quý một năm nay ngang bằng với số doanh nghiệp đăng ký mới được ông Thiên cho là sự kiện mang tính lịch sử. Bởi chênh lệch của hai số liệu này thường ở khoảng 10 nghìn, nghiêng về số doanh nghiệp mới”, ông được VNEconomy kể lại.

Theo ông Trịnh Quang Anh của Tập đoàn Đầu Tư Phát Triển Việt Nam phát biểu trong diễn đàn nói trên, “nếu cộng cả những khoản nợ xấu tiềm tàng, gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780/QĐ-NHNN và nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines, tổng nợ xấu ngân hàng được ước tính sẽ vọt tới tầm nửa triệu tỷ đồng.” (hay khoảng $23 tỉ 825 triệu).

Nếu như ông nói, con số vừa kể “tương đương 18% tổng dư nợ tín dụng, gần 10% tổng tài sản toàn hệ thống, hay khoảng 17% GDP” mà theo ông Anh nhấn mạnh là “đáng sợ”, và “rất có thể còn trầm trọng hơn trong thời gian tới”.

Cuối năm ngoái, Ngân Hàng Nhà Nước CSVN đưa ra con số nói tính đến 30/9/2012, tỷ lệ nợ xấu chiếm 8.82% tổng dư nợ toàn hệ thống. Nếu tính tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng hiện nay vào khoảng 2.8 triệu tỷ đồng, thì nợ xấu vào khoảng 280,000 tỷ đồng (hay khoảng $13 tỉ 342 triệu).

Nhưng đầu Tháng Ba vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước lại hoan hỉ báo tin nợ xấu chỉ còn 6% hay dưới $10 tỉ. Nhiều viên chức nhà nước ở các cơ quan khác nhau cũng phải công nhận cái sự “làm đẹp” con số nợ xấu đó “đáng sợ và đáng ngờ”.

Con số do ông Trịnh Quang Anh đưa ra có vẻ gần với sự thật nhất và khác xa các con số do Ngân Hàng Nhà Nước công bố.

Chế độ Hà Nội đã đưa ra một số đề án giải quyết cái núi nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Trong đó có cả việc lập một công ty để giải quyết nợ xấu nhưng ngày 30/3/2013 mới đây, báo Đất Việt nói “không được thông qua ở kỳ họp chính phủ Tháng Ba.”

Điều này xác nhận nhà cầm quyền Việt Nam vẫn đang rất lúng túng, không biết giải quyết như thế nào để cứu nền kinh tế và một số không nhỏ những công ty quốc doanh chủ lực đang chờ chết nếu không được bơm tiền thêm. Tập đòan đóng tàu Vinashin, tổng công ty tàu thủy Vinalines, nhiều công ty sản xuất xi măng hay thép nợ đầm đìa, sản phẩm bán không được mà đúng ra phải phá sản từ lâu nhưng nằm đó “chết lâm sàng”. (TN)

_______________________

‘Nửa triệu tỷ đồng nợ xấu ngân hàng’

Quy mô nợ xấu có thể vượt nửa triệu tỷ đồng nếu cộng cả những khoản nợ tiềm tàng, nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines – theo tính toán của Tiến sĩ Trịnh Quang Anh.

Tại Diễn đàn kinh tế Mùa xuân đang diễn ra ở Nha Trang, phần lớn các diễn giả đều cho rằng vẫn nợ xấu vẫn chưa có con số thống nhất, trong đó không ít ý kiến hoài nghi về số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố.

Nợ xấu toàn hệ thống theo báo cáo từ các tổ chức tín dụng đến ngày 31/12/2012 là 120.000 tỷ đồng, chiếm 4,1% tổng dư nợ tín dụng. Còn theo công bố mới nhất của đại diện Chính phủ, quy mô tính đến cuối tháng 2/2013, đã giảm xuống còn khoảng 6% thay vì mức hơn 8,8% Thống đốc công bố năm ngoái.

 


Nợ xấu có thể lớn hơn nhiều con số công bố. Ảnh: HoàngHà. 

Ông Trịnh Quang Anh cho rằng thực tế nợ còn “xấu” hơn rất nhiều. Trong cuốn kỷ yếu Diễn đàn kinh tế Mùa xuân năm 2013, Tiến sĩ Trịnh Quang Anh – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam đưa ra những ước tính về quy mô nợ xấu hiện nay.

Theo ước tính của ông, nếu cộng cả những khoản nợ tiềm tàng, gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780 và nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines, tổng nợ xấu ước tính sẽ vọt tới tầm nửa triệu tỷ đồng. Con số này tương đương 18% tổng dư nợ tín dụng, gần 10% tổng tài sản toàn hệ thống hay khoảng 17% GDP danh nghĩa năm 2012. Con số nợ xấu thực của nhóm khách hàng doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục được nhân lên nếu bóc tách phần nợ thực chất đã “chết” đang còn “ẩn nấp” trong nhóm “nợ cần chú ý” để hạch toán sang đúng nhóm nợ. [lưu ý, nợ xấu là nợ không đòi được, do con nợ đã bị phá sản, hoặc  không có tiền trả nợ- Trần Hoàng]

Bình luận về việc nợ dưới chuẩn giảm mạnh (hơn 2%) theo công bố mới đây của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Tiến sĩ Tô Ánh Dương cho rằng không loại trừ khả năng nhiều khoản đã được làm đẹp bằng những hợp đồng vay mới để trả nợ cũ quá hạn.

“Tỷ lệ nợ xấu giảm nhanh chỉ là giảm số liệu, không phải là bản chất, giảm thật sự. Nói cách khác, trích lập dự phòng rủi ro là một trong những biện pháp làm giảm nợ xấu phần nào trên bảng cân đối kế toán”, ông Dương thẳng thắn cho biết. Trên thực tế, khi xử lý rủi ro bằng dự phòng không có nghĩa là khoản nợ đã được xóa cho khách hàng.

Các chuyên gia cũng đưa ra những số liệu theo chính ông gọi là “đáng sợ” về cơ cấu của nợ xấu. Theo ông Quang Anh, xét con số tuyệt đối, nợ xấu nằm chủ yếu ở nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, trước hết là Agribank rồi đến BIDV – chiếm tới gần 1/3 tổng nợ xấu toàn hệ thống. Tại khối cổ phần, nhóm ngân hàng yếu kém nằm trong diện phải tái cơ cấu năm 2012 – chiếm tới gần 1/5 tổng nợ xấu toàn hệ thống (chưa tính Habubank do đã được sáp nhập vào SHB).

Một đặc điểm nữa về cơ cấu nợ xấu theo Tiến sĩ Tô Ngọc Hưng Giám đốc Học Viện Ngân Hàng là thống kê của Bộ Tài chính cho hay, các địa phương có công trình xây dựng cơ bản hiện nợ các doanh nghiệp liên quan đến dự án khoảng 90.000 tỷ đồng. “Đây là khoản nợ xấu phải thuộc trách nhiệm các địa phương xử lý, chứ không thể là các ngân hàng”, ông Hưng cho biết.

Nợ xấu cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản và chứng khoán (trước đây được tính vào lĩnh vực phi sản xuất, bị hạn chế tăng trưởng tín dụng) chỉ chiếm 8% tổng nợ xấu. Theo nhiều diễn giả, đây là một con số rất đáng ngờ. “Sự thực, rất nhiều khoản cấp tín dụng dưới các danh nghĩa khác nhau, được ‘luồn’ vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán hay có liên quan đến lĩnh vực phi sản xuất này. Nợ xấu từ số dư nợ cho vay trên, hiển nhiên sẽ được che giấu kỹ nhất”, ông Quang Anh cho biết.

Thanh Thanh Lan
Theo VnExpress

——–

Bài Liên Quan:

nguon danluan.org  (repost)
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/…014179ca34.chn

Mọi việc chuẩn bị đổ bể rồi đây 

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu…348374ca33.chn

Đây có lẽ là chuyên gia thật ???? 

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu…139010ca33.chn

hihi , bằng đúng chỉ số ICOR của VN

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Lê Thăng Long và hành trình vì Quyền Con Người

Posted by hoangtran204 trên 06/04/2013

Lê Thăng Long và hành trình vì Quyền Con Người

Trần Văn Huỳnh

Kính gửi BBT báo Dân Luận,

Hôm nay là sinh nhật anh Lê Thăng Long, người đồng khởi xướng và sáng lập phong trào Con đường Việt Nam – một phong trào vì quyền con người của Việt Nam.

Tôi mong BBT báo Dân Luận đăng tải bài viết dưới đây để tặng sinh nhật Long.

Xin cảm ơn và chào trân trọng.

Trần Văn Huỳnh

LÊ THĂNG LONG VÀ HÀNH TRÌNH VÌ QUYỀN CON NGƯỜI

Cuối tháng 3 vừa rồi tôi đi thăm Thức, Thức nói tôi rằng ngày 6 tháng 4 tới là sinh nhật 46 của Lê Thăng Long và nhờ tôi nhắn là Thức rất nhớ Long, nhớ những tháng ngày ba anh em chia sẻ cùng nhau từng miếng cơm manh áo. Thức cũng nói rất nhớ Lê Công Định và hẹn ba anh em sẽ sớm trùng phùng. Tình bạn của họ thật đẹp. Sau này mà có dịp kể lại thì tôi tin đó sẽ là một câu chuyện để đời.

Một lần vợ Long nói anh Thức ở với anh Long còn nhiều hơn với vợ. Anh Long lấy vợ chỉ 8 năm sau đã phải vào tù 3 năm. Còn với anh Thức thì học chung, làm việc chung, hoạt động chung rồi ở tù chung. Khi Long ra tù ngày 4/6/2012 thì vợ đang công tác ở châu Âu, hai con đang ở Hà Nội với ngoại. Long phải chịu bị quản chế tại thành phố HCM để chăm sóc mẹ già đang chống chọi với căn bệnh ung thư giai đoạn cuối. Chưa gặp lại vợ con, không một ngày nghỉ ngơi Lê Thăng Long bắt tay ngay vào chuẩn bị cho ra đời phong trào Con đường Việt Nam. Chỉ một tuần sau, ngày 11/6/2012 Long phát động nó, tiếp tục những gì ba anh em còn dang dở trước khi bị bắt. Từ Đức, vợ Long gọi về không giấu được sự lo lắng. Dù rất ủng hộ chồng và chính nghĩa chồng mình làm nhưng cô ấy lo ngại rằng vợ chồng con cái sẽ có thể không được đoàn tụ khi mình trở về sau chuyến công tác. Nguy cơ đó không hề nhỏ chút nào.

Nguyễn Phương Anh, vợ Long là một người phụ nữ trẻ đẹp và tài giỏi. Đi du học ở Pháp từ khi còn học cấp 3 và lấy bằng tiến sĩ toán học lúc chỉ mới 25 tuổi. Đứng trước nhiều lựa chọn tốt đẹp cho công việc và tương lai của mình ở nước ngoài, cô đã chọn trở về Việt Nam làm vợ Long và cùng chồng thực hiện những ước mơ tốt đẹp cho đất nước. Phương Anh giúp chồng thiết lập nên một trung tâm đào tạo tại công ty EIS mà Long là phó tổng giám đốc. Rồi sau đó lại từ bỏ một vị trí cộng việc đang rất tốt tại Đại học RMIT để theo chồng sang Thái Lan. Lúc ấy Long nhận nhiệm vụ qua nước này phát triển thị trường cho EIS. Một năm sau cô lại cùng chồng định cư tại Hà Nội và trở thành giảng viên Đại học Bách Khoa ở đó cho đến khi Long bị bắt vào tháng 6/2009. Cách đây vài tháng Phương Anh lại từ bỏ vị trí trưởng bộ môn toán tại trường Đại học này để chuyển cả hai đứa con vào Sài Gòn sống cùng chồng. Cô lại bắt đầu một hành trình mới để khẳng định vị trí của mình ở chỗ làm mới. Dù trải qua nhiều vất vả gian nguy nhưng mắt cô luôn có niềm tự hào, niềm tin và hạnh phúc.

Khi Long bị bắt thì mẹ mình đã bị bệnh ung thư. Sự tuyên truyền bóp méo đã tạo nên những dư luận lệch lạc mà một người phụ nữ kiên cường như bà cũng không tránh được những hiểu lầm và trách móc con trai mình. Bà chỉ muốn con mình trở về càng sớm càng tốt để ở bên mình và không còn dính dáng gì đến chính trị nữa. Bà cho rằng một môi trường chính trị suy thoái như hiện nay không phù hợp với con bà vì Long là người chân thật, cởi mở. Vui mừng không được bao lâu sau khi Long ra tù thì bà đã phải lo lắng và bực dọc khi phải đối diện với những áp lực chính quyền gây ra cho gia đình bà sau khi Long phát động phong trào Con đường Việt Nam. Bà đã nhiều lần khuyên Long từ bỏ con đường đó để an thân, lo cho mẹ già và con thơ. Rất yêu thương mẹ nhưng Long vẫn kiên định và kiên trì thuyết phục bà. Long luôn túc trực bên mẹ những tháng cuối đời, ở nhà hay trong bệnh viện, lo cho bà từng miếng ăn giấc ngủ. Tôi đã thăm bà nhiều lần trước khi bà trở về với tổ tiên và đã nhìn thấy được ánh mắt tự hào, đặt trọn niềm tin của bà khi nói về đứa con trai duy nhất của mình. Tôi rất chia sẻ với bà điều đó. Bà có quyền tự hào vì đã sinh ra một người con có ích cho đất nước.

Hơn một tháng sau khi bà ra đi, mẹ bà cũng về nơi chín suối. Nỗi đau ập lên Long chồng chất. Nhưng Long vẫn vững bước trên con đường đã chọn. Khi Long đi tù, đứa con gái lớn chỉ mới 6 tuổi còn con trai chỉ mới 3 tuổi. Vì sự cay độc của dư luận trong một môi trường xã hội mà người dân phải co rúm lại khi nghe chính quyền nhắc đến “phản động” nên gia đình đã phải giấu hai bé sự thật là ba mình bị đi tù vì hoạt động chính trị. Nhưng trẻ con bây giờ khôn hơn người lớn nghĩ. Không thỏa mãn với những gì người lớn giải thích về sự xa nhà rất lâu của ba mình, Minh Anh cô bé gái xinh xắn của Long đã trở nên trầm cảm. Thế vậy mà cô bé đã đứng ra trấn an cậu em Long Quân sau khi thấy mẹ mình đang bị đuối lý trước những câu hỏi dồn dập của cậu bé này mà cậu tin rằng ba mình đang đi tù. Tôi đã rất xúc động khi nghe về câu chuyện này. Những đứa trẻ chỉ năm, bảy tuổi đã có thể nghĩ ra những lý luận đơn giản để bảo vệ ba mình vì chúng luôn tin rằng ba mình là người tốt, không thể làm điều gì xấu. Nhưng chúng vẫn rất buồn vì không thể hiểu được tại sao ba mình lại phải mặc lên người bộ quần áo tù. Tuy nhiên, những lần thăm Long gần đây, tôi đã nhìn thấy được sự rạng rỡ đã trở lại trong ánh mắt của các cháu. Những niềm hạnh phúc, tự hào về ba mẹ mình tràn ngập trong cuộc sống của các cháu, gợi lên những niềm hy vọng vào những điều tốt đẹp ở phía trước.

Long có một gia đình hạnh phúc, trước kia cũng như bây giờ. Nếu Long chấp nhận làm ngơ trước những bất công ngang trái thì anh đã có một cuộc sống yên bình, thành đạt, không mang đến sóng gió cho gia đình. Ngay cả bây giờ, khi có vợ con bên cạnh hạnh phúc thì anh vẫn phải đang đứng trước đầu sóng ngọn gió trên một con thuyền đang vượt qua giông bão trong một hành trình hướng về đích “quyền con người phải được tôn trọng và bảo vệ trên hết”. Hành trình này chắc chắn là không dễ dàng nhưng anh vẫn đang vững tay lái vượt qua từng cơn sóng dữ. Bên anh đang ngày càng có nhiều người hơn cùng giúp nhau nắm chắc tay chèo, tay lái. Và hành trình đó giờ đây không chỉ có một con thuyền. Nhiều đoàn thuyền khác nữa đang ra khơi để cùng hướng về một đích chung của tất cả mọi người dân Việt.

Cảm ơn Lê Thăng Long, nhờ anh mà tôi được tham gia vào hành trình đó và cảm thấy cuộc sống mình thật có ý nghĩa dù tuổi đã già. Tôi cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao khi hướng dẫn được cho nhiều gia đình tù nhân lương tâm ý thức được quyền con người của mình để bảo vệ mình và người thân của mình bị cáo buộc sai trái. Tôi thường gặp gỡ và đi thăm cha mẹ, vợ chồng, con cái của những người này và cảm nhận rất rõ về sự thay đổi tích cực trong nhận thức và niềm tin của họ. Nếu trước đây có khá nhiều người rụt rè, co cụm, thậm chí là cảm thấy tủi hổ vì người thân của mình là tội phạm chính trị, là “phản động”, thì giờ đây họ đã trở nên cởi mở, tự hào vì người thân của mình là những con người dũng cảm, không sợ hãi để sử dụng quyền con người chính đáng của mình đấu tranh vì một tương lai tốt đẹp cho đất nước. Họ cũng ngày càng tự tin hơn để sử dụng quyền con người của mình để đấu tranh cho công lý, cho tự do của người thân mình. Họ đã không còn cam chịu sự áp đặt của cường quyền và sợ hãi nó để phải âm thầm đau thương nhìn người thân mình bị áp bức mà không biết phải làm gì. Họ đã hiểu ra rằng càng cam chịu và sợ hãi thì sự bất công và sai trái mà họ nhận được càng nặng chứ không phải như những lời đe doạ, dụ dỗ và hứa hẹn.

Thời gian gần đây, ý thức về quyền con người của nhân dân đang ngày càng phát triển một cách rõ ràng. Người ta hiểu đó không chỉ là quyền đương nhiên của mình trong mưu sinh mà còn phải được bảo đảm trong tất cả mọi sinh hoạt trong cuộc sống. Đó là những mầm sống sẽ nhanh chóng vươn xanh mạnh mẽ. Còn nhiều triệu hạt giống quyền con người như vậy đã được gieo vào đúng môi trường tự nhiên của chúng là con người. Không lâu nữa những hạt giống này sẽ sinh sôi nảy nở. Đó cũng sẽ là lúc mà đất nước sẽ có tự do, dân chủ để phát triển thịnh vượng, văn minh.

Thành tựu này được tạo ra bởi rất nhiều những người tiên phong ưu tú của đất nước đã dấn thân trong nhiều năm qua để đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ. Đã có những tiền bối phải hy sinh vì mục đích cao cả đó nhưng vẫn không thiếu những thế hệ tiếp nối hành trình ấy để có được thành tựu ngày nay. Và tôi tin rằng trong đó có sự đóng góp lớn của Lê Thăng Long.

Hành trình này còn nhiều chông gai nhưng chắc chắn sẽ nhanh về đích vì đang ngày có nhiều nhiều người như Lê Thăng Long tham gia vào hành trình ấy.

Chúc mừng sinh nhật Long. Chúc Long nhiều sức khoẻ, hạnh phúc và hoàn thành được ước nguyện của mình cho đất nước.

Cảm ơn tất cả những gì Long đã làm vì quyền con người, vì đất nước.

Trần Văn Huỳnh

nguon: danluan.org

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Nghe tin Tòa Hải Phòng xử anh Vươn và người thân, chợt nghĩ đến Tòa Án Nhân Dân Đặc Biệt…

Posted by hoangtran204 trên 06/04/2013

 

Đoàn Vương Thanh – Nghe tin Tòa Hải Phòng xử anh Vươn và người thân, chợt nghĩ đến Tòa Án Nhân Dân Đặc Biệt…

Đoàn Vương Thanh

Theo Quê Choa

 

Nhiều lúc tôi cứ nghĩ lẩn thẩn với bộ não đã 80 tuổi. nhiều sự kiện, nhiều việc vui buồn trong gia đình, làng xóm và trong thế giới loài người cứ hiện lên rõ mồn một khi có sự kiện tương tự xảy ra. Nghe tin trên phương tiện thông tin đại chúng về việc Hải Phòng mở phiên tòa “công khai” xử Đoàn Văn Vươn và gia đình anh về tội “giết người và chống lại người thi hành công vụ”, tôi thấy bủn rủn chân tay, trí óc bỗng quay về thời gian xã tôi thực hiện cuộc cách mạng “Người cày có ruộng” phát động nông dân “vùng lên” đánh đổ giai cấp địa chủ, phân hóa phú nông, tranh thủ trung nông, dựa hẳn vào bần cố nông!!!”.

Cuộc CCRĐ hai năm 1955 và 1956 diễn ra ở quê tôi, một xã vùng đồng bằng thuần nông, khi đó còn rất nghèo vì rất nghèo nên có tinh thần cách mạng chống đế quốc rất cao, năm 2001 đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì nghèo nên, cuộc đấu tranh “giành lại ruộng đất từ tay địa chủ chia cho nông dân nghèo cũng diễn ra rất “quyết liệt”. Mới sau hòa bình lập lại 7-1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng chưa được một năm, đội giảm tô được UBCCRĐ trung ương cử về xã, phát động nông dân tiến hành bước giảm tô, liền sau đó là tiến hành CCRĐ. Thật ra, bây giờ nhìn lại thì, nông dân, kể cả nông dân có học đôi chút hồi đó cũng không có mấy ai hiểu rõ thế nào là giảm tô, giảm tức, thế nào là CCRĐ và giảm tô, cải cách ruộng đất để làm gì, tất nhiên, khẩu hiệu đầy đường là để “giành ruộng đất về cho dân cày, nhất là dân cày nghèo”.

Đội về, việc đầu tiên là họp dân (đố ai dám không đi họp, vì không đi họp cũng là liên quan đến địa chủ cần phải vạch mặt) tuyên bố giải tán chi bộ đảng Lao Động. Lúc đó chi bộ có đến hơn 50 đảng viên, trong đó phần lớn là những đồng chí đã từng vào sống ra chết kiên trì dũng cảm đấu tranh ở một xã giáp chân hàng rào bốt địch suốt 9 năm kháng chiến. Địa chủ là những ai? Quốc Dân Đảng phản động là những ai? Là một đồng chí bí thư chi bộ họ Lưu, sau khi bị Đội gọi lên trấn áp, hôm sau treo cổ tự tử và để lại thư nói rõ, là bí thư chi bộ Đảng Lao động chứ không phải “Quốc Dân Đảng phản động”, là đồng chú Vũ Kiểm, chi ủy viên, Chủ tịch UBKCHC xã, từng làm hai mang cùng với một số đồng chí khác lên tận Phủ Thủ hiến Bắc Kỳ trực tiếp đấu tranh có lý có tình ngăn không cho giặc Pháp đóng ngoài đồn dùng xe ủi làng làm vành đai trắng để trả thù Việt Minh đánh bốt hồi cuối tháng 12-1953, là đồng chí Nguyễn Đức, chi ủy viên đảng lao động, được Huyện ủy cử làm việc hai mặt, tạo điều kiện cùng Vũ Kiểm đấu tranh với địch bảo vệ dân làng (trong đó có nhiều cán bộ Việt Minh nằm vùng), là đồng chí xã đội trưởng của ta được cử làm sếp bốt hương dũng (của địch) mà đội viên toàn là du kích của ta, cũng nhằm bảo vệ nhân dân, chống địch o ép càn quét và trả thù. Đồng chí Vũ Kiểm (vì là Chủ tịch) nên “đầu sỏ hơn cả đầu sỏ” bị mang ra “đấu trường”, bị mấy người cốt cán “chỗ dựa của Đội” nhảy lên như con choi choi xăm xỉa vào mặt tố khổ. Sau đó “Tòa án nhân dân đặc biệt” tuyên tử hình. Vài phút sau, một tiểu đội dân quân, có mấy người được trang bị súng trường Trung Quốc cũ dàn hàng ngang nhằm vào đồng chí Vũ Kiểm nhả đạn.

Chắc là biết rõ ông Vũ Kiểm là người thế nào nên một loạt đạn từ mấy tay súng dân quân du kích mà Kiểm vẫn chưa gục, còn nói lời cuối cùng; “Tôi là đảng viên lao động, không phải quốc dân đảng”. Thấy vậy, một thành viên Tòa nhảy xuống rút súng ngăn dí vào trán Kiểm và bóp cò. Tiếng nổ đanh và lạnh ớn xương sống. Kiểm gục ngã. Cà đám đông nặng nề ra về không một ai dám hé răng. Vì “Đội về đội dựa vào mông/Đội đi đội để trống đồng ai mang”. “Nhất đội nhì giời”, sợ Đội hơn sợ cọp dữ. Đồng chí, đồng đội với Kiểm có nhiều người, trong đó thân nhất là bố tôi, ông Nguyễn Đức. Ông Nguyễn Đức nhà rất nghèo không có ruộng, chuyên kéo xe bò thuê ở chợ, tham gia cách mạng từ năm 1947, năm 1949 được chi bộ Đảng lao động địa phương kết nạp và làm chi ủy viên, trưởng ban binh địch vận, đồng thời được Huyện ủy cử ra làm “chính quyền hai mặt” cùng với các đồng chí khác hoạt động bảo vệ dân, cụ thể là ngăn không cho địch làm vành đai trắng, dẫn trinh sát bộ đội Tỉnh về điều tra bốt đồn, và tổ chức trận đánh đêm 16-12-1953 thắng lợi giòn giã. Ấy thế mà, ông Nguyễn Đức được “phong” địa chủ cường hào gian ác, quốc dân đảng phản động, kết án 20 năm tù, nhờ có con trai đi bộ đội từ năm 18 tuổi nên bố được giảm ản 3 năm. Nhưng chỉ đi tù ở Mỏ Chén (Sơn Tây) có ba tháng thì có lệnh sửa sai.

Nguyễn Đức được Tỉnh ủy mời về tham gia học nghị quyết sửa sai sau đó tỉnh cử làn đội trưởng sửa sai ngay tại xã mình. Còn “đồn trưởng hương dũng” cũng là một đảng viên của đảng Lao Động, đã bị đội cải cách xử trí “lên bờ xuống ruộng”. Ấy cũng có cái tài là, có lệnh triển khai nghị quyết sửa sai hôm trước thì hôm sau, Đội CCRĐ lặn mắt tăm, để lại ba bốn “cô cốt cán” mang trống đồng…

Thời kỳ đầu sửa sai, làng xóm loạn cả lên. Con cái của ông Vũ Kiểm đêm nào cũng vác dao đi tìm “cốt cán” đã bắn bố để hỏi tội, sau nhờ có cán bộ đội sửa sai đến tận nhà khuyên giải nên tình hình mới lắng đi và dần đi vào thế ổn định.

Chỉ một năm sau, năm 1958, phát động nông dân đưa ruộng đất vào “tập thể hóa”, phát huy “tính ưu việt” của phương thức làm ăn tập thể xây dựng hợp tác xã nông nghiệp cả làng, tiến tới xây dựng “nông trang tập thể” như Liên Xô, bà con nông dân sẽ được sống “ở thiên đường”. (1)

Nhưng 30 năm sau, hợp tác xã nông nghiệp động viên xã viên “Mỗi người làm việc bằng hai/Để cho chủ nhiệm (và Ban quản trị) mua Đài mua xe” (một chiếc ra-đi-o Nhật ba băng trị giá băng hơn một tấn thóc. Hồi ấy cán bộ có Đài suốt ngày “nheo nhéo” bên hông, oai lắm. Khi hoàn thành xây dựng HTX bậc cao thì “Mỗi người làm việc bằng ba/Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân” hoặc “Mất mùa thì tại thiên tai/Được mùa nhờ ở thiên tài Đảng ta!”

Cuối cùng, sau ba mươi năm, “thiên tài” ấy cũng phải ra đi vì có Nghị quyết 100 và nghị quyết 10 và công cuộc đổi mới sau Đại hội VI, nông dân (và các thành phần khác được cởi trói” đã giúp cho Đảng và Nhà nước ta có con số thống kê sản xuất được 45 triệu tấn thóc, dành ra 7,5 tấn quy gạo xuất khẩu, không những đủ ăn cho gần 90 triệu dân trong nước mà còn góp phần “cứu đói” nhiều vạn người trên thế giới!

Ba cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nông dân nói riêng và nhân dân nói chung đã cống hiến hàng chục triệu con em mình cho các lực lượng vũ trang ở cả hai miền chiến đấu hơn 31 năm giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Hàng nghìn liệt sĩ có tên và chưa biết tên đã nằm xuống, trong đó cũng một phần vì ruộng đất cho dân cày như Đảng dạy.

Năm 1953, việc xử tử địa chủ Nguyễn Thị Năm ở Thái Nguyên được coi là tài liệu điển hình chỉnh huấn bộ đội các sư đoàn chủ lực tham gia chiến đấu ở mặt trận Điện Biên Phủ, là động cơ quan trọng thúc đẩy bộ đội hi sinh chiến đấu giành thắng lợi “lừng lấy địa cầu”.

Ở quê tôi, có đồng chí T. ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đang họp thường vụ được lệnh của Đoàn CCRĐ đưa về quê để “nông dân hỏi tội” vì đồng chí ấy xuất thân một nhà địa chủ giầu có trong tỉnh. Khi xe đưa đồng chí T về đến trường đấu bị dân quân du kích và Đội CCRĐ lôi xuống bịt mắt và bắn ngay. Được tin, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy vội cho người đánh xe về “cứu” đồng chí T, nhưng muộn rồi, về chỉ còn thấy xác đồng chí T còn nóng hổi chưa kịp khâm liệm.

Đến bây giờ, bà con xã này vẫn còn nhơ như in những hình ảnh “đau lòng, tay phải chém vào tay trái” hồi CCRĐ. Nhưng bài học lịch sử ấy nay hình như đang diễn lại ở Hải Phòng, trong việc xử án gia đình Đoàn Văn Vươn. Có thể Đoàn Văn Vươn phạm tội dùng súng hoa cải tự chế và mìn tự tạo nhằm vào những người đến “cưỡng chế” đầm nuôi tôm và phá nhà mình. Kết quả “tội giết người” ấy chỉ làm bị thương không nặng một số kẻ hung hăng, chứ có giết ai đâu. Còn mấy bà nông dân, mẹ và vợ của Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý thấy mất của xót xa nghe chồng chuẩn bị mũ len chống đạn (!) bị quy vào tội “chống người thi hành công vụ”, nhưng công vụ là công vụ nào?

Thông tin về vụ xử Đoàn Văn Vươn và người thân ở Hải Phòng làm nhiều người nhức nhối và khó hiểu dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng ta, tại sao những người nông dân ấy lại bị xử án một cạch “bí mật” và oan khuất?

Luật sư Trần Đình Triển có bài tường thuật bước đầu cho biết, nói rằng: xử công khai nhưng không một người nào được quyền tự do đến  Hải Phòng “xem xử án”, vì mạng lưới an ninh siết rất chặt.

Nếu ta chính đáng, quang minh chính đại thì làm gì phải úp úp mở mở như vậy? Đó là chưa nói đến những mờ ám khuất tất từ khi điều tra lấy tài liệu từ “bị cáo”. Biết làm thế nào bây giờ, Hãy cứu lấy Đoàn Văn Vươn và gia đình của họ!

Tác giả gửi Quê Choa

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả)

 

(1)*Đoạn này đáng chú ý: Bác và đảng xúi nông dân nghèo, bần cố nông đi cướp ruộng đất của những người có chút ruộng đất. Xong xuôi đâu đó thì “Chỉ một năm sau, năm 1958, phát động nông dân đưa ruộng đất vào “tập thể hóa”…và kết quả cuối cùng là ruộng đất thuộc về đảng! Tiếp đó là đảng soạn thảo hiến pháp, lừa thêm một đợt nữa theo lối dùng chữ, theo hiến pháp: đất đai thuộc sở hữu toàn dân! Rồi đảng và bác cắt nghĩa: Sở hữu toàn dân có nghĩa là sở hữu của nhà nước; nhân dân chỉ có quyền sử dụng đất. Hàm ý rằng: nhà nước có quyền lấy đất đai của nông dân hay của bất cứ ai cũng được.

———

Ý kiến của đọc giả  danluan.org:

1.  tui nói thiệt (khách viếng thăm) gửi lúc 04:05, 04/04/2013 – mã số 83377

Tui nhỏ hơn bác Đoàn nhiều, có biết chút chút về cái vô lương tâm của CCRĐ qua phim “Chúng tôi muốn sống”.   [phim này có 11 tập, các bạn nhấp chuột vào link này để xem  view full playlist (11 videos)

Bây giờ đọc thêm chuyện bác kể, tui thiệt muốn sa nước mắt dù chuyện của bác và nhiều chuyện nữa của CCRĐ bất nhân khác đã được các chứng nhân khác kể.

Trời không có con mắt, cho nên chưa tận diệt bọn hèn với giặc ác với dân này. Tới giờ phút này, tháng tư 2013 rồi mà chuyện Đoàn văn Vươn vẫn còn xãy ra cho đất nước Việt Nam.

Nhớ hồi nhỏ coi phim Lê Quỳnh đóng hay quá mà cứ bán tín bán nghi, tại nhà tui thuộc dạng gia đình khốn nạn (cách mạng).

Ông ngoại tui theo vô đảng Lao Động năm 1945 tại Sàigòn. Hoạt động nội thành, bị lộ, bị Ngô đình Diệm bắt uýnh ổng gảy giò, giập phổi. Diệm cho về nhà chờ theo Các-Mác,1962. Ra khỏi tù, gia đình chạy thuốc tàn gia bại sản, ổng hổng chết, ổng tiếp tục dùng nhà làm căn cứ giao liên. Rồi ba má tui cũng bị tụi khốn nạn dụ, dì Ba tui củng bị tụi nó gạt, đóng tiền nuôi bọn khủng bố này. Bởi vậy anh em tuị tui thằng nào cũng nhiễm con “sán” này trong ruột.

Lớn hơn một chút, bắt đầu hiểu chuyện đời, ví lại nghe mấy bác Bắc di cư kể chuyện Cải Cách Ruộng đất của tụi khốn nạn này. Tui mới bớt nghi Việt Nam Cộng Hòa hợp với Mỹ làm phim tuyên truyền.

Mà nói thiệt, tụi tui được Mỹ Ngụy dạy dổ nên người chứ bác nghĩ coi! Ba tui dốt, má tui ở đợ, thì làm sao nuôi bầy con ăn học. Mấy thằng phá hoại nằm vủng đem cho tài liệu và vủ khí nhờ giấu dùm chớ tụi nó đâu có đưa tiền. Vậy mà gia đình tui lúc nào cũng “căm thù Mỹ Ngụy mới chết mẹ!

1975. phỏng giái. Nhờ cú “phỏng” nầy cả nhà tui hết bán tín bán nghi. Tui cũng đủ làm chứng cho cái xạo ke của quân Xạo Hết Chổ Nói này. Mà tui hổng hiểu tới giờ cũng còn mấy thằng ngu muốn chạy theo.

Sau 1975, tui chở ông ngoại chạy ba cái giấy chứng minh thương binh mới bắt đầu thấy “bộ mặt thú vật” của bọn phỏng giái miền Nam. Tui ví ông ngoại ngu thiệt, hỏng biết cán bộ (xin lỗi bác) Bắc Việt nó tham. Tuị TBXH (Thương Binh Xã Hội) muốn ăn hối lộ của ông già què Nam bộ. Cuối cùng, bên thua trận, hỏng phải một mình phe Việt Nam Cộng Hòa không đâu mà là cả dân tộc Việt Nam thua (trừ bọn đảng Ma-phia Việt).
Ông già, 30 tuổi Đảng, què, giập phổi, gần chết, nguyện trung thành với bác Hù, móc quần lót ra chi sáu tháng lương hưu “bôi trơn” cho thằng Chương, Phó phòng TBXH, qua thằng Hạnh thương binh, để cầm được cuốn sổ hưu.

Đồ chó. Lại xin lổi bác tại nhớ chuyện cũ tui phải chưởi cho đã tức. Ông già què suốt đời mê Bác Hù, chống Mỹ Ngụy, ngày “Khốn nạn thành công” phải hối lộ cho mấy thằng “xâm lược”. Đau thiệt.

(Hoàn cảnh) Đoàn văn Vươn, 2013, Hải Phòng và (ông ngoại) Lê văn Lâm bí danh Năm Lùn, 1975, Sài Gòn không khác nhau mấy, cùng làm dân nước CHXHCNVN.

“Oan khiên” con dân Việt bị trị bởi chính một nhóm người Việt vô đạo vô tâm, tự nhận họ có quyền sanh sát trên sanh mạng lương dân Việt Nam. Ai cho họ cái quyền đó? Hỏng phải tui, hỏng phải bác. Tui với bác và mấy chục triệu dân Việt đâu có bỏ phiếu bầu cho mấy tên vừa dốt vừa tham.

Hối hận của tui, nổi buồn của bác, cộng với hàng triệu thống khổ dân Việt không bao giờ dứt nếu đảng Cộng sản Việt Nam còn độc quyền dẫn dắt nước Việt tiến lên thiên đường mù.

Bác, tui, Nam Bắc Trung đã và đang thành công từng bước vượt thoát con đường cộng sản như trong phim “Tôi muốn sống”
Đổi mạng sống lấy tự do. Không có lối nào khác đồng bào của Đoàn văn Vươn ơi.

2.  Lê Văn Mọi (khách viếng thăm) gửi lúc 10:05, 04/04/2013 – mã số 83386

Hồi CCRĐ thì có phong traò “tố khổ”, nay thì tự nhiên nhân chuyện vụ án ông Vươn lại có người kể khổ. Chán quá, nhiều khi muốn quên đi chuyện đau lòng quá khứ mà không quên được. Chuyện cướp đất bây giờ cũng có nhiều nét CCRĐ trá hình, chỉ khác trước là chính quyền dựa vào người nghèo cướp đất của người giầu thì bây giờ chính quyền dựa vào người giầu cướp đát của người nghèo. Có lẽ đây là cuộc cách mạng thứ hai ở thế kỷ XXI?

Nay bàn sang chuỵện tòa án, nhiều người nhận xét rằng tòa án của ta có truyền thống không xử theo LUẬT, mà xử theo THUẬT, tức là xử theo thủ đoạn, rất lắt léo. Khi cái lý thuộc về tòa thì tòa truy đến cùng (nhiều khi tòa dựng ra lý để truy); nhưng khi tòa bị vặn, đuối lý thì tòa lắt léo lái sang chuyện khác hoặc cửa quyền không cho người ta phát biểu. Kiểu xử thế này thì bao giờ tòa cũng thắng.

Nhiều người cũng chép miệng nói rằng cứ đưa ra xét xử, để luật sư bào chữa, tranh tụng cho có về dân chủ, tuân theo pháp luật, chứ tòa có tuân theo pháp luật gì đâu, mọi quyết định đã có sẵn trong hậu trường rồi. Chỉ có lịch sử là ông quan tòa công minh nhất. Sau này lịch sử sẽ xử cho ông Vươn thành người anh hùng (tối thiểu là của nông dân).

Nay chỉ còn cách dựa vào ngôn luận làm áp lực, ngôn luận trong nước chưa đủ thì nhờ ngôn luận ngoài nước. Đi ăn cướp của người ta lại bắt người ta ngồi nhìn rồi trao tải sản cho kẻ cướp mới là tuân theo pháp luật hay sao? Đây là cái lý của thằng Tàu. Đảng ta học tập để áp dụng với dân mình. Cái “thắng lợi” này của Đảng liệu có đáng vinh danh không thì thử hỏi các ông Hùng Dũng Sang Trọng xem sao? Tòa án xử bất công biến người ngay thành tội phạm, biến kẻ cướp thành người có công thật ra chính là điều xỉ nhục cho nền pháp luật của ta, thế mà còn hô hào dân góp ý kiến vào Hiến pháp. Góp ý làm gì khi chính cơ quan pháp luật không làm theo luật mà chỉ làm theo THUẬT.

3. hanh dao (khách viếng thăm) gửi lúc 12:32, 04/04/2013 – mã số 83395

Nhắc chuyện xưa, tự hỏi sao con người có thể mê muội tới vậy. “Trí thức” thời ấy không có tầm, tâm, & can đảm để nhìn xa, để hiểu CS, để “cản” dân tộc lao vào con đường khổ lụy. Đúng hơn là có rất ít người, nên họ phải chịu cô lập, tù đày, tiêu diệt.

Thời thế đã đổi thay. Hôm nay, nhiều người, từ trí thức, tới nông dân, dù bị ngăn cản, thậm chí đánh đập, vẫn không khuất phục, công khai lên tiếng ủng hộ ĐVV, điều mà gần 60 năm trước, thậm chí những phiên tòa 10 năm trước đã không có.

nguồn: danluan.org

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►VỤ ĐOÀN VĂN VƯƠN, TÒA TUYÊN PHẠT anh Vươn: 5 năm tù giam…

Posted by hoangtran204 trên 04/04/2013

Đúng như Trần Hoàng đã nhận định trước (hôm 3-4) về bản án sẽ dành cho  Đoàn Văn Vươn và gia đình trong lời tựa dành cho bài.(  ►Những cái vỏ bọc mong manh trước “quả bom” họ Đoàn) . Hôm nay, tòa đã tuyên án anh Vươn bị phạt án tù 5 năm.

Hôm 5-4-2013,

Tin từ luật sư Trần Đình Triển

VỤ ĐOÀN VĂN VƯƠN, TÒA TUYÊN PHẠT:

Giữ nguyên tội danh giết người theo điểm d khoản 1 điều 93 Bộ Luật hình sự, đối với các anh: Vươn, Quý, Sịnh, Vệ;

Anh Vươn 5 năm tù, anh Quý 5 năm tù, anh Sịnh 3 năm 6 tháng tù, anh Vệ 2 năm tù giam.

Tội Chống người thi hành công vụ (điểm d,khoản 2, điều 257 Bộ Luật hình sự; xử phạt chị Báu (tức Hiền) 18 tháng tù cho hưởng án treo; chị Thương 15 tháng tù cho hưởng án treo.

Báo Người Lao Động đưa tin:

Đoàn Văn Vươn bị 5 năm tù giam

Thứ Sáu, 05/04/2013 14:56

(NLĐO) – Chiều nay, 5-4, TAND Hải Phòng đã tuyên phạt bị cáo Đoàn Văn Vươn 5 năm tù, Đoàn Văn Quý 5 năm tù…; Nguyễn Thị Thương nhẹ nhất với 15 tháng tù cho hưởng án treo. Các mức án này nằm trong mức án đề nghị trước đó của Viện kiểm sát.

Phiên tòa sơ thẩm của TAND TP Hải Phòng xét xử vụ án “Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại đầm tôm hộ gia đình ông Đoàn Văn Vươn hôm 5-1-2012 đã tuyên án với 6 bị cáo.

 Theo đó, các bị cáo Đoàn Văn Vươn (SN 1963) bị tuyên phạt 5 năm tù; Đoàn Văn Quý (1966): 5 năm tù; Đoàn Văn Sịnh (SN 1957): 3 năm 6 tháng tù; Đoàn Văn Vệ (SN 1974): 2 năm tù về tội “Giết người” theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 93 Bộ Luật Hình sự.

 2 bị cáo Phạm Thị Báu (tức Hiền, SN 1982, vợ Đoàn Văn Quý) bị 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng và Nguyễn Thị Thương (SN 1970, vợ Đoàn Văn Vươn) bị 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng về tội chống người thi hành công vụ quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 257 Bộ Luật Hình sự.

Các bị cáo không phải thực hiện trách nhiệm dân sự do bị hại không có yêu cầu.

Mức án mà toà tuyên với các bị cáo nhìn chung nằm trong mức án mà Viện KSND TP Hải Phòng đề nghị ngày 4-4. Riêng bị cáo Vệ bị toà tuyên phạt 2 năm tù giam trong khi Viện kiểm sát đề nghị 20 – 30 tháng tù cho hưởng án treo.
 
 
2 bà Nguyễn Thị Thương (phải) và Phạm Thị Báu (trái) rời toà sau khi tuyên án
 
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động ngay sau khi kết thúc phiên toà, 2 bà Thương và Báu cho biết đang suy nghĩ, chưa quyết định có kháng cáo hay không.
 

Trước đó 1 ngày, đại diện VKS giữ quyền công tố tại tòa đã đề nghị mức án đối với 6 bị cáo. Theo đó, các bị cáo Đoàn Văn Vươn bị đề nghị 5 – 6 năm tù; Đoàn Văn Quý: 4 năm 6 tháng –  5 năm tù; Đoàn Văn Sịnh: 3 năm 6 tháng – 4 năm tù; Đoàn Văn Vệ: 20-30 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Giết người”.

 

2 bị cáo Phạm Thị Báu bị 18 – 24 tháng treo và Nguyễn Thị Thương bị 15 – 18 tháng treo cho thử thách về tội chống người thi hành công vụ.

 

Người Lao động Online tiếp tục cập nhật…

Trọng Đức

————-

►Những cái vỏ bọc mong manh trước “quả bom” họ Đoàn

Năm ngoái, báo chí tường thuật vụ Đoàn Văn Vươn là: “Chính quyền sai toàn diện trong vụ Tiên Lãng”.

Trích:

“Ngày 10/2, sau cuộc họp với các bộ ngành, Thủ tướng kết luận, các quyết định thu hồi, cưỡng chế 19,3 ha đầm tôm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang (Tiên Lãng, Hải Phòng) đều trái luật và yêu cầu sớm khởi tố, điều tra cán bộ đã chỉ đạo phá nhà ông Vươn.”

Đó là bản tin năm ngoái. Nhưng nay qua 2 ngày xử án, các bài tường thuật của LS TRần Đình Triển cho thấy chắc chắn là bản án dành cho Đoàn Văn Vươn đã có sẵn. Đoàn Văn Vươn và các em của anh ta sẽ đi tù. Đảng CSVN với bản chất kiêu hãnh, hung bạo và khát máu, các đảng viên cao cấp sẽ không bao giờ công khai nhìn nhận những lỗi lầm, trừ trường hợp phải vuốt đuôi để thỏa hiệp. Một khi họ vượt qua được sự khó khăn, đảng CSVN sẽ phản công rất mạnh.  Tâm lý của họ là: một khi đảng chỉ đạo các đảng viên chấp hành làm chuyện gì, thì việc ấy không thể sai.  Cho nên Đoàn văn Vươn sẽ phải ở tù  cở 5-7 năm.

———

Trong mấy ngày qua trước khi có bản án, đa số các blog và mọi người đều hy vọng anh Đoàn Văn Vươn sẽ được trắng án, công lý sẽ được thực thi…Nhưng hôm nay, bản án 5 năm tù giam dành cho anh Vươn cho thấy: mọi người đã sai lầm khi đặt niềm hy vọng hảo huyền vào một chế độ độc đảng cai trị.

Bản án cho thấy: đại đa số những người  VN vẫn chưa hiểu chế độ cộng sản dù họ đang sống dưới sự cai trị của đảng gần 60 năm qua. 

——–

Trích từ blog của xuandienhannom.blogspot.com

Ngày hôm nay là ngày cuối cùng của phiên sơ thẩm. Là ngày Tuyên án.
Tôi không hy vọng gì vào tòa án của chế độ đã làm tôi mất trắng niềm tin.
Tôi cũng không dám so sánh với bản án Vụ Nọc Nạn cách đây 80 năm, bởi tôi đã quá tỏ tường.

Thư của TS Tô Văn Trường:
Dear All 
Tôi hỏi trực tiếp một vị quan chức lãnh đạo cấp cao ở Hải Phòng về vai trò của Anh Bá Thanh Trưởng ban nội chính TW, được trả lời vụ án này rất quan trọng, trực tiếp Bộ chính trị chỉ đạo xử lý.
Một đồng nghiệp đang làm việc ở Hải Phòng đã từng nhiều lần đến câu cá ở đầm của Anh Đoàn Văn Vươn nhận xét nguyên văn như sau :
“Đoàn Văn Vươn đúng là nhân vật kỳ tài của đất cảng. Chính quyền phá ủi ngôi nhà của Anh Vươn để phi tang các vết đạn. Nếu tôi bị dồn đến bước đường cùng như thế còn chống đối quyết liệt hơn không phải chỉ có súng hoa cải ” vv…
Tô Văn Trường 
 
Không phải là người theo đạo Công giáo, nhưng tôi chỉ dám hy vọng vào hồng ân của Thiên chúa nhiệm màu, cho hai người Vươn và Thương, và hai người Quý và Hiền về với nhau chiều nay, từ chiều nay…. Cả gia đình họ Đoàn về với nhau chiều nay, đúng như giấc mơ của Phương Bích: Một ngày thấy quê hương Tiên Lãng được chào đón những người con của họ Đoàn trở về, tiếp tục sự nghiệp xây dựng còn đang dang dở của họ…
Nếu không, chỉ có thể nói: TÀN ĐỘC! 
——————–

PHẢI TRẮNG ÁN CHO CÁC BỊ CÁO!

Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã đề nghị mức án dưới khung hình phạt theo cáo trạng, với mức án cho anh Đoàn Văn Vươn là từ 5 đến 6 năm tù…
Với VKS đây là một cách thỏa hiệp khả dĩ chấp nhận được: Mức án để các bị cáo không quá phẫn uất và dư luận không quá phản đối nên họ cân nhắc ở mức mà theo họ là thấp hơn so với mức theo luật định, tức bằng ½ mức thấp nhất theo luật định. Đấy là tính toán của họ.

