Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín, 2011

Wikileak đưa tin về con của các lãnh đạo đảng CS từ năm 2006

Posted by hoangtran204 on 30/09/2011

Hà Giang/Người Việt

Con của ông Ng. Tấn Dũng và ông Lê Duẩn

WESTMINSTER -Nhiều công điện do Wikileaks tiết lộ cho thấy không chỉ bản thân những nhân vật lãnh đạo cấp cao của nhà cầm quyền CSVN được Hoa Kỳ chiếu cố, mà cả con cái của họ cũng không thoát khỏi “radar” của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Trong công điện ngày 26 tháng 12, 2006, gởi cho bộ Ngoại Giao ở Washington D.C., Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, ông Seth Winnick đã tóm lược những tin tức thu nhặt được về ba người con của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. (Công điện viết tên ông thủ tướng là “Dzũng” thay vì “Dũng” – NV).

Công điện viết, ngụ ý, Tổng Thống Bush đã “bắt nọn” ông Dũng khi đột nhiên đề cập đến mối quan hệ giữa các con ông Dũng với phía Hoa Kỳ. Còn về phía ông Dũng, vẫn theo ghi nhận của công điện, ông ta “tìm cách lảng tránh, hoặc hạ thấp tầm quan trọng của quan hệ ấy (giữa con cái ông ta với Hoa Kỳ).”

Công điện viết về cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống (Bush) và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ở hội nghị thượng đỉnh APEC: “Theo một nguồn tin đáng tin cậy ở thành phố Hồ Chí Minh, Thủ Tướng Dũng giật mình khi Tổng Thống Bush hỏi han về việc học hành cũng như những liên hệ khác của các con ông tại Hoa Kỳ.”

Lý do, theo công điện, là vì tại Việt Nam, tin tức cá nhân và cả sinh hoạt của thân nhân các viên chức cao cấp chính quyền được xem là “nhạy cảm.”

Thế nhưng, các công điện tường trình khá đầy đủ về 3 người con của Nguyễn Tấn Dũng cho thấy những gì Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cần biết, họ đều biết.

Cậu ấm, cô chiêu

Công điện viết rõ, con trai cả của Dũng là Nguyễn Thanh Nghị, sinh năm 1977, lấy bằng tiến sĩ ngành kỹ sư công chánh (structural engineering) từ George Washington University, và sau khi tốt nghiệp đã trở về Việt Nam giảng dạy tại khoa Xây Dựng của Ðại Học Kiến Trúc thành phố Hồ Chí Minh.

Vợ tương lai của Nghị, một cô gái gốc Hà Nội, cũng là một du học sinh tại George Washington University, nơi hai người gặp nhau. Họ làm đám cưới sau khi trở lại Việt Nam.

Dư luận cho rằng “cậu ấm” Nghị sau này sẽ lãnh đạo một trong những tập đoàn ngành xây dựng nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh, và cũng có liên hệ mật thiết với công ty Bitexco, một công ty tư nhân đảm trách việc xây cất một số tòa nhà chọc trời tại Hà Nội và Sài Gòn. Tầm hoạt động của Bitexco còn gồm cả ngành đóng chai, dệt và các công trình thủy điện.

Công điện nêu rõ là vào những năm 2001 và 2002, Nghị vừa nắm đầu ngành giao tế vừa là “quản lý dự án” của Bitexco.

nguyenthanhnghi_4.jpg

Ông Nguyễn Thanh Nghị hiện đang là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.

Ðoạn dưới đây của công điện “xác nhận một nguồn tin” về cô con gái rượu của Thủ Tướng Dũng, tên Nguyễn Thanh Phượng. Nội dung công điện cho thấy, khi Hoa Kỳ quan tâm, họ quan tâm tất cả mọi chuyện về đối tượng, kể cả chuyện tình cảm.

Công điện ghi lại nội dung cuộc phỏng vấn tại Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, khi cô Phượng đến xin Visa vào Mỹ.

“Trong lúc trò chuyện với chúng tôi, Phượng xác nhận tin cô đang hẹn hò với một người Mỹ gốc Việt cùng làm việc trong ngành tài chánh hiện đang phát triển mạnh tại Việt Nam.”

Về học vấn của Nguyễn Thanh Phượng, công điện của tổng lãnh sự tại Sài Gòn cho biết, sau khi tốt nghiệp tại “trường trung học danh tiếng Sài Gòn, Marie Curie” năm 1995, Phượng tốt nghiệp cử nhân Ðại Học Kinh Tế Quốc Gia tại Hà Nội năm 2001, và học cao học tại Học Viện Quốc Tế Geneva (International University in Geneva), Thụy Sĩ, “một trường liên kết với Michigan State University, và chỉ đến thăm Hoa Kỳ trong vòng 2 tuần vào năm 2004 để nhận bằng tốt nghiệp từ Michigan State University.”

Cũng trong buổi nói chuyện trên, Phượng xác nhận em trai cô, là Nguyễn Minh Triết, sinh năm 1990, hiện đang học trung học ở Anh Quốc và dự định sẽ theo ngành truyền thông.

Con ông cháu cha

So sánh 3 người con của ông Dũng, Tổng Lãnh Sự Seth Winnick tỏ ra có cảm tình với Phượng. Ông viết: “Phượng giống cha như đúc, và dường như trong ba người con ông thủ tướng, Phượng là người năng động nhất. Trong câu chuyện với chúng tôi, cô tỏ ra cởi mở, tò mò, và chăm chú. Rõ ràng cô là một người có tài.”

Vẫn theo nhận xét của Tổng Lãnh Sự Seth Winnick thì con đường sự nghiệp thênh thang rộng mở của Phượng, và của anh em Phượng, hiển nhiên là được đưa đến từ thân thế của họ.

Ông viết tiếp: “Tuy thế, việc thăng tiến vượt trội của Phượng, và những cánh cửa rộng mở đón chào Phượng và anh em của cô,” là “bằng chứng cho thấy cách thức mà tầng lớp lãnh đạo (Việt Nam) bảo đảm cho con cái họ những vị trí đầy lợi thế về giáo dục, chính trị và cả kinh tế.”

Công điện đơn cử một vài ví dụ, “Tháng Giêng năm 2006, lúc mới hơn 25 tuổi, Phượng đã là giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị vốn đầu tư $112 triệu của các nhà đầu tư Thụy Sĩ. Ðến tháng 11 cùng năm, Phượng lên làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Quản Lý Quỹ Ðầu Tư Chứng Khoán Bản Việt-Viet Capital Fund Management Joint Stock Company, được viết ngắn gọn là Công Ty Quỹ Ðầu Tư Bản Việt hoặc VCFM với nhiều trăm tỉ đồng Việt Nam đến từ các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.”

Tại sao người ta có thể tin tưởng để giao một số vốn không lồ như thế cho một người trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm như Phượng?

Tổng Lãnh Sự Seth Winnick trả lời câu hỏi này thay cho lời kết của công điện: “Tất nhiên, về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản lý, là một điều khôn ngoan, nhất là khi quỹ này tập trung vào việc đầu tư trong những ngành mà nhà nước kiểm soát, như dầu khí, ngân hàng và công nghệ thông tin.”

Một công điện khác, được xếp hạng “mật,” do tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Kenneth J. Fairfax, gửi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ khoảng đầu năm 2009 cho thấy, không chỉ riêng ba người con của ông Nguyễn Tấn Dũng được hưởng mọi ưu đãi “con ông cháu cha,” mà chức giám đốc hải quan thành phố Hồ Chí Minh, một địa vị ngon lành, cũng được trao cho con trai cựu Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Lê Duẩn.

Một đoạn trong công điện này viết: “Lê Kiến Trung (con trai nhỏ của Lê Duẩn) chính là tổng giám đốc Hải Quan Thành Phố Hồ Chí Minh, một trong những chức vụ được cho là béo bở và được nhiều người thèm muốn nhất trong guồng máy nhà nước Việt Nam.”

Cũng nên nhắc rằng sự kiện công ty Bitexco, do con trai lớn của Nguyễn Tấn Dũng cai quản, là chủ nhân của khu chung cư cao cấp “The Manor,” nơi bao người dân đến mua, đã chung tiền đầy đủ mà cả 4 năm sau vẫn chưa có giấy tờ sở hữu và biết bao nhiêu khiếu nại không được giải quyết khác. (Ðoạn này không có trong công điện)

Cũng theo công điện này, ông Lê Kiến Thành, con trai lớn của cựu Tổng Bí Thư Lê Duẩn, có thể đã có những tư tưởng “lành mạnh” khi nhận định rằng, với guồng máy cai trị hiện tại, khi tự do báo chí không có, thì khó tiêu diệt được tệ nạn tham nhũng đang lan tràn ở mọi tầng lớp.

Công điện trích lời phát biểu của Lê Kiến Thành trong một buổi họp liên quan đến “xì căng đan” tham nhũng nổi tiếng PCI: “Chức tổng biên tập chẳng ăn nhằm gì cả, khi cả ngành truyền thông yếu ớt và bị thao túng có hệ thống, nhưng việc các tổng biên tập của các tờ Pháp Luật, Thanh Niên và Tuổi Trẻ đồng loạt bị thay thế đã đánh dấu một bước lùi cho nền dân chủ.”

Có thể có những con ông cháu cha có một quan điểm lý tưởng hướng về dân chủ không?

Tổng Lãnh Sự Kenneth J. Fairfax tỏ ra dè dặt khi ông kết luận: “Nếu chúng ta tin vào những điều Lê Kiến Thành phát biểu, thì nhiều đảng viên đảng CSVN hiện không hài lòng với hướng đi của đất nước đang sẵn sàng tham gia vào các cuộc tranh luận sôi nổi, ít nhất là giữa họ với nhau.”

Có lẽ chẳng ai có thể khẳng định được điều gì, ngoài việc ghi nhận sự kiện Lê Kiến Thành, 31 năm tuổi Ðảng, đã ra ứng cử độc lập vào Quốc Hội năm 2007, rồi sau đó họp đảng ủy, và được thuyết phục rút đơn.

Liên lạc tác giả: HaGiang@nguoi-viet.com

————–

Trong khi con cái của các đảng viên cao cấp được ăn học ở nước ngoài và sau đó về nắm giữ các chức vụ hái ra tiền, hoặc quản lý hàng trăm triệu đô la như đã tường thuật ở trên, thì nơi ở trọ của những bệnh nhân và gia đình chung quanh các bệnh viện tại thành phồ Hà Nội chỉ khiêm nhường trong phạm vi 2 đô.

(Báo chí VN giả vờ không biết và không đưa tin về việc ăn học, cuộc sống, chức vụ của con cái và gia đình của các cán bộ cao cấp. Báo chí trong nước được phép đưa các tin khác như sau).

Nỗi cơ hàn của bệnh nhân nghèo và những “vòi bạch tuộc” quanh bệnh viện

(PL&XH) – Do khuôn viên của các bệnh viện lớn-nhất là bệnh viện K, Phụ sản TƯ…chật chội nên người nhà bệnh nhân và kể cả người bệnh phải ngồi tràn cả ra vỉa hè đông nghẹt.

Từ lâu, các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập nhiều đến vấn đề quá tải của bệnh viện. Một điều dễ dàng nhận thấy những bệnh viện lớn như: Bạch Mai, Việt-Pháp, Bệnh viện K, Việt Đức, Bệnh viện E, Nhi TW, Phụ sản TW, Việt Pháp… luôn ở trong tình trạng quá tải. Cứ mỗi buổi sáng, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân phải xếp hàng chờ cấp cứu, siêu âm, chẩn đoán và khám chữa bệnh. Do khuôn viên của các bệnh viện lớn-nhất là bệnh viện K, Phụ sản TƯ…chật chội nên người nhà bệnh nhân và kể cả người bệnh phải ngồi tràn cả ra vỉa hè đông nghẹt.

Rủ nhau chặt chém

Chỉ tính sơ qua trên địa bàn Hà Nội hiện có đến hàng chục bệnh viện lớn và tầm cỡ, nhưng chỉ có duy nhất bệnh viện Việt Đức có được một khu nhà trọ dành cho người nhà bệnh nhân nhưng vẫn chưa đáp ứng nổi nhu cầu. Bệnh viện này được xem là bệnh viện “kiểu mẫu” ở nước ta có khu nhà trọ dành riêng cho người nhà để trông nom nuôi dưỡng bệnh nhân với giá rẻ (mức thu 10.000-15.000 đồng/người/ngày).  Tuy chật chội, nhưng một số người đã có chỗ trú chân chứ không phải chịu cảnh vạ vật như trước nữa.

Chúng tôi đã có chuyến khảo sát về dịch vụ cho thuê nhà ngoài các bệnh viện cho thấy, nếu thuê nhà trọ để người nhà bệnh nhân ngủ trưa ít nhất phải mất từ 8-12 nghìn đồng, nếu ngủ qua đêm từ 20-30 nghìn đồng. Mặc dù phải thuê nhà trọ với giá như vậy, mỗi phòng chừng 8-10m2, chủ nhà không ngần ngại nhồi nhét từ 5-7 người. Chị Thu Nguyệt, một chủ nhà trọ gần bệnh viện Bạch Mai cho biết, nhà có 6 phòng cho thuê, những lúc đông lên tới 30-40 người thuê ở. Những người tìm đến với chị đa phần là người nhà bệnh nhân, lao động ngoại tỉnh hoặc những người làm ô sin trong bệnh viện. Chị hồn nhiên cho biết thêm: Nếu người nghèo, khó khăn đến thuê nhà phải có dấu xác nhận của chính quyền địa phương thì chị mới giảm cho phần nào đối với mỗi gia cảnh. Trường hợp đặc biệt gia đình chị mới cho ở miễn phí. Còn bình thường thì phải có giá từ 15-25 nghìn đồng/người/ngày mà nhiều lúc cháy phòng.

Chúng tôi đến cổng bệnh viện E, mới dừng xe áp vào cổng vài ba người thi nhau nắm lấy tay níu kéo mời thuê nhà. Người nào cũng nói ngon nói ngọt, giới thiệu về phòng trọ nhà mình sạch sẽ, thoáng mát, giá cả phải chăng. Đắn đo một lúc, chúng tôi theo chân một người đàn ông trung tuổi đi vào con ngách 23/7, phố Trần Cung (quận Cầu Giấy) để xem phòng và ngã giá. Mới đặt chân vào khu nhà trọ mà đã thấy sởn da gà bởi sự ngột ngạt, chật chội ẩm thấp và hôi hám… khu nhà trọ tồi tàn, có 5 phòng (mỗi phòng rộng chừng 9m2)  nhưng được ông chủ của chúng kê tới 2 tấm phản to che gần kín lối đi. Mỗi một giường như vậy có một bệnh nhân chờ nhập viện và một người nhà đi theo.

“Chiếc giường ngoại cỡ” này có sức chứa trung bình từ 6 người, cá biệt có khi lên tới 8 người. Chủ nhà, một phụ nữ ngoài 60 tuổi, còn rất nhanh nhẹn luôn lượn đi lượn lại nhòm ngó, mà không quên những lời nhắc nhở người nhà đến thăm nom bệnh nhân. Đang trầm tư ngắm phòng và khu vệ sinh chung, một anh thuê nhà ở đây vỗ vai tôi bảo, vợ chồng bà này rất kỹ tính, hay để ý và soi mói. Như mấy hôm gần đây, cứ khoảng 11g30 trời nóng bức 36-37 độ mà bà chủ luôn tự ý cắt điện đến 2g chiều. Rất nhiều lần chúng tôi phản đối bà mới ngừng cắt điện. Còn về phần nước thì cấm được dùng nhiều, phải 2-3 ngày mới được giặt quần áo để đỡ tốn nước. Chủ nhà còn đảm nhận luôn cả khâu  dịch vụ điện thoại, mỗi một lần nghe là mất 1.500 đồng; còn gọi thì bà chủ “chặt chém” vô giá (nội hạt thì 2000đồng/phút, gọi vào di động thì 5000đồng/phút). Không chấp nhận thì đi tìm chỗ khác. Anh hàng xóm nói tiếp: Giá cả họ bảo nhau thống nhất rồi. Thuê ở đâu  quanh khu vực này cũng thế.

Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, PV đã phải lui tới rất nhiều lần ở hầu hết những bệnh viện lớn trên địa bàn Hà Nội. Chị Hoàng Thu Trang (quê Tam Đảo-Vĩnh Phúc) đưa chồng đi chữa thận tại bệnh viện Bạch Mai than thở: Vào ban ngày còn có chỗ đi ra đi vào, đôi lúc xem tivi, còn vào ban đêm chỉ còn cách vật vờ xung quanh hành lang, cạnh các bồn hoa…của bệnh viện. Nhà ở quê nghèo, tiền không có nhưng vẫn phải cố vay mượn đi chữa cho chồng với hy vọng “còn người thì còn của”. Chị bảo, đi chạy thận này tốn kém lắm. Vay mượn anh em, chú bác mãi mới được 5-6 triệu xuống đây chưa được một tuần đã hết. Nếu phải đi thuê nhà trọ bình quân 15.000đồng/ngày, tính ra mất 500 nghìn đồng/tháng thì chỉ còn cách bán nhà! Hơn nữa, chồng chị phải nằm viện ít nhất là 4 tháng, lúc ra viện thì lấy đâu ra tiền mà trả!

Đối nghịch

Cũng trong hoàn cảnh như vậy, anh Nguyễn Văn Bình, xã Minh Trí-Sóc Sơn, mỗi ngày chỉ dám ăn 2 chiếc bánh mì (có giá 2000 đồng/chiếc) để dành tiền chữa chạy cho con tại bệnh viện K. Anh vừa khóc vừa kể cho PV nghe về gia cảnh của mình, bệnh tình của cháu bé theo các bác sĩ nói mất khoảng 40 triệu truyền dịch thì cháu sẽ khỏi nhanh. Còn không sẽ phải dùng thuốc kháng sinh liều cao sử dụng lâu dài. Nhà quá nghèo, không có lấy vài triệu thì làm sao dám mơ nên anh đành phải ngậm ngùi chọn phương án hai. Hàng ngày, anh luôn túc trực bên đứa con trai bị ảnh hưởng thần kinh liệt toàn thân vô cùng vất vả. Ở quê, vợ chồng có 4 sào ruộng làm cả năm chẳng đủ thóc ăn thì làm sao nghĩ đến chuyện vay mượn 40 triệu để chữa cho con nhanh khỏi. Thương cháu lắm nhưng cha mẹ bất lực. Còn về chuyện ngủ, với anh cũng như nhiều bệnh nhân nghèo khác thì ở đâu cũng là nhà, ở bất kỳ chỗ nào cũng là giường.

Hai trong số rất nhiều gia cảnh của những bệnh nhân nghèo khó trên, âu cũng là “chuyện thường ngày” ở bệnh viện. Họ cam chịu và hi sinh.

Điều đáng bàn ở đây là những trường hợp bệnh nhân nghèo đa số từ ngoại tỉnh về Hà Nội chữa bệnh. Họ phải tằn tiện, tính toán chi ly để hạn chế chi phí, nếu không khoản vay người thân ở quê, vay ngân hàng sẽ ngày càng lớn và khó có khả năng chi trả. Không chỉ dừng lại ở nỗi vất vả ấy, đã không ít người nhà bệnh nhân chủ quan, do mệt mỏi ngủ say bị bọn trộm cắp tà trộn vào trong bệnh viện móc mất tiền. Chuyện này xảy ra như cơm bữa ở các bệnh viện. Nhiều người do thiếu kinh nghiệm, không va chạm với xã hội nên nhẹ dạ cả tin bị mắc lừa bọn cò mồi nhà trọ, khám chữa bệnh…để rồi rốt cuộc tiền mất…bệnh vẫn mang.

Nhà trọ hiện đang là nỗi trăn trở của nhiều bệnh nhân nghèo, bệnh nhân ngoại tỉnh đi chữa bệnh. Đa phần họ nghèo khó, đang rất cần sự chia sẻ của xã hội. Đã đến lúc các cơ quan có trách nhiệm, các bệnh viện cần phải quan tâm xây dựng nhà trọ cho những người nghèo, có thu nhập thấp nhằm giúp họ có cơ may chống lại những căn bệnh hiểm nghèo.

Hoàng Vượng

Báo Pháp Luật

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Đảng Đã Cho ta Một Mùa Xuân- Phim Hay mới ra…

Posted by hoangtran204 on 30/09/2011

Mỗi hình ảnh là một câu chuyện đời của những người dân VN đang sống dưới chủ nghĩa xã hội tươi đẹp. Các công dân ngoan hiền sống nhờ vào “ánh sáng và niềm tin”.Trong video dưới đây, các bạn sẽ thấy:

Một số cụ già và em bé đang làm kế hoạch nhỏ bên các bãi rác. Một em nhỏ được các đầy tớ chăm sóc rất tận tình, theo đúng câu châm ngôn của các cụ ngày xưa: thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.

Các nhà lãnh đạo anh minh đều mặc áo veste, thất cravate hẳn hoi khi đón tiếp”người nước lạ”; đôi dép râu, nón cối, AK chỉ còn trong kỷ niệm…xa xôi của thuở hồng hoang.

Các luật sư được các đầy tớ đi kèm hai bên vì sợ…té.

Các cô gái trẻ cởi áo vì trời nóng…

Các bà mẹ già ăn trầu bôi đầy mặt đỏ lòm.

Các ngư dân đánh cá ở Biển Đông gặp nhiều thuận lợi, được các “tàu lạ, người lạ” hộ tống…bảo tiêu.

Công an và an ninh khiêng những người tụ tập bị đau yếu… đi cấp cứu.

Các cụ già, bà mẹ, chị em phụ nữ cảm động quá và khóc.

Tạo điều kiện cho các chị em phụ nữ xếp hàng cởi áo chờ lấy chồng ngoại

Từ Đại hội IV đến Đại hội đảng lần thứ XI đều thành công rực rỡ, các cụ già em nhỏ vui ca đón mùa xuân trong niềm hoan lạc.

Xin các bạn chú ý, tất cả các hình ảnh đều ở trong nước, là “cây nhà lá vườn”, kể cả bài hát. Nếu không có gì trở ngại, tối nay Đài Truyền Hình Việt Nam sẽ đưa lên phim nầy lên màn ảnh nhỏ. Trong khi chờ đợi, mời các bạn xem trước một đoạn phim mẫu của Xuânnhi

Nguồn ở  đây

Đảng đã Cho Ta Nhiều Mùa Xuân

*****************************************************

Thằng Người Có Đuôi

Tập san Văn Học Nghệ Thuật Biên Khảo  Hợp Lưu

Tác giả : THẾ GIANG
– Tên chị là gì?- Thưa em tên Mơ.
– Mơ gì? Mộng mơ hay quả mơ?

– Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu…

– Quê quán ở đâu vậy?

– Em ở Thạch Thất, Hà Tây.

– Chị công tác ở cơ quan nào?

– Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình.

– Chắc chưa vào Đảng…?

– Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn…

– Chị lập gia đình chưa?

– Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi!

– Các cụ nhà ta còn cả chứ?

– Vâng, thầy u em vẫn còn.

– Gia đình được mấy anh chị em nhỉ?

– Thưa, được tám cả thảy…

–  …

Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn?

Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.

– Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này?

–   …

Bỏ mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch: ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Địa Không, Địa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.

Chuyến tàu khởi hành chậm hai tiếng đồng hô như lệ thường. Nếu chả may nó chạy đúng giờ thì người ta còn coi như báo trước một điềm gở… Khổ quá, tôi đã tham lam đóng hết hàng, chỉ chừa lại số tiền vừa đủ ăn đường và nộp hụi chết cho cánh công an thuế vụ thường trực trên tàu, đám đột xuất này mà sờ đến thì chỉ còn nước bỏ của chạy lấy người.

Tàu lắc lư chạy trong đêm. Hành khách ba miền của bao nhiêu âm ngữ đã đồng tiếng ngáy. Ngay sát mặt tôi, dưới gầm ghế là hai bàn chân giao chỉ với ngón cái xòe ra, dính đầy bùn đất của anh nông dân vừa lên tắt hai bao sắn qua cửa sổ. Trên ghế đối diện, thuộc về giai cấp khác, mấy ông cán bộ đi công tác với cặp táp, điếu cày đang ép nhau ngồi. Thỉnh thoảng, những khi tàu lắc mạnh, các vị lại xón cho giai cấp dưới cùng tí nước điếu. Hai con bé con tóc khét nằng, áo bà ba đen, quần đùi, đang ôm lấy bao than củi ngủ, chả hay biết nước thánh cam lồ chảy tong tỏng trên lưng mình. Trên đâu tất cả là mấy ông con trời bộ đội đang nhịp nhàng kẽo kẹt thượng tọa trong võng. Chú lính treo gần tôi nhất đầu ngoẹo ra khỏi võng ngủ, môi trề ra, nước dãi nhểu nhảo chảy xuống bụng chị có con mọn đang tốc áo cho con bú ngáy khò khò trên ghế.

Trời ơi, muốn ra được cũng thật khó, tôi gồng sức đẩy hai bàn chân chắn ngang mặt mình mà không được. Sau mỗi cố gắng, anh nông dân lại cho tôi một cái đạp hoa cả mắt. Đau vì bị đạp thì ít, mà ức vì bị đèn nén thì nhiều, tôi nghiệm thấy, quy luật đấu tranh của xã hội cũng đúng cả dưới gầm ghế này. Nhưng thôi, tất cả đều đã mệt, cần được ngủ để có sức chiến đấu cho lúc xuống tàu.

Tỏng tỏng… róc rách… Tàu chạy vào khúc xuôi gió thì vẳng lên tiếng nước chảy, rồi âm ấm ở đầu. Nghiến răng chịu cho cái chân ghế cứa vào cổ, tôi ngỏng đầu lên để nhìn. Trời đất, suối nguồn thiên thai được bắt từ cái cần câu cong vút của thằng bé đang nằm nghiêng trên ghế ngậm ti mẹ. Xung quanh không ai để ý. Tôi rút tay, vuốt vuốt tóc rồi đưa lên mũi ngửi. Cũng may, trẻ nhỏ nó chưa ăn mặn nên tè ra không khai lắm, chứ như cái mùi thường trực bốc lên từ cầu tiêu đầu toa thì bỏ mẹ. Hành khách đi xe lửa Thống Nhất chả bao giờ bị cảm mạo, trúng gió cũng là nhờ cái mùi này chủng ngừa trước.

– Chị có tranh thủ mang ít hàng để cải thiện không ?

–  …

Cái giọng lấy cung kia lại quái ác nổi lên, tôi đã tỉnh ngủ, nghe rất gần, ngay khoang bên cạnh. Khổ nổi không làm sao chui người ra đuợc để còn biết đường mà chuồn. Thôi thì trăm sự đành cậy nhờ cây đèn bão tù mù này. Giá có ngọn gió nào thổi tắt nó đi thì đỡ biết mấy.

Lúc vừa nhảy lên tàu tôi đã chọn ngay cái toa toàn các khuôn mặt hao hao đói của cán bộ, ngô nghê chất phác của nông dân này để trao thân. Tôi định mập mờ đánh lận con đen giữa đám người lương thiện hòng trốn tránh các toán kiểm tra bất ngờ. Tôi đã mừng rơn khi những «thành phần cơ bản», chủ nhân của toa tàu giương cặp mắt tò mò, đố kỵ, sợ bóng sợ gió nhìn mấy bà «ngụy» đi thăm nuôi chồng con cải tạo ở miền Bắc về rồi từ chối không cho họ ngồi ké.

Tuy đã đuợc thực tế phũ phàng của những trại tù, cuộc sống đầy tương lai của miền Bắc XHCN nhuộm xanh lè cả mặt, nhưng mớ áo quần bằng vải tốt, đống guốc dép, đầu tóc khác lạ, nhất là thói quen nhìn lại chỗ ngồi, phủi phủi vài cái rồi mới e dè đặt mông xuống của mấy bà khiến cho hai miền không thể lại gần nhau được. Tôi tiếc rẻ vận cổ nhìn tiễn theo mấy cái gót chân thon nhỏ, dính chút bùn đi tìm bến đậu khác. Nhưng đời là một cuộc chiến đấu lớn, phải biết tiêu diệt những tình cảm phù phiếm trong mình để đi tới đích. Than ôi, những hy sinh lẻ tẻ đó cũng không cứu được hai bao hàng, đám con chiên hiền lành kia cũng không giúp tôi được chút gì, cái mánh mung của tôi đã hại tôi, chuyến này thì tiền mất tật mang rồi. Không còn cách nào hơn, tôi đành dọn mình, chuẩn bị đón tai họa sắp tới. Trong bóng tối, dưới gầm ghế, bên cạnh hai bàn chân chỉ chực đạp vào mặt với mùi khai của nước tiểu, tôi chợt nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn «Nơi đây tôi chờ… nơi kia anh chờ… » để được ngồi trên «…chuyến xe qua ba miền…». Phải rồi, bên đây tôi nằm, bên kia em nằm, cũng chuyến xe qua ba miền. Cái bậc nghệ sĩ họ thật giàu tưởng tượng và lãng mạn.

– Rụt chân lại !

Tôi hét to, cấu mạnh vào chân anh nông dân. Một cái đạp tương xứng với cái cấu tung vào mặt tôi nhanh nhạy như phản xạ co giật của con ếch khi bị truyền điện. Anh ta cằn nhằn trong miệng rồi tiếp tục ngáy.

– Xê ra cho người ta đi… tiểu !

Không dám cấu nữa, tôi chỉ biết, cũng cốt ý cho đám công an bên cạnh nghe thấy để hợp pháp hóa việc bỏ đi của mình. May làm sao anh chàng nông dân trở mình đổi thế nằm, hai hòn đá chắn cửa hang rụt lại, tôi vội nhoài người ra, đứng dậy leo trèo qua đống thịt ngổn ngang nằm kín lối đi để ra ngoài. Đứng trong cầu tiêu một lúc cho vừa đủ thời gian tiểu tiện, tôi hé cửa nhìn ra. Toa tàu hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có gió lùa ở hai bên cửa sổ, tiếng bánh sắt nghiến xuống đường rầy. Quái lạ, công an biến đâu hết rồi ? Đánh bạo, tôi mò lại gần. Hai bên thành toa võng giăng kín thành hàng, đưa đẩy. Hành khách trên ghế gật gù ngủ. Chả có bóng áo vàng nào hết! Tôi nằm mơ chăng ? Rất có thể vì dân chạy hàng bọn tôi suốt ngày đêm bị rình rập, phải đề phòng, trốn chạy nên riết rồi méo mó nghề nghiệp, nó theo cả vào giấc ngủ. Cứ sống với cái nghề này có  ngày vỡ tim mà chết. Tôi đứng tựa lưng vào thành ghế, định thần lại. Chị có con mọn đã ngã choãi lên người tay thiếu úy trẻ để ngủ, vú vê bày thõng thượt. Đứa con lọt vào kẽ nách mẹ, ngỏng cổ mân mê cái đầu tí. Chả biết họ có chồng vợ gì không, nom chị ta vẫn còn trẻ, già độ hai ba năm về trước có ai động đến tí của «trời cho» đó sẽ bị nhảy lên đùng đùng tru tréo chửi. Người thứ tư trên ghế, một ông cụ già râu tóc lưa thưa, nghiêng người cho đủ chỗ ngồi, tay bám với lên thành ghế, đầu cúi gục xuống gần ngực chị có con mọn gật gù ngủ. Bao nhiêu mật ngọt lòng thòng rỉ từ miệng chú lính trên võng, cái đầu ông hứng hết. Ba ông cán bộ tóc điểm muối tiêu, áo sơ mi trắng cọc tay, khư khư ôm cặp táp trong lòng đang nhịp nhàng lắc lư trên ghế đối diện. Ngay trong giấc ngủ họ cũng có cái vẻ «nhất trí» như khi làm việc. Tàu sắp đến ga Nha Trang, vùng đất bão lửa đối với dân buôn chuyến. Chỉ còn một ngày đường nữa những sứ giả nguyên thủy của CNXH sẽ đổ bộ vào Sài Gòn, thành phố đang trên đường cải tạo để trở về với miền Bắc, với CNXH. Tôi cúi xuống nhìn vào gầm ghế. Hai bao hàng vẫn ngủ yên trong đó. Cái bào thai đã đi được chín tháng chín ngày. Cầu trời cho nó được mẹ tròn con vuông. Khoang bên cạnh cũng toàn các khuôn mặt trong biên chế, những lá bùa dán đè lên bản mặt «bất chính» của tôi. Đừng rẻ xuống ga lẻ dọc đường, bỏ tôi côi cút một mình nhé, hỡi các bạn yêu dấu. Tôi sẽ chi viện cho miền Nam ruột thịt ít sợi thuốc lá vàng, do chính tay vợ con các bạn trồng. Những ông ba tàu chợ lớn với kỹ nghệ làm giả tuyệt hảo, hơn hẳn nền đại công nghiệp XHCN sẽ vấn thành những điếu thuốc CAPSTAN thẳng thớm, đẹp đẽ trong hộp carton giấy bóng kính để các bạn trầm tư, đắn đo, quyết định tốn kém, mang ngược về miền Bắc làm quà cho anh em bè bạn.

Một cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn. Mũi cô thon nhỏ, thường tìm thấy nơi tượng Đức Mẹ hoặc trong hình thiếu nữ e lệ in trên băng, đĩa vọng cổ. Cặp môi cũng chúm chím cười như mắt, phơn phớt hồng, nổi trên miền da trắng. Những đường nét, màu sắc đó được ướp trong vẻ hồn nhiên tươi tắn của cô gái mới mập mờ linh cảm về nhan sắc của mình. Toa tàu như tỏa mát hương sen, tôi ngó vội xuống quần áo của mình, lúng túng dấu mấy ngón tay dắt kín đất đen ở kẽ móng. Trong phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá, mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò liếc tôi. Gã trai húng hắng ho. Như để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi «e hèm» đánh tiếng, quay mặt đi chỗ khác. Sự buồn giận vô cớ chợt xâm chiếm lòng tôi. Hương hoa thế kia dãi gió dầm mưa làm chi trên chuyến tàu này. Vẻ đẹp mong manh bên cạnh sự lố bịch. Vâng, người là hoa của đất, là bà chúa của thiên nhiên, bao nhiêu cuộc đời mới dâng hiến một khuôn mặt đẹp, cũng chỉ đẹp trong tích tắc, một lần phát hương rồi trơ mình ra cho cuộc sống chìa hàm răng vẫu thô lậu nghiền nát. Chỉ sau lời tuyên bố ngắn ngủi của đồng chí chủ tịch xã kiêm chủ hôn, sau ba năm sống không có ca nhạc, ti vi chiếu bóng đêm, người đẹp ngồi kia sẽ biến thành cái máy đẻ, con đường đi đến thiếu phụ sau lưng tôi sao mà gần. Quần xanh, áo trắng mới tinh khôi, tôi nổi giận với cả sự ăn diện của cô gái. Ở xã hội này mỗi khi muốn chứng tỏ «Tôi đi chơi », «Tôi làm đẹp », người ta không có chọn lựa nào khác ngoài màu trắng để tách mình ra khỏi màu nâu lam lũ với đất, màu tím than đánh lẫn với dầu máy, màu áo lính nhuộm xanh cả đất nước. Từ đồng chí Tổng Bí Thư trên diễn đàn đại hội đảng, chú cai ngục hỏa lò Hà nội hai tay đút túi quần bước vào quán phở, cho đến cặp trai gái đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, ai ai cũng chỉ một màu áo trắng. Cái màu trắng đẹp đẽ thanh khiết bị lạm dụng, bị cưỡng hiếp trở nên nhàm chán, làm nhòe nhoẹt các khuôn mắt đời vốn đa dạng, biến nó thành một thứ đồng phục ngớ ngẩn.

– Mặt mũi không đến nỗi nào mà ăn mặc bẩn thỉu như mọi rợ…

Gã trai thì thầm với cô gái. Cô ngước mắt nhìn tôi. Họ cùng cười với nhau.

– Chị đã mệt chưa ? Cứ ngả lên người tôi mà nghỉ… ?

Gã đề nghị, ngồi lấn vào cụ già đang ôm cái tay nải bên cạnh để nhường chỗ. Tôi ngờ ngợ, dỏng tai chờ đợi

– Không. Cảm ơn anh em còn ngồi được.

Cái giọng «lấy cung» khi nãy ? Tôi nhìn chăm chăm vào mặt họ. Cô gái ngượng ngùng quay mặt đi chỗ khác. Gã trai nghĩ tôi là chướng ngại cản trở dịp may chờ đợi đã lâu nên lừ mắt hằn hộc xua đuổi. Thấy địch thủ vẫn không nhụt chí, chả cần bóng gió xa xôi, gã ném thẳng vào mặt tôi câu chửi :

– Chỉ có đồ vô văn hóa mới thò mõm vào việc người khác! Thôi đúng rồi, chả có Công An nào hết, tôi cũng không nằm mơ, cũng không có ma quỉ gì quấy phá, anh bạn trẻ ngồi trước mặt chính là tác giả bản «hỏi cung» khi nãy. Tôi sờ lên túi áo ngực. Trong cuốn chứng minh thư (cũ) của Công An cấp, ngoài tên tuổi, địa chỉ, quê quán, đã can án lần nào chưa, còn những mục về cha mẹ, vợ con, còn sống hay đã chết… Tôi nhớ đến những lúc mới làm quen, người ta cũng hỏi và trả lời đầy đủ những điều cần thiết trong một bản sơ yếu lý lịch. Hỏi như một thói quen, nhiều khi chả để làm gì và sau đó ai đi đường nấy. Thói quen méo mó đó ngấm sang cả địa hạt yêu đương.

«Nơi em về trời xanh không em… » Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng, lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử… đã bị đánh bật rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức người già. Các tay «yêu» lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành Xuân Diệu Xuân Xang Xuân… Tóc đỏ. Người ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến «yêu» cũng phạm húy, phải gọi là «tìm hiểu», người yêu là «đối tượng tình cảm» (đối tượng đoàn, đối tượng đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành «lập gia đình». Chữ «chàng» và «nàng» được cách mạng hóa thành những chữ «anh», những chữ «chị», những «gã», những «hắn» trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là «quan hệ bất chính», «tác phong thiếu lành mạnh». Đa sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm Duy dám đi cải tạo không có ngay về.

Tình yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, «hủ hóa» với nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu chuẩn «3B» (Bôn sê vích, buồng ở, bia cung cấp) để «tìm hiểu». Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng «Đồng chí công tác ở cơ quan nào ?…»

Tôi cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo…

– Thật đúng là đồ quái dị!

***

Chuyến tàu đó đã dừng lại ở Việt Nam. Hai năm sau, trên chuyến tàu ở xứ tị nạn, tôi lủi thủi đi lại một mình giữa toa tàu trống vắng. Lác đác vài cặp mắt xanh sợ gió máy đóng kín cửa sổ, khụt khịt mũi nhìn con người dị hợm cuồng cẳng. Không được chen chúc, hằm hè chửi bới nhau, không sợ cảnh sát bằng mấy con chó cảnh chạy lăng xăng bên cạnh mấy bà già, buồn, tôi lẩn thẩn ước lượng số ghế trống rồi nao lòng nhớ về những anh em bè bạn ở quê nhà. Xót xa với máu mủ mình chưa hết, tôi còn thương lấy cả cái ngành hỏa xa của xứ người. Làm ăn như thế này thì lỗ chết. Tôi quên béng đi mất, rằng tiền vé chém rất nặng, cuốc đường ngắn như thế này nếu gửi quà về Việt Nam thì «chúng nó» lai rai quán cóc cả tháng trời. Tôi nhớ về bên nhà như một kẻ thiếu nợ. Con thú hoang dã đã được thuần giống bằng trợ cấp thất nghiệp (cho mày đủ ăn để tự giam mình trong chuồng, đừng có nhìn sang túi khác). Tôi đã «quên» chưa trả lời gần chục cái thư, thư nào cũng giống nhau một điểm là ngắn (đỡ tiền tem). Chữ nghĩa tiết kiệm rồi, lại còn bóng gió xa xôi,  nhưng cái bóng gió xa xôi tài tình đến độ lồ lộ hiện ra khuôn mặt dài ngoẳng vì đói vì chờ của ông bạn. Trước khi đi, tôi đã dại dột bốc đồng «Tụi mày yên tâm đi, tao mà…» Cái «tao mà…» ấy cho đến giờ này cũng chỉ tiến thêm được một bước thành «tao sẽ…» nhưng tôi cũng không ân hận là đã cho họ ăn bánh thánh. Có vị bác sĩ nào đủ can đảm nói với người bệnh đang hấp hối của mình «Xin thưa, tôi bất lực, tôi không có thuốc…?» Những con tin của lương tâm ở bên nhà hiện đang sống bằng hy vọng. Tôi lừa họ chưa đủ, họ còn phải tự lừa mình nữa thì mới sống nỗi. Méo mặt trả xong tiền tem, cầm bằng mua xấp vé số, họ xoa tay yên tâm chờ đợi. Nhưng mấy chục cái đơn xin việc của tôi mất hút không về, sổ vẫn chưa mở, lại tiếp tục «quên».

Xuống tàu phải mua ngay mấy tấm vé số! Tôi hạ quyết tâm cho lòng yên ổn (lại tự lừa mình?) để còn nghĩ sang chuyện khác. Đúng lúc đó thì có tiếng «hèm» sau lưng. Lại một cụ ông, cụ bà bản xứ với những câu hỏi đầy bác ái như cho kẹo trẻ con về cảnh ngộ, sự hội nhập, phong cảnh quê hương? Tôi gắn vội nụ cười ba phải lên môi, chuẩn bị sẳn mấy câu thuộc lòng để trả lời.

–  Xin lỗi, anh là người Việt Nam?

Trời ơi tiếng Việt! Tôi quay phắt lại ngó sững người bắt chuyện.

–  …

– Xin lỗi ông tôi lầm lẫn…

Người đàn ông tuổi trạc bốn mươi, mắt sáng, ăn mặc buông thả lúng túng xin lỗi bằng tiếng bản xứ, vẻ mặt đầy thắc mắc. Tôi hiểu ngay sự thắc mắc đó. Người Việt gặp gỡ tình cờ ở ngoài đường ít khi nhìn nhận nhau vì họ không nói được tiếng Việt.

– Không, tôi là người Việt!

Tôi vội vã xác quyết.

– Anh đi từ miền Bắc?

Người đàn ông vồ vập. Tôi cũng nhận ra ngay cái giọng Bắc toang toác của ông ta.

– Dân tỉnh nào đấy?

– Hà Nội đây!

– Đây cũng Hà Nội!

Khỏi cần nói về nỗi mừng. Chúng tôi xoắn xuýt ôm lấy nhau mà hỏi chuyện. Chuyện bên nhà, chuyện đi đứng, chuyện ổn định đời sống bên này… Khi đã cạn những vấn đề thời sự (miếng trầu của đầu câu chuyện) trong tiếng xe xé gió, chúng tôi ôn lại những ngày tháng xa xưa của Hà Nội. Như hai anh lính trẻ đi giữa Sài Gòn, cái phố huyện hẻo lánh giáp vùng thượng du Bắc Bộ của họ là nhất thì Hà Nội đối với chúng tôi là vô địch. Bát phở Quyền ở ngã tư Phú Nhuận (té ra anh cũng đã nếm) thịt thà hùng hậu, nước độc đáo thật, nhưng độc đáo trên cái nền nhòe nhoẹt đánh lẫn với nước hủ tiếu ở Sài Gòn, không «ác ôn» bằng phở Thìn đối diện đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội.

– Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái thằng phù thủy ấy nó dở nắp thùng phở lên có sởn gai ốc không hả…? Trong túi không có tiền thì bỏ mẹ!

Tôi cảm thấy hơi phở nóng phả ra từ mặt anh nên gật gù.

– Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biêát thì còn gì là phở?

Sau khi đi một vòng các hàng quà Hà Nội, anh dắt tôi đến quán cà phê. Cà phê Hà Nội cũng lại nhất. Anh kể ra tên mấy cái quán ít ỏi của đất Thăng Long với từng «gu» của nó. Quán «Moka» phố Bùi Thị Xuân có cô con gái đẹp như Kiều, nhưng không át được mùi thơm của cà phê ông bố. Quán «Nhỉ» phố Hàng Cá đậm đà chút nước mắm nhỉ (nên mới gọi là ông Nhỉ). Quán «Nhân»  đầu Hàng Gai có hương vị huyền ảo khó tả, người không biết, tưởng ông đánh thuốc phiện khách… Anh thừa nhận không gì sánh nổi hạt cà phê Ban Mê Thuột, nhưng Sài Gòn có vẻ chưa để ý đến nghệ thuật pha trộn. Cà phê nó có nhiều loại. Vối cho vị chát, mít cho vị chua, và chè cho vị đắng. Nếu nhiều chè một chút, tí vối, tí mít thì thành gu « Moka», hoặc đổi lại thì thành Nhân thành Nhỉ… Rốt cục tròn trịa, óng ả, no đủ như hạt cà phê Ban Mê Thuột chỉ cho được mùi thơm choáng ngợp khi mở nắp phin. Hết!

– Nhưng hình như các ông Nhân, Nhỉ, Moka bây giờ pha hơi nhiều muồng muồng trong đó thì phải…?

Tôi rụt rè phát biểu. Anh xìu người, gãi đầu rồi cười. Dù sao cũng phải công nhận anh là bậc thượng tọa trong cái đạo ăn uống này.

Hết chuyện ẩm thực, chúng tôi xoay sang chuyện người đẹp. Trong địa hạt này anh không dám cục bộ địa phương nữa vì biết tôi cũng đã chui qua cái xã hội lấy chiêu bài «bình đẳng, giải phóng» để đẩy người phụ nữ xuống bùn, chui rúc trong hầm mỏ, lẫn lộn ngoài chiến trường như nam giới. Bên cạnh đó là hệ thống tuyên truyền đồ sộ, ăn ý như dàn nhạc giao hưởng luôn gõ trống thúc dục cho bắp thịt nở nang của phái yếu trong bức tranh «ai nhanh tay cuốc bằng tay em…» trong nhịp nhạc «niềm vui cô gái mở đường Trường Sơn» trong văn học. Gái Bắc Hà đạ bị déformée biến dạng thành cái vai nở, thân hình trùng trục vì lao động nặng.

– Cứ nhìn thấy gái Sài Gòn là tớ nghĩ đến chuyện ly dị…

Anh đốt điếu thuốc, phả khói lên trần toa lim dim mắt cười. Tôi nói đến gái Cần Thơ, Vĩnh Long, đất gạo trắng nước trong da thịt mơn mởn như xoài. Anh kể về mấy chị Huế nhu mì e ấp dưới mái tóc thề, ẩn dật kín đáo với làn da trắng xanh, nhưng con mắt thì đi nhiều hơn chân, làm nhiều hơn tay, nói nhiều hơn miệng, quả tim như núi lửa chỉ chực bất tử phun nham thạch.

– Ờ lạ thật… Sài Gòn là đất tứ xứ, nhưng bất cứ người ở đâu hễ nhập vào nó ba bốn năm là thay da đổi thịt, biến thành dân Sài Gòn. Đâu như Hà Nội mình, anh từ Hải Phòng lên, sống cả hai chục năm, đẻ con ra vẫn lơ lớ giọng nước lợ, tính tình tềnh toàng của dân thành phố cảng. Chị ở chiến khu về, sống đến mấy đời hộ khẩu vẫn không tẩy được cái cách nhấm nước bọt đếm tiền. Sức cảm hóa, khả năng hội nhập ở Sài Gòn nó khác…

Tôi lấy Huế để giải thích hiện tượng đó cho anh. Nếu chính anh có dời cư về đó ở, không phải hai chục năm mà bốn-sáu chục năm, cho đến chết, chất Huế cũng không thắm vào anh được. Vùng đất nào đã được chọn làm kinh đô trên một thế kỷ tự nó sẽ tạo nên bản sắc riêng biệt cho mình, hội nhập sẽ rất khó…

Chúng tôi cãi nhau như mổ bò (dấu hiệu đã thân thiện) về những vấn đề cả hai đều không nắm vững, hoặc chả có gì đối nghịch nhau. Để đừng đập vào đầu nhau trong lần gặp gỡ đầu, tôi lái câu chuyện trở về người đẹp Hà Nội. Thế là lại một màn truy tìm các bóng dáng xưa. Để chứng tỏ mình cũng là tay cung kiếm một thời, những con nhà nọ, em gái thằng kia… Câu chuyện trở nên gần gũi, tôi râm ran bồi hồi với tên tuổi một vài người đẹp đã làm mình điêu đứng. Lần mò một lúc, anh dẫm trúng phải cô em vợ tôi ở phố Hàng Ngang. Người đồng hành, đồng hương càng trở nên thân thiết. Tôi như thấy cả Hà Nội đang thở nóng bên tai mình.

Đêm đó tôi không ngủ được. Khi chia tay chúng tôi cho nhau địa chỉ, hẹn nhất định phải gặp lại. Tôi sắp xếp thời gian rãnh rỗi trong đầu rồi sốt ruột mong sớm được ăn tục nói phét với ông bạn còn quí hơn vàng ở cái xứ buồn hiu này. Cũng nhờ anh mà ký ức vốn trí tuệ vì mưu sinh của tôi được khai thông. Tôi trằn trọc nhớ Hà Nội, tưởng tượng rõ ràng từng quán cà phê, góc phố, cô láng giềng với từng tiết xuân, hạ, thu, đông. Thơ thẩn đi hết một vòng thành phố, bắt đầu mỏi mệt với ký ức, tôi trở về với con người anh. Lứa tuổi ấy, nghề nghiệp ấy, số nhà ấy, la cà ở quán cà phê ấy với những người quen ấy… Tôi cười tủm trong bóng tối vì sự trùng lặp những ham hố, thói hư tật xấu của mình với anh bạn. Ờ, tại sao không biết anh từ trước nhỉ? Tôi lần mò những mối quan hệ trong đầu, vẫn không lòi ra con người ấy. Khuôn mặt này cũng chưa nhác thấy ngoài phố một lần. Tôi lay vai vợ để hỏi xem có biết anh nào tên Q. hồi trước có đến tán em gái không. Nàng đang ngủ, sẳng giọng trả lời là không cho xong chuyện.

Tôi lại trằn trọc hâm nóng trí nhớ sét rỉ để tìm kiếm. Cái phố nhỏ ấy, với số nhà, không nhớ chính xác, nhưng tôi có thể mường tượng được anh ở đâu gần quán phở mậu dịch, nơi thôi thường đến tán tỉnh mấy cô bán hàng để được mua bia hơi không kèm đồ ăn. Mắt mày cũng là bợm nhậu, sau chưa tặng nhau mũ cối vào đầu trong những lần chén nhỉ? Hay ít nhất cũng hối lộ vài điếu thuốc để được nhường khéo đứng trước mình với lý do gửi chỗ? Lạ thật, Hà Nội nó nhỏ như cái túi vải dắt trong cạp quấn của bà bán rau, đồng xu cắc bạc cọ xát nhau luôn xoành xoạch mà sao không bật ra khuôn mặt này. Tôi điểm lại trường hợp ra đi của anh. Theo như lời kể thì lẫn trong làn sóng người Hoa năm 79, vợ chồng anh không đủ tiền, phải sang lại căn buồng cho người khác để lấy tiền hoa hồng. Đồ đạc trong nhà bán sạch từ quạt bàn, giường tủ, xoong nồi, chổi cùn, rế rách.v.v… Anh là người Việt, để che mắt mọi người về chuyện bất thường này, hai vợ chồng phải đóng kịch, cứ tối tối đóng cửa chửi nhau toáng lên ở trong nhà, ra cái điều cơm không lành, canh không ngọt. Đước hôn một tuần, ngó chừng màn kịch đã ngấm sang hàng xóm, họ mới mở cửa đi rêu rao với mọi người rằng không thể sống với nhau được nữa, phải bán nhà, bán đồ chia đều tiền rồi ai đi đường nấy. Cũng có thể đúng vì ngoài Bắc rất nghèo, ở những chốn nghèo nhất cử nhất động đều bị để ý. Tuy mỗi xuất đi thời đó chỉ ba ngàn đồng (một lạng vàng) nhưng không sang lại nhà thì tiền đâu mà đóng. Tất cả mọi chuyến táu ra đi từ Hải Phòng đều cặp bến Hồng Kông, tôi cũng ở đó cả năm trời mà sao không thấy mặt anh? Có điều gì bất ổn rồi! Tôi khựng người như húc phải bức tường, ngồi bật dậy đi tìm thuốc hút. Mường tượng lại khuôn mặt anh, thái độ vồ vập của anh khi bắt chuyện, tôi đưa lên kính hiển vi rọi chiếu, phân tích từng câu nói rồi ráp những dữ kiện rời rạc lại với nhau để tìm sự mâu thuẫn của chúng. Không lòi ra một kẻ hở vô lý nào. Anh không hề vờn dứ, dò dẫm tôi về thái độ chính trị. Những chuyện anh đã nói với tôi được toát ra từ lỗ chân lông của con người, không có sự nhào nặn, gửi gắm của mưu tính, thậm chí còn có phần luông tuồng phàm tục thái quá của con người bị ức chế, đè nén lâu ngày mới được giải phóng.

Tôi mừng như chính mình được minh oan đốt thêm điếu thuốc tự thưởng. Có thế chứ, chưa gì đã để cho thói đa nghi hàm hồ của mình giết chết một người bạn, một con người! Ra đi từng vùng đất nghi kỵ, tỵ hiềm, vô tình tôi đã mang theo thói quen của ông bác sĩ sống trong thế giới bệnh tật, nhìn đâu cũng thấy vi trùng.

Nhưng niềm lạc quan đó không kéo dài, điếu thuốc chưa kịp tàn thì từ bên trong cất lên tiếng nói ma quái «mày vẫn còn phổi bò, nhẹ dạ như đàn bà. Kết luận một cách dễ dãi về con người là khởi đầu một tai họa!»

Tôi dụi vội điếu thuốc, vò nát mớ tóc, bực bội với thằng người ma quỷ trong mình. «Tao nói không sai đâu, đời mày vẫn bao lần vấp ngã, hộc máu mồm củng chỉ vì tính cả tin đó. » Tôi thù ghét thằng người này. Nó luôn canh chừng nhắc nhở tôi, nó đông lạnh con mắt nhìn đời của tôi, đục đẽo khuôn mặt tôi, xoá nhoà bóng mát trên mặt người khác. Nhưng tôi nể sợ nó, vì chính nó đã cứu tôi bao lần thoát khỏi tai họa, đưa tôi đến được bến bờ tự do. Sao lại không nhỉ, với những thằng nằm vùng thì lần sơ kiến nào cũng bao bọc mình cẩn thận, nó chuẩn bị lương khô cho cả quãng đường dài mười, hai mươi năm, nó chống Cộng hơn ai hết, nó kháng chiến hơn ai hết để sau khi «hoàn toàn nhiệm vụ cách mạng» nó được tha bổng bên cạnh những án tử hình khác với lý do «thành khẩn» rồi thay áo ngồi viết bản báo cáo thành tích. Đã vậy thì việc đội lốt, hoá thân vào một mẫu người có thật ngoài đời chỉ là trò vặt. Tôi rùng mình vì những điều vừa phát hiện. Chế độ chỉ dạy cho tôi vài thủ thuật điều tra sơ đẳng của thói quen, một thứ Công An theo bản năng, đụng đến vấn đề phức tạp có tính phản gián này thì ôm đầu chịu thua.

Đốt hết nửa gói thuốc, đầu óc tôi càng thêm rối. Vợ tôi bị ngợp khói, tỉnh ngủ. Nhìn bóng chồng in nghiêng trên tường, sau ánh đèn mờ, im lặng hút thuốc, nàng bực mình cằn nhằn rồi với tay tắt cái đèn ngủ.

– Khuya rồi không đi ngủ còn ngồi sừng sững như ma hiện hình!

– Tôi không trả lời, đầu thuốc lá vẫn lập loè cháy sáng. Nàng ngạc nhiên bật lại đèn, tung chăn vùng dậy.

– Có chuyện gì thế anh?

– Không… Anh nghĩ chuyện kiếm việc làm…

Tôi trấn an, ấn nhẹ nàng xuống giường, phủ chăn lên người.

– Anh nói đi, em thấy có chuyện gì không thường thì phải…?

Nàng nhỏm dậy, lo âu hỏi. Tôi thấy khó trả lời, nấn ná hút thuốc câu giờ. Từ lo âu chuyển sang hoảng sợ, nàng bấu mạnh lấy tay chồng tìm sự che chở. Phụ nữ thường có linh cảm bén nhạy trước tai họa. Khi còn ở Việt Nam, mỡi lần bị mối nguy hiểm đe doạ, biết nói với vợ mình cũng không ích gì, tôi lặng lẽ hút thuốc trong đêm một mình để nghĩ cách thoát hiểm. Nàng đánh hơi được, không dám hỏi, chỉ rón rén đến bên cạnh sửa lại cổ áo cho chồng, tìm hộ bao diêm, tay cũng bấu chặt lấy vai chồng như để truyền thêm sức. Từ ngày sang đây cuộc sống của chúng tôi đã an toàn, những khó khăn về mưu sinh được bạch nhật hoá giữa hai vợ chồng, tôi không còn trầm ngâm trong bóng tối một mình để tìm kẻ hở lách qua tù đày nữa, và nàng cũng mất đi thói quen đánh hơi tai hoạ trên mặt chồng, hồn nhiên sống với tiền trợ cấp thất nghiệp. Thật không ngờ đằng sau vẻ mơn mởn hồi sinh đó sự lo sợ vẫn tìm ẩn trong nàng, nó như cuốn phim lắp sẵn trong máy, chỉ đợi chồng bật đèn là hiện hình ra mặt mũi, cử chỉ hành động. Tôi chợt hiểu nàng đã lo hơn tôi lo, đã sợ hơn tôi sợ trong những ngày còn ở Việt Nam.

– Không có gì đâu em ạ.

Tôi ôm chặt bờ vai nhỏ của vợ, kéo vào lòng mình. Biết không dấu được nàng, mà bịa ra chuyện khác chỉ làm nàng nghi ngờ lo sợ thêm, tôi kể lại đầu đuôi chuyến gặp gỡ trên tàu của mình. Vẻ mặt nàng biến đổi dần theo câu chuyện. Cặp mắt lạc thần bình tĩnh trở lại, nàng đứng dậy mở cửa sổ cho  loãng bớt khói thuốc trong nhà, vừa làm vừa nói:

– Con Quyên nhà mình không có ai là bạn tên Q. cả, nhưng có thể anh ta lẫn trong đám bạn trai từng tới nhà, hoặc đứng từ xa phải lòng thì sao?

– Không, nghe cách kể qua tay này thì có vẻ thân thiết lắm, những chi tiết về gia đình em anh ta còn biết cơ mà?

Nàng cười, vẻ mặt rạng rỡ như thơm lấy với nhan sắc của cô em gái mình được người khác để ý.

– Thì cũng như anh đấy. Khi em chưa biết mỗi tối trời mưa có thằng trộm koát áo đứng ngóng trước cửa sổ nhà mình thì anh đã kể vanh vách với cô em gái về em rồi cơ mà?

Tôi cười ngượng ngịu, nhưng cố vớt vát:

– Anh vẫn thấy có gì bâùt ổn em à…

Nàng gạt phắt đi:

– Anh chỉ vớ vẩn, sang đến đây rồi còn sợ. Cứ mời tay đó đến đây chơi, thật giả trắng đen gì rồi mình kết luận vẫn còn chưa muộn!

Tôi không đồng ý cách giải quyết của nàng, nó có vẻ thụ động theo cảm tính đồng bóng của phụ nữ. Tôi cũng không muốn mời khách vào nhà để rồi đóng cửa vĩnh viễn những lần gõ sau. Còn dung dưỡng một quái thai trong bụng mình thì chả khoái chút nào.

Tôi bỏ dự định đến thăm anh ta. Q. gọi điện thoại tới hai lần, mời đến nhà anh chơi. Nại cớ con ốm, tôi từ chối khéo. Đến lần thứ ba thì anh ngỏ ý muốn lên tôi chơi thay vì tôi xuống. Thật khó trả lời, tôi ậm ừ cho xong chuyện rồi cầu mong anh lạc đường kiếm không ra nhà.

Q. mò đến được, vẫn cái áo khoát lần trước, trên tay ôm đồm mấy gói quà cho vợ con chủ nhà. Tôi đứng trước cửa ra vào, lúng túng không biết nên chọn thái độ đón tiếp nào cho thích hợp. Còn anh thì tự nhiên như người trong nhà, thấy chủ nhân ngần ngại đứng sau cửa, tưởng bị nhắc khéo đôi giày dính tuyết nên vội quẹt quêt vào miếng thảm nhỏ rồi cảnh cáo nhẹ:

– Ở Hà Nội người ta không bắt khách cởi giày khi vào nhà đâu…

Tôi cười gượng gạo, đỡ giúp mấy gói quà cho anh cởi áo khoác. Đống đồ của nợ này khiến tôi thêm khó chịu, nó có vẻ “gài” cho mối quan hệ mới mở đầu. Q. tinh ý nhận ra ngay thái độ đó, cười hềnh hệch:

– Thủ tục bắt buộc khi đi hỏi vợ, tớ cũng giả vờ làm cho xong chuyện. Nhưng xuống nhà tớ cậu đừng dở lại trò này nhé, một lần là đủ.

Tôi phì cười vì lối giải thích ba bứa, đi treo giúp anh chiếc áo khoát nặng chình chịch.

– Ấy, nhẹ tay thôi… – Q. nhắc nhở rồi chạy theo – Có cái nhày cho tụi mình…

Anh moi từ cái túi to tổ bố khâu bằng tay ở mặt trong chiếc áo ra nào thuốc sợi, tẩu, khăn giấy hỉ mũi dở, rồi một chai rượu mạnh.

– Dân “quốc lủi” tụi mình thì phải “chơi” cái này. Uống khắp mặt rượu ở đây tớ chỉ thấy mỗi nó là gần gủi với rượu lậu Hà Nội.

Anh nháy mắt cười với tôi. Tôi thì e ngại với đống đồ nghề anh mang tới, nó chứng tỏ anh không dừng lại ở mức xã giao. Vợ tôi biết khách sẽ đến từ hôm trước nên chuẩn bị sẵn sàng để tiếp. Khi thấy chúng tôi đã yên vị trên ghế, nàng kín đáo nhìn qua khe cửa bếp, quan sát khách. Q. không hay biết gì, đảo mắt nhìn quanh nhà rồi hỏi thăm vợ con tôi. Lúc đó nàng mới bưng cà phê ra để chào khách. Anh nói chuyện ồn ào, về đủ các vấn đề mà phụ nữ quan tâm tới ở xứ này. Vợ tôi khép nép nghe ầu luôn luôn gật, thỉnh thoảng mới thêm vài ý kiến nhỏ. Thật oái ăm, khách thì ăn nói hoạt bát tự nhiên như chủ nhà, còn chúng tôi thì rụt rè giữ ý như làm khách vậy. Q. không nhận thấy điều đó, chiều đến, vợ tôi nhấp nhổm đắn đo hai ba lần rồi mới mời khách ở lại ăn cơm, giọng thăm dò. Anh sốt sắng nhận lời rồi buộc miệng kêu đói. Tuy chỉ định bụng mời rơi, nhưng nàng chuẩn bị khá kỹ càng. Thịt, rau được thái ướp từ sáng sớm, đống đồ biển này mới lấy khỏi ngăn đá từ lúc khách nhấn chuông cho nó tươi. Chuyện vãn giữa hai gã đàn ông trở nên uể oải, anh xắn tay áo đòi vào bếp giúp bà chủ nhà làm cơm. Tôi cản cho có lêï rồi nằm dài ra ghế, vớ bừa một cuốn sách để đọc. Nếu ở Việt Nam thì tôi không ngạc nhiên với thái độ tự nhiên thoải mái của anh, nhưng ở đây, nhất là sau những thắc mắc tôi thấy nó có vẻ đi đúng bài bản “hoà mình xâm nhập quần chúng” nên những nghi ngờ càng có điểm tựa.

Ngoài tài ăn tục nói phét, ông khách còn chứng tỏ khả năng nấu bếp có hạng. Ngồi trên phòng khách nghe tiếgn dầu sôi lửa cháy phừng phừng một cách hết sức đàn ông, tôi biết vợ tôi đã bị gạt ra ngoài. Tài năng của nàng chỉ riu riu ở món kho, sình sịch ở món hầm. Cái rón rén của phụ nữ khi dùnglửa khác với sự phóng khoáng của đàn ông nên món ăn không bao giờ lên tới cỡ, chỉ lưng chừng ở ngang dốc rồi nhoè nhoẹt giống nhau ở trong tất cả các món xào nát nhũn.

Mặt đỏ bừng, chiếc khăn bàn làm bếp trên vai, hai tay bưng đĩa cá đút lò bốc khói. Q. nghiêng mặt như mấy ông bồi bàn có ngạch bước lên phòng khách. Tôi luống cuống nhỏm dậy thu dọn đĩa tách cà phê cho anh có chỗ bày. Tưới một chút rượu mạnh trong chai mình mang tới lên đĩa cá. Q. bật diêm cho lửa bùng cháy rồi hãnh diện nhìn chủ nhà. Tôi trố mắt như trẻ xem trò ảo thuật. Vợ tôi đứng sau lưng Q. cười ngượng ngùng như muốn đổ lỗi sự vụng về cho thái độ sốt săáng của khách. Anh rút chiếc khăn trên vai thấm mồ hôi gáy rồi chả hiểu sao lại lau bừa lên mặt, bất kể mùi đồ ăn ngấm lưu cửu trong đó.

Phong cách giang hồ của mấy món ăn quyến rũ tôi ăn, uống nhiều. Có chút hơi men Q. nói càng hoạt bát, mà ăn cũng không kém. Anh kháo chuyện Hà Nội, tự diễu méinh về những bỡ ngỡ khi mới đặt chân lên xứ văn minh. Những câu chuyện bình thường được anh diễn tả bằng thứ ngôn ngữ giang hồ như món ăn trở nên có duyên đến tức cười. Lũ trẻ ngồi quanh bàn cứ há hốc mồm nghe ông khách lạ, quên cả ăn. Tôi bị cuốn vào câu chuyện hồi nào không hay, vừa nhồm nhoàm nhai vừa kình cãi với khách. Vợ tôi ăn ít, nàng chống hai khuỷu tay lên bàn, xoa xoa hai bàn tay vào nhau nghe chúng tôi nói chuyện và tiếp thức ăn cho mọi người. Q. gắp cho nàng một khúc cá, khi đưa đến gần chén của nàng thì nó trượt khỏi đôi đũa rơi tòm xuống chén nước sốt.

– Đấy, chết rồi mà vật lộn với nó còn khó. Tôi luôn luôn chỉ bắt được vẩy cá trong những lần tát ao.

Anh chữa thẹn rồi thản nhiên lấy tay chùi nước sốt văng trên áo mình, đưa lên miệng liếm .

Tối đó anh ngủ lại nhà tôi. Cơm nước xong thì đã chín giờ rưỡi, chuyến xe lửa cuối cùng hai giờ sáng mới chạy, tôi buộc lòng phải giữ anh lại. Q. thấy đó là điều đương nhiên, không một câu từ chối khuôn sáo, anh hăng hái giúp chủ nhà dọn dẹp để lấy chỗ ngủ. Nhà chật nên chúng tôi dùng chiếc ghế sa lông lớn kéo ra làm giường cho khách. Ngồi trên đống chăn gối mới mang ra, anh nạp một mẩu thuốc, nhìn vợ tôi và mấy cháu nhỏ như dò hỏi rồi tự cho phép mình mồi lửa hút.

Nằm trong phòng ngủ tôi sốt ruột đợi vợ vào để nghe nàng đưa ra những nhận xét về ông khách mới. Nàng còn lịch kịch rửa chén dưới bếp, chuẩn bị nồi cháo gà cho bữa điểm tâm sáng mai. Tôi ngủ quên lúc nào không hay.

Nửa đêm tôi tỉnh giấc vì khát nước. Uống xong ly nước lạnh thì tỉnh ngủ hẳn, tôi lần ra phòng khách kiêùm thuốc lá hút. Cả nhà đã ngủ say, tiếng Q. ngáy rền cả phòng khách. Anh đã uống khá nhiều rượu, hơi thở nặng nề, nồng nặc mùi men. Tôi định vào phòng ngủ hút, nhưng sợ nàng thức gậy lại phát hoảng lên như lần trước nên lộn trở ra ban công. Tuyết rơi nhiều, lún phún rắc trong ánh đèn đường, bay cả vào nhà. Đứng một lúc người đã thấm lạnh, tôi lập cập mở cửa bước vào phòng khách. Q. vẫn ngáy như sấm, thỉnh thoảng nói lảm nhảm điều gì khôgn rõ rồi cười khì khì trong mơ. Tôi nảy ra ý định quan sát anh khi đang ngủ. Phải rồi, con người không thể dấu mình được trong trạng thái này. Những nét nhuần nhuyễn của kịch cợm lúc tỉnh sẽ bị lột sạch, cái ưu cái khuyết, những hang hốc mối mọt của cái tủ cũ sẽ bị cạo mất lớp son lẫn ghét phủ ngoài, trơ ra chất gỗ thật của mình dưới vòi nước xịt mạnh. Không cưỡng lại được ý định ngắm anh, tôi dò dẫm lần đến cây đèn mờ đứng ở phòng, bật nhẹ. Ánh sáng vừa đủ rọi tới mặt Q., anh hơi nhíu mày, rồi mặt dãn nở lại, ngáy tiếp. Mớ tóc cứng, bồng bềnh những nếp quăn tự nhiên lúc này bết mồ hôi bám quanh sọ. Chân mũi vuông, vun đọng thịt ở chóp của con người thiên về hành động, ăn nhậu. Những chân rễ chằn chịt như dây võng bắt nguồn từ đuôi mắt toả rộng ra hai bên thái dương hằn rõ mồn một. Lúc tỉnh, cặp mắt sáng tia điện nghịch ngợm đã toả lấp phần nào cái nhàu nát ở vùng mắt anh. Trán anh cao, gồ, sần sùi những nếp nhăn xếp sóng. Quai hàm vuông, ngay trong giấc ngủ cũng bạnh ra như đang ngấm ngầm chịu đựng cơn đau bụng. Khuôn mặt đó là dương bản của bộ não sau khi trải qua thuở thiếu thời cơ cực, tuổi thanh niên lận đận với mắm muối củi lửa bám rêu trong đầu.

Không thấy quen, cũng chả phát hiện ra điều gì bất thường khi đưa khuôn mặt này rọi chiếu trước quang tuyến, tôi tắt đèn ngồi hút thuốc. Con người thật thảm hại, đáng thương trong giấc ngủ, nếu đẹp có chăng chỉ là nàng công chúa được tạo hóa sàng lọc những đường nét thanh tú từ đời ông bà cha mẹ, ướp mình trong nhung lụa rồi nằm mơ bị con sâu bò đến gần đe dọa. Không biết vợ tôi có thường ngắm chồng trong giấc ngủ? Hôm nay rõ ràng Q. đã kiếm được nhiều điểm của mẹ con nàng. Cứ nhìn con mắt, nụ cười trong trẽo của nàng thì rõ, những điều cảnh giác trước của tôi tan biến ngay khi con người xù xì này lướt vào nhà. Thật đúng là đàn bà với con nít. Giá họ có ác cảm với anh ta thì ngược lại, tôi sẽ chú tâm tìm kiếm những điểm dễ thương để biện hộ trước vợ con, xác tín với mình. Tôi ngồi trong bóng tối hàng giờ, nghi ngờ phủ nhận, đốt sạch gói thuốc Q. vẫn say sưa ngủ, không hay biết chủ nhà đang trăn trở thắc mắc về mình, thỉnh thoảng lại đưa tay quệt nước dãi ở miệng.

Sau đó đều đều mỗi tháng anh vẫn đến nhà tôi chơi, còn dắt theo cả vợ con (để làm tin?) Tôi bị xô đẩy vào mối quan hệ như ép duyên, rồi cũng quen dần với nó. Hai người đã làm tốn khá nhiều thời giờ và rượu bia của nhau. Mặc dù vậy, sau mỗi lần trò chuyện, chi bộ nhỏ trong tơi vẫn họp lại để kiểm thảo, đào bới xem anh có mặc áo giấy đi đêm không. Một nửa con người tôi phải lòng anh, chấp nhận anh, đi với anh trên bề nổi cuộc sống, nhưng phần chìm, khuất trong bóng tối vẫn nhắc nhở, cảnh tỉnh khiến tôi khổ sở như ăn hộp cá ngon mà không biết date, xuất xứ của nó.

Hai bà vợ thân thiết với nhau hơn cả chị em ruột. Họ đã tìm lại Hà Nội thuở ấu thời, hàng quà hàng bánh, chợ Đồng Xuân, chợ Cửa Nam trong nhau. Lũ trẻ mất dần đi những câu “con bác Q.”, “tụi nó…” mà thành “anh R…”, “chị H…”. Chúng xóa nhoà ranh giới giữa hai nhà, ôm tất cả vào lòng rồi chia đều theo thứ tự tuổi tác.

Không được phép đầu độc cuộc sống của vợ con bằngnhững nghi ngờ, tôi thu mình lại bên cạnh những mối quan hệ cởi mở đó. Những lời tâm sự giữa hai vợ chồng tắt dần, thỉnh thoảng buột miệng đưa ra một nhận xét lạc lõng về Q. làm cả nhà ngạc nhiên, khó hiểu, tôi vội xoá nó bằng nụ cười gượng gạo rồi giải thích sang hướng khác. Mỗi lần bị qủy ám, nửa đêm tôi không dám ngồi trong phòng ngủ, ngoài phòng khách mà chui vào toilette khoá cửa lại đốt thuốc trong đó. Tôi cố gắng chặt lìa con ma nghi ngờ ra khỏi người  mà không được, sau mỗi nhát dao chém nó càng bấu chặt lấy ruột gan tôi hơn, xác nhận tính cấu thành vững chắc trong tôi. Tôi kinh hoàng nhận ra mình là kẻ tàn tật đi trên cõi đời này. Tôi không phải đoàn viên, chả phải đảng viên, chưa một ngày đứng trong cơ chế Cộng Sản, trong tôi không có những cuộc đấu tố rùng rợn, không có bội phản, giả trá, nhưng thói đa nghi, đề phòng cảnh giác luôn bắt tôi phải soi mói, phân tích và phê bình con người. Tôi không hài lòng với thời trang, tôi bực bội với đầu tóc của kẻ khác, tôi tuyên chiến với những cặp nhân tình ôm hôn nhau ở ngoài đường, tôi nhéin vạn vật với con mắt cần cải tạo. Tôi trở thành kẻ thù của con người lúc nào không hay. Những cố gắng đẽo gọt, cạo rửa bản thân mình trở nên vô ích, tôi là viên gạch vô tình nằm trong lò sát sinh và đã bị ám khói lửa thiêu người.

Jean Paul Sartre sau khi phản tỉnh đã thổ lộ “Tôi ly khai chủ nghĩa Cộng Sản, có nghĩa đã ghê tởm, phỉ nhổ nó, đoạn tuyệt hẳn với nó, nhưng mỗi sáng ngủ dậy đứng trước bồn tắm rửa mặt tôi vẫn thấy một thằng cán bộ đang rình mò, xoi mói nhìn mình trong gương…” Không biết ông đã đặp vỡ bao nhiêu miếng gương, còn tôi, tôi luôn sống với cảm giác sau lưng mình có mọc một cái đuôi.

THẾ GIANG (6/ 1986)

Posted in Giải Trí, Truyện Ngắn, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Đời Sống của Nông Dân Miền Bắc ra sao?

Posted by hoangtran204 on 29/09/2011

Có sự chênh lêch rất lớn khi nói về  lợi tức hàng năm của người nông dân Việt Nam.

Báo chí VN trong năm 2010 đưa tin “Thu nhập của người Việt năm nay có thể đạt 1.200 USD“. Báo chí luôn luôn đưa các tin tức mà nhiều người nói rằng: muốn biết sự thật thì chỉ cần nghĩ ngược lại với báo chí viết.

Trên mạng, có người tính toán thu nhập hàng tháng của người nông dân là 45 đô tháng; hay vào khoảng 540 đô/ 1 năm. Cách tính  như sau:  “1 người nông dân trung bình được cấp khoán 2 sào Bắc bộ (720m2), thâm canh 3 vụ ( 2 vụ cấy lúa và 1 vụ hoa màu) mỗi vụ trên dưới từ 3 tháng đến 4 tháng. Năng suất vụ cấy lúa là 250kg thóc/ 1 sào, như vậy 2 sào được 500kg. Giá 1 kg thóc là 10 nghìn VNĐ vậy với 2 sào đó được 5 triệu VNĐ. Trong đó phải chi phí các hạng mục sau: Máy cày, máy bừa, phân bón, thuốc sâu, thuốc cỏ… hết mỗi sào khoảng 1,2 triệu. Vị chi là còn 3,6 triệu, chia bình quân 4 tháng thì mỗi tháng người nông dân thu nhập 900 ngàn/ tháng. Nếu tính USD là 20 ngàn/1USD thì được: 45USD/ tháng.” Nhưng nông dân còn có gia đình vợ, 2-3 con. Nên nếu chia 45 đô la cho 4 thành viên của gia đình, thì lợi tức của mỗi người rất ít.

Tờ Báo mới tường thuật rằng: “Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng”. Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?”

Sau cùng, bài báo dưới đây của anh Trần Đăng Tuấn (người vừa mới xin từ chức Phó Tổng  Giám Đốc Đài  Truyền Hình  Việt Nam) bổ túc cho tờ Báo Mới viết đúng sự thật về lợi tức đầu người ở VN.  Anh TDT đi đến tận Suối Giàng và đã nhìn thấy cuộc sống của dân chúng đói khổ và thể thảm hơn nhiều.

Hôm nay lên Suối Giàng

Sáng nay, lần đầu tiên lên Suối Giàng, định ngắm mấy cây chè cổ thụ. Vào tuổi này, có lúc chợt lo là nhiều cái lạ ở đất nước, mình đã nghe, biết từ lúc còn là trẻ con, mà giờ chưa nhìn thấy tận mắt. Vậy có thời gian thì phải đi để biết. Nhưng quả thật thời gian là cái gần một năm qua mình có ít nhất.Cứ tiếp tục thế này thì cũng gay đây. Gọi cho Tiến Trọc, rủ đi cùng. Tiến Trọc chối đay đảy, rằng vừa lang thang một tháng (thằng cha này số sướng)ở Tây Nam bộ, nay phải cày kịch bản bù . Thì thôi vậy !

Xe lên đến trung tâm xã Suối Giàng, thế nào lại đỗ ngay trước cửa trường học. Mấy trăm đứa trẻ con đang tập thể dục. Ngay cạnh đó là mấy dãy nhà nội trú của chúng nó. Không hiểu sao, cứ nhìn thấy trẻ con miền núi là mình mê. Cậu chủ quán trước cửa trường, sau mới biết rằng có vợ là giáo viên, cho biết : Trường tiểu học có 80 đứa nội trú. Phải có từ 100 đứa nội trú trở lên mới có chế độ hỗ trợ của nhà nước. Khu nội trú này dân nuôi hoàn toàn. Cha mẹ góp gạo mỗi  tuần hai kg, và 5 ngàn tiền thức ăn. Bọn mình không tin, cứ  lục vấn mãi : Sao lại 5 ngàn thì chúng nó ăn uống kiểu gì ?. Cậu ta cứ khăng khăng đúng thế, đúng thế. Vừa lúc có một bác người Mông xách xô nước đi ngang, cậu chủ quán bảo : Đấy, ông này nấu cơm cho chúng nó . Thế là bọn mình đi theo luôn. Trèo tắt qua mấy dãy nhà trên đồi, đi thẳng vào cổng Ủy ban Xã Suối Giàng, rồi vòng ra sau nhà Ủy ban, thì có cái lều tường che gỗ ván, giữa có cái bếp đang đỏ lửa , ngoài cửa có cái chậu tắm lớn đầy những cái bát to bẩn chưa rửa. Một loại bát như nhau. Trong bếp ngoài nồi cơm đang nấu, một nồi nữa chắc để nấu canh, còn thì chẳng có đồ đạc gì cả.

Hỏi : 80 đứa chỉ ăn  cái nồi cơm này đủ à ?. Bác H Mông nói : Nồi to lắm đấy, 13 -14 cân gạo mới đầy đấy. Lại hỏi : Thế ăn cơm với cái gì ? – Với canh rau…. Bây giờ mới nhìn ra chỗ tôi tối có mấy bó rau cải bé tẹo, mà lại đã úa vàng một nửa . Không hiểu canh nấu với gì, vì mắm muối giấu ở đâu, chứ không có trong bếp. Hỏi : Sao ít rau thế? – Ừ, không đủ đâu, phải mua thêm nữa đấy . Thế có thịt cá ăn bao giờ không ?- Không có đâu, bao giờ bố mẹ đóng thêm tiền thì mua cho ăn một bữa có thịt.

Một nồi cơm ( hy vọng là đủ) và một nồi canh rau cải ( gồm xô nước vừa được xách lên, mấy bó rau, chắc ít muối, mắm, dầu mỡ cho vào nữa – nhưng quả thật bọn mình không thấy chúng được cất chỗ nào, chắc không có trong bếp vì sợ chó mèo hay ăn trộm chăng ?). Đó là bữa ăn trưa cho 80 mầm non của đất nước vào ngày 22 tháng 9 năm 2011. Tức là khi đất nước đã bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21. Là sau một năm tưng bừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, là năm đầu của nhiệm kỳ Đại Hội 11…vv..và ..vv..

Bọn mình nói : Trưa nay bác mua thịt cho chúng nó ăn được không?. Bạn mình đưa ít tiền. Mình đưa thêm nữa, hỏi: Đủ mua thịt chưa?. Bác người Mông : Đủ chứ, đủ chứ. Chốc nữa lên xem chúng nó ăn thịt mà.. Nói xong bác đi xuống chợ ngay, hình như chợ gần thôi, ở mé núi bên kia.

Lúc đi xuống, cậu lái xe, vốn ít nói, văng ra : Mẹ, ăn uống thế này trẻ con sống thế  nào được !

Sống thì chắc được thôi , nhưng mình nghĩ học khó vào lắm . Hồi đi học , lúc nào mình cũng muốn ăn , dù bố mẹ nuôi nấng đầy đủ hơn bọn trẻ con hàng xóm nhiều . Khi  bắt đầu đi học đại học ở Thanh xuân , cả ngày thấy đói . Ăn tập thể , xong bữa, rửa bát cầm về, dọc đường từ nhà ăn đến phòng ở đã thấy thèm ăn nữa. Cơm không thịt ăn đủ suất rồi mà bụng  cứ như chưa ăn. Ngồi trên lớp, lúc nào cũng nghĩ đến ăn. Tối bọn chúng nó rủ sang phòng con gái tán, mình không đi, vì nhìn mặt con gái cũng thích nhưng đang nói chuyện tự nhiên thấy đói thì không thích gì nổi nữa . Mình hình dung sự thèm ăn là một thằng cha khả ố, nó cứ ngồi chồm chỗm trong  người ta, lúc nào nó cũng nhắc là nó đang ở đây, ở đây..Nó cứ ngồi đấy thì cảm xúc không từ trong ra ngoài được, chữ nghĩa với toán, tính không từ trên bảng chui vào đầu được.

Từ bếp vào chỗ học sinh nội trú ở. Có giường tầng, mỗi buồng có bảng ghi ở cửa “ Nhóm bản Lóp”, “ Nhóm bản…”.. Chăn chiếu bẩn lắm. Nhưng thôi, cái này mình nhìn thấy nhiều rồi. Được cái nhà cũng kín, mùa đông trên núi nhà kín là quan trọng nhất .

Sang bên khu nội trú (cũng dân nuôi) của trường trung học thì nhà cửa có vẻ tuềnh toàng hơn nhiều. Mùa đông thế này chết rét mất. Các cô giáo ở ngay cùng dãy với học sinh. Một cô khi từ dưới đi lên nhìn cứ tưởng học sinh, vì thấp nhỏ, mặc cái áo khoác trắng như đồng phục, đến nơi nghe cô ấy nói mới hiểu là cô giáo. Bếp chung luôn với khu giường tầng, cả hai bếp đều đỏ lửa hun hai cái nồi to đen, mở ra thấy một nồi cơm, một nồi canh bí. Mình tò mò cúi hẳn xuống nhìn, thấy mấy miếng xanh xanh cứ nhảy lộn tùng phèo trong đó ( lửa rất to, ở đây không thiếu củi). Hình như cũng có ít váng mỡ. Hỏi : Thế có món gì nữa không hả cô ?. Cô giáo chỉ gói nilon nhỏ trên bàn, mình cầm lên xem, thì ra mấy miếng cá khô. Có 45 đứa cấp hai nội trú ăn ở đây, cũng tiêu chuẩn 5 ngàn /tuần. Nhưng bọn này có vẻ được ăn khá hơn lũ cấp 1. Các cô giáo bớt tiền lương của mình, cộng vào tiền bố mẹ góp, để mua thức ăn. Theo nhẩm tính thì mỗi tháng 45 đứa có 900 ngàn tiền thức ăn ( trừ gạo) do bố mẹ góp. Tiền các cô giáo cho thêm cũng chừng ấy nữa. Bình quân chúng nó mỗi đứa mỗi ngày có được 2.000 đ tiền thực phẩm ( bên cấp 1 chỉ 1 ngàn/ngày, như ông nấu cơm nói cho chúng tôi biết) . Quy củ hơn bên cấp I, bên này đều đặn mỗi tuần được một bữa ăn thịt . Cụ thể là: Mua dưới chợ 1 kg loại thịt rẻ nhất, rồi kho lẫn với đậu phụ ( cái này mình biết rồi , hôm ở gần Mèo Vạc mình cũng nhìn trẻ con trường nội trú ăn cơm, thấy chúng nó ăn cái món gì cứ trắng trắng, mình cầm bát lên nhìn kỹ, thì ra là đậu phụ màu trắng có lẫn thịt mỡ bèo nhèo, cũng màu trắng, cái bát nhôm méo cũng trăng trắng nữa, hóa ra một món màu sắc như vậy. Hôm đó các thày cô giáo nói thật là có khách đến thăm nên mới thêm món đó, chứ theo lịch thì chưa đến ngày có món ăn mặn).

100 ngàn đồng, thế là cả khu nội trú có món thịt cộng đậu phụ kho. Còn như bây giờ, một tuần may ra chúng nó mới có một lần được như vậy .

Mỗi anh em gởi Cô giáo ít tiền, để cô mua thêm thức ăn  cho học sinh .

Lại nhớ đã 6-7 năm trước, làm Nối vòng tay lớn lần thứ hai hay thứ ba gì đó , mình cử mấy nhóm đi vào các miền nghèo . Mỹ Linh ( Giờ vẫn dẫn Văn hóa- Sự kiện và nhân vật trên VTV3) đi mũi Tây Bắc. Cũng vào chỗ học sinh dân tộc nội trú, quay cảnh bữa cơm của lũ trẻ. Rồi hôm phát trực tiếp từ trường quay S9 Mỹ Linh nói rằng chỉ cần 2 ngàn đồng/ngày cho mỗi đứa bé thôi thì hàng ngày bữa ăn có màu sắc hơn, chứ bây giờ chỉ thấy có màu trắng của cơm và trắng của măng nấu muối….Rồi cô nàng không nén được, khóc nấc trước cả bao triệu người xem TV. Khóc thật sự, dù cố nén. Bằng ấy năm trôi qua. Năm vừa rồi là năm đầu tiên mình không còn chủ trì làm Nối vòng tay lớn của VTV. Nhưng hôm nay lên Suối Giàng, vẫn thấy bữa cơm như thế, rồi vẫn thấy con số 2 ngàn đồng thì mỗi ngày sẽ có thịt ăn, nhưng vẫn chưa có được cái hai ngàn ấy. Mà hai ngàn đồng cách đây 7 năm to hơn 2 ngàn đồng bây giờ  lắm chứ .

Đi xuống, gặp cô người Mông trẻ bế con chắc mới 7-8 tháng tuổi, ngồi trên tảng đá. Hỏi ra mới biết từ bản xuống thăm con ở nội trú cấp một, đang đợi giờ tan học để gặp con. Và chắc đem 5 ngàn với hai cân gạo xuống nộp tiền ăn một tuần cho con. Đứa bé ngoan thật, người lạ bế cứ cười toe toét. Còn cô mẹ cũng hóm ra phết, mình hỏi đùa “ Cho tao mang về nuôi nhé”, thì trả lời “ Ừ, cho đấy, đẻ đứa khác được mà !”. Mấy anh em cho ít tiền gọi là mừng tuổi bé ( mới tháng 8, khà khà..) thì đỏ mặt gạt ra, phải dúi vào tay mới chịu lấy.

Trên đường trở ra, mới tính kỹ :  Mỗi khu nội trú ( một khu 80 đứa cấp một, bên kia 45 đứa cấp hai)  ngày nếu một bữa có thịt kho lẫn đậu phụ, sẽ cần 2kg thịt cho cấp 1, 1kg cho bọn cấp hai, kèm đậu phụ nữa là 300 ngàn/ ngày, hay là 9 triệu đồng/ tháng. Mỗi năm sẽ cần 108  triệu đồng. Nếu cả hai bữa có thịt trong ngày thì cần gấp đôi : 18 triệu/ tháng, hay 216 triệu/ năm .

Nếu cứ như thế 10 năm, để 125 đứa học sinh này ngày nào cũng có món thịt kho kèm đậu phụ (chắc chắn học sinh được ăn cơm với tý thịt khác với học sinh chỉ ăn cơm với món canh loãng , vì tuổi ấy, chúng nó cần đạm lắm để phát triển não), cần có từ một tỷ hai đến trên hai tỷ bốn trăm triệu. Với bằng ấy tiền, 125 đứa trẻ con được ăn có đạm trong cả mười năm !. Với từng cá nhân thì đó là món tiền lớn rồi. Nhưng để có 125 đứa trẻ (à, sau 10 năm, đó là các cô cậu thanh niên chứ) khỏe khoắn, đầu óc sáng láng…thì thêm số tiền đó có gọi được là nhiều không ?. 10 năm cơ mà, sau 10 năm, cả một thời đại công nghệ mới đã thay thế cái cũ trên thế giới này. Trong 10 năm ấy, ở chỗ này, nếu có từ 1 đến 2 tỷ ( VNĐ đấy nhé, đừng nhầm sang USD mà phải tội)  – giúp được trên 100 đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh hơn, thông minh hơn để bước vào thời đại đó.

Mình biết nước ta nghèo ( nói chung, rất chung thôi). Nhưng có nghèo đến thế không ?.

Thôi, không nghĩ chuyện xa xôi, mình quyết định là về nhà, gọi ngay Tiến Trọc và Thánh Cô để bàn về dự án cơm thịt kèm đậu cho 125 nhóc Suối Giàng này . Bước đầu là 1 bữa có thịt/ ngày, hay còn gọi dự án 9 triệu. Kéo được thêm bạn bè thì chuyển càng nhanh càng tốt sang 2 bữa có thịt/ngày, hay dự án 18 triệu/tháng. Lạy giời , đừng có lạm phát hay tăng giá nữa nhé, mức ấy là mức thịt bạc nhạc rồi, không hạ cấp xuống được nữa đâu !

Hay là bàn với Tiến Trọc và Thánh Cô lập hội những người bạn của trẻ con vùng cao?. Bây giờ có bao người đi phượt vùng cao, góp mỗi người một chút cho các nhóc. Lập trang web…Nhưng thôi, chuyện nhỏ làm được thì mới có khả năng làm chuyện to hơn.

 Khi rời Suối Giàng được vài chục cây số,chợt nhớ chuyện không biết buổi sáng bọn trẻ con này nó có được ăn gì không. Nói với  mọi người trên xe. Mỗi người đoán một kiểu, nhưng không ai dám chắc.

Về đến Phú Thọ, thì mình hiểu ra: Từ lúc rời Suối Giàng đến giờ, tâm trạng xót và bi quan, có cả chút phẫn nữa, nhưng lại vẫn có một sợi  gì đó ấm áp lẩn khuất, mà rõ ràng là từ các câu nói nghe được. Chợt nhớ lúc ở bếp trường cấp hai, mình hỏi cô giáo: Thế mỗi cô giáo phải bớt bao nhiêu tiền từ lương của mình để mua thức ăn cho các cháu ?. Cô giáo trả lời : Dạ, không giống nhau, người lương cao hay là Đảng viên thì góp nhiều hơn, giáo viên hợp đồng hay quần chúng thì góp ít hơn… Vậy là Đảng viên thì san từ lương giáo viên miền núi của mình số tiền  nhiều hơn người khác để mua thức ăn cho học sinh. Quả thật, đã lâu lắm rồi, mình hiếm khi nghe được một điều đẹp đẽ như vậy về Đảng viên. Mà không phải nghe từ một diễn đàn hay khung cảnh hoành tráng nào. Mà nghe thì tin ngay. Nghe mà thấy lòng đỡ lạnh. Bởi mình cũng là đảng viên đã mấy chục năm rồi .

Về đến Hà Nội, mở máy ra viết dòng đầu của bài này, để gửi cho Tiến Trọc – đấy , chính cái dòng: “Hôm nay, lần đầu lên Suối Giàng, định ngắm mấy cây chè cổ thụ”…mới nhớ ra là sáng nay tất cả đã quên chuyện xem cây chè. Đỗ xe xong, sà vào đám trẻ, bần thần cả người bởi chuyện ăn uống của chúng nó, lên xe về, chẳng ai nhớ mục đích của việc phóng xe lên đỉnh núi Suối Giàng.

22 .9.2011

T.D.T

Nguồn: Blog Trần Đăng Tuấn

đọc thêm về Trần Đăng Tuấn

*Ngẫm nghĩ lại các nhân vật chính trị của Liên Xô và Đức đã có những nhận xét sau đây vể chủ nghĩa CS:

” Tôi đã bỏ hơn nữa cuộc đời để đấu tranh cho lý tưởng Cộng sản, nhưng ngày hôm nay tôi phải đau lòng mà nói rằng Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo” Mikhail Gorbachev Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.
“Cộng Sản không thể nào sửa chữa mà cần phải đào thải nó” Boris Yeltsin Tổng thống Liên bang Nga .

“Kẻ nào tin những gì Cộng sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời của Cộng sản là không có trái tim” Tổng thống Nga Vladimir Putin.

“Chủ nghĩa Cộng sản đã tạo nên những con người dối trá” Thủ tướng Đức Angela Merkel.

« Khi thấy thằng Cộng sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo. Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác”   Nhà văn Nga Alexandre Soljenitsym.

*Ngay cả cựu chủ tịch quốc hội CHXHCN Việt  Nam Nguyễn Văn An. “Ðảng (Cộng Sản) của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội. Ðảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Ðảng trị… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động.”

“Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo”.  Nguyễn Khải, nhà văn, Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS, đã viết trong tác phẩm  “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất”.

Posted in Nong Dan Viet Nam, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Bất ổn kinh tế vĩ mô: Nhìn hiện tại, lo tương lai lâu dài

Posted by hoangtran204 on 27/09/2011

Bài báo dưới đây rất hay. Tác giả trích dẫn các điểm chính mà các nhân vật quan trọng phát biểu trong cuộc họp của Ủy Ban kinh tế Quốc hội. Theo đó, tình hình kinh tế VN hiện nay là rất xấu. (Nói thiệt ra là nếu đem so sánh với tình hình kinh tế năm 1985 thấy cũng không khác bao nhiêu, nguyên nhân là cách điều hành không khác mấy.).

Điểm đáng chú ý là trong báo cáo của thủ tướng và của các bộ là:  cách dùng chữ không chính xác làm cho người nghe báo cáo có cảm giác bị gạt gẫm, lừa dối.

Các báo cáo về kinh tế mà  không có chút gì gọi là minh bạch. Thủ tướng báo cáo, các bộ báo cáo…chỉ để cho nhau nghe. Các ý nào mà họ không nói ra một cách rõ ràng, thì người báo cáo và người nghe phải hiểu ngầm. Nói chính xác là các bên cứ thế gạt gẫm nhau. Tình hình kinh tế cứ thế mà trôi qua cầu, hết kế hoạch 5 năm này thất bại, qua kế hoạch 5 năm khác cũng thất bại, nay đề ra các kế hoạch 5 năm sắp tới mà các thành đạt sẽ là không bao giờ chắc chắn.  Sống trong nước do đảng cộng sản cai trị thì tất cả người dân ai cũng hy vọng và chờ đợi một tương lai tốt đep hơn, nhưng tương lai ấy sẽ không bao giờ…tới.

***************************************************

Phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế Quốc hội chiều 24/9 tại Tp.HCM:

Bất ổn vĩ mô: Nhìn hiện tại, lo lâu dài

NGUYÊN HÀ
25/09/2011 20:46 (GMT+7)
Tại phiên họp toàn thể lần thứ hai, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã “cân đong” nhiều vấn đề của nền kinh tế – Ảnh: CTV.

Không đi sâu vào các chỉ tiêu cụ thể được dự báo đã vượt hay đã “phá sản” của năm nay, các ý kiến tại phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế Quốc hội chiều 24/9 tại Tp.HCM đặt sự quan tâm và lo lắng nhiều hơn vào những giải pháp dài hạn để “cứu” nền kinh tế được cho là đang ở giai đoạn cực kỳ khó khăn này.

Bởi, theo phân tích của một số chuyên gia kinh tế thì cái giá phải trả cho “thành tích” tăng trưởng 5 năm qua là quá lớn, những bất ổn vĩ mô đã trở nên cực kỳ nguy hiểm, đòi hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ từ tư duy đến hành động.

Thực tế không “hồng” như báo cáo

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình bày tại cuộc họp, năm 2011 có 14/22 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, hai chỉ tiêu đạt xấp xỉ và 6 chỉ tiêu không đạt, trong đó có tốc độ tăng trưởng (ước thực hiện 5,8 -6%/chỉ tiêu 7-7,%) và chỉ số giá tiêu dùng (khoảng 18%/ chỉ tiêu 7%).

Nhìn tổng quát, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá: “tình hình kinh tế, xã hội đã có những chuyển biến và đạt được nhiều kết quả”. Một số hạn chế, tồn tại được điểm mặt là lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao, nền kinh tế tăng trưởng chậm, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn…

Hầu hết các ý kiến phát biểu tại cuộc họp đều cho rằng tình hình được nêu tại báo cáo “hồng” hơn thực tế khá nhiều.

Tổng giám đốc Sài gòn Co-op Nguyễn Ngọc Hòa nhận xét “chưa bao giờ tình hình kinh tế khăn như lúc này”. Người dân mất lòng tin còn doanh nghiệp thì có tâm lý co cụm, e dè trong sản xuất vì không tin ổn định kinh tế vĩ mô có thể được lập lại trong thời gian ngắn.

Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đồng tình với nhiều đại biểu về nhận định tình hình hiện tại đang hết sức khó khăn. “Nhưng cũng không thể chỉ nói mặt khó, Nghị quyết 11 đã tạo ra những chuyển biến tốt”, bà Ngân nói.

Riêng về báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,  Phó chủ tịch Ngân nói nhiều chuyên gia cả trong nước và nước ngoài đều đánh giá là  “hồng” hơn tình hình thực tế.

Vẫn như mọi phiên thẩm tra khác, nhiều ý kiến cho rằng phần đánh giá về hạn chế, yếu kém của cơ quan lập báo cáo chưa thực sự thuyết phục.

Nhắc lại tình hình khó khăn của năm 2008, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Phúc nhớ lại, khi đó câu hỏi tại sao lạm phát ở Việt Nam lại cao đến thế đã được đặt ra. Và câu trả lời được đưa ra  với “lý do bên ngoài là chính”.

Bây giờ, lạm phát cao được xác định do “bên trong” là chính, nhưng là chỗ nào, khâu nào ở bên trong? ông Phúc đặt câu hỏi. Đồng thời đưa ra bình luận: Báo cáo do Thủ tướng Chính phủ thì bên cạnh kết quả có  “hạn chế yếu kém”, còn báo cáo của Bộ chỉ là “tồn tại hạn chế”. Gốc rễ vấn đề, theo tôi vẫn nằm ở điều hành, ông Phúc nhấn mạnh.

“Gói” lại nội dung phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu nói, những yếu kém của nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ hết và đã đến lúc phải “chịu đau” để khắc phục khuyết tật.

Thấm thía tái cơ cấu

“Soi” báo cáo của  năm nay, năm sau, và cả kế hoạch 5 năm tới, TS Trần Du Lịch, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Tp.HCM chỉ ra điểm mới của các văn bản này là đã thấm thía sự cần thiết phải ưu tiên tái cơ cấu nền kinh tế, thay vì ưu tiên tăng trưởng.

Năm 2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến hai kịch bản với tốc độ tăng trưởng 6 và 6,5%, song chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đều ở mức dưới 10%.

Theo quan điểm của đại biểu Lịch thì kịch bản nào cũng được, nhưng “sống chết” năm 2012 lạm phát phải về 1 con số.

“Mặt bằng lạm phát cuối năm nay cộng với 10% đã là ghê gớm lắm, vấn đề ở đây không chỉ là phải là kinh tế mà tác động vào xã hội rất lớn, vì lạm phát là thuế vô hình đánh vào toàn dân”, ông Lịch phân tích.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Đức Kiên nhấn mạnh, 2012 phải là năm cơ bản để tái cấu trúc nền kinh tế trên cơ sở mô hình tăng trưởng hợp lý.

“Quan trọng nhất trong kế hoạch 5 năm không phải là GDP tăng bao nhiêu mà phải hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy để tái cấu trúc kinh tế theo đúng lộ trình”, ông Kiên phát biểu.

Được cho là đã rõ ràng hơn, song các nội dung tái cơ cấu nền kinh tế được xác định tại báo cáo cũng chưa hoàn toàn thuyết phục được các thành viên Ủy ban Kinh tế – cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo kinh tế, xã hội của Chính phủ tại mỗi kỳ họp Quốc hội.

Tại phiên họp, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Trung cho biết, trong 5 năm tới, cần tập trung 3 lĩnh vực quan trọng nhất là: tái cơ cấu đầu tư công, đổi mới phân cấp đầu tư; tái cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước; tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác.

Theo một số chuyên gia kinh tế là thành viên ủy ban, tái cơ cấu đầu tư không chỉ được tiến hành ở khu vực công mà cần chú trọng cả khu vực tư nhân.

Tương tự như vậy, bên cạnh tái cơ cấu các doanh nghiệp Nhà nước cũng cần làm việc này với khối doanh nghiệp tư nhân, vì  cả hai đều “có bệnh”, một số đang ở mức bệnh trọng.

Quan điểm này cũng đã nhận được sự thống nhất cao của các chuyên gia kinh tế tại hội thảo về kinh tế vĩ mô diễn ra trước phiên họp ủy ban 1 ngày. Tại đây, với những phân tích có hệ thống, nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc phải nhìn rõ và nói rõ sự thật là tình hình đã vô cùng khó khăn và sẽ còn khó khăn hơn rất nhiều. Do đó, muốn ổn định vĩ mô thì không còn cách nào khác là cần phải nhìn thẳng vào sự thật và “bốc thuốc đúng bệnh“.

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Tổng lãnh sự 4 nước kéo về miền Tây thăm Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang

Posted by hoangtran204 on 25/09/2011

*********************

Tổng lãnh sự 4 nước kéo về miền Tây thăm Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang

Triệu Phong/Người Việt

Công điện ngoại giao do WikiLeaks tiết lộ, liên quan đến việc tổng lãnh sự bốn nước Úc, Ấn Ðộ, Kuwait và Mỹ mở cuộc viếng thăm vùng lưu vực sông Cửu Long ở các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang và An Giang.
Các nhà ngoại giao chú trọng đến cơ hội hợp tác và phát triển ở vùng này, đồng thời nêu rõ những khó khăn mà các tỉnh này phải đối phó, từ thiếu thốn hạ tầng cơ sở về giao thông đến sự thiếu đồng thuận của đảng bộ lẫn công an địa phương.

(Công điện làm tại Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, ngày 12 tháng 2, 2010)


Cầu Cần Thơ, được xây dựng từ vốn vay ngoại quốc.
(Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Cần Thơ – thành phố may mắn

Một trong những nơi phái đoàn ngoại giao viếng thăm khi đến Cần Thơ là Viện Lúa Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Viện Lúa Ðồng Bằng Sông Cửu Long (Mekong Delta Rice Research Institute), thành lập năm 1977, dưới hình thức quà tặng Ấn Ðộ dành cho Việt Nam. Thoạt đầu, tặng phẩm này là để biểu lộ sự ủng hộ phong trào chống đế quốc, tập trung vào mục tiêu tự túc tự cường và, sau đó, thay thế dần việc nhập cảng, vốn là điều rất quan trọng đối với nhiều thành viên thuộc các nước không liên kết vào thập niên 1970.

Tuy nhiên qua thời gian, viện thay đổi theo với tình hình đổi thay của hai nước Việt Nam và Ấn Ðộ.

Phần lớn nhân viên của viện được huấn luyện căn bản theo chương trình do chính phủ Ấn tài trợ, mỗi năm 2 đến 3 nhà nghiên cứu liên tục được gửi sang Ấn để học cao hơn.

Ngày nay, Mỹ là nguồn ngoại viện hàng đầu của viện, qua hai tổ chức Rockerfeller Foundation và Gates Foundation, với sự du nhập giống lúa “golden rice” năng suất cao và nhiều chất dinh dưỡng hơn, cho vùng Ðông Nam Á.

Nhờ trợ cấp của Gates Foundation, Viện Lúa Ðồng Bằng Sông Cửu Long trở thành nơi đầu tiên trên thế giới sản xuất giống lúa Indica, được biến đổi di truyền từ “golden rice,” bằng cách kết hợp DNA của cây lúa với đậu nành. (Ghi chú: Gạo “golden rice” lúc đầu được sản xuất từ loại lúa Japonica, dựa theo các giống được trồng ở vùng có khí hậu ôn đới.)

“Mission Vietnam” hợp tác chặt chẽ với viện qua các chương trình và hội nghị để gia tăng hiểu biết về sinh vật biến đổi di truyền (GMO) ở Việt Nam. Phó giám đốc viện Dương Văn Chín vui vẻ thông báo với tổng lãnh sự rằng viện được phép trồng giống lúa golden rice có kiểm soát, cũng như giống đậu nành, đã giúp cải biến về di truyền, với biện pháp chống sâu bọ cao.

Mãi tới hiện nay, mọi sự trồng trọt được thực hiện ở các nhà kính hai lớp, có kiểm soát kỹ lưỡng, gồm các nhà kiếng nhỏ nằm riêng biệt bên trong những nhà kiếng lớn hơn. Tổng lãnh sự Kuwait, nhân cơ hội này, giới thiệu mẫu lúa Basmati mà giới tiêu thụ Kuwait rất ưa chuộng.

Tiếp sau cuộc viếng thăm Viện Lúa Ðồng Bằng Sông Cửu Long, phái đoàn thăm Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu (Climate Change Research Institute) ở trường Ðại Học Cần Thơ.

Ðược thành lập vào năm 2008 như một sản phẩm của hội nghị thượng đỉnh giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, viện hiện hữu được nhờ sự giúp đỡ của Bộ Ngoại Giao và cơ quan Thăm Dò Ðịa Chất Hoa Kỳ (US Geological Survey).

Tuy nhiên, hiện nay Tòa Lãnh Sự Úc và cơ quan AusAID trở nên có quan hệ nhiều hơn, khi Úc cam kết làm việc với các nước trong khối ASEAN về sự thay đổi khí hậu. Quan hệ này gia tăng mạnh mẽ hơn, cùng với sự hiện diện của nhiều nhà khoa học về môi trường do Úc đào tạo ở trường Ðại Học Cần Thơ. Hội Nghị về Thay Ðổi Khí Hậu (Climate Change Conference) do Tòa Lãnh Sự Úc đồng bảo trợ, được khai diễn tại đây hồi đầu năm, đồng thời AusAID đang đúc kết kế hoạch cung cấp khoảng $1.3 triệu Úc kim cho các dự án nghiên cứu do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện tại viện.

Cuộc viếng thăm thứ ba, đến công ty nông hải sản Hiệp Thanh, cho thấy tác động tai hại “khi có sự can thiệp của nhà nước.”

Công ty nông hải sản Hiệp Thanh ở Cần Thơ được quan tâm về nhiều mặt. Trong khi Hiệp Thanh tiếp tục sản xuất 60% lượng cá basa, công ty mở rộng hoạt động bằng sự phát triển một hệ thống nhà nuôi trồng độc lập. Tuy nhiên, để duy trì chất lượng, mỗi nhà nuôi trồng theo hợp đồng được yêu cầu chỉ trồng với hạt giống do Hiệp Thanh cung cấp mà thôi.

Mỗi nhà nuôi trồng này cũng được đòi hỏi phải giữ hồ sơ tỉ mỉ hằng ngày về chất lượng nước, thức ăn cung cấp, điều kiện thời tiết, kích thước trung bình của cá, ghi rõ các vấn đề gặp phải và nhiều yếu tố khác, để phù hợp với các tiêu chuẩn khắt khe của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Tiêu Chuẩn Quốc Tế (ISO), mà Hiệp Thanh đã ký kết.

Trong khi thị trường lớn nhất của Hiệp Thanh vẫn là các nước ở vùng Scandinavia, nơi người tiêu thụ sẵn sàng trả giá cao cho cá có chất lượng. Tổng giám đốc Hiệp Thanh, ông Nguyễn Văn Phấn, bày tỏ sự quan tâm về điều lệ qui định về cá catfish đang đợi quyết định ở Hoa Kỳ, vì việc này có tác động từ 10 đến 20 phần trăm thương vụ của công ty.

Một thay đổi trong việc kiểm soát xuất cảng lúa gạo năm 2008, làm sụt giảm trầm trọng khả năng xuất cảng trực tiếp của Hiệp Thanh. Do hậu quả một phần của các biện pháp được hoạch định, bề ngoài như để bảo đảm an toàn thực phẩm và bình ổn giá, được đưa ra sau cơn sốt giá gạo năm 2008, chính quyền Việt Nam qui định, không công ty kinh doanh môi giới về lúa gạo tư nhân nào được phép bán gạo cho bất kỳ nước nào, đã có thuận thảo trước giữa hai nước.

Sự thay đổi có tác động mạnh đến Hiệp Thanh vì hai lý do.

Thứ nhất, trước khi có thay đổi, Hiệp Thanh thường bán thêm gạo cho các nước đã có thuận thảo trước giữa hai nước, để bảo đảm có sự cung ứng căn bản. Ví dụ Philippines từ lâu vốn là nước mua gạo của Việt Nam nhiều nhất và giữ truyền thống mua số lượng lớn theo thỏa thuận giữa hai nước, mà chính quyền Việt Nam bán qua công ty VinaFoods2, một công ty quốc doanh khổng lồ ở miền Nam. Tuy nhiên, trong quá khứ người mua ở Philippines được quyền mua thêm gạo trực tiếp với tư nhân khi giá thị trường hạ thấp hơn giá theo hợp đồng giữa hai chính quyền. Hiện nay, không ai ở Việt Nam, ngoại trừ VinaFoods, được quyền bán cho bất kỳ ai ở Philippines.

Những nước mua gạo của Việt Nam khác như Iran và Iraq cũng bị chi phối bởi sự độc quyền của công ty quốc doanh.

Khó khăn thứ hai phát khởi vào năm 2009, khi VinaFoods2 và đối tác VinaFoods1 ở miền Bắc, mở chiến dịch qui mô, thay đổi hợp đồng thương mãi hiện hữu, ngay người mua nhỏ nay phải đi qua hợp đồng chính thức giữa hai chính quyền, khiến khép lại thị trường bán gạo của tất cả đại lý tư nhân ở Việt Nam. Kết quả là Hiệp Thanh bây giờ chỉ bán được 15% tổng số gạo sản xuất của mình trực tiếp đến người mua ở ngoại quốc (chủ yếu ở Phi Châu).

85% số gạo còn lại Hiệp Thanh phải bán cho VinaFoods1 hoặc VinaFoods2, hai công ty quốc doanh này chỉ việc truyền lệnh cho Hiệp Thanh gửi thẳng số gạo đó cho người mua ở ngoại quốc và thu vào túi hầu hết nguồn lợi. Mặc dù gặp phải các chướng ngại đó, hoạt động sản xuất gạo của Hiệp Thanh vẫn tăng trưởng. Vì hoạt động sản xuất có hiệu năng cao hơn các công ty quốc doanh khổng lồ, Hiệp Thanh vẫn thu được một ít lợi nhuận dù rằng chỉ phục vụ với tính cách gia công cho hai công ty quốc doanh khổng lồ.

Hậu Giang – thân phận dư thừa

Hậu Giang bị “hẫng” sau khi Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Huỳnh Minh Chắc, một tướng bộ đội hồi hưu, người từng tham gia chiến đấu ở Cambodia, không chút e dè khi trình bày nhiều vấn đề mà tỉnh nghèo đói của ông đang phải đối đầu.

Khi “thành phố đặc biệt” (trực thuộc trung ương) Cần Thơ bị tách rời khỏi vùng chung quanh nó vào năm 2004, Hậu Giang trở thành tỉnh “dư thừa,” nghèo nàn và kém phát triển. Thiếu thốn về hệ thống đường sá, trường ốc, điện nước, Hậu Giang phải vật lộn để phát triển.

Trong khi Hậu Giang được xếp hạng 13 theo Chỉ Số Tỉnh Thi Ðua (Provincial Competitive Index) (sự xếp hạng dựa vào môi trường kinh doanh giữa 63 tỉnh ở Việt Nam do cơ quan viện trợ Mỹ USAID bảo trợ), Hậu Giang còn được xếp hạng 3 theo chỉ số phụ về “chất lượng hành chánh địa phương.”

Thứ hạng chung của tỉnh lại bị “phẩm chất lực lượng lao động” kéo xuống thấp, điều này phản ảnh nền giáo dục yếu kém của tỉnh.

Mức thu nhập trung bình mỗi đầu người của Việt Nam khoảng $1,000 mỗi năm, Hậu Giang thấp hơn 25%. Trong khi thu nhập đầu người rất nghèo nàn, tỉnh này lại tăng trưởng nhanh, ngay tổng sản lượng GDP trong năm 2009 ghi nhận tăng được 12.6%. Chủ Tịch Chắc trình bày với mỗi tổng lãnh sự một “gói” đầu tư, gồm những đề nghị đầu tư không thực tế.

Cũng tại đây, phái đoàn đi thăm một công ty quốc doanh với thành phần lãnh đạo “ông nói gà, bà nói vịt.” Ðó là công ty đường quốc doanh Cần Thơ.

Công ty đường Cần Thơ (CASUCO) lập thành công ty quốc doanh độc quyền vào năm 1995, khi Cần Thơ và Hậu Giang vẫn còn chung một tỉnh, nay mặc dù tách rời nhau nhưng công ty vẫn giữ tên cũ “Cần Thơ.” Mặc dù trở thành cổ phần hóa vào năm 2005, nhà nước vẫn tiếp tục nắm đa số cổ phần và phó giám đốc công ty, nói rặt giọng Hà Nội và hoàn toàn không có kiến thức về kỹ nghệ sản xuất đường, khiến người ta có cảm tưởng bà ta là một chính trị viên được bổ nhiệm vào chức vụ. Ví dụ, để trả lời câu hỏi của tổng lãnh sự Úc về nguồn mía để làm đường, bà đáp, CASUCO là công ty quốc doanh của tỉnh Hậu Giang, do vậy mọi nguồn mía đều thu mua từ nông dân trong tỉnh vì họ bị bắt buộc phải bán cho công ty.

Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ chính thức, quản lý thương nghiệp của công ty giải thích rằng, hệ thống thu mua độc quyền đã chấm dứt từ nhiều năm trước, và rằng nguồn mía ngày nay đến từ nhiều tỉnh khác nhau. Thay vì bị đòi hỏi chỉ bán cho CASUCO, các nhà trồng mía ở Hậu Giang (cũng như ở các tỉnh khác) được chọn bán cho ai tùy ý. Ông này thêm, CASUCO cũng như hầu hết các công ty đường khác ở Việt Nam vẫn còn thu mua trực tiếp từ một số trại mía địa phương, nhưng nay nguồn mía đa số đều đến từ các nhà đại lý, là những người chuyên đi đến hằng ngàn vườn trồng mía cá thể (thường chỉ rộng từ 2 đến 4 mẫu), ở khắp vùng châu thổ và duyên hải miền Trung, để gom về với số lượng lớn, bán lại cho các nhà máy tinh lọc thành đường. Theo cách này, giá thị trường của mía không còn do một số nhà máy đường của tỉnh quyết định, mà vào tay các lái buôn, luôn cạnh tranh nhau để mua lại từ các trại mía.

Thay vì bị bắt buộc phải trồng mía, nông gia ngày nay có quyền chọn lựa. Hầu hết hơn 2,000 trại mía nhỏ ở Hậu Giang trồng mía và gạo theo lối luân canh.

Sự tương phản rõ rệt này cho ta một ẩn dụ thích thú đối với tiến trình cải cách kinh tế vốn đang diễn ra trên khắp vùng châu thổ.

An Giang – triển vọng cao

An Giang là tỉnh ít nạn quan liêu và đặt giáo dục lên ưu tiên một.

Từng là một trong các tỉnh nghèo nhất nước, chỉ mới cách đây vài năm, tổng sản lượng GDP theo đầu người ở An Giang nay hơi cao hơn con số trung bình của toàn quốc. Lý do rất dễ thấy rõ. Mỗi tổng lãnh sự có tiếp xúc với An Giang đều báo cáo rằng, chính quyền tỉnh tỏ ra ít quan liêu và lo nâng đỡ cho vùng châu thổ nhiều nhất.

Tỉnh An Giang cũng đặt giáo dục lên ưu tiên hàng đầu, chứng cớ là trường đại học có thêm trường ốc cơ sở mới. Gần phân nửa trong tổng số 7,000 sinh viên theo ngành giáo dục, một phần nhờ chiến dịch rầm rộ của tỉnh, tuyển chọn và đào tạo giáo viên từ mỗi thôn làng ở trong tỉnh. Một số sinh viên xuất sắc năm thứ hai, đến từ những làng xã mà chỉ đi ghe mới đến được, trong khi nhiều người trước đây chưa hề được nhìn thấy thành phố trước khi họ đến thủ phủ của tỉnh là thành phố Long Xuyên, nơi dân số lên đến 275,000 người. Sinh viên giỏi được chọn và được theo học miễn phí, cộng thêm tiền thưởng với thỏa thuận trở lại làng quê của mình để dạy ít nhất 5 năm sau khi tốt nghiệp.

Bốn tổng lãnh sự nói chuyện với một nhóm sinh viên lớp “Anh Văn Giáo Dục,” một tổng hợp của chương trình dạy tiếng Anh với việc học về phương pháp giảng dạy.

Trong cuộc viếng thăm trung tâm lượng định của Tổ Chức Di Trú Quốc Tế (IOM) để gặp các nạn nhân nạn buôn người được trở về cuộc sống bình thường, bốn tổng lãnh sự nghe trình bày về sự thành công lẫn thử thách khi chống lại nạn buôn người ở Việt Nam. Tin vui là trung tâm lượng định ở An Giang làm việc suôn sẻ, cũng như “open house,” một tổ chức phi chính phủ, nơi săn sóc dài hạn, huấn luyện và yểm trợ cho các nạn nhân.

Các chương trình giáo dục nhắm đến học sinh bậc trung học, tuồng như cũng có tác động nhờ gia tăng cảnh giác và giúp giảm bớt được số nạn nhân ở trong tỉnh. Hình ảnh ít khích lệ là những tiến bộ này phần lớn chỉ giới hạn ở một vài tỉnh như An Giang, nơi chính quyền tỉnh tích cực ủng hộ việc huấn luyện chống nạn buôn người, phụ giúp nạn nhân được trở về, đồng thời giúp họ hội nhập trở lại với cộng đồng.

Cấp lãnh đạo tỉnh An Giang tạo được một hiệu ứng hấp dẫn, theo đó Tổ Chức Di Trú Quốc Tế cho biết, một quyết định gần đây của chính quyền Việt Nam, cho phép nạn nhân buôn người từ các tỉnh khác được sử dụng trung tâm lượng định của An Giang.

Giám đốc trung tâm lượng định cũng như đại diện Phòng Lao Ðộng, Tàn Phế Nhân và Dịch Vụ Xã Hội cho biết, trong nhiều tháng qua, chính quyền trung ương ở Hà Nội đã dàn xếp để quan chức từ nhiều tỉnh khác nhau đến thăm An Giang để thấy tỉnh này có được sự tiến triển như thế nào.

Tổng lãnh sự Kuwait (người khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng trước đây đã từng làm việc tại IOM ở Geneva) lém lỉnh thắc mắc tại sao nhà nước Việt Nam thiếu tích cực trong việc ngăn chận nạn buôn người, gồm trong nước lẫn nô lệ lao động. Ðại diện IOM giải thích, họ và các tổ chức khác đang bắt đầu thuyết phục chính quyền Việt Nam về vấn đề này, họ còn thêm rằng, vấn đề căn bản nằm ở chỗ Việt Nam hiện chưa có luật lệ về nạn buôn người phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Vị đại diện này hy vọng dự luật này sẽ được trình trong phiên họp Quốc Hội sắp tới.

An Giang là tỉnh có dân số theo đạo Hồi cao nhất, khoảng 14,000 tín đồ, nên việc viếng thăm một đền Hồi và các tín đồ là điều hoàn toàn tự nhiên. Phái đoàn viếng thăm Ehsan, một đền Hồi với tầm vóc trung bình, đủ phục vụ cho 200 gia đình, với tổng số 1,200 tín đồ. Ðền được xây vào thập niên 1930, được tân trang lại trong hai năm 1997-1998 nhờ tiền đóng góp của người Chàm định cư ở Mỹ và Úc. Trong số 4 tổng lãnh sự, chỉ tổng lãnh sự Ấn đã từng viếng thăm trước đây và ông được nồng nhiệt tiếp đón trở lại.

Ðể đáp lại thắc mắc của tổng lãnh sự Kuwait, rằng số tín đồ Hồi Giáo này từ đâu đến, đại diện Hồi Giáo thuộc hội đồng tôn giáo tỉnh bắt đầu nói đến sự liên hệ, khi Vương Quốc Chàm còn trị vì ở miền Trung Việt Nam, nhưng các vị trưởng lão đạo Hồi lập tức xen vào nói ngược với lời của ông ta. Theo lời thầy tế (imam) và người phụ tá, hầu hết người Hồi Giáo ở An Giang đều thuộc sắc tộc Chàm, được thuê từ Cambodia di dân sang Việt Nam khoảng 300 năm trước, để làm công việc đào kênh giúp biến vùng lưu vực thành một vựa lúa. Do vậy, họ chỉ có liên hệ gián tiếp (nếu không muốn nói là xa) đối với cộng đồng người Chàm ở duyên hải miền Trung Việt Nam, những người có liên hệ đến Vương Quốc Chàm từng cai trị miền Trung Việt Nam khoảng thời gian từ năm 400 đến – 1400 sau Tây lịch.

Ðối với dân thiểu số nghèo khác ở trong tỉnh, chính quyền cho họ nhiều trợ cấp đặc biệt, như đi học miễn phí và được sự nâng đỡ của cộng đồng. Dầu vậy, cộng đồng vẫn còn nghèo khó và thiển cận, mà hầu hết thành viên đều kiếm sống bằng nghề nông khiêm tốn.

Các trưởng lão Hồi Giáo cho biết, trong cộng đồng chỉ có 6 người thực sự hiểu được tiếng Ả Rập, mặc dù một ít trưởng lão đọc được nhưng không nói được. Sáu người biết nói tiếng Ả Rập đều khá trẻ, từng được một số nước gửi ra ngoại quốc để huấn luyện như Malaysia, Indonesia, United Arab Emirates và Saudi Arabia. Tổng lãnh sự Kuwait bày tỏ sự quan tâm mạnh mẽ, muốn tìm cách cung cấp sự huấn luyện ở Kuwait, đồng thời yểm trợ các đền Hồi dưới hình thức khác.

Mặc dù có nhiều phát triển tích cực, An Giang vẫn thay đổi thường xuyên và do đó có đầy sự mâu thuẫn. An Giang là tỉnh nơi xảy ra biến cố năm 2007, khi công an địa phương đuổi phái đoàn nhân viên lãnh sự quán ra khỏi khách sạn lúc nửa đêm. Cùng lúc ấy Ủy Ban Nhân Dân lại đi mời mọc các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Chúng tôi nghe các tổ chức phi chính phủ thuật lại, một mặt đảng bộ tỉnh tìm cách lôi kéo họ vào, một mặt lại “từ chối” các tổ chức phi chính phủ từ Hoa Kỳ.

Giao thông – quan trọng chiến lược

Các tỉnh vùng châu thổ không thể phát triển vì thiếu hạ tầng cơ sở về giao thông.

Mỗi chủ tịch tỉnh mà phái đoàn tổng lãnh sự tiếp xúc bày tỏ ước muốn và kế hoạch xây dựng những tuyến đường giao thông tân tiến và hiện đại, gồm phi trường, siêu xa lộ, cầu cống và xe lửa cao tốc.

Tình trạng thực ra khá mù mờ và sự thiếu thốn về hạ tầng cơ sở của đường sá giao thông là trở ngại chính cho sự phát triển. Ví dụ, trong khi Cần Thơ nằm cách Sài Gòn chỉ hơn một trăm dặm nhưng xuống đó phải đi mất hơn 4 tiếng. Ði thêm chỉ 30 dặm để đến Hậu Giang ở bên phía Tây phải mất thêm 90 phút nữa. Hành trình dài 150 dặm từ Sài Gòn đến Châu Ðốc, trung tâm du lịch và mua bán đầy quyến rũ của An Giang, đòi hỏi phải đi mất 6 đến 7 tiếng, chưa kể thêm ba lần qua phà, mà hai trong số đó xe tải không qua được. Tình trạng giao thông nghèo nàn này tác động lên mọi khía cạnh về kinh tế.

Thu nhập của nông dân chịu tác động tiêu cực do không thể đưa nhanh rau quả xanh tươi đến thị trường khổng lồ của Sài Gòn. (Ở Sài Gòn, hầu hết người tiêu dùng chỉ muốn mua rau quả hay thịt cá mới thu hoạch trong ngày).

Ngoài ra, hầu như không nhà đầu tư ngoại quốc nào muốn đi xa hơn về phía Nam, thay vì vậy họ chọn những địa điểm gần, dù rằng phải chịu tình trạng kẹt xe và thiếu nhân công là vấn đề đang ngày mỗi trầm trọng.

Bên cạnh đó, ngay một vài nhà đầu tư chịu đi xa hơn về phía Nam, cũng phải quyết định rằng sự thuận tiện tương đối như có sẵn đất đai và lao động dư thừa ở miền châu thổ cũng không bù lại được với gánh nặng hậu cần của vùng này.

Phái đoàn tổng lãnh sự di chuyển trên đường xa lộ dài 62 cây số nối liền Sài Gòn với Trung Lương mới khánh thành. Loại xa lộ kiểu Tây phương (với bốn lằn xe chạy, hạn chế lưu thông đối với bộ hành, xe gắn máy hoặc xe kéo), là một phần của xa lộ dự trù nối liền Sài Gòn với Cần Thơ.

Việc mở chỉ mới đoạn đầu tiên của xa lộ này cũng đã giúp chặng trở về rút ngắn thời gian được một tiếng đồng hồ. Vào cuối tháng 3, cầu Cần Thơ mới sẽ được lưu thông, giúp giảm thêm được 30 phút nữa. Hiện những đoạn khác của xa lộ đang được xây dựng, dự trù sẽ hoàn tất vào năm 2013, bấy giờ đi từ Sài Gòn xuống Cần Thơ chỉ còn 1 giờ 40 phút.

Nhiều dự án giao thông đang được phát triển để nối liền Hậu Giang với xa lộ này. Một xa lộ miền Tây khác sẽ nối các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Ðồng Tháp với Sài Gòn.

Phi trường Cần Thơ hiện chỉ phục vụ những chuyến bay đi Hà Nội và Phú Quốc, đang được xây thêm để trở thành một phi trường quốc tế vào trước cuối năm.

Một khi những gạch nối này được khai thông, các tỉnh vùng châu thổ sẽ thay đổi lớn và có nhiều cơ hội phát triển rộng. Các tỉnh đang hướng đến một tương lai tăng trưởng mạnh mẽ, qua sự chuẩn bị về giáo dục, cải tổ nền hành chánh địa phương, phát triển hạ tầng cơ sở.

Nguồn:

Nhật báo Người Việt

x-cafevn.org

****************************************************************

Cũng may là các tỉnh vùng châu thổ không thể phát triển vì thiếu hạ tầng cơ sở về giao thông, nếu không thì chúng đã tiến vào vùng nầy để chiếm đất đai, cho thuê đất, mua bán đất, xây dựng hãng xưởng, ô nhiễm môi trường, thành thị hóa thôn quê và phá vở  nền văn hóa nông thôn ở vùng  Lục Tỉnh miền Nam.  (Hiện nay đã có một số hãng xưởng nước ngoài vào đầu tư, nhưng qui mô còn nhỏ).

Trong khi giá phân bón, thuốc trừ sâu mỗi mùa mỗi tăng giá, thì giá lúa tăng rất chậm. Nông dân sản suất ra lúa gạo nhưng các công ty quốc doanh và thương lái của chúng…quyết định giá cả! Giá thu mua lúa của các công ty quốc doanh rất thấp, nếu nông dân không bán thì không có nới chứa và có thể bị hư hại vì mốc, ngập nước, chuột phá…khi giá thu mua lúa thấp, người nông dân cầm cự không bán, chỉ một thời gian ngắn sau, họ phải bán lúa cho chúng ngay vì thiếu hụt tiền chi tiêu, tiền trả nợ  mua phân, tiền dầu, tiền mua lúa giống… Câu chuyện ép giá mua năm nào cũng tái diễn làm cho nông dân ngày càng nghèo hơn. Cứ nhìn xem sự áp đặt các thủ tục hợp đồng giấy tờ  của “cơ quan nhà nước công nông”, thì mới hiểu sự bóc lột của chúng rất tinh vi và hiểu tại sao nông dân nghèo, giá lúa gạo ở  VN thấp hơn các nước lân cận trong vùng.

Trích.

“vào năm 2009, khi VinaFoods2 và đối tác VinaFoods1 ở miền Bắc, mở chiến dịch qui mô, thay đổi hợp đồng thương mãi hiện hữu, (theo hợp đồng này) ngay người mua nhỏ nay phải đi qua hợp đồng chính thức giữa hai chính quyền, khiến khép lại thị trường bán gạo của tất cả đại lý tư nhân ở Việt Nam.

Kết quả là Hiệp Thanh bây giờ chỉ bán được 15% tổng số gạo sản xuất của mình trực tiếp đến người mua ở ngoại quốc (chủ yếu ở Phi Châu). 85% số gạo còn lại Hiệp Thanh phải bán cho VinaFoods1 hoặc VinaFoods2, hai công ty quốc doanh này chỉ việc truyền lệnh cho Hiệp Thanh gửi thẳng số gạo đó cho người mua ở ngoại quốc và thu vào túi hầu hết nguồn lợi”.

 

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Ai trả học phí cho các con ông Dũng?

Posted by hoangtran204 on 24/09/2011

Theo tin từ nước Anh, vụ án liên quan tới việc trả học phí cho Lê Đức Minh, con trai ông Lê Đức Thúy đã được đưa ra xét xử. Doanh nhân người Anh, Bill Lowther, 71 tuổi, cựu giám đốc của một công ty có trụ sở tại London, liên doanh với công ty Úc châu Securency, đã bị cơ quan chống hối lộ của Anh buộc tội. Trong phiên tòa dự diễn ra hôm 20 tháng Chín, doanh nhân này được nộp tiền thế chân để tại ngoại trong khi quá trình điều tra vẫn tiếp tục.

Cơ quan chống tham nhũng của Anh xác nhận rằng, Bill Lowther đã đứng ra dàn xếp một chỗ học cao học cho con ông Thúy ở Đại học Durham và sau đó trả học phí cho anh ta trong thời gian học, tức 2 năm 2003 và 2004.

Đó cũng là thời gian mà cha của Minh là ông Lê Đức Thúy giữ chức vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Trên cương vị này, năm 2003, ông Thúy đã dành hợp đồng tin tiền Polymer cho công ty Úc có tên là Securency. Cuộc điều tra của cảnh sát Úc cũng cho biết, Securency thông qua công ty trung gian do Lương Ngọc Anh -một đại tá tình báo công an, có quan hệ thân thiết với 2 ông Lê Đức Thúy và Nguyễn Tấn Dũng – làm giám đốc, chi trả khoảng 12 triệu Úc Kim cho việc chạy hợp đồng.

Năm 2007, thủ tướng Dũng đã ký quyết định bổ nhiệm ông Thúy vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và ông Thúy ở cương vị này cho tới khi về hưu vào tháng Tư vừa rồi.

Tính đến nay, phía Úc đã bắt giữ 7 viên chức liên quan và nhiều lần nêu đích danh một số quan chức Việt Nam dính líu trong vụ việc này.

Vụ án đã được báo chí hải ngoại đăng tải nhiều lần, với các tình tiết liên tục cập nhật, nên xin không đề cập sâu thêm nữa.

Chuyện con cái quan chức cỡ bự đi du học, có người khác trả tiền đã được xì xầm lâu nay trong xã hội Việt Nam, tuy báo chí trong nước không dám đề cập tới. Câu hỏi được đặt ra là, ai đã trả học phí cho các con ông Dũng?

Thủ tướng Dũng có 3 con.

Nguyễn Thanh Nghị. Ảnh On the net

Nguyễn Thanh Nghị sinh năm 1976, hiện là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.

Tốt nghiệp đại học kiến trúc Tp. HCM, ít năm sau, Nghị sang Mỹ học tiến sĩ. Năm 2006 Nghị bảo vệ xong tiến sĩ ngành Kỹ sư công chính tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ.

Như vậy Nguyễn Thanh Nghị cũng theo học tiến sĩ ở Mỹ vào khoảng thời gian cùng với Minh, tức 2003- 2006.

Con thứ hai của thủ tướng Dũng là Nguyễn Thanh Phượng, hiện là chủ tịch Hội đồng quản trị một quỹ đầu tư VietCapital với số vốn khoảng trăm triệu đô la. Nguyễn Thanh Phượng sinh năm 1981, tốt nghiệp đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội năm 2002, sau đó học thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) tại Đại học quốc tế tại Geneva, Thụy Sĩ. Tra cứu cả 2 tên  “International University in Geneva” và “University of Geneva” đều không thấy tên cô, nên không rõ cô đã theo học trong thời gian cụ thể nào và ở trường nào.

Nguyễn Thanh Phượng và Nguyễn Bảo Hoàng. Ảnh On the net

Có thể tính như sau, vào năm 2006 Phượng làm cho tập đoàn Holcim của Thụy Sĩ và sau đó là phó giám đốc tài chính của công ty liên doanh giữa Holcim và một doanh nghiệp ở Kiên Giang mà gia đình cô có ‘mối liên hệ mật thiết’. Khi đi làm, Phượng đã tốt nghiệp MBA rồi. Như vậy Thanh Phượng đi học cao học cùng thời gian với Lê Đức Minh và Nguyễn Thanh Nghị, khoảng năm 2003-2005, 2006 gì đó. Năm 2008, Phượng  lấy Nguyễn Bảo Hoàng, một Việt kiều Mỹ, con của cựu quan chức Việt Nam Cộng Hòa.

Người con thứ ba của ông Dũng là Nguyễn Minh Triết. Trước khi đi chi tiết về Triết, xin lòng vòng một chút.

Cách đây chừng vài năm, một sinh viên Việt Nam theo học ở Anh quả quyết rằng, anh ta học cùng với con trai thứ 3 của thủ tướng Dũng là Nguyễn Minh Triết. Lúc đó người viết  đã nhất định không tin và cho rằng cậu ấy nhầm, Nguyễn Tấn Dũng chỉ có 2 con thôi. Nhưng những tra cứu trên Internet sau đó đã cho thấy, đương kim thủ tướng Dũng có cậu út tên Nguyễn Minh Triết.

Chuyện ông Dũng có đứa con thứ ba là không bình thường với một nước áp dụng rất ngặt nghèo việc sinh đẻ có kế hoạch, nhất là với cán bộ trong bộ máy nhà nước. Những người vì lý do gì đó, sinh con thứ 3 đều bị kỷ luật từ khiển trách, hạ bậc lương cho tới khai trừ đảng và đều gặp trở ngại trên con đường thăng tiến.

Người anh họ của tôi ở Hà Nội, có 2 con gái, chỉ vì sức ép của gia tộc, muốn có thằng cu ‘chống gậy’ đã lặng lẽ sinh thêm con thứ 3. Anh phải bày mưu tính kế, khi bụng vợ lùm lùm liền đưa về quê sinh nở, gần năm sau mới lên. Đứa con trai mới sinh anh cũng không dám hé răng kể với ai. Vậy mà vài năm sau, lúc ngấp nghé ghế viện trưởng thì chuyện của anh bị bại lộ. Vậy là ‘xôi hỏng bỏng không’, anh phải xin ra khỏi đảng và từ trưởng phòng bị giáng xuống phó phòng. Tất nhiên, cái ghế viện trưởng đã có kẻ khác ngồi thay.

Không biết thủ Dũng đã ‘lách luật’ kiểu gì, để nếp tẻ đề huề mà vẫn có cậu thứ 3 và còn ngồi ở vị trí đỉnh cao quyền lực ở Việt Nam tới 2 nhiệm kỳ?

Theo bạn sinh viên nọ, Triết sang Anh học từ bậc phổ thông, sau đó học tiếp lên đại học tại Anh. Một nguồn tin khá tin cậy cho hay, năm ngoái Triết đã về bộ Quốc Phòng, được bổ nhiệm vào một vị trí rất ‘thơm tho’.

Như vậy, trong cùng một thời gian, ông Dũng nuôi 3 đứa con ăn học ở nước ngoài, một ở Mỹ, một ở Thụy Sĩ và con thứ 3 học phổ thông và đại học tại Anh.

Lương của thủ tướng Việt Nam là bao nhiêu?

Ở một nước dân chủ, lương tổng thống, thủ tướng hay các vị bộ trưởng đều được công khai. Nhưng ở nước ta, đó là ‘bí mật quốc gia’. Léng phéng làm lộ ‘bí mật quốc gia’ có thể đi tù như chơi.

Thử tìm hiểu qua Google cho kết quả như sau:

Phó thủ tướng Vũ Khoan khi tới thăm Công ty sữa Việt Nam đã phát biểu, lương thủ tướng Việt Nam thua lương công nhân. Nguyên văn: “Các bạn nghĩ rằng lương của tôi đuợc bao nhiêu? Mới đây, tôi có đi thăm Cty sữa Việt Nam, hỏi chuyện anh em công nhân mới hay là lương của mình còn thua lương anh em. Dẫu sao, tôi cũng thấy mừng vì chuyện này...”

Ông Vũ Khoan cũng nói thêm: “Tôi biết lương của các nguyên thủ nước ngoài rất cao, như lương của Thủ tướng Singapore cao hơn mấy lần so với lương Tổng thống Hoa Kỳ. Thế nhưng quan điểm của Chính phủ chúng tôi là một viên chức Nhà nước không thể hưởng lương quá cao so với những người đã hy sinh xương máu của mình vì sự độc lập và thống nhất của tổ quốc”.

Cách đây vài năm, cộng đồng mạng có cuộc tranh luận xung quanh mức lương của thủ tướng Việt Nam, nhưng không ai có câu trả lời cụ thể. Mức lương nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam vào khoảng 3,8 triệu đồng, ở thời điểm năm 2005. Từ đó tới nay, lương cơ bản đã được điều chỉnh vài lần nhưng có lẽ không thể quá 10 triệu. Chắc chắn, không ai có thể ăn học nổi ở nước ngoài với khoản tiền ấy.

Vậy ông Dũng đã dùng tiền ở đâu để cùng lúc chi trả cho 3 con ăn học ở nước ngoài. Nếu không phải là ông, thì ai, công ty nào, doanh nghiệp nào đã trả những khoản tiền này?

Khi nhậm chức năm 2006, ông Dũng cũng đồng thời giữ chức vụ Trưởng ban chỉ đạo Trung ương Chống tham nhũng.

Trong 5 năm qua, dưới sự chỉ đạo của ông, không có một vụ tham nhũng lớn nào được phát hiện. Những vụ như PCI hay in tiền polymer đều do các nước có liên quan điều tra ra và Việt Nam hết sức lừng khừng trong việc hợp tác.

Chỉ số tham nhũng ở Việt Nam, theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế vào tháng 10 năm ngoái, ở mức 2,7 trên thang điểm 10 và Việt Nam là một trong số những nước xếp hạng chót.

Có lẽ không quá khó hiểu, tại sao việc chống tham nhũng của Việt Nam lại lẹt đẹt như vậy. Thử điểm qua tài sản của gia đình ông Trưởng ban qua từ khóa “tài sản Nguyễn Tấn Dũng“, cũng có thể thấy ti tỉ thứ; từ nhà thờ họ to như cái đình, hãng taxi, bệnh viện, ngân hàng, dự án đất đai, cho tới cây xăng.v.v. Trưởng ban TW chống tham nhũng nuôi 3 con ăn học nước ngoài và sở hữu khối tài sản lớn như vậy, thì liệu ông có thể chống ai, chống cái gì, chống ra sao?

Tất nhiên, chẳng có gì để kiếm chứng những thông tin này, trừ khi một cuộc cách mạng hoa Nhài, hoa Sen nào đó xảy ra thì người ta mới có thể biết được tương đối chính xác  con số đó. Nó là bao nhiêu triệu/ tỉ đô- la?

Nhưng có điều chắc chắn là, ở một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ mức 1000 đô-la/năm, thì sự giầu có bất thường của giới quan chức không phải là một dấu hiệu lành mạnh.

Và, dù ông Dũng tự trả tiền ăn học cho 3 con, hay ai đó đã ‘giúp’ ông thì đó đều là những đồng tiền bất minh.

© Đàn Chim Việt

——

Video về trẻ em bơi qua sông để tới trường bị nhiều người chỉ trích

Hãng thông tấn Đức cho hay đoạn video được đài truyền hình Việt Nam phát hôm thứ Ba quay cảnh một số em học sinh ở Xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình, cho cặp sách, quần áo vào vào túi nylon chuẩn bị từ trước rồi bơi qua sông để tới trường.

Khoảng 30 em học sinh hàng ngày phải bơi hai lần qua đoạn sông rộng 20 mét và có độ sâu khoảng từ 1 đến 3 mét và có thể sâu hơn vào mùa mưa. Các em đã phải vượt sông như vậy để tới trường trong suốt 10 năm qua.

Giới hữu trách Minh Hóa cho hay họ không có đủ kinh phí để xây cầu. Một bản tin về câu chuyện này trên báo điện tử Dân Trí đã khiến nhiều người đọc bất bình và chỉ trích chính quyền địa phương.

Một độc giả có tên Phạm Minh Tuấn viết “Không thể tin được là tình trạng này đã xảy ra cả chục năm nay. Khâm phục các em bao nhiêu thì lại bực mình trước sự dửng dưng thiếu trách nhiệm của các cơ quan từ xã, đến huyện, đến tỉnh bấy nhiêu. Họ quan tâm đến người dân như thế này sao? Thật đau lòng!”

Một độc giả khác viết “Một cây cầu qua sông cho người dân ở nơi đây có mất nhiều kinh phí quá không mà địa phương không đầu tư được, để người dân khổ cực như thế? Các vị giới chức có ai có con em đi học theo kiểu này không?”

Theo Báo chí Việt Nam gần đây các em học sinh trong bản đã được huyện cấp cho một chiếc thuyền và áo phao để qua sông. Tuy nhiên, Chủ tịch UBND xã Trọng Hóa cho hay việc cấp thuyền và áo phao cho học sinh qua sông chỉ là giải pháp tạm thời.

nguồn


Học sinh bơi qua dòng sông chảy xiết đến trường


Một học sinh giơ cao cặp sách lên đầu, hì hục bơi qua sông

Sau khi bơi qua dòng nước “tử thần” các em lại chỉnh tề trang phục để tới trường

 

Một đoạn video chiếu hình ảnh trẻ em ở miền Trung Việt Nam bơi qua một con sông để tới trường vì không có cầu đã khiến nhiều người lên tiếng chỉ trích.

Posted in Giao Duc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Y Tế: Vừa tăng viện phí, vừa cho bệnh viện tự chủ: Thả gà ra đuổi

Posted by hoangtran204 on 23/09/2011

Cho bệnh viện (BV), một cơ chế tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường cũng là trao toàn quyền cho họ xoay xở về kinh tế. Và đương nhiên, không nơi nào chỉ đơn thuần lấy thu bù chi…

Vì thế, nếu việc tăng viện phí được thực thi mà chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ thì chủ trương này chỉ vô tình tiếp sức cho họ lạm dụng quỹ BHYT – vốn lúc nào cũng chực chờ bị “lõm”.

Hai mặt của tự chủ

Không thể phủ nhận, cơ chế tự chủ đã giúp cho các BVcó thể huy động vốn mua sắm trang thiết bị hiện đại, mà nếu chỉ trông chờ vào ngân sách chắc chắn còn lâu mới với tới được. Nhờ đó, người dân được khám – chữa bệnh bằng những kỹ thuật cao ngang tầm các nước có nền y học phát triển như mổ nội soi, ghép tạng… BV nâng cao chất lượng khám – chữa bệnh, tăng được thu nhập cho cán bộ công nhân viên, và về y đức cũng phần nào khắc phục thái độ ban ơn, cách hành xử nhiều khi hách dịch trong một bộ phận cán bộ y tế. Nhưng mặt trái thì cũng không thể không nói.

Là đơn vị quản lý quỹ BHYT, cơ quan BHXH đã không ít lần có những văn bản báo cáo Bộ Y tế về tình trạng lạm dụng thuốc, xét nghiệm, kỹ thuật cao bằng đủ mọi cách của các BV. Càng BV lớn, xã hội hóa đầu tư trang thiết bị y tế càng nhiều thì lại càng có nhiều cách móc quỹ. Theo kết quả của chính Bộ Y tế khảo sát mới đây ở 18 BV cũng cho thấy, cơ chế tự chủ cũng là cớ để các BV tận dụng càng nhiều càng tốt chỉ định làm các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ có mức thu cao.

Trong hội thảo ngày 19.9 do Bộ Y tế tổ chức về thực hiện cơ chế tự chủ, giám đốc một bệnh viện lớn tại Hà Nội nhận định: “Tự chủ chưa được thực hiện đồng bộ về cơ chế chính sách, cần phải được tháo gỡ kịp thời. Cần phải điều chỉnh cơ cấu nguồn thu cho hợp lý hơn. Việc chỉ định xét nghiệm, dịch vụ kỹ thuật cao không cần thiết, hoặc kê đơn thuốc để lấy hoa hồng… về bản chất là các hình thức kinh doanh kiếm lợi trên người bệnh”.

 Tiếp tục lạm dụng quỹ

Và khi việc chi trả khám – chữa bệnh đặt trên vai quỹ BHYT thì kê tràn lan các dịch vụ kỹ thuật xét nghiệm, chiếu chụp cho mọi bệnh nhân cũng là một cách kinh doanh kiếm lợi trong nguồn Quỹ BHYT nữa. Ông Nguyễn Minh Thảo – Phó Tổng GĐ BHXH VN – đã phát biểu tại hội thảo ngày 14 – 15.9 mới đây: “Vì tiền giường thấp nên các BV đã phải tăng dịch vụ lên”. Nhưng thử hỏi, khi chính sách thu đủ, thu đúng viện phí được thực thi, các BV có dừng tăng dịch vụ không, hay vẫn thu được dịch vụ càng nhiều càng tốt.

Theo ông Vũ Xuân Bằng – Phó Trưởng ban Thực hiện chính sách BHYT, BHXH VN: “Giá viện phí Bộ Y tế đưa ra trong bản dự thảo nói là minh bạch, nhưng thực ra không minh bạch, nằm ở chỗ bộ chưa có một khảo sát thực tế cụ thể nào để đưa ra mức giá như trên, mà tất cả đều thông qua các đơn vị y tế bên dưới báo cáo lên; trong khi các đơn vị y tế thuộc Bộ Y tế luôn than phiền về viện phí và muốn tăng viện phí”.

Lần này thể hiện quyết tâm tăng viện phí, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến tin rằng đây là chủ trương có lợi trước hết cho người dân, sau đó mới đến BV và xã hội nói chung. Tuy nhiên, khi đưa ra mức giá tăng thì Bộ Y tế lại vẫn chưa đưa được ra cơ sở khoa học, tính toán cụ thể cho mức giá đó. Còn nhớ tháng 7.2010, Bộ Y tế đã họp báo công bố dự thảo tăng viện phí thì đã vấp phải sự phản đối của dư luận.

Một trong những lý do phản đối chính là mức giá tăng chỉ dựa trên đề xuất, báo cáo của các BV chứ chưa có căn cứ khoa học nào. Như vậy, hơn 1 năm qua, căn cứ khoa học vẫn mờ mịt. Có lẽ vì thế mà dù Bộ trưởng Bộ Y tế, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Minh, nhiều BV phát biểu tại hội nghị nói trên đều mong muốn có sự đồng thuận của xã hội với chủ trương tăng viện phí, nhưng một tuần qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn tiếp tục phản biện theo hướng chưa đồng thuận.

Theo BHXH VN, danh mục được chi trả BHYT ở nước ta gồm khoảng hơn 20.000 loại thuốc. Mới đây, danh mục này bổ sung hàng loạt thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị, thuốc bổ, vitamin và 30 loại thuốc điều trị bệnh ung thư, thuốc ức chế miễn dịch rất đắt tiền. Trong 30 loại thuốc điều trị ung thư, BHXH chỉ đề xuất 7 loại. Theo ông Vũ Xuân Bằng, BHYT thanh toán thuốc bổ, vitamin là điều… chỉ có ở VN.

Quang Duy (báo Lao Động)

Posted in Y te | Leave a Comment »

Kinh tế toàn cầu đi xuống, lòng người bất an, Giá vàng sẽ tăng

Posted by hoangtran204 on 22/09/2011

Giá chứng khoán Mỹ xuống thấp. Chỉ số Dow Jones chỉ còn hơn 11 100 điểm.

Giá Vàng thế giới lơ lửng ở mức 1736 đô/ 1 lượng vàng tây = 1 oz. = 30,48 gram.

So với vàng ta 1 lượng = 37,5 gram.

Giá vàng ở VN tính theo sự liên hệ nói trên cọng thêm 50-100 đô (công dập 1 lượng vàng và trừ hao giá lên xuống).

[(1736 đô x 1,23)  + 100 đô] x giá 1 đô tính theo tiền VN) = giá 1 lượng vàng ta.

(Click vào hình để mở rộng)

Giá Vàng trong 30 ngày qua

Giá Vàng trong 60 ngày qua


Giá vàng trong 6 tháng qua

Giá Vàng 1 năm qua

click to enlarge

Posted in Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Học sinh (tiểu học) phải bơi qua sông đến trường hàng ngày vì không có cầu-

Posted by hoangtran204 on 21/09/2011

Trong khi hiện nay toàn cầu đang rúng động vì kinh tế suy thoái, thất nghiệp kéo dài, vật giá leo thang… từ các quốc gia giàu có nhất như Mỹ, Đức, Ý, Nhật, Pháp, Anh, …cũng phải cắt giảm bớt các chi tiêu không cần thiết để đối phó với tình thế kinh tế tài chánh đen tối …thì bên nước CH XHCN Việt Nam báo chí đang đưa tin các Bộ Xây Dựng, Bộ Kế Hoạch Đầu  Tư cùng tỉnh Quang Nam đang cấp kinh phí trị giá 410 tỉ  (khoảng 22 triệu 500 ngàn đô là Mỹ) để xây tượng Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; và bên cạnh đó có bản tin ở tỉnh  Quãng Bình.

Học sinh phải bơi qua sông đến trường

Sáng sớm, khi sương mù còn giăng khắp bản làng, hàng chục học sinh ở xã miền núi Trọng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) vội cởi quần áo ngoài cho vào túi nylon, mặc quần cộc bơi qua dòng Khe Rào để tới trường học.

Nằm cách trung tâm xã Trọng Hóa chừng 7 km, bản Ông Tú có 20 hộ dân với 106 nhân khẩu, trong đó có 14 em đang học tiểu học. Bản Ka Óoc gần đó cũng có hơn chục em học tại trường THCS Trọng Hóa. Do nằm bên kia sông Khe Rào (thượng nguồn sông Gianh), hai bản trở nên biệt lập với thế giới bên ngoài.

Ngày nào cũng vậy, học sinh bản Ông Tú và Ka Óoc phải thức dậy thật sớm vượt quãng đường đồi dốc xuống sông Khe Rào. Như một thói quen, các em cho cặp sách, quần áo vào vào túi nylon chuẩn bị từ trước rồi cùng bơi qua sông. Nhiều em không mang theo túi nylon thì bơi một tay, tay còn lại giơ cao cặp sách lên đầu cho khỏi ướt.

Gần một năm nay, học sinh bản Ông Tú và Ka Oóc xã Trọng Hóa phải bơi qua sông học chữ. Ảnh: Văn Nguyễn.

“Vào mùa lũ, tụi em phải nghỉ học chừng một tháng vì nước sông Khe Rào chảy xiết, không thể bơi qua được”, em Hồ Danh, học sinh lớp 4A, trường tiểu học Hưng nói. Danh cho biết, em và các bạn đều sợ bơi qua sông, nhưng vì muốn học cái chữ nên phải cố rướn mình qua những đoạn nước sâu, chảy xiết. “Mùa đông nước cạn bớt nhưng tụi em vẫn phải lội qua những chỗ nước sâu. Vào lớp học chân tay ai cũng run cầm cập”, Danh kể.

Việc bơi qua đoạn sông rộng chừng 20 mét với học sinh nam chỉ mất vài phút, nhưng với em nữ là thử thách. Hồ Thị Thoi, học sinh lớp 8 trường THCS Trọng Hóa vẫn nhớ như in ngày tập bơi để đi học.

“Ngày đó mấy đứa bạn dẫn em ra bờ sông nói muốn đi học thì phải biết bơi qua bên kia sông. Em thích đi học nhưng nhìn nước chảy mạnh quá nên cứ bước xuống lại nhảy lên bờ. Mấy bạn vừa bơi vừa kéo em qua, uống mấy hớp nước liền. Sau đó em nhờ bạn dạy bơi để được đi học”, Thoi kể.

Bản Ông Tú có 8 em đang học mẫu giáo ngay tại bản, các cô giáo lại phải tìm cách qua sông để đến lớp. Năm 2009, cô Đinh Thị Thức, giáo viên trường mầm non Trọng Hóa, ngồi thuyền qua sông Khe Rào vào bản Ông Tú dạy học, bất ngờ thuyền lật úp, cô giáo ngã xuống sông. May mắn một người dân phát hiện, kịp thời bơi ra cứu.

Ông Hồ Nhung, 79 tuổi, trưởng bản Ông Tú cho biết tình trạng học sinh đi học phải bơi qua sông diễn ra từ mùa đông năm 2010. Trước đây, xã cấp thuyền cho bản nhưng đến mùa lũ do bảo quản không tốt nên thuyền bị cuốn trôi. Sau đó học sinh ở bản muốn đi học thì phải biết bơi, không kể lớn hay nhỏ.

“Người ở bản chưa ai gặp nạn ở đoạn sông này nhưng hiểm nguy có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Bà con ai cũng muốn có được một cây cầu để cho tụi nhỏ đi học, người lớn đi làm mà mong hoài chưa được”, ông nói.

Xã mới được cấp một chiếc thuyền để học sinh qua sông. Tuy nhiên, vào mùa lũ, nước sông dâng cao, việc chèo thuyền vẫn rất nguy hiểm. Ảnh: Văn Nguyễn.

Ngày 17/9, học sinh bản Ông Tú đã được huyện cấp cho một chiếc thuyền và áo phao để qua sông. Tuy nhiên, ông Đinh Xuân Tiến, Chủ tịch UBND xã Trọng Hóa cho rằng việc cấp thuyền và áo phao cho học sinh qua sông chỉ là giải pháp tạm thời.

“Xã đã kiến nghị lên cấp trên xây cầu cho dân bản. Nếu có kinh phí, phía xã sẽ mở tuyến đường thông từ bản Ông Tú lên bản Ka Óoc (cách nhau chừng 3 km) để người dân đi lại thuận tiện hơn. Riêng phương án di dân, chúng tôi cũng đã tính đến nhưng không khả thi vì muốn người dân bám bản, giữ rừng”, ông Tiến nói.

Trao đổi với VnExpress, ông Đinh Quý Nhân, Chủ tịch huyện Minh Hóa cho biết Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Bình đã đi khảo sát và báo cáo Bộ Giao thông Vận tải. Tuy nhiên, kinh phí xây cầu ở bản Ông Tú quá cao, trong khi huyện còn nghèo nên giải pháp trước mắt là tăng cường phụ huynh đưa đón con em đi học và cấp áo phao.

 

——————

Mặc dầu lương của các cán bộ cao cấp của đảng CSVN chỉ dưới 12 triệu đồng mỗi tháng (600 đô), nhưng các con cái đều được xuất ngoại du học. Tiền thuê 1 căn hộ chia ra để trả giữa 2-3 sinh viên là 500-600 mỗi người/ 1 tháng. Tiền học phí trung bình khoảng từ 8.000-40.000 đô la / 1 năm.  Tiền mua thức ăn để nấu ăn tự túc khoảng 150-200 đô la/ 1 tháng.

Ai trả học phí cho các con ông Dũng?

Theo tin từ nước Anh, vụ án liên quan tới việc trả học phí cho Lê Đức Minh, con trai ông Lê Đức Thúy đã được đưa ra xét xử. Doanh nhân người Anh, Bill Lowther, 71 tuổi, cựu giám đốc của một công ty có trụ sở tại London, liên doanh với công ty Úc châu Securency, đã bị cơ quan chống hối lộ của Anh buộc tội. Trong phiên tòa dự diễn ra hôm 20 tháng Chín, doanh nhân này được nộp tiền thế chân để tại ngoại trong khi quá trình điều tra vẫn tiếp tục.

Cơ quan chống tham nhũng của Anh xác nhận rằng, Bill Lowther đã đứng ra dàn xếp một chỗ học cao học cho con ông Thúy ở Đại học Durham và sau đó trả học phí cho anh ta trong thời gian học, tức 2 năm 2003 và 2004.

Đó cũng là thời gian mà cha của Minh là ông Lê Đức Thúy giữ chức vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Trên cương vị này, năm 2003, ông Thúy đã dành hợp đồng tin tiền Polymer cho công ty Úc có tên là Securency. Cuộc điều tra của cảnh sát Úc cũng cho biết, Securency thông qua công ty trung gian do Lương Ngọc Anh -một đại tá tình báo công an, có quan hệ thân thiết với 2 ông Lê Đức Thúy và Nguyễn Tấn Dũng – làm giám đốc, chi trả khoảng 12 triệu Úc Kim cho việc chạy hợp đồng.

Năm 2007, thủ tướng Dũng đã ký quyết định bổ nhiệm ông Thúy vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và ông Thúy ở cương vị này cho tới khi về hưu vào tháng Tư vừa rồi.

Tính đến nay, phía Úc đã bắt giữ 7 viên chức liên quan và nhiều lần nêu đích danh một số quan chức Việt Nam dính líu trong vụ việc này.

Vụ án đã được báo chí hải ngoại đăng tải nhiều lần, với các tình tiết liên tục cập nhật, nên xin không đề cập sâu thêm nữa.

Chuyện con cái quan chức cỡ bự đi du học, có người khác trả tiền đã được xì xầm lâu nay trong xã hội Việt Nam, tuy báo chí trong nước không dám đề cập tới. Câu hỏi được đặt ra là, ai đã trả học phí cho các con ông Dũng?

Thủ tướng Dũng có 3 con.

 

Nguyễn Thanh Nghị. Ảnh On the net

Nguyễn Thanh Nghị sinh năm 1976, hiện là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.

Tốt nghiệp đại học kiến trúc Tp. HCM, ít năm sau, Nghị sang Mỹ học tiến sĩ. Năm 2006 Nghị bảo vệ xong tiến sĩ ngành Kỹ sư công chính tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ.

Như vậy Nguyễn Thanh Nghị cũng theo học tiến sĩ ở Mỹ vào khoảng thời gian cùng với Minh, tức 2003- 2006.

Con thứ hai của thủ tướng Dũng là Nguyễn Thanh Phượng, hiện là chủ tịch Hội đồng quản trị một quỹ đầu tư VietCapital với số vốn khoảng trăm triệu đô la. Nguyễn Thanh Phượng sinh năm 1981, tốt nghiệp đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội năm 2002, sau đó học thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) tại Đại học quốc tế tại Geneva, Thụy Sĩ. Tra cứu cả 2 tên  “International University in Geneva” và “University of Geneva” đều không thấy tên cô, nên không rõ cô đã theo học trong thời gian cụ thể nào và ở trường nào.

Nguyễn Thanh Phượng và Nguyễn Bảo Hoàng. Ảnh On the net

Có thể tính như sau, vào năm 2006 Phượng làm cho tập đoàn Holcim của Thụy Sĩ và sau đó là phó giám đốc tài chính của công ty liên doanh giữa Holcim và một doanh nghiệp ở Kiên Giang mà gia đình cô có ‘mối liên hệ mật thiết’. Khi đi làm, Phượng đã tốt nghiệp MBA rồi. Như vậy Thanh Phượng đi học cao học cùng thời gian với Lê Đức Minh và Nguyễn Thanh Nghị, khoảng năm 2003-2005, 2006 gì đó. Năm 2008, Phượng  lấy Nguyễn Bảo Hoàng, một Việt kiều Mỹ, con của cựu quan chức Việt Nam Cộng Hòa.

Người con thứ ba của ông Dũng là Nguyễn Minh Triết. Trước khi đi chi tiết về Triết, xin lòng vòng một chút.

Cách đây chừng vài năm, một sinh viên Việt Nam theo học ở Anh quả quyết rằng, anh ta học cùng với con trai thứ 3 của thủ tướng Dũng là Nguyễn Minh Triết. Lúc đó người viết  đã nhất định không tin và cho rằng cậu ấy nhầm, Nguyễn Tấn Dũng chỉ có 2 con thôi. Nhưng những tra cứu trên Internet sau đó đã cho thấy, đương kim thủ tướng Dũng có cậu út tên Nguyễn Minh Triết.

Chuyện ông Dũng có đứa con thứ ba là không bình thường với một nước áp dụng rất ngặt nghèo việc sinh đẻ có kế hoạch, nhất là với cán bộ trong bộ máy nhà nước. Những người vì lý do gì đó, sinh con thứ 3 đều bị kỷ luật từ khiển trách, hạ bậc lương cho tới khai trừ đảng và đều gặp trở ngại trên con đường thăng tiến.

Người anh họ của tôi ở Hà Nội, có 2 con gái, chỉ vì sức ép của gia tộc, muốn có thằng cu ‘chống gậy’ đã lặng lẽ sinh thêm con thứ 3. Anh phải bày mưu tính kế, khi bụng vợ lùm lùm liền đưa về quê sinh nở, gần năm sau mới lên. Đứa con trai mới sinh anh cũng không dám hé răng kể với ai. Vậy mà vài năm sau, lúc ngấp nghé ghế viện trưởng thì chuyện của anh bị bại lộ. Vậy là ‘xôi hỏng bỏng không’, anh phải xin ra khỏi đảng và từ trưởng phòng bị giáng xuống phó phòng. Tất nhiên, cái ghế viện trưởng đã có kẻ khác ngồi thay.

Không biết thủ Dũng đã ‘lách luật’ kiểu gì, để nếp tẻ đề huề mà vẫn có cậu thứ 3 và còn ngồi ở vị trí đỉnh cao quyền lực ở Việt Nam tới 2 nhiệm kỳ?

Theo bạn sinh viên nọ, Triết sang Anh học từ bậc phổ thông, sau đó học tiếp lên đại học tại Anh. Một nguồn tin khá tin cậy cho hay, năm ngoái Triết đã về bộ Quốc Phòng, được bổ nhiệm vào một vị trí rất ‘thơm tho’.

Như vậy, trong cùng một thời gian, ông Dũng nuôi 3 đứa con ăn học ở nước ngoài, một ở Mỹ, một ở Thụy Sĩ và con thứ 3 học phổ thông và đại học tại Anh.

Lương của thủ tướng Việt Nam là bao nhiêu?

Ở một nước dân chủ, lương tổng thống, thủ tướng hay các vị bộ trưởng đều được công khai. Nhưng ở nước ta, đó là ‘bí mật quốc gia’. Léng phéng làm lộ ‘bí mật quốc gia’ có thể đi tù như chơi.

Thử tìm hiểu qua Google cho kết quả như sau:

Phó thủ tướng Vũ Khoan khi tới thăm Công ty sữa Việt Nam đã phát biểu, lương thủ tướng Việt Nam thua lương công nhân. Nguyên văn: “Các bạn nghĩ rằng lương của tôi đuợc bao nhiêu? Mới đây, tôi có đi thăm Cty sữa Việt Nam, hỏi chuyện anh em công nhân mới hay là lương của mình còn thua lương anh em. Dẫu sao, tôi cũng thấy mừng vì chuyện này...”

Ông Vũ Khoan cũng nói thêm: “Tôi biết lương của các nguyên thủ nước ngoài rất cao, như lương của Thủ tướng Singapore cao hơn mấy lần so với lương Tổng thống Hoa Kỳ. Thế nhưng quan điểm của Chính phủ chúng tôi là một viên chức Nhà nước không thể hưởng lương quá cao so với những người đã hy sinh xương máu của mình vì sự độc lập và thống nhất của tổ quốc”.

Cách đây vài năm, cộng đồng mạng có cuộc tranh luận xung quanh mức lương của thủ tướng Việt Nam, nhưng không ai có câu trả lời cụ thể. Mức lương nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam vào khoảng 3,8 triệu đồng, ở thời điểm năm 2005. Từ đó tới nay, lương cơ bản đã được điều chỉnh vài lần nhưng có lẽ không thể quá 10 triệu. Chắc chắn, không ai có thể ăn học nổi ở nước ngoài với khoản tiền ấy.

Vậy ông Dũng đã dùng tiền ở đâu để cùng lúc chi trả cho 3 con ăn học ở nước ngoài. Nếu không phải là ông, thì ai, công ty nào, doanh nghiệp nào đã trả những khoản tiền này?

Khi nhậm chức năm 2006, ông Dũng cũng đồng thời giữ chức vụ Trưởng ban chỉ đạo Trung ương Chống tham nhũng.

Trong 5 năm qua, dưới sự chỉ đạo của ông, không có một vụ tham nhũng lớn nào được phát hiện. Những vụ như PCI hay in tiền polymer đều do các nước có liên quan điều tra ra và Việt Nam hết sức lừng khừng trong việc hợp tác.

Chỉ số tham nhũng ở Việt Nam, theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế vào tháng 10 năm ngoái, ở mức 2,7 trên thang điểm 10 và Việt Nam là một trong số những nước xếp hạng chót.

Có lẽ không quá khó hiểu, tại sao việc chống tham nhũng của Việt Nam lại lẹt đẹt như vậy. Thử điểm qua tài sản của gia đình ông Trưởng ban qua từ khóa “tài sản Nguyễn Tấn Dũng“, cũng có thể thấy ti tỉ thứ; từ nhà thờ họ to như cái đình, hãng taxi, bệnh viện, ngân hàng, dự án đất đai, cho tới cây xăng.v.v. Trưởng ban TW chống tham nhũng nuôi 3 con ăn học nước ngoài và sở hữu khối tài sản lớn như vậy, thì liệu ông có thể chống ai, chống cái gì, chống ra sao?

Tất nhiên, chẳng có gì để kiếm chứng những thông tin này, trừ khi một cuộc cách mạng hoa Nhài, hoa Sen nào đó xảy ra thì người ta mới có thể biết được tương đối chính xác  con số đó. Nó là bao nhiêu triệu/ tỉ đô- la?

Nhưng có điều chắc chắn là, ở một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ mức 1000 đô-la/năm, thì sự giầu có bất thường của giới quan chức không phải là một dấu hiệu lành mạnh.

Và, dù ông Dũng tự trả tiền ăn học cho 3 con, hay ai đó đã ‘giúp’ ông thì đó đều là những đồng tiền bất minh.

© Đàn Chim Việt

Posted in Giao Duc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Học sinh tiểu học hàng ngày phải bơi qua sông đến trường

Posted by hoangtran204 on 21/09/2011

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »