Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám, 2013

►Cuộc bầu cử quốc hội tại Kampuchea ngày 27-8-2013 là tương lai và ước vọng hướng tới của người dân của Việt Nam trong 5-10 năm sắp đến

Posted by hoangtran204 trên 31/08/2013

Muốn có tự do ngôn luận, phải có báo tư nhân; muốn có dân chủ phải có đa đảng, trong khi Việt Nam chưa được hai điều kiện này vì nhà cầm quyền VN là độc đảng, nhà nước cai trị bằng chế độ độc tài.

Kampuchea đã có báo tư nhân, đã có 4 đảng hoạt động.  Cuộc bầu cử 2008 có 4 đảng tranh cử 123 Đảng Nhân Dân Kampuchea của Hun Sen, Đảng đối lập của Sam Rainsy, Đảng Nhân Quyền, và Đảng Bảo Hoàng.

Cuộc bầu cử 2008 Đảng của Hen Sen giành được 90 ghế trở thành đảng cầm quyền tại quốc hội; đảng Bảo Hoàng được 4 ghế. Đảng đối lập của Sam Rainsy, Đảng Nhân Quyền giành được 29 ghế.

2012, Đảng đối lập của Sam Rainsy và Đảng Nhân Quyền nhập lại thành Đảng Cứu Quốc.

“Cuộc bầu cử quốc hội kampuchea ngày 28 Tháng Bảy năm 2013 Ủy ban Bầu cử Quốc gia (NEC) công bố rằng có 9.670.000 công dân Campuchia có đủ tư cách bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội 123 đại biểu.[3].”

Số người đi bầu cho Đảng Nhân Dân của Thủ tướng Hun Sen là 2.555.030 (49.36%)

Số người đi bầu cho đảng đối lập Cứu Quốc (của Sam Rainsy và đảng Nhân Quyền họp lại) là 2.295.022  (44.34%)

“Thủ tướng đương nhiệm Campuchia Hun Sen có đủ điều kiện để tìm kiếm một nhiệm kỳ thứ tư. Các điểm bỏ phiếu mở cửa 07:00 và đóng cửa vào lúc 03:00.

Bộ trưởng Bộ Thông tin Campuchia, Khieu Kanharith đã công bố trong kết quả sơ bộ cho thấy Đảng Nhân dân Campuchia giành được 68 ghế và đảng đối lập, đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia giành được 55 ghế.

Tuy nhiên, đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia không chấp nhận kết quả này.”[4] và cho rằng đã có gian lận nghiêm trọng trong việc kiểm phiếu và khẳng định Đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia mới là đảng giành chiến thắng với 63 trong 123 ghế trong Quốc hội, so với 60 ghế của Đảng Nhân dân Campuchia.”

“Cuộc bầu cử cho thấy thực lực của đảng cầm quyền không mạnh như chính họ vẫn nghĩ.

Ðảng Nhân Dân Campuchia có gần 6 triệu đảng viên, trong dân số dưới 15 triệu người. Nhưng kết quả kiểm phiếu chính thức cho thấy đảng chỉ được 3 triệu 200 ngàn lá phiếu; phe đối lập, Ðảng Cứu Quốc được 2 triệu 900 ngàn phiếu!

Trước ngày dân đi bầu, chính quyền Hun Sen đã mua chuộc cử tri bằng cách tăng lương 40% cho các công chức cấp thấp, nâng lên bằng 80 đô la một tháng. Vậy mà gần một nửa số đảng viên Ðảng Nhân Dân đã bỏ phiếu cho các ứng cử viên đối lập!”

“Dù nền dân chủ ở nước láng giềng còn trong cảnh sơ sinh nhưng đã đầy hứa hẹn. Chính quyền Hun Sen sẽ phải giảm bớt tham nhũng và bớt lệ thuộc Trung Cộng khi bị phe đối lập trong quốc hội theo dõi và phê phán. Khi nào cả hai dân tộc cùng sống trong các chế độ dân chủ tự do thì mọi bất đồng sẽ được giải quyết trên căn bản bình đẳng..”

(Trần Hoàng tổng hợp từ bài viết của Ngô Nhân Dụng và  Wikipedia)

 

Người Việt phải đuổi kịp dân Campuchia

Ngô Nhân Dụng

Nguồn  báo Người-Việt

Chia sẻ bài viết này

Từ ba bốn chục năm nay dân Việt Nam đã biết mình thua kém dân các nước Nam Hàn, Ðài Loan, Thái Lan. Biết như vậy cũng thấy tủi, nhưng còn có thể đổ tại số mạng không may, đành chịu. Nhưng khi nhìn thấy dân mình không may mắn bằng dân Miến Ðiện, thì nhiều người đã nóng mặt.

Năm ngoái, nước Miến Ðiện bắt đầu tiến trình dân chủ hóa, đảng đối lập thắng gần hết các đơn vị bầu cử bổ túc; cả thế giới theo dõi với con mắt ngưỡng mộ. Còn dân mình, chẳng biết bao giờ mới được bầu người đại diện thật sự vào Quốc Hội!

Nay lại đến dân Campuchia. Trong cuộc bỏ phiếu tháng trước, đảng đối lập bỗng nhiên thắng lớn, đã thổi lên một luồng gió mới vào sinh hoạt chính trị. Lý do chính khiến chính quyền Hun Sen thất bại là vì dân đã chán ghét nạn tham nhũng, lạm quyền của đảng Nhân Dân của ông ta; cũng như tình trạng lệ thuộc Trung Cộng và Việt Cộng. Dân Campuchia đã có cơ hội bày tỏ thái độ bằng lá phiếu. Còn dân Việt, bao giờ mới có một cơ hội như thế?

Thua Ðài Loan, Ðại Hàn, Phi Luật Tân đã xấu hổ. Nay thấy mình thua cả dân Miến Ðiện, dân Campuchia, chắc người Việt phải thấy tủi nhục. Nhất là những người biết suy nghĩ, có học, và dám nói. Một người 45 tuổi đảng lên tiếng kêu gọi các đảng viên bỏ đảng Cộng sản để lập đảng mới, cũng nêu trường hợp Camphuchia ra làm thí dụ, cho thấy người ta đã tiến bộ hơn mình. Sau cú sốc Miến Ðiện, cú sốc Campuchia sẽ giúp nhiều đảng viên cộng sản Việt Nam tỉnh ngộ hơn.

Chắc hẳn Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam cũng lo lắng khi nhìn kết quả cuộc bầu cử ở Campuchia ngày 28 Tháng Bảy năm 2013. Trước hết, nó cho thấy thực lực của đảng cầm quyền không mạnh như chính họ vẫn nghĩ.

Ðảng Nhân Dân Campuchia có gần 6 triệu đảng viên, trong dân số dưới 15 triệu người. Nhưng kết quả kiểm phiếu chính thức cho thấy đảng chỉ được 3 triệu 200 ngàn lá phiếu; phe đối lập, Ðảng Cứu Quốc được 2 triệu 900 ngàn phiếu! Trước ngày dân đi bầu, chính quyền Hun Sen đã mua chuộc cử tri bằng cách tăng lương 40% cho các công chức cấp thấp, nâng lên bằng 80 đô la một tháng. Vậy mà gần một nửa số đảng viên Ðảng Nhân Dân đã bỏ phiếu cho các ứng cử viên đối lập!

Cuộc bỏ phiếu được các cơ quan quốc tế theo dõi, giám sát; nhưng phe đối lập đang tố cáo nhiều vụ gian lận. Có những cử tri đến phòng phiếu khám phá ra mình đã bỏ phiếu rồi! Tức là đã có người đi bỏ phiếu thay cho mình. Có người thì thấy tên mình biến mất, không còn trên danh sách cử tri!

Ðiều thứ nhì khiến đảng Cộng sản Việt Nam run sợ, là lòng dân chống đối âm ỷ đã có dịp bùng lên. Trước đây, người ta vẫn tưởng dân Campuchia hiền lành, bảo sao nghe vậy. Nhưng khi có cơ hội, họ chứng tỏ họ có thể hiền lành thật nhưng không ngu.

Ðảng Cứu Quốc tập hợp Ðảng Sam Rainsy và Ðảng Nhân Quyền, mới lập năm 2007. Trước cuộc bầu cử này, hai đảng lần lượt có 26 và 3 đại biểu trong Quốc Hội. Nay dân đã bầu lên 55 đại biểu Ðảng Cứu Quốc; so với 68 ghế của Ðảng Nhân Dân, so với 90 ghế họ đã có. Dân chúng Phnom Penh đã đi biểu tình ngày 24 Tháng Tư đòi chính phủ tổ chức bầu cử tự do, dân chủ và công bằng. Cuộc biểu tình lớn nhất từ trước đến nay, 4,000 người tham dự, đòi thay đổi thành phần trong Ủy Ban Bầu Cử quốc gia.

Ngày 12 Tháng Bảy, Quốc Vương Sihamoni ký lệnh miễn tội cho ông Sam Rainsy theo đề nghị của Hun Sen, ngày 19 ông về nước, được hàng trăm ngàn người tiếp rước. Rainsy quốc tịch Pháp, nơi ông sống từ lâu trước khi về nước năm 1991, lên làm bộ trưởng tài chánh trong chính phủ liên hiệp. Năm 1994 ông mất chức, vì chống chính sách cho các công ty Trung Quốc và Việt Nam phá rừng, theo lời ông giải thích. Ông lập một đảng chính trị lấy tên Rainsy, rồi ông bị tuyên án 11 năm tù sau khi lưu vong bên Pháp từ năm 2009. Chắc Hun Sen tự tin quyền hành của mình đã vững chắc sau 28 năm làm thủ tướng, cho nên cứ cho Rainsy trở về mà không có quyền bầu cử và ứng cử. Nhưng dân Campuchia đã phản ứng khác. Giới thanh niên có học là thành phần dẫn đầu phong trào đòi thay đổi. Dùng Internet và điện thoại lưu động, họ cổ động cho đảng Cứu Quốc, thanh thế của đảng lan rộng nhờ mạng lưới tuyên truyền mới vượt qua mặt các báo, đài “lề phải” do đảng Nhân Dân kiểm soát. Vợ ông Rainsy là bà Tioulong Saumura cũng đắc cử. Khí thế phe đối lập lên cao đến nỗi nhiều người có tiền trong đảng cầm quyền đã lo sợ rút tiền ra khỏi ngân hàng, dân chúng nghe tin đồn bảo nhau đi rút theo; trong ngày bầu cử họ rút ra số tiền tổng cộng bằng 4 triệu đô la, gấp đôi số tiền rút bình thường.

Một chiêu bài tranh cử của đảng Cứu Quốc là chống Cộng sản Việt Nam, đã được dân Campuchia hoan nghênh. Hun Sen vốn là một cán bộ Khờ Me Ðỏ, sợ mất mạng trong các cuộc thanh trừng đã bỏ theo Việt Cộng, rồi được bọn Lê Ðức Thọ, Lê Ðức Anh đưa lên làm thủ tướng. Sau đó Việt Cộng tiếp tục thao túng chính trường Campuchia, cho đến năm 1997 Hun Sen sợ quá đã quay đầu sang nhờ Trung Cộng giúp. Sam Rainsy lợi dụng nỗi bất mãn của dân đối với Cộng sản Việt Nam cho nên dùng chiêu bài chống người Việt trong cuộc tranh cử. Trong ngày bỏ phiếu, có tin đồn rằng nhiều đoàn xe chở người Việt Nam qua biên giới đi bỏ phiếu cho đảng của Hun Sen! Trên các mạng Internet có những lời phản kháng: “Dân Khờ Me không được bỏ phiếu, dân ‘Duồn’ đi bỏ phiếu!” Người Campuchia gọi người Việt là “Duồn;” một tên gọi miệt thị cũng giống nhiều người Việt đang gọi người Trung Hoa là “Khựa” trước cảnh chính quyền Trung Cộng lấn áp cả nước Việt Nam. Sau cuộc bầu cử, trong lúc đảng Cứu Quốc còn đang thưa kiện về bàu cử gian lận thì lãnh tụ Sam Rainsy vẫn lên đường đi Boston dự đám cưới của cô con gái, cô Rachel Estée Sam lấy William Josiah Rubenstein, được một vị pháp sư Do Thái làm chủ lễ bằng ba thứ tiếng Hebrew, Pháp và Anh!

Cộng sản Việt Nam phải lo lắng vì phong trào bài Việt ở Camphuchia đang được khơi động; dân Việt sẽ coi đây là hậu quả do chủ trương bành trướng và thao túng nước Campuchia từ thời Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ gây ra. Nhưng Trung Cộng còn lo lắng hơn nữa. Sau cuộc bầu cử, nhật báo Wall Street Journal ở Mỹ nhận xét rằng, “Trung Quốc thua nặng nhất.”
Phong trào dân Campuchia ủng hộ đảng đối lập cho thấy tự ái dân tộc của họ đã bùng lên, sau khi thấy chính quyền Hun Sen hết bám lấy Việt Cộng lại dựa vào Trung Cộng. Người Hoa chiếm 5% trong dân số nhưng kiểm soát 80% nền kinh tế.

Tiếng Hoa là ngoại ngữ được học hàng thứ nhì sau tiếng Anh. Trong số khoảng 70 đài truyền hình có 50 đài nói tiếng Trung Hoa. Trung Cộng sử dụng đồng tiền để mua chuộc Hun Sen; hiện nay đứng hàng đầu về vốn đầu tư vào Camphuchia; cao hơn tổng số đầu tư của tất cả các nước khác. Riêng năm 2011, Bắc Kinh bỏ vào Campuchia 1 tỷ 200 triệu đô la, gấp 10 lần số đầu tư của tất cả các công ty Mỹ. Ai cũng biết chính quyền cộng sản ở nước nào cũng rút ruột các công trình đầu tư. Trung Cộng không bao giờ đặt vấn đề đó, trong khi các công ty Mỹ bị trói buộc bởi các đạo luật cấm hối lộ chính quyền các nước khác. Trung Cộng đang thi hành một dự án xây dựng một tuyến đường sắt, một bến cảng và một nhà máy luyện thép trị giá 11 tỷ đô la; khiến ai cũng nghĩ tới dự án xây dựng đập Myitsone tại Miến Ðiện, trị giá 3 tỷ 6, đã bị chính quyền Miến cắt ngang trước khi khởi đầu chương trình dân chủ hóa.

Người dân Camphuchia cũng nhìn thấy rõ chính quyền Hun Sen đang “bán nước.” Thế giới cũng nhìn thấy Trung Cộng đã “bỏ Campuchia vào túi!” Tháng Bảy năm ngoái, trong hội nghị ASEAN tại Phnom Penh, chính phủ Campuchia đóng vai chủ nhà đã ngăn cản khiến không đưa ra được một thông cáo chung, vì biết bản dự thảo nêu lên các hành động xâm lấn của Trung Cộng tại Biển Ðông. Có lúc ông tổng thư ký ASEAN đang bắt đầu nói đến vấn đề này, ngoại trưởng Campuchia đã ngăn lại, cắt ngang lời. Ðến Tháng Chín, Bắc Kinh loan báo cho Phnom Penh vay 500 triệu đô la với lãi suất nhẹ! Không biết các quan chức sẽ bỏ túi bao nhiêu trong số tiền này, nhưng dân cả nước sẽ mắc nợ! Lại còn nạn “bán rừng” cho các công ty Trung Quốc và Việt Nam nữa!

Dân Campuchia ghét Cộng sản Việt Nam nhất vì nạn tham nhũng ở xứ này đã được các cán bộ người Việt truyền nghề cho đàn em bản xứ. Mà bây giờ thì đám đàn em còn tham nhũng vượt chỉ tiêu! Người ta đồn “trong đám cưới con ông Hunsen đám thuộc hạ dâng tặng nhiều xe hơi đắt tiền đến mức số chìa khóa xe không thôi đã đầy mấy rổ!” Ðồng bào Việt Nam đang sinh sống ở Campuchia sẽ phải gánh chịu hậu quả!

Dân Việt Nam chỉ mong người Khmer không khơi dậy mối thù hận lâu đời với người Việt. Họ sẽ phải thấy các chính sách lấn áp của đảng Cộng sản Việt Nam không được dân Việt ủng hộ. Hơn nữa, người Việt Nam sẽ tranh đấu để được sống trong một xã hội tự do dân chủ, ít nhất cũng bằng dân Campuchia. Dù nền dân chủ ở nước láng giềng còn trong cảnh sơ sinh nhưng đã đầy hứa hẹn. Chính quyền Hun Sen sẽ phải giảm bớt tham nhũng và bớt lệ thuộc Trung Cộng khi bị phe đối lập trong quốc hội theo dõi và phê phán. Khi nào cả hai dân tộc cùng sống trong các chế độ dân chủ tự do thì mọi bất đồng sẽ được giải quyết trên căn bản bình đẳng.

Ngô Nhân Dụng

 

—–

*Nhà nước Việt Nam không cho báo chí tư nhân hoạt động. Tất cả báo chí nằm trong tay sự chỉ đạo các ban bộ của đảng CSVN. Không có báo chí tư nhân, nên đa số dân chúng không biết rằng chính quyền đã và đang cướp đất đai của nông dân trên khắp cả nước, và lấy đất đó bán hoặc chia lại cho các công ty đầu tư bất động sản do con cái của các đảng viên cao cấp làm chủ. Không có báo chí tư nhân, nên không ai chất vấn số tiền bán dầu và khí suốt 20 năm qua nhà nước đã thu được bao nhiêu tỷ đô la (hiện nay, mỗi ngày, VN khai thác 400.000- 430.000 thùng dầu thô 1 ngày) ? nhà nước dùng tiền bán dầu và khí làm được gì (mỗi năm, VN bán 8 tỷ mét khối ga)? xây dựng được gì cho đất nước? và vì sao nhà nước mượn 140 tỷ đô là của nước ngoài để làm gì? số tiền ấy đi về đâu? làm được các công trình nào?

Nhà nước cướp bóc đất đai của dân, chiếm đoạt tài nguyên mỏ dầu hỏa, khai thác 500.000 thùng dầu mỗi ngày, khai thác bán 8 tỷ mét khối ga mỗi năm. Số tiền dầu và ga bán được chia nhau giữa các đảng viên cao cấp của đảng CSVN suốt hơn 20 năm qua. Tập đoàn đạt mốc khai thác tấn dầu thứ 290 triệu vào 31/5/2012, đạt mốc khai thác m3 khí thứ 80 tỉ vào ngày 15/10/2012.

VN là nước sản suất dầu và khí đốt, nhưng người dân VN không hề được mua dầu và khí với giá rẻ như các nước sản suất dầu khí khác.Venezuela bán xăng cho dân chúng của họ 4 lít giá 25 xu (đô la Mỹ) từ bao nhiêu năm qua; rất nhiều nước nào trong số các nước sản suất dầu hỏa cũng bán xăng cho dân chúng với giá 4 lít xăng/1 đô la Mỹ.

Trái lại, Tổng công ty xuất nhập dầu khí của nhà nước đã mua dầu và khí của các công ty nước ngoài, và bán cho dân VN xài, với giá còn mắc hơn giá dầu và khí bán ra ở Mỹ  (nguồn: Cổng Thông tin Tập đoàn Dầu Khí Quốc Gia).

Không có báo chí tư nhân nên đa số người dân không biết chuyện ăn chia giữa các công ty quốc doanh dầu khí và các đảng viên cao cấp hàng năm là như thế nào; không có đa đảng hoạt động để kiểm soát và chất vấn lẫn nhau trước quốc hội và đăng lên báo chí, nên suốt hơn 20 năm qua, tiền bán dầu và khí chỉ có đảng viên cao cấp của CSVN biết và giấm dúi chia nhau.

 

Advertisements

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ - | Leave a Comment »

►Hãy trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh, người sinh viên bị bắt – bị hành hạ – bị đánh đập trong tù và những phiên toà bất minh

Posted by hoangtran204 trên 30/08/2013

Đỗ Thị Minh Hạnh bị bắt – bị hành hạ – bị đánh đập trong tù và những phiên toà bất minh

BẢN TƯỜNG TRÌNH

Đỗ Thị Minh Hạnh

Chúng ta vừa được chứng kiến sinh viên Nguyễn Phương Uyên ra khỏi nhà tù nhỏ nhờ sự lên tiếng của chúng ta. Hiện có một nữ tù nhân lương tâm bất khuất hơn nhưng lại bị đày đọa hơn trong nhà tù CS, đó là sinh viên Đỗ Thị Minh Hạnh (bị bắt từ ngày 23-02-2010 và lãnh án tù 7 năm).

Từ ngày ở tù cho đến nay, Minh Hạnh, một thành viên Khối 8406, đã liên tục bị chuyển trại, đàn áp, tra tấn, càng lúc càng dữ dội hơn. Bản tường trình dưới đây của bà Trần Thị Ngọc Minh, thân mẫu của Minh Hạnh, gởi cho các cơ quan quốc tế nhân quyền và Đơn đề nghị tiếp đó của ông Đỗ Ty, thân phụ, cho thấy tất cả sự tàn ác, gian dối, vô luân của chế độ và công an Cộng sản, đồng thời cũng trình bày một hình ảnh đau thương nhưng kiêu hùng của một người con gái Việt Nam bất khuất.

—————————————————

Việt Nam, ngày 20 tháng 06 năm 2013

Tôi tên là Trần Thị Ngọc Minh, thường trú tại Di Linh, Lâm Đồng, Việt Nam, là mẹ của tù nhân Đỗ Thị Minh Hạnh, sinh năm 1985, hiện đang bị nhà cầm quyền Việt Nam giam giữ tại phân trại 5, trại giam Xuân Lộc – Long Khánh – Đồng Nai – Việt Nam.

Vì bênh vực quyền lợi cho người lao động Việt Nam và vì hoạt động góp phần đấu tranh tìm tự do dân chủ và chống sự xâm lược củaTrung Quốc, Hạnh đã bị nhà nước Việt Nam bắt vào ngày 23 tháng 2 năm 2010 và bị xử án 7 năm tù giam cùng hai người bạn của Hạnh là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương với tội danh “phá rối an ninh chống lại chính quyền nhân dân” theo điều 89 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Tôi xin được trình bày cụ thể về việc bắt giam, đánh đập, hành hạ, khủng bố tinh thần của Hạnh trong tù cùng những phiên toà bất minh như sau :

Từ khi bị bắt, bị xử án và bi giam giữ cho đến nay, con tôi là Đỗ Thị Minh Hạnh đã bị chuyển qua nhiều trại giam, thường bị khủng bố tinh thần và bị hành hạ đánh đập cũng như bị cưỡng bức lao đ̣ộng.

1) Bị bắt, bị đánh đập và bị tra khảo tại Hà Nội

– Trước hết tôi xin được trình bày là lần hành hạ đánh đập đầu tiên trước đây vào tháng 02 năm 2005, trong dịp đầu năm con tôi đến thăm và làm quen tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang tại nhà riêng của ông ở Hà Nội. Ông Thanh Giang có tặng con tôi hai cuốn sách một là KHÁT VỌNG NGÀN ĐỜI, hai là SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG. Công an lấy cớ hai cuốn sách này là phản động đã hành hạ đánh đập con tôi tại khách sạn Hoàng Anh, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Cùng ngày, bộ công an Hà Nội bắt và biệt giam con tôi một cách trái phép không thông báo cho gia đình biết và đã thẩm vấn con tôi nhiều ngày trong một căn nhà biệt lập của Bộ công an. Khi công an địa phương nơi tôi cư trú tại Di Linh Lâm Đồng đến nhà thu thập thông tin gia đình và bản thân Hạnh tại nhà tôi, thì gia đình tôi nghi ngờ con tôi bị công an bắt giam và tự tìm hiểu thì biết được Hạnh bị giam tại Bộ công an Hà Nội, gia đình tôi đã tìm cách bảo lãnh Hạnh về.

            2) Bị bắt và bị đánh đập tại cơ quan công an huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

Vào lúc 09 giờ sáng ngày 23 tháng 02 năm 2010, tôi đưa Hạnh đến cơ quan công an huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng để làm lại chứng minh nhân dân thì bị công an Di Linh trên dưới 20 người bắt còng hai tay của Hạnh một cách bất hợp pháp, không có bằng chứng phạm tội cũng không có lý do, không có lệnh bắt giam. Họ đánh đập con tôi đổ máu đầy mặt tại chỗ mà không nói rõ lý do trước sự chứng kiến của tôi, những cái tát mạnh đã làm cho Hạnh bị ù một bên tai và không còn nghe rõ…

Sau khi bị bắt và đánh đập xong, Hạnh yêu cầu xem lệnh bắt, và đề nghị cho biết lý do bắt thì một lúc sau công an Di Linh đưa ra lệnh bắt vừa mới được Bộ công an fax về. Vào lúc 16 giờ cùng ngày, bộ công an cùng công an Di Linh và chính quyền địa phương còng tay dẫn Hạnh về nhà tôi và nhà chị gái của Hạnh lục soát vẫn không tìm ra một bằng chứng phạm tội nào và vẫn tiếp tục tiếp tục đánh vào ̣đầu của Hạnh tại nhà chị gái Hạnh cư trú tại Bảo Lâm – Lâm Đồng, sau đó đem con tôi giam tại trại giam B34 thuộc Bộ công an thành phố Hồ Chí Minh.

            3) khủng bố tinh thần tại trại giam B34 – Bộ công an

            – Ngày 18-04-2010 tôi tìm được đến trại B34,một nữ công an tiếp tôi nhưng không cho tôi gặp mặt con tôi và cho tôi biết Hạnh luôn chống đối, Hạnh đã nhiều ngày nhịn ăn, nằm lì, hỏi gì cũng không nói. Sau đó Hạnh có ăn cơm, nhưng ăn của một nữ tù nhân hình sự giam cùng phòng chứ không chịu ăn cơm của trại giam, cũng không cho bác sĩ khám bệnh. Nữ công an này bảo với tôi: Hạnh không có thiện chí hợp tác với công an nên yêu cầu tôi gửi thư thuyết phục Hạnh khai báo và nhận tội.

Vì chưa hiểu hết mặt trái của cộng sản và vì quá thương con, lo cho tính mạng của con, muốn con được sớm ra khỏi tù, tôi đã thực hiện theo yêu cầu của họ (sau này Hạnh bảo với các anh chị của Hạnh là Hạnh vô cùng đau khổ khi đọc lá thư này của tôi). Sau khi nhận thư của tôi, Hạnh chấp nhận trả lời các câu hỏi của công an. Hạnh khai nhận những việc Hạnh làm, Hạnh cho công an biết những việc làm của Hạnh xuất phát từ lòng yêu nước và luôn khẳng định mình vô tội.

Vào ngày 14-05-2010 tôi mới được gặp con tôi trong vòng 15 phút, và Hạnh xin tôi hiểu cho Hạnh, Hạnh nói rõ quan điểm của Hạnh về tình trạng đất nước và toàn dân Việt Nam đang phải ở trong một nhà tù lớn và Hạnh tuyên bố Hạnh vô tội trước sự giận giữ hằn học của hai cán bộ công an điều tra; công an không cho Hạnh nói tiếp và tuyên bố hết giờ thăm nuôi.

Tôi lo sợ trước thái độ của công an, Hạnh sẽ bị hành hạ trong tù. Vài ngày sau chị gái Hạnh mang thuốc bệnh và quần áo, tư trang vào cho Hạnh thì bị công an trại giam B 34 thẩm vấn, khủng bố tinh thần, hăm dọa, buộc phải khai báo việc làm và những tang vật của Hạnh. Công an đã chụp hình chị của Hạnh dùng để hù doạ, gây áp lực khủng bố tinh thần Hạnh, buộc Hạnh phải nhận tội xin khoan hồng và hăm doạ chị của Hạnh không được nói ra bên ngoài cuộc thẩm vấn này. Thương em, sợ ảnh hưởng đến em ở trong tù nên chị của Hạnh đành im lặng.

Từ đây, gia đình tôi được thăm nuôi vào ngày 10 mỗi tháng. Mỗi lần thăm chỉ được 15 phút, chỉ cho phép thăm hỏi sức khoẻ và khuyên bảo Hạnh hợp tác với công an và nhận tội. Nhưng Hạnh vẫn giữ quan điểm trước sau như một của mình.

            4) Phiên toà sơ thẩm : bất công, không minh bạch và đánh đập Hạnh tại toà

– Ngày 10-10-2010, theo định kỳ hàng tháng, tôi đến thăm nuôi Hạnh tại trại B34 thì được biết Hạnh đã chuyển đến trại giam công an tỉnhTrà Vinh. Khi chuyển trại, Bộ công an cũng không thông báo cho gia đình tôi biết.

Đến ngày 15-10-2010 chúng tôi tự đi tìm con và được biết con tôi cùng hai người bạn bị giam tại trại giam công an tỉnh Trà Vinh và tại đây, trại giam không cho chúng tôi thăm nuôi và cũng không cho gặp mặt.

Đến ngày 22-10-2010 chúng tôi mới nhận được thư của toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh mời gia đình đến dự phiên toà xử Hùng, Hạnh, Chương vào ngày 26 tháng 10 năm 2010 tại tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh với tội danh phá rối an ninh nhằm chống lại chính quyền nhân dân theo điều 89 của Bộ luật Hình sự“, tức là nhận được giấy báo trước phiên xử 04 ngày. Quá bất ngờ nên gia đình tôi không kịp xoay sở để có được luật sư bào chữa cho con. Hạnh, Hùng và Chương đều không được mời luật sư.

Ngày 26-10-2010 chúng tôi đến dự phiên toà. Trên đường đến toà án, một rừng công an dày đặc được bố trí khắp các ngả đường cho đến sân và phòng xử án. Khi đến giờ xử, công an lôi kéo Hạnh và Chương vào trước. Hỏi cung xong, công an lôi Hạnh, Chương ra ngoài và lôi kéo Hùng vào phòng xử án một cách thô bạo. Suốt phiên toà, sự lôi kéo thô bạo đối với các bị cáo trên diễn đi diễn lại, lôi ra kéo vào rất nhiều lần. Trong phiên toà, không có luật sư bào chữa và trong khi xử án, lúc toà hỏi cung, các bị cáo lên tiếng luôn bị ngắt lời không cho phép tự biện hộ mà chỉ được phép trả lời có hoặckhông” (Sau này khi được tiếp xúc với luật sư, chúng tôi có cho luật sư nghe qua đoạn ghi âm của phiên toà thì được luật sư cho gia đình chúng tôi biết, luật sư đã nghiên cứu hồ sơ và các bản khai của Hạnh, Hùng, Chương. Ban đầu luật sư cho rằng Hạnh, Hùng, Chương là có tội, nhưng sau khi nghiên cứu hồ sơ và tiếp xúc với các bị cáo thì ông nhận định là các bị cáo vô tội. Đồng thời qua đoạn băng ghi âm phiên toà, ông nhận thấy những nghĩa cử cao đẹp và sự hy sinh của các cháu đối với đất nước, đối với dân tộc mà các cháu đã trình bày ở các bản khai thì toà không dựa vào các bản khai đó để đưa ra toà xét xử công khai, khách quan, minh bạch, mà chỉ hỏi các câu hỏi mang tính chất nâng cao quan điểm tạo sự bất lợi cho các bị cáo).

Toà bỏ qua phần kháng nghị của các bị cáo, vội vàng luận tội rồi tuyên án. Phiên toà kết thúc chóng vánh: buổi sáng 3 giờ đồng hồ và buổi chiều hơn 1 giờ đồng hồ với các bản án dành cho Hạnh,Chương mỗi người 7 năm tù, Hùng 9 năm tù.

Mặc dù bị ngắt lời không cho phát biểu, chỉ được nói vài lời ít ỏi, nhưng Hạnh – Hùng – Chương vẫn hiên ngang tuyên bố mình “vô tội” trước toà.

            Trong thời gian toà giải lao, ra ngoài Hạnh hát cho Hùng, Chương nghe một bài hát về tình bạn thì bị công an Trà Vinh nắm đầu Hạnh đập mạnh vào thùng xe chở tù nhân khiến Hạnh quá đau đớn nên Hạnh đã hét lên thất thanh. (Tiếng thét được lưu vào băng ghi âm.)

            5) Trấn áp tinh thần, cản trở kháng án và cản trở không cho mời luật sư của công an trại giam tỉnh Trà Vinh

Sau phiên toà sơ thẩm Hạnh, Hùng Chương vẫn bị giam tại trai giam công an tỉnh Trà Vinh. Tại đây, Hạnh bị ngược đãi, hành hạ, trấn áp tinh thần. Công an luôn buộc Hạnh phải nhận tội. Sinh hoạt ăn ở mất vệ sinh, dùng nước bẩn, ngủ không cho giăng màn, muỗi đốt khắp cơ thể mặc dù gia đình cả ba nhà đã gửi tư trang chăn màn vào đầy đủ.

            – Ngày 29-10-2010, ba gia đình chúng tôi được thăm nuôi, mỗi tháng găp mặt một lần và thêm một lần cho cung cấp thực phẩm đồ dùng sau 15 ngày thăm g̣ặp. Khi thăm gặp, lần lượt từng gia đình một vào thăm, mỗi lần thăm 15 phút. Khi gặp mặt, tôi và con tôi đối diện cách xa nhau khoảng 2m. Mỗi lần thăm đều có từ 6 công an trở lên vây quanh giám sát chúng tôi, công an luôn nhìn xoáy vào Hạnh với thái độ trấn áp khủng bố tinh thần và chúng tôi chỉ được phép hỏi thăm sức khoẻ, nếu nhắc đến kháng án hoặc mời luật sư sẽ bị cắt thăm nuôi.

Những lần thăm nuôi sau đó, tôi yêu cầu ban giám thị trại giam tạo điều kiện cho con tôi kháng án và mời luật sư bào chữa, nhưng trại giam Trà Vinh không thực hiện.

Trong tù, Hạnh, Hùng, Chương yêu cầu công an cung cấp giấy bút để làm đơn kháng án nhưng bị công an Trà Vinh trấn áp. Cả ba gia đình chúng tôi buộc công an Trà Vinh thực hiện đúng pháp luật là phải để cho các bị cáo được thực hiện quyền kháng án. Cuối cùng, ngày 05-02-2011 chúng tôi mới được tin đơn kháng án của Hạnh, Hùng và Chương cũng đã được gửi đến toà án nhân dân tối cao tại TPHCM.

– Trong khi đó, vào ngày 31-12-2010 ba gia đình chúng tôi đã ký hợp đồng với luật sư Đặng Thế Luân để bào chữa cho cả Hạnh, Hùng và Chương, mặc dù toà án quy định chỉ có bị cáo mới được yêu cầu luật sư vì đã thành niên.

– Ngày 17-01-2011, luật sư đến trại giam công an tỉnh Trà Vinh xin vào g̣ặp các bị cáo, nhưng công an Trà Vinh cản trở không cho luật sư vào.

– Ngày 18-01-2011 tôi cùng hai gia đình Hùng và Chương làm đơn khiếu nại công an trại giam Trà Vinh vi phạm luật pháp đến: Bộ trưởng bộ công an, Thanh tra bộ công an, Toà án phúc thẩm hình sự TAND tối cao tại TPHCM, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Thanh tra công an tỉnh Trà Vinh, Giám đốc trại giam công an tỉnh Trà Vinh.

– Ngày 19-01-2011, luật sư đến toà án nhân dân tối cao TP HCM để đề nghị cấp giấy phép vào trại giam nhưng bị từ chối và đùn đẩy trách nhiệm về phía công an trại giam Trà Vinh và cũng vào ngày này, luật sư vẫn quyết tâm đến trại giam đề nghị cho tiếp cận các bị cáo. Từ thành phố HCM đến trại giam Trà Vinh xa xôi, luật sư phải ở lại đêm ở Trà Vinh, nhưng vẫn bị trại giam từ chối không cho luật sư vào.

– Ngày 20-01-2011, tôi đến toà án tối cao TPHCM để đề nghị toà cấp giấy phép cho luật sư thì phát hiện toà sẽ xử phúc thẩm Hùng, Hạnh, Chương vào ngày 24-01-2011. Chúng tôi tìm hiểu thông qua nhân viên toà án, có nghĩa là chúng tôi không được thông báo ngày xử phúc thẩm. Tại đây, tôi lập tức khẩn cấp làm đơn yêu cầu hoãn phiên toà.

– Ngày 28-01-2011, chúng tôi nhận được thư trả lời của thanh tra bộ công an là đã chuyển đơn khiếu nại của chúng tôi đến giám thị trại giam Trà Vinh để trả lời cho chúng tôi và thanh tra bộ công an, nhưng trại giam Trà Vinh im lặng với chúng tôi, đồng thời trong tù đe nẹt dọa dẫm, trấn áp, khủng bố tinh thần của Hùng, Hạnh Chương vì gia đình đã làm đơn khiếu nại.

– Ngày 05-03-2011, luật sư mới được tiếp cận hồ sơ và sau đó được toà án cấp giấy phép vào trại giam Trà vinh.

Luật sư chỉ được tiếp cận các bị cáo 2 lần và cho tôi biết:

+ Hạnh cho luật sư biết: trong khi điều tra tại trại giam B34, công an đã ghi một số lời khai không đúng với lời khai của Hạnh, Hạnh đề nghị sửa lời khai nhưng công an vẫn giữ nguyên một số lời ghi chép khác với lời khai

+ Chương cho luật sư biết: khi lấy lời khai, trong bản ghi chép, cứ sau mỗi lời khai công an để trống một đoạn giấy trắng.

+ Hùng cho luật sư biết: công an trại giam Trà Vinh hù doạ nếu Hùng không nhận tội, công an sẽ đem Hùng nhốt vào nhà thương điên hoặc cho tiêm vào cơ thể của Hùng máu bị nhiễm HIV.

– Ngày 02-03-2011, viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh gửi giấy mời chúng tôi ́đến viện kiểm sát  vào ngày 10-03-2011 để giải đáp đơn khiếu nại. Tại đây, họ nói đỡ cho công an Trà Vinh và nhận sai sót nhưng nhấn mạnh yêu cầu chúng tôi khuyên bảo Hùng, Hạnh, Chương nhận tội để được nhà nước khoan hồng.

            6) Phiên toà phúc thẩm: Không công khai, không minh bạch và không cho thân nhân các bị cáo vào dự phiên toà, không nghe luật sư bào chữa.

            Thông qua luật sư, chúng tôi biết phiên toà xử sơ thẩm Hạnh, Hùng, Chương sẽ diễn ra vào ngày 18-03-2011 tại toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh. Toà không thông báo cho chúng tôi và cũng không thông báo niêm yết tại TANDTC cũng như không niêm yết thông báo tại toà án tỉnh Trà Vinh.

Buổi sáng, chúng tôi ́đến rất sớm, cũng một rừng công an rải khắp ngả đường cho đến sân và phòng xử án. Khi xe tù đến, Hùng, Chương mỗi người đều có hai công an kèm theo, Hạnh cũng vậy. Nhưng khi Hạnh bị dẫn đi vào giữa hai hàng lính canh gác trước cửa toà thì có một tên lính bước lên một bước rồi quay mũi súng vào Hạnh thì Hạnh ngẩng cao đầu, hất mặt nghinh lên trời, bĩu môi và bước thẳng.

Trong sân toà án, công an chìm nổi dày đặc, súng ống, dùi cui rầm rộ như xử án những tên trùm khủng bố.

Ba gia đình chúng tôi bước vào dự phiên toà thì bị đám đông công an ngăn cản không cho vào. Cả ba gia đình chúng tôi phản đối quyết liệt nhưng vẫn không được vào dự.

Đến giờ xử án một lúc thì luật sư mới được thư ký toà án mời vào.

Trong phòng xử án âm thanh vặn nhỏ, chúng tôi không nghe được gì. Sau phiên toà, luật sư cho chúng tôi biết khi luật sư bào chữa, toà tỏ ra khó chịu vì luật sư khẳng định Hạnh, Hùng, Chương vô tội, toà không muốn nghe và khi kết thúc lời bào chữa, toà nhanh chóng luận tội với tội danh đã định sẵn, giữ nguyên bản án của toà sơ thẩm. Ba người bạn trẻ vẫn khí khái hiên ngang tuyên bố mình vô tội trước toà.

Luật sư là đảng viên cộng sản. Khi tôi yêu cầu luật sư một cách mạnh mẽ để cung cấp tất cả các thông tin về Hùng, Hạnh, Chương thì luật sư cung cấp rất hạn chế do lo sợ nhà cầm quyền Việt Nam gây khó dễ. Tôi phải tự tìm hiểu từ nhiều nguồn thông tin chính xác để tìm cách bảo vệ con tôi cùng Hùng và Chương.

            7) Hành hạ, đánh đập tại trại giam công an tỉnh Trà Vinh

            Sau phiên toà phúc thẩm, Hùng, Hạnh, Chương vẫn tiếp tục bị giam tại công an tỉnh Trà Vinh.

– Ngày 29-03-2011 ba gia đình chúng tôi đến trại giam thăm nuôi. Khi thăm nuôi công an giữ thái độ hằn học nhưng tinh thần Hạnh rất vững vàng.

– Ngày 27-04-2011, ba gia đình chúng tôi tiếp tục đi thăm nuôi, thì công an gác cổng thông báo cắt thăm nuôi Hùng, Hạnh, Chương vì cả ba đều bị kỷ luật, công an không cho biết lý do kỷ luật. Sau này tôi được biết lý do kỷ luật như sau : Khi từ toà phúc thẩm trở về, Hạnh đã lên tiếng hát những bài hát do Hạnh sáng tác nói lên sự bất công và sự tàn ác của cộng sản, được sự ủng hộ của đa số phạm nhân biểu hiện qua tiếng gõ nhịp theo tiếng hát của Hạnh, âm vang tiếng nhịp phách đồng loạt thông qua các hệ thống cống rãnh trong trại giam, nên công an Trà Vinh cho nữ tù nhân hình sự vào phòng giam đánh đập Hạnh rất tàn nhẫn. Hạnh hét to “Đả đảo cộng sản! Đã đảo cộng sản! Hùng và Chương ở các trại giam khác nghe được, đau xót vì bạn bị đánh, cũng đạp cửa phòng giam và cùng la to “ Đả đảo cộng sản! Đã đảo cộng sản! thì lập tức Hùng và Chương bị công an lôi ra đánh đập một cách tàn ác.

            Những ngày tháng bị giam ở Trà Vinh, mặc dù ba gia đình chúng tôi cung cấp thực phẩm, thuốc men, quần áo, chăn màn đầy đủ, nhưng công an cho ăn uống gạo hẩm, nước sinh hoạt bẩn, ngủ không chăn màn, luôn bị muỗi đốt. Công an luôn trấn áp, khủng bố tinh thần đe dọa đủ điều và luôn tìm cách buộc Hùng, Hạnh, Chương nhận tội.

            8) Hạnh suýt chết tại trại giam Bến Lức, Long An

Ngày 25-04-2011chúng tôi đến trại giam công an Trà Vinh thăm nuôi thì được biết Hạnh bị chuyển đến trại giam công an tỉnh Long An, Hùng và Chương chuyển đến trại giam công an tỉnh Tiền Giang. Từ đó tôi không còn cùng hai gia đình của Hùng và Chương đi thăm nuôi với nhau nữa.

Ngày 26-04-2011 tôi đến tỉnh Long An, tìm qua các trại giam thì gặp được Hạnh tại trại giam Bến Lức Long An. Trong khi chờ đợi công an xin phép giám thị cho tôi gặp Hạnh, có một nữ phạm nhân trung niên mang tội hình sự và làm việc tại căn tin kể cho tôi nghe về Hạnh:

“Hạnh bị biệt giam tại một căn nhà nhỏ, căn nhà có một ô cửa sổ nhỏ vừa đủ để ló mặt ra ngoài. Hạnh mới chuyển về và không có tiền nên không có khẩu phần ăn, có một viên công an cho Hạnh mượn phiếu lãnh khẩu phần ăn, nhưng Hạnh từ chối và từ cửa sổ, những phạm nhân đi làm về, khi đi ngang qua trao cho Hạnh ăn tạm vài quả xoài mà trong khi đi lao động họ hái được. Thương tình và thấy Hạnh quá bé bỏng, mỗi lần đi ngang qua nơi giam Hạnh, chị ấy cho Hạnh ly cà phê hay chiếc bánh. Mỗi khi thấy chị ấy đi ngang qua, Hạnh đều hồn nhiên tươi cười và gọi “Cô ơi!” nên chi ấy thương Hạnh lắm. Qua nhiều ngày Hạnh cầm hơi với những quả xoài và vài ly cà phê với vài chiếc bánh, công an Trà Vinh mới chuyển tiền đến trại giam Long An (tiền gia đình tôi gửi tại trại giam Trà Vinh cho Hạnh) thì lúc bấy giờ Hạnh mới có khẩu phần ăn. Nhưng những tư trang cá nhân, dụng cụ sinh hoạt của Hạnh chúng tôi sắm sửa cho Hạnh rất nhiều thì công an không cho mang theo, cũng không chuyển đến trại giam Long An.

Sau này Hạnh kể với tôi rằng: Lúc chuyển Hạnh từ trại giam Trà Vinh đến trại giam Long An, trong xe bít bùng nóng nực với trên con đường hàng trăm cây số, Hạnh bị công an Trà Vinh đánh đập liên tục trong khi tay chân đã bị còng và bị bịt miệng. Khi đến trại giam Long An, lúc mới bước vào căn nhà giam, tối qúa không thấy đường Hạnh va phải cái bồn nước, nước xối mạnh làm trôi Hạnh, Hạnh ngộp thở và suýt chết. Sự cố này có phải vô tình hay hữu ý của trại giam? tôi không biết chắc nhưng tính mạng con tôi gặp nguy hiểm. Dù vậy, tại đây Hạnh vẫn giữ khí tiết không cho bất kỳ người công an nào coi thường hay xúc phạm đến Hạnh, không làm bản tường trình cũng quyết không nhận tội.

Tôi được trại giam cho phép thăm gặp Hạnh qua màn kính, Hạnh bảo rất nhớ mẹ, nhớ gia đình, đôi mắt thoáng buồn nhưng vẫn an ủi tôi cứ yên tâm, tinh thần Hạnh rất vững vàng.

Ngày 08-05-2011 tôi lại đến trại giam Long An thăm nuôi nhưng được biết Hạnh đã bị chuyển về trại giam công an Thủ Đức Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận.

            9) Cưỡng bức Hạnh lao động tại trại giam Th Đức Z30D tỉnh Bình Thuận

Tôi lại tìm đến trại giam Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận. Hạnh chuyển đến trại giam này vào ngày 06-05-2011 và bị giam ở phân trại 1. Mặc dù công an giám sát chặt chẽ nhưng vẫn Hạnh kể với tôi công an bắt Hạnh học nội quy trại giam, Hạnh không chịu học. Công an bắt Hạnh làm bản tường trình, Hạnh không viết tường trình mà viết lên 04 trang giấy mỗi trang một chữ thật lớn : TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Tại đây Hạnh không muốn tôi tỏ vẻ tử tế với công an và bảo tôi cảnh giác với công an vì trại giam sẽ dùng tôi để gây áp lực buộc Hạnh nhận tội.Tại đây công an thường xuyên mời Hạnh lên làm việc nhằm khủng bố tinh thần Hạnh, nhưng Hạnh vẫn không khuất phục.

Hơn một tuần lễ sau, Hạnh bị chuyển vào phân trại 6 xa tận rừng sâu. Tại đây, Hạnh bị giam chung với những tù nhân hình sự, những nữ tù nhân bị nhiễm HIV, chỗ ngủ khoảng 60 đến 70 cm, nước sinh hoạt bẩn. Trại giam buộc Hạnh đi lao động, công việc là làm cá xuất khẩu, mỗi ngày khoán cho Hạnh 8 kg cá. Sức Hạnh yếu, đau ốm luôn, Hạnh đem cá trả lại cho công an, không làm việc và bỏ về trại nghỉ. Những ngày bị bệnh, Hạnh mang căn bệnh mãn tính là hạ calci trong máu, cần khám bác sĩ thì chờ gia đình gửi tiền vào, công an mới cho đến trạm xá để khám và chữa bệnh.

Trong trại giam, Hạnh bị phân biệt đối xử, không được hưởng những quyền lợi như những phạm nhân hình sự khác. Một vài nữ tù nhân thường hay gây sự với Hạnh để Hạnh luôn bị kỷ luật, hình thức kỷ luật là không cho gia đình thăm gặp. Có lần Hạnh bị kỷ luật do phạm nhân trong trại gây sự, Hạnh suýt bị đưa ra cột chéo hai tay vào một cái trụ rồi phơi mình giữa trời nắng gắt, người nào thương tình đi qua cho vài giọt nước. Hôm ấy tôi đến thăm nuôi kịp thời và công an trại giam cho tôi gặp Hạnh với thời gian khá lâu, mục đích của trại giam là để tôi thuyết phục Hạnh tuân thủ trại giam và nhận tội. Nhân dịp có nhiều thời gian của ngày hôm đó, Hạnh đã tố cáo tội ác của công an Trà Vinh và việc Hạnh suýt chết ở trại giam Long An, những việc xảy ra ở B34, nói rõ quan điểm và sự quyết tâm đi theo con đường mà Hạnh đã chọn. Hạnh chấp nhận mọi gian khổ, Hạnh thiết tha xin gia đình cho phép Hạnh thực hiện hoài bão của mình, và nếu không may gặp phải rủi ro, Hạnh xin gia đình xem như đó là số phận của Hạnh, xin mẹ tha thứ và thông cảm v.v…

Hạnh bị kỷ luật rất nhiều lần vì không nhận tội, không làm tường trình, không chịu hạ mình trước công an khi bị gọi đi thẩm tra cũng như khi buộc phải lao động hay làm kiểm điểm. Khi họp phạm nhân do giám thị trại giam chủ trì, Hạnh tố cáo sự khắc nghiệt vô lý của của các phạm nhân được giao trách nhiệm quan sát tù nhân trong phòng giam và không chịu ngồi dưới đất, khi công an trại giam ngồi trên ghế v.v…

Phó giám thị trại giam mời tôi đến hợp tác để khuyên Hạnh nên tuân thủ quy định của trại giam và khuyên Hạnh nhận tội. Tôi muốn xin giảm án cho con dựa vào thành tích gia đình cách mạng, nhưng Hạnh quyết liệt từ chối với lý do Hạnh vô tội và cho rằng luật pháp quang minh không thể dùng thành tích công lao của người khác chạy tội cho phạm nhân, Hạnh sẽ không ra khỏi tù khi hai bạn của Hạnh còn trong tù.

Sợ có nhiều điều bất lợi cho con khi con mình đơn độc trong tù, tôi khuyên Hạnh nên chấp hành tất cả những quy định của trại giam, nhưng Hạnh nói rõ quan điểm Hạnh không phải đến đây để lao động và tất cả những hành động của Hạnh tại trại giam đều vì lòng tự trọng và vì Hạnh là con người, Hạnh phải thực hiện đúng quyền làm người. Hạnh xin tôi thấu hiểu và Hạnh đã đe doạ công an là sẽ kiện trại giam khắp nơi vì trại giam bóc lột sức lao động và hành hạ phạm nhân.

Vì vậy Hạnh bị chuyển về phân trại 5, tại đây trại giam buộc Hạnh phải đi lao động. Tại trại 5, Hạnh làm việc tại vườn bông với một nam tù nhân bị SIDA giai đoạn cuối, Hạnh không tỏ ra sợ hãi và trấn an tôi. Tại đây, Hạnh được gửi thư cho gia đình, bạn bè, người quen, được gọi điện thoại về nhà để xin gửi đồ dùng cá nhân, tiền và thuốc trị bệnh nhưng phải qua kiểm duyệt của công an trại giam.

Đầu tháng 02 năm 2012, Hạnh bị chuyển đến phân trại 2 sản xuất, trại giam vẫn buộc Hạnh lao động nhưng Hạnh chống đối. Ông Nguyễn Bắc Truyển biết được Hạnh bị cưỡng bức lao động đã thông báo cho tôi và cho biết rõ tù chính trị không phải lao động và ông đã gửi thư nhờ Tổng lãnh sự Hoa Kỳ can thiệp. Sau đó Hạnh được lao động chăm sóc vườn hoa, cây cảnh và chỉ lao động buổi sáng tại phân trại 2 này.

Ở trại giam Bình Thuận, đồ dùng gửi vào hạn chế không quá 07kg. Nhu yếu phẩm, phạm nhân mua tại trại giam giá đắt gấp 03 lần giá cả bên ngoài trại giam.

Trại giam bóc lột sức lao động và coi thường sinh mệnh của phạm nhân. Phạm nhân làm việc mỗi ngày 8 giờ. Khi đi ngang qua các hiện trường lao động, tôi thấy phạm nhân khi phải làm việc dưới trời mưa vẫn không được mặc áo đi mưa v.v…

            10) Đề nghị giám đốc thẩm không được giải quyết

Ngày 10-06-2011 ba gia đình chúng tôi làm đơn gởi đến toà án NDTC Hà Nội đề nghị giám đốc thẩm nhưng không được giải quyết vì lý do phạm tội chống lại nhà nước.

            11) Cưỡng bức lao động và đánh đập Hạnh tại trại giam Z30A Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Tháng 05 năm 2013, Hạnh bị chuyển đến trại giam Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai. Khi chuyển trại, Hạnh cũng không được mang theo đồ dùng cá nhân tư trang quần áo. Gia đình phải sắm đồ dùng lại toàn bộ. Trại giam buộc Hạnh phải lao động, Hạnh lấy lý do bệnh không lao động. Công an buộc Hạnh làm bản kiểm điểm và ký tên nhận tội rồi mới giải quyết cho nghỉ bệnh, Hạnh không thực hiện, công an dàn cảnh dùng tù nhân hình sự đánh hội đồng Hạnh, trong đó một lần đánh hội đồng Hạnh khi Hạnh đang tắm tại nhà tắm trước sự chứng kiến của công an trại giam.

· Trên đây là bản tường thuật của tôi về việc Hạnh bị bắt giam, bị hành hạ đánh đập trong tù với những phiên toà bất minh.

Đó chỉ là những điều tôi biết được, khi có thông tin mới tôi sẽ tiếp tục trình bày. Tôi xin được trình bày một cách tường tận, trung thực để các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới xem xét và can thiệp giúp đỡ những tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm và tù nhân chính trị Việt Nam, vì dưới hệ thống công an trị của đảng cộng sản Việt Nam vô cùng tàn bạo, man trá khi thẩm cung, hành hạ đánh đập khủng bố tinh thần phạm nhân và bắt bớ, xử án không theo trình tự quy định của pháp luật. Mạng sống, nhân phẩm con người không được tôn trọng và không được bảo vệ. Một chế độ thối nát, mục ruỗng, xấu xa và tàn bạo.

Người làm tường trình

       © Trần Thị Ngọc Minh

———————————————————–

 

Hãy trả tự do ngay cho Đỗ Thị Minh Hạnh

 

Nguyễn Nghĩa

29-8-2013

dominhhanh-321x550

Là bậc cha, mẹ không ai là không xót xa, tan nát tim gan khi đọc Đơn kêu cứu  của ông Đỗ Ty, cha của Đỗ Thị Minh Hạnh, gửi Ông Trương Hòa Bình và Ông Cao Ngọc Oánh đăng tải trên các trang mạng “lề dân”..

Thử hỏi có người cha nào, có người mẹ nào vô cảm được, khi đọc những lời thống thiết như sau :

” Trong lần thăm nuôi gần đây nhất, ngày 7 tháng 8 năm 2013, gia đình tôi chứng kiến tận mắt hình hài con gái tôi tiều tụy, chân tay lở loét, bên ngực bị teo và đau nhức, triệu chứng của căn bệnh ung thư, con gái tôi đã nhiều lần đề nghị quản giáo cho phép được khám bệnh, nhưng đều bị quản giáo từ chối”

Khi 1 đứa con chuẩn bị chào đời, là người cha, người mẹ, trong tim chúng ta không có sự phân biệt con trai hay con gái.

Cũng gần ấy ngày, người mẹ mang nặng.

Rồi cũng gần ấy đêm,  người cha, người mẹ  thức trắng khi con bị sốt  cao.

Cũng những cơn sài, cơn đẹn chẳng hề phân chia trai hay gái mà gây bệnh…

Thế nhưng trong lòng chúng ta, người cha, người mẹ, vẫn có đôi chút thiên vị tình cảm cho con gái mà không hiểu vì sao? Và các anh trai, em trai của chúng cũng không hề trách móc chúng ta, coi đấy như 1 tình cảm tự nhiên, phải thế : vì chị là con gái, vì em là con gái.

Rồi các bé gái lớn lên, từ vòng tay ấm áp bảo vệ của gia đình, bước vào xã hội. Các cháu bắt đầu chịu sự giáo dục của xã hội nhiều hơn, bắt đầu trở thành 1 thành viên của xã hội.

Thế rồi tuổi yêu cũng đến.

Có người cha, người mẹ nào không thấp thỏm khi con gái mình hẹn hò với bạn trai.

Gia đình nào cũng cầu, khấn mong cho con gái mình thành duyên, thành lứa.

Làm người vợ, rồi làm người mẹ là các bước trưởng thành tự nhiên của người con gái.

Nhưng có 1 người con gái đặc biệt, khác các bạn gái khác của mình.

Khi các bạn gái khác ở tuổi 18 thường chú ý đến cách chải đầu, cách mặc quần áo theo mốt thời trang, để ý tới các bạn trai… thì em gái này năm 2005 đã giúp dân oan Hà Nội khiếu kiện đất đai.

Người con gái này chính là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Từ đấy Đỗ Thị Minh Hạnh dấn thân nhằm thức tỉnh dân tộc Việt Nam trước hiểm họa Trung Quốc trong dự án Boxits Tây Nguyên.

“Tháng 3 năm 2009 Hạnh trong nhóm Ngủ Gật một phần hỗ trọ cho ̣̣đồng bào Tây Nguyên biểu tình. Tháng 12 năm 2009 cô đã bí mật đi đường bộ sang Campuchia, Thái Lan để đến Malaysia tham dự đại hội kỳ 2 của Ủy ban về người lao động Việt Nam. Tết Canh Dần, Hạnh cùng hai người bạn Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chuơng và một số người bạn rải truyền đơn ” Ngàn năm Thang Long”, lấy bí danh Hải Yến, Hạnh đã trả lời phỏng vấn đài VOA, RFI, RFA, BBC… tố cáo nhà cầm quyền Cộng sản và nguy cơ mất nước, hiểm họa xâm lăng của Trung Quốc Tháng hai 2010 Minh Hạnh bị bắt vì bị cáo buộc “xúi giục” công nhân của một công ty giày da tỉnh Trà Vinh tổ chức đình công”. /Theo Wikipedia Đỗ Thị Minh Hạnh/

Những việc Hạnh làm, như HRW nói trong một thông cáo năm 2011 :

“Tất cả những gì mà Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh và Đoàn Huy Chương làm chỉ là khẳng định quyền của công nhân Việt Nam trong việc được tổ chức, nhóm họp và bãi công một cách ôn hòa để đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc,

Một người con gái vui tươi, ấm áp, trung hậu, yêu đời.. ,  trong tất cả các bức ảnh  trên internet, đã bị Tòa án cộng sản gán cho án 7 năm tù giam với tội danh “phá rối an ninh trật tự nhằm chống lại chính quyền nhân dân” theo điều 89 Bộ luật Hình sư ngày 27-10-2010.

Em bị giam đến hôm nay đã là 2 năm 10 tháng.

Hôm nay, nhà tù cộng sản đã tàn phá cơ thể em đến mức độ tiều tụy, bệnh nặng mà không hề được cứu chữa.

Nhà tù cộng sản chính là nơi hủy diệt cơ thể con người một cách nhanh nhất.

Nếu chúng ta có ai nhớ lại là Tôn Đức Thắng, lĩnh án tù Côn Đảo 20 năm,  mà vẫn khỏe khoắn, thì sẽ hiểu bản chất chế độ cộng sản là gì.

Đây là nơi hủy diệt con người.

Cả thể xác lẫn tinh thần.

Đây là nơi cộng sản Việt Nam muốn biến những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam thành những con sâu, con kiến trước sức mạnh man rợ của chúng.

Những ai có nhân phẩm cao quí, lòng yêu nước nồng nàn thì chúng đầy đọa cho thành bệnh, cho cơ thể tàn tạ… bằng những kỷ luật vô cớ để “biệt giam” hay giam chung với các thường phạm HIV…

Không có 1 tù nhân nào bị xử theo điều 88 , điều 258, điều 89 của BLHS VN là có hành vi cấu thành tội.

Tất cả những “tù nhân lương tâm” này, đều bị cộng sản Việt Nam theo lệnh “Láng Giềng hữu nghị”  bỏ tù theo những “bản án bỏ túi”, mà tòa án cộng sản  không hề quan tâm đến tranh tụng.

Đây là tội ác lớn nhất của cộng sản Việt Nam.

Chúng bỏ tù tinh hoa, khí phách Việt Nam.

Chúng tàn phá nội lực Việt Nam.

Chúng cam tâm bán nước, cam tâm làm nô lệ cho Tầu.

Lịch sử Việt Nam chưa có giai đoạn nào mà tầng lớp lãnh đạo dân tộc lại hèn đớn như vậy.

“Hèn với giặc , ác với dân” là đặc điểm của tầng lớp thống trị Việt Nam hôm nay.

Chính vì thế, những người con gái yêu nước như Đỗ Thị Minh Hạnh cũng không được lũ quỉ đỏ này nương tay.

So với em, chúng là lũ bán nước.

So với em, chúng là lũ đê hèn.

So với em, chúng là 1 bầy côn an đầu trâu mặt ngựa.

Tự ti về nhân phẩm thấp kém của mình, chúng trả thù em gấp bội.

Vì thế chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm lao tù, cơ thể người con gái hơn 20 tuổi,  tuổi người thiếu nữ “bẻ gẫy sừng trâu” đã trở thành tiều tụy, bệnh tật đến đau lòng.

Hôm nay, tôi viết những dòng này mà lòng trào lên một nỗi buồn khó tả.

Dân tộc ta đang trải qua kiếp nạn cộng sản thảm khốc.

Cuộc chiến đấu sinh tồn của tộc Việt trên bán đảo Đông Dương liệu có vượt qua nổi giai đoạn cộng sản này không, hay sẽ bị Trung Quốc với sự giúp đỡ tận tụy của cộng sản Việt Nam, thôn tính?

Những người con gái như Đỗ Thị Minh Hạnh đang chịu đựng những đầy đọa cộng sản trên thân hình “mảnh mai liễu yếu” của mình, cho dân tộc thức tỉnh, như sứ mạng của Chúa Jezus đóng đinh trên  thánh giá, cứu rỗi loài người.

 

Đáng thương thay, mà cũng tự hào thay cho những hi sinh cao cả này.

Đáng giận thay cho lũ người Việt đã trúng bả độc cộng sản Mác Lê Nin mà sa vào vòng kim cô “16 chữ, 4 điều tốt” của Trung Quốc, tàn hại ngay chính con cháu Việt Nam.

Không, không thể để cho lũ cộng sản chỉ gồm 1 nhúm phản động có thể tiêu diệt cả dân tộc này.

Lịch sử Việt Nam sẽ động viên chúng ta.

Hồn thiêng đất Việt sẽ bảo vệ những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam.

Những người cha, những người mẹ Việt Nam hôm nay, hãy lên tiếng bảo vệ người con gái yêu thương của mình là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Những người ông, người bà Việt Nam hôm nay hãy lên tiếng bảo vệ người cháu yêu thương của mình là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Những người anh, người chị Việt Nam hôm nay, hãy lên tiếng bảo vệ người em gái yêu thương của mình là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Những em trai, em gái Việt Nam hôm nay, hãy lên tiếng bảo vệ người Chị gái yêu thương của mình là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Bởi vì hôm nay, Đỗ Thị Minh Hạnh đã là người con gái Việt Nam  của tất cả Chúng ta.

Ông Trương Tấn Sang, Ông Nguyễn Tấn Dũng hãy trả lại tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh, nếu trong các ông còn một chút con người, còn một chút Việt Nam.

© Nguyễn Nghĩa

© Đàn Chim Việt

Posted in Tù Chính Trị, Trại Tù | 1 Comment »

►Các ý kiến chung quanh việc thành lập đảng mới

Posted by hoangtran204 trên 30/08/2013

Baì này chia làm 3 phần. Phần 1 của blogger HNC, phần 2 là bài của ông LHĐ, và phần 3 là các ý kiến về thành lập đảng mới.

Ai Thay Lòng Đổi Dạ

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

Trang Ba Sàm tổng kết, đến hôm nay (29.8) đã có 18 bài viết trên hệ thống truyền thông độc quyền của đảng, phản biện lại việc “tính sổ cuộc đời” của ông Lê Hiếu Đằng và việc ông hô hào lập đảng mới để lành mạnh hóa hoạt động chính trị, để xây dựng xã hội dân sự và tiến đên dân chủ hóa đất nước.

Bài viết thì nhiều nhưng luận điệu phản biện thì giống hệt nhau, nghèo nàn và xơ cứng, đi lại cũng hô các khẩu hiệu: Con đường đi lên CNXH là chọn lựa duy nhất của dân tộc VN, đảng độc quyền lãnh đạo là tất yếu lịch sử, đảng đưa đất nước đi từ thắng lợi nầy đến thăng lợi khác, xương máu của hàng triệu đảng viên (?) góp phần làm nên thắng lợi nên đảng đời đời độc quyền lãnh đạo là đương nhiên, dân chủ VN theo kiểu của VN, dân chủ và nhà nước pháp quyền không cần đa nguyên, đa đảng sẽ đưa đến bất ổn chính trị và rối loạn xã hội…Rồi trên cái nền khẩu hiệu duy ý chí, phản khoa học và ngược ngạo ấy, các tác giả lý luận cung đình lại lặp lại cung cách truyền thống của những người bình dân nơi chợ búa vẫn làm khi muốn “phản biện ” đối thủ của mình: Thóa mạ, quy chụp, chửi bới về nhân thân cũng như động cơ của ông Lê Hiếu Đằng.

