Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chinh tri Trung Quoc’ Category

►’Hổ Vương’ Trung Hoa (Giang Trạch Dân) sắp sa lưới? Sự tan vỡ đang tới của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 11/03/2015

‘Hổ Vương’ Trung Hoa sắp sa lưới?

10-3-2015

Bùi Tín

VOA Tiếng Việt

 

Nguyên Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân.

Ngày 28/2/2015 báo Nhân dân Giải phóng quân của quân đội Trung Quốc đưa tin 14 viên tướng của Trung Quốc đã bị bắt giữ, tước quân hàm, chờ ngày xét xử vì đã bị tố cáo, điều tra về tội phạm pháp, phạm kỷ luật nghiêm trọng, tham nhũng và sống sa đọa.

Trong các viên tướng trên có Thiếu tướng Quách Thanh Lương, con trai của Thượng tướng Quách Bá Hùng, từng là Phó Bí thư Quân ủy Trung Ương, là cận thần của nguyên Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân. Trước đó vào tháng 1/2015, Tướng Quách Bá Hùng đã bị quản thúc, giam lỏng để chờ ngày xét xử. Hãng Reuters (25/2) nhận xét Tướng Từ Tài Hậu và Tướng Quách Bá Hùng là 2 viên tướng cao cấp nhất, đều là Phó Bí thư quân ủy khi ông Giang Trạch Dân là Tổng Bí thư kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, cũng là 2 người được xem là thân tín nhất của ông Giang.

Ngày 3/3/2015, báo Tranh Minh (Hồng Kông) cho biết ông Tăng Khánh Hồng, nguyên Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, vốn là cánh tay phải của ông Giang Trạch Dân, đã bị Ủy ban Thanh tra và Kỷ luật của đảng CS Trung Quốc giam lỏng vì bị tố cáo về nhiều tội: ăn hối lộ, tham nhũng, hối mại quyền thế. Mạng Đại Kỷ Nguyên cho biết Tăng Khánh Hồng từng thực hiện đắc lực chủ trương đàn áp Pháp Luân Công của Giang Trạch Dân, đặc biệt là trong tội ác mổ tử thi các tù nhân Pháp Luân Công để bán các bộ phận cơ thể của họ.

Ngày 4/3/ 2015 cũng báo Tranh Minh (Hồng Kông) cho biết sau khi con trai cả của ông Giang Trạch Dân là Giang Miên Hằng bị mất chức Phó Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc kiêm Chủ tịch Phân viện Thượng Hải, nay cháu ruột ông là Nghê Phát Hoa, Phó Chủ tịch tỉnh An Huy, đã bị truy tố về tội tham nhũng nghiêm trọng. Vợ ông Nghê Phát Hoa họ Bành là con gái của Giang Trạch Tuệ, em gái ruột của ông Giang Trạch Dân. Báo China News ngày 2/3/2015 còn cho biết Tòa án nhân dân thành phố Đông Dinh tỉnh Sơn Đông đã công bố tội trạng của Nghê Phát Hoa nhận hối lộ đến 13 triệu Nhân dân tệ (bằng 2 triệu US$), tài sản ông này đã bị tịch thu sung vào công quỹ.

Các báo tự do ở Hồng Kông nói trên nhận định rằng cuộc săn con hổ lớn nhất – Hổ Vương – tức nguyên Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã gần kề, chỉ còn là vấn đề thời gian. Trong 2 năm qua, hàng vạn cán bộ đảng viên đã bị sa lưới, khai trừ khỏi đảng CS trong chiến dịch “săn hổ diệt ruồi, bắt sói trốn chạy, thu hồi tài sản bất minh”, trong đó có hơn 20 tướng lãnh từ thiếu tướng đến thượng tướng, hơn 50 cán bộ lãnh đạo cấp cao từ thứ trưỏng, bí thư tỉnh ủy trở lên đến ủy viên thường vụ Bộ Chính trị và phó bí thư Quân ủy Trung ương.

Ông Giang Trạch Dân được coi là lãnh tụ tối cao xếp hàng thứ 3 của đảng CS Trung Quốc, chỉ sau Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Vụ trọng án chính trị tham nhũng “Giang Trạch Dân và đồng bọn”, nếu được mở ra và xét xử, sẽ là vụ án cực kỳ chấn động.

Vụ bao vây, săn Hổ Vương của ông Tập Cận Bình trong chiến dịch chống tham nhũng, từ lớn nhất đến nhỏ nhất, từ hổ đến ruồi, còn bao gồm cả việc săn lùng bọn tham nhũng chạy ra nước ngoài và thu hồi mọi tài sản bất minh cho công quỹ, cho đến nay là thuận buồm xuôi gió, do được xã hội TQ hoan nghênh, tuy về thực chất là sự kình địch của các phe nhóm trong đảng CS. Riêng việc chống tham nhũng dù mạnh mẽ đến đâu cũng không thể cứu đảng CS khỏi thảm cảnh khủng hoảng, do đây là khủng hoảng toàn diện của cả một hệ thống chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, đạo đức, mà nguyên nhân cơ bản là bản chất độc đoán, phản dân chủ, phi nhân quyền, phản các dân tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, đi ngược lại những giá trị dân chủ – nhân văn của thời đại văn minh.

Một số bạn Trung Quốc đối lập dân chủ tôi vừa gặp ở Pháp cho biết ông Tập Cận Bình có tham vọng vượt lên thành lãnh đạo vĩ đại, còn cao hơn cả Mao và Đặng khi hoàn thành “giấc mộng Trung Hoa”, thực hiện thống nhất Đài Loan vào một nước Trung Quốc phồn vinh, nhưng đó chỉ là không tưởng vì Trung Quốc hiện có quá nhiều căn bệnh hiểm nghèo chưa có thuốc chữa. Thêm nữa ông Tập Cận Bình đang có động cơ cá nhân, rất cay cú khi khám phá ra âm mưu đảo chính cung đình do chính Giang Trạch Dân cùng Chu Vĩnh Khang và đồng lõa dự định thực hiện hồi 2011 – 2012 nhằm đưa nhóm Bạc Hy Lai, Tăng Khánh Hồng, Giả Khánh Lâm… lên thay Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, gạt Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường ra. Nay Tập thực hiện một đòn thù, “giáng trả bọn phản nghịch”.

Trông người lại nghĩ đến ta. Lãnh đạo đảng CS Việt Nam từng hứa sẽ học những kinh nghiệm tốt, tích cực của đảng CS Trung Quốc, Riêng về chống tham nhũng thì đảng CS Việt Nam dơ cao đánh khẽ, đánh như phủi bụi, vì sợ “vỡ bình”, sợ nát đảng, nhút nhát không kém gì chống bành trướng. Ủy ban chống tham nhũng bị tê liệt khi ông Nguyễn Bá Thanh không vào được Bộ Chính trị, rồi bị bệnh chết sớm, chết theo là 6 vụ án lớn bị chôn vùi luôn.Tướng Phạm Quý Ngọ cũng bị buộc phải chết để ỉm việc Đại tướng Trần Đại Quang ăn tiền của Dương Chí Dũng lên đến nửa triệu đôla.

Ủy ban Thanh tra và Kỷ luật của đảng CS Trung Quốc là cơ quan chủ yếu chống tham nhũng, do tổng bí thư trực tiếp nắm, có bộ máy điều hành đầy quyền lực, đi đến đâu có uy lực đến đó, điều tra có bài bản, truy lùng thư từ, hoá đơn, đối thoại trên máy cầm tay, hỏi cung kỹ từ thư ký, lái xe, hàng xóm, người tình, bè bạn, gia đình của can phạm, tiến hành bởi một bộ máy chuyên nghiệp trung thành được huấn luyện kỹ. Còn trong đảng CS Việt Nam thì ban tương đương là Ủy ban Kiểm tra Trung ương có trách nhiệm như vậy, nhưng lại là ban vô tích sự nhất, không có uy quyền gì, hoàn toàn vô trách nhiệm, đến người cầm đầu lẽ ra phải năng động có quyền uy thì lại là ông Hà Văn Dụ, ủy viên Bộ Chính trị, ươn hèn đến thảm hại, hầu như không ai biết đến, không hề có một lời phát biểu nào về trách nhiệm của mình trong việc duy trì kỷ luật đảng, có 5 tay phó ban cũng hầu như bất động nốt.

Hãy chờ xem trong Dự thảo Báo cáo chính trị, họ sẽ ăn nói ra sao về chống tham nhũng trong 5, 10 năm qua, khi mà có người lãnh đạo cho rằng đầu tư 10 tỷ mà thất thoát 1 tỷ là chuyện bình thường, không có gì phải lo! Chính do đó mà Luật phòng chống tham nhũng không đe nẹt được ai, tuy có điều khoản ai tham nhũng lên đến 1 tỷ đồng (bằng 50.000 đôla) là có thể bị tử hình,. Nếu luật được tôn trọng nghiêm ngặt, nếu như quả thật ông Trần Đại Quang ăn đến nửa triệu đôla từ Dương Chí Dũng thì ông Quang phải có đến 10 cái đầu mới đền hết tội.

Ta hãy chờ xem pha vây hãm Hổ Vương ở Trung Quốc sẽ diễn ra như thế nào, sau khi người hùng họ Tập đã lần lượt bóc các vỏ cứng bên ngoài, phá tan các hàng rào giây kẽm gai bao bọc hang hùm, ở giữa thủ đô Bắc Kinh.

Bùi Tín

*Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, từng là cựu Đại Tá, cựu Phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, ông là một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA.

———-

 

Sự tan vỡ đang tới của Trung Quốc

David Shambaugh
Kevin Bùi chuyển ngữ

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Mỹ đã giúp TQ phát triển trong 40 năm qua vì: Mỹ đã đặt 5 giả thiết sai về Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 11/02/2015

Khi có người đề nghị chiếm Trung Hoa, Napoleon đã lắc đầu và nói: Hãy để cho con rồng ngũ yên. TQ đã ngũ yên trong nghèo đói và lạc hậu cho mãi đến khi Henry Kissinger, TT Nixon (1968-1973), TT Jimmy Carter (1976-1980) vì qúa lo sợ Liên Xô nên Mỹ đã bắt tay với TQ, và đã đánh thức con rồng trổi dậy. Mỹ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với TQ 1978, và cùng với Châu Âu, Nhật, Anh, Hồng Kong, Đài Loan,…đã đầu tư 500 tỷ đô la trong thập niên 1980s để giúp TQ phát triển thiết bị kỹ thuật, công nghệ xe hơi, hóa học, xây dựng cầu đường, phát triển hạ tầng kiến trúc, tài chánh, ngân hàng…và 1 triệu sinh viên TQ du học đã trở về trong thập niên 1990s và 2000s.

Giờ đây Mỹ đã và đang ăn năn tiếc nuối, nhưng đã quá muộn.

Chúng ta đã đặt 5 giả thiết sai về Trung Quốc

Michael Pillsbury | Trà Mi lược dịch

10-2-2015

Có lẽ với một chút tự hào, họ đã tiết lộ sự thất bại một cách có hệ thống, có ý nghĩa, và nguy hiểm nhất về tình báo trong lịch sử nước Mỹ. Và vì chúng ta không hề nghĩ rằng kế sách Marathon đã khởi động từ lâu nên Mỹ đang thua trận.

Michael Pillsbury là giám đốc của Trung tâm nghiên cứu Chiến lược của Trung Quốc của Viện Hudson và là một cố vấn hàng đầu về chính sách quốc phòng. Ông đã làm việc về chính sách Trung Quốc và các vấn đề tình báo cho Nhà Trắng cho nhiều chính phủ Mỹ. Bài sau đây là một đoạn trích từ cuốn sách của ông, “The Hundred-Year Marathon”.

Tôi là một trong những người đầu tiên cung cấp thông tin tình báo cho Nhà Trắng về Trung Quốc, từ năm 1969.

Trong nhiều chục năm qua, đôi khi tôi đóng một vai trò nổi bật thúc giục chính quyền của cả hai đảng, viện trợ kỹ thuật và quân sự cho Trung Quốc.

Phần lớn, tôi chấp nhận các giả định của giới ngoại giao hàng đầu và các học giả của Mỹ, hiển hiện ở những cuộc thảo luận chiến lược, bình luận, phân tích và phương tiện truyền thông của Mỹ.

Chúng tôi đã tin rằng viện trợ của Mỹ cho một Trung Quốc yếu kém mà giới lãnh đạo của TQ nghĩ như chúng tôi sẽ giúp Trung Quốc trở thành một cường quốc dân chủ và hòa bình mà không có tham vọng thống trị khu vực hoặc thậm chí toàn cầu.

Tất cả các giả thiết đằng sau niềm tin đó đã sai một cách nguy hiểm.

Sự sai lầm của những giả thiết ngày càn hiện rõ ràng hơn vì những gì Trung Quốc đang làm và, quan trọng không kém là những gì Trung Quốc không làm.

Giả thiết sai thứ nhất: Ràng buộc sẽ mang lại hợp tác toàn diện

Bốn mươi năm nay, các đồng nghiệp của tôi và tôi tin rằng “ràng buộc” với Trung Quốc sẽ khiến Trung Quốc hợp tác với phương Tây về một loạt các vấn đề chính sách. Không có chuyện đó. Thương mại và công nghệ tưởng là là sẽ đưa đến sự hội tụ quan điểm của Trung Quốc và phương Tây về vấn đề trật tự khu vực và toàn cầu. Cũng không có luôn. Tóm lại, Trung Quốc đã không đáp lại gần như tất cả các kỳ vọng lạc quan của chúng tôi.

Ví dụ, về các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Không có mối đe dọa an ninh và mối nguy hiểm nào lớn hơn đối với Hoa Kỳ và các đồng minh của chúng ta so với sự phát triển của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nhưng Trung Quốc đã chẳng giúp được gì trong việc kiểm tra tham vọng hạt nhân của Bắc Triều Tiên và Iran.

Sau cuộc khủng bố 9/11, một số nhà bình luận tin tưởng rằng Mỹ và Trung Quốc sẽ từ đó thống nhất vì các mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố, giống như họ đã đến gần với nhau vì bóng ma chiến tranh với Liên Xô. Những hy vọng hợp tác để đối đầu với “mối nguy hiểm chung” của khủng bố, như Tổng thống George W. Bush đã mô tả trong diễn văn trước quốc dân hồi tháng 1 năm 2002, bằng cách “xóa bỏ thù xưa” đã không thay đổi thái độ của Trung Quốc. Hợp tác Trung-Mỹ về vấn đề này thật ra khá hạn chế trong phạm vi và ý nghĩa.

Giả thiết sai thứ nhì: Trung Quốc đang trên con đường tiến tới dân chủ

Chắc chắn Trung Quốc đã thay đổi trong ba mươi năm qua, nhưng hệ thống chính trị của nó đã không tiến hóa theo chiều hướng mà chúng tôi, những người ủng hộ chính sách “ràng buộc”, đã mong đợi và dự đoán. Ý tưởng cho rằng những hạt giống dân chủ đã được gieo ở cấp thôn làng trở thành sự hiểu biết phổ thông trong giới quan sát Trung Quốc tại Mỹ.

Lần đầu tiên lòng tin của tôi bị lung lay là vào năm 1997, khi tôi là một trong số những người khuyến khích đến thăm Trung Quốc để chứng kiến các cuộc bầu cử “dân chủ” trong một ngôi làng gần thành phố công nghiệp Đông Hoản. Khi đến thăm, tôi đã có một cơ hội để nói chuyện bằng tiếng phổ thông với các ứng cử viên và xem cuộc bầu cử thực sự diễn tiến ra sao. Các quy tắc bất thành văn của cuộc chơi đã nhanh chóng hiện ra: các ứng cử viên không được phép tụ họp, không được quảng cáo trên truyền hình, và không có bích chương vận động.

Họ không được phép chỉ trích bất kỳ chính sách nào của Đảng Cộng sản, mà cũng không được chỉ trích đối thủ của họ về bất kỳ vấn đề gì. Sẽ không có cuộc tranh luận kiểu Mỹ về thuế khóa hay về ngân sách chi tiêu hoặc về tương lai của đất nước. Điều duy nhất một ứng cử viên có thể làm là so sánh đức hạnht cá nhân của mình với phẩm chất của đối thủ. Vi phạm các quy tắc đó được coi là tội phạm.

Giả thiết sai thứ ba: Trung Quốc là cánh hoa mong manh

Năm 1996, tôi là một phần của một phái đoàn Mỹ đến Trung Quốc trong đó có Robert Ellsworth, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Robert Dole, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng hòa.

Trong một cuộc trao đổi quan điểm, tưởng chừng như thẳng thắn, với các học giả Trung Quốc, chúng tôi đã nói rằng Trung Quốc đang trong tình trạng nguy hiểm về kinh tế và chính trị nghiêm trọng – và tiềm năng sụp đổ đang lẩn quẩn quanh đây. Những học giả Mỹ đã chỉ ra vấn đề nghiêm trọng về môi trường của Trung Quốc, tình trạng bất ổn của người dân tộc thiểu số, và sự thiếu khả năng cũng như nạn tham nhũng trong giới lãnh đạo chính phủ – cũng như giới lãnh đạo không có khả năng để thực hiện những cải cách cần thiết.

Sau này tôi biết rằng Trung Quốc đã tiếp đón các nhóm học giả Mỹ, các nhà lãnh đạo kinh doanh, và các chuyên gia chính sách khác trong những lần viếng thăm gọi là “dành riêng”, rồi họ cũng đã nghe lại những thông điệp như cũ về suy sụp sắp tới của Trung Quốc. Nhiều người trong các phái đoàn vừa kể sau đó lặp đi lặp lại những “khám phá” đó trong những bài báo, sách, và bình luận tại Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, thực tế rõ ràng là GDP mạnh mẽ của Trung Quốc được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng ít nhất là 7 hoặc 8 phần trăm, từ đó sẽ, sớm nhất, vượt mặt Hoa Kỳ vào năm 2018, theo các nhà kinh tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, của Tổ chức kinh tế hợp tác và Phát triển, và Liên Hiệp Quốc. Thật không may, các chuyên gia về chính sách Trung Quốc như tôi đã quá gắn bó với những ý tưởng về một “sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc” khiến ít người trong chúng tôi tin rằng những lời dự báo ấy. Trong khi chúng ta lo lắng về khủng hoảng của Trung Quốc thì nền kinh tế cả họ đã tăng hơn gấp đôi.

Giả thiết sai thứ tư: Trung Quốc muốn – và – giống như chúng ta

Trong sự ngạo mạn, người Mỹ chúng ta thích tin rằng nguyện vọng của mọi quốc gia khác là để được giống như Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, điều này đã ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ ở Iraq và Afghanistan. Chúng ta cứ bám vào tâm lý đó để đối ứng với Trung Quốc.

Trong những năm 1940, một nỗ lực được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ bởi để tìm hiểu tư tưởng của Trung Quốc. Và có một kết luận là Trung Quốc không xem chiến lược giống như cách của người Mỹ. Trong khi người Mỹ có xu hướng hành động trực tiếp, người Trung Quốc đã thường hành động gián tiếp hơn là trực tiếp, chuộng sự mơ hồ và lừa dối hơn sự rõ ràng và minh bạch. Một kết luận khác cho rằng văn học Trung Quốc và những bài viết về chiến lược đánh giá cao sự dối trá. [Như thấy trong Tam thập lục kế rút ra từ thời Chiến quốc, Tam Quốc – TM]

Hai mươi nămsau, Nathan Leites, nổi tiếng với nghiên cứu văn hóa phân tâm học, nhận định:

Tắc phẩm của Trung Quốc về chiến lược từ Tôn tử tới Mao Trạch Đông đã nhấn mạnh đến sự lừa dối hơn nhiều học thuyết quân sự khác. Lừa dối là kế sách của Trung Quốc nhằm vào việc làm cho đối thủ có hành động bất lợi và mất chú ý bảo vệ sự toàn vẹn kế sách của chính mình.

Giả thiết sai thứ năm: Phe diều hâu của Trung Quốc yếu

Trong những năm cuối thập niên 1990, dưới thời chính quyền Clinton, tôi được Bộ Quốc phòng và CIA giao nhiệm vụ để tiến hành một cuộc xem xét nghiệm chưa từng để biết khả năng của Trung Quốc để đánh lừa Mỹ và hành động của TQ từ trước đến nay trong phạm trù này.

Sau mọt thời gian, tôi đã khám phá ra những đề nghị của phe diều hâu Trung Quốc (ưng phái, 鹰派) với lãnh đạo Trung Quốc để đánh lừa và thao túng giới hoạch định chính sách của Mỹ để có được thông tin tình báo và quân sự, công nghệ, và viện trợ kinh tế. Tôi học được rằng nhóm diều hâu đã tư vấn cho giới lãnh đạo Trung Quốc, bắt đầu từ Mao Trạch Đông, để trả thù cho một thế kỷ bị sỉ nhục và khao khát thay thế Hoa Kỳ làm lãnh đạo kinh tế, quân sự và chính trị của thế giới vào năm 2049 (kỷ niệm một trăm Cách mạng Cộng Sản).

Kế hoạch này được biết đến qua cái tên “Cuôc chạy đường dài Một trăm năm”. Đó là kế hoạch mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản thực hiện từ khi có quan hệ với Hoa Kỳ.

Khi tôi trình bày những khám phá của tôi về những khuyến nghị của phe diều hâu Trung Quốc về tham vọng của Trung Quốc và chiến lược dối trá, nhiều người trong giới phân tích tình báo và chính quyền Mỹ đã tỏ vẻ hoài nghi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường xuyên trấn an các quốc gia khác rằng “Trung Quốc sẽ không bao giờ trở thành một bá chủ.” Nói cách khác, Trung Quốc sẽ là quốc gia mạnh nhất, nhưng không thống trị bất cứ ai hay cố gắng thay đổi bất cứ điều gì.

Tuy nhiên, sức mạnh của cuôc chạy đường dài một trăm năm, là những hành động tàng hình. Mượn chữ của bộ phim Fight Club, nguyên tắc đầu tiên của Marathon là không nói về Marathon. Thật vậy, gần như chắc chắn rằng không có một kế hoạch tổng thể nào đang được dấu kín dưới hầm ở Bắc Kinh vạch ra chi tiết của Marathon. Marathon đã được giới lãnh đạo Trung Quốc biết rõ nên không cần phải viết thành văn để tránh khỏi việc bị lộ. Nhưng Trung Quốc đang bắt đầu nói về các khái niệm này (Marathon) một cách cởi mở hơn – có lẽ vì họ biết rằng có thể đã quá muộn cho Mỹ theo kịp.

Trong những năm cuối thập niên 1990, dưới thời chính quyền Clinton, tôi được Bộ Quốc phòng và CIA giao nhiệm vụ để tiến hành một cuộc xem xét nghiệm chưa từng để biết khả năng của Trung Quốc để đánh lừa Mỹ và hành động của TQ từ trước đến nay trong phạm trù này.

Sau mọt thời gian, tôi đã khám phá ra những đề nghị của phe diều hâu Trung Quốc (ưng phái, 鹰派) với lãnh đạo Trung Quốc để đánh lừa và thao túng giới hoạch định chính sách của Mỹ để có được thông tin tình báo và quân sự, công nghệ, và viện trợ kinh tế. Tôi học được rằng nhóm diều hâu đã tư vấn cho giới lãnh đạo Trung Quốc, bắt đầu từ Mao Trạch Đông, để trả thù cho một thế kỷ bị sỉ nhục và khao khát thay thế Hoa Kỳ làm lãnh đạo kinh tế, quân sự và chính trị của thế giới vào năm 2049 (kỷ niệm một trăm Cách mạng Cộng Sản).

Kế hoạch này được biết đến qua cái tên “Cuôc chạy đường dài Một trăm năm”. Đó là kế hoạch mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản thực hiện từ khi có quan hệ với Hoa Kỳ.

Khi tôi trình bày những khám phá của tôi về những khuyến nghị của phe diều hâu Trung Quốc về tham vọng của Trung Quốc và chiến lược dối trá, nhiều người trong giới phân tích tình báo và chính quyền Mỹ đã tỏ vẻ hoài nghi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường xuyên trấn an các quốc gia khác rằng “Trung Quốc sẽ không bao giờ trở thành một bá chủ.” Nói cách khác, Trung Quốc sẽ là quốc gia mạnh nhất, nhưng không thống trị bất cứ ai hay cố gắng thay đổi bất cứ điều gì.

Tuy nhiên, sức mạnh của cuôc chạy đường dài một trăm năm, là những hành động tàng hình. Mượn chữ của bộ phim Fight Club, nguyên tắc đầu tiên của Marathon là không nói về Marathon. Thật vậy, gần như chắc chắn rằng không có một kế hoạch tổng thể nào đang được dấu kín dưới hầm ở Bắc Kinh vạch ra chi tiết của Marathon. Marathon đã được giới lãnh đạo Trung Quốc biết rõ nên không cần phải viết thành văn để tránh khỏi việc bị lộ. Nhưng Trung Quốc đang bắt đầu nói về các khái niệm này (Marathon) một cách cởi mở hơn – có lẽ vì họ biết rằng có thể đã quá muộn cho Mỹ theo kịp.

Tôi quan sát thấy cót sự thay đổi trong thái độ của Trung Quốc trong ba lần viếng thăm TQ trong những năm 2012, 2013, và 2014. Theo tập quán, tôi đã gặp gỡ với các học giả của những think tanks chính của TQ, những người mà tôi đã biết từ nhiều chục năm qua. Tôi trực tiếp hỏi họ về một “Trật tự mới do Trung Quốc dẫn đầu thế giới” – một thuật ngữ mà họ sẽ bác bỏ ngay một vài năm trước đó, hoặc ít nhất họ cũng không dám nói lớn tiếng. Tuy nhiên, thời gian này có nhiều người nói công khai cho rằng trật tự mới, hoặc sự hồi xuân, đang đến, đến nhanh hơn người ta đã chờ đợi. Khi nền kinh tế Mỹ đã bị vùi dập trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Trung Quốc tin tưởng dài dự đoán sự suy thoái không thể phục hồi của Mỹ đã bắt đầu.

Cũng những người đó, những người đã từng trấn an tôi là Trung Quốc chỉ mong có được vai trò lãnh đạo khiêm nhường trong một thế giới mới đa cực đang thành hình – và Đảng Cộng sản chỉ đang thực hiện mục tiêu dài hạn để khôi phục lại vị trí “hợp lý” của Trung Quốc trên thế giới. Trong thực tế, họ nói với tôi rằng họ đã lừa dối tôi và chính phủ Mỹ. Có lẽ với một chút tự hào, họ đã tiết lộ sự thất bại một cách có hệ thống, có ý nghĩa, và nguy hiểm nhất về tình báo trong lịch sử nước Mỹ. Và vì chúng ta không hề nghĩ rằng kế sách Marathon đã khởi động từ lâu nên Mỹ đang thua trận.

Trích từ cuốn “The Hundred-Year Marathon”: Chiến lược bí mật của Trung Quốc để thay thế Mỹ như một siêu cường toàn cầu của tác giả Michael Pillsbury, do Henry Holt và Công ty, LLC. phát hành ngày 10 tháng hai năm 2015. Bản quyền © 2015 Michael Pillsbury. Tất cả quyền được bảo lưu.

© 2015 DCVOnline


Nguồn: Top US analyst: We made 5 dangerously wrong assumptions about China. Michael Pillsbury, Trích từ “The Hundred-Year Marathon”. businessinsider.com. Feb. 9, 2015,

Nguồn dcvonline.net

Posted in Chinh Sach doi ngoai, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Trung Cộng sẽ sụp đổ và bài học Latvia cho người Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 06/01/2015

Trung Cộng sẽ đổ và bài học Latvia cho người Việt Nam

05/01/2015

Trần Trung Đạo

03-01-2015

H1Ngân sách quốc phòng của Trung Cộng khác nhau tùy theo nguồn ước lượng. Theo công bố chính thức của Trung Cộng, ngân sách quốc phòng năm 2014 là 131.5 tỉ đô la nhưng theo Stockholm International Peace Research Institute năm 2013 Trung Cộng đã dành 188 tỉ đô la cho chi phí quốc phòng. Trung Cộng có quân đội hiện dịch 2.3 triệu quân với 500 ngàn quân trừ bị. Trung Cộng có kho vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân và hiện đại hơn tất cả các quốc gia khác ở Á Châu. Cho dù tối tân và đông đảo bao nhiêu cũng không thể so với 27 ngàn đầu đạn nguyên tử, các hạm đội hùng mạnh và 250 sư đoàn bộ binh trang bị tận răng của Liên Xô trước ngày 25 tháng 12 năm 1991. Nhưng Liên Xô đã đổ, rồi Trung Cộng cũng phải đổ.

Bao giờ Trung Cộng đổ?

Gordon Chang, nhà phân tích kinh tế chính trị đã làm việc 20 năm tại lục địa Trung Quốc, trong tác phẩm The Coming Collapse of China xuất bản 2001 tiên đoán Trung Cộng sẽ đổ vào năm 2011.

Lý do, theo Chang trong phần hỏi đáp về tác phẩm của ông, đã viết: “Mao Trạch Đông, người sáng lập ra Trung Cộng, xây dựng một xã hội bất bình thường và cô lập chính nó từ các quốc gia khác. Hệ thống đó có thể tồn tại mãi cho đến khi Trung Cộng biệt lập từ thế giới, nhưng những người kế tục Mao đã tìm cách mở cửa ra thế giới bên ngoài. Khi một quốc gia trở nên hội nhập nhiều hơn với các quốc gia khác, một lực đẩy áp dụng cho toàn thế giới – chính trị, kinh tế và xã hội – cũng ảnh hưởng Trung Cộng. Tại một điểm trong tiến trình này, hệ thống bất bình thường của Mao sẽ bị bỏ rơi vì về căn bản không thích hợp với vai trò mà Trung Cộng tìm kiếm trong hệ thống quốc tế. Một thời gian ngắn, chính phủ Trung Cộng sẽ không còn khả năng để đáp ứng với các thách thức của một xã hội mở rộng và năng động”.

Trung Cộng không đổ như Gordon Chang đoán.

Thận trọng hơn Gordon Chang, công ty Strafor, một công ty thông tin tình báo chiến lược toàn cầu hiện do George Friedman làm Chủ tịch Chấp hành, trong Dự đoán Thập niên công bố ngày 21 tháng Giêng, 2010 cho rằng nền kinh tế Trung Cộng sẽ đổ trong vòng 10 năm tới. Trả lời thay mặt cho Strafor, Peter Zeihan, phó chủ tịch công ty, giải thích lý do: “Chúng tôi đã phân tích vấn đề này trước đây về một hệ thống kinh tế Trung Quốc bất ổn và chúng tôi nghĩ sự bất ổn đó đạt điểm vỡ khi các mâu thuẫn nội tại của Trung Quốc bùng ra và tan nát”.

Bước vào năm thứ năm của thập niên, Trung Cộng vẫn chưa đổ theo ước tính của Strafor.

Tuy nhiên, dù không xảy ra như Gordon Chang dự đoán hay chưa xảy ra như Strafor ước tính, cả hai và rất đông các nhà phân tích kinh tế chính trị, đều có một nhận xét căn bản rất giống nhau rằng Trung Cộng sớm muộn cũng sẽ đổ vì phải đương đầu với những khó khăn không thể vượt qua.

Những vấn đề của Trung Cộng

Dân số già nua

Dân số tại các quốc gia tiên tiến có khuynh hướng tăng chậm và điều này có nghĩa tỉ lệ người cao tuổi ngày tăng cao so với thế hệ vừa sanh. Thế nhưng, tại Trung Cộng mức độ chênh lệch đó cao nhất trên thế giới. Giai đoạn hòa bình sau năm 1949 với chính sách kiểm soát dân số còn tương đối lỏng lẻo là cơ hội cho một số rất đông dân được sinh ra. Lớp người này sau đó trở thành lực lượng lao động chính trong giai đoạn hội nhập vào thế giới đầu thập niên 1980, giúp thúc đẩy nền kinh tế và giữ chi phí y tế an sinh xã hội thấp. Người dân trong giai đoạn này làm nhiều nhưng tiêu ít. Điều kiện đó đang bị đảo ngược. Hiện nay Trung Cộng là xã hội tiêu thụ nhưng có ít trẻ con hơn người già.

Theo ước tính của đề án PewResearch Global Attitues Project, năm 2050 Trung Cộng sẽ chỉ tăng 25 triệu so với 400 triệu của Ấn Độ. Các phân tích dân số ước tính Trung Cộng đang trở nên quốc gia không chỉ già nhất thế giới mà còn già nhanh nhất thế giới. Trong thời gian vài năm nữa, Trung Cộng sẽ là viện dưỡng lão khổng lồ. Một quốc gia già nua có nghĩa các chi phí an sinh xã hội, dịch vụ y tế cũng gia tăng một cách tương ứng và là một gánh nặng không chịu nổi cho đất nước 1.4 tỉ dân. Lực lượng lao động phần lớn được dùng trong giai đoạn sản xuất dây chuyền, thiếu sáng tạo kỹ nghệ mang tính tiên tiến và khai phá. Phần lớn hàng hóa, dù tiêu dùng hay kỹ thuật cao cấp cũng được phát minh, sáng chế từ nước khác.

Tham nhũng

Tham nhũng xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới nhưng tại các nước do đảng CS cai trị tham nhũng không chỉ trầm trọng mà còn có tính đảng.

Gọi là tính đảng bởi vì tình trạng tham nhũng phát sinh ngay trong lòng cơ chế chính trị, do cơ chế nuôi dưỡng, tràn lan sang các bộ phận của hệ thống và dần dần làm hư thối toàn xã hội. Từ Giang Trạch Dân đến Hồ Cẩm Đào đều đưa mục tiêu chống tham nhũng lên hàng đầu nhưng cả hai đều biết tham nhũng sẽ tồn tại cùng với sự tồn tại của đảng CS. Các chương trình chống tham nhũng “đầu voi đuôi chuột” được phát động ồn ào và đầu hàng chỉ sau 18 tháng. Lý do, bịnh ung thư tham nhũng lan quá rộng và quá sâu đến các bộ phận sinh tử của đất nước, nhất là trong quân đội.

Sự phân cách giàu nghèo xảy ra tại hầu hết các nước phát triển, trong đó, một vài phần trăm người dân sở hữu một nguồn lớn của cải xã hội. Tại Trung Cộng, chỉ một phần trăm trong tổng số trên một tỉ người sở hữu 40 phần trăm của cải. Điều khác giữa Trung Cộng và các quốc gia tư bản là số tài sản mà một phần trăm nắm giữ tại Trung Cộng là do tham ô, hủ hóa, là máu xương, mồ hôi nước mắt của người dân làm ra.

Thiếu tính chính danh lãnh đạo đất nước

Theo tác giả Ross Terrill trong tác phẩm The New Chinese Empire tại Trung Cộng chủ quyền của con người không tồn tại ngay cả trong lý thuyết chứ đừng nói chi là thực tế. Mọi quyền hạn đều tập trung trong tay đảng nhưng không ai bầu đảng CS, không ai trao cho đảng quyền lãnh đạo. Trong thời kỳ mới mở cửa, người dân tập trung xây dựng cuộc sống sau khi vừa bước ra khỏi thời tem phiếu nên có khuynh hướng chấp nhận hay không quá quan tâm đến việc ai lãnh đạo mình nhưng thái độ đó đang thay đổi nhanh chóng.

Tại Trung Cộng không có một cơ quan, đoàn thể xã hội nào mà không đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CS. Mặc dù quốc gia có nhiều ngàn tờ báo nhưng không có tờ báo nào đưa vấn đề chính sách ra bàn cãi. Khi mức độ hội nhập vào thế giới gia tăng sự bất mãn trong quần chúng đối với đảng và nhà nước CS cũng gia tăng. Theo giáo sư David Shambaugh, đại học George Washington, mức độ trấn áp hiện nay tại Trung Cộng lên cao nhất kể từ năm 1989.

Bất ổn xã hội

Theo Gini Index, tiêu chuẩn đo lường mức độ mất cân xứng trong việc phân phối lợi tức gia đình, Trung Cộng là một trong số mười phần trăm mất cân xứng nhất trên thế giới. Hiện nay các sinh viên tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm tốt như các thế hệ sinh viên trước đây.

Các thành phần giàu có đang tìm cách chuyển tiền ra nước ngoài để mua tài sản cố định và tìm cách định cư. Theo thống kê của Shanghai ‘s Hurun Research Institue thực hiện vào tháng Giêng, 2014, có đến 64 phần trăm trong số 393 người giàu có được thăm dò đang tính hay sẽ tính di chuyển ra nước ngoài. Mỗi năm tại Trung Cộng có 200 ngàn cuộc biểu tình trong các mức độ và hình thức khác nhau, từ những cuộc biểu tình đẫm máu ở Tây Tạng, Xinjiang cho đến các đình công nhỏ trong các công ty.

Xã hội bưng bít Trung Cộng không thể thích nghi với thế giới luôn đổi thay và sinh động. Các chính sách tự diễn biến trong suốt 25 năm qua của các lãnh đạo Trung Cộng đều có tính cách chiến thuật, phòng thủ, vá víu từng giai đoạn. Trung Cộng gặp ít nhiều may mắn về cung ứng hàng hóa rẻ cho thị trường thế giới trong giai đoạn đầu của toàn cầu hóa nhưng về lâu dài khi mức cung cầu được bão hòa, mức độ phát triển kinh tế sẽ chậm lại. Các lãnh đạo Trung Cộng biết điều đó nhưng biết là một chuyện mà vượt qua được hay không là chuyện khác. Đổi mới quá xa Trung Cộng sẽ trở thành Liên Xô năm 1991 mà không đổi mới cách mạng cũng sẽ bùng vở từ trong lòng quần chúng.

Ô nhiễm

Đây là lãnh vực mà Trung Cộng giữ kỷ lục hàng đầu thế giới trong nhiều năm chưa có đối thủ tranh giành được. Điều kiện an toàn hầm mỏ, Trung Cộng cũng được vào mức tệ hại nhất thế giới. Nước, không khí, kỹ nghệ bị ô nhiễm là nguồn của các bịnh ung thư và các bịnh liên quan đến bộ phận hô hấp. Tuy che đậy, chính phủ Trung Cộng phải thừa nhận 70% sông, hồ bị ô nhiễm. Năm 2007, World Bank trong một tổng kết đã tố cáo tình trạng ô nhiễm tại Trung Cộng là lý do cho 760 ngàn trẻ em chết non và các bệnh hô hấp khác.

Hai tác giả Joseph Kahn và Jim Yardley của New York Times trong bài điều tra năm 2007 cho rằng tình trạng ô nhiễm đe dọa vai trò lãnh đạo của đảng CSTQ. Cũng theo bài điều tra này, 500 triệu người dân Trung Quốc không có nước uống an toàn vệ sinh. Chỉ vỏn vẹn 1 phần trăm dân chúng thở không khí với mức độ trong lành tương tự như một người dân Âu Châu thở. Đảng và nhà nước CSTQ công bố hàng loạt các chương trình bảo vệ môi trường nhưng không đạt kết quả bởi vì người dân không có quyền góp ý và báo chí không được phép phê bình.

Chủ trương của Mỹ trước viễn ảnh Trung Cộng đổ: một chính sách hai phương cách (dual-track policy)

Vì có nhiều ẩn số chưa giải đáp nên không ai có thể có một câu trả lời dứt khoát Trung Cộng sẽ chuyển hóa qua tự do dân chủ trong hòa bình hay sẽ trở thành một hay nhiều nước tự do sau một cuộc chiến tranh đẫm máu. Để đáp ứng cả hai tình huống, Mỹ áp dụng một chính sách hai phương cách (dual-track policy) đối với Trung Cộng.

Giáo sư Aaron L. Friedberg, thuộc đại học Princeton và nguyên Phụ tá An ninh Quốc gia tại văn phòng Phó Tổng Thống vào năm 2005, giải thích chính sách này gồm hai mặt: vừa hợp tác xuyên qua ngoại giao, mậu dịch, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục nhưng đồng thời cũng tăng cường quân sự để đáp ứng với sự gia tăng quân sự của Trung Cộng trong vùng Đông Á qua các hợp tác quân sự với Úc, Nhật, Nam Hàn và Philippines.

Khả năng tốt đẹp nhất cho Mỹ và nhân loại là thông qua mậu dịch và hợp tác, Mỹ sẽ thúc đẩy Trung Cộng từng bước chuyển hóa sang xã hội tự do. Tuy nhiên, sau mấy chục năm theo đuổi từ Nixon đến Obama, mục đích giải phóng chính trị trong hòa bình cho Trung Cộng ngày càng xa thêm.

Sự thất bại của chủ trương một chính sách hai phương cách (dual-track policy)

Chủ trương chính sách hai phương cách (dual-track policy) với Trung Cộng đã chứng tỏ không thành công. Mặc dù không công khai tuyên bố, mục đích của Trung Cộng là làm bá chủ biển Đông, và điều đó đi ngược lại quyền lợi tối quan trọng của Mỹ và đông minh tại Á Châu.

Về mặt đối nội, cải cách chính trị sẽ diễn ra tại Trung Cộng trước mắt cũng như lâu dài. Kinh nghiệm đổi mới tại Liên Xô trước năm 1991 cho lãnh đạo CSTQ biết đổi mới quá đà sẽ dẫn đến những phản ứng xã hội ngoài tầm kiểm soát của đảng.

Về mặt bang giao quốc tế, Trung Cộng không hành xử với tư cách một cường quốc có trách nhiệm, cụ thể qua việc Bắc Hàn thử nghiệm hỏa tiễn tầm xa và việc Iran thí nghiệm nguyên tử. Ngoài ra, trong lúc Mỹ cắt giảm ngân sách quốc phòng, Trung Cộng lại gia tăng với mục đích nắm phần ưu thế, ít nhất tại vùng Đông Á Châu. Lãnh đạo Trung Cộng mặc dù mạnh về kinh tế nhưng luôn sống trong nỗi bất an bị Mỹ bao vây và lật đổ.

Cách mạng bạo động

Lịch sử Trung Quốc cho thấy rất ít khi một biến cố chính trị diễn ra trong êm đẹp. Khả năng rất thấp cho một cuộc cách mạng nhung, cách mạng da cam, hoa lài diễn ra tại Trung Cộng. Cách mạng tại Trung Cộng sẽ là cách mạng máu. Vũ khí của giới cầm quyền dù có hiện đại bao nhiêu cũng không thể ngăn chận được sức mạnh của toàn dân khi họ đã quyết tâm đứng dậy.

Một yếu tố mà lãnh đạo Trung Cộng không dự đoán được là sự phẩn uất bùng nổ của 1.4 tỉ dân. “Năm nọc độc” như bộ máy tuyên truyền Trung Cộng gọi gồm Đài Loan, Tây Tạng ly khai, thiểu số Uighurs, Falun Gong, các nhà tranh đấu dân chủ, trong đó bốn “nọc độc” nằm ngay trong lục địa và sẽ trở thành lực lượng quyết định số phận của đảng CSTQ.

Mặc dù phong trào CS trên phạm vi thế giới không còn tồn tại, sự cách ngăn về ý thức hệ giữa Mỹ và Trung Cộng quá lớn để đặt qua một bên bởi vì ý thức hệ ảnh hưởng đến sự tin tưởng giữa hai chính phủ. Điều rõ ràng rằng nếu Trung Cộng là một quốc gia dân chủ, sự xung đột quyền lợi sẽ không trầm trọng như xung đột giữa Mỹ dân chủ tự do và Trung Quốc độc tài CS. Khi cách mạng bùng nổ, Mỹ và Tây Phương, vị lợi ích kinh tế chính trị, sẽ ủng hộ các lực lượng dân chủ.

Phản ứng của lãnh đạo Trung Cộng trước thời điểm đổ

Sinh mạng của chế độ CSTQ gắn liền với phát triển kinh tế. Từ 1980 đến 2011 nền kinh tế Trung Cộng tăng trưởng trung bình 10 phần trăm mỗi năm. Mức phát triển đó không bao giờ trở lại. Nhà phân tích Bob David của tờ The Wall Street Journal nhận định trong mười năm tới kinh tế Trung Cộng chỉ phát triển từ 3.9 phần trăm. Một số nhà phân tích khác bi quan hơn khi cho rằng kinh tế Trung Cộng chỉ tăng 1.6 đến 1.7 phần trăm. Mức phát triển đó là một mức chậm tại các nước kỹ nghệ nhưng là một tai họa nếu xảy ra tại Trung Cộng.

Điều gì sẽ xảy ra? Trung Cộng theo lý thuyết buộc sẽ giảm cường độ các xung đột và tranh chấp với các nước láng giềng để tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ. Tuy nhiên, theo Andy Morimoto phân tích trong Can China Fall Peacefully? đăng trong The National Interest ngày 19 tháng 11, 2014, lúc đó Trung Cộng sẽ phát động chiến tranh để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo của đảng CS.

Bằng chứng, trong thập niên 1950, Trung Cộng thay vì tập trung tái thiết kinh tế sau cuộc chiến tranh dài, đã phát động chiến tranh Triều Tiên để củng cố vai trò của đảng. “Sự xúi dục của nước ngoài” thường là bình phong để thanh trừng nội bộ đảng. Edward Wong, sử gia về Trung Quốc, trên New York Times ngày 11 tháng 11, 2014 trong bình luận In New China, ‘Hostile’ West Is Still Derided, Tập Cận Bình trong khi trải thảm đỏ chào đón TT Mỹ Barack Obama, cùng lúc đã ca ngợi blogger Zhou Xiaoping như có “tinh thần tích cực” vì blogger này đã viết bài chống Mỹ.

Cũng theo Andy Morimoto, làm việc tại Hội Đồng Chicago Về Các Vấn Đề Thế Giới, “viễn ảnh hòa bình tại Á Châu không nhiều hứa hẹn” và ông đề nghị chính phủ Mỹ thay vì dùng hai phương cách nên tập trung vào việc tăng cường quân sự tại Á Châu bởi vì tiên đoán hợp lý nhất vẫn là chiến tranh sẽ bùng nổ trong tương lai.

Lối thoát của Việt Nam

Để giới hạn hay giảm nhẹ mức ảnh hưởng của chiến tranh, chọn lựa duy nhất của Việt Nam là phải thoát ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng trước khi Trung Cộng đổ. Không có cánh cửa nào khác hơn là dân chủ. Tuy nhiên lãnh đạo CS Việt Nam không có khả năng đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng bằng con đường dân chủ.

Stalin, trong buổi họp với Mao và Hồ Chí Minh tại Moscow giữa tháng Giêng 1950, đã phó thác sinh mạng CSVN vào tay Trung Cộng. Từ đó, CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng không chỉ phương tiện chiến tranh, kinh tế, quốc phòng, hệ ý thức, cơ sở lý luận mà cả cách nói, cách ăn, cách mặc. Đọc các tài liệu quốc tế trong thời kỳ chống Pháp để thấy Mao gần như đơn phương quyết định mọi hoạt động quân sự của Việt Minh kể cả việc chọn ngày, chọn tháng cần phải chiếm cho được Điện Biên Phủ. Máu xương của bao thanh niên Việt Nam đổ xuống trong chiến tranh chống Pháp trong hàng ngũ Việt Minh có thể phát xuất từ lòng yêu nước chân thành nhưng đã bị CSVN và CS quốc tế lợi dụng từng nắm xương, từng giọt máu.

Và hôm nay, Trung Cộng là mảnh ván duy nhất còn lại để lãnh đạo CSVN bám vào. Dù thỉnh thoảng vẫn giả giọng hát bài ca yêu nước, thương dân, lãnh đạo CS biết không có mảnh ván Trung Cộng, chế độ CSVN sẽ chìm. Chọn lựa duy nhất cho một Việt Nam dân chủ vẫn thuộc về các thành phần Việt Nam yêu nước và không Cộng Sản.

Bài học Latvia độc lập dân chủ trước khi Liên Xô đổ

Latvia là quốc gia nhỏ, hiện theo thể chế Cộng Hòa vùng Baltic, thủ đô Riga, có dân số thống kê năm 2010 là 2 triệu người, có chung biên giới với Estonia, Lithuania, Belarus và Nga. Latvia độc lập năm 1918, nhưng bị Liên Xô chiếm năm 1940, bị Đức Quốc Xã chiếm năm 1941, bị Liên Xô chiếm lần nữa năm 1944 và sau đó trở thành nước CS trong hệ thống Liên Xô mãi cho đến khi chính thức độc lập năm 1991. Trước khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, Latvia là quốc gia có mức phát triển kinh tế nhanh nhất Châu Âu. GPD trên đầu người năm 2013 của Latvia là 15,375 đô la. Hiện nay, Latvia hội viên của NATO, Liên Hiệp Châu Âu (EU), WTO, UN, IMF và nhiều tổ chức quốc tế khác.

Bằng việc chấp nhận Tuyên Bố về Tái Lập Nền Độc Lập của Cộng Hòa Latvia (The Declaration on Restoration of Independence of the Republic of Latvia), Latvia chính thức thoát ra khỏi quỹ đạo Liên Xô ngày 4 tháng 5 năm 1990, hơn một năm rưỡi trước khi Liên Xô đổ.

Lãnh đạo của nền cộng hòa Latvia khẳng định họ không phải là một nước cộng hòa tân lập mà kế tục chế độ cộng hòa được thành lập từ 1918. Mặc dù đại đa số thành viên bỏ phiếu hay chấp nhận bản tuyên bố chưa sinh ra trong giai đoạn lịch sử 71 năm trước đó, họ biết rằng lịch sử Latvia là một giòng sông, có lúc êm đềm, có khi gềnh thác nhưng liên tục chảy. Giọt nước Latvia của thời điểm 1990 đã bắt đầu từ thượng nguồn Latvia năm 1918 đầy hy sinh gian khổ qua tay Hitler và Stalin, hai lãnh tụ độc tài tàn ác nhất trong lịch sử loài người.

Mặc dù hiện nay Latvia có nhiều đảng, tổ chức chính trị nhưng trong thời điểm 1990, các lãnh đạo phong trào dân chủ Latvia theo đuổi các mục tiêu hết sức cụ thể và sáng suốt:

(1). Tập trung mọi thành phần dân tộc dưới một mặt trận duy nhất là Phong Trào Dân Tộc Latvia (Latvian People’s Front) nhằm theo đuổi chỉ một mục tiêu là loại bỏ chế độ CS tại Latvia và thoát khỏi quỹ đạo Moscow.

(2). Kế tục nền Cộng Hòa đã ra đời năm 1918 thay vì thành lập quốc gia mới.

(3). Dứt khoát đứng về phía Tây Phương dân chủ ngay từ ngày đầu tuyên bố độc lập để sau đó được trở thành hội viên của Liên Hiệp Âu Châu (European Union) và thành viên của NATO.

(4). Vận dụng nhưng không bị gạt gẫm trước mọi cải tổ kinh tế chính trị của Mikhail Gorbachev.

(5). Từ chối đề nghị của Boris Yeltsin tham gia vào Khối Thịnh Vượng chung cùng với 11 quốc gia cựu Liên Xô trong hội nghị tại Kazakhstan để rồi khối này bị cuốn vào vòng kiểm soát của Nga cho đến hôm nay.

Trong số 138 đại biểu bỏ phiếu chấp thuận bản Tuyên Bố về Tái Lập Nền Độc Lập của Cộng Hòa Latvia buổi sáng ngày 3 tháng 5 năm 1990 không phải đều có một quá khứ giống nhau nhưng cùng chia sẻ một ước vọng tương lai tươi đẹp cho dân tộc họ. Dân số Latvia chỉ vỏn vẹn 2 triệu người nhưng đã thắng Liên Xô hùng mạnh gấp ngàn lần hơn bởi vì không có sức mạnh nào mạnh hơn sức mạnh của đoàn kết dân tộc.

Mọi chế độc chà đạp lên quyền con người sớm hay muộn đều phải đổ. Ismail Enver Pasha của Ottoman, Hitler của Đức Quốc Xã, Lenin, Stalin và các lãnh đạo CS Liên Xô, Mengistu Haile Mariam của Ethiopia v.v.. đã đổ, các quốc gia toàn trị còn lại như Trung Cộng, CSVN rồi cũng sẽ phải đổ. Một người yêu nước, khôn ngoan, thức thời là người biết chọn một chỗ đứng, một hướng đi về phía dân tộc để tranh đấu và nếu cần để chết vì tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng cho con cháu mai sau.

Trần Trung Đạo

Tham khảo:
1. Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Woodrow Wilson International Center for Scholar, 2002
2. Jung Chang and Jon Halliday, Mao: The Unknown Story, Anchor Books, November 14, 2006
3. Gordon Chang, The Coming Collapse of China. Author Q&A, why will China Collapse?
4. STRATFOR’S TOP PREDICTIONS FOR THE NEXT DECADE: China Collapse, Global Labor Shortages, New American Dominance.(http://www.businessinsider.com/stratfor-predictions-for-the-next-decade-2010-1)
5. Aging in the U.S. and Other Countries, 2010 to 2050(http://www.pewglobal.org/2014/01/30/chapter-2-aging-in-the-u-s-and-other-countries-2010-to-2050/)
6. David Shambaugh, China at the Crossroads: Ten Major Reform Challenges, George Washington University, October 1 2014(http://www.brookings.edu/~/media/research/files/papers/2014/10/01%20china%20crossroads%20reform%20challenges%20shambaugh%20b.pdf)
7. Pollution in China, Wikipedia.org
8. Steven Metz, U.S. Military Must Prepare for China’s Rise—and Fall , World Politics review, April 23, 2014
9. Bucking Beijing, An Alternative U.S. China Policy (http://www.foreignaffairs.com/articles/138032/aaron-l-friedberg/bucking-beijing)
10. Chinese Military , The Lowy Institute.(http://www.lowyinstitute.org/issues/chinese-military)
11. In New China, ‘Hostile’ West Is Still Derided(http://www.nytimes.com/2014/11/12/world/asia/china-turns-up-the-rhetoric-against-the-west.html?_r=0)
12. List of countries by military expenditures(http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_military_expenditures)
13. How Democracy is Latvia, Commission of Strategic Analysis, Latvijas Universitate, 2005(http://www.szf.lu.lv/fileadmin/user_upload/szf_faili/Petnieciba/sppi/demokratija/Demokrat_en.pdf)
14. On the Restoration of Independence of the Republic of Latvia(http://en.wikipedia.org/wiki/On_the_Restoration_of_Independence_of_the_Republic_of_Latvia)
15. Latvia 1990-2010 Twenty years of independence(http://latvianhistory.com/2010/05/05/latvia-the-20-years-of-indep/)

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►TẠI SAO NƯỚC TÀU BỊ TỤT HẬU ?

Posted by hoangtran204 on 13/12/2014

TẠI SAO NƯỚC TÀU BỊ TỤT HẬU ?

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

09-12-2014

Gần đây, theo Bản Tường trình của Quỹ Tiền tệ Thế giới, tháng 10/2014, thì Tổng sản lượng quốc gia của Trung cộng, tính theo khả năng mua bán, đã vượt qua Hoa kỳ, Trung cộng là 17632 tỷ $, Hoa kỳ là 17416 tỷ $. Tuy nhiên theo nhiều nhà kinh tế và chuyên viên thì Trung cộng vẫn bị liệt vào hàng các quốc gia kém phát triển, nếu không muốn nói là chậm tiến, do nhiều lý do, vì sản lượng tính theo đầu người hàng năm, thì Trung cộng mới chỉ bằng 1/5 Hoa kỳ, và còn thua nhiều nước khác.

Thật vậy, kinh tế Trung cộng ngày một chậm lại, không ở mức độ tăng trưởng như trước đây, với 2 con số, nay chỉ còn một, mặc dầu mức sản xuất cao, nhưng hoàn toàn vay mượn kỹ thuật ngoại quốc, thiếu sáng kiến, trong 100 hãng xưởng sáng chế hàng đầu thế giới, Mỹ chiếm hàng đầu với 40 hãng, Trung cộng không có hãng nào (Theo Reuters). Trung cộng chỉ làm gia công, qua những công trình dự án hợp tác với các nước khác. Lý do là Tàu độc đảng, cổ điển, không dám nghĩ ngoài khuôn khổ, mất hết ý chí sáng tạo mà dân tộc Tàu đã có trước đây.

Nếu nhìn vào bảng những phát minh sáng kiến của nhân loại từ trước tới giờ, thì dân Tàu đóng góp không nhỏ, như đã sáng chế ra giấy, kỹ thuật in, địa bàn và thuốc súng. Tuy nhiên những phát minh sáng kiến này đã ngừng vào năm 1000, thế kỷ thứ 11, thời Bắc Tống (916 – 1125), trong khi đó thì thế giới nhất là tây phương, tiếp tục có những phát minh sáng kiến mới, làm cho nước Tàu trở nên tụt hậu.

Từ ngày Đặng tiểu Bình chủ trương canh tân kinh tế tới nay đã được gần 40 năm, không ai chối cãi rằng kinh tế Trung cộng tăng trưởng rất mạnh, nhưng nói về mặt khoa học kỹ thuật, thì vẫn chưa có một sáng chế nào mang danh hiệu quốc tế, như hãng Samsung, Huyndai của Nam Hàn.

Trong một cuộc chạy đua, khi anh chạy chậm hơn người khác, cũng có nghĩa là anh lùi và tụt hậu so với những người chạy nhanh hơn anh.

Để cắt nghĩa hiện tượng lùi và tụt hậu của Tàu, có người dựa vào bảng thống kê những phát minh của nhân loại từ lúc đầu cho tới ngày hôm nay, và kết án 4 chế độ cận đại của Tàu: nhà Nguyên (1279 – 1368), nhà Minh (1368 – 1644), nhà Thanh (1644 – 1911), và chế độ cộng sản từ 1949 tới nay, vì từ 4 chế độ này, Tàu không còn phát minh sáng kiến nào.

Theo quan niệm này vai trò chế độ, thể chế chính trị trong việc phát triển con người nói chung và trong việc phát triển khoa học kỹ thuật nói riêng được đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh.

Người xưa có câu: « Nhìn lại quá khứ, xét hiện tại, để tiên đoán tương lại. » Chúng ta hãy nhìn sơ lược lịch sử cận đại Tàu, xét hiện tại Trung cộng, rồi đưa ra những giả thuyết về tương lai, để tìm câu trả lời.

Bà Magaret Thatcher, Thủ tướng Anh từ năm 1979 đến năm 1990, theo trường phái Tự do kinh tế, chủ trương chính thể tự do, dân chủ và kinh tế thị trường, có viết một quyển sách mang tựa đề « Statecraft – Strategies for a changing world » ( Cách trị quốc – Chiến lược để thay đổi thế giới ), theo đó thì để có thể giới tốt đẹp, chỉ có con đường duy nhất là theo thể chế tự do, dân chủ, kinh tế tự do thị trường. Để dẫn chứng bà đã đưa ra 2 cột so sánh về tổng sản lượng quốc gia, thì những nước chậm tiến hay còn thiếu phát triển, phần lớn là những nước độc tài, còn những nước phát triển là những nước dân chủ.

Từ đó, để cắt nghĩa tình trạng thiếu phát triển, tụt hậu của Trung cộng hiện nay, nhất là dựa vào bảng thống kê những phát minh sáng kiến của nhân loại, nhiều người cho rằng đó là vì Trung cộng bị đắm chìm trong chế độ quân chủ độc tài, ngay cả hôm nay với chế độ cộng sản.

Sở dĩ có quan niệm này, vì nhìn vào lịch sử nước Tàu, lấy đời nhà Tống, Bắc Tống (916 – 1125) làm mốc thời gian, thì trước đó, nước Tàu có nhiều đóng góp quan trọng cho lịch sử văn minh nhân loại, nhưng sau đó thì không. Chẳng hạn năm 105, đời nhà Hán, phát minh ra giấy, năm 680, cuối đời nhà Tùy, bước sang nhà Đường, phát minh ra kỹ thuật in, năm 1000, thời Bắc Tống, phát minh ra địa bàn và thuốc súng. Thế rồi từ đó, cho tới nay với thời cộng sản, trải qua nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh, nước Tàu không có một phát minh sáng kiến nào.

Trong khi đó thì Tây phương, năm 1210 phát minh ra bánh tay lái, năm 1712 ra máy hơi nước, 1733 ra máy dệt, năm 1804 tàu xe điện, 1876 ra điện thoại, 1886 xe hơi, năm 1903 ra máy bay v.v…

Có người đi xa hơn cho rằng nước Tàu bị tụt hậu là vì vẫn còn ở trong nền văn minh định cư nông nghiệp, trong khi thế giới đã chuyển qua văn minh tri thức điện tóan.

Một điều lầm lẫn to lớn của những nhà tư tưởng đông phương là cho rằng đông phương thua tây phương chỉ trong lãnh vực khoa học kỹ thuật.

Không phải thế.

Đông phương thua tây phương còn ở trong lãnh vực triết lý, tư tưởng, nhất là trên phương diện làm thế nào để tổ chức một xã hội có thể dung hòa quyền lợi tư nhân (intérêt privé) và quyền lợi tập thể ( intérêt public), điều này đã được Socrate ( -470 – 399 trước tây lịch), Platon ( -428 – 348 ttl) thảo luận rất kỹ. Trong khi đó ở đông phương, đặc biệt là Tàu, với Lão Tử sống cũng vào thế kỷ thứ 5, thứ 6 trước tây lịch, Khổng Tử (551 – 479 ttl), cũng có thể gọi là những người cùng thời. Lão tử thì chủ trương xuất thế, không màng đến sự can thiệp và cải cách xã hội. Ông cho rằng con người cần sống hòa hợp với thiên nhiên và tạo hóa, tuân theo quy luật của thiên nhiên, càng ít can thiệp vào việc đời thì xã hội theo lẽ tự nhiên sẽ hài hòa hơn. Khổng tử thì chủ trương nhập thế, nhưng không chú ý đến sự hổ tương giữa xã hội và cá nhân, đã hy sinh quyền lợi cá nhân, riêng tư cho gia đình, cho tập thể và xã hội, con người sinh ra có trách nhiệm là để phục vụ gia đình và xã hội, chứ không được quyền hưởng hạnh phúc cá nhân. Chính điều này đã làm cho xã hội Tàu mất quân bình và dễ bị những chính quyền độc tài lợi dụng.

Đến thế kỷ thứ 17 và 18, thì tây phương hơn hẳn đông phương trên phương diện văn hóa, triết lý chính trị, làm thế nào để tổ chức một xã hội hài hòa, một xã hội dân chủ, tam quyền phân lập rõ ràng qua những triết gia như Lock (1632 – 1704) với quyển sách (Traité sur le Gouvernement civil) (1690), Bàn về Chính quyền dân sự; J.J. Rouseau (1712 – 1778) với quyển (Contrat social ), Khế ước dân xã; Montesquieu (1689 – 1755) với ( Esprit de Lois), Tinh thần luật pháp, bàn về sự phân quyền rõ rệt trong một chính quyền dân chủ, cùng nhiều nhà triết gia, tư tưởng khác.

Thế rồi cuộc Cách mạng Độc lập Hoa kỳ 1776, rồi cuộc Cách mạng Dân chủ Pháp 1789, đã làm cho phương tây bùng nổ, phát triển không những về khoa học kỹ thuật, mà còn về phương diện tổ chức xã hội chính trị, tạo môi trường và cơ hội cho nhân tài thi thố khả năng.

Trong khi đó thì đông phương, đặc biệt Tàu và Việt Nam vẫn lùng thùng trong tư tưởng và cách tổ chức xã hội quân chủ phong kiến, và có thể nói cho tới ngày hôm nay, vì chế độ cộng sản chỉ là mặt trái của chế độ quân chủ.

Nếu chúng ta nhìn thật xa về văn hóa, văn minh, theo một số nhà sử học và nhân chủng học, thì nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: giai đoạn đầu là văn minh trẩy hái, mà mô hình tổ chức nhân xã là chế độ gia tộc; thứ hai là văn minh du mục, vì cây trái và xúc vật chung quanh hang động của mình cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để kiếm ăn, mô hình tổ chức nhân xã thời đại này là chế độ bộ lạc; nhưng rồi đi xa, thức ăn cũng khan hiếm, con người phải trồng trọt và nuôi xúc vật để sinh sống, nó bước sang nền văn minh định cư nông nghiệp, mà mô hình tổ chức nhân xã là chế độ quân chủ, lúc đầu là quân chủ phong kiến tản quyền, sau đó là quân chủ tập quyền, với nền văn minh này, con người đã có thể thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của nó, và một khi những nhu cầu thiết yếu được thỏa mãn, con người quay sang những nhu cầu xa xỉ, như ăn không phải chỉ cần no, mà còn cần phải ngon, có gia vị, mặc không chỉ cần ấm, mà cần đẹp, dệt được vải mặc, nhưng muốn mặc lụa, nên họ đã trao đổi với người dệt lụa, trồng được lúa mì, nhưng muốn ăn lúa mạch, nên đã trao đổi với người có lúa mạch. Con đường trao đổi Tơ lụa và Gia vị đông tây của nhân loại xuất hiện là thế. Con người bước sang hình thức văn minh thương mại, rồi với những phát minh sáng kiến, điện thoại, internet v.v…con người không cần đi xa để trao đổi, mà chỉ cần ngồi một chỗ cũng có thể trao đổi. Con người bước sang hình thức văn minh tri thức, điện tóan.

Tại sao lại là tri thức, vì vào 3 nền văn minh đầu, lao động trong kinh tế, chủ yếu chính là sức mạnh bắp thịt chân tay, nhưng khi bước sang 2 nền văn minh sau, sức mạnh lao động chủ yếu là trí óc, để phát minh sáng kiến. Nước nào có một đội ngũ chuyên gia đông và giỏi, nước đó sẽ làm chủ.

Để phát minh sáng kiến, con người cần có trao đổi. Nói theo Socrate: « Nơi nào có trao đổi, đối thoại, nơi đó có tiến bộ và dân chủ. » Chính vì vậy mà mô hình tổ chức nhân xã của 2 nền văn minh sau là chế độ tự do, dân chủ và kinh tế thị trường.

Trở về với Tàu, nước này đã có nền văn minh định cư nông nghiệp rất sớm, từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế, vì theo truyền thuyết, thì những vị này đã dạy dân trồng trọt, sau đó bước sang đời nhà Trụ, rồi tới nhà Chu ( 1134 – 770 ttl), rồi thời Xuân thu Chiến quốc ( 722 – 256 ttl). Vào thời này, đã có những tính toán, ý định định đưa nước Tàu từ văn minh định cư nông nghiệp sang thương mại, như vào thời Xuân thu – Chiến quốc, nước Tề của Quản di Ngô đã phát triển thương mại qua việc buôn bán muối, quặng sắt và ngay cả phá lệ thường bằng cách mở những thanh lâu để kiếm tiền. Các vị tú bà thờ thần Bạch mi chính là thờ Quản Trọng. Hay như với thời Lã bất Vi, một doanh thương giầu có nước Triệu. Một hôm ông hỏi cha ông: thưa cha, làm nghề nông, phát đạt gấp mấy lần ? – Gấp ba. Nghề buôn bán? – Gấp 10, nhất là buôn bán vàng, gấp 100. Nhưng buôn bán người để làm quan ? – Gấp không biết bao nhiêu lần, nếu thành công.

Tuy nhiên một Quản trọng, một Lã bất Vi không thể thay đổi được cục diện, vì đầu óc tôn quân dưới chế độ phong kiến của dân Tàu quá nặng nề và kéo dài cho mãi tới hôm nay. Nên nước Tàu lại trở lại thời kỳ quân chủ, nhất là quân chủ tập trung với Tần Thủy Hoàng đời Tần (221 – 206 ttl), về chính trị, quân sự, hành chánh, nhưng về ý thức hệ, giáo dục, xã hội, phải đợi đến thời vua Hán Vũ Đế (140 – 87 ttl) nhà Hán mới hoàn chỉnh và kéo dài cho tới bây giờ.

Ngày hôm nay, Tập cận Bình lên ngôi, lại trở về chính sách « ngăn sông, cấm chợ, bế quan tỏa cảng » trong lãnh vực tư tưởng và chính trị, trở về mô hình tổ chức nhân xã thời quân chủ, độc quyền cá nhân, độc đảng. Ông cho rằng các tư tưởng bên ngoài sẽ thách thức hệ thống chính trị, sói mòn sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Trung quốc. Do đó Bắc Kinh ra lệnh cấm nghiên cứu và giảng dạy bảy chủ đề: các giá trị phổ quát, xã hội dân sự, quyền công dân, tự do báo chí, những sai lầm của Đảng Cộng sản, quyền ngôn luận của chủ nghĩa tư bản và tính độc lập của ngành tư pháp.

Tập cận Bình còn cho luân lưu trong Đảng một tài liệu mang tên là Văn kiện số 9, gồm 7 không: « Bản văn kiện kêu gọi các đảng viên phải trung kiên xóa bỏ tự do phát biểu ý kiến , các ảnh hưởng từ nước ngoài hay bất cứ một điều gì phảng phất dân chủ, tinh thần minh bạch hay quan điểm độc lập. » ( Robert Marquand – Xi Jiping emerges as forceful nr.1 – Rewriting China‘s powerful playbook – trong The Christian Science Monitor –October/8/2014 ).

Nhằm củng cố quyền lực độc tôn của mình, ông Tập tìm cách loại bỏ những tiếng nói chính trị khác, đặc biệt là trên Internet của Trung Quốc mà một thời rất sôi động. Một luật đe dọa trừng phạt đến ba năm tù vì đăng tải bất cứ tin gì mà chính quyền cho là một “tin đồn” khi bài viết được hơn 5.000 người đọc hoặc chuyển tiếp hơn 500 lần.. Những hạn chế nầy đã làm tụt giảm 70 phần trăm bài viết trên mạng Weibo từ tháng 03/ 2012 đến tháng 12/ 2013. Sau đó người dân Tàu tìm cách sử dụng tin nhắn trên nền WeChat. Vào tháng 08/ 2014, Bắc Kinh lại ban hành quy định mới yêu cầu người sử dụng tin nhắn đăng ký tên thật của mình, hạn chế việc chia sẻ tin tức chính trị và xã hội. Trong bảng xếp hạng về tự do Internet trên toàn thế giới vào năm 2013, tổ chức phi lợi nhuận Freedom House của Mỹ đã xếp Trung Quốc hạng 58 trên 60 quốc gia, bằng với Cuba và hơn mỗi Iran.

Về đối ngoại, Tập cận Bình bề ngoài luôn tỏ ra hiếu hòa. Trong một lần phát biểu tại Paris vào tháng 3/2014 ông đã mượn câu nói của Napoleon về nước Tàu nhưng bổ túc thêm „ Trung quốc là một con sư tử đã thức dậy, nhưng đây là một con sư tử ôn hòa, thân mật và văn minh“. Ngoài miệng thì vậy nhưng chính sách ngoại giao của Tàu càng ngày càng tỏ ra hung hãn: ngoài việc chiếm Hoàng, Trường sa, cắt cáp, trấn lột, giết chóc ngư dân, kéo dàn khoan dầu vào hải phận của Việt Nam, Tàu cộng còn công bố đường Lưỡi bò chín đoạn xâm lấn hầu hết hải phận của các nước láng giềng, tranh chấp biển đảo với Nhật bản, Phi luật Tân, Nam hàn, Đài loan; mới đây còn tuyên bố thành lập „ vùng nhận dạng hàng không“ tại biển Đông chồng chéo lên vùng nhận diện của Nhật và Nam hàn.

Trong lãnh vực kinh tế, Tập cận Bình nhấn mạnh đến tự do hóa nền kinh tế thị trường, nhưng đồng thời lại muốn gia tăng sự kiểm soát kinh tế, nhất là đối với những hãng xưởng nước ngoài. Cơ quan truyền thông Trung cộng cố tình bới móc những lỗi lầm của các công ty nước ngoài và phớt lờ những sai trái của công ty bản địa. Cũng như trong chiến dịch chống tham nhũng, họ Tập cũng chỉ tấn công những đối thủ của mình nhưng lại bao che cho gia đình, dòng họ và phe cánh.

Với bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, với chính sách trị dân qua cái loa, để tuyên truyền, qua những mỹ từ, khích động lòng tự ái dân tộc, chủ nghĩa quốc gia cực đoan, qua cái còng là những ai không theo thì bỏ tù, và qua cái súng là những ai cứng đầu, chống lại thì thủ tiêu, bắn giết, Tập cận Bình có thể thành công trong ngắn hạn, nhưng dài hạn thì cần phải xuy xét kỹ.

Người ta còn nhớ vào những năm của thập niên 40, trong Thế Chiến thứ Hai, lúc này nước Anh và Đồng minh đang cần có sự tham dự của Liên sô vào thế chiến. Những văn sĩ, ký giả thường lui tới Liên sô, trong đó có ông Bernard Shaw, bạn thân của ông Georges Orwells, tác giả quyển tiểu thuyết Trại xúc vật ( Animal Farm), mà ông Paul Nitzé, cố vấn của Tổng thống Truman, lấy ý từ trong quyển sách này làm ra Chiến luợc Be Bờ ( Containment Policy), suốt trong thời Chiến tranh Lạnh. Nhà văn Bernard Shaw, có một lần phỏng vấn Staline, có hỏi ông ta và yêu cầu ông ta so sánh giữa Washington và Lénine, Staline đã kiêu hãnh trả lời: « So sánh giữa Washington và Lénine chẳng khác nào so sánh biên cả và một giọt nước. Lénine chính là biển cả, Washington chỉ là giọt nước. »

Việt nam chúng ta có câu: « Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết là người có nhân « hay « Đường dài mới biết ngựa hay «. Câu trả lời ai là giọt nước, ai là biển cả, mãi 50 năm sau, khi đế quốc cộng sản dựng lên lúc đầu bởi Lénine, bị sụp đổ, vào năm 1990, người ta mới rõ.

Thực vậy, nếu Lénine có cái nhìn xa, trông rộng như Washington, biết rằng thế giới đi theo chiều hướng tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, không xây dựng một nhà nước độc tài, không chủ trương độc đảng, tạo dựng một hiến pháp dân chủ như Washington, coi trọng quyền tự trị của các nước chung quanh, thì có lẽ nhà nước do Lénine dựng lên, không bị sụp đổ và vỡ ra nhiều mảnh.

Ngày hôm nay, Tập cận Bình cũng chỉ là lập lại cái gì chế độ quân chủ xa xưa của Tàu đã làm, lập lại cái gì gần, mà cộng sản đã làm, những điều này, trong dài hạn rất có thể sẽ dẫn đến hiện tượng chế độ cộng sản Tàu cũng sẽ sụp đổ như Liên sô, và cũng bị vỡ ra từng mảnh.

Gần đây, người ta bàn tán sôi nổi, nhất là giới trí thức cộng sản Tàu, về việc ông Tập cận Bình, muốn làm một tổng hợp tư tưởng của Mác – Lénine, Mao và truyền thống văn hóa Tàu.

Trong một bài diễn văn đọc tại Hội nghị Trung ương 4 khóa 18, vào ngày thứ hai 13/10/2014, ông tuyên bố: « Đảng Cộng sản chúng ta là đảng mác xít kiên định và tư tưởng dẫn đường của chúng ta là chủ nghĩa Marx Lénine, tư tưởng Mao trạch Đông và chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung quốc « , ông Bình nói tiếp : « Đồng thời chúng ta không phải là kẻ hư vô lịch sử và không phải là những kẻ hư vô văn hóa. Chúng ta không thể dốt nát lịch sử đất nước của mình, và chúng ta không thể coi thường bản thân.» (Xi Jinping on Exceptionalism With Chinese Characteristics by DIDI KIRSTEN TATLOW/ The New York Times).

Thực ra ý muốn và công lao của họ Tập để làm tổng hợp 2 ý thức hệ cũng chỉ là công « Dã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì. »

Không những không nên công cán gì, mà chỉ làm tụt hậu thêm nước Tàu vì những lý do sau đây:

1)   Muốn tạo nên một ý thức hệ vào thời buổi này quả là lạc hậu, lỗi thời. Theo ông Karl Popper (1902 – 1994), một triết gia, nhà tư tưởng chính trị nổi tiếng của thế kỷ 20, một người mà 2 vị Thủ tướng Đức, Helmut Schmidt và Helmut Kohl, coi quyển sách « La Société ouverte et ses ennemies « (Xã hội mở và kẻ thù của nó), như quyển sách gối đầu giường; ông Edgar Faure, Thủ tướng Pháp đã lập ra hội những người bạn của Popper. Theo K. Popper, thì: « Xã hội biến chuyển từng ngày từng giờ, nếu không nói từng phút từng giây, vì lúc nào cũng có những phát minh sáng chế mới trên đủ mọi lãnh vực. Tạo ra một ý thức hệ như Hégel và Marx ( Popper chỉ trích mạnh mẽ 2 người này – Lời Tác Giả) chẳng khác nào đóng thế giới trong một lồng kính, bắt nó không được tiến triển. »

Karl Popper được coi là một trong những người tranh đấu cho tự do, dân chủ, chống lại độc tài cộng sản và độc tài phát xít mạnh nhất trong thế kỷ 20. Thật vậy, ông sinh quán tại nước Áo, Vienne. Vào năm 20, lúc đó ông đã đi theo đảng Cộng sản Áo. Trong một cuộc biểu tình ở Vienne, ông đã chứng kiến những người trong đảng Cộng sản Áo, nổ súng giết chết một người của đảng Xã hội. Từ đó ông tự đặt câu hỏi:

« Phải chăng người ta có thể nhân danh một cái gì tốt đẹp, nhưng xa vời, để có thể giết người ? «

Rồi ông từ bỏ đảng Cộng sản. Vào đầu thập niên 30, ông phải rời nước Áo vì bị Hitler xâm chiếm. Ông là người Áo, gốc Do Thái. Ông sang dạy luận lý ở Tân tây lan, sau đó về Anh, dạy ở trường London Economic School. Ông là người rất giỏi về việc phê bình khoa học, nhất là phương pháp khoa học. Ông được Albert Einstein, cũng là bạn của ông, cho rằng ông là người giỏi nhất của thế kỷ 20 về phê bình phương pháp khoa học. Ông cũng phê bình lý thuyết của Marx. Ông cho rằng lý thuyết của Marx chỉ là mượn tiếng khoa học, nhưng chẳng khoa học gì cả. Những điều Marx viết có tính cách tiên tri, lãng mạng, nhiều hơn là khoa học.

2) Làm tổng hợp chủ nghĩa duy vật của Marx và những tư tưởng truyền thống có tính cách duy tâm của Tàu, chính là phối hợp nước với lửa, điều mà chính Marx và người cộng sản cho rằng: Có duy tâm thì không có duy vật. Có duy vật thì không có duy tâm.

Truyền thống văn hóa Tàu chủ yếu là Nho giáo, trong đó tư tưởng của Không tử là chính, đại để được thâu tóm trong cách cư xử thường ngày của con người với nhau là « Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín « ( tức lòng thương yêu lẫn nhau, lòng biết ơn nếu chúng ta được người khác nuôi nấng, giúp đỡ, phải cư xử có phép tắc, phải trau dồi sự hiểu biết, và phải giữ sự tín nhiệm).

Trong khi đó thì Marx chủ trương phá bỏ mọi truyền thống đạo đức, luân lý cổ truyền. Ông viết : « Không còn chân lý muôn thuở nữa… Bởi lẽ đó chủ nghĩa cộng sản bãi bỏ chân lý muôn thưở ; nó bãi bỏ tôn giáo và đạo đức thay vì cải cách chúng, nó đi ngược lại tất cả những phát triển lịch sử trước nó. » ( K. Marx – Le Manifeste du Parti communiste – trang 44 – Union Générale d’Editions – 1962 – Paris).

Gần hơn thì Mao tuyên bố : « Khổng tử là con chó giữ nhà cho tụi phong kiến. »; và Đặng tiểu Bình nói: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết, chỉ cần là mèo biết bắt chuột «, hô hào dân làm giầu, không coi đạo đức, nhân nghĩa, lễ trí tín là gì, miễn là có tiền. Chính vì vậy mà xã hội Tàu hiện nay tham nhũng hối lộ từ trên xuống dưới, đạo đức bị băng hoại, con người trở nên lạnh cảm, vô đạo đức.

Làm tổng hợp mô hình tổ chức nhân xã Marx Lénine, một mô hình độc đảng, độc tài với vị Tổng bí thư nắm mọi quyền hành trong tay, không còn gì là nguyên tắc dân chủ, phân quyền, với mô hình tổ chức nhân xã quân chủ, theo đó nhà Vua là thay trời trị dân; điều đó chẳng khác nào vớt 2 miếng gỗ mục, trôi dạt lênh đênh trên biển văn minh hiện đại, tri thức điện toán, đem ghép vào nhau, sớm muộn rồi cũng tan rã.

Trở về với đề tài « Tại sao nước Tàu bị tụt hậu «. Tất nhiên có rất nhiều nguyên do: nguyên do xa đó là nước này vẫn lùng thùng ở thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp với mô hình tổ chức xã hội quân chủ; nguyên nhân gần đó là những chế độ nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh, và gần nữa là chế độ cộng sản, không dám hay không muốn thoát khỏi mô hình tổ chức xã hội này.

Nếu muốn bắt kịp nền văn minh tri thức điện toán, thì dân Tàu bắt buộc phải từ bỏ chế độ cộng sản, một hình thức chế độ quân chủ, nhưng ác ôn, côn đồ hơn, làm cho tất cả những đầu óc phát minh sáng tạo bị hạn chế, làm cho nước Tàu tụt hậu.(1)

Paris ngày 09/12/2014

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Kinh Te | Leave a Comment »

►Quan Hệ Nga Trung có Thực sự Hữu Hảo?

Posted by hoangtran204 on 30/05/2014

Các bạn nhớ đọc 2 bài sau đây của tiến sĩ chính trị học Aaron I. Friedberg, Tạp chí Đối Ngoại, Số tháng 1 và 2 năm 2009, khi TT Obama vừa mới đắc cử, và chuẩn bị tuyên thệ nhậm chức ngày 20-1-2009, nhiệm kỳ 2008-2012. (chú ý, tờ báo này thường phát hành trước 1 tháng so với ngày trên tạp chí). Những gì mà TT Obama thực hiện với TQ và Châu Á từ đó cho đến nay là đi đúng theo kế hoạch của Friedberg. 

Châu Á Đứng Dậy « Trần Hoàng Blog (phần I)

Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II)

Bài dưới đây là về quan hệ Nga Trung.

 

Quan Hệ Nga Trung có Thực sự Hữu Hảo?

29-5-2014

procontra.asia

Trần Hoàng

Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong tháng này, người ta thấy Nga và Trung Quốc có vẻ ngày càng thân thiện hơn, gần gũi hơn. Quan hệ song phương giữa hai nước được chính phủ hai nước này đánh giá là “tốt đẹp chưa từng có”. Quả thật, hai quốc gia lớn này đã không ngừng tăng cường cộng tác trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, an ninh, ngoại giao, quân sự, năng lượng v..v. Trong lúc hải quân hai nước đang có một cuộc tập trận chung trên Biển Hoa Đông những ngày này thì Tổng thống Nga Vladimir Putin có chuyến đi thăm chính thức Trung Quốc nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ tư về phối hợp hành động và các biện pháp củng cố lòng tin ở châu Á (CICA). Hai bên đã dành cho nhau những lời lẽ đặc biệt tốt đẹp, ông Putin nhận xét về Trung Quốc là “người bạn tin cậy của Nga” và thêm rằng hai quốc gia đã đạt tới một giai đoạn mới trong quan hệ song phương và quân sự. Còn ông Tập Cận Bình, người đã tới Moskva trong chuyến đi công du nước ngoài đầu tiên của mình từ khi trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào tháng Ba năm ngoái thì hứa hẹn một hợp tác chiến lược với Nga.

Tuy nhiên, có những nhìn nhận cho thấy thực chất “tình bạn tin cậy” giữa hai cường quốc này không được tốt đẹp, hữu hảo như những biểu hiện bề ngoài. Có một số căng thẳng đáng nói trong mối quan hệ giữa họ.

Trong cuốn Theo dõi an ninh toàn cầu – Trung Quốc (Global Security Watch – China) xuất bản vào tháng 7 năm 2013, một cuốn sách trong bộ Theo dõi an ninh toàn cầu của Nhà xuất bản Praeger, tác giả Richard Weitz đã đặt chú trọng vào việc xem xét các chính sách ngoại giao và quốc phòng có tính nguyên tắc của Trung Quốc.

Nhiều thí dụ được nêu ra trong cuốn sách này khiến cho độc giả phải suy nghĩ về bản chất mối quan hệ Nga-Trung: đó là một liên minh chiến thuật hay cộng tác chiến lược?

Nêu ra ở đây một thí dụ khá điển hình: Ai cũng biết là trong nhiều thập kỷ, Nga đã sẵn lòng bán cho Trung Quốc nhiều hệ thống vũ khí trọn bộ, bao gồm các tàu chiến, tên lửa phòng không tối tân… Nhưng Trung Quốc đã không chỉ còn là người mua công nghệ quân sự mà đang dần dần xâm nhập vào thị trường cung cấp vũ khí hiện đại. Ở Trung Cận Đông, Trung Quốc đã có cạnh tranh trực tiếp với Nga, tìm cách bán vũ khí tối tân cho các nước trong khu vực này. Khi Mỹ và Israel tìm cách phong tỏa Nga trước một hợp đồng tên lửa đất đối không S-300 béo bở với Iran, và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký sắc lệnh ngừng bán mặt hàng này cho Iran tháng 9 năm 2010, Trung Quốc đã nhảy vào cuộc, mời bán cho Iran một phiên bản riêng S-300 của nước này nhưng không thành công. Có nhiều những thí dụ tương tự như vậy. 

Ông Weitz nhắc lại cho người đọc rằng về mặt lịch sử, quan hệ Nga-Trung được đặc trưng bởi những cuộc chiến tranh đẫm máu, các cuộc xâm lấn đế chế và lên án, tố cáo lẫn nhau. Nghi ngờ sâu sắc tiếp tục hiện hình trong thời Xô-viết, đặc biệt là trong thời kỳ Nikita Khrushchev nắm quyền lực ở Nga. Cuộc chia tay Nga-Trung vào năm 1961 được tiếp nối bởi cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước năm 1969. Ngay cả tới những năm 70 và 80 thế kỷ trước, quan hệ giữa hai quốc gia cộng sản cũng không được mấy tốt đẹp.

Tuy nhiên, thời thế thay đổi, cũng tương tự như những bất đối xứng quyền lực. Từ năm 2001, khi Nga và Trung Quốc ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Cộng tác, quan hệ song phương tiến triển và nâng cấp thành cái mà ông Weitz gọi là “tạm ước hài hòa”. Cho tới năm 2008, Trung Quốc và Nga đã cùng vạch định những đoạn cuối cùng trên đường biên giới chung dài nhất thế giới 4300 km của họ.

Điểm tương đồng cơ bản giữa Nga và Trung Quốc là ở chỗ chính sách ngoại giao của họ có chung vấn đề trung tâm: làm thế nào với vai trò bá chủ đơn phương của Mỹ. Vì thế nội dung then chốt trong chính sách đối ngoại của cả hai nước này là mong muốn, tìm cách xây một thế giới đa cực. Chính điều này là yếu tố quyết định, nếu không muốn nói là duy nhất, khiến hai quốc gia này tăng cường cộng tác với nhau trong những năm qua. Nga và Trung Quốc hoàn toàn không có điểm chung xét theo khía cạnh tư tưởng. Người Nga luôn coi mình là dân tộc châu Âu, có định hướng tương lai ở châu Âu, có các câu hỏi, vấn đề sống còn, cốt lõi ở phương Tây. Trung Quốc tự coi mình là cường quốc đang lên không chỉ ở châu Á mà còn trên phạm vi toàn thế giới, dường như họ có nhìn nhận rằng Nga là cường quốc của quá khứ, ngày càng đi xuống, ngày càng mất đi chỗ đứng trên trường quốc tế.

Hệ quả là các mối quan hệ, cộng tác giữa hai cường quốc này có tính chiến thuật hơn là chiến lược, phát triển trong mối tương quan với việc theo đuổi các mối quan tâm, lợi ích ngắn hạn. Chúng có thể nhanh chóng thay đổi hướng diễn biến, các nhân tố làm thay đổi hướng diễn biến chính là các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội tiềm ẩn trong hai quốc gia này, và thêm vào đó nhưng không kém phần quan trọng là các chính sách, chiến lược, suy tính địa chính trị toàn cầu của Mỹ.

Ông Bobo Lo, chuyên gia về quan hệ Nga-Trung, giám đốc phụ trách các chương trình nghiên cứu về Nga và Trung Quốc của Viện Chính sách Trung tâm Cải cách châu Âu (CER) quả thật rất có lý khi gọi bộ đôi Nga, Trung Quốc là “trục của sự tiện lợi” trong một bài phỏng vấn có tựa đề “Nga – Trung: Trục của sự tiện lợi” (Russia-China: Axis of Convenience) đăng trên trang điện tửopenDemocracy ngày 20.5.2008.

Một cách đơn giản, chỉ cần xem xét các thực tế cơ bản – Trung Quốc hiện đang có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, nhưng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng rất cao, có lượng dân số khổng lồ vẫn đang gia tăng, lại có tham vọng đánh bật Mỹ khỏi vị trí bá chủ thế giới; Nga thì có nền kinh tế lớn thứ mười trên thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng đang chững lại một cách đáng lo ngại, dân số chỉ bằng khoảng một phần tám dân số Trung Quốc nhưng lại đang giảm và già đi, tuy vậy lại có quân đội và nền kỹ thuật quân sự trội hơn nhiều so với Trung Quốc, lại cũng không giấu giếm tham vọng khôi phục vị trí cường quốc xứng đáng trên trường quốc tế – thì sẽ thấy trong quan hệ hai nước, khả năng bất hòa là cao hơn so với khả năng hữu hảo.

 


Không có gì đáng ngạc nhiên khi khái niệm “frenemies” (kẻ thù giả bộ bạn bè) càng ngày càng được dùng nhiều hơn để chỉ cặp đôi Nga-Trung Quốc (thí dụ xem bài “Best frenemies” đăng trên The Economist ngày 24.5.2014).

Những điểm căng thẳng nổi bật nhất trong quan hệ Nga – Trung có thể kể đến: Trung Á, Viễn Đông và châu Á-Thái Bình Dương (ngoài Viễn Đông).

1. Trung Á

Trong thời gian gần đây, có thể nhận biết ngày càng rõ là người Nga nói chung, đặc biệt là ông Putin nói riêng, chứa sâu trong tâm tư một hội chứng về sự tan rã của Liên bang Xô-viết. Người Nga coi đó là một sai lầm không dễ tha thứ và không ngừng mong muốn và nuôi hy vọng khôi phục lại một “nước Nga vĩ đại”. Điều này lý giải những nỗ lực không ngừng nghỉ của giới hoạch định đường lối, chiến lược chính trị nước này trong việc tìm cách khôi phục và tăng cường vị thế và ảnh hưởng của Nga ở các quốc gia thuộc Liên bang Xô-viết cũ. Ukraine là một thí dụ gần đây nhất và gây nhiều ngạc nhiên, ấn tượng nhất.

Kể từ khi Liên bang Xô-viết tan rã năm 1991, Nga đã tìm cách thông qua nhiều hiệp ước chính trị, an ninh và kinh tế khác nhau để phục hồi sự kiểm soát của mình với các nước cộng hòa Trung Á. Hiệp ước đầu tiên như thế, đồng thời được biết tới nhiều nhất, là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập gồm 12 nước cộng hòa mới độc lập, được thành lập năm 1991. Tiếp theo là một loạt các hiệp ước thương mại, kinh tế như hiệp ước thành lập Liên minh Thuế quan (1995), Cộng đồng Kinh tế Âu Á (Eurasia) (2000), Liên minh Âu Á (2011). Tháng 10 năm 2002, Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể (SCTO), một liên minh quân sự, đã được Nga cùng 5 nước Trung Á khác ký kết thành lập… Ý tưởng một cộng đồng chung cho khu vực ngày càng phát triển và từ năm 2013, các đợt hội đàm nhằm thành lập và mở rộng Cộng đồng Kinh tế Âu Á và Liên minh Âu Á được tiến hành, cho phép mở rộng cửa cho các quốc gia nằm ngoài biên giới Trung Á.

Các phân tích của hai ông Baktybek Beshimov và Ryskeldi Satke trong bài viết có tựa đề “Cuộc đấu giành Trung Á: Nga vs Trung Quốc” (The struggle for Central Asia: Russia vs China) đăng trên trang Aljazeera ngày 12.3.2014 cho biết:

“Tấn công kinh tế của Điện Kremlin là nhằm mục đích kiềm chế giới lãnh đạo ở Trung Á đang ngày càng trở nên độc lập hơn. Ảnh hưởng của Nga ngày một tăng ở các nước Trung Á nghèo nhất như Kyrgyzstan và Tajikistan, nhưng lại giảm sút ở các nước giàu nhất như Kazakhstan hay Uzbekistan. Dự án địa chính trị của Nga ở Trung Á đang đối mặt với nhiều khó khăn hơn khi những đối thủ từ phía Đông (Trung Quốc) và từ phía Nam (Thổ Nhĩ Kỳ) xuất hiện, thách thức sức mạnh của Nga trong vùng… Có lẽ dự án hội nhập khu vực của ông Putin không ngăn chặn, mà thậm chí còn mở đường cho sự bành trướng kinh tế toàn diện của Trung Quốc. Trong khi Nga cần các nước Trung Á thuộc Liên minh Thuế quan nhằm duy trì sự hiện diện địa chính trị của mình thì Trung Quốc theo đuổi các lợi ích kinh tế. Nga dựa vào sức mạnh quân sự và sức mạnh mềm truyền thống của mình trong vùng, còn Trung Quốc dùng con bài tài chính.”

Vì thế, theo hai tác giả trên, “Bắc Kinh kiềm chế không xung đột lợi ích với Nga (ngược lại với quan điểm diều hâu của nước này ở Đông và Đông Nam Á), các nhà thiết kế chính sách Trung Quốc chắc hẳn muốn lợi dụng những sai lầm và khả năng hạn chế của Kremlin.”

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (STO), tổ chức an ninh chung liên chính phủ do Trung Quốc khởi xướng thành lập năm 1996, đã được Trung Quốc sử dụng triệt để cho các mục đích của họ ở Trung Á. Dưới ô che của tổ chức này, Trung Quốc có thể dễ nói hơn khi tự gọi mình là một thành viên trong khu vực.

Trong lĩnh vực thương mại, Trung Quốc hiện đã bỏ xa Nga, trở thành bạn hàng chủ yếu đối với tất cả các nước Trung Á thuộc Liên bang Xô-viết cũ, chỉ trừ Uzbekistan, nơi Trung Quốc chịu xếp thứ hai. Không những đẩy mạnh thương mại, Trung Quốc còn tăng cường đầu tư trực tiếp vào các láng giềng xa gần của mình ở Trung Á, trở thành một trong những nguồn cung cấp đầu tư nước ngoài chủ yếu của các nước này. Trung Quốc đã và đang thực hiện những dự án kinh tế lớn, điển hình là các dự án khai thác, xây dựng đường ống dẫn dầu và khí đốt, tinh lọc dầu khí, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng… trong khắp khu vực. Chỉ nửa năm sau khi chính thức trở thành chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vào tháng 9 năm 2013, ông Tập Cận Bình đã thực hiện đợt thăm chính thức bốn quốc gia lớn nhất ở Trung Á là Turkmenistan, Kazakhstan, Uzbekistan và Kyrgyzstan. Ông Tập đã đưa ra đề xuất thành lập và xây dựng cái gọi là vành đai kinh tế “Con đường Tơ lụa” với Âu Á nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư của Trung Quốc.

Giới quan sát cho rằng Trung Quốc hiện tại đang nắm thế thượng phong trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng ở Trung Á, đẩy Nga vào thế bí. Đó không chỉ là do tiềm năng kinh tế của họ hơn hẳn Nga mà còn vì cách tiếp cận khôn ngoan của họ – khác với Nga, họ tránh không động chạm tới các công việc chính trị nội bộ và tránh để các quốc gia đối tác có cảm giác bị thiệt thòi về chủ quyền dân tộc – và xu hướng muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Nga trong các quốc gia nằm trong khu vực.

Tuy hiện có nhiều bất lợi, hiển nhiên là Nga sẽ không dễ dàng bỏ cuộc, để Trung Quốc “nẫng” mất Trung Á, để khu vực này rơi sâu vào vòng ảnh hưởng, tạm thời trước mắt là kinh tế của Trung Quốc. Theo như bài viết “Cuộc đấu giành Trung Á: Nga vs Trung Quốc” nói tới ở trên thì Nga đã có những nỗ lực mạnh mẽ phục hồi lại vị thế ở các nước Trung Á yếu nhất như Kyrgzstan, Tajikistan, mở rộng sự có mặt về quân sự tại các quốc gia này (thí dụ như chi 1,5 tỉ USD cho việc tái trang bị vũ khí cho quân đội hai nước). Hiện tại, vị thế của Kremlin ở Kyrgyzstan và Tajikistian được cho là khá vững chắc.

Cũng trong bài phỏng vấn đăng trên openDemocracy đã nhắc tới ở trên, ông Bobo Lo, giám đốc phụ trách các chương trình nghiên cứu về Nga và Trung Quốc thuộc Viện chính sách Trung tâm Cải cách châu Âu CER cho biết: “Người Nga hiểu trò chơi của Trung Quốc, vì thế họ đã trở nên thờ ơ với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải STO. Với Trung Quốc, tổ chức này có vai trò tương tự như Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể SCTO đối với Nga. Tổ chức Hiệp định An ninh tập Thể, do Nga thành lập vào năm 2002 có một đặc tính tối cao theo cách nhìn của Moskva: Trung Quốc không phải là thành viên. Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể giúp Nga tái khẳng định ảnh hưởng ở Trung Á. Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể thực chất là các tổ chức cạnh trạnh với nhau.”

Viễn Đông

Vùng Viễn Đông là một vùng đất rộng lớn nằm ở rìa phía Đông của nước Nga, trải dài từ hồ Baikal ở phía Tây tới tận Thái Bình Dương ở phía Đông. Tên gọi hành chính của vùng này là Vùng Liên bang Viễn Đông, nó tiếp giáp với Vùng Liên bang Siberia không kém phần rộng lớn ở phía Tây. Người Nga đã khai phá vùng đất này từ lâu đời, tới giữa thế kỷ 17 họ tiến sát tới bờ Thái Bình Dương, thành lập thành phố Okhotsk, từ đó, đặc biệt là trong thế kỷ 19, người Nga đã củng cố kiểm soát của họ ở Viễn Đông.

Viễn Đông bao gồm một vùng địa lý đáng lưu ý tới, đó là vùng Priamurye hay theo như cách người Trung Quốc cố tình gọi là Ngoại Mãn Châu. Nga tiếp quản vùng này theo Hiệp ước Aigun (1858) và Hiệp ước Bắc Kinh (1860) từ triều Mãn Thanh. Người Trung Quốc xếp hai hiệp ước này vào nhóm các hiệp ước mà họ gọi là “bất bình đẳng” mà Trung Quốc buộc phải ký kết với các nước phương Tây trong “thế kỷ nhục nhã”. Nên nhớ là Bắc Kinh chưa bao giờ chính thức công nhận hai hiệp ước này.

Mãi đến một vài thập kỷ trước, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố địa lý và tập trung phát triển kinh tế ở các vùng trọng điểm trung tâm, Nga không chú trọng nhiều tới vùng này. Về phía Trung Quốc thì sự quan tâm của họ tới vùng này cũng chỉ bắt đầu trở nên rõ rệt khi nhu cầu mở rộng địa bàn hoạt động kinh tế và nguồn cung cấp tài nguyên khoáng sản trở nên cấp bách hơn.

Trong bài phân tích có tiêu đề “Viễn Đông của Nga đang dần trở thành của người Trung Quốc” (Analysis: Russia’s Far East Turning Chinese) đăng trên trang mạng ABC News ngày 14.7.2013, tác giả Peter Zeihan cảnh báo: “Người Trung Quốc đang xâm nhập nước Nga – không phải với xe tăng, mà với va ly hành lý”. Ông Zeihan cho biết: “Không thể biết được chính xác lượng người Trung Quốc di cư vào vùng Viễn Đông của Nga; Nga không tiến hành kiểm tra dân số trong hơn một thập kỷ gần đây. Nhưng theo các dấu hiệu thì có một dòng người đáng kể đang tràn qua biên giới”. Và tuy có chênh lệch lớn trong số liệu dòng nhập cư từ Trung Quốc từ các nguồn khác nhau, nhưng “Cục Xuất nhập cảnh Liên bang lo ngại một dòng lũ. Cục này đã nhiều lần cảnh báo rằng người Trung Quốc có thể sẽ trở thành dân tộc thiểu số lớn nhất ở Nga trong 20-30 năm tới.” Về phương diện nhân lực cũng như kinh tế và tài chính, người Nga kém thế hơn so với người Trung Quốc trong khả năng khai thác và phát triển vùng Viễn Đông, nếu họ được cho phép làm điều này. Viễn Đông là vùng đất khổng lồ, nhưng có thể nói là hoàn toàn trống trải, chỉ có hơn 7 triệu người Nga sinh sống ở đây. Trong khi đó ở các vùng Đông Bắc Trung Quốc có tới hơn 70 triệu người. Đó lại là một vùng được cho là giàu có về tài nguyên khoáng sản, với các hải cảng giá trị, rất hấp dẫn đối với người Trung Quốc đang không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động và tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu mới phục vụ cho nền kinh tế đang phát triển chóng mặt của họ.

Ông Zeihan lưu ý: “Bất kỳ sự bành trướng nào của người Trung Quốc trong trong khu vực này đều đưa đến câu hỏi: Bắc Kinh có đòi hỏi gì ở đây? Phần lớn vùng biên – một vùng với diện tích tương tự Iran – là nơi sinh sống của người Trung Quốc. Nga tiếp nhận vùng này vào năm 1858 và 1860, sau các Hiệp ước Aigun và Bắc Kinh. Trong số các hiệp ước ‘không công bằng’ mà Trung Quốc dưới triều đại nhà Thanh bị buộc phải ký kết với nước ngoài thì chỉ còn hai hiệp ước này là Trung Quốc chưa xử lý được.”

Theo ông Vasily Kashil, cán bộ nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Công nghệ, Moskva, đồng thời là cán bộ của Viện Nghiên cứu Viễn Đông, Moskva, cho biết trong bài viết có tựa đề “Tổng các mối lo sợ” (The Sum Total of All Fears) đăng trên trang mạng Russia in Global Affairs ngày 15.4.2013 thì người Nga ý thức được rằng những nguy cơ tiềm năng trong vùng Viễn Đông có khả năng phát sinh từ phía Trung Quốc.

Ông Kashil cho biết: “Phân tích số liệu liên quan tới việc cung cấp vũ khí mới cho các lực lượng của Quân lực Nga cho thấy Khu vực Quân sự miền Đông có tốc độ tái trang bị vũ khí thuộc loại cao nhất trong cả liên bang. Điều động quân lực từ phần châu Âu của Nga tới Viễn Đông là một trong những kịch bản then chốt cho các đợt tập trận qui mô lớn của nước này. Phần lớn các tuyên bố báo chí của Cục An ninh Liên bang FSB về hoạt động gián điệp có liên quan tới Trung Quốc. Thêm vào đó, Nga rõ ràng là có hạn chế đầu tư của Trung Quốc trong các khu vực chiến lược của nền kinh tế quốc gia.”

Trong mối liên hệ này, đáng nhắc lại ở đây là vào tháng 7 năm 2013, khi Nga có một cuộc tập trận chung qui mô lớn với Trung Quốc ở vùng bờ biển Thái Bình Dương phía Bắc Trung Quốc thì quân đội nước này cũng có một cuộc tập trận được cho là có qui mô lớn nhất trong kỷ nguyên hậu Xô-viết tại Viễn Đông. Giới quan sát cho rằng đây là một phản ứng của Nga trước nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Quốc, một cử chỉ nhắm vào Trung Quốc lưu ý họ phải “cẩn thận”.

Ông Kashil viết tiếp: “Rõ ràng là mọi biện pháp phòng ngừa của Nga không liên quan tới các mối đe dọa trực tiếp, mà tới các mối đe dọa tiềm năng cho lợi ích, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ có khả năng xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng một đe dọa tiềm năng từ phía Trung Quốc cũng đã là một yếu tố đáng kể trong chính sách ngoại giao và quốc phòng của Nga.”

Ông Kashil cảnh báo người Nga phải tiếp tục tăng cường chú ý tới các “đe dọa tiềm năng” từ phía Trung Quốc:

“Người Nga ung dung ngồi xem cảnh các cửa hàng, công ty của Nhật ở Trung Quốc bị quấy phá trong đợt sóng giận dữ của người Trung Quốc trong vụ xung đột liên quan tới quần đảo Senkaku năm 2012, một đợt vận động chống các siêu thị Carrefour của Pháp do quan điểm của Pháp về Tibet năm 2008, các trừng phạt chống Philippines, các bản tin xuất hiện đây đó về một cuộc chiến sắp tới với Philippines, Việt Nam hay Nhật Bản. Nhưng nếu sự căm ghét của công chúng có thể hướng về một nước nhỏ, vô hại như Philippines, thì bất kể một quốc gia nào cũng có thể trở thành mục tiêu, hoàn toàn phụ thuộc vào chủ ý chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Vấn đề là ở chỗ không ai có thể biết chủ ý chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ hướng về đâu, thậm chí chỉ trong 10 năm tới đây. Cũng như Nga, Trung Quốc là nước có hệ thống chính trị đang chuyển đổi. Tương lai dự tính của nước này được công nhận và ghi trong các tài liệu của Đảng Cộng sản, và một số lớn các tuyên bố về đường lối của giới lãnh đạo Trung Quốc nói tới cải tổ chính trị không thể tránh được.

Những cải tổ như thế làm sao có thể đặt được dưới tầm kiểm soát? Trung Quốc đang trên con đường đô thị hóa và chuyển hóa dân số, tương tự như các nước châu Âu đã trải qua cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tương tự như châu Âu, Trung Quốc đang trải nghiệm sự bất bình đẳng kinh tế, bất công xã hội nghiêm trọng cũng như khoảng cách phân biệt trong giáo dục ngày càng lớn giữa các tầng lớp trung lưu thành thị và các tầng lớp thấp hơn.

Tình hình trên bị làm thêm nghiêm trọng bởi khủng hoảng tư tưởng trong Đảng Cộng sản cầm quyền, họ càng ngày càng sử dụng nhiều nỗ lực tuyên truyền cho các tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và tư tưởng siêu cường quốc.

Đối đầu với Nga hoàn toàn vô nghĩa, nếu xét theo các lợi ích lâu dài của Trung Quốc, nhưng ngay cả trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh cũng chẳng có cớ gì để Trung Quốc đối đầu với Nga. Chính sách đối đầu này xuất phát từ các lợi ích chính trị nội bộ của Mao Trạch Đông và nhóm kề cận ông ta. Nga bắt buộc phải tính đến khả năng này.” (Hết trích dẫn)

Theo ý kiến nhận xét của nhiều chuyên gia phân tích thì cuộc khủng hoảng gần đây ở Crimea đặt Nga vào thế bất lợi mới. Nga rất cần Trung Quốc im lặng, tránh đả động tới hành vi của Nga, nhưng chính sách của Nga trong vụ Crimea – khẳng định chủ quyền lãnh thổ có tính lịch sử – có thể tạo ra một tiền lệ pháp lý cho các quốc gia khác đang có ý định thay đổi biên giới lãnh thổ quốc gia theo hướng có lợi cho họ. Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc đưa ra ý tưởng đòi lại một phần Viễn Đông, vốn nằm trong lãnh thổ của họ trong lịch sử gần đây?

Châu Á-Thái Bình Dương ngoài Viễn Đông

Như đã có nhắc tới ở phần trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, Nga chỉ mới tăng cường chú ý của mình tới vùng Viễn Đông của Nga cũng như toàn bộ châu Á-Thái Bình Dương trong những năm gần đây.

Khoảng từ năm 2010, nhu cầu nhiên liệu năng lượng của vùng châu Á-Thái Bình Dương tăng mạnh, trong khi tiêu thụ nhiên liệu năng lượng cũng như nguyên vật liệu của Mỹ và Liên minh châu Âu lại giảm; thêm vào đó Liên minh châu Âu lại có chính sách bớt phụ thuộc năng lượng vào Nga, vì thế việc Nga có ý định tăng cường định hướng về châu Á-Thái Bình Dương, khu vực năng động kinh tế nhất thế giới, là điều dễ hiểu, hợp lý, nếu không muốn nói là bắt buộc.

Yếu tố địa chính trị cũng không kém phần quyết định cho chiến lược châu Á của Nga. Với hoài bão khôi phục lại vị trí cường quốc xứng đáng trên thế giới, Nga muốn trở thành một trong các thế lực quyết định trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cùng với Mỹ và Trung Quốc. Trong bước đi này, Nga cảm nhận được một thuận lợi rất đáng kể là vai trò suy yếu của Mỹ và thái độ cảnh giác, nghi ngờ của các nước trong khu vực trước một Trung Quốc đang lên.

Điểm mốc quan trọng trong việc phục hồi sự hiện diện của Nga tại châu Á-Thái Bình Dương là Hội nghị thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương tháng 9 năm 2012 tại Vladivostok. Tại hội nghị này ông Putin đã có lời phát biểu nhấn mạnh Nga là một bộ phận của khu vực châu Á-Thái Bình Dương đầy năng động, khu vực này là chìa khóa cho thành công của toàn bộ nước Nga, đặc biệt là cho công cuộc phát triển vùng Viễn Đông. Nga cũng kêu gọi các nước thành viên tăng cường giúp đỡ đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông vận tải ở khắp các vùng rộng lớn của nước Nga. Một năm sau, tháng 6.2013, ông Putin đã gây nhiều chú ý với bài phát biểu của mình tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại thành phố St. Peterburg khi thông báo một kế hoạch đầy hoài bão nhằm thúc đẩy nền kinh tế nước Nga thông qua việc chuyển định hướng về phía châu Á-Thái Bình Dương thay cho các thị trường truyền thống ở châu Âu. Ông cũng đề xuất các dự án khổng lồ trong hệ thống cơ sở hạ tầng, gồm nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Siberia để nối nước Nga tốt hơn với vùng Thái Bình Dương. Bài phát biểu này được giới chuyên gia coi như một tuyên bố chính sách “xoay trục” của Nga về phía châu Á-Thái Bình Dương, nơi Nga có một vị trí đáng kể trong quá khứ gần đây.

Để thực hiện việc này, trước hết Nga thiết lập các quan hệ gần gũi với nhóm các nước ASEAN. Từ năm 2010, Nga có các cuộc gặp gỡ Nga–ASEAN, đầu tiên là ở cấp nguyên thủ quốc gia, sau đó là ở cấp bộ trưởng, có sự tham gia của đại diện giới kinh doanh và văn hóa. Tuy nhiên, dường như người Nga nhận thấy vai trò và vị thế yếu kém của nhóm này nên dần mất đi hào hứng.

Nga đặc biệt đẩy mạnh quan hệ cộng tác với Trung Quốc, coi Trung Quốc là đối tác chính trong toàn bộ khu vực. Tuy nhiên, chính sách coi Trung Quốc là chìa khóa trong quan hệ với khu vực nhanh chóng biểu lộ hạn chế. Người Nga thấy rõ, nếu chỉ dựa vào Trung Quốc thì do kém thế về mọi mặt, họ mãi mãi sẽ chỉ đóng vai trò phụ, ngẫu nhiên giúp sức cho Trung Quốc củng cố thế lực trong khu vực. Vì thế, ông Putin đã mở rộng nỗ lực theo một hướng khác, đầu tiên với hai nước Đông Á là Nhật Bản và Hàn Quốc, những nước có nền kinh tế mạnh nhất ở châu Á, và sau đó là Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế năng động, lại là đồng minh gần gũi cũ của Nga.

Cuối năm 2013 có thể được gọi là thời gian châu Á của ngoại giao Nga. Tháng 11, Nga và Nhật Bản đã có một cuộc đàm phán lịch sử 2+2 giữa các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng hai nước ở Tokyo, được đánh giá là sự kiện “mở ra một trang mới” trong quan hệ giữa hai nước. Tại đây, hai bên đồng ý đẩy mạnh quan hệ an ninh, song song với quan hệ kinh tế và trao đổi chuyên gia. Vài ngày sau, Tổng thống Nga Putin đã có cuộc đi thăm chính thức Hàn Quốc, với mục tiêu thúc đẩy cộng tác thương mại và kỹ thuật, đồng thời cũng trao đổi về các vấn đề an ninh trong khu vực. Tiếp theo, ông Putin đã thăm Việt Nam, một đồng minh cũ mà Nga đang cung cấp trang bị vũ khí quân sự và giúp xây dựng nhà máy điện hạt nhân; hai nước cũng có quan tâm thiết lập quan hệ cộng tác chiến lược.

Nếu để ý, người ta có thể dễ dàng nhận ra một điều là hai trong số ba nước mà Nga đặc biệt quan tâm ở Đông và Đông Nam Á nói trên – Nhật Bản và Việt Nam – đang có những vấn đề nghiêm trọng liên quan tới tranh chấp lãnh thổ chủ quyền với Trung Quốc. Hàn Quốc thì được biết đến như một nước luôn khá “rắn” với Trung Quốc. Người Nga biết rõ là trước hết các nước này, và sau đó là các nước Đông, Đông Nam Á khác, tuy ở mức độ thấp hơn, chắc chắn sẽ có những nhìn nhận tốt đẹp, khuyến khích và ủng hộ hơn cho sự tái hiện diện của Nga trong một khu vực có nhiều căng thẳng, đặc biệt là khi sự can thiệp, hỗ trợ từ phía Mỹ ngày càng suy yếu và thái độ quả quyết, hung hăng từ phía Trung Quốc ngày càng gia tăng. Nga chưa bao giờ chính thức ủng hộ các đòi hỏi lãnh thổ của Trung Quốc cả ở Biển Hoa Đông cũng như ở Biển Đông.

Tóm lại, quan hệ Nga -Trung trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương có thể nói là có tính cạnh tranh, ganh đua nhiều hơn là tính cộng tác.

Thay cho phần kết

Cuộc khủng hoảng Crimea và diễn biến của nó chắc chắn đã tạo nhiều thay đổi trong chính sách, chiến thuật ngoại giao của Kremlin. Trong quan hệ với Trung Quốc, chuyến đi thăm vừa qua của ông Putin hé lộ Nga sẽ dựa vào Trung Quốc nhiều hơn, thay thế cho quan hệ với phương Tây đang xấu đi nghiêm trọng. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng điều này là bắt buộc đối với Nga hơn là sự lựa chọn tự nguyện. Nga tính đến đẩy mạnh xuất khẩu nhiên liệu năng lượng, nguyên vật liệu và công nghệ sang Trung Quốc và lôi kéo các nguồn đầu tư từ Trung Quốc, thay cho các nguồn đầu tư từ phương Tây. Theo bản tin “Nga ký kết với Trung Quốc một hợp đồng khí đốt 30 năm” (Russia signs 30-year gas deal with China) của BBC ngày 21.5.2014 thì sau 10 năm đàm phán kéo dài, cuối cùng Nga và Trung Quốc đã ký kết thỏa thuận với giá trị được cho là khoảng 400 tỉ USD cung cấp khí đốt cho Trung Quốc trong vòng 30 năm; tuy nhiên, có nhiều nhận xét nghi ngờ rằng các điều kiện của thỏa thuận này, đặc biệt là giá cả, khó có thể làm cho phía Nga hoàn toàn hài lòng. Trung Quốc cũng hứa hẹn trước mắt sẽ đầu tư khoảng 5 tỉ USD vào vùng Viễn Đông của Nga.

Trong bài viết có tiêu đề “Ông Putin tìm kiếm các nguồn tài chính Trung Quốc nhằm chèo chống nền kinh tế đang sa sút của Nga” (Putin Going After Chinese Money to Sustain Sagging Russian Economy) đăng trên trang điện tử của Bloomberg ngày 9.5.2014, các tác giả Evgenia Pismennaya, Yuliya Fedorinova and Ilya Arkhipov chỉ ra:

“Nga đã xây dựng các mối quan hệ thương mại với Trung Quốc, bao gồm các thỏa thuận dầu khí với giá trị hàng trăm tỉ đô la, để cung cấp năng lượng cho Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ nhiều nhất ở châu Á, trong hoàn cảnh kinh tế châu Âu đang chững lại. Trung Quốc là bạn hàng thương mại lớn nhất của Nga với tổng giá trị kim ngạch 95.6 tỉ vào năm 2012, theo sau là Đức, theo số liệu của Bloomberg.

Tuy vậy, Trung Quốc chỉ có vài dự án lớn ở Nga, đó là dấu hiệu cho thấy có các hạn chế không chính thức cho đầu tư của nước này, như một quan chức Nga kho biết. Trong tháng 5 này, ít nhất có hai cuộc thảo luận của chính phủ để định ra các nguyên tắc cho phép giới đầu tư Trung Quốc làm việc ở Nga.

Ngoài hạn chế quyền xâm nhập vào các ngành kim loại quí và kim cương, có thể Nga cũng hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào các dự án công nghệ cao. Chính phủ Nga cũng xem xét không cho phép người Trung Quốc thành lập các khu dân cư lớn để tránh gây các căng thẳng sắc tộc.”

Điều này, ngoài các hệ quả khác, củng cố nhận định rằng mặc dù tăng cường quan hệ với Trung Quốc nhưng mãi cho tới gần đây, người Nga vẫn có thái độ nghi ngờ và cảnh giác trước Trung Quốc và việc ngày nay Nga quay sang dùng đến các nguồn tài chính từ phía Đông là có phần miễn cưỡng.

Bài viết “Xoay trục của Nga sang Trung Quốc không làm thay đổi hình dạng kinh tế Nga” (Russia’s Pivot to China Won’t Reshape Russian’s Economy”) của tác giả Alexey Eremenko đăng trên trang điện tử The Moscow Times ngày 21.5.2014 tìm cách phân tích các hiệu quả kinh tế của ý định sử dụng Trung Quốc như là đồng minh kinh tế chính của Kremlin. Bài báo cho biết:

“Giới chuyên gia (Nga) cho rằng Trung Quốc có khả năng thay thế Liên minh châu Âu trong phần lớn các khu vực của nền kinh tế Nga, bao gồm cả xuất khẩu dầu khí, công nghệ và đầu tư. Nhưng liên minh với một nước đang phát triển chỉ làm co cứng hiện trạng của nền kinh tế, các chuyên gia cảnh báo, điều này không giúp Nga tăng cơ hội thoát khỏi vị thế một nền kinh tế cung cấp nguyên liệu.

Thêm vào đó, dựa vào Trung Quốc như là đồng minh kinh tế duy nhất chứa nguy cơ mặc nhiên trao cho Bắc Kinh khả năng kiểm soát nền kinh tế Nga – tuy rằng điều này có thể tránh được nếu Moskva lưu ý đến việc đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế.”

Hơn nữa, giới chuyên gia lưu ý: “Xuất khẩu của Nga sang Liên minh châu Âu trong (năm 2012) đạt 238 tỉ USD, hơn hẳn nhập khẩu với tổng giá trị 134 tỉ, theo số liệu của Tổng cục Thuế quan Nga. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 35 tỉ trong cùng thời kỳ, trong khi nhập khẩu từ nước này đạt 53 tỉ… Về mặt đổi mới công nghệ, sản phẩm Trung Quốc không thể thay thế được châu Âu.”

Các chuyên gia thống nhất quan điểm rằng nguy cơ chủ yếu của Nga là sẽ quá phụ thuộc vào Trung Quốc – Trung Quốc sẽ không từ khai thác triệt để một nước Nga quá phơi bày, một khi có điều kiện.”

Qua bài viết trên, có thể thấy là người Nga ý thức rõ ràng rằng ngoài các lợi ích trong việc cộng tác gần gũi hơn với nền kinh tế thứ hai trên thế giới, cần phải tính đến các mặt hạn chế cũng như các mối nguy cơ tiềm ẩn. Điều này có thể sẽ có nhiều ảnh hưởng tới chiều sâu và tính lâu dài của đường lối Trung Quốc của ông Putin.

Trong một bài viết gây nhiều chú ý trong thời gian vừa qua với tựa đề “Ông Putin tái sáng chế công tác chiến tranh như thế nào” (How Putin Is Reinventing Warfare) đăng trên trang Foreign Policyngày 5.5.2014, tác giả Peter Pomerantsev đưa ra khẳng định: Kremlin đang theo đuổi đường lối chiến lược gọi là “chiến tranh phi tuyến” (non-linear war), khái niệm được sử dụng trong một truyện ngắn của ông Vladislav Surkov, một trong những cố vấn chính trị gần gũi nhất của ông Putin, được đăng tải dưới bút danh của ông này là Nathan Dubovitsky, chỉ vài ngày trước khi Crimea bị sáp nhập vào Liên bang Nga. Surkov là người được cho là tác giả của hệ thống “dân chủ có/được điều hành” thống lãnh tư tưởng ở Nga trong thế kỷ 21 và những định hướng tập trung mới trong đường lối ngoại giao.

Surkov cho rằng “trong các cuộc chiến tranh sơ khai thế kỷ 19 và 20 thường là có hai phía đối chiến. Hai nước, hai khối hay hai liên minh. Nhưng giờ đây bốn liên minh đối kháng nhau. Không phải hai đối hai, hay ba đối một. Tất cả đối đầu với tất cả.” Trong một cuộc chiến tranh như thế, “một vài vùng có thể đứng về phía này, một vài vùng lại đứng về phía khác. Một thành phố hay thế hệ hay phái giới có thể tham gia một phía khác nữa. Rồi sau đó lại đổi bên, đôi khi chính giữa cuộc chiến. Mục đích hoàn toàn khác nhau. Phần lớn coi chiến tranh như một bộ phận của một quá trình. Không nhất thiết phải là bộ phận quan trọng nhất.”

Nếu quả thật Kremlin đang theo đuổi chiến lược “phi tuyến” như thế, hẳn người ta sẽ còn được chứng kiến nhiều thay đổi, diễn biến bất ngờ trong quan hệ Nga-Trung.

© 2014 Trần Hoàng & pro&contra

**** Nga chỉ có hai món hàng để bán cho Âu Châu, TQ, và thế giới đó là kỹ nghệ quốc phòng và dầu khí

*Ngân sách của Nga xây dựng theo giá dầu khí. Khi giá dầu hạ, Nga lao đao, xã hội biến động. Lịch sử cho thấy có 2 lần xảy ra gần đây;

-1980-1991: khi giá dầu hạ còn 12-29 đô 1 thùng dầu, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô 1986-1991.

-1991-1998: Thời kỳ này, giá dầu vẫn còn rất thấp, xã hội Nga biến động và thay đổi tận gốc, dân Nga lưu lạc khắp thế giới, nhiều người đã tiếc thời yên bình của Liên Xô. Tổng Thống Elsin mất uy tín dần dần.

-2000-2014: Giá dầu dần dần gia tăng theo thời gian và cao điểm 2008 (giá dầu lên 145 đô / 1 thùng), Putin được may mắn. Nước Nga hồi phục hơn thập niên 1990s.

-“vụ mua bán hệ thống phòng không S-400 gần đây giữa TQ và Nga. “Việc này đã cho người ta thấy gì về tình hình liên bang Nga khi họ sẵn sàng bán S-400 cho Trung Quốc? Khi mà Putin đã sẵn sàng để bán hạt bắp giống của mình là điều rất đáng chú ý.” Tại sao? Nga đang rất cần tiền nên mới bán một giàn S-400 cho TQ.”

***Trung Quốc: Nhờ sự đầu tư của Mỹ và Âu châu vào TQ kể từ 1980s, 1990s cho đến nay, TQ đã thành cường quốc. Năm 2011, theo Bloomberg đưa tin, 20 công ty của Mỹ muốn đem 1000 tỷ đô la về Mỹ sau một thời gian dài đầu tư ở nước ngoài. Họ đã cố gắng thương lượng với chính phủ Mỹ để xin giảm bớt mức thuế, nhưng đã không nhận được sự đồng ý. Những công ty nầy đã đầu tư ở Trung Quốc.

Theo tạp chí đối ngoại của Mỹ, Foreign Affair, hàng năm, chính quyền TQ in thêm tiền nhân dân tệ (khoảng 15-25% so với số lượng tiền lưu hành) để đổi lấy tiên đô la Mỹ và các dòng tiền ngoại hối khác để làm giảm bớt lạm phát. Sau khi xuất khẩu hàng qua Mỹ, họ đã để lại số tiền lớn ở đây bằng cách mua công khố phiếu của Mỹ. Tiền lời của công khố phiếu Mỹ thì rất thấp, nhưng nhờ đó thì doanh nghiệp Mỹ có thể mượn được tiền để đầu tư mở thêm hãng xưởng ở  Trung Quốc, và chính quyền TQ nhờ đó mà giải quyết việc làm cho 13 đến 26 triệu người hàng năm tham gia vào lực lượng lao động (khi họ đến tuổi đi làm việc. Tỉ lệ sinh đẻ hàng năm ở TQ là 1-1,5%, và dân số là 1,3 tỷ người.) Trung Quốc không dám bán số công khố phiếu nầy, vì sẽ lỗ lớn, và doanh nghiệp Mỹ sẽ không còn đầu tư vào TQ, và điều này sẽ dẫn đến sự biến động của xã hội TQ. Dân chúng đang đi làm, có tiền tiêu, mua nhà trả gops, nếu không có việc làm, họ sẽ nổi loạn. Thêm vào số học sinh và sinh viên TQ ra trường hàng năm, cùng dân chúng ở miền quê đén tuổi lao động CẦN việc làm. và chính quyền TQ biết rằng họ không thể giải quyết được.  

 

 

 

Posted in Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc | 1 Comment »

►Các ngân hàng tây phương giúp thân nhân của các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của Trung Quốc, kể cả chủ tịch Tập Cận Bình và Ôn Gia Bảo, cất giấu tài sản để trốn thuế.

Posted by hoangtran204 on 23/01/2014

Giới thượng lưu Trung Quốc cất giấu tài sản ở nước ngoài

Từ trái qua) Cựu Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, và Cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo

Thứ năm, 23/01/2014

Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA

BẮC KINH — Theo một toán ký giả điều tra, thân nhân của các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của Trung Quốc, kể cả chủ tịch Tập Cận Bình và cựu thủ tướng Ôn Gia Bảo, cũng như các thành viên của giới thượng lưu kinh doanh đã được các ngân hàng tây phuơng giúp cất giấu tài sản để trốn thuế.

Bản phúc trình của Tổ hợp Quốc tế các Ký giả Ðiều tra, còn gọi tắt là ICIJ là cuộc điều tra mới nhất về tài sản của một số cá nhân nhiều thế lực nhất Trung Quốc, kể cả những người còn được gọi là “thái tử đảng,” có liên hệ máu mủ hay hôn nhân với các nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc.

Các ký giả tập trung vào những tài liệu bị tiết lộ

Các ký giả đã dành nhiều tháng để rà soát khoảng hai triệu rưỡi văn kiện bị tiết lộ trước khi công bố kết quả điều tra hôm nay.

Tin được đưa ra vào lúc một trong những người lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ nhất tính minh bạch tài chính bên trong chính trường Trung Quốc bị đưa ra tòa về các tội có liên quan đến chuyện ông tán thành việc công khai tài sản các giới chức chính phủ.

Các Ngân hàng Tiết lộ Tài liệu

Các tài liệu mật đã bị tiết lộ bởi hai ngân hàng có trụ sở ở Singapore và Quần đảo Virgin của Anh. ICIJ đã công bố kết quả điều tra từ hồi tháng Tư năm ngoái, nhưng đây là lần đầu tiên tổ chức này tiết lộ các chi tiết của gần 22.000 thân chủ nước ngoài có địa chỉ ở Trung Quốc và Hong Kong.

Bản phúc trình viết: “Trong khi đất nước đã tiến từ một chế độ cộng sản cô lập tới một chế độ hỗn hợp xã hội chủ nghĩa và tư bản, Trung Quốc đã trở thành một thị trường hàng đầu cho các nơi an toàn ở nước ngoài quảng bá bí mật, tránh thuế và thực hiện các giao dịch quốc tế hữu hiệu.”

Các công ty sát nhập ở nước ngoài không có tính hợp pháp ở Trung Quốc, nơi hệ thống thuế khóa có những kẽ hở giúp cho các công ty bán sản phẩm qua những chi nhánh ở nước ngoài và báo cáo mức lời thấp hơn ở Trung Quốc.

Công chúng Trung Quốc nhạy cảm với vấn đề tham nhũng

Nhưng sự tích tụ tài sản kếch sù và các quan hệ với thế lực chính trị vẫn còn là một đề tài nhạy cảm ở Trung Quốc, nơi dân chúng rất dễ nổi giận trước các dấu hiệu tham nhũng lộ liễu của các giới chức.

Ông Jean-Pierre Cabestan, một nhà khoa học chính trị tại trường Ðại Học Baptist ở Hong Kong nói người Trung Quốc giàu có, nhất là những người có liên hệ huyết thống với giới thượng lưu chính trị, có thể chọn sát nhập với các công ty nước ngoài vì lý do thuế khóa cũng như lý do chính trị.

Ông Cabestan nói: “Họ không muốn bỏ tiền vào trong cùng một giỏ, họ muốn để tiền ở một nơi an toàn cho tuổi già của họ, hoặc phòng khi có chuyện gì xảy ra. Nó chứng tỏ là họ không hoàn toàn tin tưởng vào chế độ và tương lai của hệ thống chính trị hiện hữu.”

Các giới chức cấp cao Trung Quốc bị cáo buộc có can dự vào các công ty ở nước ngoài

Trong số những phát hiện của ICIJ, có chi tiết về các công ty ở nước ngoài được thành lập bởi thân nhân của ít nhất là năm thành viên hay cựu thành viên của Ủy ban Chấp hành Trung ương Ðảng, cơ quan thực hiện quyết định cao nhất của Trung Quốc.

Trong danh sách này có người anh rể của Chủ tịch Tập Cận Bình, ông Ðặng Gia Quý, là người mà gia sản đã bị phơi bầy trong một bài báo của hãng tin Bloomberg năm 2012.

Theo ICIJ, ông Ðặng đã làm giàu trong ngành địa ốc và điện tử, sở hữu 50 phần trăm một công ty có tên là Excellence Effort Property Development ở quần đảo Virign của Anh.

ICIJ cũng liên hệ hồ sơ của một số công ty ở đảo Virgin của Anh với người con trai, con gái và một người bạn của gia đình cựu thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Cựu Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo

Ðây không phải là lần đầu tiên gia đình ông Ôn Gia Bảo bị dò xét về tài sản bí mật.

Năm 2012, báo New York Times tường thuật rằng trong khi còn nắm quyền, thân nhân của ông đã tích lũy hàng tỷ đôla tài sản cất giấu.

Trước khi ICIJ công bố kết quả điều tra, giới truyền thông Hong Kong loan tin Ôn Gia Gia, cái tên được âu yếm tặng cho vị cựu thủ tướng, đã tự bênh vực trong một bức thư tháng 12 gửi cho một nhà bình luận báo ở Hong Kong.

Ông Ôn viết rằng ông chưa hề can dự vào một vụ giao dịch nào lạm dụng quyền thế của ông vì tư lợi bởi vì “không có cái lợi nào có thể làm lay chuyển niềm tin của ông.”

Một số cơ quan truyền thông Hong Kong đã tường thuật rằng chính ông Ôn Gia Bảo có thể đang bị điều tra ở Hoa lục.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rõ sự bất mãn của công chúng

Nhận thức được sự bất bình của quần chúng đối với tình trạng tham nhũng ngày càng gia tăng, các chính trị gia ở Trung Quốc đã hứa đem lại một chính phủ sạch bằng cách diệt trừ tham nhũng ở mọi cấp.

Trong năm vừa qua, một con số ngày càng nhiều các giới chức cấp cao đã bị đặt trong vòng điều tra, nhưng giới hữu trách vẫn lo ngại về tin tức truyền thông tiết lộ tài chính của các chính trị gia cấp cao và gia đình họ.

Theo ICIJ, một cơ quan truyền thông ở Hoa lục hợp tác với ICIJ về các tài liệu ngân hàng đã ngưng cuộc điều tra sau khi bị nhà chức trách cảnh cáo chớ nên đăng tải bất cứ tài liệu nào bị tiết lộ.

Trang web của ICIJ, đăng bản dịch của phúc trình bằng tiếng Quan thoại, đã bị chặn ở Hoa lục ngay sau khi bản phúc trình lên mạng và các tìm kiếm về tài liệu trên các dịch vụ vi blog của Trung Quốc cũng bị kiểm duyệt.

Tin về Tài sản ở Nước ngoài luôn bị tiết lộ

Ông Cabestan nói cho dù các tin tức về tài sản của các gia đình tai to mặt lớn bị chặn ở Trung Quốc, tin tức luôn lọt vào. Theo ông, về lâu về dài, sự kiện đó có thể gây ra thêm sự căm hận trong công chúng nhắm vào những thành phần đặc quyền. Ông nói:

“Song liệu dân chúng ở Trung Quốc có ở vị thế thay đổi, gây áp lực đối với các nhà lãnh đạo và thay đổi được thể chế hay không thì lại là một chuyện khác. Chúng ta phải thận trọng ở điểm đó bởi vì hệ thống chính trị khá vững mạnh.”

ICIJ nói họ sẽ tiếp tục công bố các câu chuyện trong vài ngày tới đây, và sẽ cung cấp một danh sách tên tuổi có liên hệ với các tài khoản ở nước ngoài vào ngày thứ Năm.

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | 1 Comment »

►4 tờ báo nổi tiếng thế giới cho biết: các doanh nhân Trung Quốc và thành viên gia đình các quan chức cao cấp nhất TQ cất giấu tiền bạc ở thiên đường trốn thuế: quần đảo Virgin Islands – Anh Quốc.

Posted by hoangtran204 on 22/01/2014

Theo tờ Guardian của Anh Quốc: “Hơn mười mấy thành viên gia đình của các nhà lãnh đạo chính trị và quân đội Trung Quốc đang xử dụng các công ty đăng ký ở Quần đảo British Virgin (thuộc Anh), các tài liệu về nguồn tài chánh  tiết lộ tin tức cho biết.  Người anh rễ Deng Jiagui của Tập Cận Bình, người con trai  (Wen Yunsong) và con rễ (Liu Chunhang) của cựu Thủ Tướng Ôn Gia Bảo là những người có các mối quan hệ chính trị đang làm chủ các công ty mượn địa chỉ tại các Quần đảo British Virgin (nhằm che dấu tài sản).

Chủ tịch Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng, Đặng Tiểu Bình,..đều mượn người đứng tên làm chủ các công ty mượn địa chỉ ở quần đảo này. 

“More than a dozen family members of China’s top political and military leaders are making use of offshore companies based in the British Virgin Islands, leaked financial documents reveal.

The brother-in-law of China’s current president, Xi Jinping, as well as the son and son-in-law of former premier Wen Jiabao are among the political relations making use of the offshore havens, financial records show.”

Những phi vụ chuyển tiền nơi thiên đường trốn thuế: Trung Quốc ngăn chặn báo cáo từ Offshore-Leaks

22-1-2014

Hồ Gươm  (lược dịch)

Theo tạp chí Tấm Gương

Câu chuyện được nói tới ở đây là những khoản tiền lớn và những thiên đường trốn thuế:

Nhiều cơ quan truyền thông tường trình về những phi vụ chuyển tiền của giới thượng lưu Trung Quốc, đối với tầng lớp cai trị đỏ thì đây là thời điểm không thích hợp, lúc này có những nhà hoạt động chống tham nhũng đang phải hầu tòa, nhà chức trách đã phản ứng lại bằng sự kiểm duyệt gắt gao.

Ngay trước thời điểm năm mới, cựu thủ tướng Ôn Gia Bảo của Trung Quốc đã viết một bức thư khác thường so với tính cách của ông đăng trong một chuyên mục báo ở Hồng Kông: “Tôi muốn đoạn hành trình cuối trên cõi đời này của tôi có một kết thúc có hậu, tôi sinh ra đời với bàn tay trắng và muốn từ giã nó với bàn tay sạch” – ông viết. “Tôi chưa bao giờ dính dáng vào một thương vụ nào mà trong đó tôi đã lạm dụng quyền lực của mình để thủ lợi, và cũng không bao giờ làm điều đó. Bởi không có bất kỳ lợi ích nào có thể lay chuyển được niềm tin của tôi.

Tại sao Ôn Giao Bảo, người rời khỏi chức vụ thủ tướng kể từ tháng 3 năm ngoái sau 10 năm nắm quyền, đã viết bức thư này? Tại sao ông ta lại viết nó ra ngay trong thời điểm này?

Kể từ chiều ngày thứ ba, ít ra cũng có một động cơ thúc đẩy khá gần với sự thừa nhận của Ôn Gia Bảo: Trong các tài liệu tường trình chi tiết của báo “Guardian”, báo “Süddeutsche Zeitung”và các phương tiện truyền thông khác về hàng tỉ đô la của các doanh nhân Trung Quốc và thành viên gia đình các quan chức ở thiên đường trốn thuế tại quần đảo Virgin Islands – Anh Quốc.

Một lần nữa, tên con trai, con gái và con rể của Ôn Gia Bảo lại xuất hiện trong những báo cáo từ các tài liệu rò rỉ được gọi là Offshore-Leaks. Những thương vụ nhạy cảm này đã được báo“New York Times” tường thuật. Theo những tính toán của tất cả những tờ báo thì Ôn Giao Bảo đã phải biết những gì sẽ đến với mình và gia đình.

Và các cơ quan kiểm duyệt của Trung Quốc cũng vậy. Từ mấy ngày nay người ngoại quốc tại Bắc Kinh rất ngạc nhiên vì trang báo “Guardian” tạm thời không truy cập được, rốt cuộc kể từ sáng thứ Tư thì trang báo “Guardian” cũng đã bị chặn. Tương tự như vậy đối với trang ICIJ, nơi mà hai năm trước đã rò rỉ tài liệu từ nguồn Offshore-Leaks. Tờ báo “Süddeutsche Zeitung” cũng không truy cập được – chưa rõ là lý do kỹ thuật hay bị kiểm duyệt.

Các nhà hoạt động chống tham nhũng ra tòa

Những tiết lộ, mà tên tuổi của những người dính dáng vào, vượt ra ngoài khuôn khổ gia đình Ôn Gia Bảo, trong số đó có cả họ hàng thân thích của chủ tịch Giang Trạch Dân, cựu thủ tướng Lý Bằng, nhà cải cách Đặng Tiểu Bình và một số lượng lớn các doanh nhân nổi tiếng, quả là một ngày đáng ghi nhớ của Trung Quốc.

Và trong ngày thứ tư này ở Bắc Kinh bắt đầu một loạt các phiên tòa xét xử đối với những thành viên của “Phong Trào Công Dân Mới”, một nhóm những nhà hoạt động đấu tranh đòi công khai tài sản các quan chức Trung Quốc.

Phiên tòa được bắt đầu bằng các thủ tục tố tụng đối với nhà lãnh đạo của nhóm, luật sư Hứa Chí Vĩnh, người đã bị bắt từ hồi tháng 8 vì tội kích động “tụ tập đông người gây rối trật tự công cộng”. Tới hôm thứ năm này, Triệu Trường Thanh (Zhao Changqing), một nhà hoạt động Nhân Quyền, đã từng tham gia cuộc nổi dậy tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989 và đã phải nhiều năm ngồi tù, cũng bị ra trước tòa vì bị cáo buộc tội danh tương tự.

Phiên tòa xét xử tiếp theo vào ngày thứ sáu đối với các nhà hoạt động Nhân Quyền Ding Jiaxi, Li Wei và nhà báo Hou Xin. Tất cả đã tham gia vào một cuộc biểu tình vào hồi tháng 3 năm 2013 tại khu phố thương mại Xidan thuộc Bắc Kinh, tại đó họ đã dùng loa phóng thanh và biểu ngữ kêu gọi những đảng viên Cộng Sản phải công khai tài sản.

Từ hàng năm trước đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã từng ra nghị quyết, những nhà lãnh đạo đảng có trách nhiệm phải công khai minh bạch tài sản. Cho đến ngày hôm nay, nghị quyết này cũng không được thực hiện. Thay vào đó, Tập Cận Bình, tổng bí thư mới của Trung Quốc phát động riêng một phong trào chống tham những khác. Mặc dù sẽ rất khó khăn, nhưng nó đặc biệt nhắm tới giới quan chức trong bộ máy doanh nghiệp nhà nước, là tầng lớp đang muốn làm giảm thiểu quyền lực của tổng bí thư.

Những tiết lộ chưa bị tràn qua bức tường lửa

Giới lãnh đạo vẫn che dấu cho tới nay, những tố cáo của những người đang bị tống vào tù, cũng chính những điều mà Đảng cũng đang phàn nàn và cũng là những ý kiến của đại đa số người dân về một vấn nạn nghiêm trọng của Trung Quốc đó là: Sự làm giàu vô liêm sỉ của giới tinh hoa, tham nhũng lan tới thượng tầng lãnh đạo. Sau những tiết lộ vào hôm thứ ba, giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ lại càng khó khăn hơn trong việc giải thích những mâu thuẫn trên. Con số được nêu ra trong nguồn tài liệu với tên gọi Offshore-Leaks đơn giản là quá khủng khiếp, để có thể bị cho chìm xuống: 1000 tỉ đến 4000 tỉ đô la đã được chảy từ Trung Quốc vào những thiên đường trốn thuế trong 13 năm qua.

Tuy nhiên những con số này chỉ tạo được áp lực chính trị khi nó được biết đến rộng rãi và được công khai tranh luận. Và nhà cầm quyền sử dụng mọi biện pháp để ngăn cản điều đó. Cho đến này cơn bão của sự phẫn nộ chỉ xảy ra ở bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc và những mạng xã hội như Twitter, là nơi mà đại đa số người dân Trung Quốc không thể truy cập được. Làn sóng về những tiết lộ này vẫn chưa tràn qua được bức tường lửa, và đài BBC, là kênh tin tức cũng được phát sóng ở Trung Quốc, trong buổi phát sóng tin tức vào buổi sáng, thì màn hình đã bị bôi đen và mất tiếng.

Các nhà chức trách biết rằng họ phải làm gì, bởi những tiết lộ về sự giàu có của giới quyền lực vẫn được che dấu nếu dư luận được biết, được bàn tán, truyền tải, sẽ làm cho giới lãnh đạo rất lo ngại. Luật sư Trương Học Trung (Zhang Xuezhong), luật sư bào chữa của một nhà hoạt động Nhân Quyền đang bị mang ra xét xử, đã tóm gọn một câu: “Những nhà cai trị tàn bạo nhất của nhân loại là những kẻ không tuân thủ luật pháp mà chính họ đã viết ra!”

*Các blogger ngoại quốc viết comment dưới các bài báo này cho biết: “Điều gì xảy ra ở TQ, thì cũng xảy ra ở VN. Chắc chắn thành viên gia đình của các Ủy Viên Bộ Chính Trị và Ủy viên Trung Ương Đảng CSVN cũng đang cất giấu tiền bạc và tài sản (đâu đó) trong các công ty và ngân hàng nước ngoài…“.

*Theo các blogger cho biết, tại các phi trường Thụy Sĩ, tiếng Việt Nam là một trong 4 ngôn ngữ phổ biến quãng cáo tên và dịch vụ của các ngân hàng Thụy Sĩ treo tại các phi trường. Điều này cho thấy là số lượng người Việt đến mở tài khoản đều đặn và gia tăng rất đông.

 *65.000 người TQ đang có kế hoạch kiện chính phủ Canada vì chính quyền đã thay đổi chính sách cho người Hoa định cư ở Canada. Trước đó, Canada khuyến khích mỗi người chỉ cần bỏ tiền vào ngân hàng Canada 500.000 hoặc trên 1 triệu đô la Canada trong 5 năm và không có tiền lời, thì sẽ được làm thủ tục cho đi định cư. Nay, Canada bãi bỏ, vì họ nói rằng những người TQ sau khi đã đóng tiền vào ngân hàng và đến định cư ở Canada  đã đóng thuế ít hơn những người Canada có mức lương thấp nhất. 

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | 6 Comments »

►Vực thẳm đang đón chờ “Sa hoàng Công An” Trung Quốc – Chu Vĩnh Khang đang bị quản thúc tại gia để điều tra vì từng lãnh đạo công an và tội tương tự như Thượng tướng Thứ trưởng PQN

Posted by hoangtran204 on 21/01/2014

Vực thẳm đang đón chờ “Sa hoàng Công An” Trung Quốc

15-1-2014 

Patrick Saint-Paul, phóng viên Le Figaro ở Bắc Kinh

Phong Uyên chuyển ngữ

Lời người dịch: Được mệnh danh là “Beria Trung Quốc”, Chu Vĩnh Khang, cho tới tháng 11 năm 2012, ông vẫn là nhân vật thứ 3 của chế độ, nắm trong tay bộ máy công an, mọi cơ quan tình báo và luôn cả Tư pháp. Nhân vật này có thể sắp bị Tập Cận Bình đem ra tế thần trong cái gọi là chiến dịch chống tham nhũng được họ Tập bày ra để củng cố quyền hành cho mình. Khó mà không liên tưởng đến một vị Thượng tướng Công an Việt Nam có chút dính líu với vụ Dương Chí Dũng. Nhưng ai sẽ là Tập Cận Bình Việt Nam?

Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc đang sửa soạn trình diễn một vở tuồng mới, vĩ đại, nửa chính trị nửa pháp lý, sau vở tuồng lên án Bạc Hy Lai tù chung thân với tội tham nhũng, biển thủ và lạm dụng chức vụ.

ĐCSTQ đã được chuẩn bị để sẵn sàng vứt xuống vực thẳm một “con cọp lớn” khác: Chu Vĩnh Khang, nhân vật đứng hàng thứ 9 của ĐCSTQ, cựu Sa hoàng của cơ quan an ninh Trung Quốc, một bộ mặt lớn của kỹ nghệ dầu hỏa… và là người đã che chở Bạc Hy Lai cho tới khi bị hạ bệ. Khi dành riêng cho mình con thú này và đặt vào chỗ hạng nhất trong bảng săn bắn của mình, chủ tịch Tập Cận Bình, đã lợi dụng được đúng thời cơ để củng cố quyền hành của chính ông ta.

Với mái tóc đen sậm được chải ra đằng sau một cách hoàn hảo, bộ mặt chữ điền với cặp mắt soi bói như một con mèo, lông mày đậm và cái cầm vuông cương nghị, Chu Vĩnh Khang, 71 tuổi đã luôn luôn trau dồi cái thân thể của một con thú dữ. Đứng hạng thứ 9 trong Ban thường vụ bộ Chính trị ĐCSTQ, nơi tập trunvg quyền hành tối cao, nhưng thật ra là nhân vật thứ 3 của chế độ, chỉ sau Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo.

Cho tới năm ngoái trước khi về hưu, Chu Vĩnh Khang, được mệnh danh trên Mạng là “Beria Trung Quốc”, tên của trùm mật vụ thời Staline, là một trong số những nhân vật bị thù ghét nhất… nên đã được dùng làm cái bia lí tưởng cho êkíp lãnh đạo mới nhằm bắn.Là trung tâm của một cuộc điều tra rộng rãi về những sự kiện tham nhũng và biển thủ, Chu Vĩnh Khang bị quản thúc tại gia từ nửa tháng 12, theo nguồn tin của nhũng giới thân cận ĐCS.

Theo nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, Tập Cận Bình cho thành lập một tổ đặc biệt có nhiệm vụ điều tra mọi hành động của Chu. Người ta vẫn chờ đợi tin chính thức bắt giam Chu Vĩnh Khang. Nhưng những tố cáo mỗi ngày một dài: tham nhũng, âm mưu đảo chính, giết người…

[Khi Tập leo lên các chức vụ ngày càng cao trong đảng CSTQ, gia đình chị ruột của Tập mở rộng việc làm ăn doanh nghiệp vào  trong các mỏ khoáng sản, bất động sản, máy móc sản suất điện thoại di động.  Tập Cận Bình có nhiều bất động  sản ở Hồng Kong, gồm 1 biệt thự trị giá 31,5 triệu đô la, và 6 bất động sản khác trị giá 24,1 triệu đô la…theo nguồn tin của Bloomberg. Các nguồn lợi của gia đình chị Hai của Tập gồm đầu tư  376 triệu đô la trong nhiều công ty, chiếm giữ 18% trong công ty kim loại hiếm quí trị giá 1,73 tỷ đô la, và 20,2 triệu đô la trong 1 công ty cổ phần về kỹ thuật. (Trần Hoàng dịch từ nguồn Bloomberg)

Chu từ trước tới nay vẫn là con vật đáng ghét nhất của những người có tự tưởng rộng rãi vì đã thẳng tay đàn áp những người bất đồng chính kiến, những người thuộc giáo phái Pháp luân công, người Tây tạng và người Hồi giáo… Tuy vậy Đảng chỉ tập trung vào những sự kiện tham nhũng, tránh bới ra những hành động của Chu đối với những người này để khỏi bị đập trở lại là đã nhắm mắt để mặc Chu tung tác như vậy từ cả mấy thập kỷ cho đến nay. 

Ám sát kiểu MafiaChu bị nghi ngờ là đã sai người giết vợ mình, theo nhiều nguồn tin được báo chí kể lại. Khi Chu là bí thư Đảng tỉnh Tứ Xuyên, từ 1999 đến 2002, Chu có ngoại tình với rất nhiều đàn bà, trong số đó có Giả Tiểu Hoa, xướng ngôn viên đài truyền hình CCTV. Khi Giả Tiểu Hoa nói có bầu, Chu cam kết sẽ li dị vợ. Ít lâu sau, người vợ bị chết trong một tai nạn xe hơi rất bí hiểm. Bị 10 năm tù, 2 người tài xế bị kết tội làm chết người, chỉ 3 năm sau đã được phóng thích. Chu lấy cô nhà báo này và hiện nay cũng bị quản thúc cùng với Chu.

Chu cũng giữ vai trò chính trong những vụ ám sát kiểu mafia những người đối lập chính trị, 1 tướng lãnh và 3 nhà kinh doanh, theo những trang mạng tiếng Hoa ngoài lãnh thổ nước CHND TQ. Theo những trang mạng này, Chu âm mưu làm cuộc đảo chính lật đổ Tập Cận Bình để bảo vệ quyền lợi gia đình và phe phái.Những tài liệu về hiện trạng của cuộc điều tra được phân phát cho những thành viên Trung ương Đảng, không nhắc gì đến những tố cáo giết người và âm mưu đảo chính, theo nhà báo độc lập, Cao Ngọc (Gao Yu): “chính quyền không có lợi lộc nào mà đưa ra những chuyện này. Quá nhậy cảm”. Cô Cao Ngọc giải thích như vậy.

Tập Cận Bình và vây cánh nắm đủ bằng cớ là Chu còn mắc một tội phạm thượng nữa trước khi có Đại hội Đảng 18 trao quyền hành cho Tập Cận Bình. “Những thông tin về của cải mà gia đình Tập Cận Bình và Ôn Gia Bảo tích lũy đến từ báo chí nước ngoài đều phát xuất từ phòng 610. Khởi đầu, phòng 610 có nhiệm vụ những tin tức về các thành viên của giáo phái Pháp Luân Công ở nước ngoài. Nhưng sau này phòng 610 được đổi hướng để chuyên về điều tra về của cải của các lãnh đạo Đảng được chuyển ra ngoài lãnh thổ. Phòng 610 được đặt dưới quyền của 1 người thân cận Chu.

Dưới con mắt Đảng, cái toan tính làm mất ổn định trong Đảng này không thể tha thứ được”, nhà báo Cao Ngọc giải mã như vậy.Là Sa hoàng Công an cho tới khi về hưu tháng 11-2012, Chu tự tạo cho mình uy quyền thứ 4, sau Đảng, chính phủ và quân đội.

Chu Vĩnh Khang ngự trị trên 10 triệu viên chức trong khi quân đội chỉ có 2 triệu rưởi người, và Chu nắm trong tay 1 ngân quỹ khổng lồ. Chu kiểm sát toàn thể bộ máy công an, lực lượng dân phòng, các quan tòa, các tòa án và cả 1 hệ thống các trại cải tạo. Chu cũng là người điều hành mọi cơ quan tình báo. “Chu tự tạo cho mình một phe phái có toàn quyền làm đủ mọi chuyện nhân danh sự bảo toàn ổn định quốc gia. Tình trạng thê thảm hiện thời ở Tây Tạng và ở Tân Cương, một phần lớn là kết quả của chính sách chính trị tồi bại của Chu với chiến lược duy nhất là đàn áp”. Cô Cao Ngọc xác nhận như vậy.

Trong quá khứ, ĐCSTQ phần nhiều đóng cửa tự giải quyết với nhau, phế truất những quan chức cao cấp bị thất sủng qua những thủ tục nội bộ kín đáo. Nhưng hiện nay có nhiều dấu hiệu chứng tỏ họ Tập sẽ không tránh cho Chu cái nhục bị xử công khai.Chu Bình, con trai Chu đang bị giam giữ công khai từ tháng 12 về tội biển thủ công quỹ lên tới nhiều tỷ euros trong những vụ tham nhũng ở Tứ Xuyên và trong kỹ nghệ dầu hỏa. Chu Bình hình như đã chấp thuận hợp tác với các nhân viên điều tra để lập hồ sơ chống lại chính cha mình, nhân vật số một của Tứ Xuyên từ 1999 tới 2002 và là cựu chủ tịch CNCP, tập hợp dầu hỏa số một của Trung Quốc. ” Những lãnh đạo chánh muốn rằng vụ việc Chu Vĩnh Khang phải tôn trọng thủ tục pháp lý để đưa ra tín hiệu là Trung Quốc là 1 nước pháp quyền và sự điều tra không phải là khí cụ của thanh trừng chính trị “, theo một nguồn tin được báo South china Morning Post kể lại.

Dứt răng con cọp

Tuần vừa rồi Ban Trung Ương Thanh tra kỷ luật đảng, cánh tay sắt của Đảng trong cuộc chiến bài trừ tham nhũng, đã đe dọa ngầm Chu khi nhắc lại lời tuyên bố của Tập “không cần biết thứ bậc hay chức phẩm của một nhân vật nào, nếu nhân vật ấy vi phạm kỷ luật Đảng hay pháp luật thì sẽ bị trừng trị một cách khắc khe nhất”. Về phần mình Tập Cận Bình cũng đã kêu gọi Tư pháp và Công an chấn chỉnh lại hàng ngũ của mình để quét sạch tham nhũng… một mũi giáo đâm vào sự quản trị của Chu. Nếu Tập là người hòa tấu cuộc xử án công khai Chu Vĩnh Khang, để cho Tòa kết án tử hình hay tù chung thân, thì Tập là người đầu tiên phá bỏ cái luật lệ vẫn được tôn trọng từ sau Cách mạng Văn hóa là những lãnh đạo cao cấp không có gì phải lo sợ một khi đã về hưu. Chu Vĩnh Khang sẽ có thể là người có trách nhiệm cao nhất bị lôi ra tòa từ khi có vụ xử “bè lũ bốn tên”.

Những thế lực mạnh mẽ phò trợ Chu trong ĐCSTQ như cựu chủ tịch Giang Trạch Dân, luôn luôn chống đối những cải cách kinh tế phóng khoáng của êkíp cầm quyền mới, kiếm cách ngăn cản Tập; “Giang rất tức giận, nhắn nhở Tập từ mấy tháng nay khi khẳng định là đã sẵn sàng phơi bầy công khai trước công chúng những mâu thuẫn trong nội bộ Đảng làm tổn hại đến hình ảnh của Đảng. Bởi vậy Tập Cận Bình thấy phải bắt đầu bằng dứt răng cọp trước khi tìm cách lột da nó”, Cao Ngọc giải mã như vậy.

Là cưu lãnh đạo China National Petroleum Corporation (CNPC) trong những năm 80, Chu Vĩnh Khang đã kiến tạo cho mình những mạng lưới bằng cách dựa vào “mafia dầu hỏa”, từ 1988 đến 1998. Ngay từ năm 2012, Li Chungchen, nhân vật số 2 của ĐCSTQ ở Tứ Xuyên và là đồng minh thân cận của Chu đã bị mất mọi chức vụ. Hàng tá các cán bộ và các nhà kinh doanh tỉnh Tứ Xuyên bị bỏ vào nhà tù cùng một chuyến. Tháng 6 năm 2013, cụu thư ký của Chu được lên làm phó chủ tịch Tứ Xuyên, Guo Yongxiang, bị bắt. Ngay sau đó, 4 cựu lãnh đạo cao cấp của CNPC bị kết tội, trong số đó có Wang Yongchun, nhân vật số 2 của Petrochina, chi nhánh của CNPC. Tháng 5 2013, Liu Tienan, giám đốc Ủy ban Quốc gia về năng lượng bị huyền chức. Rồi đến lượt Jiang Jiemin, một cột trụ chống đối mọi cải cách và là nhân vật số 1 của Sasac, Giám sát viên những công ty công quản, cựu chủ tịch CNPC cũng bị huyền chức.

Khi phát động chiến dịch chống tham nhũng ngay sau khi lên nắm quyền, Tập Cận Bình đã hứa sẽ diệt trừ từ những con “ruồi nhặng” là những viên chức hạng thấp, đến những con “cọp”, là những nhân vật chóp bu nắm giữ những trách nhiệm lớn trong nước. Chắc ngay khi nói những câu đó, họ Tập đã nghĩ đến Chu Vĩnh Khang.

Một khi đã vứt Chu Vĩnh Khang cho công luận làm thịt, chủ tịch Trung Quốc coi như là đã thực hiện lời hứa, đồng thời cũng chinh phục được lòng dân chúng. Sụ trả thù cá nhân này và sự thanh trừng tiếp theo đó, đã cho phép họ Tập nắm được chắc quyền hành trên đất nước qua sụ kiểm sát được bộ máy công an. Khi đã đi được đến cùng, Tập hi vọng có thể vô hiệu hóa được vĩnh viễn phe Giang Trạch Dân, đồng thời cũng đưa ra một cảnh cáo nặng kí cho những đối thủ còn tiềm ẩn.

Nguồn: Báo Le Figaro ngày 15-1

——————-

* Nhà lãnh đạo cơ quan an ninh và công an Trung Quốc Chu Vĩnh Khang là người góp phần đắc lực nhất cho sự “ổn định” của Trung Quốc trong thời gian 30 chục năm qua sắp bị đảng CS Trung Quốc đưa ra tế thần để làm hạ nhiệt sự tức giận trong dân chúng. 

Từng là một nhân vật đầy quyền lực và đứng hàng thứ 3 sau Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, ông Chu Vĩnh Khang và vợ đang bị quản thúc tại gia vào tháng 12-2013, đang bị điều tra về tội tham nhũng dù đã về hưu; dĩ nhiên trong thời gian tại chức trong hơn 30 năm qua, ông ta đã ăn chia tiền tham nhũng với các nhân vật chóp bu khác trong đảng CSTQ, nhưng nay chỉ một mình ông chịu tội. 

Bài báo này nhắc nhở các An ninh và công an nhân dân  ở VN, những người nào đang giữ vai trò đắc lực cho việc đàn áp nhân quyền và tôn giáo, bắt bớ đánh đập tù đày 600 tù nhân lương tâm VN, bỏ tù những người bất đồng chính kiến như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung,…nếu không biết chừa, mà vẫn còn ngoan cố, tích cực việc đàn áp người dân…, thì vài năm tới đây, khi đảng CSVN không còn độc quyền cai trị nữa, họ sẽ chịu chung số phận như Chu Vĩnh Khang. Thượng tướng công an Phạm Quý Ngọ đang ở trong tầm ngắm, đang bị điều tra, có nguy cơ bị truy tố ra tòa, nên trước đó đã phải giả vờ nằm bệnh viện, hy vọng miễn truy cứu về các tội bị tố giác trong vụ án Dương Chí Dũng và Dương Tự Trọng. 

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Có nhiều cuộc họp mặt giữa nhà cầm quyền VN và Trung Quốc suốt trong 3 năm 2011, 2012 và 2013

Posted by hoangtran204 on 04/08/2013

Có nhiều cuộc họp mặt giữa nhà cầm quyền VN và Trung Quốc suốt trong năm 2011, 2012 và 2013. Hẳn là phải có nhiều chuyện quan trọng xảy ra, nhưng dân chúng VN không ai biết sự thực đàng sau các cuộc gặp gỡ này là 2 đảng CSVN và nhà cầm quyền VN và TQ họp bàn và thỏa thuận với nhau chuyện gì. Tất cả là bí mật. 

TNT Nguyễn Phú Trọng qua Trung Quốc 11-10-2011 gặp Tập Cận Bình, người sắp nhận chức chủ tịch nước và TBT đảng CSTQ. 

Phó Chủ tịch Tập Cận Bình qua VN gặp Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang  12/2011

Nguyễn Tấn Dũng gặp  chủ tịch nước TQ Hồ Cẩm Đào tháng 9-2012 ở Nga  và  Phó chủ tịch Tập Cận Bình ngày 21-9-2012 ở Trung Quốc. 

Trương Tấn Sang gặp chủ tịch Hồ Cẩm Đào tháng 9-2012 tại Nga.

Sau đó, Trương Tấn Sang qua Trung Quốc gặp TBT kiêm chủ tịch nước TQ Tận Cận Bình từ ngày 19 đến 23-6-2013. Kế đó, Sang đi Mỹ gặp TT Obama 25-7-2013 trong hơn 1 giờ 45 phút.

Vương Nghị gặp Thủ tướng và Tổng Bí thư đúng ngày xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ

02/08/2013 Cầu Nhật Tân

Trước sức nóng của ngòi nổ chiến tranh trên Biển Đông, để gỡ thế cô lập ngoại giao xung quanh đường 9 đoạn, Trung cộng phái Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị thăm Mã Lai, Việt Nam và Lào. Tại cuộc gặp giữa Ngoại trưởng Mã Lai và họ Vương (1/8/2013), hai bên hứa hẹn nhiều vấn đề hợp tác trong đó có quân sự vàđưa nội dung hợp tác này lên tầm cao mới nhân hai nước kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngại giao chính thức. Điểm dừng chân tiếp theo của họ Vương là người anh em “đồng sàng, dị mộng” Việt Nam. 

Họ Vương đến Hà Nội hôm nay 3/8/2013 và sẽ gặp Thủ tướng, Tổng Bí Thư đúng ngày 5/8/2013 – ngày xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964. Lưu ý là họ Vương không gặp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang – người vừa kịch liệt phản đối đường 9 đoạn nhân chuyến thăm Hoa Kỳ.

Tại Hà Nội, họ Vương sẽ hội đàm với Bộ trưởng Phạm Bình Minh dự kiến vào ngày Chủ nhật 4/8/2013, sau đó sẽ gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Bí Nguyễn Phú Trọng vào thứ Hai 5/8/2013. Cần lưu ý, ngày 5/8/1964 là ngày xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Như vậy, hẳn là họ Vương mang một thông điệp của Bắc Kinh tới Hà Nội sau khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu kịch liệt phản bác đường 9 đoạn (do Trung Quốc đưa ra) khi ông thăm Hoa Kỳ. Đặc biệt, trong cuộc họp báo tại Nhà Trắng, Chủ tịch Sang và Tổng thống Obama cam kết sẽ tăng cường hợp tác quân sự. Ngoài ra, quan điểm về tự do đi lại trên Biển Đông được Tổng thống Hoa Kỳ Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang chia sẻ với nhau không thể không khiến Bắc Kinh tức giận(nội dung tự do đi lại trên Biển Đông do Chủ tịch Sang phát biểu bằng tiếng Việt đã bị phiên dịch của Việt Nam cố tình lờ đi khi dịch sang tiếng Anh). 

Sau chuyến thăm của Chủ tịch Sang tới Hoa Kỳ, đã xuất hiện những quan điểm cho rằng hợp tác quân sự với Hoa Kỳ lúc này là “không có lợi về chính trị”. Do đó, rất dễ hiểu khi họ Vương không gặp chào xã giao Chủ tịch Trương Tấn Sang khi sang Hà Nội mà chỉ gặp Thủ tướng cùng Tổng Bí thư. Chiêu ly gián nội bộ khi xưa Trung Quốc dùng để hạ bệ Ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sau Hội nghị ThànhĐô (1990) có lẽ đang lặp lại. Chiêu này rất nguy hiểm khi ai cũng biết giữa đồng chí Ba và đồng chí Tư vẫn tồn tại những vấn đề nhất định.

Được biết, họ Vương còn thăm Lào để vận động Lào ủng hộ quan điểm đường 9 đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông.

(Cầu Nhật Tân)

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN, Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Trung Quốc và Việt Nam trước khi bước vào năm 2013

Posted by hoangtran204 on 10/12/2012

 Các đài nước ngoài có các bản tin liên quan đến Trung Quốc và Việt Nam, chỉ đọc tựa đề cũng đoán biết là sẽ có chuyện gì đó sắp diễn ra.

Trong thập niên 1930s, Hitler liên tục kích động tinh thần dân tộc Đức, chính phủ Nhật cũng làm y hệt như thế…và sau đó chiến tranh thế giới lần II xảy ra. Hiện nay, tình hình chính trị xã hội bên trong nước Trung Quốc cũng không ổn, giới giàu có đang rời khỏi TQ và qua định cư ở các nước Úc, Canada, Mỹ, Anh, và các nước Tây Âu. Bất động sản của TQ đang bị đóng băng. 60 triệu căn nhà ở Trung Quốc xây dựng xong, nhưng bán không có ai mua. Nền kinh tế TQ đã và đang chậm lại trong 2 năm qua vì không xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài được, vì tài chánh và kinh tế châu âu và Mỹ đang bị khủng hoảng và không biết chừng nào mới phục hồi.

  • Công nhân TQ thất nghiệp trở về quê sinh sống và bị trầm cảm. Đảng CSTQ biết mối nguy hiểm của lực lượng công nhân to lớn nay không có việc làm, và đồng thời hàng năm phải tạo ra đủ công ăn việc làm cho 26 triệu dân TQ bước vào tuổi lao động. (1,3 tỷ dân TQ, với sinh suất 2% (tạm cho là thế) cho dễ tính.).     Trong khi đó thì đảng CSVN và nhà nước vẫn quyết liệt cướp đất đai của dân. Trong khi đó thì đảng CSVN và nhà nước vẫn quyết liệt cướp đất đai của dân.
  • “Sao lại quyết liệt thu hồi đất của dân rồi để đấy?” (VNeconomy.vn)

Một biến động nào đó đang sắp sửa xảy ra chăng?

Posted in Á, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.