Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2013

►Gia nhập Đám KHÔNG Lú

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2013

BIẾT CHƯA, ĐÁM KHÔNG LÚ?

  Huỳnh Ngọc Chênh

Chúng mầy đòi đa đảng
là suy thoái đạo đức
Đòi tam quyền phân lập
là suy thoái đạo đức
Chúng mầy đòi bỏ điều bốn
là suy thoái đạo đức

Chúng mầy đòi quân đội chỉ bảo vệ tổ quốc
là suy thoái đạo đức
Chúng mầy ưa kiến nghị
là suy thoái đạo đức
chúng mầy hay biểu tình
chống quân xâm lược
là suy thoái đạo đức

Chúng mầy suy thoái đạo đức
suy thoái chính trị
suy thoái tư tưởng
vì chúng mầy không chịu
nghe lời chúng tao
vì chúng mầy
có suy nghĩ khác chúng tao

Cả thế giới nầy đều suy thoái hết
Mấy trăm quốc gia
đều suy thoái hết
vì chúng mầy đa đảng
vì chúng mầy tam quyền phân lập
vì chúng mầy không có điều bốn
vì chúng mầy hay biểu tình
vì chúng mầy để cho dân kiến nghị
vì chúng mầy chỉ để quân đội bảo vệ tổ quốc
không cho quân đội bảo vệ bất cứ đảng nào

Tất cả mấy tỉ người chúng mầy đều suy thoái
Chỉ chúng tao,
vài triệu người là đỉnh cao trí tuệ
là chân lý đến muôn đời
vì đó là mac lê mao
biết chưa
đám không lú?

HNC

 huynhngocchenh.blogspot.dk

————-

 

Ngồi như ông Phổng và dùng tài mọn ăn nói để đánh lạc hướng nhằm che chắn cho nhóm đồng chí X tiếp tục ăn chia đất đai, tiền bạc, mỏ dầu hỏa và ga

Đến đòi tam quyền phân lập cũng là suy thoái chính trị, tư tưởng và đạo đức???
danluan.org
Advertisements

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Hãy nhìn thẳng vào mắt Kẻ bắt anh – Thơ của Nguyễn Đắc Kiên – Thứ Bảy, 16-7- 2011

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2013

Hãy nhìn thẳng vào mắt Kẻ bắt anh

Thơ của Nguyễn Đắc Kiên

Thứ Bảy,  16-7- 2011

Hãy nhìn thẳng vào mắt kẻ bắt anh

Hỏi hắn xem có mẹ cha tiên tổ?

Hãy nhìn thẳng vào mắt kẻ bắt anh

Hỏi hắn xem có vợ con nòi giống?

Hãy nhìn

thẳng vào mắt kẻ bắt anh

Hỏi hắn xem phải chăng cha ông chưa bao giờ đổ

máu

Hỏi hắn xem đất dưới chân đang da diết kêu gì?

Hãy nhìn thẳng vào mắt

kẻ bắt anh

Hỏi hắn xem hắn sẽ nói gì

Nếu mai này con cháu hỏi:

Hắn …

hắn…

làm gì khi đất mẹ bị doạ đe

Hắn làm gì khi Tổ quốc lâm nguy

Khi người ta xuống đường Biểu Giương tình yêu Tổ quốc

….

Cha đi làm

lính dùi cui, vung đập xuống những đồng bào cha yêu nước

Cha đi làm lính nồi

niêu, bảo vệ cái xoong, gùi tiền cho con đi Bar, đi xe sang, đi du học.

Cha

đi, cha đi…

Thằng cha đó nó đi…

Đi đi đi đi

Cứ đi

đi

…..

Thực ra thì nó có đi được đâu

Nó đã chết lâu rồi, từ phút đầu

được sống

Nó là cái xác, cái dùi cui di động

Cái nồi xoong đồi bại đồi

Nuy

Đừng nhìn vào ánh mắt kẻ đi bắt người ta, anh sẽ chẳng thấy chút con

người ở đó

hãy cứ đi làm việc của mình

Chính trị là việc của Cấp

Trên

Việc của tôi là xuống đường yêu nước

Hòa bình cũng quý như áo, cơm,

nhưng đất mẹ là máu trong tim từ thuở cha ông chưa bao giờ ngừng đập

Yêu biết mấy những ngày Chủ nhật

được ngắm nhìn những ánh mắt Tự

do

(Tặng Cừu yêu của ba)

Nguồn: FB Nguyễn Đắc Kiên

danluan.org (repost)

——————

bởi vì tôi khao khát Tự doTặng những người biểu tình ngày 09/12/2012

khaokhattudo.jpeg

nếu một ngày tôi phải vào tù,
tôi muốn được vào nhà tù Cộng sản,
ở nơi đó tôi gặp những người ngay,
ở nơi đó đồng loại tôi đang sống.

nếu một ngày tôi phải vào tù,
tôi muốn được vào nhà tù Cộng sản,
ở nơi đó giam giữ Tự do,
giam giữ những trái tim khao khát Sống.

nếu một ngày tôi phải vào tù,
tôi muốn được vào nhà tù Cộng sản,
ở nơi đó giam giữ những nhà thơ,
giam giữ kẻ ngủ hoang để thức tỉnh muôn đồng bào vô thức.

bắt nhà thơ giam vào trong ngục tối,
là mở ra ngàn thiên thể Tự do.
bắt Tự do giam vào trong ngục tối,
là mở ra ngàn thơ tứ Con người.

nếu một ngày tôi phải vào tù,
thì chắc chắn là nhà tù Cộng sản,

bởi vì tôi khao khát Tự do.

N.Đ.K, 09/12/12

Nguồn: blog Nguyễn Đắc Kiên

———————–

Quê Hương

thơ Nguyễn Đắc Kiên

Mùa thu cội vàng – hoa mướp – đắng.
Đất nước mình – vẫn chẳng được – tự do.

Sớm thu lạnh – gió cúi đầu – đưa đám,
Một thế hệ – Một thế hệ – Một…
…. Thôi xin đừng lần hồi – thêm một.

Ai đem bán – tự do?

Cho anh hỏi:
“Em ơi – còn không vườn vương hương – hoa khế,
mà tím – mà thương – mà nhớ quá – quê mình?”.

Em cười lúng liếng – hoa xoan:
“Con cò bay lả bay la.
Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng.
Đồng quê chúng chiếm hết rồi.
Thân em cũng bán chợ giời – tiếc không anh…”

N.Đ.K
06.10.2012

—————–

Blog và Face Book của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên

https://www.facebook.com/nguyendackien

http://dackien.wordpress.com

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên đã bị sa thải sau khi nói: Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng (27-2-2013)

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2013

Lời tựa: Đảng CSVN CƯỚP chính quyền từ tay của Thủ tướng Trần Trọng Kim vào năm 1945, sau đó bằng các thủ đoạn ma mãnh kể cả bán nước để mời quân Trung Cộng của Mao vào Việt Nam năm 1950.

Tháng 1-1950, ông Hồ Chí Minh mãi quốc cầu vinh,  cầu viện Trung Cộng và Liên Xô xin vũ khí, lương thực, tiền bạc và hổ trợ. Ông HCM đã gặp Mao, và dám cả gan bán quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng để đổi lấy sự giúp đỡ vũ khí và mời quân Trung Cộng đánh Pháp trong trận Điện Biên Phủ 1954.

Xong việc, Trung cộng đòi công nợ  bằng cách chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và viết thư đòi chủ quyền.  Ông HCM lật đật sai Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 (là ngày CHỦ NHẬT) xác nhận Hoàng Sa và TS là của Trung Cộng. TC đã giúp đảng CSVN  đánh Điện Biên Phủ và chiếm một nửa nước VN  qua Hiệp định 20-7-1954.

Nhờ đó, Đảng CSVN đã nắm quyền từ 1955 đến nay dựa trên việc:  kể công, tuyên truyền, khủng bố, hăm dọa dân chúng.

Những ai  thách thức đảng CSVN đều bị đàn áp và giết hại. Đó là chuyện đã xảy ra từ 1955 cho đến nay!

Nhưng, với sự  xuất hiện của internet, sự thật được phơi bày, đảng cs lộ nguyên hình là quân bán nước và lệ thuộc Trung Cộng.

Ngày 25-2-2013, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên viết Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng đăng trên blog của anh ấy. 

Ngay lập tức, ngày 26-2-2013, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên đã bị cho thôi việc với lý do mà tòa soạn Báo Gia đình & Xã hội đưa ra như sau: Vi phạm Quy chế hoạt động của Báo và Hợp đồng lao động.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Giữ Điều 4 (để tiếp tục độc quyền lãnh đạo) mới chính là suy thoái đạo đức, thưa ông Tổng Bí thư!

Posted by hoangtran204 trên 26/02/2013

Trong khi cả nước có gần 90 triệu dân, Đảng CSVN có hơn 3 triệu đảng viên, và số đảng viên hưởng đặc quyền đặc lợi chỉ là một phần trong số đó.  Số đảng viên cao cấp này muốn giữ điều 4 Hiến pháp để khư khư độc quyền đảng trị hầu vơ vét thêm.

Trong khi các blogger, các nhân sĩ trí thức  và dân chúng:  muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp, và không chấp nhận vai trò độc đảng lãnh đạo của đảng CSVN. Vì họ nhận thức được rằng: mọi vấn nạn của Việt Nam hiện nay là do đảng khư khư độc quyền đảng trị và chỉ đạo hết mọi việc lớn nhỏ, từ  kinh tế đến giáo dục, chính trị đến xã hội, luật pháp đến báo chí…và không cho ai nói khác với ý của đảng. Đảng giấu kín các chuyện quan trọng của đất nước như: 

Khi gặp nguy cơ hồi năm 1989, các đảng viên cao cấp của đảng CSVN  đã cầu cứu Trung Cộng làm đỡ đầu chính trị cho họ. Tại cuộc họp bí mật ở Thành Đô, Trung Quốc, ngày 3-5 tháng 9, năm 1990, Đảng CSVN đã chấp nhận nhường cho Trung Cộng hơn 3000 km vuông ở vùng biên giới phía Bắc, vùng Móng Cái, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, núi Lão Sơn, vịnh Bắc Bộ, vùng Biển Đông ngoài khơi các tỉnh Miền Trung chay dọc xuống phía Nam. Hiệp định Biên Giới mà đảng CSVN  ký kết với Trung Cộng  ngày 31-12-1999 là kết quả của cuộc gặp gỡ 1990. 

Để giữ độc quyền lãnh đạo, đảng CSVN đã không cho báo chí tư  nhân hoạt động. Sợ rằng báo chí sẽ phanh phui nói các sự thật cho dân chúng biết về chuyện tham nhũng của các đảng viên cao cấp, về sự thật lịch sử và vai trò lãnh đạo của đảng CSVN trong mấy chục năm qua. 

Các vấn nạn hiện nay của VN là tài chánh.  Mấy năm trước, các đảng viên có đặc quyền đặc lợi (vay tiền ngân hàng) mua và làm chủ của hầu hết  các bất động sản.  Thời gian gần đây dân chúng không có tiền để mua nhà, nhóm đặc quyền đặc lợi không bán nhà được, không trả được nợ đã vay,  nên ngân hàng bị kẹt vốn và bế tắc theo. Kéo luôn sự sụp đổ của 600 ngàn doanh nghiệp tư nhân.  Đẩy người dân vào cảnh khốn cùng. Người dân làm việc rất nhiều thời gian hàng ngày mà không mua nổi thức ăn cho gia đình vì vật giá leo thang 50%, đa số dân ngheo không có nhà ở, sống chen chúc nhau trong một khoảng nhỏ hẹp. Bệnh nhân  phải có tiền nếu không thì bệnh viện không cấp cứu và không chữa trị.  

Chung qui tất cả các vấn nạn của VN nói trên trên là do đảng độc quyền lãnh đạo.

Mời các bạn đọc bài báo sau đây:

Giữ Điều 4 mới chính là suy thoái đạo đức, thưa ông Tổng Bí thư!

Tối 25-2-2013, trong thời sự 19h, VTV1 phát đoạn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “giáo huấn” tại Vĩnh Phú:

“… Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa … Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy!… Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? … Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể … thì nó là cái gì?! … Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này.”.

 

Mô Phật! Một lần nữa, tôi nghe mà không tin vào lỗ tai mình! (lần trước, ông Trọng hể hả về chuyến đi một số nước châu Âu và Vatican: “Mình phải vị thế thế nào thì người mới thế chứ”; đã đề cập qua bài “Cái tầm của Tổng Bí thư”; nhiều người nhận xét ông Trọng như “trẻ con”).

Gác sang một bên chuyện chụp mũ, hăm dọa, trấn áp, bịt miệng, nhồi sọ… trong câu nói trên. Xin chỉ bàn đúng sai trong quan niệm về đạo đức, dưới nhãn quang của những người “cách mạng”.

Mọi đảng viên có lẽ không ai không đọc, hoặc chưa từng nghe nói đến bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Hồ Chí Minh – trong cương vị Chủ tịch Đảng Lao động VN (Đảng CSVN ngày nay). Tiêu đề bài viết này, về sau phổ biến gần như một trong nhiều khẩu hiệu của đảng.

Có nhiều quan niệm về chủ nghĩa cá nhân, lên án có (khi bàn về công bằng xã hội), ủng hộ có (khi bàn về nhân quyền và sáng tạo của trí thức).

Tuy nhiên, từ trước đến nay, trong tư duy được “định hướng” của lãnh đạo và đảng viên theo tinh thần bài viết trên của Hồ Chí Minh, người theo chủ nghĩa cá nhân là người chỉ cốt lo thu vén cho mình và gia tộc, làm phương hại lợi ích tập thể, quốc gia, dân tộc. Chưa một đảng viên nào làm nổi và/hoặc dám làm cái việc phản biện “chân lý” trên của Hồ Chí Minh.

Viết bài trên, Hồ Chí Minh khẳng định, với những người cách mạng, chủ nghĩa cá nhân chính là biểu hiện vô đạo đức rõ nhất. Cụ thể, ai biết đặt lợi ích bản thân dưới lợi ích tập thể, lợi ích tập thể dưới lợi ích quốc gia hoặc hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích tập thể, hy sinh lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể vì lợi ích quốc gia là có đạo đức. Tương tự, trong các dịp khác Hồ Chí Minh cũng đề cao quan điểm “mình vì mọi người”, “chí công vô tư”, coi đó là thước đo đạo đức cán bộ, đảng viên.

Mọi người có lương tri đều hiểu, chủ trương duy trì nền độc tài đảng trị, các lãnh đạo đảng CSVN triệt tiêu mọi nguồn lực trí tuệ bất phục tùng chủ nghĩa cộng sản. Không có đa nguyên, không có cạnh tranh thì trì trệ, xơ cứng là tất yếu. Điều đó không chỉ đúng trong chính trị – xã hội, mà đúng trong mọi lĩnh vực, kể cả tự nhiên. Giáo điều và xơ cứng, chủ trương kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đảng làm hao tổn khổng lồ tài nguyên, tiền vốn, kỹ thuật, chất xám và nhân lực… vào những Vinashin, Vinalines… vô chủ, cha chung không ai khóc – những bồ thóc béo bở của lũ chuột tham nhũng. Chủ trương nhà nước độc quyền sở hữu đất đai, đảng tạo cơ hội “vàng” cho đám tham quan câu kết với các chủ đầu tư “đục nước béo cò”, tước đoạt tàn bạo hàng triệu ha ruộng đất, nhà ở và phương kế sinh nhai truyền thống của hàng triệu hộ dân.

Muốn duy trì điều 4 trong Hiến pháp, ông Trọng muốn giữ độc quyền đảng trị. Tuy nhiên, không ít đảng viên, kể cả không ít đảng viên cấp cao, đều biết rõ cái độc quyền ấy thực chất chỉ cốt duy trì quyền uy chính trị và đặc quyền đặc lợi vật chất cho những đảng viên có chức quyền biến chất. Hầu hết các đảng viên cấp thấp, không có chức quyền, không đặc quyền đặc lợi, hoặc có chức quyền nhưng lại có lương tri đều băn khoăn, lo lắng cho vận mệnh của đất nước trước hiện tượng suy thoái đạo đức của “một bộ phận không nhỏ” đảng viên hiện nay. Không ít đảng viên tâm huyết và có trí thức nhận ra sự thật phũ phàng: quay lưng với mọi thành tựu chính trị – xã hội của nhân loại (đa nguyên chính trị, tam quyền phân lập, phi chính trị hóa quân đội), đảng CSVN đã quá lạc hậu, xơ cứng, bế tắc về đường lối, đang bị những kẻ vô liêm sỉ, cơ hội xấu xa núp bóng để đục khoét tham nhũng trắng trợn, trở thành vật cản kìm hãm vô cùng tai hại cho sự phát triển đi lên của đất nước, làm Việt Nam càng ngày càng tụt hậu và trở nên xa lạ so với khu vực và thế giới.

Đảng CSVN có hơn 3 triệu đảng viên, và số đảng viên hưởng đặc quyền đặc lợi chỉ là một phần trong số đó, trong khi cả nước có gần 90 triệu dân. Giữ điều 4 Hiến pháp là gì, nếu chẳng phải là khư khư độc quyền đảng trị như “đười ươi giữ ống”, giữ lợi ích bất chính cho một thiểu số người, bất chấp phương hại nặng nề tự do, hạnh phúc của nhân dân, kéo lùi tương lai phát triển của đất nước?

Như vậy, theo nhận thức của người viết bài này, rõ ràng quan điểm trên về đạo đức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu ở Vĩnh Phúc hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Hồ Chí Minh trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Chúa ơi! Tôi ước gì mình nhận thức sai, chứ cỡ Tồng Bí thư mà cũng nhận thức sai thì nguy to rồi!

V.V.T.

nguồn: anhbasam

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Những kẻ đã làm mất biển đảo và đẩy Việt Nam vào con đường nô lệ cho Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 25/02/2013

Hội nghị  Thành Đô, 3 và 4 tháng 9, năm 1990

Hậu họa “giải pháp đỏ” của Nguyễn

Văn Linh

Hội nghị Thành Đô, 2-9- 1990

Ông Võ Trần Chí, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nói Nguyễn Văn Linh là người “Lội ngược dòng  lịch sử !”. Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng bản thân mình từng “Lên bờ xuống ruộng!”. Nguyễn Văn Linh còn là người “bước lỡ nhịp” và tên tuổi ông được gắn với một khái niệm đầy tai tiếng là  “Giải pháp đỏ”.

Trong tiểu sử Nguyễn Văn Linh, ghi tên thật của ông là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1-7-1915, tại xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ngày 1-5-1930, ông bị thực dân Pháp kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo.

Hình như có sự nhầm lẫn năm sinh, hoặc năm ông bị bắt đi tù, bởi điều luật của nước Pháp không xử tù tuổi vị thành niên. Ví dụ ông Nguyễn Hữu Đang, sinh năm 1913, hoạt động trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, bị bắt 1930. Năm 1931, khi ra tòa đã 17 tuổi, vẫn được tha bổng vì còn vị thành niên. Nguyễn Văn Linh khi ra tòa mới 14 tuổi 10 tháng, mà bị xử tù chung thân thì vô lý?

Trong tiểu sử cùa Nguyễn Văn Linh, không ghi ông học ở trường nào, trình độ văn hóa ra sao, hầu như cả cuộc đời ông dấn thân hoạt động cách mạng, vào tù ra tội, gắn bó với phong trào quần chúng, ở những nơi ác liệt.

Từ năm 1957 đến năm 1960, Nguyễn Văn Linh đã từng làm Bí  thư đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương, làm Bí thư (1961-1964), rồi Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hình như từ những năm tháng đó,  Nguyễn Văn Linh đã “lên bờ xuống ruộng” rồi.

Ngày  10-4-1975, tại Trung ương cục miền Nam, Lê Đức Thọ, từ Hà Nội vào công bố quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, trao quyết định Bí thư đặc khu Sài Gòn-Gia Định cho Võ Văn Kiệt, Mai Chí  Thọ lảm Phó bí thư. Nguyễn Văn Linh không còn là Phó bí thư nữa, mà chỉ phụ trách mảng phong trào nổi dậy.

Cũng như các lần thay đổi trước, tổ chức không nêu ra lý do, và Nguyễn Văn Linh cũng không băn khoăn, ông chấp hành sự phân công một cách bình thản. Ông Võ Văn Kiệt và Võ Trần Chí cho rằng, đó là một trong những phẩm chất đặc biệt của Nguyễn Văn Linh.

Ông Lê Duẩn cho rằng Nguyễn Văn Linh quá nhẹ tay trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhẽ ra  phải xóa bỏ triệt để tư sản lại kêu gọi họ tự cải tạo, hòa nhập vào xã hội mới, đem tài lực góp phần xây dựng đất nước. Có lần Nguyễn Văn Linh nói với tôi và Đình Khuyến, Trưởng cơ quan Thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: “Anh Ba, cũng như chúng tôi đã từng được những nhà tư sản Sài Gòn cưu mang trong thời kỳ hoạt động bí mật, bây giờ biến họ thành nạn nhân sao đành!”.

Ý thức “đền ơn đáp nghĩa” của Nguyễn Văn Linh bị Đỗ Mười cho là hữu khuynh, không “không Bôn – sê – vích”.  Đã sảy ra những  cuộc  tranh luận căng thẳng giữa Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười. Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt bảo vệ quan điểm cải tạo từng bước, phân biệt đối tượng cụ thể, tận dụng kinh nghiệm thương trường cùa giới công thương chế độ cũ, đặc biệt đối với những người có công với cách mạng để xây dựng và phát triển thành phố.  Đỗ Mười  bảo vệ quan điểm của Lê Duẩn, phải xóa sạch tư sản. Kết quả, đầu năm 1978, Nguyễn Văn Linh mất chức Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Cũng trong thời gian đó, có người bới lại chuyện Nguyễn Văn Linh sang Campuchia tháng 6-1975, đi suốt 200 km, qua ba 3 tỉnh mà không phát hiện ra những thay đổi bất thường của Khmer đỏ, để  sảy ra những biến cố bất ngờ!

Đó là thời kỳ bĩ cực nhất của Nguyễn Văn Linh.

Ông đã xin rút ra khỏi Bộ chính trị vào cuối nhiệm kỳ.

Vốn là người hết sức trầm tĩnh, kín đáo, nhưng Nguyễn Văn Linh đã  tâm sự với Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên xin rút!”.

Đỗ Mười mang tinh thần “Bôn – sê – vích” và  “bàn tay sắt” vào miền Nam đánh tư sản. Ông ta thực hiện y trang  như những gì mình từng làm ở Hải Phòng năm 1955, Hà Nội 1960, xóa sạch tàn dư tư bản chủ nghĩa, đề  xây đựng nền kinh tế xã hội, với tham vọng 15 năm sau theo kịp Nhật Bản, như Tổng bí thư Lê Duẩn tuyên bố ngày 2-7-1976, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI.

Thực tế ngược lại hoàn toàn với tham vọng ngông cuống và siêu thực đó. Sau cải tạo thành phố Hồ Chí Minh  kiệt quệ, các nhà máy xí nghiệp không có nguyên liệu sản xuất phải đóng cửa, hàng triệu công nhân thất nghiệp, hệ thống giao thông vận tải ngưng trệ, lưu thông phâm phối tắc nghẽn, chợ búa gần như ngừng hoạt động, đời sống của cán bộ nhân dân cùng cực. Tài liệu chính của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lúc đó công bố “Kế hoạch năm năm không đạt, tăng trưởng âm, lạm phát phi mã, gần ba triệu dân thành phố thiếu đói”.

Đỗ Mười đã đẩy Sài Gòn “tiến” kịp Hà Nội, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Hòn than bùn xó bếp” như cách nói cùa nhà báo Ba Dân lúc đó. Thật mỉa mai khi các nhà khoa học nổi tiếng như Chu Phạm Ngọc Sơn, Châu Tâm Luân, được động viên nghiên cứu những công trình khoa học như “Bo bo giàu dinh dưỡng hơn gạo”,  “Khoai lang bổ hơn bột mì”, “Thành phần đạm trong rau muống”…

Trước kia Hà Nội có thơ  “Gia công gai quy, lộn cổ sơ mi, bơm ruột bút bi, vá ni lon rách”, bây giờ Sài Gòn cũng nổi tiếng không kém với  “Nuôi lợn trên gác, phục hồi bu gi, gia công cán mì, tái chế dép xốp!”.

Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức Trưởng ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Trước Đại hội Đảng lần thứ V,  Nguyễn Văn Linh xin rút ra khỏi Bộ Chính trị, trở lại làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (1981), thay ông Võ Văn Kiệt ra Trung ương. Về sau, ông giải thích với ông Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên mình xin rút” …. Ông trở thành một nhân vật quan trọng trong lịch sử của thành phố này.

Phải nói, nếu hơn mười năm trước Kim Ngọc,  Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã dũng cảm tìm lối thoát cho nông dân bằng biện pháp “khoán chui”, thì những năm đầu thập niên 80 TK 20, Nguyễn Văn Linh đã cứu công nhân và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bằng  “xé rào” thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp.

Nguyễn Văn Linh đã tập hợp chung quanh mình một đội ngũ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có khả năng móc nối với tư bản nước ngoài để phá thế bị bao vây cô lập. Những công ty Cholimex, Dereximco, Imexco lần lượt ra đời, trực tiếp làm ăn với một số công ty Hồng Kong, Đài Loan, như Globai, Thai Hing Long, nhập khẩu sợi dêt, xăng dầu, thuốc lá, men bia, xuất khẩu đậu phộng, vừng, tôm khô, mực khô. Thực hiện việc trao đổi hàng hóa, khoán sản phẩm, mua nguyên liệu bán sản phẩm v,v.

Nhờ việc xé rào này, 20.000 công nhân ngành dệt có việc làm, ngành giao thông vận tải có xăng dầu hoạt động, và bộ mặt Sài Gòn khởi sắc trở lại.

Cũng như “khoán chui” của Kim Ngọc, việc “xé rào” cùa Nguyễn Văn Linh lọt tới “thiên đình” và cuồng phong nổi lên,  bắt đầu bằng cuộc ra quân của Bộ Tài chính.

Ngày 12- 3- 1982, đoàn thanh tra 28 thành viên từ Hà Nội hùng hổ tiến vào Công ty Direximco, tuyên bố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Hơn ba tháng liên tục, moi móc hết 50 mặt hàng và  đến từng đơn vị làm ăn với Dereximco, kiểm tra từng tờ hóa đơn. Ngày 25-6- 1983, Đoàn thanh tra kết luận việc xé rào của thành phố Hồ Chí  Minh vi phạm nghiêm trọng chủ trương đường lối của đàng, chính phủ, chỉ có  1 công  nhưng 7 tội, cần phải xử lý nghiêm khắc. Ông Đỗ Mười  lên tiếng: “Làm bí thư Thành ủy mà để xảy ra như thế sao không từ chức!”.

May cho Nguyễn Văn Linh, lần này Lê Duẩn không vội nghe theo Đỗ Mười.

Tháng 3-1983, khi Lê Duẩn sang Liên Xô chữa bệnh, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công vào Đà Lạt nghỉ mát. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ và các lãnh đạo chủ chốt của thành phố Hồ Chí Minh  khéo léo tổ chức “Hội nghị Đà Lạt” thành công.

Nguyễn Văn Linh bố trí một số giám đốc nhà máy, xí nghiệp làm ăn được nhờ xé rào như Nguyễn Thị Đồng, Nhà máy dệt Thành Công, Bùi Văn Long, Tổng công ty dệt may, Nguyễn Văn Thụy, Công ty thuốc lá, lên Đà Lạt trực tiếp gặp ba nhà lãnh đạo đảng, nhà nước.

Tôi còn nhớ  buổi sáng hôm ấy ở khách sạn Palass, ông Nguyễn Văn Linh nói với bà Nguyễn Thị  Đồng và  Bùi Văn Long: “Phải khéo léo thuyết phục các anh! Mời bằng được anh Năm xuống thăm cơ sở thì mới thấy hết cái việc mình làm!”.

Bà Nguyễn Thị Đồng với giọng nói rổn rảng,  không biết ngán ai bao giờ, bởi gia đình bà có tới hơn 10 người là bộ đội, thương binh, liệt sỹ.  Bà nói với ông Trường Chinh: “Anh hãy xuống nhà máy gặp công nhân, người ta vừa mới sống lại đấy. Rồi anh để họ sống thì để bóp chết thì bóp!?

Trước thái độ cương trực của bà Đồng, ông Trường Chinh đã phải mỉm cười gật đầu, thực hiện một chuyến đi thực tế ý nghĩa nhất, và đó là tiền đề cho sự thay đổi tư duy, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường của ông.

Đại hội đảng toàn quốc lần VI, với bài diễn văn đúc kết từ thực tế  “xé rào” ở thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh đã nhận được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số đại biểu, ông trở thành Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam. Có lẽ đây là một trường hợp hãn hữu, một người được bầu làm Tổng bí thư của đảng, nhận được sự đồng thuận của dân.

Sau đại hội đảng VI, Nguyễn Văn Linh đã tiến hành nhiều cải cách quan trong. Ông chọn  khâu  lưu thông phân phối làm đột phá khẩu  đổi mới.  Ông nói: “Giải quyết  vấn đề phân phối lưu thông vì nó là cái gốc liên quan đến quá trình sản xuất, tới  tổng thề  cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân”.

Những chính sách nổi bật trong thời kỳ này là: Tách tài chính ra khỏi ngân hàng. Lập kho bạc nhà nước. Bơm tiền lưu thông. Xóa bỏ ngăn sông cấm chợ. Lấy khoán 100 làm cơ sở khoán 10, giao quyền tự chủ cho nông dân.

Chỉ trong một thời gian ngắn đã kéo lạm phát từ 240% xuống 61%. Từ chỗ cả nước không đạt 21 triệu tấn lương thực, phải nhập mỗi năm 500.000 tấn lương thực, năm 1989 đã dư 1 triệu tấn gạo.

Về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh muốn phá thế bao vây của các nước phương Tây và Trung Quốc. Tại hội nghị Bộ chính trị ngày 20 -5 -1988, đã ra Nghị quyết 13 về điều chỉnh đường lối đối ngoại, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, giữ môi trường hòa bình, phát triển kinh tế. Trả lời phòng vấn trên tờ Thời báo New Yok, Nguyễn Văn Linh nói về mối quan hệ với Mỹ: “Việt Nam luôn luôn muốn có quan hệ với nhân dân và chính phủ Mỹ. Chiến tranh kết thúc 15 năm rồi mà chưa có quan hệ bình thường là quá chậm. Việt Nam sẵn sàng giải quyết mọi trở ngại trên con đường bình thường hóa quan hệ với Mỹ”.

Ngoài việc đổi mới về kinh tế, và đổi mới về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh còn đổi mới về văn hóa xã hội, dân sinh, dân chủ. Chủ trương cởi trói cho văn nghệ sĩ nói riêng, trí thức nói chung, ông  đã  vén  bức màn đen tối, minh oan cho những nạn nhân bị oan ức, đọa đày trong vụ “Nhân văn giai phẩm” và đã khích lệ giới cầm bút viết những tác phẩm chân thực.

Ngày 25- 5-1987, Nguyễn Văn Linh  cho ra đời mục “Những việc cần làm ngay” trên báo Nhân dân, từ đó những bài viết của ông ký bút danh NVL liên tục xuất hiện trên mặt báo. Ông nói: “Chống tiêu cực là đã thành nhiệm vụ quan trọng, dọn đường cho việc thực hiện Nghị quyết đại hội VI, và các Nghị quyết của đảng, nhằm đưa nước nhà ra khỏi khó khăn đến ổn định tình hình mọi mặt, làm dân bớt khổ”. Ông yêu cầu: “Nhà báo phải có tấm lòng cương trực, yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi, ghét kẻ làm xấu để lên án”. Nguyễn Văn Linh xác định lấy báo chí làm vũ khí, nhà báo là lực lượng nòng cốt chống tiêu cực tham những. Ông nói đánh giặc ngoại xâm chủ yếu bằng súng đạn, đánh giặc nội xâm phải dùng vũ khí ngôn luận.  Báo chí  là sức mạnh, là thứ  bọn tiêu cực sợ nhất!”, Nguyễn Văn Linh chỉ thị tất cà các cơ quan đảng, chính quyền phải trả lời chất vấn cùa báo chí, phải xử  thật nghiêm những trường hợp tham nhũng, ăn hối lộ, ức hiếp dân mà báo chí đã nêu. Nhiều vụ án tưởng đã chìm vào quên lãng đã được đưa ra xét xử.

Ông thường xuyên gặp gỡ anh em làm báo, ngoài hành lang các hội nghị, hoặc kêu tới nhà ông uống cà phê, ăn sáng nói chuyện. Ông không phân biệt báo lớn, báo nhỏ, báo đảng báo đoàn thể, nhưng rất coi trọng những nhà báo viết bài trung thực, có sức lan tỏa. Khi gặp  chúng tôi, ông thường hỏi: “Dân đang nghĩ gì, đang làm gì, và cần gì?”. Khi chúng tôi nói cho ông nghe những bức xúc của dân ông hỏi: “Nếu dân nghĩ vậy thì mình làm sao?”.

Nguyễn Văn Linh tỏ thái độ đồng tình với Trần Xuân Bách về cơ chế dân chủ và đổi mới chính trị. Có lần ông nói với anh em báo chí: “Anh Trần Xuân Bách nói rất đúng. Dân chủ  không phải là ban ơn, là mở rộng dân chủ, mà đó là quyền của dân với tư cách người làm chủ lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Dân chủ là khởi động trí tuệ dân để tháo gỡ khó khăn đưa đất nước theo kịp thời đại!” .

Nửa đầu của nhiệm kỳ Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh là một con người như vậy. Đất nước đổi mới từng ngày, nhà cừa mọc lên khang trang, nụ cười xuất hiện trên môi người, Việt kiều về quê rất đông, và hầu như không có những vụ khiếu kiện tập thể…Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam xóa quan liêu bao cấp, thực hiện đổi mới và mở rộng quan hệ đối ngoại, nhất là với Mỹ và phương Tây, đã làm Trung Quốc rất khó chịu, tìm cách phá ngang.

Gần cuối nhiệm kỳ, Nguyễn Văn Linh bị Trung Quốc cài bẫy. Trong bài  này, sự tác động do Liên Xô, Đông Âu sụp đổ và vai trò của Đỗ Mười thế nào chưa bàn đến. Nhưng đó là nguyên nhân chính đã làm cho Nguyễn Văn Linh thay đổi hẳn quan điểm, dẫn tới dân-nước và bạn bè quốc tế bị bất ngờ và thất vọng.

Có thể nói cái mốc ấy bắt đầu từ Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc từ 3 đến 5- tháng 9, 1990 đến bây giờ, dù những người tư liệu còn hạn chế, nhưng nhìn lại một cách khách quan, vẫn vừa tiếc, vừa buồn, vừa trách Nguyễn Văn Linh.

Theo ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 29-8-1990, đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy, gặp Nguyễn Văn Linh ở Hà Nội, chuyển thông điệp của Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc,  và Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng sang Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) ngày 30-8-1990 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hòa quan hệ hai nước.

Trương Đức Duy nói mập mờ rằng, Đặng Tiểu Bình có thể gặp Phạm Văn Đồng, và lấy cớ Bắc Kinh đang tổ chức Á vận hội ASIAD, sợ lộ bí mật nên phải gặp nhau ở Thành Đô.

Đây là chuyện rất đột ngột, bởi mới 5 ngày trước, Trung Quốc khăng khăng không muốn bàn chuyện bình thường hóa, mà đòi phải giải quyết vấn đề Campuchia trước, tại sao bây giờ họ lại  bàn vấn đề bình thường hóa?

Ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao nhận định: Sự thay đổi đột ngột của Trung Quốc là do họ cần thực hiện 4 hiện đại hóa, nhưng bị Mỹ, Nhật, Liên Xô và các nước cấm vận sau vụ đàn áp Thiên An Môn, nên phải tìm cách thoát ra.

Bên cạnh đó, Trung Quốc thấy Mỹ, Nhật, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với  Việt Nam, nên muốn phá ta.

Quan điểm của Nguyễn Văn Linh lại khác.

Ông triệu tập họp Bộ chính trị và nếu ý kiến: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa” (!?).

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đặc biệt là Rumani mà Nguyễn Văn Linh vừa thăm đã tác động rất lớn tới ông, lảm cho ông mất bình tĩnh.

Mặc dù Nguyễn Cơ Thạch,  Võ Chí Công, Trần Xuân Bách can ngăn, nhưng Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Hợp tác với Trung Quốc, bảo vệ XHCN chống đế quốc!”. Quan điểm của Nguyễn Văn Linh được Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng… ủng hộ.

Và thế là, ngày 2-9-1990, dù đang kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 45 năm, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng vẫn đi Thành Đô, với sự tháp tùng của Hồng Hà, Chánh văn phòng Trung ương đảng và Hoàng Bích Sơn, Thứ trưởng ngoại giao. Nguyễn Văn Linh không cho Nguyễn Cơ Thạch đi, vì Nguyễn Cơ Thạch không đồng quan điểm, Trung Quốc không thích Nguyễn Cơ Thạch.

Theo Trần Quang Cơ, Trung Quốc đã đánh lửa Việt Nam một cách trắng trợn. Họ nói Đặng Tiểu  Bình sẽ  gặp Phạm Văn Đồng nhưng Đặng không xuất hiện. Ông Võ Văn Kiệt nói: “Nhẽ ra anh Tô không nên đi!”. Mà Đặng Tiểu Bình là gì mà chính Phạm Văn Đồng cũng muốn gặp để rồi bị dính chùm trong vụ tham dự Hội nghị Thành Đô? Tù đó Trung Quốc thêm vinh danh và đạt được ý đồ thâm hiểm lâu dài là kìm hãm, phá ngang đường lối đổi mới và kéo Việt Nam đi theo quỹ đạo của Trung Quốc. Cũng từ quan điểm đưa ra đầy thỏa hiệp Trung-Việt này mà cái ‘bào thai’ đẻ ra con ngáo ộp “Diễn biến hòa bình” và sau này củ cà rốt đỏ chót “16 chữ vàng”, “4 tốt”  trở thành “khẩu hiệu hành động, khẩu khí ngoại giao” rất mất lòng dân của lãnh đạo Việt Nam…

Vấn đề Campuchia, Trung Quốc vẫn giữ thái độ như  ngày 24-8-1990, đòi cấu trúc thành phần chính phủ hòa hợp dân tộc Campuchia theo công thức: 6 +2+2+2+1 (6 người phe chính phủ Hun sen , 2 người phe Khmer đỏ, 2 người phe Hoàng gia, 2 người phe đảng dân chủ, và Siha Nouk). Điều này hoàn toàn trái với công thức: 6 +2 +2 +2 mà Hun Sen và Siha Nouk đã thỏa thuận tại Tokyo.

Ông Trần Quang Cơ  viết: “Hội nghị Thành Đô có 8 điểm, hai điểm về quốc tế, 5 điểm về Campuchia, chỉ có một điểm về Việt Nam. Nguyễn Văn Linh nêu ‘Giải pháp Đỏ’, Trung Quốc hoan nghênh nhưng không mặn mà !”.

Cái gọi là “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh là “Kéo Trung Quốc lại, thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa!”. Nguyễn Văn Linh mê muội phe chủ nghĩa xã hội, tìm mọi cách bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, quên quyền lợi và danh dự của dân tộc mình và  làm mất niềm tin của bạn bè !

Khi Trung Quốc đưa công thức 6+2+2+2+2+1 ra, ông Phạm Văn Đồng nhắc Nguyễn Văn Linh thận trọng. Phía Trung Quốc liền mời Phạm Văn Đồng ra chỗ khác để Nguyễn Văn Linh ký. Ông Phạm Văn Đồng đã thấy nguy, nhắc Nguyễn Văn Linh sửa sai, nhưng Nguyễn Văn Linh nói: “Không sao đâu!”.

 

Từ Thành Đô về, Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh sang Campuchia gặp Henh Somrin và Hunsen trao đổi về Hội nghị Thành Đô. Nhưng Campuchia không chấp nhận công thức ấy và nói thẳng Việt Nam và Trung Quốc không có quyền can thiệp vào Campuchia. Xương máu cùa hàng  ngàn  cán bộ chiến sĩ quân đội ta đổ  trên chiến trường Campuchia đã bị  Nguyễn Văn Linh bán rẻ cho Trung Quốc!

Trung Quốc nói giữ bí mật Hội nghị Thành Đô, nhưng chính họ thông báo cho thế giới biết toàn bộ nội dung cuộc “họp bí mật” đó. Tờ Bangkok Post và tờ Tạp chí kinh tế Viễn Đông, ngày 4-10-1990, đăng bài bình luận “Củ cà rốt và chiếc gậy” nói Việt Nam đã nhượng bộ nhiều hơn làm vừa lòng Trung Quốc.

Nguyễn Văn Linh đã thất bại trong sách lược “Giải pháp Đỏ”, bị Trung Quốc tách ra khỏi các mối quan hệ với phương Tây với nhiều mở hướng tốt đẹp cho sự nghiệp đổi mới, chỉ vì nghe Trung Quốc xúi cho bùi tai là làm thành trì bảo vệ Xã hội chủ nghĩa. Nói đúng hơn Nguyễn Văn Linh đã bị Trung Quốc lừa một vố đau.

Theo ông Trần Quang Cơ: “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “Giải pháp Đỏ”.

Ông Nguyễn Cơ Thạch nói: “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bộ ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta!”

Phạm Văn Đồng tỏ ra ân hận vì không ngăn được Nguyễn Văn Linh ký thỏa thuận Thành Đô. Nguyễn Văn Linh tránh trớ: “Anh Tô nhớ lại xem! Không phải tôi đồng ý. Tôi chỉ nói nghiên cứu xem xét và bây giờ tôi vẫn nghĩ thế là đúng”.

Cái gọi là “đúng” của Nguyễn Văn Linh là từ luận điểm câu nhử, đe dọa của Trung Quốc: “Âm mưu đế quốc Mỹ chống phá xã hội chủ nghĩa ở châu Á, cả Cu Ba. Nó đã phá Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta!”. Và, không hiểu Trung Quốc làm cách nào mà nó như thứ bùa mê thuốc lú để Nguyễn Văn Linh lý giải: “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa!”.

Từ Hội nghị Thành Đô trở về hình như Nguyễn Văn Linh là một con người khác. Ngày 28-8-1990, tuyên bố chấm dứt “Những việc cần làm ngay”. Ông nói “Bận quá! Vả lại tôi viết để “mồi” cho các nhà báo viết tiếp để đấu tranh kiên quyết liên tục!”. Ông còn viết: Không nên đi xe ngoại, rằng: “Ta về ta tắm ao ta”…

Đó là một lời nói dối, bởi sợi dây trói vừa được cởi ra trong khoảng thời gian 3 năm 4 tháng đã bị thít lại chặt hơn, và chính ông là người đầu tiên đã liên kết với Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Đỗ Mười đánh dập vùi Trần Xuân Bách, một người được coi là có trí tuệ nhất trong Bộ chính trị lúc đó.

Nguyễn Văn Linh đã đưa Việt Nam tiến lên một bước, nhưng rồi chính ông lại kéo Việt Nam lùi lại, ông mở cái cửa nhỏ thoát ra khỏi một ngõ cụt nhưng rồi chính ông lại đóng sập cánh cửa ra biển lớn của dân tộc vì ý thức bảo thủ và giáo điều cùa ông !

Nguyễn Văn Linh đã tự lội xuống ruộng, đúng hơn tự dìm mình vào vũng bùn Thành Đô, và để mất sự kính trọng nhẽ ra ông được hưởng.

© Minh Diện

Nguồn: bvbong.blogspot.com

 

* Từ hội nghị Thành Đô 1990, đã dẫn đến các mối quan hệ họp hành bí mật khác giữa các Ủy viên BCT của  đảng CSVN với Trung Quốc, và dẫn đến Hiệp định Biên giới Trung Việt ký kết 31-12-1999. Theo HĐ này, VN đã bị mất thêm nhiều vùng đất ở biên giới phía Bắc, núi Lão Sơn, Móng Cái, vịnh Bắc Bộ…Và hiện nay, Trung Quốc chính thức vào Vịnh Bắc Bộ khai thác dầu khí.

“QĐND Online –Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chiều 22-6, tại Đà Nẵng, hai tàu HQ 011 và HQ 012 của Hải quân nhân dân Việt Nam đã xuất phát, bắt đầu tham gia chuyến tuần tra liên hợp lần thứ 15 với Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc…

“Chuyến tuần tra chung và thăm, giao lưu với hải quân Trung Quốc của tàu HQ 011 và HQ 012 nhằm tăng cường mối quan hệ hữu nghị, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau về chính trị giữa quân đội, hải quân hai nước Việt Nam – Trung Quốc; đồng thời, nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động, thực hiện thỏa thuận về quy chế tuần tra liên hợp với hải quân Trung Quốc duy trì trật tự, an ninh trên Vịnh Bắc Bộ và trên các vùng biển của Việt Nam,… ( http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/75…1/Default.aspx )

 

————————————————————————————————–

Bài liên quan:

Vào năm 1989, khi Liên Xô bị vở ra thành 15 nước, và các nước Đông Âu đồng loạt giải tán đảng cộng sản, lúc ấy các đảng viên cao cấp nhất của đảng CSVN đã run lên vì sợ hải, họ nhận ra đang ở trong tình thế: không còn ai đỡ đầu để nương tựa  (cái thực chất của khẩu hiệu “Đảng CSVN quang vinh”  lúc này mới hiện ra trần truồng).

Lo sợ bị sụp đổ như các nước cộng sản Đông Âu, đảng CSVN vội vã bắn tiếng xin bắt tay với Trung Quốc,  xin TQ  đỡ đầu để tiếp tục tồn tại.

Trung Quốc đã bắt bí bằng cách ra điều kiện: đảng CSVN phải nhượng thêm đất đai biên giới, biển đảo, và vịnh Bắc Việt cho Trung Quốc. (Kết quả của Hiệp ước Thành Đô 1990 chính là  Hiệp Định Biên Giới 31-12-1999.).

1990, Trung Quốc đã chơi khăm, họ chọn đúng ngày họp là ngày 3 tháng 9, nghĩa là các đảng viên cao cấp nhất của Đảng CSVN phải khăn gói quả mướp và bí mật đi qua TQ vào ngày 2-9, để kịp buổi họp hôm 3-9-1990.     

Hội nghị ở Thành Đô, Trung Quốc, ngày 3-5 tháng 9, 1990. 

►đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng vì muốn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN

—————————–

Đỗ Mười

►Chiến dịch X-3: đánh tư sản thương nghiệp 1978

Trich:

…Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng  đổ mồ hôi sôi nước mắt  kiếm miếng ăn …”. (Đỗ Mười).

…Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi  không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải.

        
 X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu.
 
…Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.
 
Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn
 
Cướp đất của Hội Đồng Công luật Công Án Bia Sơn ở ngoài Nha Trang cũng chỉ là phiên bản mới của vụ cướp trong Chiến Dịch X-3: Đánh Tư sản Thương nghiệp 21-3-1978 va`Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1954 do Đỗ Mười thực hiện.
 
Vụ 1978 do đảng CSVN chỉ đạo  cướp tài sản của dân chúng miền Nam, Đỗ Mười thực hiện. Nhờ vụ này mà về sau ĐM trở thành Tổng Bí Thư của đảng CSVN 1991-1997. 
 
DCM  building của Đỗ Mười,  DCM là viết tắt của chữ Đỗ Mười Center!  Hàng xóm ở chung quanh tòa nhà này cho biết  building này  do con rễ của Đỗ Mười đứng tên! (Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý …)

Ông Đỗ Mười đẻ ra Lý Mỹ*

MINH DIỆN

200px-Do_Muoi_cropped
 

     Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng  nằm trong số đó.

      Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3,  dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.

      Hôm đó, ông Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo Sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép. Ông có khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của ông Đỗ Mười, hôm  đó được giáp mặt, quả đúng vậy.       

      Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.

Ông  Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100 – CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.  

     Ông nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai  đế quốc Mỹ…     “Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chế, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta.

     Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp!

     Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy!

    Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta …”.

    Ông Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép ông sủi bọt. Tay ông vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa.

    Lúc đầu ông mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, ông bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.

    Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng  đổ mồ hôi sôi nước mắt  kiếm miếng ăn …”.

     Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung  hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế “xung trận”.

    Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà Đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ  khởi đầu!

      Ông Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng một mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm’: “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn – sê- vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”.

      Chúng tôi  ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tyệt đối bí mật”.

      Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn.  Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần,  nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!

      Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau  đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.

     Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong  tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.                 

     Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ  Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết  đánh tư sàn!

    Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B.  ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch.  ở nhà máy dệt Thắng Lợi. 

     Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người  dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngằn: Lý Mỹ.

     Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạngTháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi,  được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông  Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp,  cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.

     Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi  từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang  xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40 ,1978).

    Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài,  Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận  cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản !

     Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ  Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh.

     Khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc tôi là đứa trẻ sáu tuổi đi xem đấu tố như xem hội hè, khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, tôi ba mươi tuổi, là người trong cuộc. Trước con mắt tôi, cuộc cách mạng sau chỉ khác cuộc cách mạnh trước là  không bắn giết,  còn  giống hệt  nhau. Cũng con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bẻ tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong  chiến tranh, được những gia đình  buôn bán , giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sàn ân nhân của mình.  Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ  ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978,  người bị gọi là  tư sản, con buôn  xấu xa  như vậy. Người ta  đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.    

     Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục  28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.

      Ông Nguyễn Văn Linh nói: “ Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương,  tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi anh Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới). 

     Ông  Đỗ Mười  đưa  hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu  vào diện cài tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.

      Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định”  (Nguyễn Văn Linh  trăn trở cuộc đổi mới).     

     Ông Đỗ Mười thay ông Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng  người cùa Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miến Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời ông bố trí  cán bộ  các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Ông đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến  ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.  

    Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi  không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải.

    X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận:

“Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.      

Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong  63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, ông Đỗ Mười không đề lại một tác phẩm nào?”.  Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo:  “Cha ấy để lại cho đời  tác phẩm cải tạo công thương nghiệp !” .

     Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.

     Tôi không muốn viết chân dung ông bởi chẳng có gỉ đáng viết, chỉ ghi lại vài dòng những người đồng chí của ông, nhận xét về ông.  

     Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kề: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần  dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?”  tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư , chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!” .

     Ông Đỗ Mười là người đố kỵ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho  đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!”  (Làm người là khó).

     Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với ông Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Uỷ viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).

      Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”.  Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói:  “Chỉ có phá !”.

      Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp.

       Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn. Tôi không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!

 

M.D

Theo blog BVB

………….

*Lý Mỹ là một nhân vật trong cuốn Bên thắng cuộc, nữ thanh niên “bôn sệt”, sản phẩm của lối tuyên truyền nhồi sọ.

————————————————————
Bai Lien Quan

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | 3 Comments »

►Góp phần “giải mã” một thế hệ dấn thân – Hà Sĩ Phu

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2013

Tựa:  Tác giả Hà Sĩ Phu xứng đáng là tinh hoa hàng đầu của Miền Bắc trong mấy chục năm qua. Không ai có thể hiểu chính quyền cộng sản, đảng CSVN, và người cộng sản VN hơn Hà Sĩ Phu.  Ông chẩn đoán rất chính xác tâm lý của con bệnh, cắt nghĩa và đưa ra phương thuốc điều trị  một cách rõ ràng và khúc chiết cho các “con bệnh” của những người còn mê muội vẫn còn theo cộng sản như hiện nay.

Một số những người theo cộng sản đang lấn cấn theo kiểu: bỏ thì thương, vươn thì tội. Một số khác đã lở ăn bả cộng sản rồi, nay muốn nuốt cũng không xong, nhả thì tiếc: giống như  Tào Tháo ăn gân gà. Một số lớn thì đang “kẹt”, sợ mất cái “sổ hưu”. Một số đông khác thì được cấp phát nhà cửa, hưởng bổng lộc và sợ mất cả 2 thứ này nên cung cúc tận tụy phục vụ nhà cầm quyền để tiếp tục bảo vệ của cải cho chính họ. Đa số là người Miền Bắc vẫn còn theo cs vì đảng và nhà nước là chỗ bám víu sống còn của họ, người trong Nam theo cs  thuộc loại a dua, chỉ biết dùng bạo lực để trấn áp, theo cs để hưởng lợi…  

Mời các bạn đọc bài viết rất thú vị của tác giả Hà Sĩ Phu.

Hà Sĩ Phu

Đặt vấn đề

Sáng 19-2-2013 đọc báo mạng thấy trang Anhbasam có điểm hai bài tương phản “Tiêu Dao Bảo Cự: Từ Ngô Kha, soi rọi và giải mã một thế hệ dấn thân (Diễn Đàn). Blogger Caubay Thiem có bài phản biện lại bài này bên Facebook”.

Mặc dù được yêu cầu hết sức hạn chế đọc và viết, tôi vẫn phải “đánh liều” viết đôi điều ngắn gọn về chuyện “xung đột” âm ỉ từ lâu này (nếu có thể gọi như thế), giữa những người đáng kính, vì mấy lẽ sau đây:

– Thế hệ dấn thân theo con đường Cộng sản (CS) như nhà văn TDBC bao hàm nhiều người (ở miền Bắc còn nhiều hơn miền Nam), trong đó số đã thức tỉnh ở những mức độ khác nhau, đang cố gắng làm những điều nhằm sửa lại hay chống lại thực tại sai lầm của đảng ộng sản (ĐCS) cũng ngày càng nhiều thêm, nhưng việc tự đánh giá giai đoạn quá khứ của mình xem chừng chưa có gì nhất trí, ổn thỏa, thanh thoát, như có những tâm trạng uẩn khúc bên trong nên phải đặt vấn đề “giải mã”.

– Việc “giải mã” cũng liên quan đến cả những người CS hiện nay đang được dư luận ca ngợi, tán thưởng (kể cả dư luận khó tính ở hải ngoại), như nghệ sĩ Kim Chi khước từ sự có mặt trong nhà ở của mình chữ ký của một kẻ cao cấp “hại nước hại dân”- vì chị tự hào mình là một người “Cộng sản chân chính”! Những đảng viên trong 72 vị khởi xướng đợt góp ý Hiến pháp hiện nay cũng vậy, chắc phần đông cũng là những người muốn hành xử như những người “Cộng sản chân chính” để phân biệt mình với loại “CS thoái hóa”. Vậy có thể tồn tại khái niệm “người CS chân chính” hay không, cũng là điều cần xác định cho rõ. 

– Trong hàng ngũ những bạn bè thân hữu đang nỗ lực góp phần mình vào công cuộc dân chủ hóa xã hội hiện nay cũng có hai “phe” với hai cách nhìn ngược nhau trong việc đánh giá quá khứ tham gia Cộng sản. 

Tóm lại, tình hình khác nhau trong việc nhìn nhận giai đoạn quá khứ tham gia hoặc ủng hộ CS là điều tốt hay không tốt, là công hay tội, nên nhớ đến để tôn vinh hay nhắc đến chỉ thêm ân hận…là một thực tế rộng lớn, tuy không phải mâu thuẫn đến mức nặng nề nhưng vẫn âm ỉ như một chút gợn, một cái gai, hay một cái nhọt trong đội ngũ những người từng có nợ với quá khứ và đang phải băn khoăn về trách nhiệm với hiện tại và tương lai đất nước (còn những kẻ vô trách nhiệm, thờ ơ hay cố bám sự hủ bại thì không đáng bàn đến ở đây).

Khoảng một hai năm gần đây, khả năng lãnh đạo của đảng cầm quyền ngày càng sút kém, bất lực, những mâu thuẫn đối nội và đối ngoại thúc đẩy phải có những thay đổi, kéo theo đó là sự phân hóa phức tạp trong xã hội về nhân sự, tổ chức, phong trào, phe nhóm… Bên cạnh chủ trương đối xử cứng rắn với giới dân chủ tiên phong là sự nới rộng có kiểm soát với giới trí thức cận thần, có cái mới vừa sáng tạo ra, có cái vốn cũ đang được dùng lại. Trong bối cảnh phân hóa đó, sự khác nhau tiềm ẩn trong quá khứ của giới “pro-Đảng” nay cần phải tách bạch. Việc điểm tin hai bài ngược chiều nói trên của “nhật báo Basam”, mà tránh không bình luận, có lẽ cũng là một biểu hiện nhạy cảm và tế nhị. Những người nhạy cảm thấy đã đến lúc nên có sự trao đổi thẳng thắn với tư cách giữa những người được giả thiết là “chung một chiến hào”. Vướng một cái gai, anh chiến sĩ vẫn có thể chiến đấu, nhưng “giải quyết” được cái gai tất nhiên sức chiến đấu sẽ tốt hơn nhiều.

Suốt trong quá khứ tôi không dính dáng trực tiếp gì đến chính trị, nhưng bạn bè thuộc cả hai “phe” cũng có nhiều thân hữu. Trong điều kiện sức khỏe không thuận lợi, tôi không dám hy vọng có thể đề cập vấn đề một cách thấu đáo, chỉ xin đưa ra một vài ý chung, tản mạn, để góp phần gọi là “giải mã” một thực tiễn khá nhiều tế nhị.

Chủ nghĩa Cộng sản
Nguồn ảnh: OntheNet


Mấy điều cơ bản gợi ý có thể dùng trong lý giải

Phải chăng sự hiểu biết lúc ấy chưa đủ tầm để sàng lọc? 

Hiện tượng một chủ nghĩa ảo tưởng, phi lý và phản tiến hóa như chủ nghĩa CS lại rộ lên một thời rộng lớn, thu hút đám đông, trong đó có cả những trí thức lớn, nghịch lý quá lớn ấy khiến thiên hạ phải chiêm nghiệm mà đúc kết thành một quy luật, quy luật liên kết và hoán vị loại trừ lẫn nhau trong 3 thành tố, tạm gọi là luật“loại trừ một trong ba” hay luật “Hai khử một”. 

Ba thành tố ấy là tâm hồn lương thiện, trí tuệ thông thái và lập trường cộng sản, liên kết và loại trừ nhau như sau:

Đã thông thái và cộng sản thì không lương thiện (phải mưu mẹo, gian hùng)
Đã lương thiện và cộng sản thì không thông thái (phải nhẹ dạ, nông cạn)
Đã lương thiện và đủ thông thái thì không theo cộng sản.[1]

Những ai tự nhận mình luôn lương thiện trong sáng và đã theo CS thì ứng với trường hợp thú hai, tức là trí tuệ nông cạn, không đủ tầm để sàng lọc trước một vấn đề ở tầm thời đại. Trước mắt mới nhìn bề ngoài tưởng là tốt thì theo thôi. 

Xem ra nhiều đảng viên lương thiện không chịu nhận là lúc ấy mình ngu, cứ khẳng định khi ấy chỉ có theo đảng là thông minh nhất. Có vị còn khăng khăng rằng: Nếu bây giờ lịch sử lặp lại thì ông ta cũng lại chọn đúng con đường cũ chứ không thể khác (ghê thiệt!). Sở dĩ có sự tự ái như vậy do chưa hiểu sự “ngu đần” có thể là tầm của cả một dân tộc trong một thời kỳ chứ chẳng riêng ai, người viết những dòng này cũng đâu thoát khỏi mê cung ấy? Phê phán bạn cũng là phê phán mình. Chỉ cần so sánh với một dân tộc văn minh và khôn ngoan hơn sẽ thấy ngay sự kém cỏi, dân trí lạc hậu của cả dân tộc mình thì sẽ tránh được tâm lý tự ái cá nhân. 

Hiện tượng có mấy nhà bác học nổi tiếng vẫn say mê CS cũng chẳng biện bạch được gì hơn vì có thể vị bác học ấy giầu lý tưởng, lý thuyết, hiểu biết chuyên môn nhưng rất ngây thơ, ảo tưởng, cũng dốt về chính trị-xã hội.

Chấp làm gì những vị trí thức nọ trí thức kia mú quáng thân Cộng, khi “ông trùm CS” của nước mình là chủ tịch Hồ Chí Minh khi quyết định theo con đường Cộng sản cũng chưa hiểu Cộng sản là gì kia mà

Cú “nhích chân” của Nguyễn Ái Quốc từ Đảng Xã hội Pháp sang Quốc tế III của Lenin “chỉ vì Đệ Tam Quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa”, “Còn như Đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản là gì, thì tôi (tức Nguyễn Ái Quốc) chưa hiểu.” Thậm chí Sơ thảo luận cương về các dân tộc và thuộc địa của Lenin đăng trên báo L’humanité ngày 16-6-1920 thì “ngay cả chữ nghĩa trong văn bản” ấy Nguyễn Ái Quốc” cũng chỉ hiểu loáng thoáng thôi” [2]
Nhà báo Bùi Tín thì nói kỹ hơn:

“Do văn hóa thấp, mới học hết bậc tiểu học, lại còn quá trẻ nên khi đọc bài của Lenin về giải phóng dân tộc, ông đã nhẹ dạ theo ngay Mác, Lenin , rồi Stalin, rồi Mao cho đến suốt đời, cả sau khi chết … Đến khi chết ông vẫn hài lòng nghĩ mình là một lãnh tụ yêu nước và cứu nước. Theo tôi một nhà lãnh đạo dân tộc mà yêu nước kiểu như vậy thì bằng mười làm hại đất nước, dân tộc, thà ông không yêu nước thì có khi lại là may cho nhân dân. Hiện ta thua xa Thái Lan, Inđonesia, Singapore, Malaysia… là vì vậy” 
(Bài của Bùi Tín cũng được giới thiệu trên trang Basam ngày 19-2-2013).Vẫn là Trí tuệ chưa đủ cho một cuộc sàng lọc ở tầm thế kỷ Nhưng cũng không chấp ông HCM làm gì, khi chính ông Mác ông Lê cũng “khái quát vội, khái quát nhầm” ít nhất là 9 điều căn bản [3] tức là cũng hụt hẫng về trí tuệ khi cả gan nghĩ ra một chủ nghĩa mới toanh hòng cứu rỗi nhân loại nhưng vượt quá tầm trí tuệ của mình (chủ nghĩa Xã hội khoa học ít nhất cũng có một khuyết điểm cơ bản là phi khoa học), thì một đảng viên CS nhỏ bé có tự nhận là “Trí tuệ không đủ để sàng lọc” cũng chẳng có gì đáng phải băn khoăn!Vậy thì thôi, ta cứ yên trí nhận là trước đây ta theo CS vì chưa đủ thông thái để sàng lọc là ổn. Nhưng mâu thuẫn vẫn chưa hết. Các bạn lại bảo: tôi theo CS không phải là yêu CS gì hết, chỉ vì yêu nước, yêu hỏa bình-thống nhất, ghét Mỹ xâm lược. Nếu bạn chỉ mượn CS làm phương tiện như thế thì khi mục đích đã xong, Mỹ đã rút, đã có “hòa bình-thống nhất” thì bạn còn ôm cái “phương tiện” ấy làm gì, bạn phải chủ động rời bỏ nó ngay mới phải, như qua sông rồi thì bỏ con thuyền ở lại chứ?

Nếu bạn lại bảo: tôi chưa hiểu gì về chủ nghĩa CS nên hãy cứ theo xem sao? Vậy đến hôm nay bạn đã hiểu chưa? Với tư cách một đảng viên bạn có tìm hiểu mọi thông tin trên mạng và trên thực tế không, có biết nghị quyết 1481 của nghị viện châu Âu, biết nhân loại đã vứt một Chủ nghĩa ảo tưởng vào sọt rác lịch sử?

Nếu có đủ thông tin thì chắc bạn không còn đủ dũng khí để tự hào là một đảng viên CS, vì tôi tin bạn là người có trí óc bình thường và còn dây “thần kinh xấu hổ”. Theo lô-gich của môn “liêm-sỉ-học” (liemsiology) thì bạn phải hành xử như Trần Độ, như Phạm Đình Trọng, như Nguyễn Chí Đức… mới phải.

Nhưng chưa, bạn chưa đến chân tường, vì bạn còn một câu trả lời khả dĩ hữu lý: Tôi phải ở lại trong Đảng để “chiến đấu”, với tư cách “người CS chân chính” chống bè lũ “CS thoái hóa”. Vâng, vậy xin chuyển tiếp sang phần sau.

Có hay không khái niệm gọi là “người Cộng sản chân chính”?

Những người tự hào là “CS chân chính” vì nghĩ rằng cái đảng mà mình gia nhập là một đảng chân chính, nay “một số không nhỏ” (tất nhiên nằm trong lãnh đạo tối cao) đã Thoái Hóa và Phản Bội, nên mình phải đấu tranh chống lại sự tha hóa để phục hồi một ĐCS chân chính, nghĩa là mình đấu tranh (chống những cán bộ lãnh đạo xấu) với tư thế của người “đòi nợ”, đòi cái món nợ mà đảng đã hứa (trong lời tuyên bố) trước nhân dân nhưng bây giờ họ “quỵt nợ, vỗ nợ”!

Phải công nhận , nếu như vậy thì trong 3 yếu tố Lương tâm, Trí tuệ và Cộng sản bạn đáp ứng đầy đủ hai yếu tố Lương tâm và Cộng sản nhưng quá yếu về Trí tuệ (theo đúng quy luật Hai khử một đã nói ở đoạn trên ), nên trở thảnh duy cảm, thiếu duy lý. Sự Thoái Hóa và Phản Bội đã nằm sẵn trong mớ tín điều của chủ nghĩa, đã được “chương trình hóa” ngay từ khi khởi lập. Những biểu hiện thoái hóa và phản bội mà bạn nhìn thấy bây giờ thực ra đã được tiền định từ đầu (trước khi bạn gia nhập đảng rất lâu): không một ĐCS cầm quyền nào có thể thoát khỏi tình trạng thoái hóa và phản bội!

Về lý thuyết chính Mác đã tự chống lại mình, khi triết học Mác thì duy vật, chống duy tâm-duy ý chí nhưng chính trị Mác thì rất duy tâm, chủ quan, duy ý chí. Một lý thuyết ảo tưởng phi khoa học thì sẽ bị thực tế chống lại nên dần dần phải làm ngược lại hết, CS phải tự làm ngược lại những tín điều của mình mới mong tồn tại. Cuối cùng, ngày nay mỗi đảng viên đều phải chọn cho mình một sự giã từ, một sự “phản bội”: hoặc là trung thành với chủ nghĩa thì phản bội nhân dân, muốn trung thành với nước với dân thì phải phản lại chủ nghĩa![4]

Khi bạn trung thành với nước với dân, với nhân tâm, với chân lý phổ quát thì bạn là “con người chân chính”, rất chân chính, tôi yêu quý bạn, nhưng bạn không còn là “người CS chân chính” nữa đâu, âu cũng là lối tự hào do cảm tính, xin đừng nhầm lẫn!

Bạn lại bảo: Tôi trung thành với chủ nghĩa CS là trung thành với lý tưởng cao đẹp của nó. Bạn lại nhầm rồi. Nhân tố chủ yếu làm nên một chủ nghĩa, phân biệt chủ nghĩa này với chủ nghĩa khác không phải ở mục đích mà nó tuyên bố, mà ở con đường mà nó vạch ra, vì mục đích sau cùng thì bao giờ chẳng tốt đẹp, căn bản đều phải hướng đến tự do-hạnh phúc cho con người. Nhưng khi con đường sai hoặc ảo tưởng thì không đến đích mong muốn hoặc chỉ đem đến kết quả ngược lại như trường hợp chủ nghĩa Mác-Lênin [5].

Ngoài ra, có cách đi đến đáp án đơn giản hơn nhiều.

Khi một chủ nghĩa ảo tưởng chỉ đem lại kết quả ngược với mong muốn thì chủ nghĩa ấy không thể coi là Chân Chính được. Chủ nghĩa đã không Chân Chính thì làm sao tín đồ của nó lại Chân Chính được? Bạn chỉ có thể là một con người chân chính vì thực ra bạn đã làm ngược tín điều của chủ nghĩa rồi, chắc bạn là người nặng về duy cảm nên không nỡ hay không dám để cho bộ óc duy lý được đứng trước gương mà phán xét đó thôi! Xin nói với nhau một lời thông cảm thực lòng như vậy.

Lấy đích Dân chủ-Độc lập-Phú cường làm sợi dây liên kết

Chỉ cần nhìn các nước quanh ta với một xuất phát “same-same” như nhau đủ thấy trong cuộc chạy đua thế kỷ, Việt Nam chúng ta là kẻ thua cuộc, là đoàn khách nhỡ tàu.

Chỉ nhìn kinh tế-kỹ thuật đã thấy thua các nước bạn trong khu vực vài chục năm nhưng sự thua kém về độc lập-tự do, về văn hóa-nhân phẩm còn đáng lo hơn nhiều. 

Nay muốn đoàn kết để thực hiện dân chủ ắt phải chấp nhận đa dạng đã đành, nhưng ở một nước vửa trải qua mấy cuộc phân ly kinh khủng, lại đang bị ngự trị bởi một Ý thức hệ đoàn kết giả để phân ly thật thì lòng người ly tán là một trở ngại khổng lồ, nếu không biết chấp nhận sự khác biệt thì lấy đâu sức mạnh cho một sứ mệnh cũng khổng lồ tương xứng? (Sứ mệnh lập lại một xã hội đã bị phá nát từ gốc, quay lại một con đường đã đi ngược trên nửa thế kỷ, chống lại một anh hàng xóm khổng lồ chỉ muốn kìm giữ Việt Nam yên vị như một con cừu Ý thức hệ vừa ngoan vừa chậm vừa ngu để hắn có thể ngoạm dần hết cơ thể con mổi trong cái áo choàng hữu nghị đểu). 

– Muốn có khối đoàn kết toàn dân tộc, trước hết hãy tìm khả năng đoàn kết giữa các khối người tích cực mà họ đang rất khác nhau như trên đã nói. Hãy quý sự khác nhau ấy vì đó chẳng những là thực tiễn buộc phải chấp nhận, là tất yếu trong tinh thần dân chủ, mà còn là thuận lợi để diễn tiến xã hội đi lên một cách hòa bình. Nếu không có những “trí thức cận thần”, còn rất khác những người có tư duy triệt để (biết phải thay đổi cái cũ tận gốc), đồng thời lại có những người trung gian giữa hai thái cực ấy thì sao có thể nối với nhau thành những nhịp cầu chuyển hóa dần dần? Nối tiếp với nhau được nếu tất cả đều hướng về phía trước, dẫu kẻ trước người sau nhưng phải chống những kẻ ngược chiều hoặc mưu toan cơ hội trụ lại nửa chừng để chia hoa lợi!

Một ví dụ: trong những người đã có thời hăng hái theo đảng làm một cuộc gọi là “chống Mỹ cứu nước” có người không muốn nhắc lại “thành tích đáng buồn” cũ (như anh em Huỳnh Nhật Hải-Huỳnh Nhật Tấn) trong khi rất nhiều người vẫn muốn nhắc lại những kỷ niệm một thời tranh đấu “hào hùng”. Không sao, miễn là khi nhắc lại chuyện cũ phải nhìn dưới lăng kính mới, vượt trên cái cũ với óc phê phán để phục vụ cho cái mới. Chẳng hạn phải hiểu vì sao trong chế độ cũ (mà ta quyết đánh đổ) ta có thể ngang nhiên tranh đấu, tuyên bố hùng dũng, thậm chí lãng mạn bay bổng, thỏa chí tang bồng chống lại giới cầm quyền, còn trong chế độ mới (mà ta mơ ước) ta chỉ dám làm bằng 1 phần trăm thời xưa thôi mà đã phải rụt rè? Chẳng hạn ngày trước dưới cái nhìn bồng bột ta chỉ thấy cái gọi là “Mỹ Ngụy” là thấp hèn, tàn ác, đáng khinh ghét, nay dưới cái nhìn dân chủ và toàn cầu ta lại mong sao bây giờ được bằng cái mà ta đã quyết diệt [6], mong trở lại cơ hội cũ mà ta đánh mất, để rồi từ đó tiếp tục đi lên thì dễ dàng hơn. 

Chẳng hạn ta nhận ra sự “hào hùng” cũ thật là “bi tráng” (như nhà văn TDBC nhận thấy), nhưng “bi” không ở chỗ bị kẻ thù tàn sát, thất bại đau đớn như cái bi hùng của phong trào Nguyễn Thái Học, mà ngược đời,“bi” lại ở chỗ muốn thắng cuộc thì nhất thời đã thắng, nhưng nghĩ lại, thà đừng thắng thì hơn! “Bi” ở chỗ cái “tinh hoa phẩm chất” của tuổi thanh niên (nhưng còn bồng bột, cảm tính, bị tuyên truyền), tương tự như cái vốn quý giá mà Dương Thu Hương gọi là “một khối vàng ròng”, nhưng đã bị lợi dụng, bị dùng nhầm, dùng phí phạm, đáng tiếc. Song cái “bi” ở đây cũng không hề “bi lụy” nếu ta quyết hồi sinh cái “tinh hoa phẩm chất” của tuổi trẻ ấy, với sự bổ khuyết rất cần thiết bằng các tri thức hiện đại, trưởng thành, để dùng vào công cuộc hôm nay, như để bù đắp cho điều đáng tiếc cũ, thì sự hồi tưởng như thế thật là hồi tưởng vô cùng tích cực. 

Nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng vậy, nghĩ lại thời đã qua để thấy trách nhiệm của mình. “Cả tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt, để đúc nên chính cỗ máy này”, cái cỗ máy của sự “đểu cáng lên ngôi”. Hồi ức chuyện cũ để mà hối tiếc cho nhiệt huyết của mình không đem lại kết quả mong muốn, và thấy trách nhiệm của mình trong hiện tại! Một khi cùng hướng về phía trước và hành động cụ thể là nhất định gặp nhau. (Không biết trong hàng ngũ của các anh có ai muốn ôn chuyện cũ để kể công, để che dấu cái hèn hiện tại, để lập một cái gì đó chung chiêng hay không thì tôi không rõ, tất nhiên không bàn).

– Hãy biết ơn những người tiên phong.

Nếu như trên mặt phẳng nằm ngang ta hình dung đoàn người nối tiếp nhau như cây cầu bắc từ chế độ độc tài toàn trị đến cuối cầu là chân trời Dân chủ-Độc lập-Phú cường, trong đó những tư tưởng tiên phong luôn dẫn đầu đi trước, thì đừng quên một đường dây thẳng đứng, người nọ đứng lên vai người kia, để đưa nhau từ đáy giếng lên bờ. Trên cái “chồng người” thẳng đứng ấy những người tiên phong đứng ở dưới cùng cho đồng đội được đứng lên vai. Những người tiên phong ấy sẽ lên bờ sau cùng hoặc lúc khải hoàn có thể không còn họ nữa.

Về Độc lập dân tộc nếu không có những anh hùng liệt nữ đã hy sinh liệu ngày nay ta có còn quốc gia không để mà tranh đấu? Chúng đã đứng trên vai họ để có hôm nay. Về Dân chủ-Tự do cũng vậy. Nếu không có những người dân chủ tiên phong như Nguyễn Mạnh Tường, như Hữu Loan, như Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang, Lê Hồng Hà, Cù Huy Hà Vũ, Dương Thu Hương, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Lm Nguyễn Văn Lý, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức…vân vân và vân vân…mà hầu hết họ đều bị tù đày, và biết bao tiếng nói dân chủ từ bên ngoài hỗ trợ thì làm sao có chút nền dân chủ cỏn con để có thể tồn tại những trang Web dân chủ trong nước như trang Bô-xít, trang Basam và các blogger? Rồi đến lượt, nếu không có những trang Web và blogger ấy làm chỗ tựa làm sao đoàn trí thức 16 vị có thể được đón tiếp để trao những kiến nghị và dự thảo Hiến pháp quá mạnh dạn kia, cũng như cá nhân tôi lúc này có thể công khai công bố những lời đóng góp thẳng thắn nhường này? Chúng ta đã được đứng trên vai họ, những người dân chủ tiên phong chịu nạn tù đày để giành lấy từng tý chút dân chủ cho ta tiếp tục. Hãy nhớ ơn họ!

Một chi tiết nhỏ thiết nghĩ cũng nên nói thẳng: GS Nguyễn Huệ Chi là chủ trang mạng Boxit Việt Nam, cũng là trang chủ đăng tải “Kiến nghị 72” và hộp thư thu thập chữ ký. Trong đoàn 16 người nếu có GS NHC thì sẽ đàng hoàng hơn, chính danh hơn, khiến cho cơ quan công quyền phải nể trọng hơn bởi sự đàng hoàng ấy. 

Nói đến chuyện đứng trên vai nhau, tôi lại thầm hỏi mình: nếu không có đồng đội lấy vai cho mình đứng, lại không có một điểm tựa nào đó từ môi trường, dù là điểm tựa vô tình hay vô tri thì một cá nhân đơn độc làm sao có thể vượt qua cái vai của mình ? Tự mình vượt qua chính mình mới thật là điều khó lắm thay! Làm sao có thể tự thắng cái khối lượng ì ạch của bản thân với tất cả những sức cản nặng nề đã ràng buộc mình vào cuộc đời này? 

Đoàn kết, dấn thân hết mình phải đi đôi với tỉnh táo sàng lọc chính là bài học lịch sử quý giá mà quá khứ từng dạy cho ta vậy. 

Đà Lạt ngày 24-2-2013


Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập, chú thích và minh hoạ.
[1] “Quy luật” tương tự này tôi đọc thấy đã lâu, gần đây thấy nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh và nhà báo Lê Diễn Đức nhắc tới. Tôi diễn đạt lại cho rõ hơn (HSP)
[2] Xưa nhích chân đi giờ nhích lại: HCM quyết định theo Quốc tế 3 khi chưa hiểu CS là gì! Tư liệu trích từ:
-Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, Nhà xuất bản Văn học, Hànội (in lần thứ tám), 1975, trang 44.
– Hồ Chí Minh:Con đường dẫn tôi tới chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000, trang 126.
– Lữ Phương:Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh, THƯ NHÀ xuất bản, Australia, 2002, trang 40.
[3] Xem bài Từ Nguyễn Phú Trọng đến Lê Hiền Đức (HSP)
[4] Từ vụ Bauxite nghĩ về vận nước (www.hasiphu.com/baivietmoi_40.html) 
[5] Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ 
[6] Nguyên Ngọc (S: Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn …). Huy Đức: “bên (cần)được giải phóng hóa ra lại là Miền Bắc”.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | 2 Comments »

►NĂM 1989 – SINH VIÊN SAIGON ĐÃ BIỂU TÌNH

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2013

NĂM 1989 – SINH VIÊN SAIGON ĐÃ BIỂU TÌNH

 BỔ SUNG CHI VIẾT VỀ VỤ BIỂU TÌNH THÁNG 7-1989 CỦA SINH VIÊN KTX NGÔ GIA TỰ

Tác giả  


KTX NGÔ GIA TỰ ngày nay (hình từ Internet) 

Quá khứ tưởng đã ngủ kỹ trong ngăn kéo ký ức, và ngỡ rằng sự kiện ấy đã mất tăm như viên sỏi ném vào dòng sông đầy ắp các diễn biến lịch sử.

Hôm nay đọc phần II-Quyền Bính (Bên Thắng Cuộc của Huy Đức), đến chương 13-Đa Nguyên, mục Sinh Viên và Các Phong Trào Tự Phát thấy tác giả Huy Đức có nhắc qua cuộc biểu tình tháng 7/1989 của sinh viên KTX Ngô Gia Tự, ký ức tưởng đã vùi quên qua bao nhiêu năm vật lộn mưu sinh chợt ùa về như thác lũ. Mình xin bổ sung thêm một số chi tiết về cuộc biểu tình này ở góc độ một quần chúng tham gia trong cuộc…

Mời các bạn ghé blog của Nguyễn Phú đọc tiếp phần còn lại. 

NGUỒN: blog của  

 

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Lịch Sử | Leave a Comment »

►Đây là chủ trương lớn của đảng: Đất nước ta, dân tộc ta là con “chuột bạch” khổng lồ. Cứ đem ra thí nghiệm mãi cũng sẽ…thành công!

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2013

Đảng cứ mỗi 5 năm họp một lần, gọi là Đại hội Đảng. Nhưng lần nào cũng thế, đảng cứ chọn ra những tay ngốc ngếch nhất, cho vào nắm những chức vụ  lãnh đạo đất nước, không cần biết dân chúng có đồng ý hay không.

Kế đó, bọn ngốc mời một bọn tham mưu, thường là những tay tốt nghiệp bên các nước XHCN, vào làm cố vấn. Và thế rồi cả bọn cùng ngồi xuống và  đề ra những kế hoạch không tưởng TRÊN GIẤY, nghe rất kêu, gọi là chủ trương lớn của đảng!  Phần kế tiếp là thi hành,  đâu chừng 1,2 năm sau là lòi ra các vụ thua lỗ.  Ban đầu cố dấu, nhưng cây kim trong bọc cũng có ngày lòi ra.Đảng cứ thế mà lụi hụi làm lui làm tới như thế cả 40 năm nay, đi từ thất bại này đến thất bại khác, nhưng xem ra vẫn không tởn. Thậm chí có tên còn khả ố đến độ phát biểu: Sai đâu, sửa đó. Cứ làm mãi, cũng thành công! Thực tế cho thấy chẳng chuyện gì mà bọn này “cứ làm mãi, cũng thành công”.  Anh Tô Văn Trường viết bài này thật là chính xác. Đọc vào mà cảm thấy mắc cở giùm cho những ai luôn mồm nói :”đây là chủ trương lớn của Đảng”.  

Đất nước ta, dân tộc ta là con “chuột bạch” khổng lồ

Tô Văn Trường
 
 Nhìn lại cả quá trình phản biện xã hội về dự án bô xít Tây Nguyên, rất nhiều nhà khoa học, người dân đã không tiếc thời gian, công sức nghiên cứu, tìm hiểu đi thực tế, phân tích đánh giá toàn diện dự án để khuyên can, kể cả lấy chữ ký kiên trì kiến nghị tập thể của hàng nghìn người nhưng kết quả như “đàn gảy tai trâu ” nên mới tới cơ sự này.Mấy hôm nay, lại bùng lên 2 sự kiện là Thủ tướng tuyên bố dừng cảng Kê Gà và thông tin là làm kiểu gì cũng lỗ! Thông tin xấu không bưng bít được nữa. Vinacomin chắc cũng hết “máu” rồi nên đang “giẫy chết” và đang bắt đầu điệp khúc “chỉ triển khai theo chỉ đạo của Chính phủ ” – tức là đổ tội cho Thủ tướng đây. Trước đây, Thủ tướng đã có lần đăng đàn nói rõ dự án bô xít là chủ trương lớn của Đảng. Còn Đảng là ai và có thể đổ tội cho ai đây?!!! Ngay nhiều vị lãnh đạo chủ chốt đương chức hiện nay đã từng nói như ra lệnh cho Quốc hội “Đã quyết rồi”! Liệu có thể lôi ra công luận, và tòa án lương tâm ông cựu Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, cái người cả gan ký với Tàu năm xưa đã kịp hạ cánh về cưới cô vợ trẻ hay không?

Có 2 việc quan trọng cần phải làm ngay. Thứ nhất là thành lập Ban Thẩm định đánh giá độc lập xem xét lại toàn diện về dự án bô xít. Các số liệu “ma, ảo thuật” liên quan đến dự án là trách nhiệm cụ thể của ai? Dừng ngay bây giờ thì còn phúc cho dân tộc, cho dù đã đầu tư tốn kém đến đâu chăng nữa. Cần phải dừng ngay dự án để xác định rõ những kẻ tiếp tục “cố đấm ăn xôi” hay ngoan cố để vụ lợi hoặc chạy trốn trách nhiệm. Thứ hai là bài học nào từ sự kiện này có thể rút ra cho việc ra các quyết định chiến lược và lắng nghe phản biện xã hội?

413091110micro03.jpg

Người dân có quyền đặt câu hỏi vì lý do gì khi dự án bô xít Tây Nguyên biện giải ở trên giấy cũng còn chưa xong, khía cạnh nào cũng thấy lo “điên đảo luôn” (ngôn ngữ của Táo quân), giờ thì làm kiểu gì cũng lỗ nữa thì tại sao lại còn làm? Có mục tiêu thật nào chưa nói ra không? Tại sao nhìn vào đâu cũng thấy hàm lượng Trung Quốc – công nghệ Trung Quốc, công nhân Trung Quốc, thị trường tiêu thụ sản phẩm bô xít gần như duy nhất là Trung Quốc? Chỉ có điếc và mù mới không biết Trung Quốc đang nhăm nhe muốn nuốt chửng Việt Nam.

Lý do chính để Đảng và Nhà nước vẫn quyết tâm thực hiện dự án bô xít lâu nay vẫn là hiệu quả kinh tế trên giấy. Nay thực tiễn, bước đầu đã bác bỏ thành lũy cuối cùng của một thứ lập luận lừa dối thiên hạ này. Các loại VINA lâu nay có làm được cái gì ra hồn đâu ngoài việc xà xẻo phần trăm các dự án cho vào túi riêng. Các mặt khác như văn hóa, an ninh quốc phòng, môi trường vv…các chuyên gia, các nhà khoa học đã nói từ lâu, không ai có thể bào chữa được nữa về mức độ rủi ro cao và tác động xấu của dự án. Có điều trước đây người ta vẫn nói theo kiểu “cả vú lấp miệng em” là do ta nghèo nên vẫn phải chấp nhận hy sinh một vài thứ để có cái ăn.

Về các bài học thì có lẽ vẫn là về lỗi hệ thống. Về quyết định chiến lược, lâu nay có một thực tế tệ hại là đất nước cứ bị mang ra làm trò thí nghiệm. Đất nước và dân tộc ta đang là một con “chuột bạch” khổng lồ! Có một loạt việc tày đình được quyết định rất ẩu và khoác một cái vỏ bọc an toàn là ”thí điểm” để có thể thành công hay không thì kẻ phạm tội vẫn có cửa thoát thân. Nếu coi những chuyện lớn như vậy là thí điểm thì quả là người ta đã mang đất nước ra để làm trò đùa. Thí điểm tập đoàn nhà nước, hút hết máu của nền kinh tế thì là chuyện thật chứ còn thí điểm gì nữa. Thí điểm 2 nhà máy bô xit, đây là đầu tư thật cả tỷ đô la và kéo theo một loạt các hạ tầng phụ trợ , lại là thí điểm. Nếu công luận không sớm lên tiếng thì quy mô khủng có thể bắt đầu ngay chứ đâu chỉ giới hạn ở 2 nhà máy.

Lần này, các lãnh đạo Vinacomin còn đang sống sượng, muối mặt phán bừa rằng biết đâu trong 30 năm nữa thì giá nhôm sẽ lên cao thì dự án lại hiệu quả!!! Cần phải đánh giá lại toàn diện dự án để từ đó rút ra bài học về những sai sót trong việc quyết định làm dự án. Trong việc đánh giá lại, nên loại bỏ quyết định mang tính chính trị mà phải xây dựng trên việc đánh giá lợi ích kinh tế và môi trường. Làm đến đâu, chỉ mang tính thử nghiệm, hay khai thác đáp ứng nhu cầu của thị trường thì phải xem xét lợi ích kinh tế như thế nào, có tính đến cả giá của nó trong thời gian sắp tới. Theo tôi 5 năm trước mắt, giá alumin khó lòng mà đi lên vì kinh tế thế giới sẽ tiếp tục yếu. Theo bài báo Wall Street Journal, cung vẫn cao hơn cầu. Họ sản xuất nhưng tồn kho để giữ giá. Nếu lãi suất tăng, tồn kho sẽ đắt, hàng tung ra sẽ làm giá xuống nữa, ít nhất 20%. Như vậy, năm 2013-2014 vẫn sẽ đen tối.

Có phương pháp “ngụy luận” khác là thay vì đưa ra các chỉ số đo lường kết quả và sự thành công, người ta hay quy về một số chỉ số định tính khó đo lường, mập mờ. Cần phải tiếp tục cảnh giác với kiểu lập luận đưa mọi sự vào thế mập mờ để nói thể nào cũng được này (đã dốt lại còn tỏ ra “nguy hiểm”). Doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ ở các chỉ số tài chính, kinh doanh thì đưa ra khái niệm khó đo là điều tiết vỹ mô, điều tiết thị trường. Chương trình đánh bắt cá xa bờ thay vì cần có các chỉ số đo lường hiệu quả bền vững của đồng vốn đầu tư thì lại viện cớ củng cố an ninh quốc phòng mơ hồ. Cuối cùng cũng đành thú nhận thất bại. Nhà máy Dung Quất thay vì sử dụng các chỉ số đầu tư đơn giản như NPV, IRR thì lại nhấn mạnh tới động lực phát triển miền Trung, cố tình “giật gấu, vá vai” bưng bít, để mỗi năm lỗ 120 triệu đô la, tất cả lại đổ lên đầu tiền thuế của dân vv…Lợi ích nhóm sẽ tiếp tục hoành hành biến lãnh đạo thành “hoàng đế cởi truồng” trước bàn dân thiên hạ. Dự án tỷ đô Cảng Lạch Huyện thì nguy cơ đi theo vết xe đổ đã hiển hiện rõ ràng.

Tàu cao tốc không làm xuyên Việt được thì cũng dự định “thí điểm” ở 1 đoạn để thúc đẩy phát triển du lịch miền Trung. Tới đây, không biết nhà máy hạt nhân có thí điểm không? Mà nói rộng ra đi lên Chủ nghĩa xã hội mà chẳng ai biết rõ nó là cái gì thì cũng lại là một cuộc thí điểm nhiều đời hết ông đến cha, giờ đã đến cháu chắt rồi. Ai là người đam mê “thí điểm” và tự cho mình có quyền “thí điểm” nhiều và với quy mô như vậy? Cơ thể của đất nước, xã hội có thể chịu đựng nổi bao nhiêu lần thí điểm nữa đây?

Một bài học sâu xa nữa là văn hóa tiếp thu phản biện xã hội. Không thể không đặt câu hỏi tại sao lãnh đạo đất nước lại mắc quá nhiều sai lầm như vậy?. Hầu như đụng đâu, sai đấy, làm đâu, hỏng đấy! Quyết định càng lớn lại càng sai. Bên cạnh nhiều vị lãnh đạo tầm nhìn, tư duy, năng lực hạn chế là đội ngũ tham mưu hỏng. Còn chốt kiểm soát cuối cùng là phản biện xã hội thì lại bị thù ghét thì còn ai chỉ dẫn, góp ý cho mình nữa.

Chuyện xảy ra quá nhiều lần. Chân lý của quyền lực đã thắng quyền lực của chân lý hết lần này đến lần khác. Riêng lần này ai có thắc mắc về dự án bô xít, xin nhớ lại lời của thứ trưởng Bộ Công thương Lê Dương Quang, còn chụp mũ cho các trí thức là phản động!?

Vấn đề không chỉ nằm trong việc tiếp thu phản biện xã hội mà chính là hệ thống hiện hành không dung thứ ý kiến trái chiều với nhà cầm quyền. Cái gì cũng để Đảng và Nhà nước lo thì lo sao cho thấu.

Mưu sỹ thì toàn lựa đám a dua, lựa theo ý cấp trên mà minh họa theo thì làm gì còn có khoa học nữa. Trung thần còn có mấy người? Không chỉ là văn hóa tiếp thu phản biện mà còn là văn hóa tự chịu trách nhiệm cá nhân. Những người to mồm về dự án bô xit này đi đâu cả rồi? Ai là người đưa ra chủ trương lớn? Ai là người xây dựng báo cáo khả thi? Cái gốc cuối cùng vẫn phải là dân chủ hóa xã hội để mỗi quyết định quan trọng của đất nước được đưa ra đều phải có chất lượng dựa trên một quy trình khoa học, chuẩn mực.

Từ dự án bô xít, (một chuyện trong hàng ngàn chuyện) Đảng tự đặt mình trên dân tộc, quốc gia rồi, vậy cần gì Quốc hội, cần gì Hiến pháp? Điều 4 Hiến pháp như khẳng định: “Cha là chủ gia đình”. Đúng, Cha là chủ gia đình, theo nghĩa ấy mà trị quốc thì là “Nhân trị” chứ không phải “Pháp trị”. Vì có mấy ai làm cha mà có thương ghét các con công bằng, công tâm đâu. Vì thương ghét là phạm trù tình cảm, cảm tính. Cả Quốc hội, Chính phủ, Tòa án đều do một “Cha” quyết thì thà rằng “Cha” làm luôn như trong chiến tranh, Đảng quyết hết mà có ai nói gì đâu?. Hoàn cảnh thời bình, tập tành với nền kinh tế thị trường cho nên phải học kinh nghiệm của những nước tiên tiến. Làm theo kiểu cũ thì sẽ còn biết bao bô xít, các Vina và những “kỳ nhân Hoàng Hữu Phước” xuất hiện làm điên đảo nhân quần! Đã đến lúc người dân không cho phép đem dân tộc ta, đất nước ta ra làm thí điểm như con “chuột bạch” khổng lồ!

nguon: Theo blog Anh Ba Sàm

Posted in Bauxite | Leave a Comment »

►Việt Nam! Việt Nam! Bộ phim về cuộc chiến Bắc Nam Việt Nam bị dấu kín và quên lãng trong hơn 40 năm qua…

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2013

 

Việt Nam! Việt Nam! Bộ phim về cuộc chiến Bắc Nam Việt Nam bị dấu kín và quên lãng trong hơn 40 năm qua, phim được phụ đề tiếng Việt.

Đạo diễn bởi Sherman Beck,   giám đốc sản xuất và phát hành: John Ford    phim quay từ  tháng 10-tháng 12, năm 1968. John Ford đã có đến VN trong thời gian quay bộ phim này.  Ông giám sát việc biên tập phim và tái sắp xếp hình ảnh của bộ phim.  Phim này được hoàn thành để giúp cho người Mỹ có cái nhìn công bằng hơn so với quan điểm chỉ trích chiến tranh VN thời bấy giờ. Nhưng, vì sự thay đổi tình hình chính trị ở Việt Nam (Mỹ  đang muốn rút quân ra khỏi VN), phim bị cắt bỏ nhiều đoạn, sau đó mới được trình chiếu 1971,

Gần đây, phim được nhắc lại trong cộng đồng blogs.

Việt Nam! Việt Nam!

Được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973). Năm 1970, ông bị gãy xương đùi, sức khỏe suy yếu, và rút lui khỏi ngành phim ảnh. Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.

—————–

BỘ PHIM VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM BỊ GIẤU KÍN

 

TL: Nhân quyển sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức ra đời, đón nhận nhiều sự khen chê đa chiều. Cảm hứng nhìn nhận lại lịch sử ở nhiều người Việt Nam như được khích lệ. AnhPhú Hòa, một bạn đọc của TL gửi cho TL những dòng tâm sự như thế này: 

 

“Một thời gian dài sau cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam, nhất là sau khi có điều kiện được tiếp xúc với thế giới, được tiếp xúc với các nguồn thông tin đa chiều thì tôi bắt đầu đặt cho mình một câu hỏi là có cần thiết để xảy ra một cuộc chiến tranh cực kỳ dã man, khốc liệt mà dân tộc Việt Nam đã phải chịu đựng không? Càng ngày tôi càng thiên về câu trả lời là KHÔNG. 
 

 

Nếu chính quyền Miền Bắc không đặt ra quyết tâm phải giải phóng Miền Nam bằng mọi giá dưới mục tiêu đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược thì tôi tin rằng chính quyền Mỹ qua tất cả các thời kỳ sẽ không bao giờ đổ ngần ấy tiền bạc, vũ khí và quân lính vào Miền Nam như đã thực hiện. Đồng thời tôi cũng tin rằng sẽ không có cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc dã man và khủng khiếp, những trận mưa bom B52 trên dãy Trường Sơn, trận chiến Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm ở Hà Nội,… cũng như những cuộc tàn sát đẫm máutrên toàn Miền Nam. 
 

 

Tôi căm thù tất cả những gì mà người Mỹ đã gây ra cho đất nước Việt Nam nhưng dần dần tôi đã hiểu ra một sự thật rằng Mỹ không phải là người khởi sự cuộc chiến đó. Người khởi sự cuộc chiến đó chính lại là chính quyền mà chúng ta đã bỏ mồ hôi, xương máu dựng nên.
 

 

Mỹ hoàn toàn không xâm lược Việt Nam, cũng như Nga hoàn toàn không xâm lược các nước Đông Âu trong suốt cả thời kỳ từ 1945 – 1989.  Ngay người dân Đức (cả Đông Đức và Tây Đức) không hề có khái niệm rằng Mỹ là kẻ xâm lược của họ. Xâm lược phải là quân đội Pháp, Nhật, Tưởng Giới Thạch và cuối cùng là quân đội của chính quyền Trung Quốc hiện hành. Vì ý thức hệ nên cả hai nước lớn trong hai phe đã phải làm như vậy để cân bằng trạng thái cho phe của mình.  Những gì quân đội Xô Viết đã làm tại các nước Đông Âu cũng giống như những gì quân đội Mỹ đã làm ở Miền Nam Việt Nam ở thời kỳ đầu nhưng không hề bị coi là kẻ xâm lược. 
 

 

Nếu chính quyền Miền Bắc, chính quyền của chúng ta không bị sự thúc đẩy của chính quyền Bắc Kinh để gây ra cuộc chiến tranh thì dân tộc Việt Nam đỡ được bao đau khổ, mất mát. Việc thống nhất đất nước hoàn toàn có thể giải quyết bằng con đường khác, có thể dài hơn nhưng chắc chắn hàng triệu con người sẽ không phải hy sinh thân mình, dù trên chiến trường hay ở hậu phương và đất nước sẽ không bị tàn phá hàng ngày bằng chính những người tiếp nhận nó.  Chính vì cái gọi là Ý Thức Hệ, phải giữ bằng được quyền lực của mình nên từ một chế độ dân chủ, nhà nước Việt Nam ngày nay đã trở thành một nhà nước độc tài, đặt quyền lợi của mình lên trên quyền lợi của dân tộc, có bản chất hoàn toàn khác hẳn nhà nước được thành lập ban đầu.
 

 

Suy nghĩ của tôi là như vậy. Vì tôn trọng người gửi nên tôi giữ nguyên văn nội dung bức thư mà người đó viết cho tôi và vì vậy có thể không thuận tai lắm cho chúng ta, những người của BTC. Cái mà tôi quan tâm là nội dung của những thước phim tài liệu đó”.
 

 

Và anh Phú Hòa gửi lời giới thiệu cùng đường link một phim tài liệu nói về cuộc chiến tranh Việt Nam. Hy vọng bạn bè xem với tâm không phê phán, căm hận. Bình tĩnh nhìn lại lịch sử để có bài học bao giờ cũng khôn ngoan hơn là né tránh, phê phán, đả kích, phủ nhận, thậm qui kết cho tội lỗi nào đó…Say đây là lời giới thiệu về bộ phim “Việt Nam, Việt Nam” đã gửi cho anh Phú Hòa. TL xin xóa bỏ vài nhận xét của người gửi bộ phim vì muốn người xem có tâm trạng khách quan khi xem phim chứ không vì lý do nào khác. Xin thông cảm.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết về một cuốn phim Đã Bị Dấu Kín Suốt 38 Năm Qua

*Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.

 

Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam – Trong những ngày qua bộ phim “Vietnam! Vietnam!” do đạo diễn nổi tiếng của Hoa Kỳ trong thập niên 60, ông John Ford, thực hiện vào đầu năm của thập niên 1970 được nhắc lại trong cộng đồng blogs.

Từ lúc hoàn tất, tập phim này không được phép trình chiếu rộng rãi tại Hoa Kỳ vì chính quyền Nixon sợ ảnh hưởng xấu đến kế hoạch rút quân và bỏ rơi miền Nam Việt Nam. Tập phim “Vietnam! Vietnam!” đã đi vào lảng quên từ đó.

Tập phim này đã được phổ biến trên youtube cách đây vài năm và vừa mới được trang Thùy Linhwww.buudoan.com giới thiệu lại nhân cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của tác giả Huy Đức ra đời viết về cuộc chiến này, và được một số blogs khác trong nước nhanh chóng điểm tin về bộ phim này với bạn đọc người Việt.

Chúng tôi xin đóng góp một tay, gởi đến bạn đọc trong ngoài nước những clip youtube của bộ phim này vừa được phụ đề tiếng Việt để quí vị biết rõ hơn những chi tiết được đề cập đến trong bộ phim.

Xin gởi đến quí bạn toàn bộ 8 tập của phim “VIETNAM! VIETNAM!”.

nguồn: danlambaovn.blogspot.com

 

*Phim này ghi lại câu chuyện của thập niên 60, gồm 2 phần: 

_Câu chuyện về Cuộc Chiến và câu chuyện về Tranh Luận

“Trong những năm 1960, nhiều người Mỹ không tin vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ đối với Miền Nam Việt Nam. Do đó họ biểu tình. Đó là lề lối sinh hoạt chính trị của dân Mỹ.

Nhưng, những năm đầu của thập niên 60, mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản đưa đến sự thay đổi chính sách của chính quyền Hoa Kỳ. Tổng thống Kennedy phát biểu: 

 “Tôi nghĩ rằng chúng ta đang đối mặt mối đe dọa cực kỳ nghiêm trọng trong công tác chống lại sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Có khoảng 50 tới 60 ngàn quân du kích cộng sản đang hoạt động tại Miền Nam Việt Nam, và sát hại đến 2000 viên chức hành chánh mỗi năm, gây thương vong cho khoảng 4000 cảnh sát mỗi năm. Kết quả bầu cử tại Miền Nam Việt Nam cho thấy có từ 75-80% dân chúng ủng hộ chính quyền. Tuy nhiên, Miền Nam Việt Nam đang bị nguy hiểm vì cuộc chiến tranh du kích được phát động bởi một lực lượng được trang bị dồi dào vũ khí từ bên kia biên giớp. Bằng cách nào để chúng ta chiến đấu chống lại sự mối nguy hại đó? Nó sẽ gắn liền với chúng ta trong suốt thập niên này. Đó là sự khó khăn to lớn mà Hoa Kỳ phải đối mặt…  ” Tập 1

 

*Nguyễn Hùng post tập 1, phụ đề tiếng Việt. Mỗi tập dài khoảng 8 phút

Việt Nam! Việt Nam! : Phim của John Ford Tập 1

Vietnam! Vietnam! Phim của John Ford : Tập 2.

*Xem từ tập 1 – tập 8 : 

Việt Nam! Việt Nam by John Ford 1970

Trích: 

* Hằng ngàn hình ảnh được tái hiện. Những hình ảnh rất sâu sắc về Miền Nam VN dướí thể chế VNCH những năm 1960s. Đó là một đất nước tự do, nhân bản, tâm linh và đầy thơ mộng. Hình ảnh quá đẹp .

Người VN từ ngàn xưa chiến đấu chống giặc Tàu xâm lấn để tự vệ đã rất khó khăn chật vật. Còn, VNCH vừa chống hoạ thôn tính của Tàu, vừa chống 1/2 nước là miền Bắc tay sai Nga Tàu, vừa chống MTGPMN là cánh tay nối dài của Miền Bắc CS, thử hỏi làm sao người Miền Nam đảm đương nổi?

*Mot phim tai lieu co gia tri cua Mien Nam Viet Nam

————————————————————————————————-

 

*Chúng ta cần ôn lại lịch sử vì hiện nay Mỹ đang trở lại Châu Á để đối phó với Trung Cộng. Và Nhật cũng đang thay đổi hướng: dồn trọng tâm vào việc quan hệ với các nước Đông Nam Á về quốc phòng lẫn thương mại. Thủ tướng Nhật Abe mới vừa đắc cử đã viếng thăm Việt Nam và các nước trong vùng Á Châu.  Bộ trưởng Tài chánh và Ngoại giao của Nhật cũng chia nhau thăm viếng các nước vùng Đông Nam Á. Viện trợ các chiến hạm cho Philippines, và huấn luyện cho hải quân của Cộng hòa XHCN VN…

Trước khi có bầu cử TT vào tháng 11-2011, nhiều học giả về chính trị đã viết các bài báo nhắc nhở dù ai đắc cử TT Mỹ, thì cũng phải chuyển trọng tâm quân sự về Á Châu vì Trung Cộng đang làm mưa làm gió suốt từ  khi Mỹ bận rộn bên Trung Đông từ 2001.

Ngay sau khi đắc cử,  Tổng thống Obama đã phái Bộ trưởng Quốc Phòng, Tổng tham mưu trưởng Liên Quân Mỹ qua công tác ở  Úc vào tháng 12-2012, và ông đã chuyển quân đội Mỹ  và dồn tài nguyên quốc phòng về phía Đông Nam Á, mục đích là đối phó với Trung Cộng đã và đang chiếm đường hàng hải Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Sau khi tái đắc cử 6-11, ngày 27-11-2012, TT Obama du hành qua Châu Á viếng thăm Miến Điện, Thái Lan, và Campuchea.

Trước đó, năm 2011, Obama đã cho thành lập liên minh các Đối tác liên Thái Bình Dương, mục đích là thiết lập thương mại tự do giữa Mỹ và các nước trong vùng Thái Bình Dương (đặc biệt Mỹ đã không mời Trung Cộng gia nhập).

Các nước thành viên Trans Pacific Partnership (TPP) là :  Australia, Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Vietnam, và the United States. (nguồn)

Đại khái là hàng hóa của các nước đối tác sẽ được giảm miễn thuế khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ và ngược lại.  

 

Posted in Uncategorized | 3 Comments »

►Thư ông Phùng Liên Đoàn gửi ông Nguyễn Trung, cựu đại sứ VN ở Thái Lan

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2013

Thư ông Phùng Liên Đoàn gửi ông Nguyễn Trung

 

 Phùng Liên Đoàn

Theo Bauxite Việt Nam

 

 Ngày 20 tháng 2, năm 2013

Thưa anh Trung:

Tôi đã đọc thư ngỏ của anh gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam, và tôi thấy thấm thía từng câu từng chữ trong thư đó.

Hôm trước tôi có dịp đi Bangkok vài tuần. Tôi đã đi bộ trên 30 cây số và đi xe điện, taxi, đi thuyền trên vài trăm cây số khắp thành phố Bangkok từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, từ bến thuyền số 1 tới bến thuyền số 31. Tôi cũng có đi trên đường Wireless và nhìn thấy Đại sứ quán Việt Nam nằm gần các đại sứ quán Thụy Sĩ, Hà Lan, Nhật, Mỹ… Tôi nhớ anh đã từng đại diện nước Việt Nam làm việc tại đó, nhớ tới lần gặp anh tại Hà Nội và đọc những bài viết rất tâm huyết của anh. Xin có vài nhận xét:

Về vật chất, các thành phố Sài gòn, Hà nội, Đà nẵng, Hải Phòng… có thể thua Bangkok khoảng hơn 50 năm, nhưng về dân trí tôi e rằng nước ta thua Thái Lan cả trăm năm. Khó có thể mường tượng được tới khi nào lãnh đạo ta mở rộng tầm mắt giao thiệp với mọi nước trên thế giới một cách khiêm nhường như các vua Thái từ giữa thế kỷ 19. Khó có thể mường tượng được tới khi nào người dân ta đối xử với nhau hiền hòa như người Thái, bởi vì tại Thái Lan người người đều có Phật trong tâm và kính trọng đức vua như thánh sống. Khó có thể mường tượng được khi nào người Việt Nam lái xe không bóp còi, chờ đợi không tranh giành, đi đường không xả rác như tôi thấy tại Bangkok; và suốt hai tuần đi khắp các hang cùng ngõ hẻm tôi không thấy một vụ cãi nhau hoặc một nhóm thanh niên ăn chơi ầm ĩ (chắc vì tôi đi ban ngày!). Bangkok có nhiều xe hơn Saigon, đâu đâu cũng thấy có chợ và nhà thương, nhưng chợ của họ thì sạch sẽ vệ sinh, và nhà thương của họ thì nhân viên làm việc rất quy củ, nghề nghiệp, lặng lẽ, kính trọng bệnh nhân (chính tôi thăm viếng hai nhà thương). Bangkok có xe điện ngầm và xe điện trên không, xây cất theo kỹ thuật tân tiến nhất, chuyên chở hằng ngày cả nửa triệu người (do tôi quan sát và tính nhẩm); bến xe rộng rãi, có máy lạnh và không một cọng rác. Đặc biệt là người đi xe tuy ào ạt nhưng rất lịch sự, không chen lấn nhau, và đã hơn một lần có người đã đứng dậy nhường chỗ ngồi cho tôi mặc dầu tôi vẫn tự cho rằng mình “không già lắm”. Tuy Thái Lan cũng còn nhiều bất cập, như vỉa hè cũng hẹp và lồi lõm như vỉa hè Hà nội, Sài gòn; và báo chí cũng đưa tin về tệ nạn xã hội, tôi thấy có nhiều dấu hiệu rất tích cực của một xã hội càng ngày càng dân chủ văn minh. Một vài dấu hiệu này là: công an tại các trạm xe rất nghề nghiệp và lễ độ với người đi xe; rất ít nghe còi hú vì tai nạn xe cộ hoặc chuyên chở cấp cứu; đọc tin trên báo (tiếng Anh) thấy rất nhiều vấn đề các bộ trưởng, vụ trưởng làm việc thúc đẩy kết quả nhanh nhẹn cho người dân; và có cả chuyện ông thủ tướng bị kết án vì hối lạm, các giao kèo bị dò xét vì có dấu hiệu tham nhũng.

Tôi nhớ tới lời anh thuật chuyện ta tự hào đã đánh được Tàu, Pháp, Mỹ, thì một chính khách Thái nói họ cũng rất tự hào là suốt 200 năm không phải đánh ai. Vậy thì đâu là sự thật về dân trí của một quốc gia? Dân trí có phải là mọi người đều hăng say “phanh thây uống máu quân thù” để đánh ngoại xâm, sau đó lại bị thống trị bởi vua quan mới, không có cơ hội làm việc và nuôi con cái cho ăn học đầy đủ, rồi cái nghèo hèn lại biến các người dân anh hùng của ta thành nô lệ cho những người có quyền, có tiền trong nước và khắp thế giới? Hay dân trí là sự hiểu biết và cách làm cách sống của người dân trong một xã hội pháp trị hài hòa được chèo lái bởi lãnh đạo biết mình biết người, không nói một đằng làm một nẻo? Tôi e rằng dân trí của Việt Nam bị kìm hãm trong cá tính bộ lạc, hung hãn, tự kỷ của người Việt Nam, lãnh đạo cũng thế và người dân cũng thế. Thái Lan thì khác. Người Thái hầu hết đều có đạo trong tâm và luôn luôn kính trọng vua của họ là người đã có viễn kiến biết nhường quyền cai trị cho chính phủ. Dân trí của Thái Lan giúp Thái dễ dàng hơn trong việc xây dựng một xã hội tự do, dân chủ, văn minh.

Làm sao đây để cải tiến cái tư duy bạo tàn và bộ lạc nằm trong huyết quản ta qua môi trường man rợ mà ông bà cha mẹ ta đã từng trải và vô hình chung kéo dài để nó thành gen trong con người Việt Nam? Chính vì muốn tẩy uế cái gen đó nên tôi vẫn kiên trì tìm cách thâu góp kinh nghiệm của Việt Nam và của nhân loại (như anh cũng đã nhấn mạnh) để viết Hạnh Phúc Giáo Khoa Thư, cố gắng hình dung ra Việt Nam 100 năm sau này dựa trên 7 yếu tố của hạnh phúc mà Liên Hiệp Quốc đã đúc kết. Đó là, người ta chỉ thấy hạnh phúc khi có (1) an ninh cái ăn, (2) an ninh sức khỏe, (3) an ninh kinh tế (giáo dục, việc làm), (4) an ninh cá nhân (không bị “làm việc” vô cớ hoặc bị cướp bóc có tổ chức hoặc vô tổ chức), (5) an ninh cộng đồng (xã hội công dân), (6) an ninh môi trường – vệ sinh công cộng, và (7) an ninh cơ chế. Trong 7 yếu tố đó, an ninh cơ chế bao trùm mọi yếu tố khác, và vấn đề này chính là chủ đề của lá thư của anh và các kiến nghị của các trí thức.

Rồi đây anh và tôi, cũng như mọi người tốt xấu trong lịch sử sẽ trở về với cát bụi. Nhưng việc chúng ta làm ngày nay may ra cứu giúp con cháu Việt Nam tránh được nhiều đau khổ vì nô lệ dưới mọi hình thức. Người dân các nước dân chủ văn minh được tương đối hạnh phúc là nhờ công trình của nhiều vĩ nhân tiếp tay với nhau, từ thế hệ này qua thế hệ khác, xây dựng 7 yếu tố trên một cách bền vững, trong một môi trường văn minh, biết mình biết người. Các lãnh đạo “tự tạo” của ta cần theo gương các lãnh đạo của Thái mà ngộ ra cái bất cập của cá nhân mình trong văn minh nhân loại và sự quan trọng của việc tạo hạnh phúc cho người dân trong thời gian rất ngắn mình tại chức. Và người dân Việt Nam cần được học thế nào là hạnh phúc ngay từ khi tập nói, để nếu trở thành lãnh đạo thì làm việc tốt hơn cho người dân, nếu chỉ là người dân thông thường thì làm việc và sống một cách hài hòa với mọi người. Kiên trì giáo dục và thực hành như vậy qua nhiều thế hệ thì may ra ta mới tẩy uế được cái gen cá nhân, chủ quan, bộ lạc, bạo tàn, nô lệ, trong huyết quản ta. 100 năm có đủ không? Nếu tích cực thì may ra có thể đủ, nhưng nếu tiêu cực thì ta cũng vẫn là Việt Nam sau chiến thắng ngoại xâm Nguyên, Minh, Thanh, Pháp… mà thôi. Vì thế, tôi nghĩ ta cần giáo dục về Hạnh Phúc suốt từ mẫu giáo tới đại học, dưới mọi hình thức từ thực tế tới trừu tượng.

Xin cảm ơn anh về các đóng góp hết sức quan trọng. Hi vọng các vị tại quyền ngày nay và sau này hãy lắng tai nghe anh, chăm chú đọc anh.

Kính thư,

Phùng Liên Đoàn

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Nhân chuyện Bôxit Tây Nguyên: khai thác bị lỗ lả 120 triệu đô la mỗi năm và đang âm thầm tính dẹp bỏ…Còn nhà máy lọc dầu Dung Quất sắp nghĩ hè vì máy sắp hư

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2013

Từ  năm 1940s,  Bác đã viết sách tự ca tụng mình qua bút danh Trần Dân Tiên. Kế hoạch của bác tạm thời “thành công”. Kết quả, nhiều thế hệ thanh niên miền Bắc đã tôn sùng bác như  thánh. Hơn 20 triệu người đã sống trong thiếu thốn khổ cực, và hơn 3 triệu thanh niên miền Bắc phải chết trong chiến tranh VN.  Đảng cũng bắt chước y hệt vậy: tự ca tụng. Từ 1954 ở miền Bắc và kể từ 1975 ở miền Nam, Đảng đã và đang nhúng tay vào tất cả mọi chuyện,  nào là kinh tế, tài chánh, giáo dục, y tế…rồi ra lệnh cho các bút nô, báo đài ca tụng các chỉ đạo thần kỳ của đảng và nhờ đó mà non 60 chục năm qua mọi báo cáo trên báo chí loa đài… tất nhiên đều là đại thành công. Nhưng, nhờ  có sự lan truyền sử dụng của internet hơn 10 năm qua,  người Việt Nam đã nhận thức được rằng: những gì mà lâu nay đảng đã nhúng tay vào chỉ đạo đều thất bại thảm hại. J.B. Nguyễn Hữu Vinh, có bài viết sau đây mời các bạn thưởng thức: 

Nhân chuyện Bôxit Tây Nguyên: “Trí tuệ” của đất nước ta chỉ có vậy thôi sao?

J.B. Nguyễn Hữu Vinh

Thông thường, mỗi báo cáo hoặc bài viết trên báo Đảng, hoặc trong các cuộc mít tinh, hoặc trên bất cứ một cuộc đại hội nào câu cửa miệng thường có là: “Sự lựa chọn con đường cách mạng đó là sự lựa chọn của chính lịch sử, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân Việt Nam. Nhờ vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Thế rồi sau đó là hàng ha sa số những thành tựu, thắng lợi, thành quả… được nêu ra. Còn khi nói đến những sai lầm, những thất bại, những hậu quả, thì tất cả đều là những sai lầm và thất bại, khuyết điểm tạm thời, do khách quan, do một số không nhỏ cá nhân mà thôi. Còn “đảng ta” vẫn vĩ đại thật(!).

 


“Đáng ta” là đạo đức, là văn minh? 

Bởi “đảng ta” là tất cả những điều gì tốt đẹp nhất và trên cả tốt đẹp nhất có thể dùng để xưng tặng cho “đảng ta” nào là đạo đức, là văn minh, là vầng thái dương, là trí tuệ nhân loại. Thậm chí, tờQĐND còn viết“Đảng ta là con nòi…”. “Con nòi” có thể được hiểu Đảng ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. “Con nòi” cũng có thể được hiểu là kế thừa, kết tinh những gì tốt đẹp nhất, tinh túy nhất của nhân dân”.

Vâng, chúng ta đã nghe đi, nghe lại, nghe mãi nghe hoài mấy chục năm nay những câu, những từ đó với cách nhét vào tai, đập vào mắt ở mọi nơi mọi lúc và không thiếu nhiều lớp người quá quen thuộc đến mức cứ tưởng rằng đó là chân lý.

Từ một “Chủ trương lớn của Đảng” hơn hai năm trước

Khi dự án Boxit Tây Nguyên đưa ra, dư luận bàn tán ồn ào và thậm chí nhiều người phản đối dữ dội vì nhiều lẽ. Trước hết vì đó là mái nhà Tây Nguyên, nơi có vị trí cực kỳ quan trọng đối với an ninh đất nước, đối với sự tồn vong của dân tộc lại để Trung Cộng dẫn quân vào đó khác gì giao Nỏ thần cho Triệu Đà. Thứ đến là phá nát Tây Nguyên có nền văn hóa mang bản sắc lâu đời, và cuối cùng là hiệu quả kinh tế của dự án sẽ là con số âm…

 


Giáo xứ Thái Hà thắp nến cầu nguyện cho Tây Nguyên và dừng dự án Bauxite 

Nhiều phản ứng xã hội đã tạo nên một làm sóng phản đối đối với dự án này. Hàng ngàn chữ ký đã được thu thập vào một bản Kiến nghị đưa lên các cơ quan cao nhất của đất nước. Thậm chí, mộtTiến sĩ đã từng đưa cả đơn kiện Thủ tướng (Nay đã vào tù vì bị bắt bởi… hai bao cao su đã qua sử dụng).

Nhiều bài viết, nhiều tiếng kêu, tiếng phản biện trong nhiều diễn đàn, trong xã hội Dự án bô-xít Tây Nguyên vừa lỗ nặng, vừa ô nhiễm” đối với dự án này. Nhiều công dân từng giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy đến các kiều bào ở nước ngoài đến các công dân Việt Nam nặng lòng với tiền đồ dân tộc đã bày tỏ ý kiến lo ngại và phản đối dự án. Nhưng, tất cả những sự cảnh báo, những kiến nghị, những ý kiến phản biện đều được cho vào sọt rác. Có chăng chỉ có thêm vài cuộc họp, hội thảo lấy lệ cho qua quýt mà thôi.

Chỉ đơn giản là vì như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Đây là chủ trương lớn của Đảng”. Còn báo chí thì cho biết “Giải trình trước Quốc hội sáng nay, Thủ tướng cho biết, việc thăm dò khai thác, chế biến bô xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội Đảng 9 đến Đại hội Đảng 10”.

Nhiều người ký vào bản kiến nghị còn được lực lượng an ninh, công an đưa vào vòng ngắm và gọi đến “làm việc” vì dám có ý kiến ngược lại với “Chủ trương lớn của Đảng” – một tội tầy trời trong chế độ độc đảng hiện nay.

Thậm chí nhiều nhà khoa học, nhiều trí thức cổ thụ hàng đầu đất nước có tâm huyết với non sông còn bị đám báo chí, đám phóng viên, ở lứa trẻ con (cả về tuổi đời, trí tuệ khả năng và lòng yêu nước) đưa lên bêu xấu và chế giễu trên hệ thống báo chí nhà nước, coi họ như những người bị chứng tâm thần. Điều này đã góp phần to lớn vào sự nghiệp làm suy đồi nền đạo đức và văn hóa ngàn năm qua đất nước này đã xây dựng.

Có thể đám người ngộ độc thông tin đó nghĩ rằng, khi mà mọi tốt đẹp nhất đã dồn kết tinh vào “đảng ta”, thì đám quần chúng nhân dân bên ngoài có chi là đáng kể, có gì đáng phải quan tâm, phải chú ý? Đã là chủ trương của Đảng, thì cứ thế mà thực hiện, miễn ý kiến. Nếu có ý kiến thì khác chi lội ngược dòng nước lũ. Thậm chí, một số cái gọi là “nhà khoa học” cũng đã được trưng dụng, để lên tiếng, để giải thích, để trấn an nhân dân hãy “tuyệt đối tin tưởng” vào chủ trương của đảng và nhà nước.

Và cứ thế, mặc mọi ý kiến, mặc mọi kêu gào, dự án Bôxit Tây Nguyên vẫn cứ tuần tự như tiến.

Đến hậu quả nhãn tiền hôm nay của các “chủ trương lớn”

 


Khai thác Bôxit, Tây Nguyên sẽ ra sao? 

Mấy hôm nay, báo chí loan tin ngưng xây dựng cảng Kê Gà sau mấy năm đầu tư để vận chuyển Boxit xuất khẩu. Thủ tướng giao cho UBND Tỉnh Bình Thuận giải quyết đền bù thiệt hại cho 12 nhà đầu tư bị thu hồi đất đai làm cảng Kê Gà. Như vậy, một đống tiền của dân đã bỏ ra nay chìm xuống biển như không. Hậu quả tiếp theo là những công trình ăn theo dự án này, cũng là tiền của của xã hội, của nhân dân bổng dưng thành cát bụi. Điều lạ là thoát được dự án Cảng Kê Gà nằm trong “Chủ trương lớn của Đảng” này, Tỉnh Bình Thuận thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nợ dù cả ngàn tỉ đồng đã bay đi.

Rồi đến hôm nay, báo chí tiếp tục đưa tin về Dự án Bôxit Tây Nguyên thuộc “Chủ trương lớn của Đảng” với những thông tin màu xám.

Dù mới cách đây 29 tháng: “Tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII, một số ĐBQH đã có ý kiến về các dự án bô xít Tây Nguyên – Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện việc kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả kinh tế và tác động môi trường đối với các dự án, đặc biệt chú ý thẩm định thiết kế kỹ thuật hồ bùn đỏ, bảo đảm an toàn lâu dài đối với môi trường. Việc thẩm định được tiến hành nghiêm túc, thận trọng và đã khẳng định: các dự án có hiệu quả KTXH, bảo đảm an toàn về môi trường và an ninh, quốc phòng” – Thủ tướng nói.

Lời hứa của Thủ tướng trước Quốc Hội đến đâu? Thì đây đã có câu trả lời:   “Cảng Kê Gà gây nhiều hệ lụy!” Dự án bauxite: Không hiệu quả thì nên dừng”. Trật một li, đi ngàn tỉ”.

Bởi những con số đưa ra đã là con số thật, không còn là “chủ trương” không còn là những lời hứa đẹp đẽ, lẻo mép. Rằng: “Giá xuất khẩu thấp hơn giá thành, chi phí vận tải tốn kém, nhất là khi phương án xây dựng cảng Kê Gà bị loại bỏ, lại thêm những hệ lụy lớn về môi trường…”. Rằng:“Chấp nhận loại bỏ dự án bauxite ra khỏi Tây Nguyên là việc cần làm, càng sớm càng tốt”.

Và đây là con số cụ thể: “nếu tính chi phí tiêu thụ (vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt) khoảng 25 USD/tấn và thuế xuất khẩu theo quy định là 20% thì mỗi tấn alumin sẽ lỗ khoảng 124 USD nên tính ra, Vinacomin sẽ lỗ 74,4 triệu USD/năm”.

Những bài viết này đặt bên câu trả lời của Thủ  tướng trước Quốc Hội nói trên, khác chi dội những thùng nước lên đốm lửa?

Cũng tương tự, một dự án chủ trương lớn” là Dung Quất đã có con kết quả là Đầu Tư ở Dung Quất : Lỗ 120 triệu đô mỗi năm”. Chỉ riêng hai dự án “chủ trương lớn” này, mỗi năm dân ta tha hồ nộp thuế để bù vào đó 200 triệu đôla. Đọc những con số hiệu quả của các Dự án này, người ta có cảm giác rằng Chính phủ Việt Nam ăn chơi còn gấp vạn lần câu chuyện Công tử Bạc Liêu, đốt tiền dân còn hơn đốt vàng mã ở đền Bà Chúa Kho những ngày đầu năm.

Như vậy, chỉ nhìn vào vài dự án là “Chủ trương lớn của Đảng” như Dung Quất, Bôxit Tây Nguyên, chúng ta có quyền nghi ngờ cái gọi là “Trí tuệ của nhân dân” Việt Nam đã “kết tinh” trong Đảng Cộng sản và sản phẩm của sự kết tinh đó là các “Chủ trương lớn”.

Mỗi năm, với quyền lực của mình, “đảng ta” phát minh ra hàng hà sa số các chủ trương. Với các chủ trương đó, người dân cứ im lặng mà thực hiện, nếu thất bại, thì lại có “chủ trương lớn” khác để bù vào đó. Tiền thuế của nhân dân sẽ được huy động tối đa,các loại phí tha hồ được các chuyên gia nghĩ cách để tận thu. Còn các loại khoáng sản, các nguồn lợi thiên nhiên được khai thác cạn kiệt để bán lỗ.

Đó là hậu quả tất yếu của sự kiêu ngạo và bỏ ngoài tai mọi lời góp ý, mọi sự đóng góp của nhân dân, mọi quyền lợi của người dân trên đất nước này. Khi giành được quyền lực vào tay mình, những người cộng sản đã nghiễm nhiên coi chỉ có mình là người chủ đất nước và mọi tiếng nói phản biện của người dân đều bị coi khinh, thậm chí được xếp vào “thế lực thù địch”. Vậy họ đang phục vụ điều gì?

Thật hài hước khi đọc những dòng này“Chúng ta tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, một đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, trung thành với giai cấp và lợi ích dân tộc, vững vàng trước mọi thách thức, sáng suốt trong vai trò lãnh đạo của mình”. Thì nay đã phải đọc những thông tin về các “chủ trương lớn” của đảng với những câu trả lời thật thảm hại. Cái gọi là “cách mạng và khoa học” ở đâu? Cái gọi là “sáng suốt” ở đâu khi chủ trương và lãnh đạo? Dù chỉ mới vài dự án được nêu tên ở đây?

Và nếu những câu tán tụng, tự sướng rằng “đảng ta” là kết tinh mọi tinh hoa dân tộc, là trí tuệ nhân loại, là văn minh nhất, sáng suốt nhất, thiên tài nhất… là sự thật, thì lẽ nào trí tuệ của đất nước này chỉ có vậy thôi sao?

Tạm kết

Để an toàn cho bản thân, người dân ở trong đất nước Trung Cộng thường trích ngữ lục của Mao Trạch Đông để biện dẫn cho các ý kiến của mình. Trong chế độ Cộng sản Việt Nam, thay vì lời Mao Trạch Đông, người dân dùng “ngữ lục” của Hồ Chí Minh như một cẩm nang, như Kinh Thánh. Chúng ta thử xem những lời đó có gì? Ở đó có câu rằng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi; nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Ở đây, câu nói trên của Hồ Chí Minh có đúng?

Hà Nội, Ngày 21/2/2013
J.B. Nguyễn Hữu Vinh

 

1.  Bác viết sách tự ca tụng mình bằng cách dùng bút danh Trần Dân Tiên từ 1940s. Chuyện này vẫn là bí mật bao trùm kéo dài 5 thập niên ở miền Bắc, thậm chí cho mãi đến 1990s, cũng rất ít ai hay biết Trần Dân Tiên là ai. Nhưng từ khi ở VN càng ngày càng có nhiều người sử dụng  internet, việc này bị phát hiện: Bác chính là Trần Dân Tiên!

Posted in Bauxite | Leave a Comment »

►Cựu Đại sứ VN tại Thái Lan gửi Quốc hội, Chính phủ và ĐCSVN về sửa đổi Hiến pháp

Posted by hoangtran204 trên 21/02/2013

Bài này được chọn đăng vì quan điểm của tác giả Nguyễn Trung rất mạnh dạn và dứt khoát; các bạn đọc bài sẽ rõ.  Tuy nhiên, đảng CSVN sẽ không nghe lời khuyên của bất cứ  ai và sẽ không thay đổi một ly ông cụ nào hết. Vì trong thời gian 1986 đến nay, không có ai trong bọn ( 14 thành viên của Bộ Chính Trị và (175-14) Ủy viên Trung Ương Đảng) có tài lực vượt bật. Do đó, hiện nay tất cả bọn này phải  tiếp tục dựa vào nhau để cầm quyền và sống còn.   

Thư ngỏ của ông Nguyễn Trung gửi

Quốc hội, Chính phủ và ĐCSVN về

sửa đổi Hiến pháp

LTSCàng ngày càng có nhiều người, nhiều giới lên tiếng về việc sửa đổi Hiến pháp đang được phát động trong nước, có thể biến thành phong trào đòi dân chủ hóa chế độ. Dưới đây là Thư ngỏ của cựu Đại sứ VN tại Thái Lan, cựu thành viên Ban nghiên cứu thời Thủ tướng Phan Văn Khải, cựu thành viên Viện nghiên cứu phát triển IDS – ông Nguyễn Trung – gửi Quốc hội, Chính phủ và ĐCSVN về sửa đổi Hiến pháp. Ông đề nghị Bộ Chính trị khóa XI tự kỷ luật bằng cách hết nhiệm kỳ này phải rời khỏi chính trường, không được tham gia vào bất kỳ cấp ủy nào của đảng dù ở địa phương hay trung ương. Mời độc giả theo dõi.

—————————–

Thư ngỏ

Hà Nội, ngày 19-02-2013

Kính gửi

–        Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,

–        Toàn thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt nam,

–        Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Ông Nguyễn Trung

Kính thưa,

Tôi là Nguyễn Trung, 78 tuổi, trú tại 10(60A) ngõ 45A, phố Võng Thị, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Với tư cách là một trong những người tham gia Kiến nghị của 72 nhân sỹ trí thức về việc sửa đổi Hiến pháp [1] (gọi tắt: Kiến nghị 72),  xin được phép trình bầy một số suy nghĩ của tôi liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp đang được lấy ý kiến nhân dân cả nước

Một là, tôi nghĩ rằng sau 37 năm độc lập thống nhất, lần đầu tiên đất nước lại đứng trước nhiều nguy cơ lớn. Đó là:

–        Cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa hiện nay đất nước đang lâm vào khoảng một thập kỷ nay trầm trọng đến mức đe dọa sự mất còn chế độ chính trị và Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN). Điều này cũng có nghĩa cuộc khủng hoảng này đe dọa nghiêm trọng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải báo cáo tình hình này trước cả nước tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Bộ Chính trị nhận trách nhiệm về mình và đã xin lỗi trước cả nước và toàn Đảng.

–        Chủ nghĩa thực dân mới siêu cường Đại Hán đang trở thành vấn đề của cả thế giới – đặc biệt là đối với khu vực Biển Đông, uy hiếp trực tiếp các nước tại đây; đồng thời căng thẳng đang leo thang với nguy cơ có thể xảy ra chiến tranh trên Biển Đông. Sự lũng đoạn của Trung Quốc đối với các nước láng giềng – đặc biệt ở Đông Nam Á – đã tới mức nguy hiểm, trong đó có Việt Nam với tính cách là chướng ngại vật tự nhiên đầu tiên mà Trung Quốc nhất thiết phải khuất phục trên đường vươn ra đại dương.    Cần nhìn thẳng vào sự thật là sự lũng đoạn mọi mặt của Trung Quốc hiện nay trên thực tế đã đặt Việt Nam lọt thỏm vào vòng kiềm tỏa nhiều mặt của Trung Quốc. Không ít ý kiến trong nhân dân cho rằng về nhiều mặt Việt Nam trên thực tế đã trở thành một chư hầu kiểu mới của chủ nghĩa thực dân mới siêu cường Đại Hán.

–        Hệ thống chính trị của Việt Nam có quá nhiều bất cập để có thể cùng một lúc giải quyết 3 vấn đề lớn nóng bỏng đang đặt ra cho đất nước: (1)cần ổn định kinh tế để tìm đường đi vào một thời kỳ phát triển mới, nhưng hiện nay vẫn chưa có kế sách khả thi nào, nguy cơ kinh tế rơi xuống đáy sâu hơn nữa vẫn là thường trực; (2)chế độ chính trị tha hóa và quá yếu kém; tình hình đã đến mức vô hiệu hóa nhiều nỗ lực cứu chữa đã bỏ ra, tiếp tục kìm hãm sự phát triển của đất nước; trong khi đó hệ thống chính trị vẫn tiếp tục lún sâu hơn nữa vào độc tài toàn trị, để xảy tay có thể dẫn đến đổ vỡ; (3)đất nước vừa cần một sức mạnh bên trong làm nền tảng cho chính sách đối ngoại, vừa cần một đường lối đối ngoại độc lập tự chủ để đứng vững được trong tình hình căng thẳng và rất nhạy cảm hiện nay – đặc biệt là trên Biển Đông; song hiện nay cả hai đòi hỏi này cho mặt trận đối ngoại đều chưa có.

Có thể nói, những yếu kém của đất nước trong bối cảnh mới của tình hình quốc tế và khu vực – nhất là hiện tượng leo thang gây căng thẳng của Trung Quốc, đặc biệt là trên Biển Đông  – đang uy hiếp nghiêm trọng độc lập chủ quyền và kìm hãm sự phát triển của đất nước ta.

Hai là toàn bộ tình hình nêu trên đã được hàng nghìn ý kiến cảnh báo trong những kỳ chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc lần thứ X và lần thứ XI của ĐCSVN, rất tiếc rằng không được lãnh đạo lắng nghe và tiếp thu.

Trong những ý kiến cảnh báo ấy, ý kiến quan trọng nhất là nhận định cho rằng nguyên nhân cơ bản của tình hình đất nước hiện nay là sự tha hóa và bất cập của toàn bộ hệ thống chính trị, bắt đầu từ Đảng. Nhận định này kết luận: Tình hình đòi hỏi phải thực hiện một cuộc cải cách chính trị triệt để và toàn diện để mở lối ra cho đất nước. Song trong thực tế, đòi hỏi vô cùng quan trọng này chẳng những bị gạt đi, mà toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước trong gần một thập kỷ vừa qua ngày càng tiếp tục lún sâu vào bảo thủ, giáo điều, quan liêu; tệ nạn tiêu cực và tham nhũng ngày càng nặng; các quyền tự do dân chủ của nhân dân ngày càng bị xâm phạm. Chính thực trạng này là nguyên nhân gốc làm cho những năm vừa qua là thời kỳ phát triển xấu nhất, nguy hiểm nhất trong suốt 37 năm độc lập đầu tiên của đất nước.

Nói riêng về ĐCSVN, những năm vừa qua cũng là thời kỳ quyền lực Đảng phạm nhiều sai lầm và có nhiều hiện tượng hư hỏng, suy đồi chính trị và đạo đức nhất kể từ khi thành lập.

Ba là, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã phần nào nhận ra thực trạng nguy hiểm nêu trên của đất nước và của Đảng, nhưng lại bất cập không dám nhìn thẳng vào toàn bộ sự thật, do đó chưa nhìn ra được nguyên nhân gốc là lỗi của hệ thống chính trị và của những quan điểm sai lầm của Đảng trong đường lối chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước.

Với cách nhìn sự thật phiến diện như vậy, Hội nghị Trung ương 4 lấy tự phê bình và phê bình kiểm điểm cá nhân là phương thức giải quyết mọi sai lầm và yếu kém hay là bước đột phá đầu tiên; trong khi đó tiếp tục giữ nguyên và xiết chặt hơn nữa hệ thống chính trị theo hướng tăng cường “đảng hóa”, với mục đích tăng cường khả năng đối phó của Đảng với sự bất bình chính đáng đang ngày càng tăng trong nhân dân về mọi vấn đề của đất nước. Điển hình nhất của tình trạng “xiết” này là những hiện tượng: tăng cường “19 điều cấm trong Đảng”, sự kìm kẹp chưa từng thấy đối với trên 700 báo chí các loại của hệ thống chính trị (được gọi là báo chí “lề phải”), xuất hiện cái gọi là “đội ngũ dư luận viên” chưa hề có ở một quốc gia dân chủ nào, thẳng tay trấn áp đối với những người bất đồng chính kiến và đối với những cuộc biểu tình của nhân dân bảo vệ biển đảo của tổ quốc… v… v…

Cũng với cách nhìn sự thật theo kiểu tránh né nguyên nhân gốc như vậy. Hội nghị Trung ương 5 và 6 sau đó lấy chống tham nhũng là mặt trận chính. Quyết định này sai lầm ở chỗ (a)chủ yếu nhằm vào xử lý vụ việc, chứ không phải nhằm vào sửa lỗi hệ thống là chính, (b)đặt vấn đề chống tham nhũng lên trên mọi vấn đề cấp bách khác quan trọng hơn nhiều, nghĩa là rất cảm tính và thiên lệch – ví dụ như vấn đề ổn định kinh tế vỹ mô, trả lại các quyền tự do dân chủ của dân để thực hiện được chủ quyền của nhân dân cho phát huy sức mạnh nội lực, vấn đề tạo ra sự công khai minh bạch trong đời sống mọi mặt của đất nước, đòi hỏi trả lại vai trò phải có cho nhà nước pháp quyền để cả nước – bao gồm cả Đảng – phải tuân thủ pháp luật… Với 2 sai lầm lớn như vậy trong việc đặt ra vấn đề chống tham nhũng, lại thực hiện trong tình trạng Đảng và toàn bộ hệ thống chính trị có quá nhiều tiêu cực và yếu kém, nên đến nay kết quả thực hiện các nghị quyết của các Hội nghị Trung ương 4, 5, 6 liên quan đến chủ đề này có nhiều biến tướng rất đáng lo ngại, đến nay có thể nói là thất bại. Chính đồng chí Tổng bí thư không dưới một lần gián tiếp nhưng đã phải công khai thừa nhận như vậy.

Hơn nữa, trong khi tập trung mũi nhọn vào chống tham nhũng một cách phiến diện như vậy, đã xảy ra một số sự việc, một số phát ngôn rất thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm (đôi khi có cả thứ ngôn ngữ mang đặc tính “anh chị”) của một số người có trọng trách… Những hiện tượng này hình như cho thấy câu chuyện đang diễn ra không phải chỉ có việc chống tham nhũng, mà còn là biểu hiện bên trong của những động cơ, những hiện tượng “đánh nhau”, “đối phó với nhau”… không thèm đếm xỉa đến tác động như thế nào đối với  kỷ cương, sự uy nghiêm và mối an/nguy của quốc gia. Những hiện tượng này hoàn toàn không được phép xảy ra với những chính khách chân chính!

Qua các Hội nghi Trung ương 4, 5 và 6, quyền lực của Đảng đang tự mình tiếp tục làm mất thêm uy tín của Đảng và gây thêm nhiều khó khăn nguy hiểm cho đất nước. Đơn giản bởi lẽ “nhóm” nào thắng thì đất nước cũng thua; vì hệ thống chính trị có quá nhiều sai lầm và quyền lực của nó vẫn được bảo toàn nguyên vẹn, thậm chí đang được “xiết” thêm. Trong khi đó trí tuệ và nguồn lực mọi mặt của đất nước không được tập trung vào xử lý những vất đề cấp bách nhất của đất nước; xảy ra quá nhiều hiện tượng “vạch áo cho người xem lưng” làm ảnh hưởng đến an ninh và thể diện quốc gia. Toàn bộ tình hình nhạy cảm này chỉ tăng thêm cơ hội cho sự lũng đoạn của Trung Quốc…

Tình hình mọi mặt hiện nay của đất nước đã đi tới thời điểm không thể trì hoãn cuộc cải cách chính trị toàn diện. Bối cảnh quốc tế vừa đòi hỏi, thách thức, cũng vừa tạo ra những thuận lợi chưa từng có cho một cuộc cải cách chính trị để xây dựng nên một thể chế chính trị dân chủ cho Việt Nam. Đất nước ta hiện nay lại đang đứng trước yêu cầu bức thiết phải sửa đổi Hiến pháp và thực tế đang cho thấy Hiến pháp 1992 dù sửa thế nào cũng không thể đáp ứng những đòi hỏi phát triển mới của đất nước; vì những lẽ này, xây dựng một Hiến pháp mới phù hợp là bước khởi đầu đúng đắn cho tiến hành cải cách chính trị.

Bốn là, tôi xin trình bầy một số điểm chính về cải cách chính trị, với tất cả mong muốn thiết tha ĐCSVN không được trốn tránh – (1)vì lẽ: Đảng nợ nhân dân nhiệm vụ lịch sử sau khi đất nước đã được độc lập thống nhất, đó là xây dựng một thể chế chính trị dân chủ để thực hiện những quyền và hạnh phúc của nhân dân như đã ghi trong Tuyên Ngôn Độc Lập 02-09-1945; và (2)còn vì lẽ: ĐCSVN cần tranh thủ cơ hội cuối cùng này để tự giải phóng chính mình khỏi sự nô lệ của quyền lực, giành lại vai trò lãnh đạo dựa vào tính tiền phong chiến đấu của mình như ĐCSVN đã từng có một thời trong cộng đồng dân tộc suốt giai đoạn kháng chiến cứu nước, để trên cơ sở này phấn đấu trở thành đảng cầm quyền trong hệ thống nhà nước pháp quyền dân chủ.

Dưới đây là một số ý kiến cụ thể:

1. Kết thúc Hội nghị Trung ương 6, Bộ Chính trị đã nhận lỗi trước nhân dân và trước toàn Đảng về trách nhiệm đã để cho đất nước gặp nhiều khó khăn và lâm vào hoàn cảnh bị uy hiếp như hôm nay, đã tự giác tuyên bố sẵn sàng nhận kỷ luật của Đảng. Cá nhân tôi đánh giá cao việc nhận lỗi này. Tuy nhiên, tôi xin đề nghị Bộ Chính trị tự đặt ra cho mình mức kỷ luật là: Toàn thể Bộ Chính trị khóa XI hết nhiệm kỳ này sẽ thôi không tham gia vào bất kỳ cấp ủy nào của Đảng dù ở địa phương hay trung ương.

Toàn thể Bộ Chính trị khóa XI cam kết trước cả nước và toàn Đảng sẽ dẹp hết sang một bên mọi khúc mắc riêng tư với nhau, một lòng cùng nhau trong suốt thời gian còn lại của nhiệm kỳ khóa Đại hội XI này đem tất cả tinh thần và nghị lực với ý thức trách nhiệm cao nhất phát huy trí tuệ cả nước và toàn Đảng để

(a)tháo gỡ những khó khăn cấp bách nhất,

(b)thực hiện thắng lợi giai đọan đầu của cuộc cải cách chính trị;

(c)xây dựng được Hiến pháp mới và thiết lập được thể chế của nhà nước pháp quyền dân chủ.

2. Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa XI cũng phải cùng chịu trách nhiệm với Bộ Chính trị khóa XI về tình hình đất nước hiện nay, cần nhận lỗi trước toàn dân và toàn Đảng. Với tinh thần này, và đồng thời đáp ứng yêu cầu đem lại cho Đảng sức sống mới, toàn thể các đảng viên đã tham gia 2 khóa là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng sẽ thôi không tham gia vào danh sách bầu cử hay tự ứng cử vào BCHTƯ khóa XII nữa; và từ đây trở đi hình thành nguyên tắc không đảng viên nào được tham gia BCHTƯ quá 2 nhiệm kỳ, xóa bỏ hẳn cái “lệ” sống lâu lên lão làng. Từ đây tạo cơ hội thay đổi hoàn toàn việc tổ chức và xây dựng Đảng cho đúng với đòi hỏi phấn đấu trở thành đảng cầm quyền trong một thể chế chính trị dân chủ của nhà nước pháp quyền.

3. Bộ Chính trị khóa XI huy động trí tuệ cả nước và tận dụng kinh nghiệm các nước đi trước cũng như khai thác mọi thành quả của văn minh nhân loại, phát huy bằng được chủ quyền và quyền năng của nhân dân, dấy lên tinh thần đoàn kết – hòa giải dân tộc, cùng nhau xây dựng thành công Hiến pháp mới cho một nước Việt Nam là tổ quốc muôn vàn yêu quý và là quê hương độc lập – tự do – hạnh phúc của mọi người dân Việt Nam. Nước ta sẽ cùng dấn thân với cả loài người tiến bộ cho hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, tất cả cho con người và vì quyền con người.

Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ căn cứ vào Hiến pháp mới do dân định này, để xây dựng và tổ chức lại đảng mình, để có được khả năng, ảnh hưởng và vai trò lãnh đạo trong xã hội dân sự, để từ đó phấn đấu được nhân dân lựa chọn (qua bầu cử trung thực) làm đảng cầm quyền theo những đòi hỏi và quy định của nhà nước pháp quyền (đặc biệt là những quy định về tự do bầu cử, tự do ứng cử và về sự tuyển chọn công chức của nhà nước pháp quyền).

Hiến pháp mẫu 2013 kèm theo Kiến nghị 72  rất đáng được đưa ra thảo luận rộng rãi trong nhân dân; cần khuyến khích có thêm một vài hiến pháp mẫu như thế và trao đổi công khai mọi ý kiến đóng góp khác nhau cho vấn đề Hiến pháp để nhân dân dễ so sánh, đối chứng.., qua đó tối ưu hóa sự lựa chọn của nhân dân.

Xin lưu ý: Chủ quyền tối cao của quốc gia thuộc về nhân dân, kể cả ĐCSVN cũng phải phục tùng và tuân thủ; vai trò lãnh đạo của ĐCSVN phải được thể hiện ở chỗ tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện đầy đủ chủ quyền này. Đảng phải coi nội dung lãnh đạo như thế là nhiệm vụ tối cao và thiêng liêng nhất của mình trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

4. Đề nghị Quốc Hội, Bộ Chính trị và Chính phủ giao nhiệm vụ cho trên 700 báo chí của toàn bộ hệ thống chính trị tìm hiểu, nắm vững những kiến thức tiên tiến nhất của văn minh thế giới về hiến pháp, nhằm tổ chức học tập và quảng bá rộng rãi trong cả nước và trong toàn Đảng những kiến thức mới về xây dựng một chế độ chính trị dân chủ dựa trên kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự. Toàn bộ nguồn lực trí tuệ của cả nước cần được huy động cho việc nâng cao dân trí, nâng cao khả năng của nhân dân thực hiện chủ quyền của mình đối với đất nước và đối với chế độ chính trị, cổ vũ nhân dân tham gia xây dựng Hiến pháp mới, coi đây là nhiệm vụ đầu tiên đặt nền móng cho toàn bộ quá trình cải cách chính trị của đất nước.

Đồng thời Quốc hội, Bộ Chính trị và Chính phủ thả hết những người bất đồng chính kiến đang bị tù tội, chỉ thị cho các cấp và các địa phương phải tôn trọng mọi quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và sự công khai minh bạch phải được bảo đảm trong mọi lĩnh vực của đời sống đất nước.

Cải cách chính trị cần được xem là một quá trình thường trực, lâu dài, để luôn luôn đổi mới, và cần được tiến hành song song – vừa là cứu cánh, vừa là tiền đề – với sự nghiệp canh tân đất nước.

5. Đề nghị Quốc hội, Bộ Chính trị và Chính phủ huy động trí tuệ cả nước, đăc biệt là cố sao mời gọi được trí tuệ của các trí thức có tầm nhìn và tâm huyết với đất nước, hình thành một chiến lược tổng thể và thiết kế các bước đi của một cuộc cải cách chính trị triệt để, nhằm thay đổi đất nước toàn diện và sâu sắc, sao cho quá trình cải cách này diễn ra một cách hòa bình, hài hòa, kinh tế ổn định và có hướng phát triển mới, đồng thời tiếp tục nâng cao vị thế đối ngoại của đất nước. Rất đáng tham khảo kinh nghiệm của Myanmar cho cuộc cải cách chính trị này ở nước ta – đặc biệt là những kinh nghiệm về phát huy chất xám của trí thức, kinh nghiệm thiết kế trình tự và tiến độ rất hợp lý các bước đi, sự lồng ghép các bước đi… trong quá trình thực hiện dân chủ, để vừa giữ được ổn định, vừa từng bước tháo gỡ khó khăn và phát triển kinh tế, tiến hành được cải cách hệ thống nhà nước pháp quyền, đồng thời nâng cao vị thế quốc tế để gìn giữ an ninh quốc gia.

Trong cải cách, cũng như trong khắc phục những sai lầm trên mọi phương diện kinh tế và chính trị, cần chú trọng quan tâm đến khắc phuc những lỗi hệ thống và những yếu kém vỹ mô là chủ yếu; cố gắng thực hiện tối đa nguyên tắc khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố; đồng thời nỗ lực hết mức thực hiện hòa giải, cố tránh hết sức có thể việc hình sự hóa các vấn đề… Tất cả nhằm giảm xuống mức thấp nhất mọi tổn thất và đổ vỡ mới, phòng ngừa phát sinh những rạn nứt mới có thể xảy ra trong quá trình cải cách, đồng thời nhờ đó có thể tạo ra sự tin cậy nhau và đồng tâm hiệp lực hướng về phía trước, phát huy tối đa mọi khả năng và nguồn lực cho việc mau chóng chuyển đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới.

Hòa giải, khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố, tránh hết mức có thể việc hình sự hóa – đấy là cách mở lối thoát cho những vấn đề bế tắc hay có thể gây xung đột lớn trong quá trình cải cách, để vĩnh viễn khép lại quá khứ, để giảm xuống mức thấp nhất mọi tổn thất, để bảo tồn và chắt chiu mọi nguồn lực cho nhiệm vụ mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Riêng những vấn đề liên quan đến ruộng đất, cần được giải quyết trên cơ sở ưu tiên lợi ích của nông dân.  

Toàn bộ bộ máy nhà nước và các lực lượng vũ trang cần được giữ nguyên trong quá trình cải cách để bảo đảm sự vận hành liên tục và thông suốt mọi hoạt động của quốc gia, điều duy nhất phải thay đổi là toàn bộ bộ máy nhà nước và các lực lượng vũ trang từ nay chịu sự điều hành của Hiến pháp và các cơ quan hiến định. 

Xây phải được đặt ở vị trí quan trọng hơn chống như trình bầy trên trong cải cách chính trị chính là với ý nghĩa: thỏa hiệp chấp nhận sự (đã) trả giá cho thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản hoang dã vừa qua, để từ đây chấm dứt thời kỳ này, để hòa bình và sớm chuyển nhanh một cách hài hòa sang thể chế mới, thời kỳ phát triển mới[2].

Xin lưu ý: Chính quyền của tổng thống Myanmar Thein Sein trong vòng 20 tháng đã hoàn thành được cả 3 việc khó tương tự như ở nước ta là: (1)cải cách chính trị, (2)ổn định và phát triển kinh tế, (3)nâng cao vị thế quốc tế của quốc gia. Đáng chú ý là việc chuyển đổi chính quyền quân phiệt độc tài Myanmar sang thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ, không tốn một phát súng, không mất một nhân mạng. Nguyên nhân thành công chủ yếu là những người nắm quyền lực cao nhất của đất nước này đã thấy được sự cần thiết và đồng lòng nhất trí tiến hành cuộc cải cách có ý nghĩa sống còn này, huy động được chất xám trong lòng dân tộc theo tinh thần hòa giải cho sự thành công của cải cách. Đấy chính là một cuộc cải cách chính trị tử trên xuống và thành công ngoạn mục, mặc dù đấy mới chỉ là những bước đi đầu tiên trên con đường vạn dặm để tiến tới một Myanmar phát triển.

Nhân đây xin cảnh báo: “Đục nước béo cò”, “cướp cờ”, “nguy cơ xuất hiện Lê Chiêu Thống đời mới” (ví dụ nhân danh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN…) luôn luôn là những thủ đoạn các con buôn cơ hội đủ mọi chủng loại, dù là trong nước hay nước ngoài, thường xử dụng để kiếm lợi trên tổn thất và xương máu của đất nước ta vào lúc đất nước ta thực hiện bước ngoặt đi vào cải cách. Mong trí tuệ cả nước đừng bao giờ mất cảnh giác!

Tôi xin nhấn mạnh, việc sửa đổi/soạn thảo Hiến pháp mới nhất thiết phải được coi là bước mở đầu và là nền tảng cho toàn bộ quá trình tiến hành cải cách chính trị và cải cách ĐCSVN. Không cải cách chế độ chính trị và hệ thống nhà nước hiện hành, không cải cách và tổ chức lại ĐCSVN, Hiến pháp được sửa đổi hay Hiến pháp mới dù được viết hay như thế nào cũng sẽ là vô nghĩa, thậm chí sẽ chỉ càng gây thêm hiểm họa mới cho đất nước.

Kính thưa Quốc hội, Bộ Chính trị và Chính phủ,

Khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ và vượt lên nỗi sợ, quyết tâm dựa hẳn vào dân, lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay ngồi lại với nhau thì hoàn toàn có thể cùng nhau hội đủ mọi điều kiện trong tay thực hiện thắng lợi một cuộc cải cách chính trị từ trên xuống để đổi đời đất nước và đổi đời chính ĐCSVN trong hòa bình, mở đầu bằng xây dựng một Hiến pháp mới. Chắc chắn cả nước sẽ một lòng sắt đá với tinh thần Diên Hồng đứng đằng sau một quyết định hòa bình đổi đời như thế của lãnh đạo Đảng và Nhà nước! Như thế có gì mà sợ? Chỉ ở Việt Nam mới có tình huống này. Diễn tiến của lịch sử Việt Nam khách quan tạo ra như vậy. Càng để muộn, cơ hội này có nguy cơ lại vuột đi, như ba lần cơ hội lớn đã vuột đi trong gần bốn thập kỷ vừa qua[3].

Xin cứ ngẫm mà xem, trên cả thế giới này, chỉ một mình Việt Nam mới có những điều kiện đặc thù lịch sử dành cho ĐCSVN khả năng thực hiện một kịch bản hòa bình đổi đời như thế, nhất thiết lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay phải có tâm và đủ bản lĩnh nắm lấy! Đó cũng là kịch bản tối ưu duy nhất, đáng mong muốn nhất cho đất nước và kế thừa được truyền thống vinh quang trước đây của ĐCSVN, là trách nhiệm không thể thoái thác của ĐCSVN trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước. Ở các nước khác mà như ta hiện nay sẽ khó có chuyện này, chí ít thì cũng đã phải xảy ra vài ba cuộc “mùa xuân Ả Rập” rồi!.. Tuy nhiên cũng phải nhắc nhở: Sự chịu đựng của nhân dân ta đang ở mức báo động đỏ.

Nếu lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay bạc nhược bỏ lỡ kịch bản hòa bình đổi đời này, một kịch bản sụp đổ như ở Liên Xô vào lúc nào đó, sớm muộn sẽ xảy ra ở nước ta, do chế độ chính trị đang ngày càng mục nát bên trong và không đương đầu nổi những thách thức quyết liệt từ bên ngoài. Khác chăng so với Liên Xô hồi ấy là: Ở Việt Nam sẽ rất hỗn loạn và đẫm máu.

Trong cuộc chiến tranh 17-02-1979, Trung Quốc trong cùng một giờ đã cho khoảng nửa triệu quân ào ạt tấn công toàn bộ tuyến biên giới phía Bắc nước ta; sự việc này cho thấy: Một khi xảy ra sụp đổ chế độ chính trị như thế ở Việt Nam, không loại trừ xuất hiện tình huống vì bất kể lý do gì, quân đội Trung Quốc lúc nào đó sẽ can thiệp… Đất nước ta sẽ đi về đâu?.. Thế rồi sẽ làm sao tránh khỏi nguy cơ vấn đề Biển Đông là chuyện đã rồi như Hoàng Sa?!.. Vân vân và vân vân…

Sự nghiệp đất nước độc lập thống nhất phải hy sinh chiến đấu nhiều thế hệ mới giành được làm sao có thể bảo toàn nếu cứ kéo dài mãi tình trạng đất nước èo uột, lệ thuộc như hiện nay?! Lấy gì giữ vững sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia trong tình hình mới? Giữ đại cục mà nhiều yếu kém thế này liệu đất nước có được yên? Giữ đại cục đến mức nào thì là sự đầu hàng trá hình?..

Câu chuyện ngày càng rõ: Ngày nay giữ nước phải có toàn dân tộc và cả thế giới, chứ không phải là giữ Đảng như đang là đảng hiện nay! Ngày nay giữ nước, đất nước càng phải mau chóng trở thành một quốc gia phát triển!

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cần nghiêm túc nghĩ lại tất cả! Dứt khoát cần thông qua cải cách chính trị xốc toàn dân tộc đứng dậy phát triển đất nước bền vững, xây dựng Việt Nam là một thành trì bất khả xâm phạm, cùng với cả thế giới gìn giữ hòa bình.

Bí quyết thành công của Cách mạng Việt Nam là: Tinh thần yêu nước Việt Nam đã từng đủ bản lĩnh giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ làm nên Cách mạng Tháng Tám và hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, giành lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, tranh thủ được sự hậu thuẫn của cả thế giới cho sự nghiệp vẻ vang này, và đồng thời đã xác lập được cho quốc gia vị trí quan trọng trên trường quốc tế.

Trước những thách thức mới quyết liệt từ bên ngoài, trước những đòi hỏi phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, hơn bao giờ hết Việt Nam cần tiếp tục giương cao ngọn cờ dân tộc – dân chủ với trí tuệ mới,  để xây dựng được đất nước độc lập – tự do – hạnh phúc, để có thể dấn thân cùng đi với cả thế giới. Tinh thần này cần trở thành linh hồn cho một Hiến pháp mới của đất nước bây giờ và mãi mãi về sau.

Bốn cuộc chiến tranh trong vòng một đời người, và biết bao nhiêu thương đau đến hôm nay đất nước vẫn đang còn phải chịu đựng, như thế là quá nhiều rồi! Mà đến hôm nay đất nước vẫn chưa ra khỏi cái nghèo và lạc hậu, có nhiều mặt tiếp tục lạc lõng! Tôi không thể chấp nhận nhân dân ta, đất nước ta lúc nào đó lại một lần nữa sẽ phải trầm luân trong một cuộc bể dâu mới đẫm máu.

Vì vậy tôi cho rằng phải thông qua hòa giải dân tộc để thực hiện cải cách toàn diện, nhờ đó thực hiện sự nghiệp canh tân đổi đời đất nước đến nay vẫn bị bỏ lỡ. Tiến bộ của văn minh nhân loại, của khoa học kỹ thuật và công nghệ, toàn cầu hóa ở nấc thang hiện tại.., tất cả vừa tạo cơ hội, vừa thách thức nước ta phải lựa chọn con đường của phát triển, bắt đầu từ thực hiện tự do, dân chủ.

Đúng ra phải nói thật với nhau cải cách chính trị đã để muộn mất 37 năm rồi – ngay sau khi đất nước độc lập thống nhất, chí ít là muộn 23 năm nay rồi – ngay sau khi chiến tranh lạnh kết thúc và Việt Nam hoàn toàn có thể đứng trên hai chân của mình! Không thể để muộn hơn nữa!

Chính sự chậm trễ này là nguyên nhân gốc làm cho đất nước độc lập mà nhân dân vẫn chưa có tự do, lối ra cho cuộc khủng hoảng đất nước đang lâm vào chưa rõ, mục tiêu cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2020 trở thành ảo tưởng.

Chính sự chậm trễ này khiến cho đất nước đang lâm vào tình trạng bị động chiến lược đầy nguy hiểm: Chưa có một tầm nhìn, một lời giải nào thuyết phục cho những thách thức kinh tế và chính trị, đối nội và đối ngoại đất nước đang phải đối mặt trong bối cảnh siêu cường đang lên Trung Quốc trở thành vấn đề của cả thế giới mà Việt Nam ở vào vị trí địa lý tự nhiên, vị trí địa kinh tế và địa chính trị cực kỳ nhậy cảm.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước bây giờ đòi hỏi hơn bao giờ hết phải có toàn dân tộc và cả thế giới, sự chậm trễ này chưa giúp chúng ta trả lời làm như thế nào?!

Vì những lẽ trên, cải cách hệ thống chính trị của đất nước trở thành chuyện sống còn. Đòi hỏi xây dựng Hiến pháp mới đang cho đất nước một cơ hội.

Không có một thế lực nào bên trong hoặc bên ngoài có thể cấm nước ta đi vào một cuộc cải cách chính trị triệt để và toàn diện như thế, chỉ có sự tha hóa của hệ thống chính trị và tình trạng kìm hãm không dám thức tỉnh sự giác ngộ của nhân dân đang cản trở đất nước tiến hành nhiệm vụ này. Tự nhận về mình vai trò lãnh đạo, tại sao ĐCSVN không dám đứng lên tiền phong chiến đấu khắc phục hai trở lực này?

Tuy nhiên, mười bạn của tôi hôm nay, thì có đến chín người nói đòi hỏi ở ĐCSVN hiện nay, đòi hỏi chế độ chính trị này tự mình đổi đời bây giờ là điều không thể. Không ít bạn bè chí cốt và người thân trong nhà mắng tôi tư duy cải cách như thế là kẻ ngu trung, quở trách tôi sao không để cho ngôi nhà đã mục nát sụp đổ quách đi cho nhanh, kéo dài sự đau khổ của đất nước làm gì!?..  Vậy chỉ còn cách những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay hạ quyết tâm vượt qua điều không thể này.

Tôi nghĩ lãnh đạo Đảng và Nhà nước đang đứng trước cơ hội và có trách nhiệm ràng buộc khởi xướng cuộc cải cách chính trị hòa bình đổi đời đất nước và đổi đời chính bản thân ĐCSVN, bắt đầu từ xây dựng một Hiến pháp mới. Hoặc là để vuột mất cơ hội này và mắc tội đối với đất nước? Tôi không thay đổi được suy nghĩ của mình.

Kính thư,

Nguyễn Trung

10 (60A) ngõ 45 A phố Võng Thị, Phường Bưởi, Quận Tây Hồ, Hà Nội, Đt. 04 38363036


[1] Xin gọi tắt là Kiến nghị 72, ngày 04-02-2013 đã được trao chính thức cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

[2] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, tiểu thuyết “

http://viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm

[3] (1)Cơ hội thực hiện hòa giải và thống nhất dân tộc ngay sau 30-04-1975; (2)Cơ hội độc lập đi với cả thế giới sau khi LXĐÂ sụp đổ; (3)Cơ hội đẩy nhanh quá trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN và gia nhập WTO.

Nguồn: Ba Sàm

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Kẻ cắp gặp bà già: việc tuyên truyền và nói dối đủ thứ chuyện của đảng không còn hiệu quả nữa

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2013

Lợi dụng sự nhẹ dạ và cả tin của người Miền Bắc, Đảng tuyên truyền và nói dối đủ thứ chuyện, nhưng dân chúng miền Bắc vẫn tin như sấm. Nhờ thế, Đảng CSVN đã làm mưa, làm gió suốt 4 thập niên:  1950s, 1960s, 1970s, 1980s.

Nhưng gần đây,   trong suốt hơn 10 năm qua sự xuất hiện của internet ngày càng phổ biến ở VN đã là môi trường cho bất cứ ai muốn viết phản biện và theo dõi báo chí đã chấm dứt vai trò độc tôn trên mặt trận  tuyên truyền của đảng.

Điển hình gần đây nhất là: tuần trước, trên báo Quân Đội Nhân Dân có bài viết:

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp là hợp lý, hợp tình-  của Nhà văn, PGS, TS, Nguyễn Thanh Tú 
 
Lập tức, Trần Mạnh Hảo và Người Buôn Gió đã viết trả lời  bằng 2 bài dưới đây: 

Mười bảy năm trước, PGS. TS. Nhà văn Nguyễn Thanh Tú đã ăn cắp luận văn tiến sĩ

Trần Mạnh Hảo
Viết văn, làm thơ, viết phê bình văn học, viết báo

Tác giả gửi đến Dân Luận

PGS. TS. Nhà văn Nguyễn Thanh Tú
nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội

Một con người có án ăn cắp luận án tiến sĩ như Nguyễn Thanh Tú lại nhảy ra bênh đảng, bảo hoàng hơn vua, thì người được bênh cũng chẳng vinh dự gì…

 

***

 

Trên blog TỄU của tiến sĩ Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện, chúng tôi vừa đọc bài báo rất thiếu tính khoa học, rất hàm hồ, rất ngụy biện có tên: “Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp là hợp lý, hợp tình” của PGS. TS. Nhà văn Nguyễn Thanh Tú, nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.

Nay chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) xin gửi tới quý báo bài viết dưới đây, đã in trên báo và in trên mạng Internet từ năm 2004 vạch trần trò láu cá của thầy trò GS.TS. Trần Đình Sử và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú, trong một vụ án đạo văn mờ ám tạo thành “luận án tiến sĩ” của Nguyễn Thanh Tú để bạn đọc rộng đường dư luận.

Một con người có án ăn cắp luận án tiến sĩ như Nguyễn Thanh Tú lại nhảy ra bênh đảng, bảo hoàng hơn vua, thì người được bênh cũng chẳng vinh dự gì… Bài viết của chúng tôi trả lời ông Nguyễn Thanh Tú có tên: “Khi hai thầy trò là đồng tác giả luận án tiến sĩ ngữ văn” dưới đây:

Khi hai thầy trò là đồng tác giả Luận án Tiến sĩ Ngữ văn

Báo Gia Đình & Xã Hội số 153 (463) ra ngày 23/12/2003 có in bài: “Về tác giả chuyên luận ‘Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan’ của TS. Nguyễn Thanh Tú”, nhằm đáp lại bài “Ai là tác giả thật của ‘Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan?” của chúng tôi (tức Trần Mạnh Hảo) cũng in trên tờ báo đã dẫn số 143 ngày 29/11/2003.

Đoạn cuối cùng bài báo của mình, TS. Nguyễn Thanh Tú viết: “Bài viết của anh Hảo chứng tỏ anh chẳng những không biết mối quan hệ đặc biệt của người hướng dẫn khoa học và nghiên cứu sinh mà còn tùy tiện xuyên tạc.”

Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi với ông Nguyễn Thanh Tú 2 vấn đề:

1. Về mối quan hệ đặc biệt giữa người hướng dẫn khoa học, GS TS. Trần Đình Sử và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú ra sao?

2. Trần Mạnh Hảo hay Nguyễn Thanh Tú, ai là người “tùy tiện xuyên tạc”?

Trước khi vào vấn đề chính, chúng tôi cần tóm tắt vài nét về bài báo “Ai là tác giả thật của thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan?” in trên tờ báo đã dẫn.

Số là, năm 1996, ông Nguyễn Thanh Tú có hoàn thành luận án tiến sĩ nhan đề: “Từ quan niệm nghệ thuật đến nghệ thuật ngôn từ trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan” dày 179 trang khổ A4. Trên trang đầu tiên của luận án có lời cam đoan và chữ ký của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú, viết như đinh đóng cột như sau: “LỜI CAM ĐOAN: Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.”

Thế mà chỉ 5 năm sau, người ta thấy luận án trên của TS. Nguyễn Thanh Tú được xuất bản với một tên khác: “Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan” mang tên 2 đồng tác giả: GSTS. Trần Đình Sử và TS. Nguyễn Thanh Tú (NXB Đại học QG Hà Nội 2001). Trong bài báo đã dẫn, chúng tôi nêu ra nghi vấn: thế thì ai là tác giả thật của luận án tiến sĩ trên, ông Sử hay ông Tú, và nếu một luận án tiến sĩ do hai thầy trò đồng tác giả như thế liệu có hợp pháp chăng?

1- Về mối quan hệ đặc biệt giữa người hướng dẫn khoa học – PGS.TS Trần Đình Sử – và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú.

GS.TS. Trần Đình Sử

Như chúng tôi vừa nêu, trên trang đầu luận án tiến sĩ của mình, nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú đã cam đoan, thề rằng: “ĐÂY LÀ CÔNG TRÌNH CỦA RIÊNG TÔI!”. Thế mà sau 5 năm, khi từ luận án tiến sĩ chuyển thành cuốn sách chung mang tên Trần Đình Sử – Nguyễn Thanh Tú, ông Trần Đình Sử đã khui ra sự thật này, phủ nhận hoàn toàn lời thề của ông Tú khi bảo vệ luận án TS: “Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan là chuyên luận đã được ấp ủ từ đầu những năm tám mươi khi tôi bắt đầu viết thi pháp thơ Tố Hữu. Những ý tưởng được tích lũy dần cho đến khi gặp Nguyễn Thanh Tú, một người ham học hỏi, làm việc đầy sáng tạo, năng nổ, góp phần quyết định cho việc hoàn thành bản thảo. Đây là công trình chung, kết quả làm việc phối hợp chặt chẽ của tôi và tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú.”

GSTS. Trần Đình Sử khẳng định rằng không chỉ khi cuốn sách:“Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan” của hai đồng tác giả trên ra đời, mà ngay cả luận án tiến sĩ: “Từ quan niệm nghệ thuật đến nghệ thuật ngôn từ trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan” đã là cuộc kết hợp giữa hai thầy trò Trần Đình Sử – Nguyễn Thanh Tú. Thế thì việc ông Tú cam đoan trên trang đầu của luận án tiến sĩ do ông bảo vệ đầu năm 1997 rằng đây “LÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA RIÊNG TÔI” hoàn toàn là một sự thiếu trung thực. Vì nếu ông Tú viết trên trang đầu của luận án TS trên rằng: “Tôi xin cam đoan đây là công trình của hai thầy trò chúng tôi là PGSTS. Trần Đình Sử – Nguyễn Thanh Tú” đúng như lời ông Sử sau này khai ra, thì ông Tú đến 100 năm nữa cũng không lấy được học vị tiến sĩ. Trong bài trả lời chúng tôi như đã dẫn, ông Tú cũng phải thừa nhận rằng cái luận án tiến sĩ mà ông nói dối rằng của riêng ông, thực ra là của chung 2 thầy trò như ông Sử đã tuyên bố; ông Tú thừa nhận: “Xét ở phương diện ý tưởng khoa học và phương pháp nghiên cứu, người hướng dẫn hoàn toàn có thể là đồng tác giả của một luận án khoa học do nghiên cứu sinh thực hiện”. Cũng trong bài trên, ông Tú tiếp tục khai ra sự thật mà thầy mình đã đưa ra ánh sáng trước đó, rằng: “Ý tưởng khoa học về đề tài luận án của tôi được GS. Trần Đình Sử ấp ủ từ khi ông viết Thi pháp thơ Tố Hữu”. Hóa ra ông Sử đã thai nghén chuyên luận này từ đầu những năm 80, nghĩa là trước khi ông Tú bảo vệ “thành công” cái luận án do hai thầy trò là đồng tác giả ít nhất là 15 năm. Suốt 15 năm ấy “những ý tưởng được tích lũy dần cho đến khi gặp Nguyễn Thanh Tú” như lời ông Sử, mới thành luận án tiến sĩ chung, thành sách chung của hai thầy trò! Nghĩa là trước khi ông Tú bảo vệ luận án TS về nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, ông Sử đã bỏ ra 15 năm suy nghĩ, ấp ủ, nghiền ngẫm, thai nghén cái chuyên luận này mà khi đứng trước Hội đồng khoa học, ông Tú đã thề rằng nó là của riêng mình! Đây là điều đáng trách nhất của cả ông Sử và ông Tú! Hóa ra các ông cùng rắp tâm lừa Hội đồng khoa học, lừa Bộ GD&ĐT ư? Phải chăng đây chính là mối quan hệ đặc biệt giữa người hướng dẫn khoa học PGS.TS Trần Đình Sử và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú? Trong bài báo trả lời chúng tôi, ông Nguyễn Thanh Tú đã lờ đi hai điều then chốt nhất của vấn đề là lời thề của ông trước khi bảo vệ luận án TS và lời thú nhận của ông Trần Đình Sử rằng đây là công trình chung của 2 thầy trò khi nó còn trong trứng nước, tức là khi nó chưa thành bản luận án TS mang tên ông Tú!

Như vậy, luận án tiến sĩ của riêng Nguyễn Thanh Tú (thực chất là đồng tác giả của hai thầy trò) kia, liệu có phạm quy, có danh chính ngôn thuận, có đúng luật pháp hay không thì xin thanh tra Bộ GD&ĐT, Hội đồng khoa học khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư Phạm và Bộ GD&ĐT hãy trả lời trước công luận.

2- Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Thanh Tú, ai là người “tùy tiện xuyên tạc”?

Khi cả hai thầy trò Trần Đình Sử và Nguyễn Thanh Tú cùng ra trước công luận thú nhận một sự thật đau lòng rằng: cái luận án ông Tú thề rằng của riêng mình kia thực ra do hai thầy trò là đồng tác giả, thì vấn đề khi đem in nó thành sách, các ông có bổ sung 2% hay 20% hoặc 80% cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Bằng lời nói đầu cuốn sách của ông Sử, bằng bài báo trả lời chúng tôi của ông Tú, chính ông Tú là người đã “tùy tiện xuyên tạc” sự thật của chính các ông bằng một lời thề thiếu trung thực trước Hội đồng khoa học Trường ĐHSP Hà Nội năm đầu năm 1997 đó sao?

Nguyễn Thanh Tú lên án chúng tôi: “…Anh đã xuyên tạc trắng trợn sự khác nhau giữa luận án và sách. 82.000 chữ trừ đi 65.000 chữ là 17.000 chữ, là trên 20% chứ không hề là 2% như anh Hảo nói để rồi quy kết tôi là “không trung thực” khi làm luận án và suy diễn vu vơ rằng GS. Trần Đình Sử “viết giùm cho học trò” (!).

Thưa ông Nguyễn Thanh Tú, chính ông đã xuyên tạc ý GS.Trần Đình Sử trong lời nói đầu nơi cuốn sách đồng tác giả với ông rằng: “Đây là công trình chung…” của 2 thầy trò đó ư? Ý GS Sử nói trong văn mạch, trong văn cảnh đã dẫn rằng: công trình chung của 2 thầy trò này là chung từ thuở còn chưa có hình hài, nghĩa là từ thuở chưa có bản luận án mang tên ông Tú, chứ không chỉ là công trình chung của riêng cuốn sách. Cũng như ông Tú đã thừa nhận trong bài trả lời chúng tôi rằng: (xin lược dẫn điều đã dẫn trên): “Người hướng dẫn hoàn toàn có thể là đồng tác giả của một luận án khoa học do nghiên cứu sinh thực hiện!”.

Vì sao hai ông Tú và Sử lại đem một luận án TS mang tên X ra in rồi biến nó thành thành cuốn sách khác với cái tên gọi khác là Z như thế? Việc làm này là trung thực ư, khoa học ư? Chưa hết, ông Tú còn tung hỏa mù rằng các ông đã gia công thêm 20% từ luận án sang sách, rồi khi thì thề là của riêng tôi, khi thì cùng ra công luận thú nhận là đồng tác giả? Ông Tú ngồi đếm chữ rằng sách dôi ra so với luận án những 17.000 chữ, nghĩa là sách thêm 20% so với luận án! Cứ cho là cuốn sách chỉ mang tới 80% luận án đi nữa thì cũng không thể tùy tiện đổi tên luận án từ X sang tên gọi Z của sách được? Bản chất của cuốn sách vẫn là luận án vì nó chiếm tới 8 phần 10 cơ mà! Số trang ở sách dôi ra so với luận án là do sách chú thích dưới từng trang, còn phần luận án chú thích được dồn vào cuối. Trang 156 của sách, các ông có đưa vào thêm 13, 5 trang gọi là phần “Nguyên tắc ‘lột mặt nạ”và “nguyên tắc dùng cái tục” mà ông Tú khoe khoang một cách khôi hài rằng chỉ 2 tiểu mục này cũng “Tương đương với 2 công trình khoa học” (!).

Cứ theo đà tự phong ngút trời mây này, cuốn sách của thầy trò ông Tú có thể còn cỡ vài ba trăm công trình khoa học nữa cũng không biết chừng! Chúng tôi xin lấy vài ví dụ về sự “lên đời” từ luận án hóa thành sách ra sao? Ví dụ như trang 16 của sách so với luận án là dôi ra hơn nửa trang vì thêm ý kiến của Nguyễn Đức Đàn. Trang 22, 23 sách cũng trích thêm ý kiến của Nguyễn Đức Đàn dôi ra nửa trang (sách in sai là Nguyễn Đức Đà, chú thích cuối trang sai là Nguyễn Đức Đàm!). Trang 29 sách chỉ thêm đề mục (II) tương đương với luận án trang 16. Trang 30 của sách so với trang 17 luận án thêm 2 chữ “Sau này”. Cũng trang 30 đổi chữ “luận án” trang 17 thành “chuyên luận” trong sách. Trang 31 sách thêm 8 dòng so với trang 18 luận án, cốt để tâng bốc “Thi pháp”. Ví dụ khác như trang 111 luận án dòng cuối cùng viết “thế kỷ này” thì ở sách trang 133, dòng cuối cùng sửa thành “Thế kỷ XX”. Mặc dù bìa sách và bìa phụ đề tên 2 vị là đồng tác giả, nhưng chỉ ở chương đầu đã ba lần lặp lại dòng chữ “Tôi nhấn mạnh – N.T.T” thay vì chính ra phải chua rằng“Chúng tôi nhấn mạnh: T.Đ.S. và N.T.T.”!

Khi vấn đề chính đã được giải quyết, dù ông Tú có cố chứng minh từ luận án đến sách rằng hai ông đã gia công 20% hoặc 80% cũng không làm ảnh hưởng đến cái sai rất lớn là cả hai thầy trò ông đã lừa Bộ GD&ĐT đầu năm 1997 trong cuộc bảo vệ luận án TS ở Trường ĐHSP Hà Nội, nhằm cốt để lấy tấm bằng TS cho riêng ông Tú; vì ông Sử lúc đó đã là PGS.TS, còn cần gì lấy thêm một nửa bằng Tiến sĩ nữa từ luận án đồng tác giả kia?

Trần Mạnh Hảo (19-2-2004)

———

Tổ tiên nhà văn ấy trước kia ở đâu?

Người Buôn Gió

PGS. TS. Nhà văn Nguyễn Thanh Tú
nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội: “Việc đòi bỏ điều 4 Hiến pháp vừa phi lý, vừa chẳng hợp tình…Thậm chí có thể nói đó là việc làm nguy hiểm bởi nó đe dọa sự tồn vong của cả dân tộc này”

Mấy hôm rồi Tết bận bịu, có đọc được bài viết của nhà văn, phó giáo sư, tiến sĩ, sĩ quan quân đội hàm trung gì đó nói rằng – bỏ điều 4 là nguy hiểm đe doạ tồn vong của dân tộc.

Vậy điều 4 là điều gì mà quan trọng đến tồn vong của dân tộc thế. Nó liên quan đến mức độ nào?

Điều 4 này là điều 4 trong hiến pháp, nó liên quan nhiều đến sự cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì nhắc đến vai trò của Đảng này. Điều 4 ghi là ĐCSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước.

Điều 4 này có trong hiến pháp từ năm 1992 đến nay được hơn 20 năm, tính từ năm 1945 khi nắm quyền đến nay thì ĐCSVN lãnh đạo đất nước gần 70 năm.

Nhà văn trung tá quân đội, PGS, TS kia bằng lập luận theo ông ta gọi là có lý, có tình. Lý là ĐCS cướp được chính quyền từ chính quyền bù nhìn thân Pháp thì đương nhiên là phải được lãnh đạo đất nước. Tình của ông nêu ra là bấy lâu nay ĐCS của ông hy sinh bao xương máu, cho nên phải được đền đáp bằng việc nắm quyền ghi trong hiến pháp là điều tất nhiên.

Lập luận này thật phi lý và thật phản động.

Phản động ở chỗ, nói theo kiểu ấy thì đầy tính chợ búa, dạng như ai cướp được thì người ấy có quyền dùng. Chẳng cần là chính nghĩa chính ngheo gì cả. Mai này lỡ có thế lực xấu xa nào đó cướp được chính quyền tốt đẹp của ĐCS VN quang vinh, thì thế lực ấy nghiễm nhiên lại có quyền lãnh đạo đất nước Việt Nam này, dù chúng xấu xa đủ tội như tham nhũng, độc tài, áp bức và bóc lột nhân dân, can tâm lại tay sai cho ngoại bang dâng đất đai, biển đảo. Như thế chúng cũng tự cho mình là chính nghĩa hơn ĐCSVN đầy chính nghĩa thực.

Rồi chưa kể trong khi cướp chính quyền do ĐCSVN quang vinh lãnh đạo, chúng bị an ninh ĐCS bắt bỏ tù, bị quân đội trung thành với ĐCS càn quét trấn áp khiến chúng thiệt hại vô số. Sau này chúng lại kể lể lý tình đau thương, mất mát như kiểu nhà văn này, thì nhân dân ta sẽ không thể biết được ĐCS VN ta trước kia quang minh, chính nghĩa nhường nào. Vì khi ấy chúng sẽ độc quyền tuyên truyền, dùng lương hưu làm mồi nhử cho những tên bồi bút phải vì miếng cơm, manh áo cúi đầu phục vụ cho chúng lừa mị nhân dân. Chúng xoá sạch những điều tốt đẹp của ĐCSVN vinh quang và thay thế bằng những điều vu không, bịp bợm. Thế thì chả công bằng cho ĐCSVN tí nào.

Lẽ ra nhà văn trung tá ấy phải nghĩ một cách lập luận nào cho nhân văn và bất biến hơn là một lập luận lý tình kiểu giang hồ đạo tặc ấy. Kiểu như ĐCS Việt Nam là hun đúc của dân tộc, là tinh hoa của đất nước. Nếu không để tinh hoa lãnh đạo thì rõ ràng dân tộc ấy suy vong. Như thế cũng còn có chút lý hơn và đúng đắn với quy luật sinh tồn hơn, vì dân tộc nào cũng cần phải có lớp người tinh hoa nhất lãnh đạo. Tức là để cho nhân dân tự đánh giá về vai trò lãnh đạo của gia cấp, triều đại nào và lựa chọn, như thế mới nhân văn và trường tồn bất biến được.

Đáng tiếc là nhà văn quân đội lại kết luận đầy sơ hở ngay rằng – bỏ điều 4 là đe doạ sự tồn vong của dân tộc.

Vậy trước khi có điều 4 quy định ĐCSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo, thì dân tộc Việt Nam này tồn tại đến ngày nay bởi điều gì. Mấy nghìn năm qua dựng nước, giữ nước qua bao nhiêu triều đại lãnh đạo, cầm quyền dân tộc Việt Nam này tồn hay vong?

Không hiểu sao ông nhà văn này suy luận ngây thơ thế. Tổ tiên của nhân dân Việt Nam vẫn tồn tại từ xưa đến nay. Được mấy nghìn năm rồi lịch sử rành rành ra đó, bỗng hôm nay xuất hiện ông, phán câu xanh rờn là vậy. Hay là tổ tiên ông trước kia không ở trên mảnh đất Việt Nam này, không sống cùng dân tộc này. Mà mới cách đấy 20 năm, khi có điều 4 hiến pháp, gia đình ông mới từ đâu sang đây sinh sống. Cho nên ông chỉ biết đến quãng thời gian đó mà thôi?

Nếu vậy xin ông gác bỏ mấy cái bằng PGS, TS để nghe thằng học chưa hết cấp 3 này nói:

– Dân tộc này khi chưa có điều 4 như hiện nay, đã tồn tại mèng nhất cũng 2 ngàn năm. Chả cần bằng cấp gì, chỉ cần thoát nạn mù chữ là biết được điều đó.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp là hợp lý, hợp tình

Nhà văn, PGS, TS, Nguyễn Thanh Tú

1. Đảng kế tục lịch sử và làm nên lịch sử

QĐND – Với tất cả tinh thần khiêm tốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh – người khai sinh và lãnh đạo Đảng ta khẳng định: “Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao”. Chứng minh sự vĩ đại ấy không phải là mục đích của bài viết, vả lại đã có rất nhiều người làm rõ một sự thật hiển nhiên này. Với sự hiểu biết của mình về lịch sử chúng tôi chỉ xin nói: Đảng kế tục lịch sử và làm nên lịch sử.

Có những người “phán xét” lịch sử, hồ đồ tuyên bố: Cách mạng Tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là “một sai lầm lịch sử”. Lẽ ra cuộc cách mạng năm 1945 và sau này nên đi theo con đường thỏa hiệp “hòa bình” để tránh đổ máu!!!… Đó là những lời nói không hiểu lịch sử. Không hiểu (hay cố tình không hiểu) lịch sử hiện đại, đã đành và cố nhiên càng không hiểu quá khứ vẻ vang của cha ông. Về lịch sử hiện đại, họ đã làm ngơ trước những sự thật ai cũng biết. Chỉ cần đưa ra một vài số liệu: Trước năm 1945, 95% dân số nước ta mù chữ, trong khi đó, thực dân Pháp “khai hóa” đất nước này bằng rượu cồn và thuốc phiện. Con số đã nói lên bản chất của vấn đề: “…hằng năm người ta cũng đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rượu cho 12 triệu người bản xứ, kể cả đàn bà và trẻ con” (1); “…người An Nam lại đã có những 10 trường học, những 1.500 đại lý rượu và thuốc phiện cho 1000 làng…” (2). Còn đây là “dân chủ” thực dân: Một “hội đồng quản hạt” được lập ra để “bảo vệ” những cái “có lợi” cho người An Nam có những 18 người Pháp, và chỉ có… 6 người An Nam! (3). Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc với thủ pháp “gậy ông đập lưng ông” đã mượn lời của Vin-hê Đốc-tông, một nhà văn Pháp để lột trần bản chất bóc lột của người Pháp, đúng là bóc lột đến tận xương tủy người dân An Nam khốn khổ: “Sau khi cướp hết những ruộng đất màu mỡ, bọn cá mập Pháp đánh vào những ruộng đất cằn cỗi những thứ thuế vô lý gấp trăm lần thuế đất thời phong kiến”(4). Đỉnh cao của tội ác, tức sự thật thứ hai: Năm 1945 thực dân Pháp và phát-xít Nhật đã làm hai triệu dân ta chết đói, tức là chúng đã phạm tội diệt chủng, giết chết gần 1/10 dân số một đất nước. Có thể nói trong lịch sử hàng nghìn năm chưa bao giờ đất nước vẻ vang “con Rồng cháu Tiên” lại rơi vào thảm cảnh khốn cùng như thế. Để cứu một dân tộc đang bị tàn lụi vì bị đầu độc, đang bị chết đói bởi sự dã man thú vật của kẻ thù, lại có một con đường “thỏa hiệp” với chính kẻ đang hút máu nhân dân mình ư? Và kẻ thù xâm lược ấy chỉ có một mục đích là hút máu nhân dân mình, thì thử hỏi “thỏa hiệp” với ai và bằng cách nào? Đúng là một lối nghĩ ảo tưởng, mơ hồ!

Những người cộng sản lãnh đạo dân tộc ta làm nên kỳ tích lịch sử năm 1945 không hề thỏa hiệp với kẻ thù nhưng rất biết nhân nhượng với kẻ thù vì mục đích hòa bình. Hãy đọc lại Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19-12-1946: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!” (5).

Đấy chỉ là một vài lời nhắc về những chuyện mà dân tộc ta không thể quên trong thế kỷ XX.

Còn quá khứ. Cũng chẳng cần nói lại lịch sử đánh giặc giữ nước của cha ông ta, mà chỉ đưa ra những số liệu đã được thừa nhận, những vấn đề đã được chứng minh:

Tính cách người Việt luôn hướng tới cái trong sáng, cái cao cả, chết trong còn hơn sống đục. Dù có đang sống nơi giàu sang nhưng vẫn hướng về quê nhà, không đâu bằng quê nhà, có thể là nghèo nhưng trong sáng êm đềm: Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Con cò trong ca dao là biểu trưng cho người nông dân Việt dù chẳng may chịu cảnh sa cơ lỡ bước, dù có chịu chết nhưng vẫn hướng tới sự trong sạch: …Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Tính cách này đã tạo ra một đặc điểm tôn thờ, ngưỡng vọng cái cao cả, cái anh hùng trong tâm lý dân tộc Việt.

Sinh sống ở mảnh đất có nhiều kẻ thù, cả “hai chân, bốn chân và không chân” nên người Việt rất sùng bái những anh hùng đánh giặc giữ yên bờ cõi. Theo thống kê của GS Ngô Đức Thịnh thì riêng tỉnh Bắc Ninh, trong số 600 vị Thành hoàng thì có 469 là nhân thần, trong đó đa số là các nhân vật lịch sử hay nhân vật huyền thoại nhưng đã được lịch sử hóa. Ở Hà Tây (cũ) trong số 185 vị Thành hoàng là nhân thần thì có khoảng 2/3 là nhân vật lịch sử. Tỉnh Nam Hà (cũ) Trần Hưng Đạo được thờ ở 400 làng xã (6). Trong các vị “tứ bất tử” thì có hai vị là anh hùng, Phù Đổng Thiên Vương và Tản Viên Sơn Thánh. Đấy là cách người Việt ghi công các anh hùng, như Thánh Gióng đuổi giặc hai chân là kẻ thù xâm lược, như Sơn Tinh đuổi giặc bốn chân là thú dữ và không chân là thiên tai. Thậm chí sự ngưỡng vọng của người Việt còn nâng đến mức tuyệt đối là cho thần tượng bay lên trời sống cùng các vị Tiên và dĩ nhiên là phong thánh bất tử cho họ. Cho nên cũng dễ hiểu Đền thờ Đức Thánh Trần có ở rất nhiều nơi trên đất nước ta. Có thể nói phẩm chất anh hùng quyết không bao giờ chịu nô lệ cho kẻ ngoại bang có ở trong máu của mỗi người Việt, nhất là mỗi khi có kẻ thù xâm lăng thì phẩm chất ấy càng trỗi dậy mạnh mẽ.

Trí tuệ của Đảng ta là đưa cách mạng Việt Nam vào đúng cái mạch của lịch sử. Có thể nói, cách mạng tháng Tám vĩ đại, sự thắng lợi mang tầm thời đại là đuổi hai đế quốc xâm lược Pháp và Mỹ, không chỉ có sức mạnh của dân tộc thế kỷ XX mà còn là sức mạnh của lịch sử, sự kế thừa và tiếp bước lịch sử.

2. Bài học “Quốc trị, thiên hạ mới bình”

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ tư Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, phóng viên báo Praxa Thipatay (Thái Lan) phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề hòa bình trong khu vực. Người nói: “Việt Nam phải kháng chiến tranh lại thống nhất và độc lập thật sự đã, sau mới có thể bàn đến việc khác. Đức Khổng Tử có dạy rằng: “Quốc trị, thiên hạ mới bình”(7).

Mỗi quốc gia hãy thật yên ổn đã, thì tự nhiên thế giới sẽ hòa bình. Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay bài học này càng đậm tính thời sự. Bản chất xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động là không bao giờ thay đổi. Muốn vậy chúng sẽ tìm mọi cách gây mất ổn định chính trị để từ đó tạo cớ can thiệp hoặc làm suy yếu để dễ bề xâm lấn, tiến đến thôn tính. Do vậy đối với tình hình cách mạng nước ta hiện nay mục tiêu cơ bản, bao trùm là giữ vững ổn định chính trị để phát triển đất nước.

Chỉ có Đảng ta chứ không thể có bất kỳ một lực lượng chính trị nào khác gánh vác thay, làm thay sứ mệnh cực kỳ hệ trọng này. Và cũng không thể có bất kỳ một lực lượng chính trị nào khác có đủ uy tín, đủ năng lực, đủ vai trò để làm công việc lớn lao đó.

Một Đảng từ hai bàn tay trắng đã lãnh đạo toàn dân tộc làm cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân; một Đảng đã lãnh đạo toàn dân đuổi các đế quốc xâm lược lớn nhất thế giới; một Đảng đã lãnh đạo công cuộc đổi mới tạo ra những thắng lợi thành tựu ấn tượng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, xã hội… thì Đảng đó đủ tín nhiệm, đủ trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin… để lãnh đạo toàn dân ta tiếp tục tiến bước theo con đường đã chọn đưa dân tộc lên đài vinh quang, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc.

Lịch sử thế giới đương đại cho chúng ta một bài học: Thể chế chính trị nào không được dân tin, không được dân ủng hộ lại bị thế lực nước ngoài can thiệp, o bế, nuôi dưỡng, giúp đỡ lực lượng phản động bên trong thì thể chế chính trị ấy sớm muộn sẽ bị diệt vong. Với vai trò là một Đảng cầm quyền, Đảng ta đang đứng trước những thử thách lớn: Một là, tăng cường hơn nữa niềm tin của dân vào Đảng. Muốn thế, không còn cách nào khác Đảng phải tự làm trong sạch mình, tự mình trau dồi bản lĩnh, trí tuệ của mình bằng cách tăng cường mối liên hệ mật thiết với dân, xứng đáng hơn nữa “là người đầy tớ thật trung thành” của nhân dân. Hai là, mở rộng đối ngoại đa phương với phương châm Việt Nam là bạn với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lợi ích, tôn trọng độc lập tự chủ của các bên. Ba là, không được một phút lơ là mất cảnh giác mà phải luôn mài sắc tinh thần chủ động chống lại sự can thiệp từ bên ngoài và trấn áp các phần tử đi ngược lại lợi ích dân tộc.

3. Đảng lãnh đạo thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Một Đảng đã đưa dân tộc này theo đúng quỹ đạo của lịch sử thì sẽ được lịch sử ủng hộ. Không một thế lực nào, một đảng phái nào làm thay được vai trò lịch sử của Đảng ta.

Có những kẻ cơ hội dựa vào một số sai lầm của Đảng ta để kêu gọi sửa đổi Điều 4 Hiến pháp đòi thay đổi vị trí lãnh đạo cách mạng của Đảng. Phải thấy một chân lý giản đơn rằng, con người ta ai cũng có sai lầm, có làm việc là có sai lầm, có cái sai mới dẫn đến có cái đúng. Với quan niệm rộng lượng mà triết lý, cụ thể mà phổ quát, người Việt ta có câu “ngọc còn có vết” là vì thế. Huống hồ Đảng ta lãnh đạo toàn dân ta làm cách mạng đổi thay cả một thời đại, công việc cực kỳ phức tạp như thế, biết bao khó khăn gian nan chồng chất, thù trong giặc ngoài hiểm nguy như vậy, lại chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, thì tránh sao được sai lầm. Nhưng Đảng ta đã nhanh chóng nhận ra và sửa chữa để rồi qua 27 năm đổi mới đưa nước ta có những bước tiến vượt bậc. Và dĩ nhiên, chúng ta không phủ nhận một thực tế là vẫn có nhiều, còn nhiều “những con sâu” ở ngay trong hàng ngũ Đảng. Nhưng ai là những người “bắt sâu”? Đảng ta, dân ta, tất cả chúng ta cùng chung tay “bắt”, đừng đứng ngoài mà kêu làm rối công việc chung.

Việc đòi bỏ điều 4 Hiến pháp vừa phi lý, vừa chẳng hợp tình. Phi lý ở chỗ với vai trò lịch sử của mình không một ai có thể làm thay Đảng ta công cuộc đưa đất nước phát triển, lớn mạnh; chẳng hợp tình ở chỗ cố tình quên lịch sử, cố tình quên những hy sinh xương máu của Đảng ta, dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cố tình quên công lao, đóng góp, vai trò lãnh đạo tiên phong của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đã và đang thắng lợi toàn diện. Thậm chí có thể nói đó là việc làm nguy hiểm bởi nó đe dọa sự tồn vong của cả dân tộc này.

Khép lại bài viết này tôi xin mượn một câu Kiều: “Dẫu rằng vật đổi sao dời/ Tử sinh phải giữ lấy lời tử sinh” Thiên tài Nguyễn Du đã nhắc nhở: Đứng giữa giông gió của cuộc đời, hơn lúc nào hết phải kiên định một bản lĩnh, một lập trường, một niềm tin. Đó là bản lĩnh cộng sản, là lập trường của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và một niềm tin vào Đảng ta vĩ đại!

Nhà văn, PGS, TS, NGUYỄN THANH TÚ

(1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2. Nxb Chính trị Quốc gia, 2002, các trang: 36, 38, 46, 74.

(5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị Quốc gia, 2002, tr 480.

(6) Nhiều tác giả – Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận – Nxb Giáo dục, 2007, tr 169.

(7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5. Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, tr 676.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Góp ý và ký Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 có vô ích không?

Posted by hoangtran204 trên 17/02/2013

Nguyễn Thị Từ Huy

Theo Bauxite Việt Nam

Hai ngày sau khi gửi cho Quốc hội văn bản «Góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992» (đã được công bố trên trang Bauxite), tôi đã ký Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 do 72 trí thức Việt Nam khởi xướng,

Trong văn bản góp ý của mình, tôi phân tích một số điểm để chứng minh rằng Quốc hội và Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đang trên đường đi tới việc hợp hiến hóa một văn bản không phải là Hiến pháp đúng nghĩa, một văn bản, thay vì thực hiện mục đích bảo vệ quyền con người thì lại trở thành một công cụ hỗ trợ cho những người nắm giữ quyền lực vi phạm quyền con người. Do đó bản Dự Thảo của Quốc hội tạo cơ sở để đẩy cả cộng đồng vào tình trạng không có Hiến pháp, đẩy cả xã hội vào tình trạng hỗn loạn, bất công, vô nhân đạo, đẩy an ninh quốc gia vào tình trạng nguy hiểm…

Các phân tích của tôi dựa trên các căn cứ xác thực, đã được gửi đến Văn phòng Quốc hội, theo yêu cầu, đề nghị của Quốc hội.

Cũng như bao người khác, tôi phải đối diện với một thực tế mà không ai phủ nhận được, kể cả Quốc hội và Nhà nước, đó là: ở Việt Nam, các kiến nghị, các ý kiến của người dân xưa nay hầu như không có giá trị đối với bộ phận lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách quốc gia, hầu như không được tham khảo và không được ghi nhận. Thực tế là tôi đã trình bày các phân tích của mình trong buổi hội thảo lấy ý kiến do Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức tại thành phố HCM ngày 1/2/2013.

Trước khi hội thảo bắt đầu thì những người được mời đến để góp ý đã được chỉ đạo và được quán triệt rằng chủ nghĩa xã hội và quyền lãnh đạo của đảng là những hiện thực bất khả xâm phạm. Tuy có chỉ đạo như thế, tôi vẫn nói lên ý kiến của mình, nói lên những phân tích của một người làm khoa học, dựa trên các chứng cứ khoa học và thực tiễn, không cảm tính và không thiên vị cá nhân. Và tôi thấy trong hội trường hôm đó không ít người đã bộc lộ sự đồng tình với tôi, bằng những cái gật đầu kín đáo, hoặc bằng những phát biểu rõ ràng rằng Quốc hội phải xem xét tất cả các ý kiến, kể cả ý kiến của những người có các quan điểm rất đa dạng. Những người điều hành hội thảo, với thái độ tôn trọng, đã đề nghị tôi viết thành văn bản và gửi cho Văn phòng Quốc hội. Dĩ nhiên, khi kết luận, ban tổ chức buổi hội thảo đã nói rõ rằng, trong tình hình hiện nay, ý kiến của tôi rất khó được chấp nhận.

Vậy, tại sao tôi vẫn soạn các ý kiến thành văn bản, gửi đến Quốc hội và công bố rộng rãi? Một số người, bằng kinh nghiệm của họ, có lý khi cho rằng việc lấy ý kiến chỉ là một «màn kịch lừa bịp», một trò «dụ trẻ con ra đường». Bản thân tôi cũng có thể cung cấp một bằng cớ để chứng minh rằng họ có lý: kể cả khi tôi đã công khai trình bày ý kiến trong hội thảo do Chính phủ tổ chức thì các ý kiến của tôi cũng không thể (hay chưa thể) được công khai đăng tải trên báo chí của Nhà nước. Bản thân tôi, và nhiều người khác, có đầy đủ bằng chứng để nói rằng quyền tự do ngôn luận được ghi trong Hiến pháp 1992 đã không được thực thi trên thực tế, và những cáo buộc của quốc tế về sự vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở.

Dù thế thì tôi cho rằng những người tham gia góp ý, tham gia soạn bản Kiến nghị hay ký Kiến nghị, không phải là trẻ con. Và nếu họ ra đường thì không phải vì họ bị dụ ra đường, mà là họ chủ động ra đường. Họ chủ động với tất cả những gì họ có: sự hiểu biết, trách nhiệm, lương tâm và ý thức công dân. Dĩ nhiên, những thứ đó có thể không đủ để tạo thành khiên giáp bảo vệ họ khỏi sự tấn công của thứ bạo lực không cần đến lý lẽ và công lý (thứ bạo lực mà bản Dự thảo của Quốc hội đang góp phần làm cho trở nên hợp hiến). Họ cũng hiểu điều đó và chấp nhận điều đó nếu nó xảy ra. Chính tôi cũng phải hiểu rằng, một bài viết như bài viết này, dù với tất cả những thành ý được trình bày rõ ràng, thì một ngày nào đó rất có thể sẽ trở thành bằng chứng để người ta buộc cho tác giả của nó cái tội tuyên truyền chống phá Nhà nước. Với một bản Hiến pháp như Dự thảo của Quốc hội đang hướng tới, thì Nhà nước có thể buộc cho người dân tội gì cũng được.

Trở lại câu hỏi: tại sao tôi góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp? Nói một cách cụ thể, tôi góp ý và ký kiến nghị vì giả định rằng những ý kiến này sẽ đến được với những người có trách nhiệm, và giả định rằng những người có trách nhiệm sẽ đảm nhận trách nhiệm của mình. Và hành động này xuất phát từ quan niệm rằng: cho dù động cơ của Quốc hội trong việc lấy ý kiến là gì đi nữa, thì với tư cách là công dân, khi được hỏi, cần phải nói rõ các suy nghĩ của mình. Emmanuel Kant, triết gia vĩ đại của thời Khai minh, vào thế kỷ XVIII đã nói như vậy về cách ứng xử cần thiết của công dân :

Một công dân phải hành động trong khuôn khổ quy định của luật pháp. Tuy nhiên công dân phải quan sát thực tế để phát hiện ra các sai lầm, và dùng khả năng phân tích của mình, dùng kiến thức của mình, với tư cách một nhà nghiên cứu, một học giả (theo Kant tất cả mọi công dân đều có tư cách này chứ không chỉ những người chuyên làm nghiên cứu), công khai trình bày ý kiến của mình, phân tích đúng sai, đưa vấn đề ra cho công chúng phán xét. Đó là hành động mà Kant cho là thuộc vào phạm vi công cộng của lý trí cá nhân. Và Kant đòi hỏi rằng khía cạnh công cộng này của lý trí phải luôn luôn được tự do (Xem bài Khai sáng là gì? của Kant). Trong số các ví dụ mà Kant đưa ra để bàn luận về cách hành động của công dân, có ví dụ này:

«Một công dân không được trốn thuế đã được bổ, một người đi đóng thuế mà có hành vi chỉ trích thái quá mức thuế cũng có thể bị phạt vì sự xúc phạm như vậy có thể gây ra làn sóng bất tuân rộng khắp. Nhưng người đó không hề vi phạm nghĩa vụ công dân nếu anh ta, với tư cách một học giả, đưa ra công khai suy nghĩ của mình về những sai sót, thậm chí bất công của mức thuế này». Và một ví dụ khác liên quan tới giáo hội: «Tương tự như vậy, một thầy tu phải có trách nhiệm hướng dẫn cho giáo sinh và giáo đoàn theo đúng tinh thần giáo lý của Nhà thờ mà ông ta phục vụ vì ông ta được thuê để làm việc đó. Nhưng như một học giả, ông ta hoàn toàn tự do cũng như có trách nhiệm phải phổ biến cho công chúng biết những suy nghĩ chân thành và sâu sắc của mình về những sai lầm của giáo lý và đề đạt các biện pháp ngõ hầu cải thiện giáo lý và giáo hội».

Nhờ việc trình bày công khai các ý kiến, nhờ việc mỗi người tự do sử dụng lý trí cá nhân của mình (bất chấp có được phép hay không, có được ghi nhận hay không) mà xã hội mới có thể thay đổi và được tổ chức hợp lý hơn, mà phương Tây mới xây dựng được xã hội dân chủ.

Trở lại thực tế lúc này ở Việt Nam, khi Quốc hội đang kêu gọi các công dân tự do góp ý, vậy có nên dùng hết lý lẽ này đến lý lẽ khác để từ chối nêu ý kiến cho Quốc hội?

Một khi công dân không nói lên ý kiến của mình thì làm sao có quyền trách cứ Quốc hội đã không lắng nghe?

Nếu bản Kiến nghị Hiến pháp do 72 trí thức khởi xướng chỉ có khoảng dăm ngàn chữ ký thì Quốc hội có lý do để nói rằng đó là chỉ một thiểu số không đáng phải chú ý (dĩ nhiên nếu là một Quốc hội sáng suốt thì sẽ coi trọng mọi ý kiến hợp lý, dù đôi khi đó chỉ là ý kiến của một cá nhân thôi và dù nó khác biệt với ý kiến của tất cả mọi người). Nhưng nếu bản Kiến nghị Hiến pháp đó có vài triệu chữ ký, lúc đó, giả sử Quốc hội bỏ qua bản Kiến nghị này thì Quốc hội đã công khai với nhân dân rằng Quốc hội không đếm xỉa đến nhân dân, Quốc hội coi thường nhân dân..

Nếu công dân không ký vào bản Kiến nghị Hiến pháp, hoặc không tự mình nêu ý kiến và gửi về cho Quốc hội theo con đường chính thức (và đồng thời lưu lại văn bản để sau này đối chứng), thì sẽ không có cơ sở nào để lên án Quốc hội. Bởi vì lúc đó công dân đã mặc nhiên trao cho Quốc hội cái quyền muốn làm gì thì làm, và mặc nhiên từ bỏ quyền công dân của mình. Mọi phát biểu chê trách, mọi quy kết đối với Quốc hội sẽ không có giá trị đối với Quốc hội.

Để cho Quốc hội muốn làm gì làm, muốn gây ra hậu quả gì cũng được, suy cho cùng, chúng ta, trong tư cách công dân, phải chịu trách nhiệm một phần quan trọng. Bởi Quốc hội chỉ là một nhóm người rất nhỏ so với đại đa số công dân của quốc gia này. Hơn nữa những gì mà Quốc hội bộc lộ cho đến lúc này chưa chứng tỏ được rằng Quốc hội là nơi tập trung những đầu óc ưu tú nhất của dân tộc. Chỉ cần xem những lỗi diễn đạt trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này cũng đủ để thấy rằng nhận xét của tôi không phải là vô căn cứ.

Nếu những người tham gia biên soạn bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp thực sự là những đầu óc xuất sắc, hãy bộc lộ sự xuất sắc của mình, đừng để một văn bản tồi che mất phẩm chất trí tuệ và sự hiểu biết của quý vị. Nếu quý vị là những người có trách nhiệm với cộng đồng, hãy bộc lộ trách nhiệm của quý vị cho cộng đồng thấy. Nếu quý vị là những người có khả năng nhìn xa trông rộng, hãy bộc lộ tầm nhìn của quý vị cho cử tri thấy.

Hy vọng Quốc hội cũng hiểu, như nhân dân chúng tôi, là một bản Hiến pháp kém chất lượng không làm nên danh giá cho Quốc hội, trái lại, nó sẽ hạ thấp uy tín của Quốc hội trước nhân dân, trước cộng đồng quốc tế, và quan trọng hơn, nó sẽ để lại những di hại khôn lường cho chính quý vị, cho toàn thể nhân dân, và cho các thế hệ Việt Nam mai sau.

Hy vọng Quốc hội hiểu rằng nhân dân không chỉ là những người tình nguyện làm theo chỉ đạo của Quốc hội, mà còn là số đông đang im lặng hoặc không có điều kiện để lên tiếng, và còn là một số ít bất chấp nguy hiểm nói lên những ý kiến mà có thể Quốc hội không muốn nghe và không muốn sử dụng.

Hy vọng Quốc hội hiểu rằng vấn đề không phải ở chỗ quý vị có thắng nhân dân bằng cách áp đặt cho họ một bản Hiến pháp bảo vệ quan điểm và quyền lợi của quý vị hay không, mà vấn đề là ở chỗ hành động của quý vị sẽ tác động hay tác hại tới toàn bộ cộng đồng như thế nào.

Cũng hy vọng Quốc hội hiểu rằng vận mệnh dân tộc này đang nằm trong tay quý vị, và quý vị phải chịu trách nhiệm trước sự hưng thịnh hay suy vong của đất nước. Trách nhiệm đó càng nặng nề hơn một khi quý vị muốn (hoặc buộc) nhân dân phải trao toàn quyền quyết định cho quý vị, một khi quý vị điều khiển nhân dân để họ chấp thuận các quyết định đã được hình thành từ trước của quý vị.

Nếu đại đa số nhân dân nói rằng: «chúng tôi không đồng ý thông qua văn bản do Quốc hội soạn» thì dĩ nhiên Quốc hội sẽ không dễ dàng tự tiện làm theo ý mình. Nhưng vì đại đa số im lặng, và một số tương đối đông được quyền bày tỏ công khai, trong các diễn đàn do Nhà nước tổ chức và trên báo chí của Nhà nước, thì lại hành động theo CHỈ ĐẠO (tôi nhấn mạnh) của Quốc hội, cùng với cách thức lấy ý kiến của Quốc hội, tuy hình thức là công khai nhưng thực chất lại không công khai (trường hợp các góp ý của GS Đàm Thanh Sơn là một ví dụ), và thực chất việc triển khai lấy ý kiến là để khẳng định những ý tưởng, những chủ trương đã được đề xuất từ bên trên, chứ không phải là để tham khảo và điều chỉnh theo các góp ý từ bộ phận dân chúng, hay thậm chí ý kiến của các chuyên gia cũng bị bỏ qua, thế nên kết quả ai cũng có thể hình dung trước rằng Quốc hội sẽ dễ dàng áp đặt ý chí của mình cho nhân dân.

Nếu đa số quý vị không im lặng thì Quốc hội có áp đặt cũng không dễ dàng như vậy. Quý vị hoàn toàn có thể gửi ý kiến qua bưu điện và qua hộp thư điện tử cho Quốc hội, và hoàn toàn có thể công khai ý kiến của quý vị trên báo chí của nhân dân, trong trường hợp không thể công bố trên báo chí của Nhà nước, như nhiều người đã làm. Cá nhân tôi luôn dành ưu tiên công bố các văn bản của mình trên các phương tiện truyền thông của Nhà nước, cho đến khi nào bị từ chối mới thôi. Quý vị muốn đánh giá thế nào cũng được.

Tôi đồng ý với quý vị rằng chúng ta có thể cảm thấy đau khổ khi phải làm công dân của một Nhà nước thiếu dân chủ và chà đạp lên quyền con người. Nhưng quý vị cũng hiểu rằng Nhà nước không đồng nhất với dân tộc, không đồng nhất với Tổ quốc. Cứ cho rằng có thể hiểu được vì sao quý vị từ bỏ vai trò công dân của mình. Nhưng vẫn còn lại câu hỏi này: chúng ta có nên hành động trong vai trò là một thành viên của dân tộc này, của đất nước này hay không ? Chúng ta có nên im lặng tuyệt đối giao phó quyền quyết định tương lai của chúng ta và tương lai của con em chúng ta cho Quốc hội hay không ?

Góp ý cho Quốc hội và ký Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 có thể sẽ vô ích xét từ phía Quốc hội, trong trường hợp Quốc hội tổ chức lấy ý kiến chỉ là hình thức. Nhưng tôi cho rằng việc đó sẽ không vô ích, nếu xét từ góc độ hoạt động công dân. Một xã hội dân sự thực sự chỉ có thể hình thành cùng với việc người dân chủ động thực hiện quyền công dân của mình, chủ động xây dựng các điều kiện để cho quyền công dân được đảm bảo.

Chữ ký của quý vị, khi đứng một mình, chỉ là một chữ ký đơn độc, khi đứng bên cạnh chữ ký của những người khác sẽ bớt đơn độc hơn. Tiếng nói đơn lẻ của một người sẽ khác tiếng nói của triệu người, dù rằng cả triệu người nhiều khi cũng vẫn còn là đơn lẻ. Quý vị hiểu rằng ở đây tôi đang nói đến việc ký vào bản Phác thảo hiến pháp do 72 trí thức khởi xướng, một công trình tập thể được thực hiện với tâm huyết, bản lĩnh khoa học và trách nhiệm công dân đầy đủ (nó không phải là một bản nháp hay là một sản phẩm được thực hiện vội vàng trong mục đích tiêu khiển hay thử nghiệm). Công trình tập thể đó đã được trang trọng trao cho Quốc hội trước sự chứng kiến của giới truyền thông. Và hiện nay những người soạn thảo đang kêu gọi sự tham gia của quý vị trên trang Bauxite.

Nếu cả một dân tộc chín mươi triệu người mà đa số răm rắp thực hiện chỉ thị từ trên xuống, bất chấp những chỉ thị đó đúng hay sai và có thể gây ra tác hại hay hậu quả trầm trọng, nếu một dân tộc chín mươi triệu người mà không có nổi một triệu công dân chịu bộc lộ suy nghĩ độc lập để chứng tỏ trách nhiệm đối với cộng đồng, thì có gì đáng ngạc nhiên khi dân tộc đó phải lụn bại, sa sút, yếu kém và lệ thuộc vào nước ngoài ? Có gì đáng ngạc nhiên khi dân tộc đó có thể lại một lần nữa mất nước, hoặc trên thực tế đã mất nước ?

Cá nhân tôi vẫn tin, mặc cho sự  chê cười của quý vị, rằng trong Quốc hội (và trong đảng) cũng có những người muốn đứng về phía nhân dân, muốn có một bản Hiến pháp thực sự của dân, vì dân và do dân. Chắc chắn những người đó cũng rất đơn độc, như quý vị. Tại sao chúng ta không ủng hộ họ, không hậu thuẫn cho họ? Chỉ bằng một chữ ký thôi?

Vinh, ngày mồng một tết Quý Tỵ

N.T.T.H.

Tác giả gửi trực tiếp gửi cho BVN

—————————-

4.

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Hèn bán đất bán nước Trời tru đất diệt – Tướng Phạm Chuyên, nguyên là Giám đốc Công an Hà Nội.

Posted by hoangtran204 trên 17/02/2013

 

Phạm Chuyên [*]

Tướng Phạm Chuyên, nguyên là Giám đốc Công an Hà Nội.

Theo blog Anh Ba Sàm

Phản hồi của Nhà văn Phạm Đình Trọng: “Trước đây khi biết ông Phạm Chuyên là ông tướng, giám đốc công an Hà Nội, tôi cũng chỉ coi ông Chuyên như ông Nguyễn Văn Ninh, trung tá công an đã nhẫn tâm vung dùi cui đánh gãy cổ dẫn đến cái chết thê thảm của ông Trịnh Xuân Tùng, chỉ vì ông Ninh vu cho ông Tùng ngồi sau xe máy không đội mũ bảo hiểm. Hoặc tôi coi ông Chuyên cũng chỉ như ông Tuấn công an Sài Gòn đã lạnh lùng, sắt đá giữ tôi suốt một ngày ở đồn công an phường Bến Thành chỉ vì tôi đến tòa án Sài Gòn dư phiên tòa công khai xử Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do. Tôi coi ông Chuyên chỉ như ông Tuấn công an Sài Gòn đã xăng xái, quyết liệt ngăn chặn tôi đi biểu tình chống Trung Quốc cướp biển, cướp đảo của ta, bắn giết dân ta, đã lì lợm chặn cửa nhà tôi gần suốt một ngày chủ nhật.

Nhưng khi rời nhiệm sở công an, trút bỏ bộ hàm cấp tướng công an, ông Phạm Chuyên xuống Hải Phòng, đến thăm ngôi nhà gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị viên đại tá Đỗ Hữu Ca, giám đốc công an Hải Phòng đập phá chỉ còn đống gạch vụn, thì tôi có chút cảm tình với ông Phạm Chuyên. Bây giờ đọc bài thơ Người Hèn của ông Phạm Chuyên, tôi mới thực sự vui mừng nhận ra phần Người chân chính vẫn còn ở ông tướng công an Phạm Chuyên.

Tôi rất muốn được gặp, nắm bàn tay ông Phạm Chuyên còn ấm áp nhịp đập trái tim con Người. Phạm Đình Trọng”.

Phản hồi của Nhà giáo Phạm Toàn: “Không có Phạm Chuyên thì Hoàng Cầm, Văn Cao, và nhiều vị nữa đã ra bã từ lâu rồi.

Tôi tin rằng có một nhà thơ họ Hoàng sau khi mổ mắt đang mải đi chơi Tết với vợ, khi anh trở về đọc bài này và các còm ở đây THẾ NÀO ANH CŨNG viết một kỷ niệm dài về Phạm Chuyên với Hoàng Cầm. He he he đón đọc nha!!!

Riêng tôi, cho nhắn một chút này: Bravo Phạm Chuyên! Bravo Phạm Chuyên! Bravo Phạm Chuyên! (Ba lần hẳn hoi). Phạm Toàn”.

                                                             ****************************************************

 

Người Hèn

Phạm Chuyên [*]

Đất nước ngàn năm
Hiếm kẻ bán nước
Có nhiều nhặn gì đâu,
Một Trần Ích Tắc
Một Lê Chiêu Thống
Một Hoàng Văn Hoan.

Đất nước ngàn năm
Quá lắm người hèn
Hèn vì quyền cao chức trọng
Hèn vì nhà cao cửa rộng
Hèn vì miếng cơm manh áo
Hèn vì vợ dại con thơ
Hèn vì danh hão danh hờ.

Hèn mà còn nhận ra
mình là thằng hèn
Là hèn tử tế.

Hèn ngậm miệng ăn tiền
hèn nhơ bẩn

Hèn ngậm miệng ăn tiền
hèn bất nhân

Hèn bán đất bán nước
Trời tru đất diệt

Hèn ơi! Đất nước ơi!

Phạm Chuyên

_____________________

[*] Tướng Phạm Chuyên, nguyên là Giám đốc Công an Hà Nội.

Posted in Nhan Vat | Leave a Comment »

►Joel Brinkley viết sai về Việt Nam chỗ nào: Ông ta chỉ làm mọi người bực mình bằng cách nói đúng sự thật

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2013

 Joel Brinkley viết sai về Việt Nam chỗ nào: Ông ta làm mọi người bực mình bằng cách nói đúng sự thật

Adam Bray  Nguồn: Blog Cây Trứng Cá

Diên Vỹ chuyển ngữ

09.02.2013

Đầu tháng này Giáo sư Đại học Stanford Joel Brinkley đã tạo ra một cơn phẫn nộ dữ dội với bài viết trên tờ Chicago Tribune với tựa đề: “Mặc dù ngày càng thịnh vượng, khẩu vị của người Việt vẫn kỳ dị”. Trong đó căn bản là ông cho rằng người Việt là những kẻ hám ăn thịt, có thể ăn bất kỳ thứ gì ngọ nguậy được; từ động vật hoang dã đến thú nuôi; bóc lột trơ trọi đất nước, và vì thế, ông ta giải thích, người Việt có vẻ hung hãn hơn những người láng giềng.

Toàn bài viết của ông đầy dẫy những quan sát, giả định và phân tích thiếu chính xác. Nhiều người đọc cảm thấy bị tổn thương ghê gớm về bài báo (nhiều người đặc biệt nhạy cảm đối với những nhận định về thịt chó) và đã lên án Brinkley là một kẻ kỳ thị chủng tộc và thiếu chuyên nghiệp. Tôi sẽ bỏ qua việc phân tích lời biện hộ cho bài báo cũng xúc phạm không kém của ông ta, cũng như không đề cập đến bất kỳ lời phỉ báng nào. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng ông Brinkley nên viết bài ra sao cho đúng theo thực tế – mặc dù tôi tin chắc rằng dù sao nó cũng sẽ tạo ra một cơn giận dữ đối với một số người Việt xa quê hoặc ở nước ngoài.

Brinkley bắt đầu bằng việc nhận định rằng các du khách sẽ không nhìn thấy chó, chuột, chim hoặc sóc ở Việt Nam vì chúng đã bị ăn thịt cả. Điều này dĩ nhiên là sai hoàn toàn. Đa số các khu vực thành thị ở Việt Nam có vấn đề vệ sinh nghiêm trọng và chuột thực sự đang là một đại hoạ ở một số nơi. Chó chắc chắn là một loài thú nuôi phổ biến. Tuy nhiên thực sự là sóc và chim thì hiếm thấy hơn nhiều so với trước đây, vì lý do mà ông ta đã dẫn (cũng như vì việc mua bán thú vật). Nhiều giống chim mà tôi thường thấy 10 năm trước đây, ngay cả tại các khu vực thành thị, trong vài năm qua đã hoàn toàn vắng bóng ở những nơi đây.

Brinkley đã đúng khi ông nói tiếp rằng Việt Nam, cũng như những nước láng giềng, đang có một vấn nạn nghiêm trọng trong việc mua bán động vật lớn, mặc dù tôi không đồng ý với ông về quan điểm rằng đa số hổ, voi, gấu và tê giác đã bị bán sang Trung Quốc – chính bản thân người Việt tiêu thụ những con thú này. Ông cũng đúng khi nói rằng người Việt đặc biệt nhắm vào tê giác (để lấy sừng). Ông ta không nói điều này nhưng tôi sẽ nói: rằng Việt Nam chính là kẻ chủ mưu trong cuộc chiến săn tê giác trên thế giới. Việt Nam chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc săn bắn sừng tê không chỉ ở châu Á mà cả châu Phi.

Brinkley nói rằng loài vượn ở Việt Nam gần như bị tuyệt chủng vì chúng bị ăn thịt. Điều này đúng. Rõ ràng là chúng bị mua bán và ăn thịt (hoặc dùng làm thuốc) bởi một nhóm người thiểu số (cũng có thể là đa số vì còn quá ít vượn sót lại vì nạn mua bán và môi trường sinh sống bị tàn phá). Ngay cả tại nơi tôi ở là Bình Thuận, có một số làng người dân tộc thiểu số chuyên săn bắt những con vượn và khỉ còn sót lại trong tỉnh.

Brinkley nói tiếp rằng trong khi người Việt ăn hết những động vật hoang dã của mình, những nước láng giềng lại để chúng được yên. Sự thật về chuyện này thì hơi mập mờ. Việt Nam thật sự đã khai thác hầu hết động vật hoang dã trên nước mình. Cambodia cũng thế – vì cơn khủng hoảng trong thời gian Khmer Đỏ cầm quyền và nạn đói nghèo sau đó. Thái Lan, Lào và Miến Điện cũng có vấn đề nghiêm trọng về việc mua bán thú hoang, tuy nhiên rừng của họ (đặc biệt là Lào) thì thật sự là còn nguyên sinh hơn Việt Nam rất nhiều. Trong trường hợp của Lào và Miến Điện thì điều này đơn giản có thể chỉ vì mật độ dân số nhỏ hơn trên diện tích đất mà thôi. Ở Thái Lan thì có thể là kết quả của việc phát triển kinh tế cao hơn và việc quản lý động vật hoang dã của chính quyền có hiệu quả hơn.

Brinkley đúng khi nói rằng nền văn hoá của Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, và những quốc gia láng giềng là từ Ấn Độ. Ông cũng đúng khi nói rằng Việt Nam có một lịch sử bạo lực và hung hãn trong một thời gian dài – Việt Nam đã trải qua 1000 năm không chỉ thỉnh thoảng đấu tranh giành độc lập khỏi Trung Quốc mà còn liên tục tấn công Vương quốc Champa ở phía nam cho đến khi nó bị huỷ diệt và cuối cùng bị người Việt chinh phục. Tuy nhiên, việc Brinkley cho rằng việc Việt Nam hung hãn hơn những nước láng giềng, vốn cũng có những cuộc chiến tranh của họ, hoặc là vì nó liên quan đến lượng đạm quá cao trong ẩm thực của mình thì không gì hơn là một tâm lý ăn chay phổ biến thiếu cơ sở và lố bịch. Thịt thì thường xuyên có mặt trong nền ẩm thực của mọi quốc gia, bất kể những quan điểm lãng mạn thiếu hiểu biết về lịch sử tôn giáo và văn hoá của chúng.

Brinkley đã đúng khi nói rằng thịt chó là một món ăn phổ biến ở Việt Nam và rằng những con chó hoang thường bị nhanh chóng bắt và bán cho các tiệm ăn hoặc chợ. Tôi thấy việc này xảy ra hằng ngày. Tôi cũng thấy rất nhiều chó bị chặt thịt trong những cửa hàng ở Hà Nội và chung quanh Sapa trong những chuyến du lịch của mình. Thực tế là tại những ngôi làng tôi đến thăm ở miền bắc Việt Nam, thịt chó được ăn thường xuyên hơn là thịt bò – ngay cả phở thường cũng có thịt chó. Tuy thế, nhiều người Việt vẫn nuôi chó và không ăn thịt chúng.

Cái sai của Brinkley đa phần là về vấn đề đổ đồng. Việt Nam thực sự có vấn đề nghiêm trọng trong nạn mua bán thú hoang, nhưng đáng tiếc là ông đã sử dụng những giai thoại và hoàn toàn nằm ngoài ngữ cảnh, và cũng dùng chúng để đổ đồng lên toàn bộ cả nước. Là người từng sống gần một thập niên ở Việt Nam, tôi có thể bảo đảm với bạn rằng trong khi có nhiều “thú lạ” bị ăn thịt ở Việt Nam, đại đa số người dân thường là vẫn thích ăn gà, vịt, bò, heo và hải sản… và thỉnh thoảng là ếch… cũng có thể rắn… đôi khi một rổ ốc… hiếm khi ăn rùa… ở Mũi Né thì kỳ nhông rất phổ biến… Ồ, và tằm và dế cũng ngon… nhím và chuột trúc đôi lúc cũng nằm trong các món ăn của những khu làng mạc miền quê… và có lần trên truyền hình quốc gia Anthony Bourdain đã ăn (bất hợp pháp) một con cheo tại Đà Lạt… nhưng vâng, đại đa số người dân thường vẫn chỉ ăn gà, vịt, bò, heo và hải sản.

Bỏ qua những tranh cãi khác, tôi muốn nói đúng sự thật về chuột vì tôi là người từng thấy rất nhiều việc ăn thịt chuột ở Việt Nam cũng như từng hơn một lần ăn thịt chuột tại nhà người Việt. Điều thật sự khác biệt giữa một con “chuột đồng sạch” và “chuột thành phố dơ bẩn” là chúng bị bắt ở trên đồng hay trong nhà hay trong ống cống. Không ai – tôi nhắc lại không ai — nuôi “chuột trại” ở Việt Nam. Bất chấp chúng bị bắt ở đâu, chuột là loài gặm nhấm mang mầm bệnh, dù người ta ăn chúng vì sở thích hay vì cần thiết. Và sẵn chủ đề này, trong khi bàn nhiều về chó và chuột, tôi lấy làm ngạc nhiên khi chẳng ai nhắc đến chuyện người Việt ăn mèo. Mặc dù không phổ biến (quán thịt chó rải rác khắp Phan Thiết nơi tôi ở, và phổ biến trên khắp các vùng ở Việt Nam), ở các vùng quê người ta cũng thỉnh thoảng ăn mèo. Trên thực tế ở vùng Cao Nguyên, có nhiều người Kinh nhập cư từ Hà Nội thường đến ăn tại các quán bán thịt mèo và chó. Ở Việt Nam thịt mèo được gọi là “thịt tiểu hổ” vì nghe có vẻ hấp dẫn hơn “thịt mèo nhà”. Đương nhiên là không đúng khi nói rằng mọi người Việt đều ăn chó, mèo hoặc chuột — cũng như không đúng khi nói rằng tất cả người Mỹ đều sống bằng bánh pizza hay hamburger. Nhưng một điều tôi có thể nói chắc rằng với những người Việt nào ăn những con vật trên, họ đếch thèm quan tâm rằng chúng ta nghĩ gì về chuyện ấy.

danluan.org

Posted in Cách Ứng Xử của người Việt Nam | 1 Comment »

►Trương Tấn Sang khẳng định hệ thống chính trị của chúng ta “không dám nói lên sự thật”

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2013

CTN Trương Tấn Sang khẳng định hệ thống chính trị của chúng ta “không dám nói lên sự thật”

Trần Mạnh Hảo, viết văn, làm thơ, viết báo, viết phê bình văn học

Tác giả gửi tới Dân Luận

Sự thật sẽ giải thoát anh em
– (Lời Kinh Thánh)

Trên báo Sài Gòn giải phóng online ngày 13-02-2013, trong bài: “Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Vũ khí của chúng ta là dám nói lên sự thật” có đoạn viết như sau:

“Khi nghe bà Phan Thị Tươi giới thiệu chồng mình – ông Hoàng Thái Lai, đã nghỉ hưu nhiều năm nay, hiện là Bí thư Chi bộ khu phố 2, phường Thảo Điền (quận 2), Chủ tịch nước hỏi: “Đồng chí có gửi gắm gì không?”. “Tôi mong mỗi cán bộ lãnh đạo hãy làm đúng những gì đã nói”. “Đúng, làm đúng những gì đã nói đang là thách thức rất lớn đối với chúng ta hiện nay” – Chủ tịch nước chia sẻ.

“Sau khi lắng nghe những phát biểu nói lên kỳ vọng của các thành viên trong gia đình GS-TS Phan Thị Tươi, Chủ tịch nước nói: “Từ trước đến nay, chúng ta có “cái bệnh” rất lớn là không dám nói lên sự thật. Hôm nay nghe đồng chí bí thư chi bộ khu phố nói, tôi thấy đấy là sự thật, một sự thật ở ngay trong dân. Chắc chắn người dân đã gửi gắm rất nhiều vào đồng chí bí thư, nên hôm nay tôi mới nghe được gửi gắm của dân mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên phải làm đúng những gì đã nói. Đây là tiếng nói của lòng dân, Đảng hiểu dân nói mới là thước đo niềm tin chính xác nhất. Nhiều cán bộ không muốn nghe sự thật và không dũng cảm nói lên sự thật là vì lợi ích…” (hết trích – chữ in đậm do TMH nhấn mạnh)

Có lẽ, từ ngày đảng cộng sản Đông Dương (nay là đảng cộng sản Việt Nam) nhảy ra cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim ngày 19-8-1945, chưa từng có một vị lãnh tụ nào dũng cảm đứng ra nói với toàn thể đồng bào trong ngoài nước về CÁI BỆNH RẤT LỚN của những người cộng sản là CĂN BỆNH DỐI TRÁ (tức: “không dám nói lên sự thật”) như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong dịp tết Qúy Tị này như vừa dẫn:

“CHÚNG TA CÓ “CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”

Xin xem định nghĩa đại từ CHÚNG TA trong từ điển: “Chúng ta: Bản thân mình cùng với người đối thoại: Chúng ta đi đâu bây giờ, vì tương lai con em chúng ta” (Đại từ điển tiếng Việt – NXB Văn hóa – Thông tin – 1999, trang 400)

Như vậy, hàm nghĩa từ CHÚNG TA nơi câu nói của chủ tịch nước Trương Tấn Sang bao gồm chính ông và vợ chồng người đảng viên ông đến thăm, nói rộng ra là chính chủ tịch nước và tất cả mọi người Việt Nam đọc báo đều cùng mắc cái bệnh rất lớn là bệnh dối trá này. Nhưng đa số nhân dân đâu có cơ hội để mắc bệnh này, vì họ, tức nhân dân, tức người dân thường, tức tư nhân không có quyền ngôn luận, tức không có quyền ra báo.

Chỉ có đảng cộng sản Việt Nam, người tự xưng là đày tớ của nhân dân mới có quyền phát ngôn trên 700 tờ báo nói, báo viết, báo hình mà thôi. Cho nên từ “chúng ta” trong nội hàm của câu nói trứ danh này của ông Trương Tấn Sang chính là nhằm nói rằng: hệ thống cầm quyền, hệ thống chính trị tức đảng cộng sản Việt Nam đã, đang mắc CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT. Mà không dám nói lên sự thật chính là “cái bệnh rất lớn” nói dối vậy.

Nếu câu nói này (chúng ta có cái bệnh rất lớn là không dám nói lên sự thật) phát ra từ một người bất đồng chính kiến thì chắc sẽ bị công an bắt giam vì điều 88: tuyên truyền nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi câu nói RẤT CHÍNH XÁC này phát ra từ miệng vị chủ tịch nước Trương tấn Sang lại là một vấn đề không nhỏ, không phải nói để chơi. Đó là nhận thức quan trọng nhất mà một lãnh tụ đảng cộng sản Việt Nam – ông Trương Tấn Sang – đã dũng cảm nói lên sự thật rất đáng buồn rằng: hệ thống cầm quyền của những người cộng sản là một hệ thống thiếu trung thực, lấy sự dối trá làm bản chất.

Ai ai trong thế kỷ thứ 21 này cũng đều biết chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của C.Marx và F. Engel bắt nguồn từ chủ nghĩa xã hội không tưởng của các nhà triết học tiền Mác-xít: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen… là những hệ thống xã hội không tưởng, ảo tưởng, không có thật, bịa đặt… Một xã hội xã hội chủ nghĩa tiến tới thiên đường cộng sản là một xã hội phi lý, phi nhân – nơi chỉ có cái thiện mà không có cái ác, chỉ có cái tốt mà không có cái xấu, chỉ có cái thật mà không có cái giả, tức là một xã hội phi biện chứng. Trong xã hội giả tưởng đó, người ta sống theo nguyên tắc vô cùng phi lý : làm theo năng lực (có hạn) hưởng theo nhu cầu (vô hạn). Trong xã hội bịa đặt phi biện chứng đó, nhà nước bị triệt tiêu, biên giới Việt Nam và Trung Hoa bị xóa bỏ (tất nhiên Việt Nam sẽ thành quận huyện của Tàu, đó là xã hội cộng sản hay sao?). Ở Cái xã hội bịa đặt khủng khiếp có tên là xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản ấy, quyền tư hữu bị xóa sổ, cá nhân bị xóa sổ, nhân tính bị xóa sổ, gia đình bị xóa sổ, quốc gia bị xóa sổ, tôn giáo bị xóa sổ, cái riêng bị xóa sổ, đất nước bị xòa sổ, dân tộc bị xóa sổ…

Liên Xô sau 74 năm đi tìm cái xã hội chủ nghĩa không tưởng mà tìm mãi không thấy, chỉ thấy cả đất nước rộng bằng một phần sáu địa cầu biến thành trại tập trung với máu và nước mắt, với gần 100 triệu người bị giết hại vì lý thuyết đấu tranh giai cấp duy ác Mác – Lê… Nay Liên Xô đã quay lại con đường tư bản chủ nghĩa để đi cùng đường với nhân loại…

Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội dã man từ năm 1978 để xây dựng xã hội theo mô hình tư bản, mô hình thị trường; nhưng vẫn mạo danh xã hội chủ nghĩa để đỡ bẽ mặt vì Trần Độc Tú, Cù Thu Bạch, Mao Trạch Đông đã sai lầm vô hạn khi áp dụng chủ thuyết duy ác Mác-Lê vào Trung Quốc. Đại hội đảng cộng sản Trung Quốc cuối năm 2012 đã không còn nhắc đến Mác-Lê-Mao…Đảng cộng sản Pháp trong đợt đại hội cách đây mấy ngày, đã goog bye cờ búa liềm là cờ của nước Liên Xô trước đây…

Việt Nam do đảng cộng sản lãnh đạo từ năm 1986 đã chôn chủ nghĩa xã hội để xây dựng chế độ tư bản nhưng vẫn còn giữ cái đuôi dối trá rất vô nghĩa là “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…

Mùa tết năm nay, qua lời thú nhận của chủ tịch nước Trương Tấn Sang về hê thống xã hội cộng sản của ông và các ông vốn là một hệ thống dối trá “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT” chính là cuộc thay đổi tư duy đáng trân trọng của giới lãnh đạo Việt Nam…

Khi cả thế giới đều biết chủ nghĩa xã hội kiểu quốc tế ba của Mác-Lê là một chủ nghĩa ảo, một học thuyết bịa đặt, dối trá từng giết hại hàng trăm triệu người trên thế giới thì khi đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta lại phải mang cả khối dối trá trên mình, liệu có trung thực, có đúng đắn hay không: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”. Chủ nghĩa xã hội = sự không có thật, chẳng lẽ quốc hiệu của ta lại ra thế này ư: CỘNG HÒA KHÔNG CÓ THẬT VIỆT NAM”?

Từ sự nhận thức trên mang tính cách mạng của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chúng tôi hi vọng đảng cộng sản Việt Nam sẽ nhanh chóng từ bỏ những khái niệm dối trá, chủ nghĩa dối trá để trở về đi cùng đường với dân tộc và nhân loại.

Chúng tôi xin trích hai đoạn ngắn trong bài viết của mình năm 2010: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” (là tham luận của TMH trong đại hội nhà văn Việt Nam, nhưng không được phép đọc, đã post lên mạng trước đại hội) làm phần kết của bài việt này:

“Nếu Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt chửng toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử….

… Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.”

Từ nhận thức rằng hệ thống chính trị của đảng cộng sãn Việt Nam là một hệ thống “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đi một bước cách mạng đột phá, đưa đảng cộng sản Việt Nam tiếp cận dần sự thật để dám từ bỏ cái chủ nghĩa dối trá là chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi xin chép lại lời của đại văn hào Pháp V. Hugo để tặng ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, những người đã dám dũng cảm cứu nguy dân tộc bằng cách chôn chủ nghĩa xã hội từ năm 1976 (chủ nghĩa Marx thực chất là một chủ thuyết về kinh tế) để xây dựng kinh tế thị trường- kinh tế tư bản: “CÁCH MẠNG LÀ CUỘC TRỞ VỀ TỪ CÁI GIẢ ĐẾN CÁI THẬT”./.

Sài Gòn 15-02-2013
Trần Mạnh Hảo

—————–

* Khẳng định huề vốn (khách viếng thăm) gửi lúc 05:21, 16/02/2013 – mã số 79215

Trương Tấn Sang khẳng định việc này huề vốn quá vì ai cũng biết tỏng từ lâu.
Trương Tấn Sang nên có đề nghị giải quyết và thực hiện ngay như tự do báo chí, tự do bầu cử, … thì hay hơn là Sang khẳng định 2 + 2 = 4

Người ta cần Sang, Dũng, Trọng làm cái gì cụ thể ngay và có kết quả nhanh chứ không cần phét lác ra vẻ ta đây, mất thời giờ nghe, ngứa tai mà vẫn không có gì thay đổi

* visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 01:37, 16/02/2013 – mã số 79211

Thấy ai cũng có vẻ hăng hái trích dẫn câu của TT Nguyên Văn Thiệu “Đừng tin những gì CS nói,…” khi phê phán CS. Thực ra câu này có thể áp dụng cho bất kì chế độ nào, bất kì đảng phái nào, bất kể chính trị gia nào.

Ngay CTN TTS cũng còn không dám nêu thẳng sự thật là TT NTD phạm sai lầm mà chỉ dám nói đồng chí X pham sai lầm thì đủ thấy việc dám nói thật ở VN khó tới mức nào. Ông Trần Mạnh Hảo có vẻ ca ngợi ông TTS nhưng hình như không thích hợp lắm!

*Nam Giao (khách viếng thăm) gửi lúc 22:55, 15/02/2013 – mã số 79202

Kính mong nhà văn Trần Mạnh Hảo, với ngòi bút sắc bén của mình, phân tích cho mọi người thấy, về động thái đằng sau câu nói này, cái sự “khẳng định” này của ông Trương Tấn Sang, CÓ PHẢI LÀ SỰ THẬT không?

Trân trọng.

* Ngô Văn Ngói (khách viếng thăm) gửi lúc 22:24, 15/02/2013 – mã số 79199

Có một vài ý kiến cho rằng những người không biết hoặc biết ít thì đọc TMH thấy hay, thế nhưng những người biết ở cỡ trung (không biết nhiều lắm) đọc TMH thì thấy thường thôi. Đọc bài này của TMH, tôi thấy nhận xết trên là chính xác. TMH khoe biết nhiều như viết văn, làm thơ, viết báo, phê bình văn học, nhưng không biết ông giỏi ở lĩnh vực nào? Thưa bác Hảo, có nhà sử học nước ngoài đã tổng kết về “Đảng ta” từ lâu (chẳng biết bác Hảo đã biết hay chưa?), đó là “Đảng CS ra đời trong nghèo khó, trưởng thành trong đấu tranh, tồn tại trong sự lừa dối và bạo lực, chết đi trong sự ngu dốt và bất lực”. Còn người dân thì có câu tân tục ngữ “Thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, lỗi lầm luồn lọt lại lên lương”. Còn nhiều người tổng kết “nói ra sự thật là phản động”. Người ta đã thường chứng kiến cảnh người làm sai thì không có tội, nhưng người nói ra cái sai thì đi tù. Ông Sang nói ra cái điều nó tồn tại từ lâu ở cái chính quyền này, chẳng có gì ghê gớm cả.

*Cao Ban Long (khách viếng thăm) gửi lúc 19:24, 15/02/2013 – mã số 79189

Các Mác nói: “CHÍNH TRỊ LÀ THỦ ĐOẠN” (chính trị = thủ đoạn). Theo TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT thì thủ đoạn là: “Cách làm khôn khéo,THƯỜNG LÀ XẢO TRÁ, chỉ cốt cho đạt được mục đích.” Mà chữ THƯỜNG ở đây cũng có nghĩa là phần nhiều. Vậy Đảng CSVN – một tổ chức chính trị ta cũng có thể viết là: Đảng CSVN là một tổ chức thủ đoạn, phần nhiều là xảo trá. Hơn nữa lại rơi vào một xã hội toàn trị, độc Đảng như ở nước ta hiện nay thì nó còn tồi tệ biết bao nhiêu?
Nhân đây tôi cũng xin nhắc chuyện CTN Trương Tấn Sang khích lệ nhân dân mạnh dạn chống tham nhũng, nhưng tham nhũng lại là thuộc tính của quyền lực (kẻ có súng ống và thủ đoạn trong tay), hỏi dân – kẻ dưới quyền làm sao chống nổi…trong khi chính Ông – kẻ có quyền uy cao nhất nước, biết thuộc hạ của mình tham nhũng mà còn sợ nó đến nỗi khi trả lời cử tri cũng chỉ dám bảo đó là đồng chí X, khác gì kẻ xui trẻ con ăn cứt gà sáp. Quá hèn hạ!

*Phiên Ngung

Trần Mạnh Hảo viết:
“Từ  nhận thức rằng hệ thống chính trị của đảng cộng sãn Việt Nam là một hệ thống “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đi một bước cách mạng đột phá, đưa đảng cộng sản Việt Nam tiếp cận dần sự thật để dám từ bỏ cái chủ nghĩa dối trá là chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi xin chép lại lời của đại văn hào Pháp V. Hugo để tặng ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, những người đã dám dũng cảm cứu nguy dân tộc bằng cách chôn chủ nghĩa xã hội từ năm 1976 (chủ nghĩa Marx thực chất là một chủ thuyết về kinh tế) để xây dựng kinh tế thị trường- kinh tế tư bản: “CÁCH MẠNG LÀ CUỘC TRỞ VỀ TỪ CÁI GIẢ ĐẾN CÁI THẬT”./.”

——————-

Cái nhà anh Hảo này mới lạ. ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, những người đã dám dũng cảm cứu nguy dân tộc từ ai? Tại sao dân tộc lại nguy khốn để cần chúng cứu nguy? Thế chẳng phải chính bọn chúng đẩy dân tộc xuống hố thẳm tuyệt vong hay sao?

Thế thì cứ ra sức cướp của giết người và hể tha chết cho ai là cứu nguy hở?

Nguyễn Thọ: 

“Trích dẫn:

“Từ  sự nhận thức trên mang tính cách mạng của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chúng tôi hi vọng đảng cộng sản Việt Nam sẽ nhanh chóng từ bỏ những khái niệm dối trá, chủ nghĩa dối trá để trở về đi cùng đường với dân tộc và nhân loại.

Nhưng tôi cũng xin các bạn lưu ý rằng “nói một đường, làm một nẻo” cũng là một thuộc tính của Cộng sản (chắc mọi người chưa quên câu nói nổi tiếng “Đừng tin những gì CS nói…” của Cố TT Nguyễn Văn Thiệu?).
Câu nói của Trương Tấn Sang vì thế cũng chỉ là một chiêu tung hỏa mù của Cộng sản VN mà thôi.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm, chúc Tết một số gia đình trí thức tiêu biểu tại TPHCM

http://www.sggp.org.vn/xahoi/2013/2/311258/

Chủ nhật, 10/02/2013,

(SGGPO).- Trong không khí ấm áp ngày đầu năm mới, sáng 10-2 (nhằm ngày mùng 1 Tết), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có chuyến xuất hành đầu năm đến thăm, chúc Tết gia đình GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội KHKT TPHCM; GS-TS Phan Thị Tươi, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa TPHCM và GS Trần Thanh Đạm.

Tới thăm, chúc Tết gia đình GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao những đóng góp rất tích cực và hiệu quả trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học của giới trí thức, khoa học tại TPHCM và cá nhân GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn đối với sản xuất và đời sống của đất nước những năm qua.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc Tết gia đình GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn

Để những tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới đi nhanh vào đời sống, Chủ tịch nước mong muốn bằng uy tín trong quan hệ quốc tế và trong giới trí thức, khoa học trong cả nước, GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn cần mạnh dạn đề xuất nhiều hơn nữa với Đảng, Nhà nước những chương trình, công trình khoa học có tầm cỡ, gắn với thực tiễn nghiên cứu, ứng dụng KHKT ở Việt Nam.

“Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện để giới trí thức, khoa học cống hiến tài năng, trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước. Mỗi người trí thức, nhà khoa học hãy biến những say mê, trí tuệ, ước mong cống hiến của mình cho sự nghiệp của dân tộc. Dân tộc đang rất kỳ vọng, trông đợi những thành quả lao động trí óc, những sáng tạo của giới trí thức, khoa học cho sự phát triển vững bền của đất nước” – Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Thăm, chúc Tết gia đình GS-TS Phan Thị Tươi, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lắng nghe những lời phát biểu tâm huyết, chân thành, thẳng thắn về những vấn đề mà người dân quan tâm hiện nay.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc Tết gia đình GS-TS Phan Thị Tươi

Chủ tịch nước nói: “Tôi có kỳ vọng rất nhiều vào các giới đồng bào, các tầng lớp nhân dân trong cả nước về nhiều vấn đề trong mùa xuân này. Từ trước, trong giao thừa tới sáng mùng 1 Tết, tôi đã nhận được khoảng 300 tin nhắn của người dân khắp cả nước gửi đến. Tôi coi những nội dung tin nhắn này là kỳ vọng của mỗi người dân Việt Nam, nên đã cố gắng nhắn tin trả lời hết cho mọi người…”.

Khi nghe bà Phan Thị Tươi giới thiệu chồng mình – ông Hoàng Thái Lai, đã về hưu nhiều năm nay, hiện là Bí thư Chi bộ khu phố 2, phường Thảo Điền (quận 2), Chủ tịch nước hỏi: “Đồng chí Bí thư có kỳ vọng gì không?”.

“Tôi mong mỗi cán bộ lãnh đạo làm đúng được những gì đã nói”- Ông Hoàng Thái Lai đáp.

“Đúng, làm đúng những gì đã nói đang là thách thức rất lớn cho mỗi chúng ta hiện nay” – Chủ tịch nước chia sẻ.

Quay sang GS-TS Phan Thị Tươi, Chủ tịch nước hỏi: Chị mong muốn điều gì?

“Mong sao đời sống của người dân được cải thiện; giáo dục được phát triển; các em học sinh, sinh viên có môi trường học tập, nghiên cứu khoa học tốt nhất; giảng viên các trường đại học có nhiều cơ hội nghiên cứu khoa học phục vụ cho phát triển đất nước”- GS-TS Phan Thị Tươi trả lời.

Đối với giới trí thức, khoa học nữ, GS-TS Phan Thị Tươi đề nghị Đảng, Nhà nước cần sửa đổi chính sách nghỉ chế độ hưu hiện nay vì có nhiều nhà khoa học đang đến độ tuổi chín chắn, có nhiều đóng góp cho nghiên cứu thì đến tuổi về hưu. Như vậy là rất lãng phí chất xám và sự say mê sáng tạo của họ.

Sau khi lắng nghe những phát biểu nói lên kỳ vọng của các thành viên trong gia đình GS-TS Phan Thị Tươi, Chủ tịch nước nói: “Từ trước đến nay, chúng ta có “cái bệnh” rất lớn là không dám nói lên sự thật. Hôm nay nghe đồng chí bí thư chi bộ khu phố nói, tôi thấy đấy là sự thật, một sự thật ở ngay trong dân. Chắc chắn người dân đã gửi gắm rất nhiều vào đồng chí bí thư, nên hôm nay tôi mới nghe được gửi gắm của dân mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên phải làm đúng những gì đã nói. Đây là tiếng nói của lòng dân, Đảng hiểu dân nói mới là thước đo niềm tin chính xác nhất. Nhiều cán bộ không muốn nghe sự thật và không dũng cảm nói lên sự thật là vì lợi ích cá nhân. Người dân cũng kỳ vọng vào Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng kỳ này của Đảng ta không ngoài mong muốn chúng ta phải sửa những khuyết điểm, yếu kém. Còn muốn mất Đảng, mất chế độ thì cứ để như vậy, đừng sửa chữa gì hết. Mỗi người cộng sản đừng bao giờ đánh mất vũ khí của mình, vũ khí của mỗi chúng ta là dám nói lên sự thật…”.

Tới thăm, chúc Tết gia đình GS Trần Thanh Đạm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng “đặt hàng” những mong muốn, gửi gắm của giới trí thức, khoa học đối với đất nước. “Anh có gửi gắm gì không?” – Chủ tịch nước hỏi.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc Tết gia đình GS Trần Thanh Đạm

GS Trần Thanh Đạm gửi tặng Chủ tịch nước “Tuyển tập các bài viết về giáo dục và văn học” dày gần 1.000 trang do ông vừa xuất bản, như muốn nói lên những gửi gắm tới Đảng, Nhà nước về những kỳ vọng, những mong muốn đóng góp của giới trí thức, khoa học vào công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.

Trước lúc chia tay GS Trần Thanh Đạm, khi ra tới cửa nhà, vừa nhìn thấy hàng trăm người dân khu Chung cư Chu Văn An, phường 26 (quận Bình Thạnh) hay tin có Chủ tịch nước đến thăm đã kéo đến, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đi nhanh tới nắm tay từng người hỏi thăm, chúc Tết. Ai nấy đều bất ngờ, hân hoan cầm trên tay những cành mai, đóa hồng tiến lại gần được nắm tay, chúc Tết Chủ tịch nước.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với người dân chung cư Chu Văn An, F.26, quận Bình Thạnh, TPHCM

Nhiều bà mẹ bế theo những đứa trẻ nài nỉ xin Chủ tịch nước bế trên tay để chụp hình. Ai cũng vui mừng, hân hoan bày tỏ tình cảm lần đầu tiên được gặp Chủ tịch nước. Một kỷ niệm thật không dễ gì có được đối với những người lao động nghèo chân chất sinh sống tại Chung cư Chu Văn An trong ngày đầu năm mới.

Tin, ảnh: Hoài Nam     

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Cái ác lên ngôi vì nền giáo dục của Việt Nam đang lầm đường lạc lối

Posted by hoangtran204 trên 12/02/2013

Yên Trang thực hiện

Theo blog Nguyễn Đăng Hưng

Lời dẫn

Tôi vừa nhận được e-mail từ báo Pháp Luật Tp HCM: “Bài phỏng vấn GS đã đăng trên số chủ nhật. GS trả lời thật thấm thía!

http://phapluattp.vn/2012120912453690p0c1015/chong-toi-pham-tu-goc-giao-duc.htm”

Đây là bài phỏng vấn đột xuất và chớp nhoáng do nhà báo Yên Trang, Báo Pháp Luật thực hiện tại sân bay Tân Sơn Nhất trung tuần tháng 11 vừa qua, ngày tôi lấy máy bay trở sang Bỉ. Bài đã được biên tập lại. Có lẽ vì sự hạn hẹp của báo giấy, nhiều đoạn đã không thấy xuất hiện. Nay trên sổ tay cá nhân này, xin xuất bản nguyên văn.

Khi thiện và ác đổi ngôi

Phóng Viên: Thưa ông, điều gì khiến ông cho rằng xã hội hiện nay biến loạn đến mức trầm trọng?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng: Hằng ngày trên các trang thông tin đại chúng, đâu đâu cũng có những chuyện cướp của, giết người, vô nhân tính. Cái ác hoành hành khắp nơi, khắp chốn một cách ngang nhiên. Điều đó cho thấy kháng thể của xã hội trong cuộc chiến chống cái xấu cái ác đang bị xuống cấp trầm trọng.

Chính bản thân tôi cũng có kinh nghiệm chẳng lành. Một lần khi đi rút tiền từ ngân hàng, trên đường về bằng xe gắn máy có người cố tình ép sát tôi làm tôi té ngả. Họ là một đám chuyên trấn lột người đi đường gồm 4 thành viên. Người thứ tư thừa lúc tôi đôi co với kẻ gây tai nạn lặng lẽ làm động tác móc ví. Những kẻ côn đồ này đã hành động nhanh chóng trên một đoạn đường đông đúc người đi qua lại. Đó là đoạn đường giữa ngã tư Nguyễn Đình Chiểu và Cách mạng tháng 8 vào lúc hơn 2 giờ chiều chứ không phải đêm hôm khuya khoắt. Rất nhiều bạn bè tôi cũng từng bị như vậy.

Một vị giáo sư Bỉ qua đây dạy, ngày nghỉ ông tranh thủ đi chụp hình kỷ niệm tại sân Tao Đàn. Khi chiếc để camera vừa đặt xuống để mở túi, ông bị giật luôn. Kẻ cướp hành xử ngay chốn đông người, còn vị giáo sự nọ cũng không kịp than vãn và phỉ bác. Ông tự an ủi với tôi rằng “thôi thì cái máy của tôi cũ quá rồi, đây là dịp để mua cái mới”.

Một người bạn khác, ra chợ Bến Thành bị móc ví. Ông ấy hới ha hớt hải vì mất hộ chiếu và giấy tờ tùy thân. Được một lúc sau có người vỗ vai nói nhỏ bằng tiếng Anh hẳn hoi, rằng ví của ông đang ở góc bên kia đường. Ông đi đến và thấy ví của mình đó, tiền mất nhưng may mắn là còn giấy tờ. Ông ấy hài hước: “đám ăn cướp Việt Nam văn minh đấy”.

Nhưng ở đất nước nào cũng có những chuyện tương tự như vậy thưa ông?

Ở Châu Âu những năm 1960, 1970 dường như rất ít tệ nạn. Cho tới khi bức tường Berlin sụp đổ, dân Đông Ấu có thể tràn qua các nước Châu Âu và từ đó tệ nạn xuất hiện nhiều hơn. Bởi tệ nạn xã hội thường xuất phát nhiều ở các nước Đông Âu. Các quốc gia ở Đông Âu kinh tế kém phát triển, nền giáo dục cũng chưa cao. Khi sang Tây Âu họ thấy ở đây giàu quá, dân hiền quá, xe đạp để ngoài đường không cần khóa nên họ lấy. Nhưng vấn đề của chúng ta lại khác, tình trạng đến mức trầm trọng khi người ta sẵn sàng giết cha mẹ vì vài trăm ngàn. Hay những hành động côn đồ xảy ra giữa chợ mà không ai phản đối đó là sự băng hoại về đạo đức.

Vậy thưa ông, cái ác bắt đầu đến từ đâu?

Trộm, cướp… đến từ cuộc sống khó khăn, nhưng sự chiếm đoạt của các ác lại nằm ở giáo dục và khi giá trị đạo đức bị hủy hoại, tha hóa rõ ràng. Bởi kinh tế khó khăn thì sau thời gian suy thoái sẽ vực dậy. Địa ốc đóng băng thì có ngày phục hồi. Đồng tiền mất giá và từ giá mới sẽ vươn lên. Nhưng nền giáo dục của ViệtNam đang lầm đường lạc lối. Nền giáo dục không tạo được con người có nhân cách, có niềm tin đạo đức, biết sống lương thiện, biết sống thương yêu Thay vào đó là từ ngay tấm bé trẻ con đã thấy một xã hội vị kỷ, thực dụng, chỉ thấy tiền là chính.

Một chuyện nhỏ thế này, cô bạn tôi kể rằng, con gái mình về nhà bảo mẹ sao không mua quà bánh trung thu đến tặng cô giáo. Nếu cô giáo không tìm cách để hối thúc học sinh phụ huynh phải cung phụng mình thì tại sao đứa trẻ lại lại hỏi mẹ như vậy. Thay vì chúng ta đem ánh trăng vàng, là câu chuyện về chị Hằng nga, chú Cuội để con nít biết mơ mộng sáng tạo thì lại dạy cho chúng về lòng tham muốn vật chất. Đứa trẻ sẽ nghĩ gì về cô của nó và trong tương lai chắc chắn nếu có điều kiện đứa trẻ đó sẽ móc tiền, của bằng địa vị và chỗ đứng của mình. Đây là những chuyện mà khi chúng tôi còn học phổ thông không hề có. Và chính cô giáo kia vì hoàn cảnh xã hội, vì điều kiện kinh tế đã vô tình tiếp tay phá hoại nền giáo dục quốc dân. Đây là không còn là câu chuyện nhỏ mà là một vấn đề trầm trọng. Các em lớn lên trong một môi trường giáo dục như thế, xã hội biến chất, đảo điên như thế. Bởi vậy nên mới có chuyện con giết cha mẹ để có tiền chơi game. Đây là đỉnh điểm của sự bấn loạn rất khó tưởng tượng là có thể đi đến điểm nào tệ hơn nữa.

Khi con người không được bảo vệ

Vậy ông có nhận xét gì khi gần đây trên nhiều tờ báo có viết về những hành động “tự xử” của người dân thay vì báo công an?

Đó là hậu quả phải chờ đợi. Tội phạm không sợ bị trừng trị, không sợ bị lên án, Họ đánh mất lòng tự trọng nên thay vì xấu hổ và lo sợ chúng lại quay ra thách thức xã hội, hành hung những người dám ngăn cản mình. Từ năm 2007, khi ấy tôi tham gia giảng dạy cho lớp cao học khoa quốc tế của Trường đại học Bách Khoa. Trong số đó có một sinh viên luận văn yếu quá nên không đạt điểm. Bởi vậy tôi đề nghị ra các em làm lại để chấm lại. Tuy nhiên trong số đó có một học sinh không chịu làm mà muốn qua môn. Phụ huynh đã đến gặp nhưng tôi từ chối. Tôi bảo tôi chỉ có thể tiếp khi đã thi xong. Nhưng cũng từ đó ngày nào tôi cũng bị mấy cuộc điện thoại dọa giết, dọa đâm xe…

Sau một thời gian không chịu nổi tôi báo công an, kèm với các đoạn băng ghi âm cuộc nói chuyện dọa nạt để công an làm rõ. Nhưng kết cục công an có làm hay không tôi không biết nhưng mặc tôi cứ giải trình vụ việc vẫn không dừng lại và ngày càng nhiều cuộc điện thoại hơn. Sau mấy tháng như vậy tôi cảm thấy rất mệt mỏi và đành tự giải quyết. Hôm ấy có vị giáo sư bạn từ Hà Nội vào tôi đã kể về chuyện này. Sau đó tôi nhờ ông nếu có cuộc điện thoại dọa nạt đến, ông hãy nghe dùm tôi. Ông hãy nói mình là công an từ Hà Nội vào giúp tôi giải quyết sự việc.Và xác định với đầu dây bên kia rằng ông đã ghi lại tất cả các cuộc điện thoại dọa nạt và biết tác giả là ai, địa chỉ ở đâu. Cho nên sắp tới sẽ có những cuộc thăm hỏi từ phía công an. Sau đó bên kia cúp máy và từ đó không bao giờ tôi còn bị làm phiền và dọa giết nữa. Tuy nhiên, cũng mất ròng rã 4 tháng trời. Câu chuyện của tôi tương tự như sự việc vừa qua, người dân Nghệ An đã đốt xe tên trộm chó. Qua những điều này cho thấy công an dần dần xa rời nhiệm vụ chính của mình là bảo vệ người dân lương thiện. Hiện trạng này ngày càng nguy ngập…

Nghĩa là lòng tin từ dân bị mất mát thưa ông?

Đúng vậy, chưa bao giờ lòng tin của người dân mất mát ghê gớm đến thế. Từ anh lái taxi, đến anh đi xe ôm hay người thợ xắt tóc… đều mang tâm trạng lo âu về cuộc sống. Người ta lo không biết mình sẽ sống thế nào đây, thu nhập thế này có đủ sống không. Họ cũng theo dõi báo đài, họ cũng đặt niềm tin vào việc chống tham nhũng của Chính Phủ. Nhưng mọi chuyện dường như lại đâu vào đó. Điều đó cho thấy họ chờ đợi sự thay đổi mà sự thay đổi ở đây không phải thay đổi căn cơ chế độ mà ít ra thay đổi nhân sự. Những người không kiềm chế được tham nhũng không làm được gì với tham nhũng phải được thay thế, nhường chỗ cho những người giỏi hơn với quyết tâm cao hơn, với tinh thần vì dân tỏ rõ nét hơn…

Nhưng không phải tất cả mọi câu chuyện đều giống nhau thưa ông?

Thời điểm Pháp thuộc, đất nước ta bị bóc lột, dân Việt bị bần cùng hóa. Đây là lý do chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Hiện thực xã hội lúc đó cũng có thể là thời điểm đen tối nhưng cũng có nhà văn phản tỉnh, trí thức tả chân. Cụ thể như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố trong tác phẩm của họ tố cáo trước dư luận những tội ác của thực dân và sự cùng cực của dân tộc bị trị. Nhưng những cuốn sách ấy được xuất bản, và truyền lại cho hậu thế. Còn bây giờ tôi không thấy những cuốn sách như vậy. Không phải không có những người tài mà những cuốn sách đó khó được in ấn xuất bản một cách chính diện. Người tốt giờ đây phải co cụm lại, im lặng…

Nghĩa giá trị và quy luật thiện thắng ác đang bị đảo ngược thưa ông?

Đúng, nhưng khi cái ác hành hoành, người tốt, người có đạo đức, vốn là rường cột của xã hội họ lại phải lui về thúc thủ, bàn quan. Bởi vì nếu can thiệp họ sẽ gặp tai họa, gặp rắc rối. Chúng ta vẫn biết những câu chuyện về những nhà báo viết về chống tiêu cực phải vào tù, chúng ta biết những người viết ca khúc chống Trung Quốc bị bắt. Còn những người làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng chẳng bị sao cả, có chăng cũng chỉ đi tù sơ sơ. Điều đó làm xã hội đang đi xuống chứ không phải đi lên…

Nhưng tại sao nhiều người nước ngoài tới Việt Nam lại bảo an ninh ở đây tốt thưa ông?

Ở một số nước như Philippin, Indonesia, Pakistan, Thái Lan… thường hay có các phe quá khích hồi giáo, chống phương Tây. Người có đạo Hồi giáo theo phe quá khích oán hận các nước phương Tây vì nhiều lý do lịch sử. Họ tổ chức khủng bố trên bình diện quốc tế, nhất là trong thế giới Hồi giáo. Còn ở ViệtNam chính trị ổn định, Phật giáo hiền hòa, Công giáo cũng vậy nên người nước ngoài tới đây yên tâm là không bị khủng bố. Nhưng chuyện cướp, giật đường phố, bạo lực học đường thì ngày càng trầm trọng.

Nền giáo dục tự hoại

Nhưng chúng ta không thể đổ hoàn toàn cho giáo dục. Bởi trong ca dao vẫn dạy “anh em như thể chân tay, thương người như thể thương thân…” Và vẫn còn nhiều tấm gương tốt trong xã hội?

Hồi cách mạng năm 1789 ở bên Pháp, giáo dục nằm trong tay nhà thờ. Cách mạng thành công, trường học được giải phóng, việc giáo dục trở thành lĩnh vực của thế nhân, chính quyền dân sự. Tuy nhiên, người Công giáo vẫn có có quyền mở lớp riêng cho họ… Những người theo đạo có quyền đi học ở mọi trường lớp và đức tin của những con chiên được nhà nước đảm bảo và tôn trọng.

Xin kể một kinh nghiệm cá nhân mà tôi đã thâu thập tại Bỉ. Tôi là người theo đạo Phật, vợ tôi là người Công Giáo. Các con tôi theo đạo bố nhưng vì trường công giáo rất nghiêm, tôi ghi tên các con theo học tiểu và trung học tại đây. Nhưng không vì thế mà chúng bị phân biệt. Ở trường con tôi đứng đầu lớp về môn học giáo lý công giáo, tuy chúng nó thưa với thầy cô là chúng nó theo đạo Phật. Những nhưng thầy cô ở đây nói rằng: Con tin vào điều gì hãy giữ vừng niềm tin đó. Đằng này chúng ta đưa chính trị vào trường học, nhồi nhét quan điểm một chiều trong trường học. Thay vì khuyến khích yêu thương nâng đỡ nhau để giải quyết các vấn đề thì có một thời ta lại khuyến khích đấu tranh để sống còn. Mà đấu tranh giai cấp là tiêu diệt kẻ thù, tiêu diệt thế lực thù địch… Thói ghen ghét, đố kỵ ở đâu cũng có, nhưng tôi có cảm nhận tại ViệtNamngày nay, những tật xấu này có phần gay gắt một cách không bình thường.

Nghĩa là dù thế nào con người cũng phải sống với một niềm tin thưa ông?

Vâng tôi có cảm tưởng niềm tin ở con người, ở tổ chức xã hội bị đánh mất. Khoảng trống không có gì bồi đắp nhất là khi lòng tin ở tâm linh bị phá vỡ hay không được vun xén nữa. Hậu quả nhãn tiền là người ta ngày càng coi trọng vật chất hơn là những giá trị tinh thần. Đã có một thời, không xa lắm, những giá trị tâm linh, tôn giáo bất cứ từ xu hướng nào bị bài bác. Thái độ vị kỹ, thực dụng trở thành bao trùm. Phạm trù thần linh phai mờ trong tâm thức con người và dần dần lòng tham lam của thân xác, của dục vọng sẽ không có gì ngăn cản nữa. Lương tâm con người chìm xuống, cái ác lên ngôi. Chẳng những kỷ cương xã hội bị phá vỡ mà luân thường đạo lý gia đình tan biến. Đây chính là hậu quả phải chờ đợi của việc đánh mất niềm tin, xoá bỏ đức tin…

Nghĩa vấn đề nằm từ gốc chứ không phải ngọn thưa ông?

Đúng thế. Một lớp học tiểu học, sự giàu nghèo thể hiện ngay trong ăn mặc, trong những tiệc sinh nhật của từng đứa trẻ. Những đứa trẻ con nhà giàu có nếu không được dạy phải thương bạn, tôn trọng bạn, chúng sẽ ra sao khi trưởng thành? Những đứa trẻ nghèo khó luôn tự hỏi tại mẹ sao không mua cho con áo đẹp, tại sao mẹ không mua cho con cặp đẹp. Tất cả những cái đó nếu không được giải tỏa bằng các bài học thường trực hàng ngày thì lâu dần sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của một đời người. Giáo dục thường thức, giáo dục công dân đang có vấn đề. Tuổi trẻ xao nhãn học văn, ngán gẫm học sử vì bài học, vì sách giaó khoa quá ư cứng nhắc, một chiều, không hấp dẫn, không sinh động. Giới trẻ ngày nay không biết sử ta, nhưng khi mở ti vi lên, khắp mọi kênh chiếu toàn phim Trung Quốc. Tình trạng này đang dẫn đến tai hoạ trước mắt là tuổi trẻ ta hiểu biết lịch sử Trung Quốc hơn là lịch sử ViệtNam. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Bởi vậy ông cho rằng xã hội hiện nay giống một câu chuyện cổ tích mà kết thúc là thảm họa?

Tôi nói có ngoa đâu. Ba tôi, những người cùng thời với ông cả đời đi theo cách mạng. Trên đôi vai của họ là những vì sao, là khát vọng về một xã hội công bằng, là dân tộc độc lập, tự do và hạnh phúc. Lý tưởng sống ngày đó là tổ quốc trên hết, mình vì mọi người mọi người vì mình. Còn bây giờ mọi thứ lại dường như đi ngược lại hết. Ai có nhiều quyền người ấy có nhiều lợi ích nhất. Chứ người dân chân lấm tay bùn thì chẳng có gì để tham nhũng.

Vậy theo ông, bài học trường trực trong nhà trường phải nói về yêu thương?

Đúng vậy, ở trường hiện nay tôi thấy ít có chủ trương dạy con thương yêu cha mẹ. Chỉ thấy dạy yêu tổ quốc nhưng người ViệtNamcũng như các dân tộc khác, căn bản là gia đình. Trẻ con phải được dạy yêu thương cái nôi là yêu cha mẹ, yêu anh em, yêu ông bà rồi mới yêu cái cây đa, yêu cái đình làng, cánh đồng lúa chin, con sông nho nhỏ uốn quanh làng quê, con đường phố rợp bóng mát cây xanh, rồi mới đến yêu tổ quốc với tất cả những yếu tố văn hoá, lịch sử đi theo: Tuyên ngôn độc lập của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du…. Vì với trẻ con tổ quốc là điều gì rất mông lung. 5, 6 tuổi biết thế nào là tình yêu tổ quốc. Tuổi này nó cần bàn tay ấm áp của mẹ, sự vuốt ve của cha, sự nâng đỡ của anh và bài học giáo dục mỗi ngày ở nhà, ở trường cũng phải thường xuyên như vậy. Nhưng dường như bài học thương yêu, đề cao những tâm hồn cao thượng, tình tương thân tương ái, nhiễu điều phủ lấy giá gương, thương người như thể thương thân, đã bị làm cho mờ nhạt từ lâu. Một môi trường như vậy mà bạo lực không xuất hiện mới là điều lạ.

Tân Sơn Nhất, ngày 13/11/2012

nguon: Theo blog Nguyễn Đăng Hưng

—————-

Bài liên quan:

 

 

——————

“Danh sách những bài viết chính của tôi, phản bác « Đường Lưởi Bò Trung Quốc » tại biển Đông Nam Á.

1. Giải mã “Lợi ích cốt lõi” và “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển đông
http://tradervn.wordpress.com/2010/12/01/gs-nguy%E1%BB%85n-dang-h%C6%B0ng-binh-lu%E1%BA%ADn/

2. Tập san khoa học “Nature” khẳng định lập trường: Ban biên tập sẽ dành quyền đặt vấn đề đối với đường lưởi bò, không cho phép đem tuyên truyền chính trị vào báo cáo khoa học
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/10/20/mot-buoc-dau-cho-viec-pha-san-cua-tuyen-truyen-trung-quoc-ve-duong-luoi-bo.html/

3. Tôi tiếp biên tập viên tập san khoa học “Nature” tại tư thất
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/11/30/khong-biet-roi-david-cyranoski-se-hieu-the-nao-va-se-viet-gi-day.html/

4. Tiếng vang về bức thư của Nhân sỹ trí thức Việt Nam ủng hộ nhân dân Philippines
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2012/05/23/bao-%E2%80%9Cthe-manila-times%E2%80%9D-dua-tin-ve-buc-cua-nhan-sy-tri-thuc-viet-nam-ung-ho-philippines-dua-trung-quoc-ra-toa-an-quoc-te.html/#more-4516

5. Tôi tiếp biên tập viên tập san khoa học “Nature” tại tư thất, Nguyễn Đăng Hưng
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/11/30/khong-biet-roi-david-cyranoski-se-hieu-the-nao-va-se-viet-gi-day.html/#more-2875

6. Một bước đầu cho việc phá sản của tuyên truyền Trung Quốc về đường lưởi bò
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/10/20/mot-buoc-dau-cho-viec-pha-san-cua-tuyen-truyen-trung-quoc-ve-duong-luoi-bo.html/#more-2697

7. Cách tuyên truyền kiểu Joseph Goebbels của Trung Quốc
http://www.ndanghung.com/category/bai-viet/page/39/

8. Báo Tuổi Trẻ phỏng vấn về đợt hoạt động của trí thức chuyên gia Việt Nam phản đối Trung Quốc áp đặt đường lưởi bò chiếm đoạt biển Đông Nam Á
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/10/03/bao-tuoi-tre-phong-van-ve-dot-hoat-dong-cua-tri-thuc-chuyen-gia-viet-nam-phan-doi-trung-quoc-ap-dat-duong-luoi-bo-chiem-doat-bien-dong-nam-a.html/#more-2621

9. Thư của trí thức chuyên gia Việt Nam gởi cho trên 100 tờ báo khoa học quốc tế
(Thư này vẫn còn mở để thâu nhận chữ ký)
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/10/02/tri-thuc-chuyen-gia-viet-nam-trong-va-ngoai-nuoc-tham-gia-phan-doi-duong-luoi-bo-trung-quoc-tai-bien-dong-nam-a.html/#more-2609

10. 57 khoa học gia và trí thức gởi thư cảnh báo bản đồ lưỡi bò của TQ
Quỳnh Chi, phóng viên RFA phỏng vấn GS Nguyễn Đăng Hưng
http://www.ndanghung.com/category/bai-viet/page/42/

11. VUSTA nên lên tiếng về đường lưởi bò phi pháp mà Trung Quốc áp đặt trên biển Đông Nam Á
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/08/15/vusta-nen-len-tieng-ve-duong-luoi-bo-phi-phap-ma-trung-quoc-ap-dat-tren-bien-dong-nam-a.html/#more-2368

12. Giới khoa học trẻ Việt Nam chống bá quyền Trung Quốc thành công ra sao
Nguyễn Đăng Hưng
Ngày 20/6/2001 báo mạng Bee.net vn có đăng bài
http://www.ndanghung.com/category/bai-viet/page/46/

13. Thảo luận về nguy cơ bá quyền Trung Quốc
Nguyễn Đăng Hưng
http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/05/15/viet-nam-hay-trung-quoc-ai-tham-lam-cua-ai.html/#more-2070

14. Một biểu hiện của tư duy bành trướng Trung Quốc
Nguyễn Đăng Hưng
http://www.ndanghung.com/category/bai-viet/page/48/

15. Cảm nghĩ nhanh sau khi đọc bài Giải mã “Lợi ích cốt lõi” và “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển đông
Nguyễn Đăng Hưng
http://www.ndanghung.com/category/bai-viet/page/52/

16. Viết lại kỷ niệm ngày tôi phát hiện chủ trương bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc, Nguyễn Đăng Hưng
http://www.ndanghung.com/category/bai-viet/page/55/

Posted in Giao Duc | 1 Comment »

►Nhật công khai hổ trợ Philippines và Việt Nam chống lại Trung Quốc ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 11/02/2013

Nhật cấp tầu tuần tra cho Philippines và huấn luyện tuần duyên Việt Nam

Mai Vân

11-2-2013

Thủy thủ Việt Nam chào đón khách tới thăm quần đảo Trường Sa
REUTERS

Theo tiết lộ của nhật báo Nikkei vào hôm nay, 11/02/2013, được AFP trích dẫn, Nhật Bản dự định tặng cho Philippines một số tàu tuần tra loại mới. Mục tiêu là để tăng cường năng lực của các nước Đông Nam Á trong việc giám sát hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông. Trong chiều hướng đó, Tokyo cũng sẽ giúp huấn luyện nhân sự cho Philippines và Việt Nam.

Bản tin trên tờ Nikkei không cho biết là Nhật Bản dự định tặng cho Philippines bao nhiêu chiếc tàu, nhưng đã xác định đây là tàu loại mới, trị giá hơn một tỷ yên (11 triệu đô la) một chiếc.

Vẫn theo tờ báo trên, chính phủ Nhật sẽ tài trợ cho kế hoạch cung cấp các chiếc tàu này trong tài khóa 2013 – bắt đầu từ tháng Tư tới đây – và hy vọng chính thức ký kết thoả thuận vào đầu năm tới.

Bên cạnh đó, lực lượng tuần duyên Nhật Bản cũng có kế hoạch huấn luyện nhân sự người Philippines và Việt Nam. Đây là một đóng góp thêm của Tokyo trong nỗ lực thúc đẩy hợp tác an ninh với vùng Đông Nam Á.

Trong dự luật ngân sách 2013 của Nhật, 2,5 tỷ yen đươc dành cho các khoản chi tiêu kể trên.

Nhật Bản, Philippines và Việt Nam đều là ba nước có vùng biển đang bị Trung Quốc tranh giành chủ quyền. Điểm nóng trong quan hệ Tokyo-Bắc Kinh hiện nay là quần đảo Senkaku-Điếu Ngư trên Biển Hoa Đông, trong lúc Philippines đang bị Trung Quốc tranh chấp vùng Scarborough Shoal ngoài Biển Đông, và quần đảo Hoàng Sa. Riêng Việt Nam bị Trung Quốc chĩa mũi dùi trên cả hồ sơ Trường Sa và Hoàng Sa.

Xin nhắc lại trong chuyến viếng thăm Philippines trong tháng qua, Ngoại trưởng Nhật Fumio Kshida đã kêu gọi thắt chặt quan hệ Nhật Bản – Philippines hầu bảo đảm hoà bình trong khu vực. Tân thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cũng đã chọn Việt Nam là nước đầu tiên ông ghé thăm khi được tín nhiệm trở lại cương vị này lần thứ hai.

Nguồn: RFI

——————————————

Nhật Bản tặng Philippines tàu tuần tra

BBC

bbc.co.uk/vietnamese

Nhật Bản có kế hoạch tặng một số tàu tuần tra biển trị giá 11 triệu USD mỗi chiếc cho Philippines, nhằm tăng cường công tác giám sát hoạt động hàng hải của Trung Quốc tại vùng tranh chấp ở Biển Đông, theo một tờ báo Nhật.

Báo Nikkei cũng được các hãng thông tấn quốc tế trích thuật hôm nay 11/2/2013 nói rằng “Nhật Bản có kế hoạch huấn huyện cho lực lượng tuần tra của Philippines và Việt Nam để nâng cao hợp tác quốc phòng trong vùng Đông Nam Á”.

Trong dự thảo ngân sách 2013 của chính phủ Nhật, chừng 2,5 tỷ yên được dành ra cho mục tiêu này.

Tuy thế, Nikkei là tờ báo kinh doanh duy nhất của Nhật tiết lộ tin này và cho tới nay chưa thấy truyền thông tại Việt Nam xác nhận chuyện Nhật Bản “huấn luyện” cho lực lượng tuần tra của Việt Nam.

Tháng trước, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Fumio Kishida đã thăm Manila và kêu gọi có quan hệ chặt chẽ hơn với Philippines để đảm bảo hòa bình trong khu vực.

Cũng vào cuối tháng 1, tàu hải quân Trung Quốc nhắm radar điều khiển hỏa lực vào tàu Nhật gần đảo Senkaku.

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe kêu gọi Bắc Kinh thừa nhận sự việc hôm 30/1 và xin lỗi.

Phía Nhật cũng nói trước đó, một trực thăng quân sự của Nhật cũng bị tàu Trung Quốc ‘ngắm bắn’ bằng radar loại này vào hôm 19/1.

Thế nhưng sau một số ngày im lặng, sang tháng 2 năm nay, Bộ Quốc phòng Trung Quốc bác bỏ cáo buộc của Nhật và yêu cầu Nhật không “khuấy động căng thẳng trong Biển Hoa Đông”.
Căng thẳng gia tăng

Trong lúc Nhật Bản vừa có tân thủ tướng và Trung Quốc chuẩn bị để ông Tập Cận Bình chính thức lên nắm chức Chủ tịch nước vào tháng 3 năm nay, các quan sát viên trong vùng đều bày tỏ lo ngại về nguy cơ xung đột ở cả hai vùng biển Hoa Đông và Biển Đông.

Victor Gao, Giám đốc Hội Nghiên cứu Quốc tế có quan hệ với Bộ Ngoại giao Trung Quốc viết trên BBC News tiếng Anh gần đây:

“Nhất Bản đang sử dụng ngày một nhiều tàu chiến và phi cơ quân sự quanh vùng đảo Điếu Ngư, và đang cố gắng kéo Hoa Kỳ vào nhân danh họ trong cuộc tranh chấp. Dù không chọn chỗ đứng trong vấn đề về chủ quyền, Hoa Kỳ đã xác nhận họ công nhận quyền quản trị của Nhật trên quần đảo Điếu Ngư và nói Hiệp ước phòng thủ Mỹ – Nhật áp dụng với cả vùng đảo này.

“Trình độ đi biển của Trung Quốc còn non kém và các tàu bán vũ trang của họ đôi khi mất khả năng xoay chuyển trong vùng biển dữ dội gần Senkaku”

Ông Tetsuo Kotani từ Viện Nghiên cứu Thời sự Quốc tế của Nhật (JIIA) thì cho rằng:

“Tình hình quanh vùng đảo Senkaku rất nguy hiểm. Hiện không có tranh chấp lãnh thổ gì cả theo định nghĩa của luật pháp vì đòi hỏi của Trung Quốc không có nền tảng pháp lý. Vì thế, Trung Quốc đang cố thay đổi tình trạng hiện hữu bằng vũ lực.”

Giới quan sát cũng đánh giá rằng Philippines đã ‘thua’ trong vụ giành giật bãi Scarborough Shoal với Trung Quốc và đây là bài học cho lực lượng tuần tra biển nước này.

Ông Tetsuo Kotani nhận định:

“Trung Quốc đã thành công trong việc chiếm đoạt quyền kiểm soát bãi san hô Scarborough Shoal ở vùng biển Nam Trung Hoa từ tay Philippines năm ngoái qua cách điều tàu bán vũ trang ra đó. Nhưng cách làm ấy sẽ không có tác dụng với Nhật Bản vì Lực lượng tuần duyên của Nhật có năng lực hơn nhiều.”

Về năng lực đi biển của Trung Quốc, ông Tetsuo Kotani:

Trình độ đi biển của Trung Quốc còn non kém và các tàu bán vũ trang của họ đôi khi mất khả năng xoay chuyển trong vùng biển dữ dội gần Senkaku.”

Nhưng ông thừa nhận các vụ như Trung Quốc ‘nhắm radar vào tàu Nhật’ là nguy hiểm và có thể đẩy căng thẳng lên cao.

Ngược lại, ông Victor Gao nói Nhật Bản cần giải quyết các di sản Thế chiến 2 của mình.

Ông cũng cảnh báo rằng nếu Tokyo muốn gây ra xung đột mà cuối cùng có thể kéo cả Trung Quốc và Mỹ vào ở thế đối đầu nhau, thì “đấy chỉ là hoang tưởng nếu nghĩ rằng một cuộc xung đột như thế có thể gây ra thắng lợi cho một bên dễ dàng”.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Quý Tỵ – Năm hy vọng có thay đổi

Posted by hoangtran204 trên 11/02/2013

Quý Tỵ – Năm hy vọng

Tác giả:

voatiengviet.com

dao

Năm Nhâm Thìn qua, Tết Quý Tỵ đến. Anh chị em đấu tranh cho dân chủ trong và ngoài nước có những niềm vui mới. Anh Nguyễn Quốc Quân được tự do, anh Lê Công Định ra khỏi nhà tù, blogger Lê Anh Hùng ra khỏi trại bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, những niềm vui đó không được trọn vẹn: 22 anh trong vụ án Bia Sơn bị tuyên án quá nặng, từ chung thân đến hơn 10 năm giam giữ.

Một tin đáng phấn khởi khác trong ngày Tết là Lời kêu gọi thực thi Quyền Con Người đã được hưởng ứng nhanh rộng đến mức kỷ lục, có thể đạt 5.000 người tham gia. Kiến nghị về việc sửa đổi Hiến pháp cũng được hưởng ứng tốt. Mười  sáu vị đại diện cho 72 trí thức đầu tầu đã đưa kiến nghị đến tận tay cơ quan dự thảo Hiến pháp, yêu cầu tiếp nhận và xem xét. Còn nhớ, hồi cuối năm 2010, khi Bộ Chính trị kêu gọi nhân dân đóng góp ý kiến vào các văn kiện trình Đại hội Đảng XI, hơn 30 trí thức tiêu biểu đã góp nhiều ý kiến xác đáng nhưng không một ý kiến nào được tiếp nhận. Lần này, người ta hy vọng Bộ Chính trị sẽ không khinh thị trí thức ra mặt như thế.

Năm Quý Tỵ này, có thể sẽ diễn ra một cuộc đụng độ lý luận quyết liệt giữa 2 trận tuyến đối lập – toàn trị và dân chủ, nhất nguyên và đa nguyên. Các vấn đề thay đổi tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam  và Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) cũng đã chín muồi để đưa ra thảo luận. Hiện nay, ngay trong ngôi đền thiêng liêng của giáo điều Mác – Lênin tại Việt Nam là Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia cũng vang lên những tiếng nói thẳng thắn, thức thời,  đòi đổi tên đảng, tên nước và bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành.

Một điều đáng mừng là lãnh đạo càng cấm và sợ phản biện bao nhiêu thì trí thức, văn nghệ sỹ, thanh niên ta càng tự tin và hăm hở thực thi quyền phản biện bấy nhiêu. Bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi vừa đưa ra đã bị phê phán là thiếu trách nhiệm, hời hợt, vụn vặt.

Theo bản dự thảo, thay đổi rõ nhất là đưa vào 2 câu hoàn toàn mới mẻ, không hề có trong cả 4 bản hiến pháp từ trước tới nay, đó là đoạn xác định  “Các lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân…” và  “ có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa…”.
Các nhà quan sát và giới phân tích cho rằng việc thêm vào 2 vế – một là trung thành với đảng CS, lại đặt trước Tổ quốc và nhân dân, vế ở dưới cũng đặt vấn đề nhiệm vụ bảo vệ đảng trước nhà nước và nhân dân, và thêm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa – rõ ràng là một mưu đồ đen tối, thâm hiểm nhằm mục đích duy nhất là duy trì quyền lợi và bảo đảm sự sống còn của nhóm thiểu số cầm quyền hiện nay.

Trong cuộc họp Quốc hội vào tháng 5 tới để thảo luận về dự thảo Hiến pháp mới, việc đầu tiên phải đạo là Ban dự thảo phải xin lỗi công khai nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân vì đã phạm sai lầm khi đặt đảng lên trước, lên trên nhân dân trong việc xác định trách nhiệm chính trị và nhiệm vụ của quân đội.

Thực ra chủ tịch Quốc hội phải chịu liên đới chịu trách nhiệm vì đã phê duyệt và tán thành bản dự thảo này. Ông sẽ không làm đúng nhiệm vụ là người lãnh đạo của một cơ quan dân cử nếu ông không dám lên tiếng nhận điều sai lầm đó trước Quốc hội và nhân dân.
Do đó một vấn đề về nguyên tắc được đặt ra là Quốc hội về thực chất là của đảng hay là của dân? Quân đội là của đảng hay của nhân dân? Đã có ý kiến trên một số mạng tự do là như vậy hãy gọi Quốc hội là “Đảng Hội” –  vì đảng viên CS chiếm đến 92 % số đại biểu – và gọi quân đội là “đảng quân” hay “cộng quân” cho xong chuyện. Mọi sự sẽ rõ ràng như họ mong muốn. Để tên Quân đội Nhân dân sẽ thành vô nghĩa.

Trong năm Quý Tỵ, có khả năng sẽ hình thành hai trận tuyến đối lập – độc đoán và dân chủ – trong cuộc đấu tranh chính trị bất bạo động  nhưng quyết liệt. Nhân dân ta đang có thời cơ để trưởng thành, già dặn trong đấu tranh. Nông dân đang thức tỉnh từng mảng lớn, từ Văn Giang, Vụ Bản đến Tiên Lãng, Cần Thơ. Sinh viên, thanh niên chiếm số đông cử tri cũng  đang sốt sắng tham gia việc nước. Việc các bạn trẻ ở thủ đô đã rủ nhau đi quyên giúp bà con dân oan nghèo khổ đói rét ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng và Hà Đông là một nét đẹp. Hàng chục vạn nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị o ép, hà hiếp, đang đòi quyền bình đẳng trong cạnh tranh. Giới luật sư và giới truyền thông – báo chí bị bịt mồm, mất tự do nghề nghiệp, hạ xuống công dân loại hai, đang vùng dậy. Cả một xã hội bị đè nén mấy chục năm ròng nhìn ra thế giới bỗng thấy không thể sống như thế này được nữa. Cả một xã hội đang vẫy gọi nhau liên kết lại, coi thay đổi Hiến pháp là đột phá khẩu mở cửa cho tương lai.

Khi Quốc hội của đảng không đáp ứng đòi hỏi chính đáng của nhân dân, thì có nhu cầu phải tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý theo nguyện vọng của toàn dân để lựa chọn giữa “dân chủ đa đảng hay dân chủ ảo một đảng”. Nếu chế độ không chịu tổ chức trưng cầu dân ý, nhân dân vẫn có cơ hội để đấu tranh ôn hòa giành thắng lợi quyết định. Đó là những  cuộc xuống đường rộng lớn, đã được tập dượt 2 năm nay qua hàng chục Chủ nhật xuống đường liên tiếp, cũng như hàng mấy ngàn người ghi tên trong các tuyên ngôn, tuyên bố, kiến nghị, gián tiếp biểu thị ý chí và quyết tâm ghi tên trong đội tinh binh tay không nhưng kiên cường quả đoán.

Ở nước ta các cuộc xuống đường chống Trung Quốc bành trướng và xâm lược bao giờ cũng gắn liền với đấu tranh cho dân chủ, và các chiến sỹ dân chủ luôn luôn đi đầu trong cuộc vận động chống bành trướng. Chúng ta đã có không ít kinh nghiệm và nhiều sáng kiến trong kiểu đấu tranh bất bạo động nhưng quyết liệt bền bỉ này.

Nhân dân Ấn Độ và Nam Phi đã toàn thắng như thế. Nhân dân Tunisia, Ai Cập đã toàn thắng như thế. Nhân dân Miến Điện cũng đang thắng lợi qua đấu tranh bất bạo động, không đổ máu như thế.

Đón Tết Quý Tỵ, chúng ta có quyền tin tưởng rằng nhân dân ta rồi cũng sẽ toàn thắng như thế.

© Bùi Tín – VOA

voatiengviet.com

Repost: danchimviet.info

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Blogger Điếu Cày tố cáo các vi phạm trong vụ án của mình

Posted by hoangtran204 trên 07/02/2013

Blogger Điếu Cày tố cáo các vi phạm trong vụ án của mình

Blogger Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải.Trà Mi-VOA

07.02.2013

Một blogger nổi tiếng bị lãnh án 12 năm tù về tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” từ trong trại giam gửi thư tố cáo rằng phiên tòa đối với anh là một vết nhơ thêm nữa cho nhân quyền Việt Nam.

Thủ bút của blogger Điếu Cày tố cáo những sai phạm trong quá trình điều tra, tố tụng tại phiên sơ thẩm ngày 24/9/12 vừa được nhà hoạt động dân chủ người Mỹ gốc Việt, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, phổ biến ra công luận. Cuối tháng giêng vừa qua, Hà Nội phóng thích và trục xuất ông Quân về Mỹ trước áp lực quốc tế sau 9 tháng giam cầm với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”. Tiến sĩ Quân đã gửi bản sao lá đơn tố cáo của Điếu Cày đến Ban Việt ngữ đài VOA.

Trong đơn, Điếu Cày, thành viên sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, nêu rõ phiên tòa xử ông là “bằng chứng rõ nhất cho sự thất bại của việc xây dựng một nền dân chủ tại Việt Nam”, “làm đổ vỡ hình ảnh một nhà nước pháp quyền trong mắt bạn bè quốc tế.”

Trong ba ngày hôm qua, hôm nay, và ngày mai mẹ con tôi vẫn trên đường đi tìm ông Hải. Vì họ đưa ông ấy đi, ngày hôm qua thì ở trại giam Chí Hòa, hôm nay thì ở trại giam Bố Lá, ngày mai thì đi trại giam Xuyên Mộc. Chúng tôi đến mỗi nơi đều bị người ta nói là đã chuyển ông ấy đi…

Blogger Điếu Cày (tức Nguyễn Văn Hải) nói vụ án của ông có rất nhiều vi phạm từ quá trình điều tra cho tới tố tụng, nhưng luật sư và bị cáo đã bị tòa tước đoạt hầu hết quyền được trình bày quan điểm tại phiên xử sơ thẩm.

Bà Dương Thị Tân, vợ của blogger Điếu Cày, nói với VOA Việt ngữ rằng thư tố cáo của chồng bà đã không được chuyển tới tay luật sư trước phiên phúc thẩm hôm 28/12 vừa qua:

“Cái đơn đó họ không có chuyển ra. Ông Hải phải viết đến 3 lần. Lúc gặp ông Hải trước phiên phúc thẩm, ông Hải nói là ông đã phải viết đơn kháng cáo đến 3 lần. Cả 3 lần đó, luật sư và gia đình đều không nhận được.”

Luật sư của Điếu Cày cho hay tuy không nhận được thư tố cáo của chính thân chủ mình, nhưng luật sư đã trình bày tất cả những sai phạm trong vụ án tại phiên phúc thẩm và dù tòa có ghi nhận, bản án vẫn không thay đổi.

Luật sư Hà Huy Sơn:

“Tôi không có được bản kháng cáo sơ thẩm đó. Dù không có, nhưng tôi có trao đổi với ông Hải và nắm bắt được tinh thần yêu cầu của bản kháng cáo đấy và tại phiên phúc thẩm, chúng tôi cũng đã nói đầy đủ những sai phạm của bên công tố, bên Viện Kiểm sát. Nhưng cuối cùng Hội đồng Xét xử không chấp nhận ý kiến của luật sư. Tôi nói rất rõ tại phiên tòa, nhưng rất tiếc không có báo chí độc lập tham gia phiên tòa đấy. Bên công tố và Hội đồng Xét xử cũng đã thừa nhận những điều tôi nói. Họ chỉ thừa nhận tại phiên tòa thôi, nhưng trong bản án, người ta không thừa nhận. Tại tòa, tôi nói rằng Câu lạc bộ Nhà báo Tự do không phải là một tổ chức; ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) không phải là người chỉ huy và ông cũng không viết một bài báo nào khác; và Hội đồng Xét xử, Viện Kiểm sát, bên công tố cũng không chứng minh được hậu quả ông Điếu Cày gây ra như thế nào theo như luật Việt Nam quy định. Nhưng cuối cùng, người ta vẫn kết án ông ấy như vậy.”

Luật sư Sơn nói tiếp:

“Ở nhà nước Việt Nam chúng tôi, vai trò luật sư rất bị hạn chế. Nhiều khi cơ quan tố tụng cũng không thực hiện đúng quy định của luật tố tụng hình sự do chính họ ban hành. Chúng tôi cũng đấu tranh nhưng nhiều khi cũng không được giải đáp.”

Chúng tôi luôn luôn vẫn tiếp tục và chúng tôi đang tiến hành việc kháng án lên Tòa án Nhân dân Tối cao đi tìm công lý. Sau Tết, chúng tôi sẽ tiến hành việc kháng án…
» Bà Dương Thị Tân, vợ blogger Ðiếu Cày.

Theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, trong quá trình điều tra, truy tố, hay xét xử có những sai phạm rõ ràng thì bị cáo có quyền yêu cầu xem xét lại bản án ở cấp Giám đốc thẩm. Bà Tân, vợ Điếu Cày, cho biết gia đình bà sẽ tiếp tục đấu tranh đòi công lý lên tới cấp cao hơn:

“Chúng tôi luôn luôn vẫn tiếp tục và chúng tôi đang tiến hành việc kháng án lên Tòa án Nhân dân Tối cao đi tìm công lý. Sau Tết, chúng tôi sẽ tiến hành việc kháng án để Giám đốc thẩm vì tất cả những điều họ làm trong phiên xử này hoàn toàn ngụy tạo hầu trói buộc cho người ta những cái tội danh.”

Tuy nhiên, luật sư của Điếu Cày cho rằng:

“Về cơ hội Giám đốc thẩm, xét xử lại theo thủ tục Giám đốc thẩm, với pháp luật Việt Nam thì cái đấy quy định cũng rất không rõ ràng. Chúng tôi cũng không biết dựa vào đâu để mà đấu tranh. Tôi không hy vọng điều đó mà tôi sợ rằng cái này tốn kém, phiền phức cho gia đình thân chủ của chúng tôi thôi.”

Thân nhân blogger Điếu Cày cho biết hiện ông đang liên tục bị chuyển trại giam mà chính quyền không hề thông báo với người nhà.

“Trong ba ngày hôm qua, hôm nay, và ngày mai mẹ con tôi vẫn trên đường đi tìm ông Hải. Vì họ đưa ông ấy đi, ngày hôm qua thì ở trại giam Chí Hòa, hôm nay thì ở trại giam Bố Lá, ngày mai thì đi trại giam Xuyên Mộc. Chúng tôi đến mỗi nơi đều bị người ta nói là đã chuyển ông ấy đi. Nhưng họ không hề thông báo cho gia đình theo luật pháp quy định.”

Cái đơn kháng cáo (của blogger Ðiếu Cày) họ không chuyển ra. Ông Hải phải viết đến 3 lần. Lúc gặp ông Hải trước phiên phúc thẩm, ông Hải nói là ông đã phải viết đơn kháng cáo đến 3 lần. Cả 3 lần đó, luật sư và gia đình đều không nhận được…

» Vợ blogger Ðiếu Cày.

Trước đó, giới hữu trách có chỉ thị cấm người nhà được thăm gặp blogger Điếu Cày cho tới sau Tết Nguyên Đán, viện dẫn lý do “không tuân thủ mệnh lệnh của cán bộ tổ chức thăm gặp”. Theo quy định, người thân được phép thăm gặp Điếu Cày vào mỗi thứ tư đầu tiên trong tháng.

Bà Dương Thị Tân, vợ Điếu Cày, nói tiếp:

“Cái lệnh đó có hiệu lực ở trại giam Chí Hòa. Còn khi đi trại giam khác thì nó hết hiệu lực. Nhưng đến trại giam khác thì họ vẫn cản trở bằng cách là thuyên chuyển ông Hải liên tục.”

Trong vụ án của ba thành viên chủ chốt thuộc Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, blogger Điếu Cày và blogger Tạ Phong Tần bị giữ y án lần lượt là 12 và 10 năm tù sau phiên phúc thẩm ngày 28/12/12, khiến cộng đồng quốc tế mạnh mẽ chỉ trích thành tích nhân quyền của Việt Nam. Tại phiên sơ thẩm và phúc thẩm, chỉ có blogger AnhbaSG nhận là phạm tội và lãnh án nhẹ nhất, từ 4 năm còn 3 năm tù.

Nhà báo tự do Điếu Cày từng được đích thân Tổng thống Mỹ Barack Obama vinh danh nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới hồi tháng 5 năm ngoái.

Nguồn: VOA

=========================

Đơn kháng án của Blogger Điếu Cày

Chân Như thực hiện

Theo Đài RFA


Đơn kháng án của Blogger Điếu Cày gửi TS Nguyễn Quốc Quân chuyển ra ngoài.TS Nguyễn Quốc Quân, một người Mỹ gốc Việt bị Việt Nam trục xuất hồi tháng trước, ngoài chuyện được tự do ra khỏi nhà tù, ông còn mang theo được lá thư của một tù nhân lương tâm nổi tiếng khác tại Việt Nam là blogger Điếu Cày sang Mỹ.

Nhà báo Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày tại phiên sơ thẩm hôm 24/9/2012.

Đài Á Châu Tự Do hỏi chuyện Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân xung quanh lá thư của blogger Điếu Cày. Mời quý vị cùng theo dõi.

Chân Như: Lời đầu tiên xin gởi lời chào đến TS Nguyễn Quốc Quân. Xin ông có thể cho khán thính giả của Đài Á Châu Tự Do biết là ông đã nhận được lá thư của blogger Điếu Cày trong trường hợp nào?

TS Nguyễn Quốc Quân : Chào Chân Như. Kính chào quý vị khán thính giả của Đài RFA. Tôi nhận được cái thư của anh Điếu Cày, thứ nhất là anh Điếu Cày nhập vào Trại B-34 từ nơi khác đến vào ngày 23 tháng 9. Ảnh vào B-34 để mà chuẩn bị ra tòa về vụ Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, và anh Điếu Cày ở đó được khoảng chừng gần 2 tuần cho nên có cái cơ hội anh em thò miệng ra ngoài cửa sổ để nói chuyện với nhau. Tôi quen giọng anh Điếu Cày cho nên nghe giọng thì cũng nhận ra ảnh là anh Điếu Cày. Và những người tù bên cạnh khi ảnh đi ngang qua thì thấy mặt và họ bảo đó chính là anh Điếu Cày.

Khi nhận được thủ bút của anh Điếu Cày thì tôi mới dám nghĩ rằng 99% người viết chính là anh Điếu Cày, nhưng mà qua tính khí khái của những lời lẽ mà ảnh nói thì quả thật tôi cho rằng tôi rất là may mắn được giao lưu, tức là trò chuyện với anh Điếu Cày xuyên qua lỗ cửa sổ.

Tôi ở Phòng 14 còn anh Điếu Cày ở Phòng 16, tức là chỉ cách nhau một phòng thôi. Đó cũng là một điểm rất là lạ mà chúng tôi, tôi và Điếu Cày cũng có bàn với nhau là không biết tại sao họ lại để cho hai người tù chính trị ở sát với nhau như thế.

Chân Như : Như theo lời ông kể thì có nghĩa là ông bị giam chung nhà tù với blogger Điếu Cày. Ngoài việc giao lưu qua lại qua lỗ cửa sổ, vậy còn cơ hội gặp mặt với blogger Điếu Cày trong tù thì sao ạ?

TS Nguyễn Quốc Quân : Về gặp mặt thì không thể gặp mặt rồi, và ngay cả lúc tôi đi “làm việc”, theo cái nghĩa là đi ra ngoài để điều tra, hay là anh Điếu Cày đi ra ngoài để dự phiên tòa đó, thì cũng không bao giờ đi ngang phòng nhau, do đó cũng không có cơ hội để nhìn thấy mặt nhau. Nhưng mà sau khi ảnh vào rồi ảnh trò chuyện với người bên cạnh thì người bên cạnh mới bảo là có anh Nguyễn Quốc Quân. Cho nên chúng tôi đã lên tiếng với nhau để làm quen và nói chuyện với nhau.

Chúng tôi mỗi lần nói chuyện, vì chỉ cách có một phòng thôi nên gần nhau, cho nên chúng tôi có thể nói chuyện một cách trực tiếp, nghĩa là chỉ cần nói to lên thôi là phòng bên cạnh có thể nghe được.

Trong những giờ cửa mở, khi cửa mở thì chúng tôi ra cái hàng rào để mà có chỗ tắm, mặc dù không thể nhìn mặt nhau và mặc dù khoảng cách vẫn nhất định như vậy, nhưng mà mình có thể nói lớn và nói xuyên qua cái hàng rào để mà nghe được. Đó là cơ hội để mà nói chuyện. Và ở trong tù thỉnh thoảng người ta vẫn hát cho nhau nghe vào ban đêm. Người này hát, người kia hát, chẳng hạn như hôm đó, hai hôm sau anh Điếu Cày có hát bản “Tự Do”, còn tôi thì tôi đọc tặng cả dãy nhưng thực sự tặng anh Điếu Cày, tôi đọc bài thơ “Lời Mẹ Dặn” của nhà thơ Phùng Quán, mà có mấy câu thơ cuối cùng thì anh Điếu Cày rất đắc ý, mặc dù ảnh chưa từng nghe bao giờ. Các câu thơ đó là :

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Những câu đó rất phù hợp với vai trò anh Điếu Cày trong thời gian này.

Chân Như : Dạ vâng. Trở lại với nội dung chính. Xin ông có thể cho biết một vài điểm chính trong bức thư này được không ạ?

TS Nguyễn Quốc Quân : Nói là bức thư thì không hẳn đúng là như vậy. Đó là cái đơn kháng cáo của anh Điếu Cày. Như tất cả quý khán thính giả đã biết là anh Điếu Cày bị xử án, cùng với chị Tạ Phong Tần, là 12 năm tù và 5 năm quản chế. Ảnh có nói với tôi như thế này: Công tố viện đã đòi phải xử thật nặng, nhung khi mà vào hội đồng xét xử thì họ đã khuyến mãi thêm 2 năm tù nữa và 5 năm quản chế. Tổng cộng là 12 năm tù và 5 năm quản chế. Ảnh bảo rằng là ảnh tin rằng cái Điều 88 khắc nghiệt này là chắc chắn sẽ chết trước khi ảnh ra tù. Đó, tôi cho cái đó mới là thông điệp chính.

Nói trở lại cái tờ giấy mà tôi nhận được, đó chính là cái đơn kháng cáo sau khi nhận được bản đó rồi về ngày hôm sau ảnh có viết một cái đơn kháng án để đòi xử án lại. Thì cái đơn ảnh viết là khá đanh thép và rất hào hùng, do đó người quản giáo không chịu nhận tờ giấy đó. Họ bảo rằng là muốn kháng cáo phải viết một tờ giấy lễ phép hơn. Thế là anh Điếu Cày có tranh luận với họ, nhưng người quản giáo chỉ biết chấp hành lệnh trên thôi. Nếu mà không viết lại thì họ không gửi cái đơn kháng án. Do đó ảnh đã lấy tờ giấy khác để viết lại. Thế là cái tờ giấy mà ảnh viết trước đó (tôi xin mở ngoặc kép) nó bay qua phòng của tôi giống như một món quà, để cho tôi đọc. Và khi tôi đọc cái đơn kháng án đó thì tôi rất là xúc động. Ảnh bảo rằng là không có gì để gửi tâm tư của mình ra bên ngoài thì nhờ Quân thuộc cái đó để nói lại với công luận thế giới, nói lại với công luận Việt Nam ở nước ngoài. Tôi đã quyết tâm là làm thế nào cho tờ giấy đó được đến tay của hải ngoại.

Nếu mà quý vị biết thì trong bất cứ nhà tù nào, đặc biệt là nhà tù cộng sản không hề có những dòng chữ, không hề có bút hay giấy, và mỗi một tháng họ đều vào trong phòng họ xét rất kỹ. Và tôi biết chắc rằng nếu một khi tôi rời khỏi trại giam là họ xét tôi rất là kỹ, do đó tôi không thể giữ tờ giấy đó ở trong phòng. Tại vì tôi nhận được từ hồi tháng 9, do đó tôi đã tìm cách nhờ những người tin cậy chuyển tờ giấy đó ra khỏi trại. Người giúp đỡ đó tôi xin phép không được nói tên ở đây. Rất là may mắn, mọi thứ đã êm xuôi, và tờ giấy đã ra được đến hải ngoại sau khi tôi đã đến nơi an toàn ở bên Hoa Kỳ một ngày.

Nội dung của tờ kháng án đó gồm 2 phần chính mà phần đầu nói lên sự sai trái trong buổi xét xử và suốt trong thời gian điều tra, tức là những cái sai phạm, các vi phạm pháp luật cho bộ luật tố tụng hình sự. Phần thứ hai là anh Điếu Cày đã nêu lên những phi pháp của Điều 88 nói riêng và một số điều luật khác nói chung ở trong bộ luật tố tụng hình sự.

Không những thế, anh Điếu Cày còn liệt kê một số điều luật trái ngược với chính Hiến Pháp Việt Nam nữa, do đó anh mới bảo rằng là Điều 88 là điều cần phải bị xóa bỏ khỏi Bộ Luật Tố Tụng cùng với một số điều luật khác. Tôi cho đó là một bản thông điệp và mong chờ hải ngoại cũng như quốc tế hãy tìm cách xóa bỏ Điều 88.

Chân Như : Vậy ông có kế hoạch nào để vận động cho blogger Điếu Cày trong thời gian tới hay không? Và liệu với lá đơn kháng án trong tay, ông có hy vọng gì trong việc đi tìm công lý cho blogger Điếu Cày?

TS Nguyễn Quốc Quân : Cho đến nay thì cũng chưa có cái kế hoạch gì một cách cụ thể và cái đơn kháng án của anh Điếu Cày mang ra giống như lời kêu gọi đồng bào hãy chú tâm vào điều luật mà họ đã rất là tùy tiện bắt giữ người và rất là tùy tiện khi xét xử. Tôi cho rằng đơn kháng án của anh Điếu Cày coi giống như là một lời nhắn gửi thân thương của anh Điếu Cày đến đồng bào hải ngoại vì đã từ lâu rồi anh ấy vắng mặt. Rất là mong sự tiếp tay của đồng bào, cũng như sẽ vận động để coi như là cái bằng chứng để cho chính quyền Hoa Kỳ nếu quan tâm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam thì lúc đó có thể coi như là một lý do để làm thế nào vô hiệu hóa hai Điều 79 và 88.

Chân Như : Xin cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân đã cho Đài Á Châu Tự Do những chia sẻ vừa rồi ạ.

TS Nguyễn Quốc Quân : Dạ vâng. Xin cảm ơn Đài đã cho tôi có cơ hội để mà hoàn thành một phần nào đó cái thông điệp, cái tấm lòng của anh Điếu Cày, một người mà tôi vô cùng mến phục, kính phục, và chúng tôi đã học hỏi lẫn nhau rất là nhiều điều. Trong suốt thời gian trong tù chính anh đã chuyển thức ăn cho tôi vì tôi rất là thiếu thức ăn, và tôi cũng tặng cho anh hai cuốn sách mà sách ở trong tù thì rất là quý. Tôi đã tuyệt thực nhiều ngày để có các sách đó và tôi cảm thấy món quà đó vào tay anh Điếu Cày thì nó có giá trị hơn rất là nhiều.

* * *CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc

ĐƠN KHÁNG ÁN

Bản án hình sự sơ thẩm số 340/2012/HSTS
ngày 20/7/2012

Kính gởi: Tòa án nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh

Tôi tên: Nguyễn văn Hải, sinh năm 1952
Quê quán: Hải Dương,
Nơi Đăng Ký Thường Trú: 57/3 & 57/4 Phạm Ngọc Thạch Phường 3. Quận 3. TP Hồ Chí Minh

Bị bắt ngày 20/10/2010 Hiện đang bị giam giữ tại trại tạm giam B34/BCA.

Tôi làm đơn này Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm được đưa ra xét xử ngày 24/9/2012 tại Trụ sở Tòa Án Nhân Dân TP Hồ Chí Minh.

Bằng cách điều hành độc tài, chủ tọa phiên tòa Vũ Phi Long đã ngang nhiên tước đoạt hầu hết quyền lợi của bị cáo, luật sư…

* Khống chế thời gian bào chữa của Luật sư còn 10 phút.

* Tước đoạt quyền tự bào chữa của bị cáo.

* Không cho bị cáo tranh luận cùng Viện Kiểm Soát.

* Không đưa ra chứng cứ buộc tội tại phiên tòa.

* Không cho bị cáo thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình.

* Không chứng minh được bị hại và tiến hành tố tụng không liên quan với nhau.

* Không cho Luật sư tiếp cận hồ sơ gốc của vụ án v.v…

* Không có mặt giám định viên Văn Hóa Thông Tin và Công Nghệ Thông Tin tại tòa.

Đây là một vụ án có rất nhiều vi phạm trong quá trình điều tra, vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng nhưng chủ tọa đã tước đoạt hầu hết quyền được trình bày quan điểm bào chữa của Luật Sư, bị cáo không thể hiện được đó là một phiên tòa công bằng, công khai, độc lập và không thiên vị mà còn làm đổ vỡ hình ảnh một nhà nước pháp quyền trong mắt bạn bè quốc tế. Phiên tòa này đã là bằng chứng rõ nhất cho sự thất bại của việc xây dựng một nền dân chủ tại Việt Nam.

• Căn cứ Hiến pháp Việt Nam.

• Căn cứ các điều 5; 18; 19; 21; 22 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị 1966 mà Việt Nam đã tham gia ngày 24/9/1982.

• Căn cứ trên đầu mỗi bộ luật của VN rằng: “Trong bộ luật này, nếu có những điều, khoản không phù hợp với Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết thì phải được hiểu theo Công ước quốc tế”.

Việc tham gia thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, việc thực hiện Quyền Tự do Báo chí, Tự do Ngôn luận, Tự do Lập hội, biểu tình, hội họp là không vi phạm pháp luật.

Phiên tòa được lập và đưa ra xét xử với lý do một số bài có nội dung chống Nhà nước và Đảng cộng sản nhưng lại không đưa ra được tên bài, nội dung bài viết và tranh luận nội dung bài viết đó mà chỉ đưa ra và sự suy diễn, quy chụp của Giám định viên văn hóa Thông Tin để xét xử mà không cần có giám định việc làm khác tại tòa tham gia tranh luận là không công bằng.

Posted in Pháp Luật, Trại Tù | Leave a Comment »

►Luật sư Lê Công Định đã được trả tự do, liệu ông có còn giữ ý định xin đi Mỹ tị nạn chính trị không?

Posted by hoangtran204 trên 06/02/2013

Ls Lê Công Định  đã được trả tự do trước thời hạn vào sáng 6 tháng Hai, 2013, theo giờ Việt Nam.

Phiên tòa ở Long An, em Phương Uyên được trả lại tự do và Đinh Nguyên Kha được giảm án xuống còn 4 năm, án cũ là 8 năm. Hà nội  đã thả các nhân vật bất đồng chính kiến này để được quốc hội Mỹ cứu xét cho vào Tổ Chức Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP, để được giảm thuế nhập khẩu vào Mỹ và mua hàng giảm thuế từ các quốc gia hội viên.

Mời các bạn xem bài ngày 18-8-2013 của Trần Hoàng bình luận về chuyện Hà Nội trả tự do cho Phương Uyên, bất chấp em này đã tuyên bố trước tòa phúc thẩm Long An:   “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần toà xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống ĐCS không phải chống phá đất nước, dân tộc. Các ông đừng đánh đồng!“ 

►Sau cùng, Hà Nội phải nhượng bộ và thả Phương Uyên để làm đẹp lòng Quốc Hội Mỹ và đạt được mục đích

Tôi yêu Tổ quốc, nhưng xin đừng đánh đồng với Đảng

Luật sư Lê Công Định đã được trả tự do

6-2-2013

Theo Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Nhiều nguồn tin trên mạng xã hội từ Việt Nam cho hay, luật sư Lê Công Định đã được trả tự do trước thời hạn vào sáng 6 tháng Hai, 2013, theo giờ Việt Nam.

Trang Blog của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết, ‘Sáng nay những người thân của LS Lê Công Định đã vào khám Chí Hòa Sài Gòn đón LS trở về nhà. Ông được thả ra trước thời hạn. LS Lê Công Định bị kết án 5 năm tù kể từ năm 2009 theo điều 79 và 88 Bộ luật hình sự.’


Luật sư Lê Công Định. Hình chụp năm 2009. (Hình:AFP/AFP/Getty Images)

Trả lời phỏng vấn của báo Người Việt, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh xác nhận tin này và nói thêm rằng, ông ‘rất vui vì trước đây có gặp Đinh vài lần do công việc. Định là người trẻ tuổi, tài năng, có tâm với đất nước, lý tưởng Định theo đuổi với các bạn của mình như Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long… là điều tốt đẹp mà hiện nay nhiều thanh niên đang hướng theo. Nó đó là làm cho xã hội văn minh dân chủ , kinh tế giàu mạnh.’

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh nói thêm, ‘Gia đình và bạn bè của Định sẽ rất vui, nhiều bạn đã vào tận Khám Chí hòa đón Định ra.’

Luật sư Lê Công Định, nguyên Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư Sài Gòn, một trí thức từng có nhiều bài viết cổ súy cho dân chủ tại Việt Nam, bị bắt vào lúc 11 giờ trưa Thứ Bảy, 13 tháng 6, năm 2009, tại nhà riêng ở Sài Gòn.

Cùng bị bắt với Lê Công Ðịnh, là các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, và Nguyễn Tiến Trung.

Tất cả đều bị qui chụp cho tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 của Luật Hình Sự Việt Nam.

Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra ngày 20 tháng Giêng năm 2010, Tòa án thành phố Sài Gòn tuyên án Luật sư Lê Công Định bị 5 năm tù giam (kèm 3 năm quản chế). Ba người khác là doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm tù giam (kèm 5 năm quản chế), Nguyễn Tiến Trung bị 7 năm tù (kèm 3 năm quản chế), Lê Thăng Long bị 5 năm tù (kèm 3 năm quản chế).

Bốn tháng sau, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11 tháng 5, 2010, luật Sư Lê Công Ðịnh, ông Trần Huỳnh Duy Thức đã bị y án sơ thẩm trong khi ông Lê Thăng Long được giảm xuống còn 3.5 năm tù, còn Nguyễn Tiến Trung, không kháng án.

Trước luật sư Lê Công Định, nhà dân chủ Lê Thăng Long được trả tự do hôm 4 tháng 6 năm 2012.

Vụ án bắt giam và bỏ tù luật sư Lê Công Định và các bạn bè của ông, thường được gọi là ‘vụ án Lê Công Định’, đã gây rúng động dư luận cả trong lẫn ngoài Việt Nam, khi những người trí thức trẻ tuổi dấn thân cho công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

Thời gian vừa qua, từng có tin đồn Luật sư Lê Công Định được thả và Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận cho ông tị nạn chính trị, nhưng điều đó đã không xảy ra.

Sau khi Lê Công Định bị bắt và giam giữ trong tù, Bộ Ngoại Giao và nhiều Dân Biểu Hoa Kỳ cùng nhiều tổ chức quốc tế đã kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông.

Ngay sau khi Lê Công Định bị bắt, bản lên tiếng của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ viết: ‘Hoa Kỳ quan ngại sâu sắc hành động của Chính Phủ Việt Nam bắt giữ luật sư Lê Công Định. Ông Định là một luật sư nổi tiếng của Việt Nam cũng như trong cộng đồng luật sư quốc tế. Không một ai có thể bị bắt chỉ vì bày tỏ quyền tự do ngôn luận, và không một luật sư nào có thể bị kết tội chỉ vì nhân thân của người mà họ chọn để tư vấn hay biện hộ.’

‘Vụ Việt Nam bắt ông Định là mâu thuẫn với luật pháp và đi ngược lại những cam kết của Chính Phủ Việt Nam đối với các tiêu chuẩn có tính quốc tế về nhân quyền. Chúng tôi kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho ông Định cũng như những tù nhân đang bị giam giữ vì đã bày tỏ một cách ôn hòa quan điểm của họ.’

Thậm chí, ngay sau đó cả trong lẫn ngoài nước đã xuất hiện một phong trào vận động chữ ký trên internet phản đối nhà cầm quyền CSVN đã bắt giam luật sư nhân quyền Lê Công Định. (KN)

————–

Công an Tp.HCM đề nghị LS Lê Công Định rút lại đơn xin tị nạn

Thoạt nhìn vào, ai cũng tưởng giữa địa phương và trung ương đang có mâu thuẩn về chuyện tiếp tục bỏ tù hay thả Lê Công Định. Vì theo tin của VOA thì Bộ Ngoại Giao và Bộ Nội Vụ ở Hà Nội đồng ý cho LS Lê Công Định đi tị nạn chính trị ở Mỹ, nhưng Sở Công an TPHCM đề nghị gia đình khuyên luật sư Lê Công Định rút lại đơn xin đi Mỹ tị nạn chính trị. Nhưng chắc không phải vậy, Sở CA thành phố thì làm gì dám đương đầu với ngoài Trung Ương. Vụ này chưa giải quyết ổn thỏa vì có lẻ còn đang có sự mặc cả và kèn cựa trong nội bộ của đảng. Việc này tưởng là giải quyết kín, nhưng nay thì quá nhiều người biết, nên  cuối cùng thì Lê Công Định cũng được đi tị nạn qua Mỹ mà thôi.

Công an Tp.HCM đề nghị LS Lê Công Định rút lại đơn xin tị nạn

Công an TPHCM đề nghị gia đình khuyên luật sư Lê Công Định rút lại đơn xin đi Mỹ tị nạn chính trị, nhưng ông Định đã từ chối.

Sở Công an TPHCM đề nghị thân nhân của luật sư bất đồng chính kiến Lê Công Định khuyên ông nên rút lại đơn xin đi Mỹ tị nạn chính trị, theo tin từ gia đình của luật sư Định.
Bà Ánh, chị dâu của ông Định cho VOA Việt ngữ biết:

“Trước khi Định nộp đơn, Bộ Nội vụ có vô trại giam làm việc và hỏi ý kiến Định về việc họ tính cho Định đi tị nạn chính trị. Định mới nộp đơn đồng ý đi Mỹ ngày 23/11. Đến ngày 12/2, hai cán bộ Sở Công an thành phố tới nhà làm việc với mẹ của Định, đề nghị khuyên Định rút đơn xin đi Mỹ lại vì không có lợi. Mẹ Định vào thăm nói với Định, Định bảo đã quyết định rồi, không rút đơn lại. Từ ngày Định nộp đơn, nói chung cũng có nhiều áp lực. Người nhà tôi chỉ trông giải quyết cho Định được tự do. Nghe nói Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ đã làm việc xong rồi, không hiểu sao thành phố chưa chuyển đơn của Định lên trên. Tôi hỏi thăm Tòa đại sứ Mỹ, họ bảo chưa nhận được đơn đó. Tòa đại sứ cho biết Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ đồng ý cho Định đi tị nạn chính trị với điều kiện Định phải chịu định cư ở Mỹ. Định đã nộp đơn hợp lệ rồi, không hiểu lý do vì sao họ cứ đợi chờ. Bây giờ mỗi tháng gia đình được thăm gặp 1 lần, gần đây nhất là hôm 3/2.”

Trường hợp của luật sư Lê Công Định được chú ý trước chuyến thăm của phái đoàn thượng nghị sĩ Hoa Kỳ và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á, Kurt Campbell, tới Việt Nam đầu tháng giêng và đầu tháng hai (2012) , mà qua đó, Hà Nội gửi thông điệp muốn được Mỹ cung cấp võ khí. Đáp lại, ông Campbell nói Việt Nam nên cải thiện thành tích nhân quyền để đạt tiến bộ trong quan hệ với Mỹ.

Đầu năm 2010, luật sư nhân quyền được nhiều người biết đến Lê Công Định bị tuyên án 5 năm tù với tội danh ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ vì tham gia các hoạt động kêu gọi dân chủ và đa đảng tại Việt Nam.

Nguồn: VOA

Posted in Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Người dân Hà Nội đã ngăn chận sự lộng quyền của Công An Hà Đông- Hà Nội như thế nào

Posted by hoangtran204 trên 06/02/2013

Tin 5-2-2013

KHẨN: Nguyễn Văn Phương vừa báo đang cùng mấy anh em trẻ đi trao quà dân oan ở Ngô Thì Nhậm Hà Đông thì bị công an và côn đồ vây đánh. Tình hình rất khẩn cấp, mọi người loan tin và đến ngay nhé! Cụ Lê Hiền Đức đã gọi cho quận trưởng Hà Đông nhưng chưa có phản ứng gì.

Theo Lã Việt Dũng

——————–

Tin khẩn từ Hà Đông. Mọt số bạn trẻ mang quà Tết cho dân oan tại Hà Đông, đang bị côn đồ bao vây. Anh em nào gần đó di chuyển gấp về Ngô Thì Nhậm, Hà Đông. Xin chia sẻ tin này. Liên hệ số điện 0974542143.

Theo Người Buôn Gió

Tin nóng: Bà con dân oan khổ thế này nhưng khi người Hà nội đang mang quần áo ấm đến đùm bọc giúp đỡ họ tại Ngô Thì Nhậm – Hà Đông thì lại đang bị công an đàn áp… (Không hiểu chúng là người hay thú dữ đây?)

Theo Mai Dũng

——————–

Gió lang thang và Hư vô đang bị bắt vào đồn công an phường Quang Trung – Hà Đông… Hư vô vừa bị đánh vào mặt… Ứng cứu khẩn cấp…

Theo Người Buôn Gió

———————-

Dân đang xúm đông trước cửa đồn CA. Chí Đức bị doạ đánh.

Theo Lã Việt Dũng

————————

Người Buôn Gió

ngày xưa bọn thực dân nó chôn rượu lậu vào vườn nhà người ta, rồi hôm sau dẫn quân đến khám bắt tội chủ nhà.

Chế độ sau này tốt hơn, côn đồ ở đâu bất ngờ đánh sinh viên làm từ thiện. Công an đến bắt người bị đánh về giam để tra xét về tội gây rối. Lý do công an đưa ra là- nếu chúng mày ở nhà, không đến đấy thì ai vào nhà mà đánh, mày ra chỗ công cộng để bị đánh có phải nguyên nhân từ mày ra đầu tiên không, bọn tao phải điều tra rõ, cứ ở đây xem xét.

Thay vì truy bắt bọn côn đồ, Công an Hà Đông lại bắt hai em bị chúng đánh và đem về trụ sở công an phường để điều tra và giam giữ.

Giờ này vẫn bị giam giữ trong đồn trái phép! ———————–

Sau khi đọc tin trên mạng internet và biết được các cô bác dân oan Miền Nam ra khiếu kiện đất đai ngoài Hà Nội đang đói khổ và cần được giúp đỡ thức ăn, hưởng ứng lời kêu gọi này, rất nhiều thanh niên thiếu nữ đã mang quà biếu tết cho những dân oan Miền Nam.

Nhưng công an Hà Nội đã sai bọn côn đồ đến ngăn chận và đánh đập những người đi biếu tặng phẩm, thậm chí bọn này còn xông vào nhà đánh các em.

Hai em bị bọn côn đồ đánh đập đã báo cho công an biết, nhưng thay vì được bảo vệ, thì Công an Hà Nội đã bắt giữ 2 em này. Họ đã điều tra, hỏi cung, và bắt giam hai em này, với lý do rất ngang ngược:  “nếu chúng mày ở nhà, không đến đấy thì ai vào nhà mà đánh. Mày ra chỗ công cộng để bị đánh có phải nguyên nhân từ mày ra đầu tiên không? bọn tao phải điều tra rõ, cứ ở đây xem xét.”

Tin các em này bị bắt giữ được truyền đi bằng các cú gọi phone, các tin nhắn qua điện thoại; các anh Nguyễn Chí Đức, Lã Việt Dũng, Người Buôn Gió,…đã có mặt trước trụ sở công an phường để phản đối. Nhưng họ bị công an bắt vào đồn. Trước đó, họ cũng đã kịp thời nhắn tin kêu gọi mọi người tới giúp đỡ. Cùng lúc ấy có gần 100 đồng bào đã đến tụ tập ngay trước trụ sở công an phường để đòi để đòi công an phải thả 2 em đang bị bắt giam trái phép.  

Nhiều thanh niên mạng dạn la to và mọi người cùng hô to:

Công an bắt cóc dân, Công an bắt cóc dân, …
Đả đảo công an phường bắt dân chúng vào nhà giam,…Đả đảo
phản đối,… phản đối; phản đối… phản đối…phản đối

Thấy không êm vì dân chúng ngày càng tập trung đến rất đông, công an phường phải thả 2 em ra.

http://www.youtube.com/watch?v=lJ9s7dlb76A

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Mặc dù ngày càng thịnh vượng, khẩu vị của người Việt vẫn kỳ dị: Ăn sạch Chim, chuột, Chó –Và uống 2,6 tỷ lít bia trong năm 2011

Posted by hoangtran204 trên 05/02/2013

Nhà nước khuyến khích các việc vui chơi ăn uống  vì các lợi ích của các công ty xuất nhập khẩu do cán bộ cao cấp làm chủ chuyên mua bia ngoại, nhập về VN kiếm lời  va vì  dân chúng mãi say sưa, quên hết thế sự, không ý thức được tình trạng: TQ đang chiếm dần Biển Đông, cướp đất đai biên giới, và xuất khẩu 21 tỷ đô la máy móc, đồ ăn uống, và các món hàng độc hại qua Việt Nam.

Trong khi dân chúng bị đầu độc kiểu ấy, trở nên say sưa mê muội, bệnh hoạn và đảng sẽ tha hồ cai trị, cướp đất đai, liên kết với Trung Cộng và nắm quyền mãi mãi.

Trước khi đọc bài viết “Mặc dù ngày càng thịnh vượng, khẩu vị của người Việt vẫn kỳ dị”, của một nhà báo đã từng đoạt giải Pulitzer, Joel Brinkley, mời các bạn điểm qua vài hàng về các kỷ lục uống bia trong chừng vài năm qua.

Trich:

“Việt Nam “ngốn” gần 2,6 tỷ lít bia trong năm 2011, vượt xa hai nước đứng ở vị trí tiếp theo là Thái Lan và Philippines. (Người Việt uống bia nhiều nhất ASEAN, 2-10-2012) > Hà Nội thuộc top 14 thành phố lý tưởng nhất để uống bia

Trước đó, năm 2010, Công ty nghiên cứu thị trường Euromonitor International đã đánh giá thị trường bia Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Năm 2009, Việt Nam tiêu thụ 1,6 tỷ lít bia, tăng tới 56% so với năm 2004.”

——

“Bốn tháng (đầu năm 2011), sản xuất 714,6 triệu lít bia

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch – đầu tư, bốn tháng đầu năm 2011 các doanh nghiệp trong nước đã sản xuất 714,6 triệu lít bia các loại, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tốc độ tăng trưởng ngành bia tại VN, theo thống kê của các công ty nghiên cứu thị trường, ước đạt 15%/năm. VN có khoảng 350 cơ sở sản xuất bia có trụ sở ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước và tiếp tục tăng về số lượng. Trong số này, có hơn 20 nhà máy đạt công suất trên 20 triệu lít/năm, 15 nhà máy có công suất lớn hơn 15 triệu lít/năm, và có tới 268 cơ sở có năng lực sản xuất dưới 1 triệu lít/năm.

Tuoi Tre  24-5-2011 (nguon)

* Một trong các lý do uống bia

5/26/2011 8:07:37 PM
Là giáo viên, lương tháng chưa được 2 triệu. Ấy thế mà nhiều lần tôi đã phải tiêu vài triệu vào một cuộc nhậu. Có khi là 200% lương tháng đấy chứ! Nhưng đó mới chỉ là màn chào hỏi, “tâm sự” thôi! Để làm gì các bạn biết không? Để xin được vô biên chế, để xin được thuyên chuyển. Bia vừa uống vừa đổ thì mới được lòng các quí thầy các bạn ạ. Vậy thử hỏi các ngành khác thì sao nhỉ!

Người Việt tiêu thụ hàng tỉ lít bia/năm, Báo Tuổi Trẻ, 24-5-2011

Uống 2,6 tỉ lít bia/năm: Tiền mất – tật mang, Báo Lao Động, 4-10-2012

——————

Joel Brinkley – Mặc dù ngày càng thịnh vượng, khẩu vị của người Việt vẫn kỳ dị

Nguồn: Chicago Tribune

Diên Vỹ chuyển ngữ

01.02.2013

Bạn không cần phải bỏ nhiều thời gian ở Việt Nam để nhận thấy những điều bất thường. Bạn không nghe tiếng chim hót, không thấy sóc leo cây hoặc chuột lục lọi trong những đống rác. Chẳng có con chó nào chạy rông.

Trên thực tế, hầu như bạn không thấy được một con thú hoang hoặc thú nuôi nào cả. Chúng đi đâu cả rồi? Bạn có thể ngạc nhiên khi biết được rằng: chúng đều bị ăn thịt cả.”

Dĩ nhiên, cũng như đa số các nước trong vùng, hổ, voi, tê giác và những động vật lớn khác đã bị bán sang Trung Quốc. Về vấn đề này, Việt Nam không phải là nước duy nhất — mặc dù Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới nói quốc gia này là tàn ác nhất đối với động vật hoang dã.

Nhiều báo cáo khác nhau cho thấy người Việt giết tê giác để lấy sừng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Người Trung Quốc trân quí những chiếc sừng vì phẩm chất dược liệu hoang đường của chúng — cũng như nhiều bộ phận cơ thể của những động vật quí hiếm khác.

Việc mua bán động vật có thể giải thích được sự tiệt vong của hổ, voi và những con thú lớn khác. Nhưng còn chim và chuột thì sao? Vâng, người ta cũng ăn cả chúng, như với hầu hết các loài động vật khác ở đây. Vào tháng Giêng ở Đà Nẵng tôi đã thấy một người hàng rong bên vệ đường đang bán một chậu chuột chết — lông đã được vặt hết nhưng thân hình còn nguyên vẹn — sẵn sàng để nấu.

Mùa xuân trước, tổ chức Bảo tồn Quốc tế đã báo cáo rằng một số loài vượn Việt Nam, là một họ hàng của giống đười ươi, “đang đứng trước thảm hoạ diệt vong” — chúng đã bị ăn thịt hết, chỉ còn lại vài con.

Những điều này đưa ra một câu hỏi thú vị. Người Việt từng ăn thịt qua nhiều thế hệ, trong khi những người láng giềng của họ ở phía tây Đông nam Á — Cambodia, Lào, Thái Lan và Miến Điện –đa số lại không động đến thú hoang của họ.

Tại những nước trên bạn có thể thấy những đàn chim vốn đã vắng mặt ở Việt Nam, cũng như vô số chó và mèo. Ở những nơi ấy, người ta chủ yếu ăn cơm, và đa số người dân ở các nước này thức ăn của họ không có gì hơn thế.

Việt Nam luôn là một quốc gia hung hãn. Nó đã có 17 cuộc chiến tranh với Trung Quốc kể từ khi giành được độc lập hơn 1.000 năm trước và đã xâm chiếm Cambodia vô số lần và gần đây nhất là vào năm 1979. Trong khi đó, những quốc gia ở phía tây của nó đa phần là thụ động trong những thế kỷ gần đây.

Nhiều nhà nhân loại học và sử học cho rằng sự khác biệt này là từ nguồn gốc của quốc gia. Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, trong khi Ấn Độ lại ảnh hưởng nặng nề đến những quốc gia kia — hai quốc gia với đặc tính vô cùng khác biệt, ngay cả cho đến nay.

Thật rõ ràng đây là một phần nguyên nhân. Nhưng tôi còn cho rằng vì người Việt thường ăn thịt qua nhiều thế hệ, bổ sung một nguồn chất đạm quan trọng trong chế độ ăn uống của họ, điều này cũng giải thích thiên hướng hung hăng của quốc gia này — và tạo ra một mối tương phản rõ rệt so với các nước láng giềng của nó.

Hiện nay, món ăn được ưa chuộng là thịt chó. Trên thực tế, thịt chó thì rất đắt. Nó được xem là món đặc biệt vì được cho là chứa nhiều châấ đạm hơn những loại thịt khác. Trong truyền thống người Việt, mỗi khi bị xui xẻo, bạn nên ăn thịt chó để thay đổi thời vận. Nhưng bạn không nên ăn vào ngày đầu tháng âm lịch vì sẽ làm vận may đảo ngược. Bạn sẽ gặp xui xẻo.

Nhưng giờ đây truyền thống đang đối chọi với thời buổi hiện đại — và luật lệ cũng thay đổi theo. Ba mươi năm trước, nuôi chó là phạm pháp. Chính quyền cho rằng thịt chó là một ưu tiên dinh dưỡng nên không được bỏ qua. Quan điểm này vẫn còn phù hợp, mặc dù chính quyền đã bãi bỏ điều luật trên từ nhiều năm qua.

Thực tế là cho đến nay, không là một điều hiếm hoi khi ta thấy dọc theo các xa lộ những chiếc xe vận tải chở những chú chó nằm cuộn trong những chiếc lồng chồng cao đến sáu tầng, rộng tám tầng để đưa ra chợ — tương tự như cảnh chuyên chở gà đến lò mổ ở phương tây.

Nhưng Việt Nam hiện là một đất nước đang giàu lên nhanh chóng; hơn phân nửa dân số sinh sau cuộc chiến Việt Nam (mà họ gọi là cuộc chiến tranh chống Mỹ). Thu nhập bình quân đầu người là 3.400 Mỹ kim, dù có vẻ không nhiều nhưng lại cao hơn đa số các nước láng giềng. Và một khi giới trung lưu tăng trưởng, ảnh hưởng từ phương Tây cũng tăng theo — được tiếp thu từ truyền hình, điện ảnh, Facebook, Twitter và những thứ khác.

Điều này làm nảy sinh ra việc một số người muốn nuôi giữ thú vật. Vì thế giờ đây thỉnh thoảng bạn cũng thấy được vày chú chó đang nằm trước hiên nhà ai đó — dưới con mắt đầy cảnh giác của chủ nhà. Thậm chí giờ đây khi Việt Nam đang trưởng thành và hiện đại hoá nhanh chóng, nếu một chú chó nào lang thang xa nhà, ai đó sẽ bắt cóc chúng và làm thịt.

Đến thăm Việt Nam, nhiều du khách phương Tây đã cảm thấy thất vọng. Như một blogger phưong Tây đã nhận định: “Tôi có thể thành thực nói rằng đấy làm một cảnh rùng rợn nhất mà tôi từng chứng kiến.”

Tôi hoàn toàn đồng ý.

—————–

Người Việt ăn chuột và hung hăng, bài viết của giáo sư Đại học Stanford gây phẫn nộ trên mạng

John Boudreau, Mecury News

Diên Vỹ chuyển ngữ

01.02.2013

Một bài viết của một giáo sư trường Đại học Stanford cho rằng “thói hung hăng” của người Việt liên quan đến thói quen ăn thịt — đặc biệt là chim, chuột và chó — đã bị người Việt và những người khác trên khắp thế giới phản ứng trên mạng xã hội .

Bài nhận định — “Mặc dù ngày càng thịnh vượng, khẩu vị của người Việt vẫn kỳ dị” — được viết bởi Joel Brinkley, một người từng thắng giải Pulitzer, cựu phóng viên về vấn đề ngoại quốc của tờ New York Times, được đăng trên trang mạng của tờ Chicago Tribune hôm thứ Ba tuần trước. Kể chuyện chuyến đi Việt Nam của mình, Brinkley nói rằng ông chứng kiến cái chết của những con sóc, chim và chuột. Ông cũng nói rằng “Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới nói quốc gia này là tàn ác nhất đối với động vật hoang dã.”

Brinkley bắt đầu bài viết của ông rằng: “Bạn không cần phải bỏ nhiều thời gian ở Việt Nam để nhận thấy những điều bất thường. Bạn không nghe tiếng chim hót, không thấy sóc leo cây hoặc chuột lục lọi trong những đống rác. Chẳng có con chó nào chạy rông.

Trên thực tế, hầu như bạn không thấy được một con thú hoang hoặc thú nuôi nào cả. Chúng đi đâu cả rồi? Bạn có thể ngạc nhiên khi biết được rằng: chúng đều bị ăn thịt cả.”

Bài viết đã gây ra một phản ứng đầy giận dữ từ người Việt cũng như những người khác, một số trong họ nói rằng bài viết mang tính đổ đồng gần đến mức kỳ thị chủng tộc. Cuối hôm thứ Sáu, mục Tribune Media Services của tờ Chicago Tribune tuyên bố rằng bài viết đã không theo đúng tiêu chuẩn báo chí và tất cả những công đoạn biên tập đã “không được thực hiện.

“Chúng tôi lấy làm tiếc rằng việc này đã xảy ra, và chúng tôi sẽ cảnh giác hơn để bảo đảm rằng quá trình biên tập được hiệu quả hơn trong tương lai,” tờ báo tuyên bố.

Gwen Uyên Nguyễn, đồng sáng lập viên của OneVietnam Network, một cộng đồng trực tuyến ở vùng Bay Area chuyên hỗ trợ các hoạt động bất vụ lợi tại Việt Nam, đã nhận định về bài báo “Mang tính xúc phạm.

“Đây là một tấn công trực tiếp vào nền văn hoá của chúng tôi. Điều làm tôi khó chịu là đây là một bài viết của người từng đoạt giải Pulitzer và một giáo sư Đại học Stanford.”

Trong khi Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới đã chỉ trích những chính sách bảo tồn của Việt Nam đối với hổ, tê giác và voi, những nỗ lực thực thi yếu kém của chính quyền chẳng liên quan gì đến việc tiêu thụ động vật như chó và chuột, Pamela McElwee, trợ lý giáo sư về sinh thái con người tại Đại học Rutgers và là một chuyên gia về bảo vệ thú hoang tại Việt Nam nói. Bà nói việc mua bán động vật là một vấn đề xảy ra trên nhiều quốc gia.

“Tôi không hiểu được tại sao ông ấy có thể dẫn giải từ chuyện ông không thích người ta ăn thịt chó và chuột sang việc bảo tồn thú hoang ở Việt Nam,” McElwee nói.

McElwee, người từng sống ở Việt Nam trong 5 năm, cũng phê phán Brinkley trong chuyện liên hệ thói quen ăn thịt của người Việt với thái độ hung hăng. “Trong lịch sử Đông nam Á — tất cả các quốc gia này từng trải qua chiến tranh. Trong khi đó Hoa Kỳ là nước có mật độ dân số ăn thịt cao thứ nhì trên thế giới.”

Trong một phỏng vấn, Brinkley nói ông rút ra nhận xét của mình từ chuyến đi 10 ngày xuyên Việt. “Tôi đi chung với một nhóm và đây là những gì tất cả chúng tôi đều nhận thấy,” ông nói về tình trạng thiếu vắng thú hoang tại Việt Nam.

Trong sáu năm viết xã luận, Brinkley nói rằng ông chưa bao giờ bị phản ứng nhiều như thế trong các bài viết của mình.

Người Việt dường như đặc biệt nhạy cảm với chuyện bị chỉ trích, giống như nhiều người khác trên thế giới,” ông nói. “Một số đã gửi email cho tôi nói rằng bài viết làm họ trông giống như những kẻ man rợ, tôi không có ý định viết như thế.”

Trong một đoan văn đăng trên trang mạng báo chí JimRomenesko.com, Brinkley đã bào chữa cho khẳng định của mình về thói quen ăn thịt của người Việt khiến họ hung hăng hơn những người láng giềng Đông nam Á.

“Về vấn đề thịt và tính hung hăng, có lẽ tôi đã không khéo léo lắm trong cách trình bày ý của mình,” ông viết. “Nhưng một chế độ ăn nhiều chất đạm khiến bạn mạnh mẽ hơn người khác, ở Lào, Cambodia và những nước Đông nam Á khác ít ăn thứ gì khác ngoài cơm. Nói cho cùng, phân nửa trẻ em Lào bị bệnh còi, ngay cả hiện nay. Tỉ lệ này là 40% tại Cambodia. Điều này có nghĩa là chúng sẽ trưởng thành thiếu chiều cao và không thông minh lắm. Liệu nó cũng có nghĩa là họ ít hung hăng hơn người Việt? Tôi tin là thế.”

—————————-

ASEAN

Việt Nam “ngốn” gần 2,6 tỷ lít bia trong năm 2011, vượt xa hai nước đứng ở vị trí tiếp theo là Thái Lan và Philippines.

> Hà Nội thuộc top 14 thành phố lý tưởng nhất để uống bia

Theo thống kê của Euromonitor International, tiêu thụ bia ít nhất trong khu vực là Myanmar, chỉ có 30,4 triệu lít. Tổng lượng tiêu thụ bia của các nước xếp ở vị trí 4 – 9 trong khu vực gồm Myanmar, Singapore, Lào, Campuchia, Malaysia và Indonesia chỉ bằng một nửa so với nước đứng thứ 3 là Philippines với hơn 1,6 tỷ lít.

Trước đó, năm 2010, Công ty nghiên cứu thị trường Euromonitor International đã đánh giá thị trường bia Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Năm 2009, Việt Nam tiêu thụ 1,6 tỷ lít bia, tăng tới 56% so với năm 2004.

Đầu năm nay, bộ phận điều tra nghiên cứu của Kirin Holdings, công ty bia lớn và nổi tiếng tại Nhật Bản, thì đánh giá rằng trong số 25 quốc gia đứng đầu trong danh sách, lương tiêu thụ tăng đáng kể nhất là ở các nước Nigeria (tăng 17,2%), Ấn Độ (tăng 17%), Brazil (tăng 16%) và Việt Nam (15%).

Posted in Thực Phẩm và sức khỏe | 1 Comment »

►Hội nghị Paris 1968-1973, một bài học lịch sử

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2013

Hội nghị Paris (Bài 4)

Hội nghị Paris: Bài 1 , Bài 2 , Bài 3

1.-   TỔNG THỐNG NIXON ĐE DỌA TỔNG THỐNG THIỆU

Khi Kissinger từ Paris trở về Hoa Kỳ tường trình với tổng thống Nixon ngày 13-1-1973, thì ngày 14-1-1973 Nixon gởi tướng Alexander Haig đi Sài Gòn để thuyết phục tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.  

Nói là thuyết phục, nhưng thực sự là phái đoàn Haig đến Sài Gòn để đe dọa, áp đặt và tìm cách bắt buộc tổng thống Thiệu phải chấp nhận hiệp định đình chiến do Hoa Kỳ và BVN soạn thảo.

hiepuocparis

Trong cuộc thảo luận riêng với Henry Kissinger về việc áp đặt và bắt buộc tổng thống Thiệu phải ký kết hiệp định theo ý Hoa Kỳ, tổng thống Nixon đã nói với Kissinger bằng những lời lẽ chẳng ngoại giao tý nào: “Tôi không biết rằng những lời đe dọa liệu có đủ hay không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết như là – hay sẽ cắt đầu ông ta nếu cần.” (Tin AFP, thứ Ba 23-6-2009.  BBC thứ Tư 24-6-2009.)

“… Sẽ cắt đầu ông ta nếu cần...” cho thấy quyết tâm của Nixon buộc tổng thống Thiệu phải ký hiệp định Paris do Mỹ và CSVN soạn thảo.  Trong hồi ký của mình, Nixon không nói chuyện cắt đầu, nhưng lối viết của ông rõ ràng có tính cách đe dọa, dầu chỉ viết hồi ký để tự ghi lại những việc mình làm: “Sự lựa chọn của Thiệu thật là đơn giản, ông ta hoặc là muốn tự tử, hoặc chấp nhận sự sắp đặt có thể cứu nước ông và bản thân ông.”(Nixon, sđd. tr. 750.)

Trong lá thư do Alexander Haig cầm tay và giao cho tổng thống Thiệu trong cuộc gặp gỡ ngày 16-1-1973, Nixon nói rằng ông ta dứt khoát quyết định ký tắt hiệp định vào ngày 23-1-1973 và ký kết ngày 27-1-1973.  Nếu tổng thống Thiệu từ chối hay cản trở, Nixon viết tiếp:

Trong trường hợp đó, tôi sẽ giải thích công khai rằng chính quyền của Ngài cản trở hòa bình.  Kết quả không tránh khỏi là Hoa Kỳ lập tức chấm dứt viện trợ kinh tế và quân sự, mà không thể tránh trước được bằng cách thay đổi nhân sự trong chính quyền của Ngài.  Dầu sao, tôi hy vọng sau những gì mà hai quốc gia chúng ta đã từng chia sẻ và từng đau khổ với nhau trong cuộc tranh chấp  [chiến tranh], chúng ta sẽ cùng nhau bảo vệ hòa bình và hưởng phúc lợi hòa bình.  Trong mục đích đó, tôi muốn nhắc lại cho Ngài sự bảo đảm mà tôi đã đưa ra.  Vào lúc hiệp định được ký kết, tôi sẽ mạnh mẽ làm rõ rằng Hoa Kỳ thừa nhận chính quyền của Ngài là chính quyền hợp pháp duy nhất tại miền Nam Việt Nam, rằng chúng tôi không thừa nhận quyền của bất cứ quân đội nào t bên  ngoài hiện diện trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam và rằng chúng tôi sẽ phản ứng mạnh mẽ việc vi phạm hiệp định.  Cuối cùng, tôi xin nhấn mạnh tôi không ngừng bảo vệ nền tự do và sự tiến bộ của Việt Nam Cộng HòaĐó là ý định tôi cương quyết viện trợ kinh tế và quân sự đầy đủ…” (The Memoirs of Richard Nixon, sđd. tt.  749-750.)

So với lá thư ngày 6-10-1972 đe dọa sinh mạng tổng thống Thiệu, lời lẽ lá thư nầy của Nixon tuy lịch sự, nhưng cương quyết và cứng rắn, ép tổng thống Thiệu vào tình thế hết sức khó khăn và tế nhị.  Nếu tổng thống Thiệu không chịu ký hiệp định, thì Hoa Kỳ “sẽ giải thích công khai rằng chính quyền của Ngài [tổng thống Thiệu] cản trở hòa bình.  Kết quả không tránh khỏi là Hoa Kỳ lập tức chấm dứt viện trợ kinh tế và quân sự…”  Khi đó, tổng thống Thiệu chẳng những bị dư luận quốc tế công kích là cản trở hòa bình, mà ông còn bị cả dân chúng NVN kết tội là đã làm mất đi nguồn viện trợ từ phía Hoa Kỳ.

Cuối cùng, tổng thống Thiệu không còn cách chọn lựa nào khác là đành phải chấp nhận hiệp định sắp xếp giữa Hoa Kỳ và BVN,  Tuy nhiên, tổng thống Thiệu còn cố gắng đòi hỏi thêm trong thư trả lời Nixon trao cho Alexander Haig trong cuộc gặp ngày 17-1-1973, nhưng vô ích vì mọi thứ đã được ấn định, chỉ còn chờ ngày ký kết.  Nhiều người trách tổng thống Thiệu nhượng bộ vì quá sợ bị ám sát, nhưng ở trong hoàn cảnh của tổng thống Thiệu lúc đó, thử hỏi có cách nào làm gì khác hơn được?

Phiên họp công khai hai/bốn bên thứ 174, tức phiên họp chót mở ra ngày 18-1-1973.  Hai ngày sau, 20-1-1973 Richard Nixon tuyên thệ nhận chức tổng thống lần thứ hai tại Washington D.C. Lúc đó, có tin cựu tổng thống Lyndon Johnson từ trần ngày 22-1-1973.

Cuộc mật đàm cuối cùng (lần thứ 24) bắt đầu lúc 9:35 sáng 23-1-1973.  Lê Đức Thọ trở lại việc đòi hỏi Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Bắc Việt Nam sau chiến tranh, nhưng Kissinger lập lại rằng sẽ bàn luận việc nầy sau khi hai bên ký kết hiệp định và sau khi quốc hội Hoa Kỳ nghiên cứu và phê chuẩn hiệp định.  (Henry Kissinger, sđd. tr. 1472.)

2.-   VIỆC KÝ KẾT

Cuối cùng, ngày 27-1-1973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam), còn được gọi là Hiệp định Hòa bình Paris (Paris Peace Accords) được ký kết tại nơi bắt đầu, tức Trung Tâm Hội Thảo Quốc Tế (Centre de Conférences International), trong khách sạn Majestic, số 19 đường Kléber, Paris.

Hiệp định Paris gồm 9 chương, 23 điều, có hai bản.  Bản thứ nhất giữa bốn bên VNCH, Hoa Kỳ và CHMNVN, VNDCCH.  Bản thứ hai giữa hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH.

Hai bản chỉ khác nhau ở phần mở đầu và điều 23, còn giống nhau từ điều 1 đến điều 22.  Vì có hai bản, nên hiệp định Paris được ký kết hai lần:  Bốn bên VNCH, Hoa Kỳ, VNDCCH và CHMNVN ký kết vào buổi sáng 27-1-1973.  Hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH ký kết vào buổi chiều 27-1-1973.  Bộ trưởng Ngoại giao bốn bên ký vào hiệp định Paris là: Trần Văn Lắm (VNCH), William Rogers (Hoa Kỳ), Nguyễn Duy Trinh (VNDCCH) và Nguyễn Thị Bình (CHMNVN).  Đại diện hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH ký vào hiệp định chiều 27-1-1973 là: William Rogers (Hoa Kỳ) và Nguyễn Duy Trinh (VNDCCH).  Hiệp định có hiệu lực từ 0 G. giờ quốc tế GMT đêm 27 rạng 28-1-1973, tức 8 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 28-1-1973.

Những điểm chính của hiệp định Paris: Ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam; Hoa Kỳ rút quân đội và cố vấn còn lại (khoảng 23,700) trong 60 ngày; Hoa Kỳ triệt phá tất cả các căn cứ trong 60 ngày; trao trả tù binh Hoa Kỳ và các tù binh khác trong 60 ngày; quân đội Bắc Việt tiếp tục đóng giữ tại chỗ ở Nam Việt Nam; rút tất cả các lực lượng ngoại nhập tại Lào và Cao Miên; cấm lập căn cứ và chuyển quân qua hai nước nầy; duy trì khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời cho đến khi nào thống nhất đất nước bằng một giải pháp hòa bình; thành lập Ủy ban Kiểm soát Quốc tế gồm có người các nước Canada, Hungary, Ba Lan và Indonesia với 1,160 thanh tra kiểm soát việc thi hành hiệp định; Nguyễn Văn Thiệu vẫn là tổng thống miền Nam Việt Nam cho đến khi có bầu cử; Bắc Việt Nam tôn trọng quyền tự quyết của dân chúng Nam Việt Nam; không chuyển quân qua khu phi quân sự; không sử dụng võ lực để thống nhất đất nước. (John S. Bowman, sđd. tr. 210.)

3.-   CÁC NGHỊ ĐỊNH THƯ VÀ ĐỊNH ƯỚC QUỐC TẾ

BcBnh

Nghị định thư là những thỏa thuận về một hay nhiều vấn đề chuyên biệt, chưa quy định và đầy đủ trong hiệp định, nay được triển khai chi tiết.  Bên cạnh hiệp định Paris, có bốn nghị định thư sau đây, ký  ngày 27-1-1973, bằng hai thứ tiếng Anh và Việt:

*   Nghị định thư về Ủy ban Quốc tế kiểm soát và Giám sát của Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm 18 điều.  Bốn bên đều ký.

*   Nghị định thư về việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ của Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 14 điều.  Bốn bên đều ký.

*   Nghị định thư về ngưng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các Ban Liên hợp Quân sự của Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm 19 điều.  Bốn bên đều ký.

*   Nghị định thư về việc tháo gỡ và vô hiệu hóa mìn trên các thủy lộ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm 8 điều, ký kết giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ngoài ra, điều 19 chương VI Hiệp định Hòa bình Paris quy định rằng các bên thỏa thuận về việc triệu tập một hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định nầy để ghi nhận các hiệp định đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp vào hòa bình và bảo đảm hòa bình ở Đông Dương.

Dựa vào điều nầy, HỘI NGHỊ QUỐC TẾ  đã được triệu tập từ 26-2 đến 2-3-1973 tại Paris, gồm bốn bên trong hội nghị Paris, cùng bốn nước trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát đình chiến là Canada, Hungary, Indonesia, Poland và bốn nước Anh, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, Liên Xô và Pháp.

Hội nghị quốc tế gồm 12 thành viên trên đây đi đến ký kết một văn bản được gọi là “Định ước của Hội nghị Quốc tế về Việt Nam”, ngày 2-3-1973, gồm 9 điều, “nhằm mục đích ghi nhận các hiệp định đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam…”.  Đại diện các bên tham chiến và đại diện chính phủ các nước trên đây đã ký vào bản định ước nầy trước sự chứng kiến của tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, lúc đó là Kurd Waldheim (người Áo, tổng thư ký LHQ từ 1972 đến 1981).

Dầu có sự chứng kiến của vị tổng thư ký LHQ và các cường quốc trên thế giới cùng các thành viên Ủy ban Quốc tế Kiểm soát đình chiến, chỉ vài tháng sau khi hiệp định Paris được ký kết, CS vi phạm hiệp định, xua quân tấn công VNCH.

KẾT LUẬN (TOÀN BÀI “HỘI NGHỊ PARIS”)

Như thế là hội nghị Paris kéo dài trong bốn năm chín tháng, từ  13-5-1968 đến 27-1-1973, đưa đến Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam), gọi tắt là Hiệp định Hòa bình Paris (Paris Peace Accords).

Hoa Kỳ đến NVN nhắm mục đích giúp NVN ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa CS xuống NVN và Đông Nam Á.  Năm 1964, trước khi đem quân vào Việt Nam năm 1965, ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk qua Ottawa (Canada) gặp Blair Seaborn, trưởng đoàn đại diện Canada trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế, (International Control Commission), thông báo cho Hà Nội biết là Hoa Kỳ không muốn lật đổ chế độ Hà Nội mà chỉ muốn hòa bình, và thúc giục Hà Nội chấm dứt thù địch để đổi lấy viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ. Seaborn đã tin cho Phạm Văn Đồng biết điều nầy trong cuộc gặp tại Hà Nội ngày 18-6-1964. (Mark Moyar, Triumph Forsaken, the Vietnam War, 1954-1965, New York: Cambridge University Press, 2006, tr. 307.)

Chiến lược phòng thủ NVN (không đánh ta Bắc như ở Nam Triều Tiên), dựa trên võ khí tối tân của Hoa Kỳ không phải là đối sách hữu hiệu đối với chiến tranh du kích và khủng bố của CSVN trong bối cảnh địa lý rừng núi NVN, nên quân đội Hoa Kỳ không thành công tại NVN.  Muốn chiến thắng du kích CS ở NVN, thì phải tận diệt nguồn gốc, hang ổ tiếp tế cho CS ở NVN.  Đó chính là BVN.  Tuy nhiên, Hoa Kỳ chủ trương không lật đổ chế độ Hà Nội, nên không đưa bộ binh đánh BVN.

Dầu chưa thua trận nào từ cấp tiểu đoàn trở lên, nhưng quân đội Hoa Kỳ tại NVN càng ngày càng hao mòn, số thương vong mỗi ngày mỗi ít, cộng lại càng ngày càng cao nên dân chúng Hoa Kỳ càng ngày càng phản đối.  Trong khi đó, để mở đầu liên lạc với Trung Quốc, làm hòa với Liên Xô, Hoa Kỳ quyết định thay đổi sách lược ngoại giao toàn cầu, quay qua bắt tay với Trung Quốc, rút quân khỏi NVN, bỏ rơi VNCH.

Khi muốn rút quân ra khỏi NVN, Hoa Kỳ có thể tự động âm thầm rút đi, nhưng vì bận tâm về những tù binh Hoa Kỳ trong tay CSVN, nên Hoa Kỳ phải họp hội nghị Paris để gọi là tìm kiếm “một nền hòa bình trong danh dự”, nhưng thật sự nhằm đưa tù binh Hoa Kỳ về nước.

Biết được chủ đích của Hoa Kỳ, CSVN nhởn nhơ vừa đàm vừa đánh, cho đến khi đạt được đòi hỏi của CSVN.  Tại Paris, mỗi bên đặt lên bàn hội nghị một điều kiện tiên quyết.  Hoa Kỳ đồng ý rút quân nhưng đòi hỏi BVN phải cùng rút quân.  Bắc Việt Nam rất mong đợi Hoa Kỳ rút quân, nhưng đòi hỏi Hoa Kỳ phải giải thể chế độ Nguyễn Văn Thiệu trước khi rút quân và chỉ muốn đình chiến tại chỗ, BVN không rút quân.

Để nhanh chóng đi đến kết thúc, ký kết hiệp định trước ngày bầu cử tổng thống (7-11-1972), Henry Kissinger nhượng bộ, bỏ điều kiên tiên quyết của Hoa Kỳ, nghĩa là bỏ ý định đòi hỏi BVN rút quân.  Khi đó, dưới áp lực của Liên Xô, phía BVN mới bỏ điều kiên tiên quyết của BVN, không còn đòi Hoa Kỳ giải thể chế độ Nguyễn Văn Thiệu.  Sự nhượng bộ của Kissinger bị chính những nhân viên trong phái đoàn của Hoa Kỳ phản đối, nhưng Kissinger giải thích: “Các anh không hiểu.  Tôi muốn nhận những điều kiện của họ.  Tôi muốn đạt thỏa thuận.  Tôi muốn chấm dứt cuộc chiến nầy trước kỳ bầu cử.  Điều đó có thể làm được và sẽ được làm.” (Stanley Karnow, Vietnam, a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 648.)

Nói cho cùng, Hoa Kỳ ký hiệp định Paris để rút chân ra khỏi NVN và để lấy lại tù binh Hoa Kỳ từ tay BVN, chứ Hoa Kỳ cũng dự tính trước rằng với tham vọng xâm lược của BVN, hiệp định Paris sẽ bị CS vi phạm. Điều nầy sẽ có lợi cho Hoa Kỳ, vì một khi BVN vi phạm hiệp định Paris, thì không có lý do gì BVN đòi hỏi Hoa Kỳ phải tôn trọng hiệp định Paris.  Khi đó, Hoa Kỳ sẽ khỏi phải viện trợ hậu chiến, một hình thức bồi thường chiến tranh cho BVN theo điều 21 chương VIII hiệp định Paris.  Trong cuộc mật đàm ngày 11-1-1975, Lê Đức Thọ yêu cầu Hoa Kỳ đóng góp 5 tỷ Mỹ kim để tái thiết BVN. (Đã chú thích ở trên.)  Phải chăng chính trong tính toán đó, Kissinger đã từng chỉ đường cho BVN tiếp tục tấn công NVN khi nói với Chu Ân Lai ngày 22-6-1972: “Nếu chúng tôi có thể sống với một chính phủ cộng sản ở Trung Quốc, chúng tôi phải có khả năng chấp nhận điều đó ở Đông Dương.”(Biên bản cuộc họp giữa Henry Kissinger và Chu Ân Lai ngày 22-6-1972, được giải mật năm 2006.  (Nguồn: http://www.boston.com/news/nation/washington/articles/2006/05/27/kissinger)

Chưa hết, sau đó khi Đà Nẵng bị CSVN chiếm vào cuối tháng 3-1975, VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu, Henry Kissinger đã thốt ra vào đầu tháng 4-1975: “Tại sao họ không chết lẹ đi cho rồi?” (Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, sđd. tr. 512.)  Việt Nam Cộng Hòa chết lẹ thì Hoa Kỳ sẽ chấm hết tất cả những ràng buộc về Việt Nam, trong đó có cả việc thoát luôn khỏi bồi hoàn tái thiết cho BVN vì BVN xé bỏ hiệp định Paris, xâm chiếm miền NVN, thì Hoa kỳ không có lý do gì để bồi hoàn cho BVN.

Riêng đối với dân chúng Hoa Kỳ, chính phủ Nixon đã thành công và làm tròn lời hứa, kết thúc chiến tranh, rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam và đem tù binh về nước.  Tuy nhiên, đối với VNCH, Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh đã từng cùng Hoa Kỳ chiến đấu chống CS, và lúc đó đang còn chiến đấu chống CS.  Hoa Kỳ đến Việt Nam vì quyền lợi của Hoa Kỳ thì cũng vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ ra đi.  Chẳng những Hoa Kỳ mà tất cả các nước ngoài, dù CS hay tư bản đến giúp BVN hay NVN đều vì quyền lợi của họ, chẳng có nước nào đế giúp vô vị lợi.  Đây là một tấm gương luôn luôn cần được ghi nhớ.

Đối với VNDCCH và công cụ là MTDTGP, Hiệp định Hòa bình Paris, ngưng bắn tại chỗ, là một thắng lợi lớn lao vì: 1) Trong khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi NVN, VNDCCH vẫn đóng quân trên những vùng họ đã chiếm đóng thuộc lãnh thổ VNCH theo thế da beo. 2) Hoa Kỳ không còn dùng phi cơ để oanh kích BVN là cơ hội cho CS tái thiết BVN, bổ sung quân số, chấn chỉnh lực lượng, và tăng cường võ khí cho quân đội CS ở miền Nam.  Như thế nghĩa là CS chỉ ký Hiệp định Hòa bình Paris để tạm hưu chiến cho Hoa Kỳ lui quân, rồi CS sẽ tiếp tục tấn công một mình VNCH, xâm chiếm NVN.

Đối với VNCH, Hiệp định Hòa bình Paris là một thất bại chính trị quan trọng

Hiệp định nầy chỉ chấm dứt chiến tranh giữa Hoa Kỳ và VNDCCH, chứ không phải giữa VNCH và VNDCCH. 

Việt Nam Cộng Hòa vẫn phải tiếp tục tự vệ trước âm mưu xâm lăng của VNDCCH.

Sau hội nghị Paris, cả Hoa Kỳ lẫn CS đều tự cho là mình đã giành thắng lợi.  Tuy nhiên, những tính toán chính trị sâu xa và lâu dài trên bàn cờ chính trị thế giới mới là câu trả lời ai là người thắng cuộc.  Cho đến nay, sau khi khối CS Đông Âu sụp đổ năm 1990 và CS Việt Nam trải thảm đỏ rước Hoa Kỳ trở lại Việt Nam năm 1995, đã cho thấy rõ ràng rằng bên hiu hiu tự đắc thắng cuộc năm 1975 nay bị cả toàn dân Việt Nam lên án, thế giới khinh thường, Trung Cộng hiếp đáp, là thắng hay thua?

Điểm đáng ghi nhận thêm là nhờ Hội nghị Paris và nhờ hiệp định Paris mà ngày 16-10-1973, Henry Kissinger và Lê Đức Thọ được trao giải thưởng Hòa bình Nobel năm 1973.  Lê Đức Thọ không nhận vì với Lê Đức Thọ, hiệp định Paris chỉ tạo cơ hội cho Hoa Kỳ rút quân và CS tiếp tục xâm lăng VNCH. (Trích Việt sử đại cương tập 7, sẽ xuất bản.)

©Tác giả: (Toronto, 26-01-2013)

nguon © Đàn Chim Việt

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Hội Nghị Paris 1968-1973 | Leave a Comment »

►Người VN bị đảng gạt hoài mà chưa tởn- Sửa Hiến Pháp – Bịp có bằng chứng

Posted by hoangtran204 trên 03/02/2013

Hiến pháp phải được soạn thảo, phê chuẩn, và ban hành TRƯỚC, rồi sau đó mới soạn thảo luật pháp. Hiến pháp được xem là Mẹ, và luật pháp được xem như Con. Tất cả luật pháp đều phải nằm trong hiến pháp và chiếu theo hiến pháp mà soạn thảo và ban hành.

Không như những nước khác, chi cần soạn bản hiến pháp 1 lần là đầy đủ. Đảng CSVN tung ra 4 bản hiến pháp: 1946, 1953, 1980, 1992 và nay thì đang soạn thảo sửa đổi hiến pháp 2013. 

Đảng CSVN và nhà nước chơi ngược lại. Soạn luật trước và sửa hiến pháp sau,  và thêm 1 câu tréo cẳng ngỗng, bộc lộ dã tâm lừa gạt “…nếu chúng ta thông qua dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) vào kỳ họp tháng 5-2013 thì phải làm thế nào để quy định của dự thảo sửa đổi Hiến Pháp thông qua sau đó vào tháng 10-2013 không trái với quy định của Luật đất đai (sửa đổi).” 

“Khi một bản Hiến Pháp mới được ban hành thì các đạo luật có trước sẽ tiếp tục được áp dụng nếu còn phù hợp với hiến pháp mới. Những đạo luật nào trái với hiến pháp mới thì phải hủy bỏ. Không thể có chuyện tréo cẳng ngỗng là Đảng và nhà nước “phải làm thế nào để quy định của dự thảo sửa đổi Hiến pháp thông qua sau đó vào tháng 10-2013 không trái với quy định của Luật Đất Đai” như ông Nguyễn Văn Phúc – phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phó trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992 đã tuyên bố.”

Phát hiện được lời tuyên bố qua cuộc phỏng vấn ông Nguyễn (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Phó Trưởng Ban Biên Tập dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992), tác giả Nguyễn Tường Tâm viết bài sau đây.

——————————–

Sửa Hiến Pháp – Bịp có bằng chứng

   Nguyễn Tường Tâm

Trich:

Trong cuộc tọa đàm trực tuyến đó, ông Phúc đã tuyên bố, “…nếu chúng ta thông qua dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) vào kỳ họp tháng 5-2013 thì phải làm thế nào để quy định của dự thảo sửa đổi Hiến Pháp thông qua sau đó vào tháng 10-2013 không trái với quy định của Luật đất đai (sửa đổi).”

Lời tuyên bố đó cho thấy rõ ràng việc lấy ý kiến nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp lần này chỉ là bịp bợm.

******************************

Theo báo Tuổi Trẻ, sáng 23-1, trong cuộc tọa đàm trực tuyến của Cổng thông tin điện tử Chính phủ về việc tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992, qua một câu trả lời của ông Nguyễn Văn Phúc – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Phó Trưởng Ban Biên Tập dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992, người ta đã thấy lộ rõ âm mưu lừa dối của Đảng khi tung ra chiến dịch gọi là vận động dân chúng đóng góp ý kiến vào bản dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992.

Trong cuộc tọa đàm trực tuyến đó, ông Phúc đã tuyên bố, “…nếu chúng ta thông qua dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) vào kỳ họp tháng 5-2013 thì phải làm thế nào để quy định của dự thảo sửa đổi Hiến Pháp thông qua sau đó vào tháng 10-2013 không trái với quy định của Luật đất đai (sửa đổi).”

Lời tuyên bố đó cho thấy rõ ràng việc lấy ý kiến nhân dân trong việc sửa đổi Hiến Pháp lần này chỉ là bịp bợm. Bởi vì ai cũng biết Hiến Pháp là luật mẹ, phải được soạn thảo và biểu quyết trước rồi mới soạn thảo các đạo luật phù hợp với Hiến Pháp. Không nước nào theo tiến trình lập hiến và lập pháp ngược lại.

Nguyên lý của Hiến Pháp như sau: “Mục đích của Hiến Pháp là qui định phương cách tổ chức và hoạt động của guồng máy nhà nước và trong đó có những giới hạn nghiêm trọng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước (government) nhằm bảo vệ các quyền căn bản của người dân là quyền Sống (Life), quyền Tự Do (Liberty) và quyền Mưu cầu hạnh phúc (the pursuit of Happiness).

Hiến Pháp chỉ vạch ra những đường lối đại cương, những nguyên tắc căn bản điều hành quốc gia. Hiến Pháp không đi vào chi tiết. Bởi vì, cuộc sống luôn luôn sinh động, có nhiều thay đổi. Khi văn minh kỹ thuật thay đổi, cuộc sống thay đổi, văn hóa, phong tục, tập quán thay đổi, thì luật pháp thay đổi theo, vì luật pháp phải phản ảnh cuộc sống. Bởi thế, nếu đi vào quá chi tiết thì Hiến Pháp sẽ sớm bị cuộc sống vượt qua và sẽ phải liên tục sửa đổi tạo sự bất ổn trong công cuộc điều hành guồng máy nhà nước.

Hiến Pháp dành những qui định thường nhật của nhân dân cho những đạo luật được soạn thảo bởi những quốc hội lập pháp về sau. Có như vậy xã hội mới có được những đạo luật hữu ích, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Có những hành vi trước kia là trái luật nhưng ngày nay không còn được coi là trái luật nữa. Ví dụ theo luật Hồng Đức, “để chửi mắng, bỏ đói, bỏ rét ông bà, cha mẹ, hoặc khi có tang ông bà cha mẹ lại không để tang mà nhởn nhơ vui chơi” là yếu tố của tội bất hiếu, nhưng ngày nay những hành vi này không bị kết tội hình sự nữa.

Ngay cả trong luật Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, những luật lệ về kinh tế thay đổi nhiều trong thời gian 2 thập niên qua. Luật thay đổi nhưng Hiến Pháp có đời sống lâu dài hơn nếu những nhà lập hiến có viễn kiến.

Bản Hiến Pháp của Hoa Kỳ là bản Hiến Pháp đầu tiên của nhân loại và cũng là bản Hiến Pháp tiên tiến nhất vì những nhà lập hiến Hoa Kỳ là những người có viễn kiến. Họ chỉ qui định những nguyên lý căn bản của Hiến Pháp, những nguyên lý lập hiến “bất biến”. Những nguyên lý lập hiến đó không có qui định nào hạn chế quyền công dân mà hoàn toàn chỉ là một kế hoạch qui định cách tổ chức và phương thức hoạt động của cơ quan nhà nước.

Bốn nguyên tắc lập hiến cơ bản đó là: 1– Quyền lực của nhân dân (Rule by the people); 2– Giới hạn quyền lực của nhà nước (limited powers); 3– Phân chia quyền lực giữa các cơ quan nhà nước (Separation of powers); và 4– Cơ quan bảo vệ Hiến Pháp (Tòa tối cao liên bang) có quyền hủy bỏ những đạo luật vi hiến.

Như vậy các đạo luật phải tuân theo Hiến Pháp, phải hợp hiến, chứ Hiến Pháp không phải “hợp luật”.

Khi một bản Hiến Pháp mới được ban hành thì các đạo luật có trước sẽ tiếp tục được áp dụng nếu còn phù hợp với hiến pháp mới. Những đạo luật nào trái với hiến pháp mới thì phải hủy bỏ. Không thể có chuyện tréo cẳng ngỗng là Đảng và nhà nước “phải làm thế nào để quy định của dự thảo sửa đổi Hiến pháp thông qua sau đó vào tháng 10-2013 không trái với quy định của Luật Đất Đai” như ông Nguyễn Văn Phúc – phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phó trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992 đã tuyên bố.

Bài báo trích dẫn trên báo Tuổi Trẻ cho biết bên lề cuộc tọa đàm, ông Nguyễn Văn Phúc – phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phó trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992 – đã trao đổi với báo chí xung quanh quy định về thu hồi đất trong dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992 và dự thảo Luật Đất Đai (sửa đổi). Bài báo viết nguyên văn câu hỏi của báo chí và trả lời của ông Phúc như sau:

* Dự kiến dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) sẽ được thông qua vào kỳ họp Quốc hội tháng 5, trong khi dự thảo sửa đổi Hiến pháp dự kiến phải đến kỳ họp cuối năm mới thông qua. Vậy trong trường hợp giữa hai văn bản này có sự vênh nhau trong quy định về thu hồi đất thì sao?

– Đó là điểm hiện đang được thảo luận, bởi vì nếu chúng ta thông qua dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) vào kỳ họp tháng 5-2013 thì phải làm thế nào để quy định của dự thảo sửa đổi Hiến pháp thông qua sau đó vào tháng 10-2013 không trái với quy định của Luật đất đai (sửa đổi). Nghĩa là phải đảm bảo tính nhất quán về chính sách. Có ý kiến cho rằng vẫn có thể lần lượt thông qua hai văn bản nêu trên nếu đảm bảo được tính nhất quán. Tuy nhiên, có ý kiến khác cũng đề nghị thông qua dự thảo sửa đổi Hiến pháp và Luật đất đai (sửa đổi) cùng thời gian để đảm bảo tính thống nhất của quy định này.”

Với chức vụ của ông Phúc, tuyên bố của ông là tuyên bố của Đảng, của chính quyền, của ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992. Khi ông Phúc tuyên bố như vậy thì người dân suy luận có hai tình huống xảy ra: Hoặc Đảng và chính quyền dốt luật, đặc biệt là luật Hiến Pháp. Hoặc là Đảng và chính quyền muốn bịp dân chúng qua một cuộc sửa Hiến Pháp giả tạo.

Sau bài này, tôi sẽ lần lượt gửi tới độc giả một số bài nghiên cứu về Nguyên tắc và nguyên lý soạn thảo Hiến Pháp và Luật pháp để độc giả và nhân dân tham khảo và để tự bảo vệ chống lại sự sách nhiễu của cơ quan thi hành luật pháp các cấp.

Nguyễn Tường Tâm
________________________________

Hiến pháp phải có giá trị áp dụng trực tiếp (Tuổi Trẻ)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Sẽ có các cuộc đụng độ lẻ tẻ giữa Nhật và Trung Quốc – chính sách cứng rắn của Nhật sẽ ngăn chặn TQ hoành hành ở Á Châu

Posted by hoangtran204 trên 01/02/2013

Trần Hoàng: Năm 2013 và thời gian sắp tới sẽ có các cuộc đụng độ nhỏ về quân sự giữa Nhật và Trung Quốc. Nguyên nhân là do tranh chấp hòn đảo nhỏ Senkaku. Nhật đang chiếm đóng đảo này, còn các tàu Trung Quốc vũ trang, giả vờ làm tàu đánh cá, thì đang vờn quanh hòn đảo này để chờ coi Nhật phản ứng ra sao. Vùng biển quanh đảo Senkaku  có nhiều giếng dầu hỏa và đang được thăm dò. Mỹ xem Nhật là đồng minh, bảo vệ Nhật và đứng về phía Nhật trong cuộc tranh chấp hòn đảo này nên Trung Quốc sẽ không dám leo thang cuộc chiến và không dám đụng độ với tàu chiến của Mỹ.

Nhật “can dự ngày một mạnh mẽ của họ vào khu vực Châu Á Thái Bình Dương nhằm tìm kiếm hơn nữa các lợi ích kinh tế và chính trị trong khu vực, đồng thời tái lập thế cân bằng với sức mạnh của Trung Quốc ở khu vực này trong thời gian qua”. Sau khi Thủ tướng Nhật Singo Abe nhận chức, ngay lập tức ông thăm viếng Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Bộ trưởng tài chánh Nhật thăm viếng Miến Điện. Và bộ trưởng Ngoại giao Nhật thăm viếng 4 quốc gia Đông Nam Á  (Philippines, Singapore, Brunei và Australia).

Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta của Mỹ không ghé Hà Nội và Saigon trước, mà đáp máy bay xuống Vịnh Cam Ranh và làm lễ chào quốc kỳ ở đó trước khi ra Hà Nội. Leon Panetta và Tổng tham mưu trưởng Liên Quân cũng ghé thăm Úc ngay sau khi TT Obama đắc cử vào tháng 11-2012.

(Kết quả 31-1-2013 Việt Nam trục xuất ông Nguyễn Quốc Quân sau 9 tháng giam giữ)

Thủ tướng Nhật Shingo Abe cũng ghé thăm Úc, Ấn độ, và Tân Tây Lan để cùng các quốc gia nằm trong chuổi này làm thành một vành đai bảo vệ thủy lộ hàng hải, nơi mà tất cả tàu thuyền Trung Quốc (tàu dầu, tàu chở hàng hóa xuất nhập khẩu) đều phải chạy qua thủy lộ này. Chẹn thủy lộ này là trong nước Trung Quốc sẽ tự sinh loạn và nhà nước TQ sẽ sụp đổ.

http://www.businessinsider.com/s?q=ian+bremmer

Nhật Bản thiết lập “chuỗi hạt kim cương” ở Châu Á

Hu Zi

22-1-2013

Theo truyền thống,mỗi khi có một thủ tướng đứng đầu nội các Nhật Bản lên cầm quyền thì điểm đến chuyến thăm đầu tiên ra nước ngoài luôn là Mỹ. Giữa Mỹ và Nhật Bản ký kết một hiệp ước đảm bảo an ninh. Tuy nhiên lần này thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã phá vỡ thường lệ này với chuyến thăm các nước Châu Á là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia làm nổi bật lên chính sách ngoại giao về Châu Á của Nhật Bản; trước chuyến thăm 3 nước Đông Nam Á kể trên của thủ tướng Abe, Nhật cũng có những hoạt động ngoại giao nhộn nhịp khác như Phó thủ tướng Nhật Bản kiêm Bộ trưởng Tài chính Taro Aso đã có chuyến thăm chính thức Myanmar bốn ngày nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương, Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida bắt đầu chuyến thăm 3 nước Đông Nam Á gồm Philippines, Singapore, Brunei và Australia.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe
Nguồn ảnh: AP


Những hoạt động ngoại giao dồn dập gần đây của Nhật Bản cho thấy sự can dự ngày một mạnh mẽ của họ vào khu vực Châu Á Thái Bình Dương nhằm tìm kiếm hơn nữa các lợi ích kinh tế và chính trị trong khu vực, đồng thời tái lập thế cân bằng với sức mạnh của Trung Quốc ở khu vực này trong thời gian qua. Thủ tướng Abe hi vọng thông qua sự hợp tác này có thể thúc đẩy sự đi lên của nền kinh tế Nhật Bản cũng như duy trì và bảo đảm hòa bình và ổn định trong khu vực, nhất là vấn đề an ninh trên biển. Trong chuyến thăm Việt Nam, ông nhấn mạnh, “Môi trường chiến lược trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương hiện đang trải qua những chuyển biến năng động… Trong quá trình thay đổi này, quan hệ chặt chẽ hơn với các nước ASEAN sẽ góp phần duy trì hòa bình và ổn định của khu vực, và điều đó là vấn đề lợi ích quốc gia của Nhật Bản.”

Liên minh dân chủ an toàn

Trong một bài viết trên Project-syndicate vào cuối tháng 12/2012. Thủ tướng Nhật Bản có một bài viết gây chú ý khi nói về vấn đề an ninh của khu vực Đông Á với nhan đề “Asia’s Democratic Security Diamond”, qua đó thể hiện rõ sự cứng rắn trong chính sách ngoại giao, không sẵn sàng đàm phán về vấn đề tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc. Tư tưởng cốt lõi trong chính sách của Abe là thiết lập “một chuỗi hạt kim cương dân chủ an toàn ở Châu Á”.

Abe hi vọng thông qua sự hợp tác này để ngăn chặn chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc trong khu vực. Ông viết, “chiến lược mà tôi đề xuât của tôi là thiết lập một chuỗi kim cương do Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và cả Hawaii tạo thành nhằm đảm bảo an toàn hàng hải từ khu vực Ấn Độ Dương cho tới Tây Thái Bình Dương… Tôi nguyện hết sức để Nhật Bản đầu tư vào năng lực phòng vệ của chuỗi hạt kim cương này.”

“Trung Quốc làm cho các nước xung quanh cảm thấy bị đe dọa”

Trong các biện pháp cụ thể mà Abe đưa ra, có nói tới sự tăng cường hợp tác về kinh tế và quốc phòng với Nhật Bản. Hai nước này cần phải gánh vác trách nhiệm đảm bảo quyền tự do lưu thông hàng hải trên khu vực Tây Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương, đồng thời ông cũng không quên ngầm nhắc tới việc Trung Quốc đang không ngừng gia tăng sức mạnh hải quân trong thời gian qua. Trong đó có đoạn

“Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đang dần trở thành cái ao nhà của Bắc Kinh, họ đang muốn biến nó thành biển Okhotsk của Liên Xô, vùng biển Nam Trung Hoa nước sâu có đủ điều kiện để Hải quân Trung Quốc xây dựng căn cứ cho các tầu ngầm hạt nhân chiến lược mang đầu đạn hạt nhân của họ. Không lâu sau đó, những hạm đội tàu sân bay mới tậu của họ có thể đi lại khắp nơi trong vùng, dư sức để đe dọa những láng giềng bé nhỏ có tranh chấp lãnh thổ với họ.”

Nhật Bản không thỏa hiệp

Quần đảo Senkaku hay còn gọi là Điếu Ngư mà cả hai nước Nhật – Trung đều tuyên bố chủ quyền
Nguồn ảnh: Alliance/dpa


Trong bài viết này, Abe cũng nhắc tới vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông, cụ thể là quần đảo Senkaku. Quần đảo này hiện do Nhật Bản quản lý, tuy nhiên Trung Quốc lại khăng khăng rằng đó là quần đảo Điếu Ngư và họ có đầy đủ chủ quyền ở đây. “Trung Quốc dùng đội tàu hải giám có trang bị vũ khí nhẹ liên tục diễu quanh và xâm phạm lãnh hải Nhật Bản, tuy nhiên đừng bị những hành động “ôn hòa” này làm cho mê muội. Trung Quốc hy vọng thông qua sự xuất hiện mang tính thường xuyên của đội tàu đội lốt dân sự này trong khu vực để biến khu vực này thành khu vực chịu sự quản lý của họ.”

Đối mặt với những đòi hỏi của Trung Quốc, Nhật Bản sẽ lựa chọn không lùi bước. Trong chuyến thăm 4 ngày tới Đông Nam Á, thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thực hiện từng bước chiến lược vừa nêu.

Trong khối Asean, Nhật Bản đã tích cực bắt tay với những nước phản đối Trung Quốc. Abe khi tới thăm Indo đã giới thiệu 5 phương châm mới trong quan hệ với Asean, trong đó có hơn một nửa là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc. Ông nói, Nhật Bản sẽ cùng với Châu Á phấn đấu cho con đường tự do, dân chủ và nhân quyền, ở điều kiện thứ ba thì Trung Quốc thiếu hẳn điều này.

“Bảo vệ nhà nước pháp trị”

Abe mặt khác còn nhắc tới sẽ cùng các nước ASEAN đi trên con đường bảo vệ nhà nước pháp trị. Đây cũng là ám hiệu mà ông muốn gửi tới Trung Quốc, bởi trên góc độ luật pháp quốc tế thì quần đảo Senkaku thuộc quyền quản lý của Nhật Bản. Tiếp theo là nhấn mạnh tới các họa động giao lưu, trao đổi về nhân sự, vốn đầu tư lẫn các hoạt động dịch vụ với nhau để thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế Nhật đồng thời tạo đà tăng trưởng cho các nước Asean. Trong điểm thứ tư và thứ năm có nhắc tới sự phát triển của các nền văn hóa khác nhau cũng như sự giao lưu giữa thanh niên các nước.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ HIillary Clinton và Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida trong cuộc họp báo chung tại Bộ Ngoại giao Mỹ ở Washington, D.C. ngày 18/1/2013
Nguồn ảnh: Reuteurs


Thế tiến công của nền ngoại giao Nhật Bản không chỉ bị Trung Quốc ngăn trở trong khu vực, đồng minh thân thiết của Nhật Bản là Mỹ cũng bày tỏ sự quan tâm. Trợ lý ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề Đông Á và châu Đại dương, ông Kurt Campbell sau khi đã có một loạt cuộc hội đàm và gặp gỡ ở Tokyo đã biểu thị rằng nước Mỹ sẽ thi hành một chính sách ngoại giao “bình tĩnh”. Ông nói hi vọng các bên liên quan “có đầu óc tỉnh táo” để duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Trước đó, Bộ trưởng ngoại giao Nhật Bản Fumio Kishida đã phát biểu rằng Trung Quốc phải chịu trách nhiệm vì đã gây căng thẳng tình hình trong khu vực.


Nguồn: Nhật Bản thiết lập “chuỗi hạt kim cương” ở Châu Á. Facebook. Hu Zi on Monday, January 21, 2013.

——————-

Khủng hoảng giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên thế giới

nguyen  quoc khai (dich)

danchimviet.info

Giới thiệu: Bản tiếng Việt dưới đây dựa trên một cuộc phỏng vấn ông Ian Bremmer, chủ tịch công ty tham vấn về địa chính trị Eurasia Group, được thực hiện tại Davos, Thụy Sĩ bởi tạp chí Business Insider. Bài phỏng vấn với văn nói được viết lại thành một bài bình luận. Nhưng nội dung không thay đổi.

Hình (U.S. Department of Energy): Bản đồ tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Trung Quốc và Nhật Bản xem ra sắp bước vào một cuộc chiến súng đạn về một vài hòn đảo nhỏ mà hai bên đang tranh chấp. Sự căng thẳng giữa hai nước đang gia tăng bất kể những hòn đảo và là một mối lo ngại quốc gia lớn lao đối với Hoa Kỳ và các nơi khác trên thế giới.

Chuyện gì sẽ xẩy ra với Trung Quốc và Nhật Bản?

Vấn đề to lớn là quan hệ, cân bằng sức mạnh giữa hai nước này đã thay đổi và đang thay đổi một cách đột ngột, gây ấn tượng sâu sắc – thật sự và rất mạnh mẽ, không có lợi cho Nhật Bản.

Từ những phối cảnh về an ninh, chính trị, và kinh tế nẩy sinh ra những vấn đề lớn lao cho Nhật Bản. Hiện nay sau cùng Nhật Bản đã có một nhà lãnh đạo [Shinzo Abe] có khả năng tại chức một thời gian. Ông ta không những có khuynh hướng quốc gia dân tộc mà còn có khuynh hướng ngày càng ủng hộ dân chủ. Ông đã là thủ tướng trước đây và là một người thực tiễn hơn, nhưng nếu chúng ta gặp ông, ông nói về sự mong muốn thành lập một liên minh các nước dân chủ tại Á châu [và] hướng nhiều hơn về Ấn Độ, Úc châu, và Tân Tây Lan. Ông [xứng đáng với biệt hiệu] là Ông Chuyển Hướng trước khi vấn đề chuyển hướng trở thành một thời trang.

Nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản bước vào một lãnh vực mà Hoa Kỳ đã hành động vì lo ngại về thử thách của Trung Quốc ở trong vùng.  Nhìn từ phối cảnh của chính sách ngoại giao, đây là một cố gắng chiến lược đơn thuần lớn nhất mà chánh quyền Obama đã cam kết.

Chúng ta phải nghĩ rằng Trung Quốc sẽ xem tất cả những thứ này là những hành động khiêu khích. Câu hỏi thật sự là chính phủ Trung Quốc sẵn sàng để phản ứng tới mức nào trong cách leo thang? Đây có phải là trường hợp xung đột giữa Nga – Georgia hay không? Đúng một chút. Chúng ta đang chọc con gấu phải không? Tôi không có câu trả lời về vấn đề này, nhưng tôi nghi ngờ rằng nó không tốt.

Tôi có một vài điểm vắn tắt sau đây:

Trước hết, trái với Ông Hồ Cẩm Đào, Ông Tập Cận Bình có quyền hành đối với quân đội. Ông củng cố trực tiếp được nhiều những thứ như Ban Thường Vụ xung quanh. Ông ta là một nhân vật mạnh mẽ hơn, cá tính mạnh mẽ hơn, và dược lòng trung thành của Quân Đội nhiều hơn. Như vậy, nếu muốn leo thang, ông có thể cảm thấy thoải mãi hơn và tự tin rằng ông có thể tăng, giảm mà không mất khả năng kiểm soát. Điều này nguy hiểm cho Nhật Bản.

Nếu chúng ta cũng nhìn vào cách Trung Quốc tiến hành về vấn đề này trước đây: cho phi cơ bay sát địa phận trước những cuộc bầu cử, hầu như là Trung Quốc không muốn Ông [Shinzo] Abe đắc cử, [nhưng] họ chắc chắc không phiền hà nếu Ông Abe thắng. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc bài Nhật là màn kịch Trung Quốc đóng dễ dàng. Nó cho phép Trung Quốc giải tỏa một số việc nếu không sẽ gây ra bất mãn và như vậy tạo ra những khó khăn cho chính phủ Trung Quốc.

Một điểm chót về vấn đề này. Khi chúng ta nhìn vào vấn đề Trung Quốc – Nhật Bản, so với tất cả những lãnh thổ khác trong vùng – chúng ta nói về Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam – với tất cả những nước trong vùng Biển Hoa Nam, Trung Quốc có một nền kinh tế lớn hơn bất cứ nền kinh tế nào của những nước này, nhưng Trung Quốc cũng lại có những cộng đồng dân Trung Quốc ở hải ngoại chế ngự nền kinh tế địa phương. Họ là những doanh nhân, và với thời gian điều này làm cho Trung Quốc thoải mái. Những doanh nhân này biết chuyện gì xẩy ra bên trong nước, tạo ra sự minh bạch. Nhưng điều này cũng có nghĩa là với thời gian, Trung Quốc thật sự cảm thấy như thể là nếu họ chỉ cần xây dựng một quan hệ kinh tế, an ninh sẽ được bảo đảm.

Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng chính trị, họ sẽ có ảnh hưởng an ninh song phương. Tất cả Trung Quốc có thể làm được là nắm chắc rằng Hoa Kỳ không có khả năng để tạo ra những liên hệ đa phương ở trong vùng.

Đối với trường hợp Nhật Bản, điều này không đúng. Không có người Trung Quốc có ảnh hưởng thương mại quan trọng trong nước Nhật. Họ rất mơ hồ về cách thức hệ thống hoạt động. Nhật Bản lớn hơn nhiều, do đó, nếu chúng ta là Trung Quốc, chúng ta nghĩ làm thế nào để có thể thay đổi cán cân theo chiều hướng có lợi cho chúng ta. Khi chúng ta trở thành một nền kinh tế lớn nhất thế giới, khi chúng ta xây dựng một quân lực lớn mạnh hơn, vấn đề của chúng ta là Nhật Bản.

Một quốc gia mà chúng ta chuẩn bị để xông xáo tới – bây giờ tạm gọi là quyết đoán – nhưng sau này có thể là xông xáo – là Nhật Bản. Tất cả những yếu tố cấu trúc này thật sự làm tôi lo ngại. Không có gì để nghi ngờ rằng những liên hệ kinh tế giữa hai nước vẫn còn quan trọng. Không có gì phải thắc mắc rằng Hoa Kỳ chắc chắn không muốn thấy tranh chấp giữa nước đồng minh Nhật Bản và Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ có thể cố gắng tới mức nào để ngăn chặn cuộc tranh chấp này với một tiền đề là Hoa Kỳ và Nhật Bản có quan hệ mật thiết; Tôi không rõ nếu cuộc tranh chấp sẽ không trở thành nghiêm trọng hơn. Nếu tôi phải đánh cuộc ngay bây giờ, tôi nghĩ rằng sẽ có tình trạng sẽ leo thang nghiêm trọng trong năm 2013.

Tôi nghĩ cho đến nay, Trung Quốc – Nhật Bản là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên căn bản tranh chấp trực tiếp song phương trong những năm sắp tới.

Sẽ có chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản ?

japan-china crisis 1

Tôi nghĩ rằng hai nước đang có chiến tranh rồi. Tôi nghĩ rằng cuộc chiến vi tính chống các ngân hàng Nhật đã gia tăng rất nhiều. Tôi nghĩ chúng ta nhìn vào những cuộc biểu tình chống Nhật Bản do chính phủ rõ ràng khuyến khích và ảnh hưởng trực tiếp đối với đầu tư của Nhật tại Trung Quốc. Chiến tranh ngày nay được điều khiển bằng những phương tiện khác. Chúng ta có thể chắc chắn không nói rằng những kẻ này là bạn. Câu hỏi là họ là kẻ thù hay là vừa là bạn vừa là kẻ thù?

Nhìn vào nhóm 20 quốc gia (G-20), liên hệ song phương tệ nhất trong bất cứ hai nước nào trong G-20 hiện nay là Trung Quốc – Nhật Bản. Tôi nghĩ điều này rõ ràng. Nhân tiện đây, mười năm trước là trường hợp Nga – Nhật Bản.  Vào thời điểm đó cũng liên hệ đến tranh chấp lãnh thổ.  Nhật Bản thật sự đã phải làm việc vất vả để cải thiện liên hệ này.

Vì nhiều lý do tình trạng trước đây dễ dàng hơn nhiều. Chúng ta không có vấn đề văn hóa. Nga thấy Nhật có khả năng trả tiền và tất cả những thứ như vậy. Trường hợp Trung Quốc – Nhật Bản vô cùng khó khăn hơn.

Tôi có nghĩ rằng hai nước sẽ trực tiếp đối đầu nhau không?  Đây không phải là trường hợp Nga xâm chiếm Georgia với xe tăng, nhưng chúng ta có thể chắc chắn thấy những cuộc giao tranh nhỏ trên lãnh thổ tranh chấp. Sự kiện này có khả năng lôi cuốn sự có mặt nhiều hơn của Hoa Kỳ trong vùng. Nguy hiểm là điều này có thể làm cho quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc trở nên tồi tệ.

Nếu ở trong đúng tình trạng này, những gì sẽ xẩy ra? Một phi cơ Nhật sẽ bắn đạn lửa vào một phi cơ Trung Quốc. Phi cơ Trung Quốc phản ứng lại và bắn rơi phi cơ Nhật. Cái gì sẽ xẩy ra?

Trước hết chúng ta sẽ thấy bang giao giữa hai nước bị cắt đứt. Dĩ nhiên những đại sứ sẽ bị triệu hồi tức khắc. Không phải là hoàn toàn đoạn tuyệt, nhưng đây là việc đầu tiên xẩy ra. Chúng ta sẽ thấy [những hoạt động] bài Trung Quốc và [những hoạt động] bài Nhật ở khắp nơi. Chúng ta sẽ thấy một vài trường hợp liên hệ đến bạo lực.

Hình (Reuters): Ngoại Trưởng Nhật Fumio gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton trong lần viếng thăm Washington vào giữa tháng 1, 2013. Hoa Kỳ tuyên bố không ủng hộ bất cứ một hành động đơn phương nào về cuộc tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Có thể sẽ có một số người gốc Nhật sống tại Trung Quốc sẽ bị đánh đập và giết chết. Việc đánh phá các cơ sở của Nhật Bản tại Trung Quốc được xem như không chịu đựng nổi.  Những công ty Nhật sẽ phải rời khỏi Trung Quốc hàng loạt.

Tình trạng xấu đủ. Đây là những điều thật chắc chắn xẩy ra nếu có kiểu đương đầu như vậy. Câu hỏi đặt ra là hai bên có thể quay ngược trở lại được không?

Về viễn cảnh quân sự, tôi nghi ngờ hai nước muốn như vậy. Hoa Kỳ lập tức sẽ biểu dương sức mạnh. Đây hiển nhiên sẽ là một báo động cao nhất cho cả hai phe, nhưng cũng sẽ có nhiều biện pháp để tạo sự tin cậy giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để thử bảo đảm cuộc tranh chấp quân sự giữa Nhật – Trung Quốc không bị vượt ra khỏi khả năng kiềm chế.

Bây giờ hãy nhớ rằng Nhật Bản chi tiêu vào khoảng 1% tổng sản phẩm nội địa về quốc phòng. Nhật Bản không tự bảo vệ như chúng ta. Điều này làm cuộc sống dễ dàng hơn khi nghĩ về tình trạng tồi tệ có thể gặp phải, nhưng không có nguy hiểm về chiến tranh – xung đột quân sự trực tiếp – tình trạng này làm cho hai bên tin tưởng rằng việc leo thang là có thể xẩy ra.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, nếu có xung đột – Đông và Tây Đức – người ta nói tới Thế Chiến Thứ III. Nhưng ở đây không ai nói như thế. Một phần bởi vì Nhật quá yếu. Một phần vì Nhật, Trung Quốc, và Hoa Kỳ có quá nhiều quyền lợi kết nối với người Trung Quốc.

Nhưng nếu Hoa Kỳ biểu dương lực lượng, Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Nhật Bản?  Hoa Kỳ sẽ phải làm như thế vì Nhật Bản là đồng minh của chúng ta.  Hoa Kỳ cũng có những quyền lợi tại Trung Quốc. Chúng ta đã chọn phe. Nếu nhìn vào lời tuyên bố của Bà Hillary Clinton về điểm này, chúng ta rõ ràng đã lựa chọn phe: “Chúng ta không muốn dính líu vào cuộc xung đột này, nhưng hãy để cho chúng ta làm sáng tỏ một cách rất tường tận rằng chúng ta ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản.” Chúng ta dành cho Nhật Bản những hòn đảo này. Họ là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Chúng ta cam kết về điều đó.

Chúng ta có những quyền lợi to tát tại Trung Đông trong lãnh vực năng lượng. Những quyền lợi này đang giảm xuống với thời gian. Do Thái là đồng minh của chúng ta. Điều này làm chúng ta gặp khó khăn. Đây là rõ ràng là một tình trạng tương tự, nhưng Trung Quốc rất quan trọng đối với chúng ta về phương diện kinh tế hơn bất cứ nước nào tại Trung Đông.

Hoa Kỳ có đánh nhau với Trung Quốc hay không? Nếu Trung Quốc quyết định lấy những đảo này, chúng ta có bảo vệ Nhật Bản hay không? Chúng ta có đánh nhau với Trung Quốc hay không?

Tôi nghĩ rằng xác suất của kịch bản này quả thật rất thấp, chính vì Hoa Kỳ dính líu vào việc này.  Thật vậy, trong khi Trung Quốc đã chuẩn bị hành động gây gỗ không thỏa hiệp với Nhật Bản, tôi không tin rằng Trung Quốc sẵn sàng để hành động như vậy với Hoa Kỳ.

Việc Hoa Kỳ can dự vào cuộc xung đột Trung-Nhật sẽ có những ảnh hưởng kinh tế gián tiếp không thể tránh được. Nó sẽ có tác động trên quan hệ thương mại Trung-Mỹ, và chắc chắn sẽ làm cho quan hệ ngoại giao giữa hai nước trở nên lạnh nhạt hơn nhiều. Nó cũng sẽ làm cho tiềm năng hợp tác mới mẻ về Syria không đáng kể qua thời gian. Bắc Hàn và nhiều nơi khác chúng ta cần sư hợp tác sẽ trở thành khó khăn hơn nhiều.

Đây là hai cường quốc quan trọng nhất thế giới hiện nay.

Tôi nghĩ xác suất về việc Trung Quốc xung đột quân sự trong vùng với Hoa Kỳ đang bảo vệ Nhật Bản quả thật rất thấp. Đối với tôi đây là lối cổ võ sự sợ hãi mà thôi.

Tôi nghĩ rằng đối với cuộc đụng độ quân sự lẻ tẻ, vấn đề tiềm tàng nằm ở trong cuộc xung đột kinh tế nghiêm trọng thực sự giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Đó là điều thực sự đúng hiện nay, nó có thể xẩy ra ngày mai.

The Japan-China Crisis Is The Most Significant Geopolitical Tension In The World

Ian Bremmer– Business Insider–24-1-2013
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

© Đàn Chim Việt

————————————————————

The Japan-China Crisis Is The Most Significant Geopolitical Tension In The World

Henry Blodget and Paul Szoldra

January 24, 2013
Ian Bremmer

World Economic Forum

China and Japan appear to be on the verge of a shooting war over some tiny islands that are the subject of a territorial dispute.

Tension between these countries is escalating irrespective of the islands, and it is a matter of immense national concern for the United States and the rest of the world.

Yesterday in Davos, I sat down with Ian Bremmer, the president of geopolitical consulting firm Eurasia Group, to get his take on the situation.

 


Blodget: What’s going to happen with China and Japan?

Bremmer: The big problem is that the relationship, the balance of power between these two countries, has changed and is changing dramatically—and really, very strongly not in Japan’s favor.

From a security perspective, a political perspective, an economic perspective, this is just creating big, big problems for the Japanese. And now they finally have a leader that has a good shot at staying around for a while. He has a more—not just nationalist inclination—but a more pro-democracy inclination. He was prime minister last time and people said he was more pragmatic, but if you met with him, he talked about wanting to create a league of democracies in Asia [and] orienting much more towards India and Australia and New Zealand. He was Mr. Pivot before pivoting was fashionable, right?

Now he comes into a context where the U.S. is already acting in a way that’s concerned about a Chinese challenge in the region. It’s the single biggest strategic effort that the Obama administration has engaged in, from a foreign policy perspective.

And you have to think that the Chinese are going to see all this as provocative. The real question is, to what extent is the Chinese government prepared to respond in an escalatory fashion? Is this Russia vs. Georgia? A little bit, right. Are you poking the bear?

And I don’t know the answer to that, but I suspect it’s not good.

A couple of quick points on that:

First of all, unlike Hu Jintao who really didn’t have control over the military, Xi Jinping does. He has much more direct consolidation of these, sort-of standing committees around him. He’s a much stronger figure, much stronger personality, has much more loyalty from the military. So, if he wants to escalate, he can feel much more comfortable and confident that he can ratchet up and ratchet back without it getting out of control.

That’s dangerous for Japan.

Also if you look at the way the Chinese have engaged before on this issue: buzzing the territories with planes right before the elections, almost as if they didn’t want [Shinzo] Abe in, [but] they certainly didn’t mind Abe in. Anti-Japanese nationalism is a fairly easy play for the Chinese to engage in that allows them to defuse some of what would otherwise be discontent with things that would be more problematic for the Chinese government.

One final point on this: when you look at China vs. Japan, compared to all of the other territories in the region — you talk about East China Sea, South China Sea — with all those countries in the South China Sea, the Chinese themselves are a much larger economy than any of those countries, but also the Chinese have very large diaspora communities that dominate the economies of those countries. They are the key business people, and over time, that makes the Chinese much more comfortable. They know what’s going on inside the country, it creates more transparency. But also it means that over time the Chinese really feel like if they just build the economic relationship, the security will come.

They are going to get the political influence, they’re going to get the security influence, bilaterally. All they can do is make sure the U.S. isn’t able to create strong multilateral ties in the region.

With Japan that’s not true.

There are no Chinese in Japan that have significant business influence. It’s very opaque to them the way the system actually works. Japan’s much bigger, so if you’re China, [you are] thinking about how you’re going to tip the balance over time in your direction. When you become the world’s largest economy, as you’re building out your military, your problem is Japan.

The country that you’re prepared to be more aggressive towards — call it assertive now — but over time perhaps aggressive is Japan. And all of these things, all of these structural factors, really worry me. There’s no question that the economic ties are still important between these two countries.

There’s no question that the United States certainly does not want to see conflict between their allies Japan, and the Chinese. But how much effort the U.S. will be able to put into stopping it and given how tied the Americans are to the Japanese; it’s not clear to me this isn’t going to get worse. If I had to bet right now, I think there is [going to be] a significant run of escalation in 2013.

And I think by far, China-Japan is the most significant geopolitical tension on the map, in terms of direct bilateral conflict in the coming years.

Blodget: Do you think they’ll go to war?

Bremmer: I think they are at war. I think that cyberwarfare against Japanese banks has gone up greatly. I think you look at the anti-Japanese demonstrations that were clearly stimulated by the Chinese government, and the impact that’s had directly on Japan investment in China. Warfare is conducted by other means today. And we can certainly not say that these guys are friends. The question is are they frenemies or are they enemies?

I would tell you that looking at the entire G20, the single worst bilateral relationship among any two countries in the G20 is China-Japan, right now. I think that’s clear. By the way, 10 years ago, it was Russia-Japan. Now, at that point it was also over contested territories. The Japanese actually worked really hard to try to improve that relationship.

It was a lot easier for many, many reasons. You didn’t have the cultural issues. The Russians saw Japanese as being able to write checks, and all this sort of thing. In China-Japan, it’s radically harder.

Do I think that they will come to direct [confrontation]? This isn’t Russia invading Georgia with tanks, but we could absolutely see direct military skirmishes over the contested territory, sure. And that potentially could involve escalation of American presence in the region. The danger here is that it has the knock-on impact of deteriorating U.S.-China relations as well.

Blodget: So what happens if we get exactly that. A Japanese plane shoots tracers at a Chinese plane. The Chinese plane responds and shoots down the Japanese plane. What happens?

Bremmer: Well, first of all, you’re gonna see a cut-off of diplomatic ties between the two countries. The ambassadors of course, will immediately be withdrawn. Not complete secession, but that’s the first thing that happens. You’ll see anti-Chinese and anti-Japanese across the board. You’ll see some violence.

There will probably be Japanese ex-pats living in China that will be roughed up and killed. Japanese exposure in China which has already taken a beating would be considered unsustainable. Japanese companies would be leaving China in droves.

That’s bad enough. Those are things that are virtually certain to happen if you had that type of a confrontation. The question would then be, can both sides dial it back?

I suspect from a military perspective they would. The Americans [would] immediately have a show of force. There obviously would be highest alert for both sides, but there would also be a lot of confidence-building measures between the U.S. and China to try to assure the Japanese-China military conflict would not spill out of control.

Now keep in mind, Japan spends something like 1% of its GDP on the military. The Japanese aren’t defending themselves on this stuff, we are. That makes life easier in terms of thinking about how bad it can get, but because there’s no danger of going to war, right — direct military conflict — that allows both sides to believe that escalation is more feasible.

The Cold War, if there had been conflict — East and West Germany — people were talking World War III. No one’s talking about that here.

Blodget: Because Japan’s so weak.

Bremmer: In part because Japan’s so weak. In part because Japan, China, and the United States have so many interlocking interests with the Chinese.

Blodget: But if the U.S. has a show of force, it is to protect the Japanese?

Bremmer: Has to be. Japan’s our ally.

Blodget: We have huge interests in China as well.

Bremmer: Yes, we do.

Blodget: We’re going to take a side immediately?

Bremmer: We have taken a side. If you look at Hillary Clinton on this point, it is very much, “We don’t want to get involved in this conflict, but let’s be very clear: we support Japanese territorial integrity.” And look, we gave the Japanese administration over these islands. They are our strategic ally. We are committed to that.

We have huge interests in the Middle East in energy that are going down over time. Israel is our ally. That gets us into trouble. This is clearly an analogous-type situation, but China is much more important to us economically than all these folks in the Middle East.

BIodget: So if China decides to take these islands, we defend Japan? Do we go to war with China?

Bremmer: I think the likelihood of that scenario is very low indeed, precisely because the United States is involved. And so, while the Chinese have prepared to play hardball with Japan, I don’t believe the Chinese are prepared to play hardball with the United States.

And that’s going to have a knock-on economic effects. It’ll impact U.S.-China trade relations, and it’ll certainly make it much colder between the two countries. It makes the potential for a nascent cooperation on things like Syria over time very de minimis. North Korea and plenty of places where we need to cooperate are much, much harder.

These are the world’s two most important powers right now.

But, I think the likelihood of the Chinese [engaging militarily] with the Americans in the region defending the Japanese is very low indeed. That to me, is fear mongering.

Where I think the potential is — for actual serious economic conflict between Japan and China, over a military skirmish. That’s actually real, that’s on the table right now, that could happen tomorrow.

That’s a real thing.

Blodget: Thanks, Ian.

Posted in Chính Sách Đối Ngoại | Leave a Comment »