Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2015

►TPP-SIÊU SỨC MẠNH MỀM CỦA MỸ

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2015

 

TPP-SIÊU SỨC MẠNH MỀM CỦA MỸ

Thứ Hai, ngày 25 tháng 5 năm 2015

 
Phải chăng cả nước Mỹ đang lo giải cứu Hiệp Định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương-TPP? Từ  Tổng thống Obama, đến các nghị sỹ Thượng viện Hoa Kỳ, Bộ trưởng Ngoại giao, John Kerry, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter, đều lần lượt lên tiếng kêu gọi Mỹ phải đạt được Hiệp định TPP nếu không muốn bị thiệt hại lớn.
Là người Mỹ ai cũng phải cảm động khi nhìn thấy Tổng thống Barack Obama cúi mái đầu sương điểm trước phán quyết của Thượng viện Hoa kỳ hôm 22-4-2015 không trao toàn quyền cho Hành Pháp trong việc xúc tiến thương thuyết mậu dịch -tpa-trade promotion authority-. Động thái này của Thượng viện Mỹ sẽ có thể lôi theo số phận của TPP đến bên bờ vực thẳm của thất bại.

 

Thông hiểu được sự lo lắng của Tổng thống Obama, hôm 12-5-2015 chính Thượng viện Mỹ lại ra sức củng cố nghị trình thương mại của Tổng thống Obama bằng cách bỏ phiếu với tỷ lệ 65-33 để bắt đầu mở đường cho cuộc tranh luận về TPP -một Hiệp định Tự do thương mại giữa 12 nước ven bờ biển Thái Bình Dương có nền kinh tế năng động và đang trên đà phát triển cao, chiếm đến 40% tổng sản lượng toàn cầu.                                                            
Hôm 20-5-2015 Ngoại trưởng Mỹ, John Kerry đã lên tiếng kêu gọi Mỹ phải đạt được Hiệp Ước Thương Tự Do -TPP, nếu không muốn bị tổn thiệt. Ngài Ngoại trưởng Hoa Kỳ không hết lời ca ngợi TPP: “TPP không phải là thỏa thuận thương mại theo kiểu thời ông cha chúng ta. Nó cũng không phải hiệp định thương mại thời cha mẹ chúng ta. Thậm chí nó cũng không phải hiệp định thương mại thời anh chị chúng ta. TPP là một thực thể mới -Rất mới- Một hiệp định thương mại của thế kỷ XXI.”
Trước đó, hơn 1 tháng, hôm 7-4-2015, tân Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, ông Ashton Carter, tuyên bố: Hiệp định Thương Mại Tự Do -TPP- là một bộ phận quan trọng của Chiến Lược Xoay Trục châu Á của chính quyền Obama. Ông Carter kêu gọi Quốc Hội Mỹ thông qua dự luật xúc tiến thương mại TPA -Trade Promotion-Authority- một dự luật có sự ủng hộ của hai Đảng. Với uy tín này, Chính phủ Mỹ có thể đạt được thỏa thuận tốt nhất với 11 nước khác trong TPP, qua việc đòi hỏi các nước này chấp nhận những tiêu chuẩn mà nước Mỹ chúng ta đang tuân theo như sự minh bạch của chính phủ, những luật lệ bảo vệ quyền lợi trí tuệ, bảo vệ môi trường và quyền của người lao động. TPP cũng hạ thấp rào cản đối với hàng hóa và dịch vụ của Mỹ tại các thị trường tăng trưởng nhanh nhất của châu Á Thái Bình Dương. TPP là một trong những các bộ phận quan trọng nhất của Chiến lược Tái cân bằng sang châu Á mà chính Tổng thống Obama đang tiến hành.” Và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Ashton Carter ví von: “một khi Quốc Hội thông qua hiệp định này cũng quan trọng như việc bổ sung một Hàng Không Mẫu Hạm cho hạm đội trong khu vực”!.
Trong khi đó, Brad Glosserman, Giám Đốc Diễn Đàn Thái Bình Dương của Mỹ cho biết là các nhà lãnh đạo châu Á xem sự thành công của TPP là yếu tố then chốt của sự tham gia của Mỹ trong khu vực. Brad Glosserman còn cho rằng “TPP là một trói buộc, nối kết chúng ta một cách chặt chẽ hơn nữa với các nước trong khu vực. Qua các mối quan hệ kinh tế, chính trị, quân sự, chúng ta nhằm tiến tới mục đích làm cho các nước đồng minh ta tin chắc rằng chúng ta bị ràng bưộc với họ và những địch thủ của chúng ta biết chắc là một vụ tấn công nhằm vào các nước đó sẽ được coi là vụ tấn công nhằm vào nước Mỹ. Do đó chúng ta có thể nói là qua việc thật sự nối kết chúng ta một cách chặt chẽ về mặt kinh tế, thương mại, chính trị, chúng ta đánh đi một tín hiệu để các đồng minh cũng như các địch thủ của chúng ta biết rõ là chúng ta thật sự đoàn kết với nhau. Vì vậy, TPP là một bộ phận chiến lược then chốt trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ”. Với ý đồ này, phải chăng Brad Glosserman muốn chuyển hoá Hiệp định Tự do Thương mại -TPP- thành một Hiệp Định Liên Minh Quân Sự Quốc Phòng Hỗ Tương giữa Mỹ và các quốc gia thành viên TPP?
Tiến xa hơn nữa, Glosserman xác quyết: “Dự luật Xúc tiến thương mại -TPA- nếu được Quốc Hội thông qua sẽ để cho Tổng thống thương thuyết hiệp định thương mại mà Quốc Hội chỉ được quyền chấp thuận  hoặc bác bỏ chứ không thương thuyết lại các điều khoản của TPP.” Brad Glosserman rõ là một chiến sĩ ngoan cường bảo vệ những điều khoản của TPP do Mỹ đề xuất mà các thành viên TPP đã từng tố giác đó là những điều khoản với tiêu chuẩn kép nhằm đem lại lợi nhuận cho nước Mỹ nhiều hơn…   
Như vậy với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Ashton Carter, TPP là một bộ phận quan trọng trong chiến lược xoay trục về châu Á của Mỹ. Đối với Brad Glosserman, Giám đốc Diễn Đàn Thái Bình Dương của Mỹ, TPP là một bộ phận then chốt trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ.  Phải chăng, TPP là mộtSiêu Sức Mạnh Mềm của chính phủ Mỹ trong hiện tại?
Mỗi khi đề cập đến vấn đề TPP mà không nói đến mối tương quan giữa Việt Nam với TPP sẽ là một thiếu sót lớn của chúng ta, của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Ngay cả Tổng thống Obama, hôm 12-05-2015 đã nhắc tới Việt Nam khi ông đề cập đến vấn đề TPP. Tại công ty Nike ở tiểu bang Oregon hôm 8-5-2015, Tổng thống Obama nói rằng thỏa thuận đang được bàn thảo Việt Nam “sẽ là lần đầu tiên phải nâng cao các tiêu chuẩn lao động- Phải đặt ra lương tối thiểu- Phải thông qua các luật liên quan đến nơi làm việc để bảo vệ công nhân…”. Tổng thống Obama cho rằng Việt Nam hay bất cứ một nước nào muốn tham gia TPP mà không đáp ứng các yêu cầu trên, họ sẽ đối mặt với các hệ quả. Hôm 10-4-2015, một nhà ngoại giao Mỹ nói tại Hà Nội rằng VN đã cho thấy có tiến bộ về nhân quyền, nhưng cần phải chứng tỏ cam kết mạnh hơn nữa để lấy lòng các nhà lập pháp Mỹ. Tom Malinowski, trợ lý Ngoại trưởng Mỹ khẳng định VN phải có một số bước cải thiện nhân quyền mới nói đến chuyên Hà Nội có thể gia nhập TPP. Malinowski nhìn nhận rằng TPP là đòn bẫy để cải thiện nhân quyền tại VN. Tiến bộ nhân quyền là chìa khóa chính để VN gia nhập TPP.   
Trong hiện tình của TPP, thật khó trả lời nếu có ai hỏi rằng TPP bây giờ đang ở đâu? Hình dáng nó như thế nào? Có điều chắc chắn TPP hiện giờ đang nằm trên bàn thảo luận của Hạ Viện Hoa Kỳ. Việc Hạ Viện Mỹ có chịu thông qua dự luật xúc tiến thương thuyết mậu dich –Trade Promotion Authority– vẫn còn là câu hỏi?
Ấy vậy mà Chính phủ Mỹ vẫn sử dụng TPP để làm áp lực ở một số quốc gia yếu hơn khi họ muốn được gia nhập TPP. Với Chính sách “chưa đổ ông Nghè đã đe hàng Tổng” liệu chính phủ Mỹ có khả năng kết thúc vòng đàm phán gia nhập TPP đúng hạn kỳ theo ý muốn của Tổng thống Obama-cuối năm 2015?./.   

Đào Như

http://www.diendantheky.net/2015/05/ao-nhu-tpp-sieu-suc-manh-mem-cua-my.html

 

______________________

 

Hoa Kỳ và mặt trái của lá bài TPP

tpp

Từ năm 2008 đến nay, các quốc gia thuộc khu vực Á Châu – Thái Bình Dương đã phải đương đầu rất vất vã với các biện pháp mà Hoa Kỳ muốn áp đặt trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt TPP) để “xoay trục” nền kinh tế Mỹ qua vùng này. Những sự bất đồng nhiều khi rất căng thẳng, tưởng chừng như bế tắc. Trong mấy tuần qua, Tổng Thống Obama đã phải xin Quốc Hội thông qua đạo luật về “Thẩm quyền Xúc tiến Mậu dịch” (Trade Promotion Authority – TPA) để Hành Pháp có thể nhanh chóng hoàn tất đàm phán về các thỏa thuận thương mại lớn, trong đó có Hiệp định TPP. Chưa biết Quốc Hội có chịu thông qua hay không.

Viết về TPP không phải là chuyện dễ vì đây là một hiệp ước thương mại vượt ra ngoài khuôn khổ của những hiệp ước thương mại tự do thông thường, nội dung của hiệp ước và các cuộc tranh luận đều được giấu kín vì sợ các phản ứng bất lợi, các tin tức được tiết lộ chắc chắn là không đầy đủ, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng tóm lược để những người quan tâm có một cái nhìn tổng quát về hiệp ước quan trọng này.

CHÍNH TRỊ LÀ “NÓI VẬY MÀ KHÔNG PHẢI VẬY”!

Đa số người Việt đấu tranh biết rất ít về TPP nên tin rằng TPP là một chiếc đũa thần, có thể dùng để buộc Đảng CSVN phải thay đổi chế độ. Hôm 15.5.2015, ông Tom Malinowski, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, vừa trở về từ Hà Nội sau khi tham dự vòng đối thoại về nhân quyền thường niên Mỹ – Việt diễn ra tại Hà Nội hôm 7/5, đã nói với báo chí rằng Việt Nam phải cải thiện hơn nữa vấn đề nhân quyền, nếu Việt Nam muốn tham gia Hiệp định TPP. Ông cho biết: «Tôi đã để lại cho chính phủ Việt Nam một thông điệp rõ ràng là: Những gì họ sẽ làm trên hồ sơ này (nhân quyền), đặc biệt trong những tuần tới, sẽ có tác động rất lớn đối với viễn ảnh cho TPP». Nghe những lời tuyên bố này, các nhà đấu tranh trong và ngoài nước đều vỗ tay reo vang!

Người Việt đấu tranh ở hải ngoại, đa số đã từng chiến đấu với Mỹ 20 năm và sống trên đất Mỹ 40 năm, nhưng vẫn chưa nhận ra rằng đối với Mỹ, dân chủ và nhân quyên chỉ là chiêu bài.

Năm 1972, Mỹ đem miền Nam bán cho Trung Quốc; ngày 4.2.1994 Tổng Thống Clinton quyết định bãi bỏ cấm vận cho Việt Nam; ngày 11.7.1995 Tổng Thống Clinton tuyên bố bình thường hóa bang giao với Việt Nam và ngày 13.7.2000 Việt Nam ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA); ngày 20.12.2006 Tổng thống Bush ký thông qua việc trao Quy chế Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam; ngày 11.7.2007 Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Mậu Dịch Quốc Tế (WTO); ngày 25.7.2015 Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Trương Tấn Sang ra tuyên bố thành lập đối tác toàn diện giữa hai nước, v.v…, những lúc đó Việt Nam làm gì có dân chủ và nhân quyền? Hà Nội thừa biết như vậy nên rất tận tình ủng hộ TPP và không “ke” các ông Mỹ nói gì.

Từ tháng 8 năm 1988, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Nam để tìm người Mỹ mất tích (MIA) trong chiến tranh Việt Nam, nhưng đàng sau MIA là nói chuyện bãi bỏ cấm vận và thiết lập bang giao giữa hai nước. Ông Thiệu không biết gì về chính trị nên nói rằng nếu ông có quyền ông sẽ giải quyết chuyện đó trong một thời gian ngắn, Kissinger phải bảo ông ta im đi. Đàng sau chuyến đi Hà Nội của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski vừa qua, bên ngoài là nói về nhân quyền nhưng đàng sau có thể bàn về bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và chắc chắn đã bàn về Hiệp Định TTP, yêu cầu Việt Nam chấp nhận những điều khoản do Mỹ áp đặt để Hiệp Định này được thông qua nhanh. Trong cuộc phỏng vấn của BBC ngày 18.5.2015, ông Tom Malinowski cho biết cuộc họp có đại diện của Bộ Ngoại Giao, Đại diện Thương Mại Mỹ, USAIDS và Tòa Bạch Ốc. Phái đoàn đã đề cập đến “một trong những điều quan trọng nhất, là tiêu chuẩn về lao động và quyền tự do lập hội. Đó là một đòi hỏi bắt buộc đối với tất cả các nước muốn tham gia TPP, và cũng là một phần trong cuộc thương thảo của chúng tôi với chính phủ Việt Nam.”

Như chúng ta đã biết, cho đến nay “tiêu chuẩn về lao động và quyền tự do lập hội” mà Hoa Kỳ muốn áp đặt trong TPP vẫn chưa được tất cả các quốc gia hội viên đồng ý vì cho rằng tiêu chuẩn này sẽ làm tăng giá các sản phẩm trong nước của họ lên, gây khó khăn cho việc cạnh tranh.
Mỹ có thể xúi Ukraina “ăn cứt gà” được, nhưng khó xúi Đảng CSVN vì đảng này thuộc loại cáo già. Trong thời gian qua, Hà Nội đã hoan hô Hiệp Định TPP cả tay lẫn chân, nhưng sau khi vào TPP rồi Việt Nam sẽ dùng những trò ma mãnh cũ để trục lợi như sau khi ký hiệp ước thương mại tự do (FTA) với Mỹ và tham gia WTO.

Chính trị là “Nói vậy mà không phải vậy” nên phải nhìn vào mặt trái đàng sau.

SỰ HÌNH THÀNH CỦA HIỆP ĐỊNH TPP

Hiệp Định TTP lúc đầu do Singapore, New Zealand và Chile xây dựng năm 2003 như một lộ trình tự do hóa thương mại trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Năm 2005 có thêm Brunei tham gia, nên được gọi là P4. Hiệp Định được P4 ký kết vào ngày 3.6.2005 và có hiệu lực ngày 28.5.2006.

Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Tiếp theo là Úc, Peru (2008), Malaysia, Việt Nam (2010) Canada, Mexico (2012) và Nhật (2014). Như vậy đến nay đã có 12 nước tham gia TPP.

Người ta cho rằng khu vực ký kết hiệp định TPP sẽ trở thành một trong những khu vực thương mại lớn nhất thế giới với hơn 792 triệu người, đóng góp gần 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thế giới và khoảng 1/3 kim ngạch thương mại toàn cầu. Nhưng vấn đề không giản dị.

VẤN ĐỀ NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH TPP

Hiện nay, trên thế giới đã có hai hình thức mậu dịch quốc tế căn bản, đó là Hiệp định Thương mại Tự do (Free Trade Agreement – FTA) và Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO). Hiệp định FTA là hiệp định được ký kết giữa hai hoặc nhiều quốc gia, theo đó các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một Khu vực Mậu dịch Tự do (Free Trade Area). Theo thống kê của WTO hiện nay đã có hơn 200 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực. Còn WTO được thành lập và hoạt động từ 1.1.1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minh bạch. Tính đến ngày 26.6.2014, tổ chức này có 160 thành viên.

Hiệp Định TPP được 4 nước sáng lập ký kết ngày 3.6.2005 là một hiệp ước được soạn theo mô thức Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã nói ở trên. Nhưng sau khi tham gia, Hoa Kỳ không chấp nhận mô thức này mà đưa ra một mô thức mới để Hoa Kỳ có thể xâm nhập được vào vùng Á Châu – Thái Bình Dương, trong đó có những điều khoản vượt ra ngoài khuôn khổ của một hiệp ước thương mại thông thường. Tại sao Hoa Kỳ phải làm như vậy? Vì đạo luật Thẩm quyền Xúc Tiến Mậu Địch (Trade Promotion Authority) nói rất rõ chính sách của Hoa Kỳ là “loại bỏ các rào cản trên các thị trường ngoại quốc và thành lập các quy tắc để ngăn chặn thương mại không công bằng.” (eliminating barriers in foreign markets and establishing rules to stop unfair trade). Ngày 14.11.2009, Tổng Thống Obama tuyên bố Mỹ tham gia Hiệp Định TPP “với mục tiêu định hình một thỏa thuận khu vực rộng mở với tiêu chuẩn xứng tầm một hiệp định thương mại của thế kỷ 21.”

Hiện nay Mỹ đã có quan hệ ngoại thương lớn nhất với Âu Châu rồi đến Trung Quốc, Canada và Nhật, nhưng Mỹ chưa xâm nhập được vào nhiều nước đang nằm trong khu vực Á Châu – Thái Bình Dương và cho rằng tại các nước này có nhiều luật lệ bảo vệ mậu dịch và không công bằng. Do đó, Mỹ phải đưa vào TPP những quy định nhắm phá vỡ những trở ngại đó. Nếu chấp nhận những quy định này, quyền lợi của nhiều nước sẽ bị thiệt hại rất lớn, nên đa số đã đối kháng lại. Chỉ có Hà Nội quyết định “ngậm miệng ăn tiền”.

Nội dung dự thảo Hiệp Định TPP bao gồm 29 đề mục, có phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (dịch vụ tài chính sẽ được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 2 văn kiện đi kèm về hợp tác môi trường và hợp tác lao động. Đây là những vấn đề đã gây ra nhiều tranh cãi trong suốt 7 năm qua, qua 23 vòng đàm phán, nhưng chưa đi tới đâu, vì nhiều lý do.

NHỮNG VẤN ĐỀ GÂY NHIỀU TRANH CÃI

Vì các vấn đề nêu ra trong dự thảo Hiệp Định TPP thuộc nhiều lãnh vực khác nhau và rất phức tạp, nên mỗi phái đoàn khi đi dự họp phải đem theo một số rất đông chuyên viên. Tổng số chuyên viên tham dự các vòng đàm phán thường từ 400 đến 700 người, nên sự tiết lộ rất khó tránh khỏi. Có nhiều vấn đề do chính các trưởng phái đoàn bí mật tiết lộ ra để tạo áp lực của công luận.

Điều khoản đầu tiên là phải hủy bỏ 90% thuế quan trên các hàng hóa nhập cảng (sau đó sẽ bỏ hết) và định số (quota) nhập cảng, trong khi nhiều nước trong vùng đang đánh thuế quan đến 200% trên một số mặt hàng để bảo vệ kỹ nghệ trong nước hay tránh phung phí ngoại tệ. Dự thảo chương về Lao Động là căng thẳng nhất, nó bao gồm cả những vấn đề nhạy cảm và có cách hiểu khác nhau giữa các nước như quyền lập hội, quyền can thiệp vào các trường hợp xử dụng lao động trẻ em, quyền can thiệp của Nhà nước vào các tranh chấp lao động, mức lương tối thiểu… Đây là các biện pháp nhắm đưa giá thành của các sản phẩm trong vùng lên cao tương đương giá thành của Mỹ, giúp Mỹ dễ cạnh tranh hơn. Một chương khác gây tranh luận không kém là chương về Môi Trường, một vấn đề thường nằm ngoài các hiệp ước thương mại, như bảo vệ đại dương, cá, động vật hoang dã và rừng, thương mại và biến đổi khí hậu, hàng hóa và dịch vụ môi trường…. Một vấn đề quan trọng về pháp lý cũng được đặt ra: Hiện nay, có nhiều nước trong vùng đã ký những hiệp ước về thương mại tự do (FTA) với nhau như hiệp ước giữa các nước ASEAN (AFTA), hiệp ước giữa Trung Quốc và ASEAN (ACFTA), Khu vực Mậu dịch Tự Do Bắc Mỹ (NAFTA)… Vậy khi những quy định giữa TPP và các hiệp ước này có những sự khác biệt, sẽ thi hành theo văn kiện nào?

Trên đây chỉ là vài thí dụ cụ thể, còn nhiều vấn đề khác đang được tranh luận. Tính lại, trong 7 năm qua 23 vòng đàm phán, các bên mới chỉ thỏa thuận được 15 trong 29 vấn đề đã được đưa ra.

GẶP RẮC RỐI TẠI QUỐC HỘI MỸ

Đạo luật Mậu Địch 1974 (Trade Act of 1974) quy định rằng khi đàm phán về các hiệp ước thương mại, ngành hành pháp phải tham khảo ý kiến với các ủy ban Quốc Hội có liên quan và phải thông báo cho Quốc hội 90 ngày trước khi ký kết một thỏa ước. Luật cũng lập ra “thẩm quyền thương thuyết nhanh” (fast track negotiating authority) hay “thẩm quyền xúc tiến mậu dịch” (trade promotion authority – TPA): Khi hiệp ước được đưa ra trước Quốc Hội để xin phê chuẩn, Quốc Hội chỉ có thể hoặc chấp thuận hoặc bác bỏ toàn bộ, chứ không được tu chính hay ngăn trở việc thông qua (filibuster). Đạo luật này đã được tái tục nhiều lần và có hiệu lực đến 1.7.2007. Nay Tổng Thống Obama phải xin tái tục để thông qua các hiệp định thương mại lớn, trong đó có TPP và đã đệ nạp dự luật TPA tại Quốc Hội.

Nhân cơ hội này, nhiều nghị sĩ và dân biểu đã lên tiếng chỉ trích Hiệp Định TPP, chẳng hạn như bà Nghị sĩ Elizabeth Warren thuộc bang Massachusetts cho rằng “Obama đang nói dối sự thật về TPP”. Phe đảng Dân Chủ yêu cầu phải có một loạt biện pháp đi kèm với TPA như kiểm soát việc can thiệp vào tỷ giá, có điều khoản hỗ trợ người lao động bị mất việc do toàn cầu hoá, thắt chặt luật về chống lao động trẻ em, tăng các biện pháp chế tài đối với các hành vi thương mại không bình đẳng… Nhưng phe đảng Cộng Hòa không muốn gắn TPA với việc mở rộng các điều khoản hỗ trợ cho công nhân mất việc vì toàn cầu hoá. Có hai nhóm áp lực có thế lực ở Quốc Hội Hoa Kỳ hiện nay thì nhóm Phòng Thương Mại cổ võ cho TPP còn nhóm Nghiệp đoàn Lao động Liên bang và các Tổ chức Công nghiệp Mỹ chống lại.

Hôm 12.5.2015 Thượng Viện Mỹ đã bác bỏ dự luật TPA của Tổng Thống Obama nhưng hôm 14.5.2015 lại thông qua. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng TPA sẽ gặp nhiều khó khăn khi được đưa ra trước Hạ Viện, tại đây cần phải có ít nhất 218 phiếu thuận.

CUỘC CHIẾN ĐANG TIẾP TỤC

Tổng Thống Obama tin rằng vòng đàm phán về Hiệp Định TPP thứ 20 diễn ra tại Singapore từ 6 đến 10.12.2014 sẽ kết thúc tốt đẹp, nhưng kết quả mong đợi đã không đạt được. Ông Michael Froman, Đại diện Thương mại Mỹ nói: “Trong suốt vòng đàm phán này, chúng tôi đã nhận diện được “những bãi đáp” tiềm năng cho phần lớn các vấn đề còn vướng mắc. Chúng tôi sẽ tiếp tục đàm phán một cách linh hoạt để giải quyết rốt ráo vấn đề câu chữ, cũng như các vấn đề về tiếp cận thị trường”.

Vòng đàm pháp thứ 21 đã họp tại New York ngày 26.1.2015 và vòng đàm phán thứ 22 tại Hawaii từ 9 đến 15.3.2015 nhưng không tin tức nào được tiết lộ. Vòng đàm phán thứ 23 đang họp tại đảo Guam từ 8.5.2015.

Hiện nay, Hiệp Định TPP chưa có sự tham gia của hai nước lớn nhất trong vùng là Trung Quốc và Indonesia. Nam Hàn, Philippines, Thái Lan, Đông Timor, Colombia, và Ecuador cũng chưa tham gia. Trong một cuộc họp của diễn đàn APEC tại Indonesia vào tháng 10 năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố rằng Bắc Kinh sẽ thiết lập một khuôn khổ hợp tác khu vực xuyên Thái Bình Dương «có lợi cho tất các các bên», đó là «Hiệp định Tự do Mậu dịch Châu Á-Thái Bình Dương ( FTAAP )». Theo một viên chức bộ Thương mại Trung Quốc, đề nghị này đã được nhiều nước thành viên diễn đàn APEC đón nhận «rất tích cực».

Mặc dầu Hiệp Định TPP chưa đi tới đâu, vào tháng 3/2013 Tổng Thống Obama đã đề nghị các nước Âu Châu hình thành Hiệp định Đối tác Mậu dịch và Đầu tư Xuyên Đại Tây Dương (Transatlantic Trade and Investment Partnership –TTIP) dựa theo Hiệp Định TPP.

Để thúc đẩy 11 nước thành viên của Hiệp Định TPP mau kết thúc hiệp định này, hôm 8.5.2015, tại trụ sở công ty sản xuất dày Nike ở Portland, Oregon, Tổng thống Obama đã dọa: “Nếu Việt Nam, hay bất kỳ quốc gia thành viên nào khác trong hiệp định này không đáp ứng được các đòi hỏi đó, họ sẽ phải gánh chịu các hậu quả tương ứng”. Tuy nhiên, chẳng nước thành viên nào “ke” lời đe dọa của ông!

Ngày 20.5.2015

Lữ Giang

(Tác giả gửi đăng)

http://www.danchimviet.info/archives/95987/hoa-ky-va-mat-trai-cua-la-bai-tpp/2015/05

Advertisements

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Đội lốt

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2015

Đội lốt

Tra từ điển trên mạng, đội lốt được định nghĩa là vỏ bên ngoài giả trá để lừa dối.

Tôi sẽ kể cho các bạn 6 câu chuyện về đội lốt.

Câu chuyện thứ nhất : Vào khoảng giữa tháng 4 năm 2013, khi tôi đi công tác tại Châu Âu, lúc đang đứng chờ tại sân bay Charles De Gaulle-Paris, đột nhiên tôi nghe thấy tiếng chào từ phía sau : Chào anh Hùng, anh đi công tác à. Tôi quay lại, thấy một thầy tu mặc áo cà sa nâu, vấn qua đầu một cái xà cột cũng mầu nâu. Lúc đó, bộ nhớ trong đầu tôi làm việc một cách khẩn trương để nhớ ra xem mình có quen biết ai, đã xuống tóc đi tu hay không ? Do cái óc phải làm việc liên tục nên câu chuyện qua lại tôi không thể nào nhớ nỗi nữa, chỉ còn nhớ là « thầy tu » đó cũng đang đi dự hội nghị về tôn giáo tại châu Âu. Khi ngồi trên máy bay tôi mới chợt tỉnh ra : thôi chết rồi, « anh ấy » ở bên an ninh mà mình đã từng quen hoặc là từ thời ở Bỉ, hoặc là thời làm ở trong nước giữa các Bộ với nhau.

Câu chuyện thứ hai : Vào đầu tháng 3 năm 2013, tôi đỗ cái xe ô tô của tôi ở cổng Bộ Ngoại giao, trước vườn hoa Kính Thiên, bị công an phường Quan Thánh cẩu đi mất, hề hề do đậu dưới lòng đường. Khi tôi ra, gặp một anh xe ôm đứng ở góc ngã năm đó : Xe của chú à, họ chờ mãi không thấy ai nhận, họ cẩu đi rồi. Anh vanh vách cho biết có thể xe của chú đã bị cẩu đến đây đến đây, thế là anh đưa tôi cái mũ bảo hiểm, nói ngồi lên cháu chở chú đi tìm. Điều làm tôi ngạc nhiên là anh rất tự tin trước các trạm công an kiểm tra giao thông trên đường, thậm chí anh còn đưa tôi phi lên vỉa hè trước mặt các anh công an để hỏi thông tin. Tôi nhớ anh còn dặn chú ngồi chờ đây, cháu vào hỏi đồn trưởng xem sao. Tôi đã lấy được xe ra ngay trong ngày hôm đó, phần là do anh xe ôm rất đặc biệt này. Sau tôi nhận thấy anh không bao giờ bị đuổi đi nơi khác, khi mà anh « hành nghề » ở một vị trí rất không cần xe ôm này.

Câu chuyện thứ ba : Nhìn hình nữ tu sĩ đi trong đoàn diễu hành 30/4, tôi lại nhớ đến chị ấy. Tôi nhớ mang máng chị ấy tên là Hoa. Chị sang Genève mỗi dịp có hội nghị về nhân quyền ở Liên Hiệp Quốc. Chị là người gốc dân tộc, nhưng chắc Kinh hóa đã từ lâu, vì chị tán phét cũng kinh khủng lắm, mỗi khi có dịp liên hoan tại Phái đoàn. Hình như chị làm ở Ban Dân tộc Trung ương. Mỗi khi ra Hội nghị thì chị lại trút bỏ quần tây, áo veste, mặc vào một bộ đồ dân tộc hoành tráng mà ai cũng phải trầm trồ khen. Chị đến Hội nghị với tư cách đoàn xã hội dân sự đại diện cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Câu chuyện thứ tư : Ở những nước khác, ta thường hay nghe kể những câu chuyện  về bọn lưu manh, côn đồ giả danh công an để lừa đảo, ức hiếp, trấn lột. Duy chỉ có ở Việt Nam, lại có chuyện ngược đời và hèn hạ, công an đội lốt côn đồ để khủng bố dân thường. Tôi nhường cho bạn đọc liệt kê các vụ việc, vì bản thân tôi không thể kể xiết được hết, tôi chỉ nêu trong câu chuyện thứ tư này,  trường hợp đê hèn gần đây nhất mà công an đã « dành » cho cậu thanh niên Gió Lang Thang : «  lúc 7h45 ngày 22/4/2015,  tại đường Cổ Linh, Long Biên, khi đang trên đường đi mua sữa cho con. Trịnh Anh Tuấn,  Facebook Gió Lang Thang bị tấn công bởi 3 tên côn đồ. Tuấn bị khâu 10 mũi ở đầu, ngón út và áp út,  bàn tay trái bị dập xưong, khắp người bị sây xước. Được biết những tên côn đồ này thường xuyên rình rập trước cửa nhà của Tuấn hàng tháng trời,  từ khi việc chính quyền Hà Nội có dự án chặt hạ cây xanh. Tuấn là 1 trong các admin của group Vì Một Hà Nội Xanh. Sự việc Tuấn bị đánh có thể là sự trả thù của chính quyền sau những cuộc tuần hành Vì Cây Xanh diễn ra vừa qua».

Câu chuyện thứ năm : Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, được thành lập năm 1966, tại đâu đó ở Miền Bắc Việt Nam. Tôi vẫn còn nhớ, đầu những năm 1980, tôi bắt đầu đi làm tại Vụ Châu Á 2, Bộ Ngoại giao, trong câu chuyện của các cô, chú lớn tuổi lúc đó, nhiều cô chú nói làm ở Bộ Ngoại giao Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, hình như gọi là CP72 gì đó, có một bộ phận nằm ở Chùa Bộc, Giảng Võ – Hà nội.

Nói đến Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, đảng « ta » rất kiêu hãnh gọi đây là sự sáng suốt, tài tình trong cuộc đấu tranh trên ba mặt trận chống Mỹ, Ngụy xâm lược,  để giải phóng miền nam.

Câu chuyện thứ sáu : Đó là câu chuyện Hồ Quang – Hồ Chí Minh đội lốt Nguyễn Ái Quốc, đánh lừa cả một dân tộc, trong gần một thế kỷ. Nó nên được ghi vào kỷ lục guinness về tội ác với nhân loại.

Đối với nhiều người Việt vẫn còn nghi nghi hoặc hoặc về câu chuyện đội lốt này, nhưng trong tôi có một niềm tin, đó là sự thật. Bởi vì, ngay từ bé tôi đã có một số thắc mắc về bí ẩn của ông Hồ. Năm 1969, ông Hồ mất, tôi mới có 8 tuổi, nhưng tôi đã thắc mắc với bố tôi là tại sao bác Hồ lại trích được ông Đỗ Phủ, đời nhà Đường trong di chúc. Ý tôi muốn thắc mắc với bố tôi là một người Việt Nam mà lại nhắc đến câu nói không phải của một vĩ nhân Việt Nam mà lại của một vĩ nhân Trung Quốc, mà lại không phải đương thời mà lại tít tận những đời nào rồi. Bố tôi trả lời bác Hồ của mình thông thái lắm con ạ. Tôi đã tin xái cổ và lúc đó ai ai cũng tin như vậy.

Lúc đó, nhà tôi có treo một bức ảnh ông Hồ ngồi trên bộ bàn ghế mây, tay ông cầm cây bút. Tôi thắc mắc với bố là bác Hồ cầm bút như là viết chữ Nho ấy. Trong đầu tôi, cầm bút kiểu ấy làm sao mà viết được. Bố tôi trả lời chụp ảnh ấy mà con. Rồi mọi người bỏ qua thắc mắc ấy, nhưng tôi thì chẳng bao giờ quên được.

Lúc đi học, khi học đến « bàn đá chông chênh dịch sử đảng », thì tôi còn nhớ cô giáo dậy văn trả lời rất qua loa chỗ này. Cho đến bây giờ thì tôi mới ngộ ra rằng cô giáo cũng chả biết mà giải thích ra làm sao. Mọi người tự đồng ý với mình như thế là để cho câu thơ nó vần, hoặc là sai chính tả lịch sử đảng chứ không phải là dịch sử đảng.

Đến đây, tôi xin kết thúc 6 câu chuyện về đội lốt.

Tôi chỉ xin kết luận là : 5 câu chuyện đột lốt đầu tiên thì đều là do chủ trương của đảng  và đều giành được những « thắng lợi huy hoàng ». Câu chuyện đội lốt cuối cùng là tác phẩm cá nhân, nhưng đảng rất cần.

Xin hết chuyện.

Đặng Xương Hùng

Thụy sĩ, đêm 30/4/2015

 

Về một số chi tiết trong bài Đội lốt

Ở câu chuyện thứ năm, nói về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, có những chi tiết chưa chính xác mà một số bạn đọc đã chỉ ra. Tôi hoàn toàn đồng ý với các bạn đọc đó và xin nói thêm, tôi viết bài này trong vòng hai tiếng đồng hồ trong đêm 30/4/2015, với trí nhớ và ký ức, nhất lại là những ký ức đã từ rất lâu, không thể không tránh khỏi những chi tiết chưa chính xác.

Tôi thiết nghĩ rằng, khi viết về đội lốt thì dù Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam có thành lập vào năm nào, ở đâu điều đó không quá quan trọng vì nó thành lập lúc nào ở đâu đều do là sự trình diễn của đảng. Tôi thích viết lại thế này : Mặt trận đã được thành lập vào năm mà đảng cộng sản quyết tâm bằng mọi cách “giải phóng miền Nam”. Họ phải dựng lên một lực lượng chính trị đối chọi với Việt Nam Cộng Hòa. Còn Mặt trận được thành lập ở đâu, tôi cho rằng nó được thành lập trên bàn giấy tại Văn phòng Trung ương Đảng.

Ở câu chuyện thứ sáu, về ông Hồ Chí Minh, một số bạn đọc còn hoài nghi về sự thật ông có phải là người Trung quốc hay không ? Tôi thiết nghĩ rằng, việc chứng minh ông Hồ là người Trung Quốc là đỡ đòn phần nào cho ông ấy, chứ nếu ông là người Việt Nam chính cống, tội ông còn nặng hơn nhiều.

Đặng Xương Hùng (2/5/2015)

Tượng đài “Chiến thắng”: Phật bà đã phải bỏ chạy khỏi Tòa sen.
Hình ảnh chụp cách đây khá lâu trên đường Trường sơn, con đường mang tên “bác vĩ đại”

JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.

Nguon: fb JBnguyenhuuvinh

https://m.facebook.com/notes/dang-xuong-hung/đội-lốt/10205455571102193/

Nguyen Thanh Binh:

Các công ty xuât khẩu lao động cần lưu ý :
– Tuyệt đối không tuyển mộ lao động phụ bếp dưới tàu viễn dương.!
Trong lich sử đã xảy ra trường hợp đáng tiếc :
– Một thanh niên người Nghệ An, không rõ danh tính (vì có quá nhiều nick name), nhân thân mờ ám ( không có CMND, hộ khẩu và sơ yếu lý lịch có xác nhận của địa phương nơi cư trú) đã lẻn xuống tàu viễn dương, xuất khẩu lao động mà không tốn đồng tiền cò nào, trốn sang Pháp làm oshin, thay vì yên tâm lao động, có thu nhập gửi về cho bố mẹ, lại tụ tập hội kín … sau nhiều năm, lẻn về nước, nghe theo một lão người Trung Quốc, béo mập, có nốt ruồi to, xúi bậy, làm lung tung hết cả.!
Để tránh những phiền phức không đáng trong tuong lai, tuyêt đối không xuất khẩu nam thanh niên phụ bếp.!

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nhà báo Trương Duy Nhất vừa mãn hạn tù (26-5-2015)

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2015

FB Trương Huy San

26-05-2015

Sân bay Vinh. Nguồn: FB Trương Huy San

Giờ này, Trương Duy Nhất đã ở trên máy bay để về Đà Nẵng. An ninh tiễn anh ra tận sân bay, giờ chót mới xuất vé. Tôi không hiểu tại sao người ta sợ anh đến thế:

Đón anh chỉ có 4 người phụ nữ – vợ, Cao Thị Xuân Phượng, con gái, Trương Thục Đoan, và hai mẹ con người bạn lâu năm – và tôi (có việc đi qua Nghệ An, rất muốn anh nhìn thấy một người bạn trong giờ phút tự do).

Khi tới trại, 6:30, trực ban cho chị Phượng biết 9:00 anh Nhất sẽ ra. Thế nhưng, 8:00 thì anh Nhất bị áp tải bởi 8 người mặc thường phục và 2 người cảnh phục trên một xe 12 chỗ. Hơn chục công an xã lập tức lao theo. Nhất nhao ra gọi vợ con thì bị khoá tay, ghì xuống.

Thay vì nhẹ nhàng bước ra cổng nhà tù, Trương Duy Nhất bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km.

Từ Thanh Chương, Trương Duy Nhất phải về Đà Nẵng ngay để chịu tang bà nội vợ. Anh bị bắt chỉ vì muốn có Một Góc Nhìn khác, đã rất kiên cường trong tù, nhưng vừa lên xe, anh nói: Tôi có sau lưng 3 người anh hùng là mẹ, vợ và con gái.

Không có một cái ôm chờ đợi, hơn 20 kẻ mặc thường phục chĩa camera vào cuộc hội ngộ sau hai năm của hai vợ chồng một nhà báo chỉ mong đất nước tốt đẹp. Nguồn: FB Trương Huy San

____

Dân Luận

Chính quyền thả nhà báo Trương Duy Nhất một cách lén lút

Châu Văn Thi

26-05-2015

DL – Hôm nay ngày 26/5/2015, nhà báo Trương Duy Nhất mãn hạn tù sau hai năm thụ án vì điều 258 BLHS, do anh đã đăng tải những bài viết “trái” với quan điểm của chính quyền Việt Nam. Bạn bè và người thân của Trương Duy Nhất đón anh ở cổng trại, tuy nhiên phía công an trại giam đã chở anh ra đường Hồ Chí Minh cách cổng trại khoảng bốn cây số và bỏ anh xuống, theo nhà văn Phạm Xuân Nguyên cho biết.

Những hình ảnh từ Facebook nhà văn Phạm Xuân Nguyên cho thấy Trương Duy Nhất vẫn mặc chiếc áo mà đúng 2 năm trước khi bị bắt giữ anh đã mặc, còn chiếc quần có đóng dấu “Phạm Nhân”. Sau khi bị thả ra một cách lén lút, anh Nhất đã phản ứng gay gắt trước việc làm này.

Nhà báo Trương Duy Nhất nguyên là phóng viên Báo Công an Quảng Nam – Đà Nẵng từ năm 1987 đến 1995; từ năm 1995 đến 2011 là phóng viên Báo Đại đoàn kết. Từ 2011 đến ngày bị bắt nghỉ làm báo và viết Blog (www.truongduynhat.vn)với slogan là Góc Nhìn Khác.

Ngày 26/5/2013, Trương Duy Nhất bị bắt vì đã cho đăng tải các bài viết mà chính quyền cho rằng “nội dung không đúng sự thật, tuyên truyền, xuyên tạc đường lồi chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đưa ra cái nhìn bi quan một chiều, gây hoang mang lo lắng, làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”.

Trong phiên toà 5 tiếng đồng hồ diễn ra vào ngày 4/3/2014 tại Đà Nẵng, Trương Duy Nhất bị kết án 2 năm tù giam.

Đại sứ quán Hoa Kỳ và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) đã kêu gọi trả tự do cho nhà báo, blogger Trương Duy Nhất nhưng đáp lại là sự im lặng của chính quyền Việt Nam.

Hiện nay, theo nhà văn Phạm Xuân Nguyên, anh Nhất đang cùng vợ con về lại thành phố Vinh và sẽ bay chuyến 11h về Đà Nẵng, cho kịp chịu tang bà nội bên vợ.

Một số hình ảnh về Trương Duy Nhất:

H1

Những giờ phút tự do đầu tiên của Trương Duy Nhất sau 2 năm ngồi tù. Anh mặc chiếc quần đóng dấu phạm nhân. Nguồn: Nhà văn Phạm Xuân Nguyên

Nguon. https://anhbasam.wordpress.com/2015/05/26/3948-nha-bao-truong-duy-nhat-vua-man-han-tu/#more-147699

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nên hay không nên cho CSVN vào TPP?

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2015

Nên hay không nên cho CSVN vào TPP?

Nguyễn Chính Kết

18-5-2015

 

quytacxuatxutrongtpp

Cách đây 20 năm, khi Hoa Kỳ muốn bình thường hóa quan hệ với CSVN và bãi bỏ lệnh cấm vận, rất nhiều người Việt trong và ngoài nước không đồng ý.

Nhưng thử đặt ngược lại vấn đề: giả sử Hoa Kỳ tiếp tục lệnh cấm vận CSVN đến ngày nay, thì trong 20 năm qua, vấn đề nhân quyền sẽ tệ hơn hay tốt hơn tại Việt Nam?

Và những vận động chính giới tại hải ngoại yêu cầu Hoa Kỳ và các nước dân chủ áp lực CSVN phải tôn trọng nhân quyền có thực hiện được không? và thực hiện thì kết quả được bao nhiêu? Có kết quả bằng hiện nay không?

Làm sao Hoa Kỳ có thể áp lực CSVN khi mà giữa Hoa Kỳ và CSVN không hề có tương quan ngoại giao?

Và khi CSVN không có tương quan ngoại giao và thương mại với thế giới, nhất là với Hoa Kỳ, thì Trung cộng sẽ ảnh hưởng mạnh hơn trên CSVN hay sẽ yếu đi?

Đừng nghĩ rằng CSVN sẽ thay đổi bản chất tàn bạo hay sẽ tôn trọng nhân quyền hơn khi vào được TPP. Đó là một ảo tưởng. Nhưng chắc chắn khi CSVN vào được TPP, thì Hoa Kỳ và thế giới có thể áp lực CSVN nhiều hơn, và CSVN sẽ bớt lệ thuộc vào Trung cộng hơn… Và những nỗ lực vận động chính giới tại hải ngoại mới có hy vọng buộc CSVN phải chùn tay đàn áp? (“Chùn tay đàn áp” chứ không phải “tôn trọng nhân quyền”. CSVN không bao giờ chấp nhận tôn trọng nhân quyền, nhưng có thể buộc phải “chùn tay đàn áp” khi bị áp lực từ dân chúng và từ quốc tế). Điều này thuận lợi cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước hơn.

Theo Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam tại Việt Nam giống như một tảng cao-su, hễ nhấn vào thì nó lõm xuống. Nhưng hễ rút ra thì nó trở lại tình trạng cũ.

Vì thế, đừng bao giờ hy vọng CSVN vào được TPP thì sẽ tôn trọng nhân quyền hơn, mà hãy hy vọng rằng Hoa Kỳ và thế giới có khả năng áp lực CSVN về vấn đề nhân quyền nhiều hơn. Muốn CSVN chùn tay đàn áp nhân quyền, thì phải luôn luôn áp lực CSVN bằng mọi cách, không bao giờ nên ngừng nghỉ. Cho CSVN vào TPP để CSVN giao thương với thế giới thì thế giới có nhiều phương tiện để áp lực CSVN hơn.

Lòng hận thù CSVN là một động lực rất tốt cho cuộc đấu tranh. Nhưng để lòng hận thù lấn át lý trí, và đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn cuộc đấu tranh thì cũng rất bất lợi.

Cần phải thấy được cùng một lúc nhiều hậu quả xấu khi CSVN vào được TPP và không vào được TPP. Chúng ta cần phải so sánh những hậu quả ấy với nhau để biết được hậu quả nào xấu nhất, hậu quả nào xấu hơn, và sự khôn ngoan đòi buộc chúng ta phải chấp nhận hậu quả xấu nhỏ để tránh được hậu quả xấu lớn hơn.

Bị thôi miên bởi một hậu quả xấu khiến ta không thấy được hậu quá xấu lớn hơn, nên cố tránh hậu quả xấu nhỏ để rồi “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa” thì thật là điều chẳng ai trong chúng ta mong muốn!

Chúng ta cần có viễn kiến khi nhìn mọi vấn đề!

Hiện nay, CSVN đang theo chính sách đu giây giữa Trung cộng và Hoa Kỳ. Đó là điều mà chúng ta không muốn, thậm chí không chấp nhận. Chúng ta muốn CSVN “thoát Trung”, bỏ hẳn Trung cộng và nghiêng hẳn về phía Hoa Kỳ. Đó là do chúng ta so sánh hiện trạng còn rất xấu bây giờ với tình trạng mà chúng ta mong muốn.

Nhưng cách đây 20 năm, khi CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung cộng và Liên Xô, thì phải nói rằng việc tạo được tình trạng CSVN đu giây giữa Trung cộng và Hoa Kỳ là một thắng lợi, nghĩa là khiến Trung cộng và Liên Xô không còn “độc quyền” ảnh hưởng trên CSVN nữa.

Chúng ta nên nhìn nhận tình trạng xấu hiện tại để tìm cách cải thiện nó, chứ đừng làm cho nó xấu hơn. Đừng đẩy CSVN trở lại vào thế hoàn toàn lệ thuộc vào Trung cộng, về kinh tế cũng như chính trị. Đừng bít đường cho việc CSVN giao thương với thế giới và Hoa Kỳ, khiến CSVN phải bám chặt vào Trung cộng nhiều hơn để tồn tại.

Houston, ngày 18/5/2015

© Nguyễn Chính Kết

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/95925/nen-hay-khong-nen-cho-csvn-vao-tpp/2015/05

________________

Tại sao tôi “bỏ phiếu” ủng hộ Việt Nam vào TPP?

Luật Sư Nguyễn Văn Đài

10-5-2015

I/ Trước hết cần phải hiểu về bản chất và mục đích của TPP:

Chiến lược xoay trục của Mỹ về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nhằm mục kiềm chế tham vọng bá quyền của Trung Quốc về chính trị, quân sự, kinh tế và lãnh thổ. Bởi vậy Mỹ dựa vào 2 trụ cột chính để thực hiện chính sách xoay trục:
1/ Về quân sự: Mỹ sẽ chuyển dịch 60% lực lượng và thiết bị quân sự về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để bảo vệ an ninh hàng hải và răn đe Trung Quốc.
2/ Về kinh tế: Mỹ và Nhật Bản xây dựng TPP cùng 10 nước thành viên với mục đích từng bước hạn chế sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Thuế xuất khẩu hàng hóa trong các nước TPP chỉ từ 0-5%, bởi vậy hàng hóa xuất khẩu của các nước thành viên vào Mỹ và Nhật sẽ có giá rẻ hơn hàng hóa từ Trung Quốc. Do vậy hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc vào thị trường Mỹ, Nhật Bản và các nước thành viên khác của TPP sẽ giảm dần. Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc cũng vì thế mà sẽ suy yếu.

II/ Việt Nam vào TPP có lợi gì cho việc cải thiện nhân quyền và dân chủ hóa Việt Nam?

1/ Việt Nam không vào TPP miễn phí.

Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra các yêu cầu cụ thể về việc cải thiện nhân quyền, xây dựng pháp luật và nhà nước pháp quyền với phía Việt Nam. Và chỉ khi nào phía Việt Nam đáp ứng các yêu cầu căn bản của Hoa Kỳ thì khi đó việc đàm phán TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mới được kết thúc đàm phán. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ sẽ đạt những thỏa thuận tốt nhất về nhân quyền cho Nhân dân Việt Nam.

2/ Việt Nam vào TPP sẽ giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc.

Hiện tại kinh tế Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào Trung Quốc về cả xuất và nhập khẩu. Nhưng khi Việt Nam vào TPP, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ sẽ tăng nhanh chóng, từ khoảng 20 tỷ USD hiện nay, có thể lên tới 40-70 tỷ USD trong vòng vài năm. Như vậy kinh tế Việt Nam sẽ giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc và phụ thuộc vào Hoa Kỳ.
Lúc đó Hoa Kỳ có nhiều sức mạnh hơn trong việc thúc đầy Việt Nam cải thiện nhân quyền, cũng như cải cách dân chủ.

III/ Không có TPP, Việt Nam sẽ như thế nào?

1/ Chế độ CS sẽ không bao giờ sụp đổ vì không có TPP.

Chúng ta đều biết rằng cộng sản sinh ra từ nghèo đói, lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh. Họ đã từng chiến đấu chống lại các cường quốc trên thế giới. Họ chưa bao giờ bị khuất phục bởi nghèo đói, chiến tranh, bom đạn, áp lực từ bên ngoài.( Ví dụ điển hình là Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975 và giai đoạn bị cấm vận 1975-1995, Bắc Hàn, Cu Ba hiện nay).
Không có TPP, cộng sản VN sẽ càng phụ thuộc vào Trung Quốc, và phụ thuộc một cách toàn diện. Ông Trương Tấn Sang trong một lần tiếp xúc cử chi tại Sài Gòn đã từng nói là Trung Quốc sẵn sàng cho VN vay 20 tỷ USD để cứu nguy kinh tế. Như vậy Trung Quốc sẽ không bao giờ để cộng sản Việt Nam sụp đổ.

2/ Không có TPP, tình trạng nhân quyền còn tồi tệ hơn.

Chắc chắn là như vậy, lúc đó cộng sản VN không có gì để mất, họ sẽ gia tăng đàn áp, thậm chí đàn áp khốc liệt hơn hiện nay. Có thể, họ hoàn toàn làm theo mệnh lệnh từ Bắc Kinh.

IV/ Buổi chiều ngày 6-5-2015, tôi có café với hai vị Dân biểu có quyền lực trong Quốc hội Hoa Kỳ là ông Alan Lowenthal và ông Matt Salmon. Khi họ hỏi tôi về TPP, tôi trao đổi với họ như trên. Họ đã ủng hộ quan điểm của tôi.(trong ảnh chụp tôi và hai vị Dân biểu vào chiều ngày 6-5).

V/ Kết luận:

Tôi “bỏ phiếu” để Việt Nam vào TPP bởi tôi tin tưởng vào Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ sẽ nỗ lực để dành được kết quả tốt nhất trong việc đối thoại nhân quyền với Việt nam.
Tôi “bỏ phiếu” để Việt Nam vào TPP bởi tôi cho rằng chế độ CSVN sẽ không bị sụp đổ vì không có TPP. Nhưng chế độ CSVN được thay đổi khi Việt Nam vào TPP.

Luật Sư Nguyễn Văn Đài's photo.

@ BBC về nạn bạo lực đối với những người hoạt động xã hội.

https://m.youtube.com/watch?feature=youtu.be&v=8u-2v52UB2Q

 _——–

Không tin Mỹ, sao còn đi vận động Mỹ?

Trong bài viết “Tại sao tôi bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam vào TPP” của tôi có đoạn “Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra các yêu cầu cụ thể về việc cải thiện nhân quyền, xây dựng pháp luật và nhà nước pháp quyền với phía Việt Nam. Và chỉ khi nào phía Việt Nam đáp ứng các yêu cầu căn bản của Hoa Kỳ thì khi đó việc đàm phán TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mới được kết thúc đàm phán. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ sẽ đạt những thỏa thuận tốt nhất về nhân quyền cho Nhân dân Việt Nam.”

Rất nhiều người đã phản đối, họ nói không thể tin vào Mỹ. Bởi trong lịch sử Mỹ từng bán đứng VNCH,…
Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền và vận động dân chủ, phong trào dân chủ trong nước còn quá mỏng và yếu. Không gian chính trị tại VN trong những năm qua tạm đủ để cho phong trào dân chủ đứng vững và hoạt động, không bị đàn áp thảm khốc, chính là nhờ sức ép và sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ Hoa Kỳ.

Tôi rất nhiều lần đi vận động nhân quyền với các cơ quan ngoại giao của các nước Châu Âu tại Hà Nội. Các viên chức ngoại giao đó thường nói với tôi rằng: nước chúng tôi nhỏ, có ít quan hệ làm ăn buôn bán với VN, nên sức ép về nhân quyền là không đáng kể. Anh nên vận động Hoa Kỳ, họ có sức mạnh mang tính quyết định.

Khi tôi ở trong tù, những lần cùng anh em Tây Nguyên đấu tranh với trại giam để cải thiện điều kiện sống. Nhiều anh em Tây Nguyên sau đó bị giám thị trại giam gọi lên và đe dọa: Thằng Đài nó có Hoa Kỳ chống lưng thì không bị làm sao. Chứ chúng mày không có ai chống lưng thì liệu hồn.

Cho dù, trong lịch sử, chính quyền Hoa Kỳ trước đây đã làm nhiều điều gây tổn thương và mất lòng tin của cộng đồng người Việt. Nhưng tôi vẫn tin rằng, ngày nay nếu không có hoặc thiếu đi sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ. Phong trào dân chủ ở Việt Nam không thể đứng vững và tồn tại.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Kinh Te, Uncategorized | Leave a Comment »

► Tú Kép: Bài phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng so với thực tế

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2015

Tú Kép: Bài phát biểu của tổng Trọng so với thực tế

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Lễ khánh thành Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Hoàng Triều

Vừa qua, nhân kỷ niệm 125 năm sinh của Hồ Chí Minh (HCM), đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tổ chức một cuộc mít-tin tại Hà Nội. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọngđọc diễn văn trình bày tiểu sử và ca tụng sự nghiệp HCM. Lời phát biểu của viên tổng bí thư thường là tài liệu học tập cho toàn đảng CS và cho thanh niên, sinh viên, học sinh trong nước. Vì vậy, cần phải so sánh lời phát biểu của người đứng đầu đảng CSVN với thực tế đã diễn ra để làm sáng tỏ tiểu sử và sự nghiệp HCM.

Trước hết, Nguyễn Phú Trọng ca tụng HCM “sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước…” Tài liệu cho thấy thân phụ của HCM, ông Nguyễn Sinh Sắc không phải là con của Nguyễn Sinh Nhậm mà là con rơi của Hồ Sĩ Tạo. (Trần Quốc Vượng [sử gia Hà Nội], Trong Cõi, California: Nxb. Trăm Hoa), 1993, tr. 258.) Nguyễn Sinh Sắc sau đổi tên là Nguyễn Sinh Huy thi đỗ phó bảng năm 1901, xin đi làm thừa biện (thư ký) Bộ Lễ ở Huế, và mãi đến 8 năm sau mới được bổ làm tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định) năm 1909. Ông Huy có tật nghiện rượu khi còn ở Huế. Năm 1906, người con gái ông Huy từ Nghệ An vào Huế thăm cha, chịu không nỗi tật nghiện rượu của cha, phải bỏ về Nghệ An năm 1907. Làm tri huyện Bình Khê chưa đưọc một năm, vào đầu 1910, trong cơn say rượu, ông Huy sai người đánh roi làm chết một tù phạm. Gia đình người nầy kiện lên triều đình. Triều đình Huế ra sấc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh ông Huy 100 trượng (roi lớn), được chuyển đổi qua hạ bốn cấp và sa thải. (Daniel Hémery, De l’Indochine au Vietnam, Paris: Gallimard, 1990, tr, 133.) Vậy là tổng Trọng viết thiếu, mà phải viết đầy đủ là HCM sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho “yêu nước cay cay” mới đúng.

Trong bài phát biểu, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp rằng HCM “ra đi tìm đường cứu nước khi 21 tuổi, với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân cho nước…” Thật ra, HCM đâu ra đi tìm đường cứu nước mà chỉ ra đi tìm đường cứu nhà, vì nhà ông ta lâm vào cảnh quá khó khăn. Cha thất nghiệp, lang thang kiếm sống ở trong Nam rất cực khổ.

Rời Sài Gòn ngày 5-6-1911, HCM đến hải cảng Marseille (Pháp) ngày 6-7-1911. Hai tháng sau, tại Marseille, ngày 15-09-1911, HCM viết thư xin tổng thống và bộ trưỏng bộ Thuộc địa Pháp đặc cách cho HCM vào học Trường Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp. Vì HCM học chưa hết lớp nhất niên (tương đương với lớp 6 ngày nay) trường Quốc Học Huế, HCM không đủ tiêu chuẩn về trình độ học vấn để vào Trường Thuộc Địa Paris, nên đơn của HCM bị người Pháp bác bỏ. Nếu các quan chức Pháp không từ chối đơn của HCM, thì đâu có chuyện ra đi tìm đường cứu nước. Việc ra đi tìm đường cứu nhà là việc tốt của mọi người, tại sao không nói cứu nhà cho đúng sự thật, mà tổng Trọng lại nói tìm đường cứu nước làm chi cho lòi ra nói láo. Giấy tờ với bút tự của HCM còn sờ sờ ra đó mà sao tổng bí thư nói láo tỉnh rụi như thiệt vậy.

“Với sự ra đời của đảng Cộng sản Đông Dương do Người sáng lập vào năm 1930…” Thực sự, HCM không sáng lập đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) mà HCM vâng lệnh và dùng tiền của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) để lập đảng CSĐD. Trong cuộc họp ngày 18-10-1929 tại Moscow, Ban bí thư bộ Phương Đông ĐTQTCS đưa ra khuyến cáo: “…lập tức bắt tay vào việc tổ chức đảng Cộng sản thống nhứt của Đông Dưong…” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đảng toàn tập, tập 1, tr. 609.) Đồng thời Ban bí thư bộ Phương Đông giao cho HCM, lúc đó là điệp viên CSQT chịu trách nhiệm thi hành quyết định nầy. (http://w.w.w.cpv.org.vn, Tư liệu về đảng, lịch sử đảng,)

Đảng CS được thành lập tại Hương Cảng ngày 6-1-1930, và lấy tên là đảng Cộng Sản Việt Nam. Tuy nhiên ĐTQTCS bác tên nầy và buộc phải đổi thành đảng Cộng Sản Đông Dương và cũng đổi luôn ngày thành lập là 3-2-1930. Như thế đảng CSĐD hoàn toàn là công cụ của Liên Xô, gọi dạ bảo vâng đến nỗi danh xưng và ngày tháng thành lập cũng phải tuân theo lệnh của Liên Xô. Lúc đó HCM chỉ là đảng viên CS Pháp làm việc cho ĐTQT, được gởi qua Á Châu làm nhiệm vụ gián điệp, cho đến khi về Pắc Bó, rồi cướp chính quyền năm 1945, chứ HCM chưa phải là đảng viên đảng CSĐD hay CSVN. Cho đến khi chết, HCM cũng chưa tuyên thệ vào đảng CSVN. Nhờ tổng Trọng xem lại việc nầy có đúng không?

“Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu… Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.” (Trích bài phát biểu.)

Muốn hiểu dưới sự lãnh đạo của HCM, đảng CSVN đã vượt qua muôn ngàn khó khăn như thế nào thì phải trở lại lịch sử của đảng CSVN. Từ khi chiến tranh bùng nổ ngày 19-12-1946, CSVN thua chạy dài trên rừng núi cho đến năm 1949. Vào năm nầy, Trung Cộng thành công và thành lập Cộng Hòa Nhân Nhân Trung Hoa (CHNDTH) ngày 1-10-1949. Hồ Chí Minh qua Trung Cộng rồi qua Liên Xô cầu viện.

Tại Moscow, Stalin giao cho Trung Cộng phụ trách giúp đỡ cho CSVN. Trung Cộng gởi qua cho CSVN chẳng những quân viện mà cả các tướng lãnh và cố vấn chính trị. Do sự chỉ huy của Trần Canh, một viên tướng thân cận của Mao Trạch Đông, CSVN dùng biển người đánh thắng trận Đông Khê tháng 9-1950. Từ đó, tất cả những trận đánh của CSVN đều do quân uỷ Trung Cộng ở Bắc Kinh chỉ huy và cuối cùng trận Điện Biên Phủ cũng do Trung Cộng quyết định. (Mời đọc Qiang Zhai, China and Viet Nam Wars, The University of North Carolina Press, 2000.) Võ Nguyên Giáp chỉ là viên thư ký của quân uỷ Bắc Kinh. (Mời đọc thêm Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy dịch.) Lê Duẫn biết rõ việc nầy nên rất xem thưòng Võ Nguyên Giáp.

Trong cuộc chiến 1960-1975, CSVN chưa thắng một trận lớn nào, kể cả trận Mậu Thân năm 1968 và trận Mùa hè đỏ lửa năm 1972. Việc CSVN thắng lợi năm 1975 chẳng qua do hoàn cảnh quốc tế, những trao đổi giữa các cường quốc trong chiến tranh lạnh toàn cầu. Ngày nay, mỉa mai là CSVN lại trải thảm đỏ, rước Mỹ vào giúp phục hưng kinh tế và làm thế đối trọng với Trung Cộng.

Ngoài ra, kết quả thắng lợi của CSVN đưa đến việc Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và sau đó dần dần chiếm thêm Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Trường Sa…Ngày nay, Trung Cộng là mối hiểm họa thường trực, đang đe dọa Việt Nam về tất cả các mặt. Trong mấy ngày gần đây, Trung Cộng đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá trong vịnh Bắc Việt khiến ngư dân Việt Nam hết sức lo ngại. Như thế CSVN thắng lợi năm 1975 có ích gì không ông tổng Trọng? Dùng xương máu của dân tộc Việt Nam để phục vụ Trung Cộng chỉ có HCM và đảng CSVN phản quốc mới làm, chứ chẳng ai thèm làm.

Khoe khoang thành tích HCM chưa đủ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn thêm: “Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một gia tài đồ sộ, một di sản hết sức quý báu, gồm ba bộ phận. Đó là : Tư tưởng Hồ Chí Minh; Thời đại Hồ Chí Minh; và Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh… Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng, kết tinh của tinh hoa văn hoá Việt Nam…Chính vì vậy mà không chỉ nhân dân Việt Nam kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhân dân thế giới cũng rất yêu quý Người, dành cho Người những tình cảm trân trọng và những lời nói tốt đẹp nhất.”

Tổng Trọng có biệt danh là Trọng Lú. Có lẽ vì quá lú lẫn, tổng Trọng quên chuyện xưa, nhất là chuyện Đại hội 2 của đảng CS vào tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang để đưa đảng CS ra hoạt động công khai trở lại với danh xưng mới là đảng Lao Động theo lệnh của Stalin . Trong Đại hội nầy, HCM phát biểu: “Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin…lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.” Khi đó, đại biểu miền Nam là Nguyễn Văn Trấn đã trình bày với HCM rằng: ” Có đồng chí còn nói: hay là ta viết “tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Hồ Chí Minh trả lời: “Không, tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác- Lê nin.” (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc hội, California: Nxb Văn Nghệ tái bản, tt. 150-152.)

Nguyễn Văn Trấn lúc đó vốn là một đảng viên cao cấp, từng nổi tiếng là hung thần CS miền Nam. Chắc chắn ông Trấn viết không sai, vì còn có một đảng viên CS khác đã từng là chức sắc Hà Nội, thêm rằng cũng trong Đại hội nầy, HCM nhiều lần tuyên bố: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được.” (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, California: Nxb. Tuổi Xanh, 2001, tr. 63.) Một lần khác, có người hỏi HCM vì sao ông không viết sách về lý thuyết cộng sản, thì ông trả lời ông không cần viết, vì đã có Mao Trạch Đông viết rồi. (Oliver Todd, “Huyền thoại Hồ Chí Minh”, dịch đăng trong sách Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Paris: Nxb. Nam Á, tr. 277.)

Để thật cụ thể hơn, nhất là để những đảng viên trung kiên như tổng Trọng yên tâm, có lẽ xin mời mọi người đọc lại bài báo nhan đề là “Lời Hồ Chủ tịch trong Đại hội toàn Đảng”, trên nội san Học Tập của đảng bộ CS Liên khu Bốn, số 35, tháng 4-1951, nguyên văn như sau:

Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).

Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa: (Hồ Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine) (Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tư lệnh là ông kia kìa. (Hồ Chủ tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: Staline) (Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn) (Đồng chí Staline muôn năm!)

Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều Tiên, của Mã Lai và cuộc đấu tranh của các nước Động nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay)

Chúng ta nhờ có ông này: (Hồ Chủ tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: Mao Trạch Đông) – (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao Trạch Đông muôn năm!)

Ông Mao cách đây mấy nghìm dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung du, có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức… (Đại hội có tiến tấm tắc)

… Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Miên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn…”

Nowy obraz

Ghê gớm quá, ba ông kia kìa. Tư tưởng HCM là như thế đấy. Ba ông kẹ kia kìa. Đáng sợ không? Báo của đảng bộ cộng sản Liên khu 4 viết rõ như thế, không đùa đâu nhá, cũng không phải báo của tụi phản động viết đâu nhá.

Còn “tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” thì thật là không ai bằng vì một người đạo đức có ai mà chà đạp tình người, giết vợ đợ con như HCM của tổng Trọng đâu? Chứng cớ của hành động dã man nầy quá rõ ràng, sách báo còn sờ sờ ra đó, nhắc lại làm gì thêm đau khổ cho người còn sống hiện đang ở Hà Nội. Tổng Trọng hãy thử hỏi có đảng viên CSVN nào dám học tập đạo đức HCM, giết vợ đợ con như HCM không, chứ đừng nói đến bàn dân thiên hạ. Nếu tổng Trọng mà khuyến khích đảng viên học tập HCM giết vợ đợ con, thìchắc chắn đảng viên của tổng Trọng sẽ ế vợ hết vì chẳng phụ nữ nào dám lấy đảng viên CSVN để bị đập chết rồi quăng xác ra đường cho xe cán thêm lần nữa.

Chuyện phong cách HCM lại càng thú vị. Xin hãy theo dõi phong cách của HCM do chính HCM kể: “Một người như Hồ chủ tịch của chúng ta với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộ bao nhiêu công việc làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của người được?” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 9.) Như thế phong cách HCM là phong cách tự sướng một cách sống sượng của một kẻ dùng cái tên khác để tự đề cao mình là “khiêm nhường”? HCM là người “khiêm nhường” đến nỗi cả gan dám so sánh mình với Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vị đại anh hùng vào thế kỷ 13 mà dân tộc Việt Nam tôn thờ là Đức Thánh Trần. Bài thơ hợm hĩnh của HCM ai cũng biết trừ tổng Trọng. Thật là lú hết biết!

Nói đến cái tên khác, Hồ Chí Minh chẳng những có một tên khác mà có tới trên 170 tên khác. Điều nầy sách trong nước đã viết rồi, không cần chứng minh. Dùng nhiều tên cũng là phong cách HCM mà một tác giả trong nước đã khen là “một diễn viên kỳ tài”. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, California: Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 459.) Nhận xét của Vũ Thư Hiên cũng giống như một người ngoại quốc là tác giả Bernard Fall. Ông nầy viết rằng HCM có phong cách của “một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại”. (Bernard Fall, Les deux Viet-Nam, Paris: Payot, 1967, tr. 102,)

Mấy ông nhà văn nhà báo ưa viết lách ngoại giao văn hoa bay bướm, gọi HCM là một diễn viên hay kịch sĩ là mỉa mai cho vui tai, tránh nói trắng ra là HCM là một tên đại bịp trong lịch sử. Hèn gì học HCM mà tổng Trọng và đám đảng viên CS toàn là một lũ bịp bợm từ trên xuống dưới, mới một chút xíu mà đã bịp là HCM ra đi tìm đường cứu nước.

Còn nhiều phong cách của HCM đáng nói lắm, ví dụ mới khoảng 50 tuổi mà HCM tự xưng là cha già dân tộc. Trong sách của mình, Trần Dân Tiên hay HCM viết: “Nhân dân gọi chủ tịch là cha già của dân tộc vì Hồ chủ tịch là người con trung thành nhất của tổ quốc Việt Nam.” (Trần Dân Tiên, sđd. tr. 149. )

Thật là lạ, tại sao HCM tự xưng trung thành với tổ quốc thì được gọi là cha già dân tộc? Biết bao nhiêu người trung thành với tổ quốc sao không gọi họ là cha già dân tộc?

Hồ Chí Minh tự xưng là người con trung thành với tổ quốc, sao HCM chẳng trung thành tý nào cả. Gia nhập đảng CS Pháp, làm việc cho ĐTQTCS, HCM làm tay sai cho Liên Xô, cho Trung Cộng và bán nước cho Mao Trạch Đông. Vì những cam kết của HCM với Mao Trạch Đông khi cầu viện năm 1950, nên Phạm Văn Đồng phải ký công hàm bán nước năm 1958. Cái công hàm đó di hại mãi cho đến ngày nay.

Nowy obraz (1)

Khi đi ra nước ngoài, phong cách của HCM nổi bậc đến nỗi báo chí người ta nhắc nhở đích danh HCM. Thật là nhục nhã, mất quốc thể. Đây là báo Indonesia ngày Thứ Bảy, 8-3-1959 về phong cách ngoại giao của HCM:

Sẽ rất là thiếu sót về phong cách HCM nếu không kể thêm chuyện báo Polska Times (Thời Báo Ba Lan) ngày 5-3-2013 đã dành cho HCM những nhận xét trân trọng và những lời nói tốt đẹp nhất khi sắp hạng HCM là tên đồ tể thứ 11 trong 13 tên đồ tể khát máu nhất trên thế giới trong thế kỷ 20. (Đàn Chim Việt 20-3-2013.)

Hết lời ca tụng HCM, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn mượn lời HCM tung hê chủ nghĩa CS: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”; chủ nghĩa Mác – Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”, là “cái cẩm nang thần kỳ”, là “cái la bàn”, là “trí khôn” của Đảng ta; nó là “vũ khí tinh thần” của giai cấp công nhân, là kim chỉ nam cho hành động cách mạng.”

Ai cũng biết chủ nghĩa CS với cái cẩm nang thần kỳ, cái la bàn, cái trí khôn, vũ khí tinh thần, kim chỉ nam cho đảng CSVN, là thứ chủ nghĩa đã bị quăng vào sọt rác từ lâu rồi. Ngày 25-1-2006, tại Strasbourg, một thành phố miền đông bắc nước Pháp, Quốc hội Âu Châu, với đa số áp đảo, đã đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại được dịch như sau: “Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể. Những vi phạm nầy khác nhau tùy theo nền văn hóa, quốc gia và giai đoạn lịch sử, bao gồm cả những cuộc ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, gây chết chóc trong các trại tập trung, cho chết đói, đày ải, tra tấn, nô lệ lao động, và những hình thức khác về khủng bố thể xác tập thể, ngược đãi vì chủng tộc hay tôn giáo, vi phạm các quyền tự do lương tâm, tư tưởng và phát biểu, tự do báo chí và cả không đa nguyên chính trị.” (Điều 2 của nghị quyết 1481.)

Sang thế kỷ 21 mà còn nghe những lời lẽ trên đây của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người ta có cảm tưởng dường như tổng Trọng là một kẻ mộng du từ thế kỷ 18 còn vất vưởng đâu đây, nói lảm nhảm về chủ nghĩa CS như một bệnh nhân tâm thần hạng nặng. Hèn chi tổng Trọng có biệt danh là Trọng Lú, quả danh bất hư truyền, chính hiệu con nai vàng, chẳng sai tý nào.

Để kết luận bài phát biểu, tổng bí thư Trọng Lú nhắc nhở đảng viên CSVN: “Mỗi cấp uỷ, mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần và quán triệt sâu sắc những tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh, thật sự tự giác rèn luyện, tu dưỡng theo những lời dạy của Người, thì nhất định Đảng ta sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, khắc phục được những nguy cơ của một Đảng cầm quyền, giữ gìn được bản chất và truyền thống tốt đẹp của Đảng, tiếp tục được nhân dân tin yêu, ủng hộ.”

Đúng là đảng viên của tổng Trọng đã thực hiện theo gương HCM nên cán bộ đảng viên của CSVN tham nhũng hơn bao giờ cả. Tham nhũng tràn lan từ trên xuống dưới. Chuyện tham nhũng ở Việt Nam là chuyện mãn tính, tự nhiên. Không biết tham nhũng, không biết đút lót, không biết bôi trơn thì không sống được ở Việt Nam. Tham nhũng cùng khắp. Ngày nào cũng có dân oan khiếu nại kiện tụng. Ngày nào cũng có dân oan chửi rủa. Theo bản tin tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Tran International, viết tắt TI ) ngày 3-12-2014 thì Việt Nam cộng sản thuộc hàng “top ten”, mười nước tham nhũng nhất thế giới trong số 197 nước mà TI đã khảo sát. Chính tổng Trọng cũng đã phải xác nhận: “Hiện tượng hư hỏng tham nhũng, tiêu cực đúng là lắm lúc nghĩ hết sức sốt ruột, nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có…” (Trích Vn Economy, báo điện tử thuộc Thời Báo Kinh Tế, ngày 13-2-2015.)

Nhìn vào đâu cũng thấy tham nhũng, sờ vào đâu cũng có tham nhũng là nhờ học tập theo gương đạo đức HCM, cho nên toàn đảng CSVN tham nhũng trắng trợn, tham nhũng tinh vi, đến nỗi về hưu rồi người dân mới biết tham nhũng, như những biệt thự xa hoa, lộng lẫy của tổng bí thư Lê Khả Phiêu, tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Biết đâu, rồi đây dân chúng sẽ được chiêm ngưỡng biệt thự của tổng Trọng? Lương của tổng bí thư bao nhiêu mà nhà cửa hoành tráng bảnh quá vậy các ông tổng?

Nhờ học tập HCM, đảng CSVN tham nhũng, giàu có, nên ngược lại làm cho nước Việt Nam tụt hậu một cách thê thảm, còn sau cả Lào và Cambodia mới thật là đau điếng chứ. Trước đây, khi nào Lào và Cambodia cũng đều sắp hạng sau lưng Việt Nam khá xa. Dưới thời quân chủ, Lào và Cambodia có lúc còn phải qua triều cống Việt Nam.

Bài phát biểu của tổng Trọng còn nhiều điều bàn tiếp, nhưng bài viết đã dài rồi, xin tạm dừng ở đây. Chỉ một kết luận thật đơn giản là ngày nay công nghệ truyền thông tiến bộ, dân chúng biết quá nhiều về HCM, về chủ nghĩa CS, về đảng CSVN, nên tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu ba hoa chích chòe cho lắm cũng không bịp được dân chúng, mà chỉ làm cho dân chúng thêm chán ghét và muốn giải thể chế độ CS càng sớm càng tốt mà thôi.

(Toronto, 19-5-2015)

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/95947/tu-kep-bai-phat-bieu-cua-tong-trong-so-voi-thuc-te/2015/05

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► Khi một lũ vừa ngu vừa tham làm quy hoạch

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2015

Lương Kháu Lão

20-05-2015

H1

Hà nội sáp nhập với Hà Tây, thủ đô mở rộng về phía Tây, đáng lẽ đó là cơ hội vàng cho các nhà kiến trúc quy hoạch đô thị , nhưng hỡi ôi, họ đã phá vỡ tan tành cảnh quan Hà Nội chỉ bởi hai chữ ngu và tham.

Nói về quy hoạch Hà Nội, tôi đã viết rất nhiều bài . Có nhiều bài được các trang báo chính thống đăng tải, có nhiều bài các báo không dám đăng đành đưa lên blog cá nhân hoặc Facebook như : Kiến trúc sư trưởng. ông là ai ? Quy hoạch Hà Nội đã hết thuốc chữa, Thư ngỏ gửi KTS Nguyễn Thế Thảo …

Họ, những nhà quản lý, những nhà kĩ trị , họ biết cả đấy nhưng một là họ làm ngơ để “ngậm miệng ăn tiền” hai là họ chả có quyền hành gì cả. Kiến trúc sư trưởng Hà Nội là tập thể vô hình mà lại hữu hình . Tập thể Thường vụ Thành ủy, Thường trực Ủy ban- những người cùng hội cùng thuyền chả biết mẹ gì về quy hoạch cả dù đi tham quan ( thực chất là đi chơi) rất nhiều nước – mới là kiến trúc sư trưởng có thực quyền . Họ lại được các cấp trên có thẩm quyền ủng hộ, phê duyệt vì đều nằm trong thành phần của “Nhóm lợi ích”. Vì thế Hà Nội càng mở rộng , càng xây nhiều càng lanh tanh bành . Còn thua xa những gì người Pháp làm cho Hà Nội từ đầu thế kỉ thứ 19

Đã định thôi không thèm nói nữa với một ê kíp lãnh đạo vô cảm , vô cảm đến mức dám chặt cả một hàng cây 100 tuổi là lá phổi sống của Hà Nội nhưng rồi càng đi, càng ngứa mắt và ngứa tay luôn nên lại phải viết

Muốn giải quyết vấn nạn ách tắc giao thông phải thực hiện vận tải công cộng . Vận tại hành khách công cộng phải đi trước một bước, đi song song với mở rộng mạng lưới cơ sở hạ tầng cầu cống đường xá , đi trước cả việc xây dựng nhà cửa

Nhưng đã có ai nghĩ đến chuyện đó khi chỉ nhăm nhăm quy hoạch xây các khu đô thị để đưa người của mình vào làm chủ đầu tư để kiếm lời một cách nhanh nhất trong nhiệm kì công tác ngắn ngủi của mình

Vậy nên mới có hình ảnh ngã tư Thanh Xuân- Khuất Duy Tiến hiện đang chồng lên 4 làn đường vuông góc. Bạn đã đi các nước, những nút giao cắt lập thể như thế này là điểm nhấn kiến trúc hiện đại với nhiều vòng xoáy uốn lượn tô điểm cho những ngôi nhà chọc trời . Bạn hãy quay trở lại với nút giao kể trên thấy nó vô lối bức bối con mắt biết chừng nào. Đến khi làm xong đường sắt trên cao- Dự là không phải cuối năm 2016 mà theo tôi cứ cho chắc phải là 2020 với số vốn đội lên 1 tỉ đô la chứ không phải vài trăm triệu như bây giờ-, bạn sẽ được ngồi ở độ cao tương đương một tòa nhà 5 tầng khi đi qua nút giao này và thầm mong nó không xảy ra sự cố bỗng dưng một ngày “ đẹp trời” tàu bánh sắt trượt khỏi đường ray và … rơi xuống đất như đã từng rơi các phụ kiện khi đang xây dựng

Chưa nói về cảnh quan, về mỹ quan , chỉ nói khâu an toàn đã thấy cả một vấn đề cần quan tâm rồi. Người ta có thể lập luận nếu làm các vòng xuyến lập thể sẽ mất rất nhiều đất sẽ mất rất nhiều tiền để giải phóng mặt bằng. Xin thưa chỉ với số vốn đội lên khi làm đường sắt trên cao, số tiền vô hình mất đi do ách tắc giao thông kéo dài cả chục năm nay thì đã thừa tiền giải phóng mặt bằng . Chưa kể nếu các bên A-B bớt đi số tiền bỏ túi từ 40-50 %xuống còn 10 %thì đã đủ tiền làm metro từ lâu rồi

Đi theo chủ trương “chiến lược” phát triển vận tải hành khách công cộng, mấy năm nay Hà Nội cho triển khai tuyến xe buýt hiện đại nhất hành tinh trên tuyến đường Lê Văn Lương- Tố Hữu- Lê Trọng Tấn

Đường Lê Văn Lương vừa làm xong bỗng dưng được bóc lên, đường nhựa bị đào bới  để xây dựng đường bê tông riêng cho xe buýt. Ý nói xe buýt to lắm.nặng lắm phải làm đường riêng, kiên cố thì mới chịu được. Nhưng đường nhựa vừa làm xong thừa sức chịu được trọng tải của xe buýt . Vấn đề là hai anh chủ đầu tư thuộc hai ông chủ khác nhau , anh này chỉ biết việc của mình được giao đếch thèm biết công trình của anh kia,  gây nên sự lãng phí xã hội ghê gớm. Đã có những phản ứng và công trình phải tạm dừng lại để nghe ngóng dư luận. Đến khi thấy êm êm thì ta lại xây tiếp. Và bây giờ đến giai đoạn xây lắp các Trạm dừng xe ở giải phân cách giữa đường . Riêng giải phân cách để rộng ba bốn mét chiếm hết chiều rộng của hai chiều đường hai bên đã là một sự vô lý . Nếu giải phân cách chỉ là một gờ tường con trạch thì mỗi chiều đường có thể có tới ba làn xe cơ giới, một làn cho xe máy thì nạn ách tắc trên đường Lê Văn Lương kéo dài đã không diễn ra hàng ngày như hôm nay

Mỗi lần đi trên con đường này, nhìn thấy các Trạm dừng xe buýt mọc lên mỗi ngày tôi cứ tự hỏi mình : Không biết nếu đỗ xe buýt sát vào Trạm dừng cho hành khách lên xuống thì cửa xe buýt phải đổi từ bên phải của xe như hiện nay sang phía bên trái , cùng chiều với cửa lên xuống của lái xe . Vậy hàng loạt xe buýt mới sẽ được đóng theo kiểu không giống ai trên thế giới và sáng kiến này có thể đăng kí dự giải Nobel !

H1

Rồi hành khách từ bên phải đường phải ngó trước ngó sau để băng qua đường vào Trạm dừng chờ. Không cẩn thận sẽ gãy giò hoặc tử thương vì tai nạn giao thông? Lúc đó tác giả của Trạm xe buýt kiểu này sẽ trốn biệt nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự . Rồi trong Trạm dừng chờ có máy lạnh không nhất là mùa nóng bức như thế này. Nếu có thì giá thành xe buýt phải cộng thêm giá điện năng …

Ôi ! Nghĩ mà điên hết cả đầu. Ai biết giải đáp giùm tôi những thắc mắc kể trên với . Nhưng nghĩ cho cùng, khi quy hoạch thành phố được giao vào tay những con người vừa ngu, vừa tham, vừa vô trách nhiệm thì những chuyện như chặt hạ tàn sát cây xanh hay Trạm dừng xe giữa đường, xây đường chồng lên đường , vừa xây xong đã phá… còn xảy ra dài dài.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Chuyện Ba Sàm và Bản Cáo Trạng Của V.K.S.N.D

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2015

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

20-5-2015

Theo Blog RFA

Tôi thấy chính sách thông tin như hiện nay, ta chỉ từ thua đến thua.

Nguyễn Công Khế

Cái gì chớ sách sử là tui né, và né tới cùng. Đọc chán thấy mẹ!

Né của nào, Trời trao của đó. Khi khổng khi không (cái) chị Trương Anh Thụy, người phụ trách nhà xuất bản Cành Nam, gửi cho một thùng sách to đùng. Nó nặng đến độ mà con mẹ đưa thư phải ôm bằng cả hai tay, chân đá cửa rầm rầm, vừa đá vừa lầu bầu văng tục chửi thề tá lả.

Tôi thì hớn hở tưởng rằng (dám) có người gửi cho thùng rượu. Thiệt là tưởng bở, và tưởng năng thối!

Mở ra (ôi thôi) ngoài mấy cuốn Những Lời Trăng Trối, vừa tái bản, của Trần Đức Thảo là “nguyên” một bộ sách (Nhìn Lại Sử Việt) của Lê Mạnh Hùng. Cả bộ dám gần chục cuốn, cuốn nào cũng khoảng 500 – 300 trăm trang. Ngó mà thiếu điều muốn …  xỉu!

Và hình như tôi cũng đã ngất đi một lúc khá lâu vì đang bị cúm nên hơi mệt. Mở mắt ra, người ngợm rã rời, chả thiết bò dậy nữa. Tôi bật TV nằm xem cho đến khi chán rồi vớ đại một cuốn đọc chơi, và tin chắc rằng – chỉ vài phút thôi – là mình sẽ tiếp tục ngủ luôn cho tới mốt.

Vậy mà tôi đọc một mạch gần hết tập IV, tập viết về “Nhà Nguyễn Gia Miêu: Từ Gia Long Đến Cách Mạng 19/8.” Theo lời giới thiệu của NXB thì bộ thông sử Việt Nam của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng “vừa cập nhật vừa đạt những tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại.”

Bà nội mẹ tui cũng không biết “tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại” nó “gắt gao” ra sao (và “gắt” tới cỡ nào lận) nhưng viết sử mà thứ thường dân vớ vẩn như tui đọc cũng thấy hấp dẫn là “hay” quá xá rồi.

Ông Lê Mạnh Hùng không cường điệu, không khoe khoang kiến thức, rất ít tư kiến, và hoàn toàn không có cái vụ … bình lọan hay bình sảng! Lâu lâu, ổng mới bình thản “chêm” thêm một câu ngăn ngắn rất thâm trầm và rất đáng đồng tiền bát gạo.

Riêng ở chương 17, tiểu mục 17.2 – viết về “Các đảng phái chính trị tiền phong của giai đoạn mới (1923-1927) – Lê Mạnh Hùng ghi nhận một số những sự kiện rất thú vị, xin được tóm lược:

“Trong lúc những người lưu vong bên ngoài tìm một con đường mới cho cách mạng Việt Nam qua Tâm Tâm Xã thì bên trong nước cũng xuất hiện một số đảng phái chính trị xã hội trong nước.

Đảng chính trị đầu tiên là Đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu. Đảng này có thể được coi như là đại biểu của tầng lớp đại địa chủ Pháp hóa tại miền Nam. Mục tiêu chính của Đảng này không phải là giành độc lập cho Việt Nam mà có tính cách khiêm tốn hơn: đó là đấu tranh để chính quyền Pháp phải cải cách đường lối cai trị, ban hành một số quyền tự do dân chủ và đôi xử với người Việt ngang hàng như đối với người Pháp…

Sau Đảng Lập Hiến, một số đảng khác cũng xuất hiện. Khác với Đảng Lập Hiến, các đảng sau này phần lớn có mục tiêu đấu tranh giành độc lập cho đất nước chứ không phải chỉ đòi thêm quyền lợi cho người Việt…

Đảng đầu tiên thành lập có tính cách chính trị là Việt Nam Nghĩa Đoàn mà sáng lập viên bao gồm một số những người hoạt động tích cực lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Phùng, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thái Mai, Phạm Thiều, Nguyễn Quốc Túy, Trần Thiệu Ngũ, Nguyễn Văn Ngọc v.v…

Sau Việt Nam Nghĩa Đoàn là Hội Phục Việt được thành lập từ những người hoạt động cũ trong phong trào Duy Tân bị bắt và nhốt chung với nhau trong nhà tù Côn Đảo…

Cũng trong giai đoạn này tại Hà Nội, Nam Đồng Thư Xã xuất hiện. Được thành lập cuối năm 1925 bởi một nhóm giáo viên và tiểu thương trong đó quan trọng nhất là Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm em của ông Phạm Hoàng Trân (tức Nhượng Tống), Nam Đồng Thư Xã có mục tiêu vừa thương mãi vừa chính trị…

Trong lúc Hội Phục Việt và Nam Đồng Thư Xã hoạt động ở Bắc và Trung Kỳ thì ở Nam Kỳ nhóm Jeune Annam hay đảng Thanh Niên được thành lập vào năm 1926. Khác với tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ nơi mà sự đàn áp của Pháp và Nam Triều gay gắt hơn, tại Nam Kỳ vì là một thuộc địa các quyền tự do có được bảo đảm hơn thành ra đảng thanh niên này có thể hoạt động một cách công khai mặc dầu không được chính quyền công nhận… (Lê Mạnh Hùng. Nhìn Lại Sử Việt. Vol. 4. Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2013. 5 vols.).

Chèng ơi! Sao đất nước còn bị đô hộ mà hội đoàn, đảng phái xuất hiện công khai, và tùm lum (khắp nơi) vậy cà?  Thảo nào mà ông Nguyễn Chí Thiện, đã có lúc, phải la làng:

Ôi, thằng Tây mà trước kia người dân không tiếc máu xương đánh đuổi
Nay họ xót xa luyến tiếc vô chừng
Nhờ vuốt nanh của lũ thú rừng
Mà bàn tay tên cai trị thực dân hóa ra êm ả!

Sống với “lũ thú rừng” thì miễn có vụ hội đoàn và đảng phái, đã đành, chỉ lập vài trang mạng thôi mà cũng đã phải đi tù cả nút. Ngày 6 tháng 2 năm 2015, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao cho phổ biến bản Cáo Trạng quyết định truy tố ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy ra trước Tòa án NDTP Hà Nội theo khoản 2, Điều 258.

Bản cáo trạng này gồm 8 trang, với rất nhiều chi tiết thừa thãi nên đã được bloggerNgười Buôn Gió “cô đọng” như sau:

– 3 trang đầu miêu tả việc các đối tượng lập blog, lập trang mạng, đây là việc quá bình thường trong một đất nước đang có hàng chục triệu ngươi sử dụng mạng internet. Việc liệt kê quá trình lập blog, bảo mật, đăng ký sử dụng mạng, lập thư điện tử….bất kỳ ai lên mạng đều làm như vậy. Có gì mà phải vẽ ra đến 3 trang như ly kỳ, âm mưu toan tính, hiểm hóc ?

– 2 trang chỉ liệt kê tên của các bài viết, chỉ liệt kê đúng cái tiêu đề.

– 2 trang nêu lý lịch bị cáo.

– 1/2 trang kết luận.

– 1/ 4 trang của bản cáo trạng liệt kê lượng người đọc, còm men.

– Chỉ có 1/4 trang trong 8 trang cáo trạng có vẻ đúng nghĩa bản cáo trạng, nhưng đó là kết luận giám định của bộ thông tin và truyền thông khẳng định các bài viết mà hai bị cáo đưa lên là xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân, xâm phạm lợi ích cá nhân tổ chức… còn xâm phạm thế nào, thiệt hại ra sao, cá nhân nào bị thiệt hại… không thấy nói đến.

Cả cái bản cáo trạng lẫn kết luận hồ sơ của Bộ Công An, Viện Kiểm Sát tối cao mà chỉ kể lể dài dòng chuyện lý lịch, việc đăng ký sử dụng mạng, lập hòm thư rồi nêu tên các bài viết. Sau đó ngắn gọn nói rằng giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông nói là có tội, thế là thành có tội mang ra xử. Không thấy phân tích chứng cứ, lập luận khoa học kết tội. Rặt áp đặt chủ quan, cảm tính. Một bản cáo trạng và kết luận hồ sơ như vậy thì cần gì hai cơ quan tố tụng lớn nhất đất nước phải dùng sạch bách thậm chí quá hạn điều tra mới viết ra được.

Và tại sao Bộ Công An có cơ quan an ninh văn hoá không giám định các bài viết mà để cho một cơ quan dân sự, không liên quan gì đến việc tố tụng đứng ra giám định và kết luận việc có tội hay không có tội.

Xét về mạnh cạnh tranh độc giả, thì chính các bị cáo là đối thủ cạnh tranh với bộ Thông Tin Truyền Thông trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin.

Vậy vụ án này thật khôi hài và bỉ ổi. Kẻ được nêu tên là bị hại thì chính là kẻ khởi tố, điều tra vụ án. Đối thủ cạnh tranh thị trường lại được mời làm giám định thiệt hại, kết luận có tội. Một vụ án được những kẻ tham gia tố tụng như vậy trông mong gì minh bạch.

Cá nhân tôi không mong gì chuyện “minh bạch” trong vụ án này, hoặc bất cứ một vụ án nào, ở nước C.H.X.H.C.N Việt Nam. Tôi cũng không có máu “khôi hài” nên không nhìn ra những khía cạnh “riễu cợt” trong bản cáo trạng thượng dẫn.

Tôi chỉ thấy cách luận tội của V.K.S.N.D (“xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân…làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”) sao “cù nhầy” và “buồi dái”quá thôi. Coi: cả “tập đoàn lãnh đạo” hiện nay đều lấm lem bê bết từ đầu đến chân, có sót chỗ nào để mà “bôi nhọ” được nữa – mấy cha? Tương tự, còn có ai tin tưởng gì vào “Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước…” đâu mà kết án con người ta “làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng” – hả Trời?

Vài tháng trước, trên trang thư tín của tuần báo Trẻ (phát hành từ Dallas, Texas – ngày 26 tháng 2 năm 2015) có vị độc giả phát biểu rằng: “CS chiếm miền Nam bằng cái miệng.” Ý tưởng này khiến tôi nhớ đến một cân nói của nhà báo Huy Đức: “Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh rõ ràng là một trong những nhà lập ngôn xuất sắc nhất.”

Quả tình, Bác và Đảng đã chiếm được cả nước – chứ không riêng chi miền Nam – bằng mồm chứ còn gì nữa. Nhưng thời thế đã khác rồi. Bây giờ mà vẫn còn hy vọng giữ được quyền bính cũng chỉ nhờ vào cái miệng (mình) và bịt miệng kẻ khác thì quả là một chuyện rất viển vông.

Thử nghe Thông Tấn Xã Việt Nam “khoe hàng” chút xíu nha:

“Website của TTXVN tại địa chỉ http://news.vnanet.vn là một trong những trang thông tin chính thức và là trang duy nhất ở trong nước cung cấp những thông tin mới nhất, tin cậy bằng bốn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Tây Ban Nha) về tình hình Việt Nam và thế giới, là cầu nối để độc giả khắp nơi trên thế giới hiểu về Việt Nam và con người Việt Nam…

“Với 63 phân xã tại tất cả các tỉnh thành trong nước và 27 phân xã nước ngoài ở cả 5 châu lục, cùng nguồn thông tin trao đổi trực tuyến liên tục 24/24 giờ với 42 hãng thông tấn và tổ chức báo chí quốc tế là một ưu thế mà không một cơ quan báo chí nào của Việt Nam sánh được …”

“Ưu thế” tới cỡ đó mà T.T.X.V.N lại không có độc giả. Thiên hạ  chỉ đua nhau vào xem Thông Tấn Xã Vỉa Hè thôi. Và đây có lẽ đây mới là nguyên do (đích thực) khiến cho Trương Duy Nhất, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Già, Hồng Lê Thọ, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Thị Minh Thuý … phải bị trừng trị – hay bị trả thù, theo như cách nhìn của Người Buôn Gió!

Sự kiện người dân tẩy chay mọi hình thức truyền thông của nhà nước không phải là lỗi (hoặc tội) của Ba Sàm và của giới T.T.X.V.H. Đây chỉ là hiện tượng (“vỡ trận”) tự nhiên, báo trước ngày tàn của chế độ thôi!

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Hồ Chí Minh và di sản của ông

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2015

Blog RFA

Lê Diễn Đức

18-05-2015

H1Hồ Chí Minh, muốn hay không muốn vẫn là một tên tuổi lịch sử lớn gắn liền với Việt Nam. Để có môt đánh giá công bằng về Hồ Chí Minh không đơn giản, bởi vì cuộc đời của ông có quá nhiều mảng tối chưa được đưa ra ánh sáng, trong khi chế độ Cộng sản không ngừng suy tôn ông như một vị thánh, dù ông đã chết đã lâu, từ năm 1969.

Nhân kỷ niệm 125 ngày sinh của ông (mặc dù ngày 19 tháng 5 chưa chắc chắn là ngày sinh của ông), tôi chỉ phân tích một vài nét xung quanh ông.

Khi Hồ Chí Minh tìm đến với chủ nghĩa Cộng sản là giai đoạn mà chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ hoang dã, đi xâm chiếm thuộc địa và thấm bùn và máu trong chính sach bóc lột, khác với chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay được xây dựng trên sức mạnh của văn hóa, khoa học-công nghệ, dân chủ, pháp quyền, là một xã hội văn minh, đảm bảo an sinh xã hội cho toàn dân.

Chủ nghĩa Cộng sản hình thành từ nửa cuối thế kỷ 19 là một trào lưu tư tưởng, một khuynh hướng  chính trị-xã hội cấp tiến, có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với quần chúng lao động và phần đông trí thức châu Âu.

Tới nước Nga, Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) đã tìm thấy ở Luận cương của Lenin chỗ dựa, một hướng đi mới, nên đã ngả theo Quốc tế 3, vì Quốc Tế 3 đã công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa. Trong bài phát biểu tại các diễn đàn ở đó Hồ Chí Minh đã nói “Tôi đến đây để không ngừng thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”! Chính vì thế mà Stalin không mấy thiện cảm về Nguyễn Ái Quốc, coi ông “không phải một người cộng sản chân chính mà là một người còn mang nặng tinh thần dân tộc chủ nghĩa ít có”.

Dù sao cũng phải thừa nhận trước hết Hồ Chí Minh là một người có tinh thần dân tộc và mong muốn Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Thế nhưng bi kịch nhất là Hồ Chí Minh đã đưa chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, lựa chọn chủ nghĩa Staline và Mao Trạch Đông, kích động quần chúng làm cách mạng bạo lực.

Những tiêu chí cách mạng của Hồ Chí Minh như giành lại ruộng đất cho nông dân, nhà máy cho công nhân, tự do bình đẳng và bác ái là vũ khí tuyên truyền có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với xã hội Việt Nam còn tăm tối về tri thức, đói nghèo về vật chất và bị tư bản Pháp bóc lột nặng nề.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneva năm 1954, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh cầm quyền trên miền Bắc. Ngay lập tức Hồ Chí Minh đã phản bội lại chính mình, phản bội lại tất cả những điều mà ông ta sử dụng nó để đưa người dân vào 9 năm kháng chiến trường kỳ.

Không thực thi chế độ bầu cử tự do, ĐCSVN tiếm luôn quyền cai trị tuyệt đối. Một nhà nước độc tài toàn trị được thiết lập với bộ máy kiểm soát của công an, an ninh và một hệ thống kiểm duyệt khắt khe nhất. Cuộc cải cách ruộng đất năm 1954-1956 đã làm hàng trăm ngàn người bị đấu tố và bị giết oan trái. Các tư tưởng phản kháng, đối lập ôn hoà không có đất dung thân, mà điển hình là vụ Nhân văn- Giai phẩm, nhiều nhà thơ, nhà văn bị trù dập, lao tù, đày ải. Nhân dân bị giam hãm trong cái trại ý thức hệ mác-xít mà hàng ngày bộ máy tuyên truyền khổng lồ mặc sức nhồi nhét, giáo dục.

Trong bản tuyên ngôn ngày 2 tháng 9 năm 1945 thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nhà nước “do dân làm chủ đầu tiên”, mà trong đó Hồ Chí Minh tố cáo chế độ thực dân Pháp:

“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

– “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.

– “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân”.

– “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”.

– “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”.

– “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng”.

– “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.

Là bản copy rõ ràng nhất, chính xác nhất của chế độ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày hôm nay sau khi ĐCSVN của ông Hồ Chí Minh thực hiện xong cuộc chiến tranh đỏ hoá miền Nam và giành quyền cai trị trên cả nước từ năm 1975.

ĐCSVN của Hồ Chí Minh đang tiến hành một chủ nghĩa tư bản man rợ. Đất nước thoát ách đô hộ của thực dân thì bị ngay một chế độ thực dân khác- thực dân đỏ, chồng lên, còn tệ hại, khắc nghiệt hơn nhiều lần thời kỳ thực dân Pháp cai trị.

Gánh nặng nợ nần của đất nước ngày mỗi tăng lên trong khi nạn tham nhũng, rút ruột công trình trở nên phổ cập, quan chức “ăn của dân không chừa chỗ nào” (lời của bà Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước), đạo đức xã hội bị huỷ hoại, không còn đâu là kỷ cương trật tự xã hội, công an lạm quyền đánh dân đến chết là hiện tượng phổ biến, bệnh nhân phải nằm la liệt dưới sàn nhà trong các bệnh viện, hàng trăm ngàn nông dân bị tước doạt đất đai oan trái, công nhân bị bóc lột thậm tệ với đồng lương không đủ sống và điều kiện làm việc khốn khổ, không có báo chí tự do, mọi sự phản kháng đều bị đàn áp thô bạo thậm chí mượn tay côn đồ…

Thực chất là từ bóng đêm của chế độ thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam lại rơi vào vũng lầy của chế độ thực dân đỏ. Một dân tộc quá kém may mắn và bất hạnh! Đây là một trong những giai đoạn đen tối nhất của dân tộc Việt Nam, lịch sử Việt Nam!

Chưa bàn tới đạo đức của Hồ Chí Minh, điều mà ĐCSVN bắt cả nước noi gương học tập, di sản văn hoá và chính trị mà ông ta để lại quả thật là khủng khiếp!

Trong diễn văn nhân 125 năm ngày sinh Hồ Chí Minh, Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng có nói “thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam”. Vâng, nhưng mà “rực rỡ” về sự cai trị chà đạp dân chủ, nhân quyền, bất bình đẳng, dối trá và độc ác!

Tượng đài “Chiến thắng”: Phật bà đã phải bỏ chạy khỏi Tòa sen.
Hình ảnh chụp cách đây khá lâu trên đường Trường sơn, con đường mang tên “bác vĩ đại.

https://www.facebook.com/azznexin?

fref=nf

JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Nguyễn Huệ Chi – Tôi bị cấm xuất cảnh và thu hộ chiếu

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2015

Nguyễn Huệ Chi

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Ý định đi Mỹ thăm gia đình con gái xuất phát từ chính con gái tôi. Nhân cháu về Sài Gòn dự Hội thảo 100 năm năm sinh ông nội (GS Nguyễn Đổng Chi) vào ngày 7-5-2015, cháu gọi điện báo trước: Con sẽ mua vé mời bố mẹ sang Boston chơi một thời gian và đi luôn từ sân bay Tân Sơn Nhất chừng mươi ngày sau khi Hội thảo xong. Chúng tôi cân nhắc một tuần lễ, sau đó nhận lời.

Tối 18-5-2015, hai vợ chồng tôi và con gái ra sân bay Tân Sơn Nhất, đến 11 giờ thì làm xong thủ tục xuất trình vé và gửi hành lý tại hãng máy bay Hàn Quốc Korean Airlines để bay sang Seoul (vé của tôi là của hãng Delta Airlines, từ SG đi thẳng Boston, quá cảnh ở Seoul bằng máy bay Hàn Quốc). Nhưng khi qua an ninh cửa khẩu sân bay thì một mình tôi bị giữ lại. Tôi được mời vào đồn CA ngay trong sân bay. Vợ con theo vào cùng. Khi đến giờ cất cánh người của hãng hàng không Hàn Quốc đến tìm và hỏi nguyên nhân vì sao ra chậm làm cả máy bay phải chờ. Viên công an trả lời: “Ông Nguyễn Huệ Chi tạm thời chưa được xuất cảnh”. “Vì sao không cho ông đi?” “Không cần phải biết lý do”. Con gái tôi phải nói to để mọi người ở đấy hiểu: “Chẳng có lý do nào hết. Cứ thích là giữ lại thôi”. Nhưng tôi khuyên hai mẹ con cần tiếp tục hành trình ngay kẻo lỡ chuyến, còn tôi ở lại và mang hành lý xách tay vào đồn. Một lúc sau hành lý ký gửi cũng được các cô tiếp viên hãng Korean chuyển đến.

Cuộc trao đổi ngắn gọn và nhẹ nhàng, nhưng nguyên ủy sự vụ thì không ai hiểu được: “Công an Hà Nội chưa cho xuất cảnh”. Ngay đến công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất cũng nói họ không hiểu: “Bác có chuyện gì không?” “Không!” “Thế công an Hà Nội không trao đổi gì với bác sao?” “Không!” “Thế thì đến chúng cháu cũng chịu không thể hiểu”. “Tôi nói thêm: “Chỉ mới cách đây mấy hôm tôi nằm trong số 20 nhà văn tuyên bố ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam”. Người công an nhìn tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên, nghĩa là đã biết chuyện, chỉ nói: “Thì không muốn ở lại trong Hội nữa thì ra, đó là quyền của mình. Trong số 20 người có cả nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Đỗ Trung Quân… Có phải mình bác đâu!”. Tôi hiểu ngay đây mới chính là câu trả lời, dù là trả lời gián tiếp, nên không trao đổi gì thêm. Nhưng điều đáng quan tâm là Hộ chiếu, tôi hỏi: Tôi phải được nhận lại Hộ chiếu chứ. Đó là quyền của tôi”. Đáp: “Việc này không được. Theo nguyên tắc hộ chiếu chúng cháu giữ và gửi ra Hà Nội. Bác hãy ra Hà Nội, đến CA Hà Nội khiếu nại để đòi lại hộ chiếu”. Thấy tôi trả lời: “Còn ở lại chơi bời vài hôm đã”, một người cười: “Nếu không ra họ lại tưởng việc hộ chiếu cũng chẳng thiết thân gì lắm với mình”.

Biên bản cấm xuất cảnh đối với Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Chờ cho người công an tên Việt đánh máy xong biên bản làm 3 bản, đi lấy chữ ký của ông Thượng tá Hưng, đóng dấu, đưa tôi ký vào. Tôi nói rõ: Tôi không ký, bởi việc này trái pháp luật và vi hiến. Người công an đối diện tôi nói: “Ký hay không ký đấy là quyền của bác. Nhưng cũng nên ghi vào mấy chữ “tôi không ký”. Tôi ghi cả 3 biên bản. Ghi xong, bắt tay họ, theo một anh nhân viên hãng Korean tên Bình ân cần dẫn ra khỏi sân bay, lên taxi. Về đến nhà con trai đúng 1 giờ kém 15 phút sáng 19-5-2015.

Theo biên bản do CA Tân Sơn Nhất lập, việc này do CA Hà Nội gây ra, vậy Công an Hà Nội phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước công luận và tôi, một công dân chưa bao giờ phạm pháp, trái lại luôn luôn có ý thức tôn trọng pháp luật Việt Nam.

 

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Đức Giáo Hoàng: Hãy mang chính trị vào các giáo xứ

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2015


Mặc Lâm, biên tập viên RFA ( 10 /5/2015 )

 

Bức chân dung Đức Giáo Hoàng Francis tại cổng chính nhà thờ Chánh Toà Hà Nội ( hôm 15/3/2013 )





Trong một lần trả lời về việc dấn thân của người tu sĩ trong giáo hội, Đức Giáo hoàng Phan Xi Cô nói rằng “Nếu Chúa gọi anh chị em trên con đường này thì xin anh chị em lên đường, hãy làm chính trị dù con đường này có thể làm anh chị em đau khổ”.

Giáo hội Công giáo Việt Nam đã đem giáo huấn của Đức Giáo Hoàng vào đời sống như thế nào và liệu câu hỏi người tu sĩ không nên làm chính trị có còn đứng vững hay không? Mặc Lâm phỏng vấn linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Mặc Lâm: Thưa Linh mục, xin ông cho biết giáo huấn của Đức Giáo Hoàng về việc dấn thân trong đời sống chính trị có được áp dụng vào mục vụ của giáo hội Công giáo Việt Nam hay không và các tu sĩ thực hiện giáo huấn này cụ thể như thế nào?

LM Lê Ngọc Thanh: Về mặt giáo huấn chung của Giáo hội tôi xin được nói cái giáo huấn gần nhất của giáo hội đó là thông điệp “Niềm vui tin mừng” của Đức Giáo hoàng Phan xi cô vừa ban hành cách đây hơn một năm. Trong chương IV ngài nói rất rõ những việc phải dấn thân trong xã hội. Ngài chỉ ra hàng loại những vấn đề rất cụ thể và ngài bảo rằng tôi muốn một giáo hội lem luốc trên đường phố với người nghèo hơn là ẩn mình trong sự an toàn giả tạo. Và ngài bảo rằng cần phải cơ cấu lại, không phải bài giảng đâu, mà cần thiết thì phải cơ cấu lại giáo xứ để làm sao đáp ứng được nhu cầu đó và ngài nhấn mạnh rằng việc phục vụ cộng đồng, xã hội trong tư cách là một chính trị gia của giáo dân nó là một việc bác ái cao cả hơn cả bởi vì nếu việc bác ái bình thường chỉ giúp được một hai người, còn một vị chính trị gia làm việc nghiêm túc, công minh thì sẽ giúp cả một cộng đồng xã hội hàng ngày cứu giúp giáo dân.

Mặc Lâm
: Có phải vì thế mà nhiều bài giảng thuộc DCCT gần đây đã không ngại nêu bật những khiếm khuyết của xã hội lẫn chính quyền và trong một chừng mực nào đó đã gây cảm hứng mới cho giáo dân. Xin linh mục cho biết những bài giảng như thế có được sự đồng thuận từ giáo hội hay không?

LM Lê Ngọc Thanh: Trước tiên thì tôi phải khẳng định rằng là bài giảng nơi tòa giảng trong nhà thờ luôn xuất phát từ lời Chúa chứ không phải tùy ý do sở thích của một linh mục hay của một nhóm một cộng đoàn riêng lẻ nào đó. Cái đó không thuộc phạm vi tự quyết của cá nhân một linh mục hay của một cộng đoàn như Dòng Chúa cứu thế mà đây là sứ điệp của Chúa trong hội thánh được công bố hàng tuần. Chúng tôi công bố lời Chúa vì chính lời Chúa xuất phát từ trong một cộng đồng xã hội cụ thể và quay lại áp dụng cho một cộng đồng cụ thể với những vấn đề mà chúng ta không thể im lặng, với những vấn đề chúng ta không thể cho qua.

Những vấn đề mà anh em DCCT thật ra không nằm ngoài lề giáo hội mà triển khai những vấn đề của giáo hội mà có thể nhiều cha xứ khác, ở nhiều nơi khác, vì lý do mục vụ cụ thể hoặc là vì sự đơn độc khi ở một mình có thể dễ dàng bị tấn công, bị trả thù nên các ngài khôn khéo hơn, cẩn thận hơn trong cách nói công khai trên tòa giảng. Nhưng có thể nói một điều chắc chắn như thế này là ở lúc gặp gỡ và chia sẻ với giáo dân tất cả các linh mục đều nói rõ về bản chất dấn thân cho xã hội của Giáo hội Công giáo mà không ngoại trừ DCCT.

Mặc Lâm: Phản ứng của giáo dân đối với giáo huấn mới của Đức Thánh Cha có tích cực lắm hay không trong bối cảnh o ép hiện nay tại Việt Nam và sau những bài giảng sống động trong nhà thờ giáo dân có phản ứng như thế nào?

LM Lê Ngọc Thanh: Tôi lấy kinh nghiệm ở Thái Hà ở Hà Nội và Đền Đức mẹ hằng cứu giúp ở Sài Gòn để chúng ta thấy.


Ban đầu thì giáo dân hơi sợ hãi nhưng sau khi nghe giảng xong thì giáo dân nói với chúng tôi rằng chúng con chỉ sợ rằng là đang thánh lễ hay sau thánh lễ họ sẽ vô bắt các cha.

Ban đầu là như vậy nhưng dần dần họ thấy và nói với chúng tôi rằng đây là điều mà họ chỉ nghe được ở đây. Họ là những người thuộc nhiều giáo xứ khác cứ canh giờ lễ đó mà đến để được hiệp thông, cầu nguyện để được nghe giáo huấn.

Tôi thấy rằng ít nhất là vào buổi lễ Công Lý Hòa bình vào 8 giờ tối Chúa nhật cuối tháng, một thánh lễ quy tụ trên 3.000 người ở tại Sài Gòn và Hà Nội cũng vậy.

Có đến 80% người tham dự là những người biết rõ và họ chủ động tìm đến để được giáo huấn theo cách như vậy chứ không phải chỉ đi lễ như một giáo dân bình thường vào ngày Chúa Nhật.

Mặc Lâm: Xin linh mục cho biết những hoạt động dấn thân, những bài giảng thiết thực với đời sống rõ ràng là đụng đến vấn đề mà nhà nước cho là nhạy cảm. Chính quyền đã có những hành động nào để ngăn chặn hay cản trở hay không?

LM Lê Ngọc Thanh: Trước đây khi chúng tôi bắt đầu những chia sẻ như vậy với giáo dân thì họ dùng những tờ truyền đơn dán vào các cột điện, gốc cây trong khu vực nhà thờ. Họ rải trong sân nhà thờ, họ rải trong khu xóm, trong quán ăn để nói xấu và lên án các cha. Họ không dừng lại ở việc lên án về nội dung bài giảng, họ bắt đầu vu khống kể cả việc dựng đứng lên họ nói đó là đời sống vô đạo đức của các cha như vậy.

Riêng đối với nhà cầm quyền thì có một lần họ đã chất vấn về tính hợp pháp của website chúng tôi, còn về tòa giảng thì họ chỉ nói với cá nhân linh mục này, với cá nhân cha kia để gây sự chia rẻ trong nội bộ của anh em chúng tôi và cũng có dùng nhóm giáo dân này nhóm giáo dân kia chống lại nhau. Nhưng có thể nói rằng là những tác động giảm dần và đến bây giờ không còn tác động gì nữa cả.

Mặc Lâm: Xin cám ơn linh mục Lê Ngọc Thanh.




http://www.rfa.org/vietnamese/in_dep…015074942.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Quân đội Mỹ thách thức chủ quyền Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 19/05/2015

Wall Street Journal

Các tác giả: ADAM ENTOUS, GORDON LUBOLD  JULIAN E. BARNES

Người dịch: Huỳnh Phan

12-05-2015

Các biện pháp sẽ là phái máy bay, tàu hải quân tới gần các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trong vùng biển tranh chấp

Các quan chức Hoa Kỳ nói rằng, quân đội Mỹ đang xem xét việc sử dụng máy bay và tàu hải quân trực tiếp thách thức chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc đối với một chuỗi đảo nhân tạo đang nhanh chóng mở rộng, hành động này sẽ gia tăng mạo hiểm trong cuộc đối đầu khu vực về việc ai kiểm soát các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter đã yêu cầu ban tham mưu của mình xem xét các phương án trong đó có cả việc cho máy bay giám sát Hải quân bay trên các đảo và phái tàu hải quân Mỹ vào phạm vi trong vòng 12 hải lý quanh các rạn san hô mà TQ đang bồi tạo và tuyên bố chủ quyền trong khu vực được gọi là Quần đảo Trường Sa. 

Động thái như vậy, nếu được Nhà Trắng chấp thuận, sẽ được dùng để chuyển tới Bắc Kinh thông điệp rằng Mỹ sẽ không thừa nhận các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đối với các đảo nhân tạo ở những nơi mà Mỹ coi là vùng biển và không phận quốc tế.

Tính toán của Lầu Năm Góc có thể là việc lập kế hoạch quân sự và bất kỳ triển khai nào có thể thực hiện, sẽ làm tăng sức ép buộc Trung Quốc phải có nhượng bộ đối với các đảo nhân tạo. Nhưng Bắc Kinh cũng có thể đánh liều gấp đôi, mở rộng việc xây dựng bất chấp Mỹ và có khả năng sẽ thực hiện các bước để đẩy mạnh hơn các yêu sách của Trung Quốc trong khu vực.

Hoa Kỳ nói họ không công nhận các đảo nhân tạo là lãnh thổ có chủ quyền của Trung Quốc. Tuy nhiên, các quan chức quân sự cho biết, hải quân Mỹ cho đến nay vẫn chưa phái máy bay hoặc tàu chiến vào trong vòng 12 hải lý quanh các rạn san hô bồi tạo để tránh leo thang căng thẳng.

Nếu Mỹ thách thức các yêu sách của Trung Quốc bằng việc sử dụng các tàu hải quân, còn Bắc Kinh vẫn giữ vững lập trường của mình thì kết quả có thể leo thang căng thẳng trong khu vực, với sức ép ngày càng lớn, buộc phải tung ra sức mạnh quân sự trong vùng biển tranh chấp đè lên cả hai phía.

Theo ước tính của Mỹ, Trung Quốc đã mở rộng các đảo nhân tạo trong chuỗi Trường Sa từ 500 mẫu năm ngoái lên đến 2.000 mẫu (≈ 809 ha) đất. Tháng trước, ảnh vệ tinh của nhà cung cấp thông tin tình báo quốc phòng IHS Jane cho thấy Trung Quốcđã bắt đầu xây dựng một đường băng trên một trong những đảo này, có vẻ đủ lớn để chứa máy bay chiến đấu và máy bay giám sát.

Mỹ đã sử dụng quân đội để thách thức các yêu sách khác của Trung Quốc mà Washington coi là không có căn cứ. Tháng 11 năm 2013, Mỹ cho hai máy bay ném bom B-52 bay bên trên các đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông để thách thức vùng nhận dạng phòng không mà Bắc Kinh tuyên bố trong khu vực đó.

Các quan chức cho biết hiện nay ở Lầu Năm Góc và Nhà Trắng ngày càng có nhiều ý kiến muốn có các bước đi cụ thể để gửi tới Bắc Kinh một tín hiệu cho thấy hành động bồi đắp gần đây của họ ở Trường Sa đã đi quá xa và cần phải dừng lại.

Các quan chức Trung Quốc bác bỏ các chỉ trích về việc xây dựng đảo, nói rằng Bắc Kinh có quyền thực hiện các dự án xây dựng bên trong lãnh thổ có chủ quyền của họ. Họ nói rằng các cơ sở này sẽ được sử dụng cho mục đích quân sự và dân sự.

“Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa (tên Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa) và các vùng biển lân cận,” người phát ngôn đại sứ quán Zhu Haiquan (Chu Hải Toàn) nói. “Việc xây dựng có liên quan, là hợp lý, đúng lẽ và hợp pháp, nằm ngay bên trong chủ quyền của Trung Quốc. Nó không ảnh hưởng hoặc nhắm vào bất kỳ nước nào, và do đó không trách cứ được.”

Ông Zhu nói, Bắc Kinh hy vọng rằng “các bên liên quan” (cách nói nhằm chỉ quân đội Mỹ và các đồng minh trong khu vực) sẽ “kiềm chế việc làm gia tăng căng thẳng hoặc làm bất cứ điều gì nguy hại đến an ninh và sự tin cậy lẫn nhau.”

Trung Quốc đòi chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới, và những việc làm của họ để cố thực thi việc kiểm soát khu vực này trong những năm gần đây đã làm cho Mỹ và Châu Á, nơi mà một số nước có các yêu sách chủ quyền đối chọi nhau trong đó có Philippines, một đồng minh của Mỹ, ngày càng quan ngại hơn.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Charles Jose hôm thứ Tư nói “Philippines tin rằng Hoa Kỳ, cũng như tất cả các thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế có lợi ích và có tiếng nói về những gì đang xảy ra ở Biển Đông”, qua việc đề cập tới tự do đi lại và dòng lưu thông thương mại không bị ngăn trở cùng các yếu tố khác.

Máy bay quân sự của Mỹ đã nhiều lần tiến gần tới vùng 12 hải lý mà TQ yêu sách xung quanh các rạn san hô mới xây dựng lên. Nhưng để tránh leo thang, các máy bay không xâm nhập vào vùng này. Một quan chức quân sự cấp cao cho biết các chuyến bay “đã giữ một khoảng cách tới các đảo và vẫn gần mốc 12 hải lý”.

Máy bay Mỹ đã bay gần các đảo mà việc xây dựng đang diễn ra, khiến các sĩ quan Trung Quốc phải gọi vô tuyến để thông báo cho các phi công rằng họ đang tiến gần lãnh thổ có chủ quyền của Trung Quốc. Đáp lại, các phi công Mỹ nói với Trung Quốc rằng họ đang bay qua không phận quốc tế.

Trong những ngày gần đây, chiến hạm USS Fort Worth đã hoạt động ở vùng biển gần Trường Sa. “Chúng tôi chưa đi vào trong vòng 12 hải lý”, một quan chức cấp cao của Mỹ cho biết.

Đề nghị của quân đội chưa chính thức chuyển cho Nhà Trắng để cho kết luận cuối cùng đối với bất kỳ thay đổi nào về lập trường của Mỹ. Nhà Trắng từ chối đưa ra bình luận.

Các quan chức nói rằng đây là vấn đề phức tạp bởi vì theo cái nhìn của chính phủ Mỹ, ít nhất một vài khu vực mà Trung Quốc đang thực hiện việc xây dựng là đảo theo pháp lý, chúng có quyền được hưởng một vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đề nghị đang được xem xét sẽ là phái tàu và máy bay hải quân đi vào khu vực 12 hải lý chỉ ở những địa điểm xây dựng nào mà Mỹ không coi là đảo hợp pháp, các quan chức nói.

Các quan chức Mỹ nói rằng theo Công ước Liên Hỉêp Quốc về Luật Biển, một thể địa lý bồi tạo không có quyền có lãnh hải nếu thể địa lý ban đầu không phải là đảo được công nhận theo công ước. Theo cách giải thích đó, Hoa Kỳ tin rằng họ không cần phải tôn trọng khu vực 12 hải lý xung quanh các rạn san hô được đắp lên nếu chúng không được coi là đảo trước khi việc xây dựng ở đó bắt đầu.

Các quan chức Mỹ cho biết một số đồng minh của Mỹ trong khu vực đã thúc giục Nhà Trắng nên làm nhiều hơn nữa để thách thức hành vi của Trung Quốc, cảnh báo Washington rằng việc Mỹ không hành động trong vùng Biển Đông có nguy cơ vô tình củng cố yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh. Ngược lại một số đồng minh trong khu vực đã bày tỏ quan ngại đối với Washington rằng một sự thay đổi trong cách tiếp cận của Mỹ có thể lôi kéo họ vào một cuộc xung đột không chủ ý.

Một quan chức Mỹ nói. “Điều quan trọng là tất cả mọi người trong khu vực có một sự hiểu biết rõ ràng về điều mà Trung Quốc đang làm một cách chính xác. Chúng ta phải mở mắt theo dõi”. Hoa Kỳ đã và đang sử dụng vệ tinh để theo dõi việc xây dựng ở các đảo.

Trong những tháng gần đây, Nhà Trắng đã tìm cách tăng sức ép lên Bắc Kinh để họ dừng việc xây dựng trên các đảo thông qua các kênh ngoại giao, cũng như thách thức Trung Quốc công khai tại các cuộc họp báo gần đây cũng như các báo cáo của chính phủ.

Hải quân Mỹ thường xuyên thực hiện việc “tự do đi lại” trong khu vực, gồm cả đi qua Biển Đông. Nhưng hải quân vẫn chưa được chính phủ trao quyền một cách rõ rệt để làm như vậy trong vòng 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry theo đúng lịch sẽ tới Bắc Kinh vào cuối tuần này để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm Mỹ vào tháng 9 tới của Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, người chủ trương cải thiện quan hệ quân sự với Hoa Kỳ là một ưu tiên hàng đầu.

Một bế tắc mới với Trung Quốc sẽ góp thêm vào các cuộc khủng hoảng an ninh chồng chất mà Mỹ đang đối mặt tại các khu vực khác.

Năm ngoái, sau khi Nga chiếm lãnh thổ của Ukraine, Nhà Trắng áp đặt lệnh trừng phạt đối Moscow nhưng cho đến nay vẫn từ chối yêu cầu cung cấp vũ khí của Ukraine. Tại Trung Đông, các chiến binh Nhà nước Hồi giáo chiếm lấy nhiều mảng đất lớn của Iraq hồi hè năm ngoái, khiến Hoa Kỳ phải phát động chiến dịch không kích nhằm vào nhóm này.

Từ lâu, Mỹ luôn nói rằng họ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, dù Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì sự tự do đi lại tại khu vực này. Tuy nhiên năm ngoái, các quan chức Hoa Kỳ đã gia tăng chỉ trích việc Trung Quốc cố thực thi và biện minh yêu sách của họ trong khu vực.

Các quan chức Mỹ nói họ lo ngại quyết định không phái tàu hải quân vào vùng này sẽ vô tình giúp Trung Quốc tạo dựng chứng lý đối với chủ quyền trong khu vực.

Tàu cảnh sát biển của Trung Quốc thường xuyên đi vào khu vực 12 hải lý quanh quần đảo Senkaku, do Tokyo kiểm soát, nhưng Bắc Kinh cũng có yêu sách chủ quyền và họ gọi là Điếu Ngư.

Các quan chức Mỹ nói họ tin rằng Trung Quốc phái tàu vào khu vực Senkaku ở Biển Hoa Đông vì họ muốn cho Tokyo và các nước khác thấy rằng Bắc Kinh không công nhận các đảo này là lãnh thổ của Nhật Bản.

Yêu sách của Trung Quốc bao gồm cả lãnh hải 12 hải lý kéo dài ra từ toàn bộ quần đảo Trường Sa, ở đó họ kiểm soát 7 rạn đá – tất cả đều được mở rộng thành các đảo nhân tạo gần đây. Các bên tranh chấp khác chiếm một số đảo, rạn san hô và đá khác.

Hình ảnh trước đây trên Google Earth và các nơi khác cho thấy việc bồi tạo ở hầu hết các rạn đá do Trung Quốc nắm giữ đều bắt đầu sau khi Chủ tịch Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012.

Phần lớn việc xây dựng bắt đầu năm ngoái dù có sự phản đối của các nước láng giềng, các mối quan hệ quân sự với Washington ấm lại, và có động lực mới ở Trung Quốc muốn cải thiện quan hệ với vùng ngoại vi.

Các quan chức Mỹ nói rằng họ đã nhiều lần yêu cầu Trung Quốc dừng công việc này lại mà không có kết quả.

Trong những năm qua, tàu và máy bay của Mỹ đã có một số vụ va chạm với phía Trung Quốc, thường phát sinh từ những bất đồng về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Bắc Kinh.

Tháng 3 năm 2001 Trung Quốc ra lệnh cho một tàu khảo sát không vũ trang của hải quân Mỹ ra khỏi vùng biển ở Hoàng Hải, cho rằng vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của họ. Mỹ không đồng ý với phản đối này, và vài ngày sau đó tàu này đã quay trở lại Hoàng Hải với một tàu hộ tống có vũ trang.

Tháng 4 năm 2001 một máy bay chiến đấu của Trung Quốc va chạm với một máy bay thám sát điện tử của hải quân Mỹ gần đảo Hải Nam của Trung Quốc ở Biển Đông, buộc EP-3 phải hạ cánh khẩn cấp.

Tháng 5 năm 2003, nhiều tàu cá Trung Quốc được sử dụng để húc vào tàu khảo sát hải quân Mỹ, có dính dáng tới sự kiện năm 2001, gây ra một số thiệt hại.    

Tháng 3 năm 2009 tàu quân sự và tàu công vụ của Trung Quốc bao quanh một tàu khảo sát của hải quân Mỹ ở Biển Đông trong một vùng đặc quyền kinh tế có tranh chấp, buộc tàu Mỹ phải tránh đi. Ngày hôm sau tàu này trở lại đi kèm với một tàu khu trục tên lửa hành trình.  

Tháng 11 năm 2013, Mỹ cho hai máy bay ném bom B-52 bay bên trên các đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông để thách thức vùng nhận dạng phòng không của Bắc Kinh.     

Tháng 12 năm 2013 một tàu Trung Quốc chặn đường một tàu tuần dương của hải quân Mỹ Cowpens ở Biển Đông, cách tàu sân bay của Trung Quốc một khoảng, buộc Cowpens thay đổi lộ trình để tránh va chạm.  Tháng 8 năm 2014 một máy bay chiến đấu Trung Quốc thực hiện điều mà các quan chức Mỹ nói là một kiểu chặn đường nguy hiểm đối với một máy bay tuần tra trên biển của hải quân Mỹ đang bay trong không phận quốc tế cách đảo Hải Nam khoảng 135 dặm về phía Đông.     

Bài viết này có dự đóng góp của Jeremy Page và Trefor Moss.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Hết nói! Hãy bước ra khỏi sự táo tợn ngu dốt

Posted by hoangtran204 trên 19/05/2015

 Hết nói!

Nguyễn Văn Tuấn

17-05-2015

Đọc báo Thanh Niên trên chuyến bay hôm nay mà … bức xúc. Chính quyền Tàu ngang nhiên ra lệnh cấm đánh cá ngay trên ngư trường Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng Hội nghề cá chỉ khuyên ngư dân ra khơi theo đoàn. Hội còn “kiến nghị” cảnh sát biển và kiểm ngư bảo vệ ngư dân và tăng cường sự hiện diện thường xuyên. Tôi tự hỏi tại sao “kiến nghị” nhỉ? Nhiệm vụ của cảnh sát biển là bảo vệ ngư dân và ngư trường VN chứ, và họ phải có biện pháp thực thi việc đó chứ không cần ai kiến nghị. Nhưng có thể trong quá khứ họ chưa làm được nhiệm vụ đó?


Nhìn cái hình dưới đây, các bạn sẽ thấy một sai sót hết sức ngớ ngẩn về tiếng Anh: “Vietnam Coast Gaurd“! 

H1

Sai sót rất nhỏ nhưng nó làm mất thể diện quốc gia. Thử hỏi bọn Tàu chúng thấy chữ đó thì làm sao chúng biết là cảnh sát biển. Chẳng lẽ cả lực lượng hải quân và tuần dương không ai biết viết tiếng Anh cho đúng? Xin các bác, các quan, các giáo sư tiến sĩ sửa lại cho họ là: VIETNAM COAST GUARD.

Thật hết nói!

_______________

Càng nói càng…dốt

Người Việt

Bùi Bảo Trúc

16-05-2015

Hồi học tiểu học ở Hà Nội tôi có một người bạn ngồi cạnh bị cụ giáo dạy chúng tôi ở lớp Nhì ghét thậm tệ.

Trong suốt mấy tháng đầu của niên học, người hàng xóm của tôi bị ăn bao nhiêu là roi mây, cho đến khi bạn tôi bỏ hẳn cái thói quen thay tất cả “ph” bằng “f,” thói quen không biết chàng học ở đâu, có thể là chàng mang từ hậu phương về Hà Nội không chừng. Tôi chắc chàng học của bác Hồ của chàng, vì bác là người đã nghĩ ra cái lối viết mà thầy giáo của chúng tôi rất ghét đó.

Nhiều năm sau, trong bản di chúc anh già này viết để lại cho đàn em với ghi chú “tuyệt đối bí mật,” ai cũng đọc thấy tận mắt lối viết ấy.

Ngay ở đầu, là hai hàng chữ “Việt nam zân chủ cộng hòa độc lập, tự zo, hạnh fúc,” rồi trong suốt 7 trang di chúc viết tay đó, là những lối viết quái đản gọi là cải cách đó.

Cách viết đó hình như về sau cũng không có được bao nhiêu người bắt chước làm theo. Người ta không thấy (mấy) ai dùng “f” thay cho “ph,” dùng “k” thay cho “c.” Nhưng mới đây, lối viết ngớ ngẩn đó lại được thấy trong một tấm bằng do một trường bách khoa cấp cho các học viên tốt nghiệp. Trong tấm bằng này, trường đã ghi môn học của học viên là “Major in Farmacy Technician.”

Có tới hai lỗi trong hang chữ vừa dẫn ở trên.

Thứ nhất là danh từ “Pharmacy” bị viết sai là “Farmacy” với “f.” Không thể thay “Ph” bằng “f” được. Tiếng Anh cũng không được, mà tiếng Pháp cũng không được. Khi cái lỗi này được báo chí nêu ra, thì một anh cóc nhái của trường giải thích rằng đó là cách viết tắt nên không có gì là sai cả.

Nói vậy là nói láo, là dốt mà là cãi chầy cãi cối. Nếu viết tắt (abbreviate hay shorten) thì Pharmacy phải viết là “Pharm.” Không bao giờ là “Farmacy” cả.

Lỗi thứ hai là chữ “technician.” “Technician” là chuyên viên kỹ thuật, là kỹ thuật viên. Môn học là “technology.” “Technician” là người nghiên cứu hay theo học môn “technology.” Không thể có môn học “technician” bao giờ.

Những sai sót như thế không phải là ít. Trên một số văn bằng cấp cho các sinh viên người ta thấy rất nhiều những lỗi rất sơ đẳng như vậy. Cả những chữ giản dị như tên tháng ghi “July” thành “Yuly”; “Hiệu Trưởng” ghi là “Hệu Trưởng”; “Information” thành “Infomation” (thiếu chữ “r”; “very” thành “verry” thừa chữ “r”…

Thí dụ văn bằng Bachelor of Engineer do trường Đại Học Kiến Trúc cấp chẳng hạn. Không bao giờ có thứ bằng cấp này cả. Nếu đó là bằng kỹ sư thì phải ghi là Bachelor of ENGINEERING. Không bao giờ là Bachelor of ENGINEER . Danh từ ENGINEERING là môn (học) kỹ sư trong khi ENGINEER là (người) kỹ sư. Học thì học môn ENGINEERING. Không ai học ENGINEER cả.

Những sai sót như thế là những sai sót không thể chấp nhận được khi nó xuất hiện trên những văn kiện của những cơ sở cao cấp trong lãnh vực giáo dục. Các sinh viên, học viên tốt nghiệp của các trường đó khi xuất trình các văn bằng do các cơ sở cấp phát chắc chắn sẽ gặp phải những thái độ nghi ngờ về khả năng của họ, và cơ hội được tuyển dụng chắc chắn cũng giảm đi không ít. Một cơ sở giáo dục cao cấp mà để lại những sai sót ngu xuẩn như thế thì trình độ của những người được các cơ sở đó đào tạo như thế nào thì người ta không cần phải tìm hiểu lâu la gì cũng biết.

Vậy thì cách hay nhất là đừng xuất trình những thứ bằng cấp như thế làm gì. Cứ khai phứa phựa là có bằng nọ bằng kia là đủ. Như trường hợp của tên y tá chích đít nọ rồi cũng làm tới chức thủ tướng mà không ai biết nó học ở đâu mà vẫn nhận là có bằng cử nhân luật vậy.

Đúng là “nói láo mà chơi, nghe láo chơi” như câu thơ của Bồ Tùng Linh vậy.

________ ____________

 Hãy bước ra khỏi sự táo tợn ngu dốt

Blog RFA

CanhCo

16-05-2015

Quyền lực cao và tuyệt đối làm cho một con người dù thông minh tới đâu cũng có khi quẩn trí. Quyền lực làm cho một nhà nước, chính phủ dễ dàng trở nên độc tài nhất là khi không có một công cụ dân chủ nào kiểm soát và kềm giữ sự quá trớn từ một chính sách đưa ra, đặc biệt với chính sách nhằm đối phó với người chống lại sự độc tài của chính phủ hay nhà nước đó.

Nhân quyền tại Việt Nam là hình thức độc tài cao nhất của nhà nước khi tự tiện bịt miệng người dân không cho họ nói lên tiếng nói của mình. Đẩy người dân ra khỏi mảnh đất của họ bằng chính sách trưng thu đất đai mà không đền bù thỏa đáng. Đàn áp bắt bớ người bất đồng chính kiến, giam giữ không xét xử, tổ chức những phiên tòa không vành móng ngựa. Dập tắt tiếng kinh cầu nguyện trong những ngôi thánh đường xa xôi, hay tra tấn người dân đến chết trong đồn công an mà không sợ công lý trừng phạt. Những hành vi ấy đã và đang bị quốc tế theo dõi, soi rọi từ những góc tối nhất. Quốc tế thành công vì hệ thống thông tin toàn cầu không cho phép bất cứ một chính phủ nào che dấu, khỏa lấp việc làm chống lại loài người được biện minh bằng những điều luật mờ ám và sát nhân.

Việt Nam tỏ ra rất thành thạo trong cách đối phó với người không cùng hàng ngũ với họ, ngay cả đứng bên lề cũng không yên. Dân chúng phải tuân lệnh nhà nước dù lệnh ấy có làm cho xã hội đảo điên.

Không ngạc nhiên khi Hà Nội chặt cây xanh và khi bị chống đối họ chặt luôn người chống đối.

Vụ của anh Nguyễn Chí Tuyến đã chứng minh cho người dân thấy rằng nhà nước không bao giờ phục thiện nhất là khi người dân đụng tới phần thưởng của bọn tham quan. Hơn 6.700 cây xanh nếu suôn sẻ thì số tiền cung tiến cho bọn sai nha, bọn ký tá và nhất là bọn chóp bu Hà Nội không cách nào đếm hết. Nhìn vào thực tế ấy để thấy rằng công an giả danh côn đồ đánh anh Tuyến là đòn dằn mặt cho bất cứ ai còn tơ tưởng đến sự phản ứng của đám đông sẽ làm nên lịch sử, nhất là đám đông không có tổ chức và tự phát.

Sự táo tợn của công an nằm ở chỗ đánh anh Nguyễn Chí Tuyến ngay vào lúc Hoa kỳ vừa nói chuyện nhân quyền với Việt Nam xong và hồ sơ hai phía chưa ráo mực.

Trong vụ này nhiều người cho rằng chính phủ đã bị Đảng “đàn áp” và sự dằn mặt này có bàn tay Trung nam hải. Những nắm đấm vào mặt Chí Tuyến không khác gì đấm vào phái đoàn Nhân quyền Hoa Kỳ cùng những niềm tin bâng quơ vào một sự “phục thiện” mà Đảng sẽ mang ra làm quà trước chuyến đi của ông Tồng bí thư.

Thế nhưng khuôn mặt đẫm máu của anh Tuyến đã làm cộng đồng thức tỉnh, nhất là cộng đồng các nhà ngoại giao.

Các trang mạng nóng lên trong buổi sáng anh Tuyến bị đánh. Người ta share hình ảnh của một con người hiền lành với thương tích khó lòng phủ nhận. Có lẽ chỉ có kẻ thủ ác là hớn hở vì đã làm đúng chỉ thị của cấp trên, còn cấp trên thì lần này lại như ngồi trên lửa.

Khuôn mặt đẫm máu ấy tới tấp bay tới các tòa đại sứ ngoại quốc tại Hà Nội. Nó cũng nhanh chóng lan tràn ra khắp các nước và hậu quả nhãn tiền lần này Hà Nội không thể ném đá dấu tay như mọi lần khác.

Một ngày sau khi bị tấn công tàn bạo, sáng 12 tháng 5 anh Tuyến được một nhà ngoại giao Đức là ông Felix Schwarz, tham tán Chính trị và Nhân quyền đại sứ quán Đức đến tận nhà để thăm hỏi và ghi nhận mọi việc vừa xảy ra.

Ngày hôm sau, 13 tháng 5 Dân biểu Alan Lowenthal, thành viên của phái đoàn Quốc hội Mỹ vừa kết thúc chuyến thăm Việt Nam, đã gửi thư cho Chủ tịch nước Trương Tấn Sang yêu cầu có biện pháp chấm dứt ngay việc sử dụng bạo lực đẫm máu và yêu cầu mang kẻ thủ ác ra công luận.

Bà Janet Nguyễn, Thượng nghị sĩ Tiểu bang California trong một cuộc phỏng vấn đã nói rằng bà đã gửi một lá thư cho ông Ted Osius, Đại sứ Mỹ tại Hà Nội đề nghị chính phủ Việt Nam phải điều tra tại sao công an lại đánh anh Tuyến? Bà  cũng yêu cầu Human Rights Watch xem tại sao lại có vụ này xảy ra tại Việt Nam. Bà Janet Nguyễn còn nói Chính phủ Việt Nam đang áp dụng việc đánh người dân, đánh ai cũng được ở ngoài đường. Họ muốn giết người và bắt người vô tù mà người bị bắt không biết tại sao. Họ muốn bắt ai là cứ bắt.

Ông Tom Malinowski, một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Mỹ, phụ trách vấn đề dân chủ, nhân quyền và lao động, dẫn đầu phái đoàn Ngoại giao trong chương trình Đối thoại Nhân quyền Việt Nam tại Hà Nội vào ngày 7 tháng 5 đã nói với nhà báo Đoan Trang trong một cuộc phỏng vấn rằng “vụ việc của Anh Chí là một vấn đề cả từ giác độ nhân quyền lẫn chính trị: Thật là một việc làm vô cùng ngu dốt khi mà nó xảy ra đúng vào thời điểm quốc tế đang rất chú ý đến nhân quyền ở Việt Nam.”

Đại sứ quán Hoa Kỳ và Úc tại Hà nội cũng chính thức phản ứng trước vụ việc. Bà Jennifer đại điện đại sứ quán Mỹ và bà Rose McConnell đại diện đại sứ quán Úc hôm 15 tháng 5 đã tới tư gia thăm hỏi anh Tuyến và sau cuộc thăm hỏi ấy là phản ứng của công an Việt Nam.

Phản ứng này được xem là phản ứng có điều kiện.

Và điều kiện gây phản ứng là sự nhập cuộc của nhiều tòa đại sứ một lúc làm cho Đảng hụt hơi trong trò chơi ú tim, nín thở qua lằn ranh của đối phương trong khi sức chịu đựng của mình quá hạn hẹp.

Trò chơi đứt hơi ấy được tiếp sức bằng cách mời anh Chí Tuyến vẽ lại hiện trường bị đánh và công an đo đếm một cách cẩn thận để dư luận thấy họ có quyết tâm truy tìm thủ phạm mặc dù ít nhất hai người là Trịnh Anh Tuấn và Nguyễn Chí Tuyến biết mặt kẻ đánh mình.

Giống như dư luận viên, mặc dù ai cũng biết mặt mày nhà cửa, nhưng chỉ một cơ quan không biết đó là cơ quan điều tra.

Ông Hồ Quang Lợi đại diện cho Đảng đã rất khéo đặt danh xưng cho đám quân ô hợp của Hà Nội là Dư luận viên. Chữ “viên” hàm ý họ là một “viên chức” chứ không phải ngoài cơ quan hay dân thường. Họ được trang bị lý luận, mồm mép và cả sự bẩn thỉu cần thiết để chống lại người dân. Những “viên” ấy đã rút vào bóng tối nhưng không ai chắc rằng họ sẽ vĩnh viễn mất tích vì mới đây chính anh Tuyến đã kéo xe của trùm dư luận viên Trần Nhật Quang khi đi diễu hành chống chặt hạ cây xanh tại Hà Nội.

Từ dư luận viên, người dân có thể mạnh miệng gọi những tay giả dạng côn đồ là “côn đồ viên” chắc sẽ không sai. Khi côn đồ thành “viên” thì vị trí của nó ý nghĩa hơn, có giá hơn và nhất là có thể gây lòng tin yêu nơi Đảng hơn là làm côn đồ “trơn” ngoài xã hội.

Một khác biệt nữa là khi đã “viên” thì dù có bị điều tra nó cũng sẽ được chuyển sang “công tác” ở một chỗ có các chữ “viên” khác để chờ ngày thăng quan tiến chức.

Sự táo tợn của dư luận viên đã bị bỏ vào sọt rác nhưng xem chừng côn đồ viên vẫn chưa tới mức phải tự hủy khi mà Đảng vẫn còn mạnh hơn chính phủ.

Chính sách mang nắm đấm áp dụng vào nhân dân được xem là táo tợn và ngu dốt có lẽ sẽ dừng lại nhưng đối với những cái đầu tầm cỡ của Đảng người dân liệu mà chuẩn bị đối phó với những trò khác, chẳng hạn như dùng “viên” chức ngân hàng theo lệnh công an khóa trái tài khoản của những ai làm trái hay chống lại đường lối của Đảng như ông Nguyễn Thanh Giang đang tố cáo chẳng hạn?

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►VN ‘hoan nghênh’ Mỹ vì nỗ lực ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2015

 

Bộ Ngoại giao Việt Nam hoan nghênh phiên điều trần tại Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Mỹ về “Bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại Biển Hoa Đông và Biển Đông”.

Hôm 13/5, hai quan chức quốc phòng và ngoại giao Mỹ đã nói về động thái bồi đắp, lấn biển của Trung Quốc tại Biển Đông.

Bình luận về việc này, người phát ngôn Việt Nam Lê Hải Bình hôm 14/5 nói: “Việt Nam hoan nghênh nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong đó có Hoa Kỳ trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Biển Đông, đặc biệt là ủng hộ vai trò của ASEAN, tuân thủ DOC và những nỗ lực nhằm sớm đạt được COC.”

Ông David Shear, từng là Đại sứ Mỹ tại Việt Nam và nay là Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Phụ trách An ninh Châu Á và Thái Bình Dương, đã điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện hôm 13/5.

Một phần chính trong buổi điều trần là bình luận của ông David Shear về hoạt động tôn tạo, mở rộng đảo, đá của Trung Quốc trên Biển Đông gần đây.

Ông cho biết trong hai thập niên qua, ngoại trừ Brunei, tất cả các nước có tranh chấp đều xây tiền đồn ở Biển Đông để khẳng định chủ quyền.

Theo tính toán của Mỹ, ở quần đảo Trường Sa, Việt Nam có 48 tiền đồn; Philippines 8; Trung Quốc 8; Malaysia 5 và Đài Loan 1.

“Tất cả các nước tranh chấp đều có hoạt động xây dựng theo từng mức độ,” ông David Shear nói.

Theo ông, từ 2009 đến 2014, Việt Nam “là nước hoạt động mạnh nhất cả trong việc nâng cấp tiền đồn và bồi đắp, lấn ra biển khoảng 60 mẫu”.

“Toàn bộ các nước, ngoại trừ Trung Quốc và Brunei, cũng đã xây đường băng, kích cỡ khác nhau” ở Trường Sa.

Hoạt động của Trung Quốc.

Tuy vậy, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nói hoạt động tôn tạo, bồi đắp gần đây của Trung Quốc “vượt xa” các nước khác.

Mỹ ước tính từ năm 2014, Trung Quốc đã lấn ra biển 2.000 mẫu.

Hình ảnh cáo buộc hoạt động tôn tạo của Trung Quốc ở khu vực Đá Vành Khăn

Kết hợp với các động thái như yêu sách “đường chín đoạn”, hành xử của Trung Quốc gây lo ngại nước này đang tìm cách xác lập kiểm soát vùng tranh chấp trên thực tế, theo ông David Shear.

“Việc bồi đắp, lấn biển của Trung Quốc có thể có nhiều ngụ ý quân sự, nếu Trung Quốc muốn theo đuổi. Trong đó có khả năng phát triển hệ thống radar tầm xa và máy bay do thám tình báo. Tàu có mớn nước sâu hơn, và phát triển sân đỗ khẩn cấp cho tàu sân bay.”

“Những hành động này có thể khiến chính phủ trong khu vực củng cố khả năng quân sự ở các tiền đồn của họ, tăng nguy cơ tính toán sai lầm, khủng hoảng và chạy đua vũ trang.”

Cũng tại buổi điều trần, Trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, Daniel Russel, nói Hoa Kỳ có lợi ích để cần phải bảo đảm tranh chấp được giữ trong hòa bình.

“Căng thẳng gia tăng trong vài năm gần đây. Một vụ nghiêm trọng không chỉ có thể gây nên chu kỳ leo thang nguy hiểm mà nỗ lực phát triển ổn định dựa trên các nguyên tắc căn bản cũng bị thách thức bởi hành vi cưỡng ép.”

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ nói Mỹ nhấn mạnh để các vấn đề biển đảo “ở đầu nghị trình trong diễn đàn đa phương khu vực”.

“Chúng ta nêu bật hành vi có vấn đề như bồi đắp, lấn biển, để hành vi gây bất ổn được phơi bày và giải quyết.”

Ông Daniel Russel nói thêm: “Chúng ta bảo vệ quyền giải quyết tranh chấp theo luật pháp.”

“Chúng ta thiếp lập quan hệ đối tác với các nước vùng biển Đông Nam Á…và phối hợp với các đồng minh như Nhật, Úc để tối ưu ảnh hưởng trợ giúp và ngoại giao của chúng ta.”

Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ, Thôi Thiên Khải, phản ứng rằng Mỹ có “tiêu chuẩn kép” khi chỉ trích Bắc Kinh.

Ông Thôi nói một số nước cũng bồi đắp, tôn tạo nhưng không bị Hoa Kỳ chỉ trích.

“Ai đang gây ra căng thẳng ở Nam Hải? Trong mấy năm qua, Hoa Kỳ đã can thiệp lộ liễu,” ông Thôi nói.

Cuối tuần này, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry sẽ đến Bắc Kinh, chuẩn bị cho Đối thoại Kinh tế và Chiến lược tháng Sáu và cho chuyến thăm Mỹ dự kiến của ông Tập Cận Bình trong năm nay.

Tuy vậy, dường như căng thẳng trên biển sẽ chiếm phần quan trọng trong nghị trình chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ.

—————

-“Nguyen Tan Dung Mới chửi Mỹ hôm 30/4 vừa rồi, bây giờ thì níu áo Mỹ kêu cứu . Thật không ai mặt trơ như VC.
-Nên nhớ rằng Mỹ chả dại gì đụng độ với Trung Cộng (TC) đâu, chỉ lên tiếng cho có thôi.”

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

► Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2015

BBC

14-05-2015

 Giàn khoan 981 đang hoạt động ở Biển Đông

Trung Quốc loan báo hoạt động của giàn khoan nước sâu 981 tại Biển Đông trước khi di chuyển tới một vị trí mới.

Thông báo đăng trên website của Cục Hải sự Quốc gia Trung Quốc nói trong thời gian 10 ngày từ 6/5-16/5, giàn khoan Hải Dương 981 sẽ tác nghiệp tại giếng Lăng Thủy 25-1S-1, tọa độ 17°03′44″.5 Bắc/109°59′02″.7 Đông.

Vị trí này nằm cách thành phố Tam Á, thủ phủ tỉnh Hải Nam, khoảng 75 hải lý về phía đông nam.

Giới chức Việt Nam trong các phỏng vấn với báo giới trong nước nói vị trí này “ở ngoài vùng biển Việt Nam”.

Báo Thanh Niên dẫn lời thiếu tướng Ngô Ngọc Thu, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam, nói Cảnh sát biển Việt Nam luôn sát sao theo dõi hoạt động của giàn khoan 981.

Trong khi đó giới quan sát đang tìm hiểu sau ngày 16/5 khi công việc ở giếng Lăng Thủy kết thúc, giàn khoan 981 sẽ di chuyển đi đâu.

Có thông tin chưa kiểm chứng nói nó có thể sẽ được đưa vào vị trí hồi tháng Năm năm ngoái, tức nằm trong thềm lục địa của Việt Nam và chỉ cách đảo Lý Sơn chừng 120 hải lý.

Ngày 1/5/2014, giàn khoan 981 được đưa vào vị trí này, khơi nguồn một làn sóng phản đối Trung Quốc mạnh mẽ mà cao trào là đợt bạo lực nhắm vào doanh nghiệp Trung Quốc ở Việt Nam.

Cho tới giữa tháng 7/2014 giàn khoan này mới rút đi.

‘Hành động điên rồ’

Nhận định về khả năng giàn khoan 981 được đưa trở lại vị trí năm 2014, Tiến sỹ Ian Storey từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đặt tại Singapore nói: “Nếu nhớ lại ảnh hưởng nghiêm trọng cho quan hệ Trung-Việt cũng như phản ứng tiêu cực trong khu vực mà việc Trung Quốc di chuyển giàn khoan hồi năm ngoái gây ra, cộng thêm sự quan ngại trước các hoạt động xây đảo nhân tạo mới đây của Trung Quốc tại Biển Đông, thì thật là điên rồ nếu Bắc Kinh lại muốn đưa giàn khoan của mình vào khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam lần nữa”.

“Tuy nhiên quá trình ra quyết định của Trung Quốc không rõ ràng minh bạch và trong những năm qua chúng ta thấy Trung Quốc sẵn sàng chịu thiệt hại uy tín và vẫn tiếp tục thái độ hung hăng tại Biển Đông thì khó có thể khẳng định điều gì.”

Trong một diễn biến có liên quan, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry có kế hoạch sẽ đề cập chủ đề tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông với lãnh đạo Trung Quốc khi ông thăm Bắc Kinh cuối tuần này.

Hãng tin Reuters cho hay ông Kerry “sẽ cảnh báo Trung Quốc rằng việc cải tạo cơi nới đảo mà nước này đang làm ở Biển Đông sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định khu vực cũng như cho quan hệ Trung-Mỹ”.

Trước đó, hôm thứ Ba 12/5 một quan chức Mỹ cũng nói Lầu Năm Góc đang cân nhắc điều chiến đấu cơ và tàu chiến tới để bảo đảm tự do đi lại quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây tại Biển Đông.

Trung Quốc phản ứng giận dữ trước thông tin này và đòi giải thích.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►VIỆT CỘNG BANK HÃY TRẢ TIỀN KHÁCH HÀNG – PHẦN II

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2015

Lê thị Công Nhân

VIỆT CỘNG BANK HÃY
TRẢ TIỀN KHÁCH HÀNG – PHẦN II

TÓM TẮT: Ông Nguyễn Thanh Giang – sinh năm 1936, tiến sỹ vật lý địa chất nghỉ hưu, trú tại số 5 ngõ 341 quận Nam Từ Liêm, bị Vietcombank không trả tiền trong tài khoản của ông. Cụ thể như sau:
Năm 1995 ông Thanh Giang mở tài khoản tại Sở Giao dịch chính Vietcombank. Khi có chi nhánhVietcombank Thanh Xuân 448 Nguyễn Trãi (nằm cùng phía trường Đại học Quốc Gia/Tổng hợp cũ, cách ngã tư Khuất Duy Tiến khoảng 100m) thì ông giao dịch tại chi nhánh này cho gần nhà.
Mọi việc bình thường đến cuối năm 2011, bỗng dưng chi nhánh này không cho ông rút tiền mà không có lý do chính đáng nào được đưa ra một cách nghiêm túc tối thiểu (tức là bằng văn bản). Cả chục lần ông tới chi nhánh đều quay về trong tức tưởi. Nhân viên ngân hàng luôn nói làm “Theo lệnh cấp trên.” thỉnh thoảng lại nói “Theo lệnh Bộ Công An.” (Bộ Công An thì liên quan gì ở đây? Hay như vụ Chặt cây Hà Nội, dở hơi dở hồn ra lệnh cho Trường Đại học Lâm nghiệp cấm giảng viên, nhân viên trường nói về vụ Chặt cây, rồi sau này chối bai bải để lại thất đức cho con cháu!). Họ bảo ông lên Trụ sở chính Vietcombank mà hỏi. Dù ông yêu cầu thế nào chi nhánh này cũng nhất quyết không biên bản làm việc hay ghi giấy giới thiệu ông đến gặp “cấp trên” hay “Bộ Công An” thần bí nào đó để khiếu nại, nếu như chi nhánh này không làm gì sai.

Sự việc cứ thế kéo dài suốt 5 năm! Ông Nguyễn Thanh Giang tuổi cao sức yếu, cũng chưa cần cấp số tiền này (khá nhỏ), và ông quá nhẫn nhịn, nên không đưa sự việc ra công luận. Ông rất mệt mỏi và bế tắc đến nỗi gửi chi nhánh 1 lá thư tuyên bố nếu không trả tiền cho ông và vẫn cứ im lặng khinh thường, vô luật với khách hàng, ông sẽ đến chi nhánh này tuyệt thực cho đến khi nào họ giải quyết hoặc đến chết!

Biết tin này, chúng tôi rất shock và phẫn nộ, không tưởng tượng nổi ngân hàng Vietcombank lớn và chuyên nghiệp, giao dịch toàn cầu lại hành xử như vậy. Sáng thứ 6, 8.5.2015 chúng tôi cùng bác Giang đến chi nhánh đòi tiền lần cuối cùng . Nếu ngân hàng không trả thì phải làm giấy gới thiệu nói rõ phải đến chỗ nào đề đòi. Cuộc làm việc kết thúc trong vô vọng khi ngân hàng vẫn nhất quyết nói họ chỉ làm theo lệnh cấp trên. Rát cổ bỏng họng ngân hàng mới đưa một giấy hẹn mời bác Giang tới làm việc với ông Ngô Quốc Kỳ-Giám đốc Chi nhánh vào 4h chiều thứ 3 ngày 12.5.2015.

NỘI DUNG LÀM VIỆC NGÀY 12.5.2015

Gần 4h chiều chúng tôi đến ngân hàng, đã thấy mật vụ đầy nhóc. Một số bạn bè quan tâm đến ủng hộ, cổ vũ bác Giang đòi tiền-đòi công lý, như vợ chồng nhà báo Nguyễn Tường Thụy, ông Nguyễn Lê Hùng, anh Trương Văn Dũng, cô dân oan Nguyễn thị Huần, học giả Nguyễn Hoàng Đức, anh Toàn, anh Sơn, bà giáo Thảo … Các mật vụ quận Thanh Xuân chủ động ra bắt chuyện một nạn nhân bị sách nhiễu quen thuộc của họ là thầy giáo Vũ Mạnh Hùng-trường Cao đẳng Thương Mại (nhà ở quận Thanh Xuân).

Đúng 4h, một cô đẹp như hoa hậu nhưng không xưng tên, ra mời bác Giang vào làm việc và lại ca điệp khúc chỉ một mình bác Giang được vào !? Chúng tôi lại phải “ní nuận” với hot girl này mà cái đầu cô ta có vẻ cũng đang hot (sốt!), để được đi cùng bác. Sau đó được biết cô này là Phó Giám đốc Chi nhánh chứ “Không phải dạng vừa đâu”.

Lẽ ra cô này phải lịch sự hỏi chúng tôi “Phía bác đi mấy người ạ? Phòng chỉ có 12 ghế, phía bác đi 6 người thì ngồi thoải mái, nếu nhiều hơn thì mọi người vui lòng ngồi ghế phụ vì bên ngân hàng có 6 người tham gia” (Ví dụ thế). Đôi co một lúc thì họ cũng để kỹ sư Hoàng Văn Hùng, thầy giáo Vũ Hùng và tôi theo bác vào phòng.

Ông Kỳ-Giám đốc giới thiệu bà Mai Phương – Trưởng phòng Dịch vụ và Thanh Toán, bà Thúy Hằng – Phó phòng Khách hàng (chưa kể bên ngoài có khá đông mật vụ) cùng tham gia. Ông vào đề ngay một cách rất tự tin (chúng tôi mừng thầm, lẽ thường người làm đúng sẽ tự tin!). Ông Kỳ nói tài khoản của bác Giang bị khóa là khóa trên toàn hệ thống và ngân hàng làm theo lệnh Bộ Công an. Chi nhánh không làm việc này. Ông Kỳ hôm nay rất khôn, chẳng đả động một lời đến cấp trên hay trụ sở chính Vietcombank như lần trước.

Chúng tôi hỏi tại sao lôi Bộ Công an vào đây, ông Kỳ chăm chú nhìn vào một tờ giấy trên mặt bàn và đọc: Bộ Công an có đầy đủ chứng cứ chứng minh Nguyễn Gia Kiểng-hiện đang sống tại Pháp là đối tượng phản động, chống phá chính quyền và nhân dân Việt Nam, nên yêu cầu Vietcombank khóa tài khoản của ông Giang vì ông Kiểng có chuyển tiền về tài khoản này, thắc mắc gì mời lên Thanh tra Bộ Công an số 3 Nguyễn Thượng Hiền làm việc.

Đọc thế là hết, hết luôn trách nhiệm. Chúng tôi nghễnh dài cổ đợi xem còn gì nữa không. Đợi một cái gì đó có vẻ chuyên nghiệp một tí, có dấu vết pháp luật một tí, nghe có vẻ pháp quyền, hành chính một tí, chứ cái mùi dư luận viên thối hoắc này thì quá là phì cười!
Chúng tôi hỏi: “Anh đọc cái gì vậy? Tiêu đề của nó đâu? Một văn bản nhà nước mà không có tiêu đề, số hiệu, ngày tháng, người ký là sao? Anh phải đọc nốt đi chứ? Cái đoạn vừa rồi anh đọc trẻ con ngoài đường nó cũng bịa ra được.”
Thật shock khi nghe ông này trả lời “Đây là tài liệu mật, là việc nội bộ của chúng tôi. Chúng tôi không được tiết lộ văn bản này.” và lấy mấy tờ giấy khác che lên cái văn bản đó ngay.

Vậy là rõ nhé, tự thú đấy nhé: Vietcombank và Bộ Công an hành xử bằng mật lệnh để đàn áp khách hàng. Mafia thua xa! Mafia chỉ dám buôn lậu, bảo kê quán rượu, mại dâm. Mafia chưa bao giờ dám mở ngân hàng để rồi cướp trắng tiền của khách hàng như thế.

Ông Kỳ rè rè tua bài giáo điều hỗn độn: “Chúng tôi chỉ biết làm theo lệnh của cơ quan có thẩm quyền; Lệnh của cơ quan có thẩm quyền thì chúng tôi phải làm theo; Ai trong hoàn cảnh chúng tôi cũng phải làm theo lệnh cơ quan thẩm quyền …” Ấy chết! Một mình ông dại, một mình ông hèn, ông sợ vãi bọn thẩm quyền lạ lùng bí hiểm nào đấy, ông lại vu cho cả nghành ngân hàng cũng như ông, là răng?

Trên đây là toàn bộ cái gọi là lý lẽ của Vietcombank được trình bày trước ống kính camera loại xịn đặt trên chân máy cũng xịn nốt, chiếu thẳng vào chúng tôi, quay suốt buổi làm việc. Cái gì của ngân hàng cũng xịn, chỉ có lý lẽ là đểu giả y hệt cái lưỡi bò 9 đoạn 12 khúc của Tàu khựa !

Thật khốn khổ và cay đắng cho chúng tôi khi phải tiếp tục nêu ra những lý lẽ mà ai cũng biết, chỉ có một số kẻ chày cối vờ vịt không biết:
– Người dân khi mở tài khoản và khi giao dịch đều có giấy tờ, thì việc khóa tài khoản càng đương nhiên phải có giấy tờ, sao ngân hàng lại làm việc mafia như vậy;
– Yêu cầu photo cái lệnh đó đưa cho chúng tôi để làm căn cứ khiếu kiện;
– Nếu không đưa được cái lệnh đó ra, chúng tôi buộc phải hiểu:

1- Nếu thật là Bộ Công an ra lệnh mà ngân hàng lại không dám đưa cái lệnh đó ra tức là lệnh này là phi pháp (nội dung sai, hình thức sai, thẩm quyền sai). Ngân hàng khiếp sợ, biết sai vẫn làm theo cái sai thì phải chịu trách nhiệm đồng phạm;
2- Ngân hàng đổ điêu cho Bộ Công an, vậy ngân hàng phạm tội vu khống Bộ Công an. Nhưng thôi, không cần bàn sâu việc này, nếu Bộ Công an thấy thiệt hại, bức xúc tự họ sẽ kiện ngân hàng, hoặc đơn giản là bác bỏ cáo buộc của ngân hàng (như vụ Chặt cây Hà nội nhắc ở trên).
Không còn cách hiểu nào khác đối nếu có lương tri bình thường.
– Tại sao ngân hàng báo công an biết việc gửi và nhận tiền của khách hàng?
– Nếu ông Kiểng là tội phạm thì yêu cầu Bộ Công an ra lệnh truy nã quốc tế ông Kiểng, tích cực phối hợp Interpol bắt ông Kiểng;
– Nếu xác định tiền ông Kiểng gửi về là để phạm pháp thì đừng nhận. Tại sao nhận rồi giữ lại không cho đầu kia rút? Hành động này của ngân hàng không gọi là cướp, là quỵt thì gọi là gì?
– Không cho người nhận rút tiền thì phải trả lại người gửi là ông Kiểng, ghi rõ lý do của việc trả lại. Vietcombank phải ra văn bản gửi ông Kiểng yêu cầu đừng gửi tiền đến Vietcombank, nếu không ông Kiểng cứ đến gửi mà ngân hàng không nhận thì ngân hàng sẽ phạm tội phân biệt đối xử là tội cực nặng về vi phạm nhân quyền. Mọi lý do đưa ra thì phải chính đáng, đương nhiên.
– Trong tài khoản có tiền của ông Giang, có tiền của ông Kiểng gửi và cả những người khác gửi, theo lệnh mồm bảo khóa là chiếm giữ tất cả hay sao?
– Nếu ông Giang có tội (chính bác Thanh Giang tuyên bố), yêu cầu truy tố ông Giang ngay. Vì suốt 5 năm qua, đồng chí công an X-người đã ra lệnh khóa tài khoản, đã phạm tội quy định tại điều 294 Bộ luật Hình sự “Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” khoản 2.a “Người nào có thẩm quyền truy cứu mà không truy cứu hình sự người mà mình biết rõ là có tội thì phạt tù từ 2 năm đến 7 năm đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia”;
– Ngược lại, nếu ông Giang không có tội thì đồng chí công an X quyết định bắt ngân hàng không trả tiền cho ông Giang, đã phạm tội quy định tại điều 296 Bộ luật Hình sự “Tội ra quyết định trái pháp luật” mức án cao nhất đến 10 năm tù, hoặc phạm tội vu khống.
– Tóm lại, nếu coi việc khóa tài khoản là biện pháp ngăn chặn, thu giữ tang vật vụ án thì tức là ông Giang phạm tội, vậy sao suốt 5 năm qua không khởi tố ông Giang? Do vậy, vu ông Kiểng ông Giang có tội gì đó chỉ là cái cớ để quỵt tiền. Quỵt tiền mới là mục đích.

Tất nhiên đó là trong trường hợp Vietcombank đưa ra được bằng chứng là Bộ Công an ra lệnh ép buộc họ. Nhưng chả có bằng chứng nào cả! Ai đời kêu gào là mình bị buộc làm theo lệnh đồng chí X nhưng nhất quyết bao che tung tích đồng chí X bằng chết thì thôi! Còn bảo khách hàng hãy đi lang thang kiện tụng, có gan thì ghé qua Văn phòng Thanh tra Bộ Công an nói là có ông Kỳ ở Vietcombank Thanh Xuân bảo lên đây kiện. Trời! Kỳ ơi, Kỳ quá kỳ, kỳ ạ!

Chúng tôi tiếp tục đặt câu hỏi với những cái lỗ tai bằng gỗ “mõ vàng tâm”:

– Anh nói mồm thế này rồi xúi chúng tôi lên Bộ Công an kiện à? Nếu anh là công an anh có nghe được không? Chắc chắn công an sẽ hỏi “Ông bà có chứng cứ gì mà vu cho Bộ Công an? Đứa ất ơ nào làm ăn vớ vẩn vu mồm đổ điêu cho chúng tôi, ông bà cũng lên đây kiện à?”
– Mà tại sao chúng tôi lại phải lên Bộ Công an? Ngay cả khi có cái văn bản động trời ấy làm bằng chứng, thì nó cũng chỉ cho thấy Bộ Công an đã làm sai (nếu không thì 5 năm qua đã khởi tố bác Giang, truy nã bác Kiểng), mà ngân hàng lại cun cút làm theo cái sai của công an thì ngân hàng phải chịu trách nhiệm với khách hàng nên chúng tôi không đi đâu hết.
– Ngân hàng cứ nói là làm theo lệnh cơ quan có thẩm quyền, kể cả thẩm quyền tối cao thì vẫn phải có căn cứ. Chả lẽ cứ nghe đến quyền lực là sợ vãi ra, quyền lực nó bảo gì cũng làm.Thẩm quyền là để làm việc đúng đắn, nếu không đó chỉ là quyền lực, là cường quyền, tà quyền để áp bức và bóc lột người khác, hoàn toàn không phải là thẩm quyền theo quy định của pháp luật hay đạo lý. Ngân hàng đừng tự đánh lừa mình về các khái niệm như thế.
Khi tôi đọc các điều luật hình sự về tội của người có thẩm quyền mà lại không làm đúng hoặc làm sai chức trách của mình, về việc thu giữ và xử lý tang vật vụ án (nếu có vụ án) thì ông Kỳ gạt đi, nói “Chúng ta không nói chuyện luật pháp ở đây. Cái đấy không liên quan việc này, không cần dùng đến.” Ô hay! Ngân hàng không trả tiền khách hàng, mà lại không thèm nói chuyện pháp luật thì nói chuyện gì hả giời ? Hay là mình nói chuyện “Anh ngủ thì tôi thức, tôi thức thì anh ngủ, chúng mình thay nhau canh giữ hòa bình thế giới.” nhé, (Nguyễn Minh Triết).
Khoảng 5h30 cô Phó Giám đốc lộng lẫy bước vào, nói “Thưa anh (Kỳ), hết giờ làm việc rồi. Hệ thống báo động sẽ bật, từ giờ có người lạ nào ở đây thì công an sẽ tới ngay.” Chẳng ai nói lại gì. Có vẻ không xi nhê. 10 phút sau cô này lại bước vào lộng lẫy, tiếp tục cảnh báo. Ông Kỳ nói “Hết giờ làm việc rồi, mời các anh chị về cho, bác Giang muốn trao đổi gì thì chỉ mình bác Giang ở lại.” Suy nghĩ một lúc, ông ta lại thêm “Cho phép 1 người được ở lại để hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe bác Giang.”
Lúc này, bác Giang mới lên tiếng “Công an hả? Tốt thôi, mời họ vào đây, bảo họ bắt giam tôi luôn đi. Không trả tiền lại còn dọa dẫm, anh Kỳ còn chút lương tâm nào không? Nên nhớ tôi là chủ nợ, ngân hàng là con nợ, mà không phải là vay nợ bình thường, ngân hàng dùng quyền lực cướp tiền trong tài khoản của tôi. Trả tiền cho tôi ngay, đừng có lằng nhằng, vớ va vớ vẩn.”
Ông Kỳ cuống lên, chúng tôi cũng hoảng vì thấy mặt bác đỏ bừng, dấu hiệu của tăng huyết áp, bác vốn huyết áp cao. Ông Kỳ vội vàng nói “Xin bác đừng nói thế, tiền của bác vẫn còn nguyên đấy, không hao tổn 1 đồng, ngân hàng chỉ làm dịch vụ hưởng phí thôi. Cái này chúng tôi chỉ làm theo lệnh cấp trên có thẩm quyền.” Bác Giang bảo “Cấp trên nào? Sao hồi nãy bảo là Bộ Công an? Anh là ai? Có thẩm quyền đại diện ngân hàng làm việc với tôi không, hay anh là công an? Nãy giờ anh chỉ toàn nói đến công an. Tôi đến đây đòi tiền. Đây là chuyện tôi với ngân hàng, công an công iếc cái gì. Kể cả có công an thì bảo họ ai phạm pháp cứ vào bắt. Ở đây chính ngân hàng là kẻ phạm pháp. Ngân hàng có giải tỏa tài khoản của tôi không, có trả tiền không?
Im lặng một lúc, 15 phút sau, cửa bật mở, 2 người mặc đồng phục màu xanh kiểu vệ sỹ bước vào. Bên ngoài đông đảo công an, mật vụ, và các vệ sỹ khác. Ông Kỳ chủ động giới thiệu “Theo quy trình, hết giờ làm việc thì vệ sỹ họ phải đi một vòng tất cả các phòng trong trụ sở ngân hàng để xem còn ai ở lại làm việc không. Chứ không bắt giữ, đe dọa ai cả.”
Chúng tôi nói “Ngân hàng thật quá đáng, chiếm giữ tiền của khách hàng, mời khách hàng đến làm việc mà 2 lần mang công an ra dọa, giờ lại đem vệ sỹ vào. Anh nói là không dọa, cần gì anh phải nói là “Tôi dọa các người đấy.” Anh làm chúng tôi cảm thấy bị đe dọa, như vậy là đủ rồi, đủ hiểu ngân hàng có thành ý giải quyết hay không. Nếu các anh định lấy cớ an ninh ngân hàng đuổi chúng tôi, chúng tôi sẽ đi ngay, xuống phòng lễ tân (lúc này đang ở phòng họp của giám đốc trên tầng 8), càng thoáng, càng thích và an toàn cho chúng tôi vì gần gũi anh em đang kiên nhẫn chờ đợi ngoài vỉa hè. Các anh nên dẹp ngay ý định vu vạ cho chúng tôi bất kỳ điều gì liên quan đến an ninh an toàn của ngân hàng, vì: 1- Chúng tôi không lẻn vào đây, ngân hàng hẹn chúng tôi làm việc và mời vào phòng này; 2- Chính các anh và cái camera kia làm chứng chúng tôi không làm điều gì tổn hại tài sản, ô nhiễm môi trường ở đây, tiền bạc không nhìn thấy chẳng sờ vào. 3- Cả 3 chúng tôi đi cùng bác Giang, thì bác Giang có quyền thay người khác đi cùng bác ấy, ngân hàng chớ can thiệp vào, vô duyên.”Sau đó anh Hoàng Văn Hùng bận việc gia đình đi về, bác Giang đề nghị anh Trương Dũng lên thay, nhưng ở dưới nhân viên không cho anh Dũng lên. Chúng tôi còn 3 người: nhân vật chính: nạn nhân Nguyễn Thanh Giang 80 tuổi huyết áp cao đã sẵn sàng bị chết trong tù vì cái tội dám đòi ngân hàng trả tiền trong tài khoản của mình; thầy giáo Vũ Hùng-cựu tù nhân lương tâm, phiên bản đẹp giai của ông Hồ Chí Minh, hiền hơn bụt, là nạn nhân dự khuyết của Việt cộng Bank; tôi-cựu tù chính trị, huyết áp thấp 60/90, có đứa con 3 tuổi đang nhờ người trông, ông chồng gầy tong teo làm nghề chăn vịt (Nhờ ơn đảng cộng sản, nhờ ơn chính phủ ép hãng luật đuổi việc lão vì cái tội dám lấy tôi!), trước hắn là kỹ sư làm việc tại phòng sáng chế hãng luật Phạm và Liên danh, đang cùng anh em biểu tình ngoài vỉa hè ngân hàng, và một bà mẹ già di chứng tai biến não liệt và câm đang chờ ở nhà. Tôi cũng là nạn nhân dự khuyết của cái ngân hàng chết tiệt này.Vậy mà đem công an ra dọa chúng tôi ư? Thời nào vậy? Thưa rằng thời MẠT SẢN. Cái trò chính quyền thuê côn đồ (mà có khi tự làm cũng nên?) ném cứt pha dầu luyn vào nhà những người đấu tranh dân chủ và dân oan chống bất công hoặc 1 ngày đẹp trời bị 5, 6 tên mật vụ cầm gạch, tuýp sắt phang vào đầu, phang vào sườn, phang vào ống đồng dù vợ chồng con cái nạn nhân đang chở nhau đi trên đường thì đúng là sợ vãi !!! Kẻ nào đã ra lệnh cho gần 20 mật vụ lao vào sờ soạng, thọc vào vùng kín của nữ nạn nhân-là một chiến sỹ dân chủ hòa bình rất trẻ, ngay tại sân bay quốc tế Nội Bài. Đến nỗi, bà giáo Hường, tín đồ Thiên Chúa Giáo, đang sống tại khu Bách Khoa Hà Nội, có người cháu là nhân viên an ninh chính thức của sân bay, kể với bà “Thiếu mỗi nước chúng nó xé quần áo con bé ra cưỡng hiếp. Cực kỳ ghê tởm!”Tại sao cộng sản lại vô thần, vô đạo, khiến họ cứ ngang nhiên nói lời càn quấy, trắng trợn làm điều xằng bậy, ác ôn mà không sợ luật nhân quả? Chính xác là do TỨ VÔ:
1- Bản thân thì vô sản;
2- Xã hội thì vô gia đình (Gia đình bé hơn tổ chức, cấp ủy. Công an, bộ đội muốn lấy chồng, cưới vợ phải nộp đơn và lý lịch của người yêu cho tổ chức cấp ủy. Đợi xét duyệt, cấp phép bằng văn bản, mới được cưới);
3- Dân tộc thì vô tổ quốc đếch quê hương (có Quốc tế Cộng sản 1,2,3 ta cùng bước lùi và quan thầy Xô Viết Trung cộng rồi, cần gì tổ quốc quê hương. Khẩu hiệu: Vô sản khắp nơi liên kết lại xây dựng thế giới đại đồng thẳng tiến lên thiên đường cộng sản;
4- Linh hồn thì vô thần, vô đạo.Là con người mà tứ vô thì còn gì là người! Còn chả bằng con súc vật. Súc vật nó thích ai là nó tự nhiên tiến tới chinh phục, không phải đợi thằng sản ủy nào xét duyệt, cấp phép. Nhưng cộng sản đâu cần làm người, cũng chẳng phải con người. Là người ai lại ra lệnh hoặc tự mình kỳ công, cố sức kìm nén nôn mửa ngồi khuấy trộn cứt với dầu luyn rồi ném vào người khác như thế? Thích thì cứ việc khuấy trộn để tự ngửi, tự sướng, chứ đừng ném vào người khác, không trời đất, thánh thần nào bỏ qua được cái tội đê hèn tận cùng này.
Dù sao, mang hình hài con người thì phải nhớ rằng, quy luật nhân quả cũng như định luật vật lý vậy, bạn có phát minh ra nó hay không thì nó vẫn tồn tại, có thừa nhận nó hay không thì nó vẫn vận hành.
Tôi lại lạc đề, hy vọng không làm phiền người đọc!

Thật may là anh Dũng ở đâu cũng làm được việc. Anh ở ngoài vỉa hè, cùng bà con làm cuộc biểu tình mini đả đảo Vietcombank quỵt tiền khách hàng. May mà những người ở ngoài không biết chúng tôi trên này bị ngân hàng đem công an ra dọa, nếu không lại có thêm cái khẩu hiệu “Đả đảo ngân hàng cấu kết công an quỵt tiền khách hàng.”

Sau đó, ông Kỳ lập biên bản buổi làm việc và đề nghị bác Giang ký vào. Biên bản chỉ ghi: Theo lệnh Bộ Công an Vietcombank khóa tài khoản của ông Giang, đề nghị ông Giang có thắc mắc gì thì đến Thanh tra Bộ Công an số 3 Nguyễn Thượng Hiền làm việc. Ông Kỳ và bà Thúy Hằng ra sức thuyết phục bác Giang ký vào biên bản. Ông Kỳ bảo “Bác yên tâm, cháu cũng ký vào biên bản, cháu phải chịu trách nhiệm về lời nói của cháu chứ.” Bác Giang nói “Đương nhiên là anh phải chịu trách nhiệm về lời nói của anh rồi. Nhưng anh phải nói rõ là căn cứ vào đâu mà anh bảo là Bộ Công an ra lệnh cho anh, anh phải trích dẫn tiêu đề, số hiệu, ngày tháng cái văn bản đó vào đây và photo một bản đính kèm. Nếu không thì anh chịu trách nhiệm cái gì? Mang cái biên bản này lên Bộ Công an họ sẽ bảo tôi là một anh bất Kỳ nào đấy hay ai nói gì bác cũng làm theo àh? ít ra trong biên bản này phải có trích dẫn bằng chứng dù là gián tiếp, để công an đối chiếu xác minh. Nếu không, tôi không ký cái gì cả, và khẳng định: anh vu vạ cho công an.”

Sau đó, bác Giang đề xuất “Hôm nay ngân hàng không giải quyết gì cho tôi cả. Vậy ngân hàng hãy viết giấy mời 3h chiều thứ 4 ngày 20.5.2015 làm việc. Đó sẽ là lần cuối cùng tôi tới đây làm việc với ngân hàng để đòi tiền và chỉ làm việc tối đa 30 phút. Phải bình thường hóa tài khoản của tôi, không thì tôi sẽ đi về ngay và cùng anh em biểu tình ngay vỉa hè ngân hàng. Hàng tuần chúng tôi sẽ cố gắng xắp xếp thời gian đến cái chi nhánh này để biểu tình cho đến khi nào ngân hàng trả lại công lý cho tôi. Lên Trụ sở chính Vietcombank biểu tình cũng được thôi, càng trung tâm. Nhưng chúng tôi quyết định sẽ biểu tình tại chi nhánh này cho gọn, ngân hàng có thuê côn đồ, hay công an đàn áp chúng tôi thì cũng gọn gàng. Ngân hàng đã sai lầm và xúc phạm tôi một cách ghê ghớm, làm tổn hại sức khỏe, tổn thương lòng tự trọng và ức chế tinh thần của tôi. Tôi sẽ tố cáo Vietcombank lên Liên Hợp quốc, chính quyền Hoa Kỳ, Hội đồng châu Âu, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á và các tòa án nhân quyền khắp nơi trên thế giới. Vietcombank đã ngoan cố biến một vụ việc sai sót lầm lẫn thành một vụ án nhân quyền. Ngân hàng áp bức, man trá, lừa phỉnh, hống hách, coi thường khách hàng, làm khách hàng bế tắc đến mức tuyệt thực phản đối”.

Nhóm ông Kỳ thì thầm trao đổi. 15 phút sau giấy mời được mang tới, nội dung y hệt giấy mời lần trước. Lúc này quá mệt, chúng tôi quyết định ra về. Ông Kỳ và các nhân viên cười tươi suýt cười to, sung sướng tống tiễn chúng tôi. Chúng tôi cũng có cảm giác cứ như vừa ở tù ra. Thỉnh thoảng trong buổi làm việc, người này đến người khác, bỗng dưng ở đâu vào phòng, không ai giới thiệu, cũng không tự giới thiệu, bảo chúng tôi “Sao chúng ta lại làm khổ nhau thế này?” Chúng tôi phải “chỉnh đốn đảng” ngay: “Không có chuyện làm khổ nhau, chỉ có chúng tôi bị các anh làm khổ thôi.” Thế là ngây ngô đi ra!

Kính mong quý đồng bào – những người đã, đang và sẽ là khách hàng của các ngân hàng nói chung cũng như Vietcombank nói riêng, quan tâm, chia sẻ và đồng hành cùng bác Thanh Giang trong cuộc gặp 3h chiều thứ 4 ngày 20.5.2015 tại Vietcombank Thanh Xuân 448 Nguyễn Trãi Hà Nội. Và đồng hành với bác đến cùng cho đến khi nào vụ việc được giải quyết.

BÊN LỀ:
Thú thật tôi chả ưa gì ông Kỳ vì ông ta toàn nói linh tinh, lì lợm đến chết không giải quyết các yêu cầu tối thiểu của bác Giang, nhưng tôi cũng không ghét bỏ gì ông ấy. Ấy vậy mà hôm nay khi bác Thanh Giang giới thiệu “Đây là luật sư LTCN” thì ông Kỳ dựng ngược lên, xấc giọng hỏi tôi “Luật sư à? Thế thẻ luật sư của chị đâu? Luật sư thì phải có thẻ hành nghề mới là luật sư, nhá. Không phải ai cũng xưng là luật sư được đâu, bị tước thẻ hành nghề luật sư rồi mà xưng luật sư là mạo danh đấy, nhá”. (Biết rõ ghớm!)

Trời! Tôi sợ quá! Đáp lời “Hình như anh đang nhầm lẫn giữa nghề nghiệp và hành nghề? Nghề nghiệp của tôi là luật sư thì nói là luật sư. Tôi già rụng hết răng, chết xuống lỗ thì mọi người vẫn gọi là luật sư. Bác sỹ cũng vậy, không hành nghề nữa hay về hưu thì vẫn gọi là bác sỹ. Bị tước thẻ hành nghề thì tôi không hành nghề kiếm sống với tư cách luật sư nữa. Nhưng nếu muốn, tôi hoàn toàn có thể tư vấn cho người khác và được trả thù lao. Ông Kỳ cục này bối rối 1 lúc nhưng vẫn ngoan cố “Tất nhiên tôi không nhầm nghề nghiệp với hành nghề. Vấn đề là khi đang làm việc mà giới thiệu ai đó là luật sư thì dứt khoát phải đưa thẻ luật sư ra đây, nếu không thì tôi coi là mạo danh, nếu đã bị tước thẻ hành nghề thì phải giới thiệu là “Đây là luật sư đã bị tước thẻ hành nghề.”

Chẳng đợi tôi phải nổi giận, bác Thanh Giang, anh Vũ Hùng, anh Hoàng Hùng không chịu nổi, bảo anh ta “Sao anh lại quan trọng hóa việc này thế nhỉ. Ở đây tôi là tiến sỹ về hưu, anh Vũ Hùng là thầy giáo nhưng hiện không đi dạy, anh Hoàng Hùng sắp về hưu. Cô Công Nhân đúng là đã bị nhà nước tước thẻ luật sư một cách phi pháp, nhưng nó liên quan gì tới việc tôi giới thiệu nghề nghiệp họ đã lựa chọn học hành, đào tạo trước đây. Giới thiệu thì phải nói nghề nghiệp của người ta, không nói cũng không sao, nhưng chúng tôi có quyền giới thiệu như vậy. Nó là chuyện nhỏ và hoàn toàn bình thường mà. Anh có sao không?”. Tôi nói “Anh đang xúc phạm tôi đấy. Điều đó chỉ thể hiện anh mặc cảm với nghề nghiệp của tôi. Anh sao vậy?” Ông Kỳ im lặng không nói chuyện đó nữa.

Cuối buổi làm việc, tôi hỏi thẳng ông Kỳ “Anh có vẻ ghét tôi nhỉ. Tôi làm gì sai với anh sao?” Ông Kỳ nói “Không, tôi không ghét gì chị cả. Tôi chỉ yêu cầu chị trình thẻ luật sư nếu chị dám xưng là luật sư trong khi đang làm việc. Luật quy định rồi, luật sư cũng như bác sỹ, làm việc là phải có giấy phép. Dứt khoát phải là như thế, tôi không cãi nhau tay đôi với chị.” Tôi đáp “Tôi đã nói với anh lưu ý phân biệt nghề nghiệp với hành nghề, là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau. Tôi cũng không cãi nhau tay đôi với anh. Anh nói rằng luật quy định dứt khoát phải trình thẻ luật sư ra, nếu không là mạo danh. Vậy, tôi không trình ra thì tôi sẽ bị chế tài gì nào?
Ông Kỳ đáp “Tất nhiên chẳng có chế tài nào cả.” Hiểu được logic của ông này, chết liền!

Ông Kỳ còn chẳng biết ý nghĩa từ “mạo danh”. Chán ông này! Mạo danh là giả mạo tên người khác. Ví dụ: đám dư luận viên chuyên trò bịa đặt vu khống, giả vờ là người này rồi nói xấu người kia trong phong trào đấu tranh dân chủ, lập facebook nhái, blog nhái ký tên là A B C … là những cái tên có thật trong phong trào. Thế là người yếu bóng vía, giàu lòng đố kỵ, lắm ngóc ngách u tối trong tâm hồn, được phen dựng ngược lên. Ngoài ra, tên người là sở hữu riêng của người đó. Trùng tên là hiện tượng tự nhiên, và ngay cả trùng tên thì nó vẫn cứ là tên riêng. Ví dụ: Có 3 người tên là Ngô Cờ Đỏ, thì cả 3 người đó, và cả xã hội phải công nhận đây là tên riêng của 3 người này. Và 3 người này phải chấp nhận hiện tượng tự nhiên bị trùng tên, những hậu quả bất ngờ, và cả rắc rối do sự tình cờ trùng tên mang lại, chứ không phải là mạo danh. Còn luật sư là nghề nghiệp, chứ không phải tên riêng mà bảo là mạo danh thưa ông Ngô Cờ Đỏ, xin lỗi, ông Ngô Quốc Kỳ, ạạạ!

Có vẻ ông Kỳ chưa bao giờ gặp chuyện như thế này. Khổ thân! Hôm nào rỗi ghé chi nhanh hỏi xem Vietcombank đã bao giờ nghe lệnh cấp có thẩm quyền khóa tài khoản của bọn quan tham rửa tiền tham nhũng chưa? Đừng có nằm mơ! Ông Kỳ có muốn làm vậy cũng không được vì chưa bao giờ có cái lệnh nào khóa tài khoản của quan tham được ban hành bởi cơ quan thẩm quyền trong lịch sử công cuộc chống tham nhũng của đảng ta. Vì tham nhũng là lý do thành lập và mục đích của chế độc tài độc tài cộng sản đảng ta.

Hà Nội, 13.5.2015

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Vietcombank tùy tiện khóa tài khoản khách hàng theo mật lệnh của Bộ Công An –

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2015

Lê thị Công Nhân

8-5-2015

VIETCOMBANK HÃY
TRẢ TIỀN KHÁCH HÀNG

Ông Nguyễn Thanh Giang – sinh năm 1936, tiến sỹ vật lý địa chất nghỉ hưu, trú tại số 5 ngõ 341 quận Nam Từ Liêm (trước là số 6 tập thể Địa Vật lý Máy bay, phố Trung Văn, Thanh Xuân), bị Vietcombank không trả tiền trong tài khoản của ông. Sự việc cụ thể như sau:

Năm 1995 ông Thanh Giang mở tài khoản tại Vietcombank tại Sở Giao dịch chính trên phố Ngô Quyền. Khi có chi nhánhVietcombank Thanh Xuân 448 Nguyễn Trãi (nằm cùng phía trường Đại học Quốc Gia/Tổng hợp cũ, cách ngã tư Khuất Duy Tiến khoảng 200m) thì ông giao dịch tại chi nhánh này cho gần nhà.

Mọi việc bình thường đến cuối năm 2011, bỗng dưng chi nhánh này không cho ông rút tiền mà không có lý do chính đáng nào được đưa ra một cách nghiêm túc tối thiểu (tức là bằng văn bản). Cả chục lần ông tới chi nhánh đều quay về trong tức tưởi. Nhân viên ngân hàng luôn nói làm “Theo lệnh cấp trên.” thỉnh thoảng có nhân viên lại nói “Theo lệnh Bộ Công An.” (Bộ Công An thì liên quan gì ở đây? Hay như vụ Chặt cây Hà Nội, dở hơi dở hồn ra lệnh cho Trường Đại học Lâm nghiệp cấm giảng viên, nhân viên trường nói về vụ Chặt cây, rồi sau này chối bai bải để lại thất đức cho con cháu!). Họ bảo ông lên Trụ sở chính Vietcombank mà hỏi. Dù ông yêu cầu thế nào chi nhánh này cũng nhất quyết không lập bất kỳ biên bản làm việc hay ghi giấy giới thiệu ông đến gặp “cấp trên” hay “Bộ Công An” thần bí nào đó để làm việc, nếu như chi nhánh này không làm gì sai.

Sự việc cứ thế kéo dài suốt 5 năm! Ông Nguyễn Thanh Giang tuổi cao sức yếu, cũng chưa cần gấp số tiền này (khá nhỏ), và phải nói là ông quá nhẫn nhịn, nên không đưa sự việc ra công luận. Cách đây vài ngày, ông lại đến chi nhánh yêu cầu rút tiền và nhân viên vẫn trả lời nội dung cũ, theo cách cũ – nói mồm!

Ông rất mệt mỏi, phẫn nộ và bế tắc đến nỗi gửi chi nhánh 1 lá thư tuyên bố nếu chi nhánh không trả tiền cho ông và vẫn cứ im lặng khinh thường, vô luật với khách hàng như vậy thì ông sẽ đến chi nhánh ngân hàng này tuyệt thực cho đến khi nào họ giải quyết hoặc đến chết !

Biết tin này, chúng tôi rất shock và phẫn nộ, không tưởng tượng nổi ngân hàng Vietcombank lớn, chuyên nghiệp và uy tín nhất nước, giao dịch toàn cầu lại hành xử như vậy. Sáng thứ 6, 8.5.2015 đến thăm ông, gặp một số người khác ghé chơi, chúng tôi khuyến khích ông phải kiên quyết làm sáng tỏ vụ việc. Chúng tôi gồm: nhà văn Phạm Thành, học giả Nguyễn Hoàng Đức, kỹ sư Hoàng Văn Hùng, biên tập viên Nguyễn Lê Hùng, nhà báo tự do J.B Nguyễn Hữu Vinh và vợ chồng tôi Nhân-Quyền bé Lucas cùng đi với ông đến chi nhánh lạ lùng này để yêu cầu họ lần cuối cùng – có trả tiền cho ông Nguyễn Thanh Giang hay không. Nếu không trả thì phải làm giấy giới thiệu nói rõ phải đến chỗ nào đề đòi.

Đúng 11h sáng chúng tôi đến chi nhánh Vietcombank Thanh Xuân. Đầu tiên ông Nguyễn Thành Trung (ban đầu còn không xưng tên) – Phó phòng Giao dịch, nói là “Theo lệnh Bộ Công an.” Sau đó, ông Viễn (xưng tên cộc lốc, hỏi họ tên đầy đủ thì không nói) – Phó Giám đốc chi nhánh, nói “ Trụ sở chính Vietcombank khóa tài khoản. Chi nhánh không liên quan gì và không làm gì được.” Khi chúng tôi hỏi tại sao anh Trung kia lại nói là “Theo lệnh Bộ Công an.”, ông Viễn luống cuống đáp “Làm gì có lệnh Bộ Công an nào.” trong khi anh Trung vẫn đứng ngay đấy. Mãi sau, ông Viễn mới đưa chúng tôi xem một công văn của chi nhánh này gửi Trụ sở chính Vietcombank, trong đó ghi rõ việc khóa tài khoản là theo lệnh Bộ Công an. Tôi đọc văn bản này cho mọi người nghe, chưa kịp chụp ảnh thì ông Viễn vội vã lấy lại tờ công văn.

Sau đó ông Ngô Quốc Kỳ – Giám đốc chi nhánh Vietcombank Thanh Xuân xuất hiện và cũng từ chối đưa bất kỳ văn bản hay giấy giới thiệu nào để khách hàng tới nơi có thẩm quyền làm việc. Đến 1h trưa, chúng tôi rất đói, bàn nhau gọi cơm rang, bánh mì mang đến ăn trưa. Bác Giang nói ăn ngoài tốn kém, để gọi người nhà mang cơm đến, dù gì nhà cũng gần đây. Sau đó 15 phút ông Ngô Quốc Kỳ đem ra một giấy mời, mời bác Thanh Giang 4h chiều thứ 3 ngày 12.5.2015 tới làm việc tại chính chi nhánh này (trong khi trước đó tất cả họ đều nói là theo lệnh cấp trên và Bộ Công an còn họ không liên quan gì!).

Phải nói thêm một chút, toàn bộ cuộc gặp, dù là ông Trung – Phó phòng, ông Viễn – Phó Giám đốc hay ông Kỳ – Giám đốc, tất cả đều chỉ chăm chăm bảo chúng tôi ra ngoài, hỏi giấy ủy quyền đâu mà lại đến đây, lấy đó làm cớ không cho chúng tôi nói và không trả lời chúng tôi, rồi không cho chúng tôi quay phim chụp ảnh với lý do là phải xin phép họ, rằng đây là ngân hàng của họ. Trời! Những nhân viên ngân hàng này ngang nhiên vi phạm nhân quyền và còn đem phòng Pháp chế ra dọa chúng tôi. Buộc lòng chúng tôi phải giải thích cho họ rõ từng vấn đề. Ví dụ:

1- Đây đúng là ngân hàng “của họ” nhưng đây là nơi công cộng, mọi người đều có quyền vào đây để giao dịch và khiếu nại về những việc liên quan;
2- Ông Giang hoàn toàn có quyền đi với nhiều người khác đến đây để làm việc về vấn đề của ông Giang, nguyên tắc làm việc bên này có bao nhiêu người thì bên kia có bấy nhiêu người, và thậm chí là nhiều hơn nếu không gây ảnh hưởng đến buổi làm việc;
3- Phòng tiếp khách của ngân hàng không phải là nơi cấm quay phim chụp ảnh. Những nơi cấm quay phim chụp ảnh phải có lý do chính đáng và có quyết định của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh trở lên và phải có thời hạn về việc cấm quay phim chụp ảnh. Chứ không phải nhà mình, công ty mình thì thích là dựng biển cấm quay phim chụp ảnh trước cửa;
4- Chụp ảnh, quay phim, ghi âm người khác thì phải xin phép, đó là khi cố ý chụp một người trong đời sống riêng tư và ở không gian riêng tư của họ. Ở đây họ đang làm việc trong không gian công cộng. Đương nhiên mỗi không gian công cộng lại có phạm vi hành xử khác nhau. Nhưng sự khác nhau này rất ít và tự nhiên đến nỗi hiếm có nơi nào trên thế giới này ghi thành luật. Ví dụ: đều là không gian công cộng nhưng trong văn phòng ngân hàng thì không được đi xe máy hay cầm đao kiếm vào, trong bệnh viện thì không quan hệ tình dục, trước mồ mả (ông Hồ Chí Minh chẳng hạn) thì không được tổ chức thi hoa hậu bikini, trên quảng trường thì không được phóng uế ..v..v.. Ngay cả trong không gian công cộng thì vẫn có thể vi phạm một vài tiêu chuẩn nào đó, nếu cần thiết với lý do chính đáng.
Ngược lại với người dân/cá nhân được làm tất cả những gì không cấm thì nhân viên nhà nước và cả tư nhân chỉ được làm những gì luật cho phép họ được làm với tư cách trong công việc của họ. Ví dụ: Cảnh sát bỗng dưng (vì nếu trinh sát từ trước biết chắc đối tượng đang vận chuyển heroin là chất cấm, thì không nói làm gì) thổi 1 người đi đường dừng lại thì người này đương nhiên có quyền quay phim chụp ảnh toàn bộ cuộc làm việc và cả cận cảnh gương mặt viên cảnh sát này. Điều duy nhất viên cảnh sát nên làm là hành xử chuyên nghiệp, tử tế, tạo dáng cười tươi để có tấm hình đẹp. Lúc đó mà lên cơn kiêu ngạo, phản đối việc bị quay phim chụp ảnh thì sẽ được người hiểu biết chửi cho là ngu dốt, trọc phú, mông muội, là con người mà không biết quyền con người là gì.

Ngay cả khi cố ý chụp ảnh người khác trong lúc họ đang sinh hoạt riêng tư trong không gian riêng tư thì vẫn được nếu như cái sinh hoạt riêng tư đó là phạm pháp. Ví dụ 1: A biết X có vợ nhưng thấy X đi vào nhà nghỉ với Y, cửa sổ phòng nghỉ lại mở thì A có quyền chụp ảnh X Y đưa ra công luận. Vì luật pháp Hình sự và Dân sự Việt Nam ghi nhận rõ ràng quan hệ hôn nhân thì phải là 1 vợ 1 chồng. Vì thế, pháp luật quy định bằng chứng ngoại tình rất có giá trị thúc đẩy cuộc ly hôn được giải quyết nhanh chóng và hoàn toàn có lợi cho người bị phản bội. Ví dụ 2: Đồng chí Trọc Phú là quan chức hoành tráng, lén lút mở tiệc ăn thịt Hổ, uống sừng Tê giác trong phòng ăn nhà mình, người khác biết được đương nhiên có quyền quay phim chụp ảnh vụ việc đưa ra công luận. Vì tiêu dùng động vật quý hiếm trong danh sách bảo vệ đặc biệt của Việt Nam và quốc tế là phạm pháp.

Chúng ta hãy ghi nhớ rằng pháp luật Việt Nam và thế giới đều ghi nhận bất kỳ người nào cũng có quyền tố cáo hành vi phạm pháp của bất kỳ ai. Và thu thập chứng cứ là quyền cụ thể để thực thi quyền tố giác tội phạm. Ấy là chưa nói người ta còn có quyền nặc danh (tức không nêu tên mình, còn mạo danh thì đương nhiên là không được) tố cáo, tố giác tội phạm, thậm chí không cần bằng chứng (với vụ việc hình sự, còn dân sự thì phải có bằng chứng, vì trong vụ việc hình sự thì xác minh điều tra là nhiệm vụ, nghĩa vụ của cảnh sát, thanh tra), miễn là không vu khống, bịa đặt;

Chợt nhớ ông Trương Tấn Sang trước 30.4 thì ra rả chửi Mỹ, chửi Việt Nam Cộng Hòa, đến đúng 30.4 thì mất hút, nhường đoạn đầu đài cho đồng chí 3D đọc diễn văn-thế là 3D tha hồ chịu trận. Tôi thắc mắc chả lẽ 3D lại ngốc đến thế hay mơ tưởng chức Tổng Bí mù quáng đến mức chửi càn chửi vội trước đại hội 12, để lấy lòng Tàu khựa !? Lại lạc đề! (Tôi chỉ được mỗi cái là hay lạc đề). Chuyện của ông Sang là hồi vụ anh em Dương Chí Dũng, Dương Tự Trọng, đi đâu ông này cũng dạy bảo “Chúng ta làm việc là phải chuyên nghiệp, phải nhớ đấy là công việc, chứ không phải là chuyện cá nhân riêng tư của chúng ta. Đi bắt tội phạm là đi bắt tội phạm chứ lúc đó hoàn toàn không phải là em đi bắt anh hay người nhà đi bắt nhau. Nhầm lẫn các vấn đề như thế thì chết, các đồng chí ạ!”

5- Câu chuyện Uỷ quyền: 3 vị cao cấp của Vietcombank chi nhánh Thanh Xuân liên tục bảo chúng tôi ra ngoài, không cho chúng tôi nói, lại còn tự tin cao giọng hỏi văn bản ủy quyền của bác Giang với chúng tôi đâu. Làm đến chức ấy, nhưng họ không biết (hay giả vờ không biết) một điều là ủy quyền trực tiếp và tại chỗ có giá trị tối cao so với mọi hình thức ủy quyền khác. Ví dụ: A ủy quyền bằng văn bản để B làm việc, tại bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn ủy quyền và dù ở đâu A đều có quyền hủy ngang việc ủy quyền bằng ngay cả lời nói miệng mà không cần bất kỳ lý do gì. Nếu B không làm gì sai vi phạm hợp đồng ủy quyền thì A phải thanh toán mọi quyền lợi cho B (nếu có).

Lần đầu tiên có một vụ dân oan tài chính ngân hàng được đưa ra công luận. Rất mong nhận được sự quan tâm và chia sẻ của quý vị. Đồng tiền gắn liền khúc ruột! Sau đức tin, lý tưởng, tình cảm, sức khỏe thì đồng tiền là quan trọng nhất! Vậy mà ngân hàng hoành tráng nhất Việt Nam lại đối xử với khách hàng-là ân nhân, là thượng đế của mình như vậy!

Chúng ta hãy đồng hành cùng bác Thanh Giang trong cuộc hẹn 4h chiều ngày 12.5.2015 tại Vietcombank Thanh Xuân – 448 Nguyễn Trãi, Hà Nội và sẽ đồng hành đến cùng với bác trong vụ việc này. Chả có chính chị chính em gì ở đây hết. Đơn giản là rút tiền của mình ở ngân hàng mà thế này thì sợ quá. Ai trong chúng ta cũng đã, đang và sẽ có giao dịch tiền tệ tại ngân hàng. Đây là khuynh hướng tất yếu không thể đảo ngược của thế giới cũng như Việt Nam – khuyến khích giao dịch tiền tệ qua ngân hàng.

[Hình ảnh được trích ra từ video do @Văn Hùng Hoàng Fber ghi lại, trong đó:
Hình 1: người ở giữa tấm hình là ông Giám đốc Chi nhánh;
Hình 2: người mặc áo trắng đang dùng điện thoại quay video có tên Nguyễn Thành Trung – Phó Phòng giao dịch (mặc dù trước đó Phó Giám đốc chi nhánh tên Viễn nói rằng ở đây không được quay phim ghi hình!); người ở giữa hình là Phó Giám đốc chi nhánh.]

Địa chỉ của bác Thanh Giang ghi trong giấy mời (Số 9, A13, Hòa Mục, Trung Hòa, HN) là địa chỉ theo đăng ký tài khoản hồi 1995.

Hà Nội, 8.5.2015

Ông Nguyễn Thanh Giang: 098. 4724.165

Bà Tuyết Mai vợ ông Thanh Giang: 016969. 414. 28

LTCN : 0120. 5115. 496 – P316-A7 khu VPCP, ngõ 4 Phương Mai, Hà Nội.

Ngô Duy Quyền's photo.
Ngô Duy Quyền's photo.
Ngô Duy Quyền's photo.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Ý nghĩa Ngày 30 tháng Tư

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2015

Ý nghĩa Ngày 30 tháng Tư

( Keynote đọc trong Lễ Tưởng Niệm 30/4
tại U.S. Marine Corps Aviation Museum – San Diego, California
ngày April 26, 2015)

* * *

Kính thưa Quí vị & Các bạn:

Hôm nay, chúng ta hội họp ở đây để tưởng nhớ lại ngày chúng ta mất nước – nước Việt Nam Cộng Hòa, cách đây đúng 40 năm.
Hãy nghiệm xét Những gì đã đưa đến ngày 30 tháng Tư năm 1975:

– Cuộc chiến 21 năm (từ 1954 đến 1975) đã gây chết chóc cho cả triệu người trong Nam, trong đó có 250,000 binh sĩ; Nhiều tử binh đã được chôn cất tại nghĩa trang Quân đội Biên Hoà, như được ngóng trông bởi ngôi tượng ‘Tiếc thương’ ngồi ở cổng chinh.

– Nửa triệu lính Mỹ đã chiến đấu sát cách với các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, ngăn chặn cuộc xâm lăng của CS Bắc Việt. 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ đã bỏ mạng tại Việt Nam, tất cả, có tên được khắc trên bức tường đá hoa cương đen ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

– Theo Hiệp Định Paris ký kết năm 1973, 591 tù binh Mỹ đã được phóng thích khỏi nhà tù Hoả Lò, trong số đó có đại úy phi công hải quân John McCain, sau này trở thành một Thượng nghị sĩ có ảnh hưởng.

Trong khi quân đội Mỹ phải rút ra khỏi Việt Nam, khoảng 300,000 bộ đội Cộng sản Bắc Việt vẫn được nguyên vị trong Nam.

– Quốc hội Mỹ cắt tất cả các ngân khoản quân viện cho Nam Việt Nam. Hết đạn khi phải đối đầu với bộ đội Bắc Việt trong hàng trăm chiếc xe tăng T-54 do Liên Sô cung cấp, quân lực Việt Nam Cộng Hòa buộc phải đầu hàng ngày 30 tháng tư, năm 1975.

Hậu quả của Ngày 30 tháng 4 năm 1975 :

– Đại sứ Mỹ Graham Martin được bốc bởi một chiếc trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ mang mã hiệu ‘Lady Ace 09′, từ nóc sân thượng của sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn lúc 04:58 rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chấm dứt không chỉ kế hoạch di tản, mà còn là 20 năm Hoa Kỳ lâm chiến ở nơi mà Tổng thống Kennedy đã gọi là “Tiền đồn của Thế giới Tự do”.

– Cùng trong ngày hôm đó, 5 tướng, trong đó có 2 là Tư lệnh Quân khu Việt Nam Cộng Hòa đã tuẫn tiết, không đầu hàng quân Cộng sản Bắc Việt.

Tôi nhớ đến một anh bạn ở trường trung học Chu Văn An của tôi: Thiếu tá Hải quân Lê Anh Tuấn, hôm 30 tháng tư năm 1975 là Chỉ huy trưởng một chiến đỉnh tuần tra trên sông Vàm Cỏ; Con tàu đã vớt cả trăm người tị nạn dọc theo hai bờ sông, rồi bị bao vây bởi cộng quân ở cả 4 phía. Quân Việt cộng phóng loa buộc phải đầu hàng ngay lập tức, nếu không họ sẽ cho pháo kích nát tan con tàu với lực lượng áp đảo của họ.
Chỉ huy trưởng Tuấn trả lời: “Yêu cầu cho tất cả những người dân tị nạn trên tàu được lên bờ, và giải tán an toàn, rồi tôi sẽ đầu hàng!” Việt cộng đồng ý.
Sau khi tất cả những người tị nạn lên bờ & đi khỏi, khi Việt cộng lên tàu, họ phát hiện Thiếu tá Tuấn ngồi trong ghế chỉ huy của mình, đã tuẫn tiết bằng súng lục.

Có anh là Trung tướng Thủy quân Lục chiến Lê Nguyên Khang, Thiếu tá Lê Anh Tuấn lúc đó 32 tuổi, một ‘con mọt sách’, đang học thêm cử nhân luật, và chưa lập gia đình.

Giống như 5 vị tướng vừa nói ở trên, Thiếu tá / Chỉ huy Trưởng Lê Anh Tuấn, cho đến hơi thở cuối cùng, đã thể hiện đúng phương châm ‘Tổ Quốc, Danh Dự & Trách Nhiệm’ của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

– Hơn 1 triệu quân, cán & chính của Việt Nam Cộng Hòa đã bị cầm tù từ 3 đến 17 năm, trong hàng trăm cái gọi là ‘trại cải tạo’ thiết lập trên cả nước. 165,000 tù nhân đã bị sát hại trong các trại tập trung này.

– Hơn 2 triệu thuyền nhân chạy trốn chế độ cộng sản trên những con thuyền ọp ẹp ra biển lớn; Ít nhất nửa triệu thuyền nhân đă chẳng bao giờ đến được bến bờ nào.

– Năm 1975, kinh tế Nam Việt Nam ngang ngửa với kinh tế Nam Hàn. 40 năm nay, Việt Nam không có chiến tranh, dưới sự kiểm soát toàn vẹn & chặt chẽ của một chế độ độc tài, tổng sản lượng quốc gia Việt Nam với 90 triệu người là 320 tỷ Mỹ kim, bằng của 5.4 triệu người dân Singapore. Lợi tức bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 1/26 của dân Singapore.

Là quốc gia đông dân thứ 14 trên thế giới, Việt Nam đã chẳng có một thành tựu đáng lưu ý nào cho thế giới – một bằng sáng chế, một sản phẩm, hay một công ty, một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hay thắng được một giải thể thao nào.

Mới đây, khi hãng điện tử Samsung mở một nhà máy lắp ráp điện thoại thông mình tại Việt Nam, giám đốc xí nghiệp Nam Hàn hỏi thẩm quyền Việt Nam, “Quí vị có thể cung cấp một số con vít cho phần cứng của điện thoại không?”, thì đã được trả lời thẳng thừng là: “Không! Chúng tôi không có làm bất kỳ một con vít nào … !”

Lệ thuộc trầm trọng vào Trung công không những về kinh tế, mà còn về chính trị, Việt Nam chắc sẽ trở nên chẳng có gì đáng kể đối với thế giới, hay thành một quận lị của Trung cộng.

30 tháng 4 năm 1975 đã đưa đến những kết quả gì ?

– Bắt đầu với 130.000 người tị nạn Việt Nam được nhận vào Mỹ nhờ một đạo luật di trú cấp kỳ của Quốc hội Mỹ, tiếp theo là một số các đạo luật khác, kể cả các sắc lệnh của tổng thống Hoa Kỳ, đã nâng tổng số người Mỹ gốc Việt lên 1.8 triệu người.

– Hiện có 3 triệu người gốc Việt sinh sống trên 80 quốc gia không cộng sản.

– Bắt đầu từ 17 năm sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hàng chục ngàn cựu tù nhân trong các trại tập trung của cộng sản, được phép đưa cả gia đình 350,000 người di dân qua Hoa Kỳ theo một sắp xếp đặc biệt giữa Bộ Ngoại Giao Mỹ và CS Hà Nội. Sự kiện này cần phải được ghi nhận như là một hành động có một không hai, thể hiện nghĩa vụ/tình đồng mình của Hoa Kỳ sau cuộc chiến Việt Nam.

– Sau 40 năm, có người Mỹ gốc Việt nào đáng kể không ?

. Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh, người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Quốc hội Mỹ – trong nhiệm kỳ trước;

. Chuẩn tướng Bộ binh Hoa Kỳ, ông Lương Xuân Việt, hành quân trong chiến trường A-Phú-Hãn;

. Bác sĩ Hải quân Mỹ, đại tá Trịnh Hưng;

. Khoa học gia Hải quân Mỹ, bà Dương Nguyệt Ánh, chế ra bom thermobaric đã đang được sự dụng công hiệu trong cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan.

Kể từ tháng 11, năm 2014, thị trưởng dân cử 2 thành phố Westminster và Garden Grove ở Orange County, đều là người Mỹ gốc Việt.

Giám sát viên Mỹ gốc Việt đầu tiên trong Hội đồng Giám sát Quận Cam, sau 2 nhiệm kỳ, đã được thay thế trong cuộc bầu cử tháng 11, năm 2014, bởi 1 người Mỹ gốc Việt khác.

Thượng nghị sĩ Mỹ gốc Việt đầu tiên mới đắc cử vào Thượng viên tiểu bang California đã đề xướng 2 dự luật đáng để ý: Dự luật thứ nhất, hệ thống University of California không được gia tăng học phí trong 5 năm tới; và Dự luật thứ hai – đã được Thượng viện California thông qua nhanh chóng – đặt tên tháng 4, năm 2015, là ‘Tháng Tư Đen’.

Ở các quốc gia dẫn đầu khác trên thế giới, khả năng của người Việt lưu vong cũng được công khai tín nhiệm:

– Ông Philipp Rösler, một chính trị gia người Việt – vốn là một cô nhi
được một gia đình Đức nhận làm con nuôi năm 1975 – một hai năm trước đây, đã là Phó thủ tướng đầu tiên người Đức gốc Á, trong nội các Đức quốc,

– Ông Ngô Thanh Hải là Thượng nghị sĩ Gia Nã Đại gốc Việt đầu tiên,
trong Thượng viện Gia Nã Đại.

– Ông Lê Văn Hiếu là Thống đốc gốc Á đầu tiên của Nam Úc trong lịch sử
nước Úc.

Trong lễ Tưởng Niệm này, người Mỹ gốc Việt chúng tôi muốn nói với nửa triệu binh sĩ Mỹ, những người đã chiến đấu anh dũng trong cuộc chiến ở Việt Nam, và nhất là thân nhân của 58,000 người Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến rằng: Sự hy sinh của những người thân yêu của quị vị sẽ mãi mãi được ghi nhớ, vì nhờ những hy sinh to lớn đó, 18 triệu dân chúng miền Nam Việt Nam đã được nếm mùi vị của cuộc sống tự do trong suốt 20 năm – từ 1955 đến 1975.

Dân chúng Nam Việt Nam không phải là những người độc nhất được hưởng phúc lợi nhờ sự có mặt của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu trong hồi ký của mình, đã ghi nhận kinh tế nhiều nước ở châu Á – trong đó có Singapore – đã được phát triển khả quan là nhờ sự có mặt của Hoa Kỳ ở Việt Nam, “Nếu không có sự can thiệp của Mỹ tại Việt Nam, ý chí của các nước này để chống lại hiệu ứng Domino lan rộng xâm chiếm của Cộng sản sẽ tan chảy, và hầu hết các quốc gia Đông Nam Á nay chắc đã bị cộng sản hóa … ”

Như vậy, Thông điệp của Lễ Tưởng Niệm 30/4 hôm nay là gì ?

1. Để ghi nhớ ngày cả nước Việt Nam đã bị Cộng sản Việt Nam thôn tính,
nô lệ hoá 90 triệu người dân;

2. Để một lần nữa, ghi nhận và tôn vinh sự hy sinh to lớn của 250,000 binh
sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, 58,000 binh sĩ Mỹ, và binh sĩ các quốc gia đồng minh đã chết trong trận chiến bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam;

3. Để ghi nhớ 165,000 tù nhân đã bị sát hại trong các trại tập trung của
cộng sản, và cả nửa triệu thuyền nhân đã thiệt mạng trên đường đi tìm tự do; và

4. Để nhắc nhở chính mình, cũng như huy động con cháu của chúng ta,
và đồng hương tiếp tục nỗ lực đấu tranh để loại bỏ chế độ cộng sản độc tài, vãn hồi tự do & dân chủ cho Việt Nam, và ngăn chặn sự xâm lấn thô bạo của Trung cộng.

Lễ Tưởng Niệm hôm nay đã không có thể thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ tận tình của các nhân viên Viện Bảo Tàng. Thay mặt Nhóm Đặc Nhiệm 30/4 năm 2015, tôi xin được đặc biệt cám ơn:
– Trung tá Ed Downum,
– Đại tá Kenneth Tollefson, và
– Thiếu Tướng Bobby Butcher, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Viện Bảo Tàng. Tưởng cũng cần nói thêm: Là một phi công Thủy quân Lục chiến, Tướng Butcher đã bay 240 phi vụ chiến đấu ở Chu Lai và Đà Nẵng vào những năm 1967, 1970 & 1971.

Tôi cũng xin cám ơn tất cả Quí vị & Các bạn, đã lắng nghe.

Nguyên Giao
Ông Giao đã được bốc từ Defense Attache Office ở Sài Gòn khoảng 14 giờ trước ông Đại sứ Graham Martin – cả hai đều bởi trực thăng Sea Knight của Thủy quân Lục chiến Mỹ – để bắt đầu ty nạn tại Tent City ở Camp Pendleton, California. Ông Giao hiện là một khoa học gia dân sự của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.

Ý nghĩa Ngày 30 tháng Tư -Nguyên bản Anh ngữ,

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

Trung Quốc nôn nóng kiểm soát Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 14/05/2015

http://thiemthu62.blogspot.com/2015/05/trung-quoc-non-nong-kiem-soat-bien-ong.html

Trung Quốc đẩy mạnh việc xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa không chỉ để thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), mà nhằm sớm kiểm soát toàn diện, trên thực tế toàn bộ Biển Đông.
  • Tăng tối đa tốc độ và quy mô bồi đắp

    Hình ảnh vệ tinh cuối tháng 4 cho thấy, trên bãi đá Subi đã xuất hiện một bãi bồi đắp dài 3.300m, diện tích khoảng 2,27 km2, tương tự bãi bồi đắp đang được Trung Quốc xây dựng đường băng trên đảo Chữ Thập (2,65km2). Hơn mười tuần trước, ảnh vệ tinh cho thấy trên đá Subi chỉ có hai điểm bồi đắp. Hiện nay, ở đá Subi chưa hình thành một âu tàu lớn và một đường băng như ở đá Chữ Thập, nhưng một luồng vào lòng hồ Subi từ phía Nam đang được khơi rộng. Bãi mới được bồi đắp ở cạnh luồng này dường như sẽ là nơi xây dựng bến cảng.

    1ad.jpg
    Hàng chục tàu Trung Quốc đang bồi đắp đảo nhân tạo và khơi luồng vào lòng hồ ở đá Subi

    Đá Vành Khăn cũng đang bị Trung Quốc bồi đắp rất nhanh. Theo hình ảnh vệ tinh ngày 13/4/2015, bãi bồi đắp trên đá Vành Khăn có diện tích khoảng 2,42 km2, trong khi vài tháng trước hầu như không thấy phần nổi nào tại đây. Phần đông bắc của đá Vành Khăn, nơi có vành san hô tương đối thẳng, phù hợp một đường băng dài hơn 3.000 mét đang bị Trung Quốc bồi đắp. Ở phần tây nam của đá Vành Khăn cũng xuất hiện một bãi bồi đắp mới. Chữ Thập, Subi và Vành Khăn là 3 trong số 7 bãi đá san hô ở quần đảo Trường Sa đang bị Trung Quốc biến thành đảo nhân tạo.

    2ad.jpg
    Hơn 40 tàu Trung Quốc tham gia bồi đắp đảo nhân tạo ở đá Vành Khăn

    Theo báo cáo thường niên do Bộ Quốc phòng Mỹ công bố ngày 8/5/2015, hoạt động bồi đắp các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa đang gia tăng với tốc độ và quy mô chưa từng có. Hoạt động bồi đắp được Trung Quốc tiến hành từ tháng 1/2014, đến cuối năm 2014 diện tích các bãi bồi đắp là khoảng 200ha. Nhưng chỉ trong 4 tháng đầu năm 2015, diện tích này đã tăng thêm 610ha, lên đến 810ha, gấp 400 lần tổng diện tích các căn cứ của Trung Quốc ở Trường Sa trước năm 2014. Tại 4 bãi đá là Gạc Ma, Châu Viên, Huy Ghơ, Gaven, Trung Quốc đã chuyển qua giai đoạn xây dựng hạ tầng cơ sở, bao gồm cầu cảng, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giám sát…

    3qqqqqqqqq.jpg
    Đảo nhân tạo ở phía Nam đá Chữ Thập, ảnh vệ tinh ngày 17/4/2015

    442qqqqqqqqqqq.jpg
    Trung Quốc đang xây dựng đảo nhân tạo ở 7 bãi đá mà họ chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam, là Chữ Thập (Fiery Cross), Châu Viên (Cuarteron), Gạc Ma (Johnson South), Gaven, Subi, Hughes, Vành Khăn (Mischief)

    Tiến tới kiểm soát toàn diện

    Hầu hết các nhà quan sát trên thế giới quan tâm nhiều nhất đến ý nghĩa quân sự trong hoạt động bồi lấp đảo của Trung Quốc. Họ cho rằng, các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây dựng ở Trường Sa sẽ trở thành các căn cứ quân sự, với các trạm giám sát hàng hải, trinh sát điện tử, theo dõi tàu ngầm của các nước khác. Đảo Chữ Thập sẽ trở thành một căn cứ hải quân/không quân lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, với một cảng có thể tiếp nhận những tàu lớn nhất của hải quân Trung Quốc, một đường băng có thể đón hầu hết các loại máy bay chiến đấu của Trung Quốc. Những đảo này là tiền đề để Trung Quốc thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông. Tuy nhiên, việc thiết lập ADIZ không thể mang lại sự kiểm soát toàn diện vùng biển. Do vậy, Trung Quốc gia tăng hoạt động xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa không chỉ nhằm thiết lập ADIZ.

    555555qqqqqqqqq.jpg
    Đảo nhân tạo ở đá Gạc Ma
    66666666666.jpg
    Đảo nhân tạo ở đá Gaven
    77777777qqqqqqqqqqqq.jpg
    Đảo nhân tạo ở đá Hughes
    8888888888888.jpg
    Kết cấu chính ở đá Gaven, đá Hughes, đá Gạc Ma tương tự nhau
    9qqqqqqqqqqqq.jpg
    Đảo nhân tạo ở đá Châu Viên

    Hình ảnh vệ tinh cho thấy, một âu tàu lớn đang được xây dựng ở đảo Chữ Thập, diện tích khoảng 50ha. Với việc nạo vét cát san hô để bồi đắp đảo nhân tạo, lòng hồ phía trong đá Subi và đá Vành Khăn sẽ được làm sâu, trở thành những âu tàu tự nhiên cực lớn (đá Subi có diện tích khoảng 15km2, đá Vành Khăn có diện tích khoảng 46km2). Mỗi âu tàu này có thể chứa hàng nghìn tàu các loại, từ tàu chiến tới tàu cá. Cũng nên nhắc lại, hàng năm báo chí hay nói đến việc “Trung Quốc cho hàng chục nghìn tàu cá xuống Biển Đông”, nhưng thực ra chỉ một phần trong đội tàu này xuống đến ngư trường Trường Sa, phần lớn ở ngư trường các tỉnh Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến của Trung Quốc, cũng thuộc Biển Đông. Khi có những bến cảng, những âu tàu lớn, là những căn cứ hậu cần và tránh trú bão ở Trường Sa, Trung Quốc sẽ có điều kiện thực sự đưa hàng nghìn tàu cá đến ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam và ngư dân một số nước Đông Nam Á. Đi kèm những tàu cá này sẽ là các tàu ngư chính, hải giám của Trung Quốc. Sự hiện diện đông đảo, thường xuyên, liên tục của những loại tàu này và cả tàu chiến sẽ giúp Trung Quốc thực hiện ý đồ kiểm soát trên thực tế, tiến tới xác lập chủ quyền tại vùng biển Trường Sa và các vùng khác ở Biển Đông trong “đường lưỡi bò”. Việc hạ đặt những giàn khoan lớn như giàn khoan Hải Dương 981 tại Trường Sa và vùng phía Nam Biển Đông sẽ trở nên dễ dàng hơn, đối với Trung Quốc.

    10qqqqqqqqqqqq.jpg
    Một âu tàu lớn đang được xây dựng ở đảo Chữ Thập, diện tích khoảng 50ha

    Việc Trung Quốc tăng tốc xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa cũng cần được xem xét trong bối cảnh, Tòa án Trọng tài Quốc tế (PCA) có thể đưa ra phán quyết đối với vụ kiện Trung Quốc của Philippines vào đầu năm 2016, đồng thời ASEAN đang thúc giục Trung Quốc sớm cùng ký kết Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Nhiều chuyên gia cho rằng, Trung Quốc đẩy nhanh việc các xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa để điều đó thành “chuyện đã rồi” trước khi PCA ra phán quyết. Cho dù phán quyết của PCA có bất lợi cho Trung Quốc, cũng khó thay đổi được hiện trạng mà Trung Quốc đã tạo nên. Và, sẽ chẳng phải là điều quá ngạc nhiên, nếu sau khi hoàn tất việc xây dựng căn cứ ở các đảo nhân tạo nói trên, Trung Quốc sẽ tỏ ra sốt sắng với việc ký kết COC. Khi có những căn cứ lớn ở Trường Sa, Trung Quốc sẽ cho rằng có thể ở “cửa trên” trong thương lượng COC, buộc các nước khác theo luật chơi mà họ đưa ra. Họ có thể sẵn sàng chấp nhận, thậm chí chủ động đưa vào COC những điều khoản có tính ràng buộc cao, để hạn chế hành động của các nước khác có tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa.

    1111111111111aqqqqqqqqqq.jpg
    Đảo Gạc Ma, ảnh Văn Kỳ chụp ngày 28/4

    Tất nhiên, không phải Trung Quốc muốn là được.

    Tham khảo:

    12qqqqqqqqqqqqqqqqqq.jpg
    Đảo Đá Tây A và Khu dịch vụ hậu cần nghề cá Đá Tây đã nối liền, âu tàu Đá Tây đang hình thành

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Vĩnh Tân, Bình Thuận hôm nay, Dũ Lộc ngày mai: Đẩy dân vào chỗ chết?

Posted by hoangtran204 trên 13/05/2015

Blog RFA

JB Nguyễn Hữu Vinh

10-05-2015

Phần I – Nối giáo cho giặc

Ngày 6/4/2015, báo chí nhà nước đưa tin: “Xô xát ở Hà Tĩnh, 10 chiến sĩ công an bị thương“. Đọc bản tin này, người ta nhận thấy hình như, cuộc xô xát đó, chỉ có công an bị thương? Bản tin viết: “Biết tin người dân kéo ra ngăn không cho công nhân thi công đường điện, chính quyền xã đã báo với cơ quan cấp trên. Khi lực lượng chức năng được huy động đến bảo vệ công trường thì xảy ra xô xát với người dân”. Với cách đưa tin như vậy, người ta biết được rằng lực lượng công an chỉ được điều động khi có người dân đến ngăn cản việc thi công?

Gần một tháng sau khi xảy ra sự việc, chúng tôi đã đến Giáo xứ Dũ Lộc, thuộc xã Kỳ Trinh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thì sự việc hoàn toàn khác.

Từ mối đe dọa nguồn sống của bãi xỉ than nhiệt điện Vũng Áng

H1Xã Kỳ Trinh, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh có thôn Hòa Lộc là thôn toàn tòng công giáo với 1.800 giáo dân, một xứ đạo từ lâu đời được xây dựng ở đây với bao công sức, xương máu của cha ông họ ở vùng đất khô cằn nắng cháy này. Người dân ở đây hiền lành, chất phác và chịu khó cần cù lam lũ từ bao đời nay sống thuận hòa êm đẹp. Những cánh đồng lúa bên cạnh những ao đìa nuôi thủy sản nước lợ như tôm, cua kết hợp nguồn lợi thủy sản đã đảm bảo đời sống yên bình cho họ xưa nay.

Bỗng nhiên, vùng Vũng Áng thuộc huyện Kỳ Anh được bán cho Tàu với thời hạn 70 năm đã làm xáo trộn cuộc sống của họ cũng như cả vùng đất yên bình trong khu vực trọng yếu của đất nước này. Trong dự án đó, hạng mục Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng đã quy hoạch bãi đổ xỉ than ngay cạnh bên làng của Giáo xứ Dũ Lộc. Bãi xỉ than chiếm của dân một diện tích 131 ha, chiều cao của bãi xỉ 30 mét. Công suất của bãi xỉ là hơn một triệu tấn xỉ than mỗi năm. Nơi gần nhất của bãi xỉ cách nhà dân chỉ 20m, chỗ xa nhất cũng chỉ có 500 mét.

Không chỉ có bãi xỉ than, ngay tại khu vực gần cầu Hòa Lộc, một đập chắn nước được quy hoạch xây dựng ngay sát làng. Điều này đe dọa nguồn sống bằng hải sản, đầm đìa nuôi tôm cá cũng như chất thải của cả khu vực đổ về cho người dân ở đây được hưởng. Ngoài ra, là sự lụt lội và sự đe dọa đời sống mỗi khi xả đập hoặc có sự cố nào đó như thường xảy ra.

Một trong 3 nhà máy nhiệt điện ở Vũng Áng.  Hình: Internet

Nói tóm lại, đời sống người dân nơi đây như đã được đặt trước một tương lai hết sức bấp bênh và mờ mịt.

Kể từ đó, người dân sống bất an, ngày đêm như ngồi trên đống lửa vì sự đe dọa đến cuộc sống của họ và con cháu họ sau này.

Từ những năm 2010, người dân Dũ Lộc đã gửi đơn kêu cứu khắp nơi, đề nghị các cơ quan và chính phủ nghiên cứu lại việc đặt bãi thải nhà máy nhiệt điện Vũng Áng, bởi nếu được xây dựng, sẽ triệt môi trường sống của họ.

Ngày  27 tháng 12 năm 2010, một lá đơn tập thể toàn dân ký đã gửi đến các cấp từ Tỉnh đến Trung ương và cả giáo quyền.

Lá đơn tập thể đã nêu rõ tác hại của việc ảnh hưởng đến môi trường rõ ràng như sau:  Có rất nhiều chất độc hại trong xỉ than: Theo các tài liệu mà chúng tôi có được và nhất là qua tài liệu mà cán bộ huyện Kỳ Anh gửi kèm để tham khảo thì trong xỉ than có rất nhiều chất độc hại: chẳng hạn như trong xỉ than có chứa một số kim loại nặng có độc tính cao (Mn, Cr, Cu2, Hg2, As, Pb,…), nước trong bãi xỉ thường có hàm lượng cặn, kim loại độ cứng cao, độ Oxy hoà tan giảm và chứa nhiều các khoáng chất như SO2, HCO3, CL, CO3 … Nếu nước trong bãi xỉ tràn ra môi trường do nguyên nhân nào đó như tràn đập chắn xỉ, vỡ đập, thấm qua đập…) sẽ gây ô nhiễm môi trường nước biển khu vực. Tác hại của các khí Oxít(SOx, NOx) rất nguy hiểm đối với sức khoẻ con người…, rồi đến ô nhiểm bụi từ xỉ than và nước ngầm. Bãi thải xỉ than nằm đầu ngọn gió đông-nam và đầu nguồn nước chảy với độ cao so với mặt bằng nhà dân chếch khoảng 2-3 m thì không thể tránh được tầng nước ngầm. Cũng theo tài liệu: Trong xỉ than có chất Lưu huỳnh và cả chất Thuỷ Ngân sẽ ngấm theo dòng nước ngầm và có thể đi vào các giếng nước của dân. Đây là những nguy cơ nhã tiền và không thể tránh khỏi”.

H1Chính quyền và nhà đầu tư không có các biện pháp có thể khắc phục được hậu quả: Như trên đã nói, hậu quả ô nhiễm  môi trường là rất nặng nề và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người dân, sự sống và giống nòi nhưng khi đã xẩy ra ô nhiễm thì chắc chắn hậu quả lúc đó là khôn lường và không thể khắc phục được. Bản thân chính quyền và nhà đầu tư chưa dự kiến hết các tác hại của bãi xỉ than và vì thế cũng chưa đưa ra được các biện pháp dự phòng, thậm chí còn cho rằng không có ô nhiễm”.

Sở dĩ, họ phản ứng bởi họ đã có kinh nghiệm về những dự án, những công trình của nhà nước như sau: “Thực tiễn tại địa phương này cách đây 6 năm nhà nước làm dự án nước lấy từ núi để cung cấp cho dân qua các bể chứa với kinh phí 500 triệu đồng. Dự án hoàn thành được hơn một tháng thì đã rò rĩ và rồi chưa đầy 2 tháng thì tất cả các bể không còn chứa được một giọt nước nào đành phải bỏ hoang. Và cuối cùng không ai chịu trách nhiệm để xử lý. Đây mới chỉ là một dự án nhỏ chưa phải là dự án lớn mà còn như thế thì liệu cấp chính quyền xử lý như thế nào nếu bãi xỉ than ô nhiễm với hậu quả lớn hơn rất nhiều lần”.

Lẽ ra, nếu có một nhà nước, một chính quyền “Của dân, do dân, vì dân” thì chắc chắn không ai không thấy những tiếng kêu chính đáng của người dân cần phải khẩn trương được giải tỏa và đáp ứng. Thế nhưng, những tiếng kêu của họ cứ như đá ném ao bèo và không được nơi nào đếm xỉa.

Chính vì thế, người dân nơi đây đã có những phản ứng khá mạnh:“Chúng tôi không có ý thức chống lại chính quyền và nhà đầu tư nhưng chúng tôi không thể làm ngơ trước việc môi trường, sức khoẻ con người và nòi giống bị đe doạ và huỷ hoại. Vì thế, toàn thể giáo dân sẽ không đồng ý để dự án được triển khai ký dự án chưa thực sự khả thi về bảo vệ môi trường, môi sinh.”

 Khi nhà nước đưa những đội đo đạc về để đo đất, cắm mốc ruộng của họ, thậm chí cho cán bộ vào tuyên truyền, chia rẽ họ, giáo dân đã nhất loạt tẩy chay. Đã có những lúc, nhà nước đưa công an đến nhằm uy hiếp họ nhưng không có tác dụng.

Nhà nước giải thích rằng thì là bãi xỉ than sẽ không gây ô nhiễm môi trường, sẽ dùng để sản xuất gạch không nung, sẽ thế nọ, sẽ thế kia… nhưng không hề dám cam kết và khảng định điều họ nói.

Kết quả là những lời hứa được đưa ra, rằng sẽ đưa những hộ dân nơi đây đến khu vực tái định cư, để đảm bảo cuộc sống của họ không bị đe dọa bởi bãi thải của nhà máy. Thậm chí, một khu vực đã được chỉ định để lập khu tái định cư cho họ nhưng rồi bỏ dở khi mới san ủi được một phần rồi thôi.

Cứ thế, người dân sống trong sự nơm nớp, lo sợ cho đời sống của mình, cho tương lai con cái của mình và cho toàn thể cộng đồng đã hình thành và xây dựng bằng xương máu của họ bao đời nay.

Nhãn tiền vụ Bình Thuận hôm nay

H1Chiều 15/4, trên quốc lộ 1A đoạn qua xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong (Bình Thuận) hàng trăm người dân địa phương tiếp tục dùng bàn ghế, đá, gạch làm chướng ngại vật đưa ra giữa lòng đường chặn xe để phản đối Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 gây ô nhiễm môi trường.  Người dân đã phải dùng đến bom xăng để chống lại việc nhà cầm quyền cho công an đến trấn áp họ. Việc biểu tình phản đối của người dân, đã khiến dòng xe cộ trên đường Quốc lộ 1A ùn tắc dài đến 50 km.

Sở dĩ có điều đó, là những người dân ở đây đã không thể chịu đựng nổi sự ô nhiễm của nhà máy nhiệt điện do Trung Quốc xây dựng ở đây, mạng bụi bặm đến cho mọi ngõ ngách đời sống người dân. Điều ai cũng có thể thấy, là sự ô nhiễm đến nguồn nước, không khí và mọi mặt của cuộc sống của họ bị đe dọa hết sức nghiêm trọng.

Nhà nước lại dùng con bài cảnh sát, công cụ, công quyền, phát loa… để trấn áp người dân. Nhưng, khi dồn người dân đến đường cùng, không còn con đường nào để sống, thì họ chỉ còn mỗi cách duy nhất là phản kháng. Sự đồng lòng của người dân và sự chú ý của công luận đã đặt nhà nước vào sự lúng túng. Cuối cùng, họ đành phải chấp nhận dừng việc vận chuyển xỉ nhiệt điện, thi hành các biện pháp để người dân nguôi giận.

Sau đó, nguyên nhân được xác định là do khi xây dựng nhà máy nhiệt điện, nhà nước đã không lường trước được hậu quả của việc phát tán tro xỉ ảnh hưởng đến đời sống người dân. Và thế là… huề.

Cách duy nhất có thể làm, lại là di chuyển dân, coi như mọi việc đã rồi và đó là cách hữu hiệu nhất để buộc người dân rời khỏi nơi chôn rau cắt rốn bao đời với bao nhiêu tài sản, vườn tược, cây cối cũng như mọi nếp sống văn hóa của họ một cách nhanh chóng.

Tương lai của Dũ Lộc ngày mai

Nhiệt điện Vũng Áng gồm 3 nhà máy được xây dựng đã gần hoàn thành, cũng lại là một nhà máy nhiệt diện do Trung Quốc xây dựng. Ở khu Vũng Áng mà nhà cầm quyền đã bán cho Tàu 70 năm này, tất cả từ điện, đường, đất, nước, và bến cảng… đều được bán trọn. Ở đó, người Tàu xây dựng trong một khu đất mấy chục km vuông biệt lập. Họ đào hào sâu 10m, rộng 10m và có hàng rào bên ngoài. Người dân không được lai vãng đến trong vùng đó. Nói cách khác, đó như một vùng Tô giới của Tàu ngay tại điểm yếu huyệt nhất của Việt Nam. Hậu quả của khu CN Vũng Áng này đối với đất nước như thế nào, nhiều người đã phân tích. Riêng đối với người dân xung quanh, nó cũng đã gây biết bao tai họa.

Trước những tiếng kêu của người dân Dũ Lộc, nhà cầm quyền đã không đếm xỉa đến những ý kiến, nguyện vọng chính đáng của họ mà hình thành một quan niệm coi người dân như kẻ thù.

Những công trình đe dọa cuộc sống của họ vẫn được lập dự án, được xây dựng bất chấp sự phản đối. Một đập chắn xả nước ngay trước của Dũ Lộc đe dọa việc sinh tồn và sản xuất của người dân đã được triển khai.

Những dự án, công trình của nước ngoài được tiếp tay của nhà cầm quyền nhưng lại triệt đường sống của người dân, thì điều đó chẳng khác gì việc “nối giáo cho giặc” mà cha ông ta thường nhắc nhở.

Nếu như, nhà cầm quyền Bình Thuận đã thành công trong việc xây dựng xong nhà máy nhiệt điện của Trung Quốc, đẩy đời sống người dân vào chỗ tiêu vong bởi ô nhiễm môi trường, thì ở Dũ Lộc, Kỳ Trinh, Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, người dân đã sớm ý thức được quyền sống của mình cũng như hậu họa của việc đó và đã có những phản ứng dữ dội.

Nhưng, cũng nếu như nhà cầm quyền Bình Thuận còn biết – theo lời công chủ tịch Tỉnh nói – rằng họ đã không dùng bạo lực khi người dân đang phẫn nộ, thì ở Hà Tĩnh, nhà cầm quyền đã chủ động dùng bạo lực đối với người dân ngay từ đầu trong vụ việc ngày 6/4/2015.

(Còn nữa)

Hà Tĩnh, ngày 2/5/2015

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Nhà nước khủng bố

Posted by hoangtran204 trên 13/05/2015

Nguyễn Hưng Quốc

Ở Việt Nam, từ mấy năm nay, dư luận thường xôn xao trước hiện tượng công an bắt người trái phép, mang vào đồn và đánh đập đến chết. Thi thể được mang vào bệnh viện xét nghiệm, người ta thấy người thì giập phổi, người thì toàn bộ nội tạng đều bị nát nhừ. Có trường hợp công an thừa nhận dùng nhục hình để tra tấn; có trường hợp chúng chối phăng, cho là nạn nhân hoặc tự tử hoặc bị bệnh từ trước hoặc lén lút dùng ma tuý quá liều.

Tổ chức Human Rights Watch ghi nhận được 31 trường hợp bị đánh chết trong các trại tạm giam của công an trong bốn năm (2011-2014). Con số này chắc chắn không đầy đủ. Theo một báo cáo của Bộ Công an mới đây, trong khoảng bốn năm, từ ngày 1/10/2011 đến 30/9/2014, tổng cộng có 226 người bị chết trong các nhà tạm giam vì nhiều lý do khác nhau, trong đó, có lý do là nhục hình. Điều cần lưu ý là công an chỉ thừa nhận việc dùng nhục hình khi không thể chối cãi được nữa nên những lý do vớ vẩn họ đưa ra như tự tử hay bị bệnh đều có thể không đúng sự thật.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý không phải chỉ việc công an tra tấn nhiều người đến chết mà còn một khía cạnh khác không kém quan trọng: khi việc tra tấn bị phanh phui, không thể giấu nhẹm được nữa, phải mang ra toà xét xử, các bản án dành cho công an phạm tội tra tấn dẫn đến cái chết của những người dân vô tội đều rất nhẹ, người thì được tha bổng, người thì bị tù treo, chỉ hoạ hoằn mới có một số công an bị tù giam, nhưng ngay trong trường hợp ấy, án tù cũng chỉ vài ba năm, nói theo luật sư Võ An Đôn, hoàn toàn không có tác dụng răn đe để công an đừng tái phạm.

Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao công an lại càng ngày lại càng tra tấn người dân một cách dã man như vậy? và tại sao các bản án dành cho các công an tra tấn dân chúng đến chết lại nhẹ nhàng đến như vậy? Trả lời câu hỏi trên, chúng ta tiếp cận một sự thật: chính phủ không hề đưa ra chủ trương và hình thức kỷ luật nào để hạn chế các hành động tra tấn đến chết. Trả lời câu hỏi dưới, chúng ta tiếp cận một sự thật: chính phủ cũng không hề muốn trừng phạt những công an phạm tội dùng nhục hình để bức cung. Hai câu trả lời ấy lại dẫn đến một sự thật khác: Chính phủ muốn dùng sự khủng bố để đe doạ mọi người.

Khủng bố là hành vi bạo động nhằm gây hoang mang, lo lắng và sợ hãi trong dân chúng. Về phạm vi, có hai hình thức khủng bố chính: Khủng bố thuộc tổ chức (organization terrorism) và khủng bố thuộc nhà nước (state terrorism).

Tiêu biểu nhất cho loại khủng bố thuộc tổ chức gần đây là sự khủng bố của các nhóm Hồi giáo cực đoan: Họ sống rải rác trên nhiều quốc gia khác nhau nhưng có chung một nỗi hận thù đối với văn hoá và văn minh Tây phương, chung một tham vọng muốn phát triển nhà nước Hồi giáo khắp nơi trên thế giới và chung một biện pháp: sử dụng bạo lực để giết càng nhiều người càng tốt, gây tiếng vang càng lớn càng tốt và càng làm cho càng nhiều người khiếp hãi càng tốt.

Khủng bố thuộc nhà nước thì có hai mức độ: Một, ủng hộ và tài trợ cho các tổ chức khủng bố để chúng gieo rắc tội ác ở những nơi khác và hai, bản thân nhà nước đóng vai trò khủng bố đối với dân chúng trong chính nước của họ. Thuộc loại trên, Tổng thống Mỹ George W. Bush, vào năm 2002, cho có ba quốc gia chính được gọi là “trục ma quỷ” (Axis of evil), bao gồm Iraq, Iran và Bắc Triều Tiên. Thuộc loại dưới, tất cả các quốc gia độc tài, với những mức độ khác nhau, đều là những nhà nước khủng bố: Họ sử dụng bạo lực để làm dân chúng sợ hãi, từ đó, triệt tiêu mọi ý định phản kháng, hoặc thậm chí, phản biện.

Trong ý nghĩa đó, không còn hoài nghi gì nữa, nhà nước Việt Nam hiện nay là một nhà nước khủng bố.

Thật ra, tính chất khủng bố ấy đã xuất hiện ngay từ khi nhà nước Việt Nam (cộng sản) vừa mới ra đời. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, họ đã có chính sách tiêu diệt những người đối lập và đối kháng, qua đó, gây khiếp hãi trong quần chúng để không ai dám chống lại họ nữa. Chính sách này càng trở thành phổ biến trong cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-75. Chính sách gọi là “trừ gian diệt bạo” thực chất là một sự khủng bố. Theo Anthony James Joes, trong cuốn “The War for South Vietnam 1954-75” (New York: Fraeger, 1989, tr. 46), trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, Việt Cộng đã giết khoảng 20% các cán bộ làng xã ở miền Nam. Chỉ trong năm 1960, họ giết khoảng 1.400 công chức và thường dân; năm 1965, con số bị họ giết lên đến 25.000 người. Theo Walter Laqueur, trong cuốn “Guerrilla, a Historical and Critical Study” (London: Weidenfeld and Nicolson, 1977, tr, 262-271), những sự khủng bố của chính quyền miền Bắc có quy mô và mức độ tàn độc hơn cả Trung cộng trong cuộc chiến chống lại Tưởng Giới Thạch trong thập niên 1940.

Đó là thời chiến tranh. Tại sao bây giờ, thời bình, chính quyền lại tiếp tục sử dụng các biện pháp khủng bố như vậy đối với dân chúng?

Câu trả lời, theo tôi, là vì họ sợ.

Chính quyền Việt Nam hiện nay thừa biết dân chúng không còn tin họ, không còn phục họ, và sẵn sàng đứng dậy chống lại họ khi quyền lợi của người dân bị xâm phạm. Bởi vậy, chính quyền quay mặt làm ngơ, nếu không muốn nói là âm thầm khuyến khích, việc công an dùng nhục hình đối với dân chúng. Chính quyền không hề có ý định răn đe công an. Chính quyền chỉ muốn răn đe dân chúng: Chống lại chính quyền thì chỉ có chết!

Bất cứ chế độc tài nào cũng xây dựng quyền lực trên hai nền tảng: tuyên truyền và khủng bố. Công việc tuyên truyền của chính quyền Việt Nam gần đây rõ ràng là đã thất bại: Họ không còn thuyết phục được dân chúng về tính chính nghĩa của họ, đặc biệt trước hai vấn nạn: dân chủ và chủ quyền (đặc biệt ở Biển Đông). Thất bại về tuyên truyền, họ chỉ còn cách duy nhất là gia tăng mức độ khủng bố.

Mục tiêu của khủng bố là làm cho dân chúng sợ. Nhưng động cơ thực sự của sự khủng bố là sợ dân chúng nổi dậy chống lại chính quyền.

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Sơ lược cuộc đối đầu giữa Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) và “Bảy chị em”

Posted by hoangtran204 trên 08/05/2015

Sơ lược cuộc đối đầu giữa Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) và “Bảy chị em”

 Tú-hoa

6-5-2015

Vào ngày 2 tháng Tám năm 2005, một công ty dầu khí Trung Quốc, China National Offshore Oil Corporation, hay còn gọi là CNOOC Group đã phải chấp nhận ép buộc rút lui ý định mua lại công ty dầu khí Unocal 76 của Hoa Kỳ với giá đề nghị lên đến 18.5 tỷ Mỹ kim.

Công ty Unocal 76 được thành lập từ tháng Mười năm 1890, có trụ sở tại El Segundo, tiểu bang California Hoa Kỳ. Doanh thu hàng năm của Unocal là khoảng 5 đến 8 tỷ Mỹ kim và có hơn 6 ngàn nhân viên thường trực.

datauri-file

CNOOC tưởng đã có thể thâu tóm công ty Unocal 76 này trong tầm tay nhưng giới “BẢY CHỊ EM” đã lật ngược thế cờ và khiến các Dân Biểu trong Hạ Viện Hoa Kỳ không chuẩn thuận hành động mua này của Trung Quốc với lý do CNOOC là công ty nhà nước, tài sản của Hoa Kỳ không để cho chính phủ Trung Quốc sở hữu.

Hai tháng sau đó, tức là tháng Mười cùng năm, Chevron, một thành viên quan trọng của giới “BẢY CHỊ EM,” tức là tiếng lóng chỉ thế lực tư bản dầu hỏa hàng đầu của thế giới do Hoa Kỳ hậu thuẫn, đã chính thức mua lại công ty xăng dầu Unocal 76 này.

Đây là một hành động dằn mặt cho thấy rõ giới “BẢY CHỊ EM” đã cương quyết đối đầu với quyết tâm của Bắc Kinh công khai trong việc kiểm soát lượng dự trữ dầu hỏa.

Từ đó, CNOOC đành phải đi vòng qua các quốc gia khác thuộc châu Mỹ như Canada, Brazil, Venezuela…, ect, để đầu tư nhằm đảm bảo sự ổn định cho nhu cầu nhập khẩu dầu hỏa của mình. Và mỗi bước đi, bước tiến của các công ty dầu hỏa Trung Quốc điều phải tính toán, chạm chán gây go với sức ép của giới “BẢY CHỊ EM.”

Cuộc chạm chán này được gọi là cuộc đối đầu giữa “BẢY CHỊ EM” và Chu Vĩnh Khang, được coi là cha đẻ của nền kỹ nghệ dầu khí hiện đại Trung Quốc mà hiện thân là Tổng Công Ty Dầu Khí Trung Quốc – CNPC, tuy khốc liệt gây nhiều xáo trộn cho kinh tế và chính trị trên thế giới nhưng hết sức thầm lặng và không ai nghĩ tới.

Cần phải hiểu rõ hơn sự nghiệp của Chu Vĩnh Khang thì mới nhìn ra cuộc đối đầu chiến lược giữa Chu gia và giới BẢY CHỊ EM khốc liệt như thế nào.

I. Sự nghiệp của Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang)- cha đẻ của nền công nghiệp dầu khí hiện đại Trung Quốc:

Chu Vĩnh Khang sanh vào tháng 12 năm 1942, người gốc Vô Tích, tỉnh Giang Tô. Nơi ông sanh ra, từ ngàn xưa là đất của nước Sở thời Chiến Quốc, vốn là một nước giỏi nghề khai thác khoáng sản, trong đó có thiếc và chì. Sau tướng Vương Tiễn nhà Tần hành quân ngang qua vùng này, thấy có bia mộ viết là:

“Hữu tích: binh, thiên hạ tranh
Vô tích: ninh, thiên hạ thanh”

Nghĩa là có thiếc thì đánh nhau, loạn tranh binh đao, không có thiếc thì yên , thiên hạ an bình. Vương tướng quân thấy vậy mới đặt tên vùng này là Vô Tích (không có thiếc) để mong thái bình an lạc. Từ đó mà tên Vô Tích lưu truyền đến bây giờ.

Thiên linh địa linh sinh anh kiệt, Chu Vĩnh Khang lớn lên, tuy gia đình nghèo lắm nhưng ông học hành cực kỳ giỏi, thi đậu vào Học Viện Dầu Khí Bắc Kinh trở thành là một kỹ sư dầu hỏa, với chuyên môn là xét nghiệm địa chất và dò tìm dầu hỏa.

Vào khoảng năm1966, Chu Vĩnh Khang được điều về làm công tác địa chất thăm dò ở công trường 673 khu dầu hỏa Đại Khánh tỉnh Liêu Ninh. Tháo vát, năng nổ yêu nghề, ông đã được đề bạt làm đội trưởng đội thăm dò nơi ông công tác.

Bằng tài cán của chính mình, năm 1973, ông đã trở thành Trưởng Phòng thăm dò dầu khí của tỉnh Liêu Ninh. Dù chỉ là mới ở cương vị trưởng phòng, Chu Vĩnh Khang đã biến khu mỏ dầu Đại Khánh thành nơi sản xuất 19% tổng số lượng dầu hỏa quốc nội của Trung Quốc- một kỳ tích chấn động Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Chu Vĩnh Khang lúc nào cũng chở che, giúp đỡ cấp dưới rất tận tình dù ông có tới gần trên 2000 nhân viên. Ông không bao giờ về quê ăn mừng năm mới mà luôn ở lại cùng với nhân viên trên những cánh đồng mỏ dầu, cùng nhân viên chịu đựng mùa đông khắc nghiệt.

Năm 1979, Chu Vĩnh Khang tiếp tục được giao trọng trách thăm dò khai thác dầu hỏa ở Liêu Hà, phía Nam của vùng mỏ dầu Đại Khánh. Nơi này bây giờ được coi là nơi cung cấp dầu LỚN NHẤT cho Tổng Công Ty Dầu Khí Trung Quốc – CNPC (China National Petroleum Corporation), ước tính khoảng 200 ngàn tỷ thùng /một năm.

Năm 1983, Chu Vĩnh Khang trở thành Chủ Nhiệm Điều Hành toàn bộ công trường mỏ dầu các công trường mỏ dầu từ Đại Khánh cho đến Liêu Hà. Năm 1985, ông được chính thức thăng chuyển về Bắc Kinh và làm Thứ Trưởng Bộ Dầu Hỏa. Bộ Dầu Hỏa chính là tiền thân của CNPC.

datauri-file (1)

Dù ở địa vị cao, vào năm 1989, Chu Vĩnh Khang vẫn lao tâm lặn lội tới các vùng sâu trong đất liền, phía Tây heo hút hẻo lánh thuộc bình nguyên Tarim của Trung Quốc để thăm dò địa chất phát triển khai thác các mỏ khí với vai trò kỹ sư trưởng các công trình.

Chu Vĩnh Khang làm việc ngày đêm, bất chấp địa vị thứ trưởng của ông và biến nơi này thành nơi cung cấp 19% tổng sản lượng khí đốt nội địa cho quốc gia, chưa kể là ông cho xây đường ống dẫn khí đốt nối liền Đông-Tây xuất phát từ nơi này của Trung Quốc do ông làm giám đốc công trình thi công.

Từ một chuyên viên kỹ thuật, một kỹ sư cần mẫn và kinh nghiệm, Chu Vĩnh Khang lần hồi có được những ảnh hưởng lớn về chính trị trong Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc là vì trách nhiệm của Chu Vĩnh Khang quá lớn. Ông có trách nhiệm phải đảm bảo sự ổn định về cung cấp dầu hỏa cho nền kinh tế Trung Quốc bộc phát quá nhanh, hoàn toàn lệ thuộc vào dầu hỏa để hoạt động.

Từ những năm 1990 trở đi, người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang năm nào, nay với cương vị Tổng Giám Đốc CNPC lao hết mình ra các quốc gia khác để dò tìm, đầu tư khai thác. Báo cáo của giới BẢY CHỊ EM cho rằng ông đã viếng thăm các nước phi châu hẻo lánh đến gần 14 lần.

Chu Vĩnh Khang cũng là kỹ sư chánh, vừa là Tổng Giám Đốc công trình Greater Nile Oil Pipe Line ở Sudan, là công trình xây dựng ra nước ngoài đầu tiên của CNPC.

datauri-file (2)

Không thần thế vây cánh hay con ông cháu cha mà hoàn toàn nhờ tận tụy và yêu nghề khai thác thăm dò dầu hỏa, người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang đã được cử và trở thành Ủy Viên TW Đảng Công Sản Trung Quốc năm 1996 để có thể đảm nhiệm chức Bộ Trưởng Khai Thác Tài Nguyên hai năm sau đó -1998.

Những cải cách về hành chánh trong quản lý ngành dầu hỏa do Chu Vĩnh Khang xúc tiến đã làm kỹ nghệ ngành này của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và đủ sức giữ trách nhiệm cung cấp dầu hỏa cho nền kinh tế quốc dân.

Các công ty dầu khí Trung quốc theo kế hoạch của ông bung ra khắp mọi nơi để trên thế giới đầu tư thăm dò, khai thác để duy trì ổn định nguồn dầu nhập khẩu cho tăng trưởng kinh khiếp của nền kinh tế Trung Quốc.

Kế sách bung ra này của Chu Vĩnh Khang bắt đầu đụng chạm mạnh đến vị thế độc tôn hàng đầu của giới BẢY CHỊ EM, vốn âm thầm độc bá kiểm soát dầu hỏa thế giới bằng nhiều dạng, thông qua nhiều tổ chức khác nhau.

Từ đó, Chu Vĩnh Khang từ từ nhận ra được thế cuộc của thế giới về dầu hỏa và tìm cách đối phó. Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng thông qua ông, thấy được sự kềm kẹp của giới BẢY CHỊ EM lên tương lai chính trị và kinh tế của Trung Quốc nên bắt đầu giao hết toàn bộ sức mạnh nhân lực về ngành an ninh tình báo để ông tiện bề nắm bắt thông tin, những bước tiến, lùi toan tính của giới BẢY CHỊ EM.

datauri-file (3)
Chu Vĩnh Khang không có tham vọng trở thành Tổng Bí Thư, Thủ Tướng mà chỉ muốn nhìn thấy sức kiểm soát sở hữu dầu hỏa của Trung Quốc trên toàn thế giới được lớn mạnh nên chẳng có thế lực nào trong Đảng lo lắng Chu Vĩnh khang sử dụng an ninh mật vụ cho những mưu toan chính trị.

Cho nên, người người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang trở thành ông trùm an ninh trước sự đồng lòng của giới chóp bu đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chu Vĩnh Khang cần an ninh tình báo để đưa ra đối sách đối đầu chiến lược đối với giới “BẢY CHỊ EM” được chính xác và hữu hiệu.

Về phần “BẢY CHỊ EM”, giới chiến lược gia của họ từ lâu đã để ý đến khả năng kinh khiếp của Chu Vĩnh Khang và không hề lơ là quan sát theo dõi ông. Trong cuộc đối đầu đầy sống gió và làm chao đảo kinh tế, chính trị khắp nơi trên thế giới, nếu họ Chu là Gia Cát Lượng thì giới BẢY CHỊ EM là Tư Mã Ý, lúc nào cũng có khả năng chuyển bại thành thắng trước Khổng Minh.

IV. Đối Sách của Chu Vĩnh Khang đối phó với BẢY CHỊ EM:

Kế hoạch đối phó BẢY CHỊ EM của Chu Vĩnh Khang có thế tóm lược như sau:

1. Gia tăng mức dự trữ dầu của quốc gia từ 100 triệu thùng lên đến 600 triệu thùng vào năm 2020.

2. Mua hết các công ty dầu hỏa nhỏ “để chặt bớt tay chặt chân” của giới “BẢY CHỊ EM” mà lại ít bị để ý. Các công ty dầu hỏa nhỏ này có doanh thu từ 4 tỷ đến 10 tỷ một năm.

3. Gia tăng đầu tư qua các nước Phi châu, Mỹ châu, Trung Á, trong bối cảnh giới “BẢY CHỊ EM” mãi lo bám trụ vùng Vịnh.

4. Gia tăng ảnh hưởng chính trị- kinh tế đến các nước Trung Quốc đang nhập dầu nhằm đảm bảo lượng dầu nhập được ổn định.

5. Sử dụng tình huống chính trị thế giới, nhất là tình huống khủng bố, để mặc cả với Hoa Kỳ trong việc nới lỏng hạn chế từ “BẢY CHỊ EM” để Trung Quốc có thể tiếp tục gia tăng số vốn đầu tư vào những nước sản xuất dầu mà “BẢY CHỊ EM” đang độc bá sở hũu; cũng như cho phép Trung Quốc đầu tư vào Hoa Kỳ để khống chế dần các công ty của giới “BẢY CHỊ EM.”

6. Gia tăng các hoạt động tình báo để biết thực trạng từng đại công ty của giới “BẢY CHỊ EM,” các chính quyền của các quốc gia có dầu để âm mưu đầu tư, sở hữu khống chế.

7. Gia tăng sức ép chính trị lên Việt Nam và biển Đông để phá rối nổ lực đầu tư của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, đồng thời, tạo khả năng cho Trung Quốc khống chế từng phần hay toàn phần nguồn dự trữ dầu hỏa dồi dào của Việt Nam

Mục tiêu của đối sách mà Chu Vĩnh Khang đưa ra là tiếp tục lấn sân giới BẢY CHỊ EM về sở hữu dầu hỏa ở mọi nơi, mọi lúc bất chấp sản lượng, trữ lượng là ít hay là nhiều. Vì vậy, kế hoạch này của Chu Vĩnh Khang còn có tên lóng là chiến lược “lấn sân” (Mergers and Acquisitions- M&A)

Chu Vĩnh Khang nhìn thấy giới “BẢY CHỊ EM” có một khuyết điểm là bởi do độc bá dầu hỏa bấy lâu nên đâm ỷ lại, thuờng xuyên bỏ lơi những dự án nhỏ, bỏ lơi những quốc gia có dự trữ dầu bị đánh giá là không đáng kể (dưới 50 ngàn thùng dầu một ngày.)

Cho nên Chinese NOC’s (Chinese National Oil Companies), lần hồi, theo lệnh của Chu Vĩnh Khang, tóm thu tất cả các dự án nhỏ, đầu tư nhỏ vào những quốc gia bị giới “BẢY CHỊ EM” chê là trữ lượng không nhiều. Đặc biệt, những công ty dầu hỏa nhỏ, con con trên thế giới cũng bị Chu Vĩnh Khang thâu tóm gần hết dễ dàng vì giới “BẢY CHỊ EM” không chú ý tới.

Chính sách góp gió thành bão trong đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang, tuy là từng nơi đầu tư riêng biệt thì sản lượng dầu hỏa chẳng là bao, nhưng gôm lại thì tạo ra một trữ lượng đáng kể cho nhu cầu xăng dầu của Trung Quốc.

Khi các chiến lược gia của giới “BẢY CHỊ EM” nhìn lại thì giật mình, đó là lý do tại sao sau này, ngay cả công ty con con Uniocal 76 cũng bị giới BẢY CHỊ EM xiết lại không cho CNOOC mua.

Chu Vĩnh Khang lúc nào cũng kiên nhẫn, chịu khó siêng năng mót từng giọt dầu một đem về cho nền kinh tế Trung Quốc.

V. Kết quả đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang:

Sự “lấn sân” của ngành dầu hỏa Trung Quốc lên “BẢY CHỊ EM” trên toàn thế giới, ở khắp mọi nơi, mỗi lúc mỗi tăng là một thành công vang dội của Chu Vĩnh Khang về mặt chiến lược.

Mức sở hữu dầu hỏa của Trung Quốc đối với các quốc gia xuất khẩu dầu ngày một tăng hoàn toàn nhờ vào đối sách quyết tâm bung ra thế giới đầu tư của Chu Vĩnh Khang từ những năm 2000.
datauri-file (4)

Có thể nói, đối sách này đảm bảo nền kinh tế Trung Quốc tăng tốc trong ổn định tuyệt đối về năng lượng dù vẫn phải chạy kiếm dầu “ăn đong” từng ngày vì nhu cầu dầu hỏa của xã hội Trung Quốc không hề suy giãm hay đứng lại.

Biểu đồ 1 đã cho thấy rõ, từ một quốc gia được coi là tay trắng, nay các công ty dầu hỏa của Trung Quốc đảm đang gần một phần tư tổng sản lượng dầu hỏa của các nước vùng Vịnh Trung Đông, nơi mà giới “BẢY CHỊ EM” độc bá từ sau khi đệ Nhị Thế Chiến tới nay về đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất. Điều này cho thấy, giới “BẢY CHỊ EM” đang bị Chinese NOC’ s lấn sân ngày một mạnh mẽ.

Riêng vùng Trung Mỹ- châu Mỹ La-tin, được coi là “sân nhà” của giới “BẢY CHỊ EM,” mà nay Chinese NOC’s đã lấn sân hết 11 % và sự lấn sân này không giãm hề suy giảm buộc giới “BẢY CHỊ EM” phải gấp rút ứng phó trong thời gian gần đây.
datauri-file (5)

Đặc biệt, giới “BẢY CHỊ EM” đã mất 9% sản lượng dầu hỏa vào tay Chinese NOC’s tại vùng Bắc Mỹ, là tổng hành dinh của giới “BẢY CHỊ EM” từ thế kỷ thứ 19 đến nay. Tuy số phần trăm rất ít nhưng cũng làm cho giới “BẢY CHỊ EM” vô cùng bực bội và mất danh dự rất lớn.

Sự kiện năm 2005 về vụ mua công ty xăng dầu Unocal 76 chỉ là một thí dụ điển hình về sự bức tức kinh khiếp bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” đối với Chinese NOC’s, hiện đang “lấn sân” mạnh mẽ lên tổng hành dinh của mình .

Biểu đồ 2 cho thấy rõ, ngay cả tại Irag, một quốc gia còn đang hổn loạn và giới BẢY CHỊ EM lơ là không muốn tăng sức đầu tư, Trung Quốc vẫn lao vào đầu tư khai thác, sẳn sàng chịu đựng nhiều áp lực của các bên tham chiến. Hai mươi phần trăm sản lượng dầu hỏa của Irag là do các công ty dầu hỏa Trung Quốc sản xuất và mua lại.

Chiến thắng này của Chu Vĩnh Khang trong chiến lược “lấn sân” của mình làm các chiến lược gia của giới “BẢY CHỊ EM” tuy nóng mặt nhưng phải khâm phục sự nhẫn nại chịu khó của Chu Vĩnh Khang.

Có sự can thiệp về chính trị & quân sự của Hoa Kỳ, Irag phải là nơi mà giới “BẢY CHỊ EM” nắm tuyệt đối quyền khai thác. Bị hụt mất 20 % về tay các tập đoàn dầu hỏa Trung Quốc, giới “BẢY CHỊ EM” cảm nhận được sức ép “lấn sân” do chiến lược đối đầu của Chu Vĩnh Khang gây ra.

Giới “BẢY CHỊ EM” đã không còn lơ là về đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang như trước nữa, nhất là sau khi ngay tại đại bản doanh của mình là Hoa Kỳ mà Trung Quốc cũng ráng tìm cách chen chân và nắm gần 5 % sản lượng dầu hỏa của Hoa Kỳ (biểu đồ 2). Thật là một sự mất mặt quá lớn đối với giới “BẢY CHỊ EM.” Con số 5% là do những hành động phản ứng mãnh liệt trả đòn từ giới “BÃY CHỊ EM” mà ra, chớ nếu không, ước tính Trung Quốc sẽ nắm 14% sản lượng dầu hỏa nội địa của Hoa Kỳ dễ như trở bàn tay. Tất cả các công ty dầu hỏa nho nhỏ kiểu Unocal 76 lần hồi sẽ nằm trong tay của Chu Vĩnh Khang hết nếu giới BẢY CHỊ EM không trả đòn.

datauri-file (6)

Bề mặt, dù các công ty của giới “BẢY CHỊ EM” vẫn mua bán trao đổi với Chinese NOC’s nhưng bên trong, lần hồi nhiều đối sách để triệt hạ Chu Vĩnh Khang cũng như phá vở chiến lược “lấn sân” của ông đã được tính đến & thi hành. Đã có hàng trăm các kế hoạch đầu tư dầu hỏa của Chu Vĩnh Khang bị giới BẢY CHỊ EM âm thầm phá hoại khiến bị phải hủy bỏ, mà trong đó vụ mua công ty Unocal 76 của CNOOC vào năm 2005 chỉ là một thí dụ điển hình mà thôi.

Cục diện căng thẳng ở biển Đông ngày nay cũng hoàn toàn do giới “BẢY CHỊ EM” quyết tâm trả đòn trước chiến lược “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang đưa ra.

Biển Đông và trữ lượng dầu hỏa dồi dào tại Việt Nam đang hoàn toàn là trọng tâm phản đòn của giới “BẢY CHỊ EM.” Chắc chắn, giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không thể để cho Trung Quốc lấn vào tiền đồn này vì đây là yếu điểm để giới “BẢY CHỊ EM” đánh gục đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang

Riêng về bản thân của Chu Vinh Khang, chắc chắn, ông sẽ không bao giờ có một kết cuộc tốt đẹp trước những bực dọc cao điểm của giới “BẢY CHỊ EM” đối với ông.
Dù sao, giới “BẢY CHỊ EM” cũng là một thế lực mại bản đầy quyền uy trong suốt hai thế kỷ nay và không bao giờ biết tha thứ cho mọi cá nhân hay thế lực thách thức vị thế độc tôn của mình.

VI. KẾT

Ngày 3 tháng Tư năm 2015, tờ “People Daily” của Trung Quốc chính thức đưa tin ông Chu Vĩnh Khang, người kỹ sư dầu hỏa siêng năng cần mẫn lập nên nhiều kỳ tích, bị phạm tội tham nhũng, tiết lộ bí mật quốc gia và lạm quyền…

Song song với bản án này là hàng loạt các tin tức hỏa mù từ báo chí, các hãng truyền thông nào là ông giết vợ, nào là ông có 6000 cung nữ, nào là ông đảo chánh giết hụt Tập Cận Bình, nào là ông bao che cho Bạc Hy Lai, cựu Bí Thư Tỉnh Trùng Khánh ..etc, nhưng không có hãng thông tấn nào đề cập chi tiết đến những đóng góp và kỳ tích của người kỹ sư dầu hỏa Chu Vĩnh Khang, cần mẫn tận tụy chịu khó yêu nghề đi lên từ khốn khó.

Thanh danh của Chu Vĩnh Khang bị triệt hạ nhưng cơ ngơi và sức mạnh của nền kỹ nghệ dầu khí Trung Quốc mà ông gầy dựng vẫn còn đó; quyền hành và ảnh huởng của Chu Vĩnh Khang có thể đã mất đi nhưng tham vọng của Cộng Sản Trung Quốc muốn thoát khỏi bàn tay nanh vuốt của giới “BẢY CHỊ EM” còn đó; dầu vẫn còn tiếp tục phun lên và Trung Quốc vẫn khát dầu mỗi ngày, cho nên cuộc đối đầu chống lại giới BẢY CHỊ EM của Trung Quốc vẫn còn tiếp diễn…

Với tư cách là một phạm nhân, Chu Vĩnh Khang mất hết tất cả từ tài sản đến ảnh huởng chính trị. Điều này có thật sự đúng hay không, hay Tập Cận Bình, hiện là Chủ Tịch Trung Quốc, vẫn âm thầm lắng nghe và dùng Chu Vĩnh Khang trong bóng tối là một câu hỏi mà giới “BẢY CHỊ EM” không bao giờ lơ là khi tìm kiếm câu trả lời.

Và cho dù thật sự Chu Vĩnh Khang đã bị triệt hạ hoàn toàn và mất hết thanh danh lẫn tài sản, hoàn toàn ngã ngựa thua trận trước thế lực của “BẢY CHỊ EM” thì đối với những ai CHẬT VẬT đấu trí với Chu Vĩnh Khang suốt gần hai mươi năm nay, vẫn sẽ mãi mãi coi ông là một Khổng Minh của thời đại, một thời đại được mang tên thời đại DẦU HỎA.

© Đàn Chim Việt

 Tú-Hoa

http://www.danchimviet.info/archives/95607/so-luoc-cuoc-doi-dau-giiua-chu-vinh-khang-zhou-yongkang-va-bay-chi-em/2015/05

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt | Leave a Comment »

►Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

Posted by hoangtran204 trên 08/05/2015

Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

I. “BẢY CHỊ EM”  (Seven Sisters) nghĩa là gì?

“BẢY CHỊ EM ” hay tiếng Anh còn gọi là “Seven Sisters ” là tiếng lóng để ám chỉ bảy công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới , nắm khoảng 85%—95% trữ lượng dự trử dầu hỏa của thế giới. Khởi thủy ( lúc ban đầu) , “BẢY CHỊ EM” trong ngành dầu hỏa bao gồm các công ty sau đây:

•Exxon (xuất thân từ Standard Oil of New Jersey )
•Mobil (xuất thân từ Standard Oil of New York)
•Chevron (xuất thân từ Standard Oil of California)
•Texaco
•Gulf Oil
•Shell
•British Petroleum

Về sau này, Exxon xác nhập với Mobil vào năm 1998 để trở thành ExxonMobil , Chevron mua đứt Texaco vào năm 1984 và Britist Petroleum mua đứt Gulf Oil cho nên “BẢY CHỊ EM”  lần hồi không còn đúng nữa nhưng thành ngữ “BẢY CHỊ EM”  vẫn được sử dụng  để ám chỉ các công ty dầu hỏa hàng đầu của thế giới.

Hiện tại thì Chevron và Texaco,  hai thành viên quan trọng nhất của  giới “BẢY CHỊ EM” đang khai thác dầu hỏa tại Việt Nam. Riêng Chevron thì cho là đã có mặt tại Việt Nam ngay năm 1994 , tức là năm Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ mọi cấm vận đối với  Việt Nam .  Xin được ghi chú là thêm hai công ty Chevron và Texaco đã vào Việt Nam còn đội lốt dưới cái tên khác là CALTEX. 

Năm 2017, khi TT Trump vừa sắp nhậm chức, Rex Tillerson đang được đề cử làm Ngoại Trưởng mỹ,  Exxon Mobil đã ký hợp đồng với VN để khai thác khí đốt trong vùng Trường Sa.

Như vậy “BẢY CHỊ EM ” thực sự có mặt tại Việt Nam từ lâu và những bí ẩn riêng tư bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” ảnh huởng lên chính trị , lịch sử , và kinh tế  của Việt Nam là điều mà cần phải phân tích cặn kẽ tận tường khi bình luận hay khi đưa ra những đối sách chính trị ngoại giao cần thiết cho Việt Nam

II.  Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên nền chính trị Việt Nam hiện nay:

Cơ quan US Energy Information Administration gọi tắt là EIA của Hoa Kỳ loan  báo chính thức là trữ lượng dầu hỏa tại Biển Đông lên đến 11 tỷ thùng và 190 ngàn tỷ cubic ft khí đốt (một cubic foot tương đương với 0.28 mét khối )

EIA cũng đưa ra bản thống kê chính thức trữ lượng dầu hỏa và khí đốt của các nước trong vùng biển Đông  như sau:

Bảng thống kê 1 : Dự trữ dầu hỏa tại biển Đông
bang-1
Như vậy , trữ lượng dầu thô của Việt Nam ( 3 tỷ thùng ) không thôi đã chiếm gần 27.3 %  gần một phần ba trữ lượng của toàn vùng . Còn về lượng khí đốt thì Việt Nam đã đứng hang thứ ba trong vùng theo bảng tổng kết trình bày ở trên từ EIA.

Dữ liệu do chính EIA đưa ra cho thấy Việt Nam đã có thể cán đáng sản xuất gần 300 ngàn thùng dầu thô mỗi năm , tức là tương đương với khoảng 13.5 tỷ Mỹ kim mỗi năm nếu giá dầu thô chỉ là 45 Mỹ kim một thùng.

Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng sản xuất dầu hỏa của Việt Nam

bang-2

Dựa vào biểu đồ 1 , nếu lấy  năm 1994 làm cột mốc vì là năm Hoa Kỳ chính thực bãi bỏ cấm vận, thì sản lượng dầu thô của Việt Nam đã tăng từ 150 ngàn thùng một năm lên đến hơn 300.000 thùng một năm, gấp đôi tổng sản lương trong 20 năm.

Rõ ràng , với trình độ kỹ thuật và khả năng khai thác của Việt Nam không thể tạo ra sự nhẩy vọt về tổng sản lượng nếu như không có “BẢY CHỊ EM” ta đứng đằng sau trợ sức mọi mặt từ vốn đến kỹ thuật

Quan trọng hơn hết , toàn bộ miền duyên hải phía nam của Việt Nam, trong đó có quần đảo Trường Sa (Sparatly Islands) thuộc chủ quyền của Việt Nam  nằm hoàn toàn trên tuyến đường chuyên chở dầu hỏa khắp cả vùng châu Á Thái Bình Dương, theo sự xác nhận của EIA với tổng số lên đến  11 triệu thùng một ngày vào năm 2011 được phân bố ra các quốc gia như bản đồ dưới đây:

Họa hình 1:  Khối lượng vận chuyển dầu hỏa ngang qua biển Đông
hinh-1

Như vậy , nguồn lợi thu được từ thuế hàng hải khi vận chuyển dầu hỏa qua hải phận đối với các quốc gia trong vùng và nhất là đối với Việt Nam, hiện đang kiểm soát 29 đảo của quần đảo Trường Sa vô cùng to lớn.

Do đó , nhằm đảm bảo quyền lợi lâu dài lên đến cả trăm năm, “BẢY CHỊ EM” cần phải có những ảnh huởng chính trị cần thiết lên chính trường Việt Nam cũng như  cần chính phủ Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ để sự đi lại hàng hải, chuyên chở dầu hỏa trên con đường này không bị Hải quân Trung Quốc bắt nạt và buộc phải đóng thêm thuế hàng hải cho Trung Quốc

Trung Quốc đã nhiều lần kiếm cách phá rối, hăm dọa cũng như áp lực lên giới “BẢY CHỊ EM ” bằng nhiều kiểu cách khác nhau nếu tiếp tục bắt tay với Việt Nam khai thác dầu hỏa, khí đốt trong vùng .

Việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu khổng lồ 981 vào lãnh hải Việt Nam vào ngày 2-5-2014 với dàn hải quân hùng hậu hộ tống cũng chính là nhằm dằn mặt “BẢY CHỊ EM” ta đã phớt lờ Trung Quốc khi ký kết các hợp đồng khai thác tại vùng biển này và nhất là tại Cửu Long Basin , phía nam duyên hải Việt Nam mà Trung Quốc đã ngang ngược cương quyết đòi chủ quyền. Ngoài ra , Trung Quốc cũng muốn nhìn phản ứng của “BẢY CHỊ EM” ra sao trước tình huống này  (political benchmark testing).

“BẢY CHỊ EM” biết quá rõ về lâu về dài, khi Trung Quốc đã không chế được tình hình rồi thì Trung Quốc sẽ tự bỏ vốn khai thác , “BẢY CHỊ EM” vĩnh viễn không có phần và phải quy lụy Bắc Kinh tối đa để duy trì sự vận chuyển dầu hỏa lên Nhật Bản hoặc các nước khác trong vùng.

Điều đó càng cho thấy giới “BẢY CHỊ EM” ta không thể để các phần tử Đảng viên bảo thủ thân Trung Quốc ở trong Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục mạnh thế  khiến những toan tính cam kết đầu tư giữa Việt Nam và  giới “BẢY CHỊ EM” bị đe dọa, bất ổn.

Hơn nữa, để đảm bảo quyền lợi lâu dài, “BẢY CHỊ EM” sẽ tìm đủ cách tạo ra cho mình những ảnh huởng chính trị cần thiết trên chính trường Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

Cho nên, để “BẢY CHỊ EM” có thể yên tâm dò tìm , đầu tư và khai thác dầu hỏa và khí đốt tại thềm lục địa Việt Nam,  Cộng Sản Việt Nam cần phải có chính sách chính trị đối ngoại hợp tác với Hoa Kỳ sâu rộng về quốc phòng.

Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam tỏ ra do dự hay sẵn sàng ngả về Trung Quốc thì giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không gia tăng đầu tư vào Việt Nam vì rủi ro ( risk) quá lớn trước sự hăm dọa của Trung Quốc.

Từ đó, mối bang giao Việt- Mỹ  chịu ảnh hưởng âm thầm nhưng mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM”.

Đơn giản, đầu tư của “BẢY CHỊ EM” sẽ sút giãm nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại  nặng nề  về kinh tế cho Việt Nam nếu  Việt Nam không nằm trong đường lối hợp tác quốc phòng mà chính phủ Hoa Kỳ đề ra trong sách lược của mình tại Đông Nam Á.

Như vậy đường lối chính trị ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam cũng đang lần hồi bị ảnh hưởng áp lực của  giới “BẢY CHỊ EM “.

Ngụy trang bằng lý do quốc phòng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từ từ xích gần lại Hoa Kỳ để tìm một sự bảo vệ  nhằm lợi nhuận từ dầu hỏa được ổn định và gia tăng.

Nếu  mất đi gần hoặc hơn 10 % tổng giá trị sản phẩm quốc dân – GDP ( Gross Domestic Product )  từ nguồn lợi tức dầu hỏa và cả khí đốt , chưa kể các quyền lợi về công ăn việc làm , cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội do các hoạt động đầu tư của “BẢY CHỊ EM” đem lại thì kinh tế Việt Nam và ngân sách quốc gia của Việt Nam sẽ suy sụp nhanh chóng .

Điều này sẽ đặt Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tình thế lâm nguy về an toàn chính trị trước suy thoái kinh tế. Khi nguồn lợi tài chánh từ dầu hỏa mất đi , Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị tê liệt về ngân sách , dẫn đến sụp đổ nhanh chóng về chính trị.

Ba đời thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, từ Võ Văn Kiệt đến Nguyễn Tấn Dũng điều là người miền Nam và có liên quan trực tiếp đến sự an toàn, tự do khai thác dầu hỏa cho “BẢY CHỊ EM” ngoài khơi lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Bộ luật đầu tư khai thác dầu hỏa được thông qua để  BẢY CHỊ EM tư do đấu thầu, khai thác dầu hỏa  ban hành  vào năm 1993 khi Võ Văn Kiệt là thủ tướng.

Chevron đã vào Việt Nam năm 1994 dưới sự bảo vệ về chính trị của Kiệt để đổi lại những khoảng tài chánh cứu trợ cần thiết cho Việt Nam và Đảng cầm quyền cũng như sự hậu thuẫn của Chevron cho Việt Nam trong chính trường Mỹ.

Sau đây là một đoạn từ lá  thơ của Lisa Barry , General Manager Government Affairs ( Tổng Giám Đốc Tư Pháp ) của Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ ( House of Representative- H. R. ) , áp lực Hạ Viện tiếp tục duy trì  quy chế tự do mậu dịch “Permanent Normal Trade Relations “ gọi tắt là PNTR với Việt Nam. PNTR cho phép tự do mậu dịch giữa hai quốc gia Việt- Mỹ được hợp pháp – nguyên văn bằng tiếng Anh :

“ Chevron is a long term  investor in Viet Nam . We re-entered the Vietnamese market as soon as it was legally permissible  following the end of US trade embargo in 1994 and have increased our present since then as opportunities have been available . We are please to support and urge favorable consideration of the last step in the trade normalization process: extending Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) to Viet Nam as authorized by H.R 5602  “

(Xin tạm dịch : Chevron là một công ty đầu tư lâu dài tại Việt Nam. Chúng tôi hiện diện tại Việt Nam ngay sau khi cấm vận được bãi bỏ vào năm 1994 và tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình khi có cơ hội đầu tư. Chúng tôi hết lòng vận động và ủng hộ bước tiến  cuối cùng của  quá trình bình thuờng hóa : tiếp tục duy trì  nghị quyết H.R 5602- Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) , quy chế tự do mậu dịch với Việt Nam)

Đoạn trích trên từ lá thơ của công ty Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ là một bằng chứng đã cho thấy rõ ảnh huởng mạnh của giới “ BẢY CHỊ EM” lên mối quan bang giao Việt-Mỹ tác động đến nền chính trị và các quyết định chính trị sau này của Cộng Sản Hà Nội. Xin vào website để đọc hết toàn bộ nguyên văn bức thư bằng Anh ngữ .

Phan Văn Khải cũng là người miền Nam , tiếp nối Võ Văn Kiệt làm thủ tướng từ năm 1997 cho đến 2006 , trong thời gian này thì tổng sản lượng dầu hỏa của Việt Nam nhanh chóng nhãy vọt từ dưới 200 ngàn thùng dầu lên gần 400 ngàn thùng dầu mỗi ngày  do sự hiện diện mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM” dập dìu ngoài khơi Việt Nam  (biểu đồ 1 )

Trong giai đoạn  tăng vọt sản lượng dầu hỏa này, chỉ cần nhìn vào Chevron thì đã thấy cổ phần của Chevron tăng vọt tại các mỏ dầu ngoài khơi Việt Nam:

+ Block 122 – Phu Khanh Basin : Chevron sở hữu 20%,
+ Block B&48/95 – Malay/Tho Chu Basin : Chevron sở hữu lên đến 42.38%
+ Block 52/97- Malay/Tho Chu Basin Chevron sở hữu lên đến 43.40%

Ông Khải cũng được cho là nhờ sự vận động ráo riết của BẢY CHỊ EM để ông trở thành Thủ Tướng Cộng Sản đầu tiên viếng thăm Hoa Kỳ , ký kết hàng loạt các hợp đồng kinh tế , trong đó là chuyến đi thăm ngoạn mục đến nơi sản xuất của một người bạn lâu đời thủy chung của giới “BẢY CHỊ EM “, đó là hãng Boeing.

Nguyễn Tấn Dũng tiếp nối ông Khải làm Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam cũng là người miền Nam, mở rộng cửa cho hàng loạt các tay chân của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, trong đó có các hãng lọc dầu của Pháp, Nam Hàn, Nhật Bản.

Thời của ông Dũng, Trung Quốc gia tăng sách nhiễu BẢY CHỊ EM ngoài khơi Việt Nam khiến quan hệ hai nước Việt – Mỹ xích gần nhau hơn về quốc phòng dẫn đến hàng loạt các chuyến ngoại giao con thoi Mỹ- Việt .  “BẢY CHỊ EM”  đang hậu thuẫn mạnh cho chính giới Hoa Kỳ gia tăng hợp tác quốc phòng với Việt Nam. Sự hậu thuẫn này khiến bộ quốc phòng Mỹ lần lượt có những đối sách gia tăng tuần tra hợp tác tại biển Đông để bảo vệ quyền lợi đầu tư của “BẢY CHỊ EM”  ngoài khơi Việt Nam.

“BẢY CHỊ EM “ đã âm mưu núp bóng , dựng ra nhiều tập đoàn dầu hỏa cho nhiều quốc gia khác , rồi lôi kéo các tập đoàn này vào Việt Nam , chịu dựng sự xách nhiễu và hăm dọa từ Trung Quốc buộc lòng chính phủ các quốc gia này lên tiếng phản đối áp lực Trung Quốc , tạo ra một thế cuộc quốc tế hóa vấn đề dầu hỏa tại Biển Đông có lợi cho toàn cầu và đương nhiên , chỉ có hại cho tham vọng riêng tư của Trung Quốc.

Hệ quả của âm mưu này là Việt Nam có thêm hàng loạt các tập đoàn dầu hỏa từ Thái Lan , Nhật , Úc , Canada , Nam Hàn , Quatar , Kuwait , India ….vân vân mà hầu hết điều là con đẻ của “BẢY CHỊ EM ” ồ ạt vào Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của chính phủ các quốc gia này.

Như vậy, Trung quốc nếu muốn xách nhiễu hay áp lực cũng mệt mỏi vì có quá nhiều quốc gia liên can , nhiều tập đoàn khác nhau để liên hệ phản đối.

Các nhà phân tích , chiến lược gia đang chờ xem Trung Quốc sẽ đối phó với âm mưu này của BẢY CHỊ EM như thế nào.

Nền chính trị của Việt Nam độc tài Cộng Sản hôm nay và Tự Do Dân Chủ mai sau  luôn luôn sẽ phải chịu  những tác động và ảnh huởng mạnh từ “BẢY CHỊ EM”  Đây là một thực tế cần phải chấp nhận khi bàn thảo những đối sách chính trị cho Việt Nam
 
III. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” trong lịch sử  của Việt Nam:

Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam là điều mà các sử gia vẫn chưa chịu thừa nhận vì ảnh hưởng này không ồn ào lộ ra ngoài cho mọi người nhìn thấy dù ảnh huởng này rất là quan trọng

Trong quá khứ, Nhật Bản buộc lòng phải tấn công Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  vì Hoa Kỳ  cấm vận mọi chuyên chở dầu hỏa từ con đường dầu hỏa (đề cập ở phần II bên trên)  lên Nhật Bản khiến Nhật Bản sẽ suy xụp tê liệt hoàn toàn về kinh tế  nếu không có  hành động để tìm một giải pháp.

Hoa Kỳ hành động cấm vận dầu hỏa quyết liệt như vậy đối với Nhật Bản là để trả đũa hành động Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng, lúc bấy giờ còn thuộc Đông Dương- L’indochine do Pháp kiễm soát vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng nhằm cắt đứt đường mua bán , trao đổi tiếp viện xăng dầu đạn dượt cho chính phủ của Tưởng Giới Thạch  từ Hoa Kỳ thông qua cảng Hải Phòng và đường rày nối liền Hài Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh và Vân Nam (Sino- Vietnamese railway)

Như vậy, cuộc đối đầu trực diện nảy lửa giữa Hoa Kỳ  với Nhật Bản  về ngoại giao  từ năm 1940 dẫn đến đối đầu quân sự trực diện ngay năm sau đó bằng trận tấn công Trân Châu Cảng kinh hoàng bởi Nhật Bản vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  tạo ra đệ Nhị Thế Chiến tại Châu Á khởi nguồn từ sự xâm lược của Nhật Bản vào cảng Hải Phòng vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Trong khi đó, Trung Quốc đã bị Nhật Bản xâm lược trắng trợn từ năm 1935 nhưng Hoa Kỳ vẫn chỉ phản đối cho có lệ mà thôi, không hề có những hành động cấm vận cương quyết toàn diện đối với Nhật Bản như sau trận tấn công Hải Phòng của Nhật.
Đây là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng mà các chiến lược gia của Hoa Kỳ cố gắng đánh lờ đi.

Việt Nam lao vào lốc xóay của Đệ Nhị Thế Chiến bởi những tranh chấp dầu hỏa giữa các siêu cường trong vùng.

Quyết định của chính phủ Hoa Kỳ cấm vận Nhật Bản dẫn đến chiến tranh đương nhiên là có sự hậu thuẫn của “BẢY CHỊ EM”  vì các đại công ty dầu hỏa lúc bấy giờ không muốn bị Nhật Bản khống chế khi chuyên chở dầu hỏa trong vùng  cũng như cắt đứt một khách hàng tiêu thụ xăng dầu khổng lồ của “BẢY CHỊ EM” là Trung Hoa Quốc Dân.

Khi Đệ II thế chiến chấm dứt  năm 1945 , trợ tá đắc lực của tướng Douglas MacArthur, Thống Đốc Toàn Quyền Nhật Bản là phó thống đốc toàn quyền Laurence Rockefeller, cháu ruột của ông tổ ngành dầu hỏa Hoa Kỳ , John D.  Rockefeller, tìm đủ cách tăng viện cho Hồ Chí MInh ,  mượn tên này gây rối Đông Dương để Hoa Kỳ CÓ CƠ HỘI CAN THIỆP CHÍNH TRỊ VÀO ĐÔNG DƯƠNG mai sau, nhằm có điều kiện kiểm soát dò tìm trữ lượng dầu hỏa và khí đốt tại miền nam duyên hải Việt Nam và lập ra kế hoạch khai thác   lâu dài trên biển Đông  sau này.

Chín năm sau đó , tức là năm 1954-1955 , cũng Laurence Rockefeller , lúc bây giờ là trợ tá đắc lực cho tổng thống Eisenhower, đã cố vấn cho chính phủ Hoa Kỳ,  vận động hậu trường chính trị  ở Washington DC ủng hộ Diệm truất phế Quốc Trưởng  Bảo Đại nhằm chấm dứt vĩnh viễn ảnh huởng của người Pháp lên Đông Dương , mở rộng cửa cho Hoa Kỳ can dự vào chính trị tại Việt Nam , mở ra cơ hội cho Hoa Kỳ chuẩn bị thăm dò khẳng định trử lượng dầu hỏa của Việt Nam, ngoài khơi Cửu Long Basin và quần đảo Trường Sa.

Vào thập niên 1950 , kỹ thuật thăm dò dầu hỏa ngoài khơi của Hoa Kỳ  đã rất tiến bộ và chính xác , chỉ cần cho nổ bom hoặc mìn dười lòng biển sâu , rồi đo sự dội lại của âm thanh sẽ biết được chính xác vị trí của salt dome , tức là những bọng muối chứa dầu bên dưới.

Từ năm 1964 trở đi, “BẢY CHỊ EM” ta , nhờ các kế họach quân sự của Hoa Kỳ khi tham chiến tại Việt Nam làm bình phong che đậy, đã có thể âm thầm thực hiện kế hoạch thăm dò mười năm của mình trên toàn bộ vùng biển Đông , biết rõ chính xác và chi tiết  trữ lượng cũng như vị trí sự phân bố dầu hỏa trên vùng biển Đông này.

(Nếu không có sự thăm dò này , EIA của Hoa Kỳ làm sao có dữ liệu , data mà thông báo?)

Hiện tại, chưa có một sử gia nào bỏ công nghiên cứu ảnh huởng sâu rộng của “BẢY CHỊ EM ” lên lịch sử của Việt Nam.

Đơn giản là vì, giới “BẢY CHỊ EM ” ta không bao giờ lộ diện mà đứng đàng sau các nhân vật chính trị , hoặc vây cánh với các nhân vật chính trị  của Hoa Kỳ để ảnh huởng đến các quyết định chính trị sao cho có lợi cho mình và phù hợp với tình thế chính trị toàn cầu

Hoa Kỳ ảnh huởng sâu rộng đến lịch sử của Việt Nam từ năm 1945 đến nay từ việc đưa Hồ Chí Minh về đảo chánh chính phủ Trần Trọng Kim gây rối Đông Dương, cắt viện trợ chiến tranh cho nước Pháp tại Đông Dương khiến Pháp khốn đốn mà bỏ Đông Dương,  rồi đến tham chiến suốt 18 năm , sau lại  cấm vận Việt Nam 18 năm và giờ quay trở lại bảo vệ Việt Nam toàn diện từ kinh tế , quốc phòng đến môi trường thì rõ ràng , sự ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM”, một thế lực mại bản hàng đầu của nước Mỹ,   lên các quyết định của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam , là điều tất nhiên xảy ra.

Chối bỏ vai trò & ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam sẽ khiến cho mọi sự nghiên cứu sử học cận và hiện đại của Việt Nam bị khiếm khuyết và lệch lạc đi

IV. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên kinh tế Việt Nam

Sự hiện diện đầy đủ của  “BẢY CHỊ EM”  ta tại Việt Nam về lâu về dài đương nhiên tạo ra sức mạnh tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam.

Căn cứ  vào dữ kiện  của World Bank , thì thu nhập về dầu hỏa của Việt Nam đang từ con số không vào năm 1986 đã lên đến gần 7 % tổng giá trị sản lượng quốc dân GDP vào năm 2012.

Biểu đồ 2:Thu nhập từ dầu hỏa của Việt Nam (%GDP)
bieu-2

Ghi chú: Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Trong điều kiện kinh tế lạm phát và tăng trưởng ở mọi quốc gia trên toàn cầu , nhu cầu về năng lượng chỉ gia tăng chứ không có giảm và dù nhiều kỹ thuật tân tiến được áp dung để tránh lệ thuộc vào dầu hỏa, thì dầu hỏa vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của mọi nền kinh tế. Do đó , về lâu về dài,  giá dầu chỉ có xu huớng gia tăng chứ không có giảm.

Biểu đồ lên xuống giá cả của dầu hỏa trong suốt 40 năm tính từ năm 1973 đã cho thấy giá dầu đã tăng từ 16 Mỹ kim một thùng vào năm 1973 lên đến gần 50 Mỹ kim một thùng vào năm 2013.  Còn nếu lấy cột mốc là năm 1994 tức là năm khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận cho Việt Nam thì giá dầu đã tăng gần 20 Mỹ kim một thùng khiến lợi nhận dầu hỏa của Việt Nam chiếm từ 3% tổng giá trị sản lương quốc dân GDP vào năm 1994 lên gấp đôi trên 6% vào năm 2013

Biểu đồ 3 : Biến chuyển giá dầu 1973-2015 ( US dollars / barrel )
bieu-3

Ghi chú : Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Tuy nhiên , nếu chỉ nhìn về trị giá dầu hỏa mà coi đây là nguồn lợi duy nhất mà “BẢY CHỊ EM” có thể đem lại cho nền kinh tế Việt Nam là hoàn toàn sai lầm.

Sự hiện diện của “BẢY CHỊ EM ” là cơ hội rất tốt để Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng kinh tế từ kho bãi , cảng , kỹ thuật  , nhà máy lọc dầu , các nhà máy sản xuất các hóa chất trọng yếu cho kinh tế quốc gia, kiến thức quản lý. Đó là chưa kể “BẢY CHỊ EM” là nguốn tài trợ vô cùng lớn cho Việt Nam gia tăng khả năng sản xuất điện với kỹ thuật tân tiến, một nhu cầu vô cùng quan trọng cho một xã hội đang phát triển.

Chỉ tính riêng công ty ExxonMobil mà thôi, một khối lượng vốn lên đến 20 tỷ Mỹ kim đã được công ty này loan báo đầu tư vào Việt Nam vào ngày 19 tháng Ba năm 2014 tại Hà Nội không phải để mua dầu mà là để xây nhà máy nhiệt điện sử dung khí đốt khái thác tại biển Đông. Chỉ với 20 tỷ Mỹ kim mà ExonMobil đã là công ty đứng hàng thứ bảy về số vốn đầu tư tại Việt Nam thì rõ ràng , nếu tính sự hiện diện đầy đủ của “BẢY CHỊ EM “,tức là sự hiện diện của mọi tập đoàn dầu hỏa được  chính phủ Hoa Kỳ  hậu thuẫn thì con số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cho Việt Nam từ các công ty này sẽ vượt qua xa tất cả các công ty không thuộc giới ….”BẢY CHỊ EM “!

Ước đoán số vốn đầu tư của “BẢY CHỊ EM ” tại Việt Nam  như sau:

1. Chevron: 7 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy điện chạy bằng khí đốt khai thác từ BLOCK B từ Cửu Long Basin , trong đó có tính luôn cả chi phí các ông dẫn khí từ khơi vào đất liền có chiều dài lên đến 400 km. Chevron cũng được cho là sở hữu 42 % số dầu khai thác từ Cửu Long Basin theo các hợp đồng đã ký với Cộng Sản Hà Nội.

2. ExxonMobil : 20 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy nhiệt điện lớn từ khí đốt tại tỉnh Quãng Ngãi. Hợp đồng này khiến Việt Nam có cơ sở hạ tầng tân tiến , cải thiện sức mạnh kinh tế quốc dân.

3. British Petroleum(BP) ” được cho là bỏ ra 2 tỷ Mỹ kim để thăm dò Block 05-2 tai Nam Côn Sơn , có tin đồn là bỏ của tháo chạy vì bị Trung Quốc đe dọa và lấy cớ là cần tiền để bồi thuờng vụ rò rỉ ( leak) dầu tại  Gulf of Mexico  nên bán mọi asset  tại Việt Nam nhưng nay rõ ràng BP có cổ phần gần như mọi dự án lớn nhỏ về năng lượng của Việt Nam.  Hệ thống ống dẫn khí đốt đang hoạt động tại Việt Nam hầu hết là do BP thi công , trừ hệ thống ống dẫn của Chevron .

4. Shell : Được cho là bỏ ra gần 300 triệu để đầu tư sản xuất dầu cơ khí , hay còn gọi là dầu máy hoặc là nhớt máy. Tuy con số tiền đầu tư có vẻ ít nhưng Việt Nam chưa hề tự lực nổi về sản xuất dầu nhớt cơ khí và cần Shell hiện diện để canh tân kỹ thuật và cung ứng cho nhu cầu quan trọng này của xã hội

5. ConocoPhilipe : công ty dầu hỏa mới thành lập của Hoa Kỳ , được cho là lớn đứng hàng thứ ba trên thế giới trong giới “BẢY CHỊ EM ” ngày nay , nắm 23.25% cổ phần block 15-1 , 36%  cổ phần block 15-2; và 16.3 % hệ thống Nam Côn Sơn ống dẫn dầu và khí đốt ( Nam Con Son pipeline) .

ConocoPhilipecũng loan báo bán tháo bỏ chạy ra khỏi Việt Nam vì Trung Quốc đe dọa năm 2012 , nhưng nay cũng quay trở lại khi biết chính sách “nhìn về châu Á “ của Obama được thi hành. Tổng trị giá tài sản mà  ConocoPhillipe có ở Việt Nam có thể lên đến 5 tỷ Mỹ kim là ít nhất

6. Korea National Oil Corporation (KNOC) : dù mang tiếng là của Nam Hàn nhưng thực chất Chevron đứng đàng  sau, theo chân Hoa Kỳ vào Việt Nam , nhận điều hành Block 11-2, tin rằng số vốn cơ sở hạ tầng tại Việt Nam lên đến khoảng 2 tỷ Mỹ kim

7. Nippon Oil Exploration Limited and Teikoku Oil : xuất thân tự Nhật có  35% cổ phần cho block 05-1 b và 05-1c. Số vốn hạ tầng tại Việt Nam khoảng 4 tỷ Mỹ kim

Thu nhập ngoại tệ từ dầu hỏa , canh tân cơ sở hạ tầng năng lượng cho nền kinh tế quốc dân như hệ thống  ống dẫn dầu hay khí đốt , hệ thống nhà máy nhiệt điện , hệ thống nhà máy chưng cất dầu ( oil refinery ), nhà máy sản xuất ống dẫn dầu và các thiết bị liên quan , dàn khoan dầu , tàu chở dầu , phi trường  , công ăn việc làm  , kỹ thuật , vân vân là những quyền lợi kinh tế rất lớn  mà giới “BẢY CHỊ EM “sẽ mang đến cho Việt Nam về lâu về dài, chưa kể hậu thuẫn về an ninh quốc phòng cho Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

V. Kết Luận:

“BẢY CHỊ EM ” hay còn gọi là Seven Sisters là tiếng lóng để chỉ các tập đoàn dầu hỏa hàng đầu thế giới, hầu hết là được chính phủ Hoa hậu thuẫn đằng sau.

Các công ty dầu hỏa này đang ngày càng có một ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong thuợng tầng , lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sẽ còn tiếp tục ảnh huởng đến nền chính trị của quốc gia chúng ta trong tương lai sau khi cộng sản xụp đổ

Việt Nam bị lôi cuốn vào đệ nhị thế chiến cũng vì những căng thẳng về dầu hỏa xãy ra giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ do sự cấm vận từ Hoa Kỳ sao khi Nhật Bản tấn công  cảng Hải Phòng của Việt Nam thời Đông Dương thuộc Pháp . Hai cuộc chiến tại  Việt Nam sau 1945 điều có sự can dự âm thầm của giới “BẢY CHỊ EM ” và là cơ hội tốt để giới BẢY CHỊ EM tiến hành thăm dò trử lượng dầu hỏa và khí đốt tại biển Đông . Cho nên, lịch sử của Việt Nam thật sự đã bị ảnh hưởng bởi giới ” BẢY CHỊ EM” mà các sử gia cần thừa nhận và đào sâu thêm

Ảnh hưởng về kinh tế đối với Việt Nam từ giới “BẢY CHỊ EM ” rất lớn . Sự hiện diện của  “BẢY CHỊ EM” tại Việt Nam sẽ thúc đẩy Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng và đem đến một tương lai thịnh vượng hơn cho đất nước về đường dài.

© Đàn Chim Việt

2014, Viet Nam  khai thác 400.000 thùng dâù thô / 1 ngày

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ, Quan Hệ Mỹ và Trung Quốc- ở Châu Á | Leave a Comment »

►Các hòn đảo nhỏ, chìa khoá cho quyền sở hữu Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 08/05/2015

BBC

Bill Hayton

03-05-2015

Các nước Đông Nam Á nói rằng họ đang “quan ngại thật sự” về việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo ở những phần tranh chấp trên Biển Đông.

Đáp lại, Trung Quốc nói họ “quan ngại sâu sắc” về tuyên bố các nước Đông Nam Á.

Đông Nam Á nói hành động của Trung Quốc đã “xói mòn lòng tin và sự tin cậy, và có thể làm phương hại hòa bình, an ninh và ổn định”.

Trung Quốc đáp trả rằng những gì họ làm là “hoàn toàn hợp pháp và không có gì phải thắc mắc”. 

Tình hình tranh chấp Biển Đông đang trở nên nghiêm trọng chăng?

Trung Quốc đã phản ứng giận dữ với tuyên bố chính thức của 10 nước thuộc Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á công bố hôm thứ Hai, chỉ trích chương trình xây đảo khổng lồ của họ ở quần đảo Trường Sa.

Trung Quốc đang sử dụng các tàu nạo vét và các đội xây dựng để biến ít nhất sáu rạn san hô thành các căn cứ lớn với các bến cảng.

Một đảo sẽ có một đường băng dài 2.900 mét (1,8 dặm).

Có mối quan ngại đang gia tăng rằng Trung Quốc sẽ sử dụng các căn cứ này làm bàn đạp để khẳng định quyền kiểm soát đối với toàn bộ Biển Đông.

Trung Quốc nói họ chỉ bảo vệ các quyền lãnh thổ và đội tàu đánh cá của họ.

Có vẻ kỳ lạ là một số hòn đảo nhỏ nhất trên hành tinh hiện nay lại nằm ở trung tâm của một trong những tranh chấp lãnh thổ lớn nhất thế giới.

Nếu chỉ thấp hơn một vài mét thì chúng thậm chí không đủ điều kiện trở thành đảo nhưng vì chúng nhô lên khỏi mặt nước Biển Đông, các nước có thể đoài chủ quyền chúng, và quan trọng hơn, lãnh thổ và các nguồn tài nguyên trong vùng biển xung quanh chúng.

H1Trung Quốc đang tiến hành bồi tạo đất ở quần đảo Trường Sa

Ai kiểm soát các đảo sẽ có yêu sách mạnh mẽ nhất đối với 1,4 triệu dặm vuông của Biển Đông, tất cả tôm cá trong đó và dầu hỏa bên dưới nó.

Đó là lý do tại sao, đối với sáu quốc gia xung quanh Biển Đông (bảy nếu tính Đài Loan là một nước riêng), khoảng 250 đảo đá, rạn san hô và đảo này, với tổng diện tích chỉ sáu dặm vuông, đáng để họ bỏ ra tất cả tiền bạc và công sức cho chúng.

Nhưng thực ra nó còn nhiều hơn thế nữa.

Hai sự tranh chấp

Để hiểu vì sao tàu và máy bay của Mỹ và Trung Quốc đang đối đầu nhau ở Biển Đông, điều quan trọng là cần phải hiểu rằng thật ra có hai sự tranh chấp khác nhau đang diễn ra ở đó.

Một là, nước nào sở hữu các thể địa lý rải rác trong vùng biển này.

Tranh chấp kia, quan trọng hơn, là về tương lai của hệ thống quốc tế đã và đang điều tiết thế giới kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc đến nay.

Các nước sẽ phải theo những quy định quốc tế nào và ai sẽ làm ra các quy định đó?

H1

Chính sự chồng chéo giữa sự hai tranh chấp này – giữa câu hỏi nước nào chiếm đóng những đảo nhỏ nào đúng lẽ và câu hỏi những nước nào thiết lập các quy tắc của thế giới – làm cho tranh chấp Biển Đông rất nguy hiểm.

Trung Quốc tự tin rằng mình là chủ sở hữu đúng lẽ của hầu như toàn bộ Biển Đông.

Kết quả là các nước Đông Nam Á đối thủ có yêu sách – Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines – đang cố gắng củng cố vị thế của mình bằng cách lôi kéo các cường quốc khác – không chỉ Mỹ là chính mà còn cả Nhật Bản và Ấn Độ – về phía họ.

Mỹ không đặc biệt quan tâm đến việc nước nào kiểm soát đảo nào, nhưng họ đang bị lôi kéo vào các tranh chấp này vì lợi ích rộng lớn hơn của mình.

Nhà chức trách ở Bắc Kinh nhìn mọi thứ theo cách ngược lại.

Họ nghĩ rằng Mỹ muốn vẫn là cuờng quốc hàng đầu thế giới, đang tụ họp các nước Đông và Đông Nam Á để kềm chế một nước Trung Quốc đang trỗi dậy.

Nhưng điều mà Mỹ và nhiều quốc gia khác quan ngại, không phải là sự trỗi dậy của Trung Quốc, như đang diễn ra, mà là những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm định đặt lại luật pháp quốc tế cho phù hợp với lợi ích riêng của họ ở Biển Đông.

Kết quả là, Mỹ cùng các đồng minh và bạn bè đang bắt tay với nhau “giữ nguyên hàng ngũ”. Mối nguy hiểm nằm ở chỗ đó.

Thách thức quốc tế

Khi Trung Quốc cố mở rộng quyền kiểm soát của mình đối với vùng biển này (như là đối tượng khác với các đảo), họ đang thách thức cả các nước trong khu vực lẫn hệ thống quốc tế.

Theo luật quốc tế hiện hành – quy định trong Công Ứớc Liên Hiệp Quốc về Luật Biển – một nước chỉ được sở hữu vùng biển nếu nuớc đó sở hữu vùng đất liền kề với nó.

Một nước sở hữu một đảo cũng “sở hữu” 12 hải lý đáy biển xung quanh đảo và có các quyền đối với tài nguyên (nhưng không sở hữu lãnh thổ) lên đến 200 hải lý xung quanh.

Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc và các doanh nghiệp nhà nước của họ (đặc biệt là các công ty dầu mỏ và các doanh nghiệp nghề cá) đang cố khẳng định quyền sở hữu đối với chính Biển Đông, cùng với đáy biển và các tài nguyên của nó, cách xa bờ biển Trung Quốc hàng trăm dặm.

Đây là một thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông vốn có những yêu sách của riêng họ, đối với Mỹ mà vai trò như một cường quốc thương mại và quân sự toàn cầu phụ thuộc vào quyền đi lại không bị ngăn trở qua các biển trên thế giới và đối với mọi quốc gia khác vốn tin vào các quy định hiện hành của luật quốc tế.

H1Pháo đài Trung Quốc tại Đá Vành Khăn (Mischief Reef) ở quần đảo Trường Sa đang tranh chấp

Mỹ nói chung chung rằng biển từ bờ trở ra hơn 12 hải lý không thuộc về bất cứ ai và do đó ai cũng được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào họ thấy phù hợp. (Đúng ra phức tạp hơn thế, nhưng đó là nguyên tắc cơ bản).

Nhật Bản mỗi sáu giờ cần một tàu chở dầu hoặc khí đốt đi qua Biển Đông để giữ cho hoạt động kinh tế tiếp nối; tương tự Hàn Quốc cũng phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng.

Cả hai nước cũng có mối quan ngại khác về cách mà Trung Quốc đang trỗi dậy.

Nhật Bản có tranh chấp riêng với Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku / Điếu Ngư, thấy có cùng mối lo chung với Việt Nam và Philippines nên đã bắt đầu cung cấp cả tàu tuần duyên cùng các thiết bị khác và đào tạo để giúp họ bảo vệ yêu sách biển của họ.

Hàn Quốc ít lớn giọng hơn, nhưng cũng quan ngại và cũng đang cung cấp vũ khí cho Philippines và Indonesia.

Ấn Độ không phụ thuộc quá nhiều vào Biển Đông, nhưng sợ hậu quả xấu nếu Trung Quốc chi phối châu Á.

Ấn Độ có hai nơi tranh chấp với Trung Quốc ở khu vực biên giới trên dãy núi Himalaya.

Họ cũng lo lắng về mối quan hệ ngày càng gia tăng của Trung Quốc với các nước xung quanh Ấn Độ Dương nên đang phát triển quan hệ an ninh với Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản và Australia (cùng với những nước khác) để đáp ứng.

Tranh chấp thế kỷ 20

Nhà chức trách Trung Quốc nói rằng họ là “chủ sở hữu” lịch sử Biển Đông “từ thời xa xưa”.

Thật ra chính quyền Trung Quốc chỉ quan tâm đến Biển Đông kể từ đầu thế kỷ 20.

Ngoại trừ một giai đọan rất ngắn, còn hầu như suốt toàn bộ lịch sử có ghi chép lại (ngoại lệ là giai đoạn 30 năm 1400-1430, trong giai đoạn đó nhưng kẻ được gọi là các đô đốc thái giám, trong đó có Trịnh Hòa, đã đi thuyền xa tới tận Đông Phi), nhà cầm quyền Trung Quốc hầu như chưa đủ khả năng kiểm soát bờ biển của chính họ, nói gì tới các đảo cách xa hàng trăm dặm.

______________________

Trịnh Hoà: Đô đốc thái giám

Trịnh Hoà sinh năm 1372 ở tỉnh nghèo Vân Nam trong một gia đình Hồi giáo gốc Trung Á, từng chiến đấu cho quân Mông Cổ. Bị quân nhà Minh bắt được, ông đã bị hoạn lúc lên 10 tuổi.

Ông đã được phái đến phục vụ hoàng tử nhà Minh, và quá nổi bật trong chiến đấu đến mức đã ngoi lên đến chức đô đốc.

Hạm đội của ông lớn hơn toàn bộ các đội tàu của châu Âu gộp lại, nổi trội với các báu thuyền khổng lồ dài 400ft (122 m) và rộng 160ft (50m).

Ông đi lại khắp vùng Đông Nam Á, Ấn Độ Dương, đến Vịnh Ba Tư và Châu Phi, tạo ra nhiều bản đồ hàng hải mới, và truyền bá văn hóa Trung Quốc.

Ông đã mở ra các tuyến đường giao thương đến nay vẫn đang lớn mạnh, và nắm được quyền kiểm soát chiến lược đối với các nước mà hiện nay một lần nữa đang nhìn Trung Quốc như là lãnh đạo không tranh cãi của khu vực.

___________________

Phiên bản lịch sử này không phải là phiên bản giảng dạy trong các trường học Trung Quốc.

Điều này đã cố kết, nhưng ý thức sở hữu không biện minh được về mặt lịch sử là điều đang đặt Trung Quốc lên tiến trình va chạm với các nước láng giềng và Hoa Kỳ.

Đó chính là lý do tại sao Trung Quốc ứng xử kẻ cả khi đưa giàn khoan dầu vào vùng biển tranh chấp chẳng hạn.

Để tự bảo vệ mình chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc, các nước đang hình thành các quan hệ an ninh mới.

Những lợi ích chồng chéo này có tiềm năng biến một tranh chấp địa phương thành tranh chấp khu vực hoặc thậm chí tranh chấp toàn cầu.

Vào thời điểm có quá nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế, các tranh chấp ở Biển Đông có vẻ tương đối nhỏ – nhưng chúng có thể lớn rất nhanh.

Thay đổi hành vi này sẽ đòi hỏi các nước trong khu vực đi đến một sự hiểu biết tốt hơn về lịch sử có chung của Biển Đông.

Đó sẽ là điều khó, nhưng sẽ dễ dàng hơn so với việc leo thang xung đột và nguy cơ đối đầu siêu cường gia tăng.

Bill Hayton là tác giả của quyển sách ‘Biển Đông: Cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á’ (The South China Sea: The struggle for power in Asia), vừa được nhà xuất bản Đại học Yale phát hành.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Ngọn Cờ, Ý Đồ Thực và Các Hệ Quả Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

40 NĂM SAU NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM –

Ngọn Cờ, Ý Đồ Thực và Các Hệ Quả Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Trần Quí Cao

07-05-2015

Để có ngày 30/4/1975 nắm quyền toàn trị trên lãnh thổ Việt Nam, đảng CSVN đã tiến hành cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước dài 20 năm khốc liệt. Cuộc chiến bắt đầu từ các toán du kích quấy phá xã hội thanh bình của miền Nam trước năm 1960, cho tới những trận chiến giết hàng ngàn, hàng chục ngàn chiến sĩ hai bên, những cuộc tàn sát thường dân tay không vũ khí, như cuộc cuộc thảm sát Huế-Mậu Thân, mà con số người bị giết và cách thức giết người đạt tới mức độ diệt chủng kinh hoàng!

Ngọn Cờ của Cuộc Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Ngọn cờ của cuộc chiến này được nêu lên rất rõ:

Mỹ là giặc cướp nước ta, ta phải đánh cho Mỹ cút; chính quyền miền Nam bán nước cho Mỹ, chúng ta phải đánh cho chính quyền đó sụp đổ.

Dân Chúng Miền Nam Sống Đời Nô Lệ, Mất Tự Do, Đói Nghèo, nên miền Bắc cần Giải Phóng dân chúng miền Nam.

Giặc Mỹ Cướp Nước và Chính Quyền Miền Nam Bán Nước

Chắc còn rất rất ít người còn tin rằng Mỹ muốn cướp nước Việt Nam. Các sự việc đã xảy ra trên thế giới từ 1954 tới năm 1975 cho thấy rõ lợi ích của Mỹ không nằm trong việc chiếm một tấc đất nào ở xứ Việt Nam xa xôi, mà nằm ở việc bảo vệ hệ thống Tự Do trên thế giới.

Để đạt được Sứ Mạng này, chiến lược đầu tiên của Mỹ là hợp tác với miền Nam Việt Nam. Sau 15 năm, từ 1954 tới 1969, phần thấy chiến lược này không hiệu quả, phần thấy môi trường chính trị thế giới đã thay đổi, Mỹ đổi chiến lược: bắt tay với Trung Cộng và buông Việt Nam.

Như vậy, mâu thuẫn giữa hệ thống Tự Do và Cộng Sản đã tạo điều kiện và cho Việt Nam 15 năm để phát triển. Lẽ ra người Việt nên chọn chiến lược làm đồng minh với Mỹ, siêu cường kinh tế, kỹ thuật và tổ chức xã hội thời đó, để xây dựng đất nước hùng mạnh và ấm no. Đau đớn thay, người Việt chẳng những đã không chọn lựa phương cách có lợi đó, mà còn đưa đất nước, về đối ngoại, vào thế thù địch với Mỹ và phương Tây, về đối nội, vào vòng hận thù, chém giết, tàn phá tương lai…

Dân Chúng Miền Nam Sống Đời Nô Lệ, Mất Tự Do, Đói Nghèo

Các số liệu thống kê của IMF (International Monetary Fund) chỉ rõ: năm 1960, khi cuộc chiến Giải Phóng Miền Nam bắt đầu phát triển, miền Nam có GDP/đầu người là 223 USD so với 92 USD của miền Bắc. Vậy, dân chúng miền Nam có đời sống sung túc hơn miền Bắc rất nhiều.

Dân chúng miền Nam được hưởng các quyền tự do căn bản và phổ quát của thế giới văn minh trong một xã hội được tổ chức theo chính thể Cộng Hòa lưỡng viện với tam quyền phân lập. So với thể chế chính trị độc đảng và toàn trị ở miền Bắc (các đảng Dân Chủ và Xã Hội chỉ để trang trí) thì dân chúng miền Nam hưởng Tự Do hơn miền Bắc rất nhiều.

Chiêm nghiệm thực tế biến thiên của cuộc sống, so sánh Việt Nam với các nước khác trên thế giới, nhất là so sánh với các nước từng hay còn đang bị chia hai như Tây Đức và Đông Đức, Hàn Quốc (Nam Hàn) với Triều Tiên (Bắc Hàn), còn rất rất ít người dân Việt Nam còn tin rằng: Dân Chúng Miền Nam Sống Đời Nô Lệ, Mất Tự Do, Đói Nghèo và cần được miền Bắc “Giải Phóng”. Luôn luôn, dân chúng trong phần lãnh thổ theo chính thể Cộng Sản nghèo đói và mất tự do hơn phần lãnh thổ theo chính thể Tự Do, Dân Chủ.

Sau khi Giải Phóng Miền Nam, những người ủng hộ cuộc chiến Giải Phóng Miền Nam hiểu dần rằng họ đã bị đảng CSVN lừa dối. Những dòng chữ tâm huyết tràn đầy lòng yêu nước và tình dân tộc trên ngọn cờ Chống Mỹ Cứu Nước kia đều là không thực.

Ý Đồ Thực của Cuộc Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Ngọn cờ của cuộc chiến chỉ là ngọn cờ ảo. Vậy thì, khi khởi động cuộc chiến tàn phá dân tộc, Ý Đồ thực của các nhà lãnh đạo đảng CSVN là gì?

Có người cho rằng, do áp lực của Trung Cộng mà Việt Nam phải tiến hành chiến tranh. Quả thật Trung Cộng có ý đồ kép: giữ an ninh riêng cho Trung Cộng, đồng thời khiến Việt Nam kiệt quệ.

Tuy nhiên, chìa khóa chiến tranh nằm trong tay chính quyền đảng CSVN ở Hà Nội. Nếu đảng CSVN không nhất quyết tiến hành cuộc chiến, Trung Cộng đã không thể áp đặt chiến tranh lên đất nước Việt Nam. Lúc đó Trung Cộng còn lạc hậu và nghèo đói, chưa là một thế lực khuynh đảo thế giới như hiện nay.

Sau khi ký hiệp định Genève chia đôi đất nước, giành quyền cai trị miền Bắc, những người cai trị độc đảng và toàn trị miền Bắc tự biết nếu để miền Nam phát triển trong chính thể tự do, dân chủ thì chắc chắn miền Nam sẽ vượt miền Bắc trên nhiều mặt. Hơn nữa, với sự hiện diện của miền Nam tự do và phồn thịnh, dân chúng miền Bắc cũng chưa chắc để họ cầm quyền lâu. Những thế lực độc tài luôn cần chiến tranh để tồn tại. Họ cũng cần sự chia rẽ trong dân chúng để bám giữ sự thống trị lâu dài. Ngọn cờ Chống Mỹ Cứu Nước được giương lên!

Các Hệ Quả của Ý Đồ Thực của Cuộc Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Từ Ý Đồ thực như thế, khi vừa chiếm được miền Nam, đảng CSVN đã vội vã tung ra một loạt các chính sách triệt hạ cái miền Nam sung túc còn rất nhiều tiềm năng phát triển, cái miền Nam có xã hội được tổ chức theo hướng văn minh và hữu hiệu, có con người đầy lòng khí phách, nhân hậu, có tri thức cùng tinh thần dân chủ, tự do… Một miền Nam như vậy, nếu thực sự là một chính quyền vì sự phát triển chung của đất nước, vì sự ấm no chung của dân tộc, đảng CSVN đã phải trân quí nó, giữ gìn nó làm vốn phát triển dài lâu. Không! đảng CSVN phải thống trị toàn diện, vì vậy miền Nam đã bị hạ gục như miền Bắc đã bị 20 năm trước đó! Nguyên khí quốc gia, lớp bị giam cầm và tận diệt trên quê hương, lớp tuôn chảy ra nước ngoài trong thân phận thuyền nhân!

Từ Ý Đồ thực như thế, khi đã hạ gục miền Nam, đảng CSVN tiếp tục bóp chết hai đảng làm kiểng là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội. Hai đảng này thực ra là hai đảng ngoại vi của đảng CSVN, tuy nhiên khi sự tồn tại của họ tiềm chứa mối đe dọa cho sự thống trị độc tài của đảng CSVN trong thời cuộc cuối thập niên 1980, đảng CSVN sẵn sàng gạt bỏ.

Từ đó, trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đảng CSVN nắm trọn quyền thống trị, lãnh đạo. Quyền lãnh đạo đất nước không do dân chúng bầu chọn, và cũng không được san sẻ cho bất kì thành phần nào khác trong dân tộc. Tất cả mọi quyền lợi của tổ quốc chung phải nằm dưới, phải hi sinh cho quyền lợi của giới cầm quyền riêng của đảng CSVN. Cho dù phải hi sinh cả sự phát triển của dân tộc, phải hi sinh cả nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc đang bị Trung Quốc xâm chiếm dần dần thì đảng CSVN cũng cho thấy họ không do dự. Các động thái của họ, chính sách của họ đối với việc Trung Quốc xâm lăng Việt Nam đã quá đủ để chứng minh điều này.

Tới bây giờ, 40 năm sau ngày 30/4/1975, cùng với biết bao diễn biến của thời cuộc, biết bao sự thật lịch sử được phơi bày… nhiều người trong dân chúng không còn nghi ngờ gì rằng hiện trạng suy thoái toàn diện của dân tộc, hiện trạng lệ thuộc toàn diện của đất nước vào Trung Quốc xâm lăng bắt nguồn từ ngày 30/4/1975, ngày miền Nam thất thủ. Và nếu nhìn xa hơn, bắt nguồn từ cái Ý Đồ thực của đảng CSVN, khi họ ban hành nghị quyết 15, năm 1959, quyết định tiến bước Giải Phóng Miền Nam.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn giàn khoan Hải Dương 981

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

 giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn Hải Dương 981

Ngày 30/4, Trung Quốc tuyên bố giàn khoan COSLProspector chính thức rời thành phố Yên Đài lên đường tới Biển Đông.
Đây là giàn khoan thứ tư mà Tập đoàn đóng tàu CIMC Raffles chuyển giao cho Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL-China Oilfield Services Ltd.) và là giàn khoan bán ngầm nước sâu thứ hai Bắc Kinh điều tới Biển Đông sau giàn khoan Hải Dương 981.

Hiện đại hơn giàn khoan Hải Dương 981

Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL) đã nhận giàn khoan bán nổi COSLProspector (Hưng Vượng) này vào ngày 19/11/2014.

Giàn khoan COSLProspector

Giàn khoan COSLProspector được trang bị các công nghệ tiên tiến – trong đó có hệ thống định vị động (DP3), biến tần thông minh và rã đông tự động, với hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới.

Hệ thống định vị động DP3 được lắp đặt trên giàn khoan COSLProspector đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất của Na Uy và Trung Quốc.
So với các giàn khoan nửa nổi nửa chìm khác đã được bàn giao trước đó như COSLPioneer, COSLPromoter, COSLInnovator, giàn khoan COSLProspector có thể hoạt động trong môi trường băng giá. Nó có thể hoạt động hầu như khắp mọi nơi thế giới, trừ những khu vực có nhiệt độ dưới -20 độ C.

Giàn khoan COSLProspector đã trải qua tất cả các xét nghiệm và điều chỉnh cần thiết. Giàn khoan này được thiết kế để hoạt động khoan nước sâu ở Biển Đông trong nửa đầu năm 2015.

Giàn khoan COSLProspector hiện đại hơn Hải Dương 981 vì nó được trang bị hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới với hệ thống định vị động có thể bảo đảm cho giàn khoan này hoạt động bình thường trong bão cấp 12 ở Biển Đông.

COSLProspector là giàn khoan bán nổi thứ 7 do CIMC Raffles chế tạo. Hãng CIMC Raffles hiện đang đóng tiếp bốn giàn khoan bán nổi nữa và tất cả đều đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất trên thế giới.

Giàn khoan này hoạt động ở độ sâu tối đa 1.500 m, độ sâu tối đa của giếng khoan là 7.600 m, nhân viên trên giàn khoan theo quy định là 130 người, tải trọng sàn tàu 5.000 tấn

Về hãng đóng tàu CIMC Raffles Yên Đài

CIMC Raffles Yên Đài là một hãng đóng tàu ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc đại lục. Hãng đóng tàu này hiện do CIMC Raffles Offshore Ltd điều hành.

Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài do công dân Singapore Brian Chang sáng lập, nhưng bị Trung Quốc thâu tóm năm 1993.

Năm 1994, công dân Singapore Brian Chang đã thành lập Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài nằm gần Nhật Bản và Hàn Quốc, một khu vực chiếm tới 80% công suất đóng tàu của toàn thế giới. Đây là hãng đóng tàu duy nhất ở Trung Quốc do người nước ngoài chiếm đa số cổ phần.

Tháng 3/2013, CIMC đã mua hết số cổ phần còn lại của CIMC Raffles Yên Đài và biến nó thành công ty con của CIMC Offshore Holdings Co. Ltd.

Giàn khoan này từ khi ký hợp đồng đóng đến khi bàn giao chỉ mất có 35 tháng. Công ty CIMC Raffles có 9 giàn khoan nước sâu nửa chìm đã được đưa đến các vùng biển trên thế giới như Bắc Hải, Brazil, vịnh Mexico, Tây Phi để hoạt động.

Phó Tổng giám đốc CIMC Raffles là Vu Á cho rằng, giàn khoan COSLProspector gia nhập “tàu chủ lực” nước sâu cho thấy Yên Đài hoàn toàn có khả năng cung cấp giàn khoan nước sâu với số lượng lớn cho ngành dầu khí Trung Quốc.

Thông số kỹ thuật:

Dài: 104,5m; Rộng: 70,5m; Cao: 37,5m. Hoạt động ở vùng biển sâu đến 1.500m. Khoan sâu tối đa: 7.600m. Hoạt động ở nhiệt độ thấp nhất: -20 độ C. Tải trọng sàn tối đa: 5000 tấn. Số nhân viên là việc trên giàn khoan: 130 người.

Đỗ Phong (Đất Việt)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Cuộc chiến ‘cả nước là diễn viên’

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

Cuộc chiến ‘cả nước là diễn viên’

4-5-2015

 

 

maska

Bài viết trước – “Cuộc chiến biệt vô tăm tích” – đã đề cập đến một nét đặc thù của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bài này lại nói đến một nét đặc thù nữa, chỉ người trong cuộc mới có thể nhận rõ, Đây là một nét không thể bỏ qua khi nghiên cứu, tổng kết về cuộc chiến tranh này.

Trước hết là những màn kịch của đảng. Rất điêu luyện, cao tay, tinh vi. Xin kể vài thí dụ.

Năm 1940, phát xít Nhật bắt đầu tiến công xuống phía Nam Châu Á, đe dọa Việt Nam. Đảng CS Đông Dương liền tổ chức ra Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh là tổ chức quần chúng của đảng CS, bao gồm các tổ chức Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Công nhân Cứu quốc…để che giấu kỹ bản chất CS của mình, thực hiện sứ mạng của Đệ Tam Quốc tế CS là nhuốm đỏ ba nước Đông dương thuộc Pháp.

Đây là màn kịch đầu tiên giấu kỹ tung tích CS, đề cao lòng yêu nước dành Độc lập để mở rộng thanh thế của đảng CS dưới chiêu bài chống Pháp đuổi Nhật. Lãnh đạo CS hiểu rất rõ là nếu trưng ra chiêu bài CS thì sẽ thất bại to vì nhân dân VN vẫn còn dị ứng với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, một phong trào tả khuynh nguy hiểm đề cao khẩu hiệu «chống trí-phụ-địa-hào, đào tận gốc, trốc tận rễ». Chính do màn kịch này mà phong trào Việt Minh lên cao, lên nhanh để Đảng CS cướp được chính quyền tháng 8/1945, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân.

Khi thảo ra bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn có ý thức dấu kỹ tung tích CS và lập trường CS của mình, chỉ trưng ra tinh thần của cuộc cách mạng dân chủ tư sản, chỉ dẫn ra các tuyên ngôn cách mạng tư sản của Hoa Kỳ và Pháp, giấu kỹ Tuyên ngôn CS mà ông ta luôn coi là kim chỉ Nam cho mọi hành động của mình.

Đây là màn kịch cao thủ thứ 2, khi ông ta đóng kịch với nhà báo Pháp: «Tôi không phải CS, đảng tôi là Việt Nam». Trong 3 bức thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ Truman để mong tranh thủ sự ủng hộ của nước Mỹ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đóng kịch như không dính dáng gì đến cộng sản. Thế nhưng phía Mỹ đã hiểu rõ Hồ Chí Minh là nhân viên kỳ cựu và trung thành của CS Quốc tế, không thể tin là người quốc gia, đó là nhân vật nguy hiểm cho cộng đồng quốc tế, cần xếp ở bên kia của trận tuyến «chiến lược be bờ chặn đứng chủ nghĩa CS» (Containment- of-Communist Strategy).

Ngày 11/11/1945 khi bị lộ tẩy đich danh là CS rồi , ông Hồ và lãnh đạo đảng CS lại dựng lên màn kịch «tự giải thể đảng CS Đông Dương», sự thật là chỉ rút vào bí mật và còn phát triển đảng CS mạnh hơn trước.

Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, Đảng Lao động VN cũng là các màn kịch làm bình phong che giấu bản chất CS. Học thuyết Mác – Lê đề cao Đảng CS, giai cấp vô sản thế giới, tinh thần quốc tế vô sản, trong khi hạ thấp, coi nhẹ và phủ định các khái niệm quốc gia, đồng bào, tổ quốc, xã hội, gia đình, tôn giáo. Cho đến khi toàn thắng rồi họ mới hạ màn kịch, lại công khai tự nhận là Đảng Cộng sản. Mặt trận Tổ quốc bị phơi bày cái mặt nạ bằng mo không còn chút giá trị trước nhân dân, do một ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN chăn dắt một cách thô thiển vụng về sau khi kịch đã hạ màn.

Cho đến nay, vào ngày 30/4 lãnh đạo Dảng CS vẫn còn đóng kịch. Họ vẫn viết trên báo chí đây là «Ngày toàn thắng chống đế quốc Mỹ xâm lược», «Ngày kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ cứu nước», «Ngày đánh bại ngụy quân ngụy quyền tay sai Mỹ». Họ không nhầm lẫn đâu. Họ biết rõ Hoa Kỳ không xâm lược. Chính họ là kẻ rắp tâm thôn tính, xâm lược bằng vũ lực, chà đạp «quyền tự quyết của nhân dân miền Nam» do các Hiệp định Geneve và Paris đều long trọng khẳng định, mà chính họ đã ký tên cam kết. Họ phải bịa ra kẻ xâm lược để tự nhận là người chống xâm lược, phủi trách nhiệm, tự nhận là chính nghĩa, trong khi quân đội Mỹ chỉ hành động để bảo vệ thế giới dân chủ, trong đó có VNCH, theo chiến lược «be bờ chặn đứng thảm họa quốc tế cộng sản».

Chính CS Việt Nam mới là một kiểu ngụy quân ngụy quyền do CS Moscow và CS Bắc Kinh nuôi dưỡng thành một tiền đồn của Quốc tế CS, một quân tốt thí. Lẽ ra lúc này họ phải bỏ đi cái trò đóng kịch nhầm vai, lộn vai như thế, nói lên đúng sự thật, khi chính họ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ 20 năm chẵn và đang cần sự đầu tư và hỗ trợ của Hoa Kỳ và phương Tây.

Do CS chuyên nghề lừa dối và bịp bợm như thế nên cả xã hội VN một thời gian dài cũng nhiễm phải thói đóng kịch một cách trầm trọng và rộng khắp. Đây là một hiện tượng chưa được phát hiện, nêu lên thành hệ thống để nhận rõ thêm bộ mặt xấu xa của chủ nghĩa CS hiện thực. Nhà thơ Chế Lan Viên, người được coi là nhà thơ xuất sắc bậc nhất ở miền Bắc, khi chết đã để lại Di cảo nói rõ rằng ông ta đã lừa dối, đóng kịch ra sao. Trong bài «Trừ Đi» Chế Lan Viên viết: «Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ, Có phải tôi viết đâu, Một nửa cái cần viết vào thơ, Tôi đã giết đi rồi!». Trong bài «Ai? Tôi!» Chế Lan Viên viết: «Mậu Thân, 2000 xuống đồng bằng, Chỉ một đêm còn sống sót có 30, Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó? – Tôi !- người viết những câu thơ cổ võ Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi lúc xung phong… ». Đó là sự kiện ở Bình Định, Tết Mậu Thân đảng tung 2000 quân lính và cán bộ từ căn cứ xuống đồng bằng kêu gọi dân tổng khởi nghĩa và tổng nổi dậy, nhưng thất bại thê thảm, chết gần hết.

Chế Lan Viên viết Di cảo để lại, khi sống ông không dám nói ra. Ông có dũng khí nhận tội ác về mình, thật ra tội ác thuộc về lãnh đạo đảng CS đã coi sinh mạng thanh niên quân lính cán bộ như cỏ rác, ném vào cuộc chiến một cách mù quáng. Cả một lớp văn nghệ sỹ cũng như nhà báo của đảng đều đóng kịch như thế để có kế sinh nhai, về hùa với tội ác mà cứ ngỡ mình là chính nghĩa. Chính tôi cũng đã phải đóng kịch trơ trẽn như thế.

Người dân thường hồi ấy cũng đóng kịch. Tôi xin dẫn chứng sống về 2 bà chị tôi. Bà chị ruột tôi ở Hải Phòng có con trai cả là Hưng, sau khi học xong trung học, cháu 17 tuổi được gọi đi nghĩa vụ quân sự. Ở lớp cháu trước khi hết học kỳ cuối cả lớp hơn 30 nam sinh là đoàn viên Thanh niên CS Hồ Chí Minh đều làm đơn tình nguyện 100% đi nghĩa vụ quân sự. Trong đơn gọi là «tình nguyện» còn nêu rõ sẵn sàng đi đâu khi Tổ quốc cần, ngụ ý là sẵn sàng vào Nam chiến đấu. Thư tình nguyện còn được ghi thêm ý kiến cùng chữ ký của bố hoặc mẹ rất đồng tình với ý tự nguyện của con mình. Bà chị con ông bác ruột tôi cũng có con trai là Hiệp học rất giỏi, chuyên là lớp trưởng. Cháu cũng đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Cháu cũng được quận đội Hoàn Kiếm tuyển mộ, lớp cháu hầu hết đều tình nguyện nhập ngũ, chỉ trừ các bạn quá nhẹ cân, có cố tật. Hai bà chị tôi đều lo âu, buồn khổ, nhưng tuyệt nhiên không dám lộ ra ngoài.

Với láng giềng, với chính quyền khu phố cứ phải tươi cười đóng kịch trong khi nước mắt tràn ra khi đêm xuống. Các chị dò hỏi tôi có cách nào xin cho các cháu được miễn đi quân dịch để vào học tiếp Đại học, và nhất là làm sao nếu vẫn phải đi lính thì không phải đi Nam, vì câu chuyện «sinh Bắc tử Nam» là một cơn ác mộng khủng khiếp dai dẳng cho các bà mẹ đó. Có thể nói các bạn trẻ 10 đi chỉ chừng 2, 3 phần trở về lành lặn. Vậy mà các bà chị tôi vẫn thản nhiên đóng kịch dự lễ tuyển quân, rồi sau vài tháng lại dự lễ tiễn đưa đoàn quân có con mình lên đường vào Nam, với những vòng hoa vàng đỏ choàng quanh cổ.

Đó là thời kỳ chiến sự miền Nam sôi động 1965-1970. Các bà chị tôi đau khổ biệt tin con mình hằng 3,4 năm trời, có khi được tin láng máng là cháu Hưng vào khu 5, Quảng Nam hay Quảng Ngãi, cháu Hiệp vào Tây Nguyên, Kontum hay Pleiku, để rồi cuối cùng 2 bà đều thót tim nhận giấy báo tử, chậm đến hơn một năm. Cháu Hưng hy sinh ở huyện Đức Phổ còn cháu Hiệp hy sinh ở chiến trường Tây Nguyên, cả hai đều mất xác, không biết chôn ở đâu. Sau này các bà đều đi vào Nam, lặn lội nhiều nơi, dùng cả những người có ngoại cảm đi tìm mộ, nhưng đành chịu. Các tấm bảng tuyên dương Liệt sỹ, tuyên dương Mẹ Liệt sỹ, Gia đình vẻ vang, được vỗ tay chào đón trong các cuộc họp khu phố không hề an ủi được các bà chị tôi. Nỗi xót xa đau buồn khôn nguôi kéo dài hàng chục năm, vẫn không thể biết 2 cháu hy sinh như thế nào, ở đâu, lúc nào, cũng không có một di vật dù nhỏ làm kỷ niệm. Hàng triệu gia đình, hàng triệu bà mẹ đau khổ dằn vặt khôn nguôi.

Có thể nói hàng triệu gia đình có con vào Nam chiến đấu đều bị cưỡng bách một cách tinh vi như thế, đều buộc phải cùng đảng và theo đảng đóng kịch như thế. Các thanh niên đều 100% bị «cưỡng bách tự nguyện» như thế để bị cho vào lò sát sinh, vào bộ máy nghiến thịt khổng lồ mang tên «cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm» phục vụ cho tham vọng quyền lực vô biên của Đảng CS tuân theo lệnh của Quốc tế CS do ông Hồ Chí Minh dắt dẫn suốt 85 năm từ khi thành lập Đảng CS năm 1930.

Cuộc đóng kịch dai dẳng về mọi mặt, cuộc lừa bịp chết người, hủy diệt oan uổng vô vàn sinh mạng trai tráng của dân tộc giữa tuổi thanh xuân cần kết thúc lúc này đã là quá muộn. Tất cả các «từ ngữ» liên quan đến màn kịch hủy diệt con người này cần xem xét và vĩnh viễn từ bỏ để thay vào những «từ ngữ» chính xác. Ai xâm lược, ai là ngụy quân ngụy quyền? Ai cứu nước hay gây tai họa cho nước? Ai chính nghĩa ai phi nghĩa? Toàn thắng cái gì? Giải phóng cái gì? Công lao nỗi gì? Vẻ vang, vĩ đại gì?
Sao tiếng nói riêng của Đảng CS lại vẫn cứ mang cái lốt giả là báo «Nhân Dân», sao Tòa án Nhân dân lại kết tội những người dân yêu nước chống bành trướng, sao Ủy ban Nhân dân quận Hoàn Kiếm lại có quyền cấm nhân dân thủ đô biểu tình bảo vệ cây xanh, sao Công an nhân dân lại ngang nhiên buôn sinh mạng người dân để kiếm cơ man nào là vàng khi bán bãi, bán tàu, thuyền, bán chỗ trên các tàu thuyền ọp ẹp trong thảm kịch «thuyền nhân» 40 năm về trước. Tất cả đã đến lúc phải sáng tỏ rõ ràng, minh bạch.

Cái tội cực lớn của Đảng CS là đã lấy dối trá làm lẽ sống của mình, rồi làm gương dối trá cho toàn xã hội – nhà nhà dối trá, người người dối trá, nhà trường dạy đối trá, học trò học dối trá – phá hoại nếp lương thiện, cương trực, chất phác của xã hội, phá hoại nền đạo đức và văn hóa thuần khiết của dân tộc, đến bao giờ mới hồi phục được.

Đảng CS phải hạ ngay các màn kịch đã kéo dài và nhân dân cũng không còn ai muốn cùng đảng đóng kịch trơ trẽn hay bi thảm ở mọi nơi mọi lúc như xưa nữa.

Blog Bùi Tín (VOA)

http://www.danchimviet.info/archives/95553/cuoc-chien-ca-nuoc-la-dien-vien/2015/05

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nếu thật thế thì nghiêm trọng quá!

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

Nếu thật thế thì nghiêm trọng quá!

7-5-2015

Ảnh VnExpress

Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ðã sang Bắc Kinh trong chuyến ði thãm chính thức theo lời mời của ông Tập Cận Bình.Chuyến ði cập rập không ðược chuẩn bị từ trước, vội vã chỉ ðể ði trước cuộc sang Hoa Kỳ ðể gặp Tổng thống Obama ðã ðược ấn ðịnh trong tháng 5 này. Chuyến thãm diễn ra từ ngày 7 ðến ngày 10 tháng 4, 2015.

Đi cùng ông Trọng có đến 4 ủy viên Bộ Chính trị phụ trách ngành Tuyên giáo, ngành Công an, Quân đội và một phó Chủ tịch Quốc Hội, thêm ủy viên Trung ương Phạm Bình Minh, phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao. Đủ thấy tầm quan trọng ra sao.

Một Tuyên bố chung 9 điểm được đưa ra ngày 8/4. Đây là bản Tuyên bố chung dài nhất trong quan hệ Việt – Trung từ trước đến nay. Cũng là bản Tuyên bố đậm đà nhất về « tình nghĩa hữu nghị Trung – Việt sâu đậm do 2 lãnh tụ vỹ đại Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vun đắp nên ».

Bản Tuyên bố nhắc đi nhắc lại 16 chữ vàng và Bốn Tốt tiêu biểu cho tình anh em và tình đồng chí chí thiết gắn bó 2 đảng và nhân dân 2 nước cùng chung lý tưởng XHCN cao đẹp. Bản Tuyên bố kể lại sự chi viện to lớn của Đảng CS và nhân dân TQ cho Đảng CS và nhân dân VN trong «  các cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân VN».

Ðiều ðặc biệt nổi bật là bản Tuyên bố chung kể lể nhiều nhất ðến những cam kết về hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 ðảng, 2 Nhà nước, 2 Chính phủ, 2 Quốc hội, 2 Mặt Trận, về mọi mặt:chính trị, quốc phòng, quân sự, an ninh, ðối ngoại, kinh tế, tài chính, thương mại, tiền tệ, tuyên huấn, ðào tạo cán bộ, vãn hóa, vãn nghệ, truyền thanh truyền hình. Hai bên cam kết sẽ tãng thêm trao ðổi hàng hóa qua biên giới, tạo ðiều kiện tãng ðầu tư, nâng cao kỹ thuật công nghiệp, rồi hợp tác giao thông trên biển, trong biển Nam Hải, ở cửa ngõ Vịnh Bắc bộ. Tất cả ðều phát triển mạnh trong kế hoạch hiện tại 2011-2016 và trong kế hoạch hợp tác 2016-2020 sắp tới.

Ðiều ðặc biệt nổi bật là trong bản Tuyên bố chung không hề nhắc ðến cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung ðầu nãm 1979, về sự kiện dàn khoan HD 981 từng gây sóng gió dữ dội trong quan hệ Việt – Trung, không hề nhắc ðến những hoạt ðộng phi pháp ngang ngược hiện tại trên vùng biển nước ta của phiá TQ, mở rộng củng cố các khu vực, các hòn ðảo, bãi ðá bị họ lấn chiếm.

Có những ðiểm mới rất quan trọng, khác hẳn với những Tuyên bố chung Việt – Trung trước ðây. Ðó là 2 bên cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ – ngân hàng, trong lĩnh vực thuế và thanh toán, có hẳn một vãn kiện ký riêng về vấn ðề này. Ðây có thể là một ràng buộc thâm hiểm nhằm gắn liền ðồng tiền VN với ðồng Nhân dân tệ TQ chặt chẽ hơn các ngoại tệ khác, nâng cao thanh thế của Ngân hàng ðầu tư hạ tầng châu Á BIIA – Bank Investment Infrastructure of Asia – do Trung Quốc lập nên. Tuyên bố chung cũng nhiều lần nói ðến hợp tác giữa hai Bộ tài chính và hai Ngân hàng Nhà nước.

Tuyên bố chung nhiều lần nhắc đến quan điểm lấy «  đại cục làm trọng  » nhằm tăng cường tình hữu nghị truyền thống, thắt chặt thêm quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 nước, 2 đảng theo 16 chữ vàng  : láng giềng hữu nghị – hợp tác toàn diện – ổn định lâu dài – hướng tới tương lai, và quan hệ 4 tốt  : láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Đây là một ràng buộc nữa để bỏ qua mọi sự kiện được coi là tiểu tiết như phía TQ ráo riết xây dựng sân bay, pháo đài, trạm Ra-Đa trên các đảo bị lấn chiếm.

Thế nhưng những thiếu sót, sơ hở trên của ông Nguyễn Phú Trọng và tùy tùng chuyên gia đi theo chưa phải là nghiêm trọng nhất. Báo Nhật bản Nikkei Asian Review ngày 9/4 cho biết «  Trong bản Tuyên bố chung Trung – Việt phía VN đồng ý đưa cảng Hải Phòng vào chương trình xây dựng Con Đường Tơ Lụa trên biển do Trung Quốc khởi xướng  ». (theo bài viết « Về Tuyên bố chung Việt – Trung, trên Diễn đàn – Forum của Hải Vân và Vũ Quang Việt – 15/4).

Chủ trương xây dựng Vành đai kinh tế Tơ lụa – Silk Road Economic Belt, từ TQ qua các nước Trung Á đến Trung Đông sang tận châu Âu, với đường sắt, ống dẫn dầu và khí, dài hàng chục ngàn kilômét và xây dựng Đường Tơ lụa trên biển – Maritime Silk Road từ TQ ra biển Đông VN, xuống Ấn Độ Dương, vào Biển Đỏ rồi sang Địa Trung Hải cập các bến châu Âu và châu Phi. Đây là 2 công trình đồ sộ nhất, ban đầu chi phí hơn 50 tỷ đôla, liên hệ đến 65 nước có hơn 4 tỷ dân, được coi là tham vọng kinh tế trọng điểm rộng lớn chưa từng có trong 10 năm tới, cũng là mối quan tâm kinh tế hàng đầu của Tập Cận Bình trong giấc mơ Trung Hoa to lớn Bình thiên hạ của ông ta.

Tham vọng này cực lớn, nhưng đang vấp phải sự cản phá mạnh mẽ của Ấn Độ, Nhật Bản, các nước Trung Á thân Nga, các nước Trung Đông cũng như của Hoa Kỳ và châu Âu. TQ đang rất vất vả tìm kiếm đối tác đồng thuận cho «  2 công trình thế kỷ  » này.

Nếu quả thật như trên, ông Trọng đã nhẹ dạ bị sập bẫy của ông anh Cả của mình.

Có thể ông đã bị loáng mắt inh tai mất tỉnh táo do sự tiếp đón linh đình của ông tổng Tập, có duyệt đoàn quân danh dự, có 21 phát đại bác, có Đại Yến tiệc, quên mất rằng chưa có đồng thuận của Bộ chính trị, chưa có ý kiến của Quốc hội, Chủ tịch Nước và Thủ tướng Chính phủ, các quan chức chóp bu này bị đặt trước việc đã rồi. Nhân dân không ai bỏ phiếu bàu ông Trọng làm Tổng bí thư. Ông chỉ là Tổng bí thư của đảng ông ta. Ai cho ông cái quyền đứng đầu nước ta?
Nếu quả thật như trên thì cái sơ hở sai lầm cực kỳ nghiêm trọng của ông Trọng và cả đoàn VN nên gọi chính xác là gì ? Có thể gọi là bán nước cho thế lực bành trướng ? Ông và đoàn của ông ăn nói ra sao với toàn dân  ? Tuyên bố chung có nên đưa ra trưng cầu dân ý  của toàn dân?

Thì ra «  cái tròng Bắc thuộc mới » mà nguyên Bộ trưỏng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sớm cảnh báo đã được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mở đầu năm 1990, tiếp nối bởi Tổng bí thư Đỗ Mười, rồi bị thắt chặt hơn dưới thời Tổng bí thư tham quyền Lê Khả Phiêu, để rồi tiếp nối mạnh hơn nữa bởi tổng bí thư Nông Đức Mạnh, còn rước họa bô-xít vào vùng chiến lược Tây Nguyên, và nay lại được ông tổng Trọng làm cho cái tròng Bắc Thuộc thêm chặt hơn, ngẹt thở thêm, dân ta không còn chịu nổi.

Năm đời Tổng bí thư làm tôi đòi cho ngoại bang phương Bắc chưa đủ sao? Đại Hội Đảng CS thứ XII hãy trả lời rõ cho toàn đảng và toàn dân nước ta.

Bùi Tín  (Blog VOA)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Mỹ kêu gọi VN trả tự do cho Tạ Phong Tần

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

Mỹ kêu gọi VN trả tự do cho Tạ Phong Tần

5-5-2015

danchimviet.info

Ông John Kerry nói bà Tạ Phong Tần 'đang thụ án 10 năm tù ở Việt Nam vì vạch trần tham nhũng của chính phủ'

Ngoại trưởng Mỹ nhắc tên bà Tạ Phong Tần trong danh sách nhà báo cần được phóng thích.

Ông John Kerry nói bà Tạ Phong Tần “đang thụ án 10 năm tù ở Việt Nam vì vạch trần tham nhũng của chính phủ”.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5, Bộ Ngoại giao Mỹ mở chiến dịch Trả tự do cho Báo chí, nêu tên một số nhà báo mà Mỹ nói là “bị bỏ tù sai trái”.

Bà Tạ Phong Tần được chọn cho trường hợp Việt Nam, còn Trung Quốc có bà Cao Du vừa bị kết án hồi tháng Tư.

Thông cáo của ông John Kerry ngày 5/5 nói: “Hoa Kỳ kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho những cá nhân này và toàn bộ các phóng viên bị cầm tù vì làm đúng việc của mình.”

Năm 2012, tòa phúc thẩm ở TPHCM y án với hai blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) và Tạ Phong Tần.

Khi đó, ông Hải bị tuyên án 12 năm tù và bà Tạ Phong Tần bị tuyên án 10 năm tù.

Tháng 10 năm ngoái, Việt Nam để ông Nguyễn Văn Hải được sang Mỹ.

Mới hôm 1/5, ông Hải đã có cuộc gặp với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Ông đã có mặt cùng hai blogger khác là Simegnish ‘Lily’ Mengesha (từ Ethiopia) và Fatima Tlisova (từ Nga) tại Nhà Trắng để tham gia hội luận về tự do báo chí trên thế giới.

Trong cuộc gặp gỡ này, ông Hải đã nêu tên nhiều tù nhân lương tâm của Việt Nam trong đó có bà Tạ Phong Tần và đề nghị Mỹ lưu tâm đến. Bà Tạ Phong Tần là cựu sĩ quan công an, sau khi bỏ nghề, bà viết báo tự do, với nhiều đề tài khác nhau và cùng với ông Hải bà từng là sáng lập viên câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do.

Trong một diễn biến liên quan, ngay sau cuộc gặp với tổng thống Obama ở Nhà Trắng, Điếu Cày mới đây vừa có cuộc tiếp xúc với Tổ chức ân xá quốc tế (Amnesty International) và Ủy ban bảo vệ các nhà báo (CPJ) vận động cho anh Trần Huỳnh Duy Thức (bị án 16 năm tù), chị Tạ Phong Tần (Blogger, 10 năm) và các nhà bất đồng chính kiến khác, đang bị giam giữ tại Việt Nam.

Tổng hợp theo BBC và Facebook

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Nhật ký sau giải phóng (1 Walter Skrobanek)

Posted by hoangtran204 trên 06/05/2015

Walter Skrobanek

Nhật ký sau giải phóng

Ông Walter Skrobanek, sinh năm 1941 ở Graz (Áo), lớn lên trong vùng Wiesbaden (Đức), học đại học trong nửa sau của thập niên 1960 về chính trị học, xã hội học và lịch sử tại trường Đại học Heidelberg (Đức), bảo vệ bằng tiến sĩ về chính trị Phật giáo ở Thái Lan. Sau đại học, ông là nhà báo tự do và biên tập viên tại nhiều nhật báo trong vùng Mainz (Đức). Năm 1973, ông cùng với vợ người Thái Siriporn sang Sài Gòn để làm việc tại đó cho tổ chức giúp đỡ trẻ em terre des homme. Từ 1976, ông là điều phối viên của terre des hommes cho Đông Nam Á và sống ở Bangkok cho tới khi về hưu và qua đời vì bệnh tật năm 2006.

Quyển nhật ký của ông, được bắt đầu ở Sài Gòn vào ngày 28 tháng Tư 1975, thành hình từ ý nghĩ rằng lịch sử bây giờ đang được viết ở xung quanh ông.

Sài Gòn, ngày 28 tháng Tư 1975

Từ Chủ Nhật hôm qua, Sài Gòn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Trong một giờ yên lặng vào chiều tối – đài phát thanh Mỹ vẫn còn phát nhạc ướt át đang thịnh hành – tôi chợt muốn gửi cho các người thêm một vài dòng, để các người biết rằng cuộc sống vẫn còn tiếp tục.

Ngày thứ hai hôm nay đã mang lại cho chúng tôi nhiều điều mới. Ví dụ như lần trở về đầy phiêu lưu của các cộng tác viên chúng tôi, đã mang sữa và dược phẩm đến cho những người tỵ nạn ở Vũng Tàu. Chúng tôi nghĩ rằng họ đã “ở phía bên kia”. Vì lực lượng của Mặt Trận Giải phóng (MTGP) đã cắt đứt con đường giữa Sài Gòn và Vũng Tàu vào chiều thứ bảy. Lúc đó là vài giờ sau khi một chiếc xe buýt nhỏ của trung tâm với bảy người của chúng tôi lên đường đi đến trại tỵ nạn ở đó. Mãi sang ngày chủ nhật, chúng tôi mới nhận ra rằng chuyến trở về là ít có khả năng, khi một nhóm nhân viên thứ hai của terre des hommes muốn lên đường đi Vũng Tàu. Chiếc xe buýt nhỏ chỉ tới được lối rẽ đi Vũng Tàu của xa lộ Biên Hòa. Quân cảnh chỉ cho phép họ quay trở lại Sài Gòn ngay lập tức. Suýt chút nữa thì chuyến trở về Sài Gòn cũng đã không thành công, vì quân đội MTGP đã chiến đấu ở ngay cạnh cầu Sài Gòn rồi. Xuyên qua làn đạn, chiếc xe Hồng Thập Tự của terre des hommes tìm đường trở về trung tâm. Vào chiều tối ngày chủ nhật, đài phát thanh của MTGP loan báo đã chiếm được hai thành phố Long Thành và Phước Lễ trên đường về Sài Gòn.

Vì vậy mà chúng tôi ngạc nhiên không ít, khi nhóm bảy người đó, nhóm mà đã đi Vũng Tàu ngay từ hôm thứ bảy, lại trở về đến trung tâm, tất nhiên là không còn chiếc xe. Họ đã để chiếc xe đó lại trong sân của sở Bưu Điện ở Vũng Tàu, và đi về Sài Gòn qua một con đường vòng khủng khiếp bằng tàu thủy và taxi. Họ đã qua đêm ở ngoài trời. May mắn là họ có mang thẻ của terre des hommes theo mình, chứ nếu không thì họ đã bị xem như là người tỵ nạn và đã bị chận lại.

Cũng vào ngày hôm nay, một ủy ban chấp hành của trung tâm xã hội-y khoa terre des hommes được thành lập, cái sẽ đưa ra mọi quyết định về nguyên tắc. Ủy ban này sẽ họp mỗi tuần một lần, và hy vọng rằng trong cấu trúc của nó sẽ lường trước được những gì còn chưa đạt tới về chính trị ở Nam Việt Nam. Nó bao gồm tất cả các lãnh đạo dự án có trách nhiệm và một người đại diện nhân sự. Trong lúc đang thành lập, một trong những trận mưa giông đầu tiên của năm nay đã ập xuống, và giữa những tiếng sấm đã có thể nghe được tiếng hỏa tiển nổ. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc họp. Sau khi họp xong, tiếng ồn máy bay và tiếng bom nổ trở nên lớn bất thường. Người ta hầu như không thể phân biệt được cái nào là tiếng sấm cái nào là tiếng nổ. Mới hai giờ trước đây, chúng tôi đã quyết định di tản các trẻ sơ sinh và trẻ em của trại mồ côi Dieu Quang vào trong nhà trẻ của chúng tôi. Họ đến đúng trong khoảnh khắc này. Dựa trên lời thỉnh cầu của ban lãnh đạo trại mồ côi, chúng tôi đã quyết định như vậy, vì trại này nằm trên đường phía nam vào Sài Gòn và ở gần trạm radar trung tâm đã bị bắn phá nhiều lần của Nam Việt Nam. Vài phút sau đó, nhiều đứa bé sơ sinh khác tiếp tục được đưa vào nhà trẻ chính của trung tâm. Đó là những đứa bé của “Chương trình dành cho gia đình nghèo” từ nhà đối diện, cái mà trong trường hợp báo động thì cần phải được di tản. Một ban chuyên về khủng hoảng của trung tâm đã đưa ra những kế hoạch này.

http://www.danluan.org

 

Terre des homme cho chở trẻ em bị thương sang Đức để chăm sóc. Hình: tdh

Những đứa bé quá cảnh, tạm thời ở chỗ chúng tôi cho tới khi được mang tới chỗ ở cố định, thêm vào đó là những đứa bé liệt nửa người còn ở lại Sài Gòn và một vài nhân viên đứng trên lũy của cái hầm trú ẩn mà chúng tôi đã cho người đào trong tuần trước để phòng những trận tấn công bằng hỏa tiển. Họ quan sát những chiếc máy bay tiêm kích đang bay lên, những cột khói trên phi trường Sài Gòn vừa mới bị bỏ bom và cố phát hiện ra loại súng, bom, tên lửa, súng phòng không hay súng máy nào đã nổ, khiến cho người ta nhớ tới pháo hoa giao thừa như thế nào đó. Các nhân viên khác nghe tin tức ở nhiều máy bán dẫn. Nhưng vẫn không rõ là trận pháo hoa vào buổi tối này là do ai gây ra. Radio đang truyền đi bài diễn văn của Tổng thống Hương sắp từ chức và của Tổng thống mới Minh.

Sau này mới biết rằng đó không phải là truyền trực tiếp. Vào thời điểm đó, Tổng Thống, Thượng Viện và Hạ Viện đã rời Dinh Độc Lập. Chứ nếu không thì họ đã lãnh bom của những nhóm chống lại lần bổ nhiệm người tổng thống trung lập.

Nhiều nhân viên, bạn bè và trẻ em đổ vào trung tâm. Cửa được khóa kín. Sự hoảng loạn giảm dần, khi biết rằng MTGP không có kế hoạch tấn công Sài Gòn bằng hỏa tiển. Họ đứng cách Sài Gòn ba ki-lômét và còn chờ một đối tác để đàm phán. Tất cả đều hy vọng rằng Tướng Minh có thể là đối tác này. Tôi đi về nhà, liên kết ngày lẫn đêm với trung tâm qua điện thoại, nơi mà cũng đã bố trí trực điện thoại suốt ngày đêm.

Lúc đó, đài phát thanh của Mỹ nói rằng: “Chúng tôi xin quý vị chú ý. Bắt đầu ngay từ bây giờ là giới nghiêm 24 tiếng đồng hồ. Yêu cầu tất cả mọi người hãy ở lại tại chỗ.” Liệu lệnh giới nghiêm này có được hủy bỏ vào sáng ngày mai hay không thì không ai biết. Ngày mai sẽ biết công việc của chúng tôi có thể sẽ được tiếp tục như thế nào.

Những giờ cuối cùng của chế độ cũ

29/04/1975

Ngày hôm nay là một ngày lễ bất thường và bi thảm, vì lệnh giới nghiêm tiếp tục có giá trị sau 24 giờ đã tuyên bố. Nhưng vì nó không được giữ đúng một cách nghiêm ngặt nên nếu ai muốn đi hay phải đi thì cũng đều vào được tới Trung Tâm.

Không ai ngủ được nhiều trong đêm qua. Máy bay trinh sát và trực thăng quay vòng vòng liên tục trên thành phố. Tôi ngồi ngoài ban công trong bóng tối và nhìn lên bầu trời có ít mây, nơi một mặt trăng bị che khuất đang chiếu sáng như trong cơn lo âu xuống quang cảnh thành phố. Lần cố gắng đi ngủ sau đó cũng không thành công. Vào ba giờ rưỡi sáng, những tiếng nổ lớn của hỏa tiển đã lôi chúng tôi ra khỏi giấc ngủ. Phi trường lại bốc cháy. Mọi người trong nhà chúng tôi kéo hết xuống tầng trệt. Cứ hai mươi phút thì điện thoại reo một lần. Vào lúc bốn giờ, tôi được thông báo là những đứa bé sơ sinh của nhà trẻ đã được mang xuống hầm. Như sau này tôi nghe được, chúng chỉ ở dưới đó nửa giờ đồng hồ, vì tiếng nổ giảm dần và vì kiến đã quấy rối nhân viên với trẻ em rất nhiều. Còn hai giờ để ngủ.

Phi trường Tân Sơn Nhứt, ngày 29 tháng Tư 1975

Từ trên mái nhà, người ta có thể quan sát được cuộc chiến. Lửa cháy ở phi trường. Máy bay trinh sát bay vòng vòng. Trong Trung Tâm, người ta bắt đầu sơn chữ thập đỏ ở bất cứ nơi đâu có thể được. Vì trong lúc đang ngồi ở dưới hầm trong đêm qua, một chiếc máy bay trực thăng trinh sát đã bay đến gần để xem xét tình hình. Cả hàng rào kẽm gai ở cửa ra vào cũng được mở rộng. Có tin đồn là MTGP đã có mặt ở Phú Lâm và Gia Định. Hiện giờ, một vài nhân viên đã mang gia đình họ vào Trung Tâm, vì nhà của họ nằm ở nơi không an toàn. Nhưng không có hoảng loạn, thậm chí tinh thần còn là tốt nữa, sau những cực nhọc của đêm qua. Rồi vào cuối buổi sáng, tiếng phành phạch không ngưng của trực thăng bắt đầu. Mãi sau đó chúng tôi mới nghe qua radio là người ta bắt đầu di tản những người Mỹ còn lại và những người Việt tỵ nạn chính trị. Trong vòng 24 tiếng đồng hồ – theo quy định của tổng thống mới – việc này cần phải được kết thúc.

Trong Trung Tâm, người ta ăn cá khô, gạo và mì sợi, vì chợ đã đóng cửa. Tôi không ăn gì và chạy về nhà để ngủ bù một chút. Hoài công: vừa mới thiếp ngủ thì những tiếng nổ dữ dội của hỏa tiển lại đánh thức tôi dậy và buộc tôi phải đi xuống tầng trệt. Vào buổi trưa này, chúng tôi cũng mất cả người chủ nhà của chúng tôi. Trên những chiếc Honda, ông với toàn bộ gia đình của ông đã vội vã rời ngôi nhà kế cận của ông để ẩn náu trong Chợ Lớn – có lẽ là tại một người họ hàng “vô sản” của ông.

Nỗi lo lắng của tôi tăng lên theo cùng với tiếng ồn trực thăng, tiếng nổ và với sự không chắc chắn nằm trong bầu không khí. Người ta khó có thể ước lượng được khoảng cách của những nơi hỏa tiển rơi xuống. Một hỏa tiển đã rơi xuống một ngôi nhà cách Trung Tâm độ chừng một ki-lô-mét. Một chiếc xe của terre des hommes tình cờ chạy ngang qua đó và đã mang những người bị thương vào bệnh viện. Không ai có thể lo cho người chết. Không ai biết đã có bao nhiêu người chết trong vòng 24 giờ vừa qua. Một nhân viên của Trung Tâm hoảng loạn. Tất cả lính tráng đều biến mất trên đường phố. MTGP chẳng bao lâu nữa sẽ tiến vào và rồi sẽ có hòa bình. Một người thuật lại rằng tòa đại sứ Mỹ đang bốc cháy. Không ai biết thật sự là điều đó có đúng hay không. Dẫu sao thì vào chiều tối, máy bay chiến đấu của chính phủ Nam Việt Nam vẫn còn bay trên bầu trời, và người ta nghe được tiếng súng máy trên đường phố.

Chúng tôi không biết nhiều hơn những gì mà các đài BBC, “Voice of America” và “Voice of Vietnam” (Hà Nội) phát đi bằng tiếng Anh. Dường như đài phát thanh Mỹ ở Sài Gòn đã chấm dứt chương trình nhạc và tin ngắn vào tối qua vào lúc mười giờ rưỡi. Bây giờ thì có lẽ là cả người cuối cùng cũng đã được mang đi bởi những chiếc trực thăng vẫn còn bay vòng vòng trên Sài Gòn.

Nếu như tôi không can thiệp thì ngay trong Trung Tâm chúng tôi cũng đã có trực thăng Mỹ đến. Michael Ardin, một người Thụy Sĩ, muốn đón đứa con nuôi của ông vào giờ chót, vì lo sợ mà sẵn sàng làm mọi việc: đưa một vài đứa bé bị bệnh tim, đứa con nuôi của ông và những đứa bé bị liệt nửa người lên một chiếc máy bay trực thăng Mỹ, nếu như có thể. Tôi phải dùng giọng nói gay gắt để ngăn chận, vì đối với tôi vấn đề to lớn hơn là một vài đứa bé muốn rời bỏ đất nước.

Ai – đặc biệt là trong khoảnh khắc này – liên minh với Hoa Kỳ thì có thể gói gém đồ đạc để rời Việt nam vĩnh viễn. Tôi thì nghĩ đến những đứa bé sơ sinh trong nhà trẻ, tới tất cả những đứa bé không thể đi cùng, tới các nhân viên, và cũng tới việc tiếp tục hoạt động như là một tổ chức phi chính trị.

Giọng nói buồn rầu của nhà họa sĩ Thai Tuan, người vừa mới gọi điện cho tôi, vẫn còn vang trong tai tôi. Vợ của ông và vài đứa bé đã được di tản trước đó với một tổ chức xã hội. Ông được dự định đi theo sau với những đứa bé khác. Nhưng đã quá muộn. Ông lo sợ. Giọng nói của ông nghe như ông đã uống khá nhiều. Hỏa tiển nổ 20 giây một lần

Coi thêm

29-7-2013

http://dtphorum.com/pr4/showthread.php?3006-Nhật-ký-Sài-Gòn-1975-%28Walter-Skrobanek%29

Posted in Uncategorized | Tagged: | Leave a Comment »

► Obama ‘rất quan tâm’ nhân quyền VN

Posted by hoangtran204 trên 05/05/2015

BBC

Quốc Phương

02-05-2015

Tổng thống Barack Obama ‘rất quan tâm’ tới tình hình tự do ngôn luận, báo chí và nhân quyền ở Việt Nam, theo blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, cựu tù nhân lương tâm, người vừa được nhà lãnh đạo Hoa Kỳ mời tới Nhà Trắng để gặp gỡ và trao đổi nhân ngày Tự do Báo chí Quốc tế hôm 01/5/2015.

Có 30 nhà báo được đề nghị trong danh sách mời gặp Tổng thống Obama, nhưng chỉ có ba nhà báo trong đó có blogger Điếu Cày được dự cuộc gặp hôm 1/5/2015.

Trao đổi với BBC từ Washington D.C. hôm thứ Bảy, nhà báo tự do Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải nói:

“Chuyến gặp lần này đã cho tôi một cảm xúc rất đặc biệt. Tổng thống Obama là một người rất bình dị. Khi chúng tôi ngồi ở bên cạnh nhau để thảo luận về các vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận của các nước có các nền báo chí tồi tệ, tôi thấy rằng Tổng thống Obama rất quan tâm đến tình hình của các nước như là Ethiopia, Nga hay Việt Nam.

“Cách Tổng thống diễn đạt những câu chuyện rất bình dị và ấm áp.”

Khi được hỏi vì sao Tổng thống Mỹ chọn gặp ba nhà báo từ Việt Nam, Nga và Ethiopia trong cuộc gặp này, blogger Điếu Cày đáp:

“Đấy cũng là một chỉ dấu cho thấy là ba quốc gia này có nền báo chí tồi tệ nhất.

“Theo tôi được biết có một danh sách trên 30 nhà báo được lựa chọn, nhưng chỉ có 3 người được vào gặp Tổng thống, và như vậy cũng cho thấy rằng những người mà đã bị đàn áp ở những quốc gia có nền báo chí tồi tệ, thì Tổng thống lựa chọn để gặp mặt.”

‘Giữ kín cuộc gặp’

Blogger Điếu Cày cho hay ông đã được biết trước về cuộc gặp cách đó không lâu:

“Tôi đã biết trước được khoảng một tuần trước, nhưng vì lý do an ninh nên cái này phải giữ kín…

“Bên Bộ Ngoại giao và sau đó là bên phía Nhà Trắng (đặt vấn đề mời).”

Điếu Cày cũng chia sẻ thêm về một danh sách các tù nhân lương tâm, trong đó có nhiều nhà báo, blogger đang bị giam giữ ở Việt Nam, mà ông đã gửi Tổng thống Obama nhân dịp này.

Blogger, chủ nhiệm Câu lạc Bộ Nhà báo Tự do mới tái lập ở Hoa Kỳ nói:

“Có Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, anh Vinh Ba Sàm (blogger Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh), chị Bùi Hằng, Trần Vũ Anh Bình, Việt Khang và một số tù nhân nữa, chúng tôi có đưa một danh sách.”

Khi được hỏi về phản ứng của Tổng thống Hoa Kỳ, blogger Điếu Cày cho hay:

“Tổng thống đã rất quan tâm tới câu chuyện này,” nhà tranh đấu cho tự do báo chí, ngôn luận và nhân quyền ở Việt Nam nói với BBC hôm 02/5/2015.

‘Hoàn toàn ngẫu nhiên’

Bình luận về việc Tổng thống Hoa Kỳ tiếp đón nhà báo tự do, blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải tại Nhà Trắng, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một nhà quan sát chính trị, xã hội Việt Nam, nói với BBC:

“Nhân ngày tự do báo chí quốc tế, Tổng thống Obama đã gặp ba nhà báo như vậy, trong đó có anh Điếu Cày.

“Tôi nghĩ đây thể hiện một sự quan tâm của nước Mỹ cũng như là của Tổng thống Obama rất nhiều đến vấn đề tự do ngôn luận ở Việt Nam

“Mà anh Điếu Cày là một người tiêu biểu bị đàn áp trong vấn đề không có tự do ngôn luận ở nước ta (Việt Nam).”

Nhà quan sát cho rằng phía Mỹ đã có sự chuẩn bị từ trước cho sự kiện này.

Theo ông, cuộc gặp đã diễn ra ‘ngẫu nhiên’ sau khi chính quyền Việt Nam long trọng kỷ niệm 40 năm ngày 30/4 với một bài diễn văn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được cho là có một số lời lẽ ‘không mới’ và khá ‘rắn’ khi nói về nước Mỹ.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói:

“Tôi nghĩ rằng đây là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn, bởi vì một cuộc tiếp các nhà báo của các nước khác bị đàn áp, thì Nhà Trắng đã phải chuẩn bị từ lâu rồi.

“Chứ không phải là vì cái chuyện lời phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng hôm trước đó mà họ có phản ứng như thế này,” ông nói với BBC hôm thứ Bảy từ Hà Nội.

‘Hy vọng tiến bộ’

Còn từ Sài Gòn, thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, cựu tù nhân lương tâm, nhà tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ hóa của Việt Nam chia sẻ cảm tưởng của mình về cuộc gặp giữa ông Obama với blogger Điếu Cày cùng các nhà báo quốc tế.

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, người từng được Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush mời gặp mặt vào tháng 8/2006 trước khi về lại Việt Nam sau thời gian du học ở nước ngoài, nói:

“Đầu tiên, tôi thấy rất vui bởi vì tôi còn có một người bạn nữa thân thiết là chị Tạ Phong Tần vẫn đang ở trong tù, thì qua sự kiện này, cộng với sự kiện trước đó nữa là Bộ Ngoại giao Mỹ đã liên tiếng yêu cầu Việt Nam cần phải trả tự do ngay lập tức cho chị Tạ Phong Tần, tôi thấy chứng tỏ chính phủ Hoa Kỳ rất quan tâm đến tình trạng các bloggers Việt Nam bị giam giữ nói riêng và tình trạng nhân quyền của Việt Nam nói chung, cho nên tôi hy vọng là thời gian tới sẽ có những tiến bộ hơn nữa về nhân quyền Việt Nam…

“Vừa qua ngày 1/5 là ngày Tự do Báo chí Quốc tế cho nên Tổng thống Mỹ gặp gỡ những nhà báo, bloggers đã bị đàn áp, và tôi nghĩ anh Điếu Cày cũng hạn chế trong việc đưa ra danh sách những người, chủ yếu là những bloggers, nhà báo ở Việt Nam bị giam giữ.

“Còn những người bị bắt giữ vì lý do khác, như là ‘gây rối trật tự công cộng’, hay là kết các tội khác ngoài vấn đề ‘tuyên truyền, chống phá’ này nọ, thực ra những anh em, đồng đội của tôi ở Mỹ, ở châu Âu, kể cả ở Việt Nam nữa thì đều có sự vận động đối với quốc tế.

“Để mà thả tất cả những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm và tù nhân tôn giáo Việt Nam ra, thì điển hình như sắp tới Đối thoại Nhân quyền Việt – Mỹ, phía Mỹ cũng có nói chuyện với tôi để biết quan điểm của phía tôi như thế nào để mà có thể đối thoại với phía Việt Nam.

“Và tôi nghĩ phía Mỹ cũng san sẻ với rất nhiều người đấu tranh dân chủ khác để họ nắm được bức tranh toàn diện về vấn đề nhân quyền Việt Nam để mà có thể đối thoại với Việt Nam, cũng như nắm được thông tin về các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm và tù nhân tôn giáo, để có biện pháp thuyết phục chính quyền Việt Nam cần phải thả họ ra,” thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung nói với BBC hôm 02/5.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »