Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Đời Sống’ Category

►Từ Formosa tới lũ lụt Miền Trung- Vai trò nổi lên của xã hội dân sự

Posted by hoangtran204 on 19/10/2016

FB Nguyễn Anh Tuấn
17-10-2016 Không chờ chỉ thị hay công điện khẩn của Chính phủ, cũng không cần đến sự cho phép của chính quyền địa phương (vì chẳng có luật hay lý nào bắt người dân phải xin phép chính quyền khi giúp đỡ nhau), hàng chục nhóm dân sự đã và đang có mặt tại vùng rốn lũ Quảng Bình – Hà Tĩnh, tiến hành những trợ giúp nhân đạo kịp thời cho bà con, từ việc cung cấp lương thực, thuốc men, nhu yếu phẩm tới việc hỗ trợ khôi phục sinh kế, xây nhà chống lũ…

 

Đọc tiếp »

Posted in Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Miền Bắc sau 30-4-1975: Đời sống nông dân, Nong Dan Viet Nam, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đời Sống | Leave a Comment »

►Sài Gòn, Huế…Đừng im lặng: Phải phạt thật nặng, thậm chí đình chỉ mưa!

Posted by hoangtran204 on 28/09/2016

“Trước đó chỉ vài ngày ở Thừa Thiên Huế đã nháo nhác về việc cả thành phố ngập trong biển nước sau một cơn mưa lớn.

26-9-2016, rồi cũng đến phiên Sài Gòn, Chợ Lớn…thất thủ. 

Thế lực thù địch…phản động…

Hiện nay, các ông chủ cộng sản và ban Tuyên Giáo đang đóng cửa bận họp chuyện đại sự như họ vẫn thường làm. Mưa chỉ là chuyện nhỏ so với tài lãnh đạo sáng suốt của đảng ta. Ủy ban trung ương đảng sẽ vắt óc chế tạo một kẻ thù nào đó để đổ thừa. Sớm muộn rồi sẽ có thôi mà.

Trong khi chờ đợi, tạm thời đưa ra nghị quyết… sai lực lượng thanh kiếm và lá chắn vào cuộc… 

Đừng im lặng: Phải phạt thật nặng, thậm chí đình chỉ mưa!

 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đời Sống | Leave a Comment »

►Cuba thức giấc- Gợi nhớ VN thời 1980s và 1990s

Posted by hoangtran204 on 10/07/2016

Cuba thức giấc

Tác giả:

9-7-2016

Một bài phóng sự

Nếu người Việt lưu vong có Orange County thì người Cuba lưu vong có Miami. Nếu ở Orange County có Little Saigon thì ở Miami có Little Havana. (Chỉ khác một điều là người Cuba lưu vong đoàn kết hơn người Việt, nhờ vậy, họ có nhiều đại diện cấp liên bang, tiểu bang, thành phố và trong các đại công ty, như Coca Cola.)

Bên trong Little Havana có cửa hàng “Nooo! Que Barato!” tạm dịch “Chu choa! Quá rẻ!” Trước đây, cửa hàng này đã tấp nập sẵn, nhưng kể từ sau khi Hoa Kỳ và Cuba tuyên bố chính thức mở lại bang giao vào cuối năm 2014, và sau chuyến đi Cuba của Tổng thống Obama hồi tháng 3 vừa qua, cửa hàng này ngày càng tiền vô như nước.

Lý do: người Mỹ gốc Cuba chen chân vào tiệm này để mua những món hàng có giá hạ để gửi về cho bà con bên nhà.
Thật vậy, một gói 6 cái chuối chiên cho phụ nữ chỉ có $5.99, một áo thun cánh liền ông “mát-ze in Vietnam” cũng chỉ $5.99.

Người dân Cuba lâu nay vẫn trông cậy vào quà của bà con bạn bè bên Mỹ. Mỗi năm, người Mỹ gốc Cuba trung bình gửi về khoảng 2,5 tỉ đô la, người gửi đa số sống tại Miami và vùng phụ cận.

Chính phủ của Tổng thống Obama đã gỡ bỏ giới hạn số tiền gửi về cho thân nhân bên Cuba, và cho phép gửi về một số hàng trước đây bị cấm. Những chuyến phà từ Mỹ đến Cuba và đường bưu điện được mở lại làm cho hàng hóa mang vào dễ hơn.

Người Mỹ gốc Cuba ở Miami nói rằng lâu nay họ vẫn vui vẻ cung cấp cho bà con đau khổ thiếu thốn bên nhà những nhu yếu phẩm để có thể ăn no mặc ấm. Nhưng kể từ khi cánh cửa tự do đã mở ra, bà con bên nhà bỗng dưng quay sang yêu cầu những món theo kiểu ăn ngon mặc đẹp.

Hiện tượng này khiến nhiều người ở Little Havana lười nhấc điện thoại để khỏi phải trả lời những đơn đặt hàng hiệu hoặc mỹ phẩm cao cấp. Kẹt quá thì họ bịa ra lý do để khỏi phải nghe điện thoại.

Bà Eloisa Canova, có mấy em gái vẫn còn ở Cuba cho biết: “Tôi nghe điện thoại nhưng nói, chị đang lái xe trong đường hầm, sóng chập chờn, không nghe rõ, hả, hả, hả… không nghe gì hết. Chán ơi là chán.”

Ngoài đồ lót và quần áo, bà con bên nhà cũng yêu cầu iPhone 6, kính Ray-Ban, giày Nike; nhưng quan trọng nhất vẫn là đô la Mỹ, để họ có tiền mua các phút bỏ vào các thẻ điện thoại di động. Người nào có nhiều phút trên điện thoại sẽ có dịp lướt Internet, tra cứu những món hàng xịn trên không gian cyber để yêu cầu bà con bên Miami mua gửi về cho mình.

Món hàng ưu tiên 1 xin gửi về vẫn là điện thoại di động. Nhưng không phải hiệu nào cũng được, mà phải là iPhone 6, dưới 6 là không ổn. Chẳng những vậy mà họ còn đặt trước những sản phẩm sắp ra của Apple. Laptop và máy tính bảng cũng có ưu tiên cao.

Nhờ được truy cập Internet thoải mái hơn trước, người dân Cuba bây giờ mở ra được một cánh cửa mới, biết được những món hàng cao cấp của các nước phương Tây. Năm ngoái, anh em Castro đã tăng những điểm có wifi lên thành 65 và hứa năm nay sẽ có thêm 58 điểm. Tốc độ truy cập Internet cũng bắt đầu khá hơn.

Năm 2014, trong số 11 triệu dân Cuba có 2,5 triệu người thuê bao điện thoại di động. Qua đến năm 2015 có 3,4 triệu.
Cuba vẫn là nước có ít người sử dụng Internet nhất trong số các nước khu vực Tây Bán Cầu. Ước tính vào khoảng 10% dân Cuba có điều kiện truy cập Internet. Ngay tại trung tâm Havana, nhiều người tụ tập quanh những điểm có wifi công cộng, đến giờ khuya vẫn còn thấy họ bấm bấm quẹt quẹt để gửi tin nhắn hoặc lướt web.

Ngoài điện thoại di động, các món hàng ưu tiên yêu cầu gửi về còn có đồ lót, nội y, cho phụ nữ. Nhưng các cô các bà sành điệu bây giờ không còn muốn loại chuối chiên bán theo lố nữa mà chỉ muốn của Victoria’s Secret thôi.

Còn các ông? Cư dân Miami 66 tuổi, ông Luis Nieves, rời Cuba năm 1999: “Mấy ông bạn tôi chỉ muốn thuốc Vê màu xanh xanh. Tôi trả lời họ ở bên này tôi không xài thứ đó, và đương nhiên nếu tôi không xài thì tôi không gửi.”

Chỉ có thành phần có thân nhân bên Mỹ viện trợ mới có cuộc sống tạm ổn, còn đa số người dân Cuba vẫn còn thiếu những món cần thiết. Nhiều cửa hàng có những kệ trống trơn. Lương tháng trung bình, nếu may mắn kiệm được việc, chưa tới 25 đô la Mỹ.

Bà Sandra Cordero là một giáo viên rời Cuba năm 1980, có chồng làm tài xế xe tải. Bà nói bây giờ thì đơn đặt hàng có cả thuốc sơn móng tay, giầy xịn, máy ép tóc cho thẳng: “Thật tình mà nói, tôi chẳng vui vẻ gì. Cách đây mấy năm họ chẳng hề xin những những món đấy. Vấn đề thực sự ở đây là họ không hiểu, họ bị cô lập với thế giới bên ngoài khá lâu nên cứ tưởng ở bên Mỹ này đồng đô la từ trời rơi xuống.”

Ông Alfonso Martin, giáo sư môn văn học Tây Ban Nha kể lại vào năm 2013, hai người em họ ông ở Havana thuộc độ tuổi dưới 30 xin ông gửi iPhone, ông đã gửi cho họ hai chiếc loại 4s vào dịp Giáng Sinh. Năm ngoái, tức là chưa đầy hai năm, họ lại xin hai máy loại 6s.

Tôi hỏi họ, bộ hai máy kia hư rồi hả? Họ trả lời không, chúng em chỉ muốn bắt kịp thời đại. Tôi từ chối và họ có vẻ giận dỗi. Sau đó ngồi nghĩ lại, tôi thử đặt mình vào vị trí của họ. Họ đang thiếu thốn và chỉ muốn có những gì mà người khác đang sở hữu. Nhưng sự thật là vào lúc nhận được yêu cầu của họ, chính tôi cũng không biết Apple đã ra loại iPhone 6.”

Phong trào thèm thuồng các sản phẩm và dịch vụ của phe tư bản khiến cho anh em nhà Castro rất khó để xóa bỏ giai cấp, tiến lên thế giới đại đồng, không còn người bóc lột người, và cuối cùng, khi mà giai cấp trung lưu lan rộng, sẽ trở thành một thách thức cho chế độ.

Một buổi sáng mới đây trong quán Versailles, một tiệm ăn quen thuộc tại Little Havana mà người Cuba lưu vong hay tụ tập, các khách hàng chia nhau xem và bàn tán tin trên tờ báo nói về buổi trình diễn thời trang của hàng Chanel ngay tại trung tâm Havana.

Ông Andy Castro, rời Cuba năm 1961, phát biểu: “Người dân Cuba chưa bao giờ được xem một buổi trình diễn thời trang như thế cả. Bây giờ thì bất kỳ người phụ nữ nào ở Cuba cũng mong có một bộ đồ và các món phụ tùng của Chanel.”

Từ 50 năm qua mới có một tàu du lịch đầu tiên của Mỹ, chở khách từ Miami đến Havana ngày 2 tháng 5 (Ảnh Adalberto Roque/Agence France-Presse via Getty Images)

Từ 50 năm qua mới có một tàu du lịch đầu tiên của Mỹ, chở khách từ Miami đến Havana ngày 2 tháng 5 (Ảnh Adalberto Roque/Agence France-Presse via Getty Images)

Lời bàn của Mao Tốn Cơm

Bài phóng sự trên tờ Washington Post cho thấy kể từ khi hai anh em nhà Castro bỏ ngoài tai lời anh Sáu Phong, Cuba không còn muốn cùng với đảng Cộng sản Việt Nam thay phiên nhau canh giữ hòa bình thế giới, người dân Cuba bây giờ đang có phong trào thi đua… không phải trong lao động mà trong hưởng thụ những sản phẩm và dịch vụ của bọn tư bản giãy chết.

Những cảnh nửa mếu nửa cười trong bài phóng sự có làm chúng ta nhớ lại cái thời ngay sau 75, người dân các đô thị miền Nam trông chờ các thùng quà của thân nhân ở các nước phương Tây gửi về? Các thùng quà đã giúp nhiều gia đình có được những bữa cơm có tí thịt, nhưng cũng làm chia rẽ, tan nát một số gia đình.

Tất cả chỉ vì… đói sau khi được… giải phóng, bên thắng cuộc đưa bên thua cuộc trở về thời kỳ đồ đá. Ai không tin chuyện này thì cứ hỏi những người chưa hề sống ở miền Nam trước 75 như Dương Thu Hương, Bọ Lập, và gần đây nhất lá Ái Vân. Giới cầm bút, giới nghệ sĩ thường rất nhạy cảm, và nhiều khi hay đi trước thời cuộc.

Khi nói đến sản phẩm và dịch vụ của tư bản, dân miền Nam đã từng biết qua quẹt Zippo, kính Ray Ban, thuốc Salem, rượu Johnny Đi Bộ… trong thời gian quân đội Mỹ có mặt. Vì thế họ không choáng ngợp khi nhìn thấy nhãn “mát-ze in USA” giống như dân miền Bắc.

Thông thường, trong ăn uống, khi ta đã từng kinh qua một món ngon nào đó rồi, thì khi gặp lại món đó, ta sẽ thưởng thức một cách từ tốn, lịch sự, chia sẻ với người cùng bàn. Ngược lại, ta sẽ phùng mang trợn má, ăn ngập mày ngập mặt, tọng đầy miệng, mồ hôi nhễ nhại, hả hê vừa nhai vừa nói vừa nốc… Bằng chứng là chỉ cần một bí thư xã cũng có một ngôi nhà to đùng.

Người dân miền Nam cũng đã từng biết qua thế nào là tự do báo chí, tự do bầu cử; họ biết quý trọng những thứ này cho nên mai đây chúng có trở lại, họ sẽ sử dụng các quyền này một cách khôn khéo, đúng đắn hơn. Đối với họ, ban tuyên giáo, chuyện hiệp thương, đảng cử dân bầu, đắc cử 99%… chỉ là những trò dỏm, nhưng vì đang ở trong thế trên đe dưới búa nên đành chấp nhận thôi.

Người dân miền Nam cũng đã biết 20 năm không theo cộng sản, họ đã chế được xe La Dalat, 40 năm bị cộng sản cai trị, một con ốc có độ bền tương đối cũng không sản xuất được.

Tại sao vẫn còn phân biệt vùng miền? Vì rõ ràng sau hơn 40 năm hai miền vẫn chưa hòa đồng được với nhau, bằng mặt nhưng không bằng lòng. Chính bác Cả Trọng công khai đầu têu chia rẽ bắc nam khi giảng rằng Tổng bí thư phải là người có  ’ný nuận’  và phải là Người  Miền Bắc.

Một khi đảng Cộng sản đổ sụp, các nhà lãnh đạo của chế độ mới cần nhận thức rõ tình hình. Trong Nam thì căm thù cộng sản. Ngoài Bắc vẫn còn nhiều người tin tưởng cộng sản vì cứ nghĩ rằng cuộc sống họ bây giờ khá hơn xưa là nhờ ơn đảng. Thay vì mấy gia đình chia nhau sống trong một diện tích tí teo, bây giờ họ được sống trong một căn hộ riêng biệt, có gạo trắng nước trong không cần tem phiếu, lại có xe máy tung tăng. Thành phần “ngáo Văn Ba” này không nghĩ rằng cộng sản tồn tại là nhờ công an có toàn quyền sinh sát, người dân cúi đầu cam chịu, và quan trọng nhất, nhờ có FDI và ODA, nếu không có đảng cuộc sống của họ sẽ khá hơn hiện tại, nếu có một chính quyền lương thiện, luật pháp minh bạch, Việt kiều các nơi trên thế giới sẽ ào ào đổ tiền về đầu tư, trước là để giúp nước Việt Nam khá lên, sau là có dịp về sống ở quê hương một cách thanh thản.

Trước tình hình như thế, các nhà lãnh đạo của chế độ hậu cộng sản cần khôn khéo, cẩn thận trong khi lập chủ trương chính sách. Ví dụ có nên đập tượng hoặc phá lăng giống như Saddam Hussein bên Iraq? Nếu không cẩn trọng, có thể sẽ xảy ra náo loạn, nội chiến không biết chừng?

© Châu Quang

© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đời Sống | Leave a Comment »

►Cải cách chính sách thị trường lúa gạo: Nông dân “đứng” ở đâu?

Posted by hoangtran204 on 05/07/2016

Cải cách chính sách thị trường lúa gạo: Nông dân “đứng” ở đâu?

7-2-2016

(PLO) – Theo Viện Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR), một số chính sách của ngành lúa gạo như: thu mua tạm trữ, xây dựng kho dự trữ, chính sách quy định điều kiện doanh nghiệp xuất khẩu gạo… được thiết kế chỉ mới hướng tới giải quyết  lợi ích trực tiếp của một chủ thể mà chưa tính toán đến lợi ích toàn cục của ngành này. 

Cải cách chính sách thị trường lúa gạo: Nông dân “đứng” ở đâu?
Người nông dân làm ra hạt lúa chưa được hưởng lợi từ những chính sách lớn của ngành.

Không rõ ràng
Theo Viện VEPR, chính sách thu mua tạm trữ được thực hiện song hành với chính sách đảm bảo người nông dân có lãi ít nhất 30%. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách này không thực sự rõ ràng, thậm chí người nông dân không được hưởng lợi trực tiếp. 
Một nghiên cứu của Viện VEPR chỉ ra, khác với các chính sách thu mua tạm trữ của Thái Lan và Ấn Độ, nơi các doanh nghiệp nhà nước thu mua lúa ở mức giá tối thiểu trực tiếp từ nông dân, ở Việt Nam các doanh nghiệp thu mua lúa gạo tạm trữ từ thương lái. Vì thế, chính sách chỉ mang lại lợi ích gián tiếp cho người nông dân nếu như giá lúa gạo tăng trở lại. 
Ngoài ra, trợ cấp dưới hình thức hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp thu mua tạm trữ trong khoảng thời gian 3 tháng thực chất là trợ cấp miễn phí chi phí lưu kho cho doanh nghiệp (bởi bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng phải lưu kho một lượng gạo nhất định). Thêm nữa, doanh nghiệp lại có lựa chọn là có thể bán luôn cả phần lưu kho trong quỹ dự trữ và chấp nhận không hưởng lãi suất. 
TS. Nguyễn Đức Thành, chuyên gia của Viện VEPR cho rằng, với chính sách này, lượng lúa thu mua gia tăng thêm từ chính sách dữ trự, thực chất không nhiều. Giá thu mua vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng ký được hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp. Và đó chính là lý do tại sao trong bốn lần thu mua tạm trữ từ năm 2009 đến năm 2012 thì có đến 2 lần thất bại, giá lúa thu mua tiếp tục giảm thay vì tăng trở lại. 
Để chính sách thu mua tạm trữ mang lại lợi ích cho nông dân, ông Thành đề nghị Chính phủ, thông qua hệ thống kho trữ lúa gạo của các công ty lương thực nhà nước cần thu mua lúa tạm trữ trực tiếp từ nông dân khi giá lúa trên thị trường xuống thấp hơn giá lúa sàn do Ủy ban Lúa gạo công bố. 
“Trong trường hợp hệ thống kho trữ lúa gạo của các công ty lương thực nhà nước chưa sẵn sàng đảm nhận chức năng này, Nhà nước nên cho phép các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp vay tiền theo khối lượng lúa của các xã viên đang tạm trữ được ứng trước một số tiền để đáp ứng cho các nhu cầu cấp bách của nông hộ. Đến khi giá lúa tăng trở lại thì họ sẽ bán lúa và trả tiền tạm ứng của Nhà nước. Số lượng lúa tạm trữ sẽ được hỗ trợ 100% lãi suất cho HTX nông nghiệp”- TS. Thành khuyến nghị.    
Lợi cho lực lượng thu gom
Ngày 4/11/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 109 về kinh doanh xuất khẩu gạo.
Theo đó, thương nhân Việt thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ các điều kiện và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo. 
Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải đảm bảo ít nhất hai điều kiện cần: Một, có ít nhất 1 kho chuyên dùng dự trữ tối thiểu 5000 tấn lúa. Hai, sở hữu ít nhất 1 cơ sở xay xát thóc với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ tại tỉnh, thành phố có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển xuất khẩu thóc, gạo. 
Theo chuyên gia Thành, mục tiêu của chính sách này là giảm bớt các đầu mối xuất khẩu (mà nhiều doanh nghiệp chỉ thuần túy môi giới) nhằm tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán. Hậu quả của chính sách này là tập trung xuất khẩu vào một số doanh nghiệp lớn, loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ vì khó đáp ứng được hai điều kiện trên.
Chính sách này cũng không đạt được mục tiêu liên kết nhà xuất khẩu với nông dân. Vô hình trung tạo ra thêm một tầng lớp giữa nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu. Đó là các doanh nghiệp thu gom cho các doanh nghiệp xuất khẩu. 
Ngoài ra, cũng theo ông Thành, việc tập trung xuất khẩu vào một số ít doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp lớn này có xu hướng tìm các thị trường xuất khẩu các lô lớn các loại gạo chất lượng thấp với giá rẻ, thay vì tìm kiếm xuất khẩu tại các thị trường các loại gạo có chất lượng cao, với giá bán cao hơn.
“Chính sách này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ có liên kết với nông dân để sản xuất các giống lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ, đặc sản địa phương, có thị trường đầu ra ổn định, lợi nhuận cao và tính cạnh tranh cao, nhưng lại không thể trực tiếp xuất khẩu do không đủ điều kiện về kho chứa, hệ thống xay xát, chủ yếu vì quy mô không cho phép sỡ hữu các công đoạn đó”- TS. Thành nêu vấn đề. 
Đại diện Viện VEPR khuyến nghị Chính phủ cần phải đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa Vinafood và các công ty thành viên, công ty lương thực nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản trị của các doanh nghiệp này, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp. Tổ chức lại Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) để đảm bảo hiệp hội phải có đại diện đầy đủ của doanh nghiệp tư nhân, chính quyền địa phương và nông dân trong thương mại lúa gạo./. (Phi Hùng)
——-

@sự sụt giảm sản lượng lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây do tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, đặt ra nguy cơ cho cả Việt Nam và thế giới về an ninh lương thực. Hiện, Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất đến 50% tổng sản lượng lúc gạo của Việt Nam và 70% sản lượng thủy sản của cả nước.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) nêu tại Diễn đàn, hạn hán và xâm nhập mặn năm 2016 đã tác động mạnh tới nông nghiệp và sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Hơn 208.000ha lúa, 9.400ha cây ăn quả bị mất trắng, sản lượng lúa vụ đông xuân toàn vùng giảm gần 1 triệu tấn, sản xuất thủy sản, chăn nuôi gặp khó khăn. Hạn hán đã qua, bắt đầu xuất hiện lo ngại về mưa lớn và lụt lội.  (Nâng cao vị thế của Đồng bằng sông Cửu Long
(30/06/2016)

——–

Nông dân hưởng lợi gì từ thu mua tạm trữ 4 triệu tấn lúa?

27-1-2016

Pháp Luật

Kho chứa 4 triệu tấn chủ yếu làm chức năng trữ gạo cho doanh nghiệp thay vì trữ thóc cho nông dân?
Kho chứa 4 triệu tấn chủ yếu làm chức năng trữ gạo cho doanh nghiệp thay vì trữ thóc cho nông dân?
(PLO) – Hàng loạt ưu đãi của Nhà nước trong chương trình thu mua tạm trữ, kế hoạch xây dựng hệ thống kho chứa 4 triệu tấn lúa, gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long là nhằm tới phòng vệ quyền lợi cho người nông dân, nhưng trên thực tế đối tượng này lại chưa thực sự được hưởng lợi từ chính sách này.
 
Dân bán hết lúa, mua tạm trữ mới triển khai?
Khi nông dân trồng lúa bị thiệt thòi vì giá lúa xuống quá thấp, Chính phủ đã can thiệp trực tiếp vào thị trường thông qua các chương trình thu mua tạm trữ để tránh tình trạng giảm giá lúa quá sâu, nhất là những thời điểm được mùa thu hoạch.

Theo chương trình thu mua tạm trữ, Chính phủ sẽ tiến hành hỗ trợ 100% lãi suất cho doanh nghiệp mua tạm trữ từ khi mua gạo vào đến khi bán ra (khoảng 3-4 tháng). Doanh nghiệp cũng được hỗ trợ vay vốn ưu đãi với lãi suất tối đa 7%/năm.

Khối lượng thu mua mỗi đợt là khoảng 2 triệu tấn lúa (tương đương 1 triệu tấn gạo), được thực hiện trong khoảng 1 tháng để phục vụ dự trữ quốc gia, tạm trữ lưu thông (ngoài lượng dự trữ lưu thông của doanh nghiệp), phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Ngoài ra, mức giá mà doanh nghiệp thực hiện thu mua không được thấp hơn giá thu mua lúa gạo tối thiểu.

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đức Thành, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), sau nhiều năm tiến hành các chương trình thu mua tạm trữ, hiệu quả chính sách này không rõ ràng.

“Mặc dù chính sách hướng đến hỗ trợ những người trồng lúa nhưng đối tượng được hưởng lợi trực tiếp là doanh nghiệp, tác động đến người sản xuất là gián tiếp, khó định lượng và không phải ai cũng được hưởng lợi.

Phỏng vấn các nông dân ở huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ cho thấy họ có nghe nói đến chương trình thu mua tạm trữ của Chính phủ, nhưng khi họ thu hoạch xong và bán lúa rồi mới thấy triển khai và không thấy ai đến thu mua theo chương trình này cả”- ông Thành cho biết.

Không dành cho nông dân?
Ngoài chính sách thu mua tạm trữ, chính sách đi kèm với nó là xây dựng hệ thống kho chứa lúa, gạo cũng gây tranh cãi về quyền lợi người nông dân không được đảm bảo.

Tìm hiểu của PLVN, đầu năm 2009, để tránh áp lực khi nông dân trồng lúa bị thiệt thòi vì giá lúa xuống quá thấp, để thực hiện hiệu quả chính sách thu mua tạm trữ, Chính phủ cũng chính thức phê duyệt kế hoạch xây dựng hệ thống kho chứa 4 triệu tấn lúa, gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Trong đó kho cũ có trữ lượng 1,5 triệu tấn và cần phải xây thêm 2,5 triệu tấn kho chứa mới.

Theo TS. Thành, để đạt được mục tiêu này, Chính phủ thực hiện hai giải pháp. Thứ nhất, thiết lập điều kiện đối với doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải có 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5000 tấn lúa và có ít nhất 1 cơ sở xay xát lúa, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn lúa/giờ.

Thứ hai là, Chính phủ thực hiện việc hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp đầu tư vào kho chứa như miễn tiền thuê đất (theo Quyết định số 57 ngày 17/9/2010), hỗ trợ 20% kinh phí giải phóng mặt bằng, 30% kinh phí hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu đi vào hoạt động và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo.

Theo TS. Thành, về cơ bản mục tiêu này đã hoàn thành vượt mức nếu xét theo mục tiêu kho chứa cả lúa và gạo. Tuy nhiên, thống kê cho thấy đến năm 2013, hệ thống kho chứa của ĐBSCL vẫn chủ yếu là kho trữ gạo thay vì trữ lúa.

Cụ thể, tích lượng kho chứa lúa gạo cả nước đã đạt 5,38 triệu tấn. Trong đó, tích lượng kho chứa gạo chiếm phần áp đảo với 4,36 triệu tấn, tích lượng kho chứa lứa chỉ ở mức khiêm tốn 1,02 triệu tấn.

“Điều này hàm ý rằng các doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu gạo là tác nhân được hưởng lợi lớn nhất từ chính sách ưu đãi của Chính phủ, trong khi nông dân vẫn chưa thực sự được hưởng lợi từ chính sách này. Nông dân đa phần vẫn phải bán lúa trực tiếp cho thương lái ngay sau thu hoạch dẫn đến bị chèn ép giá cả trong giao thương”- chuyên gia Thành phân tích.

Trong nghiên cứu “Thị trường lúa gạo Việt Nam cải cách để hội nhập: Cách tiếp cận cấu trúc thị trường”, Viện VEPR cho rằng, để chính sách xây dựng hệ thống kho tạm trữ lúa, gạo thực sự mang lại lợi ích cho người nông dân, Chính phủ chỉ nên hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp xây dựng kho trữ lúa có các hợp đồng liên kết với một số lượng hộ nông dân nhất định.

Theo đó các hộ nông dân có quyền tạm trữ lúa của mình tại kho của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định thay vì phải bán ngay.

Ngoài ra, Chính phủ cũng nên có chính sách hỗ trợ lãi suất cho các hợp tác xã nông nghiệp có nhu cầu vay tiền để xây kho lưu trữ thóc tạm trữ cho các xã viên của mình. Theo đó, chính sách này sẽ kết hợp với chính sách thu mua tạm trữ trong thời gian giá lúa giảm xuống dưới mức giá lúa sàn do Ủy ban Giá lúa gạo công bố.
Hệ thống kho chứa 4 triệu tấn được xây dựng tại 52 địa điểm thuộc 13 tỉnh, thành phố, trong đó hệ thống kho tại các tỉnh: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang chiếm 70% sức chứa; 30% còn lại là hệ thống kho thuộc các tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và TP Hồ Chí Minh. (Phi Hùng)

________

Sản xuất lúa gạo: Tối ưu, không tối đa

4-7-2016

Vấn đề đặt ra từ nhiều năm nay trong sản xuất gạo không phải là tối đa sản lượng mà là tối ưu trong sản xuất. Quốc hội vừa quyết định điều chỉnh giảm diện tích đất trồng lúa giai đoạn 2016-2020, từ 3,812 triệu hécta xuống còn 3,76 triệu hécta, giảm hơn 52.000 hécta, trong đó, đất chuyên trồng lúa nước giảm gần 93.000 hécta cũng nằm trong dòng suy nghĩ này. Trong số 3,76 triệu hécta đất trồng lúa được giữ lại, có khoảng 400.000 hécta được quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng…

Một báo cáo tổng kết của Cục Trồng trọt cho biết, năm 2016 sẽ có 30.0000 hécta trồng lúa chuyển sang cây trồng khác, và do đó, sản lượng lúa cả năm 2016 dự kiến vào khoảng 45,19 triệu tấn, giảm 70.000 tấn so với năm 2015

 

Giải pháp gỡ khó cho xuất khẩu lúa gạo
 

Giải pháp gỡ khó cho xuất khẩu lúa gạo

Sau một thời gian dài tận dụng lợi thế cạnh tranh cũng như dựa vào một vài thị trường chủ lực, hiện nay xuất khẩu gạo của Việt Nam đang ở mức báo động.

Số liệu do các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long cung cấp cho thấy giá chào bán gạo xuất khẩu của chúng ta hiện chỉ còn từ 355 đến 365 USD/tấn với loại gạo 5% tấm.

Mức giá này thấp hơn 15 USD/tấn so với gạo Ấn Độ, 25 USD/tấn so với gạo Pakistan và 40 USD/tấn so với gạo của Thái Lan. Đây cũng là mức giá bán thấp nhất trong vòng năm năm qua của gạo Việt Nam.

Dù giá thấp như vậy nhưng vẫn rất ít giao dịch được thực hiện trong thời gian qua, trong khi các doanh nghiệp đã tồn kho khá lớn do mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo (tương đương 2 triệu tấn lúa) theo chủ trương của Chính phủ, chưa kể đến lượng gạo doanh nghiệp tự mua để kinh doanh.

Theo dự kiến, vài tháng tới áp lực tiêu thụ gạo vào thời điểm cuối năm càng thêm khó khăn.

Mất dần thị trường

Ông Huỳnh Thế Năng, Phó chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cho biết áp lực về bán hàng hiện nay là rất lớn vì các doanh nghiệp thiếu những hợp đồng xuất khẩu. Dù giá gạo toàn cầu đang suy giảm đáng kể do cung đã vượt cầu, nhưng việc giá gạo của chúng ta giảm mạnh và xuống mức thấp nhất thế giới là điều rất đáng lo.

Xuất khẩu gạo của chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường chính, nay các thị trường này thay đổi cách thức nhập khẩu gạo hay giảm nhập khẩu là gạo Việt Nam có vấn đề. Trong tình hình như vậy thì hoạt động tiếp thị của chúng ta quá kém.

Từ vài ba năm trở lại đây, Việt Nam chủ yếu bán gạo cho các thị trường châu Á gồm Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, trong khi việc mở rộng thị trường mới diễn ra rất chậm. Trong khi Trung Quốc – thị trường tiêu thụ 40 – 50% tổng lượng gạo xuất khẩu năm vừa qua của chúng ta – chưa mở cửa cho gạo Việt Nam thì khó khăn lại chồng chất.

Không những vậy, trước đây Việt Nam có thị phần lớn ở châu Phi thường tiêu thụ gạo chất lượng thấp, vậy mà nay chúng ta cũng không cạnh tranh nổi với gạo cùng chủng loại của Ấn Độ và Pakistan.

Theo VFA, từ đầu năm đến giữa tháng 4/2015, chúng ta mới chỉ xuất khẩu được 1.144 triệu tấn gạo các loại với giá trị 472,8 triệu USD, thấp nhất trong sáu nước xuất khẩu gạo hàng đầu châu Á và cũng là mức xuất khẩu thấp nhất của gạo Việt Nam trong cùng khoảng thời gian tính từ năm 2008 đến nay.

Hiện Việt Nam đã mất vị trí nhà xuất khẩu lớn thứ ba thế giới vào tay Pakistan, chỉ đứng trên Myanmar và Campuchia. Một điều mà chúng ta không ngờ đã xảy ra là Pakistan, sau khi cùng Ấn Độ và Thái Lan chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam tại châu Phi, vừa vươn tay đến Philippines. Với cách tiếp cận thị trường năng động, rất có thể họ sẽ đạt được các thỏa thuận cung cấp gạo, đồng nghĩa với việc chúng ta bị đánh bật ra khỏi thị trường này.

Chưa hết, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar và Campuchia cũng đang tích cực tiếp xúc với các thị trường chính còn lại của Việt Nam.

Không có thương hiệu, không đa dạng hóa thị trường chính là hai điểm yếu kém cơ bản của gạo Việt Nam. Đây cũng là câu chuyện cũ kể từ khi chúng ta tham gia vào thị trường gạo mà đến nay vẫn chưa khắc phục được.

Chất lượng gạo thấp

Giá gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế thấp, tất nhiên sẽ tác động trực tiếp tới giá mua tạm trữ hằng năm. Ở nước ta, Tổng công ty Lương thực là doanh nghiệp Nhà nước chi phối hoạt động kinh doanh lúa gạo mà nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực qua việc mua dự trữ.

Thế nhưng hiện nay các doanh nghiệp tham gia mua tạm trữ chủ yếu là để dành cho xuất khẩu, việc tiêu thụ nội địa chiếm tỷ trọng rất thấp. Giá mua tạm trữ phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, khi tình hình xuất khẩu kém thì nông dân bị ép giá.

Thực tế hiện nay chúng ta đang sản xuất thừa và điều này đang tạo ra áp lực lớn cho thị trường và càng làm cho giá gạo sụt giảm. Gạo Việt Nam bị đánh giá thấp là do giống sử dụng canh tác là giống ngắn ngày (ba tháng/vụ).

Xuất phát từ tập quán canh tác của người nông dân và cũng từ một số yêu cầu nên chúng ta sản xuất từ hai đến ba vụ một năm. Thời gian sinh trưởng ngắn đã khiến gạo bị bạc bụng, không trong suốt như gạo của các đối thủ cạnh tranh.

Như Thái Lan chẳng hạn, ở vùng Đông Bắc nước này có đến trên 60% diện tích chỉ trồng một vụ/năm theo mùa mưa, ở miền Trung tuy có hồ chứa nước nhưng cũng chỉ trồng tối đa hai vụ/năm, nhờ thời gian sinh trưởng kéo dài nên chất lượng hạt gạo rất cao, được thị trường ưa chuộng. Ở Ấn Độ hiện nay trồng chủ yếu là giống gạo trắng IR64, ở Pakistan trồng giống I6 nên chất lượng gạo cao.

Trong khi hạt gạo xuất khẩu đang mất dần lợi thế trên thị trường thì Hiệp hội Lương thực Việt Nam không trực tiếp đi đàm phán mà chỉ tư vấn và cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp tự bươn chải.

Hiện nay chúng ta có hai kênh bán hàng, một là theo các hợp đồng Chính phủ, hai là bán theo các hợp đồng thương mại. Từ 2012 trở về trước thì hợp đồng Chính phủ có vai trò chủ lực, thường chiếm 50% hợp đồng xuất khẩu, phát sinh tâm lý ỷ lại trong các doanh nghiệp xuất khẩu mà Tổng công ty Lương thực là đầu tàu.

Tuy nhiên từ năm 2012 trở lại đây, tỷ lệ này giảm dần do các hợp đồng Chính phủ bị cắt khá mạnh, giá gạo Việt Nam tụt xuống thấp, kéo theo những khó khăn cho người nông dân.

Số liệu trên báo chí cho biết, kết thúc năm 2014, gạo Việt Nam đã có mặt ở 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm cả những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hongkong, Singapore. Theo Bộ Công thương, năm 2014, Việt Nam đã xuất khẩu được 6,5 triệu tấn gạo, trị giá theo FOB là 2,84 tỉ USD.

Nhìn vào số liệu trên chắc nhiều người cho rằng người nông dân Việt Nam đã “đổi đời”, nhưng thực tế cho thấy điều ngược lại. Cũng theo số liệu được công bố năm 2012, Việt Nam xuất khẩu được 7,7 triệu tấn gạo nhưng thu nhập của nông dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long là 500.000 đồng/người/tháng. Mức thu nhập này chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo chút ít.

Cần điều chỉnh chính sách

Nông nghiệp là một trong các trụ đỡ quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, nhưng lâu nay không phát triển đúng với tiềm năng là do một vài chính sách chưa phù hợp.

Trước tiên là chính sách độc quyền tiêu thụ và xuất khẩu. Giáo sư Võ Tòng Xuân, nhà nông học có uy tín, cho rằng dù chúng ta có chính sách tự do mậu dịch, nhưng trong thực tế lại giao tất cả quyền hành xuất khẩu cho VFA.

Chủ tịch của VFA lại đồng thời là Tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2). Trong VFA, hai Tổng Công ty Lương thực Nhà nước – Vinafood 1 và Vinafood 2 – chiếm lĩnh 60% tới 70% thị phần xuất khẩu gạo của cả nước. Các tổng công ty này luôn luôn có lời vì xuất khẩu gạo giá thấp thì mua vào thấp hơn và hưởng chênh lệch.

Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương), nhận định rằng chính sách hỗ trợ thu mua tạm trữ gạo đang góp phần làm giá gạo Việt Nam rẻ nhất thế giới, danh nghĩa là hỗ trợ nông dân nhưng thực tế doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi lớn, còn người nông dân chỉ được chút ít lợi ích gián tiếp.

Có thể dẫn chứng cụ thể: Chính phủ hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp xuất khẩu giúp giảm chi phí thu mua gạo, tức là mua được giá rẻ và đương nhiên doanh nghiệp cũng sẵn sàng xuất khẩu với giá rẻ mà lợi nhuận không suy giảm.

Chính sách hỗ trợ tạm trữ gạo lại vô tình đẩy giá xuất khẩu gạo Việt Nam xuống thấp. Với mức giá đó, lợi ích nhà xuất khẩu không hề suy giảm, còn người nông dân chịu mọi thua thiệt, càng làm càng lỗ.

Thứ hai là chính sách chia đều ruộng đất, vô hình trung lại là một trong những nguyên nhân cản trở sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa. Về điều này, Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nói rằng: “Nếu người nông dân Việt Nam với quy mô 0,6 hécta mà lại chia thành năm tới 15 mảnh ruộng nhỏ và chia nhỏ thành hơn 10 triệu hộ riêng lẻ như hiện nay thì không sao có thể tập hợp lại, có thể đưa ra khối lượng sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao và ổn định, đưa đến tay khách hàng đúng hạn và đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn. Cũng như không có cách gì mà các ngân hàng, các tổ chức khuyến nông có thể bù đắp nổi chi phí để đưa những dịch vụ phục vụ đến tận làng bản xa xôi cho từng người nông dân nhỏ lẻ như thế cả. Đấy không thể là kết cấu của một nền sản xuất hàng hóa lớn”.

Giải quyết được hai bài toán vừa nêu, cộng thêm với việc xây dựng thương hiệu gạo quốc gia, may ra chúng ta mới có thể lấy lại vị trí trên bản đồ xuất khẩu gạo và nông dân mới có thêm điều kiện cải thiện cuộc sống.

Posted in Nong Dan Viet Nam, Thực Phẩm và sức khỏe, Đời Sống | Leave a Comment »

►Đêm đêm ở Hà Nội: 1.000 người xếp hàng thu lượm đồ phế thải từ 4.000 tấn rác

Posted by hoangtran204 on 31/10/2014

Trong khi các cán bộ đảng viên cao cấp tại Tập Đoàn Than và Khoáng Sản (TKV)  lãnh mức lương hơn 60 triệu đồng mỗi tháng, thì đêm đêm, từ 12 giờ khuya đến 7 giờ sáng, có hàng ngàn người kiếm sống bằng đi lượm rác.

1.000 người xếp hàng thu lượm 4.000 tấn rác ở Hà Nội

– 28-10-2014

 

Đằng sau 4000 tấn rác mà chúng ta thải ra hàng ngày ở Hà Nội là sự mưu sinh khó nhọc của khoảng 1000 con người.

Bộ ảnh “Một đêm tại bãi rác Nam Sơn – Sóc Sơn- Hà Nội” của tác giả Cu Trí khiến người xem cảm thấy xót xa cho cuộc sống của những người làm công việc thu gom rác.

Bãi rác Nam Sơn đã có hệ thống đốt rác và xử lý rác do Nhật Bản xây dựng. Trong đó có lấy khí từ rác thải để hoán đổi công năng thành khí đốt phục vụ dân sinh.

Song thử hình dung mỗi ngày 4000 tấn rác thì lò nào đốt cho xuể, quan trọng hơn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Do bãi rác này nằm giữa nhiều xã nông nghiệp, riêng cái chuyện chống thấm nước rác ra ngoài cũng là một việc cực khó khăn vất vả, xung quanh bãi rác đều phải đào hào, nước rác đặc như cháo. Dưới mỗi hố rác là được trải 1 loại nilon đặc biệt siêu dày. Bên cạnh đó, cũng để cho những người dân xung quanh có cơ hội được mưu sinh…
Bộ ảnh 1000 người xếp hàng thu lượm 4000 tấn rác ở Hà Nội được chia sẻ trên fanpage Beat và nhanh chóng lan tỏa khắp Facebook:

 

Posted in Đời Sống | 1 Comment »

►Tại Cửa Khẩu Lào Cai: TRANH DÀNH ĐƯA HẢI SẢN, TRÁI CÂY SANG TRUNG QUỐC BÁN

Posted by hoangtran204 on 30/05/2014

Ơn đảng, ơn chính phủ…Nhờ sự chỉ đạo sáng suốt của đảng ta nên sau 40 năm cả nước ta đang TIẾN LÊN XHCN tươi đẹp. Đất nước ổn định, người dân khắp nước hát khúc hoan ca, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc, hàng hóa sản suất năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước, xuất khẩu hàng hóa giồi dào…giống như phim dưới đây thực hiện vào ngày 30-5-2014.

Dân chúng xuất khẩu hàng hóa tại cửa khẩu Lào Cai.

Họ sử dụng đủ thứ phương tiện của thời 1950. Họ đi bộ bưng bê hàng hóa, nhiều người sử dụng xe đẩy, xe kéo, xe đạp, xe lôi,…

Họ đi mua hàng, và bán hàng nhưng với nét mặt âu lo và vội vội vàng vàng cứ như chạy giặc.

“người dân TQ và VN khổ giống nhau, ôi dưới chế độ CS họ bần cùng lầm than mưu sinh như thế đó.”

Chợt nhớ ông TBT Nguyễn Phú Trọng nói câu nầy: “Không biết đén cuối thế kỷ nầy, Việt Nam đã hoàn thiện chủ nghĩa xã hội chưa.” nay xem phim mới thấy có lý. 

Published on May 30, 2014

VIDEO#1 ĐƯA HẢI SẢN, TRÁI CÂY SANG TRUNG QUỐC

 

VIDEO# 2: TRANH DÀNH ĐƯA HẢI SẢN, TRÁI CÂY SANG TRUNG QUỐC BÁN

Và cũng chính người VN mua và vận chuyển trái cây và hàng hóa độc hại về Việt Nam. Công An và Hải Quan cửa khẩu không quan tâm và không kiểm tra hàng hóa vì…

Khi cổng mở là con buôn giành nhau chạy tới trước để khỏi bị sắp hàng dài, hơn nữa tới trước thì được con thương lái TQ mua trước, khỏi sợ ế hàng…khi đi trên cầu Lào Cai đường bộ thì phải xuống đẩy xe máy sang chứ không được ngồi phía trên lái sang…

Nông dân thất mùa thì chắc chắn lỗ và mang nợ. Nhưng nếu trúng mùa cũng khổ vì bị ép giá…cả nước không ai có kế hoạch mua lại trái cây của nông dân và xất khẩu…

Thanh long còn có 2000đ/kg, như vậy thì nông dân làm sao mà sống nổi chứ…
Các thứ trái cây khác chỉ còn vài ngàn/ 1 kg.

FB Thùy Trang Nguyễn

 

——–

Trên đây là nói về biên giới phía Bắc. Tiếp theo, về phần biển đảo thì cũng không mấy khả quan. Đảng và quân đội núp sau lưng ngư dân.

Bình thường thì biểu ngữ đỏ lòm dán đầy đường và ba hoe chích chòe như này:

…người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

…quang vinh muôn năm

…là các đỉnh cao trí tuệ của loài người

…bách chiến bách thắng

Nhưng tới khi đụng chuyện thì mới biết đá, biết vàng…và đây mới là thực tế

AI…xúi giục  và AI chui rúc sau lưng nhân dân ở ngoài Biển Đông

Phóng viên hỏi ngư dân: Anh bị nó bắt mấy lần rồi?

Ngư dân: 3 lần

PV: Lần nầy  đi anh không sợ à?

Ngư dânKhông, thằng Thưởng (Võ Văn Thưởng– Bí thư tỉnh Quảng Ngãi ) nó bảo ngoài đó là biển của Việt Nam mình, ra đó có Hải Quân bảo vệ” 

Khi ngư dân VN tin lời, ra tới nơi…thì đây.

Ô Hô! Hải quân VN bảo vệ ngư dân bằng cách: cung cấp xăng... Nhờ đó ngư dân vừa đánh cá, vừa chạy lòng vòng và đàng sau thì tàu Trung Quốc rươtj đuổi>>>>

Nhà báo phỏng vấn ngư dân:

Photo: Đọc cái này cười ra nước mắt . Bác ngư dân này có phương pháp đối phó với tàu lớn của Trung quốc khá thông minh nhưng cũng ngàn cân treo sợi tóc . Qua đó cũng thấy được sự tầm bậy và vô trách nhiệm của chính quyền ....

 

 Mời các bạn đọc tiếp

 

Cập Nhật 31-5-2014: Chúng ta đừng quên anhbasam và cộng tác viên Minh Thúy đã bị bắt 25 ngày rồi.
 
Công an Hà Nội đã đàn áp quyền tự do ngôn luận và  vi phạm nhân quyền khi bắt giữ anh Nguyễn Hữu Vinh và chị Nguyễn Thị Minh Thúy 5-5-2014.  Hai trang chepsuviet.com  và  diendanxahoidansu.wordpress.com  cũng đã bị hack vào ngày 5-5-2014 nên đã không còn truy cập được. 
 
Các trang khác vẫn hoạt động như thường lệ. Comment đã mở lại tại trang  anhbasam.wordpress.com  mời các bạn đọc ghé thăm.
 
Nguyen Huu Vinh
 

 Nguyễn Hữu Vinh 

Posted in Đời Sống | 3 Comments »

►12 tỉnh xin cấp gạo cứu đói dịp Tết – chiếm hơn 20% các tỉnh ở VN đang bị đói (không tính từ Nha Trang trở vào Miền Nam) nguyên nhân do kinh tế VN suy thoái trong khi kinh tế thế giới hồi phục

Posted by hoangtran204 on 20/01/2014

Việt Nam có 64 tỉnh thành, nếu trừ 5 thành phố lớn (HN, HP, ĐN, SG, và CT) thì còn 59 tỉnh.

Hiện nay số dân đang bị đói không có gạo ăn, và phải cứu trợ là 12 tỉnh. Báo chí còn thòng thêm câu “một số địa phương ngoài 11 tỉnh trên tiếp tục tổng hợp và chưa có kết quả chính thức…”

Tuy được nhắc tên, nhưng bài báo quên tính Quãng Trị, thành ra ở VN hiện có 12 tỉnh đang bị đói. Quãng Trị được cấp 4300 tấn, mỗi người được cứu trợ 16 kg, chứng tỏ có 269.000 người ở QT đang bị đói. 

Cộng thêm với 1.250.000 đang bị đói (dựa theo số gạo phát lần này là 20.000 tấn, và mỗi người được cấp 16 kg).

Vậy số người bị đói đang được cứu trợ  là trên 1.519. 000. 

Tính theo số tỉnh, thì có 20% các tỉnh ở VN đang bị đói; không tính từ Nha Trang trở vào Miền Nam…

1.600 tấn gạo cứu đói 100 ngàn dân, mỗi người được 16 kg, ăn được 1 tháng:
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/5…0-000-dan.html

Như vậy 20 ngàn tấn cứu đói 1.250.000 người. 
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su…t-2938258.html

Sau khi ăn hết 16 kg gạo này, dân chúng trong 12 tỉnh bị đói sẽ sống ra sao?

XHCN ưu việt cái gì mà suốt 38 năm qua, năm nào dân chúng cũng bị đói vào tháng 1 cho đến tháng 4 dương lịch, và nạn đói xảy ra trong 12 tỉnh nói trên.

Năm nay, dân chúng đói nhiều hơn vì trận lụt ở 3 tỉnh, nhưng chủ yếu là do nền kinh tế thị trường XHCN bị suy sụp trầm trọng, trong khi cả thế giới đang phục hồi kinh tế. 

Hơn 100.000 doanh nghiệp phá sản trong năm qua, con số thất nghiệp rất cao. Nếu không tính công ty Sam Sung của Nam Hàn xuất khẩu hơn 21,5 tỷ đô la hàng điện tử, thì GDP của VN chỉ còn chưa tới 110 tỷ năm 2013! Có nghĩa là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đang co lại. Có lẻ vì lý do này nên hơn 1 tháng qua, báo đài bàn luận sôi nổi về cuộc hải chiến Hoàng Sa để làm dân chúng ở các thành phố lớn quên đi tình hình kinh tế VN đang rất bi đát, và ở các tỉnh dân chúng đang đói.  

Hậu quả, năm nay dân chúng không có tiền ăn Tết, nên vật giá không tăng cao như mọi năm vào dịp trước Tết.

Tất cả các chợ đều rất ế. Theo các blogger cho biết, chợ hoa ở các tỉnh hiện nay thu hẹp lại diện tích chỉ còn bằng 1/5 đến 1/10 so với năm ngoái. Giá thịt heo chỉ còn 80.000 đồng/ kg, thịt gà 50.000 đồng/kg, và thịt bò giá 220.000 đồng/ kg.

Đảng và Nhà nước năm nào cũng hô chỉ đạo, nhưng so với nền kinh tế Nam Hàn năm 2013, thì VN hiện đang thua Nam Hàn 1000 tỷ đô la. 

“Hơn 50 năm trước, năm 1960, Theo biểu đồ 1, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, 223$) có GDP đầu người đứng sau Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippines (257$), nhưng nhiều  hơn Nam Hàn (155$), hơn gấp đôi Thailand (101$), gấp 2,4 lần Trung quốc (92$), gấp 2,7 lần Ấn độ (84$), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, 73$). (nguồn)

 

Nguồn biểu đồ Việt Nam Giàu hay Nghèo? – Trần-Đăng Hồng, PhD

 

11 tỉnh xin cấp gạo cứu đói dịp Tết

11-1-2014

Báo vnexpress

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội vừa nhận được đề nghị hỗ trợ cứu đói dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt 2014 của 11 tỉnh. Chính phủ đã quyết định xuất 20.000 tấn gạo giúp người dân các tỉnh này.

Những tỉnh xin hỗ trợ cứu đói gồm: Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Yên Bái, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Kom Tum. Trong đó, Quảng Bình đề xuất xin gạo nhiều nhất với 5.200 tấn, tiếp sau là Quảng Trị gần 4.300 tấn, Nghệ An gần 4.200 tấn.

Ngày 9/1, Dân Việt dẫn lời ông Thái Phúc Thành – Phó Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) cho biết, sở dĩ Quảng Bình, Nghệ An, Quảng Trị đề xuất lượng gạo nhiều là do các tỉnh này vừa gặp bão lớn dịp cuối năm.

Theo ông Thành, một số địa phương ngoài 11 tỉnh trên tiếp tục tổng hợp và chưa có kết quả chính thức. Tuy nhiên, Cục quán triệt tinh thần yêu cầu các địa phương làm gấp rút, để không hộ nào phải thiếu đói trong dịp Tết.

“Thời gian qua, nhiều địa phương đã phát hiện sai phạm trong việc cấp gạo cứu đói, tuy nhiên, sai sót chủ yếu là phát gạo đại trà (chứ không chỉ phát cho đối tượng đói) và mức độ vi phạm so với những năm trước không nhiều”, ông Thành nói.

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã lập những đoàn kiểm tra liên ngành xuống địa phương để giám sát, yêu cầu thực hiện nghiêm việc phát gạo. Địa phương nào làm sai sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Phương Sơn

———-

Năm nào các tỉnh miền Bắc cũng bị ĐÓI GIÁP HẠT. Đói giáp hạt từ Quãng Trị trở ra Bắc và lên tới miền Thượng du Bắc Việt. 

Đói giáp hạt lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam là năm Ất Dậu 1944. Cùng lúc với sự ra đời của Đội Tuyên Truyền Giải Phóng Quân do HCM chỉ đạo cho Võ Nguyên Giáp làm đội trưởng. Và kể từ 1944 cho đến nay, năm nào cũng có đói giáp hạt.  

22-5-2014

 

Nhớ những ngày giáp hạt

 

Những năm tám mươi của thế kỉ 20, đất nước còn muôn vàn khó khăn, người nông dân vùng đồng bằng Bắc bộ, những người làm ra hạt gạo củ khoai mà cứ sau Tết Nguyên đán lại phải chạy lo từng bữa, phải bữa cơm bữa cháo, phải chịu cảnh đói quay đói quắt.

 Bây giờ thế hệ trẻ không biết khái niệm mùa giáp hạt là gì. Như ngày xưa, giáp hạt thường đến từ tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch. Khoảng thời gian đó là khi những hạt thóc của vụ mùa đã hết, ngoài đồng những cây mạ vừa mới cấy, phải đợi đến tháng tư may ra mới có thóc mới. Nhà tôi và nhà hàng xóm của tôi ở thị xã, gần bến tàu, bến xe, cứ sau Tết, nhiều bà con ở quê lại lên ngủ nhờ để sáng hôm sau ra tàu sớm, lên miền ngược mua sắn, mua khoai về chống đói.

Hành trang của những người dân quê là đòn gánh quảy hai đầu hai cái bao tải gai để đựng sắn khoai khi mua được. Có người còn mang theo mâm đồng, nồi đồng để lên đổi lấy lương thực về nuôi nhà cho qua cơn thiếu đói. Ra giêng, trời vẫn rét, để chống lại cái lạnh của miền ngược, họ được bao bọc bằng một mớ áo nâu, áo xanh theo thứ tự từ rách đến lành. Trông ai cũng lù xù, béo ra nhờ quần áo. Nhưng nhìn bộ mặt xanh gầy, hốc hác của họ, không giấu được một thân hình thiếu ăn, suy dinh dưỡng.

Tôi dạy học ở trường quản lí giáo dục của tỉnh. Từng năm học nhà trường có nhiệm vụ làm công tác bồi dưỡng nghiệp vụ quản lí cho  Hiệu trưởng, Hiệu phó các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở của các huyện, thị xã trong tỉnh. Gần gũi với họ, nghe họ chia sẻ nhiều khi cũng thấy buồn vì sự đói nghèo của các nhà giáo.

Một thầy giáo Hiệu trưởng kể với tôi: Chủ nhật về nhà thăm vợ con, vợ anh làm nông nghiệp, tranh thủ ngày nghỉ, hai vợ chồng lên đồi cuốc đất trồng sắn. Đến chiều chia tay vợ đến trường học bằng một bữa cơm hai phần sắn, một phần gạo. Nhìn đàn con xanh xao, anh không thể nào an lòng để học tập.

Các thầy cô giáo ở địa bàn nông thôn thời ấy được mệnh danh là những người nông dân có nghề phụ dạy học. Ngoài đồng lương ít ỏi, ngoài 13 kg gạo hàng tháng, đời sống của họ tạm ổn định hơn người nông dân một tí. Sau giờ lên lớp họ cũng còng lưng cày cuốc để nuôi gia đình. Đến mùa giáp hạt họ cũng chịu chung số phận về sự thiếu đói.

Nhà nước không có gạo bán, kể cả gạo hẩm. Thế là khẩu phần lương thực được thay thế bằng bột mì, sắn, ngô. Có lúc đến các loại lương thực ấy không đủ bán, cửa hàng lương thực lại qui số gạo hàng tháng của giáo viên thành… phân đạm. Thế là các nhà giáo đành mua phân đạm thay gạo để đưa ra chợ bán cho nông dân lấy tiền mua gạo, mua khoai.

Có một chuyện cười ra nước mắt đó là một số người đi ăn xin, mùa giáp hạt vào các làng giỏi lắm người ta cũng cho vài củ khoai chứ làm gì có tiền, có gạo. Đám người ăn xin ấy không thể mang khoai lang về quê xa được. Thế là họ dồn lại, vào phòng giáo dục huyện bán cho các thầy giáo. Các nhà giáo mình thì phấn khởi vì mua được khoai giá mềm góp vào bữa cơm cho vợ con, còn mấy bà ăn xin thì có thêm khoản tiền về quê. Cả hai cùng có lợi.

Thời ấy nhiều trường học có khá đông giáo viên trẻ ở tại khu tập thể của trường. Sau buổi dạy học chiều, chờ cho học sinh về hết, các cô giáo trẻ rủ nhau ra bờ ruộng hái rau má, rau lang để độn vào bữa ăn cho đỡ đói. Hôm sau lên lớp giảng bài thấy học sinh cười khúc khích cô giáo không hiểu chúng cười gì. Cô hỏi em lớp trưởng lí do, cậu lớp trưởng thật thà, bảo: “Chúng em biết cô chiều qua đi hái rau lang về ăn, vì khi viết bảng nhìn thấy móng tay cô còn bám nhựa rau lang ạ”.

Những học trò nhỏ cứ tưởng nhà giáo là cái gì đó cao sang lắm. Chúng đâu ngờ các cô giáo của chúng cũng đói, cũng thiếu ăn. Lúc đó cô giáo cũng thấy bối rối. Nhưng nhờ cái móng tay bám nhựa khoai lang của cô mà đến chiều, cậu lớp trưởng ấy cùng mấy bạn khiêng khệ nệ một bao khoai lang đến tặng các cô giáo. Có thêm củ khoai cũng ấm lòng cho những giờ lên lớp trong mùa giáp hạt.

Giờ đây, đất nước đã đổi mới, cuộc sống của người nông dân và nhà giáo đã no đủ hơn, không còn những ngày giáp hạt. Bây giờ người ta gọi là bữa ăn chứ không ai bảo bữa cơm như ngày xưa. Nhưng cũng có khi cần ôn nghèo kể khổ một chút để thế hệ trẻ hiện tại hiểu biết thêm một thời gian khổ của người nông dân của nhà giáo đã phải gồng mình vượt qua những mùa giáp hạt.

Nguyễn Đình Tùng

 

22-5-2014 

http://baobacninh.com.vn/news_detail/82431/nho-nhung-ngay-giap-hat-.html

 

 

Posted in Nong Dan Viet Nam, Uncategorized, Đời Sống | Leave a Comment »

►Tổng cục Thống kê: “Làm việc 1 giờ trong 7 ngày là không thất nghiệp”

Posted by hoangtran204 on 07/07/2013

Làm việc 1 giờ trong 7 ngày là không thất nghiệp

VĂN HÙNG   -Thứ Ba, 02/07/2013, 10:11 (GMT+7)

* Sẽ kiến nghị thay đổi tiêu chí

 

Ông Đỗ Thức, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê trả lời PV tại buổi họp báo

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,28% (khu vực thành thị là 3,85% và khu vực nông thôn là 1,57%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,95% (khu vực thành thị là 1,76% và khu vực nông thôn là 3,47%). 

Cùng với tỷ lệ thất nghiệp, các con số về GDP, kiềm chế lạm phát, FDI, CPI cũng được đại diện các cơ quan báo chí nêu câu hỏi cho Tổng cục Thống kê (Bộ KH-ĐT) tại cuộc họp báo do cơ quan này vừa tổ chức.

Băn khoăn về thực trạng lao động thất nghiệp, PVNNVN nêu câu hỏi: Liệu những con số trên đã phản ánh sát với tình hình hiện nay của lao động VN chưa?

Đại diện chủ tọa cuộc họp báo, ông Đỗ Thức, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho rằng: “Số liệu đó đã phản ánh đúng với thực tế. Nhiều người băn khoăn vì sao DN ngừng hoạt động nhiều mà tỷ lệ lao động thất nghiệp vẫn ở mức thấp như vậy. Vấn đề này theo chúng tôi là chưa có sự ăn khớp trong cách hiểu khái niệm giữa người cung cấp thông tin và người tiếp nhận thông tin.

Số liệu mà Tổng cục Thống kê thực hiện được áp dụng theo tiêu chuẩn của quốc tế. Theo đó, điều tra trong 7 ngày liên tiếp mà lao động trong độ tuổi không có việc để làm thì coi như thất nghiệp. Còn trong 7 ngày đó, nếu lao động có 1 giờ đồng hồ làm việc thì không gọi là thất nghiệp. Ở Singapore hay Thái Lan tỷ lệ này còn thấp hơn nữa”.

“Nhưng thu nhập 1 giờ làm việc ở nước ngoài như Singapore, Thái Lan, lao động có thể sống được vài ba ngày chứ 1 giờ làm việc ở VN không đủ mua nỗi cái bánh mỳ?”, PV NNVN tiếp tục đặt câu hỏi.

Ông Đỗ Thức đồng tình với PV về quan điểm đó. Ông Thức cho rằng đúng là còn bất cập trong áp dụng tiêu chí theo chuẩn quốc tế để đánh giá tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở nước ta. “Vấn đề này thời gian tới sẽ phải nghiên cứu lại để có một kết quả đánh giá sát với thực tế và phù hợp với điều kiện của VN hơn bởi đồng lương của người lao động nước ta còn thấp hơn so với nhiều nước trên thế giới”, ông Thức cho hay.

Báo Nông Nghiệp Việt Nam

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/133/133/112018/Lam-viec-1-gio-trong-7-ngay-la-khong-that-nghiep.aspx

———

 Nhật ký của một công chức

31-3-2013

“7 giờ sáng: Mình mở mắt tỉnh giấc vì những tiếng léo nhéo vọng qua cửa sổ. Tiếng gì ấy nhỉ? À, trẻ con đi học. Ôi, tại sao đi học sớm thế mà bao nhiêu năm qua chúng nó không chết? “Thuở còn thơ sáu giờ sáng đến trường”. Nghĩ lại thấy khiếp thật. Rõ ràng mình chỉ là công chức quèn, không thể thành kẻ đánh thức toàn nhân loại vì muốn vậy phải dậy trước họ. Ngủ thêm chút nữa. Mặc kệ. Đời đằng nào cũng có quá nhiều đau khổ rồi. Nằm trên giường suy nghĩ: thế nào là tình yêu? Thế nào là cuộc sống? Thế nào là đồng lương?

7 giờ 30: Uể oải xỏ dép xuống giường. Lảo đảo đi xuống bếp. Cái gì trên bàn thế kia? Mì xào? Đúng, lại mì xào. Mình rên lên, ngã vật xuống ghế. Mình đọc báo mạng, thấy gần đây có những bà vợ giết chồng bằng cách đốt. Vợ mình dã man hơn, giết chồng bằng mì xào. Chả lẽ cuộc đời không còn gì để xào nữa hay sao? Ngồi xuống ăn, nước mắt cứ chực tuôn ra. Nhai sợi mì như nhai cơm. “Ai bảo chăn trâu là khổ?”, làm công chức khổ hơn nhiều. Đang nhai thì thằng con vào, nhắc sắp đến ngày đóng học phí. Khỏi phải nhắc, ta đang điên lên đây. Phải đập phá một cái gì, phải bóp nát cái gì. A, quả chuối đây rồi. Bóp ngay!

8 giờ: Thắng bộ đi làm. Cũng comple, cũng cà vạt như ai. Chỉ có cái bụng toàn mì xào rau là bí mật. Trời, hình như sắp mưa. Nhưng mình không mang ô. Chớ đứa nào dám nói sáng vác ô đi tối vác về.

Dắt xe ra khỏi cửa, phóng từ từ đến công ty. Đi đâu mà vội. Dù trời đất đổi thay thì công ty vẫn muôn đời còn đó. Ơ, đằng trước có một em áo hồng. Mình lao lên, huýt sáo. Đời vẫn có niềm vui. Em liếc sang cười. Mặt xinh nhưng răng to quá.

8 giờ 30: Đến cơ quan. Leo lên phòng, mở cửa ra chả thấy ma nào. Biết ngay. Đành bưng bộ ấm chén hôm qua đi rửa. Pha trà uống. Nhăn mặt. Trà công cộng có bao giờ ngon.

Anh em lục tục kéo vào. Hỏi nhau ầm ĩ. Đêm qua “Bát xa” và “Rê an” ai thắng? Phải tìm cho ra kẻ thắng để trưa nay bắt nó khao.

Có tiếng chuông reo. Mở điện thoại ra. Anh đấy à? Cà phê không? Quán đầu đường. Cà phê thì cà phê. Việt Nam nằm trong top đầu sản xuất cà phê thế giới, không uống thì dẫn đầu làm gì?

9 giờ: Ra quán ngồi. Thấy toàn “gương mặt thân quen”. Không phải Mỹ Linh, không phải Phương Thanh mà toàn trưởng, phó phòng. Tươi cười thông báo cho nhau: hôm nay sếp đi họp. Thế thì chúng ta cũng họp. Sợ gì.

Anh em khoái cái quán này vì nó gần cơ quan, khỏi phải gửi xe. Đời công chức ít vận động nên cần đi bộ nhiều. Thêm em bưng nước rất xinh, này em, có muốn làm nhân viên tạp vụ không? Cũng bưng nước thôi mà.

Bà con trò chuyện râm ran. Tình hình Trung Đông. Tình hình Ấn Độ. Tình hình Triều Tiên. Tình hình cơ quan chả ai đả động vì ai cũng hiểu quá rõ. Buồn và êm đềm. Nghèo và nhẹ nhõm. Chậm chạp mà thanh thản.

10 giờ: Kéo nhau về cơ quan. Ai nấy ngồi vào bàn, xem lại công việc hôm qua. Hôm qua thì xem lại công việc hôm kia. Lúc nào chả bận.

Chợt một cậu chạy ào vào thông báo: hôm nay thứ sáu, có quán mới khai trương giảm một nửa. Cả phòng kéo nhau đi giảm 1 nửa…

1 giờ chiều: Về công ty. Pha trà uống. Kẻ khen rượu ngon. Kẻ chê thịt mèo nhạt. Riêng mình thấy rẻ là ok rồi…

1 giờ 30: Uống trà xong. Đóng các cửa phòng. Nằm trên bàn. Lại suy nghĩ về tình yêu và cuộc sống. Thiếp đi…

2 giờ 30: Choàng tỉnh dậy. Lại ngồi vào bàn. Xem lại những thứ đã làm buổi sáng. Lại pha trà uống cho tỉnh ngủ.

4 giờ: Chuẩn bị ra về. Thêm một ngày lao động bền bỉ. Chuông điện thoại reo. Anh em gọi ra quán Bảy Mập. Dê ở đó khá lắm. Nào đi. Dân chơi nào sợ mưa rơi”.

Báo thanhnien.com.vn

Posted in Kinh Te, Đời Sống | Leave a Comment »

►Đời sống nông dân miền Nam VN sau 38 năm dưới chế độ XHCN tươi đẹp

Posted by hoangtran204 on 04/07/2013

Nông dân Huỳnh Kim Hải: Quyết không để con làm ruộng

24-6-2013

TP – Ông Huỳnh Kim Hải (ảnh) 52 tuổi, là kỹ sư cơ khí. Năm 1990, ông nghỉ việc nhà nước về thị trấn Sa Rài (Tân Hồng, Đồng Tháp) ở trung tâm Đồng Tháp Mười, làm 8 ha ruộng (8 mẫu). Vợ chồng ông có 3 con, 2 gái 1 trai. Ông Hải chia sẻ:

 

Ông Huỳnh Kim Hải
Ông Huỳnh Kim Hải.

 

Là nông dân, tôi thấm thía mình thuộc tầng lớp “thấp cổ bé họng”, thiệt thòi nhất trong xã hội. Chia đất cho con là chia cái khổ cho con, nên tôi cho con ăn học để tìm một nghề nào đó, quyết không để con làm ruộng.

Gía lúa hai năm giảm gần 30%

Vụ hè thu và cả đông xuân năm nay, làm lúa lời lỗ như thế nào, tính ra thu nhập mỗi người mỗi tháng bao nhiêu?

Vụ hè thu này tôi sạ 8 ha, giống lúa OM6976, đã lấy tiền cọc để ngày 28/6 cắt, giá 4.250 đ/kg. Mấy người có lúa ở gần tôi đã cắt, năng suất khoảng 5,5 tấn/ha, như vậy vụ hè thu này may là hòa vốn. Vụ đông xuân, tôi cũng làm 8 ha, lúa OM4900 bán đúng ngày bắt đầu mua tạm trữ 16/3, giá 4.400 đ/kg, lời khoảng 1.000 đ/kg, với năng suất 6,6 tấn/ha, tổng cộng lời được 52,8 triệu đồng.

Như vậy, cả 2 vụ lúa năm 2013 này, tôi lời 52,8 triệu đồng. Gia đình tôi có 6 người, mẹ tôi, vợ chồng tôi, và 3 đứa con, tính ra một tháng mỗi người thu nhập chỉ có 733.000 đồng. Từ đây đến thu hoạch vụ lúa đông xuân năm tới, tôi phải đi vay ngân hàng mà ăn, mà làm và chắc chắn nợ lại chồng chất.

Hiện ông vay nợ lãi suất bao nhiêu?

Hiện tôi vay ngân hàng làm lúa vụ này 100 triệu đồng, lãi suất một tháng 1%. Nông dân ai cũng phải vay ngân hàng cả, nên bán lúa xong trả nợ tiền vay là sạch trơn lại phải vay tiếp, số tiền vay mỗi năm mỗi tăng.

Làm lúa những năm gần đây thu nhập tăng lên hay giảm xuống?

Từ năm 2008 đến nay, thu nhập của nông dân càng ngày càng giảm, do thiệt hại kép: Giá lúa giảm, trong khi các mặt hàng thiết yếu là phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đều tăng cao. Như giá lúa năm 2011 là 6.000đ/kg, năm 2012 giảm xuống 5.400đ/kg, đến vụ hè thu này chỉ còn 4.250 đồng/kg, trong hai năm giảm gần 30%.

Theo ông, cần làm gì để nông dân có thể tăng thu nhập?

Cần tăng thu giảm chi cho nông dân. Làm lúa thì năng suất đã gần đụng trần, nên phải xuất khẩu gạo giá cao để mua lúa cho nông dân giá cao. Còn giảm chi trước hết với phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, hiện nông dân phải mua giá rất cao so với giá nhập khẩu. Chính phủ cần quản lý hai mặt hàng này như những mặt hàng kinh doanh có điều kiện để hạ giá và đảm bảo chất lượng. Lúa gạo của nông dân đang ế nên những vùng độc canh 3 vụ lúa nên chuyển sang 2 lúa 1 màu hoặc 2 màu 1 lúa.

Tiêu thụ chụp giật kiểu buôn chuyến

 

Phơi lúa trên đường phố thị trấn Sa Rài. ẢNH: SÁU NGHỆ
Phơi lúa trên đường phố thị trấn Sa Rài. ẢNH: SÁU NGHỆ.

 

 

Việc tiêu thụ lúa hiện nay, ông thấy thế nào?

Hiện nay, Nhà nước giao cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) độc quyền ấn định giá lúa gạo của nông dân, đây chính là sự bất ổn. VFA có mục đích thu lợi nhuận càng nhiều càng tốt, lợi nhuận của họ lại chia từ lợi nhuận của nông dân nên thường chiếm hết phần của nông dân. Nông dân ngày càng khổ lương của quan chức VFA vẫn rất cao.

   

Hơn nữa, khi được độc quyền ăn chênh lệch đầu tấn, VFA chẳng cần quan tâm đến giá xuất khẩu, không đầu tư kho bãi, vì xuất khẩu rẻ họ sẽ mua lúa của nông dân rẻ. Do đó, VFA không xây dựng thương hiệu, gạo Việt Nam giống như gạo chất lượng thấp trên thị trường, giá thấp nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Chính sách mua lúa tạm trữ có giúp được nông dân không?

Tôi thấy chẳng giúp gì được, bằng chứng là giá lúa mỗi năm mỗi giảm, và giá bán gạo xuất khẩu cũng mỗi năm mỗi giảm. VFA căn cứ theo giá thị trường thường chờ giá hạ cho đến tận đáy mới bắt đầu mua tạm trữ.

Vậy theo ông, tiêu thụ lúa nên như thế nào?

Căn cứ vào Luật Cạnh tranh, lúa gạo do Nhà nước độc quyền thì giá lúa gạo phải do Nhà nước định ra để bảo vệ quyền lợi cho nông dân. Làm như Chính phủ Thái Lan, ấn định giá mua lúa trước mỗi vụ và từ giá mua này qui ra giá bán gạo xuất khẩu. Để được vậy thì phải có chiến lược hợp lý, có đủ kho trữ, xây dựng thương hiệu và cả hợp tác với Thái Lan lập liên minh xuất khẩu gạo, chứ không bán kiểu chụp giựt buôn chuyến như VFA đang làm.

Sẽ bán đất hoặc cho thuê

Ông có tham gia cánh đồng mẫu lớn không, hoặc làm lúa chất lượng cao, làm theo tiêu chuẩn Viet GAP?

Tôi không tham gia cánh đồng mẫu lớn, vì tôi không đồng ý với việc doanh nghiệp bắt nông dân phải mua giống xác nhận giá cao. Nhưng tôi cũng thấy, vài người gần tôi tham gia cánh đồng mẫu lớn có lợi hơn bán lúa cho VFA. Thí dụ, vụ đông xuân vừa rồi, VFA để cho giá lúa từ 5.400 đ/kg hạ xuống còn 4.400 đ/kg mới mua tạm trữ, còn doanh nghiệp trong cánh đồng mẫu lớn vẫn mua lúa của nông dân giá 4.600 – 4.800 đ/kg. Do cách mua lúa của VFA quá tệ, nên vụ đông xuân năm tới, nếu doanh nghiệp trong cánh đồng mẫu lớn đừng bắt tôi mua giống xác nhận của họ thì tôi sẽ đăng ký làm cánh đồng mẫu lớn.

Hiện nay, tôi không làm lúa chất lượng cao cũng không theo Viet GAP, vì giá lúa chất lượng cao và giá lúa theo Viet GAP rất bấp bênh, không cho thu nhập cao hơn làm lúa chất lượng bình thường.

Ông có nói việc chuyển lúa sang trồng màu, ông đã trồng màu chưa?

Chưa, vì một số bà con xung quanh trồng không có lời. Trồng màu để có thu nhập cao hơn trồng lúa thì phải hạ giá thành. Muốn thế, phải trồng diện tích rộng vài trăm ngàn héc-ta để cơ giới hóa từ xuống giống, chăm sóc đến thu hoạch và phải có chính sách khuyến khích của Nhà nước mới tạo ra được.

Trở lại chia sẻ ban đầu của ông là quyết không để con làm ruộng, vậy sau này với 8 ha ruộng, ông sẽ làm gì?

Nếu con cần vốn làm ăn thì tôi sẽ bán ruộng cho con chút vốn liếng. Còn bản thân tôi lỡ làm ruộng rồi, sẽ làm đến khi không nổi thì đem ruộng cho mướn.

SÁU NGHỆ 
thực hiện

http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/633427/Quyet-khong-de-con-lam-ruong-tpp.html?p=http%3A%2F%2Fwww.tienphong.vn%2FKinh-Te%2F633427%2FQuyet-khong-de-con-lam-ruong-tpp.html

 

 

Posted in Nong Dan Viet Nam, Đời Sống | Leave a Comment »

►Chợ quê, những ngày buồn – Đời sống nông dân miền Bắc VN sau 58 năm dưới chế độ XHCN tươi đẹp

Posted by hoangtran204 on 02/07/2013

Mặc cho đời sống nông dân và công nhân đang nghèo khổ và thiếu thốn hơn 58 năm qua, cán bộ đảng và nhà nước vẫn ra sức hô hào: tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Cán bộ Đảng và Nhà Nước nguyện “hy sinh đến cùng”, lấy tiền thuế của dân, và tiền bán tài nguyên dầu hỏa để  cấp cho nhau các tiêu chuẩn xe như thế này:

Chương II:

Điều 3. Các chức danh được sử dụng thường xuyên một xe ôtô không quy định mức giá cụ thể : TBT đảng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, thủ tướng.

Điều 4. Các chức danh được sử dụng thường xuyên trong thời gian công tác một xe ôtô với giá mua tối đa 900 triệu đồng/một xe 

nguồn: Bộ Tư Pháp     moj.gov.vn

Chợ quê, những ngày buồn

báo Nông Nghiệp

HOÀNG ANH   -Thứ Hai, 01/07/2013, 10:14 (GMT+7)

Có thể nói, chợ quê phản ánh khá đầy đủ “sức khỏe” đời sống nông thôn. Nhóm phóng viên NNVN theo chân nông dân ở một số vùng quê đi chợ với mong muốn có được một cái nhìn chân thực nhất về đời sống nông thôn hiện nay.

Chỉ dám mổ lợn vào kỳ phát lương

Dân không có tiền chú ơi. Nếu có thì họ đã ra chợ chọn những miếng ngon để mua rồi. Bây giờ phải mang thịt đến tận từng nhà may ra họ chấp nhận ký nợ, lúc nào bán được lạc, đậu có tiền trả mình. Hoặc giả họ có trả bằng đậu, bằng lạc thì cũng phải lấy chứ ngồi đây thì bán được cho ai”, bà Đoàn Thị Hòa, một người bán thịt chợ Phùng giải thích.

Miếng thịt cũng phải nợ

Chợ Phùng họp phiên chính vào ngày chẵn và phiên phụ vào chiều hôm sau, là chợ trung tâm phục vụ gần 1.500 hộ dân thuộc hai xã Đức Hương và Đức Liên (huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Một phiên chợ quê điển hình. Ảm đạm, nghèo nàn, buồn tẻ.

Tôi có mặt ở Phùng vào phiên chính từ lúc sớm tinh mơ, khi vừa tỏ mặt người, cũng là thời điểm chợ vào phiên. Chợ trung tâm của cả hai xã hẳn hoi nhưng chỉ lác đác có vài nông dân đi chợ sớm để ra đồng, còn lại chỉ thấy toàn là người bán. Một dãy hàng thịt, một hàng cá biển, một hàng tạp hóa phía bên trong, bao bọc bên ngoài là rau ria, tương cà muối ớt, một vài quả mít, mớ hẹ, nải chuối…

Phục vụ gần 1.500 hộ dân nhưng lệ thường, đến khoảng bảy tám giờ thì chợ Phùng vãn khách. Như hôm nay còn sớm hơn, mới 7 giờ sáng mà khách mua đã vắng hoe. Đám người bán thịt lợn quây nhau đánh phỏm, ông lão bán cá biển ngáp ngắn ngáp dài phẩy ruồi, bà bán hàng tạp hóa ngủ gà ngủ gật, khách gọi nhờ đổi tờ 100 ngàn, vét hết túi, hết rương vẫn không đủ.


Chợ quê

Sang nhất ở chợ quê vẫn là hàng thịt. Đời sống khó khăn đến nỗi thịt trở thành thức ăn xa xỉ, buôn bán đủ cách mà phiên nào cũng ế.

Dãy hàng thịt ở chợ Phùng có 4 người, sắp thành 4 phản. Cứ mỗi một phiên chợ họ chỉ dám chung nhau mổ một con lợn, mỗi người một chân nhưng bán từ trưa hôm trước đến hết phiên chợ chính hôm nay mà vẫn còn phân nửa. Đánh bài chán chê, 4 bà chia nhau đống thịt ế ẩm, khô cong queo nhét làn, đạp xe vào các thôn rao bán.

“Dân không có tiền chú ơi. Nếu có thì họ đã ra chợ chọn những miếng ngon để mua rồi. Bây giờ phải mang thịt đến tận từng nhà may ra họ chấp nhận ký nợ, lúc nào bán được lạc, đậu có tiền trả mình. Hoặc giả họ có trả bằng đậu, bằng lạc thì cũng phải lấy chứ ngồi đây thì bán được cho ai”, bà Đoàn Thị Hòa, một người bán thịt chợ Phùng giải thích như thế.

Mấy người làm nghề như bà Hòa nắm rất rõ quy luật lúc nào thì nên mổ lợn. Bà tính: “Kỳ cán bộ hưu trí, gia đình chính sách nhận tiền lương, tiền chế độ có thể mổ hoặc thời điểm ngày mùa, nông dân thu hoạch lạc, đậu bán được giá cũng có thể mổ. Còn như tháng 7 tháng 8 lụt sạch trơn, con cái vào năm học phải đóng góp, lúc ấy, chẳng ai dám mổ lợn đi bán mô”.

Thời điểm này cũng là lúc “có thể mổ”, mùa lạc cũng đã thu hoạch xong, nhưng vì giá lạc quá thấp, dân chưa bán được nên chẳng mấy nhà đi chợ. Thịt lợn quá sức với nhà nông đã đành, mấy mẹt cá biển ở hàng cá ông Nguyễn Văn Mão cũng ế sưng ế sỉa.

Tính cả phiên chợ, ông chỉ bán chưa đầy phân nửa. Mà thực ra cũng không hẳn là bán, hầu hết số cá giải phóng được là do người dân mang chè xanh ra đổi. Một bó chè xanh giá 3 ngàn, một lạng cá biển cũng 3 ngàn. Bó chè ngang lạng cá, chè chất thành đống cao nhưng ông hàng cá vẫn cứ phải đổi vì chẳng mấy ai rủng rỉnh đi mua cá bằng tiền mặt. Rốt cuộc, theo chân các bà bán thịt, ông Mão phải chở cá đi rao, đến tận từng nhà cho ký nợ, lúc nào có tiền thì trả.


Đổi cá lấy chè vẫn không bán được

Ở lại chợ cuối cùng là chị bán rau quả tên là Nguyễn Thị Loan. Một ít bí, một ít hành, một ít cà chua…Thứ gì cũng có nhưng cả buổi sáng, cả vốn lẫn lãi chị chỉ bán được đúng 33 ngàn đồng. Tính toán chi li từng đồng một thì lãi khoảng 3 – 5 ngàn. “Những thứ này bây giờ dân ít mua lắm. Trong vườn trồng được thứ gì thì ăn thứ nấy. Có vài nghìn bạc thôi mà người ta cũng thắt lưng buộc bụng chứ đừng nói đến thịt cá”.

Chị Loan không chồng, chỉ xin được đứa con trai. Năm nay nó học hết lớp 9, không chịu thi vào cấp 3 vì nó biết chắc là mẹ mình không kham nổi. Bán chác chẳng ăn thua, chị Loan cũng chẳng dám mua thịt, chỉ nhặt ra mấy quả cà chua về nấu bữa trưa.


Cả phiên chị Loan chỉ bán được 33 ngàn

Phiên chính chợ Phùng, tính ra chạy nhất chỉ có thúng đậu phụ ở cổng chợ. Nhiều nông dân đi chợ kiểu chỉ đến cổng, đưa cho bà bán đậu phụ lúc 2 ngàn, lúc 5 ngàn, xách một vài miếng rồi đi thẳng chứ chẳng vào chợ để làm gì.

“Chỉ làm nông không dám mua thịt mô

Chủ tịch UBND xã Đức Hương Lê Văn Lợi nói với tôi như thế. Đức Hương là một xã nghèo, 946 hộ dân thuần nông thì những người dám ăn thịt lại càng ít ỏi. Tính thẳng ra là chỉ có cán bộ công chức, giáo viên, quân đội về hưu. Hàng tháng, cứ đến ngày phát lương hưu, thời điểm bên bảo hiểm thuê một hai người ôm tiền về UBND xã phát lương thì y như rằng chiều đấy thấy mổ lợn.

Tiền lương hưu hàng tháng của cả xã khoảng 250 triệu, bình quân 2,5 triệu một gia đình, tức chỉ có khoảng 100 hộ có đời sống kinh tế tương đối ổn định mà thôi.

“Nông dân thuần túy mà bảo họ bán lạc, bán đậu để mua thức ăn thì khó. Nghề phụ cũng không có thì chuyện người ta không dám ăn thịt cũng là lẽ thường, ăn rồi lấy gì mà trả. Hỏi dân sống bằng cái gì? Thì tất nhiên là sống bằng ruộng, bằng đất. Nhưng sở dĩ sống khổ là vì những nguồn này bây giờ khó khăn lắm”, ông Lợi cho biết.


Chợ vắng khách mua

Tổng cả đất màu cả đất ruộng xã Đức Hương chỉ vỏn vẹn có 349 ha. Bình quân mỗi khẩu chỉ 12 thước ruộng, 3 thước đất. Một xã thuần nông, lấy nông nghiệp làm trọng nhưng đó là nền nông nghiệp hết sức quặt quẹo. Ruộng chỉ làm được một vụ, tưới tiêu hoàn toàn phụ thuộc vào trời. Toàn bộ diện tích lúa chỉ mang tính tự cung tự cấp, không có chuyện hàng hóa. Mấy năm trước, dự án IFAC có giúp xã làm hệ thống đập trên 2 tỷ nhưng không phát huy được tác dụng vì chẳng có tiền để làm mương dẫn nước về.

Năm nay, UBND tỉnh Hà Tĩnh có ý định cấp xi măng để xây dựng kênh mương, nhưng sau khi hạch toán mỗi cây số kênh mương hết khoảng 2 tỷ, tỉnh chỉ hỗ trợ được một nửa, còn một nửa xã và dân phải tự làm. Đức Hương được giao chỉ tiêu thu ngân sách 280 triệu mỗi năm nhưng đất đai không bán được nên dự án kênh mương đưa nước từ đập chứa về vẫn còn đắp chiếu. Họp lên họp xuống, cũng có phương án huy động dân đóng góp. Nhất trí thôi, nhưng lấy gì để đóng bây giờ?

Thế sức dân có đủ để đóng góp xây dựng kênh mương không? Cứ nhìn gia cảnh bà Lê Thị Quyền ở thôn Hương Phố thì biết. Tôi gặp bà Quyền khi chợ vãn rồi mà bà vẫn cứ ngồi bó gối bần thần bên mớ rau hẹ ế ẩm. Sáng nay, bà cắt 5 bó hẹ trong vườn mang ra chợ bán, định bụng bán xong thì mua lạng thịt về ăn. Mỗi bó có 2 ngàn đồng nhưng không bán được cho ai nên bà cứ ngồi chờ. Không bán được hẹ thì bữa trưa cũng không thịt thà gì hết.

Nghĩ mà tủi. Hai ông bà có 2 sào màu trồng lạc, hai sào ruộng cấy lúa mà cuộc sống vẫn cứ cơ cực thế này. Ruộng chỉ cấy được một vụ, vừa đủ gạo ăn hết năm. Hai sào màu một vụ trồng lạc, một vụ trồng đậu. Con cái đi làm ăn xa, chỉ có hai ông bà nuôi nhau nhưng không nuôi nổi.

Mùa lạc năm nay, lúc bắt đầu trồng ông bà phải bỏ ra gần hai triệu tiền giống, tiền phân bón, đều phải đi vay cả. Bà tính rằng, nếu lạc bán được giá 20 ngàn/kg thì đủ tiền trả nợ, nếu dưới thì lỗ. Giá lạc ở Phùng bây giờ đang 17, nông dân như bà Quyền chỉ biết kêu trời. “Nhà nông ai cũng trông vào hạt đậu hạt lạc để chi tiêu thôi. Lúa thì không được phép bán một hạt vì ruộng làm một vụ chỉ đủ gạo ăn, bán là đói. Rứa mà giá cả kiểu ni thì nỏ ai có tiền mặt để tiêu mô chú à”.

 

Ông Đào Hải Đường, Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam kiêm quản lý chợ Phùng, đúc kết thế này: Chợ quê nhưng từ miếng thịt đến mớ rau đều mua kiểu trả góp. Dân cứ ra chợ mua, ký sổ rồi đến lúc nào bán được đậu, lạc thì trả. Từ khi có chợ đến nay mới chỉ duy nhất một lần người ta chở hàng về đây bán nhưng không thấy quay lại nữa.

————–

Phụ lục

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Số: 59/2007/QĐ-TTg
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng

phương tiện đi lại trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;

Căn cứ Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06 tháng 03 năm 1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước;

Căn cứ Nghị định số 137/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định việc phân cấp quản lý nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản được xác lập sở hữu của Nhà nước;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Bãi bỏ các Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 05 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng ôtô trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước; Quyết định số 208/1999/QĐ-TTg ngày 26 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng ôtô trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 05 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 33/2001/QĐ-TTg ngày 13 tháng 03 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng xe ôtô phục vụ công tác đối với các nhà khoa học; Quyết định số 105/2004/QĐ-TTg ngày 08 tháng 06 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh mức giá mua xe ôtô phục vụ công tác của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 05 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ; Quy định về việc tạm dừng mua mới phương tiện đi lại quy định tại khoản d Mục 1 Phần VI Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những quy định trước đây trái với Quyết định này.

Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan khác ở Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc công ty nhà nước và Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

QUY ĐỊNH

Tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại

trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước

(Ban hành kèm theo Quyết định số 59/2007/QĐ-TTg ngày 07/05/2007

của Thủ tướng Chính phủ)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh

1. Quyết định này quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại là xe ôtô phục vụ công tác; chế độ khoán kinh phí sử dụng ôtô; chế độ sử dụng dịch vụ cung ứng xe của thị trường để phục vụ công tác trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi chung là cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp), Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của nhà nước và các công ty nhà nước.

Đối với xe ôtô phục vụ công tác tại các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và xe phục vụ lễ tân đối ngoại của Nhà nước, thực hiện theo quy định riêng của Thủ tướng Chính phủ.

2. Xe ôtô thuộc phạm vi điều chỉnh trong Quy định này bao gồm xe từ 4 đến 16 chỗ ngồi, xe ôtô chuyên dùng (gọi chung là xe ôtô) được hình thành từ nguồn vốn ngân sách, có nguồn gốc ngân sách, nguồn vốn của công ty nhà nước (kể cả viện trợ, quà biếu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hoặc được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật…).

Điều 2. Nguyên tắc trang bị, bố trí, sử dụng xe ôtô phục vụ công tác

1. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và công ty nhà nước căn cứ vào tiêu chuẩn định mức quy định tại Quy định này để bố trí xe ôtô phục vụ các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô.

2. Trường hợp một cán bộ giữ nhiều chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô thì được áp dụng tiêu chuẩn sử dụng xe theo chức danh cao nhất. Khi người tiền nhiệm nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác mà xe ôtô đã trang bị chưa đủ điều kiện thay thế theo quy định tại khoản 5 Điều này thì người mới được bổ nhiệm tiếp tục sử dụng, không trang bị xe mới.

3. Nghiêm cấm việc sử dụng xe ôtô quy định tại khoản 2 Điều 1 Quy định này vào việc riêng; bán, trao đổi, tặng cho, cho mượn hoặc điều chuyển cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào nếu không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Giá mua xe ôtô theo Quy định này là giá mua đã bao gồm các loại thuế phải nộp theo quy định của pháp luật nhưng chưa bao gồm lệ phí trước bạ, lệ phí cấp biển số xe, phí bảo hiểm liên quan đến việc sử dụng xe. Việc mua xe ôtô phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về mua sắm tài sản nhà nước.

5. Xe ôtô trang bị cho các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe phục vụ công tác được thay thế theo yêu cầu công tác đối với các chức danh quy định tại Điều 3 và Điều 4; khi đã sử dụng ít nhất 250.000 km đối với các chức danh còn lại. Xe ôtô được thay thế phải thực hiện bán đấu giá, số tiền bán xe sau khi trừ đi các chi phí hợp lý liên quan phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Chương II

QUY ĐỊNH TIÊU CHUẨN, ĐỊNH MỨC, CHẾ ĐỘ TRANG BỊ,

SỬ DỤNG XE ÔTÔ PHỤC VỤ CÔNG TÁC

Điều 3. Các chức danh được sử dụng thường xuyên một xe ôtô không quy định mức giá cụ thể

1. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng;

2. Chủ tịch nước;

3. Chủ tịch Quốc hội;

4. Thủ tướng Chính phủ.

Điều 4. Các chức danh được sử dụng thường xuyên trong thời gian công tác một xe ôtô với giá mua tối đa 900 triệu đồng/một xe

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các chức danh tương đương và các chức danh có hệ số lương khởi điểm từ 10,4 trở lên.

Điều 5. Các chức danh được sử dụng thường xuyên trong thời gian công tác một xe ôtô với giá mua tối đa 800 triệu đồng/một xe

1. Trưởng ban của Đảng ở Trung ương, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trưởng các đoàn thể ở Trung ương, các chức danh tương đương và các chức danh có hệ số lương khởi điểm từ 9,7 trở lên.

2. Các chức danh sau đây của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh: Bí thư, Phó Bí thư Thành uỷ, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố.

Điều 6. Các chức danh được sử dụng xe ôtô để đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc và đi công tác với giá mua tối đa 700 triệu đồng/một xe

1. Phó Trưởng ban của Đảng ở Trung ương, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Thứ trưởng, Phó các đoàn thể Trung ương, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ủy viên Thường trực Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chức danh tương đương và các chức danh lãnh đạo có hệ số phụ cấp lãnh đạo từ 1,25 trở lên.

2. Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Các chức danh sau đây của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh: Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc.

4. Một số trường hợp đặc biệt, thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 7. Việc sử dụng xe ôtô đối với Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hàng Trung ương Đảng được áp dụng tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô của chức vụ đang đảm nhận. Trường hợp chức vụ đang đảm nhận không có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô phục vụ công tác thì được bố trí phương tiện khi đi công tác.

Điều 8. Các chức danh được sử dụng xe ôtô phục vụ công tác

1. Ở Trung ương: cán bộ lãnh đạo cấp Tổng cục, Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ và cán bộ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25 của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.

2. Ở địa phương:

a) Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Tỉnh ủy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

b) Cán bộ cấp Trưởng, Phó các Sở, Ban, ngành và tương đương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Bí thư, Phó Bí thư huyện uỷ, thị uỷ, quận uỷ (gọi chung là cấp huyện); Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp huyện; Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25.

3. Các chức danh quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này chỉ được bố trí xe ôtô khi đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 15 km trở lên; đối với các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn được bố trí xe ôtô khi đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (không bố trí xe đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc). Trường hợp đối tượng tự túc phương tiện thì được khoán kinh phí theo quy định tại Điều 15 Quyết định này.

4. Trường hợp do yêu cầu khẩn cấp hoặc do yêu cầu đặc biệt phục vụ công tác, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định việc bố trí xe ôtô của cơ quan, đơn vị hoặc thuê dịch vụ xe ôtô cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô.

Điều 9. Trang bị xe ôtô phục vụ công tác tại công ty nhà nước

Tùy theo nhu cầu phục vụ công tác và khả năng tài chính, công ty nhà nước được trang bị xe ôtô phục vụ công tác cho các chức danh lãnh đạo và phục vụ công tác chung theo quy định sau:

1. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các Tổng công ty và các Tập đoàn do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập được sử dụng 01 xe ôtô đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc hàng ngày và đi công tác theo mức giá mua tối đa 650 triệu đồng/xe.

2. Ủy viên Hội đồng quản trị, Phó Tổng giám đốc các Tổng công ty và các Tập đoàn; Giám đốc, Phó giám đốc các công ty nhà nước được sử dụng xe ôtô với giá mua tối đa 550 triệu đồng/xe khi đi công tác cách trụ sở công ty từ 15 km trở lên (không bố trí xe đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc).

Điều 10. Trang bị xe ôtô phục vụ công tác tại các Ban Quản lý dự án

Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng của nhà nước được sử dụng xe ôtô phục vụ nhu cầu hoạt động của dự án theo quy định sau:

1. Các chức danh lãnh đạo (không kể kiêm nhiệm) có hệ số phụ cấp lãnh đạo từ 1,25 trở lên được sử dụng xe theo quy định tại Điều 6 Quy định này. Các chức danh lãnh đạo (không kể kiêm nhiệm) có hệ số phụ cấp lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25 được sử dụng xe ôtô hiện có, thuê dịch vụ xe ôtô hoặc được khoán kinh phí khi tự túc phương tiện phục vụ công tác theo quy định tại Điều 15 Quy định này.

2. Đối với Ban Quản lý dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc vốn viện trợ nước ngoài thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đã được ký kết.

3. Đối với các chức danh lãnh đạo của các Ban Quản lý dự án theo tuyến, địa bàn hoạt động rộng, ở vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn nhưng không đủ mức hệ số phụ cấp lãnh đạo quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Tài chính quy định cụ thể chế độ sử dụng xe trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương. Nguồn kinh phí mua xe bố trí từ kinh phí hoạt động của Ban quản lý dự án.

4. Các Ban quản lý dự án không thuộc phạm vi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này không được trang bị xe ôtô. Khi có nhu cầu sử dụng xe ôtô phục vụ công tác thì thực hiện thuê dịch vụ xe ôtô hoặc áp dụng chế độ khoán kinh phí.

Điều 11. Trang bị xe chuyên dùng

1. Xe chuyên dùng là xe gắn kèm trang thiết bị chuyên dùng hoặc có cấu tạo đặc biệt theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ hoặc sử dụng cho nhiệm vụ đặc thù, đột xuất, cấp bách phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị – xã hội.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương quyết định chủng loại, số lượng, giá mua xe chuyên dùng trang bị cho các đơn vị thuộc phạm vi quản lý sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủng loại, số lượng, giá mua xe chuyên dùng trang bị cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc địa phương quản lý sau khi có ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Điều 12. Trang bị xe cho các đơn vị mới thành lập và thay thế xe phục vụ các chức danh

1. Đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, Ban quản lý dự án được thành lập sau ngày Quy định này có hiệu lực thi hành có các chức danh có hệ số phụ cấp lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25 được trang bị 01 xe ôtô từ nguồn xe điều chuyển. Trường hợp không có xe điều chuyển và không thực hiện được việc thuê dịch vụ xe ôtô thì được mua 01 xe ôtô với giá tối đa 550 triệu đồng/xe để phục vụ công tác.

2. Đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp mới thành lập hoạt động trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn được trang bị 01 xe ôtô con từ nguồn xe điều chuyển. Trường hợp không có xe điều chuyển thì được mua 01 xe ôtô với giá tối đa 550 triệu đồng/xe, nếu phải mua xe 2 cầu thì giá tối đa 800 triệu đồng/xe.

3. Đối với các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe quy định tại các Điều 3, 4, 5 và Điều 6 Quy định này, khi phải thay thế theo quy định nhưng không có xe điều chuyển thì được mua mới theo đúng tiêu chuẩn quy định tại Quy định này.

4. Việc mua mới xe ôtô quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước được giao và do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan khác ở Trung ương quyết định sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính đối với các cơ quan, đơn vị thuộc Trung ương quản lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp đối với các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương quản lý.

Điều 13. Trang bị xe ôtô cho các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài

1. Cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và các cơ quan khác của Việt Nam hoạt động ở nước ngoài hưởng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp (gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) được trang bị xe ôtô phục vụ công tác.

2. Bộ trưởng Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan quy định số lượng và mức giá mua xe phù hợp với nhu cầu và tính chất công việc của từng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, bảo đảm nguyên tắc hiệu quả, tiết kiệm. Việc mua sắm, quản lý, sử dụng và thanh lý xe ôtô của cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện theo đúng quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

Chương III

CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN

PHỤC VỤ CÔNG TÁC TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH,

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VÀ CÔNG TY NHÀ NƯỚC

Điều 14. Chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại đối với các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe

1. Các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô quy định tại các Điều 3, 4, 5 và Điều 6 Quy định này được Nhà nước bảo đảm việc trang bị, chi phí sử dụng xe ôtô theo yêu cầu công tác.

2. Trường hợp các chức danh quy định tại Điều 6 Quy định này có điều kiện và tự nguyện đăng ký tự túc phương tiện được thực hiện cơ chế khoán kinh phí sử dụng xe ôtô cho từng công đoạn (đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc đi công tác). Mức khoán cụ thể do thủ trưởng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp quyết định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Điều 15. Bố trí phương tiện đi lại phục vụ cho các chức danh có tiêu chuẩn quy định tại các Điều 7 và 8 Quy định này

1. Căn cứ số xe ôtô hiện có, thực tế cung cấp dịch vụ phương tiện đi lại của thị trường và khả năng tự túc phương tiện đi lại của từng chức danh, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp bố trí xe ôtô phục vụ công tác cho các chức danh có tiêu chuẩn theo các hình thức sau:

– Sử dụng số xe hiện có của cơ quan;

– Thuê dịch vụ xe ôtô;

– Khoán kinh phí để tự túc phương tiện.

2. Việc thanh toán kinh phí sử dụng phương tiện đi lại được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm và thực hiện như sau:

a) Trường hợp sử dụng xe ôtô hiện có thực hiện theo hình thức thanh toán theo đơn giá khoán cho đơn vị quản lý xe;

b) Trường hợp thuê dịch vụ phương tiện đi lại hoặc tự túc phương tiện đi công tác thì được thanh toán theo số km thực tế với đơn giá phổ biến trên thị trường.

3. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc thanh toán kinh phí quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 16. Bố trí phương tiện đi lại phục vụ các chức danh có tiêu chuẩn tại công ty nhà nước

Căn cứ vào nhu cầu phục vụ công tác cho các chức danh có tiêu chuẩn quy định tại Điều 9 Quy định này, công ty nhà nước xây dựng và quyết định việc thực hiện phương thức quản lý, sử dụng xe và thanh toán kinh phí theo quy định tại Điều 15 Quy định này, bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả.

Điều 17. Chế độ quản lý, sử dụng xe chuyên dùng

Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp được trang bị xe chuyên dùng theo quy định tại Điều 11 Quy định này thực hiện việc quản lý xe tại cơ quan, đơn vị theo tiêu chuẩn định mức; tổ chức hạch toán riêng và công khai chi phí sử dụng xe tại các cơ quan, đơn vị theo quy định hiện hành.

Điều 18. Tổ chức quản lý, sử dụng số xe ôtô hiện có

1. Đối với xe ôtô của các chức danh quy định tại các Điều 3, 4, 5 và Điều 6 Quy định này, cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý để phục vụ cho các chức danh có tiêu chuẩn.

2. Đối với xe ôtô phục vụ công tác cho các đối tượng được sử dụng xe quy định tại các Điều 7, 8 và Điều 10 Quy định này, căn cứ vào số lượng xe hiện có và khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ đi lại của thị trường, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phương án tổ chức, quản lý số xe hiện có tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp mình quản lý trên từng địa bàn theo nguyên tắc:

a) Thực hiện hạch toán sử dụng từng xe theo đơn giá khoán và công khai việc sử dụng tại các cơ quan, đơn vị;

b) Được phép cung cấp dịch vụ theo đơn giá bảo đảm chi phí cho các cá nhân trong cơ quan và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp khác có nhu cầu sử dụng xe ôtô phục vụ công tác sau khi đã bảo đảm phục vụ yêu cầu hoạt động của cơ quan trừ các xe của Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xây dựng Quy chế quản lý việc cung cấp dịch vụ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính;

c) Việc thuê phương tiện đi lại phải căn cứ vào nhu cầu hoạt động thực tế của từng cơ quan, đơn vị và dự toán ngân sách được giao.

3. Bộ Tài chính hướng dẫn phương thức tổ chức, sắp xếp số xe hiện có bảo đảm yêu cầu phục vụ công tác và phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.

Chương IV

TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 19. Trách nhiệm của Bộ Tài chính

1. Chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định này.

2. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành kiểm tra, đôn đốc việc chấp hành các quy định về trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, công ty nhà nước theo Quy định này.

3. Thực hiện thu hồi, điều chuyển xe ôtô theo thẩm quyền quy định.

4. Khi giá mua xe ôtô trên thị trường tăng, giảm trên 20% so với mức giá tại Quy định này, Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định điều chỉnh cho phù hợp.

Điều 20. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ quy định tại Điều 15 và Điều 18 Quy định này và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính thực hiện:

1. Quyết định phương án tổ chức lại số xe hiện có tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

2. Ban hành Quy chế sử dụng xe thuộc phạm vi quản lý.

3. Chỉ đạo các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc phạm vi quản lý thực hiện việc bố trí, sử dụng xe ôtô theo đúng tiêu chuẩn, định mức và áp dụng đơn giá thanh toán theo đúng quy định.

4. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao (đối với xe lễ tân đối ngoại của nhà nước) căn cứ vào hướng dẫn tại Quy định này xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý sử dụng xe ôtô và thống nhất với Bộ Tài chính trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Điều 21. Trách nhiệm của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và công ty nhà nước

1. Căn cứ vào nguyên tắc quy định tại Điều 15 Quy định này và hướng dẫn của Bộ Tài chính xây dựng cơ chế khoán kinh phí theo từng công đoạn (đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc đi công tác) để áp dụng cho các chức danh có tiêu chuẩn quy định tại các Điều 6, 7, 8 và Điều 9 Quy định này khi các chức danh tự nguyện đăng ký tự túc phương tiện đi lại.

2. Căn cứ vào nguyên tắc quản lý và sử dụng xe quy định tại Điều 15 và Điều 18 Quy định này, xây dựng cơ chế và thực hiện bố trí xe phục vụ công tác cho các chức danh quy định tại Điều 7, 8 và Điều 10 Quy định này, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.

3. Thực hiện việc tổ chức, sắp xếp số xe ôtô hiện có theo phương án của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Chương V
XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 22. Xử lý vi phạm trong việc mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện đi lại.

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm đối với việc mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng xe ôtô phục vụ công tác của các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý theo quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định của pháp luật có liên quan.

2. Đối với việc mua sắm, trang bị phương tiện đi lại không đúng thẩm quyền, vượt tiêu chuẩn, định mức gây thiệt hại tài sản, kinh phí của nhà nước thì người ra quyết định phải bồi thường thiệt hại đồng thời bị xử lý kỷ luật theo quy định của Chính phủ quy định về bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

3. Đối với việc quản lý, sử dụng phương tiện đi lại không đúng quy định thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị và cá nhân liên quan phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng phương tiện đi lại trái với quy định của Nhà nước; tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và mức thiệt hại mà phải bồi thường thiệt hại đồng thời bị xử lý kỷ luật theo quy định của Chính phủ quy định về bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định của pháp luật có liên quan.

4. Xe ôtô mua không đúng tiêu chuẩn, vượt giá quy định, vượt định mức bị thu hồi để điều chuyển hoặc bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước.

Điều 23. Trách nhiệm thi hành

1. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thi hành Quy định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quy định này./.

THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Dũng

Posted in Nong Dan Viet Nam, Đời Sống | Leave a Comment »