Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư, 2012

►Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2012

Lời tựa của Trần Hoàng: Không nên để cho lòng hận thù nung nấu, nhưng các sự thật của lịch sử cần được phô bày ra, để cho các thế hệ trẻ VN sẽ học hỏi, rút kinh nghiệm, thấy được những điều hay, biết cách xử thế, và không bao giờ lập lại lịch sử.

***

*Bắt nguồn từ những cuộc phỏng vấn thời còn làm cho Đài Á Châu Tự Do năm 1997 và do cảm phục thái độ can cường và tấm lòng của Dương Thu Hương đối với con người và đất nước Việt Nam, Đinh Quang Anh Thái đã xem nhà văn nữ này như một người chị tinh thần.

Trung tuần tháng Hai vừa qua, do lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Editeur, bà Dương Thu Hương đến Paris để ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn No man’s land, nay được dịch sang Pháp ngữ là Terre Des Oublis.

Khi được tin này, Đinh Quang Anh Thái đã lập tức sang Paris thăm bà Dương Thu Hương và được bà dành cho một loạt cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề tại quê nhà chúng ta. Bài thứ nhất đã được đăng trên Việt Tide số 241 và sau đây là bài thứ nhì. Những bài kế tiếp sẽ được tiếp tục đăng trên Việt Tide vào những tuần sắp tới, mời quý độc giả đón đọc.

Bài 1

Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Việt Tide: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” –, tâm tư của bà lúc đó như thế nào?

Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.

Việt Tide: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?

Dương Thu Hương: (cười khẩy) Đó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như nước trong (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình.

Việt Tide: Bà có thể nói rõ hơn?

Dương Thu Hương: Tôi chả coi đảng cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Đối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Đội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ được vào đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý luận Nghiệp vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường.

Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải cách Ruộng đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì đảng cộng sản.

Việt Tide: Theo chỗ tôi biết, bà lập gia đình trong giai đoạn chiến tranh và hai con của bà sinh ra ngay tại tiền tuyến; có đúng không ạ?

Dương Thu Hương: Vâng, đúng như vậy.

Việt Tide: Bà có thể cho biết hoàn cảnh sống của hai cháu tại tiền tuyến khi cuộc chiến bắt đầu vào thời điểm khốc liệt năm 1968?

Dương Thu Hương: Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục.

Một điều nữa, ngay trong chiến tranh, năm – bẩy trăm người chết nhưng không bao giờ tin tức được loan báo. Vì tất cả đều chấp nhận cái chết đương nhiên. Và không thể loan tin vì suy nghĩ lúc bấy giờ ta là dân tộc anh hùng chiến thắng tất cả mọi kẻ thù nên không thể cho biết sự tổn thất. Hai con tôi sinh ra trong hoàn cảnh như vậy. Khi chúng nằm ở trong hầm, dưới mặt ván vài gang là nước và rắn bò lóp ngóp. Đứa con gái của tôi khi vừa được ba tháng, rắn ngủ ở dưới đít của nó. Vì rắn tìm chỗ ấm mà! May mà sáng ra rắn tuồn xuống nước chứ không cắn con bé. Mà đấy là rắn độc. Cho nên mấy ông dân chài sống chung quanh bảo rằng con tôi được thần độ mạng. Tôi tin con người có số thật. Bởi vì sống dưới bom đạn, đói khát, rắn rết như vậy mà hai đứa con tôi, dù không được tươi da thắm thịt như con cái những người sống trong hoàn cảnh bình thường, nhưng chúng cũng không đến nỗi bị què quặt.

Việt Tide: Khi lớn lên, các cháu có bị ám ảnh bởi hồi ức lúc sống trong chiến tranh bom đạn không ạ?

Dương Thu Hương: Trong chiến tranh chúng nó còn rất nhỏ cho nên khi lớn lên ấn tượng về cuộc chiến cũng mờ nhạt. Nhưng khi chúng lớn lên thì chúng chịu một cuộc chiến tranh khác còn tàn khốc hơn cuộc chiến thời 1968: mẹ chúng nó làm giặc. Cho nên chúng nó bị nhiều thiệt thòi lắm.

Việt Tide: Thưa bà, các cháu bị thiệt thòi ra sao ạ?

Dương Thu Hương: Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép.

Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.

Việt Tide: Các cháu có chia sẻ lý tưởng của mẹ không?

Dương Thu Hương: Không! Đối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.

Việt Tide: Từ một người dấn thân “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”, bây giờ bà trở thành một người làm giặc ngay tại Hà Nội tại sao vậy, thưa bà?

Dương Thu Hương: Câu hỏi của ông vô cùng mâu thuẫn và vô cùng ngớ ngẩn. Tôi là người yêu nước khi tôi tham gia cuộc chiến tranh và đến tận bây giờ tôi vẫn là người yêu nước. Vì thế tôi mới làm giặc. Hai hành động đó (vào tiền tuyến năm 68 và bây giờ làm giặc) thống nhất với nhau.

Việt Tide: Tư tưởng “làm giặc” của bà nhen nhúm từ lúc nào?

Dương Thu Hương: Từ năm 1969. Lúc đó, nếu tôi còn chút ảo tưởng nào về chủ nghĩa cộng sản thì tôi đã trở thành đảng viên rồi. Họ mở rộng cánh cửa mời tôi vào đảng cơ mà. Nhưng vì tôi được dậy dỗ trong một gia đình lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cho nên tôi không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ. Đơn giản như vậy thôi.

Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?

Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ.

Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva. Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ. Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm ghiếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.

Việt Tide: Từ đó bà lao vào cuộc đấu tranh?

Dương Thu Hương: Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Đúng ra, ngã rẽ này đã bắt đầu từ năm 1969 khi lần đầu tiên tôi gặp những toán tù binh người miền Nam ở Quảng Bình. Lúc đó tôi làm công tác ở các binh trạm và những tù binh lần đầu tiên tôi gặp không phải là người Mỹ mà chính là người Việt Nam, cũng đầu đen mắt đen, cũng lùn và da vàng mũi tẹt như tôi, và nói tiếng Việt Nam như tôi. Cho nên tôi mới hồ nghi rằng tất cả những điều người ta nói đây là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược thì đó là láo toét.

Tuy nhiên vì lúc đó là chiến tranh và tất cả đều lao vào một guồng máy và bị cỗ xe khổng lồ nó cuốn đi. Cho đến năm 75, với thời gian (giọng ngậm ngùi, xúc động), tất cả mọi ngờ vực trong tôi đã chín muồi. Năm 75, tôi hiểu rằng đây là thời điểm quyết định và là ngã rẽ dứt khoát trong tư tưởng của mình.

Việt Tide: Nói chuyện với bà, tôi thường nghe bà nhắc đến hai chữ “số phận”. Bà tin số phận như thế nào và bà hiểu hai chữ số phận như thế nào?

Dương Thu Hương: (cười thoải mái)  Tôi tin số phận theo kiểu của tôi và hiểu số phận theo kiểu một người nhà quê chân đất mắt toét. Đại loại như vậy. Còn để diễn giải hai chữ số phận trong cuộc phỏng vấn ngắn ngủi này thì đó là điều bất khả.

Việt Tide: Xin bà cứ nói chi tiết.

Dương Thu Hương: (cười to) Tôi nói ví dụ, chúng ta không phải hoàn toàn là những kẻ bất lực, nhưng chúng ta cũng không hoàn toàn là những kẻ làm chủ được số phận của mình. Ví dụ như khi tôi ở trong tù năm 91, tôi nghĩ không bao giờ có ngày ra khỏi tù. Nhưng rồi tôi lại thoát nhờ sự can thiệp của những người mà tôi chưa bao giờ biết. Như vậy rõ ràng là có bàn tay của Chúa (nói  theo người Thiên Chúa Giáo) và có bàn tay của Giời Phật (nói theo người dân Việt Nam). Đấy là điều khiến tôi tin vào số phận.

Dương Thu Hương (Việt Tide Phỏng Vấn)

http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=categories&op=newindex&catid=47

http://www.vietthuc.org/author/duong-thu-huong/

Hình ảnh Miền Nam Việt Nam trước ngày 30-4-1975

>>> Xem Hình

*********************

Bài 2

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cập nhật lúc 30-04-2011 10:23:08 (GMT+1)

Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ (P) ăn trưa cùng ông Hồ Chí Minh (T) vào tháng 8/1959 tại Bắc Kinh.

Tháng 4 năm 1975, những người cộng sản tiến vào Sài Gòn “giải phóng miền Nam” kết thúc cuộc chiến giữa hai miền Bắc – Nam, kéo dài trong 21 năm.

Ba mươi sáu năm sau cuộc chiến này, dựa trên các tài liệu đã được giải mật thời gian gần đây, nhiều người nhận ra, cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” do những người Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật sự không phải vì Việt Nam.

Vì Liên Xô vào để truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản

Sau Đệ nhị Thế chiến, Joseph Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình bằng cách hỗ trợ nhiều quốc gia tiến hành cách mạng vô sản, sử dụng bạo lực để lật đổ các chính thể hiện hành, thiết lập các nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản.

Năm 1958, ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo chính quyền Cộng sản ở miền Bắc, Việt Nam, tuyên bố: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý, xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết cho phép các lực lượng Cộng sản miền Nam sử dụng bạo lực để lật đổ chính quyền miền Nam. Và rồi cuộc chiến Bắc – Nam đã được những người Cộng sản khơi mào bằng các phong trào kiểu như “Đồng khởi” ở Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam Bộ, sách động quần chúng đấu tranh vũ trang kết hợp với chính trị.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng, cuối năm 1960, Đảng Cộng sản cho ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một tổ chức chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản, hoạt động ở miền Nam với mục đích lật đổ chính quyền miền Nam, thống nhất Việt Nam, để biến Việt Nam thành một khối thống nhất, thành viên của cộng đồng các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn vừa kể, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Liên Xô liên tục qua lại thăm viếng nhau. Đến cuối năm 1960, hai bên bắt đầu ký nhiều thỏa thuận, trong đó, Liên Xô cam kết viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ miền Bắc, để giúp miền Bắc “giải phóng miền Nam”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1961, hai tuần trước khi ông Kennedy tuyên bố nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Nikita Khrushchev, Thủ tướng Liên Xô, tuyên bố, Liên Xô sẽ hỗ trợ “các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” trên toàn thế giới, trong đó có Cuba và Việt Nam. Khrushchev gọi đây là những cuộc chiến tranh “thần thánh”. Ông Ilya Gaiduk, nhà sử học người Nga, tiết lộ, trong kế hoạch của Moscow, Việt Nam trở thành một kênh chính để tạo ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
Ngày 31 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố, những diễn biến vừa kể là bằng chứng về tham vọng muốn thống trị thế giới của Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc.

“Tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”

Ngoài việc Liên Xô muốn vào truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản, những người Cộng sản Việt Nam cũng muốn biến đất nước trở thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, năm 1959, nêu rõ: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á. Đế quốc Mỹ chiếm cứ miền Nam, âm mưu xâm lược miền Bắc là để tấn công phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên, thắng lợi của cách mạng Việt Nam quan hệ trực tiếp đến phe xã hội chủ nghĩa, làm cho phe xã hội chủ nghĩa càng rộng lớn, vững mạnh”.

Ông Lê Duẩn chụp vào ngày 15/5/1975. AFP photo

Ngày 9 tháng 2 năm 1964, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô đưa tin, một đoàn đại biểu của Đảng Lao Động Việt Nam do ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất dẫn đầu, đã đến thăm Liên Xô. Theo đó: “Hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của phe XHCN và phong trào cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng Lao động Việt Nam, giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và các nguyên tắc của phong trào vô sản quốc tế”.

Kể từ đó, khối cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, đã gia tăng viện trợ quân sự, từ vũ khí, đạn dược, xe tăng, tên lửa, máy bay…cho đến các cố vấn quân sự, thậm chí cả binh lính, cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, để lật đổ chính quyền miền Nam, thực hiện cuộc cách mạng vô sản, biến Việt Nam thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Trong bài nói chuyện đăng trên báo Nhân Dân, ngày 20 tháng 7 năm 1965, ông Hồ Chí Minh đã cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc về sự giúp đỡ này, ông nói: “Tôi thay mặt đồng bào cả nước nhiệt liệt cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em khác, cảm ơn nhân dân tiến bộ khắp năm châu. Nhân dân Việt Nam quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng, giải phóng Tổ quốc của mình, chặn tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giữ vững tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN giúp đỡ lãnh đạo miền Bắc với mục đích truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam và rộng hơn là các nước Đông Nam Á, thế nhưng ông Hồ Chí Minh chỉ thấy sự giúp đỡ này là “vô tư”, “không vụ lợi”. Ông cho biết: “Các nước bạn giúp ta một cách khẳng khái, vô tư, như anh em giúp nhau, tuyệt đối không có chút gì vụ lợi. Các nước bạn chỉ mong chúng ta cố gắng làm cho nhân dân ta thắng lợi trong cuộc đấu tranh”. Và ông  ông Hồ Chí Minh cho biết, ông “luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”.

Tháng 2 năm 1966, khi đến Moscow tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 23, ông Lê Duẩn tuyên bố, ông có hai tổ quốc, đó là Tổ quốc Việt Nam và Tổ quốc Liên Xô. Ông Lê Duẩn cũng cám ơn Liên Xô về sự “viện trợ to lớn và nhiều mặt” cho chính phủ miền Bắc. Trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, ông Lê Duẩn cho biết: “Liên Xô giúp chúng tôi bằng trái tim của họ, và họ đã giúp chúng tôi nhiều hơn chúng tôi có thể sử dụng, và Trung Quốc cũng giúp đỡ chúng tôi”.

Sử gia Douglas Pike nhận xét về cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do miền Bắc khởi xướng như sau: “Bản chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi trên thực tế: từ một anh Việt Cộng chân đất với khẩu súng ngắn tự tạo, cho tới những lực lượng quân đội Cộng sản Việt Nam được trang bị những thứ vũ khí hiện đại nhất mà thế giới cộng sản có thể sản xuất”.

Cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng miền Nam”, ngoài mục đích Liên Xô muốn đưa Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, biến Việt Nam thành tiền đồn của phe Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Nam Á, những người Cộng sản Việt Nam đã “giải phóng miền Nam, là “giải phóng” cho ai? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Ngọc Trân

nguồn RFA

nguồn danchimviet.info

nguồnlethanhhoangdan

Bài 3

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Hàng năm, cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng 4, Đảng và Nhà nước Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày “giải phóng miền Nam”. Trong dịp này, những người “chiến thắng” luôn tự hào và hãnh diện vì đã đánh thắng đế quốc Mỹ, một cường quốc hùng mạnh nhất thế giới.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” mà những người Cộng sản Việt Nam đã tiến hành, ngoài mục đích xóa bỏ chế độ tư bản, kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Mác – Lênin, những người Cộng sản Việt Nam còn bị chi phối bởi mục đích nào khác?

Con cờ trong bàn cờ của Trung Quốc

Khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Dựa trên các tài liệu đã được giải mật, do kế hoạch của Mao Trạch Đông muốn bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á trong tương lai, nên lãnh đạo Trung Quốc không muốn cuộc chiến Việt Nam sớm kết thúc, mà muốn chiến tranh kéo dài để làm Việt Nam suy yếu.

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Và những người Cộng sản Việt Nam đã giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này. Trong số các tài liệu đã được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẩn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch…Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Ở một tài liệu khác, cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” – do Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành – tại trang 53, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người… Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”.

Những lời thú nhận

Tuy tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” là nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thể làm hài lòng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Vì sao?

Cùng là Cộng sản nhưng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc không thể “đoàn kết” với nhau, bởi bên nào cũng muốn tạo ảnh hưởng, chi phối khu vực Đông Dương và rộng hơn là khu vực Đông Nam Á.

Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhận thấy Việt Nam có vẻ muốn ngả hẳn về phía Liên Xô, năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tràn sang Việt Nam, nhằm “dạy cho Việt Nam một  bài học”. Đến lúc này, Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam – mới công bố những bí mật trong quan hệ Việt – Trung ở giai đoạn tiến hành “giải phóng miền Nam”, “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”.

Tại trang 5 của tác phẩm vừa dẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận: “Trên thế giới chưa có người lãnh đạo một nước nào mang danh là ‘cách mạng’, là ‘xã hội chủ nghĩa’ và dùng những lời lẽ rất ‘cách mạng’ để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc”.

Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc…Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

Cũng trong tác phẩm vừa dẫn, ở trang 100, Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết âm mưu của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam như sau:Họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để  đưa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên địa vị ‘siêu cường thứ ba’ và đổi chác việc giải quyết vấn đề Đài Loan”.

Mười một năm trước khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra và thú nhận những điều vừa kể, vào  tháng 3 năm 1968, khi phát biểu tại trường Đại học Kansas, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã tuyên bố, mục tiêu của cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật ra chỉ vì Trung Quốc muốn Mỹ sa lầy.

Ông Robert Kennedy nhận định: “Mao Trạch Đông và các đồng chí Trung Quốc của ông ta yên lặng ngồi nhìn: [Việt Nam] đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ xem chúng ta làm suy yếu một nước, là hàng rào vững chắc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam. Họ hy vọng sẽ buộc chúng ta chặt hơn trong cuộc chiến kéo dài ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Họ tự tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam ‘sẽ càng làm cho Mỹ sa lầy, hủy hoại tài nguyên, mất uy tín về sự kỳ vọng của các nước vào sức mạnh của Mỹ, chúng ta bị đồng minh xa lánh, xung đột với Liên Xô, và bất đồng gia tăng trong dân chúng Mỹ’. Như một nhà quan sát Mỹ đã nói: ‘chúng ta dường như đang bị chơi đúng kịch bản mà Mao đã viết ra’.”

Ba mươi sáu năm sau khi cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” kết thúc, Trung Quốc càng ngày càng hùng mạnh hơn và sự hùng mạnh đó đang gây trăn trở cho hàng triệu người Việt. Còn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự hào vì đã “giải phóng miền Nam”.

Ngọc Trân

Nguồn RFA

nguồn Vietinfo.eu

—————————————————————————————————

Sau khi chiếm được miền Nam vào ngày 30-4-1975, đảng cộng sản Việt Nam đã trả thù những người miền Nam bằng cách như thế này:

_Chỉ 1 tháng sau đó, họ bắt 400.000 quân nhân, công chức, của miền Nam vào ở tù từ 6 năm-17 năm. Tù ở đây là ở trong rừng sâu nước độc, bỏ đói, để những người này chết dần.

_Bắt ép gia đình của người miền Nam đi kinh tế mới để cướp nhà của họ. Trong khi những người cha, những người chồng bị bắt đi thì công an và chính quyền địa phương (cấp quận, huyện, tỉnh, trung ương) chiếm lấy nhà ở của những “ngụy quân ngụy quyền học tập cải tạo “, và đẩy 1 triệu gia đình của người miền Nam đi kinh tế mới, và cán bộ chính quyền đoạt lấy nhà cửa của các gia đình này để lại.

Kinh tế mới là các khu rừng nằm ở cách xa thành phố và thị xã, không có điện, không nước, không nhà ở; chỉ là một bãi đất trống chia lô, và gia đình tự che lều, che màn, tự lấy lá lợp làm nhà lấy.

_Con cái của các quân nhân, công chức miền nam đã và đang học tập cải tạo không được vào học đại học. Việc đối xử phân biệt này chỉ dần dần chấm dứt vào đầu những năm 1990. Đây không phải là sự chấm dứt vì tự nguyện mà vì vào thời gian này, con cái của cán bộ và đảng viên có được học bổng hay đi xuất khẩu lao động qua 16 nước XHCN từ 1984-1994, và bên cạnh đó, con cái cán bộ đảng viên cũng đã được xuất ngoại qua âu châu du học trong thời gian bắt đầu chung quanh thời điểm 1990.

 _Người miền Nam phải bắt buộc lòng vượt biển để tìm cái sống vì quá sợ cộng sản. Hơn 2 triệu người vượt biên đến được tự do, nhưng khoảng 500000- 1 triệu người đã bị chết vì chìm tàu, vì hải tặc và mất tích trên biển Đông, hoặc chết trong khi đi đường bộ vượt biên giới qua Kampuchea để đến Thái Lan.

_Quét sạch các đền, chùa, lăng, miếu, nhà thờ, chiếm 240 trường tiểu học, trung học, đại học của công giáo, chiếm hàng trăm chùa chiền và hàng trăm trường tiểu học, trung học, đại học của Giáo hội Phật giáo VN Thống Nhất, các trung học, đại học của Phật giáo Hòa Hảo và Phật giáo Cao Đài,  và hàng ngàn trường học của các tư nhân.

_Đốt hết các sách vở báo chí của miền Nam để tiêu hủy các dấu tích của nền văn hóa ở miền Nam 1976. Cấm hát và trình diễn tất cả các bản nhạc do nhạc sĩ miền Nam sáng tác trước 1975.

Chuyện  đốt sách báo của miền Nam VN (xảy ra vào năm 1975 và 1976)  do đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN chủ trương và thi hành được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam. Trong lịch sử nước Tàu, cũng có chuyện Tần Thủy Hoàng và Mao Trạch Đông đốt  sách.

_Kể từ sau 30-4-1975, khoảng trên 3 triệu cán bộ và đảng viên miền Bắc và người miền Bắc đổ xô vào 18 tỉnh miền nam, họ thực hiện việc cướp đất đai và chiếm nhà ở của dân chúng miền Nam.  (Tôi về Việt Nam đã nghe và Thấy gì ở Miền Nam Sau 37 năm Dưới Chế độ Cộng sản http://www.danchimviet.info/archives/63710)

Dưới đây là một chuyện trại học tập cải tạo vào năm 1975-1981.

MÃI MÃI … KHÔNG QUÊN

Những ngày gần đây, đài phát thanh Little Saigon mỗi sáng đều tường thuật chuyến đi về Biển Đông của đặc phái viên Đinh Quang Anh Thái trong đoàn đi thăm lại những ngôi mộ vô danh hay hữu danh của các thuyền nhân vuợt biển, những người từng mong muốn thoát khỏi một chế độ cực kỳ tàn ác, dã man Cộng Sản Việt Nam. Ra đi,  với ước mơ được sống một đời sống cho ra con người, họ chẳng may bỏ xác trên biển cả và được chôn tại các đảo xa xăm vùng Thái Lan, Mã Lai, Indonesia…

Giọng nói nghẹn ngào tức tưởi của đặc phái viên khi đứng trước các ngôi mộ cá nhân hay tập thể làm tôi nhớ lại những người bạn sỹ quan đã bỏ mình khi bị đưa đi ở tù tại các trại Cà Tót, Sông Mao…và cuốn phim về trại cải tạo như quay chậm lại tuy thời gian đã quá 32 năm nhưng vẫn còn in đậm nét trong ký ức tôi.

Sau khi Phan Thiết mất vào tay Cộng Sản, tôi cùng gia đình vào Saigon, rồi trôi giạt về Long Xuyên, vùng 4 chiến thuật. Tôi cứ đinh ninh rằng ở Long Xuyên sẽ được an toàn hơn vì chưa bị hao binh tổn tướng, còn ở Saigon thì sợ sự pháo kích bừa bãi của phía bên kia. Nhưng rồi khi nghe tin ông Dương văn Minh vừa mới nhậm chức Tổng Thống đó thì đã tuyên bố đầu hàng, tôi cảm thấy như trời đất sụp đổ: thôi thế là hết, chẳng còn hy vọng gì nữa!

Tôi cùng với vợ đi trình diện ở Long Xuyên được người của chế độ mới trả lời :  “ Ở đâu, thì về nơi đó mà trình diện”

Thế rồi, ngày 7 tháng 5 tôi cùng gia đình về lại PhanThiết.

Đường từ Saigon về Phan Thiết, lúc mới đầu cũng còn tạm được, nhưng khi đi được nửa đoạn đường thì có một cái cầu bị phá sập, và cả một dãy xe đò bị tắc nghẽn.Dân chúng ùn ùn trở về quê cũ. Một người mang một cái xách tay, gương mặt người nào cũng thất thần, buồn bả và xanh xao. Đến chỗ tắc nghẽn, mọi người phải   xuống đi bộ, lội qua con suối cạn, chờ đoàn xe từ từ bò xuống suối rồi  bò lên.

Trời đang mưa, tôi và vợ con phải tấp vào một trại làm than. Nhìn quanh quẩn không có hàng quán gì cả. Bỗng thấy một bà già đang nấu cơm và kho thịt, tôi có ý muốn mua một ít đồ ăn cho gia đình, bà đồng ý bán cho chúng tôi cơm, chút ít thịt kho với bều bều nước. Nhưng trời mưa lạnh và chúng tôi đang đói nên ngon ơi là ngon.

Lúc về đến Phan Thiết, những ngày đầu, tâm trạng tôi vô cùng hoang man, không biết phải làm gì. Rồi tôi đi trình diện Ủy ban quân quản, và tìm gặp một số bạn bè. Nếu có nói chuyện với ai ở ngoài đường, người nào cũng lo lắng nhìn quanh quất, xem có bị theo dõi không. Đường phố vắng tanh, nhà nhà đều đóng cửa. Thỉnh thoảng người ta mở cửa he hé một chút, đi ra một lát lại đóng lại. Phan Thiết như một thành phố chết. Nét mặt mọi người đều căng thẳng.

Tôi tự nghĩ về thân phận mình, như con cá nằm trên thớt, thôi thì cứ ra sao thì ra. Tôi tạm chuẩn bị một cái gì đó, tôi đến nhà một anh y tá cũ xin một ít thuốc Chloroquine và primaquine. Biết đâu rồi đây tôi bị đưa đi những vùng khỉ ho cò gáy, rừng thiên nước độc!  Anh ấy là một hạ sỹ quan rất thân tình. Anh đã dốc hết cả chai cho tôi. Tôi giữ cho mình 20 viên để phòng thân, gặp bạn bè, cho mỗi người 20 viên. Sau đó, tôi đến nhà anh Nguyễn văn Tư, nguyên Đại úy sỹ quan hành chính quân y, thấy thân sinh anh Tư đang làm dép râu, tôi đưa tặng anh Tư mấy viên thuốc Chloroquine và Primaquine. Ba anh Tư rất mừng và làm cho tôi một đôi dép râu bằng vỏ lốp xe Jeep.

Ngày 18/6/75 vì đang loay hoay tìm kế mưu sinh, tôi cùng với một người bạn, anh Cảnh đạp xe ra cây số 17. Anh này có người quen cho đất ở đây. Từ Phan Thiết đến đó hơn 17 km. Trời hơi mưa mưa. Đến nơi mới thấy đó chỉ là một miếng đất khô cằn, xung quanh không có sông suối. Nếu muốn trồng lúa, chỉ có gieo lúa khô, nhờ nước trời mà thôi.

Tôi chưa có dự tính gì cho những ngày sắp tới. Rồi khi về đến nhà, vợ tôi cho hay có lệnh ngày mai 19/6 tôi phải đi tập trung học tập cải tạo. Thât là oái ăm! Ngày 19/6 cũng là ngày quân lực VNCH, vậy mà tôi phải đi tù.

Tôi vội ra chợ mua một miếng vải nylon, về nhà may gấp thành cái võng để sau này khi cần đến thì dùng nó, máng giữa hai cành cây để nằm nghỉ.

Tối hôm đó, vợ tôi nấu cơm, tôi ăn hoài mà không  thấy no, vì cả ngày đạp xe gần 35 km.
Sáng hôm sau, tôi ra tập họp ở vườn bông, đem theo chừng 10kg gạo, ít cá khô, vài bộ quần áo. Ra đến nơi, gặp anh em Bình Thuận ở vùng xung quanh cũng vừa đến. Mặt mày ai nấy buồn xo, đưa tay chào nhau rồi nói nho nhỏ với nhau “ chẳng biết tương lai ra sao !”

Khoảng 10 giờ sáng,sau khi điểm danh, chúng tôi được lệnh lên những chiếc xe GMC. Đồ đạc mỗi người chẳng có bao nhiêu . Chiếc xe chở khoảng 40 người có hai bộ đội VC có súng ngồi đằng sau để canh.
Đoàn xe di chuyển về thị trân Phú Long . Nhưng khi gần đến đó, xe đổi hướng về một ngã rẽ trái theo đường liên tỉnh lộ nối Phú Long qua Thiện Giáo. Đường này chỉ dành cho xe bò đi mà thôi,nhưng có lẽ họ muốn đánh lạc hướng để vợ con sỹ quan đi trên xe không biết chỗ đến.

Lên đến Thiện Giáo đoàn xe tiếp tục chạy theo liên tỉnh lộ 8. Đường này ngày xưa nối Thiện Giáo với Di Linh, đã bị bỏ lâu rồi, cỏ lác mọc  lấn vô nhiều vô kể, nên xe chạy bị dằn xóc muốn lộn ruột. Độ vài chục cây số nữa thì xe chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng. Khoảng một giờ sau, được lệnh xuống đi bộ rồi lội qua một con suối cạn đến một vùng rừng hơi thấp trên một ngọn đồi nhỏ.

Trước khi vào trại, chúng tôi được lệnh tập họp trên một sân đất.

Trại là một số nhà bằng lá, nằm trên một ngọn đồi thấp, dưới những tán cây rất cao.
Lúc chúng tôi vào, bên phải có những nhà tranh có vách, bên trái là cụm nhà tù rào bằng tre trong một khu rừng rậm. Những dãy nhà dành cho sỹ quan tập trung có hình chữ E bị ngắt đoạn. Nói là nhà chứ thật ra chỉ có mái che còn bốn bề trống hoác.

Chúng tôi được lệnh ngồi xuống. Nhìn vào trong trại những sỹ quan ở tù, tôi thấy lố nhố một số người, đứng có, ngồi có, mặt mày ốm o và xanh xao. Bỗng tôi nhận ra có một người quen. Té ra là Thiếu tá Phạm Minh, Chỉ huy trưởng trung tâm yểm trợ tiếp vận Bình Thuận, đang đi ra chỗ để cối xay lúa, đứng ngó chúng tôi.

Họ bắt đầu lục xét “hành trang” của chúng tôi. Tất cả đồ ăn, thuốc men, đồ dùng họ tập trung lại và lấy hết. Do đó, tôi vội lấy số đường mang theo ( khoảng nửa kg) ngốn hết. Nhìn thấy ở hàng trên, họ đang tịch thu thuốc của anh em, tôi vội xé cái nón vải đang đội trên đầu ( tôi đội một nón vải, trên đó lại thêm một nón lá – sẽ có ích sau này) ở giữa hai lớp vải, tôi nhét vội vào những viên thuốc ngừa sôt rét mang theo.

Đây là lúc mấy cán bộ việt cộng tha hồ lấy của người làm của mình. Một cán bộ việt cộng lấy những cây viết của anh em, gài vào túi áo mình va khoe với bạn: “Viết đẹp quá, tụi mày muốn lấy không?” đến lượt tôi bị lục soát, đồ ăn, mùng, mền, võng… đều bị lấy hết. Đến đôi dép râu tên cán bộ việt cộng nói: “các anh làm sao mà có hân hạnh được mang đôi dép này rồi lấy luôn.” Riêng về cái mền, tôi nói: “ trời này lạnh quá, các anh lấy mền thì làm sao tôi sống nổi” sau đó nó trả lại.

Tiếp đến, tất cả được đưa vào trại. Đi ngang qua một dãy có hai thanh gỗ dài song song được khoét những lổ tròn để làm còng, đây là dấu tích trước đây- tôi nghe kể lại- nhưng sĩ quan sau khi bi bắt được đưa lên đây, tối nào củng bị còng. Khi Sài gòn chưa “giải phóng” tôi còn nghe chuyện về thiếu tá Phạm Minh khi bị còng đã nói: “yêu cầu được đối xữ theo quy chế Geneve” thì đám VC trả lời: “không có quy chế Giơ-Ne-Vơ ở đây, mà chỉ có luật của chúng tôi” và bị còng cả tay lẫn chân cho đến khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng mới mở còng.

Lúc gần tối, chúng tôi được cho ăn. Một toán tập hợp 10 người để nhận khẩu phần. Mỗi 10 người được đem ra hai thau: Một thau đựng cơm, một thau đựng nước muối. Thau vừa móp vừa dơ, trông còn tệ hơn cái thau cho chó ăn của những nhà nghèo ở Việt nam. Nước muối màu vàng vàng, đen đen, còn cơm thì ẩm móc và lẫn với sạn. Tôi phải đổ thêm nước vào để sàn bớt sạn ra. Chúng tôi chia nhau mỗi người hơn một chén cơm, nhai trệu trạo mà cũng ráng nuốt vô. Đó là khẩu phần hàng ngày của chúng tôi ở trại Cà Tót.

Đêm đầu tiên, gặp thiếu tá Vị, kéo tôi và đại úy Bùi Thanh Minh nằm hai bên cho vui. Ba anh em nói chuyện tiếu lâm đến khuya, vẫn còn cười khúc khích. Đám cán bộ VC đi canh nói to: “ Ngủ đi, bộ ở tù sướng lắm hay sao mà cười hoài!”

Dần dần, tôi chứng kiến người bị sốt rét quá nhiều. Hằng ngày, mặt họ xanh xao và run rẩy trong cái mền, dù trời đang nắng ấm. Ngoài hàng rào có một cái lều nhỏ hỏi ra, tôi đuợc biêt có một người sắp chết bị bỏ đó. Tôi vội lấy một viên thuốc sốt rét để phòng thân. Cả đêm tôi không dám ngủ, trùm mền kín sợ muỗi cắn truyền bệnh. Sáng hôm sau, mượn được cây kim, tôi bèn tháo sợi chỉ từ trong cái mền, rồi sếp đôi mền lại , may thành cái bao và đêm nào tôi cũng trãi xuống chun vô, sau đó chụp cái nón lá lên đầu. Ngủ trong bao đó thì yên tâm không lo bị muỗi cắn.

Một buổi tối tôi lấy nước, gặp anh On, là trung sỹ quân cảnh của Đoàn Liên Hiệp Kiểm soát Đình chiến hai phe ( Việt Cộng và Việt Nam cộng Hòa ). Tôi thắc mắc hỏi anh : “ Anh là trung sỹ , sao bị lên đây ?”( Tôi biết anh này từ hồi còn làm ở Quân y viện Đoàn mạnh Hoạch, anh thường xin thuốc cho con ), anh ta trả lời rằng khi khai lý lịch, họ viết sai trung sỹ ra trung úy và hiện đang làm đơn xin cứu xét lại truờng hợp của anh. Vì anh phụ trách “ anh nuôi “ , nên anh dẫn tôi về chỗ anh làm và cho tôi mấy miếng cơm cháy, sau đó cho thêm một tán đuờng. “ Bác sỹ ăn đi !”. Tôi nói cám ơn anh lắm nhưng vì tôi đã ăn hết số đường đem vào nên cho đến nay chưa thấy thèm ngọt. Anh cho tôi ba con cá khô nhỏ. Chiều đó, tôi cũng đem chia lại cho bạn, người một con. Tôi ngức cái mình ( và chừa cái đầu lại ) để chiều đó được ăn cá khô. Mấy ngày sau vào rừng, thấy một đọt măng , bèn xắn đêm về, mượn dao ( dao tự tạo chứ trại không cho dùng dao ), xắc măng nấu với đầu cá khô, cũng được một bữa ăn gọi là “ thịnh soạn “.

Công việc của tôi hàng ngày là : cắt tranh, đánh tranh, đốn tre để mở rộng trại tù. Có bữa tôi vác cuốc làm cỏ một vùng gần đó trồng rau cải, ớt, đu đủ….

Sau đó chúng tôi phải làm bảng lý lịch trích ngang. Mới đầu thì họ bắt khai sơ lược. Một thời gian sau họ bắt khai kỷ hơn, nên tôi phải tính toán khai làm sao cho trước sau như một. Bữa nọ, một cán bộ VC ngồi gần, nhìn thấy lý lịch của tôi thì nói : “ À, anh là Bác sỹ! Hồi đó, anh mà thấy chúng tôi bị thương, thì anh lấy máu truyền cho Mỹ chớ gì !”. Tôi cười đáp : “ Trước khi truyền cho ai thì máu đó phải được thử nghiệm để xem trong đó có vi trùng những bệnh nguy hiểm hay không chứ đâu phải dễ , cán bộ ở trên rừng  thường bị sốt rét , làm sao lấy máu truyền được!”.

Một cán bộ tên Loan, cấp bậc trung tá đỡ ngay, thấy cấp dưới đang đuối lý, bèn nạt ngay : “Thôi! Tiếp tục; làm đi, không nói nữa !”.

Trong thời gian bị giam ở đây, có một số người bị chết vì sốt rét. Tôi không biết nhiều hay ít nhưng có hai anh tên Long và Biên khiến tôi nhớ suốt đời, vì tên của hai anh nhắc nhở tôi nhớ đến cây cầu Long Biên ở Hà Nội.

Toán chúng tôi gồm cả thảy mười người đi chôn cất hai anh. Lúc đi chôn, một số ít đốn tre  chặt dây mây để bện lại. Một toán đào hố ở bìa rừng, toán kia chặt tre làm bảy miếng và lấy dây rừng bện lại thành cái vạc, sau đó lấy quần áo hai đàomặc lại cho họ, rồi lấy mền hay vải nylon cuộn họ lại. Số cây tre theo đúng tục lệ Việt Nam   “ nam thất, nữ cửu “. Các anh phải đủ bảy thanh tre, được cuộn lại, khiêng tới chổ đào hố.

Vùng đó, toàn cả sỏi và đá, chúng tôi không sao đào sâu được, cố gắng lắm cũng chỉ được 1 mét thôi, và hạ các anh xuống, lấp đất, vun lại. Và một anh vác rựa tới một cây gần đó, đẻo tên người nằm xuống ( vì không có tấm bảng để ghi tên ).  Anh trưởng toán lúc bấy giờ là Lê Khắc Hai ( tức nhà văn Hải Triều). Sau khi chôn xong, anh Lê Khắc Hai hô : “ Nghiêm! Chào tay! Chào!” Chúng tôi cũng hơi ngượng vì đang ở trong hoàn cảnh tù đày mà anh Hai còn giữ lối chào theo quân kỷ. Sau đó, anh Hai hô tiếp : “ Một phút mặc niệm bắt đầu !”Rồi “ Một phút …qua!”.

Nghĩ lại mà thương cảm cho mấy anh sỹ quan chết mà không có được tấm bia, không có được cái hòm, chỉ có bảy thanh tre, rồi sau này vợ con muốn tìm cũng không biết đâu mà tìm.
Một thời gian sau, tôi có dịp gặp lại viên cán bộ VC hồi tôi mới đến trại, đã xét đồ đạc của tôi. Tôi thấy mỗi khi anh ta bước đi, hai ống quần đánh vào nhau kêu rọt rẹt. Nhìn lại, té ra anh lấy tấm nylon của tôi ( trước kia tôi may võng ) ra may quần.

Hơn hai tháng sau, một buổi sang, những thiếu tá, trung tá được lệnh chuẩn bị đồ đạc để di chuyển. Tôi không nghĩ họ sắp bị đem đi thủ tiêu, vì không thể thủ tiêu nhiều người cùng một lượt. Về sau, tôi được biết họ được đưa vào trại Suối Máu.

Khoảng hai tháng rưởi sau đó, một buổi sáng, cấp bậc đại úy như chúng tôi được lệnh chuẩn bị đồ đạc để di chuyển. Họ dẫn chúng tôi đi theo đường rừng, từ trại đó trở ra, băng qua rừng, về lại theo con đường liên tỉnh. Trên đường đi tôi thấy những hố bom do B52 thả rất đều dọc theo tỉnh lộ. Đến tỉnh lộ 8, thấy xe đợi sẵn, chúng tôi lên xe, họ chở chúng tôi về hướng Bắc. Gần chiều, đến trại gia binh của Sông Mao.

Mỗi nhà trong khu này được giành cho khoảng 10 người. Sau đó, họ bắt chúng tôi đào một hố xí lớn gần ngay ngoài đường rồi bên trên gác ngang những cái cây để đi vệ sinh. Hố xí đó gần sát ngay hàng rào kẻm gai, tiếp đó là con đường bằng dất , đến nhà dân ở bên kia. Họ ra lệnh rằng những nhà vệ sinh trong trại gia binh phải đuợc lấp đi vì vừa ăn vừa ị trong nhà rất mất vệ sinh. Chúng tôi không lấp mà dung một cái lon  đặt xuống, lấy cát lấp lên trên để lỡ khi hữu sự vào ban đêm. Nếu lỡ đêm hôm phải đi ra ngoài, tay cầm đèn dầu, gặp khi gió thổi tắt, trên trạm canh có thể bắn mình chết lắm.

Đến đây, họ phát cho tôi hai chai : một chai dung dịch muối, quinine, có nút cao su, được bọc hai lớp nylon; một chai nữa là solucamphre, hai seringue, vài cây kim, một chai alcool, một ít gòn, một cái soong để nấu, để chích cho những người bị bệnh sốt rét. Mỗi lần chích, phải mở lớp nylon đầu tiên ra, lấy kim đâm xuyên lớp nylon thứ hai, xuyên qua nút cao su, rút thuốc rồi bọc lớp nylon đầu tiên lại.

Một buổi sáng, anh Đại úy Nguyễn văn Tư bệnh. Nghe có người báo, tôi qua phòng anh ấy thăm. Anh nói nhức đầu muốn ói, chóng mặt. Tôi khám thấy anh hơi sốt và cứng cổ. Tôi lục tiền bạc của anh ta và hỏi thăm anh em ai có thuốc thì dung tiền ấy mua lại và chích cho anh. Chiều đó, trong khi chờ đợi, tôi báo lên cho trại. Hôm đó , anh được đưa lên Bộ chỉ huy. Bẵng đi ba ngày sau, một sớm mai, họ kêu bốn người đi “làm việc”. Khi mấy người này về, tôi hỏi thì được biết các anh có lệnh đi đào huyệt. Rồi bốn người nữa được lệnh đi “làm việc’. Té ra, là họ đem anh Tư đi chôn. Tôi nhớ một điềm lạ : trước khi anh Tư chết, một đôi đũa từ phía cao trên bếp tự nhiên rớt xuống một chiếc gãy làm đôi. Có người về sau kể lại với tôi như vậy.

Sau một thời gian, hố xí vì dơ bẩn quá nên xông ra mùi hôi thối kinh khủng, đến nỗi người dân không dám đi qua con đường đó. Còn những nhà quanh đó thì đóng cửa im ỉm.

Một bữa kia, chúng tôi được điều động khoảng mười người, đi lên chỗ cách đó khoảng năm trăm mét, có lẽ là Bộ chỉ huy. Đi vào trong khu vườn , tôi thấy một villa hồi xưa có độ bốn phòng. Chúng tôi được lệnh đào một hố xí gần cổng ra vào. Nhận lệnh thì phải làm thôi!  Điều buồn cười sau này tôi mới biết là người Bắc không có hố xí tự hoại như ở miền Nam, nên khi thấy có hố xí sẵn trong nhà thì họ cho là dơ dáy , bắt lấp đi rồi làm một cái khác ở ngay ngoài cổng villa.

Đến trại này, khẩu phần ăn gồm có chút ít cơm với rau, sống cũng tạm cầm hơi qua ngày.

Một thời gian sau, chúng tôi được lệnh tháo những vỹ sắt ở phi trường dã chiến Sông Mao, nằm cách trại gia binh chừng hai km. Cứ bốn người phải khiêng cho được bốn tấm trong một ngày, để về làm thêm trại, hội trường, nhà ở; sau đó là hàng rào để rào lại cho kỷ cái trại tù giam chính mình! Một khi có vỹ sắt làm hàng rào, ở trong không nhìn thấy gì ở ngoài nữa.

Một hôm, trên đường đi làm về, chúng tôi nghe một tiếng nổ “Ầm” . Sau đó, nghe nói Thiếu úy Tân bị thương. Tân mới ra trường Sỹ quan Võ bị Đà Lạt. Anh ta trong một toán bị điều đi tháo dây kẻm gai để giăng quanh trại và đã bị mìn cắt đi một chân! Tôi mong ước đi thăm Tân, để xem có thể giúp được gì không trong khả năng của mình, nên một bữa kia, tôi nói với viên y tá VC xin gặp Tân. Anh ta dẫn tôi đi, biểu tôi phải đi sau lưng anh ta, giống như đang thi hành một công tác gì đó.

Khi đến gần chỗ Tân nằm, viên y tá chỉ tay vào và nói “ Nửa giờ sau thì về lại trại !”. Lúc tôi gặp Tân, thì chân đã bị cưa rời. Tôi nhìn anh trong nước mắt và hỏi : “ Em cần tôi giúp đỡ gì không ?”. Tân đáp “ Nhờ anh nhắn giùm gia đình em “. Ngay khi về tôi ghi ngay những thứ cần dùng trên tờ giấy nhỏ : thuốc trụ sinh, thuốc bổ, bông băng, những thứ cần dung cho vệ sinh vết thương, sữa…Trong một chuyến thăm nuôi sau đó, tôi nhờ chuyển thư cho gia đình Tân. Sau này, nghe nói cha mẹ Tân tốn nhiều tiền để mua đầy đủ thứ cần dùng cho con rồi chầu chực ở cổng từ sáng đến tối, năn nỉ lắm họ mới cho đem vô, ông bà mới chịu về.

Tiếp đến, chúng tôi học tập chính trị. Chương trình học là mười bài. Ngày học một nửa hay một phần ba bài. Cả tổ kiểm điểm rồi thu hoạch. Bài một : Đế quốc Mỹ kẻ thù của nhân dân. Bài hai : Ngụy quyền là tay sai, cũng là kẻ thù của nhân dân. Bài ba : Ngụy quân là công cụ của Đế quốc Mỹ cũng là kẻ thù của nhân dân ta. Mới học có ba bài thì anh Đại úy tổ trưởng nọ tiết lộ: anh là cháu ruột của Lê Duẩn, mẹ anh ta là chị của Lê Duẩn. Vì thế, sau 30/4/1975, Lê Duẩn phái một trực thăng vào Quảng Trị đón bà ấy ra Bắc, về sau cả gia đình don về Sài Gòn, có lẽ đã ở một villa nào đó do tiếp thu của chế độ cũ. Anh ta đưa một thư của Lê Duẩn gởi cho Ban chỉ huy trại và được thả ra.

Tổ chúng tôi được một số người nhà gởi cho hạt giống cải. Chúng tôi gieo hạt rồi bán cho những tổ khác, lấy tiền mua đường nấu chè cho anh em ăn.

Trong trại tôi có anh Lê Bá Trung, bác sỹ, một bữa tự lấy syringe chích một mũi vitamine C do anh mang theo rồi bị “sốc”. Cả trại có ba bác sỹ mà đành bó tay vì không có thuốc men gì cả. May quá, trong lúc hơi tỉnh lại, anh Trung nói trong xách tay của anh còn một chai Solucortef, tôi bèn lấy ra chích cho anh, anh mới qua khỏi. Tôi hỏi anh sao không uống mà chích chi vậy, anh nói:” nghĩ là chích có tác dụng nhiều hơn, mà không ngờ…”

Một buổi sáng, tôi nghe tin có mấy người trong trại vừa ngủ dậy không đứng lên được nữa. Tôi biết đó là triệu chứng của thiếu B1. Tôi hỏi thăm các anh em ai có mang theo thì mua lại cho mấy anh bị bệnh đó uống từ 0.5g đến 1g, hai ngày sau thì họ đi được ( còn nếu uống theo thuốc VC chế thứ 5mg thì phải uống cả 100 viên mới đủ!)

Trong đám tù cải tạo, một anh tên Vận, người Bắc gốc Lâm Đồng, có người em đi bộ đội miền Bắc. Hôm nhận thư nhà, anh ta đưa cho chúng tôi xem một tấm hình đặc biệt : Anh bộ đội đứng bên một chiếc xe đạp, vai mang một radio, cánh tay để vắt ngang qua, nghiêng về phía trước cho người ta thấy cái đồng hồ. Anh Vận giải thích : nó có đủ ba Đ rồi đó. Tôi hỏi nghĩa là sao ?Anh nói :” Đó là Đổng, Đài, Đạp, tức là đồng hồ, radio và xe đạp, ba cái này là tiêu chuẩn hạng nhất ở miền Bắc !”.

Đám cán bộ biết rằng những người tù cải tạo đều là những người có học vấn cao, cho nên họ ưa “ nổ “ với chúng tôi để chứng tỏ mình cũng có trình độ như ai. Một bữa đang học chính trị, họ nói : “ Cái mi-cà rô đâu rồi ?” anh em ngạc nhiên. Sau mới biết họ muốn nói cái micro.

Một bữa khác, trong lúc họ “ dạy “, họ nói : “Trên này không có la-phan”. Thiệt ra, họ muốn dùng chữ plafond. Không biết nghe ai nói về đời sống ở Mỹ, họ cũng “nổ” khi giảng bài : “ Các anh yên tâm đi về sau khi đi làm về, sẽ có đồ ăn dọn sẵn. Mình muốn ăn món gì, cứ tự đi lấy về ngồi vào bàn ăn ( giống nhà ăn quân đội Mỹ ). Còn các bà ở ngoài đời, đang đứng nấu ăn trên bếp, bấm bấm vài cái trên cái bảng là ngoài đồng máy cày chạy tới chạy lui thôi !” Nghe vậy, một anh hỏi nhỏ bạn “ Không biết như vậy, mai mốt mình về sẽ làm cái gì ?” – ‘ Bộ mày không biết mày làm cái gì à ?”Rồi cả hai cùng cười khúc khích.

Thường chúng tôi học vài ngày rồi đi lao động một ngày. Một bữa đang lao động, chúng tôi được lệnh tập họp trong hội trường lớn. Mọi người băn khoăn không biết chuyện gì. Té ra, nguyên nhân như sau : Có ai đó viết trong nhà cầu câu :” Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!” Rồi có người báo lên trên. Hậu quả là suốt trong hai ngày chúng tôi bị ngồi nghe chửi rủa, rồi lại được dỗ dành: Anh nào tự thú thì sẽ được khoan hồng, nhưng không ai tự thú hết. Tiếp đó, họ lại dọa nạt :” Chúng tôi đã điện ra Hà Nội, họ sẽ gởi đến một cái máy, thì những hình ảnh cách đây năm mười ngày sẽ hiện ra hết, nếu anh nào không chịu tự thú thì trước sau gì cũng bị kỷ luật !”. Hôm sau, một anh bạn hỏi nhỏ tôi :” Có máy đó thiệt không ?”Tôi trả lời :” Hồi xưa, tôi có đọc một cuốn truyện có tựa đề “ Máy khám phá thời gian “ ( La Machine à explorer le temps )- Đó chỉ là một câu chuyện giả tưởng, chứ không có máy nào như thế cả. Vì để thâu lại những hình ảnh đó, máy phải có vận tốc nhanh hơn ánh sang, là 300.000 km/giây. Hiện nay, trên thế giới chưa có máy đó!”.

Thời gian này chúng tôi được đưa đi lao động trồng khoai sắn ở một nơi gần đường rầy xe lửa, cạnh đài viễn thông của phòng 7 , Bộ tổng tham mưu. Bây giờ chỉ còn những antenne, còn phòng ốc bị phá toàn bộ. Mỗi ngày có cả chục chuyến xe từ Nam ra Bắc, chở những vật liệu tháo gỡ. Đoàn xe dài dằng dặc, có những toa hành khách là những người dân mặt mày ốm xo, lơ láo, những trẻ em đi chân đất, mặt buồn thiu đứng ở cửa xe dòm ra ngoài. Có những người dân thấy tù nhân, họ thương tình quăng xuống cho kẹo, bánh mỳ, chuối…Gặp lúc cán bộ có vẽ lơ là, đám tù vội chộp lấy và tiêu thụ rất nhanh. Qua đó ta thấy tình người dân đối với kẻ “ ngã ngựa “ thật tràn đầy thương cảm!

Một bữa kia, tôi cùng mấy người bạn trong toán phải đi quét dọn cho một y tá dời qua phòng khác. Trong phòng có một giường khám bệnh, một tủ kim loại bằng sắt tây, một ít thuốc, một khẩu K54. Trên bàn có những chai lọ đựng thuốc, tôi để ý thấy có một chai đề ABC ( B là bê bò ). Tôi bèn hổi có ý chọc “quê” người y tá : ” Ở miền Nam chỉ có thuốc APC ( P là bê phở ) viết từ chữ đầu của ba loại thuốc : Aspirine, Phenacetine, Cafeine, còn ở miền Bắc chữ ABC là loại thuốc gì vậy cô ?” Cô y tá VC ngó tôi, rồi im lặng bỏ đi.

Có hôm toán tôi được lệnh đi dọn cầu tiêu gồm năm , sáu cái cho đám cán bộ. Cầu đó là loại tự hoại. Công việc là gom giấy , rác đốt đi và xối nước làm vệ sinh. Nhìn lên tường , tôi chú ý mấy chữ về “ Nội quy nhà cầu “: Các đồng chí hãy bỏ các giấy, các đất cục, đá, lá cây và cành cây vào thùng sau khi đi cầu . Điều đó , chứng tỏ đám cán bộ kia phải dùng những vật liệu kia… Trời ơi là trời !

Một hôm, một người bạn dẫn tôi đến thăm một anh bạn từ Lâm Đồng xuống ở gần đó. Đến nơi, gặp lúc mấy anh đang nấu trong một cái thau những thức ăn dành cho gia súc như bắp, đậu, lúa mạch xay nhỏ. Họ mời chúng tôi ăn. Vì đói nên ăn vào thấy ngon quá.

Sau khi học xong mười bài, một bữa toán tôi được chuyển về núi Tà Dôn gần Phan Thiết. Chúng tôi được ở trong một dãy nhà trên đường đi vào núi Tà Dôn, bên tay phải. Những ngày đầu , sau khi lãnh phần ăn sang, họ dẫn chúng tôi đi quá núi Tà Dôn và đến một vùng gọi là Bầu TRắng, sau đó tản vô rừng để cắt tranh, đốn cây để làm một số dãy nhà. Buổi trưa có toán nấu ăn, ăn tại chỗ chiều về trại ở ngoài.

Mỗi ngày, sáng đi chiều về, chúng tôi đi lao động như thé một thời gian. Riêng có hai nguời, ngày trước ở trong toán “gò” trong trại Sông Mao, được giữ lại và giao công việc “ gò” thùng gánh nước và soong. Một bữa, một anh cán bộ nói với anh đó : “ Làm cho tôi một cái hòm “ Anh trại viên nghe mà sảng hồn, hỏi lại và được nói lại y chang câu ấy. Sau này mới hiểu ra chữ “hòm” nghĩa là rương hay vali. Hôm sau , anh ấy được dẫn đến cái trailer nằm trên đường dẫn về núi Tà Dôn và biểu lấy tôn của trailer để làm rương. Anh vừa làm xong thì những cán bộ khác cũng đòi làm như vậy và mỗi người còn đòi đục thêm cho có hình ngôi sao ở mặt trên cái rương. Chừng hai tháng sau, khi chúng tôi chuyển hẳn vào sau núi Tà Dôn, cái trailer chỉ còn là một bộ sườn với những miếng đệm lót đung đưa theo gió.

Trong thời gian đi đi, về về để lao động như mọi ngày, một bữa trời bỗng chuyển mưa, tên cán bộ la lớn :” Khẩn trương! Khẩn trương lên!” Tụi tôi ngạc nhiên, kinh hãi klhông biết chuyện gì nguy hiểm lắm mà phải khẩn trương. Sau này mới hiểu ý của cán bộ: các anh phải đi nhanh lên. Không có gì quan trọng cả mà họ cũng dùng chữ đao to búa lớn.

Khi nhà tranh đã làm xong, chúng tôi được lệnh về ở hẳn tại Bàu Trắng, sau núi Tà Dôn. Nhìn xa xa , hai bên triền dốc là đồi cát.

Bàu Trắng là một vũng chạy từ chân núi Tà Dôn ra xa khoảng 5 km, chiều rộng khoảng nửa km. Ở mặt trên của bàu này, lá cây rụng từ bao nhiêu năm, gió thổi tấp đầy trên ao làm thành một cái bè đồ sộ, rồi cây lát mọc lên trên cao khoảng 1,5m. Nhiệm vụ của chúng tôi là cắt những cây lát này, rồi đem lên bờ, hay đạp lún xuống nước!Còn nước ở đây thì đen ngòm, hơi thối vô cùng và đầy cả đỉa. Có con dài chừng 20 cm, màu trên den, dưới xanh, có loại nhỏ, luc nhúc dưới nước. Vì bị đỉa cắn nhiều lần quá, chúng tôi bèn kiếm những bao cát cũ, may bọc bàn chân lại, còn quần dài thì kiếm dây cột túm ống để chống đỉa. Dưới nước còn có những sinh vật chúng tôi gọi là cà tót, nhỏ chỉ bằng đầu cây kim, con mẹ thì hơi to hơn, bơi xung quanh nó có những đàn con nhỏ nổi trên mặt nước. Nếu ta bị cắn, lúc đầu không để ý, nhưng sau cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, vết thương sưng lên, điểm giữa lõm xuống có một chấm đỏ, mình cứ tưởng là bầm máu mà thôi, nhưng sinh vật quái quỷ vẫn còn nằm lỳ ở đó, ngứa vô cùng, chỉ đến khi mình gỡ nó ra, nó mới lìa khỏi thân mình. Về sau có kinh nghiệm, mỗi khi làm xong, tôi lấy xà bông giặt chà xát từ ngực trở xuông xem có con nào bám vào không, nếu không thì ngứa chịu không nỗi!

Một hôm, đang làm lao động, bỗng tôi giật mình mụốn lạnh người: một con rắn đen đang len giữa hai chân. May mắn cho tôi là chưa bị rắn cắn.

Trường hợp bị rắn cắn đã xảy ra cho một số người. Như một anh trại viên người Lâm Đồng, lúc thò tay cầm lát rồi lấy lưỡi hái cắt, đã bị rắn cắn, anh la lên. Người ta dìu anh vào bờ. Vì không có thuốc để chữa trị nên họ để anh nằm , cởi áo anh ra và khuyên nên bình tĩnh.  Lúc đầu anh nói hơi tê nơi bàn tay rồi tê đến cánh tay, sau tê nguyên cả tay. Chúng tôi chỉ biết trấn an anh. Lát sau nghe anh nói nhức đầu quá và hơi thở nhanh. Chúng tôi chẳng biết làm gì hơn, lấy quạt, quạt cho anh. May mà không phải rắn độc nên sau hai giờ anh có vẻ bình thường trở lại và thoát chết. Anh ấy là Đại úy trưởng khối chuyên môn của Nha địa dư Đà Lạt.

Về sau, để đề phòng vụ rắn cắn tôi cẩn thận hơn. Trước khi cắt, tôi quay lưỡi liềm xem thử có con rắn nào thì để cho nó chạy trước mới thò tay xuống nắm bó lát mà cắt.

Khi cắt lát xong, phần còn lại là một bè lá cây dày độ  ba tấc, nửa nổi nửa chìm trên mặt nước. Chúng tôi phải cắt từng miếng to, lật úp lại , để cho nó thối rửa ra. Sau đó, một toán khác lấy đất đắp ngang qua cái bàu đó thành những thửa ruộng ngập nước. Tiếp đến, chúng tôi bắt đầu tháo nước ở khúc dưới ra từ từ, để rồi bùn, cây mục lắng xuống.

Thời gian này, một số anh em đói quá. Có những anh em phải lặn xuống hồ móc lên những củ sen, luộc rồi ăn. Có anh hái hột cườm thảo, bữa đó đó hái được khoảng nửa lon Guigoz. Nhiều người biết đó là loại độc vô cùng, nên can ngăn, nếu không sẽ chết.

Sau khi xả hết nước ra, những rể cây mục rồi, đến lúc phải làm trâu : họ bắt sáu người làm một toán, năm người kéo cái bừa đi đằng trước, một người cầm cái bừa điều khiển ở đằng sau để bừa những thửa ruộng đó.

Trong toán tôi có anh Nguyễn Lê Chánh, Y sỹ Đại úy, chúng tôi để cho anh ấy giữ cái bừa, năm người chúng tôi kéo cái bừa đi đằng trước. Anh ấy, để đùa vui, giơ cái cây vừa đi vừa la : “ Tá , ái, tá, ái “ y như là đang điều khiển mấy con trâu thật! Không biết có phải do gió đưa lại mà đám cán bộ nghe được, kêu chúng tôi lại răn đe : “ Vì Nhà nước còn khó khăn, các anh phải làm lao động tốt để còn được về với gia đình, chứ chúng tôi đâu có bắt các anh làm trâu bò mà các anh la “ tá, ái “. Nghe nói về sau anh Chánh còn bị làm kiểm điểm, không biết mấy lần !

Người ta còn kể lại rằng có một số bà vợ sỹ quan hay con cái của họ nghe tin đồn ở Bàu Trắng là chỗ tập trung ở tù, họ đã lăn lội tìm đến nơi ( thời gian này chưa cho thăm nuôi ) núp trong bụi nhìn xuống thấy thân nhân mình bị “ làm trâu “ kéo bừa, mấy bà khóc và kể với nhau thảm thiết vô cùng !

Khi những thửa ruộng kể trên có thể cấy được rồi, phần đông chúng tôi bị đưa về Núi Rể , chỉ để lại đó một toán nhỏ thôi để bắt đầu cấy lúa.

Ở Núi Rể, nhiệm vụ của chúng tôi là làm khoảng 20 cái nhà bằng tre, mái lợp tôn. Tre và cây gỗ phai đi đốn về. Sau khi làm sườn nhà bằng cây, thì tre được đang lại để làm cửa và vách trông cũng đẹp mắt. Lúc gần xong, một bữa có ba cán bộ bước vô, lưng có súng ngắn, vai mang túi da. Một cán bộ nói : “Các anh làm cũng tốt, nhưng chưa biết phát huy sang kiến, cải tiến kỷ thuật. Hãy nhìn gò mối ngoài kia ! Đất , đá đem vô đổ thêm nước, nện rồi chà láng thì còn chắc hơn ciment nữa !” Chúng tôi theo lệnh thì phải làm thôi. Mối ngoài đồng mà lại đem vô nhà. Rồi họ sẽ thấy hậu quả của việc này .

Thời gian ở đây, chúng tôi dùng chung giếng nước của chừng  mười nhà dân quanh đó. Một bữa, lúc đang làm vệ sinh sau buổi chiều lao động về, chúng tôi thấy ba, bốn bà mặc quần áo vải đen đang quảy thùng gánh nước, da mặt họ trắng hồng hồng. Đi theo sau có một số con nít ăn mặc tươm tất, nước da cũng hồng hồng như thế. Họ có vẻ khác với người dân ở đây. Chúng tôi đoán  chắc họ là vợ con của anh em trại viên từ Đà Lạt, Lâm Đồng xuống mà thôi…

Lúc đầu, đám cán bộ đang coi chúng tôi, nhìn họ hau háu, nhưng sau cũng biết họ không phải là dân địa phương, họ bèn ra oai đuổi mấy bà ấy đi! Mấy bà ấy cãi lại : “ Cái giếng là của xóm này, tại sao chúng tôi không được quyền lấy nước !” Đám cán bộ hỏi :” Mấy chị ở đâu ?”. Họ đáp :”Chúng tôi ở xóm này!”. Thật ra , họ xuống để tìm chồng trong trại. Lúc đó, những sỹ quan từ cấp Thiếu úy đến Đại úy thuộc Lâm Đồng, Bình Thuận, Bình Tuy, Ninh Thuận đều bị tập trung về Sông Mao.

Sau khi làm xong những ngôi nhà kể trên, chúng tôi được đưa lên Sông Lũy. Chúng tôi đi vô cách đường quốc lộ khoảng 10km để làm đập tràn và đào một đường dẫn nước từ nơi đó về nông trường Sông Lũy.

Về sau, chúng tôi có trở lại nơi những ngôi nhà làm bằng đất lấy từ gò mối ( theo lệnh của cán bộ ) thì nay đã không còn nữa, mái tôn đã bị lấy đi hết, tất cả bị sụp do mối ăn.

Thời gian đầu đến Sông Luỹ, chúng tôi đốn cây, tre, cắt tranh lợp nhà để ở. Sau đó, được lệnh làm một cái đập tràn ngăn sông Lũy lại. Chúng tôi khiêng đá lớn nhỏ đủ loại, đấp thành một con đập thấp. Khi việc này xong, thì phải dùng những tấm lưới sắt bao trùm con đập lại. Tiếp đến công việc của chúng tôi là gánh đất làm thành một con đập bằng đất sau cái đập bằng đá..

Lúc sau này, chúng tôi thấy có đoàn khoảng 5,6 người bô bô nói tiếng Bắc, họ đem theo những dụng cụ như dàn cây ba chạc, máy nhắm. Có lẽ đây là đám cán bộ khảo sát địa hình. Họ làm việc trong khi chúng tôi làm đập. Khoảng hơn 2 tháng sau,, họ bắt chúng tôi khởi sự đào kênh từ trên đập tràn đi theo những cột mốc do đoàn khảo sát người Bắc cắm. Tời nắng như đổ lửa, chúng tôi ráng sức đào sâu xuống, lúc gặp đá cũng phải khiêng. Công trình chúng tôi được khoảng 2 Km thì có lệnh trên : mở thử cho nước chảy. Lúc phá bờ đất cho nước tràn vào thì một điều bất ngờ xảy ra: nước chảy chầm chậm đọ nửa cây số thì ngưng chảy! Thất bại! Chúng tôi đựoc lệnh tạm ngưng, không làm nữa.

Tôi nghe kể lại về sau này, đám khảo sát và đám trung đoàn chửi nhau chí chóe. Tức tối, đám khảo sát bỏ về.

Rồi một hôm, một anh Đại úy công binh trong khối tôi tên là Vân , được kêu lên và hỏi xem anh có thể giúp trng đoàn họ làm con kênh được không. Anh ta mới trả lời xin họ hãy cấp cho anh một bản đồ 1/50.000 của vùng này, và cho anh thời gian 2 đến 3 ngày để nghiên cứu địa hình. Về sau, họ giao cho anh bản đồ rồi phái 2 tên bộ đội có đeo sung áp giải anh Vân đi lội quanh vùng để xem địa thế.

Thời gian này, trại cũng có một chiếc máy ủi loại Kubota nho nhỏ. Anh Vân bắt đầu sử dụng máy ủi đất, một số lính VC cắm cọc theo đó và chúng tôi lại bắt đầu đào kênh. Có lúc đào sâu xuống, có lúc đắp cao lên. Trong lúc làm công trình này, cũng có nhiều chuyện buồn cười. Đáng lẽ, chúng tôi phải gánh đất từ dưới lên. Có anh trong toán nói : xin cán bộ cho anh em làm theo phương pháp Taylor. Viên cán bộ trên này nối vọng xuống : “ Bây giờ mà các anh còn nói chuyện Tây lo, Mỹ lo, các anh phải tự lo mà làm đi, không có Tây, Mỹ nào lo ở đây hết !”. Cả bọn chúng tôi mỉm cười với nhau rồi cũng làm theo phương pháp dây chuyền, tức là đứng theo hàng dọc , chuyền rổ đất đá lên cao.

Có lúc gặp tảng đá to, phải nạy ra và tìm cách đưa ra ngoài kênh, anh em phải kiếm ba khúc cây vững chắc rồi cột lại một đầu làm điểm tựa, sau đó đốn cây dài và to làm đòn bẩy. Sau khi cột tảng đá bằng dây vào đầu ngắn, cả bon chúng tôi gần 10 người đu vào đầu dài để đưa tảng đá lên quãng nửa chiều cao của kênh. Sau đó, dời 3 chạc gỗ lên chỗ cao để đưa tảng đá ra khỏi con kênh. Gần mười mấy người tù ốm nhom đến đen thui mà ráng sức đưa tảng đá lên cao. Cũng may trong thời gian này không xảy ra tai nạn, chứ nếu có chắc nguy hiểm đến tính mạng nhiều lắm !

Đôi lúc, chúng tôi phải phá vỡ những tảng đá cứng. Họ phát cho những dụng cụ, một đầu như lưỡi cuốc nhỏ, một đầu như nửa cánh cung, làm bằng sắt  uốn cong và dài khoảng 8 tấc. Chúng tôi dùng đầu nhọn bửa vào trong đá và cuốc lại bằng đầu tựa lưỡi cuốc. Để tự phòng vệ, tôi phải kiếm những miếng vải bao cát, may kết dính vào cái nón phía trước mặt mình và cột ngang nơi cổ để chỉ thấy lờ mờ thôi mà làm việc, vì nếu không khi cuốc xuống, đất đá có thể văng vô mặt, sẽ thương tật  chết người. Còn về tay chân, sau nột thời gian lao động ở đây, bàn tay chúng tôi phồng chai hết.

Chúng tôi đào được khoảng 3 km thì có lệnh bắt buộc phải dời trại đi. Vì họ cho thời gian có một ngày, vừa để di chuyển đồ đạc đến chỗ mới, vừa thu xếp chỗ ở để đi làm, nên anh em vội vã dựng lều. Lều này có mái ở trên, nhưng bốn bề trống hoác. Ở giữa lều là một cái sạp đủ nằm, cao hơn mặt đất khoảng nửa thước, đề phòng rắn rít. Cái lều này áp sát với lều anh bạn và kéo dài ra.

Lều trại đơn sơ như vậy, nên gặp những đêm mưa rừng gió lạnh, mái lều đâu có che chắn cho mình, chỉ có một cách khi thức dậy, choàng vội tấm nylon do gia đình gởi vô, rồi ôm vô những “ hành trang “ mà nằm khum xuống, tựa như những người Hồi giáo khum xuống mà lạy, cả đêm như vậy. Chịu trận với gió lạnh và mưa, đâu có ngủ nghê gì được, sáng hôm sau phải đi lao động!

Thời gian ở đây chúng tôi có lệnh mới vì tình hình khó khăn, khẩu phần mỗi người trong tháng là3,5kg gạo độn với khoai mì, khoai lang khoảng 15kg, 16kg rút xuống còn 12kg. “ Ở trên biểu chúng tôi đưa một toán đi đào củ nầng vê nấu ăn thêm. Có người đã đào được những củ nầng to bằng trái banh, đưa về gọt vỏ, che ra rồi luộc. Theo sự chỉ dẫn “ở trên”: luộc xong bỏ vào cái rọ, ngâm một ngày một đêm ngoài suối, rồi lấy vô luộc lại, xắc ra rồi phân phát cho anh em. Tôi nghĩ rằng dù là củ gì có bổ dưỡng bao nhiêu mà qua giai đoạn luộc, ngâm rồi luộc như thế thì cái còn lại chỉ là xác bã, chẳng lợi gì cho cơ thể, nên khi được phát vào buổi sáng khoảng một chén thì tôi lặng lẽ bỏ vào giỏ xách mình nhưng không ăn. Thật là may cho tôi vì ngày đó, có một số anh ăn vào khoảng nửa chén, đi làm được khoảng 2 giờ sau thì ói mửa, choáng váng, bước đi không nỗi, mặt mày xanh dờn! Đám cán bộ phải cho họ về. Sau đó, chúng tôi được tập họp lại để nghe chửi : “ Chúng tôi nhờ những củ nầng này để ăn mà sống, chống Mỹ cứu nước. Tại sao các anh làm ăn cẩu thả để anh em bị ngộ độc như vậy!”. Ngoài miệng nói như thế chứ sau đó họ cũng không cho phép đào củ đó nữa.

Một buổi sáng, chúng tôi đang đi dọc theo con mương đến chỗ toán phải làm thì thấy toán đi đầu vừa chạy vừa la hét mừng rỡ. Tôi nhìn xa hơn, thấy một con mễn         ( một loại nai nhỏ như con chó ) chạy đằng trước, nhưng vì con vật đang có chửa nên lúc leo lên triền dốc, nó bị té xuống không leo lên mương được mà chạy dọc theo con mương. Nó có chửa nên chạy chậm hơn đám tù, mặc dù đang đói. Nhưng do sự thôi thúc  của miếng mồi nên chạy thật mau để vây bắt con vật, sau đập chết rồi mang về chia nhau. Tôi nghĩ thật đáng thương tâm, những người tù quá đói khổ, thấy con vật tội nghiệp muốn tìm đường sống cho con mình mà cũng không thoát được.

Thời gian ở đây, một hôm chúng tôi ra suối tắm, có một toán thuộc Lâm Đồng đạp nhằm một cái bao. Lúc đưa lên, té ra là một bao cá thiều, sau này mới biết đó là một trong những bao cá của toán nghĩa vụ quân sự lúc đi chợ về, gánh qua suối bị rớt hôm trước rồi trôi dạt xuống đây. Mấy anh Lâm Đồng chia nhau, tuy cá đã sình ươn ra và bốc mùi rồi. Tối đó, mấy anh ngứa quá, gãi sồn sột. Khoảng 10 người bị tình trạng này.

Để kiếm thêm thức ăn, một số người tìm những cọng thép bẽ làm cái bẫy, rồi để dành chút ít đồ ăn của mình làm mồi. Khoảng bốn năm bữa , họ bẫy được con sóc, có bữa bẫy được một con chuột đồng. Có một anh  không biết nhờ ai mua giùm được một con gà mái, anh nuôi nó cho đến khi nó đẻ. Từ đó, ngày nào anh cũng khám “ phụ khoa“ cho con gà để kiểm tra coi có trứng không, sợ mât trứng. Nó đẻ một thời gian thì ngừng , quay sang ấp. Vì không có trứng để ấp ( anh ấy ăn trứng mất rồi ) nó mổ một lon sữa bò để ấp. Thấy vậy anh ấy quăng lon sữa bò ra xa. Hôm sau, nó lại lấy lon sữa bò ấp nữa. Một anh khác bàn nên đem ngâm con gà trong nước lạnh. Anh làm theo, sau đó con gà tiếp tục đẻ!

Công trình đào kênh của chúng tôi trải dài khoảng 9 tháng, thì có lệnh ngưng. Lúc đó còn khoảng một cây số thì đến nông trường trồng bông, là phần việc của toán nghĩa vụ quân sự. Nhìn lại dụng cụ mình làm, thấy thất kinh : cái đầu nhỏ như lưỡi cuốc nay chỉ còn một phần tư, còn cái đầu kia, trước là một cây nhọn dài 8 tấc ( thường dùng trong hầm mỏ miền Bắc ) bây giờ còn khoảng 2 tấc mà thôi !

Chúng tôi lúc rảnh thì tắm giặt hay “cải thiện linh tinh”( danh từ VC dùng chỉ cái việc kiếm thêm thức ăn) qua những lá cây rừng. Có một loại cây tên là “ Thảo nam sơn” nghe người ta nói vỏ của nó có vị thuốc trị hết đau lưng. Do đó khi có anh em la: có cây Thảo nam sơn, thì có cả mấy chục người nhào tới để tước vỏ cây. Sau đó, thân cây như bị “ lột truồng “.

Chúng tôi nghe nói lúc khánh thành có những quan chức cao cấp đến tham dự. Đêm đó, chúng tôi được” chiêu đãi” một bửa văn nghệ do một đoàn văn công tỉnh Thuận Hải trình diễn. Chúng tôi ngồi một góc, còn đám nghĩa vụ ngồi một góc. Khi đoàn văn công nhìn xuống, có lẽ họ thấy những sỹ quan Bình Thuận ngồi dưới nên lúc khởi đầu, họ chơi những bản nhạc ngoại quốc, trong đó có bài La Paloma, đám tù vỗ tay quá xá. Cứ hết một bài thì vỗ tay “ Bis!Bis!”. Đám nghĩa vụ quân sự mặt mày ngô ngáo vì không biết bài nào cả. Sau khi họ chơi hết ba bài, một cán bộ VC lên nói: “ Các anh không được chơi nhạc ngoại quốc!” . Tôi nghe một anh văn công đáp : “ Tôi chơi nhạc Cuba, Hungary, những bài này của XHCN”. Viên cán bộ không chịu, bắt chơi nhạc VN mà thôi. Lúc đó, họ bắt đầu chơi những bài nghe như những tiếng ró ré hét lên.

Hôm sau, Bộ chỉ huy kêu anh Vân lên “ làm việc”. Vân với tôi cũng khá thân. Lúc về, anh kể :” Họ nối sẽ thả tôi ra với điều kiện ký giấy làm cho họ mấy năm, anh thấy sao ?”. “ Trời ơi! Anh ở tù một mình, bây giờ định đem vợ con lên ở tù nữa hay sao?Chỗ này là nơi chó ăn đá, gà ăn muối, đau ốm , bệnh hoạn không thuốc men. Anh ở tù một mình là đủ rồi. Chừng nào họ thả về thì thả…” . Về sau , anh ấy từ chối khéo léo công tác phục vụ cho trung đoàn ấy.

Sau khi, chúng tôi làm đập tràn và kênh đào song Lũy xong, họ chở chúng tôi về một vùng gần Phan Thiết , gần đồi Nora. Đồi Nora ở bên trái quốc lộ, chúng tôi phải đi vào một đường lộ nhỏ bên phải để đến trại.

Đến đây, chúng tôi cũng khởi sự làm nhà cửa, phá gò mối, ban ruộng ra để sửa soạn cho vụ mùa.
Bao quanh trại là hàng rào bằng tre đan lại có gai. Một đêm kia, khi chúng tôi đang ngủ thì có kẻng đánh và có tiếng súng nổ. Tất cả được lệnh tập họp điểm danh. Về sau, tôi nghe nói có ba người trốn trại. Đó là Đại úy Đặng Phiên, Thông Ngộ và một anh nữa tôi không nhớ tên. Mấy anh này lúc còn ở trại Sông Mao thì cùng nhóm với tôi, do tôi làm tổ trưởng. Về sau này, các anh ấy đã chuyển qua nhóm khác.

Thời gian sau, tôi nghe phong thanh cán bộ họ đã đi hành quân và bắn chết những anh này. Và họ có đem về những cuốn sổ tay nhỏ của mấy anh.

Lúc này, họ cho chúng tôi ăn uống quá tệ so với hồi trước. Bây giờ chúng tôi trực thuộc Bộ nội vụ tức Công an quản lý. Một hôm , họ ra lệnh tập họp và biểu đem “ quân trang, quân dung “ra để kiểm soát. Điều mỉa mai là chúng tôi chẳng còn gì nữa để mà gọi là quân trang, quân dụng, chỉ có mấy bộ đồ rách tả tơi, mấy cái nồi lon gô…Họ quen xài chữ đao to búa lớn. Đám công an này kiểm soát rất kỹ. Mỗi người được lệnh trãi ra một tấm nylon rồi nồi niêu, quần áo đồ dùng…bày ra trên đó. Quan cảnh như đang bán chợ trời, anh  em trại viên ngồi đó, còn đám cán bộ lật lên, lật xuống, rà soát những cái cổ áo, từng đường may trên áo, lai quần để tìm ra xem có dao hay đinh trong đó không. Nhưng chúng tôi dại gì mà đem dấu dao, đinh trong áo quần. Nếu cần thì chúng tôi giấu vào một hốc cây nào đó ( cái gọi là dao chẳng qua là một cây đinh lớn mà chúng tôi đập đạp ra rồi mài mài cho bén ) khi gặp thằn lằn, rắn mối, cóc nhái…thì rồi xẻ ra nướng ăn, rồi nhét lại vô trong một hốc cây.

Một buổi sáng, chúng tôi được lệnh đi lao động, mỗi toán phải hai người với một cái đòn, mười người phải đem theo một cái võng, không ai được ở lại hết, trừ ra một số tối thiểu người làm nhà bếp tức “anh nuôi” khoảng bốn năm người.

Từ đó, chúng tôi đi ra quốc lộ 1, đi được một đoạn đường thì thấy một cảnh thật thương tâm, một anh thương binh, có lẽ thương phế binh VNCH cụt một chân, vừa chống một cây nạng, vừa cuốc! Ngang hàng với anh, đứng gần đó là ba đứa con anh khoảng 12 tuổi, 8 tuổi và 6 tuổi đều cầm mỗi đứa một cây cuốc nhỏ mà cuốc tới. Nhìn thấy cảnh này , tôi thấy ứa nước mắt.

Chúng tôi đi ra đến quốc lộ một, sau đó băng qua để lên đồi Nora . Theo lệnh trên, chúng tôi cứ hai người phải gỡ một cuộn kẽm gai trên ngọn đồi này. Nghe nói hồi xưa đây là đồi pháo binh của VNCH và nơi mà nhà văn Y Uyên đã tử trận.

Nora là một ngọn đồ thấp. Lúc chúng tôi đến, trên đường đi, nhìn lên thấy chẳng còn gì, ngoài những hàng rào kẽm gai xung quanh. Ở phía bên trái đường đi, có một cái am nhỏ. Từ trong am một bà già đi ra, ngược lại chiều với chúng tôi. Bà già hỏi chúng tôi : “ Các anh lên đây làm gì ?” “ Chúng tôi được lệnh lấy kẽm gai “. Bà ta nói :” Đừng!Đừng! Cách đây mấy ngày, có một con bò bị vướng mìn và đã chết “. Chúng tôi cho bà hay chúng tôi là tù, đâu có dám cãi lệnh. Bà nói để bà lên am cầu nguyện cho chúng tôi.

Chúng tôi tiếp tục đi, dạt ra hai bên để lấy kẽm gai. Sau cùng, tôi và anh Nguyễn lê Chánh cũng gỡ được hai cuộn kẽm gai, xỏ đòn và gánh về.

Các  toán đổ xô ra quanh đó. Thỉnh thoảng , khi kéo dây kẽm gai lên, anh  em giật mình kinh hoảng vì thấy những trái lựu đạn hay mìn ba chấu bung lên hoặc nằm lăn lóc ở đó. Anh  em la lên rồi nằm rạp xuống. Cũng may, không nổ! Không biết do mưa nắng bao nhiêu năm , lựu đạn và mìn kia đã hư mục, hay là sự mầu nhiệm của lời cầu nguyện của bà già kia mà Ơn trên và linh hồn tử sĩ VNCH đã phò hộ cho chúng tôi.

Tôi thấy chính sách của VC thật là vô nhân đạo khi đưa người tù đi gỡ kẽm gai ở một nơi đầy mìn bẫy. Họ đã tính toán trước  sẽ có người bị thương tật hay là chết. Vì thế, chúng tôi được lệnh, cứ mười người thì mang theo một cái võng, phòng khi trường hợp đó xảy ra, để khiêng người bị nạn. Có cả thảy mấy trăm người như vậy mà may thay, không một tai nạn nào xảy ra, không một trái lựu đạn nổ. Chỉ có một số anh em khi gỡ kẽm gai bị trầy xước sơ sơ mà thôi.

Những chuyện nguy hiểm có thể chết người rồi thì cũng qua đi, nhưng cái ám ảnh suốt ngày, suốt tháng đối với anh  em là những ngày đối dai dẳng. Vào buổi sáng họ phát cho mỗi người một cái bánh làm bằng bột mì ( có lẽ do viện trợ từ những nước khác ) đường kính độ 20 cm. Sáng một cái, trưa hai, tối hai, chúng tôi gọi là “ bánh xe lãng tử “. Sức khỏe anh  em do đó mà suy kiệt dần, chỉ khá lên được khi có thăm nuôi. Mỗi kỳ thăm nuôi 3 tháng một lần, sau đó anh  em trở lại xanh xao, ốm yếu như cũ, như một chu kỳ cứ tái diễn mãi.

Thời gian ở Sông Mao, vấn đề vệ sinh thật là khủng khiếp. Mỗi tuần, chúng tôi được dẫn đi tắm một lần ở cái ao nước đục ngầu, màu xanh đen. Bao nhiêu người, từng tốp một xuống tắm giặt. Toán này lên, toán khác xuống, cũng chỉ tại cái ao nước đó! Một số an hem bị ghẻ lở cả thân mình, như trường hợp anh Châu ( tôi quên mất họ, chỉ nhớ tên ) nguyên là Đại úy trung tâm yểm trợ tiếp vận. Trước 75, bạn bè gọi đùa anh là “ anh Châu bụng “. Về sau, anh bị ghẻ lở, còn bụng thì xẹp lép. Anh  em mới gọi là “ Châu ghẻ “ . Nghe nói lúc được thả ra rồi, một thời gian sau anh bị bệnh và qua đời.

Có những điều anh  em lo nghĩ vì chẳng thấy gì sáng sủa cả trong tương lai, nhất là băn khoăn về gia đình, không biết thân nhân mình làm sao mà sống, khi mình thì ở trong cái rọ này. Hình ảnh tôi nhận thấy rõ nhất là anh Bỗng, nguyên Đại úy thuộc Ban liên hiệp quân sự hai bên. Sau 6 tháng vào tù, tóc anh biến thành bạc phơ. Thật đúng là hình ảnh Ngũ tử Tư hiện đại.

Sau khi được thả ra, những hình ảnh hãi hùng trong trại tù cứ lởn vởn trong đầu tôi suốt mấy chục năm. Cho đến trước lúc được đi Hoa Kỳ, cứ hai hay ba tháng tôi vẫn thường nằm mơ thấy mình ở trong trại tù cải tạo, rồi qua bốn đến năm ngày sau đó thì mất ngủ . Khi đã định cư ở Hoa Kỳ, khoảng bốn năm đầu, thỉnh thoảng tôi lại nằm mơ thời gian kinh hoàng đó. Phải đến bảy năm sau đó, mới chấm dứt tình trạng ác mộng đó.

          Chúng ta , những sỹ quan bị đưa đi ở tù một cách nhục nhã, bị đọa đày khủng khiếp mà còn sống sót để được hưởng chính sách nhân đạo HO của Mỹ quốc và ngày nay chúng ta đã có những gia đình êm ấm, con cái nên người, chúng ta cũng phải nhớ lại sau lưng chúng ta, những bà vợ còn rất trẻ khi chúng ta bị lùa đi vào trại cải tạo, những bà mẹ, những bà chị , cô em gái với lòng thương vô bờ bến đã xông ra ngoài xã hội đầy bất công, đầy thù hận, đầy phân biệt để sống còn, để nuôi thân nhân ở ngoài, rồi còn dành dum từng đồng, từng bánh đường, từng con cá khô, miếng bánh, từng viên thuốc để định kỳ thăm nuôi, an ủi và khuyến khích chúng ta cố gắng sống nhẫn nhục chờ đợi ngày về. Những người thân của chúng ta đã không được sửa soạn với những khóa học “ mưu sinh thoát hiểm “ , mà với bàn tay khéo léo, nghị lực kiên cường để giữ được gia đình tạm đủ sống và yểm trợ các người tù bằng những món quà thăm nuôi, những lời khuyên để chúng ta yên tâm mà chính chúng ta, những người tù 5, 10, 15 năm thấy hoàn toàn vô vọng.

Chính họ là những động lực thúc đẩy chúng ta cố gắng sống còn và chính họ mới là những người bây giờ phải được nhận những lời tuyên dương cao quý nhất. Còn chúng ta, chỉ là những thanh niên, trong thời điểm đó, phải làm bổn phận của người trai, khoác áo chiến binh trong buổi binh đao, khi nước nhà còn đầy quân thù lúc nào cũng lăm le phá hoại hạnh phúc toàn dân.

Viết xong, 5/4/2007
LÊ BÁ DŨNG
YK 1

Viết để riêng tặng các sỹ quan bị tù đày của Tổng trại 8 Sông Mao, các bạn đã nằm xuống hay đang lưu lạc nơi quê người, và nhất là các bà mẹ, vợ hay con các sỹ quan đã không quản gian nan trong gông cùm Cộng Sản.

nguồn ykhoahuehaingoai.com

(Các truyện tù khác ở đây: http://www.michaelpdo.com/ChuyenTu.htm

———————————————————————————————

=================================================================

Bài 4

Có Ai Thích Được Giải Phóng đâu !!!???

Hoàng Dược Sư – X.Cafe.VN

Mon, 05/02/2011 – 02:25

http://www.x-cafevn.org/node/2097

Vậy là đúng 36 năm, kể từ ngày mất miền Nam thân yêu. Mất cả tên Saigon thân thương, mất cả tên những con đường với muôn vàn kỷ niệm. Và rồi còn bao nhiêu thứ mất mát đáng sợ hơn.

Ngày ấy, ngày 30/4/75, ngày mà cả miền Nam sống trong sợ hãi. Những chiếc xe tăng T54 ngênh ngang tiến vào thành phố, nghiến nát những con đường, những bãi cỏ xanh tươi mơn mởn. Ngày ấy dân miền Nam sợ xanh mặt, họ bồng bế nhau chạy trốn loạn lạc. Họ có muốn các anh vào giải phóng đâu!!

Ngày 30/4 là một ngày định mệnh đau buồn cho nước VN. Ngày đánh dấu cho một kiếp ô nhục, ngày mà đánh dấu những tang thương, mất mát, đoạ đày sau này cho con dân VN, ngày tiên đoán cho kiếp bị đô hộ, nô lệ cho giặc Tàu gần kề.

Chúng tôi có mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì đến giải phóng. Các anh mập mờ đánh lận con đen. Các anh dùng mỹ từ giải phóng để che giấu sự ăn cướp trắng trợn và dã man cuả các anh. Nếu các anh thật sự giải phóng chúng tôi thì tại sao chúng tôi lại bồng bế nhau chạy trốn. Chúng tôi chạy bán sống bán chết, chúng tôi bỏ cuả chạy lấy người. Vì sao? Vì chúng tôi ghê tởm các anh.

Các anh còn nhớ sau hiệp định Geneve 1954, tại sao cả triệu người bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả ông bà, bỏ tài sản mà trốn chạy các anh. Vì người ta đã quá biết bộ mặt đểu giả, giả nhân giả nghiã cuả các anh. Nếu các anh không ngăn cản để cho đồng bào miền Bắc tự do di cư vào miền Nam, thì số người di cư phải tới hơn 5 triệu người là ít. Những cảnh chia lià vợ chồng, con cái, chết chóc, thất lạc…là do ai tạo ra?

Sau ngày 30/4, khi nhà văn Dương thu Hương, lúc ấy còn là bộ đội, vào miền Nam thì quá ngỡ ngàng đến té ngửa ra, vì bị lường gạt bao nhiêu năm. Miền Nam văn minh, trù phú và đầy ắp tình người. Bà ta đã ngồi bệt xuống lề đường mà khóc, vì sự thật phũ phàng. Đó chính là tâm sự cuả bà đã được in thành sách. Các anh mới chính là những người cần được giải phóng!!!

Các anh reo vui trong chiến thắng, các anh ca hát “chưa thấy hôm nào đẹp như hôm nay, non nước tưng bừng lòng ta mê say…” Các anh hứa hẹn mang thanh bình cho đất nước.

Thế rồi các anh đánh tư sản, các anh vơ vét vàng bạc, tài sản cuả dân chúng. Các xí nghiệp công xưởng lớn nhỏ thì các anh tịch thu, phá hủy, cả nền công nghiệp cuả miền Nam bị phá sản. Mấy trăm ngàn quân nhân cán chính thì các anh trả thù, cho họ tù đày, với mỹ từ học tập cải tạo. Các anh tạo ra cảnh thê lương chia lià, vợ xa chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Như vậy các anh còn chưa hài lòng, các anh còn đì con cái họ bằng cách phân biệt lý lịch ngụy quan, ngụy quyền…khi họ thi tốt nghiêp, đi học, hay xin việc làm. Chưa hết, các anh còn kiểm soát tự do cuả người dân bằng những công an khu vực, giấy đi đường, bằng những tem phiếu, bằng những bobo, khoai, sắn. Người dân co cụm lại vì sợ hãi, vì đói rách, vì nghi kỵ lẫn nhau, vợ tố chồng, con tố cha…đưa đến một sự suy đồi về đạo đức trầm trọng. Cuối cùng các anh lại đổi tiền, để thừa dịp cướp bóc công khai giữa ban ngày.

36 năm rồi, các anh đã làm gì cho đất nước, hay chỉ thêm hoang tàn đổ nát, nghèo khổ và thất vọng. Các anh đã biến VN thành nước lạc hậu và nghèo nhất thế giới, phải ngửa tay đi xin khắp nơi trên thế giới. Các anh đã bán đất bán biển cuả tiền nhân tổ tiên cho Tàu Cộng, các anh nịnh nọt, đút lót cho kẻ thù, các anh hèn hạ gọi kẻ thù từng đô hộ mình cả ngàn năm là quan thầy, là mẫu quốc. Các anh còn biết xấu hổ hay không?

Các anh sợ mất Đảng, mất chỗ đứng mà không sợ mất nước. 36 năm rồi các anh vẫn còn nguyền ruả Mỹ, Ngụy. Các anh chửi họ là bọn Nguỵ quân, ngụy quyền, bọn Diệm Nhu, Thiệu kỳ…là bọn phản động, tay sai cho ngoại bang…chỉ biết ăn canh thừa, cá cặn cuả đế quốc…Các anh, cũng như các tờ báo lề phải không ngừng đả kích, chửi bới những người mà các anh gọi là phản động, là tàn dư Mỹ ngụy..Như vậy làm sao các anh đòi hoà hợp hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù để xây dựng đất nước được. Ai sẽ tin lời các anh, các anh muốn hoà hợp, hoà giải mà cứ chửi cha, chửi tổ tiên người ra, thì hoà giải cái nỗi gì.

Ngày 30/4 mỗi năm các anh tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng, thì hoà hợp ở đâu? Các anh đâu có thật sự muốn hoà giải. Các anh chỉ thích tiền và đô la cuả họ mà thôi. Các anh sợ 3 triệu Việt kiều Hải ngoại tạo phản, tạo áp lực với thế giới, nên phải vuốt ve, nịnh nọt Việt Kiều như khúc ruột ngàn dặm, để mỗi năm đám phản động đó gởi về cả chục tỷ mỹ kim cho các anh. Các anh hô hào, cổ võ cho Việt kiều về VN làm ăn, quê hương là chùm khế ngọt…Tất cả chỉ là dối trá và lường gạt mà thôi.

Thật vô phước cho đất nước VN. Mấy ngàn năm tổ tiên dựng nước thì tới thời CS là thời mạt kiếp. Tội lớn nhất cuả Hồ chí Minh là mang cái học thuyết CS ngoại lai, láo lếu, phi lý mất tính người vào VN, để rồi con dân VN chịu muôn vàn đau khổ.

Ôi đã 36 năm rồi, quê hương tôi còn đọa dày cho tới bao giờ!!?? Biết đến bao giờ các bạn thanh niên, các trí thức còn u mê, mê man bất tỉnh mở mắt ra nhìn vào sự thật…Giờ phút này có bao nhiêu triệu người đang ăn mừng ngày 30/4 tưng bừng náo nhiệt, và cũng có bao nhiêu người ngậm ngùi làm lễ giỗ cho vợ chồng,cha mẹ, hay anh em cuả họ…Như vậy có nên hoà hợp, hoà giải hay không? Tôi tin rằng 3 triệu người Việt lưu vong sẽ sẵn lòng độ lượng và tha thứ cho tất cả những nỗi nhục nhằn, cay đắng mà họ đã gánh chịu vì CS, nhưng họ không bao giờ quên. Họ nhớ để ôn cố tri tân, để không đi vào vết xe lịch sử cũ.

Hoàng dược Sư
30/4/2011.

—————————————————————————————————————————————————-

Bài 5

Trần Hoàng điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

1./ Nhiều sách báo và tài liệu gần đây cho thấy rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger đã ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris 27-1-1973 kết quả là đã đưa tới sụp đổ miền Nam.

Nay nhiều bí mật khác nữa đã được tiết lộ, việc Mỹ cắt giảm quân viện cho miền Nam mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 cho biết cựu Bộ trưởng quốc phòng Laird, thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

Cụ thể, tiền quân viện của Mỹ dành cho miền Nam đã giảm dần từ sau năm 1973:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ), giảm 33% so với năm trước

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ), giảm 66% so với năm 1973.

Trong thời gian nầy, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng dầu tăng lên gấp bốn lần. Bởi vậy ngân khoản năm 1975 ấy chỉ có giá trị mãi lực trên dưới 350 triệu. Khoản quân viện 350 triệu vào năm 1975 đã thua kém quân viện cho miền Nam hồi năm 1963 là 384 triệu đô la.

Đại tướng  Cao Văn Viên nói: Vào tháng 1 năm 1975, quân đội miền Nam chỉ còn đủ số đạn được để đánh nhau trong 3 tuần. TT Nguyễn văn Thiệu lên truyền hình nói: Vì hết thuốc men và dụng cụ y tế, thậm chí ở các bệnh viện, các bác sĩ và y tá quân đội phải giặt lại các băng bông y tế cho sạch máu, để băng lại cho những chiến sĩ bị thương. Về đạn dược, mỗi khẩu súng đại bác chỉ được bắn mỗi ngày 2 quả.

Trong khi đó, CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự. Và trong giai đoạn 1965-1975, viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn hàng hóa quân sự, tức là viện trợ gia tăng gấp hơn 10 lần.

Trong khi đó, Trung Quốc và Liên Xô tranh nhau tăng viện trợ để dành ảnh hưởng của CSVN. Trung Quốc viện trợ 2 tỷ đô la mỗi năm, và Liên Xô viện trợ còn hơn thế nữa; tổng viện trợ của Trung Quốc dành cho Miền Bắc là 14 tỷ.

So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt ngầm của các siêu cường.

2./ Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược toàn cầu của Mỹ như sau:

Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế ‘sống chung nào đó’ với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần ‘cục kê’ của tụi nó’.

Để rồi tướng Đính kết luận: ‘Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của VNCH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết mặc cho nền hoà bình này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội”

Trích: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 635, của tác giả Nguyễn Đức Phương.

Nguyễn Đức Phương kết luận.

Như vậy cả hai miền Nam, bắc Việt Nam đều không nhìn thấy được chính sách ngoại giao của Mỹ từ đầu thập niên 70 để tiếp tục cuộc chém giết. Mùa hè năm 1972 không cần thiết phải là một mùa hè rực lửa. Những trận đánh đẫm máu tại Cửa Việt, tại Sa Huỳnh đã hầu như vô nghĩa. Hiệp định Ba lê chỉ là một biên lai để khách hành nhận lại tù binh và đoạn chiến. Số phận của VNCH đã được định đoạt từ lâu và cũng không phải tại chiến trường.” CTVNTT trang 635, 636.

Ông Ngô Đình Nhu quả là một nhân vật chính trị sáng suốt. Cả vài trăm năm trước đó và phải mất cả 100 năm sau, nước ta mới có một nhân vật có tầm nhìn xa về chính trị như  ông Nhu.  Với câu nói trên, ngay từ năm 1960, ông Nhu đã nhìn thấy được các diễn biến của chính trị Mỹ và TQ  phải diễn ra theo con đường đó; và ngay lúc ấy, Bộ Quốc Phòng và nước Mỹ cũng chưa nhận ra bước đi này, cho mãi tới 1971-1972, khi TT Nixon hòa hoãn với Trung Cộng để bao vây Liên Xô và mở ra sự hợp tác Mỹ và Trung Quốc trong các thập niên 1970s-2000s và cho đến nay. (theo nhận định của Trần Hoàng)

Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng nói.

Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để ‘ngăn chặn làn sóng đỏ’ đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của thế giới Tự Do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi” Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 456, 457.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng các nhà chính trị Mỹ đã bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS.

Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Bắc Việt lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .

Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm.

Tháng 4-1945, tướng Paton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân, họ chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Constantin Virgil Gheorghiu trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Một thí dụ nữa về sự phản bội đồng minh mà người Mỹ từng làm. Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa (quốc gia) mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.

(Gần đây nhất là vào năm 1979,  người đồng minh Mỹ đã phản bội Đài Loan. Giới chính trị gia và tư bản Mỹ hy vọng rằng họ sẽ  nhiều quyền lợi kinh tế hơn một khi họ giao thiệp được với Trung Quốc, Năm 1979, Mỹ đã đóng cửa tòa đại sứ và ngưng bang giao với Đài Loan, không công nhận Đài Loan trên chính trường quốc tế, rồi đẩy Đài Loan ra khỏi Liên  Hiệp Quốc.  Cùng lúc ấy Mỹ quay sang công nhận và hổ trợ cho Trung Quốc vào  Liên Hiệp  Quốc -ghi chú của Trần Hoàng).

Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có. Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng sản chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung Cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước.

Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kim trong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”

Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho miền Nam VN số tiền khổng lồ ấy, mà tiền chiến phí cho chiến tranh VN là một chi phí tổng gộp bao gồm cả việc trả lương lính Mỹ, nhân viên quốc phòng Mỹ, cố vấn Mỹ, công nhân chế tạo vũ khí người Mỹ, chi phí di chuyển… những khoản tiền ấy lưu hành và chi tiêu trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước Mỹ hơn là ra ngoại quốc.

Chính phủ miền Nam VN chỉ nhận được chừng 2 tỉ đô la mỗi năm. Còn vũ khí thì tính cho đến năm 1971, chỉ trừ 3 sư đoàn TQLC, sư đoàn Nhảy Dù, các liên đoàn Biệt Động Quân là được trang bị súng tự động AR 15 hoặc M 16.

Hơn 10 sư đoàn còn lại chỉ được trang bị súng carbin M1, tiểu liên Thompson, súng trường là các vũ khí thời thế chiến thứ 2 hoặc của thế chiến thứ nhất còn sót lại trong kho, hoặc là các vũ khí mà quân đội Mỹ trang bị mới cho các đơn vị của họ, thải ra và cho quân đội miền miền Nam.

Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã chết tại VN, nhưng họ không hề đoái thương tới hàng mấy triệu người Việt Nam và Đông Dương chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. Người Mỹ cũng không hề thương tiếc cho 4 triệu người dân Miên vô tội đã bị Khmer đỏ tàn sát vì Mỹ đã bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn vào năm 1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng nói Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa.

nguồn: Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh của Trọng Đạt

Các ý kiến khác về chiến tranh Việt Nam như sau:

*“Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…… ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi VN !”- (Tổng bí thư Cộng sản Lê Duẩn- 1976).

*  “Chỉ có Việt Nam là khốn khổ vì chiến tranh tàn phá suốt 29 năm trời ( 1946-75) là bởi Cộng sản Việt Nam đã đưa vận mệnh của nước Việt Nam ràng buộc vào sự sống còn và quyền lợi của phe Cộng sản quốc tế ” – (Thượng toạ Thích Quảng Độ).

* “Cuộc chiến giải phóng miền Nam là cuộc chiến ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc”- ( Nhà văn Dương Thu Hương).

* ” Cái động lực gây nên cuộc chiến đó chính là chủ nghĩa cộng sản: “Đấy chính là một tà giáo đại bịp nhất trong lịch sử loài người mà những tên lãnh tụ tối cao của chúng dựa vào đó để gây chiến tranh nồi da xáo thịt, để tiến hành âm mưu hiểm độc tiêu diệt mọi lòng tin khác, mọi nhận thức, mọi tình cảm, mọi tình yêu, kể cả lòng yêu nước của con người!”- ( Nhà văn Tô Hoài)

(còn cập nhật thêm)

——————————————————————————————–

Đừng quên “Tháng Tư Đen”

Mark Moyar – Điểm sách (Trà Mi lược dịch)

nguồn dcvonline.net

Bỏ rơi Việt Nam

Từ lúc chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời toà Đại sứ ở Sài Gòn vào tháng Tư năm 1975, sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đề tài chính trong các cuộc tranh luận của Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Phe bồ câu cho rằng thất bại của miền Nam Việt Nam vì chính phủ miền Nam suy yếu và không có chính nghĩa, củng cố lập luận đồng minh của Mỹ đã không xứng đáng được viện trợ. Nhóm diều hâu đổ lỗi cho việc mất miền Nam Việt Nam vì viện trợ Hoa Kỳ bị cắt đứt – phù hợp với niềm tin của nhóm diều hâu rằng các chính khách Mỹ đã điên rồ bỏ rơi phần đất mà gần 60.000 binh sĩ Mỹ đã chết để bảo vệ.

Việt Nam, tháng 4, 1975
Nguồn ảnh: Getty Images


Tuy nhiên, không giống như các trang lịch sử trước đó của cuộc chiến, giờ phút cuối cùng của VNCH chỉ được các nhà sử học xem xét lướt qua. Tác giả viết lịch sử, được cho là toàn diện, của cuộc chiến có xu hướng lướt nhanh qua giai đoạn 1973-1975. Trong thời gian đó, không có lực lượng chiến đấu của Mỹ tại Việt Nam và báo giới cùng các quan chức dân sự Mỹ cũng quan tâm rất ít đến Việt Nam; học giả, vì thế, có ít nguồn tài liệu bằng tiếng Anh để tham khảo.

Cuốn “Tháng Tư Đen” của George J. Veith đã lấp đầy khoảng trống lịch sử đó một cách khác thường. Tác giả George Veith đã đào sâu vào những nguồn tài liệu Việt Nam bị bỏ quên trước đó, gồm cả lịch sử của Bắc Việt, và ông đã phỏng vấn nhiều vị chỉ huy đơn vị chiến đấu miền Nam Việt Nam. Trong cách kể tỉ mỉ, Veith trình bày cả núi chi tiết mới đã cho phép ông trả lời các câu hỏi chính của lịch sử.

Mặc dù các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm một số lỗi nghiêm trọng trong cuộc tấn công năm 1975 của Bắc Việt, ông Veith nói, không thể đổ thất bại vì chính phủ vớ vẩn được và chắc chắn không phải vì khả năng chiến đấu kém cỏi của quân đội VNCH. Ở vào lúc đó lãnh đạo quân đội miền Nam Việt Nam, gồm nhiều sĩ quan đã chiến đấu giỏi, đẩy lui cuộc tấn công mùa Hè đỏ lửa năm 1972 và các cuộc đụng độ lớn nhưng ít được biết đến trong những năm 1973 và 1974. Trong cuộc tấn công cuối cùng của Bắc Việt, cấp chỉ huy và các đơn vị của miền Nam Việt Nam đã chiến đấu giỏi hơn nhiều người đã tưởng.

Nếu người Mỹ còn nhớ, một chiến thắng của miền Nam Việt Nam vào năm 1975, đó là trận chiến Xuân Lộc, ở đó một sư đoàn của quân đội miền Nam Việt Nam đã đập tan 3 sư đoàn Bắc Việt. Tuy nhiên, ông Veith cũng ghi lại một số các cuộc đụng độ khác, trong tháng Ba và tháng Tư năm 1975, chứng tỏ sức đề kháng mãnh liệt của quân đội VNCH – từ Mỏ Tàu và Núi Bông ở địa đầu giới tuyến, đến Bến Cầu và Chơn Thành ở vùng biên giới, rồi Cần Thơ và Long An ở phía nam.

Ông Veith chứng minh một cách thuyết phục rằng nguyên nhân gốc rễ đưa đến thất bại của miền Nam Việt Nam chính vì Quốc hội Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ năm 1974, khi đó viện trợ quân sự đã giảm gần một nửa. Khi Bắc Việt bắt đầu tấn công dữ dội từ tháng 3 năm 1975, miền Nam Việt Nam đã rơi vào tình trạng thiếu nhiên liệu máy bay và phụ tùng thay thế, không cho phép quân đội chuyển quân đến để củng cố mạn sườn, dễ bị tấn công dài 900 dặm, về phía tây. Bắc Việt do đó được tự do tập trung các cuộc tấn công,với số lượng áp đảo, vào các thị xã, thành phố chính yếu.

Chiến thắng An Lộc (1972)
Nguồn ảnh: vnafmann.com


Do sự khan hiếm lực lượng không vận, đe dọa quân đội Nam Việt Nam, trong tình trạng hiểm nghèo, thường xuyên phải rút lui bằng xe tải hoặc đi bộ. Thường dân chạy phía sau các binh sĩ, sợ bị các lực lượng cộng sản tàn sát, những người đã thảm sát dân Huế năm 1968 và thường dân dọc theo Quốc Lộ 1 vào mùa Hè đỏ lửa năm 1972. Phụ nữ và trẻ em và các loại xe dân sự làm tắc nghẽn cầu, đường, làm cuộc di tản chậm lại. Do đó, một số đơn vị chiến đấu bị quân Bắc Việt chận đường và tiêu diệt.

Khi cuộc di tản chiến thuật, khi lực lượng Nam Việt Nam cố gắng để tạo thành một vành đai phòng thủ tại thành phố Đà Nẵng, thì hơn một triệu thường dân đã đổ tràn vào thành phố của 500.000 người đang trong trạng thái hoảng loạn. Đường phố đã kẹt cứng vì giao thông dân sự, ông Veith giải thích, do đó sự vận chuyển của xe quân sự và hình thành đội quân lớn đã không thể phối hợp được. Một số binh sĩ bỏ đơn vị mình để bảo vệ thân nhân hoặc giúp họ chạy trốn. Tướng Ngô Quang Trưởng, một tướng lãnh tài ba và lôi cuốn của VNCH, đã quyết định tổ chức quốc phòng là điều không thể thực hiện được, ông đã ra lệnh sơ tán của quân đội chiến đấu bằng đường biển. Một số binh lính miền Nam Việt Nam đã thoát khỏi bằng tàu thuỷ, nhưng hàng ngàn người khác đã bị đơn vị quân đội Bắc Việt đang ồ ạt truy đuổi và bắt sống trên bãi biển.

“Tháng Tư Đen” cho thấy rằng việc cắt giảm viện trợ của Mỹ quá nhanh khiến niền Nam Việt Nam đã không thể đánh bom các lực lượng của đối phương ngay cả khi họ đang tụ tập đông đảo và là mục tiêu mời gọi. Lực lượng không quân Nam Việt Nam không thể bay đủ phi vụ, và khả năng của không quân tiếp tục bị xói mòn khi các sân bay bị quân Bắc Việt tràn ngập. Trong tháng Giêng năm 1973, Tổng thống Nixon đã hứa với Việt Nam là không lực Mỹ sẽ đánh tan quân Bắc Việt nếu họ đã vi phạm hiệp định ngưng bắn sắp được ký kết tại Paris. Nhưng sau đó vụ Watergate bùng nổ, và Quốc hội, dùng Nghị quyết Quyền lực Chiến tranh 1973, để ngăn cản người kế nhiệm TT Nixon, là TT Gerald Ford, thực hiện các cam kết với VNCH.

Mặc dù miền Nam Việt Nam có 763.000 người vào năm 1975, sự hạn chế di động chiến lược chỉ cho phép quân đội VNCH tập trung 110.000 binh sĩ làm phòng tuyến sau cùng ở Sài Gòn. Quân Bắc Việt, có 350.000 quân được cung cấp đa dạng nhờ sự thay đổi biến đường mòn Hồ Chí Minh thành một đường trải nhựa và có cả đường ống dẫn dầu bên cạnh. Mặc dù trước tình hình tuyệt vọng, ông Veith lưu ý, nhiều đơn vị miền Nam Việt Nam đã chiến đấu đẩy lui nhiều cuộc tấn công lớn của quân Bắc Việt Nam tại Sài Gòn và phản công có hiệu quả. Theo ước tính của riêng Hà Nội, lực lượng Bắc Việt Nam có 6.000 binh sĩ tử thương trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Người lính miền Nam Việt Nam đã chiến đấu cho đến khi chính phủ (Dương Văn Minh) mới được dựng lên ra lệnh đầu hàng với ảo vọng được phe thắng trận nhượng bộ.

Black April của George Veith; 587 trang, 29.95 USD
Nguồn ảnh: NXB Encounter Books


Hơn 100.000 binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà tử thương trong các trận chiến cuối cùng, hay đã bị xử tử ngay sau đó hoặc đã chết dần mòn vì bị ngược đãi trongcác trại “cải tạo” khổng lồ. Nửa triệu người miền Nam Việt Nam đã chết trên đường chạy trốn sự đàn áp cộng sản. Trong lúc đang toan tính viện trợ cho Afghanistan trong tương lai, “Tháng Tư Đen” là một lời nhắc nhở đúng mức với chính phủ Mỹ về thiệt hại nhân mạng khi bỏ rơi đồng minh đang bị bao vây.

© DCVOnline


Nguồn: Abandoning Vietnam. Mark Moyar. WSJ, BOOKSHELF – May 4, 2012.
Tác giả là một chuyên viên tư vấn quốc phòng và là tác giả cuốn “Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954-1965.”

——————————————————————————————–

Có tài liệu này trên diễn đàn của báo Military Times   (Thời báo Quân đội) nói là Trung Quốc đã giúp cho Bắc Việt trên 20 tỷ đô la trong chiến tranh Việt Nam.

Đảng cộng sản Trung Quốc đã gởi 320.000 lính Trung Cộng qua giúp miền Bắc VN, tính cho đến tháng 3-1968.  Tổng số lính Trung cộng bị thương và chết là 1o70 lính Trung Cộng đã chết.

(sẽ lịch bài dưới đây sau khi thu thập thêm các tài liệu khác)

China assistance North Vietnam killed American in Vietnam wars.
China communist Party and North Vietnam power signed up agreements about PLA sent troops to Vietnam fight against American imperialist in 1965.

At the same year, PLA send air defensive missile force, air defensive artillery, engineering force, railways troops, sweep mine team and shipping fleet and so on support North Vietnam. And carried on battle and supported tasks.

CCP total send 320 thousands troops support North Vietnam until 1968 March, total soldiers injury or be killed, in the middle of there were 1070 soldier dead. At the same time, China communist party provided numerous military equipments and battle supplies. Include 170 planes, 140 ships and 500 tanks, 16000 trucks, cannon 37000, 2.16 millions guns ,bullets and shells add up to 12800 millions. In additional to these, and trained 6000 persons and technologists, through Vietnam war ,CCP gave an huge human power, finance, substance assistances for North Vietnam, count in supplies equality more the 20 billion dollars.
China communist party said: they very love kill and torture American, European, abused them, CCP said you killed abuse more European, they more respect you.

———————————————————————————–

How many soldiers did China send to help North Vietnam?

Postby Kim Sung on 19 Nov 2006, 13:17

According to a Chinese military magazine ‘Research on Contemporary China’ (當 代中國史), China sent about 320,000 troops, 179 fighters, 145 combat vessels, 1044 tanks and vehicles, 16,333 trains, 37,500 mortars, and 2,160,000 assault rifles.
If we put together all these Chinese assistance in money, the total is more than 20 billion dollars (the then value). Among 320,000 troops sent to help North Vietnam, 5,270 soldiers were killed or wounded in combats. I didn’t know that China gave such a huge assistance to North Vietnam. Where were these Chinese troops deployed? More details on Chinese assistance to North Vietnam will be appreciated.
——————————————————————————————
3.

Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge

Military History Online – Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge

by Bob Seals

“Best turn it into a bigger war…I’m afraid you really ought to send more troops to the South…Don’t be afraid of U.S. intervention, at most it’s no worse than having another Korean War. The Chinese army is prepared, and if America takes the risk of attacking North Vietnam, the Chinese army will march in at once. Our troops want a war now.”[1]
— Mao speaking to the North Vietnamese in 1964

So why did the powerful modern nations of France and the United States lose two wars in Vietnam to a third rate military power like North Vietnam? This is the logical question that many historians have asked and attempted to answer since the Second Vietnam War ended in April 1975 with the fall of Saigon to North Vietnamese tanks.

This Chinese military support, to include equipment, advisors and planning assistance, provided from 1949-1975, would prove in both the First and Second Indochina Wars to be decisive. This substantial military support would give the People‘s Army of Vietnam an edge to resist Western forces and eventually subjugate the Republic of South Vietnam. This support, for various reasons, has never really been acknowledged by most popular histories of the conflict. This is perhaps due to the fact that such acknowledgement of the massive Chinese military support provided challenges many cherished myths of Vietnamese Communist military brilliance and the “heroic struggle” against overwhelming western imperialists. Two recent histories bear this out. Case in point A Military History of China, edited by David A. Graff makes no mention of Chinese support for Vietnam while Bruce A. Elleman’s Modern Chinese Warfare, 1795-1989, dismisses Chinese support in a mere two sentences.[3] However, unless this decisive Chinese support is properly understood by students of both Vietnam wars the answer to the question of why North Vietnam won will remain incomplete and misunderstood. This paper will attempt to outline the Chinese communist support in both wars and explain exactly why this support was so decisive.

China communist Party and North Vietnam power signed up agreements about PLA sent troops to Vietnam fight against American imperialist in 1965. At the same year, PLA send air defensive missile force, air defensive artillery, engineering force, railways troops, sweep mine team and shipping fleet and so on support North Vietnam. And carried on battle and supported tasks.
Chia total sent 320,000 troops to support North Vietnam until 1968 March, At the same time, China provided numerous military equipments and battle supplies. Include 170 planes, 140 ships and 500 tanks, 16000 trucks, cannon 37000, 2.16 millions guns ,bullets and shells add up to 12800 millions. In additional to these, and trained 6000 persons and technologists, through Vietnam war ,China gave an huge human power, finance, substance assistances for North Vietnam, count in supplies equality more the 20 billion dollars.

**In the 1950s Chinese formulas served as a model for the Vietnam Workers’ Party (VWP) in its war against France and in its efforts to rebuild the north. In the 1960s, Beijing provided extensive aid to help Ho Chi Minh fight the United States. China’s support was crucial in the VWP’s defeat of the French in 1954 and in its ability to resist the American pressure in the Second Indochina War. At the height of Chinese-DRV solidarity, Ho characterized the relationship as “comrades plus brothers.

**In general, the importance of China in the two Vietnam wars has been overlooked or underrated in both Vietnamese and Western writings.[2] Vietnamese writers have tended to disregard the Chinese role in the interest of producing “national history,”[3] while lack of access to Chinese archival sources has handicapped the treatment of Beijing in the Western scholarship on the Indochina conflict.


Advertisements

Posted in Phỏng Vấn, Trại Tù | 4 Comments »

Ngày 30-4 năm nay và câu chuyện một người tù được tạm tha

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2012

Lời tựa:  Chị Bùi Hằng, một người xinh đẹp trẻ trung đầy sức sống, đã từng hăng hái hô vang các khẩu hiệu trong cuộc biểu tình phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc vào tháng 7/2011.  Chỉ vì lý do này mà chị “được” đưa vào trại giáo dục vào tháng 11-2011. Nhờ sự phản đối việc chính quyền Hà Nội bắt giam chị của nhiều người trong nước, cảu các blogger, và các tổ chức chính quyền và báo chí truyền thông nước ngoài, chị Bùi Hằng đã được thả vào ngày 29-4-2012.

Chỉ cần 6 tháng trong trại giáo dục của nhà nước CHXHCN tươi đẹp, chị đã trở thành một người khác mà chính chị nhìn vào gương cũng không nhận ra nét mặt và hình dáng của chị nữa.

Câu chuyện của chị Bùi Hằng, từ lúc chị đi biểu tình, bị bắt, và quyết định của chính quyền đưa chị BH vào “trại giáo dục”, bạn bè và gia đình đi thăm, cách cư xử của cán bộ và chính quyền…đã cho ta thấy hình ảnh thật sự của nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay là như thế nào.

Lời tri ân của blogger Bùi Hằng

Bùi Hằng

Gửi tất cả những người bạn yêu quý của Bùi Hằng,

Lời đầu tiên, xin cho Bùi Hằng và gia đình được gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn, những người đã luôn lo lắng và lên tiếng bảo vệ cho Bùi Hằng trong 6 tháng qua. Xin cảm ơn những blogger, các cơ quan truyền thông, tổ chức quốc tế, tòa đại sứ và chính phủ các nước đã lên tiếng đòi trả tự do cho Bùi Hằng. Từ tận đáy lòng, xin các bạn hãy nhận từ Bùi Hằng lời cảm ơn chân thành nhất.

Chiều hôm nay, Bùi Hằng trở về nhà trong một thân xác tiều tụy, đủ các vết thương trên người. Thế nhưng, đây sẽ là ngày trở về đầy niềm vui và hạnh phúc nhất trong cuộc đời. Niềm vui trào dâng cùng những giọt nước mắt vừa mừng, vừa tủi. Sáu tháng trong lao tù, cùng với bao nỗi cay đắng đã khiến bề ngoài Bùi Hằng thay đổi hẳn, nhìn lại trong gương không thể nhận ra mình. Dẫu vậy, Bùi Hằng sẽ vẫn luôn là Bùi Hằng mà các bạn đã biết đến như ngày nào. Dù những thế lực cầm quyền có vu cáo bịa đặt thế nào đi chăng nữa, Bùi Hằng sẽ luôn là một người con của Tổ quốc Việt Nam, là người đồng hành với tất cả những người dân Yêu Nước.

Những cuộc đàn áp chỉ làm cho Bùi Hằng vững tin hơn vào con đường mình đã chọn. Những ngày sắp tới sẽ là cuộc chiến đầy cam go chống lại những thế lực đang phá hoại Tổ Quốc thân yêu của chúng ta. Dù chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi, nhưng Bùi Hằng xin nguyện sẽ làm hết sức để đấu tranh cùng các bạn.

Việc nhà cầm quyền buộc phải thả Bùi Hằng chính là thành quả từ nỗ lực đấu tranh không mệt mỏi của đồng bào trong và ngoài nước, đó cũng là nhờ vào sự lên tiếng của tất cả những người có lương tri trên toàn thế giới. Trong chốn lao tù cách biệt với thế giới bên ngoài, Bùi Hằng đã luôn chiến đấu và không lùi bước trước cường quyền.

Trại Thanh Hà là một nhà tù nhỏ, còn đất nước Việt Nam là một nhà tù lớn hơn. Còn bao nhiêu người Việt Nam yêu nước khác vẫn đang bị giam cầm trong nhà tù nhỏ, gần 90 triệu người dân Việt Nam vẫn bị đày đọa trong nhà tù lớn hơn. Chính vì vậy, Bùi Hằng nghĩ rằng chúng ta vẫn phải luôn tiếp tục chiến đấu để đòi lại tự do cho đồng bào mình. Đó cũng là khát khao mà Bùi Hằng luôn hướng đến.

Về dự định sắp tới, trước tiên Bùi Hằng sẽ cố gắng điều trị các vết thương, sau đó tiến hành các thủ tục cần thiết để khiếu nại. Trong thời gian đầu, do sức khỏe yếu nên việc đi lại sẽ gặp nhiều khó khăn, vì vậy Bùi Hằng mến mời bạn bè nếu có điều kiện ghé thăm để dùng bữa cơm thân mật với gia đình.Về lâu dài, Bùi Hằng sẽ luôn theo con đường đã chọn, tiếp tục cùng các bạn đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp hơn.

Đường còn dài và khó khăn đang chờ đợi, nhưng chỉ cần có quyết tâm và sự đoàn kết, chắc chắn chúng ta sẽ làm được. Một lần nữa, xin cho Bùi Hằng gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn đã quan tâm, xin cảm ơn mọi người đã giúp Bùi Hằng chăm sóc cho gia đình, giúp cháu Nhân có điều kiện thăm nuôi mẹ trong suốt 6 tháng vừa qua. Những ân tình sâu nặng không biết đến bao giờ Bùi Hằng mới có thể đền đáp.

Cuối cùng, xin cho Bùi Hằng gửi lời chào thân ái và quyết thắng đến tất cả các bạn

P/s: Gửi tặng mọi người bài thơ Bùi Hằng làm trong thời gian ở CSGD Thanh Hà.

Cuộc đời đâu phải là con đường trải thảm
Để cứ đi là cứ bước chân đi
Đổi bao nhiêu những đoạn trường
Thì ta mới có con đường hôm nay
Và bao nhiêu những bàn tay
Bạn bè – bằng hữu hàng ngày sẻ chia

Biết bao người đã đưa tay ra vịn
Để cho ta đứng được thẳng hôm nay
Biết bao người đã cùng ta vất vả
Để làm nên viên gạch lót đường

Ta phải sống ngoan cường và chính nghĩa
Để con đường ta bước sẽ nở hoa
Để con đường bao người bước chân qua
Sẽ đến được vinh quang chiến thắng

Dù phải đổi bằng xương máu mồ hôi
Nếu cho phép nói về tôi
Tôi vẫn mượn vần thơ của người đi trước
Để nói rằng tất cả điều tôi làm, tôi ước
Là đồng bào là tổ quốc của tôi:

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ, như cha, như vợ, như chồng
Ôi Tổ Quốc nếu cần tôi chết
Cho đồng bào tôi cho máu thịt của tôi”

Thanh Hà, ngày 20/4/2012

____________________

Hình ảnh chị Bùi Hằng sau khi ra “cơ sở giáo dục” Thanh Hà. Chị đã tự cắt tay trong trại để phản đối việc bắt giữ. (hình 29-4-2012)

 Chị Bùi Hằng tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược, lý do khiến chị phải vào “cơ sở giáo dục” Thanh Hà. (Hình tháng 7-2011)

—————————————————————————————————————————————————-

Tìm mẹ

DanlambaoĐã 8 ngày trôi qua, mọi thông tin về chị Bùi Thị Minh Hằng vẫn bặt tăm. Kẻ từ ngày bị giam giữ trái phép tại trụ sở CA Phường Bến Nghé đến nay, vẫn không ai hay biết hiện giờ chị đang bị giam nơi đâu. Gia đình lên hỏi Phường, Phường bảo chuyển lên Quận. Hỏi Quận, Quận bảo chuyển ra Hà Nội. Bao nhiêu đơn thư của bạn bè, người quen đã gửi, đến nay vẫn chỉ là một sự im lặng đáng ngờ.

Những ai quen biết với chị Hằng đều hiểu rõ một điều, chị là một người phụ nữ can đảm và cương quyết. Nếu bị bắt giam trái pháp luật, chị sẽ không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp. Những lần bị bắt trước đây chị đều đấu tranh bằng cách tuyệt thực đến cùng. Có lẽ đến hôm nay, chị đã tuyệt thực 8 ngày.

Bạn bè, đồng đội của chị đều chung một tâm trạng : lo lắng, bồn chồn, cũng có người “ray rứt, dở điên dở dại”…

Về phía gia đình, con trai chị Hằng là anh Bùi Trung Nhân tỏ ra lo lắng hơn bao giờ hết. Người con trai 19 tuổi của chị vẫn còn bị ám ảnh bởi trận đòn thù khủng khiếp của CA Vũng Tàu đới với mẹ mình hồi năm 2003. Rồi cả những nỗi hoang mang, lo sợ cho sự an nguy của mẹ khi gần đây có quá nhiều trường hợp người dân bị đánh chết trong trụ sở CA…

Lo lắng cho sự an nguy của mẹ, người con trai út của chị quyết định tự mình phải làm một điều gì đó cho mẹ.

Chiều nay, 05/12, đứng giữa các ngã tư, anh Bùi Trung Nhân mang theo rất nhiều tờ rơi có nội dung “Tìm mẹ” để phân phát cho những người dân qua lại trên đường.

Và rất nhiều người đã nhận được tờ rơi ấy.

Có lẽ, những người qua đường không mấy ai biết chị Bùi Thị Minh Hằng là ai, làm gì và đang bị giam ở đâu. Thế nhưng, người dân sẽ thấy hình ảnh đứa con một mình đi tìm mẹ bị CA bắt giam trái phép. Và hơn hết, mọi người sẽ hiểu rằng : Người phụ nữ mang tên Bùi Thị Minh Hằng bị bắt mất tích chỉ vì  tội danh mang tên : Yêu nước !

danlambaovn.blogspot.com
danbaovn.blogspot.com

Phim về chị Bùi Hằng : http://www.youtube.com/watch?v=1JZiYRBYdFM&feature=player_embedded

Bài cũ, post lại.

Thứ hai, ngày 26 tháng mười hai năm 2011

Sau Bùi Hằng sẽ là ai?

 

Từ những ngày đầu nghe tin Bùi Hằng vào đồn công an Bến Nghé rồi không trở về, cho đến lúc biết cô ấy bị giam giữ ở trại Thanh Hà với cái án không xét xử là 2 năm, bây giờ tôi mới thực sự có thời gian để suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề này.

Ngay từ năm 2010, trong một bài báo đăng trên báo Pháp luật TPHCM với tiêu đề: Giáo dục, giáo dưỡng đang bị lợi dụng – đã làm dấy lên trong công luận một sự thật :

Qua việc “nhóm nghiên cứu của Vụ Pháp luật Hình sự-Hành chính (Bộ Tư pháp) đã khảo sát, đánh giá thực trạng việc áp dụng các biện pháp nói trên, chỉ rõ những bất cập của các quy định hiện hành”, trước mắt tôi quan tâm đến 3 vấn đề chủ yếu mà bài báo đã nêu là:

–     Báo cáo của nhóm nghiên cứu chỉ rõ: Việc lập hồ sơ đưa một người vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do công an thực hiện, khi hồ sơ sang hội đồng tư vấn thì lãnh đạo cơ quan công an lại là chủ tịch hội đồng. Điều này chưa đảm bảo tính khách quan và chính xác vì công an dường như “độc diễn” trong quá trình này.

–    “hoạt động của hội đồng chủ yếu giới hạn ở việc xét duyệt hồ sơ, tài liệu do các cấp hành chính thu thập, không có thông tin đa chiều, không được nghe nội dung bào chữa, biện hộ từ phía người vi phạm…”

–     “Người bị áp dụng các biện pháp này không có quyền tham gia và phát biểu ý kiến, không được tranh tụng, không có luật sư tham gia…”

Qua ngần ấy thông tin trong bài báo trên, đủ cho thấy việc bắt giam Bùi Hằng thông qua hình thức giáo dục, cải tạo là có động cơ, rõ ràng là thiếu minh bạch của chính quyền thành phố Hà Nội. Ghép Bùi Hằng vào tội gây rối trật tự công cộng, cốt là để hợp thức hóa việc giam giữ và né tránh xét xử Bùi Hằng theo khía cạnh phản đối chính quyền bắt bớ người biểu tình.

Tôi nhớ lại hôm ở Bờ Hồ, tình cờ gặp giáo dân Thái Hà đi nộp đơn ở phòng tiếp dân 34 Lý Thái Tổ, và chứng kiến việc một số giáo dân bị bắt lên xe buýt khi họ đi bộ trên Bờ Hồ. Lúc đó tôi đứng cách đó khá xa, quan sát thấy cảnh bắt bớ đó lại nhớ những ngày mình đi biểu tình cũng từng bị bắt như thế. Rồi đột nhiên có 3  “thanh niên” đi qua vườn hoa, hướng đến chỗ tôi đứng. Bọn họ túm lấy một cậu thanh niên đang đứng cạnh tôi lôi đi, mặc cho cậu ấy bất bình la lên phản đối. Tôi đang bức xúc về cái chuyện, họ cứ ngang nhiên bắt người như thế này thì một viên công an đi đến nói rất to:

–     Ai không có nhiệm vụ giải tán ngay khỏi khu vực này. Không được tụ tập ở đây.

Mọi người xung quanh tôi chạy té đi. Tôi bực mình lắm, cứ đứng yên tại chỗ. Thấy thế, tay công an hất hàm:

–     Chị nữa, không có nhiệm vụ gì, yêu cầu chị giải tán…

–     Đây là vườn hoa. Thế nhiệm vụ gì thì được đứng ở đây?

Tay công an ngớ người nhìn tôi. Hình như anh ta rất ngạc nhiên, khi có người không những không ù té chạy mà còn dám hỏi vặn lại công an. Anh ta không trả lời câu hỏi của tôi, chả lẽ lại bảo vườn hoa Bờ Hồ là nơi chỉ để công an và an ninh làm nhiệm vụ? Nếu khi ấy tôi không đứng đó, làm sao tận mắt chứng kiến sự việc. Chưa cần biết ai đúng sai thế nào, ít nhất là tôi có thể kể lại một cách trung thực khi cần làm chứng.

Công an không muốn nhân dân nhìn thấy, nghe thấy là để một mình họ độc diễn chăng? Nếu họ làm đúng, tại sao họ không để cho nhân dân thấy rằng họ đang thực thi pháp luật một cách đúng đắn, và những kẻ gây rối kia đáng bị trừng trị thích đáng, cần được tuyên truyền rộng rãi bằng hình ảnh và clip video cụ thể để làm gương cho thiên hạ?

Viên công an không giải thích được thì trừng mắt nhìn tôi, gằn giọng:

–     Nhớ! Không được tụ tập ở đây nhớ! Đây là khu vực nhạy cảm nhớ!

Tôi cãi ngay:

–    Anh nói lạ nhỉ? Tôi đang đứng có một mình mà anh bảo tụ tập là thế nào? Cái gì nhạy cảm? Tôi chẳng hiểu cái gì gọi là nhạy cảm cả.

Anh ta rút bộ đàm ra, nghe chừng định gọi người đến bắt tôi chắc. Ngay lúc ấy một thanh niên đi đến lôi tay công an đi chỗ khác. Tôi tức giận quay ra nói với những người vừa chạy đi:

–     Làm sao mọi người phải chạy? Đây là vườn hoa, mình đứng giữa thanh niên bạch nhật thế này, phạm pháp cái gì mà phải chạy?

Về đọc tin trên mạng, thấy nói tất cả những người bị bắt lên xe buýt hôm đó đều bị ghép vào tội gây rối trật tự công cộng. Tôi thấy lạ là trong hàng trăm người đang đi trên Bờ Hồ lúc đó, họ lại chỉ bắt một số người? Nói như bản báo cáo của nhóm nghiên cứu Bộ Tư pháp thì đúng là công an hoàn toàn độc diễn trong việc này. Họ muốn lập hồ sơ về ai đó thì chỉ cần vài lần bắt lên xe buýt như thế này, chắc hẳn sau đó sẽ lập được ngay cái hồ sơ để tống bất cứ ai đó vào trại giáo dục và cải tạo.

Điều này khiến nhiều người thực sự lo ngại. Chính quyền có thể còn tiếp tục sử dụng cái chiêu bài đưa đi giáo dục cải tạo, để trấn áp những người tham gia biểu tình thời gian qua, hoặc bất cứ đối tượng nào chính quyền không “ưa” mà không bị một cơ quan nào tuýt còi. Những người biểu tình chúng tôi đùa vui: Nếu vậy, mỗi chúng ta đều là những trại viên dự bị mà Bùi Hằng là người đầu tiên hy sinh. Đùa thế nhưng trong lòng thấy cay đắng làm sao.

Hẳn ai cũng biết việc điều chỉnh hệ thống pháp lý cho phù hợp với cuộc sống ở nước ta là quá chậm chạp (ví dụ như luật biểu tình là 19 năm. Lạc đề đi một chút là 15 năm triển khai việc mua nhà theo nghị định 61 vẫn bế tắc sau nhiều lần gia hạn). Một tay công an nói với tôi: ai kiện cứ việc kiện…! Thật là một câu mang đầy thái độ thách thức, coi thường luật pháp.

Đời người quá ngắn ngủi để mà chờ đợi công lý được thực thi. Có bị tước đoạt tự do dẫu chỉ một ngày mới hiểu được phần nào giá trị của nó. Mặc dù vậy, chính quyền cũng thừa hiểu việc giam giữ dưới hình thức giáo dục, cải tạo này sẽ không bao giờ thay đổi được quan điểm và ý chí của Bùi Hằng.

Việc hôm nay với Bùi Hằng rất có thể sẽ xảy ra với bạn, với tôi hoặc ai đó trong nay mai. Sau Bùi Hằng sẽ còn những ai nữa, trở thành nạn nhân của hệ thống pháp lý mà vốn dĩ còn quá  nhiều sự vô lý, bất cập này?

Trong khi chờ đợi luật sư khiếu nại việc cưỡng bức Bùi Hằng vào trại cải tạo, tôi hy vọng rằng sẽ có nhiều người lên tiếng đấu tranh cho việc trả tự do cho Bùi Hằng. Mong làm sao ngày được đón cô ấy trở về trong vòng tay người thân và bè bạn.
 

Tư liệu tham khảo: những đoạn chữ đỏ in nghiêng được dùng để trích dẫn

(Bài đăng trên Báo pháp luật TP HCM – Giáo dục, giáo dưỡng đang bị lạm dụng)

Bộ Tư pháp đang nghiên cứu để tư pháp hóa thủ tục đưa người vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng.

Việc đưa người vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục… bằng quyết định hành chính ít nhiều liên quan đến quyền tự do cá nhân của người vi phạm pháp luật trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục cũng như việc tổ chức, thực hiện loại “quyết định hành chính khác” này còn nhiều bất cập.

Trong khuôn khổ dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam”, ngày 13 và 14-12, Bộ Tư pháp và Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) tổ chức hội thảo bàn hướng hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính này.

Xích mích gia đình: Đưa vào cơ sở giáo dục

Trước đó, nhóm nghiên cứu của Vụ Pháp luật Hình sự-Hành chính (Bộ Tư pháp) đã khảo sát, đánh giá thực trạng việc áp dụng các biện pháp nói trên, chỉ rõ những bất cập của các quy định hiện hành.

Theo quy định, chủ tịch UBND cấp huyện, tỉnh là người trực tiếp ban hành quyết định hành chính để đưa một người vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hay trường giáo dưỡng. Ngoài ra, một số chủ thể khác như công an, tư pháp, nhà trường, tổ dân phố… tham gia vào quá trình đề nghị, xác minh, lập hồ sơ, tư vấn giúp chủ tịch UBND ra quyết định.

Báo cáo của nhóm nghiên cứu chỉ rõ: Việc lập hồ sơ đưa một người vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do công an thực hiện, khi hồ sơ sang hội đồng tư vấn thì lãnh đạo cơ quan công an lại là chủ tịch hội đồng. Điều này chưa đảm bảo tính khách quan và chính xác vì công an dường như “độc diễn” trong quá trình này.

Đành rằng chủ tịch UBND là người quyết nhưng Hội đồng tư vấn có vai trò rất lớn, có thể nói là quan trọng nhất với việc có áp dụng biện pháp đưa người vi phạm vào trường, cơ sở hay không. Thế nhưng hoạt động của hội đồng chủ yếu giới hạn ở việc xét duyệt hồ sơ, tài liệu do các cấp hành chính thu thập, không có thông tin đa chiều, không được nghe nội dung bào chữa, biện hộ từ phía người vi phạm…

“Việc ra quyết định áp dụng biện pháp liên quan đến hạn chế tự do của đối tượng vi phạm theo pháp luật hiện hành chưa thật sự đảm bảo tuân theo nguyên tắc công khai, minh bạch và công bằng, tranh luận và biện hộ. Người bị áp dụng các biện pháp này không có quyền tham gia và phát biểu ý kiến, không được tranh tụng, không có luật sư tham gia…” – nhóm chuyên gia bình luận.

Vì những thủ tục “khép kín”, đôi khi áp đặt, chủ quan của cơ quan có thẩm quyền nên không ít người bị đưa vào trường, cơ sở chưa đúng theo quy định. Nhóm chuyên gia dẫn chứng, tại Cơ sở giáo dục Bến Giá (Trà Vinh) có 6% người được đưa vào đây do thực hiện các hành vi cãi nhau, đánh nhau giữa những người thân trong gia đình (không thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục).

Thời gian “cao su”

Theo quy định, thời hạn người vi phạm ở trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh từ ba tháng đến hai năm. Tuy nhiên, thực tế khảo sát tại các cơ sở giáo dục tập trung, hầu hết người vi phạm đều bị áp dụng ở mức tối đa. Báo cáo của Cơ sở giáo dục Thanh Hà cho thấy trong năm năm (từ 2004 đến tháng 6-2008), chỉ có một người được áp dụng thời hạn tối thiểu. Đến tháng 9-2009, Trường Giáo dưỡng số 4 ở Đồng Nai có ba người được áp dụng thời hạn tối thiểu!

Để hạn chế “án cao su”, ngay từ Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 1995, sau đó là pháp lệnh năm 2002 đều không quy định việc gia hạn thời hạn ở trường, cơ sở… Tuy nhiên, một số văn bản hướng dẫn (nghị định, thông tư) đã mở rộng quy định của pháp lệnh, cho phép trường hợp “… đã được giáo dục và bị kỷ luật nhiều lần, đến khi hết thời hạn giáo dục tại cơ sở giáo dục mà vẫn không chịu sửa chữa, không tiến bộ thì giám đốc cơ sở giáo dục lập hồ sơ báo cáo chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đóng xem xét, quyết định việc đưa người đó vào cơ sở giáo dục…”. Quy định trên thực chất là kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, trái với tinh thần của pháp lệnh.

Báo cáo của nhóm nghiên cứu cho biết có 13 trường hợp ở Cơ sở giáo dục Xuân Hà (Hà Tĩnh), 16 trường hợp ở Cơ sở giáo dục Hoàn Cát (Quảng Trị) kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn từ  sáu tháng đến 24 tháng. Cá biệt, có người hết thời hạn 18 tháng ở trường giáo dưỡng tại Hà Nội lại tiếp tục bị đưa tiếp vào Cơ sở giáo dục Hoàn Cát (Quảng Trị) với thời hạn 24 tháng.

Sẽ “tư pháp hóa” thủ tụcDự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo dự kiến bỏ biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh ra khỏi dự thảo luật.Về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, ban soạn thảo dự kiến xây dựng hai phương án xin ý kiến Quốc hội. Phương án một: Chuyển cho tòa xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục tố tụng. Phương án hai là vẫn giao cơ quan hành chính nhưng “mượn” một số thủ tục tư pháp như cho luật sư, người đại diện, giám hộ… giải thích, biện hộ với cơ quan áp dụng biện pháp hành chính khác.+ Kiện vì không nghiện mà phải vào cơ sở chữa bệnh. Năm 2008, anh Nguyễn Văn Sơn (được về trước thời hạn ba năm) đã kiện UBND huyện Châu Thành (tỉnh Tây Ninh) vì ra quyết định đưa anh vào cơ sở chữa bệnh hai năm trời, trong khi bản thân anh không sử dụng ma túy. Tại phiên sơ thẩm lần hai năm 2009, tòa buộc UBND huyện Châu Thành bồi thường vật chất, tinh thần cho anh Sơn trong thời gian bị đưa đi cai nghiện…+ Tàn phế sau khi được đưa đi giáo dục. Cuối tháng 9-2009, thấy chồng là anh Nguyễn Minh Hà (ở Phú Thọ) hay rượu chè, đánh đập vợ con nên người vợ nộp đơn đề nghị công an đưa chồng đi cải tạo, giáo dục. Sau đó, anh Hà bị kiểm điểm tại UBND xã trước sự chứng kiến của làng xóm. Ba tháng sau, nghi ngờ con trai anh Hà ăn trộm, các cán bộ đã mời thằng bé và anh Hà đến trụ sở công an và anh bị giữ lại, đưa đến Cơ sở giáo dục Thanh Hà thuộc V26 – Bộ Công an. Bốn ngày sau, một công an đến nhà báo cho vợ anh là anh Hà bị cảm nặng, tới gặp ngay kẻo không kịp. Đến nơi, người vợ thấy chồng mê man, trên người đầy vết bầm. Hộp sọ bên trái của anh bị vỡ một miếng, gãy xương hông, xương cánh tay… 

Đức Minh

Nguồn Phương Bích blog

*Ở nước Đức, vào ngày 28-4-2012, những Việt kiều  đã biểu tình trước tòa đại sứ  CHXHCN VN ở Đức…

———————————-

Ngọn cờ sau Ba Mươi năm

Vào buổi sáng ngày 30-4-1975, tôi đứng trong thềm căn biệt thự không lớn lắm ở đường Nguyễn Văn Lạc, Thị Nghè, nhìn về phía mặt trời mọc. Trời cao xanh, nắng vừa lên, đổ bóng xuống trên nền cái sân rộng. Tôi lặng lẽ bước ra sân, đi lần ra phía cổng. Bên ngoài cánh cổng khép kín kia, tôi không thấy nhiều dấu hiệu của chết chóc, của tàn phá, nhưng hình như đã có một vài đổi thay.

Khi quay vào trong nhà, tôi gặp hầu hết những người có mặt trong căn nhà Chung này. Họ đã thức dậy, nhìn nhau, dấu kín niềm vui sau một đêm… “chờ đợi biển máu”, nhưng không có máu. Tuy thế, không thể tìm được một nụ cười. Thay vào đó là những đôi mắt nặng âu lo. Họ như dò hỏi nhau, chuyện gì sẽ xảy ra? Hôm nay và ngày mai sẽ ra sao? Không có câu trả lời. Bữa ăn sáng không một ai còn nhắc đến.

Khoảng 9 giờ sáng, tôi lại ra ngoài sân. Đất trời như đã đổi thay. Trước mặt tôi, ngay phía ngoài cánh cổng còn khép kín kia là từng đoàn người chạy ngược, chạy xuôi. Đuổi theo lưng họ là những loạt đạn đinh tai nhức óc, vọng lại từ phía cầu Tân Cảng, ngã tư Hàng Xanh, hay gần hơn thế. Tiếng đạn càng rát, bước chân người càng gấp rút hơn. Vào lúc ấy, tiếng đạn vang trở thành một thứ ma lực, giật đứt tung những hàng nút áo. Làm rớt lại phía sau lưng những mũ đỏ cánh dù, những màu xanh ó biển, những mũ nâu hoa rừng, những mũ sắt với lưới ngụy trang. Tang thương hơn thế, những màu áo của non sông, của một thời ngang dọc với chí làm trai đang bị gío cuốn lăn trên mặt đường, hoặc cuộn theo bước chân người chạy qua.

Tôi đứng chết lặng, dõi mắt về cuối con đường. Không phải tôi chỉ thấy có bấy nhiêu. Trái lại, súng đạn là những loại vũ khí nhiệm màu của đoàn quân đi bảo vệ quê hương. Lúc này xem ra không còn linh nghiệm. Nó bị vất bỏ dưới gốc cây, trên lề đường, không ai thương tiếc. Rồi những đôi giày sô, vật bất khả ly thân dưới chân người lính. Nó đã theo người lính đi khắp mọi nẻo đường của quê hương. Từ rừng sâu núi thắm, đến sông hồ biển cả. Từ thành thị cho đến thôn quê. Ở bất cứ nơi nào có bước chân của họ đến là nới ấy người dân Việt có niềm vui, có bình an, có hơi thở ấm. Và dĩ nhiên, có lũ chuột đồng nằm nín thở chờ chết trong những hang ổ hôi tanh. Nhưng nay, hỡi ơi, giày sô, áo trận vất ngổn ngang như rác ruới trên đường, Cuộc chiến bại chăng?…

– Anh làm ơn cho tôi cái áo được không?
Tôi nhìn xững hai người thanh niên trạc bằng tuổi tôi, mình trần, chạy ngang qua. Tôi nhìn và chưa hiểu anh ta nói gì. Tôi hỏi lại:
– Anh cần áo gì?
Một người kéo tay bạn, dục:
– Thôi đi.
Tôi ngơ ngác nhìn anh. Rồi vỡ lẽ khi thấy những người cùng khu xóm, tay ôm từng bó quần áo đứng nấp nửa người trong khung cửa, đưa tay ra ngoài:
– Quần áo đây, quần áo đây các chú ơi! Mặc vào đi. Thôi kể chi, cứ khoác lên người là được rồi.
Nghe thế, tôi cởi ngay chiếc áo đang mặc trên người ra đưa cho anh và bảo:
– Chờ một tý, tôi vào lấy quần áo cho các anh.

Nói xong, tôi chạy vào ôm ra một ít quần áo. Tiếc thay, khi ra đến nơi, hai người kia đã đi rồi. Tôi ân hận vì đã không kịp thời biếu cho họ manh áo để che thân lúc cần thiết. Tuy thế, nỗi ân hận không kéo dài lâu. Bởi vì chính tôi lại có dịp trao những cái áo, cái quần kia cho những người khác đang chạy trờ tới. Rồi tôi bỏ đống quần áo trên tay xuống, chạy vào vơ vét bất cứ cái áo, cái quần khả dụng nào đem ra đứng trước cánh cổng chờ họ ngang qua. Tôi đứng đó thật lâu. Lòng trĩu nặng đầy lo âu. Ánh mắt không có đủ niềm vui. Rồi tôi muốn khóc khi nhìn thấy cảnh bà con lối xóm gọi nhau ơi ới, đem quần áo trong nhà ra cho những người lính thất trận trở về. Và hơn thế, có nhiều cánh cổng nhà mở ra và tiếng dục vội vã:

– Trời ơi, chạy đi đâu nữa đây. Tụi nó tơi nơi rồi kia, vô đi, vô trong nhà đi, chờ cho nó lắng xuống rồi hãy đi!

Cùng với lời nói ấy. Những vòng tay mở ra. Mở ra như đón mừng con, mừng anh, mừng em trở về. Khi những vòng tay mở ra cũng là lúc những giọt nước mắt nóng trào lăn trên từng khuôn mặt trong giây hạnh ngộ, nhưng chưa bao giờ thấy nhau từ trước.

Một tiếng nổ thật lớn dội lại từ phía cầu Thị Nghè. Lập tức những tiếng gào thét trở nên thê thảm hơn. Chẳng bao lâu sau, bắt đầu có những tiếng nói lanh lảnh, những tiếng la hét của hàng tôm hàng cá bắt đầu vang ra, truyền đi từ cái loa phát thanh của xã Hạnh Thông Tây kêu gọi dân chúng ra đường đón… Việt cộng. Lời kêu gọi không một ai đáp trả. Trái lại, chỉ có những cánh tay vẫn giang ra đón người thất trận trở về trong nước mắt.

Một chiếc xe T54 lùi lũi tiến vào con đường Nguyễn Văn lạc. Đến ngay ngã ba, gần căn nhà tôi đang ở. Nó đứng lại, hạ thấp tầm súng xuống. Bà con hoảng thần hồn, gào thét bỏ chạy tán loạn. Tôi cũng vội vã chạy vào trong nhà đóng chặt cửa lại. Trong căn phòng khách khá rộng, người người ủ dột, ngồi bất động, không ai nói với nhau một lời nào. Nhưng đôi tai như mở thật lớn ra để nghe cho rõ ràng từng tiếng nói của Dương văn Minh và Nguyễn hữu Hạnh vừa truyền đi qua làn sóngcủa đài phát thanh quân đội.

Lát sau, tôi lại trở ra trước sân. Đứng nhìn trời. Mắt tôi hoa lên vì vừa thoáng thấy những cái bóng, như những bóng ma, vác lá cờ của cái gọi là” mặt trận giải phóng miền nam” chạy qua lại trên đường. Tự nhiên, hai bàn tay tôi xoắn chặt lấy nhau, nước mắt bỗng tuôn trào trên mặt.

Tôi khóc thương tôi. Tôi khóc thương cho những người lính vừa bị bó buộc tan hàng, hay là tôi khóc thương cho màu cờ từ nay không còn được tung bay trên phố, trên nhà và trên quê hương của tôi? Thú thật, tôi không biết vì lý do gì tôi đã khóc và khóc ngon lành đến thế…

Hôm nay, hơn ba mươi năm sau, ở một nơi mà trong đời tôi trước kia không hình dung ra được. Tôi lại thấy ngọn cờ tung bay. Không phải một, mà có thể nói là có cả một rừng cờ trong biển người tha hương cùng giơ lên cao. Nhìn lá cớ bay, niềm vui, nỗi mừng dâng lên nghẹn lòng.

Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên tôi mừng cui vì là cờ của tổ quốc Việt Nam tung bay giửa bầu trời hải ngoại. Nhưng mỗi một lần thấy là cờ yêu dấu kia tung bay trên cao là một lần nó ghi khắc vào tâm khảm tôi và người đứng nhìn một dấu ấn riêng biệt.

Này là lần ghi dấu ngày quốc hận đầu tiên trên xứ người. Này là lần Võ văn Kiệt vỡ mật chui qua cổng hậu của phi trường Canberra khi nhìn thầy ngọn cờ vàng lững lẫy trên tay người tỵ nạn đứng ngoài cổng chính. Kia, lần bí thư có tay nghề thợ cạo Đỗ Mười bỏ cả chương trình mà chạy khi thấy đoàn người tỵ nan hùng dũng tiến lên với ngọn cờ Vàng của tổ quốc trong tay. Rồi những lần, từ Phan văn Khải, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn Minh Triêt bở vía, tan hồn khi nhìn thấy ngọn cờ chính nghĩa được giơ lên cao từ bàn tay của những thanh thiếu niên vừa trưởng thành nơi xứ lạ. Có thể nói, đó là tất cả những dấu ấn, là những chứng tích uy dũng của người Việt Nam vì đại nghĩa.

Rồi hôm nay, ngọn cờ thì vẫn ngọn cờ dấu yêu ấy. Ngày, vẫn là ngày ghi dấu quốc nạn của dân tộc Việt. Nhưng bóng cờ thiêng kia như đang vươn trải ra một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt ấy chính là vì ngọn cờ thiêng kia đang được những người trẻ Việt Nam khơi nguồn sinh khí mới. Nói cách khách, la cờ ấy đang được lớp trẻ đầy nhiệt tâm dựng lại thành một niềm hy vọng mới cho dân tộc.

Tại sao tôi lại nói đến sự khác biệt của lá cờ trong tay ngừơi đang nắm giữ nó. Thưa, có nhiều lý do, nhưng ít nhất có những điểm chính yếu sau đây:

Những năm về trước, đa phần ngọn cờ của dân tộc được nâng niu và bảo vệ từ thế hệ cha anh, một thế hệ không ít thì nhiều đã có ân, lộc hoặc it nhất là có liên hệ một phần của đời mình với ngọn cờ ấy. Theo đó, khi họ ra đi, dù là thương hay giận hờn, lá cờ ấy cũng đã nằm lòng trong họ. Họ vì quen mà giơ ngọn cờ lên cao. Họ vì nhớ mà trương cờ lên. Hoặc vì căm thù bọn cộng sản vô nhân mà tranh đấu.

Ý nghĩa ấy gói trong ngọn cờ tung bay thì không phải là không tạo ra dấu ấn. Tuy nhiên, ảnh hưởng của dấu ấn ấy không thể bay cao, truyền đi xa. Ấy là chưa kể đến đến mặt tiêu cực bị nhà nuớc Việt cộng và tay sai đánh phá khi chúng tung ra những chiêu thức đểu cáng là: trương cờ vì phục quyền, phục chức, chứ nào phải vì phục quốc!

Thoạt nghe những lời ấy, rất nhiều người đau tím gan, giận thâm ruột. Tuy nhiên, nhất thời cũng khó mà bào chữa, hoặc tẩy rửa cho hết được cái luận điệu tuyên truyền xảo trá của chúng. Nhưng khi bình tâm trở lại, cũng có người nhận ra một sự thật là có những kẻ gian manh đã lợi dụng lòng yêu nước cuồng nhiệt của đồng bào. Họ đã trương ngọn cờ lên để trục lợi cho mục đích riêng tư, phe nhóm? Sự thật này đúng hay sai, tôi không có ý bàn đến ở đây.

Rồi một thập niên nữa trôi qua, những chiến binh trẻ trong ngày bó buộc phải tan hàng kia đã xiết lấy tay nhau. Ngọn cờ của họ đã khởi sắc, mang một ý nghĩa đấu tranh cứng rắn. Tuy thế, vì những liên hệ với màu cờ ấy. Nó cũng có một quy luật khắt khe là bị hạn chế. Theo đó, ngọn cờ dù có tung bay, cũng khó lòng mà vươn trải ý nghĩa tranh đấu cho hoài bão tự do, dân chủ cho quê hương được.

Nay thì khác rồi. Ngọn cờ đã bay cao và đưa vào vũ đài thế giói một ý nghĩa khác biệt. Bởi vì, người đi đầu, trương cao ngọn cờ kia đã không được sinh ra, lớn lên và trưởng thành dưới màu cờ sắc áo ấy. Nhưng là những hậu bối được sinh trưởng trên phần đất tự do. Họ đã đem tài đức, trí lực của mình ra mà tranh luận với thế giới rằng: Đây là ngọn cờ của Chính Nghĩa, của Lương Tâm, của Dân Chủ của Nhân Quyền, của Độc Lập, Tự Do và của Công Lý.

Dĩ nhiên, khi hiếu kỳ nhìn theo bước chân ngạo nghễ của những người trẻ tiến bước, dẫu là hòn đá bên đường cũng phải tự đặt ra vấn đề là: Tại sao những người trẻ này lại đem thân vào trường tranh đấu mới.?

Có phải vì họ được giáo dục và trưởng thành trong một môi trường đầy nhân bản. Họ hiểu được thế nào là Tự Do, thế nào là Dân Chủ, thế nào là nhân bản, thế nào là Nhân Quyền. Rồi họ hiếu thế nào là cưòng bạo, thế nào là độc tài, áp bức, thế nào là phi dân chủ, mà họ tiến bưóc đấu tranh cho đồng loại?

Có phải vì họ được đào tạo trong Tín Nghĩa. Họ hiểu thế nào là Liêm là Chính. Thế nào là xảo trá, lường gạt, là tham ô, hối lộ, độc ác và thế nào là cướp ngày?

Có phải vì họ được giáo dục trong lẽ thật. Họ hiểu thế nào là công bằng, là bác ái. Thế nào là bất công, thế nào là bóc lột, thế nào là buôn dân bán nước?

Và có phải vì họ thấm nhuần nền văn hóa nhân bản của dân tộc. Hơn thế, họ có những trái tim quảng đại, có bầu nhiệt huyết trào dâng và bằng một vòng tay mở rộng. Họ đã không ngần ngại dấn thân, giơ cao ngọn cờ của dân tộc lên mà tranh đấu cho cuộc sống ấm no của đồng bào ở quê xưa? Hay vì đại nghĩa, vì tự do, vì dân chủ vì nhân quyền và vì dân tộc mà họ bước tới? Nếu họ đã không đi vì mình, nhưng vì xã hội, vì quê hương thì đó chính là ý nghĩa khác biệt của ngọn cờ sau hơn ba mưoi năm, ngày cộng sản nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam.

Nhìn vào cuộc thế trong bước đi của ngày 30-4 hôm nay, anh thấy gì, chị thấy gì, bạn bè thấy chi?

Tôi tin rằng khi thấy những bước đi anh dũng của các bạn trang lứa từ hải ngoại và sau những ngày giao tiếp với thế giới bên ngoài, dù chỉ qua bàn máy tính, những người trẻ ở trog nước sẽ tự mặc cho mình tư duy mới. Họ sẽ có được cái nhìn rõ nét và trong sáng hơn theo nhịp bước của những ngưòi đồng trang lứa nơi hải ngoại. Họ sẽ nhìn ra được những ruồi trâu đang tàn phá quê hương Việt. Họ sẽ nhìn thấy thảm cảnh Văn Hóa của Việt Nam đang bị những ngụy chứng “Macle Maoho” xoáy mòn luân lý đạo đức. Họ sẽ nhìn ra được cái tai họa của dân tộc khi nên Văn Hóa Nhân Bản, Bao Dung của chủng tộc Việt bị phá sản. Họ cũng sẽ nhìn ra được một cuộc tầu hóa trên đất Việt từ phương bắc. Và sự nhận thức ấy chính là động cơ làm thức tỉnh lòng họ. Và từ một định đề, cùng nhau đổi mới quê hương. Họ ngại gì khi nhìn sang và cùng nắm lấy tay các bạn đồng trang lứa ở hải ngoại để cùng nhau lo cho quê hương. Như thế, Việt Nam mới có bước hưng thịnh.

Phần chúng ta thì sao. ( tôi muốn nói đến thế hệ cha, anh)Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Nếu như biết sức đã cùng, lực đã kiệt, không thể làm gì hơn được nữa thì ít ra nên giữ im lặng. Hay tích cực hỗ trợ cho lớp trẻ ngày nay tiến lên, hơn là bày vẽ ra những tổ này, chức khác. Bởi lẽ, theo cái nhìn thiển cận của tôi ( có thể không đúng) là: Càng vẽ hươu thì chỉ thấy rừng trút lá và thấy ngày rất ngắn. Và sẽ chẳng có niềm vui trong cảnh hoàng hôn.

Theo đó, ngoại trừ niềm tin và sức sống của lớp người trẻ hôm nay, thật khó có thể tìm được lực đẩy có khả năng mang lại Tự Do, Dân Chủ và Công Lý cho quê hương trong ngày mai. Bởi lẽ, lòng họ sạch, trí họ sáng, lực thì dồi dào, bụng không hám danh, quyền tước lợi lộc, lòng không tư vướng hận thù. Bấy nhiêu điều đã qúa đủ để những lớp đàn anh còn phục chí, phải khuất phục mà hỗ trợ cho những bước đi của tuổi trẻ. Có thế, may ra ý nguyện của cả dân tộc mới có cơ thực hiện. Trái lại, lớp tre gìa cũng khó cưỡng lại định luật của thòi gian. Nghĩa địa ngoại có thêm nhiều ngưòi tên Việt và quê nhà cũng không có một điều gì mới mẻ hơn!

Bảo Giang
ngày Quốc Hận 30-4

thegioinguoiviet.net

Posted in Tù Chính Trị | 3 Comments »

►Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2012

Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn –

Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

30-4-2012

Phạm Hồng Sơn thực hiện

Theo blog pro&contra

pro&contra: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”đã thành công hoàn toàn?
___________________

huynh-nhat-hai-phai-va-huynh-nhat-tan-trai-300x200.jpg

Huỳnh Nhật Hải (phải) và Huỳnh Nhật Tấn (trái)

Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi lúc đó của ĐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Đó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Đà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ĐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.

Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?

Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Đặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.

Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.

Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?

Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi”, tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.

Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi”, anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Đà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.

Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi”, hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.

Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?

Huỳnh Nhật Tấn: Đúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.

Phạm Hồng Sơn: Sau 30/04/1975 các ông được giữ ngay chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố hoặc Phó Giám đốc Trường Đảng?

Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30/04/1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Đảng. Năm 1979 làm Chủ tịch khu phố I Thành phố Đà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Đảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đà Lạt, là Thành ủy viên.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Đảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi”. Ngay tháng 10/1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 03 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức Phó Giám đốc trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp Tỉnh ủy, là Tỉnh ủy viên dự khuyết.

Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ Đảng kiêm các chức vụ đó?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói.”

Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa.

Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?

Huỳnh Nhật Hải: Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.

Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Tấn: Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo”, thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.

Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,… những cư dân tại Đà Lạt lúc đó chưa?

Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30/04/1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”

Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?

Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ĐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.

Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?

Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.

Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?

Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh – lãnh tụ, người sáng lập ra ĐCSVN.

Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?

Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ĐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ĐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.

Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.

Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?

Huỳnh Nhật Tấn: Đúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ĐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “Đảng ta”, tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ĐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ĐCSVN.

Huỳnh Nhật Hải: Đúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ĐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ĐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?

Huỳnh Nhật Hải: Đúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ĐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại – cũng như ông Hồ Chí Minh.

Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ĐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.

Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

Phạm Hồng Sơn: Ngày 30/04/1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?

Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Đà Lạt. Tôi đã trở về Đà Lạt từ ngày 03/04/1975 với tư thế của người chiến thắng.

Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Đà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 04/04/1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi – má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.

Phạm Hồng Sơn: Dịp 30/04 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?

Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.

Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.

Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.

______________________

Chú thích ảnh: Ông Huỳnh Nhật Hải (phải) và ông Huỳnh Nhật Tấn (trái)

© 2012 pro&contra

[i] “Mi” tức là “sắn” theo tiếng miền Bắc

Nguồn

danluan.org


 

 

____________

 

NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN

Nói Láo và Tham Nhũng là gốc của chủ nghĩa Cộng sản

Website: http://www.HerbalWorldCenter.com/phanrang

Sơn Tùng nói về những đảng viên của đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam tham nhũng trong “Buổi nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Đào tạo”:

– “Nhưng từ một phần tư thế kỷ nay, Đảng ta sa sút xuống đến mức không tưởng tượng nổi so với trước đây, nhân cách nhiều người cộng sản không còn. Nhân cách không còn, vì tham nhũng đến mức không thể chấp nhận.”

—————————-

1. Tổng Thống Nga Vladimir Putin:

– “Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.”

2. Boris Yeltsin Tổng thống Liên bang Nga:

– “Cộng sản không thể nào sửa chữa mà cần phải đào thải nó.”

3. Nguyễn Khải, nhà văn, Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS, đã viết trong “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất”:

– “Ngôn từ là mặt yếu nhất trong các lãnh vực thượng tầng cấu trúc tại các nước xã hội chủ nghĩa vì lãnh đạo các nước đó dùng ngôn từ để che đậy… Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo”.

4. Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội CSVN, trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên:

– “Cơ chế hiện nay tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước… Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là tiền, dù số tiền bị mất lên đến hằng trăm tỷ, mà cái lớn nhất bị mất là đạo đức. Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo đức đó rất mất đạo đức”.

5. Thủ tướng Đức Angela Merkel:

– “Chủ nghĩa Cộng sản đã tạo nên những con người dối trá.”

6. Lenin:

– “A lie told often enough becomes the truth.”
(- “Nói láo nhiều lần, chuyện láo sẽ thành chuyện thật.”)

7. Russian writer Alexandre Soljenitsyne (Nhà văn Nga):

– “When a Communist lies to you, stand up and tell him that he is lying. If you don’t dare to say that he lies, walk away. If you don’t dare to walk away, do not recite the lie that you heard to anybody.”
– “Khi thằng Cộng Sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu không can đảm nói nó nói láo, ta phải bỏ đi. Nếu không can đảm bỏ đi, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác.”

8. Soviet Secretary General Mikhail Gorbachev (Tổng Bí Thư Xô Viết):

– “I have devoted half of my life for communism. Today, I am sad to say that The Communist Party only spreads propaganda and deceives.”
(- “Tôi đã tận tâm nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản. Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”)

—————————-

9. Nguyễn Văn Trấn, con hùm xám Chợ Đệm Mỹ Tho, Phụ Tá Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ (1944), Chỉ Huy Trưởng Kiêm Bí Thư Quân Ủy Quân Khu 9 (1947), Chủ Nhiệm Văn Phòng Phó Thủ Tướng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Thống Nhất Toàn Quốc (1962-1974) thì nói huỵch tẹt theo lối nói Miền Nam:

– “Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết”. (Viết Cho Mẹ và Quốc Hội trang 345, nhà xuất bản Văn Nghệ, 1995)

10. Nguyễn Văn An, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng và là chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm Tổng Bí Thư, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam xuất bản trong nước đã nói:

– “Đảng đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”. Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình”. “Ðảng (Cộng Sản) của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội. Ðảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Ðảng trị… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động.”

11. Đức Dalai Lama:

– “Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sanh sôi nảy nở trên rác rưởi của cuộc đời.”

12. Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan:

– “Chủ nghĩa Cộng sản là một quái thai của thế kỷ 20.”

13. Cố Tổng thống Miền Nam VIỆT NAM CỘNG HÒA Nguyễn Văn Thiệu:

– “Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.”

14. Linh mục Nguyễn Văn Lý:

– “Ðừng sợ những gì Cộng sản làm, hãy làm những gì Cộng sản sợ.”

15. Bí thư đảng Cộng sản Nam Tư Milovan Djilas:

– “40 tuổi mà không từ bỏ Cộng sản là không có cái đầu.”

16. Nguyễn Hộ, người có 55 tuổi đảng, Chủ Tịch Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương, thủ lãnh của Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến, viết trong tập hồi ký Quan Điểm Và Cuộc Sống:

– “Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Saigòn cũng là ngày tôi rời khỏi Đảng CSVN. Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại Tá QĐNDVN, hy sinh ngày 9/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng Nha Cảnh Sát Sài gòn vào tết Mậu Thân 1968, nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng Sản Chủ Nghĩa.

Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sĩ nhục (nguồn: Wikipedia)”.

17. Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, nguyên Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Liên Sô, ghi lại tính tàn độc và lưu manh của Đảng Cộng Sản trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956:

– “Giết oan hàng trăm ngàn người, đầy ải hàng triệu người, làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược. Tại cuộc mít tinh tối 29/10/1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 vẫn chưa xác định được. Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại.” (Nguyễn Minh Cần, Xin Đừng Quên Bài Học Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước)

Tòa án Nhân dân là ĐẤU TRƯỜNG và PHÁP TRƯỜNG là MỘT.

CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ VÔ CÙNG QUÍ HÓA về TỘI ÁC VIỆT CỘNG:

CÁC HÌNH SAU ĐÂY DO MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI NGA CHỤP NĂM 1955

Nếu ĐEM SO RA thì TÀI SẢN của những NGƯỜI BỊ CHÚNG GIẾT chưa bằng MỘT PHẦN TRĂM của TÀI SẢN của bọn ÁC QUYỀN ngày nay.

Xin lưu ý: Toàn thể dân chúng lúc đó (1955) luôn luôn phải mặc đồ đen hay nâu đậm.

Chỉ cần một cử chỉ, một ý nghĩ có vẻ tiểu tư sản là bị đem ra đấu tố.

An ninh phường, hay bất cứ viên chức nào của đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam đều có thể bất thần khám xét nhà, chúng thường vào nhà vào lúc gia đình dọn cơm lên ăn, chúng mở nắp nồi cơm để xem có độn khoai sắn hay toàn cơm trắng.

Ngay đến năm 1975, chúng vào Miền Nam còn chận bắt cô giáo và nữ sinh, ai mặc áo dài là chúng cắt cụt. Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Hình 1 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh1.jpg )

Hình 2 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh2.gif )
Hình 3 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh3.gif )

Hình 4 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh4.gif )

Hình 5 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh5.gif )

Trong thời gian Đấu tố dã man của Hồ Chí Minh để diệt “trí phú địa hào” thì Việt Cộng xúi con tố cha. Không gì hữu hiệu bằng con tố các tội ác của cha ruột, vì người tố là nhân chứng số 1, kề cận nhất với can phạm của chế độ, nạn nhân không thể nào chối cãi gì được. (Trên thực tế các tội ác được hài ra chỉ là giả tạo.) Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Vì do chúng qui định túc số mỗi huyện phải giết theo đúng tỷ lệ năm phần trăm, thì nếu chỉ có một phần trăm là thuộc diện “trí phú địa hào” thì bắt buộc phải kiếm thêm trong các thành phần khác cho đủ số lượng thì đấu tố mới hiệu quả, thành tích cách mạng mới đáp ứng lời kêu gọi anh minh của “Cha già dân tộc” Hồ Chí Minh. Cho nên người không có tội vẫn phải kiếm cho ra tội! Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Cộng sản động viên con cái chống lại cha mẹ chúng, kết tội cha mẹ chúng, và tuyên án xử tử cha mẹ chúng. Ý đồ nầy dùng để xác minh 2 sự kiện:

– Tội trạng không thể tha vì quá nặng (!) mà con cái “phải” đứng ra tố cáo (thực ra chúng động viên con cái từ trước với tất cả sự hăm dọa, mà hể con cái không tố cha mẹ thì cũng có người khác làm, rồi con cái cũng bị giết theo).

– Chế độ cần đạp đổ nền móng gia đình cao quí của dân tộc Việt Nam thời đại lúc đó. Phải đạp đổ tất cả, chỉ còn Đảng Đoàn mà thôi. Như vậy mới đúng chỉ thị của Trung ương Đảng bộ.

Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Trong khẩu hiệu tận diệt “trí phú địa hào” thì chữ TRÍ đứng đầu, phải diệt toàn thể thành phần trí thức trước tiên thì mới thi hành chính sách NGU DÂN được. Mà lấy lý do gì để buộc tội các người trí thức? Chúng mới phịa ra cha mẹ bóc lột dân nên mới có tiền ăn học và nuôi con. Bóc lột bằng cách nào? Chúng không nói. Chúng chỉ hô toán lên là bóc lột, rồi đám đông hô lên “đả đảo bóc lột”, ” đả đảo trí thức”, bản án định sẵn là tử hình, thế là xong tấn tuồng.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện có bài thơ sau đây vô cùng súc tích:

Cụ đồ nho phải xưng “con” khi ông khúm núm thưa với con gái đang ngồi trên ghế chủ tọa tòa án nhân dân để xử bị cáo là ông ta, ông ta phải gọi con gái là “bà”.

Được nghe “bà” kể khổ
“Con” thấy đời “con” thật là đáng chết
“Con” đã đi bóc lột để nuôi “bà” !
“Con” bây giờ không dám nhận là cha
Dù “bà” là do “con” đẻ ra !
“Con” thành phần địa chủ thối tha !
Trước nhân dân, trước Đảng, trước “bà”,
xin thành khẩn cúi đầu chịu tội !
Đó là lời cụ đồ ở ngoại thành Hà Nội
trước đấu trường giăng giối với con !
Nguyễn Chí Thiện, 1972

Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Tất cả cái xã hội hôi thối Việt Minh, Việt Cộng, Dân chủ Cộng hòa, Xã hội Chủ nghĩa, là ác mộng triền miên của dân tộc Việt Nam.

Theo lệnh Hồ Chí Minh
Chúng hăng say trong máu:

Trăm tay xỉa xuống mặt mày
Trăm tay xỉa xuống mặt đầy gian tham!

Hay là như nhà thơ Xuân Diệu còn nói:

Anh em ơi quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào đối lập ra tro
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi!

Ối chu choa! Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Phải nhắc đến Tố Hữu, cầm đầu cơ quan “Văn hóa”:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít-Ta-Lin bất diệt!

Hình 6 – Thơ Tố Hữu
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/ThoToHuu-1.bmp )

Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Nhìn nhận sự thật phũ phàng về Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956, theo cách nói của Tôn Đức Thắng mới thật là đúng hơn:

– “Đ..M.., tao cũng sợ nó, mầy còn biểu tao dám nói cái gì?” (Viết cho Mẹ và Quốc hội, Nguyễn Văn Trấn, trang 267)

Cộng sản bao năm hát lắm tuồng! Người dân Việt Nam phải chịu biết bao là tai ương. Trong một đất nước mà chế độ Độc tài còn tồn tại thì không thể có tự do, dân chủ và nhân quyền.

Người dân Việt Nam ngày nay phải vùng lên và đòi QUYỀN của mình. Nếu người dân không biết mình có QUYỀN thì quả thật TỰ DO và DÂN CHỦ chỉ là một thứ xa xí phẩm! Chính sách “NGU DÂN” và “NGĂN SÔNG, CẤM CHỢ” cũng như “BƯNG BÍT THÔNG TIN” mà đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam đã áp đặt lên đầu lên cổ người dân Việt Nam đã có một ảnh hưởng vô cùng tai hại cho việc xây dựng một nền DÂN CHỦ với dân trí như ở Việt Nam. Toàn dân nghe chăng? Những người dân Việt Nam dũng cảm phải chiến đấu cho tương lai của chính mình và phải đánh cho chế độ Cộng sản hoàn toàn sụp đổ. Những người dân Việt Nam dũng cảm ấy là NHỮNG CON NGƯỜI TIỀN PHONG CỦA TƯƠNG LAI VIỆT NAM với sứ mệnh ĐEM LẠI TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN CHO MỌI NGƯỜI. Nếu nhân dân Libya đã loại bỏ Gadhafi năm 2011 được thì nhân dân Việt Nam cũng loại bỏ ác đảng Cộng sản Việt Nam được! Năm 1989, các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Romania… ở Đông Âu, đã nhờ vào lòng YÊU NƯỚC mà mạnh dạn lật đổ được chế độ Cộng sản, thoát khỏi vòng vây cương tỏa của chủ nghĩa Cộng sản.

18. Trung Tướng Trần Độ, Cựu Phó Chủ Tịch Quốc Hội, viết:

– “Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…” Và trong một lần nói chuyện, khi được hỏi về chế độ lao tù, ông nói “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì chúng tôi chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục”. Cuối cùng, để biện minh cho những đóng góp của mình vào chế độ, ông Trần Độ làm bốn câu thơ:

Những mơ xoá ác ở trên đời,
Ta phó thân ta với đất trời
Ác xoá đi, thay bằng cực thiện
Tháng ngày biến hoá, ác luân hồi.
(Nguồn: Trần Độ- Nhật Ký Rồng Rắn)

19. Hoàng Minh Chính gia nhập đảng từ năm 1939, Phó Viện Trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện Trưởng Viện Triết học Mác-Lênin trong một bài phát biểu đã than thở rằng:

– “Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc. Ngay cả thời kỳ nô lệ, người dân ai muốn ra báo cũng chỉ cần nộp một giấy xin phép và bản lưu chiểu. Điển hình là cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp xử 13 năm tù về tội chống Pháp và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921 mới được trả tự do. Khi mãn hạn tù cụ được thả về Huế, tại đây, cụ đắc cử dân biểu năm 1926, rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ và đứng ra xuất bản tờ báo Tiếng Dân. Một người bị tù vì tội chống thực dân còn được thực dân cho ra báo trong khi đó một người từng nắm giữ chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội của chế độ mà xin phép ra một tờ báo cũng không được”. (nguồn: Wikipedia)

Cũng nên biết rằng năm 1946 cụ Huỳnh Thúc Kháng đã giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Nội Các Chính Phủ Liên Hiệp và giữ chức Quyền Chủ Tịch Nước trong khi Hồ Chí Minh đi Pháp tham dự Hội Nghị Fontainebleau. Như vậy không thể gán ghép cụ Huỳnh là Việt Gian hay nói cụ Huỳnh vì thỏa hiệp với Pháp nên đã được Pháp cho ra báo.

20. Trần Lâm sinh năm 1925 vào đảng năm 1947, Vụ phó Ủy Ban Kế Hoạch Nhà nước, thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, đã viết trong bài “Những dòng suy nghĩ từ Đại hội đến Quốc hội” số tháng 9/2007: “Đảng thì luôn nói Quốc hội là của dân, do dân, vì dân. Người hiểu biết trong dân thì coi Quốc hội là bù nhìn. Đảng và Nhà nước tổ chức bầu cử, biết đây là kiểu dàn dựng, nhưng cứ làm”.

Và còn rất nhiều, rất nhiều nữa những trăn trở phản tỉnh của: Lê Hồng Hà Cục Trưởng Cục An Ninh Bộ Công An, Lê Liêm Cục Nội Chính, Nguyễn Trung Thành Cục Trưởng Cục Bảo Vệ Đảng, Nguyễn Văn Hiếu Ủy Viên Thường Trực Mặt Trận Tổ Quốc, Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại Sứ Hà Nội tại Trung Cộng, Đại Tá Bùi Tín Phó Tổng Biên Tâp tờ Nhân Dân, Đại Tá Phạm Quế Dương Viện Quân Sử Hà Nội, Trung Tá Trần Anh Kim người anh hùng chống cuộc xâm lăng từ phương Bắc năm 1979, Sứ Thần Dương Danh Dy, đại diện Hà Nội tại Trung Quốc, và các ông Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Vàng Sao cùng những tuổi trẻ được sinh ra và trưởng thành trong chế độ như Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Mẹ Nấm, Người Buôn Gió… Nhiều lắm, nhiều lắm, biết kể sao cho hết.

21. Lời của Vladimir Putin trong cuộc phỏng vấn của truyền hình Đức đầu tháng 5 năm 2005:

– “Những ai muốn phục hồi lại Liên bang Xô viết là những kẻ không có óc.”

Việt Cộng (Cộng sản Việt Nam) là bọn đầu người nhưng óc heo. Hơn 3,5 triệu đảng viên của đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam bắt đầu từ con cáo già Hồ Chí Minh đến tên đảng viên mới gia nhập là hơn 3,5 triệu cái đầu người nhưng óc heo đang lúc nhúc trong quần… chúng Việt Nam! Cùng một lũ bịp bợm, lừa dối nhân dân! Đừng nhầm lẫn từ “nhân dân” trong Hiến pháp của Việt Cộng.

22. Năm 1974, Alexander Solzhenitsyn đã nhận định về tình trạng dối trá của Liên Xô thời ấy như sau:

“Nhưng sẽ chẳng bao giờ có chuyện gì xảy ra cả, chừng nào chúng ta còn tiếp tục thừa nhận, tiếp tục ca ngợi, tiếp tục đóng góp, chừng nào chúng ta còn chưa tự tách mình ra khỏi một thứ dễ nhận thấy nhất xung quanh chúng ta: đó là sự Dối Trá!
Khi bạo lực xâm nhập vào cuộc sống bình yên của con người, khuôn mặt của nó sáng ngời ánh tự tin, như thể nó đang giương cao ngọn cờ và hô lớn: “Ta là Thần Bạo Lực đây! Hãy chạy xa, hãy tránh đường, bằng không ta sẽ nghiền nát tất cả!” Song bạo lực sẽ nhanh chóng trở nên già cỗi, chỉ sau ít năm thôi nó đã mất hết đức tự tin, và để duy trì được bộ mặt khả kính, nó bèn lôi kéo một đồng minh đắc lực: đó là Dối Trá. Bởi lẽ: Bạo Lực không thể nào che giấu được móng vuốt của mình nếu không có Dối Trá, và Dối Trá chỉ có thể duy trì được sự tồn tại của mình nhờ Bạo Lực. Bạo lực không thể nào đặt bàn tay lông lá của nó vào mọi lúc và lên tất cả mọi người được, nó đòi hỏi chúng ta phục tùng sự dối trá, tham gia vào mọi hành động dối trá như một nhu cầu sinh hoạt hàng ngày — lòng trung thành tuyệt đối được đặt vào đó.”
[Trích bài “Không sống bằng dối trá” của Alexander Solzhenitsyn, bản dịch của Phạm Ngọc]
Gần 40 năm đã trôi qua, nhưng những nhận định của Alexander Solzhenitsyn về Liên Xô thời ấy vẫn hoàn toàn chính xác đối với thực trạng của đất nước Việt nam hôm nay.

23. Đứng trước sự phẫn nộ của người dân và một số người ý thức trong đảng, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trong một lần nói chuyện tại Hội Các Nhà Văn đành phải hô hào cởi trói cho văn nghệ (có nghĩa là Đảng coi giới văn nghệ sĩ như loài cầm thú) và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thì hô hào: “Đổi mới hay là chết”. Mà đổi mới là gì? Là cóp nhặt và làm theo những gì Miền Nam VIỆT NAM CỘNG HÒA đã làm từ mấy chục năm về trước. Cũng chính nhờ biết “đổi mới” nên người dân Việt Nam mới có gạo ăn, thay vì cho mãi đến những năm 1989-1990, suốt mấy chục năm trong thời bao cấp, ngoại trừ đảng viên cán bộ và công an là được ăn cơm, còn tuyệt đại đa số nhân dân phải ăn bo bo là loại đồ ăn dành cho bò cho ngựa và mỗi chén cơm có tới hai phần là ngô khoai sắn độn.

Thế là sau cuộc cách mạng bắt chước Trung Cộng đấu tố người dân trong “Cải Cách Ruộng Đất” với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác “cách mạng chuyên chính vô sản”, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình của Miền Nam VIỆT NAM CỘNG HÒA trước đây.

Trong nước Việt Nam: Bạn muốn xem cái gì thì không có cái ấy. Cái bạn không muốn nghe thì người ta cứ nói cho mà nghe.

“Muốn biết chuyện xảy ra trong nước phải nghe báo đài nước ngoài, bấm vào http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/nhan-cach-cua-nguoi-cong-san.htm .”

Posted in Uncategorized | 6 Comments »

►Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, ngày ấy và bây giờ

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2012

Hình Ảnh Thành Phố Saigon Của Nhóm Trưng Vương


Chợ Bến Thành ( cửa Đông ? )

Góc đường trông ra Nhà Thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đức Bà

Dinh Độc Lập

Hội Trường Diên HồngKhách sạn Continental PalaceNhà Hàng nổi Mỹ CảnhTượng đài An Dương Vương
Hình Ảnh Thành Phố Saigon Của Nhóm Trưng Vương Gửi Đến( tiếp theo )

Nhà hàng & Vũ Trường MaximDinh Gia LongTrưng Vương năm cuối (74) , trước khi đám QUỈ miền Bắc tràn vô Nam !! Các nữ sinh Gia Long Sân trường Gia Long  Những Con Đường Cũ

Cầu Khánh HộiĐường Minh MạngĐường Nguyễn HuệBảo Tàng Viện ( trong Sở Thú Saigon )E Ấp !!!

Theo em xuống phố … một thuở sống trong Thiên Đàng Hạnh Phúc miền Nam VNCH !!

Thủ Đô Sài Gòn … những ngày tháng TUYỆT VỜI !!

Con đường TÌNH … TA đi !!!

Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, đường Tự Do !!

Tigon

nguồn: Tigon, thành viên của vietlandnews.net

Saigon 1961

nguồn:  vietlandnews.net

—————————————————————————————————————————————————-

Người dân Miền Bắc đã bị đảng CSVN lừa gạt trong cuộc chiến tranh VN. Đảng tuyên truyền “Miền Nam bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, không có gạo ăn, không có chén bát, và bị hành hạ đủ điều…chúng ta phải vào giải phóng miền Nam ruột thịt. Chúng ta phải đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào, và thống nhất đất nước…và ta xây dựng đất nước tươi đẹp hơn 10 lần ngày nay”

Dạo ấy, những thanh niên thiếu nữ miền Bắc là những người hiền lành, nhân hậu, dễ tin, và là tầng lớp tuổi trẻ ưu tú. Họ đã không một chút nghi ngờ và đã nghe theo lời bác và đảng để vào giải phóng miền Nam. Người nào không nghe lời thì gia đình bị cắt tem phiếu, lương thực, và bị làm nhục…và cuối cùng là phải đi Nam. 

Những cán bộ cao cấp nhất, và những người tuyên truyền và xúi dục chiến tranh đã ở lại hậu phương, ở cách xa chiến trận, ăn trên đầu và ngồi trên cổ của những người đi chiến đấu. Họ tồn tại cho đến sau khi cuộc chiến tranh VN đã tàn.  Họ chia nhau chiến lợi phẩm là nhà cửa mặt tiền các khu phố, các kho hàng ở miền Nam, các tài sản của tư  sản miền Nam mà họ cướp được, và đất đai của miền Nam.  Ngày nay, họ còn chiếm đất đai của nông dân, dành độc quyền tất cả các ngành nghề công, thương, kỹ nghệ, du lịch, viễn thông, khai thác tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu…vào 100 công ty và tập đoàn, mà tổng giám đốc của các công ty quốc doanh này là  con cái, bà con, anh em của cán bộ đảng cao cấp làm chủ hoặc lãnh đạo.

Còn những bộ đội và dân công đi vào Nam chiến đấu đã chết vì bom đạn trong khoảng thời gian 1954-1975. Thương thay cho các thế hệ miền Bắc đã hy sinh vào thuở ấy.

Miền Nam bị bóc lột, nhưng dân chúng sống như thế này…

Tết Mậu Thân 1968 (?)

Nguồn: on the net.

Nhưng may mắn thay, những người tuổi trẻ ngày nay đã hiểu.

Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già…

Thơ Tố Hữu

—————————————————————————————————

*Có rất nhiều hình ảnh của Sài Gòn trước năm 1975 trên mạng internet, chỉ cần vào trang mạng google.com gõ chữ  hình ảnh Saigon trước năm 1975, và nhấp chuột vào chữ  Search (tìm kiếm).

Các thành viên của Diễn đàn này có post khá nhiều hình rất đẹp.  Mời các bạn click vào link dưới đây để xem.

http://www.luongsonbac.com/forum/showthread.php?t=134310285

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Tư Liệu Lịch Sử | 4 Comments »

► Những người vượt biên từ miền Bắc cũng ra đi sau ngày 30-4-1975 để trốn thoát khỏi chế độ cộng sản

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2012

Vào thời gian này của  37 năm về trước, the Fall of Saigon, Miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay cộng sản, đã chấm dứt chế độ dân chủ còn son trẻ duy nhất của Á châu thời bấy giờ. Sài gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông cũng đã xóa tên từ dạo ấy.

Đọc “Đường Phía Bắc” của Lê Đại Lãng

Tác giả điểm sách:

Ngay sau chiến thắng của phe cộng sản tại Việt Nam tháng Tư năm 1975, một sự kiện bi tráng đã xảy ra và kéo dài liên tục trong hơn 15 năm: đó là cuộc vượt biên của nhân dân Việt Nam nhằm đào thoát ra khỏi chế độ cộng sản.

Cuộc đào thoát thoạt tiên xảy ra tại vùng đất thua trận miền Nam. Từ lâu, dân miền Nam là “bà con gần” với thế giới tự do, cho nên trong cơn hoạn nạn ngay trên đất nước của mình, thì phản ứng tự nhiên là chạy tới tìm nhờ bà con. Cũng từ lâu, khi nói tới vượt biên, hầu hết chúng ta chỉ nghe nói những địa chỉ tới của các con thuyền lén lút ra khơi là Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Phi Luật Tân, Úc. Từ các bến bãi miền Nam, thuyền tị nạn tìm đến các bến bờ vùng Nam Á ấy là lẽ tự nhiên – về địa lý cũng như về sự tin cậy. Thế nhưng đường tị nạn còn một hướng nữa, về phía Bắc, mà hầu hết đều tấp vô bến Hồng Kông. Một số người vượt biên từ các tỉnh cực bắc của VNCH cũ, như Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi có khuynh hướng chạy ngược lên hướng Bắc vì đường gần hơn. Nhưng xem kỹ lại thì đa số người tị nạn trong các trại Hồng Kông có vẻ là những người ra đi từ miền Bắc Việt Nam, là miền đất thuộc phe thắng trận năm 1975.

Có cái gì như là nghịch lý ở đây. Dân thua trận, bị đối xử tàn tệ không sống nổi phải chạy trốn, cái đó hiểu được. Nhưng dân của phe thắng trận cũng chạy trốn là tại làm sao? Câu hỏi này có lẽ được giải đáp lâu rồi: vì chế độ chính trị. Cuộc thắng trận năm 1975 như một trái pháo bông nổ tung sáng rực trong chốc lát, sau đó tắt ngóm và màn đêm lại bao trùm như cũ, kể cả trên miền Bắc chiến thắng. Và lầm than khắp nơi, không kể nam hay bắc. Và có lẽ “theo gương” dân miền Nam, dân miền Bắc cũng ra đi để tìm một cuộc đời đáng sống hơn.

“Đường Phía Bắc” (*) là một cuốn sách thu góp nhiều mẩu chuyện của người vượt biên từ đất Bắc, ghi lại trong cung cách tiểu thuyết hóa để thành một câu truyện mạch lạc các nhân vật có liên kết với nhau. Gọi là đường phía bắc, tác giả có dụng ý đưa ra một hình ảnh đối ngược với đường phía nam là những chuyến hải hành tỏa ra nhắm đến các nước Đông Nam Á, vốn gần với phần phía dưới của nước Việt Nam. Ngược lại, đích đến của đường phía bắc chỉ có một: Hồng Kông.

Thảm cảnh của những chuyến vượt biên thì quá nhiều, nam cũng như bắc. Nhưng từ trước đến nay người ta ít biết cảnh thực của những chuyến vượt biên từ miền Bắc, vì, như tác giả giải bày trong lời giới thiệu đầu sách:

“Con đường ngược bắc của những cá nhân ấy lại được kể thì thầm như tội đồ xưng tội, tội tổ tông, tội bỏ nước, tội đi tìm chỗ sống, chỉ dành riêng cho kẻ muốn nghe, không có tiếng mõ nhịp, chỉ có những bàn chân xếp thành dấu chấm in trên đất trên nước qua vạn dặm hành trình.”

Là người từng làm việc thiện nguyện tại các trại tiếp người vượt biên tại Hồng Kông, tác giả có nhiều dịp được nghe những “lời kể thì thầm” của biết bao là mảnh đời về chuyến hải hành không dài lắm từ vịnh Bắc Bộ đến Hồng Kông. Không dài nhưng không phải là không gian nan  và nhiều thảm cảnh, đặc biệt khác hẳn những gì chúng ta vẫn nghe từ các người vượt biên miền Nam, đi “đường phía Nam”.

Cuốn sách mở đầu với một hoạt cảnh đầy kịch tính của một người còn trẻ đóng vai bộ đội đi phép trở về đơn vị đóng ở vùng ven biển, phải đóng thật khéo để có thể vượt qua vô số trạm kiểm soát của công an nhằm bắt giữ bất cứ ai trên các chuyến xe đò có vẻ khả nghi là đi về vùng biển để vượt biên. Với một bút pháp rất nghệ thuật, tác giả đã cho Hải, người thanh niên ấy, có những ngôn ngữ cùng hành vi y hệt một anh bộ đội dày dạn bất cần đời, khiến đám công an đâm “nể” và cho anh ta đi thoát, để câu chuyện vượt biên về phía bắc của anh ta có thể bắt đầu. Và cũng chính hiện tượng canh phòng kỹ lưỡng này của công an cho thấy vào thời điểm kể truyện này chuyện vượt biên đã xảy ra khá nhiều ở các vùng biển miền Bắc rồi.

Chuyến hải hành của con thuyền chở 60 người ra đi trót lọt. Nó đi về hướng bắc một cách chậm chạp hơn người ta tưởng: dự tính bảy ngày sẽ tới Hồng Kông, nhưng hơn mười ngày hãy còn ven biển đảo Hải Nam. Lâu lâu lại tìm cách đổ bộ vào bờ, công an Trung Quốc bắt gặp thì không làm khó dễ gì, trái lại sẵn sàng đi mua hộ dầu và thức ăn, chỉ tuyệt đối cấm người trên thuyền lên bờ. Lần nào họ cũng đếm và ghi lại số người trên thuyền, rồi ra lệnh cho đi tiếp. Vào cuối thập niên 1980, Trung Quốc và Việt Nam còn kình chống nhau, nên họ có vẻ có cảm tình với người tị nạn vượt thoát khỏi Việt Nam. Nhưng họ không nhận người tị nạn, và người tị nạn cũng nhắm tới một nơi khác chứ không phải một nước Trung Quốc cộng sản: họ chỉ cần tới Hương Cảng.

Nhưng đoạn đường không xa ấy cũng có lắm tai ương, và chiếc thuyền vượt biên của Hải đi đã không bao giờ đến đích. Nó bị một cơn bão biển đánh giạt vào bờ và vỡ tan tành. Chuyện kỳ lạ là Hải và đứa con gái còn nhỏ của anh sống sót cùng với vài người bạn thân của anh, và họ lại gắng “mưu sinh” bằng cách đi ăn xin. Rồi đứa nhỏ chết, rồi cơ may lại tới, bọn họ lại nhập vào một đám khác có thuyền, rồi lại lên đường.

Chúng ta ít khi nghe được lời mô tả những hãi hùng của một trận bão biển, vì người đã trải qua thì ít khi còn trở về được để kể cho chúng ta nghe. Thảng hoặc có sống sót trở về thì cũng khó có đủ ngôn từ để diễn tả cơn thịnh nộ của biển khơi, vì nó vượt khỏi các ý niệm và ngôn ngữ thông thường của con người ở trên mặt đất.

 “Cái hình rẽ quạt từ trên trời càng lúc càng tỏa rộng, như năm ngón tay quái thú úp chụp xuống những con người bơ vơ bé nhỏ. Trong tích tắc, thuyền bị sóng nhồi lên đến tuyệt đỉnh cao, cao đến mức không thể cao nữa, rồi từ đỉnh cao ấy, vụt xuống một thung lũng bốn bề là nước đen dựng thành tường. Tiếng ré kinh hoàng của tất cả bị hút ngay vào bức tường đen, mất biệt, như sự thẩm âm tuyệt hảo nhất do tạo hóa cấu thành. Từ đỉnh sóng xuống vực sâu, rồi từ vực sóng thuyền tung lên đỉnh sóng, Hải nghe tiếng hét thất thanh của lão Mục:

– Con…ơi ơi…!

Tiếng hét xoáy tít vào tiếng nước reo hăm hở, ác độc. Thần biển đang hể hả xoa tay, chờ từng sinh mạng nạp mình. Trong giây phút ấy, lạ thay bé Ngọc vẫn trừng mở mắt, nhìn chằm chằm bức tường nước sùng sục quanh thuyền. Hải ôm chặt con, chàng nhìn thấy bóng dáng Đức Phật, chàng nhìn thấy thánh giá của Chúa Giê su, chàng nhìn thấy hồn thiêng của cha mình sừng sững trên sóng, dưới vực thẳm, đang nắm tay nhau kết thành vòng tròn lớn, cùng ca hát bài ca luân hồi sinh tử. Hải trừng mắt. Chàng muốn thấy kỹ cái tích tắc vô thường mà đời người không tránh khỏi. Chàng sắp dắt con xuống yết kiến thủy thần. Chàng sẽ cười khà vào mặt lão già có chòm râu bạc lướt thướt và đôi mắt buồn thăm thẳm:

– Ông đã thắng!

– Ta lúc nào cũng thắng.

– Trẻ thơ có tội gì?

– Trót sinh ra làm người.

– Tôi đi tìm đất sống.

– Đất nào sống được nói ta nghe.

– Không phải nơi tôi được sinh ra. Nơi tôi có quyền ca khi hoa nở, nơi tôi có quyền khóc khi tôi muốn và nơi không có lão già râu bạc như ông.

– Ha…ha…ngươi tưởng không có người như ta là ngươi sống được ư…ha…ha…ta cho ngươi thấy.

Thủy thần vụt tan ra thành xoáy nước, vỗ tay reo. Lão cong mình thành một ngọn sóng, ngọn sóng dài hơn chiều dài của chiếc thuyền chở Hải. Lão trườn lên lặn xuống không biết bao nhiêu lần. Đột nhiên, lão đổi trò chơi, lão xoay tít trên không gian đen như vũng nước trâu nằm, hất tung cả chiếc thuyền lao vào hư vô nín lặng…”

 

Nhưng qua các tai biến với vô số tình cờ, chúng ta biết thêm được một số điều, không phải chỉ trên biển cả, mà ở trong nước Tàu. Trước hết là thảm cảnh của cuộc “nạn kiều” xảy ra cho số người Hoa Kiều bị nhà nước Việt Nam đuổi về Tàu mươi năm trước. Họ là những người Tàu sinh sống ở Việt Nam đã lâu đời, bỗng vì sự xích mích giữa hai nước mà phải biến thành nạn kiều, phải dứt bỏ sản nghiệp lẫn đời sống tinh thần tình cảm đã xây dựng trên đất nước Việt Nam để về cố quốc, một thứ “nước cũ” nghèo nàn nay đã thành xa lạ đối với họ và cũng chẳng hào hứng gì để đón họ trở về. Vì thế nên mới có cảnh:

“Cái vẻ trù phú của cảng Hải Bắc chỉ làm tăng nỗi bơ vơ lạc lõng của nạn dân nạn kiều sống trên bãi biển. Ngoại trừ một nhà thương thí do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1979, các nạn kiều bị đuổi về nước năm 78 chẳng được hưởng một quy chế gì rõ ràng. Đầu tiên, họ được bố trí lên các nông trường ở tỉnh Quảng Tây. Chịu không nổi đời sống ở đó họ trốn về miền biển và cắm lều sống trên bãi cát bằng nghề đánh cá. Họ làm vệ sinh cá nhân ngay trên bãi, lấy cát lấp lại chờ sóng lên dọn sạch. Nhóm nạn kiều sống ở Bắc Hải đã bị lãng quên hoàn toàn. Không ai cần biết đến họ và họ cũng chẳng trông chờ vào ai. Lương thực của họ là biển cả mênh mông (tê tái) ngoài xa kia. Trung Quốc coi họ là nạn dân người Việt, nhà nước Việt Nam lại coi họ là nạn Kiều. Sức ép của hai thể chế đẩy những người này ra tận mé nước và không thể ra xa hơn được nữa. Những đứa trẻ sinh ra trên cát nóng chờ ngày theo cha mẹ ra khơi bắt cá. Không một ngôi trường nào chịu chứa những đứa trẻ sinh nhầm đất nước ấy.”

Không đi vượt biên về hướng Bắc thì làm sao đám người Việt này gặp được một cái thành phố ma với bốn kỳ nhân ở trong đó từ thời cách mạng Vệ Binh Đỏ, những chuyện lạ lùng đã xảy ra giữa thế kỷ 20. Từ thuyền họ thấy có một thành phố trên bãi biển bèn tấp vào kiếm ăn. Nhưng khi bước lên bờ họ mới nhận ra đó là một thành phố không có người ở. Và khi “thám hiểm” vào trong, họ gặp một cái nhà với bốn người ở, có thể gọi là bốn quái nhân, những linh hồn sống duy nhất của thành phố bỏ hoang này. Một người tương đối còn lành lặn nhất là Hồng lão, hồi 1966 là giáo sư đại học Thanh Hoa, bị vệ binh đỏ hành hạ rồi đưa đi tập trung lao động, cuối cùng về đây, một công trường cải tạo, nhưng về sau mọi người bỏ đi hết, chỉ còn lại bốn người không biết về đâu. Người thứ hai là một bác sĩ y khoa, với một câu chuyện ly kỳ, tàn khốc:

“Tôi ngồi trong nhà mà run sợ. Vì tôi là trí thức hành nghề theo học thuật phương Tây thì ắt là hữu khuynh tư bản rồi. Thình lình, cánh cửa nhà cha mẹ tôi bị đạp tung, một đội Vệ binh Đỏ tay cầm gậy gộc xông vào. Chúng dõng dạc tuyên bố gia đình tôi thuộc thành phần trí thức tư sản, rồi xông vào đập phá đồ đạc. Chúng giựt tranh treo tường, đập tủ chén, xô ngã bàn thờ, không còn một thứ gì còn gọi là nguyên vẹn. Thậm chí chiếc áo có thêu kim tuyến của mẹ tôi cũng bị kết là tư sản, chúng lấy kéo cắt nát. Cha mẹ tôi, em trai tôi và tôi nữa bị chúng bắt quì gối ngay giữa phòng trước. Sau đó, chúng xởn hết tóc chúng tôi, còng tay và dẫn đi diễu phố. Hết ngày, chúng dẫn về, lấy roi da đánh đập chúng tôi ngất đi rồi mới bỏ đi, không quên khóa trái cửa căn nhà. Gia đình tôi là kẻ thù của nhân dân.”

Ở một đất nước mà từ nghìn xưa đã có những hiền triết nêu cao chữ Nhân như một khám phá bản chất cao đẹp của con người, mà nay lại được điều hành bởi một bạo chúa mác-xít hoàn toàn vô nhân, đẩy con người vào những trạng thái không thể tưởng tượng nổi:

“Trong suốt bốn ngày, chúng tôi không có gì để ăn. Chén bát đã bể hết. Chỉ còn ít mì gói nhai sống. Chúng tôi sợ hãi và đói khát. Sáng sớm hôm sau chúng nó lại tới, lại hành hạ, lại đi diễu phố, lại bị đánh bằng roi da. Trời ơi, đảng ơi…!

Điện đã bị cúp hết. Căn nhà tối mù. Bên ngoài mưa rơi nức nở. Chúng tôi ngồi nghĩ đến cái chết. Phải rồi, sao không chết đi để hết nhục, để bớt đau khổ thấy mình thua cả chó. Chắc là đã quá nửa đêm. Tiếng mưa rơi tê tái quá! Làm sao để tự ải đây? Cha tôi suy nghĩ, mẹ tôi suy nghĩ, còn tôi thì nát óc. Đứa em trai trên gác thượng chắc cũng đang suy nghĩ. Thình lình tôi nhìn thấy con dao rọc giấy ở chân bàn. Bọn Vệ binh Đỏ hẳn đã làm rơi nó. Trời đã gửi thiên sứ xuống. Tạ ơn trời. Tôi là bác sĩ. Tôi biết là nếu động mạch cổ bị cắt thì các mạch máu sẽ ngưng hoạt động và người ta chết tức khắc, chết tức khắc, chắc chắn như thế. Đây là cách chết nhanh nhất và vô phương cứu chữa. Cha mẹ tôi chưa tin hẳn vào lời giải thích của tôi. Người hỏi có đúng là chết dễ như thế không? Tôi phải lấy bằng bác sĩ ra để đảm bảo với người là chắc chắn như thế. Cuối cùng mẹ tôi bảo: ‘Tạ ơn trời, sao lại dễ thế được. Tạ ơn trời đã ban cho tôi đứa con học ngành y’. Người nói hoài như thế, mắt long lanh sung sướng. Cha tôi bảo: ‘Con là người duy nhất biết việc, vậy hãy cắt cổ cha mẹ trước rồi hãy tự cắt cổ con’.”

Kể ra, đi vượt biên mà có những cuộc gặp gỡ ly kỳ, mang lại những hiểu biết lạ lùng như thế này thì cũng… đáng công khó. Trên thế giới giữa thế kỷ 20 hẳn không ở đâu có được những chuyện tương tự như thế của nước Tàu.

Trải qua tất cả những thảm cảnh cùng cực cho một đời người, cuối cùng Hải cũng đến được vùng đất hứa, là thành phố Hương Cảng. Trong trí tưởng tượng của người vượt biên, đó là tự do, là thiên đường, nhưng đầu tiên họ phải vô các trại tiếp cư, mà thực chất là nhà tù. Sống dưới chế độ nghèo khổ và bị tước đoạt hết quyền làm người của chủ nghĩa cộng sản, người ta háo hức ra đi để tìm một đời đáng sống hơn, và tưởng rằng phần nhân loại còn lại có bổn phận “phải” lo toan mọi việc cho họ. Đúng là có những tổ chức để lo toan, nhưng không xuể, vì lo được một thì người ta kéo đến mười. Tiếng réo gọi của Tự Do thật là thần bí. Tiếng réo gọi của một đời sống sung túc xứng đáng với phẩm giá cũng mạnh mẽ lạ thường. Cũng làm thân con người, sao ở nơi kia người ta sung sướng, còn tôi thì quá nhục nhằn? Sao tôi không thể chuyển đổi đời sống của tôi? Cái bến bờ xa xa kia đã hớp hồn bao nhiêu người Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 20, miền Nam thì có đường phía nam, miền Bắc thì có đường phía bắc.

Tác giả Lê Đại Lãng đã có công và có lòng ghi lại các câu chuyện, các hoạt cảnh của con đường vượt biên của đồng bào miền Bắc, miền đất đã chiến thắng trong cuộc chiến vừa là tương tàn giữa những người con cùng một mẹ, vừa là giữa hai ý thức hệ chia đôi thế giới trong thế kỷ 20. Văn tài của ông đã tạo dựng lại biết bao số phận, biết bao thảm cảnh, biết bao nỗi hy vọng lẫn thất vọng của những con người Việt Nam bao năm chôn vùi trong chế độ toàn trị vừa hé mắt nhìn thấy ánh sáng của tự do xa xa ở phía chân trời, và đã nung nấu cái khát vọng phải đến cho được nơi chân trời đó. Con thủy lộ không dài giữa vịnh Bắc Bộ đến Hồng Kông cũng ngầm chứa bao hiểm nguy chết người, và quả đã giết vô số người sử dụng nó với những phương tiện quá mỏng manh. Cuốn Đường Phía Bắc là một kho chứng liệu sống của ý chí vượt khỏi địa ngục với tất cả thảm cảnh của nó.

Người điểm cuốn sách này biết là mình chưa làm hết công việc giới thiệu toàn bộ tác phẩm trong bài viết này, vì chỉ mới nói chuyện đi đường mà chưa đề cập chuyện đến nơi. Khi đến nơi thì câu chuyện đã có một không gian khác, tinh thần khác, và chất chứa những cái ly kỳ khác. Vậy đành khất với độc giả trong một bài viết khác.

Thứ Sáu 13 tháng 4, 2012.

P.X.Đ

(*)  Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:

Toà soạn báo Trẻ

3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com

Nguồn danchimviet.info

Posted in Hồi Ký | 4 Comments »

Tháng Tư về

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2012

Tháng Tư về

Cứ mỗi lần tháng tư về là tiết trời bắt đầu oi bức, những cơn gió Nồm từ biển thổi vào cũng không làm sao xóa tan được cái cảm giác khô nóng của mùa hè. Tôi đi dọc theo bờ sông Bàn Thạch nhìn dòng nước đục ngầu uể oải xuôi về Đông, mang theo nó là những rác rến, xác chết súc vật và rất nhiều những thứ bẩn thỉu khác.

Trên bờ sông này trước đây là xóm làng trù phú, yên tĩnh và trong lành với rừng cây sưa tỏa bóng. Mỗi lần tháng tư về hoa sưa vàng rực một khoảng trời, mùi thơm dịu dàng quyến rũ, làm cho tôi ngày ấy – một cậu bé nhiều mơ mộng choáng ngợp trước vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên mùa hè thường hay đứng ngẫn ngơ nhìn và suy nghĩ vu vơ… tháng tư về sân trường rộn ràng tiếng ve, khúc nhạc cất lên cùng giai điệu từ thưở ban sơ cho đến mãi mãi vô cùng, trong lòng các cô cậu lúc này chùng xuống một nỗi buồn nhè nhẹ, khi những cánh phượng hồng  chớm nở trên sân trường, trên đường đi học.

Thiên nhiên hào phóng ban cho mùa hè thật nhiều vẻ đẹp: dòng sông nước ngập đôi bờ lai láng  trong veo tha hồ vùng vẫy, màu đỏ của hoa phượng, màu vàng của hoa sưa– mùi hoa sưa thơm dịu dàng — và tiếng ve buồn man mác và biển mênh mông hiền hòa với bờ cát vàng óng mượt dưới chân… và còn nữa mùa hè là mùa của hoa trái trỉu cành đong đưa trong vườn, trước ngõ, mùa của hoa Ngọc lan thơm ngát…nhưng nếu chỉ có vậy thôi thì tôi và những cô cậu bé cùng tuổi hạnh phúc biết bao nhiêu. Nếu trong ký ức của chúng tôi không có ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái ngày mà chúng tôi tan tác như đàn chim non gặp cơn bão dữ, để rồi sau cơn bão đó, rất nhiều những khuôn mặt, những đôi mắt, những mãi tóc thiên thần bé nhỏ, vĩnh viễn ra đi không trở về …chỉ còn lại trong tâm thức tuổi thơ nỗi đớn đau trở lại mỗi lần tháng tư về.

Mỗi lần tháng tư về, tôi hay lẩm cẩm nhớ lại quá khứ với sự tiếc nuối và ước ao. Ước gì mọi việc xảy ra theo một cách khác, có rất nhiều chữ “Nếu như” được đặt ra để rồi hụt hẩng, thương tiếc

– Nếu như không có ngày 30 tháng 4/1975 thì đất nước chúng ta sẽ không phải như ngày hôm nay mà là một “Minh châu Trời đông”

– Nếu như không có cuộc chiến tranh phi lý và vô nghĩa đó thì đất nước chúng ta đâu có bị tàn phá, đâu có quá nhiều người phải ngả xuống, đâu có vết thương hằn sâu trong lòng dân tộc này mà mãi đến nay vẫn không lành.

– Nếu như những người CS không có tham vọng thống trị người khác bằng mọi giá thì đất nước chúng ta đâu có chia hai miền Nam Bắc, đâu có mâu thuẫn hận thù tàn phá đến thế lương.

– Nếu như không có những người Cộng sản với chủ nghĩa Quốc tế Vô sản và chủ nghĩa đại đồng thì dân tộc ta đâu có bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh ý thức hệ tương tàn, làm quân cờ trong tay các thế lực siêu cường mà họ sẵn sàng hy sinh Dân tộc chúng ta để bảo vệ quyền lợi của họ và biến chúng ta thành một lũ ngốc.

-Nếu không có ngày 30 thánh tư-1975 thì đâu có thảm nạn thuyền nhân – với hàng triệu người vượt biên tỵ nạn-với hàng trăm ngàn người vĩnh viễn nằm lại dưới lòng đại dương hay trên rừng sâu núi thẳm, trong số đó có rất nhiều thiếu nữ, phụ nữ bị hãm hiếp để lại vết đau ngàn năm không nguôi ngoai được, và ngày nay những tinh hoa của dân tộc chúng ta đâu phải đem tài năng để phục vụ cho sự phồn vinh của xứ người

– Nếu như không có ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì ngày hôm nay đâu có những tên Tư bản đỏ ngông nghênh kệch cỡm tham tàn và nền kinh tế thị trường định hướng rừng rú tàn phá đất nước này với sự cai trị ngu ngốc, phiêu lưu làm kiệt quệ tài nguyên quốc gia, khánh tận tinh thần và đạo đức dân tộc.

– Nếu không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì đất nước chúng ta đã là một quốc gia Tự do–Dân chủ hùng mạnh, một đất nước văn minh, nhân bản lãnh đạo khối Đông Nam Á chứ đâu có là một con vịt đẹt bị khu vực và quốc tế coi thường, người dân chúng ta đâu có bị khinh miệt.

– Nếu như không có ngày 30 tháng 4 và nguyên nhân của nó thì đất nước của chúng ta đâu có bị xâm thực, Hoàng sa và một phần Trường sa đâu có mất. Tài nguyên trong vùng biển này đâu có bị Tàu cộng cưỡng chiếm, đủ giúp đất nước chúng ta tự cường, tự lập về an ninh năng lượng và sự phong phú về Hải sản đủ để nuôi sống dân tộc này …và một điều quan trọng hơn rất nhiều là con đường để dân tộc chúng ta vươn ra biển lớn đâu có bị phong tỏa

– Nếu như không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì ngày nay ngư dân chúng ta đâu có bị bắn giết bị đánh đập và sỉ nhục, bị cướp tài sản,bị giam giữ trái phép và bị đòi tiền chuộc khi hành nghề trên ngư trường truyền thống của cha ông mình và trong tương lai gần chúng ta sẽ mất biển Đông, lúc đó ngư dân chúng ta sẽ phải “cày đường nhựa” để sống.

– Nếu không có ngày 30 tháng tư 1975 thanh niên VN sẽ có mặt tại rất nhiều trường đại học danh giá trên thế giới để trở thành những tài năng lớn phục vụ đất nước ,phục vụ dân tộc và nhân loại ,làm vẽ vang cho nòi giống Tiên rồng chứ đâu có bán thân để kiếm sống hoặc làm lao nô trên xứ Mã Lai, Đài Loan, Hàn Quốc để chịu đựng sự hành hạ và tủi nhục.

– Nếu như không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì dân tộc này đâu có chỗ cho bọn độc tài ngu dốt,cho bất công và tha hóa, dân tộc ta đâu có bị hàng hóa của Tàu đầu độc hằng ngày, đâu phải sống trong một môi trường ô nhiễm, tai nạn giao thông làm chết người còn hơn cả một cuộc chiến tranh

– Nếu như không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì dân tộc chúng ta đã là một ngọn Hải đăng trong khu vực Đông Á,một cường quốc chứ đâu có bế tắc về tương lai,khốn cùng trong hiện tại và đang đứng trước nguy cơ mất nước và bị Bắc thuộc như bây giờ.

Tháng Tư về ngồi ưu tư, lẩm cẩm viết lại những dòng này khi cả nhà tôi đang bị ba cái lệnh cưỡng chế vì “vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin” treo lơ lững trên đầu với những cáo buộc nghiêm trọng,đầy tính ngụy biện, chụp mũ và hồ đồ…

…. Nhưng mặc kệ họ, tôi xin được mượn lời của Iouri Chevtchouk, thủ lĩnh nhóm nhạc Rock  DDT huyền thoại, đã nói với Putin trong những cuộc xuống đường chống bầu cử gian lận tại nước Nga để nói với những người cộng sản VN rằng: “Vì con cháu chúng ta, nước VN không nên trở thành một quốc gia độc ác, tham nhũng, toàn trị, chỉ có một đảng với một lời ca ngợi, một tư tưởng”.

Năm nay, tháng tư một lần nữa lại về trên đất nước VN với ngổn ngang bao điều day dứt trong những tâm hồn còn tha thiết với quê hương, với tư cách của một người từng trải qua thời niên thiếu trong chế độ Việt nam Cộng hòa, tôi xin được mượn lời của một nhà văn Tây Ban Nha đã từng nói với chế độ độc tài Franco vào năm 1936: “Các ông thắng nhờ nắm được sức mạnh thô bạo cần thiết, nhưng các ông không thuyết phục được vì muốn thuyết phục cần phải có lý”.

© Huỳnh Ngọc Tuấn

© Đàn Chim Việt

Ghi chú:

Cái giá của cuộc chiến tranh do miền Bắc gây ra khi muốn chiếm miền Nam.

58000 lính Mỹ đã chết

25000 lính Việt Nam Cộng Hòa đã chết

1.100.000 bộ đội đã hy sinh

*Các diễn đàn trên mạng internet ở trong nước cho rằng, tỷ lệ chết như  sau:  1/10/100

Nếu tính cả thường dân, tỷ lệ  chết là 1 lính Mỹ chết, có 10 người VNCH và đồng bào vô tội đã hy sinh, và 100 bộ đội và thường dân đã hy sinh. 

*Chiếm được miền Nam xong, đảng cũng không biết làm cách nào phát triển kinh tế, nên sau đó, đảng CSVN gây thêm một cuộc chiến Việt Nam, kampuchea, kết quả, có thêm 70000 bộ đội chôn vùi xác bên đất Kampuchea. Cuộc chiến kéo dài 1979-1989

Cuộc chiến tranh biên giởi Việt Trung 1979 đã có 50000 bộ đội và thường dân bị chết.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Thư giãn cuối tuần…

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2012

Lời tựa:

Trẻ em là tương lai của đất nước. Muốn biết một chính quyền có phục vụ cho dân hay không, đất nước ấy có hùng cường hay không ta, người dân trong nước ấy có lòng tự trọng hay không, ta cứ  nhìn vào các trường học, vào chương trình giáo dục…

Một thước đo khác là phương tiện chuyên chở các em đến trường. Mỗi nước đầu tư vào trẻ em với mức độ khác nhau. Xe buýt chở học sinh đến trường ở mỗi nước khác nhau…kết quả sau này cũng khác nhau.

Nhân Chuyện Nhật Bản , Mời Xem ” Từ Nhật Bản , Tới Việt Nam “


1./ SCHOOL BUS IN JAPAN

2./ SCHOOL BUS IN PAKISTAN

3./ SCHOOL BUS IN VIETNAM
 SCHOOL BUS IN VIETNAM

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »

30 Tháng Tư giữa Thiên Đường Ecopark

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2012

30 Tháng Tư giữa Thiên Đường Ecopark

Đặng Huy Văn là một giảng viên đại học tại Hà Nội, thích làm thơ yêu nước.

Tác giả gửi đến Dân Luận

Tôi đã về xã Xuân Quang, huyện Văn Giang vào sáng nay và gặp được một người cựu chiến binh của Đại Đoàn Quân Tiên Phong năm xưa kể lại cho nghe cuộc biểu tình thất bại của hơn một ngàn nông dân của huyện Văn Giang tại đây. Họ đã bị thu hồi đất trái pháp luật trước sức mạnh của hàng ngàn bộ đội và công an cùng máy ủi, máy xúc nhằm phá hoại hoa màu trên cánh đồng để tiếp tục triển khai dự án “Thiên đường xanh Ecopark” cho những “thiên thần có tiền” về đây ở để được hưởng thành quả 30 Tháng Tư 1975 mĩ mãn hơn! Nhân ngày 30 Tháng Tư, tôi xin có một bài viết để sẻ chia với những thiệt thòi mất mát của bà con dân oan huyện Văn Giang, xin trân trọng gửi tới quí vị độc giả của Dân Luận.Đặng Huy Văn

 

30 Tháng Tư
Ám ảnh tôi
Những con tàu
Vật vờ trôi trên biển
Có cả mẹ già
Cả con thơ
Giữa bão tố
Chẳng biết đâu bờ bến
Những ngọn sóng hãi hùng
Đã trùm lên xác con tàu chìm nghỉm
Giữa mênh mông
Sóng cả Thái Bình Dương!

Họ là những người dân
Đi tìm bến tự do
Mà rời bỏ quê hương
Kể từ sau 30 Tháng Tư
Năm Bảy Nhăm (Ất Mão)
Hàng chục vạn người chết mất cả xác thân
Giữa biển khơi giông bão!

Ôi! Quê hương
Những năm dài tranh đấu
Máu hàng triệu người
Nhuộn đỏ dãy Trường Sơn!
Mà hôm nay
Khi “giải phóng” quê hương
Dân trở lại kiếp cày thuê cuốc mướn!
Ngay tại chính cánh đồng
Trên đúng cùng thửa ruộng
Của cha ông truyền lại tự ngàn đời
Bởi từ nay “nhà nước” quản lý rồi!
Khi “người ta” cần đất
Dân phải giao giả ruộng!
Biểu tình chống lại ư?
Sẽ tức khắc có công an, quân đội xuống
Xử lí ngay không một phút chần chừ
Các vị không tin ư?
Xin mời đến xã Xuân Quang mà hỏi thực hư!
Một người cựu chiên binh
Của Đại Đoàn Quân Tiên Phong(1)
Từng vào sinh ra tử
Nay cũng bị
Dồn đến chân tường
Với dân oan hôm đó
Nhằm thu hồi đất
Xây Ecopark “thiên đường”!

30 Tháng Tư đang về
Trên mảnh đất Văn Giang(2)
Nơi sẽ mọc lên
“Thiên đường xanh Ecopark”
Không phải trong mơ
Mà “thiên đường” có thật
Của các “cháu ngoan năm xưa của cụ Hồ”
Đã có công trong chiến tranh dẹp chế độ tự do
Trên nửa nước bằng núi xương sông máu!
Rồi làm nên 30 Tháng Tư giữa Miền Nam yêu dấu
Để về xây “thiên đường xanh Ecopark” hôm nay!

Kính lạy Chúa Trời
Lạy Phật Tổ Như Lai!
Dân cày Việt Nam đến bao giờ có ruộng?
Đến bao giờ chính quyền thôi cưỡng ép dân oan uổng?
Đến bao giờ đất nước có tự do?
Hiện hữu trên đời chứ không phải trong mơ!

Đến bao giờ dân vượt biển năm xưa
Được tự do về quê hương bản quán?
Đến bao giờ anh em thôi thù hận?
Để 30 Tháng Tư thành ngày của yêu thương

Để em thơ được sống giữa Thiên Đường
Không phải giấc mơ mà là Thiên Đường đích thực
Xin Mẹ Âu Cơ hãy chỉ đường cho chúng con tiến bước
Tới xứ sở Hòa Bình và Dân Chủ, Tự Do!

Hà Nội, 27/4/2012
Đặng Huy Văn

(1) Đại Đoàn Quân Tiên Phong ra đời ngày 28/8/1949 tại Đồn Đu, Thái Nguyên, sau này có tên là Sư Đoàn 308 tiếp quản Hà Nội ngày 10/10/1954. Năm 1975, hậu bị ở Miền Bắc.

(2) Văn Giang là một huyện của tỉnh Hưng Yên, ngay sát nách Hà Nội, nơi vừa xẩy ra cuộc biểu tình ngày 24/4/2012 của một ngàn nông dân tại xã Xuân Quang chống lại việc bị chính quyền thu hồi đất trái luật để xây dựng “Thiên đường xanh Ecopark” cho Công ty cổ phần phát triển và đầu tư Việt Hưng trước hàng ngàn công an và quân đội được chính quyền huyện Văn Giang điều động để cưỡng chế giải phóng mặt bằng đất ruộng của 3 xã Xuân Quang, Phụng Công và Cửu Cao (Theo Báo NGƯỜI CAO TUỔI VN).

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Tháng Tư – Cuộc chạy trốn cộng sản kinh hoàng…

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2012

Viết cho tháng Tư

Cảnh chạy trốn ở bến Bạch Đằng cuối tháng 4-1975.

Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có. Những gì ít ỏi mà tôi  được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Đứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những nguỵ biện không có lợi cho sự tiến bộ.

Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland- Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: “Of course, he was a formidable adversary…. By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius…”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm….Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự….”

Dù chúng ta là ai,  đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự “nguy hiểm” của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm “mục đích biện minh cho phương tiện”, nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Đối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả.

Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan… Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ “formidable” mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa “arousing fear”(gợi nên sự sợ hãi) . Với nghĩa này, nó gần giống với “terrorise” (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là “khủng bố”. Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một “đối thủ ghê gớm” như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị.

Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử- những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy- chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng “làm cho sợ hãi” của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân,  và các “trận đánh” của đội Biệt động Sài Gòn như: “trận đánh” tàu nhà hàng Mỹ Cảnh, “trận đánh” cư xá  Brinks…; và chưa kể đến  những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những “trận đánh” như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống….Đến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Đà Nẵng, những người dân sống ở Đà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Đó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là “quân giải phóng”.

Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người “nằm vùng” gọi là “trận đánh” gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu  trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ…. Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy “Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks”. Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Động Sài Gòn thực hiện. Điều mà họ gọi là “trận đánh” sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Đối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những  kẻ “nguy hiểm”, “ghê gớm” .

Ngoài cái cách thể hiện “formidable” như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Đối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại !

Để rồi sau cái ngày “thống nhất” ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi;  là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về “công lao chống Mỹ cứu nước của Đảng” vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người “có học” ở Việt Nam.

Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù…phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị…chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào “mục đích biện minh cho phương tiện”. Chúng ta biết rằng, tính chính đáng của phương tiện phụ thuộc vào sự thích nghi và mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản.

Kết quả là, “sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước” đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước “giải phóng”  hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?

Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Hay như Lê Duẩn từng nói : “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước XHCN, cho cả nhân loại”. Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt.

Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày “giải phóng”, giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao!  

Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hoà hợp trong tình tự dân tộc.  Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới : chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hoá người dân, với  một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự Hoà hợp dân tộc  có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc.

Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt chí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự Hoà hợp có khả năng xoá bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần Hoà giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thoả hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình Hoà hợp, Hoà giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Điện đã làm. Chỉ e…. Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là “chủ trương nhất quán”, là “ưu tiên hàng đầu” như lời Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh.

Mỗi năm tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạt, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hoá, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao? Ba mươi tháng Tư- xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự Hoà hợp dân tộc và nền công lý.

Sài Gòn, ngày 20 tháng 4 năm 2012

© Huỳnh Thục Vy

———————————————————————–

Cuộc chạy trốn kinh hoàng trong lịch sử VN

1. Mở bài

Mỗi năm, ngày 30 tháng tư gợi lại vết thương đau buồn và mất mát của người Việt hải ngoại, người Việt tỵ nạn, người Việt chạy trốn chế độ độc tài Cộng Sản.

2* Chiến dịch “Gió lốc” (Operation Frequent Wind)

2.1. Chiến dịch Frequent Wind

Chiến dịch Gió lốc (Operation Frequent Wind) là một cuộc di tản bằng trực thăng của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa, diễn ra từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Có 50,493 người, trong đó có 2,548 trẻ mồ côi được di tản từ phi trường Tân Sơn Nhất. Các phi công đã bay tổng cộng 1,054 giờ, với 682 chuyến bay trong chiến dịch. Đã có hơn 7,000 người được di tản bằng trực thăng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Sài Gòn.

Chiến dịch có 4 phương án:

1. Phương án 1. Di tản bằng phi cơ dân sự tại phi trường Tân Sơn Nhất
2. Phương án 2. Di tản bằng phi cơ quân sự
3. Phương án 3. Di tản bằng tàu thuyền từ cảng Sài Gòn
4. Phương án 4. Di tản bằng trực thăng, bóc người đưa đến các chiến hạm ngoài khơi.
Ngày 28-4-1975, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và bị 5 phi cơ A-37 ném bom, nên di tản bằng phi cơ cánh cố định chấm dứt, và phương án Operation Frequent Wind, di tản bằng trực thăng bắt đầu.

2.2. Giai đoạn chuẩn bị

Đây là một chiến dịch được chuẩn bị trước rất tỉ mỉ. Cả một hạm đội gồm 50 chiến hạm được huy động từ nhiều tháng trước ngày 30-4-1975.

Đầu tháng 3 năm 1975, khu trục hạm USS Kirk được lịnh nhổ neo từ căn cứ San Diego, để đi hộ tống hàng không mẫu hạm USS Hancock. Hàng không mẫu hạm Hancock được lịnh cặp bến Hawaii, để đưa những chiến đấu cơ lên bờ và thay vào đó bằng những trực thăng vận tải của TQLC/HK, rồi trực chỉ đến Biển Đông.

Chiếc USS Kirk bắt đầu vào cuộc, với Chiến dịch Eagle Pull để di tản 300 người Mỹ rời khỏi Phnom Penh. Campuchia thất thủ ngày 17-4-1975. Sau đó, chiếc USS Kirk xuôi xuống phía nam, hướng về Singapore để cùng với khu trục hạm USS Cook hộ tống hàng không mẫu hạm Midway, thả neo chờ tham gia chiến dịch Frequent Wind.

2.3. Kế hoạch bí mật, không chỉ cứu những con tàu

Chiến dịch Frequent Wind do ông Richard L. Armitage phụ trách. Ông nguyên là một sĩ quan HQ/HK, lúc đó là đặc phái viên của Bộ QP/HK, thực hiện nhiệm vụ lập kế hoạch di tản những chiến hạm của HQ/VNCH, cụ thể là giải cứu những chiến hạm và kỹ thuật công nghệ được trang bị trên những chiến hạm đó. Nếu không giải cứu được thì phá hủy, để không bị lọt vào tay CSBV làm chiến lợi phẩm. Nhiệm vụ chính của ông Armitage là cứu những con tàu, không để lọt vào tay VC.

Richard Armitage, ân nhân của gần 30 ngàn người Việt Nam trong cuộc cứu mạng cuối tháng 4-1975

Khu trục hạm USS Kirk cùng thủy thủ đoàn  200 người, được lịnh đến đảo Côn Sơn, là nơi được chọn để tập trung tàu bè và người di tản tại đó.

Một vài tuần lễ trước ngày 30-4-1975, ông Armitage đã có mặt tại văn phòng của người bạn thân là đại tá Đỗ Kiểm, Tư lịnh phó HQ/VNCH. Hai người lập kế hoạch giải cứu những chiến hạm của HQ/VNCH.

Đại tá Kiểm cho ông Armitage biết rằng, muốn đưa những con tàu rời VN, thì phải cần thủy thủ đoàn, nhưng thủy thủ VN sẽ không đi, nếu gia đình của họ không được đi theo. Kế hoạch cứu thoát những con tàu đưa đến việc di tản người lánh nạn Cộng Sản. Ông Armitage không báo cáo với thượng cấp về việc nầy, vì lo ngại chính quyền Mỹ có thể không giải cứu họ.

Cả hai ông, đại tá Kiểm và Armitage không ước lượng được con số người di tản là bao nhiêu.

2.4. Chiến hạm USS Kirk bắt đầu tiếp nhân trực thăng di tản.

Đẩy trực thăng xuống biển để lấy chỗ cho các trực thăng
khác đáp xuống một chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội.
Các trực thăng chở người miền Nam trốn
chạy khỏi cộng sản 30-4-1975

Khu trục hạm USS Kirk là mục tiêu cho trực thăng đáp xuống.
Từ sáng sớm ngày 29-4-1975, USS Kirk loan báo, có một sân đáp dành cho trực thăng trên boong, nhưng suốt buổi sáng không có trực thăng nảo đến cả. Mãi đến xế chiều, một trực thăng UH-1 của KQ/VNCH dẫn theo 16 chiếc UH-1, 1 chiếc CH-47 Chinook khổng lồ với 2 chong chóng và 1 chiếc vũ trang Cobra, cùng với 200 người di tản đã có mặt trên chiếc Kirk. Trong số  UH-1, có 1 chiếc của Air America, là hảng hàng không của CIA.

2.5. Hỗn loạn ở Côn Sơn

Ngày 1-5-1975, chiếc Kirk đã có mặt ở Côn Sơn từ hừng sáng. Đã có 30 tàu HQ/VNCH, hàng chục tàu đánh cá và tàu chở hang, đầy khẳm những người tỵ nạn ở khu tập trung nầy.

Ông Kent Chipman, một người thợ máy, lúc đó 21 tuổi, thuật lại: “Những con tàu nhồi nhét đầy người, tôi không thể xem bên dưới lòng tàu, nhưng trên boong tàu thì chật cứng, người san sát nhau”.

Kết

HQ. 500 đưa người di-tản ra khỏi Sài-Gòn

Một tài liệu lịch sử cho rằng có khoảng 30,000 người.

Một số tàu không còn chạy được, nên họ cùng lôi kéo nhau đi. Một chiếc quá khẳm nên đang chìm. Nhiều người trên tàu nhảy xuống biển. Một trung úy HQ/VNCH nổ lực giúp hành khách rời khỏi chiếc tàu đang chìm. Hành khách được chuyển sang tàu kế bên bằng một tấm ván gỗ hẹp. Cảnh hỗn loạn xảy ra.

Một người đàn ông ra tay đánh ngã một phụ nữ phía trước anh ta, cô bị rơi xuống biển, và được cứu vớt.

“Người trung úy VN không hề lưỡng lự, anh ta đến ngay sau anh chàng đó, rút súng bắn một phát vào đầu giết chết anh ta, rồi đá xác qua một bên, tiếp tục cứu người. Cú bắn thật kinh hoàng, nhưng ngăn chặn được hỗn loạn”. Ông Stephen Burwinkel, người y tá trên chiếc Kirk thuật lại như thế.

2.6. Các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa tự giải giới

Đến thứ ba, ngày 6-5-1975, toàn thể hạm đội di tản của HQ/VNCH gần đến cảng Subic (Philippines).

Lịnh ban ra: “Tất cả những chiến hạm phải tự giải giới hoàn toàn”. Tàu chiến Mỹ cho những Cano cặp vào những chiếc tàu nầy để hốt hết súng ống, đạn dược.

Trên đường đi, thủy thủ và y tá Mỹ cung cấp nước uống, thức ăn, thuốc men và khám bịnh cho người tỵ nạn.

Trên đại dương, ở hải phận quốc tế, chiếc tàu nào đăng ký ở quốc gia nào, mang cờ nước nào, thì được xem như là lãnh thổ của quốc gia đó. Vì thế, một đứa trẻ được sinh ra trên tàu, thì có quyền xin được mang quốc tịch của quốc gia của chiếc tàu.

Qua 6 ngày trên biển, trong 30,000 người tỵ nạn, đã có 3 người thiệt mạng và được thủy táng, vì Philippines không cho phép mang xác chết lên nước họ.

Khi đoàn tàu đến gần Philippines thì thuyền trưởng chiếc Kirk, nhận được một tin không tốt lành gì. Đó là chính phủ của Tổng thống Ferdinand Marcos e ngại rằng sự hiện diện của tàu HQ/VNCH có thể gây khó khăn về ngoại giao của họ, đối với chính quyền CSVN. Hạm trưởng Jacobs của chiếc Kirk kể lại: “Chính phủ Philippines không cho phép chúng tôi vào cảng Subic và đề nghị những con tàu nên trở về Việt Nam”.

Đại tá Đỗ Kiểm và ông Armitage đưa ra một giải pháp buộc Tổng thống Ferdinand Marcos phải chấp nhận. Đó là cờ VNCH được hạ xuống và trương cờ Mỹ lên, chứng tỏ những con tàu nầy là của Hoa Kỳ.

Mà thật, những con tàu nầy là của HK. Cơ sở lý luận là, trong chiến tranh, tàu HK được trao cho VNCH như là một khoản cho mượn để chống Cộng Sản, nhưng bây giờ chiến tranh kết thúc, HK thu hồi những chiếc tàu nầy trở lại. Thế là một cuộc tìm kiếm khó khăn, làm sao có đủ 30 lá cờ Mỹ trong lúc ở trên mặt biển.
Buổi lễ hạ cờ chính thức.

Hàng chục ngàn người VN trên các con tàu bắt đầu hát quốc ca. Cờ VNCH hạ xuống trong những tiếng bật khóc. Khóc. Và khóc… Chưa bao giờ có một buổi lễ hạ cờ đầy xúc động đến như thế.

Lãnh thổ VNCH cuối cùng đã mất thật sự. Cái đau gậm nhấm khôn nguôi của người Việt miền Nam là mất nước. Những người còn lương tri thì không nên quên nổi nhục đó.

3* Chiến dịch di tản trẻ sơ sinh (Operation Babylift)

3.1. Chiến dịch

Tháng 4 năm 1975, miền Nam đang sụp đổ dưới sự tấn công của Cộng Sản Bắc Việt, Tổng thống Gerald Ford lý lịnh cho thực hiện chiến dịch di tản để cứu trẻ “mồ côi”, cho rằng, có thể VC sẽ không nương tay, vì một số là con lai Mỹ.

Hoàn cảnh buộc phải di tản trẻ thơ

Những trẻ mang tên là trẻ “mồ côi”, thật ra là đã có cha hoặc mẹ còng sống, nhưng vì hoàn cảnh nào đó, họ đã từ bỏ các em, đưa vào cô nhi viện, mang tên trẻ mồ côi.

Một số những người chăm sóc các em là những người ngoại quốc vào VN làm công tác thiện nguyện cho các nhà thờ và các tổ chức từ thiện nước ngoài. Họ phải rời VN. Trong hoàn cảnh vô củng hỗn độn của những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, hàng chục ngàn gia đình VN đang chờ di tản. Trẻ mồ côi cũng không thể bị bỏ rơi trong hoàn cảnh hỗn độn đó được. Những người thiện nguyện HK đã nổ lực vận động, đưa các em ra khỏi VN để tiếp tục được chăm sóc và nuôi dưỡng. Các em đã bị cha mẹ bỏ một lần rồi, không thể bị bỏ lần thứ hai, cho nên việc di tản trẻ mồ côi là đầy lòng nhân đạo.

Chiến dịch Babylift

Một điển hình là bà Betty Tisdale, đã nổ lực chạy đôn chạy đáo để hoàn thành thủ tục làm hồ sơ xuất cảnh cho 219 trẻ sơ sinh rời VN. Bà Tisdale thuật lại: “Tôi chạy đến bịnh viện Nhi đồng, xin 225 mẫu giấy khai sanh, rồi điền vào ngày giờ và nơi sanh một cách nhanh chóng. Tôi hoàn toàn không biết những em bé nầy là con của ai, sinh ra lúc nào, nơi nào. Những ngón tay của tôi cứ viết đại để tạo ra những bản khai sanh. Tôi tức tốc đến gặp đại sứ Graham Martin xin phương tiện di tản cho các em. Đại sứ bằng lòng với điều kiện các thủ tục giấy tờ phải được chính phủ VN chấp thuận.”

Ông Edward Daly, chủ tịch World Aiways đang có mặt ở VN, trong lúc đó, thì con gái của ông là một thiện nguyện viên đang ở Colorado, đánh điện xin ông giúp đở cho trẻ mồ côi được ra đi.

Chiến dịch Babylift được thực hiện trong 3 tuần lễ, từ ngày 2-4-1975 đến ngày 26-4-1975. Tổng cộng có 26 chuyến bay, đã đưa 2,548 trẻ mồ côi đến Hoa Kỳ. Sau đó, các em được các gia đình Mỹ nhận làm con nuôi.

3.2. Bắt đầu bằng tang tóc

Chiếc Lockheed Martin C-5A Galaxy, được xem là phi cơ vận tải lớn nhất thế giới, đã từng chở xe tăng và cầu quân sự nặng 70 tấn, từ căn cứ không quân Clark (Philippines) được phái đến Sài Gòn, trong nhiệm vụ di tản trẻ thơ, bắt đầu từ ngày 4-4-1975.

Ngày 4-4-1975, lúc 4:15 chiều, sau khi 328 trẻ em và người lớn, trong đó có nhân viên sứ quán Mỹ và nhiều nhân viên của các đơn vị Mỹ, được đưa lên máy bay. Chiếc C-5 bắt đầu rời đường băng.

Khoảng 12 phút sau, cách phi trường Tân Sơn Nhất 64km, thì một biến cố xảy ra. Cửa sau, nằm dưới bụng phi cơ, là nơi đưa hành lý lên tàu, đã bung ra và bị thổi bay mất. Hành khách bị xô ngã, nhiều người bị thương. Một nhân viên phi hành ngồi gần cửa bị hút bay ra khỏi phi cơ. Những người còn lại bất tĩnh do thiếu dưỡng khí. Hai phi công chính và phụ không còn điều khiển được phi cơ, nên quyết định trở lại Sài Gòn.

C-5 không phải là phi cơ chở hành khách, cho nên những mặt nạ tiếp dưỡng khí không được thiết kế cho trẻ em, vì thế, các em được bế lên cao để gắn mặt nạ dưỡng khí vào. Linda Adam, một y tá quân y kể lại như thế.

Khi còn cách Sài Gòn 5km, phi cơ mất độ cao, lao mình ầm ầm xuống cánh đồng lúa ngập nước, đụng phải con đê, gãy làm 4 khúc, và bình xăng phát cháy.

Trên cánh đồng lúa thuộc khu vực Cát Lái, cảnh tang tóc với những xác người nằm vương vãi trên bùn đất.

153 người thiệt mạng, trong đó có:

98 trẻ em. 34 nhân viên bộ QP/HK. 5 dân sự. 11 nhân viên KQ/HK. Và những y tá của nhiều quốc gia.
175 người sống sót.

Có nhiều giả thuyết về lý do xảy ra tai nạn: cho rằng bị phá hoại do những người thân Cộng muốn phá kế hoạch di tản trẻ thơ, do lỗi thiết kế của công ty Lockheed, và cho rằng phi cơ không được bảo trì chu đáo.

Người chị của một y tá thiệt mạng, đại diện cho các nạn nhân, đâm đơn kiện tập thể, đòi công ty Lockheed bồi thường 200 triệu USD. Việc điều tra được tiến hành, và cho mãi tới năm 1990 vẫn chưa có kết quả.

4* Những di sản của chiến dịch Babylift

4.1. Không có hồ sơ lý lịch cá nhân

Ngày 5-4-1976, tờ Time cho biết, nhiều trẻ em hoàn toàn không có hồ sơ về lý lịch cá nhân, đó là những con người không có họ và tên, không có giấy tờ chứng minh ngày và nơi sinh, quốc tịch…cho nên không thực hiện hồ sơ con nuôi.

Cục di trú và nhập tịch cho biết, có 1,671 em hợp lệ, và 353 không hợp lệ.

4.2.         Bi kịch gia đình

Nhiều trường hợp đau lòng khó xử xảy ra.
–  Bà Hà Thị Võ

Người từng đưa 3 đứa con đi theo chương trình Babylift, khi đến Mỹ, đưa đơn kiện, khi nhận ra đứa con út 3 tuổi tại một gia đình nhận con nuôi, bà đòi con lại. Cậu bé không nhận bà, khiến cho nhà chức trách bác bỏ yêu cầu của bà.

–  Bà Doãn Thị Hoàng An

Bà An ở bang Montana, nhận mình là mẹ ruột của cậu bé Ben, 4 tuổi, được vợ chồng Johnny và Bonnie Nelson nhận làm con nuôi từ chương trình Babylift.

Khi ra toà, cậu bé Ben không nhận bà Hoàng An, không có phản ứng trước những cử chỉ triều mến và thương yêu của bà Hoàng An, dù vậy, tòa phán quyết cậu Ben thuộc về bà mẹ Việt Nam.

Thế là vợ chồng Nelson tiếp tục đưa đơn kiện lên toà thượng thẩm.

5* Trở về cố hương

5.1. Trẻ mồ côi trở về Việt Nam trong vai trung tá Mỹ

Cô Kimberly Mitchell có chuyến về Việt Nam trong vai một trung tá Mỹ.
Gần 40 năm sau khi được một trung sĩ Mỹ, thuộc KQ/HK và vợ ông, nhận làm con nuôi năm 1972, cô Mitchell được biết là một trẻ sơ sinh mang số 899, bị bỏ rơi tại cô nhi viện Thánh Tâm, Đà Nẵng.

Trung tá Mitchell hiện là Phó giám đốc văn phòng Trợ giúp Quân nhân và Thân nhân tại Bộ QP/HK, cho biết: “Tôi muốn cố gắng nối kết lại với quá khứ còn chưa biết của mình. Trung tá Mitchell đã thăm Sài Gòn và Đà Nẳng trong chuyến đi một tuần lễ về VN.

Chuyến thăm tại trại mồ côi Thánh Tâm, nay là một tu viện, được coi là phần xúc động nhất của chuyến đi. Tại tu viện, Mitchell gặp “Sơ” Mary, là người đã từng làm việc trong thời gian tiếp nhận em bé số 899 vào cô nhi viện. “Sơ Mary cho biết, cái tên mà họ đặt cho tôi là Trần Thị Ngọc Bích, nghĩa là viên ngọc quý. Đây là chuyến thăm của một đời người, nghĩa là một lần duy nhất. Tôi chắc chắn sẽ không chờ 40 năm nữa để quay trở lại”, Mitchell thuật lại.

5.2. Phim Ngưòi con gái Đà Nẳng (The daughter from Da Nang)

Phim tài liệu The daughter from Da Nang được đề nghị lãnh giải Oscar về loại phim tài liệu. Phim đã chiếm nhiều giải nhất trong các Đại Hội Điện Ảnh (Film Festival) Hoa Kỳ năm 2002: Sundane Film Festival, San Francisco International, Ojai Film Festival, Durango, Colorado, Texas, New Jersey International, Nashville, Cleveland.

Phim Ngưòi con gái Đà Nẵng

Nội dung phim

Vào những ngày sau cùng của cuộc chiến VN, chính phủ Gerald Ford đã bỏ ra 2 triệu USD để mở chiến dịch Babylift. Gần 3,000 trẻ mồ côi từ VN sang Hoa Kỳ, Canada, Pháp và Úc để làm con nuôi.

Cuộc di tản bắt đầu bằng một tai nạn kinh hồn làm chết hàng trăm trẻ em.

Cuốn phim xoay chung quanh cuộc đời của Heidi Bub và trong chuyến đi tìm mẹ ruột sau 22 năm.

Heidi Bub sinh năm 1968 tại Đà Nẵng, con của bà Mai Thị Kim và một quân nhân Hoa Kỳ.

Chồng bà Kim là Đỗ Hữu Vinh, từ năm 1964, đã bỏ vợ và 3 con ở lại Đà Nẳng, nhảy núi theo Việt Cộng chống Mỹ.

Bà Kim vào làm công nhân trong căn cứ Mỹ ở Đà Nẳng. Ở đó, bà đụng một ông lính Mỹ rồi sanh ra Mai Thị Hiệp (Heidi)

Khi VC đánh vào Đà Nẳng, vì sợ con lai Mỹ bị VC khủng bố, nên bà đưa con vào Hội Cha Mẹ Nuôi lúc Heidi 6 tuổi.

Khi sang Mỹ, Mai Thị HIệp được bà Ann Neville, một phụ nữ độc thân, khoa trưởng ở một trường đại học, nhận làm con nuôi, tên là Heidi Bub.

Bà Ann Neville sinh sống ở bang Tennessee, thánh địa của kỳ thị chủng tộc Klu Klax Klan. Bà che dấu nguồn gốc và cố làm cho Heidi giống 101% như Mỹ để bảo vệ con.
Về vật chất, Heidi không thiếu thốn gì cả, nhưng tình cảm giữa hai mẹ con rất khô khan cằn cỗi, thiếu hẳn những bộc lộ tình thương mẹ con. Bà Ann quá nghiêm khắc. Cuối cùng, bà đuổi Heidi ra khỏi nhà mà không giải thích lý do.

Lúc 6 tuổi, Heidi tưởng rằng mình không ngoan nên bị mẹ ruột từ bỏ. Lúc 22 tuổi, cô có mặc cảm, có lẻ mình quá tệ hại nên đã bị mất mẹ hai lần.

Năm 22 tuổi, Heidi bắt đầu tìm mẹ ruột. Trong lúc đó, ở VN, bà Mai Thị Kim cũng ra sức tìm lại đứa con.

Năm 1991, mẹ con bắt liên lạc được, qua một nhân viên của sứ quán HK. Heidi bắt đầu học tiếng Việt.

Năm 1997, ký giả Trần Tương Như, người VN đầu tiên mà Heidi tiếp xúc tại Mỹ. Trần Tương Như giúp Heidi trong chuyến về VN gặp lại mẹ ruột.

Tại phi trường Đà Nẵng, Heidi gặp lại mẹ ruột và các anh chị cùng mẹ khác cha. Tiếp theo là những tổ chức, như những bữa cơm đại gia đình, viếng thăm hàng xóm, đi chợ…

Chỉ vài ngày sau, Heidi cảm thấy khó chịu, bị sốc vì khác biệt văn hoá. Biên giới riêng tư của mình bị xâm phạm.

Bà Kim muốn ngủ chung giường với Heidi để tâm sự suốt đêm, không muốn rời con, nhưng đối với Heidi thì đó là một cuộc tấn công, lấn át không gian cá nhân. Heidi không có thì giờ để suy nghĩ về những sự việc quá mới, quá xa lạ đối với mình.
Heidi thật sự bị sốc khi các anh chị cho rằng cô có bổn phận phải cung cấp tiền bạc và làm đơn bảo lãnh cho gia đình sang Mỹ.

Heidi nghĩ rằng cô bị bóc lột và bị lợi dụng, nên đã đổi vé máy bay về Mỹ sớm hơn lịch trình ấn định.

Khi về đến Mỹ, cô nhận được thơ của các anh chị khác cha, chủ yếu vẫn là tiền bạc và bảo lãnh. Cô cảm thấy không sốt sắng để trả lời những búc thơ đó.

6* Trí thức Việt kiều giữa hai lằn đạn

6.1. Quê hương là chùm khế ngọt

Người tỵ nạn Cộng Sản đã nhận đất nước đã mở rộng vòng tay cứu giúp và cưu mang mình là quê hương thứ hai. Quê hương nầy, cụ thể là Hoa Kỳ, đã trợ giúp tài chánh bước đầu để xây dựng cuộc sống mới. Con cái người tỵ nạn được có nền giáo dục rất tiến bộ, và nhất là đất nước nầy đã cho ngưòi tỵ nạn một đời sống bình đẳng với người bản xứ, nhân quyền được tôn trọng.

Sống ở quê hương thứ hai, nhiều người cho đó là nơi tạm dung, nên không bao giờ quên quê hương mà mình được sinh ra. Quả thật đó là chùm khế ngọt. Quê hương VN cụ thể là 84 triệu đồng bào của mình trong nước.(Không kể 3 triệu đảng viên CSVN)

Có hai quan niệm và hình thức phục vụ quê hương. Đó là đấu tranh đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho đồng bào trong nước, và một hình thức khác là về nước, phục vụ đảng CSVN góp phần xây dựng quê hương.

6.2. Trí thức Việt kiều bị kẹt giữa hai lằn đạn

Ngày chạy trốn chế độ độc tài CS bằng di tản, vược biên, vượt biển, người tỵ nạn bị VC chửi tơi bời. Tôi xin trích nguyên văn lời của tác giả Tống Phước Hiến như sau:
Trích nguyên văn. “Cộng Sản xem những người vượt biên, vượt biển chạy trốn chúng là bọn phản quốc, phản động, là cặn bã, bọn ăn bám, vong bản, lười biếng…” (hết trích)

Thế rồi Nghị Quyết 36 của đảng CSVN ra đời. Người trí thức tỵ nạn được hoan nghênh khi trở về thành Việt Kiều Yêu Nước.

Những trí thức Việt Kiều Yêu Nước nầy lại bị một lằn đạn thứ hai, cũng không kém nặng nề như những lời chửi bới của Việt Cộng trước kia.

Phục vụ quê hương là không có điều kiện. Tổng thống Kennedy có nói một cây đại ý như sau, ta không nên đòi hỏi tổ quốc phải làm gì cho ta, mà tự hỏi, ta phải làm làm gì cho tổ quốc. Một vị trí thức về nước góp phần xây dựng quê hương, chưa làm được gì mà xin được mua nhà ở VN. Suốt mấy năm không được đáp ứng, bèn than phiền nầy nọ lung tung, khiến cho trí thức chân chính trong nước xem thường ra mặt.

6.3. Câu chuyện mất quyền tỵ nạn của một Việt kiều Pháp

Bài viết của ký giả Xuân Mai trên báo áp phê số 4 tại Paris như sau

“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.”.

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA=Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptride-Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc
Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản.

“Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.
Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417.

Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ giải trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội. Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn. Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm. Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp.
Cái thâm độc của VC là như thế.

Việt Cộng nhìn con người ở bản chất. Một bản chất bị cho là “Phản động, phản quốc, cặn bã…”thì khó gột rửa được. Nếu không có tiền gởi về hàng tỷ đô la mỗi năm, thì cái bản chất đó vẫn tồn tại trong đầu óc của VC. Khúc ruột thừa ngàn dậm vẫn luôn luôn là như thế.

Có những câu hỏi cho “trí thức Việt Kiều Yêu nước”:

Quý vị về phục vụ quê hương với thân phận nào đây?

– Quý vị có được đối xử bình đẳng với người dân trong nước không? Tại sao, người dân được tự do mua nhà, còn quý vị thì không.?

– Có ai được giữ chức quản lý, như trưởng toán, trưởng phòng, trưởng ban hay giám đốc không? Quý vị chỉ là những người thừa hành dưới quyền sai bảo của cán bộ đảng viên Việt Cộng mà thôi.

– Quý vị có được tự do phát biểu ý kiến riêng của mình không? Có được quyền binh vực cho công lý, công bằng, lẻ phải, sự thật hay không? Khi thấy những cảnh bất công, đàn áp đánh đập người yêu nước…quý vị có dám đứng về phía đồng bào của mình không? Nếu không, thì quý vị có thể bị xem như a tòng với tội phạm.

–   Về nước phục vụ quê hương mà không dám đứng về phía công lý, lẽ phải của đồng bào mình, thì lương tâm quý vị ra sao?

Hỏi, tức là trả lời vậy.

7* Kết
Ngày 30 tháng 4 mở ra một trang sử đau buồn của dân tộc. Trí thức Việt Kiều nên đồng tâm hiệp lực với trí thức chân chính trong nước, để đòi lại những quyền công dân và quyền con người mà dân tộc 84 triệu người Việt Nam xứng đáng được hưởng ở thế kỷ 21 nầy. Đó là cách phục vụ dân tộc đúng đắn.

Trí thức trong nước rất kiên cường, bất khuất, đã can đảm đòi tự do dân chủ cho đồng bào của mình, thì trí thức Việt Kiều không nên “Áo gấm về làng”, phát biểu linh tinh vô tổ chức để được nhận bằng khen  hoặc xin được mua nhà…

Tấm gương của những trí thức chân chính trong nước như: Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, Lê Đăng Doanh, Trần Vũ Hải, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Tụy, Chu Hảo, Lê Hiếu Đằng trong việc đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam, cần được nên theo.

Làm người, nhất là trí thức, thành phần ưu tú của dân tộc, phải nên có tư cách tối thiểu để có thể ngửa mặt nhìn thiên hạ, ở trong cũng như ở ngoài nước.

Trúc Giang
Minnesota ngày 28-4-2012

nguồn- tiengvong.com

http://tiengvong.com/binh-lun-quan-im/th-t-tai-liu.html

Posted in Chien Tranh Viet Nam | 1 Comment »

►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI 185 hecta ĐẤT VƯỜN CAO SU

Posted by hoangtran204 trên 27/04/2012

Người dân huyện Văn Giang, Hưng Yên hiện nay đang chống lệnh cưỡng bức lấy đất  bởi  vì  chính quyền  ép họ bán rẻ đất cho một công ty tư nhân. Công ty này là của cô Nguyễn Thanh Phượng, con gái  của TT Ng Tấn Dũng, dựa hơi cha, mua đất của nông dân với giá rẻ. Ai không bán thì có công an bộ đội đánh đuổi, và công ty  dùng xe ủi đất cào bằng hoa màu của nông dân đang trồng trọt  để làm Ecopark. Ecopark là một dự án xây khách sạn, công viên, văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp giá 150- 500 ngàn đô / 1 căn.

Chủ đầu tư là công ty của con gái TT Dũng. Công ty chỉ bồi thường cho nông dân với giá cực rẻ 133.333 đồng/ 1 mét vuông đất, trong khi thời giá trao tay mua đất ở vùng này là 60 triêu đồng /1 mét vuông, gấp 40 lần. 

Ngày 25-5-2012, hai phóng viên của đài Truyền Hình VOV của nhà nước đi làm tường thuật vụ này đã bị 40-50 công an đánh, đá, dùng dùi cui đánh vào đầu rất dã man. Hai phóng viên bị đánh ở Phút 3:50 và 4:20. Sau đó, còn bị lôi vào nhà đánh tiếp phút 0:05   http://www.youtube.com/watch?v=2I9_lBGKXPo

Ở Bình Dương, năm 2009, chính quyền bồi thường đất cho chị ruột của Thủ tướng NTD với giá khủng  1 tỷ đồng/1 hecta ( 50000 đô la) đất rừng cao su ở Bình Dương, (cách Sài Gòn 30 km), mà chị Hai Tâm còn chê  ít. Và chồng chị đã “chống lại cưỡng bức” rồi “bị bắt”.  Điều đáng chú ý là chị Hai Tâm của TT Nguyễn Tấn Dũng nhà ở Kiên Giang, nhưng làm cách nào mà có được 185 hecta đất rừng cao su ở Bình Dương?

Chúng ta thử đọc lại bài viết   Ngay Thẳng của nhà báo Huy Đức viết và đăng trên báo Sai Gòn Tiếp Thị và trên blog của anh năm 2009. Và sau đó, tờ báo phải chịu hậu quả ra sao từ 2009-2014. Có tin tờ báo SGTT đã bị bức tử, ngày 1-3-2014 sẽ là ngày cuối cùng của tờ báo này.  Đụng tới đồng chí X là chịu hậu quả dai dẵng thế đó! Ai da!

Hình chụp bài báo của Huy Đức trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị Online hôm 24 Tháng Tư, 2009

(Ctrl  va` +)   (Ctrl va` -)

Dù bài báo của Huy Đức có ý khen chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã hành xử “ngay thẳng” trong việc “cưỡng chế” cả người thân của Nguyễn Tấn Dũng, nhưng đây là một trong số rất ít tờ báo đã dám đưa ra ánh sáng một phần tài sản của những người thân trong giới lãnh đạo chóp bu ở Việt Nam, cũng như cách làm giàu bất chính của họ. (TH.)

———

Bài báo của Huy Đức 

NGAY THẲNG – 

Nguồn SGTT   24-4-2009

Huy Đức

Sáng 17.4.2009, một người thân của đương kim Thủ tướng cũng đã bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 280ha cao su còn lại ở xã An Tây để làm khu công nghiệp (KCN). Anh Huỳnh Ngọc Sang, người tự giới thiệu đang quản lý vườn cao su (185ha) cho bà Hai Tâm, người chị ruột của Thủ tướng, kể: Lực lượng cưỡng chế với khoảng 150 người, đã “đưa đi” ít nhất 3 người trong đó có “ông Hai”, chồng bà Tâm.

Vườn cao su kể trên thuộc 642ha đất cao su vốn của công ty quốc doanh Sobexco. Trước đây, do làm ăn thua lỗ, Sobexco đã được tỉnh Bình Dương cho phép “bán vườn cây không gồm quyền sử dụng đất” để trả nợ, với giá bình quân 50 triệu/ha. Tiến trình mua bán kéo dài tới năm 2001, thì có những thay đổi, giấy tờ mua bán được ghi là “bên A (Sobexco) chuyển nhượng vườn cây cao su gắn liền với quyền sử dụng đất”. Hơn 40 người mua vườn cây cao su ở đây về sau được cấp sổ đỏ.

Tháng 6-2006, Thanh tra tỉnh Bình Dương cho rằng việc cấp “sổ đỏ”cho 40 hộ này là trái luật. Cuộc tranh cãi chưa ngã ngũ nhưng tỉnh vẫn cho phép công ty XNK Bình Dương thực hiện dự án xây dựng KCN An Tây trên khu đất này. Số đất mà 6 năm trước đó tỉnh “bán” với giá 50 triệu đồng/ha, nay để làm KCN, XNK Bình Dương, một công ty quốc doanh, đền bù với giá 1tỷ/ha.

Chỉ trong vòng từ tháng 7 đến tháng 10-2007, công ty XNK Bình Dương đã chi ra hơn 500 tỷ để đền bù cho chủ của những vườn cao su ấy. [ 185 ha của chị Hai Tâm được đền bù 185 tỷ, tương đương 10 triệu đô la! Trần Hoàng]

Từ năm 2006, một số bài báo đã coi đây là “tham nhũng”; gần đây, một số bài báo đề nghị nhà nước cũng nên giữ chữ tín, nhà nước sai thì nhà nước chịu không nên thu lại tiền đền bù đã chi hay thu hồi sổ đỏ. Nhưng, vấn đề là trong số 40 người “dân” đứng tên trong các sổ đỏ ấy, có một số là người nhà của quan chức địa phương; và, tới cuối năm 2008, tuy không đứng tên quyền sử dụng đất ở An Tây, có người thân của Thủ tướng cũng lên gặp chính quyền địa phương khiếu nại.

Một quan chức địa phương xin giấu tên nói rằng họ biết trong số những người phản đối sáng 17-4 có vợ chồng người chị ruột của Thủ tướng nhưng chính quyền vẫn tiến hành cưỡng chế theo đúng quy định của pháp luật và điều đáng nói là lực lượng cưỡng chế đã không gặp phải bất cứ sự can thiệp nào.

Chuyện mua bán, đền bù rừng cao su đúng sai rồi sẽ còn phải làm rõ, nhưng sự ngay thẳng trong thực thi công vụ của chính quyền huyện Bến Cát là một thái độ hành xử đáng ghi nhận.

Huy Đức – tác giả cuốn sách Bên Thắng Cuộc 2013

Nguồn: http://sgtt.vn/Goc-nhin/62088/Ngay-thang.html

Nguồn: trandongchan.blogspot.com (Trần Huỳnh Duy Thức)

Trả thù

*Sau khi đăng bài báo này trên tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị 24/4/2009, Tổng biên tập Đặng Tâm Chánh đã bị cách chức, bị điều động làm việc khác, (thay bằng quyền TBT Nguyễn Xuân Minh);  và vào tháng 8/2009, nhà báo Huy Đức  bị ngừng hợp đồng vì “bất đồng quan điểm với tòa soạn” sau một bài viết của ông. Huy Đức bị thất nghiệp, quay sang viết blog osin, và hoàn thiện xuát bản cuốn Bên Thắng Cuộc vào tháng 1-2013, là cuốn sách HĐ đã sưu tập tài liệu hơn 20 năm qua.   

Ngày 23-12-2013, tờ báo SGTT bị bức tử bằng cách thay đổi cơ quan chủ quản, bị sáp nhập vào một tờ báo khác theo lệnh của Thành Ủy và UBND Tp HCM. Theo lệnh đó, 107 người đang làm việc cho SGTT phải nộp đơn xin việc làm với một tờ báo khác cũng đang trên đà thua lổ (Saigon Times), và họ có nguy cơ mất việc.

Báo được lệnh Ban Tuyên Giáo của Đảng đình bản ngày 1-3-2014. (Trần Hoàng)

107 nhân sự báo Sài Gòn Tiếp Thị hoang mang trước khả năng mất việc

———————————————

*Trong khi chị Hai của Thủ Tướng chê 10 triệu đô la là ít, đòi bồi thường nhiều hơn, thì đây là cuộc sống của người dân Hà Nội:

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/xom-ngheo-soc-boi-5-cai-chet-vu-chay-bar-2913038.html

———————————————

 

————————————————————————————————

CHỊ RUỘT CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI ĐẤT VƯỜN CAO SU 

Apr. 27th, 2009 at 7:40 AM

  SÀI GÒN (NV) – Báo Sài Gòn Tiếp Thị, hôm Thứ Sáu, 24 Tháng Tư, ở mục “Góc Nhìn”, có bài bình luận của nhà báo Huy Đức về vụ chính quyền tỉnh huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương “cưỡng chế” thu hồi đất trồng cây cao su để làm khu công nghiệp An Tây, mà qua đó, người ta có thể thấy được một phần nào tài sản của bà Hai Tâm, người chị gái của đương kim Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng.

Bài báo cho biết, vào sáng ngày 17 tháng Tư, chồng bà Hai Tâm (tức anh rể của Nguyễn Tấn Dũng) đã bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 280 héc ta cao su còn lại ở xã An Tây để làm khu công nghiệp”.

Tác giả bài báo dẫn lời anh Huỳnh Ngọc Sang, người tự giới thiệu đang quản lý vườn cao su rộng 185 héc ta cho bà Hai Tâm, kể: “Lực lượng cưỡng chế với khoảng 150 người, đã “đưa đi” ít nhất 3 người trong đó có “ông Hai”, chồng bà Tâm.”

Việc “cưỡng chế” có cả công an (nhiều khi cả quân đội) tham gia, vốn là việc trong nhiều năm trở lại đây chính quyền địa phương hoặc trung ương tiến hành khi người dân bị thu hồi đất đai chống lại vì số tiền đền bù quá thấp (hoặc không thỏa đáng) so với giá trị thực của nó trên thị trường.

Nếu bỏ qua những chi tiết về vụ “cưỡng chế” mà tác giả Huy Đức cho rằng đó là sự “ngay thẳng trong thực thi công vụ của chính quyền huyện Bến Cát”, người ta nhận thấy, trong số 280 héc ta đất trồng cao su bị thu hồi thì bà Hai Tâm có đến 185 héc ta.

Vậy nguồn gốc 185 hec ta đất cao su này có từ đâu và trị giá của nó là bao nhiêu?

Huy Đức kể tiếp: “Vườn cao su kể trên thuộc 642 ha đất cao su vốn của công ty quốc doanh Sobexco. Trước đây, do làm ăn thua lỗ, Sobexco đã được tỉnh Bình Dương cho phép “bán vườn cây không gồm quyền sử dụng đất” để trả nợ, với giá bình quân 50 triệu đồng/ha.

Tiến trình mua bán kéo dài tới năm 2001, thì có những thay đổi, giấy tờ mua bán được ghi là “bên A (Sobexco) chuyển nhượng vườn cây cao su gắn liền với quyền sử dụng đất”. Hơn 40 người mua vườn cây cao su ở đây về sau được cấp sổ đỏ.

Tháng 6-2006, Thanh tra tỉnh Bình Dương cho rằng việc cấp “sổ đỏ” cho 40 hộ này là trái luật.

Cuộc tranh cãi chưa ngã ngũ nhưng tỉnh vẫn cho phép công ty Xuất Nhập Khẩu Bình Dương thực hiện dự án xây dựng Khu công Nghiệp An Tây trên khu đất này. Số đất mà 6 năm trước đó tỉnh “bán” với giá 50 triệu đồng/ha, nay để làm Khu Công Nghiệp, XNK Bình Dương, một công ty quốc doanh, đền bù với giá 1tỷ/ha.

Chỉ trong vòng từ tháng 7 đến tháng 10-2007, công ty XNK Bình Dương đã chi ra hơn 500 tỷ để đền bù cho chủ của những vườn cao su ấy.”

Tóm tắt những thông tin trên cho thấy, năm 2001, do có “ai” đó mách bảo, bà Hai Tâm cùng với 40 người khác đã “mua” mỗi héc ta đất với giá 50 triệu đồng Việt Nam . Năm 2006, mỗi hec ta đất này được “đền bù” 1 tỷ đồng Việt Nam (tức hơn 60,000 đô la). Bà Hai Tâm hiện có 185 héc ta do đó sẽ được bồi thường 185 tỷ đồng Việt Nam (tức hơn 10 triệu đô la), tuy nhiên gia đình bà vẫn chưa đồng ý với giá đền bù đó, nên bị “cưỡng chế”.

Lợi dụng chức quyền biết trước qui hoạch vùng đất nào sẽ được nhà nước xây dựng cái gì, hay thông đồng với chính quyền để mua đất  của nông dân hoặc đất công của nhà nước với giá rẻ mạt sau đó chờ “dự án” mở ra để được “đền bù” với số tiền gấp 10 -1000 lần giá mua, là thủ đoạn làm giàu bất chính rất phổ biến ở Việt Nam, như tác giả Huy Đức cho biết:

 “Trong số 40 người “dân” đứng tên trong các sổ đỏ ấy, có một số là người nhà của quan chức địa phương; và, tới cuối năm 2008, tuy không đứng tên quyền sử dụng đất ở An Tây, có người thân của Thủ tướng cũng lên gặp chính quyền địa phương khiếu nại.”

————————————————–

Trồng cao su ở Bình Dương

Vũ Hoàng Linh,
27-4-2009

Bài viết của Huy Đức trên SGTT là một sự việc khá lạ lùng.

Lạ lùng là ở chỗ bài này lại lên báo được. Mặc dù bài viết có vẻ “khen” chính quyền địa phương huyện Bến Cát đã mạnh tay, dám cưỡng chế cả đất của anh Hai, chị Hai đương kim Thủ tướng nhưng có lẽ nội dung bài này không dừng ở chỗ đấy.

Đọc bài viết này, người ta có thể suy ra nhiều điều (đúng hay sai). Tại sao người nhà Thủ tướng lại dính vào một vụ làm ăn nhập nhằng như thế? Làm thế nào mà hơn 600 ha đất trồng cao su đã tăng từ giá 50 triệu/ha lên 1 tỷ/ha (giá đền bù)? Tức là số tiền chênh lệch mà các hộ gia đình này trong đó có nhà chị Hai Thủ tướng được nhận đã lên tới gần 600 tỷ đồng. Bàn tay ai phù phép cho việc số đất này đầu tiên được bán với danh nghĩa vườn cây rồi cuối cùng trở thành bán quyền sử dụng đất và được cấp sổ đỏ?

Một câu hỏi nữa là tại sao thanh tra Bình Dương đã kết luận việc cấp sổ đỏ là trái luật pháp mà người ta không có những biện pháp xử lý những người làm trái đó. Cũng không làm rõ xem ai sẽ phải chịu trách nhiệm cho các vi phạm pháp luật này, có dấu hiệu tham nhũng, hối lộ hay cố ý làm trái hay không?

Riêng điều 141 Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 đã có quy định đối với việc vi phạm pháp luật về đất đai của người quản lý.

Điều 141. Xử lý đối với người quản lý vi phạm pháp luật về đất đai. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai; thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. “

Thay vào đó chính quyền chấp nhận sự đã rồi. Và các hộ gia đình kia được nhận 1 tỷ trên mỗi ha, gấp 20 lần giá mua của họ. Trồng cao su mà lãi thế, trách gì toàn thấy người nhà quan chức đi trồng.

Trong bài báo của Huy Đức cũng nêu ý sau: “Từ năm 2006, một số bài báo đã coi đây là “tham nhũng”; gần đây, một số bài báo đề nghị Nhà nước cũng nên giữ chữ tín, Nhà nước sai thì Nhà nước chịu không nên thu lại tiền đền bù đã chi hay thu hồi sổ đỏ.”

Tôi thấy lập luận trong một số bài báo “gần đây” mà anh Huy Đức dẫn lại là vô lý. Trước hết không có khái niệm Nhà nước chung chung mà phải cụ thể, ví dụ như chính quyền tỉnh Bình Dương. Sự nhập nhằng về khái niệm như thế cũng sẽ dẫn tới nhập nhằng về trách nhiếm. Việc xử lý theo kiểu vì chính quyền tỉnh đã sai nên chính quyền tỉnh không thu hồi sổ đỏ cũng là không hợp lý. Nếu sổ đỏ này được cấp một cách trái pháp luật thì chính quyền cần vô hiệu hóa nó. Những thiệt hại của các hộ gia đình do chính quyền tỉnh Bình Dương gây ra (vì cấp sổ đỏ sai trái) sẽ được giải quyết trên cơ sở thỏa thuận giữa chính quyền tỉnh với các hộ (và những thỏa thuận này, cũng như số tiền chính quyền đền bù, cần nêu công khai để chịu sự giám sát của dư luận và báo chí) hoặc qua con đường tòa án (các hộ này có thể kiện chính quyền tỉnh Bình Dương vì làm sai, gây thiệt hại cho họ). Đó là cách giải quyết rõ ràng, minh bạch và cũng sẽ tạo nên một tiền lệ tốt cho việc làm của chính quyền các cấp, bởi chính quyền sẽ phải chịu trách nhiệm về mặt pháp luật với những gì họ làm. Chứ cứ giải quyết kiểu bùng nhùng như hiện nay thì tình trạng chính quyền “bán” đất cho một số đại gia hay người nhà các quan chức một cách bất hợp pháp sẽ còn kéo dài, gây hậu quả nghiêm trọng, bởi lẽ sẽ chẳng có ai phải chịu trách nhiệm trước những việc làm sai trái và tham nhũng đó cả.

Một khía cạnh khác từ bài này: phải chăng với việc bài viết này được đăng báo, thế của ông Dũng đang yếu dần? Trước kia, thỉnh thoảng chúng ta vẫn được nghe về các phi vụ làm ăn của vợ ông K, con ông K, con ông M…nhưng đó đều là các thông tin ngoài luồng, không nằm trong hệ thống báo chí XHCN. Còn trong trường hợp này là những thông tin được đăng tải trên báo chí chính thức về vụ mua bán và chuyển quyền sử dụng đất đai trái pháp luật liên quan tới gia đình chị ruột Thủ tướng!

Ở Anh, Bộ trưởng Nội Vụ Anh từng phải xin lỗi vì liệt kê nhầm mấy bộ phim người lớn do chồng bà xem vào số tiền Internet chính phủ phải thanh toán, với số tiền là 10 bảng Anh (270.000 đồng VN). Còn ở Việt Nam, người đọc thở phào (và ngạc nhiên) khi nghe tin cho dù vợ chồng chị ruột Thủ tướng phản đối, “chính quyền vẫn tiến hành cưỡng chế theo đúng quy định của pháp luật và lực lượng cưỡng chế đã không gặp phải bất cứ sự can thiệp nào.”

Chị ruột Nguyễn Tấn Dũng “chê” tiền bồi thường hơn 10 triệu đô la khi bị thu hồi đất vườn cao su (Trần Hoàng)

—————–

*Giá cả một sào đất được đền bù cho nông dân Văn Giang là 48 triệu đồng/360m2, [tức là nhà nước đền bù 133 333 đồng/ 1 mét vuông], trong khi giá mặt bằng được rao bán ở đây là 60 triệu đồng /m2.

————————————————

Chuyên chính vô sản: 

Công ty của cô Nguyễn Thanh Phượng (kêu chị Hai Tâm là cô) chỉ bồi thường cho dân huyện Văn Giang 133.333 đồng/1 mét vuông, (huyện Văn Giang cách Hà Nội 20 km). Nông dân không đồng ý và chống lại việc chiếm đất. Hơn 500 người dân ra cánh đồng chống lại. Nhưng 3000 công an và bộ đội xục vào làng đánh đập và súng nổ vang. Kết quả, 20 người dân bị công an bắt giữ.

Nhờ chuyện này mà Dân miền Bắc  hiểu rõ chuyên chính vô sản là gì. Nó có nghĩa là con cái và gia đình cán bộ đảng viên cao cấp của đảng CSVN liên kết với nhóm lợi ích, với các công ty nước ngoài, và xin chính quyền mở dự án đầu tư xây dựng. Rồi đi thu mua đất đai của dân với giá cực rẻ, và thực hiện dự án. Khi có nhiều dự án quá làm không xuể, thì chúng sang tay cho các nhà đầu tư khác và hưởng lợi gấp 500-1000 lần giá mua.

Nếu người dân không bán đất với giá cả do họ đưa ra, thì công an và bộ đội sẽ đến cưỡng bức tịch thu đất. Ai chống lại, sẽ bị công an bắt và bỏ tù. Chuyên chính vô sản  là sai công an và bộ đội  đánh đập dân chúng và bắt bớ tù đày những ai không nghe theo lệnh của nhà nước, và của đảng.

————————————————-

BIÊN HÒA

Việc đổi tên thành Nghĩa Trang Bình An có ý nghĩa thực dụng sâu xa. Nghĩa trang này vốn có tên là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi chôn 16.000 chiến sĩ VNCH từ 1961-1975

Dự  tính cướp đất Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để che dấu lịch sử và xẻ thịt chia nhau như sau:

“Vào tháng 11 năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định 1568/QD-TTg “đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa…sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triển kinh tế – xã hội” và “chỉ đạo việc quản lý khu nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo quy định của pháp luật.” nguồn [2] 

Nghĩa trang Bình An chính là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi chôn cất của 16.000 chiến sĩ của Quân đội VNCH  từ 1961-1975. Nghĩa trang này đã bị 1 trung đoàn bộ đội (QĐ ND VN) đóng cạnh bên, và xây hàng rào cao 3 mét, có cổng do bộ đội canh gác từ 1975-nay. Ai vào thăm nghĩa trang, phải ghi tên. (đọc bài Những Nấm Mộ Đi Tù,  23-12- 2013)

Bị phản đối về sự kiện vô nhân đạo này, trung đoàn bộ đội rút cách xa ra khỏi khu đất cạnh nghĩa trang, nhưng đặt một trạm canh ngay cổng vào khu đất nghĩa trang.

May mà thị trường bất động sản sụp đổ, và có sự phản đối của Việt kiều, của các cơ quan truyền thông các nước như đài VOA của Hoa Kỳ, đài BBC của Anh, đài RFA của Pháp, đài RFI và các tòa đại sứ tại Hà Nội và của quốc tế, nên đồng chí X và bọn khốn khiếp đã tạm ngưng vụ ăn chia này. Thậm chí  Việt kiều hỏi: trị giá miếng đất nghĩa trang này bao nhiêu tiền thì hãy cho biết, người Việt sẽ cùng nhau góp tiền mua lại để chung cho…bọn cướp. 

————————————————–

Hãy gọi đúng tên vụ việc: Cướp đất

Trước ngày 24-04, đọc những tin tức sẽ cưỡng chế đất của 166 hộ tại xã Xuân Quan huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên cho dự án Ecopark, tôi cứ nửa tin nửa ngờ.

Chẳng lẽ chính quyền lại có thể nhẫn tâm, bất chấp những đòi hỏi chính đáng của bà con nông dân về giá đất?

Chẳng lẽ vụ “Pháo hiệu hoa cải Đoàn Văn Vươn” không làm những quan chức chính quyền huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên suy nghĩ và chùn tay?

“Nó lú còn chú nó khôn”, chẳng lẽ các cấp trên của Hưng Yên lại muốn phơi bầy bộ mặt một chính quyền đàn áp nông dân ngay ở một nơi cách trung tâm thủ đô 13 km? (20 km)

Ngay khi nghe tin quyết định cưỡng chế vào ngày 24-04, tôi vẫn còn một chút hy vọng, rằng có thể sẽ có một quyết định từ trên xuống, hủy bỏ cưỡng chế và đối thoại tiếp với nông dân, tôi vẫn còn một chút hy vọng, rằng trong đám quan chức cấp cao hơn, vẫn còn những người có đầu óc sáng suốt, biết cân nhắc thiệt hơn khi đối đầu hay tiếp tục đối thoại với người dân.

Nhưng sự việc đã xẩy ra đã làm nhiều người sửng sốt.

Trước hết, 166 hộ nông dân đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họ chưa ký bất cứ một thỏa thuận nào với nhà đầu tư, chưa nhận tiền đền bù mà bên đầu tư đề nghị. Đất vẫn thuộc quyền sử dụng của họ. Dùng bạo lực buộc họ rời khỏi đất đai của họ và chiếm giữ nó, đó là hành động chỉ có thể được gọi là cướp đất.

Các nhà làm luật, các quan chức của chế độ „dân chủ gấp vạn lần” gọi sự kiện tại Văn Giang là „cưỡng chế” để hợp pháp hóa việc làm bất chấp luật pháp của họ, để hành động của họ bớt đi tính hung bạo. Trong một xã hội dân chủ, luật pháp được tôn trọng, chỉ tòa án mới có thẩm quyền cưỡng chế một cá nhân, một tổ chức…,buộc họ thực hiện một việc nào đó theo luật định. Thí dụ như cưỡng chế thi hành bản án của tòa đối với ngừơi không thi hành bản án mà tòa đã tuyên án.

Nhờ internet, chúng ta được theo dõi kịp thời những diễn biến của cuộc đấu tranh giữ đất của hàng nghìn bà con nông dân và cách hành xử của lực lượng võ trang của chính quyền.

Đoàn quân hùng hậu gồm hàng ngàn cảnh sát chống bạo động, công an , dân phòng… Những cảnh sát chống bạo động với lá chằn, dùi cui lựu đạn cay… sẵn sàng tiến vào áp đảo những nông dân chỉ có gậy gộc quyết giữ ruộng vườn của mình. Chúng ta đau lòng ,khi trên những thước phim ,nhìn cảnh những công an lùng sục trong làng xóm, hàng chục cảnh sát đánh hội đồng một nông dân tay không. Những người dân đã phải thốt nên:”Chưa bao giờ chính quyền làm ác thế”.

Trong cuộc đối đầu không cân sức, những người nông dân đã thua.

Đất đai như máu thịt của người nông dân, họ sống là nhờ vào đất. Đất đai do ông cha họ để lại từ đời này sang đời khác , nó còn mang ý nghĩa thiêng liêng về dòng tộc, cội nguồn. Bởi vậy, dù bất kể lý do gì họ bị mất đất, đó là sự mất mát, thiệt thòi không gì bù đắp được. Hưng Yên nói chung và Văn Giang nói riêng, còn là vùng đất chật người đông,” tấc đất tấc vàng”.

Lẽ ra, những người nông dân ở Xuân Quan Văn Giang (bên bán) phải được đặt ngang hàng với công ty tư nhân, chủ dự án đầu tư Việt Hưng (bên mua) trong quá trình thương thuyết, công ty Việt Hưng phải đối thoại trực tiếp với họ về giá cả, về thời hạn v..v. Chính quyền chỉ đứng để giám sát hai bên thực hiện theo đúng luật pháp, thực thi những điều hai bên thỏa thuận.

Ông Bùi Huy Thanh, tránh văn phong UBND tỉnh Hưng Yên nói :”Gía đền bù 43.000 đồng cho một mét vuông đất, là giá đền bù cao nhất so với các nơi khác”. Chắc ông thừa biết rằng, chủ đầu tư chỉ cần làm đường, san nền, phân lô rồi giao bán , mỗi mét đất sẽ lên giá hàng chục triệu đồng, vì Xuân Quan cách Hà Nội có 13 km, đất sẽ rất có giá.

Còn người nông dân thì sao? Với giá đền bù trên đây, mỗi hộ sẽ có trong tay vài ba chục triệu đồng. Với thời giá và thực tế xã hội hiện nay, họ sẽ làm gì với vài chục triệu đồng? Đi xin việc làm mới? Không có nghề. Đi học nghề mới? Tuổi đã lớn không học được. Xin vào làm tạp dịch trong Ecopark của công ty Việt Hưng? Phải chờ nơi đây mọc lên những phố Trúc, phố Cọ, phố Tái Hiện Hà Nội Cổ ….mà dự án dự định thực hiện trong 18 năm.

Sự kiện Xuân Quan Văn Giang ngày 24-07-2012 là biểu hiện của một chính quyền coi thường quyền lợi của người dân, lấy bạo lực thay cho đối thoại. Nó gây xúc động cho mỗi người Viêt Nam quan tâm tới tình hình đất nước. Chúng ta đau lòng khi chứng kiến những những nông dân bị đánh đập, cây cối do họ trồng trọt, chăm sóc trên ruộng đồng của họ bị tàn phá.

Những quan chức Văn Giang, Hưng Yên, họ là ai? Của ai ? Vì ai?

 Warszawa 26-04-2012

© Đàn Chim Việt

————————————————-

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | 31 Comments »

►Việt Hưng (Vihajico), chủ đầu tư Ecopark, là đối tác chiến lược của VietCapital Bank, do Nguyễn Thanh Phượng-con gái của Thủ tướng Ng T. Dũng- làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2012

Lời tựa: Mấy hôm nay hẳn là tất cả bạn đọc đều thắc mắc: Ai đứng đàng sau lưng chủ đầu tư  Ecopark? Người nầy tên gì, thân thế địa vị ra sao,  mà điều động được 2000-3000 công an, dân phòng đi đánh đuổi 700 dân chúng tại huyện Văn Giang  để lấy  500 ha đất ở Ecopark?

Vì thân thế và địa vị rất cao trọng, nên 2000-3000 công an mới ra sức tận tụy phục vụ tới bến.

Báo chí và đài truyền hình, các loa phường đều không dám loan tin vụ cưỡng chế lấy 500 ha đất ở Ecopark mặc dầu vụ cưỡng chế đã xảy ra gần 2 ngày rồi.

Cuộc điều tra của các blogger phát hiện người chủ của dự án đầu tư chính là Nguyễn Thanh Phượng, là con gái của TT Nguyễn Tấn Dũng, Chủ dự án Ecopark.

 

Dân Làm Báo – Nguyễn Thanh Phượng là Chủ tịch của 4 công ty: VietCapital Bank, công ty quản lý quỹ Bản Việt, công ty chứng khoán Bản Việt và công ty bất động sản Bản Việt. Đó là thông tin chính thức được công bố. 

Trên trang blog của anh Huỳnh Ngọc Chênh, đăng tải một tài liệu “Nghị quyết Đại hội Cổ đông thường niên 2012 của công ty Bản Việt” đề ngày 20 tháng 4, 2012 với nội dung:

VietCapital Bank phát hành quyền chọn mua cổ phiếu cho Công ty CP Phát triển Bất Động Sản Việt Hưng (Vihajico). Trong văn bản này Việt Hưng được ghi là đối tác chiến lược của VietCapital Bank và VietCapital Bank phát hành quyền chọn mua cổ phiếu cho đối tác chiến lược Việt Hưng. Việt Hưng nắm 5.670.000 quyền, mỗi quyền là 1000 đồng Việt Nam, tổng cộng giá trị của cổ phiếu là 5,6 tỷ VND. 

Bổ sung để tiện kiểm chứng xem có sự trùng tên hay ngụy tạo, độc giả cung cấp thêm mấy nguồn tư liệu:

1 – Nghị quyết Đại hội cổ đông năm 2012 – Bấm vào tải xuống bản PDF,

2- Lời ngỏ gửi khách hàng của Việt Hưng (Vihajico) về dự án Ecopark (tên chính xác là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng, có hơi khác trong văn bản).

Toàn văn Nghị quyết Đại hội cổ đông thường niên 2012 Công ty cổ phần chứng khoáng Bản Việt (VCSC)

**********************************************

4 trang

nguon

anhbasam.wordpress.com

danluan.org

danlambao.wordpress.com
 Người ký văn bản là Nguyễn Thanh PhượngChủ tịch Hội đồng quản trị của VietCapital Bank.

 Công ty Việt Hưng chính là Công ty Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) – Chủ dự án Ecopark.

 Nguyễn Thanh Phượng là con gái của Nguyễn Tấn Dũng

 Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước CHXHCNVN, đã ký văn bản 1495/CP – NN cho dự án đô thị Ecopark – Văn Giang và giao cho Công ty Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) làm chủ đầu tư

Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên công bố hôm 20/4/2012 do Nguyễn Thanh Phượng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Bản Việt ký cũng đã vừa được đăng tải bởi BBC:

Tóm lại: Nguyễn Tấn Dũng đã dùng quyền hành Thủ tướng để ký giấy trao dự án EcoPark cho công ty Việt Hưng và công ty này là đối tác chiến lược của VietCapital do Nguyễn Thanh Phượng – con gái của ông ta làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

Sự việc chỉ có dừng lại ở đó? 

Câu hỏi kế được đặt ra là Việt Hưng chỉ là đối tác chiến lược hay Nguyễn Thanh Phượng  là thành phần lãnh đạo của Việt Hưng.

Theo tin của các trang mạng lề trái, Tổng Giám đốc của Việt Hưng (Vihajico) là Đào Ngọc Thanh và Chủ tịch Hội đồng quản trị là Nguyễn Thanh Phượng.

Tuy nhiên, dựa trên thông tin của Ecopark, vào ngày 21.08.2011 “Vihajico kỷ niệm 8 năm ngày thành lập (19/8/2003 – 19/8/2011)”, thì chủ tịch HĐQT của Việt Hưng (Vihajico) là ông Lương Xuân Hà.

http://www.ecopark.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=205&Itemid=66&lang=vi

Dữ kiện về ông Lương Xuân Hà cũng tìm thấy trong bản tin Bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh về thăm dự án Ecopark.

http://www.ecopark.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=174&Itemid=66&lang=vi

Và sơ đồ cơ cấu tổ chức của Vihajico: (Cập nhật ngày: 01/12/2010)

http://cafeland.vn/danh_ba/dau_tu_du_an/4_328_cong_ty_co_phan_dau_tu__phat_trien_do_thi_viet_hung_%28vihajico%29.html

Hiện nay, nếu có sự thay đổi nhân sự và Nguyễn Thanh Phượng trở thành Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của công ty Việt Hưng, chủ đầu tư dự án Ecopark thì thông tin này chưa được chính thức công bố.

Tạm thời có thể kết luận: Nguyễn Tấn Dũng đã dùng quyền hành Thủ tướng để ký giấy trao dự án EcoPark cho công ty Việt Hưng và công ty này là đối tác chiến lược của VietCapital do Nguyễn Thanh Phượng – con gái của ông ta làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

 Bạn đọc có thêm thông tin hoặc dữ kiện liên quan xin gửi về lienlacdanlambao@gmail.com

*

Mời các bạn xem bài Ecopark: Đàn áp, đánh đập, bắt bớ và súng nổ dòn ở huyện Văn Giang  .

*Hình ảnh video ở đây cho thấy, sau khi nhận được lệnh điều động,  một đám công an 30-50 người túa ra, hùng hổ lùng sục vào nhà dân. Chúng ngang tàng đi vào các khu xóm nhà dân, sau khi nhảy qua hàng rào, chúng tóm được một thanh niên dáng người cao ráo rất lịch sự, đội nón bảo hiểm, áo bỏ trong quần,  mặc áo trắng, quần màu kem.

Chúng bắt và xô người thanh niên này chúi nhủi, rồi đột nhiên, một tên công an khác nhảy lên từ bờ tường phía bên kia hàng rào, và dùng gậy dài đánh thẳng vào đầu người thanh niên ấy. Tay công an này thật là tàn bạo! Nó hung hăng đánh người  trước ban ngày ban mặt để lấy điểm với chủ của nó. Trong khi trước đó, ta thấy người thanh niên kia chỉ đứng sau hàng rào nhà dân,  không phạm một tội nào ngoài chuyện đứng nhìn đám công ban hung bạo, đang sục sạo vào nhà dân bắt bất cứ người nào mà chúng tình nghi.

Lực lượng SS của Đức quốc xã vào thời 1933-1945, lính hồng vệ binh của Mao trong cuộc cách mạng văn hóa 1958-1966 chắc cũng chào thua tụi dã man đi đánh đập dân chúng Văn Giang để lập công cho cô chủ của chúng.

cập nhật: 6-5-2012

Hai người bị đánh trong video phía trên chính là 2 nhân viên của đài Truyền Hình Việt Nam (VOV). Một người tên là

_nhà báo Nguyễn Ngọc Năm, chức vụ: Trưởng Phòng Thời sự – Chính trị- Kinh tế thuộc Trung tâm Tin Đài Tiếng Nói Việt Nam

_và nhà báo Phi Long, phóng viên làm việc trong phòng của  ông Nguyễn Ngọc Năm.

Sau khi bị đánh, cả hai nhà báo này đều phải vào viện điều trị.

Ông Năm, ông Long nằm viện, cả Đài TNVN đến bệnh viên để thăm, ấy mà quan chức bự có nhiệm vụ bảo vệ hội viên lại bình thản nói “chưa nhận được thông tin” thì…đúng là… quan nào giống quan nấy mất rồi.
BĐX sẽ thông tin đến các bạn sau.
(Tường thuật chi tiết ở đây Bà Đầm Xòe)

Bà đâm xòe

Nhà báo Ngọc Năm, Trưởng Phòng Thời sự- Chính trị- Kinh tế Đài TNVN

Nhà báo Phi Long, Phòng Thời sự – Chính trị- Kinh tế Đài TNVN

Hôm tôi đang ở Sài Gòn, một cựu nhà báo lớn thuộc Đài TNVN gọi điện cho tôi, nói:

– Mày đang ở đâu đấy.

– Dạ. Em đang ở Sài Gòn, mừng đất nước thống nhất.

– Mày biết thằng Năm ( Ngọc Năm) và thằng Long bị bọn an ninh Hưng Yên đánh chưa?

– Dạ, chưa.

Mau về viết bài về chúng nó đi

BĐX xòe kịp về Hà Nội nhưng chưa kịp viết bài thì đã thấy BBC, ngày 5.5.2012 đưa tin, trong đó có thông tin ông Hà Minh Huệ, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam nói: cơ quan Hội “chưa nhận được thông tin về vụ việc”.

Như vậy, việc nhà báo Ngọc Năm, Phi Long bị đánh lập tức phát sinh hai “nguồn tin”. Một: nguồn tin của bọn “phản động – BBC” nói hai phóng viên bị đánh, giam giữ. Một: nguồn tin của nền dân chủ Việt Nam “triệu lần hơn dân chủ tư sản” nói “chưa biết”. Vậy phóng viên Ngọc Năm và Phi Long có bị đánh và bắt giữ không?

Để bạn đọc khỏi mất thời gian tin hay không tin, Bà đầm xòe xin khẳng định với các bạn rằng: Hai nhà báo VOV bị đánh và giam giữ tại vụ cưỡng chế đất tại Khu đô thị Thương mại- Du lịch Ecopark – Văn Giang ( Hưng Yên) là đúng 100%.

Đó là nhà báo Nguyễn Ngọc Năm, chức vụ: Trưởng Phòng Thời sự – Chính trị- Kinh tế thuộc Trung tâm Tin Đài TNVN và nhà báo Phi Long, phóng viên của phòng ông Ngọc Năm.

Sau khi bị đánh, cả hai nhà báo này đều phải vào viện điều trị. Hiện tại Nhà báo Ngọc Năm và Phi Long đã có thể đi làm.

Việc đánh tàn bạo và giam giữ nhà báo VOV sẽ “xử lý” theo hướng nào là một vấn đề “nhạy cảm”. Ông Huệ cũng đã nói “Hội sẽ có cách riêng để giải quyết”. Hu Hu Hu.

Ông Năm, ông Long nằm viện, cả Đài TNVN đến bệnh viên để thăm, ấy mà quan chức bự có nhiệm vụ bảo vệ hội viên lại bình thản nói “chưa nhận được thông tin” thì…đúng là… quan nào giống quan nấy mất rồi.

 BĐX sẽ thông tin đến các bạn sau.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/05/120505_vn_journalists_attack_vangiang.shtml

Các bạn nghe một cô gái trẻ nói gì ở giây thứ 22 nhé. Để thấy sự chán ghét và lòng căm giận của dân lên đến bực nào.

short link  của bài này 
—————————————————————————————————

Công ty CP ĐT-PT đô thị Việt Hưng đính chính về vụ việc Ecopark

LTS danchimviet: Sau vụ cưỡng chế Văn Giang, dư luận càng nóng hơn khi có thông tin, con gái thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dính líu tới công ty Cổ phần Đầu Tư Phát triển (CP ĐT PT) đô thị Việt Hưng- chủ đầu tư của Ecopark. Sở dĩ có tin như vậy vì một công khác, trụ sở tại Tp. HCM cũng có tên Việt Hưng và là đối tác chiến lược với một trong các công ty lớn do Nguyễn thanh Phượng điều hành.

Liệu có gì uẩn khúc giữa 2 cái tên “Việt Hưng” với vụ cưỡng chế quá nặng tay đối với bà con Văn Giang ngay cửa ngõ thủ đô hay không? Việt Hưng do ai đứng đằng sau mà mới thành lập mấy tháng đã được ký duyệt ngay một dự án lớn tới vài tỉ đô-la? Ở một nước độc tài, những sự thật, nhất là sự thật trên các trang “lề phải” thường chỉ là một nửa sự thật. Nhưng, nay công ty CP ĐT PT đô thị Việt Hưng vừa ra thông báo nhằm đính chính với dư luận. Trên quan điểm tôn trọng mọi nguồn tin, chúng tôi xin đưa lại thông báo này.

Bài liên quan:

1. CHỊ RUỘT CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI ĐẤT VƯỜN CAO SU

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | 11 Comments »

►Ecopark: công an đàn áp, đánh đập, bắt bớ và súng nổ dòn ở huyện Văn Giang

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2012

Các bạn nhìn thấy gì trong video dưới đây? Những người ghi và post video mà bạn đang xem đã can đảm hứng chịu biết bao nguy hiểm đang chờ đón họ.  Một thanh niên mặc áo trắng đang đứng trong sân của một căn nhà, đột nhiên bị một toán công an, dân quân, đầu gấu mặc thường phục, cầm gậy, nhảy vào bắt, và đánh đập.

Chắc các bạn có nghe tiếng súng nổ rang nhiều loạt dài. Thì ra, dân chúng đã la lên vang dội, phản đối một đám 50 công an đang lùng sục khắp các ngõ trong nhà dân, khi phát hiện một người đang đứng trong nhà, họ đã nhảy qua hàng rào, và hùa vào  nắm áo người này, các tên công an khác xô đẩy, và đánh đập người thanh niên này rất tàn nhẫn.  Một tên khác nhảy lên và với tay qua bờ tường, quất thẳng tay vào đầu thanh niên này. Dân chúng hô vang phản đối. Công an phát hoảng, nổ súng vì sợ bị dân chúng nhảy vào cứu.

2000-3000 công an trang bị súng, gậy, lựu đạn cay đi đàn áp, đánh đập, bắt bớ 700 nông dân ở huyện Văn Giang. Mục đích là cướp 500 hecta đất của nông dân. Chính quyền huyện Văn Giang muốn mua 500 ha đất ruộng của nông dân để bán lại cho chủ đầu tư  xây dựng Ecopark , mà chỉ trả 133.333 đồng/ 1 mét vuông, trong khi giá bán đất ở vùng này là 60 triệu đồng/ 1 mét vuông. 

Cướp được 5.000.000 mét vuông đất này, giá 1 mét vuông là 6o triệu, chính quyền huyện Văn Giang và chủ đầu tư lời khẳm: 1 tỷ 500 triệu đô la!

Chủ của chúng là ai? Nhân vật huyền bí và đầy quyền lực này là ai mà có khả năng điều động được 2000-3000 công an đi đàn áp dân chúng? Nhân vật này còn có khả năng làm cho báo chí truyền hình không dám đưa tin cưỡng chế đất ỏ Văn Giang, mặc dầu vụ việc này đã xảy ra hơn 48 giờ rồi!

700 tờ báo, 17000 nhà báo, tất cả các đài truyền hình với nhân sự hơn 3000 người  đều im lặng như tờ. Họ làm như không có chuyện gì xảy ra. Họ đã được chỉ đạo cố giấu nhẹm tin tức về vụ cưỡng chế cướp đất đai ở Văn Giang. Chỉ có tờ Saigon Tiếp Thị đăng lên 1 bài báo ngắn, và 1 giờ sau thì đã rút xuống.

Nhưng giấu diếm làm sao được. Các blogger can đảm của chúng ta đã bất chấp mọi hiểm nguy: bị đánh đập, tù đày, theo dõi…họ  đã mạo hiểm vào tận hiện trường, quay phim, và gởi ra cho bạn đọc.

Hóa ra công an đông đảo, hung tợn đánh đập dân chúng như vậy là để lấy điểm với chủ của chúng. Chủ của chúng là ai? Nhân vật huyền bí và đầy quyền lực này là ai mà có khả năng điều động được 2000-3000 công an đi đàn áp dân chúng? Mời các bạn đọc bài kế tiếp sẽ rõ.

Các bạn nhìn tài liệu này xem công ty chứng khoán Bản Việt (của con gái Thủ tướng) có liên quan đến công ty cổ phần phát triển bất động sản Việt Hưng, và công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng, chủ của Ecopark không?

Toàn văn Nghị quyết Đại hội cổ đông thường niên 2012 Công ty cổ phần chứng khoáng Bản Việt (VCSC)

(4 trang)

nguon anhbasam

14h50′ – NÓNG CỰC! – Một độc giả vừa gửi tới tài liệu quý giá này, rất mới, trước vụ cưỡng chế Văn Giang-Ecopark có 4 ngày. Thấy không phải là tài liệu … mật của nhà nước, xin đăng lên, không bình luận, tùy bà con đánh giá và kiểm chứng độ xác thực, đề phòng giả mạo (bấm vô hình để phóng to, nhìn cho rõ) = >

Bổ sung để tiện kiểm chứng xem có sự trùng tên hay ngụy tạo, độc giả cung cấp thêm mấy nguồn tư liệu: 1 – Nghị quyết Đại hội cổ đông năm 2012 – Bấm vào tải xuống bản PDF, 2- Lời ngỏ gửi khách hàng của Việt Hưng (Vihajico) về dự án Ecopark (tên chính xác là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng, có hơi khác trong văn bản).

**********************************************

4 trang

nguon danluan.org

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | 4 Comments »

Cả Việt Nam và Kampuchea đều quay tròn trong quỹ đạo của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 25/04/2012

Lời tựa của Trần Hoàng: Bài báo dưới đây cho thấy vai trò kinh tế, chính trị của Trung Quốc ở Kampuchea ngày càng lớn.  Vào năm 2007, TQ cũng đã hoàn tất việc đầu tư 500 triệu Mỹ kim vào hải cảng Sihanoukville. Có hơn 3000 doanh nghiệp Trung Quốc đang hoạt động ở Kampuchea. Và một số lượng dân TQ di cư qua sống ở Kampuchea trong 2 thập niên qua. Một số ghi chép từ 2007 đến nay post dưới đây (sẽ cập nhật nguồn sau).

Đường cao tốc chạy từ Hải cảng Sihanoukville  lên phía bắc hướng tới  biên giới Kampuchea và Lào. Nhiều năm qua, Trung Quốc cũng đã và đang cố gắng khai thông đường thủy và đường bộ chạy từ biên giới Trung Quốc và Lào để nối vào xa lộ phía nam của Kampuchea.  Như vậy, vùng đất phía tây của TQ, nằm phía bắc của Lào, rất kém phát triển của TQ,  giờ đây có thể đi thẳng xuống phía nam, và thông thương ra cảng Sihanoukville. (xem bản đồ)

Khi vai trò chính trị và kinh tế của TQ ảnh hưởng mạnh mẻ ở Kampuchea, thì phía tây của Việt Nam lộ ra một lổ hổng chiến lược rất lớn.  Phía Biển Đông thì hải quân TQ tuần tra đường lưỡi bò.

Việt Nam tiếp tục thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc gần 20 tỷ USD mỗi năm.  Hàng hóa, sản phẩm, máy móc của TQ ngày đêm chạy vào VN qua biên giới Việt Trung và  cảng Hải Phòng. Các công ty VN  nhập khẩu hàng hóa từ TQ về VN đều có lời rất lớn. Người dân thường chắc chắn không thể nào xin được giấy tờ  để nhập hàng hóa TQ vào VN với số lượng gần 2 tỷ đô la mỗi tháng, chưa kể là phải chi đẹp cho các nút chặn của hải quan VN, quản lý thị trường…Chỉ có các cán bộ cao cấp và em út giữ độc quyền làm ăn trong lãnh vực này vì lời rất lớn.  Việt nam chỉ bán qua TQ nguyên liệu và khoáng sản như than đá, quặng sắt, và một ít nông sản, trái cây…tổng cộng hơn 1 tỷ USD.

Nguồn gốc của lạm phát, đồng tiền mất giá, vật giá leo thang trong hơn 30 năm qua là tập hợp của 4-5 hoạt động sau đây của các đỉnh cao trí tuệ của loài người: 1.  hàng năm chính phủ in tiền để chi tiêu vì thâm thủng ngân sách, trả lương cho 6 triệu cán bộ đảng viên và công chức (chi nhiều hơn thu); 2.  chính phủ còn tung tiền đồng VN ra mua lại 9-10 tỷ đô la của Việt kiều gởi về cho gia đình; cụ thể  đã tung ra 300.000 tỷ đồng vào tháng 8/2011 và nhờ các ngân hàng thu mua đô la và vàng; 3. hàng năm chính phủ còn tung tiền ra cứu các tập đoàn làm ăn thua lỗ, 100 tổng công ty và tập đoàn nhà nước hiện nay đang nợ hơn 1 triệu 200 ngàn tỷ đồng (57 tỷ đô la); 4.  sự thâm thủng mậu dịch (nhập khẩu hàng hóa nhiều hơn xuất khẩu) với Trung Quốc đã lên tới mức 20 tỷ đô la hàng năm. Kết quả, đồngtiền VN có giá trị kém nhất thế giới, chỉ có giá trị hơn tiền của Somali. (nguồn: đã post đâu đó trong blog này, sẽ cập nhật tại đây trong 24 giờ nữa).

Ngoài ra, theo loạt 4 bài báo post dưới bài này, TQ đang là chủ đầu tư 100% của “Việt Nam cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng với giá 10 tô phở một mẫu

“…tính đến tháng 8.2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trồng rừng theo hình thức 100% vốn nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 288.974 ha “

Trong số các công ty nước ngoài đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen (Hong Kong, đã thuộc về Trung Quốc vào năm 1999) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.“

1ha = 1 mẫu = 10.000 mét vuông

Báo vneconomy viết: “diện tích đã được cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê 50 năm là 15.664 ha

“”Bộ trưởng Phúc cũng cho rằng, cấp phép cho một doanh nghiệp Đài Loan gần 200.000 ha, tức là 2.000 km2 là một con số quá lớn.”

Đảng và nhà nước phát triển kinh tế bằng cách bán tài nguyên khoáng sản dầu khí, quặng sắt, quặng titan, than đá, wolfram, tungsten,…suốt hơn 20 năm qua, đất đai thì chia năm xẻ bảy cho Nhật (Tokyu ở Bình Dương), Đài Loan, Ả Rập (60% tỉnh Phú Yên, hợp đồng thuê đất lên 210 năm), Singapore (Sơn Tịnh, Quãng Ngãi) thuê làm đặc khu kinh tế ở phía Nam. 18 tỉnh ngoài miền bắc thì cho Trung Quốc thuê 274.848 hecta đất, có những vùng đất cho thuê 50 năm, 99 năm (ở Móng Cái).  (nguồn của các sự kiện ở các bài báo post trên blog này)

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

CAMPUCHIA QUAY TRÒN TRONG QUỸ ĐẠO CỦATRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 24/4/2012

TTXVN (Angiê 21/4)

Trên đường từ Campuchia trở về sau khi tham dự cuộc họp lần thứ tư của nhóm BRICS, ngày 29/3, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào, dừng chân ở Phnôm Pênh mấy ngày, trước thềm hội nghị thượng đỉnh ASEAN khai mạc ngày 3/4.

Chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc kết thúc bằng một bản thông cáo chung dài nói về việc tăng cường hợp tác kinh tế và mở rộng mối quan hệ về an ninh (đấu tranh chống khủng bố, buôn người và ma túy), mở rộng hợp tác quân sự trên mọi khía cạnh và soạn thảo bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông.

Theo ông Jean-Paul Yacine, nhà phân tích chính trị của tạp chí “Tin Trung Hoa”, chặng dừng chân của Hồ Cẩm Đào tại Campuchia đã làm dấy lên các cuộc tranh luận về sức nặng ngày càng tăng của Trung Quốc ở vương quốc chùa tháp này.

Chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, vào hôm trước khi diễn ra hội nghị thượng đỉnh ASEAN, gây ra những ý kiến khác nhau trong giới bình luận cũng như ở Philippin, nước nghi ngờ Sự “công minh” của nước chủ nhà vốn bị cáo buộc là “chư hầu” của Trung Quốc.

Ngày 31/3, hãng Reuters, công bố một văn bản cho biết Hồ cẩm Đào có thể đề nghị Thủ tướng Campuchia Hun Sen không tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tranh luận giữa các nước thành viên ASEAN về biển Đông, một vấn đề gây ra bao tranh cãi giữa Bắc Kinh và nhiều nước thành viên, trong đó có Philippin và Việt Nam.

Ngày 2/4, tờ nhật báo tiếng Anh “Cambodge Daily” phát đi một bài bình luận của tiến sĩ Lao Mong Hay. Là người được đào tạo tại Anh và thường phê phán sự xích lại gần Trung Quốc, nước mà ông cho là đóng vai trò quyết định trong sự phát triển mạnh mẽ của Khơme Đỏ, Lao Mong Hay nói rằng “Hội nghị cấp cao ASEAN có thể sẽ bị Trung Quốc sử dụng để, thông qua tiếng nói của Campuchia, mở rộng lợi ích địa chiến lược của mình”.

Tác giả bài báo còn nói thêm rằng: “Một số nước ASEAN không còn tin Campuchia có khả năng giữ được thái độ trung lập trong vai trò chủ tịch khi nhiều nước có ý định bày tỏ nỗi lo ngại của mình về ý đồ của Trung Quốc”.

Văn bản do hãng Reuters phát ra và những lời bình luận lại trái ngược với những tuyên bố chính thức, trong khi tại một cuộc họp báo, Thủ tướng Campuchia Hun Sen phê phán gay gắt tiến sĩ Lao Mong Hay và tờ “Cambodge Daily”, đồng thời phủ nhận mọi sự can thiệp của Trung Quốc.

Ngoài cuộc tranh luận, những cuộc trao đổi liên quan đến mối nghi ngờ và những điều xúc phạm giữa các nhà báo, nhà quan sát và Chính quyền Phnôm Pênh được tiếp nối bằng một số tuyên bố của Ngoại trưởng Philippin. Ông Alver Del Rosario, với lời lẽ mạnh mẽ phê phán ý đồ của Trung Quốc, ngay tại phiên khai mạc, nhấn mạnh để các nước thành viên thông qua, mà không có sự tham gia của Trung Quốc, lập trường chung về một Bộ quy tắc ứng xử vốn rất khó có khả năng được thông qua nhưng được coi như một bộ luật ở biển Đông. Ông nói: “Chúng ta hy vọng rằng thương lượng sẽ thực sự tiến triển, không những về hình thức mà cả về nội dung.”

Cuối cùng, như để thúc đẩy thêm bước khởi đầu của tiến trình phân hóa vốn là biểu hiện của sự tương phản giữa tình hình chính sách đối nội của các nước thành viên dưới chiếc bóng của Trung Quốc, ngày 3/4, Inđônêxia và Philippin đã tẩy chay phiên họp đầu tiên về nhân quyền. Các nước này định qua đó phản đối việc chính phủ nhiều nước ASEAN kiểm soát các tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự vì muốn làm dịu một vài trong số các vấn đề nghiêm trọng nhất mà dân chúng trong vùng phải gánh chịu.

Về mặt này, các tổ chức phi chính phủ do Chính quyền Phnôm Pênh lựa chọn lại tránh nói đến các vụ vi phạm nhân quyền ở Campuchia trong các vụ chuyển nhượng đất cho các tổ hợp chế biến lương thực, trong đó có nhiều tổ hợp của Trung Quốc. Các tổ chức khác có thái độ phê phán mạnh hơn và cứng đầu hơn, lại hoàn toàn bị cấm tham đự hội nghị.

Các tổ hp lớn của Trung Quốc trở lại. Liên minh Trung Quốc- Khơme mi

Sự xích lại gần nhau giữa Phnôm Pênh và Bắc Kinh được khởi đầu từ năm 1992 trong bối cảnh hoàn toàn khác với những năm bảo hộ, từ thời Sihanouk, dưới thời Lon Nol, rồi trong thời kỳ Khơme Đỏ. Từ những năm 1990 người Trung Quốc chiếm giữ vị thế ngày càng có nhiều ảnh hưởng ở Campuchia, sau khi bị Pháp khoanh lại trong vai trò thương nhân, rồi bị Sihanouk kiềm chế, bị loại trừ dưới thời Sirik Matak, bị những kẻ Pol Pot quấy nhiễu và tàn sát (khoảng 200.000 người chết theo chuyên gia về Khơme Đỏ Steve Heder) vì bị coi là “dân thành thị tham nhũng” cần phải tiêu diệt và cải huấn, và cuối cùng bị Việt Nam loại hẳn ra ngoài cuộc.

Sau 11 năm Việt Nam có mặt về quân sự ở Campuchia, hiệp định Pari năm 1991 đã làm thay đổi tình thế. Việc “giải quyết tổng thể vấn đề Campuchia” chấm dứt một thời kỳ được đánh dấu bởi cuộc kháng chiến âm ỉ chống kẻ chiếm đóng, đi đâu là các đơn vị Khơme Đỏ còn sót lại được Trung Quốc và cộng đồng quốc tế – trong đó có cả Mỹ và các nước châu Âu – cung cấp vũ khí dưới chiêu bài viện trợ cho ba phái chống Việt Nam, trong đó thực tế chỉ có Khơme Đỏ hoạt động có hiệu quả trên lãnh thổ Campuchia.

Vai trò của Đảng Nhân dân Campuchia không ngừng được tăng cường để hướng dấn tới độc quyền về chính trị sau một thời kỳ dân chủ ngắn ngủi bắt đầu bằng cuộc bầu cử do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1993. Ngay từ năm 1991, chế độ Phnôm Pênh tạo điều kiện thuận lợi cho xã hội Trung Quốc hồi sinh như trước thời kỳ bảo hộ, xoay quanh các hội đoàn tương ứng với xuất xứ địa lý của các cộng đồng.

Trong khi mối quan hệ giữa Đảng Nhân dân Campuchia và Đảng Cộng sản Trung Quốc phát triển sâu rộng hơn mối quan hệ truyền thống được thiết lập trong những năm 1970 bởi Chu Ân Lai với Hoàng gia Campuchia hiện nay bị Hun Sen loại ra ngoài cuộc và chỉ có vái trò thứ yếu, lợi ích chung của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Nhân dân Campuchia – vốn có mối liên hệ trực tiếp với nhau – tăng gấp đôi. Cả hai đảng quả thực đều muốn làm cho nhau quên đi mối quan hệ với chế độ Khơme Đỏ để tập trung vào phát triển kinh tế.

Về khía cạnh này, sự phản đối gay gắt của Thủ tướng Hun Sen đối với mọi hành động Lên án những kẻ tình nghi mới tại tòa án lưỡng viện Phnôm Pênh hiện đang, xét xử các lãnh đạo cao nhất của chế độ Pol Pot, hoàn toàn phù hợp với ý muốn của ban lãnh đạo Trung Quốc. Nước Trung Quốc hiện đại muốn sang trang mới sau khi hỗ trợ bền bỉ và vô điều kiện những kẻ giết người cực đoan dưới chế độ Campuchia dân chủ, kể cả vào những thời điểm tệ hại nhất với các cuộc tàn sát hàng loạt trong thời kỳ 1975-1978.

Từ đó, hợp tác kinh tế với Trung Quốc không ngừng được mở rộng cùng với việc tăng cường quyền lực của Đảng Nhân dân nhờ sự hỗ trợ của một mạng lưới doanh nhân Trung Quốc và Trung Quốc gốc Khơme gắn bó chặt chẽ với giới đầu nậu nắm quyền.

Hoạt động không gì cưỡng lại đưc của Trung Quốc

Trong Nhà nước pháp quvền ờ Campuchia, không còn một thể chế mang nhãn hiệu dân chủ nào còn độc lập (bộ máy tư pháp, Hội đồng thẩm phán cấp cao, quyền lập pháp, ủy ban bầu cử đều phải tuân lệnh).

Nhà nước pháp quyền cũng là nơi những tiếng nói phê phán thuộc xã hội dân sự dần dần bị kiểm soát theo cách khiến người ta nhớ lại sự ưu tiên tối cao mà Đảng cộng sản Trung Quốc dành cho yêu cầu ổn định chính trị. Sự suy yếu dần dần của Nhà nước pháp quyền tạo ra một khuôn khổ trong đó, Bắc Kinh như con cá gặp nước, dần dần biến đất nước này thành một cực phát triển, giống như Mianma, trong khuôn khổ chiến lược phát triển các tỉnh phía Nam và Tây- Nam của Trung Quốc.

Giống như Hoàng thân Sihanouk đã làm vào năm 1965, Đảng Nhân dân của Hun Sen ngả hẳn về phía Trung Quốc. Lần này, hệ thống quyền lực của Campuchia, dưới vỏ bọc dân chủ, trở thành một phiên bản của hệ thống Trung Quốc, bị điều khiển bởi các mạng lưới làm ăn đầy quyền lực vừa là động lực của tăng trưởng vừa là thành trì bảo vệ lợi ích của gia đình và phe nhóm.

Từ năm 2004, Trung Quốc là nhà đầu tư hàng đầu vào Campuchia. Theo Tân Hoa Xã, từ năm 1994 đến năm 2011, tổng vốn đầu tư của Trung Quốc cộng lại lên tới 8,8 tỷ USD, chiếm 30% Tổng sản phẩm quốc nội của Campuchia.

Đầu tư của Trung Quốc vào nước này tăng rất nhanh, chỉ riêng trong năm 2011 tăng 72% (theo con số chính thức của Campuchia). Hiện nay, đầu tư của Trung Quốc cao gấp hai lần so với đầu tư vào Bắc Triều Tiên hay vào Liên minh châu Âu (nơi Trung Quốc là nhà đầu tư thứ ba với 3,6 tỷ USD), cao hơn hẳn đầu tư của Mỹ và Nhật Bản (ít hơn khoảng 30 và 60 lần so với của Trung Quốc).

Đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia được thực hiện bằng nhiều cách. Với các khoản cho vay với lãi suất thấp, đầu tư của Trung Quốc không những là sự hỗ trợ phát triển trong các lĩnh vực hạ tầng, vận tải, năng lượng, viễn thông, bảo vệ nguồn nước, mà còn là sự trợ giúp cho các công ty Trung Quốc, trong đó đông nhất là công ty quốc doanh hoạt động dưới danh nghĩa là công ty tư nhân trong các lĩnh vực khai khoáng, nông nghiệp và du lịch.

Doanh nghiệp Trung Quốc nằm trong số những công ty được chuyển nhượng nhiều nhất về công nghiệp thực phẩm, khai khoáng hay du lịch mà Campuchia dành cho các nhà đầu tư nước ngoài trong những năm qua. Tổng diện tích đất chuyển nhượng hiện nay lên tới hơn 4 triệu hecta, chiếm 22% diện tích của nước này và rộng hơn diện tích nước Bỉ. Diện tích đất chuyển nhượng tăng nhanh vì tổng diện tích đất cho thuê tăng gấp 6 lần chỉ trong hai năm 2010 và 2011.

Vê mặt này, việc chuyển nhượng 34.000 hécta cho một công ty bất động sản thuộc thành phố Thiên Tân trong Vườn quốc gia Botum Sakor, ở phía Nam tỉnh Koh Kong (Tây-Nam Campuchia), rất đáng được chú ý. Vụ chuyển nhượng này không phù hợp với Luật đất đai của Campuchia cho thuê khu đất rộng hơn 10.000 héc ta, nhưng vẫn thực hiện được một cách hợp pháp nhờ sắc lệnh Hoàng gia năm 2008.

Khung cảnh trong khu rừng hoang dã cổ này thay đổi theo nhịp độ hoạt động của các loại xe máy làm đất. Một con đường cao tốc dài 64 cây số sắp hoàn thành nối với một khu giải trí của Trung Quốc có sòng bạc và hộp đêm và được lính quân đội hoàng gia và hiến binh Campuchia bảo vệ ở lối ra vào đây, là rất lớn và bao gồm một cảng cho tàu du lịch cao cấp và một sân bay, thậm chí một nhà máy thủy điện đang chuẩn bị được xây dựng trên một vùng đất được cho thuê rộng 9.000 hécta.

Chính sách cho thuê đất bằng hợp đồng 99 năm đang được thực hiện trên diện rộng ở Campuchia và là nguồn thu nhập mờ ám của giới đầu nậu, đe dọa sự cân bằng xã hội và môi trường của Campuchia, nước phần lớn vẫn sống nhờ sản xuất nông nghiệp và thu nhập của hơn 70% dân chúng vẫn phụ thuộc vào đất đai. Trong trường hợp này, chính sách nói trên gây phương hại tới hoạt động đánh cá truyền thống của hàng trăm gia đình bị gạt ra ngoài lề một cách không thương tiếc mà không được đền bù tương xứng.

Trong khi những người dân phải chuyển đi nơi khác bắt đầu lên tiếng phê phán hoạt động kinh tế mờ ám của các tổ hợp Trung Quốc được chính giới cầm quyền ủng hộ, tâm lý chống Trung Quốc có nguy cơ đang tập trung cao độ, giống như những gì diễn ra ở Mianma xung quanh đập thủy điện trên Myitsone và các đường ống dẫn dầu nối Vịnh Bengan với Vân Nam.

Trong sân sau truyền thống của mình, Bắc Kinh tạo điều kiện cho một mạng lưới phát triển vốn đang bị một bộ phận trong chính giới phản đối ở ngay chính Trung Quốc. Những người này phê phán các khoản đầu tư khổng lồ vào hạ tầng và dự án công nghiệp hay du lịch, tạo điều kiện cho tham nhũng ồ ạt, bất chấp những đòi hỏi của xã hội về y tế, giáo dục và giúp đỡ người nghèo hay người cao tuổi./.

Nguồn anhbasam

——————————————————————————————-

Đời Đời Nhớ Ơn Quân Trung Quốc

Nước CHXHCN Việt Nam xây mộ ghi ơn lính Trung Cộng đã chết trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Ở VN, có hơn 40 nghĩa trang dành để chôn 1446 lính Trung Quốc  đã hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ.

Theo website dưới đây cho biết: nếu tính từ cuộc chiến tranh chống Pháp 1946 cho đến 1954, và kể luôn cả chiến tranh kháng chiến chống Mỹ, thì số lính Trung Quốc đã chết ở Việt Nam là trên 4400 người.

Các từ dùng trong bài báo này được dịch nguyên văn từ tiếng Anh. (Bài báo gốc là tiếng Hoa.).

* Bài Dịch

“Trên 4400 bộ đội Trung Cộng đã bị tử thương trong lúc giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chiến tranh chống Mỹ. Hiện có 1446 lính Trung Quốc, (trong số trên 4400 nói trên), đã được chôn trong 40 nghĩa trang dành cho Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc.

Chúng ta hãy kêu gọi chính quyền (Trung Quốc) mang những vị anh hùng của chúng ta về lại Trung Quốc, chúng ta không nên để họ yên nghĩ trong một miền đất không thân thiện. “

Các hình ảnh dưới đây chụp từ một trong số các nghĩa trang (ở Việt Nam) dành cho Quân đội Nhân Dân Trung Quốc. 

(Cuối bài viết là cột mốc km để định vị trí nghĩa trang này)

Over 4000 Chinese PLA soldier were killed helping Vietnam fighting against France and US, 1446 of them were buried in 40 PLA cemeteries in Vietnam,let’s call on the government to bring back our fallen heros, we should not make them rest on unfriendly land.

One of the Chinese PLA fallen soldiers cemeteries in Vietnam.

¿¹ÃÀÔ®Ô½¡ª¡ªÔ½ÄÏÁéɽԮԽ¿¹ÃÀÁÒÊ¿¹«Ä¹AÇø – ÒÕÔ·ÂÛ̳ – ÂÛ̳

Nguồn defense.pk/forums/world-affairs

Bài viết dưới đây ở trong một diễn đàn của người Trung Quốc, và đã được TH chuyển ngữ từ Hoa ngữ qua tiếng Anh.

Against the United States Vietnam – Vietnam Mountain to Vietnam martyrs cemetery in Area A

Against the United States in the Vietnam war, the Chinese people for the Vietnamese paid a huge financial and material resources, human resources support; sent 16 detachment of artillery, engineers, railway corps, Signal Corps, Navy, Air Force, logistics and transport more than 30 million people in Vietnam 3 years and 9 months of combat, air combat 2153 to shoot down U.S. aircraft by 1707, wounded 1608, captured American pilot, 42.

1950 to 1978, Vietnam supplies worth over 200 billion U.S. dollars, of which 93% are non-reimbursable assistance, not including troops fighting life consumed more than 1446 officers and men of sacrifice in the land of Vietnam , more than 4,200 people seriously wounded, and these can not be in monetary terms. In Vietnam, more than 40 locations burial of the martyrs of 1446 against the United States Vietnam War sacrifice.

China’s national strength is not strong, not rich people’s living frugally, not hesitate to make national sacrifices, moral, material, human, full support of the Vietnamese people’s anti-US struggle for national salvation and economic construction.

Users “LUCK passengers and August 2008, in order to pay tribute to the expense of the Chinese officers and men to land in Vietnam, to collect the information of the list of martyrs, alone Riding Alone went to Vietnam, travel over 1000 kilometers, along the way to the Vietnam War against the United States of martyrs who offer a special trip cigarettes, rice wine, brought from the motherland, brought greetings from home to sleep in a foreign land the loyal soul. Flowers presented to the heroic martyrs of all emotional ties to the southern border group and the group Friends of the mind. According to the passengers and, with the change of China-Vietnam relations, Vietnam has also rebuilt the United States Vietnam Martyrs Cemetery.

,

,

The dust of years covered up once the glory and the dream, more than 40 years, we can think of to sleep relatives in a foreign land?

To all the heroes and martyrs of the message can go home, please give the message to convey to their loved ones with enthusiastic users of the martyrs provinces;

If you have relatives and comrades in arms need to know more against the United States Vietnam martyrs cemetery message, please contact us.

The heroic deeds of the Chinese soldiers and civilians against the United States to Vietnam will forever go down in history!

Heroic martyrs are immortal!

Taiyuan Province with Vietnamese hi County, Mountain Township, against the United States Vietnam Martyrs Cemetery Area A list of 84 martyrs

01 Cheng Du Changsha City, Hunan 1934.7 1965.12 enlisted 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 Detachment Chief at birth

02 the Li Shuheng Hunan YanShiShi 1943.11 born 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment to pay squad

03 Qiu Huang Ming Yunmeng County, Hubei 1940.11 born 1967.3.11 the expense of back-62 detachment to pay political means

04 Yang Jun Anlu City, Hubei 1940.8 1960.3 enlisted 1967.4.18 sacrifice Logistics 62 detachment squad leader of birth

05 Yao Wan Jilin Daan city 1942.8 born 1961.9 enlisted 1967.4.18 sacrifice Logistics 62 Detachment platoon leader

06 Zhangquan Ji Lin Shuangyang County, born 1940.7 1960.8 enlisted 1967.4.18 sacrifice Logistics 62 Detachment platoon

07 of Magui Ji Lin Zhangling County 1944.8 was born 62 detachment of soldiers 1967.3.11 sacrifice logistics

08 Pengsheng Yi the Jilin Tao Ann City 1942.7 1963.8 enlisted 1967.2.4 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers of birth

09 Hu Lingfa Ji Lin Fuyu County 1943.3 1963.3 enlisted 1967.6.10 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers at birth

10 Liu Guochen Jilin Fuyu County, 1944.3 1963.8 enlisted 1967.6.10 sacrifice Logistics 62 detachment squad leader

11 any handle Kazuhiko Jilin Fuyu County 1944.10 1963.8 enlisted 1967.6.10 sacrifice Logistics 62 detachment of birth to pay squad

Dehui City, 12 Bi Yuejun Jilin born 1943.10 1963.3 enlisted 1967.7.3 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

Jiutai City, 13 Xinhai Qing Jilin born 1944.6 1966.3 enlisted 1967.8.10 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

14 Yang Jinglin Tianjin 1942.3 1961.8 enlisted 1967.6.10 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers at birth

15 stone depends on the letter Shandong Dongming 1945.12 born 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

16 Tian Yongquan 1945.2 Shandong Yanggu County Health 1964.3 enlisted 1967.3.11 Sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

17 Liuxi Guo Shandong Laiyang City Health 1964.8 enlisted 1967.6.7 1944.6 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

18 Li Shifang 1946.4 Shandong Liangshan County Health 1965.3 enlisted 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

Health 19 Chiu Heng Meng County, Shandong 1943.10 1965.3 enlisted 1967.6.20 expense of back-62 detachment squad leader

20 Hubei spring hi Heilongjiang Boli 1944.9 born 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

21 1947.11 born in Jixi City, Heilongjiang, Zhou Haijiang 1964.10 enlisted 1967.6.17 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

22 high Jingui Heilongjiang Anda students 1946.5 1965.3 enlisted 1967.6.17 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

23 Xu Liang Heilongjiang Lanxi students 1943.3 1966.8 enlisted 1967.7.3 expense of back-62 detachment squad leader

24 Zhang Yanfei Heilongjiang friendship County Health 1966.3 enlisted 1967.7.6 1945.1, the expense of Logistics 62 detachment of soldiers

25 Liu Chunhua Heilongjiang Hailun 1945.10 raw of 1963.3 recruits 1967.6.14 sacrifice logistics 62 detachment of soldiers

26 Li Heilongjiang Hailun 1945.2 raw of 1966.3 recruits 1967.8.10 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

27 Grow up Heilongjiang Hailun 1945.3 Health 1966.3 enlisted 1967.8.10 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers (the information Li Youcai)

28 Yang Fuxiang Liaoning Jinzhou City Health 1963.8 enlisted 1967.7.6 1944.3 the expense of back-62 detachment squad leader

29 MENG, Liaoning the Beining 1946.3 Health 1965.9 enlisted 1967.7.6 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

30 XU Shu-Hop Liaoning Beining 1946.9 Health 1965.8 enlisted 1967.4.18 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

31 the Duchamp bridge Liaoning Heishan 1945.12 born 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

Health Wang Shi, Liaoning Heishan 1943.1 32 1964.3 enlisted 1967.3.15 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

33 Wang tree before Liaoning Heishan 1965.3 1945.3 raw recruits 1967.6.30 sacrifice to Logistics 62 detachment of soldiers

34 62 Detachment, Yingkou, Liaoning 1940.10 born 1967.1.29 sacrifice logistics often mannered monitor

35 Sun Jingshan Liaoning, Ling original county 1944.3 born 1967.1.29 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers (data Sun Well Hill)

36 Wu Jun only life 1965.3 1946.9 Ling original city, Liaoning enlisted 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

37 Liu sacrifice love Shenyang City, Liaoning 1940.12 raw of 1961.8 recruits 1967.2.3 Logistics 62 Detachment staff officer

Health 38 Zhang Guozhen Shenyang City, Liaoning 1940.9 1961.9 enlisted 1967.4.18 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

39 Liuqing You Shenyang City, Liaoning 1940.7 Health 1961.8 enlisted 1967.7.5 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

40 Zhu Kuiyuan Shenyang City, Liaoning 1942.1 1967.6.15, born 1961.9 enlisted to rescue the Vietnamese masses at the expense of logistics 62 detachment of soldiers

41 completed phase Pavilion Liaoning Xinbin Health 1945.4 1964.3. Enlisted 1967.4.18 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers (data Bixiang Ting)

42 Kim Byung-recorded Health Liaoning Qingyuan County 1946.9 1965.3 enlisted 1967.4.24 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

43 Jing length and width of Benxi City Health 1964.10 enlisted 1967.5.1 1946.1 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

44 directors accounted for the right to 1965.3, 1942.12 born in Fushun City, Liaoning, joined the army 1967.6.7 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

45 Cheng million rounds of Liaoning Fuxin City Health 1964.9 enlisted 1967.6.20 1944.4 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

46 the Gu Zhangang Liaoning Linghai 1942.5 Health 1964.12 enlisted 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment to pay squad

47 Bai Chengyu, Liaoning Liaoning County 1939.11 raw of 1959.3 recruits 1967.8.4 expense of back-62 detachment company commander

48 world 1965.3 1942.8 Health Xinmin City, Liaoning, India enlisted 1967.8.10 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

49 SONG Hong Zhang Anhui Jieshou 1945.1 born 1967.1.29 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

Health 50 Zhang Anhui Ying County 1946.10 1965.3 enlisted 1967.2.4 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

51 Liu Xiuheng the Henan Fanxian 1946.1 born 1967.1.29 sacrifice Logistics 62 detachment squad leader

52 Zheng Hong-luan the Henan Fanxian 1943.12 raw of 1964.3 recruits 1967.1.29 expense of back-62 detachment squad leader

53 Mang months of life 1964.3 enlisted Henan Fanxian 1945.6 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment to pay squad

54 stone is now Henan YiChuanXian 1945.10 raw of 1966.3 recruits 1967.1.29 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

55 Li Wutang Health Henan YiChuanXian 1944.1 1966.3 enlisted 1967.2.4 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

56 Li baby Henan YiChuanXian 1945.7 raw of 1966.3 recruits 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

57 Li Jinsheng Henan Taikang 1946.8 born 1966 62 detachment of soldiers enlisted 1967.2.4 sacrifice logistics

58 Wen-Jiang Li Henan the Zhecheng 1944.12 Health 1966.3 enlisted 1967.6.7 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

59 Wu Huazhong Henan Queshan 1945.12 raw of 1965.3 recruits 1967.7.3 sacrifice Logistics 62 detachment to pay squad

60 Jiang Tianming Henan Queshan 1945.1 Health 1965.12 enlisted 1967.7.3 sacrifice to back-62 Detachment soldiers

61 Qing-school Henan Province Qi County, 1942.12 Health 1960.8 enlisted 1967.7.6 expense of back-62 detachment squad leader

62 Zhang Yongxiang Tanghe County, Henan 1946.9 raw of 1963.3 recruits 1967.7.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

63 Wang Zhongli of hazard 1944.5 raw of 1966.3 recruits 1967.7.6 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers (Data Wang Zhili)

64 thunder Qishan County Health 1966.3 enlisted 1967.7.3 1948.3 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

65 Xu Changshou Sichuan Linshui 1947.4 Health 1963.3 enlisted 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

66 Chen sacrifice for the group Sichuan Dazhu 1946.10 Health 1966.3 enlisted 1967.7.3 Logistics 62 detachment of soldiers

67 Liang-sacrifice, such as Sichuan Dazhu 1966.3 enlisted 1967.7.3, 1947.1 Health Logistics 62 detachment of soldiers

68 Chenshao Wu in Sichuan Pengzhou 1944.12 Health 1964.3 enlisted 1967.7.3 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

69 on behalf of Jirong Sichuan Xuanhan 1947 students 1966.3 enlisted 19867.8.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

70 Deng Boqing Kaixian 1965.3 1944.7 raw recruits 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

71 Liu Chengyi Kaixian 1965.3 1943.10 raw recruits 1967.3.11 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

72 Tang Logistics 62 detachment of soldiers sacrifice from the country in Kaixian 1944.7 Health 1965.3 enlisted 1967.4.23

73 Yu Dingqing Kaixian 1965.3 1944.10 raw recruits 1967.5.27 expense of back-62 detachment of soldiers (data Yuding Qing)

74 Peter Woo silver Kaixian 1965.3 1946.10 raw recruits 1967.6.13 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

75 life the Liangyuan De Chongqing Liangping County 1947.12 1966.3 enlisted 1967.5.1 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

76 Liu Chi-Lu Chongqing Liangping County Health 1965.3 enlisted 1967.6.13 1947.2 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

77 Tao far only Liangping County, Chongqing 1945.11 Health 1964.12 enlisted 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

78 Liu Zuo Zhi Health Chongqing Liangping County 1943.1 1965.3 enlisted 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

79 Xu Shoubin Yunyang County, 1944.5 raw of 1965.3 recruits 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

Yunyang County, 80 Tang Yihong 1945.2 Health 1965.3 enlisted 1967.6.20 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

1943.6 81 Jiang chi Yunyang County Health 1963.3 enlisted 1967.8.2 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

Health 82 Xu Haokang to Yunyang County 1943.12 1965.3 enlisted 1967.5.1 sacrifice Logistics 62 detachment of soldiers

83 Li Shengyun Chongqing City 196.07 enlisted 1967.6.7, 1939.9 Health sacrifice Logistics 62 Detachment Assistant

84 Wu Yue station Taishan 1967.8.26 expense of back-170 detachment soldiers

Note:

The following article excerpt should Cemetery heroic deeds of the “steel-day shield,” a book Of the original 62 Detachment Yuanshou Fan Captains

After February 5, the U.S. imperialists to play the Chinese New Year “to stop the bombing of the lure and” conspiracy, suspend the bombing of the Taiyuan area. For this situation, the detachment of the party committee held a Committee to analyze the current situation, and agreed that: a new trick to stop bombing of U.S. imperialism is induced and not a bomb will be upgraded, and are likely to use more troops to directly attack the steel plant power plants and other important goals. Thus, the detachment to take the concentration of forces, key principles cover will cover the troops of the concentrator, in addition to remain high even outside, all close to the steel mills and power plants. Other Baolian positions were necessary to adjust the depth of the enemy main attack direction, echelon configuration, continuous combat fire fist. Repeatedly revised fire plan, the implementation of the melee play set fire to the camp for the fire unit to carry out a vigorous position training activities to educate the troops to do the long-term operational and ideological preparation of the major battles to fight skilled in ferocious fighting.

Right on cue, the U.S. imperialism resumed the bombing of Taiyuan. On the morning of March 10, the enemy two F-4C reconnaissance aircraft has Taiyuan reconnaissance. At this time, the Guangzhou Military Region sent the enemy’s situation Bulletin: afternoon Several batches enemy take-off from the Airports of Thailand.

On the afternoon of the 10th, the weather clears, the blue sky Miles. 15:04, my distant ring of radar found the enemy base, heading Taiyuan. 15 to 10 points troops into the first-class combat readiness, 34 minutes the enemy of four F-105 fighter-bombers overhead around the Taiyuan flight from southwest to northeast in an attempt to attract me fire. We judge the is feint machine, immediately directed the regiment: “pay attention to monitoring, focus your search by follow-up goals. Moment, in the first wave of two batches of 16 F-105 enemy aircraft, along the Isles mountain medial Raozhi southeast direction, to four formation, filed dive attack steel. I already embattled artillery units, long-distance fishing live target, the enemy climb ready to dive in, a small anti-aircraft artillery 3-4 camp and set fire shooting. Was my heavy artillery fire after being hit enemy formations chaos, panic bomb, a group of southwest, south direction escape again be deployed at the station two battalions Liu homes set fire shooting; another group to the northwest escape, have been another one of my regiment and a battalion set fire shooting, immediately the two enemy aircraft billows of smoke the fire fall.

15:58 the enemy’s second wave of six batches of 24 F-105, four F-4C, with each batch of four flying from the northwest to the northeast, with the exception of the first batch along the Mo ryong’am Hill, south side of Raozhi south-easterly direction attack, the remaining installments to bypass the Mona Kunshan north side to the dressing field idling Air dive bombing steel climb from the southeast. Each batch of enemy aircraft by the dressing field empty, the first being a machine gun group shot into the dive and exit, I will again be under heavy fire of small anti-aircraft guns, has four enemy planes in flowering, 2 shot in the fall, four enemy The pilot bailed out, I Shengfu 3, killing one.

The fighting, which lasted 48 minutes, played simply, neat, made eight kills and injured three, captured pilots of three victories, but I only sustained minor injuries to four, to defend the target non-destructive.

The joy of victory, did not make us intoxicated. That night, the detachment of the party committee to convene the Standing Committee to expand, analyze the enemy’s situation, the study measures: the bombing of the U.S. plane to Taiyuan Iron and Steel Works is an upgrade of the war, has a strong political purposes, but its attempt to destroy the steel mills did not succeed, and has been my a heavy blow, will once again invade. Seize the opportunity to do the battles to prepare quickly redeployment. Their main role is in the 2nd Battalion of the regiment of the station Liu homes, go to the steel plant in the main enemy dive route south-east; airport regiment 1st Battalion, raised to the power plant southwest region, in order to enhance the firepower of this two. Forces the night action, the rapid completion of the battles to prepare.

March 11, blue skies. The few good weather, herald the coming of an uphill battle.
Morning, troops do shoot ready to place hidden until after the war. Vietnam in March, the sun baked the earth, the hot air people breath, and last night Bansu the combat readiness, and everyone was very tired.

15:40, the distant early warning radar found several groups of enemy adjacent to the I zone, alarm, commanders and soldiers have the hustle and bustle all the battle positions. 10 minutes after the observation post in enemy an RB-66 reconnaissance plane circled over the rich good. Then the radar of the whole detachment of strong interference, near and far side intelligence is abruptly interrupted. This is a cunning enemy in the attack before the usual means. At this critical moment, I am a resolute decision to observation posts Netcom reported that the enemy, to strengthen the invading search.

15:52, first this enemy aircraft overhead. The first four F-4C from northwest to south along the I Huowang edge surround. Obviously this is a the feint machine, and forces to monitor only, not shooting. Then, five batches of 20 F-105, Northwest Raozhi three steel mills northeast, east, southeast direction, turns dive-bomb to the steel mills and anti-aircraft artillery positions.
After the exit of the first wave of enemy aircraft, the second batch of 20 F-105 was to follow.

Attack of the enemy today yesterday, this time using a nearly 50 percent of the troops to suppress my anti-aircraft artillery fire, like the gambler lost dog eat dog, crazy retaliation. Blasting bombs, steel ball-ground missiles overwhelming hit to my position. My guns, gun unit regardless of their own safety, always focused on the steel of the enemy of the heavy fire of the main fire attack, the fighting is fierce. Suddenly, an enemy in the other three under the cover of Six-and row position to vote two cartons of more than 700 pieces of steel ball. Suddenly, positions on the billowing smoke, shrapnel, stones flying. Six group of bunkers, bomb drop a few pieces; In addition to the squad leader and seven gunners, and the remaining eight people shot fell to the ground, two of them to sacrifice. Squad leader Zhao Yi jump on the gun plate to replace a gunner; Li Wenzhong right arm and feet, two gunners were wounded, he Renzhaojutong, keep fighting; seven the gunner ancient Tianyang, the replacement of five gunners. At this time, fallen five gunner weapons clear water from the ground up, step onto the emplacement of ancient days, Yang said: “You go and delivery of the bombs, I pressure.” With bloody hands continuously shells pressed into the bore . Six gunner Tianbao Ying, waking from a coma, trying to hold up the body, kneeling on the ground, barely pressed five bullets passed out. Zhang Deshun wounded 260 in various parts of a gunner, out of the coma, trying to climb to the gun disk three times did not go up, health workers to rescue him, he said: “to save others, I can withstand.”

In this way, fought, fought a bloody war, and again to the invading enemy a crushing blow to keep the steel mills. This thrilling battle, which lasted 30 minutes, a total of 10 kills, hit by two enemy prisoners of war pilot 7. The detachment also paid the death of 13 people, injuring 31 people the cost.

The battle has just ended, Taiyuan City, the people rejoice, spreading the news, and some lug fruit, some concernedly vegetables, have been going to the gun positions to condole with us. Vietnamese grandmother holding Chairman Mao as the soldiers said: “You played good! Solution for our Vietnamese people hate, out of gas, you, the Chinese army, really great, we have to water much appreciate your support.”

After the war, the General Staff, General Political Department to give notice of detachment on the 10th, the 11th victory of the air operations praise.

(B)

After March 11, weather and more rain. The enemy was a heavy blow could not wait to look for an opportunity of revenge. Night and daytime weather conditions from March 18th, the enemy, take a small group of single-frame attack methods continue to attack the steel, and began the attack on the plant. Because of my limited weapons and equipment performance, shot in night and weather conditions will be difficult, twice a night fighting did not lay the enemy, some of the fear of difficulty impatience. This situation, leaders at all levels starting from the ideological education of the military units, lessons learned, to improve the organization and command and operating methods. Superior to the tune of a searchlight battalion to protect the small anti-aircraft artillery night firing. Battle the night of March 24, for the first time to shoot down the enemy one, and enhance the confidence of victory. Thereafter until mid-April, my detachment to fight day and night weather conditions 16 and shot down eight enemy aircraft and injured three.

After mid-April, the weather improves, the enemy began a large-scale attack of the day and night. April 18th, the enemy dispatched F-105 aircraft, nine batches of 36 attacks the steel mills and gun positions. Forces due to the previous major victory, the growth underestimate the enemy paralysis mood, coupled with the rainstorm washed out fortifications and communication lines is not repaired in a timely manner and not enough implementation of operational readiness. Although this battle to shoot down the enemy five, injured two, but the steel plant part of the workshop shot in the Ministry of casualties.

April 20, the battle also played good enough. To this end, the detachment of the party committee decided in two battles, for example, to fully mobilize the masses, anti-underestimate the enemy paralysis and emotions of pride, put the enemy’s situation, controversy France, looking for problems to provide for measures from the ideological, organizational, material and technology do a better job combat readiness. May 1st, the enemy has deployed six batches of 28 F-105 aircraft, to attack the steel mills and gun positions, the whole detachment set fire melee heavy fire, made to shoot down six and injured two victories.

Since May, as U.S. imperialism’s new escalation of the war, the target is gradually increasing. Not only attack the steel mills, power plants, gun positions, but generally bombing around the stations, bridges, residential and other targets. Tactics into a large formation of hollow close to the distributed multi-point attack. The new changes against the enemy on the tactical use of my troops, taken to the main cover of the major targets of some troops to implement the tactics of maneuver warfare, do not give the enemy an opportunity to exploit. June 13th will be a certain regiment of a 100 mm anti-aircraft guns even transferred to the zone northwest plantations enemy must pass through the route under ambush. When the enemy invading suddenly opened fire, shot down in one fell swoop, each one wounded enemy to the enemy by surprise blow. June 30th, the enemy sent out three waves of 60 aircraft to attack inside and outside my zone objectives. 24 attacks focus on anti-nine goals in the region, the fighting is fierce. Commanders at all levels on the enemy situation to determine accurate, and resolute determination, was not fooled by the enemy feint machine, adhere to set fire, close combat, shot down four enemy, wounded three.

In this way, we fight against the multi-point bombing of the enemy battle continued until the troop rotation to return home. During this time, I Detachment Combat 60, kills 49 and injured 66.

August 28, my detachment satisfactorily completed the motherland given to Vietnam combat missions, Taiyuan, air defense mission in Vietnam was ordered to be transferred to his department, and triumphal return home. During the whole into the Vietnam War, the whole detachment has emerged with four second-class hero, a third class Chen Lian and hero row 15, the first, second, third class minister Ban 177 24; first-class hero, the second hero 78, 2171, third class minister.

Before returning to the leadership of several of us came to the martyrs’ cemetery, pay tribute to the 84 martyrs buried here. Located in the North too Province, Vietnam Mountain Township, hi County I detachment of the martyrs’ cemetery, yard, large flat tomb-based high hold up the entire cemetery, stands the mausoleum of the martyrs monument in the sunshine, it is more solemn. We stand in the tomb of the martyr, silently watching this horizontal tombstone, as if they saw the familiar faces of the martyrs and heroic struggle of the figure.

First-class hero Cheng Du, a certain regiment of publicity Chief. In March 11 battle, he braved enemy bombing carried the shells to the six-even position. Battlefield propaganda so that each class row. When the enemy dive bombing positions, comrades advised him to go covert, he resolutely refused to continue to pressure to help six, seven gunners send shells, until the heroic sacrifice.
First-class hero Guzhan Gang, a certain regiment of three with the vice squad. The battle on June 20, the head of many serious injury, and still adhere to the standing emplacement, he resorted to the whole body strength to press to start the grip, and play 1 rounds. Wet his shirt, pants stained with blood, the DC gun plate, and his total disregard for, and turned to lifting up to 30 kg shells, grit your teeth, the first two rounds to play out. Due to his injuries, the shock of the artillery, he fell from the emplacement, fainted. When a huge bomb explosion sound awakened him, and picked up the third rounds climb to the gun, just to climb and passed out. So his hands tightly holding his bomb the Vietnamese people’s anti-US struggle for national salvation, and their last drop of blood.
First-class hero Zhukui Yuan, a certain regiment of logistics at the soldiers. June 15, struggling to seek river ferry rescued downed Vietnamese elderly focus, monument, but heroic devotion. 17, Taiyuan city party and government organs and all the masses of the people, held a solemn memorial ceremony. The Vietnamese people as “the great internationalist fighter.
Sunset, thoughts without a break. With infinite grief and memories, plodding pace of acquisition to beam bouquet of flowers placed on each martyr’s tomb. Raised his head, the righting cap, raised his right hand, one of my life feeling most standard military Sapporo respect to the martyrs. Dear comrades, farewell! You cast a shield with flesh and blood to block the indiscriminate bombing of the U.S. imperialists, successfully defending Taiyuan, the motherland will never forget you, the Vietnamese people will never forget you. You to Vietnam battle of heroic deeds will always loaded in the annals of the friendship between the peoples of China and Vietnam.

Note: (Cheng Du Lieshi widow grave photos taken from the network)

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Trung Quốc xâm nhập Kamphuchea | 4 Comments »

►18 tỉnh VN cho các nước ngoài thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 mẫu đất chỉ bằng 10 tô phở (9 đô la/ 1 mẫu đất/1 năm)

Posted by hoangtran204 trên 25/04/2012

Posted by hoangtran204 on Chủ Nhật, Tháng Mười 31, 2010

nguồn

Lời Tựa: Trong loạt 4 bài dưới đây của  báo VN viết về chuyện đất đai ở VN cho nước ngoài thuê đất với giá thuê cực rẻ, hơn 9 đô la / 1 mẫu đất/1 năm.

Báo Thanh Niên, Pháp Luật, và báo Vneconomy đều đăng tin này vào năm 2010. Mỗi tờ báo rò ra một chút tin, và phải đọc cả 4 bài báo mới thấy hết vấn đề.

Báo Pháp Luật và Thanh Niên cho biết: Các tỉnh ở VN cho Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50 năm. với giá:  180 000đồng/ 1 mẫu đất.   Giá thuê đất như thế chưa tới 10 đô / 1 mẫu. 

Báo Thanh Niên có tựa đề “Việt Nam cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng với giá 10 tô phở một mẫu

“…tính đến tháng 8.2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trồng rừng theo hình thức 100% vốn nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 288.974 ha

Trong số các công ty nước ngoài đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen (Hong Kong, nay thuộc về Trung Quốc) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.

1ha = 1 mẫu = 10.000 mét vuông

Báo vneconomy viết: “diện tích đã được cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê 50 năm là 15.664 ha

“”Bộ trưởng Phúc cũng cho rằng, cấp phép cho một doanh nghiệp Đài Loan gần 200.000 ha, tức là 2.000 km2 là một con số quá lớn.”

Vì có sự khác biệt trong báo cáo là quá lớn, một bên nói là 18 tỉnh cho thuê 398.374 ha, nhưng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo là 305.352 ha và chỉ có 10 tỉnh cho thuê.” Bộ đổ thừa cho tỉnh, còn tỉnh nói là đã có hỏi ý kiến bộ rồi mới cho thuê…

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng mời bộ trưởng các bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường (nếu đã đi công tác về) thì phát biểu làm rõ thêm. Hội trường im lặng. Chủ tịch lại mời bộ trưởng các bộ Công an, Quốc phòng, hội trường vẫn im lặng.

Bây giờ mời các bạn cảm nhận ra sao khi đọc loạt 4 bài báo dưới đây nha. Đừng nói là các chuyện này Bộ Chính Trị không biết nhé.

Bài 1-Cho nước ngoài thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 ha chỉ 180.000 đồng

Báo Pháp Luật

Dân thiếu đất trồng rừng nhưng nước ngoài lại được thuê với giá quá thấp. Đó là nhận định của Ủy ban Khoa học-Công nghệ và Môi trường (KH-CN&MT) của Quốc hội trong báo cáo giám sát về tình hình thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng gửi tới đại biểu Quốc hội (ĐBQH).

Theo báo cáo trên, đến tháng 8-2010 đã có 14 tỉnh cấp giấy chứng nhận (GCN) đầu tư trồng rừng và năm tỉnh khác cấp GCN đầu tư chế biến lâm sản kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ và các dự án có liên quan. Trong đó, một số GCN đầu tư trồng rừng được cấp ở những địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Ở một số địa phương có tình trạng giao đất trên giấy, nghĩa là diện tích đất rừng đã giao hộ gia đình quản lý cũng lại được giao cho nhà đầu tư nước ngoài thuê.

Đến tháng 8-2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trồng rừng 100% vốn nước ngoài được cấp GCN đầu tư là gần 289.000 ha và hơn 21.600 ha liên doanh liên kết là giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước. (1ha = 1 mẫu = 10.000 mét vuông)

Trong số các công ty nước ngoài đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen (Hong Kong, Trung Quốc) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.

Đến nay, Công ty InnovGreen với 8.123 ha đã được cấp đã nộp ngân sách 77.946 USD, giá thuê đất trồng rừng trung bình 9,58 USD/ha, tương đương 180.000 đồng/ha. Ủy ban KH-CN&MT cho rằng mức giá trên là quá thấp.

Ủy ban KH-CN&MT phân tích hiện nhu cầu được giao đất, giao rừng của hộ nông dân là rất lớn, trên thực tế không đủ đất rừng giao cho nhu cầu hộ gia đình. Do đó, ủy ban đề nghị xem xét việc giao đất cho nhà đầu tư nước ngoài để việc giao đất, giao rừng đảm bảo quyền lợi của hộ gia đình, cá nhân tại địa phương và việc giao đất, giao rừng phải tuân thủ đúng pháp luật, bảo đảm an ninh, quốc phòng.

Ngày 23-10, Chính phủ cũng đã gửi các ĐBQH báo cáo về tình hình cho nước ngoài thuê đất trồng rừng. Theo đó, Chính phủ dự kiến sẽ sửa các nghị định liên quan theo hướng chặt chẽ hơn về thẩm quyền, điều kiện và trình tự thẩm tra các dự án có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều diện tích đất, dự án trồng rừng. Những dự án ấy sẽ chỉ được xem xét cấp phép sau khi có ý kiến chính thức của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, hoặc cơ quan quốc phòng, an ninh địa phương. Trong thời gian chờ sửa đổi, các tỉnh không cấp mới GCN đầu tư trồng rừng có vốn ngoại…

THÀNH VĂN

Nguồn: http://phapluattp.vn/20101029110333255p0c1013/cho-nuoc-ngoai-thue-dat-trong-rung-gia-thue-1-ha-chi-180000-dong.htm

—–

Bài 2-DN nước ngoài thuê đất trồng rừng nộp ngân sách quá ít

29/10/2010 23:40
 
 
Đó là nhận định của Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường khi Báo cáo giám sát tình hình thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.

Báo cáo giám sát dẫn số liệu của Cục Lâm nghiệp cho biết, đến tháng 8.2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trồng rừng theo hình thức 100% vốn nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 288.974 ha và diện tích đất nhà đầu tư nước ngoài liên doanh liên kết với nhà đầu tư trong nước để trồng rừng là 21.657,51 ha.

Trong số các công ty nước ngoài thuê đất trồng rừng tại Việt Nam đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen (Hồng Kông, thuộc Trung Quốc) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.

Trong báo cáo, Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường cho biết: “Có một số giấy chứng nhận đầu tư được cấp ở những địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Ở một số địa phương có tình trạng giao đất trên giấy, nghĩa là diện tích đất rừng đã giao hộ gia đình quản lý cũng lại được giao cho nhà đầu tư nước ngoài thuê”.

Báo cáo giám sát dẫn trường hợp Công ty InnovGreen, với 8.123 ha đã được cấp, công ty này nộp ngân sách 77.946 USD, trung bình 9,58 USD/ha (tương đương 180.000 đồng/ha) là quá thấp.

Báo cáo giám sát cũng nêu thực trạng đáng lo ngại về tình trạng cháy rừng hiện nay. Tính đến tháng 7.2010, diện tích rừng bị cháy của cả nước là 5.327,79 ha, trong đó rừng tự nhiên là 1.948,68 ha, bằng 4,01 lần cùng kỳ năm 2009 (1.326,69 ha).

Bảo Cầm

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201044/20101029234023.aspx

Bài 3- Việt Nam cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng với giá 10 tô phở một mẫu
Friday, October 29, 2010

HÀ NỘI – Báo VietnamEconomy của Việt Nam cho biết, trong số các công ty nước ngoài thuê đất trồng rừng tại Việt Nam đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen, thuộc Hồng Kông, Trung Quốc, đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.

Rừng ở Việt Nam đang bị khai thác cạn kiệt, nhiều nơi biến thành đồi trọc sau đó lại cho nước ngoài thuê đất trồng rừng. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Theo một báo cáo của Ủy Ban Khoa Học-Công Nghệ và Môi Trường của Quốc Hội CSVN, về giá cho thuê, chỉ riêng công ty InnovGreen (công ty này của Hồng Kong, nay thuộc Trung Quốc), với 8.123 ha đã được cấp, công ty này nộp ngân sách 77 ngàn 946 đô la, giá thuê đất trồng rừng trung bình 9.58 đô la/ha, tương đương 180 ngàn đồng, bằng 10 tô phở so với thời giá hiện nay.

Mức giá thuê này, theo Ủy Ban Khoa Học-Công Nghệ và Môi Trường là khó tin được.

Chính phủ CSVN cũng cho biết, cả 8 dự án trồng rừng có 100% vốn đầu tư nước ngoài là 24.65 tỷ đồng. Việc đóng góp vào ngân sách nhà nước là không đáng kể, chủ yếu là thuế môn bài và thuế thu nhập cá nhân.

Trong khi trên thực tế, người dân tại các tỉnh đang trông mong nhà nước giao rừng, giao đất cho họ khai thác rất lớn. Tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây rừng, kỹ thuật canh tác cho năng suất trồng rừng cao, bên cạnh đó giá gỗ rừng tăng khoảng 4 lần so với trước đây. Ðặc biệt là người dân có thể chấp nhận thuê với giá cao hơn rất nhiều lần so với các công ty nước ngoài.

Số đất giao cho các công ty nước ngoài thuê để trồng rừng tại các tỉnh biên giới phía Bắc đã từng bị các cựu tướng lãnh của Việt Nam chống đối dữ dội. Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và Trung Tướng Ðồng Sĩ Nguyên đã có kiến nghị với chính phủ yêu cầu ngưng ngay các hợp đồng này vì e ngại Trung Quốc sẽ thừa cơ hội đột nhập vào Việt Nam.

Bài 4- Cho thuê đất trồng rừng: “Bộ chỉ có ý kiến khi địa phương yêu cầu”

Báo VNeconomy

MINH THÚY
11/06/2010

Bộ trưởng Cao Đức Phát: “Bộ chúng tôi chỉ quản lý về rừng nên địa phương chỉ hỏi ý kiến khi giao rừng” – Ảnh: Thế Dũng.
Những câu hỏi về trách nhiệm của việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng làm nóng phiên chất vấn sáng nay
Nóng từ đầu phiên đến cuối phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và ở cả hành lang Quốc hội sáng nay là những câu hỏi về trách nhiệm của việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng. Nhất là, khi nhiều con số tại báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội và tại kết quả giám sát của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội có sự khác biệt khá lớn.
Trả lời báo chí vào giờ nghỉ giải lao, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Lê Quang Bình cho biết đã gửi kết quả giám sát này đến Chính phủ từ khi khai mạc kỳ họp này.
(Cho thuê) 305 nghìn ha hay 398 nghìn ha?
Ngay đầu phiên chất vấn, đại biểu Nguyễn Văn Tuyết và đại biểu Lê Như Tiến đã đặt ra hàng loạt câu hỏi về tính pháp lý, thời gian hoàn thành rà soát và giải pháp khắc phục bất cập trong việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng.

Bộ trưởng Phát dẫn lại con số tại báo cáo của Chính phủ đã gửi đại biểu Quốc hội: có 11 doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để khảo sát và đầu tư trồng rừng trên địa bàn 10 tỉnh.

Trong đó, diện tích đã được cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê 50 năm là 15.664 ha và diện tích đất doanh nghiệp nước ngoài liên doanh, liên kết với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước là 18.160 ha.

“Theo Luật Đầu tư cũng như Luật Đất đai thì việc xem xét cho thuê đất thuộc thẩm quyền UBND các tỉnh vì thế các bộ chỉ có ý kiến khi được các địa phương có yêu cầu”, Bộ trưởng nói.

Người đứng đầu ngành nông nghiệp cũng cho biết đã kiểm tra hai địa phương và nhận thấy các nơi này đã thực hiện nghiêm túc quy định của luật pháp trong việc cho thuê đất rừng.

Thủ tướng đã giao cho các bộ tiếp tục kiểm tra, rà soát, “thời hạn hoàn thành thì Thủ tướng không giao cụ thể nhưng các bộ cố gắng cao nhất làm rõ vấn đề”, Bộ trưởng cho biết.

Bộ trưởng cũng cho rằng, cách đây 5, 10 năm đồi núi trọc rất nhiều nên có chủ trương khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trồng rừng. Nhưng hiện nay tình hình đã khác, đất đai hạn chế, nhân dân có nguyện vọng được giao đất trồng rừng nên phải cân nhắc.

“Tuy nhiên giải quyết các trường hợp các nhà đầu tư đã có cam kết cần đúng quy định của luật pháp, có tính đến lợi ích tổng hợp”, Bộ trưởng bày tỏ quan điểm.

Hai vị đại biểu vừa chất vấn đều nhấn nút lần thứ hai. Đại biểu Tuyết hỏi, báo cáo của Chính phủ có nêu nhiều tỉnh đã cấp phép vượt quá khả năng thực tế, vậy diện tích vượt là bao nhiêu, xử lý thế nào, các tỉnh chưa cấp thì thời gian tới có cho phép không?

Bộ trưởng giải thích, báo cáo nêu tổng diện tích đất được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp của các dự án đã được UBND các địa phương cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn 10 tỉnh là 305.353,4 ha nhưng không có nghĩa là tất cả diện tích này đã được giao cho các nhà đầu tư.

Mà chính quyền khảo sát, làm rõ từng khu đất cụ thể, chỉ giao khi đất đó đủ điều kiện, trên thực tế đã và đang làm như vậy. Song, địa phương có thiếu sót chỉ căn cứ vào thông tin khảo sát sơ bộ nên có cả diện tích đã giao cho bà con, cho dự án khác và có rừng nhưng những diện tích này sẽ được loại ra khi giao cho nhà đầu tư nước ngoài.

“Bộ trưởng nói giao hoàn toàn thẩm quyền cho các tỉnh, vậy thì Bộ trưởng có vai trò gì?”, đại biểu Tiến “truy” tiếp.

Bộ chúng tôi chỉ quản lý về rừng nên địa phương chỉ hỏi ý kiến khi giao rừng còn 305 nghìn ha nói trên là đất không có rừng”, Bộ trưởng đáp.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng mời bộ trưởng các bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường (nếu đã đi công tác về) thì phát biểu làm rõ thêm. Hội trường im lặng. Chủ tịch lại mời bộ trưởng các bộ Công an, Quốc phòng, hội trường vẫn im lặng.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội Lê Quang Bình giơ tay phát biểu và cho biết, Ủy ban đã đi khảo sát ở một số địa phương và nắm thông tin từ hai bộ Quốc phòng, Công an về tình hình cho thuê đất rừng.

Kết quả, hiện nay toàn quốc có 19 dự án nước ngoài được cấp phép trồng rừng tại 18 tỉnh nhưng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói là 10 tỉnh. Với diện tích đất rừng là trên 398.374 ha, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo là 305.352 ha.

Đặc điểm của đất giao thì chúng tôi xác định thế này, hầu hết đất nằm ở vị trí khu vực trọng yếu về quốc phòng an ninh, có khu vực là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn“, ông Bình nhấn mạnh.

Ông Bình cũng đề nghị các địa phương không cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đã đầu tư nước ngoài trong phạm vi các lĩnh vực nêu trên và Chính phủ cần nghiên cứu xử lý đối với số diện tích đã giao là 33.800 ha.

Lần thứ ba đại biểu Tuyết đứng dậy, “vì câu hỏi rất rõ nhưng Bộ trưởng trả lời chưa nói rõ, là tới đây có cấp phép cho thuê tiếp nữa hay không hay chỉ tạm dừng trong thời gian rà soát thôi?”.

“Chắc chắn là sau khi kiểm tra Chính phủ có ý kiến thì ngay cả cấp hay chưa cũng đều phải thực hiện nghiêm túc quy định của luật pháp. Sợ nói cái gì hơn nữa thì vượt quá thẩm quyền”, Bộ trưởng Phát phân trần.

“Có thể tại phiên trả lời chất vấn ngày mai Phó thủ tướng sẽ làm rõ hơn vấn đề này”, Chủ tịch Quốc hội nói.

Kiên quyết rút giấy phép dự án vi phạm

Vừa đi công tác về đến hội trường, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc được mời phát biểu. Ông cho biết, sau khi các đồng chí cán bộ lão thành có thư gửi Thủ tướng, Thủ tướng triệu tập cuộc họp đột xuất với các bộ liên quan cùng tham gia để xử lý.

Hướng xử lý của Chính phủ là cương quyết xem lại việc các tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư vừa rồi. Và trên cơ sở chúng ta vẫn bảo vệ môi trường đầu tư nhưng chúng ta kết hợp xử lý đúng pháp luật, Bộ trưởng nói.

“Những dự án nào hợp lý,vừa phải thì cho tiếp tục, những cái nào không hợp lý, không đúng luật, có ý đồ chiếm dụng nhiều đất đai và ảnh hưởng quốc phòng an ninh thì dứt khoát rút giấy phép”, Bộ trưởng Phúc nhấn mạnh.

Theo Bộ trưởng Phúc, việc này sẽ được xử lý kiên quyết như đối với sân golf, trên cơ sở đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo phát triển rừng hợp lý, đảm bảo bảo vệ môi trường đầu tư.

Về sự khác nhau giữa các con số mà Bộ trưởng Phát và Chủ nhiệm Lê Quang Bình, trao đổi với báo chí bên hàng lang Quốc hội, Bộ trưởng Phúc khẳng định: “Con số của Ủy ban Quốc phòng – An ninh là đúng, vì Bộ Kế hoạch và Đầu tư có tham gia khảo sát cùng Uỷ ban này”.

Bộ trưởng cũng cho rằng, cấp phép cho một doanh nghiệp Đài Loan gần 200.000 ha, tức là 2.000 km2 là một con số quá lớn. “Liệu họ có đủ sức làm không, một nhà đầu tư làm sao có khả năng làm thế. Do vậy, phải xem khả năng tài chính của nhà đầu tư, quy mô của dự án thực hiện”, Bộ trưởng băn khoăn.

Lý do của bất cập này, theo Bộ trưởng là “khi phân cấp mình không làm tổng thể chung,  tỉnh nào biết tỉnh ấy, không cộng lại, nếu để một cơ quan cấp phép thì sẽ biết ngay chuyện ấy thế nào”.

Sau phát biểu của Bộ trưởng Phúc, một số vị đại biểu vẫn tiếp tục “truy” trách nhiệm việc cho thuê đất rừng. Đại biểu Nguyễn Đình Xuân cho rằng “bộ trưởng không nắm được vấn đề” bởi  khi địa phương đã cho thuê gần 400.000 ha (gần bằng diện tích tỉnh Tây Ninh) mà “tư lệnh ngành” vẫn chưa biết.

Dẫn ra nhiều ví dụ khác, đại biểu Xuân cho rằng: “Bộ trưởng đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình và đề nghị Quốc hội xem xét chỉ số tín nhiệm của Bộ trưởng”.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao trách nhiệm về rừng, còn Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý về đất, ở đây cho thuê đất chứ không phải cho thuê rừng. Vì thế các địa phương không hỏi ý kiến bộ.

“Nói là có trách nhiệm thì không thì phải có trách nhiệm, tuy nhiên cũng không thể làm không đúng trách nhiệm”, Bộ trưởng Cao Đức Phát kiên trì.

Bên cạnh việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng, vấn đề xuất khẩu gạo, đảm bảo lợi nhuận cho người trồng lúa, quản lý vật tư nông nghiệp….cũng được đặt ra tại hầu hết các chất vấn của hơn 20 vị đại biểu dành cho Bộ trưởng Phát. Và, mặc dù được cả Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Công Thương cùng “chia lửa’ song rất nhiều vị đại biểu nhấn nút lần hai để đề nghị Bộ trưởng trả lời đầy đủ câu hỏi của mình.

Chiều nay, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội.

Nguồn: http://vneconomy.vn/20100611125846423P0C9920/cho-thue-dat-trong-rung-bo-chi-co-y-kien-khi-dia-phuong-yeu-cau.htm

MJHDPCbLswo

Posted in Đảng CSVN | 14 Comments »

Tin nóng: Cưỡng chế đất đai của nông dân giao cho chủ đầu tư Ecopark- Nhà cầm quyền Tỉnh Hưng Yên quyết sống mái với nhân dân Huyện Văn Giang

Posted by hoangtran204 trên 24/04/2012

Lời tựa:

*Giá cả một sào đất được đền bù cho nông dân Văn Giang là 48 triệu đồng/360m2, [tức là nhà nước đền bù 133 333 đồng/ 1 mét vuông], trong khi giá mặt bằng được rao bán ở đây là 60 triệu đồng /m2.
 
*Hóa ra, cưỡng chế 500 hecta (= 5 000 000 mét vuông), các quan chức có thể bỏ túi một số tiền quá lớn. Trừ đi giá mua rẻ 133.333 đồng/ 1 mét vuông, các quan chức và tư bản đỏ lời:

5 triệu mét vuông x 59 866 667 đồng/ 1 mét vuông = 299 333 tỷ đồng VN

Số tiền 299 333 tỷ đồng nói trên là tính cho tròn, thật sự  còn có 335 triệu đồng trong phép nhân ấy. Và nếu coi món tiền lẻ 335 triệu đồng này dùng làm tiền bồi dưỡng cho dân quân, công an đi cưỡng chế, thì các quan chức của đảng vẫn còn lời quá lớn, gần 1 tỷ rưỡi đô la!

Về phân lực lượng Công an Nhân dân có được biết bao điều lợi khi đem quân đi đánh dân Văn Giang. Họ chỉ  bỏ ra 3 ngày tập dượt cho có bài bản, phối hợp trận đánh dân Văn Giang sao cho thật đẹp, thật ngoạn mục, để lấy kinh nghiệm cho các đợt cưỡng bức lấy đất đai trong những dịp sắp tới cũng là điều tốt. Thêm nữa, các công an nhân dân tính tình vốn dĩ thích  đánh đập dân chúng, lấy nổi đau đớn của người bị đánh làm niềm vui, vì vậy, phen này được dịp đánh dân cho sướng tay, mà còn có tiền bồi dưỡng do thủ tướng phát. Một công đôi việc.

Nếu ở ngoài Bắc tính 1 hecta = 10 sào = 3600 mét vuông, thì các quan chức bỏ túi cũng gần 400 triệu đô la.

Vì số tiền lời được từ vụ cưỡng chế đất này quá lớn, bởi vậy, chính quyền huyện và tỉnh Hưng Yên quyết sống mái với dân Huyện Văn Giang.

0O0

24-4-2012

CỰC NÓNG! 6h45′ – Tin từ các CTV có mặt tại hiện trường vụ cưỡng chế ở Văn Giang-Ecopark: Lực lượng cưỡng chế đất đã phải  nổ súng, tiếng súng Ak nổ rền liên thanh từ lúc 6h10 phút đến 6h20′. Chưa có thương vong cụ thể. Tinh thần bà con quyết giữ đất trên cánh đồng Phụng Công, Cửu Cao. Chúng quá lo sợ mà nổ súng với dân !”

Đọc thêm comments ở anhbasam.wordpress.com

Cập nhật:

*Trên đồng ruộng, công an dàn hàng ngang đàn áp dân

*Trong thôn xóm, từng đoàn công an túa vào các đường nhỏ,  nhảy qua tường,  vào các nhà dân, sục sạo, lùng bắt và đánh đập tàn nhẫn bất cứ  ai mà chúng muốn.

Xin cám ơn  các bạn đã chịu các hiểm nguy đánh đập, bắt bớ, tù đày đã đến tận hiện trường của huyện Văn Giang tường thuật và quay các phim về vụ cưỡng chế đất này. Xin cám ơn các bloggers và nhiều bạn khác đã phổ biến sự thật đến mọi người

                                                                                       o0o

24.4.2012: TT TRỰC TIẾP VỤ CƯỠNG CHẾ TẠI HUYỆN VĂN GIANG – HƯNG YÊN

Từ 4h30, an ninh và lực lượng khác đã có mặt khắp các ngõ ngách trong làng. Mặc dù bị mất điện từ 4h30 sáng nhưng 5h15 loa của xã đang vang lên về vấn đề cưỡng chế. Đoàn xe máy xúc, ủi đang chạy trên đê đường 195 hướng về bờ kênh Bắc Hưng Hải để tiến vào khu vực cưỡng chế.
– Theo bà con nói ngay tại đầu dốc xuống xóm 1 Xuân Quan có nhiều công an, đầu gấu gác ở trên đê 195 rẽ vào xóm 1.

Loa phóng thanh đọc các văn bản quyết định cưỡng chế  và cấm người dân không được ra nơi cưỡng chế.

5h39: xã Phụng Công báo có người bị công an đánh.
 
5h41: Lửa đã cháy trên cánh đồng Xóm 3 xã Xuân Quan. 
An ninh và công an mặc thường phục có mặt khắp nơi. 

CẤP BÁO: 06h10 – 06h20 Phía xã Phụng Công có tiếng nổ liên hồi trong 5 phút. Có thể là tiếng súng AK.

6h28: Công an quân phục đi quần thảo khắp các ngõ xóm. Lùng sục khắp các vườn nhà.Đã thấy nhiều xe ô tô to chở công an trên đê 195 tiến vào khu vực xã Phụng Công.

Bà con nông dân Xuân Quan đã bị lực lượng an ninh, công an, đầu gấu xã hội đen cô lập.

 
Có tin cho biết Bà  Lê Hiền Đức đã bị ngăn cản và đuổi ra khỏi khu vực.
 
Nông dân tiếp tục đổ về yểm trợ nhau.
Các ngả đường ra cánh đồng đã được chất củi kín, sẵn sàng phóng hỏa.
 
 
 
Theo bà con ở hiện trường cho biết: một số bà con nông dân Phụng Công đã bị bắt lên xe. Đã có 10 người bị bắt, khóa tay xịt hơi cay vào mặt đe dọa và thả ra. Một số người bị ngất xỉu.

Một nguồn tin nói có bà con bị thương vào cánh tay.
Lửa cháy lớn ở con đường độc đạo dẫn vào khu cưỡng chế.
 
Lương thực, bánh mỳ của dân đã bị công an ném xuống ao.

 
  
TIN TỔNG HỢP:
5h sáng cảnh sát đã tiến vào cánh đồng Phụng Công, Xuân Quan. Bà con Phung Công đã đốt lửa chặn đường.
 
* để nhìn hình rõ hơn, lớn hơn, các bạn nhấn 2 nút Ctrl và dấu + cùng 1 lúc (nhấn 2-3 lần), muốn hình nhỏ lại, dùng Ctrl và dấu –
Tình hình hiện tại là có 10 bà con bên Phụng Công đã bị bắt lên xe. Lực lượng cảnh sát có trang bị  lá chắn, dùi cui, súng AK 47. Lựu đạn hơi cay ném vào bà con dồn dập, khói kín cả cánh đồng, lưả cháy loang như chiến tranh, rồi cảnh sát dàn hàng ngang như đội ngũ quân Lã Mã đợt này tiến lên, rồi đến đợt sau xông vào bà con dùng dùi cui vụt. Một số người bị đánh ngã quỵ đã bị bắt đi.Họ tóm tay chân thô bạo lôi những người bị bắt lên xe.
 
Hiện nay cảnh sát đang tụ lại đợi tiếp tế thêm lựu đạn cay vì đã dùng hết. Khoảng 500 cảnh sát lá chắn dùi cui đang tụ tròn trên cánh đồng để chuẩn bị cho đợt đàn áp tiếp theo. Một lực lượng cảnh sát khác đã khóa đường về của bà con, hiện nay một số vài trăm bà con bị cô lập giữa cánh đồng. Những người dân nào đi qua chốt chặn đều bị cảnh sát dùng dùi cui chọc vào bánh xe hoặc dọa đánh.

Nhiều tiếng khóc của bà con, phụ nữ, trẻ em vang khắp cánh đồng rất ai oán.

 
Cập nhât:
7h10: Cảnh sát chặn một chốt tại khu vực đang xây cầu. Bà con xã Phụng Công tràn qua đồng để nhập với bà con Xuân Quan. Cụ bà Lê Hiền Đức có mặt trong đoàn người. 
 
07h19: Có tiếng mấy loạt súng lại vang lên.

Tiếng loa vẫn ra rả sắp các xã.

07h27: Bà Lê Hiền Đức đang hiên ngang đối thoại với lực lượng cưỡng chế. Bà con quây xung quanh Bà Đức. 

Hình ảnh trực tiếp từ hiện trường:

 
 
7h55: Bà con Dương Nội (Hà Nội) và Bắc Ninh đã kéo đến chung sức chung lòng với bà con Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao.

08h00: Lực lượng cưỡng chế quá đông tới 3000 ngàn người, chúng dùng hơi cay, dùi cui … để chia cắt dân, chặn đứng các ngả vào cánh đồng. Máy ủi đã vào san đất. 
 
Đoàn xe của chủ tịch Ecopark Hà đang từ khu đã xây của Ecopark đang tiến về khu vực mới cánh đồng Xuân Quan. An ninh thành phố đang liên tục gọi điện ép cụ Lê Hiền Đức về HN.
 
 
 
 


Bà con Dương Nội và Bắc Ninh sau nhiều vòng thoát lưới bổ vây của công an trên quốc lộ đã tiến được vào nhập đoàn cùng Văn Giang.

 
08h10: Xe của Chủ tịch Hà Ecopark đang đi vê phía  UBND. Băng đỏ khắp nẻo đường.
 
08h20: Có thêm một đoàn bà con Bắc Ninh kéo đến chia sẻ với Xuân Quan. Mặt trận Xuân Quan vẫn vững.
 
Xe mắc 2 loa tuyên truyền, chạy khắp các xã các thôn
8h30: Hiện có thông tin là khoảng 7-10 người bị bắt trong đó đã xác minh được những người sau: – Anh Hùng – Uyên thôn Đại xã Phụng Công; – Chị Tảo Thơm thôn  Đào xã Phụng Công; – Chị Sửu thôn  Đào xã Phụng Công.
 
8h47: Xe ủi đã bắt đầu làm việc. Càn xóm 11 Xuân Quan – nơi các hộ dân đã nhận tiền đền bù. 
 
 

9h12: Cảnh sát cơ động đã tiến sát làng Xuân Quan lập hàng rào cho máy xúc và máy ủi đào mương, lấp ruộng. Bà con nông dân đã tấn công lại đám cảnh sát phải lấy khiên che chắn.

9h35: Lực lượng CA ném đạn hơi cai mù mịt xung quanh nhà dân và đánh người. 

10h05: Bà Lê Hiền Đức vẫn còn ở cánh đồng cùng bà con. Lúc 9h30, khi lực lượng cưỡng chế bắn đạn hơi cay, bà con đã mắng các em an ninh trẻ: Chúng mày ngu quá! Chúng mày đem súng ống bắn vào dân, cướp đất của cha mẹ chúng mày cho bọn quan chức tham nhũng. Nhiều anh em an ninh trẻ đã khóc. 

Xã Xuân Quan có hai người bị trúng đạn hơi cay. Một trong hai người bị đạn bắn vào chân, gây chảy máu.

Tiếp cận bên ngoài sào huyệt Ecopark để ghi nhận CSCĐ bảo vệ Ecopark:

 Cảnh sát cơ động ăn cơm dân không bảo vệ dân, mà bảo vệ cho doanh nghiệp cướp đất dân

10h45: Một số bà con cho biết lực lượng an ninh tỉnh Hưng Yên vừa chia nhau tiền bổi dưỡng tại hiện trường và chuẩn bị rút.

Lực lượng cưỡng chế vẫn tiếp tục bám hiện trường. Chúng lập một hàng rào bao lấy khu dân làng ở.

Các lực lượng an ninh rút vào quán xá, bóng râm nghỉ ngơi:

FVkt7ZgnBLE

                                                                       
——————————————————————————————————————————————–
Ghi chép của TH
*Giá cả một sào đất được đền bù cho nông dân ở huyện Văn Giang là 48 triệu đồng/360m2, [tức là nhà nước đền bù 133 333 đồng/ 1 mét vuông], trong khi giá mặt bằng được rao bán ở đây là 60 triệu đồng /m2.
 
*Hóa ra, cưỡng chế 500 hecta (= 5 000 000 mét vuông), tư bản đỏ và các quan chức có thể bỏ túi một số tiền quá lớn.
Trừ đi tiền mua 1 mét vuông đất của nông dân là 133.333 đồng. Tiền lời của 500 ha đất là:
5 triệu mét vuông x 59 866 667 đồng/ 1 mét vuông = 299 333 tỷ đồng VN

Nếu bỏ bớt số lẻ 335 triệu đồng vn ở đàng sau số tiền 299 333 tỷ đồng nói trên, và coi món tiền lẻ 335 triệu đồng này dùng làm tiền bồi dưỡng cho dân quân, công an đi cưỡng chế, thì các quan chức của đảng vẫn còn lời quá lớn, gần 1 tỷ rưỡi đô la!

Nếu ở ngoài Bắc tính 1 hecta = 10 sào = 3600 mét vuông, thì các quan chức bỏ túi cũng gần 400 triệu đô la.

Vì số tiền lời được từ vụ cưỡng chế đất này quá lớn, bởi vậy, chính quyền huyện và tỉnh Hưng Yên quyết sống mái với dân Huyện Văn Giang.

                                                                 
                                                                   o0o

Tin Úc

23-4-2012
nguồn  lyhuong.net
Công dân VN tọa kháng trước toà đại sứ VC tại Canberra, thủ đô Úc

“Xin hãy trả căn nhà nhỏ cho gia đình tôi và căn nhà lớn cho Dân tộc tôi” “Với tấm biển nhỏ đeo trước ngực này, anh Trương Quốc Việt, một người trẻ, công dân VN, người đã bị CSVN cướp đất, cướp nhà, đánh dập và bỏ tù, đã nói lên được phần nào những gì đã và đang xãy ra cho người dân và đất nước VN hiện nay” Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch CĐNVTD-UC đã lên tiếng về một sự kiện lịch sử vừa mới xảy ra trước Toà Đại sứ CSVN tại Canberra sáng sớm ngày 23-4-2012 hôm nay.

Vào 8 giờ sáng ngày 23-4-2012, một thanh niên VN từ VN sang Úc theo diện “Business visa” đã bắt đầu một cuộc biểu tình đơn độc trước cổng của Đại Sứ Quán VN tại thủ đô Canberra của Úc Châu để đòi công lý và đòi trả nhà và đất mà nhà nước CSVN đã cưỡng chiếm của gia đình anh vào năm 2009.

Đây là lần đầu tiên một người VN, nạn nhân trực tiếp của hành động cướp nhà, cướp đất trong nước, biểu tình phản đối và lên án những hành động vi phạm nhân quyền của CSVN tại hải ngoại. Ông Phong cho biết. “Việc cưỡng chiếm và cướp đoạt tài sản và nhà đất không bồi thường hay chỉ bồi thường một cách tượng trưng cho các nạn nhân thuộc thành phần “thấp cổ, bé miệng và nghèo túng” của Đảng và Nhà nước CSVN đã trở thành một chuyện thường ngày và lan tràn trên khắp mọi nơi từ thành thị đến thôn quê tại VN.

Đảng Cộng Sản và nhà cầm quyền CSVN ngày nay đã trở thành và hành xữ như một đảng cướp có toàn quyền sinh sát, cướp đoạt, lên án, bỏ tù bất cứ một người dân nào bất chấp hiến pháp hay luật lệ mà chính họ đã ban ra. Hàng trăm ngàn tài sản, đất đai, ruộng nương của người dân vô tội và của các tôn giáo, thậm chí đến nghĩa địa, nơi chôn mồ mả ông bà của họ đã bị các cấp chánh quyền và giới lãnh đạo đảng CSVN cướp đoạt một cách trái phép hoặc ngang nhiên tịch thu bằng vũ lực dưới những chiêu bài như: “phát triển đô thị, quy hoạch đất đai hay nhà nước trưng thu”. Những ai cưỡng lại hay chống đối đều bị gán cho tội danh “chống người thi hành công vụ” bị đánh đập hay bỏ tù.” Ông Phong nói.

Ông tuyên bố: “Việc một người công dân VN đã phải ngồi phản đối và đòi hỏi công lý trước toà đại sứ của mình ở ngoại quốc như thế này là một bằng chứng hùng hồn về tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng của nhà cầm quyền CSVN hiện nay. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu ủng hộ hành động can đảm này của anh Trương Quốc Việt và yêu cầu nhà cầm quyền CSVN phải ngưng, ngăn chặn và trả lại những đất đai, tài sản cho những nạn nhân bao gồm cả những tài sản và đất đai của các tôn giáo mà họ đã chiếm đoạt một cách phi pháp và bằng vũ lực từ trước đến nay”. “Chúng tôi kêu gọi Chính phủ và các vị Dân biểu của Quốc Hội Úc hãy bày tỏ sự quan tâm về trường hợp của anh Trương Quốc Việt nói riêng và tình trạng vi phạm nhân quyền của nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN nói chung” Ông Phong kêu gọi toàn thể cộng đồng người Việt tại Úc và những ai quan tâm đến tình trạng vi phạm, đàn áp nhân quyền tại VN trên toàn thế giới hãy đồng loạt tham gia ký vào một Kiến Nghị Thư trên mạng (on-line) đệ trình cho Thượng viện Quốc Hội Úc Châu đòi cải thiện Nhân Quyền tại VN đang do Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu khởi xướng qua địa chỉ: www.gopetition.com/petitions/nhanquyentaivn Hạn chót để ký vào Kiến Nghị Thư này là ngày 17-6-2012. Mọi chi tiết liên quan đến Thông cáo này, xin liên lạc với ông Nguyễn Thế Phong qua điện thoại số: 0411 756 552* Source: http://www.lyhuong.net/uc/index.php/shcd/2039-2039

      —————————————————————————————–
Tin hôm qua

23/04/12 3:22 PM

Theo tin Nữ Vương Công Lý nhận được, nhà cầm quyền Tỉnh Hưng Yên, huyện Văn Giang đã quyết định huy động khoảng 1900 quân gồm công an và quân đội quyết sống mái với nhân dân Văn Giang nhằm cướp nốt số đất còn lại của họ cho dự án Ecopark.

Tình hình hết sức nóng bỏng và khẩn trương, theo nguồn tin nhận được, việc “cưỡng chế” nhằm cướp đất của dân sẽ diễn ra vào sáng mai.

 Dự án Ecopark là dự án của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) được mệnh danh là khu đô thị sinh thái lớn nhất Miền Bắc với diện tích 500ha. Nhưng để thực hiện dự án này, nhà đầu tư và nhà cầm quyền đã toa rập cướp đất của nhân dân ở đây.

Giá cả một sào đất được đền bù cho nông dân ở đây là 48 triệu đồng/360m2, [tức là 133 333 đồng/ 1 mét vuông], trong khi giá mặt bằng được rao bán ở đây là 60 triệu đồng /m2.

Những người dân Văn Giang ở ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan đã kiên quyết phản đối việc cướp đất của họ. Nhiều cuộc va chạm đã xảy ra giữa nông dân và nhà cầm quyền tại đây. Thậm chí đã có những cuộc đi bộ của bà con lên Hà Nội khiếu nại và đã bị đàn áp tơi bời. Sau đó, nhà cầm quyền đã cướp đi của họ một số lớn ruộng đất. Phần nhỏ còn lại hiện đang nằm trong âm mưu chiếm đoạt nốt.

Hiện nay nhà cầm quyền đang tập trung mọi nhân tài vật lực quyết sống mái với bà con Văn Giang, Hưng Yên nhằm cướp nốt số ruộng đất này.

Theo các thông tin nhận được, lần ra quân cướp đoạt này, Tỉnh Hưng Yên quyết tâm làm mẻ lớn và bất chấp lẽ phải, tình người và luật pháp.

Sáng nay, UBND tỉnh Hưng Yên đã tổ chức họp báo. Tỉnh thông báo sẽ huy động mọi nguồn lực và sức mạnh trong đêm nay và rạng sáng mai để cưỡng chế bằng được khu vực ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan thuộc huyện Văn Giang cho dự án Ecopark. Lực lượng gồm công an viên của tất cả các xã trong huyện – trừ 3 xã bị cưỡng chế. Bộ CA đưa toàn bộ Học viên của 2 trường Cảnh sát. Tất cả mặc cảnh phục để không nhầm lẫn trong cưỡng chế. Sẽ đào một con hào ngăn cách giữa khu dân cư và đất dự án. Muộn nhất là sẽ tiến hành vào sáng mai.

Sau cuộc họp báo, toàn bộ nhà báo bỏ về … không nhận lời mời cơm trưa của UBND tỉnh Hưng Yên.

Sáng qua, 22/4 có 27 xe các loại được điều tới gần khu vực hiện trường. Vào lúc 12h15 đêm qua, có thêm hai xe xúc đi từ phía Bát Tràng xuống Văn Giang.

 

Theo các nguồn tin, đêm nay xe ủi sẽ vào sát khu vực cưỡng chế. Mờ sáng mai, việc cưỡng chế khởi sự và cao trào vào khoảng 08h00, với sự tham gia của cả công an và bộ đội.

Sáng nay, bà con nông dân đã bắt đầu dựng lều bạt trên khu vực cưỡng chế. Và cũng trong sáng nay công an đưa chó nghiệp vụ vào khu vực này, có lẽ là để kiểm tra xem có thuốc nổ không?

Buổi chiều đã có 8 xe máy xúc loại nhỏ, chưa có xe máy ủi tiến đến khu vực cưỡng chế, có khả năng đêm nay xe ủi mới về.

Nữ Vương Công Lý sẽ cập nhật tin tức về cuộc cưỡng chế cướp đất này.

Hình ảnh từ Văn Giang:

http://www.lyhuong.net/uc/index.php/shcd/2039-2039

Đảng và nhà nước chỉ có giỏi là sai công an đi ăn hiếp người dân trong tay không tất sắt, nhưng chỉ cần nghe nói tới quân Trung Quốc là đã sợ xanh mặt. Bởi thế, tàu đánh cá của TQ tha hồ đánh bắt cá, còn hải quân TQ thì  bắt tàu cá của ngư dân VN, bỏ tù họ, và đòi tiền chuộc…đảng và nhà nước vẫn không màng lên tiếng cả chục năm qua. Sau nhiều năm bị các blogger chỉ  trích, trong thời gian 6 tháng gần đây các viên chức của đảng mới dám ngo ngoe vài lời cho có lệ. 

0O0

Bút hiệu của chủ tịch Hồ Chí Minh coi ở đây

Hôm trước, có bạn nào đó hỏi bác Hồ có bao nhiêu tên dùng hay bút danh? Xin trả lời là bác Hồ có 173 bút danh, bạn nhấp chuột vào đây để đọc nha  coi ở đây

Bút danh Trần Dân Tiên là của bác. Bác dùng bút danh này để viết cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.”

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Cuộc sống khác biệt

Posted by hoangtran204 trên 23/04/2012

Hai cõi ta bà

Tác giả: Ngô Dân Dụng

Một người bạn tôi ở Sài Gòn có thói quen quan sát cuộc đời mới viết mấy giòng miêu tả: “Trong cái nền kinh tế man rợ này, ta bà thế giới chia rõ rệt thành hai lớp. Một là những đứa chạy ăn từng tháng (có đồng chí khá đông là những đứa chạy ăn từng ngày nữa); lớp kia là bọn giàu, con cái ngồi xe Ferrari, Porche, … xài tiền đô, gọi nhau bằng điện thoại nạm kim cương, hẹn nhau bất kể ở nơi nào nhưng chỉ vài ba giờ sau là gặp mặt uống rượu, chơi thuốc. Chuyện ở Huyện này ai cũng biết.”

Có thể biết ngay những người mới được đăng hình trong blog Nguyễn Xuân Diện thuộc cõi nào trong thế giới ta bà này. Đó là hình những phụ nữ nông dân mặc áo cánh, có cụ bà tay chống gậy, đang tụ tập trước cái cổng lớn bảng sơn đỏ đề: ĐẢNG ỦY HĐND ỦY BAN NHÂN DÂN – XÃ PHÚ TÚC. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện cho biết họ là dân thôn Tư Sản, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Hà Nội; đang chuẩn bị cuốc thuổng đòn gánh búa liềm để lên huyện để đòi người. Họ kể: “Sáng nay Chị Nguyễn Thị Mây đi cấy ở thôn Cầu Bầu, thuộc huyện Ứng Hòa, lúc đó là 5 giờ 40 phút nó ập đến, chả đọc lệnh gì cả, nó bắt nghoéo tay, bịt mồm bắt đi luôn. Được tin chị Mây bị bắt, hàng trăm người dân thôn Tư Sản đã tập trung về ủy bân nhân dân xã Phú Túc để làm rõ nguyên nhân bắt, và đòi thả người.”

Chuyện càng hào hứng hơn nữa là “Công an và chính quyền xã Quảng Phú Cầu (huyện Ứng Hòa, nơi xẩy ra vụ bắt cóc) đã xác nhận sự việc bắt cóc của bà Nguyễn Thị Mây; họ cũng đi tới trụ sở xã Phú Túc cùng bà con Tư Sản đòi thả người. … Đã về chiều, người dân mang nước, bánh mì và đồ ăn ra tiếp tế. Dự kiến hàng trăm người dân sẽ ngủ lại đêm nay tại cửa UBND xã Phú Túc.” Như vậy tức là có cảnh chính quyền và công an ở một xã này đi biểu tình đến xã khác, Phú Túc, đòi thả người của chính xã đó bị những kẻ vô danh khóa ngoéo tay, bịt mồm, bắt cóc trong lúc đang đi cấy.

Không biết câu chuyện sẽ đi tới đâu. Nhưng trên thế giới bây giờ chắc chỉ tại một nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa hỗn độn lung tùng xoèng mới có cảnh tượng ấy. Những nông dân thuộc cõi ta bà chạy ăn từng bữa sống không yên. Bởi vì phải chạy ăn từng bữa cho nên mỗi miếng cơm đều rất quý. Vì miếng cơm hiếm và quý cho nên phải giành giật. Vì giành giật cho nên mới có cảnh rình rập nhau từ lúc 5, 6 giờ sáng, khóa tay, bịt miệng, bắt cóc đem đi. Tội nghiệp cho đám chúng sinh. Tội nghiệp cho các đồng bào khốn khổ; cả chị Mây bị bắt cóc lẫn những người bắt cóc chị đều tội nghiệp. Phải chi người ta không phải giành nhau từng miếng cơm, từng mảnh ruộng thì đâu đến nỗi đối sử với nhau như thế!

Chỉ còn một niềm an ủi, là trong cõi ta bà xã hội chủ nghĩa đó, cũng có những người không phải lo giành giật từng miếng cơm như vậy. Đó là những đồng bào may mắn của chúng ta “con cái ngồi Ferrari, Porche, … xài tiền đô, gọi nhau bằng điện thoại nạm kim cương …”

Một người thuộc cõi ta bà thứ hai là ông Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính trị Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Ngày Thứ Bẩy vừa qua, được tin mừng ái nữ của ông, cô Tô Linh Hương mới được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Vinaconex – PVC. Tuổi trẻ, tài cao, cô Linh Hương mới sinh năm 1988. Cô Hương đã đậu cử nhân tại Học viện Báo Chí và Tuyên Truyền, chuyên về ngành ngoại giao quốc tế. Luận văn ra trường của cô mang đề tài: “Thông tin đối ngoại trong đấu tranh diễn biến hòa bình ở Việt Nam hiện nay.” Nghe thì thấy lập trường rất tốt, nhưng có vẻ không liên hệ gì với công việc đầu tư hay là xây cất cả. Mới 23, 24 tuổi, cô sẽ lên lãnh đạo một công ty chuyên về đầu tư xây dựng với 2,000 nhân viên, do hai tổng công ty nhà nước, Vinaconex và PVC, gom lại làm một mà thành. Mấy doanh nghiệp nhà nước này các quan muốn gom lại, muốn tách ra lúc nào làm chẳng được? Ngày nhậm chức cô Hương đã đi ngay tới thị sát một công trường đang xây cất, sắt với xi măng đầy khắp nơi. Và cô đi đôi giầy cao gót mầu hồng, mặc áo đầm cũng mầu hồng, chỉ cái đầu được cái mũ an toàn (bảo hiểm) che chở nên không biết mầu gì. Như vậy có phải ở đời ai cũng có số hay không?

Một người có số tốt hơn nữa là cô Nguyễn Thanh Phượng, con gái ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ, đại biểu quốc hội của dân Tiên Lãng, Hải Phòng, nơi có ông Đoàn Văn Vươn còn đang bị giam. Cô Phượng đang làm chủ tịch Hội đồng quản trị của bốn công ty; trong đó có Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank). Câu chuyện cô Phượng đã mua cổ phần chiếm đa số để nhảy từ ngân hàng này sang công ty đầu tư khác, kết hợp cái nọ với cái kia, đọc có thể chóng mặt như coi người làm xiệc đu dây. Thoắt mua về, thoắt bán đi, rồi “ghế trên ngồi tót sỗ sàng,” nếu không phải con quan tể tướng ai mà làm được? Ở lứa tuổi 32 mà đã lên cao như vậy, chắc chắn đây là một người thuộc một cõi khác, đám chúng sinh lớp chạy ăn từng ngày trong mơ cũng không tưởng tượng được. Hai người anh, em trai của cô Phượng không lo về tiền bạc nhưng thênh thang hoạn lộ. Nguyễn Thanh Nghị, 36 tuổi, được bầu làm ủy viên trung ương Đảng dự khuyết rồi được cha bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Xây dựng. Em là Nguyễn Minh Triết, 24 tuổi thì được bố trí vào lãnh đạo Đoàn thanh niên Cộng sản. Con cái những lãnh tụ cao cấp khác của đảng đều được “cơ cấu;” như Nông Quốc Tuấn, con tri ông Nông Đức Mạnh đã nhanh chóng làm Phó Bí thư, rồi thăng lên Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, vào Trung Ương Đảng ngay lập tức.

Nghĩ cho cùng thì cũng tội nghiệp cho các bạn trẻ đang lên nhanh như diều gặp gió này. Họ có thể cũng đầy đủ tài năng và nghị lực, đủ sức gánh vác những việc lớn. Nhưng không ai trông thấy họ phải thi thố tài năng bao giờ. Họ không cần cạnh tranh với hàng ngàn, hàng vạn người khác trước khi bước lên những bậc thanh cao nhất trong xã hội, như ở các xã hội bình thường. Cuối cùng, người ta vẫn chỉ thấy họ là một đám con cháu bám vào địa vị của cha chú để leo lên. Không khác gì những “cậu ấm cô chiêu” con cái những lãnh tụ cộng sản Trung Quốc; hay là cậu Kim Chính Ủn ở Bắc Hàn.

Nếu được sống trong một xã hội dân chủ tự do, mọi người phải cạnh tranh gay gắt mới có thể làm giầu, làm quan to, thì biết đâu chính các cô cậu trên đây cũng có khả năng đạt được những địa vị cao sang, trong trường kinh doanh, hay là trong chính trị, hoàn toàn do sức của mình. Nhưng phải sống trong một chế độ độc tài đảng trị, ngay cả những người có khả năng cũng không có cơ hội thi thố tài năng. Vì không bị thử thách thì làm sao trổ tài?

Những người đang bị thử thách nhất hiện nay ở nước Việt Nam là những người dám lên tiếng đòi cho dân Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Họ đang “đầu tư” cả vốn liếng, gia sản, cả khả năng trí tuệ và chí khí nghị lực, dồn hết vào cuộc vận động dân chủ. Thí dụ như Nhà báo Tự do Điều Cầy. Ông đã đem cả cuộc đời mình “đánh cá.” Hoặc là đồng bào mình được tự do, chính quyền mình không run sợ trước đế quốc xâm lấn; hoặc là mình bị đầy ải, tù tội. Cái tên Điếu Cầy đã vào lịch sử tranh đấu cho quyền tự do phát biểu của thế giới; đó là niềm an ủi. Ủy Ban quốc tế Bảo vệ Người Ký giả vừa mới nhắc đến tên Điếu Cầy khi vạch mặt chỉ tên 12 chính quyền trên thế giới đang đàn áp người làm báo. Ngày 3 tháng Năm sắp tới là Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới. Toà Bạch Ốc ở Mỹ có sáng kiến làm một mạng, website mới. Mạng HumanRights.gov mỗi ngày tường thuật cuộc tranh đấu của một người đáng vinh danh, cho đến ngày 3 tháng Năm mới đủ danh sách.

Nhân vật đầu tiên được nêu danh trong đó là Nhà báo Tự do Điếu Cầy. Nhật báo The New York Times đã viết một bài quan điểm, chỉ nêu danh hai nhà báo: Điếu Cầy và bà Natalya Radzina, người tranh đấu cho quyền làm người của dân xứ Belarus. Radzina cũng bị bắt bớ, đánh đập không khác gì Điếu Cầy. Bà may mắn chạy thoát sang nước Lithuania tị nạn, trong khi Điếu Cầy vẫn ở trong tù.

Những vinh dự này hoàn toàn không phải Điếu Cầy và cô Radzina có cha hay mẹ làm lớn. Cũng không được ai “cơ cấu” cho họ vào bảng vàng tranh đấu cho tự do để cả thế giới ngưỡng mộ. Hoàn toàn là do chí khí và khả năng của mỗi con người. Vinh dự đó sẽ còn mãi mãi. Đến đời con, đời cháu vẫn chưa quên. Ít thấy người Việt Nam nào được leo vào trang Quan Điểm (editorial) của tờ New York Times.

Những người không dùng tới sức lực của mình mà vẫn leo lên cao trên các bậc thang xã hội sẽ có ngày ân hận. Khi một triều đình sụp đổ, tất cả những địa vị hay tài sản “ăn không” một cách dễ dàng sẽ tan biến. Nhưng tai tiếng thì sẽ còn mãi mãi. Vợ chồng Bạc Hy Lai đang suy ngẫm về cảnh biển xanh biến thành ruộng dâu đó.

Có chế độ nào tồn tại vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt hay không? Vừa rồi, nghe tin cô Lê Đình Lệ Quyên bị tai nạn qua đời ở Roma, chúng ta thấy một chi tiết: Cô đang đi làm. Và cô đi xe gắn máy. Chứng tỏ cô sống khá thanh bạch. Không phải là một người giầu có, ngồi hưởng tiền bạc do cha mẹ đầu tư để lại.

Về chính trị nhiều người không đồng ý với ông bà Ngô Đình Nhu khi họ còn sống. Nhưng thấy cảnh cô con gái út của họ bị tai nạn khi đang đi làm kiếm ăn hàng ngày như thế, thấy họ đáng kính trọng.

Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ

Và được post trên x-cafevn.org

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Trở về Mái Nhà Xưa

Posted by hoangtran204 trên 21/04/2012

Mời các bạn thưởng thức bản nhạc Trở về Mái Nhà Xưa, Lời Việt của Phạm Duy, với tiếng hát của Ngọc Hạ và Trần Thái Hòa.

Bản nhạc “Torna A Surriento”,  do Luciano Pavarotti trình diễn; ca sĩ Pavarotti đã chết vì bệnh ung thư tụy tạng (pancreatic cancer) cách đây vài năm.

Bản nhạc này ra do nhà thơ và cũng là họa sĩ Giambattista de Curtis (20 July 1860 – 15 January 1926) viết lời, và em của ông là  nhạc sĩ Ernesto De Curtis soạn nhạc. Bản nhạc này đã được hai anh em đăng ký tác quyền vào năm 1894, nhưng 8 năm sau, 1902 họ mới tự nhận là tác giả của bản nhạc này. 

Bài ca này được cho viết theo lời yêu cầu của một người bạn của Giambattista, Guglielmo Tramontano, ông này là thị trưởng của thành phố Sorrento (Ý) vào năm 1902, khi ấy Thủ thướng Ý Giuseppe Zanardelli, đã ở tại khách sạn của ông thị trưởng nằm trong thành phố này; người ta cho rằng bản nhạc này nhằm chúc mừng nhân dịp Thủ Tướng Zanardelli lưu trú ở đây. 

Tramontano và de Curtis là những người bạn rất thân nhau, và viên thị trưởng này đã mướn bạn de Curtis trang trí một số phòng của khách sạn bằng cách vẽ lên tường và trần nhà; de Curtis cũng đã sơn một số tranh trên vải và tranh sơn dầu, và đã viết vài bài thơ và vài bản nhạc. Trong số các bài này là bài ca nổi tiếng Torna a Surriento“, nhằm chúc mừng vào dịp Thủ Tướng Ý  Giuseppe Zanardelli, lưu trú tại khách sạn này. Thị trưởng  Tramontano đã nhờ  de Curtis và anh của ông ta là Ernesto, viết một bài ca vinh danh nhà lãnh đạo Ý này.

Nhưng nhiều cuộc nghiên cứu gần đây đang cho thấy rằng bản nhạc này có thể là một bản nhạc do hai anh em đã viết trước đó và đã đăng ký bản quyền vào năm 1894, và dịp nầy, 1902,  họ đã lấy ra và sửa lại vào dịp thủ tướng Ý ghé thăm thành phố Sorrento.

Các giấy tờ của gia đình cho thấy rằng hai anh em nhà de Curtis đã đăng ký tác quyền bản nhạc này với Hiệp hội của các Tác Giả và Chủ Bút Italian Society of Authors and Editors vào năm 1894, tức là khoãng 8 năm trước khi họ nhận là viết bản nhạc này.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► Chính trường Mỹ bàn luận gì về Việt Nam vào thời gian trước ngày 30-4-1975

Posted by hoangtran204 trên 21/04/2012

Kissinger nói: Sao chúng nó không chết quách đi

Câu nói trên của Tiến sĩ Kissinger vì một sự hiểu lầm nào đó đã gây ngộ nhận khiến nhiều người Việt quốc gia hận thù nhà ngoại giao này, họ nghĩ rằng ông đã chửi rủa đồng bào ta khi miền Nam Việt Nam đang trong cơn hấp hối tháng 4-1975.

Câu này đã được ghi tại trang 641, phần nói về The Fall of Viet Nam, April 1975, trong cuốn Kissinger a Biography của Walter Isaacson, cuốn sách 800 trang viết về Henry Kissinger.

Nguyên văn như sau:

Why don’t these people die fast? The worst thing that could happen would be for them to linger on” nghĩa là “Tại sao những người ấy không chết cho nhanh? Điều tệ hại nhất có thể sẩy ra cho họ là cứ sống kéo dài mãi” nếu dịch xuôi cho dễ hiểu là “Sao họ không chết lẹ cho rồi? nếu phải sống ngắc ngoải mãi [như thế] thật là vô cùng bất hạnh cho họ”.

Ông ta than thở cho số phận của người Đông Dương chứ không rủa họ chóng chết. Ở đây không phải là để bênh vực cho ông này, kết án ông nọ hoặc thương ông này ghét ông kia mà là chúng ta cần hiểu cho đúng lịch sử.

Tháng 12 năm 1974 và tháng 1-1975, CSBV bắt đầu mở cuộc tổng tấn công sau cùng để chiếm miền nam VN tại Phước Long đúng hai năm sau ngày ký Hiệp định Paris.

Tháng 3-1975 họ tấn công chiếm Ban Mê Thuột, cuối tháng 3, đâu tháng 4 năm 1975 hai quân khu 1 và 2 lọt vào tay Cộng quân nhanh chóng do sự sai lầm của Tổng thống Thiệu trong kế hoạch tái phối trí lực lượng. Họ bắt đầu chuyển quân đại qui mô vội vã nề phía nam để dứt điểm Sài gòn.

Khoảng đầu tháng 4-1975 trong khi CSBV đang ra sức tiến về Sài gòn, hòa bình Trung Đông thì tả tơi, bang giao với Nga sô xuống thấp, Cam Bốt gần sụp đổ và bây giờ miền nam VN đang bị CS nuốt chửng. Khi ấy ông Tổng thống Ford rời Tòa Bạch ốc đi nghỉ mát đánh golf tại Palm Springs tiểu bang California.

Bản tin truyền hình buổi tối tai Mỹ cho thấy những lời chỉ trích trước cảnh ông Tổng thống Ford đi đánh golf cùng lúc với cảnh Đông Dương đang dẫy chết trong đau khổ. Khi những người phóng viên tới phi trường phỏng vấn TT về thảm kịch đang diễn ra, ông chỉ nói ồ ồ rồi chạy trốn họ.

Kissinger và Ford đã cử Tướng Weyand, Tham mưu trưởng tới Sài Gòn để thẩm định tình hình quân sự trong một tuần kể từ 28-3-1975, ông trở lại Hoa Kỳ ngày 4-4-1975. Khi về ông đi máy bay thẳng tới Palm Springs để báo cáo trực tiếp tình hình lên Tổng thống. Ông đề nghị cho oanh tạc bằng B-52 trở lại và đồng thời xin viện trợ khẩn cấp722 triệu cho quân đội VNCH, điều xin thứ nhất tái oanh tạc sẽ trái luật, khoản viện trợ trên đây rất lớn mà chỉ có một ít người tin là có thể giúp VNCH cầm cự được. Khoản xin này gồm trên 440 xe tăng, 740 đại bác, 100 ngàn súng cá nhân, 120 ngàn tấn đạn dược.

Báo cáo của Tướng Weyand biện minh cho khoản viện trợ mới nhằm kêu gọi tới cái nhìn địa lý chính trị của Kissinger, nó muốn nói “Uy tín lâu dài của Hoa Kỳ trên thế giới phụ thuộc vào nỗ lực thiện chí của ta cố gắng làm hơn là thành công hay thất bại trong lúc này,nếu ta không nỗ lực, uy tín của ta như một đồng minh sẽ bị tiêu tan có lẽ sẽ qua hết đời này sang đời khác”.

Nói khác đi lời khuyên đó là kéo dài sự kết thúc cuộc chiến tranh cũng chính là cái lý luận mà Kissinger đã có lần dùng để biện minh cho cuộc chiến đấu trên mặt đất: để giữ uy tín khắp nơi.

Ít ngày sau dân biểu Whitten (tiểu bang Mississipi) hỏi “Đề nghị của ông dựa trên cơ bản nào trừ việc chỉ có hình thức, khi chúng ta đều biết chắc là sắp thua rồi?.

Tướng Weyand trả lời: “Thưa ông, cái cách mà chúng ta làm hay cái hình thức như ông nói nó cũng quan trọng như thực chất của vấn đề vậy”

Kissinger phản đối đề nghị xin tái oanh tạc của Weyand: “ Nếu ông làm thế, người dân Mỹ sẽ lại xuống đường biểu tình. Các phụ tá của TT tại Palm Springs bàn về khoản xin viện trợ, đa số cố vấn của Ford đều chống đối đề nghị này. Bộ trưởng quốc phòng Schlesinger cũng chống đối nhưng bị Kissinger loại ra khỏi cuộc bàn cãi và trở về Wasington, ông này cho là tình thế của Quân đội VNCH nay không hy vọng gì.

Kissinger vốn bi quan đồng ý rằng tình hình không thể cứu vãn nổi nhưng dù vậy ông cho rằng đề nghị xin Quốc hội khoản viện trợ 722 triệu là cách duy nhất để cứu vãn danh dự cho Hoa Kỳ. Ford đồng ý mặc dù không nhiệt tâm lắm.

Trên đường tới phòng họp báo để nói cho các ký giả biết quyết định, khi ấy Kissinger quay lai nói với Nessen, tùy viên báo chí phủ Tổng thống về người miền nam VN như sau:

Sao họ không chết lẹ cho rồi? nếu phải sống ngắc ngoải mãi thật là vô cùng bất hạnh cho họ”

Tại phòng họp, Kissinger lý luận theo địa lý chính trị. Ông ta nhấn mạnh quyết định viện trợ sẽ vang tiếng khắp thế giới , cái dấu hiệu gì nó sẽ gửi cho bạn và thù khắp nơi, ảnh hưởng của nó với uy tín của Hoa Kỳ sẽ như thế nào hơn là hiệu quả quân sự của nó ở vùng bao quanh Sài Gòn. Tiến sĩ nói

“Chúng ta đang đối diện với tấn thảm kịch vĩ đại, trong đó có cái gì liên quan tới uy tín, tới danh dự của Hoa Kỳ, tới cái mà các dân tộc khác trên thế giới sẽ nhìn chúng ta như thế nào”
(Kissinger a Biography, trang 641-642)

Ngày 10-4-1975 Ford ra Quốc hội xin 722 triệu, Kissinger làm việc tới khuya soạn một bài diễn văn chỉ trích Quốc hội đã làm tiêu tan Hiệp định Paris . Lý luận về chữ “uy tín” mà ông đã dùng khi bắt đầu nhiệm kỳ của Nixon cũng là chữ mà ông nhấn mạnh lúc cuối. Trong thông điệp mà ông soạn cho Ford để gửi Quốc hội, lý luận này được nói gọn gàng

Hoa Kỳ không muốn viện trợ đầy đủ cho đồng minh của chúng ta để họ chiến đấu sẽ ảnh hưởng uy tín của chúng ta như một đồng minh. Và chính uy tín này là cơ bản cho an ninh của ta vậy”
(Sách đã dẫn trang 642)

Ford giữ câu nói về uy tín nhưng ông làm nhẹ bớt những lời hoa mỹ của Kissinger tấn công chỉ trích Quốc Hội. Ông nhờ phụ tá Hartmann sửa lại dể việc xin viện trợ kết hợp với hòa giải quốc gia. Mặc dù đã nói nhẹ nhàng nhưng tại Quốc hội không có ai vỗ tay cả.

Khi Tổng thống ngỏ lời xin viện trợ thì có hai dân biểu Dân chủ Moffet và Miller bỏ ra khỏi phòng họp. Cả Quốc hội lẫn người dân đều không còn muốn ủng hộ cuộc chiến tranh VN .

Sau này Kissinger đổ lỗi cho Watergate đã khiến cho Hiệp Định Paris bị suy sụp. Nói rằng sự sụp đổ quyền hành của Tổng thống có nghĩa là Hoa Kỳ không thể và không muốn cưỡng bức sự thi hành Hiệp định. Nhưng đó không phải do vụ Watergate mà vì người ta đã quá ghê sợ cuộc chiến VN, một cuộc chiến tranh vô ích nó đã tạo tư tưởng cô lập thập niên 70 và khiến cho người dân phải lùi lại trước viễn tượng kéo dài chiến tranh Đông Dương.

Cho rằng quyền hạn của Tổng thống bị Watergate gây ảnh hưởng xấu tệ đến việc thảo luận về VN, cũng vậy nỗi thống khổ do VN có lẽ đã đẩy mạnh sự nhiệt thành của những người chống Nixon trong việc điều tra vụ Watergate. Trong bất cứ trường hợp nào ngay cả TT Ford, vụ Watergate đã qua đi, Quốc hội không cho phép cấp viện trợ kéo dài sự đòi hỏi cho danh dự ở VN.

Cuối tháng 3-1975, do kế hoạch tái phối trí lực lượng sai lầm của TT Thiệu đã khiến VNCH mất hai quân khu 1 và 2, mất luôn cả hai quân đoàn 1 và 2 trong hai tuần lễ từ 14-3 tới 30-3-75. VNCH mất 5 sư đoàn bộ binh (22, 23, 1, 2, 3), 11 liên đoàn Biệt động quân, mất gần hết 2 sư đoàn tổng trừ bị.. vũ khí đạn dược coi như mất hết, một phần lớn lọt vào tay Cộng quân.

Thời điểm giữa tháng 4-1975, dù VNCH có soay sở được một tỷ Mỹ kim để mua tiếp liệu đạn dược cũng không thể cứu vãn tình thế, chỉ trừ có yểm trợ của B-52 mới hy vọng đảo ngược tình hình, lý do quân đội VNCH đã mất một nửa (1/2) lực lượng chính qui (các sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 và 11 liên đoàn Biệt động quân) trong khi CSBV bị sứt mẻ ít hơn.

Ford ít khi nào không nghe lời cố vấn về ngoại giao của Henry Kissinger, người được coi là Khổng Minh thời nay. Một chuyện ít ai biết tới nhưng có ý nghĩa lịch sử là quyết định của ông hôm 24-4-1975, ngay cả khi khoản viện trợ 722 đã bị treo chính thức, ông tuyên bố trong một bài diễn văn tại Đại học Tulane rằng đối với Mỹ cuộc chiến tranh VN coi như chấm dứt. Ít ngày trước đó, ông có nói sơ bài diễn văn này với phụ tá lâu đời Robert Hartmann, ông cho biết Việt Nam đã sẩy ra lâu rồi và không có người sinh viên nào còn nhớ tới, chiến tranh đã chấm dứt.

Ford nói chẳng biết Kissinger có chấp nhận ý tưởng này không? Ông thích ý tưởng này, thảo luận xong ông bảo Hartmann khoan nói cho ai biết chờ ông quyết định, bản thảo có gửi cho Kissinger nhưng không có ghi câu nói về VN này vì muốn dấu không cho Kissinger biết. Khi lên máy bay Hartmann đánh máy bài diễn văn và đưa Tổng thống coi, ông hài lòng. Trước sáu ngàn sinh viên tụ tập tại sân vận động bóng rổ, ông tuyên bố:

“Nước Mỹ có thể lấy lại niềm tự hào trước khi có cuộc chiến VN nhưng chúng ta không thể lấy lại nó bằng cách trở lại cuộc chiến tranh liên hệ với Mỹ nay dã chấm dứt”
(Kisinger a Biography trang 644)

Ford đọc rõ từng câu từng chữ, đám sinh viên ai nấy reo hò, dậm chân mừng rỡ, họ nhẩy nhót ôm nhau sung sướng mãn nguyện trong khi đó tai nước đồng minh xa xôi bên kia trái đất, cảnh máu chảy thịt rơi đang diễn ra hàng ngày.

Câu nói “Cuộc chiến đã chấm dứt” vang dội trong nước, nó thể hiện bản tính rộng lượng tế nhị của một người cầu thủ Mỹ già biết cách xử thế cho tế nhị mặc dù đã thua trân đấu khi tiếng còi vang lên và cuộc chơi đã dứt.

Walter Isaacson cho rằng mục tiêu địa lý chính trị phức tạp của Henry Kissinger và ý muốn đổ lỗi trách cứ Quốc Hội của ông có thể hợp lý nhưng nó không còn hợp thời nữa. Điều bổ ích nhất cho nước Mỹ cần làm, cho vấn đề tấm lý trong nước và ngay cả cho uy tín trên thế giới ấy là hãy để cuộc Chiến tranh VN ở lại sau lưng (Sách đã dẫn, trang 644).

Trên máy bay về tòa Bạch Ốc, một ký giả hỏi Tổng thống bài diễn văn này có do Kissinger soạn hay chấp nhận nó không? Ông nói hoàn toàn không. Một người ký giả hỏi có phải Tổng thống cố tình nói thế để đánh dấu sự chấm dứt một thời ký trong lịch sử Mỹ. TT Ford đáp:

Đúng vậy, dù sao đó là một thời khá lâu dài, mối cảm kích của tôi lẫn lộn. Tôi thực tình không muốn nó chấm dứt như thế nhưng ông phải thực tế. Ta không thể thực hiện được sự hoàn hảo trên thế gian này”
(Sách đã dẫn trang 644, 645).

Sáng hôm sau tại tòa Bạch Ốc, Ford cho gọi Hartmann xuống phòng bầu dục, khi ấy Tổng thống đang ngậm tẩu hút xì và Henry Kissinger đang đi tới lui giận dữ như con sư tử mặc dù Ford cố làm cho ông ta bớt giận. Kissinger vung tay trợn mắt nhìn Hartmann bảo:

“Chúng ta không cần phải nói thế, tại sao lại dấu không cho tôi biết tí gì cả?
Hartmann lẩm bẩm nói vì soạn bản diễn văn trễ, không ngờ câu nói về Việt Nam ấy lại tạo lên nổ lớn như thế. Ông ta không nói Ford muốn câu này từ đầu. Ford đồng ý bảo tại vội quá đấy, rồi ông nháy mắt với Hartmann, ông phụ tá này bảo Kissinger “thôi từ nay sẽ không sảy ra chuyện này nữa”

Nhiều năm sau, khi kể lại chuyện cũ, Ford ca ngợi Kissinger không hết lời nhưng khi nói tới bài diễn văn đọc tại Đại học Tulane, ông nói Henry Kissinger không thích câu “chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt”. Tôi biết Henry muốn tiếp tục tranh đấu xin thêm viện trợ và trách cứ, đổ lỗi cho Quốc Hội. Chính Ford cũng muốn vậy nhưng ông cho biết đã làm việc tại Quốc hội hai mươi lăm năm, ông biết chắc họ sẽ khước từ.

Ford và Kissinger không đồng ý nhau ở điểm đó, nhưng Ford nói ông làm đúng, ông hiểu rõ đường lối của lập pháp hơn Kissinger.

Giờ phút chót, Kissinger tìm một giải pháp ngoại giao và lệnh cho Đại sứ Martin khuyên ông Thiệu từ chức.

Hôm sau TT Thiệu từ chức và kết án Hoa Kỳ không giữ lời cam kết, bỏ rơi đồng minh.

Sau này Kissinger gửi thư giảng hòa vơi ông Thiệu và nói vụ Watergate đã hủy hoại khả năng của chính phủ Mỹ xin viện trợ cho VNCH năm 1973 và 74 nhất là tình trạng bế tắc năm 1972 do nội bộ Mỹ gây ra.

Kissinger nói nếu chúng ta tiếp tục cuộc chiến thì Quốc Hội Mỹ đã áp đặt từ 1973 cái mà họ đã làm sau này năm 1975, ý ông ta nói nếu VNCH không ký kết Hiệp định Paris thì Quốc hội đã bức tử miền nam VN từ năm 1973.

Thật vậy tháng 1-1973 Quốc hội Mỹ đã tiến hành cắt viện trợ bỏ Đông Dương đánh đổi lấy 580 tù binh Mỹ nếu VNCH gây trở ngại hòa đàm (Legislation to terminate the war was speeding its way to the floor – Lary Berman, No Peace No Honor, p.221).

TT Thiệu từ chức ngày 21-4-1975 nhưng BV vẫn tiến quân, sáng 29-4-1975 Đại sứ Martin được lệnh thi hành chiến dịch Operation Frequent Wind (Gió đều), đài phát thanh quân đội Mỹ cử bản “Giáng Sinh Trắng” , người xướng ngôn viên nói “Hôm nay tại Sài Gòn [nhiệt độ là] 105 độ F và đang gia tăng” đó là mật hiệu đã định trước cho kiều bào Mỹ biết đế tới địa điểm tập trung di tản. Máy bay trực thăng từ hạm đội bắt đầu tới xà xuống nóc tòa đại sứ Mỹ và những địa điểm khác để bốc người.

Cuộc di tản tại VN không êm thắm như bên Căm Bốt, từ bao lâu nay cảnh hốt hoảng lúc trực thăng rời nóc tòa đại sứ đã ăn sâu trong tâm khảm nhiều người Mỹ, một vết thương kéo dài khác của chiến tranh, một hình ảnh tiêu biểu khác của sự tan vỡ kéo dài một thập niên.

Henry Kissinger nói với các phụ tá trong tòa Bạch Ốc bằng giọng khôi hài cay đắng

Tôi là một Bộ trưởng ngoại giao duy nhất đã mất hai quốc gia trong vòng ba tuần lễ”

Nhiếp ảnh gia trẻ Kennerly chụp hình quang cảnh rồi nói
“Tin mừng là chiến tranh đã chấm dứt, hung tin là chúng ta thua trận”.

Sau này Kissinger viết.

Lần đầu tiên trong thời hậu chiến, Hoa Kỳ đã bỏ rơi một dân tộc thân thiện vào tay Cộng sản, họ đã từng tin tưởng chúng ta
(Walter Isaacson: Kissinger a Biography, p.647)

Sự thực Kissinger nhận định không đúng lắm, Hoa Kỳ đã từng bỏ rơi Trung Hoa năm 1949 và Đông Âu năm 1945.

Trong chính phủ, Kissinger là người cổ võ hăng hái cho viện trợ cần thiết, ông ta tự coi có trách nhiệm vì đã đàm phán tại Paris , sau này ông viết trong hồi ký.

Hồi đó tôi đã không ký Hiệp định nếu không được Quốc hội quả quyết sẽ tiếp tục viện trợ dồi dào sau khi ta rút quân. Tôi không ngờ chúng ta có thể kết thúc bằng cách vứt bỏ cà một dân tộc mà ta đã kết nghĩa đồng minh
(Henry Kissinger: Years of Renewal – page 476)

Thấm thoát từ ngày những đơn vị tác chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng cho tới nay 1975 đã mười năm qua, quân Pháp rút khỏi VN tới nay đã tròn hai mươi năm, quân Pháp trở lại Việt Nam tái chiếm thuộc địa đã ba mươi năm qua.

Tác giả Walter Isaacson nhận định (Kisinger a Biography, p.647) tất cả những gì Hoa Kỳ đã lưu lại để cho 58,022 người tử trận thấy chỉ là một chút uy tín do thực hiện được Hiệp định ngưng bắn, nó kéo dài vừa đủ để che dấu sự rút lui của người Mỹ.

Hòa bình và danh dự mà Kissinger tuyên bố tháng 1-1973 đều không lâu dài. Nhưng Hiệp định Paris ít ra cũng đã tạo được mục đích để Hoa Kỳ từ bỏ lời hứa của họ với Sài Gòn và cái hậu quả mất uy tín thực ra cũng mơ hồ, cái mà Kissinger đưa ra chỉ là mơ hồ

Điều ấy cho Kissinger một chút an ủi, ông ta nhận định rằng sự thất bại ở VN năm 1975 thể hiện một cú đánh vào uy tín nước Mỹ, nó làm tiêu hao sức mạnh của những lời đe dọa cũng như hứa hẹn của Hoa Kỳ trên thế giới. ông nói.

Do bản tính tự xá tội, chúng ta đã phá hỏng cơ bản tự do khắp nơi, sự đầu hàng ở Đông Dương mở màn cho một thời đại ô nhục của Hoa Kỳ nó kéo dài từ Angola tới Ethiopia, tới Iran, tới Afghanistan”
Trang 647

Cũng theo tác giả Walter Isaacson, “hậu quả Domino” mà Kissinger và nhiều người khác tiên đoán không rõ ràng. Việt Nam và Căm Bốt đều đã trở thành Cộng sản, nhưng họ lại [quay sang] đánh lẫn nhau thay vì đổ sang Thái Lan. Các nhà chính khách Hoa Kỳ đã không hiểu rõ để rồi hy sinh biết bao nhân mạng.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, trả lời phỏng vấn đài NBC Kissinger nói có lẽ ta sai lầm khi quá quan tâm đến một vấn đề mà bỏ quên những chuyện khác, cuộc chiến này có tính cách Việt Nam hơn là có thể đưa tới ảnh hưởng quốc tế.

Thiếu tướng Vernon Walters tùy viên quân sự, người từng đưa Kissinger đi về trong những buổi đi đêm tại Paris , cho tới nay vẫn giữ được một lá cờ vàng nhỏ của miền nam VN trong văn phòng mình. Khi được hỏi về lá cờ này, ông Tướng giải thích nó tiêu biểu cho “một công việc còn dang dở” (unfinished business). Chúng ta đã để cho 39 triệu người rơi vào vòng nô lệ. Đó là một di sản của Hòa bình trong danh dự (Theo Larry Berman, No Peace, No Honor p.273).

Đầu thập niên 70, đa số người Mỹ chống chiến tranh VN và chủ trương rút khỏi Đông Dương, người dân đánh giá cuộc chiến này tàn ác, bẩn thỉu, tốn quá nhiều xương máu vô ích, đáng ghê sợ, dài vô tận không biết đến bao giờ mới chấm dứt … phải ra khỏi Đông Dương, sống chết mặc bay.

Quốc Hội Mỹ do thúc đấy của phong trào phản chiến cắt quân viện bỏ rơi đồng minh không thương tiếc, cho rằng nó chỉ là cuộc chiến tranh sai lầm tai hại, đã khiến cho đất nước bị phân hóa, dầy vò cắn xé nhau tan nát trong bao năm qua, quá tốn kém… phải bỏ Đông Dương bằng mọi giá, từ bỏ những lý tưởng xa vời để quay trở về với quyền lợi của nước Mỹ.

Những người Mỹ ủng hộ chiến tranh VN chỉ là thiểu số gồm các nhà lãnh đạo hành pháp như Tổng thống Nixon, Tiến sĩ Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laird… giới chức quân sự và nhiều nhà học giả nghiên cứu về chiến tranh VN…(họ) đổ lỗi cho Quốc hội cắt quân viện khiến cho VNCH sụp đổ, làm phương hại tới uy tín của đất nước trên thế giới. Họ lên án Hoa Kỳ đã tàn nhẫn bỏ đồng minh rơi vào vòng nô lệ của Cộng Sản, những người bạn yếu thế này đã hết lòng tin tưởng vào Mỹ *. Họ cho rằng việc rút bỏ dù chính đáng tới đâu cũng không có giá trị đạo đức.

Bên nào nói nghe cũng hay, cũng có lý cả, nhưng chỉ giới trẻ, thanh niên là thích thú nhất, ít ra họ sẽ không phải đi lính đóng đồn xa xôi vạn lý bên kia trái đất. Những người này chiếm đa số trong phong trào chống chiến tranh, đòi rút quân về nước bỏ Đông Dương.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

——————————————–

Tài Liệu Tham Khảo

Walter Isaacson: Kissinger A Biography Simon & Schuster 1992.
Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam -The Free press 2001
Richard Nixon: No More Vietnams , Arbor House, New York 1985
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Robert Dallek: Partners In Power, Nixon and Kissinger – Harper Collins publishers 2007
The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985
Stanley Karnow: Vietnam , A History, A Penguin Books 1991
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến tranh Việt Nam 1963-1975, Đại Nam 2001.
Cao Văn viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography 2003

—————————————————————————————————

* TH ghi chú: Vào tháng 4 năm 1975 , khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang, thì người Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.

Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean. Lá thư này ông nhờ các phóng viên ngoại quốc đưa lại cho ông đại sứ Mỹ. Lá thơ  đầy nghĩa  khí và  tiết tháo của ông như sau :

Người dịch Trần Hoàng

Thư của Thủ Tướng Sirik Matak gởi Đại Sứ Mỹ  John Gunther Dean

Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.

Thưa Ngài và cũng là người bạn của tôi,

Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và đề nghị giúp tôi phương tiện vận chuyển đi tìm tự do.
Than ôi! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như vậy. Với Ngài, và đặc biệt là đất nước vĩ đại của Ngài, tôi không bao giờ lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do. Quý vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết.

Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài sẽ tìm được hạnh phúc dưới bầu trời này.

Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng  nếu tôi phải chết, thì tôi sẽ chết ở đây, trên đất nước mà tôi yêu dấu,  điều tệ hại là vì tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó. 

Tôi đã phạm phải sai lầm này là vì đặt niềm tin vào quý vị, những người Mỹ!
Thưa Ngài, người bạn của tôi, xin Ngài nhận những tình cảm chân thành và thân hữu của tôi .

Hoàng tử  Sirik Matak

Dear Excellency and Friend,

“I thank you very sincerely for your letter and for your offer to transport me towards freedom. I cannot, alas, leave in such a cowardly fashion. As for you and in particular for your great country, I never believed for a moment that you would have this sentiment of abandoning a people which has chosen liberty. You have refused us your protection and we can do nothing about it. You leave us and it is my wish that you and your country will find happiness under the sky. But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad because we are all born and must die one day. I have only committed the mistake of believing in you, the Americans. Please accept, Excellency, my dear friend, my faithful and friendly sentiments. Prince Sirik Matak.[1].[19]”  (Nguồn)

————–


Từ trái qua phải: Sisowath Sirik Matak, Lon Nol, and In Tam.

*Gia đình của Thủ Tướng Sisowath Sirik Matak (gồm các con trai, các con gái, các cháu trai, và các người giúp việc)  đều đã bị Khmer Đỏ giết chết vào ngày 21-4-1975.

*Thủ tướng Hên Xom Rênh hiện nay cũng đã từng là thành phần Khmer đỏ, và ông ở trong đoàn quân tiến chiếm Nam Vang 1975. Vài năm sau, ông chạy qua Cộng Hòa XHCN Việt Nam “ăn học”, và sau đó được cử về nắm lấy Kampuchea, rồi sau đó “ứng cử” chức vụ thủ tướng Kampuchea.

“Bức thư được sao chép và thêm vào trong cuốn sách Autrefois, Maison Privée.

Không lâu sau khi chính phủ Lon Nol tuyên bố chính thức đầu hàng Khmer Đỏ vào ngày 17 tháng 4 năm 1975, Sirik Matak đã đến tị nạn tại Khách sạn Le Phnom, nơi Hội Chữ thập đỏ quốc tế cố gắng tạo ra một khu vực an toàn.

Ông bị từ chối ngay vì Hội Chữ thập đỏ đã biết được tên ông nằm trong danh sách tử hình “Bảy Kẻ Phản Bội”. Bên ngoài khách sạn, Sirik Matak đã nói chuyện với các phóng viên và phân phát bản sao của bức thư mà ông gửi cho Đại sứ Dean.[23] Bizot thông báo rằng Sirik Matak đã tìm cách xin tị nạn chính trị tại Đại sứ quán Pháp, Khmer Đỏ đe dọa sẽ xông vào bên trong Đại sứ quán và giết chết bất kỳ người nào kháng cự bằng vũ lực nếu họ không tự nguyện tuân theo yêu cầu của chúng.

Theo như Phó lãnh sự quán Pháp Jean Dyrac và nhà báo Jon Swain,[24] Bizot nhận trách nhiệm thông báo cho Sirik Matak biết là ông đã được bàn giao cho Khmer Đỏ.[25] Sirik Matak cùng một vài quan chức còn lại đi cùng ông đều bị Khmer Đỏ sát hại vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, lúc ông 61 tuổi.

Các chi tiết chính xác về cái chết của ông vẫn còn mơ hồ, thế nhưng Sihanouk nhận được bản báo cáo xác nhận rằng Sirik Matak cùng với Boret Long đã bị đội hành quyết sát hại ngay tức khắc tại Trung tâm Thể thao Cercle Sportif ở Phnom Penh vào ngày 21 tháng 4, một bản báo cáo khác nói rõ ông bị chặt đầu.[26]

Tuy nhiên, theo Henry Kissinger và những người khác đã lưu ý trong một bản báo cáo cho rằng Sirik Matak bị bắn vào bụng và bỏ mặc mà không được cứu chữa cho đến khi chết trong vòng ba ngày.[27]

Tổng cộng có 150 người trong chính phủ Cộng hòa Khmer đã di tản theo người Mỹ. Còn lại toàn bộ đều bị giết hết. Riêng gia đình Sisowath Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.

(nguồn)

Cập nhật thứ Bảy 21-4-2011: thư của Thủ tướng Sirik Matak

 

 
Phóng ảnh viết tay bằng tiếng Pháp gởi cho đại sứ Mỹ John Dean. Phải: Hoàng thân Sirik Matak.

nhà văn Hoàng Hải Phòng Thủy cũng có bài về chuyện này. 

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2012

Bắt nguồn từ những cuộc phỏng vấn thời còn làm cho Đài Á Châu Tự Do năm 1997 và do cảm phục thái độ can cường và tấm lòng của Dương Thu Hương đối với con người và đất nước Việt Nam, Đinh Quang Anh Thái đã xem nhà văn nữ này như một người chị tinh thần.

Trung tuần tháng Hai vừa qua, do lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Editeur, bà Dương Thu Hương đến Paris để ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn No man’s land, nay được dịch sang Pháp ngữ là Terre Des Oublis

Khi được tin này, Đinh Quang Anh Thái đã lập tức sang Paris thăm bà Dương Thu Hương và được bà dành cho một loạt cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề tại quê nhà chúng ta. Bài thứ nhất đã được đăng trên Việt Tide số 241 và sau đây là bài thứ nhì. Những bài kế tiếp sẽ được tiếp tục đăng trên Việt Tide vào những tuần sắp tới, mời quý độc giả đón đọc. 

Bài 1

Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Việt Tide: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” –, tâm tư của bà lúc đó như thế nào?

Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.

Việt Tide: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?

Dương Thu Hương: (cười khẩy) Đó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như nước trong (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình. 

Việt Tide: Bà có thể nói rõ hơn? 

Dương Thu Hương: Tôi chả coi đảng cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Đối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Đội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ được vào đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý luận Nghiệp vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường.

Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải cách Ruộng đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì đảng cộng sản.

Việt Tide: Theo chỗ tôi biết, bà lập gia đình trong giai đoạn chiến tranh và hai con của bà sinh ra ngay tại tiền tuyến; có đúng không ạ? 

Dương Thu Hương: Vâng, đúng như vậy.

Việt Tide: Bà có thể cho biết hoàn cảnh sống của hai cháu tại tiền tuyến khi cuộc chiến bắt đầu vào thời điểm khốc liệt năm 1968?

Dương Thu Hương: Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục.

Một điều nữa, ngay trong chiến tranh, năm – bẩy trăm người chết nhưng không bao giờ tin tức được loan báo. Vì tất cả đều chấp nhận cái chết đương nhiên. Và không thể loan tin vì suy nghĩ lúc bấy giờ ta là dân tộc anh hùng chiến thắng tất cả mọi kẻ thù nên không thể cho biết sự tổn thất. Hai con tôi sinh ra trong hoàn cảnh như vậy. Khi chúng nằm ở trong hầm, dưới mặt ván vài gang là nước và rắn bò lóp ngóp. Đứa con gái của tôi khi vừa được ba tháng, rắn ngủ ở dưới đít của nó. Vì rắn tìm chỗ ấm mà! May mà sáng ra rắn tuồn xuống nước chứ không cắn con bé. Mà đấy là rắn độc. Cho nên mấy ông dân chài sống chung quanh bảo rằng con tôi được thần độ mạng. Tôi tin con người có số thật. Bởi vì sống dưới bom đạn, đói khát, rắn rết như vậy mà hai đứa con tôi, dù không được tươi da thắm thịt như con cái những người sống trong hoàn cảnh bình thường, nhưng chúng cũng không đến nỗi bị què quặt. 

Việt Tide: Khi lớn lên, các cháu có bị ám ảnh bởi hồi ức lúc sống trong chiến tranh bom đạn không ạ?

Dương Thu Hương: Trong chiến tranh chúng nó còn rất nhỏ cho nên khi lớn lên ấn tượng về cuộc chiến cũng mờ nhạt. Nhưng khi chúng lớn lên thì chúng chịu một cuộc chiến tranh khác còn tàn khốc hơn cuộc chiến thời 1968: mẹ chúng nó làm giặc. Cho nên chúng nó bị nhiều thiệt thòi lắm.

Việt Tide: Thưa bà, các cháu bị thiệt thòi ra sao ạ?

Dương Thu Hương: Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép.

Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.

Việt Tide: Các cháu có chia sẻ lý tưởng của mẹ không?

Dương Thu Hương: Không! Đối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.

Việt Tide: Từ một người dấn thân “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”, bây giờ bà trở thành một người làm giặc ngay tại Hà Nội tại sao vậy, thưa bà?

Dương Thu Hương: Câu hỏi của ông vô cùng mâu thuẫn và vô cùng ngớ ngẩn. Tôi là người yêu nước khi tôi tham gia cuộc chiến tranh và đến tận bây giờ tôi vẫn là người yêu nước. Vì thế tôi mới làm giặc. Hai hành động đó (vào tiền tuyến năm 68 và bây giờ làm giặc) thống nhất với nhau.

Việt Tide: Tư tưởng “làm giặc” của bà nhen nhúm từ lúc nào?

Dương Thu Hương: Từ năm 1969. Lúc đó, nếu tôi còn chút ảo tưởng nào về chủ nghĩa cộng sản thì tôi đã trở thành đảng viên rồi. Họ mở rộng cánh cửa mời tôi vào đảng cơ mà. Nhưng vì tôi được dậy dỗ trong một gia đình lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cho nên tôi không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ. Đơn giản như vậy thôi.

Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?

Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.

Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva. Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ. Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm ghiếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.

Việt Tide: Từ đó bà lao vào cuộc đấu tranh?

Dương Thu Hương: Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Đúng ra, ngã rẽ này đã bắt đầu từ năm 1969 khi lần đầu tiên tôi gặp những toán tù binh người miền Nam ở Quảng Bình. Lúc đó tôi làm công tác ở các binh trạm và những tù binh lần đầu tiên tôi gặp không phải là người Mỹ mà chính là người Việt Nam, cũng đầu đen mắt đen, cũng lùn và da vàng mũi tẹt như tôi, và nói tiếng Việt Nam như tôi. Cho nên tôi mới hồ nghi rằng tất cả những điều người ta nói đây là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược thì đó là láo toét.

Tuy nhiên vì lúc đó là chiến tranh và tất cả đều lao vào một guồng máy và bị cỗ xe khổng lồ nó cuốn đi. Cho đến năm 75, với thời gian (giọng ngậm ngùi, xúc động), tất cả mọi ngờ vực trong tôi đã chín muồi. Năm 75, tôi hiểu rằng đây là thời điểm quyết định và là ngã rẽ dứt khoát trong tư tưởng của mình.

Việt Tide: Nói chuyện với bà, tôi thường nghe bà nhắc đến hai chữ “số phận”. Bà tin số phận như thế nào và bà hiểu hai chữ số phận như thế nào?

Dương Thu Hương: (cười thoải mái)  Tôi tin số phận theo kiểu của tôi và hiểu số phận theo kiểu một người nhà quê chân đất mắt toét. Đại loại như vậy. Còn để diễn giải hai chữ số phận trong cuộc phỏng vấn ngắn ngủi này thì đó là điều bất khả.

Việt Tide: Xin bà cứ nói chi tiết.

Dương Thu Hương: (cười to) Tôi nói ví dụ, chúng ta không phải hoàn toàn là những kẻ bất lực, nhưng chúng ta cũng không hoàn toàn là những kẻ làm chủ được số phận của mình. Ví dụ như khi tôi ở trong tù năm 91, tôi nghĩ không bao giờ có ngày ra khỏi tù. Nhưng rồi tôi lại thoát nhờ sự can thiệp của những người mà tôi chưa bao giờ biết. Như vậy rõ ràng là có bàn tay của Chúa (nói  theo người Thiên Chúa Giáo) và có bàn tay của Giời Phật (nói theo người dân Việt Nam). Đấy là điều khiến tôi tin vào số phận.

Dương Thu Hương (Việt Tide Phỏng Vấn)

http://dcvonline.net

http://www.vietthuc.org

—————————————————————-

Và đây là cuộc phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương tại New York, ngày 30-4-2006.

Năm 1975, nhà văn Dương Thu Hương, (sinh 1-1-1947), khi đó đang ở trong đoàn quân chiến thắng, trong một cuộc phỏng vấn bà đã phát biểu cảm tưởng của bà vào ngày 30-4-1975 như sau:

https://www.youtube.com/watch?v=1HhbiG8YGpE

Phim trên là trích đoạn của cuộc Phỏng vấn  nhà văn Dương Thu Hương ở New York ngày 30-4-2006. Đây là một trong những cuộc phỏng vấn tuyệt vời nhất giữa người đặt câu hỏi, các câu trả lời của bà DTH, và phần phiên dịch chính xác có thể nói là >98%. Mời các bạn thưởng thức.

Phần 1   http://www.youtube.com/watch?v=An_oN0N9_6c

Phần 2   http://www.youtube.com/watch?v=p947T7siNxw

Phần 3   http://www.youtube.com/watch?v=7Mqa25l9cT4

Phần 4  http://www.youtube.com/watch?v=wtx3aRcFA58

Phần 5  http://www.youtube.com/watch?v=XQYWA5lNH7U

Phần 6  http://www.youtube.com/watch?v=8qwG4iPzuy0

Phần 7 http://www.youtube.com/watch?v=v-8BpWkHW9E

1. Lời tiên đoán cuả Ronald Reagan (khi đang còn là Thống Đốc của tiểu bang California 1967-1975)  về cuộc rút quân đội Mỹ ra khỏi VN năm 1973 có khả năng để lại các thảm họa như thế nào.

Ronald Reagan (1973) ” …Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and coming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generations of VietNam borned .”
[Dịch]: “…Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh ra tại Viêt Nam về sau.”

Nhà văn Phạm Đình Trọng:

*“Thế hệ chúng tôi cũng rầm rập ra trận, lúc đó chúng tôi tưởng rằng đi giải phóng miền Nam và hào hứng hát: Giải phóng miền Nam / Chúng ta cùng quyết tiến bước . . . Hóa ra không phải chúng tôi đi giải phóng miền Nam mà chúng tôi đi vào cuộc nội chiến Nam – Bắc tương tàn, chúng tôi chỉ là công cụ mang học thuyết Mác Lê nin, học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu áp đặt cho miền Nam, để cả nước bị nô dịch bởi học thuyết Mác Lê nin, để học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu thống trị cả dân tộc Việt Nam, đánh phá tan tác khối đoàn kết dân tộc Việt Nam, đánh phá tan nát đạo lí và văn hóa Việt Nam.” _ Phạm Đình Trọng

trong tác phẩm Bên Thắng Cuộc, (2012),  tác giả Huy Đức đã ghi rằng: 

 Nguyên Ngọc : Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn .

 Huy Đức:  bên (cần)được giải phóng hóa ra lại là Miền Bắc”.

(trích từ bài ►Góp phần “giải mã” một thế hệ dấn thân – Hà Sĩ Phu

Chén kiểu thì không chọi lại với chén sành. Và rồi đất nước VN trở nên tang thương, cái nghèo đeo đuổi, văn hóa suy đồi, giáo dục xuống cấp, gia đình ly tán…trong khi các cán bộ Việt Cộng cướp sạch đất đai, chia nhau tài nguyên mỏ dầu hỏa,  các mỏ kim loại hiếm quí như wolfram, mỏ núi pháo (mời google hoặc xem trong cột bên trái của blog này: bán tài nguyên khoáng sản và cho nước ngoài thuê đất đai, rừng từ 50-99 năm)

*****************************************************

Bài 2

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cập nhật lúc 30-04-2011 10:23:08 (GMT+1)

Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ (P) ăn trưa cùng ông Hồ Chí Minh (T) vào tháng 8/1959 tại Bắc Kinh.

Tháng 4 năm 1975, những người cộng sản tiến vào Sài Gòn “giải phóng miền Nam” kết thúc cuộc chiến giữa hai miền Bắc – Nam, kéo dài trong 21 năm.

Ba mươi sáu năm sau cuộc chiến này, dựa trên các tài liệu đã được giải mật thời gian gần đây, nhiều người nhận ra, cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” do những người Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật sự không phải vì Việt Nam.

Vì Liên Xô vào để truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản

Sau Đệ nhị Thế chiến, Joseph Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình bằng cách hỗ trợ nhiều quốc gia tiến hành cách mạng vô sản, sử dụng bạo lực để lật đổ các chính thể hiện hành, thiết lập các nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản.

Năm 1958, ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo chính quyền Cộng sản ở miền Bắc, Việt Nam, tuyên bố: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý, xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết cho phép các lực lượng Cộng sản miền Nam sử dụng bạo lực để lật đổ chính quyền miền Nam. Và rồi cuộc chiến Bắc – Nam đã được những người Cộng sản khơi mào bằng các phong trào kiểu như “Đồng khởi” ở Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam Bộ, sách động quần chúng đấu tranh vũ trang kết hợp với chính trị.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng, cuối năm 1960, Đảng Cộng sản cho ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một tổ chức chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản, hoạt động ở miền Nam với mục đích lật đổ chính quyền miền Nam, thống nhất Việt Nam, để biến Việt Nam thành một khối thống nhất, thành viên của cộng đồng các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn vừa kể, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Liên Xô liên tục qua lại thăm viếng nhau. Đến cuối năm 1960, hai bên bắt đầu ký nhiều thỏa thuận, trong đó, Liên Xô cam kết viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ miền Bắc, để giúp miền Bắc “giải phóng miền Nam”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1961, hai tuần trước khi ông Kennedy tuyên bố nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Nikita Khrushchev, Thủ tướng Liên Xô, tuyên bố, Liên Xô sẽ hỗ trợ “các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” trên toàn thế giới, trong đó có Cuba và Việt Nam. Khrushchev gọi đây là những cuộc chiến tranh “thần thánh”. Ông Ilya Gaiduk, nhà sử học người Nga, tiết lộ, trong kế hoạch của Moscow, Việt Nam trở thành một kênh chính để tạo ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
Ngày 31 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố, những diễn biến vừa kể là bằng chứng về tham vọng muốn thống trị thế giới của Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc.

“Tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”

Ngoài việc Liên Xô muốn vào truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản, những người Cộng sản Việt Nam cũng muốn biến đất nước trở thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, năm 1959, nêu rõ: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á. Đế quốc Mỹ chiếm cứ miền Nam, âm mưu xâm lược miền Bắc là để tấn công phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên, thắng lợi của cách mạng Việt Nam quan hệ trực tiếp đến phe xã hội chủ nghĩa, làm cho phe xã hội chủ nghĩa càng rộng lớn, vững mạnh”.

Ông Lê Duẩn chụp vào ngày 15/5/1975. AFP photo

Ngày 9 tháng 2 năm 1964, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô đưa tin, một đoàn đại biểu của Đảng Lao Động Việt Nam do ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất dẫn đầu, đã đến thăm Liên Xô. Theo đó: “Hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của phe XHCN và phong trào cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng Lao động Việt Nam, giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và các nguyên tắc của phong trào vô sản quốc tế”.

Kể từ đó, khối cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, đã gia tăng viện trợ quân sự, từ vũ khí, đạn dược, xe tăng, tên lửa, máy bay…cho đến các cố vấn quân sự, thậm chí cả binh lính, cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, để lật đổ chính quyền miền Nam, thực hiện cuộc cách mạng vô sản, biến Việt Nam thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Trong bài nói chuyện đăng trên báo Nhân Dân, ngày 20 tháng 7 năm 1965, ông Hồ Chí Minh đã cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc về sự giúp đỡ này, ông nói: “Tôi thay mặt đồng bào cả nước nhiệt liệt cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em khác, cảm ơn nhân dân tiến bộ khắp năm châu. Nhân dân Việt Nam quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng, giải phóng Tổ quốc của mình, chặn tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giữ vững tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN giúp đỡ lãnh đạo miền Bắc với mục đích truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam và rộng hơn là các nước Đông Nam Á, thế nhưng ông Hồ Chí Minh chỉ thấy sự giúp đỡ này là “vô tư”, “không vụ lợi”. Ông cho biết: “Các nước bạn giúp ta một cách khẳng khái, vô tư, như anh em giúp nhau, tuyệt đối không có chút gì vụ lợi. Các nước bạn chỉ mong chúng ta cố gắng làm cho nhân dân ta thắng lợi trong cuộc đấu tranh”. Và ông  ông Hồ Chí Minh cho biết, ông “luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”.

Tháng 2 năm 1966, khi đến Moscow tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 23, ông Lê Duẩn tuyên bố, ông có hai tổ quốc, đó là Tổ quốc Việt Nam và Tổ quốc Liên Xô. Ông Lê Duẩn cũng cám ơn Liên Xô về sự “viện trợ to lớn và nhiều mặt” cho chính phủ miền Bắc. Trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, ông Lê Duẩn cho biết: “Liên Xô giúp chúng tôi bằng trái tim của họ, và họ đã giúp chúng tôi nhiều hơn chúng tôi có thể sử dụng, và Trung Quốc cũng giúp đỡ chúng tôi”.

Sử gia Douglas Pike nhận xét về cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do miền Bắc khởi xướng như sau: “Bản chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi trên thực tế: từ một anh Việt Cộng chân đất với khẩu súng ngắn tự tạo, cho tới những lực lượng quân đội Cộng sản Việt Nam được trang bị những thứ vũ khí hiện đại nhất mà thế giới cộng sản có thể sản xuất”.

Cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng miền Nam”, ngoài mục đích Liên Xô muốn đưa Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, biến Việt Nam thành tiền đồn của phe Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Nam Á, những người Cộng sản Việt Nam đã “giải phóng miền Nam, là “giải phóng” cho ai? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Ngọc Trân

nguồn RFA

nguồn danchimviet.info

nguồnlethanhhoangdan

Bài 3

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Hàng năm, cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng 4, Đảng và Nhà nước Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày “giải phóng miền Nam”. Trong dịp này, những người “chiến thắng” luôn tự hào và hãnh diện vì đã đánh thắng đế quốc Mỹ, một cường quốc hùng mạnh nhất thế giới.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” mà những người Cộng sản Việt Nam đã tiến hành, ngoài mục đích xóa bỏ chế độ tư bản, kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Mác – Lênin, những người Cộng sản Việt Nam còn bị chi phối bởi mục đích nào khác?

Con cờ trong bàn cờ của Trung Quốc

Khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Dựa trên các tài liệu đã được giải mật, do kế hoạch của Mao Trạch Đông muốn bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á trong tương lai, nên lãnh đạo Trung Quốc không muốn cuộc chiến Việt Nam sớm kết thúc, mà muốn chiến tranh kéo dài để làm Việt Nam suy yếu.

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Và những người Cộng sản Việt Nam đã giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này. Trong số các tài liệu đã được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẩn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch…Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Ở một tài liệu khác, cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” – do Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành – tại trang 53, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người… Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”.

Những lời thú nhận

Tuy tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” là nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thể làm hài lòng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Vì sao?

Cùng là Cộng sản nhưng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc không thể “đoàn kết” với nhau, bởi bên nào cũng muốn tạo ảnh hưởng, chi phối khu vực Đông Dương và rộng hơn là khu vực Đông Nam Á.

Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhận thấy Việt Nam có vẻ muốn ngả hẳn về phía Liên Xô, năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tràn sang Việt Nam, nhằm “dạy cho Việt Nam một  bài học”. Đến lúc này, Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam – mới công bố những bí mật trong quan hệ Việt – Trung ở giai đoạn tiến hành “giải phóng miền Nam”, “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”.

Tại trang 5 của tác phẩm vừa dẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận: “Trên thế giới chưa có người lãnh đạo một nước nào mang danh là ‘cách mạng’, là ‘xã hội chủ nghĩa’ và dùng những lời lẽ rất ‘cách mạng’ để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc”.

Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc…Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

Cũng trong tác phẩm vừa dẫn, ở trang 100, Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết âm mưu của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam như sau: “Họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để  đưa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên địa vị ‘siêu cường thứ ba’ và đổi chác việc giải quyết vấn đề Đài Loan”.

Mười một năm trước khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra và thú nhận những điều vừa kể, vào  tháng 3 năm 1968, khi phát biểu tại trường Đại học Kansas, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã tuyên bố, mục tiêu của cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật ra chỉ vì Trung Quốc muốn Mỹ sa lầy.

Ông Robert Kennedy nhận định: “Mao Trạch Đông và các đồng chí Trung Quốc của ông ta yên lặng ngồi nhìn: [Việt Nam] đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ xem chúng ta làm suy yếu một nước, là hàng rào vững chắc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam. Họ hy vọng sẽ buộc chúng ta chặt hơn trong cuộc chiến kéo dài ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Họ tự tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam ‘sẽ càng làm cho Mỹ sa lầy, hủy hoại tài nguyên, mất uy tín về sự kỳ vọng của các nước vào sức mạnh của Mỹ, chúng ta bị đồng minh xa lánh, xung đột với Liên Xô, và bất đồng gia tăng trong dân chúng Mỹ’. Như một nhà quan sát Mỹ đã nói: ‘chúng ta dường như đang bị chơi đúng kịch bản mà Mao đã viết ra’.”

Ba mươi sáu năm sau khi cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” kết thúc, Trung Quốc càng ngày càng hùng mạnh hơn và sự hùng mạnh đó đang gây trăn trở cho hàng triệu người Việt. Còn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự hào vì đã “giải phóng miền Nam”.

Ngọc Trân

Nguồn RFA

nguồn Vietinfo.eu

=================================================================

Bài 4

Có Ai Thích Được Giải Phóng đâu !!!???

Hoàng Dược Sư – X.Cafe.VN

Mon, 05/02/2011 – 02:25

http://www.x-cafevn.org/node/2097

http://www.x-cafevn.org/node/2097

Vậy là đúng 36 năm, kể từ ngày mất miền Nam thân yêu. Mất cả tên Saigon thân thương, mất cả tên những con đường với muôn vàn kỷ niệm. Và rồi còn bao nhiêu thứ mất mát đáng sợ hơn.

Ngày ấy, ngày 30/4/75, ngày mà cả miền Nam sống trong sợ hãi. Những chiếc xe tăng T54 ngênh ngang tiến vào thành phố, nghiến nát những con đường, những bãi cỏ xanh tươi mơn mởn. Ngày ấy dân miền Nam sợ xanh mặt, họ bồng bế nhau chạy trốn loạn lạc. Họ có muốn các anh vào giải phóng đâu!!

Ngày 30/4 là một ngày định mệnh đau buồn cho nước VN. Ngày đánh dấu cho một kiếp ô nhục, ngày mà đánh dấu những tang thương, mất mát, đoạ đày sau này cho con dân VN, ngày tiên đoán cho kiếp bị đô hộ, nô lệ cho giặc Tàu gần kề.

Chúng tôi có mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì đến giải phóng. Các anh mập mờ đánh lận con đen. Các anh dùng mỹ từ giải phóng để che giấu sự ăn cướp trắng trợn và dã man cuả các anh. Nếu các anh thật sự giải phóng chúng tôi thì tại sao chúng tôi lại bồng bế nhau chạy trốn. Chúng tôi chạy bán sống bán chết, chúng tôi bỏ cuả chạy lấy người. Vì sao? Vì chúng tôi ghê tởm các anh.

Các anh còn nhớ sau hiệp định Geneve 1954, tại sao cả triệu người bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả ông bà, bỏ tài sản mà trốn chạy các anh. Vì người ta đã quá biết bộ mặt đểu giả, giả nhân giả nghiã cuả các anh. Nếu các anh không ngăn cản để cho đồng bào miền Bắc tự do di cư vào miền Nam, thì số người di cư phải tới hơn 5 triệu người là ít. Những cảnh chia lià vợ chồng, con cái, chết chóc, thất lạc…là do ai tạo ra?

Sau ngày 30/4, khi nhà văn Dương thu Hương, lúc ấy còn là bộ đội, vào miền Nam thì quá ngỡ ngàng đến té ngửa ra, vì bị lường gạt bao nhiêu năm. Miền Nam văn minh, trù phú và đầy ắp tình người. Bà ta đã ngồi bệt xuống lề đường mà khóc, vì sự thật phũ phàng. Đó chính là tâm sự cuả bà đã được in thành sách. Các anh mới chính là những người cần được giải phóng!!!

Các anh reo vui trong chiến thắng, các anh ca hát “chưa thấy hôm nào đẹp như hôm nay, non nước tưng bừng lòng ta mê say…” Các anh hứa hẹn mang thanh bình cho đất nước.

Thế rồi các anh đánh tư sản, các anh vơ vét vàng bạc, tài sản cuả dân chúng. Các xí nghiệp công xưởng lớn nhỏ thì các anh tịch thu, phá hủy, cả nền công nghiệp cuả miền Nam bị phá sản. Mấy trăm ngàn quân nhân cán chính thì các anh trả thù, cho họ tù đày, với mỹ từ học tập cải tạo. Các anh tạo ra cảnh thê lương chia lià, vợ xa chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Như vậy các anh còn chưa hài lòng, các anh còn đì con cái họ bằng cách phân biệt lý lịch ngụy quan, ngụy quyền…khi họ thi tốt nghiêp, đi học, hay xin việc làm. Chưa hết, các anh còn kiểm soát tự do cuả người dân bằng những công an khu vực, giấy đi đường, bằng những tem phiếu, bằng những bobo, khoai, sắn. Người dân co cụm lại vì sợ hãi, vì đói rách, vì nghi kỵ lẫn nhau, vợ tố chồng, con tố cha…đưa đến một sự suy đồi về đạo đức trầm trọng. Cuối cùng các anh lại đổi tiền, để thừa dịp cướp bóc công khai giữa ban ngày.

36 năm rồi, các anh đã làm gì cho đất nước, hay chỉ thêm hoang tàn đổ nát, nghèo khổ và thất vọng. Các anh đã biến VN thành nước lạc hậu và nghèo nhất thế giới, phải ngửa tay đi xin khắp nơi trên thế giới. Các anh đã bán đất bán biển cuả tiền nhân tổ tiên cho Tàu Cộng, các anh nịnh nọt, đút lót cho kẻ thù, các anh hèn hạ gọi kẻ thù từng đô hộ mình cả ngàn năm là quan thầy, là mẫu quốc. Các anh còn biết xấu hổ hay không?

Các anh sợ mất Đảng, mất chỗ đứng mà không sợ mất nước. 36 năm rồi các anh vẫn còn nguyền ruả Mỹ, Ngụy. Các anh chửi họ là bọn Nguỵ quân, ngụy quyền, bọn Diệm Nhu, Thiệu kỳ…là bọn phản động, tay sai cho ngoại bang…chỉ biết ăn canh thừa, cá cặn cuả đế quốc…Các anh, cũng như các tờ báo lề phải không ngừng đả kích, chửi bới những người mà các anh gọi là phản động, là tàn dư Mỹ ngụy..Như vậy làm sao các anh đòi hoà hợp hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù để xây dựng đất nước được. Ai sẽ tin lời các anh, các anh muốn hoà hợp, hoà giải mà cứ chửi cha, chửi tổ tiên người ra, thì hoà giải cái nỗi gì.

Ngày 30/4 mỗi năm các anh tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng, thì hoà hợp ở đâu? Các anh đâu có thật sự muốn hoà giải. Các anh chỉ thích tiền và đô la cuả họ mà thôi. Các anh sợ 3 triệu Việt kiều Hải ngoại tạo phản, tạo áp lực với thế giới, nên phải vuốt ve, nịnh nọt Việt Kiều như khúc ruột ngàn dặm, để mỗi năm đám phản động đó gởi về cả chục tỷ mỹ kim cho các anh. Các anh hô hào, cổ võ cho Việt kiều về VN làm ăn, quê hương là chùm khế ngọt…Tất cả chỉ là dối trá và lường gạt mà thôi.

Thật vô phước cho đất nước VN. Mấy ngàn năm tổ tiên dựng nước thì tới thời CS là thời mạt kiếp. Tội lớn nhất cuả Hồ chí Minh là mang cái học thuyết CS ngoại lai, láo lếu, phi lý mất tính người vào VN, để rồi con dân VN chịu muôn vàn đau khổ.

Ôi đã 36 năm rồi, quê hương tôi còn đọa dày cho tới bao giờ!!?? Biết đến bao giờ các bạn thanh niên, các trí thức còn u mê, mê man bất tỉnh mở mắt ra nhìn vào sự thật…Giờ phút này có bao nhiêu triệu người đang ăn mừng ngày 30/4 tưng bừng náo nhiệt, và cũng có bao nhiêu người ngậm ngùi làm lễ giỗ cho vợ chồng,cha mẹ, hay anh em cuả họ…Như vậy có nên hoà hợp, hoà giải hay không? Tôi tin rằng 3 triệu người Việt lưu vong sẽ sẵn lòng độ lượng và tha thứ cho tất cả những nỗi nhục nhằn, cay đắng mà họ đã gánh chịu vì CS, nhưng họ không bao giờ quên. Họ nhớ để ôn cố tri tân, để không đi vào vết xe lịch sử cũ.

Hoàng dược Sư
30/4/2011.

—————————————————————————————————————————————————-

Bài 5

Trần Hoàng điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

1./ Nhiều sách báo và tài liệu gần đây cho thấy rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger đã ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris 27-1-1973 kết quả là đã đưa tới sụp đổ miền Nam.

Nay nhiều bí mật khác nữa đã được tiết lộ, việc Mỹ cắt giảm quân viện cho miền Nam mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 cho biết cựu Bộ trưởng quốc phòng Laird, thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

Cụ thể, tiền quân viện của Mỹ dành cho miền Nam đã giảm dần từ sau năm 1973:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ), giảm 33% so với năm trước

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ), giảm 66% so với năm 1973.

Trong thời gian nầy, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng dầu tăng lên gấp bốn lần. Bởi vậy ngân khoản năm 1975 ấy chỉ có giá trị mãi lực trên dưới 350 triệu. Khoản quân viện 350 triệu vào năm 1975 đã thua kém quân viện cho miền Nam hồi năm 1963 là 384 triệu đô la.

Đại tướng  Cao Văn Viên nói: Vào tháng 1 năm 1975, quân đội miền Nam chỉ còn đủ số đạn được để đánh nhau trong 3 tuần. TT Nguyễn văn Thiệu lên truyền hình nói: Vì hết thuốc men và dụng cụ y tế, thậm chí ở các bệnh viện, các bác sĩ và y tá quân đội phải giặt lại các băng bông y tế cho sạch máu, để băng lại cho những chiến sĩ bị thương. Về đạn dược, mỗi khẩu súng đại bác chỉ được bắn 2 quả mỗi ngày.

Trong khi đó, CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự. Và trong giai đoạn 1965-1975, viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn hàng hóa quân sự, tức là viện trợ gia tăng gấp hơn 10 lần.

Trong khi đó, Trung Quốc và Liên Xô tranh nhau tăng viện trợ để dành ảnh hưởng của CSVN.

Trung Quốc viện trợ 2 tỷ đô la mỗi năm, tổng viện trợ của Trung Quốc dành cho Miền Bắc là 20 tỷ.  Và Liên Xô viện trợ còn hơn thế nữa, nhưng chỉ tiết lộ 11,5 tỷ đô la ►Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhân gởi 320.000 quân qua tham chiến ở Việt Nam trong năm 1965-1968 và viện trợ Hà Nội 20 tỷ đô la – Liên Xô viện trợ 11 tỷ đô la

So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt ngầm của các siêu cường.

2./ Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược toàn cầu của Mỹ như sau:

Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế ‘sống chung nào đó’ với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần ‘cục kê’ của tụi nó’.

Để rồi tướng Đính kết luận: ‘Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của VNCH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết mặc cho nền hoà bình này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội”

Trích: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 635, của tác giả Nguyễn Đức Phương.

Nguyễn Đức Phương kết luận.

Như vậy cả hai miền Nam, bắc Việt Nam đều không nhìn thấy được chính sách ngoại giao của Mỹ từ đầu thập niên 70 để tiếp tục cuộc chém giết. Mùa hè năm 1972 không cần thiết phải là một mùa hè rực lửa. Những trận đánh đẫm máu tại Cửa Việt, tại Sa Huỳnh đã hầu như vô nghĩa. Hiệp định Ba lê chỉ là một biên lai để khách hành nhận lại tù binh và đoạn chiến. Số phận của VNCH đã được định đoạt từ lâu và cũng không phải tại chiến trường.” CTVNTT trang 635, 636.

Ông Ngô Đình Nhu quả là một nhân vật chính trị sáng suốt. Cả vài trăm năm trước đó và phải mất cả 100 năm sau, nước ta mới có một nhân vật có tầm nhìn chính trị như  ông Nhu.  Với câu nói trên, ngay từ năm 1960, ông Nhu đã nhìn thấy được các diễn biến của chính trị Mỹ và TQ  phải diễn ra theo con đường đó; và ngay lúc ấy, Bộ Quốc Phòng và nước Mỹ cũng chưa nhận ra bước đi này, cho mãi tới 1971-1972, khi TT Nixon hòa hoãn với Trung Cộng để bao vây Liên Xô và mở ra sự hợp tác Mỹ và Trung Quốc trong các thập niên 1970s-2000s và cho đến nay. (theo nhận định của Trần Hoàng)

Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng nói.

Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để ‘ngăn chặn làn sóng đỏ’ đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của thế giới Tự Do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi” Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 456, 457.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng các nhà chính trị Mỹ đã bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS.

Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Bắc Việt lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .

Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm.

Tháng 4-1945, tướng Patton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân, họ chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Constantin Virgil Gheorghiu trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Một thí dụ nữa về sự phản bội đồng minh mà người Mỹ từng làm. Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.

(Gần đây nhất là vào năm 1979,  người đồng minh Mỹ đã phản bội Đài Loan. Giới chính trị gia và tư bản Mỹ hy vọng rằng họ sẽ  nhiều quyền lợi kinh tế hơn một khi họ giao thiệp được với Trung Quốc, Năm 1979, Mỹ đã đóng cửa tòa đại sứ và ngưng bang giao với Đài Loan, không công nhận Đài Loan trên chính trường quốc tế, rồi đẩy Đài Loan ra khỏi Liên  Hiệp Quốc.  Cùng lúc ấy Mỹ quay sang công nhận và hổ trợ cho Trung Quốc vào  Liên Hiệp  Quốc).

Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có. Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng sản chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung Cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước.

Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kim trong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”


Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho miền Nam VN số tiền khổng lồ ấy, mà tiền chiến phí cho chiến tranh VN là một chi phí tổng gộp bao gồm cả việc trả lương lính Mỹ, nhân viên quốc phòng Mỹ, cố vấn Mỹ, công nhân chế tạo vũ khí người Mỹ, chi phí di chuyển… những khoản tiền ấy lưu hành và chi tiêu trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước Mỹ hơn là ra ngoại quốc.

Chính phủ miền Nam VN chỉ nhận được chừng 2 tỉ đô la mỗi năm.

Mỹ chỉ viện trợ cho quân đội Miền Nam những vũ khí của thế chiến thứ II. Tính cho đến năm 1971, chỉ trừ 3 sư đoàn TQLC, sư đoàn Nhảy Dù, các liên đoàn Biệt Động Quân là được trang bị súng tự động AR 15 hoặc M 16. 

Hơn 10 sư đoàn còn lại và lính địa phương quân, nghĩa quân, xây dựng nông thôn… chỉ được trang bị súng carbin M1, súng garrant, tiểu liên Thompson… là các vũ khí thời thế chiến thứ 2 hoặc của thế chiến thứ nhất còn sót lại trong kho. Khi quân đội Mỹ trang bị mới cho các đơn vị của họ, họ đã thải ra các vũ khí cũ và đem cho quân đội miền Nam sử dụng.

Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã chết tại VN, nhưng họ không hề đoái thương tới hàng 5 triệu người Việt Nam và nhiều triệu người Kampuchia và Lào đã chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. Người Mỹ cũng không hề thương tiếc cho 4 triệu người dân Miên vô tội đã bị Khmer đỏ tàn sát vì Mỹ đã bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn vào năm 1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng nói Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa.

nguồn: Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh của Trọng Đạt

Các ý kiến khác về chiến tranh Việt Nam như sau:

*“Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc… ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi VN !”- (Tổng bí thư Cộng sản Lê Duẩn- 1976).

*  “Chỉ có Việt Nam là khốn khổ vì chiến tranh tàn phá suốt 29 năm trời ( 1946-75) là bởi Cộng sản Việt Nam đã đưa vận mệnh của nước Việt Nam ràng buộc vào sự sống còn và quyền lợi của phe Cộng sản quốc tế ” – (Thượng toạ Thích Quảng Độ).

* “Cuộc chiến giải phóng miền Nam là cuộc chiến ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc”- ( Nhà văn Dương Thu Hương).

* ” Cái động lực gây nên cuộc chiến đó chính là chủ nghĩa cộng sản: “Đấy chính là một tà giáo đại bịp nhất trong lịch sử loài người mà những tên lãnh tụ tối cao của chúng dựa vào đó để gây chiến tranh nồi da xáo thịt, để tiến hành âm mưu hiểm độc tiêu diệt mọi lòng tin khác, mọi nhận thức, mọi tình cảm, mọi tình yêu, kể cả lòng yêu nước của con người!”- ( Nhà văn Tô Hoài)

____________________

►Sài Gòn đã giải phóng tôi

Nguyễn Quang Lập

30-4-2016

nguyenquanglap00

LTSBài của tác giả Nguyễn Quang Lập đã được phổ biến trên facebook cách đây đúng một năm nhân ngày 30/4.

Tác giả nói lên cảm xúc của mình một cách chân thật khi vào được SàiGòn và khám phá sự thật ai đã giải phóng mình.

******************

 

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “ triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kì diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ dành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy dành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan (cho anh phát súng tim anh nát/nhưng anh tin số phận anh còn), tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nôi chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

Nguyễn Quang Lập
Nguồn:facebook.com/notes

____________

 

“…ngày 30-4-1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.”

 

Mấy lời của tác giả

Bên Thắng Cuộc

IMG_6962

Huy Đức-

Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm.

Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.

Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.

Nhưng hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy, thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ.

Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày [ 1], Thép Đã Tôi Thế Đấy [ 2]. Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.

Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kênh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất, sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam, rồi chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới.

Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong [ 3], một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù đã kiệt quệ sau tám năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy.

Mùa hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ, gồm Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Tuấn Khanh, Huỳnh Thanh Diệu, Huy Đức. Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích.

Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Không ai để ý đến câu nói này của Tuấn Khanh, nhưng tôi lại bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách.

Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”[ 4] , như “Z30”[ 5] cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ Chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.

Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.

Tác phẩm Bên Thắng Cuộc, quyển I: Giải Phóng, Tác giả Huy Ðức – OsinBook xuất bản, 2012

 

_____________________

(còn cập nhật thêm)

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Phỏng Vấn | Tagged: , , | 9 Comments »

Nhà văn Lê Lựu đã bán linh hồn cho ai?

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2012

Lời tựa: Các tinh hoa của miền Bắc đã có được những nhận thức rất sớm về sự tàn bạo và áp chế tự do của con người từ khi họ còn sống ở miền Bắc trước năm 1975. Khi đặt chân vào miền Nam sau ngày 30-4-1975, nhận thức của họ đã được củng cố, và họ càng ngộ ra rằng lâu nay họ đã bị đảng lợi dụng, và những gì đảng tuyên truyền là láo khoét.  Nhà văn Dương Thu Hương khi mới đặt chân vào Sài Gòn đã khóc:  Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ” và “Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ.

Hôm nay, chúng ta lại được nghe thêm tiếng lòng của nhà văn, nhà báo Lê Lựu và nhà thơ Trần Mạnh Hảo:

    “Hồi đầu vào Sài Gòn cùng Nguyễn Khải ở nhà tôi gần ba tháng, Lê Lựu chỉ làm hai việc rất chân chính là tìm bồ và tìm mua sách. Gặp kho sách dịch Sài Gòn, Lê Lựu sướng ngất ngây, hệt chuột sa chĩnh gạo. Ông đọc triết tây triết đông qua các bản dịch của các linh mục dạy triết và các nhà Hán Nôm có hạng Sài Gòn. Ông đọc các tiểu thuyết phương Tây mê man, hầu như có khi thức xuyên đêm.

    Bỏ mẹ, Lê Lựu và tôi rì rầm để cho ông anh Nguyễn Khải ngủ: thế này thì đúng là Sài Gòn nó giải phóng chúng ta chứ cóc phải ngược lại bác Lựu nhẩy. Chết ông be bé cái mồm cho tôi nhờ. Đâu phải cái đúng cái hay cái tốt bao giờ cũng thắng thế đâu. Man di thắng văn minh là thường mà. Các bộ tộc man rợ phương Bắc châu Âu từng chiến thắng văn minh La Mã là gì? Kẻ dốt, kẻ cuồng tín, kẻ kiêu ngạo, kẻ ác thì làm gì có tự do…mà đòithôi thôi tai vách mạch rừng không nói nữa. Này, bác Lựu nghĩ mãi mà không nói được ra thì điên mẹ nó đấy. Đừng nghĩ nữa, nghĩ nhiều thì vào nhà tù mà nghĩ nghe chưa…”


Nhà văn Lê Lựu đã bán linh hồn cho ai?

Tác giả: Trần Mạnh Hảo

Nguồn: Danchimviet.org

Vừa rồi, tôi, kẻ viết bài này gọi điện thoại thăm nhà văn Lê Lựu, sau khi báo chí phỏng vấn ông, hỏi vì sao một nhà văn lớn như ông mà bị trượt giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học năm 2012 mới công bố. Ông cười với nhà báo và cả cười với tôi: “Chuyện nhỏ, ông quan tâm làm gì, ở đâu, đến ngay làm vài li với tớ”. Khi biết tôi đang ở Sài Gòn, Lê Lựu bồn chồn, rằng “thời trẻ tụi mình nghèo kiết xác, cà lơ phất phơ cả với nhau mà vui quá ông nhỉ? “

Tôi biết Lê Lựu đang buồn, không phải buồn vì bệnh tật hay không được giải thưởng to cỡ 300.000.000 đ, mà buồn vì nhân tình thế thái, buồn vì đời nay tệ quá, tàn quá, xuống cấp quá, tha hóa quá, phi nhân quá. Hãy xem ông trả lời tờ báo An Ninh Thế giới số 1093 ra ngày 10-9-2011 của ông trung tướng công an Hữu Ước theo blog Nguyễn Thông:

“Đọc mấy nhời của bác Lựu, giật mình, nghĩ sao mà tướng Hữu Ước dám cho đăng nhỉ, hay là bữa ấy đi công tác vắng, cấp dưới nó không báo cáo, xin phép. Mà cũng có lý, bởi giờ đây mình sợt tìm trên bản điện tử báo An ninh thế giới thì không có chữ nào, kết quả báo rằng không tìm thấy.

Sau đây là lời của bác Lựu:

Trong lúc trà dư tửu hậu với bạn bè, tôi và những người bạn tâm giao nói về những vấn đề của xã hội, nghĩ về nhân tình thế thái. Tôi không hiểu sao bây giờ con người không tốt với nhau. Trong chiến tranh hy sinh nhiều, cuộc sống khổ cực, nhưng lòng mình thanh thản, lòng dân vô tư lắm. Đi chiến trường hy sinh mà lòng thanh thản, nhẹ nhàng. Bây giờ thời bình không còn tiếng bom đạn nhưng tâm con người cứ lộn nhào hết cả. Không biết thế nào là phải, thế nào là trái. Không biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Không biết thế nào là lim (giới hạn-NV). Mỗi con người phải có một cái lim nhất định thì mới thành xã hội. Con người có nhiều tính cách thì cuộc sống mới phong phú và đa dạng. Nhưng mà phải có lim và có luật lệ.Trong chiến tranh, tâm tính con người ta hiền lành, không mưu mô xảo quyệt. Chứ thời nay, trong cơ chế thị trường này, luật lệ cũng lung tung. Xử lý công việc cũng lung tung. Sống nặng về vật chất, thực dụng, chụp giật. Bây giờ sáng ra đọc báo toàn những chuyện giật mình. Con kiện cha chỉ vì mười mét vuông chỗ ở. Một đứa trẻ chưa đến tuổi thành niên giết mấy mạng người không ghê tay. Một đứa trẻ khác chỉ vì thiếu tiền chơi game ra tay sát hại cả em mình, bà mình. Người ta thiếu tiền nên giết người chỉ vì vài trăm nghìn đồng. Trong làm ăn thì lừa đảo nhau nhiều lắm. Cứ lợi dụng nhau sơ hở vài chữ trong văn bản, thậm chí từ một cái dấu phẩy trong bản hợp đồng để lừa nhau hàng tỉ. Trong doanh nhân cũng nhiều người tốt, nhưng rồi cũng có rất nhiều người nhăm nhăm để lừa nhau.
Chính thời nay là thời loạn, chứ không phải chiến tranh là thời loạn” ( hết trích).

Có lẽ, một trong những nguyên nhân khiến ông không được giải thưởng lớn vì tính nói thẳng nói thật của Lê Lựu chăng? Thẳng thắn và trung thực như hai tác phẩm (tiểu thuyết) lớn nhất của đời ông: “Thời xa vắng” (1986) và “Chuyện làng Cuội” (1991)

Nhớ tết năm 1976, cái tết đầu sau ngày thống nhất đất nước, tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, rét quá, cứ dúm dúm dó dó dưới gốc táo sân sau tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Chợt Lê Lựu kéo tôi vào phòng, đưa bộ complê màu xám còn khá mới bảo: Hảo lấy mặc vào ngay cho ấm, mặc đến khi nào vào Sài Gòn đưa lại cho mình, mình trả lại nhà nước… Mình và Nguyễn Khoa Điềm vừa được đi Bungari về, phải mượn áo quần dày dép của nhà nước…Mình đã báo cơm ở bếp ăn tập thể báo “Quân đội nhân dân” cho Hảo, cứ nhớ bữa trưa và chiều về ăn nhá”.

Tôi quen Lê Lựu trong lúc xẻ cơm nhường áo này cách đây 36 năm. Vài năm sau, khi nhà văn Nguyễn Khải và nhà văn Lê Lựu vào Sài Gòn, tôi đã rủ hai bác này đến nhà tôi ở suốt gần ba tháng. Thực ra, tôi đã biết mặt, nhớ mặt nhà báo Lê Lựu, phóng viên báo “Quân khu Ba” mấy năm trước, khi ông đến sư đoàn 320 B, nơi tôi huấn luyện để phỏng vấn vì sao, có phải vì mới được học nghị quyết mà đồng chí đã đạt thành tích chạy nhanh nhất sư đoàn trong một cuộc thi chạy hay không ? Tôi thành thật trả lời nhà báo trẻ Lê Lựu:”Thưa bác nhà báo, không phải nghị quyết làm em chạy nhanh đâu ạ”.” Thế không phải do nghị quyết thì còn bởi gì?”. “ Dạ, bởi bố em”. “Bố đồng chí dạy đồng chí chạy à?”. “Không, thưa bác nhà báo, bố em không dạy em chạy, mà ông chuyên cầm roi đuổi đánh em ngay từ khi em mới biết đi ạ”.” À ra thế, bố cầm roi đuổi đánh, cứ thế mà chạy như biến, chạy bán sống bán chết, chạy vắt giò lên cổ nên thành ra chạy nhanh ngang gió phải không?” Dạ thưa bác nhà báo, quá đúng ạ”…

Sau cái buổi cho mượn bộ Complê quốc doanh và báo cơm cho ăn tới bến của Lê Lựu bữa xa xưa ấy, tôi có nhắc lại kỷ niệm được anh nhà báo trẻ báo “Quân khu Ba” phỏng vấn vì thành tích thi chạy nhanh nhất sư đoàn của tôi, Lê Lựu cả cười nhớ ra bộ dạng thật thà của anh lính trẻ Trần Mạnh Hảo. Lê Lựu bảo: “Tớ về viết bài báo rất hấp dẫn về cuộc phỏng vấn các nhân vật lính mới sau khóa huấn luyện đi B của sư B20B ở các khâu kỹ thuật: bắn súng giỏi nhất, chạy nhanh nhất, đâm lê tài nhất, ném lựu đạn tài nhất… đưa duyệt đăng, đến đoạn ông trả lời do bố đuổi đánh chạy quanh làng mãi nên thành chạy nhanh nhất sư đoàn, tổng biên tập báo của tớ cười sằng sặc, đoạn bảo:” Lựu viết thế này mà in lên thì bỏ mẹ báo ta mất, do bố đuổi đánh mãi thành ra chạy nhanh, láo, dù chuyện thật đúng trăm phần trăm như vậy cũng phải viết cho nó chính trị chứ! Tôi chữa như sau: cậu lính mới tên Hảo này trả lời rằng đúng là em mới được học nghị quyết nên đầu óc thông sáng, khi tư tưởng đã thông thoáng thì tạo ra sức mạnh vật chất nghe chưa, nên cậu ta chạy nhanh vì vừa học nghị quyết đảng mới đúng chính trị. Lựu nên nhớ trong chế độ tốt đẹp gấp triệu lần tư bản của chúng ta, báo chí văn nghệ cho đến con người tuốt tuột đều là chính trị hết, nghe chưa? Mao chủ tịch từng dạy: Chính trị là thống soái là gì? Chế độ tốt đẹp của ta làm chó gì có cảnh bố đuổi đánh con chạy khắp làng, viết thế là nói xấu đảng ta, nói xấu chế độ tốt đẹp ta. Chỉ có trong chế độ Mỹ-ngụy thì các ông bố mới thi nhau cầm roi đuổi đánh con cái chạy khắp làng khắp phố nghe chưa?”

Lê Lựu chiêu một ngụm trà, châm nước cho tôi, đoạn nói tiếp: “Khi báo đăng, tớ xuống tìm ông để tặng tờ báo in chuyện ông chạy nhanh nhất sư đoàn vì vừa học nghị quyết chứ không phải do bị bố cầm roi đuổi đánh suốt tuổi thơ mà thành ra có thành tích chạy ngang gió thì ông đã đi B…”. Tôi góp chuyện: “ bác Lựu này, tôi nghĩ nếu không có hổ báo đuổi bắt ăn thịt, thì bọn huơu nai đã thành các chú rùa, chứ đâu có thể chạy nhanh đến như thế ?”

Ơ hay, thời gian và cuộc đời hình như cũng là thứ hổ báo đuổi bắt chúng ta chạy như biến về tuổi U 70 như tôi, U 80 như bác Lựu ( Lê Lựu vừa nói với tôi qua điện thoại, năm 2012 này ông đã 75 tuổi chứ không phải 71 như tuổi trong giấy tờ vẫn ghi) ? Và chúng ta quá sợ hãi chạy nhanh như gió, như biến, chạy nhanh trên cả cấp sư đoàn, chạy như ma đuổi phải không bác Lựu ? Con ma cuộc đời, con ma thời gian, con ma thời thế đuổi theo chúng ta để bắt linh hồn, như con qủy Mephixto đuổi theo nhân vật Faust của đại thi hào Đức Wolfgang Goethe để gạ vị bác sĩ này bán linh hồn cho hắn đổi lấy sang giàu?

Faust đã bán linh hồn cho qủy để đổi lấy vinh quang, còn Lê Lựu đã bán linh hồn cho ai, và sau khi bán linh hồn thì ông sống bằng gì hồi sau sẽ rõ. Nhưng này bác Lựu, mới đó, ngót 40 năm trước, những người viết trẻ chúng ta cứ đông vui và ồn ã như vịt, được ông chủ chăn vịt có tên thời gian, có tên cuộc đời cầm chiếc sào dài buộc mớ tàu chuối khô như giẻ rách và lùa chúng ta vào thời đại anh hùng chỉ toàn niềm vui, không có chỗ cho nỗi buồn cư trú, lùa chúng ta vào văn chương, thi phú, vào quan trường và vào những nhà thương điên! Có những anh bạn văn nghệ cùng thời với chúng ta quả thực không tim, vẫn tìm cách bán một thứ linh hồn dỏm cho quyền lực để đổi lấy vinh quang, đổi lấy chức tước cùng các giải thưởng danh giá. Còn Lê Lựu, ông chỉ có một trái tim, một linh hồn đau đáu với văn chương, điên dại với chữ nghĩa, lăn lóc với giấy trắng, quằn quại với bút mực, hỏi rằng ông đã bán hay chưa?

Lê Lựu có dáng vóc của người dân quê chân chất, hiền lành, không thể nói là xấu trai, là quê một cục, là bần cố nông như nhiều bài báo phóng đại về ông đã vẽ một thứ chân dung rất hoạt kê về ông rất không đúng để câu khách. Ngay Trần Đăng Khoa, một chú em tiền bối của chúng tôi còn phịa ra chi tiết Lê Lựu sang Mỹ cởi giày ra lấy tất (vớ) ngửi ngửi như ngửa hoa ngửa quả thì thật là quá đáng. Lê Lựu không giận, mặc kệ các người, muốn vẽ chân dung ông là hủi cũng được, ông cứ đóng vai anh dân quê lên thành phố cho an toàn. Riết rồi ông cứ nhận mình rằng tớ dân nhà quê ấy mà, học hành chết gì đâu, đọc điếc cũng lười nhác, viết lách theo phong trào cho vui ấy mà…

Không, Lê Lựu không quê mùa chút nào. Ông đóng vai dân nhà quê để qua mặt thiên hạ, để dễ tiếp cận cuộc đời, trông thật thà như đếm thế này vào dân dân thích lắm, đến nhà quan quyền, quan quyền không thèm cảnh giác, rằng thằng này phi chính trị, không nguy hiểm, kệ bà nó phét lác cho vui. Lê Lựu, giống như nhân vật của ông là Giang Minh Sài cứ ấm ấm ớ ớ thế, giả bộ khật khưỡng, thủ vai ngô nghê mười rằm cũng ư mười tư cũng gật cho qua chuyện, vạ vật đâu cũng được, dế rách chổi cùn cũng chơi mà mâm son đũa ngà cũng tới…

Ngược lại với vẻ bề ngoài Lê Lựu có khi như tá điền, có khi lại như địa chủ kia lại là một anh trí thức có hạng đấy. Lê Lựu giấu biến sự học, sự đọc rất kinh của mình như mèo giấu vàng giấu ngọc, chẳng bao giờ thích làm thùng rỗng kêu to như bao ông đồng nghiệp giả dạng vào vai trí thức. Một trí thức thật không cốt ở bằng cấp, không lụy dáng vẻ, không hề biết khoe khoang như những anh trí thức hạng bét chuyên mang mặc cảm trí thức trong người. Tôi xin cá với bàn dân thiên hạ, sức đọc của Lê Lựu còn có thể gấp mấy lần chú em đồng hương của ông là thần đồng quá lứa Trần Đăng Khoa.

Hồi đầu vào Sài Gòn cùng Nguyễn Khải ở nhà tôi gần ba tháng, Lê Lựu chỉ làm hai việc rất chân chính là tìm bồ và tìm mua sách. Gặp kho sách dịch Sài Gòn, Lê Lựu sướng ngất ngây, hệt chuột sa chĩnh gạo. Ông đọc triết tây triết đông qua các bản dịch của các linh mục dạy triết và các nhà Hán Nôm có hạng Sài Gòn. Ông đọc các tiểu thuyết phương Tây mê man, hầu như có khi thức xuyên đêm. Bỏ mẹ, Lê Lựu và tôi rì rầm để cho ông anh Nguyễn Khải ngủ : thế này thì đúng là Sài Gòn nó giải phóng chúng ta chứ cóc phải ngược lại bác Lựu nhẩy. Chết ông be bé cái mồm cho tôi nhờ. Đâu phải cái đúng cái hay cái tốt bao giờ cũng thắng thế đâu. Man di thắng văn minh là thường mà. Các bộ tộc man rợ phương Bắc châu Âu từng chiến thắng văn minh La Mã là gì? Kẻ dốt, kẻ cuồng tín, kẻ kiêu ngạo, kẻ ác thì làm gì có tự do…mà đòi…thôi thôi tai vách mạch rừng không nói nữa. Này, bác Lựu nghĩ mãi mà không nói được ra thì điên mẹ nó đấy. Đừng nghĩ nữa, nghĩ nhiều thì vào nhà tù mà nghĩ nghe chưa…Ba tháng trời Sài Gòn ở nhà tôi với Lê Lựu đêm nào cũng quá ngắn, chưa đọc hết sách đã sáng banh cả mắt, rì rầm như hai con khỉ đi ăn trộm ấy. Đọc đến đoạn nào thích chí, Lê Lựu tàn nhẫn bấm tôi dậy để rì rầm đọc ri rỉ như dế cho nghe, đến độ làm bác Nguyễn Khải thức theo bảo: chúng mày tí tửng như gái ngồi phải cọc, mấy cuốn đó tao đọc rồi, hồi trước năm 1945, mà đọc bản Pháp văn. Tội nghiệp các em, có học mà như mù chữ. Thì cũng tại thế hệ chống Pháp các bố dạy chúng tôi chứ ai. Cứ để Tây đấy, đánh nó làm chó gì, để nó dạy chúng tôi như nó đã dạy các bố, thì hôm nay sao chúng tôi lại thành những kẻ có học mù chữ được ? Cứ cái màn nghĩ trộm, nói trộm, đọc trộm thế này có khi nguy…May mà gần ba tháng, hai bác nhà văn về Hà Nội, chứ cứ đêm nào cũng rầm rầm rì rì như dế trốn chui trốn nhủi thế này có khi ốm chết quách rồi, còn đâu nữa mà ngồi kể chuyện cũ. Sau này, chết rồi Nguyễn Khải mới dám tung tiểu luận “ Nghĩ Muộn” ra, coi như một lời sám hối muộn màng; còn hơn các anh ngậm miệng ăn giải thưởng đang cười nói sờ sờ ra mà quả thực, tâm hồn, nhân cách đã chết từ thời tám hoánh.

Lê Lựu không hề quê mùa chút nào.Ông rất tỉnh thành là đằng khác. Minh chứng là một mình ông đã xây dựng nên một công ty làm ăn rất phát đạt: “Trung tâm văn hóa doanh nhân” từ năm 2002 đến nay. Bây giờ, chân Lê Lựu đi đứng đã không còn vững, có khi phải nhờ người dìu dắt, vậy mà trung tâm này của ông vẫn làm ăn tốt, hỏi một người quê mùa, thậm chí ngô nghê như nhiều bài báo đã viết, liệu có đủ tầm vóc, trí thức, uy tín, trình độ làm giám đốc công ty “văn hóa doanh nhân” này hay không ?

Trời cho Lê Lựu một trí thông minh hiếm có. Ông có thể đọc thuộc một chương tiểu thuyết của mình ngay trước mặt anh. Này, chú mày cầm cuốn “Thời xa vắng” lên, lật bất cứ trang nào, bảo tớ đọc thuộc lòng cho mà dò, không sai một dấu chấm phảy. Ông nhớ vanh vách các danh tác quốc tế và trong nước đã đọc, kể cả những cuốn dày như tủ lạnh của L. Tolstoy và F. Dostoyevski…

Lê Lựu hình như có máu trạng trong khoa ăn nói. Ông huyên thuyên chuyện con cà con kê, tán dóc lênh láng cả những hội trường hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người dự thính mà thiên hạ vẫn há hốc mồm ra nghe như nghe cha cố giảng đạo. Hồi hưởng vinh quang sau tiểu thuyết lớn “Thời xa vắng”, Lê Lựu là nhà văn Việt Nam đầu tiên được trung tâm William Joiner của ông Kevin Bowen mời sang thăm nước Mỹ. Sau ( hình như sáu tháng) chu du bên Mỹ, về nước Lê Lựu được hàng trăm cơ quan mời nói chuyện xem nước Mỹ nó đầu ngô mình sở ra sao, nó kinh khủng mức nào, nó giàu sang hợm hĩnh ra sao, nó giãy chết rung chuyển thế giới thế nào ? Người ta đi nghe lũ lượt, khen nước Mỹ thì ít mà khen Lê Lựu nói hay thì nhiều. Khiếp, làm như nước Mỹ nó không nằm trên bản đồ thế giới mà nó nằm trong bụng Lê Lựu vậy. Khiếp, làm như không phải Kha Luân bố đã phát hiện ra châu Mỹ, nước Mỹ mà chính là anh nhà văn quê ở huyện ta, huyện Khoái Châu ta ( oai oái như phủ Khoái xin cơm) đã phát hiện ra châu Mỹ và nước Mỹ vậy. Lê Lựu nói chuyện về Mỹ hay tới mức mà người ta đã kinh doanh ông, thu âm bài nói dài hàng hai ba tiếng đồng hồ của ông về nước Mỹ để bán đắt như tôm tươi. Người viết bài này đã nghe băng thu âm buổi nói chuyện về Mỹ của Lê Lựu và rất tiếc cho các vị làm công tác tổ chức đã bỏ lỡ một cơ hội bằng kim cương là không mời nhà thuyết khách Lê Lựu làm bộ trưởng bộ ngoại giao.

Lê Lựu ca ngợi Mỹ tới mây xanh mà vẫn rất chính trị, mà vẫn không mất lòng đảng ta. Ông cũng nói xấu Mỹ tới tận cùng địa ngục mà Mỹ vẫn qúy hóa ông như giời, thế mới lạ. Ông chửi Mỹ rằng nước nó thế nào cũng loạn vì không có ban tổ chức trung ương, vì nó đa đảng nên bất cứ thằng dân nào cũng có thể lên báo chửi tổng thống, không còn quân tị quân nhậm gì, cá mè một lứa, dân cũng như quan, quan cũng như dân, ấm a ấm ớ, chẳng còn tôn ti trật tự gì cả. Ông chê nước Mỹ nó sạch như lau đến ruồi muỗi cũng nghỉ chơi mà bỏ đi. Sạch quá mức là mất vệ sinh nhất; vì trẻ em bị vô trùng từ lúc sinh ra nên nó dễ bị vi trùng tấn công. Nước với chả non, đi bất cứ chỗ nào cũng có rét -rum ( restroom), phí đất vô lối, sao không để đất mà xây trường học bệnh viện như ta, lại coi trọng nơi xin lỗi đi ỉa đến nhường ấy, đúng là Mỹ mới có ( vỗ tay)….Nước Liên Xô thiên đàng xã hội chủ nghĩa anh em ta, sang đó tôi tưởng là Mỹ mà sang Mỹ tôi tưởng đấy là Liên Xô. Ở Liên Xô người ta dùng đất để xây trường đảng, để xây trường học, để xây quảng trường cho quần chúng đến sung sướng vỗ tay, chứ có nhiều chỗ đi toilet phí phạm như bên Mỹ đâu. Lại vỗ tay… Người viết bài này đã mấy lần tí chết khi đi giữa đường phố Matxcova, mắc…quá tưởng đứt thở mà đi mãi không tìm ra nơi trút bầu tâm sự…Người viết bài này cũng từng đến một số thành phố Mỹ. Đúng như Lê Lựu nói, đi mấy bước lại thấy restroom, không mắc… cũng vào ngó qua xem nó sạch cỡ nào…mất hết cả thì giờ vàng ngọc.

Khoa nói của Lê Lựu còn phát huy tới tận mũi Cà Mau, tận địa đầu Móng Cái khi ông kết hợp với ông trạng thần đồng thần sắt Trần Đăng Khoa đăng đàn khắp nơi. Hai ông này đã biến nghề nói chuyện văn chương thành khả năng hốt bạc vô tiền khoáng hậu.

Một người quá thông minh, quá sắc sảo, đầy tài năng văn chương, nói năng như có bùa ngải như Lê Lựu tưởng giời đã cho hết mọi thứ. Hình như xưa nay, các nhà văn có tác phẩm để đời, mấy ai có số phận trơn tru, có gia cảnh ngon lành viên mãn trừ Goethe và Tagore ?

Gần đây, giới truyền thông trong nước đua nhau phỏng vấn Lê Lựu, cốt khai thác bi kịch cá nhân của đời tư nhà văn để câu khách mà ít chú ý đến khía cạnh quan trọng nhất của ông là văn học, lại quảng cáo rùm beng cho “Trung tâm văn hóa doanh nhân” của ông quá mức. Lê Lựu dù làm kinh tế doanh nhân, đã rất thị thành, dẻo miệng ( “Khi lưỡi ta không còn đắng chất thị thành”- Chế Lan Viên) nhưng tính vốn thật thà, báo nào hỏi ông chuyện bi kịch đời tư là ông kể tuốt tuồn tuột. Làm như cứ kể hết xót xa trong người sẽ hết xót xa, kể hết nỗi cô đơn kiếp người của mình ra sẽ hết cô đơn vậy?

Năm 1986, nhờ cú “cởi trói cho văn nghệ sĩ trí thức” của ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Lê Lựu mới in được tiểu thuyết để đời của ông là “ Thời xa vắng”. Ông đã viết tác phẩm lớn này trước “mùa cởi trói” hai năm nhưng không in được. Tôi đã đọc một mạch suốt đêm tác phẩm lừng danh này của Lê Lựu trong sự hào sảng hiếm có. Tôi gọi điện thoại động viên ông, ông bảo: “đánh đổi cả cuộc đời để lấy một cục gạch bằng giấy đó ông ơi”.

Giang Minh Sài nhân vật chính của “Thời xa vắng” vừa là hình ảnh của tác giả vừa là nhân vật hư cấu. Nó có tầm cỡ biễu đạt đa chiều, nhiều tầng nhiều vỉa, thực đấy mà hư đấy, bi đấy mà hài đấy, thông minh một cách ngớ ngẩn đấy và đạo đức tào lao chi khươn đấy. Giang Minh Sài “một nhân vật thời đại”, có một chút phẩm tiết của Chú AQ Lỗ Tấn một tí, Chí Phèo Nam Cao một tí, Xuân Tóc Đỏ Vũ Trọng Phụng một tí, Don Quixote Servantes một tí…nhưng lại rất Lê Lựu.

Giang Minh Sài bị sống chứ không phải được sống, bị yêu chứ không phải được yêu, bị sướng chứ không phải được sướng, bị khổ bị cô đơn chứ không phải được khổ được cô đơn. Giang Minh Sài như không phải là một cá nhân mà là một tập thể thu nhỏ thành một cá nhân trá hình. Anh ta bị tập thể hóa cả giấc mơ, bị chi đoàn, chi bộ, đơn vị, công đoàn, cơ quan… chi phối cả mọi bản năng sống; làm như sự tiêu hóa của dạ dày Giang Minh Sài cũng là do tập thể tiêu hóa, bộ phận bài tiết của anh cũng là của tập thể bài tiết, trái tim co bóp của anh cũng là trái tim tập thể co bóp, “con chim” của anh dùng để lấy vợ sinh con cũng là “con chim” của tập thể. Với “con chim” tập thể này anh đã hai lần lấy vợ nhưng đều thất bại thảm hại.

Người vợ đầu của Giang Minh Sài là cô Tuyết nhà quê với cuộc tảo hôn khốn khổ: lấy vợ vì gia đình dòng họ, cũng là lấy vợ cho tập thể chứ có được lấy vợ cho riêng mình đâu ? Người vợ thứ hai của anh Sài là cô Châu thị thành điệu nghệ…lấy cốt để khoe mẽ với thiên hạ rằng gái thị thành cỡ nào Sài ta cũng tán được, cốt để xóa mặc cảm nhà quê vốn dĩ. Nhưng sống với nhau rồi, Châu mới phát hiện ra anh chàng Sài không phải là một cá nhân thuần túy. Linh hồn chồng mình đã bị tập thể hóa, trái tim anh là một khu tập thể thu nhỏ. Anh không phải là một căn phòng riêng tư, mà là một hội trường hội họp, một ví dụ về con người hơn là con người, một ví dụ về “con chim” hơn là một “con chim” biết cách chiều chuộng đàn bà. Thế là để trả thù cái tập thể giả dạng cá nhân có tên là Giang Minh Sài, Châu tìm mọi cách hành hạ Sài cho bõ ghét.

Trong một xã hội bị tập thể hóa đến cả ruồi muỗi cũng phải vào hợp tác xã, ai cho Giang Minh Sài làm một “con người chung chung”, làm một cá nhân thuần túy? Khát vọng được làm con người lương thiện của anh Chí Phèo xưa hầu như vẫn còn là khát vọng của anh nhà quê lên tỉnh Giang Minh Sài trong thời đại thiên đường xã hội chủ nghĩa?

Khát vọng tự do, khát vọng được làm một con người đúng nghĩa của nó, được làm chính mình chứ không phải kẻ khác trá hình mang tên mình là thông điệp Lê Lựu gửi chúng ta thông qua nhân vật Giang Minh Sài. Chừng như Lê Lựu đã bán linh hồn cho Giang Minh Sài để đổi lấy nỗi buồn mênh mông trần thế? “Thời xa vắng” làm Giang Minh Sài bất tử đã cướp hết hồn vía tác giả, khiến Lê Lựu thành bơ vơ chăng?

Sau khi “Thời xa vắng” xuất hiện trên văn đàn như một hiện tượng văn học, kẻ viết bài này đã hỏi chuyện hai đàn anh là nhà văn Nguyễn Khải và nhà văn Nguyễn Minh Châu. Cả hai ông anh này đều là người thực tài nên có sự liên tài, nghĩa là không bao giờ đố kị tài năng của người khác, nhất là những tài năng của thế hệ sau mình. Hai ông đều khen ngợi “Thời xa vắng” của Lê Lựu hết lời, khẳng định tác phẩm này chính là cột mốc cho cuộc đổi mới văn chương Việt Nam. Anh Khải bảo tôi: “Hảo này, cái thằng Lựu nó cứ tẩm ngẩm tầm ngầm mà kinh. Nó giấu anh, không hề khoe cuốn này, đến khi in xong mới đem tặng. Các tiểu thuyết của anh là tiểu thuyết thời vụ, qua thời này là vất vào sọt rác. “Thời xa vắng” của Lựu là tác phẩm để đời. Lựu đã vượt lên thứ văn chương minh họa của Khải và Châu, cả Ngọc nữa…Nó là nhà văn số một của thế hệ các ông em tức lứa chống Mỹ của Hảo đấy…”

Lê Lựu đã bán linh hồn cho các tiểu thuyết lớn của đời ông: “Thời xa vắng”, “Chuyện làng cuội”, “ Sóng ở đáy sông”…để chúng sống mãi với nền văn học dân tộc như các tiểu thuyết gia hàng đầu tiền bối: Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng…hằng sống.

Lê Lựu bán linh hồn cho Giang Minh Sài không phải để lấy tiền, mà để lấy nỗi cô đơn kiếp người đeo đẳng ông như số phận. Ông từng bị ma nhập một đời để lên đồng với chữ nghĩa, hạnh phúc với bút mực, ăn nằm với giấy trắng. Lúc tuổi xế chiều ông vẫn phải sống một mình một bóng để tu trọn kiếp trong ngôi chùa có tên là văn chương.,.

Sài Gòn ngày 18-04-2012

Trần Mạnh Hảo

Posted in Nhan Vat, Van Hoc | Leave a Comment »

Tiền Bạc, giết người, bắt cóc và sự tranh giành quyền lực chính trị của các đảng viên cao cấp ở Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 18/04/2012

Lời tựa: Dưới sự nắm quyền của đảng cộng sản ở cả hai nước trong hơn 60 năm qua, ở Trung Quốc xảy ra các biến cố tranh giành quyền lực và tiền bạc giữa các đảng viên  như  thế nào, thì ở Việt Nam cũng y như thế. Lịch sử là một sự lập lại của các biến cố. Đảng CSVN là một phiên bản thu nhỏ của đảng CSTQ.

  1. To match Exclusive CHINA-BO/WANG-LIJUN-RIFT

Bí thư đảng ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai (Bo Xilai) và Phó chủ tịch UBND thành phố Trùng Khánh Vương Lập Quân (Wang Lijun) trong buổi lễ chào cờ vào ngày 7-1-2012 ở Trùng Khánh (Chongqing), cả hai đang hát quốc ca Trung Quốc trong một Hội nghị đảng bộ của UBND thành phố Trùng Khánh.

Lúc đầu, ông Bạc Hy Lai đồng ý cho cảnh sát điều tra về vai trò của vợ  ông ta trong vụ giết chết một thương gia người Anh Neil Heywood vào tháng 11-2011, rồi ông ta đột nhiên thay đổi thái độ và cách chức viên Giám đốc sở công an Trùng Khánh Vương Lập Quân, gây nên những biến động mạnh mẻ, dẫn tới sự  đột ngột mất hết chức vụ của cả hai.

  1. Bạc Hy đang Lai sửa lại gọng kính trong buổi họp khai mạc Hội Nghị Đảng ủy của UBND thành phố Trùng Khánh Trùng Khánh vào ngày 3-3-2012
  1. CAPTION CORRECTION

Khách sạn Sheraton ở Chongqing, một trong hai khách sạn mà ông Neil Heywood đã ở trong tuần lễ cuối cùng trước khi bị giết chết vào tháng 11-2011.

Neil Heywood, thương gia người Anh đã bị đầu độc chết sau khi ông đã hăm dọa sẽ tiết lộ kế hoạch chuyển tiền ra ngoại quốc của bà Gu Kailai, vợ của ông Bạc Hy Lai, Bí thư  Thành ủy tỉnh Trùng Khánh.

  1. File photo of China's former Chongqing Municipality Communist Party Secretary Bo and his wife posing for group photos at a mourning in Beijing

Bà Gu Kailai và ông Bạc Hy Lai chụp chung hình trong buổi lễ tưởng niệm (đám tang) cha của bà, ông Bo Yibo, cựu phó Bí thư  Ủy Ban Trung Ương Đảng CSTQ.  Hình chụp ở Bắc Kinh, 17-1- 2007

Bạc Hy Lai, Bí thư  Thành ủy Trùng Khánh, cùng vợ là Gu Kailai, trong đám tang cha của bà ở Bắc Kinh 17-1-2007. Cha của bà Gu Kailai là ông Bo Yibo, Phó Bí Thư  Ủy Ban Trung Ương Đảng CSTQ. 

  1. File photo of Gu, wife of China's former Chongqing Municipality Communist Party Secretary Bo Xilai, posing for a group photo in Beijing

Bà Gu Kailai, vợ của ông Bạc Hy Lai, Bí thư Thành Ủy Trung Khánh. Bà đang bị cảnh sát TQ điều tra vì bị tình nghi là đã  đầu độc thương gia  Neil Heywood, một thương gia người Anh vào tháng 11-2011. Ông Neil heywood đã bị đầu độc chết trong khách sạn ở Trùng Khánh vì đã dọa sẽ tiết lộ việc chuyển tiền ra nước ngoài của bà Gu Kailai.

  1. Until very recently, Bo Xilai had been touted to access the highest China's echelons of power later this year

Mời các bạn >>đọc thêm ở đây

 

——————————————————————————————-

 

Đảng CS Trung Quốc rung chuyển từ Trùng Khánh

Đảng cộng sảnTrung Quốc đang trải qua rung chuyển dữ dội từ cuộc khủng hỏang Trùng Khánh. Nội bộ đảng đang bị xáo trộn do một nhân vật đang lên bỗng nhiên bị ngã ngựa. Đó là ông Bạc Hy Lai, bí thư Thành ủy Trùng Khánh, ủy viên bộ chính trị đầy thế lực gồm 25 người, vừa bị khai trừ khỏi Ban chấp hành trung ương, khai trừ khỏi Bộ chính trị, sau khi mất chức Bí thư thành ủy Trùng Khánh vào tháng trước.

Coi như cuộc đời chính trị của ông đã chấm dứt. Tổn thất về chính trị và về uy tín của ông còn nặng hơn, bà Cốc Khai Lai vợ ông bị tạm giam vì dính líu đến vụ ám sát một nhà kinh doanh Anh quốc mang tên Neil Heywood, bị giết trong một khách sạn ở Trùng Khánh tháng 11-2011, ngay sau đó xác bị hỏa thiêu để phi tang. Có tin từ nội bộ đảng CS Trung Quốc là con trai ông Bạc Qua Qua từng du học ở Anh quốc, hiện du học ở đại học Harvard – Hoa Kỳ cũng liên quan đến vụ án này; thậm chí bản thân ông cũng bị nghi vấn có dính đến nữa.

Báo Pháp gọi sự kiện này đối với đảng CS Trung Quốc là một cuộc động đất, ngay khi đảng đang khẩn trương chuẩn bị Đại hội đảng lần thứ XVIII vào tháng 10 cuối năm nay.

Các Đại hội các đảng Cộng sản thường có 2 phần quan trọng, một là những thay đổi nhân sự, ai xuống, ai lên, nhất là thay đổi trong bộ chính trị gồm 25 người, đặc biệt nữa là thay đổi trong Thường vụ Bộ chính trị gồm 9 người; hai là về đường lối chính trị có thay đổi hay có sự điều chỉnh nào không.

Về nhân sự, đã gần như chắc chắn ông Tập Cận Bình sẽ thay ông Hồ Cẩm Đào trên cương bị Tổng bí thư đảng CS, Chủ tịch nước kiêm Bí thư đảng ủy quân sự trung ương, chắc chắn ông Lý Khắc Cường thay ông Ôn Gia Bảo làm Thủ tướng. Cũng hầu như chắc chắn 3 ông Du Chính Thanh – Bí thư thành ủy Thượng Hải, Trương Đức Giang – phó thủ tướng và Lưu Vân Sơn – Trưởng ban Tuyên truyền trung ương – hiện đã là ủy viên bộ chính trị, sẽ được đưa vào Ban thường vụ. Chỉ còn 4 người mới sẽ vào Ban thường vụ, họ là những ai?

Những ứng viên vào chức vụ đó trước đây là Vương Kỳ Sơn – phó thủ tướng, Lý Nguyên Triều – trưởng ban Tổ chức trung ương, Bạc Hy Lai – bí thư thành ủy Trùng Khánh và Uông Dương – bí thư tỉnh ủy Quảng Đông. Nay Bạc Hy Lai đã ngã ngựa, ai sẽ được chọn thay vào đó.

Trong bộ chính trị đảng CS Trung Quốc có người cho rằng có người theo khuynh hướng tả và có người theo khuynh hướng hữu. Hiện có nhận định cho rằng Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường thuộc phái trung, ở giữa, còn Bạc Hy Lai cầm đầu phái tả và Uông Dương cầm đầu phái hữu.

Bạc Hy Lai là con trai của Bạc Nhất Ba, một nhân vật cựu trào thuộc loại sáng lập đảng CS, một trong 8 ngôi sáo sáng nhất của đảng – Bát Tú – thời lập quốc. Bạc Nhất Ba vừa nổi tiếng về quản lý kinh tế, vừa có vai trò lãnh đạo quân sự đặc sắc, bên cạnh các nguyên soái Chu Đức và Diệp Kiếm Anh, có uy tín trong cả vùng lớnTây Nam như Vân Nam, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Tây Tạng.

Bạc Hy Lai được coi là tiêu biểu cho phái «thái tử đảng», con ông cháu cha, cách mạng vô sản nòi, kế thừa xứng đáng thế hệ lập quốc. Bạc nổi tiếng về chủ trương kế thừa mặt ưu của Mao, cả của Cách mạng văn hóa, hát nhạc đỏ, cờ đỏ, kích động hồng binh mới. Để tạo thanh thế Bạc tạo nên «cao trào đỏ» diệt xã hội đen, dùng công an, quân đội, đoàn thanh niên CS truy lùng bọn anh chị cướp đường, buôn lậu, cờ bạc, gái điếm, lập nên nhiều tòa án binh, tòa án nhân dân, tạo nên bề nổi xã hội thái bình, yên vui, trong sạch nhằm làm một mô hình gương mẫu cho toàn quốc.

Đối lập với mô hình của Bạc là mô hình của Uông Dương được thực hiện ở Quảng Đông theo kiểu mở rộng dân chủ, thượng tôn luật pháp, công bằng xã hội, tiêu biểu nhất là sự kiện xã Ô Khảm tỉnh Quảng Đông.

Tháng 9-2011 ở đây nổ ra một cuộc đấu tranh quyết liệt chống bọn cường hào mới, khi một nông dân mất đất chết trong khi bị giam giữ. Chính quyền xã, quận, thành phố Lộc Phong đều đứng về phía bọn cường hào mới, đàn áp cuộc đấu tranh, làm nổ ra sự giận dữ của quần chúng. Bí thư tỉnh ủy Quảng Châu là Uông Dương đến tận nơi giải quyết vụ án chính trị này. Sau 2 tháng vụ án được giải quyết trong sự cởi mở của chính quyền và sự hoan nghênh của quần chúng, nhóm cường hào mới bị trừng trị theo luật, nông dân bị cướp đất được trả lại tài sản.

Qua bầu cử tự do, một số nông dân lương thiện trước đây bị tù do tộỉ «chống người thi hành công vụ», «gây mất trật tự xã hội» được dân bầu ra nắm chính quyền từ xã lên quận và cả trong hội đồng nhân dân tỉnh. Ô Khảm chỉ cách Hồng Kông 120 km. Gương dân chủ ở cơ sở lan rộng khắp vùng duyên hải, nơi ảnh hưởng của Hồng Kông và Đài Loan ngày càng sâu đậm. Uông Dương rất có khả năng lên chức khi xu hướng này thắng thế.

Xu hướng dân chủ hóa cơ sở cũng được thủ tướng hiện tại Ôn Gia Bảo cổ vũ, khi ông tỏ ý cần xem xét lại vụ Thiên An Môn năm 1989, và gần đây ông chủ trương nên trả tự do cho số thành viên Pháp Luân Công đang bị giam giữ.

Sau cơn động đất ở Trung Khánh, lãnh đạo đảng CS Trung Quốc sẽ theo hướng nào? cởi mở hơn hay chặt chẽ hơn ? đây đang là câu hỏi lớn nhất hiện nay, khi Đại hội 18 đang tới gần. Mô hình Bạc Hy Lai bị lộ ra là tả khuynh giả, liên minh với xã hội đen, còn tệ, xấu hơn bọn xã hội đen.

Vụ án Trùng Khánh đang có cơ mở rộng. Với những tin tức cực kỳ giật gân, chấn động. Theo tin báo Anh, Pháp, trong thời gian 30 giờ đồng hồ ở trong Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Thành Đô – Tứ Xuyên xin lánh nạn, trùm an ninh Vương Lập Quân, một thời là cận thần số 1 của ông Bạc Hy Lai, đã khai không biết bao nhiêu là điều cơ mật. Được biết Vương còn mang theo khá nhiều văn kiện, tài liệu, ảnh, tang chứng có thể làm lung lay chế độ độc đảng ở Trung Quốc.

Có tin cho rằng bà Cốc Khai Lai đã là người yêu, người tình của nhà kinh doanh Neil Heywood, 2 người đã hú hí rồi hùn hạp với nhau trong rất nhiều chuyến làm ăn bất chính, phạm pháp, và khi bị lộ, ông Bạc Hy Lai biết chuyện, bà Cốc Lai Lai rắp tâm thủ tiêu bạn tình và bạn kinh doanh bằng cách dử cho ông này uống rượu mạnh có pha chất Potassium Cyanide.

Cũng có nghi vấn là cậu cả con ông Bạc Hy Lai và bà Cốc Lai Lai là Bạc Qua Qua khi học ở Anh và ở Hoa Kỳ cũng ở trong đường dây kinh doanh phạm pháp. Những khoản tiền cực lớn đã được mang ra nước ngoài, gửi tại Thụy Sỹ dưới tên, bí danh của Bạc Qua Qua. Và chính Bạc Hy Lai cũng biết và tham gia ít nhiều vào vụ án.

Vẫn chưa hết. Ông Neil Heywood còn cho biết vài vụ động trời nữa. Đó là về ông Zhou Yong Kang (Chu Vĩnh Khang) ủy viên thường vụ Bộ chính trị, phụ trách các vấn đề luật pháp và chính trị của đảng, cũng là một con sâu tham nhũng cỡ bự, nắm qua gia đình và cận thần của ông ta hầu như toàn bộ ngành công nghiệp dầu, là người giầu nhất trong bộ chính trị và trong số tỷ phú đô la.

Còn vợ của thủ tướng Ôn Gia Bảo là Jia Qing Lin là hoàng hậu của ngành mua bán bất động sản và ngành đá quý, kể cả kim cương. Tin cũng cho biết nhà kinh doanh tỷ phú Li Yun nổi tiếng là một bộ hạ trung thành với gia dình họ Bạc

Do lo sợ tin tức như trên loan truyền trên internet, ngành an ninh đã đóng cửa bịt chặt 42 web, hàng trăm Blog trong 2 tuần lễ vừa qua, và các tin có những chữ: Trùng Khánh, Bạc Hy Lai, Cốc Lai Lai, Neil, Li Yun…đều bị xóa sạch khi xuất hiện trên các mạng.

Một tin chấn động không kém là Quân Giải phóng Nhân dân Trung quốc đang bị chấn động chưa từng có bởi cơn đống đất ở Trùng Khánh.
Các Bloggers dân chủ trong và ngoài nước đã không quên khi loan các tin trên kêu gọi quân đội trung thành với dân, bênh vực che chở dân, đứng về phía nhân dân chống lại chế độ độc đoán đàn áp và tham nhũng.

Do đó đài và báo chính thức của Bắc Kinh không ngớt đăng lời kêu gọi của các Chính ủy quân khu, quân đoàn… hãy cảnh giác với những tin đồn trong và ngoài nước, không bị ảnh hưởng bởi những tin «không xác thực» …Đó là lời kêu gọi của chính ủy Pan Yong trong bộ tư lệnh Quân khu Tứ Xuyên, của chính ủy Li Xilou trong bộ tư lệnh Quân khu thủ đô Bắc Kinh. Đặc biệt Chủ nhiệm chính trị Yin Fang Long trong bộ tư lệnh Quân đoàn pháo binh II là đơn vị phóng tên lửa và vệ tinh đã ra lời kêu gọi dài đăng trang trọng trên Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh. Quân đội Trung Quốc càng thêm xôn xao vì tại sao tướng Zhang Hai Yang là chính ủy Quân đoàn pháo binh II này lại không ký mà để cho chủ nhiệm chính trị là cấp dưới ký thay. Trên các blog cá nhân đưa ra lời giải thích là chính ủy Zhang Hai Yang đã bị mất chức do là người thân của ông Bạc Hy Lai. Lại thêm một tin động trời.

Cuộc rung chuyển dây chuyền tử Trùng Khánh đan lan rộng, ngày càng dữ dội, đe doạ thế ổn định của Trung Quốc trong một thời gian dài trước và sau Đại hội XVIII vào mùa thu tới.

Bùi Tín (VOA)

 

 

” Gần đây, chính quyền Trung ương đã quyết định bắt đầu một cuộc điều tra về các vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của đồng chí Bạc hy Lai” tờ báo The Chongqing Daily của nhà nước  đã viết như thế trong bài xã luận đăng trên báo ngày 16-4-2012. 

Hãng tin của Pháp AFP có bài:

Tước bỏ (chức vụ) Bo Xilai là một may mắn lớn cho Trung Quốc: Theo truyền thông nhà nước TQ  đưa tin 

Bo Xilai case a ‘great fortune’ for China: state media

AFP – Mon, Apr 16, 2012

The purge of Bo Xilai is a “great fortune” for China’s Communist Party, state media said Monday, as authorities seek to avoid a fall-out over the biggest political scandal to hit the nation in years.

Bo’s sacking as head of the Chongqing megacity, his purge from the powerful Politburo and the revelation that his wife is a suspect in the alleged murder of Briton Neil Heywood have shocked the nation and exposed rifts in the party.

“Recently, the central government decided to start an investigation into serious disciplinary violations by Comrade Bo Xilai,” the state-run Chongqing Daily said in a commentary.

“This is a great fortune for the party, for the country and for Chongqing, deeply suits the party’s wishes and the people’s wishes,” it added, referring also to the probe into Heywood’s death last November in the southwestern city.

“The great cadres and people (of Chongqing) know that the… decision was wise and correct, and trust in the central government under the leadership of Comrade Hu Jintao has greatly increased,” it said.

The commentary is one of many reports carried by China’s tightly-controlled media that rally behind the party, since news emerged last week of Bo’s suspension from the Politburo and his wife Gu Kailai’s suspicion of murder.

The ruling party — apparently nervous about repercussions on public opinion of the case, which shatters its carefully crafted appearance of unity — has also cracked down on the Internet as wild speculation emerges online.

Authorities have shut down dozens of websites, deleted hundreds of thousands of microblog posts and even detained people for spreading rumours.

But China’s weibos — hugely popular microblogs similar to Twitter — have still buzzed with speculation about a scandal worthy of a Hollywood thriller.

Until very recently, Bo — a charismatic politician and a rising star of the party — had been touted to access the highest echelons of power later this year.

The scandal burst into the open in February when Bo’s right-hand man Wang Lijun fled in apparent panic to a US consulate, reportedly demanded asylum and handed over large amounts of information about his former boss.

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Nói một đàng, làm một nẻo

Posted by hoangtran204 trên 17/04/2012

Làm một nẻo, nói một đàng

Trong bài nói tại Trường Đảng Cao cấp Nico Lopez ở Cuba của ông Nguyễn Phú Trọng có đoạn phản ánh đúng sự thực:

“Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học – công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”.

Chủ nghĩa tư bản dẫu còn nhiều khuyết tật nhưng tự bản thân đã và đang không ngừng điều tiết để hoàn thiện hơn. Còn nhiều điều phải xem xét, bàn bạc nhưng, điều này thì khẳng định được:

Chủ nghĩa xã hội như đã và đang thấy ở Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cu Ba … thì không thể nào bằng được chủ nghĩa tư bản; trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai (nếu nó không tự diễn biến hòa bình, không sụp đổ để hóa thân).

Cũng trong bài nói trên có một đoạn nghe hùng hồn, lưu lóat nhưng, rất sai thực tế:

Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Hồ Chí Minh, Phiđen Caxtrô và nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn và đang kiên trì, kiên định theo đuổi ”.

Hãy so sánh giữa nói và làm qua mỗi câu trong đoạn trên:

Nói: Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người.

Thực tế: Bọn quyền chức của ĐCSVN thiết lập hệ thống mafia, lợi dụng sự ngoan cố mập mờ trong chủ trương “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, (để) cướp ruộng đất của dân, thí cho họ mấy đồng đền bù rẻ mạt rồi phù phép bán lấy lời hàng chục, hàng trăm lần. Dân kêu oan, không cấp nào chịu giải quyết, kéo lên Trung ương, không những bị bỏ vạ bỏ vật đầu đường cuối phố mất hết phẩm giá, mà còn bị đánh đập, bị tống giam rất tàn tệ, bất kể là thương bệnh binh hay bà mẹ Việt Nam anh hùng … Nào phải chỉ là hiện tượng đơn lẻ, đã hàng nghìn vụ, đã hàng vạn người bị đầy ải trên khắp đất nước trong suốt mấy chục năm qua. Trước thảm cảnh ấy các vị lãnh đạo vô cảm không hề thấy đau lòng để gấp rút sửa sai trong đường lối, chủ trương (nói quanh co thì là sửa lỗi hệ thống) mà vu cho những người biểu tình khiếu kiện là thế lực thù địch.

Nói: Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội.

Thực tế:

– Tiền gửi trẻ mỗi tháng ở lớp mẫu giáo của con các đại gia (8 triệu đồng/tháng) bằng hai mươi tháng tiền ăn của học sinh nội trú ở vùng sâu vùng xa (4 trăm ngàn đồng/tháng)

– Bát phở sáng của tư bản đỏ (bẩy trăm nghìn đồng) gấp trăm lần suất ăn trưa của một công nhân làm việc trong nhà máy (bẩy nghìn đồng).

– Dân ốm vào bệnh viên chen chúc ba người một giường đơn, ốm mà phải nằm cả ở gầm giường; quan chức cao cấp của Đảng mỗi người một phòng đầy đủ tiện nghi, hơn cả tư bản. Bệnh viện của dân Việt Nam tồi tàn hơn nhà tù tư bản rất nhiều.

– Chênh lệch thu nhập của ngay cả viên chức nhà nước cách đây ba bốn chục năm chỉ hàng chục lần, nay lên tới mấy trăm lần (Cô nuôi dạy trẻ ở nông thôn lương 500 000 đồng/tháng; tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước trên trăm triệu đồng/tháng). Chưa kể tham nhũng.

Nói: Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm.

(Cứ xem đây là rõ: Việt kiều đi làm công tác thiện nguyện, từng  phát 100 xe lăn cho người tàn tật, áo quần cho người nghèo khổ, và trẻ em mồ côi, phát nhiều lần mà quên chia chác cho chính quyền, cho mặt trận tổ quốc, cho Đoàn Thanh Niên CS là bị như thế này nè. Việt kiều Na Uy về nước bị chận tại Tân Sơn Nhất và bị đuổi trở về nước. Phim phỏng vấn Việt kiều bị cấm vào VN“)

Người trong nước xây nhà cho trẻ em mồ côi, mà còn bị chính quyền phá sập nhà, và sai công an đánh như thế này nè : Thăm người bạn

Thực tế:
– Các giá trị tiến bộ: tự do, dân chủ đều bị hạn chế hoặc tước đoạt. Không có tự do ngôn luận, không được tự do phản biện mà chỉ được tự do ca ngợi Đảng. Không có bầu cử tự do mà chỉ được bầu người do Đảng cử …

– Nhân ái gì mà công an giang thẳng chân đạp vào mặt người đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn biển đảo, ngay giữa công chúng Thủ đô.

– Đoàn kết sao được khi ông Tổng Bí thư ĐCSVN lúc nào cũng, ở đâu cũng ra rả: kẻ thù, thế lực thù địch …

– Vì lợi ích (được giữ quyền cai trị) của Đảng (chỉ là một phe nhóm trong đại khối dân tộc), người ta áp đặt điều 4 vào Hiến pháp, vu cho các phe nhóm khác là kẻ thù. Không cần cạnh tranh mà Đảng mặc nhiên tạo thế thắng tuyệt đối với tất cả các phe nhóm khác của dân tộc.

Nói: Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường.

Thực tế:

– Trước cách mạng Tháng Tám, thời Pháp cai trị, diện tích rừng Việt Nam còn 14 triệu ha, che phủ 43% diện tích lãnh thổ. Khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn quản lý một phần lãnh thổ, mặc dù có rải chất độc mầu da cam, diện tích rừng che phủ vẫn còn 34%. Nay … chỉ còn không đầy 25% !

– Cả nước có 2 360 con sông và kênh rạch. Từ ngày làm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 10 000km2 trong số đó đã bị ô nhiễm nặng. Một số kênh rạch hầu như đã bị bức tử! Chất lượng nước ảnh hưởng đến sức khỏe người bị xếp thứ 80 trên thế giới.

– Không khí ở các đô thị Việt Nam bị xếp trong tốp 10 nước bẩn nhất thế giới.

– Việt Nam đất chật người đông nhưng trong quy hoạch năm 2009 có tới 166 sân gôn, nhiều sân gôn ngự trị cả trên bờ xôi ruộng mật. Cho đến nay nhiều sân không người chơi gôn mà chỉ cỏ dại và biệt thự hoang phế.

– Đuổi dân đi để lấy đất làm khu công nghiệp, nhưng trong số 100 000 ha đã được quy hoạch, có đến 50% bị bỏ hoang.

Nói: Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có.

Thực tế:
– Trong Quốc hội, người của Đảng chiếm 90%, số người Việt Nam ngoài Đảng (chiếm 96% dân số) chỉ được 10% đại biểu.

– Lời tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: Công an là thanh kiếm (sẵn sàng chọc tiết ai?) và lá chắn (ngăn ai?) của Đảng, chứ không phải để bảo đảm trật tự an toàn cho xã hội, bảo vệ cuộc sống yên bình cho nhân dân.

– Quân đội chỉ trung với Đảng, dân mà nổi dậy thì dân là kẻ thù phải được tắm máu Thiên An Môn. (Nhiệm vụ chính yếu của quân đội không phải để bảo vệ đất nước, bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải, chống xâm lược, xâm lấn)

– Trời cũng phải được giành cho một thiểu số giàu có (về quyền lực). Mỗi độ xuân về phải mừng Đảng trước rồi mới được mừng xuân.

*
Kết luận: Tôi không thể làm tổng bí thư ĐCSVN vì không thể trâng tráo như thế.

Hà Nội 12 tháng 4 năm 2012 

© Nguyễn Thanh Giang

© Đàn Chim Việt

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►DÂN TỘC TA SẼ CÒN TRẦM LUÂN!

Posted by hoangtran204 trên 16/04/2012

Lời tựa: Đảng vốn có quen thói hiếp đáp dân chúng trong nước, thường bắt buộc những người dân sống dưới chế độ phải làm theo, phải nghe theo những gì đảng muốn áp đặt và nhồi nhét. dân chúng đành nhịn nhục nghe theo   vì trong tay không tất sắt. Sinh viên học sinh vì muốn được yên thân nên phải ngồi học chính trị nói về một thứ  chủ nghĩa xã hội không tưởng, một mục đích “ảo”… đi không bao giờ tới.

Từ lâu lắm rồi, các đảng viên cao cấp thừa biết rằng: 3 cái thứ triết học Mác Lê và kinh tế XHCN đều là các thứ tầm phào, vô tích sự. Các thứ ấy chỉ là dụ dỗ những người có đầu óc chật hẹp và thiếu suy nghĩ đi theo họ để cướp chính quyền. Sau khi đã cướp được chính quyền rồi thì các thứ nầy chỉ là món hàng trang sức. Lịch sử cho thấy từ hồi còn Lê Nin, 1917, cho đến khi chủ nghĩa CS sụp đổ, 1991, đã từng có nước cộng sản nào giàu có đâu, có người dân nào sống dưới ách cộng sản mà ca tụng XHCN là sung sướng đâu? Bởi vậy, các ủy viên bộ chính trị, ủy viên trung ương đảng CSVN lúc nào, thời nào cũng nói: Do hậu quả của chiến tranh lâu dài, nên nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn khổ, còn thiếu thốn, một mai, khi tiến lên XHCN, nhân dân sẽ tha hồ mà sung sướng…Họ nói thế đã gần 40 năm qua, và sẽ còn tiếp tục nói như thế vài chục năm sắp tới nếu như đảng CSVN còn nắm quyền.

Theo quán tính, mỗi lần có đại hội đảng là mỗi lần đảng lại vạch kế hoạch chính trị và kinh tế để chỉ đạo cả nước học tập và làm theo các nghị quyết của họ. Nhưng 11 đại hội đảng đã trôi qua, 37 năm ở miền Nam, và  56 năm ở miền Bắc, mà kế hoạch kinh tế nào cũng đều  thảm bại te tua. Vì lẻ các kế hoạch kinh tế là do những cán bộ quá dốt về kinh tế vạch ra và vì quá vô lý nên không thể thi hành được, nên kết quả là không có một tiêu nào đạt được. Đến nổi, như ở VN, thì đảng chỉ còn biết: bán tài nguyên khoáng sản từ 1988 cho đến nay (bán dầu và khí đốt thu được 675 ngàn tỷ đồng năm 2011) để giúp chính quyền tồn tại, xuất khẩu 500 000 công nhân lao động ở các nước quanh vùng để thu thêm ngoại tệ của họ gởi về, và sống nhờ 10 tỷ của Việt kiều gởi về để  sống còn, 22 tỷ đô la thu được từ công nhân ngành dệt may, cho các công ty tư bản vào mở hảng xưởng và mượn tay các công ty này để trả lương cho công nhân VN với tiền công lao động rẻ nhất thế  giới, 4 tỷ đô la thu được  từ việc ép nông dân để giá mua lúa cho thật rẻ để xuất khẩu 7 triệu tấn gạo hàng năm, 6 tỷ đô la thu được nhờ mua rẻ hải sản của ngư dân đánh bắt cá…Đảng làm được cái gì trong các thứ đó? Nếu không muốn nói là ăn bám, sống trên lưng của những người dân nghèo khổ. Chưa hết, đảng tồn tại được là nhờ mấy chục năm qua đi vay mượn của các nước tư bản giãy chết, mà tính đến 2011 thì là số nợ công này đã lên tới 57 tỷ đô la; thêm vào đó, 91  tập đoàn và tổng công ty quốc doanh đang vay của nước ngoài và trong nước là 54 tỷ đô la. Các thành tích tài chánh nói trên và các kế hoạch kinh tế của đảng đều thất bại thấy rõ. (nguồn) và (nguồn)

ngay 16-1-2013, BBC dang tin

Trich: ”

Tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm này là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đôla.

Đây là con số gây chấn động được đưa ra tại Hội nghị Chính phủ với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hôm thứ Tư 16/1 tại Hà Nội.

Báo trong nước cho hay ông thủ tướng dự hội nghị để “lắng nghe tiếng nói từ phía các doanh nghiệp, cùng các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất trong năm tới”.

Người đứng đầu chính phủ đã phải nghe báo cáo của ông Phạm Viết Muôn, Phó Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, về tổng quan hoạt động của doanh nghiệp nhà nước năm 2012, trong đó ông Muôn đưa ra các thống kê giật mình.

Theo báo cáo, tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, hệ số nợ phải trả / vốn chủ sở hữu bình quân là 1,82 lần (lớn hơn tỷ lệ 1,77 lần của năm 2011). Tổng tài sản/ tổng nợ phải trả là 1,6 lần.

Báo cáo cũng cho hay nợ nước ngoài của các công ty mẹ tập đoàn, tổng công ty là 158.865 tỷ đồng; tương đương 21,5% tổng nợ phải trả, tăng 11% so với năm 2011.

Các công ty mẹ của nhà nước có số nợ nước ngoài lớn là Điện lực Việt Nam (EVN), Hàng không Việt Nam (VNA)… (BBC)

 

Bỏ món chính trị ra, và không dùng bạo lực của công an để đi ăn hiếp những người trong tay không có tất sắc, thì còn gì để gọi là đảng CSVN nửa, vậy mà cứ tiếp tục giảng giải chính trị kinh tế thì toàn là nói ra các điều dối trá.

Mời các bạn thử đọc mớ hổ lốn này xem có quen thuộc không:

Cách mạng XHCN bao gồm 3 nội dung. Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là chủ đạo.

” Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa đều nhằm vào mục tiêu lớn nhất là giải phóng con người, giúp con người hoàn thiện mình, hoàn thiện các khả năng xây dựng một xã hội tốt đẹp nhất cho mình và đồng loại. Lê Duẩn cũng luôn nhấn mạnh, cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng, một trong ba cuộc cách mạng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, muốn thành công phải là một cuộc cách mạng tự nguyện, không thể áp đặt, phải xem trọng các yếu tố lịch sử cụ thể để đề ra các giải pháp phù hợp thuyết phục… Đó là tư tưởng chính trị đầy chất nhân văn, đậm chất văn hóa”… (nguồn)

Các đại hội đảng vạch ra những kế hoạch tương lai để dẫn dắt cả nước tiến lên CNXH.  Như vậy, sau 5-20 năm thực hiện, thành tích mà xã hội đạt được hôm nay phải phản ảnh đúng phần nào theo các kế hoạch ấy.  Vậy, các bạn nhìn thực tế VN hiện nay, rồi đánh giá xem 3 cuộc: cách mạng quan hệ sản suất, con người mới XHCN mới, và khoa học kỹ thuật  hiện nay mà ta đạt được có phù hợp với những gì mà đảng vạch ra không?  

Các kỳ đại hội đảng và kế hoạch (nguồn)

Quen nói các điều làm xàm này trong nước mà không ai dám phản đối, đảng đem đi múa gậy ở Cuba. Tuần trước, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng một đoàn đại biểu cao cấp 10 bộ trưởng và 12 ủy viên trung ương đảng ghé qua Cuba giảng chính trị cho trường đào tạo cán bộ cáo cấp ở vào ngày 9-4.

Nhưng sau khi nghe xong bài giảng này, Tổng thống nước Brazil đã hủy bỏ chuyến viếng thăm của ông Ng Phú Trọng và 22 bộ trưởng và ủy viên trung ương đảng, chuyến viếng thăm này đã lên kế hoạch  trước và dự kiến là vào ngày 12 đến ngày 14-5. Một nhân vật ngoại giao cao cấp của VN  (xin dấu tên) trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC rằng: Trong mấy chục năm làm ngoại giao, ông chưa từng được biết đến tình trạng bị từ chối viếng thăm này.

Bị nước Brazil từ chối tiếp, đoàn đại biểu cao cấp của VN đã khăn gói rời khỏi Cuba ngày 14-4- và về lại Hà Nội ngày 15-4. Khi ra đi thì tung hô vang trời, nhưng ngày trở về thì  700 tờ báo, dăm đài truyền hình của đảng…im thin thít. 

Sau khi đọc xong bài dưới đây của tiến sĩ Tô Văn Trường, các bạn nhớ đọc thêm bài bình luận nói về chuyến viếng thăm Brazil  bị hủy bỏ trên blog của Lý Toét:

DÂN TỘC TA SẼ CÒN TRẦM LUÂN! 

TS Tô Văn Trường

Nói những điều không biết, viết những điều không hiểu, sợ mất những điều không có.

 

Nhiều người dân quan tâm bài diễn văn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (như bài giảng) ở Trường Đảng Cao cấp Nico Lopez – một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất quan trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba. Ngày hôm qua, trong bài viết bình luận: ”Bộ máy biến lãnh đạo thành cái máy” của đại tá, nhà báo Bùi Văn Bồng, tôi nhắc đến lời than của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi khi phải chứng kiến cảnh đất nước khó khăn mà lòng người không thuận:

“Nhân tài như lá mùa thu

 Hào kiệt như sao buổi sớm”

Lịch sử cũng cho thấy nhân tài, tuấn kiệt nước ta thời nào cũng có và mỗi khi đất nước gặp khó khăn, họ lại xuất hiện rất nhiều để trổ tài kinh bang tế thế! Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại Nguyễn Trãi đã để lại lời răn và đặt ra yêu cầu lớn cho chúng ta trong công tác đào tạo và sử dụng con người đặc biệt là đội ngũ cán bộ được gọi là “công bộc, đầy tớ của nhân dân”.

Tổng bí thư là người đứng đầu, có thể hiểu là nhân tài trong Đảng nhưng phải nói thật lòng, đọc kỹ bài diễn văn để đời của ông ở Cuba, nhiều người dân phải thốt lên rằng: ”Dân tộc ta sẽ còn trầm luân!”  Bài diễn văn của Tổng bí thư có thể nói mượn danh chủ nghĩa Mác nhưng nội dung chính là tô vẽ cho chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa trái với tình hình thực tế, quy kết những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản trong khi những khuyết tật ấy ở những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với chế độ toàn trị còn trầm trọng hơn.

Điều quan trọng hơn là cuộc đi thăm Cuba và bài nói ở trường Đảng nhằm mục đích gì? Có lợi gì cho đất nước? Giúp gì cho việc tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của thế giới đối với nước ta? Việc Brazil từ chối tiếp là một chuyện chưa từng xẩy ra trong lịch sử ngoại giao của nước ta, có ý kiến cho là một vết nhục! Vì sao có chuyện này?

Có ý kiến cho là do bài diễn văn nói vỗ mặt Mỹ và các nước phương Tây, khiến cho dư luận xã hội, nhất là các đảng đối lập với chính quyền Brazil không đồng tình, còn Chính phủ và đảng cầm quyền ở Brazil khó xử nên hủy bỏ chuyến đi thăm để tránh hệ lụy rắc rối.

Công bằng mà nói, ở khía cạnh nào đó cần chia sẻ và đồng cảm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi tôn thờ lý luận của Các Mác [Karl Heinrich Marx], vì thực tế chưa có học thuyết nào có tác dụng sâu, rộng như lý luận của Mác. Các quan điểm phớt lạnh, bác bỏ dẫn đến quyết liệt chống đối hay huyền thoại hóa, tôn sùng lý luận của Mác như tôn giáo của tín đồ hoặc lợi dụng kiếm chác tung hô cho mục đích riêng của mình thì sớm hay muộn cũng bị thực tế cuộc sống đào thải.  

Tôi làm công tác khoa học kỹ thuật, cho nên để hiểu về khoa học chính trị xã hội phải đọc rất nhiều các nguồn tư liệu, thảo luận, lĩnh hội ý kiến của một số vị trưởng thượng đối chiếu với thực tế để suy ngẫm. Theo tôi hiểu về tác phẩm, hiện nay loài người chưa có toàn tập của Mác. Giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX Liên Xô và Đông Đức dự kiến xuất bản toàn tập của Mác gồm 100 tập (MEGA mới) nhưng không thành vì Liên Xô sụp đổ.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khẳng định ở Cuba: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân Việt Nam”. Không cần bắt bẻ ý kiến nói trên vì chưa có trưng cầu dân ý nhưng để tránh tù mù cho cả người nghe và người nói, cần phân tích tìm hiểu chủ nghĩa  xã hội là gì?

Khái niệm “chủ nghĩa xã hội” xuất hiện đầu tiên ở Tây Âu vào năm 1827 (không phải của Mác) để phê phán trường phái Xanh Ximông [Henri de Saint-Simon].

Đến năm 1832 chính Xanh Ximông dùng lại khái niệm CNXH nhưng bỏ đi sắc thái phê phán, và các biểu cảm xấu.

Từ năm 1837 từ “CNXH” phổ biến sang Đức trong phái Hêghen [Georg Wilhelm Friedrich Hegel] trẻ. Lúc bấy giờ Mác ở trong phái Hêghen trẻ, tiếp nhận từ “CNXH” để chỉ cái xã hội mới, sau khi chủ nghĩa tư bản bị loại bỏ, bị vượt qua và dùng từ “CNXH” trong các bản thảo của Mác năm 1844. Nhưng từ năm 1848 trở đi, từ Tuyên ngôn Đảng cộng sản thì Mác không dùng từ “CNXH” nữa mà dùng từ “chủ nghĩa cộng đồng”. Xã hội mới, chế độ mới, thay thế cho xã hội tư bản.

Các nhà nghiên cứu cũng vạch ra một chỗ mù mờ, không rõ ràng trong tác phẩm “Chống Duyrinh” của Anghen [Friedrich Engels] về khái niệm CNXH. Bernstein người bạn gần gũi với Mác ở Luân Đôn cũng chỉ gọi CNXH với cái nghĩa là cuộc vận động tự lập trong đó có phần thúc đẩy bởi cuộc đấu tranh có ý thức của giai cấp công nhân, nó không gắn liền hữu cơ với chủ nghĩa cộng đồng, là mục đích còn rất xa vời, trừu tượng!

Bản thân Lê Nin [Vladimir Ilyich Lenin] tiếp nhận từ “CNXH” nhưng trong việc thực hành cách mạng, Lê Nin vừa coi CNXH là bước thấp của chủ nghĩa cộng sản nhưng nhiều khi lại vừa coi đó là một hình thái kinh tế xã hội và một phương thức sản xuất riêng biệt, được xuyên tạc thành lý luận hóa.

Lê Nin quan niệm xây dựng CNXH phải đa dạng luôn thay đổi vì phải  mò mẫm, và vòng vèo dích dắc. Lê Nin vận dụng thành quả của cả loài người, kể cả của chủ nghĩa tư bản. Cuối đời Lê Nin có nhận định quan trọng là chúng ta phải thay đổi cơ bản quan niệm về CNXH nhưng lại không chỉ ra được quan niệm CNXH phải thay đổi là cái gì, thay đổi như thế nào, khi nào?  

Trong hình thái kinh tế xã hội và phương thức sản xuất Mác gọi cái xã hội sau chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa cộng đồng chứ không phải chủ nghĩa xã hội. Mác không bao giờ quan niệm chủ nghĩa xã hội là một phương thức sản xuất xã hội v.v.. 

Muốn hiểu đánh giá khách quan về Mác cần phải xem xét lý luận và thực tế cuộc sống thời Mác và thực tiễn hoạt động của con người. Thực tiễn là hoạt động của con người, còn thực tế bao hàm nghĩa rộng hơn về cuộc sống xã hội, cuộc sống có môi trường thiên nhiên và vũ trụ. Hayek cũng là một nhà lý luận và tư tưởng, năm 1974 ông được tôn sùng là chủ tướng của tư tưởng của trào lưu lý luận kinh tế, chính trị xã hội tân tự do, được tặng giải thưởng Nôben. Cuối đời Hayek bị nặng tai và điếc tai trái còn Mác bị điếc tai phải nên người ta nói nửa đùa, nửa thật là Mác chỉ nghe được những gì từ phía tả còn Hayek thì chỉ nghe được những gì từ phía hữu.

Bản chất của lý luận Mác là dở dang, không hoàn chỉnh bởi vì con người của Mác mà sự sửa chữa đến nhanh hơn sự hình thành, chưa kịp hoàn thành luận điểm đã chữa rồi. Mác sống được 65 năm, thấy rõ lỗ hổng của mình mới chỉ chiếm lĩnh cuộc sống (vài nước ở Tây Âu), chưa hiểu gì về Mỹ, phương Đông và tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt không đề cập đến sở hữu trí tuệ. 

Nói tóm lại:  

Bài diễn văn của Tổng bí thư chỉ có 2 điểm sáng: Thứ nhất là thể hiện tình đoàn kết gắn bó thủy chung giữa 2 dân tộc anh em Việt Nam-Cuba. Thứ hai là khi kể tên vài nước XHCN, may mà ông không đề cập đến người anh em Triều Tiên (“gia đình trị” điển hình)!. Còn nếu “mổ xẻ” tòan bộ nội dung thì đầy rẫy các điều bất cập, mù mờ!

Là người dân, dù bức xúc, nhưng tôi không thể viết tiếp về những điều mà bản thân mình cũng còn thấy “mù mờ”, huống chi là những người được tự gán cho cái mác là “nhân tài” lãnh đạo quốc gia:

“Nói những điều không biết

Viết những điều không hiểu

Sợ mất những điều không có”.

T.V.T.

4/2012

Nguồn: Người lót gạch

*Mời các bạn đọc thêm bài bình luận sau đây nói về chuyến viếng thăm Brazil  bị hủy bỏ trên blog của Lý Toét:

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Khi đi cưỡng chế đất của nông dân, chính quyền rất hung hãn- Nhưng khi có chuyện liên quan tới Trung Quốc, chính phủ và đảng khép nép thưa trình và mềm như bún

Posted by hoangtran204 trên 16/04/2012

Chính quyền huyện Văn Giang mua đất của dân giá chỉ có 43 000 đồng VN/ 1 mét vuông, rồi sang tay, bán lại cho các đại gia làm dự án Ecopark, giá lên tới 65 triệu đồng một mét vuông (tiền lời nộp cho chính quyền tỉnh, và trung ương). Đó là cướp đất chứ không phải là mua bán sòng phẳng.

Dự án Ecopark (Hưng Yên) ngày càng nóng, có thể nổ lớn!

Trần Đức Việt, nhà báo tự do

Vừa về đến nhà, vợ tôi thông báo: Điện thoại của anh reo chuông liên tục, có cả tin nhắn nữa. Cầm máy lên xem, hóa ra những ngày tôi vắng nhà xẩy ra quá nhiều chuyện. Tại phố Tràng Thi (trụ sở Mặt trận Tổ quốc), Ngô Quyền (trụ sở Quốc hội), rồi trụ sở Thanh tra Chính phủ ở Mỹ Đình liên tục xẩy ra khiếu nại đông người.

Điểm mới là những cuộc tập trung này diễn ra cùng lúc của nhiều đoàn khác nhau. Có thể nhận ra dấu hiệu các đoàn bắt đầu liên kết lại, tạo ra áp lực mạnh hơn trước. Tất nhiên, sự liên kết này là chưa đủ mạnh, chưa bền chặt và thống nhất. Nhưng được như hiện nay cũng là quý lắm rồi, không nên vội vàng, vì “dục tốc bất đạt”.

Ngày 12/2/2012 có một sự kiện đặc biệt không thể bỏ qua. Đoàn thanh tra Chính phủ do một Phó Tổng thanh tra Chính phủ dẫn đầu đến UBND huyện Văn Giang (Hưng Yên) đối thoại trực tiếp với nhân dân. Nhưng rồi cuộc đối thoại này đổ vỡ vì mục tiêu của 2 bên quá khác nhau.

Về phía đoàn nhà nước, UBND huyện Văn Giang chỉ mời 166 hộ gia đình ở xã Xuân Quan đến họp. Theo chủ tịch huyện, đây là các hộ có đất liên quan trực tiếp đến việc giải phóng mặt bằng 72 ha sắp tới để bàn giao cho chủ đầu tư. Huyện chỉ nghe tâm tư, nguyện vọng của các hộ này trước khi giải phóng mặt bằng, thực chất là cho dân nói “xả hơi” rồi… cưỡng chế!

Về phía nhân dân, các đại biểu đòi hỏi phải đối thoại về toàn bộ dự án liên quan đến gần 2000 hộ dân, phải có đại biểu của cả 3 xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao dự họp.

Chủ tịch huyện không đáp ứng yêu cầu này, tuyên bố sẽ thực hiện lệnh cưỡng chế vào ngày 20/4/2012.

Đáp lại, nhiều người dân bày tỏ quyết tâm giữ đất, dù có phải “đổ máu” cũng không chịu mất đất. Cuộc đối thoại chưa thành đã phải giải tán, chưa biết được rồi ngày 20/4 sắp tới sẽ xẩy ra điều gì?

Nhìn sắc thái của tôi, bà xã hỏi: Trông anh khác lắm, có chuyện gì vậy? Quả thật là sau khi biết thông tin tôi bứt rứt không yên. Có hiện tượng mới đang diễn ra: Một vài nhóm trí thức yêu nước bắt đầu đến với các hộ dân khiếu nại, động viên, tư vấn người dân về mặt pháp luật.

Được động viên đúng lúc, nhiều người dân trở nên tự tin hơn, quyết tâm cũng tăng lên. Một số nhóm yêu nước ở xa đã đến Hà Nội, lẳng lặng quan sát sự kiện diễn ra ở Văn Giang. Trong đội hình các hộ dân mất đất ở Văn Giang đang nổi lên câu hỏi: Đến 20/4 liệu chính quyền có cưỡng chế không? Nếu có thì đối sách sẽ thế nào?

Kinh nghiệm cho thấy trước đây chính quyền đã dùng côn đồ “xã hội đen” cưỡng chế rất tàn bạo, nhiều người bị thương, có bà mẹ 80 tuổi bị đánh ngất. Bây giờ chính quyền xem ra còn hung hãn hơn. Tuy nhiên, thời điểm này tình hình cũng khác trước. Sự kiện Tiên Lãng, Hải Phòng đã động viên nhân dân rất nhiều. Bộ mặt của chính quyền cấp huyện lộ rõ không che dấu được ai.

Chính quyền huyện cưỡng chế, thực chất là cướp đất, cướp trắng từ tay nhân dân. Có lý nào người dân đang cầm sổ đỏ trong tay mà chính quyền bán đất cho công ty, không hề hỏi người chủ là nhân dân một tiếng?

Tôi nghĩ những người đứng ở tuyến đầu trong đội hình các hộ dân Văn Giang đang phải đắn đo, cân nhắc kỹ. Nên phản đối thế nào? Mức nào là vừa? Họ không muốn để nhân dân tổn thất, nhưng cũng không muốn đầu hàng bọn cướp ngày! Bây giờ đất là sự sống.

Sau sự kiện Tiên Lãng, những người dân mất đất trong cả nước đang cần đến một “sự kiện” khác mạnh mẽ hơn, có tiếng vang hơn nữa để thúc đẩy cuộc đấu tranh giành quyền sống. Thì đây, “sự kiện Văn Giang” đang đến.

Khác với Tiên Lãng, Văn Giang là cả nghìn con người, trong đó có nhiều người muốn cầm lấy vũ khí. Trận đấu này có thể dẫn đến cái chết cho một số người thuộc cả 2 phía. Đó là hậu quả đau lòng nhất có thể thấy trước. Cũng có vài người hi vọng sự kiện Văn Giang sẽ mở màn một loạt sự kiện lớn lao hơn cho đất nước. Tôi không nghĩ thế.

Dù biết rằng có một số nhóm yêu nước đã và đang đến theo dõi sát sự kiện Văn Giang nhưng cũng phải thấy rằng các nhóm chưa tạo ra mối liên kết đủ mạnh, có thể hỗ trợ lẫn nhau. Điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi cho những sự kiện lớn và đặc biệt lớn.

Có thể có người sẽ hỏi: Lúc nào mới chín muồi? (Ai cũng bảo nó đổ này, nó đổ này… mà mãi không thấy nó đổ? Sốt ruột ơi là sốt ruột!). Tôi thì nghĩ phải đến năm 2013, khi hết hạn giao đất trên toàn quốc, chính quyền cấp cao phải phạm sai lầm tạm gọi là cực kỳ ngu xuẩn trước nhân dân (điều này tất yếu sẽ xẩy ra, những cái đầu đất của lãnh đạo không nhận thức được đâu), các đầu mối của nhiều phong trào (trong đó có phong trào giữ đất, đòi đất) liên lạc được để hỗ trợ lẫn nhau, lúc đấy mới có thể nói đến chuyện đã chín muồi hay chưa? Để đến được lúc ấy, về mặt chủ quan các nhóm yêu nước cần tích cực xây dựng niềm tin, liên lạc với nhau từ bây giờ.

Sự kiện Văn Giang sắp đến chính là cơ hội để các nhóm yêu nước nhận ra nhau, tạo ra mối liên kết ngày mai. Tôi nghĩ bây giờ là lúc cần xúc tiến các hoạt động theo hướng này. Thế liệu Văn Giang có thể trở thành đốm lửa đốt cháy cả cánh đồng được không? Cũng có khả năng, dù chỉ là một phần nghìn tia hi vọng. Vì thế mới cần theo dõi tình hình thật sát sao và kỹ lưỡng. Cho dù thế nào thì các nhóm yêu nước cũng được thắp sáng niềm tin vào nhân dân. Nếu Tổ quốc và nhân dân kêu gọi, chúng con sẽ đến với Người.

——————-

Lời tựa: Các vụ việc xảy ra cùng một thời gian, cả hai nước VN và Phi Luật Tân cùng bị tàu Trung Quốc xâm nhập hải phận và đánh bắt cá trộm, rồi bị phát hiện, nhưng phản ứng của hai nước thì khác nhau.

Trong khi chính phủ và quân đội Phi Luật Tân ra lệnh cho hải quân đến khám và lục soát tàu TQ, rồi dõng dạc tố cáo và triệu đại sứ Trung Quốc đến cảnh cáo. Còn ở Việt Nam, thì đảng và chính phủ khép nép, hải quân thì im như thóc; ngay cả báo chí của đảng còn không dám nhắc đến tên, chỉ dám nói “tàu lạ”, “nước lạ”,  vì sợ phạm húy. Thế mới tài!

Soái hạm Philippines đụng độ hai tàu hải giám Trung Quốc tại Biển Đông

Phó đô đốc Alexander Pama trả lời báo chí về các hành vi của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Biển Đông (REUTERS)

Phó đô đốc Alexander Pama trả lời báo chí về các hành vi của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Biển Đông (REUTERS)
Cho đến hôm nay 11/04/2012 tình hình vẫn tiếp tục căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc tại Biển Đông, vì soái hạm Gregorio Del Pilar của Philippines bị hai tàu hải giám của Trung Quốc ngăn trở, khi kiểm tra tám chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đang thả neo ở ngoài khơi vùng biển Philippines. Manila triệu đại sứ Trung Quốc đến để cảnh báo, còn Bắc Kinh gởi kháng thư phản đối.

Hãng tin AP dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Philippines cho biết, hôm Chủ nhật 8/4 một phi cơ tuần tra của hải quân nước này đã phát hiện tám chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đang thả neo tại một đầm phá ở bãi Scarborough ở gần Luzon, đảo chính của Philippines.

Chiến hạm lớn nhất của Philippines là Gregorio Del Pilar được phái đến, và hôm thứ Ba khi kiểm tra các tàu cá này, hải quân Philippines đã tìm thấy một lượng lớn san hô, trai khổng lồ và cá mập sống, chứng tỏ ngư dân Trung Quốc đã « tiến hành đánh bắt và thu hoạch các loài hải sản đang bị đe dọa ».

Nhưng sau đó hai tàu hải giám Trung Quốc đã đến gần, chen vào giữa soái hạm Philippines và các tàu cá Trung Quốc để ngăn chận việc bắt giữ các ngư dân vi phạm. Đến hôm nay tình hình vẫn đang bế tắc, và lực lượng tuần duyên Philippines đã gởi thêm một tàu khác đến hỗ trợ cho soái hạm.

Tối qua Ngoại trưởng Philippines Albert Del Rosario đã nói chuyện điện thoại với đại sứ Trung Quốc ở Manila, bà Mã Khắc Khanh, nhấn mạnh rằng khu vực trên đây là « một phần lãnh thổ của Philippines ». Sáng nay bà Mã Khắc Khanh được triệu đến Bộ Ngoại giao Philippines nhằm tìm ra một giải pháp ngoại giao. Tuy nhiên cả hai nước đều tỏ ra cứng rắn, và liên tục đưa ra lời cảnh báo phía bên kia.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân hôm nay tuyên bố : « Chúng tôi đã chính thức gởi cho Philippines kháng thư về việc chiến hạm và tàu tuần tra Philippines quấy rối tàu cá và ngư dân Trung Quốc (…) Các hành động tự cho là giữ gìn an ninh ở ngoài khơi đảo Hoàng Nham là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Chúng tôi kêu gọi Philippines không gây thêm các sự cố mới, và tạo điều kiện cho quan hệ thân hữu giữa hai nước ».

Bãi Scarborough nằm cách đảo lớn nhất của Philippines là Luzon chỉ có 124 hải lý. Manila khẳng định, vùng này thuộc chủ quyền của Philippines vì nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được luật lệ quốc tế quy định. Còn Bắc Kinh gọi đây là đảo Hoàng Nham, cho rằng đây « là một phần lãnh thổ của Trung Quốc, và vùng biển xung quanh là vùng đánh cá truyền thống của ngư dân Trung Quốc ».

Thông cáo của đại sứ quán Trung Quốc ở Manila chiều nay khẳng định: « Từ ngàn xưa, nhiều tài liệu lịch sử Trung Quốc đã chứng minh trên giấy trắng mực đen là đảo Hoàng Nham thuộc về Trung Quốc » và ra lệnh cho các chiến hạm Philippines phải lập tức rời địa điểm trên. Ngoại trưởng Philippines đã cực lực phản đối và cảnh báo « Nếu Philippines bị thách thức, chúng tôi sẵn sàng bảo vệ chủ quyền của mình ».

Là con đường hàng hải chiến lược giữa vùng Á Đông, Trung Đông và châu Âu, Biển Đông còn có tiềm năng về tài nguyên dầu khí, và dồi dào hải sản. Các ngư dân đặc biệt là ngư dân Việt Nam và Philippines thường xuyên bị tàu hải giám của Trung Quốc quấy nhiễu.

Philippines tìm cách tăng cường hợp tác quân sự với các nước láng giềng cũng đang phải đối đầu với tham vọng của Bắc Kinh. Tuy vậy trang bị quân sự Philippines thuộc loại yếu kém nhất châu Á, với các chiến hạm có từ thời Đệ nhị Thế chiến, còn các phi cơ thì từ thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Năm ngoái Washington đã cung cấp cho Manila một khu trục hạm, và có khả năng đề nghị thêm một chiến hạm nữa.

Hãng tin Pháp AFP nhận xét, Bắc Kinh luôn khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi trên toàn bộ Biển Đông, cho dù bờ biển Trung Quốc nằm rất xa so với nhiều nước láng giềng khác. Còn hãng tin Mỹ AP nhắc lại việc tranh chấp quần đảo Trường Sa với Trung Quốc đã làm cho trên 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam thiệt mạng năm 1988.

Nguồn: viet.rfi.fr

                           ************

Tàu lạ 

Nguồn Báo Đại Đoàn Kết

(07/04/2012)

Lâu nay trên các phương tiện thông tin đại chúng thỉnh thoảng lại có tin tàu cá của ngư dân bị tàu lạ đâm chìm, hoặc tàu lạ gây tai nạn rồi bỏ chạy. Sự việc làm nhiều người dân hoang mang.

Hiện tượng tàu lạ gây rối, làm ảnh hưởng đến việc sản xuất của ngư dân đã không còn là một chuyện hiếm, là một vấn đề cấp thiết đặt ra. Tàu lạ- có nhiều giả thiết đặt ra: Tàu của cướp biển, tàu của ngư dân, tàu quân sự, an ninh của nước ngoài…tất cả đều xâm phạm lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Theo phản ánh của các ngư dân bờ biển Bắc bộ, hàng đêm, chỉ cần chạy tàu ra khỏi đất liền mấy km đã thấy hàng đoàn tàu Trung Quốc, trang bị hiện đại đánh bắt trên ngư trường của Việt Nam. Tàu nhỏ, người ít, nhiều khi các ngư dân Việt Nam đành phải tránh.

Thực ra nhiều năm nay, nhiều tàu lạ, tàu cá của nước ngoài, nhất là của Trung Quốc đã liên tục xâm lấn khai thác vùng biển của Việt Nam. Mặc dù họ khai thác trộm, nhưng nhiều khi gặp bão dông, tai nạn, các ngư dân Việt vẫn rộng lòng cưu mang, cứu giúp. Vậy nhưng, lạ thay, 2 tàu cá cùng 21 ngư dân Việt Nam khai thác trên ngư trường quen thuộc ở Hoàng Sa từ bao đời nay, bỗng lại bị Trung Quốc bắt giữ và đòi tiền chuộc nhiều ngày qua chưa thả.

Hành vi nói trên rõ là lạ, đi ngược lại hoàn toàn những tình cảm, phong tục của ngư dân Việt và những người đi biển quốc tế nói chung. Người Việt ta vốn bao dung, nhiều khi còn bỏ qua sự “trộm” của kẻ trộm- những tàu lạ. Trong khi đó, tàu lạ, phía Trung Quốc nào là vừa ăn trộm lại còn ăn cướp, bắt người, tống tiền…

Dù sao, cơ quan chức năng cũng cần có biện pháp bảo vệ ngư dân, bảo vệ vùng biển của ta, không cho phép các tàu lạ được thể làm càn.

Thiện Dân

——————————————————————————————————–

‘Trong khi với NHẬT hay ĐẠI HÀN, mỗi lần tàu hải giám của TQ đụng độ hay xâm phạm quốc gia của họ thì tên ĐẠI SỨ của TQ bị gọi đến Bộ Ngoại giao của họ để nghe phản đối ví dụ: “Thứ sáu tuần qua, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc để phản đối vụ “xâm nhập cực kỳ nghiêm trọng” của tàu hải giám Trung Quốc vào vùng nước Senkaku”. (http://vietnamnet.com.vn/vn/chinh-tr…–nat–my.html )

“Trong khi đó thì với VN, TQ không những đã xâm chiếm chủ quyền biển đảo, lại còn bắt ngư dân ta, cướp dụng cụ, đòi tiền chuộc, 2 tàu Trung Quốc vô tận Nha Trang thả neo, thì  đảng và nhà nước chẳng dám triệu tập tên đại sứ TQ đến bộ ngoại giao để trao công hàm phản đối bao giờ, vì lo sợ làm TQ giận. Chỉ khép nép cho người của bộ ngoại giao VN đến tòa đại sứ TQ “trình” kháng thư lên cho tên Đại sứ TQ mà thôi. Bằng chứng đây nè“Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ quán TQ nêu rõ lập trường và đang tiếp tục đấu tranh để giải quyết vụ TQ giam giữ 21 ngư dân.”(http://vietnamnet.com.vn/vn/chinh-tr…vie-t-nam.html ) ”  Vietlandnews.net

 

—————————

 

Đối thoại giữa chính phủ và người dân Văn Giang bất thành

Việt Hà, phóng viên RFA Bangkok
2012-04-12

Sáng ngày hôm nay đại diện chính phủ vừa có cuộc đối thoại trực tiếp với bà con nông dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Courtesy Blog Nguyenxuandien

Tham gia cuộc đối thoại ngày hôm nay 12/04,2012 còn có bà Lê Hiền Đức (đứng giữa áo trắng)

Nội dung cuộc đối thoại liên quan đến việc thực hiện cưỡng chế đất của người dân huyện Văn Giang để làm dự án đô thị EcoPark.

Vào 8 giờ 30 phút sáng ngày hôm nay, 12 tháng 4, gần 2000 người dân thuộc ba xã Xuân Quang, Phụng Công, và Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã tập trung về văn phòng ủy ban nhân dân huyện để theo dõi cuộc đối thoại giữa đại diện chính quyền trung ương và địa phương với đại diện người dân xã Xuân Quang.

Những người dân đến dự cuộc đối thoại theo giấy mời ký ngày 9 tháng 4 của ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên gửi cho 166 hộ dân thuộc xã Xuân Quang. Đây là những hộ nằm trong diện sẽ bị chính quyền cưỡng chế thu hồi đất để nhường mặt bằng cho dự án khu đô thị Ecopark.

Theo quyết định được chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Văn Giang là bà Đặng Thị Bích Thủy, ký vào ngày 5 tháng 4 vừa qua, ngày 20 tháng 4 tới là thời hạn mà chính quyền địa phương đưa ra để bắt các hộ dân này phải di dời nếu không sẽ bị cưỡng chế.

” Cuộc gặp hôm nay nói chung không đối thoại được, vì thành phần người dân không đúng thành phần. Dự án là của 3 xã mà họ chỉ mời có 166 hộ tới đây cưỡng chế. Khi bước vào thì họ tuyên bố chương trình làm việc, dân chúng tôi phản đối vì thành phần không đúng” – Chị Kiệm.


Ngày 12/04/2012. UBND tỉnh Hưng Yên chỉ gởi giấy mời cho 166 hộ nông dân lên tham dự đối thoại. Một nông dân đang phát biểu. RFA screen capture/congbangphapluat

Đại diện chính quyền đến dự cuộc đối thoại với bà con nông dân Văng Giang hôm nay bao gồm đại diện thanh tra chính phủ, bộ tài nguyên môi trường, bộ công an, mặt trận tổ quốc tỉnh, lãnh đạo ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang.

Cho đến trưa cùng ngày, chúng tôi liên hệ với người dân địa phương, những người đã tham dự cuộc đối thoại và được biết cuộc đối thoại đã thất bại. Chị Kiệm, người dân xã Xuân Quang, chứng kiến cuộc đối thoại cho Đài Á Châu Tự Do biết:

“Cuộc gặp hôm nay nói chung không đối thoại được, vì thành phần người dân không đúng thành phần. Dự án là của 3 xã mà họ chỉ mời có 166 hộ tới đây cưỡng chế. Khi bước vào thì họ tuyên bố chương trình làm việc, dân chúng tôi phản đối vì thành phần không đúng.”

Chị Thỉnh, ở xã Phụng Công cho biết người dân cho rằng việc chính quyền chọn đối thoại với 166 hộ dân của xã Xuân Quang riêng lẻ là nhằm mục đích chia nhỏ để dễ xử lý:

“Dự án này là của 3 xã nó tập trung vào một xã, nó muốn bóc tách ra. Một bó đũa nó tách ra để nắn cho nó dễ, dân không đồng ý. Cuộc đàm thoại hôm nay coi như là không thể đàm thoại được.”

“Dự án này là của 3 xã nó tập trung vào một xã, nó muốn bóc tách ra. Một bó đũa nó tách ra để nắn cho nó dễ, dân không đồng ý. Cuộc đàm thoại hôm nay coi như là không thể đàm thoại được “. – Chị Thỉnh

Một lý do khác nữa khiến cuộc đối thoại không thành, theo chị Thỉnh là vì nhiều đơn thư khiếu kiện của bà con đến nay vẫn chưa được giải quyết:

“Bây giờ chúng tôi đang khiếu kiện bà chủ tịch huyện phá, cưỡng chế mấy mẫu ruộng của tôi và còn của hơn 150 hộ dân mấy năm nay, không có ruộng đất làm ăn, không có công ăn việc làm. Chúng tôi khiếu kiện tỉnh, tỉnh chưa giải quyết, chúng tôi vượt cấp lên trung ương, mà chưa giải quyết đơn thư của chúng tôi thì làm sao có cuộc đàm thoại thỏa thuận được, chúng tôi không đàm thoại.”


Ngày 11/04, hàng ngàn nông dân Văn Giang, Dương Nội tập trung tại trụ sở làm việc mới của Thanh tra Chính phủ ở Yên Hòa- Cầu Giấy để phản đối việc cưỡng chế đất. RFA screen capture/CongbangPhapluat

Tham gia cuộc đối thoại ngày hôm nay còn có bà Lê Hiền Đức, người đã nhiều năm sát cánh cùng dân oan khắp nơi chống tham nhũng. Đại diện chính quyền địa phương tìm cách ngăn cản bà Đức dự cuộc đối thoại nhưng đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của người dân.

Bà Lê Hiền Đức cho biết cuộc đối thoại diễn ra trong sự bức xúc cao độ của người dân, đã khiến đại diện chính phủ và địa phương phải bỏ cuộc giữa chừng:

“Chả giải quyết được gì hết, cán bộ thanh tra chính phủ trốn hết rồi, sau khi dân ầm ầm lên bảo vệ bà Đức thì cán bộ thanh tra biến hết, chủ tịch đòan vắng tanh, bàn chủ tịch đoàn không một bóng người.”

Chúng tôi đã gọi điện đến văn phòng chủ tịch và phó chủ tịch huyện Văn Giang nhưng không có người trả lời.

“Chả giải quyết được gì hết, cán bộ thanh tra chính phủ trốn hết rồi, sau khi dân ầm ầm lên bảo vệ bà Đức thì cán bộ thanh tra biến hết, chủ tịch đòan vắng tanh, bàn chủ tịch đoàn không một bóng người “. Bà Lê Hiền Đức

Trước khi cuộc đối thoại này diễn ra, vào hai ngày 10 và 11 tháng 4, người dân huyện Văn Giang đã tập trung về văn phòng ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và thanh tra chính phủ ở Hà Nội để đề nghị can thiệp chấm dứt việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật của địa phương.

Dự án Ecopark ở huyện Văn Giang được bắt đầu từ năm 2004 sau quyết định 742 ký ngày 30 tháng 6 năm 2004 của phó thủ tướng Nguyễn Tẫn Dũng cho phép tiến hành xây dựng dự án Ecopark trên vùng đất của ba xã.

Để lấy 500 ha đất cho dự án này, chính quyền địa phương đã tiến hành thu hồi, cưỡng chế đất của khoảng 4,000 hộ dân bất chấp sự phản đối của người dân.

Trong số 4,000 hộ dân này, có hơn 1800 hộ dân kiên quyết không chịu nhận mức đền bù 36 triệu đồng một sào ruộng, mà họ cho là quá rẻ mạt.

Từ năm 2006, các hộ dân ba xã Xuân Quang, Phụng Công, và Cửu Cao, đã bắt đầu nộp đơn khiếu kiện lên các cấp tỉnh và trung ương về việc cưỡng chế thu hồi đất bất hợp pháp của chính quyền địa phương. Người dân địa phương cho biết, cho đến nay, các đơn thư khiếu kiện này vẫn chưa được giải quyết.

——————————————————————————————————

Trích:

2. Trí thức Đông Âu

Năm 1986, khi bức tường Berlin còn chưa sụp đổ, sau khi Đại hội 27 ĐCS Liên Xô tuyên bố về Perestroika và Glasnost, Vaclav Havel viết ‘Người trí thức phải thường xuyên can thiệp, tận mắt chứng kiến nỗi khổ của nhân dân, đồng cảm với nỗi khổ ấy và nổi dậy chống lại những áp bức vô hình hay hữu hình, là những người luôn đặt mối nghi ngờ đối với hệ thống, với quyền lực và những bùa chú, xuyên tạc mà những quyền lực đó đặt ra’[10].

Có thể thấy,  trách nhiệm ‘dám nói lên sự thật’, tự nhận là ‘người nô bộc khiêm tốn và dũng cảm của sự thật’[11] đã được nhiều trí thức Đông Âu đảm nhiệm. Đông Âu, cũng như Nga, có một đội ngũ trí thức được hình thành như một giai tầng trong xã hội -“inteligentsia”, đội ngũ được xây dựng sau chiến tranh Thế giới thứ hai, gồm nhiều trí thức tiến bộ tập hợp như một lực lượng chống Phát xít.

Giới trí thức đóng một vai trò quan trọng trong các quốc gia XHCN, như hai trí thức mác xit người Hungary, George Konrad và Ivan Szelenyi nhận định[12]. Theo hai học giả này, quyền phân phối thặng dư trong xã hội tư bản thuộc về chủ tư bản, còn trong xã hội XHCN, do không có tư bản, quyền này thuộc về giới cầm quyền- trí thức.

“ Ngay khi thị trường được thay thế bằng kế hoạch hóa, những người nắm tri thức sẽ lên nắm quyền, thay cho những người sở hữu tư bản”. Quá trình phân phối sản phẩm “duy ý chí” được hình thành, thay cho việc phân phối sản phẩm dựa vào thị trường. Ngòai ra Konrad và  Szelenyi còn nhận định rằng trong xã hội XHCN vai trò của giới trí thức sẽ được coi trọng hơn trong xã hội TBCN, bởi vì giới trí thức ở các nước XHCN, khi bị đẩy ra ngòai rìa, sẽ có xu hướng cầm đầu phong trào “nổi loạn” chống lại quyền lực chính trị.

Do đó,  bộ máy cần o bế họ để phục vụ các mục tiêu chính trị, cũng như dùng họ để nuôi dưỡng lý luận và tuyên truyền. So với giai cấp công nhân thì trí thức có vẻ được ưu đãi hơn rất nhiều. Họ kiếm được “căn hộ” dễ dàng hơn, có nhiều thời giờ rảnh rỗi, nhiều cơ hội giải trí hơn, tạo nhiều mối quan hệ và gây được nhiều ảnh hưởng hơn, cũng như được giới lãnh đạo “dè chừng”, “vị nể” hơn[13]. Tuy nhiên nếu đi chệch hướng thì họ có thể phải gánh chịu những hậu quả thảm khốc.

Một trong những đóng góp quan trọng của trí thức Đông Âu là nỗ lực hình thành nên “xã hội dân sự” ở những nước này.

Ngay trong thời kỳ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Liên Xô, ở các nước Đông Âu Ba Lan, Tiệp Khắc và Hungary, dưới lớp vỏ ngoài của xã hội tập trung bao cấp đã có những mầm mống của xã hội dân sự với “những giai tầng đa dạng, những nền văn hóa, truyền thống lịch sử, các thiết chế chính trị-kinh tế khác biệt”[14].

Cho đến thập niên đầu của thế kỷ XX khu vực này vẫn chịu ảnh hưởng của các đế chế xung quanh: Nga ở phía Đông, Thổ ở phía Tây và Áo ở phía Nam.

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ I kết thúc, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary và Nam Tư mới giành lại độc lập. Như một phản xạ nhằm đối phó lại với phạm vi ảnh hưởng của những đế chế nói trên, những quốc gia-dân tộc này tìm mọi cách để duy trì và lưu giữ những nét đặc sắc văn hóa xã hội riêng của mình, trong đó các trí thức đóng một vai trò to lớn.

Một trong những phong trào nổi bật trong sự hình thành các nhóm, các tổ chức mang tính quần chúng, góp phần xây dựng xã hội dân sự ở Đông Âu là các hoạt động bảo vệ môi trường.

Quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước Đông Âu đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, trong khi chính quyền đã không đưa ra những giải pháp kịp thời cho vấn đề ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm, các nhóm trí thức đã sớm nhận thức được hiểm họa tàn phá môi trường và tác động tiêu cực của nó tới dân sinh.

Tuyên ngôn đầu tiên của hội những người bảo vệ môi trường được đưa ra ở Ba Lan, khi Câu lạc bộ sinh thái Ba Lan được thành lập ở Cracow vào tháng 9 năm 1980. Nhiều nhà khoa học môi trường đã tập trung ở đây để khai mạc cho Câu lạc bộ này bằng một bức thu ngỏ gửi lên chính phủ yêu cầu có những điều luật nghiêm khắc hơn nữa nhằm bảo vệ môi trường sống. 

Nhiều hội thảo đã được tổ chức, nhiều kết luận về tình trạng ô nhiễm cũng như tác hại đối với sức khỏe người lao động, các khuyến nghị tới chính phủ đã được đệ trình.

Sau sự kiện Chernobyl ở Ukraina, nhóm vì Hòa bình và Tự do đã tổ chức các cuộc biểu tình phản đối việc bưng bít thông tin về vụ nổ, khoảng 2000 người đã tham gia tuần hành ở Cracow. Tại Bialystok, khu vực gần Chernobyl, khoảng 3000 người đã ký lời kêu gọi ngừng xây dựng một nhà máy điện hạt nhân ở Ba Lan có tên là Zarnowiec.

Phối hợp với các nhà khoa học và nhà báo, tổ chức này đã gây sức ép buộc chính quyền đóng cửa nhà máy thép Siechnice gần Wroslaw do làm ô nhiễm nguồn nước trong khu vực. Chính quyền khu vực này cam kết sẽ chấm dứt hoạt động của nhà máy trước năm 1992. Ngoài ra, danh sách 500 nhà máy cũng được liệt kê vì đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

            Kể từ năm 1978, phong trào Hiến chương 77 ở Tiệp Khắc đã coi môi trường là một trong những vấn đề quan trọng trong chương trình hành động. Tháng 7 năm 1983 nhóm giám sát nhân quyền đã soạn thảo một văn bản chi tiết cảnh báo chính quyền về tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở miền bắc Bohemia. Tháng 2 năm 1984, Hiến chương 77 đã phát hiện và in lại một báo cáo  mật của chính phủ do Viện Hàn lâm Tiệp Khắc soạn thảo năm 1983 về vấn đề môi trường, trong đó thông báo tình trạng môi trường đang bên bờ thảm họa và những hậu quả sức khỏe nghiêm trọng đối với dân chúng.

            Báo cáo nêu rõ, kể từ năm 1960, số người bị mất khả năng lao động tăng 50% do các lý do về sức khỏe. Ở các khu công nghiệp, tỉ lệ người người mắc bệnh phổi, tử vong ở trẻ em tăng mạnh. Tương tự, cây cối và động vật cũng bị ảnh hưởng do mưa axit, ô nhiễm nguồn nước và không khí cũng như sử dụng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp.

           Năm 1986, Hiến chương 77 đã ra văn bản trình lên Quốc hội phàn nàn việc chính phủ Tiệp Khắc chậm trễ phản ứng với khủng hoảng Chernobyl, trong đó đề nghị phải ngay lập tức đưa đầy đủ thông tin về mức tăng phóng xạ ở Tiệp Khắc và ý kiến của chuyên gia về các biện pháp giảm thiểu tác hại đối với sức khỏe con người.

           Năm 1987, tổ chức này ra hai văn bản về tình trạng môi trường ở Tiệp Khắc, trong đó đề nghị vấn đề môi trường phải được đưa ra bàn luận rộng rãi trong công chúng. Các văn bản này được gửi tới nhiều cơ quan của chính phủ, đòi hỏi các nhà máy xí nghiệp dùng than có hàm lượng thấp phải lắp đặt các máy lọc không khí, sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng và cảnh báo nguy cơ cao đối với các nhà máy hạt nhân.. Tuy nhiên những yêu cầu này đều không được giải đáp.

           Ở Hungary, phong trào bảo vệ môi trường cũng được dấy lên bởi các tổ chức phi chính phủ. Nhóm Danube Circle (do nhà báo và nhà sinh vật học Janos Vargha thành lập năm 1984) kết hợp với Hiến chương 77 thành lập ra một Dự án liên kết Tiệp-Hung về những nguy hiểm đối với môi trường do đập thủy điện Gabciko-Nagymaros đang xây dựng có thể gây ra.

            Dự án này tiến hành nghiên cứu và soạn thảo các văn bản đệ trình lên chính phủ hai nước về những nguy cơ hủy diệt môi trường của khu vực sông Đa nuyp. Cũng chính nhóm Danube Circle đã gửi một bức thư lên Quốc hội và Hội đồng Bộ trưởng Hungary về những tác hại của ô nhiễm môi trường và kêu gọi nhận thức  đúng đắn về vấn đề này với chữ ký của khoảng 5000 người trong đó có 50 đại diện hoạt động trong lĩnh vực khoa học và văn hóa.

            Nhóm Danube Circle tuyên bố không liên quan đến các phong trào chống đối hay các mục tiêu chính trị, mà chỉ là một tổ chức quan tâm đến các vấn đề sinh thái môi trường. Tuy nhiên chính quyền không công nhận nhóm này là một tổ chức chính thức và đã bác bỏ đề nghị của họ.

           Vào năm 1985, nhóm này mới được phục hồi trở lại sau khi họ được nhận giải thưởng “Sinh kế đúng đắn” với số tiền 95.000 đôla, và được nêu tên tại lễ trao giải tại Nghị viện Thụy Điển.

           Hai năm sau họ mới được chính phủ Hungary đồng ý cho nhận giải bằng tiền Hungary với lý do không được nhận giải bằng ngoại tệ. Nhóm này đã dùng số tiền thành lập ra Quỹ Danube với cam kết “hỗ trợ cho các cá nhân và phong trào tư nhân có các hoạt động gìn giữ môi trường và thiên nhiên có liên quan đến vùng sông Đanuyp”. Nhiều dự án đã được đệ trình để xin Quỹ hỗ trợ.

           Nhóm Danube Circle còn huy động nhân dân yêu cầu chính phủ thay đổi chính sách. Cuộc trưng cầu ý kiến về đập thủy lợi đã thu được 2655 chữ ký nhưng không thu được đánh giá tích cực từ phía chính quyền (dẫn theo Janusz Bugajski và Maxine Pollack, 1989:214)[15].

          Tháng 4 năm 1986, 30 trí thức Hungary đã gửi in một quảng cáo trên một trang của tờ báo ở Viên, thủ đô nước Áo, có tên là Die Presse, với ý định kích động dân chúng Áo phản đối việc xây đập trên dòng Đanuyp trên đất Hung, do phần lớn tín dụng để xây đập là từ Viên và 70% gói thầu xây dựng đập sẽ trao cho các hãng của Áo.

          Quảng cáo tuyên bố “Một xã hội dân chủ- và chúng tôi tin xã hội Áo là như vậy- không cho phép nó khai thác sự thiếu dân chủ ở một nước khác vì những lợi ích vật chất của nó”. Một số các nhà môi trường và chính trị gia của Áo đã tỏ thái độ thông cảm .

          Tháng 7 năm 1986, 19 thành viên của Danube Circle đã gửi đơn thỉnh cầu lên Nghị viện Viên, thúc dục họ xem xét lại lần cuối hiệp định Áo-Hung về việc xây đập.

          Ngoài Danube Circle ở Hungary còn một số nhóm các nhà môi trường khác, trong đó thành công hơn cả phải kể đến nhóm “Blues” (Nhóm Xanh, chỉ màu xanh của nước biển và làm nhắc lại các nhóm Xanh vì môi trường của Tây Âu).

          Thành lập năm 1985, nhóm Xanh trẻ hơn và hăng hái hơn nhóm Danube Circle. Họ tham gia vào các phong trào giáo dục công cộng, chủ yếu với các tuyên truyền bảo vệ sông Đa nuyp. Mặc dù họ không ra ấn phẩm thường kỳ, nhưng lại sử dụng các tờ rơi để đến với dân chúng.

          Tháng 9 năm 1985, họ lần đầu tiên phân phát 10 ngàn tờ rơi trên khắp Hungary để phản đối việc xây đập thủy điện Gabciko-Nagymaros. Ngoài ra nhóm này cũng gửi thư lên Quốc hội và các nhà trí thức trong khu vực sông Đa nuyp, trong đó trình bày những nguy hại của đập đối với môi trường.

          Trong một bài phỏng vấn với tạp chí samizdat, các thành viên của nhóm Xanh đã tuyên bố các mục tiêu của mình “trên thực tế là vượt quá định hướng bảo vệ môi trường, và mong muốn khuyến khích  tư duy độc lập trong mọi lĩnh vực đời sống và chủ trương tự quản hơn nữa trong cách mọi người sống và làm việc. Chúng tôi muốn mọi người kết hợp lại và chấm dứt sự phân chia trong xã hội” (dẫn theo Janusz Bugajski và Maxine Pollack, 1989:215)[16].

          Tháng 3 năm 1988 đại diện của 13 nhóm môi trường độc lập đã nhóm họp ở Budapest, thành lập ra một ủy ban phối hợp chung gọi là Mạng lưới thông in của các nhóm bảo vệ môi trường và có một tờ tạp chí riêng là Tuleles (Sống sót) ra hai tháng một số. Trong số các đại diện của Mạng lưới này có nhóm Danube Circle, nhóm Quỹ Danube, nhóm Câu lạc bộ sinh thái của trường Đại học Eotvos Lorand  nhóm Kal Basin Friendsship Circle, nhóm liên minh Petofi và nhóm hòa bình 4-6-0 . Những nhóm này có quan hệ với một số tổ chức chính thức như KISZ (Đoàn Thanh niên) và Bộ Môi trường.

            Nhìn lại lịch sử tư tưởng châu Âu, chúng ta thấy thái độ và quan điểm đối với trí thức khác nhau ở từng khu vực và từng giai đoạn phát triển. Dù cho thuật ngữ “intellectual” mới được sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ 19, chúng ta hiểu rằng, trí thức, dưới những hình ảnh khác nhau của các triết gia, nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ…đã xây dựng nên một châu Âu vô cùng đa dạng và giàu bản sắc, họ là những thành tố quan trọng trong việc định hướng tư tưởng, dẫn dắt dư luận, diện mạo văn hóa của xã hội châu Âu.

 Trần Thị Phương Hoa

Viện Nghiên cứu châu Âu
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Nguồn: http://wp.me/po94e-1TY

——————————————————————————————————————————————–

Nhật ký ngày 9/5/2011

Nguyễn Thị Từ Huy

Chiều nay tôi gặp một vị cán bộ quản lý của trường nơi tôi làm việc, do trước đó ông có gọi điện và hẹn gặp tôi. Ông rất nhã nhặn và tỏ ra lúng túng khi bắt đầu câu chuyện. Rút cục thì ông cũng nói rằng chuyện liên quan đến việc ký vào bản kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ, rằng công an đã gọi điện đến và yêu cầu ông kiểm tra xem tôi có ký hay không.

Tôi nói rằng tên tôi có trong bản danh sách, chuyện đó kiểm tra rất dễ, sao còn làm phiền ông. Và tôi xin lỗi ông vì lẽ ra họ phải gọi trực tiếp cho tôi, vì việc ký kiến nghị là một lựa chọn cá nhân, là quyết định của cá nhân tôi, không liên quan gì đến trường. Trường chỉ quản lý tôi về phương diện công việc. Còn mọi hoạt động khác của tôi ngoài phạm vi cơ quan, tôi phải chịu trách nhiệm, vì tôi là một công dân có đủ quyền công dân, và có đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ của một công dân. Họ đã làm phiền ông, đã làm mất thời gian của ông, tôi thực sự áy náy vì điều đó. Tôi còn áy náy với ông hơn vì việc làm của tôi không vi phạm pháp luật, không vi phạm đạo đức cá nhân, cũng không vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thế mà lại khiến ông phải mất thời gian quý báu của ông cho tôi. Thời gian đó đáng lẽ phải được dành cho các hoạt động chuyên môn của ông, đáng lẽ phải được dành cho các công việc vốn rất bận rộn của trường.

Sau đó, chúng tôi nói chuyện với nhau về những nỗi khổ tâm của các trí thức. Trí thức, từ xưa đến nay, muôn đời đều có những khổ tâm đặc thù của họ. Chúng tôi nói chuyện về Marx, về các lý tưởng và mơ ước của Marx. Rút cục thì có vẻ như thời gian của cuộc gặp gỡ cũng không đến nỗi vô ích.

Một vài người xung quanh nói rằng vì việc ký bản kiến nghị mà có thể tôi bị theo dõi. Tại sao lại theo dõi một người như tôi? Một người không bao giờ làm hại ai (mà cũng không đủ khả năng làm hại ai, một phụ nữ đơn độc, chân yếu tay mềm). Một người đang cố gắng thực hiện truyền thống của một gia đình công dân bình thường nhưng không tầm thường. Cụ nội tôi là chánh tổng Lai Thạch, nhưng vì ủng hộ cách mạng nên bị cách chức; và cụ đã tự vẫn, tự quyết định số phận theo ý mình, không chịu rơi vào tay thực dân Pháp. Một người con của cụ là ông Nguyễn Huy Lung, một nhân vật có ảnh hưởng quan trọng trong phong trào 30-31 ở Nghệ Tĩnh, bị bắt giam tháng 12/1930. Do các ảnh hưởng và hoạt động của ông ở trong tù, nên Pháp đã liên tục thuyên chuyển ông từ nhà lao Hà Tĩnh vào nhà lao Đồng Hới rồi vào Kon Tum. Ở đó, tháng 12/1931, ông bị bắn chết khi cùng anh em tù phản đối bị chuyển đi Dak Pek. Một người con khác của cụ là ông nội tôi, cũng là đảng viên 30-31, khi nhận được công văn của tổ chức, không một phút chần chừ, đã đem các con nhỏ gửi cho anh em (bà nội tôi, vốn cũng bị tù đày trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, lúc đó đã mất), gửi lại nhà cửa, vườn ruộng, đi sang hoạt động ở vùng khác theo sự điều động của cách mạng. Ba tôi, vì lý tưởng, đã bỏ công việc ở ngân hàng, vốn rất ổn định và đảm bảo, lên Điện Biên tìm hiểu thực tế, tham gia vào đời sống và tìm cảm hứng sáng tạo. Và sau này, khi đất đai trở thành đối tượng của sự tham nhũng hoặc là bằng chứng của một kiểu ân huệ, ông đã từ chối không nhận mảnh đất do cơ quan cấp.

Gia đình tôi không có gì đặc biệt hơn những gia đình Việt Nam khác. Và chúng tôi cũng có một truyền thống như bao gia đình Việt Nam khác. Truyền thống đó cần phải được tiếp nối, dưới hình thức này hay hình thức khác. Cuộc sống luôn có những lựa chọn khác nhau. Tôi tin rằng tổ tiên của tôi sẽ ủng hộ lựa chọn của tôi hiện nay. Tôi đã lựa chọn ba triệu đồng một tháng (đấy là số tiền công lao động hàng tháng hiện nay được chuyển vào tài khoản của tôi) để làm công việc mà tôi cho là có ích, thay vì tìm một công việc được trả thù lao xứng đáng với bằng cấp, với trình độ và với nhân phẩm của tôi. Tôi, và những viên chức như tôi, không nợ nần gì ai cả, không ăn cơm của ai cả. Chúng tôi được trả một đồng lương không xứng đáng với những gì mà chúng tôi cống hiến, không xứng đáng với thân phận người của chúng tôi. Để sống chúng tôi phải bán sức lao động để làm nhiều việc khác. Tổ tiên của tôi hiểu rằng tôi chấp nhận trả giá để thực hiện công việc mà tôi cho là có ý nghĩa với các thế hệ sau. Đó cũng là một cách để tiếp nối truyền thống gia đình.

Ký vào kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ là việc tối thiểu mà một trí thức có thể làm. Có thể cụ nội tôi, ông nội tôi hay ông Nguyễn Huy Lung sẽ thất vọng về tôi, thất vọng vì tôi có thể làm nhiều điều hơn thế mà tôi chỉ làm được cái điều tối thiểu. Nhưng có lẽ tổ tiên cha ông tôi cũng thất vọng nếu vì hành vi đúng đắn đó mà tôi bị nghi kỵ, bị theo dõi. Và họ còn tủi hổ hơn nếu tôi cảm thấy sợ hãi vì việc làm đúng của mình.

Tại sao làm điều đúng lại phải sợ? Tại sao làm điều tốt lại phải sợ?

Xã hội này có phải đã mất hết ý thức về các giá trị làm người rồi không, mất hết ý thức về các giá trị nhân đạo rồi không, mất hết ý thức về công lý, lẽ phải rồi không? Không, tôi không tin là như vậy. Tôi không tin là những người làm nhiệm vụ theo dõi đã mất hết tính người, chỉ còn biết hoạt động như những công cụ, như những cỗ máy. Tôi đã xem một bộ phim của Đức: Cuộc sống của những người khác (The lives of the others). Bộ phim đạt giải phim nói tiếng nước ngoài hay nhất Oscar 2007, phim hay nhất châu Âu 2006, phim hay nhất nước Đức 2006.

Một trong các nhân vật chính của bộ phim đó là Wiesler, nhân viên an ninh, làm công việc theo dõi những người có tinh thần tiến bộ. Và từ một kẻ lạnh lùng, sắt đá, chỉ biết có yêu cầu của công việc và thực hiện răm rắp nghĩa vụ với những kỹ năng thuần thục, chuyên nghiệp, quá trình theo dõi đã biến nhân vật thành một người có cảm xúc và biết phân biệt những gì là nhân văn với những gì là phi nhân, phân biệt được cái gì là thiện và cái gì là ác. Kết cục là anh ta đã giúp đỡ những người bị anh ta theo dõi, và bản thân anh ta thì bị cách chức, đuổi việc. Bộ phim có một kết thúc rất đẹp: sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, nhân vật bị theo dõi đã vào viện lưu trữ tìm lại những tài liệu về quãng đời cũ của mình, và tình cờ phát hiện ra rằng người theo dõi đã cứu sống anh ta. Anh ta dò hỏi và tìm được địa chỉ của người ấy, giờ đây đang làm nghề đưa thư. Anh ta ngồi trong ô tô từ xa nhìn ân nhân của mình trên chiếc xe đạp chở đầy thư, bưu kiện. Anh ngập ngừng rồi quay đi, không đến gặp ông ấy nữa. Một thời gian sau, người đưa thư đi qua hiệu sách nhìn thấy áp phích quảng cáo cuốn sách mới của nhà văn Dreyman, người ông ta từng theo dõi nên biết rất rõ. Ông ta bước vào hiệu sách, cầm cuốn tiểu thuyết của Dreyman có nhan đề Bản sonate của những người tốt. Ông mở ra và đọc được lời đề tặng dành cho mã số: HGW XX/7. Đấy chính là mã số của ông hồi còn là nhân viên an ninh. Khi ông ta mua cuốn sách, người bán hàng hỏi ông có muốn gói quà không, ông trả lời: “Không, nó dành tặng tôi”.

Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn không phải chỉ nhờ việc những người đấu tranh cho chính nghĩa và cho các giá trị tốt đẹp biết hy sinh, mà còn nhờ việc những người chống lại chính nghĩa và chống lại các giá trị tiến bộ biết nhận ra rằng họ cần ủng hộ lẽ phải. Và nghệ thuật đích thực bảo vệ nhân tính, phát hiện nhân tính kể cả ở những nơi, những lúc, ở những người tưởng như không còn nhân tính.

Nếu giả sử (chỉ là giả sử mà thôi) có ai đó theo dõi tôi thì tôi tin rằng người đó cũng sẽ chuyển biến theo chiều hướng như vậy. Tôi tin ở các giá trị mà tôi đang cố gìn giữ và xây dựng. Tôi tin rằng lương tri và tính thiện có sức cảm hóa. Người Việt Nam là người, trước khi là người Việt Nam. Tức là chúng ta cũng mang các giá trị phổ quát của nhân loại. Chúng ta có bộ óc để nhận thức, để nhận biết lẽ phải, chúng ta có trái tim để biết xúc động, biết yêu quý những gì cần yêu quý và căm ghét những gì cần căm ghét. Chúng ta cũng có đủ phẩm chất trí tuệ và sức mạnh như những dân tộc khác để xây dựng một xã hội nhân bản như chúng ta mong muốn, nếu chúng ta thực sự mong muốn.

Có thể là tôi ảo tưởng. Nhưng ảo tưởng cũng là một đặc điểm chỉ có ở con người. Đặc điểm này có thể khiến cho con người thất bại, nhưng đó là sự thất bại có giá trị. Còn ai có thể ảo tưởng hơn những kẻ xưa kia mơ ước thảm bay và mơ ước lên mặt trăng. Tuy nhiên nếu không có những kẻ ảo tưởng về một đồ vật có khả năng di chuyển trên không trung với tốc độ kỳ diệu ấy, thì chắc chắn sẽ không có máy bay, tên lửa…

Con người có bộ óc và trái tim không phải để trở thành một cỗ máy, và cũng không thể trở thành một cỗ máy trừ khi nó không còn có ý thức rằng nó là người.

N. T. T. H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Chuyện ở Trùng Khánh: từ cái chết của Neil Heywood, đến Vương Lập Quân bị bắt, và Bạc Hy Lai bị đá khỏi Bộ Chính Trị Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 16/04/2012

Chủ nhật, 15 tháng 4, 2012

‘Người Anh xấu số’ ở Trùng Khánh

Cái tên Bạc Hy Lai, người vừa bị đá khỏi Bộ Chính trị Trung Quốc, đã trở thành quen thuộc với truyền thông nước Anh những ngày này, một phần vì liên hệ phức tạp với một doanh nhân người Anh quá cố.

Neil Heywood
Neil Heywood có quan hệ thân cận với gia đình Bạc Hy Lai trước khi chết

Cái chết của ông Neil Heywood tại Trung Quốc tháng 11 năm ngoái ban đầu được cho là vì “uống rượu quá độ”.

Nhưng từ sau khi ông Bạc Hy Lai bị cách chức Bí thư Trùng Khánh, vợ của ông đã bị điều tra vì tình nghi giết ông Heywood.

Vẫn còn nhiều ẩn số quanh doanh nhân người Anh này, nhưng ít nhất người ta biết rằng ông ta đến Trung Quốc đầu thập niên 1990 và nói được tiếng Trung.

Từ London, báo The Independent số ra hôm nay cho biết khi mới bắt đầu đến Trung Quốc làm ăn, Neil Heywood viết thư cho một loạt các chính khách đang lên.

Bạc Hy Lai trả lời thư, và doanh nhân người Anh kia đã dần dần thiết lập quan hệ với ông Bạc, người vợ thứ hai Cốc Khai Lai và đứa con trai Bạc Qua Qua.

Khi đó, ông Bạc còn là thị trưởng Đại Liên, là thành phố mà Heywood gặp và kết hôn với một phụ nữ người Hoa, Vương Lộ Lộ.

Đến lúc ông Bạc được điều về cai quản thành phố Trùng Khánh, ông Heywood cũng duy trì quan hệ tuy sống ở Bắc Kinh.

Ông ta đã giúp gia đình họ Bạc trong các vụ đầu tư, giới thiệu các công ty nước ngoài đến đây kinh doanh, và được cho là giúp con trai Bạc Qua Qua đi học ở trường tư Harrow (Heywood từng học ở đó) và sau này là Balliol College của Đại học Oxford.

Theo The Independent, ông Neil Heywood tạo cho mình ấn tượng bí hiểm như thể ông có quan hệ nào đó với giới tình báo. Và quả thức, có lúc ông đã làm cho Hakluyt&Company, một hãng tư vấn được một viên chức MI6 đồng sáng lập.

Nhưng đến năm ngoái, quan hệ của Heywood với bà Cốc Khai Lai xấu đi.

Có tin nói bà mắc chứng trầm cảm và có những đề nghị quái dị như bắt các nhân vật thân cận, gồm cả Heywood, phải ly dị và thề trung thành. Dĩ nhiên ông Heywood từ chối.

Và rồi đến một ngày định mệnh tháng 11 năm ngoái, ông Heywood được gọi đến Trùng Khánh.

Ông vào ở một khách sạn, đến nay chưa rõ tên, và xác ông sau đó được tìm thấy ở đây.

Phía Trung Quốc nói với Sứ quán Anh rằng ông uống rượu nhiều quá, nhưng lại nói với gia đình ông rằng ông bị đau tim. Dù gì đi nữa, hình như chẳng ai nghi ngờ về cái chết đột ngột của một người 41 tuổi, và thi thể của ông được hỏa táng.

Ở Anh tuần này, một số người đã chất vấn vì sao Sứ quán Anh khi đó dễ dàng để vụ việc trôi đi.

Vai trò Vương Lập Quân

Trong phần kế tiếp, người ta được biết giám đốc công an Trùng Khánh, Vương Lập Quân, đã gặp Bạc Hy Lai tháng Hai năm nay.

Theo thông tin công bố, ông Vương nói cấp dưới đã báo cáo rằng cái chết của Heywood là vụ giết người và bà Cốc Khai Lai thuộc diện tình nghi.

Vị Bí thư Thành ủy lập tức giáng chức ông Vương, khiến ông này lo cho tính mạng.

Vương Lập Quân
Không rõ số phận hiện nay của Vương Lập Quân

Ngày 6/2, ông Vương liên lạc với Lãnh sự quán Anh hẹn gặp nhưng lại không đến. Ông ta lái xe suốt 170 dặm để đến Lãnh sự Mỹ ở Thành Đô.

Theo các tin đồn, ông Vương khai báo đủ chuyện với người Mỹ, giao nộp nhiều tài liệu. Phía Mỹ nhận tài liệu nhưng từ chối bảo vệ và một ngày sau, giới chức Trung Quốc kéo vào để áp giải họ Vương.

Ông Vương đã bị bắt giam và không ai biết ông đang ở đâu.

Những diễn biến sau đó đã được công khai. Bạc Hy Lai mất chức Bí thư Trùng Khánh, bị hất khỏi Bộ Chính trị và vợ ông bị tạm giữ để điều tra vụ giết Neil Heywood.

Nhưng nếu quả thật đây là vụ sát nhân, thì vì lý do gì? Vì sao Cốc Khai Lai phải giết một công dân nước ngoài chỉ vì “tranh chấp kinh tế”?

Truyền thông tiếng Anh phỏng đoán nếu quả thật bà đã giết Heywood, có thể là vì Heywood biết quá nhiều về cách thức kiếm tiền của gia đình họ Bạc.

Đã có lời đồn rằng trước khi chết, ông Heywood đã trao hồ sơ cho một luật sư như một cách “bảo hiểm tính mạng”.

Vẫn không rõ tên người luật sư này cũng như nội dung tập tài liệu.

Cáo buộc tham nhũng

Nhiều năm qua đã có không ít cáo buộc tham nhũng với Bạc Hy Lai và gia đình. Thời gian ông làm thị trưởng Đại Liên cũng đã có lời đồn không hay, nhưng một phóng viên tố cáo đã bị cầm tù và đã sống lưu vong ở Canada từ 2009.

Người dân Trung Quốc cũng tranh cãi làm thế nào ông có tiền cho con trai đi học trung học và đại học ở nước ngoài.

Bạc Hy Lai và vợ
Bạc Hy Lai và vợ có nhiều quan hệ làm ăn với bên ngoài

Ông Bạc luôn khẳng định Bạc Qua Qua được học bổng, nhưng học lực anh này không có vẻ gì đặc biệt. Tại Oxford, anh ta có tiếng hay chơi bời và được yêu cầu phải dành thêm thời gian cho thi cử.

Dẫu vậy, chàng trai trẻ cũng đã được Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy của Đại học Harvard (học phí 70,000 đôla) nhận vào học. Tại đây, Bạc Qua Qua thuê căn hộ với giá 3,700 đôl