Và họ làm thế để đánh lừa dư luận, rằng đã tuyên phạt ở mức nhẹ nhất có thể! Nhưng họ đã nhầm, kỳ thực ai cũng nhận ra cái ác kinh khủng của họ là chụp vào đầu anh em gia đình họ Vươn tội danh “giết người”, một tội danh hoàn toàn sai thực tế.Chúng tôi mong một kết quả như vụ án Nọc Nạn năm 1928: TRẮNG ÁN CHO CÁC BỊ CÁO.

Nhóm Sinh viên Luật tiếp tục ra lời kêu gọi:

LỜI KÊU GỌI CÔNG LÝ

Chúng ta, những người xướng lên bản Tuyên ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn, nhận thức rằng:
Phiên tòa xét xử Đoàn Văn Vươn trong 3 ngày qua đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc tố tụng cơ bản:
  • Vi phạm Điều 10, Bộ luật Tố tụng hình sự: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.”
  • Vi phạm Điều 18, Bộ luật Tố tụng hình sự: “Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định.”
  • Vi phạm Điều 218, Bộ luật Tố tụng hình sự: “Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến…
Chúng ta thực sự lo ngại bản án mà Tòa án Nhân dân TP. Hải Phòng sẽ tuyên vào ngày hôm nay, 5/4/2013.
Vì lẽ đó,
Chúng ta một lần nữa kêu gọi ông Phạm Đức Tuyên – Phó Chánh án Tòa án Nhân dân TP. Hải Phòng, chủ tọa phiên tòa, ông Trần Mạnh Hùng – Thẩm phán, các ông Bùi Đăng Dung và Nguyễn Thanh Bình – Kiểm sát viên giữ quyền công tố, cùng Hội thẩm nhân dân (bao gồm ông Hà Văn Nhiều, ông Nguyễn Chanh và bà Nguyễn Thị Vinh) hãy can đảm thực hiện đúng vai trò xét xử của mình, một cách độc lập và khách quan nhất, trong việc phân định đâu là Công lý. Các vị có thể làm được nếu có quyết tâm! Và nhờ đó tên tuổi của các vị sẽ được nhắc đến như một biểu tượng của Công lý vào ngày 5/4/2013 và cả mai sau.
Chúng ta cũng kêu gọi, Đại tá Đỗ Hữu Ca – Giám đốc Công An TP. Hải Phòng, sau khi phiên tòa sơ thẩm xét xử ông Đoàn Văn Vươn và thân nhân kết thúc, bằng chính lương tâm của mình, hãy suy ngẫm và tự phán xét rằng: “Với những gì mình đã làm, liệu mình có nên tiếp tục đảm nhiệm vị trí hiện nay hay không?”
Chúng ta cũng kêu gọi, chính quyền nhân dân các cấp có liên quan tới vụ án, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, hãy dũng cảm thừa nhận những sai trái của mình nếu có, và hãy nỗ lực hành xử sao cho đích thực là những công bộc của nhân dân.
Chúng ta cũng kêu gọi các nhóm người đang tạo dựng đặc quyền từ đất đai, hãy hoạt động trên nền tảng của sự lương thiện, đừng vì lợi ích cục bộ mà làm phân hóa xã hội, tạo nên những hệ lụy bất thường.
Chúng ta cũng không quên kêu gọi các luật sư, luật gia, các sinh viên luật hãy luôn là người gìn giữ cán cân Công lý, là ngọn cờ tiên phong, dấn thân vì nền Công lý đang còn chịu thử thách.
Và Chúng ta, những con người thuộc về lương tri và lẽ phải, một lần nữa kêu gọi Công lý trở về. Không chỉ cho gia đình Đoàn Văn Vươn, mà cho cả chính Chúng ta với một sự bảo đảm bằng an và thịnh vượng cho thế hệ tương lai.
Những người Việt Nam, dù đang ở bất kỳ nơi đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hãy tiếp tục tiếp sức cho bản Tuyên Ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn, dù biết ánh sáng Công lý cho Đoàn Văn Vươn có thể bị che mờ, nhưng Chúng ta ngày hôm nay, những người cùng ký tên vào bản Tuyên ngôn đã là những chiến hữu quyết tâm bảo vệ lẽ phải và và gìn giữ cho lương tri được ngời sáng!
Sài Gòn, 5/4/2013, 10hAM
Nhóm khởi xướng Tuyên ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn
Ký tên ủng hộ Công lý cho Đoàn Văn Vươn TẠI ĐÂY
Xem danh sách ký tên TẠI ĐÂY
—————
Những bài trong link dưới đây hóa ra lại hay, vì có các bằng chứng  cho mọi người hiểu rõ các đảng viên cao cấp nhất trong Bộ Chính Trị  là như thế nào.

ĐBQH NGUYỄN SINH HÙNG ĐÃ SAI NGƯỜI TRẢ LỜI THƯ CÔNG DÂN

Thư của ông Phan Trung Lý thay mặt ông Nguyễn Sinh Hùng

trả lời ông Nguyễn Văn Khải

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Những nô lệ khoát bộ áo của quan tòa đang xử anh Đoàn Văn Vươn chỉ là những xác chết biết đi…

Posted by hoangtran204 trên 04/04/2013

Bọn họ là những nô lệ mới của đảng, là những kẻ không có lý trí, không có lương tâm, và không phân biệt được sự phải trái. Vì là nô lệ, bọn họ chỉ biết tuân lệnh và làm theo sự sai bảo của ông chủ. Ông chủ của họ chính là các cán bộ cao cấp của đảng CSVN, là các ủy viên trung ương đảng, là các ủy viên bộ chính trị. Các ông chủ bảo họ cứ mặc áo quan tòa vào, ngồi vào ghế, và cứ làm theo lệnh đã giao. Bọn nô lệ mới này rất trung thành và tận tụy với chủ vì chúng biết sẽ được thưởng các chức vụ cao cấp hơn.  Phần thưởng của bọn nô lệ mới này là  đã từng được chủ của chúng cấp phát một căn nhà, lớn hay nhỏ tùy theo khả năng nịnh bợ. Ngoài ra, bọn nô lệ mới này còn nhận được các bổng lộc khác mà chủ của chúng đánh cắp được và chia lại cho chúng hưởng. Bọn nô lệ mới này rất trung thành, chỉ biết “còn đảng còn mình” vì nếu làm ngược lại là sẽ mất “sổ hưu”. (TH)

***Hôm nay, 5-4-2013, giá bán 1 lít xăng ở VN còn cao hơn giá 1 lít xăng ở Mỹ. Hiện nay, giá xăng của Mỹ tiếp tục giảm xuống. http://gasbuddy.com/GB_Price_List.aspx?cntry=USA và 4 lít xăng giá chừng 3,4 đô la; vào khoảng 85 xu/ 1 lít xăng; tính theo tiền VN là khoảng 18.000 đồng/ 1 lít. Ở VN thì giá 1 lít xăng là 24.580 đồng. Sự chênh lệch giá xăng giữa Mỹ và Việt Nam là 6580 đồng một lít.

Theo tờ Báo Mới, Hà Nội,  hồi năm 2008, mỗi ngày VN tiêu thụ 37,5 triệu lít xăng dầu. Tạm lấy số 37,5 triệu lít x 6580 đồng = 246 tỷ 750 triệu đồng. Đây chính là tiền lời mỗi ngày mà các công ty bán xăng dầu hưởng. (Việt Nam tiêu thụ 37,5 triệu lít xăng dầu mỗi ngày – nguồn www.baomoi.com)

Về những xác chết biết đi

 Nguyễn Đắc Kiên

dackien.wordpress.com

Tôi không thấy mức án VKS đưa ra là nhẹ, dù ông Quý đã vừa khóc vừa nói, mong tòa giữ nguyên mức án VKS đã đề nghị áp dụng cho anh trai – ông Vươn, 5-6 năm tù. Nhưng tôi cũng sẽ không nhìn vào mắt các vị quan tòa để tìm kiếm tia hy vọng mong manh cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, được xử trắng án.

Những người chịu trách nhiệm phán xử trong vụ án Nọc Nạn năm xưa là những con người tự do. Ngoài mệnh lệnh chính trị của chính quyền thực dân, họ còn phải chịu sự phán xét của tòa án, một tòa án cấp cao hơn, cấp tối cao trong mỗi con người, đó là tòa án lương tâm. Đây chính là khác biệt căn bản của họ với những người đang chịu trách nhiệm phán xử vụ án Tiên Lãng, những nô lệ khoác bộ áo quan tòa.

Khi người ta không được tự do trong hành xử của mình thì họ cũng thấy mình không phải chịu trách nhiệm với những phán quyết mà họ đưa ra. Tất nhiên khi đó họ cũng không phải đối mặt với tòa án lương tâm của chính họ. Giả sử nếu có lúc nào đó họ phải đối mặt thì họ cũng tìm ngay ra một kẻ để đổ lỗi, đó là cấp trên, là lãnh đạo, là hệ thống… Rồi họ tự kết luận, họ vô tội. Họ cũng chỉ là nạn nhân.

Điều tồi tệ hơn, trong xã hội Việt Nam ngày nay, những ông quan tòa của chúng ta không phải là những kẻ hiếm hoi, lạc loài, trái lại, họ dễ dàng tìm thấy những kẻ đồng lõa với mình ở khắp mọi nơi. Đó là ông bác sỹ, anh công an, chú nhà báo, ông bạn kỹ sư, cô hàng nước gần nhà, anh xe ôm đầu ngõ… họ tìm thấy một tình trạng nô lệ, một sự sự vô trách nhiệm, vô trách nhiệm như một lẽ tất yếu, nô lệ như một lẽ tất yếu, được phổ biến khắp nơi, len lỏi đến từng ngõ ngách của cuộc sống.

Trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt, nghệ sỹ Kim Chi nhận định rằng: “Nếu người ta thả bổng cho Đoàn Văn Vươn, cho gia đình anh ta, thì điều đó sẽ thu phục được lòng dân. Còn nếu mà lấy quyền, lấy luật rừng để mà trừng trị một người lương thiện như thế, thì nhất định là tức nước thì phải vỡ bờ thôi”.

Tôi có thể phần nào đồng ý với nghệ sỹ Kim Chi ở vế thứ nhất, còn ở vế thứ hai thì chắc chắn không. Dù kết quả vụ án Đoàn Văn Vươn thế nào thì cũng không dễ gì có chuyện “tức nước vỡ bờ” trong hoàn cảnh hiện nay. Đa số người dân chỉ “tức nước vỡ bờ” khi những quyền lợi thiết thân của họ bị xâm phạm, như đầm tôm với gia đình ông Vươn, còn ngược lại, sự cảm thông với hoàn cảnh bất hạnh, hay bất bình vì oan trái cùng lắm chỉ gây nên xót xa – căm hận ở trong lòng mà thôi. Một số ít sẽ tỏ thái độ, còn đa phần sẽ làm ngơ. Và cũng như các vị quan tòa trong vụ án Đoàn Văn Vươn, những người làm ngơ sẽ có đủ lý lẽ để biện hộ cho mình.

Đó chính là điều tồi tệ nhất mà một hệ thống toàn trị có thể tạo ra. Những lầm lỗi, thậm chí là tội ác về kinh tế dễ gây bất bình, phẫn nộ cho công luận, nhưng suy cho cùng nó lại là những tội lỗi để lại ít hậu quả và dễ khắc phục. Còn những tội ác làm phá hủy tận căn để lương tri con người thì khó nhận biết hơn, gây phẫn nộ ít hơn, lại khó cứu vãn và để lại hậu quả ghê gớm hơn gấp nhiều lần. Tình trạng nô lệ, sự vô trách nhiệm được gieo rắc phổ biến nơi con người trong các chế độ toàn trị là một trong những tội ác như thế. Nó như một thứ thuốc độc ma mãnh, từng lúc từng lúc len lỏi vào tận xương cốt mỗi con người phá hủy tận gốc dễ, căn để, bòn rút toàn bộ sức mạnh sáng tạo, động lực phát triển của xã hội.

Không có chuyện “tức nước vỡ bờ”, nhưng nếu vụ án Đoàn Văn Vươn kết thúc bằng một bản án khắc nghiệt, một sự hủy hoại trong mỗi con người, niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội chắc chắn sẽ gia tăng. Khi niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội bị xói mòn, con người sẽ bị đẩy sâu hơn vào các lợi ích thiết thân. Họ sẽ tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, gia đình mình, lợi ích riêng tư của mình và không ngần ngại nếu có thể, xâm phạm vào lợi ích người khác, lợi ích xã hội. Đồng thời cũng chính những con người này, họ cũng sẽ sẵn sàng kháng cự lại bằng “luật rừng” nếu có thể với mọi sự xâm hại đến lợi ích bản thân và gia đình họ.

Những người có trách nhiệm với đất nước cần nghĩ đến những hệ quả sâu xa này. Étienne Vacherot, triết gia, chính trị gia Pháp thế kỷ 19 đã viết: “Chế độ chuyên quyền là trường học tồi tệ nhất cho nền dân chủ”. Tôi đồng ý với nhận định này. Người ta hay lấy những cuộc biểu tình, những bất ổn chính trị ở Thái Lan để chỉ trích chế độ dân chủ. Nhưng tôi thì lại thấy rằng đó là những sự “tập dượt dân chủ” không tránh khỏi và tin rằng không lâu nữa, người Thái sẽ có một chế độ dân chủ đủ trưởng thành để đưa đất nước họ vào một quỹ đạo phát triển bền vững. Sau khi viết những lời trên trong cuốn La Démocratie, năm 1859, tức là 70 năm sau cách mạng Pháp 1789, Étienne Vacherot đã bị bắt vào tù, với mức án 1 năm (sau được giảm xuống còn 3 tháng). Rõ ràng người Pháp đã chẳng được cho không nền dân chủ tự do của họ có bây giờ.

Thật nực cười khi muốn đất nước có dân chủ tự do mà lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo gọi là “mất ổn định”. Với cá nhân mỗi con người, tôi không thấy những người lúc nào cũng chỉ chăm chăm một cuộc sống bình yên có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa trong cuộc đời của họ.

Xin hãy nghe lại lời Patrick Henry, lãnh tụ Cách mạng Mỹ, phát biểu ngày 23/3/1775: “Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”

Nguyễn Đắc Kiên

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Những cái vỏ bọc mong manh trước “quả bom” họ Đoàn

Posted by hoangtran204 trên 03/04/2013

Năm ngoái, báo chí tường thuật vụ Đoàn Văn Vươn là: “Chính quyền sai toàn diện trong vụ Tiên Lãng”.

Trích:

Ngày 10/2, sau cuộc họp với các bộ ngành, Thủ tướng kết luận, các quyết định thu hồi, cưỡng chế 19,3 ha đầm tôm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang (Tiên Lãng, Hải Phòng) đều trái luật và yêu cầu sớm khởi tố, điều tra cán bộ đã chỉ đạo phá nhà ông Vươn.”

Đó là bản tin năm ngoái. Nhưng nay qua 2 ngày xử án, các bài tường thuật của LS TRần Đình Triển cho thấy chắc chắn là bản án dành cho Đoàn Văn Vươn đã có sẵn. Đoàn Văn Vươn và các em của anh ta sẽ đi tù. Đảng CSVN với bản chất kiêu hãnh, hung bạo và khát máu, các đảng viên cao cấp sẽ không bao giờ công khai nhìn nhận những lỗi lầm, trừ trường hợp phải vuốt đuôi để thỏa hiệp. Một khi họ vượt qua được sự khó khăn, đảng CSVN sẽ phản công rất mạnh.  Tâm lý của họ là: một khi đảng chỉ đạo các đảng viên chấp hành làm chuyện gì, thì việc ấy không thể sai.  Cho nên Đoàn văn Vươn sẽ phải ở tù  cở 5-7 năm.

 

Những cái vỏ bọc mong manh trước

“quả bom” họ Đoàn

Hà Sĩ Phu

Tác giả gửi đến Dân Luận

Tiếng “bom” Đoàn Văn Vươn chỉ là tiếng trống kêu oan
(Tranh Mana Neyestani)

Ngày 2-4-2013, sau “cá tháng 4” một ngày, là một ngày sẽ đi vào lịch sử Việt Nam, ghi dấu cuộc chiến đấu “giáp lá cà” giữa SỰ THẬT và DỐI TRÁ. Đó là ngày xử án vụ Đoàn văn Vươn và gia đình về cái gọi là tội “giết người, chống người thi hành công vụ”! Nhưng tôi tin lịch sử sẽ đặt lại tên vụ án này, vụ án điển hình về“Quyền tự vệ của người dân trước nạn cướp ngày được thể chế hóa”.

Một gia đình nông dân ở Tiên Lãng – Hải Phòng được nhận giao đất đã đem hết tiền của, nhân lực, mồ hôi và máu để “chế ngự thiên nhiên”làm đê chắn sóng, biến khu đầm hoang, thành khu nuôi trông thủy sản, đang thời kỳ thu hoạch..thì có lệnh thu hồi.

Chủ nhân Đoàn Văn Vươn đã tin vào Công lý nên làm đơn khiếu kiện khắp nơi, nhưng luật pháp không đứng về phia người dân lao động thiệt thòi như anh mà ở phía kẻ có quyền, có tiền. Kết quả là ngày 05/01/2012, chính quyền địa phương đã huy động một lực lượng hùng hậu, gồm hơn 100 công an, dân phòng và cả bộ đội và chó nghiệp vụ để thi hành lệnh cưỡng chế, cưỡng đoạt công trình tạo dựng bằng mồ hôi và xương máu của gia đình, cướp đi nguồn sống của gia đình.

Bị dồn vào đường cụt, trong thế quẫn, gia đình đã chống trả kịch liệt để ngăn cản sự cướp đoạt nguồn sống, dùng mìn tự chế và đạn hoa cải bắn lại lực lượng cưỡng chế, khiến 4 công an và hai bộ đội bị thương. Đầu đuôi vụ án là như vậy.

Để tranh cãi thuần về mặt pháp lý, có thể xem Bản Cáo Trạng do Viện phó VKSND Hải Phòng ký ngày 04/01/2013, rồi đối chiếu với tham luận của các luật sư Hà Huy Sơn, Nguyễn Văn Đài, Lê Đức Tiết, Trần Quốc Thuận và tuyên bố của các sinh viên Luật sẽ thấy sự luận tội của nhà cầm quyền là bất công, không đủ cơ sở pháp lý, không đúng người đúng tội. Nhưng chẳng cần nói gì nhiều, chính người đứng đầu cơ quan hành pháp, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên họp ngày 10/02/2012 cũng đã kết luậnđã kết luận rằng chính quyền địa phương đã sai hoàn toàn trong vụ Tiên Lãng!

Nhà nước dùng bạo lực sai, dân chống lại sự sai chính là giúp cho Công lý, giúp cho Nhà nước khỏi đi sâu vào tội lỗi, một nhà nước có thiện tâm phải biết cảm ơn tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn mới phải lẽ!

Tôi đồng ý với nhà báo HuyDuc: tiếng “bom” Đoàn Văn Vươn chỉ là tiếng trống kêu oan, vì các quan của ta quá điếc nên phải “nổ um lên” để nghe cho thấu. Nếu “Bao Công” mà bắt giam luôn người đánh trống kêu oan, để trị tội vì làm mất giấc ngủ trưa thì Bao Công ấy so với“Bao…Cao su” là cùng một giuộc.

Trái lại phía công an Hải Phòng đã tổ chức đàn áp “tiếng trống kêu oan” của dân một cách đầy khoái cảm thú tính như “trận đánh phối hợp tuyệt vời, đáng viết thành sách! Chỗ này nếu TBT Nguyễn Phú Trọng dùng chữ suy thoái đạo đức thì tuyệt!

Tiếng nổ là do áp lực bên trong tăng mà cái vỏ cứng bên ngoài ép lại, chịu không nổi thì bung ra thành mìn, thành bom. Những vụ người dân buộc phải bán ruộng đất với giá “cướp không” xảy ra khắp nơi, dân tình oán thán kêu trời không thấu, nhưng tất cả cứ bị nén trong cái vỏ “pháp quyền XHCN do ĐCS lãnh đạo, do nhà nước của dân do dân và vì dân thực hiện” nên ruộng đất là tài sản đặc biệt phải là sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý!

Cái vỏ xem chừng rất “có lý có tình” dân cãi không lại. Nhưng thực tiễn đã phát ra tiếng nổ để bộc lộ bản chất của mối quan hệ: cướp ngày là quan, cướp có con dấu, có chủ trương, có nghị quyết, có tư tưởng, thậm chí có cả…một chủ nghĩa đứng đằng sau.

Tranh cãi với những cái đầu xơ cứng hoặc não trạng đã quyết làm tay sai cho giai cấp mới rủng rỉnh đô-la thì vô ích,(do đó, Đoàn Văn Vươn) đành tranh cãi bằng “bom” thôi chứ biết làm sao? Áp lực tới hạn thì phải nổ, cái vỏ không chứa nổi cái ruột, nói theo triết học thì nó là phạm trù mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức thôi.

Mâu thuẫn giữa dân với nhà nước trong sở hữu ruộng đất xảy ra đã nhiều, nhiều vụ rất căng, nhưng đến vụ Đoàn Văn Vươn mới nổ thành “bom” bởi mâu thuẫn được cô đọng thành điển hình cho những “mâu thuẫn cách mạng”.

Ở anh Vươn có chất nông dân, có chất công nhân, có chất trí thức, có chất quân đội, có chất anh hùng (nhà nước đã coi anh Vươn là anh hùng lấn biển, vươn lên từ nghèo đói). Ngần ấy thứ điển hình quý báu của cách mạng, mà bị “cách mạng” ép đến phải vỡ toang ra, thì mọi thứ vỏ bọc mong manh hào nhoáng như dân chủ, công nông, trọng người tài, phát triển bền vững, hóa rồng, hóa hổ…đều vỡ tung hết.

Về vụ Đoàn Văn Vươn, sau khi gọi thẳng đó là vụ “Cướp ngày”, “phản cách mạng đã rõ ràng”, cụ bà Lê Hiền Đức đã viết như sau: “Chừng nào ông Đoàn Văn Vươn và những người thân của ông còn phải nằm trong vòng lao lí, còn chưa được bồi hoàn các quyền lợi về vật chất, tinh thần đã bị xâm phạm thì chừng đó tôi còn nhìn chính quyền trung ương của Việt Nam chỉ như là sự PHÓNG TO của chính quyền huyện Tiên Lãng, chính quyền thành phố Hải Phòng mà thôi”.

Và hôm nay, với comment trên Anhbasam, KTS Trần Thanh Vân viết một câu gọn lỏn: Phiên tòa này sẽ dẫn đến một cuộc khởi nghĩa nông dân. Không thể khác được!. Xem như vậy thì gọi vụ án Đoàn Văn Vươn là một “quả bom” là còn nhẹ.

Quả bom này chất nổ nằm ở nông dân nhưng người có thể tháo vỏ, tháo kíp chính là nhà nước, mong lắm thay! Vụ này là sự nhắc nhở thiết thực đến nhu cầu sửa đổi Hiến Pháp hiện nay sao cho tháo gỡ một kíp nổ?

Những tiếng nói phản biện lâu nay thường xuất phát rôm rả từ các nhân sĩ-trí thức, nhưng trí thức kỳ thực chỉ là những người báo thức, là chất gây men. Nông dân mới đích là “quân chủ lực”, cách mạng chỉ được cái nói đúng! Chủ lực đã ra quân thì …trí thức chỉ biết đứng sau ủng hộ và cảm phục.

Tình hình đất nước lâu nay rất lạ, cứ nửa như thực nửa như mơ, như thật như đùa, như thật như giả, giữa chính và tà, mọi thứ đều mong manh, bảo là “bên miệng hố” cũng được mà bảo “chẳng có gì mới” cũng xong? Nhưng xin thưa: đùa gì thì đùa, không thể đùa với vận mệnh dân tộc.

Cuối lời, để thần kinh có chút xíu thư giãn, xin mượn mấy câu “thơ tình” như thật như đùa của Thái Hữu Tình, vịnh cảnh say thuốc lào nghiêng ngả, tặng hai người anh hùng Điếu Cày và Đoàn Văn Vươn, muốn hút Điếu Cày phải có thuốc lào Tiên Lãng:

SAY THUỐC LÀO 

Thuốc lào Tiên Lãng khói bay
Giữa mùa hoa cải, điếu cày gọi sang
Ba-zô-ka đã sẵn sàng (*)
Rít lên mồi lửa, Thiên đàng…cũng xiêu…!
 

Hà Sĩ Phu (3/4/3013)

________________________________________________

(*) Ba-zô-ka là tên một loại súng tự chế giống chiếc điếu cày, dân nghiện thuốc vẫn gọi điếu cày là ba-zô-ka.

Chính quyền sai toàn diện trong vụ Tiên Lãng

 

Chính quyền sai toàn diện trong vụ Tiên Lãng

Thứ sáu, 10/2/2012

Ngày 10/2, sau cuộc họp với các bộ ngành, Thủ tướng kết luận, các quyết định thu hồi, cưỡng chế 19,3 ha đầm tôm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang (Tiên Lãng, Hải Phòng) đều trái luật và yêu cầu sớm khởi tố, điều tra cán bộ đã chỉ đạo phá nhà ông Vươn.


>Hàng loạt lãnh đạo huyện Tiên Lãng bị kỷ luật
Toàn cảnh vụ Tiên Lãng trước cuộc họp của Thủ tướng

“Hai tuần nay, tôi thường xuyên đọc báo và thấy có khoảng 800 tin, bài về vụ Tiên Lãng. Thủ tướng cảm ơn báo chí đã đưa thông tin nhanh, đa chiều”, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam mở đầu buổi thông báo kết quả cuộc họp của Thủ tướng với các bộ ngành và TP Hải Phòng chiều 10/2.

* Clip: Bộ trưởng Vũ Đức Đam thông báo về vụ Tiên Lãng

Theo ông Đam, báo cáo của Hải Phòng hôm nay đã trả lời tập trung vào 3 vấn đề Thủ tướng đã đặt ra. Sau khi nghe ý kiến các bộ ngành, người đứng đầu Chính phủ kết luận, đây là vụ việc đáng tiếc, có vấn đề yếu kém của chính quyền huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang trong quản lý đất đai.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết luận vụ Tiên Lãng. Ảnh: Chinhphu.vn

Về quyết định giao đất cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, theo Thủ tướng, quyết định thứ nhất giao 21 ha đất là đúng, nhưng quyết định thứ hai giao thêm 19,3 ha (thời hạn 14 năm) là chưa đúng với quy định Luật đất đai.

Quyết định thu hồi đất của ông Vươn với lý do hết thời hạn sử dụng cũng trái luật. Luật đất đai quy định 5 trường hợp thu hồi đất, nhưng gia đình ông Vươn không nằm trong 5 trường hợp trên

Do quyết định thu hồi đất không đúng với quy định của pháp luật đất đai nên quyết định cưỡng chế thu hồi đất cũng không đúng pháp luật. Mặt khác, việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng cũng có nhiều sai phạm như không xác định ranh giới, kiểm kê tài sản…

“Thủ tướng kết luận, huyện Tiên Lãng huy động lực lượng quân đội của Ban chỉ huy quân sự huyện tham gia cưỡng chế là không đúng”, ông Đam nói.

Công tác tổ chức thực hiện cưỡng chế cũng có nhiều sai sót, gây thương vong cho lực lượng tham gia. Thủ tướng kết luận, việc phá nhà có sự chỉ đạo của một số lãnh đạo địa phương và yêu cầu khởi tố điều tra, xét xử nghiêm minh. “Khi xử lý các cán bộ đương nhiên sẽ có phần trách nhiệm bồi thường”, ông Đam nói

Trong thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu Hải Phòng chỉ đạo thu hồi các quyết định không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng về việc thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho ông Đoàn Văn Vươn; làm thủ tục cho ông Đoàn Văn Vươn sử dụng đất theo đúng quy định của Luật Đất đai; chỉ đạo TAND Hải Phòng và Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng nghiêm túc kiểm điểm việc xét xử đối với vụ việc này.

Bộ trưởng Vũ Đức Đam. Ảnh: Bá Đô.
Bộ trưởng Vũ Đức Đam. Ảnh: Bá Đô.

Hải Phòng phải chỉ đạo cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố, điều tra và sớm đưa ra xét xử nghiêm minh việc phá dỡ nhà của ông Đoàn Văn Vươn; đình chỉ công tác những cán bộ đã chỉ đạo phá nhà; khẩn trương đưa vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ” ra xét xử công khai, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo do các quyết định không đúng pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng.

Ở cấp thành phố, phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm vì Tiên Lãng đã báo cáo chủ trương thu hồi đất và được thành phố chấp thuận. Thành phố cũng phải kiểm điểm vì xử lý chậm, báo cáo Thủ tướng chưa đầy đủ. Thủ tướng yêu cầu Hải Phòng sớm báo cáo kết quả thực hiện từng việc.

Rút kinh nghiệm từ vụ Tiên Lãng, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các tỉnh thành phải thu hồi đất cũng như tổ chức cưỡng chế đúng pháp luật. Bộ Tư pháp phải nghiên cứu ban hành các quy định để kiểm soát các văn bản hành chính. Tòa án tối cao xem xét tái thẩm với các quyết định của Tòa án Hải Phòng và huyện Tiên Lãng.

Lãnh đạo Hải Phòng và các bộ, ngành tham gia buổi họp chiều 10/2. Ảnh:Chinhphu.vn
Toàn văn kết luận của Thủ tướng về vụ Tiên Lãng

Ngày 5/1/2012, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương, trong số này có người đứng đầu công an huyện Tiên Lãng. Một ngày sau, ngôi nhà của ông Vươn bị phá hủy.

Ngày 10/1, 4 bị can gồm: Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sịnh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại.

Tuy nhiên, từ vụ nổ súng chống đối, hàng loạt vấn đề được phơi bày. Nhiều chuyên gia lên tiếng quyết định giao và thu hồi đất của huyện Tiên Lãng là trái luật, việc sử dụng quân đội tham gia cưỡng chế và phá nhà ông Vươn là vi phạm pháp luật. Mặt trận tổ quốc, các bộ ngành lập tức vào cuộc. Thủ tướng yêu cầu Hải Phòng báo cáo, làm rõ đúng sai.

Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng và nhiều cán bộ đã bị đình chỉ chức vụ. Công an Hải Phòng đã khởi tố vụ án hủy hoại tài sản và triệu tập những người liên quan, trong đó Bí thư, Chủ tịch xã Vinh Quang.

Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã nghiêm túc kiểm điểm, nhận trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban bí thư, trước Đảng bộ và nhân dân thành phố.

Nhóm phóng viên

nguồn :

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/02/chinh-quyen-sai-toan-dien-trong-vu-tien-lang/

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►LS Trần Đình Triển tường thuật: Vụ án Đoàn Văn Vươn ngày xử thứ 2

Posted by hoangtran204 trên 03/04/2013

 

Vụ án Đoàn Văn Vươn ngày xử thứ 2

Luật sư Trần Đình Triển (tường thuật)

3-4-2013

Hôm nay, vẫn tiếp tục giai đoạn thẩm vấn, buổi sáng Tòa tiếp tục thẩm vấn với “cái gọi là người bị hại” và những người cũng có thể tạm gọi là “”người làm chứng”.

Nội dung cơ bản chưa cần xác định theo cáo trạng đúng hay sai về người bị hại và người làm chứng nhưng nóng lên tại phiên tòa chính là Hội đồng xét xử và Viện Kiểm sát hỏi theo hướng buộc tội hoặc mang tính chất để buộc tội.

Đến phần luật sư thẩm vấn thì đa số bị Chủ tọa phiên tòa dùng quyền uy để cắt hoặc dừng câu hỏi của luật sư; tạo nên không khí căng thẳng tại phiên tòa không đáng có.

Điều đáng bàn nhất lời khai của những người “ bị hại” và của nhân chứng là mâu thuẫn nhau, “ tát” vào miệng nhau tại phiên tòa với những nội dung chủ yếu là: Có trang bị vũ khí hay không? Có bắn trước hay bắn sau? Vết đạn trên tường, áo giáp, mũ bảo vệ,…Việc thi hành có đúng pháp luật hay không? Đi vào nhà người khác không được đồng tình của chủ nhà…khi kíp nổ là sự cảnh báo nhằm ngăn chặn sự cưỡng chế và xâm phạm vào nhà ở trái pháp luật của anh Đoàn Văn Qúy nhưng lực lượng cưỡng chế vẫn tiếp tục xông vào?…

Hội trường nóng lên khi luật sư Trần Đình Triển hỏi ông Lê Văn Mải ( nguyên Trưởng công an, thủ trưởng cơ quan điều tra huyện Tiên Lãng) thì ông Lê Văn Mải lấy lý do không đủ sức khỏe để trả lời và từ chối trả lời câu hỏi của luật sư Trần Đình Triển.

Trước tình cảnh đó, luật sư Triển đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) nếu ông Mải không trả lời luật sư thì luật sư có quyền đề nghị HĐXX xét hỏi ông Mải về những câu hỏi mà luật sư nêu ra để buộc ông Mải phải trả lời.

Sự căng thẳng giữa luật sư và Chủ tọa phiên tòa đã diễn ra: Chủ tọa thì cho rằng quyền của chủ tọa có quyền cắt hoặc dừng theo quyền của chủ tọa. LS Triển thì cho rằng: “ Chủ tọa có quyền nhưng phải trên cơ sở pháp luật được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết số 49 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp, đề nghị Hội đồng nếu ông Mải không đủ sức khỏe để trả lời luật sư thì tạm dừng phiên tòa, khi nào ông Mải đủ sức khỏe để trả lời thì tiếp tục xét hỏi ông Mải”.

Tình huống đó và cũng gần hết giờ làm việc buổi sáng nên Chủ tọa phiên tòa tuyên bố tạm dừng phiên tòa buổi sáng, buổi chiều nếu ông Mải có đủ sức khỏe thì LS Triển tiếp tục phỏng vấn.

Buổi chiều phiên tòa được khai mạc tiếp vào 14h.

LS Triển hỏi ông Mải: “ Với tư cách ông tham gia cấp Uỷ của Huyện, Trưởng công an kiêm TThủ trưởng cơ quan điều tra của công an huyện Tiên Lãng thì ông có biết quyết định hành chính của huyện Tiên Lãng đã bị khởi kiện và đã có bản án có hiệu lực của tòa án thì việc thi hành cưỡng chế đó thuộc thẩm quyền của Cơ quan Thi hành án, vậy mà cơ quan hành chính ( UBND Huyện) ra quyết định cưỡng chế là trái pháp luật, với tư cách cơ quan tham mưu ông có ý kiến gì về việc này?”.

Ông Mải trả lời: “ Việc đúng sai là do UBND Huyện, chúng tôi là cơ quan chấp hành nên ra lệnh thì chúng tôi làm”.

Nhiều câu hỏi khác của LS Triển đưa ra như: Nhà anh Qúy không thuộc diệnj cưỡng chế, không được phép của gia đình thì ai cho phép đoàn cưỡng chế xông vào nhà người ta ? Các vết đạn trên tường nhà anh Qúy do ai bắn? Tại sao khi kíp mìn nổ chưa gây hậu quả gì mà ông chỉ đạo tiếp tục xông vào nhà anh Qúy để hậu quả xảy ra vụ án này?,…

Ông Mải đều trả lời: Tôi không trả lời LS hoặc viện giải với những lý do khác không thể chấp nhận được. 

Buổi chiều chỉ tiến hành khoảng 30 phút chủ yếu dành cho LS Triển hỏi ông Mải. Sau đó, chủ tọa phiên tòa tuyên bố tạm dừng phiên tòa tại đây. Ngày mai 8h tòa tiếp tục làm việc.

►Phiên xử Đoàn Văn Vươn qua lời kể của LS Trần Đình Triển   (1)

Ngày xử án thứ 1

(2-4-2013)

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Vụ án Đoàn Văn Vươn qua góc nhìn của một thẩm phán ở Hoa Kỳ

Posted by hoangtran204 trên 02/04/2013

 

 Vụ án Đoàn Văn Vươn qua góc nhìn của một thẩm phán ở Hoa Kỳ

 2-4-2013

 

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

 
 
Tòa án Nhân dân Thành phố Hải Phòng, nơi sẽ diễn ra phiên tòa xét xử gia đình ông Đòan Văn Vươn dự tính bắt đầu từ ngày 02/4/2013 – Photo courtesy of phongchongthamnhung.vn 
 
Vụ án Đoàn Văn Vươn đang là đề tài nóng bỏng hiện nay khi ngày xử đang đến rất gần. Mặc Lâm tìm hiểu khía cạnh pháp lý vụ án qua cuộc phỏng vấn Thẩm Phán Phan Quang Tuệ, thẩm phán tòa di trú thuộc địa hạt – luật pháp – San Francisco để hiểu thêm căn cứ pháp lý của một cuộc điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đưa ra nhằm cáo buộc gia đình anh Đoàn Văn Vươn về tội giết người và chống người thi hành công vụ.

Thẩm phán tòa án di trú Phan Quang Tuệ, con trai  BS Phan Quang Đán

Thủ tục điều tra trái nguyên tắc
 

Mặc Lâm: Thưa Thẩm Phán, trên nguyên tắc có bao giờ một cơ quan hay một người đang bị điều tra lại được giao điều tra chính vụ án do mình có liên can vào như trường hợp của công an thành phố Hải Phòng được giao điều tra vụ án Đoàn Văn Vươn hay không?

 

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ: Nó có một nguyên tắc mình phải hiểu như thế này, về hình luật thì khoản về hình sự tố tụng tức là cái thủ tục phải qua phải được tôn trọng mà nếu không tôn trọng thì tất cả thủ tục điều tra dẫn chứng đều bị loại ra ngoài, coi như vô giá trị.

 

Bây giờ cơ quan anh đi thi hành quyết định cưỡng chế là ai? Là mấy ông thần trong thành phố Hải Phòng! Có ông giám đốc công an thành phố Hải Phòng, đại tá Đỗ Hữu Ca. Có ông Phó Chủ tịch nhân dân thành phố Hải Phòng Đỗ Trung Toại. Ông đại tá công an thì nói rằng cuộc cưỡng chế này có thể viết thành một cuốn sách được, tức là một cuộc hành quân đánh trận điệu nghệ lắm. Ông Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thì nói cái vụ phá nhà của ông Đoàn Văn Quý nó sai vì cái nhà đó nó không ở trong khu vực cưỡng chế.

 

Thứ hai nữa cả cuộc phá nhà đó là bất hợp pháp, mà ai nói là bất hợp pháp? là ông Thủ tướng nói! Thành thử chính ra ông Thủ tướng phải ra lệnh đình chỉ ngay cuộc điều tra. Ngưng chức ông công an đó. Ra lệnh ông ta không được di chuyển ra khỏi thành phố Hải Phòng, hoặc là trốn qua bên Tàu. Ngưng chức chủ tịch Ủy ban Nhân Dân Hải Phòng Nguyễn Trung Thoại và yêu cầu không được đi đâu hết. Đình chỉ và chuyển tất cả hồ sơ cuộc điều tra lên một cơ quan độc lập, tức là chỉ định một Ủy viên công tố độc lập cấp trung ương hay đâu đó.

 

Mặc Lâm: Ông Thẩm phán nhận xét gì trước những chứng cứ mà cơ quan điều tra giao lại cho Viện Kiểm sát để cáo buộc các nghi can trong vụ án này?

 

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ: Anh Mặc Lâm và quý vị nào đọc rõ trong chính cái bản cáo trạng chứa đầy những cái điểm mà mình nên đặt câu hỏi: Ủy ban giám định y khoa về các cái gọi là thương tích của những người trong tổ công tác số 3, cái vụ đó xảy ra vào ngày 5 tháng 1 năm 2012 nhưng giám định y khoa lại làm vào tháng 10 năm 2012 thử hỏi trong thời gian đó chứng cớ nó chạy đi đâu? Thành thử câu hỏi của anh Mặc Lâm tôi xin trả lời toàn bộ thủ tục điều tra đó trái với những nguyên tắc căn bản của luật lệ thủ tục điều tra vì vậy nó không có một giá trị gì hết.

 

Mặc Lâm: Về bản cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hải Phòng ông Thẩm Phán đánh giá ra sao, có phù hợp với tiêu chuẩn của một cáo trạng do pháp luật quy định hay không?

 

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ: Trong bản cáo trạng này có chia ra hai nhóm bị can, một nhóm là ông Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý và mấy người đàn ông nữa khởi tố về vi phạm điều 93, khoản (d) tội giết người. Thứ hai là hai người phụ nữ còn lại bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ.

 

Tôi nhìn bản cáo trạng và giở ra điều luật 93 (d) thì điều luật đó nói như thế này: Tội giết người: người nào giết người thuộc một trong các trường họp sau đây bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Tôi đọc suốt bản cáo trạng thì tôi thấy không có nạn nhân nào bị giết hết. Bản cáo trạng 13 trang có đề cập đến những người bị thương tích và họ liệt kê trong nhóm tổ công tác số 3, kể cả một bí thư huyện Tiên Lãng. Cái điểm quan trọng trong bản cáo trạng họ nói như thế này: những người đó bị thương nhưng đã được cứu cấp kịp thời có nghĩa là mấy người đó không chết. Khi nói về tội giết người thì phải có xác chết chứ? Ở đây không có người nào chết hết.

Về phía chính quyền, cơ quan theo chỗ tôi đọc thì có khoảng 100 người thuộc 25 tổ chức, không có người nào chết. Phía bên gia đình ông Đoàn Văn Vươn cũng không có ai chết. Thế thì nguyên tắc quy định của luật thì khi truy tố thì nó phải có yếu tố cấu thành tội phạm.

 

Mặc Lâm: Ông Thẩm phán có đề nghị gì cho các luật sư bên bị cáo trong trường hợp này?

 

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ: Tôi đề nghị mấy ông luật sư có thể nói rằng, thưa quý tòa bên chính phủ không thể chứng minh được, hoàn tất được trách nhiệm dẫn chứng của mình vì lý do họ đã buộc tội thân chủ của chúng tôi tội giết người nhưng không có người nào chết hết, thành thử không thể dẫn chứng được. Vụ án không thể tiếp diễn tức là không cần mở phiên tòa nữa. Nếu Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng còn biết đọc luật lệ hiện tại, tôi không nêu Hiến pháp hay một tổ chức nhân quyền nào, tôi chỉ dựa trên luật của chính thể cộng sản này, nếu họ tôn trọng luật của chính họ lập ra thì phải đình chỉ ngay phiên tòa. Viện Kiểm sát phải đình chỉ ngay, không phải tạm thời mà phải đình chỉ luôn.

 

Qui kết tội gì cho gia đình ông Vươn? 

 

 

Người thân trong gia đình ông Vươn vài ngày trước phiên tòa. Photo courtesy of blog nguyenxuandien

 

Mặc Lâm: Theo sự đánh giá của Thẩm phán như vậy thì bản cáo trạng này không thể sử dụng để kết tội gia đình Đoàn Văn Vươn, xin ông cho biết bước kế tiếp thì Tòa án Nhân dân Hải Phòng sẽ giải quyết như thế nào?

 

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ: Danh từ mà giới luật chúng tôi trước năm 1975 gọi cái bản cáo trạng đã bị “hà trì” từ căn bản. Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự có nói như thế này: sau khi đã nói về trách nhiệm dẫn chứng của cơ quan khởi tố, nói cách khác tức là trong trường hợp này ông Đoàn Văn Vươn và gia đình ông ấy không có trách nhiệm chứng minh họ vô tội. Trong Bộ luật tố tụng của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nếu như không có sự việc phạm tội, quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ quy định tại điều 89 nghĩa là không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm thì cơ quan có quyền khởi tố ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

 

Đây là điều quan trọng: nếu đã khởi tố thì phải hủy bỏ quyết định. Nó nói là “phải” nếu theo tiếng Anh là “shall” là “must” và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm biết rõ lý do.

 

Điều 91 nếu cơ quan khởi tố nhận thấy quyết định của mình không có căn cứ thì Viện Kiểm sát ra quyết đinh hủy bỏ quyết định khởi tố đó. Hủy bỏ điều đó thì chuyện gì xảy ra? Trong trường hợp này do họ đã đưa bản cáo trạng nên sẽ có mấy điều xảy ra theo quy định. Điều 55 người Thẩm phán xử án, trường hợp ở đây là Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng, phải áp dụng điều 155, Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại điều 89 hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án khi một trong những yếu tố quy định trong điều 89 của bộ luật này. Tôi nghĩ là không có yếu tố tội phạm.

 

Nguyên tắc là khi mình khởi tố thì Biện lý cuộc hay Viện Kiểm sát Nhân dân là cơ quan đứng truy tố có trách nhiệm dẫn chứng. Dẫn chứng trong một vụ giết người thì phải có ông Nguyễn Văn A hay ông Nguyễn Văn B gì đó bị chết. Bản cáo trạng là căn bản của văn kiện khởi tố, rõ ràng nói rằng khởi tố theo điều khoản 93 (d) có nghĩa là giết người thi hành công vụ, nhưng không có người nào chết hết thì sao gọi là giết người? Chính bản cáo trạng họ kể tên gần 10 người ra trong đó tổ công tác 3 có mấy người bị thương và đã được đưa đi cứu kịp thời.

 

Mặc Lâm: Ông Thẩm phán có cho rằng Tòa án không kết tội giết người với gia đình ông Vươn được vì không có ai bị giết nhưng Tòa có thể kết một bản án khác chẳng hạn như sử dụng vũ khí, chất nổ bất hợp pháp hay không?

 

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ: Tôi đọc đâu đó có một ông luật sư Việt Nam ổng nói nếu muốn khởi tố, truy tố thì có thể truy tố ông này về tội phòng vệ chính đáng quá mức. Nhưng không thể nói vì tôi truy tố cái này không được nếu không giết người thì mưu sát… không thể được, vì như vậy là vi phạm nguyên tắc Double Jeopardy (nguy cơ bị kết án hai lần) không phải một tội phạm mà ông cứ bác người ta ra, truy tố hết tội này rồi qua tội khác. Không phải truy tố tội ăn cắp không được quay qua truy tố tội dụ dỗ gái vị thành niên, phải trả tự do tức khắc.

 

Mặc Lâm: Xin được hỏi Thẩm phán một câu cuối, nhìn một cách tổng quan ông thấy vụ án này nói lên điều gì? Sự yếu kém của tư pháp, việc bao che của cán bộ địa phương hay điều gì khác thưa ông?

 

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ: Tôi đọc bản cáo trạng mà giật mình. Không biết làm sao người ta huy động cả trăm người, chiếm cái cơ sở làm việc mà chính chính phủ đã giao cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn khai thác từ năm 1993, bao nhiêu mồ hôi nước mắt đã đổ ra. Ổng đâu có làm điều gì trái luật đâu? Trong bản cáo trạng rất tức cười, họ nêu ông Vươn xây 5 cái hàng rào! Ổng muốn xây một chục hàng rào thì ổng có quyền xây chớ đâu có cái luật nào cấm người ta xây hàng rào? Rồi nói là ổng gài cái này gài cái kia! Trời đất! Mình gài chống người ăn trộm, khi ăn trộm vô thì người ăn trộm phạm tội chứ đâu phải mình phạm tội!

 

Chính quyền đóng vai trò ăn cướp lại đi khởi tố nạn nhân, cái người đã đóng góp cho quốc gia. Tôi thấy trong những người tham gia cưỡng chế có nhân vật là bí thư của Đảng Cộng sản. Từ đó mình nhìn vấn đề rộng lớn hơn là tất cả nằm ở chỗ khi Đảng nhảy vô qua Điều 4 Hiến pháp cho là mình lãnh đạo tiên phong, bao trùm mọi hoạt động của Đảng. Từ vụ này tôi thấy người Bí thư phải bị truy tố vì đã xâm phạm tài sản của dân dựa theo bộ luật hình sự. Và vì ông ấy là bí thư thành thử phải có cuộc điều tra Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính trị bộ phải xem họ có vi phạm các tội vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân chiếu theo chương 13 của Bộ hình luật họ có xâm phạm tội xâm phạm quyền sở hữu của dân chiếu theo chương 14.

 

Sự có mặt của ông Bí thư tại Tiên Lãng đặt ra câu hỏi về vai trò của Đảng Cộng sản trong đó như thế nào. Phải điều tra luôn cả bí thư Hải Phòng, Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam và toàn chính trị bộ để xem chính sách đất đai của họ đối với đất nước như thế nào.

 

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Phiên xử Đoàn Văn Vươn qua lời kể của LS Trần Đình Triển

Posted by hoangtran204 trên 02/04/2013

Phiên xử Đoàn Văn Vươn qua lời kể của LS Trần Đình Triển

 

Bị cáo với mắt tím bầm

Sáng nay phiên tòa khai mạc, đúng như dự đoán “Lực lượng công vụ nhiều hơn hàng nghìn lần người tham gia tố tụng. Không một người dân nào được tham gia phiên tòa, nếu không có giấy mời hoặc triệu tập của Tòa”. Lực lượng công an và dân phòng triển khai nhiều ngả đường,…dù lý do gì thì cũng đều không hay,bởi lẽ:

Một là: Nếu vì người dân ở nhiều nơi quá bức xúc muốn kéo về đây để phản đối phiên tòa,..thì mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân không được giải quyết, đây là mầm mống của hậu họa và thể hiện sự rơi vãi đâu đó mất niềm tin của dân với chính quyền.

Hai là: Sợ kẻ địch,kẻ xấu,.. lợi dụng thì cũng không chấp nhận được, vì nếu ta làm đúng-ta sợ gì ai? “kẻ địch là ai?ai là kẻ địch” thì nói rõ cho dân biết để phòng tránh! “thêm bạn,bớt thù”, tại sao để cho “kẻ địch ,kẻ xấu,…” nhiều thế?. Nếu họ nói đúng sự thật thì phải khen vì Đảng đã chỉ rõ “Phải nhìn thẳng vào sự thật…” kia mà! Nếu sợ hội chứng thông tin thì phải xử lý mấy “ông râu da trắng” nào đó ở nước ngoài đã phát minh ra Internet,…chứ đâu phải dân ta;”diệt cỏ phải diệt tận gốc” sao lại xử lý mấy người “ấm ớ” sử dụng?!

Các luật sư đến tòa được chăm sóc chu đáo: để xe từ xa đi bộ vào tòa gần nửa km, qua 1 phòng kiểm tra giấy tờ, sang phòng bên gửi điện thoại (mặc dù cả khu vực tòa đã bị phá sóng); tiếp đến 1 trạm kiểm tra giấy tờ, trạm cuối cùng là đưa cặp và người qua máy soi rồi mới được vào tòa;…

Nguyên tắc Hiến định: “Xét xử công khai”, mọi công dân đủ năng lực hành vi đều có quyền tham dự phiên tòa đang bị vô hiệu trên thực tế, “nói 1 đàng, làm 1 nẻo” thì dân tin sao?

Tòa tạm dừng buổi trưa, ra ngoài đường công cộng, tôi và 1 số luật sư đang đứng nói chuyện với chị Thương (vợ Anh Vươn) và chị Hiền (vợ anh Quý ), bỗng nhiên có 1 người măc thường phục đeo biển “Ban tổ chức” ra ngăn cản cuộc nói chuyện. Tôi bực mình quá, đành phải thốt lên: “Này Anh! Nên bỏ vào đầu 1 chút kiến thức; đây là quyền của chúng tôi; anh sai nhưng nếu tôi chống lại thì sẽ bị xử lý về chống người thi hành công vụ như vụ án này đây!” buồn quá!

Phần mở đầu phiên tòa: Luật sư Hùng (bào chữa cho anh Vươn) đề nghị thay đổi toàn bộ Hội đồng xét xử với lý do: thẩm quyền điều tra truy tố và xét xử thuộc thẩm quyền của Tòa án Quân sự. Hội đồng xét xử vào nghị án và ra quyết định bác đề nghị của luật sư Hùng với lý do đã được Tòa án Thành phố Hải Phòng và Tòa án nhân dân tối cao trả lời khiếu nại của luật sư Hùng và khẳng định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng xét xử.

Đa số các bị cáo đều tố cáo trong giai đoạn điều tra bị đánh đập, bức cung, mớm cung, dụ cung. Có nhiều trường hợp đưa giấy trắng ép bị cáo ký khống vào.

Cả Hội trường giật mình khi anh Đoàn Văn Vệ khai trong quá trình điều tra có một điều tra viên đưa điện thoại cho anh Vệ gọi về cho vợ, (vợ anh nói) đã đưa cho điều tra viên hai lần. Một lần 20 triệu và một lần 10 triệu. Điều tra viên hứa sẽ lo cho anh Vệ không có tội; nhưng sau đó không thấy kết quả vì vậy anh Vệ đề nghị thay đổi điều tra viên nhưng không được đáp ứng.

Facebook Trần Đình Triển

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Bên ngoài Phiên tòa xử án Đoàn Văn Vươn

Posted by hoangtran204 trên 01/04/2013

 

TRỰC TIẾP: PHIÊN TÒA XÉT XỬ ANH ĐOÀN VĂN VƯƠN TẠI HẢI PHÒNG

Xuất phát từ Văn Giang lúc 03h, xe chở bà con Văn Giang và Dương Nội về Hải Phòng theo dõi phiên tòa xét xử công khai những người họ Đoàn đã đến cửa ngõ thành phố lúc 05h40.

 
Tại TRẠM THU PHÍ QUÁN TOAN, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 20 km, công an TP đã chặn xe yêu cầu  bà con quay về nhà. Hiện bà con đang kịch liệt đấu tranh về việc làm sai trái, vô nguyên tắc này của công an Hải Phòng. 

Hiện có 7- 8 xe khách 45 chỗ của bà con cô bác các tỉnh về Hải Phòng đang bị chặn không cho “nhập cảnh Khu tự trị Hải Phòng”.

Bà con đang chuẩn bị đi bộ tuần hành kéo vào thành phố.

Khu vực Tòa án bị phong tỏa. 
7h – Toàn bộ khuôn viên quanh Tòa án Hải Phòng đã bị phong tỏa, cẩm ô-tô, xe máy qua lại, mặc dù khu vực này rất rộng, đường Lê Hồng Phong xe chạy 2 chiều dẫn đến sân bay Cát Bi. 
Các lực lượng an ninh, cảnh sát dày đặc…

Phong tỏa phía sau Tòa án:

Bãi giữ xe phía sau tòa án:
 

Tòa nhà Viện Kiểm sát, kề bên Tòa án:

Phóng viên Quốc tế bị ngăn cản tiếp cận tòa án:

Hiện đang PV Bác sĩ Phạm Hồng Sơn

Giáo sư Ngô Đức Thọ đã đến gần bên ngoài Tòa án:

Tại vị trí bị chặn xe ở trạm thu phí An Dương (Quán Toan – HP) giơ cao biểu ngữ đòi trả tự do cho gia đình Đoàn Văn Vươn:

08h00: Người dân bắt đầu biểu tình bên ngoài tòa án:

Lực lượng an ninh, quân đội dày đặc chặn tất cả các lối ngang ngõ tắt, đường lớn ngõ nhỏ dẫn đến và xung quanh tòa án:
Trong các quán nước: Hỏi chuyện một anh xe ôm, anh ấy bảo đây là vụ ăn cướp bị bắn.
Người dân nói: Chính quyền tỉnh nhà đã quá suy yếu. Họ sợ một người nông dân chính nghĩa. Chính việc ngăn cản cho thấy chính quyền không phải của dân và rất sợ sự chính nghĩa của nhân dân.
Hiện quanh tòa án có khoảng 40-50 người dân đến theo dõi phiên tòa để ủng hộ và đòi trả tự do cho gia đình họĐoàn. Trong khi đó, lực lượng an ninh có đến 400 – 500 người. Không một người dân nào có thể tiếp cận tòa án trong khoảng 50 m.

Trong lúc chụp ảnh, BS Phạm Hồng Sơn bị an ninh ngăn cản lôi đi. Mọi người cùng đấu tranh giữ lại rất quyết liệt.

RFA phỏng vấn GS Ngô Đức Thọ nhưng không thành, do bị phá sóng.  Mọi việc liên lạc đều rất khó khăn.

Dường như chính quyền Hải Phòng đều đã sẵn sàng đối phó với Dân. Xe cứu hỏa, xe cứu thương đã chực sẵn từ sớm.

Một nhà báo từ bên trong tòa ra cho biết trong tòa tắt điều hòa, không khí rất ngột ngạt và cực kỳ căng thẳng.

Cảnh sát được trang bị rất nhiều bình xịt hơi cay, nhưng đến lúc này 09h29 chưa thấy sử dụng.

 

 

Bà con Dương Nội – những người đang ở nhà giữ đất cũng đang biểu tình biểu dương tinh thần Anh hùng Đoàn Văn Vươn:

 

 

Phiên tòa hôm nay do Thẩm phán Phạm Đức Tuyên, Phó Chánh án TAND TP Hải Phòng làm chủ tọa. Sẽ có 12 luật sư tham gia bào chữa tại phiên tòa. Trong đó, 7 luật sư bào chữa theo đề nghị của bị cáo, 1 luật sư bào chữa cho bị hại và 4 luật sư chỉ định. Trong số này có 4 luật sư tham gia bào chữa cho Đoàn Văn Vươn gồm: Luật sư Nguyễn Việt Hùng, Hoàng Mạnh Hùng, Phùng Khắc Lợi (Công ty luât 1-5, Hải Phòng) và Luật sư Nguyễn Hà Luân ( Văn phòng luật sư Hưng Đạo Thăng Long, Hà Nội).

10h00: Sau khi một số người từ Hà Nội xuống diễn thuyết kêu gọi lực lượng công quyền và người dân thức tỉnh lương tâm, đồng thời phát áo  có in khẩu hiệu : “Không có đất chúng tôi sống làm sao?”; lực lượng an ninh đã bắt đi 06 người đưa lên xe, chở đi đâu không rõ. Những người bị bắt có Bùi Thị Minh Hằng, Chí Đức…

10h10: KHẨN CẤP – KHẨN CẤP: 
Công an bắt hết bà con họ hàng thân thích của anh Đoàn Văn Vươn đang ở bên ngoài tòa, cho lên xe đưa đi đâu không rõ.

KHẨN CẤP ĐỀ NGHỊ CÁC BLOGGER, CÁC HÃNG THÔNG TẤN QUỐC TẾ LOAN BÁO TIN NÀY BÁM SÁT MỌI DIỄN BIẾN TIẾP THEO….

10h17: Hàng rào an ninh dựng chốt được mở rộng, đẩy người dân ra xa khu vực tòa án thêm vài trăm mét. 

10h20: Tin cho biết Bùi Hằng, Chí Đức, Trương Dũng bị đưa về CA TP Hải Phòng. 
Xe chở các bà con của anh Đoàn Văn Vươn bị đưa về đâu chưa rõ.

tiếp tục cập nhật….  

http://xuandienhannom.blogspot.dk/2013/04/tin-khan-cap.html

http://xuandienhannom.blogspot.se/

http://danlambaovn.blogspot.se

 

 

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Khai thác Xăng dầu và khí đốt năm 2010, 2011, 2012 và kế hoạch năm 2013

Posted by hoangtran204 trên 01/04/2013

Giá xăng

Vào ngày 1-4-2013, theo website dưới đây, giá xăng của tiểu bang Tennesse  là 3,42 đô/ 1 gallon,  hay 3,42 đô/ 4 lít xăng, tức là 85 xu/ 1 lít xăng.   Tính theo tiền đồng là 18,000 đồng / 1 lít.

http://gasbuddy.com/GB_Price_List.aspx?cntry=USA

Trong khi đó, giá xăng ở VN là 24.580 đồng/ 1 lít  vào ngày 28-3-2013

Cùng thời gian trước vụ xử án Đoàn Văn Vươn và vụ Tàu Trung Cộng bắn cháy tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, giá xăng leo lên 24.580 đồng/ 1 lít. 

Vật giá sẽ leo thang trong vòng 1 hoặc 2 tuần sắp tới. 

———–

Đảng CSVN ăn trên ngồi trốc, cướp đi thành quả lao động của công nhân nông nhân bằng cách tăng gia xăng liên tục.

Tập đoàn Petrovietnam khai thác dầu hỏa và khí đốt ở  Biển Đông, chủ yếu là khu vực Côn Sơn, Vũng Tàu. Sau khi khai thác dầu thô, tàu dầu chở thẳng qua Nhật, Singapore bán và chia nhau hưởng. Cứ mỗi đầu năm vào khoảng 20 tháng 1 là Petrovietnam là làm nhiệm vụ tổng kết. 

Suốt hơn 20 năm (kể từ 1992) khai thác dầu khí ngoài  Côn Sơn (Vũng Tàu), mỗi ngày Petrovietnam khai thác được 370.000 – 430.000 thùng dầu thô, đảng chỉ đạo Tập Đoàn Petrovietnam (PVN) bán hết dầu thô cho Nhật, Trung quốc, và Singapore, giá 1 thùng dầu thô hiện nay trên 110 đô/ 1 thùng ( barrel). Ngoài ra, mỗi năm Petrovietnam còn bán ra 9 tỷ mét khối ga. Tiền đó ai hưởng? 

7 barrels of petroleum in a metric ton

Giá trung bình 1 thùng dầu thô từ 1960-2013

http://www.statista.com/statistics/810/opec-crude-oil-price-development-since-1960/

Người dân VN chưa từng được hưởng giá rẻ xăng dầu và khí đốt của một quốc gia sản suất dầu khí.  Trong khi có hơn 21 quốc gia khai thác dầu khí đều bán giá rẻ cho người dân của họ tiêu dùng. Điển hình người dân Venezuela mua  4 lít xăng = giá 5000 đồng VN. Còn dân VN mua 1 lít xăng giá hơn 1 đô la. 

—————————–

PVN tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2012

21-1-2013

http://www.tinmoi.vn/pvn-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-nam-2012-011185436.html

 PVN phải hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch chính gồm gia tăng trữ lượng 35-40 triệu tấn dầu quy đổi, khai thác 25,2 triệu tấn dầu quy đổi;

——————

PVN đã khai thác 25,2 triệu tấn dầu quy đổi trong năm 2012. Nếu PVN bán dầu và khí thì thu đươc lượng ngoại tệ như sau:

7 barrels of petroleum in a metric ton.

Cứ 7 thùng dầu thô là bằng 1 mét khối.

25,2 triệu tấn x 7 = 176,4 triệu thùng dầu đã được PVN khai thác trong năm 2012.

Qui đổi ra tiền là:

176,2 triệu thùng dầu x  109, 45 đô la/ 1 thùng dầu = 19.306.980.000 US dollars

Như vậy, năm 2012, PVN đã nộp nhà nước 9 tỷ, giữ lại 10 tỷ đô la.

reference:

http://www.onlineconversion.com/forum/forum_1058197476.htm

http://www.statista.com/statistics/810/opec-crude-oil-price-development-since-1960/

—————————–

Petrovietnam – Cổng thông tin Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

http://www.pvn.vn/?portal=news&page=detail&category_id=95&id=4580

PVN Tổng kết năm 2011. 

Ngày 19/1/ 2012, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2012, triển khai kế hoạch năm 2013. Đến dự hội nghị có Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, …

Những kỷ lục mới

Thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đã đọc báo cáo tổng kết năm 2012.

Năm qua, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với năm 2011.

Tổng doanh thu của toàn bộ các đơn vị trong Tập đoàn đạt 773,7 nghìn tỉ đồng, bằng 117,2% kế hoạch năm, tăng 14,6% so với năm 2011.

Nộp ngân sách Nhà nước đạt 187 nghìn tỉ đồng, bằng 138,8% kế hoạch năm, tăng 16,3% so với năm 2011, vượt 52,26 nghìn tỉ đồng (2,49 tỉ USD) so với kế hoạch năm.

Theo Tổng giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu, Tập đoàn đã đạt được một số kỷ lục như khai thác vượt kế hoạch 0,93 triệu tấn dầu; doanh thu lần đầu tiên trên 700 nghìn tỉ đồng và nộp ngân sách nhà nước trên 9 tỉ USD…

 

——————

PVN Tổng kết năm 2011. 

Năm 2011, Tập đoàn Dầu khí Việt nam đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng (34 tỷ đô la), bằng 135,1% kế hoạch năm, tăng 41,2% so với cùng kỳ năm 2010.

Trong đó, doanh thu dịch vụ dầu khí đạt trên 200 nghìn tỉ đồng, chiếm 30% tổng doanh thu toàn Tập đoàn. Tổng nộp ngân sách Nhà nước đạt 160,8 nghìn tỷ đồng, bằng 157% kế hoạch năm, tăng 25% so với năm 2010.

*Tổng sản lượng khai thác quy dầu năm 2011 đạt 23,79 triệu tấn, trong đó lượng dầu khai thác đạt 15,19 triệu tấn, sản lượng khí khai thác đạt 8,6 tỉ m3.

Ngoài khai thác dầu khí, sản lượng điện cung cấp cho lưới điện quốc gia trong năm 2011 đạt 13,35 tỉ kWh; lượng phân đạm sản xuất đạt 799 nghìn tấn; các sản phẩm lọc hóa dầu đạt khoảng 5,61 triệu tấn; sản lượng kinh doanh xăng dầu đạt 4,6 triệu tấn.

——-

http://www.pvc.vn/vn/Tin-tuc/tin-tap-doan/PVN-Hoan-thanh-chi-tieu-khai-thac-15-trieu-tan-dau-nam-2011.aspx

Kết thúc năm 2011, doanh thu của PVN đạt 672 nghìn tỉ đồng…

Theo tính toán sơ bộ thì tất cả các tổng công ty, tập đoàn nhà nước năm 2011 có doanh thu khoảng 1.160 nghìn tỉ.

Như vậy là doanh thu của PVN chiếm gần 60%.

Về nộp ngân sách Nhà nước, Tập đoàn cũng chiếm 70% trong số các tổng công ty, tập đoàn nhà nước, với 170 nghìn tỉ đồng (toàn bộ các tổng công ty, tập đoàn nhà nước là 229 nghìn tỉ đồng). Đây là con số cực kỳ có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang gặp khó khăn.

———

http://vietpress.vn/20120117082458343p0c33/petro-vietnam-van-khai-thac-dau-binh-thuong-tren-bien-dong.htm

Về kết quả sản xuất kinh doanh trong năm 2011, tổng doanh thu của toàn các đơn vị trong tập đoàn đạt 675,3 nghìn tỷ đồng, bằng 135% kế hoạch năm, tăng 41,2% so với năm 2010.

Trong đó thu từ bán dầu thô đạt 250 nghìn tỷ đồng, từ dịch vụ dầu khí đạt 200 nghìn tỷ đồng và sản xuất công nghiệp đạt 200 nghìn tỷ đồng.

Ngoài ra, tập đoàn đã nộp ngân sách 160,8 nghìn tỷ đồng; gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 35,3 triệu tấn thu hồi. Năm qua, tập đoàn này có 3 phát hiện dầu khí mới, đưa 5 mỏ mới vào khai thác trong đó có 3 mỏ trong nước và 2 mỏ tại nước ngoài.

—————–

http://ndhmoney.vn/web/guest/tai-chinh-ca-nhan/ngan-sach-gia-dinh/goc-nhin-thi-truong/view/-/journal_content/hanh-trinh-tang-giam-gia-nam-2012-cua-xang-gas-dien

Năm 2012 vừa qua, giá xăng đã thay đổi tổng cộng 12 lần, trong đó có 6 lần tăng và 6 lần giảm. Tổng mức xăng tăng giá là 6.050 đồng/ lit, trong khi chỉ giảm được 3.700 đồng/lit. Như vậy, tính tổng lại cả năm, giá xăng tăng 2.350 đồng/ lít. Dưới đây diễn biến giá xăng trong năm 2012.

Gas: tăng giảm giá liên tục

Gas đã thay đổi giá 16 lần trong năm 2012 trong đó có 9 lần tăng giá và 7 lần giảm giá. Mức tăng cao nhất là vào 1/8/2012 khi giá gas tăng trung bình từ 52.000 đến 55.000 đồng/bình 12 kg. Tính đến ngày 1/11 giá gas của Saigon Petro tới tay người tiêu dùng khu vực TPHCM là 441.000 đồng với loại bình 12kg.

————

Posted in Năng Lượng và Mỏ | 1 Comment »

►Trước ngày xét xử Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng

Posted by hoangtran204 trên 01/04/2013

Hải Phòng đêm trước phiên tòa xét xử gia đình anh Đoàn Văn Vươn

 

Theo blog Nguyễn Xuân Diện


Bản tin lúc 20h06′ ngày 01/04/2013, báo điện tử Đảng CSVN. Đã nghị án?

21h00 ngày 1.4.2013: Bên ngoài Tòa án Nhân dân Tp Hải Phòng – đường Lê Hồng Phong – Phường Đằng Lâm – Quận Hải An – TP HP. Ảnh: CTV gửi từ Tp Cảng.

 

Cách đây vài phút, công an đang đập cửa nhà cô Phạm Thanh Nghiên đòi kiểm tra hộ khẩu – tin được P.T. Nghiên loan trên FB.

Được biết, ngay từ những ngày 20 – 22. 3 các khách sạn, nhà nghỉ quanh khu vực Tòa án, đã được các lực lượng an ninh đến viếng thăm, gây áp lực đề nghị hợp tác nhằm kiểm soát lượng người từ các nơi đổ về dự phiên tòa.

Từ ngày 22, an ninh toàn thành phố đã được xiết chặt, các tụ điểm sinh hoạt công cộng bị hạn chế hơn so với ngày thường.

Tại Tiên Lãng, bộ máy chính quyền địa phương đã gặp gỡ người dân để khuyên không nên đến dự phiên tòa. Nhưng người dân Tiên Lãng nói sẽ thuê xe đến dự phiên tòa.

Dư luận cho rằng Vụ án Tiên Lãng là một vụ rất lớn vì nó liên quan đến: NÔNG DÂN – BIỂN ĐẢO – CÔNG GIÁO – TRÍ THỨC

NÔNG DÂN: Vì liên quan đến Luật Đất đai, đến Sở hữu, đến Cưỡng chế – Khiếu kiện. đến DÂN OAN

BIỂN ĐẢO: Vì nó quai đê lấn biển, mở mang bờ cõi. Riêng ở Cống Rộc, đoạn đê đó nhà nước chịu, mà Vươn làm được.

CÔNG GIÁO: Vì cả nhà anh Vươn là theo đạo Thiên chúa – cộng đồng có 8 triệu dân ở Việt Nam.

TRÍ THỨC: Vì ngay từ đầu giới trí thức, luật sư, nhân sĩ trong và ngoài nước đã vào cuộc: Viết bài, Lên tiếng, Thảo thư, Quyên góp, Bào chữa, Bênh vực, ra tuyên bố.

Tính chất của vụ việc giống với vụ Nọc Nạng, cách đây 80 năm nên sẽ là một tham chiếu, so sánh để thấy rõ sự minh bạch và thượng tôn pháp luật giữa hai chế độ. Đồng thời, vụ án cũng là thách thức lớn đối với Đảng bộ Hải Phòng nói riêng và TW Đảng CSVN nói chung khi mà Nghị quyết TW về chỉnh đốn đảng đã được dấy lên rầm rộ cách đây ít lâu.

Theo tin rò rỉ trong giới quan chức Hải Phòng từ cách đây khoảng 1 tuần, dự kiến nghị án (án bỏ túi) đối với anh Đoàn Văn Vươn là 07 năm tù, anh Đoàn Văn Quý là 03 năm rưỡi, ông Nguyễn Văn Khanh là 02 năm rưỡi.

 

Phiên tòa do Thẩm phán Phạm Đức Tuyên, Phó Chánh án TAND TP Hải Phòng làm chủ tọa.

 

Phiên tòa do Thẩm phán Phạm Đức Tuyên, Phó Chánh án TAND TP Hải Phòng làm chủ tọa. Sẽ có 12 luật sư tham gia bào chữa tại phiên tòa. Trong đó, 7 luật sư bào chữa theo đề nghị của bị cáo, 1 luật sư bào chữa cho bị hại và 4 luật sư chỉ định. Trong số này có 4 luật sư tham gia bào chữa cho Đoàn Văn Vươn gồm: Luật sư Nguyễn Việt Hùng, Hoàng Mạnh Hùng, Phùng Khắc Lợi (Công ty luât 1-5, Hải Phòng) và Luật sư Nguyễn Hà Luân (Văn phòng luật sư Hưng Đạo Thăng Long, Hà Nội).

ABS: Bản tin lúc 20h06′ ngày 01/04/2013, báo điện tử ĐCSVN: Ngày mai (2/4), xét xử vụ án Đoàn Văn Vươn và đồng phạm. Đã có án trước khi phiên tòa sơ thẩm bắt đầu: “Được biết, tiếp đó sáng 8/4, Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án ‘Hủy hoại tài sản công dân, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng’; dự kiến xét xử từ ngày 8-10/4. Phiên tòa (sẽ khai mạc sáng 8/4) do Thẩm phán Trần Thị Thu Hà, Chánh Tòa Hình sự – Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng làm chủ tọa. Tại phiên tòa sơ thẩm này, có 5 bị cáo bị đưa ra xét xử về các tội danh: Hủy hoại tài sản và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

LS Trần Đình Triển cho biết: Đến 10 h đêm nay, mới có 4 luật sư đến Hải Phòng :Tôi,ls Nguyễn Hồng Bách, ls Đinh Thị Hòa và ls Nguyễn Minh Long; bào chữa cho chị Thương và chị Hiền còn thiếu ls Vũ Văn Lợi . Hai ls (Nguyễn Việt Hùng và Phạm Xuân Nga) bào chữa cho anh Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh và Đoàn Văn Vệ đến giờ này chưa thấy liên lạc với chúng tôi và chúng tôi cũng không liên lạc được.

Bốn anh em chúng tôi ngồi trao đổi với nhau: Cáo trạng truy tố khoản 1-điều 93 BLHS có mức án cao nhất là tử hình thì buộc phải có luật sư bào chữa cho bị cáo. Trường hợp ls Hùng hoặc ls Nga hoặc cả 2 vắng mặt tại phiên Tòa ngày mai thì phiên Tòa phải bị hoãn. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng bố trí ls chỉ định bào chữa cho các bị cáo bị truy tố theo điều 93 thì cũng không hợp pháp, vì: các ls đó không có tên trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chưa đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án. Đồng thời vụ ”Chống người thi hành công vụ” mà cơ quan ra Quyết định và tổ chức thi hành “công vụ” là UBND huyện Tiên Lãng cũng không được xác định thành phần tham gia tố tụng.

Nếu vắng mặt ls Hùng, ls Nga, UBND huyện Tiên Lãng không được xác định thành phần tham gia tố tụng,… mà Tòa vẫn tiến hành xét xử thì đây sẽ là 1 sự kiện pháp lý gây bức xúc và tranh luận…

22h52: Trước tòa án có 1 xe phá sóng điện thoại và một vài công an đang đứng.

 

 

 

NƠI ĐANG GIAM GIỮ 4 NGƯỜI HỌ ĐOÀN.

Nhà tù Trần Phú, số 125 Nguyễn Đức Cảnh, Gần Chợ Sắt (Ảnh chụp lúc 21h30. Ảnh: N.C. Đ)

 

Đường bao Nguyễn Văn Linh hiện đang tắc cứng, xe containe xếp hàng dài từ cầu Niệm cho đến tòa án, kéo dài suốt đến cổng. Dọc đường có rất nhiều CA ngồi trên xe máy chốt chặn, trước cửa tòa án lúc 23h50 có 2 xe CSCĐ, 1 xe tải chở quân với khoảng 25 lính, xung quanh có từng nhóm nhỏ 2 lính canh gác,có 1 xe tải chở 1 máy phá sóng. Dọc đường Lạch Tray vẫn có CA chốt chặn tại các nút giao thông gặp rất nhiều xe con biển xanh 16 và 31 đi lại, ngã Tư Quán Mau có 1 chiếc xe 16 chỗ cắm cờ và băng rôn Hội CCB binh đoàn Trường Sơn nằm đỗ góc đường. Đường phố vắng tanh ít người đi lại hơn thường ngày.

Nguyễn Xuân Diện

1-4-2013

xuandienhannom.blogspot.dk

——–

Còn chờ gì nữa?

Đồng Phụng Việt

01-04-2013

H1

Mình vừa nhận được email của một bạn làm báo. Bạn cho biết, hệ thống truyền thông mới nhận được lệnh: (1) Phải bám theo… Thông tấn xã khi tường thuật vụ án Đoàn Văn Vươn. (2) Ngưng thông tin về vụ tàu đánh cá Việt Nam bị bắn cháy trên biển Đông. (3) Không bàn thêm về chuyện xăng tăng giá!

Đọc email, mình biết bạn uất. Ở xứ mình, báo chí là một trong những lĩnh vực thường xuyên bị Đảng dồn ép cả về tinh thần lẫn nghề nghiệp. Ngoài bạn, mình còn quen vài người cũng làm báo. Các bạn giống nhau: Khởi đầu, bên cạnh mong muốn kiếm đủ cơm ăn, áo mặc, do đặc điểm nghề nghiệp, còn nuôi hi vọng làm được những điều có ích cho đời, cho người. Theo thời gian, cơm áo có thể dư nhưng hi vọng làm được những điều có ích từ từ lụi tàn. Trăn trở giảm dần theo thâm niên. Bất bình thoáng qua rồi vụt tắt. Cam chịu trở thành thuộc tính. Cũng vì vậy, những cơ quan kiểu như Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin Truyền thông luôn luôn làm nhục các bạn.

Đến giờ, chính thực tế cho thấy, những “chỉ đạo” về chuyện nói và nín không chỉ vô hiệu hóa vai trò của toàn bộ hệ thống truyền thông mà còn là sự lăng mạ báo giới. Họ khinh các bạn nên mới dám đưa ra những “chỉ đạo”. Ngoài một vài quốc gia có thể chế chính trị giống như chúng ta, ở những xứ còn lại, chẳng “ông” nào, “bà” nào dám làm như vậy với báo giới.

Trong mắt công chúng, các bạn – “quyền lực thứ tư” – bị họ biến thành những kẻ vừa tồi, vừa vô tâm. Dẫu cho các bạn là một trong những nhóm hiểu rất rõ sự bất toàn của hệ thống chính trị và biết rất tường tận rằng, sự bất toàn đó đang khiến kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế bất ổn ra sao. Chẳng riêng nông dân, công nhân, người nghèo thành thị mà chính các bạn, cũng như thân nhân các bạn cùng phải gánh chịu hậu quả. Không có ngoại lệ!

Nhiều người trong số đồng bào của các bạn đang chứng mình, chia sẻ thông tin, nêu chính kiến là những quyền bất khả tước đoạt. Còn các bạn – những nhà báo? Lúc nào các bạn sẽ sử dụng những quyền đó vừa như một công dân, vừa để chu toàn chức trách nghề nghiệp của mình? Đứng về phía nhân dân, lên tiếng vì những lợi ích thật sự và lâu dài cho chính mình, cho cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè,… của mình  đi các bạn!

 01/04/2013

blog  Đồng Phụng Việt

—————————–

Những Quả Bom Đoàn Văn Vươn

Apri 1, 2013

 Osin-Huy Đức

Sẽ hiếm có phiên tòa nào được nhiều người quan sát như phiên tòa xét xử anh em nhà Đoàn Văn Vươn. Nếu vẫn cố thủ trong pháp chế XHCN thì áp dụng chuyên chính để trấn áp là chuyện không còn phải bàn. Nếu muốn gieo cấy những hạt giống pháp quyền thì mục tiêu của bản án phải là công lý.

Chỉ có tư duy trên nền tảng của sự mặc cảm và sợ hãi mới cho rằng nếu không trừng phạt anh Vươn là buông lơi chuyên chế, là sẽ có nhiều nông dân khác tiếp bước anh Vươn. Hành động của anh Đoàn Văn Vươn, trong sâu xa là một tiếng kêu oan chứ không phải là hành động của một người cùng quẫn. Đành rằng anh có tự “chuẩn bị vũ khí” nhưng trái bom mà anh tự chế không để gây sát thương, nó chỉ để tạo ra tiếng nổ.

Hành vi của anh Vươn có dấu hiệu chống người thi hành công vụ, bởi cho dù những người ấy thi hành một quyết định vô lương thì họ cũng làm việc đó nhân danh nhà nước. Hành vi của anh có dấu hiệu cố ý gây thương tích vì có làm bị thương nhẹ một số nhân viên. Nếu cố ý giết người chắc hẳn anh Vươn không dùng súng hoa cải bắn ở một tầm xa như vậy.

Những phát súng và quả bom Đoàn Văn Vươn chỉ như tiếng trống kêu oan gióng lên trước Tam Pháp ty. Nhờ nó mà chính quyền trung ương nhận ra sự lạm quyền của chính quyền địa phương, nhận ra những bất hợp lý trong Luật Đất đai. Theo khoản 4, điều 8 của Bộ Luật Hình sự, thì hành vi của anh em nhà anh Vươn chưa cấu thành tội phạm (Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác).

Không phải tự nhiên khi bất cứ ai lên tiếng trên các diễn đàn nhân dân đều mong muốn được thấy anh Vươn tự do. Đấy không chỉ là sự cảm thông cá nhân mà còn là cả một nỗi khát khao công lý.

Chính sách đất đai hiện nay đang dồn không biết bao nhiêu người dân vào hoàn cảnh Đoàn Văn Vươn. Công việc của vị thẩm phán xử anh Vươn cũng như một chiến sỹ công binh. Nếu bản án chỉ lo trấn áp thì sẽ dồn những Đoàn Văn Vươn khác vào bước đường cùng, sức công phá của những quả bom ấy sẽ khốc liệt chứ không chỉ gây tiếng nổ. Nếu bản án công bằng với anh Vươn thì những ngòi nổ trong hàng loạt quả bom Đoàn Văn Vươn khác cũng tự nhiên được tháo ra. Bởi những người nông dân mất đất ấy sẽ trì hoãn sự phản ứng của mình để chờ công lý.

Bản án là thông điệp của nhà nước trung ương tới chính quyền địa phương; là sự lựa chọn giữa người dân lương thiện và đám cường hào; là sự xác lập chuẩn mực công vụ: bảo vệ dân chúng hay nhân danh nhà nước để chà đạp lên dân chúng.

Phiên tòa chắc chắn sẽ không kết thúc ngay cả khi bản án đã có hiệu lực. Tên tuổi của Đoàn Văn Vươn rồi sẽ còn vang. Chuyến tàu đi vào lịch sử của anh đủ chỗ để các vị thẩm phán và cả người đứng đầu chế độ quá giang. Vấn đề là họ chọn chỗ đứng trên bia miệng hay ở trong lòng hậu thế.

blog  Osin-Huy Đức

—————————————-

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »