Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Một, 2015

►“Côn đồ” tấn công nhà riêng của Ls nguyễn Văn Đài- An ninh tuyên bố sẽ giam lỏng cô giáo Hà tới hết tuần

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2015

“Côn đồ” tấn công nhà riêng của tôi

30-1-2015

Nguyễn Văn Đài

Luật sư Nguyễn Văn Đài

Khoảng 10.30 sáng ngày 30-1-2015, tôi ngồi xem tivi trong khi cửa nhà đang mở. Một thanh niên “côn đồ” khoảng 25 tuổi, người cao, gầy xuất hiện và hỏi thăm nhà Nguyễn Văn Đài. Tôi lên tiếng xác nhận thì tên “côn đồn” này chửi bậy với thái độ hung hăng. Nhận thấy nguy hiểm, tôi đã lao nhanh ra đóng và chốt cửa. Tên “côn đồ” đấm, đạp vào cửa, lên tiếng đe dọa đốt nhà, tấn công vũ lực với lý do đã dụ dỗ em của anh ta tham gia hoạt động. Sau đó tên “côn đồ” bỏ đi, tôi mở cửa, nhìn xuống sân khu tập thể thì thấy hai tên “côn đồ” đứng đó đang chửi bậy.

Tôi hỏi “các cậu có chuyện gì? Em cậu tên là gì, ở đâu?” Hai tên “côn đồ” đó không trả lời. Một tên nhặt được viên gạch ở sân và cùng tên kia lao lên nhà tôi lần thứ hai. Tôi vào nhà và đóng cửa lại, hai tên “côn đồ” dùng tay, chân đập phá cửa nhà, sau khi đạp vỡ miếng ván cửa, hai tên “côn đồ” bỏ chạy.

Tôi đã yêu cầu công an phường Bách Khoa điều tra tìm ra hung thủ đe dọa đốt nhà, đánh người, phá hoại tài sản công dân. Công an đã đến khám nghiệm hiện trường, chụp ảnh, đo vẽ, lấy lời khai. Nhưng không có hy vọng công an tìm được hai tên “côn đồ”. Vì mọi người đều biết chúng là ai. Ai đứng đằng sau ra lệnh cho chúng.

Việc hai tên “côn đồ” tấn công nhà gây thiệt hại không đáng kể, nhưng nó được phối hợp nhịp nhàng với việc sách nhiễu các sinh viên đang tham gia lớp học tiếng Anh miễn phí được hỗ trợ bởi Hội Anh Em Dân Chủ.

Vào ngày thứ Ba, 27 tháng 1 năm 2015, nhân viên an ninh đã đứng trước lớp học tiếng Anh và quay camera từng học viên sau buổi học.

Ngày thứ Tư, 28 tháng 1 năm 2015, cán bộ một số trường Đại học đã gọi các sinh viên lên đe dọa không cho tham gia lớp học tiếng Anh. Một số sinh viên thì bị gọi điện thoại nhắc nhở, đe dọa mách gia đình. Bố của một bạn sinh còn bị triệu tập ra xã để đe dọa.

Cô Lê Thu Hà, giáo viên dạy tiếng Anh cũng bị giam lỏng tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp bắt đầu sáng ngày 30 tháng 1 năm 2015. An ninh tuyên bố sẽ giam lỏng cô giáo Hà tới hết tuần.

Buổi tiệc của Hội Anh Em Dân Chủ để chia tay các thành viên về quê ăn Tết cũng bị an ninh lên kế hoạch phá hoại.

Tình trạng nhân quyền vẫn hết sức tồi tệ. Mọi hiểm nguy luôn rình rập những người hoạt động nhân quyền và dân chủ. Nhưng điều đó không bao giờ làm chúng tôi run sợ và lùi bước trước bạo quyền. Tôi sẽ tiếp tục đấu tranh cho tới khi mọi người dân Việt Nam được hưởng các giá trị đích thực của quyền con người, quyền tự do dân chủ.

Cửa nhà luật sư Nguyễn Văn Đài bị đạp tung.
Advertisements

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An | Leave a Comment »

►Dân Mỹ biểu tình đòi hỏi Henry Kissinger phải bị bắt giữ và khởi tố vì các tội ác chiến tranh

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2015

Ngày 29 tháng 1, 2015, tại cuộc điều trần trước Tiểu ban Quân Vụ Thượng Viện Mỹ, trong nghị trình về những thách thức toàn cầu và chiến lược an ninh quốc gia Mỹ tại Capitol Hill (Quốc Hội), viên cựu bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger đã bất ngờ đối diện với một nhóm hoạt động xã hội có tên gọi là CodePink.

Nhóm này đã xông thẳng vào Quốc Hội và hô to các khẩu hiệu đòi đưa Henry Kissinger ra tòa vì đã bán đứng Việt Nam và nhiều quốc gia khác trong thế kỷ 20, gây nên tai họa tàn khốc cho nhiều dân tộc.

Một người trong nhóm CODEPINK đã tiến tới gần Henry Kissinger và giơ chiếc còng số 8 vào mặt ông ta

Thượng nghị sĩ John McCain đã phản ứng dữ dội với những người biểu tình trong việc làm náo loạn buổi điều trần, gọi họ là “bọn cặn bã hạ lưu”, sau khi cảnh sát đưa những người biểu tình ra khỏi đó. Mặc dù sự kiện diễn ra hết sức kịch tính, nhưng vẻ mặt của Henry Kissinger vẫn điềm nhiên. Được mô tả như là một con cáo già quỷ quyệt của tình báo ngoại giao, Henry Kissinger vẫn được chính phủ Mỹ trọng dụng, mặc dù rất nhiều nhà phân tích chính trị đã chỉ rõ là những sách lược của ông ta từ những năm 60-70 đã gây tổn hại tức thì cho nhiều quốc gia, cũng như về sau đó của nước Mỹ.

Với những ai quan tâm đến cuộc chiến Việt Nam, thì vẫn còn nhớ nhân vật Henry Kissinger, người phục vụ dưới thời Tổng thống Nixon, và cho tới nay vẫn bị nguyền rủa rủa bởi những người ủng hộ nhân quyền về cách dàn xếp của của ông trong hậu trường chiến tranh Việt Nam, bao gồm cả hành động tàn bạo khác nhau, trên khắp hành tinh trong hơn nửa thế kỷ.

Những thành viên của nhóm hòa bình CODEPINK đã giương khẩu hiệu, gọi Henry Kissinger là tội phạm chiến tranh. Một người đã tiến tới gần Henry Kissinger và giơ chiếc còng số 8 vào mặt ông ta. Mặc dù bị áp giải ra khỏi nghị trường ngay sau đó, nhưng nhóm hoạt động CodePink nói rằng họ thực sự tự hào về hành động của mình tại Thượng viện ngày 29 tháng 1, 2015, vì đã thay mặt cho nhân dân Đông Dương, Trung Quốc, Đông Timor và nhân dân yêu chuộng hòa bình ở khắp mọi nơi, nói vào mặt của Henry Kissinger về tội ác của ông ta.

Medea Benjamin, người đồng sáng lập tổ chức CodePink nói rằng “Henry Kissinger phải chịu trách nhiệm cho cái chết của hàng triệu người. Ông ta là một kẻ sát nhân, một kẻ nói dối, một kẻ lừa đảo, và là một kẻ côn đồ. Ông ta cần phải được đưa ra trước Tòa Án Quốc tế tại La Hague.”

Băng video ghi lại giây phút ấn tượng này đã được truyền đi khắp nơi, những người biểu tình từ nhóm CodePink đã hô vang, “Phải bắt giữ Henry Kissinger vì tội ác chiến tranh!”. Những tiếng hô này càng lớn hơn ngay khi Kissinger bước vào phòng họp của Thượng viện.

Di sản thật sự của Kissinger để lại chỉ là sự hủy diệt. Ông là nhân vật phản diện vĩ đại của Mỹ.” Anna Kaminski, thành viên của nhóm CodePink nói với báo chí.

Để biết thêm về những gì mà Henry Kissinger đã gây ra, CodePink nói tất cả mọi người cần tham khảo thêm về

Việt Nam: Từ năm 1969 đến năm 1973, Kissinger, làm việc cho Richard Nixon, gây ra một cuộc chiến tàn khốc giữa hai miền Nam Bắc. Sau đó, vì muốn đi đêm với Trung Cộng trong chính sách bảo vệ Đài Loan và bỏ rơi miền Nam Việt Nam, Campuchia và Lào, Henry Kissinger đã để mặc cho 3 nước Đông Dương này rơi vào thảm trạng. Nửa thế kỷ sau, tàn dư từ những bài toán của Henry Kissinger vẫn còn làm tan nát con người và các đất nước này. Đặc biệt sự sụp đổ của chế độ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã trở thành một vết nhơ khó quên trong lịch sử của Hoa Kỳ.

Chile: Henry Kissinger là một trong những kiến trúc sư chính của cuộc đảo chính ở Chile vào ngày 11 Tháng 9 năm 1973, một cuộc đảo chính lật đổ chính phủ dân cử của tổng thống Salvador Allende. Đất nước này đã phải chịu 16 năm đàn áp, tra tấn và tử vong dưới sự cai trị của một người bạn của Kissinger, trùm độc tài phát xít Augusto Pinochet.

Đông Timor: Năm 1975, trong khi làm việc cho Tổng thống Gerald Ford, Kissinger vận động phê duyệt việc yểm trợ cho nhà độc tài Suharto của Indonesia xâm lược đẫm máu của những hòn đảo nhỏ của Đông Timor. Các cuộc xâm lược này đã được thực hiện với vũ khí trang bị của Mỹ. Bởi thời gian chiếm đóng Indonesia cuối cùng kết thúc vào năm 1999, 200.000 Timor với kết quả 30 phần trăm dân số đã bị xóa sổ.

Nhà văn Jon Queally, người bảo vệ hành động của nhóm CodePink nói rằng “Những trang sử đẫm máu đó chính là di sản của Kissinger. Cái chết. Sự tàn phá. Đau khổ. Cùng cực. Chế độ độc tài. Henry Kissinger chính là một kẻ giết người, một kẻ nói dối, một kẻ lừa đảo, một kẻ côn đồ.”

(Lược dịch từ Reverbpress / Ảnh: Reuters – Gary Cameron)

 

*

Posted in Hội Nghị Paris 1968-1973 | 2 Comments »

►Sau tiếng chuông chùa – Truyện ngắn của Đỗ Trường

Posted by hoangtran204 trên 30/01/2015

Sau tiếng chuông chùa

29-1-2015

nghiepchuong

Buổi ra mắt tập Thơ Người Việt Ở Đức do nhà xuất bản Vipen Berlin tổ chức, diễn ra khá dài vào một chiều mùa hè 2014. Có lẽ, đã cảm thấy đói và mệt, nên giữa chừng Nguyễn Đăng Ga rủ vợ chồng nhà thơ Trần Mạnh Hảo, Người Buôn Gió, Quốc Cường, nhà điêu khắc Thành Nghĩa-An Giang, nhà văn Võ Thị Hảo và tôi về quán của anh ở Alexanderplatz ngồi lai rai. Coi đây là bữa nhậu chia tay, để ngày mai nhà thơ Trần Mạnh Hảo sang Paris và trở về Việt Nam. Ăn uống trò chuyện đang rôm rả, tôi đành đứng dậy cáo lỗi vì đã quá nửa đêm và con đường 200 km về nhà còn khá xa…

Xe chạy một đoạn, chẳng hiểu sao Navi chỉ đường lại giở chứng tậm tịt, tôi buộc đi theo trí nhớ. Một lúc, trí nhớ cũng tậm tịt nốt. Lòng vòng khá lâu, xe lạc đúng vào cổng chùa Linh Thứu. Tôi phải dừng lại, để hỏi đường ra Autobahn Leipzig. Đường phố vắng và trong chùa tĩnh lặng. Tôi men theo hè phố, tìm một quán đêm để hỏi. Bất chợt tôi ngoái lại, dường như có bóng một ni cô thấp thoáng đang đi về hướng cổng chùa. Tôi quay lại, rảo bước. Đến cổng, thấy ni cô dừng lại, có lẽ chờ tôi. Tôi đang lúng túng, tìm cách xưng hô, chợt thấy ni cô hơi sững người, nhưng giọng lại chùng xuống: Cậu Trường, đội lò mổ Leipzig phải không? Tôi giật thót cả người, nhìn thẳng, nhưng vẫn còn mơ hồ. Một giây im lặng. Đến khi chiếc răng khểnh của ni cô lộ ra, sau nụ cười thoáng buồn, tôi mới chợt vuột ra: Chị Tuyên! Sao chị lại ở đây?

Tôi quen chị đã gần ba mươi năm trước, trong những lần chị dẫn các anh chị cựu diễn viên, ca sỹ ở cùng đội bóng đèn đến chỗ chúng tôi xin tiết canh lòng lợn. Sau ngày nước Đức thống nhất, người Việt vùng phía đông ly tán, số còn lại thường sống co cụm vào từng khu. Lúc này, chị trở thành hàng xóm của tôi. Cho đến ngày con trai chị vừa đón từ Việt Nam sang, bị chính những người đồng hương bắn chết ở gần Berlin, chị buồn và lặng lẽ bỏ đi. Có người đoán, chị đã về Việt Nam, kẻ lại nói, chị theo cô, theo cậu đang hầu đồng, hầu bóng ở Dresden…

Vậy là sau mười chín năm, tôi bất ngờ gặp lại chị. Chị đã thay đổi quá nhiều. Sự thay đổi ấy, nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhưng có lẽ, chỉ có tình cảm của chị với tôi không hề đổi thay. Chị vẫn thân mật xưng chị và gọi tôi bằng cậu, như mấy chục năm trước. Chị bảo, làm lễ cho một gia đình hàng xóm ở Dresden hơi bị muộn, nhưng chị vẫn phải đi tàu đêm lên Berlin, để sáng nay kịp đi theo lễ cùng thày. Cuộc gặp gỡ tuy ngắn ngủi và chị đã thuộc về cõi vô thường, nhưng tôi vẫn cảm thấy còn có một chút gì đó ưu tư trong đôi mắt chị. Khi tôi bước lên xe, chị còn dặn: Lúc nào rảnh qua Dresden, chị còn nhiều điều muốn nói với cậu.

Cuối tuần vừa rồi, chở mấy cô con gái đi thi đấu bóng bàn ở gần Dresden, tôi tạt vào thăm chị. Những biến cố, thăng trầm cuộc đời chị có chuyện tôi đã biết và có những chuyện đến nay tôi mới được nghe kể từ chính chị. Qủa thật, những nỗi đau ấy của chị chợt làm tôi nhớ đến chị Hà Giang, trong truyện ký Nghỉ Hè Ở Mallorca của nhà văn Phạm Tín An Ninh. Nhưng có lẽ từ những quyết định đầu đời sai lầm, dẫn đến số phận của chị còn đắng cay, nghiệt ngã hơn rất nhiều…

Chị sinh ra và lớn lên ở ngõ chợ Khâm Thiên Hà Nội. Những ngày cuối năm 1972 bom Mỹ đã cướp đi toàn bộ gia đình của chị. Chị còn sống, bởi cái đêm định mệnh ấy, chị đang ở nơi sơ tán. Tháng 4 năm 1973 trên đầu cuốn bốn khăn tang, dù đang là học sinh phổ thông năm cuối, chị vẫn xung phong vào bộ đội. Sau mấy tháng huấn luyện, chị hành quân vào chiến trường Quảng Đà…

Chiến tranh kết thúc, đơn vị chị được lệnh tiếp quản một số kho hàng và doanh trại, khu gia binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thuộc khu vực Nam Trung Bộ. Thời gian sau, những doanh trại đã bị bom đạn cày nát này, được quây lại gọi là lán trại dành cho (tù) cải tạo, chủ yếu các sỹ quan cấp úy của quân đội VNCH. Chị vẫn ở lại làm thủ kho, cách đó không xa.

Khu nhà kho này được xây khá kiên cố, lưng tựa vào vách núi. Hai bên là hai dãy nhà mái trần, ngăn thành nhiều phòng. Hình như trước đây là nơi ở và phòng làm việc của một đơn vị quân nhu, tiếp vụ thuộc quân đội VNCH. Trước mặt có khoảnh sân khá rộng, bao quanh bởi những khóm hoa sim, đang thì nở rộ. Và tất cả được ẩn mình dưới những tán lá rừng xanh ngát, nếu từ xa hoặc trên cao nhìn xuống. Ở đây, chỉ có chị là nữ và mấy cảnh vệ đều ở tuổi hai mươi. Họ cũng là học sinh trước khi vào bộ đội như chị, nên cuộc sống rất hồn nhiên vui vẻ. Và có lẽ, tình yêu và khát vọng đang hồi sinh trong họ chăng? Nên ai cũng chuẩn bị lại sách vở, dành nhiều thời gian cho việc ôn luyện để năm tới xuất ngũ, thi vào đại học.
Lúc này, (tù) cải tạo vẫn còn thuộc sự quản lý của bộ đội. Nên chị vẫn thường qua lại đề nghị trưởng trại cử vài, ba người sang giúp sửa lại kho, hoặc bốc dỡ hàng hoá, khi cần. Và chị đã quen Chu Bá Trạc cải tạo viên, nguyên sĩ quan bộ binh, từng là thầy giáo dạy toán bậc trung học, trong một lần như vậy. Ngay lần đầu gặp, biết các cải tạo viên đều là thầy giáo, bác sỹ trí thức, chị và mấy cảnh vệ đã nghĩ ngay đến việc nhờ họ giảng dạy, hướng dẫn những môn khoa học tự nhiên.

Là khu hoàn toàn biệt lập, do vậy bọn chị rất dễ dàng vẽ ra rất nhiều công việc ma, để đón nhóm của thày Chu Bá Trạc vào kho, mỗi tuần vài, ba lần. Được học trò nể trọng, đưa đón ra vào lán trại, cũng như chăm sóc nghỉ ngơi, ăn uống, nên các thày rất nhiệt tình chỉ dạy. Từ đó, tình thày trò ngày càng trở nên gắn bó, đồng cảm. Và sau mấy tháng như vậy, dường như tình cảm của chị dành cho Chu Bá Trạc không còn dừng lại ở mức thày trò, anh em nữa…

Trời chớm sang đông, trên triền đồi và lối mòn dẫn ra con suối trước mặt đã trải vàng một màu hoa dã quỳ. Mùa này, dòng suối cũng đã cạn dần con nước. Đứng trên bờ đôi khi nhìn thấy những cá con, cá mẹ bị mắc trong hốc đá, cắm đầu vào những cành lá ối mục mà nước không thể cuốn đi. Tuy mùa đông, nhưng về trưa, nắng ngoài kia vẫn kéo cái nóng dần lên. Sau giờ học, nấu nướng ăn uống xong, trời đã chếch bóng, chị và mấy cảnh vệ tay dao, tay súng cùng nhóm (tù) cải tạo Chu Bá Trạc ra rừng tre nhỏ ở bên kia con suối. Công việc chặt tre, đốn gỗ về làm giàn bầu, giàn bí để “ngụy trang“ cho việc dạy và học của họ lại được bắt đầu…

Chị kéo Trạc vòng ra sau, đi lên phía triền đồi. Nơi có sắc vàng của hoa và của nắng như đang tan chảy vào nhau. Một loáng thôi, bóng của họ đã chìm trong cái vàng óng hòa tan ấy của trời đất. Họ lặng đứng bên nhau. Dường như có một khoảng cách rất mong manh trong lòng mỗi người. Gió… và từng cơn gió rít lên, làm chị hơi lạnh, nhưng không phải cái lạnh buốt da, cắt thịt như gió bấc nơi quê nhà. Bất chợt, Trạc xoay người nắm lấy bàn tay chị. Như viên than hồng nhóm lửa, chị hơi co người lại, có luồng khí nóng chạy dọc cơ thể… và cháy bùng lên. Ôm chặt lấy Trạc, chị ngả người, làm cả hai đổ vật xuống…

Ngay sau tết âm lịch 1976, một nửa trại đột xuất bị chuyển đi, trong đó có Chu Bá Trạc. Chị hỏi trưởng trại, hắn bảo đi Daklak, nhưng địa chỉ cụ thể thì không rõ. Không biết, đây là câu trả lời thật hay đểu của hắn. Nhưng làm cho chị vô cùng buồn bã và cả mấy cảnh vệ gác kho cũng bỏ học cả tuần. Đã từng đi qua chiến tranh và những ngày tháng khốc liệt, nhưng chưa khi nào chị cảm thấy hẫng, buồn chán như lúc này.

Quân khu đã có văn bản chính thức, đồng ý cho những quân nhân như chị được phép thi đại học. Mọi người phấn khởi làm hồ sơ giấy tờ. Với chị dường như mất cảm giác, chỉ thấy nôn nao, chao đảo trong người. Thuấn cảnh vệ, người Sơn Tây, luôn gần gũi chăm sóc chị từ ngày cùng nhau nhập ngũ, đi lấy hồ sơ về. Thấy chị đang nằm bẹp, hắn bắt phải lên bệnh xá ngay. Đi được nửa đường, chị bảo hắn quay xe về, thay thường phục, bắt xe đò vào thành phố. Hắn ngơ ngác, chị bảo, rồi ông khắc biết. Chị đã có một linh cảm chẳng lành.

Thành phố lúc này vắng vẻ, tiêu điều nhưng đã có một số phòng mạch tư nhân mở cửa trở lại. Chị và Thuấn đến vào cuối giờ chiều, phòng đợi vắng người. Chị được mời vào khám ngay. Và tinh thần chị bị sụp đổ hoàn toàn, khi bác sỹ cho biết, chị đã có thai và thai nhi đã lớn. Phòng khám không thể nạo bỏ, như theo yêu cầu của chị. Nếu chị muốn, phòng khám chỉ có thể giới thiệu đến bệnh viện. Họ sẽ làm, nhưng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hoặc có thể chị sẽ trở thành người vô sinh. Điều quan trọng, chị phải có giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể và chữ ký đồng ý của chồng.

Rời phòng khám, đầu chị quay cuồng, bước chân dường như vô định. Chị đã biết sợ, chiếc vòng kim cô muôn thuở kia, sẽ xiết chặt cuộc đời chị trong cái luẩn quẩn của sự hủ hóa suy đồi đạo đức, dẫn đến mang thai với một kẻ bên kia chiến tuyến, một cựu sỹ quan, một cải tạo viên. Gặp kẻ ngồi trên độc mồm, ác miệng gán cho cái tội theo địch, phản động chứ chẳng chơi. Đó là một điều không thể tưởng đối với một Đảng viên trẻ như chị. Tương lai của chị đang bước vào ngõ cụt. Có lẽ, đây là cái án tử hình không chỉ đối với chị mà cho cả cải tạo viên Chu Bá Trạc, tuy không bằng dao, bằng súng.

Thuấn lặng lẽ theo chị đến con phố cuối cùng. Trước mặt đã là biển và thành phố đã lên đèn. Biển cạn, ngoài kia xác mấy con tầu đắm chưa kịp cẩu đi, trồi lên, sóng vỗ, bọt tung lên trắng xóa. Bãi cát vắng người, dường như chỉ thấy rặt một màu áo của lực lượng tuần tra, kiểm soát.
Chị không khóc, nhưng hai con mắt đã đỏ hoe, nhìn về nơi có ngọn hải đăng đang cháy lên. Khi Thuấn khoác nhẹ tay lên vai, lúc đó chị mới gục đầu vào vai Thuấn bật khóc. Vỗ vỗ vào vai chị, Thuấn an ủi:

-Tuyên hãy thật bình tĩnh, rồi chúng ta sẽ tìm ra cách giải quyết thôi.

Im lặng. Không biết nước mắt của chị hay cả nước mắt của mình đã chảy thấm vai áo, nhưng Thuấn vẫn để yên như vậy. Trăng lên cao. Gió thổi từng cơn. Lạnh và đói, Thuấn đỡ chị đứng dậy đi tìm mua đồ ăn. Giờ này, không còn xe về lại đơn vị, buộc chị và Thuấn phải tìm đến nhà khách quân khu.

Hôm sau, trên đường về Thuấn đột nhiên bảo, nếu như Thuyên đồng ý, ngay trong tuần này, chúng ta lên trung đoàn trình báo sự quan hệ và xin giấy giới thiệu đăng ký kết hôn làm đám cưới. Đây là cách duy nhất để hợp thức hóa việc này.

Tuy đã biết, từ lâu Thuấn đã có tình cảm với mình, nhưng do rụt rè chưa dám nói ra, nhưng với quyết định bao dung này của Thuấn làm chị bất ngờ và xúc động. Thật ra, từ ngày cả gia đình bị bom Mỹ, chị chẳng có ai là người thân để chăm sóc, giãi bày tâm sự, ngoài Thuấn ra. Tuy nhiên, với chị tình cảm dành cho Thuấn cho đến nay, chỉ là tình bạn thân thiết đặc biệt, chứ không hoặc chưa thể nói là tình yêu. Nhưng trong hoàn cảnh vô phương cứu chữa này, chị không thể không cảm ơn và làm theo sự sắp đặt của Thuấn.

Chị cũng không ngờ đám cưới chạy của mình và Thuấn diễn ra tưng bừng, nói như ngôn ngữ thời nay, sao nó lại “hoành tráng“ đến thế. Hội trường đơn vị chật ních người, đầy đủ ban bệ và các bác tai to mặt nhớn. Bởi, đây là đám cưới đầu tiên sau ngày thống nhất, của hai chiến sĩ trực tiếp chiến đấu nơi chiến trường, trong cùng đơn vị. Nó được nâng lên thành hình ảnh điển hình, mang ý nghĩa chính trị to lớn, không chỉ riêng của một đơn vị…

Không hiểu nguồn tin bị rò rỉ từ đâu, ngay sau đám cưới rất nhiều tiếng thì thầm to nhỏ với những nụ cười ruồi, rồi chỉ chỏ vào cái bụng của chị ngày càng phổng lên. Đã đến tai, nhưng các đồng chí ngồi trên cố nuốt, vờ như không biết, nên vẫn bình yên lắm. Rất may, mấy tháng sau Thuấn đỗ vào khoa hóa thực phẩm trường đại học Bách Khoa Hà Nội, chị tuy không đủ điểm, nhưng được gọi vào trường trung cấp tài chính. Khi chị và Thuấn lên làm quyết định chuyển ngành và sinh hoạt Đảng, các đồng chí thủ trưởng và quân lực nhìn với ánh mắt lạ lắm và giải quyết rất nhanh. Cầm giấy tờ, bước chân ra khỏi phòng, chị vẫn còn nghe thấy tiếng thở phào, nhẹ như vừa cắt bỏ được miếng thịt thừa trên cơ thể của các đồng chí thủ trưởng, quân lực vậy…

“Người ăn ốc kẻ đổ vỏ mà lại đổ vỏ cho thứ ngụy quân ngụy quyền, thế mới đau chứ!“ Cái tin được rỉ tai nhau, truyền đi ở cái làng quê yên bình đậm lễ giáo này, đã làm sóng gió nổi lên đùng đùng trong gia đình, khi chị và Thuấn còn chưa về đến nhà. Thế này, có khác gì bôi tro trát trấu vào mặt gia đình, dòng họ. Mẹ Thuấn cứ ra vào lẩm bẩm như vậy.

Gặp chị, mẹ Thuấn đã có chút nguôi giận, có lẽ cảm thông hoàn cảnh và chị là người hiền lành lễ nghĩa. Nhưng bà vẫn buộc chị sau khi sinh, cho hoặc gửi ai đó nuôi một thời gian, sự việc nguôi ngoai, sẽ đón cháu về, vì Thuấn là con trưởng cũng là trưởng họ thay bố đã mất.

Chị bảo, khi con được mấy tháng, phải gửi vợ chồng bác hàng xóm cũ là bác sỹ nuôi, không hẳn vì sức ép của gia đình Thuấn. Bởi trong thời gian chị đi bộ đội, căn hộ tập thể của bố mẹ đã bị cơ quan cho một gia đình khác vào ở, khi trở về, chị không thể đòi lại được. Do vậy, chị và Thuấn đều phải ở tập thể sinh viên của trường, cuối tuần mọi người về nhà hoặc đi vắng, vợ chồng mới được ở với nhau. Vừa nhập học, chị sinh, nhưng hệ hô hấp có vấn đề, nên cháu hay ốm đau dặt dẹo. Mấy tháng sau chị lại mang thai. Việc phải bỏ học là điều khó tránh khỏi, nếu chị không được sự giúp đỡ của vợ chồng bác hàng xóm. Và nếu như họ không phải là bác sỹ và đưa cháu về phương nam nắng ấm ngay sau đó, thì có lẽ cháu không thể qua nổi những cơn bạo bệnh. Nói là như vậy, nhưng lúc nào chị cũng day dứt và ân hận, nhất là từ ngày cháu bị ung thư ruột. Không biết hậu quả này, có phải từ việc chị uống thuốc tây ngoài chợ giời cho đến thuốc lá của mấy bà dân tộc để cho sảy thai, hồi chị chửa cháu hay do nhiễm hóa chất từ nơi chiến trường? Mấy năm gần đây, cứ bòn góp đủ tiền là chị lại về Sài Gòn, dù bệnh đã ở giai đoạn cuối, nhưng với nó, chị vẫn chỉ là người xa lạ…

Tôi cắt ngang lời chị, có lẽ, lúc đó chị liên lạc với gia đình Chu Bá Trạc gửi cháu bé cho họ, tốt và hợp đạo lý hơn. Chị bảo, Trạc đã có vợ con từ trước 1975, nên chị không muốn tìm đến. Năm 1987 trước ngày chị sang Đức, vào thăm, nó vẫn nhất định không chịu gặp chị. Dù gia đình bố mẹ nuôi rất khá giả và thương cháu, nhưng chị vẫn tìm đến địa chỉ cũ của gia đình Chu Bá Trạc ở Biên Hòa, để nói cho anh ấy biết, nếu có thể, anh ấy qua lại chăm sóc cháu. Nhưng anh và cả gia đình đã bị đắm tàu chết trên đường vượt biển năm 1980, sau khi ra tù, do người hàng xóm kể lại.
Tôi buột miệng hỏi, ngày đó biết Trạc đã có vợ con và hai người ở trong hoàn cảnh vô vọng như vậy, sao anh chị vẫn… ? Chị cười buồn, không thể lý giải ở cái tuổi hai mươi ấy. Chỉ biết rằng, Trạc là người đầu đời của chị. Rồi giọng chị dường như có một chút phấn chấn hơn: Đời chị có Trạc để yêu và có Thuấn để trọng, như thế là đủ phải không em? Và bây giờ chị trở về cõi vô thường, tôi đùa như vậy, rồi hỏi chị xuống tóc từ khi nào? Hai chục năm nay rồi, chị tu tại gia, nhưng thường xuyên về chùa và theo các thày đi làm lễ.

Trưa. Chị nấu cơm chay khá ngon. Trong bữa ăn, hai chị em cứ rù rì trò chuyện. Chị bảo, nghiệp chướng của chị còn nặng lắm, nhưng không biết đó có phải của riêng chị hoặc của Trạc, của Thuấn hay của chung tất cả những người lính đã lao vào chém giết trong cuộc chiến vừa qua …

Học xong, chị về làm việc cho xưởng in bộ văn hóa. Thuấn về làm việc ở một nhà máy thuộc bộ công nghiệp thực phẩm. Mấy năm sau, bầu lên vật xuống, vợ chồng chị cùng thằng con nhỏ cũng nhận được căn phòng tập thể hơn chục thước vuông. Cuộc sống thời bao cấp quá khó khăn, chẳng riêng chị mà cái nghèo, cái nhục nó đến với tất cả mọi người.

Không thể chịu được sự cùng cuỗn ấy, năm 1987 để con lại cho chồng, người nữ lính chiến năm xưa lại khoác ba lô cùng với các văn nhân, nghệ sỹ, trí thức lên đường làm thuê, cuốc mướn nơi xứ người. Bức tường Berlin sụp đổ, từ trong nước dòng giống con Lạc cháu Hồng lại tìm đường ra đi. Thằng con chị vừa bước sang tuổi mười bảy, bỏ học đòi sang với mẹ. Sang được thời gian, chị bất lực không thể quản lý, bảo ban nó. Và vào đúng mùa hè 1995 nó bị những người cùng chung một dòng máu bắn chết, trong một ngôi nhà ở gần Berlin. Nghe nói, nó theo bọn bảo kê đi thu tiền chỗ bán thuốc lá lậu, bị băng đảng khác phục thù bắn chết. Chẳng biết đúng sai thế nào, nhưng hôm đi viếng, thấy trên cổ nó phải khâu rất nhiều mũi. Nhìn nó nằm đó, tôi cảm thấy lòng mình vô cùng trống rỗng. Chị không còn khóc được nữa, người cứng đơ, hai bà hàng xóm phải kè kè hai bên…

Tôi hỏi chị về Thuấn. Chị bảo, biết tin con chết, Thuấn cũng bị chao đảo mất mấy năm. Muốn giải phóng cho Thuấn, nên năm 1998 chị về nước làm đơn ly dị. Lúc đầu Thuấn không chịu, nhưng mọi người nói mãi, hắn miễn cưỡng đồng ý. Mấy năm sau bị áp lực của gia đình, Thuấn mới lấy vợ. Nhưng đẻ được hai đứa con, đứa nào cũng bị dị tật cả. Chị nghĩ, nhiều lúc thật có lỗi với Thuấn, không giữ được đứa con cho hắn. Bây giờ Thuấn đang là tổng giám đốc một công ty lớn lắm, giầu sang phú quí rồi. Tiền bệnh viện thuốc thang cho con gái chị, mấy năm nay đều do Thuấn trả, thông qua chồng cháu đấy. Có lần, chị bảo, đừng làm như vậy nữa, Thuấn khổ vì mẹ con chị nhiều rồi. Nhưng hắn nói, hắn làm vậy không hẳn chỉ vì chị, mà vì cả Chu Bá Trạc. Nếu không có Trạc dạy dỗ thì hắn không thể đỗ đại học và không được như bây giờ…

Chiều muộn, câu chuyện của chị đã đi vào đoạn kết. Tôi đứng dậy từ biệt chị cho kịp giờ đón mấy cô con gái nơi thi đấu bóng bàn.

Tiễn tôi ra xe, chị nhắc lại câu, hãy tin vào luật nhân quả. Thế hệ chị đã gây ra và lao vào cuộc chiến, nghiệp chướng còn nặng lắm, kiếp này không thể trả hết đâu em ạ…

Leipzig 29-1-2015

© Đỗ Trường

© Đàn Chim Việt

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

►Chân dung quyền lực đang gây ra Cơn sốt rét ác tính cho các nhóm quyền lực

Posted by hoangtran204 trên 30/01/2015

Trang chandungquyenluc.blogspot.com do nhóm của Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo đang tố cáo sự giàu có, các cách làm ăn kiếm tiền của những ủy viên Trung Ương đảng CSVN. Mục đích nhằm hạ gục bọn này và đưa đàn em của Nguyễn Tấn Dũng lên nắm các vị trí then chốt trong kỳ đại hội đảng năm 2016. Bản thân và gia đình của Nguyễn Tấn Dũng và các đàn em thân tín như Trần Đại Quang bộ trưởng công an thì không bị trang này chiếu cố.

Cơn sốt rét ác tính của các nhóm quyền lực

Blog RFA

Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội

Từ 15/12/2014 đến nay, mỗi ngày blog Chân dung quyền lực lại thường thong dong thả ra một bài.Mỗi bài như một phần của khối u băng hoại được màn hình nội soi từ trong ruột của bộ máy quyền lực cao nhất của VN hiện thời trình ra cho dân chúng xem.

* Chờ đợi chân dung của những “đồng chí chưa bị lộ”

Dù chưa rõ độ xác thực của thông tin mà blog này đưa ra, nhưng đúng như tên của blog, chân tướng của nhiều nhân vật trong một bộ máy quyền lực tham lam, cánh hẩu, siêu trộm cướp và siêu vô đạo đang hút máu nhân dân và đất nước VN đã được khắc họa một cách cụ thể, sắc nét đến mức người ta khó mà không tin.

Dẫu lâu nay người dân cũng đã hình dung sự băng hoại cao nhất của vô số nhân vật có quyền lực trong bộ máy, nhưng cũng  không thể không sốc và công phẫn trước những chi tiết, hiện trạng đã được trang blog này nêu ra, với những tiêu đề sốc như „Cục u bướu di căn…“, Liên minh đen tối hút máu quân đội và nhân dân…“, „Đề nghị TƯ thanh tra khối tài sản hàng ngàn tỉ…“. Điều đáng nói, đây chỉ là một phần những chân dung trong bộ máy quyền lực. Người ta có thể rùng mình khi nghĩ rằng nếu tất cả các chân tướng của những „đồng chí chưa bị lộ“ đều được đưa ra ánh sáng thì còn kinh khủng tới mức nào?

Nếu đúng như vậy, cộng thêm với những tư liệu từ blog Quan làm báo, Dân làm báo… cũng đang đưa những tội ác và sự tham nhũng của bộ máy cầm quyền, và mặc dù chưa được kiểm chứng, nhưng không phải không có những chi tiết và chứng cứ khiến người ta muốn tin, thì phải chăng đây là bộ máy quyền lực tội lỗi và tham lam nhất trong lịch sử VN từ cổ chí kim?!

Và mỗi ngày, người ta lại vào Chân dung quyền lực, để đón xem về những „đồng chí chưa bị lộ“ mà dân thừa biết là nếu lộ ra thì cũng …ghê sợ không kém.

* Cơn sốt rét ác tính.

 Chân dung quyền lực – thế lực truyền thông mạnh nhất trong những trang báo mạng „lề trái“ hiện  đang nhân danh quyền lợi của nhân dân VN để đưa ra các thông tin tố cáo rất cụ thể, đã gây ra một cơn „sốt rét ác tính“, run rẩy đến tận chân răng của giới quyền lực.

 Số người truy cập tăng từng giây, nhảy múa trước những con mắt và cái miệng tham lam vô đáy của các quan chức „tay đã nhúng chàm“. Lượng truy cập tăng gần triệu lượt mỗi ngày trong thời gian gần đây, khi công chúng khao khát tìm biết những kẻ mà họ vốn phẫn uất và khinh miệt đã và đang dùng cách nào để cướp đoạt miếng ăn và tương lai của họ, con cái họ. Họ cố gắng „bói“ xem đằng sau vở kịch này là phe nào đang đấu với phe nào và phấp phỏng chờ kết cục để an ủi cho sự bất lực của chính mình. Với người dân VN, dẫu sao đó cũng là một bữa tiệc thông tin mà họ bỗng nhiên được thưởng thức.

Muốn „cắt cơn sốt rét“ này của các đồng chí đã bị lộ và chưa bị lộ, đồng thời minh oan cho những đồng chí bị vu oan giá họa bởi „lề trái“, có một diệu kế.

Đó là phải đánh tan tác bọn „lề trái“, trong đó có Chân dung quyền lực. Việc này tưởng khó mà lại cực dễ. Bằng cách báo „lề Đảng“ chiếm hết thông tin, hớt tay trên của bọn lề trái.

*Hiến kế cắt cơn sốt rét :  Bất chiến tự nhiên thành

Nhưng bọn lề trái là bọn nào mà kinh khủng và láo xược thế? Bọn này từ trước đã ghê, bây giờ chúng lại có thêm Chân dung quyền lực nhập bọn, mà chúng vẫn âu yếm gọi là „anh Lực“. Chẳng biết anh Lực động cơ thế nào, có nhập bọn lâu không, nhưng quả là ba đầu sáu tay. Càng kêu gọi trừ khử bọn diễn biến hòa bình, chúng càng trở nên ghê gớm.

Thực ra, lề trái là „con đẻ“ của lề Đảng.

Đó là hậu quả nhỡn tiền của việc bưng bít thông tin, của việc có những nhóm người luôn đứng trên pháp luật và quyền lợi của nhân dân, đất nước.

Đó mới là kẽ hở cho bọn lề trái gia nhập mạng thông tin. Nhất là khi lề trái lại còn có khả năng đưa thông tin theo kiểu chuyên nghiệp, „nói có sách mách có chứng“ từ ruột đưa ra. Lại là những thông tin lại về tội ác tày trời, về khối tài sản khổng lồ do tham nhũng  và trộm cướp  của nhân dân  mà có, về nhiều nhân vật lãnh đạo cao nhất cùng cái sân sau thân hữu, quyền lợi nhóm, sự buôn quan bán tước của những nhân vật này, lâu nay  vẫn bị xì xào bàn tán, bị nghi ngờ nhưng không bao giờ được phát lộ bởi họ là những người đứng trên pháp luật VN, báo chí truyền thông không thể tiếp  cận, chạm đến là chết…Thông tin ấy do hiếm nên trở thành vô giá.

Nhưng cần biết rằng bọn báo lề trái cũng có tử huyệt. Đâm trúng tử huyệt chúng là bất chiến tự nhiên thành.

Tử huyệt của bọn lề trái rất nông cạn. Chúng chỉ là loài ký sinh thông tin. Chúng chỉ sống được trên làn rêu ẩm ướt tối tăm của sự bưng bít thông tin, dối trá thông tin, bạo lực thông tin, bè phái thông tin của các vị quan chức từ trên xuống dưới. Chúng là lũ chuyên dùng từ điển ngược, như dùng „kính chiếu yêu“, soi ra gương mặt dị dạng của những thông tin lừa bịp hoặc che giấu.

Vậy thì cắt cái chỗ ký sinh thông tin là diệt được bọn báo lề trái, chấm dứt cuộc chiến mà ta hô hào bao lâu nay, tốn kém bao nhân tài vật lực và tạo ra cho ta những cơn sốt rét.

Để đánh cho tan tác bọn báo lề trái trong đó có Chân dung quyền lực,  chỉ có một loại thuốc chữa, là những nhà lãnh đạo cao nhất hãy chỉ đạo và tự mình  bỏ ngay luật rừng nếu có sử dụng. Là đảm bảo chỉ tuân thủ điều 6 và những điều khác của Luật phòng chống tham nhũng hiện hành và yêu cầu các báo lề Đảng phải đưa tin ngay lập tức về sự thật, có sao viết vậy, vét sạch thông tin không để cho bọn lề trái bất cứ mẩu xương nào.

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và Thủ tướng VN cùng Trưởng Ban phòng chống tham nhũng, Bộ công an, Thanh tra chính phủ, Bộ quốc phòng, ngành điều tra, kiểm sát và tòa án  chỉ cần sực nhớ ra Luật phòng  chống tham nhũng, Luật Hình sự và Luật báo chí… để thực hiện, cùng vào cuộc điều tra làm rõ xem những thông tin mà các trang mạng đưa ra có đúng không hay là sự vu cáo để xử lý thích đáng.

Trong khi chỉ đạo, kẻ nào bao che, đưa thông tin không trung thực thì „hốt liền“. Kẻ nào dùng côn đồ cấu kết với công an dọa dẫm hành hung người tố cáo, như cách giật băng tang trên vòng hoa người chết vửa rồi, thì xem có dây mơ rễ má gì với bọn đó không mà cũng tùy tội là „hốt theo“. Nếu điều tra ra, thì các đồng chí cũng có công lớn nhất trong việc kiếm tiền bằng cách thu hồi tài sản tham nhũng về cho đất nước.

Còn ngành truyền thông, thay vì đã sốt sắng nâng tầm cho những tố cáo của báo lề trái  tầm lên mức „loại tội phạm này có thể xếp vào những nguy cơ an ninh lớn nhất cho đất nước và „như ở Anh, loại tội phạm này có thể xếp ngang hàng tội tấn công khủng bố, thảm họa hạt nhân…“(Lời của một ông Thứ trưởng), thì bây giờ hãy chống khủng bố, chống thảm họa hạt nhân bằng cách đánh tan tác bọn báo lề trái, cắt cơn sốt rét ác tính cho nhà cầm quyền.

Trách nhiệm của quan chức ngành truyền thông là phải tuân thủ ngay điều 6 của Luật Phòng chống tham nhũng, chỉ đạo toàn nghành truyền thông VN phải đi vào cuộc làm phóng sự điều tra để làm rõ trắng đen, bảo vệ kịp thời những „cây ngay không sợ chết đứng“, bãi bỏ các „vùng cấm“ thông tin, theo quy định „công dân có quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng, có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng“(điều 6 Luật Phòng chống tham nhũng). Kẻ nào chống tự do ngôn luận, đe dọa phóng viên và người tố cáo, đương nhiên kiến nghị cơ quan chức năng „hốt liền“.

Một khi đã như thế, điều tra đến đâu công bố xử ly đến đó, báo lề Đảng cắt hết nguồn ký sinh thông tin của bọn báo lề trái, những dạng như „Chân dung quyền lực“ chỉ biết ngồi liếm mép mà chết héo thôi.

Một khi đã như thế, làm gì còn tình trạng bọn báo lề trái đưa ra cái gì thì được người đọc khao khát hút lấy như người đang khát nước gặp mưa. Số lượng truy cập trang Chân dung quyền lực cứ tăng vùn vụt từng giây và có ngày tăng lên cả triệu lượt người đọc.

Nếu thế, chỉ trong vòng một tháng, không chỉ Chân dung quyền lực mà đến Quan làm báo, Dân làm báo và vô số trang mạng „lề trái“ khác cũng phải im tiếng, đóng cửa về nhà đi chăn mèo, vì không thể cạnh tranh thông tin được với cả ngàn tờ báo lề Đảng đang răm rắp nằm chờ trong ống tay áo của Ban Tuyên giáo TƯ và sẵn sàng lao ra nhanh nhất có thể khi được lệnh đăng tải.

Sẽ có những Chân dung quyền lực khác ?

Những keo đấu vật giữa các nhóm quyền lực và quyền lợi ngày càng lộ rõ, nếu căn cứ và theo dõi thông tin trên cả nhóm lề Đảng và lề trái –  nhiều người cho rằng rất nhiều khi báo lề trái là báo lề Dân.

Sự ăn miếng trả miếng trả miếng đã rõ ràng. Có những cú đấm xoay chuyển tình thế 180 độ giữa các phe nhóm. Ai nắm được kho tiền và kho bổng lộc, người đó rốt cuộc sẽ thắng? Ai nắm được thủ túc trong nghành công an và an ninh, người đó sẽ có khả năng tung ra nhữn cú động đất và những cơn sốt rét ác tính làm loãng máu đối phương? Ai bán nước nhanh gọn một cục hơn cho Trung quốc, để có cả một đại lục và tình báo Hoa Nam hậu thuẫn phất cờ ván chót?

 Và phần thắng cuối cùng mong rằng không cũng chỉ để vào tay một con tắc kè khổng lồ sẵn sàng đổi màu, sẵn sàng tráo trở đổi sinh mạng nhân dân và đất nước VN cho quyền lợi cá nhân và quyền lợi nhóm, dù họ nhân danh ai?!

Sẽ có những Chân dung quyền lực khác trong tương lai? Chắc chắn là có, dù dưới hình thức này hay hình thức khác. Vì đối phương không thể không phòng vệ và trả miếng. Đó là quy luật sinh tồn.

Ai hưởng lợi trong cuộc đấu này?

Mong rằng diễn biến không như nhiều lần trước.

Hiện trạng nhiều lần trước  đây cho thấy, dẫu chứng cứ tố cáo tham nhũng có chính xác và thuyết phục đến đâu, cũng chỉ là những ngón đòn tạm thời các đối thủ ra oai với nhau trong những phút cuối giành quyền lực mà thôi. Rồi họ sẽ ngồi quanh bàn bầu dục tròn. Không ai làm gì ai cả bởi nhìn ai cũng có “ngón tay thứ sáu”, có nét sinh ra cùng cha cùng mẹ, không  đánh chuột bởi chuột đã chính là bình. Sau khi ngã ngũ trong cuộc chiến quyền lực, các đối thủ lại thỏa hiệp với nhau một cách mau lẹ, dẫu không đoàn kết nhưng lại rất dễ thỏa thuận im lặng để đắm say trong lạc thú chia chác các chiến lợi phẩm có được từ việc xẻo thịt  đất nước và nhân dân VN.

Dẫu sao, khi có cuộc chiến thông tin giữa các thế lực cầm quyền, là đã manh nha cho các cuộc cạnh tranh chính trị giữa các nhóm lợi ích. Dẫu đang sơ khai nhưng độ khốc liệt của nó sẽ đẩy nhanh tốc độ trưởng thành.  

Cuộc chiến ngày càng gay cấn thì dân càng được lợi. Hóa ra, đôi khi những cuộc chiến quyền lực độc tài nhất cũng phải tựa vào chút lợi ích của quyền tự do ngôn luận./.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►’Việt – Mỹ thân nhau: TQ lo ngại bị cô lập’

Posted by hoangtran204 trên 30/01/2015

Thật ra, Mỹ không tin gì cộng sản Hà Nội, và Hà Nội cũng không tin Mỹ. Mỹ chỉ thích mượn hải cảng Cam Ranh để tàu chiến của họ có nơi dừng chân, sửa chửa; mục đích lớn nhất của Mỹ là kềm chế TQ  khi TQ muốn trở thành một thủ lãnh hàng hải và hung hản quyết chiếm Biển Đông ngăn chận đường vận chuyển hàng hóa xuất khẩu của Nhật, Nam Hàn, Đài Loan…qua Mỹ.

Hà Nội cảm thấy an toàn khi nhận Trung Quốc làm đồng minh, nếu không liên kết với TQ thì TQ sẽ nói ra huỵch toẹt những hiệp định bí mật giữa HCM và Mao hồi 1950 -1969, về việc mượn tiền của TQ, về vụ trao đổi Hoàng Sa, Trường Sa, và gần đây là các mật ước về chiến lược giữa TQ và VN giữa Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, với Giang Trạch Dân trong Hội nghị Thành Đô 1990. Nói chung, Hà Nội ở thế kẹt và phải chơi trò đu dây. Hà Nội quan hệ với Mỹ chỉ là nhất thời vì bị TQ chơi gác trong vấn đề Biển Đông. Hà Nội thích  quan hệ với TQ lâu dài để giữ gìn các bí mật nói trên và được TQ chống lưng tiếp tục  nắm quyền lãnh đạo.

‘Việt – Mỹ thân nhau: TQ lo ngại bị cô lập’

BBC

29-01-2015

Trung Quốc lo ngại bị ‘cô lập’ và ‘bao vây’ một khi Việt Nam và Hoa Kỳ cải thiện quan hệ và xích lại gần nhau, theo nhà nghiên cứu về Hoa Kỳ từ Hà Nội.

Trao đổi với Bàn tròn Trực tuyến của BBC tuần này nhân dịp Việt Nam và Mỹ đang đánh dấu tròn 20 năm hai nước cựu thù bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Cù Chí Lợi, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Mỹ.

“Thật ra Trung Quốc với Việt Nam và một số nước ở khu vực Đông Nam Á hiện nay đang có vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.

“Đặc biệt chính vì thế mà quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ cải thiện hơn, người Trung Quốc cũng có lo ngại của riêng họ là Hoa Kỳ quay trở lại khu vực châu Á thì có thể thực hiện một chính sách bao vây, hoặc là cô lập Trung Quốc.

“Trung Quốc có một số quan ngại của họ mà vì thế quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ có cải thiện, thì có thể họ cũng có ý kiến, lo ngại về mối quan hệ này, rằng nó có thể ảnh hưởng đến vấn đề bao vây rồi hạn chế sự phát triển của Trung Quốc.”

Theo PGS. Lợi, ngoài vấn đề ‘trở ngại trong thời gian gần đây’ nói trên, trong quan hệ Việt – Mỹ hiện nay còn có một trở ngại chính thứ hai, đó là vấn đề ‘hồ sơ dân chủ – nhân quyền’ của Việt Nam mà nhà nghiên cứu còn gọi là ‘khác biệt’.

“Vấn đề về dân chủ, nhân quyền là một vấn đề có từ lâu rồi, hai bên cũng có những khác biệt về vấn đề này, nhưng tôi nghĩ rằng là những vấn đề dân chủ, nhân quyền hai bên cũng đã có những trao đổi.

“Tôi nghĩ rằng năm 2014 vừa rồi, hai bên cũng đã có những gặp gỡ và trao đổi với nhau và có những hiểu biết nhau nhiều hơn, tất nhiên những khác biệt vẫn còn nhưng những giải quyết như ví dụ của 2014, tôi cho rằng là những ví dụ rất tốt, hai bên cùng hợp tác, ngồi trao đổi với nhau và cùng giải quyết những vấn đề về khác biệt về dân chủ, nhân quyền.

“Tôi cho đây là vấn đề cũng có những trở ngại nhưng cũng có những bước tiến,” ông Lợi nói.

‘Đã tin tưởng ở nhau?’

Đánh giá về quan hệ Việt – Mỹ hiện nay và triển vọng, nhà nghiên cứu từ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng hiện tại hai bên đã ‘sẵn sàng’ cho các bàn thảo đi vào các nội dung ‘quan trọng nhất’, ‘chiến lược nhất’ mà hai bên cùng quan tâm.

Tuy nhiên, cũng tại Bàn tròn hôm thứ Năm, nhà báo tự do, blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, tù nhân lương tâm mới được Việt Nam trao trả tự do và đang ở Hoa Kỳ, đặt vấn đề liệu hai bên đã thực sự có đủ ‘lòng tin’ với nhau hay chưa, và niềm tin đó đặt trên những cơ sở nào.

Blogger Điếu Cày nói: “Thứ nhất quan hệ ngoại giao giữa hai nước với nhau thì cần quan hệ dựa trên niềm tin, và ở đây đặc biệt những vấn đề kinh tế như ý kiến của anh Đặng Xương Hùng đã nói, chúng ta có thể đàm phán trên quyền lợi của mỗi bên.

“Nhưng về an ninh và quốc phòng, nó phải dựa trên niềm tin và ở đây niềm tin được xây dựng giữa hai nước, thì nó phải là niềm tin thực sự.

“Chứ không phải niềm tin mà không đáng được quan tâm, mà lại xây dựng được niềm tin.

“Cụ thể ở đây, thứ nhất về vấn đề như anh Đặng Xương Hùng nói, đây chỉ là những nhu cầu tình huống của chính quyền Việt Nam thôi, thế còn xây dựng niềm tin với những đối tác thì hoàn toàn không có.

“Ở đây vấn đề như anh Lợi (PGS. Cù Chí Lợi) có nói vấn đề khác biệt giữa hai bên về vấn đề nhân quyền, tôi xin nói là Việt Nam và Mỹ cùng tham gia vào các Công ước Quốc tế, vì vậy chuẩn mực của công ước quốc tế là cái mà hai bên cùng phải theo đuổi để đáp ứng vấn đề nhân quyền.

“Chứ không thể có sự khác biệt vì hai bên đều là thành viên của các công ước đó. Còn vấn đề về nhân quyền ở Việt Nam và đặc biệt là vấn đề xây dựng pháp luật ở Việt Nam, để có một môi trường pháp luật minh bạch cho người dân, cho cả những nhà đầu tư nước ngoài, kể cả nhà đầu tư Hoa Kỳ, thì ở Việt Nam, môi trường pháp luật rất kinh khủng…

“Đó là việc hiện nay Việt Nam, chính báo chí Việt Nam đăng, là đang có hàng chục ngàn văn bản dưới luật có nội dung trái luật. Như vậy, các quyền của người dân, của doanh nghiệp có thể bị vi phạm bất cứ lúc nào, trong khi các quyền đó được nêu trong Hiến pháp, trong luật và trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết,” ông Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày, nói với Bàn tròn từ California.

‘Cẩn thận kẻo bị thí’

Ông Đặng Xương Hùng, nguyên Phó Vụ trưởng Bộ Ngoai giao, cựu Lãnh sự Việt Nam tại Geneva, Thụy Sỹ nói với Bàn tròn của BBC về điều mà ông cho rằng Việt Nam cần lưu ý trong chính sách ngoại giao ‘đa phương’, cố ‘đi dây’ cân bằng các quan hệ với các đối trọng hiện nay.

Trước hết, ông Hùng bình luận về việc liệu Việt Nam đã thực sự ‘nghiêm túc, chiến lược, dài hạn’ hay chưa trong quan hệ Việt Mỹ, hay đây mới chỉ dừng ở ‘hình thức’, ‘nhất thời’ và ‘tình thế’ trong quan hệ với Mỹ hiện nay.

Ông nói: “Sau khi trong nước không phát biểu gì về Giàn khoan (Hải Dương 981), thì Mỹ đã phát biểu về giàn khoan, lên án Giàn khoan, và sau khi Mỹ lên án thì Giàn khoan đã được rút…

“Còn ý tiếp theo, nó không phải là chiến lược, bởi vì cái này người Mỹ đã nhìn thấy là nó chỉ mới dừng ở mức hình thức, do đó khi lãnh đạo Việt Nam, nhất là ông Trương Tấn Sang đã sang và đề nghị nâng quan hệ lên ‘Đối tác chiến lược’, thì người Mỹ đã chỉ chấp nhận đối tác toàn diện thôi…

“Người Mỹ trong những bước đưa ra cho Việt Nam, đưa ra rất nhiều khuyến khích như là công nhận (nền) kinh tế thị trường, rồi ký TPP, rồi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, tất cả những cái đó đều kèm những giai đoạn nhất định nào đó, thì người ta nghĩ rằng quan hệ Việt – Mỹ vẫn còn phải dựa trên một quan hệ tin cậy lẫn nhau, phải đi từ hai phía, chứ không phải chỉ đi từ một phía. Tất nhiên hai bên đều có nhu cầu.

Cho rằng Việt Nam cần ‘nhanh chân’ trong mối quan hệ Việt – Mỹ, ông Hùng nói thêm:

“Bởi vì nếu không nhanh chân trong quan hệ Việt – Mỹ, thì Việt Nam sẽ rất dễ rơi vào việc là tiến tới sự hòa hoãn giữa Mỹ và Trung Quốc, và Việt Nam lúc đó lại tiếp tục rơi vào việc là ‘con bài thí’ trong sự hòa hoãn của các nước lớn,” cựu quan chức ngoại giao VN nói với BBC.

‘Cơ hội nâng đẳng cấp’

Hôm thứ Năm, nhà báo Nguyễn Giang, Trưởng ban Việt ngữ của BBC nói với Tọa đàm về điều được cho là ‘cơ hội nâng đẳng cấp’ của quốc gia đối với Việt Nam trong quan hệ với Hoa Kỳ trong bối cảnh hiện nay và hướng tới dài hạn.

Nguyễn Giang nói: “Nếu chúng ta nhìn ra toàn cầu, thì gần như ở khu vực nào, Hoa Kỳ cũng đang có quá trình ‘engagement’ tức là quá trình tham gia hội nhập và gợi mở để hội nhập, cho rất nhiều quốc gia khác nhau. Ví dụ như ở Tây Bán Cầu gần nhất là Cuba, thì gần đây Hoa Kỳ có thái độ cởi mở hơn và cử những phái đoàn cao cấp sang và nối lại.

“Và như chúng ta biết tuần này, ông Fidel Castro cũng có những bài viết nói là hoan nghênh, như vậy là gần như mối quan hệ nó sẽ được bình thường hóa đi rất nhanh. Nhưng cùng lúc Hoa Kỳ cũng có thái độ cô lập Venezuela chẳng hạn.

“Ở châu Âu, mọi người đều thấy là Hoa Kỳ cũng có một cái gọi là ‘ván bài’ tương tự. Tức là ủng hộ những nước nhỏ hơn ở Đông Âu, nhưng mà đang kiềm chế nước Nga.

“Thì nhìn sang Đông Á, chúng ta thấy có vẻ cũng tương tự như vậy, tất nhiên nó có những bối cảnh khác ví dụ như là Hoa Kỳ muốn ngăn ngừa sự lan ra của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương, nhưng đồng thời hỗ trợ rất mạnh cho các quốc gia đồng minh lâu đời và những đối tác mới như là Việt Nam.

“Thì đây là một cơ hội, nhìn rộng ra thì cơ hội rất là lớn cho Việt Nam với tư cách một quốc gia, một dân tộc, có thể lợi dụng cơ hội này để nâng đẳng cấp của quốc gia lên về mặt khoa học kỹ thuật, cũng như về mặt quân sự, cũng như các lĩnh vực khác.

“Và tất nhiên quan hệ với Trung Quốc thì Việt Nam sẽ luôn luôn phải có thôi và càng tốt thì cũng sẽ tốt chung cho cả các nước, chứ không ai nghĩ là Việt Nam và Trung Quốc phải đi đến một xung đột gì.

“Thế nhưng mà nhìn rộng ra thì Hoa Kỳ đang ở giai đoạn rất, có thể nói là, ưu ái với Việt Nam,” nhà báo Nguyễn Giang nêu quan điểm.

‘Kỳ vọng của giới trẻ’

Khép lại cuộc Tòa đàm nhân tròn 20 năm ‘Quan hệ Việt – Mỹ’ của BBC, một sinh viên Việt Nam đang du học năm thứ nhất ở Đại học Cornell, New York, Hoa Kỳ về lĩnh vực ‘kỹ nghệ hóa học’ chia sẻ với BBC về kỳ vọng, mong muốn của mình về quan hệ Việt – Mỹ trong tương lai.

Sinh viên Hoàng Phong nói với Bàn tròn trực tuyến:

“Hiện nay như mọi người cũng biết có rất nhiều học sinh Việt Nam đang đi du học ở Mỹ, có con số khoảng từ 16.000 đến 19.000 học sinh (sinh viên) Việt Nam đang du học tại Hoa Kỳ.

“Thứ nhất, đối với giáo dục thì nếu có một mối quan hệ Việt – Mỹ tốt hơn, thì dĩ nhiên điều đầu tiên mà học sinh và giới trẻ mong muốn là cơ hội được tiếp nhận với nền giáo dục Mỹ, nền giáo dục phương Tây, trong khi mà nền giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn còn đang có rất nhiều điều cần phải giải quyết.

“Điều thứ hai của giới trẻ có lẽ là một nhu cầu khi mà được tiếp xúc với phương Tây và thấy được rằng phương Tây có những điểm khác biệt về mặt văn hóa, xã hội.

“Ví dụ như là vấn đề tự do ngôn luận, quan điểm của phương Tây rất là khác với quan điểm của Việt Nam, nhất là quan điểm của Mỹ – là một nước tương đối đề cao vấn đề tự do ngôn luận trong xã hội.

“Thì có lẽ giới trẻ Việt Nam, như bản thân tôi, cũng cảm thấy rằng là một sự tiếp xúc với những định hướng xã hội khác này là một điều rất quan trọng để giới trẻ Việt Nam có một định hướng phát triển mới trong tương lai.

“Nó có thể là không phải làm theo định hướng bây giờ của phương Tây và thế giới, nhưng định hướng mới ấy nó có thể dung hòa một cách tốt hơn những quan điểm hiện nay ở Việt Nam với cả quan điểm chung,” du học sinh năm thứ nhất, Hoàng Phong, nói với Bàn tròn về bang giao Việt – Mỹ của BBC.

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Ai là tác giả hiệp định Paris 27-1-1973

Posted by hoangtran204 trên 30/01/2015

Ai là tác giả hiệp định Paris

 

khoanh-khac-ha-noi-bi-rai-bom-nam-1972-9e1c1f

Khi hiệp định Paris được ký kết, trước đây 40 năm, nhiều người vui mừng, vì ít nhất dân Việt Nam sẽ không chết vì chiến tranh nữa. Nhiều người còn hy vọng đó là một bước rẽ, mở con đường mới cho miền Nam Việt Nam.

Sau cùng, ai cũng biết, đó chỉ là một thủ thuật, dùng trong một giai đoạn, của đảng Cộng Sản Việt Nam trong chương trình chiếm quyền cai trị trên cả nước Việt Nam, với mục đích “đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Nhưng ngay cả nỗi vui mừng vì cảnh chết chóc chấm dứt cũng biến mất. Người Việt Nam trong vài năm tiếp theo không chết vì chiến tranh thường xuyên nữa, nhưng nhiều người vẫn chết vì sau đó cuộc chiến lại tiếp tục. Số quân nhân hai bên bị tử thương trong cuộc tổng tấn công của Cộng Sản năm 1975 cũng lớn gấp nhiều lần so với khi chiến tranh còn tiếp diễn. Số người chết trên đường vượt biển còn lớn hơn số thường dân chết trong một năm chiến tranh. Chưa kể nỗi đau thương của bao nhiêu gia đình bị đẩy đi vùng kinh tế mới hoặc có người bị đi tù cải tạo. Và chiến tranh lại tiếp diễn ở Campuchia với 50 ngàn thanh niên Việt Nam bỏ xác, và ở biên giới Hoa-Việt, mà con số thương vong không bao giờ được công bố.

Số phận của những người dân miền Nam Việt Nam đã được quyết định trước đó nhiều năm. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống Mỹ, ông Richard Nixon đã cho cố vấn là Henri Kissinger đến gặp đại sứ Nga ở Washington đề nghị giới lãnh đạo Nga Xô đừng làm trò gì ảnh hưởng đến cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc. Kissinger trình bày trước lập trường của ông chủ mình về bang giao Nga-Mỹ; trong đó ông ta đặc biệt nhấn mạnh: Nếu đắc cử, ông Nixon sẽ rút quân khỏi Việt Nam; sau đó chế độ chính trị ở miền Nam ra sao không quan trọng, dù có một chính quyền Cộng Sản. Ðiều này, ông Kissinger còn lập lại khi đến thăm Ðại Sứ Anatoly Dobrynin sau khi ông Nixon thắng và chưa tuyên thệ nhậm chức.

Hiệp định Paris cũng chỉ là một văn kiện để giúp Tổng Thống Richard Nixon rút quân ra khỏi Việt Nam một cách chính thức, nghĩa là vẫn giữ được thể diện. Năm 1972 nước Mỹ bầu tổng thống, và ông Richard Nixon cần tái đắc cử, nhờ thành tích chấm dứt cuộc chiến tranh quá dài mà dân Mỹ bắt đầu thấy chán. Nixon sai Kissinger thu xếp để tiến tới hiệp định Paris trước khi dân Mỹ bỏ phiếu.

Trong cuộc thu xếp này, Nixon được Mao Trạch Ðông hỗ trợ. Trước năm 1970, Mao rất căm hận Nixon vì ông tổng thống Mỹ chỉ chú ý nói chuyện với Moskva mà không quan tâm đến Bắc Kinh; coi Mao chỉ là một lãnh tụ Cộng Sản hạng nhì. Trong một cuộc chuyện trò với Phạm Văn Ðồng, Mao hỏi: “Tại sao bọn Mỹ không làm rùm beng lên về chuyện có 100,000 quân đội Trung Quốc đang xây dựng đường xe lửa, đường bộ, và phi trường ở Việt Nam, mặc dù chúng biết sự kiện này?” Phạm Văn Ðồng nói vuốt đuôi: “Vì chúng nó sợ!” Nhưng chúng ta cũng biết rằng ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, các chính quyền Mỹ đã cam kết với Trung Quốc là họ sẽ không bao giờ gửi quân đội Mỹ và cũng không để cho quân đội miền Nam tiến ra Bắc Việt. Chính quyền Mỹ lờ đi như không biết có quân đội Trung Cộng ở ngoài Bắc, vì nói ra sẽ làm cho bài toán rắc rối hơn, ngay trong khung cảnh chính trị nội bộ của Mỹ. Mao Trạch Ðông còn tỏ ý bất bình, nói với Phạm Văn Ðồng rằng “Tại sao bọn Mỹ chúng nó lại ước tính số binh sĩ Trung Quốc ở Việt Nam ít hơn sự thật như vậy?”

Tháng 11 năm 1970 Chu Ân Lai được lệnh bắn tin qua các nhà ngoại giao Rumania là nếu Nixon muốn thăm Trung Quốc thì sẽ được mời. Nixon bảo Kissinger đừng tỏ ý muốn đi vội vàng quá, cuối tháng 2 Kissinger mới bắn tiếng lại, tỏ ý thân thiện nhưng không nói gì đến việc Nixon có thể sang Tàu. Tháng 3 năm 1971, các cầu thủ bóng bàn Trung Quốc gặp các cầu thủ Mỹ ở Nhật Bản, và khi đi chung một chuyến xe buýt, tay vợt Mỹ Glenn Cowan đã bắt tay nhà vô địch Trung Quốc Trang Tắc Ðống (Zhuang Zédòng), nói muốn sang thăm Trung Quốc. Mao Trạch Ðông đã bắt lấy ý đó, ra lệnh mời các cầu thủ Mỹ qua Tàu! Sau đó, Kissinger đi đêm để chuẩn bị chuyến Nixon sang Tàu năm đầu 1972.

Trong chuyến thăm bí mật năm 1971, Kissinger đã hứa hẹn với Chu Ân Lai rằng Mỹ sẽ cung cấp cho Trung Quốc các tin tức tình báo về hoạt động của quân Nga ở vùng biên giới Nga-Hoa. Ông cũng cam kết Mỹ sẽ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, mà ông phác họa một thời biểu là trong vòng 12 tháng. Lúc đó là tháng 7 năm 1971, sáu tháng trước khi Mỹ ký hiệp định Paris, mà chính Kissinger cũng không biết chắc là sẽ có một hiệp định hay không. Vì vậy, Kissinger đã nói thẳng với Chu Ân Lai là dù không có thỏa hiệp nào thì chính phủ Nixon cũng đơn phương rút quân, và không bao giờ trở lại Việt Nam nữa, bỏ rơi luôn chính quyền miền Nam Việt Nam. Kissinger nói rõ ràng: “Sau khi hòa bình rồi, người Mỹ chúng tôi sẽ ở xa Việt Nam cả vạn dặm, còn Hà Nội thì vẫn ở đó.” Những chi tiết này được kể lại trong một sách của William Burr, năm 2002 (The Bejing – Washington Back Channel); kể chuyện các chuyến đi bí mật của Kissinger năm 1970, 71; sách này nằm trong tài liệu điện tử của cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA; được thuật lại trong sách MAO, của Jung Chang và Jon Halliday, 2005.

Nixon đã toại nguyện, vì Mao sẵn sàng giúp ông tái đắc cử. Dưới sức ép của Mao, Bắc Việt chịu ký tên vào bản hiệp định Paris. Quân Mỹ rút về “trong danh dự”. Nhưng số phận Nixon lại bị quyết định do một xì căng đan chính ông ta gây ra; khiến ông phải từ chức khi Quốc Hội Mỹ chuẩn bị đàn hạch và truất phế, vào năm 1974. Người thương tiếc Nixon nhất lại là Mao Trạch Ðông. Mao nhắn tin qua bà Imelda Marcos mời Nixon qua chơi. Năm 1975, Mao sai mời con gái Nixon là Julie và chồng qua Tàu, Mao lại nói với cô con bảo nói với bố rằng “Tôi nhớ ông ấy lắm.” Tháng 2 năm 1976, Mao đưa một chiếc máy bay Boeing 707 sang tận Los Angeles đón Nixon qua uống trà; bảy tháng sau thì Mao chết.

Bản hiệp định Paris cuối cùng là kết quả của cuộc gặp gỡ giữa Nixon và Mao. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thể làm gì được, khi nước đồng minh lớn nhất đã bỏ rơi. Cộng Sản miền Bắc đã được Moskva và Bắc Kinh báo cho biết trước Mỹ sẽ rút quân, trong khi vũ khí của Nga vẫn đổ sang ngày càng nhiều, họ nắm chắc phần thắng. Nhưng họ vẫn phải đặt bút ký vì Mao Trạch Ðông muốn tặng Nixon một món quà. Cộng Sản miền Bắc cũng cần một thời gian chuẩn bị để đánh một trận chót, cho nên hiệp định Paris cũng là một bước nghỉ chân.

Những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chắc không ai biết gì về những lời Kissinger đã hứa với Dobrynin hay với Chu Ân Lai. Người dân miền Nam lại càng không biết gì cả. Bao nhiêu chiến sĩ đã bỏ mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu đồng bào tử nạn trên đường vượt biển. Nhắc lại 40 năm hiệp định Paris, chúng ta hãy thắp nhang tưởng nhớ họ, đó là cách kỷ niệm có ý nghĩa nhất. Bài học của một dân tộc nhược tiểu là đừng bao giờ vì các lý thuyết, tư tưởng trừu tượng, ngoại lai mà để đồng bào tàn sát lẫn nhau. Trong cuộc chiến tranh nào, người dân cũng đau khổ.

Nguồn: Nguoi-viet.com

27-1-2013

Posted in Hội Nghị Paris 1968-1973 | Leave a Comment »

►Trận Hoàng Sa 19-1-1974 – Biểu tượng hội tụ lòng yêu nước

Posted by hoangtran204 trên 29/01/2015

Trận Hoàng Sa- Biểu tượng hội tụ lòng yêu nước

(Trình bày tại San Jose ngày 17-1-2015)

Những chiến sĩ đã ngã xuống trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa.

Trong chiến tranh Việt Nam vừa qua, trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974 tuy ngắn ngủi nhưng là trận chiến chống ngoại xâm duy nhứt và ngày nay trở thành biểu tượng hội tụ lòng yêu nước của người Việt. Để thấy rõ các điểm nầy, xin đặt lại trận Hoàng Sa trong toàn bộ cuộc chiến Việt Nam vừa qua.

TÍNH CHẤT CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

Về cuộc chiến 1946-1954, Cộng sản Việt Nam (CSVN) thường tuyên truyền rằng đó là cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân. Thật ra, vấn đề không đơn giản như vậy. Nguyên khi ra mắt chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945 tại Hà Nội do mặt trận Việt Minh (VM) và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) lãnh đạo, Hồ Chí Minh (HCM) đưa ra ba lời thề, trong đó lời thề thứ ba là sẽ chống Pháp đến cùng nếu Pháp trở lui nước ta. Tuy nhiên khi Pháp trở lui, sợ Pháp lật đổ, mất quyền lãnh đạo, đồng thời để rảnh tay tiêu diệt các thanh phần đối lập, HCM không chống Pháp như lời thề ngày 2-9, mà thỏa hiệp với Pháp, ký hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, đặt Việt Nam trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp, nghĩa là hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp ở Đông Dương. Chẳng những thế, để được chắc chắn yên thân hơn, HCM còn qua Paris, xin ký với Pháp Tạm ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946. Hiệp ước nầy để cho Pháp tái tục các hoạt động kinh tế, tài chánh, giao thông, văn hóa trên toàn quốc Việt Nam. Như thế, rõ ràng, HCM cùng mặt trận VM và đảng CSĐD phản bội có hệ thống lời thề chống Pháp trước dân chúng ngày 2-9-1945.

Khi quân đội Pháp đến Hà Nội khá đông, xảy ra những cuộc đụng độ giữa quân Pháp và VM. Pháp yêu cầu VM phải để cho quân đội Pháp kiểm soát an ninh ở Hà Nội. Nếu để cho Pháp kiểm soát an ninh thì lãnh đạo đảng CSĐD và chính phủ VM đang ở Hà Nội, hoàn toàn nằm trong tay Pháp. Lo sợ bị bắt giữ, nhưng cũng không còn thương thuyết được với Pháp, HCM bí mật họp Trung ương đảng CSĐD tại Vạn Phúc (Hà Đông) trong hai ngày 18 và 19-2-1946, để tham khảo ý kiến. Không hỏi ý kiến Quốc hội (đại diện toàn dân) hay Ban Thường vụ Quốc hội, dù Ban Thường vụ Quốc hội luôn luôn có mặt ở Hà Nội, Trung ương đảng CSĐD quyết định tuyên chiến với Pháp, để có lý do chính đáng bỏ trốn khỏi Hà Nội.

Cũng không tham khảo Quốc hội, Trung ương đảng CSĐD còn thông qua “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, đổ gánh nặng chiến tranh lên vai toàn dân. Lúc đó, dân Việt chưa biết nhiều về HCM và đảng CSĐD. Dân Việt vốn có lòng yêu nước và có tinh thần chống ngoại xâm, nên khi nghe lời kêu gọi kháng chiến, liền đứng lên đáp lời sông núi mà không biết là đã bị HCM và đảng CSĐD lừa phỉnh, lợi dụng. Nhiều người tản cư vì tránh chiến tranh chứ không phải theo CS, vì chẳng bao lâu sau đó, họ hồi cư về thành rất đông.

Như thế, cuộc chiến bùng nổ tối 19-12-1946 là cuộc chiến do đảng CSĐD gây ra, vì quyền lợi sống còn của đảng CS, giữa đảng CSĐD với Pháp, chứ không phải giữa dân tộc Việt Nam với Pháp. Nếu kháng chiến chống Pháp vì lòng yêu nước, thì phải giữ lời thề chống Pháp ngay khi Pháp mới trở lại Việt Nam, chứ không thương thuyết, ký thỏa ước với Pháp, rồi khi đảng CSĐD bị đe dọa, mới chống Pháp.

Trong khi đó, đảng CSĐD tiếp tục cuộc tiêu diệt những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, không cộng sản, từ thành phố đến nông thôn. Tại thành phố, những nhân vật nổi tiếng bị VM giết đã nhiều. Tại nông thôn, trong mỗi làng, VM thủ tiêu ít nhất từ 5 đến 10 người, thì trên toàn quốc Việt Nam, tổng cộng số người bị VM giết có thể lên đến vài trăm ngàn người. Không thể ngồi chờ để bị giết, vì bản năng sinh tồn, những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc quy tụ chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, ở thế chẳng đặng đừng phải liên kết với Pháp chống CS, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam (QGVN) năm 1949.

Từ năm 1949, chiến tranh giữa VMCS với Pháp trở thành chiến tranh ý thức hệ giữa người cộng sản với người quốc gia, kéo dài đến năm 1954 mới chấm dứt bằng hiệp định Genève (20-7-1954), chia hai Việt Nam tại vĩ tuyến 17: VNDCCH ở phía bắc, còn gọi là Bắc Việt Nam (BVN) và QGVN ở phía nam, còn gọi là Nam Việt Nam (NVN). Rõ ràng cuộc chiến nầy không phải là cuộc chiến chống ngoại xâm.

Cuộc chiến thứ hai 1960-1975 cũng do đảng CSĐD, dưới tên mới là đảng Lao Động (LĐ), cố tình gây hấn nhằm thôn tính NVN và bành trướng chủ nghĩa CS. Nguyên hiệp định Genève chỉ có tính cách thuần túy quân sự, không đưa ra giải pháp chính trị. Giải pháp chính trị được nói đến tại điều 7 bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”, theo đó cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước dự tính sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956. Tuy nhiên, bản tuyên bố nầy chỉ được hội nghị thông qua bằng miệng, chứ không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào cả, nghĩa là bản tuyên bố chỉ có tính cách gợi ý, chứ không có tính cách cưỡng hành, không bắt buộc thi hành.

Sau hiệp định Genève, VNDCCH hay BVN cài người, giấu súng ở lại miền Nam, vi phạm hiệp định Genève, nhưng BVN lại lấy cớ VNCH hay NVN không chấp nhận tổng tuyển cử, không tôn trọng hiệp định Genève, phát động chiến tranh lần nữa, xâm lăng NVN vào cuối 1960. Lần nầy, núp dưới chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, Lê Duẫn, thư ký thứ nhứt đảng LĐ tức đảng CSĐD, xác định mục tiêu chiến tranh là đánh cho TC, đánh cho Liên Xô. Câu nói của Lê Duẫn khái quát hết sức đầy đủ mục đích chiến tranh của BVN, làm tay sai cho LX, TC, và làm nhiệm vụ quốc tế CS.

Như thế, cả hai cuộc chiến 1946-1954 và 1960-1975 đều không chống ngoại xâm, mà chỉ do CS cố tình gây ra nội chiến để bảo vệ quyền lực và mở rộng quyền lực, bành trướng chủ nghĩa CS, làm tay sai cho CSQT. Có thể nói cả hai cuộc chiến đều là hai cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, còn tệ hại hơn cuộc nội chiến thời Nam Bắc phân tranh vào thế kỷ 17, vì CSVN lồng chủ nghĩa Mác xít vào cuộc nội chiến, tiêu diệt văn hóa dân tộc, làm tổn hại và tê liệt đất nước.

TRẬN CHIẾN CHỐNG NGOẠI XÂM

Đảng CSĐD rồi đảng LĐ thành công trong chiến tranh từ 1946 đến 1975 là nhờ viện trợ lớn lao của khối quốc tế cộng sản (QTCS), trong đó quan trọng là TC. Ngay từ đầu, TC viện trợ cho CSVN một cách hào phóng không phải vì nghĩa vụ QTCS, mà vì hậu ý thâm hiểm, điển hình là tuyên cáo về lãnh hải của TC ngày 4-9-1958, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông, trong khi thực tế hai quần đảo nầy thuộc Việt Nam từ lâu đời và theo hiệp định Genève, thuộc NVN vì ở phía nam vĩ tuyến 17.

Để đáp lại, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng (PVĐ) đưa ra công hàm ngày 14-9-1958 thừa nhận bản tuyên cáo đó, nghĩa là thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TC, nhắm hai mục đích: 1) Trả nợ cũ thời chiến tranh 1946-1954. 2) Chuẩn bị vay nợ mới để tiến đánh VNCH hay NVN. Thật vậy, tháng 10-1959, PVĐ qua Bắc Kinh cầu viện TC. Tháng 11-1959, TC đưa một phái đoàn sang BVN trong hai tháng, nghiên cứu tất cả những nhu cầu cần thiết của BVN. Tháng 5-1960, lãnh đạo BVN và TC họp ở Hà Nội và Bắc Kinh để thảo luận chiến lược tấn công NVN. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Carolina Press, 2000, tt. 82-83.) Sửa soạn xong xuôi, BVN triệu tập Đại hội III đảng LĐ tháng 9-1960, quyết định tấn công NVN.

Các lãnh tụ TC không khác gì các vua chúa Trung Hoa ngày xưa, luôn luôn nuôi mộng bành trướng xuống ĐNÁ. Lịch sử cho thấy quân đội Trung Hoa không thắng được quân đội Đại Việt trên đường bộ, nên lần nầy TC nghĩ đến chiến lược khác, nhìn ra Biển Đông để tìm đường xuống ĐNA.

Tại Hội nghị hòa bình San Francisco 1951, TC nhờ Liên Xô đưa ra đòi hỏi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc TC, nhưng bị bác bỏ. Trong khi đó, chính phủ QGVN lên tiếng xác nhận chủ quyền hai quần đảo nầy là của QGVN, thì không bị hội nghị phản đối. Sau đó, năm 1958 Mao Trạch Đông tuyên bố rằng: “Hiện nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (“Now the Pacific Ocean is not peaceful. It can only be peaceful when we take it over.”) (Jung Chang and Jon Halliday, The Unknown Story MAO, New York: Alfred A. Knopf, Publisher, 2005, tr. 426.) Trong cuộc họp với đại diện đảng LĐVN năm 1963, MTĐ nói: “Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á.” Tháng 8-1965, trong cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương đảng CSTQ, MTĐ tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được ĐNÁ, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai, Singapore…” (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua, Hà Nội: NXB Sự Thật, 10-1979, Chương “Việt Nam trong chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc”.)

Thời cơ thuận tiện cho TC hành động khi Hoa Kỳ (HK) mở cửa cho TC vào Liên Hiệp Quốc (LHQ) năm 1971, bắt tay với TC năm 1972, ký thông cáo chung Thượng Hải ngày 28-2-1972, quyết định rút hết quân khỏi Việt Nam cuối năm nầy và cắt giảm viện trợ cho VNCH. Nhân vào đầu năm 1974, VNCH bận rộn chống đỡ những cuộc tấn công mạnh mẽ của CSVN sau hiệp định Paris (27-1-1973), TC đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH trên Biển Đông ngày 19-1-1974.

Tuy biết lực lượng không cân sức, nhưng Hải quân VNCH vẫn cương quyết bảo vệ Hoàng Sa. Thiếu tá Ngụy Văn Thà và đồng đội xông pha chống ngoại xâm và hy sinh trên chiến trường. Trận Hoàng Sa chứng tỏ rõ ràng VNCH không phải là tay sai của HK. Dù HK bỏ rơi VNCH và bắt tay với TC, quân đội VNCH vẫn cương quyết chống TC, bảo vệ quê hương. Trận chiến Hoàng Sa chứng tỏ lòng yêu nước của quân lực VNCH, chiến đấu bảo vệ tổ quốc, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ tự do dân chủ cho đất nước.

Sau trận Hoàng Sa, VNDCCH hay BVN không phản đối TC. Tuy không có mặt trong trận Hoàng Sa, nhưng BVN là kẻ dẫn đường cho TC đến Hoàng Sa vì công hàm PVĐ ngày 14-9-1958 đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc TC. Hơn nữa, chẳng những BVN vay nợ TC, mà tháng 6-1965 BVN còn nhờ TC gởi qua BVN 320,000 quân để bảo vệ các tỉnh thành phía bắc trong khi quân đội CSVN kéo xuống phía nam. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Carolina Press, 2000, tr. 135.) Thật là ngu xuẩn khi nhờ cậy một tên ăn cướp giữ nhà, mà tên ăn cướp nầy vốn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam, đã nhiều lần cướp phá nước ta.

Đây là lần đầu tiên TC chiếm được hải đảo của Việt Nam, đột phá xuống Biển Đông, nhằm kiếm đường tiến xuống Đông Nam Á (ĐNA). Đặt trận Hoàng Sa trong toàn bộ cuộc chiến 1946-1975, mới thấy rõ trận Hoàng Sa là trận chiến chống ngoại xâm duy nhứt, do VNCH cương quyết chống TC xâm lăng.

BIỂU TƯỢNG HỘI TỤ LÒNG YÊU NƯỚC

Trước đây, chế độ CS kiểm soát chặt chẽ truyền thông, bưng bít tin tức, tuyên truyền và tố cáo VNCH là ngụy quân, ngụy quyền, làm “tay sai đế quốc Mỹ”, còn Mỹ là “đế quốc xâm lược”. Chế độ CS cũng che giấu công hàm PVĐ và trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Dân chúng dưới chế độ CS trước 1975 hoàn toàn không biết tin tức ngoài thông tin CS. Trong những năm gần đây, TC đe dọa Biển Đông, vấn đề Hoàng Sa rộ lên trở lại. Nhờ truyền thông điện tử (Internet) phát triển rộng rãi, dân chúng mới biết được sự thật lịch sử. Từ đó dân chúng trong nước nhận ra các điều quan trọng làm thay đổi nhận thức của dân chúng:

1) Chế độ VNCH và quân lực VNCH không tấn công BVN, mà chỉ ở thế tự vệ, chiến đấu chống cuộc xâm lăng của BVN, bảo vệ quê hương, tự do, độc lập cho chính mình, chiến đấu chống TC chống ngoại xâm, quyết tâm bảo vệ Hoàng Sa, không làm tay sai cho bất cứ ngoại bang nào. VNCH và quân lực VNCH rõ ràng là một chế độ chính nghĩa và một quân lực chính nghĩa.

2) Cộng sản Việt Nam tuyên truyền rằng Hoa Kỳ (HK) là “đế quốc xâm lược”, nên CSVN mở cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước”. Ngày nay dân Việt nhận biết rằng HK không phải là đế quốc xâm lược. Hoa Kỳ không xâm lăng nước nào, mà còn giúp nhiều nước sau thế chiến thứ hai như Đức, Nhật Bản, Triều Tiên phục hưng kinh tế. Hoa Kỳ đến NVN để giúp NVN xây dựng và phát triển sau 1954. Khi BVN tấn công NVN năm 1960, thì 5 năm sau, HK mới đem quân vào NVN năm 1965, giúp NVN tự vệ chống BVN tràn xuống NVN, chứ HK không xâm lăng NVN và cũng không xâm lăng BVN. Hoa Kỳ dùng máy bay tấn công BVN chỉ nhằm mục đích chận đứng cuộc xâm lăng của BVN vào NVN.

3) Chế độ CSVN định nghĩa rằng “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Gần đây, ngày 29-12-2014, tổng bí thư đảng CSVN nói tại Đại hội 7 Hội Liên Hiệp Thanh Niên tại Hà Nội rằng thanh niên “có “tâm” là có lòng yêu nước, yêu chế độ”. Tuy nhiên, chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) hiện nay ở trong nước, về đối nội thì độc tài đảng trị, áp bức và tham nhũng; về đối ngoại thì làm tay sai cho TC, càng ngày càng làm mất đất, mất đảo, mất biển. Như thế yêu XHCN, yêu chế độ CS chỉ là tiếp tục bị cảnh độc tài, áp bức, tham nhũng, dân oan và chế độ XHCN tiếp tục bán nước chứ không phải là yêu nước. Nói cách khác, yêu XHCN là phản quốc chứ không yêu nước.

4) CSVN tuyên truyền rằng TC là một nước XHCN anh em. Đã là anh em XHCN với nhau, sao TC lại ức hiếp nhau, chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển của nhau? Như vậy, TC không thân hữu như lời CSVN tuyên truyền, mà TC lộ nguyên hình là kẻ thù xâm lược truyền kiếp như vua chúa Trung Hoa ngày xưa.

Ngày nay, nhờ Internet, tầm nhìn của dân chúng trong nước mở rộng và hiểu rõ các điểm trên đây, hiểu rõ tình hình chính trị. Từ đó đồng bào hết sức ca tụng lý tưởng tự do dân chủ và độc lập của VNCH, ca tụng quân đội VNCH, ca tụng trận chiến Hoàng Sa chống TC xâm lược. Các bloggers và Face-books diễn tả hết sức sống động tâm tình của dân chúng. Ví dụ sinh viên Lê Trung Thành đã viết: “Các anh ơi!Các chị ơi! Các mẹ ơi! Còn cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có độc lập, tự do, hạnh phúc.” (đăng trên các web site13-03-2009.) Một nhà tranh đấu trẻ tuổi khác thì đề cao chính nghĩa quân đội VNCH, và đi đến kết luận: “Tôi gọi họ là những anh hùng.” (Đặng Chí Hùng, “Tôi gọi họ là những anh hùng”, Dân làm báo 30-3-2013.). Tương tự như thế, một người dân Hà Nội viết: “Người ta gọi các anh là “quân ngụy”,/ Bởi các anh là lính Việt Nam Cộng Hòa./ Nhưng tôi gọi các anh là liệt sĩ,/ Bởi các anh ngã xuống vì Hoàng Sa.” , Phan Duy Kha, “Sẽ có một ngày lấy lại Hoàng Sa”, 14-1-2014.) Còn rất nhiều ví dụ mà chúng ta không thể trưng dẫn hết ở đây.

Vì vậy, có thể nói trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974 chống ngoại xâm trở thành biểu tượng hội tụ lòng yêu nước của toàn thể người Việt ngày nay. Qua thế kỷ 21, khuynh hướng chung trên thế giới khuyến khích những cuộc tranh đấu bất bạo động hơn là việc sử dụng bạo lực. Người Việt Hải ngoại chúng ta hãy tích cực yểm trợ tinh thần cũng như yểm trợ vật chất tất cả những cuộc tranh đấu bất bạo động của dân chúng trong nước, đòi hỏi tự do dân chủ, nhân quyền và dân quyền, nhằm đi đến giải thế chế độ CSVN.

THỬ NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

Thế là TC đã chiếm được Hoàng Sa. Là người Việt Nam, ai cũng muốn giành lại lãnh thổ đã mất. Trong hiện tình đất nước, giành lại Hoàng Sa thật là khó khăn vì phải qua hai cửa ải, hai giai đoạn.

Thứ nhứt là CHXHCNVN. Về pháp lý, tuy nắm được đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, nhưng CHXHCNVN không dám kiện TC ra Tòa án quốc tế để đòi lại Hoàng Sa. Ngày 19-11-2014, thủ tuớng CSVN chỉ dám tuyên bố “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Sau đó, ngày 11-12-2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao CHXHCNVN ra tuyên bố đề nghị Tòa án Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration) Liên Hiệp Quốc tại La Haye (Hòa Lan) quan tâm đến các quyền lợi và lợi ích pháp lý của Việt Nam trên Biển Đông. Hành động nầy được nhà bình luận người Úc Carlyle Thyer gọi là CHXHCNVN “lách bằng cửa sau” vào vụ kiện giữa Phi Luật Tân và TC. (RFI 12-12-2014).

Trong khi đó, CSVN thẳng tay đàn áp những cuộc biểu tình, những bloggers, face-books chống TC, trấn áp tinh thần yêu nước của dân chúng. Vì vậy nếu còn CSVN thì không bao giờ có thể đòi lại Hoàng Sa mà phải dứt khoát chấm dứt chế độ CSVN, mới thoát ra khỏi những cam kết ngầm của HCM khi cầu viện TC năm 1950, hủy bỏ công hàm PVĐ ngày 14-9-1958, chấm dứt mật ước Thành Đô của tập đoàn Nguyễn Văn Linh năm 1990, chấm dứt cảnh lệ thuộc TC, mới có thể chống TC và kiện TC ra tòa án quốc tế. Hiện nay ở trong nước, dân chúng đang truyền nhau câu đồng dao: “Con ơi nhớ lấy lời cha, / Hễ còn cộng sản, Hoàng Sa còn Tàu.”

Thứ hai là TC. Hiện nay, TC mới trổi dậy và rất hưng thịnh. Tuy nhiên trong sự hưng thịnh hiện nay, về đối nội TC cũng gặp bất ổn vì dân chúng trong nước ngấm ngầm tranh đấu chống độc tài, và vì các sắc dân chung quanh bị TC sáp nhập như Mãn Châu, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng luôn luôn tìm cách nổi lên đòi độc lập.

Về đối ngoại, chính vì đang hưng thịnh, quá tự tin, TC càng ngày càng hung hăng trên Biển Đông, chẳng những khiêu khích đe dọa các nước láng giềng, mà vào tháng 5-2009, TC gởi cho tổng thư ký LHQ một công hàm yêu cầu chuyển cho tất cả hội viên LHQ, rằng TC có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các hải đảo trên Biển Đông và các vùng biển liền kề, kèm theo bản đồ 9 khúc do TC thực hiện, nối liền các hải đảo mà TC tự cho là của TC trên Biển Đông. [Sách báo thường gọi đường 9 khúc là đường chữ U hay Lưỡi bò.] Năm 2011, TC gởi cho LHQ một công hàm nữa, cũng gần giống công hàm trước, yêu cầu thông báo cho toàn thể hội viên LHQ.

Hành động nầy đi ngược lại quyền lợi chung trên thế giới do luật quốc tế về biển quy định. Chẳng những Nhật Bản ở Đông bắc Á, các nước ĐNÁ mà cả HK cũng không chấp nhận đường chữ U do TC vẽ ra. Ngày 4-12-2014, Hạ viện HK thông qua với đa số tuyệt đối 100% nghị quyết H.RES.744, nhấn mạnh cần phải tìm giải pháp hòa bình trên nền tảng luật pháp quốc tế trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, hải đảo trên Biển Đông. Hôm sau, ngày 5-12-2014, Bộ Ngoại giao HK đưa ra Bản nhận định dài 24 trang về yêu sách đường chữ U của TC. Câu kết luận cuối cùng của bản nhận định như sau: “…đòi hỏi về đường gạch nối [đường lưỡi bò, chữ U, 9 khúc] không phù hợp với luật quốc tế về biển.” (Nguyên văn: “…its dashed-line claim does not accord with the international law of the sea.”) Ngày 23-12-2014, khi trả lời thỉnh nguyện thư ngày 13-5-2014 của 139,554 chữ ký, Tòa bạch ốc khẳng định: “Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia tại Biển Đông, trong đó bao gồm tự do hàng hải, giải quyết các tranh chấp một cách ôn hòa, tôn trọng luật pháp quốc tế và thương mại hợp pháp diễn ra thuận lợi…Chúng tôi đã bày tỏ quan ngại trước các hành động của Trung Quốc, trong đó bao gồm việc triển khai giàn khoan Hải Dương 981, đến các cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc”. (BBC Tiếng Việt, 24-12-2014)

Hiện nay, tuy trổi dậy và hung hăng, TC không đồng minh với ai cả, tự cô lập. Nếu có một biến cố xảy ta ở nội địa TC, hoặc nếu có một cuộc tranh chấp kinh tế, hay một biến cố ngoại giao bất ngờ bùng nổ, các nước liên minh áp lực TC bằng những biện pháp kinh tế như hiện áp lực Nga, thì TC có thể sẽ khốn đốn và có thể sẽ đổ vỡ thành nhiều mảnh như Liên Xô trước đây. Khi đó, Việt Nam mới có thể lợi dụng thời cơ, chiếm lại Hoàng Sa và Trường Sa.

KẾT LUẬN

Do hoàn cảnh chính trị thế giới, VNCH tạm thời thất bại năm 1975, nhưng chính nghĩa dân tộc, lý tưởng tự do dân chủ của VNCH là chân lý vĩnh hằng, và là ước mơ của toàn dân Việt Nam.

Chế độ CSVN càng khiếp nhược trước TC, dân chúng Việt Nam càng thương tiếc những chiến sĩ Hoàng Sa. Trận hải chiến Hoàng Sa là niềm tự hào dân tộc và là biểu tượng hội tụ lòng yêu nước, dẫn đường cho toàn dân Việt Nam đoàn kết tranh đấu giải thể chế độ CS, mới có thể đòi lại đất đai, quần đảo đã mất vào tay TC. Trận chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974 giữ một vị trí lịch sử vô cùng quan trọng trong công cuộc vận động phục hưng đất nước. Xin thành kính tri ân sự hy sinh của Ngụy Văn Thà và các chiến sĩ Hoàng Sa.

(San Jose, 17-1-2015)

© Trần Gia Phụng

© Đàn Chim Việt

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

►Bàn luận xung quanh Hiệp định Paris 27-1-1973

Posted by hoangtran204 trên 29/01/2015

Hiệp định Paris 1973: CS càng muốn quên thì ta càng phải nhắc (

Bàn luận xung quanh Hiệp định Paris

Trọng Đạt

28-01-2015

H1Sau bốn năm đàm phán, Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973 tại Paris giữa Hoa Kỳ, Cộng Sản Hà Nội, Việt Nam Cộng Hòa và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời (tức Việt Cộng). Hiệp định dài khoảng 10 trang gồm:

Chương I- Chủ quyền, thống nhất; II- Chấm dứt chiến sự, rút quân; III -Trao trả tù binh; IV- Hội đồng đồng hòa giải dân tộc; V- Thống nhất đất nước hai miền, không bên nào được thôn tính bên nào; VI- Ủy ban liên hợp quân sự; VII- Đối với Miên, Lào; VIII- Quan hệ VNDCCH và Mỹ, IX Những điều khoản khác (Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập từ trang 944 tới 954)

Trên thực tế chỉ có một số điểm chính hai bên đã thương thuyết như sau.

– Mỹ rút quân

– Trao trả tù binh

– Lật đổ chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

– Việc thành lập chính phủ Liên hiệp.

– Lập Hội đồng hòa giải dân tộc.

-Bắc Việt rút khỏi miền nam VN

Hiệp định ký kết ngày 27/1 cho thấy Mỹ rút quân khỏi Đông Dương hoàn toàn, Hà Nội trả tù binh cho Mỹ và chịu nhượng bộ ba điểm chính mà họ đã đòi hỏi suốt gần 4 năm: không đòi loại bỏ chính phủ Nguyễn văn Thiệu, không lập chính phủ Liên hiệp, Hội đồng hòa giải dân tộc chỉ có hình thức, trên thực tế không được thiết lập. Hoa Kỳ và miền nam phải nhượng bộ để quân đội BV được ở lại. Cuối cùng các phe tham gia hòa đàm đều có phần như tác giả Marvin Kalb, Bernard Kalb nhận xét trong cuốn Kissinger, trang 421

“Nixon lấy lại được tù binh, Thọ đòi được Mỹ rút, Thiệu vẫn cầm quyền, Chính phủ cách mạng lâm thời (tức VC) có tư cách chính trị hợp pháp tại miền nam, mỗi người được một chút, nhưng không có ai đòi được hết tất cả“

(Nixon got the prisoners back, Tho got the Americans out, Thieu got to keep his hold on power and the PRG got a degree of political legitimacy in South Vietnam. Everybody got something, but nobody got everything)

Đã có nhiều bàn luận, tranh cãi quanh Hiệp định ngưng bắn của truyền thông báo chí, các nhà học giả, các chính trị gia, phe phái. Trước hết tôi xin nói tới những sự đánh giá cao thành quả của hành pháp.

Ca tụng

Tác giả Larry Berman (1) có nói dư luận truyền thông báo chí ca ngợi Hiệp định Paris của TT Nixon vừa được ký kết như.

Tờ Portland Press Herald viết “hòa bình danh dự” qua một “hòa bình thích nghi”.

Holmes Alexander trên tờ Fort Worth Star-Telegram viết “Chiến tranh của Nixon thành Hòa bình của Nixon”.

Tờ Milwaukee Sentinel viết “Lòng can đảm, mưu trí, kiên nhẫn và lòng cương quyết của Nixon đã được đền bù với Hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam nhìn chung có vẻ tốt đẹp mà mọi bên đều mong đợi một cách hợp lý (all things considered, appears to be about as good as all sides could reasonably expect)

Tờ Washington Post nói: “Ông đã vinh danh lời cam kết chấm dứt chiến tranh trong bốn năm một cách phong phú, chúng ta biết ơn ông sâu xa”.

Tờ Boston Herald-Traveler viết: “Điều chắc chắc nó hơn hẳn sự đầu hàng hèn hạ mà một số người Mỹ đã đòi hỏi hoặc muốn đám phán để ký kết…Người dân Mỹ thọ ơn Ông Nixon vì ông đã từ chối bỏ rơi đồng minh hoặc thất hứa hay bỏ rơi tù binh và đã thực hiện một Thỏa ước hứa hẹn một nền hòa bình lâu dài thực sự”.

Tờ Wall Street Journal nói: “Người ta có thể tranh cãi về đường lối của ông nhưng không thể chối cãi sự kiện ông đã đem 550,000 người ra khỏi VN và tù binh về nước mà không làm sụp đổ Chế độ Sài Gòn…Kẻ địch phải hiểu rõ rằng xương sống của con người trong tòa Bạch Ốc này làm bằng thép đã mang lại Hiệp định trong khi những con lang, sói kêu, hú…

Tờ Cleveland Plain Dealer nói: “Cuối cùng ngưng bắn được cống hiến cho Ông Nixon. Ván bài quốc tế của ông đã thanh toán hết mọi áp lực từ trong nước ra ngoại quốc. Đây là giờ phút tươi đẹp nhất dành cho ông Tổng thống thứ ba mươi bẩy của chúng ta”.

Haldeman, phu tá Tổng thống ghi trong nhật ký, ngày 27/1/1973, Tổng thống cho biết các báo thiếu một chi tiết: Nixon là con người cứng rắn, Kissinger khi ra Quốc hội đã không nói tới một điểm liên hệ cá tính của con người cứng rắn tới cùng ấy. Kissinger đã không nói rằng nếu không có lòng can đảm của Tổng thống chúng ta không có hòa bình. Căn bản của vấn đề ở chỗ ông là người cô đơn trong tòa Bạch Ốc, ít được chính phủ ủng hộ, bị Thượng viện và một số Dân biểu chống đối mạnh, bị phản ứng dữ dội của truyền thông và ý kiến các nhà lãnh đạo tinh thần, tôn giáo, thương mại, giáo dục… nhưng được giới lao động ủng hộ, một mình ông đã vượt qua hết. Sự khác biệt giữa thành quả của Tổng thống đã đạt được và những người đối lập muốn đó là khác biệt giữa hòa bình danh dự và hòa bình giả tạo bằng sự đầu hàng của Mỹ

Trong một bản tường trình về VN của Tòa Bạch Ốc gửi các Dân biểu Quốc hội đã đưa ra những viễn tượng, xin sơ lược dưới đây (2)

Trong bốn năm liền, Richard Nixon đã một mình đứng tại Thủ đô trong khi những lớp trẻ đả đảo chính sách can thiệp vào Đông Dương của ông. Trong bốn năm liền ông đã là nạn nhân của những kẻ xấu tấn công. Truyền thông cấp tiến đánh phá ông Nixon, tấn công, cắt, đập ông tứ phía suốt ngày đêm. Cơ sở giới trí thức xử dụng sức mạnh vô song của họ để gây ảnh hưởng tới ý thức của người dân. Quốc hội tấn công không ngừng suốt những năm tháng ấy.

Không có ông Tổng thống nào bị quấy phá liên tục bới những kẻ mà đúng lý ra phải quì gối mỗi đêm để cám ơn ông Trời rằng họ không phải làm cùng cái quyết định mà Nixon đã làm.

Cùng đứng với Tổng thống trong những năm ấy chỉ có một nhúm ký giả và một số tờ báo, hầu như họ ở ngoài Hoa Thịnh Đốn. Nhưng cũng có những người can đảm ở Quôc hội đứng bên Tổng thống. Nhưng quan trọng nhất là hằng triệu, hằng triệu những người thường dân Mỹ, Đám đông công dân thầm lặng, những người này nhận định đất nước trải qua thời kỳ mà những tư tưởng khuynh tả hằng ngày tuyên truyền chống Tổng thống Hoa Kỳ. Họ là những người sắt đá có cá tính.

Chỉ trích

Truyền thông báo chí ca ngợi thành tích của TT Nixon trong việc ký được Hiệp định cho thấy sự mong mỏi hòa bình của người dân Mỹ, phần nhiều do những người ủng hộ Nixon. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến đối lập như dưới đây, những lời chỉ trích Hành pháp đã ký Hiệp định không thuận lợi, thiệt hại cho miền nam hoặc đã kéo dài chiến tranh thiệt hại cho Hoa Kỳ. Tác giả Walter Isaacson nói (3)

“Một số vị phụ tá trong bộ tham mưu của Kissinger như Negroponte và (Tướng) Haig tưởng là cuộc oanh tạc (cuối 1972) phải ký được một Hiệp định thuận lợi về cơ bản để tống cổ Quân đội BV ra khỏi miền nam. Negroponte mỉa mai nói “Chúng ta oanh tạc BV để bắt họ phải chấp nhận nhượng bộ của ta” (We bombed the North Vietnamese into accepting our concessions). Richard Holbrook, cựu trợ lý của Harriman sau thành phụ tá Bộ trưởng ngoại giao đặc trách Á châu sự vụ lại coi Hiệp định chung cục như sự đầu hàng. Ông nói “Cho quân đội BV ở lại miền Nam chỉ là sự bỏ chạy trá hình, chúng ta có thể ký Hiệp định y như vậy bất cứ lúc nào sau khi ném bom năm 1968 (tức 31/10/1968)”

Walter Isaacson trích ý kiến một số vị phụ tá của Kissinger rồi chính ông đã cho thêm nhiều lời bàn như phải chăng Hiệp định đạt được tháng 1/1973 không hơn gì Hiệp định có thể ký từ đầu năm 1969. Ông nói nếu vậy có đáng cho ta phải trả cái giá cao hơn không? Hà Nội cho rằng Hiệp định 1973 về cơ bản người Mỹ đã chấp nhận những điều khoản đã được BV đưa ra từ tháng 5/1969 mà họ gọi là chương trình mười điểm.

Tác giả này cho rằng nếu so sánh chương trình mười điểm của Hà nội (1969) với Hiệp định 1973 từng điểm một ta sẽ thấy nó giống nhau từng chữ một. Nhưng chỉ có một điểm khác là Hiệp định 1973 thiều điểm thứ năm trong chương trình 1969 của Hà Nội: CS đòi Chính phủ NV Thiệu phải bị thay thế bằng chính phủ Liên hiệp do họ chấp nhận. Hà nội vẫn đòi điều này cho tới tháng mười 1972 mới chịu nhượng bộ, một phần vì thua nặng và đã ăn đòn B-52 trong trận tổng tấn công 1972.

Nhưng có đáng cho ta phải tiếp tục chiến tranh thêm bốn năm nữa mới ký được Hiệp định để ông Thiệu giữ được quyền lực tại Sài Gòn ?

(But was it worth four more years of war in odrder to get a cease-fire that allowed Thieu to retain authority in Saigon?)

(4)

Walter chỉ trích Nixon đã làm chết thêm 20,552 lính Mỹ, xã hội bị xáo trộn, chính quyền không còn được coi trọng, tai tiếng xấu cho Hoa kỳ tại ngoại quốc, chiến tranh lan ra Miên, Lào. Cuối cùng Hiệp định chỉ kéo dài được hai năm, sau đó CS chiếm hết và Thiệu bỏ chạy. Như thế mọi nỗ lực trở nên vô nghĩa mặc dù với lý do vì danh dự. Nixon và Kissinger đều tin sắp có hòa bình và cùng thỏa thuận không loại bỏ Thiệu (He agreed with Nixon that it should not involve abandoning the Thieu regime) (5)

Walter cho rằng để theo đuổi mục đích trên thì có cách tốt hơn. Thảo luận với quốc hội Kissinger và Nixon có thể phác họa vị trí đàm phán yếu thế của Hoa kỳ để lấy ủng hộ của người dân trong nước. Nhưng vì không lấy ủng hộ của Quốc hội và người dân cho một chương trình rõ ràng, hai ông lại bị vướng vào chỗ cần bí mật, đe dọa BV, áp lực họ…Rút quân thực ra chỉ để câu giờ trước sự sốt ruột của người dân. Những trận oanh tạc càng gây xáo trộn trong nước hơn là đạt thắng lợi chiến trường. Chính sách Kissinger và Nixon dựa trên lừa gạt và bí mật hơn là tìm sự ủng hộ một cách dân chủ để sống còn.

Hai tác giả Marvin Kalb, Bernard Kalb (6) cũng chỉ trích Nixon, Kissinger nhiều điểm về Hiệp định ngưng bắn. Ngày 11/9/1972 Kisinger tới Moscow đàm luận với Tổng bí thư Brezhnev trước khi tới Paris. Kissinger ở Moscow bốn ngày để thảo luận thương thuyết giữa việc Nga cần mua lúa mì, Mỹ cần chấm dứt chiến tranh VN. Kissinger tới Moscow đúng lúc Brezhnev đang cần cứu trợ vì nạn mất mùa, thiếu hụt lúa mì trầm trọng, may cho Nga sô TT Nixon lại không khai thác tình trạng này của Nga. Nixon hy vọng Sô viết sẽ áp lực Hà Nội ký kết Hiệp định ngưng bắn tại Paris, Kissinger đồng ý về điểm này, ông luôn nghĩ Hà nội chỉ là khách hàng của Nga hơn là đồng minh xung kích độc lập.

Trong nội bộ tham mưu của Kissinger, các phụ tá của ông như Tướng Haig, Negroponte lại cho rằng BV thay đổi chính sách, chịu nhượng bộ ngày 9/10/1972 (không đòi lật đổ Thiệu, lập Chính phủ liên hiệp) không phải vì áp lực của Sô viết mà do hậu quả liên tục của việc Mỹ ném bom và phong tỏa hải cảng (năm 1972). Kissinger thì luôn tin vào sự phân tích quyền lực siêu cường, tin lời hứa của Brezhnev rằng trong vài tuần nữa BV sẽ linh động. Đánh giá Brezhnev dựa trên việc Lê Đức Thọ mới đây trước khi tới Paris đã dừng tại Moscow. Chỉ ít ngày sau chính phủ đã chấp thuận một thỏa ước thương mại lớn khác thường để Nga mua ít nhất là 750 triệu đô la lúa mì của Mỹ do các công ty tư xuất cảng trong ba năm.

Marvin Kalb và Bernard Kalb cho rằng Kissinger nhiệt tình với sự thương thuyết mà không biết, không để ý tới tin tình báo về sứ mất mùa to tát của Nga. Ngoài ra ông ta cũng không để ý đến việc các nhà buôn lúa mì tư nhân Mỹ đã bán cho Nga khối lượng lúa mì là bao nhiêu để hậu quả là người Nga được lúa, bánh mì còn người Mỹ phải chịu thiệt nặng. Cộng sản đã tỏ ra khôn ngoan trong việc buôn bán với Tư bản, họ đã mua được một khối lượng lúa mì khổng lồ với giá rẻ mạt, thấp hơn giá thị trường khi ấy rất nhiều. Cuối cùng tiền thuế của người dân Mỹ đóng cho chính phủ đã được đem trợ cấp cho việc mua lúa của Nga.

Ngoài ra việc xuất cảng lúa mì này đã khiến cho lúa mì trở nên khan hiếm ngoài thị trường Mỹ, giá bánh mì, thực phẩm tăng vọt, sữa thịt cũng hối hả lên nhanh. Người tiêu thụ và cả nên kinh tế Mỹ phải chịu hậu quả nặng vì Kissinger, Nixon đã không quan tâm tới hậu quả kinh tế của việc thượng lượng. Họ chỉ nghĩ đến cái lợi chính trị mà không chịu nhìn xa hơn thế. Trên đây là những ý kiến của Marvin Kalb, Bernard Kalb chỉ trích Kissinger, Nixon “khôn nhà dại chợ” đã bán lúa mì cho Nga với giá rẻ mạt chỉ vì quá sốt ruột trong việc ký kết Hiệp định Paris.

Kalb cũng nói về khuyết điểm của việc ký kết (7): Hiệp định ký kết 23-1-1973 (Kissinger ký tắt với Thọ ngày 23) xem ra không hơn gì bản dự thảo hai bên định ký ngày 26-10-1972 trước đó đó đúng ba tháng mặc dù đã oanh tạc BV ồ ạt tháng 12.

Kissinger đã cố xác nhận ba tháng này có giá trị, cần thiết, có lần ông nói với Marvin Kalb và Bernard Kalb như nó đã loại bỏ ý nghĩa mơ hồ về chính phủ Liên hiệp, sau đó đặc tính Quốc gia của miền nam đã được thể hiện rõ ràng qua xác định của khu phi quân sự (DMZ), cuối cùng lực lượng giám sát quốc tế được củng cố, thủ tục , khi nào ký Hiệp định đã được giải quyết, vấn đề ngôn ngữ đã được làm sáng tỏ. Bản liệt kê những lợi ích đòi được sau ba tháng chiến tranh (từ tháng 10/72 tới tháng1/73) của Kissinger đã bị vài chuyên viên theo dõi hòa đàm nghi ngờ.

Một viên chức nói “Cuộc oanh tạc vĩ đại không đạt tiến bộ gì mấy. Cái mà B-52 làm được một chút tháng 1/73 thực ra chỉ là bản Dự thảo có từ tháng Mười và đó là tất cả những gì chúng ta muốn”. Chỉ có một chút thay đổi ở Hiệp định sau cùng đã ký, sự khai thông thật ra đã có từ tháng Mười. Một viên chức cho rằng khoảng thời gian này ta rất bối rối, phải chăng ta đã ký Hiệp định tháng Giêng (1973) mà đáng lý ta đã ký từ tháng Mười (1972). Hành pháp cho rằng trận oanh tạc (cuối 1972) đã khiến BV phải bò lại bàn hội nghị ký kết những khoản do Mỹ yêu cầu. Nhưng viên chức trên cho rằng trận oanh tạc dữ dội ấy chỉ để yểm trợ tâm lý và quân sự cho miền nam VN, có mục đích tàn phá bộ máy chiến tranh BV cũng như răn đe Nga, Trung Cộng hơn là đòi hỏi BV nhượng bộ tại bàn hội nghị.

Nhận xét

Để vấn đề được dễ hiểu hơn, tôi xin nhắc sơ tiến trình hòa đàm như sau.

Từ 1969 BV đưa ra những điều khoản cứng rắn như mệnh lệnh cho Mỹ.

-Mỹ phải rút quân đơn phương

-Loại bỏ Nguyễn văn Thiệu.

-Lập chính phủ Liên hiệp.

-Cắt hết viện trợ cho VNCH.

Mãi cho tới tháng 10-1972 Hà Nội mới chịu nhượng bộ (có thể do Nga áp lực, do ị thua nặng trận mùa hè 1972, biết Nixon sẽ tái đắc cử tháng 11-1972).

Trong giai đoạn này có hai chủ trương hòa đàm:

-Nixon và Kissinger không nhượng bộ Hà nội, cương quyết không đầu hàng CS, hòa bình trong danh dự, không loại bỏ chính phủ Thiệu .

-Thành phần đối lập (opponents) như Quốc hội thù nghịch, phản chiến, đảng Dân chủ… có chính sách trái ngược. Đối lập chiếm đa số trong giai đoạn này, họ muốn ký Hiệp định sớm, nhượng bộ BV, cắt viện trợ VNCH để đánh đổi hòa bình và tù binh Mỹ, sẵn sàng bỏ Đông dương từ 1969 để rút khỏi cuộc chiến sa lầy.

Bốn điểm mà Hà nội đưa ra trên đây thực ra chỉ là đòi Mỹ và VNCH đầu hàng không điều kiện, giao miền nam cho họ. Sở dĩ CS ngoan cố như vậy vì biết Nixon đang bị Quốc hội, phong trào phản chiến chống đối, thúc ép ký sớm. TT Nixon cho biết (8) chính đám biểu tình đã nối giáo cho giặc kéo dài chiến tranh. Nhìn chung Hành pháp đang ở thế yếu trong đàm phán với CS.

Tháng 10-1972 Hà nội nhượng bộ gần hết những yêu sách cũ, không đòi lật đổ chính phủ Thiệu, không Liên hiệp, lập Hội đồng hòa giải dân tộc hữu danh vô thực, không đòi Mỹ cắt viện trợ miền Nam nhưng nhất quyết không rút quân về Bắc. Mỹ và BV ký Dự thảo hiệp định ngày 9-10-1972, hai bên dự định sẽ ký chính thức ngày 26-10. Ngày 19 Tiến sĩ Kissinger sang Sài Gòn để tường trình về Dự thảo Hiệp định tin tưởng TT Thiệu sẽ chấp nhận nhưng bị Thiệu và ban tham mưu chống đối dữ dội. Kissinger mới đầu dỗ ngon dỗ ngọt rồi hăm dọa nhưng ông Thiệu vẫn bác bỏ Dự thảo. Ở Sài gòn được bốn hôm, Kissinger điện tín về tòa Bạch Ốc đề nghị ký riêng với BV nhưng Nixon từ chối, ông không muốn ký trước bầu cử Tổng thống 7-11-1972 vì biết trước sẽ tái đắc cử. Nixon khuyên Kissinger dừng ép Thiệu, hãy để cho ông ta thoải mái.

Hiệp định đáng lý ký từ 26-10-1972 bị trở ngại vì bị VNCH bác bỏ và Nixon cũng không muốn ký riêng với BV. Phái đoàn CS ngoan cố khiến Nixon phải cho oanh tạc miền Bắc dữ dội cuối năm 1972, Hiệp định đã được ký kết đúng ba tháng sau vào ngày 27-1-1973.

Những lời khen, ca tụng Nixon như trên cho thấy người dân đã khao khát hòa bình từ lâu, dù là người ủng hộ cũng như chống Nixon đều đã quá chán cuộc chiến sa lầy. Truyền thông ca ngợi TT Nixon vì ông đem lại hòa bình, lấy tù binh, đem quân về nước mà không bỏ rơi đồng minh, không lật đổ chính phủ Thiệu theo yêu cầu của Hà Nội mà Nixon cho đó là sự đầu hàng hèn hạ (abject capitulation). Trái với đường lối của Nixon, đảng Dân chủ, Quôc hội thù nghịch, phong trào phản chiến…chủ trương cắt viện trợ VNCH, lật đổ chính phủ Thiệu theo đòi hỏi của Hà nội để sớm có hòa bình lấy tù binh về nước. Người ta ca ngợi Nixon can đảm, một mình chống chọi biết bao mũi dùi tấn công của đối lập, của Quốc hội thù nghịch, của phản chiến.. họ muốn chấm dứt chiến tranh ngay.

Nixon thắng lớn trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 7-11-1972, đạt 60.7% số phiếu phổ thông, hơn đối thủ McGovern 18 triệu phiếu, đạt 520 phiếu cử tri đoàn (hơn 90%) vì người ta thấy ông sắp mang lại hòa bình, đó là hòa bình trong danh dự. Nhiệm kỳ 1969-1972 của Nixon diễn sự giằng co giữa Nixon, Kissinger và những người Đối lập nhất là phong trào Phản chiến, Quốc hội thù nghịch, người Mỹ gọi đây là cuộc chiến tại đất nhà.

Nixon nói (9)

“Những kẻ chống đối muốn chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Tôi cũng làm thế. Nhưng họ không thấy sai trái ở chỗ bỏ rơi người dân miền nam VN để chấm dứt cuộc chiến ngay Tôi thấy thật là bất nhân khi ta để cho bọn độc tài Hà nội dựng cơ sở tại Sài Gòn. Là Tổng thống, tôi có trách nhiệm phải làm cái gì đúng cho đất nước”.

Các sử gia kề trên chỉ trích Nixon, Kissinger sau ba tháng chiến tranh, sau khi dội 20 ngàn tấn bom xuống Hà Nội, Hải phòng cuối 1972 đã không đòi thêm được gì cả, bản Hiệp định đúng ra phải ký từ tháng mười.

Sự thực trận oanh tạc từ 18 tới cuối tháng 12-1972 trước hết để kéo BV lại bàn hội nghị, phái đoàn BV bỏ hòa đàm từ 13-12 không trở lại. Họ đánh hơi thấy phiên họp Quốc hội thượng tuần tháng 1-1973 có thể sẽ ban hành luật chấm dứt chiến tranh Đông Dương, cắt viện trợ VNCH để đổi lấy hòa bình và tù binh Mỹ khi ấy chẳng cần họp hành vì Hòa đàm Paris sẽ đương nhiên bị dẹp. Trận oanh tạc cuối 1972 cũng là để đánh phá hạ tầng cơ sở BV khiến họ suy yếu.

Nixon nhanh tay xử dụng sức mạnh của B-52 mà Hà nội phải trở lại bàn hội nghị nếu không có thể thảm kịch sẽ sẩy ra: Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân, cắt viện trợ VNCH… để đánh đổi lấy 580 người tù binh Mỹ. Hà nội đã chịu thua trong canh bạc này, trận oanh tạc long trời lở đất đã cứu được Đông Dương sụp đổ ít ra là trong lúc này.

“Trận ném bom đã đạt mục đích quân sự, chúng ta đã đánh phá tan nát bộ máy chiến tranh của Bắc Việt” (10)

Kissinger sang Sài Gòn từ 19 tới 23 tháng Mười 1972 để thuyết phục ông Thiệu ký Hiệp định nhưng như ta đã nói VNCH bác bỏ. Kissinger đánh điện về cho Nixon đề nghị ký riêng với BV dự trù ngày 26-10 nhưng Nixon từ chối vì không muốn có Hiệp định trước bầu cử, người ta sẽ cho là ông dùng Hiệp định để lấy phiếu, thực ra theo thăm dò ông đã vượt rất xa McGovern.

Walter Isaacson không đồng ý với đường lối đàm phán bí mật của Kissinger, Nixon như trên nhưng thực ra nếu công khai lại dễ bị Quốc hội, người dân chống đối hơn nữa.

Theo Marvin Kalb, Bernard Kalb(11) Nixon không muốn ký Hiệp định mà không có Thiệu, người bạn đồng minh, cũng không muốn vội ký riêng với Thọ, kẻ địch. Như thế việc ký kết không thành tháng Mười có lý do riêng, trận oanh tạc tháng 12-1972 cũng đã đạt kết quả mong muốn ngoài việc khiến Hà Nội phải trở lại bàn hội nghị, đánh phá bộ máy chiến tranh của BV và cảnh cáo cho Moscow, Bắc Kinh biết Mỹ sẽ hành động mạnh khi quyền lợi bị đe dọa.

Như trên các phụ tá của Kissinger đã chỉ trích cuộc oanh tạc BV dữ dội cuối năm 1972 nhưng vẫn không trục xuất được quân đội BV ra khỏi miền nam, VNCH cũng đã cực lực phản đối thất bại này của Hiệp định. Về điểm này Nixon đã có câu trả lời rõ ràng trong (12)

“Nhưng có một vấn đề then chốt mà chúng ta không thể nào lay chuyển BV thay đổi lập trường: Họ từ chối rút quân khỏi miền nam VN. Từ đầu chí cuối họ xác nhận đây là nội chiến và từ chối nhìn nhận đóng quân ở miền nam. Hà Nội vì thế bác bỏ yêu cầu của ta đòi họ rút quân lấy cớ họ không can thiệp vào cuộc chiến.

Chúng tôi biết không thể nào buộc họ phải nhượng bộ điều này. Có một châm ngôn ngoại giao là ta không thể thắng tại bàn hội nghị nếu cái mà ta không thắng ở trận địa. Mặc dù VNCH đã đẩy lui địch trước mùa mưa. BV

Vẫn còn chiếm một diện tích rộng dọc theo khu phi quân sự và tại cao nguyên. Chúng tôi biết nếu đạt thỏa hiệp đòi BV trả lại đất cho VNCH thì họ sẽ không ký Hiệp định. Nếu ta đòi BV rút quân bằng được sẽ không có Hiệp định”

Sau trận mùa hè đỏ lửa 1972, mặc dù BVbị thảm bại, tàn quân của họ vẫn còn đóng tại vùng I và II. Sở dĩ Hà Nội không chịu rút quân về Bắc phần vì họ đã nướng một triệu người, nay chẳng lẽ không được gì, vả lại họ biết rõ Nixon đang bị Quốc hội và phản chiến chống đối thúc ép kỳ Thỏa ước ngưng bắn để sớm có hòa bình, người Mỹ đã quá sốt ruột.

Nixon nói (13)

“Quốc hội sẵn sang bỏ phiếu chấm dứt chiến tranh nếu ta không ký được Hiệp định…..

….Ngày 2/1/1973 Hạ viện Dân chủ bầu nội bộ với lệ 154 thuận và 75 chống để cắt hết viện trợ mọi hoạt động quân sự ở Đông dương vừa khi đã rút quân về nước và lấy lại tù binh…. Hai ngày sau, bầu cử nội bộ Dân chủ Thượng viện cũng thông qua dự luật tương tự với số phiếu 36 thuận-12 chống.

Chúng ta bị bó buộc phải kết thúc thỏa hiệp chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình ở Việt Nam, nó không hoàn toàn, có nhiều khuyết điểm. Tôi muốn thương thuyết một Hiệp định tốt đẹp hơn nhưng chúng ta không thể chần chờ thêm để được những khoản tốt hơn khi Quốc hội sắp ra luật chấm dứt chiến tranh có lợi cho Hà Nội.

Đó không phải là giờ phút tốt đẹp nhất của ta, mà là giờ phút cuối cùng.

(It was not our finest hour- but it was the final hour)”

Larry Berman cũng nói như vậy(14) , đầu tháng 1-1973 Quốc hội dọa cắt viện trợ Đông Dương để lấy tù binh, và rút quân. Quốc hội khóa 93 dự định họp ngày 3-1-1973. Dự luật chấm dứt chiến tranh đang tiến hành. Cuối tháng 11-1972, Nixon đã bị các vị chức sắc Quốc hội gồm John Stennis, Barry Goldwater và Gerald Ford … lưu ý nếu miền nam VN gây trở ngại hòa đàm, Quốc hội sẽ ra luật đổi lấy tù binh bằng rút hết quân, cắt viện trợ VNCH với tỷ lệ phiếu 2-1 tại Hạ Viện (15)

Thời điểm này, theo Nixon, Quốc hội Dân chủ tỏ ra rất khó chịu khi hòa đàm bị trở ngại từ phía miền nam VN, họ đang đe dọa thỏa mãn yêu cầu của Hà Nội: Cắt viện trợ VNCH, rút quân để đổi tù binh và ngưng bắn.

Nixon nói (16)

Tôi biết rằng Hiệp định có nhiều khuyết điểm. Nhưng tôi nghĩ nhìn chung cũng tốt đẹp. Và tôi biết rằng trong khi Quốc Hội đang phản đối ầm ĩ, chúng ta không thể làm gì khác hơn thế”.

TT Nixon nói với Kissinger nếu không ký được Hiệp định Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, đó là thảm kịch. khi ấy Hành pháp sẽ không thể giúp đồng minh VN được. Nếu chần chờ để đòi thêm những khoản tốt hơn chỉ là già néo đứt dây, có thể sẽ mất cả chì lẫn chài.

Nixon thuyết phục Thiệu việc BV rút quân không quan trọng, đó chỉ là đám tàn quân CS tại những vủng dân cư thưa thớt mà thực ra viện trợ tiếp tục của Quốc Hội cho miền nam VN và sự cho phép cưỡng bách thi hành Hiệp định bằng B-52 mới là quan trọng. TT Nixon cho rằng giấy mực cũa Hiệp định không quan trọng bằng bom đạn của B-52.

Nếu BV rút hết quân trong khi Quốc hội cắt viện trợ, không cho oanh tạc trừng phạt vi phạm thì cũng vô ích, miền Nam sẽ sụp đổ vì không được cung cấp tiếp liệu đạn dược.

Nixon nói (17)

“Sự tồn tại của miền nam Việt Nam không phụ thuộc vào việc quân địch còn đóng tại một số vùng dân cư thưa thớt. Nó phụ thuộc vào việc Nước Mỹ cưỡng bách thi hành Hiệp định cùng với việc tiếp tục viện trợ và với sự đe doạ trừng trị bằng vũ lực. Điều đó chỉ có được nếu Sài Gòn được Quốc Hội ủng hộ. Nếu chúng ta không giải quyết cuộc chiến nhanh chóng, Quốc Hội có thể biểu quyết đạo luật chấm dứt chiến tranh vào tháng Một (1973). Nếu Quốc hội kết luận rằng miền Nam Việt nam gây trở ngại việc ký kết, việc này có thể khiến ta (Hành pháp) không giúp được đồng minh (túc VNCH) nếu cần. Tuy nhiên tôi cũng để cho Thiệu có thời gian suy nghĩ”.

Tháng 11 và 12 năm 1972 ông Thiệu mở chiến dịch lên án Kissinger và Hành pháp Mỹ đã bắt ép VNCH ký Hiệp ước bất bình đẳng khi để cho BV còn đóng quân ở miền nam. Sự chống đối này chỉ là vô ích, đòi hỏi những cái mà người ta không thể thỏa mãn được như đã nói trên. TT Nixon không thể đòi Hà Nội rút quân vì Hành pháp đang ở thế yếu bị Phản chiến, Quốc hội thúc ép ký gấp. Nếu hòa bình trở ngại Quốc hội sẽ ra tay, khi ấy sẽ là một thảm kịch cho cả Đông Dương

Trả lời phỏng vấn của tờ báo Tây Đức Der Spiegel vào năm 1979 tại hải ngoại, ông Thiệu cũng đã xác nhận sự thất bại không phải do CSBV còn đóng quân tại miền nam mà vì không được Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ quân sự cũng như sự yểm trợ hoả lực, có nghĩa là miền nam sụp đổ không phải do Hiệp định Paris

Sau bốn năm đàm phán Nixon và Kissinger chỉ có thể giúp chính quyền Nguyễn văn Thiệu còn tồn tại không bị lật đổ và miền nam không bị liên hiệp, nhưng không thể đòi BV rút quân như đã nói.

Cuối cùng mỗi bên được một tí, nhưng riêng Chính Phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tục gọi là Việt Cộng thì chẳng được tí gì cả ngoài cái bánh vẽ Hội đồng hòa giải dân tộc. Sự thực Việt cộng cũng không có thực lực, họ bị nướng gần hết quân trong trận Mậu Thân đầu năm 1968, sau này chỉ còn khoảng 20,000 người trang bị vũ khí nhẹ. Từ những năm 1966, 1967 trở đi Mặt trận Giải Phóng đã bị CSBV sỏ mũi khi họ xâm nhập ồ ạt miền Nam. Sau này người Mỹ mới biết việc đòi lật đổ Thiệu và lập chính phủ Liên Hiệp là do Chính phủ cách mạng lâm thời (MTGP) yêu cầu BV đưa ra bàn hội nghị. Sau khi bị nếm những trận oanh tạc long trời lở đất cuối 1972, BV phải loại bỏ những yêu sách này.

CSBV chiếm được miền nam VN ngày 30-4-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời vội in truyền đơn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc Trung Lập nhưng bị Hà Nội khiển trách và dẹp bỏ ngay để thống nhất đất nước. Mặt trận giải phóng hay Chính phủ cách mạng lâm thời chẳng là cái thá gì, chỉ là công cụ của BV.

Ngoài ra trong theo nhận định riêng của Henry Kissinger trong hồi ký White House Years (18): Mỹ đã hai lần sai lầm lớn:

-Sau khi Hòa đàm tiến hành được 5 tháng, Tổng thống Johnson đã nhượng bộ Hà Nội cho ngưng oanh tạc toàn diện BV cuối tháng 10-1968.

-Từ 1969 tân Tổng thống Nixon cho rút quân đơn phương để xoa dịu chống đối tại Mỹ và hy vọng Hà Nội đàm phán nghiêm chỉnh.

Nhưng cuối cùng Hà Nội vẫn ngoan cố không chịu đàm phán và hai nhượng bộ lớn kể trên chỉ là vô ích, đúng lý ra phải oanh tạc, đánh mạnh BV từ 1970, chúng là bọn thân lừa ưa nặng

Theo nhận định của Kissinger, Hà nội không muốn hòa đàm, Hiệp định, hòa bình mà chỉ muốn dùng bạo lực tiếp tục xâm lăng. Ông ta nói đúng, năm 1954 họ vờ lên án chính phủ Ngô Đình Diệm không thi hành Hiệp định Genève thực hiện Tổng tuyển cử để có cớ xâm lược miền nam và bây giờ tháng 1-1973 họ ký Hiệp định chỉ để chờ Mỹ rút hết, nghỉ ngơi rồi tiếp tục cuộc chiến xâm lược.

Như trên tôi nói về hình thức của Hiệp định còn thực chất của nó thì khác hẳn, Hiệp định Paris chỉ là một hình thức cho vui, thực chất của vấn đề nằm ở chỗ:

-Đối với Mỹ đây là cách để rút ra khỏi Đông dương sao cho êm đẹp, cho khỏi bị mất mặt.

-Đối với Hà Nội Hiệp định chỉ là nghỉ giải lao để đánh tiếp, ngay sau khi ký Hiệp định, BV cho mở đường xa lộ Đông Trường Sơn ngày đêm chuyển vận vũ khí vào Nam chờ ngày tổng tấn công dứt điểm.

Trọng Đạt

Cước chú

(1) No Peace No Honor… các trang 235, 236, 238

(2) Trang 238, sách kể trên

(3) Trong Kissinger A Biography, trang 483.

(4) Sách nói trên trang 484.

(5) Sách nói trên trang 485

(6) Trong cuốn Kissinger (trang 345, 346, 347)

(7) Trang 421 sách kể trên: (What did those three extra months of war accomplish – the three months between October 26 and January 23, including the massive raids against the north in December?)

(8) Trong No More Vietnams trang 127

(9) Sách kể trên trang 127

(10) No More Vietnams trang 158.

(11) Trong Kissinger trang 422 (He did not want to sign an agreement without Thieu, an ally. He did not want to be stampeded into an agreement by Tho, an enemy).

(12) No More Vietnams trang 152 (But one major issue we could not budge the North Vietnamese from their positions: They refused to withdraw their forces from South Vietnam)

(13) Trang 1969-1970 sách kể trên

(14) No Peace No Honor… trang 221,

(15) Sách nói trên, trang 200.

(16) No More Vietnams trang 167 (But I believed that on balance it was sound. And I knew that, in light of the growing stridency of our opposition in Congress, we had no alternative to signing it)

(17) Sách nói trên trang 155

(18) Chương 8, The Agony of Vietnam trang 276-311

—————–

 

►Việc thi hành hiệp định Genève- (Trần Gia Phụng)

“Cộng Sản Bắc Việt phải rút hết về Bắc” | Đàn Chim Việt

Hiệp định Paris 1973: CS càng muốn quên thì ta càng phải …nhắc (T)

Hiệp định Paris 27-1-1973 – Một bản án tử hình dành cho …Miền Nam

Có Ai Thích Được Giải Phóng Đâu -Điểm lại một số ý kiến …

Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973

Nguyễn Quốc Khải

27-12-2012

RFA

Ngày 27-1-2013 sắp đến sẽ đánh dấu 40 năm ký kết Hiệp Định Paris 1973, một biến cố lịch sử vô cùng quan trọng đối với Việt Nam vì những hậu quả của nó áp đặt trên mảnh đất này trong gần bốn thập niên cho tới ngày nay.
image001-305.jpg

Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972.

Ảnh tư liệu

Thay vì đưa đến “hòa bình trong danh dự”, hiệp định này mở đường cho CSVN xâm chiếm trọn vẹn miền Nam Việt Nam trong vòng hơn hai năm sau. Những tài liệu về chiến tranh Việt Nam được bạch hóa trong thời gian gần đây cho thấy những sự thật phũ phàng đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973.

Tóm tắt diễn tiến Hiệp Định Paris 1973

Cuộc hòa đàm tại Paris bắt đầu từ 1968 vào cuối thời Tổng thống Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng Thống Richard Nixon nhưng không đạt được tiến bộ nào cả cho đến cuối nhiệm kỳ I của Ông Nixon khi Ông Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon đạt được một số đồng thuận trong những phiên họp bí mật với Ông Lê Đức Thọ, Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và trong cuộc tiếp súc bí mật với các Ông Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.  Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý những điều kiện do CSBV đưa ra và đòi hỏi nhiều thay đổi. Hà Nội phản ứng bằng cách công bố chi tiết về những điều hai Ông Kissinger và Lê Đức Thọ đã đồng ý. Cuộc hòa đàm trở nên bế tắc. Một mặt Ông Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng liên tục trong 12 ngày vào cuối năm 1972. Mặt khác, Chính quyền Hoa Kỳ áp lực VNCH chấp nhận điều kiện ngưng chiến.

Ngày 23-1-1973, hai Ông Lê Đức Thọ và Kissinger đồng ý về một thỏa hiệp sơ bộ. Bốn ngày sau đó, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết vào 27-1-1973. Hiệp Định này đòi hỏi ngưng bắn toàn diện tại miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ rút hết số quân còn lại tại Việt Nam trong vòng 60 ngày, quân CSBV (khoảng 150,000 binh sĩ) được phép ở lại miền Nam Việt Nam tại những vùng CSBV đã chiếm đoạt, và tất cả tù binh Hoa Kỳ được hồi hương. Hiệp Định Paris cũng kêu gọi Chính Phủ VNCH và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ và tự do tại miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột. Tổng Thống Nixon hứa sẽ sử dụng Không Lực Hoa Kỳ để bảo đảm sự thi hành hiệp định này.

Trong khi đàm phán, Hoa Kỳ tiếp tục rút quân và thi hành chương trình Việt Nam hóa để quân lực VNCH dần dần thay thế quân lực Hoa Kỳ.

Khoảng cách chạy tội

image003-250.jpg
Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27-1-1973.

Việc mất miền Nam Việt Nam ít người Việt thời đó có thể dự đoán, nhưng không phải là điều ngạc nhiên đối với Hoa Kỳ mặc dù đã có Hiệp Định Paris. Thật vậy, chánh quyền Nixon không muốn thấy miền Nam Việt Nam sụp đổ trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972, vì như thế có nghĩa là hi vọng thắng cử nhiệm kỳ II của Ông Nixon cũng sẽ sụp đổ theo.Vì muốn bảo vệ thanh danh cho Hoa Kỳ và sự nghiệp chính trị của mình, Ông Nixon đã làm đủ mọi thứ để giữ miền Nam Việt Nam khỏi phải rơi vào tay CSVN trong nhiệm kỳ I (1969-1972). Trong cuộc họp bí mật đầu tiên với Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng 7, 1971 tại Bắc Kinh, Ông Kissinger bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản.

Trên một tài liệu thuyết trình cho chuyến đi Bắc Kinh bí mật đầu tiên, Ông Kissinger ghi chú rằng Hoa Kỳ cần một thời gian chạy tội. Trung Quốc có sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông Kissinger viết nguyên văn như sau:

“We need a decent interval. You have our assurance.”

Theo những tài liệu do các phụ tá của Ông Kissinger ghi chép lại những lời đối thoại của ông với Thủ Tướng Chu Ân Lai, Ông Kissinger nói rằng Hoa Kỳ sẽ ấn định thời hạn chót cho việc rút quân và trong thời gian rút quân sẽ có ngưng bắn trong khoảng 18 tháng và đàm phán. Nếu thỏa hiệp thất bại, dân Việt Nam sẽ tự giải quyết. Nếu chính phủ miền Nam Việt Nam không được quần chúng ưa chuộng, lực lượng của Hoa Kỳ càng rút nhanh, chính phủ này càng sớm bị lật đổ và Hoa Kỳ sẽ không can thiệp.

Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:

“We will set a deadline for withdrawals, and during withdrawals there should be a cease-fire, and some attempt at negotiations. If the agreement breaks down then it is quite possible that the people in Vietnam will fight it out. If the [South Vietnamese] government is as unpopular as you seem to think, then the quicker our forces are withdrawn the quicker it will be overthrown. And if it is overthrown after we withdraw, we will not intervene. We can put on a time limit, say 18 months or some period [for a cease-fire].  National Security Advisor Henry Kissinger, Beijing, July 9, 1971.

Hoa Kỳ cũng không muốn miền Nam Việt Nam mất nhanh chóng trong vòng sáu tháng sau khi Hiệp Định Paris ký kết để Hoa Kỳ không bị mang tiếng thua trận. Nhưng nếu là hai năm, sẽ không có vấn đề gì cả.  VNCH cần phải tự lực chiến đấu trong một thời gian đủ dài để chịu trách nhiệm về cuộc bại trận cuối cùng. Sau đây là phần phát biểu thâu băng của Ông Nixon về vấn đề này:

“The country would care if South Vietnam became Communist in a matter of six months. They will not give a damn if it’s two years.” President Richard M. Nixon, March 17, 1973.

Ông Kissinger trước đó cũng có quan điểm tương tự về việc mua thời gian để tháo chạy mà không bị bẽ mặt:

“ We’ve got to find some formula that holds the thing together a year or two, after which – after a year, Mr. President, Vietnam will be a backwater. If we settle it, say, this October, by January ’74 no one will give a damn.” National Security Adviser Henry A. Kissinger, August 1972.

Cả hai ông Nixon và Kissinger đều đồng ý rằng VNCH có thể sẽ mất sau cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ vào tháng 11, 1974. Nếu xẩy ra vào mùa xuân 1975, thời điểm này tốt hơn là mùa xuân 1976.

Nhà Sử Học Ken Hughes thuộc University of Virginia nhận xét rằng:

“Nhiều người có tư tưởng phóng khoáng nghĩ rằng Ông Nixon thật sự cương quyết muốn ngăn chặn Cộng Sản thắng ở Việt Nam. Nhưng Ông ta chỉ cương quyết ngăn chặn Đảng Dân Chủ thắng tại Hoa Kỳ mà thôi.” Sử Gia Ken Hughes, June 2010.

Vào tháng 2, 1972, Ông Nixon viếng thăm Bắc Kinh lần đầu tiên, làm thân với Trung Quốc, khởi sự thảo luận với Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Chu Ân Lai về chính sách một nước Trung Hoa, và đạt được sự bảo đảm của Bắc Kinh về giải pháp hòa bình trong danh dự đối với Việt Nam với một khoảng cách chạy tội (decent interval).

Kéo dài chương trình Rút Quân và Việt Nam Hóa chiến tranh

Những tài liệu mới giải mật cũng cho thấy Ông Nixon và Ông Kissinger tin rằng:

1.    Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh sẽ không làm cho miền Nam Việt Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ.

2.    Những điều kiện “hòa bình” mà Ông Kissinger đã thương thuyết sẽ làm miền Nam Việt Nam sụp đổ sau một thời gian một hoặc hai năm (khoảng cách chạy tội).

Để che đậy sự thất bại của chiến lược Việt Nam Hóa và thương thuyết, Ông Nixon với sự khuyến cáo của Ông Kissinger, kéo dài cuộc chiến tranh đến năm thứ tư (1972) của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên – dài đủ để tránh sự sụp đổ của VNCH trước ngày bầu cử nhiệm kỳ II.  Chính vì vậy mà Ông Nixon kéo dài chương trình rút quân qua nhiều năm.

Trong cuốn băng thâu bí mật tại phòng bầu dục trong Tòa Nhà Trắng, Ông Nixon nói:

“We’ve got dates in mind. We’ve got dates everywhere [from] July to August to September [to] October [to] November to December [to] January of 1973.” President Richard Nixon, September 4, 1971.

Quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu giảm từ cao điểm 543,000 người vào năm 1968 và đến đầu năm 1973 mới chấm dứt, tức là sau cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972.

Đối với công chúng, Ông Nixon phải rút một số quân về nước đủ để thỏa mãn hai mục tiêu:

1.    Chứng tỏ chương trình Việt Nam hóa thành công.

2.    Giữ lời hứa khi tranh cử.

Đối với sự nghiệp chính trị, Ông Nixon hoàn toàn bám vào lịch trình tranh cử để hoạch định chương trình rút quân, dù có đạt được thỏa thuận với Hà Nội hay không (Theo Ông Nixon sắc xuất chỉ có 40% – 55 %) và bất kể VNCH có đứng vững sau khi quân Hoa Kỳ rút về nước hay không.

Hãy nghe cuộc đối thoại giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger vào ngày 11-3-1971:

Nixon: “We’ve got to get the hell out of there.”

Kissinger: “No Question.”

Tuy nhiên trước công chúng Hoa Kỳ, Ông Nixon vẫn hứa một giải pháp hòa bình trong danh dự. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam chỉ khi nào chương trình Việt Nam hóa hoặc cuộc thương thuyết thành công – khi miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ và tự quản trị.

Hoa Kỳ thất hứa không can thiệp trong trường hợp Hiệp Định Paris bị vi phạm

Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tin rằng những điều kiện Hoa Kỳ cho phép 150,000 quân CSBV ở lại miền Nam sẽ khiến VNCH sụp đổ. Theo tài liệu mới được bạch hóa, trong buổi họp với Tướng Alexander Haig, phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, tại Saigon vào ngày 4-10-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng theo đề nghị của Hoa Kỳ, chính phủ VNCH tiếp tục tồn tại. Nhưng đây chỉ là giải pháp đau lòng và sớm muộn chính phủ này sẽ sụp đổ và theo đó Ông Thiệu sẽ phải tự sát.

Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:

“In the proposal you have suggested, our Government will continue to exist. But it is only an agonizing solution, and sooner or later the Government will crumble and Nguyen Van Thieu will have to commit suicide somewhere along the line.” President Nguyen Van Thieu, Saigon, October 4, 1972.

Ông Thiệu cực lực phản đối đề nghị hòa bình giả tạo của Hoa Kỳ làm cho cuộc hòa đàm ở Paris ngưng lại. Ông Nixon phải hứa sẽ tăng viện trợ quân sự và Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu CSBV tấn công. Đồng thời Ông Nixon đe dọa sẽ cắt viện trợ để buộc Ông Thiệu phải chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới được bạch hóa cho thấy rằng Ông Nixon đe dọa đến cả tính mạng của Ông Thiệu:

“I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do any damn thing, that is, or to cut off his head if necessary.” President Richard Nixon, January 20, 1973.

image005-250.jpg
Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris.

Hiệp Định Paris chỉ giúp Hoa Kỳ rút được quân ra khỏi Việt Nam an toàn, chấm dứt việc can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tại Việt Nam, nhưng đã không mang lại hòa bình cho Việt Nam. Thật vậy, khoảng một năm sau, vào tháng 1, 1974, Tổng Thống Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris không còn giá trị sau khi Cộng quân lợi dụng cuộc ngưng chiến trong năm 1973, tiến hành những trận đánh nhỏ để chiếm những vùng xa xôi hẻo lãnh.Trong khi đó Quốc Hội Hoa Kỳ tiếp tục giảm viện trợ cho Việt Nam từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973, 1.1 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1974, và 700 triệu Mỹ kim cho tài khóa 1975. Tình trạng miền Nam Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1974 khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật 1974 Foreign Assistance Act, chấm dứt tất cả những viện trợ quân sự. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ không thể thể dùng không lực để trợ giúp miền Nam Việt Nam khi CSBV vi phạm Hiệp Định Paris.

Sau khi Đạo Luật Viện Trợ Ngoại Quốc 1974 ban hành ít lâu, CSBV tiến đánh và chiếm tỉnh Phước Long vào ngày 6-1-1975 và tỉnh Bình Long vào ngày 7-1-1975. Khi không thấy Hoa Kỳ có phản ứng nào cả, ngày 8-1-1975 Hà Nội ra lệnh tổng tấn công để giải phóng miền Nam bằng cách ngang nhiên xua quân vượt qua biên giới Bắc Nam, tấn công toàn diện Vùng I và II Chiến Thuật vào tháng 3, 1975 và cuối cùng chiếm Saigon vào 30-4-1975 đúng với thời hạn mà hai Ông Nixon và Kissinger dự đoán.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Schlesinger điều trần trước Quốc Hội vào ngày 14-1-1975 rằng Hoa Kỳ không giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu. Bẩy ngày sau, Tổng Thống Gerald Ford, người thay thế ông Nixon từ chức vì vụ Watergate, tuyên bố rằng Hoa Kỳ không sẵn sàng tái tham chiến tại Việt Nam. Tại New Orleans vào ngày 23-4-1975, Ông Ford tuyên bố chiến tranh Việt Nam chấm dứt.

Vào buổi trưa ngày 29-4-1973, Đài Phát Thanh Saigon truyền đi bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua dọng ca của Bing Crosby, báo hiệu cuộc di tản cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu.

Phục hồi Hiệp Định Paris 1973?

Gần đây, có vài nhóm người Việt tại hải ngoại chủ trương vận động quốc tế để phục hồi lại Hiệp Định Paris 1973, đặc biệt mới đây nhất là Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH), một hình thức chính phủ lưu vong nhưng không dùng danh xưng tổng thống hay thủ tướng, của Ông Nguyễn Ngọc Bích (75 tuổi). Các tổ chức này tin rằng nếu vận động quốc quốc tế làm sống lại Hiệp Định Paris 1973 (nhưng không nói gì đến Hiệp Định Geneva 1954 mà chính VNCH đã xé bỏ), Hà Nội sẽ phải trả lại miền Nam Việt Nam cho VNCH.

Giả sử rằng UBLĐLTVNCH có khả năng làm chuyện này, mặc dù tôi nghĩ là không có một cơ may nào cả, UBLĐLTVNCH sẽ không thâu tóm toàn bộ phần đất dưới vĩ tuyến thứ 17 ngay được. Hiệp Định Paris đòi hỏi tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam, UBLĐLTVNCH sẽ phải ra tranh cử với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (chính thức bị giải tán vào ngày 25-4-1976) . Nhưng trước hết, UBLĐLTVNCH sẽ phải đưa hàng triệu người Bắc 75 về nguyên quán ngoại trừ 150,000 quân CSBV được Ông Kissinger và Ông Chu Ân Lai cho phép ở lại miền Nam từ 1973 đến nay. Tóm tắt lại để đỡ tốn giấy mực, ý tưởng phục hồi Hiệp Định Paris là hoang tưởng nếu không muốn nói là bệnh hoạn. Ngay cả nước Mỹ cũng muốn quên Hiệp Định Paris 1973 đau lòng này do chính họ dựng lên.

Kết luận

Hoa Kỳ dưới thời Nixon đã bỏ rơi đông minh của mình là một điều đáng hổ thẹn đối với một quốc gia biết tôn trọng những giá trị cao quý. Nhưng may thay, những sử gia và những nhà phân tách Hoa Kỳ ngày nay đã phanh phui ra sự thật và lên án nặng nề những lỗi lầm đó. Đặc biệt GS Larry Berman đã viết hai cuốn sách được nồng nhiệt đón nhận:

1.    Planning Tragedy: The Americanization of the War in Vietnam (1982).

2.    No Peace No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (2001).

Về phía người Việt, hơn ai hết, chúng ta có trách nhiệm lớn về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam và đưa phần đất này vào tay Cộng Sản. Nếu Ông Hồ Chí Minh khôn ngoan đã không du nhập chế độ Cộng Sản vào Việt Nam và nếu người dân Việt Nam, kể cả một thành phần không nhỏ trí thức, khôn ngoan đã không đi theo Cộng Sản để reo rắc đau thương triền miên cho đất nước trong một nửa thế kỷ và làm đất nước chậm tiến như ngày nay. Một bài học lớn là đừng bao giờ chui vào vòng nô lệ của bất cứ ngoại bang nào dù là đồng minh.

Tài liệu tham khảo:

1. Larry Berman, “No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam,” The Free Press, 2001.

2. Finding Dulcinea, “On this Day: Paris Peace Accords Signed, Ending American Involvement in Vietnam War,” January 27, 2012.

3. Trọng Đạt, “Nixon và Hòa Bình Trong Danh Dự,” 27-01-2012.

4. Kennedy Hickman, “Vietnam War end of conflict, 1973-1975,” Military History.

5. Ken Hughes, “Fatal Politics: Nixon’s Political Timetable For Withdrawing From Vietnam,” Diplomatic History, Vol. 34, No. 3, June 2010.

6. Stanley Karnow, “Vietnam A History,” Penguin Books, 1997.

7. Jeffrey Kimball, “Decent Interval or Not? The Paris Agreement and the End of the Vietnam War,”December 2003.

8. Henry Kissinger, “Years of Renewal,” Simon & Schuster, 1999.

9. Richard Nixon, “No More Vietnam,” Arbor House, New York 1985.

10. Frank Snepp, “Decent Interval,” Random House, 1977.

11. Global Security, “A Decent Interval – Who Lost Vietnam?” May 7, 2011.

12. Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, “Hiệp Định Paris 1973.”

 

Posted in Hội Nghị Paris 1968-1973 | Leave a Comment »

►Thiếu úy thuộc Bộ tư lệnh bảo vệ lăng HCM làm hổ thẹn cho quân đội đến thế này sao?

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2015

Sĩ quan làm hổ thẹn cho quân đội đến thế này sao?

Blog RFA

Nguyễn Tường Thụy

24-01-2015

Sự cố khi tưởng niệm các anh hùng, tử sĩ Hoàng Sa ở Tượng đài Lý Thái Tổ đã qua 5 ngày rồi. Định bỏ qua vì nghĩ nó chẳng qua là kẻ lưu manh hay “ngáo đá” mất khả năng kiểm soát hành vi, được thuê để phá việc làm của chúng tôi. Chuyện phá đám các hoạt động tưởng niệm liệt sĩ lâu nay cũng là chuyện thường.

Nhưng rồi, kẻ phá phách này nhanh chóng bị tìm ra danh tính. Hắn là một sĩ quan quân đội hẳn hoi. Những hành động của nó cách đây 5 ngày lại hiện lên, rõ mồn một.

1 giờ trưa hôm đó mới lác đác vài người đến. Tôi đang ngồi phía bờ hồ, cùng với Sông Quê, Xuân Diện, Lê Dũng… Chợt nhìn sang phía bên kia thấy Phương Bích với mấy công an đang nói gì với nhau có vẻ rất gay gắt, cạnh phía đầu chiếc xe thùng của phường thường dùng để dẹp trật tự. Sau mới biết Phương Bích đến yêu cầu công an phải có trách nhiệm đối với kẻ gây sự với cô. Đang nói chuyện với công an, một đứa người gầy, nhỏ xông đến với động tác rất hung hăng, nó chỉ trỏ, chửi bới Phương Bích điều gì đó. Rồi nó đứng ở phía sau xe, chạy ra đến mép hè phố nhảy thách lên chỉ sang phía chúng tôi đang ngồi hét lên: “Thằng Thụy đâu! Thằng Diện đâu! Sang đây”.

Tất nhiên chúng tôi cũng sang để làm công việc của mình. Hai lẵng hoa được trân trọng đặt hai bên trước tượng đài Lý Thái Tổ. Thằng gây sự với Phương Bích lúc trước lập tức xông đến giật một chiếc băng rôn. Cãi cự bắt đầu xảy ra . Mấy người không biết là ai đúng lúc bê hai vòng hoa đến với dòng chữ “Hội cựu chiến binh quận kính lễ”. Tôi hiểu, với nội dung ấy, vòng hoa không phải là để tưởng niệm các tử sĩ Hoàng sa. Họ cố tình đặt vòng hoa của họ che khuất vòng hoa của chúng tôi.

Bắt đầu sắp nhang tưởng niệm, tên lưu manh lại xông lên chửi bới chúng tôi, lăng mạ các tử sĩ Việt nam Cộng hòa:

– Chúng mày thờ bọn ngụy, bọn bán nước. Tao xé đấy, tao phá đấy…

Rồi nó giật vòng hoa, đập nát xuống nền. Nó nhảy sang phải, nhảy sang trái như con choi choi, tay huơ lên khắp hướng, như là xung quanh không có ai đáng để cho nó nể.

Xung quanh, bảo vệ, an ninh rất nhiều, không có ai can thiệp. Họ mải ghi hình chúng tôi, hoặc đứng nhìn thành quả. Thằng lưu manh biết được hậu thuẫn bởi cả một lực lượng hùng hậu với danh nghĩa người của nhà nước nên nghĩ không ai dám làm gì nó. Nó tiếp tục la hét:

-Chúng mày còn làm, tao còn phá. Làm đéo gì được tao nào. Tao đéo sợ gì hết. Trần Quang Nhật chưa là cái gì nhá. Tao căm thù bọn ngụy…

Đến nước này, chúng tôi không để yên được nữa. JB Nguyễn Hữu Vinh hô:

-Bắt lấy thằng phá hoại giải về phường.

Tất cả mọi người xông đến, túm lấy nó lôi đi xềnh xệch. Thấy nguy cơ cho đồng đội, an ninh rồi dân phòng xông vào giải cứu cho nó, còn khi nó phá phách thì không ai nói gì. Một đứa vào lôi tôi ra:

– Anh ra.

– Anh làm gì tôi?

– Anh vừa đánh nó.

– Mắt anh làm sao thế? Các anh bảo vệ trật tự hay bảo vệ kẻ gây rối?

Tôi lại vào cùng mọi người giữ nó. Cũng có lúc nó thoát ra được. Hạnh chạy theo níu nó lại. Nó cầm một tấm biển bằng sắt hàn giơ lên nhằm vào Thúy Hạnh. Tôi và Lê Dũng lập tức xông đến chắn trước để đỡ cho cô.

Cứ thế, mỗi lần thoát ra, nó lại bị túm lại. Nhưng do đồng đội của nó đông hơn, cuối cùng giải thoát được cho nó ấn lên thùng xe mini tải. Lúc này, lái xe đã sẵn sàng, rồ ga chạy mất.

Chính nó là người gây chuyện, nhổ vào Phương Bích khi lễ tưởng niệm chưa diễn ra.

Năm nào cũng vậy. Năm nào cũng vài lần, tất cả các buổi lễ tưởng niệm các tử sĩ, liệt sĩ hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc của chúng tôi đều bị phá phách hoặc gây đủ điều cản trở. Ai là người chỉ đạo việc phá hoại này? Điều đó ai cũng biết đấy là chính quyền. Cũng chẳng cần dẫn giải nhiều, chỉ cần biết kẻ phá hoại được an ninh, dân phòng bảo vệ, rồi dùng ngay xe của phường đem nó chạy trốn đã nói lên tất cả.

Hai ngày nay, danh tính của nó đã được tìm ra. Theo thông tin trên mạng xã hội facebook, nó tên là Trịnh Việt Dũng, thiếu úy quân đội thuộc Bộ tư lệnh bảo vệ lăng HCM. Thông tin này quá sức tưởng tượng của tôi. Tôi đã phục vụ trong quân đội từ lúc vừa tới tuổi nghĩa vụ quân sự cho đến lúc về hưu, chưa bao giờ thấy một quân nhân nào như thế. Với hành vi ấy, một chiến sĩ quân đội cũng không được phép nữa là sĩ quan. Không hiểu quân đội xác định kẻ thù như thế nào, xác định nhiệm vụ ra sao mà lại đào tạo ra loại sĩ quan ấy. Thật là hổ thẹn.

 

H1

 

H1

H1

H1Người mặt nám, áo đen trong các hình phía trên là: bộ đội thuộc QĐNDVN

hình anhbasam.wordpress.com

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Bản Kết luận Điều tra Bổ sung về cái gọi là “Vụ án Nguyễn Hữu Vinh cùng đồng bọn…”

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2015

26-01-2015

anhbasam.wordpress.com

Chúng tôi vừa nhận được Bản Kết luận Điều tra Bổ sung về cái gọi là vụ án “Nguyễn Hữu Vinh cùng đồng bọn lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Kính mời độc giả:

H1

H2

H3

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

►Lời mở đầu cho sách Nhận Định, Tự Do và nhân Quyền – Huỳnh Thục Vy

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2015

Lời mở đầu cho sách Nhận Định, Tự Do và nhân Quyền

T

25-1-2015

Nhan Dinh HTV

Tôi không được dạy để trở thành một người viết chuyên nghiệp. Ngay từ những ngày đầu cầm bút, tôi chỉ tâm niệm một điều: viết xuống những điều mình thực sự suy nghĩ, để chia sẻ quan điểm đối lập với nhà cầm quyền độc tài của một người trẻ trong bối cảnh hoàn toàn không có tự do ngôn luận ở Việt Nam. Từ những ngày đó, tôi đã luôn chuẩn bị tinh thần và mang tâm thế sẵn sàng để đối mặt với tình huống xấu nhất có thể xảy ra cho mình. Vậy nên, dù bản thân và gia đình bị trù dập nhiều lần, tôi không thấy đó là những chướng ngại trong việc tiếp tục bày tỏ quan điểm khác biệt của mình.

Tôi không xem việc viết lách như là một nghề nghiệp. Một cách chính xác, viết lách đối với tôi chưa bao giờ là một nghề nghiệp. Vì nghề nghiệp là thứ qua đó chúng ta có thể nuôi sống bản thân và chu cấp cho gia đình. Hoàn toàn ngược lại, việc bày tỏ quan điểm qua các bài viết đã lấy đi của tôi khá nhiều thứ. Viết là một đam mê của tôi, một thứ gì đó không phải là phương tiện để nuôi sống thân xác này, mà là nguồn thức ăn vô hình nuôi dưỡng tâm hồn tôi và nâng đỡ tôi mỗi khi tôi yếu lòng, giữ cho tôi thấy mình hữu ích và cho tôi cơ hội nhận thấy đầy đủ phẩm giá của mình như một người tự do. Phẩm giá, điều mà người ta vừa chào đời đã có, nhưng hằng ngày hàng giờ trong từng góc xa xôi của thế giới, nó bị chà đạp một cách đáng xấu hổ.

Tôi được gọi là blogger bất đồng chính kiến, nhưng tôi tự nghĩ rằng mình không blogging. Tôi không thể viết nhiều và thường xuyên. Tôi cũng không có thời gian để chăm sóc blog của mình như cách như blogger khác thường làm. Nhưng tôi thực sự thấy mình may mắn, vì tôi biết rằng qua việc viết lách này, tôi đã có được những bằng hữu thật đặc biệt và đáng kính. Họ vừa là bạn, vừa là thầy. Vậy nên tôi vui vẻ nhận lấy bất cứ cách gọi nào người ta đặt cho tôi, ngoại trừ những lời bôi nhọ của đội quân tuyên truyền nhà nước cộng sản.

Tôi từng chia sẻ với chồng tôi: Không hiểu sao, em có thể làm nhiều thứ khác ngoài chuyện viết lách; nhưng dù có làm việc bận rộn quanh năm suốt tháng, em cũng cảm thấy vô vị và như là mình không làm được gì cả, cho đến khi em mở máy tính ra và gõ từng con chữ xuống. Và sự thật rằng, tôi không thể đưa tâm trí mình tập trung hoàn hoàn để suy nghĩ nghiêm túc về bất cứ vấn đề gì, nếu tôi không ngồi xuống và gõ. Trong lúc gõ từng con chữ trên bàn phím, tôi có thể chạm tới những góc thầm kín và đầy ưu tư của mình; và cũng chính lúc đó những suy luận thấu đáo nhất mới được chạm tới.

Trong cuộc đời này, chưa ở đâu tôi có thể nhận thấy phẩm giá của mình được tôn trọng như khi tôi viết. Bởi lúc đó, tôi có được cái tự do quý giá mà nhiều người khác trên xứ sở độc tài này không thể có hoặc không dám có: Tự do. Dù tự do đó phải đánh đổi bằng bình an thường nhật của tôi và gia đình; nhưng tự do quý giá đến độ chúng ta không thể có được nó mà không phải chiến đấu và khi đã một lần đạt được nó (dù chỉ một phần),chúng ta không thể từ bỏ, chúng ta không thể lùi bước. Không có gì trong cuộc sống này cao quý hơn tự do. Có an toàn, chúng ta có điều kiện để có được những thứ khác như của cải, chức tước…nhưng nếu có được tự do, chúng ta sẽ có mọi thứ một cách xứng đáng nhất. Nhân quyền và Nhân phẩm chỉ có được khi tự do tồn tại. Chỉ với Nhân quyền và Nhân phẩm, con người tự do mới được xác định là Người.

Quả thật, tôi may mắn vì là người viết. Càng có kinh nghiệm trong việc viết lách tôi càng thận trọng hơn với những gì mình viết ra. Những điều tôi viết có thật sự hữu ích, đúng đắn và tử tế? Những gì tôi viết có phải là phương cách để tôi thuyết phục người khác, cố gắng để người khác tin điều mình nói là đúng và ủng hộ mình? Không, những điều tôi viết thực sự là điều tôi tin và tôi phải thuyết phục chính mình trước khi định thuyết phục mọi người. Nghĩa là, từ trong sâu thẳm tâm tư và tư duy của mình, tôi biết hoặc tin một điều thì tôi mới viết ra để chia sẻ với mọi người. Tôi không viết nhằm khuyến dụ mà là để làm sáng tỏ vấn đề mà tôi cho là cần thiết. Tôi không viết nhằm quy tụ nhiều người tung hô và ủng hộ, mà tôi viết để chia sẻ tâm tư, như cách những người bạn tâm giao thường làm với nhau. Tôi không nói điều gì đó để kích động những vết thương thầm kín, để chạm tới những ngóc ngách dễ tổn thương và kích động nhất của con người, đặc biệt là đám đông suy nghĩ và hành động thiên về cảm xúc chứ không duy lý (như về chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng hạn). Tôi viết và mong nhận được những ý kiến chia sẻ, để từ những thiếu hụt trong lý luận của mình, tôi trưởng thành hơn. Năm năm cầm bút không là một thời gian đủ dài để tôi làm tốt công việc này, những nó không ngắn để tôi nhận ra được tính nước đôi của ngôn ngữ và khoảng cách rất lớn giữa điều người ta viết và những việc họ làm. Bởi vậy tôi cố gắng để chân thành nhất có thể trong từng câu viết của mình, và tôi cũng nỗ lực để xứng đáng với những lời mình viết.

Trong cuộc đấu tranh gian khổ và dai dẳng với chế độ độc tài cộng sản, có thể đối với một vài phe nhóm chính trị, sự giải thể chế độ độc tài này cùng với sự chiến thắng của phòng trào dân chủ, đồng nghĩa với sự kiện rằng họ sẽ lên thay thế đảng cộng sản cầm quyền. Tất nhiên điều đó hữu lý nhưng vấn đề ở đây chính là cách thức hành động của họ. Họ có thể không tiếc lời để hô hào người ủng hộ, khơi động những tình cảm tập thể có lợi cho các mục tiêu của họ. Họ nói rất nhiều về dân chủ nhưng các phương cách họ làm thật phi dân chủ, bất công và dối trá. Tôi luôn tâm niệm rằng: không có mục tiêu nào tốt có thể đạt được bằng các phương tiện xấu ác. Trong khi, đảng và nhà nước cộng sản có nguồn nhân lực và tài nguyên quốc gia, có súng, xe tăng, nhà tù và bộ máy tuyên truyền dối trá… những người đang đấu tranh cho Dân chủ tự do và Nhân quyền tại Việt Nam không có gì ngoài chính nghĩa; và chính nghĩa đó đến từ sự thật, tự do và công lý. Không cố gắng để trau dồi và gìn giữ những giá trị đó, chúng ta sẽ thua chế độ độc tài ngay từ đầu.

Tôi không viết đủ nhiều và đủ tốt để mong các bài viết của mình được xuất hiện trang trọng trong một cuốn sách. Dù những lời lẽ đó xuất phát từ những ưu tư sâu kín nhất của mình, tôi chưa bao giờ nghĩ nó đủ giá trị để được in thành sách. Nhưng sự yêu thương mà quý thân hữu Việt Thức (một sáng hội phi đảng phái và phi lợi nhuận) dành cho tôi và sự quý trọng mà tôi dành cho họ được thể hiện qua tập sách và việc in ấn này. Những hỗ trợ mà quý thân hữu dành cho tôi quá quý giá đến nỗi mọi lời cám ơn đều sáo rỗng. Nhưng xin cho tôi một lần nữa được gởi lời tri ân quý vị vì tất cả.

Cuốn sách này cũng là lời tri ân của tôi đến tất cả quý bằng hữu người Việt khắp nơi trên thế giới và trong quốc nội Việt Nam. Sự cổ vũ của quý vị đã thực sự tiếp thêm sức mạnh để tôi tiếp tục nắm lấy và thực hiện quyền tự do căn bản của mình: Quyền tự do bày tỏ quan điểm. Xin chân thành cám ơn quý vị.

© Huỳnh Thục Vy

Huỳnh Thục Vy, NHẬN ĐỊNH, TỰ DO & NHÂN QUYỀN, do Cơ Sở VIỆT THỨC xuất bản & sẽ phát hành trong tháng 4 năm 2015. Mời Quý Vị, Quý Độc Giả đón đọc.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Chân Dung Quyền Lực muôn năm…

Posted by hoangtran204 trên 26/01/2015

Hiện tượng do trang mạng Chân Dung Quyền Lực đang làm cho dân Việt ta, vốn bị bưng bít thông tin về những ông đại quan xứ ta, thấy khoái trí quá. Bất ngờ, kinh ngạc và cuối cùng thì say sưa đọc và hả hê chém gió vù vù…

Cũng là lẽ thường tình, ở đời cái gì cứ bưng bít che dấu mãi thì người ta hay tò mò cố tìm hiểu. Giống như chị nạ dòng che kín thân thể sẽ khiến cho thiên hạ cố dòm nhiều hơn là dòm các em chân dài khoe hàng. Mặc dù biết đâu có gì phải xem trong váy áo nạ dòng, cũng như chuyện tham nhũng, bè phái… của các quan chức chính quyền ta là chuyện biết rồi, khổ lắm…

Nhưng sự xuất hiện của trang CDQL và những điều tiếng mà trang web này đưa ra đã đánh động dư luận như một tiếng sét nổ giữa trời quang. Các bài viết chắc, chuẩn như một tờ báo lớn có sự tài trợ, có nhiều người chuyên nghiệp tham gia chứ không phải chỉ một người như các trang web, blog, facebook bình thường khác. Về tính xác thực hay độ đáng tin cậy của nó thì cần có thời gian, nhưng đến giờ này thì chưa có một điều gì chỉ ra rằng, đây là trang thông tin đáng tin cậy nhưng cũng chẳng có gì nói đây là trang thông tin không đáng tin cậy…

Nhưng qua những gì mà trang mạng này đã đưa ra thì cũng quá đủ để chứng tỏ nhiều điều. Nó đưa ra thông tin bất ngờ nhưng không bất thường về những nhân vật chóp bu không ít thì nhiều có tỳ vết và luôn cùng số liệu, hình ảnh… về công việc làm ăn kinh doanh của các ông quan quyền lực của xứ ta và gia đình vợ con họ. Như chuyện cha con ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cha con ông BTQP Phùng Thanh Quang, cha con ông Viện trưởng VKS Hòa Bình…(Và không biết còn có con nhạn là đà nào trong đỉnh cao trí tuệ lọt vào tầm ngắm của em Lực nữa hay không) Mà những thông tin đó thì trước nay dân đen làm gì mà biết được. Nếu không phải là người ở chung nhóm, hay đã từng ở chung nhóm với các tên tuổi trên thì không thể có được những thông tin đã đưa ra. Chắc chắn là người đứng sau trang mạng này là người đã cùng ngồi chung một con đò, hoặc cùng bị một con rận đốt chung vì từng đắp chung chăn với mấy quan to đã nêu trên. Và nếu thế thì đây là lần đầu tiên có sự phản kèo chơi qua chơi lai như thế này trong hàng ngũ chóp bu của chính quyền VN.

Và với truyền thống nói một đằng làm một nẻo, ăn đằng mô nói đằng tê thì giờ đây các anh lớn của chính quyền gặp phải một tay đối thủ đồng hạng chơi chiêu. Mờ mờ ảo ảo, sương sương khói khói, thực thực hư hư…. không biết nó còn ra chiêu gì nữa không, còn khai tên ai ra nữa không…Đó là Chân Dung Quyển Lực, một đối thủ thông tin lề trái đúng tầm với chính quyền kiểu như Kẻ Cắp Bà Già..

Còn nhiều điều để nói về Trang mạng CDQL này, và chắc nó sẽ còn gây khốn đốn cho những anh quyền cao chức trọng mà xưa nay vốn không sợ ai và không thèm đếm xỉa gì đến thông tin mạng. Nhưng giờ thì khắc tinh xuất hiện từ trên Giời và có hàng triệu độc giả. Nó tấn công trực diện, quyết liệt không chừa một ai trong thượng tầng kiến trúc lẫn đỉnh cao trí tuệ. Tất cả những anh to đầu đang cùng lúc gặp cơn bĩ cực chưa từng có, chưa từng xảy ra. Tất cả đang bị vạch mặt chỉ tên tới từng người, từng cái thẹo của họ, cùng các công việc lem nhem của gia đình họ.

Chả biết vụ này tới đâu, chả biết có đưa được con chuột cống tham nhũng nào lên đĩa được không nhưng dân đen ta vừa ăn cơm với mì gói vừa được xem diễn tiến màn đấu võ miệng cung đình này, giống như xem cảnh lột truồng mẹ nạ dỏng vậy. Còn những kẻ đại tham quan giờ đây phải run sợ trước mọi nguồn thông tin phải, trái, đa chiều chứ không còn lộng hành như khi họ một mình môt chợ với một hệ thống thông tin quốc doanh chỉ có mỗi một chiều như trước nữa. Mặc dù các quan anh chơi tình vờ, thấy có mà làm như không thấy bóng ma của CDQL đang lan tỏa nhưng bên trong thì loạn nhịp cu dế, ăn không ngon ngủ không yên và hẳn Tết này Chùa Bà cùng các chùa linh thiêng khác sẽ có lắm anh to đầu đến quì lạy cầu mong cho tai qua nạn khỏi, cầu cho thằng CDQL chết sớm hoặc không chểt thì nó cũng bỏ sót tên mình…

Hoặc ngửa cổ lên Trời mà kêu lên rằng :

– Trời đã sịnh ra Đỉnh Cao Trí Tuệ rồi sao còn sinh ra Chân Dung Quyền Lực nữa…

Trâu bò húc nhau ruồi muỗi hưởng lợi. Câu chân ngôn ngược này lại đúng cho dân ta lúc này. Các bác to đầu cứ chơi nhau đi, chơi thật lực vào, nếu không ích nước lợi nhà, không có thằng chết thằng bị thương thì ít ra phận dân đen muỗi mòng cũng có cái chùa để xem giải trí…

Chân Dung Quyền Lực sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !

Mai Tú Ân
Nguồn: Lấy từ trang Việt-Studies

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Cafe cuối năm, internet

Posted by hoangtran204 trên 26/01/2015

Tuấn Khanh

Những buổi sáng cafe ở Sài Gòn 10 năm trước cho đến nay dường như vẫn không có gì thay đổi. Vẫn ly cafe nhạt đó, những câu chuyện hỏi han nhau lệ thường, những cuộc tranh cãi vu vơ giữa người với người để chứng minh sự tồn tại như lẽ thật trên trần gian. Khác chăng là những đứa trẻ đánh giày nhiều hơn, những người già vé số tuyệt vọng hơn. Và đặc biệt lượng người trầm ngâm với điện thoại hay máy tính bảng ở mọi góc, ở mỗi giờ.

Thế giới đã khác, những tờ báo giấy mòn mỏi và chậm chập như những chuyến xe liên tỉnh không đến kịp thời gian. Con người Sài Gòn hôm nay ngồi chạm lướt vào hiện tại tức thì để nói về cuộc sống của mình, buồn phiền hay vui cười những tin tức chớp tắt từng giờ. Sài Gòn ngồi một chỗ có thể nhìn mọi nơi, nghe những chuyển động của người Việt, có thể cười cợt với những vận may hạnh phúc và cũng có thể chết lặng với những đảo điên của giống nòi.

Lại một buổi sáng như mọi buổi sáng ở Sài Gòn, anh bạn làm trong ngành toà án nói rằng từ internet, tin tức liên quan về luật pháp có thể những người quan tâm đến stress nặng. Anh bạn làm báo thì kể có lúc anh đọc tin, thấy những trái ngang đến mức bị trầm uất, ngồi hàng giờ ở nhà mà không nói tiếng nào, đến mức gia đình lo sợ.

Là người, chắc không ai quên được vụ thảm sát công dân Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên (2014), mà thủ phạm lại là 5 công an viên do bức cung, nhục hình, bất chấp nạn nhân kêu oan. Tin tức về sự kiện này thoạt đầu, báo chí không đưa nhiều, thậm chí nương nhẹ, giấu bớt phần tội ác của các công an viên. Thế nhưng tin tức trên internet bùng nổ lên tiếng, mang đi hình ảnh những đứa trẻ đeo khăn tang, người vợ mang bức hình thi thể dập nát của chồng mình kêu oan trước những ánh mắt nhân viên an ninh trừng trừng vô hồn đe doạ. Có một bức ảnh được truyền đi trên mạng, cho thấy đứa trẻ đang hôn vào di ảnh của cha mình. Nhiều người đã bật khóc vì khoảnh khắc đó. Nhiều người như anh bạn làm ở ngành toà án hay nhà báo của tôi, và cả tôi đã nhưng nghẹt thở khi nhìn thấy. Tíc tắc của hình ảnh đó có thể theo tôi đến tận cuối đời như một lời nhắc nhở rằng xứ sở mình, người Việt mình đã oan khiên như thế nào, và may mắn thay, nếu không có internet, những điều như thế này sẽ không bao giờ chạm được vào đời thường để được sẻ chia công lý.

Tin tức trên internet như một cuộc cách mạng thầm lặng và vĩ đại đã thay đổi đất nước này, dù không phải ai cũng hân hoan đón chào nó. Trước khi có internet, mọi thứ bị kềm hãm trong truyền hình và báo giấy, trở thành một lá bài ma thuật muôn mặt với công chúng.

Những người bạn ngồi cafe gợi nhớ ngày tháng mọi thứ lệ thuộc vào các bản tin nhanh. Từ bóng đá cho đến các sự kiện thế giới như Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chiến tranh Vùng Vịnh… Dòng người nôn nao đứng trước Thông Tấn Xã VN chờ mua vào lúc 4g chiều – những ngày tháng đó đã nói hết mọi điều. Những bản tin một chiều, bị kiểm duyệt và thậm chí bóp méo đã được nâng niu, bàn tán từng ngày. Cuộc sống trong một cái nồi đậy nắp kín vẫn luôn đau đáu ngóng chờ một giây phút nào đó để nhìn thấy bầu trời bên ngoài. Hôm nay thì mọi thứ đã thay đổi, dù cá mập có xuất hiện từng đàn theo ước hẹn trước để cắn các dây cáp quang dưới lòng biển, internet xoay tròn tìm kiếm, người ta vẫn tìm thấy đủ cách để tiếp nhận thông tin quanh mình.

Không thể nào dừng được thông tin đến với mọi người, và càng không thể che đậy hay ngăn chận. Vụ thảm sát ở Phú Yên lộ dần bộ mặt của các ác và sự thống trị như cát cứ của chính quyền địa phương, đặc biệt là ngành công an ở đó. Và cũng nhờ đó, mà người ta biết đến chân dung của một người luật sư trẻ đáng kính trọng, Võ An Đôn.

Hãy hình dung vào 10 năm trước, nếu vụ án oan này xảy ra mà không có internet, có lẽ số phận gia đình của nạn nhân Ngô Thanh Kiều sẽ nguy nan biết mấy trước sự bao che, cấu kết lộ rõ ở vùng đất đó. Và luật sư Võ An Đôn chắc cũng sẽ bị xô vào một góc tối khác, nơi công lý chỉ còn một hình hài rách rưới và cam chịu.

Có thể anh Võ An Đôn cũng có một trái tim bình thường như mọi con người khác. Anh cũng biết sợ hãi và biết mình đang đối diện với điều gì. Khi bị cáo công an Lê Minh Phát nổi giận, đạp ghế và chửi bới trước toà khi nghe án tù 6 năm của mình cho tội giết người, nhiều người đã lo sợ. Và chắc anh Võ An Đôn cũng có một tíc tắc bất an nào đó. Ai cũng hiểu hành động của viên công an giới thiệu một bộ mặt khác của Phú Yên, nơi công an là trời, là núi cao, là cát cứ trong sự sợ hãi của dân chúng. Cú đạp của viên công an chỉ là sự bày tỏ rằng vì sao có một loại công lý nào đó có thể chạm được đến họ.

Vụ án kết thúc, nhưng đến năm 2015, cuộc trả thù đánh với vẫn dai dẳng, khi đoàn luật sư tỉnh Phú Yên loay hoay tìm cách rút thẻ hành nghề của luật sư Võ An Đôn. Thậm chí đòi thanh tra nơi làm việc của luật sư Đôn để “quét nhà ra rác”. Nhưng may sao, câu chuyện này với các mặt phải-trái của nó đã nhiều đến mức mọi người đứng về vị luật sư cô đơn ngay trên quê mẹ của mình. Bộ mặt quyền lực cát cứ và dẫm đạp lên cả đồng loại mình bị xé toạc ra, lộ ra giòi bọ nhun nhúc trong đó. Nhưng cũng từ đó, những người biết chuyện lại thêm sự lo ngại, rằng cuộc chiến đó chưa yên, quyền lực đó vẫn sẽ âm mưu phục kích công dân tử tế của mình một ngày nào đó để kiểm soát mọi thứ.

Tôi chưa một lần gặp mặt luật sư Đôn, chỉ thấy anh qua hình ảnh. Trong sự rắn rỏi và quyết liệt của anh, dường như tôi còn nhìn thấy sự liều chết của một kẻ đánh bom, muốn phá tan các bức tường che đậy tội ác, bứt đứt những bàn tay đang nắm chặt với nhau vượt qua các giá trị luân lý và nhân tính. Hôm nay, một phần bóng tối đó bị đẩy lùi không chỉ bằng sự cao quý trong trái tim luật sư Đôn, mà còn cả truyền thông nhà nước lẫn tự do cũng lên tiếng. Internet mang đi xa câu chuyện nhức nhối đó, các câu chuyện cafe chia sẻ mạnh mẽ hơn. Sài Gòn xa Phú Yên hàng trăm cây số, nhưng gần bởi cùng sự căm giận cho số phận con người.

Những buổi sáng trôi qua chầm chậm, giật mình lại thấy đã cuối năm. Những câu chuyện từ internet thì dồn dập đến mức khó mà nhớ hết được, nhất là khi mảnh đất Việt Nam này sáng nào mà không đọc thấy một chuyện đáng ngậm ngùi. Trong tập cuối bộ phim Rurouni Kenshin, thầy của tay lãng khách sát thủ đã nói rằng “sao nhìn con như đang mang giùm nỗi đau cho cả đất nước này vậy.” Nhìn mặt của nhiều người tiếp nhận tin tức buổi sáng cafe hôm qua và hôm nay, vẫn có thể thấy được những điều u uất đó lởn vởn chung quanh. Nhưng nếu không là vậy, hoá ra, chúng ta đã trở thành loài súc vật công cụ vô tri sao?

Tôi chép lại câu chuyện này như một thứ nhật ký, bằng một niềm hy vọng nhen nhúm. Những ghi chép này như một thứ nhật internet ghi lại sức mạnh của chính nó, ghi lại con người đã ra sao từ đó, và ghi lại một phần những câu chuyện không bao giờ được quên lãng trên đất nước này.

Đây là một lời cảm ơn thầm lặng của tôi đến luật sư Võ An Đôn và chia sẻ đến gia đình của nạn nhân Ngô Thanh Kiều. Và đây cũng là lời cảm ơn đến những ai đã từng chia sẻ câu chuyện này và biến nó thành một sức mạnh công lý của chúng ta.

—————-

 

Vụ luật sư Võ An Đôn bị đẩy quá xa

Thứ Năm 22-1-2015

Báo Người Lao Động

Giám đốc Sở Tư pháp Phú Yên thống nhất thay đổi kế hoạch thanh tra Văn phòng Luật sư Võ An Đôn vào thời điểm cuối năm 2015 hoặc có thể dừng kế hoạch thanh tra

Đoàn công tác của Liên đoàn Luật sư (LS) Việt Nam vừa có báo cáo chính thức kết quả làm việc với các cơ quan thẩm quyền của TP Tuy Hòatỉnh Phú Yên liên quan đến kiến nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với LS Võ An Đôn và kế hoạch thanh tra hoạt động Văn phòng LS Võ An Đôn.

Chỉ muốn LS Đôn chấn chỉnh thái độ

Theo báo cáo này, lần đầu tiên, 3 cơ quan tố tụng TP Tuy Hòa nêu rõ mục đích kiến nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với LS Đôn là để Đoàn LS tỉnh Phú Yên có cơ sở xem xét, đánh giá, chấn chỉnh thái độ và văn hóa ứng xử, giúp ông hoàn thiện. Ba cơ quan này không hề muốn LS Đôn mất việc vì ông còn trẻ, có thể tiến bộ.

Luật sư Võ An Đôn (bìa trái) và đoàn công tác của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong buổi làm việc tại tỉnh Phú Yên
Luật sư Võ An Đôn (bìa trái) và đoàn công tác của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong buổi làm việc tại tỉnh Phú Yên

Đoàn công tác của Liên đoàn LS Việt Nam cho hay giám đốc Công an tỉnh Phú Yên khẳng định ban giám đốc công an tỉnh không có bất cứ chỉ đạo nào với Công an TP Tuy Hòa tham gia ký vào bản kiến nghị vì đã là kiến nghị thì phải có căn cứ, không thể kiến nghị chung chung. Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên đã yêu cầu Công an TP Tuy Hòa báo cáo nhưng nội dung báo cáo chưa rõ về căn cứ và lý do ký công văn kiến nghị xử lý LS Đôn.

Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên nhận định chỉ cần có văn bản hoặc trao đổi trực tiếp với Ban Chủ nhiệm Đoàn LS tỉnh Phú Yên để đề nghị xem xét trên tinh thần xây dựng, đồng thời yêu cầu LS Đôn rút kinh nghiệm trong phát ngôn tại phiên tòa là đủ. Tuy nhiên, vấn đề đã bị đẩy đi quá xa, gây xôn xao dư luận. Về phần mình, đáng lẽ LS Đôn cũng phải nhận thấy việc làm, phát biểu của mình là thiếu cẩn trọng.

Ban Nội chính Tỉnh ủy Phú Yên khẳng định việc 3 cơ quan tiến hành tố tụng TP Tuy Hòa làm bản kiến nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề của LS Đôn là không có cơ sở, không phù hợp với quy định pháp luật.

Nên rút lại văn bản kiến nghị

Đoàn công tác của Liên đoàn LS Việt Nam nêu rõ chưa có căn cứ để cho rằng LS Võ An Đôn đã có hành vi, lời nói xúc phạm cá nhân cũng như cơ quan tiến hành tố tụng TP Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên. Về hình thức, thẩm quyền ban hành bản kiến nghị không phù hợp, mức độ bị coi là sai phạm của LS Đôn chưa đủ căn cứ để đưa vào trình tự xem xét thi hành kỷ luật thu hồi chứng chỉ hành nghề LS.

Đoàn công tác cho rằng việc liên ngành tố tụng TP Tuy Hòa quy kết LS Đôn “tạo điểm nóng không tốt trong dư luận, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của địa phương” là có phần vội vàng, nặng nề. Trong một chừng mực nhất định, với bản chất vụ án “dùng nhục hình”, thời điểm và nội dung liên ngành TP Tuy Hòa ban hành văn bản kiến nghị xử lý LS Đôn sau các phiên tòa đã “tạo điểm nóng” trong dư luận, chứ không phải hoàn toàn chỉ từ phát biểu của ông.

Theo đoàn công tác của Liên đoàn LS Việt Nam, văn bản kiến nghị không phù hợp về cách thức ban hành văn bản của liên ngành, gửi sai cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật. Vì vậy, cần xem xét thu hồi văn bản kiến nghị này.

Trước đó, Ban Nội chính Tỉnh ủy Phú Yên cũng đề nghị các cơ quan tố tụng TP Tuy Hòa rút lại văn bản kiến nghị nêu trên vì không phù hợp về thẩm quyền và căn cứ pháp lý. Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên cho biết sẽ yêu cầu Trưởng Công an TP Tuy Hòa rút lại nội dung tham gia công văn kiến nghị không phù hợp này.

Đối với LS Võ An Đôn, đoàn công tác của Liên đoàn LS Việt Nam đề nghị ông nghiêm túc, chân thành rút kinh nghiệm về phát ngôn và ứng xử văn hóa tại phiên tòa, cần thận trọng khi phát biểu…

Bài và ảnh: HỒNG ÁNH
Bình luận của bạn đọc:
Nguyễn Cao Sơn:  Quê quá nên chửa ngượng. Muốn triệt người ta thì nói thẳng đi, tư thù cá nhân nên chơi trò bẩn.

bác Giáo,

Nếu không có những luật sư lương thiện thì lấy ai bảo vệ những người bị ép cung, và oan sai tới cả chục năm mới lòi ra? Nếu có những kẻ bất tài, ngồi xổm trên pháp luật mà cứ tưởng luật sư, tòa án là người ‘ngáng chân’ mình, thì những kẻ đấy mới là thiếu ‘ văn hóa ứng xử’ và cần loại ra khỏi ngành.

Việt Hùng,

Phía cần chấn chỉnh thái độ chính là các cơ quan tố tụng Phú Yên chứ không phải LS Đôn. LS tiến bộ từ lâu rồi, chỉ e là CA, VKS, TA TP Tuy Hòa không tiến bộ thôi. Không hiểu sao những cơ quan này vi phạm pháp luật rành rành mà chính quyền không xử lý, để họ mặc sức hung hăng nhũng nhiễu.

Nguyễn Minh Luân, 3 ngày trước

Hehe, làm chính quyền của dân mà đi tư thù vặt, ai ra kiến nghị kiểm tra này nên cho kiểm điểm giải trình lý do, cách chức cho nhanh. Tư thù không xong hóa ra lại PR giúp luật sư Đôn. Thế này thì càng ngày càng nhiều người nhờ các luật sư có đạo đức bào chữa nhỉ. Bài học cho các ông làm đầy tớ dân mà đi thù vặt.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Thư gửi đại gia

Posted by hoangtran204 trên 26/01/2015

Trần Hữu Dũng

Thưa ông/bà (mà tôi chưa được hân hạnh gặp),

Tôi xin phép dùng chữ “đại gia” để gọi ông/bà trong thư này. Dù rằng danh hiệu này rất phổ thông ở Việt Nam (và có lẽ ông/bà cũng hãnh diện được gọi như thế) nhưng theo cảm nhận của nhiều người thì danh hiệu “đại gia” có ngầm ý châm biếm. Tôi chưa nghe ai dùng nó để gọi những người làm giàu nhờ phát minh, sáng tạo. “Đại gia” thường được dùng để gọi những người làm giàu do kinh doanh (kể cả bất động sản, chứng khoán, ngân hàng). Ai cũng nhìn nhận Warren Buffett là đại gia, nhưng ít ai gọi Bill Gates là đại gia (dù tài sản của hai người này xấp xỉ bằng nhau). Tuy nhiên, để xưng hô cho ngắn gọn, tôi xin gọi ông/bà là đại gia chỉ vì khối tài sản “khủng” của ông/bà, mà không hàm ý phân loại hay phê phán gì cả.

Thưa ông/bà,

Trước hết, tôi thành thực cám ơn ông/bà. Phải khách quan mà nhìn nhận rằng ông/bà đã đóng góp không ít vào sự phát triển của nước ta từ những ngày đầu Đổi Mới. Nhờ ông/bà mà hàng triệu người Việt Nam có công ăn việc làm. Những đóng góp ấy, dù ông/bà làm chỉ vì lợi ích của chính ông/bà, cần được xã hội công nhận.

Tôi cũng xin chúc mừng ông/bà đã tích tụ được khối lượng tài sản khổng lồ. Phải thú nhận rằng, như nhiều người khác, đôi khi tôi cũng thắc mắc về nguồn gốc tài sản ấy, nhất là khi nó được tạo dựng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, chỉ trong 10, 20 năm gần đây. Lắm tiếng thị phi cho rằng tài sản của ông/bà là do kinh doanh bất chính, thậm chí phi pháp, hoặc dựa vào thế lực (mờ ám?) của bạn bè, thân tộc. Nếu có là như thế thì, tôi nghĩ, cũng là tình trạng thường thấy ở các quốc gia mới phát triển hoặc vừa chuyển đổi (kể cả Nga, Trung Quốc). Ngay ở Mỹ, cho đến đầu thế kỷ 20 thì đâu phải tài sản của đại gia nào cũng do tích cốc dành dụm, kinh doanh hợp pháp?

Dù sự thật là thế nào thì cũng phải nhìn nhận rằng ông/bà có khả năng kinh doanh hơn người, phát hiện cơ hội làm ăn ít ai thấy, và có tài khai thác những cơ hội ấy, nhanh chóng nhân tài sản của ông/bà lên hàng trăm, hàng nghìn lần. Hiển nhiên, ông/bà có nhiều biệt tài mà bọn dân đen chúng tôi không có, hoặc/và được may mắn ở vào những vị trí thuận lợi hơn hẳn chúng tôi.

Một sự thực nữa: trừ các bậc chân tu, hầu hết mọi người trên thế gian đều mong ước có những khối lượng tài sản như của ông/bà. Tiếc thay, tuyệt đại đa số đều không thực hiện được ước mơ ấy vì thiếu khả năng kinh doanh, hoặc kém may mắn, hay vì chọn lựa một ngành nghề mà dù có cực kỳ xuất chúng cũng không thể làm giàu được. Như vậy, khách quan mà nói, đến chừng mực nhất định, về phương diện nào đó, ông/bà đáng được khâm phục. Tôi thực tình nghĩ như thế.

Song, thưa ông/bà, mục đích của thư này không phải để làm rõ con đường tích tụ tài sản của ông/bà (việc ấy sẽ có những người khác làm, nếu họ thấy cần) mà để xin phép ông/bà cho tôi bày tỏ vài điều mà tôi hằng “tâm tư” (một chữ khá “thời thượng” hiện nay!) về vai trò và trách nhiệm của ông/bà đối với đất nước chúng ta trong giai đoạn hiện tại.

Là đại gia, hẳn ông/bà là thành phần cốt cán của một (hay nhiều) nhóm lợi ích, và nhóm lợi ích của ông/bà hẳn vận dụng các thế lực kinh tài hoặc quan hệ cá nhân để nhà nước ra những luật lệ thuận lợi cho nhóm lợi ích của ông/bà. Quốc gia nào cũng có hiện tượng này. Đòi hỏi Việt Nam là biệt lệ là hoàn toàn không thực tế. Tuy nhiên, ở những nước có một nền dân chủ lâu đời thì có những thể chế để chặn bớt hiện tượng ấy (ví dụ, công khai hóa các hoạt động “lobby”), và cũng có nhiều nhóm lợi ích với sức mạnh tương đương nhưng đối nghịch nhau nên phần nào có thể trung hòa ảnh hưởng chính trị của nhau.

Như vậy, phải thực tế mà nhìn nhận rằng khám phá và khai thác những lỗ hổng của luật pháp để làm giàu là chuyện xảy ra ở mọi quốc gia, ở mọi thời kỳ. Tuy nhiên, dùng thế lực của mình để cố tình ngăn cản những chính sách hoàn thiện nền kinh tế, làm toạc thêm những lỗ hổng, bóp méo thêm các cơ chế vốn còn non trẻ, chưa kiện toàn, thì tôi nghĩ không một xã hội nào có thể chấp nhận.

Tôi không muốn đi sâu vào chi tiết lãnh vực nào là cần sự lưu ý của ông/bà (theo tôi, đó là sản xuất, xuất khẩu, những công nghiệp mới…) và lãnh vực nào là không (theo tôi, đó là bất động sản). Quý ông/bà mong muốn làm giàu và xã hội phải tôn trọng quyền tự do ấy (dù theo tôi, làm giàu cho bản thân mà có lợi cho xã hội thì đáng khuyến khích hơn là làm giàu trong những ngành không có lợi, thậm chí có hại, cho xã hội). Làm thế nào để hướng toàn bộ nguồn lực quốc gia, qua đòn bẩy của đầu tư, của sản xuất, công lẫn tư, vào những ngành có ích cho sự phát triển bền vững của quốc gia là trách nhiệm của nhà nước, tôi chỉ mong ông/bà không cản ngăn hoặc bẻ lạc hướng những chính sách ấy vì lợi ích riêng, thậm chí ngắn hạn, nhất thời.

Tôi cũng mong ông/bà hằng tâm nghĩ đến đời sống của những công nhân đang làm việc cho ông/bà. Từ lý thuyết (như nhà kinh tế Stiglitz đã chứng minh) đến thực hành (như kinh nghiệm các công ty Costco, Google ở Mỹ cho thấy), khi lao động được ưu đãi (trên mức tối thiểu của thị trường) thì năng suất của họ sẽ cao hơn, và họ sẽ “trung thành” hơn với chủ doanh nghiệp, tăng lợi nhuận của công ty lên một cách rõ rệt. Liên hệ, tôi cũng mong ông/bà đóng góp nâng cao kỹ năng lao động của nước ta, bắt đầu từ giáo dục cơ sở. Trước mắt, chất lượng lao động càng cao thì càng đóng góp nhiều hơn vào lợi nhuận kinh doanh của ông/bà; xa hơn, một nền giáo dục tốt sẽ tạo nên những công nhân tốt cho công ty của con cháu ông/bà. Đó cũng là một cách ông/bà để lại gia tài cho thế hệ kế nghiệp ông/bà.

Thưa ông/bà,

Tôi cũng hi vọng ông/bà sẽ có ý thức nhiều hơn về trách nhiệm xã hội của ông/bà. Theo phỏng đoán của tôi thì đa số ông/bà còn quá trẻ để cầm súng chiến đấu trước 1975 (thậm chí nhiều ông/bà lúc ấy chưa chào đời) song hầu hết ông/bà đều xuất thân từ gia đình đã đóng góp nhiều vào cuộc chiến tranh giành độc lập của tổ quốc, thậm chí nhiều ông/bà có cha mẹ là liệt sĩ. Đành rằng quá khứ cùng nhau nằm gai nếm mật ấy ngày càng lùi xa trong tâm tưởng nhưng tôi nghĩ ông/bà vẫn chưa quên. Nói thẳng ra, trách nhiệm xã hội của ông/bà chính là trách nhiệm đối với con cháu những người đã từng là đồng chí của cha mẹ của ông/bà, chung vai sát cánh với cha mẹ của ông/bà trong những giai đoạn khó khăn của đất nước

Tôi không cho rằng tôi đòi hỏi quá nhiều ở ông/bà khi ước mong rằng ông/bà ý thức những trọng trách của một doanh nhân Việt Nam, những trọng trách mà doanh nhân nước khác hoặc là không có đối với nước họ, hoặc là có, nhưng loại khác. Nói rõ hơn, doanh nhân Tây phương ít có tự hào dân tộc như doanh nhân Đông phương. Và chính trong giới doanh nhân Đông phương thì người Nhật, người Hàn, ngươi Hoa, người Ấn hẳn là khác với doanh nhân người Việt bởi vì, tôi nghĩ, đối với họ thì đó là lòng tự hào dân tộc, còn đối với chúng ta thì đó là một nghĩa vụ đối với đồng bào vì những lý do lịch sử mà tôi đã nói ở trên.

Đã có một tài sản khổng lồ (dù tôi biết đối vơi ông/bà, không bao nhiêu là đủ) ông/bà nên nghĩ nhiều hơn đến việc san sẻ với người khác, cho những thế hệ mai sau. Tôi nghĩ rằng ông/bà không khỏi đau đáu nhìn đồng bào mình còn quá nghèo. Tôi hi vọng ông/bà không chai đá đến nỗi khi thấy những người lam lũ ngoài đường thì ông/bà không chút gì thương cảm, hoặc tệ hơn nữa, cho rằng sở dĩ họ nghèo khổ như vậy hoàn toàn là lỗi của họ. Một số ông/bà đã xây những chùa chiền nguy nga, bố thí cho những người bạc phước. Chúng tôi rất cám ơn những nghĩa cử ấy, nhưng tôi tin là ông/bà có thể làm hơn thế nữa: lập bệnh viện, xây trường, tặng học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo… Nhũng hành động ấy, theo tôi, sẽ tạo thiện cảm từ đông đảo đồng bào của ông/bà, củng cố sự ổn định xã hội và, tôi dám nói, góp phần ủng hộ chế độ này (mà tôi nghĩ hầu hết ông/bà đều muốn duy trì nó).

Thưa ông/bà,

Tất nhiên là ông/bà có quyền hưởng thụ, song phong cách tiêu dùng và hưởng thụ của ông/bà có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, nhất là khi phong cách ấy được báo chí phóng đại, “lá cải hóa”, để “câu khách”.

Dù đúng hay sai, một bộ phận không nhỏ trong xã hội rất ganh tỵ với tài sản và lối sống phô trương của ông/bà và gia đình, nhất là khi nguồn gốc những tài sản của ông/bà có nhiều khoảng tối. Một sự thực khó chối cãi là, xuyên suốt lịch sử, không chóng thì chày, bất bình đẳng thu nhập phát sinh từ bất công xã hội, luôn luôn là ngòi nổ hăm dọa sự bền vững của chế độ. Bằng cách sống ít phô trương, kín đáo, ít ra ông/bà cũng đóng góp vào sự ổn định một chế độ mà nhờ đó ông/bà đã thành đạt như hôm nay.

Được giáo dục và sinh sống trong nền kinh tế thị trường, xem cá nhân là chủ thể tối hậu, tôi tin ở nguyên tắc căn bản là mỗi người có toàn quyền sử dụng tiền bạc của mình, theo sở thích của chính người ấy. Những tín đồ cực đoan của chủ nghĩa thị trường còn khẳng định rằng không ai được quyền phán đoán sở thích của người khác là thấp hoặc cao, xấu hay tốt. Nhưng, nhìn kỹ thì nguyên tắc căn bản này (sở thích của người tiêu dùng là “tối thượng”) có vài điểm cần xét lại. Một là khi ông/bà tiêu dùng với mục đích phô trương thì sự tiêu dùng ấy là một hành động mang tính xã hội (tác động đến những người mà ông/bà muốn phô trương), do đó xã hội có quyền phán đoán sự tiêu dùng ấy. Hai là, sở thích của ông/bà chẳng phải luôn luôn là tối hảo cho chính ông/bà. Nếu ông/bà dùng tiền ấy để thỏa mãn sự nghiện ngập có hại cho sức khỏe, chẳng hạn, thì thiết nghĩ xã hội có quyền phán đoán, thậm chí cản ngăn. Và ba là, ông/bà có chắc là sở thích của ông/bà có đủ rộng không? Có thể chăng có những thứ mà ông/bà không biết hoặc thiếu khả năng để thưởng thức (rồi cứ loanh quanh với dàn ôtô xịn, hàng hiệu, toa lết lát vàng (!))? Điểm này rõ ràng là tùy thuộc vào trình độ giáo dục và văn hoá. Nếu sở thích của ông/bà là hội họa, là văn chương, và ông/bà dùng tiền của mình để lập bảo tàng viện, gây quỹ cho các giải thưởng văn chương, nghệ thuật… thì chẳng những sự tiêu dùng ấy sẽ thỏa mãn sở thích của ông/bà mà còn có ích cho xã hội.

Tôi biết là mình khá hỗn hào khi đề nghị ông/bà mở rộng không gian thưởng ngoạn của ông/bà. Xin ông/bà tha thứ cho sự thiếu tế nhị này. Là đại gia, ông/bà hẳn có thể đi nghỉ dưỡng, du lịch bất cứ nơi nào trên thế giới (không kể những chuyến đi “làm ăn”), tôi mạo muội đề nghị với ông/bà rằng trong những chuyến đi ấy ông/bà nên nhín chút thời giờ để tiếp cận văn hóa địa phương: thăm viếng các bảo tàng viện, nghe những dàn nhạc đại hòa tấu, xem opera… và những dạng hình văn hóa cao cấp khác. Tôi tin rằng nếu có cơ hội tìm hiểu và chiêm ngưỡng các nền văn minh phong phú và đa dạng của nhân loại, ông/bà sẽ thấy sự nghèo nàn trong sinh hoạt văn hóa của Việt Nam và có những hổ trợ tích cực để chúng ta có một nền văn hóa tương xứng với chiều dài lịch sử và tinh thần sáng tạo của dân tộc.

Tất nhiên, doanh nhân không có trách nhiệm của nhà văn hóa (và, phải nhìn nhận, nhiều nhà văn hóa cũng chưa làm tròn nhiệm vụ của mình) song, với một “lối sống văn hóa”, tôi tin rằng ông/bà sẽ là tấm gương nhiều ảnh hưởng cho toàn xã hội, nhất là giới trẻ.

Sở hữu khối tài sản khổng lồ, ông/bà có đầy đủ phương tiện để thưởng thức những cái đẹp mà muốn tiếp cận cần phải có tiền (hiển nhiên, rất nhiều cái đẹp không cần tiền). Song, khả năng thưởng ngoạn văn hóa không phải bao giờ cũng là một năng khiếu bẩm sinh, nó thường đòi hỏi một trình độ văn hóa nhất định. Ai cũng có thể khen hoặc chê một bản nhạc thính phòng của Beethoven, một bức tranh của Dali hay một bức tượng của Giacometti.. Nhưng lời khen hoặc chê ấy có “chất lượng” hay không là tùy vào trình độ văn hoá của người thưởng ngoạn (và, tất nhiên, chúng ta cần đề phòng để tránh hợm hĩnh).

Thưa ông/bà,

Nói ngắn gọn, tôi không mong ước ở ông/bà điều gì hơn là trách nhiệm của một công dân Việt Nam, song trách nhiệm ấy của ông/bà là rất lớn hơn của bọn dân đen chúng tôi, bởi lẽ tôi nghĩ rằng tài sản “khủng” của ông/bà (mà tôi nhìn nhận cũng là nhờ tài kinh doanh của ông/bà) một phần nào đó (thậm chí không nhỏ) là do hoàn cảnh lịch sử của đất nước chúng ta, một đất nước mà bao nhiêu người (trong đó có thân nhân của chính ông/bà) đã hi sinh để được độc lập, thống nhất.

Nhân dịp đầu năm, tôi xin chúc ông/bà và quý quyến được nhiều may mắn trong năm mới, và mong ông/bà lượng thứ nếu vô tình mà tôi đã có những lời thất lễ trong thư này.

Kính thư,

Trần Hữu Dũng
Đã đăng trên Diễn Đàn, tháng 1, 2015

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Lập trường của đảng và chính phủ là: sợ mất lòng Trung Quốc – Lập trường của thanh niên ngày nay là: Giờ mà có một chính phủ thế này, chết mình cũng theo…!

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2015

Tướng Phùng Quang Thanh chỉ cất tiếng nói của Bộ Chính Trị đảng CSVN chứ ông ta không dám tuyên bố điều gì trái với đảng chỉ đạo. Đảng CSVN thì đã dâng nước VN cho Trung Quốc  trong Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990. Dẫu TQ chiếm thêm các tỉnh phía Bắc mà hứa để cho đảng CSVN tiếp tục nắm quyền cai trị thì đảng cũng hài lòng quá rồi.  Hội nghị Thành Đô 3-9-1990

Sự ngây thơ của tướng Phùng Quang Thanh

14-1-2015

FB Nguyễn Văn Đài

 

1507802_288020131405895_1357660815510661136_n

Thứ nhất, tướng Thanh phấn khởi khi được phía TQ tiếp đón “nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị.” Chuyện này thì rõ rồi, khi họ đang từng bước xây dựng các căn cứ quân sự trên các đảo đã chiếm được của VN, rồi lại tiếp đón đoàn của tướng Thanh như vậy là rất nhà nghề và thủ đoạn. Tương tự như người chủ đánh mấy con chó hư, rồi lại cho chúng ăn ngon, vuốt ve để chúng không cắn lại.

Thứ hai, tướng Thanh cho biết: “Chúng tôi thống nhất với nhau là tranh chấp thì phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình, còn quân đội thì phải kiểm soát được tình hình trên biển, hết sức tránh việc sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực và tránh không để xảy ra xung đột và va chạm vũ trang trên biển.”

Trong khi TQ đang hàng ngày, hàng giờ tiến hành xây dựng các căn cứ quân sự, tập trận trong khu vực chủ quyền của VN. VN muốn bảo vệ chủ quyền thì phải sử dụng quân đội để ngăn cản hành vi trái phép của TQ. Tướng Thanh thỏa thuận như vậy chẳng khác gì để mặc cho TQ tha hồ xây dựng, mà không bị ngăn cản. Đây là sự ngây thơ hay bán nước?

Thứ ba, tướng Thanh nói tiếp: “Chúng tôi có trao đổi là giờ phải giữ nguyên hiện trạng, trên Biển Đông phải thực hiện cho đầy đủ DOC. Tinh thần, quan điểm chung là không mở rộng khu vực tranh chấp. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam”.

Thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng như hiện nay là VN mất hết chủ quyền rồi, vì TQ đã hoàn thành việc xây dựng đường băng trên đảo Phú lâm của Hoàng Sa. Các căn cứ trên Trường Sa cũng sắp hoàn thành. Giữ nguyên hiện trạng là công nhận chủ quyền của TQ ở những đảo, những khu vực mà TQ đã cưỡng chiếm của VN. Trong giai đoạn này TQ chưa cần thiết phải mở rộng tranh chấp, họ chỉ cần hoàn thiện các điểm đã chiếm được và chờ đợi thời cơ. Lại là ngây thơ hay bán nước?

Thứ tư, tướng Thanh tiếp tục: “Hứa thì bạn không hứa nhưng nói chung hai bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Còn hiện nay trên biển, nói thật là các bên đều có hoạt động xây dựng. Đài Loan cũng xây dựng, Philippines cũng tiến hành xây dựng đường băng, Malaysia có xây dựng và Việt Nam cũng có hoạt động xây dựng. Đó đều là các hoạt động tôn tạo, nâng cấp, mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các lực lượng đóng quân trên đảo để đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão, đảm bảo điều kiện sinh hoạt trên đảo. Tuy nhiên nguồn lực của ta còn có hạn nên việc xây dựng quy mô chưa lớn như Trung Quốc”.

TQ không bao giờ đi hứa với 1 thằng khờ, thằng ngu. Nước nào cũng xây dựng, nhưng VN xây dựng trên vùng có chủ quyền của mình, còn TQ xây dựng bất hợp pháp trên khu vực có chủ quyền của VN. Lập luận của tướng Thanh giống như của 1 người chẳng hiểu biết gì, vừa ngốc vừa khờ.

Thứ năm, cuối cùng tướng Thanh nhấn mạnh: “Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực”.

TQ luôn muốn chiếm toàn bộ quần đảo Trường Sa của VN trong hòa bình, không cần dùng vũ lực. Sau khi họ hoàn thành các căn cứ quân sự ở Trường Sa, họ sẽ từng bước bao vây, cô lập, phong tỏa và cuối cùng sẽ chiếm trọn Trường Sa. VN không sử dụng vũ lực để bảo vệ chủ quyền tức là để cho TQ chiếm nốt quần đảo Trường Sa trong hòa bình?

Kết luận: Tôi không hiểu tại sao một người khờ khạo, ngốc nghếch như vậy lại có thể đứng đầu bộ Quốc phòng, đứng đầu lực lượng vũ trang được??? Lại còn đại diện cho 1 quốc gia đi đàm phán với TQ??? Đất nước tôi, dân tộc tôi thật là bất hạnh!

Theo Facebook Nguyễn Văn Đài

—–

 

Nhà nước có chức năng cơ bản quan trọng nhất là bảo vệ chủ quyền tổ quốc, nhà nước nào không lo bảo vệ tổ quốc mà chỉ lo mất lòng đế quốc thì đấy là bọn bù nhìn bán nước hại dân…!

Hoan hô chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã thay mặt nhân dân Việt Nam dõng dạc tuyên bố đanh thép về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải trước toàn thể nhân loại… Giờ có một chính phủ thế này, chết mình cũng theo…!  Nguyen Lan Thang

 

‪#‎ĐMCS‬

Nhà nước có chức năng cơ bản quan trọng nhất là bảo vệ chủ quyền tổ quốc, nhà nước nào không lo bảo vệ tổ quốc mà chỉ lo mất lòng đế quốc thì đấy là bọn bù nhìn bán nước hại dân...!

Hoan hô chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã thay mặt nhân dân Việt Nam dõng dạc tuyên bố đanh thép về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải trước toàn thể nhân loại... Giờ có một chính phủ thế này, chết mình cũng theo...!

#ĐMCS
Like · ·

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Giới trẻ nghĩ gì về phát biểu của lãnh đạo ĐCSVN? “ĐCSVN cần phải tự lực cánh sinh bằng cách sống bằng tiền đảng phí của những đảng viên” đóng góp nuôi đảng

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2015

Hóa ra, lâu nay, đảng và chính phủ không cho ra báo chí tư nhân, không cho tự do ngôn luận vì canh cánh bên lòng nổi lo sợ đa số dân chúng có ngày biết được điều này: Đảng CSVN chính là bọn ăn bám tiền thuế của người dân từ năm 1954- cho đến tận hôm nay, 2015! Oh la la! Để sống còn, đảng CSVN trọn đời ăn bám vào tiền thuế nhân dân. “ĐCSVN cần phải tự lực cánh sinh bằng cách sống bằng tiền đảng phí của những đảng viên” đóng góp nuôi đảng.  (nguồn RFA)

Giới trẻ nghĩ gì về phát biểu của lãnh đạo ĐCSVN?

Chân Như, phóng viên RFA
2015-01-21
.

Hội nghị TW lần thứ 10 khóa 11 của ĐCSVN vừa kết thúc hôm 12/1. Đây là Hội nghị quan trọng nhằm chuẩn bị cho Đại hội ĐCSVN các cấp vào giữa năm 2015. Tại hội nghị này, ĐCSVN đã đưa ra thảo luận nhiều vấn đề và sắp xếp nhân sự. Suy nghĩ của giới trẻ trong nước về sự kiện này ra sao? Đó là chủ đề cho Diễn Đàn Bạn Trẻ kỳ này cùng với 3 bạn khách mời Tiến Trung, Minh Hiển và Trường Sơn.

Chưa khi nào có ấn tượng?

Chân Như: Xin chào Tiến Trung, Minh Hiển và Trường Sơn, trước hết chúng ta sẽ bàn về lời phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong hội nghị lần thứ 10 kết thúc hôm 12/1 cho rằng “đổi mới chính trị không phải là thay đổi chế độ, mà là đổi mới cơ chế chính sách, chống tham nhũng, tăng cường quốc phòng an ninh”. Nhận định của bạn về lời phát biểu này?

Minh Hiển: Nói chung là chưa khi nào Hiển có ấn tượng đối với các bài phát biểu của ông Tổng bí thư Trọng. Cũng lời như thế chung chung giáo điều và nhiều khi mang tính chất bảo thủ. Nếu nhận xét thì Hiển nghĩ các nhận xét cũng vô thưởng vô phạt chứ không có gì đặc sắc cả.

Tiến Trung: Trung có ý kiến thế này – Thứ nhất, nếu cho ổng ở vị trí là đại biểu quốc hội thì cũng chỉ là một khu vực nhỏ bầu ông, chưa nói đến vấn đề bầu cử tự do. Thứ hai, ông là Tổng bí thư của một đảng thì đảng viên đảng này cũng không tới được 50% so với dân số Việt Nam cho nên tiếng nói của ông không hề đại diện cho ý muốn và nguyện vọng của người dân. Khi phát biểu như vậy, thực tế rằng Tổng bí thư cũng như ĐCSVN đã tự cho mình đứng trên luật pháp, và Trung nghĩ người dân mình đã quen với những chuyện như vậy rồi nhưng thật ra trong luật hoàn toàn không hề cho phép.

Trường Sơn: Như anh Trung và anh Hiển đã đồng tình, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trước đến giờ không hề có một ảnh hưởng nào lên trên nền chính trị của Việt Nam. Ông giống như một biểu tượng thôi. Về tuyên bố của ông, cái này na ná giống lý thuyết kinh tế của ĐCS áp đặt trên đất nước Việt Nam – đó là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ông nói muốn đổi mới thể chế chính trị mà đã gọi là đổi mới thì phải thay đổi thế nhưng ông lại xoáy thêm “không thay đổi chế độ”. Theo tôi nghĩ ông phải tuyên bố như vậy hoặc ĐCSVN cũng đã cảm nhận một cái gì đó rằng suy nghĩ của người dân Việt Nam cũng đang dần thay đổi buộc họ phải có những tuyên bố để làm thế nào đó bưng bít hoặc chống chế. Thế nhưng hành động chống chế của họ giống như vá một con đường. Họ không làm lại con đường càng vá càng thêm chằng chịt. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà ĐCSVN đang thực hiện ở Việt Nam đã khiến cho nền kinh tế tại Việt Nam trở nên lạc hậu, cồng kềnh và sắp sửa đi đến mức sụp đổ. Bây giờ đến lượt chính trị, họ nói rằng đổi mới chính trị thế nhưng lại không chịu thay đổi thể chế. Thế có nghĩa là bình mới rượu cũ chẳng có gì thay đổi ở đây. Và ông còn nói rằng “tăng cường chống tham nhũng cũng như an ninh quốc phòng”. Trong khi 99% người dân Việt Nam đều có suy nghĩ giống như tôi đó là “đã là quan chức thì tham nhũng” và ai đảm bảo rằng bản thân ông Tổng bí thư có tham nhũng hay không? Vậy nếu ông là người tham nhũng thì ông còn chống tham nhũng kiểu gì? Chuyện tăng cường an ninh quốc phòng đấy là nhiệm vụ của họ, ở đây họ nói như vậy nó chẳng có gì đặc sắc cả.

Chân Như: Trong đề án tinh giản biên chế, các bạn có thấy những biện pháp cụ thể nào không? Nếu là bạn, các bạn sẽ đưa ra biện pháp nào?

Tiến Trung: Thật ra chuyện nói là “tinh giản biên chế” những người lãnh đạo ĐCSVN đã nói cách đây từ 40 năm rồi, cho nên bây giờ họ có nói tiếp nữa thì không ai nghe. Trung muốn nhấn mạnh ở đây một điều là người dân không có nghĩa vụ phải đi nuôi ĐCS. ĐCSVN cần phải tự lực cánh sinh bằng cách sống bằng tiền đảng phí của những đảng viên; và các tổ chức mặt trận tổ quốc cũng vậy. Họ không thể nào lấy tiền từ ngân sách ra được. Dân chỉ có nghĩa vụ đóng thuế để nuôi chính phủ, và chính phủ đó phục vụ cho dân thôi. Khi Trung thấy bỏ hệ thống đảng và mặt trận tổ quốc ra khỏi ngân sách thì tự động những người trong chính phủ lương được tăng cao, hạn chế bớt tình trạng tham nhũng.

Trường Sơn: Bản thân em thấy những tuyên bố của ĐCS từ trước đến nay nó chỉ là lời nói suông và họ không hề thực hiện được gì hết. Và khi ông (Nguyễn Phú Trọng) tuyên bố “tinh giản biên chế” thì có nghĩa rằng bộ máy công quyền ở Việt Nam quá cồng kềnh rồi. Các công chức hoặc quan chức chính phủ hoặc những người nhận lương từ tiền thuế của nhân dân ở Việt Nam hiện giờ đang là con số khổng lồ.

Be-mac-5-622
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 10 – khóa XI hôm bế mạc ngày 12/1/2015.

Như tính toán cách đây một năm tôi có đọc được là cứ mỗi “16 hoặc 19 người dân Việt Nam lại phải trả tiền cho người đang ăn lương từ tiền thuế của người dân”. Tôi cho rằng trên thế giới không có nhiều quốc gia có bộ máy chính quyền cồng kềnh như thế. Tinh giản biên chế như thế nào trong khi tất cả hầu hết những người được vào làm việc trong cơ quan công quyền thì đều phải mua quan bán chức hoặc quan hệ. Ý kiến cá nhân của tôi nếu muốn tinh giản biên chế thì chúng ta nên học tập mô hình quản lý nhà nước ở nước ngoài. Và thứ nhất là tôi rất đồng tình với ý kiến của anh Trung đó là chúng ta phải tách rời chuyện đảng ra đảng chính phủ là chính phủ. Đảng không thể nào được sử dụng đến một cắc, một xu tiền thuế của nhân dân vì nhân dân ở đây không bầu lên đảng. Và xin lỗi tôi không thích ĐCSVN tôi không phải là đảng viên tại sao tôi lại phải đóng thuế để nuôi họ? Thứ hai, sau khi chúng ta học bộ máy quản lý nhà nước của nước ngoài chúng ta sẽ tinh giảm được rất nhiều mấy chục phần trăm công chức “sáng cắp ô đi chiều cắp ô về”. Những công chức đấy hoàn toàn không xứng đáng để ngồi đấy.

Minh Hiển: Ý của anh Trung và anh Sơn đã nói rồi Hiển chỉ nhấn mạnh thêm một điều rằng lâu nay chúng ta vẫn nói về các công bằng và minh bạch trong quản lý nhà nước. Hiển nghĩ rằng chừng nào chưa có đạt được những công bằng và minh bạch thì bộ máy nhà nước càng ngày càng xù to ra. Những tuyên bố về tinh giảm biên chế gì đấy tất cả chỉ là vỏ bọc bên ngoài; vẫn cứ tiêu tốn nguồn thuế của nhân dân. Trong khi ấy nhân dân lại hoàn toàn không có các công cụ để lên tiếng hay chất vấn về các vấn đề về quản lý nhân sự, đường lối điều hành đất nước. Thế nên, vấn đề này nó là hình thức bề ngoài và sẽ mãi không bao giờ giải quyết được nếu cứ theo kiểu độc đoán như bây giờ.

Nếu có tự do thì đâu có “quy hoạch và quản lý”

Chân Như: Về vấn đề quy hoạch, quản lý báo chí theo các bạn, những điều đó đảm bảo cho tự do báo chí ở Việt Nam không? Vì sao?

Tiến Trung: Trở lại vấn đề tự do báo chí: khi một người đến một quốc gia nào đó, muốn biết xem quốc gia đó có dân chủ hay không, người ta chỉ cần nhìn vào quốc gia đó có tờ báo tư nhân nào hay không. Rõ ràng Việt Nam không có tờ báo tư nhân nào cả trong khi hiến pháp quy định rất rõ ở điều 25 là công dân có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. Như vậy, những người lãnh đạo ĐCSVN đang vi phạm lại chính hiến pháp do họ viết ra. Tôi nhấn mạnh một điều là ngay từ thời thực dân Pháp là đã có báo chí tư nhân ở Việt Nam. Bây giờ chúng ta không có một tờ báo tư nhân thì rõ ràng là chế độ hiện tại tôi không cần biết chủ nghĩa gì có tốt đẹp hay không nhưng rõ ràng anh đang kìm kẹp người dân còn hơn cả thời thực dân nữa.

Minh Hiển: Mình rất đồng ý với ý kiến của anh Trung ở điểm là Viêt Nam bây giờ hiện tại không hề có một tờ báo tư nhân nào. Cái đấy là điều không thể chấp nhận được. Ngoài ra tất cả báo chí ở Việt Nam đều mang tính đảng tức là nó là công cụ tuyên truyền của ĐCS. Một điều nữa Hiển muốn nói them: có một điều nghịch lý đang xảy ra hiện nay tức là đảng luôn hô hào lấy tư tưởng Mác làm kim chỉ nam nhưng có một điều trong lý luận của Mác mà họ không hiểu hoặc là họ đang cố tình lờ đi đấy là Mác là người ủng hộ tự do báo chí và các lập luận về kiểm duyệt theo Mác đều là những biện pháp tồi. Mặc dù theo quan điểm của Mác thì tự do báo chí hơi mang tính chất như một nghi lễ tôn giáo. Trong khi đó ở Việt Nam mặc dù đảng luôn hô hào theo Mác, nhưng những gì quan trọng và cần thiết thì họ lại lờ đi. Sau đấy họ lại dùng chính báo chí để tuyên truyền, để hợp lý hoá hoặc để lấp đi những gì mà họ đã nói một đằng làm một nẻo. Như vậy gốc rễ của vấn đề không được giải quyết cho nên tất cả những biện pháp cũng như là quy hoạch hay quản lý vân vân… Những biện pháp đấy càng ngày càng tách rời báo chí ra khỏi tự do mà nó nên có mà thôi. Như thế, vấn đề chẳng bao giờ được giải quyết cả.

Trường Sơn: Theo tôi nghĩ bản thân từ “quy hoạch và quản lý báo chí” nó đã nói lên bản chất của vấn đề: chúng ta đang không có tự do báo chí; Đã gọi là tự do thì làm gì có chuyện “quy hoạch và quản lý”. Tôi có nhớ một quan chức nào đó của chính quyền Việt Nam nói rằng “tự do báo chí có nghĩa là tự sát.” Tôi cho rằng ông đã nói đúng sự thật. Nếu cho tự do báo chí không khác gì là ĐCS đã tự bắn vào đầu mình. Chúng ta phải nên nhớ một điều đó là trong tất cả đất nước độc tài không bao giờ có chuyện tự do ngôn luận hay tự do báo chí. Vậy chúng ta hãy cùng lật lại lịch sử: chính bản thân ĐCSVN là người đã sử dụng rất triệt để tinh thần tự do báo chí của người Pháp ngày xưa để chống lại người Pháp. Việc này bản thân HCM là người khai sáng ra cái ĐCSVN đã là người tận dụng tối đa việc báo chí thời Pháp này. Và bây giờ người CS hơn ai hết ở đất nước Việt Nam họ là người hiểu nhất sức mạnh của tự do báo chí. Vậy cho nên ở trong nước chuyện báo chí bị bóp nghẹt là chuyện hoàn toàn có thể hiểu được ở trong một xã hội độc tài. Thế nhưng như anh Trung đã nói trong hiến pháp Việt Nam quy định đó là “mọi công dân có quyền tự do báo chí tự do ngôn luận.” Hiến pháp này do chính người CS người ta viết ra và nó là cái biểu tượng nên một tờ giấy vô giá trị mà họ tự viết ra thì đây là chuyện hoàn toàn họ có thể làm được; Nó giống như tôi nói một lời nào đó xong tôi nuốt lời tôi phủi bay đi vậy. Trong khi ở Việt Nam không có một nền báo chí tư nhân thì sẽ không có ai đủ khả năng để nói rằng là các ông đang vi hiến cả. Nhìn lại đất nước mình bây giờ, tự do ngôn luận không có, báo chí bị bóp nghẹt thì chúng ta đã đủ thấy xã hội Việt Nam hiện nay nó như thế nào rồi.

Chân Như: Truyền thông đưa tin về vấn đề nhân sự của đảng, như bầu bổ sung nhiều vị trí, lấy phiếu tín nhiệm… nhưng lại không đưa ra thông tin chi tiết, các bạn cảm nhận thế nào về tính minh bạch, công khai trong hoạt động của ĐCSVN?

Tiến Trung: Vấn đề Việt Nam là vấn đề tư duy và cơ chế. Tư duy của những người lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay là tư duy độc tài, độc quyền; mà đã độc quyền thì không thể nào có cơ chế minh bạch được. Ngay cả những người đảng viên CS bình thường họ cũng không hề có quyền ứng cử bầu cử mà tất cả đều phải từ cấp trên tự đề ra trước hết và người ta cũng không hề biết được tại sao cấp trên chọn người này mà không chọn người kia. Tư duy độc quyền thì không thể có một cơ chế minh bạch được. Người dân sẽ phải ngóng vào những nguồn tin không chính thống trên mạng như trang blog “Chân Dung Quyền Lực”. Đó là điểm sai lầm của họ. Trong thời đại thông tin thì họ không thể nào bưng bít mãi được. Chính vì vậy họ cần thay đổi nếu không thay đổi, không cải tổ thì cuối cùng sẽ phải sụp đổ. Qua những việc như vậy, mong rằng những người lãnh đạo ĐCSVN sẽ phải tự giác để thay đổi nếu không hậu quả sẽ rất khó lường.

Minh Hiển: Mình cho rằng điều này xuất phát từ ngay cái nguyên tắc hoạt động của đảng, tức là cái nguyên tắc trong dân chủ tập trung, tức là các đảng viên ở cấp dưới chỉ có thể tuân phục hoàn toàn của các mệnh lệnh của cấp trên khi đã ban hành. Ngay trong nội bộ đảng đã không thể có được dân chủ rồi, thì đối với người dân chúng ta, việc đó hoàn toàn là xa vời. Cho đến hôm nay, chúng ta thấy ngay qua kết quả của việc bỏ phiếu mà chúng ta tiếp cận qua những kênh thông tin không chính thống trên website Chân Dung Quyền Lực. Thực tế này đã phản ánh quá đầy đủ cho câu hỏi về sự minh bạch công khai của đảng. Cho nên Hiển nghĩ là trước hết phải cho báo chí được tự do thì lúc đấy chúng ta dần dần có thể tiếp cận những công bằng và những minh bạch sau này.

Trường Sơn: Chuyện quản lý cán bộ hoặc chuẩn bị nhân sự cho các kỳ chuyển đổi quyền lực tiếp theo của ĐCSVN thì từ trước đến giờ họ vẫn luôn làm cho một mô típ đó là họ luôn họp kín với nhau và tự họ quyết định những vị trí quyền lực nhất cũng như quan trọng nhất đối với quốc gia. Như vậy, chúng ta đều hiểu tính minh bạch ở đây là gì rồi. Người dân Việt Nam từ trước đến giờ chỉ đến khi nào được thông báo trong kỳ tới này ai sẽ giữ chức này, ai sẽ giữ chức nọ, thì người dân lúc đấy mới biết. Đã từ lâu, người dân Việt Nam không hề có một ý niệm là chúng ta cần phải biết. Chúng ta cần phải biết và chúng ta được quyền phải biết người lèo lái quốc gia chúng ta tiếp theo là ai? Người dân Việt Nam chưa bao giờ tự hỏi mình câu đấy và chưa bao giờ đòi hỏi cho mình quyền đấy. Cái này không thể trách được người dân bởi vì khi người CSVN đã bưng bít thông tin quá xuất sắc. Chuyện họ tự quyết định mọi chuyện an nguy cũng như là hệ trọng từ nhỏ đến to trong đất nước này thì ĐCSVN họ luôn đảm bảo cho họ một cái ghế vững chắc nhất trong cán cân quyền lực, nên chuyện họ họp kín là họ nhằm đảm bảo rằng không có một hạt giống nào ngoài hạt giống đỏ ở đây hết. Họ muốn môi trường chính trị Việt Nam phải thuộc về họ 100%.

Người CS rất thích chơi chữ như khi người ta nói là “tự do trong khuôn khổ”, “dân chủ có định hướng” và bây giờ họ nói rằng “dân chủ trong đảng hay minh bạch” gì đó. Như ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong kỳ vừa rồi ông ta nói “kết quả bỏ phiếu tín nhiệm đối với các vị trí lãnh đạo trong đảng là thông tin tuyệt mật, ảnh hưởng đến an ninh chính trị của cả nước.” Ông ta tuyên bố thẳng thừng như vậy. Theo tôi nghĩ, ĐCSVN lúc này đang có một vấn đề gì đó mà họ phải giấu kỹ cho bằng được. Và trang Chân Dung Quyền Lực giống như một người thọc gậy bánh xe. Tôi nghĩ rằng các quan chức Việt Nam rất đau đầu và thù ghét trang này.

Chân Như: Các bạn có thể đưa ra dự đoán gì cho đại hội ĐCSVN sắp tới?

Minh Hiển: Theo Hiển, với các lượng thông tin nhỏ giọt theo kiểu như hiện nay và đảng vẫn còn đang tìm cách bưng bít được tí nào hay tí đấy thì mọi dự đoán rất là khó và ít có cơ sở. Nhưng Hiển hy vọng rằng sau những vụ đấu đá quyền lực mặc dù là bề nổi, những tài sản nghìn tỷ đã bắt đầu được lộ ra thì hy vọng người dân thông qua đấy nhận thức rõ được bản chất thật sự của đảng này và từ đó bắt đầu cảnh tỉnh hoặc đòi hỏi những sự công khai minh bạch hoá, chứ còn dự đoán những kết quả sắp tới thì rất là khó.

Trường Sơn: Theo em nghĩ tất cả các chế độ CS đều là những chế độ rất khó đoán. Họ có thể ngay lập tức thay đổi hoặc rằng cho người dân rất nhiều hy vọng để rồi ngựa quen đường cũ. Đặc biệt là cái nhìn chính trị Việt Nam rất là khó đoán từ trước đến nay bởi vì luôn có sự thay đổi vào phút thứ 90 hoặc phút bù giờ. Vì vậy, bản thân em nghĩ không ai đủ can đảm để đưa ra được dự đoán cho tình hình chính trị Việt Nam trong đại hội sắp tới này. Và em cũng không đủ tự tin để đưa ra một cái dự đoán nào cả. Chính trị Việt Nam là vậy, rất khó đoán.

Tiến Trung: Ý kiến của Trung như thế này. Vấn đề của Việt Nam là tư duy độc quyền và cơ chế là tước quyền làm chủ của người dân. Cơ chế đó gọi là cơ chế đảng chủ thì với tư duy với cơ chế như vậy chúng ta dự đoán không có ý nghĩa gì cả. Bất kỳ ai lên nắm chức tổng bí thư hay chủ tịch nước hay thủ tướng hay chủ tịch quốc hội thì cũng vẫn sẽ là như vậy thôi nếu cơ chế vẫn còn như vậy. Đã bao nhiêu năm rồi vẫn lập đi lập lại những lời sáo rỗng. Vấn đề đây là vấn đề tư duy và cơ chế phải thay đổi. Thế nên, khi chúng ta thấy tư duy độc tài và cơ chế đảng chủ như vậy thì những người dân Việt Nam chúng ta cùng phải cùng nhau lên tiếng. Như thế mới có sức mạnh để tạo sự thay đổi, chứ còn dự đoán Trung nghĩ nó chỉ cho vui thôi chứ không ý nghĩa gì. Người dân Việt Nam phải tự tin vào chính mình và lên tiếng để thay đổi thôi.

Chân Như: Xin cám ơn ba bạn Tiến Trung, Minh Hiển và Trường Sơn đã dành cho chương trình phần chia sẻ hôm nay, cầu chúc luôn bình an.

———-

 

Posted in Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Một người Đức nhớ về Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2015

 

Uwe Siemon-Netto | Trà Mi lược dịch

Tôi tin rằng tất cả chúng ta có nhiệm vụ phải làm chứng nhân cho lịch sử… Vì lợi ích của những thế hệ đi sau, chúng ta phải giữ cho ký ức của sự thật lịch sử sống mãi.

Tôi hãnh diện đã được yêu cầu nói chuyện với các bạn hôm nay, gần nửa thế kỷ sau lần đầu tiên tôi đến Việt Nam như một phóng viên chiến trường Tây Đức. Lúc đó các lực lượng chiến đấu Mỹ đầu tiên chưa đổ bộ vào Đà Nẵng. Đó cũng là lúc tôi bắt đầu biết yêu nồng nàn con người và đất nước của các bạn, những người đã nể trọng và gọi dân tộc chúng tôi là “Đức”, cũng có nghĩa là đạo đức.

Một ngày nọ, một chú nhỏ trong đám trẻ bán báo không nhà sống trên đường Tự Do ở Sài Gòn, đến gần tôi và nói:

“Ông là Đức, tôi tên là Đức, vì vậy cả hai chúng ta là Đức, và tôi có một đề nghị với ông. Nếu ông cho phép bạn bè của tôi và tôi ngủ trong xe của ông, chúng tôi sẽ canh giữ và lau chùi nó sạch sẽ cho ông.”

Tôi đã thuê bán thường xuyên một chiếc Citroen 15 mã lực, [còn gọi là] một chiếc trắc xông [traction]. Đây là một chiếc xe rất lớn và rất tốn xăng của Pháp chế tạo vào năm tôi ra đời. Ổ khóa cửa của nó đã mất. Vì vậy, có ai đó coi chừng giùm cũng là điều tốt. Đôi khi có bảy hay tám đứa trẻ ngủ trong chiếc xe này, giữ gìn nó thật sạch từ bên trong đến bên ngoài.

Givral trên đường Tự Do ở Saigon (Circa 1960). Nguồn TIME Magazine

Tôi luôn luôn đậu trên đường Tự Do đối diện với Continental Palace, bên cạnh quán Café Givral, nếu bạn còn nhớ. Nó, chiếc xe, không chỉ là phương tiện đi lại của tôi; quan trọng hơn, nó đã trở thành một phương tiện hữu nghị giữa Đức, các nhà báo, và một đám trẻ tuyệt vời, do Đức dẫn đầu, đi bán dạo các tờ báo như Nhật báo Sài Gòn, Saigon Post và nhiều tờ báo khác.

Tình bạn này kéo dài cho đến khi chiếc traction của tôi trở thành một nạn nhân trong cuộc tấn công Tết năm Mậu Thân 1968 và những đứa trẻ bụi đời đã biến mất khỏi đường Tự Do một thời gian.

Tôi tự hỏi chuyện gì đã xảy ra cho Đức kể từ ngày đó. Có thể anh ấy hiện đang sống tại Hoa Kỳ, có lẽ anh ấy đang ngồi ngay trong phòng này. Sẽ thật là kỳ diệu nếu tôi được nói chuyện và cười với anh ta một lần nữa; anh ấy đã là một đứa trẻ tuyệt vời.

Không phải là tôi đã ở Sài Gòn nhiều; tôi thường tháp tùng các đoàn quân của các bạn ra mặt trận. Và ở đó tôi quan sát thấy các bác sĩ QLVNCH và nhân viên y tế đã dũng cảm cố gắng cứu sống nhiều thương binh. Có lẽ một số bạn ở đây và tôi đã gặp nhau – gần Quảng Trị, Huế, Pleiku hay Pleime, Nha Trang, hay ở đồng bằng sông Cửu Long, hoặc tại các trại tù binh trên đảo Phú Quốc.

Lúc ấy là vào đầu năm 1965.

Cuối năm đó tôi bị chấn cột sống khi đi theo một chiếc trực thăng tải thương của Mỹ và chúng tôi bị bắn rơi ở phía tây An Khê, và vì vậy các bác sĩ người Mỹ đã chăm sóc cho tôi. Nhưng dẹp qua cái quốc tịch của bác sĩ và nhân viên quân y: Trong năm năm tôi ở Việt Nam, tôi rất trân trọng sự hy sinh, lòng dũng cảm và tính chuyên nghiệp của tất cả các bạn, những người Mỹ, người Việt Nam, người Đại Hàn và người Úc.

Vì vậy, các bạn và tôi có thể đã gặp nhau. Thật khó mà không thấy khi tôi đến thăm đơn vị của các bạn, ở trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, tôi là phóng viên Tây Đức duy nhất tại Nam Việt Nam, và huy hiệu của tôi xác định tôi là một người Đức.

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi thậm chí đã trở thành đồng đội của các bạn vì tôi đã bắt một cán binh Việt Cộng.

Đây là một sự kiện khá thú vị. Và đây là những gì đã xảy ra.

Vào tháng Hai năm 1965 tôi đi theo một toán A-Team của Lực lượng Đặc biệt Mỹ và tham gia vào cuộc tập nhảy dù phía tây của Mỹ Tho. Tôi rơi xuống đất. Tôi cuộn dù và nhận thấy đất lún dưới chân tôi. Tôi lùi lại. Mặt đất lại trồi lên lại. Tôi nhảy, với cả hai chân, mạnh xuống chỗ đó. Mặt đất lõm xuống. Tôi nghe thấy có tiếng rên. Một lần nữa tôi lùi lại, dỡ bỏ lớp cỏ và thấy chiếc nón cối ngụy trang của một cán binh VC và nòng khẩu súng trường loại cũ M-1 của hắn.

Trước hết tôi lấy khẩu súng, rồi nâng anh VC ra khỏi hố. Hắn là một anh chàng nhỏ bé gầy guộc trong bộ bà ba đen, và anh ta đang run rẩy. Tôi nói với hắn: “Hãy can đảm, đồng chí, với anh thì cuộc chiến đã chấm dứt.” [“Courage, camarade, pour toi la guerre est fini.”] Tôi không biết anh ta có nói tiếng Pháp hay không, nhưng chắc chắn hắn hiểu những gì tôi nói: “Hãy can đảm, anh bạn, với bạn chiến tranh đã chấm dứt.” Bấy giờ hắn mới mỉm cười.

Tôi giao anh VC và khẩu súng trường lại cho toán lính Mỹ nhưng vẫn giữ cái nón cối của hắn làm chiến tích. Suốt 46 năm sau đó nó nằm trong thư viện của tôi đến khi vợ chồng bạn tôi anh Dr. Lý Văn Quý và chị Châu đến nhà tôi ở Pháp hồi cuối tháng Mười. Tôi đã tặng cái nón cối VC lại cho họ như một món quà lưu niệm. Không phải vì tôi đã thực hiện một hành động anh hùng vĩ đại.

Tuy nhiên, tôi đã vui vẻ để giúp bạn. Vì vậy, đây – cái nón cối. Đây là chiến tích của tôi. Bây giờ nó là của hai bạn. Nó sẽ vào bảo tàng chiến tranh của bạn ở đây, tại Little Saigon.

Ba người bạn trước tòa soạn Viet Báo ở California (Từ phải): Uwe Siemon-Netto và vợ chồng Dr. Lý Văn Quý. Nguồn: vietbao.com / Tháng 4, 2013

Đó là một sự kiện lành mà tôi nâng niu làm kỷ niệm. Một vài tuần sau đó, tôi có một kinh nghiệm đau buồn ở phía tây thành phố Nha Trang. Nhưng nó có nghĩa để tôi hiểu được nhiệm vụ của mình. Vì nó đã cho tôi thấy bộ mặt thật của chiến tranh Việt Nam. Lý do tại sao bây giờ tôi nói đến sự kiện này vì nó cho thấy nguyên cớ tại sao rất nhiều người Mỹ chưa bao giờ hiểu rõ về cuộc xung đột ở Việt Nam.

Tổng thống Richard M. Nixon sau đó đã trích dẫn bài báo của tôi về vụ này trong cuốn sách của ông, The Real War. Vì vậy, xin thứ lỗi cho sự phù phiếm của tôi nếu tôi trích dẫn một Tổng thống Hoa Kỳ đã trích dẫn tôi: Nixon đã viết,

“… nhà báo Đức Uwe Siemon-Netto đã vẽ nên một minh họa sinh động về cách các toán du kích cộng sản sử dụng khủng bố để đạt mục đích của họ. Siemon-Netto, người đi cùng một tiểu đoàn của Việt Nam đến một ngôi làng lớn mà Việt Cộng đã đột kích năm 1965, đưa tin: ‘lủng lẳng trên cây và trên nhiều cột trong sân làng là ông xã trưởng, vợ ông, và mười hai người con của họ, những cậu con trai, kể cả một em bé …”

Bọn Việt Cộng đã ra lệnh cho tất cả mọi người trong làng phải chứng kiến cảnh gia đình này bị tra tấn trước, và sau đó bị treo cổ.

“Họ bắt đầu bằng em bé và sau đó từ từ tra tấn đến các em lớn hơn, rồi tới người vợ, và cuối cùng đến ông xã trưởng. … Họ ta tay rất lạnh lùng, giống như một hành động trong chiến tranh, như bắn súng phòng không …”

Việt bị thương nhận được viện trợ như chúng nằm trên các đường phố sau khi một quả bom phát nổ bên ngoài Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, Việt Nam, ngày 30 tháng 3, 1965. Khói tăng từ đống đổ nát trong nền. Ít nhất hai người Mỹ và một số Việt thiệt mạng trong vụ đánh bom. Ảnh AP Photo / Horst Faas

Tất cả trích dẫn phía trên là trích đoạn của Nixon từ một câu chuyện của tôi. Nixon giải thích rằng đây là cách người Cộng sản giành được trái tim và khối óc của người dân nông thôn. Họ đã không giành được con tim và tâm trí [người dân] bằng tình thương nhưng bằng những hình thức đe dọa và tàn nhẫn nhất. Dân làng nói với tôi rằng cán bộ Việt Cộng đã vào làng nhiều lần trước và cảnh cáo ông xã trưởng rằng nếu không ngừng hợp tác với chính phủ Việt Nam [Cộng hòa] thì ông sẽ nhận lãnh những hậu quả nghiêm trọng.

Nhưng ông vẫn trung thành, do đó, vào giữa đêm họ quay lại và đánh thức tất cả mọi người trong làng để chứng kiến vụ thảm sát, đồng thời một cán bộ tuyên truyền đã nói với mọi người: “Đây là những gì sẽ xảy ra với quý vị nếu không theo chúng tôi; nhớ đó!”

Tôi xấu hổ nhìn nhận rằng tôi không còn nhớ tên của ngôi làng đó. Nhưng điều đó không thực sự quan trọng vì những việc này hồi đó đã xẩy ra trên khắp miền Nam Việt Nam mỗi đêm.

Tuy nhiên, công chúng Mỹ phần lớn không biết đến những sự kiện này vì giới truyền thông của họ đã không nói cho họ biết. Trong những cuộc họp báo hàng ngày ở Sài Gòn – cuộc họp khét tiếng lúc 5 giờ – chỉ thuần là những phiên họp để đưa số thống kê. Người tóm tắt thông tin thường xuyên báo cho phóng viên con số lớn các “sự kiện” xảy ra trong 24 giờ trước đó.

Bản tường trình nghe như một bản báo cáo bán hàng: “Quân Đoàn I, 184 lần chạm địch; Quân đoàn II, 360 lần; Quân đoàn III, 225; Quân Đoàn IV, 480.” Tất cả chỉ có thế. Không có thêm chi tiết nào khác. Vì gần như không thể có được do số lượng quá nhiều của những cuộc đụng độ trong vòng 24 giờ.

Ký giả chúng tôi đã không thể nghiên cứu những sự kiện này trừ khi chúng tôi có mặt ở đó như trường hợp của tôi khi đi cùng với một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 22 quân lực VNCH. Tuy nhiên, những gì tôi thấy gần Nha Trang đã thực sự vô cùng quan trọng vì nó tiêu biểu cho bản chất của giai đoạn đặc biệt này của cuộc chiến Việt Nam.

Hành vi khủng bố để đe dọa dân chúng là đặc trưng của giai đoạn thứ hai trong chiến lược chiến tranh du kích của Tướng Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng quốc phòng của Bắc Việt Nam.

Tôi thật sự nghi ngờ rằng nhiều người Mỹ có thể quay lưng lại với cuộc chiến tranh Việt Nam, nếu giới truyền thông của họ liên tục miêu tả những hành động vô nhân đạo đã xảy ra ở khắp mọi nơi ở miền Nam Việt Nam. Họ đã không làm, một phần vì các nhà báo không có phương tiện để làm như vậy, một phần cũng vì nhiều phóng viên và biên tập viên của họ đã có chương trình khác. Tôi nói “nhiều” chứ không phải “tất cả”.

Ba năm sau, Tết Mậu Thân ở Huế, tôi đang đứng cùng đồng nghiệp Peter Braestrup của Washington Post ở vành của một ngôi mộ tập thể và đã vô tình nghe Peter hỏi một người quay phim cho một đài truyền hình Mỹ: “Tại sao bạn không quay cảnh này?” Người quay phim trả lời: “Chúng tôi không đến đây để tuyên truyền chống Cộng.” Điều này cho thấy một tư duy đáng xấu hổ của nhiều đồng nghiệp của tôi; tôi tin cách suy nghĩ đó là yếu tố quan trọng đã tạo thành ước vọng chấm dứt chiến tranh với bất cứ giá nào [của công chúng Mỹ].

Tướng Giáp biết điều này sẽ xảy ra. Ông biết rằng các cử tri Mỹ sẽ mệt mỏi với cuộc chiến này. Vì ông biết rất rõ những điểm yếu của một xã hội tự do, đặc biệt là khả năng chú ý ngắn của nó. Sáu mươi năm trước, ông đã viết: “Kẻ thù” – thực tế là tất cả các nền dân chủ phương Tây – “không có vũ khí tâm lý và chính trị để chống lại một cuộc chiến kéo lâu dài.”

Ông tiên đoán sự mệt mỏi chiến tranh, phong trào hòa bình, khuynh hướng đạo đức giả của ý thức hệ đã bỏ qua bản chất ghê tởm của một phong trào cách mạng độc tài; sự thiên vị để nhấn mạnh đến những thiếu sót của phe mình; xã hội dân chủ đang hy sinh lớp thanh niên, tuổi trẻ của họ cho “đồng minh” bị cáo buộc là tham nhũng; và cuối cùng mong muốn “tìm một lối thoát danh dự,” và “hòa bình trong danh dự,” rồi đi đến một thỏa hiệp công bằng.

Điểm rất đáng chú ý về vai trò của giới truyền thông tại Việt Nam là có một số phóng viên người Mỹ, những người sau này trở thành những nhân vật phản chiến hăng hái, đã biết rất rõ về sự nguy hiểm này. Ngày 13 Tháng Giêng 1965, Một columnist cũng là sử gia Mỹ nổi tiếng Stanley Karnow trích dẫn tuyên bố của tướng Giáp về sự bất lực của các quốc gia tự do để chống lại cuộc chiến tranh kéo dài và cảnh cáo người đọc về những hậu quả của nhược điểm này trong cấu tạo của bất kỳ hệ thống dân chủ nào.

Và chẳng bao lâu sau, Karnow đứng đầu giới cầm bút kích động cho cái gọi là “hòa bình trong danh dự,” và biết quá rõ rằng một cuộc hòa giải thật sự là danh dự thực sự không thể có được.

Hôm nay chúng ta nghe tiếng vọng của việc này về vấn đề ở Afghanistan. Một lần nữa chúng ta lại nghe những lời kêu gọi cho một cuộc thương thuyết hòa giải. Chúng ta nghe đến những cuộc đàm phán bí mật giữa Mỹ và Taliban. Không ai nghĩ đến việc phong trào độc tài toàn trị này có thể nhượng bộ những gì khi thương thuyết.

Thỏa hiệp loại đó có thể có những điểm: Thay vì bị cấm không được học đọc và viết, phụ nữ sẽ được phép học nửa bảng chữ cái? Trong năm năm đầu sau khi Taliban tiếp quản chỉ có một nửa số phụ nữ bị cáo buộc là ngoại tình sẽ bị ném đá đến chết thôi giống như chế độ đã sử dụng trước khi Taliban bị mất quyền lực? Và phụ nữ sẽ chỉ bị quất một nửa số roi nếu mặc áo trùm mà để hở mắt cá chân?

Một chục năm trước đây, một nhóm nữ quyền hàng đầu của Mỹ, Tổ chức Phụ nữ Quốc gia, công bố những vi phạm nhân quyền khủng khiếp của Taliban đối với phụ nữ trên trang web của họ. Hôm nay không cần mất thời giờ suy nghĩ, có khả năng rất cao là những vi phạm này sẽ được lặp lại một khi NATO rút lực lượng [ra khỏi Afghanistan] vì những lạm dụng đó là một phần trong ý thức hệ Hồi giáo cực đoan cũng như những trại cải tạo lao động [tù khổ sai] trong ý thức hệ cộng sản. Những ai trong các bạn ở đây đã có kinh nghiệm với trại tù Việt Cộng hẳn biết những gì tôi đang nói.

Tôi tin rằng tất cả chúng ta có nhiệm vụ phải làm chứng nhân cho lịch sử – các bạn, các cựu chiến binh của cuộc chiến này, và chúng tôi, những ký giả đã đưa tin về nó. Vì lợi ích của những thế hệ đi sau, chúng ta phải giữ cho ký ức của sự thật lịch sử sống mãi. Chúng ta phải tiếp tục nhắc nhở giới truyền thông ở nước sở tại của chúng ta về vai trò then chốt của họ trong việc bảo vệ tự do. Chúng ta phải cảnh báo những người đi sau chúng ta về những hậu quả khủng khiếp của một nền báo chí xấu, hàn lâm đạo đức giả và một khối cử tri chán nản không kiên quyết. Các bạn đang ở vị trí tốt nhất để làm điều này. Các bạn đã thấy và đã phải gánh chịu rất nhiều.

Hãy cho tôi nói thêm một điều: Tôi là một Kitô hữu, và một người viết sử nghiệp dư. Là một Kitô hữu tôi biết ai là Chủ tể sau cùng của lịch sử. Và là một người viết sử nghiệp dư tôi biết rằng lịch sử luôn luôn mở cửa cho tương lai. Gộp hai yếu tố này lại với nhau cho chúng ta niềm hy vọng – hy vọng cho Việt Nam, hy vọng cho Afghanistan, hy vọng cho nhân loại. Chúng ta không phải là những chủ nhân của tương lai. Nhưng chúng ta có tiếng gọi của lương tâm để giúp làm cho tương lai được tốt đẹp hơn.

Do đó, chúng ta đã không nhìn thấy những điều ác một cách vô ích, và chúng ta cũng đã không đau khổ vô cớ. Tất cả đều có lý do của chúng, và lý do đó là để chúng ta có thể nói lại với thế hệ tương lai những gì thực sự đã xảy ra, bất kể nhiều điều dối trá vẫn đang được nói đi nói lại về Việt Nam.

Những người sống sót sau cuộc thảm sát ở Đồng Xoài. Ảnh của Horts Faas, 1971

Trên đây là bài phát biểu của tác giả tại Hội nghị Quốc tế của Cựu chiến binh Quân y Việt Nam Cộng Hòa tại thành phố Westminster, Cal., ngày 15 tháng 4 năm 2012. Uwe Siemon-Netto, cựu biên tập viên tôn giáo vụ của United Press International, là một nhà báo quốc tế trong 55 năm hoạt động ở Bắc Mỹ, Việt Nam, Trung Đông và châu Âu cho các tạp chí của Đức. Tiến sĩ [Thần học] Siemon-Netto hiện quản trị League of Faithful Masks và Trung tâm Thần học Lutheran & Public Life do ông sáng lập tại Capistrano Beach, Calif.

© 2015 DCVOnline


Nguồn: A German Remembers Vietnam By Uwe Siemon-Netto , Tuesday, April 17, 2012.

dcvonline.net/2015/01/06/mot-nguoi-duc-nho-ve-viet-nam/

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Cách hành xử của chính quyền là: Đùn đầy trách nhiệm hệ trọng của quốc gia về phía dân –

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2015

Nhưng có rất nhiều thứ, họ (các đảng viên cộng sản cao cấp) luôn luôn canh cánh giữ và không chia cho nhân dân đó là: đảng nắm độc quyền đất đai, độc quyền kinh doanh vàng, đô la, độc quyền khai thác dầu khí, và buôn bán xăng dầu, nắm độc quyền xuất nhập khẩu, bắt nông dân, ngư dân bán sản phẩm theo giá của đảng và nhà nước qui định để mua, và sau đó các công ty xuất khẩu nhà nước toàn quyền bán theo giá họ muốn. Chính quyền (thông qua các tay chân) nắm giữ tất cả các ngân hàng cổ phần, và độc quyền nắm giữ tất cả đất đai của cả nước. Thế mới có chuyện thủ tường Nguyễn Tấn Dũng (2006-2016) đã cho một công ty Trung Quốc Evergreen thuê hơn 80% của 398.000 hecta đất đai trong 18 tỉnh để trồng rừng. Giá thuê 1 mẫu đất rất rẻ, 180.000 đồng VN/ 1 mẫu/ 1 năm.  Nếu có bạn nào không tin, xin mời đọc link cuối bài.

20-40 tỷ USD bốc hơi mỗi năm vì đút lót, hối lộ (20-1-2015)

Đùn đầy về phía dân

Nguyễn Văn Tuấn

Tôi quan sát từ xa thì thấy có một xu hướng rất thú vị về quan điểm và hành xử của chính quyền: đó là họ đùn đẩy trách nhiệm hệ trọng quốc gia về phía người dân. Chẳng biết quan sát này có đúng với thực tế không, nhưng đọc tin báo chí thì có vẻ như thế.

Chẳng hạn như ở dưới quê tôi, làm đường lộ trong các thôn làng, chính quyền ra khẩu hiệu “Nhà nước và dân cùng làm”. Trong thực tế, khẩu hiệu đó có nghĩa là dân chi tiền để làm đường, còn cán bộ thì … quản lí. Nhưng vấn đề là Nhà nước nhận tài trợ từ các cơ quan quốc tế (như ADB, WB) để làm đường và xây dựng cơ sở vật chất, vậy thì câu hỏi đặt ra là tiền vay hay tài trợ đó đi đâu, và tại sao người dân phải gánh thêm một gánh nặng? Nên nhớ rằng người dân đã đóng thuế, và tiền thuế đáng lí ra phải dành cho phát triển cơ sở vật chất, kể cả cầu đường.

Một chuyện khác liên quan đến ngư dân, Nhà nước cũng đùn đẩy trách nhiệm bảo vệ ngư trường cho dân. Khi ngư dân bị bọn Tàu tấn công, bắn giết, các lực lượng chức năng có vẻ rất lu mờ. Đùng một cái, các lực lượng chức năng đề ra chiến lược trang bị vũ khí cho ngư dân, nhưng đó là một đề nghị hết sức nguy hiểm và đẩy ngư dân vào chỗ chết. Sau đó, chính quyền hình như nhận ra sáng kiến đó nguy hiểm, nên họ đề ra sáng kiến khác là cùng với ngư dân bảo vệ biển. Thoạt đầu nghe qua thì cũng hay hay, nhưng nghĩ lại thì ý tưởng này có khi nguy hiểm, vì sẽ đẩy ngư dân vào xung đột quân sự với Tàu, và để kẻ thù có cớ để tấn công ngư dân ta. Ngư dân chỉ đánh cá, họ không nên là lực lượng bán quân sự. Nhưng ý tưởng đó của chính quyền làm người dân phải hỏi: vậy vai trò của hải quân và cảnh sát biển là gì?

Mới đây, một tướng lãnh trong quân đội khi dược hỏi về định hướng của nền quốc phòng VN thì ông tuyên bố là “… muốn có nền hòa bình không lệ thuộc thì toàn dân phải tự bảo vệ độc, lập tự do của mình.” Rất khó hiểu câu này có nghĩa chính xác là gì, nhưng rõ ràng theo ông thì trách nhiệm quốc phòng là của toàn dân. Người ta lại phải hỏi: vậy quân đội làm gì? Rất khó tìm thông tin về nhiệm vụ của quốc phòng VN. Ở Úc, Bộ Quốc phòng có website đàng hoàng, và họ ghi rõ nhiệm vụ là “defending Australia and its national interests” (Bảo vệ nước Úc và lợi ích quốc gia).

Thật ra, ở VN tôi thấy chẳng riêng gì quốc phòng, xây dựng, hầu như lĩnh vực nào người ta cũng nói đến “nhân dân”. Từ an ninh, giáo dục đến y tế, cái gì cũng có xu hướng đùn đẩy cho người dân. Có lẽ chính vì thế mà người ta có chữ “chính quyền nhân dân”, “quân đội nhân dân”, “công an nhân dân”, v.v. Thật ra, tất cả những chữ có cái đuôi “nhân dân” là xuất phát từ Tàu, chứ không phải “sáng kiến” của VN. Sự bắt chước đó bây giờ là một gánh nặng cho người dân.

 

Bài liên quan

18 tỉnh Việt Nam cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông … (16-2-2012)

18 tỉnh VN cho các nước ngoài thuê đất trồng rừng: Giá thuê … (25-4-2012)

Dự án cho các nước ngoài thuê đất từ 50-210 năm của Bộ … (1-4-2010)

VN Cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 mẫu đất …180.000 đồng/1 năm  (31-10-2010)

Posted in Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Thảm hoạ của độc đoán, chuyên quyền…

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2015

Lê Diễn Đức

Hình này hiện rõ Nguyễn Tấn Dũng đã nhổ sạch 2 hàm răng, và phải dùng răng giả: xương hàm bị sụp, và miệng hơi méo. Điểm nổi bật của NTD là thích tạo dáng khi chụp hình với các nhân vật chính trị quốc tế (TH) 

 

 

Giống như trang “Quan Làm Báo”, trang “Chân Dung Quyền Lực”, ra đời vào giữa tháng 12 năm 2014, đã gây tiếng vang trong dư luận.

“Quan Làm Báo” xuất hiện vào lúc các hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) chuẩn bị nhóm họp lần thứ 6, thứ 7, khi xảy ra cuộc tranh giành ảnh hưởng, hay đúng hơn, cuộc xung đột giữa Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang với Nguyễn Tấn Dũng, thậm chí cho khả năng loại bỏ Nguyễn Tấn Dũng khỏi ghế Thủ tướng.

Nếu như “Chân Dung Quyền Lực” được “Nikkei Asian Review”, một trong những cơ quan truyền thông lớn nhất Nhật Bản đưa tin, thì “Quan Làm báo” vào thời gian ấy cũng được nhiều tờ báo nước ngoài nói đến. 

Về cuộc xung đột giữa Sang-Trọng và Dũng, tờ “Bangkok Post” ngày 15 tháng 10, 2012 viết:

“Dẫn đầu cuộc tấn công vào ông Dũng không ai khác là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người đã rọi ánh sáng vào những vụ bê bối xung quanh thủ tướng và chính phủ của ông. Nền kinh tế chậm chạp, lạm phát, tham nhũng và khủng hoảng ngân hàng trong những tuần gần đây đã được xem là tất cả các tiêu cực đối với ông Dũng”.

Cũng tháng 10/2012, trong bài “Úm bà la, chúng ta tha chúng mình”, lấy ý “We forgive us” của tờ “The Economist” tôi đã viết:

“Đặt cược quá cao, có lúc một ăn tới một trăm, nên bị cháy túi, “Quan Làm Báo” suốt hai tuần Hội nghị  Trung ương 6 họp kín, đã không mò ra được thông tin nào khả tín. Những cơn gió từ các dữ kiện bê bối mà “Quan Làm Báo” trong gần nửa năm nỗ lực tạo nên, dường như đã thổi vào nhà hoang. Sau cuộc chơi, ta nhìn thấy một “Quan Làm Báo” khác, có vẻ đã thấm mệt, chất liệu thông tin gây sốc kém hẳn!”

“Ngay sau cơn sóng gió, hình ảnh Nguyễn Tấn Dũng đi duyệt binh oai vệ bên cạnh Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, một yếu nhân được “Quan Làm Báo” đặt ở phía Sang-Trọng, có thể chưa hẳn nói lên hết sức mạnh của ông Dũng trong thế chân kiềng kinh tế-an ninh-quân đội, nhưng là một tín hiệu thách thức cho bất cứ ai muốn làm suy chuyển chiếc ghế Thủ tướng của ông ta và cho cuộc mặc cả tiếp theo. Cứ xem sự hỉ hả, có phần lấc cấc của bà Hồ Thu Hồng, người được dư luận cho là thân cận với tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, cựu cố vấn của Nguyễn Tấn Dũng, thì thấy.

“The One-man -show” kịch tính của Hội nghị Trung ương 6, được kết thúc bằng “The Day After Show” hoành tráng!

Ông Nguyễn Phú Trọng lúc bấy giờ run lên như sắp bật khóc khi nói về những sai lầm của đảng trong báo cáo tổng kết. Dấu hiệu bất lực kết thúc cuộc chiến Sang-Trọng và Dũng với giải pháp thoả hiệp “chúng ta tha chúng mình”!

Với đà chiến thắng, tới hội nghị Trung ương 7, Nguyễn Tấn Dũng đã làm chủ tình hình, gần như “mua đứt” gần 200 uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, mà đa phần là các bộ trưởng, thứ trưởng trong nội các và lãnh đạo các tỉnh được ông bổ nhiệm và phân bổ lợi ích. Ý đồ đưa Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban nội Chính vào Bộ Chính Trị của Nguyễn Phú Trọng bị chặn đứng bằng việc Ban Chấp hành Trung ương giới thiệu thêm các nhân vật khác để bỏ phiếu. Và hai người nằm ngoài ý muốn của Nguyễn Phú Trọng là Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội cùng Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, lọt vào Bộ Chính Trị.

Từ hội nghị Trung ương 7 đến hội nghị Trung ương 10 là thời gian khá dài ông Dũng củng cố vị trí, chấn chỉnh một số chính sách.

Mặc dầu bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam ảm đạm với nợ công tăng nhanh, nợ xấu chồng chất và tình trạng phá sản của các doanh nghiệp tư nhân, mức tăng trưởng kinh tế năm 2014 cao hơn so với dự kiến, 5,9% (5,42 % năm 2013) đã làm cho ông Dũng có thể mạnh miệng hơn.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu nhờ xuất khuẩt của khu vực vốn nước ngoài FDI (chiếm khoảng 66-69% tổng kim ngạch xuất khẩu, riêng Samsung đã xấp xỉ 30 tỷ USD). Xuất khẩu của khu vực FDI, xuất khẩu qua Mỹ (xấp xỉ 26 tỷ USD) và nguồn kiều hối trên 12-14 tỷ USD (2014) đã làm cân bằng tổng cán cân xuất nhập khẩu thương mại, nhưng trong thực tế nhập siêu từ Trung Quốc tới 24 tỷ USD (bằng15% GDP).

Nếu như “Chân Dung Quyền Lực” tiết lộ kết quả bỏ phiếu tín nhiệm trong hội nghị Trung ương 10 là đúng (và có khả năng như thế ) thì rõ ràng ông Dũng đã đạt được một bước vững chắc trong việc nắm trọn quyền lực

“Chân Dung Quyền Lực” nhận xét về ông Dũng như sau: .

“Về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông là người đạt số phiếu tín nhiệm cao nhất (với 152 phiếu tín nhiệm cao, đạt 77%), điều này phản ánh đúng thực tế, thời gian qua ông đã khẳng định bản lĩnh với các quyết sách làm ổn định kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Không chỉ Trung ương mà dư luận trong quần chúng nhân dân cũng thể hiện rõ điều này”.

Từ nhận xét trên đây, “Chân Dung Quyền Lực” dường như lộ rõ chân tướng là một trang web của nhóm lợi ích ủng hộ ông Dũng.

Đầu năm 2016 sẽ có đại hội 12 của ĐCSVN, cũng là lúc phân định các chức vụ lãnh đạo của đảng và nhà nước. Ở tuổi 65 ông Dũng không thể tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo nhà nước hay chính phủ nữa. Khả năng ông sẽ làm Tổng Bí thư là hoàn toàn có thể xảy ra trong bối cảnh hiện tại và ông đang phát quang con đường này để nắm vị trí cao nhất của đảng cầm quyền.

Nguyễn Phú Trọng trong hội nghị 10 nói về việc thay đổi thể chế nhưng không thay đổi chế độ, có nghĩa rằng, cơ cấu quyền lực Tổng Bí thư -Chủ tịch nước-Chủ tịch Quốc hội-Thủ tướng, tức cơ cấu “Vua Tập Thể”, có thể bị thay đổi.

Tuy nhiên, theo tôi, khả năng giống mô hình Trung Quốc, Tổng Bí thư kiêm luôn Chủ tịch nước khó xảy ra, vì ĐCSVN chưa muốn trao trọn quyền lực vào một người.

Về Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Tấn Dũng có thể yên tâm với bà Nguyễn Thị Kim Ngân, dường như là một ứng viên nặng ký nhất với số phiếu tín nhiệm cao đứng thứ ba.

Cho nên không bỗng dưng mà “Chân Dung Quyền Lực” tấn công vào Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hay Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, những người có khả năng cạnh tranh các chức vụ Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng không hợp với ý ông Dũng.

Sống trong văn hoá sợ hãi và nô lệ, tư duy há miệng chờ sung mong dân chủ tới, nên không ít người Việt hy vọng nếu quyền lực tập trung vào Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam sẽ có những thay đổi lớn, sẽ thoát Trung, xích gần với Mỹ hơn. Cũng có người cho rằng, giải pháp Nguyễn Tấn Dũng là sự lựa chọn bất khả kháng giữa cái xấu và cái xấu hơn.

Ngay đến Jonathan London, giáo sư Đại học Hồng Kông, trong bài “Những bất ngờ trên đường chọn lãnh đạo kế vị” cũng viết:

“Tuy có người nghi vấn sự thành thật của ông, ông vẫn là chính khách hùng biện nhất của Việt Nam và là tác giả của kế hoạch có chủ trương tự do nhất cho sự phát triển của Việt Nam, đó là bài phát biểu Năm Mới 2014 của ông. Ông nhiều lần tuyên bố rằng “dân chủ là tương lai”, không nao núng trước những trò gây hấn hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, và dường như rất thoải mái với ý tưởng bang giao mật thiết với Mỹ”.

Những tuyên bố nghe có vẻ hùng hồn của ông Dũng về chủ quyền Hoàng Sa thực ra là những câu mị dân nhằm trấn an dư luận, vô thuởng vô phạt trong quan hệ với Bắc Kinh. Người ta có câu “vừa ăn cướp vừa la làng” là vậy!

Ai chủ trương cho Trung Quốc thuê 300 ngàn héc-ta rừng đầu nguồn? Chính sách nào để hơn 90% tổng thầu EPC các dự án đầu tư quan trọng nhất lọt vào tay Trung Quốc? Ai cho Trung Quốc thuê Vũng Áng 70 năm với đặc khu Formasa? Ai chủ trương cho Trung Quốc thuê đèo Hải Vân? Ai để Trung Quốc khai thác Bauxite Tây Nguyên và hơn 60% các mỏ tài nguyên phía Bắc? Chính sách nào để hàng hoá Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, hàng chục ngàn nguời Trung Quốc sang Việt Nam lao động bất hợp pháp khắp ba miền, v.v…

Tất cả những điều nói trên là bằng chứng rõ ràng nhất của hành động đẩy nền kinh tế VIệt Nam vào lệ thuộc Trung Quốc, an ninh quốc phòng và chủ quyền lãnh thổ bị đe doạ; là sự tiếp tay cho cuộc xâm thực mềm của Bắc Kinh.

Không ai khác, đây là chính sách, chủ trương của ĐCSVN mà ông Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp thực hiện trong vai trò Thủ tướng.

Khi nhậm chức Thủ tướng vào năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tập hợp gần 20 tập đoàn, tổng công ty nhà nước dưới quyền điều hành trực tiếp của mình. Chính sách sai lầm, đầu tư vô tội vạ, bắt chước mô hình Cheabol của Hàn quốc của ông đã đẩy các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào tình cảnh thua lỗ khủng khiếp (đến nay hơn 1,5 triệu tỷ đồng, trong đó nợ khó đòi hơn 200 ngàn tỷ đồng).

Mới 2014 của ông tuyên bố “dân chủ là tương lai”, nhưng đồng thời cũng lệnh cho Bộ Công an kiên quyết không để hình thành lực lượng đối lập và bắt giam các bloggers “Anh Ba Sàm” Nguyễn Hữu Vinh, “Người Lót Gạch” Lê Hồng Ngọc, và “Quê Choa” Nguyễn Quang Lập.

Nếu nói về độ giả dối và trơ trẽn chẳng ai bằng ông ta. Ông ta đã từng công bố sẽ từ chức nếu không chống được tham nhũng vào năm 2006.  Tình trạng tham nhũng hiện giờ ra sao?

Cài cắm các con trai vào các chức vụ công quyền, con gái vào các dự án đầu tư từ Nam ra Bắc, đặc biệt ở đảo Phú Quốc, chứng tỏ ông là một người rất hám danh lợi, chăm sóc cho lợi ích của gia tộc. Chuyên quyền như V. Putin của nước Nga cũng không cho con cái dính líu vào chuyện làm ăn và chính trị.  

Quyền lực của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay bao trùm nhưng vẫn còn vướng rào cản của cơ cấu “Vua Tập Thể”. Nếu tiếng nói quyết định nằm hết về phía ông ta, thì đây là thảm hoạ cho dân tộc. Đất nước sẽ đắm chìm trong một chế độ độc tài, độc đoán và chuyên quyền hơn cả chế độ “Vua Tập Thể” hiện nay.

Vì vậy, chọn Nguyễn Tấn Dũng không phải là giải pháp ít xấu hơn mà là giải pháp tồi tệ hơn!

© Lê Diễn Đức –  ledienduc’s blog

 

*Nguyễn Tấn Dũng đặc phái con trai là Thứ trưởng Bộ Xây Dựng Nguyễn Thanh Nghị về làm Phó Bí thư, kiêm Phó Chủ Tịch tỉnh Kiên Giang năm 2012, phụ trách lãnh đạo việc đầu tư xây dựng làm SÒNG BÀI ở Phú Quốc. Năm 2014, Phú Quốc đã hoàn thành sân bay với các phi đạo dài 3 km, chuẩn bị bãi đáp cho phản lực cơ Boeing 747, Airbus 380. Đường điện cao thế đã hoàn tất việc kéo cáp ngầm từ Kiên Giang ra đảo Phú Quốc. Các ủy viên Bộ Chính Trị đã chia nhau chiếm hết tất cả đất đai chung quanh khu vực sòng bài, phi trường, các khu vực bờ biển của đảo Phú Quốc.

Ở đâu có xuất hiện của sòng bài, thì ở đó các ổ đĩ điếm, xì ke, ma túy, cầm đồ…đi kèm.

Đảng CSVN chuyên lên giọng đạo đức, nhưng chúng chỉ đóng kịch mà thôi. Hãy nhìn kỹ những việc các đảng viên cao cấp trong Bộ Chính trị đang làm như: cấp phép kinh doanh sòng bài từ Bắc chí Nam, nay thì mở thêm sòng bài ở Phú Quốc; mai đây, các đảng viên cao cấp và gia đình sẽ làm nghề dẫn gái, còn các công an nhân dân sẽ là các bảo kê sòng bài, bảo vệ các tụ điểm ăn chơi, các động có gái mãi dâm, các vũ trường cho phép người vui chơi sử dụng ma túy…Phú Quốc sẽ biến thành chỗ ăn chơi dành cho khách nước ngoài và các đảng viên cộng sản nhờ tham nhũng mà có tiền.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Công An chận đường đánh đập 12 người đến thăm viếng ông Trần Anh Kim vừa mới ra tù

Posted by hoangtran204 trên 22/01/2015

Khi chúng đưa JB Nguyễn Hữu Vinh về phường Trần Hưng Đạo, mồm miệng anh đầy máu. Máy chảy thành vũng trên ghế đá, trên góc sân và cả bàn làm việc trong phòng công an. Những vết thâm tím, vết rách đỏ máu trên mặt. Mặc dù tôi cũng bị đánh khi ôm chặt lấy anh trước nhà anh Trần Anh Kim, không cho chúng bắt anh đi nhưng tôi vẫn ước được chia sẻ bớt những vết thương trên người anh. (Nguyễn Tường Thụy)

*BBC phỏng vấn cựu TT Trần Anh Kim (9-1-2015)

*RFA phỏng vấn  Cựu trung tá Trần Anh Kim (7-1-2015)

Thăm ông Trần Anh Kim sáng 21/1/2015.

JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
Viếng thăm ông Trần Anh Kim, thứ 5, từ phải. (hình -JB NHV) 21-1-2015

 

 CA cộng sản điên cuồng đánh đập những người thăm viếng ông Trần Anh Kim

21-1-2015 

 

 

Khuôn mặt một viên mật vụ cộng sản chỉ đạo đánh người, cướp tài sản 


CTV Danlambao – Lúc 10:30′ sáng nay, 21/1/2015, lực lượng côn an CSVN đã điên cuồng tấn công hàng chục người đến viếng thăm ông Trần Anh Kim – một cựu trung tá quân đội nhân dân Việt Nam vừa mới ra tù và đang bị quản chế tại Thái Bình.

Cướp của, đánh người tàn bạo
Sau khi bị đánh đập một cách tàn bạo, khoảng 12 người đã bị bắt đưa về giam giữ tại trụ sở CA phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình. Nhiều người bị đánh gây thương tích nặng gồm có ông Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Hữu Vinh (JB), Trương Văn Dũng, chị Trần Thị Nga (Hà Nam)…

Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang năm nay đã 80 tuổi bị bọn chúng đấm sượt qua mặt, khiến văng cả mắt kính. Còn nữ nghệ sỹ Kim Chi dù bị té ngã cũng bị lôi kéo lên xe một cách thô bạo.
Được biết, có một phóng viên của Thông Tấn Xã Việt Nam tình cờ đi ngang qua, thấy lộn xộn bèn đưa máy quay phim lên ghi lại cũng bị bắt về trụ sở CA. Người phóng viên này sau đó cũng bị đánh rất dữ dội. Lực lượng CA còn cướp đi máy ảnh và một số đồ đạc cá nhân của mọi người.
Vợ chồng ông Trần Anh Kim sau đó đã trực tiếp đến trụ sở CA phường Trần Hưng Đạo yêu cầu thả người. Trong khi đó, nhiều người hoạt động khác tại Hà Nội đang trên đường đến Thái Bình để đấu tranh phản đối CA bắt người phi pháp.
Phía CA đang lập biên bản cố tình gán ghép mọi người vào tội danh ‘gây rối trật tự công cộng’. TS Nguyễn Thanh Giang yêu cầu phải có mặt đầy đủ nhân chứng và cả những tên côn đồ thường phục đã hành hung mọi người. Hiện nay, mọi người vẫn đang tiếp tục đấu tranh trong trụ sở CA phường Trần Hưng Đạo.
Khóa cổng, đánh người trọng thương trong trụ sở CA
Theo lời kể của ông Trần Anh Kim, lúc 10 giờ sáng cùng ngày, khi mọi người đang gặp gỡ và trao đổi thì xuất hiện 7 viên công an sắc phục, trong đó có một người mặc sắc phục cảnh sát giao thông xông thẳng vào nhà ông Kim mà không xin phép gia chủ. 
Viên CSGT yêu cầu người chủ chiếc xe chở nhóm ra ngoài ký biên bản nộp phạt vì ‘đỗ xe sai vị trí quy định’. Trong khi con đường trước nhà ông Kim không có biển cấm đỗ xe và thực tế  đang có  2 xe ô tô con và một số xe tải lớn đang đỗ. 
Sau khi tách được người lái xe ra ngoài đường, nhóm công an trong nhà đã yêu cầu cả nhóm anh chị em – những người đang thăm ông Kim lên công an phường giải quyết vụ việc ‘gây rối trật tự công cộng’. Dù anh chị em chỉ phản ứng nhã nhặn, đúng tình, đúng luật nhưng đã bị nhóm  công an dùng những lời  lẽ thô bỉ mạt sát, lăng mạ.  
Lúc này xuất hiện thêm ba thanh niên to khỏe, không mặc sắc phục lọt vào nhà ông Kim giả vờ như người đứng xem. 
TS Nguyễn Thanh Giang năm nay đã 80 tuổi, nhưng vẫn bị một trong ba kẻ không mặc sắc phục đã hung hăng chửi: “Đ.M thằng Giang’ và sấn sổ vào ông.
Một người trong nhóm giơ ảnh lên chụp liền bị gã không mặc sắc phục thứ hai giật, cướp máy ảnh. Cả nhóm tiếp tục bị CA vây giữ, chửi bới và hành hung gần 20 phút, trước khi họ bị cưỡng bức đi lên công an phường.  
Trong lúc áp giải, mọi người bị CA đánh đập một cách tàn bạo. Thậm chí, ngay cả khi về đến trụ sở CA phường Trần Hưng Đạo, lực lượng CA tiếp tục khóa cổng, ra tay đánh đập trọng thương nhiều người. Ông Nguyễn Hữu Ving (JB) bị đánh gây thương tích nặng, mọi người yêu cầu đưa nạn nhân đi cấp cứu nhưng phía CA không đáp ứng. Đấu tranh trong đồn CA Lúc 16:30′, tin cho biết, dù bị đánh rất đau, nhưng mọi người đang vẫn đấu tranh quyết liệt trong trụ sở CA phường Trần Hưng Động.

Lực lượng CA sắc phục dù đã rút đi bớt, nhưng thay vào đó là sự xuất hiện của rất đông những kẻ côn đồ mặc thường phục vây quanh. Tình hình hiện đang hết sức căng thẳng.

Cho đến thời điểm này, những người đã bị CA bắt giữ thô bạo gồm có:

1. JB Nguyễn Hữu Vinh.
2. Ngô Duy Quyền.
3. Nguyễn Lê Hùng.
4. Nguyễn Tường Thụy.
5. Trương Văn Dũng.
6. Trần Thị Nga.
7. Nguyễn Thị Kim Chi
8. Nguyễn Thanh Hà
9. Trương Minh Tam
10. Bạch Hồng Quyền
11. Nguyễn Thanh Giang.
12. Nguyễn Vũ Bình.

Được biết trước đó, hôm thứ bảy rồi, một thanh niên từ Hải Phòng đi thăm ông Trần Anh Kim, lúc ra về cũng bị công an Thái Bình vây bắt, do cảnh giác, chạy nhanh hơn công an nên anh này đã thoát nạn an toàn.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

——————-

Blog Chân Dung Quyền Lực lộ ra chân tướng là của một phe phái thuộc đảng CSVN. Ngày 15-5-2015, CDQL có thông báo sau đây:
“Với quan điểm tôn trọng tinh thần dân chủ, CDQL đã tạo một môi trường để người dân thoải mái bày tỏ chính kiến của mình mà không qua kiểm duyệt, tuy nhiên, thời gian qua có quá nhiều comment nặc danh mang tính thóa mạ, thiếu văn hóa đến mức tục tĩu làm bẩn không gian thảo luận. Qua nhiều ý kiến phản ứng từ độc giả, BBT quyết định tăng cường việc dọn dẹp các nội dung trên. Từ nay, những comments thuộc dạng sau sẽ bị BBT dọn dẹp bất cứ lúc nào mà không cần thông báo:
  • Chửi thề, văng tục.
  • Thóa mạ Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Không liên quan đến chủ đề bài viết.
  • Mượn diễn đàn thảo luận để quảng cáo, spam, phát tán virus.
Chúng tôi nhắc lại mục đích tồn tại và tôn chỉ hoạt động của CDQL là giúp Nhân dân có thể đánh giá năng lực, nhân cách của những vị lãnh đạo đang và sẽ điều hành đất nước. Trong đó việc lên án, bài trừ nạn tham nhũng được ưu tiên hàng đầu.

BBT Chân dung Quyền lực

http://chandungquyenluc.blogspot.com/2015/01/thong-bao-ve-viec-quan-ly-comments.html

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

►Một đất nước, hai chính quyền -Ngày 19-1-2015: Blogger Hà Nội làm Lễ Tưởng niệm 75 chiến sĩ hải quân VNCH tử trận vì bảo vệ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974

Posted by hoangtran204 trên 22/01/2015

Tướng Ngô Du nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1974 >>>

Một đất nước, hai chính quyền

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
21-1-2015
.
Từ 41 năm nay cứ đến ngày 19 tháng 1 là hàng triệu người dân Việt Nam trong và ngoài nước liên tưởng ngay đến việc 75 chiến sĩ hải quân VNCH tử trận vì bảo vệ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Trong khi báo chí tại TP Hồ Chí Minh liên tục đăng tải những thông tin về các trận đánh ấy với mục đích tưởng nhớ những người đã hy sinh thì tại Hà Nội chính quyền lại bao che cho hành động chà đạp vòng hoa tưởng niệm Hoàng Sa tại tượng đài Lý Thái Tổ. Hai hành động trái ngược ấy là gì?
Những người lính đánh Trung Quốc năm 1974Báo Tuổi Trẻ từ 5 năm vể trước đã làm phóng sự nhiều kỳ về những khuôn mặt trong trận chiến Hoàng Sa còn sống sót sau trận hải chiến không cân sức với hải quân Trung Quốc vào năm 1974 với cái tựa “Hoàng Sa: Tường trình 35 năm sau” Phóng sự này đã cho công luận Việt Nam biết thêm những hy sinh và sự chiến đấu dũng cảm của hải quân VNCH qua lời kể của các nhân chứng.Từ khởi động mạnh mẽ của hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ báo chí Sài Gòn để ý hơn tới biến cố lịch sử đã để lại vết thương trên cơ thể Việt Nam và bằng nhiều cách khác nhau mỗi năm khi tới ngày kỷ niệm các hình ảnh, bài viết cập nhật với mục đích duy nhất là mang tới cho người đọc những thông tin trung thực nhất nhằm hâm nóng bầu nhiệt huyết của mọi người trước sự mất mát không thể lãng quên ấy.Báo Thanh Niên năm nay truy tìm danh sách 75 chiến sĩ đã hy sinh trong hải chiến Hoàng Sa và những chi tiết về nhân thân những anh hùng liệt sĩ ấy làm cho sự kiện Hoàng Sa sống động hơn bao giờ hết.

Báo Tuổi Trẻ từ 5 năm vể trước đã làm phóng sự nhiều kỳ về những khuôn mặt trong trận chiến Hoàng Sa còn sống sót sau trận hải chiến không cân sức với hải quân TQ vào năm 1974…Báo Thanh Niên năm nay truy tìm danh sách 75 chiến sĩ đã hy sinh trong hải chiến Hoàng Sa…

Bên cạnh sức mạnh của truyền thông, chương trình Nhịp Cầu Hoàng Sa ra đời đã góp thêm sự chú ý của xã hội trong và ngoài nước tới những gia đình tử sĩ hiện đang sống rất khó khăn tại nhiều tỉnh thành khắp nước. Những đóng góp của đồng bào khắp nơi nói lên hai điều quan trọng: vừa là nghĩa cử tri ân vừa nhắc nhở Hoàng Sa vẫn còn nằm dưới bàn tay thô bạo của Bắc Kinh.

Bà Vũ Kim Hạnh, nguyên Tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ là một thành viên trong Nhịp Cầu Hoàng Sa nói với chúng tôi:

-Chúng tôi nghĩ rằng không có đủ lực để mà giải quyết hết tất cả yêu cầu cho nên cố gắng những trường hợp cần thiết nhất hay khó khăn nhất. Thí dụ như nhà cửa trong trường hợp khó, hay có người xây nhà thì lại không có đủ điều kiện hoàn thiện cho kiên cố hơn. Hoặc có người cần tiền để chữa bệnh. Đó là hoạt động có tính cách liên tục, những cái yêu cầu cũng không dừng lại. Mình còn bao nhiêu tiền thì mình cân nhắc những yêu cầu cấp bách nhất, cần thiết nhất khó khăn nhất thì mình sẽ thảo luận trong tập thể xong rồi thì tiếp tục vận động nữa và chấp nhận những nhu cầu tiếp theo.

Hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ là tiếng nói chính thức của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản thành phố Hồ Chí Minh nên người dân đóan chắc rằng mọi thông tin dồn vào Hoàng Sa là chủ trương của UBND thành phố, nếu không thì các bài báo và ngay cả Nhịp Cầu Hoàng Sa rất khó mà thành hình.

Cậu thanh niên giật đổ vòng hoa tưởng niệm xuống đất
Cậu thanh niên giật đổ vòng hoa tưởng niệm xuống đất
Một nam thanh niên nhổ nước bọt vào tôi rồi giật đổ vòng hoa tưởng niệmxuống đất và lấy chân dẫm lên
 Hà Nội: “Một nam thanh niên nhổ nước bọt vào tôi rồi giật đổ vòng hoa tưởng niệm xuống đất và lấy chân dẫm lên” (ngày 19/1/2015)

Hắn sừng sộ với tôi và lấy tay đấm vào máy ảnh của tôi, hắn nói rằng hắn ghét bọn phản động, bọn ngụy bán nước và hắn đến đây là để đánh tất cả những đứa nào vinh danh bọn bán nước đó, sau đó hằn nhổ nước bọt vào mặt tôi

Blogger Phương Bích

 

Suy nghĩ này có cơ sở vì nhiều năm đã trôi qua từ ngày báo chí miền Nam lên tiếng khơi lại trận chiến năm 1974 của hải quân VNCH thì làng báo chí của Hà Nội chừng như thiếu hẳn sinh khí hòa nhịp với đồng nghiệp trong Nam. Không những vậy, chính quyền Hà Nội còn công khai cổ vũ cho những hành động đàn áp, phá hoại những hoạt động tưởng nhớ của người dân thủ đô vào ngày lịch sử này.

Chà đạp vòng hoa tưởng niệm, một thất bại của nền giáo dục

Năm ngoái một vụ đàn áp thô bạo hơn 100 người tại tượng đài Lý Thái Tổ và chính quyền đã đem cưa máy cắt những hòn đá tảng tại tượng đài nhằm mang tiếng gầm thét của máy móc lấn áp tiếng hô khẩu hiệu chống Trung Quốc xâm lược.

Ngày 19 tháng 1 năm nay cũng không khác, chính quyền Hà Nội tiếp tục đứng phía sau để bảo vệ cho côn đồ có hành vi xâm phạm người mang vòng hoa tưởng niệm tới tượng đài Lý Thái Tổ. Bà Phương Bích, một blogger nhiều lần tham gia các hoạt động tương tự là nạn nhân của côn đồ kể lại:

-Một nhóm bạn bè chúng tôi rủ nhau vào ngày 19 tháng 1 năm 2015 vừa rồi có ra đài Lý Thái Tổ để đặt hoa và tưởng nhớ đến người lính VNCH đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa.

Trong khi đang chờ đợi bạn bè thì có một thanh niên đi đến và câu ta chỉ vào mặt tôi nói: “tôi đến đây để chờ bọn phản động vinh danh những kẻ ngụy bán nước, tôi sẽ đánh tất cả chúng nó”. Sau đó hắn sừng sộ với tôi và lấy tay đấm vào máy ảnh của tôi, hắn nói rằng hắn ghét bọn phản động, bọn ngụy bán nước và hắn đến đây là để đánh tất cả những đứa nào vinh danh bọn bán nước đó, sau đó hằn nhổ nước bọt vào mặt tôi

Khi được hỏi bà có chắc là công an biết việc này hay không bà Bích nói:

-Tôi có gọi ông công an trình bày lại sự việc và ông ta chỉ nói rằng “mời chị về phường”! Tôi mới nói anh đang đứng ở đây và sự việc đang xảy ra ở đây thì tôi yêu cầu anh làm cái chức vụ của anh ở đây. Trong khi tôi nói với anh ta thì đối tượng kia vẫn xông đến và có tính chất lăng mạ. Cậu ta nói điên cuồng không cần lý lẽ gì. Cậu ta nói đến đây để đánh kẻ mang vòng hoa viếng người bán nước. Tôi có yêu cầu ông công an làm điều đó thì ông ta hỏi thế chị có mất tài sản không, chị có bị xâm hại về thân thể không?…Tôi hiểu là đằng sau thái độ đó là hành động bảo kê rất lộ liễu với đối tượng này.

Bà Phương Bích kể giai đoạn gã côn đồ dẫm lên vòng hoa của 75 tử sĩ Hoàng Sa dẫn tới sự phản ứng của người tham dự, bà nói:

-Anh em chúng tôi cực kỳ nhẫn nhịn và sự nhẫn nhịn đó bị phá vỡ khi một hành động của nam thanh niên nhổ nước bọt vào tôi,  rồi đến giật đổ vòng hoa xuống đất, và lấy chân dẫm lên thì lúc ấy tôi không còn nhẫn nhịn được nữa. Tôi la to lên bắt ngay lấy thằng này và giải nó về phường!

Lúc đó anh em mới bắt đầu xô vào khống chế thằng này. Tuy nhiên anh em không có kinh nghiệm khống chế một kẻ côn đồ khi dẫn nó về phường. Khi xảy ra chuyện gây rối thì những người kia (công an giả danh) hoàn toàn im lặng đứng xem không có một hành động nào can thiệp cả nhưng khi chúng tôi bắt giữ cậu thanh niên này để đưa về phường thì họ ngăn cản. Trong đó tôi biết chắc chắn có một cô tên là Minh, cô ta là người rất quen thuộc trong vấn đề đàn áp người biểu tình. Sau đó khi cái xe trật tự của công an phường trờ đến thì họ đưa cậu này lên xe, chúng tôi yêu cầu lên xe nhưng họ không cho.

Hai cách ứng xử của thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trên cùng một sự việc khiến người dân rất hoang mang về tính thống nhất trong chủ trương của nhà nước Việt Nam. TS Vũ Cao Phan, nguyên Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Trung cho biết nhận xét của mình:

-Khi nghe sự việc này nếu đúng như nó đã xảy ra như vậy tôi rất buồn. Như báo ngày hôm qua tôi có đọc về cái vụ Hoàng Sa những người chứng kiến và những cái điều ấy cho chúng ta thấy rằng thứ nhất bản thân tôi có thêm thông tin và thứ hai những chuyện như thế cho thấy sự gắn kết giữa lòng người mang tính dân tộc trước một vấn đề. Chúng ta không chống ai cả nhưng sự việc nó là như thế chúng ta thể hiện lòng yêu nước, lòng dân tộc. Những sự kiện đó báo chí nên nói nhiều hơn và nhà nước phải nhìn những việc ấy một cách khoan dung hơn, đúng với lòng người hơn.

Vẫn còn nhiều năm và nhiều ngày 19 tháng 1 sẽ đến. Mỗi lần ngày kỷ niệm mất Hoàng Sa diễn ra thì người dân khắp nơi lại chờ đọc báo trong Nam và lắng nghe tiếng va chạm, phản đối, bắt người thậm chí biểu tình tại tượng đài Lý Thái Tổ.

Nhân sĩ trí thức lo ngại rằng hai cách hành xử đó giống như đất nước đang có hai chính quyền khác nhau vì vậy không thể tạo nên sức mạnh khi mối nguy ngoài biển Đông vẫn đang nặng nề hơn lúc nào hết.

nguồn: www.rfa.org/vietnamese

 

Một tên du côn đã ngang nhiên đến gây sự, cướp giật băng và vòng hoa của anh chị em trước sự chứng kiến của bảo vệ, an ninh, công an. Sau đó hắn tìm cách gây sự với anh chị em. (hình JB Nguyen Huu Vinh, Hà Nội) January 19, 2015

tên côn đồ đang gây sự.

Tên côn đồ đá vào bụng của một bác

Tên côn đồ (công an) đang kéo tay blogger Liberty Mê Linh

 

Trung Quan Do's photo.

Tên du côn trên 4 tấm hình trên tên là Trịnh Việt Dũng, là thiếu úy quân báo, đi học ở Trung Quốc

VẪN CHƯA HẾT DƯ ÂM colonthree emoticon

Là sau khi xe công an chở thằng khốn Meo Den đi mất, anh em căng băng rôn này ra, chụp choẹt các kiểu. JB Nguyễn Hữu Vinh lớn tiếng thách đứa nào dám động vào băng rôn này, nhưng bảo vệ và dân phòng đứng xunh quanh im re. Lúc đó mặt ai cũng bừng bừng căm giận.

Thế mới biết, khi bị đẩy đến giới hạn nhất định, thì phản ứng tức phải bùng nổ. Và những con thú kia lại thu mình, hiền lành như chưa bao giờ hung hãn, mặc cho bị chửi xa xả vào mặt. Mình thấy Minh đao bị JB Vinh chửi là mặt dày như cái thớt mà không nói lại được, thì nghĩ làm cái nghề này nhục thật. Giờ thì mình cũng sẽ chửi thẳng cánh: Đồ khốn!

VẪN CHƯA HẾT DƯ ÂM :3</p><br /><br /><br />
<p>Là sau khi xe công an chở thằng khốn Meo Den đi mất, anh em căng băng rôn này ra, chụp choẹt các kiểu.  JB Nguyễn Hữu Vinh lớn tiếng thách đứa nào dám  động vào băng rôn này, nhưng bảo vệ và dân phòng đứng xunh quanh im re. Lúc đó mặt ai cũng bừng bừng căm giận.</p><br /><br /><br />
<p>Thế mới biết, khi bị đẩy đến giới hạn nhất định, thì phản ứng tức phải bùng nổ. Và những con thú kia lại thu mình, hiền lành như chưa bao giờ hung hãn, mặc cho bị chửi xa xả vào mặt. Mình thấy Minh đao bị JB Vinh chửi là mặt dày như cái thớt mà không nói lại được, thì nghĩ làm cái nghề này nhục thật. Giờ thì mình cũng sẽ chửi thẳng cánh: Đồ khốn!

 

Hành vi của tên côn đồ tại vườn hoa lý thái tổ ( 19-1-2015)
tại Lễ tưởng niệm 74 chiến sĩ VNCH hi sinh tại Hoàng sa 19-1-1974 (Trương Văn Dũng)

https://www.youtube.com/watch?v=VbiNsFyl44k

Xem thêm hình trên FB JB Nguyen Huu Vinh >>>

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=775164159244944&set=ms.c.eJw9z8kNADEIA8COVuEwR~%3B~_NrQKB5wiwjDvI9DjDg8M~_LxO3aZ2smupjtHUcSCI78cxUc1mj8mwdPZ98oXuPxFjbPLbaZ3nWU6YcS3v6393ryVOvPN~%3B9rD7bH913~_6Pvz9zDal~%3Be~%3B~_j~%3BQ~%3BUHzgtBTg~-~-.bps.a.775164019244958.1073741957.100002541019308&type=1&theater

——————-

(Tướng Ngô Du (VNCH) nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1974)

 

Lãnh thổ, lãnh hải Tổ quốc –

Nổi trăn trở của một số Cựu Chiến binh và Giáo chức Khu vực Hà Đông, Hà Nội

14-1-2009

Chúng tôi là một số CCB và giáo chức ở khu vực Hà Nội xin bày tỏ với các lãnh đạo đảng CSVN về những điều phiền muộn của mình trước tình trạng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc đang có nhiều hiện tượng rất không bình thường và đáng lo ngại.

Hình 1 http://img104.imageshack.us/img104/3429/hg01ae9.jpg

Nỗi đau của người Việt Nam trong nước và ngoài nước chưa một phút nguôi ngoai khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ 1974 và một phần quan trọng của quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc và nước ngoài cưỡng chiếm từ 1988. Để hợp thức hóa cho việc cưỡng chiếm hai quần đảo HS – TS, Trung Quốc ngày… đã có quyết định thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh đảo hải Nam Trung Quốc bao gồm hai quần đảo này của Việt Nam. Nhiều năm qua phía Trung Quốc đã gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân Việt Nam, những ngư dân vô tội Việt Nam khai thác trên vùng biển thuộc lãnh hải từ ngàn xưa ông cha để lại đã nhiều lần bị tàu hải quân Trung quốc đuổi bắt, bắn giết dã man đặc biệt là vụ 9 ngư dân Hậu Lộc và Hoằng Hóa Thanh hóa bị giết hại, 8 ngư dân bị bắt ngày 8/1/2005… Trung Quốc đã dùng sức ép buộc các công ty Bristish Petroleum của Anh, công ty ExxonMobil của Mỹ phải rút giấy phép thăm dò năng lượng trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt nam… Gần đây Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc ( CNOOC ) thông báo dự án 29 tỷ USD để phát triển các mỏ năng lượng trên suốt vùng biển đông đang bị tranh chấp mà trước đây thuộc hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo Vietnamnet 10/12/2008, Cục Hải dương Trung Quốc đã họp báo công bố chủ trương khuyến khích các đơn vị, cá nhân khai thác, sử dụng các đảo không có người ở, với mục đích được gọi là “bảo vệ chủ quyền biển của Trung Quốc” ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hàng trăm con dân đất Việt đã dũng cảm hy sinh trong nhiều cuộc chiến không cân sức với kẻ ngoại bang để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhưng họ chưa một lần được chính thức tôn vinh công khai. Và thực tế lịch sử không ai có thể phủ nhận được về biên giới lãnh hải của Việt Nam trong mấy thập niên qua đã bị Trung Quốc xâm lấn thì ngày 02/01/2009, trả lời báo Điện tử Vietnamnet Thứ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Dũng đã khẳng định như đinh đóng cột:

“Không có chuyện Việt Nam mất đất, cắt đất cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin”. Thấy điều khẳng định đó vẫn còn lỏng lẻo, ông Vũ Dũng còn củng cố thêm: “Những mạng này do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin và những ý đồ khác nhau”.
Chúng tôi rất trăn trở về lời khẳng định này.

Trước hết chúng tôi xin được thắc mắc:

• Vì sao rất nhiều SGK, nhiều tài liệu và nhiều thế hệ học sinh được ghi nhận rằng: Diện tích phần đất liền của đất nước là 330.991 km2 và một phần biển có diện tích gấp nhiều lần phần đất liền (Niên giám thống kê 1996) thì lại có rất nhiều SGK in vào những năm 2006 – 2007 lại đưa ra con số 329.297 km2 cho diện tích phần đất liền (Niên giám thống kê 2003). Vậy diện tích 1694 km2 đến 2003 mất đi đâu? Giải thích thế nào hiện nay SGK 2008 lại đưa ra con số mới cộng cả phần đất liền với phần diện tích các đảo là 331.212 km2 (Niên giám thống kê năm 2006). Vậy chính thức riêng phần đất liền theo niên giám 2006 chúng ta có diện tích là bao nhiêu?

• Thác Bản Giốc theo ông Vũ Dũng chúng ta chỉ thực sự có chủ quyền ở phần thác phụ, phần thác chính đẹp nhất, hoành tráng nhất lại thuộc về phía Trung Quốc. Trong khi đó nhiều thế hệ người Việt Nam đã được giáo dục là toàn bộ thác Bản Giốc là kỳ quan của Việt Nam, một danh thắng được in hình trong nhiều tranh ảnh, sách vở, tem thư… của Việt Nam. Trong cuốn “Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” NXB Sự thật đã ấn hành sau cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã khẳng định : “Tại khu vực mốc 53 xã Đàn Thuỷ – huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó” (Trang 11).

• Khu vực Hữu nghị quan trước kia được gọi là Mục Nam Quan, Trấn Nam Quan, Ải Nam Quan… Ông Vũ Dũng lại tuyên bố tất cả nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc! Trong khi đó cũng theo cuốn sách kể trên lại viết: “Trung Quốc đã phá nát cột mốc 18, xoá vết tích đường Biên giới lịch sử rồi đặt cột km số 0 vào sâu lãnh thổ Việt Nam trên 100 m và coi đó là quốc giới giữa hai nước ở khu vực này”. (Trang 10).

• Chúng tôi thật sự không hiểu nổi Đảng và nhà nước CSVN phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhưng lại ngăn chặn, sách nhiễu, đàn áp, bắt những người dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước một cách ôn hòa như : cuộc biểu tình ngày 9 và ngày 16/12/2007 để phản đối Trung Quốc có quyết định thành lập thành phố Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; cuộc biểu tình 29/4/2008, phản đối Trung Quốc chính trị hóa việc rước đuốc có liên quan đến việc sát nhập bất hợp pháp hai quần đảo HS – TS vào bản đồ của Trung Quốc.

• Chúng tôi nghĩ: Khẳng định về diện tích lãnh thổ, về vấn đề đường biên giới, vấn đề cột mốc là vấn đề hết sức hệ trọng. Vấn đề đó phải có tiếng nói của nhân dân tức là trưng cầu dân ý. Mặt khác, các quyết định của quốc hội vừa qua (nếu có) cũng không thể coi là hợp lòng dân vì khi thay đổi hiến pháp, thể chế này chưa từng bao giờ trưng cầu dân ý như quy định của hiến pháp đầu tiên năm 1946.

• Chúng tôi cũng như dư luận vô cùng phiền muộn trước vận mệnh của đất nước. Còn nhớ, tháng 12/2007 trong số chúng tôi cùng đứng tên một bức thư kêu gọi người dân có trách nhiệm trước vận mệnh đất nước – khi đó Trung quốc vừa thành lập Tam Sa. Sau đó ít lâu thầy giáo Vũ Hùng (ở Hà Tây cũ) đã trở thành người tù lương tâm vì đứng tên trong bức thư đó; nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chị Phạm Thanh Nghiên (ở Hải phòng), nhà thơ Trần Đức Thạch (ở Nghệ An), sinh viên Ngô Quỳnh v.v… đang bị giam giữ cũng vì những lý do tương tự. Chúng tôi tin họ là những người vô tội.

Hình 2 http://img104.imageshack.us/img104/2927/hg02dp1.jpg

Trong thời khắc hệ trọng này chúng tôi kiến nghị:

1. Sớm công bố chính thức bản đồ phân định biên giới, biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc song song với việc công bố công khai bản đồ phân giới giữa chính quyền thực dân Pháp và triều đình nhà Thanh để đối chứng. Trong gần 100 năm thuộc địa, dưới sự cai trị và bảo hộ của đế quốc Pháp chẳng lẽ đất đai của quốc gia ngày nay khi có độc lập, chủ quyền lại có chu vi và diện tích nhỏ hơn hồi mất hết chủ quyền.

2. Quốc hội, những người có trách nhiệm phải rà soát và huỷ bỏ những điều khoản luật, thông tư, chỉ thị, nghị định, quyết định… không phù hợp với nội dung và tinh thần điều 69 của hiến pháp. Để nhân dân có quyền bày tỏ và thể hiện lòng yêu nước chính đáng một cách hòa bình của mình mà không bị cản trở, ngăn chặn, sách nhiễu… như đã từng chịu đựng khi các cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên và các chiến sĩ dân chủ xảy ra trong những năm qua.

3. Nếu thực sự vì nước vì dân, Đảng và nhà nước CSVN nên cầu thị, tuân theo nguyện vọng của đại đa số người dân, tôn trọng thế trận lòng dân nhằm nâng cao sức đấu tranh của nhân dân một cách hòa bình và hữu hiệu để đòi lại những phần lãnh thổ, lãnh hải bị lấn chiếm mà vẫn giữ mối tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt – Trung. Đừng cố tình đẩy nhiều thế hệ người Việt Nam hôm nay cũng như mai sau vào những khó khăn không đáng có khi phải tranh đấu đòi lại chủ quyền đích thực của dân tộc mình với những hậu quả để lại tương đương hay nặng nề hơn công hàm năm 1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi ông là đại diện đã đặt quyền lợi của đảng trên quyền lợi dân tộc, quyền lợi của chủ nghĩa cộng sản trên quyền lợi đất nước.

Một số giáo chức và CCB ở khu vực Hà Đông – Hà Nội
Đồng ký tên (14/01/2009)

http://www.x-cafevn.org/node/1390

 

 

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Kết quả bỏ phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (1-2015)

Posted by hoangtran204 trên 17/01/2015

Dù Hội nghị Trung ương 10 (Khóa XI) đã khép lại gần 1 tuần, nhưng việc không công khai kết quả đánh giá tín nhiệm khiến dư luận bất bình. Qua nguồn tin đáng tin cậy được tập hợp từ các Ủy viên TW, BBT xin trân trọng gửi đến quý độc giả kết quả và một số đánh giá về đợt bỏ phiếu tín nhiệm quan trọng này.

Toàn cảnh Hội nghị Trung ương 10 (Khóa XI) diễn ra từ ngày 5-12/1/2015

Sáng ngày 10/1/2015, Trung ương đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm 20 thành viên Ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư với sự tham gia của 197 Ủy viên TW và Ủy viên TW dự khuyết, vắng mặt 3 ông, gồm: Ông Nguyễn Công Định, Ủy viên TW dự khuyết, Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre (qua đời ngày 3/7/2012); Ông Phạm Quý Ngọ, Ủy viên TW, Thứ trưởng Bộ Công an (qua đời ngày 18/2/2014) và ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên TW, Trưởng ban Nội chính TW (đang lâm bệnh nặng do nghi án Nguyễn Xuân Phúc đầu độc phóng xạ). Kết quả như sau:

ket-qua-tin-nhiem.png

Kết quả đánh giá tín nhiệm các thành viên Ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư TW tại Hội nghị Trung ương 10 (Khóa XI)
tin-nhiem-bct-bbt-hntw-10.jpg

So sánh mức độ tín nhiệm của các thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư

Theo đánh giá của các Ủy viên TW, đợt bỏ phiếu tín nhiệm này thể hiện tinh thần đoàn kết trong Đảng và phản ánh khá chính xác mức độ tín nhiệm đối với một số thành viên Bộ Chính trị:

Về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông là người đạt số phiếu tín nhiệm cao nhất (với 152 phiếu tín nhiệm cao, đạt 77%), điều này phản ánh đúng thực tế, thời gian qua ông đã khẳng định bản lĩnh với các quyết sách làm ổn định kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Không chỉ Trung ương mà dư luận trong quần chúng nhân dân cũng thể hiện rõ điều này.

Về các ông Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Xuân Phúc, Phạm Quang Nghị đạt số phiếu tín nhiệm cao không nhiều, việc các ông xếp hạng tín nhiệm thấp nhất trong 16 Ủy viên Bộ Chính trị đã đánh giá gần đúng bản chất thực tế, nhiều Ủy viên TW cho rằng, các ông này còn quá may mắn, nếu làm rõ rồi đánh giá lại thì kết quả sẽ còn thấp nữa.

Tuy nhiên, một số vị trí các Ủy viên TW cho rằng chưa đánh giá đúng bản chất, cụ thể:

Về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các Ủy viên TW và dư luận đều biết rõ năng lực của ông Trọng, ngoài bản chất giáo điều cố hữu thì ông không làm được gì cả, ngay cả nhiệm vụ chống tham nhũng với vai trò là Trưởng ban Thường trực TW về Chống tham nhũng ông cũng không để lại bất kỳ một dấu ấn nào. Nhưng vì ông là Tổng Bí thư và cũng là nhiệm kỳ cuối trước khi về hưu, để bảo vệ tính đoàn kết trong Đảng, các Ủy viên TW đều cho rằng nên đánh giá ông cao một chút, nói chung, ông Trọng thuộc dạng “vô thưởng vô phạt”.

Về Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, dù không có hành động thực tế, nhưng nhờ tài ăn nói, biết tranh thủ, vận động đúng thời điểm quan trọng nên cũng được lòng nhiều Ủy viên TW, dù dư luận cho rằng tài sản của ông và gia đình thể hiện ông không thực sự liêm khiết như ông nhiều lần đã phát ngôn.

Về Trưởng ban Tổ chức TW Tô Huy Rứa, tỷ lệ đánh giá tín nhiệm thấp quá cao (41 phiếu), nhiều Ủy viên TW tỏ ra bất bình thay cho ông nhưng điều này cũng dễ hiểu, việc ông đánh giá xác đáng về tư cách và năng lực của nhiều lãnh đạo trung ương đã làm phật lòng rất nhiều người, đặc biệt khi lập danh sách quy hoạch Bộ Chính trị, Ban bí thư. Trên thực tế, ông là người đứng mũi chịu sào, phải chịu đòn thay cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Và đặc biệt là trường hợp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh, nhiều Ủy viên TW đã tỏ ra rất hối hận khi đánh giá tín nhiệm ông cao chót vót, sau đó mới tiếp cận thông tin về khối tài sản khổng lồ mà ông cướp được của Quân đội và Nhân dân bằng thủ đoạn “chuyển đổi mục đích sử dụng đất quốc phòng” với các chứng cứ cụ thể khó chối cãi đi đôi với việc cha con ông được khám chữa bệnh tại bệnh viện của PLA và thái độ nhũn nhặn đến mức hèn yếu trước Trung Quốc. Họ khẳng định, nếu bỏ phiếu lại, chắc chắn vị trí của ông Phùng Quang Thanh sẽ khác rất rất nhiều.

Dù sao đây cũng là một đợt kiểm nghiệm quan trọng, đã đánh giá khá chính xác với các vị trí lãnh đạo thực sự có cống hiến vì dân, vì nước.

Nguồn: Thanh tra Nhân dân

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Tin đồn nóng: Kết quả bỏ phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu, báo hiệu chức Tổng Bí Thư đảng sẽ từ tiến sĩ Lú chuyển qua tay kẻ học lớp 3

Posted by hoangtran204 trên 17/01/2015

Chao ôi! Đảng CSVN sao mà “quang vinh” và dễ dãi thế. Tiến sĩ Lú hay kẻ học lớp 3 cũng đều có khả năng lãnh đạo đảng. Cuộc bầu cử trong đại hội 10, tháng 1/2015 cho thấy: 175 Ủy viên trung ương đảng đã đồng ý chọn lựa 3X, (một kẻ chưa từng học qua bậc tiểu học, chưa biết bỏ dấu hỏi ngã sao cho đúng) đứng trên đầu trên cổ và sai khiến họ.

Tin đồn nóng: Kết quả bỏ phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị

16-1-2015

Nguyễn Văn Tuấn

Chiều nay, ghé qua trang “Chân dung quyền lực” đọc ké thì thấy bảng kết quả lấy phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị (BCT). Kinh ngạc! Đúng như tin đồn trước đây, kết quả này cho thấy ông thủ tướng là người có điểm tín nhiệm cao nhất, với 152 phiếu “tín nhiệm cao” (chiếm 77%) tổng số 197 phiếu (1). Kế đến là ông Chủ tịch Nước với 76% tín nhiệm cao. Ông Nguyễn Phú Trọng chỉ có 68.5% phiếu tín nhiệm cao, đứng hạng 8 trong danh sách gồm 20 người. Bà Hà Thị Khiết có phiếu tín nhiệm thấp nhất: chỉ 43% phiếu tín nhiệm cao. Ngạc nhiên là ông Phạm Quang Nghị có phiếu tín nhiệm rất thấp, áp chót bảng. Cứ theo logic thì ngài Thủ tướng có lẽ sắp trở thành Tổng bí thư tương lai?

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị. Nguồn: (1)

Tuy nhiên, tôi thấy cách xếp hạng theo kiểu tính tỉ lệ “tín nhiệm cao” là thiếu hợp lí. Nếu chỉ dựa vào lá phiếu này thì tại sao đặt ra các điểm “tín nhiệm” và “tín nhiệm thấp” làm gì? Do đó, một cách để tính điểm khách quan hơn và dùng tất cả số liệu là cho trọng số như cách tôi làm trước đây (2) cho lần lấy phiếu tín nhiệm Quốc hội. Theo đó, “tín nhiệm cao” có trọng số 0.75, “tín nhiệm” có trọng số 0.50, và “tín nhiệm thấp” là -0.25 vì điểm này kể cả “không tín nhiệm”. Từ đó, chúng ta có thể tính điểm chung cho mỗi cá nhân, và kết quả như sau:

Bảng 1: Số phiếu tín nhiệm và điểm tính theo trọng số

Theo kết quả tính toán này thì bà Kim Ngân mới là số 1, kế đến là ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Lê Thanh Hải, Phùng Quang Thanh, v.v. Ông Tổng bí thư đứng hạng 10. Người đứng cuối bảng là ông Tô Huy Rứa, và trên ông là bà Hà Thị Khiết và ông Phạm Quang Nghị.

Trong biểu đồ dưới đây, tôi cũng so sánh điểm của Trung ương đảng và điểm tín nhiệm trong lần lấy phiếu Quốc hội vừa qua. Nói chung, điểm của đại biểu Quốc hội chẳng có liên quan gì đến điểm của các uỷ viên trung ương đảng, và đó là điều đáng ngạc nhiên. Cũng chỉ là những cá nhân đó, nhưng đánh giá thì rất khác nhau giữa hai nhóm người.

So sánh điểm tín nhiệm do Quốc hội bầu và điểm tín nhiệm do TƯ đảng bầu

Biểu đồ này có thể diễn giải như sau: ai nằm dưới đường màu đỏ có nghĩa là điểm bị giảm so với điểm Quốc hội, ai nằm phía trên đường tham chiếu là được trung ương đảng cho điểm cao hơn đại biểu Quốc hội. Theo kết quả này thì chỉ có 3 người có điểm cao hơn lần trước: ông Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh, và Trần Đại Quang. Còn những người mất điểm là bà Kim Ngân, ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Sinh Hùng. Riêng ông Nguyễn Xuân Phúc bị mất điểm khá nhiều.

_______________________

(1) http://chandungquyenluc.blogspot.de/2015/01/ket-qua-bo-phieu-tin-nhiem-bo-chinh-tri.html

(2) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2014/11/oc-ket-qua-lay-phieu-tin-nhiem-cua-quoc_15.html#more

(3) Mã R để phân tích

# Kết quả lấy phiếu TƯ

name = c(“NTDung”, “TTSang”, “NTKNgan”, “PQThanh”, “TDQuang”, “NTNhan”, “NSHung”, “NXPhuc”)

cao1 = c(77.2, 75.6, 73.6, 73.1, 69.0, 65.0, 64.0, 58.9)

score1 = c(0.55, 0.56, 0.58, 0.54, 0.53, 0.53, 0.49, 0.41)

# Kết quả lấy phiếu QH

cao0 = c(66.1, 78.5, 80.4, 64.8, 55.0, 39.9, 70.1, 73.4)

score0 = c(0.48, 0.61, 0.64, 0.51, 0.45, 0.35, 0.52, 0.58)

# Phân tích tỉ lệ tín nhiệm cao

plot(cao1 ~ cao0, pch=16, xlab=”Kết quả QH”, ylab=”Kết quả Đảng”, xlim=c(40, 100), ylim=c(40, 100))

abline(a=0, b=1, col=”red”, lty=2)

text(cao1 ~ cao0, labels=name, pos=1, cex=0.7, col=”blue”)

Posted in Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Trảm tướng: Khi có sai lầm hay thất bại trong công viêc, đảng viên cao cấp chỉ việc đổ lỗi cho cấp dưới,

Posted by hoangtran204 trên 17/01/2015

Họ hung hăng, thấp kém trong quản lý và lãnh đạo. “coi thường công chúng. Sự không có trách nhiệm trong lời tuyên bố của mình. Không có trách nhiệm về tính xác thực lẫn về tính khả thi của các tuyên bố. Phải chăng tất cả bắt nguồn từ sự chậm tiến của các nhà lãnh đạo đảng CSVN so với mặt bằng văn hóa và tri thức của giới trí thức Việt Nam nói chung?

Và phải chăng, sâu xa hơn nhưng cũng không kém phần trực tiếp hơn, tất cả bắt nguồn từ chế độ độc tài, độc đảng và toàn trị?

 

Trảm tướng

Trần Quí Cao

15-01-2015

Thỉnh thoảng báo chí thuộc quyền đảng CSVN đưa ra các bài ủng hộ bộ trưởng Đinh La Thăng: người ra thực tế nhiều nhất, người vi hành nhiều nhất, người quyết đoán và quyết liệt với sai trái bằng các quyết định “Trảm Tướng” ngay tại công trường. Gần đây hơn là tuyên bố của ông rằng: “không thể đánh đổi quyền lợi, tình mạng của người Việt Nam để lấy vốn vay” được nhiều báo, trong đó có báo Tuổi Trẻ, đăng tin trong chiều hướng ủng hộ hay có phần tung hô.

Thực sự, nhìn từ góc độ quản lý, và rộng hơn một chút, góc độ tôn trọng con người, một giá trị sống rất quan trọng, tôi thấy ông Đinh La Thăng đáng bị chê trách chứ không phải được ủng hộ.

Tại sao ông Đinh La Thăng đáng bị chê trách?

Ông nắm quyền bộ trưởng từ nửa đầu năm 2011. Trong thời gian gần 4 năm đã trôi qua đó, nếu là người có trách nhiệm và có khả năng làm việc, ông đã phải chú tâm xác định một danh sách các việc cần làm ngay của Bộ Giao Thông Vận Tải. Ông sẽ lập các ban chuyên trách, tìm ra nguyên nhân gốc của từng việc, vạch ra chương trình làm việc khắc phục nguyên nhân gốc đó. Tôi nghĩ rằng bộ trưởng cần xắn tay áo vào vài chuyện quan trọng như dưới đây:

1) Giảm Tai Nạn Giao Thông

2) Lập Kế Hoạch và Chương Trình Xây Hệ Thống Giao Thông đáp ứng nhu cầu xã hội, đất nước

3) Xem Xét Công Tác Đấu Thầu Xây Dựng các Công Trình Giao Thông Trọng Điểm, trong đó có 2 việc: a) Xem Lại và Hoàn Thiện Qui Chế Đấu Thầu nhằm bít các kẽ hở, và b) Xem Lại và Kiểm Tra các công trình lớn đã trúng thầu

4) Rà Soát Hệ Thống Nhân Sự Bộ Giao Thông

5) và một số khác nữa…

Thời gian từ khi bộ trưởng Thăng nắm quyền tới nay đã khá lâu, đủ cho người dân thấy một số thành quả của các cải tiến nếu ông Thăng thất sự xốc vác, có tinh thần trách nhiệm và có năng lực.

Tiếc thay, người dân chưa thấy các thành quả đó, trái lại họ còn thấy tình hình thực tế xuống cấp hàng năm. Ta có thể xem các điển hình của nhận định trên:

1) Số vụ tai nạn giao thông và số người chết vì tai nạn không hề được cải thiện vững chắc một cách có ý nghĩa.

2) Việc bổ nhiệm Dương Chí Dũng, nguyên Tổng Giám Đốc Vinalines, hiện là tử tù với các sai phạm to lớn, tiếp nối nhau trong một thời gian rất dàì, vào chức vụ Cục trưởng Cục Hàng Hải, là điển hình của thất bại về chính sách, kế hoạch và qui trình bổ nhiệm nhân sự.

3) Các công trình giao thông mới xây xong, đã nghiệm thu hay chưa được nghiệm thu, hay thậm chí đang thi công, phơi bày ra những khiếm khuyết hay hư hỏng trầm trọng (thí dụ về những trường hợp này không thiếu, dù trong mội trường mà toàn bộ báo chí thuộc về nhà nước) là các điển hình của thất bại trong việc quản lý chất lượng xây dựng các công trình giao thông.

4) Trung Quốc đang là nước duy nhất trên thế giới không giấu diếm dã tâm xâm lấn hay xâm lược Việt Nam, và có sức mạnh quân sự, kinh tế tiến hành điều này. Trung Quốc là đối tác mà Việt Nam phải rất đề phòng. Vậy mà các công trình trọng điểm giao thông Việt Nam hầu hết lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc (dù rằng chất lượng nhiều công trình đã thi công xong đang gây ra nhiều bàn tán và nghi ngờ). Đây là điển hình của thất bại về chính sách, kế hoạch, qui trình và thực hiện công tác gọi thầu và xét thầu các công trình giao thông trọng điểm.

Các tiến bộ, cải thiện nền móng làm việc chưa ai thấy, do đó số tại nạn và sự cố cứ xảy ra, ngày càng nhiều hơn. Mỗi lần có tai nạn, sự cố là ông bay ngay đến hiện trường, vung tay chỉ đạo và tuyên bố cách chức.

Những con đường đang xây dựng, dân kêu lên kêu xuống, địa phương, báo chí phản ánh, sao ông không biết để tới khi cầu sập, đường lún rồi ông mới chạy tới?

Tai nạn tại công trường xây tuyến đường sắt trên cao do nhà thầu Trung Quốc xây dựng đã làm chết người. Đây là tai nạn thứ hai sau tai nạn thứ nhất trước đó không lâu. Tuyên bố của ông Thăng với phía Trung Quốc (“không thể đánh đổi quyền lợi, tình mạng của người Việt Nam để lấy vốn vay”) thực ra cũng lả tuyên bố bình thường của một người có trách nhiệm. Có gì đâu mà phải tung hô hay hoan nghênh đến thế? Lẽ ra báo chí phải nêu lên sự thiếu trách nhiệm của bộ Giao Thông Vận Tải:

Chất lượng các công trình do nhà thầu Trung Quốc đảm nhiệm đã có tai tiếng từ lâu. Sao ông bộ trưởng không kiểm tra, rà soát những nhà thầu Trung Quốc, ít nhất tại các công trình trọng điểm, những công trình cực kì quan trọng cho quốc gia và rất hao tốn tiền của của nhân dân? Công trình xây tuyến đường sắt trên cao đầu tiên của Việt Nam không phải là cực kì quan trọng hay sao? Khi có sự cố lần đầu, ông vẫn thờ ơ. Dù tai nạn lần đầu chưa có người chết, nhưng tiềm năng giết người, và giết một con số lớn người dân, của loại tai nạn đó, là rất lớn. Lẽ ra ông bộ trưởng phải rất quan tâm tới sự an toàn của dân chúng và công nhân trên các công trường như vậy, vì đó là trách nhiệm của ông.

Tại sao báo chí Việt Nam không vạch được những điều nói trên ra trước công luận?

Hãy nghĩ xem, với các sự cố và tai nạn nhiều như vậy và lớn như vậy, ở một nước có nền Dân Chủ thực sự, với người dân có các quyền Tự Do thực sự, ông bộ trưởng có phải từ chức hay không?

Cung cách Trảm Tướng và Các Tuyên Bố Của Ông Bộ Trưởng Thể Hiện Điều Gì?

Cung cách xử lí sự việc của ông, trong đó nổi bật là Trảm Tướng và Tuyên Bố thật kêu, được báo chí của đảng CSVN hoan nghênh, sao thật tình tôi thấy có điều rất không ổn.

Không biết ông Đinh La Thăng thực sự muốn gì, nghĩ gì qua cung cách thể hiện đó của ông, nhưng qua cách mà báo chí phản ánh, tôi thấy cảm nhận nhưa sau:

1) Ông đổ lỗi cho cấp dưới. Dù cấp dưới có lỗi đi nữa thì cũng không nên lấy đó để che đậy lỗi của cấp trên. Trong các công trường lớn xây dựng hệ thống giao thông chậm như rùa bò hay công trình bị lún sụp, chỉ thấy cấp dưới có lỗi và bị cách chức. Trong tai nạn của công trường xây dựng đường sắt trên cao, sau các tuyên bố thật kêu của ông thì ông không có trách nhiệm gì cả!

2) Trình độ văn minh thấp trong quản lí và lãnh đạo:

a) Hung hăng, thể hiện quyền lực thô bạo: Cách chức ngay tại chỗ, hay đe dọa nhân viên trước mặt mọi người bằng câu nói như: “cái ghế của anh lung lay rồi đó”… đều không phải là cung cách lãnh đạo. Đó là cung cách của người nắm quyền lực nhưng không nắm các phương pháp làm việc văn minh như thảo luận, thuyết phục, đào tạo… do đó chỉ biết đàn áp người bằng cách thể hiện quyền lực thô bạo.

Nếu nhân viên này là cấp dưới trực tiếp của bộ trưởng thì ông Thăng cũng phải chịu trách nhiệm điều hành, quản lí! Nếu nhân viên này là cấp dưới trực tiếp của cấp dưới của bộ trưởng thì ông phải để cho cấp dưới của ông, tức người người quản lí trực tiếp nhân viên này, xử lí. Ông không nên “nhảy qua đầu” người khác.

b) Làm việc độc đoán, thiếu dân chủ, không theo qui trình: Việc cách chức một nhân viên vì có lỗi, vi phạm nguyên tắc, phương pháp làm việc… cần được xem xét, thảo luận về nguyên nhân vi phạm, hậu quả vi phạm… theo đúng qui định của cơ quan, có sự tham dự của cấp trên và của đương sự. Sau đó bộ phận Nhân Sự (tức Tổ Chức Hành Chánh) tiến hành thủ tục… Đâu phải muốn cách chức ai thì cách ngay tại chỗ như vậy?

c) Thiếu tôn trọng con người: cấp dưới có khuyết điểm, vi phạm nguyên tắc làm việc… thì cấp trên mời làm việc riêng, bàn thảo về sự vi phạm, về tác hại tới chiến lược phát triển hay mức độ hoàn thành chỉ tiêu… Người lãnh đạo có tầm nhìn rộng và sắc bén sẽ thuyết phục cấp dưới của mình nhận ra tai hại của sự việc và chấp nhận kĩ luật trong tinh thần làm việc tập thể. Như vậy, cấp trên sẽ hoàn thành vai trò lãnh đạo, cấp dưới sẽ tìm cơ hội sửa chữa sai lầm để thăng tiến trong tương lai. Hai bên vẫn giữ lòng tương kính, tương thân.

Khi có sự cố hay tai nạn, cần ra hiện trường ngay để khắc phục và kiểm soát tác hại. Nhưng không nên khiển trách, quát nạt, đe dọa nhân viên cấp dưới. Không nên làm mất thể diện bất kì ai trước công chúng.

KẾT LUẬN:

Thật ra, nói chuyện về cách thể hiện của bộ trưởng Đinh La Thăng không chỉ nói về ông. Cung cách này cũng là mẫu số chung của cung cách thể hiện trước công chúng của đa số các nhà lãnh đạo đảng CSVN và chính quyền Việt Nam hiện nay. Đó là sự coi thường công chúng. Sự không có trách nhiệm trong lời tuyên bố của mình. Không có trách nhiệm về tính xác thực lẫn về tính khả thi của các tuyên bố. Phải chăng tất cả bắt nguồn từ sự chậm tiến của các nhà lãnh đạo đảng CSVN so với mặt bằng văn hóa và tri thức của giới trí thức Việt Nam nói chung?

Và phải chăng, sâu xa hơn nhưng cũng không kém phần trực tiếp hơn, tất cả bắt nguồn từ chế độ độc tài, độc đảng và toàn trị?

—-

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh sáp nhập vào Trung Quốc (năm 2020)? (cựu Đại tá Phạm Quế Dương)

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2015

Ông PQD nguyên Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự hiện sống ở Hà Nội

Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Phạm Quế Dương- Hà Nội

(cựu đại tá Phạm Quế Dương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự)

14-1-2015

 

 

tq-vn

Thiếu tướng Hà Thành Châu, Chính ủy Tổng cục công nghiệp Quốc phòng Việt Nam, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08-4-2013 . Ở đây, ông đã nhờ một viên chức cao cấp Hoa Kỳ trao cho chủ bút Tạp chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu tối mật liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Tập tài liệu này xuất xứ từ anh vợ ông, là thiếu tướng chính ủy Tổng cục 2 , thời trung tướng Nguyễn Chí Vịnh làm Tổng cục trưởng.

Tập tài liệu chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI, mang bí số ML887 ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam: Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tiến Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu tại Thành Đô năm 1990.
Nội dung những cuộc họp bí mật ấy cho biết kế hoạch sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc dự kiến tổ chức qua ba giai đoạn:

– Giai đoạn 1: 15/7/2020 Quốc gia tự trị
– Giai đoạn 2: 5/7/2040 Quốc gia thuộc trị
– Giai đoạn 3: 5/7/2060 Tỉnh Âu Lạc

Tỉnh trưởng vẫn là người Việt, đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng đốc Quảng Châu (Trung Quốc).

Sau khi sáp nhập, tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ chính ,tiếng Việt là ngôn ngữ phụ.

Trong hội đàm, với lời lẽ bề trên, lãnh đạo Trung Quốc, ban mật lệnh, giáo huấn, răn đe, dạy dỗ lãnh đạo Việt Nam phải làm những gì suốt 70 năm, từng bước một: “Âm thầm,lặng lẽ,từ từ như tầm ăn dâu, khéo như dệt lụa Hàng Châu;êm như thảm nhung Thẩm Quyến. Sử dụng thể thức “Diễn biến hòa bình.”, làm cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nhìn nhận rõ là Trung Quốc “ không cướp nước Việt.” mà chính người Việt Nam tự mình “dâng nước” và tự ý đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thì khấu đầu trước Đặng Tiểu Bình “ Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc bỏ qua hiểu lầm, xóa bỏ các bất đồng đã qua. Phía Việt Nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ tịch dày công xây dựng trong quá khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng “Quy chế tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh” như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng,Tân Cương, Quảng Tây.

 

Tôi sửng sốt, trăn trở, không tin ở sự xác thực của sự kiện này. Những vị lãnh đạo nêu tên trên vốn là những người yêu nước trực tiếp tham gia góp phần chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống Tàu giành độc lập tự do. Lịch sử cận hiện đại Việt Nam là nối tiếp lịch sử 4000 năm, từ đời Hùng Vương ,đã từng đánh bại các cuộc xâm lược của các triều đại lịch sử Trung Quốc: Hán,Đường,Tống,Nguyên,Minh,Thanh. Ngày nay không thể nào có những người lãnh đạo, vì bất cứ lý do gì cúi đầu xin được làm một khu tự trị của Trung Quốc, bởi vì như vậy là bán nước, phỉ báng ông cha, phản bội dân tộc.

Trước hiện tượng Trung Quốc cho xuất bản hai cuốn sách của Hồ Tuấn Hùng và Huỳnh Tâm đưa nhiều dẫn chứng rạch ròi để khẳng định Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Đài Loan (Trung Quốc) đã lũng đọan tinh thần nhân dân ta, gây nên những nghi vấn rất tai hại, vậy mà hệ thống tuyên huấn- thông tin của ta vẫn coi như không có trách nhiệm gì!. .

Không thể im lặng một cách rất tội lỗi như vậy được nữa, tôi đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí của Đảng ta, nhất là báo Nhân Dân – cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng,Nhà nước và Nhân dân Việt Nam – hãy làm sáng tỏ vụ việc này và công khai cho nhân dân ta biết

01/1/2015

Phạm Quế Dương
Khu tập thể 37 Lý Nam Đế – Hà Nội
ĐT: 62700002

 (Tác giả gửi đăng)

nguồn: danchimviet.info

* Phạm Quế Dương là cựu Đại tá trong QĐNDVN, nguyên Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự hiện sống ở Hà Nội

Hà Nội đưa cựu Đại tá Phạm Quế Dương ra tòa về tội lợi dụng dân chủ

13-7-2004

     Ngày mai, Tòa Án Nhân Dân Hà Nội sẽ xét xử Cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương, một trong những nhân vật bất đồng chính kiến được thế giới ca ngợi. Ông Phạm Quế Dương, 73 tuổi, sẽ bị xử về các tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước và không chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản chế hành chính.
Ðây cũng là hai tội mà hôm thứ Sáu tuần trước, Chính Quyền Việt Nam đã tuyên phạt một nhân vật bât đồng chính kiến là Giáo Sư Trần Khuê 19 tháng tù.
Cho đến chiều hôm nay, Bộ Ngoại Giao Hà Nội đã từ chối tất cả các đơn xin được theo dõi phiên tòa mà những nhà báo nước ngoài nộp. Một viên chức của Việt Nam còn nói sẽ không có nhà ngoại giao nào được vào phòng xử và trước đó, ngay cả đơn xin biện hộ cho ông Phạm Quế Dương của một luật sư ở Pháp cũng đã bị bác.
Cũng xin được nhắc lại Cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương từng là một trong những nhà sử học quân đội nổi tiếng của Việt Nam. Giữa thập niên 90, ông quyết định trả thẻ đảng để tranh đấu cho tự do, dân chủ và công bằng. Ông bị bắt hôm 28 tháng 12 năm 2002, sau khi từ Hà Nội vào Sài Gòn thăm bạn bè và tiếp xúc với Giáo Sư Trần Khuê.
Ông Dương bị bắt lúc đang lên tầu về lại Hà Nội và một ngày sau đó, công an thành phố Hồ Chí Minh cũng bắt ông Trần Khuê.

Cựu Ðại tá Phạm Quế Dương bị 19 tháng tù

14-7-2004

Trong phiên xử kết thúc lúc 3 giờ chiều hôm nay, tòa án nhân dân Hà Nội đã tuyên phạt Cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương 19 tháng tù về các tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước và không chấp hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản chế hành chính.
Ông Phạm Quế Dương, 73 tuổi, sẽ được thả vào cuối tháng này, vì đã bị giam cầm đủ thời hạn mà tòa tuyên phạt.
Cựu Ðại tá Phạm Quế Dương từng là một trong những nhà sử học quân đội nổi tiếng của Việt Nam. Giữa thập niên 90, ông quyết định trả thẻ đảng để tranh đấu cho tự do, dân chủ và công bằng. Ông bị bắt hôm 28 tháng 12 năm 2002, sau khi từ Hà Nội vào Sài Gòn thăm bạn bè và tiếp xúc với Giáo Sư Trần Khuê.
Ông Dương bị bắt lúc đang lên tầu về lại Hà Nội và một ngày sau đó, công an thành phố Hồ Chí Minh cũng bắt ông Trần Khuê.
Trong phiên tòa hồi tuần trước, Giáo sư Trần Khuê cũng bị tòa án ở thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 19 tháng tù về các tội tương tự như tội mà nhà nước cáo buộc cho ông Dương và đến cuối tháng này Giáo Sư Khuê cũng sẽ được thả. Tòa án Hà Nội tuyên phạt Cựu Ðại tá Phạm Quế Dương 19 tháng tù

nguồn: hqvnch.net

—-

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Toàn dân phải tự bảo vệ độc lập, tự do”

22-12-2014

VOV.VN -Nói về chiến lược Quốc phòng toàn dân thì đầu tiên là phải độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ và toàn dân phải tự bảo vệ độc lập, tự do của mình.

Phóng viên VOV phỏng vấn Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Chí Vịnh: Quan hệ quốc phòng trước hết là tạo lòng tin và tạo sự ủng hộ của quốc tế đối với chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Có người hỏi tôi rằng Bộ Quốc phòng ký với nước này, nước kia với mục đích gì. Lợi ích đầu tiên là khẳng định độc lập tự chủ của Việt Nam. Chúng ta độc lập tự chủ, quan hệ với tất cả các nước trên thế giới miễn là nước ấy tôn trọng chế độ chính trị của chúng ta, tôn trọng lợi ích quốc gia dân tộc của chúng ta. Chúng ta không đứng về bên nào trong quan hệ quốc tế cả.

Cho nên nếu nói về chiến lược Quốc phòng toàn dân thì đầu tiên là phải độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và muốn có nền hòa bình không lệ thuộc thì toàn dân phải tự bảo vệ độc, lập tự do của mình

nguồn: http://vov.vn/chinh-tri/thuong-tuong-nguyen-chi-vinh-toan-dan-phai-tu-bao-ve-doc-lap-tu-do-373417.vov

Comment:

Chúng tao mua 1 lít xăng cũng phải trích 8 ngàn tiền thuế cho chúng mày, thế chúng mày để tiền ấy đi đâu mà bắt chúng tao phải phơi mặt ăn đòn… ông nuôi con chó nó còn biết giữ nhà, chứ nuôi cái loại chúng mày… phí cơm lại còn phản chủ…! Có cái loại chó nào lại đi bắt chủ ra cắn trộm hả trời…! FB Nguyễn Lân Thắng

 

 

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Phong trào: Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam…

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2015

 

Chân Như thực hiện

“Tôi không thích đảng CSVN” là tên của một phong trào vừa dấy lên trên cộng đồng mạng. Đây là một hình thức đấu tranh mới do những nhà đấu tranh dân chủ trẻ Việt Nam khởi xướng để phản kháng lại vụ việc chính phủ Việt Nam ra quyết định sẽ xử phạt nặng những ai nói xấu đảng và nhà nước. Để biết thêm về phong trào này, mời quý vị cùng đến với Diễn Đàn Bạn Trẻ kỳ này cùng với sự tham gia của 4 bạn khách mời Lã Viêt Dũng, Bạch Hồng Quyền, Anthony Lê, và Thúy Nga.

Muốn thể hiện quan điểm của mình

Chân Như: Xin chào các bạn, câu hỏi đầu tiên xin dành riêng cho anh Lã Việt Dũng. Để khởi xướng một phong trào, người ta cần phải có mục đích và phương hướng; Là một trong những người tham gia khởi xướng phong trào này, xin anh cho biết thêm chi tiết vì sao lại phát động chiến dịch này?

Lã Việt Dũng: Tôi muốn mọi người thể hiện thái độ quan điểm của mình. Nguyên nhân là hôm đấy tôi thấy trên VTV có một bài nói về việc chính quyền CSVN sẽ trừng trị, xử lý những người gọi là “nói xấu”. Tôi quan niệm rằng vấn đề không phải là chúng ta nói xấu hay tốt mà là nói đúng hay sai? Nếu nói xấu mà đúng thì chính quyền phải nên lắng nghe chứ không nên đe doạ như vậy. Tôi coi đấy là một thái độ mang tính đe doạ sự thật. Tôi nghĩ rằng vậy nếu chúng ta không thích, nhưng đấy là thật thì liệu đấy có phải là xấu không? Và liệu như vậy chính quyền có xử lý chúng ta hay không? Vì thế, tôi mạnh dạn tôi nêu quan điểm ấy trên mạng và tôi cũng muốn mọi người hưởng ứng để chứng tỏ rằng chúng ta không sợ những việc đe doạ như vậy.

Chân Như: Còn các bạn, lý do vì sao các bạn tham gia phong trào này?

Thúy Nga: Bản thân tôi thứ nhất tôi là nạn nhân. Thứ hai tôi là người đi đấu tranh trực tiếp để giúp đỡ những người gặp vấn nạn do ĐCSVN gây nên. Do đó, hằng ngày tôi thường phải tiếp xúc, thường phải chứng kiến những cảnh đảng viên của đảng CSVN họ đàn áp cũng như gây nên hoạn nạn cho người dân. Đó là lý do tôi không thích ĐCSVN.

Anthony Lê: Đơn giản là khi mình thấy trên internet có một số bạn nêu lên tiếng nói của mình “họ không thích đảng CS” thì riêng đối với bản thân tôi tôi thấy việc làm của họ là hợp lý hoàn toàn xác đáng thì tôi cũng hưởng ứng phong trào. Cụ thể đối với bản thân tôi thì tôi thấy ở trong thời kỳ chế độ CS này có quá nhiều vấn nạn. Vấn nạn được quan tâm nhất là vấn nạn về tham nhũng. Nên tôi nêu lên khẩu hiệu của tôi là “tôi không thích ĐCSVN” bởi vì có quá nhiều kẻ tham nhũng là đảng viên của ĐCS, và tôi nghĩ đây là quyền của tôi được phép nói lên điều tôi không thích.

Bạch Hồng Quyền: Em là một người đấu tranh cho nhân quyền và tự do ngôn luận ở Việt Nam. Những điều ĐCSVN làm cho quyền con người của em không được tôn trọng và tự do ngôn luận. Khi phát biểu một điều gì đó thì họ tìm cách trù dập hoặc đàn áp thì đấy là lý do em không thích ĐCSVN.

Chân Như: Có vẻ như từ “không thích” dùng để lên án một nhân vật hoặc một đảng nào đó ngoài đảng CSVN thì được chấp nhận và tán dương. Tuy nhiên, khi nói đến câu “Tôi không thích đảng CSVN” thì nó lại khiến cho một số thành phần ở Việt Nam xem đó là phản động, tại sao vậy? Anh Lã Việt Dũng có thể chia sẻ về vấn đề này?

Các Bạn trẻ hưởng ứng Phong trào: Tôi không thích đảng cộng sản Việt Nam. Citizen photo.

Lã Việt Dũng: Tôi cho rằng từ bé đến lớn, lâu lắm rồi, chúng ta những người dân ở Việt Nam được dạy, được chỉ bảo với thói quen là phải tôn thờ ĐCS. Và như anh thấy tất cả những thông tin chỉ cần trái ý với họ thôi thì bị cho là nói xấu, và với nói xấu thì họ có thể dọa và bắt người ta. Họ không quan tâm đến sự thật mà chỉ quan tâm đến cái đấy là xấu hoặc tốt cho họ thôi. Đó là một phản xạ rất tự nhiên của con người VN khi sống dưới chế độ CS hiện tại. Các anh có thể nói tôi không thích Bắc Hàn, có thể không thích ông Obama; Nhưng nếu chúng anh nói tới tôi- không thích ĐCS thì khi đó nhiều người đặc biệt là DLV họ cho rằng đây là nói xấu chế độ. Thậm chí còn cho rằng “chúng mày đang âm mưu lật đổ chế độ” hay “đe dọa sự lãnh đạo của ĐCS”. Riêng tôi, tôi không cho là như vậy, tôi chỉ cho rằng đơn giản chúng tôi có quyền được phát biểu quan điểm thích hay không thích. Và khi chúng tôi đã không thích thì chúng tôi sẽ sẵn sàng nói ra và không sợ bất cứ gì cả.

Anthony Lê: Ở Việt Nam có câu “có yêu thì nói rằng yêu, có ghét thì nói rằng ghét” phải nói thẳng để mọi người cùng biết rõ. Bản thân tôi thì thấy luật pháp Việt Nam cũng không có một điều nào quy định vấn đề về quyền mình nói yêu, ghét cả. Vốn dĩ ở Việt Nam người dân có tâm lý sợ sệt, mà đặc biệt là sợ sệt với nhà cầm quyền, nên lắm lúc họ không có được dũng khí, không có được khả năng dám nói lên quan điểm của mình. Riêng với bản thân tôi tôi thấy một số anh chị em làm như vậy tôi thấy là điều tất nhiên mình có quyền nói lên chuyện đó, và tôi sẵn sàng nói lên tâm tư của mình. Mình không thích thì mình nói không thích, ghét thì nói ghét.

Tâm lý sợ nhà cầm quyền?

Chân Như: Như anh Lã Việt Dũng chia sẻ thì người dân ở Việt Nam từ bé đã bị chỉ bảo là phải tôn thờ đảng CSVN rồi, còn anh Anthonly thì cho rằng người dân vẫn có cái tâm lý sợ sệt nhà cầm quyền. Nếu như thế thì phải chăng Việt Nam sẽ khó có thể có sự thay đổi vì còn khá nhiều các bạn trẻ vẫn có lối suy nghĩ là phải yêu đảng vì không có đảng cộng sản thì người dân không có được cuộc sống như ngày hôm nay; Hoặc nếu muốn thay đổi thể chế liệu thể chế mới sẽ tốt đẹp hơn thế chế hiện tại vân vân. Nhận xét của mọi người?

Bạch Hồng Quyền: Theo em, giới trẻ hiện nay đã bị nhồi sọ từ thời đi học tiểu học cho đến trung học và đại học nên có suy nghĩ như vậy cũng không thể trách các bạn. Trong một chế độ nào đi nữa thì quyền tự do ngôn luận, quyền con người, hay bất cứ một quyền lợi nào của người dân được tôn trọng thì chế độ đó được người dân hưởng ứng và đồng thuận với chế độ đó; Chứ không phải suy nghĩ là chế độ khác lên sẽ tốt hơn hay như thế nào. Em chỉ suy nghĩ chính quyền nào tốt cho dân thì sẽ được người dân ủng hộ thôi.

Thúy Nga: Tôi thấy đất nước Việt Nam sẽ biến chuyển và ĐCSVN sẽ phải thay đổi. Những người trẻ tuổi kia thứ nhất là họ đã bị nhồi nhét ngay từ tiểu học trở lên cho tới bây giờ, và họ chưa ra ngoài đời, chưa va chạm đến quyền của họ, vì họ vẫn còn nằm trong cái sự bao bọc của gia đình, cũng giống như là của ĐCS họ mở ra một chút lợi lộc cho những bạn DLV hoặc những bạn trẻ chưa va chạm. Đến khi họ học xong, ra xã hội sẽ gặp những cảnh bất công xảy ra đến với chính bản thân họ thì lúc đấy sự thay đổi trong suy nghĩ của họ sẽ phải thay đổi. Ở đâu cũng vậy, ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh và khi quyền lợi của họ bị dính líu đến thì bản thân họ sẽ phải là người đứng lên đấu tranh đòi quyền căn bản của mình. Đó là lý do tôi tin tưởng vào xã hội Việt Nam sẽ có những sự thay đổi và ĐCS sẽ không thể nào duy trì được cái sự độc tài này nữa.

Các Bạn trẻ hưởng ứng Phong trào: Tôi không thích đảng cộng sản Việt Nam. Citizen photo.

Lã Việt Dũng: Tôi nghĩ rằng sự thay đổi của xã hội Việt Nam sẽ xuất phát từ hai chiều. Thứ nhất xuất phát từ chính người dân. Cái đó có thể sẽ chậm nhưng thật ra tôi nghĩ đây là ngọn lửa âm ỉ vì rất nhiều người không thích như chúng tôi nhưng họ không nói ra thôi. Họ sợ nhưng đến một lúc nào đó họ sẽ không sợ nữa. Nhưng cái mà tôi thấy rõ hơn nhiều khả năng thay đổi lớn hơn, theo tôi, sẽ phải thay đổi từ phía trên. Bởi phía trên của họ bây giờ loạn quá rồi. Họ có quá nhiều vấn đề mà thậm chí cả đấu đá nội bộ hay vấn đề tham nhũng, vấn đề lệ thuộc Trung Quốc cũng như vấn đề về điều hành quản lý đất nước họ quá yếu kém. Chính những việc đấy sẽ làm cho sự cai trị của họ, sẽ làm cho chế độ của họ bị thay đổi thôi. (Mặc dù họ cứ nói rằng họ là đạo đức là văn minh là sự lựa chọn của nhân dân.)

Anthony Lê: Tôi cũng có góc nhìn như anh Lã Việt Dũng. Thực tế, ngày nay, người dân Việt Nam họ cũng biết rõ được sự thật về mặt yếu kém của chế độ cộng sản và đâu đó trong những cuộc gặp gỡ bạn bè tôi cũng thường thấy họ rất không hài lòng và không ưa thể chế CS. Tất nhiên, họ còn cái tâm lý sợ sệt như mình có nói. Khi người dân bắt đầu ý thức được vấn đề yếu kém của chế độ cầm quyền hiện tại, càng ngày càng hiểu rõ bản chất thật của CS và với mong muốn là phải có một xã hội tốt hơn thì chắc chắn họ sẽ có những hành động biểu đạt. Tuy vậy, theo tôi, vấn đề xác thực nhất là từ nội bộ của chính quyền. Khi họ đã ý thức được họ theo chủ nghĩa này một cách mơ hồ và không đưa được xã hội phát triển, thì chính bản thân chế độ sẽ phải tự chuyển mình và tự thay đổi theo hướng dân chủ và văn minh.

Bất chấp mọi tình huống xấu xảy ra

Chân Như: Tại Việt Nam vốn không có tự do ngôn luận và không có nhân quyền nên khi hưởng ứng phong trào như thế này, các bạn có nghĩ là sẽ bị ảnh hưởng gì đến đời sống của mình không?

Khi đã dấn thân đấu tranh cho quyền con người và tự do ngôn luận thì việc hưởng ứng phong trào này cho dù có đàn áp hay bắt bớ thì bất chấp mọi tình huống xấu xảy ra, mình sẵn sàng nhận lấy những cái xấu mà chính quyền này hoặc ĐCS này dành cho mình khi mình tham gia phong trào.
-Bạch Hồng Quyền

Bạch Hồng Quyền: Khi đã dấn thân đấu tranh cho quyền con người và tự do ngôn luận thì việc hưởng ứng phong trào này cho dù có đàn áp hay bắt bớ thì bất chấp mọi tình huống xấu xảy ra, mình sẵn sàng nhận lấy những cái xấu mà chính quyền này hoặc ĐCS này dành cho mình khi mình tham gia phong trào.

Thúy Nga: Tôi có xem một bộ phim, có một người nói sẽ đấu tranh đến hơi thở cuối cùng để đến khi nào công lý được thực thi và tôi tin tôi cũng sẽ làm điều đó. Trong bất cứ một cuộc đấu tranh nào cũng có sự mất mát hy sinh và đây là cuộc đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận cũng như nhân phẩm, nhân quyền của mình phải được thực hiện, thì nếu có bị áp bức hay bị gì đó do nhà cầm quyền CS họ gây nên thì tôi cũng sẵn sàng đón nhận thôi. Đó chính là cái kinh nghiệm để cho tôi vươn lên đấu tranh cho mạnh mẽ hơn và tôi không những đòi quyền cho con người, tự do ngôn luận của bản thân mình mà còn đòi cho đời con đời cháu của mình nữa.

Lã Việt Dũng: Tất nhiên khi mình làm bất cứ một ý gì mà ngược ý chính quyền hay không thì sống trong chế độ này chắc anh cũng sẽ biết là sẽ chẳng nói trước được điều gì sẽ xảy ra bởi vì họ là một chế độ toàn trị và họ muốn mọi thứ phải theo ý họ. Thậm chí, bên Trung Quốc có phong trào chỉ tập luyện như Pháp Luân Công nhưng khi lúc lớn mạnh chính quyền thấy không kiểm soát được họ cũng dập. Hay như ở Việt Nam có rất nhiều các tôn giáo không muốn sự kiểm soát của chính quyền, họ theo ý của họ thì chính quyền cũng dập. Nên tôi phải khẳng định là theo quan điểm của tôi, tôi thấy rằng không có gì mình có thể nói chắc chắn là không sao cả. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng nếu chúng ta làm đúng với lương tâm, đúng với lẽ phải thì cũng vẫn nên mạnh dạn làm trong thời điểm này bởi vì nếu chúng ta không làm thì sẽ không bao giờ thay đổi được gì cả.

Anthony Lê: Riêng bản thân tôi với câu nói “tôi không thích ĐCSVN”, tôi hoàn toàn không có lo ngại gì về vấn đề bị nhà cầm quyền đối xử bất công với tôi hay có hành động gì tại vì cái này là cái quyền của tôi và tôi cảm nhận ra được vấn đề là chính bản thân người cộng sản họ cũng ý thức được vấn đề đó. Đây là quyền của tôi thích hay không tôi, có quyền phát biểu. Tất nhiên, sống trong xã hội này, như anh Lã Việt Dũng nói, có nhiều điều có thể xảy ra vì nếu như là những người có suy nghĩ thì họ phải công nhận câu nói của chúng tôi là đúng và họ phải chấp nhận câu nói này; Nhưng cũng có những con người cực đoan và có những thành phần xấu trong nội bộ ĐCS thì chưa biết chừng họ sẽ có những manh động hoặc có những hành vi mà mình khó lường được. Tất nhiên, tôi thiên về ý là tôi sẽ không có chuyện gì xảy ra khi tôi nói câu “tôi không thích ĐCSVN”.

Chân Như: Xin cám ơn bốn bạn khách mời đã dành thời gian cho chương trình kỳ này, cầu chúc luôn bình an. Chân Như cũng cám ơn quý thính giả đã lắng nghe, hẹn lại tuần sau. Mến chào.

FB  Tôi Không Thích Đảng Cộng Sản Việt Nam

https://www.facebook.com/pages/T%C3%B4i-Kh%C3%B4ng-Th%C3%ADch-%C4%90%E1%BA%A3ng-C%E1%BB%99ng-S%E1%BA%A3n-Vi%E1%BB%87t-Nam/634036673385828?pnref=lhc

Posted in Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Cách mạng thường ăn thịt những người đẻ ra nó

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2015

Cách mạng thường ăn thịt những người đẻ ra nó

Tác giả: Peter St. Onge

Người dịch: Phạm Nguyên Trường

15-1-2014

H1Lời người dịch: Đây có thể được coi là lời bạt cho những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày, Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Giai Cấp Mới… và nhiều tác phẩm khác nữa.

Cách mạng cánh tả là một trong những cú lừa lớn nhất trong lịch sử. Cả các nhà trí thức, những người khao khát bắn phá lẫn những người bị thiệt thòi, những người bị đưa vào trại tập trung chứ không phải vào thiên đường trên cõi thế, đều được hứa như thế cả.

“Cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình”. Nhận xét này, do một nhà báo đưa ra trong cuộc Cách mạng Pháp, chỉ đúng một phần. Trên thực tế, các cuộc cách mạng ăn thịt chính những người sinh ra nó. Cụ thể là, các cuộc cách mạng tả khuynh trong lịch sử ăn ngay những trí thức cánh tả, tức là những người tạo điều kiện cho cách mạng xảy ra. Tôi dùng từ “cánh tả” ở đây là để chỉ những cuộc cách mạng có mục tiêu rõ ràng là sử dụng sức mạnh của chính phủ nhằm cải tạo xã hội. Để cải tạo xã hội cho phù hợp với cách hiểu về “công lý” mà những người cổ động cho nó coi là hấp dẫn.

Tất nhiên, trong những cuộc cách mạng mang tính cải cách như thế, các nhà trí thức chỉ là một món khai vị mà thôi. Những cuộc cách mạng mang tính cải cách của lịch sử chuyển thẳng vào món chính: nó bắt đầu ăn xơi những người bị thiệt thòi và những người thiểu số, tức là những người ủng hộ cách mạng nhiệt tình nhất.

Tất cả những cuộc cách mạng cánh tả trong thế kỷ XX đều theo mô hình này: được những nhà trí thức không tưởng trợ giúp, quyền lực nhanh chóng bị các nhà chính trị chuyên nghiệp – những kẻ luôn luôn lợi dụng những bản năng thấp kém nhất của những người bình thường – chiếm đoạt. Ngay cả ở những nơi “văn minh” nhất, như nước cộng Weimar ở Đức hay “sân chơi của những ngôi sao” Cuba trong những năm 1950, những kẻ vừa mới được đưa lên ngai vàng đều lấy làm sung sướng khi nhìn thấy những nhà trí thức và những bạn bè “đã thoái hóa” của họ bị bỏ tù, bị tra tấn và bị treo cổ trên những cột đèn.

Nhắc lại chỉ thêm buồn. Nhất là đối với những người cấp tiến muốn lấy tiền của người đóng thuế để cổ vũ cho bạo lực. Mao nổi tiếng khi khoe rằng đã “chôn sống 46.000 trí thức”, ý là ông ta đã đưa tất cả bọn họ vào các trại tập trung để họ ngậm miệng và chết ở đó. Phong trào cộng sản cực đoan của Pol Pot nổi tiếng vì đã giết hàng ngàn trí thức, đến mức tất cả những người đeo kính đều bị giết. Ngay cả các chế độ được cho là “mát mẻ”, ví dụ như của Fidel Castro, cũng lập ra các trại tập trung dành cho cho người đồng tính, trong khi Liên Xô cấm đồng tính luyến ái trong hơn năm mươi năm, vượt cả Putin.

Khôi hài nhất là, từng là ngôi sao sáng trong trường đại học, nhưng người hùng cực đoan Che Guevara đã tỏ ra vui sướng và tự mình giết những người đồng tính, những người mà ông ghét cay ghét đắng, trong khi giúp xây dựng hàng loạt trại tập trung của Fidel trên khắp cả nước để tra tấn những người đồng tính và những người đàn ông biến thái nhằm buộc họ phải từ bỏ điều được coi là trụy lạc, được coi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản suy đồi về mặt đạo đức.

Tại sao các cuộc cách mạng mang tính cải cách đều thích giết cả những người trí thức cánh tả và những “nhóm dễ bị tổn thương” vốn gần gũi như thế với trung tâm của cánh tả? Bởi vì quyền lực có logic riêng của nó. Bởi vì tất cả các chính phủ dựa vào bạo lực đều phải thường xuyên ngó lại phía sau. Và điều đó có nghĩa là nó phải kêu gọi những bản năng thấp kém nhất của quần chúng. Nếu quần chúng ghét người đồng tính, hay người Do Thái, hay các nhà trí thức thì chính phủ sẽ làm những gì nó nói, nó sẽ đưa những người đồng tính, người Do Thái và trí thức vào trại khổ sai. Những người thấp hèn nhất ghét cái gì thì chính phủ toàn trí toàn năng ghét cái ấy.

Tại sao các nhà trí thức lại không nhìn thấy mô thức hành động khủng khiếp này? Có lẽ, họ hy vọng rằng lần này khác và lần này những người cấp tiến trong các trường đại học và các chính trị gia sa lông của họ sẽ nắm được dây cương. Nếu lịch sử là người dẫn đường thì những người đó sẽ không giữ được dây cương. Không những thế, những nhà chính trị chuyên nghiệp sẽ giật mất cuộc cách mạng của họ và biến nó thành cơn ác mộng khủng khiếp nhất đối với họ: biến thành cuộc cách mạng phản-trí-tuệ, chống người đồng tính, phân biệt chủng tộc và bài Do Thái. Dù khởi nguồn của cách mạng có trong sạch đến đâu thì lịch sử cũng cho thấy kết quả tất yếu là như thế.

Chẳng có gì vui cả. Không ai trong chúng ta muốn những người cánh tả cấp tiến bị treo lên cột đèn hay bị giết trong văn phòng của Che cho ông ta xem. Chúng ta muốn là những nhà cải cách ủng hộ bạo lực sẽ phải có thái độ thận trọng hơn nữa với mồi lửa mà họ đang nhóm lên. Họ nên nghiên cứu thêm một chút về lịch sử. Để hiểu lý do tại sao, lúc nào và ở đâu nó cũng như thế, để hiểu cưỡi lên con hổ mang tên chính phủ có quyền lực không hạn chế là việc nguy hiểm đến mức nào.

Những người cánh tả nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được con hổ mang tên quần chúng đã được phá cũi sổ lồng. Nhưng họ không thể kiểm soát được và trên thực tế, họ sẽ là người đầu tiên bị treo lên cột đèn. Và đấy là điều rất đáng buồn cho tất cả chúng ta, cả những người tả khuynh lẫn hữu khuynh.

Peter St. Onge là Phó giáo sư tại Taiwan’s Fengjia University College of Business.

Nguồn: Mises Institute

nguồn: anhbasam.wordpress.com

FB: Pham Nguyen Truong

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Không thể ngăn cấm thông tin trên mạng xã hội

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2015

“Em là em đếch tin ạ.
Đời người ta chỉ mắc lừa một lần, cùng lắm là hai, ba lần chứ không ai mắc mãi, thưa Thủ tướng.
Riêng cái mồm anh thì bọn tôi ngửi mùi thúi hoắc đến mấy lần rồi.

Này nhé: Đứa nào nói những câu này?
– Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay. – đố Thủ tướng là đứa nào nói câu này?
– “Tòa khâm sứ, sẽ trả lại”?
– “Ủng hộ luật biểu tình”?
– “Dân có quyền làm những điều pháp luật không cấm?”

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Không thể ngăn cấm thông tin trên mạng xã hội

15-1-2015

Báo Thanh Niên

Đánh giá công tác thông tin – truyền thông năm 2014, Thủ tướng cho rằng năm qua có bước tiến tốt, thông tin điều hành và các quyết sách của Chính phủ, Thủ tướng kịp thời đến với người dân. Tuy nhiên, cần phải phát huy hơn nữa và phải xem chức năng thông tin là một mảng công tác quan trọng; kịp thời cung cấp các quyết định của Thủ tướng, Chính phủ để toàn dân được biết, tạo sự đồng thuận, đồng lòng trong xã hội.

Theo Thủ tướng, thông tin luôn diễn ra hai chiều, do đó những vấn đề nóng hổi, bức xúc từ cuộc sống phải có đề xuất ngay để xử lý. “Thông tin không đúng làm phân tâm xã hội, ai phải làm việc này ngoài Chính phủ? Trước đây phân công cho các Bộ, cho ngành này ngành kia phải có trách nhiệm nhưng Văn phòng Chính phủ phải tham mưu lên Thủ tướng, Chính phủ. Nếu không đúng, đề nghị lãnh đạo Chính phủ yêu cầu Bộ, ngành nói lại cho đúng để định hướng dư luận. Thông tin bây giờ đòi hỏi phải nhanh lẹ, kịp thời”, Thủ tướng yêu cầu.

Người đứng đầu Chính phủ đặc biệt lưu ý, hiện nay hơn 30 triệu người Việt đang sử dụng các mạng xã hội, đó là nhu cầu thiết yếu không thể ngăn cấm. Điều quan trọng phải thông tin cho chính xác, định hướng cho tốt dư luận trên mạng xã hội. “Các đồng chí ngồi đây đều tham gia mạng xã hội, có điện thoại để lên facebook xem thông tin. Vậy làm sao để thông tin đó đúng đắn, chúng ta không ngăn, không cấm được đâu các đồng chí. Phải đưa thông tin chính  xác, kịp thời để định hướng. Trên mạng ai nói gì thì nói nhưng nếu có thông tin chính thống của Chính phủ thì người dân mới có lòng tin. Đây là nhiệm vụ mới cần phải làm tốt trong năm nay”, Thủ tướng giao nhiệm vụ cho Văn phòng Chính phủ.

“Không phải tôi cả nể”

Liên quan đến ý kiến trong Văn phòng Chính phủ cho rằng vẫn còn sự đan chéo, phân biệt chưa rõ ràng trong thẩm quyền của các Bộ, ngành và Thủ tướng, Chính phủ; nhiều Bộ, ngành mặc dù có thể quyết định được nhiều việc nhưng vẫn muốn trình lên Thủ tướng, trong khi Thủ tướng lại cả nể nên vẫn phải cho ý kiến quyết định…, Thủ tướng khẳng định bản thân mình không cả nể, nguyên nhân do thực tiễn có nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ, địa phương, phải yêu cầu báo cáo xem xét do để quá chậm.

“Việc tắc như thế nhưng cứ để nhắc hoài, đưa lên đưa xuống. Không phải tôi cả nể không biết thẩm quyền nhưng có cái nhắc nhiều lần hoặc là do năng lực kém hoặc do sợ trách nhiệm. Nhưng vì cuộc sống, vì nhu cầu cấp bách của người dân phải làm trước rồi rút kinh nghiệm sau”, Thủ tướng nói và đề nghị quá trình tham mưu, nếu có vấn đề nảy sinh thuộc thẩm quyền Bộ, ngành mà thấy băn khoăn, khó xử lý, cứ mạnh dạn trình Thủ tướng cho ý kiến.

Liên quan đến việc theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng yêu cầu cần phải làm tốt hơn, tránh để tình trạng như vụ Vinashin, mặc dù Thủ tướng ghi rõ văn bản không được mua tàu cũ nhưng vẫn mua. “Cái đó phải rút kinh nghiệm, khi đã có chỉ đạo rồi thì từng Vụ, chuyên viên phải theo chức trách của mình giám sát xem Bộ, ngành, đơn vị có thực hiện không, hay thực hiện đến đâu. Phải biết để nhắc nhở, nếu chậm chễ thì báo trình lên trên để xử lý”, Thủ tướng lưu ý.

Anh Vũ.

http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/thu-tuong-nguyen-tan-dung-khong-the-ngan-cam-thong-tin-tren-mang-xa-hoi-525812.html

————

 

DÁM XIN THỦ TƯỚNG PHEN NÀY NỮA
NẤU XÁO, XIN ĐỪNG NẤU XÁO VOI

Em là em đếch tin ạ.
Đời người ta chỉ mắc lừa một lần, cùng lắm là hai, ba lần chứ không ai mắc mãi, thưa Thủ tướng.
Riêng cái mồm anh thì bọn tôi ngửi mùi thúi hoắc đến mấy lần rồi. Này nhé:
– Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay. – đố Thủ tướng là đứa nào nói câu này?
– Tòa khâm sứ, sẽ trả lại?
– Ủng hộ luật biểu tình?
– Dân có quyền làm những điều pháp luật không cấm?

Cha ông đã dạy:
Mai mưa, trưa nắng, chiều nồm
Trời còn luân chuyển, huống chi mồm thằng… bá ngơ.
Và đừng có mà “Tin bợm mất bò, tìn thủ tướng thì mất vợ, rồi nằm co một mình”
Em là em đếch tin ạ.

http://www.thanhnien.com.vn/…/thu-tuong-nguyen-tan-dung-kho…

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Liên minh đen tối hút máu Quân đội và Nhân dân: Tổng Giám đốc Cityland Bùi Mạnh Hưng, Bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh và Đại tá Phùng Quang Hải

Posted by hoangtran204 trên 15/01/2015

Chú ý: Tác giả của loạt bài này thuộc phe nhóm trong đảng CSVN và thuộc nhóm nhỏ đang nắm quyền cai trị VN. Nhiều người nhận định rằng chỉ có  phe nhóm có quyền lực như TT Nguyễn Tấn Dũng mới có trong tay đầy đủ tài liệu và hình ảnh của các đối thủ chính trị khác và NTD đã dùng blog Chân Dung Quyền Lực  để tấn công và khui các vụ làm ăn tham nhũng của các đối thủ với mục đích tìm hậu thuẩn trong 175 ủy viên trung ương đảng để những đảng viên cao cấp này bầu cho NTD ở lại làm thêm nhiệm kỳ 5 năm; NTD (sinh 1949) năm nay theo quy định là phải về hưu, không được ứng cử các chức vụ trong đảng và chính quyền vì ông ta đã hơn 66 tuổi, nhưng các dấu hiệu cho thấy NTD  đang dòm ngó chức tổng bí thư nhiệm kỳ (2016-2021).

Blog chân dung quyền lực đã viết rất nhiều bài kể về sự giàu có của PTT Nguyễn Xuân Phúc, Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh,…

“Bất kể ai là người đứng sau blog Chân Dung Quyền Lực và bất kể mục đích của họ là gì, những lời tố cáo tham nhũng với những bằng chứng rất khả tín trên trang blog ấy đều có lợi cho công cuộc đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam: Dưới mắt dân chúng, không phải chỉ có các ông Trương Tấn Sang, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Xuân Phúc… tham nhũng mà hầu như toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam đều tham nhũng. Họ chỉ khác nhau ở mức độ. Khi toàn bộ giới lãnh đạo đều tham nhũng, muốn cho sạch, người ta không còn cách nào khác ngoài việc thay đổi chế độ.” FB Nguyễn Hưng Quốc

 

Liên minh đen tối hút máu Quân đội và Nhân dân: Tổng Giám đốc Cityland Bùi Mạnh Hưng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Đại tá Phùng Quang Hải

14-5-2015

Chia sẻ bài viết này

Bùi Mạnh Hưng còn gọi là “Hưng Hòa bình”, sinh ngày 20/9/1972, gốc Hòa Bình, dân tộc Mường, là bạn chí thân của Đại tá Phùng Quang Hải. Năm 2003, Hưng đã cùng Phùng Quang Hải “nắm bắt thời cơ” về việc dư thừa đất quốc phòng ở nội đô TP. HCM và lập Công ty TNHH Đầu tư Địa ốc Thành phố – Cityland, bắt đầu kinh doanh bất động sản, trở thành doanh nghiệp sân sau lớn nhất nằm ngoài Bộ Quốc phòng của gia đình ông Phùng Quang Thanh, chuyên hứng các dự án “chuyển đổi mục đích sử dụng đất quốc phòng”. Mỗi lô đất quốc phòng sau khi chuyển mục đích sử dụng được chuyển nhượng cho Cityland với giá rẻ mạt và không giới hạn thời gian thanh toán.

Bùi Mạnh Hưng, Tổng Giám đốc Cityland

Với thủ đoạn phân lô bán nền bằng cách kêu gọi đầu tư dưới dạng hợp tác xây dựng, Bùi Mạnh Hưng đã tay không bắt giặc hàng nghìn tỷ, một phần vào túi Hưng, phần lớn hơn vào túi Phùng Quang Hải. Năm 2006, sau khi ông Phùng Quang Thanh nắm trọn quyền Bộ Quốc phòng, Cityland càng gom được nhiều dự án đất quốc phòng béo bở hơn. Đến năm 2009, cậu con trai Phùng Quang Hải được Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đặt vào ghế Giám đốc Công ty Xây dựng 319, khi ấy Công ty Cityland trong tối và Tổng công ty 319 ngoài sáng cùng nhau chia chác đất quốc phòng, trong đó, Cityland được đặc quyền các lô đất quốc phòng tại khu vực TP. HCM.

Phòng làm việc của Đại tá Phùng Quang Hải, Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty 319 là một căn phòng cực kỳ ô uế, nơi Hải và Hưng thường xuyên hành lạc với các em; trong hình là cảnh vào một ngày cuối năm 2014…

sau khi hành lạc tại chỗ, Bùi Mạnh Hưng nằm “nghỉ dưỡng” trên sofa tại căn phòng này (xin miễn đăng các hình ảnh, clip nhạy cảm vì phạm trù đạo đức)

Hãy điểm qua một số dự án “chuyển đổi mục đích đất quốc phòng” của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải và Bùi Mạnh Hưng qua danh nghĩa Cityland:

1- Dự án biệt thự mặt sông Cityland Riverside (Số 10, Nguyễn Thị Thập, P. Tân Phú, Quận 7)

Năm 2005, ông Phùng Quang Thanh, khi đó là Tổng Tham mưu trưởng tạo điều kiện để Cityland trên danh nghĩa liên danh với công ty ACC (thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân) thực hiện dự án chuyển đổi 9,4 ha đất quốc phòng tại Quận 7, TP.HCM đang là địa bàn đóng quân của Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không – Không quân sang đất dự án Khu dân cư với tổng số tiền phải trả cho Bộ Quốc phòng xác định là 915 tỷ đồng (khoảng 9,7 triệu đồng/m2) nhưng Bùi Mạnh Hưng không phải chi ra một đồng nào. Mãi đến 7 năm sau (2012), công ty Cityland mới cho triển khai dự án, đặt tên là Cityland Riverside và phân lô bán nền với giá từ 40-60 triệu đồng/m2, sau đó mới trả tiền cho Bộ Quốc phòng. Như vậy, riêng dự án này, Cityland đã kiếm được hơn 1.000 tỷ mà không cần vốn, nói cách khác, 1.000 tỷ trên đã vào túi của liên minh Đại tướng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải và Bùi Mạnh Hưng. Rất gọn, rất hợp pháp, chỉ có Bộ Quốc phòng là chịu thiệt.

Bảng giá đất nền dự án Cityland Riverside từ 40-60 triệu đồng/m2 (trang 1/3)

Bảng giá đất nền dự án Cityland Riverside từ 40-60 triệu đồng/m2 (trang 3/3)

Sư đoàn 367 đã phải rời ra Nhơn Trạch, Đồng Nai, nhường khu đất rộng 9,4 ha cho Cityland xây dựng khu dân cư Riverside, vụ việc khiến cử tri Quận 7 bất bình phản ảnh tại buổi tiếp xúc cử tri ngày 10/5/2012 (trước kỳ họp thứ 3, QH Khóa XIII) nhưng sau đó bị chìm xuồng

Ảnh chụp tháng 10/2014, hầu hết các hạng mục của Riverside đều còn đang dang dở, công trường bề bộn, trái ngược với vẻ đẹp long lanh của bản thiết kế và lời hứa của chủ đầu tư “sẵn sàng đưa vào sử dụng năm 2014”

2- Dự án Cityland Garden Hills tại Gò Vấp (Số 168 Phan Văn Trị, Q. Gò Vấp, TP.HCM)

Năm 2008, trong khi Cityland chưa trả khoản nợ 915 tỷ cho lô đất Sư đoàn 367 tại Quận 7, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh lại tiếp tục yêu cầu Tổng cục Hậu cần chỉ định Cityland làm chủ đầu tư thực hiện dự án di dời Tổng kho Xăng dầu 186 ra khỏi nội đô TPHCM về Nhơn Trạch, Đồng Nai, nhường lô đất 12,11 ha tại số 168 Phan Văn Trị, Q. Gò Vấp cho Cityland với tổng số tiền xác định 1.021 tỷ đồng (khoảng 7,3 triệu/m2). Mãi 6 năm sau, ngày 27/5/2014, Cityland mới nộp cho Bộ Quốc phòng 450 tỷ đồng và đến tháng 6/2014, Cityland mới nộp thêm 200 tỷ, tổng cộng BQP mới nhận được 650 tỷ trong tổng số tiền 1.021 tỷ mà đất đã thuộc về Cityland. Qua đó thấy rõ, Quân đội đã phải chịu thiệt biết bao nhiêu trong phi vụ của liên minh đen tối này?

Tờ trình số 4374/TTr-SXD-PTĐT của Sở Xây dựng TP. HCM về việc điều chỉnh chấp thuận đầu tư dự án cho Cityland (trang 1/18)

Tờ trình số 4374/TTr-SXD-PTĐT của Sở Xây dựng TP. HCM về việc điều chỉnh chấp thuận đầu tư dự án cho Cityland (trang 2/18)

Tờ trình số 4374/TTr-SXD-PTĐT của Sở Xây dựng TP. HCM về việc điều chỉnh chấp thuận đầu tư dự án cho Cityland (trang 4/18)

Trong khi từ tháng 9/2012, khu đất 168 Phan Văn Trị đã được Cityland quy hoạch xong giai đoạn 1 và phân lô bán nền với giá từ 30-60 triệu đồng/m2. Đến tháng 12/2013, Cityland đã quy hoạch xong giai đoạn 2 với tổng số 330 lô có tổng trị giá 1,911 tỷ đồng và đã bán được 133 lô tương ứng với 820 tỷ đồng (đó là chưa kể 3,2ha của khu đất dành cho TTTM E-Mart, trong đó 0,54 ha chuyển nhượng cho Công ty TNHH Aeon, Hàn Quốc).

Từ tháng 9/2012, Cityland đã phân lô bán nền với giá 30-60 triệu đồng/m2 (trang 1/3)

Từ tháng 9/2012, Cityland đã phân lô bán nền với giá 30-60 triệu đồng/m2 (trang 2/3)

Từ tháng 9/2012, Cityland đã phân lô bán nền với giá 30-60 triệu đồng/m2 (trang 3/3)

Tổng kho Xăng dầu 186 đã được di dời về Nhơn Trạch, Đồng Nai từ lâu nhưng Cityland mới trả được 650 tỷ cho Bộ Quốc phòng

Thật khó có thể tưởng tượng, cùng một công thức, chỉ riêng dự án này, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã cho Cityland nợ ngân sách Bộ Quốc phòng cả nghìn tỷ qua 6 năm trời, bất chấp sự biến động của giá bất động sản, riêng tiền phân lô bán nền thu được đã gấp đôi số tiền phải trả cho Bộ quốc phòng (mà thực tế chưa bỏ ra đồng nào). Riêng dự án này, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải và Bùi Mạnh Hưng đã kiếm được gần 2,000 tỷ đồng.

3- Dự án Cityland Park Hills (Số 18 Phan Văn Trị, Q. Gò Vấp) và Cityland Center Hills (Số 2 Nguyễn Oanh, Q. Gò Vấp)

Năm 2012, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh tiếp tục yêu cầu Tổng cục Kỹ thuật chỉ định Cityland làm chủ đầu tư thực hiện dự án di dời Xí nghiệp liên hiệp Z751, gồm 2 lô đất: số 2 Nguyễn Oanh (Căn cứ 25) và số 18 Phan Văn Trị (Căn cứ 80) trên cùng địa bàn Q. Gò Vấp, TP.HCM có tổng diện tích 34,68ha với số tiền xác định 2.211 tỷ đồng (khoảng 6,37 triệu/m2).

Công văn số 1169/BQP- KT do Bộ trưởng Phùng Quang Thanh trực tiếp ký ngày 25/4/2012 về việc chuyển nhượng lô đất quốc phòng rộng 34,686ha cho Cityland (trang 1/2)

Công văn số 1169/BQP- KT do Bộ trưởng Phùng Quang Thanh trực tiếp ký ngày 25/4/2012 về việc chuyển nhượng lô đất quốc phòng rộng 34,686ha cho Cityland (trang 2/2)

Đến tháng 6/2014, Cityland mới chỉ nộp cho Bộ Quốc phòng 490 tỷ đồng nhưng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã chỉ đạo ban hành Quyết định số 2437/QĐ-BQP ngày 30/6/2014 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng 34,686 ha trên cho Cityland.

Trên giấy phép xây dựng ghi rõ Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số 2437/QĐ-BQP ngày 30/6/2014 về việc chuyển nhượng lô đất Z751 cho Cityland

Trước đó, tháng 7/2014, Cityland đã hoàn tất việc quy hoạch, phân lô cho Khu A và đặt tên là Dự án Cityland Center Hills với 414 căn biệt thự, TTTM rộng 7.660m2 và các công trình xã hội khác. Theo bảng giá kinh doanh của Cityland, chỉ riêng 414 căn biệt thự này đã có giá 1.923,8 tỷ đồng. Lô đất còn lại rộng 27 ha tại Số 18 Phan Văn Trị, Q. Gò Vấp được đặt là Khu BD, tên là Dự án Cityland Park Hills với 973 căn biệt thự, 3 block căn hộ (1.516 căn) và TTTM rộng 27.410m2, chỉ riêng 973 căn biệt thự đã có giá 3.995,2 tỷ đồng.

Phối cảnh Khu A: Center Hills

Phối cảnh Khu BD: Park Hills

Từ tháng 7/2014, Cityland đã phân lô bán nền, chỉ riêng 973 căn biệt thự tại Khu BD đã có giá 3.995,2 tỷ đồng (trang 1/38)

Từ tháng 7/2014, Cityland đã phân lô bán nền, chỉ riêng 973 căn biệt thự tại Khu BD đã có giá 3.995,2 tỷ đồng (trang 38/38)

Thật có nằm mơ cũng không nghĩ được, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh lại tiếp tục chiêu bài “đất quốc phòng” để ký khống cho Cityland, từ việc chuyển nhượng lô đất quốc phòng với giá xác định 2.211 tỷ (thực chất Cityland hoàn toàn không bỏ ra đồng nào) cho đến khi đã phân lô bán nền. Chỉ tính những giá trị nền các căn biệt thự đã lên tới 5.919 tỷ đồng, chưa tính các căn hộ chung cư, siêu thị E-mart,… Dự án này, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải và Bùi Mạnh Hưng đã kiếm được ít nhất trên 4 nghìn tỷ đồng, quá kinh khủng!

. ..

Còn rất và rất nhiều dự án “đất quốc phòng” khác của liên minh đen tối này dưới cái tên Cityland ở Quận 2, Quận 8, Phú Quốc, Hà Nội,… càng tìm hiểu, chúng tôi từ kinh hãi, rụng rời đến tức giận cùng cực, rớt nước mắt khi nghĩ đến những mảnh đời neo đơn bất hạnh không chốn nương thân, những chiến sĩ ngày đêm canh gác nơi tận cùng Tổ quốc… trong khi những kẻ quyền cao chức trọng như Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lại không nghĩ đến vận mệnh quốc gia, sự tồn vong dân tộc mà lại dối trên, lừa dưới, lợi dụng danh nghĩa quân đội ngày đêm hút máu dân lành…

Nếu ở Tổng Công ty 319 phải chịu nhiều sự kiểm soát tài chính quân đội theo “quy chế” của Bộ Quốc phòng, số tiền tham nhũng dù phần lớn vào tay gia đình Đại tướng Phùng Quang Thanh nhưng vẫn phải chia chác, bôi trơn cho nhóm lợi ích thuộc Quân ủy Trung ương thì ngược lại, khoản thặng dư khổng lồ lên tới hàng chục nghìn tỷ mà Cityland kiếm được qua việc kinh doanh đất quốc phòng không cần vốn, chảy riêng vào túi bộ ba Đại tướng Phùng Quang Thanh, Đại tá Phùng Quang Hải và viên “sĩ quan không cấp hàm” hạng nặng Bùi Mạnh Hưng.

Chúng tôi còn nắm trong tay bản photo quyển sổ quỹ tiền mặt của Cityland (dày 553 trang) và quyển sổ quỹ riêng của TGĐ Bùi Mạnh Hưng (dày 302 trang) do cô Nguyễn Thị Thúy Hồng (thư ký Bùi Mạnh Hưng) quản lý trong các năm 2013-2014, trên sổ ghi rõ ngày tháng, nội dung chi, số tiền cho rất nhiều vị tai to mặt lớn cả trong quân đội lẫn chính quyền (dù được ghi bằng các biệt danh, tên viết tắt nhưng dễ dàng nhận ra). Đơn cử, thẻ Visa có số tài khoản 258110000607619 đứng tên Phùng Quang Hải tại ngân hàng Vietinbank không bao giờ cạn tiền và được Cityland tự động nạp đầy hàng tuần, hàng tháng. Chúng tôi sẽ chuyển đến Ủy ban Kiểm tra TW khi có yêu cầu hoặc sẽ scan toàn bộ và đưa công khai để độc giả có thể kiểm chứng nếu Đại tướng Phùng Quang Thanh tiếp tục cho rằng chúng tôi “xuyên tạc, bịa đặt”!

Nguồn: Thanh tra Nhân dân

————–

Bạn đọc có thể nghĩ rộng ra rằng: Với quyền lực thực sự cao nhất nước thì tài sản của Nguyễn Tấn Dũng còn nhiều hơn bất cứ ủy viên BCT nào hiện nay. Thêm vào đó, 3 đứa con Nguyễn Thanh Nghị  (1977) Phó Bí thư tỉnh ủy kiêm phó chủ tịch tịnh Kiên Giang, Nguyễn Thanh Phượng vừa thôi chức vụ Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Ngân Hàng Bản Việt để đi sinh, Nguyễn Minh Triết Phó Bí thư Tỉnh đoàn tỉnh Bình Định 2013-2017

———-

9-1-2015

Nguyễn Tấn Dũng điều động nhân sự nhằm tăng cường quyền lực

 
T6, 01/09/2015 – 17:14
Thủ tướng CSVN vừa mới bổ nhiệm một số nhân vật mới vào Bộ Công An và Bộ Ngoại Giao, để củng cố thế lực, vây cánh của mình.

Theo  Quyết định số 2425/QĐ-TTg, ông Dũng điều động Trung tướng Nguyễn Chí Thành, Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh I, đến nhận công tác và giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an. Trước đây, Bộ Công an có 2 Tổng cục An ninh là Tổng cục An ninh I (an ninh đối ngoại) và Tổng cục An ninh II (an ninh nội địa ).

Tuy nhiên mới đây, 2 Tổng cục An ninh này đã được sát nhập lại thành một Tổng cục, gọi là chung là Tổng cục An ninh. Trung tướng Thành sẽ về nhận nhiệm vụ Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh vừa sát nhập này. 

Theo  Quyết định số 2426/QĐ-TTg, ông Dũng điều động Trung tướng Trần Bá Thiều, Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, đến nhận công tác và giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị Công an nhân dân, Bộ Công an. 

Theo Quyết định số 2427/QĐ-TTg, ông Dũng điều động Trung tướng Phan Văn Vĩnh, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, đến nhận công tác và giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an.

Theo Quyết định số 12/QĐ-TTg, ông Dũng điều động ông Nguyễn Quốc Cường, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa kỳ, trở lại giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Với sự thay đổi này,  những nhân vật thân cận được bổ nhiệm để tăng cường quyền lực cho phe Nguyễn Tấn Dũng, và trấn áp phe bất đồng chính kiến trong nước, nhằm đảm bảo cho đại hội toàn quốc của đảng cộng sản sắp diễn ra.

Ngô Đồng / SBTN

 

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Ông Phùng Quang Thanh: ông có thể cho biết những điểm nào trong khối tài sản khổng lồ sau đây là xuyên tạc, bịa đặt?

Posted by hoangtran204 trên 10/01/2015

Một phần tài sản khổng lồ của các Ủy viên BCT của đảng CSVN đã và đang được đưa lên mạng cho dân chúng xem. Thế nhưng các đảng viên này lâu nay vẫn tự xưng thuộc thành phần giai cấp vô sản: TT Nguyễn tấn Dũng, PTT Nguyễn Xuân Phúc, nay đến phiên Đại tướng Phùng Quang Thanh.

Ông Phùng Quang Thanh: ông có thể cho biết những điểm nào trong khối tài sản khổng lồ sau đây là xuyên tạc, bịa đặt?

10-1-2015

Chân Dung Quyền Lực (CDQL)

Không thể phản biện, không thể phủ nhận những thông tin mà CDQL đã đưa, thậm chí truyền thông nhà nước truyền tải theo ngay sau đó, đặc biệt liên quan đến những âm mưu chính trị thấp hèn, khối tài sản tham nhũng cực lớn ở đỉnh cao quyền lực… Những người cầm quyền bắt đầu dùng cả một hệ thống chính trị to lớn để tìm mọi thủ đoạn ngăn chặn, tuyên truyền, cho rằng CDQL là phản động, xuyên tạc, bịa đặt….

Trong số đó, người lớn tiếng nhất phải kể đến là ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Tại sao ông Phùng Quang Thanh không thể giữ được bình tĩnh, quyết liệt đòi trấn áp thông tin, ngăn chặn thông tin? Phải chăng ông có tật giật mình dù CDQL chưa nhắc nhiều đến ông ta?

Thời gian qua, chúng tôi mới chỉ bắt đầu vẽ bức chân dung quyền lực của ông PTT Nguyễn Xuân Phúc với đầy đủ thông tin xác thực, dễ dàng kiểm chứng về khối tài sản lên tới hàng nghìn tỷ đục khoét của dân. Nay, đến phiên ông.

Thưa ông Phùng Quang Thanh, ông có thể cho dư luận biết chúng tôi xuyên tạc điểm nào? Theo tiêu chí của CDQL, chúng tôi sẽ không chừa một ai thiếu đức, thiếu tài mà lại cho mình cái quyền quyết định vận mệnh dân tộc, trong đó bao gồm cả ông nữa.

phung-quang-thanh.jpg

Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Vì không thể chấp nhận các lời xuyên tạc, xem thường Nhân Dân của ông trên báo www.qdnd.vn và cả trên www.vtv.vn nên chúng tôi xin phép ông được thống kê một chút về tài sản của Đại tá Phùng Quang Hải, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty 319, người đang thay mặt ông mượn danh nghĩa Bộ Quốc phòng, vơ vét tài sản nhân dân để xây dựng mạng lưới kinh tài cho dòng họ Phùng.

Đại tá Phùng Quang Hải, con trai Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh

Sau khi xem xong, ông hãy bình tĩnh để tiếp tục phát biểu và hãy cho Nhân Dân biết rằng những thông tin này có thật không? ông có biết chuyện của Đại tá Phùng Quang Hải không? và quan trọng nhất, đây có phải là thông tin xuyên tạc, bịa đặt không? Nếu ông Phùng Quang Thanh vẫn cho rằng đây là thông tin xuyên tạc, bịa đặt thì chúng tôi sẽ tiếp tục có loạt phóng sự điều tra, thống kê và công bố chi tiết toàn bộ khối tài sản bất minh khổng lồ của gia đình ông, trên thực tế hơn gấp nhiều lần ông PTT Nguyễn Xuân Phúc! Sau đây là một số thông tin để ông tham khảo:

1- Về bất động sản

Đại tá Phùng Quang Hải, con trai Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh đang sở hữu 06 biệt thự, căn hộ hạng sang với tổng trị giá là 230,4 tỷ đồng, chưa tính chi phí xây dựng, cải tạo, nội thất sẽ còn lớn hơn nhiều:

(1) Căn biệt thự số BL07-01 tại đường Bằng Lăng 07, Khu đô thị Sinh thái Vinhomes Riverside (Long Biên, Gia Lâm, Hà Nội) được mua với giá 31,7 tỷ đồng ngày 19/10/2011.

(2) Căn biệt thự số BL07-02 sát bên cạnh căn BL07-01 được mua cùng thời điểm 19/10/2011 với giá 30,2 tỷ đồng.

bl07-01-01.jpg

Hai căn biệt thự trên đã được vợ chồng Phùng Quang Hải mua với tổng trị giá 61,9 tỷ đã được đập bỏ sau đó sát nhập, xây dựng lại thành một căn biệt thự hoành tráng bậc nhất tại Vinhomes Riverside
bl07-01-02.jpg

Sảnh tiếp khách mang tên “Bình An” nằm bên ngoài kiến trúc chính căn biệt thự của Phùng Quang Hải
bl07-01-03.jpg

Một khoảnh sân của căn biệt thự 61,9 tỷ (chưa tính chi phí xây dựng) của Phùng Quang Hải

(3) Căn biệt thự số BL04-07 tại đường Bằng Lăng 04, cũng thuộc Vinhomes Riverside được mua cùng thời điểm ngày 19/10/2011 với giá 31 tỷ đồng, căn này do Phùng Thị Thu Huyền (sinh năm 1982, con gái ông Phùng Quang Thanh) đứng tên.

Căn biệt thự BL04-07 được Phùng Quang Hải mua với giá 31 tỷ đồng cùng ngày 19/10/2011 và cho em gái là Phùng Thị Thu Huyền đứng tên

(4) Căn Penhouse tại Tầng 25, Vincom Center Tp. HCM (72 Lê Thánh Tôn, Quận 1, TP.HCM) được mua ngày 13/11/2013 với giá 1,7 triệu đô la Mỹ tương đượng khoảng 35 tỷ đồng.

View và nội thất căn Penhouse tại Tầng 25, Vincom Center Tp. HCM được Phùng Quang Hải mua với giá 35 tỷ đồng

View và nội thất căn Penhouse tại Tầng 25, Vincom Center Tp. HCM được Phùng Quang Hải mua với giá 35 tỷ đồng

(5) Căn biệt thự rộng 1.000m2 tại Khu biệt thự lâu đài Chateau Phú Mỹ Hưng (Quận 7, Tp.HCM) được mua ngày 30/4/2014 với giá 82,5 tỷ đồng.

Vị trí căn biệt thự tại khu biệt thự lâu đài Chateau Phú Mỹ Hưng được Phùng Quang Hải mua với giá 82,5 tỷ đồng

Căn biệt thự lâu đài Chateau Phú Mỹ Hưng được Phùng Quang Hải mua với giá 82,5 tỷ đồng (4,13 triệu đô la)

(6) Căn hộ hạng sang A2, tầng 20 tại khách sạn 5 sao Premier Havana Plaza, Nha Trang (38 Trần Phú, Nha Trang) được mua ngày 30/7/2014 với giá 20 tỷ đồng.

Khách sạn 5 sao Premier Havana Plaza tọa lạc tại số 38 Trần Phú – con đường vàng của thành phố biển Nha Trang

Bản thiết kế căn A2, tầng 20 của Premier Havana Plaza được Phùng Quang Hải mua với giá 20 tỷ đồng (1 triệu đô la)

2- Về siêu xe, du thuyền

Bỏ qua nhiều loại xe hạng sang trọng mà Phùng Quang Hải đang sở hữu, gần đây Phùng Quang Hải đã đặt mua thêm chiếc siêu xe và du thuyền với tổng trị giá ho trăm tỷ đồng:

– Ngày 10/10/2014, Phùng Quang Hải đặt mua chiếc Rolls-Royce Phantom phiên bản đặc biệt có tên Đông Sơn (chỉ có 6 chiếc trên toàn thế giới) với giá 46 tỷ đồng. (2,3 triệu đô la)

Chiếc xe Rolls-Royce Phantom Đông Sơn Phùng Quang Hải đặt mua với giá 46 tỷ đồng (2,3 triệu đô la)

Nội thất bên trong chiếc xe Rolls-Royce Phantom phiên bản đặc biệt trị giá 46 tỷ của Phùng Quang Hải đã đặt mua

Nội thất bên trong phiên bản đặc biệt trị giá 46 tỷ của Phùng Quang Hải đã đặt mua

– Ngày 18/11/2014, Nguyễn Thị Minh Hương (vợ Phùng Quang Hải) đứng tên, dùng danh nghĩa công ty công ty TNHH Tràng An để ký hợp đồng với công ty TNHH Sài Gòn Xây dựng Du thuyền (địa chỉ số 101 Trần Hưng Đạo, Q.1, TP. HCM) đặt mua chiếc du thuyền Manhattan 63 có mã số 3851463 do hãng Sunseeker (Đức) sản xuất với giá 2,54 triệu USD tương đương khoảng 53,4 tỷ đồng.

Chiếc du thuyền Manhattan 63 trị giá 53,4 tỷ đồng được vợ Phùng Quang Hải đứng tên đặt mua, dài 21,07m, rộng 5,13m, màu trắng gồm 3 tầng đầy đủ tiện nghi sang trọng

Phòng ngủ trên tầng dưới của chiếc du thuyền trị giá 53,4 tỷ đồng của Phùng Quang Hải

Đấy là chưa kể những tài sản giá trị khác mà Phùng Quang Hải đang sở hữu hàng loạt, chẳng hạn như bộ sưu tập điện thoại, đồng hồ đang để trong căn biệt thự Bằng Lăng:

vertu-box.jpg

Một góc tủ trưng bày điện thoại, đồng hồ hạng sang trong căn biệt thự Bằng Lăng

3- Về quan hệ bất chính

Đại tá Phùng Quang Hải có sở thích quái đản: chinh phục các người đẹp, đặc biệt thích gái đã có chồng, tạm thời chỉ nêu đích danh 3 cô để ông Phùng Quang Thanh được rõ:

– Cô Vũ Thị Thu Hằng, sinh năm 1979, gốc Hưng Yên, thường trú tại P206, Nhà 46, Khu tập thể Vật tư Du lịch số 46 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội.

vu-thi-thu-hang.jpg

Cô Vũ Thị Thu Hằng, người tình thứ nhất của Phùng Quang Hải

– Cô Nguyễn Kim Thanh là cán bộ ban Tài chính Dự án của Tổng công ty 319, thực tế, cô này thuộc nhóm tiếp khách gồm 5 nữ nhân viên thường xuyên tháp tùng Phùng Quang Hải.

nguyen-kim-thanh.jpg

Cô Nguyễn Kim Thanh, người tình thứ 2 của Đại tá Phùng Quang Hải

– Cô Lê Nhã Uyên (người đẹp trong TOP 20 tại Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam năm 2010).

le-nha-uyen.jpg

Người đẹp Lê Nhã Uyên trên bàn làm việc của Phùng Quang Hải (con trai của Phùng Quang Thanh)

Thưa ông đại tướng Phùng Quang Thanh, các nội dung trên đây những chi tiết nào ông cho là xuyên tạc, bịa đặt? chúng tôi sẽ căn cứ vào phát ngôn của ông để tiếp tục làm rõ từng chi tiết cụ thể và còn hơn thế nữa, ví như tài khoản ngân hàng của vợ, con, dâu, rể,… ví như việc ông và Đại tá Phùng Quang Hải con ông chữa bệnh tại bệnh viện của PLA, Trung Quốc, ví như thủ đoạn biến đất quốc phòng thành đất riêng rồi quy hoạch bán,… Còn nếu ông biết đó là những thông tin trung thực, ông có quyền giữ im lặng và chờ đợi.

Nguồn: Thanh tra Nhân dân

 

Đại tướng Phùng Quang Thanh và những tin đồn

2-1-2015

Người Buôn Gió

Liên tục thời gian gần đây, đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh có những phát biểu ôn hoà trong mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Trong những ngày căng thẳng mà giàn khoan Hải Yến của TQ xâm phạm lãnh hải Việt Nam, ông Phùng Quang Thanh không hề có phát ngôn nào, cũng như chỉ huy “lãnh đạo, trực tiếp và duy nhất” của ông là TBT Nguyễn Phú Trọng.

Vào hồi mùa thu năm 2014, khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công du ở Châu Âu, tìm kiếm sự ủng hộ của Châu Âu trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam, tại chuyến đi này ông Dũng đã tố cáo hành vi xâm lược với những hành động mang tích bạo lực của TQ. Khi mà ông Dũng còn mải mê lên án TQ với các nguyên thủ Châu Âu. Đầy bất ngờ ngay lúc đó, ông Phùng Quang Thanh dẫn một đoàn tướng tá cấp cao sang TQ tuyên bố hai nước hoà bình, hữu nghị. Dường như trong phát ngôn của ông Thanh, Việt Nam và Trung Quốc không hề có mối bất hoà nào. Đặc biệt ông Thanh còn đứng lên ở một vị trí cao hơn tất cả là ông phát ngôn trong vai trò đại diện ý nguyện nhân dân Việt Nam chứ không phải vai trò của một bộ trưởng quốc phòng.

Hành động của ông Thanh lúc ấy đương nhiên sẽ làm mất đi giá trị những lời nói của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Chấp nhận việc trống đánh xuôi, kèn thổi ngược này của Phùng Quang Thanh, ông Nguyễn Tấn Dũng cay đắng thú nhận cái gọi là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” của ĐCSVN. Một lời thú nhận khôn khéo, tránh cho ông Dũng khỏi bị mất mặt khi bị các đồng chí của mình hạ bệ uy tín, hình ảnh trong mắt các nguyên thủ các cường quốc Châu Âu. Vừa khiêm nhường lùi một bước coi như mình đang trong vài trò người thực hiện chínhch của trung ương ĐCS.

Ông Nguyễn Tấn Dũng ngoài chuyện làm thủ tướng chính phủ VN, ông còn cầm đầu cả một tập đoàn lợi ích, con gái ông trong thời gian ngắn kinh doanh ở Việt Nam đã tích luỹ được khối gia sản khổng lồ. Con trai lớn của ông mới 37 tuổi từ phó hiệu trưởng một trường đại học nhảy vọt lên giữ chức thứ trưởng. Con trai út của ông mới ngoài 20 tuổi đã làm lãnh đạo tỉnh. Chưa kể em họ, cháu họ của ông Dũng giữ nhiều cương vị khác cũng như kinh doanh nhiều ngành nghề khác.

Tuy nhiên thì người trực tiếp theo lênh Nguyễn Phú Trọng để hạ uy tín của ông Dũng là ông Phùng Quang Thanh cũng chả kém cạnh gì. Về vụ lợi thì con trai ông đại tá Phùng Quang Hải cũng nắm chặt những nguồn lợi xây dựng khổng lồ, các đàn em của ông cũng tha hồ kinh doanh mọi nguồn lợi béo bở như ngân hàng, xăng dầu, viễn thông… mà không hề bị dòm ngó.

Việc để đoàn Bộ Quốc Phòng đi sang TQ là chủ ý của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ông Trọng chắc được người Trung Quốc bày mưu cai trị, để ngỏ chức TBT kỳ tới cho hai ứng cử viên là Phạm Quang Nghị và Phùng Quang Thanh. Một đằng sai Phạm Quang Nghị đi Mỹ ra mắt và dằn mặt Mỹ bằng cách biếu thượng nghĩ sĩ Mỹ món qùa là tấm ảnh viên thượng nghị sĩ Mỹ bị Việt Nam bắt làm tù binh. Đằng khác ông Trọng sai ông Thanh sang lấy lòng TQ trên cương vị đại diện ý nguyện nhân dân.

Âm mưu của ông Nguyễn Phú Trọng bên ngoài là mang tiếng dân chủ, để có sự cạnh tranh giữa các ứng cử viên. Nhưng cốt lõi của âm mưu này là sự cạnh tranh được đánh giá không phải vì những hành động có lợi cho đất nước, mà chính là những hành động lấy lòng Trung Quốc, hành động hạ bệ đối thủ Nguyễn Tấn Dũng, hành động thù nghich với Hoa Kỳ. Những hành động cạnh tranh như thế là thước đo tính điểm của TBT tương lại. Đây chính là nguyên nhân gây nên sự bất ổn, tranh giành nội bộ của ĐCSVN, Khiến đất nước bị tê liệt ý chí kháng cự trước hành động xâm lược gặm dần của TQ.

Đại tướng Phùng Quanh Thanh có một quá khứ lẫy lừng, được phong anh hùng lực lượng vũ trang năm 22 tuổi. Có nhiều thành tích chống Mỹ. Trong chiến tranh biên giới phía Bắc, ông Thanh “suýt” dự trận Núi Đất ở Hà Giang. Có lẽ chứng kiến sức mạnh của quân đội nhân dân Trung Hoa anh hùng gấp 10 lần quân đội nhân dân Việt Nam, khi ông Thanh cùng sư đoàn của mình đến nơi thì việc đầu tiên là thu dọn xác chết đồng đội và bỏ ý định tái chiếm Núi Đất. Từ đó đến nay ông Thanh đã bị ám ảnh trước sự hùng mạnh của quân đội Trung Hoa, dẫn đến tư tưởng rất có lợi cho nhân dân Việt Nam, tư tưởng này cũng phù hợp với BCT, đặc biệt là ông Nguyễn Phú Trọng, là “dĩ hoà vi quý, một điều nhịn chín điều lành” cốt làm sao giữ được chế độ là thành công lắm rồi.

http://vtc.vn/bo-truong-phung-quang-thanh-tranh-de-xay-ra-xung-dot-voi-trung-quoc.2.523371.htm

“Ông Thanh bày tỏ lo ngại các thông tin xuyên tạc, nói xấu lãnh đạo, gây chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước đang xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng internet sẽ ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và phát triển của đất nước.

Việc để những phần tử xấu lên các trang mạng, tung tin nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước rộ lên trước thềm Đại hội Đảng các cấp được Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh “hết sức nguy hiểm”, cần ngăn chặn kịp thời để giữ ổn định, giữ lòng tin trong nhân dân.

“Tôi đề nghị làm sao để khắc phục được vấn đề này, làm sao để tránh những thông tin xuyên tạc, gây chia rẽ nội bộ xuất hiện trên mạng Internet”, ông Thanh nói.”

Bởi tư tưởng đó, dưới thời ông Phùng Quang Thanh làm bộ trưởng, mục tiêu giữ hoà bình hữu nghị với TQ và giữ vững chế độ được đặt lên hàng đầu. Quân đội của ông Thanh diễn tập trấn áp bạo đông, bạo loạn nhiều hơn. Tổng cục chính trị Bộ Quốc Phòng thành một thế lực bảo vệ chính trị nội bộ, chuyên phòng chống đấu tranh chống diễn biễn hoà bình. 3 trong 4 vị tướng được phong hàm thượng tướng của quân đội Việt Nam mới cách đây mấy ngày đều nằm trong của tổng cục chính trị, tức là nằm trong chủ trương hữu nghị với TQ mọi giá và trấn áp dân chủ, bảo vệ chế độ cộng sản thân TQ bằng mọi giá.

Tư tưởng này đã giúp nhân dân Việt Nam được sống hoà bình trên đất liền, tha hồ thi hoa hậu, ca múa nhạc, đâm chém nhau, truỵ lạc, tham nhũng, buôn lậu ăn chơi xa hoa ở một số bộ phận. Tha hồ mất đất, kêu oan ở một số bộ phận nhân dân khác.

Chính tư tưởng này đã chỉ đạo nên những vụ bắt bớ người phản kháng nó, hàng loạt những nhân sĩ, trí thức đến người dân bình thường phản đối đều bị bắt bớ bằng cách này hay cách khác, với những tội danh được áp đặt tuỳ tiện khác nhau.

Trong cơ chế bảo vệ chế độ này, nhất là lãnh vực thông tin. Đảng CSVN có nhiều ban ngành, bộ máy để lo việc độc quyền thông tin và khai thác, tuyên truyền những thông tin có lợi cho ĐCS. Có hàng đống cơ quan đồ sộ như ban tuyên giáo, bộ văn hoá, thông tin… Tại sao bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh lại nhảy sang mặt trận mới này để lên án và đòi trấn áp những tin đồn?

Tìm hiểu về tin đồn trên mạng, chúng ta có thể thấy chúng có đề cập đến cá nhân Phùng Quang Thanh.

http://chandungquyenluc.blogspot.de/2014/12/ngan-hang-bac-to-cao-ong-phung-quang-thanh.html

Như vậy chả có gì bất ngờ khi đại tướng Phùng Quang Thanh nhảy vào lĩnh vực đấu tranh thông tin nội bộ bị tán phát, bởi chính ông cũng được nêu tên trong cơn sóng thông tin lần này. Có thể giấc mơ về một vị trí cao hơn ở đại hội kỳ tới đã khiến Phùng Quang Thanh không giữ được bình tĩnh, nôn nóng đòi trấn áp thông tin, ngăn chặn thông tin và nỗ lực làm hình ảnh của mình thuần tính trong con mắt của những vị Đại Hán tối cao. Những vị Đại Hán là người có quyền lựa chọn chúc TBT cho Việt Nam suốt hơn hai mươi năm qua.

Nhân dân Việt Nam và đất nước Việt Nam hy vọng gì ở một TBT tương lai lãnh đạo đất nước như Phùng Quang Thanh?

Với tôi, thì mong muốn ông Phùng Quanh Thanh sẽ giữ được chức TBT hợp nhất với Chủ Tịch Nước kiêm Chủ tịch bí thư quân uỷ trung ương gì đó. Bởi thế nước Việt mới mau chóng đi đến thiên dường XHCN nhanh hơn bất kỳ ai cầm lái. Dở dang mãi thế này, tốn công bàn chuyện lắm.

 

——-

Đại tướng Phùng Quang Thanh có những đề xuất lạ lùng nhằm bảo vệ cách làm kinh doanh buôn bán của Quân đội Nhân dân Việt Nam! (tại sao ông bảo vệ túi tiền cho các sĩ quan khác? Xem câu trả lời trong bài ngày 10-1-2014)

Những đề xuất lạ

1-1-2015

Nguyễn Đăng Quang

Theo blog Nguyễn Tường Thụy

 

Ngày 29/12/2014, trong Hội nghị Tổng kết công tác năm 2014 của Chính phủ, nhiều người lấy làm lạ là Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đưa ra một số đề xuất “hơi lạ”! Nếu chỉ điểm qua tên gọi các đề xuất này, không nói danh tính người đề xuất là ai, tôi cam đoan là rất ít bạn đọc ( nếu không nói là không có ai ) có thể đoán được người đưa ra những đề xuất này lại là một vị tướng có cấp hàm cao nhất trong QĐNDVN ta hiện nay. Vâng, đó là Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh! Theo phóng viên Bảo Quyên của báo VnEconomy, tại Hội nghi Tổng kết nói trên, Đại tướng Phùng Quang Thanh đưa ra đề xuất: Chính phủ cần:

– Bỏ lệ phí cấp sổ đỏ cho người dân,

– Xem xét kỹ lưỡng các Dự án nước ngoài trước khi cấp phép,

– Giảm tỷ lệ nộp Ngân sách Nhà nước cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội VIETTEL.

1/. Qua đề xuất “ Chính phủ cần bỏ lệ phí cấp sổ đỏ cho người dân”- cho dù lệ phí cấp “sổ đỏ” đất thổ cư đối với người dân lâu nay nói chung không cao, nhất là đối với người nông dân ở nông thôn, trung bình chỉ từ trên một trăm cho đến hai,ba trăm ngàn đồng mỗi sổ đỏ – cá nhân tôi thấy đồng chí Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng thật sự có tấm lòng quan tâm đến các hộ gia đình nông dân nghèo ở miền quê! Đây quả là điều đáng trân quý của một đồng chí lãnh đạo cao cấp! Song -theo tôi- nếu đây là đề xuất của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường thì tôi tin Thủ tướng Chính phủ sẽ xem xét kỹ và đáp ứng thỏa đáng!

2/. Về đề xuất “ Chính phủ cần xem xét kỹ lưỡng các Dự án nước ngoài trước khi cấp phép” thì tôi hơi giật mình! Lâu nay tôi những tưởng việc ta sơ xuất cấp phép hoặc cấp phép mà không xem xet kỹ lưỡng cho các dự án nước ngoài là chỉ xảy ra ở cấp độ địa phương (tỉnh hay huyện) mà thôi, như sự việc đã xảy ra vừa qua ở Cửa Khẻm trên đèo Hải Vân (ThừaThiên-Huế) hoặc cho thuê vài trăm ngàn hectares rừng đầu nguồn với thời hạn 50-70 năm ở các tỉnh biên giới phía Bắc cách đây 2 năm, hoặc các dự án cho người Trung Quốc vào thả bè nuôi cá sát cạnh quân cảng Cam Ranh, v.v… Nay, qua đề xuất của Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng nêu lên tại Hội nghị của Chính phủ ngày 29/12/2014 vừa qua ở Hà Nội, tôi giật mình nhận thấy lâu nay việc cấp phép cho các Dự án nước ngoài mà không hoặc chưa xem xét kỹ không phải chỉ có xảy ra ở cấp địa phương ! Giá như đồng chí Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng đưa ra đề xuất này cách đây 5-10 năm về trước thì hẳn ta đã tránh được nhiều thiệt hại, rủi ro và nguy hiểm nhiều mặt như đối với Dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên mà cố Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng hàng ngàn nhà khoa học và nhân sỹ trí thức đã nhiều lần ra sức can ngăn và kiến nghị dừng khai thác để tránh những hậu họa khôn lường về an ninh-quốc phòng, kinh tế-xã hội và môi trường mà nhân dân và đất nước ta đã, đang và sẽ còn phải gánh chịu trong vài chục năm nữa! Nhưng dù sao muộn cũng còn hơn không, tôi xin cảm ơn Đại tướng đã có tầm nhìn chiến lược và sự quan tâm đúng mức giữa phát triển kinh tế (mời gọi ngoại quốc đầu tư) với việc chú trọng đảm bảo quốc phòng-an ninh của đất nước!

3/. Riêng về đề xuất “ Chính phủ cần giảm tỷ lệ nộp ngân sách cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội VIETTEL” thì thú thực tôi hơi khó hiểu, vì tôi vốn không phải là nhà quản lý, càng không phải là người am tường về kinh tế, chỉ là một viên chức quèn đã nghỉ hưu, kiến thức về kinh tế-tài chính thì mù tịt, bởi thế nên tôi không hiểu!

Dưới nhan đề “ Bộ trưởng Quốc phòng xin giảm nộp ngân sách cho Viettel”, phóng viên Bảo Quyên của VnEconomy viết: ”Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng cho biết, hiện Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel mỗi năm có doanh thu và lợi nhuận khá lớn, trong đó năm 2014 doanh thu đạt trên 196 ngàn tỷ VNĐ, lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 42 ngàn tỷ VNĐ. Tuy nhiên, theo quy định chung, 70% lợi nhuận sau thuế của Viettel phải nộp vào Ngân sách Nhà nước. Theo Bộ trưởng Phùng Quang Thanh, đây là con số quá cao.

“Chính phủ nên giảm tỷ lệ nộp Ngân sách của Viettel để có thể dùng khoản đó đầu tư cho một số đơn vị mua sắm trang thiết bị, vũ khí, số còn lại để đầu tư ra nước ngoài”, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh kiến nghị.”

Tôi thực sự vui mừng vì Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel là một trong số ít ỏi doanh nghiệp kinh tế quốc doanh làm ăn có lãi. Đây thực sự là quả đấm thép! Nếu mọi doanh nghiệp kinh tế nhà nước làm ăn có lãi như Vietel thì nền kinh tế nước ta đã vững mạnh. Nhưng có điều tôi chưa rõ là tỷ suất 70% lợi nhuận sau thuế phải nộp cho Ngân sách Nhà nước là áp dụng chung cho mọi doanh nghiệp kinh tế nhà nước hay chỉ áp dụng riêng đối với Viettel mà thôi? Vì không rõ cho nên tôi không dám có lời bình gì! Song có điều rất rõ là Bộ trưởng Quốc phòng xin giảm tỷ lệ nộp Ngân sách của Viettel là “để họ có thể dùng khoản đó đầu tư cho một số đơn vị mua sắm trang thiết bị, vũ khí, số còn lại để đầu tư ra nước ngoài”. Như vậy, ngoài Ngân sách Quốc phòng hàng năm mà Nhà nước cấp cho Quân đội, thì Bộ Quốc phòng cũng muốn Tập đoàn Viettel có ngân sách quân sự riêng để mua sắm vũ khí, trang thiết bị cho một số đơn vị. Chắc đây phải là “mật quỹ” riêng của Viettel và nó là “bất khả xâm phạm”, không chịu sự kiểm soát của Kiểm toán Nhà nước? Nếu cách hiểu của tôi như vừa trình bày là không đúng thì xin Phùng Đại tướng bỏ quá vì như đã nói tôi vốn mù tịt về kiến thức kinh-tài, bởi vậy tôi không dám cam đoan cách hiểu của tôi là đúng. Một lần nữa mong sự cảm thông của Bộ trưởng!

4/. Bài báo của phóng viên Bảo Quyên nói trên viết tiếp: “ Trong phần cuối phát biểu của mình, người đứng đầu Bộ Quốc phòng cũng lưu ý, hiện nay trong dư luận xã hội, từ người trẻ đến người già, đang hình thành một xu thế “GHÉT TRUNG QUỐC”. Theo ông, đây là một việc nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước, cũng như quan hệ giữa 2 quốc gia.

“ Đành rằng, Trung Quốc vừa qua có những hành động sai trái, nhưng chúng ta sẽ đấu tranh bằng những con đường hợp pháp khác. Song song với đó, thì cũng phải hợp tác, vì họ là láng giềng của chúng ta, không thể thay đổi được.”

Đây không phải là đề xuất của Đại tướng Bộ trưởng PQT như 3 đề xuất vừa đề cập ở trên, mà nó là một nhận xét tổng quát về mặt NHÂN TÌNH trong xã hội ta đối với người láng giềng khổng lồ ngàn năm duyên nợ Trung Hoa ! Trước hết, cần phải hoan nghênh Đại tướng Bộ trưởng PQT là đã có một đánh giá đúng khi ông nói rằng “ Trung Quốc vừa qua có những hành động sai trái.” Song các nhận định, đánh giá còn lại trong phát biểu của ông, tôi không thể đồng tình! Vì bài viết này cũng đã khá dài, tôi xin dừng tại đây để nhường lời cho các bạn đọc quan tâm có ý kiến bình luận, đánh giá về sự lưu ý, nhận định về xu thế “GHÉT TRUNG QUỐC” trong dư luận xã hội nước ta cũng như giải pháp mà Đại tướng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã sơ bộ đề cập. Mong có sự tham gia góp ý, bình luận của đông đảo quý vị độc giả trong và ngoài nước. Xin rất cảm ơn và kính chúc quý vị Năm mới 2015 Hạnh phúc và An bình!

Hà Nội, Đêm Giao thừa 2014-2015.

NĐQ.

Nguyễn Đăng Quang là cựu Đại tá công an, về hưu và hiện ở Hà Nội.

——————-

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »