Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chinh tri Trung Quoc’ Category

►Tàu: đứa con nít bự xác

Posted by hoangtran204 on 13/08/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

11-08-2015

Trong chuyến bay SGN – Paris năm ngoái, tôi ngồi bên cạnh một hành khách Tây rất thú vị. Anh ta nói tiếng Anh khá, và quan tâm đến vấn đề Biển Đông, nên chúng tôi có một buổi trò chuyện hào hứng, có lúc làm hành khách khác hơi ngạc nhiên! Anh ta đưa ra nhận xét: Tàu (China) mãi mãi, xưa cũng như nay, chỉ là một đứa trẻ to thân. Nói theo cách nói của dân miền Tây tôi là: một đứa con nít mà bự xác.

Bự xác hay bự con là nói đến vật lí. Đất nước Tàu thì dĩ nhiên là rất rộng. Chẳng những đất rộng mà dân cũng đông (một phần là do đẻ nhiều trước đây). Còn “Con nít” là đề cập đến thể chất và đầu óc suy nghĩ như trẻ con. Suy nghĩ thể hiện qua lời nói. Nghĩ ấu trĩ thì lời nói cũng ấu trĩ. Những hành vi của các quan chức Tàu gần đây đối với các nước láng giềng như Philippines (và ngôn ngữ trong hội nghị về Biển Đông) cho thấy quả thật Tàu là một đứa con nít bự xác.

Có thể lấy phản ứng của phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Tàu mới đây để minh chứng cho nhận xét trên. Phản ứng trước bình luận của Tổng thống Philippines rằng những yêu sách của Tàu ở Biển Đông qua đường 9 đoạn chẳng khác gì đòi hỏi của Hitler, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Tàu mất bình tĩnh và mắng rằng Tổng thống Philippines là một kẻ ngu dốt. Tổng thống Philippines vui vẻ nói rằng ông rất thích phát ngôn của Tàu vì nó cho thấy Tàu đuối lí, nên mới dùng đến đòn công kích cá nhân.

Tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất quen thuộc có tên là ad hominem nhưng cũng rất hiệu quả. Ngài tổng thống nói về yêu sách của Tàu, còn phát ngôn viên Tàu thì nói về cá nhân ngài tổng thống. Vấn đề ở đây là yêu sách vô lí của Tàu, nhưng phát ngôn viên lại xoay sang hướng cá nhân. Một sự chuyển hướng tranh luận như thế là thể hiện sự đuối lí, không cãi được bằng lí lẽ nên tấn công cá nhân người tranh luận. Đúng như Tổng thống Aquino nhận xét “Vâng, tôi cảm ơn Tân Hoa Xã vì chính họ đã tái xác nhận giá trị quan điểm của chúng tôi. Khi ai đó không thể trả lời một vấn đề, họ mới phải viện đến việc chửi đổng”. Hành vi chửi đổng đó chẳng khác gì thi đấu võ mà đánh dưới thắt lưng. Nói như viên phát ngôn Tàu là hèn.

Công kích cá nhân như nói trên có khi rất hiệu quả, vì nó đánh lạc hướng vấn đề. Thay vì tập trung thảo luận về vấn đề, người ta lại tập trung vào cá nhân người đặt vấn đề. Mà những thông tin liên quan đến cá nhân, đời tư thường “mặn” hơn, hấp dẫn hơn, và do đó cuốn hút người ta hơn. (Mà chưa biết ai ngu dốt, viên phát ngôn của Bộ ngoại giao Tàu hay Tổng thống Aquino ngu dốt?) Hệ quả là nó biến cuộc tranh luận thành một cái chợ trời chữ nghĩa, nơi đó người ta ném qua quăng lại những ngôn từ bẩn thỉu và đáng khinh.

Điều đáng nói là nguỵ biện kiểu công kích cá nhân lại rất phổ biến trên báo chí VN, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến những người bất đồng chính kiến. Thay vì bàn về ý kiến hay hành vi của họ thì giới báo chí hay có xu hướng viết về đời tư của họ. Những kiểu nguỵ biện như thế chẳng những có hiệu quả làm vẩn đục môi trường thảo luận, mà nó còn thể hiện một sự lười biếng trong suy nghĩ. Vì lười biếng nên người ta phải sử dụng cái gì dễ nhất và sẵn có về cá nhân, và do đó dẫn đến giảm chất lượng trong thảo luận. Việt Nam mới có một phát ngôn viên ngoại giao mới. Hi vọng rằng anh này cao hơn đồng nghiệp Tàu của anh ta một cái đầu và làm gương để báo chí không dùng đến ad hominem nữa.

Posted in Chinh Sach doi ngoai, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

► Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

Posted by hoangtran204 on 09/08/2015

VOA

Bùi Tín

09-08-2015

Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.

Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh – lão – bệnh – tử của mỗi đời người; quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.

Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh HueiBo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo – nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.

Cũng mới đây mạng Đại Kỷ Nguyên, cơ quan ngôn luận của Pháp Luân Công Đạo Pháp do Đạo sư Lý Hồng Chí sáng lập, đã đi đầu trong phong trào Tam Thoát – Thoát Đảng, Thoát Đoàn, thoát Đội và Thoát mọi loại tổ chức khác của Đảng CS Trung Quốc mà Ông cho là tà giáo man rợ, là tội ác chống nhân loại.

Hiện con số người tuyên bố công khai Tam Thoát đã lên đến 221.000.000 người, làm biến đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và đại khối nhận dân Trung Quốc lương thiện.Trên Đại Kỷ Nguyên hiện đang đăng bài “Đảng CS Trung Quốc vong » cho rằng ĐCSTQ không thể cưỡng lại số phận đã được định đoạt là giải thể, tiêu vong trong thời gian không xa. Chiến dịch “diệt hổ đập ruồi, săn cáo» đang ở hồi kết thúc, không thể nào xuống lưng hổ vì “kỵ hổ nan hạ» (cưỡi hổ thì khó xuống).

Màn chót ngay trước mắt là triệt con hổ Thượng tướng Quách Bá Hùng và con trai là tướng Quách Chính Cương, vì Quách từng là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ, cánh tay phải của Giang Trạch Dân, bị tống giam khi đang cải trang làm phụ nữ để tìm cách thoát sang Hồng Kông.

Mạng Minh Huei còn nhận địng rằng sau cuộc họp Bộ Chính trị ở Bắc Đới Hà mùa hè này, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ gạt Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, cả 3 hiện nằm trong Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên ở chóp bu quyền lực, là thế lực cuối cùng phò Giang Trạch Dân, để ngay sau đó diệt chính Giang, coi là đòn ân huệ để giải thể luôn ĐCSTQ, chuyển sang mang một tên mới – “Đảng Xã hội Dân chủ” hoặc “Đảng Dân tộc Trung Hoa”, như trước đây Lý Thụy Hoàn, một ủy viên kỳ cựu của Bộ Chính trị đã gợi ý, sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể hồi cuối năm 1991. Hiện nay, Tập Cận Bình đang kết chặt với Vương Kỳ Sơn và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong Thường vụ Bộ Chính trị, và với 2 Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ là 2 Thượng tướng Phạm Tường Long và Hứa Kỳ Lương, thay thế Từ Tài Hậu đã chết và Quách Bá Hùng vừa sa lưới.

Một bản tiểu sử dài của Giang Trạch Dân được phổ biến rộng rãi trong 6 tháng qua, chỉ rõ Giang xuất thân từ một gia đình đại Hán gian từng phục vụ phát xít Nhật thời Uông Tinh Vệ, đã tự nhận là con nuôi liệt sỹ, gia đình cách mạng CS nòi để leo lên đỉnh cao quyền lực và phá nát Đảng CS không có cách gì cứu vãn nổi.

Đại Kỷ Nguyên còn cho biết trong tháng 7/2015 Tập Cận Bình quy định tất cả các cán bộ đảng viên CS phải làm lễ tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp”, từ bỏ lệ tuyên thệ trung thành với Đảng CS và học thuyết CS, từ đó đưa đảng vào “lãnh cung», tử vong vĩnh viễn.

Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn một năm nay các Tòa án Trung Quốc tiếp nhận đơn của mọi công dân kiện cáo về việc người thân của họ trong Đạo Pháp Luân Công bị sát hại trong lao tù, các bộ phận cơ thể được rao bán khắp mọi nơi. Hiện nay đã có 80 vạn lá đơn kiện đích danh ông Giang Trạch Dân về tội ác này do chính Giang đề xướng và thực hiện qua bộ máy 610 – được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1999 – trên tinh thần Đảng CS theo Duy Vật chống mọi tà giáo Duy Tâm.

Tuy không phải từ những nguồn tin chính thức được tin cậy hoàn toàn, tôi vẫn thu thập, ghi chép, bình luận các thông tin trên đây với tất cả sự thận trọng dè dặt cần thiết, để các bạn đọc của VOA rộng đường tham khảo và theo dõi thêm.

Nếu như ĐCSTQ thật sự tiêu vong trong thời gian tới, khi cây cổ thụ Trung Quốc bị đổ trốc rễ, như số phận Đảng CS Liên Xô hồi cuối năm 1991, thì không ai có thể hình dung rõ sau đó hậu quả đối với tình hình Đông Nam Á và toàn thế giới sẽ ra sao.

Trung Quốc sẽ vẫn còn là một thực thể hay sẽ vỡ ra thành các mảnh lớn nhỏ khi nó có đến hàng trăm dân tộc với tiếng nói, nguồn gốc, tôn giáo khác nhau?

Chắc chắn sẽ là tin tốt lành cho nhân dân Việt Nam khi cái họa bành trướng tệ hại sẽ có cơ chấm dứt để nhân dân ta có thể sống hoàn toàn độc lập tự do, hòa hiếu, hợp tác và cùng phát triển với mọi nước xa gần.

Nước cờ Thoát Trung, gắn bó với các bạn bè dân chủ xa gần, bẻ lái chiến lược lúc này thật đúng lúc, đúng thời cơ, là cao kiến, hợp lòng dân, đúng theo vận nước vậy.

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Cả hai “đồng chí, anh em” đóng kịch với nhau

Posted by hoangtran204 on 08/08/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

07-08-2015

Thỉnh thoảng tôi tự hỏi chính giới Tàu nghĩ gì về đồng nghiệp họ ở Việt Nam. Dù biết rằng qua báo chí chúng ta có thể hiểu là họ không đánh giá cao, nhưng tôi vẫn muốn biết xem họ nghĩ gì. Tình cờ đọc được một đoạn văn được xem là “tối mật” của Mao Trạch Đông viết về Việt Nam làm tôi suy nghĩ về mối quan hệ Việt – Tàu hết sức thú vị. Tôi nghĩ bất cứ ai đang phấn đấu làm bạn với Tàu cộng có lẽ phải ngượng ngùng khi đọc câu của họ Mao.

Họ Mao nói “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ.Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta.” Đọan văn đó được trích từ văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của Bộ Ngoại giao Việt Nam, và được công bố 4/10/1979 (1).

Có lẽ những ai từng theo dõi Tàu không ngạc nhiên về câu nói trên, vì trong cái nhìn của giới chính khách Tàu, Việt Nam là một kẻ phản bội, không thể tin tưởng. Trước khi phát động chiến tranh chống VN, Đặng Tiểu Bình tuyên bố với báo chí quốc tế rằng “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”. Thật hiếm thấy một nguyên thủ quốc gia nào mà ăn nói du côn như Đặng, nhưng rất có thể y quá giận nên không kiềm chế được ngôn ngữ trước phóng viên quốc tế. (Trớ trêu một điều là tên này vẫn còn được khá nhiều người VN hâm mộ và thần tượng.)

Ngay cả thường dân Tàu dường như cũng không có thiện cảm với VN. Báo chí Tàu (nhất là tờ Hoàn cầu Thời báo) ra rả chửi Việt Nam, và đòi gây chiến tranh chống Việt Nam. Trước đây, trong một cuộc thăm dò ý kiến người dân Tàu bên China, kết quả cho thấy phần lớn dân Tàu nghĩ người Việt là phản bội, xảo quyệt, không đáng tin cậy. Trong cái nhìn của họ, Tàu là đại ân nhân của VN, vì Tàu từng giúp Bắc VN đánh Tây, đánh Mĩ. Chưa nói giúp vì động cơ gì, nhưng đó là cái nhìn của họ. Họ cũng nghĩ rằng khi thành công thì VN trở mặt. Họ lấy thái độ của ông Lê Duẩn là một ca tiêu biểu. Trước kia, khi cần vũ khí và tiền bạc của Tàu, thì ông Duẩn tỏ ra thân Tàu; đến khi thấy Liên Xô khá hơn, thì lại chạy theo Liên Xô và quay sang chửi Tàu thậm tệ. Có tài liệu còn cho thấy ông chửi thẳng vào mặt Mao (mà nhiều người xem là dũng cảm, nhưng tôi thì nghĩ thái độ đó không khéo chút nào). Tài liệu trên (1) được công bố dưới thời ông Duẩn. Nhìn như thế thì rõ ràng người Tàu có lí do để ghét Việt Nam.

Ngày nay thì lịch sử có vẻ tái lập. Chỉ cách đây vài tháng, trước ngày kỉ niệm cuộc chiến 1979, một lãnh đạo của đảng CSVN đã tuyên bố rằng VN vẫn chung thủy với Tàu trong cái “truyền thống đoàn kết quốc tế thủy chung” (2). Rồi mới đây nhất là một phát ngôn trung thành khác từ một tướng lãnh VN: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng thân thiện và điều đó không bao giờ thay đổi. Nhiều thế hệ đã qua, nhân dân hai nước đã thiết lập và duy trì mối quan hệ, cùng tồn tại, hình thành rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa” (3).

Đặt quan điểm chung thuỷ này với nhận định “Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ … Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta” trên đây, ai cũng có thể thấy có gì đó không “add up” (nói theo tiếng Anh), hay không ăn khớp. Câu nói của Mao còn sờ sờ ra đó, ngay trên báo chí “chính thống”. Câu nói của Đặng Tiểu Bình cũng còn đó trên giấy trắng mực đen. Những câu nói xách mé và xấc xược của các tướng lãnh Tàu cộng và bỉnh bút của Hoàn cầu Thời báo vẫn còn lưu lại đó. Trước những lời nói xấc xược và khinh bỉ của Tàu như thế mà những người ở vị trí lãnh đạo quốc gia lại thề thốt “thuỷ chung” với họ! Thật không thể nào hiểu nổi.

Chỉ có một cách giải thích là cả hai phía, Tàu và Việt Nam, đều đóng kịch. Chẳng ai tin ai cả, Tàu chẳng bao giờ tin Việt Nam, và Việt Nam lúc nào cũng nghi ngờ Tàu. Những ngôn từ hoa mĩ là chỉ nói cho có, chứ trong thâm tâm thì người nói nghĩ ngược lại. Thật ra, đó cũng chính là tình nghĩa đồng chí của những người cộng sản, ngay cả trong cùng một nước và cùng cộng đồng dân tộc. Bề ngoài thì cười cười, tay bắt, tay ôm, hôn hít (ghê ghê), nhưng trong bụng thì một bồ dao găm, muốn thanh trừng lúc nào cũng được. Đúng như Nguyễn Du từng tả: “Bề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

___

(1) Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay – Kỳ 43: Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao (MTG).

(2) Tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, tính tiên phong của Ðảng, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh(*) (ND).

(3) Tướng Vịnh: Quan hệ hữu nghị Việt-Trung không bao giờ thay đổi(VOA/ BS).

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Thượng Tướng Trung Quốc giả gái đào tẩu ra nước ngoài bất thành

Posted by hoangtran204 on 03/08/2015

 Tướng Trung Quốc giả gái đào tẩu ra nước ngoài bất thành

 

Dân Trí

Thanh Tùng

02-08-2015

Thượng tướng Trung Quốc Quách Bá Hùng, nguyên phó chủ tịch Quân ủy trung ương, đã giả gái lên máy bay để đào tẩu ra nước ngoài khi hay tin bị điều tra tham nhũng. Tuy vậy ông Quách vẫn bị bắt và truy tố.

Theo tờ China Times của Đài Loan, vụ bắt giữ được thực hiện từ tháng 7 năm ngoái, khi Tướng Trung Quốc Quách Bá Hùng trong trang phục phụ nữ đã ngồi trên một chuyến bay quốc tế. Vậy nhưng vào phút chót, Bắc Kinh phát hiện âm mưu này và phát lệnh cấm mọi chuyến bay cất cánh.

Ngày 30/7 vừa qua, Ủy ban kiểm tra kỷ luật trung ương Trung Quốc đã tuyên bố khai trừ đảng ông Quách, đồng thời chuyển hồ sơ cho cơ quan kiểm sát quân sự.

Quách được tin là tìm cách đào tẩu sau khi đồng nghiệp của mình là Từ Tài Hậu, một phó chủ tịch Quân ủy trung ương Trung Quốc khác bị bắt hồi tháng 3/2014.

Trước tình hình đó, Quách đã nhờ cậy một số “đệ tử” thân tín gồm: Chen Hongyan, người khi đó là cục phó cục chính trị, quân khu Bắc Kinh, Wang Sheng, chủ nhiệm cục hậu cần Không quân Trung Quốc, và Liu Zirong phó giám đốc văn phòng kiểm soát không lưu quốc gia.

Vào khoảng 6 giờ sáng ngày 15/7/2014, Quách đã mặc quần áo phụ nữ, đội tóc giả và lên một chuyến bay từ sân bay quốc tế thủ đô Bắc Kinh tới sân bay quốc tế Pudong tại Thượng Hải. Vị tướng này đã có kế hoạch đón một chuyến bay khác từ Thượng Hải ra nước ngoài.

Tuy nhiên, một quan chức Cục quản lý giao không hàng không đã phát hiện ra kế hoạch của ông Quách và báo cáo lên Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông Tập sau đó đã chỉ đạo “tư lệnh” chiến dịch “đả hổ” Vương Kỳ Sơn phong tỏa 12 sân bay phía Bắc và Đông Trung Quốc, để ngăn chặn Quách tẩu thoát.

Khi đã lên một máy bay khác tại sân bay Thượng Hải, ông Quách được tin là bị sốc khi thấy cảnh sát lên máy bay và bắt giữ mình.

Liu, một trong những người bị cho là giúp Quách triển khai kế hoạch đào tẩu, đã nhảy lầu tự tử hồi tháng 2, trong khi hai người còn lại là Chen và Wang đang bị điều tra.

Trong khi đó, con trai của ông Quách, Phó Chính ủy Quân khu Triết Giang quân khu Chiết Giang Quách Chính Cương đã bị điều tra tham nhũng từ hôm 10/2.

Quách Chính Cương bị cho là đã lợi dụng ảnh hưởng của cha để trúng thầu 2 dự án được xây trên đất quân đội năm 2007. Vợ của Chính Cương là Wu Fangfang đã thu lợi 1,5 tỷ nhân dân tệ (241 triệu USD) từ việc cho thuê hai trung tâm thương mại trong suốt 5 năm, cho tới khi chồng mình bị điều tra.

Theo WCT

____

VOV

Phương Chi

VOV.VN – Quan tham Trung Quốc Quách Bá Hùng từng giả gái, lên máy bay để trốn ra nước ngoài nhưng đã bị Cục Quản lý không lưu phát hiện.

Ngày 1/8, tờ báo China Times tiết lộ, Thượng tướng Quách Bá Hùng, nguyên là Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, người thân tín của cựu Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, đã từng âm mưu giả trang thành phụ nữ trốn ra nước ngoài nhưng không thành.

Nguồn tin cho biết, ông Quách Bá đã có ý định đào tẩu từ tháng 3/2014, sau khi ông Từ Tài Hậu, cựu Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc bị bắt. 

Tướng Quách Bá Hùng. Ảnh chụp tháng 10/2005 tại Bắc Kinh. (ảnh: Reuters)

Tướng Quách Bá Hùng được cho là đã nhờ ba nhân vật giúp đỡ trong cuộc đào tẩu này đó là Phó Chính ủy Quân khu Bắc Kinh Trần Hồng Nham, Phó chủ nhiệm hậu cần lực lượng Không quân Trung Quốc Vương Thanh và Phó Giám đốc cơ quan kiểm soát không lưu Trung Quốc Lưu Tử Vinh.

Cuộc đào tẩu bắt đầu vào lúc khoảng 6h ngày 15/7/2014, ông Quách Bá Hùng đã mặc quần áo phụ nữ, đội tóc giả, lên một chuyến bay từ sân bay Quốc tế thủ đô Bắc Kinh đến sân bay Phố Đông Thượng Hải. 

Theo kế hoạch, sau khi trót lọt, ông này tiếp tục lên một chuyến bay khác khởi hành từ Thượng Hải để rời khỏi đất nước.

Tuy nhiên, một quan chức Cục Quản lý không lưu đã phát hiện ra kế hoạch chạy trốn của Quách Bá Hùng và báo cáo lên Chủ tịch Tập Cận Bình.

Ngay sau đó, ông Tập đã yêu cầu Trưởng ban Chống tham nhũng Vương Kỳ Sơn đóng cửa 12 sân bay ở miền Bắc và miền Đông Trung Quốc nhằm ngăn chặn vụ chạy trốn của ông Quách, khiến hàng trăm chuyến bay bị ảnh hưởng.

Ông Quách, sau khi lên một chiếc máy bay tại sân bay Thượng Hải, đã hết sức sững sờ và ngạc nhiên khi cảnh sát ập tới và bắt giữ. Quách Bá Hùng bị giam giữ từ đó cho đến nay.

Trong số 3 quan chức được cho là đã giúp đỡ ông Quách đào tẩu, Lưu Tử Vinh đã tự tử hồi tháng 2 vừa qua, hai quan chức còn lại  Trần Hồng Nhan và Vương Thanh hiện trong diện điều tra của cảnh sát.

Trong diễn biến mới nhất, ngày 30/7, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã họp và quyết định khai trừ Đảng đối với ông Quách Bá Hùng, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, và giao cho Viện kiểm sát quân sự Trung Quốc xử lý theo pháp luật.  

Trước đó, ngày 9/4, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định tiến hành điều tra Thượng tướng Quách Bá Hùng theo điều lệ Đảng. Kết quả điều tra cho thấy, ông Quách Bá Hùng đã “vi phạm kỷ luật nghiêm trọng”, lợi dụng chức vụ để tham ô, tham nhũng, mua bán chức quyền, nhận hối lộ…

Tất cả những hành vi vi phạm của ông Quách Bá Hùng đều được nêu cụ thể, chi tiết trong báo cáo của Uỷ ban kiểm tra kỷ luật Quân uỷ Trung ương Trung Quốc và được Bộ Chính trị Trung Quốc thẩm định thông qua trong cuộc họp ngày 30/7.

Việc ông Quách Bá Hùng bị điều tra và sẽ bị xử lý theo pháp luật như một lời khẳng định quyết tâm chống tham nhũng đến cùng của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc dưới thời Tổng bí thư Tập Cận Bình. Cho dù là ai, chức vụ cao, thấp thế nào, nếu vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh.

Theo Want China Times

____

Dân Trí

Thanh Tùng

02-08-2015

Tướng Quách Bá Hùng và phe cánh đã chọc giận ông Tập?

Trong bước đường hoạn lộ thăng tiến không ngừng, tướng Quách Bá Hùng từng rất được lòng nguyên Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân. Vậy nhưng vị nguyên phó chủ tịch Quân ủy trung ương cùng đồng nghiệp Từ Tài Hậu lại “chọc giận” ông Tập Cận Bình.

Tướng Quách Bá Hùng, người vừa bị Ủy ban kiểm tra kỷ luật trung ương Trung Quốc khai trừ đảng và điều tra tham nhũng, được tin là đứng đầu “nhóm Tây Bắc” trong quân đội nước này.

Quách Bá Hùng (giữa) được tin là thân tín của cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân (phải) (Ảnh: SCMP)

Tờ Bưu điện Hoa nam buổi sáng của Hồng Kông dẫn lời các nguồn tin trong quân đội Trung Quốc cho biết, Quách Bá Hùng đã thăng tiến rất nhanh chóng sau khi công khai tuyên bố trung thành với nguyên Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân.

Mối quan hệ mật thiết này giúp cả hai hưởng lợi. Ông Quách đã tranh thủ vị trí của mình để tạo dựng một mạng lưới các doanh nghiệp của riêng mình để “làm kinh tế”, còn ông Giang nhận được sử ủng hộ từ các tướng lĩnh hàng đầu quân đội, giúp ông vẫn đầy ảnh hưởng ngay cả khi đã rời nhiệm sở.

Khoảng giữa những năm 1990, trong một bài phát biểu tại bộ chỉ huy quân khu Bắc Kinh, ông Quách – với vai trò phó tư lệnh, đã tuyên bố sẽ trung thành với ông Giang, người “tình cờ” có chuyến thăm bộ chỉ huy quân khu Bắc Kinh đúng vào thời điểm này và đã nghe được, hai nguồn tin cho biết.

“Tôi được biết ông Giang đã tình cờ nghe được phát biểu của ông Quách với các sỹ quan quân đội, nói rằng ông nguyện trung thành với “sự lãnh đạo then chốt của ông Giang”. Và điều này khiến ông Giang rất hài lòng”, một nguồn tin trong Học viện khoa học quân sự Trung Quốc tiết lộ.

Không lâu sau đó, Quách Bá Hùng được cất nhắc vào vị trí tư lệnh quân khu Lan Châu, một trong những quân khu then chốt của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA). Và cho đến khi về hưu năm 2012, Quách đã ngồi vào ghế phó chủ tịch Quân ủy trung ương (CMC), cao nhất trong quân đội.

Trên chiếc ghế này, Quách có quyền được quyết việc chi tiêu ngân sách quốc phòng cũng như quyết định các công ty nào được tham gia dự án của quân đội. Năm 2012, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc là hơn 100 tỷ USD.

Mạng lưới trợ thủ và thân tín của Quách Bá Hùng (Ảnh: SCMP)

Hiện vị cựu phó chủ tịch CMC đang phải đối mặt một loạt cáo buộc, gồm nhận hối lộ, lạm dụng quyền lực. Một cựu thượng tá quân đội tại Thượng Hải nhận định, cuộc điều tra nhắm vào ông Quách dự kiến sẽ gây chấn động lớn hơn nhiều trường hợp của Từ Tài Hậu – một phó chủ tịch CMC khác – người đã chết vì ung thư.

Tướng Từ cũng được cất nhắc vào CMC khi ông Giang Trạch Dân đang nắm quyền, nhưng sau ông Quách tới 2 năm. Về cơ bản, ông Từ chỉ là một cộng sự cấp dưới cho Quách.

“Vụ của Quách nghiêm trọng hơn Từ Tài Hậu rất nhiều, bởi bất kỳ ai được Từ cất nhắc đều cần phải được Quách phê chuẩn. Ông ta được Từ chia lại tiền hối lộ”, vị thượng tá giấu tên khẳng định.

“Quách là người phụ trách huấn luyện và mua sắm vũ khí trong suốt 10 năm là phó chủ tịch CMC, giúp ông ta có cơ hội biển thủ ngân sách huấn luyện, nhận lại quả trong các thương vụ mua sắm vũ khí”, nguồn tin này cho biết thêm.

Zhang Musheng, một cố vấn của tướng Liu Yuan, chính ủy tổng cục hậu cần PLA – người đang phụ trách chiến dịch chống tham nhũng, khẳng định: “Riêng Từ Tài Hậu nhận hối lộ ít nhất 1 tỷ nhân dân tệ (161 triệu USD), nhưng còn một người khác tồi tệ hơn ông ta. Người đó không chỉ liên quan tới hoạt động mua bán cấp bậc, mà còn bị phát hiện biển thủ ngân sách quốc phòng”, Zhang nói.

Một thượng tá quân đội về hưu tại Bắc Kinh tiết lộ, Quách chính là đầu sỏ trong “nhóm Tây Bắc”, riêng biệt nhưng có liên hệ chặt chẽ với một nhóm do ông Từ từng kiểm soát trước khi bị bắt ngay trên giường bệnh, tại viện quân y 301 ở Bắc Kinh tháng 3/2014.

Chủ tịch Tập Cận Bình và truyền thông nhà nước Trung Quốc những tháng qua không ngừng nhấn mạnh tình trạng bè phái là mối đe dọa nghiêm trọng với đảng Cộng sản và không thể dung thứ. Những chỉ trích này hoàn toàn khác những phát biểu trước đây của lãnh đạo Trung Quốc, rằng nội bộ hàng ngũ lãnh đạo đều đoàn kết.

“Cả Từ và Quách đều hình thành phe cánh cho riêng mình, nhưng Từ bị “đả” trước bởi ông ta đã cố ý sắp xếp để tay chân của mình ngồi vào các vị trí trong CMC trước khi ông Tập kế nhiệm ông Giang tại cương vị Chủ tịch CMC cuối năm 2012. Điều này khiến ông Tập rất tức giận”, vị thượng tá khẳng định.

Theo số cựu lãnh đạo PLA, các phe cánh trong PLA, vốn bị cáo buộc biển thủ ngân sách quốc phòng, đã biến quân đội thành một hệ thống, mà trong đó các sỹ quan được thăng tiến không phải nhờ kỹ năng hoặc thành tích, mà nhờ sức mạnh tài chính. Hệ quả là những người trình độ kém vẫn luồn lách lên được vị trí cao.

Bản thân Quách Bá Hùng đã leo lên ghế lãnh đạo CMC mà chưa hề có kinh nghiệm chiến đấu như những người tiền nhiệm. Năm 1961, ông Quách gia nhập quân đội tại sư đoàn số 55, quân khu Lan Châu.

Đến những năm 1990, Quách đã là tư lệnh quân đoàn bộ binh số 47, tại quân khu Lan Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1993, Quách được điều về bộ chỉ huy quân khu Bắc Kinh, giữ chức phó tư lệnh.

Sau tuyên bố trung thành với Giang Trạch Dân, Quách được điều về lại Lan Châu làm tư lệnh quân khu này cho tới năm 1997. Người tiền nhiệm của ông Quách tại quân khu Lan Châu bị buộc phải từ chức.

Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu (phải) đều là phó chủ tịch CMC và cùng bị điều tra tham nhũng (Ảnh: NDTV)

“Liu Jingsong khi đó chỉ cần thêm một năm nữa là đủ tuổi về hưu, 65 tuổi. Vậy nhưng ông đã phải nhường ghế cho Quách theo lệnh của ông Giang”, một nguồn tin trọng Học viện khoa học quân sự tiết lộ. Hai năm sau đó, ông Quách tiếp tục thăng tiến lên phó chủ nhiệm Bộ tổng tham mưu PLA, một trong 4 cơ quan đầu não của PLA, phụ trách mua sắm vũ khí, huấn luyện và chiến lược.

Năm 2002, khi ông Hồ Cẩm Đảo đắc cử Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Giang Trạch Dân vẫn còn tiếp tục ngồi ghế chủ tịch CMC thêm 2 năm nữa. Ngay cả khi về hưu, ông Giang vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn tới PLA, thông qua Quách và Từ, các nguồn tin nội bộ cho biết. Năm 2002, Quách được cất nhắc lên phó chủ tịch CMC, còn Từ cũng ngồi vào ghế này 2 năm sau đó.

Phải đến năm 2010, thay đổi trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của quân đội mới diễn ra, khi thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc bầu ông Tập Cận Bình làm phó chủ tịch thứ ba của CMC.

Có những đồn đoán trong hàng ngũ sỹ quan cấp cao PLA rằng, ông Hồ Cẩm Đào đã “bỏ nhỏ” ông Tập về việc mình bị phe cánh của Giang Trạch Dân “bó buộc tay chân” mỗi khi đụng đến các lợi ích trong PLA. Nhưng ông Tập có thể thành công, nhờ uy tín chính trị của gia đình và bản thân ông Tập từng là thư ký của cựu bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Geng Biao.

Ngay khi ông Hồ Cẩm Đào trao quyền chủ tịch nước cho ông Tập, ông đồng thời trao lại vị trí trong CMC, điều chưa từng có tiền lệ. Suốt nhiều thập niên, các lãnh đạo Trung Quốc khi rời ghế chủ tịch vẫn thường lưu lại trong CMC. Nhờ đó, ông Tập nhanh chóng củng cố được vị thế.

Theo vị thượng tá tại Thượng Hải, các phe cánh trong PLA bị đưa vào tầm ngắm từ năm 2014, khi tờ báo chính thức của PLA là PLA Dailythường xuất bản những bài viết của các thành viên CMC cũng như tư lệnh các quân khu. Đây được tin là cơ hội ông Tập trao cho các tướng lĩnh để “nói thẳng” và bày tỏ lòng trung thành.

Khi đó, nhiều cấp dưới trước đây của ông Quách đã khẳng định sẽ trung thành với ông Tập. Và đến khi ông Từ bị “đả” tháng 3/2013, tin đồn ông Quách là “con hổ” tiếp theo bị nhắm tới lan rộng. Và đến tháng 11, những nhân vật chủ chốt trong phe “Tây Bắc” của Quách bị “sờ gáy”.

Ngày 13/11/2014, thiếu tướng Ma Faxiang, phó chính ủy hải quân tự sát. Thư ký riêng của trung tướng Lai Ceyi, cựu phó tư lệnh quân đoàn xây dựng và sản xuất Tân Cương, bị bãi nhiệm hồi tháng Giêng. Cùng khoảng thời gian này, thiếu tướng Fan Changmi, nguyên phó chính ủy quân khu Lan Châu, cũng bị bắt, PLA Daily đưa tin.

Cho đến nay, một số nhân vật chưa bị “sờ gáy” gồm phó chủ nhiệm tổng cục chính trị Du Jincai, tham mưu trưởng Fang Fenghui, và tư lệnh bộ chỉ huy quân khu Quảng Châu Xu Fenlin.

Trong khi đó, việc con trai của Quách Bá Hùng, trung tướng Quách Chính Cương bị điều  travì “phạm pháp và phạm các tội danh hình sự” bởi PLA hồi tháng 3, cũng như việc vợ Quách Chính Cương tham gia các dự án bất động sản đáng ngờ, cũng càng cho thấy rõ các thành phần trong “phe Tây Bắc” bị bóc gỡ.

Theo SCMP

anhbasam.wordpress.com

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Thảm sát Thiên An Môn, 1989

Posted by hoangtran204 on 06/06/2015

Ngọn Hải Đăng

Dù sự kiện thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn được cả thế giới biết đến, nhưng suốt 26 năm qua Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vẫn luôn phủ nhận cuộc đàn áp này.v26 năm trước vào ngày 4/6/1989, hàng ngàn sinh viên đã bị giết chết một cách man rợ tại quảng trường Thiên An Môn bởi quân đội của ĐCSTQ bằng súng và bánh xe tăng …

Bối cảnh

Năm 1989, kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, người dân đói khổ trong khi tham nhũng tràn lan trong hàng ngũ các quan chức ĐCS Trung Quốc. ĐCSTQ vẫn luôn đánh bóng mình với ngôn từ “Đảng là quang vinh vĩ đại”, là “không bao giờ sai” và dập tắt tất cả các tiếng nói hay nguyện vọng của giới trí thức và sinh viên thời bấy giờ. Điều này gây ra nhiều bất bình trong dân chúng.

Do đó vào tháng 4/1989, khi cố Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang qua đời, người dân Trung Quốc xuống đường dự lễ tang và thương tiếc cho một người luôn có xu hướng cải cách, đồng thời cũng biểu tình phản đối nạn tham nhũng và độc đoán không dân chủ của chính quyền.

Diễn biến cuộc biểu tình

Cuộc biểu tình kéo dài khiến Bắc Kinh lúng túng, nhiều đảng viên cấp cao lại tỏ vẻ ủng hộ, thậm chí yểm trợ cho người dân biểu tình.

Lễ tang Hồ Diệu Bang đã biến thành cuộc biểu tình phản đối tham nhũng, yêu cầu dân chủ. Ảnh: GEO Epoche

Sinh viên của Đại học Bắc Kinh đã thành lập “Liên hiệp Sinh viên Thống nhất”, với 7 lãnh đạo trẻ tuổi, trong đó có Vương Đan là một sinh viên khoa Sử 20 tuổi.

Vương Đan đang nêu lên nguyện vọng của sinh viên. Ảnh: GEO Epoche.

Ngày 22/4/1989, ngày diễn ra tang lễ của ông Hồ Diệu Bang. Khi bình minh chưa ló dạng, hơn 80.000 sinh viên của 20 trường đại học diễu hành tiến đến quảng trường Thiên An Môn.

Trong khi chỉ vì muốn đề xuất chính kiến của mình mà sinh viên bị tờ “Nhân dân Nhật báo” quy kết cho là các phần tử “bạo loạn”, “phản động” và “làm chính trị”. Sinh viên bỗng chốc trở thành tội phạm của quốc gia, thành những phần tử đối nghịch với Đảng.

Ngày 27/4/1989, đoàn người biểu tình kéo nhau đi khắp thành phố Bắc Kinh, giương cao những tấm biểu ngữ và hô vang “tự do dân chủ muôn năm.” Hàng trăm ngàn người đứng ngoài cũng cổ vũ và hô to theo đoàn người biểu tình, trong đó có nhiều người còn cẩn thận nhắc nhở cảnh sát đừng đánh sinh viên.

Sau cuộc diễu hành, họ tụ tập về quảng trường Thiên An Môn, lúc này con số đã lên đến 150.000 người.

Ngủ qua đêm tại Thiên An Môn, biểu tình kéo dài khiến lãnh đạo sinh viên gặp khó khăn trong việc cung cấp thức ăn nước uống, và điều kiện sinh hoạt. Ảnh: GEO Epoche

Nội bộ ĐCSTQ chia làm 2 phe rõ rệt, một phe theo Tổng Bí thư Triệu Tử Dương muốn thương lượng với sinh viên, và một phe theo Thủ tướng Lý Bằng muốn dập tắt cuộc biểu tình nhưng chưa tìm được biện pháp mạnh nào.

Ngày 4/5/1989 là ngày kỷ niệm phong trào ngũ tứ (biểu tình phản đối việc giao tỉnh Sơn Đông cho Nhật Bản), có đến nửa triệu người tập trung ở quảng trường Thiên An Môn tưởng niệm cuộc biểu tình này.

Ngày 17/5/1989, một triệu người đổ về Thiên An Môn bằng các phương tiện khác nhau, bao gồm sinh viên, công nhân, trí thức, nhân viên nhà nước, nhà báo của tờ “Nhân dân Nhật báo”, đài truyền hình nhà nước và cả những cảnh sát trẻ tuổi … Họ giơ cao biểu ngữ “Đặng, anh già rồi” hay ”Giá cả tăng, lương teo lại.”

Trong khi ông Triệu Tử Dương hoàn toàn không có ý định đàn áp sinh viên thì các vị lãnh đạo lão thành lại muốn tiến hành đàn áp. Ông Đặng Tiểu Bình nói “Chúng ta sẽ giết 200 nghìn người để đổi lấy 20 năm ổn định”. Ý tưởng của ông Đặng Tiểu Bình phù hợp với mục đích căn bản của ĐCSTQ là nắm quyền cai trị độc tài, vì vậy nó đã được ĐCSTQ chấp thuận.

Ông Triệu Tử Dương muốn đàm phán với sinh viên và không đồng ý tiến hành đàn áp. Điều này không phù hợp với mục đích của Đảng. Do đó, ông bị cách chức, cách ly và bị giam lỏng tại gia cho đến ngày qua đời.

Biểu tình khắp Bắc Kinh. Ảnh: GEO Epoche

Diễn biến cuộc thảm sát

Ngày 20/5/1989, Thủ tướng Lý Bằng huy động 22 sư đoàn với xe tăng và đại bác, tổng cộng 180.000 quân tiến vào thủ đô.

Các sinh viên trong doanh trại chỉ huy cuộc biểu tình tuyệt thực phân phát một tờ truyền đơn mà trong đó họ yêu cầu “chống lại cuộc tiến quân của quân đội”. Hơn 270 chiếc xe buýt được đẩy ra ngã tư và xì hơi lốp để làm chướng ngại vật.

Để chặn quân đội lại, tài xế xe buýt để xe của họ nằm ngang qua trên các đại lộ của Bắc Kinh và xì lốp xe. Ảnh: GEO Epoche

Đến lúc này vẫn còn 500 ngàn người tại quang trường Thiên An Môn, sinh viên vẫn đang kiểm soát quảng trường này.

Ngày 29/5/1989, cuộc biểu tình kéo dài làm nhiều sinh viên kiệt sức, không khí cuộc biểu tình đã giảm hẳn xuống. Nhiều sinh viên tin rằng mình đã chuyển tải được thông điệp đến các lãnh đạo Đảng và người dân toàn xã hội rồi.

Trong lúc tinh thần của sinh viên đang chùng xuống, thì lúc 22 giờ 30, sinh viên của Học viện Nghệ thuật Trung ương đẩy “Nữ thần tự do” ra Thiên An Môn. Đây là một bức tượng cao 10m bằng thạch cao được tạc theo bức tượng Nữ thần Tự do ở New York. Bức tượng được khai mạc vào sáng hôm sau và được đặt bên cạnh đài kỷ niệm của những người anh hùng. Điều này khiến cho tinh thần sinh viên phấn chấn hơn lên.

Thiên An Môn ngày 30 tháng 5 sinh viên đưa tượng nữ thần tự do cao 10m. Đối với nhiều người hiện giờ đã kiệt sức thì đấy là một biểu tượng mới của hy vọng – thế nhưng đối với giới lãnh đạo nhà nước thì đấy là một sự khiêu khích ngay giữa Bắc Kinh. Ảnh: GEO Epoche.

Ngày 2/6/1989, ông Đặng Tiểu Bình nói, “Tôi đề nghị để cho quân đội khẩn cấp thực hiện kế hoạch giải tỏa quảng trường vào tối nay và kết thúc trong vòng hai ngày.”

0 giờ ngày 3/6/1989, quân đội đang đóng ở ngoại ô được lệnh tiến vào thành phố. Những người lính này được thông báo rằng Bắc Kinh có một cuộc bạo động, nhiều người lính đã bị bắt cóc và giết chết. Quảng trường Thiên An Môn hiện đang bị chiếm giữ bởi những kẻ bạo loạn phản cách mạng và cần phải bị tiêu diệt.

Sau này những người lính mới hiểu rằng đấy chỉ là thông tin bịa đặt, nhiều người vì điều này mà cho đến ngày nay vẫn còn bị dằn vặt trong nước mắt.

Nhiệm vụ kiểm soát Thiên An Môn được giao cho sư đoàn 112 và 113, sư đoàn xe tăng số 6 của quân đoàn 38.

Quân lính mặc thường phục giả dạng người dân để dọn dẹp các chướng ngại trên đường phố cho xe quân sự và xe tăng tiến vào.

1 giờ sáng, sinh viên nhận được tin quân đội đang tiến vào, thông tin được loan báo nhanh chóng đến quảng trường Thiên An Môn và các trường đại học, nhiều người đã tụ tập tại các ngã tư đường để cản xe quân đội.

18h30 chính quyền thành phố Bắc Kinh ra thông báo: “Đừng ra đường phố và đến Thiên An Môn. Tất cả các công nhân phải ở lại nơi làm việc và tất cả các công dân phải ở trong nhà để bảo vệ cho tính mạng của mình.”.

21 giờ 00, nhiều sinh viên và người dân đã trở về nhà sau những lời cảnh báo, một số khác kéo đến các khu phố ngoại thành để chặn đường quân lính. Đại lộ Trường An vắng vẻ, chỉ còn khoảng 1.000 người biểu tình đứng ở đó. Nhưng vẫn còn vài chục ngàn người chiếm giữ Thiên An Môn.

22 giờ 30, gần cầu Mộc Tê Địa, khoảng 10.000 người chặn một đoàn xe tải quân đội lại. Những chiếc xe tải dừng lại cách đám đông 20 hay 30 mét. “Phát xít! Quân giết người!” tiếng người dân hô vang lên, người dân ném gạch đá và chai lọ vào binh lính.

Quân lính bất thình lình bắn vào đám đông, hàng trăm người dân và sinh viên đã gục xuống trong vũng máu.

23 giờ, xe tải chở quân đội tiến vào thành phố, để lại hàng trăm người chết và bị thương nằm la liệt, nhiều người dân cố gắng đẩy những chiếc xe buýt đang bị cháy lên cầu Mộc Tê Địa để chặn các đoàn xe chở quân tiếp theo.

Chủ nhật lúc 1 giờ sáng ngày 4/6/1989, quân đội được trang bị súng AK 47 cùng xe tải và xe tăng xông vào quảng trường Thiên An Môn từ mọi hướng. Những người lính đã bị lừa dối rằng, sinh viên trong quảng trường là bè lũ phản động, chống đối Đảng cần phải bị tiêu diệt.

Xe tăng tiến vào Thiên An Môn

4 giờ sáng bất thình lình trời tối sầm lại, đèn điện trong quảng trường Thiên An Môn bị tắt hết. Quân lính tiến vào quảng trường, người biểu tình không thấy do trời tối.

4h30 đèn điện lại vụt sáng trở lại, lúc này các sinh viên mới giật mình khi phát hiện mình đã bị quân lính bao vây chặt, gồm cả xe tăng cũng tiến vào.

Đối mặt

Thảm sát

Tiếng súng nổ… Nhiều người trúng đạn đổ vật xuống trong vũng máu, tiếng xe tăng gầm lên san bằng tất cả. Quảng trường Thiên An Môn ngập trong máu, hàng ngàn sinh viên đã bị giết hại.

Một số sinh viên chạy thoát được ra ngoài bị xe tăng bám theo. Phương Chính là một sinh viên của Đại học Thể dục Thể thao Bắc Kinh. Anh cũng có mặt ở Thiên An Môn lúc đó nói rằng: “Khoảng 6 giờ ngày 4/6, chúng tôi rút khỏi quảng trường. Sau khi đi qua quảng trường, những chiếc xe tăng đã vòng lại lao về phía các sinh viên và bao vây họ, những người đang trên đường trở về trường của mình. Tôi là một trong những nạn nhân. Xe tăng đã cán qua chân tôi. Nhiều sinh viên của Đại học Bắc Kinh đã bị xe tăng cán chết. Một số thậm chí còn bị nghiền nát.”

Sau đó ĐCSTQ lập hồ sơ tất cả các sinh viên tham gia biểu tình với quy kết họ đã “làm chính trị”, một số sinh viên chạy trốn được ra nước ngoài và kể lại cuộc đàn áp đẫm máu tại quảng trường Thiên An Môn.

Dòng nước mắt đã chảy đến khô cạn trên khuôn mặt của những bà mẹ có con trai bị giết chết, rất nhiều bà mẹ thậm chí còn không thể tìm được xác con do bị xe tăng nghiền nát đến biến dạng.

Đến nay ĐCSTQ vẫn che dấu và không thừa nhận cuộc đàn áp này với người dân Trung Quốc. Hàng năm cứ đến ngày 4/6, chính quyền lại kiểm soát chặt chẽ thông tin tưởng niệm cuộc biểu tình này, internet cũng được kiểm soát rất chặt.

Thế nhưng, nhiều người dân Trung Quốc vẫn không thể quên ký ức về một Thiên An Môn đẫm máu. Những người mẹ có con bị giết hại đã thành lập “Hội những người mẹ Thiên An Môn”. Hàng năm cứ đến ngày 4/6 cộng đồng người Hoa toàn thế giới đều có tưởng niệm những nạn nhân đã bị giết hại.

Chiều mùng 4/6/2014 ở công viên Victory, Hồng Kông, khoảng 180 nghìn người lặng lẽ thắp nến tưởng niệm các sinh viên thiệt mạng dưới bánh xe tăng trong vụ thảm sát đẫm máu năm 1989 ở Thiên An Môn.

Những người lính 26 năm trước từng giương súng bắn vào sinh viên, hay lái xe tăng nghiền nát thi thể họ, giờ đây đã nhận ra rằng mình bị Đảng lừa dối. Người mà họ giết chết không phải là những “kẻ phản động” hay “làm chính trị”, chống đối lại nhân dân, mà đó là những con người hoàn toàn vô tội.

Lý Hiểu Minh là một sỹ quan quân đội từng tham gia đàn áp sinh viên tại Thiên An Môn kể cho đài truyền hình NOW Hồng Kông về sự kiện này: “Chính quyền nói dối rằng nhiều binh lính của binh chủng giới nghiêm đã bị bắt cóc, giết hại; bị cướp vũ khí và một cuộc bạo loạn đã xảy ra ở Bắc Kinh. Vì thế họ cho rằng một cuộc bạo động phản đối cách mạng đã diễn ra.”

Không chỉ binh lính, mà ngày càng có nhiều người dân biết về sự thật này. Thế nhưng biết đến bao giờ ĐCS Trung Quốc mới thừa nhận và trả lời cho người dân Trung Hoa về tội ác mà Đảng đã gây ra tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989?

________________________

Một nhóm sinh viên đại học Trung Quốc du học ở nước ngoài đang phổ biến một bức thư ngỏ kêu gọi các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nhận lãnh trách nhiệm về những hành vi tàn ác đã phạm cách đây đúng 26 năm, khi lực lượng Trung Quốc giải tán người biểu tình đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn.

Bức thư do sinh viên cao học trường Đại học Georgia viết và có chữ ký của 10 sinh viên khác, là cố gắng mới nhất để chống lại chiến dịch tuyên truyền ráo riết vây quanh vụ việc trong đó hàng trăm và có thể cả hàng ngàn người biểu tình ôn hòa đã bị sát hại.

Bắc Kinh không cho phép công khai bàn luận hay tưởng niệm vụ Quân đội Giải phóng Nhân dân thảm sát sinh viên biểu tình vào tháng 6 năm 1989. Các sinh viên này tụ tập ở trung tâm Bắc Kinh và các nơi khác khắp nước đòi cải cách dân chủ và chấm dứt nạn tham nhũng tràn làn trong các giới chức.

Kết quả là, nhiều người Trung Quốc trẻ tuổi không biết ngay cả các chi tiết cơ bản của sự kiện được coi như một trong những thời khắc quyết định nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc. Những người viết bức thư hy vọng nỗ lực của họ sẽ giúp gia tăng nhận thức quần chúng ở Trung Quốc.

Kẻ giết người phải bị xét xử

Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.

Bức thư viết, “Càng biết nhiều, chúng tôi càng cảm thấy chúng ta gánh một trách nhiệm nghiêm trọng trên vai. Hỡi các bạn sinh viên đại học trong nước, chúng tôi viết bức thư ngỏ này để chia sẻ sự thực với các bạn và phơi bày các tội ác đã phạm cho tới ngày hôm nay, liên quan đến vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989.”

Bức thư viết tiếp: “Chúng tôi không yêu cầu đảng Cộng sản Trung Quốc đền bù lại những sự kiện đã xảy ra vào mùa xuân ấy, bởi vì chúng tôi không trông mong những kẻ giết người sẽ thanh minh cho những người đã chết, nhưng những kẻ giết người phải bị xét xử. Chúng ta không quên, cũng không tha thứ, cho đến khi nào đạt được công lý và cuộc đàn áp đang tiếp diễn phải chấm dứt.”

Bức thư đã được phổ biến bên trong Trung Quốc dưới dạng PDF, một hình thức hồ sơ đã giúp vượt qua dễ dàng những cơ quan kiểm duyệt gay gắt của Trung Quốc. Hồ sơ cũng đã nhiều người đọc hơn sau khi nhật báo Global Times của đảng Cộng sản viết một bài xã luận đả kích bức thư.

Báo Bắc Kinh đả kích ‘Các Lực lượng Thù địch Nước ngoài’

Báo Global Times, với các bài xã luận thường phản ánh các ý kiến chính thức, đả kích những “quan điểm cực đoan” về vụ Thiên An Môn. Bài báo viết, “Bức thư của sinh viên đả kích gay gắt chế độ đương thời của Trung Quốc, bóp méo các sự kiện cách đây 26 năm với những lời tường thuật của các lực lượng thù địch nước ngoài.”

Bài báo nói thêm, “Nếu bức thư thực sự do một vài sinh viên nước ngoài viết, chúng ta phải nói rằng những người trẻ tuổi ấy đã bị tẩy não ở các nước ngoài, bắt chước nhóm thiểu số nghi kỵ ở nước ngoài.”

Giới hữu trách kiểm duyệt Trung Quốc sau đó đã yêu cầu gỡ bỏ bài báo Global Times khỏi các cổng thông tin trên mạng, theo trang web của China Digital Times, có lẽ bởi vì bài báo lại có tác dụng ngược lại với ý đồ của nó.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi đề cập đến vụ Thiên An Môn, thường tìm cách biện minh cho vụ trấn át tàn bạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân bằng cách nêu bật tiến bộ ồ ạt về kinh tế mà giới lãnh đạo đảng Cộng sản đã đạt được trong những thập niên sau đó.

Cựu Phụ tá viết bài Xã luận nghiêm khắc

Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.

Một cố vấn lâu năm cho cựu thủ tướng Triệu Tử Dương tuần này đã chống đối lập luận đó. Trong một bài xã luận đăng trên báo New York Times, ông Bao Đồng nói, “nhiều người cầu mong giới lãnh đạo đảng tự nguyện thú thực sự bất công và tính phi pháp của những vụ giết hại đó.”

Ông nói, “Đây cũng là hy vọng của tôi. Nhưng tôi không lạc quan, bởi vì cho đến giờ này, chưa có mấy dấu hiệu gợi ý là điều này sẽ xảy ra.”

Ông Bao cũng lên án điều ông gọi là “tình trạng tham nhũng từ trên xuống dưới” của đảng Cộng sản, mà ông cho là đã giúp các giới chức có thế lực cùng với thân nhân của họ làm giàu bất kể người khác.

Bắc Kinh đã phát động một chiến dịch mạnh để diệt trừ tình trạng tham nhũng trong các giới chức. Nhưng chiến dịch này sẽ không có hiệu quả, theo ông Bao, một phần vì các công dân độc lập bị đối xử như tội phạm nếu họ tố giác tham nhũng.

Ông nói, “Các phong trào chống tham nhũng của quần chúng đã bị đàn áp gay gắt, giống như hồi năm 1989.”

Ông Bao từng là phụ tá của cựu thủ tướng Triệu Tử Dương, người đã có một chủ trương hòa giải hơn đối với những người biểu tình Thiên An Môn và sau đó đã bị cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình lật đổ.

Trong bài xã luận trên tờ New York Times, phát hành hôm qua, ông Bao nói trong tháng trước, ông đã bị ngăn không cho trả lời phỏng vấn. Truyền thông Hong Kong sau đó nói ông là một trong nhiều nhân vật bị buộc phải rời khỏi thủ đô Trung Quốc trước ngày kỷ niệm vụ thảm sát hôm nay.

Việc Bắc Kinh truy lùng và tạm thời làm biệt tích các nhân vật nhạy cảm đã trở thành lệ thường đối với Bắc Kinh trước ngày kỷ niệm Thiên An Môn.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Khi thiên triều sụp đổ và lịch sử sang trang (Nguyễn Gia Kiểng)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

nguyengiakieng02“…Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết, Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn…”

Khi nhận định về Trung Quốc các chuyên gia thường quên hai điều rất cơ bản. Một là Trung Quốc là một thế giới hay một đế quốc – hay một thiên hạ theo cách nói của người Trung Quốc- chứ không phải là một nước, do đó không thể lý luận và dự đoán về nó như người ta thường làm với một quốc gia. Hai là Trung Quốc vốn sẵn có một văn hóa nghi lễ lấy hình thức để tạo ấn tượng về nội dung, có khi để che giấu nội dung. Văn hóa này đã được tăng lên nhiều lần dưới chủ nghĩa cộng sản mà một đặc tính nền tảng là che đậy sự thực.

Cho đến nay thực trạng Trung Quốc đã được che đậy dưới lớp vải điều hào nhoáng của một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khiến nhiều người quên rằng kinh tế không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất của Trung Quốc.

Kinh tế Trung Quốc hết thuốc chữa

Hãy nói ngay về lớp vải điều đó. Trong gần ba thập niên Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho thế giới vì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trên 10%. Tỷ lệ này được hạ xuống 8%, rồi 7% trong những năm gần đây. Các con số chính thức của Trung Quốc dĩ nhiên là không chính xác nhưng điều có thể thấy được là hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập các thị trường thế giới, các công trình xây dựng hoành tráng và các cao ốc đồ sộ mọc lên khắp nơi, tư bản Trung Quốc đầu tư vào mọi quốc gia, từ Châu Phi đến Châu Âu, Châu Mỹ qua Việt Nam, Lào và Campuchia. Ảnh hưởng Trung Quốc tỏa rộng. Có những dự đoán theo đó Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ trong một tương lai gần.

Nhưng rồi bắt đầu có những ngờ vực. Năm 2001 có cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) gây được tiếng vang lớn. Bạn bè đã tóm lược cho tôi cuốn sách này ; nó sai vì phạm một trong hai sai lầm cơ bản đã được nói ở đầu bài này nghĩa là lý luận về Trung Quốc như một quốc gia. Dần dần quan điểm của các quan sát viên về Trung Quốc thay đổi hẳn. Mới đầu người ta tự hỏi liệu Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng không ? Rồi Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng lúc nào ? Và bây giờ câu hỏi đặt ra là Trung Quốc sẽ còn che đậy được tình trạng suy thoái bao lâu nữa và lúc đó tương lai Trung Quốc sẽ ra sao ?

Tất cả những đèn báo động đều đã đỏ rực. Nợ công của Trung Quốc được ước lượng bởi mọi định chế thẩm định (rating agencies) là ở mức 300% GDP, nghĩa là cao một cách nghiêm trọng. Nhưng con số này có thể chỉ là một phần của sự thực bởi vì không bao gồm những khoản nợ không chính thức hoặc không hợp pháp đầy rẫy trong xã hội Trung Quốc. Thí dụ như tình trạng tuyệt đại đa số các công ty nhà nước lớn mượn tiền của ngân hàng trung ương với lãi suất ưu đãi rồi cho các công ty nhỏ hoặc tư nhân vay lại với lãi suất cao, hay phần lớn các chính quyền địa phương không khai đúng số nợ.

Kinh tế Trung Quốc dựa trên xuất khẩu nhưng xuất khẩu đã giảm hẳn từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Trong năm 2014 vừa qua, ngoại thương Trung Quốc đã sụt 11% (xuất khẩu giảm 3,3%, nhập khẩu giảm 22%), dầu vậy tỷ lệ tăng trưởng chính thức vẫn là 7,3%. Nhưng làm sao một nền kinh tế đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể tăng trưởng 7,3 % trong khi ngoại thương suy sụp ?

Công ty tham vấn Lombard Street Research của Anh, vẫn sử dụng những dữ kiện của chính quyền Trung Quốc nhưng tính lại một cách nghiêm chỉnh hơn, cho biết tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc năm 2014 chỉ là 1,7%. Tuy vậy ngay cả tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn này cũng không thể có vì dựa trên những số liệu sai, thí dụ như các công ty sản xuất rồi bỏ vào kho vì không bán được hàng nhưng vẫn kể vào sản xuất, và khi sản phẩm đã hư hỏng cũng không khai v.v.

Một chỉ số đo lường lòng tin vào một nền kinh tế là chỉ số chứng khoán. Cuối năm 2007 chỉ số chứng khoán SSE của Trung Quốc lên tới cao điểm 6.000. Sau đó là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 làm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp. Ngày nay hầu như tất cả các chỉ số chứng khoán đều đã phục hồi được mức độ của năm 2007, các chỉ số của Mỹ, Đức và Nhật còn vượt xa mức 2007, nhưng chỉ số SSE của Trung Quốc vẫn chỉ quanh quẩn ở con số 4.000.

Lòng tin vào tương lai của kinh tế Trung Quốc còn thể hiện qua một con số khác. Kết quả của một cuộc thăm dò của Hurun Research Institute (Thượng Hải) và vừa được học giả David Shambaugh nhắc lại trênWall Street Journal cho thấy 64% các đại gia Trung Quốc đã hoặc đang chuẩn bị di chuyển ra nước ngoài. Tư bản Trung Quốc đang tháo chạy. Một hiện tượng khác mà Shambaugh cho biết là chính quyền Mỹ đang theo dõi sự kiện rất nhiều phụ nữ Trung Quốc giầu có sang Mỹ sinh đẻ để con có quốc tịch Mỹ. Nếu tương lai Trung Quốc tươi sáng tại sao những người được ưu đãi nhất lại bỏ đi ?

Trong mọi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài các doanh nhân Trung Quốc không còn giấu giếm nữa. Họ nói thẳng là họ đang sản xuất với mức lời rất thấp hoặc lỗ nhưng vẫn phải sản xuất theo kế hoạch.

Nhưng kế hoạch nào ? Từ năm 2008 trong khi mọi quốc gia cố gắng vùng vẫy để ra khỏi cuộc khủng hoảng thì Trung Quốc đã có một chọn lựa khác hẳn. Đó là coi như không có khủng hoảng và bơm tiền ồ ạt vào sinh hoạt kinh tế, đẩy mạnh chi phí công cộng và ngành xây dựng để giữ nguyên mức độ tăng trưởng, với hậu quả là số nợ công tăng gấp bốn lần, các kho hàng của các công ty đầy ứ và rất nhiều thành phố ma xuất hiện tại rất nhiều nơi. Khủng hoảng càng che giấu lâu bao nhiêu thì càng trầm trọng thêm bấy nhiêu và bây giờ nó không còn giải pháp.

Năm 2013 khi mới lên cầm quyền, Tập Cận Bình ra lệnh giới hạn khối lượng tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và kiểm soát tín dụng. Ông đã phải nhanh chóng từ bỏ biện pháp này -đúng trên nguyên tắc- trước nguy cơ sụp đổ tức khắc ; không những thế, chính quyền Bắc Kinh còn phải bơm tiền nhiều hơn nữa cho các ngân hàng và công ty. Sự kiện này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa, sự sụp đổ chỉ còn là một vấn đề thời gian. Thời gian đó có thể rất gần vì ngay cả biện pháp bơm tiền cũng không còn hiệu quả nhất thời của nó nữa. Năm 2013 nhiều công ty muốn vay tiền mà không được, hiện nay đại đa số các công ty từ chối vay vì không biết dùng tiền để làm gì.

Một sự kiện khác cũng chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không cứu vãn được. Giải pháp tự nhiên khi mô hình hướng ngoại không còn theo đuổi được nữa là tăng cường thị trường nội địa. Đó là điều Trung Quốc đã làm nhưng đã chỉ khiến kinh tế Trung Quốc nguy ngập hơn. Từ năm 2010, Trung Quốc đã liên tục tăng lương công nhân 10% mỗi năm với hy vọng là họ sẽ mua sắm nhiều hơn, nhưng mức tiêu thụ nội địa không hề gia tăng vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng khoản lợi tức mới có để tiết kiệm, phòng hờ khi đau ốm. Tuy vậy biện pháp tăng lương công nhân này đã có tác dụng làm tăng giá thành và khiến hàng hóa Trung Quốc khó bán trên các thị trường thế giới. Sự sút giảm của xuất khẩu cũng do nguyên nhân này. Trung Quốc hiện đã mất gần hết các thị trường tại Châu Âu.

Chừng nào kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự sụp đổ ? Câu trả lời là : khi chính quyền Bắc Kinh thú nhận. Nhưng họ có sẽ thú nhận không ? Hiện nay niềm tin rằng kinh tế Trung Quốc “có sụp cũng còn lâu” chủ yếu là ở chỗ Trung Quốc vẫn còn khoảng 2.000 tỷ USD công khố phiếu của Mỹ và 1.000 tỷ Euros công khố phiếu Châu Âu. Mặc dù số tiền này chẳng là bao so với số nợ công của Trung Quốc -ít nhất 30.000 tỷ USD- nhưng nó đem lại ảo tưởng là Trung Quốc vẫn còn giầu có vì vẫn còn tiền cho Mỹ và Châu Âu vay. Bắc Kinh sẽ không đụng tới những số tiền này. Có nhiều triển vọng là họ sẽ tiếp tục như hiện nay cho đến khi thực trạng suy sụp trở thành hiển nhiên đối với mọi người.

Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt

Nhưng kinh tế suy thoái không phải mối nguy lớn nhất của Trung Quốc. Mối nguy lớn nhất là môi trường. Không khí tại các tỉnh phía Bắc ô nhiễm tới mức không còn thở được nữa ; nước vừa rất thiếu vừa nhiễm độc.

Một nghiên cứu phối hợp của bốn trường đại học MIT (Mỹ), Avraham Ebeinstein (Do Thái), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Thanh Hoa (Trung Quốc) công bố tháng 7-2013 tiết lộ một sự kiện kinh khủng : tuổi thọ trung bình của khối 500 triệu người dân các tỉnh phía Bắc đã giảm 5 năm rưỡi trong thập niên 1990 chủ yếu vì môi trường ô nhiễm. Mùa hè 2007 trên chuyến bay từ Tây An tới Côn Minh tôi đọc trên báo China Daily, tờ báo tiếng Anh của chính quyền Trung Quốc, một nghiên cứu theo đó gần một nửa số sông của Trung Quốc đã hết nước.

Tháng 3/2013, một nghiên cứu công phu -từ năm 2010 đến năm 2012- của Bộ Thủy Nguồn và Viện Quốc Gia Thống Kê của chính quyền Bắc Kinh đưa ra những con số chính xác một cách đáng sợ : Trung Quốc chỉ còn 22.909 con sông, trên 28.000 con sông đã biến mất. Mỗi con sông còn lại phải đem nước cho một diện tích khoảng 100 km vuông. Như vậy có nghĩa là từ 2007 đến 2012 tình trạng thiếu nước đã xấu đi nhiều thay vì được cải thiện. Nghiên cứu này cũng cho thấy có 400 thành phố hiện chỉ dùng nước bơm từ lòng đất lên. Kết luận của nghiên cứu này là thay vì gia tăng cung cấp nước từ nay chính sách quốc gia phải chuyển sang khuyến khích dân chúng tiết kiệm nước.

Tình trạng xuống cấp nguy ngập của môi trường chỉ một phần rất nhỏ do thiên nhiên, phần rất lớn là do chính sách tăng trưởng kinh tế hoang dại bất chấp môi trường. Cần lưu ý là bảo vệ thiên nhiên không phải là ưu tư của văn hóa Trung Hoa và Việt Nam truyền thống, trái lại người ta ca tụng những anh hùng có chí lớn “sẻ núi lấp sông”. Nó cũng hoàn toàn vắng mặt trong chủ nghĩa cộng sản.

Vài năm trước tôi đọc một bài phóng sự trên báo Le Monde nói về một con sông có cái tên ngộ nghĩnh là Nộ Giang, nghĩa là dòng sông giận dữ, chảy từ Trung Quốc sang Myanmar. Lý do khiến người ta đặt tên như vậy là vì nước sông chảy rất mạnh. Nhưng ngày nay con sông này còn có một lý do chính đáng khác để nổi giận : nó trở thành nơi đổ rác chính thức của các thị xã chung quanh. Chính quyền địa phương xây rất nhiều bệ bê tông để các xe rác của các thị xã có thể đổ rác xuống sông một cách an toàn. Mỗi ngày hàng trăm tấn rác đủ loại được dòng nước cuốn sang Myanmar và trở thành một vấn đề của Myanmar.

rac_tren_song_nogiang
Một xe đổ rác của sở rác thị xã đang đổ rác suống sông Nộ Giang

Năm 2007 tại Bắc Kinh tôi không nhìn thấy mặt trời dù biết nó ở ngay trên đầu mình vì đang giữa trưa và trời rất nóng. Không khí đục ngầu vì khói từ các nhà máy không xử lý khí thải. Tôi hỏi anh hướng dẫn viên từ bao lâu rồi anh không còn nhìn thấy mặt trời nữa. Anh ta không nhớ.

bautroi_hoabac
Bầu trời Hoa Bắc

Năm 2000 lượng nước trung bình của mỗi người Trung Quốc chỉ bằng 15% mức trung bình thế giới. Bây giờ tình trạng còn bi đát hơn nhiều. Tại các tỉnh phía Tây trước đây phải đào sâu xuống 30m mới tìm được nguồn nước, bây giờ phải đào xuống 100m, mặt đất cứng như bê tông. Đó là hậu quả của việc trồng bông để xuất khẩu quần jean. Một đất nước trước hết là đất và nước, khi đất đã cằn cỗi, không khí và nước đã ô nhiễm đến nỗi không thở được và uống được thì cũng chẳng còn gì để nói. Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt. Đó là lý do chính khiến rất nhiều người muốn rời Trung Quốc bằng mọi giá. Họ sợ chết.

Một chế độ tuyệt vọng

Mối nguy nghiêm trọng thứ hai, cũng nghiêm trọng hơn hẳn sự suy thoái của kinh tế, là bế tắc chính trị. Các quan sát viên theo dõi tình hình Trung Quốc đều đồng ý rằng đàng sau chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình là cố gắng tập trung quyền hành về trung ương và về tay ông.

Tham nhũng chỉ là lý cớ. Chính Tập Cận Bình cũng tham nhũng, nếu không làm sao ông có thể có một tài sản trị giá trên 200 triệu USD ? Không khác gì thủ tướng Ôn Gia Bảo trước đây tỏ ra rất quan tâm đến dân nghèo để rồi người ta phát giác ra rằng ông có hơn 2 tỷ USD. Các phe đảng của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang chắc chắn không khoanh tay chờ bị thanh toán. Chủ nghĩa Mác-Lenin đã bị lố bịch hóa và không thể là xi măng gắn bó 85 triệu đảng viên cộng sản với nhau nữa, chỉ còn lại sự tranh giành quyền lực và quyền lợi.

Các tỉnh cũng không thể chịu đựng mãi ách thống trị của trục Bắc Kinh – Thượng Hải và sự chênh lệch giữa các vùng. Chưa kể là với sự sút giảm bi thảm của nguồn nước một cuộc chiến tranh giành nước tương tự như ở Trung Đông có thể diễn ra ; trên thực tế đã có xung đột giữa các tỉnh, thậm chí giữa các huyện trong cùng một tỉnh, để tranh giành những con sông vừa cạn vừa ô nhiễm.

Cần nhắc lại để nhấn mạnh rằng, Trung Quốc là một thiên hạ chứ không phải là một nước, lòng yêu nước đối với một người Trung Quốc chủ yếu là một tình cảm địa phương. Không cứ gì các sắc dân thiểu số, tuy cùng được gọi là người Hán nhưng một người Hán ở Côn Minh hoàn toàn không nhìn những người Hán ở Bắc Kinh hoặc Thượng Hải như những đồng bào. Quan hệ giữa các tỉnh Trung Quốc còn lỏng lẻo hơn nhiều so với quan hệ giữa các nước Châu Âu, đôi khi còn mang những thù hận chưa được hóa giải của quá khứ.

Trong suốt dòng lịch sử dài của nó, sự thống nhất của Trung Quốc đã chỉ được duy trì bằng bạo lực và tàn sát. Thí dụ như giữa thế kỷ 19 để dẹp cuộc khởi nghĩa ly khai của Hồng Tú Toàn nhà Thanh đã tàn sát 70% dân chúng các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và 90% dân chúng tỉnh Quý Châu. Tinh thần dân tộc của người Trung Quốc hầu như không có. Chính vì thế mà các nước rất nhỏ bé và chậm tiến như Mông Cổ và Mãn Châu đã có thể thiết lập những ách thống trị lâu dài. Các triều đại Nguyên, Thanh sau cùng đã cáo chung vì tham nhũng và lỗi thời chứ không phải vì là những ách thống trị ngoại bang.

Bế tắc chính trị của chế độ cộng sản Trung Quốc cũng đã chứng tỏ không có lối thoát. Khi mới lên cầm quyền Hồ Cẩm Đào đã muốn nới lỏng dần dần những quyền con người cơ bản với hy vọng chuyển hóa dần dần về dân chủ trong trật tự nhưng trong những năm cuối, nhất là từ năm 2011 trở đi, ông đã phải đảo ngược chính sách và gia tăng đàn áp. Năm 2013 Tập Cận Bình lên cầm quyền với một chủ trương rõ rệt : từ chối cải tổ chính trị, tăng cường độc quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và thanh trừng mọi khuynh hướng ly tâm trong đảng. Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết nhưng ít ra cũng đã tránh cho Liên Xô một sự sụp đổ trong hỗn loạn. Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn.

Nhưng việc phải làm đó là gì ? Đó chính là sự chuyển hóa bắt buộc về dân chủ. Các tiến bộ về giao thông và truyền thông đã thay đổi hẳn thế giới, kể cả Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế trong ba thập niên qua cũng đã cho người Trung Quốc thêm sức mạnh. Họ đã hiểu rằng con người phải có những quyền căn bản, họ muốn và ngày càng có thêm khả năng để đòi hỏi những quyền đó.

Nhưng vấn đề là Trung Quốc không thể tồn tại với lãnh thổ và dân số hiện nay dưới một chế độ dân chủ vì các vùng của Trung Quốc quá khác nhau và cũng không muốn chia sẻ một tương lai chung. Vấn đề cũng là chủ nghĩa cộng sản, chất keo gắn bó các vùng với nhau, đã trở thành ghê tởm. Trên trang Webwww.ninecommentaries.com do phong trào Thoái Đảng thiết lập từ tháng 11/2014 hàng ngày trên 50.000 người tuyên bố ly khai với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Số người ly khai hiện đã lên quá 200 triệu.

Lịch sử Trung Quốc nói chung là sự lặp lại của cùng một kịch bản, một kịch bản chưa thay đổi vì thể chế chính trị vẫn còn là một thể chế tập trung chuyên chính. Kịch bản đó như sau : một chính quyền được dựng lên trong hoàn cảnh xã hội tan hoang và kiệt quệ ; chính quyền thành công trong những năm đầu và xã hội dần dần hồi sinh ; xã hội càng hồi sinh thì nhu cầu kiểm soát càng lớn và chính quyền càng cần tăng cường bộ máy cai trị ; bộ máy quan liêu vì thế tiếp tục phình ra và sau cùng trở thành mạnh hơn quyền lực chính trị ; kết quả là quyền lực chính trị suy yếu dần và tích lũy mâu thuẫn, cuối cùng bị một lực lượng khác đánh đổ sau một cuộc xung đột làm xã hội suy kiệt ; và kịch bản bắt đầu lại từ số không. Kịch bản này hiện đã tới màn cuối dưới chế độ cộng sản. Tập Cận Bình đang cố xiết lại để ngăn ngừa sự xuất hiện của một lực lượng mới.

Khi Nguyễn Tấn Dũng lặp đi lặp lại là “nhất quyết không để nhem nhúm những tổ chức đối lập”, ông ta chỉ nhắc lại một ám ảnh của quan thầy Bắc Kinh.

Phải lo ngại cái gì ?

Chế độ cộng sản Trung Quốc còn trụ được bao lâu nữa ?

Như đã nói ở đầu bài này, đừng nên quên rằng Trung Quốc không phải là một quốc gia mà là một thế giới, một thiên hạ hay một đế quốc tùy cách nhìn, do đó sự thay đổi chế độ sẽ không nhanh chóng như trong một quốc gia mà sẽ diễn ra một cách tương tự như sự tàn lụi của một đế quốc. Các giai đoạn cuối trào của các đế quốc nói chung và của Trung Quốc nói riêng thường kéo dài khá lâu. Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi dồn dập. Các diễn biến có thể nhanh hơn rất nhiều.

Càng nhanh hơn vì một lý do khác. Chế độ cộng sản Trung Quốc tồn tại từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn dựa trên hai hợp đồng bất thành văn miễn cưỡng.

Hợp đồng thứ nhất là nhân dân chịu đựng chế độ toàn trị, và cả sự tàn phá của môi trường, với điều kiện là Đảng Cộng Sản duy trì được một mức tăng trưởng kinh tế cao. Ôn Gia Bảo tỏ ra đã hiểu thỏa hiệp này khi ông nói rằng nếu mức tăng trưởng xuống dưới 8% thì sẽ có bạo loạn. Hợp đồng này ngày nay đã chấm dứt vì kinh tế suy thoái.

Hợp đồng thứ hai là quần chúng Trung Quốc chịu đựng bất công xã hội để cho một thiểu số làm giầu với thỏa hiệp ngầm là như thế họ sẽ có thêm vốn để gia tăng đầu tư thúc đẩy kinh tế. Hợp đồng này đã bị phản bội khi những người giầu có bỏ ra nước ngoài mang theo tài sản. Sự phẫn nộ có thể bùng nổ rất dữ dội.

Có cần lo sợ sự sụp đổ của chế độ cộng sản và sự tan vỡ gần như chắc chắn của Trung Quốc không ? Mối nguy thường được nói tới là chính quyền Bắc Kinh có thể gây hấn với bên ngoài để kêu gọi đoàn kết dân tộc và làm dịu những mâu thuẫn bên trong. Nhiều người đang lo âu trước việc Trung Quốc xây những phi trường trên những đảo nhân tạo tại Biển Đông. Nhưng sự lo ngại này không cần có. Nó là do cách nhìn Trung Quốc như một quốc gia thay vì một đế quốc.

Thực tế cho thấy các đế quốc chỉ gây hấn trong những giai đoạn cường thịnh, trái lại rất nhu nhược đối với bên ngoài trong những giai đoạn cuối trào, để dồn sức đương đầu với những khó khăn bên trong. Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Trong những lúc suy vi, các hoàng đế Trung Quốc không những không xâm chiếm các biên quốc mà còn phải cống hiến những quý phi, có khi cả những công chúa, cho các vua các nước nhỏ chung quanh để cầu an. Chuyện Chiêu Quân cống Hồ chỉ là một trong rất nhiều thí dụ. Việt Nam và thế giới sẽ không phải lo ngại một sự gây hấn nào.

Cũng không cần lo ngại cho người Trung Quốc. Trung Quốc có phân chia thành bốn hay năm nước thì đó cũng vẫn là những nước lớn bậc nhất thế giới, nhưng đồng điệu hơn và hợp lý hơn Trung Quốc hiện nay. Điều mà chúng ta có thể chúc cho người Trung Quốc là những thay đổi cần thiết sẽ diễn ra trong hòa bình.

Thiên triều sụp đổ

Câu hỏi bao giờ chế độ cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ không đặt ra, hoặc đặt ra một cách rất khác, đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Đối với một chư hầu, một đế quốc coi như đã sụp đổ khi không còn là một chỗ dựa nữa.

Đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam, chế độ cộng sản Trung Quốc coi như đã sụp đổ. Nó đang quá bối rối với những khó khăn nội bộ để có thể hỗ trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam. Bắc Kinh lo cho mình cũng chưa xong còn mong gì giúp được ai. Họ sẽ phải buông Việt Nam và Triều Tiên dù không muốn như Liên Xô đã từng phải buông Đông Âu trước đây. Nhưng chế độ cộng sản Việt Nam lại rất cần bám lấy Trung Quốc.

Trong cuộc tiếp xúc ngày 26/6/2014 tại Sài Gòn, ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã không cải chính lời phát biểu của chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, theo đó Trung Quốc thỏa thuận viện trợ cho Việt Nam 20 tỷ USD và cho vay 100 tỷ USD. Chế độ cộng sản Việt Nam rất cần yểm trợ tài chính này bởi vì do hậu quả của bất tài và tham nhũng kinh tế Việt Nam thực ra đang ở trong tình trạng phá sản.

Theo phát biểu của chính ông Trương Tấn Sang tháng 11/2014 tại quốc hội thì tình trạng kinh tế Việt Nam“rất không thoải mái”. Ba phần tư số thu ngân sách (khoảng 30 tỷ USD năm 2014, giảm nhiều so với năm 2013) được dùng để trả lương, phần còn lại không đủ để trả nợ. Nói gì tới những chi tiêu tối cần thiết khác.

Một điều cần được nhìn thật rõ là Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ là một đảng tự lập. Nó luôn luôn dựa vào một thế lực bên ngoài nào đó. Ra đời như một phân bộ của Đệ Tam Quốc Tế, nó đã tranh đấu, rồi cầm quyền, với sự bảo trợ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, hoặc cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Giữa thập niên 1980 khi Liên Xô suy yếu và không còn bảo trợ được nữa, nó đã vội vã bỏ ngay lập trường thù địch để xin được phục tùng Trung Quốc. Trái với một nhận định hời hợt không phải Bắc Kinh cố thu phục Hà Nội mà chính Hà Nội đã cầu khẩn và làm tất cả để được lệ thuộc Trung Quốc. Trong mấy năm gần đây khi Liên Bang Nga có vẻ mạnh lên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã cố gắng tranh thủ sự hỗ trợ từ Nga. Văn hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một văn hóa chư hầu.

Tất cả những tính toán và kỳ vọng của họ đều đã hoặc đang sụp đổ. Nước Nga của Putin đã bại sụi sau cuộc phiêu lưu Ukraine. Đến lượt Trung Quốc cũng chao đảo và sắp sụp đổ. Rất có thể là chính Bắc Kinh đã nói với Hà Nội là hãy tìm những nguồn hỗ trợ khác vì họ không còn khả năng giúp đỡ ai cả. Điều đó có thể giải thích những chuyến công du Hoa Kỳ dồn dập của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam gần đây, kể cả chuyến đi sắp tới của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những chuyến thăm viếng này đều do sáng kiến của Hà Nội.

Lịch sử không phải chỉ sắp sang trang mà đang sang trang. Mọi người Việt Nam đều phải sáng suốt để tránh những ngộ nhận tai hại. Những thành viên bộ chính trị và ban bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thù ghét nhau vì tranh giành quyền lực và quyền lợi, nhưng họ đều hoàn toàn đồng ý với nhau là phải dựa vào Trung Quốc để duy trì chế độ độc tài toàn trị. Tất cả đều chống dân chủ. Tất cả đều đồng ý rằng “đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng” và tất cả đều đồng ý chẳng thà mất nước chứ không mất đảng. Không có một ngoại lệ nào cả.

Nhưng bây giờ họ không còn chọn lựa nào khác là đi với Mỹ (“Mỹ” phải được hiểu là các nước dân chủ) vì họ không dựa vào Trung Quốc được nữa. Chiến lược của họ trong lúc này chỉ là cố kéo dài thời gian hấp hối của chế độ và làm mất thêm thời giờ của nước ta trong cuộc chạy đua về tương lai, dù chúng ta đã mất quá nhiều thời giờ và đã quá chậm trễ. Chúng ta không được quyền có một ngộ nhận nào cả.

Mọi ưu tư của chúng ta phải dồn vào cố gắng để đất nước bước vào kỷ nguyên dân chủ một cách nhanh chóng nhất trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc để chúng ta có thể lập tức cùng nắm tay nhau chinh phục tương lai.

Nguyễn Gia Kiểng

(04/2015

http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=16263&catid=44&Itemid=301

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►’Hổ Vương’ Trung Hoa (Giang Trạch Dân) sắp sa lưới? Sự tan vỡ đang tới của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 11/03/2015

‘Hổ Vương’ Trung Hoa sắp sa lưới?

10-3-2015

Bùi Tín

VOA Tiếng Việt

 

Nguyên Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân.

Ngày 28/2/2015 báo Nhân dân Giải phóng quân của quân đội Trung Quốc đưa tin 14 viên tướng của Trung Quốc đã bị bắt giữ, tước quân hàm, chờ ngày xét xử vì đã bị tố cáo, điều tra về tội phạm pháp, phạm kỷ luật nghiêm trọng, tham nhũng và sống sa đọa.

Trong các viên tướng trên có Thiếu tướng Quách Thanh Lương, con trai của Thượng tướng Quách Bá Hùng, từng là Phó Bí thư Quân ủy Trung Ương, là cận thần của nguyên Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân. Trước đó vào tháng 1/2015, Tướng Quách Bá Hùng đã bị quản thúc, giam lỏng để chờ ngày xét xử. Hãng Reuters (25/2) nhận xét Tướng Từ Tài Hậu và Tướng Quách Bá Hùng là 2 viên tướng cao cấp nhất, đều là Phó Bí thư quân ủy khi ông Giang Trạch Dân là Tổng Bí thư kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, cũng là 2 người được xem là thân tín nhất của ông Giang.

Ngày 3/3/2015, báo Tranh Minh (Hồng Kông) cho biết ông Tăng Khánh Hồng, nguyên Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, vốn là cánh tay phải của ông Giang Trạch Dân, đã bị Ủy ban Thanh tra và Kỷ luật của đảng CS Trung Quốc giam lỏng vì bị tố cáo về nhiều tội: ăn hối lộ, tham nhũng, hối mại quyền thế. Mạng Đại Kỷ Nguyên cho biết Tăng Khánh Hồng từng thực hiện đắc lực chủ trương đàn áp Pháp Luân Công của Giang Trạch Dân, đặc biệt là trong tội ác mổ tử thi các tù nhân Pháp Luân Công để bán các bộ phận cơ thể của họ.

Ngày 4/3/ 2015 cũng báo Tranh Minh (Hồng Kông) cho biết sau khi con trai cả của ông Giang Trạch Dân là Giang Miên Hằng bị mất chức Phó Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc kiêm Chủ tịch Phân viện Thượng Hải, nay cháu ruột ông là Nghê Phát Hoa, Phó Chủ tịch tỉnh An Huy, đã bị truy tố về tội tham nhũng nghiêm trọng. Vợ ông Nghê Phát Hoa họ Bành là con gái của Giang Trạch Tuệ, em gái ruột của ông Giang Trạch Dân. Báo China News ngày 2/3/2015 còn cho biết Tòa án nhân dân thành phố Đông Dinh tỉnh Sơn Đông đã công bố tội trạng của Nghê Phát Hoa nhận hối lộ đến 13 triệu Nhân dân tệ (bằng 2 triệu US$), tài sản ông này đã bị tịch thu sung vào công quỹ.

Các báo tự do ở Hồng Kông nói trên nhận định rằng cuộc săn con hổ lớn nhất – Hổ Vương – tức nguyên Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã gần kề, chỉ còn là vấn đề thời gian. Trong 2 năm qua, hàng vạn cán bộ đảng viên đã bị sa lưới, khai trừ khỏi đảng CS trong chiến dịch “săn hổ diệt ruồi, bắt sói trốn chạy, thu hồi tài sản bất minh”, trong đó có hơn 20 tướng lãnh từ thiếu tướng đến thượng tướng, hơn 50 cán bộ lãnh đạo cấp cao từ thứ trưỏng, bí thư tỉnh ủy trở lên đến ủy viên thường vụ Bộ Chính trị và phó bí thư Quân ủy Trung ương.

Ông Giang Trạch Dân được coi là lãnh tụ tối cao xếp hàng thứ 3 của đảng CS Trung Quốc, chỉ sau Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Vụ trọng án chính trị tham nhũng “Giang Trạch Dân và đồng bọn”, nếu được mở ra và xét xử, sẽ là vụ án cực kỳ chấn động.

Vụ bao vây, săn Hổ Vương của ông Tập Cận Bình trong chiến dịch chống tham nhũng, từ lớn nhất đến nhỏ nhất, từ hổ đến ruồi, còn bao gồm cả việc săn lùng bọn tham nhũng chạy ra nước ngoài và thu hồi mọi tài sản bất minh cho công quỹ, cho đến nay là thuận buồm xuôi gió, do được xã hội TQ hoan nghênh, tuy về thực chất là sự kình địch của các phe nhóm trong đảng CS. Riêng việc chống tham nhũng dù mạnh mẽ đến đâu cũng không thể cứu đảng CS khỏi thảm cảnh khủng hoảng, do đây là khủng hoảng toàn diện của cả một hệ thống chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, đạo đức, mà nguyên nhân cơ bản là bản chất độc đoán, phản dân chủ, phi nhân quyền, phản các dân tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, đi ngược lại những giá trị dân chủ – nhân văn của thời đại văn minh.

Một số bạn Trung Quốc đối lập dân chủ tôi vừa gặp ở Pháp cho biết ông Tập Cận Bình có tham vọng vượt lên thành lãnh đạo vĩ đại, còn cao hơn cả Mao và Đặng khi hoàn thành “giấc mộng Trung Hoa”, thực hiện thống nhất Đài Loan vào một nước Trung Quốc phồn vinh, nhưng đó chỉ là không tưởng vì Trung Quốc hiện có quá nhiều căn bệnh hiểm nghèo chưa có thuốc chữa. Thêm nữa ông Tập Cận Bình đang có động cơ cá nhân, rất cay cú khi khám phá ra âm mưu đảo chính cung đình do chính Giang Trạch Dân cùng Chu Vĩnh Khang và đồng lõa dự định thực hiện hồi 2011 – 2012 nhằm đưa nhóm Bạc Hy Lai, Tăng Khánh Hồng, Giả Khánh Lâm… lên thay Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, gạt Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường ra. Nay Tập thực hiện một đòn thù, “giáng trả bọn phản nghịch”.

Trông người lại nghĩ đến ta. Lãnh đạo đảng CS Việt Nam từng hứa sẽ học những kinh nghiệm tốt, tích cực của đảng CS Trung Quốc, Riêng về chống tham nhũng thì đảng CS Việt Nam dơ cao đánh khẽ, đánh như phủi bụi, vì sợ “vỡ bình”, sợ nát đảng, nhút nhát không kém gì chống bành trướng. Ủy ban chống tham nhũng bị tê liệt khi ông Nguyễn Bá Thanh không vào được Bộ Chính trị, rồi bị bệnh chết sớm, chết theo là 6 vụ án lớn bị chôn vùi luôn.Tướng Phạm Quý Ngọ cũng bị buộc phải chết để ỉm việc Đại tướng Trần Đại Quang ăn tiền của Dương Chí Dũng lên đến nửa triệu đôla.

Ủy ban Thanh tra và Kỷ luật của đảng CS Trung Quốc là cơ quan chủ yếu chống tham nhũng, do tổng bí thư trực tiếp nắm, có bộ máy điều hành đầy quyền lực, đi đến đâu có uy lực đến đó, điều tra có bài bản, truy lùng thư từ, hoá đơn, đối thoại trên máy cầm tay, hỏi cung kỹ từ thư ký, lái xe, hàng xóm, người tình, bè bạn, gia đình của can phạm, tiến hành bởi một bộ máy chuyên nghiệp trung thành được huấn luyện kỹ. Còn trong đảng CS Việt Nam thì ban tương đương là Ủy ban Kiểm tra Trung ương có trách nhiệm như vậy, nhưng lại là ban vô tích sự nhất, không có uy quyền gì, hoàn toàn vô trách nhiệm, đến người cầm đầu lẽ ra phải năng động có quyền uy thì lại là ông Hà Văn Dụ, ủy viên Bộ Chính trị, ươn hèn đến thảm hại, hầu như không ai biết đến, không hề có một lời phát biểu nào về trách nhiệm của mình trong việc duy trì kỷ luật đảng, có 5 tay phó ban cũng hầu như bất động nốt.

Hãy chờ xem trong Dự thảo Báo cáo chính trị, họ sẽ ăn nói ra sao về chống tham nhũng trong 5, 10 năm qua, khi mà có người lãnh đạo cho rằng đầu tư 10 tỷ mà thất thoát 1 tỷ là chuyện bình thường, không có gì phải lo! Chính do đó mà Luật phòng chống tham nhũng không đe nẹt được ai, tuy có điều khoản ai tham nhũng lên đến 1 tỷ đồng (bằng 50.000 đôla) là có thể bị tử hình,. Nếu luật được tôn trọng nghiêm ngặt, nếu như quả thật ông Trần Đại Quang ăn đến nửa triệu đôla từ Dương Chí Dũng thì ông Quang phải có đến 10 cái đầu mới đền hết tội.

Ta hãy chờ xem pha vây hãm Hổ Vương ở Trung Quốc sẽ diễn ra như thế nào, sau khi người hùng họ Tập đã lần lượt bóc các vỏ cứng bên ngoài, phá tan các hàng rào giây kẽm gai bao bọc hang hùm, ở giữa thủ đô Bắc Kinh.

Bùi Tín

*Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, từng là cựu Đại Tá, cựu Phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, ông là một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA.

———-

 

Sự tan vỡ đang tới của Trung Quốc

David Shambaugh
Kevin Bùi chuyển ngữ

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Mỹ đã giúp TQ phát triển trong 40 năm qua vì: Mỹ đã đặt 5 giả thiết sai về Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 11/02/2015

Khi có người đề nghị chiếm Trung Hoa, Napoleon đã lắc đầu và nói: Hãy để cho con rồng ngũ yên. TQ đã ngũ yên trong nghèo đói và lạc hậu cho mãi đến khi Henry Kissinger, TT Nixon (1968-1973), TT Jimmy Carter (1976-1980) vì qúa lo sợ Liên Xô nên Mỹ đã bắt tay với TQ, và đã đánh thức con rồng trổi dậy. Mỹ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với TQ 1978, và cùng với Châu Âu, Nhật, Anh, Hồng Kong, Đài Loan,…đã đầu tư 500 tỷ đô la trong thập niên 1980s để giúp TQ phát triển thiết bị kỹ thuật, công nghệ xe hơi, hóa học, xây dựng cầu đường, phát triển hạ tầng kiến trúc, tài chánh, ngân hàng…và 1 triệu sinh viên TQ du học đã trở về trong thập niên 1990s và 2000s.

Giờ đây Mỹ đã và đang ăn năn tiếc nuối, nhưng đã quá muộn.

Chúng ta đã đặt 5 giả thiết sai về Trung Quốc

Michael Pillsbury | Trà Mi lược dịch

10-2-2015

Có lẽ với một chút tự hào, họ đã tiết lộ sự thất bại một cách có hệ thống, có ý nghĩa, và nguy hiểm nhất về tình báo trong lịch sử nước Mỹ. Và vì chúng ta không hề nghĩ rằng kế sách Marathon đã khởi động từ lâu nên Mỹ đang thua trận.

Michael Pillsbury là giám đốc của Trung tâm nghiên cứu Chiến lược của Trung Quốc của Viện Hudson và là một cố vấn hàng đầu về chính sách quốc phòng. Ông đã làm việc về chính sách Trung Quốc và các vấn đề tình báo cho Nhà Trắng cho nhiều chính phủ Mỹ. Bài sau đây là một đoạn trích từ cuốn sách của ông, “The Hundred-Year Marathon”.

Tôi là một trong những người đầu tiên cung cấp thông tin tình báo cho Nhà Trắng về Trung Quốc, từ năm 1969.

Trong nhiều chục năm qua, đôi khi tôi đóng một vai trò nổi bật thúc giục chính quyền của cả hai đảng, viện trợ kỹ thuật và quân sự cho Trung Quốc.

Phần lớn, tôi chấp nhận các giả định của giới ngoại giao hàng đầu và các học giả của Mỹ, hiển hiện ở những cuộc thảo luận chiến lược, bình luận, phân tích và phương tiện truyền thông của Mỹ.

Chúng tôi đã tin rằng viện trợ của Mỹ cho một Trung Quốc yếu kém mà giới lãnh đạo của TQ nghĩ như chúng tôi sẽ giúp Trung Quốc trở thành một cường quốc dân chủ và hòa bình mà không có tham vọng thống trị khu vực hoặc thậm chí toàn cầu.

Tất cả các giả thiết đằng sau niềm tin đó đã sai một cách nguy hiểm.

Sự sai lầm của những giả thiết ngày càn hiện rõ ràng hơn vì những gì Trung Quốc đang làm và, quan trọng không kém là những gì Trung Quốc không làm.

Giả thiết sai thứ nhất: Ràng buộc sẽ mang lại hợp tác toàn diện

Bốn mươi năm nay, các đồng nghiệp của tôi và tôi tin rằng “ràng buộc” với Trung Quốc sẽ khiến Trung Quốc hợp tác với phương Tây về một loạt các vấn đề chính sách. Không có chuyện đó. Thương mại và công nghệ tưởng là là sẽ đưa đến sự hội tụ quan điểm của Trung Quốc và phương Tây về vấn đề trật tự khu vực và toàn cầu. Cũng không có luôn. Tóm lại, Trung Quốc đã không đáp lại gần như tất cả các kỳ vọng lạc quan của chúng tôi.

Ví dụ, về các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Không có mối đe dọa an ninh và mối nguy hiểm nào lớn hơn đối với Hoa Kỳ và các đồng minh của chúng ta so với sự phát triển của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nhưng Trung Quốc đã chẳng giúp được gì trong việc kiểm tra tham vọng hạt nhân của Bắc Triều Tiên và Iran.

Sau cuộc khủng bố 9/11, một số nhà bình luận tin tưởng rằng Mỹ và Trung Quốc sẽ từ đó thống nhất vì các mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố, giống như họ đã đến gần với nhau vì bóng ma chiến tranh với Liên Xô. Những hy vọng hợp tác để đối đầu với “mối nguy hiểm chung” của khủng bố, như Tổng thống George W. Bush đã mô tả trong diễn văn trước quốc dân hồi tháng 1 năm 2002, bằng cách “xóa bỏ thù xưa” đã không thay đổi thái độ của Trung Quốc. Hợp tác Trung-Mỹ về vấn đề này thật ra khá hạn chế trong phạm vi và ý nghĩa.

Giả thiết sai thứ nhì: Trung Quốc đang trên con đường tiến tới dân chủ

Chắc chắn Trung Quốc đã thay đổi trong ba mươi năm qua, nhưng hệ thống chính trị của nó đã không tiến hóa theo chiều hướng mà chúng tôi, những người ủng hộ chính sách “ràng buộc”, đã mong đợi và dự đoán. Ý tưởng cho rằng những hạt giống dân chủ đã được gieo ở cấp thôn làng trở thành sự hiểu biết phổ thông trong giới quan sát Trung Quốc tại Mỹ.

Lần đầu tiên lòng tin của tôi bị lung lay là vào năm 1997, khi tôi là một trong số những người khuyến khích đến thăm Trung Quốc để chứng kiến các cuộc bầu cử “dân chủ” trong một ngôi làng gần thành phố công nghiệp Đông Hoản. Khi đến thăm, tôi đã có một cơ hội để nói chuyện bằng tiếng phổ thông với các ứng cử viên và xem cuộc bầu cử thực sự diễn tiến ra sao. Các quy tắc bất thành văn của cuộc chơi đã nhanh chóng hiện ra: các ứng cử viên không được phép tụ họp, không được quảng cáo trên truyền hình, và không có bích chương vận động.

Họ không được phép chỉ trích bất kỳ chính sách nào của Đảng Cộng sản, mà cũng không được chỉ trích đối thủ của họ về bất kỳ vấn đề gì. Sẽ không có cuộc tranh luận kiểu Mỹ về thuế khóa hay về ngân sách chi tiêu hoặc về tương lai của đất nước. Điều duy nhất một ứng cử viên có thể làm là so sánh đức hạnht cá nhân của mình với phẩm chất của đối thủ. Vi phạm các quy tắc đó được coi là tội phạm.

Giả thiết sai thứ ba: Trung Quốc là cánh hoa mong manh

Năm 1996, tôi là một phần của một phái đoàn Mỹ đến Trung Quốc trong đó có Robert Ellsworth, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Robert Dole, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng hòa.

Trong một cuộc trao đổi quan điểm, tưởng chừng như thẳng thắn, với các học giả Trung Quốc, chúng tôi đã nói rằng Trung Quốc đang trong tình trạng nguy hiểm về kinh tế và chính trị nghiêm trọng – và tiềm năng sụp đổ đang lẩn quẩn quanh đây. Những học giả Mỹ đã chỉ ra vấn đề nghiêm trọng về môi trường của Trung Quốc, tình trạng bất ổn của người dân tộc thiểu số, và sự thiếu khả năng cũng như nạn tham nhũng trong giới lãnh đạo chính phủ – cũng như giới lãnh đạo không có khả năng để thực hiện những cải cách cần thiết.

Sau này tôi biết rằng Trung Quốc đã tiếp đón các nhóm học giả Mỹ, các nhà lãnh đạo kinh doanh, và các chuyên gia chính sách khác trong những lần viếng thăm gọi là “dành riêng”, rồi họ cũng đã nghe lại những thông điệp như cũ về suy sụp sắp tới của Trung Quốc. Nhiều người trong các phái đoàn vừa kể sau đó lặp đi lặp lại những “khám phá” đó trong những bài báo, sách, và bình luận tại Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, thực tế rõ ràng là GDP mạnh mẽ của Trung Quốc được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng ít nhất là 7 hoặc 8 phần trăm, từ đó sẽ, sớm nhất, vượt mặt Hoa Kỳ vào năm 2018, theo các nhà kinh tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, của Tổ chức kinh tế hợp tác và Phát triển, và Liên Hiệp Quốc. Thật không may, các chuyên gia về chính sách Trung Quốc như tôi đã quá gắn bó với những ý tưởng về một “sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc” khiến ít người trong chúng tôi tin rằng những lời dự báo ấy. Trong khi chúng ta lo lắng về khủng hoảng của Trung Quốc thì nền kinh tế cả họ đã tăng hơn gấp đôi.

Giả thiết sai thứ tư: Trung Quốc muốn – và – giống như chúng ta

Trong sự ngạo mạn, người Mỹ chúng ta thích tin rằng nguyện vọng của mọi quốc gia khác là để được giống như Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, điều này đã ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ ở Iraq và Afghanistan. Chúng ta cứ bám vào tâm lý đó để đối ứng với Trung Quốc.

Trong những năm 1940, một nỗ lực được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ bởi để tìm hiểu tư tưởng của Trung Quốc. Và có một kết luận là Trung Quốc không xem chiến lược giống như cách của người Mỹ. Trong khi người Mỹ có xu hướng hành động trực tiếp, người Trung Quốc đã thường hành động gián tiếp hơn là trực tiếp, chuộng sự mơ hồ và lừa dối hơn sự rõ ràng và minh bạch. Một kết luận khác cho rằng văn học Trung Quốc và những bài viết về chiến lược đánh giá cao sự dối trá. [Như thấy trong Tam thập lục kế rút ra từ thời Chiến quốc, Tam Quốc – TM]

Hai mươi nămsau, Nathan Leites, nổi tiếng với nghiên cứu văn hóa phân tâm học, nhận định:

Tắc phẩm của Trung Quốc về chiến lược từ Tôn tử tới Mao Trạch Đông đã nhấn mạnh đến sự lừa dối hơn nhiều học thuyết quân sự khác. Lừa dối là kế sách của Trung Quốc nhằm vào việc làm cho đối thủ có hành động bất lợi và mất chú ý bảo vệ sự toàn vẹn kế sách của chính mình.

Giả thiết sai thứ năm: Phe diều hâu của Trung Quốc yếu

Trong những năm cuối thập niên 1990, dưới thời chính quyền Clinton, tôi được Bộ Quốc phòng và CIA giao nhiệm vụ để tiến hành một cuộc xem xét nghiệm chưa từng để biết khả năng của Trung Quốc để đánh lừa Mỹ và hành động của TQ từ trước đến nay trong phạm trù này.

Sau mọt thời gian, tôi đã khám phá ra những đề nghị của phe diều hâu Trung Quốc (ưng phái, 鹰派) với lãnh đạo Trung Quốc để đánh lừa và thao túng giới hoạch định chính sách của Mỹ để có được thông tin tình báo và quân sự, công nghệ, và viện trợ kinh tế. Tôi học được rằng nhóm diều hâu đã tư vấn cho giới lãnh đạo Trung Quốc, bắt đầu từ Mao Trạch Đông, để trả thù cho một thế kỷ bị sỉ nhục và khao khát thay thế Hoa Kỳ làm lãnh đạo kinh tế, quân sự và chính trị của thế giới vào năm 2049 (kỷ niệm một trăm Cách mạng Cộng Sản).

Kế hoạch này được biết đến qua cái tên “Cuôc chạy đường dài Một trăm năm”. Đó là kế hoạch mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản thực hiện từ khi có quan hệ với Hoa Kỳ.

Khi tôi trình bày những khám phá của tôi về những khuyến nghị của phe diều hâu Trung Quốc về tham vọng của Trung Quốc và chiến lược dối trá, nhiều người trong giới phân tích tình báo và chính quyền Mỹ đã tỏ vẻ hoài nghi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường xuyên trấn an các quốc gia khác rằng “Trung Quốc sẽ không bao giờ trở thành một bá chủ.” Nói cách khác, Trung Quốc sẽ là quốc gia mạnh nhất, nhưng không thống trị bất cứ ai hay cố gắng thay đổi bất cứ điều gì.

Tuy nhiên, sức mạnh của cuôc chạy đường dài một trăm năm, là những hành động tàng hình. Mượn chữ của bộ phim Fight Club, nguyên tắc đầu tiên của Marathon là không nói về Marathon. Thật vậy, gần như chắc chắn rằng không có một kế hoạch tổng thể nào đang được dấu kín dưới hầm ở Bắc Kinh vạch ra chi tiết của Marathon. Marathon đã được giới lãnh đạo Trung Quốc biết rõ nên không cần phải viết thành văn để tránh khỏi việc bị lộ. Nhưng Trung Quốc đang bắt đầu nói về các khái niệm này (Marathon) một cách cởi mở hơn – có lẽ vì họ biết rằng có thể đã quá muộn cho Mỹ theo kịp.

Trong những năm cuối thập niên 1990, dưới thời chính quyền Clinton, tôi được Bộ Quốc phòng và CIA giao nhiệm vụ để tiến hành một cuộc xem xét nghiệm chưa từng để biết khả năng của Trung Quốc để đánh lừa Mỹ và hành động của TQ từ trước đến nay trong phạm trù này.

Sau mọt thời gian, tôi đã khám phá ra những đề nghị của phe diều hâu Trung Quốc (ưng phái, 鹰派) với lãnh đạo Trung Quốc để đánh lừa và thao túng giới hoạch định chính sách của Mỹ để có được thông tin tình báo và quân sự, công nghệ, và viện trợ kinh tế. Tôi học được rằng nhóm diều hâu đã tư vấn cho giới lãnh đạo Trung Quốc, bắt đầu từ Mao Trạch Đông, để trả thù cho một thế kỷ bị sỉ nhục và khao khát thay thế Hoa Kỳ làm lãnh đạo kinh tế, quân sự và chính trị của thế giới vào năm 2049 (kỷ niệm một trăm Cách mạng Cộng Sản).

Kế hoạch này được biết đến qua cái tên “Cuôc chạy đường dài Một trăm năm”. Đó là kế hoạch mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản thực hiện từ khi có quan hệ với Hoa Kỳ.

Khi tôi trình bày những khám phá của tôi về những khuyến nghị của phe diều hâu Trung Quốc về tham vọng của Trung Quốc và chiến lược dối trá, nhiều người trong giới phân tích tình báo và chính quyền Mỹ đã tỏ vẻ hoài nghi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường xuyên trấn an các quốc gia khác rằng “Trung Quốc sẽ không bao giờ trở thành một bá chủ.” Nói cách khác, Trung Quốc sẽ là quốc gia mạnh nhất, nhưng không thống trị bất cứ ai hay cố gắng thay đổi bất cứ điều gì.

Tuy nhiên, sức mạnh của cuôc chạy đường dài một trăm năm, là những hành động tàng hình. Mượn chữ của bộ phim Fight Club, nguyên tắc đầu tiên của Marathon là không nói về Marathon. Thật vậy, gần như chắc chắn rằng không có một kế hoạch tổng thể nào đang được dấu kín dưới hầm ở Bắc Kinh vạch ra chi tiết của Marathon. Marathon đã được giới lãnh đạo Trung Quốc biết rõ nên không cần phải viết thành văn để tránh khỏi việc bị lộ. Nhưng Trung Quốc đang bắt đầu nói về các khái niệm này (Marathon) một cách cởi mở hơn – có lẽ vì họ biết rằng có thể đã quá muộn cho Mỹ theo kịp.

Tôi quan sát thấy cót sự thay đổi trong thái độ của Trung Quốc trong ba lần viếng thăm TQ trong những năm 2012, 2013, và 2014. Theo tập quán, tôi đã gặp gỡ với các học giả của những think tanks chính của TQ, những người mà tôi đã biết từ nhiều chục năm qua. Tôi trực tiếp hỏi họ về một “Trật tự mới do Trung Quốc dẫn đầu thế giới” – một thuật ngữ mà họ sẽ bác bỏ ngay một vài năm trước đó, hoặc ít nhất họ cũng không dám nói lớn tiếng. Tuy nhiên, thời gian này có nhiều người nói công khai cho rằng trật tự mới, hoặc sự hồi xuân, đang đến, đến nhanh hơn người ta đã chờ đợi. Khi nền kinh tế Mỹ đã bị vùi dập trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Trung Quốc tin tưởng dài dự đoán sự suy thoái không thể phục hồi của Mỹ đã bắt đầu.

Cũng những người đó, những người đã từng trấn an tôi là Trung Quốc chỉ mong có được vai trò lãnh đạo khiêm nhường trong một thế giới mới đa cực đang thành hình – và Đảng Cộng sản chỉ đang thực hiện mục tiêu dài hạn để khôi phục lại vị trí “hợp lý” của Trung Quốc trên thế giới. Trong thực tế, họ nói với tôi rằng họ đã lừa dối tôi và chính phủ Mỹ. Có lẽ với một chút tự hào, họ đã tiết lộ sự thất bại một cách có hệ thống, có ý nghĩa, và nguy hiểm nhất về tình báo trong lịch sử nước Mỹ. Và vì chúng ta không hề nghĩ rằng kế sách Marathon đã khởi động từ lâu nên Mỹ đang thua trận.

Trích từ cuốn “The Hundred-Year Marathon”: Chiến lược bí mật của Trung Quốc để thay thế Mỹ như một siêu cường toàn cầu của tác giả Michael Pillsbury, do Henry Holt và Công ty, LLC. phát hành ngày 10 tháng hai năm 2015. Bản quyền © 2015 Michael Pillsbury. Tất cả quyền được bảo lưu.

© 2015 DCVOnline


Nguồn: Top US analyst: We made 5 dangerously wrong assumptions about China. Michael Pillsbury, Trích từ “The Hundred-Year Marathon”. businessinsider.com. Feb. 9, 2015,

Nguồn dcvonline.net

Posted in Chinh Sach doi ngoai, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Trung Cộng sẽ sụp đổ và bài học Latvia cho người Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 06/01/2015

Trung Cộng sẽ đổ và bài học Latvia cho người Việt Nam

05/01/2015

Trần Trung Đạo

03-01-2015

H1Ngân sách quốc phòng của Trung Cộng khác nhau tùy theo nguồn ước lượng. Theo công bố chính thức của Trung Cộng, ngân sách quốc phòng năm 2014 là 131.5 tỉ đô la nhưng theo Stockholm International Peace Research Institute năm 2013 Trung Cộng đã dành 188 tỉ đô la cho chi phí quốc phòng. Trung Cộng có quân đội hiện dịch 2.3 triệu quân với 500 ngàn quân trừ bị. Trung Cộng có kho vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân và hiện đại hơn tất cả các quốc gia khác ở Á Châu. Cho dù tối tân và đông đảo bao nhiêu cũng không thể so với 27 ngàn đầu đạn nguyên tử, các hạm đội hùng mạnh và 250 sư đoàn bộ binh trang bị tận răng của Liên Xô trước ngày 25 tháng 12 năm 1991. Nhưng Liên Xô đã đổ, rồi Trung Cộng cũng phải đổ.

Bao giờ Trung Cộng đổ?

Gordon Chang, nhà phân tích kinh tế chính trị đã làm việc 20 năm tại lục địa Trung Quốc, trong tác phẩm The Coming Collapse of China xuất bản 2001 tiên đoán Trung Cộng sẽ đổ vào năm 2011.

Lý do, theo Chang trong phần hỏi đáp về tác phẩm của ông, đã viết: “Mao Trạch Đông, người sáng lập ra Trung Cộng, xây dựng một xã hội bất bình thường và cô lập chính nó từ các quốc gia khác. Hệ thống đó có thể tồn tại mãi cho đến khi Trung Cộng biệt lập từ thế giới, nhưng những người kế tục Mao đã tìm cách mở cửa ra thế giới bên ngoài. Khi một quốc gia trở nên hội nhập nhiều hơn với các quốc gia khác, một lực đẩy áp dụng cho toàn thế giới – chính trị, kinh tế và xã hội – cũng ảnh hưởng Trung Cộng. Tại một điểm trong tiến trình này, hệ thống bất bình thường của Mao sẽ bị bỏ rơi vì về căn bản không thích hợp với vai trò mà Trung Cộng tìm kiếm trong hệ thống quốc tế. Một thời gian ngắn, chính phủ Trung Cộng sẽ không còn khả năng để đáp ứng với các thách thức của một xã hội mở rộng và năng động”.

Trung Cộng không đổ như Gordon Chang đoán.

Thận trọng hơn Gordon Chang, công ty Strafor, một công ty thông tin tình báo chiến lược toàn cầu hiện do George Friedman làm Chủ tịch Chấp hành, trong Dự đoán Thập niên công bố ngày 21 tháng Giêng, 2010 cho rằng nền kinh tế Trung Cộng sẽ đổ trong vòng 10 năm tới. Trả lời thay mặt cho Strafor, Peter Zeihan, phó chủ tịch công ty, giải thích lý do: “Chúng tôi đã phân tích vấn đề này trước đây về một hệ thống kinh tế Trung Quốc bất ổn và chúng tôi nghĩ sự bất ổn đó đạt điểm vỡ khi các mâu thuẫn nội tại của Trung Quốc bùng ra và tan nát”.

Bước vào năm thứ năm của thập niên, Trung Cộng vẫn chưa đổ theo ước tính của Strafor.

Tuy nhiên, dù không xảy ra như Gordon Chang dự đoán hay chưa xảy ra như Strafor ước tính, cả hai và rất đông các nhà phân tích kinh tế chính trị, đều có một nhận xét căn bản rất giống nhau rằng Trung Cộng sớm muộn cũng sẽ đổ vì phải đương đầu với những khó khăn không thể vượt qua.

Những vấn đề của Trung Cộng

Dân số già nua

Dân số tại các quốc gia tiên tiến có khuynh hướng tăng chậm và điều này có nghĩa tỉ lệ người cao tuổi ngày tăng cao so với thế hệ vừa sanh. Thế nhưng, tại Trung Cộng mức độ chênh lệch đó cao nhất trên thế giới. Giai đoạn hòa bình sau năm 1949 với chính sách kiểm soát dân số còn tương đối lỏng lẻo là cơ hội cho một số rất đông dân được sinh ra. Lớp người này sau đó trở thành lực lượng lao động chính trong giai đoạn hội nhập vào thế giới đầu thập niên 1980, giúp thúc đẩy nền kinh tế và giữ chi phí y tế an sinh xã hội thấp. Người dân trong giai đoạn này làm nhiều nhưng tiêu ít. Điều kiện đó đang bị đảo ngược. Hiện nay Trung Cộng là xã hội tiêu thụ nhưng có ít trẻ con hơn người già.

Theo ước tính của đề án PewResearch Global Attitues Project, năm 2050 Trung Cộng sẽ chỉ tăng 25 triệu so với 400 triệu của Ấn Độ. Các phân tích dân số ước tính Trung Cộng đang trở nên quốc gia không chỉ già nhất thế giới mà còn già nhanh nhất thế giới. Trong thời gian vài năm nữa, Trung Cộng sẽ là viện dưỡng lão khổng lồ. Một quốc gia già nua có nghĩa các chi phí an sinh xã hội, dịch vụ y tế cũng gia tăng một cách tương ứng và là một gánh nặng không chịu nổi cho đất nước 1.4 tỉ dân. Lực lượng lao động phần lớn được dùng trong giai đoạn sản xuất dây chuyền, thiếu sáng tạo kỹ nghệ mang tính tiên tiến và khai phá. Phần lớn hàng hóa, dù tiêu dùng hay kỹ thuật cao cấp cũng được phát minh, sáng chế từ nước khác.

Tham nhũng

Tham nhũng xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới nhưng tại các nước do đảng CS cai trị tham nhũng không chỉ trầm trọng mà còn có tính đảng.

Gọi là tính đảng bởi vì tình trạng tham nhũng phát sinh ngay trong lòng cơ chế chính trị, do cơ chế nuôi dưỡng, tràn lan sang các bộ phận của hệ thống và dần dần làm hư thối toàn xã hội. Từ Giang Trạch Dân đến Hồ Cẩm Đào đều đưa mục tiêu chống tham nhũng lên hàng đầu nhưng cả hai đều biết tham nhũng sẽ tồn tại cùng với sự tồn tại của đảng CS. Các chương trình chống tham nhũng “đầu voi đuôi chuột” được phát động ồn ào và đầu hàng chỉ sau 18 tháng. Lý do, bịnh ung thư tham nhũng lan quá rộng và quá sâu đến các bộ phận sinh tử của đất nước, nhất là trong quân đội.

Sự phân cách giàu nghèo xảy ra tại hầu hết các nước phát triển, trong đó, một vài phần trăm người dân sở hữu một nguồn lớn của cải xã hội. Tại Trung Cộng, chỉ một phần trăm trong tổng số trên một tỉ người sở hữu 40 phần trăm của cải. Điều khác giữa Trung Cộng và các quốc gia tư bản là số tài sản mà một phần trăm nắm giữ tại Trung Cộng là do tham ô, hủ hóa, là máu xương, mồ hôi nước mắt của người dân làm ra.

Thiếu tính chính danh lãnh đạo đất nước

Theo tác giả Ross Terrill trong tác phẩm The New Chinese Empire tại Trung Cộng chủ quyền của con người không tồn tại ngay cả trong lý thuyết chứ đừng nói chi là thực tế. Mọi quyền hạn đều tập trung trong tay đảng nhưng không ai bầu đảng CS, không ai trao cho đảng quyền lãnh đạo. Trong thời kỳ mới mở cửa, người dân tập trung xây dựng cuộc sống sau khi vừa bước ra khỏi thời tem phiếu nên có khuynh hướng chấp nhận hay không quá quan tâm đến việc ai lãnh đạo mình nhưng thái độ đó đang thay đổi nhanh chóng.

Tại Trung Cộng không có một cơ quan, đoàn thể xã hội nào mà không đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CS. Mặc dù quốc gia có nhiều ngàn tờ báo nhưng không có tờ báo nào đưa vấn đề chính sách ra bàn cãi. Khi mức độ hội nhập vào thế giới gia tăng sự bất mãn trong quần chúng đối với đảng và nhà nước CS cũng gia tăng. Theo giáo sư David Shambaugh, đại học George Washington, mức độ trấn áp hiện nay tại Trung Cộng lên cao nhất kể từ năm 1989.

Bất ổn xã hội

Theo Gini Index, tiêu chuẩn đo lường mức độ mất cân xứng trong việc phân phối lợi tức gia đình, Trung Cộng là một trong số mười phần trăm mất cân xứng nhất trên thế giới. Hiện nay các sinh viên tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm tốt như các thế hệ sinh viên trước đây.

Các thành phần giàu có đang tìm cách chuyển tiền ra nước ngoài để mua tài sản cố định và tìm cách định cư. Theo thống kê của Shanghai ‘s Hurun Research Institue thực hiện vào tháng Giêng, 2014, có đến 64 phần trăm trong số 393 người giàu có được thăm dò đang tính hay sẽ tính di chuyển ra nước ngoài. Mỗi năm tại Trung Cộng có 200 ngàn cuộc biểu tình trong các mức độ và hình thức khác nhau, từ những cuộc biểu tình đẫm máu ở Tây Tạng, Xinjiang cho đến các đình công nhỏ trong các công ty.

Xã hội bưng bít Trung Cộng không thể thích nghi với thế giới luôn đổi thay và sinh động. Các chính sách tự diễn biến trong suốt 25 năm qua của các lãnh đạo Trung Cộng đều có tính cách chiến thuật, phòng thủ, vá víu từng giai đoạn. Trung Cộng gặp ít nhiều may mắn về cung ứng hàng hóa rẻ cho thị trường thế giới trong giai đoạn đầu của toàn cầu hóa nhưng về lâu dài khi mức cung cầu được bão hòa, mức độ phát triển kinh tế sẽ chậm lại. Các lãnh đạo Trung Cộng biết điều đó nhưng biết là một chuyện mà vượt qua được hay không là chuyện khác. Đổi mới quá xa Trung Cộng sẽ trở thành Liên Xô năm 1991 mà không đổi mới cách mạng cũng sẽ bùng vở từ trong lòng quần chúng.

Ô nhiễm

Đây là lãnh vực mà Trung Cộng giữ kỷ lục hàng đầu thế giới trong nhiều năm chưa có đối thủ tranh giành được. Điều kiện an toàn hầm mỏ, Trung Cộng cũng được vào mức tệ hại nhất thế giới. Nước, không khí, kỹ nghệ bị ô nhiễm là nguồn của các bịnh ung thư và các bịnh liên quan đến bộ phận hô hấp. Tuy che đậy, chính phủ Trung Cộng phải thừa nhận 70% sông, hồ bị ô nhiễm. Năm 2007, World Bank trong một tổng kết đã tố cáo tình trạng ô nhiễm tại Trung Cộng là lý do cho 760 ngàn trẻ em chết non và các bệnh hô hấp khác.

Hai tác giả Joseph Kahn và Jim Yardley của New York Times trong bài điều tra năm 2007 cho rằng tình trạng ô nhiễm đe dọa vai trò lãnh đạo của đảng CSTQ. Cũng theo bài điều tra này, 500 triệu người dân Trung Quốc không có nước uống an toàn vệ sinh. Chỉ vỏn vẹn 1 phần trăm dân chúng thở không khí với mức độ trong lành tương tự như một người dân Âu Châu thở. Đảng và nhà nước CSTQ công bố hàng loạt các chương trình bảo vệ môi trường nhưng không đạt kết quả bởi vì người dân không có quyền góp ý và báo chí không được phép phê bình.

Chủ trương của Mỹ trước viễn ảnh Trung Cộng đổ: một chính sách hai phương cách (dual-track policy)

Vì có nhiều ẩn số chưa giải đáp nên không ai có thể có một câu trả lời dứt khoát Trung Cộng sẽ chuyển hóa qua tự do dân chủ trong hòa bình hay sẽ trở thành một hay nhiều nước tự do sau một cuộc chiến tranh đẫm máu. Để đáp ứng cả hai tình huống, Mỹ áp dụng một chính sách hai phương cách (dual-track policy) đối với Trung Cộng.

Giáo sư Aaron L. Friedberg, thuộc đại học Princeton và nguyên Phụ tá An ninh Quốc gia tại văn phòng Phó Tổng Thống vào năm 2005, giải thích chính sách này gồm hai mặt: vừa hợp tác xuyên qua ngoại giao, mậu dịch, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục nhưng đồng thời cũng tăng cường quân sự để đáp ứng với sự gia tăng quân sự của Trung Cộng trong vùng Đông Á qua các hợp tác quân sự với Úc, Nhật, Nam Hàn và Philippines.

Khả năng tốt đẹp nhất cho Mỹ và nhân loại là thông qua mậu dịch và hợp tác, Mỹ sẽ thúc đẩy Trung Cộng từng bước chuyển hóa sang xã hội tự do. Tuy nhiên, sau mấy chục năm theo đuổi từ Nixon đến Obama, mục đích giải phóng chính trị trong hòa bình cho Trung Cộng ngày càng xa thêm.

Sự thất bại của chủ trương một chính sách hai phương cách (dual-track policy)

Chủ trương chính sách hai phương cách (dual-track policy) với Trung Cộng đã chứng tỏ không thành công. Mặc dù không công khai tuyên bố, mục đích của Trung Cộng là làm bá chủ biển Đông, và điều đó đi ngược lại quyền lợi tối quan trọng của Mỹ và đông minh tại Á Châu.

Về mặt đối nội, cải cách chính trị sẽ diễn ra tại Trung Cộng trước mắt cũng như lâu dài. Kinh nghiệm đổi mới tại Liên Xô trước năm 1991 cho lãnh đạo CSTQ biết đổi mới quá đà sẽ dẫn đến những phản ứng xã hội ngoài tầm kiểm soát của đảng.

Về mặt bang giao quốc tế, Trung Cộng không hành xử với tư cách một cường quốc có trách nhiệm, cụ thể qua việc Bắc Hàn thử nghiệm hỏa tiễn tầm xa và việc Iran thí nghiệm nguyên tử. Ngoài ra, trong lúc Mỹ cắt giảm ngân sách quốc phòng, Trung Cộng lại gia tăng với mục đích nắm phần ưu thế, ít nhất tại vùng Đông Á Châu. Lãnh đạo Trung Cộng mặc dù mạnh về kinh tế nhưng luôn sống trong nỗi bất an bị Mỹ bao vây và lật đổ.

Cách mạng bạo động

Lịch sử Trung Quốc cho thấy rất ít khi một biến cố chính trị diễn ra trong êm đẹp. Khả năng rất thấp cho một cuộc cách mạng nhung, cách mạng da cam, hoa lài diễn ra tại Trung Cộng. Cách mạng tại Trung Cộng sẽ là cách mạng máu. Vũ khí của giới cầm quyền dù có hiện đại bao nhiêu cũng không thể ngăn chận được sức mạnh của toàn dân khi họ đã quyết tâm đứng dậy.

Một yếu tố mà lãnh đạo Trung Cộng không dự đoán được là sự phẩn uất bùng nổ của 1.4 tỉ dân. “Năm nọc độc” như bộ máy tuyên truyền Trung Cộng gọi gồm Đài Loan, Tây Tạng ly khai, thiểu số Uighurs, Falun Gong, các nhà tranh đấu dân chủ, trong đó bốn “nọc độc” nằm ngay trong lục địa và sẽ trở thành lực lượng quyết định số phận của đảng CSTQ.

Mặc dù phong trào CS trên phạm vi thế giới không còn tồn tại, sự cách ngăn về ý thức hệ giữa Mỹ và Trung Cộng quá lớn để đặt qua một bên bởi vì ý thức hệ ảnh hưởng đến sự tin tưởng giữa hai chính phủ. Điều rõ ràng rằng nếu Trung Cộng là một quốc gia dân chủ, sự xung đột quyền lợi sẽ không trầm trọng như xung đột giữa Mỹ dân chủ tự do và Trung Quốc độc tài CS. Khi cách mạng bùng nổ, Mỹ và Tây Phương, vị lợi ích kinh tế chính trị, sẽ ủng hộ các lực lượng dân chủ.

Phản ứng của lãnh đạo Trung Cộng trước thời điểm đổ

Sinh mạng của chế độ CSTQ gắn liền với phát triển kinh tế. Từ 1980 đến 2011 nền kinh tế Trung Cộng tăng trưởng trung bình 10 phần trăm mỗi năm. Mức phát triển đó không bao giờ trở lại. Nhà phân tích Bob David của tờ The Wall Street Journal nhận định trong mười năm tới kinh tế Trung Cộng chỉ phát triển từ 3.9 phần trăm. Một số nhà phân tích khác bi quan hơn khi cho rằng kinh tế Trung Cộng chỉ tăng 1.6 đến 1.7 phần trăm. Mức phát triển đó là một mức chậm tại các nước kỹ nghệ nhưng là một tai họa nếu xảy ra tại Trung Cộng.

Điều gì sẽ xảy ra? Trung Cộng theo lý thuyết buộc sẽ giảm cường độ các xung đột và tranh chấp với các nước láng giềng để tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ. Tuy nhiên, theo Andy Morimoto phân tích trong Can China Fall Peacefully? đăng trong The National Interest ngày 19 tháng 11, 2014, lúc đó Trung Cộng sẽ phát động chiến tranh để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo của đảng CS.

Bằng chứng, trong thập niên 1950, Trung Cộng thay vì tập trung tái thiết kinh tế sau cuộc chiến tranh dài, đã phát động chiến tranh Triều Tiên để củng cố vai trò của đảng. “Sự xúi dục của nước ngoài” thường là bình phong để thanh trừng nội bộ đảng. Edward Wong, sử gia về Trung Quốc, trên New York Times ngày 11 tháng 11, 2014 trong bình luận In New China, ‘Hostile’ West Is Still Derided, Tập Cận Bình trong khi trải thảm đỏ chào đón TT Mỹ Barack Obama, cùng lúc đã ca ngợi blogger Zhou Xiaoping như có “tinh thần tích cực” vì blogger này đã viết bài chống Mỹ.

Cũng theo Andy Morimoto, làm việc tại Hội Đồng Chicago Về Các Vấn Đề Thế Giới, “viễn ảnh hòa bình tại Á Châu không nhiều hứa hẹn” và ông đề nghị chính phủ Mỹ thay vì dùng hai phương cách nên tập trung vào việc tăng cường quân sự tại Á Châu bởi vì tiên đoán hợp lý nhất vẫn là chiến tranh sẽ bùng nổ trong tương lai.

Lối thoát của Việt Nam

Để giới hạn hay giảm nhẹ mức ảnh hưởng của chiến tranh, chọn lựa duy nhất của Việt Nam là phải thoát ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng trước khi Trung Cộng đổ. Không có cánh cửa nào khác hơn là dân chủ. Tuy nhiên lãnh đạo CS Việt Nam không có khả năng đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng bằng con đường dân chủ.

Stalin, trong buổi họp với Mao và Hồ Chí Minh tại Moscow giữa tháng Giêng 1950, đã phó thác sinh mạng CSVN vào tay Trung Cộng. Từ đó, CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng không chỉ phương tiện chiến tranh, kinh tế, quốc phòng, hệ ý thức, cơ sở lý luận mà cả cách nói, cách ăn, cách mặc. Đọc các tài liệu quốc tế trong thời kỳ chống Pháp để thấy Mao gần như đơn phương quyết định mọi hoạt động quân sự của Việt Minh kể cả việc chọn ngày, chọn tháng cần phải chiếm cho được Điện Biên Phủ. Máu xương của bao thanh niên Việt Nam đổ xuống trong chiến tranh chống Pháp trong hàng ngũ Việt Minh có thể phát xuất từ lòng yêu nước chân thành nhưng đã bị CSVN và CS quốc tế lợi dụng từng nắm xương, từng giọt máu.

Và hôm nay, Trung Cộng là mảnh ván duy nhất còn lại để lãnh đạo CSVN bám vào. Dù thỉnh thoảng vẫn giả giọng hát bài ca yêu nước, thương dân, lãnh đạo CS biết không có mảnh ván Trung Cộng, chế độ CSVN sẽ chìm. Chọn lựa duy nhất cho một Việt Nam dân chủ vẫn thuộc về các thành phần Việt Nam yêu nước và không Cộng Sản.

Bài học Latvia độc lập dân chủ trước khi Liên Xô đổ

Latvia là quốc gia nhỏ, hiện theo thể chế Cộng Hòa vùng Baltic, thủ đô Riga, có dân số thống kê năm 2010 là 2 triệu người, có chung biên giới với Estonia, Lithuania, Belarus và Nga. Latvia độc lập năm 1918, nhưng bị Liên Xô chiếm năm 1940, bị Đức Quốc Xã chiếm năm 1941, bị Liên Xô chiếm lần nữa năm 1944 và sau đó trở thành nước CS trong hệ thống Liên Xô mãi cho đến khi chính thức độc lập năm 1991. Trước khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, Latvia là quốc gia có mức phát triển kinh tế nhanh nhất Châu Âu. GPD trên đầu người năm 2013 của Latvia là 15,375 đô la. Hiện nay, Latvia hội viên của NATO, Liên Hiệp Châu Âu (EU), WTO, UN, IMF và nhiều tổ chức quốc tế khác.

Bằng việc chấp nhận Tuyên Bố về Tái Lập Nền Độc Lập của Cộng Hòa Latvia (The Declaration on Restoration of Independence of the Republic of Latvia), Latvia chính thức thoát ra khỏi quỹ đạo Liên Xô ngày 4 tháng 5 năm 1990, hơn một năm rưỡi trước khi Liên Xô đổ.

Lãnh đạo của nền cộng hòa Latvia khẳng định họ không phải là một nước cộng hòa tân lập mà kế tục chế độ cộng hòa được thành lập từ 1918. Mặc dù đại đa số thành viên bỏ phiếu hay chấp nhận bản tuyên bố chưa sinh ra trong giai đoạn lịch sử 71 năm trước đó, họ biết rằng lịch sử Latvia là một giòng sông, có lúc êm đềm, có khi gềnh thác nhưng liên tục chảy. Giọt nước Latvia của thời điểm 1990 đã bắt đầu từ thượng nguồn Latvia năm 1918 đầy hy sinh gian khổ qua tay Hitler và Stalin, hai lãnh tụ độc tài tàn ác nhất trong lịch sử loài người.

Mặc dù hiện nay Latvia có nhiều đảng, tổ chức chính trị nhưng trong thời điểm 1990, các lãnh đạo phong trào dân chủ Latvia theo đuổi các mục tiêu hết sức cụ thể và sáng suốt:

(1). Tập trung mọi thành phần dân tộc dưới một mặt trận duy nhất là Phong Trào Dân Tộc Latvia (Latvian People’s Front) nhằm theo đuổi chỉ một mục tiêu là loại bỏ chế độ CS tại Latvia và thoát khỏi quỹ đạo Moscow.

(2). Kế tục nền Cộng Hòa đã ra đời năm 1918 thay vì thành lập quốc gia mới.

(3). Dứt khoát đứng về phía Tây Phương dân chủ ngay từ ngày đầu tuyên bố độc lập để sau đó được trở thành hội viên của Liên Hiệp Âu Châu (European Union) và thành viên của NATO.

(4). Vận dụng nhưng không bị gạt gẫm trước mọi cải tổ kinh tế chính trị của Mikhail Gorbachev.

(5). Từ chối đề nghị của Boris Yeltsin tham gia vào Khối Thịnh Vượng chung cùng với 11 quốc gia cựu Liên Xô trong hội nghị tại Kazakhstan để rồi khối này bị cuốn vào vòng kiểm soát của Nga cho đến hôm nay.

Trong số 138 đại biểu bỏ phiếu chấp thuận bản Tuyên Bố về Tái Lập Nền Độc Lập của Cộng Hòa Latvia buổi sáng ngày 3 tháng 5 năm 1990 không phải đều có một quá khứ giống nhau nhưng cùng chia sẻ một ước vọng tương lai tươi đẹp cho dân tộc họ. Dân số Latvia chỉ vỏn vẹn 2 triệu người nhưng đã thắng Liên Xô hùng mạnh gấp ngàn lần hơn bởi vì không có sức mạnh nào mạnh hơn sức mạnh của đoàn kết dân tộc.

Mọi chế độc chà đạp lên quyền con người sớm hay muộn đều phải đổ. Ismail Enver Pasha của Ottoman, Hitler của Đức Quốc Xã, Lenin, Stalin và các lãnh đạo CS Liên Xô, Mengistu Haile Mariam của Ethiopia v.v.. đã đổ, các quốc gia toàn trị còn lại như Trung Cộng, CSVN rồi cũng sẽ phải đổ. Một người yêu nước, khôn ngoan, thức thời là người biết chọn một chỗ đứng, một hướng đi về phía dân tộc để tranh đấu và nếu cần để chết vì tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng cho con cháu mai sau.

Trần Trung Đạo

Tham khảo:
1. Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Woodrow Wilson International Center for Scholar, 2002
2. Jung Chang and Jon Halliday, Mao: The Unknown Story, Anchor Books, November 14, 2006
3. Gordon Chang, The Coming Collapse of China. Author Q&A, why will China Collapse?
4. STRATFOR’S TOP PREDICTIONS FOR THE NEXT DECADE: China Collapse, Global Labor Shortages, New American Dominance.(http://www.businessinsider.com/stratfor-predictions-for-the-next-decade-2010-1)
5. Aging in the U.S. and Other Countries, 2010 to 2050(http://www.pewglobal.org/2014/01/30/chapter-2-aging-in-the-u-s-and-other-countries-2010-to-2050/)
6. David Shambaugh, China at the Crossroads: Ten Major Reform Challenges, George Washington University, October 1 2014(http://www.brookings.edu/~/media/research/files/papers/2014/10/01%20china%20crossroads%20reform%20challenges%20shambaugh%20b.pdf)
7. Pollution in China, Wikipedia.org
8. Steven Metz, U.S. Military Must Prepare for China’s Rise—and Fall , World Politics review, April 23, 2014
9. Bucking Beijing, An Alternative U.S. China Policy (http://www.foreignaffairs.com/articles/138032/aaron-l-friedberg/bucking-beijing)
10. Chinese Military , The Lowy Institute.(http://www.lowyinstitute.org/issues/chinese-military)
11. In New China, ‘Hostile’ West Is Still Derided(http://www.nytimes.com/2014/11/12/world/asia/china-turns-up-the-rhetoric-against-the-west.html?_r=0)
12. List of countries by military expenditures(http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_military_expenditures)
13. How Democracy is Latvia, Commission of Strategic Analysis, Latvijas Universitate, 2005(http://www.szf.lu.lv/fileadmin/user_upload/szf_faili/Petnieciba/sppi/demokratija/Demokrat_en.pdf)
14. On the Restoration of Independence of the Republic of Latvia(http://en.wikipedia.org/wiki/On_the_Restoration_of_Independence_of_the_Republic_of_Latvia)
15. Latvia 1990-2010 Twenty years of independence(http://latvianhistory.com/2010/05/05/latvia-the-20-years-of-indep/)

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►TẠI SAO NƯỚC TÀU BỊ TỤT HẬU ?

Posted by hoangtran204 on 13/12/2014

TẠI SAO NƯỚC TÀU BỊ TỤT HẬU ?

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

09-12-2014

Gần đây, theo Bản Tường trình của Quỹ Tiền tệ Thế giới, tháng 10/2014, thì Tổng sản lượng quốc gia của Trung cộng, tính theo khả năng mua bán, đã vượt qua Hoa kỳ, Trung cộng là 17632 tỷ $, Hoa kỳ là 17416 tỷ $. Tuy nhiên theo nhiều nhà kinh tế và chuyên viên thì Trung cộng vẫn bị liệt vào hàng các quốc gia kém phát triển, nếu không muốn nói là chậm tiến, do nhiều lý do, vì sản lượng tính theo đầu người hàng năm, thì Trung cộng mới chỉ bằng 1/5 Hoa kỳ, và còn thua nhiều nước khác.

Thật vậy, kinh tế Trung cộng ngày một chậm lại, không ở mức độ tăng trưởng như trước đây, với 2 con số, nay chỉ còn một, mặc dầu mức sản xuất cao, nhưng hoàn toàn vay mượn kỹ thuật ngoại quốc, thiếu sáng kiến, trong 100 hãng xưởng sáng chế hàng đầu thế giới, Mỹ chiếm hàng đầu với 40 hãng, Trung cộng không có hãng nào (Theo Reuters). Trung cộng chỉ làm gia công, qua những công trình dự án hợp tác với các nước khác. Lý do là Tàu độc đảng, cổ điển, không dám nghĩ ngoài khuôn khổ, mất hết ý chí sáng tạo mà dân tộc Tàu đã có trước đây.

Nếu nhìn vào bảng những phát minh sáng kiến của nhân loại từ trước tới giờ, thì dân Tàu đóng góp không nhỏ, như đã sáng chế ra giấy, kỹ thuật in, địa bàn và thuốc súng. Tuy nhiên những phát minh sáng kiến này đã ngừng vào năm 1000, thế kỷ thứ 11, thời Bắc Tống (916 – 1125), trong khi đó thì thế giới nhất là tây phương, tiếp tục có những phát minh sáng kiến mới, làm cho nước Tàu trở nên tụt hậu.

Từ ngày Đặng tiểu Bình chủ trương canh tân kinh tế tới nay đã được gần 40 năm, không ai chối cãi rằng kinh tế Trung cộng tăng trưởng rất mạnh, nhưng nói về mặt khoa học kỹ thuật, thì vẫn chưa có một sáng chế nào mang danh hiệu quốc tế, như hãng Samsung, Huyndai của Nam Hàn.

Trong một cuộc chạy đua, khi anh chạy chậm hơn người khác, cũng có nghĩa là anh lùi và tụt hậu so với những người chạy nhanh hơn anh.

Để cắt nghĩa hiện tượng lùi và tụt hậu của Tàu, có người dựa vào bảng thống kê những phát minh của nhân loại từ lúc đầu cho tới ngày hôm nay, và kết án 4 chế độ cận đại của Tàu: nhà Nguyên (1279 – 1368), nhà Minh (1368 – 1644), nhà Thanh (1644 – 1911), và chế độ cộng sản từ 1949 tới nay, vì từ 4 chế độ này, Tàu không còn phát minh sáng kiến nào.

Theo quan niệm này vai trò chế độ, thể chế chính trị trong việc phát triển con người nói chung và trong việc phát triển khoa học kỹ thuật nói riêng được đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh.

Người xưa có câu: « Nhìn lại quá khứ, xét hiện tại, để tiên đoán tương lại. » Chúng ta hãy nhìn sơ lược lịch sử cận đại Tàu, xét hiện tại Trung cộng, rồi đưa ra những giả thuyết về tương lai, để tìm câu trả lời.

Bà Magaret Thatcher, Thủ tướng Anh từ năm 1979 đến năm 1990, theo trường phái Tự do kinh tế, chủ trương chính thể tự do, dân chủ và kinh tế thị trường, có viết một quyển sách mang tựa đề « Statecraft – Strategies for a changing world » ( Cách trị quốc – Chiến lược để thay đổi thế giới ), theo đó thì để có thể giới tốt đẹp, chỉ có con đường duy nhất là theo thể chế tự do, dân chủ, kinh tế tự do thị trường. Để dẫn chứng bà đã đưa ra 2 cột so sánh về tổng sản lượng quốc gia, thì những nước chậm tiến hay còn thiếu phát triển, phần lớn là những nước độc tài, còn những nước phát triển là những nước dân chủ.

Từ đó, để cắt nghĩa tình trạng thiếu phát triển, tụt hậu của Trung cộng hiện nay, nhất là dựa vào bảng thống kê những phát minh sáng kiến của nhân loại, nhiều người cho rằng đó là vì Trung cộng bị đắm chìm trong chế độ quân chủ độc tài, ngay cả hôm nay với chế độ cộng sản.

Sở dĩ có quan niệm này, vì nhìn vào lịch sử nước Tàu, lấy đời nhà Tống, Bắc Tống (916 – 1125) làm mốc thời gian, thì trước đó, nước Tàu có nhiều đóng góp quan trọng cho lịch sử văn minh nhân loại, nhưng sau đó thì không. Chẳng hạn năm 105, đời nhà Hán, phát minh ra giấy, năm 680, cuối đời nhà Tùy, bước sang nhà Đường, phát minh ra kỹ thuật in, năm 1000, thời Bắc Tống, phát minh ra địa bàn và thuốc súng. Thế rồi từ đó, cho tới nay với thời cộng sản, trải qua nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh, nước Tàu không có một phát minh sáng kiến nào.

Trong khi đó thì Tây phương, năm 1210 phát minh ra bánh tay lái, năm 1712 ra máy hơi nước, 1733 ra máy dệt, năm 1804 tàu xe điện, 1876 ra điện thoại, 1886 xe hơi, năm 1903 ra máy bay v.v…

Có người đi xa hơn cho rằng nước Tàu bị tụt hậu là vì vẫn còn ở trong nền văn minh định cư nông nghiệp, trong khi thế giới đã chuyển qua văn minh tri thức điện tóan.

Một điều lầm lẫn to lớn của những nhà tư tưởng đông phương là cho rằng đông phương thua tây phương chỉ trong lãnh vực khoa học kỹ thuật.

Không phải thế.

Đông phương thua tây phương còn ở trong lãnh vực triết lý, tư tưởng, nhất là trên phương diện làm thế nào để tổ chức một xã hội có thể dung hòa quyền lợi tư nhân (intérêt privé) và quyền lợi tập thể ( intérêt public), điều này đã được Socrate ( -470 – 399 trước tây lịch), Platon ( -428 – 348 ttl) thảo luận rất kỹ. Trong khi đó ở đông phương, đặc biệt là Tàu, với Lão Tử sống cũng vào thế kỷ thứ 5, thứ 6 trước tây lịch, Khổng Tử (551 – 479 ttl), cũng có thể gọi là những người cùng thời. Lão tử thì chủ trương xuất thế, không màng đến sự can thiệp và cải cách xã hội. Ông cho rằng con người cần sống hòa hợp với thiên nhiên và tạo hóa, tuân theo quy luật của thiên nhiên, càng ít can thiệp vào việc đời thì xã hội theo lẽ tự nhiên sẽ hài hòa hơn. Khổng tử thì chủ trương nhập thế, nhưng không chú ý đến sự hổ tương giữa xã hội và cá nhân, đã hy sinh quyền lợi cá nhân, riêng tư cho gia đình, cho tập thể và xã hội, con người sinh ra có trách nhiệm là để phục vụ gia đình và xã hội, chứ không được quyền hưởng hạnh phúc cá nhân. Chính điều này đã làm cho xã hội Tàu mất quân bình và dễ bị những chính quyền độc tài lợi dụng.

Đến thế kỷ thứ 17 và 18, thì tây phương hơn hẳn đông phương trên phương diện văn hóa, triết lý chính trị, làm thế nào để tổ chức một xã hội hài hòa, một xã hội dân chủ, tam quyền phân lập rõ ràng qua những triết gia như Lock (1632 – 1704) với quyển sách (Traité sur le Gouvernement civil) (1690), Bàn về Chính quyền dân sự; J.J. Rouseau (1712 – 1778) với quyển (Contrat social ), Khế ước dân xã; Montesquieu (1689 – 1755) với ( Esprit de Lois), Tinh thần luật pháp, bàn về sự phân quyền rõ rệt trong một chính quyền dân chủ, cùng nhiều nhà triết gia, tư tưởng khác.

Thế rồi cuộc Cách mạng Độc lập Hoa kỳ 1776, rồi cuộc Cách mạng Dân chủ Pháp 1789, đã làm cho phương tây bùng nổ, phát triển không những về khoa học kỹ thuật, mà còn về phương diện tổ chức xã hội chính trị, tạo môi trường và cơ hội cho nhân tài thi thố khả năng.

Trong khi đó thì đông phương, đặc biệt Tàu và Việt Nam vẫn lùng thùng trong tư tưởng và cách tổ chức xã hội quân chủ phong kiến, và có thể nói cho tới ngày hôm nay, vì chế độ cộng sản chỉ là mặt trái của chế độ quân chủ.

Nếu chúng ta nhìn thật xa về văn hóa, văn minh, theo một số nhà sử học và nhân chủng học, thì nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: giai đoạn đầu là văn minh trẩy hái, mà mô hình tổ chức nhân xã là chế độ gia tộc; thứ hai là văn minh du mục, vì cây trái và xúc vật chung quanh hang động của mình cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để kiếm ăn, mô hình tổ chức nhân xã thời đại này là chế độ bộ lạc; nhưng rồi đi xa, thức ăn cũng khan hiếm, con người phải trồng trọt và nuôi xúc vật để sinh sống, nó bước sang nền văn minh định cư nông nghiệp, mà mô hình tổ chức nhân xã là chế độ quân chủ, lúc đầu là quân chủ phong kiến tản quyền, sau đó là quân chủ tập quyền, với nền văn minh này, con người đã có thể thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của nó, và một khi những nhu cầu thiết yếu được thỏa mãn, con người quay sang những nhu cầu xa xỉ, như ăn không phải chỉ cần no, mà còn cần phải ngon, có gia vị, mặc không chỉ cần ấm, mà cần đẹp, dệt được vải mặc, nhưng muốn mặc lụa, nên họ đã trao đổi với người dệt lụa, trồng được lúa mì, nhưng muốn ăn lúa mạch, nên đã trao đổi với người có lúa mạch. Con đường trao đổi Tơ lụa và Gia vị đông tây của nhân loại xuất hiện là thế. Con người bước sang hình thức văn minh thương mại, rồi với những phát minh sáng kiến, điện thoại, internet v.v…con người không cần đi xa để trao đổi, mà chỉ cần ngồi một chỗ cũng có thể trao đổi. Con người bước sang hình thức văn minh tri thức, điện tóan.

Tại sao lại là tri thức, vì vào 3 nền văn minh đầu, lao động trong kinh tế, chủ yếu chính là sức mạnh bắp thịt chân tay, nhưng khi bước sang 2 nền văn minh sau, sức mạnh lao động chủ yếu là trí óc, để phát minh sáng kiến. Nước nào có một đội ngũ chuyên gia đông và giỏi, nước đó sẽ làm chủ.

Để phát minh sáng kiến, con người cần có trao đổi. Nói theo Socrate: « Nơi nào có trao đổi, đối thoại, nơi đó có tiến bộ và dân chủ. » Chính vì vậy mà mô hình tổ chức nhân xã của 2 nền văn minh sau là chế độ tự do, dân chủ và kinh tế thị trường.

Trở về với Tàu, nước này đã có nền văn minh định cư nông nghiệp rất sớm, từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế, vì theo truyền thuyết, thì những vị này đã dạy dân trồng trọt, sau đó bước sang đời nhà Trụ, rồi tới nhà Chu ( 1134 – 770 ttl), rồi thời Xuân thu Chiến quốc ( 722 – 256 ttl). Vào thời này, đã có những tính toán, ý định định đưa nước Tàu từ văn minh định cư nông nghiệp sang thương mại, như vào thời Xuân thu – Chiến quốc, nước Tề của Quản di Ngô đã phát triển thương mại qua việc buôn bán muối, quặng sắt và ngay cả phá lệ thường bằng cách mở những thanh lâu để kiếm tiền. Các vị tú bà thờ thần Bạch mi chính là thờ Quản Trọng. Hay như với thời Lã bất Vi, một doanh thương giầu có nước Triệu. Một hôm ông hỏi cha ông: thưa cha, làm nghề nông, phát đạt gấp mấy lần ? – Gấp ba. Nghề buôn bán? – Gấp 10, nhất là buôn bán vàng, gấp 100. Nhưng buôn bán người để làm quan ? – Gấp không biết bao nhiêu lần, nếu thành công.

Tuy nhiên một Quản trọng, một Lã bất Vi không thể thay đổi được cục diện, vì đầu óc tôn quân dưới chế độ phong kiến của dân Tàu quá nặng nề và kéo dài cho mãi tới hôm nay. Nên nước Tàu lại trở lại thời kỳ quân chủ, nhất là quân chủ tập trung với Tần Thủy Hoàng đời Tần (221 – 206 ttl), về chính trị, quân sự, hành chánh, nhưng về ý thức hệ, giáo dục, xã hội, phải đợi đến thời vua Hán Vũ Đế (140 – 87 ttl) nhà Hán mới hoàn chỉnh và kéo dài cho tới bây giờ.

Ngày hôm nay, Tập cận Bình lên ngôi, lại trở về chính sách « ngăn sông, cấm chợ, bế quan tỏa cảng » trong lãnh vực tư tưởng và chính trị, trở về mô hình tổ chức nhân xã thời quân chủ, độc quyền cá nhân, độc đảng. Ông cho rằng các tư tưởng bên ngoài sẽ thách thức hệ thống chính trị, sói mòn sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Trung quốc. Do đó Bắc Kinh ra lệnh cấm nghiên cứu và giảng dạy bảy chủ đề: các giá trị phổ quát, xã hội dân sự, quyền công dân, tự do báo chí, những sai lầm của Đảng Cộng sản, quyền ngôn luận của chủ nghĩa tư bản và tính độc lập của ngành tư pháp.

Tập cận Bình còn cho luân lưu trong Đảng một tài liệu mang tên là Văn kiện số 9, gồm 7 không: « Bản văn kiện kêu gọi các đảng viên phải trung kiên xóa bỏ tự do phát biểu ý kiến , các ảnh hưởng từ nước ngoài hay bất cứ một điều gì phảng phất dân chủ, tinh thần minh bạch hay quan điểm độc lập. » ( Robert Marquand – Xi Jiping emerges as forceful nr.1 – Rewriting China‘s powerful playbook – trong The Christian Science Monitor –October/8/2014 ).

Nhằm củng cố quyền lực độc tôn của mình, ông Tập tìm cách loại bỏ những tiếng nói chính trị khác, đặc biệt là trên Internet của Trung Quốc mà một thời rất sôi động. Một luật đe dọa trừng phạt đến ba năm tù vì đăng tải bất cứ tin gì mà chính quyền cho là một “tin đồn” khi bài viết được hơn 5.000 người đọc hoặc chuyển tiếp hơn 500 lần.. Những hạn chế nầy đã làm tụt giảm 70 phần trăm bài viết trên mạng Weibo từ tháng 03/ 2012 đến tháng 12/ 2013. Sau đó người dân Tàu tìm cách sử dụng tin nhắn trên nền WeChat. Vào tháng 08/ 2014, Bắc Kinh lại ban hành quy định mới yêu cầu người sử dụng tin nhắn đăng ký tên thật của mình, hạn chế việc chia sẻ tin tức chính trị và xã hội. Trong bảng xếp hạng về tự do Internet trên toàn thế giới vào năm 2013, tổ chức phi lợi nhuận Freedom House của Mỹ đã xếp Trung Quốc hạng 58 trên 60 quốc gia, bằng với Cuba và hơn mỗi Iran.

Về đối ngoại, Tập cận Bình bề ngoài luôn tỏ ra hiếu hòa. Trong một lần phát biểu tại Paris vào tháng 3/2014 ông đã mượn câu nói của Napoleon về nước Tàu nhưng bổ túc thêm „ Trung quốc là một con sư tử đã thức dậy, nhưng đây là một con sư tử ôn hòa, thân mật và văn minh“. Ngoài miệng thì vậy nhưng chính sách ngoại giao của Tàu càng ngày càng tỏ ra hung hãn: ngoài việc chiếm Hoàng, Trường sa, cắt cáp, trấn lột, giết chóc ngư dân, kéo dàn khoan dầu vào hải phận của Việt Nam, Tàu cộng còn công bố đường Lưỡi bò chín đoạn xâm lấn hầu hết hải phận của các nước láng giềng, tranh chấp biển đảo với Nhật bản, Phi luật Tân, Nam hàn, Đài loan; mới đây còn tuyên bố thành lập „ vùng nhận dạng hàng không“ tại biển Đông chồng chéo lên vùng nhận diện của Nhật và Nam hàn.

Trong lãnh vực kinh tế, Tập cận Bình nhấn mạnh đến tự do hóa nền kinh tế thị trường, nhưng đồng thời lại muốn gia tăng sự kiểm soát kinh tế, nhất là đối với những hãng xưởng nước ngoài. Cơ quan truyền thông Trung cộng cố tình bới móc những lỗi lầm của các công ty nước ngoài và phớt lờ những sai trái của công ty bản địa. Cũng như trong chiến dịch chống tham nhũng, họ Tập cũng chỉ tấn công những đối thủ của mình nhưng lại bao che cho gia đình, dòng họ và phe cánh.

Với bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, với chính sách trị dân qua cái loa, để tuyên truyền, qua những mỹ từ, khích động lòng tự ái dân tộc, chủ nghĩa quốc gia cực đoan, qua cái còng là những ai không theo thì bỏ tù, và qua cái súng là những ai cứng đầu, chống lại thì thủ tiêu, bắn giết, Tập cận Bình có thể thành công trong ngắn hạn, nhưng dài hạn thì cần phải xuy xét kỹ.

Người ta còn nhớ vào những năm của thập niên 40, trong Thế Chiến thứ Hai, lúc này nước Anh và Đồng minh đang cần có sự tham dự của Liên sô vào thế chiến. Những văn sĩ, ký giả thường lui tới Liên sô, trong đó có ông Bernard Shaw, bạn thân của ông Georges Orwells, tác giả quyển tiểu thuyết Trại xúc vật ( Animal Farm), mà ông Paul Nitzé, cố vấn của Tổng thống Truman, lấy ý từ trong quyển sách này làm ra Chiến luợc Be Bờ ( Containment Policy), suốt trong thời Chiến tranh Lạnh. Nhà văn Bernard Shaw, có một lần phỏng vấn Staline, có hỏi ông ta và yêu cầu ông ta so sánh giữa Washington và Lénine, Staline đã kiêu hãnh trả lời: « So sánh giữa Washington và Lénine chẳng khác nào so sánh biên cả và một giọt nước. Lénine chính là biển cả, Washington chỉ là giọt nước. »

Việt nam chúng ta có câu: « Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết là người có nhân « hay « Đường dài mới biết ngựa hay «. Câu trả lời ai là giọt nước, ai là biển cả, mãi 50 năm sau, khi đế quốc cộng sản dựng lên lúc đầu bởi Lénine, bị sụp đổ, vào năm 1990, người ta mới rõ.

Thực vậy, nếu Lénine có cái nhìn xa, trông rộng như Washington, biết rằng thế giới đi theo chiều hướng tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, không xây dựng một nhà nước độc tài, không chủ trương độc đảng, tạo dựng một hiến pháp dân chủ như Washington, coi trọng quyền tự trị của các nước chung quanh, thì có lẽ nhà nước do Lénine dựng lên, không bị sụp đổ và vỡ ra nhiều mảnh.

Ngày hôm nay, Tập cận Bình cũng chỉ là lập lại cái gì chế độ quân chủ xa xưa của Tàu đã làm, lập lại cái gì gần, mà cộng sản đã làm, những điều này, trong dài hạn rất có thể sẽ dẫn đến hiện tượng chế độ cộng sản Tàu cũng sẽ sụp đổ như Liên sô, và cũng bị vỡ ra từng mảnh.

Gần đây, người ta bàn tán sôi nổi, nhất là giới trí thức cộng sản Tàu, về việc ông Tập cận Bình, muốn làm một tổng hợp tư tưởng của Mác – Lénine, Mao và truyền thống văn hóa Tàu.

Trong một bài diễn văn đọc tại Hội nghị Trung ương 4 khóa 18, vào ngày thứ hai 13/10/2014, ông tuyên bố: « Đảng Cộng sản chúng ta là đảng mác xít kiên định và tư tưởng dẫn đường của chúng ta là chủ nghĩa Marx Lénine, tư tưởng Mao trạch Đông và chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung quốc « , ông Bình nói tiếp : « Đồng thời chúng ta không phải là kẻ hư vô lịch sử và không phải là những kẻ hư vô văn hóa. Chúng ta không thể dốt nát lịch sử đất nước của mình, và chúng ta không thể coi thường bản thân.» (Xi Jinping on Exceptionalism With Chinese Characteristics by DIDI KIRSTEN TATLOW/ The New York Times).

Thực ra ý muốn và công lao của họ Tập để làm tổng hợp 2 ý thức hệ cũng chỉ là công « Dã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì. »

Không những không nên công cán gì, mà chỉ làm tụt hậu thêm nước Tàu vì những lý do sau đây:

1)   Muốn tạo nên một ý thức hệ vào thời buổi này quả là lạc hậu, lỗi thời. Theo ông Karl Popper (1902 – 1994), một triết gia, nhà tư tưởng chính trị nổi tiếng của thế kỷ 20, một người mà 2 vị Thủ tướng Đức, Helmut Schmidt và Helmut Kohl, coi quyển sách « La Société ouverte et ses ennemies « (Xã hội mở và kẻ thù của nó), như quyển sách gối đầu giường; ông Edgar Faure, Thủ tướng Pháp đã lập ra hội những người bạn của Popper. Theo K. Popper, thì: « Xã hội biến chuyển từng ngày từng giờ, nếu không nói từng phút từng giây, vì lúc nào cũng có những phát minh sáng chế mới trên đủ mọi lãnh vực. Tạo ra một ý thức hệ như Hégel và Marx ( Popper chỉ trích mạnh mẽ 2 người này – Lời Tác Giả) chẳng khác nào đóng thế giới trong một lồng kính, bắt nó không được tiến triển. »

Karl Popper được coi là một trong những người tranh đấu cho tự do, dân chủ, chống lại độc tài cộng sản và độc tài phát xít mạnh nhất trong thế kỷ 20. Thật vậy, ông sinh quán tại nước Áo, Vienne. Vào năm 20, lúc đó ông đã đi theo đảng Cộng sản Áo. Trong một cuộc biểu tình ở Vienne, ông đã chứng kiến những người trong đảng Cộng sản Áo, nổ súng giết chết một người của đảng Xã hội. Từ đó ông tự đặt câu hỏi:

« Phải chăng người ta có thể nhân danh một cái gì tốt đẹp, nhưng xa vời, để có thể giết người ? «

Rồi ông từ bỏ đảng Cộng sản. Vào đầu thập niên 30, ông phải rời nước Áo vì bị Hitler xâm chiếm. Ông là người Áo, gốc Do Thái. Ông sang dạy luận lý ở Tân tây lan, sau đó về Anh, dạy ở trường London Economic School. Ông là người rất giỏi về việc phê bình khoa học, nhất là phương pháp khoa học. Ông được Albert Einstein, cũng là bạn của ông, cho rằng ông là người giỏi nhất của thế kỷ 20 về phê bình phương pháp khoa học. Ông cũng phê bình lý thuyết của Marx. Ông cho rằng lý thuyết của Marx chỉ là mượn tiếng khoa học, nhưng chẳng khoa học gì cả. Những điều Marx viết có tính cách tiên tri, lãng mạng, nhiều hơn là khoa học.

2) Làm tổng hợp chủ nghĩa duy vật của Marx và những tư tưởng truyền thống có tính cách duy tâm của Tàu, chính là phối hợp nước với lửa, điều mà chính Marx và người cộng sản cho rằng: Có duy tâm thì không có duy vật. Có duy vật thì không có duy tâm.

Truyền thống văn hóa Tàu chủ yếu là Nho giáo, trong đó tư tưởng của Không tử là chính, đại để được thâu tóm trong cách cư xử thường ngày của con người với nhau là « Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín « ( tức lòng thương yêu lẫn nhau, lòng biết ơn nếu chúng ta được người khác nuôi nấng, giúp đỡ, phải cư xử có phép tắc, phải trau dồi sự hiểu biết, và phải giữ sự tín nhiệm).

Trong khi đó thì Marx chủ trương phá bỏ mọi truyền thống đạo đức, luân lý cổ truyền. Ông viết : « Không còn chân lý muôn thuở nữa… Bởi lẽ đó chủ nghĩa cộng sản bãi bỏ chân lý muôn thưở ; nó bãi bỏ tôn giáo và đạo đức thay vì cải cách chúng, nó đi ngược lại tất cả những phát triển lịch sử trước nó. » ( K. Marx – Le Manifeste du Parti communiste – trang 44 – Union Générale d’Editions – 1962 – Paris).

Gần hơn thì Mao tuyên bố : « Khổng tử là con chó giữ nhà cho tụi phong kiến. »; và Đặng tiểu Bình nói: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết, chỉ cần là mèo biết bắt chuột «, hô hào dân làm giầu, không coi đạo đức, nhân nghĩa, lễ trí tín là gì, miễn là có tiền. Chính vì vậy mà xã hội Tàu hiện nay tham nhũng hối lộ từ trên xuống dưới, đạo đức bị băng hoại, con người trở nên lạnh cảm, vô đạo đức.

Làm tổng hợp mô hình tổ chức nhân xã Marx Lénine, một mô hình độc đảng, độc tài với vị Tổng bí thư nắm mọi quyền hành trong tay, không còn gì là nguyên tắc dân chủ, phân quyền, với mô hình tổ chức nhân xã quân chủ, theo đó nhà Vua là thay trời trị dân; điều đó chẳng khác nào vớt 2 miếng gỗ mục, trôi dạt lênh đênh trên biển văn minh hiện đại, tri thức điện toán, đem ghép vào nhau, sớm muộn rồi cũng tan rã.

Trở về với đề tài « Tại sao nước Tàu bị tụt hậu «. Tất nhiên có rất nhiều nguyên do: nguyên do xa đó là nước này vẫn lùng thùng ở thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp với mô hình tổ chức xã hội quân chủ; nguyên nhân gần đó là những chế độ nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh, và gần nữa là chế độ cộng sản, không dám hay không muốn thoát khỏi mô hình tổ chức xã hội này.

Nếu muốn bắt kịp nền văn minh tri thức điện toán, thì dân Tàu bắt buộc phải từ bỏ chế độ cộng sản, một hình thức chế độ quân chủ, nhưng ác ôn, côn đồ hơn, làm cho tất cả những đầu óc phát minh sáng tạo bị hạn chế, làm cho nước Tàu tụt hậu.(1)

Paris ngày 09/12/2014

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Kinh Te | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.