Mà xuyên suốt cả cuộc đời chiến đấu và lao động trong sáng vì lý tưởng của mình, ông Đằng đã không để lại chút vẩn cợn nào để họ bấu víu vào đó mà bôi nhọ. Lại thêm, khi viết những lời tâm huyết là lúc ông Đằng đang trong những ngày đối diện với cái chết không còn ham muốn gì với danh lợi cá nhân nên không có lý do để suy diễn và quy chụp động cơ của ông là đen tối. Cuối cùng họ chỉ biết cho rằng ông là người phản bội lại lý tưởng, phản bội đảng, là người thay lòng đổi dạ…

Điều duy nhất mà hàng lô những nhà lý luận cung đình, chuyên hay thời vụ, quy chụp được ông Lê Hiếu Đằng là ông đã thay lòng đổi dạ, phản bội lại lý tưởng mà ông đã theo đuổi.

Nhưng thử hỏi lý tưởng mà ông Đằng đã theo đuổi suốt cuộc đời của mình, từ hồi trai trẻ còn cắp sách đến trường cho đến lúc gần đất xa trời là gì?

Xem xét về những gì ông đã làm, đọc qua những gì ông đã viết, mọi người thấy ngay rằng lý tưởng theo đuổi suốt cả cuộc đời của con người nầy là: đấu tranh chống bất công, chống áp bức, chống xâm lược nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và hạnh phúc. Đó là lý tưởng chung của hàng chục triệu người VN yêu nước, cũng là lý tưởng của các phong trào Đông Du, Duy Tân, Việt Cách, Việt Minh… cũng là lý tưởng của các đảng phái chính trị: Quốc Dân, Đại việt, Cộng Sản…

Nhờ giỏi tuyên truyền, giỏi tổ chức, giỏi lợi dụng thời cơ, đảng CSVN đã vươn lên thu phục được nhiều người rồi đi đầu công trạng trong việc thực thi lý tưởng đã nêu. Lý tưởng đó của đảng CS phù hợp với lý tưởng của bộ phận lớn nhân dân VN, trong đó có người thanh niên Lê Hiếu Đằng cũng như bao thanh niên cùng trang lứa với anh ở miền Nam trước năm 1975. Một bộ phận thanh niên cũng như nhân dân miền Nam đi theo đảng CS là vì có sự phù hợp lý tưởng của nhau hoặc tưởng rằng có sự phù hợp.

Vấn đề đặt ra bây giờ là ai rời bỏ lý tưởng đó? Đảng CS hay những người đã và sắp bỏ đảng như ông Lê Hiếu Đằng?

Dưới sự lãnh đạo của đảng CS, nước VN thống nhất trong 38 năm qua đã có được những gì: Độc lập? Tự do? Dân chủ? Hạnh phúc? Công bằng? và Ấm no cho toàn dân? Hãy so sánh một cách biện chứng với chính thời gian 38 năm trong thời đại thay đổi với tốc độ tên lửa chứ đừng ngô nghê so sánh với thời điểm dừng 1975 khi trả lời câu hỏi trên.

Nhìn vào thực trạng đất nước hiện nay, ông Đằng đã đưa ngay câu trả lời. Đảng lãnh đạo hầu như lệ thuộc vào đảng Trung Cộng từ lý luận đến thực tiễn hành động. Đất nước thì bị đe dọa mất chủ quyền bởi vòng kim cô “4 tốt, 16 chữ vàng” để bị kẻ thù phương Bắc bao vây trên nhiều phương diện: Quân sự, ngoại giao, kinh tế và cả văn hóa nữa. Kinh tế thì suy sụp, xã hội thì đảo điên, áp bức bất công khắp mọi nơi, nạn tham nhũng thì càng ngày càng phát triển đến mức không còn cách để ngăn chặn…

Điều gì đã đưa đất nước đi đến thực trạng như vậy? Ông Lê Hiếu Đằng cũng như nhiều trí thức nhân sĩ trong và ngoài đảng đều có chung một nhận định: Do đảng lãnh đạo đã liên tục mắc vào các sai lầm mà không hề đúc kết rút kinh nghiệm để sửa sai. Từ trước đến nay đảng chưa hề có một lời xin lỗi với nhân dân về những sai lầm của mình. Từ đó, những người ấy nghi ngờ rằng đảng đã không còn đi trên con đường lý tưởng như ban đầu đã chọn lựa.

Hai con đường đã không còn phù hợp với nhau. Ông Đằng, giống như nhiều người khác, dù tuổi già sức yếu, lại không nghĩ ngơi vì phải tiếp tục đi theo con đường lý tưởng mà mình đã chọn lựa từ thuở ban đầu.

Ông vẫn trung thành với lý tưởng của mình tại sao lại bảo ông thay lòng đổi dạ?

Bài thứ 17 trên hệ thống truyền thông độc quyền của đảng, phản biện lại việc “tính sổ cuộc đời” của ông Lê Hiếu Đằng và việc ông hô hào lập đảng mới basam.info

►Lê Hiếu Đằng : Những điều nói rõ thêm…và Suy Nghĩ trong những ngày nằm Bịnh (bản có sửa chữa)

Posted in Uncategorized, Đảng mới | Leave a Comment »

►Đảng Cộng sản Việt Nam thiếu chính danh, hoạt động bất hợp pháp vì chưa từng nộp đơn xin phép nào cho cơ quan hành chính, nhà nước, cũng như chưa từng được cấp giấy phép hoạt động ở VN

Posted by hoangtran204 trên 30/08/2013

Đảng Cộng sản Việt Nam thiếu chính danh

Bùi Tín

Theo VoA Blog

29-8-2013

Giáo sư Hoàng Xuân Phú là một nhà toán học lớn. Ông tốt nghiệp Tiến sỹ Toán học ở Viện đại học Humboldt của CH Liên bang Đức, hiện là Tổng Thư ký Viện Toán VN kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Toán của Viện.

Gs Hoàng Xuân Phú cũng là một nhà báo đặc sắc, có Blog riêng mang tên ông. Ông dấn thân cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước, từng có mặt trong một số cuộc «Chủ nhật xuống đường» chống bành trướng. Ông từng có luận văn sắc sảo phản đối việc khai phá bauxite ở vùng Tây Nguyên, chỉ rõ hiểm họa xây dựng điện hạt nhân ở nước ta, và gần đây tích cực tham gia cuộc thảo luận về việc thành lập một đảng mới để cạnh tranh lành mạnh với đảng CS do luật gia Lê Hiếu Đằng và nhà báo Hồ Ngọc Nhuận nêu lên.

Là giáo sư toán học, ông có nếp lập luận chặt chẽ, luôn chứng minh từ thực tế, truy tìm tận nguồn ngọn của vấn đề. Ông nghiên cứu kỹ các văn bản, hồ sơ lưu trữ, các đạo luật, nghị định liên quan đến việc lập hội, như Luật về Mặt trận Tổ quốc, Luật về Đoàn thanh niên, về Tổng liên đoàn Lao động… Từ đó ông phát hiện ra một vấn đề có thể nói là kinh thiên động địa: đó là Nhà nước đã quy định bất cứ tổ chức chính trị – xã hội nào hoạt động trên lãnh thổ VN đều phải làm đơn xin phép, khai lý lịch, tôn chỉ mục đích và chỉ được hoạt động khi có quyết định của chính quyền xét duyệt điều lệ, tôn chỉ mục đích và quy định rõ phạm vi, thể thức hoạt động, các mối quan hệ với chính quyền và các tổ chức khác trong xã hội. Vậy mà ông không tìm ra một lưu trữ nào nói rằng đảng CS Việt Nam đã tuân theo các thủ tục vừa kể.

Đảng CS Đông Dương, rồi đảng Lao động VN, rồi đảng CS Việt Nam chưa hề nộp một giấy xin phép nào cho cơ quan hành chính, nhà nước, cũng chưa nhận được giấy phép hợp lệ nào. Nhà toán học cả đời làm vô vàn chứng minh cho các bài toán gai góc nhất của mình, bỗng đứng trước một kết luận rất đáng buồn cho đảng CS, cũng rất buồn cười cho toàn xã hội, là đảng CS Việt Nam trên thực tế là một đảng bất hợp pháp, là một đảng… chui, nghĩa là hoạt động không có giấy phép.

Vậy mà trong Điều lệ Đảng CS ghi rõ: «Đảng CS VN hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật». Nó nói vậy nhưng không hề làm.

Giáo sư Hoàng Xuân Phú cho rằng xét về thủ tục hành chính, đảng CS đã tự cho mình đặc quyền hành chính, không ghi danh, cũng không làm đơn xin phép hoạt động. Đây là một lỗ hổng hành chính đáng trách.

Theo ông, về mặt thực thi Hiến pháp, mỗi điều khoản Hiến pháp đều có một đạo luật tương ứng hướng dẫn thể thức, phạm vi, nhiệm vụ và quyền hạn áp dụng trong cuộc sống. Thiếu một đạo luật như thế, một điều khoản Hiến pháp như Điều 4 quy định vai trò lãnh đạo của đảng CS trong xã hội không thể, chưa thể đưa ra thực hiện được. Lẽ ra việc thực hiện phải bị treo lại cho đến khi có luật về đảng CS, hay luật về các đảng chính trị nói chung, trong đó có đảng CS. Gs Hoàng Xuân Phú chỉ ra rằng trong một phiên họp quốc hội, từng có ý kiến của lãnh đạo là Hiến pháp tuy có quy định quyền biểu tình, nhưng vì chưa có Luật về biểu tình nên quyền đó phải bị treo lại để chờ luật; vậy chưa có Luật về đảng CS thì mọi hoạt động của đảng CS lẽ ra cũng phải bị treo lại.

Giữa cuộc tranh luận trên, ông Nguyễn Ngọc Già trên mạng Dân Làm Báo chất vấn ông Vũ Minh Giang, từng là phó giám đốc Đại học Quốc gia, rằng Điều 4 Hiến pháp do đảng CS tự mình đề ra có giá trị gì không, người dân công nhận điều đó bằng cách nào? Không có thảo luận, không có trưng cầu dân ý. Tất cả chỉ là tự vỗ ngực mình rồi bảo là toàn dân công nhận, qua một cái gọi là Quốc hội, thật ra là đảng hội, vì đảng viên CS chiếm 90% số ghế. Dân không hề có ý kiến. Rõ ràng lại một kiểu ăn gian, phi pháp, thiếu đạo đức được chứng minh.

Vẫn chưa hết. Gs Hoàng Xuân Phú muốn đưa cuộc tranh luận đến tận cùng chân lý. Ông đặt vấn đề đảng CS khẳng định trong điều lệ là đảng trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, mang bản chất của giai cấp công nhân, trung thành với quyền lợi của công nhân, lao động và dân tộc, hoạt động trong phạm vi Hiến pháp và luật pháp, tất cả 4 vấn đề then chốt ấy đều không hề được chứng minh trong thực tế, trong cuộc sống.

Chủ nghĩa Mác – Lênin trong thực tiễn đã bị lịch sử lên án với đấu tranh giai cấp tàn khốc và chuyên chính vô sản đẫm máu; đảng CS không cho công dân được lập công đoàn tự do của mình, chuyên bênh các chủ đầu tư tư bản; đảng CS xóa bỏ quyền người cày có ruộng của nông dân; tự đặt mình trên Hiến pháp và ngoài luật pháp; tất cả đều chứng minh đảng CS đã sai lầm tận gốc trong cả 4 vấn đề then chốt. Nó nói một đằng làm một nẻo, chuyên đi ngược lòng dân, chiều lòng bọn bành trướng; tính thiếu chính đáng, tính bất hợp hiến và bất hợp pháp của nó, tính thiếu đạo lý đạo đức lương thiện của nó cùng với tệ nhũng lạm nặng nề không sao ngăn chặn, đang hiện rõ.

Trong tháng 10 Quốc hội sẽ họp để thông qua bản sửa đổi Hiến pháp cuối cùng. Chẳng lẽ cả 500 vị đại biểu Quốc hội – mà 90% là đảng viên CS cấp cao – đã mất hoàn toàn mối liên hệ với nhân dân, với cử tri, với những trí thức trung thực, thức tỉnh, như giáo sư Hoàng Xuân Phú và hàng vạn trí thức ký tên bác bỏ bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội từng thông qua hồi đầu năm hay sao?

Đảng CS như một lâu đài được xây dựng trên cát lỏng, đang có nguy cơ chìm nghỉm

Nguồn: Theo VoA Blog

và  danluan.org

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Hồi kí Nguyễn Hiến Lê 1975-1980

Posted by hoangtran204 trên 30/08/2013

Cụ Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là một nhà đại trí thức của Miền Nam. Trước 1975, cụ không thích chính quyền Miền Nam của ông Thiệu. Nhưng cụ đã tỉnh ngộ sau khi sống 5 năm dưới chế độ cộng sản. 1980, cụ cắt bỏ hộ khẩu ở Sài Gòn và lật đật về quê.

“Năm 1980 ông về lại Long Xuyên. Cùng năm ông bắt đầu viết Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, đến tháng 9 năm 1980 thì hoàn thành.” (nguồn).

Các tác phẩm của cụ ở đây. http://hoangkimlong.wordpress.com/2013/06/06/nguyen-hien-le-hoc-va-viet/

Hồi kí Nguyễn Hiến Lê

Theo blog Nguyễn Văn Tuấn

Chia sẻ bài viết này

29-8-2013

Hôm nay, đọc lại hồi kí của cụ NHL thấy cụ viết nhiều điều vẫn còn tính thời sự. Xin trích vài đoạn bị cắt khỏi bản in ở VN nhưng in đầy đủ bản trên mạng và xuất bản bên Mĩ. Ông viết về tình trạng y tế, tư pháp, xã hội, kì thị vùng miền, và đạo đức xuống cấp sau 1975. Một số sự thật này chắc còn xa lạ với các bạn trẻ, nhưng đọc để “ôn cố tri tân” thì cũng có ích.

===

Y tế

Dân trong ấp, xã bị bệnh thì lại họ (nhân viên y tế nông thôn) trước, họ không trị được thì đưa ngay lên quận; quận có bác sĩ đa khoa, trị không được thì đưa ra tỉnh; tỉnh có bác sĩ chuyên khoa, đủ dụng cụ, đủ thuốc… Lần lần nhân viên y tế nông thôn vừa làm việc vừa học thêm, có thể lãnh trách nhiệm quan trọng hơn, đưa lên giúp việc ở quận. Chính sách đó rất họp lí và chính quyền mình cũng đã áp dụng nó. Đó là một điểm tấn bộ.

Nhưng vì chiến tranh, nhân viên y tế các cấp của mình da số ít được học, nên chúng ta thấy những y sĩ (y sĩ Bắc có quyền ra toa, nhưng kém bác sĩ một bực), học chỉ tới lớp năm (hết cấp I), chỉ biết dăm chục tên thuốc, không biết đo huyết áp, không biết thế nào là đau mắt hột… chỉ đáng làm một nhân viên y tế nông thôn thôi. Còn bác sĩ được đào tạo ở Bắc thì xét chung, sự hiểu biết cũng kém xa bác sĩ đào tạo ở Nam… Nhân viên y tế nông thôn cũng thiếu, tinh thần trách nhiệm rất thấp: một huyện nọ người ta tiêm thuốc ngừa dịch tả cho ba người lớn và chín trẻ em thì tám trẻ chết.

Tệ nhất là nạn thiếu thuốc, thiếu cả thuốc đỏ, thuốc tím, do đó sinh ra nạn ăn cắp thuốc, ra toa cho người không có bệnh để họ bán thuốc chợ đen.

Cũng may mà có hằng trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gửi thuốc về giúp thân nhân, nếu không sức khoẻ của dân sa sút không biết tới đâu.

Tệ nhất là nạn thiếu vệ sinh… từ cơ quan tới đường sá, tư gia, đâu đâu cũng dơ dáy… Nhiều cơ quan nuôi gà, heo ngay trong phòng của họ, và từ trên lầu thượng họ trút nươc dơ xuống đường. Phòng bệnh nhân trong các bệnh viện hôi hám không chịu nổi; phải bịt mũi khi đi tới gần cầu tiêu… người ta phóng uế đầy đường.

Tư pháp

Từ năm 1975, trường luật bị bãi bỏ. Sinh viên luật có thể xin chuyển qua ngành kinh tế, ra làm các ngân hàng. Nhưng đa số bỏ học, làm phu khuân vác, đạp xích lô… Đó là chuyện 1975. Nay thì thanh niên trí thức làm đủ các việc lao động rồi, bổ củi mướn, chở cát, vác gạo…, không ai ngạc nhiên, mà cũng không ai thương hại cho họ nữa, họ dễ dàng kiếm được vài ba chục đồng một ngày mà lại tự do, chứ không làm thư kí ngân hàng 40 đồng một tháng thì sống sao nổi. Vả lại lao động là vinh quang mà. Nữ sinh viên thì bán thuốc lá rời hoặc quần áo cũ ở lề đường.

Năm 1975 có lần tổ chúng tôi họp để xử một người trong tổ mắc một tội nào đó tôi không nhớ. Ông tổ trưởng đề nghị hai cách trừng trị… Cách nào được nhiều người đồng ý thì theo cách đó… Khi phường có toà án nhân dân rồi (năm 1978?) thì để toà xử. Một “ông toà” là học trò cũ của một bạn tôi. Tôi hỏi cậu ta: “Cháu xử theo luật nào?” Cậu ta cười, đáp: Cháu đặt ra luật để xử – Thực vậy sao? – Dạ, bây giờ ai đặt luật cũng được. Vì có bộ luật nào đâu?

Thất bại trong hoà bình

Thất bại lớn nhất, theo tôi là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hoà bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối năm 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc…

Nguyên nhân chính theo tôi là người miền Bắc vơ đũa cả nắm, coi người Nam là “nguỵ” hết, truỵ lạc, bị nhiễm độc nặng của Mĩ. Ngay hạng trí thức miền Bắc như ông Đào Duy Anh cũng có thành kiến là dân Sài Gòn hư hỏng quá rồi. Họ chỉ nhìn bề ngoài… Bọn thanh niên hư hỏng ở Sài Gòn mới có nhiều, mà tỉ số không cao so với những thanh niên đứng đắn.

Người Bắc coi người Nam là nguỵ, đối xử người Nam như những thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là nguỵ thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa”. Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ Chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hoá, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là nguỵ nữa, vì nguỵ có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú… Thì ra: “Nhìn xa ngỡ tượng tô vàng…”

Ngay giữa các đồng chí cũng không có tinh thần đoàn kết…Chính vì thiếu đoàn kết nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và miền Bắc có câu này: nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.

Xã hội sa đoạ

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng, cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng… Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bên vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đoạ thêm chứ để chúng mau sụp đổ…”

Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi… Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu, rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hoá ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa…

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hoá ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia… Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó…

Mình theo cả những lầm lẫn của người

So sánh những nhận xét của tôi ở trên với những điều tôi đã được đọc trong mươi cuốn về đời sống ở Nga Sô, Trung cộng, tôi thấy chính sách của mình y hệt như chính sách của hai nước đàn anh đó, những lầm lẫn của mình chính là những lầm lẫn của họ.

Năm 1947, sau 30 năm cách mạng dân Nga cũng bị nhồi sọ như dân mình, xã hội cũng có những sự bất công… cũng có nạn bè phái như mình; cũng có lệ mhốn thưởng một cán bộ thì cho thêm một số tiền bỏ vào bao thư riêng; các ông lớn của họ cũng cách biệt quần chúng như ở nước mình;những kẻ gian trá cũng có thể lén lút làm mọi cái xấu xa, miễn là đừng chống chính quyền; người Nga nào cũng có hai mặt, ra ngoài thì khác như mình.

Họ cũng trọng hồng hơn chuyên, cũng thay đổi chủ trương, chương trình liền liền, thợ họ cũng không đủ ăn, công việc gì cũng không chạy; cán bộ của họ cũng sợ trách nhiệm như cán bộ mình; chính sách cải tạo còn tàn nhẫn hơn chính sách của mình; sự tổ chức bầu cử y như mình, v.v…

Trung Hoa cũng có thời “trăm hoa đua nở” rồi mấy tháng sau hoa lại bị cấm nở; trăm hoa của mình cũng đua nở sau Trung Hoa ít tháng, và cũng bị cấm nở sau họ ít tháng. Năm 1966 mình khôn hơn Trung Hoa là không làm cách mạng văn hoá, nhưng năm 1978 mình cũng đã chuẩn bị kĩ để phát động một cuộc cách mạng văn hoá như họ, tính đốt hết các sách báo ở miền Nam… cách thức phụ cấp cho sinh viên, đối đãi với trí thức, chính sách học tập chính trị, hội họp ở phường, ấp, dăng, dán biểu ngữ ở khắp nơi, phát thanh bằng loa oang oang mà không ai buồn nghe…; cả lối giáo dục trẻ em, bổ túc văn hoá, công trình khai quật cồ tích chung quanh đền Hùng… mình đều theo sát gót Mao Trạch Đông.

Tôi có cảm tưởng rằng mình chép đúng đường lối của hai nước đàn anh, không xét hoàn cảnh, dân tình, phong tục của mình có khác họ hay không. Tôi chưa thấy mình có một sáng kiến gì cả, ngay cả những danh từ như biên chế, phụ đạo, tham quan, tranh thủ… mình cũng chép nguyên của Trung Hoa.”

 Theo blog Nguyễn Văn Tuấn  ;  reblog by danluan.org

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►5 Blogger nữ của Mạng lưới Blogger Việt Nam đến Tòa Đại Sứ Đức tại Hà Nội

Posted by hoangtran204 trên 28/08/2013

Để thể hiện sự công khai và minh bạch, tuần trước, Mạng Lưới Blogger Việt Nam loan báo rằng họ sẽ ghé tòa Đại Sứ Đức trao Tuyên Bố 258 vào ngày 28-8-2013. Và họ đã thực hiện được điều này bằng cách: dùng những người mới.

Trong khi đó, công an Hà Nội dùng chiến thuật cũ: bố trí 30 công an và an ninh trước cửa đại sứ quán Đức, và đưa các toán công an khác đến chặn ngay tại nhà của các blogger:

Trong khi công an ra sức chặn những người đã từng đi đến các sứ quán Thụy Điển, Úc, Mỹ như Nguyễn Đình Hà, Nguyễn Chí Đức Donghailongvuong Mới, Lê Thiện Nhânthì đại diện sáng nay của Mạng lưới blogger đến gặp sứ quán Đức lại là 4 blogger, facebooker nữ, lần đầu góp mặt: Phuong Dang Bich Lan Le An Đổ Nguyễn Hiền Giang (Sông Quê).”   Nguyen Anh Tuan

Thật là quá vất vã cho các blogger vì họ chỉ làm những điều bình thường như luật pháp cho phép: trao Tuyên Bố 258 cho tòa Đại Sứ Đức. Ai lên mạng cũng đọc được  Tuyên bố 258 , tuyên bố ấy có gì là bí mật và nguy hiểm đâu, nhưng công an và an ninh Hà Nội đã bủa vây khắp nơi để ngăn cấm các blogger làm chuyện này.

Tường thuật buổi gặp gỡ của đại diện Mạng lưới Blogger Việt Nam với Tòa Đại Sứ Đức tại Hà Nội

Theo Mạng lưới blogger Việt Nam

28-8-2013

Vào sáng nay, thứ tư, 28/8, một số đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam (MLBVN)  sẽ có một buổi tiếp xúc và trao đổi với Đại sứ quán Đức. Đây là tiếp nối nỗ lực của MLBVN trong việc vận động quốc tế quan tâm đến bản Tuyên bố 258, yêu cầu nhà nước Việt Nam hủy Điều 258 BLHS, trong bối cảnh Việt Nam đang tranh cử để trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

MLBVN sẽ cập nhật tin tức đến các bạn từ giờ cho đến chấm dứt buổi tiếp xúc.

Được biết vào 7h sáng hôm nay an ninh TP. Hà Nội đã trao giấy mời và yêu cầu blogger Nguyễn Chí Đức lên đồn công an làm việc liên quan đến vấn đề công dân Việt Nam Nguyễn Chí Đức đã cùng với các blogger Trịnh Anh Tuấn, Đào Trang Loan, Nguyễn Hoàng Vi, và Nguyễn Đình Hà trao Tuyên bố 258 cho Đại sứ quán Australia vào ngày 23 tháng 8 vừa qua.

Anh Nguyễn Chí Đức đã từ chối yêu cầu này của công an.Xin nhắc lại trong thời gian qua, nhiều đại diện khác nhau từ khắp ba miền đất nước của MLBVN đã tiếp xúc với các đại diện của Cao uỷ Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (OHCHR), Liên minh Báo chí Đông Nam Á (SEAPA), Tổ chức Giám sát Nhân quyền (HRW), Ủy ban Luật gia quốc tế (ICJ), Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), Tổ chức Người Bảo vệ Tuyến đầu (Front Line Defenders), Đại sứ quán các nước Mỹ, Thụy Điển và Australia.

Bên cạnh đó, hôm Chủ nhật vừa rồi các thành viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam cũng đã tổ chức gặp mặt “Cafe 258” tại Hà Nội và Sài Gòn.

0h20: Các đại diện cho Mạng lưới Blogger Việt Nam đến ĐSQ:

Chị Đặng Bích Phượng (Phương Bích), Nguyễn Hoàng Vi, chị Lê Hiền Giang, Lê Thị Phương Lan và Đào Trang Loan

Vào lúc 10h28 các bạn đã vào bên trong ĐSQ Đức, 2 phút trước giờ hẹn chính thức. Ra tận ngoài cổng tiếp phái đoàn đại diện blogger Việt Nam là hai quan chức cao cấp của ĐSQ.

* * *Được biết, Đại sứ quán Đức tỏ ra rất quan tâm đến bản Tuyên bố 258. Cuộc gặp được chuẩn bị chu đáo. Trước giờ gặp, hai quan chức cấp cao của Sứ quán đã ra tận cổng, chờ ở ngoài đường để đón các blogger vào – đề phòng trường hợp họ bị lực lượng công an cản trở.

Điểm đặc biệt của buổi gặp hôm nay là các blogger đến Sứ quán gồm toàn phụ nữ. Đó là các blogger Đặng Bích Phượng (blog Phương Bích), Lê Hiền Giang (Sông Quê), Lê Thị Phương Lan (Lan Lê), Đào Trang Loan (Hư Vô), và Nguyễn Hoàng Vi (An Đổ Nguyễn).

Blogger Phương Bích được biết đến qua nhiều bài viết về các vấn đề chính trị-xã hội và cả đời sống thường nhật, với giọng văn trong sáng, dung dị, chân thật và rất nữ tính. Ngày 21/8/2011, chị là một trong 47 blogger ở Hà Nội bị bắt vì tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Chị bị giam 6 ngày trong Hỏa Lò, và khi được tự do, đã viết loạt bài nổi tiếng“Bước chân vào chốn ngục tù” gây xúc động cho nhiều độc giả mạng.

Hai blogger Lan Lê Sông Quê đều là thành viên tích cực của câu lạc bộ No-U và phong trào biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội.

Sinh năm 1991, blogger Hư Vô còn rất trẻ nhưng đã tham gia tích cực trong các hoạt động xã hội như làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo, và biểu tình chống chính sách gây hấn của Trung Quốc đối với Việt Nam. Đầu năm nay, dịp trước Tết Nguyên đán, Hư Vô đi phân phát quà Tết cho dân oan vô gia cư, và bị công an Hà Đông bắt giam vô cớ trong đồn. Chỉ cho đến khuya, sau khi các blogger kéo đến và phản đối quyết liệt, công an mới thả cô gái trẻ.

An Đổ Nguyễn, sinh năm 1987, cũng là một blogger rất nhiệt tình, năng nổ trong các hoạt động đấu tranh và vận động cho nhân quyền ở Việt Nam. Cô từng tham gia phân phát Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền trong ngày dã ngoại 5/5 vừa qua, sau đó có xô xát với công an và bị sách nhiễu thường xuyên từ đó tới nay.

* * *Tường trình buổi gặp gỡ:

ĐSQ Đức nhiệt tình lắng nghe và chia sẻ với blogger

Cuộc gặp của 5 thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam với Đại sứ quán Đức tại Việt Nam đã diễn ra rất tốt đẹp ngay từ đầu, với việc quan chức cấp cao của Đại Sứ quán đích thân ra tận cổng đón các blogger trước sự chứng kiến của ít nhất 30 nhân viên công an.

Theo dự kiến, cuộc gặp diễn ra vào lúc 10h sáng nay, 28/8. Tuy nhiên, từ sáng sớm, người của sứ quán đã xác nhận có tới 25 công an đứng ngồi rải rác quanh khu vực. 10h, khi taxi chở nhóm blogger dừng lại trước cổng tòa nhà, các nhân viên công quyền này lập tức đổ xô tới, chĩa máy quay phim, máy ảnh vào mọi người.

Hai quan chức (người Đức) của Đại sứ quán cũng đã chờ sẵn để đón các blogger, nhưng khi họ đưa blogger qua cổng thì có hai người mặc sắc phục trong lực lượng an ninh chặn nhóm blogger lại, buộc phía sứ quán phải can thiệp. Cuối cùng, các đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam cũng vào được bên trong, nhờ sự giúp đỡ tận tình của Sứ quán.

Như Mạng Lưới Blogger VN đã đưa tin, cuộc gặp hôm nay có 5 blogger và đều là các gương mặt nữ, đó là:

Đặng Bích Phượng (tức blogger Phương Bích), Lê Hiền Giang (facebooker Sông Quê), Lê Thị Phương Lan (Lan Lê), Nguyễn Hoàng Vi (An Đổ Nguyễn) và Đào Trang Loan (Hư Vô).

Phía Đại sứ quán Đức, có ông Felix Schwarz, Lãnh sự và tham tán chính trị, và ông Jonas Koll, Bí thư thứ nhất phụ trách Văn hóa, Báo chí và Chính trị.

Chúng tôi ở bên các bạn”

Hai tiếng của cuộc trò chuyện đã diễn ra trong không khí ấm áp và đầy chia sẻ, với nhiều chi tiết xúc động. Blogger Nguyễn Hoàng Vi kể lại, trong lúc vội vàng ra khỏi taxi để tìm cách vào trong Đại sứ quán, các blogger đã để quên bản Tuyên bố 258 trên xe. Tuy nhiên, khi biết việc này, “bên sứ quán Đức không hề giận mà họ lại rất cảm thông, vì họ cảm nhận được sự nguy hiểm, khi mà bên ngoài cổng, trên vỉa hè, có rất nhiều an ninh trang bị camera, máy chụp hình. Họ nói họ đã in sẵn Tuyên bố 258 và blogger có thể dùng bản in sẵn đó để trao cho họ”.

Các blogger bắt đầu làm việc với đại diện sứ quán Đức

Hai ông Felix Schwarz và Jonas Koll cũng tỏ ra đặc biệt quan tâm đến tình trạng bị đàn áp của từng cá nhân blogger có mặt, kể cả những nguy hiểm, trục trặc về an ninh trên đường tới Sứ quán dự buổi gặp. Cả hai ông đều cảm thấy “không thể tưởng tượng nổi” khi nghe các blogger trình bày sơ qua về tình hình vi phạm nhân quyền – vốn diễn ra tràn lan ở Việt Nam những năm qua.

Phía các blogger cũng khá ngạc nhiên khi biết rằng, Đại sứ quán Đức không đánh giá cao sự cải thiện nhân quyền ở Việt Nam qua phiên tòa phúc thẩm xét xử Phương Uyên hôm 16/8 vừa qua. Đức nhìn nhận rằng chính phủ Việt Nam chỉ muốn làm đẹp hình ảnh bề nổi với dư luận quốc tế, trong khi ở bề chìm, tình hình đàn áp và bắt bớ vẫn tiếp tục.

Về bản Tuyên bố 258, ra ngày 18/7/2013, của Mạng lưới Blogger Việt Nam, Đại sứ quán Đức cho rằng sự khách quan, đầy đủ và súc tích của Tuyên bố 258 sẽ giúp Mạng lưới thành công trong việc thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế; và Đức sẽ vận động để đưa Tuyên bố này ra phiên họp UPR tháng 1-2 năm tới tại Geneva (phiên họp tổng kết bản đánh giá định kỳ phổ quát – Universal Periodic Review – của Việt Nam với tư cách ứng viên vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc).

Các blogger Việt Nam bày tỏ cảm ơn và trân trọng đối với thiện ý của Đại sứ quán Đức. Tuy nhiên, blogger Hoàng Vi phát biểu rằng: “Việc tự do thông tin, báo chí, ngôn luận ở Việt Nam bị xếp ở mức thấp nhất thế giới thực sự là điều khiến chính người Việt Nam phải trăn trở, suy nghĩ, bởi vì đó phần lớn là do ý thức của chính người dân Việt Nam chúng tôi. Chỉ những nỗ lực của chính người dân Việt Nam mới có thể thay đổi, cải thiện được tình hình. Nhưng chúng tôi mong với vị thế và sức mạnh ngoại giao của các nước, cộng đồng quốc tế sẽ hỗ trợ chúng tôi, trước mắt là giúp để Điều 258 vi phạm tự do ngôn luận phải bị bãi bỏ” – Hoàng Vi khẳng định.

Cả 5 blogger nữ đều cảm nhận được sự cảm thông và chia sẻ rất lớn từ Đại sứ quán Đức. Không ai nói thành lời nhưng dường như mọi cử chỉ, mọi hành động của hai nhà ngoại giao đại diện cho nước Đức đều toát lên một điều: Chúng tôi ở bên các bạn, những blogger đấu tranh cho nhân quyền của người dân Việt Nam.

Buổi gặp kết thúc với việc Đại sứ quán Đức cho biết sẽ cùng Liên minh Châu Âu đặt vấn đề để Chính phủ Việt Nam xóa bỏ Điều 258 Bộ luật Hình sự cũng như những điều luật vi phạm nhân quyền khác…

… Đã quá trưa. Trước cổng, rất đông an ninh Việt Nam vẫn đứng chờ các blogger.

Đại sứ quán đề nghị dùng xe công vụ đưa mọi người về nhà, thậm chí bố trí người của sứ quán đi cùng để đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, các blogger chỉ xin được hỗ trợ xe.  Đôi bên bịn rịn chia tay. Hai ông Felix Schwarz và Jonas Koll tiễn cả nhóm ra tận xe, rồi mới quay trở vào.

Các nhân viên ĐSQ Đức đã tận tình cho xe đưa các bạn từ ĐSQ về tận Nhà hát lớn.

Blogger Hư Vô, Hiền Giang, Felix Schwarz – Lãnh sự và Tham tán chính trị, Jonas Koll – Bí thư thứ nhất phụ trách Văn hoá, Báo chí và Chính trị, Phương Bích, Hoàng Vi, và Phương Lan

Blogger Phương Bích và Hiền Giang trao Tuyên bố 258 cho đại diện ĐSQ Đức – ông Felix Schwarz và Jonas Koll

Ông Felix Schwarz và blogger Hư Vô – Đào Trang Loan

Ông Felix Schwarz và blogger Nguyễn Hoàng Vi

 

Đại sứ quán Đức dùng xe chở các blogger rời khỏi nơi đây và thả các blogger xuống Nhà Hát Lớn.

 

Các nhân viên ĐSQ Đức đã tận tình cho xe đưa các bạn từ ĐSQ về tận Nhà hát lớn

 

Cả nhóm cùng nhau ăn trưa sau khi hoàn thành kế hoạch nhỏ!

Mạng lưới Blogger Việt Nam
tuyenbo258.blogspot.com
tuyenbo258@gmail.com

Tường thuật của chị Phương Bích (Đặng Bích Phượng- Chimkiwi.blogspot.com)

http://chimkiwi.blogspot.com/2013/08/hanh-trinh-cua-tuyen-bo-258.html

nguồn: danluan.org

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Quyền lực và chuyển đổi kinh tế- Phải tư nhân hóa 93 công ty quốc doanh

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2013

BBC

Quyền lực và chuyển đổi kinh tế

Linda Yueh

Phóng viên kinh doanh của BBC

20-8-2013

Các công ty quốc doanh chiếm tới 60% các khoản vay ngân hàng và giữ hơn một nửa các khoản nợ xấu của cả nước. 

Sau chừng ba thập niên, nước này vẫn đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, với quyền lực vẫn nằm trong tay Đảng Cộng sản.

Không phải là Trung Quốc, mà là Việt Nam.

Đất nước từng được coi như “Trung Quốc tiếp theo” do sự chuyển tiếp ổn định, nay bắt đầu tạo ra những quan ngại về cuộc khủng hoảng nợ đang dần hiện ra.

Với Việt Nam, sự thống trị của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là vấn đề, tuy đã gần ba thập niên kể từ sau công cuộc “đổi mới” theo định hướng thị trường.

Việt Nam có cùng vấn đề như Trung Quốc, đó là các doanh nghiệp quốc doanh lại chính là nguồn cơn của các khoản nợ xấu có thể nhấn chìm hệ thống ngân hàng.

Việt Nam đã thành lập các công ty quản lý tài sản nhằm nhận các khoản nợ xấu từ các ngân hàng quốc doanh chuyển sang hồi đầu năm nay.

(VN dùng) Mô hình Trung Quốc (để giải quyết nợ xấu, nợ không đòi được)

Đây là điều tương tự như những gì Trung Quốc làm hồi 1999, khi nước này thành lập 4 công ty như vậy nhằm dọn dẹp sổ sách của 4 ngân hàng quốc doanh lớn trước khi mở cửa ngành ngân hàng nhằm tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001.

Thế nhưng vấn đề nằm ở chỗ nợ xấu không chỉ là khoản ghi sổ, mà là dòng lưu thông.

Nói cách khác thì các khoản nợ lũy kế cứ kéo dài trong các doanh nghiệp quốc doanh chính là vấn đề.

Trung Quốc hồi giữa thập niên 1990 đã có bước đi lớn nhắm cắt bỏ nhiều công ty nhà nước. Một lượng lớn các công ty nhà nước đã bị dẹp, đưa con số từ khoảng 10 triệu xuống còn chưa tới 300.000 công ty vào cuối thập niên này.

Trung Quốc vẫn có mảng quốc doanh lớn, nhưng đã có nỗ lực đáng kể nhằm cắt giảm các khoản nợ xấu bằng cách tăng tính hiệu quả của các công ty được nhà nước hỗ trợ còn lại.

Điều này được thực hiện bằng cách tư hữu hóa từng phần hoặc cổ phần hóa các hãng quốc doanh lớn, kể cả ngân hàng.

Tất nhiên, Trung Quốc đã tạo ra những vấn đề khác cho chính mình khi dùng hệ thống ngân hàng để tài trợ phần lớn cho chính sách thúc đẩy tài chính lớn, qua đó thúc đẩy kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hồi 2008.

Việt Nam đã cam kết cải tổ các doanh nghiệp quốc doanh, nhưng tiến độ nhanh tới mức nào thì lại là chuyện khác. Chẳng hạn, Ngân hàng Thế giới nói rằng bất chấp mục tiêu bán cổ phần của 93 công ty nhà nước hồi năm ngoái, việc bán thực sự chỉ được thực hiện tại 12 công ty.

Tiến trình chậm trễ

Câu hỏi đặt ra tại sao việc cải tổ lại diễn ra chậm đến vậy.

Như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam được coi là một Trung Quốc tiếp theo, do sự chậm chạp tương tự trong việc xử lý nền kinh tế.

Đây cũng là một quốc gia tương đối lớn, không đông như Trung Quốc 1,3 tỷ người, nhưng cũng có gần 90 triệu dân, đứng thứ 13 trên toàn thế giới.

Và cũng giống như Trung Quốc, Việt Nam đã quyết định không đi theo hướng “liệu pháp sốc”. Đó là điều mà Liên bang Xô viết trước đây làm khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung hồi giữa thập niên 1990.

Thay vào đó, các quốc gia ở Á châu đã từ từ giới thiệu sức mạnh thị trường, như cho phép các công ty không thuộc sở hữu nhà nước hoạt động, để các chính phủ cộng sản có thể từ từ cải tổ mảng quốc doanh.

Nhìn vào thời gian suy thoái kéo dài cả thập niên mà Nga và các nước Đông Âu phải trải qua sau thời kỳ chuyển đối gấp gáp, có lẽ người ta không mấy ngạc nhiên khi Trung Quốc và Việt Nam có vẻ như đang áp dụng những điều khôn khéo.

Tuy nhiên, có một trở ngại quan trọng cho công cuộc cải tổ ở cả hai nước này.

Người ta có thể lập luận rằng để tiến hành quá trình chuyển đổi gấp gáp sang nền kinh tế thị trường thì một quốc gia cần phải loại bỏ bàn tay kém hiệu quả của các công ty quốc doanh của nhà nước.

Hệ thống ngân hàng VN đang phải gánh nhiều nợ xấu của các công ty quốc doanh

Quyền lợi được đảm bảo

Nó cũng bao gồm việc ngăn chặn các nhóm lợi ích và các căn cứ quyền lực của những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ việc cải tổ. Họ có thể đón trước được những cải tổ tiếp theo.

Tất nhiên, có những vấn đề trong quá trình chuyển đổi ở Nga và các nước khác, trong đó có cả sự trông chờ không thực tế rằng một nền kinh tế tư nhân sẽ nắm thế chủ đạo một khi nền kinh tế quốc doanh bị gỡ bỏ.

Trung Quốc đã thực hiện điều được gọi là cải tổ “từ dễ đến khó”. Tức là thực hiện các bước cải tổ đơn giản về mặt chính trị trước, chẳng hạn như ưu đãi cho các mặt hàng nông sản trước, và để các vấn đề khó hơn lại, làm sau.

Và những quyền lực mới đã bắt đầu khiến cho các bước cải tổ tiếp theo càng thêm khó khăn.

Với Việt Nam thì việc cải tổ có vẻ như sa lầy do sự bất tài của những người điều hành các công ty nhà nước trong việc tư hữu hóa công ty ít nhất là từng phần, nếu không phải là toàn phần.

Nói cách khác, những người vốn được hưởng lợi từ việc thị trường hóa nền kinh tế nay đang kẹt trong các công ty làm ăn kém hiệu quả của mình, tạo gánh nặng cho hệ thống ngân hàng.

Nợ của chính phủ Việt Nam (nợ công) hiện chiếm khoảng 50% GDP, và đáng nói là có khoảng 37% là nợ nước ngoài.

Rồi khi các khoản nợ của các công ty nhà nước được cộng vào (với nợ công), thì tổng nợ tăng gấp đôi, lên mức 100%. Đó là những con số thống kê làm gióng lên những hồi chuông báo động về nguy cơ khủng hoảng.

Để tránh khủng hoảng, Việt Nam cần phải cắt bỏ gánh nặng từ các công ty nhà nước, đồng thời cần đẩy nhanh việc tư hữu hóa.

Mà để làm được những điều đó, người ta cần đối phó với những nhóm lợi ích thủ cựu.

Với những nước áp dụng cải tổ, bài học cải tổ chỉ thành công khi người ta đụng đến không chỉ vấn đề năng suất mà cả quyền lực. Với Việt Nam, đó có lẽ là một bài học khó nhằn.

Phóng viên Linda Yueh vừa thăm Việt Nam và thực hiện Bấm loạt phóng sự về kinh tế Việt Nam trong tháng Tám

Posted in Kinh Te, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs | Leave a Comment »

►Nguyễn Ngọc Già (đài RFA): Đảng Cộng Sản Việt Nam hoạt động bất hợp pháp- Giấy phép hoạt động của ĐCSVN mang số hiệu gì? Ngày, tháng, năm được cấp? Người có thẩm quyền nào ký? Cấp có thẩm quyền nào ban hành?

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2013

Các đòi hỏi và yêu cầu trong bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Già là hợp lý và chính đáng.

Đầu năm nay, cũng có một bạn trẻ viết trên Facebook đặt câu hỏi: Gấy phép hoạt động của đảng CSVN đâu? Được ai, chính phủ nào cấp phát? Ai nộp đơn xin thành lập đảng CSVN và đảng được phép sinh hoạt từ ngày, tháng, năm nào…

Nay thì blogger Nguyễn Ngọc Già đã viết ra thành bài, và yêu cầu đảng CSVN  hãy xuất trình, hoặc đưa lên website cổng thông tin điện tử của đảng: giấy phép xin thành lập đảng, chính quyền nào đã cấp cho đảng CSVN được phép hoạt động, và thông tư của chính phủ cấp cho đảng CSVN được chính thức hoạt động ở đâu? yêu cầu xuất trình lên báo chí và mạng cho mọi người xem…

Chuyện giấy phép thành lập đảng và xin phép hoạt động làm người ta liên tưởng đến chuyện giấy  khaisinh của TT Obama. Năm 2011, TT Obama đã phải xuất trình trên website (lúc đang vận động tranh cử TT 2012-2016) giấy khai  sinh của ông, để chứng tỏ cho mọi người Mỹ biết rằng ông sinh ra trên đất nước Mỹ, không phải  nướcKenya  như nhiều người Mỹ đã từng cáo buộc (từ 2007-2011) rằng:  ông Obama không hội đủ điều kiện ra ứng cử TT nước Mỹ, điều kiện này quy định rằng chỉ có công dân Mỹ sinh ra trên đất Mỹ mới được ra ứng cử tổng thống. Rất nhiều đảng viên của Đảng Cộng Hòa đã lên tiếng về điều này và một trong những người to tiếng nhất trong việc đòi xem giấy khai sinh của TT Obama là nhà đầu tư bất động sản và từng là chủ của nhiều sòng bài  là DonaldTrump

Ông TT Obama đã xuất trình giấy khaisinh để chứng tỏ là minh bạch và làm cho mọi người thấy sự hợp pháp và chính danh của ông. Hiện nay, khi vào cổng điện tử của Đảng CSVN,  không thấy có giấy phép hoạt động. Như vậy đảng CSVN đã và đang là vi phạm luật pháp, đó là sự thiếu tính chính danh. Bởi vậy nên mới có chuyện các blogger VN lên tiếng thắc mắc về giấy phép hoạt động của đảng CSVN. 

——-

Nguyễn Ngọc Già gửi RFA từ Việt Nam

Theo Đài RFA

 Reblog: danluan.org

Xu hướng hội nhập thế giới trở nên tất yếu không gì cưỡng nổi, Việt Nam không còn con đường nào khác con đường tự do dân chủ. Không những thế, nó là con đường sống còn của dân tộc Việt Nam đặt trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi nhìn lại chỉ còn vài “quốc gia cộng sản” đi ngược trào lưu tiến hóa của xã hội loài người.

Bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Đằng, đã được những trang báo: Quân Đội Nhân Dân, Đại Đoàn Kết, Nhân Dân mang ra mổ xẻ, mà không, phải nói nó bị mang ra để chì chiết, thóa mạ một cách phản động, phản khoa học và phản văn hóa như nhiều tác giả phân tích.

Những bài viết của ba trang báo này lẽ ra nên xoay quanh nội dung khoa học mà tác giả Lê Hiếu Đằng đề cập để phân định trắng đen, ngược lại họ dùng sức khỏe vừa tạm hồi phục của ông như là một phương tiện để biểu lộ tà tâm và bản chất vô nhân đạo, khi cố tình nhắc chữ “giường bịnh”, “người bịnh” nhiều lần. Điều đó thật khó che giấu tâm địa của họ trước dư luận.

Sai lầm, tội ác của ĐCSVN không chỉ đối với những người họ gọi là “đồng chí” mà tội ác của chính đảng này còn lớn hơn nhiều lần, đối với dân tộc Việt Nam. Đó là điều cho đến nay thật khó chối cãi trong thời đại Internet bùng nổ. Xin dẫn ra chứng cớ mới đây, ĐCSVN đã phá nát gia cang của gia đình thường dân vô tội mà Luật sư Hà Huy Sơn cho biết [1]: (trích)

“…Nhận tiện gặp luật sư, cô con gái lớn của bà Liên hỏi thủ tục thuận tình ly hôn ở tòa ra làm sao. Và cô con gái bà Liên kể rằng vì thằng Kha, thằng Uy vướng vào chuyện như vậy nên ảnh hưởng anh rể nó không được vào Đảng, có vào Đảng thì mới được đề bạt. Nếu vợ nó không chịu cách ly với gia đình đằng nhà vợ thì nó ly dị và hai bên thuận tình vì con gái bà không thể cách ly với gia đình bố mẹ và 02 em ruột…” (hết trích).

Những kẻ hứa hẹn với con rể bà Liên nhìn hạnh phúc gia đình – tế bào đầu tiên và quan trọng nhất làm nền tảng cho một xã hội nhân bản – sao thật giản đơn đến lạnh lùng và tàn nhẫn như thế(!). Đó có phải thứ tư duy “búa liềm”, hàng chục năm qua đập nát và xén đứt tất cả nhân tâm người Việt Nam, cũng như để lại những di họa khôn lường cho đến nay chưa xóa nổi?!

Người anh rể của Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy thật khờ khạo và ảo tưởng về những lời hứa hão như thế! Có lẽ ông ta chưa bao giờ tìm hiểu để biết “danh hiệu” “đệ nhất lật lọng” thuộc về “đảng ta” tồn tại hàng chục năm qua. Tệ hơn, khi trót “nhúng chàm”, người đàn ông đã phá tan gia đình mình, vô hình chung cũng tự tay lái “chuyến xe cuộc đời” trượt dài trên con đường vong thân, vong bản. Không có gì bảo đảm tốt đẹp hơn cho phần đời còn lại của người đàn ông này, khi chỉ vì “bả lợi danh”, dù là thật đi chăng nữa, lại đang tâm nghe lời “đảng dạy” bỏ rơi và đoạn tuyệt ân nghĩa vợ chồng – cha con. Đó là nỗi đau của thường dân do ĐCSVN gây ra và nó cũng là nỗi nhục nhã ê chề của những ai còn mơ tưởng đến “thiên đường XHCN”. Một chính đảng như thế có nên “tự tưởng thưởng” danh hiệu “đảng ta là đạo đức là văn minh” (?) “Đảng Cộng Sản Việt Nam bách chiến bách thằng”, “đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”, hay như Lê Duẩn nói [2]: “đảng ta, người lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam” bỗng trở nên thô bỉ hơn bao giờ hết!

Trong bài trả lời phỏng vấn BBC, ông Vũ Minh Giang, người được biết là giáo sư, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho hay [3]:

“…chưa thấy có cơ sở pháp lý nào để cho phép việc thành lập các chính đảng mới ở Việt Nam, bên cạnh Đảng Cộng sản…”

Thường dân chúng tôi muốn đặt câu hỏi:

– Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang hoạt động theo cơ sở pháp lý nào?

– Giấy phép hoạt động của ĐCSVN mang số hiệu gì? Ngày, tháng, năm được cấp? Người có thẩm quyền nào ký? Cấp có thẩm quyền nào ban hành?

– Tất cả các bộ luật, nghị định, thông tư hiện hành có do bất kỳ ai mang danh “đảng viên ĐCSVN” ký phát hành không?

– Người dân sống và làm việc theo Luật hay theo điều lệ đảng?

– Bằng chứng nào cho thấy người dân Việt Nam chọn ĐCSVN lãnh đạo?

Nói cách khác, ĐCSVN hoạt động bất hợp pháp và tiếm quyền dân hàng chục năm qua. Không chỉ Hiến pháp Việt Nam không cấm lập đảng, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, có hiệu lực từ 23/3/1976, sau đó Việt Nam tự nguyện tham gia và cam kết thực hiện công ước vào ngày 24/9/1982 cũng nói rõ về tự do tư tưởng, tư do ngôn luận.

Trong Công ước này điều 1 khoản 3 viết:

*”Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các Lãnh thổ uỷ trị và các Lãnh thổ Quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc”.*

Điều 2 khoản 1 viết:

*”Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác”.*

Do đó, cần xem lại hồ sơ cam kết tự nguyện gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Việt Nam do ai ký, vì Điều 48 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị viết:

*1. Công ước này để ngỏ cho bất kỳ quốc gia quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, hoặc thành viên của bất kỳ tổ chức chuyên môn nào của Liên Hợp Quốc, hoặc cho bất kỳ quốc gia thành viên nào của Quy chế Toà án Công lý quốc tế, cũng như cho bất kỳ quốc gia nào khác được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc mời tham gia Công ước này, ký kết.

2. Công ước này đòi hỏi phải được phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.

3. Công ước này để ngỏ cho tất cả các quốc gia nêu ở khoản 1 điều này gia nhập.

4. Việc gia nhập sẽ có hiệu lực khi văn kiện gia nhập được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.

5. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ thông báo cho tất cả các quốc gia đã ký hoặc gia nhập Công ước này về việc nộp lưu chiểu của từng văn kiện phê chuẩn hay gia nhập.*

Hơn 30 năm qua, chẳng lẽ Việt Nam chưa nộp lưu chiểu cho Liên Hiệp Quốc? Trong khi đó, điều 49 viết:

*1. Công ước này sẽ có hiệu lực ba tháng sau ngày văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập thứ 35 được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.

2. Đối với quốc gia nào phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này sau ngày văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 35 đã được lưu chiểu, thì Công ước này sẽ có hiệu lực sau ba tháng kể từ ngày nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập của quốc gia đó.*

Do đó, không tài nào tin được 31 năm qua Việt Nam quên “nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập”.

Thời điểm ký vào Công ước này, người Việt Nam biết ông Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Quốc hội (4/1981 – 4/1987) và ông Trường Chinh là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (7/1981 – 6/1987). Chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nghĩa là chức vụ Chủ tịch nước hiện nay do ông Trương Tấn Sang đảm nhiệm.

Nêu lại vấn đề lịch sử này nhằm chỉ rõ, Việt Nam tự nguyện cam kết với quốc tế cũng do những người đứng đầu Quốc Hội hay đứng đầu Nhà nước, không một ông (bà) nào, dù là Tổng bí thư, được phép ký vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; thậm chí có ký cũng chẳng quốc gia nào công nhận. Do đó, ĐCSVN cần phải nhận rõ: đảng phái không phải là tuyệt đối, bao trùm toàn xã hội như họ ngộ nhận đến mụ mị và mù quáng.

Năm 2014, Việt Nam phải trình bày về tình trạng nhân quyền trước Liên Hiệp Quốc – điều hệ trọng mang thể diện quốc gia, nó cũng không có chỗ cho ĐCSVN tham gia vào.

Đề nghị các luật sư, luật gia nghiên cứu, thảo luận Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và trình bày trước công luận: trong trường hợp bất kỳ quốc gia nào (ví dụ như Việt Nam) đã tự nguyện ký gia nhập mà không thực hiện, hay không thực hiện đầy đủ, thậm chí vi phạm nghiêm trọng, thì biện pháp gì để buộc quốc gia đó khắc phục hoặc thủ tục tiến hành kiện ra tòa án quốc tế hay Ủy ban Nhân quyền LHQ ra sao.

Suy nghĩ và thao thức của ông Lê Hiếu Đằng về thành lập một chính đảng không nằm ngoài Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tự nguyện tham gia. Nó cũng hoàn toàn phù hợp với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Câu hỏi đọng lại cho đến hết bài viết này: Theo cam kết khi gia nhập WTO, đến 31/12/2018 Việt Nam phải đoạn tuyệt với nền kinh tế phi thị trường (nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN- theo đó, các công ty quốc doanh làm chủ đạo,đầu tàu của nền kinh tế – TH bổ sung cho rõ nghĩa), trong trường hợp không đáp ứng cam kết này thì hậu quả gì xảy ra và người Việt Nam phải làm gì để khắc phục hậu quả (nếu có)?

Rất mong các luật sư, luật gia và những ai am hiểu về luật lệ quốc tế hãy vạch rõ tất cả và đề ra những biện pháp khả thi để cứu quê hương trong cơn nguy khốn. Xin đừng để như tình trạng Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị như một nỗi hổ thẹn của thói trí trá, gian manh mà ĐCSVN đã gây ra để người Việt Nam chúng ta gánh chịu hậu quả về nỗi nhục quốc thể trước toàn thế giới.

Nguyễn Ngọc Già
_________________

http://xuandienhannom.blogspot.nl/2013/08/ha-huy-son-long-truoc-ngay-phien-toa.html[1]

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT13121137141[2]

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2013/08/130817_vuminhgiang_on_new_party.shtml[3]

http://hcrc.hcmulaw.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=11:cong-c-quc-t-v-cac-quyn-dan-s-chinh-tr-1966&catid=6:b-lut-nhan-quyn-quc-t&Itemid=20[4]

Ghi chú:

1/ Hiện nay một số quốc gia đã ký Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nhưng không thông qua:

– Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (05 tháng 10, 1998).

– Comoros (25 tháng 11, 2008)

– Cuba (28 tháng 02, 2008)

– Nauru (12 tháng 11, 2001)

– São Tomé và Príncipe (31 tháng 10, 1995)

2/ Một số quốc gia khác không ký cũng không thông qua như: Malaysia, Myanmar, Ả Rập Saudi, Brunei v.v…

http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_v%E1%BB%81_c%C3%A1c_Quy%E1%BB%81n_D%C3%A2n_s%E1%BB%B1_v%C3%A0_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B

*

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Uống thuốc Bổ mắt hết cận thị! Coi chừng bị gạt mất 8 triệu

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2013

Đừng để bị gạt nghen các bạn. Đừng uống bất cứ loại thuốc bổ mắt nào để chữa tật cận thị, vì “tiền mất, tật mang”.

Ngay cả phương pháp Lasik được xem là an toàn cho việc chữa cận thị (80-92%) cũng có giá là $600 cho cả 2 mắt; (cách đây khoảng 18 năm, giá $2500-3000). Loại thuốc đang quãng cáo ở VN có giá $400 đô, và uống 6 tháng!

————–

Tránh xa những lối quãng cáo khéo léo như dưới đây. Lối quãng cáo này có khả năng làm người đọc giao động tinh thần và muốn thử.

Trên Facebook, có một blogger (không biết là đang làm PR quãng cáo, hay chỉ là người nhẹ dạ) đã  viết như sau:

“mình vốn ghét đa cấp nhưng khi làm hồ sơ sức khỏe cho khách mình phát hiện tụi đa cấp có 1 loại thuốc bổ mắt mà khách uống xong cận 3.5 độ bỏ kiếng luôn khỏi mổ. mình tin khách không nói dối và mình bắt đầu dao động vì đã gặp 3 người rồi. sao ta? có nên mò đến bọn nó mua k0 chứ đeo kiếng hoài mệt quá đi!

Cũng người này viết tiếp:

@all: vừa gọi điện hỏi kỹ khách hàng thì được tư vấn: Phải uống 3 lọ kết hợp là Safe-to-see, Antioc và Pas (thực phẩm chức năng Vision). Khuyến cáo mua 16 lọ uống được 4 tháng, giá nhà phân phối là 8 triệu cho 16 lọ. Uống khoảng 6 tháng mới có tác dụng.

Tuy nhiên khách hàng của mình uống 2 đợt x 3 lọ là đã tháo kiếng. Bé này 21 tuổi, cận 3.5 độ.

Mình chưa thử nên chưa biết, chỉ nêu thông tin vậy thôi. Nếu thật sự chỉ có 8 triệu mà tháo kiếng thì mình cũng sẽ thử xem sao.

Bảng giá ở đây:

http://www.suckhoe.pro/mod/ndetail/nid/95900/title/bang-bao-gia.html

www.suckhoe.pro

THỰC PHẨM CHỨC NĂNG VISION – SẢN PHẨM CHĂM SÓC SỨC KHỎE – SẮC ĐẸP & SỰ TRƯỜNG THỌ – DÒNG SẢN PHẨM HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI ĐỂ CƠ THỂ BẠN KHỎE TRẺ ĐẸP HƠN.

———-

Theo Trần Hoàng, Các bạn có thể đọc trên mạng để tìm hiểu về nguyên nhân của cận thị:

Cận thị là một tật liên quan đến khúc xạ ở mắt. Người bị cận thị có thể nhìn bình thường đối với những mục tiêu ở cự ly gần, nhưng không nhìn rõ đối với những mục tiêu ở cự ly xa nếu mắt không điều tiết.

Nguyên nhân của cận thị là do giác mạc vồng quá, hoặc do trục trước – sau của cầu mắt dài quá, khiến cho hình ảnh không hội tụ đúng võng mạc như mắt bình thường mà lại hội tụ ở phía trước võng mạc.

Cách khắc phục trong những trường hợp này : muốn nhìn rõ vật ở khoảng cách bình thường phải đeo kính cận (kính có mặt lõm – kính phân kỳ) để làm giảm độ hội tụ cho ảnh lùi về đúng võng mạc.

Trong 20 năm gần đây có phương pháp dùng tia Laser Excimer điều chỉnh lại hình dạng của giác mạc để điều trị khúc xạ: Cận, Viễn, Loạn và Lão thị. Sau khi chữa trị một số người có thể không phải đeo kính.

Nhưng cũng có người sau khi được chữa bằng Lasik cũng vẫn phải mang kiến vì phương pháp lasik không có hiệu quả cho tất cả mọi người.

http://www.matquocte.vn/hdchuyenmon/hdcm-lasik.html

———–

Đọc cái này để biết thêm.

http://benhvienmat.com.vn/tin-tuc-va-dich-vu/dich-vu-kham-chua-benh/39-phau-thuat-can-vien-loan-thi.html

—————-

Không phải bác sĩ chuyên khoa mắt nào cũng biết làm phương pháp Lasik. Phải kiếm bác sĩ có kinh nghiệm và từng làm nhiều bệnh nhân.  Nếu bạn muốn làm Lasik, phải kiếm cho được các bệnh nhân đã từng làm lasik, và hỏi bệnh nhân này về kết quả điều trị là ra sao.  Bác sĩ  A có kinh nghiệm làm Lasik được 5 năm chưa?  Có bệnh nhân nào làm xong Lasik đến phòng mạch hay bệnh viện phàn nàn không?

——–

Phương pháp Lasik chỉ có hiệu quả khoảng 80-92% chứ không phải 99% như các bác sĩ và bệnh viện VN quãng cáo.

Kết quả của bệnh nhân là tùy thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ; thời gian mà bác sĩ này học hỏi và được huấn luyện về PP Lasik, số lần mà bác sĩ này làm pp Lasik trong 3 năm qua, và cách đối phó và chữa trị của bác sĩ nếu có biến chứng xảy ra cho bệnh nhân.

Các biến chứng  sau khi làm lasik do 1 bệnh nhân tường thuật.

http://www.lasikcomplications.com/12_things_you_should_know_before_LASIK.pdf

———-

Trường Đại học Y Khoa Rochester ở New York có bài viết tổng quát dành cho bệnh nhân hiểu về pp Lasik.

http://www.urmc.rochester.edu/eye-institute/lasik/faq.cfm

——

Theo FDA, Cơ quan Quản trị về Thuốc của Mỹ: PP lasik tuy an toàn, nhưng ngay cả những bệnh nhân hội đủ các tiêu chuẩn để làm Lasik cũng có thể bị các biến chứng sau khi làm phương pháp phẩu thuật bằng Lasik như sau:

-Khô mắt, nhạy cảm tới ánh sáng (khó chịu khi ra ngoài sáng), mắt mờ, nhìn một thành hai, nhìn vào bóng đèn thấy có hào quang chung quanh bóng đèn,…Xem phim trong website dưới đây bạn sẽ thấy rõ các biến chứng sau khi làm PP Lasik.  Tóm lại không có phẩu thuật nào an toàn 100%. không có bs nào dám nói: nếu phẩu thuật không lành, sẽ trả tiền lại cho bệnh nhân 100%. Vì thế bất cứ phẩu thuật nào, bs cũng yêu cầu bệnh nhân ký giấy thỏa thuận (đồng ý) cho bs mổ.

http://www.fda.gov/MedicalDevices/ProductsandMedicalProcedures/SurgeryandLifeSupport/LASIK/default.htm 

Posted in Y te | Leave a Comment »

►Suy nghĩ của đảng viên khác với người bình thường…

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2013

Sự thật là đảng ta có “nhiều người tốt” việc tốt không?

Chỉ cần đọc 3 thí dụ dưới đây sẽ thấy rõ đảng viên đảng csvn khác với người bình thường.

*Bị bệnh chí tử, nhưng cố giấu không chịu chữa trị, cũng chỉ vì hy vọng được đề bạc vào các chức vụ cao hơn.

(Chuyện bệnh tật của đại tướng Đoàn Khuê, Lê Đức Anh, …)

*Họ đối xử với nhau rất tàn nhẫn.

Theo blog BS Ngọc  có trích một đoạn trong cuốn Bên Thắng Cuộc như sau:

– Tàn nhẫnSự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như sau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

Theo blog BS Ngọc

*Đảng viên đảng CSVN coi đảng còn hơn cha mẹ của họ.

Đối với họ, đảng là trên hết, dù là từ thời 1953 hay 2013,  còn đảng còn mình ( Voa Tiếng Việt). Cấp trên muốn giết chết cha mẹ của họ, thì họ cũng Ô-Kê. Miễn sao đảng cứ cho họ tiếp tục làm đảng viên để cống hiến!

Ông Võ Viết Thanh là trung tướng, cha mẹ của ông bị đảng CSVN giết chết,  và chính các đồng chí của ông xác nhận, nhưng ông vẫn một lòng trung thành với đảng!  Ông không dám tố cáo tội ác của đảng,  không dám viết hồi ký tố cáo các việc làm bất nhân của đảng, mà chỉ âm thầm chịu đựng,…

Ông Phạm Tuyên, nhạc sĩ sáng tác ca khúc nổi tiếng…Cha của ông là cụ Thượng Thư Phạm Quỳnh, bị HCM và đảng giết chết năm 1946, vùi thây bên vệ đường. Hẳn, ông biết cái chết của người cha do cộng sản sát hại. Lẻ thường, con người ta ở trong hoàn cảnh ấy sẽ trở nên đau xót, đứng lên tố cáo tội ác, chất vấn sự thể rồi tới đâu thì tới. Nhưng ông ta vẫn cung cúc tận tụy phụng sự đảng.

Ông Đại tá Đặng Văn Việt, con hùm xám đường 4, có cha bị cộng sản đấu tố cho đến chết trong cải cách ruộng đất 1953, nhưng ông vẫn yên lặng suốt 60 năm qua, và vẫn cung cúc tận tụy phục vụ đảng. Câu chuyện gia đình ông được thuật lại ở đây.Đem tâm tình viết lịch sử: Lại chuyện nhà với chuyện nước non“. ở đây)

Ông Tổng Bí Thư đảng Trường Chinh Đặng Xuân Khu đã đấu tố cha mẹ ông tới chết trong cải cách ruộng đất, và tiếp tục phục vụ đảng cho đến chết. Chưa từng nghe thấy ông ta hay con cháu của ông ta tỏ ý hối tiếc về việc này.

Đảng là tối cao, trên cả cha mẹ và gia đình, tấm bảng Còn Đảng Còn Mình, treo trước cổng Bộ Công An ở Hà Nội 2010 (nguồn) nói lên điều ấy.

————–

Các cán bộ cao cấp một lòng phục vụ Trung Quốc để được cân nhắc lên các chức vụ cao hơn:

Hé lộ những bí mật của đảng –  Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnhLê Hiếu Đằng, 12-8-2013

———

Chuyện mấy cái phong bì

tác giả: Phan Chi

23-8-2013

Vì có tư tưởng đổi mới theo hướng đa nguyên đa đảng, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VI (tháng 3 năm 1990), ông Trần Xuân Bách đã bị phê phán gay gắt và bị kỷ luật, phải ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương và bị khai trừ khỏi Đảng. Tháng 8 năm 1990 ông nghỉ hưu với tư cách là chuyên viên Bộ Ngoại giao.

1. Tôi quen một ông luật sư. Quen qua thơ phú vì ông này làm thơ khá hay. Trước thềm Đại hội 7, ông này đang ở Đoàn Luật sư Đồng Nai, là cán bộ trẻ có triển vọng, được đi dự đại hội tỉnh đảng bộ Đồng Nai. Tại đại hội, ông phát biểu rất hăng hái, thẳng thắn theo tinh thần đổi mới. Để rồi ra khỏi đại hội, ông được mời thẳng về nhà giam và ở đó hai năm với cái tội là tay chân Trần Xuân Bách.

Một lần tôi vào Sài Gòn, được ông (nay đã được phục hồi đảng tịch, làm ở Đoàn Luật sư Tp HCM)) mời đi uống bia. Tôi hỏi:
– Vậy ông có quen biết gì ông Trần Xuân Bách không?
Ông lắc đầu cười:
– Quen biết gì đâu. Đến một trang tài liệu từ ông Trần Xuân Bách tôi cũng chả có. Mình là đảng viên quèn, làm sao quen được ông BCT?
Ừ, thôi, chuyện cũ qua rồi, không nói nữa, uống bia cho ngon miệng!

2. Hôm rồi tôi vô tình gặp bà Thịnh vợ ông Bách ở nghĩa trang Mai Dịch (đã viết cách đây vài hôm)
Bà Thịnh kể:
– Hôi anh Bách nằm bệnh viện, ông LKP vào thăm ông Hoàng Bích Sơn nằm gần phòng anh Bách nhưng không ghé thăm anh Bách. Mặc dù anh Bách có nhiều ân tình với LKP. Tôi phải xin cái phong bì có tiêu đề của VP Trung ương, bỏ vào đó 5 triệu rồi nói với anh Bách là anh LKP vào thăm nhưng anh ngủ nên em không gọi anh dậy. Ông ấy có gửi chút tiền bồi dưỡng.

Và nhiều lần như thế, có ông nào vào nhưng không ghé thăm anh là tôi lại ngụy tạo phong bì cho anh vui.
Trước khi mất anh Bách thanh thản lắm, nói:
– Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt.

Nguồn: https://www.facebook.com/pcthang/posts/10200681846152089

Chú thích của TH:

Các từ viết tắt trong bài chủ và phần ý kiến.

-LKP = Lê Khả Phiêu, TBT đảng CSVN.

Hủi = cộng sản

Tiệc = đảng

TW= trung ương;  thí dụ ủy ban trung ương đảng…

  • Dân Choa Khổ! Gorbachev Việt Nam đến lúc chết mà cũng chưa được biết sự thật.
  • Nguyen Nguyen Không biết bây giờ ở bên kia thế giới ông Bách đã biết chuyện này chưa?
  • Phan Chi Dân Choa, Nguyen Nguyen, Chắc là biết rồi vì bà Thịnh kể cho tôi nghe lúc đứng ngay cạnh mộ ông Bách mà!
  • Nguyễn Xuân Thịnh Cô Thịnh còn chắt chiu những đồng tiền cơ cực để mua cho cụ Bách những tiêu chuẩn nhu yếu phẩm của một UVBCT mà lúc đó cụ đã bị cắt sạch.
  • Phan Chi Nguyễn Xuân Thịnh, Đúng vậy. Bà ấy kể vẫn đều đều mua sữa tươi “tiêu chuẩn BCT” cho chồng uống.
  • Nguyễn Xuân Thịnh Dạ, nhưng mà cô ấy mua giấu để cụ Bách vẫn nghĩ mình được TW chăm sóc đầy đủ.
  • Phan Chi Nguyễn Xuân Thịnh, Tôi chưa kể hết đâu. Ba năm liền ông ấy không nhận được một đồng xu lương nào nữa cơ!
  • Nguyen Nguyen Không có điều kiện tìm tòi, lục lọi, đọc nhiều nhưng cứ điểm qua một số tư liệu lịch sử thì thấy không có tổ chức chính trị nào be bét, toét toe và bẩn thỉu bằng các đảng cộng sản. Từ ĐCS Liên Xô, Trung Quốc, Hunggari, Bungari, CHDC Đức cho đến Triều Tiên, Việt Nam…
  • Nguyễn Xuân Thịnh Cái vụ không nhận được đồng lương nào là vi phạm PL, sau hình như cụ Tô có phàn nàn. Nhìn chung là em “khâm phục” tinh tần của từ ĐC.
  • Gã Đầu Bạc Đọc cái từ tắt LKP nhà em cứ nghĩ là một loại Phân Lân cơ,sau định thần lại mới ra,cơ mà nó cũng giống phân thật he heeê
  • Trung Dao Ngoc Đáng buồn nhất là ai cũng nói dối nhau, đến cả vợ cũng nói dối chồng mà rồi cho đó là mình làm đúng. Sao bà Thịnh cứ phải nói dối để ông Bách chết rồi vẫn tưởng Đảng còn người tốt.See Translation
  • Tit Bin Đọc cái còm của chú Trung Dao Ngọc cháu buồn mất năm phút. thấy chú chả hiểu j về phụ nữ VN cả.
    Thế là bà Thịnh có công làm cho các UVTW tốt lên hả chú Phan Chi?
  • Nguyen Nguyen Bà Thịnh làm vậy chắc cũng để gây tê cho ông Bách bớt nhức nhối, não nề thôi Trung Dao Ngoc ạ. Điều này cũng giống như người ta thường động viên người bị ung thư bằng cách dấu bệnh thôi mà.
  • Phan Chi Trung Dao Ngoc, Theo tôi không nên lên án bà Thịnh. Người vợ muốn cho chồng vui, chồng thanh thản trước khi chết. Người vợ làm việc đó theo cách mà bà ấy cho là tốt nhất. Với người sắp lìa cõi sống, chúng ta vẫn thường hay nói dối. Ví dụ ông cụ bị ung thư giai đoạn cuối nhưng con cháu chỉ bảo là viêm dạ dày, v.v.
  • Hoang Hai Bang Hủi tất cả thôi! Ông Bách mất sớm nên được đồng cảm kha khá, chứ ông sống thêm ít năm nữa cũng chửa biết thế nào. Kính mong ông ở thế giới bên kia thông cảm!
  • Phan Chi Hoang Hai Bang, Chú nói thế thì gay cho tôi với chú rồi! Mai rày con cái chúng ta nó nói các ông bô đều hủi hết thì hóa ra tôi với chú đều là người xấu? Ở đời có người xấu kẻ tốt chứ. Tôi không bênh vực ông TXB, tôi cũng không mê tín gì ông ta. Nhưng việc gì ông ấy làm tốt thì ta phải công nhận.
  • Nguyen Nguyen He he…Cứ theo như lối nghĩ của ku Bằng thì tất cả những ai chết sớm đều chưa đủ điều kiện để đánh giá là người tốt hay xấu!
  • Hoang Hai Bang Những việc khác em không nói. Nhưng trong phạm vi thông tin trong bài này thôi: Các cụ mình xưa – hòa nước sông chén rượu ngọt ngào. Ông TXB cần tí sữa tươi nuôi cái ảo tưởng về tình đồng chí!?!?!? Nếu đã đạt đến tầm vì người khác, sẽ rất an nhiên tự tại, chứ không quá lụy sầu vì lòng người đen bạc đâu… đấy, mấy cái ví dụ tí ti từ những thông tin nho nhỏ trong bài thôi! Bác Phan Chi với bác Nguyen Nguyen.
  • Ba Baloxanh Đang có quyển Đại Gia đấy, các bác nên đọc.
  • Nguyen Nguyen Hình như ku Bằng chưa đọc “Bên thắng cuộc” thì phải? Người xưa từng nói rằng, trong mọi sự kinh hoàng trên đời này thì không có gì khủng khiếp bằng chính sự quay lưng phản bội của đồng đội.
    Ở nước Nga Xô viết thời Staline hoặc nước Trung Hoa thời kỳ Mao Trạch Đông…đã có vô số các đồng chí vô cùng trung kiên trước giặc nhưng rồi cũng phải quỵ ngã không gượng nổi vì sự nham hiểm và đê tiện từ các đồng chí của mình một thời. Vì thế, đặt ra cho TXB một yêu cầu phải “an nhiên tự tại, không quá lụy sầu vì lòng người đen bạc” e rằng hơi có phần nào giống truyện chưởng Kim Dung đấy ku em ạ!
  • Phan Chi Hoang Hai Bang, sao ta lại cứ muốn người khác phải là Thánh, trong khi họ cũng chỉ là người để khi họ không phải là Thánh thì ta gọi họ là hủi? Mà thực ra ông TXB đâu có Cần Tý sữa tươi nuôi ảo tưởng tình đồng Chí. Bà vợ ông ấy thương chồng thì làm cho chồng bớt sốc, như Nguyen Nguyen nói đó là chút thuốc gây tê thôi mà?
  • Hoang Hai Bang Bên thắng cuộc là một tập hợp tư liệu đáng trân trọng của Ô sin Huy Đức. Nhưng trong cuốn này có một số chi tiết / tư liệu thấy không hợp lý, anh Nguyen Nguyen. Cái sự anh nói là khủng khiếp nhất thì thằng em này lại không cho là thế! Từ xửa xưa rồi…
  • Hoang Hai Bang Em không muốn ông ấy phải là thánh đâu bác Phan Chi. Mà cái từ ” hủi ” thì theo thói quen hành văn hơi tùy tiện, em không cho nó vào trong ngoặc kép thôi mà.Hề hề hề…
  • Phan Chi Hoang Hai Bang, thực ra cái bi hài trong mẩu chuyện của tôi là ở chỗ ông TXB cũng như nhiều người khác đã là nạn nhân của cái mà ông ấy cống hiến và theo đuổi. Đó mới là điều đáng quan tâm.
  • Hoang Hai Bang Vờng, cái này thì em nhất trí, bác Phan Chi. Nhất trí 100%. Em còm nhát đầu tiên là do cái câu cuối sùng trong cái sì ta tút của bác đấy thôi, chứ không em chỉ đọc rồi lai một phát!
  • Trung Dao Ngoc Xin lỗi các bạn tôi đã viết ra làm các bạn buồn. Đừng nghĩ tôi không hiểu bà Thịnh, cũng như nhiều người VN luôn “lựa lời mà nói”. Tôi thì luôn cho rằng lời nói thật dù cay đắng cũng đáng giá hơn nhiều những lời ngọt ngào giả dối. Hoặc nói ra, hoặc im lặng, đừng lừa nhau.
  • Zan Hanoi Chả có gì buồn cả, vì không chỉ “người VN” đầu bác Trung Dao Ngoc ạ, mọi người trên đời này đều “lựa lời mà nói” thế cả, mà cái tay nổi tiếng nhất môn này là Dale Carnegie trong “Đắc nhân tâm” – người Mỹ, được nhiều người Mỹ ca ngợi và không ít hơn chửi là “đệ nhất đạo đức giả”. Em thấy cụ bà TXB cư xử hoàn toàn hợp lý hợp tình.
  • Nam Sinh Đoàn Em xin miễn bàn.
  • Dang Long Vợ cụ B hay, lấy tiền túi này bỏ túi kia. Điển hình PNVN
    Vợ cụ Bách chắc lúc nào cũng phải sẵn PB 5 chai trong túi nhỉ.
  • Chinh Pham Em trân trọng sự thật. Sự thật là bài học tốt nhất để rút kinh nghiệm.
  • Bùi Công Sinh Vợ bác Bách thật có tâm
    Tất cả chỉ để chồng cầm mà vui
    Vì tưởng người tốt trên đời
    Vẫn còn nhiều lắm lọt vào “ Trung ương”
    Sự thật nghe thấy mà thương!
  • Nguyen Nguyen Bản chất của người phương Đông mà cụ thể là người Việt thường có nhiều kiểu thương người không giống như văn hóa phương Tây. Họ sẵn sàng che đậy, dấu diếm và ôm trọn mọi sự thật đau đớn, phũ phàng về mình để cho người thân yêu nhất của họ tránh được nỗi tan nát, thất vọng, buồn phiền trước những sự thật thảm thương không lối thoát. Hành động của bà vợ ông TXB cũng là một tính cách bẩm sinh, di truyền của nòi giống người Việt chúng ta. Nếu chỉ trích, lên án hành động và lối ứng xử của bà Thịnh với ông TXB là giả dối, e rằng chúng ta đã đơn thuần nhìn vào bề mặt của hiện tượng chứ chưa nhìn ra bản chất của vấn đề.
    Về vấn đề này, mỗi người đều có một quan niệm riêng, ít ai giống ai nhưng để nói về một ai hoặc một việc gì, theo mình hãy nhìn nó từ góc nhìn mang tính xã hội và các tập tính văn hóa của nó.
  • Cho Trang “Và nhiều lần như thế, có ông nào vào nhưng không ghé thăm anh là tôi lại ngụy tạo phong bì cho anh vui.
    Trước khi mất anh Bách thanh thản lắm, nói:
    – Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt.”Hehe, “người tốt” trong Tiệc là những người dúi phong bì 5 củ/lượt cho chiến hữu ạ. Tiệc viên tiền đâu mà nhiều thế? Văn hóa phong bì đúng là do Tiệc phát minh ra chứ đâu! UV BCT cũng phong bì nhé, và có phong bì thì gọi là goodman nhé!
  • Tôn Nữ Ngọc Hoa Phụ nữ hạnh phúc nhất khi thấy người thân yêu của mình hạnh phúc . Bà Thinh hành xử như thế là hợp lẽ lắm. Vừa thêm niềm vui lại vừa giữ niềm tin vào tình cảm đồng chí cho chồng. NH ngưỡng mộ cái phong bì của bà lắm anh Phan Chi ạ. Cảm ơn anh nhé
  • Pham Doanh Ông Bách đã chống lại tập thể thì sao còn đồng chí ở cái tập thể ấy, và cần chi sự thăm viếng của họ ? Những cái phong bì ấy biết có làm ông vui không ?
  • Yen Bui De Nhung nam 90 ma bo phong bi tham nguoi om da ” nga ngua” cha con gi nhung 5 trieu? Nhung nguoi bo phong bi 5 tr moi la nguoi tot? Co ve nhu cac quan ( va phu nhan cac quan) cang to cang quan lieu anh nhi?
  • Phan Chi Yen Bui De, Nhà giột từ đâu hả em?
  • Tit Bin Chuyện vợ làm cho chồng vui lúc tuổi già bệnh tật là chuyện hết sức bình thường. Nghe các bác cứ đưa đồng chí đồng chiêc, trung ương trung iêc, tư tưởng tư tiêc vào đây chán hết cả mớ đời! Đồng chí mí trung ương thì là cái đêch gì ở đây. Ở đây người ta chỉ bàn đến cái tình người, tình người lúc về già, lúc sắp xuống lỗ, các bác ợ.
  • Phan Chi Tit Bin, Lúc nào rảnh chú thì thầm với cháu một điều nhé? Chỉ chú cháu mình biết thôi.
  • Tit Bin Ô con ki chú Phan Chi! Cả bố cháu cũng ko cho biết hả chú? Thế thì bố cháu lại nói: “Đảng mềnh còn nhiều người tốt thật”! Tội nghiệp ông già…
  • Yen Bui De Papa e sap 45 tuoi dang, ve huu, van con giu chuc quan nho teo (cap chu ky cho may tram dang vien 76 khu pho ay) van co chut qua cap nhi nhang. Ca nha e deu dang vien, om dau gi do deu co phong bi. Chi co e nhan vien quen, it bong loc nen luon phai chanh long vi cu cung luon noi: nguoi ta quy minh nguoi ta moi cho. Hoa ra e kg duoc quy huhu!
  • Lê Khánh Mai Buồn cho tình đồng chí trong buổi sa cơ

Đảng ta hơn ở chỗ vẫn còn nhiều người tốt?

Gocomay

nguồn: gocomay.wordpress.com

24-3-2013

Dạo này nhận Job (việc) mới, bận tối ngày. Nên cũng có phần sao nhãng việc đàn sáo (gõ phím). Nhưng hôm nay, tình cờ vào Quê choa đọc được Chuyện mấy cái phong bì của Phan Chi khiến mình lại tủm tỉm cười và có hứng loạn bàn chút cho đỡ “nhạt miệng” (chữ của NQL). Chứ cái thá vô công dồi nghề như mình, hơi đâu mà mua dây buộc cho nhọc lòng…

1.- Thời còn ở làng, hàng năm cứ đến lễ Hội chùa Thày (7/3 âm lịch) là mình hay cơm nắm muối vừng theo các anh chị đi trẩy hội. Nhớ dạo đó tinh đi bộ chứ làm gì đã có đủ xe đạp mỗi người một chiếc mà đi. Từ nhà đến núi Thày, đi tắt qua bãi Giá cũng phải tới mươi cây số. Nhưng cứ nghĩ tới cảnh được trèo lên các tảng đá tai mèo chênh vênh mà ngắm xuống khung cảnh chùa chiền, làng mạc và cánh đồng bên dưới là lòng mọi người lại háo hức một cách lạ kỳ. Không biết nhà thơ nổi tiếng xứ ĐoàiQuang Dũng (quê Đan Phượng) thời ở làng có giống tâm trạng của tôi không? Nhưng khi đọc tới cái câu “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng” trong tuyệt phẩm nổi tiếng Đôi mắt người Sơn Tây thì tôi tin cái đẹp hoang sơ của tuổi ấu thơ ở một vùng đầy ca dao ổ tích như xứ Đoài, người nào kinh qua chả cảm nhận được.

Cho đến một năm, khi tôi đã đi thoát ly được vài năm rồi. Hôm rủ bạn bè từ thành phố đạp xe ngót ba chục cây số về thăm lại núi Thày ngay sau hội chùa hàng năm. Chúng tôi lại leo ra các mỏm đá chơi vơi thi nhau chụp ảnh kỷ niệm. Đói lại trải báo lên các mỏm đá tai mèo, nơi có các tán cây hoa đại (cây bông xứ) để dùng bữa trưa một cách ngon lành. Vừa ăn vừa ngắm lúa vàng đang sắp vào vụ thu hoạch bên dưới. Khi vừa ăn xong, lúc thu dọn chiến trường thì phát hiện ra bên dưới các tảng đá thơ mộng đó là vô số các bãi phân khô (chắc do các du khách đi trẩy hội gửi lại) ở trong các khe đá được phủ những túm lá khô tai tái ngụy trang bên trên nên chả ai phát hiện được. Vậy mà bữa ăn vẫn ngon lành như thường. Thế mới biết cái câu “khuất mắt trông coi” là thế!

2.- Vào mùa xuân năm 1976, tôi cùng Lê Định và Vi Kiến Hoà (Hoà là thân phụ của nhà thơ Vi Thùy Linh) lên làm phim tốt nghiệp ở Trường Thanh Niên Lao Động XHCN Hoà Bình. Được ông Lượng – Bí thư đảng ủy và anh Xum hiệu phó đón tiếp rất thịnh tình và đưa đi quay ở tất cả các cơ sở vừa học vừa làm của nhà trường. Lên phân hiệu 2 rộng mênh mông bát ngát ở Đà Bắc thấy hàng loạt gốc dâu và gốc canh-ki-na cổ thụ bị đánh bỏ để chổng ngược trên các bờ ruộng ven đường. Hỏi ra thì được biết đó là hậu qủa của các chỉ thị (tùy hứng) của các vị lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước mỗi khi lên thăm nông trường cứ phán bừa là phải trồng cây gì và nuôi con gì khiến thầy trò cả trường bị nhiều phen khốn đốn. Nay không thu được chút lợi ích kinh tế nào đành phá bỏ toàn bộ để quay lại trồng sắn và xu hào cứu đói cho học sinh.

Năm 1979 khi tôi xin chuyển về làm việc tại Hãng phim TL&KH TW, kể lại chuyện đó cho anh em nghe, anh Thiệu (lúc đó làm quản đốc) cho biết chuyện đó các anh ấy cũng chẳng lạ gì. Anh kể, hồi ông Tố Hữu còn đương kim trưởng Ban tuyên huấn TW, một hôm xuống thăm Thái Bình, lúc qua phà Tân Đệ, anh lái xe tranh thủ lúc chờ phà chạy đi mua chuối về đãi thủ trưởng. Thời đó ở khắp Miền Bắc chuối tây người ta cắt ra bán theo túm, mỗi túm từ 2 đến 3 qủa. Ông Tố Hữu vừa ăn vừa hỏi anh lái xe kiêm cần vụ là mỗi túm như thế giá bao nhiêu? Anh lái xe nhanh trí nói 3 hào (thực tế là 5 hào) cho thủ trưởng đỡ xót. Vậy mà ông Lành đã nổi cơn tam bành nói: “chết.. chết thật, một túm chuối nhỏ xíu mà giá tới 3 hào, đắt bằng một bữa ăn tập đoàn…”. Ngay sau chuyến đi đó về ông cho gọi tất tật các cơ quan báo đài lên họp (trong đó có xưởng phim TL&KH) và chỉ thị phải ngay lập tức tuyên truyền rầm rộ cho các địa phương phải đẩy mạnh nuôi trồng 3 con và 3 cây. Trong đó chuối là một trong những cây được đặc biệt quan tâm…

3.- Một bộ phim hay khá hiếm hoi của điện ảnh xứ mình – phim Bao giờ cho đến tháng mười, tôi thấy ấn tượng đặc biệt với hình ảnh ông bố chồng cô Duyên (do Lại Phú Cương đóng). Có một chi tiết Đặng Nhật Minh xử lý khá đắt mà tôi để ý chưa thấy các nhà phê bình phim nào đề cập tới. Đó là chi tiết ông già tay run rẩy sờ vào khẩu súng lục đeo bên hông của cái anh bộ đội mà Duyên nhờ đóng giả chồng mình (đã chết) từ Cam-pu-chia trở về vào cái phút lâm chung của ông già đau khổ. Và ông ta đã được mãn nguyện trước khi nhắm mắt xuôi tay để về với tổ tiên. Khi mắt đã mờ nhòa mà bàn tay run rẩy vẫn cố gắng quở quạng chạm được vào cái bao da đựng khẩu súng ngắn anh bộ đội cùng đơn vị (mà cô Duyên nhờ) để cố lừa ông lần cuối (như đã từng lừa ông bằng những bức thư giả mạo nhờ thầy giáo làng viết giúp bấy nay) để mong ông được thanh thản phiêu diêu nơi tiên giới trước khi từ giã cõi trần. Thật kỳ lạ cái đứa con trai giả mạo vừa từ chiến trường khốc liệt trở về với súng lục đeo hông (biểu tượng sự thăng tiến trong quân ngũ) đã khiến ông trào nước mắt sung sướng. Vết thương chiến tranh, vết thương sâu nặng trong tâm con người đau khổ ấy coi như đã được vá lành trong cái phút tử biệt sinh ly! Dù đấy chỉ là một trò lừa của những người thân cùng bất đắc dĩ phải làm

4.- Chuyện mấy cái phong bì của Phan Chi có đề cập tới việc ông Bách (Trần Xuân Bách) đã bị mấy cái phong bì (nói dối) mà trước khi chết vẫn tấm tắc khen: “Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt”.

Những ai đã đọc cuốn Bên thắng Cuộc (Chường 13 – Phần 2 – Quyền bính) thì sẽ càng rõ hơn tại sao lúc ông Bách không còn bổng lộc như thời “lên voi”, bà vợ trẻ của ông cựu Bí thư Trung Ương Đảng đã phải đi làm thêm vào ban đêm để phụ cho bữa cơm hàng ngày của gia đình đỡ bị bôi bác. Những điều dấu diếm (nói dối) nhỏ đó chắc cũng đã phần nào củng cố cái niềm tin (hão) cho một ông “vua thập thể” khi bị thất sủng vẫn tin rằng chế độ do ông tạo dựng vẫn không đến nỗi qúa cạn tàu ráo máng qúa đối với người đã ngã ngựa như ông. Ông đã nhắm được mắt để về cõi vĩnh hằng.

Ông Lê Hiếu Đằng trong lần tham gia biểu tình với các bạn trẻ (mùa hè 2011)

5.- Mấy hôm nay trên các diễn đàn báo chí quốc doanh như các báo QĐND; Nhân Dân; Đại Đoàn Kết và Công An Nhân Dân đã công kích dữ dội lên bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh… của ông Lê Hiếu Đằng mà không hề dẫn lại nguồn. Khiến tôi phải tìm đọc lại trên mạng một lần cho biết. (Xem ở đây). Thực ra những vấn đề ông Đằng nêu ra chả có gì mới mẻ cả. Đó thuần túy chỉ là sự công khai quan điểm cá nhân để gọi là “tính sổ” với ĐCS VN và với bản thân… một cách minh bạch, sòng phẳng như cách nói của ông Đằng. Nó như tiếng lòng của một người đã đi theo đảng ngót nửa thế kỷ. Nay quỹ thời gian cũng chả còn được là bao, lại đau yếu bệnh tật. Ông muốn mình và mọi người có suy nghĩ giống ông dứt khoát quan điểm một lần nhằm sửa lại những gì mà ông và đảng của ông đã gieo tai ương (dù vô tình hay cố ý) lên quê hương xứ sở và đồng bào mình.

Những lời từ đáy lòng ông như lời một người gần đất xa trời. Như tiếng khẩn thiết của một con chim kêu lên những tiếng bi thương và chân thật trước khi vĩnh biệt sự sống. Vậy mà…

Nếu so với Trần Xuân Bách hay Trần Độ, ông Lê Hiếu Đằng không phải là đối thủ nặng ký của giới chóp bu trong chính quyền CS đương thời. Trong thâm tâm, tôi đảm bảo giới lãnh đạo CS cũng chả thù oán cá nhân gì với một ông già chỉ ở tầm lãnh đạo bậc trung có tư tưởng cấp tiến đã về hưu, từng theo đảng tới già nửa đời người nay không còn tha thiết gì với tổ chức đảng (thời buổi chợ chiều) nữa.

Nhưng cái sợ của giới chóp bu là nếu để ngọn cờ tầm tầm bậc trung ấy mà tập hợp được một lực lượng đông đảo các đảng viên ly khai trở thành một lực lượng đối lập nặng ký nhằm cạnh tranh ảnh hưởng về mặt chính trị với ĐCS đang trị vì thì đó sẽ là một tai hoạ nhãn tìền. Vì thế những tên “lính gác” tư tưởng của đảng ở báo QĐND; Nhân Dân; Đại Đoàn Kết và CAND với phương châm “còn đảng còn mình” đã được lệnh tấn công và bôi nhọ bằng mọi giá vào con người và tư tưởng của Lê Hiếu Đằng. Nhằm tiêu diệt cái mầm đối lập (mà đảng không bao giờ chấp nhận) để tránh mọi hậu hoạ về sau.

Như vậy chẳng nói ai cũng rõ, nếu cứ khuất mắt trông coi như vụ dùng xong bữa (mà vẫn thấy ngon) ở đỉnh núi chùa Thầy. Chuyện các gốc cây cổ thụ ở trường Thanh niên LĐXHCN Hòa Bình hay túm chuối đắt hơn cả bữa cơm tập đoàn ở Tân Đệ. Chuyện công kích lại việc ”tính sổ” của ông Lê Hiếu Đằng… đã chứng tỏ những “đỉnh cao trí tuệ” của hệ thống quan liêu này luôn độc quyền chân lý và không bao giờ chấp nhận thực tiễn sinh động của cuộc sống đang diễn ra một cách khách quan khoa học hàng ngày.

Bởi bất kỳ thể chế toàn trị nào mà chả muốn bưng bít mọi thông tin và bắt muôn dân phải tin theo một thứ định hướng chủ quan mà không có một phản biện xã hội nào được phép tồn tại và thách thức lại ý chí sắt đá của tầng lớp cai trị độc quyền. Trong bối cảnh u ám ấy chuyện mấy cái phong bì và bữa những bữa ăn ít biến động trong mâm cơm hàng ngày trong câu chuyện ông Trần Xuân Bách bị thất sủng mà vẫn giàu trí tưởng thật về thể chế và tình người trong cái tổ chức sắt máu (qua câu ngộ nhận: Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt) đã tự nó nói lên tất cả bản chất của sự việc rồi.

Trong câu chuyện phút lâm chung của ông bố chồng cô Duyên (Bao giờ cho đến tháng mười) lại đem đến cho ta một cảm nhận khác về mối quan hệ giữa thật và giả. Đôi khi sự dối lừa ngọt ngào còn giúp con người ta chữa lành các nỗi đau. Sự tuyệt vọng để giúp nhau cùng tồn tại trong cuộc sống vốn đầy tai ương bất hạnh. Như vậy ai dám bảo bất cứ cái dối gian nào cũng đều đáng trách? Khi những điều bất đắc dĩ ấy nó không chỉ là yếu tố tâm lý, chính trị mà còn tiềm ẩn cả yếu tố văn hóa tâm linh của dân tộc mình ở trong đó nữa.

Mặc dù vậy, đứng về mặt chính danh, một hệ thống mà chuyên dùng bạo lực và lừa mị để biện minh cho sự tồn tại của mình. Hệ thống ấy trước sau cũng sụp đổ. Có điều nó sẽ theo kịch bản nào?

Là con dân luôn nặng lòng với quê hương, ai chả muốn sự chuyển đổi ngọt ngào. Để chả bao giờ phải bị giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò….

Gocomay

_______________________

►Lê Hiếu Đằng : Những điều nói rõ thêm…và Suy Nghĩ trong những ngày nằm Bịnh (bản có sửa chữa)

Sự quẫn cùng về phương pháp định hướng dư luận của ba tờ báo lớn: Nhân dân, Quân đội Nhân Dân và Đại Đoàn Kết

AI VỤNG VỀ HƠN AI?

* * *

Nhiều sai lầm, lệch lạc trong bài viết trên giường bệnh của ông Lê Hiếu Đằng (09:09:00 24/08/2013)

Sự thật không như những điều anh Lê Hiếu Đằng suy nghĩ (24/08/2013)

“Màn tung hứng” vụng về (QĐND – Thứ Sáu, 23/08/2013, 0:45 (GMT+7)

Khi người bệnh sám hối (23/08/2013)

——————–

http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2013/08/11/dem-tam-tinh-viet-lich-su-lai-chuyen-nha-voi-chuyen-nuoc-non-bang-phong-dang-van-au/

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN | 1 Comment »

►Bất công quá nông dân sẽ tức nước vỡ bờ

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2013

Tác giả: Hoàng-Kim (Đồng Tháp)

28-5-2013

Lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam thu nhập một tháng 79.749.000 đồng  (nguồn), hộ nông dân 4 người có 3,3 ha thu nhập mỗi người chỉ có 550.000 đồng một tháng. Tức là lãnh đạo Tổng công ty lương thực miền Nam thu nhập gấp 145 lần một nông dân.

Với thu nhập 550.000 đồng/ tháng, nông dân làm không đủ ăn, nên dù có cố gắng nhịn ăn nhịn mặc cả đời cũng không thể để dành được số tiền bằng lương một tháng của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam.

Đây không phải là nghịch lý, đây là cả một sự khốn nạn!

Nếu sự bất công khốn nạn này không thay đổi, sẽ có ngày nông dân buộc phải tức nước vỡ bờ để đòi lại quyền lợi cho mình.

Thu nhập của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực Miền Nam gần 1 tỷ đồng một năm

Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước gởi đến Quốc hội cho biết vào năm 2011:

“ Tại Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1), thu nhập bình quân của lãnh đạo năm 2011 là 56,5 triệu đồng/người/tháng…

“Khủng” hơn là thu nhập bình quân của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) với 79,749 triệu đồng/người/tháng. Khối văn phòng Tổng công ty là 32,9 triệu đồng/người tháng” [1].

Thu nhập bình quân của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam 79.749.000 đồng/ tháng, vậy một năm mỗi lãnh đạo thu nhập 956.988.000 đồng.

Tiền lương gần 1 tỷ một năm đã biến lãnh đạo của Tổng công ty Lương thực miền Nam thành bọn tư bản hút máu của nông dân.

Một hộ nông dân 4 người có 3,3 ha chỉ thu nhập 6.750.000 đồng một năm

Tổ chức Oxfam tại Việt Nam phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard) điều tra, nghiên cứu đưa ra số liệu:

Kết quả điều tra tại thời điểm năm 2011 cho thấy, với diện tích bình quân 3,3ha/hộ, thu nhập hàng năm của người trồng lúa chỉ đạt 27 triệu đồng, tương đương với 550.000 đồng/người/tháng, thấp hơn thu nhập từ làm các cây trồng khác” [2].

Với thu nhập không đủ sống này nông dân đang bị bần cùng hóa phải bán dần đất để ăn.

Bán gạo xuất khẩu giá thấp nhất thế giới, nhưng lương lại cao ngút trời

Chúng ta hãy xem tài năng bán gạo xuất khẩu của lãnh đạo VFA và lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam liệu có xứng đáng nhận mức lương khủng hay không.

– Hiệp hội lương thực Việt Nam luôn bán gạo với giá rẻ nhất thế giới:

Đây là giá gạo thế giới ngày 22/5/2013 do Gafin.vn cung cấp, trong đó Việt Nam luôn bán gạo với giá thấp nhất so với Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan [3].

clip_image001– Còn những năm trước VFA bán gạo thế nào?

Báo Tuổi Trẻ Online cho biết: “Trong vòng 5 năm 2001-2005 “giá của chúng ta chỉ bằng gần 80% giá bình quân thế giới (220USD/tấn). Đó là giá bán “bèo” nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới (xét theo khối lượng) theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan”.

Năm 2006, trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo VnExpress, ông Trương Thanh Phong, Tổng giám đốc công ty Lương thực miền Nam, kiêm Chủ tịch VFA, cho biết: “Chỉ trong một thời gian ngắn từ mức giá hơn 260 USD/tấn, loại gạo 5 % tấm liên tục rớt giá và hiện được doanh nghiệp ký bán với giá chỉ 242 – 245 USD/tấn. Trong khi giá thành loại gạo này lên đến 248 USD/tấn”.

Năm 2008, ngừng xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực, giá gạo xuất khẩu giảm, theo các chuyên gia nông dân thiệt khoảng nửa tỷ đô la Mỹ.

Năm 2009, báo Lao Động Online cho biết: “Nghịch lý ở chỗ “làm chủ” thị trường gạo, nhưng hiện giá gạo của ta vẫn thấp nhất thế giới…”.

Từ năm 2010 đến nay Việt nam vẫn giữ vững thành tích bán gạo rẻ nhất thế giới so với 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, đặc biệt trong năm 2013 này, gạo Việt Nam bán rẻ hơn gạo của Ấn độ cùng loại từ 70-80 đô la Mỹ/ tấn trong khi gạo Việt Nam có chất lượng cao hơn gạo Ấn Độ.

Nay, gió đã đổi chiều, khi mà từ đầu năm tới nay, có lúc giá gạo bình quân của Việt Nam rẻ hơn gạo Ấn (ở đây chỉ nói tới gạo trắng như Việt Nam, vốn chiếm chủ lực trong xuất khẩu của Ấn chứ không phải gạo Basmati) 50 đô la, thậm chí rẻ hơn tới 75 – 80 đô la/tấn.

Hồi đầu tháng 5, trong một cuộc họp của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), những con số mà tổ chức này đưa ra khiến những người gắn bó với cây lúa, hạt gạo nản lòng. Từ cuối tháng 3 đến nay, giá chào gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam cũng rất ít lần vượt quá 390 đô la Mỹ/tấn. Giá chào gạo 5% tấm của Viêt Nam ngày 7-5 từ 375 đến 385 đô la Mỹ/tấn, thấp hơn gạo 5% tấm của Ấn Độ 75 đô la Mỹ” (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn [3]).

Bán gạo xuất khẩu với giá thấp nhất thế giới, bán kiểu ngu đần này thì ai bán mà không được, không bắt tội gây hại cho quyền lợi của nông dân là may rồi, tài năng gì mà nhận lương cao chót vót?

Ép giá lúa của nông dân tận đáy nên VFA và Tổng công ty Lương thực miền Nam lời khủng

Năm nào cũng bán gạo xuất khẩu với giá thấp nhất thế giới, nhưng do được Chính phủ cho phép độc quyền mua lúa của nông dân, nên VFA và Tổng Công ty Lương thực miền Nam luôn dùng mọi thủ đoạn để hạ giá lúa của nông dân đến đáy mới mua.

Năm 2008 Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo xuất khẩu giá quy ra giá lúa 6.432 đồng/kg, mua lúa nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.432 đồng/kg, nông dân bán lúa hòa vốn.

Năm 2009, bán gạo xuất khẩu quy lúa giá 6.362 đồng/kg, mua lúa của nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.362 đồng/ kg, nông dân hòa vốn.

Năm 2010, Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua lúa tạm trữ cả hai vụ đông xuân và hè thu với giá vẫn 4.000 đồng/kg, nhưng bán gạo với giá qui lúa 5.365 đồng/kg, cả năm này, nông dân lời không đủ sống.

Năm 2011 và 2012 vẫn áp dụng thủ đoạn hạ giá lúa đến đáy để mua tạm trữ nên lợi nhuận của doanh nghiệp trong VFA rất cao.

Năm 2013 này Tổng công ty Lương thực miền Nam và VFA ép giá lúa của nông dân từ 5.400 đồng/kg khi bắt đầu thu hoạch xuống còn có 4.500 đồng/kg để bắt đầu mua tạm trữ.

Với thủ đoạn ép giá lúa nông dân đến tận đáy, VFA và Tổng công ty lương thực Miền Nam chính là bọn cường hào mới đang bóc lột nông dân đến tận xương tủy.

Nông dân đang bị bần cùng vì lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam và VFA đem gạo của nông dân bán như bèo ra thị trường thế giới, thế mà lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam lại có mức lương cao gấp 145 lần nông dân.

Coi chừng! Bất công quá nông dân sẽ tức nước vỡ bờ đấy.

H.K.

Tài liệu tham khảo:

(1) doanhnhansaigon.vn. Bài “ Lương lãnh đạo cao, hiệu quả kinh doanh thấp” http://www.doanhnhansaigon.vn/online/tin-tuc/chinh-tri-xa-hoi/2013/05/1073862/chuyen-thu-nhap-cua-sep-doanh-nghiep-nha-nuoc/

(2) Dân Việt Online. Bài “ Oxfam: Trồng lúa ngày càng lãi ít” http://danviet.vn/132442p1c25/oxfam-trong-lua-ngay-cang-it-lai.htm

(3) Bài “Tổng hợp tin thị trường gạo thế giới ngày 22/5” http://gafin.vn/20130522090121291p39c48/tong-hop-tin-thi-truong-gao-the-gioi-ngay-22-5.htm

(4) Bài “Bán gạo giá rẻ, tại người hay tại ta?” http://www.thesaigontimes.vn/home/diendan/goctoasoan/96201/

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN   boxitvn.blogspot.dk

Tin liên quan:

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►Những nông dân đang bị Đảng cướp bóc

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2013

Đức Thành

http://www.boxitvn.net/bai/18752

Thứ Bảy 24-8-2013

Những ngày này truyền thông “lề dân” đang sôi nổi, phấn khởi khi luật gia Lê Hiếu Đằng đề nghị nên thành lập đảng “Xã hội dân chủ” của để cùng cạnh tranh với đảng Cộng sản Việt Nam  ngõ hầu tiến tới làm cho dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh trên đất nước ta. Cái thấm thía là đây lại là lời đề nghị của người đã từng sống chết theo đảng. Một số luật sư cũng đã tìm khía cạnh pháp lý về việc thành lập một chính đảng ngay sau khi  bài viết trăn trở suy nghĩ của luật gia  về thành lập một đảng mới, ngõ hầu giúp đông đảo nhân dân hiểu  và giúp đỡ để ý nguyện của luật gia thành hiện thực. Ngược lại giới truyền thông lề Đảng lại ra sức la ó phản đối  và đưa ra những lý luận “cùn” nhằm bảo vệ sự độc quyền lãnh đạo của một đảng đã thối nát.

Trên bình diện cả nước ắt có lẽ sẽ có những vụ việc nổi cộm hơn, gây bức xúc hơn, nhưng  là một nông dân và đứng dưới giác quan của một nông dân tôi xin công bố một sự thật về việc Đảng đã ăn chặn của nông dân quê tôi như thế nào, giúp cho những cái nhìn lệch lạc và đầy hằn học giai cấp tỉnh táo nghĩ suy mà sớm qua cơn ngủ mê quay trở về với dân tộc với nhân dân.

Lần giở quá khứ

Sau  khi Đảng khởi xướng sự nghiệp đổi mới được 10 năm,  đời sống của nông dân vẫn bị các đảng viên có chức có quyền ăn chặn mồ hôi nước mắt, tài sản công sức của người dân.

Vụ việc đỉnh điểm là nhân dân thôn Chi Đông – Xã Quang Minh (huyện Mê Linh- Vĩnh Phúc) nay thuộc thành phố Hà Nội,  đã phát hiện tổ chức đảng, chính quyền  xã đã dùng HTX  lập phương án giả để ăn chặn thóc lúa là sản lượng và thuế lên đến 754 (bảy trăm năm tư) tấn thóc.

Nông dân đã khiếu kiện đông người vượt cấp trong những năm 1996 – 1997,  nhưng có sự bao che của các cấp đảng và chính quyền từ cấp huyện đến Trung ương; cụ thể người bao che ở trung ương là ông Nông Đức Mạnh lúc đó là UV BCT kiêm chủ tịch Quốc hội. Khi được bầu làm tổng bí thư, vụ án này đã bị ông Manh cho chìm xuồng khiến những người dân tố cáo này bị các cán bộ đảng viên dùng quyền chức cướp đoạt tài sản và bị đuổi việc oan khuất người dân từ đó đến nay nhưng các cấp Đảng vẫn làm ngơ để những người oan khuất này sống trong tủi nhục từ đó đến nay. Số cán bộ đã đục khoét tham nhũng này  thay vì bị đi tù lại được đảng tiếp tục được cất nhắc ở các vị trí lãnh đạo cao hơn. Để kiểm chứng, hãy liên lạc với ông Nguyễn Văn Ngọc số điện thoại 0982935819.

Tổ chức Đảng đã cướp từ bộ gỗ hậu sự cho đến đất đai tài sản cũng như công ăn việc làm của người dân. Thực vậy để trả thù nông dân tố cáo tham ô thóc lúa và tổ chức cướp gỗ hậu sự, cả một hệ thống đảng và chính quyền từ cơ sở trở lên đến cấp tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc họp hành vu khống người dân còn nợ đọng thuế và sản phẩm để hợp thức cho sự cướp bóc này bằng việc biến sự cướp bóc thành sự cưỡng chế!? Và khi chính phủ làm rõ người dân không nợ thuế thì tài sản bị cướp bóc đó không được Hệ thống Đảng và chính quyền trả lại cho người dân. (Kiểm chứng thông tin này làm ơn hãy liên lạc với ông Lưu Quốc Láng để làm rõ theo số điện thoại 01652320351 để biết tường tận vụ việc).

Và Đảng tiếp diễn sự cướp bóc hiện nay

Trong những ngày kỷ niệm cách mạng tháng 8 này, được biết có sự chỉ đạo ngầm từ một số quan chức của Đảng cấp trên một số địa phương tại huyện Mê Linh đã đốt hết chứng từ sổ sách nhằm phi tang sự cướp bóc có hệ thống nếu có đoàn kiểm tra.

Khi chúng tôi về thăm thì được người dân thông tin rằng Thị trấn Chi Đông (đã được đảng chính quyền Vĩnh Phúc quyết định thành lập từ làng lên thị trấn chỉ trước khi địa phương này chuyển về Hà Nội ít ngày nhằm hợp thức hóa cho việc chạy chức cho các quan tham) đã cung cấp các chứng từ phiếu thu chứng minh cho việc cướp bóc thóc lúa của nông dân có hệ thống hay nói nhẹ đi thì cũng là bắt nông dân phải nuôi cán bộ là đảng viên  khi HTX không còn tồn tại.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết địa phương Chi Đông và một số địa phương khác trong huyện Mê Linh đã chuyển địa giới hành chính từ Vĩnh Phúc về Hà Nội từ tháng 8 năm 2008 đến nay đã hơn năm năm, các con dấu đều đã được cấp lại theo địa giới hành chính mới, HTX DV NN Chi Đông và một vài HTX khác trong huyện đã không còn hiệu lực pháp luật nhưng tổ chức đảng và chính quyền này vẫn cho phép bộ khung cán bộ HTX này tồn tại đã hơn năm năm nay để bắt dân phải đóng góp nuôi khống số cán bộ này. Những kẻ này đều là anh em người nhà của cán bộ đương chức của huyện và thị trấn.

Nhân dân cũng cho biết thêm  từ cái kiểu “HTX đã chết nhưng không được đảng cho chôn” nên những đợt hỗ trợ úng lụt cho nông dân từ thành phố rót về hầu hết người nông dân đều không được nhận mà rơi vào túi các cán bộ đảng, chính quyền mà cụ thể là việc hỗ trợ úng lụt tháng 11/2008 cách đây mấy năm là một ví dụ.

Hiện nay theo tinh thần của Luật HTX thì những HTX tại nông thôn chỉ tồn tại một loại hình HTXDV NN có chức năng làm dịch vụ theo hợp đồng ký kết với nông dân qua đó thỏa thuận các loại hình dịch vụ và mức phí đóng góp  cho dịch vụ đã ký đó. Nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi hầu hết các HTX này tại Mê Linh không có bất cứ bản hợp đồng nào với dân mà đều bổ đầu dân phải đóng góp mỗi sào từ 4 kg thóc trở lên trên một vụ bất kể BQTHTX có làm gì hay không. Sự việc này tồn tại và tái diễn cho đến tận ngày hôm nay.

Chưa hết, tại Chi Đông – cái HTX do ông Nguyễn Văn Lai (là anh ruột của chủ tịch thị trấn Nguyễn Xuân Trường vừa được chuyển lên làm cán bộ huyện theo sự cất nhắc của Đảng) – đương chức chủ nhiệm HTX đã nhiều khóa và không dám đại hội xã viên từ nhiều năm nay, cứ năm hai vụ lại dùng con dấu đã hết hiệu lực của tỉnh Vĩnh Phúc cấp từ 1995 để thu sản phẩm mà thực chất là bắt dân cống nạp thóc lúa để nuôi những đảng viên và tổ chức đảng ươn hèn của mình.

Nông dân tiếp tục bị Đảng cộng sản lừa

Khu công nghiệp Quang Minh nằm trên hai thị trấn Quang Minh và Chi Đông đã lấy hơn 800 ha diện tích đất nông nghiệp của nông dân nơi đây.

Từ 2004 HĐND tỉnh Vĩnh Phúc đã ra nghị quyết cấp đất dịch vụ  cho dân làm kế sinh nhai. Văn bản đó đã có hiệu lực hơn 9 năm nay, đã có nhiều nông dân chờ đợi mỏi mòn loại đất này đến lúc chết vậy mà cho đến nay chưa có bất cứ người dân nào được nhìn thấy, được cấp một tấc nào về loại đất này, trong khi các doanh ngiệp, khu đô thị, nhà máy bỏ hoang ngày một nhiều. Đảng vẫn đang một mình một cỗ “lãnh đạo”  vậy mà miếng thịt “đất dịch vụ” dân vãn chưa được chia?!

Thực tế này thử hỏi rằng tổ chức đảng và đảng viên của đảng có còn xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động của dân tộc Việt Nam hay đã hiện nguyên hình là tổ chức cướp bóc tài sản công sức của nông dân và tổ chức bòn rút của cải của xã hội, thực sự có còn được nhân dân tin yêu?!

Cũng từ thực tế này, hỡi những ai còn đang tâm nhắm mắt ca ngợi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản hãy mở mắt ra mà nhìn nhận sự thật đã thối nát đảng của mình

Và cũng từ thực tế này ai còn cổ súy cho đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo kẻ đó đã phản bội tổ quốc.

Việc thành lập một chính đảng mới theo ý nguyện của luật gia Lê Hiếu Đằng  làm đối trọng với đảng cộng sản rất cần được xem xét nghiêm túc, khách quan và khoa học trong giai đoạn hiện nay.

Đây là một vấn đề mở cần được trao đổi phản biện thẳng thắn với tinh thần xây dựng và dân chủ nhất. và cũng rất cần nhiều diễn đàn quan tâm.

Với tư cách là nông dân tôi xin viết lên một sự thật về đảng đã đối xử với nông dân như vậy để mọi người có cái nhìn đúng đắn về những việc đảng đã gây ra cho nông dân một lực lượng chiếm tới 76% dân số cả nước.

Đ.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://www.boxitvn.net/bai/18752

—-

Posted in Bị đảng và nhà nướcCướp Đất Đai r, Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►Những tấm hình lịch sử 1921-1967

Posted by hoangtran204 trên 24/08/2013

Blogger Le Minh Khai lục lọi trong US National Archives qua ngã Online Public Access, và anh ta tìm thấy 2 tấm hình sau:

http://www.archives.gov/

8 years

Here we have Vyacheslav Molotov, Zhou Enlai and Phạm Văn Đồng.

At the top in red it says that “The Việt Minh have declared that they are in a war of resistance to unify and gain independence for Việt Nam.” (Hàng chữ đỏ trên hình: Việt Minh rêu rao rằng họ kháng chiến là để dành độc lập và thống nhất cho nước Niệt Nam)

go south

(Nhấp chuột http://leminhkhai.files.wordpress.com/2013/08/go-south.jpg

để phóng lớn. Hình vẽ rất sắc nét tuyệt vời khi phóng lớn để xem.)

Then it says at the bottom, “This is the result of the 8-year ‘war of resistance’!”   (Hàng chữ dưới cùng viết, “Đây là kết quả của 8 năm kháng chiến!”

This one says at the top “Go to the SOUTH to avoid COMMUNISM,” and then at the bottom it has “The NAM VIỆT compatriots are waiting to welcome their Bắc Việt compatriots with open arms.”

Nguồn: http://leminhkhai.wordpress.com/

1921 Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Đông Dương thuộc Pháp trong thời gian dự Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Marseille. (Năm 31 tuổi) – Photographie de presse – Agence Meurisse. Date d’édition : 1921

THẾ GIỚI QUA ẢNH

25 năm sau, ở tuổi 57 tuổi. 

Cuốn HCM Sinh Bình Khảo của tác giả Hồ Tuấn Hùng người Đài Loan nói rằng HCM thật sự đã chết vào năm 1932 vì bệnh lao ở Liên Xô, và những du học sinh sinh viên VN ở đấy đã làm lễ truy điệu vào thời điểm ấy.

Bản tiếng Việt HCM Sinh Bình Khảo ở đây:

http://to-quoc01.blogspot.com/2013/01/ho-tuan-hung-1.html

HCM in Moscow

Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: một hay hai người? Trần Bình Nam điểm sách HCM Sinh Bình Khảo

http://www.danchimviet.info/archives/73478/mot-nghi-an-lich-su-nguyen-ai-quoc-va-ho-chi-minh-mot-hay-hai-nguoi/2013/02/comment-page-4

*Sophia Quinn Judge có viết cuốn The Missing Years,

Bản tiếng Việt ở đây http://phusaonline.free.fr/ChinhLuan/HCM_missing_years.pdf nói về Những Năm Chưa Được Biết Đến của HCM từ 1919-1941.

——-

Căn cứ theo các bài viết về ông HP Ngọc Tường, tấm hình này chắc chắn phải được chụp trước năm 1968, có lẻ là năm 1966 hay 1967. Vì vậy, tựa đề dưới đây là sai lầm.

Tấm hình này nói lên rất nhiều điều về sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận của chính phủ VNCH, về sự tôn trọng nhân quyền và tôn trọng  luật pháp của cảnh sát quốc gia. Họ đối xử rất có tình và có lý với hầu hết mọi người chứ không chỉ có riêng với ông HPNT. Ngay cả ông Lê Hiếu Đằng cũng viết rõ trong bài  viết cách đây 2 tuần: Ông tham gia MTGPMN, biểu tình, bị bắt, gần tới ngày thi tú tài, Ba của ông làm đơn xin, ông được cảnh sát quốc gia Huế tha, ông về nhà học ôn, và đi thi đậu, rồi vào đại học. Bạn của ông cũng bị bắt cùng một lượt với ông, cũng được cảnh sát tha cho về, người này đi thi, đậu, và vào học y khoa…

Bức ảnh quý về khí phách sinh viên Huế 1975

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong một lần soạn lại sách vở tư liệu gia đình, đã phát hiện ra trong thùng đựng ảnh cũ của gia đình bức ảnh thầy giáo siêu hình học Trường Quốc Học Huế Hoàng Phủ Ngọc Tường đang diễn thuyết trong một cuộc đấu tranh, với câu khẩu hiệu rất “ác chiến” sau lưng “CHÚNG TÔI THÁCH ĐỐ MỌI SỰ ĐÀN ÁP CỦA THIỆU – KỲ”.Thấy bức ảnh giá trị, Mỹ Dạ bèn ra phố scan lại rồi phóng to treo đầu giường anh Tường nằm. Trong ảnh có rất nhiều sinh viên và “cán bộ phong trào” đứng cạnh anh Tường. Trong ảnh còn có một người mặc xê-vin trắng, thắt cà vạt đứng phía tay trái anh Tường, mắt nhìn xuống. Tôi hỏi anh Tường: “Người này là ai ?”Tường bảo: “Đó là một vị đại diện bên Ty cảnh sát cử sang để “theo dõi” cuộc mít –tinh”. Mới hay, chính quyền Thừa Thiên Huế những ngày đó cũng rất ngại lực lượng sinh viên xuống đường, nên họ đã không ra tay đàn áp cuộc “xuống đường”, mà chỉ “theo dõi” !Theo nhà thơ Trần Hữu Lục, thời kỳ đó có nhiều “tổ chức” sinh viên Huế độc lập với nhau xuống đường đấu tranh lắm. Ngô Kha cùng Trần Quang Long lập ra nhóm đấu tranh, gọi là “Nhóm thanh niên chống xa hoa phóng đãng” và “Quán bạn”, tham gia xuất bản tờ tin “lực lượng” kêu gọi tuổi trẻ đấu tranh, đòi hòa bình dân chủ.Họ luôn bám trụ ở Trụ sở Tổng hội Sinh viên (22 Trương Định, Huế) để phát động đấu tranh. Họ xuất bản tập san “Tự quyết”, thành lập Mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung do Ngô Kha làm chủ tịch, tổ chức triễn lãm tội ác của Mỹ tại Huế.Có một nhóm sinh viên yêu nước khác gọi là NHÓM VIỆT, hoạt động công khai Những năm 1967, 1968, đang là sinh viên đại học, Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên, Lê Văn Ngăn, Trịnh Công Sơn… đã ra tờ báo Thân Hữu ( ĐHSP Huế, 1967), Sinh viên Huế (1968) do Trần Hữu Lục làm chủ biên.Nhóm Việt sau Mậu Thân 1968 vẫn hoạt động công khai bằng cách phối hợp làm trang văn nghệ cho tạp chí Đối Diện , luôn chủ trương tìm về nguồn cội dân tộc, chống lại khuynh hướng lai căng, vong bản. Đến năm 1975, Nhóm Việt mới giải tán.

Hoàng Phủ Ngọc Tường hăng hái làm chủ bút, phóng viên, biên tập viên của nhiều tờ báo như Dân (Tiếng nói đấu tranh của Trí thức Huế), Tiếng nói sinh viên, Việt Nam, Cứu lấy quê hương (Liên minh Huế).

Tất cả các nhóm sinh viên xuống đường đều do cách mạng chỉ đạo. Họ đấu tranh bằng thơ và bằng cả những đêm không ngủ: Tôi muốn hát cho cây cỏ nghe/ Lời giun dế khóc trong đêm lửa cháy…(Thái Ngọc San); Bị bắt vô tù, họ vẫn sục sôi: Thừa Phủ ơi! Lòng ta hồng biển lửa ( Võ Quê)… Bị địch đàn áp, bắt bớ, bị lộ, nhiều trí thức sinh viên Huế đã “lên xanh” và trở thành những cây bút xuất sắc của cách mạng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao…

Nhìn tấm ảnh Hoàng Phủ Ngọc Tường đứng dõng dạc kêu gọi đấu tranh đòi hoà bình, chống Thiệu – Kỳ ngay giữa đường phố Huế ban ngày ta hình dung được phần nào sự “quyết tử”, sự “dấn thân” của một thế hệ trí thức sinh viên Huế xuống đường đấu tranh vì hoà bình và độc lập của dân tộc.

re-blog:  danluan.org

*Bà Lâm Thị Mỹ Dạ là vợ của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường

*Môn triết học dạy cho học sinh trung học miền nam gồm có 3 môn là  siêu hình học, luận lý học, và đạo đức học.

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 3 Comments »

►Hà Nội thả Phương Uyên, bắt Nguyễn văn Dũng làm con tin cho một vụ trao đổi khác – Mỗi người dân là một người tù dự khuyết

Posted by hoangtran204 trên 23/08/2013

VN không có tự do ngôn luận, không có báo chí tư nhân, chỉ có độc đảng cai trị nên lạm quyền, công an muốn bắt ai thì bắt, Thật là đúng với câu nói: mỗi người dân là mưởngột người tù dự khuyết. Người dân không có quyền công dân. Công an muốn bắt ai, giam giữ bao lâu, đánh đập người dân tùy thích. Đảng và nhà nước ra lệnh cho công an thực hiện các hàng động bắt bớ người dân nào dám có tư tưởng khác với họ.

Trên Facebook, các blogger đang thông báo tin khẩn như sau:

Ngày 20-8-2013

THÔNG BÁO KHẨN: DŨNG ADUKU MẤT TÍCH

Sau 9 tiếng đồng hồ từ khi anh Nguyễn Văn Dũng (Aduku Adk) nhắn tin báo ra ngoài là bị CA bắt tại số nhà 201, A7, khu tập thể Khương Thượng, Đống Đa,HN thì chúng tôi vẫn hoàn toàn không biết tình trạng anh ấy ra sao. Điện thoại gọi không bắt máy.

Chúng tôi đã lên tìm đến địa chỉ này thì tổ dân phố nói không biết. Hàng xóm nhất quyết không mở cửa hành lang để chúng tôi vào xem.

Khi chúng tôi đến Công An Phường Trung Tự để trình báo mất tích, họ trả lời là không có bằng chứng mất tích và chỉ có gia đình mới có quyền trình báo mất tích.
Mọi người share thông tin để bảo vệ Nguyễn Văn Dũng trước hành vi này của CA.

https://www.facebook.com/motanhnang?hc_location=timeline

Công an đã bắt Nguyễn Văn Dũng 2 ngày rồi, bạn bè vẫn chưa liên lạc được.

Nguyên nhân: Chỉ vì mặc đi biểu tình chống Trung Quốc, mà bị công an Hà Nội ghìm 2 năm, nay mới bị bắt.

Photo: Hãy thả ngay người thanh niên yêu nước ...

—————-

Nguyễn Anh Tuần

https://www.facebook.com/motanhnang?fref=ts

Ngày 19-8-2013

Thưa các bạn, sống dưới một nhà nước tự xưng ‘của dân, do dân và vì dân’, người bạn trẻ Vũ Ngọc Thắng của tôi đã phải viết vội vài dòng để lại cho bạn bè trước khi vào đồn công an.

Có gì kì lạ không? Xin thưa là ‘Không’.Đã từng có nhiều công dân bị đánh đập dã man trong đồn, có người bỏ mạng, song cuối cùng mọi chuyện đều chìm xuống khi CA đưa ra tờ giấy “tự nguyện ở lại đồn’ hoặc trả lời báo chí hoặc người thân nạn nhân một cách tỉnh queo là họ ‘tự ngã chấn thương sọ não’ hoặc ‘tự cắm tay vào ổ điện’. — with Doan Trang and 22 others.

Photo: Thưa các bạn, sống dưới một nhà nước tự xưng 'của dân, do dân và vì dân', người bạn trẻ Vũ Ngọc Thắng của tôi đã phải viết vội vài dòng để lại cho bạn bè trước khi vào đồn công an. </p><br /><br /><br /><br />
<p>Có gì kì lạ không? Xin thưa là 'Không'.Đã từng có nhiều công dân bị đánh đập dã man trong đồn, có người bỏ mạng, song cuối cùng mọi chuyện đều chìm xuống khi CA đưa ra tờ giấy "tự nguyện ở lại đồn' hoặc trả lời báo chí hoặc người thân nạn nhân một cách tỉnh queo là họ 'tự ngã chấn thương sọ não' hoặc 'tự cắm tay vào ổ điện'.

Bạn Vũ Ngọc Thắng sáng nay đường hoàng đến Công an phường Trương Định để lấy lại laptop và điện thoại bị cưỡng đoạt trái phép bởi cán bộ an ninh mấy ngày trước. 

Ai ngờ, đáp lại sự đường hoàng đó, CA phường Trương Định lại tiếp tục giữ bạn ấy trong đồn và đánh đập. Hiện không ai biết tình trạng của Thắng ra sao. Mong mọi người tiếp cứu, chỉ sợ lại có thêm 1 vụ ‘tự đưa tay vào ổ điện’ hoặc ‘viết thư xin tự nguyện ở lại đồn’.

Bạn Vũ Ngọc Thắng hiện tại vẫn đang ở CAP Trương Định, Q. Hai Bà Trưng. Chỉ có một số anh em có mặt bên ngoài. Chúng tôi đã mất liên lạc sau tin nhắn cuối cùng của Thắng gửi ra : “Bọn chúng đánh người” lúc 1h chiều.

Chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với bạn ấy trong đồn CA. 
Rất mong muốn đề nghị anh em có mặt ứng cứu để yêu cầu họ giải quyết. 

P/s: sáng nay bạn ấy lên lấy đồ đac theo giấy mời của CAP Trương Định. Tuy nhiên sáng nay lên thì họ không giải quyết mà còn đánh đập bạn ấy. 

Chúng ta phải có mặt để thể hiện thái độ với hành vi vi phạm pháp luật này! — with Nguyễn Lân Thắng and 8 others.

Chi tiết vụ việc: http://danluan.org/tin-tuc/20130815/nhom-9x-bi-bat-giu-vo-co-khi-hoc-tieng-anh-dang-khieu-nai

(Vũ Ngọc Thắng đã về nhà 20-8-2013

——————

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

►LS Trần Vũ Hải gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội ĐỀ NGHỊ CHO Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ THÀNH LẬP VÀ THAM GIA MỘT ĐẢNG NGOÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Posted by hoangtran204 trên 23/08/2013

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—–*****—– 

 

ĐỀ NGHỊ CHO Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ 

THÀNH LẬP VÀ THAM GIA MỘT ĐẢNG NGOÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 

Kính gửi: Ủy ban thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)

Tôi là Trần Vũ Hải, hành nghề luật sư tại 81 phố Chùa Láng, quận Đống Đa, Hà Nội và 66 Huỳnh Khương Ninh, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh, xin gửi lời chào trân trọng đến Quý Vị và xin được trình bày như sau:

Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý.

Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành và đã dự thảo Bản ý kiến gửi Quý Vị để tham khảo và cho ý kiến về vấn đề này.

Theo chúng tôi, vấn đề thành lập và tham gia một đảng ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam đang được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, đã có nhiều người đề xuất, các cơ quan chức năng và các nhà luật học hàng đầu của Việt Nam cần có những quan điểm rõ ràng căn cứ vào pháp luật Việt Nam để khẳng định luật pháp Việt Nam có cấm công dân Việt Nam tham gia và thành lập đảng khác ĐCSVN, nếu không cấm việc thành lập sẽ diễn ra như thế nào để phù hợp pháp luật Việt Nam.

Chúng tôi tin tưởng rằng, Quý Vị sẽ có ý kiến chính thức về vấn đề quan trọng này và những ý kiến này cần được công bố trên các phương tiện truyền thông.

Trân trọng.
Công dân Trần Vũ Hải

——————–

 

BẢN Ý KIẾN 

VỀ THÀNH LẬP VÀ THAM GIA ĐẢNG PHÁI DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH (Dự thảo) 

Hà Nội, ngày 22/8/2013

Từ sau 1975 đến 1988, tại Việt Nam có 03 chính đảng hoạt động hợp pháp là Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đó là Đảng Lao động Việt Nam và tên gọi tại miền Nam là Đảng Nhân dân Cách mạng), Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã Hội Việt Nam hoạt động. Đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tự giải tán. Từ đó đến nay, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chưa có đảng nào được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài ĐCSVN.

Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý. Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, trong đó có những văn bản sau:

1. Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi 2001);

2. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005;

3. Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và các luật sửa đổi, bổ sung bộ luật này;

4. Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1984);

5. Luật về quyền lập hội 1957;

6. Một số luật khác như: Luật Mặt trận Tổ quốc; Luật Công đoàn 2012; Luật Thanh niên; Pháp lệnh về Cựu chiến binh….;

7. Nghị định 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2010/NĐ-CP; các thông tư hướng dẫn các Nghị định này.

Trên cơ sở nghiên cứu những văn bản này, chúng tôi có những ý kiến như sau:

1. Không có điều khoản nào trong Hiến pháp và các luật của Việt Nam cấm công dân Việt Nam thành lập và tham gia một chính đảng khác ngoài ĐCSVN.

2. Tuy nhiên, Điều 79 Bộ luật Hình sự có quy định trừng phạt người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Như vậy, việc thành lập hoặc tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này. Nói cách khác, hoạt động thành lập và tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền sẽ không được coi là bất hợp pháp.

3. Về nguyên tắc đảng là một loại hội chính trị. Thành lập và tham gia một chính đảng là thực hiện quyền về lập hội, hội họp. Điều 69 Hiến pháp ghi nhận: Công dân có quyền… hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Điều 22 Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định: Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình.

4. Pháp luật nhiều nước phân biệt giữa đảng phái chính trị và hội. Bộ luật Dân sự Việt Nam (Điều 100) quy định có các loại pháp nhân như: (i) tổ chức chính trị; tổ chức chính trị – xã hội; (ii) tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; (iii) tổ chức khác.Không có quy định rõ trong Bộ luật Dân sự hội thuộc loại pháp nhân nào trong 03 loại pháp nhân trên.

5. Chúng tôi cho rằng một đảng phái hoặc một liên minh chính trị là tổ chức chính trị theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, không có điều khoản nào của Hiến pháp, các Luật, Điều lệ ĐCSVN khẳng định ĐCSVN là một tổ chức chính trị. Điều 9 Hiến pháp quy định Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu… Luật Mặt trận Tổ quốc cũng có quy định tương tự, nhưng không khẳng định Mặt trận tổ quốc là tổ chức chính trị (theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự). Các tổ chức chính trị – xã hội ở Việt Nam gồm: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và các công đoàn (theo Luật Công đoàn), Đoàn Thanh niên cộng sản Việt Nam (theo Luật Thanh niên), Hội Cựu chiến binh Việt Nam (theo Pháp lệnh Cựu chiến binh),Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (theo Điều lệ của hội này), Hội Nông dân Việt Nam (theo Điều lệ của hội này).

6. Có vẻ như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội không được coi là hội theo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Luật về Quyền lập hội 1957 hiện đang còn hiệu lực (mặc dù một số điều khoản trong Luật này thực tế đã không còn hiệu lực do không phù hợp với một số luật khác ban hành sau đó hoặc không phù hợp với thực tế hiện nay, nhưng Nghị định 45/2010/NĐ-CP vẫn căn cứ vào Luật này, tức Chính phủ vẫn coi Luật này còn hiệu lực). Điều 9 Luật về quyền lập hội quy định:Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này. Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) quy định không áp dụng đối với các tổ chức chính trị – xã hội (nêu ở mục 5 trên), các tổ chức giáo hội. Không thấy Nghị định này quy định rõ loại trừ ĐCSVN và tổ chức chính trị ra khỏi đối tượng áp dụng. Nhưng Điều 2 định nghĩa hội như sau: Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Hiểu theo quy định này, đảng phái (tổ chức chính trị) không được coi là Hội. Như vậy, có thể cho rằng Luật về quyền lập hội, Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) không áp dụng cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

7. Trong khi Công đoàn, Mặt trận có luật riêng, chưa thấy có luật nào về đảng, kể cả luật về ĐCSVN. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, đảng là một tổ chức chính trị, một loại pháp nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự. Do đó, những quy định về pháp nhân, tổ chức chính trị trong Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng nếu xem xét về thành lập, tham gia một đảng chính trị.

8. Pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật Dân sự được quy định như sau:

Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Được thành lập hợp pháp;

2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Thế nào là thành lập hợp pháp không được định nghĩa rõ trong Bộ luật Dân sự, tuy nhiên Điều 85 Bộ luật Dân sự quy định như sau: Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy có 02 loại pháp nhân được thành lập: (i) theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) không có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức.

9. Tổ chức chính trị theo Bộ luật Dân sự thuộc đối tượng nào trong 02 loại pháp nhân được thành lập nêu trên? (Đảng có phải xin phép thành lập từ Nhà nước hay không?)

Điều 88 khoản 1 Bộ luật Dân sự quy định: Trong trường hợp pháp luật quy định pháp nhân phải có điều lệ thì điều lệ của pháp nhân phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua; điều lệ của pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận trong trường hợp pháp luật có quy định.

Như phân tích ở trên, không có luật nào quy định về thành lập, tham gia tổ chức chính trị ngoài Bộ luật Dân sự. Do đó, đảng (tổ chức chính trị) có cần điều lệ hay không và điều lệ này phải được một cơ quan Nhà nước công nhận hay không sẽ căn cứ chính những điều khoản trong Bộ luật Dân sự.

Trong khi loại pháp nhân (ii) nêu trong mục 4 trên được quy định tại Điều 104 Bộ luật Dân sự (pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp), theo đó pháp nhân loại này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ, thì điều 102 Bộ luật Dân sự quy định về loại pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội chỉ quy định phải có điều lệ, nhưng không quy định cơ quan nhà nước công nhận điều lệ và cho phép thành lập đối với loại pháp nhân này. Như vậy, tổ chức chính trị (và tổ chức chính trị – xã hội) phải có điều lệ nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận điều lệ, cho phép thành lập. Thực tế, ĐCSVN đã hoạt động như vậy, điều lệ của Đảng này sửa đổi nhiều lần nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận việc sửa đổi vì không có điều khoản của văn bản pháp luật nào (kể cả Bộ luật Dân sự) quy định phải có thủ tục công nhận từ Nhà nước. Nói cách khác pháp luật Việt Nam (cụ thể là Bộ luật Dân sự) quy định: đảng phái (tổ chức chính trị) là loại pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của tổ chức cá nhân (không thuộc loại thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước), không phải xin phép thành lập, điều lệ không cần Nhà nước công nhận nhưng phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua.

10. Tóm lại, theo chúng tôi đảng phái (tổ chức chính trị) được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, và cần lưu ý những điểm chính sau:

a. Có sáng kiến của những cá nhân (công dân Việt Nam) đề nghị thành lập đảng.

b. Mục tiêu của đảng dự kiến thành lập không được nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

c. Các sáng lập viên (những người sáng kiến) thông qua điều lệ đảng hoặc đại hội thành lập thông qua điều lệ đảng. Đảng phải có cơ quan điều hành (Ban chấp hành), người đại diện (người đứng đầu) và trụ sở (các điều 88,89, 90, 91 Bộ luật Dân sự).

d. Việc thành lập đảng và điều lệ đảng không cần sự cho phép, công nhận từ Nhà nước.

11. Tuy nhiên những ý kiến trên là những ý kiến cá nhân của chúng tôi, dựa trên nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành. Theo Điều 91 Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Do đó, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu bản ý kiến này của chúng tôi. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng ý với bản ý kiến này và có cách giải thích khác về Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và những luật liên quan khác về vấn đề này, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố sớm ý kiến của mình.

Văn bản này cũng được gửi đến một số cơ quan liên quan và một số giáo sư, nhà khoa học luật hàng đầu Việt Nam (có danh sách kèm theo dưới đây) để tham khảo, xin ý kiến.

Chúng tôi hi vọng rằng sẽ nhận được ý kiến của các cơ quan hữu quan, các nhà luật học. Sau 30 ngày kể từ ngày công bố bản ý kiến (dự thảo) này, những ý kiến (nếu có) của các cơ quan hữu quan và các nhà luật học sẽ được chúng tôi công bố và tham khảo để đưa ra văn bản ý kiến cuối cùng của chúng tôi về vấn đề này.

Trân trọng.

Ký tên

 

 

Trần Vũ Hải

(Hành nghề luật sư tại 81 chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội)

Dự thảo Bản ý kiến này được gửi đến:

1. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)

3. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chung Lưu

4. Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao (Ông Trương Hòa Bình)

5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (Ông Nguyễn Hòa Bình)

6. Bộ Công an (Ông Trần Đại Quang)

7. Bộ Tư pháp (Ông Hà Hùng Cường)

8. Bộ Nội vụ (Ông Nguyễn Thái Bình)

9. Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (Ông Phan Trung Lý)

10. Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (Ông Nguyễn Văn Hiện)

11. Ông Nguyễn Như Phát – Viện trưởng ViệnNhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

12. Ông Nguyễn Đăng Dung – Giáo sư Luật Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

13. Ông Đào Trí Úc – Giáo sư Luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.

14. Bà Mai Hồng Quỳ – Giáo sư Luật – Hiệu trưởng trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

15. Ông Lê Hồng Hạnh – Giáo sư Luật, Hội luật gia Việt Nam

_____________________

[*] Mời xem thêm: – Đảng Xã hội Việt Nam; – Đảng Dân chủ Việt Nam.

 

Nguồn: basam.info

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Đảng mới phải xuất hiện cái đã. Nhưng thời cơ đến chưa?

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Đỗ Thúy Hường

Nguồn: boxitvn.net

21-8-2013

Một đảng mới nếu xuất hiện công khai sẽ bị đảng Cộng sản dìm chết sớm nhất.

Đảng CS còn muốn dìm chết cả ý đồ lập đảng mới.

Không thể mơ hồ, ngây thơ chuyện này.

Từ xưa tới nay là thế.

Đảng của cụ Hoàng Minh Chính (bị dìm chết) là như vậy. Nguyên nhân là ra đời quá sớm, tình thế chưa cho phép. Thời cơ chưa chín.

Nhưng từ nay về sau lại chưa hẳn thế.

Vâng, NẾU (phải có “nếu”).

Nếu khủng hoảng phát triển ngày càng toàn diện (như hiện nay)…

Nếu nông dân, công nhân ngày càng bất mãn (như hiện nay)…

Nếu vụ tham nhũng nào cũng lòi mặt những đảng viên CS…

Nếu một số đảng viên CS già, có quá trình sinh hoạt lâu năm, có công trạng với đảng, với số lượng vài trăm, cùng lúc ra Tuyên bố lập đảng mớithì câu chuyện có thể rất khác.

Đây chính là thời cơ.

Sau đó ít tháng, nếu số lượng lên 500 hoặc 1000, đảng mới sẽ không thể chết nữa.

Do vậy, chúng ta đã có trong tay con số trên chưa? Phải là con số thật, chớ tính trên giấy. Cũng chớ tung toàn lực lượng ra quá sớm trong bước khởi đầu.

Người khởi xướng thích hợp nhất?

Hẳn đó là những người đã từng sống với Việt Nam Cộng hòa và thấy chế độ đó chưa đủ dân chủ (đúng vậy đấy), hy vọng chế độ miền Bắc sẽ khá hơn (theo sự tuyên truyền chính thức trước 1975), nhưng nay – sau 40 năm trải nghiệm – đã hoàn toàn thất vọng. Mọi góp ý với thái độ xây dựng, lễ phép, tôn trọng… đều bị vứt bỏ. Đơn giản như khái niệm nhân quyền mà Đảng Đỉnh Cao vẫn cố tình bóp méo. Thử hỏi, con trông mong gì sự phục thiện?

Nếu lợi dụng được Hiến pháp để lập đảng, tính chính danh sẽ càng cao. Đồng thời vạch rõ: Đảng CS cũng chưa thật chính danh. Nếu nó muốn được ghi vào Hiến pháp (như điều 4) trước hết dân ý phải cho kết quả “tán thành” nó lãnh đạo.

Kèm với “tuyên bố lập đảng” phải là một bản Cương lĩnh dễ hiểu, có những mục tiêu thiết thực, khả thi, đúng tâm nguyện nhiều người. Chớ quên nông dân, công nhân, tiểu thương, dân nghèo. Quả là cuộc sống dưới đáy, dân trí thấp, đồng bào chưa quan tâm những quyền lợi tinh thần (như trí thức quan tâm). Trí thức dễ xa dân là do vậy.

Hướng đồng bào vào mục tiêu xây dựng (tạo diễn biến hòa bình) hơn là hướng cái khối đồ sộ này vào mục tiêu căm thù bọn phản bội lời hứa thời xưa.

Được vậy, sẽ đỡ lo hỗn loạn xã hội.

Nội dung Cương lĩnh phải có một ý: Không chống đảng CS, mà thi đua lành mạnh với đảng CS trong thực hiện các mục tiêu mà “chính đảng CS – trên lời nói – cũng đang phấn đấu cho dân”.

Phải xuất hiện đảng mới, mới có thể ra báo và đưa người ứng cử Quốc hội. Đây mới thật là môi trường thi đua và cạnh tranh giữa các đảng chính trị. Một tờ báo, một đại biểu trong QH đủ làm cán cân nghiêng ngả. Tương lai, dân càng tín nhiệm, cán cân còn thay đổi lớn.

Vẫn hoan nghênh các đảng viên CS tiếp tục bỏ đảng, nhưng sinh lực của đảng mới phải trông vào lớp trẻ… Chỉ có đông đảo lớp trẻ mới hoàn thành mục tiêu khai dân trí, chấn dân khí… đặng thực hiện Cương lĩnh, xây dựng xã hội mới.

Mười năm nữa sẽ có lớp lãnh tụ trẻ.

Đây là chuyện dài, điều cần là phải có đột phá.

Nhưng vấn đề là cần có sự xuất hiện một đảng mới trong hệ thống toàn trị độc đảng. Đó là đột phá khẩu. Cửa đột phá chỉ cần duy trì một năm, đủ để nó tự mở toang, không thể ai bịt lại nữa.

Phải nhắc lại: Hãy thực tâm không chống lại đảng CS.

Chỉ cần đảng CS thay đổi căn bản. Nếu nó không thay đổi, đó là nó muốn tự sát. Thế thì, mặc… mẹ nó chết đi. Ai mà cứu nổi nó, một khi tự nó muốn chết?

Nó chết không vì ai giết, mà vì sẽ tới lúc không đảng viên CS nào muốn cùng chìm theo con thuyền chuyên chở Giáo, Mác, Lê.

Đ.T.H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN, Đảng mới | Leave a Comment »

►Nợ xấu bất động sản, sự thua lỗ của doanh nghiệp và Ngân hàng, nợ công của chính phủ…sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở VN

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Trần Hoàng tóm tắt bài phỏng vấn của đài RFI dành cho Tiến sĩ Phạm Chí Dũng-

Hiệp định TPP mà VN đang khao khát xin vào có các điều kiện như: không chỉ gắn với điều kiện minh bạch về thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, mà còn liên hệ mật thiết với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Tính minh bạch là một trong những điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể tham gia TPP. Nhưng ở Việt Nam, thì nhà cầm quyền VN luôn luôn thiếu minh bạch, và nay họ sẽ trả giá. Thí dụ: sự chênh lệch giữa các số liệu của nền kinh tế Việt Nam đã góp phần làm chậm bước tiến xin gia nhập Hiệp định TPP của quốc gia này.

Có đến hàng chục ví dụ cho những lời phát ngôn hoặc báo cáo mang tính bất nhất hoặc thiếu trung thực của các bộ ngành liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, khiến người dân và giới bình luận kinh tế quốc tế hầu như không thể có nổi một chút niềm tin bền vững vào cái thực trạng mà người ta gọi thống kê giả hay là “giả số liệu” từ bao nhiêu năm qua.

1./ tỉ lệ nợ xấu bất động sản so với dư nợ thuộc lãnh vực này.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 5/2013 chỉ là 5,68%.

Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG), vào năm 2013, thì lên đến 33-35%    

độ chênh biệt của hai con số đã lên đến 6 lần!

Với mong ước được vào Hiệp Định TPP, Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt của những vấn đề nhạy cảm kinh tế – chính trị đang có chiều hướng bắt buộc bị bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.

Những quan chức can đảm của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã bạch hóa thế này: dư nợ bất động sản và và nợ xấu bất động sản thực chất cao hơn nhiều so với số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Và khi một tổ chức của chính phủ phải công bố điều đó, tức tình hình tài chính – bất động sản đang rất nguy ngập rồi.

Ở Thái Lan năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế do bất động sản gây ra- Trước khủng hoảng, tỉ lệ nợ xấu bất động sản tại quốc gia này được báo cáo chỉ có 5%, nhưng đến khi xảy ra khủng hoảng thì tỉ lệ này đã tăng vọt đến 50%, tức gấp đúng 10 lần.

2./ -Chẳng hạn, trong khi số liệu báo cáo của chính phủ Việt Nam về nợ công quốc gia chỉ là 55% của GDP; tức khoảng 75 tỷ đô la (GDP của VN năm 2012 là 136 tỷ đô la). Nhưng hiện có hai nguồn tin của các nhà chuyên môn đưa ra một con số nợ công quốc gia thật sự lớn hơn gấp 2 lần con số báo cáo của chính phủ. 

-Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 tại Nha Trang, một số chuyên gia phản biện người Việt ở Ba Lan đã tính toán tỷ lệ nợ công quốc gia lên đến 95% của GDP;  mức nợ công tương ứng là 129 tỷ đô la (Ngay lập tức con số này nhận được sự đồng cảm của khá nhiều chuyên gia và cả quan chức Việt Nam. )

-Trước đó vào cuối năm 2012, phản biện đối với báo cáo nợ công của chính phủ, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán về tiêu chí nợ nần này lên đến 106%; mức nợ công tương ứng là 141 tỷ đô la ( GDP của VN năm 2012 là 136 tỷ đô la) 

3./ Trong lĩnh vực bất động sản: Trong khi những báo cáo được công bố hầu như liên tục của Bộ Xây dựng chỉ cho thấy con số tồn kho căn hộ vào khoảng 40.000 căn,

-Nhưng tài liệu thống kê của một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như CBRE hay Savills lại xác thực hơn nhiều và có thể đang tồn đến 200.000 căn hộ thuộc các phân khúc, trong đó có đến 70% thuộc về phân khúc cao cấp và trung cấp.

-Một số chuyên gia và doanh nhân bất động sản cũng xác nhận có đến chừng đó căn hộ (200.000 căn hộ) đang tồn kho ở Việt Nam.

Chuyên gia người Anh John Sheehan đã dành cho thị trường bất động sản Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn:

_sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm;

_giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm;

_cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm.

Hiện tại, Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.   

Thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn “phủ nhận” với việc người tiêu dùng mất niềm tin và quay lưng với thị trường (không mua nhà và chờ nhà xuống thấp hơn nữa). Nếu không vượt qua được hai năm 2013-2014 và không giải quyết được ít nhất một nửa núi hàng tồn kho căn hộ cao cấp và trung cấp, chưa cần hết giai đoạn phủ nhận, sẽ có không biết bao nhiêu đại gia bất động sản phải chính thức ký vào “bản án tử hình” dành cho mình.

Chuyện gần 200.000 căn hộ các loại tồn kho từ Bắc vào Nam đã là một cái gì đó không thể cứu vãn nổi.

Muốn giải phóng núi căn hộ tồn kho 200.000 căn hộ, thị trường bất động sản Việt Nam có thể phải kiên tâm chờ đợi đến hàng chục năm, nếu quả thực nó muốn chờ và có thể làm được điều đó.

Nhưng kết quả thời gian đến hàng chục năm như vậy lại hoàn toàn có thể khiến thị trường… tự sát.

Bởi nửa đầu của năm 2013 đã trôi qua mà hệ số tiêu thụ căn hộ vẫn hầu như không nhích lên được bao nhiêu.

…trong ngắn hạn năm 2013 và năm 2014, tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp bất động sản lại luôn có thể tạo nên địa chấn bùng vỡ cho giới ngân hàng chủ nợ, và kéo theo một làn sóng sụp đổ dây chuyền giữa một số ngân hàng lớn.

Trong khoảng thời gian 20 năm qua (1993-2013), giá nhà đất tại những thành phố lớn trên cả nước đã tăng đến 100 lần. 

Như vậy số phận của các ngân hàng sẽ như thế nào, liệu có chết theo lãnh vực bất động sản hay không ?

Một lần nữa, tính chênh lệch của số liệu báo cáo đã lộ diện: con số tồn kho nhà đất thực tế cao gấp 5 lần số báo cáo. Nếu so lại hai con số chênh nhau đến 6 lần về nợ xấu bất động sản giữa Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia với Ngân hàng Nhà nước thì mọi chuyện đều rất logic (hợp lý).

Nếu cuối năm nay, Việt Nam được gia nhập TPP với tính minh bạch tồi tệ như hiện thời, nhiều người dân và giới bình luận sẽ nhìn rõ một sự phi-logic không thể hiểu nổi.  (phi-logic = bất hợp lý )

+Đây chính là một cái vòng luẩn quẩn mà sẽ dẫn tới “thời điểm Minsky” – tức thời điểm nền kinh tế phải chịu cảnh đổ vỡ dây chuyền, bắt đầu từ khối doanh nghiệp con nợ và ngân hàng chủ nợ không thu hồi được các món nợ, dẫn tới khả năng sụp đổ kinh tế.

Việt Nam sẽ có nhiều triển vọng rơi vào một cơn khủng hoảng mới còn ghê gớm hơn cả khủng hoảng 2008 và đợt suy thoái kéo dài suốt ba năm qua. Khủng hoảng kinh tế lại rất dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội – một phạm trù vốn đã tiềm ẩn nhiều mầm mống được thể hiện trên nhiều đường phố. Khi đó, liệu một chính khách cao cấp nào – tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng – có thể dám chắc là không xảy ra một cơn địa chấn về chính trị?

Muốn giải quyết nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý tồn kho bất động sản lại phải làm tăng tổng cầu và niềm tin tiêu dùng cho nền kinh tế. Nhưng ai cũng biết rằng muốn tăng tổng cầu kinh tế thì phải bơm tiền, trong khi nguồn tiền đang có dấu hiệu cạn kiệt do bị tồn kho và không giải quyết được nợ xấu. Chưa tính tới yếu tố bơm tiền hoàn toàn có thể sinh ra lạm phát…

Máy in tiền sẽ đi vào hoạt đông năm 2014…(nguồn)

Nợ xấu bất động sản có dẫn đến khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam?

Thụy My thực hiện

Theo Đài RFI

Chia sẻ bài viết này

19-8-2013

Gần đây báo chí trong nước đã tỏ ra bất ngờ về tỉ lệ nợ xấu bất động sản, có thể lên đến 33-35% dư nợ thuộc lãnh vực này. Các con số thống kê của nhiều cơ quan khác nhau đưa ra chênh lệch cho đến nỗi, dư luận hết sức lo ngại nếu không đánh giá đúng tình hình, thì không thể nào đưa ra quyết sách đúng đắn, dẫn đến những hậu quả nặng nề cho đất nước.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với Tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề trên.

RFI: Xin chào Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã vui lòng dành thì giờ cho RFI Việt ngữ. Anh nhận xét như thế nào về tỉ lệ dư nợ bất động sản có nhiều con số khác nhau, mà theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) thì lên đến 33-35% dư nợ ?

TS Phạm Chí Dũng: Con số của UBGSTCQG là một con số bất ngờ và đột biến, tức là đến 33-35% là nợ xấu trong dư nợ thuộc lĩnh vực bất động sản. Con số này được công bố lần đầu tiên, phát lộ vào năm 2013. Điểm hết sức đặc biệt là con số của ủy ban này lại hoàn toàn trái ngược với số báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 5/2013 chỉ là 5,68%.

Như vậy là, ngay giữa hai cơ quan quản lý mà độ chênh biệt của hai con số đã lên đến 6 lần. Sự khác biệt chưa từng thấy này nói lên điều gì? Nó làm cho người ta có cảm giác Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt của những vấn đề nhạy cảm kinh tế – chính trị đang có chiều hướng bắt buộc bị bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.

Những quan chức can đảm của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã bạch hóa thế này: dư nợ bất động sản và và nợ xấu bất động sản thực chất cao hơn nhiều so với số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Và khi một tổ chức của chính phủ phải công bố điều đó, tức tình hình tài chính – bất động sản đang rất nguy ngập rồi.

Cần nhắc lại, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng đã có một báo cáo rất chi tiết về các ngân hàng dính dáng đến nợ xấu và nợ xấu bất động sản vào cuối năm 2011. Song khi đó, con số nợ xấu ở nhiều ngân hàng mới chỉ dừng ở mức 10-15% thôi – như vậy đã gọi là cao rồi. Tất nhiên, nhiều ngân hàng vẫn cố giấu kín thực chất nợ xấu của họ. Những gì còn lẩn khuất trong bóng tối vẫn cố thu mình.

Nhưng sau công bố của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã làm cho công luận cùng giới bất động sản trong nước kinh ngạc và cho là sát thực tế hơn nhiều các cơ quan khác, bầu không khí số liệu lại trở về thói quen khép miệng của nó. Vào tháng 8/2013, Bộ Xây dựng lại nêu ra một con số mới về tỉ lệ nợ xấu bất động sản chỉ có 6,5% – tức là có cao hơn báo cáo của Ngân hàng Nhà nước gần 1%. Rõ ràng, người ta vẫn quyết tâm phong tỏa số liệu nhằm bưng bít một cuộc khủng hoảng bất động sản – ngân hàng rất có thể sẽ xảy ra.

RFI: Năm 1997, Thái Lan cũng đã bị khủng hoảng tài chính và cũng có nợ xấu như Việt Nam bây giờ. Liệu Việt Nam có đang tái lập kịch bản của người Thái?

TS Phạm Chí Dũng: Có thể. Không khí trái ngược giữa các con số báo cáo và con số thực về nợ xấu ở Việt Nam rất dễ làm người ta nhớ lại trường hợp Thái Lan năm 1997. Trước khủng hoảng, tỉ lệ nợ xấu bất động sản tại quốc gia này được báo cáo chỉ có 5%, nhưng đến khi xảy ra khủng hoảng thì tỉ lệ này đã tăng vọt đến 50%, tức gấp đúng 10 lần.

Chính người Anh đã cung cấp cho giới điều hành mơ màng của Việt Nam cái minh chứng không hề mơ màng đó. Vào đầu năm 2013, John Sheehan – thành viên của tổ chức giám định bất động sản Hoàng gia Anh (FRICS), đã có một chuyến thăm Việt Nam, và đã cung cấp một kinh nghiệm là tỉ lệ nợ xấu thực bao giờ cũng cao gấp ít nhất 4 lần con số báo cáo.

Trong thực tế điều hành và của điều được gọi là “minh bạch hóa” số liệu ở Việt Nam, tỉ lệ nợ xấu được báo cáo thường dao động chỉ từ 6-10%. Nhưng vào cuối năm 2011, trong khi giới chuyên gia bất động sản bắt đầu nói toạc ra rằng có đến 50% nợ bất động sản là nợ khó đòi hoặc không thể đòi được, thì giới ngân hàng cũng bắt đầu thầm thì về chuyện có đến phân nửa nợ xấu ở các ngân hàng A, B nào đó là không thể đòi được.

Có đến hàng chục ví dụ cho những lời phát ngôn hoặc báo cáo mang tính bất nhất hoặc thiếu trung thực của các bộ ngành liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, khiến người dân và giới bình luận kinh tế quốc tế hầu như không thể có nổi một chút niềm tin bền vững vào cái thực trạng mà người ta gọi là “giả số liệu”.

Người Thái hay người Philippines trong cùng khu vực Đông Nam Á là những bài học nhãn tiền cho Việt Nam. Do phủ nhận sự minh bạch trong kiểm soát thị trường, họ đã phải nhận lãnh tai họa.

RFI Việc thiếu minh bạch thì lâu nay Việt Nam vẫn bị chỉ trích. Không biết là có mối liên hệ nào giữa tính minh bạch ấy với việc Việt Nam đang chuẩn bị tham gia Hiệp định TPP?

TS Phạm Chí Dũng: Chắc chắn là có, vì tính minh bạch là một trong những điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể tham gia TPP. Nhưng ở Việt Nam thì thái độ thiếu minh bạch đã phải trả giá. Sự chênh lệch giữa các số liệu của nền kinh tế Việt Nam đã góp một phần rất ấn tượng làm chậm bước tiến vào vòng chung kết TPP của chính nền kinh tế quốc gia này.

Chẳng hạn, trong khi số liệu báo cáo của chính phủ Việt Nam về nợ công quốc gia chỉ là 55%, thì các phản biện của giới chuyên gia độc lập lại lộ liễu hơn nhiều. Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 tại Nha Trang, một số chuyên gia phản biện người Việt ở Ba Lan đã tính toán tỷ lệ nợ công quốc gia lên đến 95%. Ngay lập tức con số này nhận được sự đồng cảm của khá nhiều chuyên gia và cả quan chức Việt Nam. Trước đó vào cuối năm 2012, phản biện đối với báo cáo nợ công của chính phủ, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán về tiêu chí nợ nần này lên đến 106%.

Minh bạch lại là một trong những điều kiện tiên quyết để Việt Nam được tham dự vào bàn ăn TPP. Cho dù lộ trình thông qua TPP đối với Việt Nam đã được nước chủ nhà là Hoa Kỳ hứa hẹn “có thể sớm nhất vào cuối năm 2013”, nhưng giới quan sát quốc tế có lẽ đã thừa trải nghiệm để hiểu rằng TPP không chỉ gắn với điều kiện minh bạch về thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, mà còn liên hệ mật thiết với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Còn trong lĩnh vực bất động sản, vẫn có thêm những minh họa khác về tính bất nhất. Trong khi những báo cáo được công bố hầu như liên tục của Bộ Xây dựng chỉ cho thấy con số tồn kho căn hộ vào khoảng 40.000 căn, thì con số thống kê của một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như CBRE hay Savills lại xác thực hơn nhiều. Nhìn chung, có thể đang tồn đến 200.000 căn hộ thuộc các phân khúc, trong đó có đến 70% thuộc về phân khúc cao cấp và trung cấp. Một số chuyên gia và doanh nhân bất động sản cũng xác nhận có đến chừng đó căn hộ đang tồn kho ở Việt Nam.

Một lần nữa, tính chênh lệch của số liệu báo cáo đã lộ diện: con số tồn kho nhà đất thực tế cao gấp 5 lần số báo cáo. Nếu so lại hai con số chênh nhau đến 6 lần về nợ xấu bất động sản giữa Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia với Ngân hàng Nhà nước thì mọi chuyện đều rất logic.

Logic đến nỗi mà nếu cuối năm nay Việt Nam được gia nhập TPP với tính minh bạch tồi tệ như hiện thời, nhiều người dân và giới bình luận sẽ nhìn rõ một sự phi logic không thể hiểu nổi.

RFI: Khi các con số khác biệt quá lớn như vậy thì thị trường bất động sản Việt Nam thực chất đang trong tình trạng như thế nào?

TS Phạm Chí Dũng: Tôi xin nêu một minh họa để đối chứng. Chuyên gia người Anh John Sheehan đã dành cho thị trường bất động sản Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn: sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm; giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm; cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm. Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.

Một cách chính xác, thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn “phủ nhận” với việc người tiêu dùng mất niềm tin và quay lưng với thị trường. Nếu không vượt qua được hai năm 2013-2014 và không giải quyết được ít nhất một nửa núi hàng tồn kho căn hộ cao cấp và trung cấp, chưa cần hết giai đoạn phủ nhận sẽ có không biết bao nhiêu đại gia bất động sản phải chính thức ký vào “bản án tử hình” dành cho mình. Sông Đà, Vinaconex, Hoàng Anh Gia Lai, Quốc Cường Gia Lai, Phát Đạt… đều là những cái tên một thời danh giá, nhưng cho đến giờ đều thật khó để hình dung về thân phận của họ sẽ ra sao nếu thị trường không được “giải cứu”.

Muốn giải phóng núi căn hộ tồn kho đến 200.000 căn hộ, thị trường bất động sản Việt Nam có thể phải kiên tâm chờ đợi đến hàng chục năm, nếu quả thực nó muốn chờ và có thể làm được điều đó.

Nhưng kết quả thời gian đến hàng chục năm như vậy lại hoàn toàn có thể khiến thị trường… tự sát.

Bởi nửa đầu của năm 2013 đã trôi qua mà hệ số tiêu thụ căn hộ vẫn hầu như không nhích lên được bao nhiêu. Nếu vào năm 2012 hệ số này chỉ khoảng 5-10% theo thống kê của những hãng tư vấn bất động sản có uy tín, tình hình trong nửa đầu năm 2013 tuy có chuyển biến đôi chút song vẫn là quá ít so với những kích thích tố được tung ra từ phía Nhà nước và sự cố gắng của các doanh nghiệp bất động sản.

Các ngân hàng cũng vì thế đang rơi vào chính cái bẫy do họ giương ra từ năm 2011. Họ đã bắt các doanh nghiệp sản xuất và cả nền kinh tế trở thành con tin, nhưng cuối cùng chính họ cũng không thoát khỏi cái vòng kim cô tham lam vô cùng tận.

RFI: Như vậy số phận của các ngân hàng sẽ như thế nào, liệu có chết theo lãnh vực bất động sản hay không ?

TS Phạm Chí Dũng: Rất có thể. “Trạng chết, Chúa cũng băng hà”, ngân hàng sẽ không thoát khỏi nghiệp chướng mà họ là một tác nhân gây ra.

Giữa năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã bắt buộc phải một lần nữa “tái cơ cấu nợ vay” cho các doanh nghiệp bất động sản, chuyển nhóm nợ từ xấu sang nhóm đỡ xấu hơn, và do vậy các ngân hàng vẫn còn thời gian để thu xếp việc thanh toán với con nợ đến giữa năm 2014, chứ không nhất thiết phải siết nợ thẳng thừng.

Dù cố giấu diếm, nhưng từ gần giữa năm 2012, khối ngân hàng thương mại cổ phần đã bắt đầu phải tiết lộ về những con số nợ vay bất động sản, và sau đó vấn đề này trở thành một làn sóng rộng khắp các ngân hàng, biến thành tiếng kêu cứu ai oán của nhóm lợi ích đậm đặc này.

Vào thời điểm tháng 4/2012, số nợ vay được tái cơ cấu là 250.000 tỉ đồng. Nhưng mà trong hơn một năm qua, điều đáng buồn là chẳng ai làm được phần “hậu sự” cho các ngân hàng lẫn con nợ. Thậm chí nợ vay còn tăng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng, đưa con số hiện thời lên khoảng 272.000 tỉ đồng.

Nếu ngân hàng – chủ nợ lớn nhất của bất động sản – còn phải lâm vào vòng túng quẫn, người ta có thể hình dung tình thế đã trở nên bĩ cực đến mức nào. Những con số và tỉ lệ nợ xấu về bất động sản cho đến nay vẫn liên tiếp nhảy múa mà chưa chịu dừng chân. Cái chết đã lộ hình ở phía trước con đường.

RFI: Theo anh hậu quả sẽ ra sao?

TS Phạm Chí Dũng: Hậu quả chưa hẳn xảy ra tức thì đối với giới ngân hàng, nhưng đã hiện hữu đối với giới chủ đầu tư. Vào cuối năm 2011, hàng loạt vụ bể tín dụng đen bất động sản đã xảy ra ở Hà Nội, sau đó lan ra một số tỉnh thành khác. Vào giữa năm 2013, giám đốc doanh nghiệp Vĩnh Hưng, được xem là một trong những đại gia kinh doanh bất động sản ở Hà Nội, đã bị bắt liên quan đến những bê bối về nợ nần, và đây là một vụ rúng động.

Câu hỏi đang được rốt ráo đặt ra là sau vụ Vĩnh Hưng, liệu có xảy ra những cú đổ vỡ nào khác? Và liệu có xảy ra một làn sóng dây chuyền đổ vỡ liên quan đến nhiều doanh nghiệp bất động sản, tất yếu kéo theo một số nhà băng liên quan về nợ vay?

Dĩ nhiên với nhiều chủ đầu tư bất động sản ở Việt Nam, đây là một thời buổi kinh hoàng, thời buổi mà họ chỉ “mong một cuộc sống không nợ nần”.

Vào năm 2011, báo chí bắt đầu đề cập những câu chuyện về đại gia chứng khoán phải tự tử hoặc nhập viện tâm thần vì thiếu nợ hoặc phá sản. Còn đến năm 2012, câu chuyện tương tự được tiếp nối với một số đại gia bất động sản. Hiện tượng xã hội đặc thù này đang như khuấy động một cơn khủng hoảng sắp tới ở Việt Nam.

Còn giờ đây, hiện tượng đang trở thành bản chất khi khó có thể kềm giữ những gì sẽ phải phát nổ.

Khác nhiều với thị trường bất động sản Mỹ và cũng khác khá nhiều với thị trường nhà ở Irland với nguồn cung tồn kho hạn chế, bất động sản Việt Nam đã ở vào thời kỳ cầm cự cuối cùng. Theo rất nhiều dự báo, thời kỳ đó sẽ không thể kéo dài đến hết năm 2014.

RFI: Không biết so sánh có khập khiễng không, nhưng anh có thể nêu vài so sánh giữa thị trường bất động sản Việt Nam và Mỹ?

TS Phạm Chí Dũng: Có một “đồng pha” rất rõ trong “quan hệ bang giao” giữa hai thị trường bất động sản Mỹ và Việt Nam. Phất lên vào năm 2006 và đạt đỉnh vào năm 2007, thị trường nhà ở Mỹ đã có mức giá cao gấp đôi so với năm 2000. Còn với Việt Nam, tuy sóng nhà đất cũng đồng pha với Mỹ về thời gian và kể cả thời điểm, nhưng chuyện tăng giá thì hơn Mỹ nhiều, và có thể nói là theo đuôi…Trung Quốc. Đó chính là việc giá nhà ở tại Bắc Kinh đã tăng đến 800% chỉ trong 5 năm từ 2003 đến 2007. Trong khi đó, giá nhà đất ở Việt Nam cũng không hề kém cạnh, bốc lên tương đương với mức tăng chẵn một chục lần của giá vàng trong nước từ năm 2000 đến 2011.

Một “đồng dạng” khác là từ năm 2007 đến nay, chỉ số giá nhà đất S&P/Case-Shiller của Mỹ đã giảm khoảng 25-30%, trong khi mức giảm này cũng được các quan chức ngành xây dựng Việt Nam “định giá” cho mặt bằng giá nhà đất tại đây. Và gần đây hãng tư vấn bất động sản Saville ở Việt Nam cũng đã tính là giảm khoảng 30%. Dĩ nhiên với trường hợp thị trường ở Việt Nam, phần lớn các con số thống kê chỉ mang tính tương đối, thậm chí nặng về cảm tính và độ tin cậy là rất đáng nghi ngờ. Hiện tượng “loạn số liệu tồn kho bất động sản” diễn ra trong thời gian gần đây là một minh chứng hùng hồn.

Đúng ra, thị trường nhà ở Mỹ đã hồi sinh trước thị trường bất động sản Việt Nam ít nhất một năm rưỡi, tính đến giờ phút này. Từ cuối năm 2011, cùng với việc nền kinh tế Mỹ tiếp nhận những kết quả bắt đầu khả quan, số lượng nhà phát mãi của Mỹ cũng bắt đầu xuất hiện tín hiệu giảm, trong khi số nhà khởi công mới dần tăng lên. Đà tăng răng cưa này đã diễn biến lặng lẽ trong suốt năm 2012, để đến cuối năm ngoái, giới phân tích Mỹ đã chính thức xác nhận rằng thị trường nhà ở quốc gia này đã chính thức “thoát khỏi suy thoái”.

Khác hẳn với Việt Nam, thị trường nhà ở Mỹ không hề có bong bóng, cho dù các đảng phái ở quốc gia này thỉnh thoảng vẫn nhắc lại từ ngữ bóng bẩy đó như một ẩn ý chính trị đối với đảng cầm quyền. Bất chấp số nhà ở bị niêm phong và đưa vào diện phải phát mãi là “khủng khiếp” trong năm 2008, chính sách tài chính hơn 900 tỉ USD của chính phủ Mỹ đã bắt đầu tỏ ra hiệu nghiệm. Tình trạng trì trệ lui dần.

Tới nay, 87% các thành phố ở Mỹ có giá nhà tăng, dẫn đầu là Sacramento thuộc bang California và Atlanta thuộc bang Georgia với mức tăng 39%, tiếp đó là Fort Myers thuộc bang Florida 36%, Reno thuộc bang Nevada tăng 33%, và Las Vegas thuộc bang Nevada tăng 31%. Đó cũng là lý do vì sao các chỉ số chứng khoán Mỹ tăng tiến không ngưng nghỉ trong thời gian gần đây.

Nhưng với thị trường bất động sản Việt Nam lại hoàn toàn khác. Khoảng thời gian cuối năm 2011 chỉ là khởi đầu cho tan vỡ. Còn nguyên năm 2012 lại chứng kiến sự thê thảm không khác gì tình trạng vỡ bong bóng. Tuy không phải tất cả các phân khúc, nhưng chỉ riêng chuyện gần 200.000 căn hộ các loại tồn kho từ Bắc vào Nam đã là một cái gì đó không thể cứu vãn nổi.

Lúng túng và chậm lụt, các cơ quan và chính sách “giải cứu” thị trường bất động sản ở Việt Nam đã không làm được một việc gì có ý nghĩa từ năm 2010, khi tình trạng nợ xấu bất động sản vẫn chưa quá xấu, và cho đến nay – vào lúc mọi chuyện đã trở nên cám cảnh đến mức có giám đốc công ty kinh doanh nhà đất phải ra đường bán trà đá.

Tình hình như thế đã cho thấy thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng và nền kinh tế của nước này nói chung đã bị lệch pha rất lớn so với đà phục hồi thị trường nhà đất và nền kinh tế Mỹ. Điều đó cũng cho thấy sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam đã rất yếu ớt, như một người bệnh thâm căn cố đế và không còn sức đề kháng trước cơn ung thư di căn đang hoành hành.

Nếu không giải quyết được nợ xấu bất động sản, nền kinh tế Việt Nam sẽ không có khả năng nào đối ứng với hiệp định TPP, cho dù có được chấp nhận tham dự vào bàn tiệc này.

RFI: Như vậy theo anh thị trường bất động sản Việt Nam mất bao lâu mới có thể phục hồi được?

TS Phạm Chí Dũng: Như phân tích của một tổ chức nghiên cứu quốc tế, thị trường nhà ở Mỹ đã phải mất hơn 6 năm kể từ khi khủng hoảng để phục hồi trở lại, cũng như phải mất hơn 4 năm kể từ khi các chính sách giải cứu được áp dụng rộng rãi để thị trường tăng trưởng trở lại.

RFI: Còn với thị trường và cơ chế ở Việt Nam thì sao?

TS Phạm Chí Dũng: Một số nhà phân tích nêu ra một cách nhìn lạc quan hơn, căn cứ vào tính chu kỳ trong lịch sử vận động của thị trường bất động sản Việt Nam tính từ năm 1995. Khởi phát từ năm đó, thị trường này đã sôi trào vào năm 1997, để sau đó lần đầu tiên rơi vào suy thoái trong khoảng 4 năm. Đến năm 2001, bất động sản Việt Nam lại một lần nữa bật dậy. Chu kỳ tiếp theo chìm lắng suốt từ năm 2002 đến năm 2006. Như vậy, tính bình quân cho khoảng lắng giữa các đợt tạo sóng là thời gian khoảng 5 năm.

Cho đến nay, đã 6 năm trôi qua kể từ năm 2007, vượt hơn cả một chu kỳ suy thoái trong dĩ vãng. Nếu theo cách suy diễn này, thị trường tất nhiên có đầy đủ cơ sở để phục hồi.

Tuy thế, làm sao để tạo “sóng” lại là một câu chuyện hoàn toàn lạ lùng và có lẽ còn trở nên dị hợm trong bối cảnh đương đại, khi trong 20 năm qua, giá nhà đất tại những thành phố lớn trên cả nước đã tăng đến 100 lần. Như vậy những người có nhu cầu thực tế về nhà ở sẽ nhìn vào cái cấp số nhân đó để tính toán cho phép thử cung – cầu trên thị trường hiện nay.

Đó cũng là tất cả những gì mà hệ quả của nợ xấu đang tác động, và trở thành tác động có tính quyết định.

Với tất cả những gì bất cập đến mức không thể chấp nhận trong lịch sử tồn tại của thị trường bất động sản, không ai có thể trả lời được câu hỏi sẽ mất bao lâu để phục hồi nó.

Chỉ biết rằng nếu bất động sản không được “siêu thoát” trong năm nay và cùng lắm trong năm sau, không biết nền kinh tế còn bị “phủ nhận” đến bao giờ.

RFI: Nếu dùng từ của anh là nền kinh tế bị “phủ nhận”, liệu xã hội Việt Nam liệu có lâm vào một cuộc khủng hoảng?

Rất có thể. Hiện thời, giới điều hành đầy quan liêu cùng các nhóm lợi ích ở Việt Nam đang phải đối diện với một phương trình có quá nhiều ẩn số.

Muốn giải quyết nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý tồn kho bất động sản lại phải làm tăng tổng cầu và niềm tin tiêu dùng cho nền kinh tế. Nhưng ai cũng biết rằng muốn tăng tổng cầu kinh tế thì phải bơm tiền, trong khi nguồn tiền đang có dấu hiệu cạn kiệt do bị tồn kho và không giải quyết được nợ xấu. Chưa tính tới yếu tố bơm tiền hoàn toàn có thể sinh ra lạm phát…

Đây chính là một cái vòng luẩn quẩn mà sẽ dẫn tới “thời điểm Minsky” – tức thời điểm nền kinh tế phải chịu cảnh đổ vỡ dây chuyền, bắt đầu từ khối doanh nghiệp con nợ và ngân hàng chủ nợ không thu hồi được các món nợ, dẫn tới khả năng sụp đổ kinh tế.

Theo một số chuyên gia phản biện độc lập như Bùi Kiến Thành và Nguyễn Trí Hiếu, triển vọng giải quyết tồn kho bất động sản sẽ rất chậm và phải kéo dài ít nhất 4-5 năm. Nhưng ngay trong ngắn hạn năm 2013 và năm 2014, tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp bất động sản lại luôn có thể tạo nên sang chấn bùng vỡ cho giới ngân hàng chủ nợ, mà có thể kéo theo một làn sóng sụp đổ dây chuyền giữa một số ngân hàng lớn.

Nếu không thể giải quyết núi tồn kho bất động sản vào thời hạn “Minsky” giữa năm 2014, hoặc chậm lắm đến cuối năm 2014, rất nhiều khả năng nợ xấu bất động sản sẽ làm bùng vỡ nợ xấu quốc gia và đẩy các ngân hàng vào thế tồn vong. Thế tồn vong đó cũng có thể gây tác động tiêu cực không nhỏ đến chân đứng của một nền chính trị vốn đang chịu nhiều xáo động.

Nếu không tự thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của mình, nền kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều triển vọng rơi vào một cơn khủng hoảng mới còn ghê gớm hơn cả khủng hoảng 2008 và đợt suy thoái kéo dài suốt ba năm qua. Khủng hoảng kinh tế lại rất dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội – một phạm trù vốn đã tiềm ẩn nhiều mầm mống được thể hiện trên nhiều đường phố. Khi đó, liệu một chính khách cao cấp nào – tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng – có thể dám chắc là không xảy ra một cơn địa chấn về chính trị?

RFI: Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam | Leave a Comment »

►Vì muốn bảo vệ quyền lợi cho các tập đoàn viễn thông, TT Nguyễn Tấn Dũng đã « chỉ đạo » cho Bộ Thông tin và Truyền thông VN là cần sớm ban hành “chính sách quản lý” các dịch vụ liên lạc miễn phí qua mạng Internet

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Vì bị mất quyền lợi, các tập đoàn viễn thông của nhà nước như  Viettel, MobiFone, VNPT đã yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội cấm sử dụng VIBER, WHATSAPP, Line…là những nhu liệu miễn phí mà khi tải về Smartphone, sẽ cho phép người gọi phone với nhau miễn phí. Không cần trả tiền cho các công ty điện thoại.

Hôm tháng 2/2013, các cuộc gọi ở trong nước và từ nước ngoài gọi về VN đã tăng phí lên 100% Trước cuối tháng 1-2013, các cuộc gọi từ Mỹ về VN chỉ có 2,9 cents/ 1 phút,  nay người tiêu dùng phải trả 6,9 cents/ 1 phút.

Đáp trả với sự tăng phí các cuộc gọi là hơn 100%, người tiêu dùng đã mua smart-phone và sử dụng nhu liệu miễn phí VIBER, WHATSAPP, LINE…để gọi cho nhau và khỏi trả tiền.

6 tháng qua, các tổng công ty viễn thông của nhà nước- do cán bộ đảng, đảng viên cao cấp, và gia đình của họ làm chủ- đã bị thất thu tiền bạc. Chúng đã khiếu nại đòi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành lệnh cấm sử dụng các nhu liệu này. Và thay vì bảo vệ quyền lợi của dân chúng, không xía vào quyền tự do thông tin và truyền thông, TT Nguyễn tấn Dũng  đã « chỉ đạo » cho Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là cần sớm ban hành  “chính sách quản lý” các dịch vụ liên lạc miễn phí qua mạng Internet 

Quyền sử dụng VIBER một cách tự do và không phải trả tiền đó thuộc về quyền tự do thông tin và truyền thông, nằm trong quyền tự do ngôn luận, và là thuộc quyền con người. Việc làm của TT Nguyễn tấn Dũng chỉ là vì muốn bảo vệ quyền lợi của các tập đoàn viễn thông. Vì thế, các bạn blogger cần phải phản đối.  

Việt Nam muốn quản lý Viber. Lo ngại « kiểm duyệt » gia tăng

 21-8-2013

Trọng Nghĩa

 viet.rfi.fr

Nhân cuộc họp ngày 07/08/2013 vừa qua về giá cước điện thoại quốc tế tại Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã « chỉ đạo » cho Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là cần sớm ban hành  “chính sách quản lý” các dịch vụ liên lạc miễn phí qua mạng Internet.

Nội dung yêu cầu này được nêu lên trong thông báo 312/TB-VPCP đề ngày 16/08. Xuất phát từ yêu cầu của các tập đoàn viễn thông nhà nước Việt Nam, đang sợ bị thiệt hại, đề nghị này đã tạo ra lo ngại về khả năng chính sách mới sẽ lại là một công cụ kiểm duyệt internet.

Trong thời gian một hai năm gần đây, các dịch vụ nhắn tin, gọi điện thoại miễn phí thông qua đường Internet – thuật ngữ tiếng Anh là OTT (Over The Top) – đã ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam. Các công cụ như Viber, Line, WhatsApp… – gắn trên điện thoại thông minhsmartphone – càng lúc càng được nhiều người sử dụng.

Tình hình này đang tác hại đến doanh thu của các tập đoàn, công ty điện thoại truyền thống trong nước, đặc biệt trong bối cảnh lượng người dùng smartphone có xu hướng gia tăng. Hãng tin Anh Reuters, dựa theo một báo cáo từ Google, cho biết là Việt Nam hiện đã có 17 triệu người dùng điện thoại thông minh.

Theo Reuters, phát biểu với báo chí trong nước, một đại diện của Viettel, một trong những nhà cung cấp mạng điện thoại lớn nhất của Việt Nam báo động là Viettel có thể sẽ mất đến 50% doanh thu nếu tất cả 40 triệu khách hàng của tập đoàn này sử dụng Viber thay vì dùng các dịch vụ gọi điện thoại hay gởi tin nhắn truyền thống.

Báo chí Việt Nam cũng trích lại một số lời báo động từng được các tập đoàn Việt Nam đưa ra công khai, theo đó do sự phát triển của các dịch vụ OTT trong thời gian qua, Viettel và MobiFone bị thất thu khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm, trong lúc VNPT cũng bị mất từ 9% đến 10% doanh thu.

Các tập đoàn này do đó đã yêu cầu chính quyền sớm ban hành chính sách quản lý các dịch vụ OTT. Trước mắt, có ý kiến cho rằng Nhà nước nên nghiêm cấm việc dùng các dịch vụ này, vốn do các hãng ngoại quốc không có văn phòng tại Việt Nam cung cấp. Theo một số chuyên gia Việt Nam, việc sử dụng các công cụ này đặt ra vấn đề « an ninh chủ quyền Việt Nam ».

Đề nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng như vậy đã đáp ứng yêu cầu sớm ban hành chính sách, nhưng không thấy đề cập đến yêu cầu cấm đoán. Cho dù vậy, theo hãng Reuters, chủ trương kiểm soát dịch vụ OTT có thể khiến cho những lo ngại về sự kiểm duyệt của Đảng Cộng sản gia tăng vào lúc Việt Nam đã nhiều lần bị chỉ trích vì các biện pháp bị cáo buộc là nhằm kềm chế tự do ngôn luận và trấn áp các blogger đã dám chỉ trích chế độ độc đảng.

Thái độ quan ngại càng tăng khi « chỉ đạo » của Thủ tướng Việt Nam – theo Reuters – đã không giải thích rõ ràng những gì chính phủ dự định tiến hành, tương tự như nhiều quy định khó hiểu khác, trong lúc truyền thông nhà nước lại gợi lên khả năng « cấm » tất cả các dịch vụ OTT.

Một nguyên do khác gây lo ngại là tuyên bố của Thủ tướng Dũng được đưa ra hai tuần sau khi chính phủ ra lệnh cho tất cả các mạng web nước ngoài, trong đó có Facebook, là phải đặt ít nhất là một máy chủ ở Việt Nam.

Reuters đã trích lời một nhà ngoại giao xin giấu tên nhấn mạnh rằng : « Điều này tương tự như một bước mới của chính phủ (Việt Nam) nhằm kiểm duyệt người dùng internet. Một khi không thể kiểm soát được, thì họ sẽ chặn tất cả ».

Ả Rập Xê Út vào tháng Sáu vừa qua đã cấm Viber, sau khi gặp khó khăn trong việc kiểm soát và trước tình hình các công ty viễn thông được phép hoạt động bị thất thu.

Tuy nhiên, trả lời hãng Reuters, ông Jong Buhm Park, Giám đốc điều hành của hãng NHN Việt Nam, nhà phát triển ứng dụng Line của Nhật Bản, đã có nhận định lạc quan hơn. Theo ông, sẽ không có lệnh cấm vì : « Chính phủ Việt Nam có nhiều lựa chọn khác, như yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ OTT hợp tác với các tập đoàn viễn thông Việt Nam ».

Posted in Kiểm Soát Thông Tin- Internet | Leave a Comment »

►Các ý kiến về sự kêu gọi thành lập đảng Dân Chủ Xã hội ở Việt Nam của ông Lê Hiếu Đằng

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2013

Đảng của những người bỏ Đảng

21-8-2013

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

Chia sẻ bài viết này

Sau khi thoát cơn bịnh nặng rồi viết “bảng quyết toán” để tính sổ với đảng, người đảng viên có trên 40 năm tuổi đảng là bác Lê Hiếu Đằng được đồng chí của mình là bác chủ tịch nước tặng cho một liều thuốc cực quý để tiếp tục chữa cho dứt bịnh. Nghe nói đó là loại thuốc quý hiếm chỉ được dùng cho các BCT.

Nghe được chuyện ấy, các bạn bè thân thiết của bác Đằng mới khuyên bác đừng nên dùng, hãy gởi lại cho BCT dùng vì hiện nay chỉ các vị ấy mới cần thuốc chữa bịnh.

Riêng tôi thì cho rằng, thuốc ấy cũng chẳng chữa được bịnh của các vị ấy. Bịnh nặng lắm rồi, muốn chữa phải dùng thuốc đặc trị chữa đúng bịnh chứ không phải dùng thuốc quý.

Vậy thuốc đặc trị cho các vị ấy là thuốc gì? Xin thưa đó chính là thang thuốc nam mang tên Lê Hiếu Đằng.

 

Ông Lê Hiếu Đằng trong lần tham gia biểu tình với các bạn trẻ 

Đảng bịnh nặng lắm rồi. Hai vị đứng đầu của đảng là bác Tư Sang và bác Trọng Lú đã công khai công nhận điều đói. Nhiều bịnh lắm nhưng bịnh có tính quyết định cho sự sống còn của đảng là bịnh tham nhũng. Ở đây xin đi lạc đề để bàn chữ “lú” một tí chứ có người chưa biết chuyện lại hiểu nhầm ý tốt của tôi. Gắn chữ lú vào bên cạnh tên bác Trọng, theo như bài báo chính thức trên lề đảng là tỏ ý ca tụng bác là người cực kỳ trong sạch chứ không phải chê bai bác là lú lẫn. Theo bài báo ấy vì bác quá sức trong sạch, trong sạch một cách kỳ lạ, dân gian không còn từ gì để ngợi ca nên phải sáng tạo ra từ mới là “lú” để dùng. Lú nầy đồng âm với lú kia nhưng dị nghĩa.

Qua đó thấy rằng bác Trọng rất rất trong sạch. Bác Tư cũng được xem là trong sạch. Hai bác đều trong sạch nên rất mạnh khỏe. Mạnh khỏe nên chưa nhóm bịnh dù đang sống trong một môi trường rất bịnh. Do vậy không còn ai xứng đáng hơn hai bác ấy trong việc đứng lên phất cao ngọn cờ chống bịnh, đặc biệt là bịnh tham, là căn bịnh trầm kha đang đến hồi phát tác khủng khiếp.

Hai bác ấy rất có tâm, có lòng với đảng, rất nhiệt tình lo chữa trị cho đảng nhưng khổ nỗi hai bác ấy lại dùng các phương thuốc quá cũ để chữa trị. Cái bịnh tham bây giờ nó biện chứng phát triển đến mức siêu việt theo sự phát triển của thời đại rồi. Mỗi lần nó ăn là ăn đến hàng trăm, hàng ngàn tỉ. Và cách ăn của nó cũng rất. ..công khai minh bạch. Ăn qua chính sách, ăn qua cách ra nghị định và thông tư, ăn qua dự án, ăn qua nhóm lợi ích, ăn qua các công ty sân sau, ăn qua các ngân hang, ăn qua đấu thầu công khai…nghĩa là có muôn trùng cách ăn và ăn rất dễ dàng là nhờ vào chính cơ chế vận hành để sinh tồn của đảng.

Vậy mà hai bác trong sạch lại dung liều thuốc phê và tự phê, là cái bài thuốc của ông lang Mao du nhập vào VN cách đây hơn nửa thế kỷ chỉ dùng để bôi ngoài da cho các vết lở gây ra bởi bệnh tham lúc còn sơ khai cho đỡ ngứa tạm thời chứ không dứt được căn nguyên. Ngay với cái bệnh tham thời sơ khai chỉ ăn vài cân thóc, vài lạng thịt, vài tờ tem phiếu thì liều thuốc ấy cũng không chữa dứt được, huống chi là chữa cái bịnh tham đã tiến hóa lên đến mức siêu việt như ngày nay cùng những biến chứng tinh vi của nó.

Để chữa bịnh tham, thế giới đã có bài thuốc mà hầu hết quốc gia tiên tiến đang sử dụng rất hiệu nghiệm. Một nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, một xã hội dân sự, một nền kinh tế thị trường minh bạch là thang thuốc cực tốt để đẩy lùi bịnh tham nhũng.

Thật ra bác Lê Hiếu Đằng không phải là một thang thuốc, nhưng những bước đi của bác đang cùng mọi người góp phần đấu tranh cho sự hình thành một thang thuốc hiện đại để chữa bịnh cho cả quốc gia.

Từ lâu, nhiều đảng viên đã nhìn thấy căn bịnh của đảng đang phát tác và lây lan khắp nơi nên tự cứu mình bằng cách bỏ đảng chạy ra ngoài. Số lượng đảng viên bỏ đảng chưa có thống kê chính thức, nhưng tính từ năm 75 nghe đồn cứ lai rai gộp lai đến bây giờ cũng ra một con số không nhỏ. Hiện nay theo như bác Đằng nói thì có khá nhiều người đang muốn ra và dường như họ muốn rũ rê nhau cùng công khai tuyên bố ra một lúc vào một ngày đẹp trời nào đó.

 

Hai ông Huỳnh Nhật Tấn và Huỳnh Nhật Hải là hai đảng viên bỏ đảng rất sớm 

Ra rồi thì có thể cứu được bản thân mình. Nhưng còn đảng và dân chúng thì sao. Căn bịnh của đảng không chỉ lây lan trong đảng mà còn di căn ra ngoài xã hội. Xã hội hiện nay cũng bịnh quá rồi. Đâm, chém, cướp, hiếp, lừa đảo, mại dâm, ma túy… tràn lan khắp nơi. Các bác ra khỏi đảng nhưng còn thấy mình có trách nhiệm với đảng và quan trọng là với xã hội và đất nước. Phải chăng vì vậy mà các bác ấy muốn làm cái gì đó để cứu đảng, cứu nước, cứu dân?

Vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, những năm cuối cùng của chế độ cộng sản Xô Viết, một nhà văn nào đó của Liên Xô dấy lên chuyện lập đảng cho những người không đảng. Tôi không còn nhớ rõ, đại khái ông nói rằng đất nước Xô Viết với hơn 400 triệu dân mà chỉ có một đảng dành riêng cho 20 triệu đảng viên vì vậy nên có một đảng dành cho những người không đảng còn lại để nhằm vào mục tiêu cứu nước Liên Xô vĩ đại. Nhưng đảng ấy chưa kịp lập ra thì chế độ Xô Viết đã ngã ra đột tử vì bịnh đã quá nặng, hết phương cứu chữa.

Bây giờ thì bác Đằng và bác Nhuận hô hào lập đảng từ những người bỏ đảng. Khi chuyện nầy nổ ra đã tạo nên những phản ứng đa chiều trong dư luận.

Ủng hộ, công kích, nghi ngờ…thôi thì đủ kiểu suy diễn. Có vài chiều ý kiến từ chính những người đã bỏ đảng hoặc chuẩn bị bỏ đảng đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Theo một luồng ý kiến thì thời cơ chưa chín mùi để ra đời một cái đảng như vậy (nhưng không biết khi nào thì chin mùi?). Một luồng ý kiến khác thì cho rằng liệu pháp của hai bác Đằng- Nhuận là quá sốc đối với một cơ thể đã quá già nua và đang bịnh nặng. Gộp từ hai luồng ý kiến đó đã phát sinh ra một luồng ý kiến nữa là nên chăng đưa ra một liệu pháp ít sốc hơn là thay vì lập đảng thì lập một phong trào rộng rãi gì đó để vận động nhiều người tham gia để cùng nhau cứu nước, cứu dân.

Theo Hiến Pháp thì mọi công dân đều có quyền tự do lập đảng, lập hội, lập nhóm. Tuy nhiên từ sau năm 75 đến nay chỉ thấy hai đảng chính trị hợp pháp là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội bị giải tán chứ chưa thấy một tổ chức chính trị nào có đường lối độc lập với đường lối của đảng CSVN được ra đời hợp pháp. Nhiều tổ chức nhen nhóm ra đời đã nhanh chóng bị dập tắt. Từ đảng Dân Chủ phục hoạt của cụ Hoàng Minh Chính đến nhóm 8406… thậm chí đến một câu lạc bộ ngành nghề như câu lạc bộ Báo chí Tự do cũng không thể nào được phép hoạt động và những người khởi xướng là Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn đều đang bị nằm tù như mọi người đã biết.

Từ đó dư luận không tin rằng tổ chức chính trị mà hai bác Đằng- Nhuận hô hào khởi xướng sẽ ra đời được.

Tuy nhiên cũng có một luồng dư luận nhỏ hơn cho rằng, tình hình đang càng ngày càng thuận lợi, có vài tín hiệu cho thấy đã đến lúc phải tỏ ra cởi mở và thay đổi. Miến Điện đã làm được và không gây ra xáo trộn gì, sự xuất hiện của phe đối lập không những không làm cho phe cầm quyền ngã lăn ra đột tử mà còn làm cho họ tăng thêm uy tín trong dân và dưới mắt bạn bè thế giới. Miến Điện làm được thì lý gì Việt Nam anh hùng tài giõi hơn lại không làm được.

Nhưng dù cho đảng của những người bỏ đảng ấy không lập ra được vì lý do nào đó thì tiếng hô hào của họ cũng giúp đánh tan được phần nào nỗi sợ hãi đang bao trùm, cũng là góp tiếp những bước đi cho sự hình thành xã hội dân sự.

—————————

Việc công khai kêu gọi thành lập đảng ở Việt Nam của ông Lê Hiếu Đằng là một bước tiến về chính trị

21-8-2013

Khách Dân Luận

Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi. Tựa đề do BBT Dân Luận đặt.

Chia sẻ bài viết này

Với tôi, như đã nêu lên trong một còm ở đâu đó trên Dân Luận, rằng, bất kể cái đảng mà ông Đằng đang PR là như thế nào, cứu cánh ở đâu, phương thức tiến hành ra sao… tôi vẫn ủng hộ sự ra đời của nó.

Đảng CS hiện đang là đảng DUY NHẤT, các đảng từng có, dẫu là bù nhìn đã bị giải thể. Bây giờ, nếu có cơ hội phục hoạt, hoặc lập một hay nhiều đảng mới để CÓ MẶT (chỉ cần có mặt, khoan hãy nói đến cạnh tranh), đó đã là một bước tiến. Bước tiến nhỏ nhưng quan trọng. Bước tiến từ KHÔNG thành CÓ.

Lúc này còn quá sớm để nói TIN hay KHÔNG TIN ông Đằng, hay ông nào đó phía sau ông ĐẰNG. Lại càng quá sớm để đánh giá hiệu quả của hành động kêu gọi này.

Dĩ nhiên là, ai cũng có quyền nói TIN hay KHÔNG TIN một ai đó, dù chỉ giáp mặt lần đầu, thậm chí chưa kịp gặp. Đó là quyền tuyệt đối riêng tư. Nhưng, liệu có là hành vi đúng đắn hay không, khi mở miệng là ra mùi đấu tranh dân chủ, nhưng lại chăm chăm nghĩ là những người cũng đang (nói) đấu tranh dân chủ khác là ngụy, là giả dối, là cò mồi. Hơn nữa, lại la làng trước thanh thiên bạch nhật chứ không phải trong vòng thân hữu.

Tôi lặp lại, kể cả khi, “lực lượng” phía sau ông Đằng, ông Nhuận là ai (xấu nhất, nguy hiểm nhất, là của Tàu Khựa giả danh), thì việc CÓ MẶT CHÍNH THỨC một chính đảng ngoài đảng CSVN hiện nay, đều là một tiến bộ cho môi trường chính trị ở nước ta.

Việc quan trọng nhất bây giờ là hành động như thế nào để thúc đẩy việc HIỆN DIỆN CHÍNH THỨC càng nhanh càng tốt. Sau đó, đánh giá nó như thế nào mới là việc tiếp theo. Cho là quý vị KHÔNG TIN, thì cứ để cho nó ra đời, thành hiện thực đi đã, rồi lúc đó tha hồ mà phán, chẳng hạn, tôi đã bảo mà, tôi đã biết trước cơ mà…

Quý vị có mất gì đâu, hỡi những người luôn chứng tỏ rằng mình là người đấu tranh cho dân chủ. Những rủi ro sẽ xảy ra cho người khác chứ chắc chắn không xảy ra cho quý vị. Có thể quý vị vì lo lắng cho những thanh niên trẻ trung ngây thơ trong sáng tối mắt vì nông nỗi để bị mắc lừa, đó cũng là một thiện ý. Nhưng,…

Hôm qua tôi vừa đọc một bức tâm thư của Hieu Minh’s blog lên tiếng khuyên nhủ vỗ về cô gái trẻ P.Uyên. Không loại trừ đây là thiện ý đơn thuần của một bậc cha chú. Nhưng, kể cả khi điều đó là sự thật, nó cũng không bào chữa được sự lệch lạc của nội dung bức thư. Xin lặp lại, hãy cố mà tập cho cái thói quen cha chú, trưởng lão đi vào dĩ vãng. Hành động của mỗi cá thể trưởng thành trong xã hội ngày nay hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của chính họ. Họ có thể đúng, có thể sai, và họ thừa bản lĩnh để giơ vai giơ trán ra chịu trách nhiệm. Thời điểm mất còn của nền dân chủ, thậm chí cả sự tồn vong của một dân tộc đang lừ lử tiến đến. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách kia mà. Tại sao một thanh niên đầy đủ năng lực, đầy đủ sự sáng suốt bình thường, lại không có quyền lên tiếng đấu tranh cho cái sự tồn vong ấy?

Thôi đi quý vị ạ. Nghi thì cứ nghi, vẫn có quyền ngờ, nhưng hãy biết mở lòng ra để thấy, có hằng trăm con đường thể hiện lòng yêu nước. Chả phải chỉ có ai cùng chí hướng, cùng phương cách với quý vị mới là người yêu nước.

Tôi cũng chưa chắc đã tin nhiều hơn quý vị đối với ông Đằng, ông Nhuận, nhưng, tôi không muốn làm bất cứ gì, nói bất cứ gì có thể làm thui chột đi cái sức sống còn không nhiều của những ông già 70.

Mấy ngày tới đây, tôi hy vọng nghe được tiếng nói của ông Huỳnh Tấn Mẫm nữa cơ. Người sinh viên đấu tranh nổi tiếng cách đây đã mấy chục năm, người luôn sát cánh với ông Đằng thời gian gần đây trong các cuộc biểu tình chống Tàu khựa. Có vẻ như các ông đã thỏa thuận với nhau từng bước hành động bao giờ, ở đâu, việc gì…

Kể cả khi một hoặc nhiều ông bị TAI NẠN BẤT KỲ.

Hãy để cho các ông ấy được quyền thốt lên câu:

ĐI CHẾT ĐI CÁI ĐẢNG CSVN KIA!

 ———————

Từ đầu năm đến nay đã có rất nhiều người trong đó bao gồm cả những đảng viên cộng sản tỏ chính kiến công khai trên các báo chí chính thống trong nước như Vietnam.net, VnExpress, đề xuất bỏ Điều 4 ra khỏi Hiến Pháp 1992. Chúng ta hãy cùng nhau điểm lại tình hình.

Ngày 14/1/2013, ông Trần Đình Nhã, Uỷ ban quốc phòng-an ninh của Quốc hội nói với báo chí: ”Chưa bao giờ từ tham nhũng xuất hiện với tần số nhiều như ở thời điểm này. Tham nhũng đang thách thức sự kiên nhẫn và sức chịu đựng của nhân dân“.

Ngày 27/2/2012, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài: ”Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng“ đã viết: ”Bây giờ trong Đảng cũng có phân hoá giầu-nghèo. Dư luận xã hội bức xúc nhất là tham nhũng, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm“. Ông Trọng còn nói: ”Về nguyên nhân thì nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Về tính chất của những tệ nạn đó là nghiêm trọng. Về phạm vi là tương đối phổ biến, trong đó có cả một số cán bộ cao cấp. Về xu hướng là diễn biến phức tạp. Về hậu quả là làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng“.

Ông Trương Tấn Sang, đương kim Chủ tịch nước nói về nạn tham nhũng như sau: ”Trước đây chỉ có 1 con sâu làm rầu nồi canh. Nay thì nhiều sâu lắm. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, nay cả 1 bầy sâu thì chết cái đất nước này“.

Từ khi chủ nghĩa Mác được ĐCSVN điều chỉnh, cho phép đảng viên cộng sản kinh doanh, trở thành nhà tư bản tư nhân, thì những thủ đoạn làm giầu bất chính của những người có chức vụ, có quyền, nhằm tích tụ tư bản ban đầu như ở giai đoạn tiền tư bản chủ nghĩa hoang sơ man rợ, không phân biệt trắng trợn hay tinh vi xảo quyệt, ngày càng lan rộng trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ.

Đất nước đang cần nhiều người có đức có tài ra gánh vác việc nước nhưng môi trường tham nhũng, bè phái, lợi ích nhóm không phải là môi trường có khả năng tập họp những người vừa có đức, vừa có tài.

Ông Trần Viết Hoàn, cử tri Hànội đã nói với đại biểu Quốc hội: ”Dân ta coi tham nhũng là giặc nội xâm, là quốc nạn, là giặc nằm trong lòng“.

Ngày 26/2/2013, ông Nguyễn Đăng Tấn nói với báo chí: ”Hiên nay chống tham nhũng là vấn đề cốt tử nhất mà nhân dân quan tâm, nhưng cho đến nay, mỗi lần tổng kết chống tham nhũng, chúng ta vẫn nói chỉ mới đạt được kết quả bước đầu“.

Năm 2011, trong lễ nhậm chức Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: ”Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng thì tôi xin từ chức ngay“. Tuy nhiên cho đến nay tình hình tham nhũng càng nghiêm trọng và phổ biến trong xã hội.

Tại sao nạn tham nhũng có mặt ở tất cả các quốc gia nhưng các quốc gia khác thì diệt được nạn tham nhũng nhưng ở Việt Nam thì không làm được như vậy?

Ngày 01/12/2012, TBT Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri Hà Nội: ”Đảng đã tiến hành tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết trung ương 4 nhưng “nhiều vị không chịu thừa nhận khuyết điểm sai lầm“. Ông Trọng còn nói: ”Chỉ ra bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên đã suy thoái đạo đức là bao nhiêu thì trừu tượng quá và cũng khó tách bạch ai nằm trong bộ phận đó“. Ông Trọng nói thêm: ”Rất khó để ai đó nhận ra khuyết điểm của mình“Như thế có nghĩa là ĐCSVN đã thất bại khi chỉ dựa vào giám sát nội bộ, tự cho phép mình đứng ngoài sự kiểm tra giám sát thực sự của nhân dân và pháp luật.

Ngày 12/6/2010, khi là Phó Thủ tướng, ông Nguyễn Sinh Hùng nói trước Quốc hội: ”Hôm nay thấy sai chỗ này một chút thì xử lý cách chức đi, kỷ luật đi. Ngày mai thấy sai chỗ kia một chút thì xử lý cách chức đi, kỷ luật đi thì lấy ai mà làm viêc, các đồng chí?”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng thì nói: ”Đồng chí Phạm Văn Đồng là người làm Thủ tướng lâu nhất, có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào cả, Chắc là tôi phải học theo đồng chí Phạm Văn Đồng“.

Nhưng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Thắng, Học viện chính trị-hành chính quốc gia TP Hồ Chí Minh ngày 31/1/2013 thì chỉ ra đích danh với báo chí rằng: ”Chỉ những người có chức, có quyền, những cán bộ công chức nắm trong tay quyền, tiền, của cải thì mới có khả năng tham nhũng, mà tuyệt đại đa số là đảng viên“.

Ngày 14/1/2013, Bà Lê Thị Nga, Uỷ ban tư pháp của Quốc hội nói với báo chí: ”Tham nhũng về bản chất là sự lạm dụng quyền lực, là sự tha hoá quyền lực bởi những người có chức, có quyền trong bộ máy Nhà nước nhằm lợi ích riêng. Muốn chống tham nhũng thì phải kiểm soát quyền lực. Quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân. Quyền lực của Nhà nước là quyền lực phái sinh, do nhân dân trao cho. Quyền lực nếu không được kiểm soát sẽ trở thành tha hoá. Để chống tham nhũng, quốc gia nào cũng buộc phải xây dựng cho được thể chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả“.

Ngày 11/1/2013, ông Vũ Oanh, nguyên uỷ viên Bộ chính trị ĐCSVN đã nói với báo chí: ”Khi đặc quyền, đặc lợi quá lớn sẽ dẫn đến hiện tượng mua quan, bán chức, cán bộ suy thoái đạo đức và sẽ dẫn đến tham nhũng. Cơ chế của ta đã tạo ra đặc quyền đặc lợi lớn. Có xử lý được vấn đề này mới có thể chống tham nhũng được“.

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo: ”Đảng cần xem lại cả về tâm và tầm để liệu xem Đảng thật sự có đạo đức, có văn minh, là trí tuệ, là thiên tài chưa?”.

Ngày 23/1/2013, ông Bùi Đức Lại, chuyên gia cao cấp của Ban tổ chức trung ương đã nói với báo chí: ”Chỉ từ Hiến pháp 1980 mới có Điều 4 nói về vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước đó Hiến pháp nước ta chưa có điều khoản nào tương tự nhưng không vì thế Đảng cộng sản Việt Nam mất quyền lãnh đạo. Đảng cộng sản Liên Xô dù vẫn giữ được điều khoản tương tự trong Hiến pháp của họ nhưng vẫn không tránh được thất bại. Các Đảng cộng sản Đông Âu cũng vậy. Vì thế ở đây là vấn đề Chính Đảng lãnh đạo có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương sứ mệnh được nhân dân uỷ thác hay không “. Ông Bùi Đức Lại còn nói: ”Trong Nhà nước pháp quyền của dân và vì dân thì dân là chủ thể quyền lực. Vai trò Đảng cộng sản lãnh đạo Nhà nước về bản chất là do nhân dân uỷ thác cho Đảng. Không thể đặt vấn đề Đảng lãnh đạo đứng trên hay đứng ngoài Hiến pháp và Pháp luật. Đảng không những phải tôn trọng mà còn phải chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp và Pháp luật bình đẳng như mọi chủ thể chính trị khác và chịu sự giám sát của nhân dân.

Ngày 6/2/2013, ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã nói với báo chí: ”Việc Đảng chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình cần được Luật hoá“. Ông nói thêm:

”Tình hình hiện nay rất nguy hiểm. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên trong đó có cả một số cán bộ cao cấp là vô đạo đức, tham nhũng, vơ vét của dân. Đó là điều không thể chấp nhận“.

Các ông Phạm Xuân Hằng nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hoàng Thái và Lê Truyền nguyên uỷ viên trung ương MTTQVN và ông Nguyễn Khánh nguyên Phó thủ tướng đều đã thông qua báo Vietnamnet ngày 19/2/2013 tỏ ý kiến đồng tình với sự cần thiết có Luật về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng.

Nhưng giả sử có Luật về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng thì giám sát bằng cách nào?

Ông Vũ Oanh đã chỉ ra rằng “Cơ chế của ta (do ĐCSVN tạo nên) đã tạo ra đặc quyền đặc lợi lớn. Đó là 1 trong những nguyên nhân quan trọng làm cho cán bộ, Đảng viên suy thoái đạo đức, dẫn đến tham nhũng“.

Thực trạng hiện nay là trong hệ thống cơ chế đó, điều 4 của Hiến pháp 1980 và của Hiến pháp 1992 chính là cái gốc tạo ra đặc quyền đặc lợi, bởi 2 lẽ:

Thể chế chính trị một Đảng cầm quyền vốn thường đẻ ra chuyên quyền độc đoán, dùng quyền lực thay cho chân lý, thay Pháp luật trong chỉ đạo và điều hành. Theo Điều 4 Hiến pháp thì chỉ ai là đảng viên cộng sản mới được cất nhắc lên những vị trí thật sự có chức có quyền, nắm giữ những quyền lực có khả năng chi phối tiền bạc, tài sản công để tham nhũng mà rất khó bị phát hiện và ngăn ngừa. Những kẻ muốn có những đặc quyền đặc lợi đó tất yếu sẽ tìm mọi cách, kể cả những thủ đoạn gian manh, hối lộ, mua chuộc để được vào Đảng và đến lượt họ, bằng chính kinh nghiệm của mình, khi đã vào Đảng, họ không bao giờ thực sự trở thành công bộc của dân. Giám sát họ không dễ dàng.

Ngày 31/1/2013, Tiến sĩ Tống Đức Thảo (Viện chính trị học) nói với báo chí: ”Một trong những quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân là quyền được quyết định chọn lựa các đại diện thể hiện ý chí của mình, đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được uỷ quyền không thi hành đúng ý nguyện của nhân dân“. Nhưng cơ chế nào bảo đảm cho sự thực hiện cái quyền đó?

Ông Đỗ Mười đã có sáng kiến thiết kế ra “Quy chế dân chủ ở cơ sở“ để cho dân được bày tỏ ý kiến của mình trong các buổi họp Tổ dân phố với Tổ trưởng phải là đảng viên, hoặc tham gia biểu quyết trực tiếp bằng cách giơ tay hoặc không giơ tay tán thành. Với những vấn đề “thuộc loại nhạy cảm“ như chống tham nhũng, chắc rằng không ai dại dột sử dụng Quy chế dân chủ cơ sở của ông Đỗ Mười để mang vạ vào thân. Với Quốc hội Việt Nam, 90% Nghị sĩ là đảng viên cộng sản, cũng không người dân nào muốn gửi tiếng nói của mình thông qua Quốc hội về những vấn đề gọi là “nhạy cảm“ như chống tham nhũng.

Ngay ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Sinh Hùng không muốn kỷ luật ai cũng có cái lý của hai ông. Các Bộ trưởng giúp việc và các quan chức đầu Tỉnh, đầu Thành phố trực thuộc trung ương, dưới quyền hai ông đều ít nhất là uỷ viên trung ương Đảng. Làm phật lòng họ, hai ông có thể mất phiếu và do đó mất chức mất quyền. Như vậy, nếu có Luật về Đảng thì cái cơ chế hiện nay không tạo được thuận lợi cho sự giám sát sự thực thi Luật đó.

Những ý kiến trên đây là của những đảng viên cộng sản đã được đăng công khai trên các báo chính thống.

Làm thế nào để có thể giám sát có hiệu quả?

Ngày 19/2/2013 ông Trần Đức Thuận, nguyên phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội nói với báo chí: “Một Đảng cầm quyền nên chấp nhận cạnh tranh. Chấp nhận cạnh tranh chính là chấp nhận sự tự rèn luyện để ngày càng trưởng thành, trong sạch và vững mạnh. Nhân dân sẽ giúp Đảng loại bỏ những phần tử suy thoái tư tưởng, biến chất, tham nhũng“. Chấp nhận cạnh tranh tất yếu phải chấp nhận đa nguyên, đa đảng, phải bỏ điều 4 ra khỏi Hiến pháp 1992 . Như vậy, việc thành lập Đảng mới Dân chủ xã hội ở thời điểm này để giúp Đảng cộng sản rèn luyện ngày càng trong sạch, vững mạnh là việc làm hợp lòng dân, trong đó có rất nhiều Đảng viên cộng sản chân chính, trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng trong 3 yếu tố quyết định sự thành công là “thiên thời, địa lợi và nhân hoà“.

Hoàng Lô Giang

nguồn danluan.org

Posted in Đảng mới | 2 Comments »

►Những Sự Thật Lịch Sử về “Cách Mạng Tháng 8”

Posted by hoangtran204 trên 20/08/2013

“Cách mạng tháng 8” là lời tuyên truyền bịp bợm và nói dóc của đảng.

“CÁCH MẠNG THÁNG 8”  chỉ là của giả, là thứ ngụy tạo bịp bợm, do các “sử gia” của đảng phóng tác và tuyên truyền. 

Napoleon nói: Lịch Sử được viết bởi những kẻ thắng trận. (“ History was written by victors” )

Còn Edward Gobbon: Lịch Sử chỉ là những ghi chép về các tội ác, những sự điên rồ, và bất hạnh của loài người. (“ History…is indeed little more than the register of the crimes, follies, and misfortunes of mankind.) (1)

—————- 
Trích “Hồi ký của một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải: 

Hình bìa của báo LIFE của Pháp- Buổi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim ngày 17 tháng 8,1945.Buổi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh và về sau được các sử gia, các văn-nô của đảng ca tụng thành  Cách mạng Tháng 8″. 

 

“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!”

“Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly  (cờ vàng 3 sọc đỏ) bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, đăng đàn diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng… Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!

Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh như thế đó!

Sau này, loại thanh niên “yêu nước hồn nhiên” bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật dành tự do, độc lập cho đất nước!”!!!

Và các nhà viết sử Nhà Nước Cộng Sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối.

Thực tế lúc ấy là….chúng tôi chẳng có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh. Ông ta sau đó còn công khai tuyên bố GIẢI TÁN ĐẢNG của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh…. và cả “cố vấn” Bảo Đại nữa.

“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!” 

“Cái ngày 19 tháng 8 ấy à? Như trên Blog tôi viết đấy, là tôi đi biểu tình.

Ai hô biểu tình, có ngày ba bốn lần đi biểu tình. Họ biểu tình phố, rồi biểu tình khu, rồi biểu tình thành này.

Ngày 17 thì còn cầm cờ vàng mà, ngày 19 thì là mới bắt đầu cầm cờ đỏ.”

Nhạc Sĩ Tô Hải – Hồi ký của một thằng hèn

http://www.vietnamvanhien.net/hoikycuamotthanghen.pdf

……..

Những Sự Thật Lịch Sử về “Cách Mạng Tháng 8”

Nguyễn An, phóng viên RFA

2009-08-25

“64 năm trước, những ngày này trên toàn đất nước Việt Nam là những ngày sôi động bởi không khí hực lửa của một cuộc đổi đời sau ngày 19 tháng 8 năm 1945.

Cho đến nay, ngày này vẫn được sách vở chính thống gọi là ngày tổng khởi nghĩa thành công, cướp chính quyền từ tay Pháp, hay từ tay Pháp và Nhật, hoặc từ tay Pháp, Nhật và chính phủ Trần Trọng Kim.

Nhưng nếu nhớ lại rằng Nhật đã đảo chính Pháp từ ngày 9 tháng 3, rồi Nhật lại đã đầu hàng Đồng Minh từ đầu tháng 8 cùng năm, thì cách nói “cứơp chính quyền từ tay Pháp và Nhật có lẽ không ổn chút nào” vì lẽ thực dân Pháp và phát xít Nhật đâu còn chính quyền để mà cướp? Vậy chỉ có thể nói là “cướp chính quyền Trần Trọng Kim” mà thôi.

Chính quyền chỉ tại chức tổng cộng 126 ngày này ra sao? Đã sụp đổ thế nào? Có phải là một chính quyền bù nhìn và phản dân hại nước hay không? Những gì đã xẩy ra trên đất nứơc Việt Nam trong thời gian ấy rất ít được nhắc đến trong các sách giáo khoa hiện nay.

Đó là một trong những điều mà nhạc sĩ Tô Hải -năm nay 83 tuổi- gọi là một “lỗ hổng lớn về giai đoạn lịch sử bi-hài-hùng này,” như được viết trong trang Blog của ông, nhân dịp nhớ lại ngày 19 tháng tám của 64 năm trứơc đây.

Mục Câu Chuyện Hàng Tuần kỳ này sẽ nói về “lỗ hổng” ấy, qua lời của một số vị lão thành từng tham gia, hay có mặt trong những diễn biến dồn dập sôi bỏng của những ngày tháng ấy.

Diễn biến của 64 năm trước

Khi biên tập viên Mặc Lâm của Ban Việt Ngữ hỏi về ngày 19 tháng 8 năm 1945, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Hồi ký của một thằng hèn” – Nhạc sĩ Tô Hải nói: “Cái ngày 19 tháng 8 ấy à? Như trên Blog tôi viết đấy, là tôi đi biểu tình. Ai hô biểu tình, có ngày ba bốn lần đi biểu tình. Họ biểu tình phố, rồi biểu tình khu, rồi biểu tình thành này. Ngày 17 thì còn cầm cờ vàng mà (cười), ngày 19 thì là mới bắt đầu cầm cờ đỏ.”

Trong trang Blog, nhạc sĩ Tô Hải nhắc lại những khoảnh khắc lịch sử ngắn ngủi nhưng vô cùng quan trọng đối với lớp thanh niên tuổi ông thời bấy giờ, những người mà ông nói là đều “ngu ngơ, ngây thơ, dại dột”, cho nên (cũng theo lời ông) “số phận có thể mỉm cười hay xé xác bất kể anh nào.”

Mốc lịch sử thứ nhất của giai đoạn này là ngày 9 tháng 3, khi Nhật bất ngờ đảo chính Pháp, đưa toàn bộ các viên chức và thường dân Pháp vào trại giam. Tình hình ấy khiến cho giới thanh niên có cảm tình với người Nhật, lúc bấy giờ là “kẻ thù của kẻ thù.”

Sau 38 ngày Việt Nam không có một chính quyền thực sự nào để điều hành đất nứơc ngoài lực lượng của phát xít Nhật, ngày 17 tháng 4 năm 1945 thì chính phủ Trần Trọng Kim ra đời với thành phần là các chuyên gia trong nhiều ngành khác nhau mà ông Tô Hải gọi là những người “hy sinh liều mình cứu nước”.

Lá cờ của chính phủ Trần Trọng Kim có màu vàng, ở giữa có hình quẻ Ly màu đỏ (hình ở đây),  và quốc thiều là bài “Đăng Đàn Cung”, bởi trong giai đoạn ấy, Việt Nam vẫn có vua là Vua Bảo Đại. Đó cũng là mốc lịch sử thứ hai của giai đoạn này.

Mốc lịch sử thứ ba là ngày 17 tháng 8 năm 1945, được nhạc sĩ Tô Hải viết trong Blog của ông như sau:

Đồng bào miền Bắc mít tinh với Cờ Vàng tổ quốc trước nhà hát thành phố Hà nội 1945 (Hình từ Tạp chí LIFE, báo của Pháp-1945)

“Cho tới một ngày (17/8/1945) Đoàn Thanh Niên của chúng tớ tay cầm cờ quẻ ly, miệng hát “Này thanh niên ơi…” đi Mít tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim” thì mới trắng mắt ra rằng mình đã được huy động đi…” “Cướp chính quyền” từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, do Việt Minh tổ chức mà không biết. 

Tất cả đều diễn biến rất nhanh chóng. Cờ quẻ li hạ xuống! Cờ đỏ sao vàng kéo lên và một người ,”quần nâu áo vải”đầu đội béret, tay cầm súng pặc họoc, thắt lưng đeo một, hai quả lựu đạn OF (lựu đạn khói) ra tuyên bố vài câu gì đó mà tớ đứng xa quá nên nghe chẳng rõ , chỉ nhớ lõm bõm có mấy câu…”Chính quyền đã về tay nhân dân” và sau đó thì… hàng ngàn người như có gài sẵn kim hỏa trong lòng đã nổ tung ra thành những khẩu hiệu “Muôn năm!muôn năm!” long trời lở đất…

Hàng chục lá cờ đỏ sao vàng được tung ra,kéo theo cả hàng ngàn người chạy ùa sang phủ thống sứ cũ (ở xế nhà hát lớn) phá cửa, leo hàng rào vào chiếm phủ Khâm sai đại thần. Mọi việc diễn ra nhanh chóng, chẳng khác gì cái cảnh tớ đã được xem sau này trong phim ” Lê Nin với Cách Mạng Tháng 10) có trường đoạn chiếm Cung điện Mùa đông”!
Chỉ khác là ,ở V.N,không có súng nổ và chính phủ “bù nhìn” đi đâu? Ở đâu? Lúc đó? Có ai bị bắt,bị vào tù, bị “dựa cột” không thì chẳng có ai được biết,kể cả tớ ,cho tới tận bây giờ!

Cuộc tổng khởi nghĩa như thế là xong. Có mặt tớ cũng như không!Chẳng ai hay, ai biết….”

Bài viết của nhạc sĩ Tô Hải tức khắc nhận được 88 lời góp ý và một bài viết, với nội dung nói chung là cám ơn ông đã nói lên những điều không thấy trong sách sử đang được giảng dậy tại Việt Nam hiện nay. Một người viết như sau:

“Tôi sinh ngày 26-9-1927, là Thanh Niên Cứu Quốc thành hoàng Hiệu, tôi cũng là một người tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội như bác. Tôi công nhận những điều bác kể phản ánh hoàn toàn đúng tình hình lớp thanh niên học sinh Hà Nội lúc đó.

Tôi xin bổ sung là đến bây giờ nghĩ lại, tôi phải công nhận là các vị trong chính phủ “bù nhìn Trần Trọng Kim” đều là những người thật sự sạch sẻ, họ có thể yêu nước theo cách này hay cách khác nhưng chắc chắn là họ không có chuyện lợi dụng chức quyền để tham nhũng đến trở thành ‘quốc nạn”.

Xin cảm ơn bác.”

Nguồn: RFA

Lời kể của các chứng nhân

Nhạc sĩ Phạm Duy khi đó 24 tuổi đang ở trong Miền Nam, nhưng trực tiếp tham gia vào dòng thác chuyển động lúc bấy giờ viết trong Hồi Ký của ông như sau:

“Sau khi Nhật đầu hàng, quân đội Nhật ở Việt Nam trao trả Phủ Toàn Quyền cho Phủ Khâm Sai Bắc Bộ. Để tỏ ý chí bảo vệ đất nước, vào ngày 17 tháng 9, công chức Hà Nội -được lệnh của vị Khâm Sai Phan Kế Toại- đứng ra tổ chức một cuộc mít-tinh ở trước Nhà Hát Lớn Hà Nội. 

Cuộc mít-tinh của các ông các bà công chức đang diễn tiến thì bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ bao lơn của nhà hát xuống, rồi một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu và hát bài Tiến Quân Ca của Văn Cao. Thế là cuộc biểu tình của Tổng Đoàn Công Chức bỗng nhiên biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh.

Hai ngày sau, tức là 19 tháng 8, Việt Minh đích thân đứng ra tổ chức một cuộc mít-tinh khổng lồ, cũng ở trước nhà hát Lớn Hà Nội. Sau đó, đoàn người biểu tình kéo đến bao vây Bắc Bộ Phủ. Ông Khâm Sai Phan Kế Toại đầu hàng ngay.

Coi như cướp được quyền hành chánh rồi, đoàn người kéo luôn qua trại Khố Xanh ở đường Đồng Khánh để cướp quyền quân sự. Một ngàn lính Bảo An ở trong trại không kháng cự, cờ quẻ Ly được hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên.”

Luật sư Trần Lâm năm đó hơn 19 tuổi (cựu chánh án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao), kể lại trong cuộc trao đổi với Biên Tập Viên Trà Mi của Ban Việt Ngữ như sau:

“19 tháng 8 là tôi đang học trung học, thì tôi thôi học. Thế mà tôi ở Hà Nội tôi không – chưa làm việc gì cả, mà tôi cũng có tham gia vào cái chỗ Việt Minh, nhưng mà cái mức độ đến ngày 19 tháng 8 tôi tham gia chỉ là cảm tình thôi. Và tôi được đọc sách báo của Việt Minh chứ tôi chưa tham gia một đoàn thể cụ thể nào.

Hôm Cách Mạng Tháng Tám thì trước ngày CMTT thì có cướp cái Bắc Bộ Phủ. Trước một hai ngày định cướp cái Bắc Bộ Phủ thì hôm cướp cái Bắc Bộ Phủ thì tôi có tham gia. Tôi vẫn còn cái ảnh của tôi (lúc đó) tôi đứng sát cái bờ rào.

Còn cảm nghĩ của tôi thì thưa cô, lúc bấy giờ mình cũng khó nói lắm vì lúc bấy giờ mình mười chín hai mươi tuổi nên học hành cũng vừa phải thôi, rồi là cũng không hiểu biết gì lắm ạ, thế cho nên thấy rằng nó vui mừng là một, với hai nữa là nó mới lạ, và nói tóm lại chữ “độc lập” lúc bấy giờ nó đặc biệt lắm, thì nó như người say ấy cô ạ.

Trong những ngày đó như là cái người mê say, bị choáng ấy mà, bị say, nhưng nói về ý thức thì chưa có gì rõ ràng lắm. Mười chín hai mươi tuổi cũng còn ngây thơ lắm, còn ngố lắm, cho nên bấy giờ ý thức về chính trị cũng chưa có, chỉ thấy rằng là hình như có cái gì mới lạ, hình như có một cái gì tháo củi sổ lồng, thế thôi, chỉ đến mức ấy thôi.
Mà nó lại còn có một cái đặc biệt nữa là lúc bấy giờ nó rầm rộ lắm, mình thì không bước vào cái rầm rộ ấy, chẳng hạn như là đi biểu tình rồi đi làm những cái này, rồi tất cả mọi việc nó vui mừng tột độ và thấy cái mới tột độ và thấy như mình có cái sự thay đổi gì đặc biệt nữa.”

Chúng tôi cũng hỏi nhà báo Bùi Tín, năm đó ngoài 20, về không khí của những ngày ấy, ông kể lại:

“Trước ngày 19 tháng 8 là có cuộc mít-tinh của viên chức của Bắc Bộ (Phủ) là ngày 17 tháng 8, thì trong cuộc mít-tinh đó thì đại biểu của Việt Minh đã tung kênh nhau lên và đưa ra lá cờ đỏ sao vàng rồi chạy vòng quanh cái quảng trường của Nhà Hát Lớn.

Thế mà trong cái ngày 19 tháng 8 thì cái mà tôi có ấn tượng sâu sắc nhất là suốt từ 3 giờ chiều cho đến nửa đêm là chỉ có một khẩu hiệu là “Ủng hộ Việt Minh! – Ủng hộ Việt Minh! – Ủng hộ Việt Minh!”, cứ như thế mà ầm cả lên ở Hà Nội, nhắc đi nhắc lại miết làm tôi nhớ mãi cái âm thanh đó.”

(Bùi Tín, Cựu Đại tá Quân Đội Nhân Dân VN, Cựu Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, tị nạn chính trị ở Pháp năm 1990).
………..

Nỗi ngậm ngùi của một thế hệ 

Ngày nay, sau 64 năm với không biết bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, nhìn lại tuổi thanh xuân với bầu máu nóng và lòng yêu nứơc nồng nàn của những ngày Cách Mạng Tháng Tám, nhạc sĩ Tô Hải không khỏi ngậm ngùi cho ông cũng như cho những bạn đồng trang lứa:

“Cho nên là tôi buồn về cái thân phận của tôi nó như thế cho nên cũng như trong HỒI KÝ (AUDIO BOOK) Hồi Ký tôi viết toàn là sự thật về những chuyện đó, bao nhiêu bạn bè tôi chết oan, tôi dùng cái chữ “mất xác”, gọi là đi vào cái rừng chính trị mà là hai bàn tay hoàn toàn trắng, cho nên lạc ở trong cái rừng đó.

Mình đi tham gia chính trị mà mình có biết làm chính trị đâu, cho nên vừa hôm trước cầm cờ vàng thì hôm sau cầm cờ đỏ mà thấy trong lòng chả thấy cái gì cả, ngây thơ đến tội nghiệp như thế!” 

Luật sư Trần Lâm cũng nhớ lại:

“Bây giờ mình nhiều tuổi rồi, thế rồi lại gặp bao nhiêu câu chuyện cái thì vừa ý cái thì không vừa ý, rồi những mục tiêu của Cách Mạng Tháng Tám nói thế thì nói chứ đến ngày hôm nay mà nhìn lại nó cũng được chỗ nọ chỗ kia, nhưng mà nói thực thì nó như cái áo vá cô ạ, nó cũng không được hoàn chỉnh lắm.

Thế cho nên (tôi) cũng cảm thấy bây giờ, phải nói cái cảm tưởng bây giờ, nhớ lại thấy rằng cũng buồn buồn.”

Nhà báo Bùi Tín thì tâm sự rằng nhớ lại ngày 19 tháng 8 sáu mươi tư năm trứơc, ông vừa thấy vui mừng, lại vừa có niềm cay đắng. Ông vui vì nhớ đến không khí hừng hực lửa của lòng yêu nứơc rộn ràng trong trái tim thanh xuân, nhưng ông cay đắng bởi vì:

“Cho nên tôi cay đắng là gì? Là cả cái lòng yêu nước mênh mông mạnh mẽ của tuổi thanh xuân chúng tôi lúc bấy giờ đã bị lợi dụng để đảng cộng sản cướp chính quyền cho riêng mình, chứ không phải là cướp chính quyền vì độc lập dân tộc và vì tự do của người công dân.

Cho nên đến bây giờ, cái cay đắng đến bây giờ tất cả 84 triệu người công dân vẫn không có tự do cá nhân.”

Đó chắc cũng là tâm sự của không ít những người vừa độ tuổi đôi mươi khi cuộc cách mạng mùa thu diễn ra sáu mươi tư năm trước.

Câu Chuyện Hàng Tuần kỳ này dừng lại ở đây. Nguyễn An kính chào quý thính giả.” 

…………..

Chính phủ Trần Trọng Kim 1945

15/ 4 năm nay đánh dấu 61 năm kỷ niệm ngày thành lập chính phủ độc lập đầu tiên của Việt Nam sau hơn 8 thập niên bị thực dân Pháp đô hộ. Tuy chỉ nắm quyền trong một thời gian ngắn và cũng chưa hoàn toàn có được chủ quyền, nhưng chính phủ Trần Trọng Kim được đánh giá là đóng góp một phần không nhỏ trong tiến trình dành lại độc lập cho Việt Nam.

Đến nay, những thành tựu của chính phủ này bị lu mờ bởi các sự kiện xảy ra sau đó, bắt đầu bằng cuộc Cách mạng tháng 8 và chính quyền Hồ Chí Minh, rồi đến cuộc chiến Việt-Pháp và cuộc nội chiến Nam-Bắc kéo dài cho đến năm 1975 mới chấm dứt.

Mời quý vị cùng Trà Mi tìm hiểu thêm về sự kiện lịch sử ít được biết đến này, qua cuộc trao đổi với tiến sĩ kinh tế-sử Lê Mạnh Hùng. Trước tiên, ông cho biết về những nguyên nhân dẫn đến việc thành lập chính phủ Trần Trọng Kim vào giữa tháng tư năm 1945.

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập sau khi Nhật Bản lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương vào ngày 9 tháng 3, 1945 và tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam. Nhưng vì độc lâp mà Nhật gọi là trao trả cho Việt Nam rất là giới hạn thành ra việc thành lập chính phủ cũng bị rất nhiều trở ngại.

Phải mất trên một tháng từ khi ông Bảo Đại ra tuyên ngôn tuyên bố độc lập vào ngày 11 tháng 3 cho đến ngày 15 tháng tư mới thành lập được chính phủ. Đó là vì Nhật không chịu bất kỳ những nhà chính trị nào dù là thân Nhật mà họ cho rằng có thể có những ước vọng độc lập nhiều hơn là Nhật dành cho.

Thành ra chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập bao gồm phần lớn là những nhà trí thức, chuyên môn mà trước đó không nằm trong các đảng phái cách mạng chống Pháp. Nói theo ngôn từ hiện nay thì chúng ta có thể nói đây là một chính phủ của những chuyên gia. Nhưng không phải vì trước đó họ không hoạt động chính trị mà họ không ái quốc. Và dù rằng chỉ kéo dài được có bốn tháng chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã làm được một số công chuyện đặt cơ sở cho một nước Việt Nam độc lập về sau này.

Những thành công

Trà Mi: Thế chính phủ Trần Trọng Kim đã làm được những chuyện gì?

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc dành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong tình huống Đông Dương vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng đóng một vai trò rất quan trọng.

Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian, Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương trình nhằm thay đổi tâm lý người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại tình trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt, như lời nói sau đây của ông Hoàng Xuân Hãn khi kể lại mục tiêu của cụ Kim khi thành lập cũng như là của ông khi tham gia chính phủ “Chúng tôi muốn đặt trước Đồng Minh khi chiến tranh chấm dứt với một nước Việt Nam độc lập trên thực tế để chúng ta không thể nào trở lại tình trạng cũ là một thuộc địa của Pháp nữa”.

Theo ông Hoàng Xuân Hãn, để đạt được mục tiêu này, họ đề ra ba nhiệm vụ chính. Thứ nhất thương thuyết với Nhật để chuyển nhưọng quyền chính trị và kinh tế về cho Việt Nam cũng như là thống nhất đất nước bị Pháp chia thành ba phần bằng cách đưa Nam Ky và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Tourane trở lại dưới sự cai trị của triều đình Huế.

Thứ hai, Việt Nam hóa cơ cấu hành chán thuộc địa của Pháp bằng cách thay thế các quan chức và chuyên viên Pháp, Nhật với người Việt. Và thứ ba tạo ra trong quần chúng một tinh thần quốc gia mới, một niềm ái quốc mới qua một hệ thống giáo dục hoàn tòan dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dậy. Theo ông Hoàng Xuân Hãn, họ hy vọng rằng sẽ có được từ một năm đến 18 tháng để thực hiện chương trình này.

Các tiến trình

Trà Mi: Ông có thể cho biết một cách cụ thể hơn về những gì chính phủ Trần Trọng Kim đã làm để đạt được ba mục tiêu đó không?

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Một trong những quyết định đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim là chính thức đổi quốc hiệu của Việt Nam trở lại thành Việt Nam. Đây là một quyết định có ý nghĩa quan trọng. Việt Nam là tên được Gia Long lựa cho khi thống nhất đất nước (dưới thời Minh Mạng đổi tên là Đại Nam) và sau này trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh dành độc lập khi các nhà cách mạng Việt Nam từ Phan Bội Châu cho đến Nguyễn Thái Học chọn cái tên Việt Nam trong các đảng của họ.

Cùng với quốc hiệu, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chọn lá cờ là cờ quẻ ly: nền vàng, ba sọc đỏ với sọc đỏ ở giữa bị đứt đoạn (Lá cờ này sau trở thành lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa nhưng với sọc đỏ ở giữa được nối liền lại).

Các cuộc thương thuyết đề thâu hồi Nam Kỳ, Bắc Kỳ và ba thành phố nhượng cho Pháp được tiến hành ngay sau khi chính phủ được thành lập. Bắc Kỳ được trao trả lại cho triều đình Huế vào ngày 27 tháng 4. Ngày 2 tháng 5, tổng đốc Thái Bình Phan Kế Toại được bổ nhiệm làm Khâm Sai Bắc Kỳ, tuy rằng phải đến tháng 6, 1945, chức Khâm Sai này mới được đặt trực tiếp dưới quyền triều đình Huế thay vì dưới quyền viên thống sứ Bắc Kỳ như dưới thời Pháp. “Thống sứ” Bắc Kỳ người Nhật nay đổi tước hiệu là “cố vấn tối cao”.

Ngày 11 tháng 6, 1945, tướng Nhật Tsuchihashi tư lệnh đạo quân chiếm đóng của Nhật tại Đông Dương và được Nhật phong làm toàn quyền Đông Dương gặp Bảo Đại tại Huế để thảo luận về việc trả lại Nam Kỳ, Hà Nội, Hải Phòng và Tourane cho Việt Nam. Ngày 16 tháng 6, 1945 Bảo Đại ra một tuyên bố về việc thống nhất tương lai của ba kỳ.

Sang tháng bảy, Nhật Bản chuyển sang cho chính phủ Việt Nam mọi cơ sở trực thuộc trước đây dưới chính quyền liên bang của Pháp. Hà Nội, Hải Phòng và Tourane được trả về cho triều đình Huế vào tháng bảy sau khi Trần Trọng Kim gặp Tsuchihashi vào ngày 13. Trần văn Lai được bổ nhiệm làm thị trưởng Hà Nội, Vũ Trọng Khanh thị trưởng Hải Phòng và Nguyễn Khoa Phong thị trưởng Tourane. NamKỳ chỉ được trả về cho triều đình Huế vào ngày 14 tháng 8 với Nguyễn văn Sâm được bổ nhiệm làm Khâm Sai Nam Kỳ.

Việc Việt Nam hóa guồng máy hành chánh thuộc địa chỉ thành công một phần. Bởi vì cả Nhật lẫn chính phủ Trần Trọng Kim đều không muốn thấy có những thay đổi quá lớn trong guồng máy hành chánh có thể làm trở ngại đến việc điều hành, thành ra bộ máy hành chánh thuộc địa của Pháp để lại hầu như còn nguyên.

Lúc ban đầu hầu hết những viên chức người Pháp cũng vẫn còn giữ nguyên các chức vụ cũ ngoại trừ những viên chức cao cấp hoặc những viên chức nào liên quan đến các ngành an ninh hoặc chính trị. Chỉ đến cuối tháng sáu những người Pháp này, ngoại trừ những chuyên viên tại những ngành thuần túy kỹ thuật mới bị cho nghỉ. Nhưng vì thiếu những người Việt có đủ khả năng thay thế cho nên việc thay đổi này đã ảnh hưởng mạnh đến hiệu năng của guồng máy hành chánh.

Việc dùng tiếng Việt thay cho tiếng Pháp trong hành chánh thành công hơn. Tuy rằng các liên lạc với Nhật vẫn còn phải dùng tiếng Pháp và những văn kiện quan trọng vẫn phải dịch sang tiếng Pháp cho người Nhật, nhưng kể từ 22 tháng 5, 1945 hầu như tất cả mọi văn kiện của chính phủ đều dùng tiếng Việt ngoại trừ trong lãnh vực y tế và trong văn thư liên lạc với các công ty Trung Hoa và Pháp. Việc dùng tiếng Việt trong các văn kiện chính thức cũng phù hợp với mục tiêu thứ ba của chính phủ Trần Trọng Kinh tức là tạo ra một tinh thần quốc gia mới.

Với mục đích này, chính quyền đặt nặng tới việc cải tổ giáo dục. Một chương trình trung học mới, dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ thay cho tiếng Pháp được Hoàng Xuân Hãn soạn thảo và áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Chương trình này sau trở thành cơ sở cho chương trình trung học tại Việt Nam, cả miền bắc lẫn miền nam, trong nhiều năm sau này.

Chương trình mới này nhấn mạnh tới lịch sử Việt Nam, đặc biệt là các cuộc kháng chiến bảo vệ hoặc dành lại độc lập cũng như là những thành công của dân tộc trên phương diện văn học và nghệ thuật. Một cuốn từ điển danh từ kỹ thuật do Hoàng Xuân Hãn và một số người khác soạn cho chương trình học mới này đã còn được sử dụng cho đến 1975 tại miền Nam Việt Nam.

Các biện pháp khác bao gồm việc đặt lại tên các đường phố theo các danh nhân Việt Nam và hủy bỏ những pho tượng các quan chức thuộc địa Pháp. Các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu được khuyến khích tìm hiểu lịch sử những cuộc đấu tranh chống Pháp và viết lại về cuộc đời những người như Nguyễn Thái Học.

Chính quyền cũng khuyến khích việc thành lập các hội đoàn. Công chức được tổ chức thành một tổng hội, Tổng Hội Công Chức, với hy vọng rằng biến họ thành một lực lượng chính trị ủng hộ cho chính phủ. Nhưng vừa thiếu kinh nghiệm vừa vừa e ngại không muốn vượt ra ngoài vai trò kỹ thuật, hành chánh của mình những tổ chức quần chúng mà chính quyền khuyến khích thành lập cuối cùng đều rơi vào tay những lực lượng chính trị khác.

Những trở ngại

Trà Mi: Trong khi thực hiện những chương trình như vậy, chính phủ Trần Trọng Kim có gặp những trở ngại gì không?

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Sự thiếu kinh nghiệm của chính phủ cũng như là tình trạng hỗn loạn tại nhiều nơi sau khi Nhật đảo chánh là trở ngại quan trọng nhất. Tại một số nơi, nhất là tại những huyện xa, các quan lại và công chức bỏ chạy về tỉnh sau khi đảo chánh khiến cho nhiều vùng, nhất là vùng quê không có ai kiểm soát.

Trong khi đó, chính quyền đã không nắm được tình hình chung cho nên có quá nhiều những quyết định được thảo ra và ban hành tại Huế, nhưng đã không được các địa phương áp dụng. Tuy nhiên, tại những nơi mà chính quyền có khả năng kiểm soát được, tức là tại những thành phố và thị trấn lớn ở miền bắc và miền trung, chính phủ Trần Trọng Kim cũng làm được một số cải cách. Một số quan lại tham những bị cách chức, có người bị đưa ra tòa. Với sự giúp đỡ của Nhật, tháng 6, 1945 một trường hành chánh được thành lập để huấn luyện công chức. Nhưng khóa đầu tiên của trường chưa tốt nghiệp thì chính phủ Trần Trọng Kim đã sụp đổ.

Nguyên nhân thất bại

Trà Mi: Xin ông cho biết vì sao chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại đựơc trong 1 thời gian ngắn là 4 tháng?

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: Quan trọng nhất là do sự đầu hàng của Nhật. Vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 nổi lên phong trào là người ta muốn thay thế bằng một chính phủ có tính cách chính trị hơn.

Đó là một trong những lý do khiến chính phủ Trần Trọng Kim phải từ chức vào ngày 7, 8 tháng 8 trong khi chờ đợi tổ chức 1 chính phủ mới. Thế nhưng sau đó xảy ra cuộc cách mạng tháng 8 Việt Minh cướp chính quyền, khiến cho việc tổ chức mới có tính cách chính trị và đấu tranh hơn bị thất bại.

Trà Mi: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Lê Mạnh Hùng đã dành thời gian cho buổi nói chuyện hôm nay.”

Nguồn: RFA

http://vietnamsaigon75.blogspot.com/2012/08/saigonhanoi.html

———————————–

***Mời các bạn đọc loạt bài đặc biệt về “Cách mạng Tháng 8”

Đây là một loạt gồm nhiều bài rất hay có tựa đề:

Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược- Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất xuất hiện vào tháng 4-1945
►Chính phủ Trần Trọng Kim 17-4-1945 là chính phủ đầu tiên của nước VN độc lập, Chính phủ 2-9-1945 của đảng CSVN ít được ai ủng hộ, nên phải có sự ra đời của chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến 2-3-1946
Những sự thật lịch sử từ tháng 3 đến tháng 9, năm 1945 – Từ 1945-1954 ở miền Nam ra sao  – (Cách mạng Mùa Thu bắt đầu từ bao giờ? – trích cuốn hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần Trọng Kim:0
  •  

 

Posted in Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Lê Hiếu Đằng : Những điều nói rõ thêm…và Suy Nghĩ trong những ngày nằm Bịnh (bản có sửa chữa)

Posted by hoangtran204 trên 19/08/2013

19/08/2013

Những điều nói rõ thêm…

 

Lê Hiếu Đằng

clip_image002Sau khi bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh của tôi và bài viết Phá xiềngcủa nhà báo Hồ Ngọc Nhuận đăng tải trên các trang mạng, một số bạn bè, đồng đội, nhân sĩ trí thức, nhà báo…, hoặc qua điện thoại hoặc gặp trực tiếp tôi đặt một số vấn đề, khiến tôi thấy cần làm rõ thêm về những suy nghĩ của mình.

Trong tình hình đặc biệt cần có những biện pháp đặc biệt, những liệu pháp “sốc” để đẩy nhanh quá trình phát triển theo chiều hướng dân chủ, tiến bộ để hội nhập thực sự vào dòng chảy hiện nay trên thế giới.

Tôi còn nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói ý này trong một cuộc gặp gỡ với một số nhân sĩ, trí thức và anh em trong phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh trước năm 1975, được thường xuyên tổ chức vào ngày 30 tháng 4 hàng năm – ngày mà theo cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt “có triệu người vui, có triệu người buồn”.

Thế thì tình hình đặc biệt hiện nay là gì? Có thể nói một cách khái quát là Việt Nam đang rơi vào một cuộc tổng khủng hoảng sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lãnh vực mà nhiều chuyên gia, nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà báo trong cũng như ở nước ngoài đã phân tích. Tôi chỉ xin nêu một số tình hình sau đây.

Nền kinh tế của chúng ta đang trên bờ vực thẳm do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu là do sự lãnh đạo và điều hành yếu kém của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, những tập đoàn, những nhóm lợi ích đang càng ngày lũng đoạn, chi phối nhà nước một cách nghiêm trọng; tệ nạn tham nhũng, lãng phí tràn lan không thể nào ngăn chận, làm thất thoát không biết bao nhiêu của cải, tài sản của nhân dân. Về vấn đề này, nhiều bài báo, nhiều phát biểu của các chuyên gia kinh tế trong nước và ở nước ngoài đã phân tích một cách sâu sắc với những cứ liệu cụ thể, tôi không nói gì thêm.

Đạo đức xã hội, trong đó những giá trị truyền thống của dân tộc, của gia đình bị xoáy mòn dữ dội trước lối sống thực dụng, giả dối, chạy theo chức vụ, đồng tiền của đông đảo cán bộ, đảng viên và một bộ phận nhân dân. Đặc biệt hai lãnh vực liên quan đến sự hình thành nhân cách và thể chất con người là giáo dục và y tế ngày càng bị thương mại hóa một cách tàn nhẫn, nên đã xuống cấp nghiêm trọng và toàn diện, không phương cứu chữa.

Sự phân hóa xã hội giàu nghèo ngày càng dữ dội. Một bộ phận nhỏ giàu lên nhờ tham nhũng, buôn lậu, mua quan bán tước. Còn đại bộ phận nhân dân, nhất là nông dân, công nhân, những người lao động, cuộc sống vô cùng khó khăn, mất đất mất nhà, phải ly hương khắp nơi, đôi lúc phải cho con em đi lao động nước ngoài như một lối thoát cho gia đình. Thậm chí một số nữ thanh niên rơi vào những địa ngục lao động tình dục đầy thương tâm, mất đi phẩm giá, danh dự của những công dân Việt Nam mà nhà nước phải có trách nhiệm bảo hộ.

Đảng Cộng sản Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng về lý luận và đường lối nghiêm trọng, với một nền “chính trị cường quyền” – chữ mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ám chỉ đường lối chính trị của Trung Quốc hiện nay nhưng đau xót thay, lại được áp dụng triệt để cho nhân dân Việt Nam. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng xa dân, mất lòng dân, không có khả năng tự điều chỉnh, thay đổi.

Với kinh nghiệm của một người hoạt động trong hệ thống chính trị hiện nay dưới sự lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều năm, tôi xin chứng minh khả năng tự điều chỉnh, thay đổi của Đảng Cộng sản Việt Nam là không có, hoặc nếu có thì phải có những điều kiện nhất định.

– Lúc tôi còn là Phó Chủ tịch thường trực và là Ủy viên Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM, có buổi làm việc với ông Lê Quang Đạo, lúc đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ông Phạm Văn Kiết (Năm Vận), Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký của Mặt trận Trung ương. Trong cuộc họp, hai ông đặt vấn đề: Trong hệ thống chính trị hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức chính trị xã hội rộng lớn bao gồm nhiều giai cấp, nhiều tôn giáo, dân tộc (theo điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) cần phải giữ vai trò “đối trọng” để giám sát chính quyền, ngăn chận khuynh hướng độc đoán, bè phái, tham nhũng. Hai vị nói rất say sưa về vấn đề này. Tôi và các vị trong Đảng đoàn và Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM rất phấn khích, đồng tình. Nhưng một thời gian sau, được biết chủ trương về vai trò “đối trọng” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã bị phê phán kịch liệt và có lệnh không được phép nhắc lại nữa. Ông Lê Quang Đạo cũng được cho về nghỉ vì đã dám có chủ trương nói trên.

– Cách đây vài năm, lúc ông Phạm Thế Duyệt, nguyên Thường trực Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng có một đề án “Về vai trò giám sát và phản biện xã hội Việt Nam” gởi qua Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đề án này cũng bị xếp xó cùng với luật lập hội…

– Gần đây nhất là qua việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đề nghị 7 điểm và bản dự thảo một hiến pháp mới, Hiến pháp năm 2013 của 72 nhân sĩ trí thức của cả nước đã được hàng vạn người ký tên đồng tình ủng hộ và những ý kiến có thể gọi là “tiến bộ” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng chính phủ đều bị lờ đi và dự thảo lần thứ tư trình trước Quốc hội vừa rồi có những điều còn lạc hậu thụt lùi hơn cả Hiến pháp năm 1992, nhất là quyền sở hữu đất đai, vấn đề lực lượng vũ trang. Về bản dự thảo lần thứ tư này, 40 vị nhân sĩ trí thức đã ra tuyên bố phê phán thẳng thừng, không còn nói một cách tế nhị như trong đề nghị 7 điểm, mà nói thẳng phải bỏ điều 4 Hiến pháp, phải thực hiện chủ trương đa nguyên đa đảng, phải thay đổi thể chế, v.v. Phải nói đây là những ý kiến quyết liệt nhất từ trước đến giờ của các nhân sĩ trí thức trong cả nước. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không nghe, như trước đây họ đã không nghe những ý kiến tiến bộ và rất xây dựng của những người đã từng đảm đương những trọng trách trong Đảng và nhà nước như Trung tướng Trần Độ, Trung tướng Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị và nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, và nhiều người nữa. Họ dùng phương châm làm ngơ, không nghe, không thấy để tiếp tục củng cố Đảng, ngỏ hầu “một mình một chợ” muốn làm gì thì làm, đưa đất nước đến bờ vực thẳm.

– Ngoài những sự kiện trên, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam là tạo ra một tầng lớp cán bộ, một loại “giai cấp mới” với nhiều đặc quyền đặc lợi để vì lợi ích cá nhân và gia đình mà sống chết bảo vệ chế độ. Chủ trương phát triển Đảng trong trường học là minh chứng cho việc này. Cho phát triển Đảng trong các trường trung học, đại học sẽ phá vỡ môi trường sư phạm, làm xấu đi quan hệ giữa thầy và trò. Trong một trường học, một lớp học thầy ngoài Đảng còn trò là đảng viên thì còn thể thống gì trong quan hệ giữa thầy và trò. Đoàn Thanh niên Cộng sản là lực lượng “kềm kẹp” học sinh sinh viên mà việc một số sinh viên trường Đại học Luật lập blog “Bảo vệ công lý cho Đoàn Văn Vươn” bị Đoàn Thanh niên Cộng sản của trường này dùng nhiều biện pháp ngăn cản, đe dọa là một ví dụ.

Hoặc hiện nay con đường tiến thân của thanh niên để leo nên những nấc thang quyền lực, nấc thang xã hội là về phường xã công tác, vo tròn, luồn cúi, vân vân, dạ dạ để được kết nạp vào Đảng – bước đầu tiên để họ tiến thân vào nấc thang danh vọng. Họ biết rằng trong chế độ hiện nay không đảng viên là không được cất nhắc đảm nhận những chức vụ quan trọng cho họ có quyền hành để nhận quà cáp, hối lộ. Nhiều quan chức giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền của TP HCM hiện nay là từ con đường này mà đi lên. Vì vậy trình độ của họ rất kém, thiếu hẳn văn hóa cơ bản, chẳng biết gì về xã hội nhân sự, xã hội công dân, tuyên ngôn Nhân Quyền và các nền văn hóa, triết học của thế giới, nền tảng của tri thức nhân loại hiện nay.

– Điều nghiêm trọng hiện nay là nền Độc lập Dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ mà đồng bào, chiến sĩ chúng ta qua nhiều thế hệ đã hy sinh biết bao xương máu mới giành lấy được, nay bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhà cầm quyền Bắc Kinh mà bản chất bành trướng, xâm lược không hề thay đổi. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhượng bộ nhiều trong hội nghị Thành Đô năm 1990. Đây là cơ sở cho chánh quyền Bắc Kinh mưu toan độc chiếm Biển Đông, thực tế là đã chiếm hẳn Hoàng Sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta và nay vẫn tiếp tục ngang ngược bắt bớ, truy đuổi cướp bóc ngư dân của chúng ta đang đánh bắt trong những ngư trường truyền thống. Thật là khó hiểu khi Đảng và nhà nước Việt Nam cho Trung Quốc triển khai lực lượng, tuy gọi là dân sự dưới chiêu bài các dự án kinh tế, ở các vùng chiến lược trọng điểm như Tây Nguyên, các vùng rừng núi phía Bắc, miền Trung và đến cả Cà Mau của đồng bằng sông Cửu Long. Họ biến những khu vực đó thành vùng riêng của họ, không cho người Việt Nam bén mảng vào. Một khi có biến, “đạo quân thứ 5” này sẽ là một lực lượng làm chúng ta không kịp trở tay mà kinh nghiệm trong những ngày đầu cuộc xâm lược của bành trướng Bắc Kinh năm 1979 ở các tỉnh biên giới phía Bắc là những kinh nghiệm đầy máu và nước mắt của cán chiến sĩ, đồng bào ta. Càng khó hiểu hơn khi Đảng và nhà nước Việt Nam lại cấm hoặc lờ đi trong một thời gian rất dài việc tổ chức các ngày tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc này.

Những điều nêu trên chứng minh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã không còn là đảng cách mạng như trước đây nữa, mà đang trở thành yếu tố ngăn cản sự phát triển của đất nước, đưa đất nước chúng ta vào một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện chưa có lối ra.

Gần 40 năm là thời gian quá đủ cho một nước “cất cánh” như các nước trong khu vực. Chủ trương đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản và chủ nghĩa lý lịch cùng với việc không thực tâm thực hiện chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc, làm hạn chế sức mạnh đoàn kết dân tộc, một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát triển đất nước cũng như để chống lại sự bành trướng của bọn xâm lược Bắc Kinh.

Tôi và nhiều bạn bè đồng đội khác cho rằng nguyên nhân chính là vai trò độc đảng của Đảng Cộng sản, không có những lực lượng xã hội khác thực sự làm đối lập, đối trọng để giám sát, ngăn chận sự lạm quyền, lộng quyền và các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản đi ngược lại lợi ích của quần chúng, của đất nước. Vì vậy đã đến lúc phải đẩy mạnh sự phát triển của xã hội dân sự, xã hội công dân, trong đó có các tổ chức chính trị độc lập và cùng tồn tại với Đảng Cộng sản và đấu tranh qua các cuộc bầu cử công khai hợp pháp có sự quan sát của quốc tế.

Sự ra đời của Đảng Dân chủ Xã hội hay một đảng hợp pháp nào đó là lẽ đương nhiên, phù hợp với sự phát triển hiện nay của một nước dân chủ thực sự. Đây là biện pháp đặc biệt để giải quyết một tình hình đặc biệt dù cho có gây “sốc” đối với đảng cầm quyền hiện nay. Việc rời bỏ hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam của nhiều đảng viên vừa qua cũng như hiện nay là để không còn ràng buộc gì nữa với 19 điều cấm đảng viên, tước đoạt một số quyền công dân cơ bản, mà Đảng Cộng sản đã tùy tiện đặt ra, để trở thành những công dân tự do.

Sau năm 1975 trong giới công giáo có một bài hát rất hay “Trước khi là người công giáo tôi đã là người Việt Nam”. Trước khi trở thành đảng viên Cộng sản, chúng tôi là người Việt Nam. Dù quá khứ như thế nào, khuynh hướng ra sao, chúng ta đều là người Việt Nam, đều có chung một mục đích là đấu tranh để xây dựng một nước VIỆT NAM ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Vậy tình hình đã chín muồi để đặt vấn đề này chưa? Một số người đặt vấn đề với tôi như vậy. Tôi và nhiều người nữa thấy tình hình đã chín muồi, khẩn cấp lắm rồi, nếu không tích cực giải quyết thì Việt Nam sẽ rơi vào cuộc tổng khủng hoảng triền miên, không loại trừ nguy cơ sụp đổ, nhất là trước áp lực ngày càng nặng nề của Trung Quốc, một nước láng giềng rất tráo trở, muốn biến nước ta thành một bộ phận, hoàn toàn phụ thuộc họ. Đây là nguy cơ thực sự.

Còn giả thiết rằng tình hình chưa chín muồi thì lại càng phải đấu tranh để nhanh chóng thay đổi thể chế, từ chế độ độc tài toàn trị sang chế độ Dân chủ Cộng hòa, phát triển xã hội dân chủ, xã hội công dân với những lực lượng chính trị độc lập để qui tụ quần chúng ngõ hầu đấu tranh kềm chế, giám sát đảng cầm quyền một cách có hiệu quả.

Nếu chưa chín muồi thì chúng ta chủ động làm cho nó chín muồi, chứ chẳng lẽ khoanh tay thụ động ngồi chờ cho nó chín muồi sao? Không thể có thái độ ngồi chờ sung rụng như vậy được. Chúng ta đã ngủ một giấc ngủ dài, làm ngơ trước những cái ác, cái xấu, cái bất công. Trước nỗi khổ của những người dân mất tự do, mất nhà, mất đất, chúng ta phải thức tỉnh, không thể chần chừ được nữa. Để đất nước rơi vào tình hình hiện nay có phần trách nhiệm của giới “sĩ phu”. Vậy đã đến lúc giới sĩ phu trong cả nước phải lãnh trách nhiệm đứng lên, dõng dạc và hiên ngang đi đầu trong cuộc đấu tranh này.

Chẳng lẽ chúng ta không thấy xấu hổ trước tấm gương sinh viên Phương Uyên, người con gái 21 tuổi trong phiên xử của tòa án phúc thẩm tại Long An vừa qua hay sao? Trước áp lực của xã hội, của quần chúng, tòa án phúc thẩm buộc phải xem xét lại bản án và Phương Uyên được trả tự do ngay tại tòa. Đây là một kết quả ngoạn mục, ít ai nghĩ đến. Nếu chúng ta cứ thụ động ngồi chờ cho tình hình chín muồi thì chắn hẳn bản án sẽ khác đi. Bất cứ cuộc đấu tranh nào, qui luật chung là đều có những “đột phát khẩu” để phá rào cho quần chúng tiến lên. Sẽ có hy sinh mất mát nhưng chúng ta phải chấp nhận.

Một vấn đề nữa là quá trình ra đời và phát triển một tổ chức chính trị, kể cả một đảng chính trị, không thể một ngày một bữa mà có ngay.

Đọc bài viết Phá xiềng của nhà báo Hồ Ngọc Nhuận, nhiều người hỏi là Đảng Dân chủ Xã hội đã có trên thực tế chưa. Thực ra bài viết của nhà báo Hồ Ngọc Nhuận chỉ nêu ra một ý tưởng để mọi người cùng suy nghĩ. Chứ thực ra việc thành lập một tổ chức chính trị nào, kể cả Đảng Dân chủ Xã hội, đều phải theo một qui trình nhất định. Chúng ta chủ trương đây là một việc làm công khai, hợp pháp nên trước tiên phải thành lập một ban vận động để sơ thảo cương lĩnh, điều lệ để có cơ sở cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ tổ chức này như thế nào, đường hướng ra sao để ủng hộ hoặc không ủng hộ và cũng là cơ sở khi đăng ký với chánh quyền để họ xem đây có phải là một tổ chức khủng bố, phản động, như ngôn ngữ hiện nay họ thường dùng hay không, hay đây là một tổ chức có đường hướng tuy khác với Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không có gì đi ngược lại lợi ích của đất nước, của dân tộc, có thể cùng song song tồn tại với Đảng Cộng sản và các tổ chức chính trị khác.

Chủ trương của chúng ta là ôn hòa  bất bạo động, chống lại các hành động quá khích, khủng bố, vũ trang lật đổ. Chúng tôi tin rằng việc làm đúng đắn của chúng ta sẽ được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp quần chúng, tuy bây giờ là đa số “thầm lặng”, những đến một lúc nào đó có điều kiện sẽ trở thành một lực lượng đấu tranh hùng hậu để xây dựng một nước VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, TIẾN BỘ XÃ HỘI VÀ VĂN MINH, một khát vọng sâu xa mà nhiều thế hệ cha ông chúng ta đã mơ ước.

Cho nên đây là một quá trình vận động. Hiện nay chúng ta đang trong quá trình vận động.

Những điều tôi viết trong bài này cũng như bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh là lời tâm huyết mà tôi đem cả tim óc để bộc bạch cho bạn bè, đồng đội và những người đã cùng nhau chiến đấu trước hoặc hiện nay, cũng như những người chưa quen biết trong và ngoài nước. Bệnh tôi chưa biết sẽ diễn biến ra sao, nhưng tôi hạnh phúc được nhiều người – kể cả có vị lãnh đạo cao của Đảng, Nhà nước – thăm hỏi, chăm sóc, có người còn cho những loại thuốc quý. Trong tình hình bất an hiện nay, nếu biết đâu tôi bị một tai nạn nào đó thì xin mọi người xem đây như những gì tôi để lại cho những người thân trong gia đình, những người mà tôi thương yêu, cho bạn bè, đồng đội và cho đời. Đó là tâm nguyện của tôi, rất mong mọi người hiểu cho.

Sài Gòn, ngày 18 tháng 8 năm 2013

L. H. Đ.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

————————————

17/08/2013

Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…

(bản có sửa chữa)

Lê Hiếu Đằng

 

Sau khi công bố “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…”, tôi nhận được rất nhiều ‎ kiến bạn bè thân hữu động viên, khuyến khích, cũng có những ‎ý‎ kiến muốn tôi nói thêm một vài vấn đề‎ mà khi còn ngồi trên giường bịnh, tôi ghi vội vàng chưa thật rõ ý định nói. Đó là lý do tôi viết thêm vài dòng cho rõ ý mình, nhưng về cơ bản thì giữ nguyên nội dung đã công bố về những suy nghĩ của tôi.

Lê Hiếu Đằng

 

 

Thời gian vừa qua, có dịp vào Sài Gòn, được tin ông Lê Hiếu Đằng phải cấp cứu ở BV Bình dân, tôi và bạn bè đã đến thăm ông. Chúng tôi nhìn nhau khôn xiết bồi hồi. Sờ bàn chân ông thấy có hiện tượng phù nhẹ, nhưng trông khuôn mặt thì vẫn rất linh lợi, nhất là ánh mắt sáng láng, vẫn ngời lên cái khát vọng tha thiết về tương lai dân chủ hóa cho đất nước. Vài ngày sau tôi nhận được điện của ông, giọng rõ từng tiếng: “Thưa anh HC, tôi đã ra viện, đã trở về với đội ngũ. Sẽ sớm có bài viết tính sổ đời mình gửi đến anh”. Bồi hồi sung sướng, tôi vâng lên một tiếng thật to ở đầu dây bên này, và từ đó cứ chờ đợi bài ông. 

Thì hôm nay, bỗng nhận được bài viết dưới đây trong e-mail với lời gửi gắm kèm thêm nói qua điện thoại: “Anh sửa chính tả thật kỹ giúp tôi, bởi đối với một người vừa qua cơn bệnh hiểm nghèo có thể viết còn nhiều lỗi. Nhưng toàn bộ những ý tưởng trong bài là của tôi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”.

Tôi xin vâng theo lời ông. Chợt nhớ tới câu châm ngôn mà chính nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã từng nhắc: “Nhân chi tương tử kỳ ngôn dã thiện”. Người bạn của tôi trong những ngày vừa qua cũng coi như đã một lần xáp mặt với cái chết và may mắn giải thoát khỏi nó, nên những lời ông nói ra là tất cả những gì tâm huyết ông muốn gửi gắm cho đồng bạn và cho lớp trẻ đang tiếp bước mình. Những lời vừa có tính chất ôn lại chuyện cũ để chiêm nghiệm sự đời cho sâu chín hơn, đồng thời cũng là sự kết đọng trong nó một lời tuyên ngôn chắc nịch về con đường nhất thiết phải đi để đưa dân tộc thoát khỏi số phận một chàng Sisyphe suốt đời phải đẩy khối đá khổng lồ chồng trên lưng mình như một định mệnh – mà một thời vẫn cứ mê muội ngỡ đó là trách nhiệm và vinh quang do lịch sử giao phó “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa” – nhưng ở thời điểm hiện tại thì sự quá tải trên mọi phương diện của một cái ách cực kỳ phi lý hầu như bất kỳ ai cũng cảm nhận được rõ ràng. Và câu nói âm thầm từ muôn miệng hình như đang cùng muốn thốt lên: Hãy hất nó xuống khe vực để đứng thẳng dậy, sánh bước cùng nhân loại văn minh. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Nguyễn Huệ Chi

*****

Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trải nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng, thôi thúc tôi phải viết lại những suy ngẫm của mình nhằm “thanh toán”, “tính sổ” lại những việc đã làm, những chặng đường đời đã đi qua, những đúng sai mà mình đã trải.

Trong lúc nằm bịnh tôi đọc quyển Chuyện nghề của Thủy của đạo diễn Trần Văn Thủy, truyện của các nhà văn quân đội như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần và qua tivi xem các chuyến đi thăm Mỹ của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm Hàn Quốc, Myanmar (Miến Điện) lại càng giục giã tôi viết những dòng này.

Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là chủ nghĩa xã hội từng được xây dựng ở Miền Bắc, một xã hội thiếu vắng sự tôn trọng cá nhân, tôn trọng con người và quyền làm người.

Tôi cứ lan man nghĩ mãi về những chuyến công du vừa rồi của các nhà lãnh đạo cao nhất của nước ta như chuyến đi của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang không nhận được những nghi thức đón tiếp dành cho nguyên thủ quốc gia, hay chuyến đi thăm Hàn Quốc, Myanmar của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Nếu đem so sánh các chuyến đi thăm Trung Quốc của các vị thì không khí hoàn toàn khác nhau. Không biết các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với lòng tự trọng dân tộc có “mở mắt” thấy điều đó không? Hẳn nhiên chúng ta không thể đòi hỏi Mỹ làm nhiều điều tích cực hơn bởi vì công bằng mà nói anh không thể “mở lòng” với một nước mà thái độ không rõ ràng, bất nhất.

Tất cả tình cảm của gia đình và bạn bè trong nước cũng như ở nước ngoài làm tôi suy nghĩ miên man trong lúc nằm bịnh, càng khẳng định con đường mà tôi cùng nhiều bạn bè, đồng đội đã lựa chọn, con đường tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng thời trai trẻ và một xã hội công bằng tự do dân chủ. Ở đó con người sống với nhau một cách tử tế, thật sự được giải phóng từ người nô lệ thành người làm chủ của đất nước. Tôi ngày càng hiểu sâu sắc từ “GIẢI PHÓNG” không có nghĩa như ngày nay người ta thường dùng mà là sự thoát xác thật sự làm người tự do dù cho người cai trị là da trắng hay da vàng; điều đau khổ, bi thảm là hệ thống cai trị khắc nghiệt nhất lại là của những người cùng dân tộc, như Việt Nam, như Trung Quốc, v.v.

Nếu hiểu từ giải phóng theo ý thức sâu xa đó thì tôi cũng rất đồng tình với nhận xét của nhiều nhà báo, nhà văn, học giả ở Miền Bắc, trong đó có nhà báo Huy Đức trong cuốn Bên thắng cuộc mới đây. Trên một số lĩnh vực, đặc biệt là sự giải phóng cá nhân, tôn trọng quyền con người, quyền được tự do suy nghĩ, tranh luận, về tập quán tôn trọng pháp luật, về cách quản trị trong thương mại, trong kinh doanh sản xuất thì chính là Miền Nam đã “giải phóng” Miền Bắc... Đấy là chưa nói đến thóc gạo của đồng bằng sông Cửu Long đã giải quyết vân đề lương thực cho cả nước như thế nào…

Vì những lẽ trên tôi nói là cần phải “tính sổ” với Đảng Cộng sản Việt Nam và với bản thân cuộc đời của tôi, tư cách một đảng viên, một công dân ở những điểm cơ bản sau: một cách minh bạch, sòng phẳng để từ đây thanh thản dấn thân vô cuộc chiến mới.

1. Vì sao tôi đi kháng chiến, vào Đảng Cộng sản Việt Nam?

Vào thế kỷ trước, chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đã làm say mê biết bao trí thức, văn nghệ sĩ ở các nước, nhất là ở nước Pháp, cái nôi của khuynh hướng xã hội, dân chủ mà cả thời kỳ ánh sáng với các tên tuổi như Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, v.v. với khát vọng xây dựng một xã hội bác ái, tự do, bình đẳng. Chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản chẳng những lôi cuốn, làm say mê nhiều thế hệ trí thức phương Tây mà ở Việt Nam cũng vậy. Những tri thức văn nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng như Văn Cao, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Thanh Tịnh, Thế Lữ, v.v. hay những trí thức tên tuổi ở nước ngoài như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường.

Thật ra họ theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh mà đi vào chiến khu chứ phần lớn trong họ ít hoặc chưa am hiểu lắm về chủ nghĩa Marx, càng chưa hiểu chủ nghĩa xã hội rồi sẽ ra sao, nhưng họ hy vọng sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng một xã hội dân chủ, tiến bộ xã hội, tự do, hạnh phúc mà trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946 ông Hồ Chí Minh đã trịnh trọng cam kết trước toàn dân tại quảng trường Ba Đình lịch sử.

Lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc đã thúc đẩy mọi người tham gia Cách mạng tháng 8 và sau đó đi kháng chiến. Bạn bè tôi và bản thân tôi cũng được thôi thúc bởi những tình cảm đó: lòng yêu nước, ý chí chống xâm lược, giành độc lập tự do dân chủ cho Tổ quốc để rồi sẽ xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn các chế độ cũ ở đó công nhân, nông dân, người lao động, những người hy sinh nhiều trong chiến tranh có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Tôi vào Đảng cũng rất đơn giản: năm 1966, anh Nguyễn Ngọc Phương (Ba Triết) phụ trách đơn tuyến tôi, hẹn tôi gặp nhau ở một chùa trên đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3-2) để sinh hoạt. Anh Nguyễn Ngọc Phương nghiêm mặt tuyên bố: “Đồng chí Bắc Sơn [bí danh của tôi lúc đó], đồng chí từ nay là Đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng [thực chất là Đảng Lao động Việt Nam ở Miền Nam mà thôi]. Lẽ ra tôi đưa điều lệ để đồng chí nghiên cứu nhưng đồng chí là người hoạt động công khai trong Ban Chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và Đại học Luật Khoa nên tôi bây giờ mới phổ biến một số điều trong điều lệ để đồng chí biết”. Một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả.

Anh Nguyễn Ngọc Phương, người phụ trách tôi trong thời gian đầu, là người lớn lên trong một gia đình khá giả, có em gái lấy nghệ sĩ hài nổi tiếng Bảo Quốc. Thật ra qua một số người hoạt động ở Huế anh ấy đã biết tôi đã từng tham gia phong trào đấu tranh sinh viên học sinh Huế lúc tôi còn học đệ nhị, đệ nhất Quốc học Huế và đã từng bị bắt giam ở lao Thừa Phủ Huế gần một năm với Lý Thiện Sanh (nay là bác sĩ định cư ở Úc) vì chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó nghĩ tôi là thành viên của Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Miền Nam.

Nhắc đến đây tôi có một kỷ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi. Tôi theo ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạoHiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Thuỳ Yên, v.v., kể cả quyển sách viết về Nietzsche của Nguyễn Đình Thi trước năm 1975. Gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều, đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ.

Những ngày ba tôi đến đón tôi ra thi, ông đã đi qua cánh đồng An Cựu trong giá lạnh. Tôi không thể nào quên hình ảnh đó của ba tôi. Bây giờ Người đã mất nhưng tôi không bao giờ quên ông, biết ơn nuôi dạy tôi thành người trưởng thành pha một chút ân hận vì tôi mà ông phải khổ sở. Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?

Trong thời gian đó, lúc nhà tù cho tù nhân làm văn nghệ, tôi thường hát bài “Tình quê hương” thơ Phan Lạc Tuyên, nhạc Đan Thọ, lúc đó là Đại úy Quân đội Sài Gòn. Gia đình của người phụ trách lao Thừa Phủ đứng trên bức tường có đường đi bao quanh nhà tù để xem. Đúng là cái máu lãng mạn của đám sinh viên học sinh chúng tôi lúc đó ngay trong tù cũng nổi dậy đùng đùng và có cô con gái rất thích bài đó. Lý Thiện Sanh đùa: “Nó khoái mày rồi đó”.

Về anh Nguyễn Ngọc Phương – người phụ trách tôi sau này bị địch bắt, đã hy sinh trong tù năm 1973. Năm ngoái, nhân ngày giỗ anh, tôi có kể lại việc mỗi lần sinh hoạt với tôi xong anh đề nghị tôi hát bài “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên. Hát xong tôi hỏi anh: “Anh là bí thư Đảng ủy sinh viên mà sao thích bài hát ướt át quá vậy?”. Anh cười buồn và nói: “Chúng ta chiến đấu xét đến cùng là vì con người. Nhưng bài hát đó viết rất hay về con người thì sao mình không thích được!”.

Nghe anh tôi càng cảm phục người đồng chí phụ trách tôi và hôm giỗ anh tôi hát lại bài “Trăng mờ bên suối” để cúng anh. Sau đó, chị Cao Thị Quế Hương có vẻ trách tôi vì cho rằng anh Phương không thể ủy mị như vậy. Tôi cười buồn và im lặng.

Tôi đã đi theo kháng chiến và vào Đảng như thế đó…

2. Vấn đề đa nguyên, đa đảng

Có thời gian từ 1975 đến 1983 tôi là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Về phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tôi hiểu được, có một điều cơ bản là cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở xã hội, cơ sở kinh tế, v.v.) như thế nào thì phản ảnh lên thượng tầng kiến trúc như thế đó.

Với những sai lầm kéo dài như chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả quy luật tự nhiên, cop-py mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao “thuyền nhân” phải chết tức tưởi trên biển. Trong đó có gia đình nhà báo Trần Triệu Luật, người đã cùng tôi vào chiến khu và đã hy sinh vào ngày 11.10.1968 tại căn cứ Ban Tuyên huấn Tuyên huấn cục Miền Nam cùng với nhà thơ Thảo Nguyên Trần Quang Long sau trận bom ác liệt của F105 của Mỹ. Tất cả điều đó là hệ lụy thảm khốc của chủ thuyết “chuyên chính vô sản” trong tư duy bảo thủ, giáo điều của những người lãnh đạo, nếu không gọi là tội ác thì cũng không thể tha thứ được.

Trước sự rên xiết của người dân, những nhà lãnh đạo còn có tấm lòng và sự gắn bó với dân đã nhận ra được sai lầm dẫn đến chủ trương “Đổi Mới”, chấp nhận kinh tế có nhiều thành phần trong đó có kinh tế cá thể. Thế thì một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ. Đó là quy luật tất yếu: không thể không đa nguyên đa đảng được. Như vậy điều 4 Hiến pháp hiện nay là đi ngược lại với sự vận động của thực tiễn, cản trở sự phát triển của đất nước.

Nếu Đảng cộng sản chấp nhận đa đảng thì sẽ tạo ra cho mình có sức kháng thể, tạo cơ may thoát được tình trạng quan liêu, tham nhũng làm ruỗng nát như hiện nay. Tôi hi vọng sẽ có những vị lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam dám chấp nhận thách thức này: Các Đảng, tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc bầu cử hợp pháp có quan sát viên Quốc tế giám sát như Campuchia đã làm.

Tôi thách bất cứ ai trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trong Ban Tuyên huấn của Đảng mà đứng đầu là ông Đinh Thế Huynh, vừa là Trưởng ban, vừa là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương trả lời luôn một cách công khai, minh bạch với chúng tôi trên các diễn đàn mà không chơi trò “bỏ bóng đá người” như thường sử dụng hiện nay.

Thực tế hiện nay, trong Nam ngoài Bắc đã tập hợp được những khuynh hướng có chủ trương đấu tranh cho một thể chế dân chủ cộng hòa mà tiêu biểu là đề nghị 7 điểm và dự thảo Hiến pháp năm 2013 của nhân sĩ trí thức tiêu biểu ở trong Nam ngoài Bắc như nhà văn Nguyên Ngọc, các giáo sư Hoàng Tụy, Chu Hảo, Tương Lai, Phạm Duy Hiển, những trợ lý Tổng Bí thư, Thủ tướng hoặc Đại sứ nhiều thời kỳ như ông Trần Đức Nguyên, Việt Phương, Nguyễn Trung, v.v.; các nhà kinh tế có uy tín lớn như Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà báo, nhân sĩ trí thức kỳ cựu như Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Đình Đầu, Lữ Phương, Kha Lương Ngãi, Nguyễn Quốc Thái; và các “lãnh tụ” sinh viên trước đây đã có một thời kỳ lẫy lừng trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975 như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Trần Văn Long (Năm Hiền), Huỳnh Kim Báu, Hạ Đình Nguyên, Cao Lập và biết bao con người tâm huyết khác. Trong đó có những người, mặc dầu đời sống kinh tế đã khá giả, có những người là giàu có nhưng không thể yên tâm thụ hưởng tất cả những tiện nghi của đời sống đã dũng cảm chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm cho bản thân mình cũng như gia đình, dấn thân vào cuộc chiến đấu mới để tiếp tục thực hiện lý tưởng thời trai trẻ của họ, cái lý tưởng đang bị phản bội, bị chà đạp, những lời hứa tốt đẹp năm nào trong kháng chiến đã bị vứt bỏ. Ngoài ra còn cả một lớp trẻ hăng hái, nhiệt tình bao gồm những blogger, những sinh viên đang có những hoạt động ở các trường Đại học hoặc nhiều tổ chức khác.

Tình hình trên cộng với thực tế hiện nay tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo).

Vậy tại sao chúng ta, hàng trăm đảng viên, không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ Xã hội, những Đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị Đảng Cộng sản bức tử phải tự giải tán.

Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này? Chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này, mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta.

Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa. Đây là một yếu tố sẽ làm cho xã hội công dân, xã hội dân sự mạnh lên, không có thế lực nào ngăn cản được. Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay. Chẳng lẽ nhà nước này bắt bỏ tù tất cả chúng ta sao? Chúng ta phải đấu tranh với phương châm công khai, minh bạch, ôn hòa, bất bạo động, phản đối tất cả mọi hành động manh động, bạo lực khiêu khích gây chiến tranh. Như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết đại khái trong bất cứ cuộc chiến tranh nào người thất bại đều là nhân dân. Giờ hành động đã đến. Không chần chừ, do dự được nữa.

3. Độc lập dân tộc đang bị thách thức!

Việt Nam đã thống nhất mặc dầu còn nhiều điều chưa hòa hợp, đoàn kết thực sự. Nhưng còn độc lập thì sao? Sau khi hy sinh biết bao xương máu, nay Đảng và Nhà nước Việt Nam đều phải len lén nhìn ông bạn láng giềng Trung Quốc, những kẻ luôn chực nuốt chửng nước ta và vào năm 1979 họ đã xua quân tàn sát người dân Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc mà tên Đặng Tiểu Bình xấc xược gọi là dạy cho Việt Nam một bài học.

Thật ra tổ tiên chúng ta, những tiền nhân thời xa xưa đã cho họ nhiều bài học Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, v.v. Không biết tập đoàn Tập Cận Bình có còn nhớ những bài học đó không? Riêng các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam thì dường như chưa thấy hết sức mạnh của dân tộc Việt Nam nên quá “hiền lành” đối với một nước lớn nhưng rất “tiểu nhân” (chữ nghĩa của các truyện Tàu), miệng thì xoen xoét nói về “bốn tốt, mười sáu chữ vàng” trong lúc hành động thực tế là uy hiếp, săn đuổi, bắt bớ một cách vô nhân đạo các ngư dân Việt Nam đang hành nghề trong ngư trường truyền thống của mình, hoặc hèn hạ cắt đứt cáp các tàu thăm dò dầu khí của chúng ta.

Thế mà phản ứng của lãnh đạo Việt Nam thì quá nhu nhược: chỉ là lời phản đối lặp đi lặp lại nghe quá nhàm tai và khó chịu của người phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Đến nỗi có những vụ việc lớn cũng không dám thực hiện một việc bình thường trong quan hệ quốc tế là triệu tập đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội để trao công hàm phản đối, chứ không chỉ là đưa công hàm đến toà đại sứ. Vậy thì độc lập cái gì? Hẳn nhiên là chúng ta không dựa vào nước này chống các nước khác nhưng thực tế quốc tế hiện nay rất thuận lợi cho chúng ta liên kết với các nước dân chủ để đấu tranh chống thủ đoạn bành trướng của Trung Quốc về Biển Đông.

Tôi rất mừng nghe Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở hội nghị Shangri-La chống lại nền chính trị cường quyền và những đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam. Trả lời phỏng vấn một thiếu tướng Trung Quốc, Thủ tướng đã khéo léo nói nước đó là nước nào ai cũng biết. Rõ ràng đây là cú đấm đích đáng bọn bành trướng Bắc Kinh trong một diễn đàn quốc tế. Tôi càng thấy vui hơn khi được biết đây là ý kiến của cá nhân Thủ tướng dám chịu trách nhiệm để tuyên bố như vậy chứ không có sự chỉ đạo nào của Bộ Chính trị cả. Vì thế mà Hạ Đình Nguyên trong một bài viết về vấn đề này đã hoan hô Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến năm lần.

4. Vấn đề Dân chủ, tự do và hạnh phúc

Thực chất đây là vấn đề dân sinh, dân chủ mà trước đây trong thời kỳ kháng chiến hoặc trước 1975 Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động để đấu tranh giành quyền sống. Đây là vấn đề về con người.

+ Về dân chủ thì đã quá rõ. Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập và kiểm soát lẫn nhau. Phải có một nền tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng hiệu quả. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ để bầu quốc hội lập pháp theo đúng các nguyên tắc mà học giả Jeane Kirkpatrick đã tổng kết: “Phải có các tính chất cạnh tranh, định kỳ, phổ thông, bỏ phiếu kín”. Đảng Cộng sản phải thông qua cuộc bầu cử tự do, bình đẳng như vậy mới trở thành Đảng cầm quyền nhà nước của dân, do dân, vì dân một cách thuyết phục.

Tôi nghĩ trong một thời gian dài Đảng Cộng sản vẫn là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản cần tự tin điều đó. Dần dần các đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập mà cứ duy trì thể chế “toàn trị độc đảng” thì tham nhũng, cửa quyền, xâu xé giữa các nhóm lợi ích đang kết nối với quyền lực thành một thế lực mafia khuynh loát toàn bộ hoạt động xã hội, đẩy đất nước vốn đang lâm vào cơn bạo bệnh trở nên vô phương cứu chữa, chỉ còn chờ chết mà thôi.

+ Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (như cách Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu nói). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí… thật sự. Do đó Hiến pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây chế độ toàn trị đã phản bội lại Hiến pháp đó, tước đoạt tất cả các quyền cơ bản mà Hiến pháp 1946 đã ghi, vất bỏ Tuyên ngôn Nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng để lấp liếm cho sự phản dân chủ, phản tiến hóa của họ. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế hệ mới có được.

Nhà văn Nguyễn Khải đã nói: “Khi đọc cuốn Bàn về tự do của Stuart Mill thì vỡ ra nhiều vấn đề”, và cuốn sách đó khơi nguồn cảm hứng cho ông viết bài tùy bút để đời: Đi tìm cái tôi đã mất. Nguyễn Khải đã nhìn lại những gì mà ông đã trải nghiệm một cách sâu sắc với một giọng văn nhẹ nhàng không hàm hồ nên rất thuyết phục. Đây là quyển sách đã đi sâu vào tim óc của chế độ mà không thấy các vị “phê bình chỉ điểm” (cách gọi mới đây của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, đối với Nguyễn Văn Lưu cùng với một số người trong việc “bề hội đồng” bài viết của Thạc sĩ Nhã Thuyên về nhóm “Mở miệng”) nào dám phê phán, chửi rủa.

Các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản tại sao không suy nghĩ trong chế độ thuộc Pháp lại có một thời báo chí, văn học nghệ thuật phát triển mà cho đến nay chưa có thời kỳ nào có thể so sánh được dù là chế độ gọi là “tự do gấp vạn lần” như bà Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan đã nói một cách hàm hồ, thiếu suy nghĩ, chỉ làm trò cười cho thiên hạ.

Báo chí thì nở rộ Gia Định báo,Phụ nữ tân vănNam PhongPhong hóaNgày nay… với những học giả Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi,… Văn học nghệ thuật thì có cả một trào lưu thơ mới với Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà thơ nổi tiếng khác với nhiều bài thơ bất hủ mà đến nay ai cũng thuộc nằm lòng.

Về tiểu thuyết thì có nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo… Ngoài ra còn có hàng loạt nhà văn tài hoa khác như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Lan Khai, Thanh Tịnh, Nguyên Hồng, v.v. Với Thanh Tịnh, tôi vẫn nhớ bài “Tôi đi học” trong tập Quê mẹ của ông. “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mênh mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Nhạc thì có một thời có nền tân nhạc rực rỡ với các tên tuổi như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Doãn Mẫn, Lê Thương, Nguyễn Văn Thương… Thế mà rồi Thanh Tịnh cũng như một số nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ khác không có nổi những tác phẩm lớn mà họ ấp ủ khi phải sống trong sự ngột ngạt của chế độ toàn trị, bóp nghẹt dân chủ và tự do.

Sau 1975, không khí vui vẻ, sum họp của những ngày đầu đã tạo hứng khởi để nhạc sĩ Văn Cao làm bài “Mùa xuân đầu tiên” với điệu valse dìu dặt. Nhưng tội nghiệp cho Văn Cao đã ngây thơ tin rằng “Từ đây người biết yêu người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết quê người…”. Cũng phải nói thêm rằng bài ca này cũng mấy năm bị cấm hát!

Những năm sau khi vào chơi với Trịnh Công Sơn và các nhạc sĩ Miền Nam, ông đã nói lên nỗi thất vọng của ông. Cảnh chia lìa, vượt biên, đày đọa, tù tội trong đó có người bạn văn chương của các ông đã làm ông chỉ biết trầm ngâm bên ly rượu. Có một điều an ủi ông là vào Nam, vào Sài Gòn ông nghe mọi người từ trẻ đến già đều hát “Mùa xuân đầu tiên”, “Thiên thai”, “Suối mơ”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”, v.v. của ông.

Vấn đề là Đảng Cộng sản Việt Nam cần trả lại những gì của lịch sử, của tiền nhân để lại. Việc đổi tên đường từ Trần Quý Cáp thành Võ Văn Tần, từ Phan Đình Phùng thành Nguyễn Đình Chiểu, v.v. là việc làm thiếu suy nghĩ, nếu không nói là ngu xuẩn, chà đạp lên lịch sử, xúc phạm những chiến sĩ tuy không phải là Cộng sản nhưng đã đấu tranh bảo vệ đất nước trong các phong trào Cần Vương, Duy Tân.

Ngay trong lĩnh vực báo chí, tại sao lại lấy ngày ra đời báo Thanh niên, báo của tổ chức Cộng sản làm ngày báo chí Việt Nam? Quan điểm tôi là phải lấy ngày 15-4 là ngày số báo đầu tiên của Gia Định báo năm 1865 làm ngày báo chí Việt Nam. Năm sau, một số nhà báo cùng chúng tôi sẽ tổ chức ngày báo chí Việt Nam vào ngày 15-4. Còn Đảng Cộng sản và các tổ chức của mình cứ lấy ngày 21-6 làm ngày báo chí Cách mạng cũng không sao. Việc ai nấy làm. Thế thôi.

Tại Miền Bắc gọi là xã hội chủ nghĩa khi hòa bình mới lập lại, các văn nghệ sĩ mà đặc biệt đi tiên phong là các nhà thơ, nhà văn quân đội, tiêu biểu là Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm,… đã gây chấn động trong vụ Nhân văn Giai phẩm. Có lẽ là những người trực tiếp chiến đấu chứng kiến cảnh chết chóc của nhân dân trong chiến tranh nên họ quyết tâm tiếp tục chiến đấu để xây dựng một chế độ xã hội tự do dân chủ và tiến bộ xã hội. Họ đã quy tụ được nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ đấu tranh quyết liệt đòi hỏi tự do sáng tác, đòi hỏi chính trị không được can thiệp vào sáng tác của văn nghệ sĩ.

Nhà nước độc tài Đảng trị trong những năm đó thấy đây là nguy cơ đe dọa của chế độ nên đã ra tay đàn áp, bắt bớ, tù đày một cách không nương tay. Công thần Nguyễn Hữu Đang, người đã làm lễ đài Độc lập năm 1945, bị tù với vụ án ngụy tạo. Hữu Loan  (người viết bài với lòng tự trọng của một người văn nghệ sĩ cương quyết về quê thồ vác đá nuôi vợ con. Nguyên Hồng khảng khái bỏ về Yên Thế nuôi heo để kiếm sống. Nguyễn Hữu Đang sau khi ra tù sống những ngày tủi nhục phải góp nhặt bao thuốc lá làm hàng “đối lưu”  với ếch nhái, rắn rết của bọn trẻ chung quanh. (Nguyễn Hữu Đang dùng vỏ bao thuốc lá để trao đổi lấy ếch nhái, rắn rết mà bọn trẻ em bắt được, để dùng làm thức ăn)

Năm 1989, tôi gặp Tiến sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường ở Pháp, người đã theo Hồ Chí Minh về nước năm 1946. Ông kể lại hoàn cảnh của ông lúc đó, bị cô lập đến nỗi học trò cũng không dám nhìn mặt, phải bán tủ sách quý để sống qua ngày. Còn nhà triết học Trần Đức Thảo, khi tôi còn làm Phó Chủ tịch thường trực Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM đã mời ông đến nói chuyện. Bước xuống xe ông ngó lên liền xem có công an theo dõi ông không.

Tôi còn có những kỷ niệm đau đến xé lòng khi còn nằm trong hệ thống chính trị của nhà nước toàn trị, lúc còn là Phó Chủ tịch thường trực Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM và là đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố khóa 4, khóa 5. Có mấy việc tôi còn nhớ mãi:

+ Đảng Cộng sản Việt Nam ngày trở thành kiêu binh. Đâu đâu cũng vỗ ngực xưng tên là “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Ngay cả Hội trường của cơ quan dân cử như Hội đồng Nhân dân Thành phố mà cũngchẳng thấy đất nước, Tổ quốc đâu cả, chỉ thấy một khẩu hiệu to chần dần [to đùng] “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Một số đại biểu trong Hội đồng Nhân dân trong Đảng cũng như ngoài Đảng thấy chướng mắt nhưng không dám nói. Họ đến nói với tôi. Tôi thông cảm họ. Trong Hội đồng Nhân dân khóa 5, khi lên phát biểu ở Hội trường, tôi trầm giọng nói: “Đây là cơ quan dân cử, đại diện cho nhân dân Thành phố, nhưng tôi không thấy đất nước, Tổ quốc ở đâu mà chỉ có Đảng Cộng sản muôn năm thôi là sao? Đảng chỉ là một bộ phận của nhân dân, không có Tổ quốc, nhân dân thì làm gì có Đảng. Đảng phải đặt Tổ quốc lên trên hết, vì vậy tôi đề nghị thay đổi khẩu hiệu này bằng Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Cả hội trường im phăng phắc. Nhưng ngay kỳ họp sau thì khẩu hiệu Đảng đã thay đổi bằng tên nước.

+ Tôi là Trưởng ban Văn hoá – Xã hội, Hội đồng Nhân dân Thành phố khóa 5. Trong các kỳ họp Hội đồng Nhân dân Thành phố, các ban có bài thẩm định khá công phu. Phải đi thực tế, làm việc với các ngành và sau đó họp toàn ban để thông qua; Trưởng ban là người quyết định cuối cùng. Tôi nhớ trong một kỳ họp, tôi thức suốt đêm sửa chữa, hoàn thiện văn bản để phát biểu trước Hội đồng Nhân dân. Khi lên phát biểu, nhìn xuống thì không thấy vị Phó Chủ tịch nào dự, kể cả Phó Chủ tịch phụ trách Văn hoá – Xã hội. Thấy vậy tôi không đọc mà đề nghị ông Huỳnh Đảm, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, cho các thư ký, trợ lý điện gấp cho các Phó Chủ tịch, nhất là các Phó Chủ tịch phụ trách Văn hoá – Xã hội về dự họp. Ban thẩm định chuẩn bị công phu để phân tích những vấn đề, nhất là những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, các vấn đề xã hội khác – những vấn đề có liên quan thiết yếu đến đời sống nhân dân Thành phố. Khi thấy các Phó Chủ tịch lục tục về họp tôi mới phát biểu bản thẩm định của Ban. Đây là lần đầu tiên các phóng viên báo chí thấy việc này nên rất khoái. Từ đó, kỳ họp nào các Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cũng đều có mặt trừ một số Phó Chủ tịch có lý do chính đáng. Cái bệnh chỉ coi trọng Đảng, Thành ủy, xem thường Hội đồng Nhân dân đã vào máu các vị quan chức của chúng ta.

+ Việc thứ ba là cuộc đấu tranh hay có thể nói là đấu khẩu của Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Võ Viết Thanh và tôi về việc có nên dẹp chợ hoa Nguyễn Huệ hay không? Cuộc đấu khẩu gay gắt đến nỗi Chủ tịch Võ Viết Thanh nói đại ý nếu đồng chí Đằng thấy Đảng chật hẹp quá thì xin ra khỏi Đảng. Tôi liền đốp chát lại: đó là chuyện mà tôi và anh sẽ nói trong Đảng, còn đây là Hội đồng Nhân dân. Giữa lúc có nhiều đại biểu đồng ý với tôi, trong đó có Trần Văn Tạo, Ủy viên Thường vụ Thành uỷ, Phó Giám đốc Công an Thành phố, Phạm Phương Thảo, Ủy viên Thường vụ Thành uỷ, Phó Chủ tịch phụ trách Văn hoá – Xã hội Uỷ ban Nhân dân Thành phố thì chủ tọa kỳ họp lại được tin ban Thường vụ Thành ủy họp và đã đồng ý dẹp chợ hoa Thành phố. Tôi cương quyết đề nghị phải có nghị quyết riêng về vấn đề này, nhưng chủ tọa làm ngơ và thông qua nghị quyết ở Hội đồng Nhân dân Thành phố. Tuy đấu tranh gay gắt như vậy nhưng đối với anh Võ Viết Thanh tôi vẫn tôn trọng tính trung thực, quyết đoán của anh.

Lúc đó tôi với tư cách đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố có phối hợp với các vị hưu trí Q.6, với Ban quản lý thị trường Thành phố để tố cáo những tiêu cực, sai trái của Giám đốc Đông lạnh Hùng Vương. Phối hợp với cuộc đấu tranh này có anh Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Thường vụ Quận ủy Quận 6, Trưởng ban Tuyên huấn Quận 6. Thắng cũng là dân phong trào sinh viên. Không hiểu sao sau đó có một văn bản có danh sách 12 người gọi là điệp báo của Cục tình báo Trung ương Mỹ trong đó Nguyễn Văn Thắng nằm ở số 7. Lúc ấy anh Nguyễn Minh Triết mới về làm Phó Bí thư thường trực của Trung ương. Tôi gặp anh Nguyễn Minh Triết và trình bày với anh về vấn đề này thì anh đề nghị tôi không can thiệp nữa vì danh sách đã có dấu đỏ của Đặc ủy tình báo Trung ương của Mỹ. Trước đó có người biết chuyện ngụy tạo danh sách này và nói danh sách láo được đánh máy trên giấy Bãi Bằng là giấy sản xuất sau 1975. Anh Nguyễn Minh Triết ghi nhận nhưng Nguyễn Văn Thắng vẫn bị giam ở số 4 Bạch Đằng. (số 4 Phan Đăng Lưu?- TH)

Lúc ấy Quận 6 tính lấy lại nhà của Nguyễn Văn Thắng ở Bà Hom, Quận 6. Tôi gặp Chủ tịch Võ Viết Thanh và đề nghị anh xem xét lại vấn đề này thì anh nói với tôi một cách cương quyết: “Chuyện chính trị của Thắng tôi không biết nhưng chuyện nhà của Thắng tôi bảo đảm không ai lấy được”. Anh giữ lời hứa khi Thắng được giải oan về lại Bà Hom, Quận 6 như cũ. Tôi gặp anh Võ Viết Thanh cám ơn anh. Nhân đó tôi hỏi thăm tại sao anh không đi học Cử nhân, Tiến sĩ như những người khác. Anh cười nói rất Nam Bộ: “Tôi không chơi kiểu đó. Nếu tôi học tôi sẽ xin nghỉ làm để đi học thật sự, không như những vị học giả mà bằng thật như hiện nay”. Từ đó quan hệ giữa anh và tôi rất vui vẻ, không còn nhớ gì trận đấu khẩu nảy lửa ở Hội đồng Nhân dân về vụ chợ hoa Nguyễn Huệ. Sau này anh bị thất sủng vì vụ án Sáu Sứ mà trong quyển Bên thắng cuộc nhà báo Huy Đức có nêu. 

Tôi nêu những trải nghiệm nói trên để chứng minh rằng trong chế độ này không có chỗ cho người trung thực mà chỉ dành cho những người nói láo, tránh né đấu tranh. Giờ đây chúng ta phải phá vỡ nỗi sợ hãi đó đi để thực hiện một chủ trương cực kỳ quan trọng của nhà cách mạng Phan Châu Trinh: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Cuối cùng tôi xác định bài viết này chỉ có mục đích là thanh toán, tính sổ cuộc đời của mình, trang trải những món nợ còn lại để gửi các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, để mong các vị hiểu ra mà có sự lựa chọn con đường sống cho dân tộc. Hiện nay xu hướng chạy theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội đã lạc điệu, không còn phù hợp nữa và đã sụp đổ tan tành ở ngay quê hương Xô Viết. Hiện nay là cuộc đấu tranh trên thế giới về dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nghĩa là đây là cuộc đấu tranh quyết liệt cho con người, vì con người chống lại các thế lực phản động đang âm mưu nô dịch nhân dân, phá hoại môi trường vì những lợi ích kinh tế ích kỷ của các tập đoàn, lũng đoạn nhà nước.

Tôi không tin lắm, nhưng dù sao thì vẫn cố hy vọng một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước sớm thấy tình hình và xu thế phát triển hiện nay để đặt lợi ích của Đất nước, Tổ quốc lên trên hết mà có một giải pháp hợp lý, không vì lợi ích và sự tồn tại của Đảng, của chế độ mà đi ngược lại xu thế phát triển của thời đại hiện nay.

Tôi nghĩ, chúng ta hiện nay cùng có trách nhiệm phải cương quyết đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ, tôn trọng và thực hiện lý tưởng của biết bao thế hệ cha anh chúng ta về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội, văn minh và giàu mạnh. Xã hội công dân một khi mạnh lên sẽ có đủ sức kìm hãm, ức chế các khuynh hướng độc tài của một nhà nước toàn trị. Trước mắt là phải “chấn dân khí” để không còn sợ hãi các thế lực tàn bạo, không sợ bắt bớ, tù đày. Sau đó là “khai dân trí” và “hậu dân sinh”.

Bài viết này cũng là để trải lòng với bạn bè, đồng đội và những nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các bạn thanh niên, sinh viên, học sinh mà tôi đã quen hoặc mới quen, để khẳng định một điều: với lòng tự trọng của một công dân một nước có lịch sử hào hùng chúng ta phải hành động. Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên này hay bên kia. Vì thật ra cả một bộ phận loài người trong đó có người Việt Nam khát khao với một xã hội tốt đẹp hơn, chống lại cái ác, cái xấu nên đã có thời gian dài nuôi ảo tưởng về đường lối xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết Stalin của Đảng Cộng sản.

Trước đây chúng ta chưa có đủ điều kiện, dữ liệu để nhận thức một số vấn đề sống còn của đất nước nhưng hiện nay tình hình trong nước và trên thế giới đã thay đổi, vì vậy chúng ta phải nhận thức lại. Nhận thức lại và dấn thân hành động cho cuộc chiến đấu mới. Đừng loay hoay những chuyện đã qua mà làm suy yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc. Hãy để con cháu chúng ta làm nhiệm vụ đánh giá lịch sử. Còn chúng ta trước mắt là hành động, hành động và hành động. Điều này tôi nói một lần rồi thôi…

Viết trong những ngày nằm bịnh.

L. H. Đ.

-Nguyên phó TTK Ủy ban TƯ LM các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam

-Nguyên phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam Thành phố.HCM (từ 1989-2009)

-Đại biểu HĐND Thành phố khóa 4, khóa 5

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Ông Lê Hiếu Đằng bị ung thư (2013), bị tiểu đường trước đó rất lâu, trong khi nằm viện chuẩn bị chữa hóa trị thì bị biến chứng tim mạch và qua đời 22-1-2014

ndanghung.com/bai-viet/2013/12/16

**

*Trong bài này có nhắc đến Võ Viết Thanh, Chủ tịch UBND Tp HCM cũng là Trung tướng công an Võ Viết Thanh.

Theo blog BS Ngọc  điểm sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) như sau:

3.- Tàn nhẫnSự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

Theo blog BS Ngọc

 ► http://boxitvn.blogspot.de/2013/08/suy-nghi-trong-nhung-ngay-nam-binh_17.html

*  Những đồi hoa sim, nhạc của Dũng Chinh, ca sĩ Phương Dung 

*  ÁO ANH SỨT CHỈ ĐƯỜNG TÀ (nhạc Phạm Duy, thơ Hữu Loan),  ca sĩ Elvis Phương

*  Màu tím hoa sim, Quốc Anh ngâm:  http://www.youtube.com/watch?v=RJswQvblNiM&feature=youtu.be

Hữu Loan: Về Bài Thơ Màu Tím Hoa Sim

———————————

LÊ HIẾU ĐẰNG viết về BS DƯƠNG QUỲNH HOA (2006)

Dương Quỳnh Hoa: Sự chọn lựa của một trí thức yêu nước

05/03/2006 05:07 (GMT + 7)

TTCN – Trong giờ phút cuối tiễn biệt chị, tôi bùi ngùi nhìn mãi di ảnh của chị: mái tóc bạc và đôi mắt đượm buồn. Đôi mắt u uẩn của một con người trí thức có tấm lòng.
Tháng 6-1968, trong chiến khu kháng Mỹ. Từ trái sang: Ông Lê Quang Lộc, bà Dương Quỳnh Hoa, ông Lê Hiếu Đằng – ba thành viên Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam (ảnh tư liệu của ông Phạm Hy Tùng)

Tôi gặp chị trong phong trào của các tầng lớp nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đấu tranh vì quyền dân tộc tự quyết, đòi hòa hình, chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mỹ ở VN. Điều mà cho đến bây giờ tôi không thể nào quên là lần đầu tiên gặp chị vào năm 1965: một nữ bác sĩ nói tiếng Pháp như gió, giọng của người dân Paris thật sự và có một nụ cười giòn giã, sảng khoái, khỏe mạnh.

Sau đó gặp lại chị nhiều lần mới biết được chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước: ba chị là giáo sư Dương Minh Thới, một trí thức nổi tiếng ở Nam bộ; anh chị là luật sư Dương Trung Tín, một trí thức đã bị địch thủ tiêu vì những hoạt động yêu nước. Nhưng có một điều lúc đó tôi chưa từng biết: ngay trong thời gian học tập, hoạt động ở Pháp, chị đã là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và sau này khi về nước chị đã bí mật tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN ngay từ những ngày đầu mới thành lập với bí danh là Thùy Dương.

Nhưng có lẽ thời gian tôi có để hiểu được bản chất tốt đẹp của người trí thức như chị là những năm tháng cùng nhau sống ở chiến khu. Năm 1968, trong khói lửa mịt mù của cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân, chị và nhiều nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, các nhà lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, công thương kỹ nghệ gia, các sinh viên trong ban chấp hành Tổng hội và ban đại diện sinh viên các phân khoa Đại học Sài Gòn đã rời bỏ cuộc sống đầy tiện nghi của đô thị, vào chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình VN.

Tôi vẫn nhớ như in cái đêm chị, tôi và nhiều vị khác âm thầm từ vùng Ba Thu Mỏ Vẹt vượt “đồng chó ngáp” lên địa điểm tổ chức đại hội thành lập liên minh. Là đại biểu nữ duy nhất trong đoàn thế mà chị vẫn đi thoăn thoắt, dường như không biết mỏi mệt dù cái tên gọi quãng đường “đồng chó ngáp” đã nói lên tất cả.

Rạng sáng hôm sau khi đến nơi, vừa quăng balô xuống đất, mặc dù mệt hả họng, tôi vẫn phải hỏi chị: Tại sao chị đi giỏi đến vậy? Chị tươi tỉnh cười phá lên nói nửa đùa nửa thật: Vì lúc ở Paris đi nhảy đầm nhiều nên chân rất khỏe. Cho đến nay, chị đã đi xa, tôi vẫn không hiểu chuyện ấy chị nói đùa hay nói thật.

Ngày 20-4-1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình VN ra đời với một ủy ban trung ương gồm 10 vị do luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch. Vài ngày sau, tòa án mặt trận vùng 3 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn đem ra xét xử khiếm diện 10 vị trong ủy ban trung ương liên minh với bản án tử hình và tịch thu gia sản, trong đó có chị và tôi cùng anh Huỳnh Văn Nghị (sau này là chồng của chị).

Nghe tin trên, chị lại cười phá lên sảng khoái khiến tôi phải giật mình nhắc nhở chị đây là khu căn cứ cần phải bảo mật, không phải như lúc còn ở Sài Gòn. Anh chị em cán bộ công nhân viên cơ quan, từ chị nuôi cho đến các chiến sĩ bảo vệ, ai cũng thương tính tình hồn nhiên, tươi trẻ của chị và sức chịu đựng gian khổ hiếm có trong những lúc khó khăn, ác liệt nhất.

Năm 1970, sau vụ đảo chính của Lon Non ở Campuchia, Đỗ Cao Trí, tư lệnh vùng 3 chiến thuật của quân đội Sài Gòn, đã mở trận càn Đông Dương đánh qua đất Campuchia. Để bảo đảm an toàn, các cơ quan xung quanh Trung ương cục miền Nam phải vượt lộ 7. Và trong cái đêm vượt lộ 7 không bao giờ quên đó, chị đã sinh được một cháu trai xinh xắn trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng lúc bấy giờ. Có lẽ đó là kỷ niệm khó phai đối với những người đã từng tham gia cuộc hành quân vượt lộ 7 và đã chứng kiến cảnh chị sinh con trong hoàn cảnh như thế nào. Nhưng ác nghiệt thay, sau đó vài tháng đứa con thân yêu của chị đã mất sau những cơn sốt rét dai dẳng.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chị đã từ bỏ mọi điều kiện ưu đãi của xã hội lúc bấy giờ để chấp nhận lao vào cuộc chiến đấu trong lòng nội thành Sài Gòn mà nguy cơ bị bắt, tra tấn, tù đày, thủ tiêu rình rập từng ngày, từng giờ và khi cần thiết chị đã dứt khoát thoát ly gia đình vào chiến khu như những chiến sĩ thật sự. Và thực tế chị đã là một chiến sĩ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho đất nước.

Ngày hòa bình lập lại, một lần nữa chị lại chọn lựa cho mình con đường đi mà ít ai trong hào quang của chiến thắng lại chọn lựa: chị âm thầm rời bỏ mọi bả lợi danh, chức quyền để trở về với thiên chức cao quí của người bác sĩ, nhất là bác sĩ nhi khoa. Trong bối cảnh của một đất nước đang bị chế độ quan liêu bao cấp hành hạ, chị đã cùng với một số đồng nghiệp xây dựng nên Trung tâm nghiên cứu nhi.

Với uy tín của chị trong quan hệ quốc tế, có thể nói lúc bấy giờ Trung tâm nghiên cứu nhi là một nơi có đầy đủ phương tiện, thức ăn dinh dưỡng để nghiên cứu, chữa bệnh và nuôi các cháu bé còi cọc, suy dinh dưỡng do hậu quả của chiến tranh hoặc do hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề lúc bấy giờ, trong đó có không ít là con cán bộ, chiến sĩ từ chiến khu về.

Trong lễ tang chị, tôi đã gặp biết bao người ứa nước mắt nhắc lại công lao này của chị và tập thể bác sĩ, cán bộ, công nhân viên của Trung tâm nghiên cứu nhi thời ấy. Bây giờ con cái họ khỏe mạnh, trưởng thành, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Gia đình tôi cũng đã chịu ơn chị. Ở đây tôi cũng cần nói một điều mà có người đã biết nhưng nhiều người chưa biết: đó là vai trò của anh Huỳnh Văn Nghị, chồng chị.

Trong mỗi bước đi của chị đều có sự âm thầm, lặng lẽ đóng góp của anh Nghị. Đây không phải đơn giản là mối quan hệ vợ chồng đầy tình nghĩa mà là một đôi tri âm tri kỷ, đồng điệu, chia sẻ với nhau những quan niệm sống và làm việc mà ít cặp vợ chồng nào có được. Chị mất đi để lại một khoảng trống thương tiếc khôn nguôi cho chồng chị và mọi người.

Con đường mà chị Dương Quỳnh Hoa lựa chọn là tấm gương của người trí thức chân chính đã biết từ bỏ mọi tiện nghi của cuộc sống để trở thành người chiến sĩ bảo vệ đất nước khi Tổ quốc cần và cũng biết âm thầm từ bỏ mọi bả vinh hoa, phú quí, quyền lực để trở thành một người công dân bình thường giúp ích cho đời, cho xã hội. Tất cả đều là phù du khi chúng ta nằm xuống. Cái tồn tại mãi mãi đó là lòng thương yêu, tôn trọng của mọi người. Phải chăng đó cũng là con đường “xuất – xử” của kẻ sĩ ngày nay?

LÊ HIẾU ĐẰNG

Báo Tuổi Trẻ

———————-

Cuộc đời và cái chết rất buồn của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

chauxuannguyen.org  và  by   (30-3-3013)   

image
Cố bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Đăng lần đầu: 31.3.2013

BBT.- Bài viết của Mai Thanh Truyết dưới đây có phần đúng sau ngày MTGPMN bị “chặt đầu”. Bài còn thiếu ở phần cuộc đời bà Hoa, có thể gọi là quan trọng lý do thúc đẩy bà theo CS, từ ngày học tại Pháp cho đến ngày chia tay Bs Trần Kim Tuyến tại quán ăn Thủ Đức đi vào khu. Muốn cho đầy đủ, tác giả nên hỏi lại các nhân vật sau đây: Bs Trần Văn Đỗ, BộTrưởng Ngoại Giao VNCH, người Chị ruột bà Hoa cũng là bác sĩ, làm viện Pasteur Saigon, Bs Nguyễn Văn Thọ, TGĐ Thông Tin Đệ Nhứt CHVN và Bs Trần Kim Tuyến.

*

Cuộc đời và cái chết của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Ts. Mai Thanh Truyết

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25-2-2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2.

Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên.

Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.
Sự im lặng của CS Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trải và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

image
Ông Huỳnh Văn Nghị và vợ – BS Dương Quỳnh Hoa, chụp ở chiến khu năm 1970

(theo bài báo của Lê Hiếu Đằng, người bên trái Bs DQH là …)

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40.
Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự.

LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN.
Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN. (MTDTGPMN) dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu -Mỏ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.
Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS.
Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán.

Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo.

Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

image

.
Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris 1973.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra.
Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau: “Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”.
Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.
Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ.
Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định…
Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: ”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”.

Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng.
Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước.
Trong thời gian nầy Bà tuyên bố: ”Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân.”
Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9, 10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa.

Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin.

Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc.
Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì …nhân dân (của Đảng!).
Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội : ”Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

.
image
Ký giả Morley Safer

.
Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là:
”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.”

Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói: ” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại.”

 

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

.

image

.
Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đổi lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.
Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003.
Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát.
Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
– Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
– GS, BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: ”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

.

image

.
Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoản. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
– Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
– Những người cùng cảnh ngộ.
Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để
(1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và
(2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và
(3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

image

.
Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề.
Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi.
(Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).
Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.
Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da.
Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ.
Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai.
Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường.
Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu.
Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).
Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

.

image

.
Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn.

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004.
Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. “Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”
Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.
Bà còn thêm rằng: ”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.
Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

.

image

.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương.

Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003.
Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.
Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH.

Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.*
Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Mai Thanh Truyết

 *Ngoài ra, còn có bài của Lê Hiếu Đằng (đăng phía trên)

——————————–

VỤ ÁN NĂM CHÂU, SÁU SỨ: VỤ ĐỘT KÍCH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP…

Posted by ttxcc6 on 06/02/2013

 Phamvietdao

Huy Đức.

Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Trung ương chỉ định về ứng cử đại biểu đi dự Đại hội tại Đảng bộ Nghệ Tĩnh. Cuối tháng 4-1991, ông vào Vinh dự họp với Đoàn đại biểu Tỉnh. Tới nơi thì đã quá trưa. Đợi vị tướng già cơm nước xong, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh Nguyễn Bá mới trao tận tay bức điện “khẩn tuyệt mật” của Ban Bí thư do ông Nguyễn Thanh Bình ký. Không được phép họp với Đoàn, Tướng Giáp bị yêu cầu phải trở ra Hà Nội ngay trong chiều hôm đó.

Năm ấy Tướng Giáp đã 80 tuổi. Đoạn đường Vinh – Hà Nội tuy chỉ hơn 300km nhưng bụi bặm và dằn xóc. Tướng Giáp trở về phòng, viết mấy dòng cáo lỗi gửi Đoàn đại biểu Nghệ Tĩnh rồi lại lên xe về Hà Nội, nơi ông sẽ phải ra trước Hội nghị Trung ương 12, đối diện với những cáo buộc chính trị mà về sau được gọi là vụ “Năm Châu – Sáu Sứ”.

Tại Hội nghị Trung ương 12, Khóa VI, ông Nguyễn Đức Tâm, Trưởng Ban Tổ chức, thay mặt Bộ Chính trị báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương một văn bản tuyệt mật nói rằng: Một vụ bè phái vi phạm nguyên tắc Đảng hòng chi phối vấn đề bố trí nhân sự cấp cao đang diễn ra. Những người tham gia bao gồm Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà, cùng một số cán bộ cao cấp khác.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ phụ trách an ninh, Trung tướng Võ Viết Thanh, nhớ lại: “Nghe ông Tâm nói, có cảm giác như đang có một âm mưu đảo chính để đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên làm chủ tịch nước sau đó thay ông Linh làm tổng Bí thư; đưa Trần Văn Trà lên làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Thời gian trước Hội nghị Trung ương 12, ông Trà bị triệu tập ra Hà Nội và bị giữ lại ở Nhà khách số 8 Chu Văn An. Văn bản tuyệt mật này được phổ biến tới thường vụ các tỉnh, thành, bằng cách cho đọc nguyên văn nhưng bị cấm sao chép”.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên, ủy viên Bộ Chính trị Khóa VI, nói: “Lật đổ là một câu chuyện bịa đặt. Ông Giáp không chỉ là một đại tướng mà xứng đáng là một đại nguyên soái. Một người không chỉ coi trọng sinh mạng binh sỹ mà còn đặt danh dự của tổ quốc lên trên. Ông là một người thận trọng. Nhân vụ Sáu Sứ, họ còn lật lại hồ sơ vụ ‘chống Đảng năm 1967’, đưa ra tài liệu cũ của Lê Đức Thọ, đây cũng là một vụ án được dựng lên”. Ông Võ Viết Thanh kể thêm: “Tại hai Hội nghị

12 và 13 của Ban Chấp hành Trung ương, nhiều vị tướng trong Quân đội hết sức bức xúc, đứng lên phát biểu bảo vệ Tướng Giáp. Cụ Võ Nguyên Giáp cay đắng: Đến một vị tướng đã đánh thắng Điện Biên Phủ mà người ta vẫn vu cho là con nuôi của mật thám Pháp”.

Gần tới ngày Đại hội, một hôm vào khoảng 9 giờ đêm, Bộ trưởng Nội vụ Mai Chí Thọ triệu tập một cuộc họp kín gồm có các thứ trưởng: Cao Đăng Chiếm, Phạm Tâm Long, Bùi Thiện Ngộ, Võ Viết Thanh. Ông Mai Chí Thọ nói: “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giao nhiệm vụ cho Bộ Công an làm rõ sai phạm của anh Giáp và anh Trà để xử lý cả về mặt Đảng và Nhà nước. Bộ chỉ đạo anh Võ Viết Thanh đảm nhiệm việc này”. Cả bốn vị thứ trưởng nghe đều phân vân, lo lắng. Ông Võ Viết Thanh nói: “Đề nghị Bộ trưởng trình bày lại với Tổng Bí thư đây là những người có công với nước, nếu có sai thì Ủy ban Kiểm tra Trung ương xác minh làm rõ còn khi đã chuyển công an thì phải có dấu hiệu phạm tội”. Mai Chí Thọ dứt khoát: “Chúng ta phải thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư”.

Ông Võ Viết Thanh nói tiếp: “Nếu phải điều tra, tôi đề nghị nên giao cho anh Cao Đăng Chiếm hoặc anh Bùi Thiện Ngộ vì hai anh có kinh nghiệm trong ngành hơn tôi. Tôi không từ chối, nhưng tôi biết bản báo cáo của đồng chí Nguyễn Đức Tâm lấy nguồn tin từ một số người không tốt trong Cục II, Bộ Quốc phòng. Tôi cũng biết người đẩy ra vụ này là Đoàn Khuê. Cá nhân tôi với Cục trưởng Quân báo Tư Văn và Cục phó Vũ Chính có ý kiến khác nhau trong một số việc như: lợi dụng nghiệp vụ đi buôn lậu; tổ chức cài đặc tình vào nội bộ… Bây giờ nếu tôi làm vụ này nữa thì rất căng với Cục II”. Mai Chí Thọ gắt: “Ông phụ trách an ninh, không làm thì ai làm”. Võ Viết Thành đành phải: “Tôi xin chấp hành”.

Ông Võ Viết Thanh kể: “Tôi bay vào Sài Gòn. Anh em an ninh đã có đủ tư liệu, vấn đề là tình hình nội bộ rất căng vì có tác động từ cấp cao. Nhiều người khuyên tôi khi điều tra không nên làm khác báo cáo của Nguyễn Đức Tâm. Người gần gũi nhất là Thiếu tướng Trần Văn Danh cũng nói là có người khuyên như vậy. Ông Danh gọi tôi tới, tôi hỏi: ‘Lời khuyên này xuất phát từ đâu anh Ba?’. Ba Trần, tên thường gọi của Tướng Trần Văn Danh, nói: ‘Ở cấp rất cao’. Tôi nói: ‘Tôi đề nghị anh Ba trả lời họ, tôi đang được giao một công việc mà tôi không thể nào làm trái đạo đức và pháp luật’. Ba Trần nghe bắt tay, không ngờ anh chỉ hỏi thế để thăm dò nhưng anh là người ủng hộ tôi làm đúng”.

Ông Võ Viết Thanh kể tiếp: “Ngày 14-5-1991, tôi ra lệnh bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Sứ. Anh em thi hành không bắt tại nhà vì sợ động mà bắt bí mật, đưa về 258 Nguyễn Trãi. Vừa vào trại, Sáu Sứ hỏi: ‘Các anh ở phía nào?’. Anh em dằn mặt:

‘Chị không được phép hỏi như thế, chúng tôi là cơ quan an ninh, yêu cầu chị nói hết’. Sáu Sứ trả lời: ‘Tôi là người Cục II,

yêu cầu được nói chuyện điện thoại với Tư Văn, Vũ Chính’. Anh em An ninh nói: ‘Chị là người phạm pháp, chị không được phép gặp ai cả’. Trong một ngày Sáu Sứ khai hết172”.

Không hề có một tổ chức nào do cụ Giáp đứng đầu như báo cáo của Nguyễn Đức Tâm đề cập. Theo ông Võ Viết Thanh, Sáu Sứ khai bà được Vũ Chính cấp tiền, cấp xe và đi gặp vị tướng nào, nói gì là đều theo chỉ đạo của Cục II. Thông qua một người tên là Năm Châu, từng công tác chung với ông Thanh Quảng, nguyên là thư ký của Tướng Giáp, Sáu Sứ được đưa tới nhà Võ Nguyên Giáp cùng một số cựu chiến binh. Hôm Sáu Sứ đến, cụ Giáp đang ăn, nghe có đoàn Cựu chiến binh, cụ dừng bữa cơm để tiếp. Sáu Sứ mang theo một giỏ trái cây vào tặng rồi xin cụ Giáp cùng chụp ảnh với Đoàn. Toàn bộ cuộc gặp chỉ có vậy nhưng Sáu Sứ báo cáo: “Cụ Giáp đã đồng ý với kế hoạch”. Rồi theo ông Võ Viết Thanh: “Băng ghi âm cuộc nói chuyện của Sáu Sứ ở nhà Tướng Giáp nghe không rõ nhưng Cục II vẫn xào nấu thành một bản báo cáo, theo đó: Đang có một vụ đảo chính, một vụ bè phái trong Đảng hòng chi phối vấn đề bố trí nhân sự cấp cao trước Đại hội VII do Tướng Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà cùng một số cán bộ cao cấp khác tiến hành. Bản báo cáo này trở thành cơ sở để Trưởng Ban Tổ chức Nguyễn Đức Tâm báo cáo trước Hội nghị Trung ương 12 về Tướng Giáp”.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Huyên, Chánh Văn phòng Tướng Giáp, từ Hội nghị Trung ương 12 về nhà nghỉ trưa, Tướng Giáp hỏi: “Cậu có nhớ ai tên là Năm Châu từng ở Nam Bộ ra đây gặp mình không?”. Ông Huyên nhắc lại sự việc xong, Tướng Giáp ăn cơm rồi đi ngủ. Đến cận giờ họp buổi chiều, ông Huyên vào phòng thấy Tướng Giáp vẫn ngáy khò khò, ông Huyên hỏi: “Việc đang thế này mà anh cũng ngủ được à?”. Tướng Giáp cười: “Cây ngay không sợ chết đứng”.

Trong khi đó, ngay sau khi Sáu Sứ bị bắt vào ngày 15-5-1991, theo ông Võ Viết Thanh: Cục II rúng động, Cục trưởng Tư Văn đổ bệnh. Trong ngày ông Võ Viết Thanh cầm bản cung của Sáu Sứ bay ra Hà Nội, 17-5-1991, Tướng Lê Đức Anh viết một bức thư cực ngắn: “Kính gửi: Bộ Chính trị. Tôi xin không ứng cử vào Quốc hội khóa IX. Xin cám ơn Bộ Chính trị. Kính! Lê Đức Anh”. Do căng thẳng, Tướng Lê Đức Anh ngay sau đó bị đột quỵ. Bác sỹ Vũ Bằng Đình, người trực tiếp cấp cứu, nói: “Ông Lê Đức Anh bị xuất huyết dạ dày, huyết áp tụt xuống bằng 0, hồng cầu chỉ còn một triệu. May mà cấp cứu kịp”.

Theo ông Võ Viết Thanh: “Ra Hà Nội, tôi làm báo cáo đưa ông Mai Chí Thọ đề nghị Bộ trưởng ký. Ông Mai Chí Thọ nói:

‘Cậu ký luôn, gửi và trực tiếp báo cáo anh Linh’. Ngay chiều hôm đó, Chánh Văn phòng Trung ương Hồng Hà xếp lịch gặp Tổng Bí thư. Nghe tôi báo cáo xong, ông Linh không nói gì. Nhưng, sáng hôm sau thì nhận được ‘điện mật’ của Văn phòng yêu cầu các nơi ngưng phổ biến và gửi trả văn bản do Nguyễn Đức Tâm ký về Văn phòng Trung ương. Sau đó, Trung ương không có một lời nào nói lại với Tướng Giáp, còn Tướng Trần Văn Trà thì vẫn bị giữ lại ở số 8 Chu Văn An”. Theo ông Võ Viết Thanh: “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã không đưa kết luận về vụ Sáu Sứ ra báo cáo trước Hội nghị Trung ương và ngay cả các ủy viên Bộ Chính trị cũng không mấy ai biết”. Thái độ của Tổng Bí thư như một tín hiệu để ngay lập tức ông Võ Viết Thanh nhận được đòn “đánh dưới thắt lưng” của Cục II.

Theo ông Võ Viết Thanh, ngày 23-6-1991, khi đại biểu đã được triệu tập về Hà Nội: “Trước phiên họp cuối cùng của Hội nghị trù bị, Hồng Hà, Chánh Văn phòng Trung ương đưa tôi miếng giấy, ghi: ‘Đề nghị đồng chí Võ Viết Thanh đến giờ giải lao ra gặp Bộ Chính trị và Ban Bí thư có việc riêng’.

Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII”.

Ông Võ Viết Thanh nói: “Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được173. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận”174. Cho dù giữ mình để bảo vệ Đại hội, tương lai chính trị của ông Thanh đã coi như khép lại. Ông Võ Viết Thanh nói: “Nếu tôi cứ nghe lời khuyên, kết luận giống như bản báo cáo của Nguyễn Đức Tâm, thì tôi sẽ được thăng chức, đề bạt nhưng rồi tôi lại phải dấn vào bước thứ hai là ra lệnh bắt oan Tướng Trà và Tướng Giáp. Làm thế, thì lương tâm sẽ giết dần, giết mòn tôi”175.

Năm ấy, Tướng Giáp vừa tròn 80 tuổi. Ông không nằm trong bất cứ cơ cấu nhân sự nào, vụ “Năm Châu – Sáu Sứ”, nếu thành, chỉ có thể hạ bệ uy tín của ông trong Đảng. Khi Võ Nguyên Giáp đã là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh chỉ mới là một cán bộ ở cấp tiểu đoàn. Sự mặc cảm trước uy danh của Tướng Giáp chỉ có thể được tích tụ thông qua hai người đã cất nhắc Lê Đức Anh: Lê Duẩn và, đặc biệt là, Lê Đức Thọ.     ( Trích từ cuốn Bên thắng cuộc của nhà báo Huy Đức )

—-

Đại tướng Đoàn Khuê ung thư gan

Đỗ Mười từng bị bệnh tâm thần trong 10 năm

Tân UV Bộ Chính Trị, giáo sư vật lý, Nguyễn Đình Tứ bị tai biến mạch máu não và đột ngột chết vào lúc 20 giờ ngày hôm sau, 28-6-1996,

Đào Duy Tùng bị ung thư

Posted in Đảng mới | 4 Comments »

►Sau cùng, Hà Nội phải nhượng bộ và thả Phương Uyên để làm đẹp lòng Quốc Hội Mỹ và đạt được mục đích

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2013

Thực tế của việc thả Phương Uyên chỉ là một cuộc đổi chát giữa Hà Nội đang xin xỏ Mỹ nhiều điều, còn Mỹ thì yêu cầu Hà nội phải thả Phương Uyên rồi mới xét tới các lời yêu cầu của Hà Nội. (Nguồn là video ở cuối bài này).

Tất cả đòn phép chính trị đối ngoại của Hà Nội trong các năm qua là bắt bớ, đổi chát, và thế chấp công dân của họ để đổi lấy những đòi hỏi và nhu cầu mà họ mong muốn từ Mỹ, như: được đỡ đầu về kinh tế, được bao che về quân sự, được nắm quyền lực, được hổ trợ về tiền bạc, được Mỹ bật đèn xanh cho WB, Nhật  cho vay mượn tiền…

Hành vi của đảng và nhà nước rất đơn giản và hèn hạ. Trước hết, (vì lo sợ làm mất lòng Trung Quốc là nước luôn đe dọa sẽ tung ra các tài liệu mật mà đảng và Nhà Nước đã ký kết với Trung Quốc; việc này sẽ làm dân chúng VN phẩn nộ và thế giới coi khinh), Hà Nội bắt bớ các blogger, những người đấu tranh cho dân chủ nhân quyền và những người đã đấu tranh chống sự xâm chiếm lãnh thổ của Trung Quốc.

Kế đó,  vì Hà Nội cần xin vào một tổ chức quốc tế nào đó để được giảm thuế xuất khẩu, chẳng hạn như TPP (trong quá khứ là xin vào WTO 2006, và APEC …), như vào lúc này  Hà Nội đang  đi xin xỏ Mỹ đỡ đầu vào tổ chức TPP và xin mua vũ khí của Mỹ, xin vào Ủy Ban Nhân Quyền LHQ…Theo luật pháp của Mỹ, phía hành pháp Mỹ là TT Obama phải đưa các vấn đề xin xỏ của VN ra quốc hội Mỹ để xin chuẩn thuận và sau đó TT Obama mới đỡ đầu, cứu xét cho Vn vào TPP., 

Những người thân của các blogger bị bắt, trước đó, đã làm đơn gởi tới các tổ chức của Việt Kiều hoặc gởi thẳng tới các tổ chức nhân quyền cầu cứu sự giúp đỡ, và các tổ chức của Việt kiều trình các đơn này cho dân biểu quốc hội Mỹ.   Khi phe của TT Obama (mà đại diện là Bộ Ngoại Giao) trình các lời xin xỏ của Hà Nội lên quốc hội Mỹ để xin phê chuẩn, thì Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện gọi Bộ Ngoại Giao lên chất vấn. Và các dân biểu đưa ra việc Hà Nội đàn áp nhân quyền, bắt bớ công dân VN và đòi hỏi Hà Nội phải thả người thì mới cứu xét đến các lời xin xỏ của Hà Nội…

Đến đây thì Đảng và Nhà Nước dựng tiếp các kịch bản: nhượng bộ  và đồng ý các yêu cầu ấy của quốc hội Mỹ (thả Phương Uyên, giảm án cho Đinh Nguyên Kha, đồng ý cho Ls Lê Công Định đi định cư ở Mỹ,  có sự dàn xếp từ hồi tháng 3-2013).

Sau cùng, Mỹ và các nước nhận thấy Hà Nội nhường nhịn, thế là họ sẵn sàng thỏa mãn một số yêu sách và sự xin xỏ của Đảng và Nhà nước…cho vào TPP.  Và thế là xong màn kịch.

Những chuyện đại loại như chuyện kể trên đã lập đi lập lại rất nhiều lần trong các năm qua mà điển hình là các biến cố bắt người và thả tù trong thời gian Hà Nội van xin Mỹ cho VN vào WTO Tổ chức Thương mại thế giới 2006, hoặc vào APEC…nhằm giảm thuế nhập khẩu, mà người được lợi chính là các công ty, tổng công ty, tập đoàn, do con cái của các cán bộ cao cấp làm chủ.  (Thử nghĩ các  món hàng xuất khẩu trị giá 20 tỷ đô la vào Mỹ như hiện nay, và đang bị đóng thuế 20%. Nay, Hà Nội vào được các tổ chức thương mai như WTO, và TPP, thì các món hàng ấy chỉ còn bị thuế 3%. Món lợi chênh lêch 17% được  giảm thuế sẽ tương đương với hàng tỷ đô la, bạn có nghĩ là công nhân VN được hưởng trọn số tiền ấy hay CHỦ của các công ty, tổng công ty của Nhà nước được hưởng? Ai làm chủ các công ty, tông công ty, tập đoàn hiện nay? Bạn, các công nhân VN, hay con cái của đám cán bộ cao cấp?).   

Thực tế hiện nay là Nhà Nước muốn vào TPP, mới được thành lập tháng 11/2012 (1). Nếu vào được Nhóm 12 nước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương,  thì các công ty xuất nhập khẩu (do con cái đám cán bộ làm chủ) sẽ được giảm miễn thuế nhập khẩu vào Mỹ và các nước hội viên tới hơn 80-90%, so với mức hiện nay. Và quan trọng không kém là Hà Nội sẽ được tạm hoãn trả tiền hàng tháng các món nợ của hơn 120 tỷ đô-la đã vay mượn bao năm qua,  và đồng thời mượn thêm tiền để cứu nguy nền kinh tế VN đang sa sút thảm hại, và số tiền mượn được của nước ngoài trong thời gian sắp tới sẽ rất dễ bề tham nhũng, các cán bộ cao cấp hưởng được tiền cò chí ít là 20-30% trong bất cứ dự án và hợp đồng nào ở VN.  

————

Video dưới đây kể lại một trích đoạn cho màn kịch ấy. Kế đó là chuyến đi thăm nước Mỹ của Chủ tịch nước Trương tấn  Sang  (2). Sau cùng là phiên tòa ở Long An xử phúc thẩm Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha và chuyến rời VN đi Mỹ định cư của luật sư Lê Công Định hôm 15-8-2013 (theo nguồn tin trên mạng cho biết).  (theo một bài viết của Ls Nguyễn Văn Đài, đây chỉ là tin vịt- Cập nhật 22-8-2013).

https://www.youtube.com/watch?v=DBe8s0Qsey4&feature=player_embedded

Qua video dưới đây ta có thể đoán ra câu chuyện như sau: Hành pháp của TT Obama đã đồng ý thỏa thuận cho Nhà Nước VN những ân huệ nào đó (chẳng hạn VN được vào Hiệp Định Đối tác Liên Thái Bình Dương TPP…). Nhưng thủ tục này phải trình qua Quốc Hội Mỹ để phê chuẩn. Quốc Hội Mỹ biết rõ chuyện Nhà Nước VN đã bắt giam 45 blogger trong vòng 6 tháng qua, và những blogger này chỉ là những người yêu nước, chống Tàu…

Lời tố cáo của mẹ của Phương Uyên và bạn bè của cô cũng đã tới tay các dân biểu quốc hội.  Như vậy, đối với quốc hội Mỹ, thì nhà nước VN đã bắt bớ các blogger, đàn áp tự do ngôn luận, và tự do phát biểu ý kiến của người dân VN, tức là đàn áp Quyền Con Người.

Bởi vậy, các dân biểu Hoa Kỳ rất bực tức, họ liền gọi phụ tá thứ trưởng Bộ Ngoại Giao tới chất vấn. Cuộc điều trần trước Quốc hội đã xảy ra vào tháng 6-2013, trước khi ông Trương Tấn Sang qua Mỹ (24-7-2013),

phút 4:12  Dân biểu Ed Joyce, Chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại Hạ Viện của Quốc Hội Hoa Kỳ chất vấn Phụ tá Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao,  Tiến sĩ Daniel Baer:   Việt Nam yêu cầu nhiều thứ từ Hoa Kỳ, Tôi không nghĩ rằng sẽ quá nhiều khi chúng ta yêu cầu trả lại tự do cho cô ấy (Phương  Uyên) và cho anh sinh viên kia (Nguyên Kha).

Phiên tòa phúc thẩm ngày 16-8-2013 đã trả tự do cho Phương Uyên, và giảm bản án cho Nguyên Kha còn 4 năm (thay vì 8 năm tù như bản án trước đây).  Trong phiên tòa này, Phương Uyên đã nói: «Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần tòa xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống đảng cộng sản không phải là chống phá đất nước, dân tộc. Xin các ông đừng đánh đồng… »  Vậy mà đảng CSVN và Nhà Nước phải nhịn nhục để tha bổng tội trạng của Phương Uyên. Có được kết quả này, là do bởi đảng và nhà nước phải nhượng bộ các dân biểu trong Ủy ban Đối ngoại Hạ Viện của Quốc Hội Mỹ.

https://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=DBe8s0Qsey4&t=252

————

THỨ NĂM 25 THÁNG BẨY 2013

Sợ Trung Quốc, Hà Nội tìm điểm tựa ở Washington

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130725-so-trung-quoc-ha-noi-tim-diem-tua-o-washington

Lưu Tường Quang / Tú Anh

“Tổng thống Obama và tôi sẽ thảo luận các phương án thắt chặt quan hệ đối tác giữa hai nước trong tinh thần bảo vệ hòa bình, ổn định và an ninh hàng hải tại Biển Đông , quyền lợi và quan tâm chung của nhiều nước trong và ngoài khu vực”. Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã trả lời như trên câu hỏi của hãng tin Bloomberg về mục tiêu chuyến công du Mỹ với trọng điểm là cuộc hội kiến tại Nhà Trắng vào hôm nay 25/07/2013.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, Washington DC - REUTERS /L. Downing

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, Washington DC – REUTERS /L. Downing

Không hẹn mà các bài nhận định của giới phân tích quốc tế cũng như thông điệp của giới nhân sĩ trí thức, blogger tại Việt Nam nhân chuyến công du Hoa Kỳ của chủ tịch Trương Tấn Sang có cùng một nhận định : phải bắt tay với Mỹ để thoát gọng kềm Trung Quốc.

David Brown, nguyên là nhà ngoại giao từng phục vụ tại Việt Nam phân tích rằng Hà Nội đang tìm cách thoát mối đe dọa từ Trung Quốc. Sự kiện ông Trương Tấn Sang, sau từ Trung Quốc trở về, đã cấp tốc sang Mỹ là dấu hiệu Hà Nội « đã bị chấn động vì những gì mà Tập Cận Bình đã nói riêng với ông Sang » tại Bắc Kinh hồi tháng 6 vừa qua.

Chuyên gia Úc Carl Thayer nhận định lãnh đạo Việt Nam sang Mỹ để thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị về Hội nhập Quốc tế chủ yếu là Quan hệ đối tác xuyên Thái bình dương TPP, không có Trung Quốc.

Trong khi đó, giới nhân sĩ, chuyên gia, blogger Việt Nam kêu gọi giới lãnh đạo Việt Nam, mà đặc biệt là ông Trương Tấn Sang hãy « nắm lấy thời cơ chứng tỏ bản lãnh » đưa đất nước ra khỏi bàn tay của « chủ nghĩa Đại Hán ».

Trong bức tâm thư công bố trên mạng Bauxitvn, các nhân sĩ nhấn mạnh hiệp ước thương mại đối tác xuyên Thái Bình dương TPP do Hoa Kỳ đề xướng, là giải pháp quan trọng giúp Việt Nam « tháo gỡ » gọng kềm Trung Quốc và giải quyết những khó khăn kinh tế hiện nay song song với cởi mở chính trị.

Liệu Hà Nội cần phải nắm bắt thời cơ như thế nào để bảo vệ quyền lợi của dân và đất nước ? RFI đặt câu hỏi với nhà phân tích Lưu Tường Quang từ Sydney.

« Hà Nội đang đi tìm điểm tựa ở Washington để may ra đối trọng lại phần nào với Trung Quốc Nếu chính phía Việt Nam đề nghị gặp tổng thống Obama thì đây là một bước tiến có thể gọi là tích cực của Hà Nội nhằm tạo một môi trường mới trong việc bang giao với Bắc Kinh, tương tự như Miến Điện đã đi tìm điểm tựa ở Washington để từ bỏ cái quá khứ lệ thuộc ».

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | 1 Comment »

►Phương Uyên: Tôi yêu Tổ quốc, nhưng xin đừng đánh đồng với Đảng

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2013

 

RFI tiếng Việt

Thụy My thực hiện

.

10

.

Vừa được trả tự do tại tòa phúc thẩm ở Long An chiều nay 16/08 (giờ Việt Nam), trong vòng tay vui mừng khôn tả của người thân, bạn bè và những người ủng hộ, đến tối sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã có mặt ở Saigon tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, nơi diễn ra một buổi liên hoan nho nhỏ để chào đón Uyên.

Trong không khí đầy xúc động này, Nguyễn Phương Uyên đã vui lòng dành thì giờ trả lời RFI Việt ngữ.

RFI: Thân chào Phương Uyên và xin chúc mừng bạn! Uyên có nghĩ mình sẽ được trả tự do hôm nay không?

Nguyễn Phương Uyên: Dạ không, tại vì rất là khó khăn, rất là khắt khe. Bởi vậy mà em không nghĩ là giờ này em được tiếp xúc với mọi người như thế này. Cảm giác rất là khó tả, vì bị giam đã mười tháng hai ngày, em mới được tiếp xúc với một bầu không khí khác với trại giam, một bầu không khí của sự tự do!

RFITrong phiên tòa phúc thẩm hôm nay Uyên đã nói những gì?

 

Dạ, tại phiên tòa phúc thẩm có ba vấn đề chính em đã đặt ra. Thứ nhất là về thẩm quyền: cơ quan của Long An không có thẩm quyền đối với vụ án của em.

Thứ hai là nói về cái hành động của em. Em cho là không phạm vào điều 88 là chống Nhà nước. Em vẫn yêu Tổ quốc của mình đấy thôi. Em chỉ có xúc phạm đến Đảng. Vì Đảng chỉ là một tổ chức nên không cào bằng được. Không vì cái sự quá tôn sùng một đảng phái mà mọi người, nhất là Hội đồng xét xử cũng như Viện kiểm sát cào bằng Đảng với Nhà nước Việt Nam.

Thứ ba là em nói ngắn gọn về sự khác nhau giữa phiên tòa sơ thẩm và giấy của tòa sơ thẩm gởi xuống cho em – có rất nhiều sự khác biệt. Mà em cho rằng đó là một bản án có trước, không công minh và không có sự công bằng. Đã có một sự sắp xếp trước, làm cho em cảm thấy thất vọng thêm về những gì đang diễn ra.

Tuy nhiên phiên tòa phúc thẩm lần này đã cho em một đốm lửa hy vọng, cùng với sự tin yêu vào mọi người. Cảm ơn mọi người rất là nhiều! Bây giờ em được như thế này là nhờ một phần rất là to lớn của mọi người, ở trong nước cũng như trên thế giới, đã đứng về phía em, cho em cơ hội nói lên quan điểm của mình tại một đất nước ở chế độ cộng sản.

RFIVì sao Uyên tự bào chữa mà không nhờ luật sư?

Tại phiên tòa sơ thẩm, mặc dù hai luật sư đã nói rất là nhiều, nhưng mà em thấy quyền hạn của luật sư rất là ít ỏi, thậm chí không có! Cho nên em sẽ tự bào chữa, bởi vì nếu quyền hạn không có thì không nên nhờ. Nếu tự nói thì sẽ tạo được nhiều cơ hội để em đối đáp với Viện kiểm sát cũng như Hội đồng xét xử. Sẽ có nhiều cơ hội để được nói hơn, em muốn nói lên tất cả những suy nghĩ của mình.

Điều thứ hai khiến em không muốn nhờ bào chữa của luật sư, là trong thời gian tạm giam mười tháng và hai ngày của em, em đã có một tí gọi là vững tâm. Vững tâm vào quan điểm mà mình cần nói. Bởi vậy em nghĩ là mình không có tội thì mình phải tự bào chữa cho chính mình. Cho nên em từ chối nhờ hai luật sư, là bác Lương và bác Sơn bào chữa.

RFILàm sao Uyên có thể giữ vững tinh thần được như vậy? Uyên còn trẻ, và chắc chắn là ở trong tù thì không thể như ở ngoài…

Dạ vâng, người ta bảo gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, ở đâu thì lại giống ở đấy thôi. Đôi khi lòng mình vẫn bị lung lay, sợ liên lụy đến những người bạn, đến cả gia đình. Nhưng em suy nghĩ, kinh Phật đã dạy em một câu: Cuộc sống chỉ là giả và tạm, sống trăm năm rồi cuối cùng cũng trở về với cát bụi.

Bởi vậy em không thể nào “bán danh chỉ có ba đồng”. Không thể nào làm trái lương tâm của mình được. Em không thể từ bỏ quan điểm, lập trường của riêng em. Đó là động lực thúc đẩy để em đứng trước tòa, tự bào chữa cho mình, cũng như giữ vững quan điểm và lập trường của mình.

RFIUyên vừa dẫn kinh Phật nhưng Uyên lại đang ở trong nhà thờ. Có lẽ đây là dịp để mọi người đoàn kết lại?

Vâng. Em chỉ có thể nói một lời: Cảm ơn tất cả mọi người trong nước cũng như trên thế giới! “We are one”- chúng ta là một, ở đâu cũng vậy, phải có công lý. Công lý và công bằng sẽ phải trở lại! Em hy vọng là trở lại càng sớm càng tốt.

RFIVẫn khó thể hiểu được là ở trong trại giam mười tháng rồi mà tinh thần Uyên lại được như vậy…

Đó là một việc không thể nào đoán biết được, em cũng không nghĩ là mình như thế. Ở cái tuổi hai mươi mốt, hai mươi hai này, em không nghĩ là mình như vậy. Nhưng mà em đã rất cố gắng, và nhờ mọi người rất là nhiều, những lúc đi thăm nuôi cùng gia đình em đã cho em động lực rất là lớn.

RFIThời gian gần đây Uyên có bị áp lực gì không?

Dạ, áp lực cũng rất là lớn. Mỗi khi gần ra tòa, áp lực đối với em là tại tòa. Phiên tòa có được công khai và minh bạch đúng thực chất hay không, hay là một phiên tòa dựng ra một cách hình thức?

Em mong muốn có những phiên tòa công khai và minh bạch, ở đó em nói lên được những quan điểm của mình, có nhiều người nghe, có nhiều người chứng kiến. Chứ không phải là phiên tòa chỉ mở ra để rồi bản án có sẵn đưa cho mình, thì em không muốn. Vì tòa là phải rõ ràng, công khai, đó là tính khoa học, pháp lý của pháp luật. Đó là sự công bằng. Em mong muốn có sự công bằng ở những phiên tòa.

RFIVà có lẽ Uyên vẫn tiếp tục phản đối những thái độ hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông?

Dạ vâng, tất nhiên là như thế. Vì trước những thái độ tiêu cực thì phải có những ý kiến để dừng lại. Còn những gì về sau này, thì ngày mai rồi lại đến, “tomorrow will come”. Bởi vậy hãy để xem ngày mai mọi việc diễn biến như thế nào.

RFIChắc là bây giờ còn quá sớm để hỏi, nhưng dự định sắp tới của Uyên là gì?

Đó là một bí mật, rất là bất ngờ. Mọi người sẽ chờ xem. Em không thể nói cụ thể được là nó như thế nào, nhưng hy vọng là sẽ không làm mọi người thất vọng.

RFIUyên sẽ quay trở lại trường học hay không?

Dạ, học, học nữa, học mãi, con đường học vấn của em không bao giờ dừng lại đâu ạ.

RFICảm ơn Phương Uyên nhiều lắm, và một lần nữa xin chúc mừng Uyên được tự do!

Cảm ơn chị và mọi người đã đứng về phía em rất là nhiều, em được trả lại tự do của mình là nhờ mọi người. Cảm ơn mọi người rất nhiều! Đó là sức mạnh để em vượt qua tất cả, là động lực của em!

Nguyễn Phương Uyên ra tù
Sinh viên Nguyễn Phương Uyên được gia đình và bạn bè đón về nhà

———————

Photo: Nice picture by Tiểu Anh (y)

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | 1 Comment »

►TƯỜNG THUẬT QUANH PHIÊN TÒA PHÚC THẨM XÉT XỬ Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2013

TƯỜNG THUẬT QUANH PHIÊN TÒA PHÚC THẨM XÉT XỬ HAI SV YÊU NƯỚC

 NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN VÀ ĐINH NGUYÊN KHA
 

Kết quả phiên tòa Phúc thẩm xử 2 sinh viên yêu nước:
– Đinh Nguyên Kha: 4 năm tù giam.
– Nguyễn Phương Uyên: 3 năm tù treo.

Hôm nay, 16.8.2013 tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ hai sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha. Phiên tòa được nói là công khai, nên ngay từ nhiều ngày trước rất nhiều người quan tâm đã đổ về Sài Gòn rồi Long An để được tham dự.

Chiều qua, đông đảo các nhân sĩ trí thức, các blogger nổi tiếng đã đến trại giam để thăm gặp hai em Uyên và Kha. Trong số họ có các vị: Huỳnh Kim Báu, Huỳnh Ngọc Chênh, Kha Lương Ngãi, Nguyễn Tường Thụy…Cuộc gặp diễn ra trong thời gian không dài nhưng mọi người đều vui mừng vì thấy sức khỏe và tinh thần các em khá tốt. 08h00: Anh Viễn Nguyễn từ HN vào dự tòa, vừa bị đưa lên xe ô tô để đưa về đồn CA Tân An.

Anh Trương Dũng cũng đã bị bắt vào đồn cùng anh Viễn. LM Thoại: Hai bên GD vẫn chưa ai được vào trong toà! Đã bị bắt đi 3 người: Thuý Nga, Anh Dũng, Anh Nguyễn Thiện!  NTT thông báo: Không khí khủng bố bao gồm khắp phiên tòa. An ninh đã bắt đi Viễn, Phan Trung Lương, mẹ con Trần Nga và Trương Dũng, tất cả là 4 người. Nhà báo Kha Lương Ngãi bị bắt đưa về đồn.
(Ông Kha Lương Ngãi nguyên là Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM)  Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh đang có mặt tại trước cửa tòa án cho biết: Ngoài việc 4 người bị bắt, công an còn xông vào giằng co cháu bé Tài trên tay chị Thuy Nga (mẹ của bé). Sợ nguy hiểm mọi người chặn xe không cho công an chở đi. Ông Huỳnh Kim Báu phải nằm xuống trước bánh xe để chặn xe lại.

Trước đó, vì không ai được vào phiên tòa, kể cả chị Nguyễn Thị Kim Liên là mẹ của Kha và Uy nên mọi người tổ chức biểu tình tại chỗ, hô vang khẩu hiệu phản đối phiên tòa “công khai” và đòi trả tự do lập tức cho các em.

Tiếp đó, mọi người bắt đầu đi bộ tuần hành một vòng thành phố Tân An rồi mới trở về trước cửa tòa án.

Hôm nay, có hàng trăm nhân viên an ninh làm việc quanh tòa, với các công cụ trấn áp và vẻ mặt bặm trợn. 

 

09h30: Luật sư Hà Huy Sơn đã trở ra. Ông cho biết tòa án đã mời ông ra ngoài vì Nguyễn Phương Uyên từ chối luật sư bào chữa.

Như vậy, phiên tòa hôm nay không có thân nhân nào có mặt trong tòa, mà cũng không có luật sư bào chữa. 

Luật sư Hà Huy Sơn cho biết: “Cả ba bạn Uyên, Kha và Uy đều từ chối luật sư. Lý do, các bạn này cho rằng phiên tòa đã có bản án, luật sư vào chỉ trang điểm cho phiên tòa mà thôi, nên không cần. Chính các bạn sẽ lên tiếng tự bảo vệ mình trước phiên tòa. Tinh thần các bạn rất mạnh mẻ, rất cương quyết và luôn luôn khẳng định mình vô tội. Chỉ chống Trung Quốc, không chống Việt Nam.” (Theo VRNs). 

 Bà Nguyễn Thị Nhung, mẹ của Phương Uyên tuyên bố sẽ chết tại sân Tòa án. Công an đang bu lại rất đông. (VRNs).


Từ Long An, blogger Nguyễn Tường Thụy mô tả “Không khí khủng bố trùm khắp phiên tòa!

 

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết: Sáng nay có rất đông các nhân sĩ trí thức, các nhà hoạt động đã tới quan sát phiên tòa như: các ông Huỳnh Kim Báu, Kha Lương Ngãi, nhà thơ Hoàng Hưng, Tô Lê Sơn….Một xe chở bà con từ Vũng Tàu thì đã bị chặn không tới được tp Tân An của tình Long An.

Từ Lanney Tran cho biết: 

 10h30 Tòa tạm ghỉ giải lao. Nguyên Kha được đề nghị mức án từ 5-6 năm, Phương Uyên vẫn y án 6 năm. Đến 14h chiều sẽ tiếp tục diễn tuồng..

 Mọi người ở ngoài tòa án hô to khẩu hiệu “Đả đảo Trung Quốc xâm lược!”, “Đả đảo tay sai bán nước!”. Mọi người vừa đi vừa biểu tình trên đường Trương Định về phía siêu thị Coop Mark. Phiên tòa dự kiến sẽ bắt đầu trở lại lúc 2 giờ chiều.

 Khi xe các bị cáo đi ngang qua, tuy không có ai thấy rõ những người bên trong, nhưng theo lời của LS Hà Huy Sơn, cả 3 đều ở trong và Đinh Nhật Uy không phải là bị cáo. 

 

Theo lời chị Dương Thị Tân, mẹ của Uy & Kha là chị Kim Liên trong lúc dằng co để giữ người (1 bác lớn tuổi lúc đang bị an ninh kéo đi) thì chị Kim Liên bị té, xỉu và bị thương cột sống. Bà con nằm xuống đường để cản xe bắt người đi, an ninh không nương tay đánh đập bà con để mở đường cho xe, bản thân chị Dương Thị Tân cũng bị đạp vào bụng. Trước đó bố của Đinh Nguyên Kha cũng bị công an bắt đưa đi đâu không rõ.  11h10: Hai mẹ con chị Trần Thuy Nga đã được trả tự do. Một số hình ảnh từ Fb Thuy Trang Nguyen – Truong Dung:

 
 
Hai mẹ con Trần Thị Nga (Hà Nam) băng qua đường
 
 
 
Mọi người nằm xuống đường chặn xe cảnh sát không cho đưa mẹ con Trần Thị Nga đi
 
 
 
 
Chị Nhung (mẹ Phương Uyên) quá bức xúc vì những gì diễn ra hôm nay, hiện ngất xỉu…

11h30: Nhà báo Kha Lương Ngãi, anh Nguyễn Viễn (từ Hà Nội vào) đã được trả tự do ngay sau khi phiên tòa buổi sáng kết thúc. Mọi người cùng nhau đi ăn trưa, lấy lại sức để chiều xem diễn tuồng tiếp. 

BUỔI CHIỀU:

Buổi chiều: gần một trăm người vì không vào được tòa án nên tập trung thành đoàn biểu tình quanh các đường phố Tân An hô vang khẩu hiểu Phương Uyên, Nguyên Kha vô tội, trả tự do cho người yêu nước…có mặt trong đoàn thấy có các nhân sĩ Huỳnh Kim Báu, Tô Lê Sơn, nhà thơ Hoàng Hưng, nhà báo Kha Lương Ngãi (mới được thả ra lúc 11g30), Bùi Hằng, Nguyễn Thị Tân, Nguyễn Hoang Vi An Đổ Nguyễn, Đốp Catherine, Cha Đinh hữu Thoại, Quyet Le Quoc , mẹ con Thuy Nga (mới được thả ra), Hoàng Dũng Cdvn, các bạn trẻ No U, bà con Bà Rịa Vũng Tàu…

Hiện đoàn đang đi quanh phố và kéo ra lối sau tòa án. Lực lượng công an chỉ ngăn chặn không cho vào khu vực tòa án, còn đoàn biểu tình mang theo nhiều khẩu hiệu đi quanh phố không bị ngăn chặn và quấy rối. Chính quyền Long An tỏ ra tôn trọng quyền biểu tình của người dân.

Chùm ảnh trên FB của Vy Vu và Đinh Huu Thoai:

 
 
 

 Chiều nay 3 giờ tòa tuyên. Theo thông tin truyền ra, phiên buổi sáng Nguyên Kha xin giảm án nhưng không hề nhận tội. Phương Uyên vẫn cứng cỏi tự bào chữa và tuyên bố mình vô tội.

Ls Nguyễn Thanh Lương, người duy nhất có mặt tại phiên tòa sáng nay (mặc dù Uyên & Kha từ chối luật sư, nhưng Ls Lương có mặt để đại diện cho Uy vụ dân sự – đòi lại tài sản) cho biết,

Trong phiên tòa, Phương Uyên đã hùng hồn tuyên bố: “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần toà xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống ĐCS không phải chống phá đất nước, dân tộc. Các ông đừng đánh đồng!

Đoàn biểu tình đang quay về cổng trước tòa án hô vang nhiều khẩu hiệu.  16h26: Được tin Tòa đã tuyên án: Đinh -Nguyên Kha: 4 năm tù giam.
– Nguyễn Phương Uyên: 3 năm tù treo.

 

Tin và ảnh bản tường thuật được thu thập từ nhiều nguồn. Xin chân thành cảm ơn các bạn!

Xin đa tạ chư vị đã quan tâm theo dõi.
———

Như ta biết, đảng CSVN và Nhà Nước rất hiếu chiến và háo thắng.  Một khi họ đã quyết định bắt giam và xử tù ai rồi, thì bản án ấy hầu như không thay đổi, trừ phi có sự can thiệp đổi chát bản án ấy với nước ngoài. Kết quả của phiên tòa ngày 16-8 đã cho thấy sự đổi chát ấy. Bây giờ thì đảng CSVN và nhà nước hoặc ông Trương Tấn sang có thể gọi phone qua Mỹ hỏi: Ông Obama ơi! Như thế này ông và quốc hội Mỹ đã hài lòng chưa? Chừng nào các ông thực hiện việc ấy cho chúng tôi? –Trần Hoàng

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Luật gia Lê Hiếu Đằng: “Một xã hội dân sự mạnh mới mong huy động được sức mạnh của toàn thể dân tộc để chống lại bành trướng Bắc

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2013

Với căn bệnh ác tính tại nhà riêng, Lê Hiếu Đằng (LHĐ) gượng ngồi lên tiếp chúng tôi. Xanh, gầy, hai chân hơi phù, bàn tay đưa ra mềm và không có được hơi ấm nóng, ông nói nhỏ, chầm chậm. Rõ ràng ông đang rất yếu. Nhưng khi chúng tôi ngỏ ý muốn phỏng vấn để ông nói rõ thêm những ý tưởng của mình sau bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh ông đã gửi gắm trên BVN, mắt ông sáng hẳn lên, giọng nói bỗng khoẻ lên và ngày càng mạnh mẽ. So với ngày ông tiếp chuyện BVN lần đầu tiên cách đây gần ba năm để rồi cho ra đời hai bài viết đầu tiên của ông trên thế giới mạng “lề trái” (Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước,…), ý kiến của ông về con đường dân chủ hoá giờ đây thật dứt khoát, triệt để, rõ ràng. Nhưng hôm nay câu chuyện của chúng tôi có lúc trầm xuống, ông nghẹn ngào, mắt ứa lệ khi nói đến việc lý tưởng Cách mạng bị phản bội, nhân dân đau khổ triền miên. Vận nước đã đến hồi “bĩ cực”, không thể trì hoãn việc dân chủ hoá, xây dựng thể chế đa đảng để đất nước thoát khỏi hiểm nghèo. Bauxite Việt Nam  (BVN)

 

Chia sẻ bài viết này

 

Luật gia Lê Hiếu Đằng (Trả lời phỏng vấn BVN)  15-8-2013

Bauxite Việt Nam (BVN) : Trong bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh mới đăng trên BVN và đang được lan truyền rộng rãi trên mạng, ông đã nói rõ quan điểm phải có thể chế đa đảng cho nước Việt Nam. Xin hỏi quan điểm ấy đã hình thành như thế nào trong ý thức tư tưởng của một người đảng viên Cộng sản trung kiên như ông?LHĐ: Thực ra đã lâu, từ khi tôi là giảng viên triết học Mác Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, tôi đã thấy chủ trương cấm đa nguyên đa đảng là không phù hợp với ngay chủ thuyết Mác. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải công nhận kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, tồn tại nhiều giai cấp với những lợi ích khác nhau, thì cơ sở hạ tầng ấy quyết định kiến trúc thượng tầng phải có đa đảng để bảo vệ quyền lợi của các nhóm xã hội khác nhau.

Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương không đa nguyên đa đảng nhưng điều này chưa hề thể chế hoá thành văn bản pháp luật, quyền tự do lập hội vẫn được Hiến pháp thừa nhận tuy đã bị trì hoãn mãi không thực thi. Những điều này tôi suy nghĩ đã lâu rồi. Vấn đề là thời điểm nào thì thích hợp để nêu ra. Hiện nay, những khuynh hướng đối lập với Đảng Cộng sản đã xuất hiện, tại sao ta không có những chính đảng ra đời để khắp trong Nam ngoài Bắc, khi có những ý kiến phản đối đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản thì lập tức được đưa ra công khai?

Ngay trong Đảng Cộng sản, ngày càng nhiều đảng viên muốn ra khỏi đảng hoặc đã lẳng lặng bỏ sinh hoạt đảng. Tại sao việc này lại không làm công khai? Tại sao ta không nghĩ đến việc lập ra một chính đảng, vì đó là quyền công dân được Hiến pháp bảo hộ.

Còn vì sao ta nên lập một đảng xã hội dân chủ? Ta biết rằng chính “Mác già” cũng đã bỏ chủ trương chuyên chính vô sản thay bằng con đường xã hội dân chủ như đường lối của Đệ Nhị Quốc tế. Trên thế giới hiện nay, dân chủ xã hội là trào lưu mạnh mẽ, là xu hướng tiến bộ nhất. Đi theo con đường này, ta có chỗ dựa vững chắc ở bạn bè quốc tế. Ta cũng đã từng có hai đảng Dân chủ và Xã hội, nay cũng có thể khôi phục hai đảng này, nhưng nội dung phải hoàn toàn khác, thực chất là đối lập chứ không phải “bánh vẽ”, hình thức, chỉ là công cụ của Đảng Cộng sản như trước đây.

BVN: Cũng có ý kiến cho rằng các đảng viên tốt không nên ra khỏi Đảng Cộng sản, mà phải ở lại để làm cho Đảng chuyển hoá. Ông nghĩ thế nào về ý kiến này?

LHĐ: Điều đó là hy vọng đã lâu, nhưng đến nay thì tôi đánh giá là không còn khả năng. Bởi vì những người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã không chứng tỏ được họ vì quyền lợi của đất nước. Chỉ một cái khẩu hiệu “còn Đảng, còn mình” của công an là đủ cho ta biết họ vì cái gì? Có một số vị cấp tiến như Võ Văn Kiệt muốn thay đổi, nhưng cũng bất lực và không thể thoát khỏi sự ràng buộc của Đảng. Cho nên phải có một xã hội dân sự mạnh để kiểm soát quyền lực nhà nước, mà đảng chính trị là hình thức cao nhất của xã hội dân sự.

BVN: Có sự lo ngại rằng: đấu tranh có tổ chức là hình thức mà chính quyền kỵ nhất, nên việc lập chính đảng sẽ bị trấn áp tàn khốc. Ông có sợ điều đó xảy ra?

LHĐ: Tất nhiên sẽ có sự đàn áp, và bắt bớ là chuyện rất có khả năng xảy ra. Nhưng nếu đã là một tập thể mạnh thì sợ gì bắt bớ. Tôi có thể bị bắt, một số người đi đầu có thể bị bắt, nhưng những người còn lại sẽ tiếp tục đấu tranh, sẽ có hàng trăm, hàng ngàn người tiếp tục chiến đấu, không thể bắt hết mọi người.

Thời gian vừa qua cho thấy ngày càng nhiều người dũng cảm lên tiếng, và lên tiếng ngày càng mạnh mẽ, có nhiều người mà mình không ngờ. Ngay trong Hội đồng Dân chủ & Pháp luật thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khi góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992, tôi rất bất ngờ vì có những vị trưóc đây rất “hiền lành” nhưng nay lại quyết liệt đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp vì cho rằng nếu duy trì điều này thì không bao giờ có được dân chủ thật sự, Quốc hội, Hội đồng Nhân dân chỉ là công cụ để hợp thức hoá sự độc quyền của Đảng Cộng sản mà thôi. Hay vụ Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, văn bản 72 người ký còn nêu vấn đề một cách nhẹ nhàng, nhưng khi bản Dự thảo sửa đổi lần 4 đưa ra trình Quốc hội, thì 40 người lên tiếng phản đối rất quyết liệt, đòi đa nguyên đa đảng rõ ràng.

Vậy thì đừng lo chuyện bắt bớ. Riêng tôi, tôi không sợ bị bắt. Mình không thể lùi bước khi người dân đã chịu quá nhiều đau khổ [ông nghẹn ngào một lúc rồi mới nói tiếp]…, người dân đã hy sinh quá nhiều, để rồi có một chế độ như ngày nay so với chế độ Sài Gòn còn tệ hơn. Sự hy sinh kéo dài của người dân hầu như vô ích, những mục tiêu của cuộc Cách mạng là Độc lập, Tự do đã bị phản bội. Tôi không thể chấp nhận điều đó.

BVN: Còn một lập luận nữa, cho rằng lúc này phải tăng cường đoàn kết toàn dân để chống lại nguy cơ Bắc xâm, vậy việc ly khai Đảng Cộng sản có lợi hay có hại?

LHĐ: Phải đoàn kết, nhưng vấn đề là đoàn kết dưới sự lãnh đạo sáng suốt của một chính đảng lấy quyền lợi của đất nước, của dân tộc, của nhân dân là lý do tồn tại duy nhất, chứ không phải vì quyền lực, vì lợi ích phe nhóm như hiện nay. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta không thể trông cậy vào ai khác ngoài sức mạnh của dân tộc. Một chính đảng đối lập chính là kháng thể để chống những căn bệnh đã trở nên bất trị do thể chế độc tài tạo nên cho xã hội, cho dân tộc. Chúng ta chỉ có thể đoàn kết với sự đối thoại công bằng, sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng.

BVN: Ngoài những điều đã viết đã nói ra, ông còn những điều gì muốn chia sẻ với bạn đọc BVN?

LHĐ: Có hai việc bây giờ ta phải làm. Một là về tư tưởng, phải kiên quyết từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin đã quá lạc hậu. Phe gọi là Cộng sản chỉ còn Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, chưa kể Bắc Triều Tiên với thể chế quái dị không biết ta có ôm vào phe mình hay không, nếu có thì quá xấu hổ.

Về công việc thực tế, bây giờ phải tập trung xây dựng xã hội dân sự mạnh, trong đó có chính đảng đối lập. Phải bắt đầu cho cuộc vận động thành lập một chính đảng mới. Một xã hội dân sự mạnh mới có thể làm áp lực để Đảng Cộng sản cầm quyền phải thay đổi theo hướng dân chủ. Như vậy mới mong huy động được sức mạnh của toàn thể dân tộc để chống lại bành trướng Bắc Kinh.

BVN: Mấy ngày qua, có nhiều thư của bạn đọc trong, ngoài nước gửi tới hưởng ứng bài viết và lo lắng cho sức khoẻ của tác giả. Xin thay mặt tất cả bạn đọc của BVN cầu chúc ông vượt qua được bệnh tật hiểm nghèo để tiếp tục đóng góp cho cuộc đấu tranh dân chủ đang ở bước gian nan nhưng đường đi đã rộng mở, chắc chắn sẽ thành công.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | 1 Comment »

►Ghi nhanh về chuyến đi thăm Uyên, Kha và Uy trong tù

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2013

Ghi nhanh về chuyến đi thăm Uyên, Kha và Uy trong tù

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

15-8-2013

reblog danluan.org

Chia sẻ bài viết này


Đoàn khách thăm trước cổng trại tạm giam công an tỉnh Long AnKhi Nguyễn Tường Thụy, Lê Quốc Quyết, tôi và một vài bạn trẻ đến cổng trại tạm giam Long An thì cũng vừa lúc một một băng rôn đỏ rực ” Nhiệt liệt chào mừng” được kéo lên treo trước cổng trại. Tôi nói đùa: “He he, họ nhiệt liệt chào mừng chúng mình đấy”.

Đến gần hóa ra là “Nhiệt liệt chào mừng đại biểu dự lễ khánh thành trại tạm giam công an tỉnh Long An”. Nhà tù mới được xây dựng rất to đẹp và hoành tráng trên một khu đất rộng mênh mông cách trung tâm thành phố Tân An (tỉnh lỵ Long An) khoảng chừng 10km. Vì vậy đường đi đến trại tạm giam rất thuận lợi, đỡ vất vả cho những người nhà đi thăm nuôi thân nhân trong trại.

Vào trong khu thăm nuôi, chúng tôi bất ngờ khi gặp các anh Huỳnh Kim Báu, Kha Lương Ngãi, Mai Văn Muôn đại diện cho nhóm nhân sĩ trí thức Sài Gòn đến thăm viếng và tặng quà cho ba em Phương Uyên, Nguyên Kha và Nhật Uy. Và bất ngờ hơn nữa, khi thấy blogger Phạm Chí Dũng đang đứng quây quần bên cạnh nhóm bạn trẻ là bạn bè của Uyên, Kha và Uy. Phạm Chí Dũng đã từ sáng sớm, một mình cỡi xe gắn máy từ Sài Gòn chạy xuống đây. Gia đình Phương Uyên, bên cạnh anh Linh, chị Nhung là bố mẹ, còn có em trai nhỏ và cậu ruột từ Phan Thiết vào đi cùng với chị Tân vợ anh Điếu Cày. Gia đình Nguyên Kha, Nhật Uy thì ngoài mẹ Liên, chị Như là chị cả của Kha, Uy còn có cô vợ chưa cưới của Uy cùng các cháu nhỏ.

Sáng nay người đi thăm tù khá đông, chúng tôi cùng gom hết chứng minh nhân dân đưa cho chị Nhung vào đăng ký thủ tục thăm nuôi rồi ngồi chờ. Nhân viên trại tạm giam Long An làm việc khá nghiêm túc và chấp hành đúng quy định của luật pháp là cho phép tất cả chúng tôi được vào thăm tù nhân theo nguyện vọng. (Những trại giam khác như trại giam anh Điếu Cày, trại giam chị Tạ Phong Tần…ngăn cản người thân quen vào thăm tù nhân là làm trái pháp luật). Rất tiếc, khi chúng tôi đến thì gia đình chị Liên đã làm xong thủ tục đăng ký thăm nuôi Nguyên Kha và Nhật Uy nên chúng tôi chỉ làm thủ tục đăng ký thăm nuôi chung với gia đình Phương Uyên.

Nguyên Kha được ra trước tiên, do không đăng ký nên chúng tôi chỉ được đứng ngoài cửa sổ nhìn vào. Tuy vậy, tôi và Phạm Chí Dũng vẫn vào trong cùng với mẹ và chị gái của Nguyên Kha. Bên kia khung kiến, chàng trai trẻ cao lớn, mạnh khỏe và tươi tắn bước ra ngồi vào ghế. Nguyên Kha có khuôn mặt cân đối, ánh mắt sáng, hai hàng lông mày đậm và sắc tạo ra nét cương nghị của một người đàn ông cứng cõi. Kha cười khá tươi khi chào mọi người và trong suốt thời gian nói chuyện qua ống nghe với chị gái và cháu gái. Chị Liên, mẹ Kha ngồi hàng ghế phía sau cùng tôi, chị nói hôm nay chị không được phép nói chuyện với Kha. Tôi tỏ ra ngạc nhiên, chị giải thích: Những lần thăm nuôi và gặp gỡ trước đó chị đã nói nhiều, trong đó có những điều người ta cho là bất lợi nên lần nầy phải viết cam kết chỉ vào thăm chứ không cho tiếp xúc nói chuyện (?) Quy định chỉ cho mỗi tù nhân được 20 phút nói chuyện với người nhà, nhưng hôm nay, các giám thị tỏ ra dễ dãi, linh hoạt cho Nguyên Kha ở lại thêm 5 phút. Qua sắc thái tươi tỉnh của Nguyên Kha suốt buổi tiếp xúc với gia đình và qua hỏi chuyện chị của Nguyên Kha sau đó, chúng tôi biết rằng tinh thần em rất vững vàng cho phiên tòa ngày mai. Kha rất cảm động khi thấy các bạn của mình và biết có các nhân sĩ và blogger chúng tôi đến thăm và gởi quà. Em tươi tỉnh và đầy vẻ tự tin vẫy tay chào chúng tôi trước khi bước vào.

Tiếp theo sau đó là Phương Uyên và Đinh Nhật Uy, tất cả chúng tôi, trên 10 người đều được vào trong phòng để chờ cả hai bước ra. Tuy nhiên chúng tôi chỉ thấy mỗi Đinh Nhật Uy với chiếc áo thun vàng nổi bậc và nụ cười thật tươi bước ra vẫy tay chào. Tất cả các tù nam đều hớt tóc ngắn, riêng Đinh Nhật Uy vẫn để nguyên mái tóc dài như vẫn thấy các ảnh của em trên facebook, vì Uy chưa phải là phạm nhân (đến bây giờ chúng tôi thật tình vẫn chưa hiểu Uy bị bắt vì lý do gì, chẳng lẽ vì vài câu chống Trung cộng trên facebook mà áp em vào điều 258?). Hôn thê của Uy được ưu tiên nói chuyện với Uy suốt cả buổi thăm nuôi. Uy mới bị bắt nên biết rất nhiều người trong đoàn đến thăm, vừa nói chuyện với người yêu nhưng thỉnh thoảng vẫn vẫy tay chào chúng tôi bên ngoài. Sau người yêu là đến chị gái của Uy. Chị Liên cũng không nói chuyện với con trai, chỉ giải thích: Tôi mới làm việc với nó suốt cả ngày cách đây mấy hôm rồi. Lần này Uy ra tòa phúc thẫm vụ Uyên – Kha với tư cách người có trách nhiệm liên quan chứ không phải ra tòa vì chính vụ của Uy. Tài sản của Uy tại cửa hàng điện tử bị tịch thu trong vụ án Uyên – Kha, và Uy đã gởi đơn kháng nghị.

Phải chờ đến hơn 20 phút thì mới đến lượt Phương Uyên ra.


Anh Huỳnh Kim Báu, đại diện các nhân sĩ trí thức trao quà cho Phương Uyên qua chị Nhung, mẹ Phương UyênTất cả chúng tôi hơn 10 người đều đồng loạt bật đứng lên khi một cô gái trẻ thật xinh đẹp dưới màu áo trắng học trò còn mang bảng hiệu nhà trường bước ra. Chúng tôi xuýt vỗ tay vang trời nhưng chợt nhớ lại không được phép làm ồn tại phòng thăm nên dừng lại. Em sáng lóa và rạng ngời với nước da trắng ngần không thua màu trắng tinh của chiếc áo nữ sinh mà em đang mặc. Khuôn mặt em đầy đặn và cương nghị với ánh mắt rạng ngời sau đôi kiếng cận gọng đen. Em chỉ nhìn chúng tôi gật đầu chào trước khi ngồi xuống mà cảm xúc chúng tôi dâng trào. Mắt Nguyễn Tường Thụy dường như đang nhòe đi. Chị Tân khẽ nhắc: Anh đừng khóc đấy nhé. Rồi nắm tay kéo Thụy ra sau trong khi tất cả chúng tôi dồn vào đứng vòng quanh sau lưng anh Linh và chị Nhung, bố mẹ của Uyên. Em trai 8 tuổi của Uyên được giám thị cho chạy vào bên trong ôm chầm lấy chị, hai chị em tíu tít hôn nhau.

Vì có tên đăng ký chính thức thăm Uyên nên tất cả chúng tôi đều được nói chuyện với Uyên. Sau một hồi tâm sự với nhau, ba mẹ Uyên nhường ống nghe cho chúng tôi. Anh Huỳnh Kim Báu nói trước. Anh giới thiệu thành phần trong đoàn đến thăm cho Uyên biết và động viên em tiếp tục cứng cỏi, kiên định nếu thấy rằng chọn lựa của em là đúng đắn. Cũng cần phải nhắc lại rằng anh Huỳnh Kim Báu là cựu tù 8 năm ở Côn Đảo trước năm 75. Sau anh Huỳnh Kim Báu là hai anh Kha Lương Ngãi và Mai Văn Muôn là hai nhà báo kỳ cựu của SGGP và đài VOV. Phạm Chí Dũng vừa ở tù ra nên có nhiều chuyện để nói với Uyên, anh cũng nói với Uyên về nội dung một cuốn sách mà anh vừa gởi tặng cho em. Tôi hỏi thăm em chuyện ăn ở trong tù và cho em biết tinh thần và thái độ của em ở phiên tòa sơ thẫm rất ấn tượng đã gây ra sự xúc động trong lòng mọi người, mong em giữ nguyên tinh thần đó trong phiên tòa ngày mai. Tôi hỏi em có nhắn nhủ gì với bạn bè bên ngoài, em nói: Cám ơn tất cả sự quan tâm của mọi người dành cho hai em và em tin rằng sự công bằng sẽ đến với hai em trong nay mai.

Nguyên Kha và đặc biệt là Phương Uyên là niềm tin, là nguồn cảm hứng của Nguyễn Tường Thụy nên anh đã viết đến 15 bài về vụ án của hai em. Từ lâu anh đã tự xem Phương Uyên là con của anh. Anh bay từ Hà Nội vào để dự phiên tòa và để mong gặp em. Cách đây hai ngày, anh đã gặp ba mẹ Uyên và nói lên nguyện vọng muốn nhận làm cha nuôi Phương Uyên. Anh Linh và chị Nhung rất cảm động nhận lời nhưng nói rằng cũng còn tùy thuộc vào Phương Uyên. Thế nên hôm nay, khi ngồi đối diện với Phương Uyên, cầm ống nghe lên và nghe Phương Uyên thốt lên chữ cha trìu mến, Nguyễn Tường Thụy đã bậc khóc, nước mắt anh ràn rụa. Một blogger cứng cỏi, một người lính kiên cường đã để cho sự nhạy cảm của một nhà văn lay động tấm lòng.

Lê Quốc Quyết và các bạn trẻ khác của Phương Uyên cũng được nói chuyện với Phương Uyên. Và dường như Phương Uyên đã truyền niềm tin đến cho mọi người. Nên sau đó, Lê Quốc Quyết đã ghi trên facebook: Đi thăm Phương Uyên để động viên tinh thần em và gia đình, không ngờ khi gặp em thì mình được động viên tinh thần nhiều hơn. Liệu có quá không khi mình nói rằng “đất nước này cả thế kỷ giờ mới có được con người như em”!

Không quên cám ơn các anh cán bộ ở trại tạm giam Long An. Các anh đã làm việc rất nghiêm túc và đối xử hòa nhã, thân thiện với tất cả người đi thăm trong đó có anh em chúng tôi. Bên cạnh đó, do trại giam mới xây dựng nên cơ ngơi khá khang trang, chỗ chờ của thân nhân và phòng thăm nuôi khá lịch sự và thoáng mát. Tuy vậy vẫn có một nhân viên an ninh cầm camera liên tục chụp ảnh và ghi hình chúng tôi, không biết để làm gì trong khi đó chúng tôi đã gởi giấy chứng minh có hình ảnh và đầy đủ các thông tin cá nhân cho bộ phận tiếp nhận đăng ký thủ tục thăm nuôi.

Long An, 15.8.2013

Posted in Tự Do ngôn Luận, Trại Tù | Leave a Comment »

►Cờ đỏ và nhân cách thời nay

Posted by hoangtran204 trên 15/08/2013

Ở Mỹ,, các lớp học không có lớp trưởng, lớp phó, trưởng ban học tập…Các thầy cô tự tin rằng họ có đủ khả năng quản trị lớp học của họ mà không nhờ vả học sinh. Các lớp học thường chỉ có 16-25 học sinh. Các học sinh thường không có thói quen lo lót, xin ân huệ, sợ hãi, hay nịnh bợ lẫn nhau…Chắc có lẻ vì vậy mà sau này lớn lên và đi làm việc, họ  ít có thói quen đưa hối lộ,  nhận hối lộ,  tham nhũng.

Trong khi 1 lớp học ở VN thường có 45-50 học sinh.  Vì thế các thày cô giáo thường nhờ một số em làm nhiệm vụ trưởng lớp, phó trưởng lớp, thủ quỹ…Có phải vì vậy mà sau này khi lớn lên, người VN ta có đầu óc thích làm quan lại, thích nhận hối lộ, có thói quen đưa hối lộ…?

Cờ đỏ và nhân cách thời nay

Đỗ Trường

14-8-2013

Tác giả gửi tới Dân Luận

Chia sẻ bài viết này

Sống ở nước ngoài đã lâu, tôi ít có điều kiện về thăm quê, nên một số từ ngữ tiếng Việt không hay dùng, đôi lúc cũng quên quên, nhớ nhớ. Ấy vậy mà nhìn thấy màu đỏ, hay nghe ai đó nhắc đến từ đỏ, cờ đỏ, đội cờ đỏ là tôi giật mình thon thót. Có lẽ, ai có những giây phút ám ảnh này, mới hiểu, thông cảm cho Phù Thăng và thấy được cái hay, đồng cảm với truyện ngắn Hạt Thóc của ông.

Thế hệ chúng tôi, sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, chắc chắn không ai có thể quên nhiệm vụ đội cờ đỏ, được làm quen ngay từ ngày đầu đến lớp (vỡ lòng). Đội cờ đỏ của lớp, của trường do tuyển chọn, hoặc phân công từng tổ thay nhau làm trong tuần. Đội này, được phát băng đỏ đeo trên tay. Nhiệm vụ chính giám sát hành vi của các bạn cùng lớp, cùng trường, báo cáo lại thày cô giáo chủ nhiệm, hoặc ban giám hiệu chấm điểm thi đua. Nó là cơ sở để thày cô, ghi hạnh kiểm vào học bạ cuối năm.

Hồi học lớp hai, lớp ba gì đó, tôi cũng được phân công làm cờ đỏ một tuần. Công việc của tôi, giữ trật tự cho việc chào cờ đầu tuần và có quyền cho tổ, bàn nào ra khỏi lớp trước, khi tan học. Thường tổ nào trật tự, chăm chỉ học tập, cờ đỏ cho ra cho ra đầu tiên, còn lại tổ nghịch ngợm, điểm kém ra sau cùng. Ngay buổi sáng nhận băng đỏ, mấy thằng ngồi cuối lớp, nghịch và lười học, nhưng lại con nhà giầu, rủng rỉnh tiền ăn quà sáng, dúi ngay vào tay tôi gói xôi nóng hổi, bảo: Hôm nay, mày phải cho tổ tao ra đầu tiên đấy!

Đang đói vàng cả mắt, mùi của hương nếp đập thẳng vào mũi. Có là thánh cũng chẳng cưỡng lại được, tôi đút tọt gói xôi vào cặp. Cả giờ học đầu tiên, rình khi cô giáo quay mặt lên bảng, tôi lại gục mặt xuống bàn, véo, vặt, giải quyết nhanh gọn gói xôi, chẳng còn một chút tâm trí nào cho bài học. Hết buổi học, sau khi hô cả lớp đứng nghiêm chào cô giáo, tôi cho tổ mấy thằng hối lộ quà sáng, ra đầu tiên. Tất nhiên có gặp sự eo xèo của các tổ khác, nhưng với tôi lúc này, tiếng nói phản đối đó, làm sao giá trị bằng gói xôi nóng hổi kia.

Bây giờ, ngồi nghĩ lại, nếu như mấy chục năm trước, không phá bĩnh bỏ việc, bỏ học, có máu ăn hối lộ từ thuở còn mặc quần thủng đít, với một chút lươn lẹo, có lẽ tôi trở thành thằng cờ đỏ có mấu có cạnh chứ chẳng chơi. Nhưng nhìn những nhát chém thuê của các đồng chí giáo sư cờ đỏ Phong Lê, Nguyễn Văn Lưu và đám bậu sậu, theo đóm ăn tàn Đông La (Nguyễn Huy Hùng) về luận văn thạc sỹ của Nhã Thuyên, tôi lại giật mình kinh hãi.

Thật ra, cờ đỏ không chỉ gác cổng trong học đường, chỉ điểm trong giới văn học nghệ thuật, mà nó đã chui tận xó bếp, cũng như sinh hoạt của mỗi gia đình, phường xóm. Bố tôi, học trường thuốc từ thời Tây, nhưng không hiểu sao, sau năm 1954, ông không làm việc trong bệnh viện. Đến ông chú tôi cũng vậy, dù đã đỗ tú tài, không chịu học tiếp, hoặc làm việc cho nhà nước, quanh năm với cái hòm cắt tóc, dạo quanh Hải Phòng để kiếm sống. Bố tôi làm đủ thứ nghề, nhưng (tịnh) không thấy ông nhắc đến cái nghề y đã học bao giờ. Sau này, các y, bác sỹ trẻ ở gần nhà, sang nhờ đọc cho cái hướng dẫn sử dụng thuốc, bằng tiếng Pháp, ông mới nói chuyện rôm rả về nó. Thỉnh thoảng, đêm hôm, hàng xóm có người ốm đau đến nhờ, ông buộc phải giúp. Sau này, nhiều người bệnh tìm đến, đội cờ đỏ đánh hơi, rình mò cảnh cáo ông, không được chữa chui, chữa lậu. Thật ra, chữa bệnh cho toàn người nghèo, ông có nhận tiền đâu. Nếu như tính công, họ cũng chẳng có tiền để trả. Nhiều lần cờ đỏ xộc vào nhà bắt ông, khi đang khám bệnh. Họ thu dụng cụ, thuốc men, áp giải ông ra tiểu khu làm kiểm điểm.

Chứng kiến những cảnh đó, tôi thấy sợ. Sự ám ảnh từ tuổi thơ đó, in hằn mãi trong tôi. Sau đó, nhiều lần được cử làm cờ đỏ của lớp, của trường, nhưng tôi đều viện lý do, từ chối. Lúc này, giá trị của sự dị ứng cờ đỏ và sợ hãi lớn hơn những gói xôi nóng hổi kia trong tôi rất nhiều.

Nhìn những cảnh cờ đỏ bắt bớ, đánh đập người biểu tình chống Tầu, những người dân mất đất, mất nhà gần đây, tôi thấy quyền lực, tổ chức của bọn này, ngày càng được củng cố tăng cường. Và dường như hiện nay, ngoài cờ đỏ xuất đầu lộ diện, còn một thứ cờ đỏ luẩn quất đâu đó, dân dã quen gọi là thứ âm binh. Bọn này, có lẽ còn nguy hiểm, kém nhân cách hơn cờ đỏ lộ diện. Trong văn học nghệ thuật cũng vậy. Ngoài những cờ đỏ gác cổng có tên tuổi, chai lỳ còn có những cờ đỏ ma, bịt mặt, ẩn mình trong những bí danh đọc lên cứ như những điệp viên 007 vậy.

Hôm rồi, ông bạn hàng xóm, nguyên là giáo viên trường đảng cao cấp, đưa cho tôi, mấy bài viết của Đông La và bảo: Cái tay Đông La này, làm thơ rỗng tếch, văn viết chưa sạch nước cản, nhưng kiểu chửi của hắn rất giống mấy bà ở quê khi bị mất cắp gà. Nhân sỹ, trí thức từ trong đến ngoài nước cứ dính vào chống Tầu và khai thác Boxit là hắn cho là trí thức bầy đàn. Hắn chửi tuốt tuồn tuột từ nhà văn Nguyên Ngọc… cho đến nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, chỉ vì can tội viết thật, nói thật những suy nghĩ của mình có lẽ làm phật ý bề trên của hắn.

Trước khi ra khỏi cổng, ông bạn còn ngoái lại: Ông đọc đi, rồi viết một bài, chứ ở trong đến ngoài nước chẳng ai có ý kiến gì, thế này thì loạn mất.

Hôm rồi, viết bài về cuốn sách Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, tôi có nhắc đến đoạn phê bình KHÔNG CHÍNH NHÂN của Đông La với cuốn sách này. Bài vừa lên mạng, có nhiều bạn bè và người đọc viết thư, đề nghị tôi hãy gạch bỏ đoạn về Đông La đi, vì họ không muốn nhìn, đọc cái tên này. Có bác căng hơn bảo, cái tên Đông La làm bẩn cả bài viết. Tôi tuy không đồng ý với Đông La về bài viết này, nhưng không có cái suy nghĩ cực đoan như vậy. Nhưng điềm đạm như ông bạn cựu giáo viên, đã đào tạo lý luận cao cấp cho nhiều cán bộ lãnh đạo của đảng, đưa cho, dứt khoát tôi phải đọc.

Đọc xong, tôi còn đọc tiếp một số bài thơ và văn khác trên Blog của chính chủ Đông La. Qủa thật, nếu như ai đã nói, văn tức là người, thì văn thơ của Đông La mang dáng dấp của người không có gốc. Tức là ít (không) có truyền thống giáo dục gia đình. Chỉ thấy lấp ló những từ ngữ xáo mòn, tự hão huyền về tài năng, với cái đầu rỗng tếch và mớ kiến thức nghèo nàn của mình. Tôi cho đây là những suy nghĩ không được bình thường, nếu như không muốn nói, Đông La nên đến nhà thương Biên Hòa để kiểm tra lại. Với những từ ngữ chợ búa đầy sát khí của mớ lý thuyết hoang đường này, không ai muốn lên tiếng phản bác lại Đông La là phải.

Tôi không hề có ân oán với bác Đông La và cũng chẳng quen biết nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, (thỉnh thoảng có đọc một vài bài viết của anh. Gần đây nhất bài về luận văn của Nhã Thuyên, nhóm Mở Miệng). Nhưng công tâm mà nói, Đông La muốn làm thơ có hồn, viết văn thật, lý luận thật, hãy cởi cái áo cờ đỏ ra, rũ sạch những tâm khí đen ngòm cho tâm hồn thanh thản, rồi cắp sách đến Phạm Xuân Nguyên, làm lại từ đầu.

Là người viết lý luận chuyên nghiệp, giáo sư Phong Lê thừa biết luận văn “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Nhã Thuyên là đề tài khoa học, nghiên cứu về một hiện tượng văn học trong xã hội. (Nói như giáo sư Trần Đình Sử: Là hiện tượng văn học ngoại biên). Nhưng sao GS Phong Lê, Nguyễn Văn Lưu… hùa nhau, vung đại đao chính trị chém tới tấp vào người nghiên cứu và người hướng dẫn luận văn như vậy? Dù trước đây vài năm, một số trường, học viện quân sự có mấy luận văn Tiến sỹ trùng nhau, đại vớ vẩn, đại tầm phào: Lợi ích của việc bộ đội tắm sông… hay gì… gì đó. Các bác lại ngậm tăm, ngâm thóc giống vậy. Có người cho rằng, các bác ăn cơm chúa thì phải múa cho hay là điều đương nhiên. Tôi không nghĩ như vậy, nhưng chưa tìm ra lời biện giải.

Có lẽ nào, các bác bán linh hồn một cách rẻ mạt cho vài ba cái tầm thường đó?

Nghề văn và văn học vốn là sang trọng, cao quí. Nếu như nhà thương, bệnh viện là nơi cứu sống con người, thì văn thơ sẽ vá lại những linh hồn rách nát ấy. Chỉ có kẻ lợi dụng văn thơ, đạt đến mục đích nào đó, mới đẻ ra thứ quái thai, tầm thường mà thôi. Và đúng như một lần, tôi đã viết: Không hiểu văn thơ nó có bùa mê thuốc lú gì, khi khố rách áo ôm, cấm thấy bác nào nhòm ngó, ấy vậy mà lúc có tý chức quyền, tiền bạc, lăn xả vào cứ như ma ám. Có bác đánh đùng một phát đẻ đến năm, bảy tập, thơ chẳng ra thơ, vè chẳng ra vè, thế rồi thuê các bình luận gia ùa vào bóng kích. Ông khác chức cao, nhiều tiền hơn, thuê hẳn mấy bác phó lẩy nhạc, cho các em chân dài ca chơi. Thế mới kinh! Bác nào chập cheng quá, thì thuê người viết. Không thuê được, các bác giở trò luộc nấu. Kẻ thô lỗ bảo hành vi đó là trộm cắp, người lịch lãm hơn gọi là đạo văn, thó văn…

Gần ba mươi năm nay, tôi không được hưởng không khí tết ở Việt Nam. Nên ngày đầu năm cứ bài văn, bài thơ nào có chữ xuân, chữ tết là tôi đọc tuốt tuồn tuột, của bất kỳ ai và không cần biết hay, dở. Trường hợp bác Nguyễn Văn Mạc (Magdeburg-CHLB Đức) thó văn (Đêm Giao Thừa Nhớ Mẹ) của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, tôi bắt gặp trong hoàn cảnh như vậy. Khi bài viết lên mạng được vài tiếng, tôi nhận được điện thoại của mấy ông bạn hỏi, thù ghét gì ông Mạc mới sáng mùng một đã nhởi dữ vậy?

Các ông buồn cười thật, ngay cái tên Nguyễn Văn Mạc lần đầu tôi mới nghe, làm gì có thù với chả hằn. Bác ta ghi trong bài văn thó cả địa chỉ, số điện thoại, tôi gõ Google mới biết ông ta làm giám đốc giám điếc, chủ tịch chủ tiếc gì đó thôi. Luộc nấu ngang nhiên như vậy, bác Mạc chứ Tổng thống, Thủ tướng tôi cũng phải nhởi như thường. Mà cái số ông Mạc này cũng xui, thó đúng vào cái bài viết về Mẹ hay nhất của Trần Mạnh Hảo, tôi lại vừa có bài viết về nó, nên ngứa mồm không chịu được. Thật ra, nếu tôi không ù suông trước, sẽ có người khác lôi cổ cái bài văn thó này ra thôi.

Rút kinh nghiệm, lần sau bác nào có tính táy máy, nên chọn bài tầm tầm, tác giả ít người biết đến may ra thoát. Chứ cân đai mũ mã đến như bác chủ tịch hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh, chẳng biết có cầm nhầm bài thơ của nữ sĩ người Đức hay không, bị các cháu sinh viên trường sư phạm Hà Nội, móc mói, hỏi han, ngượng chết đi được.

Vâng! Nhân cách con người là sản phẩm của chế độ xã hội đương thời. Một xã hội giả tạo với những cơn lên đồng bệnh hoạn này, ai sẽ giữ lại được linh hồn đích thực của kẻ sĩ?

Wien, ngày 14-8-2013

Đỗ Trường

nguồn danluan.org

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Kinh tế thảm bại, đời sống dân chúng xuống thấp –lương giảm, vật giá tăng

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2013

Lương giảm giá tăng, dân hết đường tiết kiệm

Tác giả: Trần Thủy

Bài đã được xuất bản.: 13/08/2013

Thu nhập giảm trong khi có quá nhiều thứ liên tục tăng giá sẽ khiến người dân phải thắt chặt chi tiêu. Khó khăn kéo dài, DN và người dân đang mất dần hy vọng, hết kêu ca vì qua chán nản.

Giá tăng

Sau khi xăng dầu, điện tăng giá thì từ đầu tháng 8/2013, gas đã tăng giá 667 đồng/kg, tiếp đến là sữa cũng điều chỉnh tăng giá nhiều sản phẩm từ 5 đến 20%.

Các mặt hàng thiết yếu khác như rau, củ, quả đã rục rịch tăng giá. Tại các chợ ở Hà Nội, thịt lợn tăng phổ biến từ 5.000 – 10.000 đồng/kg, gia cầm tăng 10.000 – 15.000 đồng/kg, thủy hải sản tươi sống cũng nhích thêm 10.000 – 20.000 đồng/kg…

Thời gian tới, nước sạch tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cũng đang chuẩn bị tăng. Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn cho biết, đang kiến nghị điều chỉnh lại giá nước sạch theo cách tính đúng tính đủ chi phí. Hiện nay giá nước trong định mức có giá 5.300 đồng/m3 khá thấp, nếu tính đúng, tính đủ thì giá nước trong định mức phải trên 8.000 đồng/m3.

 

Tại Hà Nội, Công ty Nước sạch Hà Nội cho biết, bình quân mỗi năm lỗ 50-80 tỷ đồng, riêng quý I năm 2013, số lỗ ước khoảng 33 tỷ đồng. Nguyên nhân là do các chi phí đầu vào như nhân công, vật liệu, điện… đều tăng, trong khi giá bán nước vẫn giữ nguyên 4.000 đồng/m3. Theo tính toán, giá thành nước sạch đến thời điểm này là hơn 8.000 đồng/m3. Phương án điều chỉnh giá nước đã được trình lên UBND thành phố.

Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết, TP. Hồ Chí Minh đã thông báo thực hiện điều chỉnh tăng học phí năm học 2013 – 2014 (từ tháng 9 tới) với mức tăng gấp 3 – 4 lần. Tại Hà Nội, học phí đối với giáo dục nghề nghiệp, mức trần sẽ tăng lên. Từ nay đến cuối năm, dự kiến một số địa phương có khả năng sẽ tăng học phí bậc học phổ thông, mầm non như: Phú Thọ, Bắc Giang, Tiền Giang…

Tại một số siêu thị lớn ở Hà Nội đã được thông báo về việc tăng giá bán hàng hóa từ các nhà phân phối sản phẩm. Theo đó, tăng giá nhiều nhất vẫn là thực phẩm thiết yếu như nước mắm, dầu ăn, bánh kẹo, sữa… tùy sản phẩm sẽ tăng từ 5 – 15% mỗi mặt hàng.

Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội, ông Vũ Vinh Phú khẳng định, mặt bằng giá mới chắc chắn sẽ được thiết lập trong thời gian tới. Việc tăng giá xăng, điện kiểu gì cũng kéo theo tăng giá các mặt hàng khác, vấn đề là thời gian. Khả năng nhiều mặt hàng sẽ tăng vào nửa cuối tháng 8 này.

Lương giảm

Ngược lại thì thu nhập của hầu hết người lao động đang bị giảm mạnh. Từ 1/7, chỉ những người lao động làm việc trong khu vực Nhà nước được tăng lương cơ bản thêm 100.000 đồng/tháng còn lại hầu hết người lao động tại các DN, khu vực tư nhân đang bị giảm lương, nợ lương, mất việc làm.

Tính đến nay cả nước đã có trên 300.000 DN bị thua lỗ, phá sản, ngừng hoạt động. Theo tính toán bình quân 1 DN ngừng hoạt động sẽ làm mất đi 15 việc làm. Với số DN đã ra đi thì có hàng triệu việc làm không còn. Lực lượng lao động thất nghiệp cao khiến cho thu nhập giảm thấp.

Bất động sản có lẽ là lĩnh vực mất việc làm nhiều nhất, do tồn kho lớn, nhiều công trình bị ngừng, dở dang nên lao động bị nghỉ việc, bị chậm lương nhiều tháng.

Tiếp theo là tới các ngành như thép, xi măng, nhiều DN xi măng năm 2012 đã phải giảm 20% lương lao động, nhưng sang 2013 lại tiếp tục giảm 10% nữa. Đến nay hầu hết các DN đã giảm lương lao động xuống chỉ còn bằng 50% so với 2011. Tại Hải Phòng hiện có 4 DN luyện thép công suất một triệu tấn phải đóng cửa, 3 DN cán thép công suất 60 nghìn tấn dừng hoạt động, dẫn tới 2.000 lao động đã bị mất việc làm.

Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cho biết nửa đầu năm 2013 đã phải giảm 5% lương lao động so với năm 2012, trong khi năm 2012 tiền lương người lao động đã giảm 10% so với 2011.

Lĩnh vực ngân hàng một thời luôn trả lương lao động khủng mới đây cũng phải kêu oai oái khi nhiều nhân viên bị cắt giảm lương. Thạm chí, có vị trí chỉ hưởng lương 2,5 triệu đồng, trung bình chỉ 5 triệu đồng/tháng.

 

Hết sức chịu đựng

Theo các chuyên gia kinh tế, điện, xăng, nước, gas, sữa… là những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu với mỗi gia đình. Nhóm hàng này, nhiều khi chiếm phân nửa số tiền chi tiêu hàng tháng nên hễ tăng giá lại tạo ra lo âu bao trùm lên cuộc sống, nhất là những người lao động thu nhập thấp.

Chị Nguyễn Thị Hoa ( Vũ Hữu, Thanh Xuân, Hà Nội) cho biết chồng làm việc trong một công ty xây dựng, gần một năm đi làm bị nợ lương, chị phải cáng đáng cả 4 miệng ăn trong gia đình dựa vào đồng lương ít ỏi của mình. Cứ sau mỗi lần tăng giá, mỗi tháng tôi phải bỏ ra khoảng 500.000-700.000 đồng để bù đắp vào phần chi phí đi lại, tiền sinh hoạt bị đội lên. Giờ giá nhiều mặt hàng tăng đồng loạt thế này tôi sống thế nào đây? chị Hoa nói.

Đối với những người công nhân, hai từ “tăng giá” luôn khiến họ khiếp sợ, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay. Xăng dầu tăng, điện tăng, gas tăng, sữa tăng, nước tăng… chắc chắn tiền gửi con hàng tháng sẽ tăng, tiền phòng trọ tăng. Và rồi nhiều thứ ở chợ, từ mớ rau, con cá, quả trứng… cũng tăng, trong khi thu nhập không tăng mà ngược lại còn bị giảm không biết sẽ đối phó ra sao?

Giá cả leo thang không chỉ mang lại cuộc sống khó khăn cho 30% dân số sống ở thành thị, mà 70% dân số nông thôn cũng thêm điêu đứng, bởi họ đã bị lấy đi quá nhiều. Mỗi khi giá cả thị trường biến động, người nông dân phải đương đầu chống chọi vất vả.

Hầu hết tất cả các gia đình khi được hỏi đều đồng thanh điệp khúc tiết kiệm. Điều này đồng nghĩa với việc sức mua sẽ giảm thêm, gây khó cho sản xuất kinh doanh. Sản xuất kinh doanh khó thì thu nhập người lao động lại thấp hơn. Một vòng xoáy gian nan cho nền kinh tế.

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

►Nghị định 72: Liên hệ với Mỹ như thế nào? Báo chí nước ngoài bình luận về Nghị định 72 ra sao

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2013

Nghị định 72 và liên hệ với Hoa Kỳ 

Lê Phan

10-8-2013

Kể từ 1 tháng 9 tới đây chính quyền Hà Nội sẽ cho áp dụng Nghị định 72/2013 về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.”

Ðiều đã dấy lên những phản đối từ các tổ chức nhân quyền và gây hoang mang trong giới nhà báo tự do ở Việt Nam là điều khoản liên quan cái gọi là “trang thông tin tổng hợp” và tin tổng hợp. Về cái gọi là trang thông tin tổng hợp thì chính quyền định nghĩa như sau “Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó.”

Khoản 2 của điều 20 như vậy đã khẳng định là các trang thông tin điện tử chỉ có quyền loan truyền những “nguồn tin chính thức.” Cũng trong điều 20, khoản 4 xác định về quyền hạn của “trang thông tin điện tử cá nhân” như sau “Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.”

Ngay lập tức chúng ta thấy là mục tiêu của nghị định này là những trang như Anh Ba Sàm, Bauxite Việt Nam, vốn là những trang mà mục đích chính là tổng hợp tin tức và cung cấp cho mọi người. Theo điều khoản trên thì họ sẽ không có quyền hoạt động nữa.

Dĩ nhiên các tổ chức bảo vệ quyền của nhà báo đã lên tiếng. Ở Pháp, Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) đã lên án “Việc thi hành nghị định này sẽ dẫn đến việc các cơ quan chính quyền thường xuyên kiểm soát toàn diện và liên tục mạng Internet.” Nhắc lại là theo nghị định, các blog và các trang giao dịch xã hội sẽ chỉ có quyền “cung cấp và trao đổi các thông tin mang tính cá nhân,” RSF khẳng định là nghị định này sẽ tạo nên một “lỗ đen” thông tin ở Việt Nam. RSF kêu gọi “toàn thể cộng đồng quốc tế lên án một cách nghiêm khắc Việt Nam, nếu chính quyền Việt Nam thị hành Nghị định 72…” 

RSF còn yêu cầu tính đến việc loại Việt Nam ra khỏi các đàm phán liên quan đến thỏa thuận mậu dịch xuyên Thái Bình Dương TPP vì trong thỏa ước này có điều khoản quốc gia tham gia phải bảo vệ nhân quyền.

Từ Bangkok, ký giả Shawn Crispin, đại diện Ðông Nam Á của Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ) đã lên án nghị định này là “Cố gắng mới nhất của Việt Nam để đàn áp blog chính trị và ngăn chặn mọi hình thức bình luận chỉ trích online. Các blogger độc lập đang thách thức độc quyền của đảng Cộng sản cầm quyền về báo chí và truyền thông và nghị định mới này là cố gắng mới nhất của chính quyền để đóng cửa một không gian mở.”

Bình luận trong nhật báo Christian Science Monitor, giáo sư chính trị học chuyên nghiên cứu về Việt Nam Zachary Abuza đã chỉ ra là Việt Nam đang tự tạo cho mình nguy cơ làm các nhà đầu tư ngoại quốc tức giận bỏ đi với những nghị định luật ngày càng thêm khắt khe về Internet. Ông Abuza chỉ ra là trong khi Trung Quốc có đủ khối lượng khổng lồ người sử dụng Internet để có thể vì lợi nhuận điều đình với các đại công ty như Google, để có những cấm cản trong việc truy cập. Việt Nam không có được cái thế mạnh đó.

Và có lẽ chính vì vậy một số các nhà bình luận chỉ ra là ở một khía cạnh nào đó chính quyền đã chùn tay. Nghị định 72 nguyên thủy được soạn thảo với điều khoản đòi hỏi tất cả các công ty cung cấp dịch vụ Internet ngoại quốc phải có các server tức là các máy chủ và văn phòng tại Việt Nam nếu muốn được cho phép hoạt động ở Việt Nam. Ðiều này có thể buộc các công ty này phải cung cấp các thông tin về thân chủ và hoạt động trên Internet cho chính quyền Hà Nội nếu bị yêu cầu.

Vì thế Liên Minh Internet Á Châu, một tổ chức của ngành kỹ nghệ tin học thành lập bởi eBay, Facebook, Google, Salesforce và Yahoo, đã đưa ra tuyên bố chống lại những điều khoản này, nói sẽ có thể làm hại đến đầu tư ngoại quốc. Và ngay sau khi có tuyên bố này, chính quyền Hà Nội đã lặng lẽ rút bỏ những điều khoản về việc buộc họ phải có máy chủ ở Việt Nam.

Hà Nội cũng đã lùi bước bỏ đề nghị cấm những người sử dụng Facebook và Twitter đưa các web-links lên trang của họ. Với 11 triệu trương mục từ Việt Nam, Facebook đã ngày càng thay thế blog trong thông tin chính trị thành ra nhượng bộ này quả là đáng kể.

Nhưng như ông David Brown, một nhà cựu ngoại giao chuyên nghiên cứu về Việt Nam, nghị định này chưa chắc đã tạo nên mấy thay đổi. Bởi theo ông Brown, “Họ viết ra những luật như thế này, nhưng họ đã không thi hành hay là thi hành quá chọn lọc thành ra không bị coi như là đe dọa cho cá nhân.”

Vả lại, những người sử dụng Internet ở Việt Nam bây giờ rành rõi luật lệ lắm. Họ cũng rất rành nghề “trèo tường lửa” để tìm đến những địa chỉ họ muốn. Và một số blog đã chuẩn bị, với Anh Ba Sàm và Dân Làm Báo nay sử dụng những máy chủ ở ngoại quốc.

Như vậy là chưa chắc đã kiểm soát thêm được Internet chút nào không, nhưng chắc chắn là nghị định này đã làm Hoa Kỳ không hài lòng. Với Việt Nam có vẻ đang tiến tới trong việc cải thiện liên hệ với Hoa Kỳ qua cuộc viếng thăm dù vội vàng của Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng như một số các công ty Hoa Kỳ như Starbucks và McDonald’s tiếp tục tiến vào thị trường Việt Nam, Nghị định 72 đã làm Hoa Kỳ phản ứng mạnh.

Ðược biết là trước khi ông Sang đến Hoa Kỳ, trong chuyến công du của Tham mưu trưởng Quân Ðội Nhân Dân Tướng Ðỗ Bá Tỵ đã bày tỏ muốn được Hoa Kỳ hủy lệnh cấm bán vũ khí chiến tranh. Ðây là một việc mà Hà Nội coi như là một cách tăng cường thêm liên hệ giữa hai cựu thù và thúc đẩy hợp tác quân sự.

Nhưng hôm Thứ Tư, 7 tháng 8 vừa qua, Ðại sứ David Shear, trong một lời tuyên bố với báo chí trong nước, đã khẳng định “Phía Việt Nam đã bày tỏ muốn hủy bỏ giới hạn đó, và chúng tôi sẽ cứu xét việc này một cách nghiêm chỉnh. Nhưng chúng tôi cũng tin rằng để có tạo được ủng hộ chính trị cho việc hủy những giới hạn này… chúng tôi cần thấy có một số tiến bộ nào đó về nhân quyền về phía Việt Nam.” Ðiều ông đại sứ muốn nhắc khéo là luật cấm vận do Quốc Hội đưa ra và với tình hình nhân quyền hiện nay thì khó mà được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp nhận cho hủy cấm vận vũ khí.

Cùng với chiến dịch bắt bớ blogger và những người chỉ trích chính quyền, nghị định mới này đã làm cho Việt Nam khó tăng cường liên hệ với Hoa Kỳ. Những giới hạn này cũng có tiềm năng gây phức tạp cho các liên hệ mậu dịch trong tương lai, kể cả cố gắng của Việt Nam tham gia Hiệp ước Ðối tác Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương TPP.

Một điều mà Giáo Sư Carl Thayer của Học Viện Quốc Phòng Úc đã chỉ ra cho ta thấy rõ là tuy Hà Nội đã có ký kết những hiệp ước đối tác chiến lược với Trung Quốc, Nga và cả Anh Quốc, chuyến công du của ông Sang đã không mang lại được một thỏa thuận đối tác chiến lược với Hoa Kỳ.

nguồn: nguoi-viet.com

——–

Báo chí nước ngoài bình về Nghị định 72

BBC

– thứ hai, 12 tháng 8, 2013

Một phần ba dân số Việt Nam sử dụng internet

Nghị định 72 về quản lý và cung cấp sử dụng dịch vụ Internet không chỉ gây tranh cãi tại Việt Nam mà còn thu hút sự chú ý của báo giới nước ngoài. BBC Việt Ngữ điểm một vài bài báo nước ngoài bình luận về Nghị định này.

The Economist

Tờ The Economist đăng bài với tựa đề Bấm”Việt Nam and the Internet: The audacity of repression” (“Việt Nam và mạng internet: Sự đàn áp táo bạo”) nhắc tới việc chính phủ Việt Nam sẽ bắt đầu từ tháng Chín áp dụng những quy định mới giới hạn việc sử dụng websites và mạng xã hội chỉ để trao đổi “thông tin cá nhân” mà thôi.

Bài báo trích dẫn một trong những quy định của Nghị định này cấm “Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” và bình luận “Đây là một điều khoản tóm gọn ngoạn mục”.

“Nghị định cũng đòi hỏi các công ty khổng lồ như Google và Facebook phải đặt ít nhất một máy chủ (server) tại Việt Nam, mà có lẽ là khiến chính phủ có thể kiểm soát nhiều hơn nội dung của họ,” bài báo viết.

Vẫn theo bài báo này thì “đây là một đòn trong cuộc chiến của nhà nước Việt Nam chống lại bất đồng”.

Trích dẫn số liệu của tổ chức nhân quyền Human Right Watch, số bloggers và các nhà chỉ trích bị bắt chỉ trong sáu tháng đầu năm 2013 đã vượt con số của cả năm 2012 và bình thêm rằng “Nghị định 72 này sẽ cho phép nhà nước thêm một công cụ pháp lý đầy quyền lực khác nữa cho việc đàn áp”.

“Đây là một bằng chứng nữa, nếu cần có bằng chứng, rằng chính phủ Việt Nam đang có đường hướng tai hại, khác hẳn với cá nước khác trong vùng như Miến Điện, Malaysia và thậm chí nước láng giềng Campuchia”, tờ Economist viết, và nói tới “quan ngại sâu sắc” của Tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam trước Nghị định này.

Asia Sentinel

Tương tự, bài báo về chủ đề “Vietnam’s New Internet Decree” (Nghị định mới về internet của Việt Nam”) của tác giả David Brown với tựa đề “”Who’s Afraid of the Big Bad Wolf” ” (tạm dịch: “Ai sợ sói lớn độc ác”) đăng trên trang Asia Sentinel cũng mở đầu bằng quan ngại của các tổ chức như Ủy ban Bảo vệ Các nhà báo, tổ chức Phóng viên Không biên giới và của Tòa đại sứ Mỹ ở Hà nội về Nghị định 72 này.

Bài báo lưu ý tới một vài dòng trong điều 20 của nghị định này, theo đó cấm các bloggers hay người dân cung cấp tin tổng hợp trên Facebook hay các mạng xã hội khác.

“Rắc rối là, mà đó có lẽ nó không phải là chủ ý của giới chức trách Việt Nam – mà kể cả đó là chủ ý của họ đi chăng nữa – thì ngăn chặn những công dân thạo về internet không đăng lại hay đặt đường link tới các tin tức này gần như chắc chắn là một điều vượt ra ngoài khả năng của họ,” tác giả David Brown bình luận.

Tác giả viết tiếp: “Việc tìm kiếm ‘một nhà nước dựa trên luật pháp xã hội chủ nghĩa’ dẫn tới tình trạng rối ren về luật pháp vốn đang cố gắng nặn ra các nguyên tắc và luật lệ sao cho cho phù hợp với một nền kinh tế đang phát triển và một quan điểm về thế giới đang được mở rộng đối với những gì còn rơi rớt lại của lý tưởng Marxist-Leninist.

“Khó có một ví dụ nào tốt hơn về việc làm rối beng lên này như Nghị định 72, điều 46, 21 trang sắc lệnh quản lý internet của Thủ tướng, một nghị định đag bị truyền thông phương tây lên án.”

Nhìn chung tác giả cho rằng không có nhiều nội dung mới trong Nghị định 72 này mà phần lớn là sắp xếp lại một hướng dẫn từ năm 2008 theo đó tìm cách mở rộng các nguyên tắc quản lý truyền thông công cộng lên một mức mới, với tương tác trên internet và sự xuất hiện của mạng xã hội.

Tuy nhiên tác giả lưu ý tới ba “yếu tố thực sự mới và có vấn đề” của Nghị định này. Một trong số đó là việc tìm cách phân biệt các loại “trang thông tin điện tử” và chính đây là điều đã gây tức giận về những gì không thể hay có thể được đăng tải hợp pháp trên một trang blog hay Facebook.

Một điểm mới khác trong số này “mà Bộ Thông tin nói là động cơ chính cho việc sửa đổi các quy định quản lý internet, đó là Việt Nam cần thắt chặt bảo vệ sở hữu trí tuệ”.

Theo tác giả David Brown thì về nguyên tắc Bộ Thông tin Việt Nam hoàn toàn đúng vì trên mạng hay ngoài mạng báo chí Việt Nam in lại bất cứ những gì họ thấy thích hợp, dù là nội dung của trong nước hay nước ngoài, đôi khi có trích nguồn, đôi khi không.

“Trước mắt là Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, một ‘thỏa thuận thương mại của thế kỷ thứ 21’ mà Hoa Kỳ đang thúc đẩy. Hanoi tha thiết muốn được tham gia nhưng một phần lệ phí tham gia là một cam kết đáng tin cậy sẽ bảo vệ sở hữu trí tuệ của đối tác kia.

“Đó quả là một đòi hỏi khó khăn. Đặc biệt trong thực tế internet tại Việt Nam, giới chức trách Việt Nam không có khả năng giám sát liệu các trích dẫn là đầy đủ và chính xác chứ chưa nói gì tới chuyện truy tìm những trường hợp không tôn trọng bản quyền,” tác giả viết.

Bài báo nhìn nhận nhiều yêu cầu đề ra trong nghị định mới này cũng nảy sinh những khó khăn không khác gì so với thông tư năm 2008 và “đó là một vấn đề phổ biến với các luật và chỉ thị của Việt Nam: chúng thường là những tuyên bố về nguyên tắc mà nhìn chung không thể thi hành được”.

Một thức tế là sau Thông tư 2008, hầu hết các blogs hàng đầu của Việt Nam đã chuyển sang các trang được đặt ở nước ngoài như WordPress hay Blogspot và như vậy vượt ra ngoài tầm kiểm soát của luật Việt Nam nhưng vẫn tới được với độc giả người Việt.

Bài báo kết luận “cuối cùng thì cũng giống như nhiều luật và nghị định khác của Việt Nam, các điều khoản của Nghị định 72 gây nhiều tranh cãi này dường như có tính khích lệ, được thúc đẩy bởi lý tưởng và không thể thực thi một cách có hệ thống”.

The Washington Post

Trong khi đó một bài báo khác trên tờ Washington Post, mang tiêu đề “BấmFrom the U.K. to Vietnam, Internet censorship on the rise globally” (Từ Anh Quốc tới Việt Nam, kiểm duyệt internet gia tăng toàn cầu”), tác giả Caitlin Dewey viết, theo phân tích từ tổ chức Freedom House, “Việt Nam không phải là nước duy nhất thực hiện đàn áp mạng, và thậm chí các biện pháp của họ cũng không phải là đặc biệt cứng rắn” và kiểm duyệt internet đang gia tăng trên thế giới và các nước độc đảng như Việt Nam không phải là cac nước duy nhất có luật định về những gì có thể đăng trên mạng.

Mặc dù trong bối cảnh đó, tác giả cho rằng Nghị định 72 của Việt Nam “dường như đang tụt xuống một mức tồi tệ mới”.

“Việt Nam không phải là Bắc Hàn – sau cùng thì nước này nằm trong Tổ chức Thương mại thế giới và hơn một phần ba dân số sử dụng internet – nhưng đây vẫn là một trong những nước cộng sản cuối cùng trên thế giới và một trong những quốc gia có các quy định truyền thông cứng rắn nhất,” bài báo viết.

Mặc dù luật mới này là một tin xấu cho các blogger và những người tương tự, tác giả cho rằng “cho tới khi chúng ta biết chắc chắn là chính phủ sẽ thực thi quy định mới này như thế nào thì có lẽ vẫn còn một chút hy vọng: không giống các công cụ chặn lọc hoạt động ở cấp nhà cung cấp dịch vụ và cấp giấy phép mạng, vốn nhắm vào các trang là mục tiêu cụ thể, thì việc sàng lọc những gì mơ hồ như “thông tin phi cá nhân” sẽ là một cơn ác mộng về mặt hậu cần và có lẽ đòi hỏi việc kiểm duyệt phải do con người thực hiện để rà soát các mạng xã hội.

“Ít nhất thì dường như vẫn có khả năng trốn tránh được,” bài báo viết.

 

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Nhà văn Sơn Nam

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2013

ĐI LÃNH NHUẬN BÚT VỚI NHÀ VĂN SƠN NAM

August 10, 2013 at 8:12pm

( Post lại nhân ngày giỗ ông )

Võ Đắc Danh

Đúng hẹn để nhận bài cho báo Tết, tôi gọi điện thoại đến nhà truyền thống quận Gò Vấp xin gặp nhà văn Sơn Nam. Bên kia đầu dây, ông trả lời ngắn gọn: “Cho hẹn lại sáng mai nghen, sáng nay mắc ra báo Công an mượn tiền xài, hiện giờ trong túi chỉ còn mấy chục đồng“. Tôi nói: “Vậy thì tía ở đó đợi con vào chở tía đi

Khi ngồi sau lưng tôi trên chiếc honda, ông nói: ” Sáng nay có mấy cô ký giả trẻ đến hạch hỏi mấy tiếng đồng hồ, trả lời muốn khan cổ họng mà chẳng có đồng xu. Nhưng kể ra cũng tội nghiệp tụi nó, sinh viên từ miền Tây mới ra trường, đang thử việc, không có bài hay thì chủ báo không ký hợp đồng nên ráng giúp tụi nó“.

Phỏng vấn, kể chuyện là phải trả tiền, gần như đó là nguyên tắc của ông – một người cả đời chỉ sống bằng nghề viết – Bởi những tư liệu mà ông có được, ông cũng phải tốn tiền. Ông kể, ngày xưa, ngay từ khi ông viết Lịch sử khẩn hoang miền Nam, sở dĩ ông có nhiều tư liệu quý là vì mỗi khi  vào thư viện ông đều tặng phong bì cho thủ thư nên họ rất nhiệt tình. Ông nói cụ Vương Hồng Sễn là một người rất sòng phẳng trong chuyện ấy, mỗi khi đến nhà cụ để đọc và ghi chép tài liệu hoặc nhờ cụ trả lời một vấn đề gì, trước khi ra về, dù ít hay nhiều cũng phải để lại một cái bao thư. Lý giải về sự sòng phẳng ấy, ông nói rằng, mình viết bài đăng báo được lãnh nhuận bút thì không lý do gì bắt người khác phải cung phụng cho mình.

Tôi kể cho ông nghe rằng cách nay ba ngày, trong một tham luận đọc tại hội nghị những người viết văn trẻ của thành phố, nhà thơ Nguyễn Trọng Tín có nói về một nền văn học ăn lương, đại khái rằng có những người suốt đời được trả lương để làm văn học nhưng chưa hẳn là có lợi cho văn chương. Nghe xong, ông cười có vẻ tâm đắc lắm: ” Cái thằng đó hay à ! Nói vậy là nó loại trừ tôi ra“.

Cả một đời gắn bó với văn chương, ông đã tự mình làm nên một Sơn Nam cho nền văn học – nói theo nghĩa một nền văn học ăn lương của Nguyễn Trọng Tín – bây giời, khi ông ngồi sau lưng tôi  đi đến một Tòa báo để mượn tiền xài, tôi chợt ngậm ngùi nhận ra ông thiếu đi nhiều thứ so với một thường dân : Cả đời không biết chạy xe, dù là xe đạp, tròn năm mươi năm qua sống trên đất Sài Gòn, ông chỉ biết đi bộ, đi xe buýt, xích lô và xe honda ôm; không có nơi tiếp khách dù là khách của ông ngày nào cũng có; không có điện thoại, dù là điện thoại bàn; cho đến bây giờ, ông vẫn viết bằng tay hoặc chiếc máy chữ mini mà tuổi thọ của nó cũng xấp xỉ tuổi nghề của ông.

Hồi tòa soạn báo Văn nghệ thành phố còn ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, mỗi sáng ông từ nhà tới đó ngồi uống café trong căn-tin đến 9 giờ, đó là khoảng thời gian ông tiếp khách. Hay nói đúng hơn đó là văn phòng giao dịch của ông để giao và nhận bài cho các cơ quan báo chí trong nước, và cả nước ngoài. Khi báo Văn nghệ dời đi cũng là lúc ông bỏ nhà đi lang thang vì chuyện cơm không lành, canh không ngọt. Từ đó văn phòng giao dịch của ông dời về quán café trong khuôn viên nhà truyền thống quận Gò Vấp, gần chục năm nay. Bây giờ ông đã trở về với mái ấm gia đình, nhưng địa chỉ văn hóa của ông vẫn còn chỗ cũ. Mỗi sáng, lúc 7 giờ 30, ông lên xe honda ôm từ Bình Thạnh ra Gò Vấp cũng giống như người ta đi đến cơ quan. Ơ đó có một cô nhân viên thư viện chuyên làm công việc chữa bản thảo cho những bài viết của ông, bởi do tuổi cao , mắt mờ, tay rung nên ông hay gõ sai nốt chữ. Ai muốn gặp ông qua điện thoại thì cứ gọi vào số máy của nhà truyền thống, nhân viên ở đây rất vui vẻ hỏi người gọi tên gì, ở đâu để chạy ra sân báo cho ông. Ơ đây, ngoài những biên tập viên của các cơ quan báo chí tìm đến ông đặt bài, nhận bài, trả nhuận bút, còn có những sinh viên báo chí, du lịch, ngữ văn, những nghiên cứu sinh đang làm luận án Tiến sĩ cũng tìm đến ông như để tra cứu một quyển từ điển sống, một kho địa chí văn hóa sài Gòn và đồng bằng Nam bộ.

Tôi mạo muội hỏi ông: ” Nhà xuất bản Trẻ mua đứt bản quyền của tía bao nhiêu ?“. Ông nói: ” Đây là chuyện tế nhị mà cả hai bên đã cam kết rằng không ai được nói ra“. Rồi ông lại cười giòn và tấm tắt khen bài tham luận của nhà thơ Nguyễn Trọng Tín mà tôi vừa kể với ông.

Đến Tòa soạn báo Công an, ông có vẻ thất vọng khi biết anh Trần Tử Văn đi vắng. Ra trước sân, ông trầm ngâm đứng lặng. Tôi hỏi ông cần khoảng bao nhiêu, ông nói khẽ: “Càng nhiều càng tốt, mấy đứa nhỏ đang gặp khó khăn, chứ bản thân tôi thì hề hấn gì“. Tôi đang nghĩ đến số nhuận bút bên Thời báo Kinh tế sài Gòn, nhưng khi nghe ông nói ” mấy đứa nhỏ đang gặp khó khăn” thì tôi biết ngay rằng nhuận bút của một vài bài báo sẽ chẳng có nghĩa lý chi, phận mình mới chân ướt chân ráo lên Sài Gòn, cái nhà còn chưa có ở . . . Nhìn ông già còm cõi, tem hem, môi rung, mắt mờ, chân yếu trong cơn tuyệt vọng trước nợ áo cơm giữa chốn phồn hoa đô hội mà tôi muốn rơi nước mắt. Một nhà văn bậc thầy, một tinh hoa của dân tộc mà thân phận như thế nầy sao ? Lòng tôi xót xa tự vấn.

Trong lúc đầu óc tôi đang bối rối thì ông già giục đi. Tôi hỏi đi đâu, ông bảo sang Hãng phim Giải phóng. Đi dọc đường, ông nói rằng ở bên đó ông còn mấy ngàn đô-la nhưng không biết nó đã về tới bên nây chưa hay là còn bên Mỹ. Tôi chở ông đi như sự cầu may.

Nhưng thật bất ngờ, khi vừa dừng trước cổng thì anh Trần Khải Hoàng, phụ trách tài vụ vừa dắt xe ra, gặp ông, anh mừng rỡ: ” Trời ơi, tía ! Vô đây con gởi tiền, con đợi tía mấy ngày nay !”

Anh Hoàng cho biết, một đạo diễn người Mỹ gốc Việt đã chuyển thể truyện ngắn “Mùa len trâu” của ông thành phim truyện nhựa, họ trả nhuận bút cho ông ba ngàn đô-la, tạm thời họ ứng trước cho ông một ngàn, số còn lại sẽ trả sau khi phim phát hành hai tháng. Anh Hoàng nhờ tôi chuyển chứng từ cho anh Phạm Sĩ Sáu ở nhà xuất bản Trẻ, bởi  về mặt thủ tục, số tiền nầy phải trả cho nhà xuất bản Trẻ vì bên ấy đã mua đứt bản quyền của nhà văn Sơn Nam.

Trên đường đi, ông Sơn Nam tỏ ra phấn chấn: ” Thằng xuất bản Trẻ nầy chơi ngon, bản quyền tôi đã bán cho nó rồi, vậy mà số tiền nầy nó vẫn để cho tôi hưởng trọn, không lấy tiền cò mặc dù hợp đồng do nó ký

Như ngẫm nghĩ điều gì một lúc rồi ông nói: “Tôi còn mấy chuyện hây lắm, nhưng về già mới viết được“. Nghe ông nói thế, tôi bật cười. Nhưng rồi tôi bổng giật mình chợt nghĩ : ông có lẫm cẫm rồi chăng ? Gần tám mươi tuổi rồi mà ông còn nghĩ “về già mới viết”.

Khi dừng lại một vỉ hè để uống café, tôi nhìn kỹ ông và nhận ra làn da ông hơi mọng nước, đôi môi rung rẩy nhiều hơn. Nhớ lại hồi sáng tôi phải dìu ông đi từng bước chậm xuống cầu thang ở báo Công an thành phố.

Lạy trời và lạy trời . . . !

———————-

Nhà văn Sơn Nam: “Sống bằng hơi thở đất rừng U Minh”

22:21:54, 14/02/2006

Đoàn Thạch Hãn

Sinh năm Bính Dần (1926) tại U Minh (Kiên Giang), tính theo tuổi ta đến tháng giêng năm nay, nhà văn Sơn Nam đã bước sang tuổi 81. Vậy mà sáng 15/2 ông phải chịu phẫu thuật vì nứt xương chậu do một tai nạn giao thông gây ra cách đây 7 tháng trên đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Sáng chủ nhật 12/2, chúng tôi đến thăm ông đang nằm điều trị tại phòng 3/07, lầu 2 tại Trung tâm chấn thương chỉnh hình TP.HCM. Người nhà ông cho biết, lẽ ra ca mổ đã được thực hiện ngay khi ông nhập viện vào thứ sáu tuần rồi, nhưng do sức khỏe quá yếu, gần như là kiệt lực nên các bác sĩ phải dời lại mấy ngày cho ông bồi dưỡng.
Căn phòng có bốn giường bệnh, nhà văn Sơn Nam nằm ở giường số một, gầy gò, hom hem dù vẫn còn nét tỉnh táo và ông nhận ra chúng tôi ngay bằng nụ cười rạng rỡ. Câu chuyện bắt đầu bằng giọng yếu ớt, chậm rãi nhưng dường như đã lâu không có ai để trò chuyện nên ông tỏ ra vô cùng hứng thú. Ông tâm sự: “Tôi sinh ra ở vùng đất U Minh, nơi đó là những cánh rừng tràm bạt ngàn kéo dài từ Rạch Giá qua Sóc Trăng, Bạc Liêu và đến tận Cà Mau. Tôi bắt đầu sự nghiệp viết lách bằng những truyện ngắn vào năm 1955 trên văn đàn Sài Gòn để từ đó mà có Mùa len trâu, Hương rừng Cà Mau… được viết ra từ ký ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt. Trời sinh ra cây tràm thật là kỳ diệu, nó bám chặt rễ trong sình, chìm ngập trong nước mà vẫn mạnh khỏe, vẫn sinh sôi nảy nở để giữ vững mảnh đất bồi cho quê hương và giữ người cho đất. Chẳng nơi nào có được những ngày rừng tràm nở rộ hoa trắng mênh mông, trùng trùng điệp điệp, quyến rũ cơ man hàng vạn bầy ong làm tổ trên cành hút nhụy hương rừng làm mật ban tặng cho người như đất U Minh…”.

Say chuyện, nhưng nhà văn Sơn Nam vẫn không thể ngồi dậy được. Ông vừa nằm vừa nói, thỉnh thoảng ngẩng đầu lên hỏi xin một điếu thuốc nhưng chẳng ai dám đưa vì bệnh viện cấm ngặt chuyện này. Chúng tôi hỏi ông hiện nay còn bao nhiêu ký, ông nói đâu ngoài bốn chục gì đó. Một chị phụ nữ đi nuôi người nhà nằm giường bên cạnh lên tiếng: “Bác làm gì được 40 cân, cao lắm 37 cân là cùng !”. Ông cười hóm hỉnh: “Ừ thì tự trấn an mình một chút có sao đâu, hồi nào tới giờ có cân đâu mà biết!”. Rồi ông lại tiếp tục nói về con người phương Nam. Mới đây, xem bộ phim Mê Kông ký sự của NSND Phạm Khắc, nhà văn Sơn Nam cho rằng ông càng hiểu thêm tính chất Nam Bộ, một lưu vực ở cuối con sông nổi tiếng này. Sau khi chảy qua nhiều quốc gia, nhiều dân tộc và nhiều nền văn minh khác nhau, sông Mê Kông không chỉ mang phù sa về tưới cho đồng bằng miền Tây Nam Bộ thêm màu mỡ mà còn chở về cho con người nhiều điều thú vị khác…

Chúng tôi hỏi ông tại sao khi tai nạn xảy ra ông không chạy chữa ngay mà phải chờ đến bây giờ? Nhà văn Sơn Nam thở dài buồn bã: “Trước hết là không có tiền, tôi suốt đời sống bằng ngòi bút nên chẳng bao giờ dư giả! Cứ tưởng chịu đựng một chút rồi sẽ qua, ngờ đâu sức già không đủ đề kháng. Thứ đến, tôi muốn “nhõng nhẽo” với Nhà nước, với anh em bằng hữu thử xem sao!” .

Thế mà đã 7 tháng qua và cho đến hôm ấy, đang nằm trên giường bệnh chờ ca mổ nhưng vẫn chưa thấy có một cơ quan chức năng nào đến với ông, dành cho ông một lời an ủi, động viên, nói chi đến việc chia sẻ khó khăn với một tên tuổi lớn đã cống hiến cho nền văn hóa nước nhà những công trình không nhỏ!

Ở tuổi quá gần đất mà rất xa trời, lại đang lâm vào khó khăn, hoạn nạn nhưng nhà văn Sơn Nam vẫn sống rất lạc quan. Ông luôn tin tưởng sẽ vượt qua tất cả, sẽ trở về và tiếp tục cầm viết bởi theo ông, đó không chỉ là nghiệp dĩ mà còn là niềm đam mê và cũng để trả nợ áo cơm cho đời.

Chúng tôi nghĩ, với tuổi tác và tình trạng sức khỏe hiện nay, theo quy luật kiếp người, một ngày nào đó không xa nhà văn Sơn Nam cũng phải ra đi. Và sẽ là một cuộc tiễn đưa rình rang với đầy hoa tươi và những lời ai điếu, tiếc thương. Điều đó cũng sẽ vô cùng ý nghĩa và xứng đáng với một chân dung lớn trong văn học nước nhà như ông.

Nhưng giá như những tháng ngày ngắn ngủi còn lại trên thế gian này, ông được đãi ngộ xứng đáng như những gì đã được tôn vinh để không như hoàn cảnh hiện tại cần 15 triệu đồng chữa bệnh mà chỉ còn biết nhờ báo chí kêu gọi các mạnh thường quân tiếp sức, trong khi có những quan chức Nhà nước dám bỏ ra hàng chục tỉ đồng trong cuộc đỏ đen. Đó không chỉ là nỗi buồn cho Sơn Nam mà còn là niềm tủi cho tất cả chúng ta.

——————–

Cuộc gặp gỡ cuối cùng với nhà văn Sơn Nam

QĐND – Thứ Năm, 19/04/2012,

QĐND – Đó là một ngày cuối năm 2007. Để rồi sau đó không lâu, ông chấm dứt chuỗi năm tháng “ở trọ trần gian”, thanh thản về với thế giới vĩnh hằng. Bây giờ mỗi dịp đi qua con đường trước thư viện quận Gò Vấp, bên cái quán cà phê “bụi” ven đường, tôi vẫn như thấy ông còn ngồi đó, dáng gầy gò, đôi mắt chớp chớp liên hồi sau cặp kính trắng dày cộp…

Nhà văn Sơn Nam (bên trái) trò chuyện với tác giả trong cuộc gặp gỡ cuối cùng. Ảnh:  Kim Tùng

Nói cuộc gặp gỡ cuối cùng là bởi trước đó, tôi đã mấy lần được gặp và hầu chuyện ông. Khi thì đặt ông viết bài cho số báo Xuân theo yêu cầu của Ban biên tập. Khi thì hỏi chuyện ông về văn hóa Nam Bộ. Nhưng cũng có khi đơn giản là cùng đám phóng viên và mấy nhà văn trẻ đến ngồi nghe ông nói chuyện bên ly cà phê “bụi” để tìm vốn ngôn ngữ viết bài. Với anh chị em làm báo, viết văn ở TP Hồ Chí Minh, ông là pho tư liệu sống về văn hóa, lịch sử, là một bậc thầy về ngôn ngữ Nam Bộ. Thế nên ông còn được gọi bằng cái tên rất đỗi thân thuộc là “Ông già Nam Bộ”.

Rất lạ và thú vị là mỗi lần gặp ông, câu chuyện mà ông mang đến cho chúng tôi mỗi lần mỗi khác, mỗi người mỗi khác, không “đụng hàng”, không lặp đề tài. Dường như ông biết, lớp trẻ chúng tôi cần ở ông điều gì nên dù là câu chuyện bên quán cóc vỉa hè, bao giờ ông cũng có thứ gì đó để chúng tôi thu nạp.

Tháng cận Tết hằng năm là khoảng thời gian ông bận rộn nhất. Hàng chục tờ báo lớn nhỏ đến tìm ông để đặt bài, phỏng vấn. Và chưa bao giờ ông từ chối. Khi được đặt bài, ông hỏi rất kỹ, cần ông viết về cái gì, bao nhiêu chữ? Và thường là chỉ sau vài ngày, chậm nhất là một tuần, ông hẹn đến lấy. Sản phẩm của ông là những trang giấy học trò viết bút mực, nét chữ mộc mạc, rõ ràng, dễ đọc. Chỗ nào cần sửa, bổ sung thì ông đánh dấu mực đỏ vào đó.

Tết năm nào cái tên nhà văn, nhà Nam Bộ học Sơn Nam cũng đứng dưới tên tác phẩm trên hàng chục tờ báo lớn, nhưng không bài nào “đụng hàng” nhau. Ông xuề xòa là vậy nhưng trong sáng tạo ngôn ngữ, ông có tính kỷ luật lao động rất cao và nghiêm túc. Cường độ viết và làm việc của ông thật đáng nể. Ngay cả khi đã nằm trên giường bệnh, ông vẫn chưa thôi viết.

Lần nào cũng vậy, điểm hẹn ông dành cho tôi là Thư viện quận Gò Vấp. Đây mới thực là “nhà” của ông. Còn cái nhà ông được Nhà nước cấp trong con hẻm, dường như chỉ là cái chốn trọ mỗi khi đêm xuống ông ghé về ngả lưng. Tài sản quý giá nhất và nhiều nhất trong căn nhà ấy cũng chỉ là sách báo.

Trở lại với cuộc gặp gỡ cuối cùng ông dành cho tôi. Bấy giờ ông đã yếu lắm. Người gầy tong teo, chân bị bệnh khớp nên ông đi lại khá khó khăn. Mỗi khi bước lên cầu thang phải có người giúp đỡ. Ông nói chuyện cũng chậm hơn nhưng cái sự say sưa, hóm hỉnh thì vẫn thế. Dấu ấn và phong cách Sơn Nam không thể lẫn, dù sức khỏe không cho phép ông nói nhiều. Cơ mặt giật giật liên tục mỗi khi ông cất tiếng nói. Vậy nhưng ông vẫn không từ bỏ thói quen đến thư viện đọc sách. Nghe đâu mấy bác xe ôm gần nhà cứ mỗi lần thấy “Ông già Nam Bộ” đi ra khỏi cửa là sẵn sàng phục vụ ông miễn phí. Nhưng ông có nguyên tắc, không lạm dụng lòng tốt của người khác. “Khuyến mãi” lần đầu thì được nhưng đến lần thứ hai thì ông nhất định trả tiền. Nếu không chịu lấy tiền thì ông “dọa” sẽ gọi xe khác.

Mấy cô thủ thư quen và yêu quý ông đến mức dành hẳn cho ông một cái bàn riêng trong gian phòng yên tĩnh để ông nghiên cứu và tiếp khách. Ông hẹn tôi lúc 8 giờ sáng. Tôi đến trước 15 phút đã thấy ông ngồi ở đó, trước mặt là một chồng sách. “Dạ! Sao bác đến sớm thế ạ?” – Tôi hỏi. Ông nheo nheo mắt cười, cái cười sảng khoái như bản tính con người Nam Bộ xưa nay: “Tui hẹn là hẹn cho cậu, chớ tui thì sáng mờ đất là đã ở đây rồi. Tuổi trẻ như cậu, quỹ thời gian còn dài, còn ham chơi, ham ngủ. Còn tui, sống được bao lâu nữa đâu mà ngủ muộn cho nó phí”.

Tôi lặng ngồi nhìn ông. Đôi dép lê. Cái áo sơ mi bạc màu. Chiếc quần Tây cũ trở nên rộng thùng thình bởi càng ngày ông càng gầy yếu hơn. Tôi hẹn hỏi chuyện ông về văn hóa phong tục để viết bài cho Báo Quân đội nhân dân. Chẳng kịp để tôi vào đề, ông nói luôn: “Bàn đến văn hóa phong tục nó rộng lắm, phong phú lắm. Để tiện cho cậu viết bài, tui chỉ nói gọn trong bốn cái gạch đầu dòng”. Nghe ông nói, tôi như mở cờ trong bụng. Sướng đến thế là cùng.

Thông thường người được phỏng vấn chỉ thực hiện mỗi việc trả lời câu hỏi của phóng viên, nhưng với ông, đó còn là những gợi ý rất có giá trị giúp phóng viên hoàn thành bài viết một cách tốt nhất. Bốn cái gạch đầu dòng mà ông dành cho tôi bắt đầu bằng 4 chữ “Quan – Hôn – Tang– Tế”.

Ông giải thích: Quan, để chỉ các nghi lễ, phong tục về con đường lập thân, lập nghiệp, nền nếp gia phong. Hôn, là những nghi lễ trong hôn nhân. Tang, là nghi lễ trong việc tang, thờ cúng. Tế, là những phong tục tín ngưỡng trong lễ hội, hoặc tín ngưỡng tôn giáo… “Một nguyên thủ quốc gia hay một người đạp xích lô, chạy xe ôm, bán vé số… khi vào đình, chùa, đến nhà thờ, đi lễ hội, làm lễ thành hôn trước bàn thờ gia tiên hay đứng trước linh cữu của cha mẹ… đều chung một nghi lễ. Ông bộ trưởng cũng phải vái lạy kẻ ăn mày nếu như người ta đến thắp nhang viếng cha (mẹ) mình. Cái giá trị tự thân của văn hóa phong tục là ở chỗ nó tạo ra sự bình đẳng giữa con người với con người. Xây dựng văn hóa ứng xử cho lớp trẻ hôm nay phải bắt đầu bằng cái gốc của văn hóa phong tục” – Ông nói.

Hôm sau tôi viết bài xong, mang đến cho ông xem trước khi đăng báo. Ông cẩn thận sửa những chỗ tôi sử dụng phương ngữ Nam Bộ chưa chuẩn. Tôi mời ông đi ăn ở nhà hàng nhưng ông từ chối. Ông kéo tôi vào quán cơm “bụi” ở gần thư viện Gò Vấp mà hằng ngày ông vẫn ghé ăn trưa. Bà bán hàng cơm đã quá hiểu “gu” ẩm thực của ông nên cứ thế mà đưa thức ăn ra, không cần chờ ông gọi. Một đĩa cơm. Cái trứng rán. Một ít rau muống luộc, bát canh và ly trà đá. Tất cả chỉ có thế.

Bữa ăn của một nhà văn nổi tiếng với khối lượng tác phẩm chất cao hơn đầu người chỉ có thế. Bao năm nay rồi cũng chỉ thế. Thói quen của ông như thế rồi. Ông ăn chậm lắm nhưng ngồi suốt buổi, đĩa cơm cũng chỉ vơi được già nửa. Tôi chợt thấy chùng lòng khi chứng kiến ngày trần gian của ông đang cạn dần… Con người ông giản dị, nhân nghĩa thế nên tác phẩm của ông cũng thế. Trong sáng tác văn học, ông hướng ngòi bút của mình đến những người nông dân Nam Bộ và dân nghèo thành thị, dành cho họ cái nhìn nhân văn.

Các công trình biên khảo, khảo cứu của ông có giá trị như những “giáo khoa” về lịch sử khẩn hoang đất phương Nam và văn hóa phong tục Nam Bộ xưa nay. Ông đọc nhiều, hiểu rộng lại tinh tường. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ, được thể hiện qua giọng văn giản dị, chân chất, mộc mạc, mang phương ngữ Nam Bộ rõ nét nhưng có sức cuốn hút bạn đọc kỳ lạ.

Ông “khoe” với tôi đã được Ban quản lý Nghĩa trang công viên Bình Dương (tỉnh Bình Dương) đặt vấn đề xin được… chôn cất thi hài ông tại nghĩa trang này sau khi ông qua đời. Một chuyện lạ rất hiếm gặp trong thực tế. Tất cả cũng chỉ bởi ông được nhiều người yêu quý, ngưỡng mộ. Ông nói với vợ con: “Người ta đã có ý tốt với mình như vậy, mình nhận lời thôi”.

Khoảng vài chục năm trước ngày giã từ trần gian, ông ít sáng tác văn học mà dành tâm huyết thực hiện các công trình khảo cứu văn hóa Nam Bộ. Ít ai ngờ ông già mảnh khảnh với dáng đi liêu xiêu trên phố Gò Vấp, thường xuyên ăn cơm “bụi” và cà phê vỉa hè ấy lại có một sức lao động ngôn ngữ phi thường đến thế. Có nhiều cuốn sách của ông được nhà xuất bản mua bản quyền ngay khi nó chưa xong bản thảo.

Ông trở thành người của công chúng khi xuất hiện nhiều trên truyền hình với vai trò là cố vấn văn hóa cho các sự kiện văn hóa lớn của Quốc gia và địa phương ở Nam Bộ. Những năm tháng cuối đời, ông được Nhà xuất bản Trẻ mua bản quyền toàn bộ tác phẩm Sơn Nam. Ông là trường hợp hiếm hoi được dựng tượng tại khu văn hóa Bình Quới khi đang còn sống. Ngày khánh thành tượng, mọi người xúm lại chúc mừng và hỏi ông về cảm nghĩ. Ông cười: “Bây giờ tui chỉ nghĩ, vậy là mình chết được rồi”.

Và ông đã ra đi vào một ngày đầu thu năm 2008 sau một thời gian lâm bệnh nặng. Ông sống một cuộc đời giản dị, thanh bạch và khá thiếu thốn, nhưng khi trở về thế giới bên kia, những người yêu quý nhà văn Sơn Nam đã lập mộ ông thật đẹp và trang trọng, giống như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc. Giữa không gian xanh mát, mộ của nhà văn được ghép, ốp bằng đá Bình Định.

Trên bia mộ, các nghệ nhân đã khắc chân dung nhà văn dựa theo bức ảnh chụp cảnh ông đi thực tế sáng tác, khảo cứu tại Nam Bộ, vai đeo chiếc ba lô nhỏ, phía trên nóc ba lô còn nguyên một ổ bánh mì. Phía trước mộ, trên tảng đá lớn là hai câu thơ (cũng là đôi câu đối) của ông: “Phong sương mấy độ qua đường phố/Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Trên ngôi mộ ấy, thường xuyên thơm ngát khói nhang bên những bó hoa tươi…

Tháng Tư năm nay, giới nhà văn cả nước kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Hội Nhà văn Việt Nam. Trong chuỗi các hoạt động, chúng ta dành những khoảng lặng để tưởng nhớ nhà văn tên tuổi đã quá cố, có nhiều đóng góp như Sơn Nam. Mấy kỷ niệm nhỏ về ông được viết ra đây, xin coi như nén tâm nhang tưởng nhớ ông, một nhà văn xuất sắc của Nam Bộ cả về tài năng, đức độ và nhân cách.

Phan Tùng Sơn

————————————-

Nhà văn Sơn Nam nghèo mà sang

Nguyễn Quang Sáng

30-9-2008

NGUYỄN QUANG SÁNG“Cách đây ba năm tôi có viết về nhà văn Sơn , chớ không phải khi nghe tin anh đi xa rồi, tôi mới nghĩ đến anh. Tôi viết về anh lúc anh còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Anh đã đọc, gật đầu, cười…”.

Nhà văn Sơn Nam nghèo mà sang

Hai mươi mốt năm (1954-1975) gặp lại nhà văn Sơn giữa Sài Gòn, câu đầu tiên tôi hỏi anh:
– Anh chạy xe đạp, xe máy được chưa?
Anh cười hề:
– Vẫn đi bộ!
Và từ đó đến nay, nhà văn Sơn vẫn đi bộ. Anh không nói với tôi vì sao anh thích đi bộ. Nhưng tôi có một người bạn cũng thích đi bộ, anh bạn nói: đi bộ thấy, nghe chuyện đời nhiều hơn, sâu hơn. Đúng vậy!
Ngày đầu giải phóng, có một số bạn không hiểu vì sao, một nhà văn ở R (Nguyễn Quang Sáng) và nhà văn Sơn Nam sống trong đô thị Sài Gòn lại có những câu đối đáp thân tình như vậy?

Năm 1950, tôi và nhà văn Sơn cùng làm việc trong phòng chính trị Phân Liên Khu Miền Tây bộ. Phòng chính trị có hai ban: Ban Tuyên huấn và Ban Địch ngụy vận. Trong Ban Tuyên huấn có một tiểu ban văn nghệ, gồm có nhiều văn nghệ sĩ. Trong số đó có ca sĩ Quốc Hương, nhà thơ Hoàng Tấn, Hoàng Phố (gọi đùa là ông Hai Hoàng), nhà văn Thái Bạch và nhà văn Sơn . Năm ấy, nhà văn Sơn lấy bút danh là Phạm Anh Tài (giấy khai sanh là Phạm Anh Tày). Tôi là người của Ban Địch ngụy vận, cơ quan chuyên nghiên cứu và theo dõi các sắc lính của quân đội Pháp và các tôn giáo. Tôi là cán bộ nghiên cứu, chả biết gì về văn chương. Hai cơ quan thường đóng quân trên một dòng kinh, tới lui qua lại thường gặp nhau.

Trong số văn nghệ sĩ ấy, người oai vệ nhất là ca sĩ Quốc Hương, lúc nào quân phục cũng chỉnh tề, cây súng ngắn đeo xề xệ đến tận gối, còn Phạm Anh Tài thì lang thang lếch thếch. Mấy bộ bà ba màu cháo lòng vừa cũ vừa nhàu nát. Thấy hết ham! Nhưng tôi nể tài văn chương qua hai truyện ngắn: “Cù lao dung” và “Tây đầu đỏ” của anh mà tôi được đọc. Anh ít khi ở cơ quan lâu ngày. Mới thấy anh đó thì ngày mai anh đã đi rồi. Anh về các làng của miền Tây, mỗi lần anh về, anh kể không biết bao nhiêu chuyện, kể liên miên. Nhiều chuyện lạ về đời sống của rừng. Qua chuyện của anh, tôi đoán là anh đi khắp cả rừng U Minh. Tôi nể anh hơn khi được biết anh là tỉnh uỷ viên dự khuyết của tỉnh Rạch Giá, không hiểu sao anh từ bỏ cương vị lãnh đạo tỉnh mà dấn thân vào con đường văn chương? Miền Tây bộ là miền sông nước, phương tiện đi lại là xuồng ghe. Xuồng ghe cơ quan cấp cho tuỳ theo cấp bậc. Cán bộ cao cấp thì đi ghe có mui bốn chèo. Lái hai chèo, mũi hai chèo, tức là hai giao liên. Dưới đó một cấp thì cũng ghe mui, nhưng chỉ có hai chèo, nếu không có mui thì hai mái lá che nắng, che mưa, cán bộ dưới nữa thì cơ quan cấp cho một chiếc tự chèo lấy, và dưới nữa nếu gặp chuyến thì theo giao liên còn không thì quá giang xuồng ghe của thương hồ. Ở cương vị cán bộ lãnh đạo như anh, anh phải đi trên chiếc xuồng hai chèo hoặc có mui hoặc có rèm. Là nhà văn, đi đâu anh cũng quá giang theo xuồng ghe của thương hồ. Anh đi sông lớn, sông nhỏ, theo kinh theo rạch, anh đi khắp cả sông nước miền Tây.

Chiến dịch Long Châu Hà năm 1950, một số văn nghệ sĩ và cán bộ các phòng ban cùng hành quân theo bộ đội. Qua sông, qua đồn bót địch, qua các cánh đồng, thọc sâu vào vùng địch. Trên đường hành quân, tôi nghe ca sĩ Quốc Hương, gặp nhà văn Phạm Anh Tài, nghe nhà thơ Vũ Anh Khanh đọc thơ…
Có một lần, tôi với anh cùng một chuyến đi, hai người một chiếc xuồng, tự chèo lấy, đi từ Rạch Ráng Cà Mau về huyện Tân Biên Rạch Giá. Xô xuồng ra đi từ buổi chiều. Đường dài như vậy thì phải thay nhau chèo. Tôi chèo, anh kể chuyện cho tôi nghe. Vừa kể chuyện vừa tự mình tranh luận với mình, anh đưa một giả thuyết sai trái trong văn chương, trong nghệ thuật rồi anh đập lại, nghe thật sướng tai. Nếu anh chèo thay, tôi nghỉ thì ai nói chuyện, nghĩ vậy nên tôi tự nguyện chèo suốt đêm để nghe chuyện của anh. Tuổi 20 tôi chèo xuồng suốt đêm là chuyện thường.

Sau chuyến đi ấy, bẵng đi rất lâu không gặp anh . Năm 1954, những ngày chuẩn bị tập kết thì anh về cơ quan để nhận quyết định đi hay ở. Anh ở cùng một xóm với tôi thuộc làng Phó Sinh. Anh được quyết định ở lại, còn tôi thì trên chưa quyết định đi hay ở. Anh yên phận là ở lại, nhưng ở lại thì ở đâu, anh nấn ná vài hôm để chờ. Bất ngờ, trên cho anh biết, Trung ương điện vào, anh phải ra Trung ương, nghĩa là tập kết ra Bắc. Anh nói với tôi:
– Tao không đi. Mày còn nhỏ, nếu trên cho đi thì đi, ra ngoài đó học tập (năm ấy tôi 22 tuổi).
Tôi hỏi:
– Ở lại, anh ở đâu?
– Sài Gòn.
Năm 1945, 13 tuổi, tôi có dịp lên Sài Gòn. Sài Gòn xe cộ quá chừng, tôi hỏi anh:
– Lên Sài Gòn, anh không biết chạy xe, làm sao sống?
Anh cười hề hề:
– …Đi bộ, lo gì.

Ấy là buổi chiều bên bờ kinh Phó Sinh, xuồng ghe thương hồ qua lại nườm nượp. Sáng hôm sau, không thấy anh đâu, vậy là tối hôm qua, anh ngoắc một chiếc ghe nào đó, quá giang đi rồi!
Tôi không nhớ năm nào, chắc cũng đã mười năm, Hà Nội có đại hội nhà văn trẻ, đại hội mời các nhà văn lão thành, trong đó có nhà văn Tô Hoài và nhà văn Sơn Nam. Là đại hội nhà văn trẻ, nhưng bài phát biểu hay nhất, ấn tượng nhất là bài phát biểu của hai nhà văn lão thành: Tô Hoài và Sơn . Nhà văn Sơn Nam phát biểu:
– Là nhà văn thì phải chấp nhận nghèo, nếu viết văn để làm giàu, thì ở Sài Gòn, dân Chợ Lớn làm hết rồi, không tới mình đâu!

Đại hội nhà văn trẻ bùng lên tiếng hoan hô. Đó là triết lý sống của anh!

Có một lần anh đến Hội Nhà văn Thành phố, anh than đang túng, với tư cách là Tổng Thư ký Hội Nhà văn Thành phố, tôi đề nghị văn phòng chi cho anh hai trăm đồng. Cầm hai trăm đồng, với cái tánh hài hước của anh, anh cười hề:

– Cám ơn Hội, cám ơn mày. Khi tao chết Hội khỏi phải đi vòng hoa! – Nói vậy rồi anh te te ra đường.

Nhà văn Sơn nghèo nhưng lại rất sang. Cái tên Sơn là cái tên sang trọng trong làng văn của nước nhà.
N.Q.S

—————————-

http://namkyluctinh.org/a-vhbkhao/hcongtin-sonnam.htm

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »