Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu, 2014

►Về chuyện Biển Đông, GS Thayer: ‘Việt Nam phải lên tiếng bây giờ nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi’

Posted by hoangtran204 on 29/06/2014

*trong giới lãnh đạo hàng đầu trong Bộ Chính Trị Việt Nam, sự lo sợ cao tới mức khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry mời Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sang Washington để thảo luận về vấn đề Biển Đông, Bộ Chính Trị đã quyết định phái một Thứ Trưởng Ngoại giao đi thay vì ông Phạm Bình Minh, bởi vì Hà nội sợ phái Bộ trưởng Ngoại giao tới Washington sẽ là hành động quá nhạy cảm vào thời điểm này, và điều đó cho thấy là có một số ủy viên Bộ Chính Trị muốn hòa hoãn, và nhượng bộ Trung Quốc, với hy vọng sẽ có thể giải quyết được cuộc tranh chấp này.

GS Thayer: ‘Việt Nam phải lên tiếng bây giờ nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi’

28-6-2014

HOÀI HƯƠNG

Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ  VOA 

Giáo sư Carl Thayer (trái) dự hội nghị về Biển Đông
Giáo sư Carl Thayer nói việc Trung Quốc điều máy bay quân sự tới gần giàn khoan có thể là để thử nghiệm trước khi tuyên bố một khu phòng không trên Biển Đông.

Một giới chức hàng hải cao cấp của Việt Nam tiết lộ rằng cho tới thời điểm này, hơn 27 tàu của lực lượng kiểm ngư Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc cố ý đâm va hơn 100 lần, gây thiệt hại nặng cho các tàu kiểm ngư Việt Nam.

Trong một cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Việt Nam chiều hôm qua, Phó Cục Trưởng Cục Kiểm Ngư Việt Nam Hà Lê còn cho biết là từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế Việt Nam, các tàu của Trung Quốc thường xuyên có hành động nguy hiểm để “tấn công và uy hiếp” nhân viên của lực lượng kiểm ngư và cảnh sát biển Việt Nam, ngăn cản không cho họ thi hành phận sự, và vì những hành động này mà từ hồi đầu tháng 6 tới giờ, 15 nhân viên của lực lượng kiểm ngư Việt Nam bị thương.

Đây là một trường hợp phải lên tiếng bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi. Trung Quốc muốn tăng mức độ uy hiếp các nước ở Á Châu, bằng cách trừng phạt và áp lực các nước này, để họ đừng lên tiếng phản đối những gì mà Trung Quốc đang làm. Nếu ngoan ngoãn im lặng thì có thể làm ăn hợp tác với Trung Quốc, nhưng đây không phải là một quan hệ ngang hàng giữa hai quốc gia ngang nhau, mà phải trở về quan hệ giữa một nước lớn và chư hầu như thời phong kiến khi xưa 

» Giáo sư Carl Thayer

Trang mạng Đời sống Pháp luật.com đăng tải nội dung của buổi họp báo, nêu lên những vụ điển hình gần đây nhất, xảy ra hôm 17 tháng 6, 18 tháng 8, và đáng chú ý nhất, theo bài báo là vụ xảy ra hôm 23 tháng Sáu, khi tàu kiểm ngư Việt Nam mang số hiệu KN-951 đang thi hành nhiệm vụ thực thi pháp luật trên biển, thì bị 4 chiếc tàu Trung Quốc bao vây, đâm va, gây hư hỏng nặng.

Phía Việt Nam cáo buộc rằng hành động hung hăng nguy hiểm đó của Trung Quốc cho thấy một sự tính toán trước, cố tình đâm vào chiếc tàu kiểm ngư 951 của Việt Nam để gây thiệt hại nặng cho tàu này.

Tin của VnExpress hôm nay tường trình rằng Trung Quốc đã điều thêm máy bay chiến đấu tới giàn khoan HD 981. VnExpress nói rằng chiều ngày 26 tháng từ 6 giờ tới 7g 40, Trung Quốc đã cho máy bay trinh sát bay ba lượt qua khu vực các tàu Việt Nam, và từ 8 g 45 tới 8g 55, lực lượng kiểm ngư phát hiện hai chiến đấu cơ Trung Quốc lượn ở độ thấp cách giàn khoan 12 hải lý.

Nói chuyện với Ban Việt ngữ –Đài VOA, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam, từng làm việc cho Học viện Quốc phòng Australia, nhận định về những diễn biến này và những vụ đụng độ trên biển giữa tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc hồi gần đây.

Giáo sư Thayer nói: “Dường như đây là dấu hiệu cuộc tranh chấp đang được quân sự hóa. Trung Quốc đã điều nhiều phi cơ, phần lớn là phi cơ dân sự nhưng cũng có các máy bay quân sự khi nước này băt đầu triển khai giàn khoan dầu Hải Dương 981, và từ đó đã có nhiều máy bay quân sự khác được báo cáo trong khu vực này. Gửi thêm máy bay tới khu vực chỉ quân sự hóa cuộc tranh chấp, nhưng điều đó cho thấy là có thể Trung Quốc đang thử nghiệm khả năng của họ để thiết lập một khu phòng không, buộc các máy bay khác phải báo cáo khi bay ngang qua một vùng không phận giới hạn trên Biển Đông, từ phía Nam đảo Hải Nam và đảo Hoàng Sa, rồi hướng về phía Tây dọc theo bờ biển tới khoảng Đà Nẵng.”

Nhận định về phản ứng có phần không mấy quyết liệt của giới lãnh đạo Việt Nam trước những hành động leo thang và đụng độ trên biển hồi gần đây, Giáo sư Thayer nói:

Dựa vào những báo cáo đến được tay tôi, thì Bộ Chính Trị hoàn toàn chia rẽ về liệu có nên ra mang vấn đề ra trước tòa án để thách thức Trung Quốc, hay là cứ tiếp tục phản ứng một cách không ồn ào. Giới lãnh đạo Việt Nam rất sợ rằng nếu họ tỏ thái độ quyết liệt hơn phản đối Trung Quốc, thì Trung Quốc sẽ lại leo thang vấn đề lên hơn bây giờ nữa, và trừng phạt Việt Nam phải chịu những hậu quả nặng nề hơn nữa, và có thể phơi bày ra trước ánh sáng công luận Việt Nam rằng giới lãnh đạo Việt Nam không có khả năng hành động một cách cương quyết. Đó là thực tế của tình hình. Quả thực, chính phủ Việt Nam không có khả năng hành động một cách cương quyết.”

Giáo sư Thayer nói trong giới lãnh đạo hàng đầu trong Bộ Chính Trị Việt Nam, sự lo sợ cao tới mức khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry mời Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sang Washington để thảo luận về vấn đề Biển Đông, Bộ Chính Trị đã quyết định phái một Thứ Trưởng Ngoại giao đi thay vì ông Phạm Bình Minh, bởi vì Hà nội sợ phái Bộ trưởng Ngoại giao tới Washington sẽ là hành động quá nhạy cảm vào thời điểm này, và điều đó cho thấy là có một số ủy viên Bộ Chính Trị muốn hòa hoãn, và nhượng bộ Trung Quốc, với hy vọng sẽ có thể giải quyết được cuộc tranh chấp này.

Được hỏi liệu hòa hoãn quá có làm cho tình hình xấu đi hơn nữa hay không, Giáo sư Thayer trả lời:

Vâng, theo tôi đây là một trường hợp phải lên tiếng bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi. Trung Quốc muốn tăng mức độ uy hiếp các nước ở Á Châu, bằng cách trừng phạt và áp lực các nước này, để họ đừng lên tiếng phản đối những gì mà Trung Quốc đang làm. Nếu ngoan ngoãn im lặng thì có thể làm ăn hợp tác với Trung Quốc, nhưng đây không phải là một quan hệ ngang hàng giữa hai quốc gia ngang nhau, mà phải trở về quan hệ giữa một nước lớn và chư hầu như thời phong kiến khi xưa. Trung Quốc muốn mình là số Một, các nước khác phải thừa nhận điều đó, và không muốn các nước khác liên kết với các thế lực bên ngoài khác.”

Mới đây Ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc đã đến Việt Nam, và đòi hỏi Việt Nam với thái độ khá gay gắt phải ngưng leo thang những lời tố cáo Trung Quốc về vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Giáo sư Thayer khuyến cáo rằng nếu các nước nhỏ tiếp tục nhượng bộ, Trung Quốc dần dà sẽ thực hiện ý định chiếm thêm biển đảo, xây cất trên biển, và tất cả những gì mà Bắc Kinh muốn làm, và càng để lâu sẽ càng khó giải quyết một cách có lợi cho các nước nhỏ hơn.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

“Ông Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa của TQ” Thôi chết rồi! Khả năng đọc hiểu của ủy viên BCT mà chỉ có thế thì nói sao mà VN không nghèo , mất hết biển đảo, và làm nô lệ cho TQ

Posted by hoangtran204 on 27/06/2014

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho hay ông đã đọc kỹ từng chữ trong công thư 1958. Thủ tướng Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ.

Ông Phạm Văn Đồng không nói HS-TS là của Tàu?

27-6-2014

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

 

Ngài Chủ tịch Nước nói rằng ông đã đọc kĩ từng chữ cái công hàm của ông Phạm Văn Đồng, và “Ông Phạm Văn Đồng có bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa (HS-TS) là của TQ đâu” (1). Đúng là công hàm PVĐ không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Nhưng ông tán thành tuyên bố của Tàu rằng HS-TS là của Tàu. Trong công hàm đó câu đầu tiên viết rằng:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc”.

Vậy thì Tuyên bố 4/9/1958 của Tàu là gì? Trên mạng vẫn còn lưu hành bản tiếng Hoa và một bản dịch tuyên bố 4/9/1958 (2). Tuyên bố có đoạn viết:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Như vậy trong Tuyên bố trên Tàu cộng họ nói rõ rằng HS-TS là của họ (hay theo cách gọi Tây Sa – Nam Sa của Tàu). Chính phủ VNDCCH tôn trọng và tán thành Tuyên bố đó thì cũng có nghĩa là tán thành và công nhận HS-TS là của Tàu rồi. Khó nói cách khác được (3).

Tôi cực kì ngạc nhiên là rất nhiều người, kể cả giới có học, đều biện minh rằng công hàm của ông PVĐ không hề công nhận HS-TS là của Tàu. Nhưng đọc văn bản thì phải đặt văn bản trong bối cảnh, chứ nếu chỉ xem văn bản như một tài liệu độc lập thì có khi chẳng có ý nghĩa gì. Tôi nghĩ không nên trốn tránh vấn đề cái công hàm PVĐ đặt ra (4), mà cần phải suy nghĩ cách hoá giải cái công hàm đó.

_______________________

(1) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/182973/-ong-pham-van-dong-khong-bao-gio-noi-hoang-sa-cua-tq-.html

(2) http://bshuy1969.blogspot.com.au/2011/07/tuyen-bo-ngay-491958-cua-cp-trung-quoc.html

(3) Nếu công hàm PVĐ viết “[…] Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa liên quan đến bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lí; tuy nhiên, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không tán thành nguyên tắc đó áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa” thì tôi nghĩ chúng ta chẳng có vấn đề gì.

(4) Thật ra, nói là “công hàm Phạm Văn Đồng” cũng oan cho ông ấy, vì theo một nguồn tin thì mấy ông trong Bộ Chính Trị đều có đọc qua và phê chuẩn công hàm này. Như vậy trách nhiệm thì phải trách nhiệm … tập thể. Nghe nói khi Tàu nó chiếm Hoàng Sa thì VNDCCH ra tuyên bố rằng “TQ là anh em ruột thịt, đất đó nằm trong tay TQ tốt hơn hàng triệu lần nằm trong tay kẻ thù Sài Sòn” mà nhiều người cho là ông Bùi Tín viết nhưng tôi không tìm thấy nguồn. Nhưng phía VNCH đề nghị VNDCCH ra tuyên bố chung lên án việc Tàu cộng chiếm Hoàng Sa thì bên VNDCCH từ chối. Tất cả những điều này cho thấy thời đó mấy người trong Chính phủ VNDCCH một cách cuồng tín xem Tàu như anh em ruột, còn gần gũi hơn cả những người anh em ở miền Nam. Ai cũng một lần sai lầm trong tình cảm, nhưng sai lầm của mấy ông bà VNDCCH thì thuộc vào loại vô tiền khoáng hậu để thế hệ sau phải ghánh lấy hậu quả.

 

————-

 

Báo VNexpress

‘Ông Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa của TQ’

 26-6-2014

– Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho hay ông đã đọc kỹ từng chữ trong công thư 1958. Thủ tướng Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ.

 

 

Sáng nay, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có buổi tiếp xúc cử tri tại Mặt trận Tổ quốc TP.HCM. Giới trí thức bày tỏ nhiều lời tâm huyết gửi đến Chủ tịch nước trong vấn đề quan hệ với TQ.

Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm đặt vấn đề, Đảng và Nhà nước nhìn nhận quan hệ với TQ hiện nay như thế nào.

Chủ tịch nước, chủ quyền, Trương Tấn Sang, Phạm Văn Đồng, giàn khoan, Hải Dương 981, TQ, Lê Kế Lâm
Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm

Thủ tướng Chu Ân Lai từng nói, TQ giúp đỡ VN là để trả món nợ lịch sử, nhưng món nợ lịch sử họ chưa trả thì năm 1979 họ lại gây nên món nợ lịch sử mới. Rồi năm 1974, năm 1988 và nay là trên Biển Đông. “Đây có phải là tình đồng chí, bạn bè tốt? Tôi đề nghị các đồng chí nên nhìn thẳng thắn, thực sự để chúng ta có cách đánh giá đúng đắn”, ông Lâm nói.

Ông Huỳnh Tấn Mẫm, ủy viên MTTQ TP.HCM đề nghị, VN phải thoát khỏi sự lệ thuộc với TQ, xây dựng kinh tế – quốc phòng vững mạnh để bảo vệ Tổ quốc.Cử tri Trần Thiện Tứ lại đặt vấn đề ở góc cạnh luật pháp khi hỏi, tại sao VN không đưa vụ giàn khoan Hải Dương 981 ra tòa án quốc tế?

Trả lời cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang một lần nữa khẳng định, chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tất nhiên, phải hết sức kiên trì và tránh đừng để bị ai khiêu khích.

Chủ tịch nước, chủ quyền, Trương Tấn Sang, Phạm Văn Đồng, giàn khoan, Hải Dương 981, TQ, Lê Kế Lâm
Chủ tịch nước: Tránh bị khiêu khích

Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trước sau như một là muốn là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, vì sự phát triển, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và đôi bên cùng có lợi. “Tôi muốn nói điều này để khẳng định rằng, chúng ta không lệ thuộc bất cứ ai cả”, ông Trương Tấn Sang nói.

Về mối quan hệ Việt – Trung, Chủ tịch nước cũng khẳng định xuất phát từ một mối quan hệ rất lâu đời và VN luôn mong muốn hòa bình, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở bình đẳng, đôi bên cùng có lợi, tôn trọng nhau, không có chuyện nước lớn nước bé.

Trả lời cử tri về vấn đề có sợ TQ hay không, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định không sợ. “Vấn đề Tổ quốc không phải chữ đó. Đó là vấn đề sống còn của một dân tộc. Đặc biệt là trong những thời điểm quan trọng lịch sử của đất nước, mình phải hành xử làm sao để bảo vệ lợi ích quốc gia mình cao nhất”, ông Trương Tấn Sang nói.

Về câu hỏi, sao VN không kiện ra tòa án quốc tế, Chủ tịch nước nói, chúng ta ngoài dựa vào dân tộc mình cũng phải dựa vào toàn thế giới và luật pháp quốc tế.

“Tôi đề nghị, chúng ta hết sức bình tĩnh, hết sức kiên trì và lúc nào cũng đưa ra sáng kiến để bảo vệ chủ quyền đất nước, chúng tôi luôn luôn lắng nghe. Tất nhiên, lựa chọn cuối cùng thì phải tính toán bằng cách nào đó tốt nhất có lợi cho đất nước”, Chủ tịch nước nói.

Chủ tịch nước, chủ quyền, Trương Tấn Sang, Phạm Văn Đồng, giàn khoan, Hải Dương 981, TQ, Lê Kế Lâm
Chủ tịch nước: Ông Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đề cập đến công thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. “Ông Phạm Văn Đồng có bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ đâu”.

“Tôi đọc kỹ từng chữ, cụ Phạm Văn Đồng nói xung quanh công nhận 12 hải lý. Lúc bấy giờ, lãnh hải có 3 hải lý thôi. Thế giới cũng bàn luận từ năm đó đến năm 1982. Lúc đó, tư duy của các cụ mình cũng theo tư duy số đông của thế giới, tức là người ta muốn quốc gia có biển là lãnh hải phải 12 hải lý thì mình thừa nhận 12 hải lý đó”, Chủ tịch nước lý giải.

Bài và ảnh: Tá Lâm

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Đỗ Thị Minh Hạnh đã lấy lại quyền tự do và trên dường về nhà

Posted by hoangtran204 on 27/06/2014

Cánh chim báo bão Đỗ Thị Minh Hạnh đã sải cánh tự do!

27-6-2014

 

Đỗ Thị Minh HạnhKhông còn là tin đồn nữa. Khi chính một nữ cựu tù nhân lương tâm còn trong vòng quản chế như Phạm Thanh Nghiên nghẹn ngào cho tôi biết, và chính anh Đỗ Ty – cha của Hạnh – xác nhận qua điện thoại, thì mọi ngờ vực đều tan biến.Chiều muộn ngày 27/06/2014, Đỗ Thị Minh Hạnh – cánh chim báo bão những năm về trước – đã làm cộng đồng dân chủ trong nước và hải ngoại tràn ngập một niềm vui khó tả: cô vừa được tự do!

Hạnh đang trên đường về nhà!

Hầu tương tự như trường hợp của “người tù xuyên thế kỷ” Nguyễn Hữu Cầu, những tin tức đầu tiên về việc Minh Hạnh có thể được “cho về” đã xuất hiện cách thời điểm trả tự do khoảng một tháng. Và trong khoảng thời gian một tháng ấy, “họ cố ép tôi ký bản nhận tội, nhưng tôi nói rõ với họ là tôi không ký vì tôi không có tội gì hết!” – tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu thản nhiên thuật lại và còn ngâm nga bài thơ “Con bò kéo xe” của ông.

Cách đây chưa đầy một tuần, những thông tin từ gia đình Đỗ Thị Minh Hạnh và người mẹ vận động không mệt mỏi cho cô như đã cảnh báo về ý đồ “giấy nhận tội”. Lẽ đương nhiên, ai cũng hiểu đó là quán tính của một chính thể chưa thể quen với quán tính bắt buộc phải thừa nhận sai lầm khi bắt người, nhất là khi người đó lại chỉ đấu tranh cho quyền lợi của công nhân Việt Nam chứ chẳng hề nhắm tới động cơ lật đổ chế độ hiện hành.

Vào buổi sơ khai của phong trào đấu tranh công nhân, hành động chính quyền bắt ba người tranh đấu Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng cũng tràn sắc máu nguyên thủy. Không một ai được thanh minh, cũng chưa từng có một dấu hiệu thỏa hiệp nào của Nhà nước Việt Nam với nhu cầu công đoàn độc lập quá sức bức bối.

Khác hẳn với giờ đây…

Giờ đây, gần 1.000 cuộc đình công của công nhân diễn ra hàng năm tại nhiều vùng ở Việt Nam đã đủ chứng minh cho tính “ưu việt” đến thế nào của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam – một cơ quan công quyền nhưng trung gian để trực tiếp hưởng 2% trên tổng quỹ lương doanh nghiệp và cũng ăn vào công sức lao động của công nhân, một tổ chức “đại diện cho quyền lợi của công nhân” song đã chưa từng chấp nhận bất kỳ một cuộc đình công nào trên toàn quốc, ngược hẳn với mối giao hảo chung chịu của họ với giới chủ doanh nghiệp.

Giờ đây và khác hẳn với thời kỳ làn sóng công nhân tranh đấu bị đàn áp, chính thể cầm quyền ở Việt Nam đang phải dần chấp nhận đòi hỏi về định chế công đoàn độc lập do người Mỹ và phương Tây đặt lên bàn đàm phán Hiệp định TPP. Không phải vô cớ mà cũng vào tháng Sáu này, hơn 150 dân biểu quốc hội Mỹ đã đồng gửi thư kiến nghị cho Đại diện thương mại Hoa Kỳ về “không TPP nếu không có công đoàn độc lập” và “Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Đỗ Thị Minh Hạnh”.

Cũng không phải vô cớ mà kịch bản cánh chim báo bão Đỗ Thị Minh Hạnh được trả tự do vô điều kiện không chỉ là niềm vui bất ngờ của cô và gia đình, mà còn khiến bật lên một tia hy vọng lớn lao hơn nhiều: đã có tín hiệu về một khả năng nào đó tổ chức công đoàn độc lập được chính quyền “thí điểm” ở Việt Nam trong vài năm tới.

Hãy khóc…

Nếu có thể nhớ lại, hãy nên so sánh những bước chân của Hạnh bần thần ra khỏi phòng giam với không khí òa vỡ của đám đông vào tháng 8/2013, khi nữ sinh áo trắng Phương Uyên đột ngột được phóng thích ngay tại tòa Long An. Để sau tháng Tám ấy là một sự chuyển mùa dân chủ ở Việt Nam, nơi mà tiếng chim hót dân sự đã không còn bị vùi dập quá tàn nhẫn.

Cánh chim báo bão Minh Hạnh hẳn cũng như vậy thôi. Phía trước không chỉ là bầu trời tự do với riêng cô, mà một chân trời mới đang hé rạng cho các tổ chức xã hội dân sự ở đất nước đầy cam go này, nơi mà mới đây 16 tổ chức dân sự đã tiếp bước Hạnh để ra một tuyên bố về sự cần kíp xây dựng tổ chức công đoàn độc lập cho 5 triệu công nhân Việt Nam.

Hạnh hãy khóc đi, những giọt nước mắt siết bao ơn nghĩa với Người Mẹ và Dân Tộc…

Phạm Chí Dũng

thuymyrfi.blogspot.fr

Posted in Tù Chính Trị, Trại Tù | Leave a Comment »

►PTT Hoàng Trung Hải đang cứu xét đơn của Formosa: đói lập đặc khu Vũng Áng cho 60.000 công nhân Trung Quốc và gia đình ở

Posted by hoangtran204 on 27/06/2014

Công ty Formosa thật bí hiểm. Trên mặt nổi, Formosa do Đài Loan làm chủ. Nhưng tất cả công nhân dều làm việc tại Hà Tỉnh (VN) lại là người Trung Quốc. Nay ban lãnh đạo của công ty muốn thành lập đặc khu Vũng Áng, nhà nước VN đã cho Formosa thuê đất 49 năm, và họ có thế xây tường chung quanh, và dĩ nhiên sẽ không cho công an vào kiểm tra…

Formosa Hà Tĩnh đòi lập đặc khu Vũng Áng

Nguyễn Vũ

25-6-2014

(TBKTSG Online) – Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa Hà Tĩnh) vừa có những yêu cầu gởi lên Chính phủ vượt quá khuôn khổ luật pháp và chính sách ưu đãi hiện hành mà bình thường có lẽ không doanh nghiệp nào nghĩ tới.

Đó là đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng và trong đặc khu thành lập ban quản lí, trực thuộc Văn phòng Chính phủ, theo tin từ báo Hải quan.

Trong công văn số 1406022/CV-FHS gởi Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Formosa đưa ra đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng nhằm xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện….

Với đặc khu này, Formosa đề xuất một loạt biện pháp ưu đãi như được Chính phủ thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép, được Chính phủ ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh, được vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài, được miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn…, miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu…

Cũng theo báo Hải quan, một trong những đề xuất mang tính ưu đãi như thế là “đề nghị được cắt đất để bán lâu dài cho nhân viên” mà Formosa dự kiến số lượng nhân viên cao nhất đạt 15.000 người, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người như một thị trấn gần đặc khu.

Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa đang được triển khai xây dựng và dự kiến bắt đầu vận hành giai đoạn 1 vào năm 2015 với tổng công suất khoảng 22,5 triệu tấn thép/năm.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Cán bộ đảng viên và nhà nước VN đã quen với nỗi nhục bị Bắc Kinh chơi đểu, lấn lướt, khinh thường, họ cũng quen luôn với việc bị người dân coi như một tập đoàn bán nước

Posted by hoangtran204 on 26/06/2014

Đến nổi chiến lược đối phó với Trung Cộng là núp sau váy và nhái lại câu nói của bà Tôn Nữ Thị Ninh năm 2004.   “Bà Ninh lại kêu gọi “bọn đế quốc” đừng can thiệp vào “chuyện nội bộ của gia đình”? Bà đã từng phát biểu tại buổi họp báo ở Mỹ hồi năm 2004, rằng: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”? Mời xem lại: NHỮNG ĐỨA CON HƯ CỦA TÔN NỮ THỊ NINH (LTHQ) post cuối bài này. 

BCT  ra lệnh cho Tướng Phùng Quang Thanh ví von phát biểu tại Singapore ngày 31-5-2014 rằng : chuyện Biển Đông chỉ là chuyện gia đình, chỉ là sự hục hặc nhỏ bé giữa hai nước cộng sản. 

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

Phát biểu trên được ông Phùng Quang Thanh đưa ra trong phiên họp toàn thể vào trưa ngày 31/5 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore. Tướng Thanh nói: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.”

VN- tâm lý “chờ sung rụng” và trạng thái “bị lờn thuốc”

Song Chi

Nguồn Đài   rfavietnam.com/node/2099

25-6-2014

Tâm lý “chờ sung rụng”…

Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Cộng nằm trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN đã gần 2 tháng trời. Và mới đây, Bắc Kinh tiếp tục đưa thêm 3,4 giàn khoan khác ra biển Đông, trong đó giàn khoan Nam Hải 9 đang được di chuyển tới gần vùng đặc quyền kinh tế của VN.

Điều này cho thấy sau một thời gian thử thăm dò phản ứng của nhà cầm quyền VN cũng như dư luận quốc tế về vụ Hải Dương 981, nhận thấy phản ứng của VN và của quốc tế không đủ mạnh, không đáng sợ, Trung Cộng có vẻ cho rằng đã đến lúc muốn làm gì thì làm, đặc biệt đối với VN.

Về mặt thực tế mà nói, VN xem như đã mất biển. Một quốc gia nằm quay mặt ra biển, có đường bờ biển dài 3260 km không kể các đảo, nay phải chịu cảnh bị chặn mất đường ra biển. Ngư dân chỉ cần đánh bắt cá xa bờ một chút là gặp tàu Trung Quốc, bị Trung Quốc rượt đuổi, đánh cướp, đánh chìm tàu các kiểu, còn người thì bị đánh đập, bắt cóc, đòi tiền chuộc…Vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của VN, nằm trong khu vực biển Đông được đánh giá là giàu có về tài nguyên, dầu khí…nhưng trong tương lai, người Việt chỉ còn có thể giương mắt nhìn tàu “nước bạn” nghênh ngang đi lại, nhìn giàn khoan “nước bạn” khai thác dầu của nước mình.

Không những thế, một khi Trung Cộng đã hoàn tất các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa Trường Sa mà chúng đánh chiếm được từ VN, thì an ninh quốc phòng của VN thật sự bị đặt trong tình trạng nguy hiểm!

Thế nhưng, nhà cầm quyền VN, suốt trong thời gian giàn khoan Trung Cộng xâm phạm lãnh hải VN, đã tỏ ra thực sự lúng túng, không biết chống đỡ cách nào, ngoại trừ phản đối miệng, phản đối bằng thư, công hàm, cho tàu kiểm ngư lượn vòng xa xa giàn khoan bắt loa phản đối, khuyến khích ngư dân ra khơi giữ vững chủ quyền thay cho nhà nước…

Các quan chức lãnh đạo cho tới tướng tá cao cấp, người này phát biểu mâu thuẫn với người kia, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho thấy nội bộ đảng và nhà nước cộng sản VN vẫn đang bị chia rẽ sâu sắc trong mối quan hệ với Trung Cộng và phương hướng giải quyết. Khi thấy sự bất bình, phẫn nộ trong dân chúng có vẻ tăng lên thì họ lại lên tiếng mỵ dân vài câu rồi đâu lại vào đó.

Người VN trong nước, ngọai trừ một số bày tỏ sự phẫn nộ, uất hận trên các trang blog, các trang mạng xã hội…số đông còn bận tiếp tục quay cuồng với cơm áo gạo tiền và bao nhiêu mối lo hàng ngày. Bởi có thể làm gì, khi ngay cả biểu tình phản đối Trung Cộng nhà nước cũng không cho phép, và bởi vì “mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo”.

Dân chờ nhà cầm quyền hành động. Trong nỗi tuyệt vọng, dù từ lâu đã mất lòng tin vào quyết tâm chống Tàu của nhà cầm quyền, người dân hết mong chờ cả giàn lãnh đạo thay đổi, tìm cách “thoát Trung”, lại hy vọng có một nhân vật cụ thể trong đảng, trong nhà nước cộng sản dám vượt lên trước, gánh vác trách nhiệm với non sông. Chẳng hạn, chỉ cần ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cất lên đôi lời mạnh mẽ, người ta đã vội mừng, vội đặt niềm tin bất chấp những “thành tích” tệ hại của ông Dũng trong việc điều hành, quản lý kinh tế, bất chấp ông Dũng từng nhiều lần nói mà không làm trong quá khứ.

Trong khi đó, cả giàn lãnh đạo cho tới tướng tá nhìn nhau, đùn đẩy nhau rồi cũng…cùng chờ. Chờ các nước khác, nhất là những nước lớn mạnh như Hoa Kỳ, Nhật… có những hành động gây áp lực, hoặc trừng phạt Trung Cộng giúp mình. Thật khôi hài trong việc VN, một mặt luôn tìm mọi cách nhai lại cái quá khứ “thắng” Mỹ, chửi Mỹ, mặt khác lại lên tiếng kêu gọi Hoa Kỳ phải có hành động trước sự hung hăng ngang ngược của Trung Quốc. Có lãnh đạo VN còn hàm ý trách cả…EU, như bà Tôn Nữ Thị Ninh, cựu Đại sứ Việt Nam tại EU và Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, phát biểu trong bài trả lời phỏng vấn một phóng viên của Đức: “EU vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của VN và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á…Tôi cho rằng, giờ là lúc châu Âu tăng cường hiện diện ở đây để hỗ trợ cho việc thực thi một trật tự thế giới đa cực“.

Đây là lời bình trên trang Ba Sàm: “Bà Ninh lại kêu gọi “bọn đế quốc” can thiệp vào “chuyện nội bộ của gia đình”? Chẳng phải bà đã từng phát biểu tại buổi họp báo ở Mỹ hồi năm 2004, rằng: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”? Mời xem lại: NHỮNG ĐỨA CON HƯ CỦA TÔN NỮ THỊ NINH (LTHQ)”.

Tiếp đến là chờ Bắc Kinh động lòng suy nghĩ lại tình hữu nghị đôi bên. Một số quan chức vẫn gọi Trung Quốc là “bạn”, bản thông cáo của Quốc hội VN vẫn kêu gọi “giữ vững quan hệ hữu nghị giữa hai nước”…

Cuối cùng là chờ… đến tháng Tám khi Tàu Cộng tự động rút giàn khoan đi theo như kế hoạch từ đầu của chúng. Nhưng bây giờ khi giàn khoan thứ nhất chưa rút đi mà các giàn khoan khác lại xuất hiện, thì họ vẫn chưa có hành động gì khác!

…và trạng thái “bị lờn thuốc”

Điều nguy hiểm hơn, về phía dân chúng, sau những phẫn nộ ban đầu khi được biết giàn khoan Trung Cộng kéo vào vùng biển thuộc lãnh hải của VN, tâm trạng chung của số đông dường như đã xìu xuống, nhường chỗ cho sự chán nản, tuyệt vọng, thờ ơ. Bây giờ ngay cả khi nghe tin có 4 giàn khoan, tin Trung Cộng tiếp tục hoành hành trên biển, đang xây đảo nhân tạo trở thành căn cứ quân sự…người dân cũng không phản ứng.

Chuyện vận mệnh của nước mình mà dân mình còn thờ ơ như vậy, trách gì thế giới? Rõ ràng so với mấy hôm đầu báo chí các nước đều lên tiếng về việc Trung Quốc xâm phạm lãnh hải nước láng giềng, dư luận đa số nghiêng về phía VN, nếu lúc đó VN lên tiếng mạnh mẽ hơn, thậm chí kịp thời kiện Trung Cộng ra tòa án quôc tế chứ không chỉ dọa kiện thì có lẽ nhiều nước sẽ ủng hộ. Còn bây giờ, mỗi ngày trên thế giới có bao nhiêu chuyện nóng xảy ra, người ta lại quên chuyện Việt Nam và Trung Quốc.

Nếu so sánh giữa VN và Philippines, hai quốc gia đang cùng chung một hoàn cảnh bị Trung Cộng đe dọa về chủ quyền, người ta có thể thấy rất rõ Philippines thật tâm, quyết liệt chống Trung Quốc.

Người dân Philippines được tự do biểu tình phản đối Trung Cộng, từ người đứng đầu chính phủ là Tổng thống cho đến các nhân vật lãnh đạo cao cấp, người phát ngôn Bộ ngoại giao…luôn luôn có những tuyên bố kịp thời và mạnh mẽ trước mọi động thái của Trung Quốc. Chính phủ Philippines quyết chí kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, nỗ lực nâng cấp mối quan hệ đồng minh với Mỹ, mở toang các căn cứ cho Mỹ, toàn lực chống Trung Quốc.

Trong khi đó, nhà cầm quyền VN chỉ chống Trung Quốc một cách cầm chừng, nửa vời. Người yêu nước biểu tình phản đối Trung Cộng bị đàn áp, còn những người bị bắt giữ trước đây với cùng lý do vẫn chưa được thả ra. Bốn nhân vật có vị trí cao nhất trong bộ máy lãnh đạo là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, lặn mất tăm hoặc chỉ có những phát biểu rất chậm, khi giàn khoan và lực lượng tàu bảo vệ đã vào trong vùng lãnh hải VN, đâm va, gây hư hỏng tàu chấp pháp và tàu cá của ngư dân Việt một thời gian. Nói mạnh hơn, dù vẫn chưa đủ là ông Thủ tướng, thì cũng chỉ nói rồi để đó.

Cả đám lãnh đạo, tướng tá cao cấp trốn trong nhà mặc đội tàu của lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư phải gồng lên chịu đựng những cú va chạm, đâm húc từ phía tàu Trung Quốc đông, to và mạnh hơn hẳn, và ngư dân thì bị đẩy ra làm những “lá chắn sống” bằng những mỹ từ đẹp đẽ “ngư dân kiên trì bám biển, giữ vững chủ quyền”.

Quốc hội họp trong lúc tình hình như dầu sôi lửa bỏng nhưng cuối cùng vẫn không ra nghị quyết về biển Đông. Rồi VN dậm dọa sẽ kiện Trung Quốc nhưng chưa biết bao giờ kiện, còn Trung Quốc thì đã nhanh tay kiện trước. Trung Quốc đã và đang hoàn tất những căn cứ quân sự khủng trên các quần đảo Trường Sa Hoàng Sa, nhưng VN vẫn không dám cho Hoa Kỳ chính thức thuê cảng Cam Ranh, ngược lại, lại “ưu tiên cho Nga sử dụng vịnh Cam Ranh” và chỉ làm những động tác an dân kiểu như cho “Tàu vận tải của hải quân Mỹ vào vịnh Nha Trang“ (Tuổi Trẻ).

Xâu chuỗi lại tất cả quá trình đối phó với Trung Quốc của nhà cầm quyền VN để thấy rằng họ có thực tâm chống Trung Quốc hay không.

Mặt khác, nếu chú ý vào mọi chính sách cho tới cách hành xử của Trung Cộng, chúng ta sẽ thấy rằng Bắc Kinh rất nhất quán với tham vọng trước sau như một về việc độc chiếm biển Đông, làm bá chủ khu vực. Và để thực hiện điều đó, Trung Quốc có chiến lược hẳn hoi, tiến hành từng bước, từng bước cho đến khi hoàn tất.

Hành xử như một kẻ cướp, nhưng Bắc Kinh đồng thời tỏ ra rất am hiểu tâm lý con người. Đó là mọi thứ đều có thể trở thành quen, giống như hiện tượng bị lờn thuốc. Cứ dấn tới, đo lường phản ứng của “đối phương” và của thế giới như thế nào, nếu bị phản ứng mạnh thì sẽ tạm lùi lại chờ thời, còn nếu không thì lại dấn tới, lần sau mạnh hơn lần trước, nhưng đến lần hai, lần ba, lần thứ n… thì kẻ bị tấn công đã trở nên quen, và cam chịu, các nước khác cũng quen. Thế là Bắc Kinh thắng.

Với nhà cầm quyền VN, họ đã quen với nỗi nhục bị Bắc Kinh chơi đểu, lấn lướt, khinh thường, họ cũng quen luôn với việc bị người dân coi như một tập đoàn bán nước, nhưng không lẽ với hơn 90 triệu người VN, viễn cảnh mất nước rồi cũng sẽ trở thành quen và chấp nhận?

 

———–

Phụ lục:

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

Phát biểu trên được ông Phùng Quang Thanh đưa ra trong phiên họp toàn thể vào trưa ngày 31/5 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore. Tướng Thanh nói: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.”

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh phát biểu tại diễn đàn
Đối thoại Shangri-La 2014. (Ảnh: Lê Hải – Pv TTXVN tại Singapore)

Phùng Quang Thanh phát biểu chung một giọng điệu với Tập Cận Bình : Chủ tịch Trung Quốc phủ nhận căng thẳng ở Biển Đông (VnEx 31-5-14).

Cách nói của tướng Thanh là biến chuyện lớn (TQ xâm lược VN) thành chuyện nhỏ (mâu thuẫn gia đình), rồi từ đó biến chuyện nhỏ thành chuyện không có gì. 

Trong khi trước đó, Thủ Tướng Nhật đọc diễn văn tố cáo và phản đối Trung Cộng đặt giàn khoan ở Biển Đông, và Nhật tuyên bố hổ trợ cung cấp tàu chiến cho Indonesia, Philippines, Malaysia…chống lại TQ; Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ cũng mạnh mẻ phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông,… Các nước nầy muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông để hỗ trợ VN bảo vệ chủ quyền trên biển, và tự do hàng hải trên Biển Đông, thì tướng Thanh nói chuyện Biển Đông là mâu thuẫn nội bộ của gia đình Việt – Trung. Đừng xía vô !   

Đảng CSVN và nhà nước không quan tâm và không bảo vệ ngư dân VN đang đánh cá trong Biển Đông. Thậm chí khi tàu của ngư dân Việt Nam  bị tàu Trung Quốc đâm vào gây thiệt hại tính mạng, nhà nước VN cũng không triệu đại sư Trung Quốc đến phản đối. * Trung Quốc với hành vi tàn độc, vô nhân đạo trên biển 

 

-“Tôn Nữ Thị Ninh xuất thân từ miền nam, đi du học tại Pháp, được Việt cộng móc nối và cho hoạt động với Nguyễn thị Bình, lúc đó đang làm Trưởng phái đoàn Mặt trận Giải phóng Miền Nam tham dự Hòa đàm Paris. Khoảng đầu năm 1973, sau khi tốt nghiệp Ðại học Paris, thị được Việt cộng bí mật đưa về Việt Nam làm giảng tập viên tại Phân khoa Khoa học Xã hội thuộc Ðại học Sư phạm Sài Gòn từ niên khóa 1973. Ngay ngày đầu Cộng sản Bắc Việt tiếp thu Sài Gòn thị cởi bỏ chiếc áo dài, mặc ngay áo bà ba vào lớp học. Sau đó thị được cử làm thông dịch viên cho Phạm văn Ðồng trong chuyến viếng thăm Ấn độ… Thị được Ðảng cho lấy một cán bộ miền Bắc du học từ Liên Sô về… Rồi theo chồng ra Hà nội sống và làm việc tại Bộ Ngoại giao CSVN

[Thị chưa bao giờ là giáo sư Ðại học Paris hoặc giáo sư Ðại học Văn khoa Sài gòn như tiểu sử được thị tự thêu dệt theo thói quen của quá nhiều cán bộ đảng viên Cộng sản Việt Nam nhằm đánh lừa dư luận vốn rất mù mờ để tuyên truyền].

(LTHQ)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 2 Comments »

►Nhìn Lại Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa : Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến

Posted by hoangtran204 on 26/06/2014

 

 Sách Giáo Khoa Thời Việt Nam Cộng Hòa 

 http://1-ps.googleusercontent.com/x/www.danluan.org/tuxtini.files.wordpress.com/2013/12/x001-hc3acnh-chung1.jpg,qw=902,ah=449.pagespeed.ic.ekA06f8Ca5.webp

 

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí,” “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.”

Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm Tiểu Học, Trung Học, và Đại Học, cùng với một mạng lưới các Cơ Sở Giáo Dục Công Lập, Dân Lập, và Tư Thục ở cả ba bậc học, và hệ thống tổ chức quản trị từ Trung Ương cho tới Địa Phương.

 

 Phòng Thí Nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn [Hình trên Internet] 

 http://1-ps.googleusercontent.com/x/www.danluan.org/tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/x1468720_354694488000497_1492264788_n.jpg,qw=902,ah=550.pagespeed.ic.lM64TaOSUr.webp

 

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.

Riêng ở Miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở Miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.

 

 Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên [công viên 30/4 hiện tại], nằm trên đường Boulevard Norodom – [ Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà. ] 

 http://1-ps.googleusercontent.com/x/www.danluan.org/tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/xpkc3bd-le1bb85.jpg,qw=762,ah=550.pagespeed.ic.L_B8qhUwPu.webp

 

Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở Miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.

Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm [20%] dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người [không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng.]

 

 

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm [từ 1955 đến 1975], bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho Quốc Phòng và Nội Vụ [trên 40% ngân sách quốc gia dành cho Quốc Phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho Giáo Dục], nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.

Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.

 

 

Thầy cô giáo [Giáo Sư] thời Việt Nam Cộng Hòa 

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia [lần I] tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” [humanistic], “dân tộc” [nationalistic], và “khai phóng” [liberal] được chính thức hóa ở hội nghị này.

Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa [1967].

 

 Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm. 

1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.

Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.

Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

 

  

2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.

Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

 

Sinh viên Đại Học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào Miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964

.

3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.

Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Mục tiêu giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa:

 

 

1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.

Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.

 

 Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa 

2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.

Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

 

 

 Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974. 

3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

Điều này thực hiện bằng cách: Giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.

 

 

Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn [Số 3 Công Trường Chiến Sĩ ] 

Giáo dục tiểu học:

 

 Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961. 

Bậc Tiểu Học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 [thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất]. Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập [bắt buộc]. Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp,” tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]

 .

Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
1955 400.865 8.191
1957 717.198[9]
1960 1.230.000 [9]
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[10]
1970 2.556.000 44.104

 

Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.

Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học [chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc.]

 

 Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – [Lớp Bốn lớp Năm bây giờ.] 

Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.

Lớp 1 [trước năm 1967 gọi là lớp Năm] cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dân và Đức dục [còn gọi là lớp Công dân giáo dục.] Lớp 2 [trước năm 1967 gọi là lớp Tư], Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.

 

 Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ. 

Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ [thông thường vào những ngày áp Tết.]

 

 

 Thẻ căn cước học sinh Trường Trung Học Võ Trường Toản 

Giáo dục trung học:

 

 Các vị Giáo Sư Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn 

Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).

Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…

Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học

 

Trước 1975 Sau 1975
Lớp Năm Lớp Một
Lớp Tư Lớp Hai
Lớp Ba Lớp Ba
Lớp Nhì Lớp Bốn
Lớp Nhất Lớp Năm[10]

Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp

 

Trước 1975 Sau 1975
Lớp Đệ Thất Lớp Sáu
Lớp Đệ Lục Lớp Bảy
Lớp Đệ Ngũ Lớp Tám
Lớp Đệ Tứ Lớp Chín

Tên các lớp bậc trung học đệ nhị cấp

 

Trước 1975 Sau 1975
Lớp Đệ Tam Lớp Mười[10]
Lớp Đệ Nhị Lớp Mười Một[10]
Lớp Đệ Nhất Lớp Mười Hai

 

 

 Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký 

Trung học đệ nhất cấp:

 

 Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 8 Năm 1972- 1973 

Trung Học Đệ Nhất Cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ Thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.

Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” [hay “học kỳ.”] Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là Tiếng Anh hay Tiếng Pháp, môn Công Dân Giáo Dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.

Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam [tức Việt Võ Đạo] cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.

Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: Viết và vấn đáp.

Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-1967 thì Bộ Quốc Gia Giáo Dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

 

 Sân Trường Marie Curie 

Trung học đệ nhị cấp:

 

 

 Nam Sinh Võ Trường Toản 

Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.

Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chường và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.

Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú Tài I rồi thi Tú Tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.

Số liệu giáo dục bậc trung học

[8]

 

Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
1955 51.465 890
1960 160.500[9]
1963 264.866 4.831
1964 291.965[10]  
1970 623.000 9.069

 

Mỗi năm có hai đợt thi Tú Tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.

Tỷ lệ đậu Tú Tài I [15-30%] và Tú tài II [30-45%], tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu”hay “ưu ban khen” [18/20 điểm trở lên], thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng “ưu” [16/20 điểm trở lên]; “bình”[14/20]; “bình thứ” [12/20], và “thứ”[10/20].

 

Thầy trò Trường Nữ Trung Học Gia Long 

Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn [Gia Định] và các trường Quốc học [Huế], Phan Chu Trinh [Đà Nẵng], Võ Tánh [Nha Trang], Trần Hưng Đạo [Đà Lạt], Nguyễn Đình Chiểu [Mỹ Tho] dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh [Huế], Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân [Đà Lạt], Trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân [Mỹ Tho], Trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm [Cần Thơ] chỉ dành cho nữ sinh.

Học sinh Trung Học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: Nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

Nữ Sinh Trung học Lê Văn Duyệt 

Trung học tổng hợp:

Chương trình giáo dục Trung Học Tổng Hợp [Tiếng Anh: Comprehensive High School] là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường Trung Học Hoa Kỳ. Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.

Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình Trung Học Tổng Hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức [khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965] , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh [cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10] và Sương Nguyệt Ánh [cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang] ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

 Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang [cầm đàn] trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960 

Bổ sung

[theo góp ý của độc giả Nguyễn]:

Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường Trung Học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế [khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở].

Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung Học Kiểu Mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân Khoa Sư phạm của Viện Đại Học Cần Thơ.

 

 Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975 

Trung học kỹ thuật:

 

 Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao 

Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là Tiếng Anh và Tiếng Pháp.

Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á Châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng, Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung Học Kỹ Thuật Don Bosco [do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM.]

 

 Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng. 

Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử

Các trường tư thục và Bồ Đề:

 

 Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974 

Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.

Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Saint Paul, Regina Pacis [Nữ vương Hòa bình], Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo, và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.

 

 Sân Trường Bác Ái [Collège Fraternité] 

Trường Bác Ái [Collège Fraternité] ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.

Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.

Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.

Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công [hầu hết mang tên mới.]

 

 

Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên Trai, Cho Quan.. 

Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:

 

 Saigon 17 March 1971

Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành
Thư Viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.
 

Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc Gia Nghĩa Tử. Tuy đây là trường công lập, nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ, hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.

Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến Binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc Gia Giáo Dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc Gia Nghĩa Tử khác trường Thiếu Sinh Quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

Giáo dục đại học:

 

 

Học sinh đậu được Tú Tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.

Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.

 

 

Trong khuôn viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh 

Số liệu giáo dục bậc đại học:

 

Niên Học Số Sinh Viên
1960-1961 11.708 [48]
1962 16.835 [10]
1964 20.834 [10]
1974-1975 166.475 [46]

 

Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 [học 4 năm]: Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử Nhân [ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…]; nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp [ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh…]hay bằng Kỹ Sư [ví dụ: Kỹ Sư Điện, kỹ Sư Canh nông…] Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao Học hay Tiến Sĩ đệ tam cấp [Tiếng Pháp: Docteurde Troisième Cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay.] Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến Sĩ [tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ.]

Riêng ngành Y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm, hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.

Bổ sung của độc giả Trần Thạnh (26.12.2013)

Việt Nam Cộng có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:

 

 

Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy. Ecole Normale Supérieure.

 

Ðánh dấu hoa* là ôngPhạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng Thống Pháp Georges Pompidou

Theo hệ thống của Pháp (ngày trước)

– Cử Nhân [Licencié], Cao Học [DEA], Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp [Doctorat de 3è cycle], Tiến Sĩ Quốc Gia [Doctorat d’État.]

Theo hệ thống của Hoa Kỳ

– Cử Nhân [Bachelor], Master [trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này], Tiến Sĩ [PhD].

Khó có thể so sánh Master và Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau. [Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người.]

Từ “Thạc Sĩ ” trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp [Agrégation.] Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.

 

 

 Đại Học Luật Khoa Sài Gòn 

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học

Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện Đại Học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).

Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ [Tiếng Anh: Credit]. Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học [Tiếng Anh: Faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân Khoa Y, Phân Khoa Sư Phạm, Phân Khoa Khoa Học, v.v…] hoặc Trường hay Trường Đại học [Tiếng Anh: School hay College; ví dụ: Trường Đại Học Nông Nghiệp, Trường Đại Học Kỹ Thuật, v.v…].

Trong mỗi Phân Khoa Đại Học hay Trường Đại Học có các ngành [ví dụ: ngành Điện Tử, ngành Công Chánh, v.v…]; về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban [Tiếng Anh: Department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay.]

 

 

 

 Trường Đại học Giáo Dục: Tiền thân là Trung Tâm Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuật 

Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.

Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.

Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.

Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam [Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam].

Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.

 

div>

 

Trường Đại Học Giáo Dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật 

Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.

Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.

 

 

 Trường Sư Phạm, thuộc Viện Đại Học Sài Gòn 

Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.

Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại Học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.

Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học.”
Các viện đại học công lập:

Viện Đại Học Sài Gòn.

Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại Học Quốc Gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại Học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, Tiếng Việt lẫn Tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.

Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại Học Sài Gòn.

Viện Đại Học Huế.

Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật, Sư Phạm, Văn Khoa, và Y Khoa.

 

 

 Hàng đầu bên trái: Ông Nguyễn Đăng Trình Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đầu tiên [tháng 3/1957-7/1957 ].Ở giữa: Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Bên Phải: Linh Mục Giáo sư Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965.

 

Viện Đại Học Cần Thơ.

Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật Khoa & Khoa Học Xã Hội, Sư Phạm, và Văn Khoa.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung Tâm Quốc gia Kỹ Thuật (1957), Học Viện Quốc gia Kỹ Thuật (1972).

Các viện đại học tư thục:

Viện Đại Học Đà Lạt.

Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại Học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo Hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính Trị Kinh Doanh, Khoa Học, Sư Phạm, Thần Học và Văn Khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.

 

 

Viện Đại Học Đà Lạt 

Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Thuộc khối Ấn Quang của Giáo Hội Phật Giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo Dục, Phật Học, Khoa Học Xã Hội, Khoa Học Ứng Dụng, và Văn Học & Khoa Học Nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.

 

 

Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973 

Viện Đại Học Phương Nam.

Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.

Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh Tế-Thương Mại, Ngoại Ngữ, và Văn Khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.

 

 

 Thư viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn 

Viện Đại Học An Giang [Hòa Hảo].

Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn Khoa, Thương Mại-Ngân Hàng, Bang Giao Quốc Tế, Khoa Học Quản Trị và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Viện Đại Học Cao Đài.

Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần Học Cao Đài, Nông Lâm Mục, và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Cao Đài.

Viện Đại Học Minh Đức.

Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ Thuật Canh Nông, Khoa Học Kỹ Thuật, Kinh Tế Thương Mại, Nhân Văn Nghệ Thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo Hội Công Giáo điều hành.

Các học viện và viện nghiên cứu

 

 

 Viện Pasteur Nha Trang 

Học Viện Quốc Gia Hành Chính.

Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản [gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2], Quận10, Sài Gòn.

Học viện này trực thuộc Phủ Thủ Tướng hay Phủ Tổng Thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp.

(1972-1974) Tiền thân là Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc gia Nông Nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.

Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải Dương học Nha Trang, Viện Nguyên Tử Lực Đà Lạt, Viện Khảo Cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.

 

Các trường đại học cộng đồng

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.

Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.

Ở Sài Gòn có Trường Đại Học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

Các trường kỹ thuật và huấn nghệ

 

y

 Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật 

Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách Khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm Súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học.

Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục

: Thoạt tiên là Nha Khảo Cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc Gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (1968-1972), Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc Gia Nông lâm Mục được sáp nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.

 

 Trường Cao Đẳng Điện Học – (Nay thuộc trường Đại Học Bách Khoa – Saigon)

Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ.

Thành lập năm 1957 thời Đệ Nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Học, Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao Đẳng Hóa Học. Năm 1972, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật đổi thành Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại Học Nông Nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia.

Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.

 

 

 Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia 

Các trường nghệ thuật.

Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điển Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.

 

 Các giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm [đờn kìm], Phan Văn Nghị [đờn cò], Trương Văn Đệ [đờn tam], Vũ Văn Hòa [sáo] và Nguyễn Vĩnh Bảo [đờn tranh]. 

Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế.

Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.

Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật

: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định [tiền thân là Trường Mỹ Nghệ Gia Định, thành lập năm 1940.]

 

 

Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60 

Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn

: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ [1954-1966.]

Sinh viên du học ngoại quốc

Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

 

 Trang trong sách Địa Lý Lớp Ba 

Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa xuất bản năm 1967

Năm 1958, chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa cho lập Ban Tu Thư thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]

 

 

 

 

 

Trang bìa sách Địa Lý Lớp Ba 

 

 

 

 

Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu Thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.

Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung cấp, với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.

 

 

 

 

Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục cũng đã thiết lập Ủy Ban Quốc Gia Soạn Thảo Danh Từ Chuyên Môn, bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung Tâm Học Liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức

 

 

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện Đại Học Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là Khách Sạn Morin Frères
 

Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.

Ngoài ra còn có Trường Đại Học Sư Phạm Huế thuộc Viện Đại Học Huế và Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại Học Đà Lạt.

Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.

Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm [2 hoặc 4 năm]. Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.

 

 Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn 

Nha Sư Phạm (thuộc Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên cũng gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…

Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại Học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng Hòa.

 

 Lễ khai giảng Trường Đại Học Quốc Gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 

Đời sống và tinh thần giáo chức

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.

Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ Nhất Cộng Hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.

Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm [người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu], từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

 Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm. 

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

 

 

Chứng chỉ Tú Tài I 

Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công Dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp

 

 Chứng chỉ Tú tài II 

Chứng chỉ Tú Tài II

Đầu những năm 1970, Nha Khảo Thí của Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu [sample] và nhóm định chuẩn [norm group] được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng [tức bộ trưởng] và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:

 

 Ông Phan Huy Quát 

*. Phan Huy Quát. Sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng Trưởng Giáo Dục Quốc Gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

*. Nguyễn Thành Giung: Sinh năm 1894 tại Sa Đéc; Tiến Sĩ Vạn Vật Học ] Viện Đại học Khoa Học Marseille]; Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1952-1953 thời Quốc Gia Việt Nam, kiêm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Hà Nội.

*. Trần Hữu Thế: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học [1952], từng dạy học ở Lyon [Pháp] và làm giáo sư ở Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục; từng làm Đại Sứ của Việt Nam Cộng Hòa tại Philippines. Dưới thời Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, số lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này, Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia (lần I) được tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958, chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

*. Nguyễn Văn Trường: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại Học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại Học Cần Thơ vào năm 1966.

*. Trần Ngọc Ninh: Sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, giáo sư Văn Minh Đại Cương và Văn Hóa Việt Nam tại Viện Đại Học Vạn Hạnh; Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.[98]

*. Lê Minh Trí: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng Trưởng Giáo Dục bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969.[100]

*. Nguyễn Lưu Viên: Sinh năm 1919; bác sĩ, từng làm việc tại Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, Bệnh Viện Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục rồ, Phó Thủ Tướng kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa ở Hội Nghị La Celle Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm.

*. Ngô Khắc Tĩnh: Sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm 1971 đến 1975 làm Tổng Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

*. Đỗ Bá Khê: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Southern California); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Ông là người đã thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở Miền Nam Việt Nam và được xem là “cha đẻ của các trường đại học cộng đồng Việt Nam.” Ông còn thiết lập Viện Đại Học Bách khoa Thủ Đức vào năm 1974, dựa theo mô hình của các viện đại học bách khoa ở California (Hoa Kỳ), và làm việc với vai trò viện trưởng sáng lập của viện đại học này.

*. Nguyễn Thanh Liêm: Sinh năm 1934 tại Mỹ Tho; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa.

*. Các Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục: Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình

ĐÁNH GIÁ

 

 Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950

Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:

“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.

Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.”
[ Trích từ nguồn Blog Lý Toét]

Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 [tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4], Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam [lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]. Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.”

Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện Trưởng Viện Khoa Học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng [Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa], đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]

Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt,[105] nguyên Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

“Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng Hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…”[106]

Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:

“Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật Giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.”[107]

Huỳnh Minh Tú – Theo Facebook Huỳnh Minh Tú

tuxtini.com/2013/12/01/nhin-lai-nen-giao-duc-vnch-su-tiec-nuoi-vo-bo-ben/

[Biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet] 

[Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen]
Reblog:   danluan.org
BÀI LIÊN QUAN

Posted in Giao Duc | 1 Comment »

►Thư Yêu Cầu Đảng CSVN Chỉ Đạo việc Khởi Kiện Trung Quốc về Biển Đông (Nguyễn Đăng Quang và Trần Vũ Hải)

Posted by hoangtran204 on 25/06/2014

THƯ YÊU CẦU ĐẢNG CSVN CHỈ ĐẠO VIỆC KHỞI KIỆN TRUNG QUỐC VỀ BIỂN ĐÔNG

 

   

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—-***—-

Hà Nội, ngày 22 tháng 06 năm 2014

THƯ YÊU CẦU

Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện Điều 4 Hiến pháp 2013, 
chỉ đạo Nhà nước kiện (hay không kiện) Trung Quốc về biển Đông

Kính gửi:    Ông Nguyễn Phú Trọng
            – Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)

 

Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định: ”Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội… Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.

Như vậy, trước những vấn đề cực kỳ quan trọng của đất nước, ĐCSVN (mà ông là người đứng đầu) phải có quyết định và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định đó.

Gần đây, Trung Quốc liên tục có các hành vi xâm lấn chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, vi phạm nghiêm trọng luật pháp Quốc tế, trong đó có Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển, mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều tham gia.

Trước tình hình hết sức nghiêm trọng đó, phần lớn những người Việt Nam trong và ngoài nước đều cho rằng, Việt Nam phải kiện Trung Quốc theo các quy định của luật pháp Quốc tế. Nhưng theo dõi qua truyền thông, người dân chúng tôi nhận thấy lãnh đạo Việt Nam chưa tỏ rõ thái độ kiên quyết, về việc có khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án hoặc Tòa trọng tài Quốc tế hay không. Một số ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN như các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh đều nêu khả năng về việc khởi kiện Trung Quốc, nhưng ý kiến vẫn chưa thống nhất. Riêng ông Vũ Đức Đam, phó Thủ tướng Chính phủ (50 tuổi), trẻ nhất trong số lãnh đạo Việt Nam còn tỏ ý muốn để đời con cháu gánh vác, tức là lãnh đạo như ông Vũ Đức Đam (người có thể tham gia lãnh đạo Việt Nam 20 năm nữa) chưa thể nhận trách nhiệm khởi kiện Trung Quốc. Hầu hết các lãnh đạo khác đều chưa bày tỏ chính kiến về việc có khởi kiện này hay không.

Theo chúng tôi, việc Việt Nam có khởi kiện hay không khởi kiện Trung Quốc, để giải quyết những vấn đề giữa 2 nước liên quan đến biển Đông, là một việc rất hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước. ĐCSVN phải sớm có quyết định, chỉ đạo Nhà nước có tiến hành khởi kiện hay không và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định của mình.

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu ông Tổng bí thư ĐCSVN thực hiện điều 4 Hiến pháp 2014, sớm thông báo cho toàn dân về quyết định của ĐCSVN về vấn đề này. Cụ thể, trong những khả năng dưới đây, lãnh đạo ĐCSVN lựa chọn khả năng nào:

1/ Khởi kiện Trung Quốc ngay trong nhiệm kỳ lãnh đạo này.

2/ Có khởi kiện, nhưng để đời con cháu gánh vác.

3/ Không thể khởi kiện vì các căn cứ và bằng chứng pháp lý củaViệt Nam yếu, nếu kiện sẽ thua.

4/ Chưa thể quyết định được việc khởi kiện hay không, vì nhiều lãnh đạo Việt Nam chưa hiểu rõ những phức tạp pháp lý trong việc này.

5/ Chưa thể trả lời nhân dân về việc kiện hay không kiện Trung Quốc, do nhiều vấn đề nhạy cảm…

Đề nghị ông Tổng Bí thư sớm trả lời nhân dân Việt Nam, tốt nhất ngay trong kỳ họp Quốc hội đang diễn ra đến ngày 25/6/2014. Chúng tôi và nhiều cử tri khác sẽ kiên trì sử dụng các quyền của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để giám sát việc này.

Trân trọng.

Ký tên

 

Công dân Nguyễn Đăng Quang

(nguyên cán bộ Bộ Công an, trú tại số 7, phố Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội)

 

Công dân Trần Vũ Hải

(hành nghề luật sư tại 81 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội)

 

nguồn: xuandienhannom.blogspot.com

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

►Những Văn Kiện Xé Lòng

Posted by hoangtran204 on 25/06/2014

Đảng CSVN và nhà nước luôn mồm gọi người này là bán nước, kẻ kia là phản quốc, người nọ là tay sai cho đế quốc… 
Nhưng, 6-2014, Trung Quốc đã gởi 5 văn kiện lên Liên Hiệp Quốc, và gởi tới 193 nước hội viên LHQ cacs tài liệu dưới đây cho thấy Đảng CSVN và Nhà Nước VN chính là kẻ bán biển đảo của cha ông và tổ tiên ta từ 14-9-1958.. 
Năm sau, 1959, đảng CSVN công khai phát động chiến tranh và 1960 tuyên truyền: giải phóng mienf Nam khỏi tay bọn đế quốc xâm lược Mỹ, đánh cho Mỹ cút…trong lúc ở miền nam lúc ấy chỉ có vài trăm cố vấn Mỹ.
.
Cũng vào khoảng thời gian ấy, 13-7-1961, chính phủ VNCH của TT Ngô Đình Diệm đặt quần đảo Hoàng Sa trước thuộc tỉnh Thùa Thiên thì nay thuộc tỉnh Quãng Nam. 
.
Ngày 19-1-1974, dưới thời chính phủ VNCH của TT Nguyễn Văn Thiệu, Quân Đội VNCH  chỉ với 4 chiến hạm mong manh, đã ra lệnh cho 8 chiến hạm của Trung Quốc phaỉ rời khỏi hải phận của Việt Nam gần quần đảo Hoangf Sa. Khi quân Trung Quốc không tuân lệnh, các chiến hạm  của VNCH đã nổ súng, tấn công 8 chiến hạm của Trung Quốc gây thiệt hại trầm trọng. Khi được Mỹ báo tin 17 chiến hạm khác của TQ đang trên đường tới khu vực Hoàng Sa, các chiến hạm VNCH đã rút lui.
.
Kế đó, trong phiên họp ngày 20-1-1974 tại Phi Trường Tân Sơn Nhất, Trung Tướng Ngô Du của VNCH đã đề nghị ngưng bắn và giảm áp lực tấn công để VNCH điều động 1 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và Hải Quân ra chiếm lại Hoàng Sa. Khi Thiếu Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VNDCCH ( chế độ cộng sản tại miền Bắc lúc bấy giờ), gọi điện ra Hà Nội để hỏi ý kiến, thì Lê Duẩn và Lê Đức Thọ không đồng ý ngưng bắn…mời các bạn đọc thêm ở đây:   
.
.
.
Giờ đây chúng ta biết bọn bán nước, bán biển đảo là ai rồi: chính là đảng CSVN và nhà nước CHXNCNVN. Vĩ đã bán cho Trung Quốc rồi, nên chúng không dám kiện TQ ra tòa, 
.

Những Văn Kiện Xé Lòng

Nguyệt Quỳnh
.

Tác giả gửi đến Dân Luận  .

Mấy thủ lĩnh bí cờ xôi thịt đã dính bẫy Boxite Trung Quốc?

Mẹ đau như xương sống bị đâm, như cột sống bị đè

Ai đã bán chui biên thùy bằng những mật ước?

Ai đã bán vụng lãnh hải Tổ quốc trong canh bạc độc tài?  (Mẹ Việt Nam không chỉ nhìn ra biển – Thế Dũng) 

(24-6-2014) Có lẽ không có gì cay đắng hơn khi phải làm công dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nối dài ngày nay. Phải ngồi nhìn sự nhu nhược của lãnh đạo trước từng tấc đất đã mất, từng tấc biển đang mất dần trong sự hung hăng lấn chiếm của quân thù. Sự nhu nhược vượt quá mức chịu đựng đến xấu mặt, thể hiện ngay từ các phát biểu của các tướng lĩnh trong quân đội. Một quốc gia độc lập với một quá trình lịch sử hào hùng, nay trở thành một nước chư hầu, mất hết cả khả năng phản kháng. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa phải cất tiếng than: “Ôi! tổ quốc ơi, ai làm người chịu nhục.” Nhưng điều đáng nói là sự phản bội đã bắt đầu ngay từ những năm tháng, khi người dân đặt hết niềm tin và ngay cả sinh mạng của mình vào sự lãnh đạo sáng suốt của đảng. Công hàm Phạm Văn Đồng đã được ký kết vào cái giai đoạn mà đảng được tin yêu nhất. Giai đoạn 1954-1959 là khoảng thời gian mà dân chúng miền Bắc sẵn sàng chấp nhận thiếu thốn, sẵn sàng hy sinh mạng sống, dưới ngọn cờ của đảng để bảo vệ độc lập nước nhà. Những lá đơn của một thời máu lửa vẫn còn nguyên nét tin yêu đó: Nguyễn Gia Long, một thanh niên 23 tuổi, viết đơn tình nguyện đi B: “Tôi, một trong những thanh niên của Tổ quốc, của Đảng, tôi muốn được góp sức mình trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc…không một khó khăn nào, một trở lực nào ngăn cản được bước tiến của tôi đi theo cách mạng. Cao thượng nhất đời tôi là được chết cho cách mạng”. Ông Phạm Văn Minh đã có hai người con lớn theo bộ đội, viết đơn cho con trai thứ ba: “Tôi nguyện cho đứa con thứ 3 của tôi đi chiến đấu cho đến khi nào không còn bóng dáng một tên xâm lược Mỹ nào thì mới thôi, dù con tôi có phải hy sinh đi nữa nhưng tôi cũng vui lòng và nó cũng đã góp phần công sức vào chống Mỹ giải phóng đất nước”. Lòng ái quốc và niềm tin của họ đã bị phản bội. Trong lúc đưa hàng ngàn thanh niên vào miền Nam với danh nghĩa chống Mỹ xâm lược, gia đình và những người trẻ đổ xương máu “giành độc lập” này không hề biết rằng sau lưng họ, cấp trên đã ký tặng những phần đất xương thịt của tổ quốc. Phạm Văn Đồng đã lẳng lặng ký công hàm công nhận lãnh hải “lưỡi bò” thuộc về Trung Cộng vào ngày 14/09/1958. Cho đến nay, những tài liệu gây nhiều ngỡ ngàng đau đớn này đang được Trung Cộng trưng ra làm bằng chứng trước thế giới. Rõ ràng lãnh đạo CSVN sẵn sàng đặt lợi ích trước mắt của đảng lên trên mọi điều thiêng liêng và trên cả danh dự của chính đảng CSVN. Nếu một đảng phái khác làm điều này, chắc chắn họ đã phê bình và lên mặt dạy dỗ là quá ấu trĩ, là giữa các quốc gia chỉ có quyền lợi chứ không có cái gọi là “tình nghĩa”, hay ngay cả là làm “bù nhìn” cho các thế lực ngoại bang…

.

 

1958_diplomatic_note_from_phamvandong_to_zhouenlai.jpg

 

.

 

 

 

danluank00009.jpg

.

Bảy năm sau kể từ ngày ông Phạm Văn Đồng đặt bút ký bức công hàm oan nghiệt này, ngày 10/5/1965 báo Nhân Dân lại một lần nữa khẳng định Hoàng Sa là của Tàu;

Nguyên văn: Ngày 9/5/1965,

Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập “khu tác chiến” của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: “Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ”, đây là đe dọa trực tiếp “đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng.

Bài báo xác định cụ thể và cắt lìa xương thịt đất nước cho Tàu Cộng này chắc chắn không là bài báo duy nhất. Hẳn là trước và sau nó còn có nhiều bài báo khác nữa.

Chính những bằng chứng đau đớn trên giấy trắng mực đen này, khi được Bắc Kinh đem ra xử dụng trong những ngày gần đây, đã biến các luận điệu cãi chày cãi cối rằng “công hàm Phạm Văn Đồng không nhắc tới Hoàng Sa – Trường Sa” thành loại lý luận trẻ con mà Ban Tuyên Giáo CSVN quen dùng với người dân Việt Nam.

Tiếp đến là một tài liệu gây nhiều âu lo nhất cho đến nay, đó là các bản đồ được in ấn bởi Cục Đo Đạc và Bản Đồ, trực thuộc Văn phòng Thủ tướng nước VNDCCH. Những bản đồ này cũng ghi rặt các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là Tây Sa và Nam Sa như Bắc Kinh căn dặn. Chữ viết của công hàm Phạm Văn Đồng nay được diễn đạt bằng hình vẽ và nhân rộng hàng ngàn, hàng vạn lần, do chính văn phòng thủ tướng in ấn. Cãi làm sao bây giờ ?!  

.

.

 

.

Chưa hết, chứng tích bán nước của lãnh đạo đảng còn nằm sờ sờ trên các trang sách giáo khoa lớp 9 do Bộ Giáo Dục VNDCCH biên soạn mà nay Bắc Kinh đang trưng ra trước cả thế giới. Nguyên văn: Vòng cung đảo từ các đảo Nam sa, Tây sa đến các đảo Hải nam, Đài loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn … làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc.

Điều đau lòng là đã biết bao thế hệ học sinh non trẻ đã phải nhớ nằm lòng rằng các quần đảo đó là “Tây Sa” và “Nam Sa”, và là đảo của Trung Cộng. Cha ông ta suốt mấy ngàn năm đổ biết bao xương máu, thời đại nào cũng căng mình ra để giữ gìn từng tấc đất của tổ tiên truyền lại. Nay CSVN không chỉ để mất đất, mất biển, mà còn buộc các thế hệ tương lai phải chấp nhận đó là chuyện đã rồi. Khó mà không gọi đó là những hành động chủ tâm phản quốc.

.

.

Hiển nhiên, đây chỉ mới là một vài tài liệu khởi đầu mà Bắc Kinh tung ra. Năm tháng của các tài liệu trên cho thấy Bắc kinh đang có cả kho dữ liệu mà chúng đã thu thập trong nhiều thập niên qua. Điều đó cũng là bằng chứng cho thấy ý đồ xâm lấn của Bắc Kinh đã có từ rất lâu — từ thời ông Hồ Chí Minh còn sống dài cho đến ngày hôm nay — đặc biệt bao gồm cả giai đoạn mà Hà Nội hí hửng ôm 16 chữ vàng và 4 tốt. Đó là chưa kể tấm bản đồ có hiện rõ 9 vạch khổng lồ được dùng để trang điểm phòng họp tại trụ sở thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nơi mà hàng ngày đủ loại các quan chức thượng tầng ra vào họp hành và không ai, kể cả ông Nguyễn Tấn Dũng, cảm thấy có chút gì khó chịu hay nhục nhã. Bao giờ thì Bắc Kinh sẽ dùng luôn các hình ảnh này làm bằng chứng chủ quyền của chúng?  

.

    *

.

****  Trước cả khối những văn kiện xé lòng nêu trên, tôi bất chợt rơi lệ lặng nhìn bản sắc lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký ngày 13/7/1961, dời thẩm quyền quản trị quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam. Tới bao giờ việc bảo vệ từng tấc đất giang sơn mới sẽ lại là trách nhiệm tối thượng nhưng rất bình thường và đương nhiên của mọi chính phủ và mọi người dân Việt Nam?  .

.

trichluccongbao_ttngodinhdiem.jpg 

.

Sắc Lệnh của TT VNCH Ngô Đình Diệm ký ngày 13-7-1961 Sắc lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký ngày 13/7/1961, dời thẩm quyền quản trị quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam.

————–

Sắc lệnh năm 1961 của MNVN về quần đảo Hoàng Sa

Hôm nay, trong khi tìm kiếm tài liệu thì thấy văn bản Sắc lệnh số 174-NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm, kí ngày 13/7/1961, về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.
Sắc lệnh này đã được nhiều tài liệu nhắc đến, như bài “Diễn trình lịch sử cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông“, trong đó viết:
Ngày 13 tháng 7 năm 1961, sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.
Trong sắc lệnh trên, ghi rằng : « Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam » (điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính (điều 2).
Ảnh đính kèm dưới đây được chụp từ văn bản in trong Công báo Việt Nam Cộng Hoà, số ra ngày 29/7/1961, tr. 2695, cột 1, chụp từ microfilm kí hiệu “Film S 3419 1961:no.25-58 (June-Dec.) reel 13“, barcode: HX7G6V, lưu tại thư viện Lamont, Đại học Harvard, Mĩ.
Nhân sắp đến ngày kỉ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa (tháng 1/1974), xin cung cấp tư liệu này cho mọi người.
Harvard, 20/12/2013
Nguyễn Tuấn Cường
Nguồn: Công báo Việt Nam Cộng Hoà, số ra ngày 29/7/1961, tr. 2695, cột 1.

Nguồn: tuancuonghn.blogspot.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Thoát Cộng, thoát Trung và Thoát chết

Posted by hoangtran204 on 24/06/2014

Iris Vinh Hayes, Ph.D.
thep-mau.jpgQuỹ thời gian của Việt Nam đã cạn. Việt Nam đã tới tận đầu cuối của sợi dây đu chính trị và an ninh quốc gia. Ở thời khắc lịch sử này Việt Nam chỉ có hai sự chọn lựa dứt khoát: “Death by China” hoặc là “Re-birth by US-Japan”.

Nếu như ĐCSVN và những người đang cầm nắm quyền lực điều hành đất nước kiên định thà là cho Việt Nam “chết bởi tay Trung Cộng” để bảo vệ ĐCSVN và tư lợi của riêng mình thì vận mệnh Việt Nam chắc chắn sẽ bi đát.

Tuy nhiên, toàn dân Việt, dầu là đang ở nơi nào trên mặt đất này, cũng không để cho đất nước mình “chết bởi bàn tay Trung Cộng” một cách thầm lặng. Đặc biệt là nhân dân quốc nội chắc chắn sẽ “tính toán sòng phẳng và trọn gói” với ĐCSVN. Một khi đã không thể kềm hãm được sự phẫn nộ, nhân dân trước hết có thể sẽ dùng máu của ĐCSVN để đáp trả bọn xâm lăng Trung Cộng và để rửa sạch trang sử ô nhục của dân tộc.

Không, tôi chưa từng chủ trương bạo động. Cũng không cổ xúy bạo động. Chỉ là dự cảm không lành cho một “bất hạnh lớn” đang lù lù tiến tới. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là đảng viên trong hàng ngũ ĐCSVN kịp thời từ bỏ tổ chức bán nước hại dân này mà quay về với đại thể dân tộc. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là quân nhân trong hàng ngũ QĐNDVN kịp thời từ bỏ Tổ Quốc XHCN của tổ chức bán nước hại dân này mà quay về bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là cán bộ trong hàng ngũ CANDVN kịp thời từ bỏ thái độ “còn đảng còn mình” ngu trung với tổ chức bán nước hại dân này mà quay về bảo vệ an ninh cho công dân Việt Nam. Đừng để cho máu của người Việt thêm một lần nữa chảy tràn vì cộng nô bán nước hại dân.

Nếu như Việt Nam chọn lựa con đường “Tái sanh nhờ Mỹ-Nhật” thì đây là một số việc cơ bản mà Việt Nam cần nhanh chóng tiến hành:

  1. Thanh lọc nội bộ một cách triệt để và toàn diện.
  2. Loại trừ ĐCSVN ra khỏi cơ chế và quyền lực nhà nước thông qua Quốc Hội.
  3. Chuyên nghiệp hóa vai trò Đại Biểu Quốc Hội.
  4. Luật hóa quyền cắt đặt những cố vấn riêng chung quanh mình để hỗ trợ cho vai trò Đại Biểu Quốc Hội chuyên nghiệp.
  5. Giải thể Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, trả lại tự do và tự chủ cho các đoàn thể và tổ chức xã hội. Thành lập một mặt trận chấn hưng đức trí Việt Nam.
  6. Trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm và dân oan. Khuyến khích sự tham dự và phát triển của các xã hội dân sự. Tuyệt đối tôn trọng nhân quyền và dân quyền.
  7. Tái cơ cấu hệ thống chính quyền trên nền tảng của một thể chế chính trị dân chủ và tự do.
  8. Tách rời quân đội ra khỏi hoạt động chính trị. Chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Tham gia vào liên minh quân sự “an ninh tập thể” của Đông Nam Á do Nhật Bản đề xuất.
  9. Công nhận quyền tự do tư hữu. Cải tổ kinh tế một cách sâu, rộng và toàn diện. Bỏ hẳn cái đuôi “theo định hướng XHCN”.
  10. Loại trừ cơ chế áp đặt ý thức hệ. Cải tổ giáo dục và đào tạo một cách sâu, rộng và toàn diện.

Nhân dân Việt Nam cần phải làm gì trước hiện tình của đất nước? Rất đơn giản: Hãy làm một công dân có trách nhiệm. Đó là, hãy đứng lên, thật đông, cùng nhau xác lập quyền lực của toàn dân. Nếu ngay cả một điều đơn giản như thế này cũng không thể hoặc không dám thì nói chi đến việc hy sinh máu xương để bảo vệ tổ quốc.

Cụ thể hơn, nhân dân quốc nội cần phải dứt khoát “Thoát Cộng” nếu muốn “Thoát Trung” và “Thoát Chết” bằng cách:

  1. Hãy từ bỏ ĐCSVN. Từ nay không nói tới ĐCSVN, không kiến nghị với ĐCSVN, không khiếu nại với ĐCSVN, không tham gia họp hành bầu bán ĐCSVN…
  2. Hãy triệt tiêu quyền lực của ĐCSVN. Không hợp tác với ĐCSVN, không nghe lệnh của ĐCSVN, không tạo cơ hội cho ĐCSVN, không dung thứ cho sự lộng quyền của ĐCSVN…
  3. Hãy làm mọi thứ có thể để củng cố quyền lực của Thủ Tướng và của Quốc Hội. Không vì một Nguyễn Tấn Dũng hoặc một cá nhân nào mà chỉ vì vai trò Thủ Tướng và vai trò Đại Biểu Quốc Hội của một nhà nước pháp quyền cần phải có đủ sức mạnh. Đừng nhầm lẫn giữa quyền lực của một cá nhân đang nắm vai trò và quyền lực của chính vai trò dầu là ai đang nắm nó (củng cố institution). Chính vì Thủ Tướng và Quốc Hội không có đủ quyền lực cho nên ĐCSVN mới dễ dàng thao túng lũng đoạn chính quyền và đất nước.

Sự toàn vẹn lãnh thổ và tương lai của 90 triệu dân tùy thuộc vào một điều kiện đơn giản; đó là, phải gỡ cho được bàn tay phù thủy của ĐCSVN đang khống chế hệ thống chính trị và chính quyền của Việt Nam. Nhân dân Việt Nam có thừa khả năng để gỡ bỏ nó.

Một con voi to bị giam giữ chỉ bởi sợi giây nhỏ buộc vào cọc là tại vì nó đã bị buộc từ lúc nhỏ và bị buộc quá lâu đến đổi quên rằng mình đã lớn và có thừa sức mạnh để bức sợi dây to hơn nhiều. Tôi kỳ vọng Việt Nam không là con voi vô vọng đó.

Iris Vinh Hayes, Ph.D.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►EVN mua điện của TQ gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc?

Posted by hoangtran204 on 24/06/2014

Ngoài mặt thì tuyên bố: không đánh đổi chủ quyền để lấy tình hữu nghị viễn vông…nhưng thực chất là từ 2009 cho đến nay, TT Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh cho Hoàng Trung Haỉ mua điện củ TQ với giá cao để giúp các doanh nghiệp Trung Quốc làm giàu. Trong khi các doanh nghiệp tư nhân thủy điện VN chào bán điện với giá rẻ thì EVN không mua. 

 (8-9-2012)

Nay, 2014, kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn, EVN mua điện của TQ gấp 3 lần giá thường!

EVN là tập đoàn con cưng của TT Nguyễn Tấn Dũng, dẫu EVN mắc nợ kinh hoàng, không ai có thể đụng đến được.

Mua điện gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc? 

Nguồn: boxitvietnam

Phản nghịch! 

Khác hẳn với làn sóng “thủy triều đỏ Trung Hoa” những năm trước, con sóng cuồng bạo tàn dập mang tên HD 981 vào năm nay đã làm rách toạc đáy con thuyền chính trị Việt Nam vốn đã mục nát, khiến bục tung những khoảng tối tăm bẩn thỉu bị khuất tất lâu ngày.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), từng được một tờ báo Anh vinh phong là “cậm ấm hư hỏng” do người mẹ đỡ đầu của nó là Bộ Công thương, là tiếp dẫn ngoan ngoãn vô song cho chiến dịch tiếp tay cho Trung Quốc đến mức phản nghịch tình dân tộc.

Đất Việt – tờ báo của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và là một trong những xung kích phản biện vượt qua sợ hãi nhất trong hệ thống truyền thông nhà nước – mới đây đã cùng với GS TS Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội – hé lộ một “bí mật quốc gia”: từ nhiều năm qua, EVN đã mua điện từ các doanh nghiệp Trung Quốc với giá gấp đến 3 lần mức thông thường của doanh nghiệp Việt Nam.

Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn, nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe.

Đến năm 2013, giới chuyên gia phản biện độc lập đã không còn giữ nổi bình thản: một lượng lớn điện thương phẩm mua từ Trung Quốc với giá cao và có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây đã làm méo mó quá nhiều thị trường điện.

Cơ chế độc quyền vong bản đã phát triển đến mức trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất điện của Việt Nam sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện, khi suốt từ năm 2011 khi báo chí Việt Nam dồn dập phẫn nộ trực chỉ vào trách nhiệm của EVN về quan điểm “người Việt dùng hàng Trung”, doanh nghiệp thuộc loại độc trị theo cung cách thời chủ nghĩa tư bản dã man này vẫn quay mặt làm ngơ với hình ảnh tàu Bình Minh bị Trung Quốc cắt cáp và ngư dân Việt bị người “đồng chí tốt” đẩy vào vòng khốn quẫn ngay trên vùng biển quê hương.

Bởi từ một góc nhìn khác, ai cũng biết Trung Quốc sở hữu khối doanh nghiệp có biệt tài “quà cáp” hẩu nhất thế giới.

Ai phải bù lỗ và gánh nợ? 

Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn lý thuyết kinh tế chỉ huy thời chiến để trục lợi như thế nào vào thời bình. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên thâm ý hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Với trường hợp EVN, đó chính là tội ác.

Năm 2011, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa 1990: những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam) đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40.000 tỷ đồng.

Trong suốt ba năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.

Nhưng cũng trong suốt ba năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn. Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở tập đoàn này mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không bị cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công thương phản cảm. Không những thế, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Công thương như ông Vũ Huy Hoàng vẫn không ngơi nghỉ một chiến dịch khác: PR cho “cậu ấm hư hỏng” của mình.

Đó là một dạng PR không mới, nhưng lại chỉ được dư luận người dân Việt đặt tên chính thức từ năm 2012: PR chính sách. Chủ thể của hoạt động này chính là cái tên “nhóm thân hữu” – một chủ đề mà chưa một ủy viên bộ chính trị nào đủ can đảm hay liêm sỉ để mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ.

Cũng không quá khó hiểu là những động thái PR chính sách đã xuất hiện không ít lần, kể cả ở cấp Chính phủ.

Nhóm thân hữu, về bản chất, lại có mối quan hệ ruột rà và móc xích giữa các chính khách ở các cấp khác nhau, từ dưới lên và từ trên xuống. Trong từng trải của người dân Việt Nam, thực tế sinh tồn của các doanh nghiệp lệ thuộc vào chính sách từ nhiều năm qua đã chứng tỏ một nguyên tắc bất thành văn: chỉ có chính sách mới tạo ra được lợi nhuận; để đến lượt mình, lợi nhuận phải quay lại “nuôi” chính sách.

Cũng là “nuôi” các chính khách.

Công nghệ “giết sống” 

Giá xăng dầu và điện lực phi mã tất yếu dẫn đến lạm phát đội mồ sống dậy. Trong thực tế, chỉ số tiêu dùng CPI bị tác động không nhỏ và lập tức kích hoạt hàng loạt đợt tăng giá của hàng tiêu dùng, thực phẩm, giá vận tải hành khách và hàng hóa, giá nhà trọ…, làm khốn khó hơn cho đời sống công nhân và dân nghèo vốn đã quá khó khăn.

Đời sống dân sinh ấy cũng liên đới quá đỗi hữu cơ với íty nhất 80% lực lượng vũ trang và gần 3 triệu công chức viên chức nhà nước. Vài năm gần đây, ngay cả cảnh sát giao thông còn bị “đói” thì giới nhân viên an ninh không than thở mới là chuyện lạ.

Thế nhưng đối mặt với tất cả những trớ trêu và nghịch lý tận cùng ấy, lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn hầu như khóa khẩu, trong khi vài ba viên chức cấp vụ của bộ này vẫn cố gắng “an dân” bằng thuyết minh việc tăng giá xăng dầu và điện không ảnh hưởng nhiều đến CPI.

Nhưng vào năm 2013, một cuộc thanh tra của Thanh tra chính phủ đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân tennis và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: cuộc chiến bù lỗ vào dân.

Sau khi tăng giá liên tục trong ba năm qua, nợ ngân hàng của EVN đã được rút bớt. Nhưng chỉ là bớt một ít. Với hơn 30.000 tỷ đồng thất bát từ đầu tư trái ngành, EVN luôn phải đối mặt với tương lai phá sản nếu không thanh toán được cho các chủ nợ.

Trong khi đó, một con số lần đầu tiên được công bố là EVN chính là doanh nghiệp vay nợ ngân hàng lớn nhất Việt Nam, với hơn 118.000 tỷ đồng. Đây là mức dư nợ lớn nhất mà hệ thống ngân hàng dành ưu ái cho một tập đoàn nhà nước.

Với nợ nần khổng lồ và số lỗ do đầu tư trái ngành, người ta ước tính EVN phải tăng giá điện liên tục đến năm 2017-2018 thì mới may ra “hòa vốn”.

Thế nhưng cái điểm hòa vốn ăn thịt lẫn nhau ấy lại có thể khiến những người dân nghèo nhất phải quyên sinh. Bởi theo nguyên lý từ thời tư bản dã man, nếu doanh nghiệp độc quyền có được lợi nhuận, nhân dân chắc chắn phải mất đi phần lớn thu nhập của mình; còn nếu doanh nghiệp độc quyền hòa vốn, nhân dân phải chịu lỗ hoặc phá sản.

Không chỉ mất tài sản, người dân còn phải trả giá bằng cả sinh mạng bởi lối hành xử vô lương tâm của những quan chức độc quyền nhà nước. Vụ xả lũ đồng loạt của 15 nhà máy thủy điện ở miền Trung vào cuối năm 2013 đã “giết sống” đến năm chục mạng người nghèo nơi rốn lũ.

Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công thương. Tuy nhiên sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng”. Nhân quả là đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du “ ở nước ngoài.

Tán tận lương tâm chắc chắn là từ ngữ hiển thị đầy đủ nhất tâm địa của các doanh nghiệp độc quyền và những quan chức “tận Trung” trong những năm suy thoái kinh tế qua. Kinh tế càng xuống dốc, đời sống người dân càng túng quẫn, thái độ sống chết mặc bay càng lên ngôi, chủ nghĩa thực dụng, lợi nhuận và vong quốc càng “hiển thánh”.

Tận Trung: Kẻ nào nối giáo? 

Hãy trở về với câu chuyện tán tận lương tâm dân tộc khi EVN mua điện Trung Quốc cao gấp 3 lần giá bình thường.

Một lần nữa, báo chí nhà nước bùng lên câu hỏi: Những ràng buộc có nghi vấn trong hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc và sự cố Hiệp Hòa liên quan tới việc sử dụng thiết bị Trung Quốc mới đây khiến dư luận đặt nghi ngờ về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Phải lý giải điều này như thế nào, khi mà thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới? Liệu có thể đặt nghi vấn về lợi ích nhóm trong việc này?

Ông Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển khẳng định: Với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay và thiếu minh bạch trong kinh doanh trên thị trường điện ở Việt Nam, trách nhiệm trong việc này trước hết là do chính cơ chế quản lý kiểu bộ chủ quản lâu nay không được thay đổi, tiếp đó là các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành điện mà cụ thể là Bộ Công thương và cả EVN trong tổ chức và quản lý điện Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng một tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ…

Nhưng xem ra, những câu hỏi trên vẫn còn quá hiền lành trong bối cảnh quyền tự do báo chí vẫn trong “bước đi đầu tiên của thời kỳ đầu tiên của giai đoạn quá độ” ở Việt Nam.

Bởi trong tận cùng của bản chất, tán tận lương tâm quan chức và hậu quả của nó không thể không liên quan đến trách nhiệm của giới lãnh đạo chính phủ, những người đã im lặng hoặc “bật đèn xanh” cho EVN gây nên các chiến dịch tăng giá quốc nội và giảm giá quốc ngoại.

Sau ba năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào, kể cả thành tích nối giáo ngoại xâm kinh tế.

Không chỉ bị lên án dữ dội bởi dư luận trong nước, khối u độc quyền doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn bị nhiều chính phủ xã hội dân sự trên thế giới và các tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt, bởi hiện trạng bệnh hoạn đó đi ngược lại với những cam kết về “xóa độc quyền và hoàn thiện nền kinh tế thị trường” mà Chính phủ Việt Nam đã hùng dũng cam kết trước cộng đồng quốc tế.

Hiện trạng bệnh hoạn trên lại không thể xa cách với bản thông điệp đầu năm 2014 của người đứng đầu chính phủ. Đã sáu tháng trôi qua, cam kết “xóa độc quyền” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không còn mang tăm hơi nào của một thứ quyết tâm sủi bọt.

 

 

 

 Phạm Chí Dũng

 

BÀI LIÊN QUAN

 

Posted in Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »