Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu, 2014

►Về chuyện Biển Đông, GS Thayer: ‘Việt Nam phải lên tiếng bây giờ nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi’

Posted by hoangtran204 trên 29/06/2014

*trong giới lãnh đạo hàng đầu trong Bộ Chính Trị Việt Nam, sự lo sợ cao tới mức khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry mời Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sang Washington để thảo luận về vấn đề Biển Đông, Bộ Chính Trị đã quyết định phái một Thứ Trưởng Ngoại giao đi thay vì ông Phạm Bình Minh, bởi vì Hà nội sợ phái Bộ trưởng Ngoại giao tới Washington sẽ là hành động quá nhạy cảm vào thời điểm này, và điều đó cho thấy là có một số ủy viên Bộ Chính Trị muốn hòa hoãn, và nhượng bộ Trung Quốc, với hy vọng sẽ có thể giải quyết được cuộc tranh chấp này.

GS Thayer: ‘Việt Nam phải lên tiếng bây giờ nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi’

28-6-2014

HOÀI HƯƠNG

Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ  VOA 

Giáo sư Carl Thayer (trái) dự hội nghị về Biển Đông
Giáo sư Carl Thayer nói việc Trung Quốc điều máy bay quân sự tới gần giàn khoan có thể là để thử nghiệm trước khi tuyên bố một khu phòng không trên Biển Đông.

Một giới chức hàng hải cao cấp của Việt Nam tiết lộ rằng cho tới thời điểm này, hơn 27 tàu của lực lượng kiểm ngư Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc cố ý đâm va hơn 100 lần, gây thiệt hại nặng cho các tàu kiểm ngư Việt Nam.

Trong một cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Việt Nam chiều hôm qua, Phó Cục Trưởng Cục Kiểm Ngư Việt Nam Hà Lê còn cho biết là từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế Việt Nam, các tàu của Trung Quốc thường xuyên có hành động nguy hiểm để “tấn công và uy hiếp” nhân viên của lực lượng kiểm ngư và cảnh sát biển Việt Nam, ngăn cản không cho họ thi hành phận sự, và vì những hành động này mà từ hồi đầu tháng 6 tới giờ, 15 nhân viên của lực lượng kiểm ngư Việt Nam bị thương.

Đây là một trường hợp phải lên tiếng bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi. Trung Quốc muốn tăng mức độ uy hiếp các nước ở Á Châu, bằng cách trừng phạt và áp lực các nước này, để họ đừng lên tiếng phản đối những gì mà Trung Quốc đang làm. Nếu ngoan ngoãn im lặng thì có thể làm ăn hợp tác với Trung Quốc, nhưng đây không phải là một quan hệ ngang hàng giữa hai quốc gia ngang nhau, mà phải trở về quan hệ giữa một nước lớn và chư hầu như thời phong kiến khi xưa 

» Giáo sư Carl Thayer

Trang mạng Đời sống Pháp luật.com đăng tải nội dung của buổi họp báo, nêu lên những vụ điển hình gần đây nhất, xảy ra hôm 17 tháng 6, 18 tháng 8, và đáng chú ý nhất, theo bài báo là vụ xảy ra hôm 23 tháng Sáu, khi tàu kiểm ngư Việt Nam mang số hiệu KN-951 đang thi hành nhiệm vụ thực thi pháp luật trên biển, thì bị 4 chiếc tàu Trung Quốc bao vây, đâm va, gây hư hỏng nặng.

Phía Việt Nam cáo buộc rằng hành động hung hăng nguy hiểm đó của Trung Quốc cho thấy một sự tính toán trước, cố tình đâm vào chiếc tàu kiểm ngư 951 của Việt Nam để gây thiệt hại nặng cho tàu này.

Tin của VnExpress hôm nay tường trình rằng Trung Quốc đã điều thêm máy bay chiến đấu tới giàn khoan HD 981. VnExpress nói rằng chiều ngày 26 tháng từ 6 giờ tới 7g 40, Trung Quốc đã cho máy bay trinh sát bay ba lượt qua khu vực các tàu Việt Nam, và từ 8 g 45 tới 8g 55, lực lượng kiểm ngư phát hiện hai chiến đấu cơ Trung Quốc lượn ở độ thấp cách giàn khoan 12 hải lý.

Nói chuyện với Ban Việt ngữ –Đài VOA, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam, từng làm việc cho Học viện Quốc phòng Australia, nhận định về những diễn biến này và những vụ đụng độ trên biển giữa tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc hồi gần đây.

Giáo sư Thayer nói: “Dường như đây là dấu hiệu cuộc tranh chấp đang được quân sự hóa. Trung Quốc đã điều nhiều phi cơ, phần lớn là phi cơ dân sự nhưng cũng có các máy bay quân sự khi nước này băt đầu triển khai giàn khoan dầu Hải Dương 981, và từ đó đã có nhiều máy bay quân sự khác được báo cáo trong khu vực này. Gửi thêm máy bay tới khu vực chỉ quân sự hóa cuộc tranh chấp, nhưng điều đó cho thấy là có thể Trung Quốc đang thử nghiệm khả năng của họ để thiết lập một khu phòng không, buộc các máy bay khác phải báo cáo khi bay ngang qua một vùng không phận giới hạn trên Biển Đông, từ phía Nam đảo Hải Nam và đảo Hoàng Sa, rồi hướng về phía Tây dọc theo bờ biển tới khoảng Đà Nẵng.”

Nhận định về phản ứng có phần không mấy quyết liệt của giới lãnh đạo Việt Nam trước những hành động leo thang và đụng độ trên biển hồi gần đây, Giáo sư Thayer nói:

Dựa vào những báo cáo đến được tay tôi, thì Bộ Chính Trị hoàn toàn chia rẽ về liệu có nên ra mang vấn đề ra trước tòa án để thách thức Trung Quốc, hay là cứ tiếp tục phản ứng một cách không ồn ào. Giới lãnh đạo Việt Nam rất sợ rằng nếu họ tỏ thái độ quyết liệt hơn phản đối Trung Quốc, thì Trung Quốc sẽ lại leo thang vấn đề lên hơn bây giờ nữa, và trừng phạt Việt Nam phải chịu những hậu quả nặng nề hơn nữa, và có thể phơi bày ra trước ánh sáng công luận Việt Nam rằng giới lãnh đạo Việt Nam không có khả năng hành động một cách cương quyết. Đó là thực tế của tình hình. Quả thực, chính phủ Việt Nam không có khả năng hành động một cách cương quyết.”

Giáo sư Thayer nói trong giới lãnh đạo hàng đầu trong Bộ Chính Trị Việt Nam, sự lo sợ cao tới mức khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry mời Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sang Washington để thảo luận về vấn đề Biển Đông, Bộ Chính Trị đã quyết định phái một Thứ Trưởng Ngoại giao đi thay vì ông Phạm Bình Minh, bởi vì Hà nội sợ phái Bộ trưởng Ngoại giao tới Washington sẽ là hành động quá nhạy cảm vào thời điểm này, và điều đó cho thấy là có một số ủy viên Bộ Chính Trị muốn hòa hoãn, và nhượng bộ Trung Quốc, với hy vọng sẽ có thể giải quyết được cuộc tranh chấp này.

Được hỏi liệu hòa hoãn quá có làm cho tình hình xấu đi hơn nữa hay không, Giáo sư Thayer trả lời:

Vâng, theo tôi đây là một trường hợp phải lên tiếng bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi. Trung Quốc muốn tăng mức độ uy hiếp các nước ở Á Châu, bằng cách trừng phạt và áp lực các nước này, để họ đừng lên tiếng phản đối những gì mà Trung Quốc đang làm. Nếu ngoan ngoãn im lặng thì có thể làm ăn hợp tác với Trung Quốc, nhưng đây không phải là một quan hệ ngang hàng giữa hai quốc gia ngang nhau, mà phải trở về quan hệ giữa một nước lớn và chư hầu như thời phong kiến khi xưa. Trung Quốc muốn mình là số Một, các nước khác phải thừa nhận điều đó, và không muốn các nước khác liên kết với các thế lực bên ngoài khác.”

Mới đây Ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc đã đến Việt Nam, và đòi hỏi Việt Nam với thái độ khá gay gắt phải ngưng leo thang những lời tố cáo Trung Quốc về vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Giáo sư Thayer khuyến cáo rằng nếu các nước nhỏ tiếp tục nhượng bộ, Trung Quốc dần dà sẽ thực hiện ý định chiếm thêm biển đảo, xây cất trên biển, và tất cả những gì mà Bắc Kinh muốn làm, và càng để lâu sẽ càng khó giải quyết một cách có lợi cho các nước nhỏ hơn.

Advertisements

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

“Ông Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa của TQ” Thôi chết rồi! Khả năng đọc hiểu của ủy viên BCT mà chỉ có thế thì nói sao mà VN không nghèo , mất hết biển đảo, và làm nô lệ cho TQ

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2014

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho hay ông đã đọc kỹ từng chữ trong công thư 1958. Thủ tướng Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ.

Ông Phạm Văn Đồng không nói HS-TS là của Tàu?

27-6-2014

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

 

Ngài Chủ tịch Nước nói rằng ông đã đọc kĩ từng chữ cái công hàm của ông Phạm Văn Đồng, và “Ông Phạm Văn Đồng có bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa (HS-TS) là của TQ đâu” (1). Đúng là công hàm PVĐ không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Nhưng ông tán thành tuyên bố của Tàu rằng HS-TS là của Tàu. Trong công hàm đó câu đầu tiên viết rằng:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc”.

Vậy thì Tuyên bố 4/9/1958 của Tàu là gì? Trên mạng vẫn còn lưu hành bản tiếng Hoa và một bản dịch tuyên bố 4/9/1958 (2). Tuyên bố có đoạn viết:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Như vậy trong Tuyên bố trên Tàu cộng họ nói rõ rằng HS-TS là của họ (hay theo cách gọi Tây Sa – Nam Sa của Tàu). Chính phủ VNDCCH tôn trọng và tán thành Tuyên bố đó thì cũng có nghĩa là tán thành và công nhận HS-TS là của Tàu rồi. Khó nói cách khác được (3).

Tôi cực kì ngạc nhiên là rất nhiều người, kể cả giới có học, đều biện minh rằng công hàm của ông PVĐ không hề công nhận HS-TS là của Tàu. Nhưng đọc văn bản thì phải đặt văn bản trong bối cảnh, chứ nếu chỉ xem văn bản như một tài liệu độc lập thì có khi chẳng có ý nghĩa gì. Tôi nghĩ không nên trốn tránh vấn đề cái công hàm PVĐ đặt ra (4), mà cần phải suy nghĩ cách hoá giải cái công hàm đó.

_______________________

(1) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/182973/-ong-pham-van-dong-khong-bao-gio-noi-hoang-sa-cua-tq-.html

(2) http://bshuy1969.blogspot.com.au/2011/07/tuyen-bo-ngay-491958-cua-cp-trung-quoc.html

(3) Nếu công hàm PVĐ viết “[…] Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa liên quan đến bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lí; tuy nhiên, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không tán thành nguyên tắc đó áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa” thì tôi nghĩ chúng ta chẳng có vấn đề gì.

(4) Thật ra, nói là “công hàm Phạm Văn Đồng” cũng oan cho ông ấy, vì theo một nguồn tin thì mấy ông trong Bộ Chính Trị đều có đọc qua và phê chuẩn công hàm này. Như vậy trách nhiệm thì phải trách nhiệm … tập thể. Nghe nói khi Tàu nó chiếm Hoàng Sa thì VNDCCH ra tuyên bố rằng “TQ là anh em ruột thịt, đất đó nằm trong tay TQ tốt hơn hàng triệu lần nằm trong tay kẻ thù Sài Sòn” mà nhiều người cho là ông Bùi Tín viết nhưng tôi không tìm thấy nguồn. Nhưng phía VNCH đề nghị VNDCCH ra tuyên bố chung lên án việc Tàu cộng chiếm Hoàng Sa thì bên VNDCCH từ chối. Tất cả những điều này cho thấy thời đó mấy người trong Chính phủ VNDCCH một cách cuồng tín xem Tàu như anh em ruột, còn gần gũi hơn cả những người anh em ở miền Nam. Ai cũng một lần sai lầm trong tình cảm, nhưng sai lầm của mấy ông bà VNDCCH thì thuộc vào loại vô tiền khoáng hậu để thế hệ sau phải ghánh lấy hậu quả.

 

————-

 

Báo VNexpress

‘Ông Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa của TQ’

 26-6-2014

– Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho hay ông đã đọc kỹ từng chữ trong công thư 1958. Thủ tướng Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ.

 

 

Sáng nay, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có buổi tiếp xúc cử tri tại Mặt trận Tổ quốc TP.HCM. Giới trí thức bày tỏ nhiều lời tâm huyết gửi đến Chủ tịch nước trong vấn đề quan hệ với TQ.

Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm đặt vấn đề, Đảng và Nhà nước nhìn nhận quan hệ với TQ hiện nay như thế nào.

Chủ tịch nước, chủ quyền, Trương Tấn Sang, Phạm Văn Đồng, giàn khoan, Hải Dương 981, TQ, Lê Kế Lâm
Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm

Thủ tướng Chu Ân Lai từng nói, TQ giúp đỡ VN là để trả món nợ lịch sử, nhưng món nợ lịch sử họ chưa trả thì năm 1979 họ lại gây nên món nợ lịch sử mới. Rồi năm 1974, năm 1988 và nay là trên Biển Đông. “Đây có phải là tình đồng chí, bạn bè tốt? Tôi đề nghị các đồng chí nên nhìn thẳng thắn, thực sự để chúng ta có cách đánh giá đúng đắn”, ông Lâm nói.

Ông Huỳnh Tấn Mẫm, ủy viên MTTQ TP.HCM đề nghị, VN phải thoát khỏi sự lệ thuộc với TQ, xây dựng kinh tế – quốc phòng vững mạnh để bảo vệ Tổ quốc.Cử tri Trần Thiện Tứ lại đặt vấn đề ở góc cạnh luật pháp khi hỏi, tại sao VN không đưa vụ giàn khoan Hải Dương 981 ra tòa án quốc tế?

Trả lời cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang một lần nữa khẳng định, chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tất nhiên, phải hết sức kiên trì và tránh đừng để bị ai khiêu khích.

Chủ tịch nước, chủ quyền, Trương Tấn Sang, Phạm Văn Đồng, giàn khoan, Hải Dương 981, TQ, Lê Kế Lâm
Chủ tịch nước: Tránh bị khiêu khích

Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trước sau như một là muốn là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, vì sự phát triển, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và đôi bên cùng có lợi. “Tôi muốn nói điều này để khẳng định rằng, chúng ta không lệ thuộc bất cứ ai cả”, ông Trương Tấn Sang nói.

Về mối quan hệ Việt – Trung, Chủ tịch nước cũng khẳng định xuất phát từ một mối quan hệ rất lâu đời và VN luôn mong muốn hòa bình, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở bình đẳng, đôi bên cùng có lợi, tôn trọng nhau, không có chuyện nước lớn nước bé.

Trả lời cử tri về vấn đề có sợ TQ hay không, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định không sợ. “Vấn đề Tổ quốc không phải chữ đó. Đó là vấn đề sống còn của một dân tộc. Đặc biệt là trong những thời điểm quan trọng lịch sử của đất nước, mình phải hành xử làm sao để bảo vệ lợi ích quốc gia mình cao nhất”, ông Trương Tấn Sang nói.

Về câu hỏi, sao VN không kiện ra tòa án quốc tế, Chủ tịch nước nói, chúng ta ngoài dựa vào dân tộc mình cũng phải dựa vào toàn thế giới và luật pháp quốc tế.

“Tôi đề nghị, chúng ta hết sức bình tĩnh, hết sức kiên trì và lúc nào cũng đưa ra sáng kiến để bảo vệ chủ quyền đất nước, chúng tôi luôn luôn lắng nghe. Tất nhiên, lựa chọn cuối cùng thì phải tính toán bằng cách nào đó tốt nhất có lợi cho đất nước”, Chủ tịch nước nói.

Chủ tịch nước, chủ quyền, Trương Tấn Sang, Phạm Văn Đồng, giàn khoan, Hải Dương 981, TQ, Lê Kế Lâm
Chủ tịch nước: Ông Phạm Văn Đồng không bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đề cập đến công thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. “Ông Phạm Văn Đồng có bao giờ nói Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ đâu”.

“Tôi đọc kỹ từng chữ, cụ Phạm Văn Đồng nói xung quanh công nhận 12 hải lý. Lúc bấy giờ, lãnh hải có 3 hải lý thôi. Thế giới cũng bàn luận từ năm đó đến năm 1982. Lúc đó, tư duy của các cụ mình cũng theo tư duy số đông của thế giới, tức là người ta muốn quốc gia có biển là lãnh hải phải 12 hải lý thì mình thừa nhận 12 hải lý đó”, Chủ tịch nước lý giải.

Bài và ảnh: Tá Lâm

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Đỗ Thị Minh Hạnh đã lấy lại quyền tự do và trên dường về nhà

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2014

Cánh chim báo bão Đỗ Thị Minh Hạnh đã sải cánh tự do!

27-6-2014

 

Đỗ Thị Minh HạnhKhông còn là tin đồn nữa. Khi chính một nữ cựu tù nhân lương tâm còn trong vòng quản chế như Phạm Thanh Nghiên nghẹn ngào cho tôi biết, và chính anh Đỗ Ty – cha của Hạnh – xác nhận qua điện thoại, thì mọi ngờ vực đều tan biến.Chiều muộn ngày 27/06/2014, Đỗ Thị Minh Hạnh – cánh chim báo bão những năm về trước – đã làm cộng đồng dân chủ trong nước và hải ngoại tràn ngập một niềm vui khó tả: cô vừa được tự do!

Hạnh đang trên đường về nhà!

Hầu tương tự như trường hợp của “người tù xuyên thế kỷ” Nguyễn Hữu Cầu, những tin tức đầu tiên về việc Minh Hạnh có thể được “cho về” đã xuất hiện cách thời điểm trả tự do khoảng một tháng. Và trong khoảng thời gian một tháng ấy, “họ cố ép tôi ký bản nhận tội, nhưng tôi nói rõ với họ là tôi không ký vì tôi không có tội gì hết!” – tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu thản nhiên thuật lại và còn ngâm nga bài thơ “Con bò kéo xe” của ông.

Cách đây chưa đầy một tuần, những thông tin từ gia đình Đỗ Thị Minh Hạnh và người mẹ vận động không mệt mỏi cho cô như đã cảnh báo về ý đồ “giấy nhận tội”. Lẽ đương nhiên, ai cũng hiểu đó là quán tính của một chính thể chưa thể quen với quán tính bắt buộc phải thừa nhận sai lầm khi bắt người, nhất là khi người đó lại chỉ đấu tranh cho quyền lợi của công nhân Việt Nam chứ chẳng hề nhắm tới động cơ lật đổ chế độ hiện hành.

Vào buổi sơ khai của phong trào đấu tranh công nhân, hành động chính quyền bắt ba người tranh đấu Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng cũng tràn sắc máu nguyên thủy. Không một ai được thanh minh, cũng chưa từng có một dấu hiệu thỏa hiệp nào của Nhà nước Việt Nam với nhu cầu công đoàn độc lập quá sức bức bối.

Khác hẳn với giờ đây…

Giờ đây, gần 1.000 cuộc đình công của công nhân diễn ra hàng năm tại nhiều vùng ở Việt Nam đã đủ chứng minh cho tính “ưu việt” đến thế nào của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam – một cơ quan công quyền nhưng trung gian để trực tiếp hưởng 2% trên tổng quỹ lương doanh nghiệp và cũng ăn vào công sức lao động của công nhân, một tổ chức “đại diện cho quyền lợi của công nhân” song đã chưa từng chấp nhận bất kỳ một cuộc đình công nào trên toàn quốc, ngược hẳn với mối giao hảo chung chịu của họ với giới chủ doanh nghiệp.

Giờ đây và khác hẳn với thời kỳ làn sóng công nhân tranh đấu bị đàn áp, chính thể cầm quyền ở Việt Nam đang phải dần chấp nhận đòi hỏi về định chế công đoàn độc lập do người Mỹ và phương Tây đặt lên bàn đàm phán Hiệp định TPP. Không phải vô cớ mà cũng vào tháng Sáu này, hơn 150 dân biểu quốc hội Mỹ đã đồng gửi thư kiến nghị cho Đại diện thương mại Hoa Kỳ về “không TPP nếu không có công đoàn độc lập” và “Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Đỗ Thị Minh Hạnh”.

Cũng không phải vô cớ mà kịch bản cánh chim báo bão Đỗ Thị Minh Hạnh được trả tự do vô điều kiện không chỉ là niềm vui bất ngờ của cô và gia đình, mà còn khiến bật lên một tia hy vọng lớn lao hơn nhiều: đã có tín hiệu về một khả năng nào đó tổ chức công đoàn độc lập được chính quyền “thí điểm” ở Việt Nam trong vài năm tới.

Hãy khóc…

Nếu có thể nhớ lại, hãy nên so sánh những bước chân của Hạnh bần thần ra khỏi phòng giam với không khí òa vỡ của đám đông vào tháng 8/2013, khi nữ sinh áo trắng Phương Uyên đột ngột được phóng thích ngay tại tòa Long An. Để sau tháng Tám ấy là một sự chuyển mùa dân chủ ở Việt Nam, nơi mà tiếng chim hót dân sự đã không còn bị vùi dập quá tàn nhẫn.

Cánh chim báo bão Minh Hạnh hẳn cũng như vậy thôi. Phía trước không chỉ là bầu trời tự do với riêng cô, mà một chân trời mới đang hé rạng cho các tổ chức xã hội dân sự ở đất nước đầy cam go này, nơi mà mới đây 16 tổ chức dân sự đã tiếp bước Hạnh để ra một tuyên bố về sự cần kíp xây dựng tổ chức công đoàn độc lập cho 5 triệu công nhân Việt Nam.

Hạnh hãy khóc đi, những giọt nước mắt siết bao ơn nghĩa với Người Mẹ và Dân Tộc…

Phạm Chí Dũng

thuymyrfi.blogspot.fr

Posted in Tù Chính Trị, Trại Tù | Leave a Comment »

►PTT Hoàng Trung Hải đang cứu xét đơn của Formosa: đói lập đặc khu Vũng Áng cho 60.000 công nhân Trung Quốc và gia đình ở

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2014

Công ty Formosa thật bí hiểm. Trên mặt nổi, Formosa do Đài Loan làm chủ. Nhưng tất cả công nhân dều làm việc tại Hà Tỉnh (VN) lại là người Trung Quốc. Nay ban lãnh đạo của công ty muốn thành lập đặc khu Vũng Áng, nhà nước VN đã cho Formosa thuê đất 49 năm, và họ có thế xây tường chung quanh, và dĩ nhiên sẽ không cho công an vào kiểm tra…

Formosa Hà Tĩnh đòi lập đặc khu Vũng Áng

Nguyễn Vũ

25-6-2014

(TBKTSG Online) – Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa Hà Tĩnh) vừa có những yêu cầu gởi lên Chính phủ vượt quá khuôn khổ luật pháp và chính sách ưu đãi hiện hành mà bình thường có lẽ không doanh nghiệp nào nghĩ tới.

Đó là đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng và trong đặc khu thành lập ban quản lí, trực thuộc Văn phòng Chính phủ, theo tin từ báo Hải quan.

Trong công văn số 1406022/CV-FHS gởi Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Formosa đưa ra đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng nhằm xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện….

Với đặc khu này, Formosa đề xuất một loạt biện pháp ưu đãi như được Chính phủ thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép, được Chính phủ ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh, được vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài, được miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn…, miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu…

Cũng theo báo Hải quan, một trong những đề xuất mang tính ưu đãi như thế là “đề nghị được cắt đất để bán lâu dài cho nhân viên” mà Formosa dự kiến số lượng nhân viên cao nhất đạt 15.000 người, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người như một thị trấn gần đặc khu.

Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa đang được triển khai xây dựng và dự kiến bắt đầu vận hành giai đoạn 1 vào năm 2015 với tổng công suất khoảng 22,5 triệu tấn thép/năm.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Cán bộ đảng viên và nhà nước VN đã quen với nỗi nhục bị Bắc Kinh chơi đểu, lấn lướt, khinh thường, họ cũng quen luôn với việc bị người dân coi như một tập đoàn bán nước

Posted by hoangtran204 trên 26/06/2014

Đến nổi chiến lược đối phó với Trung Cộng là núp sau váy và nhái lại câu nói của bà Tôn Nữ Thị Ninh năm 2004.   “Bà Ninh lại kêu gọi “bọn đế quốc” đừng can thiệp vào “chuyện nội bộ của gia đình”? Bà đã từng phát biểu tại buổi họp báo ở Mỹ hồi năm 2004, rằng: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”? Mời xem lại: NHỮNG ĐỨA CON HƯ CỦA TÔN NỮ THỊ NINH (LTHQ) post cuối bài này. 

BCT  ra lệnh cho Tướng Phùng Quang Thanh ví von phát biểu tại Singapore ngày 31-5-2014 rằng : chuyện Biển Đông chỉ là chuyện gia đình, chỉ là sự hục hặc nhỏ bé giữa hai nước cộng sản. 

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

Phát biểu trên được ông Phùng Quang Thanh đưa ra trong phiên họp toàn thể vào trưa ngày 31/5 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore. Tướng Thanh nói: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.”

VN- tâm lý “chờ sung rụng” và trạng thái “bị lờn thuốc”

Song Chi

Nguồn Đài   rfavietnam.com/node/2099

25-6-2014

Tâm lý “chờ sung rụng”…

Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Cộng nằm trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN đã gần 2 tháng trời. Và mới đây, Bắc Kinh tiếp tục đưa thêm 3,4 giàn khoan khác ra biển Đông, trong đó giàn khoan Nam Hải 9 đang được di chuyển tới gần vùng đặc quyền kinh tế của VN.

Điều này cho thấy sau một thời gian thử thăm dò phản ứng của nhà cầm quyền VN cũng như dư luận quốc tế về vụ Hải Dương 981, nhận thấy phản ứng của VN và của quốc tế không đủ mạnh, không đáng sợ, Trung Cộng có vẻ cho rằng đã đến lúc muốn làm gì thì làm, đặc biệt đối với VN.

Về mặt thực tế mà nói, VN xem như đã mất biển. Một quốc gia nằm quay mặt ra biển, có đường bờ biển dài 3260 km không kể các đảo, nay phải chịu cảnh bị chặn mất đường ra biển. Ngư dân chỉ cần đánh bắt cá xa bờ một chút là gặp tàu Trung Quốc, bị Trung Quốc rượt đuổi, đánh cướp, đánh chìm tàu các kiểu, còn người thì bị đánh đập, bắt cóc, đòi tiền chuộc…Vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của VN, nằm trong khu vực biển Đông được đánh giá là giàu có về tài nguyên, dầu khí…nhưng trong tương lai, người Việt chỉ còn có thể giương mắt nhìn tàu “nước bạn” nghênh ngang đi lại, nhìn giàn khoan “nước bạn” khai thác dầu của nước mình.

Không những thế, một khi Trung Cộng đã hoàn tất các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa Trường Sa mà chúng đánh chiếm được từ VN, thì an ninh quốc phòng của VN thật sự bị đặt trong tình trạng nguy hiểm!

Thế nhưng, nhà cầm quyền VN, suốt trong thời gian giàn khoan Trung Cộng xâm phạm lãnh hải VN, đã tỏ ra thực sự lúng túng, không biết chống đỡ cách nào, ngoại trừ phản đối miệng, phản đối bằng thư, công hàm, cho tàu kiểm ngư lượn vòng xa xa giàn khoan bắt loa phản đối, khuyến khích ngư dân ra khơi giữ vững chủ quyền thay cho nhà nước…

Các quan chức lãnh đạo cho tới tướng tá cao cấp, người này phát biểu mâu thuẫn với người kia, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho thấy nội bộ đảng và nhà nước cộng sản VN vẫn đang bị chia rẽ sâu sắc trong mối quan hệ với Trung Cộng và phương hướng giải quyết. Khi thấy sự bất bình, phẫn nộ trong dân chúng có vẻ tăng lên thì họ lại lên tiếng mỵ dân vài câu rồi đâu lại vào đó.

Người VN trong nước, ngọai trừ một số bày tỏ sự phẫn nộ, uất hận trên các trang blog, các trang mạng xã hội…số đông còn bận tiếp tục quay cuồng với cơm áo gạo tiền và bao nhiêu mối lo hàng ngày. Bởi có thể làm gì, khi ngay cả biểu tình phản đối Trung Cộng nhà nước cũng không cho phép, và bởi vì “mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo”.

Dân chờ nhà cầm quyền hành động. Trong nỗi tuyệt vọng, dù từ lâu đã mất lòng tin vào quyết tâm chống Tàu của nhà cầm quyền, người dân hết mong chờ cả giàn lãnh đạo thay đổi, tìm cách “thoát Trung”, lại hy vọng có một nhân vật cụ thể trong đảng, trong nhà nước cộng sản dám vượt lên trước, gánh vác trách nhiệm với non sông. Chẳng hạn, chỉ cần ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cất lên đôi lời mạnh mẽ, người ta đã vội mừng, vội đặt niềm tin bất chấp những “thành tích” tệ hại của ông Dũng trong việc điều hành, quản lý kinh tế, bất chấp ông Dũng từng nhiều lần nói mà không làm trong quá khứ.

Trong khi đó, cả giàn lãnh đạo cho tới tướng tá nhìn nhau, đùn đẩy nhau rồi cũng…cùng chờ. Chờ các nước khác, nhất là những nước lớn mạnh như Hoa Kỳ, Nhật… có những hành động gây áp lực, hoặc trừng phạt Trung Cộng giúp mình. Thật khôi hài trong việc VN, một mặt luôn tìm mọi cách nhai lại cái quá khứ “thắng” Mỹ, chửi Mỹ, mặt khác lại lên tiếng kêu gọi Hoa Kỳ phải có hành động trước sự hung hăng ngang ngược của Trung Quốc. Có lãnh đạo VN còn hàm ý trách cả…EU, như bà Tôn Nữ Thị Ninh, cựu Đại sứ Việt Nam tại EU và Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, phát biểu trong bài trả lời phỏng vấn một phóng viên của Đức: “EU vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của VN và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á…Tôi cho rằng, giờ là lúc châu Âu tăng cường hiện diện ở đây để hỗ trợ cho việc thực thi một trật tự thế giới đa cực“.

Đây là lời bình trên trang Ba Sàm: “Bà Ninh lại kêu gọi “bọn đế quốc” can thiệp vào “chuyện nội bộ của gia đình”? Chẳng phải bà đã từng phát biểu tại buổi họp báo ở Mỹ hồi năm 2004, rằng: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”? Mời xem lại: NHỮNG ĐỨA CON HƯ CỦA TÔN NỮ THỊ NINH (LTHQ)”.

Tiếp đến là chờ Bắc Kinh động lòng suy nghĩ lại tình hữu nghị đôi bên. Một số quan chức vẫn gọi Trung Quốc là “bạn”, bản thông cáo của Quốc hội VN vẫn kêu gọi “giữ vững quan hệ hữu nghị giữa hai nước”…

Cuối cùng là chờ… đến tháng Tám khi Tàu Cộng tự động rút giàn khoan đi theo như kế hoạch từ đầu của chúng. Nhưng bây giờ khi giàn khoan thứ nhất chưa rút đi mà các giàn khoan khác lại xuất hiện, thì họ vẫn chưa có hành động gì khác!

…và trạng thái “bị lờn thuốc”

Điều nguy hiểm hơn, về phía dân chúng, sau những phẫn nộ ban đầu khi được biết giàn khoan Trung Cộng kéo vào vùng biển thuộc lãnh hải của VN, tâm trạng chung của số đông dường như đã xìu xuống, nhường chỗ cho sự chán nản, tuyệt vọng, thờ ơ. Bây giờ ngay cả khi nghe tin có 4 giàn khoan, tin Trung Cộng tiếp tục hoành hành trên biển, đang xây đảo nhân tạo trở thành căn cứ quân sự…người dân cũng không phản ứng.

Chuyện vận mệnh của nước mình mà dân mình còn thờ ơ như vậy, trách gì thế giới? Rõ ràng so với mấy hôm đầu báo chí các nước đều lên tiếng về việc Trung Quốc xâm phạm lãnh hải nước láng giềng, dư luận đa số nghiêng về phía VN, nếu lúc đó VN lên tiếng mạnh mẽ hơn, thậm chí kịp thời kiện Trung Cộng ra tòa án quôc tế chứ không chỉ dọa kiện thì có lẽ nhiều nước sẽ ủng hộ. Còn bây giờ, mỗi ngày trên thế giới có bao nhiêu chuyện nóng xảy ra, người ta lại quên chuyện Việt Nam và Trung Quốc.

Nếu so sánh giữa VN và Philippines, hai quốc gia đang cùng chung một hoàn cảnh bị Trung Cộng đe dọa về chủ quyền, người ta có thể thấy rất rõ Philippines thật tâm, quyết liệt chống Trung Quốc.

Người dân Philippines được tự do biểu tình phản đối Trung Cộng, từ người đứng đầu chính phủ là Tổng thống cho đến các nhân vật lãnh đạo cao cấp, người phát ngôn Bộ ngoại giao…luôn luôn có những tuyên bố kịp thời và mạnh mẽ trước mọi động thái của Trung Quốc. Chính phủ Philippines quyết chí kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, nỗ lực nâng cấp mối quan hệ đồng minh với Mỹ, mở toang các căn cứ cho Mỹ, toàn lực chống Trung Quốc.

Trong khi đó, nhà cầm quyền VN chỉ chống Trung Quốc một cách cầm chừng, nửa vời. Người yêu nước biểu tình phản đối Trung Cộng bị đàn áp, còn những người bị bắt giữ trước đây với cùng lý do vẫn chưa được thả ra. Bốn nhân vật có vị trí cao nhất trong bộ máy lãnh đạo là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, lặn mất tăm hoặc chỉ có những phát biểu rất chậm, khi giàn khoan và lực lượng tàu bảo vệ đã vào trong vùng lãnh hải VN, đâm va, gây hư hỏng tàu chấp pháp và tàu cá của ngư dân Việt một thời gian. Nói mạnh hơn, dù vẫn chưa đủ là ông Thủ tướng, thì cũng chỉ nói rồi để đó.

Cả đám lãnh đạo, tướng tá cao cấp trốn trong nhà mặc đội tàu của lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư phải gồng lên chịu đựng những cú va chạm, đâm húc từ phía tàu Trung Quốc đông, to và mạnh hơn hẳn, và ngư dân thì bị đẩy ra làm những “lá chắn sống” bằng những mỹ từ đẹp đẽ “ngư dân kiên trì bám biển, giữ vững chủ quyền”.

Quốc hội họp trong lúc tình hình như dầu sôi lửa bỏng nhưng cuối cùng vẫn không ra nghị quyết về biển Đông. Rồi VN dậm dọa sẽ kiện Trung Quốc nhưng chưa biết bao giờ kiện, còn Trung Quốc thì đã nhanh tay kiện trước. Trung Quốc đã và đang hoàn tất những căn cứ quân sự khủng trên các quần đảo Trường Sa Hoàng Sa, nhưng VN vẫn không dám cho Hoa Kỳ chính thức thuê cảng Cam Ranh, ngược lại, lại “ưu tiên cho Nga sử dụng vịnh Cam Ranh” và chỉ làm những động tác an dân kiểu như cho “Tàu vận tải của hải quân Mỹ vào vịnh Nha Trang“ (Tuổi Trẻ).

Xâu chuỗi lại tất cả quá trình đối phó với Trung Quốc của nhà cầm quyền VN để thấy rằng họ có thực tâm chống Trung Quốc hay không.

Mặt khác, nếu chú ý vào mọi chính sách cho tới cách hành xử của Trung Cộng, chúng ta sẽ thấy rằng Bắc Kinh rất nhất quán với tham vọng trước sau như một về việc độc chiếm biển Đông, làm bá chủ khu vực. Và để thực hiện điều đó, Trung Quốc có chiến lược hẳn hoi, tiến hành từng bước, từng bước cho đến khi hoàn tất.

Hành xử như một kẻ cướp, nhưng Bắc Kinh đồng thời tỏ ra rất am hiểu tâm lý con người. Đó là mọi thứ đều có thể trở thành quen, giống như hiện tượng bị lờn thuốc. Cứ dấn tới, đo lường phản ứng của “đối phương” và của thế giới như thế nào, nếu bị phản ứng mạnh thì sẽ tạm lùi lại chờ thời, còn nếu không thì lại dấn tới, lần sau mạnh hơn lần trước, nhưng đến lần hai, lần ba, lần thứ n… thì kẻ bị tấn công đã trở nên quen, và cam chịu, các nước khác cũng quen. Thế là Bắc Kinh thắng.

Với nhà cầm quyền VN, họ đã quen với nỗi nhục bị Bắc Kinh chơi đểu, lấn lướt, khinh thường, họ cũng quen luôn với việc bị người dân coi như một tập đoàn bán nước, nhưng không lẽ với hơn 90 triệu người VN, viễn cảnh mất nước rồi cũng sẽ trở thành quen và chấp nhận?

 

———–

Phụ lục:

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

Phát biểu trên được ông Phùng Quang Thanh đưa ra trong phiên họp toàn thể vào trưa ngày 31/5 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore. Tướng Thanh nói: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.”

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh phát biểu tại diễn đàn
Đối thoại Shangri-La 2014. (Ảnh: Lê Hải – Pv TTXVN tại Singapore)

Phùng Quang Thanh phát biểu chung một giọng điệu với Tập Cận Bình : Chủ tịch Trung Quốc phủ nhận căng thẳng ở Biển Đông (VnEx 31-5-14).

Cách nói của tướng Thanh là biến chuyện lớn (TQ xâm lược VN) thành chuyện nhỏ (mâu thuẫn gia đình), rồi từ đó biến chuyện nhỏ thành chuyện không có gì. 

Trong khi trước đó, Thủ Tướng Nhật đọc diễn văn tố cáo và phản đối Trung Cộng đặt giàn khoan ở Biển Đông, và Nhật tuyên bố hổ trợ cung cấp tàu chiến cho Indonesia, Philippines, Malaysia…chống lại TQ; Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ cũng mạnh mẻ phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông,… Các nước nầy muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông để hỗ trợ VN bảo vệ chủ quyền trên biển, và tự do hàng hải trên Biển Đông, thì tướng Thanh nói chuyện Biển Đông là mâu thuẫn nội bộ của gia đình Việt – Trung. Đừng xía vô !   

Đảng CSVN và nhà nước không quan tâm và không bảo vệ ngư dân VN đang đánh cá trong Biển Đông. Thậm chí khi tàu của ngư dân Việt Nam  bị tàu Trung Quốc đâm vào gây thiệt hại tính mạng, nhà nước VN cũng không triệu đại sư Trung Quốc đến phản đối. * Trung Quốc với hành vi tàn độc, vô nhân đạo trên biển 

 

-“Tôn Nữ Thị Ninh xuất thân từ miền nam, đi du học tại Pháp, được Việt cộng móc nối và cho hoạt động với Nguyễn thị Bình, lúc đó đang làm Trưởng phái đoàn Mặt trận Giải phóng Miền Nam tham dự Hòa đàm Paris. Khoảng đầu năm 1973, sau khi tốt nghiệp Ðại học Paris, thị được Việt cộng bí mật đưa về Việt Nam làm giảng tập viên tại Phân khoa Khoa học Xã hội thuộc Ðại học Sư phạm Sài Gòn từ niên khóa 1973. Ngay ngày đầu Cộng sản Bắc Việt tiếp thu Sài Gòn thị cởi bỏ chiếc áo dài, mặc ngay áo bà ba vào lớp học. Sau đó thị được cử làm thông dịch viên cho Phạm văn Ðồng trong chuyến viếng thăm Ấn độ… Thị được Ðảng cho lấy một cán bộ miền Bắc du học từ Liên Sô về… Rồi theo chồng ra Hà nội sống và làm việc tại Bộ Ngoại giao CSVN

[Thị chưa bao giờ là giáo sư Ðại học Paris hoặc giáo sư Ðại học Văn khoa Sài gòn như tiểu sử được thị tự thêu dệt theo thói quen của quá nhiều cán bộ đảng viên Cộng sản Việt Nam nhằm đánh lừa dư luận vốn rất mù mờ để tuyên truyền].

(LTHQ)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 2 Comments »

►Nhìn Lại Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa : Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến

Posted by hoangtran204 trên 26/06/2014

 

 Sách Giáo Khoa Thời Việt Nam Cộng Hòa 

 http://1-ps.googleusercontent.com/x/www.danluan.org/tuxtini.files.wordpress.com/2013/12/x001-hc3acnh-chung1.jpg,qw=902,ah=449.pagespeed.ic.ekA06f8Ca5.webp

 

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí,” “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.”

Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm Tiểu Học, Trung Học, và Đại Học, cùng với một mạng lưới các Cơ Sở Giáo Dục Công Lập, Dân Lập, và Tư Thục ở cả ba bậc học, và hệ thống tổ chức quản trị từ Trung Ương cho tới Địa Phương.

 

 Phòng Thí Nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn [Hình trên Internet] 

 http://1-ps.googleusercontent.com/x/www.danluan.org/tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/x1468720_354694488000497_1492264788_n.jpg,qw=902,ah=550.pagespeed.ic.lM64TaOSUr.webp

 

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.

Riêng ở Miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở Miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.

 

 Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên [công viên 30/4 hiện tại], nằm trên đường Boulevard Norodom – [ Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà. ] 

 http://1-ps.googleusercontent.com/x/www.danluan.org/tuxtini.files.wordpress.com/2013/11/xpkc3bd-le1bb85.jpg,qw=762,ah=550.pagespeed.ic.L_B8qhUwPu.webp

 

Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở Miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.

Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm [20%] dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người [không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng.]

 

 

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm [từ 1955 đến 1975], bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho Quốc Phòng và Nội Vụ [trên 40% ngân sách quốc gia dành cho Quốc Phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho Giáo Dục], nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.

Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.

 

 

Thầy cô giáo [Giáo Sư] thời Việt Nam Cộng Hòa 

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia [lần I] tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” [humanistic], “dân tộc” [nationalistic], và “khai phóng” [liberal] được chính thức hóa ở hội nghị này.

Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa [1967].

 

 Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm. 

1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.

Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.

Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

 

  

2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.

Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

 

Sinh viên Đại Học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào Miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964

.

3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.

Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Mục tiêu giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa:

 

 

1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.

Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.

 

 Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa 

2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.

Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

 

 

 Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974. 

3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

Điều này thực hiện bằng cách: Giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.

 

 

Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn [Số 3 Công Trường Chiến Sĩ ] 

Giáo dục tiểu học:

 

 Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961. 

Bậc Tiểu Học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 [thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất]. Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập [bắt buộc]. Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp,” tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]

 .

Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
1955 400.865 8.191
1957 717.198[9]
1960 1.230.000 [9]
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[10]
1970 2.556.000 44.104

 

Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.

Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học [chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc.]

 

 Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – [Lớp Bốn lớp Năm bây giờ.] 

Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.

Lớp 1 [trước năm 1967 gọi là lớp Năm] cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dân và Đức dục [còn gọi là lớp Công dân giáo dục.] Lớp 2 [trước năm 1967 gọi là lớp Tư], Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.

 

 Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ. 

Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ [thông thường vào những ngày áp Tết.]

 

 

 Thẻ căn cước học sinh Trường Trung Học Võ Trường Toản 

Giáo dục trung học:

 

 Các vị Giáo Sư Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn 

Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).

Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…

Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học

 

Trước 1975 Sau 1975
Lớp Năm Lớp Một
Lớp Tư Lớp Hai
Lớp Ba Lớp Ba
Lớp Nhì Lớp Bốn
Lớp Nhất Lớp Năm[10]

Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp

 

Trước 1975 Sau 1975
Lớp Đệ Thất Lớp Sáu
Lớp Đệ Lục Lớp Bảy
Lớp Đệ Ngũ Lớp Tám
Lớp Đệ Tứ Lớp Chín

Tên các lớp bậc trung học đệ nhị cấp

 

Trước 1975 Sau 1975
Lớp Đệ Tam Lớp Mười[10]
Lớp Đệ Nhị Lớp Mười Một[10]
Lớp Đệ Nhất Lớp Mười Hai

 

 

 Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký 

Trung học đệ nhất cấp:

 

 Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 8 Năm 1972- 1973 

Trung Học Đệ Nhất Cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ Thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.

Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” [hay “học kỳ.”] Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là Tiếng Anh hay Tiếng Pháp, môn Công Dân Giáo Dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.

Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam [tức Việt Võ Đạo] cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.

Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: Viết và vấn đáp.

Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-1967 thì Bộ Quốc Gia Giáo Dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

 

 Sân Trường Marie Curie 

Trung học đệ nhị cấp:

 

 

 Nam Sinh Võ Trường Toản 

Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.

Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chường và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.

Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú Tài I rồi thi Tú Tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.

Số liệu giáo dục bậc trung học

[8]

 

Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
1955 51.465 890
1960 160.500[9]
1963 264.866 4.831
1964 291.965[10]  
1970 623.000 9.069

 

Mỗi năm có hai đợt thi Tú Tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.

Tỷ lệ đậu Tú Tài I [15-30%] và Tú tài II [30-45%], tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu”hay “ưu ban khen” [18/20 điểm trở lên], thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng “ưu” [16/20 điểm trở lên]; “bình”[14/20]; “bình thứ” [12/20], và “thứ”[10/20].

 

Thầy trò Trường Nữ Trung Học Gia Long 

Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn [Gia Định] và các trường Quốc học [Huế], Phan Chu Trinh [Đà Nẵng], Võ Tánh [Nha Trang], Trần Hưng Đạo [Đà Lạt], Nguyễn Đình Chiểu [Mỹ Tho] dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh [Huế], Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân [Đà Lạt], Trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân [Mỹ Tho], Trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm [Cần Thơ] chỉ dành cho nữ sinh.

Học sinh Trung Học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: Nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

Nữ Sinh Trung học Lê Văn Duyệt 

Trung học tổng hợp:

Chương trình giáo dục Trung Học Tổng Hợp [Tiếng Anh: Comprehensive High School] là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường Trung Học Hoa Kỳ. Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.

Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình Trung Học Tổng Hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức [khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965] , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh [cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10] và Sương Nguyệt Ánh [cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang] ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

 Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang [cầm đàn] trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960 

Bổ sung

[theo góp ý của độc giả Nguyễn]:

Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường Trung Học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế [khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở].

Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung Học Kiểu Mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân Khoa Sư phạm của Viện Đại Học Cần Thơ.

 

 Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975 

Trung học kỹ thuật:

 

 Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao 

Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là Tiếng Anh và Tiếng Pháp.

Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á Châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng, Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung Học Kỹ Thuật Don Bosco [do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM.]

 

 Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng. 

Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử

Các trường tư thục và Bồ Đề:

 

 Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974 

Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.

Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Saint Paul, Regina Pacis [Nữ vương Hòa bình], Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo, và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.

 

 Sân Trường Bác Ái [Collège Fraternité] 

Trường Bác Ái [Collège Fraternité] ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.

Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.

Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.

Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công [hầu hết mang tên mới.]

 

 

Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên Trai, Cho Quan.. 

Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:

 

 Saigon 17 March 1971

Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành
Thư Viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.
 

Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc Gia Nghĩa Tử. Tuy đây là trường công lập, nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ, hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.

Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến Binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc Gia Giáo Dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc Gia Nghĩa Tử khác trường Thiếu Sinh Quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

Giáo dục đại học:

 

 

Học sinh đậu được Tú Tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.

Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.

 

 

Trong khuôn viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh 

Số liệu giáo dục bậc đại học:

 

Niên Học Số Sinh Viên
1960-1961 11.708 [48]
1962 16.835 [10]
1964 20.834 [10]
1974-1975 166.475 [46]

 

Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 [học 4 năm]: Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử Nhân [ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…]; nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp [ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh…]hay bằng Kỹ Sư [ví dụ: Kỹ Sư Điện, kỹ Sư Canh nông…] Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao Học hay Tiến Sĩ đệ tam cấp [Tiếng Pháp: Docteurde Troisième Cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay.] Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến Sĩ [tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ.]

Riêng ngành Y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm, hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.

Bổ sung của độc giả Trần Thạnh (26.12.2013)

Việt Nam Cộng có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:

 

 

Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy. Ecole Normale Supérieure.

 

Ðánh dấu hoa* là ôngPhạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng Thống Pháp Georges Pompidou

Theo hệ thống của Pháp (ngày trước)

– Cử Nhân [Licencié], Cao Học [DEA], Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp [Doctorat de 3è cycle], Tiến Sĩ Quốc Gia [Doctorat d’État.]

Theo hệ thống của Hoa Kỳ

– Cử Nhân [Bachelor], Master [trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này], Tiến Sĩ [PhD].

Khó có thể so sánh Master và Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau. [Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người.]

Từ “Thạc Sĩ ” trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp [Agrégation.] Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.

 

 

 Đại Học Luật Khoa Sài Gòn 

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học

Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện Đại Học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).

Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ [Tiếng Anh: Credit]. Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học [Tiếng Anh: Faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân Khoa Y, Phân Khoa Sư Phạm, Phân Khoa Khoa Học, v.v…] hoặc Trường hay Trường Đại học [Tiếng Anh: School hay College; ví dụ: Trường Đại Học Nông Nghiệp, Trường Đại Học Kỹ Thuật, v.v…].

Trong mỗi Phân Khoa Đại Học hay Trường Đại Học có các ngành [ví dụ: ngành Điện Tử, ngành Công Chánh, v.v…]; về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban [Tiếng Anh: Department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay.]

 

 

 

 Trường Đại học Giáo Dục: Tiền thân là Trung Tâm Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuật 

Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.

Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.

Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.

Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam [Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam].

Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.

 

div>

 

Trường Đại Học Giáo Dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật 

Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.

Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.

 

 

 Trường Sư Phạm, thuộc Viện Đại Học Sài Gòn 

Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.

Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại Học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.

Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học.”
Các viện đại học công lập:

Viện Đại Học Sài Gòn.

Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại Học Quốc Gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại Học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, Tiếng Việt lẫn Tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.

Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại Học Sài Gòn.

Viện Đại Học Huế.

Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật, Sư Phạm, Văn Khoa, và Y Khoa.

 

 

 Hàng đầu bên trái: Ông Nguyễn Đăng Trình Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đầu tiên [tháng 3/1957-7/1957 ].Ở giữa: Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Bên Phải: Linh Mục Giáo sư Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965.

 

Viện Đại Học Cần Thơ.

Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật Khoa & Khoa Học Xã Hội, Sư Phạm, và Văn Khoa.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung Tâm Quốc gia Kỹ Thuật (1957), Học Viện Quốc gia Kỹ Thuật (1972).

Các viện đại học tư thục:

Viện Đại Học Đà Lạt.

Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại Học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo Hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính Trị Kinh Doanh, Khoa Học, Sư Phạm, Thần Học và Văn Khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.

 

 

Viện Đại Học Đà Lạt 

Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Thuộc khối Ấn Quang của Giáo Hội Phật Giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo Dục, Phật Học, Khoa Học Xã Hội, Khoa Học Ứng Dụng, và Văn Học & Khoa Học Nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.

 

 

Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973 

Viện Đại Học Phương Nam.

Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.

Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh Tế-Thương Mại, Ngoại Ngữ, và Văn Khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.

 

 

 Thư viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn 

Viện Đại Học An Giang [Hòa Hảo].

Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn Khoa, Thương Mại-Ngân Hàng, Bang Giao Quốc Tế, Khoa Học Quản Trị và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Viện Đại Học Cao Đài.

Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần Học Cao Đài, Nông Lâm Mục, và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Cao Đài.

Viện Đại Học Minh Đức.

Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ Thuật Canh Nông, Khoa Học Kỹ Thuật, Kinh Tế Thương Mại, Nhân Văn Nghệ Thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo Hội Công Giáo điều hành.

Các học viện và viện nghiên cứu

 

 

 Viện Pasteur Nha Trang 

Học Viện Quốc Gia Hành Chính.

Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản [gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2], Quận10, Sài Gòn.

Học viện này trực thuộc Phủ Thủ Tướng hay Phủ Tổng Thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp.

(1972-1974) Tiền thân là Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc gia Nông Nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.

Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải Dương học Nha Trang, Viện Nguyên Tử Lực Đà Lạt, Viện Khảo Cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.

 

Các trường đại học cộng đồng

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.

Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.

Ở Sài Gòn có Trường Đại Học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

Các trường kỹ thuật và huấn nghệ

 

y

 Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật 

Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách Khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm Súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học.

Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục

: Thoạt tiên là Nha Khảo Cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc Gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (1968-1972), Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc Gia Nông lâm Mục được sáp nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.

 

 Trường Cao Đẳng Điện Học – (Nay thuộc trường Đại Học Bách Khoa – Saigon)

Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ.

Thành lập năm 1957 thời Đệ Nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Học, Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao Đẳng Hóa Học. Năm 1972, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật đổi thành Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại Học Nông Nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia.

Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.

 

 

 Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia 

Các trường nghệ thuật.

Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điển Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.

 

 Các giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm [đờn kìm], Phan Văn Nghị [đờn cò], Trương Văn Đệ [đờn tam], Vũ Văn Hòa [sáo] và Nguyễn Vĩnh Bảo [đờn tranh]. 

Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế.

Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.

Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật

: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định [tiền thân là Trường Mỹ Nghệ Gia Định, thành lập năm 1940.]

 

 

Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60 

Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn

: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ [1954-1966.]

Sinh viên du học ngoại quốc

Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

 

 Trang trong sách Địa Lý Lớp Ba 

Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa xuất bản năm 1967

Năm 1958, chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa cho lập Ban Tu Thư thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]

 

 

 

 

 

Trang bìa sách Địa Lý Lớp Ba 

 

 

 

 

Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu Thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.

Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung cấp, với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.

 

 

 

 

Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục cũng đã thiết lập Ủy Ban Quốc Gia Soạn Thảo Danh Từ Chuyên Môn, bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung Tâm Học Liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức

 

 

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện Đại Học Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là Khách Sạn Morin Frères
 

Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.

Ngoài ra còn có Trường Đại Học Sư Phạm Huế thuộc Viện Đại Học Huế và Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại Học Đà Lạt.

Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.

Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm [2 hoặc 4 năm]. Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.

 

 Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn 

Nha Sư Phạm (thuộc Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên cũng gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…

Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại Học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng Hòa.

 

 Lễ khai giảng Trường Đại Học Quốc Gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 

Đời sống và tinh thần giáo chức

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.

Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ Nhất Cộng Hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.

Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm [người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu], từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

 Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm. 

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

 

 

Chứng chỉ Tú Tài I 

Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công Dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp

 

 Chứng chỉ Tú tài II 

Chứng chỉ Tú Tài II

Đầu những năm 1970, Nha Khảo Thí của Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu [sample] và nhóm định chuẩn [norm group] được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng [tức bộ trưởng] và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:

 

 Ông Phan Huy Quát 

*. Phan Huy Quát. Sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng Trưởng Giáo Dục Quốc Gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

*. Nguyễn Thành Giung: Sinh năm 1894 tại Sa Đéc; Tiến Sĩ Vạn Vật Học ] Viện Đại học Khoa Học Marseille]; Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1952-1953 thời Quốc Gia Việt Nam, kiêm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Hà Nội.

*. Trần Hữu Thế: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học [1952], từng dạy học ở Lyon [Pháp] và làm giáo sư ở Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục; từng làm Đại Sứ của Việt Nam Cộng Hòa tại Philippines. Dưới thời Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, số lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này, Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia (lần I) được tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958, chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

*. Nguyễn Văn Trường: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại Học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại Học Cần Thơ vào năm 1966.

*. Trần Ngọc Ninh: Sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, giáo sư Văn Minh Đại Cương và Văn Hóa Việt Nam tại Viện Đại Học Vạn Hạnh; Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.[98]

*. Lê Minh Trí: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng Trưởng Giáo Dục bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969.[100]

*. Nguyễn Lưu Viên: Sinh năm 1919; bác sĩ, từng làm việc tại Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, Bệnh Viện Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục rồ, Phó Thủ Tướng kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa ở Hội Nghị La Celle Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm.

*. Ngô Khắc Tĩnh: Sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm 1971 đến 1975 làm Tổng Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

*. Đỗ Bá Khê: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Southern California); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Ông là người đã thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở Miền Nam Việt Nam và được xem là “cha đẻ của các trường đại học cộng đồng Việt Nam.” Ông còn thiết lập Viện Đại Học Bách khoa Thủ Đức vào năm 1974, dựa theo mô hình của các viện đại học bách khoa ở California (Hoa Kỳ), và làm việc với vai trò viện trưởng sáng lập của viện đại học này.

*. Nguyễn Thanh Liêm: Sinh năm 1934 tại Mỹ Tho; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa.

*. Các Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục: Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình

ĐÁNH GIÁ

 

 Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950

Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:

“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.

Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.”
[ Trích từ nguồn Blog Lý Toét]

Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 [tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4], Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam [lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]. Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.”

Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện Trưởng Viện Khoa Học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng [Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa], đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]

Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt,[105] nguyên Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

“Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng Hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…”[106]

Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:

“Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật Giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.”[107]

Huỳnh Minh Tú – Theo Facebook Huỳnh Minh Tú

tuxtini.com/2013/12/01/nhin-lai-nen-giao-duc-vnch-su-tiec-nuoi-vo-bo-ben/

[Biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet] 

[Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen]
Reblog:   danluan.org
BÀI LIÊN QUAN

Posted in Giao Duc | 1 Comment »

►Thư Yêu Cầu Đảng CSVN Chỉ Đạo việc Khởi Kiện Trung Quốc về Biển Đông (Nguyễn Đăng Quang và Trần Vũ Hải)

Posted by hoangtran204 trên 25/06/2014

THƯ YÊU CẦU ĐẢNG CSVN CHỈ ĐẠO VIỆC KHỞI KIỆN TRUNG QUỐC VỀ BIỂN ĐÔNG

 

   

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—-***—-

Hà Nội, ngày 22 tháng 06 năm 2014

THƯ YÊU CẦU

Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện Điều 4 Hiến pháp 2013, 
chỉ đạo Nhà nước kiện (hay không kiện) Trung Quốc về biển Đông

Kính gửi:    Ông Nguyễn Phú Trọng
            – Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)

 

Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định: ”Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội… Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.

Như vậy, trước những vấn đề cực kỳ quan trọng của đất nước, ĐCSVN (mà ông là người đứng đầu) phải có quyết định và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định đó.

Gần đây, Trung Quốc liên tục có các hành vi xâm lấn chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, vi phạm nghiêm trọng luật pháp Quốc tế, trong đó có Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển, mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều tham gia.

Trước tình hình hết sức nghiêm trọng đó, phần lớn những người Việt Nam trong và ngoài nước đều cho rằng, Việt Nam phải kiện Trung Quốc theo các quy định của luật pháp Quốc tế. Nhưng theo dõi qua truyền thông, người dân chúng tôi nhận thấy lãnh đạo Việt Nam chưa tỏ rõ thái độ kiên quyết, về việc có khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án hoặc Tòa trọng tài Quốc tế hay không. Một số ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN như các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh đều nêu khả năng về việc khởi kiện Trung Quốc, nhưng ý kiến vẫn chưa thống nhất. Riêng ông Vũ Đức Đam, phó Thủ tướng Chính phủ (50 tuổi), trẻ nhất trong số lãnh đạo Việt Nam còn tỏ ý muốn để đời con cháu gánh vác, tức là lãnh đạo như ông Vũ Đức Đam (người có thể tham gia lãnh đạo Việt Nam 20 năm nữa) chưa thể nhận trách nhiệm khởi kiện Trung Quốc. Hầu hết các lãnh đạo khác đều chưa bày tỏ chính kiến về việc có khởi kiện này hay không.

Theo chúng tôi, việc Việt Nam có khởi kiện hay không khởi kiện Trung Quốc, để giải quyết những vấn đề giữa 2 nước liên quan đến biển Đông, là một việc rất hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước. ĐCSVN phải sớm có quyết định, chỉ đạo Nhà nước có tiến hành khởi kiện hay không và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định của mình.

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu ông Tổng bí thư ĐCSVN thực hiện điều 4 Hiến pháp 2014, sớm thông báo cho toàn dân về quyết định của ĐCSVN về vấn đề này. Cụ thể, trong những khả năng dưới đây, lãnh đạo ĐCSVN lựa chọn khả năng nào:

1/ Khởi kiện Trung Quốc ngay trong nhiệm kỳ lãnh đạo này.

2/ Có khởi kiện, nhưng để đời con cháu gánh vác.

3/ Không thể khởi kiện vì các căn cứ và bằng chứng pháp lý củaViệt Nam yếu, nếu kiện sẽ thua.

4/ Chưa thể quyết định được việc khởi kiện hay không, vì nhiều lãnh đạo Việt Nam chưa hiểu rõ những phức tạp pháp lý trong việc này.

5/ Chưa thể trả lời nhân dân về việc kiện hay không kiện Trung Quốc, do nhiều vấn đề nhạy cảm…

Đề nghị ông Tổng Bí thư sớm trả lời nhân dân Việt Nam, tốt nhất ngay trong kỳ họp Quốc hội đang diễn ra đến ngày 25/6/2014. Chúng tôi và nhiều cử tri khác sẽ kiên trì sử dụng các quyền của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để giám sát việc này.

Trân trọng.

Ký tên

 

Công dân Nguyễn Đăng Quang

(nguyên cán bộ Bộ Công an, trú tại số 7, phố Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội)

 

Công dân Trần Vũ Hải

(hành nghề luật sư tại 81 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội)

 

nguồn: xuandienhannom.blogspot.com

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

►Những Văn Kiện Xé Lòng

Posted by hoangtran204 trên 25/06/2014

Đảng CSVN và nhà nước luôn mồm gọi người này là bán nước, kẻ kia là phản quốc, người nọ là tay sai cho đế quốc… 
Nhưng, 6-2014, Trung Quốc đã gởi 5 văn kiện lên Liên Hiệp Quốc, và gởi tới 193 nước hội viên LHQ cacs tài liệu dưới đây cho thấy Đảng CSVN và Nhà Nước VN chính là kẻ bán biển đảo của cha ông và tổ tiên ta từ 14-9-1958.. 
Năm sau, 1959, đảng CSVN công khai phát động chiến tranh và 1960 tuyên truyền: giải phóng mienf Nam khỏi tay bọn đế quốc xâm lược Mỹ, đánh cho Mỹ cút…trong lúc ở miền nam lúc ấy chỉ có vài trăm cố vấn Mỹ.
.
Cũng vào khoảng thời gian ấy, 13-7-1961, chính phủ VNCH của TT Ngô Đình Diệm đặt quần đảo Hoàng Sa trước thuộc tỉnh Thùa Thiên thì nay thuộc tỉnh Quãng Nam. 
.
Ngày 19-1-1974, dưới thời chính phủ VNCH của TT Nguyễn Văn Thiệu, Quân Đội VNCH  chỉ với 4 chiến hạm mong manh, đã ra lệnh cho 8 chiến hạm của Trung Quốc phaỉ rời khỏi hải phận của Việt Nam gần quần đảo Hoangf Sa. Khi quân Trung Quốc không tuân lệnh, các chiến hạm  của VNCH đã nổ súng, tấn công 8 chiến hạm của Trung Quốc gây thiệt hại trầm trọng. Khi được Mỹ báo tin 17 chiến hạm khác của TQ đang trên đường tới khu vực Hoàng Sa, các chiến hạm VNCH đã rút lui.
.
Kế đó, trong phiên họp ngày 20-1-1974 tại Phi Trường Tân Sơn Nhất, Trung Tướng Ngô Du của VNCH đã đề nghị ngưng bắn và giảm áp lực tấn công để VNCH điều động 1 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và Hải Quân ra chiếm lại Hoàng Sa. Khi Thiếu Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VNDCCH ( chế độ cộng sản tại miền Bắc lúc bấy giờ), gọi điện ra Hà Nội để hỏi ý kiến, thì Lê Duẩn và Lê Đức Thọ không đồng ý ngưng bắn…mời các bạn đọc thêm ở đây:   
.
.
.
Giờ đây chúng ta biết bọn bán nước, bán biển đảo là ai rồi: chính là đảng CSVN và nhà nước CHXNCNVN. Vĩ đã bán cho Trung Quốc rồi, nên chúng không dám kiện TQ ra tòa, 
.

Những Văn Kiện Xé Lòng

Nguyệt Quỳnh
.

Tác giả gửi đến Dân Luận  .

Mấy thủ lĩnh bí cờ xôi thịt đã dính bẫy Boxite Trung Quốc?

Mẹ đau như xương sống bị đâm, như cột sống bị đè

Ai đã bán chui biên thùy bằng những mật ước?

Ai đã bán vụng lãnh hải Tổ quốc trong canh bạc độc tài?  (Mẹ Việt Nam không chỉ nhìn ra biển – Thế Dũng) 

(24-6-2014) Có lẽ không có gì cay đắng hơn khi phải làm công dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nối dài ngày nay. Phải ngồi nhìn sự nhu nhược của lãnh đạo trước từng tấc đất đã mất, từng tấc biển đang mất dần trong sự hung hăng lấn chiếm của quân thù. Sự nhu nhược vượt quá mức chịu đựng đến xấu mặt, thể hiện ngay từ các phát biểu của các tướng lĩnh trong quân đội. Một quốc gia độc lập với một quá trình lịch sử hào hùng, nay trở thành một nước chư hầu, mất hết cả khả năng phản kháng. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa phải cất tiếng than: “Ôi! tổ quốc ơi, ai làm người chịu nhục.” Nhưng điều đáng nói là sự phản bội đã bắt đầu ngay từ những năm tháng, khi người dân đặt hết niềm tin và ngay cả sinh mạng của mình vào sự lãnh đạo sáng suốt của đảng. Công hàm Phạm Văn Đồng đã được ký kết vào cái giai đoạn mà đảng được tin yêu nhất. Giai đoạn 1954-1959 là khoảng thời gian mà dân chúng miền Bắc sẵn sàng chấp nhận thiếu thốn, sẵn sàng hy sinh mạng sống, dưới ngọn cờ của đảng để bảo vệ độc lập nước nhà. Những lá đơn của một thời máu lửa vẫn còn nguyên nét tin yêu đó: Nguyễn Gia Long, một thanh niên 23 tuổi, viết đơn tình nguyện đi B: “Tôi, một trong những thanh niên của Tổ quốc, của Đảng, tôi muốn được góp sức mình trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc…không một khó khăn nào, một trở lực nào ngăn cản được bước tiến của tôi đi theo cách mạng. Cao thượng nhất đời tôi là được chết cho cách mạng”. Ông Phạm Văn Minh đã có hai người con lớn theo bộ đội, viết đơn cho con trai thứ ba: “Tôi nguyện cho đứa con thứ 3 của tôi đi chiến đấu cho đến khi nào không còn bóng dáng một tên xâm lược Mỹ nào thì mới thôi, dù con tôi có phải hy sinh đi nữa nhưng tôi cũng vui lòng và nó cũng đã góp phần công sức vào chống Mỹ giải phóng đất nước”. Lòng ái quốc và niềm tin của họ đã bị phản bội. Trong lúc đưa hàng ngàn thanh niên vào miền Nam với danh nghĩa chống Mỹ xâm lược, gia đình và những người trẻ đổ xương máu “giành độc lập” này không hề biết rằng sau lưng họ, cấp trên đã ký tặng những phần đất xương thịt của tổ quốc. Phạm Văn Đồng đã lẳng lặng ký công hàm công nhận lãnh hải “lưỡi bò” thuộc về Trung Cộng vào ngày 14/09/1958. Cho đến nay, những tài liệu gây nhiều ngỡ ngàng đau đớn này đang được Trung Cộng trưng ra làm bằng chứng trước thế giới. Rõ ràng lãnh đạo CSVN sẵn sàng đặt lợi ích trước mắt của đảng lên trên mọi điều thiêng liêng và trên cả danh dự của chính đảng CSVN. Nếu một đảng phái khác làm điều này, chắc chắn họ đã phê bình và lên mặt dạy dỗ là quá ấu trĩ, là giữa các quốc gia chỉ có quyền lợi chứ không có cái gọi là “tình nghĩa”, hay ngay cả là làm “bù nhìn” cho các thế lực ngoại bang…

.

 

1958_diplomatic_note_from_phamvandong_to_zhouenlai.jpg

 

.

 

 

 

danluank00009.jpg

.

Bảy năm sau kể từ ngày ông Phạm Văn Đồng đặt bút ký bức công hàm oan nghiệt này, ngày 10/5/1965 báo Nhân Dân lại một lần nữa khẳng định Hoàng Sa là của Tàu;

Nguyên văn: Ngày 9/5/1965,

Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập “khu tác chiến” của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: “Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ”, đây là đe dọa trực tiếp “đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng.

Bài báo xác định cụ thể và cắt lìa xương thịt đất nước cho Tàu Cộng này chắc chắn không là bài báo duy nhất. Hẳn là trước và sau nó còn có nhiều bài báo khác nữa.

Chính những bằng chứng đau đớn trên giấy trắng mực đen này, khi được Bắc Kinh đem ra xử dụng trong những ngày gần đây, đã biến các luận điệu cãi chày cãi cối rằng “công hàm Phạm Văn Đồng không nhắc tới Hoàng Sa – Trường Sa” thành loại lý luận trẻ con mà Ban Tuyên Giáo CSVN quen dùng với người dân Việt Nam.

Tiếp đến là một tài liệu gây nhiều âu lo nhất cho đến nay, đó là các bản đồ được in ấn bởi Cục Đo Đạc và Bản Đồ, trực thuộc Văn phòng Thủ tướng nước VNDCCH. Những bản đồ này cũng ghi rặt các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là Tây Sa và Nam Sa như Bắc Kinh căn dặn. Chữ viết của công hàm Phạm Văn Đồng nay được diễn đạt bằng hình vẽ và nhân rộng hàng ngàn, hàng vạn lần, do chính văn phòng thủ tướng in ấn. Cãi làm sao bây giờ ?!  

.

.

 

.

Chưa hết, chứng tích bán nước của lãnh đạo đảng còn nằm sờ sờ trên các trang sách giáo khoa lớp 9 do Bộ Giáo Dục VNDCCH biên soạn mà nay Bắc Kinh đang trưng ra trước cả thế giới. Nguyên văn: Vòng cung đảo từ các đảo Nam sa, Tây sa đến các đảo Hải nam, Đài loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn … làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc.

Điều đau lòng là đã biết bao thế hệ học sinh non trẻ đã phải nhớ nằm lòng rằng các quần đảo đó là “Tây Sa” và “Nam Sa”, và là đảo của Trung Cộng. Cha ông ta suốt mấy ngàn năm đổ biết bao xương máu, thời đại nào cũng căng mình ra để giữ gìn từng tấc đất của tổ tiên truyền lại. Nay CSVN không chỉ để mất đất, mất biển, mà còn buộc các thế hệ tương lai phải chấp nhận đó là chuyện đã rồi. Khó mà không gọi đó là những hành động chủ tâm phản quốc.

.

.

Hiển nhiên, đây chỉ mới là một vài tài liệu khởi đầu mà Bắc Kinh tung ra. Năm tháng của các tài liệu trên cho thấy Bắc kinh đang có cả kho dữ liệu mà chúng đã thu thập trong nhiều thập niên qua. Điều đó cũng là bằng chứng cho thấy ý đồ xâm lấn của Bắc Kinh đã có từ rất lâu — từ thời ông Hồ Chí Minh còn sống dài cho đến ngày hôm nay — đặc biệt bao gồm cả giai đoạn mà Hà Nội hí hửng ôm 16 chữ vàng và 4 tốt. Đó là chưa kể tấm bản đồ có hiện rõ 9 vạch khổng lồ được dùng để trang điểm phòng họp tại trụ sở thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nơi mà hàng ngày đủ loại các quan chức thượng tầng ra vào họp hành và không ai, kể cả ông Nguyễn Tấn Dũng, cảm thấy có chút gì khó chịu hay nhục nhã. Bao giờ thì Bắc Kinh sẽ dùng luôn các hình ảnh này làm bằng chứng chủ quyền của chúng?  

.

    *

.

****  Trước cả khối những văn kiện xé lòng nêu trên, tôi bất chợt rơi lệ lặng nhìn bản sắc lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký ngày 13/7/1961, dời thẩm quyền quản trị quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam. Tới bao giờ việc bảo vệ từng tấc đất giang sơn mới sẽ lại là trách nhiệm tối thượng nhưng rất bình thường và đương nhiên của mọi chính phủ và mọi người dân Việt Nam?  .

.

trichluccongbao_ttngodinhdiem.jpg 

.

Sắc Lệnh của TT VNCH Ngô Đình Diệm ký ngày 13-7-1961 Sắc lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký ngày 13/7/1961, dời thẩm quyền quản trị quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam.

————–

Sắc lệnh năm 1961 của MNVN về quần đảo Hoàng Sa

Hôm nay, trong khi tìm kiếm tài liệu thì thấy văn bản Sắc lệnh số 174-NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm, kí ngày 13/7/1961, về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.
Sắc lệnh này đã được nhiều tài liệu nhắc đến, như bài “Diễn trình lịch sử cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông“, trong đó viết:
Ngày 13 tháng 7 năm 1961, sắc lệnh số 174 – NV của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải trực thuộc quận Hoà Vang.
Trong sắc lệnh trên, ghi rằng : « Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam » (điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính (điều 2).
Ảnh đính kèm dưới đây được chụp từ văn bản in trong Công báo Việt Nam Cộng Hoà, số ra ngày 29/7/1961, tr. 2695, cột 1, chụp từ microfilm kí hiệu “Film S 3419 1961:no.25-58 (June-Dec.) reel 13“, barcode: HX7G6V, lưu tại thư viện Lamont, Đại học Harvard, Mĩ.
Nhân sắp đến ngày kỉ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa (tháng 1/1974), xin cung cấp tư liệu này cho mọi người.
Harvard, 20/12/2013
Nguyễn Tuấn Cường
Nguồn: Công báo Việt Nam Cộng Hoà, số ra ngày 29/7/1961, tr. 2695, cột 1.

Nguồn: tuancuonghn.blogspot.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Thoát Cộng, thoát Trung và Thoát chết

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2014

Iris Vinh Hayes, Ph.D.
thep-mau.jpgQuỹ thời gian của Việt Nam đã cạn. Việt Nam đã tới tận đầu cuối của sợi dây đu chính trị và an ninh quốc gia. Ở thời khắc lịch sử này Việt Nam chỉ có hai sự chọn lựa dứt khoát: “Death by China” hoặc là “Re-birth by US-Japan”.

Nếu như ĐCSVN và những người đang cầm nắm quyền lực điều hành đất nước kiên định thà là cho Việt Nam “chết bởi tay Trung Cộng” để bảo vệ ĐCSVN và tư lợi của riêng mình thì vận mệnh Việt Nam chắc chắn sẽ bi đát.

Tuy nhiên, toàn dân Việt, dầu là đang ở nơi nào trên mặt đất này, cũng không để cho đất nước mình “chết bởi bàn tay Trung Cộng” một cách thầm lặng. Đặc biệt là nhân dân quốc nội chắc chắn sẽ “tính toán sòng phẳng và trọn gói” với ĐCSVN. Một khi đã không thể kềm hãm được sự phẫn nộ, nhân dân trước hết có thể sẽ dùng máu của ĐCSVN để đáp trả bọn xâm lăng Trung Cộng và để rửa sạch trang sử ô nhục của dân tộc.

Không, tôi chưa từng chủ trương bạo động. Cũng không cổ xúy bạo động. Chỉ là dự cảm không lành cho một “bất hạnh lớn” đang lù lù tiến tới. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là đảng viên trong hàng ngũ ĐCSVN kịp thời từ bỏ tổ chức bán nước hại dân này mà quay về với đại thể dân tộc. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là quân nhân trong hàng ngũ QĐNDVN kịp thời từ bỏ Tổ Quốc XHCN của tổ chức bán nước hại dân này mà quay về bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam. Hy vọng là những người Việt chân chính đang là cán bộ trong hàng ngũ CANDVN kịp thời từ bỏ thái độ “còn đảng còn mình” ngu trung với tổ chức bán nước hại dân này mà quay về bảo vệ an ninh cho công dân Việt Nam. Đừng để cho máu của người Việt thêm một lần nữa chảy tràn vì cộng nô bán nước hại dân.

Nếu như Việt Nam chọn lựa con đường “Tái sanh nhờ Mỹ-Nhật” thì đây là một số việc cơ bản mà Việt Nam cần nhanh chóng tiến hành:

  1. Thanh lọc nội bộ một cách triệt để và toàn diện.
  2. Loại trừ ĐCSVN ra khỏi cơ chế và quyền lực nhà nước thông qua Quốc Hội.
  3. Chuyên nghiệp hóa vai trò Đại Biểu Quốc Hội.
  4. Luật hóa quyền cắt đặt những cố vấn riêng chung quanh mình để hỗ trợ cho vai trò Đại Biểu Quốc Hội chuyên nghiệp.
  5. Giải thể Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, trả lại tự do và tự chủ cho các đoàn thể và tổ chức xã hội. Thành lập một mặt trận chấn hưng đức trí Việt Nam.
  6. Trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm và dân oan. Khuyến khích sự tham dự và phát triển của các xã hội dân sự. Tuyệt đối tôn trọng nhân quyền và dân quyền.
  7. Tái cơ cấu hệ thống chính quyền trên nền tảng của một thể chế chính trị dân chủ và tự do.
  8. Tách rời quân đội ra khỏi hoạt động chính trị. Chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Tham gia vào liên minh quân sự “an ninh tập thể” của Đông Nam Á do Nhật Bản đề xuất.
  9. Công nhận quyền tự do tư hữu. Cải tổ kinh tế một cách sâu, rộng và toàn diện. Bỏ hẳn cái đuôi “theo định hướng XHCN”.
  10. Loại trừ cơ chế áp đặt ý thức hệ. Cải tổ giáo dục và đào tạo một cách sâu, rộng và toàn diện.

Nhân dân Việt Nam cần phải làm gì trước hiện tình của đất nước? Rất đơn giản: Hãy làm một công dân có trách nhiệm. Đó là, hãy đứng lên, thật đông, cùng nhau xác lập quyền lực của toàn dân. Nếu ngay cả một điều đơn giản như thế này cũng không thể hoặc không dám thì nói chi đến việc hy sinh máu xương để bảo vệ tổ quốc.

Cụ thể hơn, nhân dân quốc nội cần phải dứt khoát “Thoát Cộng” nếu muốn “Thoát Trung” và “Thoát Chết” bằng cách:

  1. Hãy từ bỏ ĐCSVN. Từ nay không nói tới ĐCSVN, không kiến nghị với ĐCSVN, không khiếu nại với ĐCSVN, không tham gia họp hành bầu bán ĐCSVN…
  2. Hãy triệt tiêu quyền lực của ĐCSVN. Không hợp tác với ĐCSVN, không nghe lệnh của ĐCSVN, không tạo cơ hội cho ĐCSVN, không dung thứ cho sự lộng quyền của ĐCSVN…
  3. Hãy làm mọi thứ có thể để củng cố quyền lực của Thủ Tướng và của Quốc Hội. Không vì một Nguyễn Tấn Dũng hoặc một cá nhân nào mà chỉ vì vai trò Thủ Tướng và vai trò Đại Biểu Quốc Hội của một nhà nước pháp quyền cần phải có đủ sức mạnh. Đừng nhầm lẫn giữa quyền lực của một cá nhân đang nắm vai trò và quyền lực của chính vai trò dầu là ai đang nắm nó (củng cố institution). Chính vì Thủ Tướng và Quốc Hội không có đủ quyền lực cho nên ĐCSVN mới dễ dàng thao túng lũng đoạn chính quyền và đất nước.

Sự toàn vẹn lãnh thổ và tương lai của 90 triệu dân tùy thuộc vào một điều kiện đơn giản; đó là, phải gỡ cho được bàn tay phù thủy của ĐCSVN đang khống chế hệ thống chính trị và chính quyền của Việt Nam. Nhân dân Việt Nam có thừa khả năng để gỡ bỏ nó.

Một con voi to bị giam giữ chỉ bởi sợi giây nhỏ buộc vào cọc là tại vì nó đã bị buộc từ lúc nhỏ và bị buộc quá lâu đến đổi quên rằng mình đã lớn và có thừa sức mạnh để bức sợi dây to hơn nhiều. Tôi kỳ vọng Việt Nam không là con voi vô vọng đó.

Iris Vinh Hayes, Ph.D.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►EVN mua điện của TQ gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc?

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2014

Ngoài mặt thì tuyên bố: không đánh đổi chủ quyền để lấy tình hữu nghị viễn vông…nhưng thực chất là từ 2009 cho đến nay, TT Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh cho Hoàng Trung Haỉ mua điện củ TQ với giá cao để giúp các doanh nghiệp Trung Quốc làm giàu. Trong khi các doanh nghiệp tư nhân thủy điện VN chào bán điện với giá rẻ thì EVN không mua. 

 (8-9-2012)

Nay, 2014, kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn, EVN mua điện của TQ gấp 3 lần giá thường!

EVN là tập đoàn con cưng của TT Nguyễn Tấn Dũng, dẫu EVN mắc nợ kinh hoàng, không ai có thể đụng đến được.

Mua điện gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc? 

Nguồn: boxitvietnam

Phản nghịch! 

Khác hẳn với làn sóng “thủy triều đỏ Trung Hoa” những năm trước, con sóng cuồng bạo tàn dập mang tên HD 981 vào năm nay đã làm rách toạc đáy con thuyền chính trị Việt Nam vốn đã mục nát, khiến bục tung những khoảng tối tăm bẩn thỉu bị khuất tất lâu ngày.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), từng được một tờ báo Anh vinh phong là “cậm ấm hư hỏng” do người mẹ đỡ đầu của nó là Bộ Công thương, là tiếp dẫn ngoan ngoãn vô song cho chiến dịch tiếp tay cho Trung Quốc đến mức phản nghịch tình dân tộc.

Đất Việt – tờ báo của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và là một trong những xung kích phản biện vượt qua sợ hãi nhất trong hệ thống truyền thông nhà nước – mới đây đã cùng với GS TS Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội – hé lộ một “bí mật quốc gia”: từ nhiều năm qua, EVN đã mua điện từ các doanh nghiệp Trung Quốc với giá gấp đến 3 lần mức thông thường của doanh nghiệp Việt Nam.

Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn, nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe.

Đến năm 2013, giới chuyên gia phản biện độc lập đã không còn giữ nổi bình thản: một lượng lớn điện thương phẩm mua từ Trung Quốc với giá cao và có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây đã làm méo mó quá nhiều thị trường điện.

Cơ chế độc quyền vong bản đã phát triển đến mức trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất điện của Việt Nam sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện, khi suốt từ năm 2011 khi báo chí Việt Nam dồn dập phẫn nộ trực chỉ vào trách nhiệm của EVN về quan điểm “người Việt dùng hàng Trung”, doanh nghiệp thuộc loại độc trị theo cung cách thời chủ nghĩa tư bản dã man này vẫn quay mặt làm ngơ với hình ảnh tàu Bình Minh bị Trung Quốc cắt cáp và ngư dân Việt bị người “đồng chí tốt” đẩy vào vòng khốn quẫn ngay trên vùng biển quê hương.

Bởi từ một góc nhìn khác, ai cũng biết Trung Quốc sở hữu khối doanh nghiệp có biệt tài “quà cáp” hẩu nhất thế giới.

Ai phải bù lỗ và gánh nợ? 

Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn lý thuyết kinh tế chỉ huy thời chiến để trục lợi như thế nào vào thời bình. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên thâm ý hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Với trường hợp EVN, đó chính là tội ác.

Năm 2011, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa 1990: những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam) đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40.000 tỷ đồng.

Trong suốt ba năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.

Nhưng cũng trong suốt ba năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn. Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở tập đoàn này mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không bị cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công thương phản cảm. Không những thế, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Công thương như ông Vũ Huy Hoàng vẫn không ngơi nghỉ một chiến dịch khác: PR cho “cậu ấm hư hỏng” của mình.

Đó là một dạng PR không mới, nhưng lại chỉ được dư luận người dân Việt đặt tên chính thức từ năm 2012: PR chính sách. Chủ thể của hoạt động này chính là cái tên “nhóm thân hữu” – một chủ đề mà chưa một ủy viên bộ chính trị nào đủ can đảm hay liêm sỉ để mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ.

Cũng không quá khó hiểu là những động thái PR chính sách đã xuất hiện không ít lần, kể cả ở cấp Chính phủ.

Nhóm thân hữu, về bản chất, lại có mối quan hệ ruột rà và móc xích giữa các chính khách ở các cấp khác nhau, từ dưới lên và từ trên xuống. Trong từng trải của người dân Việt Nam, thực tế sinh tồn của các doanh nghiệp lệ thuộc vào chính sách từ nhiều năm qua đã chứng tỏ một nguyên tắc bất thành văn: chỉ có chính sách mới tạo ra được lợi nhuận; để đến lượt mình, lợi nhuận phải quay lại “nuôi” chính sách.

Cũng là “nuôi” các chính khách.

Công nghệ “giết sống” 

Giá xăng dầu và điện lực phi mã tất yếu dẫn đến lạm phát đội mồ sống dậy. Trong thực tế, chỉ số tiêu dùng CPI bị tác động không nhỏ và lập tức kích hoạt hàng loạt đợt tăng giá của hàng tiêu dùng, thực phẩm, giá vận tải hành khách và hàng hóa, giá nhà trọ…, làm khốn khó hơn cho đời sống công nhân và dân nghèo vốn đã quá khó khăn.

Đời sống dân sinh ấy cũng liên đới quá đỗi hữu cơ với íty nhất 80% lực lượng vũ trang và gần 3 triệu công chức viên chức nhà nước. Vài năm gần đây, ngay cả cảnh sát giao thông còn bị “đói” thì giới nhân viên an ninh không than thở mới là chuyện lạ.

Thế nhưng đối mặt với tất cả những trớ trêu và nghịch lý tận cùng ấy, lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn hầu như khóa khẩu, trong khi vài ba viên chức cấp vụ của bộ này vẫn cố gắng “an dân” bằng thuyết minh việc tăng giá xăng dầu và điện không ảnh hưởng nhiều đến CPI.

Nhưng vào năm 2013, một cuộc thanh tra của Thanh tra chính phủ đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân tennis và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: cuộc chiến bù lỗ vào dân.

Sau khi tăng giá liên tục trong ba năm qua, nợ ngân hàng của EVN đã được rút bớt. Nhưng chỉ là bớt một ít. Với hơn 30.000 tỷ đồng thất bát từ đầu tư trái ngành, EVN luôn phải đối mặt với tương lai phá sản nếu không thanh toán được cho các chủ nợ.

Trong khi đó, một con số lần đầu tiên được công bố là EVN chính là doanh nghiệp vay nợ ngân hàng lớn nhất Việt Nam, với hơn 118.000 tỷ đồng. Đây là mức dư nợ lớn nhất mà hệ thống ngân hàng dành ưu ái cho một tập đoàn nhà nước.

Với nợ nần khổng lồ và số lỗ do đầu tư trái ngành, người ta ước tính EVN phải tăng giá điện liên tục đến năm 2017-2018 thì mới may ra “hòa vốn”.

Thế nhưng cái điểm hòa vốn ăn thịt lẫn nhau ấy lại có thể khiến những người dân nghèo nhất phải quyên sinh. Bởi theo nguyên lý từ thời tư bản dã man, nếu doanh nghiệp độc quyền có được lợi nhuận, nhân dân chắc chắn phải mất đi phần lớn thu nhập của mình; còn nếu doanh nghiệp độc quyền hòa vốn, nhân dân phải chịu lỗ hoặc phá sản.

Không chỉ mất tài sản, người dân còn phải trả giá bằng cả sinh mạng bởi lối hành xử vô lương tâm của những quan chức độc quyền nhà nước. Vụ xả lũ đồng loạt của 15 nhà máy thủy điện ở miền Trung vào cuối năm 2013 đã “giết sống” đến năm chục mạng người nghèo nơi rốn lũ.

Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công thương. Tuy nhiên sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng”. Nhân quả là đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du “ ở nước ngoài.

Tán tận lương tâm chắc chắn là từ ngữ hiển thị đầy đủ nhất tâm địa của các doanh nghiệp độc quyền và những quan chức “tận Trung” trong những năm suy thoái kinh tế qua. Kinh tế càng xuống dốc, đời sống người dân càng túng quẫn, thái độ sống chết mặc bay càng lên ngôi, chủ nghĩa thực dụng, lợi nhuận và vong quốc càng “hiển thánh”.

Tận Trung: Kẻ nào nối giáo? 

Hãy trở về với câu chuyện tán tận lương tâm dân tộc khi EVN mua điện Trung Quốc cao gấp 3 lần giá bình thường.

Một lần nữa, báo chí nhà nước bùng lên câu hỏi: Những ràng buộc có nghi vấn trong hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc và sự cố Hiệp Hòa liên quan tới việc sử dụng thiết bị Trung Quốc mới đây khiến dư luận đặt nghi ngờ về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Phải lý giải điều này như thế nào, khi mà thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới? Liệu có thể đặt nghi vấn về lợi ích nhóm trong việc này?

Ông Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển khẳng định: Với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay và thiếu minh bạch trong kinh doanh trên thị trường điện ở Việt Nam, trách nhiệm trong việc này trước hết là do chính cơ chế quản lý kiểu bộ chủ quản lâu nay không được thay đổi, tiếp đó là các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành điện mà cụ thể là Bộ Công thương và cả EVN trong tổ chức và quản lý điện Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng một tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ…

Nhưng xem ra, những câu hỏi trên vẫn còn quá hiền lành trong bối cảnh quyền tự do báo chí vẫn trong “bước đi đầu tiên của thời kỳ đầu tiên của giai đoạn quá độ” ở Việt Nam.

Bởi trong tận cùng của bản chất, tán tận lương tâm quan chức và hậu quả của nó không thể không liên quan đến trách nhiệm của giới lãnh đạo chính phủ, những người đã im lặng hoặc “bật đèn xanh” cho EVN gây nên các chiến dịch tăng giá quốc nội và giảm giá quốc ngoại.

Sau ba năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào, kể cả thành tích nối giáo ngoại xâm kinh tế.

Không chỉ bị lên án dữ dội bởi dư luận trong nước, khối u độc quyền doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn bị nhiều chính phủ xã hội dân sự trên thế giới và các tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt, bởi hiện trạng bệnh hoạn đó đi ngược lại với những cam kết về “xóa độc quyền và hoàn thiện nền kinh tế thị trường” mà Chính phủ Việt Nam đã hùng dũng cam kết trước cộng đồng quốc tế.

Hiện trạng bệnh hoạn trên lại không thể xa cách với bản thông điệp đầu năm 2014 của người đứng đầu chính phủ. Đã sáu tháng trôi qua, cam kết “xóa độc quyền” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không còn mang tăm hơi nào của một thứ quyết tâm sủi bọt.

 

 

 

 Phạm Chí Dũng

 

BÀI LIÊN QUAN

 

Posted in Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

Thoát xạo :-( thoát cộng – thoát Trung)

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2014

Thoát Xạo

Bảy Đa
.
.

(24-6-2014) Theo ngôn ngữ Việt Nam, động từ “nói xạo” là một hành động nói những gì không phải là sự thật. Trong giao tiếp hàng ngày, ta thường bắt gặp những từ như: dối trá, giả dối, ba xạo, ba láp, dóc tổ, xạo bà cố, “nổ”, láo toét… Tất cả đều mang chung một ý nghĩa như động từ “nói xạo”. Bài viết này xin phép được dùng từ “xạo” cho nó gần gũi thay cho tất cả những từ có liên quan để nói về “tầm ảnh hưởng” của nó.

Phải công tâm mà nói, trong mấy vụ việc  gần đây, Cộng sản Trung Quốc nói xạo thuộc hàng sư tổ so với Cộng sản Việt Nam. Thí dụ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 08/6/2014 tố cáo Việt Nam đâm tàu của họ với con số lên đến hơn 1.400 lần trước công luận quốc tế cũng đủ cho thấy họ nói xạo có “bản lĩnh và đẳng cấp” như thế nào. Trong vụ tàu cá Việt Nam bị đâm chìm, Trung Quốc lớn tiếng cho rằng tàu Việt Nam tự đâm vào tàu Trung Quốc rồi chìm!!! Mới đây Tân Hoa xã lại xạo trắng trợn: “cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng, hơn một tháng qua, Việt Nam không từ thủ đoạn nào quấy nhiễu hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 ở Tây Sa. Đối mặt với sự khiêu khích của Việt Nam, Trung Quốc buộc phải điều tàu công vụ đến bảo vệ giàn khoan…”. Toàn những lời lẽ dối trá phải nói là cực kỳ trơ trẽn được phun ra từ ông bạn vàng cùng ý thức hệ về nói xạo.

Xem ra Trung Quốc, họ cũng coi thường luôn cả cộng đồng quốc tế, theo kiểu tao nói xạo thì tụi bay làm gì được tao, dù gì tao cũng là 1 trong 5 nước thường trực Hội đồng bảo an LHQ cơ mà. Tao có quyền phủ quyết chẳng lẽ lại không có quyền nói xạo?

Xưa nay ai cũng thừa biết, Cộng sản là một cỗ máy tuyên truyền và xuyên tạc khổng lồ. Ở Việt Nam, trước năm 1975, do đã trải nghiệm quá nhiều lần cộng sản “cho leo cây”, cựu tổng thống đệ nhị VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã tích lũy thành một câu nói để đời “đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Đến cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, tại một đất nước là cái nôi sản sinh của cộng sản, người đứng đầu đảng cộng sản Liên Xô lúc đó là TBT Gorbachyov, ông ta đã đau đớn mà thừa nhận rằng, “đảng Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá!”.

Bây giờ chúng ta hãy điểm lại những sự dối trá mà CSVN – đàn em của CSTQ đã ứng dụng thế nào trong thực tế.

Trong thời kỳ chiến tranh hai miền Nam Bắc, với cỗ máy tuyên truyền chuyên đi nói xạo, CSVN đã làm cho nhiều người lầm tưởng rằng, đồng bào miền Nam ruột thịt đang phải sống đói khổ, lầm than “dưới gót giày của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai” để rồi khi đoàn quân giải phóng miền bắc tiếp cận Sài gòn, bao nhiêu người mới thực sự ngỡ ngàng, trong đó có nữ nhà văn bộ đội Dương Thu Hương, chị đã phải ôm mặt khóc vì: “tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí!”. (

Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua  chế độ man rợ)

Để hun đúc tinh thần chiến đấu nhằm lôi kéo mọi tầng lớp nhân dân theo mình, CSVN còn bày rất nhiều trò “ba xạo” theo thời cuộc như dựng lên hình tượng anh hùng Lê Văn Tám đốt kho xăng địch, vụ này ngày nay đã được các sử gia đặt vấn đề là nên trả lại cho sự thật, vì Lê Văn Tám làm mẹ gì có trên đời này, chỉ là thêu dệt cho có khí thế trong chiến tranh thôi, chứ nếu có thì những Lê Văn Hai, Lê Thị Ba, Lê Văn Tư, Lê Văn Năm, Lê Văn Sáu, Lê Thị Bảy… là anh chị em ruột thịt với nhân vật này đâu, rồi bố mẹ của Lê Văn Tám là ai có thấy nhắc tới đâu, không lẽ Lê Văn Tám từ đất nẻ chui lên? Vậy mà ngày nay vẫn đang tồn tại và tiếp tục mọc lên những công trình văn hóa mang tên Lê Văn Tám vô hình nào đó, thế mới biết cộng sản họ sùng bái cái xạo đến mức nào.

Tôi còn nhớ hồi nhỏ có học bài trong sách giáo khoa có tựa “Ong cũng đánh Mỹ” (tựa bài hình như là vậy, tôi không nhớ là sách giáo khoa lớp mấy), tôi đang ê a học bài thì bố tôi bật cười, ông lẩm bẩm, “mẹ bố cái bọn cộng sản, đến cả đứa con nít nó cũng không tha“… Ngày đó tôi không để ý những than phiền của bố tôi. Bây giờ ngẫm lại mới thực sự hiểu ra, nghĩ rằng, nếu xưởng phim hoạt hình Walt Disney của Mỹ mà biết tài sánác truyện viễn tưởng phong phú này, chắc chắn sẽ mời tác giả viết kịch bản này để chuyển thành phim, có khi còn thu hút trẻ em xem hơn cả Đô rê mon không chừng!

Ngày nay, cái xạo ngự trị hầu như mọi ngõ ngách trong đời sống xã hội. Từ nông thôn cho đến thành thị, từ bệnh viện, học đường đến cơ quan hành chính, từ báo chí đến truyền hình, từ diễn đàn chính trị đến cơ cấu tổ chức nhà nước, từ bầu cử đến thực thi pháp luật, từ chính sách đối nội đến đối ngoại… đâu đâu cũng toàn thấy giả dối, như lời ta thán đầy mỉa mai của vị giáo sư nọ 

“... ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là… sự thật.

Người viết bài này kể từ khi xem những đoạn phóng sự trên VTV 1 vào năm 2008 về vụ cắt xén, vu cáo và kết án lời nói của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ở Hà Nội một cách trắng trợn, trơ tráo thì “khai tử” cái đài này tứ đó đến nay. Bởi không thể chấp nhận một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân như vậy mà lại đi làm cái công việc nói xạo đáng xấu hổ đẳng cấp chợ búa là đi đánh hội đồng một công dân vô hại, nó cho người xem thấy rõ sự nhơ nhớp của một cơ quan tuyên truyền của đảng nó vô đạo đức đến mức nào.

Vụ bắt ông Cù Huy Hà Vũ gắn liền với những chiếc bao cao su đã qua sử dụng là một cái xạo không còn chỗ để bào chữa cho tính nhân đạo của chính quyền nữa. Vụ này khiến cho dư luận đặt vấn đề về tính chính danh của hệ thống công quyền.

Trong các cuộc bầu cử HĐND các cấp, bầu đại biểu quốc hội, ta thường nghe các phương tiện thông tin của nhà nước ra rả là số cử tri đi bầu thường là đạt với con số sát 100%, rằng bầu cử kỳ này là thành công tốt đẹp, là thể hiện ý chí, nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân… Sự thật thì ở những điểm bầu cử, ai đã từng đi bầu thì thừa biết cái xạo của cách bầu bán ở nước ta như thế nào rồi. Có ý kiến phàn nàn “bầu kiểu này thì tổ chức bầu làm mẹ gì cho tốn tiền thuế của dân, các ông chọn ai rồi sao các ông không công bố cho toàn dân biết mẹ nó luôn đi, bày đặt bầu với bán…”. Cái này gọi là cái xạo về quyền làm chủ của nhân dân!

Trong các kỳ họp Quốc hội, HĐND các cấp, họp Ban, Ngành… văn bản báo cáo của chính phủ, các bộ, ngành… chúng ta thấy đều toát lên những cái xạo từ những văn bản báo cáo đó. Để khỏa lấp cho những cái xạo đó, thường là những từ như “mặc dù”, “cố gắng”, “tuy nhiên”, “khắc phục”, “thiếu sót”, “sửa chữa”, “rút kinh nghiệm”… được các diễn giả triệt để khai thác.

Đảng CSVN vẫn thường hô hào khẩu hiệu: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nghe vậy mà không phải vậy, vì dân biết thì có biết đấy, chứ dân bàn thì còn lâu, dân làm – làm ở đây là làm cái phận sự của một người dân, chứ không phải làm quan đâu, và câu nói dân kiểm tra – nghe nực cười làm sao. Có thằng dân nào mà xông vào cơ quan nhà nước cho đòi kiểm tra không, chúng uýnh cho bỏ mẹ ! Biết bao nhà báo có tiếng có tăm kia có lòng tự trọng của một nhà báo, chỉ vì phanh phui những tiêu cực, tham nhũng, lạm quyền trong bộ máy nhà nước còn phải trả giá (nhiều năm tù) huống hồ là dân đen. Nói tóm lại, cái khẩu hiệu này chỉ để mỵ dân và hoàn toàn ba xạo.

Ta thường nghe từ miệng của những vị lãnh đạo cấp cao nhà nước, từ phát ngôn của người đại diện Bộ Ngoại giao Việt nam là, ở Việt Nam không có tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, chỉ có những người vi phạm pháp luật Việt Nam. Về vấn đề tự do ngôn luận họ cũng ra rả: Ở Việt Nam có hàng bao nhiêu là đài này, báo nọ, điều đó nói lên rằng ở VN không có chuyện không có tự do ngôn luận. Cái cách nói lấp liếm này cũng là một cách nói xạo cấp… nhà nước đây!

Cách đây không lâu, ông TBT Nguyễn Phú Trọng có phát biểu trong một phiên họp tổ tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII: Xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.”

Câu nói “ba xạo” đó phơi bày một “sự thật” là các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam chẳng có lấy một kế hoạch nào cho đất nước này cả, họ đang dẫn dắt dân tộc Việt Nam này mò mẫm trong bóng tối của cái gọi là “thiên đường XHCN” mà chính họ cũng chẳng hiểu cái thiên đường đen ngòm ngòm đó có cái mẹ gì trong trỏng! Cái xạo này là cái xạo mang tội to nhất, nó như vòng kim cô mà đảng CSVN dùng để xiết chặt trên đầu 90 triệu dân Việt Nam.

Kể từ khi đảng CSVN nhận được món quà hòa hiếu “16 chữ vàng” và “4 tốt” của ông anh Trung Quốc ban tặng, thằng em Việt Nam trân trọng nó như một món quà vô giá, chẳng khác nào một đứa trẻ được người lớn cho món đồ chơi. Nó đâu biết “người lớn” kia chẳng đàng hoàng gì, chẳng qua để dụ nó tập trung vào món quà kia để có thời gian rình rập tính chuyện trộm cắp tài sản của nhà nó thôi.

Còn nhớ sau hội nghị Thành Đô 1990, chẳng biết đảng CSTQ quán triệt cái quái gì vào đầu những vị đứng đầu đảng CSVN mà kể từ sau đó, mọi sự kiện liên quan đến cuộc chiến đẫm máu biên giới phía Bắc 1979, cuộc chiến ở đảo Gạc Ma – Trường Sa 1988 đều bị cấm tiệt nhắc tới. Đây là vấn đề lịch sử, lại là đạo lý trong văn hóa tâm linh người Việt Nam, ấy vậy mà dưới sức ép của CSTQ, chính quyền CSVN buộc nhân dân mình phải im lặng để đổi lấy vai trò đỡ đầu của đàn anh CSTQ nhằm duy trì chế độ cộng sản dối trá cùng ý thức hệ.

Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 « Trần Hoàng Blog

Bí Mật lịch sử Trung-Việt 1990 (1)

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, đã tới lúc gậy ông nó đập vào lưng ông. CSVN nói dối, nói xạo xưa nay thuộc hàng cao thủ trước cộng đồng quốc tế, ấy thế mà nay phải vò đầu, bức tai trước những sự vu cáo trắng trợn của người đồng chí “vàng và tốt” Trung Quốc.

Không những thế, nay người anh em này còn sử dụng những chiêu “nói xạo” của thằng em trong quá khứ, trong đó có “công hàm Phạm Văn Đồng”, “Sách Địa lý lớp 9”, dùng làm vũ khí tấn công lại thằng em trên mặt trận pháp lý. Nếu như không có chuyện tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, người dân làm gì biết đến cái công hàm ngu xuẩn quái ác kia!

Dù nay đã biết rõ dã tâm và bộ mặt thật của ông bạn vàng Trung Quốc với chiêu trò vừa ăn cướp vừa la làng, thế nhưng CSVN cũng phải chịu ngậm đắng nuốt cay bởi chính sách bịt miệng nhân dân, tuyên truyền dối trá xưa nay… đã đến hồi trả giá.

Không biết tới đây Trung Quốc còn giở những ngón gì nữa đây, chắc chắn họ chưa khóa sổ hồ sơ trong quan hệ Việt – Trung bấy lâu nay, vì sau hội nghị Thành Đô cho đến nay đã 24 năm, với ngót 1/4 thế kỷ quá đủ để cho kẻ tiểu nhân giỏi toan tính như Trung Quốc soạn ra những kịch bản thâm hiểm trong khi thằng em CSVN thì ngây thơ, ngoan ngoãn cứ mãi lo mân mê “16 chữ vàng” và “4 tốt” và sẵn sàng đạp vào mặt kẻ nào dám xúc phạm đến ông anh vàng của mình.

Bàn đến những “lối thoát” trong lúc này xin đừng bỏ qua bàn đến những đường lối, chích sách dối trá của chính quyền, sự dối trá đang lan tràn trong lòng xã hội Việt nam…

Bảy Đa

———–

Bài liên quan 

Chuyện xạo của đảng và nhà nước rất nhiệu, dưới đây chỉ là một vài ví dụ:

*►Cô du kích trong bài thơ “Quê hương” của Giang Nam không chết năm 1960, cô vừa mới qua đời hưởng thọ 83 tuổi

“Bài thơ Quê hương đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông để giảng dạy. Năm 1961, khi xét giải thưởng thơ báo Văn nghệ, có ý kiến đề nghị trao giải nhất cho bài thơ Quê hương, nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong bối cảnh lúc đó bài thơ có thể ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu nên đề nghị chỉ trao giải ba, cuối cùng giải pháp dung hoà được nhất trí: bài thơ được tặng giải nhì.[1]  Nguồn ở đây 

Hôm nay nhận được tin em 
Không tin được dù đó là sự thật 
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác 
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người! 
Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm 
Có những ngày trốn học bị đòn, roi 
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất 
Có một phần xương thịt của em tôi.

nguồn http://poem.tkaraoke.com/20504/Que_Huong.html

Cô du kích trong bài thơ “Quê hương” qua đời

30-12-2013

Nguồn báo Thanh Niên

Bà Phạm Thị Chiều, vợ nhà thơ Giang Nam, vừa qua đời tại Nha Trang, hưởng thọ 83 tuổi.

Bà chính là “cô du kích” trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam, từng lay động nhiều thế hệ những người yêu thơ suốt 53 năm qua. (Nhà thơ Giang Nam và bà Phạm Thị Chiều – Ảnh: Trần Đăng)

“Cô du kích” trong bài thơ với tiếng cười “khúc khích” và đôi mắt “đen tròn” đã bị “giặc giết em rồi quăng mất xác”, còn bà Chiều thì vẫn gắn bó với nhà thơ Giang Nam đến tận hôm nay.

Sở dĩ có sự “vô lý” trên là do nhầm lẫn từ một nguồn tin của cơ sở trong thành báo ra. Nhà thơ Giang Nam nhớ lại: “Tôi và nhà tôi có cảm tình với nhau từ khi còn ở chiến khu Đá Bàn (Khánh Hòa) trong kháng chiến chống Pháp. Mãi đến năm 1955 chúng tôi mới cưới nhau. Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt, để tránh sự bố ráp của kẻ thù, tổ chức phân công cả hai chúng tôi vào hoạt động tại Biên Hòa. Chẳng bao lâu sau, vợ và con gái tôi bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Lợi. Giữa năm 1960, tôi nghe tổ chức thông báo rằng vợ con tôi bị địch sát hại trong nhà tù này. Quá đau đớn, trong một buổi tối ở rừng, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Sau này tôi mới biết, thông tin trên là do nhầm lẫn”.

Sự nhầm lẫn ấy để thi đàn Việt Nam có thêm một thi phẩm làm lay động lòng người suốt 50 năm qua về lòng thủy chung của những đôi lứa yêu nhau thời chiến, đã phải chịu nhiều đau thương mất mát để giành lại nền độc lập tự do cho dân tộc.

Trần Đăng

Trần Hoàng: Báo đăng tin này nhằm nói lên sự thật bị che dấu hơn 53 năm qua: Cô du kích không hề chết năm 1960 trái với xuất xứ của bài thơ Quê Hương 1960 mà  tác giả Giang Nam đã từng cho biết trước đây.  

“Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt, để tránh sự bố ráp của kẻ thù, tổ chức phân công cả hai chúng tôi vào hoạt động tại Biên Hòa. Chẳng bao lâu sau, vợ và con gái tôi bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Lợi. Giữa năm 1960, tôi nghe tổ chức thông báo rằng vợ con tôi bị địch sát hại trong nhà tù này. Quá đau đớn, trong một buổi tối ở rừng, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Sau này tôi mới biết, thông tin trên là do nhầm lẫn” 

Trong câu trên, các bạn hãy chú ý  2 điều này: Giữa năm 1960 làm gì có giặc Mỹ mà có “Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt” ? Mỹ chỉ đổ quân vào Miền Nam để cho các ông CS chống là năm 1965-1973 

Thứ nhì, tổ chức của ông, đảng CSVN, thông báo vợ ông chết là để cho Giang Nam có thêm lòng căm thù…đặng ông nổ lực hiến sức phục vụ cho đảng. Nhưng về phần ông, khi đã biết cô du kích vợ ông không chết, tại sao hơn 50 năm qua ông không lên tiếng công khai đính chính? 

Câu chuyện bài thơ Quê Hương của ông Giang Nam từa tựa như chuyện anh hùng Nguyễn Văn Bé hy sinh, hay chuyện cha mẹ của tướng Võ Viết Thanh bị giết chết năm 1962, lúc ấy tổ chức sai bà Nguyễn Thị Bình gặp mặt và báo tin với tướng Thanh là lính ông Diệm đã giết chết…và ông Thanh đã tin thế.

Mãi cho tới năm 1991, trong vụ án Năm Châu-Sáu Sứ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Tâm mới xác nhận sự thật:

Để trả thù trung tướng Võ Viết Thanh đã phá vỡ âm mưu, Nguyễn Đức Tâm gặp  trung tướng Võ Viết Thanh (sinh 1943), và cho biết là đảng đã sai người giết cha mẹ của  Thanh năm 1962, rồi phao tin quân đội của ông Diệm đã giết.” Mời đọc:

Cuộc gặp gỡ bí mật Trung – Việt ở Thành Đô, Trung Quốc 

—————-

Anh hùng Cảm tử Nguyễn Văn Bé ” hy sinh 1966,” đã qua đời năm 2002

“Anh hùng Nguyễn Văn Bé cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cùng nhiều xe tăng; hy sinh tan xác tại chỗ…”

Thật ra, anh Nguyễn Văn Bé vẫn sống sau chiến tranh và từ trần ngày 24 tháng 3 năm 2002. 

Tờ Tạp chí Time của Mỹ số 17 tháng 3 năm 1967 viết rằng cái chết anh hùng của Nguyễn Văn Bé thực chất là “tuyên truyền” của phía Cộng sản, còn Nguyễn Văn Bé không hề chết, mà bị bắt và sau đó đầu hàng.[1] Chính bản thân Nguyễn Văn Bé cũng tuyên bố với báo chí thời đó là mình còn sống.

Trích: Nguyễn Văn Bé là tên của nhân vật chính trong một chiến dịch tuyên truyền và phản tuyên truyền trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Thân thế và hành trạng của nhân vật này có nhiều điểm mơ hồ, mâu thuẫn và không được làm sáng tỏ cho đến ngày nay.

Theo tuyên truyền từ phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Bé là một tấm gương anh hùng trong chiến đấu. Sinh năm 1941, quê ở Châu Thành, Sông Bé, nhập ngũ tháng 7 năm 1961, Nguyễn Văn Bé là một đảng viên Cộng sản, được tuyên dương Anh hùng khi làm đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú LợiThủ Dầu Một.

Về qua trình chiến đấu của Nguyễn Văn Bé có nhiều mâu thuẫn. Một nguồn cho rằng năm 1966, sau khi bị bắt trong một chuyến vận chuyển vũ khí, theo yêu cầu của các binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Bé phải giải thích công dụng của các loại vũ khí này. Lợi dụng cơ hội đó, Nguyễn Văn Bé cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cùng nhiều xe tăng; hy sinh tan xác tại chỗ. Nguyễn Văn Bé được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguồn khác thì ghi Nguyễn Văn Bé đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho chiến sĩ Nguyễn Văn Bé. Cũng theo nguồn này, Nguyễn Văn Bé vẫn sống sau chiến tranh và từ trần ngày 24 tháng 3 năm 2002.

Về giả thiết thứ nhất (Nguyễn Văn Bé nổ bom cảm tử), tờ Tạp chí Time của Mỹ số 17 tháng 3 năm 1967 viết rằng cái chết anh hùng của Nguyễn Văn Bé thực chất là “tuyên truyền” của phía Cộng sản, còn Nguyễn Văn Bé không hề chết, mà bị bắt và sau đó đầu hàng.[1] Chính bản thân Nguyễn Văn Bé cũng tuyên bố với báo chí thời đó là mình còn sống.

Một số hình ảnh và tư liệu tranh cãi về sự thật cái chết của Nguyễn Văn Bé có thể thấyở đây. Theo tạp chí Time, Nguyễn Văn Bé thực sự không chết, trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh coi đây là “chiến tranh tâm lý chiến” của Mỹ.

Thân phận và hành trạng của Nguyễn Văn Bé thực sự ra sao, hay đây chỉ là hai chiến sĩ trùng tên nhau vẫn là vấn đề gây tranh cãi. Dù vậy, đã có nhiều bài thơ, bài hát và vở kịch về tấm gương hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Bé, tuyên truyền về lòng yêu nước, hy sinh vì đất nước.

Nhạc sỹ Huy Du có bài “Xin khắc tên anh trên vách chiến hào” nhưng sau này bài hát phải bỏ. Thậm chí, tên Nguyễn Văn Bé sau năm 1975 vẫn còn được đặt cho một con đường tại thị xã Long Khánh, và một trường PTCS. Tên đường Nguyễn Văn Bé sau đó đã được đổi tên.

Áp phích tuyên truyền về Anh hùng Nguyễn Văn Bé năm 1966

nguồn 

————–

Khẩu hiệu treo khắp các trụ sở công an phường, quận,…

“Cán bộ là đầy tớ của nhân dân”

Nhưng thực tế hình trên cho ta thấy cán bộ đang cầm cây chuẩn bị đánh nhân dân. Chúng coi nhân dân chẳng khác gì trâu bò súc vật. Muốn đánh, giết, bỏ tù lúc nào tùy thích. 

danluan.org/node/20528

——-

 

Dầu Hỏa, chiếm 33% GDP, là nguồn lợi lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam

Lại bị Trung Quốc cảnh cáo, răn đe coi thường như con nít mà cứ xưng là có độc lập, tự do và quang vinh!

Đăng bởi hoangtran204 on 24/01/2012

Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam không nên gần với Mỹ trong vấn đề Biển Đông

DCVOnline– (Tin Mainichi Japan)HÀ NỘI (Kyodo) – Trong chuyến thăm chính thức hồi tháng trước Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cảnh cáo Việt Nam phải giữ khoảng cách với Hoa Kỳ về vấn đề nhạy cảm – tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), các nguồn tin của Đảng Cộng sản Việt Nam cho hay

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa đã mất, trong khi đảng và nhà nước VN vẫn đang diễn MÀN KỊCH ĐỘC ÁC VÀ TÀN NHẪN!

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2014

Trần Hoàng: Trong 7 tuần qua, kể từ lúc Trung Cộng bắt đầu loan tin đã khoan dầu ở Biển Đông, chúng ta thấy cách phản ứng của các đảng viên rất khác nhau. Họ đã bàn bạc và phân công nhau AI sẽ phát biểu, và phát biểu như thế nào; Ai là người phải vờ im miệng, coi như không nghe, không thấy việc Trung Công đang làm. 

Thí dụ:
-Nguyễn Tấn Dũng được phân công nói câu: “không đánh  đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viễn vông” (các bạn coi nét mặt của NTD lúc nói câu đó với vẻ tươi cười hoàn toàn không hợp với nội dung của một người tức giận và phẩn uất.) 
-Phùng Quang Thanh được phân công phát biểu. Toàn bài phát biểu, không có một chữ nào phản đối Trung Quốc đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam; thậm chí không dám nhắc đến tên Trung Quốc trong bài diễn văn.
Nguyễn Chí Vịnh đã “bật mí” khi cho biết rằng “Việt nam sẽ không xích gần lại Hoa kỳ”.
-Nguyễn Phú Trọng thì im lặng hơn 7 tuần qua, coi như không có chuyện Trung Cộng đặt giàn khoan ở Biển Đông.
Phạm Bình Minh thì vẫn quyết giữ tình hữu nghị Việt Trung bền vững. 
Vũ Đức Đam phát biểu: đời này ta không thể đòi lại được thì đời con cháu sẽ đòi lại Biển Đông. 

MÀN KỊCH ĐỘC ÁC VÀ TÀN NHẪN!

JB Nguyễn Hữu Vinh

Thái độ và hành động đáng ngờ
 
Trong con mắt của những người dân Việt Nam mộc mạc vốn thừa mứa lòng tin, người ta sẽ nghĩ rằng sau cuộc khốc liệt 1979 trên toàn tuyến biên giới, Việt Nam thấm đòn đau từ anh bạn láng giềng to xác quen ăn hiếp và bắt nạt thì tưởng như sẽ không bao giờ có thể ngoái đầu quay lại với những kẻ thù tàn bạo, quay quắt mà chính họ đã nguyền rủa. Thế nhưng cả dân tộc không ngờ, cả dân tộc đã bị dồn vào một khúc quanh đau đớn nhất của lịch sử: Giai đoạn nô lệ ngoại bang.
Theo dõi thái độ và cách hành động của nhà cầm quyền Việt Nam mấy năm nay với chủ đề lãnh thổ của Tổ Quốc, nhất là thái độ với bọn bá quyền cướp nước, có lúc thăng, lúc trầm, nhưng tất cả đều nhất quán và không có mấy thay đổi. Đường lối, cách nghĩ của đảng CS vẫn thế, tất cả đều đi đúng một định hướng đã vạch sẵn: Lấy thù làm bạn, hèn với giặc, ác với dân.
Thông thường, một chính phủ, một nhà nước, một đảng lãnh đạo xã hội, luôn lấy sự an nguy của quốc gia, an ninh của dân chúng, bảo toàn lãnh thổ của đất nước làm trọng, mọi nhân tài, vật lực đều được ưu tiên tập trung cho những nhiệm vụ chính yếu đó. Thế nhưng, riêng ở Việt Nam, mọi điều đã được thực hiện ngược lại.
Nhà nước không dùng quân đội để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ nhân dân mà người ta quy định rằng trước hết, quân đội phải bảo vệ Đảng. Rồi mặc cho dân bị kẻ thù, bị ngoại bang giết chết trên đất nước, quân đội được huy động đi cướp đất của dân và luyện tập để “chống diễn biến hòa bình”. Thậm chí, người đứng đầu quân đội luôn miệng gọi kẻ thù là đồng chí, tỏ rõ sự hàm ơn nặng nề kẻ thù của đất nước, ngay cả khi kẻ thù đã và đang xâm chiếm lãnh thổ.
Nhà nước bơm phình lực lượng công an không với mục đích phục vụ nhân dân, mà họ huỵch toẹt thách thức là “còn đảng, còn mình”. Hẳn nhiên họ không nhắc lực lượng này rằng người nuôi họ là dân.Lực lượng này được huy động đàn áp, canh giữ, bắt bớ và gây sự với những người có mầm mống tư tưởng yêu nước. nhà nước bỏ tù những tiếng nói can đảm, dám thể hiện lòng yêu nước, thương nòi của mình.
Họ tạo ra một thế hệ vô cảm với những điều thiêng liêng nhất, ngộ độc thông tin nặng nề nhất, thậm chí dùng đám hồng vệ binh đó đi đàn áp, khủng bố những người yêu nước.
Kết quả là lòng yêu nước bị dập tắt, tinh thần yêu nước bị đánh tan tác và hạ xuống đến mức thấp chưa từng có.
Hoảng loạn, lúng túng
 
Có thể nói, kể từ khi người Cộng sản Việt Nam cướp quyền lãnh đạo đất nước này đến nay, cái gọi là “độc lập” đúng nghĩa chưa bao giờ xuất hiện. Việt Nam luôn kêu gào “độc lập, tự do” nhưng thực tế thì hết đu bám thế lực này lại sang bám thế lực khác.
Nếu như sau Tháng 8/1945 trở đi, khối cộng sản nẩy nở, sinh sôi, những người cộng sản Việt Nam tự nguyện làm một bộ phận “tiền tiêu, tuyến đầu” cho CNCS để tiến hành cuộc chiến Nam – Bắc đẫm máu vì ý thức hệ. Khi đó, trừ vài nước “cộng sản anh em”, còn tất cả đều là “bè lũ đế quốc và bọn phản động, chó săn, sen đầm quốc tế”. Thì đến khi nội bộ khối Cộng sản lục đục chia rẽ nặng nề, những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng tách khỏi anh bạn Trung Cộng để tìm đến Liên Xô là “thành trì của CNXH”. Khi đó, hệ thống truyền thông Việt Nam đã không tiếc bất cứ một lời lẽ, ngôn từ nào dù bẩn thỉu, xấu xa nhất lên án anh chàng Trung Cộng Đại hán đã chệch hướng, lạc đườn, phản bội lại “Mác – Lênin chân chính”.
Thế rồi, cuộc chiến 1979 trên biên giới Việt – Trung đã thể hiện sự cạn nghĩa, ráo tình và sự tráo trở của những người cộng sản ra sao. Tưởng từ nay, cái gọi là “môi hở răng lạnh” sẽ không bao giờ được nhắc tới, cái gọi là “anh em, hữu nghị, láng giềng” đối với Trung Cộng sẽ vĩnh viễn biến mất trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội khi vẫn còn người Cộng sản Việt Nam cai trị đất nước.
Nhưng, trớ trêu thay, vật đổi sao dời. Những biến động của Đông Âu về sự sụp đổ hàng loạt khối cộng sản mà không một thế lực nào đỡ nổi như một quy luật. Cái bức tường, cột trụ mà những người cộng sản Việt Nam tưởng rằng luôn bền vững, chắc chắn bỗng chốc sụp xuống nhanh chóng không ngờ. 
Thế là từ đó, bỗng chốc cái thần thái độc lập, tự chủ và sự tự tin “bách chiến, bách thắng” của những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng bay biến.
Và họ hoảng loạn thật sự.
Theo đúng nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lenin thì “giai cấp thống trị không bao giờ để mất quyền thống trị của mình, nếu không có bạo lực cách mạng”. Vì thế, họ đã ra sức để bằng mọi cách củng cố, bám giữ lấy chiếc ghế cai trị của mình.
Một trong những cách đó là đổi thù thành bạn, tất nhiên chỉ là bạn của Đảng, còn với cả đất nước này thì kẻ xâm lược truyền kiếp kia chẳng bao giờ thay đổi bản chất và quan hệ. Rồi Hội nghị Thành Đô, (một hành động chính trị lén lút mới được bạch hóa gần đây) đã diễn ra trong hoàn cảnh đó.
Kể từ đó, đất nước ta bước vào một ngã rẽ đầy sự tăm tối, từng bước, từng bước đi vào vòng nô lệ theo “đúng quy trình”.
Hành động có hệ thống và màn diễn đẫm máu
Cho đến gần đây, nhà nước Việt Nam mới công nhận một số điều mà người dân đã bàn tán bao năm nay về quan hệ Việt – Trung. Năm 1958, Phạm Văn Đồng trên cương vị Thủ tướng có công hàm gửi Trung Cộng, công nhận Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trong đó bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Trung Cộng gọi là Tây Sa và Nam Sa.
Khi bọn bá quyền Trung Cộng dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Bắc Việt đã không hề mở miệng hé răng.
Năm 1988, bọn bá quyền Trung Cộng dùng quân đội tiếp tục dùng vũ lực chiếm đóng một phần Quần đảo Trường Sa, hàng loạt chiến sĩ bỏ mạng trên biển, người dân Việt Nam không được thông tin về sự hy sinh của họ. Việc mất một số đảo của Tổ Quốc được im lặng như một món quà cho bọn bành trướng để để đi đến Hội nghị Thành Đô sau đó.
Ngày 3-4/9/1990, Hội nghị Thành Đô bí mật diễn ra, mở đầu một thời kỳ đau đớn cho đất nước. Những người cộng sản đã mua bán, đổi chác sinh mệnh dân tộc bằng hội nghị bí mật này. Năm 1999, Hiệp định Biên giới Việt Trung mờ ám được bí mật ký kết. Tất cả những ai lưu tâm, tò mò đến bản hiệp định này đều trở thành thế lực thù địch của Đảng và nhà nước Cộng sản. Nhiều người đã nếm mùi tù đày, lao lý bởi cái Hiệp định này. Kết quả là hàng loạt vấn đề mất đất, mất lãnh thổ trên biên giới đã không được giải đáp thỏa đáng.
Từ năm 2000 trở lại đây, Trung Cộng gia tăng các hành động cướp bóc, lấn chiếm ngang ngược trên biển, Đảng và nhà nước Việt Nam có những hành động “hèn hạ vĩ đại” trước quân giặc ngày càng hung hăng. Trên đất liền, những nơi trọng yếu, các công trình trọng điểm đều có mặt người Trung Quốc.
Đặc biệt là việc gia tăng bắt bớ, giam cầm, đàn áp trắng trợn những người yêu nước, thương nòi. Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta, chưa có giai đoạn nào những người yêu nước phải đau đớn như giai đoạn hiện nay.
Dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, tài tình và sáng suốt” của đảng Cộng sản Việt Nam, sau 70 năm, đất nước Việt Nam đã và đang dần dần lún sâu vào cơn khủng hoảng, khốn đốn về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa… Vị thế của đảng Cộng sản chìm sâu trong những cơn oán thán, trong những câu chuyện bi, hài của người dân và qua từng hành động khó hiểu, bất nhất, lời nói ngô nghê của lãnh đạo, của hàng ngũ quan chức. Vị thế của Việt Nam trên con mắt quốc tế sa sút đến thảm hại.
Đúng lúc đó, anh bạn vàng khổng lồ của Đảng gia tăng những hành động xâm lăng, cướp bóc trắng trợn lãnh thổ Việt Nam.
Máu dân Việt đã đổ, mạng người dân đã mấ trên chính lãnh thổ mình. Mưu đồ xâm lược bấy lâu nay đã thêm một bước được thể hiện một cách trắng trợn và ngang ngược, bất chấp mọi lý lẽ, mọi thứ “tình hữu nghị” được bôi trát bằng bộ mặt giả nhân giả nghĩa bấy lâu nay. Nhà cầm quyền Trung Cộng đã từng bước thể hiện bản chất cướp bóc hung bạo là sản phẩm kết hợp giữa chủ nghĩa bành trướng đầy tham vọng và sự tàn bạo không giới hạn của Chủ nghĩa Cộng sản trong chiến lược xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.
Tưởng như vậy là giới hạn cuối cùng, một đảng luôn tự ca ngợi mình là “thiên tài, là vô địch là tinh hoa của dân tộc, là đội quân tiên phong của đất nước” đã bước nốt những bước cuối cùng của sự bi đát và sẽ tỉnh ngộ để sớm từ bỏ cái tư tưởng hão huyền và hãi hùng Mác – Lênin để trở về phục vụ nhân dân và đất nước.
Nhưng không.
Sau khi những hành động xâm lược của Trung Cộng bằng giàn khoan và tàu chiến trên biển, người ta thấy gì?
Những cuộc biểu tình yêu nước trên cả đất nước bừng lên, để rồi bị dẹp tan với những lý do rất Chí Phèo, người yêu nước lại tiếp tục ngậm ngùi uất hận.
Tại Philippines ông Thủ tướng nói vài câu mạnh mẽ, thì lập tức tại Shangri-La Bộ Trưởng Quốc phòng dội ngay một giáo nước lạnh vào mặt quan khách toàn thế giới và nhất là 90 triệu người dân Việt Nam, bằng những lập luận ngô nghê khi gửi thông điệp đến kẻ thù xin “hữu nghị”. Không chỉ là đập thẳng vào miệng Thủ tướng mà thể hiện thái độ của một đội quân “bách chiến, bách thắng” hiện nay đang sẵn sàng chiến đấu ở mức độ nào.
Trước một kẻ thù hung hãn, đầy vũ khí trong tay và sự tàn bạo thể hiện trong từng hành động trên thực tế, việc một Bộ Trưởng Quốc phòng nêu quyết tâm “không để xung đột xảy ra’ chỉ có thể coi là hành động bó gối xin hàng. Ngay cả hàng mấy chục cuộc điện thoại gọi sang Trung Cộng không thèm trả lời mà đòi “hữu nghị” thì chưa rõ hệ thống thần kinh của quan chức Việt Nam đã đến tình trạng nào?
Ông Tổng Bí thư Đảng, người nắm chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương thì lặn mất tăm, đến mức người dân phải nhắn tin tìm kiếm trên mạng. Trong khi cả hệ thống cầm quyền, công an luôn miệng rằng “đã có đảng và nhà nước lo” thì giờ lo đến đâu không ai được biết? Nhưng khi ông xuất hiện thì chỉ bàn về “Văn hóa”. Thật tiếc, có lẽ cái văn hóa mà ông bàn đến không có bao gồm vấn đề ứng xử của kẻ có trách nhiệm như thế nào?
Nhưng có những điều lạ xuất hiện hiện nay:
Báo chí sau bao năm bị cấm ngặt không được đụng tới biển đảo, nay mở hết công suất về biển đảo, góp tiền, góp gạo cho Trường Sa… hết chương trình này đến chương trình khác, cứ như xưa nay Việt Nam chưa bao giờ tồn tại, nay mới xuất hiện thêm biển và đảo vậy.
Quân đội đã thề nguyền là sẽ không bao giờ động binh với anh bạn vàng của đảng để giữ tình hữu nghị. Ông Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng chỉ biết lẩm bẩm: “Anh là ai? Sao vật ngửa thuyền tôi ra” và vẫn là “Tình hữu nghị Việt – Trung bền vững đời đời”…
Nhưng trên biển với lúc nhúc súng đạn kẻ thù, tàu chiến nườm nượp, đảng và nhà nước kêu gọi đẩy công dân tay không ra bám biển, giữ đảo. Thế là bao mạng người lại nằm xuống biển khơi.
Thật đau đớn và hài hước.
Những sự tréo ngoe đó đã nói lên điều gì? Tại sao trước một kẻ thù hung hãn với ý đồ xâm lược rõ ràng, bộ máy CSVN lại hành động khi trống đánh xuôi thì lập tức có kèn thổi ngược?
Điều đó chỉ có thể giải thích một điều cần giấu kín. Rằng khi tất cả biển đảo của Việt Nam đã rơi vào tay giặc theo “đúng qui trình”, thì nhà nước Việt Nam vẫn vô tội trước mắt người dân, đã “làm hết khả năng mình, đã phản đối nhưng kẻ thù quá mạnh, quá nguy hiểm nên lực bất tòng tâm”. Nghĩa là lỗi không nằm ở nhà nước mà nằm trong tay nhân dân và kẻ thù. Và để an dân, thì nhà nước lại học ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam mà rằng: “Đời chúng ta chưa đòi được thì đời con đời cháu chúng ta sẽ đòi cho bằng được”.
Và cứ vậy, người dân cứ phải chấp nhận tính mạng bị đe dọa, Tổ quốc phải chấp nhận mất biển đảo vào tay giặc, dân tộc chấp nhận một giai đoạn nô lệ kiểu mới.
Và màn diễn sẽ kết thúc ở đó còn Đảng thì vẫn quang vinh để kiên định con đường đi lên CNXH với người anh em 16 chữ vàng và 4 tốt.
Đó là màn diễn quá độc ác và tàn nhẫn đối với nhân dân.

JB Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn: RFA

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Việt Nam lún sâu vào bãi lầy do Trung Quốc tạo ra

Posted by hoangtran204 trên 22/06/2014

Nam Nguyên, phóng viên RFA
20-6-2014

nguyen-phu-trong-305.jpg

TBT Nguyễn Phú Trọng gặp Ủy Viên Quốc Vụ TQ Dương Khiết Trì tại Hà Nội chiều 18/6/2014.

AFP

Quan điểm khác biệt

Tình hình biển Đông càng nóng hơn sau các cuộc gặp gỡ của ông Dương Khiết Trì Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. Báo chí trong ngoài nước cho là hai bên giữ nguyên quan điểm khác biệt trong vụ giàn khoan, hay nói cách khác đó là cuộc đối thoại giữa hai người điếc.

TS Phạm Chí Dũng, nhà bình luận độc lập từ Saigon nhận định:

“Tôi cho là đó là cuộc nói chuyện giữa hai người khiếm thính thì đúng hơn, họ nói họ nghe nhưng họ không hiểu nhau và có vẻ như họ cố tình không hiểu nhau. Nếu gọi Việt Nam là kẻ khiếm thính thì Trung Quốc còn có thể đóng trai trò một người câm nữa. Tại vì cho tới ngày hôm nay thì thêm một giàn khoan nữa đã được kéo vào biển Đông Việt Nam đó là giàn khoan Nam Hải 9 và tôi cho là hiện nay ở biển Đông Việt Nam có tới ba giàn khoan. Thứ nhất là Hải Dương 981 thứ hai là Nam Hải 9 và còn một giàn khoan sống đi bằng hai chân mang tên là Dương Khiết Trì tại Hà Nội nữa.”

Tôi cho là đó là cuộc nói chuyện giữa hai người khiếm thính thì đúng hơn, họ nói họ nghe nhưng họ không hiểu nhau và có vẻ như họ cố tình không hiểu nhau. 
-TS Phạm Chí Dũng

Theo báo chí tường thuật, hai ông Phạm Bình Minh và Dương Khiết Trì gọi nhau là đồng chí và luôn cùng sử dụng nhóm từ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đảng luôn luôn đứng đầu khi hai ông nêu các quan điểm về vấn đề biển Đông. Có vẻ ý thức hệ Cộng sản vẫn chi phối quan hệ Việt Trung rất sâu đậm. Nhà giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội nhận xét:

“Trong quan hệ quốc tế bình thường giữa hai quốc gia, khi xưng hô, người ta sẽ gọi là ông, là ngài, là tôi chứ không thể có chuyện cho đến thời điểm này, cứ gọi nhau là đồng chí như thể ý thức hệ lệ thuộc hay mình là đàn em phải nịnh người ta không bằng. Nó cho thấy kiểu xưng hô khiếp nhược.”

Từng là Đảng viên Đảng Cộng sản cho tới khi xin ra khỏi Đảng hồi gần đây, TS Phạm Chí Dũng có cách nhìn riêng về sự ràng buộc ý thức hệ Việt Nam-Trung Quốc. Theo lời ông, đó là một sự bế tắc cả về mặt xưng hô lẫn từ vựng cũng như văn hóa giữa hai quốc gia. TS Phạm Chí Dũng nhận định:

 

000_Hkg9950036-250.jpg
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh (phải) tiếp Ủy viên Quốc vụ viện TQ Dương Khiết Trì tại nhà khách chính phủ ở Hà Nội ngày 18 tháng 6 năm 2014. AFP PHOTO / POOL / LƯƠNG THÁI LINH.

 

“Nếu tính từ năm 1950 trở lại đây, có thể nói hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc đã từng bế tắc nhiều lần và cứ mỗi lần bế tắc như vậy thì họ lại thay đổi cách xưng hô, đặc biệt từ đồng chí hay là 4 tốt 16 chữ vàng hay là tất cả những từ tương tự như vậy, đều đại diện cho một sự bất nhất mà họ có thể dùng bất cứ lúc nào, nhưng đồng thời cũng phản ánh cho sự trả giá trong nội bộ của họ.

Tôi muốn nói đây là nội bộ giữa Hà Nội và Bắc Kinh vì đồng chí với nhau nhưng không bao giờ là tốt cả. Và khi người ta dùng từ đồng chí thì có thể hiểu người ta đang phê phán nhau, như là truyền thống ở trong các cuộc họp chi bộ. Còn khi người dùng từ anh em thì có thể hiểu là còn có một chút tinh thần môi răng. Nhưng khi ông Phạm Bình Minh dùng từ đồng chí với người Trung Quốc, thì tôi nghĩ là không báo trước một điềm lành gì cả mà điều đó chắc chắn là sẽ dẫn tới những hiểm họa khác và sẽ kéo dài hơn trong thời gian tới. Tóm lại cuộc gặp này không mang lại một kết quả gì khả quan, tốt đẹp hơn mà chỉ làm cho Bộ Chính trị Hà Nội lún sâu hơn vào bãi lầy do Trung Quốc tạo ra.”

Người dân thất vọng?

Trong lúc ông Dương Khiết Trì đang có mặt tại Hà Nội, một tiếng nói đơn độc cất lên từ Quốc hội Việt Nam đề nghị ra nghị quyết về biển Đông. Theo VnExpress và VnEconomy bản tin trên mạng ngày 19/6/2014, Đại biểu TP.HCM Luật sư Trương Trọng Nghĩa nói rằng, nếu lần này Quốc hội không có tuyên bố chính thức hay nghị quyết về biển Đông thì chắc chắn nhân dân rất thất vọng. Được biết Quốc hội Việt Nam chỉ còn 3 ngày làm việc trước khi bế mạc kỳ họp thứ 7 nhưng hoàn toàn không có mục nào dành cho biển Đông.

Đối với sự kiện vừa nêu TS Phạm Chí Dũng nhận định rằng, Quốc hội Việt Nam không có vai trò trong các quyết định quan trọng của quốc gia. Quốc hội được coi là sân sau của Bộ Chính trị và luôn luôn chờ chỉ đạo của Bộ Chính trị. Năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói Cương lĩnh Đảng cao hơn Hiến Pháp! TS Phạm Chí Dũng phát biểu:

Tôi hoàn toàn không ngạc nhiên về tỷ lệ 1/499 Đại biểu Quốc hội đưa ra vấn đề nghị quyết biển Đông vào thời điểm này. 
-TS Phạm Chí Dũng

“Tôi hoàn toàn không ngạc nhiên về tỷ lệ 1/499 Đại biểu Quốc hội đưa ra vấn đề nghị quyết biển Đông vào thời điểm này. Khi mà cuối năm 2013 chỉ có hai người bỏ phiếu không đồng thuận với bản Hiến pháp được sửa đổi. Chúng ta có thấy được là một bản Hiến pháp lạc hậu phản ánh ngược chiều với quyền lợi của nhân dân lại được thông qua với tỷ lệ cao đến áp đảo như thế. Do vậy hoàn toàn không ngạc nhiên khi chỉ có mình ông Trương Trọng Nghĩa đưa ra vấn đề này.”

Khi trả lời báo chí vào sáng 19/6 bên hành lang Quốc hội, theo VnExpress LS Trương Trọng Nghĩa nói rằng, qua Nghị quyết biển Đông Quốc hội phải vạch rõ âm mưu độc chiếm biển Đông, kiểm soát biển Đông của Trung Quốc. Vấn đề không chỉ là một cái giàn khoan, không chỉ là dầu khí. Quốc hội Việt Nam cần tuyên bố với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới lập trường chính nghĩa của Việt Nam. Lên án hành vi sai trái của Trung Quốc, âm mưu của Bắc Kinh mà LS Trương Trọng Nghĩa mô tả là: “vừa đấm vừa xoa, vừa đánh vừa đàm, vừa ăn cướp vừa la làng.”

 

000_Hkg9950512-600.jpg
Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng (P) tiếp Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội hôm 18/6/2014

 

Vẫn theo LS Trương Trọng Nghĩa, Quốc hội cần lên án hành vi của Trung Quốc đã đi ngược lại tất cả những gì nước này cam kết và thỏa thuận với Việt Nam cũng như các nước ASEAN. Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa của Việt Nam bằng vũ lực và kéo giàn khoan phi pháp vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Trao đổi với chúng tôi,  Nhà giáo Đỗ Việt Khoa từ Hà Nội nhận định là Trung Quốc vừa ăn cướp vừa la làng, nhưng tuyên truyền có hệ thống nên ngay cả người dân Trung Quốc cũng tin rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của họ. Ngược lại ở Việt Nam những năm qua rất nhiều blogger, nhà báo bị bắt giam, truy tố hay trù dập vì dám nói lên sự thật, Trung Quốc xảo trá cướp đất, cướp biển của Việt Nam. Theo nhà giáo Đỗ Việt Khoa, trước năm 1975 miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sai lầm khi có một số văn kiện công nhận chủ quyền Trung Quốc về Hoàng Sa Trường Sa, lúc ấy miền Bắc cho là đất nằm trong tay địch thì Trung Quốc chiếm cũng tốt. Nhà giáo Đỗ Việt Khoa tiếp lời:

“Chúng tôi thế hệ bây giờ cho rằng miền Bắc miền Nam anh em một nhà đánh nhau để cho hàng xóm nó cướp đất. Miền Bắc im lặng thậm chí cổ vũ cho thằng hàng xóm ăn cướp đó thì anh có tội với dân tộc. Nói thẳng ra những người ký văn bản đó là có tội với quốc gia dân tộc, lịch sử sẽ phán xét họ. Tuy nhiên xét về tài liệu cũng như các lý luận khác thì chúng ta có thể khẳng định rằng, từ hàng nghìn năm nay, các văn bản của các triều đại, các chính quyền, chưa bao giờ Hoàng Sa Trường Sa biển Đông lại thuộc về Trung Quốc cả. Họ luôn khẳng định đó là của Việt Nam.”

Sau hội nghị Việt Trung 18-19/6 tại Hà Nội, tất cả báo chí do Nhà nước quản lý đều chạy tít lớn dựa theo phát biểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam: “Lập trường của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa: Không thay đổi và không thể thay đổi.” Báo chí hiện nay được phép đưa nhiều tin bài với lập luận mạnh mẽ, như phải thoát lệ thuộc Trung Quốc, phản kháng Trung Quốc xâm chiếm biển đảo. Đây là sự kiện đáng ngạc nhiên vì nhiều blogger hiện vẫn đang ngồi tù vì những bài viết trước đây với các nội dung tương tự. Phải chăng chính quyền Việt Nam cởi mở hơn với báo chí, trong khi Đảng và Chính phủ lại vẫn mong muốn cầu hòa với Trung Quốc. TS Phạm Chí Dũng nhận định:

“Tôi cho là không hẳn là vũ khí mà là công cụ hỗ trợ được nhà nước Việt Nam đang dùng đến. Thứ nhất vì tinh thần không thể chủ chiến của họ và thứ hai như người ta nói, không cẩn thận thì Việt Nam sẽ đi bằng đầu gối. Đó là chính sách ngoại giao đầu gối mà một số nước phương tây đã phải dùng để phê phán Việt Nam cho một hành động mà họ gọi là khó có thể nhu nhược hơn.”

Biển Đông sẽ đi về đâu sau cuộc hội đàm Việt Trung không mang lại kết quả.

Ngay trong khi Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì còn đang có mặt ở Hà Nội thì Trung Quốc đã đẩy mạnh hơn điều gọi là phép thử giàn khoan. Trung Quốc đã tăng cường một giàn khoan mới trên vùng biển gần Việt Nam và có khả năng được đưa vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra Bắc Kinh còn loan báo cấp quyền sử dụng đất cho người Hoa tại quần đảo Hoàng Sa và tất cả các đảo bãi đá ở Trường Sa mà Trung Quốc lấn chiếm bằng vũ lực của Việt Nam. Những dự báo về vấn đề này hoàn toàn không sáng sủa cho chính quyền và người dân Việt Nam.

RFA

———————————————————–

 

“Tại cuộc gặp, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khẳng định Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng việc giữ gìn và tăng cường phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Trong những năm qua, với nỗ lực của cả hai bên, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam- Trung Quốc đã có những bước phát triển sâu rộng.”  

 

Hội đàm Dương Khiết Trì – Phạm Bình Minh không đạt tiến bộ nào

Thanh Phương

RFI

18-6-2014

Trong cuộc hội đàm đầu tiên giữa hai nước kể từ khi Bắc Kinh đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông, Uỷ viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì đã yêu cầu Việt Nam chấm dứt « thổi phồng » vụ giàn khoan, khẳng định Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Theo hãng tin AFP, trước khi tiếp ông Dương Khiết Trì hôm nay 18/06/2014 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã chào mừng chuyến viếng thăm của « đồng chí Trung Quốc » ở Việt Nam. Cũng theo AFP, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã tuyên bố rằng : « Mong muốn của hai nước là giải quyết vấn đề ở Biển Đông ». Về phần ông Dương Khiết Trì, cũng nguyên là Ngoại trưởng Trung Quốc, thì tuyên bố ông đến đây để thảo luận « thẳng thắng » với « đồng chí » Phạm Bình Minh về vấn đề biển Hoa Nam ( Biển Đông ).

Trong cuộc hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, ông Dương Khiết Trì nhìn nhận rằng quan hệ hai nước đang gặp khó khăn và ông đến Việt Nam lần này theo lệnh của Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc để có các cuộc thảo luận « thẳng thắng, sâu rộng » với « đồng chí » Phạm Bình Minh.

Nhưng trong cuộc họp báo hôm nay tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cho biết là khi thảo luận với Bộ trưởng Phạm Bình Minh, ông Dương Khiết Trì đã nói rằng, đối với vấn đề trên biển hiện nay, hai bên cần phải « xuất phát từ đại cục gìn giữ quan hệ giữa hai Đảng và hai nước, tránh mở rộng, làm phức tạp và quốc tế hoá vấn đề liên quan ». Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc yêu cầu Việt Nam cần phải đình chỉ « quấy nhiễu » hoạt động của giàn khoan, ngưng « thổi phồng » bất đồng, gây ra tranh chấp mới. Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc khẳng định việc Trung Quốc khoan dầu ở vùng này là « hoàn toàn hợp pháp » và nói thêm rằng quần đảo Hoàng Sa là thuộc chủ quyền Trung Quốc. Ông Dương Khiết Trì còn yêu cầu Hà Nội « khắc phục hậu quả » của các vụ bạo động nhắm vào các doanh nghiệp Trung Quốc giữa tháng 5 vừa qua.

Còn theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam, trong cuộc hội đàm với ông Dương Khiết Trì, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã nhắc lại quan điểm của Việt Nam rằng việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Dầu khí Hải dương 981 sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã vi phạm luật pháp quốc tế, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam, đàm phán giải quyết các bất đồng giữa hai nước trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Theo hãng tin AP, một quan chức Việt Nam, xin được miễn nêu tên, hôm nay cho rằng, cuộc hội đàm giữa ông Dương Khiết Trì và ông Phạm Bình Minh đã không đạt được tiến bộ nào để giải tỏa bế tắc của cuộc đối đầu ngày càng gay gắt giữa hai nước trên Biển Đông. Theo lời quan chức này, hai bên vẫn giữ nguyên lập trường đối lập nhau.

Cho tới nay, Hà Nội vẫn cho rằng việc đặt giàn khoan Hải Dương 981 là trái phép, vì khu vực này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và đã liên tục yêu cầu Bắc Kinh rút giàn khoan này đi. Vào tháng trước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố là Việt Nam đang xem xét khả năng kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế về vụ này.

Trước khi rời Hà Nội hôm nay, Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì đã gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng.

Nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh, được hãng tin AFP trích dẫn, hôm nay cho biết, ông rất ngạc nhiên về chuyến viếng thăm của ông Dương Khiết Trì, bởi vì, kể từ khi có vụ giàn khoan, Hà Nội đã nhiều lần muốn đối thoại cấp cao với Bắc Kinh, nhưng đều bị từ chối. Tuy vậy, ông Nguyễn Trọng Vĩnh cho rằng Trung Quốc không hề có thực tâm muốn giải quyết tranh chấp Biển Đông, mà có lẽ chỉ nhằm tô điểm lại hình ảnh của nước này trước quốc tế.

AFP cũng trích lời giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam, nhận định rằng, Trung Quốc, mà hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, đang ở thế thượng phong và chắc chắc rằng ông Dương Khiết Trì trong chuyến đi này sẽ cảnh cáo Việt Nam về những hậu quả kinh tế nếu quan hệ Việt – Trung xấu đi.

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tại sao VN không dám kiện TQ ra trước tòa án quốc tế?

Posted by hoangtran204 trên 22/06/2014

 

Tác giả: 

tinh-hinh-bien-dong-4-6-1 (1)

Cuối tháng 5-2014 vừa qua, trong chuyến công du Philippines, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam có thể kiện Trung Cộng ra trước toà án quốc tế. Nhiều người thiện chí mừng rỡ ra mặt qua những bài viết trên mạng. Nhưng sau đó dường như mọi chuyện xảy ra như chưa hề có lời tuyên bố ấy. Những ai có kinh nghiệm về cộng sản, đặc biệt kinh nghiệm về những lời tuyên bố trang trọng của Nguyễn Tấn Dũng, nghe xong đều bỏ ngoài tai như những lời của trẻ con hay của “thằng Cuội” trong truyện cổ tích.

Những người tin rằng CSVN đã ký kết những mật ước bán nước để đổi lấy sự bảo trợ của ngoại bang cho độc quyền cai trị của họ có thể quả quyết: chẳng đời nào CSVN dám kiện Trung Cộng về vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả những tuyên bố phản đối Trung Cộng có vẻ mạnh bạo của các lãnh đạo CSVN đều chỉ là đóng kịch hầu làm yên lòng dân chúng thôi. Vì hiện nay lòng dân đang hết sức hoang mang lo lắng vì nghi ngờ rằng những mật ước mà Trung cộng và CSVN đã lén lút ký kết với nhau sẽ hết sức bất lợi cho vận mạng và sự sống còn của dân tộc. Nếu những mật ước này được chính thức tiết lộ và người dân bất ngờ biết được rõ ràng không thể chối cãi về dã tâm bán nước của đảng CSVN, thì sự phẫn nộ của người dân sẽ vọt lên cao độ có thể nổ ra những cuộc biểu tình bạo động của toàn dân ở khắp đất nước. Lúc ấy chế độ cộng sản chắc chắn sẽ sụp đổ.

Lúc ấy, với thể chế mới nghiêng về tự do dân chủ, số phận của đảng và của những người lãnh đạo đảng sẽ hết sức bi đát, và mộng thôn tính Việt Nam hay mộng biến Việt Nam thành “sân sau” của Trung cộng cũng tan thành mây khói. Chính vì thế, cả CSVN lẫn Trung cộng đều vì quyền lợi của mình mà cùng cam kết giữ bí mật những mật ước ấy cho đến thời điểm mà việc “bật mí” không còn gây nên bất lợi cho đôi bên nữa.

Mặc dù nếu kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế, CSVN chắc chắn sẽ thắng, vì những bằng chứng lịch sử của Việt Nam về chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã hết sức rõ ràng không thể chối cãi. Trong khi đó, lý chứng của Trung cộng về chủ quyền của họ trên hai quần đảo này rất yếu. Nếu lý chứng của Trung cộng mạnh và nếu họ nắm chắc phần thắng thì chắc chắn 100% họ sẽ không đe dọa hầu ngăn cản CSVN kiện họ ra tòa án quốc tế. Vì thế, nếu CSVN có can đảm kiện Trung cộng, phần thắng chắc chắn nằm về phía Việt Nam.

Về phía Trung cộng, ngày 8-6-2014, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố 5 sự kiện chứng tỏ CSVN đã công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. 5 sự kiện đó gồm:

1. Lời của Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao và của Lê Lộc, Trưởng Vụ Á châu thuộc Ngoại giao CSVN thời Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 16-5-1956 khi tiếp Lý Chí Dân, đại diện Sứ quán Trung cộng tại Hà Nội, công nhận “quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc”, thậm chí “thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống”.

2. Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 mặc nhiên công nhận hai quần đảo trên thuộc Trung Quốc.

3. Tuyên bố của CSVN thời Hồ Chí Minh ngày 9-5-1965 về việc quân Mỹ lập khu tác chiến ở Việt Nam cũng có đoạn công nhận “một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa là của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”

4. Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng CSVN vào năm 1972 có ấn hành Tập Bản đồ thế giới không ghi tên hai quần đảo quần đảo trên là Hoàng Sa và Trường Sa mà lại ghi là Tây Sa và Nam Sa, là tên do Trung Quốc đặt.

5. Nhà xuất bàn Giáo Dục, Hà Nội đã xuất bản sách Địa lý lớp chín năm 1974 có đoạn viết: “Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn … làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc.”

 

Những bằng chứng kể trên của Trung cộng có giá trị pháp lý rất yếu so với những bằng chứng mà CSVN có thể đưa ra. Nếu Trung cộng chỉ đưa ra được một vài lời của cá nhân ông nọ ông kia thuộc chế độ CSVN −một chế độ không có tự do ngôn luận− công nhận hai quần đảo đó là của Trung cộng, thì để đối đáp lại, CSVN có thể trưng ra biết bao lời của những người có uy tín thuộc chế độ VNCH −một chế độ mà người dân có quyền tự do ngôn luận− công nhận ngược lại. Đó là chưa kể những văn bản và bản đồ trong lịch sử của Việt Nam, của Trung cộng và của thế giới làm chứng cho Việt Nam. Những bằng chứng kể trên của Trung cộng tuy hết sức rẻ tiền nhưng lại làm cho CSVN rất nhột, khiến CSVN rất e dè không dám mạnh dạn kiện Trung cộng. Tại sao vậy?

Hiện nay, ai cũng biết là hai đảng Cộng sản, Trung cộng và Việt cộng, đã từng lén lút ký kết với nhau những mật ước mà vì quyền lợi chung của cả hai bên, nên cả hai đều hết sức giữ bí mật như đã cam kết. Tại sao lại phải giữ bí mật, nếu không phải là một chuyện mờ ám? Người dân có thể đoán được lý do là những mật ước này chắc chắn có lợi cho tham vọng “độc quyền trường trị Việt Nam” của đảng CSVN nhưng hết sức bất lợi cho quốc gia và dân tộc Việt Nam. Nội dung những mật ước này cho tới nay chỉ có Bộ Chính Trị biết với nhau, còn người dân chỉ nhận được những thông tin rò rỉ không chính thức nên chưa ai dám quả quyết điều gì. Tuy nhiên, trong quá khứ, rất nhiều thông tin bị rò rỉ, ban đầu không ai dám quả quyết, nhưng cuối cùng mọi người đều biết đó là sự thật ([1]).

Theo tác giả Trần Gia Phụng (một sử gia ở Canada), thì Trung Quốc công bố 5 bằng chứng trên theo một kế hoạch từng bước, rất lớp lang ([2]).

Bước 1: Công hàm Phạm Văn Đồng được đưa ra sau khi giàn khoan 981 bị dân chúng Việt Nam biểu tình chống đối dữ dội và bị CSVN lên tiếng phản đối (tương đối mạnh mẽ hơn bao giờ hết, mặc dù vẫn còn rất yếu so với mức độ hợp lý phải làm). Công hàm ấy được đưa ra vào thời điểm này có tác dụng khiến CSVN lo sợ nên đã ra lệnh cấm dân chúng biểu tình chống Trung Quốc.
Hành động cấm đoán này khiến người dân phẫn nộ chống luôn cả CSVN. Vì qua hành động cấm đoán này, người dân thấy được bộ mặt thật của CSVN là đồng lõa tiếp tay với Trung cộng. Nước mất tới nơi, kẻ thù đã vào tận nhà, thế mà đảng và nhà nước cầm quyền đã không làm gì đủ mạnh để chống lại, lại còn cấm người dân phản đối thì rõ ràng là tiếp tay giúp kẻ thù rồi còn gì nữa? Để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng khi công du Philippines đã lên tiếng sẽ kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế.

Bước 2: Vụ sách giáo khoa lớp 9 được đưa ra sau lời tuyên bố sẽ kiện Trung cộng của Nguyễn Tấn Dũng tại Philippines.
Lúc này người dân thấy rõ lãnh đạo CSVN đang ở trong thế “trên đe dưới búa” giữa Trung cộng và người dân trong nước. Vì thế phải làm sao xoa dịu được sự phẫn nộ của cả hai phía. Điều này quả là nan giải, vì hễ xoa bên này thì sẽ làm bên kia phẫn nộ và ngược lại. Nên lãnh đạo CSVN cứ phải “đu giây” giữa hai thế lực này để tồn tại. Do đó, mọi hành động của CSVN trong giai đoạn này hoàn toàn là chỉ để đối phó sao cho xong chuyện, sao cho chế độ có thể tồn tại được. Mọi cách lừa bịp, đóng kịch, giả bộ… đều có thể sử dụng.

Bước 3: Trung cộng đưa ra cùng một lúc năm bằng chứng kể trên để buộc CSVN phải nhượng bộ Trung cộng nhiều hơn.
Đặc điểm của những bằng chứng trên không có giá trị pháp lý trước tòa án quốc tế, nhưng có giá trị đe dọa rất lớn đối với giới lãnh đạo CSVN, vì nó giúp người dân Việt trong nước cũng như hải ngoại từ từ thấy được ngày càng rõ ràng và chắc chắn bộ mặt thật sự bán nước của CSVN. Đây là điều mà CSVN muốn che dấu với bất cứ giá nào, nhưng không ngờ Trung cộng lại đang dần dần “bật mí” từng bước một. Chắc chắn Trung cộng sẽ tiếp tục “bật mí” nếu CSVN hành động bất lợi cho Trung cộng. Điều này khiến CSVN vô cùng lo sợ.

Ba bước trên được thực hiện rất tiệm tiến, từng bước một, là một thông điệp mà Trung cộng muốn nhắn nhủ CSVN: 5 bằng chứng trên chưa phải là hết, vì sẽ còn những bằng chứng khác mạnh mẽ hơn nhiều. Người dân trong nước khi biết chắc chắn những bằng chứng ấy là sự thật sẽ phải “ngã ngửa” và “bừng bừng nổi giận”. Nếu CSVN quyết ăn thua với Trung cộng, chẳng hạn, kiện Trung cộng trước quốc tế, hoặc đi với Mỹ để chống lại Trung cộng, hoặc phản đối Trung cộng một cách quyết liệt, khiến mộng thôn tính Việt Nam của Trung cộng hoàn toàn tan vỡ, thì Trung cộng sẽ có thái độ “phá thối”, “ăn không được, phá cho hôi”. Điều này đương nhiên xảy ra và quả rất dễ hiểu đối với những “tên điếm”, những chế độ “tiểu nhân tới mức tận cùng” như Trung cộng và Việt Nam.

Nếu người dân phẫn nộ đến mức nổi lên lật đổ chế độ CSVN và thiết lập chế độ tự do dân chủ thì Trung cộng sẽ không thôn tính được Việt Nam. Khi ấy Trung cộng chỉ bị hụt hẫng vì đã hy sinh tiền bạc, vũ khí giúp CSVN lên ngôi thống trị toàn Việt Nam mà kết cuộc chẳng được gì. Nhưng số phận những tên lãnh đạo CSVN chắc chắn sẽ không khác gì số phận những tên độc tài phản quốc như Gadhafi, Hussein, Honecker, Ceauşescu…

Chính vì thế, CSVN rất sợ, không dám làm gì mạnh tay đối với Trung cộng, không dám kiện Trung cộng trước tòa án quốc tế về vụ Trường Sa Hoàng Sa dù biết rằng hễ kiện thì sẽ thắng. CSVN rất sợ những gì sẽ xảy ra sau đó vì chắc chắn Trung cộng sẽ trả thù. Những kẻ tiểu nhân và hèn hạ đều biết chúng sẽ bị đồng bọn đối xử với chúng ra sao khi chúng phản bội.

Hiện nay, trong tình trạng “trên đe dưới búa” của CSVN, lối thoát duy nhất và khôn ngoan nhất của họ bây giờ là “đái công chuộc tội” bằng cách trở về với quốc gia dân tộc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của đảng, của gia đình cũng như của cá nhân mình. Họ hãy kịp thời chủ động chuyển đất nước sang thể chế dân chủ tương tự như Miến Điện đã làm. Hãy trả tự do cho những người yêu nước đang bị cầm tù hay quản chế, và mời những người yêu nước thương dân và có tài để cùng với họ chuyển hóa đất nước sang thể chế dân chủ thật sự.

Người Việt là một dân tộc rất sùng đạo, nói chung, họ đã thấm nhuần tinh thần đạo đức của các tôn giáo lớn, chắc chắn họ sẵn sàng tha thứ cho những kẻ lầm lỗi biết trở về đường ngay nẻo chính bằng những hành động “đái tội lập công” cụ thể. Đó chính là con đường duy nhất để đảng CSVN có thể cứu nguy dân tộc đồng thời tự cứu lấy mình.

Với thể chế dân chủ đích thực, chính quyền mới sẽ hành động tương tự chính phủ Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến Nam Bắc phân tranh, hay như chính phủ Đức sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ và nước Đức thống nhất. Sẽ không có những trại học tập cải tạo dã man và bỉ ổi như CSVN đã làm đối với quân cán chính VNCH. Những kẻ “đái tội lập công” sẽ được tha thứ và tôn vinh.
Một mình đảng CSVN chắc chắn 100% không thể cưỡng lại được tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán. Nhưng một khi quyền điều hành đất nước được trao lại cho toàn dân, thì chắc chắn Trung cộng không thể làm gì được dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh điều đó.

Vậy thì Đảng CSVN hãy kịp thời quyết định sáng suốt để cứu lấy mình và cứu cả dân tộc! Nếu không, cả mình lẫn cả dân tộc sẽ thật khốn nạn! Hãy nhanh lên, đừng để quá muộn!

Houston, ngày 20/6/2014.

Nguyễn Chính Kết.

———————————————–

[1] Hiện nay, dư luận đang sôi sục lên vì nhiều bản tin liên quan đến mật ước Thành Đô được ký kết trong một mật nghị giữa hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam tại Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên ngày 3-4/9/1990. Tin này đã được nhiều người nhắc đến từ nhiều năm nay, nhưng chỉ mang tính cách là một thông tin bị rò rỉ, không có gì xác đáng cả.
Nhưng mới đây, Wikileak xác nhận rằng mật ước này là một trong 3100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nội dung của mật ước này được cho là đarng CSVN chấp nhận Việt Nam sẽ trở thành một khu tự trị của Trung Cộng tương tự như Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây. Và thời điểm chót để hoàn thành mật ước này là năm 2020.
Chính vì thế, ngay sau khi Mật Nghị Thành Đô kết thúc, ông Nguyễn Cơ Thạch, bộ trưởng ngoại giao thời đó đã phải thốt lên: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu”, và sau đó ông đã bị cách chức. Trong tập hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, cũng tiết lộ nhiều điều về mật nghị này.
[2] Xin xem bài “Đã đến lúc phải dứt khoát” của Trần Gia Phụng trên trang http://danlambaovn.blogspot.com/2014/06/a-en-luc-phai-dut-khoat.html#more.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Blogger Khởi kiện báo Pháp Luật Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 22/06/2014

Người điều hành Anhbasam khởi kiện báo PLVN

Đinh Ngọc Thu khởi kiện báo VN

California, ngày 16 tháng 06 năm 2014

ĐƠN KHỞI KIỆN
Kính gửi: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội

Bên kiện: Đinh Ngọc Thu, công dân Hoa Kỳ, là người điều hành trang thông tin điện tử “Anh Ba Sàm” tại 3 địa chỉ basamnews.info; basam.info và anhbasam.wordpress.com Địa chỉ: 20 Riverside, Irvine, CA 92602, Hoa Kỳ

Bên bị kiện: Báo Pháp luật Việt Nam
Địa chỉ: Số 42 – Ngõ 29 – Đường Nguyễn Chí Thanh – Phường Ngọc Khánh – Quận Ba Đình – TP.Hà Nội

NỘI DUNG

Ngày 10-5-2014, báo Pháp luật Việt Nam đăng bài “Lật mặt kẻ giả danh dân chủ, nói sàm và… nói ngược Nguyễn Hữu Vinh” tại địa chỉ website http://baophapluat.vn/trong-nuoc/lat-mat-ke-gia-danh-dan-chu-noi-sam-va-noi-nguoc-nguyen-huu-vinh-184495.html, trong đó có đoạn:

“Nghiêm trọng hơn nữa, theo một số thông tin cho biết, Nguyễn Hữu Vinh còn kết nối quan hệ với Việt Tân – một tổ chức ở Mỹ chuyên chống Việt Nam – thông qua “cầu nối” Đinh Ngọc Thu – một thành viên của Việt Tân, nhận sự chỉ đạo trực tiếp, đạo diễn của Thu cho những bài viết chống Việt Nam trên trang Blog của mình”.

Tôi, Đinh Ngọc Thu, là người đã làm việc với ông Nguyễn Hữu Vinh ở trang mạng “Anh Ba Sàm” và là người được nhắc đến trong đoạn trích kể trên, khẳng định việc báo Pháp luật Việt Nam nói tôi là thành viên của Việt Tân là hoàn toàn sai sự thật vì tôi không phải là thành viên của tổ chức có tên “Việt Tân”, đồng thời tôi không hề “chỉ đạo, đạo diễn” ông Nguyễn Hữu Vinh viết “những bài chống Việt Nam”!

Việc báo Pháp luật Việt Nam đưa những thông tin sai sự thật nói trên đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến danh dự, uy tín của tôi. Vì vậy, căn cứ:

Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp (Mọi người có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình).

Điều 37 – Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín – Bộ Luật Dân sự (Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ).

Điều 611 – Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm – Bộ Luật dân sự

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Tôi khởi kiện để yêu cầu:

Báo Pháp luật Việt Nam công khai xin lỗi tôi, Đinh Ngọc Thu, trên báo Pháp luật Việt Nam do đã thông tin sai sự thật theo đó “Đinh Ngọc Thu – một thành viên Việt Tân” và “chỉ đạo, đạo diễn” ông Nguyễn Hữu Vinh viết những bài chống Việt Nam đồng thời gỡ bỏ bài “Lật mặt kẻ giả danh dân chủ, nói sàm và… nói ngược Nguyễn Hữu Vinh” khỏi website baophapluat.vncũng như khỏi các ấn phẩm khác của báo Pháp luật Việt Nam.

Báo Pháp luật Việt Nam bồi thường thiệt hại về danh dự, uy tín cho tôi, Đinh Ngọc Thu, gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
c) Bồi thường tổn thất về tinh thần bằng 10 tháng lương.

Tôi chân thành cảm ơn Quý Tòa và đề nghị sớm hồi âm cho tôi theo luật định.

Bên khởi kiện

ĐINH NGỌC THU

Mời các bạn đọc thêm các chi tiết khác ở đây

http://anhbasam.wordpress.com/2014/06/20/don-khoi-kien-bao-phap-luat-viet-nam/#more-133461

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Nước Mỹ có thể mất bất cứ lúc nào- cảm nghĩ của một người VN vừa đến viếng thăm…

Posted by hoangtran204 trên 22/06/2014

NƯỚC MỸ CÓ THỂ MẤT BẤT CỨ LÚC NÀO 

Nguyễn Tường Thụy

Hôm đến thăm tòa soạn báo Người Việt ở California, một chị trong Ban biên tập hỏi mình: “Cảm tưởng của anh từ khi sang Mỹ?”, mình trả lời luôn:

-Tôi có cảm giác như nước Mỹ mất bất cứ lúc nào.

Mọi người hoảng sợ và chờ mình giải thích. Không phải mình rủa cho thằng đế quốc này nó chết đi mà nói có cơ sở hẳn hoi nhé.

Nguy cơ của nước Mỹ bắt đầu ngay từ khâu tuyên truyền. Ai đời một quốc gia to tổ bố mà chỉ nhõn cái tên: Mỹ. Ít ra, phải có chữ mỹ miều nào đó đi kèm như “Nhân Dân” trong quốc hiệu Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, “Dân chủ” trong Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên hoặc “Xã hội chủ nghĩa” trong Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứ.
Không có những chữ ấy đã đành, còn không có cả mục tiêu, kiểu như hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” nữa. Sợ à? Thì cứ hô lên, thiên hạ không tin thì cũng có vài thằng tin. Vài thằng còn hơn không. Cứ nói đại, còn dân không giàu, nước không mạnh, cũng chẳng có độc lập, không có tự do hạnh phúc thì đã chết ai. Hình như Mỹ chẳng thuộc câu: “điều gì không đúng, nói mãi rồi người ta cũng tin”

Ở các đường phố Mỹ, người ta không biết trương lên các biểu ngữ như “Nước Mỹ muôn năm”, “đảng (đảng gì nhỉ, hi hi) quang vinh muôn năm” hay “Tổng thống Washington sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Cờ Mỹ chỉ treo ở công sở, cấm có mang phơi bày ra giữa các dải phân cách trên đường giao thông để nhắc nhở đây là nước Mỹ bao giờ.

Thời gian mình ở Mỹ, cả 3 buổi sáng, chiều, tối, không làm việc thì giao tiếp nên thường xuyên long nhong trên đường. Mặc dù trước khi sang đây mình ra sức hình dung nhưng không tránh khỏi những điều lạ, nó chẳng giống như môi trường quen thuộc mình đã sống. Vì thế, mình càng lo cho nước Mỹ.

Đất nước gì mà ngay cả thủ đô cũng chẳng trông thấy mống cảnh sát nào, cứ như là một vùng đất hoang không có ai quản lý vậy. Lúc anh lái xe chở mình từ sân bay về chỗ ở, chỉ thấy xe hơi là xe hơi. Dân cứ thế lái, chẳng có ai chỉ đường, phân luồng hay giám sát giao thông. Mình căng mắt ra nhìn vào lề đường với hy vọng túm được chú cảnh sát nào đó đang núp lùm. Nhưng hỡi ôi, cây thì nhiều nhưng toàn là cây thưa lá, thì núp ở đâu. Nhưng mãi rồi cũng thấy có một chỗ khuất. Mình nhắc anh lái xe:

-Chầm chậm thôi anh, coi chừng lùm cây, chú ý cảnh sát…

Anh quay sang mình 1 giây như không hiểu gì rồi lại chăm chú vào tay lái.

Mãi rồi quen. Đúng là ở Mỹ, họ không cho cảnh sát đứng đường thật. Mà không cho đứng đường thì làm gì có thu nhập thêm. Không có thu nhập thêm thì làm sao khuyến khích được sự tận tụy của nhân viên cộng lực. Cảnh sát sẽ sinh ra trễ nải với công việc thì bảo vệ chế độ làm sao. Lẽ ra phải có chính sách kích thích họ sao cho ngày nghỉ cũng tranh nhau đi làm nhiệm vụ, lăm le trực thay đồng nghiệp khi đồng nghiệp mới chỉ nhức đầu, sổ mũi. Chiến sĩ không có thu nhập thêm thì lấy chi cống nạp, sếp tiêu bằng cái gì ngoài lương, chỉ đạo cấp dưới phá án làm sao mà sáng suốt được. Ở Việt Nam, ấy chết, nói nhầm, ở nước khác á, điều một cảnh sát ra đứng đường sếp thu ít ra cũng dăm nghìn đô. Tiêu hết, sếp lại “luân chuyển cán bộ”, thu thêm. Mới biết Mỹ to xác nên ngờ nghệch, làm sao nghĩ ra được những cái mẹo ấy.

Cảnh sát đã vậy còn tình hình dân phòng cũng không khá hơn. Vào các khu thương mại và ở cả những chỗ hàng quán quây ra vỉa hè nữa, chẳng thấy dân phòng vung vẩy dùi cui đuổi chợ. Mà lực lượng này cần gì phải trả lương vì nó tự trang trải được. Nó đói thì bắt trứng lộn, trái cây mà ăn, khát thì bắt cô ca, pep si mà uống, no rồi thì chia nhau mang về cho vợ tuồn sang chợ khác. Hôm nào dân sợ quá, không dám bày hàng ra, không thu được gì thì cũng giải quyết được khâu oai, tăng cường nỗi sợ hãi từ dân đối với chính phủ. Không nuôi dưỡng lực lượng này, nếu có biến xảy ra thì huy động sao đây. Cái đám lúc nhúc ấy, nếu sử dụng vào việc dẹp biểu tình, giải tán đám đông, cưỡng chế đất cũng được việc đáo để chứ.

Mình nhập cảnh vào Mỹ cũng chẳng ai thèm để ý. Ít ra, mình cũng từ nước cộng sản sang nước đế quốc. Cộng sản với đế quốc là kẻ thù của nhau, một mất một còn. Mặc dù kiểm tra an ninh rất kỹ, không phát hiện ra vũ khí, vật dụng kim loại nhưng làm sao biết đầu óc mình đang nghĩ gì. Lẽ ra, ngay từ sân bay, họ phải cho người theo dõi xem thằng cha Việt cộng ấy hành tung ra sao, ẩn náu ở đâu, móc nối cấu kết với thế lực thù địch nào chứ.

Hai ngày đầu tiên, mình được bố trí ở một nhà ngoại thành. Chủ nhà giành cho mình một phòng riêng, đầy đủ tiện nghi. Mỗi lần ra khỏi phòng, mình chỉ khư khư tấm hộ chiếu như lá bùa hộ mệnh, lại còn kẹp sẵn hai tờ 20 đô la vào nữa, phòng khi công an hay tổ trưởng dân phố đến hỏi thì nhanh nhảu trình ngay để gây thiện cảm.

Chiều tối, mọi người đến chơi đông lắm. Nhưng mình miệng vẫn nói chuyện còn lòng dạ thì không yên. Nhớ hôm nhà mình tụ tập đông người, nhờ có “tai mắt của nhân dân” mà bọn chúng biết Thúy Nga đang ở đây nên mới mai phục đánh cho mẹ con Nga một trận khi mới ra khỏi nhà mình chừng dăm phút. Nghĩ thế, thỉnh thoảng mình ra ngoài nhìn quanh xem có thấy hàng xóm rình rập gì không. Khách đến chơi, ô tô để đầy phía trước tức là rất bất thường sao lại không có người rình cơ chứ. Phát hiện thấy một phần tử người nước ngoài, lại thuộc quốc gia cộng sản đang ẩn náu ở đây mà trình báo, nếu không được thưởng thì cũng tăng thêm uy tín với chính quyền. Nơi mình sống, nhà nào có người làm cán bộ chính quyền, công an, hay dân phòng thì tự hào và yên tâm lắm, khối người nhờ vả. Nếu không có thì tìm cách quen thân. Nhà mình không thân được ai nên đành chịu.

Cuối cùng, mình lén chốt chặt cửa lại nhưng thỉnh thoảng vẫn đánh mắt ra phía ngoài, chỉ sợ công an đến kiểm tra đột xuất. Nghĩ lại hôm 25/9/2013 công an phá cửa nhà mình xông vào bắt Phương Uyên rồi bắt luôn cả 9 người khác mà kinh hãi đến tận bây giờ. Nhỡ ra công an Mỹ lấy lý do kiểm tra hộ khẩu, xông vào bắt mình nện cho một trận rồi tống lên máy bay áp giải về Việt Nam thì hỏng hết việc, chưa ra trận mà đã thành tù binh.

Khách đã về hết, chỉ còn mình với chủ nhà. Lúc này đã 10 giờ nhưng không thấy anh có vẻ gì lo đến việc khai báo lưu trú. Định nhắc, lại sợ anh cho mình là nhà quê. Đành gợi ý khéo bằng cách tỏ ra rằng mình có thể là đối tượng cảnh sát quan tâm để anh đừng quên việc trình báo, mình bảo:

-Ngày xưa tôi có 5 năm ở chiến trường…

Có vẻ như anh chẳng để ý gì, mình tỏ ra nguy hiểm hơn:

-Tôi ra trận, đánh nhau hăng lắm, cũng được mấy danh hiệu dũng sĩ.

Nhưng anh chỉ bảo:

-Từ chiều đến giờ, mải nói chuyện, anh chưa ăn, tôi làm cái gì cho anh ăn nhé.

Mãi rồi mình cũng biết, ở đây không có qui định khai báo tạm trú lưu trú gì ráo trọi. Tóm lại, hộ chiếu của mình chỉ phải chìa ra mấy lần khi xuất, nhập cảnh, ngoài ra chẳng ma nào thèm hỏi đến. Quản lý lỏng lẻo thế này, làm sao tránh khỏi thế lực thù địch trà trộn vào dân phá hoại cơ chứ.

Tuy vậy cái dở nhất của nước Mỹ là làm cho dân nhờn. Quốc hội gì mà ai ra vào tùy thích, sao tránh khỏi mất thiêng. Lại còn rồng rắn mang theo mỗi người cốc cà phê hay nước uống vào Quốc hội nữa chứ. Đi cũng uống, ngồi cũng uống, mỏi tay thì để cả lên bàn toàn tài liệu, chẳng ra cái vẻ uy nghiêm của cơ quan quyền lực cao nhất nước gì cả. Không có hàng rào cảnh sát gườm gườm, đầy sát khí mỗi khi thấy ai có vẻ dân thường mon men đến gần. Mình ra vào nhà Quốc Hội mấy lần, chỉ họ thấy kiếm tra xem những thứ mang theo có gì có thể gây ra nguy hiểm thôi chứ hoàn toàn không kiểm tra giấy tờ xem là ai, quan hay dân thường, có ai là đối tượng theo dõi không, chủ quan đến thế là cùng.

Hôm đầu, mình cứ nem nép đi theo mấy cháu, thấy chúng nó vào đâu, mình mới dám vào. Sau quen dần, mình xông khắp nơi, vào cả phòng tổng thống cầu nguyện, đứng ở nơi tổng thống tuyên thệ nhậm chức chụp ảnh, chụp chán rồi nằm khèo lên đi văng hóng cái không khí thoáng đãng, chẳng thấy ai thèm nhắc nhở

Buổi điều trần ở quốc hội, khi một ông nghị phát biểu, mình thấy bà Sanchez đứng nép sang một bên vui vẻ chờ đến lượt mình. Nghe nói bà có nhiều người giúp việc, thế mà không có đứa nào chạy đi bê ghế xun xoe đặt vào mông bà. Nếu ở ngoài trời chắc cũng chẳng đứa nào chịu cầm ô che. Hình như đám giúp việc chẳng hãi bà tí nào, chẳng sợ bà đuổi việc hay sao ấy.

À, còn ở Hollywood, dân chúng nặn cả tượng tổng thống đương nhiệm bằng sáp mới táo tợn chứ. Obama đứng, cười nhăn nhở, chìa tay ra cho ai muốn bắt thì bắt. Nhạo báng lãnh tụ đến thế là cùng, hỏi sao dân không nhờn. Mình bắt tay chụp hình xong, xoa đầu gã một cái để thử phản ứng nhưng không thấy cảnh sát nào chạy đến xốc nách dong đi.

Tóm lại, ở Mỹ, hệ thống chuyên chính vô sản, à quên, chuyên chính… tư sản tê liệt, không thấy hoạt động, quan và dân đều như nhau, thậm chí quan còn khổ hơn. Đó là điểm yếu chết người của Mỹ. Nếu không biết làm cho dân sợ thì sao tránh khỏi chuyện biểu tình không theo định hướng, rồi cứ đà này, dần dần dân chúng nó lật nhào chế độ lúc nào không biết ấy chứ.

21/6/2014
NGUYỄN TƯỜNG THỤY
http://www.rfavietnam.com/node/2093

huynhngocchenh.blogspot.de

Nhân bài viết của blogger Việt Cộng Nguyễn Tường Thụy cảnh báo về nguy cơ mất nước của đế quốc Hoa Kỳ, xin chia sẻ một bài cảnh báo tương tự của một blogger Trung Cộng:

HOA KỲ – MỘT QUỐC GIA NGU NGỐC VÀ LẠC HẬU

Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại ! Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách tới được cái xứ sở siêu cường đó.

Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến là rất đáng thất vọng !

1. Công nghiệp

Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển !

Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.

Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói,nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi. Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa ! Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này, tịnh không có một cái ống khói nào ! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí ti để trang trí nhà cửa thôi !

Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông ! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa ! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả !

2. Kinh tế

Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế ! Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào ! Thế là mất toi cả núi vàng!

Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ ! Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ !

Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào !

3. Xây dựng

Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm.Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông ở nước Mỹ. Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu khác.

Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà Thanh xưa kia ấy chứ !

4. Văn hóa

Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.

Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không ? Thế đấy !

Ở nước ta, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi – còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. ( Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức).

Hồi đó người ta chuộng lối sống “ đạo đức giả ”nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa. Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả !

5. Ẩm thực

Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.

Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. Thế mà chính quyền đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy !

Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền ! Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai !

6. Phong cách

Người Mỹ làm như không biết tự trọng !

Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài , họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. Giáo sư D chẳng hạn, là một giáo sư tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm !

Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ PhD. lên danh thiếp của mình. Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây !

Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy ! Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy !

7. Học đường

Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất.

Chúng không hề có ý định đi học để trở thành ông này bà nọ trong chính quyền! Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, ủy viên tương lai, như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ.

Trường học ở Mỹ chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách , sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. Trở thành công dân có đủ tư cách ư ? Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao !

8. Y tế

Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh.

Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. Rồi cầm toa đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng …ôi chao mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc …Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc … mà lẽ ra nên tách rời lợi nhuận với trách nhiệm ! 
Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không biết kiếm tiền mà ! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ ? … chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá cao gấp cả chục lần cơ mà ! Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết khai thác , rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ chết rồi !

9.Báo chí

Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao !

Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ . Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này : Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à ? Nghe mà bực !

Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ . Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám “ chưởi ” cả tổng thống nữa cơ đấy! 
Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ !

10. Tâm linh

Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo.

Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu thánh nghe hết sức khờ khạo : Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ.

Thật là buồn cười quá đi : Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này ? Cầu Chúa có ich lợi gì chứ ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng !

Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ !

11. Lối sống

Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian .

Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi … Còn người Trung Quốc chúng ta – như bạn biết đấy – khôn hơn nhiều !

Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ ! Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa.

Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ !

12. Mua bán

Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức vô lý : bạn có thể trả lại hàng vài tuần sau khi mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ !

13. An toàn

Nước Mỹ không an toàn ! Tôi nói điều này bởi có tới 95 % nhà dân không cần tới lưới chống trộm, và điều kỳ lạ này nữa là : chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ ?

14. Giao thông

Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết !

Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95 % tài xế không dám vượt đèn đỏ !’

Và mặc dầu 99 % dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ : bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, làm sao mà bì được phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ !

15. Tình cảm

Người Mỹ rất là thiếu cảm xúc .

Có tới 95 % nhân viên không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. Ở Trung Quốc liệu có ai điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không? Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không ? Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình thương mến thương với lãnh đạo !

16. Nhạy bén

Người Mỹ không nhạy bén chút nào !

99% người Mỹ đi học, đi làm , thăng quan tiến chức, mà không hề biết sự cần thiết của “ phong bì ” để có thể mở ra một cánh cửa ..sau !

Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ

 

Posted in Du Lich | Leave a Comment »

►CIA Đã Lặng Lẽ Mở Trụ Sở Tại Hà Nội -VN Đồng Ý Vịnh Cam Ranh Sẽ Đón Tàu Mỹ…chỉ là ảo tưởng

Posted by hoangtran204 trên 21/06/2014

Đã 3 năm trôi qua, dường như 2 sự kiện dưới đây đã không có gì tiến triển hay đã không xảy ra.

Mà thực tế, Trung Quốc đã  vào chiếm Biển Đông, kéo giàn khoan HD981 vào khoan dầu khí ở Hoàng Sa, xây dựng biến dãi đá ngầm Gạc Ma thành đảo nổi để thiết lập sân bay chiếm các đảo còn lại trong quần đảo Trường Sa.  

Lý do như thế nào mà TQ ngang nhiên như vậy? Trả lời: Đảng CSVN vẫn thần phục Trung Cộng.  Họ lãng tránh Hoa Kỳ, họ sợ đảng mất độc quyền cai trị VN, họ muốn nhường ngôi vị lại cho 6 Hạt Giống Đỏ: Cha truyền con nối « Trần Hoàng Blog.

Các bạn coi lại các lời phát biểu của Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh năm 2010, 2011, 2012, 2013, và 2014: giữ vững mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc; quyết giữ mối quan hệ 4 tốt, 16 chữ vàng…

CIA Đã Lặng Lẽ Mở Trụ Sở Tại Hà Nội

Vietbao.com

22/03/2011 (Xem: 28543)
-CIA Đã Lặng Lẽ Mở Trụ Sở Tại Hà Nội
-VN Đồng Ý Vịnh Cam Ranh Sẽ Đón Tàu Mỹ
HANOI/WASHINGTON (VB) — Một cách lặng lẽ, hai chính phủ Mỹ và Việt Nam đang kết thân hơn, trong đó có những dấu hiệu không được loan tin nhưng đầy minh bạch: cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA đã mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội, và chính phủ VN nói với Hoa Kỳ rằng Vịnh Cam Ranh có thể mở cửa đón tàu chiến Mỹ.
Các thông tin trên đăng trên bài viết nhan đề “A long reconciliation” (Một cuộc hòa giải lâu dài) của Richard Halloran trên báo Honolulu Star-Advertiser ngày 20-3-2011.
Bài báo cho biết Đaị Sứ Lê Công Phụng đã bay tới Hawaii mới 10 ngày trước để họp với Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Vùng Thái Bình Dương, Đô Đốc Robert Willard, và mang thông điệp ngắn gọn, “Coi chừng Trung Quốc.”
Trong ngôn ngữ ngoaị giao hơn, theo lời tiết lộ của các viên chức Mỹ và Việt, ông Phụng nói, “VN và Hoa Kỳ nên hợp tác để chống lại việc TQ tranh lãnh thổ, lãnh hải và lộ ý đồ cản trở thông thương vùng Biển Đông.”
Đô Đốc Willard, người có nhiệm vụ an ninh vùng Biển Thái Bình Dương và giữ quan hệ quân sự với TQ (và sẽ ngăn cản TQ nếu quan hệ này bất ổn), được kể là đón nhận rõ ràng lời của ông Phụng.
Để nhấn mạnh quan hệ an ninh VN-Mỹ, Không Đoàn 13 tại căn cứ không quân Hickam nơi đây dự định đưa một đơn vị công binh tuyến đầu có tên là “Red Horse” (Hồng Mã) sang VN mùa hè này để làm việc với công binh VN trong việc tái thiết trường học và bệnh viện.
Các viên chức Mỹ cũng tiết lộ về kế hoạch Không Quân Mỹ và các binh chủng Mỹ khác sẽ quan hệ với các đơn vị không tác chiến của VN, rồi từ từ tập trận huấn luyện cho các đơn vị tác chiến. Cụ thể, quân đội Mỹ muốn sử dụng các căn cứ không quân tại VN.
Lực Lượng Mỹ Thái Bình Dương dự định đưa các đại diện khác từ VN và từ các nước Đông Nam Á khác vào một khóa thực tập về đáp ứng thiên tai. Kế hoạch sẽ mở rộng các khóa thực tập như thế trong 2 năm tới. Quân lực Mỹ cũng dự định yểm trợ các toán công binh và y tế trong các dịch vụ khác.
Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng, nơi đã gửi khoảng nửa tá tàu chiến sang thăm các hải cảng VN các năm gần đây, dự định mở một hội nghị với các cấp chỉ huy tương nhiệm vào mùa xuân này để thu xếp thêm các chuyến tàu chiến Mỹ thăm VN. Trong một quyết định có tính đột phá, Việt Nam báo rằng hải cảng ở Vịnh Cam Ranh sẵn sàng mở ngõ đón tàu chiến hải quân nước ngoài.
Hình ảnh một hàng không mẫu hạm trang bị vũ khí nguyên tử, nặng 90,000 tấn, vào Vịnh Cam Ranh sẽ là biểu tưoọng minh bạch của sự hòa giải Mỹ-Việt, vì vịnh này là nơi hải quân Mỹ trú đóng thời chiến tranh. Việc taù chiến Mỹ vào Cam Ranh cũng là dấu hiệu cho các nước Châu Á rằng Mỹ muốn giữ an ninh khu vực và nhắc TQ rằng Mỹ sẽ là một đối thủ khổng lồ.
Năm ngoái, phi cơ từ mẫu hạm USS George Washington đã chở nhiều lãnh tụ quân sự và chính trị VN bay ra tàu chiến đậu ngoaì khơi. Mẫu hạm USS John Stennis cũng làm như thế trước đó cùng năm, cả 2 lần đều bị Bắc Kinh phản đối vì nói rằng vi phạm vùng Biển Đông của TQ.
Nhưng dấu hiệu rõ nhất là việc mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội bởi sở tình báo Mỹ CIA. Không ai nhầm lẫn nữa về các dấu hiệu hợp tác về an ninh.

———–

Sau khi có tin trên, năm sau, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta đích thân đến đánh giá vị trí chiến lược quân cảng Cam Ranh 6/2012. Ông muốn chứng kiến Vịnh Cam Ranh như thế nào mà các nhà hàng hải Bồ Đào Nha thế kỷ 16 từng viếng thăm và kéo dài trong hơn 3300 năm sau đó cho đến khi hạm đội Nga sang đánh Nhật (1905). Nga đi vòng từ Âu châu, sang Ấn Độ Dương, qua Singapore, vào vịnh Thái Lan, qua Mũi Cà Mau, rẻ trái, và chạy dọc lên phía Bắc, qua đánh Nhật. Nhưng bị bão, phải ghé vào Vịnh Cam Ranh trú ngụ chờ cho bão tan. Ngũ Giác Đài đã nhìn thấy sự quan trọng của Vịnh Cam Ranh 1944. 1965, khi Hạm Đội 7 đóng căn cứ ở Cam Ranh, Trung Quốc không dám bén mảng và đụng tới Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa…

Việt Cộng làm tay sai cho TQ và LX để sống còn, nên đã thiết lập đường mòn HCM từ 1959 để chuyến 90.000 quân vào Miền Nam, và đã tuyên truyền  (1960) “đánh cho   Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”; thực ra, năm 1960 chỉ có hơn vài trăm cố vấn Mỹ ở Miền Nam. 

Khi Mỹ rút, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa 1974. Liên Xô vào Cam Ranh 1976 và rút ra khi hoàn toàn kiệt quệ tài chánh 2003. Ngày nay, Nga cũng vẫn muốn thuê lại Vịnh Cam Ranh  2013, để đề phòng Trung Cộng đánh úp qua biên giới giữa Nga với TQ.  Ngược laị,  đảng csVN  ngu muội đến mức tin rằng: nếu giữ quan hệ hữu nghị với TQ, thì nó không đánh VN! Và  VC  bám vô đó để sống còn. Đây chỉ là cớ ngoài mặt. Thật ra, ông HCM, Lê Duẩn,  đã trao đổi Biển Đông, HS, TS cho Trung Quốc hồi 1950 để lấy vũ khí quân dụng và mời bộ đội TQ sang đánh Pháp chiếm Điện Biên Phủ 1954, và miền Bắc 20-4-1954; và “giải phóng miền Nam” 1975. 

Trung Cộng đánh Việt Cộng 1979, sau khi rút về đã chiếm hàng chục ngàn km vùng biên giới của VN. Kế đó, TQ làm thịt chiếm dần toàn bộ Hoàng Sa trong thập niên 1980s, và chiếm Trường Sa 1988. Nhưng lạ lùng thay, đảng CSVN và nhà nước KHÔNG dám lên tiếng, mà im lặng coi như là sự mặc nhiên các đảo HS và TS là của Trung Quốc! Vậy là giữ 2 đứa nầy đã có mật ước rồi chứ còn gì nữa nên mọi chuyện cứ tuần tự tiếp diễn, đảng CSVN và nhà nước VN không thắc mắc, không phản đối tất cả các sự chiếm đóng của TQ vào biển đảo và biên giới VN từ 1956 cho đến 4/2014. Nhà nước VN chỉ  lên tiếng nhỏ nhẹ sau khi TQ khoan dầu ở Biển Đông 2-5-2014. Việt Cộng chuyên dùng bạo lực sắt máu, giết người không gớm tay, mà nay lên tiếng nhỏ nhẹ thì điều đó có nghĩa là ĐANG BỊ TRUNG CỘNG nắm tóc. Đừng quên, lý thuyết của đảng csvn là bạo lực, dùng du kích để đánh nhau, chỉ cần 5-10 du kích VC họ cũng tấn công những căn cứ quân sự lớn ở miền Nam (như trong chiến tranh VN.) 

Cho mãi tới gần 8 năm qua khi dân chúng VN có internet, thì mọi chuyện vở ra, dân chúng từ Bắc chí Nam ai cũng biết, lức nầy thì đảng và nhà nước không còn dấu giếm được nữa.  

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm vịnh Cam Ranh

Trưa 3.6, hai chiếc chuyên cơ đã đưa ông Leon Panetta – Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cùng đoàn tùy tùng đáp xuống sân bay Cam Ranh, bắt đầu chuyến thăm VN trong 3 ngày.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm vịnh Cam Ranh
Ông Panetta phát biểu trước các thủy thủ – Ảnh: Trần Đăng

Lần đầu tiên, sân bay quốc tế Cam Ranh đón hai chiếc chuyên cơ mang cờ Mỹ. Ông Panetta đã bay thẳng từ Singapore sau khi kết thúc Hội nghị an ninh châu Á (Đối thoại Shangri-La) ngày 2.6. Có hơn 10 hãng thông tấn của Mỹ và một số nước như: Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản cùng rất đông nhà báo của VN tham gia đưa tin sự kiện này.

Thiếu tướng Nguyễn Công Sơn, Phó chánh văn phòng Bộ Quốc phòng VN đã đáp máy bay từ Hà Nội vào đón và đưa đoàn ra cảng Ba Ngòi thăm tàu USNS Richard E.Byrd đang neo đậu để sửa chữa tại đây.

Ở tuổi 74 nhưng ông Panetta vẫn còn khỏe khoắn để bước lên chiếc tàu của hải quân Mỹ, làm nhiệm vụ hậu cần, chuyên cung cấp lương thực, thực phẩm cho các tàu quân sự của Mỹ đang hoạt động trên Thái Bình Dương. Chiếc tàu USNS Richard E.Byrd đã vào vịnh Cam Ranh cách đây ít lâu và đang được những kỹ sư và thợ máy của cả hai phía VN và Mỹ sửa chữa với số tiền được tiết lộ là 400.000 USD. Dự kiến, trong tháng 6 này, chiếc tàu thứ 3 này của quân đội Mỹ ghé vịnh Cam Ranh trong năm nay sẽ nhổ neo.

Không ràng buộc bởi quá khứ

Trong bộ thường phục với quần kaki, áo sơ mi, mũ lưỡi trai, ông Panetta ra dáng một ông già đi thư giãn trên biển ngày cuối tuần hơn là người đứng đầu Lầu Năm Góc. Phát biểu trước hàng trăm thủy thủ và quan khách hai bên Mỹ – Việt có mặt trên tàu, ông Panetta biểu dương những cống hiến hết lòng của các công dân Mỹ tại đây đồng thời thông báo một số thông tin mà ông tham dự từ cuộc Đối thoại Shangri-La vừa qua tại

Singapore.

“Đây là một ngày lịch sử của Mỹ. Tôi là Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Mỹ thăm vịnh Cam Ranh kể từ khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Mới tuần trước đây, tôi đứng trước Đài tưởng niệm chiến tranh VN tại Mỹ để kỷ niệm ngày kết thúc chiến tranh tại VN, còn hôm nay, tôi có mặt tại vịnh Cam Ranh này để đánh dấu 17 năm bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và VN. Việc có mặt của tôi tại đây là sự ghi nhận quan hệ đối tác giữa hai nước. Giữa chúng ta đã có một quá khứ với những mối quan hệ vô cùng phức tạp, nhưng chúng ta sẽ không muốn bị ràng buộc bởi quá khứ đó mà phải biết hướng về phía trước. Biên bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng mà hai bên đã ký hồi năm ngoái là biểu hiện cụ thể của sự hợp tác mà cả hai cùng mong muốn hướng tới”, ông Panetta nói.

Ông cũng kỳ vọng rằng sẽ đưa quan hệ của hai nước đến mức cao hơn. Ngài bộ trưởng cũng bày tỏ sự cảm kích về sự hợp tác của VN trong việc tìm kiếm những quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh VN. “Chúng tôi tin rằng, sự hợp tác của phía VN trong vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích sẽ còn được tiếp tục, cho đến khi không còn một ai được cho là mất tích nữa. Không một ai bị bỏ lại phía sau”, ông Panetta khẳng định.

Cam Ranh như là điểm đến

Trả lời câu hỏi của các nhà báo vì sao không chọn các nơi khác của VN để đến thăm đầu tiên mà là Cam Ranh?

Ông Panetta nói: “Lần đầu tiên một Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ có mặt tại Cam Ranh kể từ sau khi kết thúc chiến tranh, tôi cho rằng đó là một sự kiện rất quan trọng, nó chứng tỏ mối quan hệ giữa VN và Mỹ đã được cải thiện rất nhiều.

Tôi sinh ra và lớn lên tại một vùng biển như thế này nên đến Cam Ranh như là được trở về với những gì quen thuộc của mình. Đến đây để tận mắt chứng kiến sự hùng vĩ và tuyệt đẹp của vịnh Cam Ranh như chính sự phát triển của đất nước VN vậy”.

Ông Panetta đã “văn vẻ” khi chứng kiến vịnh Cam Ranh trong cái nắng như đổ lửa mà vẫn lộng gió trời, nhưng ông cũng không giấu giếm khi nói rằng, chiến lược mới của Mỹ là chuyển hướng sang Thái Bình Dương mà Cam Ranh như là một trong những điểm đến.

Ông bày tỏ mong muốn: “Một nguyên tắc khác trong chiến lược mà tôi có đề cập tại Đối thoại Shangri-La là Mỹ đang tái cân bằng lực lượng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong tương lai khoảng 60% lực lượng quân đội Mỹ sẽ được chuyển đến khu vực này. Vì lý do đó, sẽ rất quan trọng khi chúng tôi làm việc với các đối tác như VN để có thể sử dụng các cảng như cảng Cam Ranh khi đưa các tàu đóng tại bờ Tây đến khu vực Thái Bình Dương”.

Có lẽ lịch trình tại VN quá “kín”, sau khi trả lời ngắn với báo chí, ông Panetta đã “thank you very much”.

14 giờ cùng ngày, ông cùng đoàn bay ra Hà Nội để hội đàm với người đồng nhiệm và chào các nhà lãnh đạo Việt Nam, sau đó tiếp tục chuyến công du đến Ấn Độ vào ngày 5.6. Vậy là, dự định thăm Học viện Hải quân cũng như đi một vòng quanh vịnh Cam Ranh của ngài bộ trưởng cũng đành phải gác lại.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm vịnh Cam Ranh
Tàu USNS Richard E.Byrd đang neo đậu để sửa chữa tại vịnh Cam Ranh 

Trần Đăng (báo Thanh Niên)

———–

Châu Á Đứng Dậy và ở đây  (2009)

(21-11-2011)

Mỹ sẽ đưa 2 trong 4 chiến hạm cận duyên tối tân nhất của Hải Quân tới đặt căn cứ tại Singapore. 

Trích: “Các chiến hạm cận duyên (Littoral) là một trong những tàu chiến hiện đại nhất trong hạm đội của Hải quân Mỹ và có thể được trang bị một loạt các nhiệm vụ, từ việc chống hải tặc tới nhiệm vụ theo dõi tàu ngầm, và các cuộc hành quân đặc biệt. Các chiến hạm này được thiết kế để hoạt động trong các vùng nước nông dọc theo bờ biển và di chuyển với vận tốc hơn 74 km/ giờ.*”

Mời đọc tiếp tại 

Vì các các bộ Ủy viên Bộ Chính Trị của đảng CSVN và nhà nước quá tham lam. Họ không muốn đi với Mỹ vì đi với Mỹ thì phải cải thiện nhân quyền, cải tổ chính trị, tôn trọng tự do ngôn luận, đồng ý cho báo tư nhân được quyền xuất bản và đưa tin, chấp nhận đa đảng, và bầu cử tự do,… Những thứ mà đảng CSVN rất sợ, dẫu cho đã và đang cai trị VN liên tục 60 năm họ vẫn không có lòng tin là họ sẽ dành được lá phiếu của dân chúng để chiến thắng nếu có cuộc bầu cử cấp xã, huyện, tỉnh, thành phố…xảy ra. 

Họ muốn tiếp tục cai trị độc đảng, đàn áp dân chủ, không cho tụ do ngôn luận, bắt bớ bỏ tù bất cư ai có ý kiến khác biệt…bởi vậy,  họ không muốn có quan hệ ngoại giao sâu đậm với Hoa Kỳ. 

Đoán biết ý muốn trở laị Á Châu của Mỹ khi TT Obama đắc cử, Singapore cao tay hơn, đã hớt tay trên của VN, để đàm phán với Mỹ và cho Mỹ lập căn cứ quân sự tại Singapore. Kết quả, 2 chiến hạm cận duyên sẽ đóng căn cứ ở eo biển Malacca, chế ngự con đường đi vào Ấn Độ Dương của tất cả tàu bè của Trung Quốc; 3/4 đên 4/5 tổng số hàng hóa xuất nhập khẩu của TQ đều phải đi qua lối này. 11 triệu thùng dầu hỏa mà TQ nhập khâủ tiêu dùng hàng ngày phải đi qua hải lộ này. 

Những lãnh đạo đảng CSVN lại một lần nữa quá NGU DỐT, không nhận ra rằng: Nơi nào có Mỹ đóng quân, Trung Cộng và Nga không dám bước vào tranh chấp; 2 nước cộng sản này chỉ dám núp trong bóng tối quấy nhiễu, không dám ra mặt đụng độ. 

Đối với đất nước và dân tộc, Việt Cộng ngu dốt đã đành vì không nghĩ tới quyền lợi của quốc gia dân tộc. Nhưng với sự khôn lỏi của những người ít học, và cái tham lam của những kẻ có cái quá khứ nghèo khó, họ muốn có cái trước mắt, họ muốn nắm quyền cai trị VN mãi mãi, họ sẽ không hợp tác với Mỹ. Họ muốn con cái họ kế vị và tiếp tục nắm quyền cai trị VN. 

Còn Mỹ là nước có dân chủ, có luật pháp, họ sẽ không bao giờ hợp tác về quốc phòng với 1 nước độc đảng cai trị, và lại là một nước cộng sản như VN. (Lâý Ba Lan là thí dụ điển hình.) 

———–

19-6-2014

Muốn Thắng phải có cái lý của kẻ mạnh

Tiến sĩ Vật Lý Nguyễn Thanh Giang- (Hà Nội)

Mồng 2 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Hoàng Sa, mở đầu một bước xâm lăng mới đối với Việt Nam. Gần 50 ngày đã qua, những biện pháp đấu tranh hòa bình của ta không đem lại kết quả gì, Trung Quốc vẫn không ngừng lấn tới:

– Khoan xong điểm cách đảo Tri Tôn 34 km về phía nam, cách đảo Lý Sơn 221 km về phía đông, Trung Quốc lại lững thững đưa giàn khoan đi cắm cách đó hơn ba mươi hải lý, vẫn trong thềm lục địa thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế của ta.

– Từ chỗ chỉ huy động 80 tầu thuyền các loại, nay Trung Quốc đã cho tung hoành ngang dọc trên vùng biển quanh HD 981 140 tàu, gồm tàu quân sự, tàu hộ vệ tên lửa, tàu đổ bộ, máy bay chiến đấu …

– Trung Quốc đang huy động toàn lực để đóng giàn khoan Hải Dương 982 tại nhà máy đóng tàu Đại Liên trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu CSIC. Ngay trong bản thuyết minh thiết kế người ta đã ghi rõ HD 982 sẽ được sử dụng tại Biển Đông, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa. Với hệ thống định vị bằng hệ định động học cấp 3, HD 982 có thể chống chịu được những trận bão khủng khiếp nhất trong 200 năm qua tại vùng biển này. Ngoài Hải Dương 982, theo dự kiến còn có thêm HD 983 và HD 984 sẽ đựoc bàn giao vào tháng 9, tháng 10 năm 2015 và tháng 8 năm 2016.

– Ngày 5 tháng 6 năm 2014, Trung Quốc cho khởi công xây dựng sân bay trên đảo Gạc Ma đã chiếm của ta năm 1988. Khi sân bay này đi vào hoạt động, họ sẽ xác lập vùng nhận diện phòng không của Trung Quốc, chiếm luôn cả vùng trời của ta ở đó.

– Ngày 14 tháng 6 năm 2014 Trung Quốc làm lễ động thổ xây dựng trường học và bệnh xá trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa. Cách nay hai năm, Bắc Kinh đã thiết lập một đơn vị hành chính mới là thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây được xem là thành phố cực nam của Trung Quốc với số dân là 1.443 người. Chính quyền thành phố Tam Sa ra thông cáo cho biết trường học này sẽ được hoàn thành trong 18 tháng.

Vậy là họ cứ lấn tới và sẽ còn lấn tới mặc dù ta đã chịu nhịn hết mức. Thậm chí ta đã chịu nhục!

(Nghe nói Nguyễn Phú Trọng đã hai lần đề nghị gặp Tập Cận Bình nhưng đều bị khước từ. Sao Nguyễn Phú Trọng lại làm thế! Đánh có chắc thắng thì mới động binh. Trên chính trường ngoại giao, có chắc được nắm tay thì mới chìa tay. Ở đây biểu lộ óc phán đóan của Trọng rất kém. Yếu tố mạo hiểm chỉ cho phép đối với người làm khoa học. Làm chính trị thì không được. Nguyễn Phú Trọng làm nhục quốc thể! Không biết ông ta xin gặp TCB để làm gì? Trong tình thế này người bình thường cũng có thể biết chắc chắn gặp chẳng giải quyết được gì. Chẳng lẽ gặp để xin? Xin người có lương tri may ra còn được. Xin bọn bần tiện, tham tàn, vô lương thì xin sao được. Nhớ lại, cách đây mấy năm, dự cảm vấn đề Biển Đông sẽ trở thành đại quốc sự, Quốc hội đề nghị cho nghe báo cáo để cùng bàn thảo. Sự kiện Nguyễn Phú Trọng gạt đi và nói “Vấn để Biển Đông không có gì mới” chỉ có thể được nhận thức theo hai giải đoán. Hoặc do Nguyễn Phú Trọng quá đần độn, không có khả năng tư duy, không có khả năng phán đóan. Hoặc ông ta là nội gián của Trung Quốc. Để một người như vậy tiếp tục trị vì Đảng, trị vì Đất nước thêm một ngày thì hậu quả sẽ tai hại khôn lường. Trả giá cho những hậu quả đó có thể không chỉ là sự tụt hậu, sự nghèo khổ của Đất nước mà cả núi xương sông máu lại sẽ phải đổ ra. Nếu ngày ấy Nguyễn Phú Trọng để cho Quốc hôi được bàn bạc dân chủ, công khai thì rất có thể tình hình Biển Đông không xấu đến như bây giờ. Thật đáng giận. Nguyễn Phú Trọng rất đáng bị xử tội).

Lý lẽ của ta rất xác đáng, chứng cứ xác định chủ quyền của ta đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông hoàn toàn đủ sức thuyết phục lương tri cộng đồng nhân loại, nhưng Trung Quốc đã bỏ ngoài tai và chắc chắn sẽ tiếp tục dầy xéo lên tất cả.

Vì sao vậy? Một là, vì bản chất Đại Hán vốn cuồng bạo, tham tàn, vô liêm sỉ. Hai là, vì trên chiến trường Biển Đông lực lượng của ta quá mỏng so với họ.

Ta có cái thế của lẽ phải, của công lý nhưng lực quá yếu nên dù cố níu giữ hòa bình để chỉ đấu lý ta cũng không thể nào thắng được. Lý thắng bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh (La raison du plus fort est toujour la meilleur).

Hiện nay lực của ta yếu không chỉ vì nước ta nhỏ hơn, dân ta ít hơn mà còn vì khối đại đoàn kết dân tộc đã bị ĐCSVN dày vò tan nát do:

– Những chủ trương, chính sách sai lầm, phi nhân tính đã gây nên óan thù chất chứa trong lòng những người đã bị đánh bật khỏi Tổ quốc.

– Hậu quả của CCRĐ, Nhân văn Giai phẩm, Xẻt lại Chống Đảng …. còn để lại những vết thương sâu trong lòng người.

– Những vụ cướp đất, cướp nhà … để phục vụ lợi ích nhóm đang tạo ra lớp lớp dân oan nuốt hận, dồn căm….

Càng nguy hiểm hơn là, ngày nay dân không còn tin mà căm ghét, khinh bỉ lãnh đạo.

Thế của ta cũng hầu như không có gì do ta vẫn giữ khoảng cách khá xa, nếu không muốn nói là, do bị Trung Quốc xúc xiểm, vẫn đối đầu với Hoa Kỳ. Những lãnh đạo chóp bu vẫn bắt thuộc hạ phải quán triệt tinh thần coi Trung Quốc là bạn, Hoa Kỳ là thù. Nói chung, họ tâm niệm: thà mất Nước chứ không chịu mất Đảng. Một số đã bị Trung Quốc mua bằng tiền, bằng ơn tác thành. Số ít còn luẩn quẩn với ý thức hệ, trong đó có kẻ chỉ vì ngoan cố với những lập luận đã được bảo vệ trong luận án tiến sỹ của hắn.

Tuy nhiên, thế và lực của ta sẽ hoàn toàn áp đảo được Trung Quốc nếu:

– Về đối nội, cải tạo triệt để những đường lối, chủ trương, chính sách sai lầm. Trước mắt, bỏ Điều 4 Hiến pháp, cho tự do lập Hội, Đoàn để xã hội dân sự có thể hình thành lành mạnh, từ đấy động viên và quy tụ được sức đóng góp của mọi cá nhân, mọi cộng đồng dân tộc trong và ngoài nứoc.

– Về đối ngoại, khẩn trương thiết lập liên minh toàn diện, trong đó có liên minh quân sự, với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Trong mấy bài viết trước, tác giả đã phân tích, trình bầy khả năng hiện thực hóa khối liên minh thần thánh này.

Giữa chừng bài viết hôm nay, bỗng xuất hiện một tin mới, được xem như một trong những tin vui lớn nhất lúc tuổi già của chúng tôi. Xin chép nguyên văn phần chính của bản tin đó:

“HANOI/WASHINGTON: Một cách lặng lẽ, hai chính phủ Mỹ và Việt Nam đang kết thân hơn, trong đó có những dấu hiệu không được loan tin nhưng đầy minh bạch: cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA đã mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội, và chính phủ VN nói với Hoa Kỳ rằng Vịnh Cam Ranh có thể mở cửa đón tàu chiến Mỹ.

Các thông tin trên đăng trên bài viết nhan đề “A long reconciliation” (Một cuộc hòa giải lâu dài) của Richard Halloran trên báo Honolulu.

Bài báo cho biết Đaị Sứ Lê Công Phụng đã bay tới Hawaii mới 1 ngày trước để họp với Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Vùng Thái Bình Dương, Đô Đốc Robert Willard, và mang thông điệp ngắn gọn, “Coi chừng Trung Quốc.”

Trong ngôn ngữ ngoaị giao hơn, theo lời tiết lộ của các viên chức Mỹ và Việt, ông Phụng nói, “VN và Hoa Kỳ nên hợp tác để chống lại việc TQ tranh lãnh thổ, lãnh hải và lộ ý đồ cản trở thông thương vùng Biển Đông.”

… Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng, nơi đã gửi khoảng nửa tá tàu chiến sang thăm các hải cảng VN các năm gần đây, dự định mở một hội nghị với các cấp chỉ huy tương nhiệm vào mùa xuân này để thu xếp thêm các chuyến tàu chiến Mỹ thăm VN. Trong một quyết định có tính đột phá, Việt Nam báo rằng hải cảng ở Vịnh Cam Ranh sẵn sàng mở ngõ đón tàu chiến hải quân nước ngoài. Hình ảnh một hàng không mẫu hạm trang bị vũ khí nguyên tử, nặng 90,000 tấn, vào Vịnh Cam Ranh sẽ là biểu tượng minh bạch của sự hòa giải Mỹ-Việt,vì vịnh này là nơi hải quân Mỹ trú đóng thời chiến tranh. Việc taù chiến Mỹ vào Cam Ranh cũng là dấu hiệu cho các nước Châu Á rằng Mỹ muốn giữ an ninh khu vực và nhắc TQ rằng Mỹ sẽ là một đối thủ khổng lồ. Năm ngoái, phi cơ từ mẫu hạm USS George Washington đã chở nhiều lãnh tụ quân sự và chính trị VN bay ra tàu chiến đậu ngoaì khơi. Mẫu hạm USS John Stennis cũng làm như thế trước đó cùng năm, cả 2 lần đều bị Bắc Kinh phản đối vì nói rằng vi phạm vùng Biển Đông của TQ.

Nhưng dấu hiệu rõ nhất là việc mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội bởi sở tình báo Mỹ CIA. Không ai nhầm lẫn nữa về các dấu hiệu hợp tác về an ninh”.

Nếu bản tin trên đây là thật thì ta rất có thể yên tâm. Đối với lũ tướng tuồng Đại Hán này, cứ già đòn thì sẽ non nhẽ thôi mà.

Liên minh Mỹ – Nhật, liên minh Mỹ – Phi, liên minh Ấn – Nhật, liên minh Úc- Nhật- Ấn đã và đang tích cực hình thành.

Liên minh quân sự giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và Nhật Bản được thiết lập nữa thì hẳn Trung Quốc phải bớt ngang ngược, hung hăng, cứ thế lùi lũi chui vào khuôn phép. Năm 1909 Trung Quốc từng nhảy vào định chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của ta đấy chứ. Đầu năm ấy, đô đốc Tàu Lý Chuẩn chỉ huy ba pháo thuyền đã đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm nhưng ngay sau đó phải cụp đuôi rút chạy khi đụng độ với quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được Chính quyền Pháp, đại diện cho Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý, thực thi chủ quyền tại quần đảo này.

Thực ra Trung Quốc không mạnh khi mà nền kinh tế nước họ đang trên bờ vực thẳm và nguy cơ vỡ các mảng Tân Cương, Tây Tạng đã nhỡn tiền.

Ta cũng không phải lo sợ về cuộc chiến đối với Trung Quốc nếu xẩy ra. Chỉ cần có những lãnh đạo tài ba, có tướng giỏi, ta có thể tổ chức cuộc chiến dưới dạng chiến tranh ủy nhiệm và chiến tranh cục bộ. Chiến tranh ủy nhiệm đã được đề cập trong bài “Bộ trưởng Quốc phòng chống lại Thủ tướng”. Chiến tranh cục bộ sẽ được diễn giải trong một bài khác. Tinh thần của nó là hạn chế để chiến tranh chỉ diễn ra ở Biển Đông và trên các đảo.

Phải chi họ bị thay thế. Trước mắt chỉ cần họ bớt lú lẫn, ngu xuẩn đi, Đất nước chắc chắn sẽ hồi sinh mạnh mẽ.

Hà Nội 19 tháng 6 năm 2014

Nguyễn Thanh Giang

Mobi: 0984 724 165

Email: thanhgiang36@yahoo.com

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Đỗ Thị Minh Hạnh vẫn còn ở trong tù- nhưng trước đó, quản giáo nói với gia đình hôm 15-6-2014 rằng: Hạnh đã có quyết định được trả tự do và trại giam đang làm thủ tục để Hạnh ra trại

Posted by hoangtran204 trên 20/06/2014

Câu nói của cựu TT Nguyễn Văn Thiệu về cộng sản luôn luôn đúng. Bất cứ nơi nào, oử đâu, trường hợp nào…đảng và nhà nước vẫn dối gạt được. Tin bọn này là chỉ có nước chết.

Bản lên tiếng của gia đình Đỗ Thị Minh Hạnh trước sự dối trá của nhà cầm quyền Việt Nam

Trần Thị Ngọc Minh

Kính gửi Ban Biên Tập Dân Luận,

Xin gửi quý vị bản lên tiếng của gia đình tôi về trường hợp con gái tôi là Đỗ Thị Minh Hạnh, kính nhờ trang báo phổ biến giúp.

Xin chân thành cảm ơn!

Trần Thị Ngọc Minh

Ngày 15 tháng 6 vừa qua, đúng lịch thăm nuôi, gia đình chúng tôi đã đến trại giam Thanh Xuân Hà Nội để thăm nuôi con gái là tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh Hạnh. Chúng tôi được quản giáo cho biết là Đỗ Thị Minh Hạnh đã có quyết định được trả tự do và trại giam đang làm thủ tục để Đỗ Thị Minh Hạnh ra trại.

Khi gặp Hạnh, Hạnh cũng cho biết đã nhận được thông tin đó từ quản giáo trại giam. Công an yêu cầu ký giấy tờ, nhưng Hạnh không ký vì Hạnh cho rằng Hạnh không có tội.

Sau khi rời trại giam về Hà Nội, gia đình cũng đã thông báo tin mừng này cho một số bạn bè thân thiết của Hạnh và gia đình. Vì vậy, gia đình chúng tôi đã nhận được hàng trăm lá thư chúc mừng Hạnh được tự do.

Rất đáng tiếc, đây là sự lừa dối trắng trợn của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phao tin về việc trả tự do cho con tôi để đánh lạc hướng dư luận trong nước và thế giới nhằm chấm dứt cuộc vận động của các Hội đoàn, các tổ chức quốc tế tranh đấu buộc nhà cầm quyền phải trả tự do cho con tôi.

Đến thời điểm này, con gái chúng tôi, Đỗ Thị Minh Hạnh vẫn bị giam giữ.

Chúng tôi tố cáo hành động lừa đảo của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trước dư luận.

Chúng tôi thông báo để các tổ chức quốc tế, các hội đoàn trong và ngoài nước biết và đề nghị tiếp tục tranh đấu buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trả tự do cho con tôi và hàng trăm tù nhân lương tâm khác đang bị giam giữ.

Thay mặt gia đình,

Trần Thị Ngọc Minh

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

►Công hàm 1958 Phạm Văn Đồng theo “lý giải” của Mặt Trận Tổ Quốc VN ( Lê Thiên viết bài phản biện) –

Posted by hoangtran204 trên 20/06/2014

Cập Nhật 19-6-2014:

 – TQ gởi lên LHQ và 193 nước: 5 tài liệu đính kèm cho thấy HS và TS là của Trung Quốc, và Bộ Giáo Dục VN in bản đồ và sách giáo khoa cho học sinh rằng: HS và TS là của Trung Quốc! Tuyên bố 4-9-1958 của Chu Ân Lai, và Công hàm trả lời của Phạm Văn Đòng 14-9-1958…Cần nhớ, năm 1958, ông HCM là chủ tịch nước, vừa là Tổng Bí Thư đảng, ông Lê Duẩn là Ủy viên Bộ Chính Trị….mọi việc làm của ông Phạm Văn Đồng không thể nào không có sự chấp thuận của Bộ Chính Trị và ông HCM…

– Năm nhận định về quan hệ Việt-Trung (1) (pro&contra/ Ba Sàm). “Mỹ có đối đầu Tàu vì Việt Nam không? Không! Người hùng giờ thấm mệt, thích chăm việc nhà và việc gần hơn lo việc thiên hạ quá xa. Tàu có đánh Việt Nam không? Đánh làm gì khi Tàu gần như đã có những gì họ muốn: một chế độ ngoan như tay sai, một lãnh thổ họ tha hồ tung hoành và đang từng bước trở thành thuộc quốc. Đảng có cứu nước không? Làm gì có, vì có quá nhiều dấu hiệu cho thấy Đảng đang hành xử như tay sai mẫn cán của Tàu, lo giữ ghế hơn lo giữ nước. Chỉ còn lại dân? Đúng! Khi dân là những người tự do, không sợ hãi, không bị ngoại bang bịt miệng trói tay. Họ đang đẩy dân vào thế bất tuân dân sự? Vâng! Và đây sẽ là cuộc đấu tranh: ngoài chống giặc ngoại xâm, trong chống bọn bán nước, giành lại cho dân quyền lực chính đáng của mình“.

 

Công hàm 1958 Phạm Văn Đồng theo “lý giải” của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Tác giả:  (viết bài phản biện)

Tình hình tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực Biển Đông càng ngày càng phức tạp và gay gắt do Trung Cộng không ngừng ngang ngược tuyên bố chủ quyền của họ trên hai quần đảo và khu vực ấy là điều không tranh cãi. 

Việc Trung Cộng xua quân bắn giết chiến sĩ hải quân VNCH để cướp đoạt Hoàng Sa năm 1974, rồi giết chết hải quân CSVN để chiếm cứ một vùng thuộc quần đảo Trường Sa vào năm 1988 đã làm cho người dân Việt Nam không còn kiên nhẫn chịu đựng được nữa.

Dân Hà Nội và Sài Gòn trong đó có cả nhiều nhân sĩ trí thức đã liên tục xuống đường thực hiện 8 cuộc biểu tình trong một thời gian ngắn (cuộc biểu tình thứ 8 diễn ra ngày 24/7/2011) chống cuộc xâm lăng của Trung Cộng, dứt khoát đòi “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.” Oái oăm thay! Nhà cầm quyền CSVN chẳng những không đứng về phía nhân dân giành lại chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo trên, mà còn tung Công an Mật vụ hung hăng khiêng, kéo, xô, đấy, bắt bớ, đánh đập tàn nhẫn và cả bỏ tù một số người bày tỏ lòng yêu nước của mình.

Trong khi đó phía Trung Cộng cứ lâu lâu lại hâm nóng tình hình bằng cách phơi bày cái Công hàm Ngoại giao năm 1958 của Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng như là bằng cớ hiển nhiên chính quyền CSVN xác nhận chủ quyền “không tranh cãi” của Trung Cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phía nhà cầm quyền CSVN từ trước đến nay vẫn im thin thít về Công hàm trên và cũng im lặng hoặc chỉ tuyên bố ỡm ờ về thái độ hống hách, ngạo mạn cùng các hành vi thô bạo của Trung Cộng đối với người dân Việt, cụ thể là ngang nhiên cắt đứt dây cáp tàu thăm dò khoáng sản của VN hoặc dùng vũ lực uy hiếp ngư dân chất phác chỉ biết cặm cụi kiếm sống ngay trên vùng biển thuộc về Việt Nam được quốc tế công nhận.

Nhân một bài báo, thử bàn về cái Công hàm 1958

Ngày 20/7/2011 có lẽ là lần đầu tiên người dân Việt đọc một bài báo chính dòng bàn về Công hàm trên. Bài báo có nhan đề “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” do “Nhóm Phóng viên Biển Đông” viết, đăng tải trên báo Đại Đoàn Kết (ĐĐK) của Mặt Trận Tổ QuốcViệt Nam (MTTQVN).

Trước khi tìm hiều cách lý giải bài báo trên liên quan tới Công hàm 1958, chúng ta cùng xem lại nội dung Công hàm và hoàn cảnh đã đẻ ra nó.

Đó là cái Công hàm mà trước mặt là công khai chối bỏ (không nhìn nhận) quyền sở hữu chủ của quốc gia đối với tài sản máu xương thiêng liêng vô cùng trân quý của cả dân tộc, và đằng sau sự chối bỏ ấy là hành vi phản bội tổ tiên, tổ quốc, phỉ báng dân tộc, bất trung, bất nghĩa và bất hiếu với các bậc tiền bối! Một hành động phản quốc có tính toán, có mưu lược từ một bè đảng vô tổ quốc!

Thật ra, cá nhân Phạm Văn Đồng (PVĐ) chỉ là kẻ thừa hành, vai Thủ tướng của PVĐ chỉ là vai tuồng! Bộ Chính Trị (BCT) Đảng CSVN chính là đầu não định đoạt mọi việc lớn nhỏ của cả nước.

Năm 1958 là thời kỳ vàng son của CSVN do Hồ Chí Minh (HCM) làm Chủ tịch Đảng, kiêm nhiệm chức Tổng Bi Thư, kiêm luôn chức Chủ tịch nước! Bộ Chính Trị (BCT) Đảng CSVN thời điểm ấy gồm những tay sừng sỏ nhất của Đảng CS như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Tố Hữu…

Thực ra Trường Chinh đã là Tổng Bí Thư từ năm 1951, nhưng do thất bại trong Cải Cách Ruộng Đất, Hồ Chí Minh (HCM) thu hồi chức Tổng Bí Thư Đảng về tay mình và thay thế Trường Chinh từ Tháng 10/1956 tới Tháng 11/1958 trong chức vụ ấy, trong khi vẫn đảm nhiệm chức Chủ tịch Đảng kiêm Chủ tịch Nước. Công hàm Phạm Văn Đồng ra đời trong thời điểm quyền uy tột đỉnh ấy của HCM – ngày 14/9/1958.

Theo nguyên tắc tổ chức Đảng CSVN “tập thể chỉ huy, cá nhân phụ trách,” PVĐ không có quyền ký một Công hàm thuộc tầm cỡ quốc tế mà không thông qua HCM và quyết định của BCT. 

Phủ nhận quyền làm chủ

Ngày 4/9/1958 Trung Cộng đưa ra Bản Tuyên Bố khẳng định vùng biển Đông với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) là lãnh thổ của Trung Quốc. Hai hôm sau, ngày 6/9/1958, tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng CSVN tung ra bài tường thuật rất chi tiết về Bản Tuyên Bố ấy và nêu rõ rằng “kích thước lãnh hải của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung Hoa, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa.” 

Vào thời điểm năm 1958, Tố Hữu là Ủy viên BCT giữ chức Trưởng ban Tuyên Huấn Đảng. Ban Tuyên Huấn kiểm soát mọi phương tiện truyền thông trong nước VNDCCH ở Miền Bắc. Riêng báo Nhân Dân là tiếng nói CHÍNH THỨC của Đảng CSVN, do chính Ban Tuyên Huấn điều hành và kiểm soát trực tiếp.

Việc kiểm tra, sàn lọc từng chữ từng câu một bài báo trên báo Nhân Dân là “sứ mạng quan trọng” của Ban Tuyên Huấn này. Tố Hữu và BCT không thể không biết tới bài báo quan trọng ấy. Bài viết trên báo Nhân Dân đã làm nhiệm vụ “tiền trạm” cho Công hàm do PVĐ ký mười ngày sau Bản Tuyên Bố của Trung Cộng và 8 ngày sau bài báo của tờ Nhân Dân, tức ngày 14/9/1958.

Công hàm này chính thức tuyên bố Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) “tán thành” Bản Tuyên bố của Trung Cộng, minh thị nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa! Tức là công khai khước từ chủ quyền của Việt Nam trên hai hải đảo ấy, một chủ quyền mà sử sách đã khẳng định từ hàng trăm năm về trước và bao thế hệ đã đổ cả máu ra để bảo vệ.

Như vậy, nói mà không sợ lầm rằng HCM và BCT Đảng CSVN đã “nhất trí thông qua” nội dung Công hàm trước khi PVĐ ký tên và đệ nạp lên “Đồng chí Chu Ân Lai, Tổng lí Quốc vụ viện Trung Quốc.” Đúng là “tập thể phản quốc, cá nhân chịu tiếng.” 

Công hàm 1958 đâu phải là một tờ giấy nguệch ngoạc mấy chữ vội vàng hay một lời nói cao hứng bất chợt! Nó cũng không phải là một “bức thư” như nhà ngoại giao CS “lão thành” Lưu Văn Lợi biện hộ. Nó là một văn kiện chính thức đã được cân nhắc kỹ càng, được tính toán lợi hại hơn thiệt và được báo Nhân Dân dọn đường trước.

Thật ra trước báo Nhân Dân, từ năm 1956 khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại Sứ Trung Cộng tại Việt Nam, Thứ trưởng ngoại giao (VNDCCH) Ung Văn Khiêm cũng đã tuyên bố: “theo những dữ kiện của Việt Nam (?), hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc.” Ông Lê Lộc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao VNDCCH, có mặt lúc đó, xác nhận thêm rằng xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống (!?) 

Cũng như PVĐ, Ung Văn Khiêm hay Lê Lộc đâu có quyền phát ngôn “bừa bãi” và tuyên bố “lếu láo” ngay tại nước ngoài một vấn đề quốc gia hệ trọng mà không thỉnh thị trước ý kiến của lãnh đạo cấp cao? Một bài viết trên báo tường, một bài cảm tưởng của học sinh ngày kết thúc niên học… mà còn bị sửa đi sửa lại đến không mất hết chữ nghĩa của bản thảo được người viết đệ trình huống hồ là một văn bản chính trị hay một lời phát biểu mang tínhchất quốc tế. 

Phạm Văn Đồng nói gì về Công hàm 1958?

Năm 1977, đề cập đến cái Công hàm do chính mình đã ký, ông Phạm văn Đồng gượng gạo bảo rằng «đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi». Ông Đồng đâu phải “nói như vậy thôi.”

Thời chiến hay thời bình đều không phải là cái cớ để biện minh cho hành vi phản quốc! Thời chiến với một cuộc chiến tiến hành nhân danh “cứu nước” càng không cho phép viện cớ để phát biểu vung vít vô trách nhiệm như vậy. Một người lính đào ngũ trong cuộc chiến vệ quốc phải ra tòa đại hình về “tội phản quốc trong thời chiến” thì tội chối từ chủ quyền quốc gia trên một phần lãnh thổ của Tổ quốc giữa cuộc chiến thì chỉ có án tử hình là thích hợp nhất thôi!

Hơn nữa, PVĐ đâu chỉ nói mà thôi. Ông ký tên đóng dấu trên giấy trắng mực đen hẳn hoi với lời lẽ hết sức trịnh trọng “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Đổng lý rõ: Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của nước Cộng Hòa nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Rõ ràng PVĐ không tự mình “tán thành.” Ông chỉ làm nhiệm vụ thông tri cho phía Trung Cộng biết “Chính phủ VNDCCH tán thành…” dầu bản thân ông có muốn tán thành hay không. Chính phủ đó do Hồ Chí Minh đứng đầu và đó là một Chính phủ do Đảng lãnh đạo! Về mặt Đảng, ông Hồ cũng là nhân vật chóp bu: Chủ Tịch kiêm Tổng Bí Thư Đảng! Quyền lực của Tổng Bí Thư Đảng cùng với BCT Đảng luôn luôn là quyền tuyệt đối!

Một kinh nghiệm gần đây nhất cho thấy quyền tuyệt đối ấy. Quốc Hội CSVN mặc sức bàn cãi, tha hồ đưa ra nghị quyết này nọ! Nhưng khi Đảng bảo rằng Đảng đã quyết, thì chuyện Quốc Hội cãi nhau, rồi đồng thuận, rồi đưa ra Nghị quyết… đều trở thành trò hề! Nó hoàn toàn vô giá trị! Vụ Bauxite Tây Nguyên là một trong trăm ngàn điển hình!!! Ông Đồng ơi! Ông đâu có nói khơi khơi cho có nói! Bút sa gà chết! Verba volant, scripta manent! Lời nói bay đi, chữ viết tồn tại! Công hàm 1958 của nước VNDCCH còn sờ sờ đó! Người dân Việt Nam không ai nghĩ Công hàm đó là sản phẩm của cá nhân ông đâu!

Lập luận của Lưu Văn Lợi

Theo sự nhìn nhận của ông Lưu Văn Lợi trong quyển sách của ông dưới nhan đề “CUỘC TRANH CHẤP VIỆT-TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA” do Nhà xuất bản CÔNG AN NHÂN DÂN xuất bản năm 1995 (Chương V), thì cái gọi là Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CS miền Bắc) năm 1965 cũng đã cả quyết Hoàng Sa và Trường là của Trung Quốc.

Ông Lợi khẳng định: “Việc nói Tây Sa [Hoàng Sa] là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1965 … hay câu nói của thứ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây Sa là có thật.” Nhưng liền sau lời xác nhận này, ông Lợi vội biện bạch: “Đó không phải là lời tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, càng không phải là từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.” 

Sau khi biện hộ cho bản tuyên bố năm 1963 của nước VNDCCH và cho câu nói của Ung Văn Khiêm, ông Lợi cũng dùng một kiểu nói ấy để bênh vực Công hàm năm 1958 của PVĐ. Rất tiếc, ông Lợi chẳng những không đưa ra một lý luận hay chứng từ nào cụ thể có giá trị thuyết phục mà còn làm nổi rõ hơn tính chất phản quốc hàm súc trong Công hàm ấy. 

Lưu Văn Lợi vốn là một nhà ngoại giao kỳ cựu của CSVN, từng tham gia hòa đàm Paris với tư cách trợ lý của Lê Đức Thọ và Xuân Thủy (1972-1973), sau đó là Trợ lý Bộ Ngoại giao CSVN, rồi Trưởng ban Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989). Lời chứng của ông đáng tin cậy. Tuy nhiên, lý luận của Lưu Văn Lợi chỉ xoay quanh cái trục “tình đồng chí” và “nghĩa vụ quốc tế” của CSVN đối với CS Trung Quốc, “mối quan hệ giữa nhân dân hai nước ‘vừa là đồng chí vừa là anh em’, trong ý nghĩ ‘Trung-Việt nhất gia’, do đó coi bản công hàm đó là biểu hiện của tình hữu nghị Trung-Việt.” 

Ông Lợi nhấn mạnh: “Việt Nam lại là một nước xã hội chủ nghĩa, một nước láng giềng anh em, ‘núi liền núi, sông liền sông’ đối với Trung Quốc. Trong tình hình đó, Trung Quốc trở thành đồng minh trên thực tế của Việt Nam về chính trị, tinh thần và vật chất. Họ đã gửi sang Việt Nam vũ khí, đạn dược, lương thực, xe cộ và dành con đường quá cảnh cho hàng viện trợ của Liên Xô và Đông Âu và các nước khác. Người Việt Nam và Trung Quốc coi quan hệ giữa hai nước như “môi với răng”. 
Từ lý luận trên đây, Lưu Văn Lợi kết luận rằng cả Công hàm 1958 lẫn các lời tuyên bố cùng các văn kiện sau đó của phía CSVN với Trung Cộng là một biểu hiện của “tình đoàn kết quốc tế.”, là “bổn phận ơn đền nghĩa trả” của Việt Nam đối với người đồng-chí-anh-em-răng-liền-răng mà CSVN phải thực thi. 

Lưu Văn Lợi vô tình hay cố ý bỏ qua yếu tố trách nhiệm của các quan chức và bộ máy công quyền đã sản sinh ra Công hàm, các văn bản và những lời tuyên bố phản bội trắng trợn chống lại lịch sử cũng như quốc gia dân tộc! 
Mặc dầu quanh co bao biện cho phe đảng, Lưu Văn Lợi cũng đã phải công nhận điều này: “Về mặt hành chính, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 Việt Nam tạm chia làm hai miền với vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời trong khi chờ đợi thống nhất. Miền Nam Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã tiếp quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1956 khi Pháp rút khỏi Đông Dương và từ đó đã tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính, tổ chức khảo sát và khai thác tài nguyên về biển đồng thời kiên quyết bảo vệ hai quần đảo chống lại những hành động và ý đồ xâm chiếm của Bắc Kinh cũng như các nước khác. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà cũng bảo vệ lợi ích và chủ quyền của mình tại các hội nghị và tổ chức quốc tế.”

Sự công nhận quá muộn màng ấy của một cá nhân Lưu Văn Lợi (1995) chẳng nói lên được gì cả, bởi vì trước đó, năm 1974, tập đoàn CSVN tại Hà Nội chẳng những dửng dưng im hơi lặng tiếng mà còn đứng đằng sau tán dương và cổ súy Trung Cộng xua quân tấn công bắn giết Hải quân VNCH trấn thủ đảo Hoàng Sa để chiếm đoạt hải đảo này.

Chúng ta biết, Hiệp ước Paris về Việt Nam đã ký và có hiệu lực kể từ năm 1972. Theo Hiệp ước này, lực lượng Hoa Kỳ chấm dứt hoàn toàn trách nhiệm quân sự của họ tại Việt Nam kể từ thời điểm đó. Cho nên, cả Trung Cộng lẫn CSVN đều biết rõ Hoa Kỳ không còn có thể can thiệp bằng vũ lực vào bất cứ biến cố quân sự nào xảy ra ở bất cứ phần đất nào của VNCH. Đó là cơ hội ngàn vàng để CSVN “bật đèn xanh” cho Trung Cộng “lấy mạnh hiếp yếu” xua quân tàn sát chiến sĩ hải quân VNCH và xâm chiếm Hoàng Sa.

Chưa nói tới những xúi giục ngấm ngằm đằng sau, chỉ cái việc Hà Nội hoàn toàn im lặng trước cuộc xâm lăng này của Trung Cộng vào lãnh hải của nước Việt Nam cũng đủ tố cáo tội ác tày trời của CSVN đối với đất nước và dân tộc, ít ra họ phản bội chính họ và chống lại chính lời họ tuyên bố “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…” hoặc “Các Vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta cùng nhau GIỮ NƯỚC.” Nực cười thay! Hô hào “chống Mỹ cứu nước” để mà “rước Tàu cướp nước!” Mâu thuẫn và giả dối đến thế là cùng!

Cho nên thật là ngụy biện mơ hồ khi cho rằng vào các thời điểm ấy (1956, 1958, 1963, 1965, 1974), Việt Nam gồm hai quốc gia riêng rẽ: Miền Bắc là VNDCH; miền Nam là VNCH; và rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về miền Nam tức là của VNCH chứ không dính dáng gì tới VNDCCH!

Sau này (năm 1995) Lưu Văn Lợi xác nhận “Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 Việt Nam tạm chia làm hai miền với vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời trong khi chờ đợi thống nhất.” Có bao giờ HCM và tập đoàn CS miền Bắc coi VNCH là một nhà nước chính danh đâu! Trái lại luôn luôn họ gắn chữ “ngụy” lên đầu chính quyền và quân đội VNCH – ngụy quân, ngụy quyền!

Nhân đây chúng ta lại xét tới một điểm khác mà Lưu Văn Lợi đã đề cập đến trong sách của ông. Sau khi nhìn nhận VNCH “kiên quyết bảo vệ hai quần đảo,” ông Lợi viết thêm: “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam cùng với Chính phủ Sài Gòn đã tham gia ký kết Định ước về Việt Nam và đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” 

Không rõ cái gọi là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam – công cụ của Hà Nội có ký một Định ước nào không và có “tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” hay không và vào lúc nào? Nhưng bảo rằng Chính phủ ma ấy đã “cùng với Chính phủ Sài Gòn” (tức chính quyền VNCH) tham gia ký kết Định ước là điều rất đáng ngờ bao lâu tác giả chưa dẫn nguồn chứng minh thời điểm, địa điểm, hoàn cảnh và nội dung văn kiện về sự kiện ấy!

Phải chăng phịa ra “sự kiện” này, ông Lợi nhằm đánh lừa dư luận quần chúng về tính hợp pháp của chính thể “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ít ra trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa trên danh nghĩa là một chính phủ nối tiếp một chính phủ của Miền Nam Việt Nam (!?) trong khi mọi người đều biết Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam chỉ là lá bài của CS Bắc Việt để thôn tính Miền Nam VN.

Chính thể “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” sau năm 1975 là sự tiếp nối chính thể “Việt Nam dân chủ cộng hòa” của Miền Bắc cũng do những khuôn mặt chính quyền miền Bắc ấy tiếp tục nắm quyền cai trị trên cả nước như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười… Trong khi Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Huỳnh Tấn Phát, Tạ Bá Tòng, Nguyễn Hộ, Nguyễn Thị Bình… chỉ đóng vai bù nhìn để rồi bị đẩy dần vào bóng tối… vỡ mộng công hầu!

Thế nên trong các vụ Hoàng Sa, Trường Sa, đường ranh biển và biên giới phía Bắc Việt Nam, toàn dân đã rõ ai chính, ai tà! Ai chính nghĩa, ai phi nghĩa! Ai vì dân vì nước, ai phản dân bán nước! Như vậy, chúng ta đã có đủ cơ sở để mà xác quyết rằng chính thể Cộng sản là một chính thể phi nghĩa, vô tổ quốc. 

Nguyễn Mạnh Cầm ca ngợi nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị

Trước Lưu Văn Lợi, ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao CSVN, nhân buổi họp báo ngày 2 tháng 12 năm 1992 tại Hà Nội, cũng đưa ra những lý luận quái gở mà Thông tấn xã CS Việt Nam đã đăng tải ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa [thuộc về Trung Cộng] như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.”

Đem Hiệp định Genève để biện hộ tức là tự tố cáo mình vậy. Cộng sản VN từng rêu rao “Hiệp Định Genève tạm chia hai miền Nam Bắc,” chứ có bao giờ nói Việt Nam là hai nước riêng rẽ biệt lập đâu. Không lạm dụng danh nghĩa “Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một…” HCM và tập đoàn CSVN chắc chắn không thể nào lôi kéo được người Việt nào theo họ. Vì trót nghe lời tuyên truyền xảo quyệt của Hồ Chí Minh và CS Bắc Việt, một số “nhân sĩ, trí thức” Miền Nam Việt Nam đi theo CS, cuối đời họ ân hận thì sự đã muộn.

Ông Cầm còn biện bạch: “Thêm vào đó, vào lúc ấy Việt Nam phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. Tình hữu nghị Việt-Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc.” Nại tới “tình hữu nghị thắm thiết”, nại tới “nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị” để mang lãnh thổ và lãnh hải của Tổ quốc ra dâng nộp thì còn gì quái gở khốn nạn bằng?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm còn đưa ra một lý luận khác khá ấu trĩ và hồ đồ. Ông nói:

“Đặc biệt, việc này [việc Công hàm 1958 nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng] còn nhắm vào nhu cầu cấp thiết lúc đó là ngăn ngừa đế quốc Mỹ không sử dụng các quần đảo ấy để tấn công chúng ta.” Ngăn ngừa đế quốc Mỹ sử dụng các quần đảo đó để tấn công chúng ta, chúng ta lại rước tên tướng cướp Tàu hung hãn gấp bội vào chiếm đóng và hoành hành như vậy sao?

Cũng liên quan tới Công hàm 1958, Nguyễn Mạnh Cầm còn lớn tiếng ngụy biện: “lãnh đạo ta tạm công nhận như thế!” Ôi! Phải chi PVĐ ghi thêm bên dưới cái Công hàm lời ghi chú “lãnh đạo ta tạm công nhận” thì bây giờ báo Đại Đoàn Kết đâu phải vất vả biện luận lý giải quanh co?

Một chi tiết mà Nguyễn Mạnh Cầm luôn lặp đi lặp lại, đó là mọi quyết định đều do “lãnh đạo ta” tức do Bộ Chính Trị, bộ phận lãnh đạo cao nhất của Đảng CSVN ở mọi thời kỳ quyết định, chứ chẳng phải ông Phạm Văn Đồng, ông Ung Văn Khiêm hay ông Lê Lộc nào trách nhiệm cả. Nhắc lại: BCT Đảng CSVN vào thời kỳ 1958 do Hồ Chí Minh đứng đầu với 2 tư cách: Chủ Tịch kiêm Tổng Bí Thư!

Lời bào chữa mới nhất từ tiếng nói của Mặt Trận Tổ Quốc VN

Chúng ta trở lại với bài báo “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” của Nhóm PV báo Đại Đoàn Kết thuộc Mặt Trận Tổ Quốc VN (do CSVN chi phối).

Để biện hộ cho Công hàm 1958 của PVĐ, bài báo nêu rằng “theo Thạc sĩ Hoàng Việt, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ VNDCCH – Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”.

Hoặc: “Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ…”

Hoặc: “Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi.”

Và còn nhiều những lời biện bạch lý giải như vậy. Giống hệt những gì Nguyễn Mạnh Cầm và Lưu Văn Lợi đã nói tới. Cũng vẫn luận điệu: “cử chỉ hữu nghị… tranh thủ sự ủng hộ…”, “biểu lộ ơn đền nghĩa trả” “vừa là đồng chí vừa là anh em”…

Thiết tưởng MTTQVN có cả quyền hạn và trách nhiệm lên tiếng phân bua biện bạch với Trung Quốc, muốn nói sao với người “anh em, đồng chí” thì nói. Nhưng không nói với Trung Quốc mà chỉ nói với chính người dân Việt Nam, thì không chừng đảng và nhà nước CSVN càng lộ bản chất phản dân hại nước đấy!. 

Thôi thì cứ ôm lấy 16 chữ vàng: “Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện” và 4 tốt (tứ hảo): “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” như là bản sắc phong của Hán triều ban câp cho bầy tôi trung, nên… im mồm đi có lẽ hay hơn! Phần quan thầy Trung Quốc, trước sau họ cứ như một, chỉ muốn thủ đắc một tốt mà thôi – “nhất hảo” là “hảo xực”cái món… LƯỠI BÒ Biển Đông”.

Chuyện “bên lề” Hội Nghị Genève 1954

Một chi tiết khác trong bài viết trên báo chính dòng CSVN nghe hay hay thiết tưởng cũng cần nêu ra để chúng ta cùng cười lên một tiếng cho vui nhà vui cửa. Chi tiết gì đây? Thưa, đó là lời tiết lộ của bài báo, rằng: “Tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH.” 

Động thái gì của Trung Cộng trong Hội nghị Genève năm 1954 “rất bất lợi cho VNDCCH” đến nay mới lôi ra? CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua có thấy điều đó không và đã có lần nào dám nói thẳng sự phản đối của mình chống lại động thái của Tàu Cộng chưa? Hay đã phải “ngậm miệng” ăn tiền, chấp nhận một sự đồng lõa đáng ghê tởm?

Sự thật Hội Nghị Genève là thế này:

Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc ngày 26/4/1954, và kết thúc ngày 21/6/1954 với sự tham dự của 9 phái đoàn: Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Cộng, Quốc gia Việt Nam, Cộng sản Việt Nam, Lào, Campuchia.

Riêng phái đoàn Trung Cộng do Chu Ân Lai (Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng) dẫn đầu là lực lượng đông đảo hùng hậu nhất: 200 người! (Xem quyển “Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954”)[1]. Qua quyển sách về họ Chu này, người ta còn thấy phái đoàn Trung Cộng hoàn toàn khống chế phái đoàn Cộng sản Bắc Việt của Phạm Văn Đồng.

Kết thúc Hội nghị, người quyết định tuyến phân ranh (vĩ tuyến 17) là Chu Ân Lai và Pháp, chứ không phải Phạm Văn Đồng. Điều ấy đủ bộc lộ cái nham hiểm của Tàu Cộng và sự lệ thuộc hèn hạ của Cộng sản Bắc Việt vào người “đàn anh nước lớn” của họ. Chưa kể việc Phạm Văn Đồng hạ bút ký Hiệp định, dâng phần đất phía nam vĩ tuyến 17 cho Pháp và đặt phần đất bắc vĩ tuyến 17 dưới sự kềm chế và lũng đoạn của Trung Cộng, dọn đường cho những mưu toan xâm lược của bắc phương vào Việt Nam sau này!

Lúc bấy giờ phía Quốc gia Việt Nam do Ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn, sau đó được thay thế bởi Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ. Ngày 16/6/1954, giữa lúc Hội nghị Genève đang tiến hành, ông Ngô Đình Diệm được mời làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam. Tại Hội nghị Genève, nhận chỉ thị của tân Thủ Tướng, ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, nhân danh chính phủ quốc gia Việt Nam tuyên bố: “Đoàn đại biểu Quốc Gia Việt Nam dứt khoát từ chối ký vào bất kỳ hiệp định đình chiến nào dẫn tới Việt Nam phân trị” (Sđd trên: Vai trò…).

Do không ký tên, Quốc Gia Việt Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa, không hề nhìn nhận Hiệp định Genève về Đông Dương nói chung, về Việt Nam nói riêng do các cường quốc, đặc biệt là Liên Xô, Trung Cộng và Pháp với Cộng sản Bắc Việt cùng âm mưu áp đặt, chia để trị.

Nhắc lại biến cố Hội nghị Genève năm 1954, sách Chính Đề Việt Nam (CĐVN) của tác giả Tùng Phong viết từ thời kỳ 1960 (ấn bản 2011) cho biết, tham dự Hội nghị trên, Trung cộng đạt 3 điều lợi, mà điều lợi thứ hai của họ lại là hiểm họa to lớn cho Việt Nam.

Điều lợi thứ hai đó là gì?

Tác giả CĐVN cho biết: “Điều lợi thứ nhì cho Trung cộng là một thắng lợi về ranh giới và lãnh thổ.” 

Theo CĐVN, khi Hội nghị Genève đặt vấn đề phân chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền, CSVN ban đầu “yêu sách lấy vĩ tuyến 13 làm ranh giới,” vì họ muốn thâu tóm luôn các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… vào miền Bắc… còn Pháp thì đòi vĩ tuyến 18. Nhưng, “dưới áp lực của Trung cộng, ranh giới đã lui lại đến vĩ tuyến 17… Những tham vọng đất đai của Trung Cộng đối với Việt Nam đã thỏa mãn.” (207). Tác giả Tùng Phong giải thích: “…vùng đất thiết yếu cho nước Tàu là các vùng hai bên sông Nhị Hà, con đường tháo ra biển, thiên nhiên của vùng Tây Nam Trung Hoa.” 

Theo tác giả Chính Đề Việt Nam, “việc ấn định ranh giới ở vĩ tuyến 17, vừa xác nhận tham vọng đất đai, bất di bất dịch của Tàu đối với Việt Nam, vừa chứng minh sự lệ thuộc của chính phủ Bắc Việt đối với Trung Cộng.” (Chính Đề Việt Nam, trang 209, tác giả của cuốn này là ông Ngô Đình Nhu. Có người nói là của ông Lê Văn Đồng).

Như vậy, ý đồ của Trung Cộng dẫu sao cũng mang lại phần lợi cho đàn em là CSVN. Nếu không, HCM và BCT Đảng CSVN đã chẳng cho Phạm Văn Đồng ký vào Hiệp Định để nhận lấy phần đất phía bắc và nhận cả những viện trợ to lớn của đàn anh, chia phần phía nam cho Pháp! Bây giờ CSVN bỗng trở giọng kêu ca đàn anh chơi xỏ… Tập đoàn CSVN lộ chân tướng bán nước! Bán nước chinh thức bắt đầu từ năm 1954!

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là… quốc gia thứ ba (do đó, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực.”)

Bài báo “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” trên tờ Đại Đoàn Kết của MTTQVN có mấy đoạn đáng chú ý sau đây:

■ “Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.”

.
■“Trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng Hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Nếu đặt giả thuyết VNDCCH và CHXHCN Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực.”

Hai đoạn nghị luận trên cho thấy chính quyền Hà Nội tự mâu thuẫn nghiêm trọng: Vừa hô hào rằng chính quyền Sài Gòn là NGỤY QUYỀN, vừa nhìn nhận VNCH hoàn toàn có tư cách là một QUỐC GIA được quốc tế công nhận. Nếu bảo rằng trong vụ tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, VNDCCH ở Miền Bắc chỉ là một quốc gia thứ ba, thì đương nhiên VNCH là “quốc gia thứ nhất” có đầy đủ chủ quyền và tư cách tranh chấp với Trung Quốc. Như vậy việc CSVN xua quân vào Nam đánh đổ chính thể VNCH là một hành động xâm lược trắng trợn cũng giống như Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa năm 1974!

Mặt khác, Hà Nội xem Chính phủ VNCH chỉ “tạm thời quản lý” các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tự nhận mình được “nhân dân” trao phó nhiệm vụ lãnh đạo công cuộc “CỨU NƯỚC” và “DỰNG NƯỚC,” cụ thể là “trọng trách GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM” khỏi “bè lũ ngụy quyền” Sài Gòn? Giải phóng cái gì mà liên tiếp 2 lần dâng đảo cho Tàu Cộng? Lần 1: minh thị bằng Công hàm 1958. Lần 2: biểu lộ lòng trung thành với lời cam kết ghi trong Công hàm khi Tàu Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 – không một lời phản đối – dù là phản đối suông bằng một vài ngôn từ công thức. 

Căn cứ vào lập luận của báo Đại Đoàn Kết cũng như của một số nhân vật chóp bu CSVN, chúng ta khẳng định rằng: Trung Cộng đã xâm lăng hải đảo Hoàng Sa của VNCH bằng vũ lực thế nào thì CS Miền Bắc cũng dùng vũ lực xâm lăng nội địa VNCH thế ấy! CSVN còn mắc thêm tội dối lừa cả một dân tộc cốt để phục vụ cho quyền lợi đảng trị và cướp bóc mà thôi!

Một sự nhìn nhận… (nhưng) thiếu vắng lòng sám hối

Bài báo trên tờ Đại Đoàn Kết viết: “Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục hành xử chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.”

Trước hết, xin nhắc lại, phía VNCH không ký vào Hiệp định Genève 1954, nên không hề bị Hiệp định ấy ràng buộc hay chi phối. VNCH hành động bảo vệ “chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” là vì ý thức dân tộc, vi tinh thần quốc gia, vì trách nhiệm thiêng liêng đối với từng tấc đất do tiền nhân để lại chứ không vì Hiệp định Genève.

VNCH khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải chỉ bằng văn bản mà bằng sự hiện diện của mình trên hai quần đảo ấy…. Và cụ thể năm 1974 chiến sĩ hải quân VNCH đã đổ máu đào của mình để xác định chủ quyền quốc gia trên Hoàng Sa…chứ không ngồi ở một xó góc co ro cúm rúm tuyên bố, phát biểu vu vơ! Biến cố ấy tỏ rõ bản lãnh yêu nước và giữ nước của tập thể dân và quân VNCH. Sự khác biệt này chứng minh chính xác ai là chính nghĩa, kẻ nào là phi nghĩa!

Cho nên việc Mặt Trận Tổ Quốc VN hay Nguyễn Mạnh Cầm, Lưu Văn Lợi (đã trưng dẫn trên) hoặc bất kỳ quan chức CSVN nhìn nhận vai trò đúng đắn của phía VNCH trong nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên bất cứ phần đất nào của Việt Nam chỉ là sự nhìn nhận què quặt và dối trá bao lâu sự nhìn nhận ấy không được thể hiện bằng một thái độ và hành động sám hối tích cực. Điều này thật khó có thể xảy ra nơi người CSVN trừ phi Đảng của họ bị triệt tiêu hoàn toàn!

Lời dạy của tiền nhân

Trên báo điện tử Talawas  trước đây diễn ra một cuộc tranh luận khá sôi nổi và lý thú về vấn đề Biển Đông.

Có ý kiến (Trương Nhân Tuấn[2]) cho rằng công hàm ô nhục năm 1958 đã “làm cho lý lẽ của phía Việt Nam yếu đi” và cũng là một “yếu tố quan trọng được Trung Cộng khai thác tối đa để xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa,” công hàm ấy đã hợp thức hóa chủ quyền của Trung Hoa CS trên Biển Đông. Nhưng Dương Danh Huy thì lại bảo rằng: “Chưa chắc gì Công hàm 1958 có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay. Chưa chắc gì thế giới cho là nó có hiệu lực ràng buộc VN ngày nay. Chưa chắc gì Toà sẽ cho như thế.”

Cứ “chưa chắc, chưa chắc” mà không chứng minh cái “chắc” nó ở đâu, Dương Danh Huy lại trách cứ: “Điều đáng buồn là thay vì nghiên cứu nghiêm túc nó có hiệu lực gì và tìm lý lẽ phản biện nó thì có khi người ta lại đem nó ra để phê phán nhau, vv.” Ông Huy cảnh báo “người Việt không nên góp phần làm tăng giá trị tuyên truyền cho Trung Quốc.[3]”

Thật ra, TÁC NHÂN “làm tăng giá trị tuyên truyền” cho Trung Quốc chính là Công hàm 1958 chứ không ai khác hay cái gì khác. Mỗi lần Biển Đông dậy sóng là mỗi lần Trung Cộng trưng cái Công hàm ấy ra trước công luận, vì sao? Có nhục không? Có đau không?

Đặt lại vấn đề Công hàm 1958, chúng tôi không “nối giáo cho giặc” Trung Cộng, không tạo cho họ cái cớ để xâm chiếm đất nước Việt Nam! Chính những kẻ ám muội âm mưu cấu kết đẻ ra cái quái thai “Công hàm 1958” cùng các văn kiện cắt đất nhượng biển khác cho quân xâm lược phương bắc mới là thủ phạm đích thực “nối giáo cho giặc”!

Tuy thuộc hàng dân dã quê mùa, chúng tôi dám thách thức bất cứ ai chứng minh điều ngược lại với những gì trình bày trên!

Hãy nghe đây chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông dẫn từ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ Thực lục, Kỷ Nhà Lê: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước sông, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội tru di![4]“

Hãy nghe đây di chúc của Vua Trần Nhân Tôn: “… Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa.Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải… Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.”

Kết luận 

Chúng ta biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng, khí thế yêu nước hừng hực, lẽ nào chúng ta lại quên lột mặt nạ kẻ nội thù phản dân hại nước khoác áo “giải phóng dân tộc” sặc sỡ để âm mưu cấu kết với giặc ngoại xâm bắc phương “nô lệ hóa dân tộc”?

Bao lâu cái Đảng đẻ ra Công hàm 1958 còn tồn tại trị vì đất nước và dân tộc Việt Nam với lá cờ đỏ sao vàng, bấy lâu dân tộc Việt Nam còn khốn đốn, không sao thoát khỏi nanh vuốt Tàu Cộng do thái độ yếu hèn của CSVN.

Xét về mặt tình tự dân tộc, những kẻ phản dân phải bị đào thải và không xứng đáng thuộc về huyết tộc con Rồng cháu Tiên.

Xét về phương diện quốc gia, phải hạ bệ tức khắc bọn phản quốc khỏi mọi quyền bính trong xã hội và lấy luật nước nghiêm minh sửa trị.

Có người bảo: Công hay tội, xin đừng xét vội mà hãy để lịch sử phán xét.

Lịch sử ư? Lịch sử mãi quốc cầu vinh kéo dài liên tục đã hơn 50 năm… Dân tộc Việt Nam mất đất, mất đảo đang bị đẩy vào chỗ diệt vong! Còn chờ đợi lịch sử nào nữa?

Chúng ta hãy cùng vùng lên, đáp lời sông núi!

Hoàng Sa, Trường Sa là máu thịt Việt Nam.

Chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam thuộc về toàn dân Việt Nam, dứt khoát không thuộc về một nhóm nhỏ đảng trị “ươn hèn với giặc, mặt sắt với dân!” 

Tài liệu đính kèm: 

Công hàm 1958 với chủ quyền 

Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Nhóm PV Biển Đông Báo Đại Đoàn Kết – Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam(20/7/2011)

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:

“Thưa đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề Trung Quốc đã đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Âu Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công nguyên tử Trung Quốc, nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp Định phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ VNDCCH –Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”.

Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc.

Thế rồi sang năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trong đó trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.

Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ, đơn giản chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc. Trong tình thế đó, có thể xem đây chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị và ngoại giao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý.

Nội dung công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. (Phần này là ngụy biện. Tác giả nên tham khảo lại nội dung bản Tuyên Bố 4-9-1958 của Trung Quốc ở cuối bài.)

 

Nhất là trong hoàn cảnh ra đời của công hàm như đã nêu trên, công hàm 1958 có hai nội dung rất đơn giản và rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam (VNCH -Thủ Tướng Trần Văn Hữu) đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam (VNCH) tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu.

Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam (VNCH). Các điều khoản trong hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam . Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Hơn ai hết, Thủ tướng Phạm Văn Đồng hiểu rất rõ điều đó khi đưa ra công hàm 1958 nên đã không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc khi đó đã không tiện nói thẳng ra mà chỉ đơn giản khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục hành xử chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ, hòng đánh lận con đen trong tuyên bố của Chu Ân Lai liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.

Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. (Đoạn này nghe không ổn. Năm 1958, ông HCM vừa là Chủ tịch nước, vừa là Tổng Bí Thư đảng LĐVN- tức đảng cộng sản VN. Ông Phạm Văn Đồng ký công hàm là phải thông qua Bộ Chính Trị, có HCM, Lê Duẩn,…)

Nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nước Việt Nam Cộng hòa,

Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo quy định của hiến pháp Việt Nam các thời kỳ và cũng phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền dân tộc tự quyết, theo đó tất cả các vấn đề liên quan tới độc lập dân tộc, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia phải được cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của dân là Quốc Hội xem xét biểu quyết mới có giá trị pháp lý. Cho nên, các nhà nghiên cứu cho rằng công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xét về bối cảnh và trình tự thủ tục ban hành, đơn giản chỉ là một văn thư ngoại giao mang tính chính trị chứ không thể xem đó như là một công hàm có giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Nếu đặt giả thuyết VNDCCH và CHXHCN Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine ”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua ”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Lúc đó hai nước VNDCCH và Trung Quốc có mối quan hệ rất đặc thù, những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 hoàn toàn nằm trong bối cảnh đặc thù và hết sức khó khăn của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Hơn nữa, theo luật pháp quốc tế, lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì. Thật vậy, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc (tất nhiên phải hợp pháp theo các quy định của luật pháp quốc tế đương thời), và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.

Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Tòa án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí”, Tòa án Quốc tế xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào. Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thỏa ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Tòa sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc. Trong trường hợp này, VNDCCH và Trung Quốc không hề ký kết bất kỳ một hiệp ước nào có nội dung Việt Nam quyết định từ bỏ chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo này.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.

Nhóm PV Biển Đông

——————————————————————————–

[1] Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954 là bản dịch cuốn sách “Chu Ân Lai Dữ Nhật Nội Ngoã Hội Nghị“, nhà xuất bàn Trung Cộng Đảng Sử Xuất Bản Xá, 2005, tác giả là Tiền Giang, dịch giả là Dương Danh Dy.

[2] Xin đọc thêm “Tìm hiểu hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam” của Trương Nhân Tuấn trên Talawas ngày 16/5/2009 cùng các bài viết và các ý kiện phản biện chung quanh cuộc tranh luận về Biển Đông..

[3] (Dương Danh Huy trả lời Nguyễn Hòa ngày 14/5/2009. Phần phản hồi sau bài viết của Dũng Vũ trên Talawas ngày 13/5/2009: Hoàng Sa – Trường Sa, một bài học cho xứ nhược tiểu).

[4] “Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.” 

Tác giả Lê Thiên – 29-7-2011

*Chú thích của Trần Hoàng:

Phần chữ nghiên trong ngoặc, bản Tuyên Bố 4-9-1958 do Trần Hoàng bổ sung. 

Tuyên bố của Chu Ân Lai

 

Tuyên bó của Chu Ân Lai(bấm vào hình để đọc rõ hơn)

img

img

img

img
img

 

nguồn: Tuyên bố của ông Chu Ân Lai ngày 4/9/1958

tiengnoitudovn.wordpress.com

(5-2-2008)

———

Bổ Sung:

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Biển Đông đã mất? (Bs. Phạm Hồng Sơn)

Posted by hoangtran204 trên 20/06/2014

Khắp nước VN, có nhiều nhà tranh đấu cho dân chủ và các quyền tự do của con người. Họ chống lại chế độ độc đảng cai trị. Trong khi lý thuyết và thực hành cai trị của đảng csvn hoàn toàn bị lung lay vì không đem lại được một chút gì cho đất nước và người dân, ngoại trừ LÀM GIÀU cho chính bản thân của các cán bộ đảng cao cấp, cụ thể là 175 ủy viên trung ương đảng, và 14 ủy viên bộ chính trị, cùng hàng trăm ủy viên TƯ đảng đã về hưu.

Điều tệ hại là tất cả ủy viên trung ương đảng đều đồng thuận “nhận giặc TÀU là cha, là kẻ mà họ và đảng của họ phải mang ơn suốt đời”. Chưa từng có một ủy viên trung ương đảng nào còn dduong tại chức (lẫn về hưu) từng lên tiếng nói chống lại Trung Quốc hay cảnh giác đảng và nhà nước VN quá lệ thuộc tới Bắc Triều.

Kết quả của sự lệ thuộc Bắc Triều suốt từ 1949 cho đến nay là đảng và nhà nước VN đã dâng Biển Đông, quần đảo HS và TS cho Trung Quốc.

 

Biển Đông đã mất?

Phạm Hồng Sơn

Đừng để người ta cười (phần 1)

Hổ thẹn

 

Tôi đồ rằng những vị như Tiến sỹ Nguyễn NhãThạc sỹ Hoàng Việt hay Giáo sư Cao Huy Thuần chưa đọc kỹ hai văn bản này: (1) Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2) Công hàm ngày 14/9/1958 của chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa thuộc chính thể Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Theo tôi, bất cứ ai có trí tuệ bình thường đã đọc kỹ hai văn bản này và là người có lòng công bằng, bất thiên vị, vẫn thừa nhận tính chính đáng của chính thể cộng sản Việt Nam đều phải công nhận:

Hoàng Sa, Trường Sa cùng những chủ quyền liên quan theo luật quốc tế hiện nay là thuộc Trung Cộng – tức Trung Hoa cộng sản, quốc gia vừa từng là “anh em răng môi”, vừa vẫn là “bạn vàng bốn tốt”, “đối tác chiến lược toàn diện” của Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam (tức Đảng Lao động Việt Nam vào lúc Công hàm của chính thể Hồ Chí Minh được công bố – chính thể Việt Nam hợp pháp duy nhất từ năm 1945 tới nay dưới nhãn quan của Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Bởi vì:

-Một: Ta không thể tự mâu thuẫn khi vẫn thừa nhận tính chính đáng, tính đại diện của một nhà nước, một chính phủ lại vừa phủ nhận hành động của nhà nước đó, chính phủ đó khi tự xác định “có trách nhiệm tôn trọng triệt để” tuyên bố công khai của một chính phủ khác khi chúng ta đã hoàn toàn im lặng vào lúc cam kết đó được lập nên.

-Hai: Việc cố diễn giải nhằm bác bỏ tính ràng buộc của một cam kết (có tính khế ước) của một tổ chức mà ta thừa nhận tính chính đáng của nó, và khế ước đó còn tiếp tục được minh định thêm nhiều lần khác, bằng nhiều cách khác của chính tổ chức đó, không chỉ là sự ngạo ngược với tinh thần Pháp trị phương Tây, phỉ báng chữ Tín phương Đông.

-Ba: Người còn liêm sỷ không thể vẫn coi một chính thể là “Ngụy” – tức bác bỏ tính chính đáng của chính thể đó – nhưng lại dùng những phát ngôn, hành động của chính chính thể (bị coi là) “ngụy” đó để biện hộ cho sự “chính đáng” của bản thân.

Tất nhiên, cứ có kẻ cầm quyền thì có biện sỹ – những người nhiều kiến thức, giỏi biện luận, chuyên phò tá kẻ quyền thế để mưu bổng tước bất chấp đúng sai, đức nghĩa. Tuy nhiên cái lý trí cùng đạo đức sơ đẳng của con người đều phải biết không thể nào tuyên bố chấp nhận một toàn thể, rồi sau đó lại phủ nhận phần tử của cái toàn thể đó; người ta cũng không thể kiện, không thể đòi lại vật đã bán, đã cho bằng việc nại ra những hình ảnh về sở hữu vật đó trước khi bán hay cho. Những kiểu lý luận này chỉ là lối biện luận phi logic một cách ngang ngược mà dân gian đã đặt tên: cãi chày cối lấy được.

Biện sỹ là nghề đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm nay cả ở Đông lẫn Tây, sự sai lầm của con người càng không mới, nhưng đến thời này mà chúng ta vẫn thấy hạng biện sỹ đó còn đất dụng võ thì thật kỳ lạ, lối biện luận đó ta lại thấy ở những danh sỹ khoa bảng thì thật hãi hùng.

Vô ơn

Nhìn vào quan hệ của hai chính thể cộng sản Việt, Trung, ngoại trừ một giai đoạn khoảng hơn 10 năm (1979-1990), người ta không thể không thấy bao trùm lên quan hệ đó là sự gắn bó thân tình đặc biệt của hai nước láng giềng và Trung Cộng là bên đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Nam cộng sản. Ngắn gọn có thể nói, mỗi thành tựu quan trọng của chính thể Việt Nam cộng sản trước năm 1990 đều không thể thiếu sự trợ giúp của Trung Cộng.

Tư trang, quân dụng cho tất cả những người lính miền Bắc vào những thời kỳ đó, đặc biệt trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ-Ngụy”, từ lính tới tướng, từ đầu tới chân, từ trong ra ngoài, cho tới cái ba-lô, bi-đông, lương khô, thuốc tăng lực, v.v. đều của Trung Hoa. Tình hữu nghị Việt-Trung còn được hiện thân vào những ca từ , những điệp khúc thiết tha, hào hùng: “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông với tình hữu nghị sáng như rạng đông…Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông. Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông.”

Ngay năm 1979, giữa lúc quan hệ hai đảng xuống tới mức thấp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ:

“Năm 1950, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp Nhân dân Trung Quốc, mặc dầu còn có nhiều khó khăn, nhất là trong những năm đầu của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đã dành sự giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược… những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Quốc viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã “chiến đấu ở Điện Biên Phủ”, v.v… “.[i](tôi-PHS nhấn mạnh những chỗ tô đậm)

Đó chỉ là góc nhìn hẹp từ phía Việt Nam. Vậy, một người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa sẽ nghĩ gì về những người Việt Nam hôm nay vừa ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam vừa bác bỏ Công hàm Hồ Chí Minh 1958, vừa lớn tiếng hô hoán cáo buộc Trung Cộng xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa?

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Nguyễn Phú Trọng tiếp tục giữ im lặng chính là bằng chứng “cõng rắn cắn gà nhà” của một Lê Chiêu Thống trong lịch sử VN, thế kỷ 21; người dân giữ im lặng vì họ bị nhà nước đàn áp

Posted by hoangtran204 trên 19/06/2014

Đáp số của những sự im lặng

Hòa Ái, phóng viên RFA

18-6-2014

Đã 6 tuần trôi qua kể từ khi giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trong vùng biển thuộc chủ quyền của VN. Dư luận cho rằng phản ứng từ cấp lãnh đạo đến cả người dân trong nước trước tình hình căng thẳng ở biển Đông hiện nay chỉ là sự im lặng.

“Tình hình biển Đông bây giờ dân thì cũng nhiều người như tôi, người ta mặc kệ, chán rồi, chán chả buồn nói nữa vì 1 tháng rồi có làm được gì đâu. Nghe tivi nói nhiều nhảm nhí suốt ngày, súng phun nước chỉ bắn được có 1 lần, cứ rêu rao đi rêu rao lại mà cứ để bị lấn lướt như thế thì người ta cũng chán. Biểu tình thì không cho. Nhiều người kể cả công an về hưu cũng nói ‘rồi chẳng đi đến đâu’. Những lời nói của truyền thông như kiểu mị dân là ‘sợ bị Trung Quốc đánh’. Còn bao nhiêu nước, Liên Hiệp Quốc, có đánh mình chết được ngay đâu? ‘Kiến nghị hòa bình, 4 tốt’: ông Bộ trưởng nói kiểu quỳ lụy Trung Quốc quá thành ra dân cũng chán. Mình là người dân thấp cổ bé họng chẳng làm được gì cả”.

Vừa rồi là chia sẻ của 1 tài xế lái taxi tên Vũ ở Hà Nội. Do tính chất công việc, anh Vũ có cơ hội tiếp xúc với nhiều người, nhiều độ tuổi và nhiều thành phần khác nhau trong xã hội nhưng đa số những người anh Vũ gặp hằng ngày có cùng thái độ im lặng giống như anh trước tình hình căng thẳng ở biển Đông hiện nay.

…ở đâu không biết chứ ở Nha Trang-Khánh Hòa, người ta nói sao Nhà nước VN không lên tiếng mà cứ im lặng. 
– Một người chạy xe ôm ở Nha Trang

Người dân im lặng không phải vì họ hoàn toàn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản và Nhà nước VN với phương châm “toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” như lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong ngày bế mạc Hội nghị Trung ương 9 khóa XI hôm 14/5.

Dân chúng im lặng vì họ không thể thực hiện quyền công dân đi biểu tình chống Trung Quốc một cách ôn hòa, cho thế giới thấy tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế của họ trước sự xâm lấn chủ quyền biển đảo VN của Bắc Kinh.

Công luận trong nước im lặng do không biết Chính phủ VN sẽ chọn phương sách nào giải quyết vụ việc giàn khoan HD 981 khi Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh khẳng khái tại Đối thoại Shangri-La hồi cuối tháng 5, cho rằng Việt Nam-Trung Quốc vẫn phát triển tốt đẹp, vẫn duy trì quan hệ hữu nghị giữa 2 nước và việc tranh chấp chủ quyền ở biển Đông đôi khi có những va chạm gây căng thẳng giống như mỗi gia đình có những mâu thuẫn, bất đồng nên các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.

Nhiều người dân trong nước mà đài ACTD tiếp xúc đều cho rằng họ rất bất mãn trước những lời tuyên bố trong quốc nội cũng như trong những diễn đàn quốc tế của các quan chức lãnh đạo hiện nay.

Ngoài sự im lặng, người dân không còn cách nào khác để bày tỏ sự bất mãn của mình.

“Há miệng mắc quai?”

 

1-TBT-(2)-250.jpg
TBT Nguyễn Phú Trọng gặp Ủy Viên Quốc Vụ TQ Dương Khiết Trì tại Hà Nội chiều 18/6/2014.

Câu hỏi đặt ra có phải sự im lặng này là một sự buông xuôi trước vận mệnh của quốc gia?

Trao đổi với Hòa Ái, một người hành nghề chạy xe ôm ở Nha Trang không cho là như vậy. Người thanh niên này cho biết:

“Trung Quốc khi đặt giàn khoan Hải Dương 981 thì dân chúng rầm rộ đi biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn nhưng sau này cũng lắng dịu. Tuy nhiên đây không phải là sự lắng dịu quên lãng đâu mà đây là sự âm thầm giống như lò áp suất hơi vậy đó, sẽ bùng phát hồi nào không hay, chứ không đơn giản bình thường. Người ta không dám nói nhưng bàn tán ngầm, ở đâu không biết chứ ở Nha Trang-Khánh Hòa, người dân có sự chú ý nhiều đến biển Đông, người ta nói sao Nhà nước VN không lên tiếng mà cứ im lặng. Người dân bây giờ đang nghi ngại Nhà nước những vấn đề như vậy đó”.

 

Một trong những người đại diện cho Nhà nước là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, được người dân đặc biệt nhắc đến trong thời gian từ khi giàn khoan HD 981 xuất hiện ở khu vực biển cách đảo Lý Sơn 120 hải lý. Nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng CSVN được nhắc tên vì sự im lặng của ông.

Có nhiều đồn đoán cho rằng ông Nguyễn Phú Trọng không đăng đàn nói được lời nào vì bị “há miệng mắc quai”. Thậm chí dư luận mặc cả rằng ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục giữ im lặng chính là bằng chứng “cõng rắn cắn gà nhà” của một Lê Chiêu Thống trong lịch sử VN, thế kỷ 21.

Tình hình biển Đông bây giờ dân thì cũng nhiều người như tôi, người ta mặc kệ, chán rồi, chán chả buồn nói nữa vì 1 tháng rồi có làm được gì đâu. 
– Một tài xế taxi ở Hà Nội

Còn có dự đoán sau giữa tháng 8 vào lúc thời tiết không thuận lợi cũng như giàn khoan HD 981 đã tròn nhiệm vụ khoan thăm dò và rút đi thì Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sẽ xuất hiện trước truyền thông để lên tiếng trấn an người dân rằng Đảng Cộng Sản và Nhà nước VN đã giải quyết thắng lợi tình trạng căng thẳng ở biển Đông đồng thời trỗi lên những lời ca tụng tình hữu nghị “4 tốt-16 chữ vàng” với người bạn láng giềng Trung Quốc.

Cho đến ngày 18/6 là ngày gặp gỡ chính thức đầu tiên giữa Ủy viên Quốc Vụ viện Trung Quốc, ông Dương Khiết Trì và đại điện quan chức cấp cao gồm Thủ tướng VN và Tổng Bí Thư Đảng CSVN thì ý nghĩa sự im lặng của ông Nguyễn Phú Trọng vẫn chưa được giải mã.

Một ngày trước cuộc gặp gỡ giữa các đại diện cấp cao của Hà Nội và Bắc Kinh để thảo luận liên quan đến việc Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu HD 981 ở vùng biển tranh chấp, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cảnh báo VN nên chú trọng đến lợi ích lớn hơn trong quan hệ song phương để làm việc cùng Trung Quốc trong tình hình căng thẳng hiện nay. Trước đó, nhà nghiên cứu văn hóa Nguyên Ngọc của VN nói với báo giới trong nước rằng “vụ giàn khoan trái phép đã dại dột đánh thức lòng tự tôn dân tộc thiêng liêng bị dồn nén của người Việt, sức mạnh đã từng quét sạch mọi cuộc xâm lăng của đế quốc Trung Hoa trong suốt chiều dài lịch sử. Nó phơi trần mọi sự lừa bịp được công phu bày vẽ lâu nay”.

Người dân trong nước bày tỏ vẫn đang thầm lặng chờ đợi xem phản ứng của những người đại diện Nhà nước VN trong cuộc gặp gỡ mặt đối mặt với đại diện của Trung Quốc như thế nào và họ cũng thầm hy vọng những lời tuyên bố của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc gặp gỡ này sẽ không đồng nghĩa với sự im lặng suốt những tuần vừa qua khi biển đảo quê hương bị xâm chiếm.

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tường thuật cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc lúc 16:30 tại Hà Nội 19/6/2014

Posted by hoangtran204 trên 19/06/2014

HÀ NỘI: BIỂU TÌNH ngày 19-6-2014  diễn ra TRONG 30 PHÚT thì bị CÔNG AN ĐÀN ÁP VÀ BẮT ĐI 7 NGƯỜI

xuandienhannom.blogspot.com

 

17h biểu tình chống Trung quốc nổ ra trước tượng đài Lý Thái Tổ. Số người tham gia khoảng 30-40. An ninh đông gấp 3-4 lần chưa kể các lực lượng chức năng khác.
Chính quyền nhanh chóng giải tán biểu tình trong khoảng 30 phút. Những người đã bị bắt đi trong đó có Facebooker Anh Chí, Lã Việt Dũng, Lê Thiện Nhân, Trương Văn  Dũng.Biểu tình chưa kip nổ ra, thì  Lã Việt Dũng và Anh Chí đã bị an ninh bắt.
Theo FB Thanh Nghiên, số người bị bắt đã là 7, gồm: anh Trương văn Dũng, chị Hạnh Tây Hồ Liberty, anh Lã Việt Dũng, cô giáo Đào Thu, anh Anh Chí, chú Nguyễn Văn Lịch, anh Lê Thiện Nhân. Tất cả đã bị bắt vào đồn công an phuờng Lý Thái Tổ.Theo FB Bạch Hồng Quyền, những người bị bắt tại vườn hoa Lý Thái Tổ đã bị đưa về CA phường Tràng Tiền.

 

Thanh niên tình nguyện (mặc áo xanh) được đưa đến cãi vã với người biểu tình
 Lã Việt Dũng (áo đen) đang bị 2 an ninh mặc thường phục bắt.
Lã Việt Dũng đang bị 2 an ninh mặc thường phục bắt.
Lê Thiện Nhân mặc áo vàng đang bị các an ninh mặc thường phục bắt.
Lã Việt Dũng đang bị 2 an ninh mặc thường phục bắt.

 

 Anh Chí đang bị 4 an ninh mặc thường phục bắt.

 

 

Xe đưa Anh Chí cùng Truong van Dung Lê Thiện Nhân về phường Tràng Tiền

 

“Người Việt sống ở các quốc gia khác thì được quyền biểu tình bày tỏ thái độ chống Trung Quốc, còn người Việt trên đất nước mình thì bị bắt bớ vì biểu tình chống Trung Quốc.
Chính quyền hiện nay là của ai, do ai và vì ai đây? Tôi có quyền nghi ngờ chính quyền này là của Trung cộng, do Trung cộng và vì Trung cộng.”
— Năm nhận định về quan hệ Việt-Trung (1) (pro&contra/ Ba Sàm). “Mỹ có đối đầu Tàu vì Việt Nam không? Không! Người hùng giờ thấm mệt, thích chăm việc nhà và việc gần hơn lo việc thiên hạ quá xa. Tàu có đánh Việt Nam không? Đánh làm gì khi Tàu gần như đã có những gì họ muốn: một chế độ ngoan như tay sai, một lãnh thổ họ tha hồ tung hoành và đang từng bước trở thành thuộc quốc. Đảng có cứu nước không? Làm gì có, vì có quá nhiều dấu hiệu cho thấy Đảng đang hành xử như tay sai mẫn cán của Tàu, lo giữ ghế hơn lo giữ nước. Chỉ còn lại dân? Đúng! Khi dân là những người tự do, không sợ hãi, không bị ngoại bang bịt miệng trói tay. Họ đang đẩy dân vào thế bất tuân dân sự? Vâng! Và đây sẽ là cuộc đấu tranh: ngoài chống giặc ngoại xâm, trong chống bọn bán nước, giành lại cho dân quyền lực chính đáng của mình“.
 NIỀM TIN (FB Nguyễn Hưng Quốc). “Chừng nào đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam chưa trả lời rõ ràng về công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 cũng như các thỏa thuận giữa họ với nhà cầm quyền Trung Quốc trong hội nghị Thành Đô năm 1990, dân chúng hoàn toàn có quyền nghi ngờ họ đã ngấm ngầm đầu hàng giặc“.
– Đáp số của những sự im lặng (RFA). Đã 6 tuần trôi qua kể từ khi giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trong vùng biển thuộc chủ quyền của VN. Dư luận cho rằng phản ứng từ cấp lãnh đạo đến cả người dân trong nước trước tình hình căng thẳng ở biển Đông hiện nay chỉ là sự im lặng.
– Trần Gia Phụng: Đã đến lúc phải dứt khoát (DLB). Đã đến lúc nhân dân Việt Nam phải dứt khoát hành động! Nếu không, thời kỳ bắc thuộc đen tối đang chờ đợi Việt Nam“.

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Sau khi gởi đơn lên LHQ tố cáo VN, nay Trung Quốc sai Dương Khiết Trì qua phủ dụ đảng và nhà nước VN: đàm phán song phương!

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2014

Trong khi kế hoạch chiếm lấy Biển Đông,  HS và TS của Trung Cộng rất rõ ràng, TQ đi từng giai đoạn rất qui cũ, thì đảng và nhà nước VN không có kế sách chi, ngoại trừ quyết giữ quan hệ 4 tốt, 16 chữ vàng!

Sau khi công bố 5 tài liệu để vận động tuyên truyền với quốc tế, nay TQ qua phủ dụ VN vào con đường đàm phán SONG PHƯƠNG!  Trong lúc nầy thì TQ đã kéo thêm vào 3 giàn khoan và tiếp tục xây dựng đảo Gạc Ma thành một đảo nổi; tàu chấp pháp cảnh sát biển VN vẫn bị tầu TQ xịt nước đuổi như đuổi tà. 

Đảng và nhà nước VN hiện chỉ cầu mong TQ không làm mạnh, để họ yên ổn bàn giao quyền lực vào năm 2016 cho

6 Hạt Giống Đỏ: Cha truyền con nối « Trần Hoàng Blog

Lãnh đạo cấp cao ngoại giao Trung Quốc sang Việt Nam để đàm phán

Chính quyền Bắc Kinh, ngày 17/06/2014 cho biết, lãnh đạo cấp cao phụ trách đối ngoại của Trung Quốc sang Việt Nam và sẽ có các « cuộc hội đàm thẳng thắn » với đại diện chính quyền Hà Nội, trong bối cảnh quan hệ hai nước căng thẳng do vụ giàn khoan dầu ở Biển Đông.

Dương Khiết Trì tại hội nghị Diễn đàn khu vực ASEAN ARF - 2011 Reuters

Theo phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Hoa Xuân Oánh (Hua Chunying), được AFP trích dẫn, Ủy viên Quốc vụ viên phụ trách đối ngoại, ông Dương Khiết Trì, sẽ gặp Phó Thủ tướng, Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh vào ngày 18/06.

Hai bên sẽ « trao đổi quan điểm về các vấn đề liên quan đến quan hệ song phương ». Vẫn theo đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc, « Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì sẽ có cuộc trao đổi thẳng thắn, sâu sắc với phía Việt Nam trong thời gian ông có mặt tại đây ». Trung Quốc « hy vọng phía Việt Nam sẽ lưu ý đến những lợi ích to lớn trong quan hệ song phương và cùng làm việc với Trung Quốc để giải quyết một cách đúng đắn tình hình hiện nay ».

Phía Trung Quốc chỉ thông báo thời điểm cuộc gặp tại Hà Nội giữa đại diện hai nước, nhưng không cho biết là ông Dương Khiết Trì tới Việt Nam vào lúc nào.

Từ đầu tháng Năm, Trung Quốc đưa giàn khoan có nhiều tàu đi hộ tống vào vùng biển mà Việt Nam khẳng định thuộc chủ quyền của mình, làm cho tình hình tại Biển Đông thêm căng thẳng.

Trung Quốc khẳng định vùng biển nơi hạ đặt giàn khoan dầu là thuộc chủ quyền của mình và yêu cầu Việt Nam không quấy rối các hoạt động thăm dò dầu khí của giàn khoan.

Trong khi đó, Việt Nam tố cáo Bắc Kinh xâm phạm chủ quyền, tàu bè Trung Quốc có những hành động hung hăng như phun vòi rồng, đâm tàu Việt Nam. Nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã xẩy ra ở Việt Nam, một số vụ dẫn đến bạo động, đập phá các cơ sở sản xuất của Trung Quốc và Đài Loan. Có ít nhất ba người Trung Quốc thiệt mạng trong các vụ bạo động này.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rõ là ông Dương Khiết Trì tới Việt Nam với tư cách là đồng Chủ tịch Ủy ban chỉ đạo hợp tác Trung – Việt. Các Chủ tịch gặp nhau định kỳ hàng năm, nhưng thời điểm cụ thể do các bên thỏa thuận.

Theo South China Morning Post, năm 2007, Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương đã đình hoãn các cuộc họp, sau vụ tàu Trung Quốc bắn cháy tàu cá Việt Nam và làm một ngư dân thiệt mạng.

Ông Dương Khiết Trì trước kia là Ngoại trưởng Trung Quốc. Năm ngoái, ông được bổ nhiệm làm Ủy viên Quốc vụ viện phụ trách đối ngoại, có quyền lực lớn hơn Ngoại trưởng.

Theo RFI

 

“Ông Dương Khiết Trì sẽ ép Việt Nam không nên tìm kiếm

hỗ trợ từ Mỹ”

18-6-2014

(GDVN) – Ông Trì sẽ nhắc lại sự phản đối (vô lý) của Trung Quốc với những nỗ lực của Việt Nam tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế.

 

The New York Times hôm nay đưa tin, ông Dương Khiết Trì, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc sẽ hội đàm với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh ngày hôm nay, trong đó 2 bên sẽ đề cập đến vụ giàn khoan 981 (Trung Quốc hạ đặt bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam).

Dương Khiết Trì là quan chức đứng đầu về đối ngoại trong chính phủ Trung Quốc, ông được biết đến như người theo đuổi việc quảng bá các hoạt động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông bằng lý sự cùn và ít khả năng đưa ra các nhượng bộ hay một bước đột phá trong tình hình căng thẳng, The New York Times dẫn lời các nhà ngoại giao giấu tên nhận xét.

Theo họ, rất có thể ông Trì sẽ nhắc lại sự phản đối (vô lý) của Trung Quốc với những nỗ lực của Việt Nam tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế trong việc phản đối Bắc Kinh xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trong vụ giàn khoan 981.

Ông Trì sẽ nhấn mạnh rằng Việt Nam không nên tìm kiếm sự hỗ trợ tinh thần hay vật chất nào từ Hoa Kỳ, các nhà ngoại giao cho biết. Chính quyền Tổng thống Obama đã lên án vụ hạ đặt trái phép giàn khoan 981 là hành động khiêu khích, bày tỏ sự không hài lòng với động thái đơn phương (gây hấn) của Trung Quốc.

Trong vài tuần quan, tình hình ở khu vực giàn khoan dường như đã rơi vào “sự ổn định nguy hiểm”, một quan chức chính quyền Mỹ thông thạo tình hình quan hệ Việt – Trung nói với The New York Times.

Theo Reuters, các chuyên gia cho rằng mặc dù việc ông Trì sang Việt Nam là một dấu hiệu 2 bên muốn giảm bớt căng thẳng nhưng có nhiều trở ngại để khôi phục mối quan hệ.

Hãng Reuters cho biết sau hội đàm với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, ông Dương Khiết Trì sẽ hội kiến với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đã hạ giọng khi bày tỏ: “Chúng tôi hy vọng rằng Việt Nam nên có cái nhìn đại cục, cùng với Trung Quốc hướng tới mục tiêu giải quyết tình hình hiện nay một cách thích hợp”. Tuy nhiên, Tân Hoa Xã vẫn luận điệu cũ vu cáo và xuyên tạc khi trích dẫn lời ông Trì trước đó yêu cầu Việt Nam “ngừng quấy rối các hoạt động bình thường của giàn khoan Trung Quốc”?!

The Diplomat ngày 18/6 bình luận, cuộc gặp giữa ông Dương Khiết Trì với đối tác Việt Nam là một dấu hiệu tích cực đầu tiên trong quan hệ Việt – Trung kể từ khi xảy ra khủng hoảng 981, nhưng hiện tại dường như có rất ít chỗ cho 1 sự thỏa hiệp.

Trung Quốc nhiều lần tuyên bố rằng họ sẽ không chấp nhận thỏa hiệp dù chỉ 1 tấc về cái gọi là “chủ quyền lãnh thổ”, không chấp nhận rút giàn khoan trong khi dư luận Việt Nam đã rất phẫn nộ trước hành động khiêu khích của phía Trung Quốc.

Tuy cuộc tiếp xúc này mặc dù không phải phương thuốc vạn năng chữa bách bệnh nhưng vẫn là một điều kiện tiên quyết cho việc xử lý khủng hoảng. Điều thú vị là ở chỗ, bản thân cuộc khủng hoảng giàn khoan 981 tự nó sẽ kết thúc vào ngày 15/8 khi hết thời hạn thăm dò.

Trung Quốc có thể hy vọng chỉ đơn giản là duy trì căng thẳng (thu hút sự chú ý) trong vụ giàn khoan cho đến lúc 981 được rút (để rảnh tay âm thầm, lén lút biến đá thành đảo một cách bất hợp pháp ở Trường Sa? PV).

http://www.baomoi.com/Ong-Duong-Khiet-Tri-se-ep-Viet-Nam-khong-nen-tim-kiem-ho-tro-tu-My/119/14090990.epi

—–

Một mặt, TQ dụ khi VN đàm phán SONG PHƯƠNG để câu giờ (TQ cần hoàn tất xây dựng đảo nổi Gạc Ma ở Trường Sa, một hòn đảo nổi có phi trường sẽ rẻ và tốt hơn 1 hàng không mẫu hạm  oử Biển Đông).

 Mặt khác, TQ quốc tế hóa tranh chấp, gởi đơn và tài liệu lên LHQ và 193 nước và trưng ra các tài liệu đảng và nhà nước VN đã công nhận HS và TS cùng Biển Đông là thuộc chủ quyền của TQ. 

►Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp biển Đông, trong khi đảng và nhà nước VN thích…giải quyết song phương!

 

Hỗ trợ Dương Khiết Trì ‘đàm phán’ trên bờ, Trung Quốc điều thêm 17 tàu đến khu vực giàn khoan (VNE). “Ngày 17/6, Trung Quốc duy trì số tàu ở khu vực giàn khoan khoảng 136 chiếc, tăng 77 chiếc so với hôm qua, gồm 39 tàu hải cảnh, 14 tàu vận tải, gần 20 tàu kéo, 58 tàu cá. Bên cạnh đó còn có sự hỗ trợ của 5 tàu quân sự“. – Trung Quốc tăng gần 20 tàu trong 1 ngày tới quanh giàn khoan 981 (NLĐ).  – Trung Quốc tăng hàng chục tàu quanh khu vực giàn khoan (DT). –Trung Quốc tăng số lượng tàu cá, máy bay trực thăng hạ xuống giàn khoan (LĐ).  – TQ lại điều máy bay trực thăng ra giàn khoan (VNN). – Phát hiện máy bay Trung Quốc hạ cánh xuống giàn khoan (GTVT).  – Tàu Trung Quốc ‘hung hăng, ngang ngược’ (BBC).

anhbasam.wordpress.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thư ngỏ gửi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Posted by hoangtran204 trên 17/06/2014

17-6-2014

Thư ngỏ gửi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Thưa Tổng bí thư,

Dù có danh nghĩa là Đảng lãnh đạo thì Đảng cũng là một thành phần và nằm trong Tổ quốc Việt Nam. Thế mà khi Trung Quốc đặt giàn khoan 981HD lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta mà Hội nghị trung ương 9 không có ý kiến phản đối, dư luận dân chúng cho là Đảng Cộng sản không chống sự xâm lược của Trung Quốc.

Tổng bí thư quá tin những nhà lãnh đạo Trung Quốc, quá trung thành với phương châm “16 chữ, tinh thần 4 tốt” do họ đề ra và quá tin vào hai Đảng cộng sản “cùng chung ý thức hệ” nên quá thân Trung Quốc, không cho làm điều gì mất lòng họ.

Trên thực tế, có bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc thực hiện “16 chữ, 4 tốt” chính họ đề ra đâu vì chiêu bài thâm hiểm “16 chữ, 4 tốt” họ đề ra chỉ cốt để ru ngủ, trói chân trói tay các nhà cầm quyền Việt Nam mà thôi. Ngược lại Trung Quốc không ngừng phá ta về kinh tế, can thiệp nội bộ ta về chính trị, đe dọa, lấn cướp ta về quân sự và làm biết bao nhiêu điều tàn ác trên vùng biển của ta. Chỉ kể từ năm 1988 họ đưa tàu chiến đến chiếm đảo chìm Gacma trong quần đảo Trường Sa, vì lúc đó ông Lê Đức Anh lệnh cho bộ đội ta không được nổ súng chống lại. Biết bao nhiêu lần họ bắn chìm tàu của ngư dân ta, bắn chết ngư dân ta, họ phá cáp của tàu Bình Minh và Viking II của ta thăm dò khảo sát trên vùng biển của ta. Họ lập cái gọi là huyện Tam Sa bao chiếm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta, lập căn cứ quân sự ở đó làm tiền đồn để tiến tới bá chiếm biển Đông. Chả nhẽ Tổng bí thư không biết tình hình như trên? Hành động của người bạn láng giềng hữu nghị là như thế đấy!

Cũng không phải băn khoăn về việc Trung Quốc đã giúp ta trong hai cuộc kháng chiến mà phải nhẫn nhịn nữa vì họ giúp ta trong đó có lợi ích của họ và cũng là thực hiện chính sách bành trướng mềm hòng kéo ta vào quỹ đạo của họ. Giúp ta nhưng trong Hội nghị Giơneve, Chu Ân Lai lại phản bội ta khiến nước ta bị chia cắt thành hai nửa trong thời gian dài, 20 năm mất bao xương máu mới thống nhất được. Độc ác nhất là phía biên giới Tây Nam, Trung Quốc trang bị cho bọn diệt chủng Polpot đánh phá bắn giết dân ta, phía Bắc thì Đặng Tiểu Bình huy động 60 mươi vạn quân giết hại nhân dân và tàn phá triệt để các tỉnh biên biên giới của ta. Thế là họ đã đòi nợ quá mức về sự viện trợ cho ta, tự họ xóa mọi ân nghĩa, còn đâu tình hữu nghị Trung Việt?

Tuy Đảng Trung Quốc và Việt Nam đều có tên là Đảng cộng sản nhưng làm gì có cùng chung ý thức hệ mà phải gắn bó với nhau?! Từ khi Đặng Tiểu Bình phát biểu “mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt” thì thực tế Trung Quốc đã vứt bỏ chủ nghĩa xã hội và đi con đường tư bản chủ nghĩa rồi tuy họ vẫn nêu là “xây dựng XHCN mang màu sắc Trung Quốc”. Chính vì bằng mọi thủ đoạn thực dụng, đi con đường tư bản chủ nghĩa một cách ma lanh mà hơn 30 năm nay Trung Quốc phát triển vượt bậc, trỗi dậy thành cường quốc ở châu Á. Thêm nữa, họ đương thực hiện “giấc mộng Trung Hoa” để trở thành một kiểu đế chế bá chủ khu vực, tiến lên bá chủ toàn cầu. Còn ở ta cũng cứ nêu là xây dựng XHCN nhưng từ khi mô hình XHCN Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, có ai hình dung ra mô hình XHCN mới nó như thế nào, tiêu chí ra sao, và thực tế trong xã hội Việt Nam hiện nay, cái gì là CNXH, đố ai chỉ ra được. Cứ nói “cùng chung ý thức hệ” – thật là hão huyền!

Tôi không phản đối giữ tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước nhưng tôi phản đối các thế hệ cầm quyền Trung Quốc luôn ấp ủ mưu đồ nô dịch Việt Nam.

Từ tình hình thực tế nêu trên đây, mong rằng Tổng bí thư nên có suy nghĩ để thay đổi. Trung Quốc đưa giàn khoan 981HD có hơn trăm tàu các loại xâm lấn chủ quyền nước ta, phun vòi rồng làm hư hại, đâm thủng tàu cảnh sát biển của ta, đâm chìm tàu, làm chết ngư dân ta, thái độ ngày càng hung hãn, ngang ngược. Tốt nhất là Tổng bí thư quay lại cùng toàn dân đấu tranh quyết liệt về chính trị, ngoại giao, pháp lý (ta tránh đối đầu quân sự với họ trừ phi Trung Quốc gây chiến đánh ta) để bảo vệ chủ quyền và độc lập, tự chủ, thoát ra khỏi vòng tay nham hiểm của bành trướng Đại Hán.

15 tháng 8 tới, do mùa mưa bão đến, Trung Quốc có thể tạm rút giàn khoan đi đến nơi nào đó lẩn tránh, không nên ảo tưởng là tình hình sẽ trở lại bình thường như cũ.

Việt Nam có chính nghĩa, được dư luận thế giới ủng hộ, lúc này là thời cơ, phải kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế để ngăn chặn sự xâm lăng của họ. Tuyệt đối không nên bỏ lỡ. Nếu còn chần chừ, e ngại không đấu tranh đến cùng thì ngày Việt Nam ta trở thành thuộc quốc của bành trướng Đại Hán không còn xa.

Đề nghị Tổng bí thư dỡ bỏ mọi rào cản để cho dân tộc đấu tranh sinh tồn và Tổng bí thư không phải chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử.

Kính chào,

N. T. V.

Tác giả gửi BVN

 

Với ông Nguyễn Phú Trọng, Bauxite Việt Nam từ lâu đã “kính nhi viễn chi”, bởi xin nói thật, cũng từ lâu tính chính danh của ĐCSVN đã như miếng da lừa trong truyện của Balzac khi va vào thực tế, chỉ còn để lại trong nhận thức của nhiều người ấn tượng không mấy nhẹ nhõm về một phe nhóm đầy quyền năng và cũng đầy tai tiếng – phe nhóm cầm quyền. Nhưng thể theo tinh thần lá thư của một người đáng kính, xin được bình luận vài câu.

Người Việt có câu thành ngữ: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, đó là phương châm sống đã trở thành một phần tập quán cởi mở thân thiện lâu đời của dân tộc này. Tuy nhiên, người Việt lại cũng còn có câu thành ngữ khác tỏ rõ chính kiến của mình: “Chị em bất ngãi ta đừng chị em”. Vậy thì, trong hoàn cảnh luôn luôn chịu sự ngược đãi bất nhân bất nghĩa từ “người chị” Trung Hoa mà với hành động ngang ngược thâm độc xung quanh vụ giàn khoan 981 HD gần đây, “chị” đã gây ra cho “em” biết bao điêu đứng, chưa thể là “giọt nước tràn ly” hay sao? Ông Tổng bí thư còn định nhẫn nhịn đến bao giờ nữa trong khi quân cướp biển kia chắc chắn đang cười ruồi thái độ “nhũn hơn chi chi” của ông kể từ bọn đang ngồi trong “nhà trắng Bắc Kinh” cho đến lũ tép riu đang chỉ huy các tàu chiến trá hình vây quanh cái giàn khoan nọ để ngày đêm xả vòi rồng vào các tàu kiểm ngư và đâm chìm tàu cá của dân ta?

Vậy chỉ có một ngã rẽ có lẽ là duy nhất lúc này: phải dứt khoát thoát khỏi “bà chị” lang sói đó thôi ông ạ. Mà cách thoát Trung đơn giản trước nhất là thoát ra khỏi cái ý thức hệ xã hội chủ nghĩa càng ngày càng méo mó, hão huyền do chính ông và đàn em ông đang khư khư ôm lấy. “Tổng bí thư hãy dỡ bỏ mọi rào cản để cho dân tộc đấu tranh sinh tồn và Tổng bí thư không phải chịu trách nhiệm nặng nề trước kịch sử” như lời khuyên chân tình của vị lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh dưới đây – bởi nói cho mỹ miều thì lịch sử đang “cho ông cơ hội”, còn nói đúng thực chất hơn: lịch sử đang sốt ruột chờ ông, e không chờ lâu hơn được nữa.

Bauxite Việt Nam

 

*Thật là độc ác ! Thế là sau 26 năm , kể từ năm 1988 đến nay 2014 , dân ta mới được biết một tin độc ác và đau lòng là chính Lê Đức Anh, khi đó là ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN,  đã tạo điều kiện để quân Tầu CHNDTH giết chết 74 sĩ quan và chiến sĩ QĐNDVN ở Gạc Ma vì ông đã lệnh cho bộ đội ta không được nổ súng chống lại chúng khi chúng đổ bộ lên đánh chiếm Gạc Ma 14-3-1988.
Xin hỏi : Ông Nguyễn Phú Trọng , đang với tư cách là Tổng bí thư ĐCSVN có cảm thấy hổ thẹn với nhân dân và Tổ quốc về việc này không và liệu ĐCSVN có tái diễn tội ác như thế này một lần nữa không ?
Bây giờ đang còn cơ hội để ông thức tỉnh và thay đổi . Ông hãy can đảm vứt bỏ chiêu bài lừa bịp ” 16 chữ và tinh thần 4 tốt ” của ĐCSTQ đề ra mà chính họ đã vứt vào sọt rác , để dân tộc VN thoát khỏi các rào cản do ĐCSVN tạo ra , để đấu tranh cho Tổ Quốc VN sinh tồn và giúp cho chính Ông thoát khỏi trách nhiệm trước lịch sử , như Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh khuyên Ông trong bức thư ngỏ này.

*Người Việt theo công sản đả bị một cú lừa lịch sử cùa Mao Trach Đông và nhửng người lảnh đạo.

Xem bài “Changes in Mao Tse Tung’s attitudes to wards the Indochina War, 1949-1973, Tác giả Yang Kuison (Beijing University), Woodrow Wilson International Centre for Scholars”
http://www.wilsoncenter.org/st…

thì sẻ thấy tham vọng bành trướng của phương bắc, đả được dấu đi hơn 40 năm cộng sản “đồng chí anh em “qua dạng “DẤU MÌNH CHỜ THỜI”, đối với Việt-Nam dấu minh chờ thời đả được gói bằng giấy 16+ 4, nay thì thời đả đến tờ giấy này đả được thay đỗi bằng “Giắc Mơ Trung Hoa” (phục hưng lại văn hóa thiên triều chư hầu). Sự thật đang bí xối vào mặt đảng CS Viêt-Nam, ai còn tin “còn đàng còn mình” là có tội với tổ quốc.

*Tại Thành Đô, 3 và 4-9-1990, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh xin xỏ Đặng Tiểu Bình: Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc xóa bỏ các hiểu lầm, các bất đồng đã qua. Phía Việt nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công xây dựng trong qua khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng “quy chế khu tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh”

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp biển Đông, trong khi đảng và nhà nước VN thích…giải quyết song phương!

Posted by hoangtran204 trên 17/06/2014

Trần Hoàng: Sau nhiều năm Trung Cộng DỤ KHỊ cho đảng và nhà nước VN vô tròng đi theo kế hoạch: Tranh chấp Biển Đông nên giải quyết theo con đường SONG PHƯƠNG (thương thảo giữa 2 nước TQ và VN…).

Trong mấy năm qua, chúng ta nghe tin nào là Nguyễn Chí Vịnh, Vũ Đức Đam, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang…nhao nhao tuyên bố tình hữu nghị Việt Trung là thắm thiết…

Khi biết chắc đảng và nhà nước đã VÔ SÂU, mà đỉnh điểm là Phùng Quang Thanh tuyên bố trong hội nghị Quốc Phòng ở Singapore: chuyện Biển Đông là chuyện gia đình…(các nước mần ơn đừng can thiệp, cứ để VN và TQ giải quyết…)

Trung Quốc bèn  đưa vấn đề biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa ra Liên Hiệp Quốc. TQ muốn cho thế giới thấy sự hèn nhát của đảng và nhà nước VN bằng cách công bố 5 tài liệu: Thủ tướng Phạm Văn Đồng công nhận đảo Hoàng Sa và Biển Đông là của TQ; VN đã không bao giờ lên tiếng phản đối TQ chiếm biển đảo mà còn in bản đồ và sách giáo khoa cho học sinh miền Bắc VN học rằng quần đảo HS và TS là của Trung Quốc. Đồng thời, Trung Quốc nhờ LHQ in các tài liệu nầy phân phối cho 193 nước hội viên của LHQ có kèm theo 5 tài liệu liên quan đến chuyện biển đảo. Trong đó, có luôn Công Hàm công nhận biển đảo của Phạm Văn Đồng ký ngày 14-9-1958. Công hàm nầy nhằm trả lời Tuyên Bố chủ quyền biển đảo của Trung Quốc ngày 4-9-1958…

Mời các bạn đọc:

Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp biển Đông

 
Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp với Việt Nam về một giàn khoan dầu ở Biển Đông một cách hiệu quả, bằng cách gửi yêu sách của mình đối với Hà Nội tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, vào ngày thứ hai vừa qua.
Như Shannon báo cáo ngày hôm qua, trên tờ Chủ Nhật Trung Quốc, Bộ Ngoại giao TQ phát hành một tuyên bố được mang tên “Các hoạt động của giàn khoan HYSY 981: khiêu khích của Việt Nam và vị trí của Trung Quốc“, chỉ trích hành động khiêu khích của Việt Nam trên các giàn khoan dầu và cung cấp các “phác thảo toàn diện nhất cho đến nay của Trung Quốc nhằm tuyên bố chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.
Cuối ngày hôm qua, tuyên bố đó đã được đăng trên trang web của Phái đoàn thường trực của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc. Theo hãng tin AP, vào thứ hai Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc, Wang Min, gửi giấy đến Tổng thư ký Ban Ki-moon và yêu cầu ông chuyển giao nó cho tất cả các thành viên của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Trên bề mặt, quyết định của Trung Quốc gia tăng tranh chấp tại Liên Hiệp Quốc là khá khó hiểu. Trung Quốc đã nhiều lần và liên tục chỉ trích yêu sách của các nước khác trong tranh chấp hàng hải, cũng như trách cứ phía thứ ba như Hoa Kỳ, và tuyên bố Trung Quốc không muốn “quốc tế hóa” vấn đề. Trung Quốc từng bị chỉ trích là trong các tranh chấp chỉ đơn thuần là nâng cao vấn đề này tại các diễn đàn khu vực như Đối thoại Shangri-La hay hội nghị thượng đỉnh của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngoài ra, Bắc Kinh đã từ chối đáp ứng các trường hợp Philippines đã nộp cho Tòa án Thường trực của Liên Hợp Quốc xin Liên Hiệp Quốc làm trọng tài vấn đề tranh chấp lãnh thổ của Manila với Bắc Kinh ở Biển Đông.
Thay vào đó, Trung Quốc đã chủ trương rằng các bên tranh chấp với Trung Quốc bao gồm Việt Nam hãy giải quyết vấn đề chủ quyền thông qua trực tiếp, đàm phán song phương, nơi ảnh hưởng của Bắc Kinh trên các nước láng giềng là lớn nhất.
Lý do Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp giàn khoan dầu với Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa có khả năng là không có tranh chấp lãnh thổ thực sự trong trường hợp đó. Trung Quốc hiện đang quản lý các quần đảo Hoàng Sa và do đó đã từ chối thừa nhận rằng tranh chấp lãnh thổ tồn tại ở đây. Thay vào đó, những nỗ lực của Việt Nam để ngăn chặn Trung Quốc thiết lập một giàn khoan dầu được miêu tả bởi Bắc Kinh là xâm lược không kiềm chế, và cho rằng Liên Hiệp Quốc là nơi để giải quyết vấn đề này.
Trong thực tế, quyết định của Trung Quốc để nêu vấn đề tại Liên Hiệp Quốc có thể phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Bắc Kinh về việc các nước láng giềng sử dụng luật pháp quốc tế để phủ nhận ưu thế quân sự của Trung Quốc. Bên cạnh trường hợp của Philippines đề cập ở trên, Việt Nam đã đe dọa sẽ kêu gọi trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa kể từ khi giàn khoan dầu hàng bắt đầu từ tháng trước. Làm như vậy, Việt Nam có thể sẽ có sự hỗ trợ của Nhật Bản, Úc và Hoa Kỳ, trong số các nước khác.
Bằng cách chủ động nâng cao vấn đề lên một cơ quan quốc tế và phác thảo tuyên bố của mình về chủ quyền, Trung Quốc có khả năng ngăn cản Việt Nam từ bỏ các hoạt động trên các mối quan hệ để thu hút dư luận và luật pháp quốc tế. Chiến lược này có vẻ hiển nhiên như phác thảo rộng rãi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, ngoài ra Trung Quốc cũng nỗ lực liên kết các yêu sách này của mình với các điều ước quốc tế khác như UNCLOS.
Một mặt, chiến lược này có ý nghĩa đối với quần đảo Hoàng Sa, nơi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là khá mạnh. Do đó, Bắc Kinh đang gần như chắc chắn hy vọng rằng triển vọng thua sẽ buộc Việt Nam phải từ bỏ các mối đe dọa kiện cáo, và sự thất bại của những nỗ lực của Hà Nội trong việc sử dụng luật pháp quốc tế sẽ ngăn chặn các quốc gia khác làm theo tương tự.
Đây là một canh bạc nguy hiểm, nếu như Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp và tin vào luật pháp quốc tế là cơ sở để tuyên bố chủ quyền và giải quyết tranh chấp . Trong khi điều này có thể làm lợi cho Trung Quốc trong tranh chấp với Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, chín đoạn tuyên bố đường lưỡi bò của Bắc Kinh nói chung về cơ bản là mâu thuẫn với luật pháp quốc tế. Do đó, Trung Quốc có nguy cơ sẽ thua trong các trường hợp khác.
Điều thú vị là Phó Đại sứ Wang cũng có bài phát biểu vào hôm thứ Hai tại một cuộc họp kỷ niệm kỷ niệm 20 năm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Theo một bảng điểm bằng tiếng Anh được xuất bản trên trang web của Liên Hợp Quốc của Trung Quốc, bài phát biểu của Wang không trực tiếp đề cập đến Việt Nam hoặc vùng biển Nam Trung Quốc. Thay vào đó, Wang ca ngợi UNCLOS và nói rằng Trung Quốc tuân thủ đầy đủ các hiệp ước, trước khi thêm rằng đó là “quyền lợi hợp pháp của các quốc gia độc lập là lựa chọn một cách để giải quyết hòa bình các tranh chấp.”
Cùng lúc đó, Wang cũng làm rõ:
Chính phủ Trung Quốc tin rằng cách hiệu quả nhất để giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp hàng hải là đàm phán và tham vấn giữa các bên trực tiếp liên quan đến việc tranh chấp trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế. Đây cũng là những gì đa số các quốc gia đã thành công trong giải quyết tranh chấp hàng hải của họ [nhấn mạnh]
Nhận xét của Wang cho thấy rõ ràng rằng Trung Quốc đã không thay đổi vị trí chung trên các tranh chấp hàng hải, và các bài phát biểu là có thể là Trung Quốc muốn cảnh báo thực tế này cho các quốc gia khác. 

—————–

 

Trần Hoàng bổ sung:

Tại hội nghị quốc phòng ở Singapore, 5-2014, Nhật đã lên tiếng mạnh mẻ phản đối Trung Cộng đã có chính sách gây hấn, đã kéo giàn khoan 981 vào Biển Đông, và yêu cầu TQ rút giàn khoan về…Kế đó, Mỹ đã tiếp lời Nhật phản đối TQ chiếm Biển Đông và có ý ngăn chận tự do hàng hải. Ai cũng tưởng VN sẽ phản đối TQ mạnh nhất. Nhưng trái với nhận định của mọi người, diễn văn của Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh do Bộ Chính Trị soạn thảo và đọc trước hội nghị quốc phòng ở Singapore: chuyện Biển Đông là chuyện gia đình, và không có một chữ nào lên tiếng phản đối Trung Cộng chiếm Biển Đông, và đồng thời PQ Thanh muốn song phương giải quyết với Trung Quốc!  

 

Lời tuyên bố của đại tướng Phùng Quang Thanh đã làm cho Nhật và Mỹ rơi vào hụt hẩng. Ai đời biển đảo của mình đang bị Trung Cộng chiếm đóng, kéo giàn khoan vào khoan dầu, mà không lên tiếng phản đối, lại còn về hùa với Trung Cộng, thì Nhật và Mỹ lấy tư cách gì, vf lấy cớ gì để phản đối Trung Cộng? Bởi vậy, chỉ vài ngày sau, Nhật đột ngột thay đổi dự định và tuyên bố: Sẽ không cung cấp tàu tuần duyên cho Việt Nam như đã hứa, và đưa ra lý do rất không thuyết phục: vì tình hình căng thẳng gia tăng giữa Trung Cộng và Nhật trong Biển Hoa Đông (đảo Sensaku). Ai mà đi tin một kẻ trí trá và gian xảo phải không các bạn? Chủ quyền biển đảo của nó mà còn nó không bảo vệ, thì dây dưa với bọn hèn nhát và khả ố nầy để làm gì. Như vậy có nghĩa là nếu VN muốn có tàu chiến thì VN phảỉ bỏ tiền túi mua tàu của Nhật để tuần tiểu. Không ai hơi đâu mà cung cấp hay viện trợ cho cái thứ hèn nhát và không ai hiểu NÓ muốn gì.]

 

►Trung Quốc tung tài liệu về HS và TS lên báo và tiết lộ bọn bán nước cầu vinh

 

►Thoát Trung -Phò 3X- phải coi chừng một sai lầm bi đát!

►Hoàng Sa – Những diễn biến lịch sử theo các tài liệu của Wikileaks

►Muốn thoát Trung mà có Cộng sản quang vinh lãnh đạo, búa liềm bất diệt, và lại có bác Hồ ngồi đó canh chừng thì đến mùa quýt mới …thoát thai được.

►Tòa quốc tế đòi Bắc Kinh đưa bằng chứng về đòi hỏi chủ quyền Biển Đông

►’Nhiều người Mỹ hối tiếc vì Hoàng Sa 1974′ – Việt Nam chẳng có sách lược nào để đối phó với TQ ở Biển Đông

►Thay vì tham khảo trước với Hoa Kỳ và Nhật Bản trước khi phát biểu, Tướng Thanh đưa hai nước nầy vào thế việt vị tại Hội nghị đối thoại Quốc phòng an ninh châu Á (Shangri La 2014)

►Tin Nóng: Lần đầu tiên Mỹ phái 2 máy bay do thám tới vùng Biển Đông và vùng Biển Hoa-Đông để quan sát các hoạt động quân sự trên biển và trên bộ của TQ và Bắc Triều Tiên

►”Hữu Nghị viển vông, lệ thuộc”…, Quả bồ hòn đắng quá…đã thực sự nhả ra chưa?

►Những sự mất mát trên Biển Đông

►Phát ớn: Bộ trưởng Quốc phòng TQ Thường Vạn Toàn gặp Bộ trưởng Quốc phòng VN Phùng Quang Thanh

►Ớn chè đậu! Phó Thủ Tướng: đời con cháu chúng ta sẽ đòi được theo đúng luật pháp quốc tế…Không liên minh với nước nào để chống lại Trung Quốc

►”Không để nước ngoài chia rẽ Việt-Trung”, Bộ trưởng Quốc phòng VN

►’Nhường Trung Quốc mỗi tấc đất, là mất đi vĩnh viễn’, Tiến Sĩ Peter Navarro

►Không, cuộc tấn công Biển Đông của Bắc Kinh không phải là vì dầu và cá…

►Báo The NY Times loan tin: TBT Nguyễn Phú Trọng đề nghị gặp Tập Cận Bình ở Bắc Kinh về vụ khoan dầu của TQ bên trong lãnh hải Việt Nam, nhưng đã bị từ chối

►Đây là lập trường của Trung Quốc về khoan dầu ở Biển Đông

►Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra trọng tài quốc tế?

 

►Xin 5000 giấy phép khai mỏ khoáng sản, sau đó bán 3000 giấy phép cho Trung Quốc khai thác!

►Bí thư Thành ủy Quảng Ninh đề xuất cho đối tượng nước ngoài thuê đất 120 năm khi trả tiền một lần!

 

 

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►TS Hà Vũ: ‘TQ chiếm nốt Trường Sa, chính thể VN thay đổi mới có liên minh quân sự Việt-Mỹ’

Posted by hoangtran204 trên 17/06/2014

Trà Mi phỏng vấn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ (Ảnh: Khải Nguyễn)

Trà Mi-VOA phỏng vấn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ (Ảnh: Khải Nguyễn)

TS Hà Vũ: ‘TQ chiếm nốt Trường Sa, chính thể VN thay đổi mới có liên minh quân sự Việt-Mỹ’

15-6-2014

Trà Mi-VOA

Một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng, xuất thân từ một gia đình ‘công thần’ với đảng cộng sản Việt Nam, cho rằng bao giờ Trung Quốc chiếm nốt Trường Sa, chính thể Việt Nam thay đổi, mới có thể có liên minh quân sự giữa Việt Nam với Hoa Kỳ.

Nhận định của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ được đưa ra giữa bối cảnh tranh chấp Biển Đông tiếp tục leo thang với giàn khoan 981 Trung Quốc đưa vào khu vực Việt Nam có tuyên bố chủ quyền, làm khơi dậy những tranh luận về khả năng Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ để đối phó với sự xâm lược từ Bắc Kinh.

Việt-Mỹ có thể đồng hành quân sự với nhau hay không và lợi-hại của việc này ra sao? Đó cũng là nội dung cuộc trao đổi giữa Trà Mi VOA Việt ngữ hôm nay với Tiến sĩ luật Hà Vũ, người cách đây 4 năm từng tuyên bố rằng ‘Đồng hành quân sự với Mỹ là mệnh lệnh thời đại để bảo vệ chủ quyền trước sự lấn lướt của Trung Quốc’ vì ‘chỉ có Mỹ với tư cách cường quốc duy nhất trên thế giới sẵn sàng đối mặt với Trung Quốc về quân sự’ mới có thể giúp Việt Nam ‘giải bài toán an ninh lãnh thổ.’Con trai cố thi sĩ Cù Huy Cận cũng là người đã nhiều lần kiến nghị giới lãnh đạo Việt Nam tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ để bảo vệ chủ quyền quốc gia trước hiểm họa bành trướng của Trung Quốc.

VOA: Theo ông, với tình hình hiện nay, về phía Mỹ, chuyện ‘đồng hành quân sự’ với Việt Nam có khả thi?

TS Cù Huy Hà VũHoàn toàn khả thi. Mỹ với tư cách siêu cường thế giới có lợi ích toàn cầu thì mọi xung đột quân sự trên thế giới đều ảnh hưởng tới quyền lợi của Mỹ, ảnh hưởng tới bối cảnh hợp tác của Mỹ với các nước. Cho nên, bắt buộc Mỹ phải quan tâm đặc biệt là hiện nay Trung Quốc đã thể hiện quá rõ ràng hành động xâm chiếm lãnh thổ của các nước ở Đông Á.

VOA: Khả thi, nhưng thiện chí của Mỹ trong chuyện ‘đồng hành quân sự’ với Việt Nam ra sao? Với cách phản ứng của Mỹ trước các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông hiện nay dừng lại ở mức ‘lên tiếng phản đối’ và ‘bày tỏ quan ngại’, người ta nghi ngờ khả năng Mỹ tiến gần hơn với Việt Nam để ‘tái cân bằng lực lượng’ ở Châu Á là chưa mấy tích cực. Ý kiến ông thế nào?

TS Cù Huy Hà VũMọi người không hiểu đúng chính sách của Mỹ. Mỹ đặc biệt quan tâm đến ổn định ở Đông Á và tình hình Biển Đông nói riêng. Các hành vi gây xung đột của Trung Quốc, đương nhiên Mỹ phải đặc biệt quan tâm vì nó làm gián đoạn đường lưu chuyển của quốc tế. Thế nhưng, việc sẵn sàng can dự từ phía Mỹ để giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền phải có điều kiện, phải có hiệp ước liên minh quân sự.

VOA: Liệu Mỹ có sẵn sàng đánh đổi những quyền lợi về thương mại-quân sự với bạn hàng rất lớn là Trung Quốc để đi bảo vệ những nước nhỏ hơn trong khu vực?

TS Cù Huy Hà VũKhông phải lúc nào quan hệ với nước lớn cũng đè bẹp quan hệ với nước nhỏ. Ở đây còn có vấn đề chính nghĩa. Nếu chỉ thấy Trung Quốc là nước rất lớn mua hàng hóa của mình mà mặc kệ Trung Quốc muốn làm gì làm, thì đến lúc nào đó, chính sách chỉ trọng đồng tiền sẽ dẫn đến việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự dẹp tan quyền lợi của Mỹ. Việc Mỹ ủng hộ Việt Nam về mặt quân sự chống lại xâm lược Trung Quốc cũng chính là bảo vệ quyền lợi của Mỹ, không chỉ bảo vệ đường giao thông hàng hải ở Đông Á mà còn để khẳng định với Trung Quốc rằng phải chấm dứt ngay những hành động phiêu lưu quân sự. Tóm lại, Mỹ nhất thiết phải ủng hộ Việt Nam. Nhưng Mỹ chỉ có thể ký hiệp định liên minh quân sự với một nước có chế độ chính trị, nếu không hoàn toàn thân thiện, thì cũng không thù địch. Mỹ luôn có chính sách chống lại chủ nghĩa cộng sản vì đó là chủ nghĩa vô nhân, xâm hại những quyền căn bản của con người. Bây giờ Việt Nam vẫn duy trì chế độ chống lại con người ấy mà Mỹ lại ủng hộ chế độ đó thì không khác gì phản lại lý tưởng vì con người của mình, phản lại các giá trị nhân bản của Mỹ và của thế giới.

VOA: Quan hệ Việt-Mỹ lâu nay vẫn có những rào cản. Với cuộc đối thoại nhân quyền vừa diễn ra tháng rồi và tình hình Biển Đông hiện nay, ông dự kiến sẽ trông thấy những điều gì sắp tới?
  

Vợ chồng Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tại trụ sở đài VOA.Vợ chồng Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tại trụ sở đài VOA.

TS Cù Huy Hà Vũ: Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, Việt Nam tất yếu phải liên minh quân sự với Mỹ. Muốn vậy, Việt Nam phải từ bỏ chế độ độc tài, phải trao lại quyền làm chủ đất nước cho người dân thông qua bầu cử công khai, tự do, có sự giám sát của Liên hiệp quốc. Mỹ trong cuộc đối thoại nhân quyền tháng 5 qua đã đòi hỏi Việt Nam cải thiện nhân quyền, trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến và hủy các căn cứ pháp lý dựa vào đó bỏ tù họ. Việt Nam cũng đã có những cam kết sẽ cải thiện. Đây không phải là vấn đề nhân nhượng mà là cái thế bắt buộc Việt Nam phải cải thiện nhân quyền. Vì nếu không, những thứ khác sẽ ách tắc, từ việc gia nhập Hiệp định tự do thương mại TPP cho đến sự hỗ trợ từ Mỹ chống xâm lược từ Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi cảnh báo rằng cộng sản Việt Nam nói không đi đôi mà thậm chí còn ngược lại với hành động. Họ cam kết điều này điều kia với Mỹ và Liên hiệp quốc với tính chất thủ đoạn, chiến thuật câu giờ để chế độ cộng sản tồn tại được lúc nào hay lúc nấy. Cho nên, tôi thật sự hoàn toàn không tin tưởng vì hiện nay đảng cộng sản Việt Nam vẫn đặt lợi ích của họ lên trên lợi ích dân tộc.

VOA: Nhiều người nói trong nội bộ đảng vẫn chưa thống nhất được chính sách thân Tây hay thân Tàu vì giữa lúc Bộ Ngoại giao kêu gọi Mỹ ‘có hành động mạnh mẽ hơn’ để bảo vệ hòa bình Biển Đông thì Bộ Quốc phòng, tại Đối thoại Shangri-la, nói quan hệ Việt-Trung nhìn chung tốt đẹp và rằng ngay trong gia đình còn có xích mích huống chi là các nước láng giềng, va chạm là điều khó tránh khỏi.

TS Cù Huy Hà VũTrong ban lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay không có phe thân Tây hay phe thân Tàu, mà chỉ có một phe quyết giữ cho được độc tài của đảng cộng sản để cướp bóc hơn nữa tài sản của nhân dân và quốc gia. Tuy nhiên, trong cách hành xử họ có sự phân công. Bên đảng tập trung vào chuyện hòa hiếu với Trung Quốc. Bên nhà nước thì tìm cách kéo sự can thiệp của phương Tây giúp giải tỏa phần nào tâm lý người dân trước hành vi xâm lược của Trung Quốc vì hiện giờ người dân vô cùng phẫn nộ trước các chính sách của nhà nước đối với Trung Quốc.

VOA: Theo ông, không có phe thân Tây hay thân Tàu trong nội bộ đảng, chỉ có một phe thân lợi ích của chính họ mà thôi. Vậy những điều kiện như thế nào cần và đủ để giới lãnh đạo Việt Nam bắt buộc phải thay đổi vì quyền lợi đất nước?

TS Cù Huy Hà VũĐiều kiện để họ thay đổi là Trung Quốc tiến tới xâm lược nốt quần đảo còn lại là Trường Sa. Trong trường hợp đó, nhân dân và quân đội Việt Nam sẽ phải có hành động chính thức buộc đảng cộng sản từ bỏ quyền lực của mình, lập chính phủ mới hoàn toàn của dân. Chính phủ đó lúc ấy mới có thể đặt vấn đề liên minh quân sự với Mỹ và chỉ trong trường hợp đó Mỹ mới có thể giúp Việt Nam về mặt quân sự để bảo toàn lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông.

VOA: Có người cho rằng nếu Việt Nam nghiêng về Trung Quốc thì mất Biển Đông, mất chủ quyền; nhưng nghiêng về Mỹ thì tự biến mình thành tuyến đầu chống Trung Quốc, đẩy dân tộc vào nguy cơ xung đột chiến tranh và nhiều rủi ro với Trung Quốc. Ý kiến ông ra sao?

TS Cù Huy Hà VũÝ kiến đó hoàn toàn sai lầm. Trong quan hệ quốc tế ngày nay là bảo vệ quyền lợi của nhau chứ không phải liên kết với nhau để chống lại hay xâm hại quyền lợi của nước khác.

VOA: Từ kinh nghiệm của Việt Nam với Mỹ trong quá khứ, cũng có người lo ngại rằng kết thân với Mỹ, trong trường hợp nào đó, khi quyền lợi của Mỹ ngả nghiêng về một hướng khác thì Việt Nam cũng có thể bị bỏ rơi một lần nữa.

TS Cù Huy Hà VũTôi không nghĩ như vậy. Khi Việt Nam và Mỹ thật sự cần đến nhau thì không có khái niệm Mỹ bỏ rơi Việt Nam hay ngược lại. Nếu chế độ độc tài của đảng cộng sản Việt Nam được giải thể thì Mỹ chắc chắn sẽ coi Việt Nam không những là nước bạn, mà còn là nước có thể hợp tác trong mọi lĩnh vực để cùng nhau phát triển.

VOA: Xin chân thành cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

TS Hà Vũ: Trong ban lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay không có phe thân Tây hay phe thân Tàu, 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Cựu Đại sứ Nguyễn Trung: Việt Nam nhất thiết phải thay đổi, sống hay là chết!…dứt khoát phải thoát ra khỏi sự kìm kẹp của ý thức hệ, vươn lên tự do dân chủ

Posted by hoangtran204 trên 16/06/2014

Xin hãy mở to mắt

15-6-2014

Nguyễn Trung, (cựu đại sứ CHXHCNVN tại Thái Lan)

Tiếp theo những sự kiện gây hấn liên tục từ mấy năm nay ở Hoa Đông và khu vực bãi san hô Scarbourough, sự kiện giàn khoan HD 981 và việc Trung Quốc đang ráo riết xây dựng các căn cứ nổi tại các bãi đá Gạc Ma, Chữ Thập thuộc nhóm các đảo Trường Sa của Việt Nam (Trung Quốc đánh chiếm năm 1988) đánh đi một tín hiệu báo động với các nước trong khu vực và cả thế giới: Trung Quốc đang bước vào thời kỳ thực hiện quyết liệt khát vọng bá chiếm Biển Đông, với mục tiêu trước mắt trở thành đế chế đại dương.

Toàn bộ bước đi nói trên của Trung Quốc mở đầu một giai đoạn mới của quá trình thực hiện khát vọng trở thành siêu cường vào khoảng giữa thế kỷ này. Với những tính toán dựa trên thực tế là cục diện quốc tế sau chiến tranh Iraq (2003 -2010) đã chuyển sang thế giới đa cực với nhiều diễn biến mới phức tạp, Trung Quốc trong nhiệm kỳ Hồ Cẩm Đào (khóa 17 của ĐCSTQ 2007 – 2012) đã chủ trương kết thúc thời kỳ giấu mình chờ thời, để chuyển sang thời kỳ thể hiện sức mạnh thực hiện “giấc mơ Trung Hoa”, với những bước đi cứng rắn được xác định tại đại hội 18 của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thời Tập Cận Bình.

Trên thế giới sau chiến tranh Iraq (2003 – 2010), nước Mỹ thời Obama từ nhiệm kỳ I đã chuyển mạnh sang quan điểm chiến lược san sẻ trách nhiệm giữa các đồng minh trong những vấn đề quốc tế và đề ra chiến lược trục xoay về Châu Á – Thái Bình Dương để đối phó với sự lấn át ngày càng leo thang của Trung Quốc đang uy hiếp các nước láng giềng trong khu vực.

Trong bối cảnh tình hình rất phức tạp ở Ukraina, việc Nga sáp nhập Crimea (04-2014) là bước mở đường đưa đế chế Nga trở lại chính trường quốc tế. Đồng thời với sự kiện Crimea, hợp tác Nga – Trung qua chuyến đi Trung Quốc của Putin tháng 05-2014 đã tạo ra một dạng tập hợp lực lượng mới đối phó lẫn nhau giữa các “cực” lớn trên thế giới. Động thái này mang lại nhiều lợi thế mới cho Trung Quốc để (a) khai thác những cơ hội mới đang đến, và (b) để phát huy lợi thế tương đối do sức mạnh áp đảo tại chỗ trong khu vực Đông Nam Á.

Cũng khoảng một thập kỷ nay các nước phương Tây nói chung đang phải trải qua một thời kỳ thay đổi quyết liệt cấu trúc kinh tế, phải xử lý nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế nói chung và trong những biến động mới của địa kinh tế và địa chính trị của cục diện quốc tế hôm nay nói riêng. Nói một cách đơn giản, Mỹ và các nước phương Tây đang ở trong thời kỳ rất bận rộn với chính bản thân mình. Trong khi đó sự phụ thuộc lẫn nhau ở phạm vi toàn cầu ngày càng phức tạp hơn, xử lý vấn đề nào cũng vướng phải tình trạng rút dây động rừng (dẫn chứng rõ nét nhất là Mỹ và phương Tây có nhiều lợi ích đối kháng với lợi ích của Nga và Trung Quốc, nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau – nhất là trong kinh tế – giữa tất cả các đối thủ này vẫn ngày càng lớn).

Trung Quốc bất chấp đạo lý và luật pháp quốc tế, cũng không quan tâm đến trách nhiêm là nước lớn, luôn luôn theo đuổi cách hành xử “mục tiêu biện minh cho biện pháp”, do đó đang khai thác tốt nhất những rối ren trên thế giới.

Mấy tháng gần đây lại nổi lên thánh chiến của lực lượng Nhà nước Hồi giáo và Cận Ðông (ISIL) có mối liên hệ mật thiết với mạng lưới al-Qaeda và Taliban. Diễn biến mới này chẳng những có nguy cơ nhấn chìm Iraq trong nội chiến, mà đang cùng với những biến động phức tạp ở Ai-cập và Syrie có thể đảo ngược tình hình toàn khu vực Trung Đông với những hệ quả khó đoán trước. Mỹ và phương Tây đang rất lúng túng. Tình hình nghiêm trọng đến mức Iran – vốn là “kẻ thù nguy hiểm” của Mỹ và Iraq – đã tuyên bố sẵn sàng hợp tác với Mỹ và Iraq trong việc đẩy lùi phiến quân thánh chiến ISIL, kể cả việc đưa quân vào Iraq. Đương nhiên, những diễn biến mới này đang tạo ra tình hình “đục nước béo cò” cho các đối thủ ngoài cuộc.

“Con cò ngoài cuộc” lớn nhất hiện nay đang là Trung Quốc.

Nhờ vào tận dụng các lợi thế riêng và triệt để khai thác quá trình toàn cầu hóa, kinh tế Trung Quốc dù nhiều khuyết tật thế nào đi nữa vẫn đang có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong số tất cả các cường quốc, có khả năng trở thành nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất hành tinh vào giữa thế kỷ 21, vô luận cái giá nhân dân Trung Quốc và các nền kinh tế khác phải trả như thế nào cho sự phát triển này. Với dự trữ ngoại tệ hiện nay khoảng 4000 – 4500 USD (lớn nhất thế giới, gấp khoảng 20 lần của Mỹ, khoảng gấp 3 Nhật, gấp 4 khối EU…), với ngân sách quốc phòng từ hơn một thập kỷ nay tăng 2 con số, Trung Quốc đang tạo ra cho mình một lực lượng quân sự có thế mạnh áp đảo tại chỗ so với các nước trong khu vực Đông Nam Á.

[ Ở đoạn trên, ông NT viết nhầm hai chỗ: 1./  Số liệu mà Bắc Kinh công bố mới đây cho thấy, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tính đến cuối tháng 12-2013 đạt mức kỷ lục 3,82 ngàn tỉ USD . 2./ Năm 2014, Trung Quốc dự kiến tăng ngân sách quốc phòng lên mức 12,2%. Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc trình bày báo cáo trước Quốc hội cho biết, ngân sách chi tiêu quốc phòng năm nay sẽ tăng lên 808,23 tỷ nhân dân tệ (131 tỷ USD)]

Cục diện quốc tế nói trên, bối cảnh cụ thể của khu vực Đông Nam Á hiện nay, và đòi hỏi bên trong cùng với tiềm lực Trung Quốc đã tích tục được, đấy là ba nguyên nhân chủ yếu dẫn tới kết thúc thủ đoạn giấu mình chờ thời, để từ những năm gần đây chuyển hẳn sang giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông.

Cái nền làm cơ sở cho quyết định của Trung Quốc trên Biển Đông cho thấy:

(a) sự kiện giàn khoan HD 981 là một bước đi có tính toán kỹ lưỡng trong toàn bộ chiến lược lớn của Trung Quốc, cố khai thác tối đa những diễn biến mới trong cục diện đa cực rất phức tạp của bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay;

(b) sự kiện giàn khoan HD 981 cùng với việc ráo riết xúc tiến xây dựng các căn cứ quân sự nổi ở Gạc Ma và Chữ Thập nằm trong tổng thể ý đồ chiến lược mở ra thời kỳ mới quyết liệt giành bá quyền trên Biển Đông;

(c) các lý do (a) và (b) nêu trên cho thấy sự kiện giàn khoan HD 981 không phải là một hành động đơn lẻ của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và lãnh hải chống Việt Nam, mà là một hành động mang tính chất xâm lược, nằm trong tổng thế chiến lược bá chiếm Biển Đông;

(d) việc Trung Quốc khăng khăng cự tuyệt đối thoại với Việt Nam để giải quyết hòa bình sự kiện giàn khoan HD 981, xuyên tạc trắng trợn sự thật để chủ động tố cáo Việt Nam về sự kiện này tại Liên Hiệp Quốc, ráo riết thực hiện những thủ đoạn ngoại giao hung hăng khác trên các diễn đàn quốc tế (gần đây nhất là diễn đàn Shangri La 13) cho thấy Trung Quốc đã chủ động vứt bỏ 4 tốt và 16 chữ trong quan hệ với Việt Nam – vì đã sử dụng xong rồi.

Đến đây có thể rút ra nhận định: Cùng với việc mở đầu thời kỳ quyết liệt thực hiện khát vọng bá chiếm Biển Đông, Trung Quốc còn chủ động tạo ra những yếu tố đối kháng mới trong quan hệ với Việt Nam. Liên quan đến sự kiện giàn khoan HD 981, có thể xem việc kích động bạo loạn trong những ngày 13 và 14-05-2014 cướp phá khoảng 800 xí nghiệp của Việt Nam có FDI tại 22 địa phương, gây cho phía Việt Nam nhiều thiệt hại rất lớn về kinh tế và chính trị là dẫn chứng mới nhất của những yếu tố đối kháng này trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Việt Nam. Hiển nhiên Trung Quốc đã chuyển quan hệ song phương giữa hai nước sang một thời kỳ quyết liệt mới.

Trong khi đó nước ta như thế nào và đang đứng ở đâu?

Bước vào năm độc lập thống nhất đất nước thứ 40, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của Việt Nam đã tạo ra những bước phát triển ban đầu, với kết quả trở thành nước có thu nhập trung bình – đúng ra phải nói là nước có thu nhập trung bình thấp. Nhưng tình hình cho thấy mặc dù sự nghiệp công nghiệp hóa của Việt Nam trong 3 thập kỷ vừa qua đã huy động được một nguồn lực có mọi nguồn gốc khác nhau lớn khoảng gấp đôi của Hàn Quốc cho thời kỳ này (cũng khoảng 3 thập kỷ: 1960 – 1990), nhưng Việt Nam không thể hoàn thành công nghiệp hóa vào năm 2020. Hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nghèo, năng suất lao động thấp nhất trong khu vực, từ năm 2007 bước vào cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế rất trầm trọng, nợ nần lớn, hiện nay vẫn đang tìm đường ra.

Trong khi đó chế độ chính trị định hướng xã hội chủ nghĩa do ĐCSVN xây dựng lên cho đất nước độc lập thống nhất hiện nay đã bị tha hóa của quyền lực biến thành chế độ toàn trị: Đảng đứng trên nhà nước và pháp quyền, ngăn cấm tự do tư duy, tước đoạt nhiều quyền của công dân đã ghi trong hiến pháp, quan liêu và tham nhũng nặng nề… Thể chế chính trị hiện nay có nhiều bất công xã hội gay gắt, trấn áp dân tùy tiện, nền giáo dục bị khủng hoảng trầm trọng, tệ nạn xã hội tràn lan. Một chế độ chính trị như vậy cùng với thực trạng kinh tế – văn hóa – xã hội của đất nước hiện nay có nhiều mặt xuống cấp nguy hiểm, phải nói về thực chất đã và đang hình thành lên ở nước ta một ách nô dịch mới, kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Có thể nhận định: Thực hiện đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước theo ý thức hệ định hướng xã hội chủ nghĩa của ĐCSVN, Việt Nam đã kết thúc một giai đoạn phát triển thất bại (1975 – 2014). Nét nổi bật nhất của thất bại này là các thành tựu đạt được rất thấp so với (a) vốn, công sức và thời gian đã bỏ ra, (b) so với tài nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên đã bị lấy đi, (c) so với cơ hội đất nước có được trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, (d) so với mức sống, hạnh phúc và các phúc lợi xã hội cũng như so với các quyền tự do dân chủ người dân lẽ ra phải được hưởng.

Sau 40 năm phát triển đầu tiên thời độc lập thống nhất, đến hôm nay Việt Nam chỉ có được một nền kinh tế với cơ cấu lạc hậu, kết cấu hạ tầng kém phát triển, chất lượng nguồn nhân lực thấp, năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế vốn đã thấp lại đang giảm sút. Trong khi đó thể chế chính trị quá yếu kém và có nhiều bất cập. Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi sống còn phải chuyển sang một thời kỳ phát triển kinh tế bền vững và phải có một thể chế chính trị pháp quyền dân chủ bảo đảm tạo ra bước phát triển mới này của đất nước.

Yếu kém về kinh tế và yếu kém của thể chế chính trị 40 năm qua không những lấy đi nhiều cơ hội phát triển của Việt Nam, mà còn khiến cho Việt Nam chỉ giành được vị trí quốc tế thấp và không phát huy được vai trò cần phải có của mình trong quan hệ quốc tế. Thực tế này giảm thiểu đáng kể khả năng phát triển, khả năng hội nhập và khả năng bảo vệ lợi ích của đất nước.

Đặc biệt đường lối gìn giữ quan hệ đại cục với Trung Quốc trên cơ sở ý thức hệ mang lại cho đất nước sự lệ thuộc toàn diện rất nghiêm trọng, tạo ra sự can thiệp nguy hiểm của quyền lực mềm Trung Quốc vào đời sống mọi mặt của đất nước, kìm hãm sự phát triển của đất nước như một chư hầu kiểu mới của Trung Quốc. Thực tế cho thấy Việt Nam càng kiên trì giữ “đại cục”, Trung Quốc càng lấn tới, 4 tốt và 16 chữ chỉ là chuyện lừa bịp. Việc Trung Quốc tự tay vứt bỏ 4 tốt và 16 chữchứng minh sự phá sản của các mối quan hệ giữa hai đảng (ĐCSVN & ĐCSTQ) và hai nước (VN & TQ) dựa trên ý thức hệ. Thực ra đó chỉ là sự phá sản ý thức hệ của ĐCSVN, sự phá sản của những ảo tưởng của ĐCSVN về Trung Quốc. Bởi vì trên thực tế từ hơn nửa thế kỷ nay ĐCSTQ chỉ có ý thức hệ siêu cường Đại Hán dưới cái tên gọi là CNXH đặc sắc Trung Quốc. Hiện nay tự tay Trung Quốc còn đang gây ra những yếu tố đối kháng mới trong quan hệ với Việt Nam.

Toàn bộ những vấn đề trình bầy trên cho thấy:

1) Từ một thập kỷ nay thế giới đã chuyển sang cục diện đa cực với nhiều diễn biến rất phức tạp tác động đến mọi quốc gia, đòi hỏi mọi quốc gia phải thay đổi để đối phó; Trung Quốc đang ra sức khai thác tình hình này.

2) Từ những năm gần đây Trung Quốc đã thực sự bước vào thời kỳ quyết liệt thực hiện khát vọng bá chiếm Biển Đông, thách thức trực tiếp độc lập và chủ quyền của Việt Nam, tích tụ những yếu tố đối kháng mới trong quan hệ với Việt Nam, tiếp tục siết chặt hơn nữa sự lệ thuộc của Việt Nam để lũng đoạn.

3) Đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước 40 năm qua theo định hướng xã hội chủ nghĩa của ĐCSVN cơ bản là thất bại, đòi hỏi Việt Nam bắt buộc phải chuyển sang một thời kỳ phát triển bền vững và phải có một thể chế chính trị phát huy được quyền làm chủ của nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ này.

4) Cục diện mới hiện nay của thế giới và trong khu vực đang đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức mới – nhất là trong mối quan hệ song phương Việt – Trung. Thực tế khách quan này càng đòi hỏi: Để thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của mình, Việt Nam nhất thiết phải tạo ra cho mình sự phát triển bền vững với một thể chế chính trị phải có cho một quốc gia độc lập do nhân dân làm chủ.

Đấy là bốn vấn đề sống còn đặt ra cho đất nước ta hôm nay.

Tựu trung lại (a) đất nước ta đang sống trong một thế giới có những thay đổi và thách thức rất gay gắt của cục diện đa cực, (b) phải đối phó với một Trung Quốc bước vào thời kỳ mới quyết liệt bá chiếm Biển Đông, (c) bản thân nước ta cũng đang đòi hỏi phải có sự thay đổi triệt để để phát triển. Do đó có thể kết luận:

Đất nước ta dứt khoát phải thoát ra khỏi sự kìm kẹp của ý thức hệ, vươn lên tự do dân chủ, để tìm đường đi vào một thời kỳ phát triển mới trong một thế giới đã chuyển giai đoạn và trong tình hình Trung Quốc đang đặt nước ta trước những thách thức mới.

Cho phép tôi kêu gọi: Hễ là người Việt Nam, xin mỗi chúng ta hãy mở to mắt nhìn thẳng vào bốn vấn đề sống còn như vậy đang đặt ra cho đất nước hôm nay, đòi hỏi đất nước ta phải thay đổi toàn diện để giải quyết thành công.

Nhìn thẳng vào những đòi hỏi khách quan và tất yếu như thế đang đặt ra cho đất nước, hy vọng mỗi chúng ta sẽ quyết định được hành động của mình: Việt Nam nhất thiết phải thay đổi, sống hay là chết!

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 15-6-14

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►”Trung Quốc sẽ chiếm Biển Đông nếu Việt Nam không lôi kéo được sự chú ý của thế giới”

Posted by hoangtran204 trên 15/06/2014

Cách đây vài bữa, Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng viết bài rất hay:  trong đó, có nói nhà nước VN cần phải lôi kéo sự chú ý của cả thế giới bằng cách phản đối mạnh mẻ hơn nữa, không thể làm xìu xìu ểnh ểnh như hiện nay, làm như vậy là vĩnh viễn mất Trường Sa và Hoàng Sa. Đại khái là phải đư TQ ra tòa, phải vận động khắp nơi, không thể đàm phán song phương với Tàu Cộng…
Nhưng đàn gãy tai trâu. Các lãnh đạo của đảng và nhà nước từ ngày đảng CS nắm quyền đến nay đa số chỉ học lớp 7, như ông HCM, Le Duẩn, Lê Đức Thọ, Đổ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Vaưn Linh, Nguyễn Tấn Dũng…

“Trung Quốc sẽ chiếm Biển Đông nếu Việt Nam không lôi kéo được sự chú ý của thế giới”

Thụy My
.

Hôm nay 14/06/2014 tại khu vực giàn khoan Hải Dương do Trung Quốc đặt trái phép tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông, các tàu Trung Quốc đã dàn hàng ngang để ngăn cản các tàu cảnh sát biển và kiểm ngư của Việt Nam làm nhiệm vụ cũng như các tàu cá Việt Nam đang đánh bắt, sẵn sàng đâm va.

Từ đầu tháng Năm đến nay, tình hình vẫn luôn căng thẳng tại khu vực này, khiến mọi người đều lo sợ khả năng xảy ra chiến tranh trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tướng không quân Jean-Vincent Brisset, giám đốc nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS) chuyên về an ninh châu Á và Trung Quốc, đã vui lòng trả lời RFI Việt ngữ về vấn đề này.

RFIKính chào ông Jean-Vincent Brisset. Thưa ông, tình hình tại Biển Đông xung quanh giàn khoan do Trung Quốc đơn phương kéo đến đặt tại vùng biển gần Hoàng Sa vẫn đang căng thẳng. Không ngày nào không có những vụ tàu Trung Quốc gây hấn, tấn công vào các tàu Việt Nam bằng nhiều hình thức. Liệu sẽ xảy ra chiến tranh tại vùng biển này, hay đây chỉ là chiến tranh cân não?

Tướng Jean-Vincent Brisset : Hiện giờ chưa có nguy cơ xảy ra chiến tranh do một phía nào đó chủ động gây chiến. Tuy nhiên chiến tranh cũng có thể diễn ra, do Trung Quốc tỏ thái độ vô cùng bạo lực, vô cùng đế quốc, khiến nguy cơ xung đột vẫn hiển hiện. Nếu xảy ra chết người ở phía Việt Nam và các nước khác chẳng hạn, thì đương nhiên sẽ có các vụ trả đũa, gây ra các vụ đối đầu càng lúc càng quan trọng hơn.

RFIThưa ông, việc kiện ra tòa có phải là giải pháp cho các nước liên quan như Việt Nam và Philippines, trong khi Bắc Kinh luôn từ chối ra trước các định chế tư pháp quốc tế?

Rõ ràng là Việt Nam, Philippines có các lý do tuyệt hảo khi đi tìm một giải pháp pháp lý, vì khá dễ dàng để chứng tỏ rằng đây là quyền của họ. Giải pháp đi kiện là một giải pháp tốt, do ra trước tòa án quốc tế nào, các nước này cũng có cơ hội thuyết phục rằng họ có lý. Nhưng vấn đề là Trung Quốc không tôn trọng luật lệ quốc tế.

RFIÔng có nghĩ Biển Đông là vùng biển mang tính quốc tế?

Từ rất lâu Biển Đông là vùng biển quốc tế. Có một số đảo nhỏ được nhiều nước chiếm đóng, nhưng tương đối ổn, không có những yêu sách chủ quyền thô bạo. Có điều Trung Quốc lại quyết định toàn bộ Biển Đông là của mình, bất chấp mọi luật pháp quốc tế.

RFIVới tính cách quốc tế của Biển Đông, ông có nghĩ rằng châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng cũng có liên quan, tuy không đứng về phía nào trong tranh chấp?

Pháp và các quốc gia châu Âu khác đều có liên quan với tư cách là những nước đã ký vào Công ước quốc tế về Luật Biển, tuy cho đến nay Công ước này không được tôn trọng. Vấn đề là cũng có rủi ro cho các nuớc này, vì một phần lớn trao đổi thương mại hàng hải đi qua khu vực này, đến 40%. Mặt khác châu Âu không có nhiều tiếng nói trong vùng này, Pháp lại càng ít hơn.

Tôi nghĩ rằng đối với những nước không có mấy trọng lượng để gây áp lực lên Trung Quốc, thì để yên cho Trung Quốc hành động có lợi cho mình hơn là giúp đỡ những nước nhỏ, thế nên thường là họ không có phản ứng.

RFIBắc Kinh luôn đề nghị thương lượng song phương thay vì đa phương…

Bắc Kinh có thể hy vọng mạnh hơn đối thủ trong các giải pháp song phương. Rõ ràng là Bắc Kinh ít khi tiến hành các giải pháp đa phương, dù là với châu Âu hay với các đối tác khác, mỗi lần có đề nghị thương lượng. Có rất ít trường hợp thương thảo đa phương với Trung Quốc vì không có lợi cho họ bằng song phương. Thế nên Bắc Kinh luôn xoay sở để phá hoại tất cả các toan tính của ASEAN cho giải pháp đa phương về vấn đề an ninh.

RFINhưng cho đến giờ mọi nỗ lực để đưa vấn đề ra trước các tòa án quốc tế đều thất bạinhư ông biết

Tôi cho rằng đối với Việt Nam, Philippines, Malaysia – và không chỉ có thế, bây giờ Indonesia mới phát hiện là họ cũng liên quan, các quốc gia này có quan điểm tôn trọng pháp chế. Họ muốn có được phán quyết của các định chế tư pháp quốc tế, từ các chuyên gia, các tòa án độc lập.

Nhưng vấn đề hiện nay là ở chỗ, mà Trung Quốc hiểu rất rõ, trước hết, kẻ mạnh là người áp đặt luật chơi, và tiếp đến là truyền thông. Các nước kể trên chưa bao giờ là người mạnh nhất, và nhất là họ không liên kết lại để có một giải pháp chung, cũng như không vận dụng báo chí quốc tế. Vì vậy chuyện của họ không được ai quan tâm đến.

RFI Như vậy theo ông, các nước này cần nỗ lực tuyên truyền nhiều hơn?

Tất nhiên rồi!

RFI Ông nghĩ gì về phản ứng của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam tại Diễn đàn An ninh Khu vực Shangri-la vừa rồi?

Người ta thấy rằng quan hệ giữa Nhật Bản và Đài Loan có vấn đề đôi chút liên quan đến quần đảo Senkaku, và giữa Philippines với Đài Loan, đã được giải quyết tương đối ổn với các thỏa thuận hòa bình, chứng tỏ rằng có thể thương lượng được với nhau. Đài Loan là một ví dụ ngạc nhiên và thú vị.

Thú vị hơn là giữa Nhật và Philippines không có quan hệ ngoại giao với Đài Loan nhưng đã thành công trong việc đạt được thỏa ước nhằm tránh xung đột. Điều này cũng chứng tỏ là Trung Quốc khi từ chối các thỏa thuận này là muốn xung đột vì muốn chiếm được Biển Đông, làm thành biển riêng của người Trung Quốc.

Tôi có thể hiểu được rằng, người Nhật gặp khó khăn với Trung Quốc về hồ sơ Senkaku, cho rằng chính sách của Bắc Kinh rất nguy hiểm cho thế giới. Người Mỹ cũng quan tâm đến vấn đề này vì có lợi ích trực tiếp trong khu vực. Hoa Kỳ được tất cả các nước kêu gọi giúp đỡ vì trước sức mạnh quân sự của Trung Quốc, các nước này không có đủ phương tiện kỹ thuật để đối phó. Giải pháp của họ là kêu gọi sự trợ giúp của Mỹ – một điều mới cách đây vài năm khó thể nghĩ đến.

Việt Nam cố gắng hòa hoãn vì biết rằng yếu hơn về quân sự cũng như kỹ thuật, không có trọng lượng bao nhiêu đối với truyền thông.

RFIÔng có nghĩ rằng có sự hợp tác quân sự giữa Nga và Trung Quốc hay không?

Tôi nghĩ rằng giữa Trung Quốc và Nga có nhiều lý do để xung đột với nhau hơn là hợp tác quân sự. Đã có cuộc tập trận chung hết sức giới hạn cả về mặt kỹ thuật lẫn thực tiễn. Có vài sự trao đổi, chẳng hạn như đã có loan báo việc Nga xuất khẩu các thiết bị quân sự phòng không, máy bay tiêm kích…cho Trung Quốc.

Chính các nhà xuất khẩu vừa cho biết rằng việc bán hàng không phải ngay lúc này đã thỏa thuận xong, ngược lại đang bị hoãn. Bởi vì người Nga biết rõ rằng về mặt quân sự, việc « có qua có lại » không hề hiện hữu: Bắc Kinh chỉ muốn nhận được chứ nhất định không muốn cho đi.

RFI Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã đả kích thẳng thừng các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhưng phải chăng đây chỉ là nói suông không dẫn đến hành động, mà sự kiện ở bãi cạn Scarborough của Philippines là một ví dụ?

Người Mỹ sẽ ngày một hiện diện cụ thể hơn tại Biển Đông. Để tấn công một tàu của Philippines, Malaysia hay Việt Nam như Trung Quốc vẫn thường xuyên làm, họ có nguy cơ gặp phải một chiếc tàu Mỹ đi ngang qua. Bắc Kinh sẽ không muốn nhận lấy rủi ro khi tấn công, đánh chìm một tàu của Mỹ, như họ vẫn tự cho phép. Đánh đắm một chiếc tàu Việt Nam thì dễ dàng thôi, không ai trên thế giới chú ý cả. Ngược lại, đối với tàu Mỹ sẽ gây ra các phản ứng rất nặng nề.

RFITrở lại với giàn khoan Trung Quốc, ông có nghĩ rằng đây là một phần của chiến lược tổng thể của Bắc Kinh – và gần đây người ta còn nói đến một giàn khoan thứ hai nữa. Điều gì sẽ xảy ra nếu họ tiếp tục chiến lược này?

Người Trung Quốc sử dụng một chiến lược có thể gọi là trò chơi của trẻ con với cha mẹ. Khi người ta còn bé, người ta thử không chịu nghe lời một chút, và nếu cha mẹ không trừng phạt thì đứa bé sẽ bướng bỉnh hơn.

RFIÔng có lời khuyên nào đối với Việt Nam không?

Nếu Việt Nam không thành công trong việc làm cho các nước khác trên thế giới chú ý đến vấn đề của mình, thì Trung Quốc sẽ thắng, cũng như họ đã thắng khi chiếm được Hoàng Sa cách đây bốn mươi năm.

Tất nhiên là Việt Nam phải khởi kiện rồi, nhưng nhất là phải nỗ lực về mặt truyền thông. Nếu Việt Nam muốn thoát khỏi tình trạng hiện nay, thì cần phải làm cho thế giới chú ý đến những gì đang diễn ra tại Biển Đông.

RFI Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tướng Jean-Vincent Brisset, giám đốc nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), đã vui lòng trả lời RFI Việt ngữ

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Làm thiện nguyện cũng bị đàn áp và bắt bớ

Posted by hoangtran204 trên 15/06/2014

15-6-2014
.
Huỳnh Phương Ngọc
.

Những việc làm thiện nguyện giúp ích cho nhiều cá nhân đói khổ xuất phát từ tấm lòng của chính bản thân mình, sử dụng tiền túi của cá nhân hoặc sự đóng góp của cộng đồng tại Việt Nam luôn luôn bị chính quyền, cơ quan công an theo dõi, rình rập và phá rối.

Tôi xin đưa ra một số lý do (theo cá nhân tôi nhìn nhận) mà cơ quan công quyền thường hay sách nhiễu, đàn áp, cản trở:

1. Mọi việc làm thiện nguyện, phi lợi nhuận, không vi phạm pháp luật nhưng nếu không được thông qua bởi cơ quan công quyền, làm cho Nhà nước không nắm được chủ thể phát động, đối tượng nhận giúp đỡ, hiện vật sử dụng để trao tặng… là sẽ bị đàn áp vì lỗi: Không thông báo trước cho chính quyền

2. Vì Nhà nước muốn độc quyền kiểm soát các tổ chức tôn giáo, nên mọi hoạt động cho dù là từ thiện cũng phải được sự “bật đèn xanh” của nhà nước nếu không thì sẽ bị sách nhiễu, đàn áp, nên khi bạn là giáo dân hay phật tử – có nghĩa là bạn đã nằm trong tầm ngắm của chính quyền… Lỗi: Liên quan, dính dáng đến tôn giáo.

3. Việc chăm lo người nghèo, người bệnh tật, già cả không nơi nương tựa là trách nhiệm chung của toàn xả hội nếu chính quyền, nhà nước không làm được hoặc không muốn làm mà bạn hay gia đình bạn lại thực hiện như thế sẽ mắc lỗi: Qua mặt Đảng và nhà nước!

4. Việc phân chia Phúc lợi xã hội một cách công bằng và hợp lý, việc xóa bỏ nghèo đói là nhiệm vụ của Đảng và chính quyền, nhưng họ không làm được mà cá nhân bạn tự ý thực hiện và thực hiện tốt hơn Nhà nước, được người dân đồng tình ủng hộ thì là mắc lỗi bêu xấu nhà nước !.

5. Chính quyền coi những người yêu nước và những nhà dân chủ là thù địch, coi các hội đoàn xã hội dân sự là “phản động”. vì thế nếu cùng với những người bạn trong và ngoài nước kêu gọi sự đóng góp để làm thiện nguyện sẽ bị quy chụp tội cấu kết với các “thế lực thù địch” phản động lưu vong để lôi kéo người dân “ phản động” thông qua hình thức thiện nguyện!.

Cá nhân tôi từng biết qua các kiểu sách nhiễu đàn áp, cướp quà, hăm dọa những cá nhân, nhóm người làm tình nguyện tại các tp như Hà Nội, Sài Gòn. Và gần đây nhất tôi được tường tận sự việc trường hợp một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, liên tục bị sách nhiễu do chính gia đình cô làm từ thiện tại gia, giúp đỡ các bữa cơm cho đồng đạo – Nguyễn Ngọc Lụa.

Như chúng ta đã biết Phúc lợi xã hội là hệ thống các định chế và chính sách nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân, đặc biệt là trong những hoàn cảnh bất trắc như mất việc làm, già cả bệnh tật, tai nạn nhất là những nhóm dân cư nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương.

Sống trong một xã hội nghèo đói, bất công và tham nhũng, phúc lợi xã hội không được thực hiện như những gì chúng ta xứng đáng được hưởng thông qua Thuế, mọi khoản trưng thu Thuế từ nhà nước không được sử dụng hiệu quả vào việc cải thiện tình trạng đói nghèo, thiếu cơ sở vật chất trong Giáo dục- Y tế, nhiều nơi ở Việt Nam phúc lợi xã hội vẫn còn là một khoảng trống “mênh mông”. Vì vậy những cá nhân và tổ chức xã hội dân sự nặng lòng với tình nghĩa đồng bào tự bỏ tiền túi để làm từ thiện là không ít.

Nếu những nhà hảo tâm khi thông qua chính quyền thì việc làm thiện nguyện này được diễn ra tốt đẹp, tuy nhiên việc giúp đỡ có đến tận tay người cần hay không thì không ai chắc chắn được. Nhưng nếu đại diện cho tôn giáo, nhóm người, hội đoàn độc lập thì sẽ… luôn luôn bị sách nhiễu. Chính quyền luôn lo sợ sự tập trung của những cá nhân hay lên tiếng cho những bất công của xã hội hiện tại, những blogger có tiếng nói đối kháng với chính quyền. Một khi họ tập hợp để phát động các chương trình như vậy thường bị đe dọa, cướp, tịch thu quà giành cho những cá nhân đói khổ đang cần sự giúp đỡ.

Việt Nam hiện nay là một nước lạc hậu, với cuộc sống khó khăn, đói nghèo và bệnh tật luôn đeo bám dai dẳng, những con người có tấm lòng thực hiện các buổi cơm thiện nguyện hay những phần quà là vô cùng quý giá. Nếu chính quyền, Nhà nước không thực hiện được thì hãy khuyến khích, cổ vũ.

Nhưng có một thực tế đau lòng là đất nước ta đang bị lãnh đạo bởi một tập đoàn hèn với giặc, ác với dân, coi dân như cỏ rác, coi đất nước như món hàng đổi chác mua bán. Hằng ngày chúng ta phải chứng kiến nhiều oan sai, đau khổ, hàng trăm ngàn con người đói khổ chạy ăn từng bữa, đang đối mặt với một tương lai đầy bất trắc và vô vọng. Đã quá nhiều bất công vô pháp nên cái ác lộng hành, cái chân thiện mỹ mỗi ngày một chết đi hoặc phải chịu thoái trào .

Nữa thế kỷ qua đảng Cộng Sản Việt Nam độc chiếm quyền lãnh đạo quốc gia với những chính sách sai lầm, ngờ nghệch, đớn hèn từ chính trị, xã hội, kinh tế, ngoại giao. Với tình hình biển đảo nguy kịch như hiện nay, chuyện mất chủ quyền đã dần rõ ràng, giới lãnh đạo tọa thị trước cảnh lòng dân uất hận với chủ trương ôm khư mối thâm giao đoàn kết hữu nghị, coi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là anh em bằng hữu.

Hiện tại lòng dân bất an, vận nước lâm nguy thế nhưng hàng trăm, hàng ngàn nhân viên an ninh vẫn được cài cắm chỉ để theo dõi, sách nhiễu, đánh đập bắt bớ những con người lương thiện, với những hành động chân thiện là giúp đỡ đồng bào những món quà nhỏ, những bữa cơm đạm bạc chỉ với hy vọng và mục đích là xoa dịu nổi bất hạnh của tha nhân, hàn gắn lòng người ly tán, đem nụ cười đến cho những kiếp người trầm luân trong bất công đau khổ…

Nguyễn Ngọc Lụa – thành viên hội Phụ nữ Nhân quyền Việt nam đang thực hiện điều đó và đang gặp hiểm nguy từ nhà cầm quyền bởi hành động vì lương tâm… đây là một việc đáng hổ thẹn!

Ngoài khơi xa, chủ quyền lãnh hải đang bị đe dọa, xin quý vị lãnh đạo Đất nước hãy đưa những nhân viên an ninh chuyên đi trấn áp, cướp quà ra đó để họ có cơ hội làm được một việc nào đó có ích lợi cho Tổ Quốc. và cũng để những con người độc quyền lãnh đạo quốc gia bao nhiêu năm sa đọa làm một việc đúng ý nghĩa của một con người vì dân vì nước lần đầu tiên cũng có thể là cuối cùng.

Tam kỳ, ngày 14/6/2014.


Thành viên hội PNNQ

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Một nhà nước “hèn hạ và đê tiện”: công an bí mật đưa Ls Lê Quốc Quân vào trại giam ở Quảng Nam

Posted by hoangtran204 trên 15/06/2014

Qua những gì mà mà đảng và nhà nước đã đối phó với Trung Cộng trong hơn mấy chục năm qua, đặc biệt là từ 1-5-2014 cho đến nay, chúng ta có thể nói: Nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay “LẤY THÙ LÀM BẠN, HÈN VỚI GIẶC, ÁC VỚI DÂN”.

Mặc cho Trung Cộng chửi bới VN trên diễn đàn quốc tế trước mặt  các nước, thì VN vẫn coi trọng tình hữu nghị Trung Quốc. 

Cơ quan truyền thông quốc tế của Trung quốc trích dẫn lời ông Thường Vạn Toàn nhằm lên án Việt Nam cho biết “thời gian qua, Việt Nam tiến hành quấy nhiễu tác nghiệp khoan thăm dò bình thường và hợp pháp của Trung Quốc tại vùng biển quần đẩo Tây Sa, đặc biệt là gần đây Việt Nam xảy ra các vụ bạo lực đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt nhằm vào doanh nghiệp và công dân Trung Quốc. Trung Quốc kiên quyết phản đối và lên án việc này..”
Chỉ có kẻ cướp mới bị người khác mắng “quấy nhiễu, đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt “, và lẻ ra, khi bị mắng như thế, ta phải nói ra sự thật cho công luận thế giới biết sự thật trên Biển Đông như thế nào, ai đang quấy nhiễu ở Biển Đông…đằng nầy, bị Trung Cộng xâm phạm laxnh hải như thế, bị vu cáo như thế, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng VN Phùng Quang Thanh vẫn không phản đối, mà lại nói “Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam cực kỳ coi trọng phát triển đoàn kết và hữu nghị với Trung Quốc,…”  Đấy chính là sách lược lấy thù làm bạn, hèn với giặc. 
Trong lúc đó thì nhà nước sai công an đàn áp cướp đất của dân, đánh đập, theo dõi, bắt bớ và bỏ tù người dân. ►Không dám hó hé biểu lộ hành động nào phản đối TQ, nhưng sai công an văn hóa canh giữ các thành viên Văn Đoàn Độc Lập
Thí dụ dưới đây là một trong trăm ngàn ví dụ cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội: ác với dân 

Một cách trả thù hèn hạ: Ls Lê Quốc Quân bị đưa vào trại Quảng Nam

Gia đình LS Lê Quốc Quân

Theo thông tin nhận được, ngày hôm qua, Ls Lê Quốc Quân, một Ls nhân quyền đã gán ghép buộc tội trốn thuế và kết án 30 tháng tù giam đã bị nhà cầm quyền CSVN bí mật đưa đi trại giam thuộc tỉnh Quảng Nam.

Sáng qua, (13/06/2014) Ls Lê Quốc Quân đã bị đưa đi trong một chiếc xe khách kiểu 24 chỗ ngồi, biển số xanh 33A-9999 chở toàn công an và một số xe con đi cùng. Việc đưa Ls Lê Quốc Quân đi trại xa từ Hà Nội vào Quảng Nam đã được đưa đi bí mật. Đến đoạn giáp ranh giữ Quảng Trị vào Huế, đoàn xe này vào nghỉ chân. Khi Ls Lê Quốc Quân hô lên rằng: “Tôi là Ls Lê Quốc Quân bị nhà cầm quyền đưa đi trại giam Quảng Nam” thì lập tức công an đến bịt miệng và đưa vào Toilet cho đến khi các xe nghỉ chân đi hết họ mới đưa Ls Lê Quốc Quân ra. Trước khi các xe rời khỏi nơi nghỉ chân, một người mặc sắc phục công an leo lên các xe khách và nói to: “Đây là tên phản động, ai đã chụp hình thì phải xóa đi” và chiếc xe chở Ls Lê Quốc Quân đã vượt lên đi vào Trại An Điềm, thuộc huyện Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam vào chiều qua.
Hành động này của nhà cầm quyền tỏ ra lén lút và bất minh, đã bị người dân cảnh giác phát hiện. Chiều nay, gia đình vào Trại giam số 1 Hà Nội, nơi vẫn giam giữ Ls Lê Quốc Quân thì mới nghe nói có danh sách di chuyển vào Quảng Nam, dù cách đây 2 hôm, gia đình mới đến thăm nuôi và gặp Ls Lê Quốc Quân nhưng không hề được biết việc di chuyển này.

Luật sư Lê Quốc Quân bị bắt ngày 27/12/2012 tại Hà Nội bằng một cuộc bắt bớ khẩn cấp và rất nhiều tình tiết vi phạm luật tố tụng. Mặc dù đã làm nhiều cách, nhưng cuộc bắt bớ và cả vụ án nói chung được tiến hành bởi nhà cầm quyền CSVN tại Hà Nội đã không thể che giấu được sự thật hèn hạ là sự trả thù chính trị một người dám lên tiếng nói cho đất nước, xã hội và dân tộc. Cái cớ “trốn thuế” chỉ là sự bất đắc dĩ mà nhà cầm quyền buộc phải dùng đến khi muốn trả thù một tiếng nói bất đồng chính kiến mà thôi.
Hơn một năm qua, Ls Lê Quốc Quân bị giam tại trại giam Hỏa Lò, Hà Nội. Hai cái gọi là phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã được nhà cầm quyền biểu diễn hết sức hài hước và lố bịch trước con mắt người dân Hà Nội và cộng đồng quốc tế. Bởi họ đã xét xử kín phiên tòa kinh tế “công khai” – một sự sỉ nhục vào ngôn ngữ Việt Nam dù họ luôn kêu gào học sinh “giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt”.

Hàng ngàn người đã đi bộ nhiều km để đến dự cái gọi là “phiên tòa” nhưng đã bị chặn lại bằng nhiều lực lượng công an, công quyền và nhiều trò bẩn thỉu được phô diễn trước cộng đồng dân chúng Hà Nội. Cả hai phiên tòa “Công khai” đã được xử vụng trộm và kết tội nạn nhân bất chấp công lý và sự thật. Bất chấp luật pháp và chứng cứ, nhà cầm quyền CSVN vẫn cố tình vi phạm các nguyên tắc luật pháp để kết tội ông 30 tháng tù.

Cho đến nay, ông đã bị bắt giam 18 tháng. Thời gian qua, ông đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối chế độ nhà tù và các cách đối xử với tù nhân ở đây.

Vụ án mà nhà cầm quyền tổ chức cho Ls Lê Quốc Quân, thậm chí đã hết sức công phu để tiến hành cho đến nay vẫn tiếp tục vi phạm nặng nề các điều khoản luật pháp. Ngay cả quyết định của Tòa án cũng không được hệ thống công an, luật pháp chấp hành.

Cụ thể, ngay từ đầu, công an đã thu con dấu của Công ty và giữ cho đến nay cùng với nhiều tài sản cá nhân của ông Quân cũng như của Công ty mà hoàn toàn không liên quan đến vụ án. Thậm chí, Tòa đã tuyên phải trả lại tất cả những gì không liên quan đến vụ án nhưng Công an vẫn tự coi mình có quyền to hơn cả Tòa án và đến nay vẫn giữ trái phép con dấu và các tài sản trên. Mặc dù cơ quan, gia đình đã nhiều lần đưa đơn yêu cầu trả lại, nhưng mọi chuyện vẫn cứ tùy ý thích của công an, bất chấp tất cả.

Việc thu con dấu của một công ty đang hoạt động hoàn toàn trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh nghiệp và đời sống những người khác trong công ty.

Nhưng luật pháp chỉ được coi như chuyện đùa ở đây.

Xã hội hóa nhà tù?

Theo nguyên tắc, khi bắt người đi tù, dù họ có mất quyền công dân, thì họ vẫn là con người và quyền con người vẫn phải đảm bảo cho họ. Quyền đó bao gồm quyền được tôn trọng nhân phẩm, quyền sống. Thế nhưng, mọi người đều biết, các tù nhân trong các trại giam Việt Nam hiện nay, gia đình đều phải thăm nuôi hàng tuần, hàng tháng mới đảm bảo cuộc sống tối thiểu của họ. Mặc dù ở trong tù, họ buộc phải lao động bằng sức của mình mà không được hưởng các thành quả lao động đó.

Trong hoàn cảnh giam cầm đói, rách và thiếu thốn đủ mọi cách, các tù nhân phải trông chờ vào sự giúp đỡ, thăm nuôi của gia đình để tồn tại tối thiểu. Người nhà, thân nhân muốn đến Trại tiếp tế cho các tù nhân phải có sổ đăng ký tên tuổi với các mối quan hệ ruột thịt. Đặc biệt một điều hết sức trớ trêu, là các trại giam làm dịch vụ bán hàng cho tù nhân với giá cắt cổ. Nhiều thân nhân tù nhân cho biết, các trại không cho mang bất cứ đồ ăn uống, đồ dùng gửi vào cho tù nhân, ngược lại gia đình hoặc phải gửi tiền, hoặc mua trực tiếp đồ của Trại làm dịch vụ mới được gửi cho tù nhân. Mà giá cả ở đây có thể đắt gấp đôi, gấp ba ở ngoài thị trường mà thân nhân và tù nhân không dám mở miệng kêu ca, bởi nếu không sẽ không được đến thăm nuôi thân nhân mình.

Điều này vẫn là sự tàn bạo tồn tại khá lâu nhưng ít người dám nói tới vì sợ bị trả thù các thân nhân trong trại. Đó cũng là cách mà các trại cải tạo dùng để ép các tù nhân nhận tội và thuần phục mình theo ý của nhà cầm quyền. Truờng hợp tù nhân Đặng Xuân Diệu bị giam cầm mấy năm nay không hề được gặp gia đình, luật sư vì không chịu nhận tội là một điển hình.

Phải chăng vì thế mà các tù nhân cứ tăng liên tiếp về số lượng, phải chăng đây cũng là một kênh để cho Bộ Công an có thêm thu nhập từ nhân dân?

Phải chăng đây cũng là một cách “xã hội hóa” nhà tù?

Vì sao phải đưa đi trại xa?

Gần đây, những người bất đồng chính kiến, các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị luôn bị nhà cầm quyền CSVN dùng một trò rất bẩn thỉu để hành hạ bản thân họ và gia đình. Đó là di chuyển chéo các tù nhân ở mọi miền đất nước với nhau. Chẳng hạn Điếu Cày Nguyễn Văn Hải có gia đình ở Sài Gòn, thì bị chuyển ra Trại giam số 6 ở Thanh Chương, Nghệ An. Chị Tạ Phong Tần, cư trú ở Sài Gòn, bị đưa ra tận Trại giam số 5 Thanh Hóa. Các tù nhân lương tâm phía Nam mà thuộc loại cứng cổ, không khuất phục đều được chuyển chéo ra phía Bắc và ngược lại, các tù nhân phía Bắc bị chuyển vào miền Trung hoặc miền Nam. Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và bây giờ là Ls Lê Quốc Quân đều bị chuyển vào Trại An Điềm, thuộc huyện Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam. Còn các sinh viên và thanh niên Công giáo quê Nghệ An, đều bị chuyển đi các trại như ở Thái Nguyên, gần nhất cũng là Thanh Hóa, Hà Nam.

Mục đích của việc thuyên chuyển bố trí này là gi?

Chắc chắn không thể giải thích rằng đây là sự thuận tiện hoặc buộc phải bố trí như vậy của Bộ Công an mới hợp lý. Bởi chẳng ai lạ gì chế độ giam giữ hiện nay ở các nhà tù Việt Nam. Mới đây, Phạm Thanh Nghiên, một tù nhân lương tâm mới ra tù được một thời gian đã viết bài lên mạng Internet tố cáo chế độ lao tù hiện nay. Đặc biệt việc dùng nhà tù để áp bức các nạn nhân, buộc họ phải nhận tội theo bản án áp đặt của tòa án, những bản án bất chấp tất cả, từ sự thật, công lý, luật pháp và đến cả lương tâm.

Ngoài việc buộc các phạm nhân phải hết sức vất vả để tồn tại trong các điều kiện khắc nghiệt của trại giam, thì việc xa xôi với gia đình, việc tiếp tế không được đều đặn sẽ bào mòn thể xác và tinh thần các nạn nhân. Ngoài ra, đó còn là áp lực tinh thần cho các nạn nhân khi mình là gánh nặng cho gia đình, người thân khi bị nhà cầm quyền bắt bỏ tù. Qua đó, sẽ là những xung đột tâm lý nội tâm nạn nhân dẫn đến dễ đầu hàng.

Một mặt nữa cần lưu ý, là gần đây, người ta phát hiện ra việc các nạn nhân trong các trại cải tạo bị đánh đập, thậm chí là bị tử vong. Nếu là các tội phạm hình sự hoặc các loại tội phạm khác, họ sẽ phải chấp nhận mà im vì chẳng biết kêu, biết kiện vào đâu. Mới năm ngoái đây, một nạn nhân bị chết với nhiều vết bầm trong trại ở Thanh Hóa, gia đình đã tố cáo trước đó công an trại giam đã nhiều lần yêu cầu gia đình nộp tiền vào tài khoản cho anh ta, và lần đó không nộp tiền đã sinh chuyện. Tất nhiên là khi họ tố cáo, có nhân chứng vật chứng thì cuối cùng vấn đề cũng chỉ là khiển trách nội bộ ngành công an. Vì vậy nên họ không biết kêu ai và không dám kêu, nếu có bị chết bị đánh đập trong trại.

Nhưng với các tù nhân lương tâm, chính trị thì khác, họ được sự quan tâm không chỉ của gia đình mà là của toàn xã hội. Do vậy nếu để họ ở gần, nhỡ có cán bộ nào hành hung, hoặc xảy ra vấn đề gì với họ, dư luận sẽ không chìm xuồng.

Phải chăng chỉ cần với các lý do trên, việc di chuyển chéo các nạn nhân từ các vùng miền đổi nhau, là một biện pháp hữu hiệu nhằm đọa đày không chỉ các nạn nhân mà cả các gia đinh, thân nhân của họ?

Thực ra, chưa hẳn đã là hữu hiệu, đã là hay. Các trại cải tạo, các nhà tù, đâu dễ cải hóa con người bằng hình thức giam cầm đánh đập hay áp bức. Mà người ta chỉ cái biến khi được đối xử như với con người, ngoài ra không có gì có thể làm biến đổi họ.

Vì thế, việc dùng các biện pháp trấn áp tinh thần, vật chất đối với những người bị trói tay, bị còng chân là biện pháp không hề có tác dụng tích cực. Nó chỉ có tác dụng cho họ thấy bản chất độc ác, bẩn thỉu và hèn hạ của một chế độ đã dùng nhà tù như một biện pháp trả thù họ mà thôi.

Với những người công chính, người có niềm tin vào sự thật công lý, thì lời Chúa còn đó: ”Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong vui sướng. Ai gieo trong nước mắt, sẽ về giữa tiếng cười”

Và sự đời thì với những người dù không tin vào tâm linh, thần thánh vẫn phải hiểu rằng, ngay cả Mác – Lênin vẫn phải công nhận cặp phạm trù Nguyên nhân – kết quả.

Và rồi đến ngày họ sẽ được gặt một mùa quả bội thu mà hôm qua, hôm nay họ đang gieo.

Hà Nội, Ngày 14/6/2014

J.B Nguyễn Hữu Vinh (RFA)

Tác giả: 

———-

Đê tiện

12-6-2014

Người Buôn Gió

 

Những người bị kết án tù thường đến trại giam trong khu vực, ví dụ xử ở các tỉnh miền Bắc thì giam ở các trại miền Bắc. Thêm khoản nữa là những người có mức án dưới 7 năm, tiền án lần đầu, tội danh không nguy hiểm thì được ở những trại giam gần nơi cư trú.

Trước đây những tù nhân chính trị bị đầy ải đi rất xa, như sau khi tiến vào miền Nam thì những người lính của chế độ VNCH bị đưa ra tận những núi rừng heo hút ở miền Bắc giam giữ. Cái này nhằm để cho gia đình người tù đi tiếp tế, thăm nom gặp nhiều khó khăn. Cộng với khí hậu không quen thuộc khiến sức khỏe người tù trở nên tồi tệ vì thiếu chất dinh dưỡng. Người tù không ở chung với những người tù vùng miền khác, ngôn ngữ, tập quán dễ nảy sinh những bất đồng. Đây là những điều tính toán của nhà cầm quyền.

Nhà nước Việt Nam sau này nói rằng ở VN không có tù chính trị hay lương tâm.

Vậy tại sao gần đây những người được gọi là tù nhân chính trị, lương tâm lại bị di chuyển tới những nơi giam giữ xa xôi.

Những người ở phía Nam thì bị chuyển ra phía Bắc như Nguyễn Văn Hải, Đỗ Thị Minh Hạnh, Tạ Phong Tần… và nhiều người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Người ở phía Bắc lại chuyển vào miền Trung như Lê Quốc Quân.

Đây không chỉ là cách hành hạ người tù, mà còn hành hạ cả chính những thân nhân của họ khi phải đi thăm nom. Một cách “giáo dục” tàn nhẫn và thủ đoạn để nhằm thỏa mãn động cơ trả thù.

Chỉ với mức án 30 tháng tù giam với tội danh “trốn thuế” mà nhà cầm quyền đã mất một chuyến xe đưa riêng luật sư Lê Quốc Quân đi tận miền Trung để giam giữ. Nếu bây giờ có phái đoàn nhân quyền tra danh sách tù nhân ở các trại giam cách Hà Nội từ 300 km trở lại, xem án phạt, tội danh thì họ sẽ nghĩ gì khi Lê Quốc Quân phải bị giam giữ xa đến vậy.

Thường những chuyến chuyển từ trại tạm Hà Nội đến trại giam (trại cải tạo) theo tháng, mỗi lần chuyển là chuyển nhiều tù nhân. Nhưng đặc biệt chuyến chuyển trại của Lê Quốc Quân chỉ có mỗi mình anh.

Lê Quốc Quân từng được học bổng của quốc hội Hoa Kỳ, anh là một trong những tù nhân mà quốc hội Hoa Kỳ rất quan tâm. Trong bối cảnh phức tạp ở biển Đông. Đất nước ta đang cần tìm những đồng minh giúp đỡ để giữ vững chủ quyền biển đảo. Hành động đưa tù nhân Lê Quốc Quân (một người rất hăng hái trong việc phản đối TQ xâm lược như Bùi Thị Minh Hằng) đi giam giữ ở một nơi xa bất thường ấy, là muốn đưa thông điệp gì?

Ngoài sự trả thù cá nhân Lê Quốc Quân vì anh đã kiên quyết bác bỏ bản án mà anh cho rằng bất công và trái pháp luật. Liệu còn điều gì nham hiểm chứa đựng một âm mưu lớn hơn để chia rẽ Việt Nam với thiện chí của các nước tiến bộ.?

Cho dù là thế nào đi nữa, thì đây cũng là một sự đê tiện.

http://www.rfavietnam.com/node/2085

 

* “mới đây bằng nhận định thực tế, sâu sắc và trung thực Giáo sư Zachary Abuza, chuyên gia về khoa học chính trị và đối ngoại khu vực Đông Á thuộc Đại học Simmons (Mỹ) – nêu ra bốn lý do quang minh chính đại mà Việt Nam cần phải theo đuổi.

 
 “Thứ nhất, như Philippines, bằng cách khởi kiện, Việt Nam sẽ cho thế giới thấy thiện ý muốn giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình và con đường pháp lý theo chuẩn mực phổ quát văn minh thế giới.
 
– Thứ hai, Việt Nam sẽ đồng hành với Philippines. Mặc dù khó có khả năng sẽ tìm được nhiều sự đồng thuận hơn từ các thành viên khác của ASEAN, vốn có quan hệ kinh tế lệ thuộc vào Bắc Kinh, nhưng ít ra việc cùng Philippines tham gia khởi kiện cũng sẽ hình thành một liên minh mạnh mẽ giữa các quốc gia có cùng quyền lợi liên quan. Nếu các quốc gia có tranh chấp khác nhìn vào Việt Nam, Philippines và cũng tham gia khởi kiện Trung Quốc, vấn đề biển Đông sẽ tất yếu được quốc tế hóa. Đây là điều Bắc Kinh rất lo lắng và muốn không bao giờ xảy ra.
 
– Thứ ba, mặc dù khó có khả năng Bắc Kinh chấp nhận bị ràng buộc bởi phán quyết trọng tài theo Công ước LHQ về luật Biển nếu nó chống lại họ, song điều đó sẽ càng cô lập Bắc Kinh và đặt ra nghi ngờ về lời khẳng định “trỗi dậy hòa bình” và sự cam kết của họ đối với luật pháp và chuẩn mực quốc tế.
 
– Cuối cùng, những chứng cứ pháp lý của Trung Quốc tại biển Đông vừa mập mờ, không thuyết phục, lại mang tính hai mặt. Bắc Kinh phủ nhận lập luận của phía Việt Nam là giàn khoan Hải Dương-981 nằm trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (mà VN chứng minh chủ quyền là điều hết sức rõ ràng). Trong khi đó, cũng chính Trung Quốc lại dùng chính lập luận thềm lục địa đó ra trong tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật ở Hoa Đông.Thật mỉa mai và đạo đức giả. Với yêu sách đường 9 đoạn, Bắc Kinh không thể bảo vệ cái không thể nào bảo vệ được.” – (GS.ZACHARY ABUZ)
 
Chân lý, tất cả như ánh sáng mặt trời là như thế – Tuy nhiên ngoài lời phát biểu (phải được chấp thuận của đảng CS và nhà nước VN) theo đuôi Trung Quốc, méo mó, xiêu vẹo như kẻ say rượu của ông Phùng Quang Thanh tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La vừa qua, thì một yếu nhân của quân đội VN khác, dù là “tướng võ biền” nhưng củng thậm thò thậm thụt, nhút nhát như loài “thỏ đế” phát biểu không tương xứng với các hành động xâm lấn và đe dọa chủ quyền VN từ phía Trung Quốc.
 
Báo South China Morning Post tường thuật rằng ngày 1 tháng 6, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam tướng Nguyễn Chí Vịnh nói rằng Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ nộp hồ sơ yêu cầu tòa án trọng tài quốc tế phân xử cuộc tranh chấp, nhưng ông nói quyết định đó còn tùy thuộc vào những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Tờ báo dẫn lời ông Nguyễn Chí Vịnh nói rằng: “Câu trả lời của chúng tôi (trước yêu cầu của Trung Quốc) là mọi sự còn tùy thuộc vào các hoạt động và cách hành sử của Trung Quốc, nếu họ tiếp tục lấn đẩy chúng tôi thì chúng tôi sẽ không có lựa chọn nào khác”. !?
 
Không biết ông thượng tướng? (chưa tốt nghiệp một trường sĩ quan võ bị nào) có biết thông tin này chưa? Dù không mới lắm.
 
1 năm trước – Ngày 30.10.2013, Công ty TNHH cổ phần dịch vụ mỏ dầu Trung Hải, Công ty TNHH công trình Hải Dương thuộc Tập đoàn công nghiệp nặng đóng tàu Đại Liên, và Công ty TNHH công nghiệp nặng Thâm Quyến, ngoài giàn khoan HD 981 hiện hữu, đã lần lượt ký hợp đồng đóng thêm ba giàn khoan dầu mới là Hải Dương – 982, 943 và 944 với tổng trị giá 6,65 tỉ tệ (khoảng 1 tỉ USD), theo trang báo mạng của công ty Hải Dương TQ(ocean.china.com.cn).
Dự tính tất cả sẽ được bàn giao vào tháng 8. 2016. Tuy nhiên đến nay, tạp chí chuyên ngành dầu khí quốc tế cho biết Hai giàn khoan Hải Dương – 943 và Hải Dương – 944 dự kiến sẽ lần lượt được hoàn thiện vào tháng 9 và tháng 10.2015 [2].
 
Người ta nghĩ, chắc ông thượng tướng và nhà nước, đảng CSVN sẽ chờ và lựa chọn giải pháp khi nào đủ cả 4 giàn khoan Trung Quốc cùng ngự trị trên 4 góc của biển Đông và một trong 3 cơ chế công pháp quốc tế là Tòa án Trọng tài về Luật Biển ITLOS, ở Hamburg (Đức), thứ hai là Tòa án Công lý Quốc tế ở La Haye (Hà Lan). Và cơ chế thứ ba là Tòa Trọng tài được thành lập bởi UNCLOS sẽ có trong tay hồ sơ chỉ từ một quốc gia “yếu” hơn Việt Nam rất nhiều lần nhưng dứt khoát đứng thẳng lưng không e ngại, chọn công lý và lẽ phải trước thế lực bành trướng Bắc Kinh là Philippines.
 
Còn CS/Việt Nam chỉ đứng từ xa nhìn lẩm bẩm như kẻ mộng du: “Trung thành với 4 tốt 16 vàng chọn “đàm phán song phương” cùng đồng chí anh em Trung Quốc vì “4 đại cục, sắt” giàn khoan TQ ấy ” !?

►”Trung Quốc sẽ chiếm Biển Đông nếu Việt Nam không lôi kéo được sự chú ý của thế giới”

►Trung Quốc tung tài liệu về HS và TS lên báo và tiết lộ bọn bán nước cầu vinh

►Thoát Trung -Phò 3X- phải coi chừng một sai lầm bi đát!

►Không, cuộc tấn công Biển Đông của Bắc Kinh không phải là vì dầu và cá…

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Công An | 1 Comment »