Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Kinh Te Viet Nam Trung Quoc …affairs’ Category

►Chuyện heo/lợn giẫm đời người

Posted by hoangtran204 on 04/01/2017

Hiện tại giá lợn chỉ ở khoảng từ 3,3 đến 3,5 triệu đồng/tạ, thời điểm này năm ngoái giá là 4 triệu đồng/tạ. Đỉnh điểm của giá lợn là vào tháng năm vừa qua, lên đến 5,4 triệu đồng/tạ. Với mức giá hiện tại người nuôi lợn lỗ khoảng 400.000 ngàn đồng/con. Người nào nuôi nhiều lỗ nhiều, nhất là các trang trại lớn thì càng khó khăn. Một sự thật là, lợn Việt Nam chỉ xuất qua đường tiểu ngạch sang Trung Quốc nên bên đó chỉ cần có biến động là ở đây mình lãnh hậu quả. Thời gian tới, giả sử thị trường Trung Quốc không mua nữa thì không biết bán lợn cho ai…

“Sự nguy hiểm của ngành chăn nuôi hiện nay còn nằm ở chỗ thịt ngoại vừa rẻ vừa an toàn hơn so với thịt nội, người VN sẽ chuyển dần sang tiêu dùng hàng ngoại là tất yếu. Trong tương lai không xa họ sẽ chuyển sang tiêu thụ thịt nhập với giá rẻ và an toàn. Nếu không có gì thay đổi, ngành chăn nuôi sẽ bị mất thị phần ngay trong nước của mình, đó là điều khó tránh khỏi”.

Con đường duy nhất để thoát nghèo chỉ có thể là vay tiền ngân hàng xin đi xuất khẩu lao động

Chuyện heo/lợn giẫm đời người

Lã Yên

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►Mỹ kiện doanh nghiệp thép Việt Nam vì nghi tiếp tay (hay giúp) thép Trung Quốc né thuế

Posted by hoangtran204 on 03/10/2016

Mỹ kiện doanh nghiệp thép Việt Nam vì nghi tiếp tay thép Trung Quốc né thuế

T.Thu

Thời báo Kinh tế Saigon

Thứ Năm, 29/9/2016, 18:59 (GMT+7)

(TBKTSG Online) – Một số doanh nghiệp sản xuất thép tại Mỹ mới đây nộp đơn kiện đối với thép chống ăn mòn (corrosion-resistant carbon steel) nhập khẩu từ Việt Nam với cáo buộc sản phẩm thép của Trung Quốc được xuất khẩu sang Việt Nam sau đó chuyển sang Mỹ để né thuế chống bán phá giá.

Theo Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương hôm 28-9, Bộ Thương mại Mỹ đã nhận được đơn từ một số doanh nghiệp Mỹ yêu cầu điều tra chống lẩn tránh thuế, chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với sản phẩm thép cacbon chống ăn mòn (corrosion-resistant carbon steel) nhập khẩu từ Việt Nam. Các công ty gửi đơn gồm California Steel Industries và Steel Dynamics.

Trước đó, vào tháng 6-2015, Mỹ ban hành lệnh áp thuế thép chống ăn mòn nhập khẩu từ Trung Quốc với mức thuế chống bán phá giá 199,43% và mức thuế chống trợ cấp 241,43%. Quyết định này được đưa ra sau khi Mỹ tiến hành điều tra đối với sản phẩm thép nhập khẩu từ Trung Quốc và một số quốc gia/vùng lãnh thổ khác.

Theo cáo buộc mới đây của doanh nghiệp Mỹ, sau khi Mỹ áp dụng các mức thuế trên đối với sản phẩm thép Trung Quốc, lượng xuất khẩu thép chống ăn mòn từ nước này xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh. Tuy nhiên, lượng xuất khẩu sản phẩm cùng loại từ Việt Nam sang Mỹ lại tăng đột biến. Do đó, phía doanh nghiệp Mỹ cáo buộc có hiện tượng chuyển hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam sau đó xuất sang Mỹ để né thuế.

Theo đó, bên nguyên đơn yêu cầu Bộ Thương mại Mỹ khởi xướng điều tra và hoãn thanh khoản các chuyến hàng nhập khẩu sản phẩm thép chống ăn mòn từ Việt Nam, cũng như yêu cầu khoản tiền đặt cọc với các chuyến hàng này ở mức bằng với mức thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp mà Mỹ đang áp dụng với sản phẩm từ Trung Quốc.

Theo Cục Quản lý cạnh tranh, căn cứ theo quy định của Mỹ, Bộ Thương mại Mỹ sẽ xem xét và đưa ra quyết định có khởi xướng điều tra hay không trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn và ban hành quyết định cuối cùng trong vòng 300 ngày.

Sản phẩm thép bị kiện có mã HS: 7210.30.0030/.0060, 7210.41.0000, 7210.49.0030/.0091/.0095, 7210.61.0000, 7210.69.0000, 7210.70.6030/.6060/.6090, 7210.90.6000/.9000, 7212.20.0000, 7212.30.1030/.1090/.3000/.5000, 7212.40.1000/.5000, 7212.50.0000, và 7212.60.0000.

Theo Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong tám tháng đầu năm nay, lượng sắt thép cả nước nhập về là 12,36 triệu tấn, tăng 24,9% về lượng. Trong đó, sắt thép các loại nhập khẩu vào Việt Nam từ Trung Quốc là 7,3 triệu tấn, tăng 22,1%, từ Nhật Bản 1,83 triệu tấn, tăng 8,1%, và từ Hàn Quốc 1,18 triệu tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.

Theo đó, Trung Quốc hiện là nước xuất khẩu sản phẩm sắt thép lớn sang Việt Nam. Tuy nhiên, theo Cục Quản lý cạnh tranh, để bổ sung sản phẩm của nước thứ ba, tức sản phẩm thép của Việt Nam, vào lệnh áp thuế hiện hành (điều tra lẩn tránh thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp), Bộ Thương mại Mỹ phải xem xét nhiều yếu tố. Chẳng hạn, liệu sản phẩm thép nhập khẩu từ Việt Nam có cùng loại với sản phẩm của Trung Quốc đang bị áp thuế hay không, trước khi nhập khẩu vào Mỹ, sản phẩm này có được hoàn thiện hoặc gia công từ sản phẩm thép sản xuất tại Trung Quốc không, quá trình gia công hoặc hoàn thiện sản phẩm này tại Việt Nam có phải là nhỏ hoặc không đáng kể hay không,…

Trước đó, nhiều sản phẩm thép khác của Việt Nam đã bị kiện chống bán phá giá tại thị trường Mỹ, như ống thép hàn cacbon, đinh thép, ống thép dẫn dầu, ống thép không gỉ chịu lực, mắc áo thép,…

——————

sản phẩm thép của Trung Quốc được xuất khẩu sang Việt Nam sau đó chuyển sang Mỹ để né thuế chống bán phá giá. 

Sản phẩm này ghi là “Made In Vietnam”. 

Thép của Trung Quốc tuồn sang Việt Nam, để mượn mác VN bán sang Mỹ, né thuế.


Chả thế nào mà sản lượng thép xuất khẩu VN 6 tháng đầu năm tăng vọt. Và đua nhau xây nhà máy thép trá hình để hợp lý hóa thép Trung Quốc vào VN, dán nhãn mác Việt Nam lừa bạn hàng quốc tế.

Phải lên án mạnh mẽ, bóc mẽ bọn chúng !

Không phải chỉ đơn thuần thép, mà các sản phẩm khác như áo quần, giày dép,… mang tiếng là Made In Vietnam, nhưng thật sự của Trung Quốc.

Bọn cán bộ đảng viên làm luật giúp Trung Quốc thuê nhà kho ở VN, chuyển hàng từ TQ đến, và ngay sau đó xuất kho ra bến cảng Hải Phòng bán qua Mỹ.

Hoặc, cả hai thỏa thuận (dùng luật hay) thủ tục “nhanh nhập, tái xuất”. Theo đó, hàng hóa từ TQ chở tàu vào bến cảng Hải Phòng,  Sài Gòn, Cát Lái nằm đó qua đêm, sau đó làm thủ tục giấy tờ vận chuyển xuất khẩu qua Mỹ, Châu Âu với mác “Made in Vietnam”.

 

Posted in Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Làm ăn chung với Trung Quốc, nhóm lợi ích, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói gì về dự án đường vay Trung Quốc 7000 tỷ đồng?

Posted by hoangtran204 on 29/07/2016

Cha của Phạm Bình Minh là Nguyễn Cơ Thạch, bộ trưởng ngoại giao. Năm 1991, TQ ra lệnh cho đảng CsVN loại ông Thạch ra khỏi bộ chính trị. 

Bài báo dưới đây cho thấy đảng và nhà nước rất túng quẩn. Ngay cả vài trăm triệu đô la cũng không có, buộc phải đi mượn của TQ. Hoạt động kinh tế và điều hành đất nước chỉ quanh quẩn ở vài mục tiêu: Đi vay mượn tiền khắp nơi, mượn của World Bank, của ADB, của Nhật, Đài Loan, Úc, Hồng kong, Nam Hàn, các nước Âu châu; mỗi ngày hút dầu ngoài khơi lên, và bán ngay ngoài biển 400.000 thùng dầu thô, và chia nhau; xua dân đi làm ô sin, để 800.000 lao động hợp tác này gởi ngoại tệ về, và nhà nước in tiền đổi ngoại tệ,  nhưng vẫn bi bô: “nhờ tài lãnh đạo sáng suốt…”

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói gì về dự án đường vay Trung Quốc 7000 tỷ đồng? 

Thứ năm, 28/07/2016, 16:31
Như Dân trí đã đưa tin, Bộ Giao thông Vận tải vừa đề xuất vay vốn thực hiện dự án xây dựng đường cao tốc Vân Đồn – Móng Cái (96 km) từ Ngân hàng Trung Quốc với tổng vốn vay khoảng 7000 tỷ đồng. Theo Bộ này, Bộ Ngoại giao cũng đã đồng thuận chủ trương trên. Chiều ngày 28/7, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã trả lời Dân trí về dự án này:
>> Cân nhắc vay Trung Quốc 300 triệu USD cho cao tốc Vân Đồn – Móng Cái

Thưa Phó Thủ tướng, được biết là Bộ Ngoại giao cũng ủng hộ việc vay vốn thực hiện dự án trên. Xin cho biết, vì sao Bộ ủng hộ việc này?

– Hiện nay, chúng ta có nhu cầu rất lớn trong việc đầu tư, xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, chúng ta lại không có nguồn vốn, tuy có một số nguồn vốn trong nước nhưng không đủ để phát triển cơ sở hạ tầng. Như vậy, chúng ta có các khoản vay, các khoản vốn hỗ trợ phát triển (ODA) của các nước cho chúng ta thì việc Trung Quốc hay nước nào đó có nguồn vốn ODA cho chúng ta, đáp ứng yêu cầu của chúng ta thì chúng ta sử dụng. Chứ không phân biệt nước này, nước kia. Cái chính là nguồn vốn đó đáp ứng điều kiện của chúng ta hay không, đảm bảo chúng ta có khả năng vay, trả nợ.

Nhưng nhiều người dân, giới chuyên gia kinh tế cũng có lo ngại khi nhìn vào một số công trình dự án đã từng vay vốn của Trung Quốc trước đây nhưng quá trình triển khai có nhiều vấn đề. Ví dụ như họ cho vay nhưng buộc ta phải nhận nhà thầu Trung Quốc nhưng nhà thầu đó thực tế năng lực lại yếu, làm kéo dài thời gian thực hiện dự án, mất hiệu quả vốn vay ?

– Nguồn vốn vay ODA của nước nào cũng vậy, cũng kèm theo các điều kiện của các nước cho vay vốn ODA. Không phải Trung Quốc mà các nước khác cũng vậy: Vay ODA của chúng tôi với lãi suất thấp hơn vay thương mại thì phải chấp nhận nhà thầu của chúng tôi tham gia, hoặc sử dụng máy móc, công nghệ của họ…Với các điều kiện như vậy, chúng ta cũng xem xét, nếu vay mà vẫn có lợi thì chúng ta phải sử dụng nguồn lực đó thôi.

Một ví dụ nhãn tiền là Dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông (Hà Nội), cũng vay vốn Trung Quốc nhưng hậu quả hiện đã khá rõ ràng thì người dân lo ngại là có cơ sở chứ, thưa Phó Thủ tướng?

– Phải nói thế này: Khi đánh giá dự án tiến triển nhanh hay chậm, nó không chỉ có một nguyên nhân, có rất nhiều nguyên nhân khác như có thể do qúa trình giải phóng mặt bằng chậm, có nguyên nhân sử dụng hiệu quả các nhà thầu phụ…Chứ không phải do đồng tiền nó làm chậm mà sử dụng thế nào cho hiệu quả thì cơ quan, đơn vị triển khai phải biết sử dụng. Nhưng thực tế, chúng ta cũng phải nhìn nhận, nếu dùng nguồn vốn vay mà dự án bị kéo dài thì vốn vay càng đắt lên, thời gian trả nợ kéo dài, thời gian ân hạn ngắn lại. Chúng ta không triển khai nhanh thì sẽ thiệt hại nhiều.

Mạnh Quân (thực hiện)
———-

Phú Trần :Bao nhiêu dự án rồi mà chưa chừa à? Muốn phá cho nát đất nước này à???

Nguyen Viet Vẫn chưa chừa Trung quốc sao ? …rồi chết ko có chỗ chôn !

Trinh Dinh Long Nhìn dự án đường sắt trên không Cát Linh- Hà đông còn sờ sờ ta đó, bao năm rồi vẫn chưa xong và lãng phí, ai chịu.
Vay tiền của kẻ thù xâm lược, ôi ! 

 

Posted in Công nhân xuất khẩu lao động nước ngoài, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Kinh Te, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Thành tích đi lên của ủy viên BCT Nguyễn Văn Bình: Từ nợ xấu bất động sản đến ổn định tỷ giá làm lợi cho Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 05/02/2016

Tân ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Văn Bình: Từ nợ xấu bất động đến ‘tỷ giá Trung Quốc’

Blog VOA 

Phạm Chí Dũng

4-2-2016

Hiện tượng đáng lưu tâm về tử huyệt ngân hàng là cùng thời gian Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình bất ngờ trở thành tân ủy viên Bộ Chính trị tại Đại hội XII của đảng cầm quyền, trên mạng xã hội xuất hiện một tác giả ẩn danh mới: “Góc khuất ĐH 12”. Tác giả này đưa bài “Đại biểu dự đại hội 12 lạnh sống lưng khi biết Ngân hàng sắp vỡ nợ”, trong đó khẳng định: “Trong 2 năm 2014 – 2015, Ngân hàng Nhà nước không đóng góp bất kỳ một đồng nào cho Ngân sách nhà nước. Đó là chưa kể năm 2015, Ngân hàng Nhà nước đang lỗ 6.090 tỷ đồng”.

“Góc khuất ĐH 12” cũng là tác giả đã đưa tin khá chính xác (hoặc chính xác) về vụ hai thành viên của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư phát triển (BIDV) là ông Huỳnh Nam Dũng và ông Nguyễn Phước Hòa bị khởi tố bởi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an, từ ngày 16/1/2016. Tin tức nóng hổi này được đưa trên trang tin hội tụ hai luồng quan điểm đối nghịch – được cho là từ trong lòng đảng Cộng sản – ngay vào thời gian diễn ra Đại hội 12. Một ngày sau khi đại hội này kết thúc, Bộ Công an đã thông báo xác nhận vụ khởi tố điều tra trên, cho dù vẫn chưa đề cập đến từ “bắt”.  

Từ lâu nay BIDV lại được coi là ngân hàng ruột rà với Ngân hàng nhà nước.

Từ nợ xấu đến ‘tỷ giá nhập siêu’

Vào cuối năm 2014, Thống đốc Nguyễn Văn Bình lần đầu tiên phải thừa nhận trước Quốc hội về con số nợ xấu 500.000 tỷ đồng. Con số này đã bị Ngân hàng nhà nước giấu biệt từ những năm trước, mà chỉ tiết lộ khi tình thế đã quá khó khăn. Cũng cho tới nay, toàn bộ 500 hồ sơ chào bán nợ xấu mà VAMC (Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam) gửi cho các tổ chức tài chính nước ngoài từ năm 2014 vẫn chưa nhận được hồi âm chính thức nào.

Đến đầu năm 2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công du Úc và đã lần đầu tiên nhiệt thành ngỏ lời “Việt Nam muốn bán nợ xấu”. Thế nhưng trong khi hoàn toàn phớt lờ về đề nghị này, Thủ tướng Úc lại thông báo “sẽ cắt giảm viện trợ cho Việt Nam”.

Thành tích “giảm nợ xấu về dưới 3%” của Ngân hàng nhà nước và Chính phủ, cũng bởi thế, cho tới nay vẫn chỉ là con số hoàn toàn vô nghĩa.

Chiếm đến 70% trong nợ xấu, nợ bất động sản trở nên đáng sợ nhất. Cho tới nay, rất nhiều ngân hàng đã phải “ôm” tài sản thế chấp nhà đất nhưng không thể bán lại được.

Mà như vậy, gần như toàn bộ khối nợ xấu vẫn như một quả bom tấn được hẹn giờ, vẫn đang âm ỉ chờ lúc phát nổ trong lòng các ngân hàng thương mại. Gần đây nhất vào tháng 9/2015, một tổ chức tín dụng độc lập là FT Confidential Research đã công bố: Tỉ lệ nợ xấu ngân hàng Việt Nam vào khoảng 15% trong năm 2014, thực tế cao hơn nhiều so với con số chính thức.

Sau nợ xấu, dư luận xã hội cũng đang hướng mối nghi ngờ vào động cơ “ổn định tỷ giá” của Ngân hàng nhà nước. Trong hai năm 2014-2015, cơ quan này đã chỉ phá giá đồng Việt Nam khoảng 5%, quá thấp so với độ mất giá chung của đồng tiền các quốc gia trong khu vực, và do vậy đã khiến sức cạnh tranh quốc tế về hàng xuất khẩu của doanh nghiệp Việt sụt giảm đáng kể. Nhưng ngược lại, cơ chế duy trì tỷ giá thấp luôn được coi là một cách nhằm làm lợi lớn ccho ác nhà nhập khẩu, trong đó chủ yếu là các món hàng nhập khẩu quá nhiều “màu” từ Trung Quốc.

Năm 2015 kết thúc với không chỉ tình hình kinh tế bi đát và số doanh nghiệp phá sản tăng vọt ở Việt Nam, mà con số nhập siêu từ Trung Quốc càng kinh hoàng hơn: 32,3 tỉ USD, tăng tới 12,5% so với năm 2014 và được coi là cao nhất từ trước đến nay. Năm 2013 và 2014, số nhập siêu từ Trung Quốc “chỉ” là 23,7 tỷ USD và 28,9 tỷ USD. Báo chí trong nước kêu rên: “Mua của Trung Quốc từ củ hành đến ôtô!”.

Trong lịch sử buôn bán hai chiều với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam lại bị phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều nhất. Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã trở thành thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỉ trọng khoảng 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Nếu tính cả con số 20 tỷ USD nhập lậu mà “không ai biết” được tuồn vào theo con đường nào và bị biến hóa ra sao, tổng giá trị nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc năm 2015 phải lên đến gần 52 tỷ USD. Con số này gấp gần 300 lần so với mức nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc vào năm 2002!

Vào giữa năm 2014 khi nổ ra vụ giàn khoan Hải Dương 981 đe dọa Biển Đông, một số doanh nghiệp sản xuất dệt may đã phải thốt lên: nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam dẫn đến nguồn nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may từ “bạn vàng” bị ách lại, doanh nghiệp của họ chỉ có thể cầm cự tối đa được 2 đến 3 tháng!

Khó có thể nói khác hơn rằng cơ chế tỷ giá quá thấp hiện thời cần được đặc tả bằng khái niệm “tỷ giá Trung Quốc”.

Vì sao Thống đốc Bình lọt vào Bộ Chính trị?

Nếu Đại hội XII của đảng cầm quyền tại Việt Nam kết thúc với “Tôi bất ngờ” như một lời than của tổng bí thư tái nhiệm Nguyễn Phú Trọng, trường hợp Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình – nhân vật có nốt ruồi rất vận số trên sống mũi – vừa lọt vào Bộ Chính trị và có khả năng vươn tới chức vụ phó thủ tướng phụ trách về tài chính cũng bất ngờ không kém.

Từ tháng 8/2011 khi chính phủ mới được hình thành, Nguyễn Văn Bình được bổ nhiệm làm thống đốc Ngân hàng nhà nước và mau chóng được coi là “cánh tay mặt” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng cũng vào cuối năm 2011, trong khi một trang báo điện tử của nhà nước là Vnexpress vinh danh Nguyễn Văn Bình là “Nhân vật của năm 2011”, thì một tạp chí có uy tín quốc tế là Global Finance đã xếp “Nguyễn Văn Bình là một trong 20 thống đốc kém nhất thế giới”.

Từ 2011 đến 2015, ông Nguyễn Văn Bình đã trở nên nổi tiếng với các chiến dịch “lấy mỡ nó rán nó” liên quan đến vàng, “nhảy múa” các tỷ lệ nợ xấu, cấp phát tín dụng và bị đồn đoán về lợi ích dày cộm liên quan đến chuyện sáp nhập các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, vị thế của ông vẫn yên ấm với sự bảo đảm của Thủ tướng Dũng.

Nhưng từ giữa năm 2015, cùng với chiến dịch “luân chuyển cán bộ” do Ban Tổ chức Trung ương thực hiện đã khiến phe ông Nguyễn Tấn Dũng lâm vào tình cảnh khốn đốn vì mất quá nhiều nhân sự, đã xuất hiện khá nhiều tin ngoài lề về việc Thống đốc Bình bị điều tra liên quan đến vài ngân hàng thương mại, trong đó có Ngân hàng Phương Nam và một đại gia là ông Trầm Bê.

Cũng trong thời gian từ giữa đến gần hết năm 2015, người ta gần như không thấy Nguyễn Văn Bình xuất hiện trên mặt công luận như thói quen thường thấy trước đó. Thay vào đó là một số cấp phó của cơ quan Ngân hàng nhà nước. Chính vào lúc này, hai Hội nghị Trung ương 13 và 14 đã diễn ra với phần thất lợi nghiêng dần và rồi nghiêng hẳn về Thủ tướng Dũng.

Tuy vậy sau Hội nghị 14 và gần Đại hội XII, Thống đốc Bình bất chợt tái xuất hiện. Cùng lúc, nghe nói về một danh sách đề cử ủy viên mới cho Bộ Chính trị, trong đó có tên ông Bình.

Tại Đại hội XII, cùng với sự kiện Thủ tướng Dũng bất ngờ chịu thất bại cay đắng là việc Nguyễn Văn Bình trở thành tân ủy viên Bộ Chính trị.

Ngay lập tức đã xuất hiện một số dư luận cho rằng ông Bình đã tìm cách rời bỏ chủ cũ là Thủ tướng Dũng để “nhảy” sang chủ mới là những người bên đảng.

Cần nhắc lại, trước Đại hội XII, có nguồn tin không chính thức nhận định rằng sau đại hội này, ông Nguyễn Văn Bình, với nhiều “thành tích” về những khuất tất tài chính và điều hành, có thể phải đối mặt với công lý.

Nhưng thực tế là không những không phải chịu một án kỷ luật hoặc pháp luật nào, ông Bình còn được “nâng lên một tầm cao mới”, trong khi chủ cũ của ông là Thủ tướng Dũng phải ngậm ngùi ra đi và chưa biết tương lai sẽ mờ mịt đến mức nào.

Câu hỏi vẫn đọng lại là vì sao Thống đốc Bình lại thoát hiểm một cách ngoạn mục trong thế cờ đổi trắng thay đen như thế?

Ngay sau khi Thủ tướng Dũng rút lui, trên mạng đã xuất hiện thông tin về một bản “cáo trạng” dày đến 313 trang của bên đảng cáo buộc ông Dũng về nhiều vấn đề, trong đó có những khuất tất về tài chính và “gót chân Asin” về ngân hàng.

anhbasam.wordpress.com

Việt Dũng – Vì sao ông Nguyễn Tấn Dũng chấp nhận không tái cử?

16-1-2016

Việc ông Nguyễn Tấn Dũng đã rời bỏ chính trường vì không được tái cử trở lại, khiến nhiều người thất vọng, vì họ đã hy vọng rất nhiều rằng ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ trở lại “lật ngược thế cờ” để giành chức vụ Tổng Bí thư khóa 12. Song nên biết rằng, điều đó cũng chỉ được nhen nhóm lại trước đó một ngày, khi đã có 38/65 đoàn tại đại hội đã đề cử tên ông Nguyễn Tấn Dũng là ứng viên trong BCHTW khóa 12. Tuy vậy, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ đạt được 270 phiếu đề cử và cũng chỉ có 41% tổng số phiếu ủng hộ cho việc ở lại từ đại hội.
Trước đó, ông Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định không tái cử, tại các hội nghị Bộ Chính trị thậm chí ông Dũng đã tự nguyện xin rút, điều này được thấy rõ tại bức thư gửi TBT Nguyễn Phú Trọng, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Khóa 11. Kể cả việc ông Nguyễn Tấn Dũng đã ủng hộ việc đề cử ông Nguyễn Phú Trọng giữ chức Tổng Bí thư khóa 12. Vì thế, việc nên ông Nguyễn Tấn Dũng không có tên trong danh sách Ban Chấp hành Trung ương khóa 12, là một điều có vẻ hết sức bình thường.
Tuy vậy, việc ông Nguyễn Tấn Dũng có thực tâm xin rút, không tái cử hay vẫn có tham vọng ở lại chính trường là câu hỏi quan trọng. Nói về lý, thì cho đến giờ phút cuối ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn cương quyết xin rút, song nếu đánh giá về tham vọng chính trị của ông ta thì có lẽ sẽ không đúng. Điều này sẽ thấy rõ khi chúng ta xem hình ảnh ông Dũng trong lúc bỏ phiếu bầu cử BCHTW khóa 12, sẽ thấy ông đang ở trong trạng thái không vui vẻ. Điều này đúng với đánh giá của giới phân tích và bình luận chính trị Việt nam trước đây không lâu, đều khẳng định rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã nắm trong tay tới 70 % các Ủy viên trung ương và khả năng rất cao là sẽ nắm chức vụ Tổng Bí thư Đảng CSVN khóa 12 và người ta tin rằng phe của ông Dũng sẽ đảo ngược được quyết định 244/QĐ-TƯ tại các HNTW để giành thế chủ động.
Chưa kể đến việc ông Nguyễn Tấn Dũng đã lăn lộn trên chính trường Việt nam đến nay là 30 năm, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương từ năm 1986 và đến năm 1996, ông Dũng được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị. Khi đó, ông Nguyễn Phú Trọng mới chỉ là Phó bí thư Thành uỷ Hà Nội, phụ trách công tác tuyên giáo của Thành ủy. Nhắc lại điều này để thấy, ông Nguyễn Phú Trọng không thể so sánh với ông Nguyễn Tấn Dũng về kinh nghiệm chính trường. Mặt khác, nếu như tỷ lệ các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 ủng hộ ông Nguyễn Tấn Dũng trước đây ở mức 70 % theo đánh giá, nghĩa là tương đương với khoảng 120/170 người, vì thế khi so tỷ lệ 41% ủng hộ trên tổng số 1510 đại biểu dự đại hội, thì khó có thể nói rằng, đã có một số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương vốn trung thành với ông Dũng đã lật kèo ông ta vào phút cuối.

 

                                   Tấm hình này nói lên tất cả về kết quả Nhân sự Đại hội 12


Do vậy việc ông Nguyễn Tấn Dũng buông xuôi, chấp nhận rút lui chắc chắn sẽ phải chịu tác động từ những áp lực từ bên ngoài, vì tham vọng của ông Dũng không lớn hơn được ý chí của Bắc kinh, khi mà nhà cầm quyền Trung quốc không bao giờ muốn ông Dũng nắm chức vụ cao nhất ở Việt nam.
Việc có bàn tay của Trung Quốc đạo diễn vấn đề nhân sự tại Đại hội 12 có lẽ là có thật và việc ông Nguyễn Tấn Dũng rút là đúng kịch bản do phía Trung quốc đưa ra cũng vậy. Tiến trình này được thông qua trung gian là ông Nguyễn Sinh Hùng sau chuyến thăm Trung quốc bất thường (từ 23-27 tháng 12/2016) sau HNTW13, khi vấn đề nhân sự đã bị bế tắc với thế yếu nghiêng về phe ông Trọng.
Ông Nguyễn Sinh Hùng đã vội vã sang Trung quốc theo yêu cầu của ông Nguyễn Phú Trọng, với sứ mệnh đề nghị phía Trung quốc cần có tác động cụ thể đề giải quyết vấn đề nhân sự lãnh đạo tại Đại hội Đảng 12. Ngay sau đó, phía Trung quốc ngoài việc gia tăng áp lực quân sự trên Biển Đông, thì việc Quốc hội Trung Quốc đã thông qua dự luật chống khủng bố, theo đó thì quân đội Trung Quốc có thể thực hiện các sứ mệnh chống khủng bố ở nước ngoài nếu được thỏa thuậnvới những nước hữu quan.
Đáng chú ý, trong phương án phía Trung quốc đưa ra, thì họ đã yêu cầu đích danh ông ông Đinh Thế Huynh là người sẽ giữ chức vụ TBT khóa 12. Tuy vậy, do uy tín của ông Đinh Thế Huynh quá thấp nên cả ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng đã không chấp nhận. Và chính vì việc này mà ông Nguyễn Tấn Dũng đã nổi xung và yêu cầu phải “Ngăn chặn âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước” nhằm tố cáo đã có việc nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ lãnh đạo VN tại cuộc họp Chỉnh phủ ngay sau đó.
Trước sức ép từ phía Trung quốc, cũng như phe của ông Nguyễn Phú Trọng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã buộc phải chấp nhận sự thoả hiệp, với mục đích nhằm đoàn kết thống nhất trong đảng, để giữ vững thành quả cách mạng XHCN, và lý tưởng cộng sản. Theo nguồn tin khả tín cho biết, cuối cùng cả hai đã đi đến thống nhất, phe ông Nguyễn Phú Trọng cũng đã châp nhận và không muốn ép ông Nguyễn Tấn Dũng quá, sợ ông Dũng “điên máu” sẽ làm liều. Như vậy là sau nhiều ngày tháng đấu đá, cuối cùng con đường chính trị của ông Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức bị cắt đứt vào thời điểm trước khi bước vào HNTW 14.
Phía ông Nguyễn Tấn Dũng chấp nhận sẽ rút lui và rời khỏi chính trường sẽ với 3 điều kiện:
1. Bộ Chính trị sẽ hủy bỏ cáo trạng dài 313 trang dành cho ông Nguyễn Tấn Dũng về khả năng điều hành kinh tế, làm xấu quan hệ ngoại giao, bản chất và tham vọng chính trị, hay chuyện con cái giàu có bất chính v.v… Những sai phạm này của ông Dũng phải được giấu kín, và đám thuộc hạ cũng phải được đảm bảo sự an toàn tuyệt đối về mặt chính quyền cũng như kinh tế.
2. Ông Nguyễn Thanh Nghị, con trai ông Dũng phải được cơ cấu vào BCHTƯ khóa 12, tiếp đó sẽ giữ chức Bộ trưởng Bộ Xây dựng và tiếp sau đó là Phó Thủ tướng. Còn ông Nguyễn Minh Triết con trai út, sẽ là UVTW dự khuyết, sau 3 năm được điều chuyển lên giữ trọng trách ở Trung ương Đoàn.
3. Ngược lại, về phần ông Nguyễn Phú Trọng, sẽ nắm quyền không quá 2 năm và phải trao quyền lại cho ông Trần Đại Quang hoặc Ngô Xuân Lịch.
Việc truyền thông nhà nước đột nhiên đưa các tin “Thủ tướng xin rút, giới thiệu Tổng bí thư tái cử” hay “Duy nhất đồng chí Nguyễn Phú Trọng ứng cử cho chức danh Tổng Bí thư” vào thời điểm bầu cử tại Đại hội 12… chính là tín hiệu chuyển đến, nhằm nhắc phe ông Nguyễn Tấn Dũng là chớ dại mà “lật kèo” điều đã cam kết.
Không phải vô tình mà các hãng thông tấn quốc tế đã biết chắc sự thỏa thuận này từ trước. Theo RFI ngày 21/01/2016 cho biết, nhiều nguồn tin ẩn danh từ nội bộ Đảng đã tiết lộ với AFP rằng ông Dũng sẽ không nằm trong danh sách đề cử vào các chức vụ then chốt trong Đại hội 12. Thậm chí, một quan chức cao cấp trong đảng đã nói thẳng thừng rằng sự nghiệp chính trị của ông Nguyễn Tấn Dũng có thể được tuyên bố là đã “chết lâm sàng “.
Sau khi Đại hội 12 đã công bố danh sách 200 Ủy viên Ban Chấp hành TƯ Đảng và Bộ Chính trị, nếu như xem các danh sách thì sẽ thấy lực lượng của phe ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn giữ mức quân bình không có mấy thay đổi như dự kiến ban đầu. Mà trường hợp Nguyễn Văn Bình Thống đốc NHNN là một mục tiêu điển hình của phe ông Nguyễn Phú Trọng vẫn ung dung vào Bộ Chính trị, hay việc con trai ông Dũng là Nguyễn Thanh Nghị được bầu vào Ban Chấp Hành TƯ khóa XII. Đây là những bằng chứng bước đầu chứng tỏ đồn đoán nói trên là có cơ sở.
Phe của ông Nguyễn Phú Trọng trước đây luôn cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng và các nhóm lợi ích đã tham nhũng khủng khiếp. Giờ đây, khi ông Nguyễn Tấn Dũng đã về vườn thì sẽ là lúc việc điều tra khám phá tham nhũng sẽ phải được tiến hành. Nếu trong một thời gian ngắn, ông Nguyễn Phú Trọng vẫn bỏ qua, không điều tra hay phát động một chiến dịch “đả Hổ, diệt Ruồi” để xử lý các vụ án tham nhũng xảy ra trong thời gian ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng thì có thể khẳng định rằng thỏa thuận trên là chắc chắn có.
Sau Đại hội 12, xu thế tay chân của ông Nguyễn Tấn Dũng trong Đảng CSVN sẽ yếu thế, ngược lại phe thân Trung quốc về cơ bản sẽ kiểm soát chính trường Việt nam. Không phải ngẫu nhiên, mà ngay sau khi có kết quả bầu bán ở Đại hội 12, các nhà quan sát ở Trung quốc đều thống nhất cho rằng hàng ngũ lãnh đạo mới được chọn ra ở Hà Nội có thể có ích cho việc cải thiện quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc. Việc ông Tống Đào, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ thăm Lào và Việt Nam, trong thời gian từ 26 đến 30/01/2016 dưới danh nghĩa đặc phái viên của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình đã cho thấy điều đó. Và có thông tin cho rằng, người sẽ kế nhiệm ông Nguyễn Phú Trọng trong chức vụ TBT tới đây sẽ không ai khác, ngoài ông Đinh Thế Huynh.
Từ trước đến nay, sự sống còn của Đảng CSVN là điều quan trọng nhất, do vậy việc họ sẽ gắn chặt với Trung quốc là điều bất di bất dịch và không thể thay đổi. Tuy vậy, cũng tiếc cho đông đảo những người đã ủng hộ hết mình cho ông Nguyễn Tấn Dũng, vì họ không biết rằng, ông Dũng hay ông nào trong Đảng cũng chỉ vì quyền lợi cá nhân và phe nhóm mà thôi. Đó là lý do khiến ông Nguyễn Tấn Dũng đã phản bội những mong muốn của số đông người dân.
Ngày 28/01/2016
© Việt Dũng

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Nhan Vat Chinh tri, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Trung Quốc viện trợ 1 tỷ nhân dân tệ (158 triệu đô la) cho Việt Nam trong thời gian 5 năm

Posted by hoangtran204 on 06/11/2015

anhbasam

Đôi lời: Phải chăng cái giá này Tập Cận Bình bỏ ra để mua đứt bãi Tục Lãm, bãi Dậu Gót ở sông Bắc Luân, mua đứt thác Bản Giốc hay có liên quan gì tới hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa hay không?

ĐCSVN làm gì có tiền trả nợ mà đi vay? Hiện chính phủ CSVN đang thiếu nợ quốc tế không có tiền trả, Tập Cận Bình biết điều đó, chắc không có chuyện mang7 tiền cho kẻ nợ như chúa chổm để vay!

Một tỷ nhân dân tệ này, Tập Cận Bình và ĐCS Trung Quốc nhận lại được món quà gì? Đất đai của Tổ Tiên VN để lại? Một tỷ nhân dân tệ, tương đương 157,6 triệu USD, một cái giá quá rẻ chỉ riêng thác Bản Giốc không thôi!

Facebooker Nhân Thế Hoàng: “Với 1 tỷ nhân dân tệ mà phía Trung Quốc bỏ ra để mua sự trung thần của bè lũ ăn chia thì cái giá của nó thực sự là quá rẻ. Tàu cộng nên nhớ, dù ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào, từ quá khứ cho đến hiện tại thì kẻ thù lớn nhất của Việt Nam vẫn là Trung Quốc. Tiền có thể mua được vài thằng hèn hạ nhưng không bao giờ làm giảm được lòng căm thù của nhân dân Việt Nam đối với bọn Tàu tụi bây cả. Chỉ khác là giờ nhân dân Việt Nam gom bọn bán nước với Tàu cộng tụi bây thành một kẻ thù chung mà thôi“.

_____

VietNamNet

5-11-2015

H1

Tại cuộc hội đàm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chiều nay, Tổng bí thư, Chủ tịch TQ tuyên bố viện trợ 1 tỷ NDT trong 5 năm cho VN, bổ sung khoản vay ưu đãi 250 triệu USD cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông.

Không để bất đồng trên biển ảnh hưởng quan hệ

Tại cuộc hội đàm, hai bên nhất trí nắm vững phương hướng đúng đắn của tình hữu nghị Việt – Trung, duy trì trao đổi cấp cao, củng cố tin cậy chính trị; tăng cường hợp tác trên các kênh Đảng, QH, MTTQ và giữa các bộ ngành, địa phương; thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư phát triển hiệu quả, cân bằng, lành mạnh; mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, du lịch.

Ngoài ra, phối hợp thực hiện tốt 3 văn kiện về quản lý biên giới trên đất liền, thúc đẩy sự phát triển khu vực biên giới hai nước; cùng nỗ lực kiểm soát tốt và giải quyết thỏa đáng bất đồng trên biển, không để ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ hai nước.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định VN luôn coi trọng việc duy trì quan hệ láng giềng hữu nghị với TQ, sẵn sàng cùng TQ đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung đi vào chiều sâu.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề xuất một số phương hướng lớn tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ giữa hai Đảng, hai nước thời gian tới.

Theo đó, duy trì tiếp xúc cấp cao, tăng cường tin cậy chính trị; thúc đẩy hiệu quả các cơ chế hợp tác và tăng cường giao lưu hữu nghị nhân dân; thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác phát triển thực chất, cân bằng, hiệu quả.

TQ, Tập Cận Bình, Biển Đông, đường sắt đô thị
Hai bên tiến hành hội đàm

 

Đề nghị hai bên triển khai các biện pháp thiết thực thúc đẩy thương mại song phương phát triển ổn định, cân bằng và bền vững; phát huy vai trò của Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ; thúc đẩy các dự án hợp tác kết nối khuôn khổ “hai hành lang, một vành đai” với những nội dung phù hợp trong sáng kiến “một vành đai, một con đường” trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, bình đẳng cùng có lợi…

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh Chính phủ TQ chuyển khoản vay ưu đãi bên mua 300 triệu USD sang sử dụng cho dự án đường cao tốc Móng Cái – Vân Đồn và bổ sung khoản vay ưu đãi chính phủ 250 triệu USD cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông; cảm ơn TQ tuyên bố cung cấp viện trợ 1 tỷ nhân dân tệ trong 5 năm tới để giúp VN xây dựng các công trình cải thiện dân sinh như trường học, bệnh viện.

Không quân sự hóa ở Biển Đông

Về Biển Đông, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị hai bên kiểm soát tốt bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định, không để vấn đề này ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

TQ, Tập Cận Bình, Biển Đông, đường sắt đô thị
Tổng bí thư, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình tại hội đàm

 

Tổng bí thư đề nghị hai bên phối hợp chặt chẽ để kiểm soát hiệu quả tình hình trên biển; tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau; thực hiện nghiêm túc các nhận thức chung và thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; duy trì nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, gây căng thẳng tình hình.

“Đề nghị TQ cùng VN đi đầu trong việc thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm xây dựng hiệu quả Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC); không theo đuổi mục tiêu quân sự hóa ở Biển Đông; tăng cường xây dựng lòng tin để triển khai thuận lợi các dự án hợp tác trên biển mà hai bên đã nhất trí”, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói.

Tổng bí thư cũng đề nghị hai bên triển khai hiệu quả, thực chất các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, tích cực trao đổi tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài hai bên đều chấp nhận được.

Việt Nam có thái độ tích cực đối với vấn đề hợp tác cùng phát triển trên biển tại khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982″, theo Tổng bí thư.

Đáp lại, Tổng bí thư, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình nhấn mạnh, hai nước có lợi ích chung rộng rãi, hợp tác hữu nghị luôn là dòng chảy chính trong quan hệ hai nước. Đảng, Chính phủ TQ coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Hai bên cần nắm vững phương hướng phát triển đúng đắn của quan hệ Trung – Việt; tăng cường tin cậy chính trị, tăng cường đối thoại và hợp tác về ngoại giao, an ninh, quốc phòng…, kiên trì tôn trọng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị, cầu đồng tồn dị, kiểm soát bất đồng…” – ông Tập Cận Bình nói.

TQ, Tập Cận Bình, Biển Đông, đường sắt đô thị
Hai lãnh đạo chứng kiến lễ ký kết

Tổng bí thư, Chủ tịch TQ tán thành những phương hướng và biện pháp lớn nhằm phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề xuất. Ông khẳng định TQ không theo đuổi xuất siêu sang VN, sẵn sàng thúc đẩy cán cân thương mại song phương phát triển cân bằng, bền vững; sẽ khuyến khích doanh nghiệp TQ tăng cường hợp tác về thương mại và mở rộng đầu tư tại VN.

Tổng bí thư, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình cũng đồng ý nỗ lực cùng VN kiểm soát tốt bất đồng trên biển, duy trì đại cục quan hệ Trung – Việt và hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Ông đề nghị hai bên tăng cường phối hợp tại các cơ chế đa phương như LHQ, APEC, ASEM, TQ – ASEAN.

TQ và các nước ASEAN sẽ nỗ lực thúc đẩy đàm phán, xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), góp phần duy trì hòa bình, thịnh vượng và phát triển của khu vực và thế giới”, ông Tập Cận Bình nói.

Sau hội đàm, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác song phương gồm:

 Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai Đảng giai đoạn 2016 – 2020.

– Hiệp định về tàu thuyền đi lại tại khu vực đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân giữa Chính phủ hai nước.

– Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Đức Thiên) giữa Chính phủ hai nước

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Thời Sự, Uncategorized | Leave a Comment »

►Sự trì trệ của nền Kinh tế Trung Quốc đang gây ra những thiệt hại khắp mọi lãnh vực

Posted by hoangtran204 on 10/09/2015

8-9-2015

Đó là một cảnh gần như những gì trong tác phẩm của nhà văn Charles Dickens. Các công nhân gập người trên các bàn trong xưởng máy, ánh sáng lóe lên từ những tia lửa của các máy cắt kim loại và máy tiện chiếu vào gương mặt yên bình của họ.

Đây không phải là nước Anh vào thế kỷ 19 thời Victoria. Đây là ngoại ô thành phố Đại Liên (Dalian), đông bắc Trung Quốc.

Những người công nhân này đã từng là động cơ của phép màu kinh tế trong hai thập niên của Trung Quốc. Nhưng tại các nhà máy trên toàn Trung Quốc vào những ngày này, người ta thấy có một nỗi lo lắng ngày càng tăng về tương lai.

Qiao Ao đã làm việc tại nhà máy này trong bốn năm qua và làm linh kiện nằm trong các máy móc lớn hơn được xuất khẩu sang châu Âu và Nhật Bản. Anh ta là một công nhân nhập cư, cũng như nhiều bạn bè của mình ở đây.

Chỉ cần một vài tháng trước, lúc nào anh cũng bận, nhưng bây giờ thì không như vậy nữa.

“Đơn đặt hàng của chúng tôi đã giảm từ đầu năm nay,” anh nói với tôi. “Hiện nay tôi không được làm thêm giờ phụ trội như tôi đã từng làm trước đây khi hoạt động kinh doanh còn tốt, vì vậy tôi không kiếm được nhiều tiền như trước đây.”

Đó là câu chuyện chúng ta nghe thấy trên toàn Trung Quốc ngày càng nhiều vào lúc này.

 

Image caption

Chủ nhà máy Zhang Wenhe nói ông chưa bào giờ thấy kinh doanh kém như vậy.

 

Chủ nhà máy Zhang Wenhe nói ông chưa bào giờ thấy kinh doanh kém như vậy.

Tồi tệ hơn so với năm 2008

Kinh tế chững lại ở Trung Quốc làm ảnh hưởng đặc biệt tới các nhà sản xuất nhỏ – sản lượng trong khu vực chế tạo giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2009 tính tới nay.

Xuất khẩu cũng giảm – số liệu vào tuần này cho tháng Tám cho thấy thực trạng yếu kém hơn nữa.

Zhang Wenhe, ông chủ nhà máy này, nói với tôi rằng ông thấy đơn đặt hàng giảm 30% -40% kể từ tháng Sáu, và nếu mọi thứ tiếp tục như thế này, ông sẽ bị buộc phải để cho một số nhân viên của mình nghỉ việc.

“Tôi đã kinh doanh trong mảng này trong tám hay chín năm, và tôi đã chưa bao giờ thấy tình hình xấu đi ở mức như thế này,”

“Rất nhiều nhà máy ở khu vực này đã phải đóng cửa, và sa thải nhân viên.

“Lúc này là thời điểm khó khăn nhất tôi từng chứng kiến. Thậm chí tồi tệ hơn so với năm 2008 là cuộc khủng hoảng cuối cùng.”

Thực trạng kinh tế bì trì trệ hiện nay ở Trung Quốc đang có tác động trên toàn thế giới – Rốt cùng thì đây là các nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, và những gì xảy ra ở đây khiến cũng tác động tới những nơi khác.

Vì vậy, khi các gương mặt nổi trội trong giới doanh nghiệp toàn cầu nhóm họp ở Đại Liên vào hôm thứ Tư tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, ưu tiên của họ sẽ là Trung Quốc có kế hoạch gì để quản lý quá trình chuyển đổi kinh tế này.

Trung Quốc từng vay và chi tiêu để thoát khỏi cuộc khủng hoảng cuối cùng hồi 2008 qua việc xây dựng phát triển bất động sản lớn trên cả nước, đẩy người lao động từ các nhà máy vào các dự án xây dựng.

Nhưng nay thậm chí bất động sản, trụ cột của nền kinh tế Trung Quốc, cũng đang có vấn đề.

Thành phố ma

Image captionHàng chục ngàn căn hộ xây không có người ở.

Tôi lái xe vào thị trấn đảo Trường Hưng – chỉ cách Đại Liên (Dalian) 80km – một thành phố vệ tinh được xây dựng dựa vào kỳ vọng tăng trưởng kinh tế trong tương lai.

Nhưng những gì tôi thấy là tôi lái xe qua hết km này tới km khác mà hai bên đường có hàng ngàn các tòa nhà mới mọc lên nhưng không có người ở.

Một cảm giác ớn lạnh ngập tràn khi tôi đi bộ xung quanh thị trấn.

Những vệt sơn còn mới dành cho người đi bộ qua đường và đèn giao thông mọc lên tua tủa nhưng hầu như không có bất cứ ai trên đường phố.

Hàng chục ngàn căn hộ ở đây không có người ở, và đó là một phần của khoảng 70 triệu căn nhà ở không bán được đã được xây cất trên toàn quốc.

Chính phủ Trung Quốc nói đây là một phần của kế hoạch chuyển từ một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu sang một nền kinh tế hiện đại, dựa vào khu vực dịch vụ.*

Đó là kinh tế theo lý thuyết và một phần của chu kỳ đau đớn của nền kinh tế đang trưởng thành cần phải đi qua.

Tuy nhiên khi nền kinh tế của Trung Quốc thay đổi, nó có để tạo ra công ăn việc làm cho các thế hệ tiếp theo.

‘Ám ảnh bởi đồng tiền’

Zoey Ye là sinh viên, 21 tuổi. Cô đam mê nền văn học Anh và Mỹ, cô đang lo lắng về triển vọng việc làm của mình vì kinh tế đang suy thoái.

“Tôi nghĩ rằng nền kinh tế đã bị chậm lại, vì vậy các công ty không thuê những người mới. Nhưng tôi là người có học, và tôi muốn kiếm tiền để các con tôi (tương lai) có thể có tất cả mọi thứ mà chúng mong muốn.” Zoey đã trò chuyện với tôi khi chúng tôi đi dạo quanh hồ nước của trường đại học.

Bạn cần phải dạo quanh khu trường đại học của Zoey để thấy các thách thức mà Trung Quốc phải đối mặt với những thay đổi của nền kinh tế đang lâm cảnh trì trệ hiện nay.

Ước tính có khoảng 8 triệu sinh viên tốt nghiệp tại Trung Quốc gia nhập lực lượng lao động hàng năm và, giống như Zoey, tất cả họ đều có những kỳ vọng về tương lai cho mình.

Khi chúng tôi đi dạo quanh khuôn viên xanh, Zoey và tôi chia sẻ những câu chuyện về cuốn sách mà chúng tôi cùng yêu thích – The Great Gatsby của F Scott Fitzgerald.

“Tôi nghĩ rằng có rất nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc hiện đại và cuốn sách đó,” cô nói với tôi. “Mọi người ở đây cũng ám ảnh với đồng tiền.”

Đáp ứng  được những kỳ vọng của người dân Trung Quốc sẽ là một trong những thách thức quan trọng sắp tới đây của chính phủ Trung Quốc.

* Đây là kết quả những gì mà chính phủ TQ đã nghe theo lời cố vấn của cựu Bộ trưởng Tài chánh Mỹ Henry Paulson (2006-2009). Ông ta đã từng viếng thăm TQ hơn 100 lần trong suốt 20 năm qua. Ông đặc trách về phát triển kinh tế toàn cầu, nhưng tập trung vào sự phát triển kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông đã làm việc với 3 đời tổng bí thư đảng CSTQ, và khuyên họ phát triển kinh tế tiêu dùng trong nước, thay vì đặt trọng tâm vào kinh tế xuất khẩu. Chính nhờ vậy mà TQ thoát khỏi phần nào kiếp nạn cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế toàn cầu 2008-2013. Henry Paulson là một người rất có uy tín lớn với các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của TQ. Cùng với 8 đời tổng thống Mỹ kể từ Richard Nixon, Henry Paulson đã và đang có công rất lớn trong việc đánh thức sự trổi dậy của con rồng TQ;  đây là một sự sai lầm về chính trị và quân sự. Trước đây 250 năm, Napoleon đã từng nói: Hãy để cho con rồng ngũ yên. (Trần Hoàng)

Posted in Kinh Te, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs | Leave a Comment »

►Lao động Trung Quốc hiện diện khắp 53 tỉnh của Việt Nam, từ Bắc tới Nam và lý lẽ FDI

Posted by hoangtran204 on 03/04/2014

Đất Việt

Thứ Ba, 01/04/2014 13:30

Lao động Trung Quốc khắp Bắc Nam và lý lẽ FDI

(Doanh nghiệp) – Công nhân Trung Quốc tràn lan các dự án FDI của Trung Quốc, các chuyên gia cảnh báo mối lo về kinh tế, xã hội.

Tràn lan lao động Trung Quốc

Báo cáo của Sở LĐ-TB&XH Bình Thuận ngày 31/3, cho biết tại công trường Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) Vĩnh Tân 2 (xã Vĩnh Tân, H.Tuy Phong, Bình Thuận) còn 528 lao động (LĐ) người Trung Quốc. Trong số đó chỉ có 283 lao động có giấy phép, còn lại là lao động “chui”.

Điều đáng nói là công nhân Trung Quốc gắn mác “chuyên gia”, “kỹ sư” nhưng rất nhiều người trong số đó lại làm công việc mang tính chất của lao động phổ thông.

Trong khi đó, chính quyền Huyện Tuy Phong chỉ có chức năng quản lý về mặt cư trú, giữ gìn an ninh trật tự.

Còn Sở LĐ-TB&XH Bình Thuận chỉ kiểm tra được giấy phép lao động chứ không thể xử lý được các lao động phổ thông Trung Quốc gắn mác “kỹ sư” này.

Mấy công việc bên trong nhà máy như bốc vác, đào hố, tháo dỡ giàn giáo người Trung Quốc đều làm hết.

Họ cũng làm việc như lao động phổ thông người Việt nhưng lương được trả cao hơn rất nhiều” – Tân, một thanh niên địa phương, nói.

Số lượng lao động Trung Quốc tại Vĩnh Tân mỗi năm một tăng rất nhanh. Nếu như đến tháng 7/2012 chưa tới 300 người thì đến tháng 12/2013 lên đến 610 người.

Theo ông Nguyễn Ngọc Thành, Trưởng phòng lao động (Sở LĐ-TB&XH), nói: “Kỹ sư của họ khác mình là họ làm được tất cả. Có lẽ do họ tận dụng LĐ cho nên kỹ sư của họ sẵn sàng trộn bê tông, đào đất hay làm công việc bình thường khác”.

Tờ Tuổi Trẻ cũng dẫn báo cáo của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Trà Vinh, hiện có 920 lao động, hầu hết là người Trung Quốc, đang làm việc tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải (huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh).

Thế nhưng trong đó chỉ có 517 lao động được cấp giấy phép lao động, đang xin cấp giấy phép 165 lao động, miễn cấp giấy phép tám lao động và 230 lao động đang làm việc nhưng chưa được cấp giấy phép.

Tại Thanh Hóa, nhà thầu Viện Nghiên cứu và thiết kế ximăng Hợp Phì (Trung Quốc) đưa 163 lao động Trung Quốc sang làm việc có thời hạn từ nay đến tháng 12/2014 tại Nhà máy ximăng Công Thanh.

Điều đáng nói là trong số 163 lao động này chỉ có 49 lao động có trình độ chuyên môn đại học trở lên đảm nhiệm các chức danh quản lý, giám sát của nhà thầu; còn tới 114 lao động kỹ thuật có kinh nghiệm năm năm trở lên đảm nhiệm vị trí công việc là thợ lái cẩu tháp (4 người), thợ hàn (20 người), thợ cơ khí (30 người), thợ lắp đặt thiết bị điện (60 người). Trong khi đó số lao động kỹ thuật này tại VN đều sẵn có nhưng nhà thầu Trung Quốc không tuyển dụng.

Tỉnh Hà Tỉnh. Khi dự án Formosa triển khai tại Khu kinh tế Vũng Áng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), nhiều doanh nghiệp, nhà thầu Trung Quốc đã trúng thầu và kéo theo hàng nghìn lao động “chân tay” đi theo.

Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng được tỉnh Hà Tĩnh ủy quyền cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, trong đó có1.560 người được cấp giấy phép lao động, chủ yếu là người Trung Quốc. Nhiều người Trung Quốc sang VN bằng đường du lịch và sau đó ở lại làm thuê.

Mục đích cao đẹp của FDI

Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương.

Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Nhưng thực tế, việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam vẫn là vấn đề đáng phải bàn.

Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, trong năm 2013, vốn đầu tư ngoại quốc trực tiếp FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng đột biến, lên đến mức hơn 2,3 tỉ đôla,  so với 345 triệu đôla của năm 2012, đặc biệt là đầu tư vào hai lĩnh vực bất động sản và dệt may.

Ngoài ra, doanh nghiệp Trung Quốc còn đẩy mạnh tiếp cận các lĩnh vực: khai khoáng, sản xuất và chế biến, xây dựng và cơ sở hạ tầng…

Trong khi đó, TTXVN đưa tin, Ủy ban Nhân dân Tỉnh Nam Định vừa cấp giấy chứng nhận đầu tư cho một công ty dệt may của Trung Quốc xây dựng một nhà máy với tổng vốn đầu tư 68 triệu đôla (tương đương hơn 1.400 tỷ đồng) tại khu công nghiệp Bảo Minh (huyện Vụ Bản). Thời hạn sử dụng đất 46 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Cũng theo ông Thắng, một nhà đầu tư của Hong Kong (Trung Quốc) cũng đang quan tâm dự án xây dựng một khu công nghiệp dệt may với quy mô khoảng 1.000 ha tại huyện Nghĩa Hưng.

Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định hiện đang xem xét và sẽ trình Chính phủ về dự án này.

Trước đó nhiều chuyên gia đã đưa ra dự báo về việc doanh nghiệp dệt may Trung Quốc sẽ gia tăng đầu tư vào Việt Nam.

Theo dự kiến sản phẩm dệt may xuất khẩu vào Mỹ và các nước nội khối TPP sẽ hưởng lãi suất 0% nếu đáp ứng điều kiện gọi là “tính từ sợi yarn forward” hàng may mặc phải được sản xuất từ sợi có xuất xứ các nước thành viên TPP.

Điều này đang gây lo ngại cho các doanh nghiệp may mặc của Việt Nam, hiện có sức cạnh tranh còn rất yếu, vì chủ yếu vẫn là gia công và phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc.

Các nhà phân tích tại Việt Nam đã cảnh báo rằng dù sau này là thành viên của TPP, Việt Nam cũng không thể tận hưởng toàn bộ những lợi thế của một thành viên và phần ngon nhất của chiếc bánh TPP sẽ vào tay Trung Quốc.

Cách đây không lâu, nhiều người đã lên tiếng báo động về việc Trung Quốc trúng thầu hơn 90% các công trình trọng điểm quốc gia ở khắp Việt Nam.

Cùng với đó là các chiến lược thâu tóm doanh nghiệp nội.

Tại hội thảo “Triển vọng kinh tế và tầm nhìn chính sách năm 2014″ mới đây, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết rằng, không chỉ doanh nghiệp Trung Quốc, mà hiện các doanh nghiệp nước ngoài khác cũng tham gia ngày càng sâu vào nền kinh tế Việt Nam.

Theo bà Phạm Chi Lan, hoạt động của doanh nghiệp FDI có thể có lợi trước mắt, nhưng về lâu dài Việt Nam lại đang đẩy kinh tế vào tay các nhà đầu tư nước ngoài.

Bà Phạm Chi Lan cho rằng, hiện tượng này đã đặt ra những thách thức không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Thái An

————–

Nguồn: http://chepsuviet.com/2014/04/02/nguoi-tau-lam-chu-o-vung-ang-da-den-do-tin-rang-ptt-nguyen-thien-nhan-tung-bi-cam-cua/

Trần Hoàng bình luận: Công ty Sam Sung Electronic Việt Nam là một điển hình.

Công ty này đóng địa bàn tại Thái Nguyên, và Bắc Ninh;

Không hiểu công ty này LÀM cách nào, mà trước đó ĐANG phải đóng mức thuế cho VN là 850 triệu đô la (2011).

Đột nhiên, năm 2012, Quốc Hội làm ra luật, Thủ tướng ký. Kết quả, hiện nay công ty Sam Sung VN được giảm thuế 99%!

Sau đó, Thủ tướng Dũng được mời qua Nam Hàn 26 và 27-3-2012, và được Korea University tặng bầng TIẾN SĨ danh dự về kinh tế. (BBC)

Chỉ dùng 26.000 công nhân VN lắp ráp điện thoại, Công ty Sam Sung đã xuất khẩu 23,5 tỷ đô la hàng điện thoại di động trong năm 2013. 

Trong khi, cả nước VN xuất khẩu 108 tỷ đô la

Sam Sung dời qua VN vì họ trả lương cho công nhân VN rất thấp: 180 đô mỗi tháng. Trong khi, Sam Sung phải trả cho công nhân Trung Quốc 466 đô la mỗi tháng. 

Ngoài ra, Sam Sung còn phải đóng thuế bảo vệ môi trường cho Trung Quốc rất nặng, đóng thuế trả tiền hưu bổng cho công nhân TQ, bảo hiểm sức khỏe phải bao cho cả gia đình công nhân, chế độ nghĩ dưỡng hàng năm cho công nhân TQ…khi dời nhà máy qua VN, Sam Sung không cần phải đóng các loại thuế và bảo hiểm nới trên, hoặc nếu có thì đóng với mức tượng trưng và rất nhẹ. 

Hiện nay, các linh kiện, chip điện tử, mạch điện tử cho điện thoại Sam Sung…đều được chế tạo tại Trung Quốc và chở qua VN.

Công nhân VN chỉ lắp ráp và không thể nào tiếp cận học hỏi kỹ thuật cao.

Trong khi Quốc Hội và TT Dũng làm luật và xếp hạng công ty Sam Sung Electronic VN là công nghệ kỹ thuật cao để giúp công ty lách luật, trả thuế tượng trưng, rất ít.

*Như vậy, trong khi các nhà đầu tư khác phải đóng mức thuế thu nhập DN là 25% trước đây và 20% khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi Luật Thuế thu nhập DN, thì các công ty điện thoại như Sam Sung, Nokia… lại được miễn thuế trong vòng 4 năm đầu và giảm 50% thuế thu nhập DN trong 9 năm tiếp theo.

*Thống kê của cơ quan hải quan, nơi đảm nhiệm thu các loại thuế liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, gồm thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng (VAT) hay bảo vệ môi trường cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2012, SEV nộp được 80,4 tỷ đồng tiền thuế.
 
Bước sang 2 tháng đầu năm 2013, số thu ngân sách thông qua các loại thuế trên đã giảm mạnh, chỉ còn 429 triệu đồng tiền thuế bảo vệ môi trường.

Với Công ty TNHH Samsung SDI Việt Nam tình hình cũng tương tự. Trong 2 tháng đầu năm 2012, số thu thuế của doanh nghiệp này là 80 tỷ đồng, nhưng trong 2 tháng đầu năm nay chỉ còn là 3,2 tỷ đồng, tức chỉ bằng 4% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên do của việc giảm nguồn thu lớn từ các doanh nghiệp họ Samsung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là bởi các doanh nghiệp này đã chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp chế xuất (DNCX) kể từ tháng 9/2012. Do vậy, theo qui định, họ được hưởng nhiều ưu đãi về thuế hơn so với trước đây. 

…SEV cũng không phải nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu từ nước ngoài hoặc từ các khu phi thuế quan khác tại Việt Nam.

http://vtc.vn/1-445058/kinh-te/samsung-dong-thue-tien-le-muon-xay-san-bay-o-viet-nam.htm

————

*ông Kinya Okada, Giám đốc bộ phận Điều phối ngành máy in laser của Công ty Canon Việt Nam đã phải lên tiếng kêu gọi “nếu ai có thông tin về doanh nghiệp Việt Nam cung cấp được linh kiện điện tử cho Canon, thì hãy thông báo cho chúng tôi”. Nhưng đúng như dự liệu của ông Okada, chưa có doanh nghiệp Việt Nam cung cấp linh kiện điện tử nào xuất hiện.

Câu chuyện cũng tương tự với SEV. Theo ông Shim Won Hwan, Tổng giám đốc Khu tổ hợp công nghệ Samsung, SEV rất mong muốn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, nâng cao giá trị gia tăng, nhưng vấn đề hiện nay là công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được những yêu cầu do Samsung đề ra.

“Hiện có khoảng 60 nhà cung cấp cho SEV, nhưng chỉ có 5 nhà cung cấp là của Việt Nam. Song những sản phẩm mà họ cung cấp cho chúng tôi không phải linh kiện điện tử, mà chỉ là các loại bao bì, hộp xốp…” , ông Shim cho biết.

Như vậy, vấn đề không nằm ở phía nhà đầu tư, mà ở ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển của Việt Nam. Việt Nam muốn các doanh nghiệp FDI nâng cao giá trị gia tăng, thì không còn cách nào khác, phải tiếp tục đầu tư và có chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ.

http://baodautu.vn/viet-nam-huong-bao-nhieu-tu-du-an-fdi-cong-nghe-cao.html

————

Sau 54 năm xây dựng XHCN dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng, 

Công nghiệp nặng, Công nghiệp nhẹ của Vietnam đã đạt tới trình độ nào? 

Năm 1960, trong đại hội đảng lần thứ III, đảng nói: Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. 

1976-1986, Đảng tiếp tục nói:  Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. 

2013: Công nghiệp nhẹ của VN chỉ quang quẩn làm ” các loại bao bì, hộp xốp…”

Nguồn: http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1159&Itemid=5

ĐCSVN) – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10/9/1960.

“Đại hội xác định những nhiệm vụ cơ bản của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất:

Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp nhẹ. “

Không còn nghi ngờ gì nữa, suốt 54 năm qua, đảng nói cùng một câu, cùng một ý. Nhờ sự chỉ đạo tài tình thế, nên công nghiệp nhẹ của VN đang đạt tới trình độ rất cao. Năm 2013, theo như ông Shim của công ty Sam Sung Vietnam cho biết: “Hiện có khoảng 60 nhà cung cấp cho SEV, nhưng chỉ có 5 nhà cung cấp là của Việt Nam. Song những sản phẩm mà họ cung cấp cho chúng tôi không phải linh kiện điện tử, mà chỉ là các loại bao bì, hộp xốp…” 

———-

Đại hội IV, ĐCSVN, 

1976-1980, lập lại và bớt vài chữ, đảng nói: “Trên cơ sở đường lối chung, Báo cáo vạch ra đường lối kinh tế: “… Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp”.

Nguồn: http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1160&Itemid=5

———

2013: Công nghiệp nhẹ của VN chỉ quanh quẩn làm ” các loại bao bì, hộp xốp…”

http://baodautu.vn/viet-nam-huong-bao-nhieu-tu-du-an-fdi-cong-nghe-cao.html

———–

Vậy, điều gì đã làm bận rộn 175 Ủy Viên Trung Ương Đảng, đến nổi sau khi đề ra kế hoạch 54 năm trước đây, mà đến nay vẫn chưa đạt được, nhưng xem ra, các cán bộ cao cấp này vẫn không hề quan tâm?

Sau khi suy nghĩ và xem lại các bài đã post trên blog, Trần Hoàng phát hiện điều này:

 

 

Dự án cho các nước ngoài thuê đất từ 50-210 năm của Bộ Chính Trị 

  BCT chuẩn thuận

Quảng Nam cho 1 công ty Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50  năm, giá thuê 1 mét vuông là 2 đồng 75 xu/ 1 năm

Nếu các bạn còn băn khoăn điều gì, xin mời đọc 25 bài trên blog của Trần Hoàng nói về chuyện quốc hội ra luật, thủ tướng ký nghị định ban hành luật pháp, để cho “các cá nhân và tổ chức nước ngoài có thể được hợp đồng cho mướn đất 50 năm, 70 năm” 

 

Posted in Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs | Leave a Comment »

►Quyền lực và chuyển đổi kinh tế- Phải tư nhân hóa 93 công ty quốc doanh

Posted by hoangtran204 on 27/08/2013

BBC

Quyền lực và chuyển đổi kinh tế

Linda Yueh

Phóng viên kinh doanh của BBC

20-8-2013

Các công ty quốc doanh chiếm tới 60% các khoản vay ngân hàng và giữ hơn một nửa các khoản nợ xấu của cả nước. 

Sau chừng ba thập niên, nước này vẫn đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, với quyền lực vẫn nằm trong tay Đảng Cộng sản.

Không phải là Trung Quốc, mà là Việt Nam.

Đất nước từng được coi như “Trung Quốc tiếp theo” do sự chuyển tiếp ổn định, nay bắt đầu tạo ra những quan ngại về cuộc khủng hoảng nợ đang dần hiện ra.

Với Việt Nam, sự thống trị của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là vấn đề, tuy đã gần ba thập niên kể từ sau công cuộc “đổi mới” theo định hướng thị trường.

Việt Nam có cùng vấn đề như Trung Quốc, đó là các doanh nghiệp quốc doanh lại chính là nguồn cơn của các khoản nợ xấu có thể nhấn chìm hệ thống ngân hàng.

Việt Nam đã thành lập các công ty quản lý tài sản nhằm nhận các khoản nợ xấu từ các ngân hàng quốc doanh chuyển sang hồi đầu năm nay.

(VN dùng) Mô hình Trung Quốc (để giải quyết nợ xấu, nợ không đòi được)

Đây là điều tương tự như những gì Trung Quốc làm hồi 1999, khi nước này thành lập 4 công ty như vậy nhằm dọn dẹp sổ sách của 4 ngân hàng quốc doanh lớn trước khi mở cửa ngành ngân hàng nhằm tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001.

Thế nhưng vấn đề nằm ở chỗ nợ xấu không chỉ là khoản ghi sổ, mà là dòng lưu thông.

Nói cách khác thì các khoản nợ lũy kế cứ kéo dài trong các doanh nghiệp quốc doanh chính là vấn đề.

Trung Quốc hồi giữa thập niên 1990 đã có bước đi lớn nhắm cắt bỏ nhiều công ty nhà nước. Một lượng lớn các công ty nhà nước đã bị dẹp, đưa con số từ khoảng 10 triệu xuống còn chưa tới 300.000 công ty vào cuối thập niên này.

Trung Quốc vẫn có mảng quốc doanh lớn, nhưng đã có nỗ lực đáng kể nhằm cắt giảm các khoản nợ xấu bằng cách tăng tính hiệu quả của các công ty được nhà nước hỗ trợ còn lại.

Điều này được thực hiện bằng cách tư hữu hóa từng phần hoặc cổ phần hóa các hãng quốc doanh lớn, kể cả ngân hàng.

Tất nhiên, Trung Quốc đã tạo ra những vấn đề khác cho chính mình khi dùng hệ thống ngân hàng để tài trợ phần lớn cho chính sách thúc đẩy tài chính lớn, qua đó thúc đẩy kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hồi 2008.

Việt Nam đã cam kết cải tổ các doanh nghiệp quốc doanh, nhưng tiến độ nhanh tới mức nào thì lại là chuyện khác. Chẳng hạn, Ngân hàng Thế giới nói rằng bất chấp mục tiêu bán cổ phần của 93 công ty nhà nước hồi năm ngoái, việc bán thực sự chỉ được thực hiện tại 12 công ty.

Tiến trình chậm trễ

Câu hỏi đặt ra tại sao việc cải tổ lại diễn ra chậm đến vậy.

Như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam được coi là một Trung Quốc tiếp theo, do sự chậm chạp tương tự trong việc xử lý nền kinh tế.

Đây cũng là một quốc gia tương đối lớn, không đông như Trung Quốc 1,3 tỷ người, nhưng cũng có gần 90 triệu dân, đứng thứ 13 trên toàn thế giới.

Và cũng giống như Trung Quốc, Việt Nam đã quyết định không đi theo hướng “liệu pháp sốc”. Đó là điều mà Liên bang Xô viết trước đây làm khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung hồi giữa thập niên 1990.

Thay vào đó, các quốc gia ở Á châu đã từ từ giới thiệu sức mạnh thị trường, như cho phép các công ty không thuộc sở hữu nhà nước hoạt động, để các chính phủ cộng sản có thể từ từ cải tổ mảng quốc doanh.

Nhìn vào thời gian suy thoái kéo dài cả thập niên mà Nga và các nước Đông Âu phải trải qua sau thời kỳ chuyển đối gấp gáp, có lẽ người ta không mấy ngạc nhiên khi Trung Quốc và Việt Nam có vẻ như đang áp dụng những điều khôn khéo.

Tuy nhiên, có một trở ngại quan trọng cho công cuộc cải tổ ở cả hai nước này.

Người ta có thể lập luận rằng để tiến hành quá trình chuyển đổi gấp gáp sang nền kinh tế thị trường thì một quốc gia cần phải loại bỏ bàn tay kém hiệu quả của các công ty quốc doanh của nhà nước.

Hệ thống ngân hàng VN đang phải gánh nhiều nợ xấu của các công ty quốc doanh

Quyền lợi được đảm bảo

Nó cũng bao gồm việc ngăn chặn các nhóm lợi ích và các căn cứ quyền lực của những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ việc cải tổ. Họ có thể đón trước được những cải tổ tiếp theo.

Tất nhiên, có những vấn đề trong quá trình chuyển đổi ở Nga và các nước khác, trong đó có cả sự trông chờ không thực tế rằng một nền kinh tế tư nhân sẽ nắm thế chủ đạo một khi nền kinh tế quốc doanh bị gỡ bỏ.

Trung Quốc đã thực hiện điều được gọi là cải tổ “từ dễ đến khó”. Tức là thực hiện các bước cải tổ đơn giản về mặt chính trị trước, chẳng hạn như ưu đãi cho các mặt hàng nông sản trước, và để các vấn đề khó hơn lại, làm sau.

Và những quyền lực mới đã bắt đầu khiến cho các bước cải tổ tiếp theo càng thêm khó khăn.

Với Việt Nam thì việc cải tổ có vẻ như sa lầy do sự bất tài của những người điều hành các công ty nhà nước trong việc tư hữu hóa công ty ít nhất là từng phần, nếu không phải là toàn phần.

Nói cách khác, những người vốn được hưởng lợi từ việc thị trường hóa nền kinh tế nay đang kẹt trong các công ty làm ăn kém hiệu quả của mình, tạo gánh nặng cho hệ thống ngân hàng.

Nợ của chính phủ Việt Nam (nợ công) hiện chiếm khoảng 50% GDP, và đáng nói là có khoảng 37% là nợ nước ngoài.

Rồi khi các khoản nợ của các công ty nhà nước được cộng vào (với nợ công), thì tổng nợ tăng gấp đôi, lên mức 100%. Đó là những con số thống kê làm gióng lên những hồi chuông báo động về nguy cơ khủng hoảng.

Để tránh khủng hoảng, Việt Nam cần phải cắt bỏ gánh nặng từ các công ty nhà nước, đồng thời cần đẩy nhanh việc tư hữu hóa.

Mà để làm được những điều đó, người ta cần đối phó với những nhóm lợi ích thủ cựu.

Với những nước áp dụng cải tổ, bài học cải tổ chỉ thành công khi người ta đụng đến không chỉ vấn đề năng suất mà cả quyền lực. Với Việt Nam, đó có lẽ là một bài học khó nhằn.

Phóng viên Linda Yueh vừa thăm Việt Nam và thực hiện Bấm loạt phóng sự về kinh tế Việt Nam trong tháng Tám

Posted in Kinh Te, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs | Leave a Comment »

►Trung Quốc dùng Việt Nam làm căn cứ để xuất khẩu hàng hóa qua các nước hội viên TPP-

Posted by hoangtran204 on 04/08/2013

Dẫu không được gia nhập vào TPP, nhưng Trung Quốc là nước hưởng lợi nhiều nhất nếu như  VN vào được TPP vào cuối năm 2013, đó là nhờ sự hổ trợ “mạnh mẻ” của đảng CSVN và Nhà Nước.  

Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (tiếng AnhTrans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement– viết tắt TPP) là một hiệp đinh/thỏa thuận thương mại tự do với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó các quốc gia hội viên mua hàng của nhau, được giảm thuế nhập khẩu, về mặt chính trị là nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc và ảnh hưởng của TQ (Trích từ nguồn).   

VN rất muốn xin vào TPP vì GDP sẽ gia tăng thêm 27% sau vài năm gia nhập, và được giảm thuế khi xuất khẩu các mặt hàng qua Mỹ, mua được các nguyên vật liệu dệt may được giảm thuế  từ Ấn Độ, Thái Lan… mà khỏi cần mua của TQ như hiện nay. Hiện nay, VN mua rất nhiều nguyên vật liệu của TQ như bông, vải, chỉ, da (VN nhập khẩu  hàng hóa của TQ là 22 tỷ đô la, 2012)…để về gia công làm hàng và xuất khẩu áo quần, giày dép  qua Mỹ khoảng 10 tỷ đô la  (và xuất khẩu khoảng 4  tỷ đô la giá trị hàng dệt may, áo quần qua các nước Âu Châu.) (nguồn: Tổng cục Hải quan custom.gov.vn)

Trung Quốc không được tham dự vào TPP. Nhưng các công ty của dệt may giày dép của TQ đã và đang dời qua VN, lấy thương hiệu mới, và xuất khẩu dưới dạng Made In VN qua Mỹ và các nước Châu Âu. Chỉ có nhiêu thôi là TQ được lợi 40% nếu như làm cùng mặt hàng, nhưng xuất khẩu hàng này từ  ở VN. Hoặc chở hàng hóa đến cảng Hải Phòng VN, giả vờ nhập trong ngày hôm nay vào một công ty ma ở VN, và ngày hôm sau, công ty có tên VN này sẽ TÁI XUẤT khẩu hàng hóa trên chiếc tàu ấy tới Mỹ hoặc Âu châu, với quota là của Việt Nam. Biện pháp mánh mung này được sự hổ trợ của Nhà Nước và Quốc Hội VN (làm ra luật Tạm Nhập Tái Xuất như viết ở đây)

Như vậy, các công ty Trung Quốc đã, đang  và sẽ dùng Việt Nam làm căn cứ để xuất khẩu hàng hóa qua các nước hội viên TPP. Nguyên vật liệu của TQ được tuồn qua biên giới mà không ai kiểm soát như lâu nay. Đảng CSVN và Nhà Nước đã đồng ý để TQ chơi trò này. Bởi vậy, trong các năm vừa qua, Nhà nước VN dẫu rất nhiều lần chính thức muốn mua vũ khí hiện đại của Mỹ, nhưng Mỹ không đồng ý bán, vì họ biết nếu như vũ khí hiện đại của Mỹ giao cho VN hôm nay, thì ngay mai VN sẽ mời TQ đến ăn cắp mẫu mã, phát minh của Mỹ.  

Hơn 8,9 năm qua, đảng CSVN và Nhà Nước đã ký kết các hiệp ước mật, cho các doanh nghiệp TQ tự do đến VN mở công ty làm ăn, buôn bán, mà mức đóng thuế rất thấp, và họ được giảm thuế, được thuê mặt bằng rất rẻ, trả lương cho công nhân VN giá rẻ, chỉ 1/3 giá lao động so với giá công nhân ở TQ. Ngoài ra, nếu các công nhân VN đình công và đòi tăng lương thì đã có công đoàn (cánh tay nối dài của đảng) và Công an Nhân Dân VN ra tay đàn áp và dập tắt. Tất cả các chuyện kể trên do nhà nước VN làm đã dọn đường cho các công ty TQ xuất khẩu hàng hóa vào các quốc gia hội viên của TPP mà TQ không được cho gia nhập vào TPP. Chẳng khác nào hiệp định TPP chưa thành hình, thì VN đã giúp TQ phá thối và thoát khỏi hiệp định TPP. 

Nay có thêm hiệp định TPP, các quốc gia đang di dời sang VN ngày càng đông. 

TPP Từ Góc Nhìn Của Alan  

Bài dưới đây cho thấy TQ đã chuẩn bị bài bản sẵn để dùng VN làm bàn đạp xuất khẩu hàng hóa qua Mỹ và phá thối hiệp định TPP. Và ngược lại, các công ty TQ muốn mua hàng hóa nguyên liệu rẻ của các nước trong khối TPP, các công ty này đăng ký tên và đóng địa bàn ở VN, thế là hàng hóa và nguyên liệu nhập vào VN, rồi tuồn qua cho TQ theo đường biên giới và hải cảng. Không một nước nào có thể kiểm soát được sự kiện này. Đảng và Nhà Nước VN đã, đang và sẽ  giúp cho các doanh nghiệp TQ làm được các việc này.  

—-

Các công ty Trung Quốc dời sang Việt Nam

22.10.2012

Gía nhân công tăng, nhưng nhu cầu xuất khẩu giảm tại Trung Quốc khiến các nhà sản xuất hoặc đã di dời hoặc đang tính tới chuyện di dời sang các nước Đông Nam Á lân cận trong đó có Việt Nam.

Tin Asia News Network ngày 22/10 dẫn nguồn tin từ một quan chức phụ trách ngoại thương thuộc Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết gần 1/3 các công ty sản xuất dệt may, giày dép, và nón ở Trung Quốc đang hoạt động dưới áp lực leo thang và đã chuyển toàn bộ hay một phần khâu sản xuất ra ngoài nước.

Những đích đến được ưa chuộng hiện nay thường là các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Indonesia, và Malaysia.

Nhật báo China Daily nói xu hướng di dời sản xuất này sẽ tiếp tục trong tương lai.

Người đứng đầu văn phòng hành chính thuộc Phòng Thương mại Trung Quốc chuyên phụ trách về xuất nhập khẩu dệt may xác nhận rằng nhiều doanh nghiệp sản xuất tại Trung Quốc đã chuyển dời một phần hoặc toàn bộ ra nước ngoài.

Theo khảo sát do công ty tư vấn tài chính Capital Business Credit có trụ sở tại Mỹ, cứ 10 doanh nghiệp lớn được hỏi thì có 4 công ty cho biết có dự định dời xưởng sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam, Pakistan, Bangladesh, và Philippines.

Tuy làm mất công ăn việc làm cho dân Trung Quốc, nhưng giới chức Trung Quốc nói hiện tượng này cũng mang tính tích cực về mặt cơ bản, phù hợp với cam kết của chính phủ nâng cấp sức mạnh công nghiệp của Trung Quốc và thay đổi mô hình phát triển kinh tế.

Kế hoạch 5 năm (2011-2015) của Bắc Kinh kêu gọi các công ty xuất khẩu Trung Quốc sản xuất thêm nhiều sản phẩm cao cấp.

Gần đây, gía nhân công tại Trung Quốc tăng từ 15% tới 20% mỗi năm, khiến một số doanh nghiệp phá sản.

Thống kê năm ngoái cho thấy lương hằng tháng của các công nhân trong ngành sản xuất tại Việt Nam trung bình khoảng hơn 95 đô la, tương đương với mức lương 10 năm trước của công nhân tại Đông Quản, một thành phố công nghiệp ở Đồng bằng Châu thổ Châu Giang Trung Quốc.

Việt Nam nằm trong số các nước mở rộng chính sách ưu đãi về sử dụng đất đai và các dịch vụ công cho giới đầu tư nước ngoài trong đó có Trung Quốc.

Nguồn: China Daily, ANN, China.org.cn, Bernama

http://www.voatiengviet.com/content/cac-cong-ty-trung-quoc-doi-sang-vietnam/1531049.html

—————————————————————————-

Người TQ mua cả trăm hecta đất Bình Thuận

http://www.danchimviet.info/archives/61357

Mặt bằng đã chuyển từ đất lúa sang đất kinh doanh của Công ty Nguyên Long Sơn – Ảnh: Trần Lệ Hoa

UBND tỉnh Bình Thuận vừa kiểm tra và phát hiện việc đầu tư cả trăm hecta đất trồng thanh long không đúng quy định pháp luật của một nhà đầu tư Trung Quốc.

Theo hồ sơ, cuối năm 2011, ông Zhong Heng Shan (quốc tịch Trung Quốc, chủ tịch hội đồng thành viên kiêm giám đốc Công ty TNHH Nguyên Long Sơn thuộc Tập đoàn Nguyên Hinh, Thâm Quyến, Trung Quốc) ký hợp đồng  sang nhượng (mua) 100ha đất nông nghiệp tại xã Hàm Chính (huyện Hàm Thuận Bắc) và gần 10.000m2 cạnh quốc lộ 1A thuộc xã Hàm Đức (huyện Hàm Thuận Bắc) của ông Phạm Phú Thạnh. Trong khi việc sang nhượng đất chưa hoàn tất và đang có tranh chấp thì ông Zhong có văn bản gửi UBND tỉnh Bình Thuận xin phép nhập máy móc, thiết bị sản xuất trên diện tích đất này.

Từ tranh chấp hợp đồng với người Việt Nam

Theo văn bản gửi UBND tỉnh nhờ “can thiệp”, ông Zhong cho biết cuối năm 2011 khi ký hợp đồng với ông Phạm Phú Thạnh, nguyên giám đốc và hiện là thành viên góp vốn trong Công ty Nguyên Long Sơn, ông Zhong đã chuyển 13,5 tỉ đồng cho ông Thạnh. Tuy nhiên đến nay ông Thạnh chưa giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép xây dựng như đã ký kết.

Vì vậy, Công ty Nguyên Long Sơn đề nghị tỉnh Bình Thuận can thiệp và cho phép họ trồng thanh long trên diện tích 100ha ở Hàm Chính và được xây văn phòng, nhà xưởng trên diện tích đất đã mua tại Hàm Đức. Đồng thời cho phép được nhập máy móc, thiết bị về để sản xuất, chế biến thanh long.

Tuy nhiên theo ông Thạnh, tính đến tháng 7-2012 ông chỉ mới nhận từ ông Zhong 10,5 tỉ đồng và đã giao toàn bộ giấy tờ đất đai mà ông đã ký kết đứng ra mua giúp cho ông Zhong. Chưa hết, để “nắm đằng cán”, ngày 27-2 ông Zhong và luật sư của mình đã yêu cầu ông Thạnh ký một hợp đồng vay vốn khống 4,5 tỉ đồng (lãi suất 0%) trong số tiền 10,5 tỉ đồng đã chuyển, tương đương với 5% vốn góp trong công ty. Đổi lại, ông Thạnh phải thế chấp 11 sổ đỏ có diện tích hơn 75.000m2 và giấy tờ nhà đất văn phòng công ty tại Hàm Thuận Bắc.

Lòi ra chuyện đầu tư “chui”

Việc lập hợp đồng vay vốn khống này nhằm buộc ông Thạnh sau khi lo được giấy chứng nhận đầu tư phải chuyển cổ phần mới lấy lại được giấy tờ đã thế chấp mà ông đứng tên góp vốn trong công ty trên danh nghĩa, nhằm che mắt việc giúp ông Zhong đầu tư “chui” vào Việt Nam.

Theo hồ sơ, ngày 30-12-2011, ông Phạm Phú Thạnh thành lập Công ty TNHH Nguyên Long Sơn với vốn điều lệ 90 tỉ đồng. Trong đó, ông Thạnh làm giám đốc với số vốn góp 20% (18 tỉ đồng) và ông Vũ Duy Tám (quê Bắc Giang)góp 72 tỉ đồng còn lại.

Hai tháng sau (ngày 28-2), công ty này đã đăng ký thay đổi lần đầu vẫn giữ nguyên tên công ty, vốn điều lệ nhưng thêm hai thành viên là ông Huang Bi Qiu (ngụ Quảng Tây, Trung Quốc) góp 30% vốn (27 tỉ đồng) và ôngZhong Heng Shan góp 60% vốn (54 tỉ đồng).

Lúc này công ty chuyển sang cho ông Zhong làm giám đốc.Riêng ông Thạnh và ông Tám mỗi người chỉ còn 5% vốn (4,5 tỉ đồng).

Sau khi đưa hai người nước ngoài vào công ty để nắm giữ toàn bộ số vốn, cá nhân ông Thạnh và ông Tám chỉ còn lại một số vốn “tượng trưng” ít ỏi. Lúc này, Công ty TNHH Nguyên Long Sơn hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của ông Zhong. Từ đây, ông Thạnh lại ký hợp đồng chuyển nhượng số đất nông nghiệp trên 100ha mà mình đã gom trước đó cho ông Zhong để ông này đầu tư trồng thanh long, xây dựng nhà xưởng chế biến.

Tuy nhiên theo hồ sơ, với diện tích hơn 10.000m2 nằm sát quốc lộ 1A ngay ngã ba Tà Zôn (xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc) là đất lúa hai vụ, không được chuyển đổi mục đích khác (theo nghị định 42 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa và pháp luật đất đai hiện hành). Vì vậy theo hợp đồng, ông Thạnh phải có trách nhiệm “chạy” chuyển đổi sang đất kinh doanh để ông Zhong làm nhà xưởng chế biến thanh long.

Ngày 26-12-2011, UBND huyện Hàm Thuận Bắc đã cho chuyển đổi số diện tích ruộng lúa này sang đất kinh doanh, công ty đã ào ạt san lấp mặt bằng ngay sau đó.

Sau khi dùng thủ thuật đưa tên hai người Trung Quốc vào để chuyển nhượng công ty, ông Thạnh đã giao hồ sơ và con dấu cho ông Zhong. Chính sự thay đổi và đưa thêm hai người nước ngoài vào công ty nên UBND tỉnh không đồng ý cấp giấy chứng nhận đầu tư bởi công ty lúc này có yếu tố người nước ngoài.

Chưa hết, theo quy định của UBND tỉnh Bình Thuận, việc nhà đầu tư muốn xây dựng nhà xưởng thì sau khi được cấp giấy phép đầu tư phải tập trung vào các khu công nghiệp để sản xuất, chế biến. Từ việc đầu tư “chui” đến việc bán đất nông nghiệp cho người nước ngoài bị phát hiện nên phi vụ này đang có nguy cơ bị đổ vỡ. Cơ quan an ninh kinh tế Công an tỉnh Bình Thuận đã vào cuộc điều tra làm rõ.

Ông Zhong mời 9 cán bộ Bình Thuận đi Trung Quốc

Khó hiểu hơn là trong thời gian phi vụ này đang lùm xùm thì có đến chín cán bộ, trong đó có phó giám đốc Sở NN&PTNT cùng phó chánh văn phòng, giám đốc trung tâm trực thuộc sở này cùng bí thư, phó chủ tịch, trưởng phòng nội vụ, giám đốc Ban quản lý dự án huyện Hàm Thuận Bắcnhận lời mời của Tập đoàn Nguyên Hinh sang Thâm Quyến, Trung Quốc để “học tập kinh nghiệm”.

Theo báo cáo của Công ty Long Nguyên Sơn do ông Zhong ký thì sau chuyến “học tập kinh nghiệm” này, các thành viên trong đoàn công tác đã hướng dẫn ông làm đơn đề đạt những nguyện vọng được đầu tư ở Bình Thuận vì công ty đã lỡ “cầm đèn chạy trước ôtô”.

Nguồn :  Tuổi Trẻ.

Posted in Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Làm ăn chung với Trung Quốc, Tài Chánh-Thuế | 6 Comments »

Chế độ độc tài Lybia CHƯA sụp đổ, vàng gia tăng lên gần 49 triệu 1 lượng–Chỉ trong vòng 7 tháng qua,Trung Quốc đầu tư hơn 3 tỉ đôla vào 805 dự án ở Việt Nam!

Posted by hoangtran204 on 23/08/2011

Nền kinh tế và tài chánh ở  Âu châu đang bước vào giai đoạn hiểm nghèo, các nước Ý, Bồ đào  Nha và Hy Lạp bên bờ vỡ nợ. Chính phủ mỗi nước mắc nợ từ 400-1200 tỉ đô la.

Kinh tế của Mỹ thì đang còn suy thoái, mức thất nghiệp trên 9% (trên 408 000 người nộp đơn lãnh tiền thất nghiệp tuần trước). Chứng khoán Dow Jones sụt 2000 điểm chỉ trong 3 tuần qua và chỉ còn quanh quẩn mức 10 800 điểm.

Chế độ độc tài ở Lybia vẫn chưa sụp đổ. Gadhafi vẫn chưa bị bắt.

Vàng 24 (37,5 gram = 1,2 Oz) đã lên gần mức 49 triệu 1 lượng (vài ngày trước giá vàng 24 khoảng 46-47  triệu đồng  VN)

1 lượng vàng anh (30,48 grams = 1 Oz) giá 1870 đô

21 000 đồng VN = 1 đô la

Đồng đô la sẽ lên giá và tiền đồng VN sẽ hạ giá do giới cầm quyền  Hà Nội buộc lòng phải tung tiền VN ra mua đô la. Lý do:

+Số lượng tiền do Việt kiều gởi về VN giảm sút 15-20%.

+xuất cảng các mặt của Việt Nam giảm

+ xuất cảng dầu thô của VN giảm. Giá dầu thô giao hàng của thế giới vào tháng 9-2011 là 82 đô/ 1 thùng, giảm nhiều so với giá hơn 93 đô vào các tháng trước.

+nguồn vốn FDI của ngoại quốc giảm 6 tháng đầu năm nay là gần 30% so với năm 2010.

+Doanh nghiệp chỉ vay đô la mà không vay tiền đồng VN “Từ đầu năm 2011 đến nay doanh nghiệp toàn vay USD vì lãi suất (LS) chỉ dao động 6-7%. Trong khi đó nếu vay bằng VND phải trả LS trên 20%/năm…với khoản vay 200.000 USD (tương đương 4,12 tỉ đồng), mỗi tháng chỉ phải trả lãi gần 27,2 triệu đồng. Còn nếu vay bằng VND với LS 21%, mỗi tháng phải trả lãi hơn 72 triệu đồng.”…

Giá dầu thô giao hàng vào tháng 9-2011 là 82 đô/ 1 thùng.

*Dầu xuống vì chiến tranh ở Lybia và chế độ của đại tá Moammar Gadhafi’s  gần sụp đổ. Phiến quân đã chiếm phần lớn thủ đô hôm 21-8-2011, con trai của đại tá Gadhafi vẫn còn chỉ huy các đạo quân trung thành chống lại các nhóm quân nổi dậy.  Ông ta nói rằng phương Tây vận dụng tin tức và computer để phao tin là Lybia sụp đổ, chứ trên thực tế vào ngày 22-8 thì quân đội  trung thành với nhà độc tài vẫn còn chống lại các nhóm nổi dậy.

(Lybia bán dầu hỏa cho nhiều nước Âu châu (và gạ bán cho Mỹ lúc gần đây)

——

Nguồn cơn Trung Quốc gia tăng đánh đập và bắt ngư dân VN từ 2006-2011, xâm nhập lãnh vải Biển Đông và gây hấn manh nha từ khi VN loan tin khám phá dầu ở Vịnh Bắc bộ vào năm 2004

*Bài báo dưới đây từ tháng 2-2005 cho thấy Trung Quốc đã không vui khi Việt Nam tìm kiếm dầu trong vùng biển phía Bắc (vùng Vịnh Bắc Bộ) , đặc biệt khi Petrovietnam thông báo đã khám phá dầu ở giếng Dầu Yên Tử vào tháng 10-2004.  Giếng  Yên  tử ở 70 km phía Đông của  tỉnh Hải Phòng có trử lượng  khoảng 700-800 triệu thùng dầu, và 2 đối tác của VN tại vùng mỏ dầu nầy là Malaysia và Singapore.

VN được đánh giá có trữ lượng dầu từ 6,5-8,5 tỉ thùng dầu. Và trữ lượng ga vào khoảng 75-100 ngàn tỉ cm khối ga. (khoảng 75-100 triêu mét khối ga).

Năm 2004, VN bán ra 130 triệu thùng dầu và 200 tỉ cm-khối ga theo bài báo dưới đây.

(VN bán ra chừng 400 000 thùng dầu mỗi ngày.)

*Chính phủ của 46 quốc giá xuất cảng dầu qui định giá xăng bán ra cho dân chúng mua dùng chỉ bằng 1/2 hoặc 1/4 giá xăng bán tại Mỹ. Họ cho rằng dầu hỏa và ga là tài nguyên của đất nước nên khi khai thác được thì phải chia lại cho dân chúng dùng với giá rẻ. Cụ thể giá 1 lít xăng ở 46 quốc gia xuất cảng dầu hiện nay vào khoảng 2500 đồng-5000 đồng VN/1 lít. ( chính xác là giá 50 xu hay 1 đô la/1 gallon xăng (1 gallon gần bằng 4 lít)

*Tuy VN đã khai thác dầu hỏa và ga suốt hơn 20 năm qua, nhưng dân chúng VN chưa từng được hưởng tài nguyên dầu hỏa như chính phủ của 46 nước xuất cảng dầu trên thế giới đã làm cho dân của họ.

Petrovietnam cho biết số tiền bán dầu và ga hàng năm tính ra là trên 30 tỉ đô la vào năm 2010.  Ngoài việc nôp cho Hà Nội 2,5 tỉ gọi là tiền lời,  số tiền còn lại một phần là chi phí và phần khác chui vào túi của ai thì bạn đọc tự hiểu.]

[Các bạn vào bing.com hay google.com và viết chữ revenue of Petrovietnam Corporation vào hộp search, sẽ thấy các bài báo nói về số tiền lời của công ty Petrovietnam hàng năm.]

Bài báo dưới cùng là nói về Venezuela. Nước sản suất dầu hỏa 3,2 triệu thùng mỗi ngày.

———

Từ đầu năm nay đến tháng 7-2011, Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam hơn 3 tỉ đô la với 805 dự án

Theo nguồn tin của báo Vietnambusiness.asia, từ đầu năm 2011 đến tháng 7 năm nay, Trung Quốc đã đầu tư hơn 805 dự án (F.D.I) vào Việt Nam, trị giá tổng cộng 3 tỉ đô la.

Trong năm 2010, Việt Nam nhập cảng 20 tỉ đô la các sản phẩm kỹ nghệ của Trung Quốc, và xuất cảng 7 tỉ đô la nguyên liệu và nông sản sang Trung Quốc. Thương mại song phương gia đạt tổng cộng là 27 tỉ đô la và tăng 30% so với năm 2009.

Chỉ riêng 7 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã nhập cảng 13 tỉ đô la hàng hóa từ TQ và xuất cảng 5,5 tỉ đô la hàng hóa qua TQ.

Nguồn Vietnambusiness.asia.

———-

Vietnam Finds Oil in the Basement

 By DAVID BROWN
EXPLORER Correspondent
source 
DOWNLOAD COMPLETE IMAGE

Vietnam rarely makes headlines for petroleum development.

But consider:

Vietnam ranks third in oil production among Association of South East Asian Nations countries, trailing only Indonesia and Malaysia.

If its current rate of development continues, Vietnam will become the world’s 30th largest oil-producing nation.

And perhaps the most startling aspect about Vietnam — most of its production comes from offshore basement reservoirs.

Attractive Reserves

To date, Vietnam has produced almost a billion barrels of crude oil and 300 billion cubic feet of natural gas, according to Viet Anh Nguyen, new ventures coordinator for national oil company PetroVietnam.

Nguyen estimated 2004 total output at 130 million barrels of oil and 200 Bcf of gas.

The country’s estimated resources, both onshore and offshore, now stand at 6.5-8.5 billion barrels of oil and 75-100 trillion cubic feet of gas, he said.

Current oil and gas production comes from fields in the Cuu Long, Nam Con Son and Malay-Tho Chu basins, with gas also produced in the Song Hong Basin.

Click to enlarge.

PetroVietnam began 2005 in the middle of a licensing round for nine blocks in the Phu Khanh Basin, offshore the south-central coast of Vietnam. The offered blocks average 7,000 square kilometers in size.

Water depths in Phu Khanh range from 50 to 2,500 meters, and sediment thickness extends up to 8,000 meters, the company said.

Additional, frontier exploration areas include parts of the Hoang Sa and Truong Sa group of basins.

Because of challenging conditions, exploration in those areas may be limited to small, prospective acreages of interest, Nguyen said.

Geological Setting

A system of Cenozoic sedimentary basins defines the 1 million-square-kilometer Vietnamese continental shelf area, according to descriptions from PetroVietnam.

These rift basins lie within a transitional zone from the continental crust of the Indochina Craton to the suboceanic crust of the eastern deepwater area.

Most of the main structural elements occurred during a Late Eocene-Oligocene rifting phase, with extension and transtensional deformation.

Local uplift, rotation and erosion began in the mid-Oligocene, followed by regional subsidence. Compression dominated the area, later subject to diverse, low- to moderate-amplitude tectonic activity.

Oligocene-Early Miocene lacustrine shales and deltaic coals and coaly claystones constitute the main source rocks, showing potential for both oil and gas generation.

Clastics — delta plain, fluvial channel, submarine slope fan and turbidite sandstones — make up the most common reservoirs. However, exploration has found fractured granite basement to be an important oil-bearing reservoir type.

PetroVietnam now has an extensive history of working with foreign companies in exploration and development ventures.

In October the company signed a contract with Idemitsu Kosan Co., Nippon Oil Corp. and Teikoku Corp. for exploration on two blocks in the Nam Con Son Basin.

According to PetroVietnam, that was the 48th petroleum contract signed with foreign companies since the Vietnam Foreign Investment Law took effect in 1987.

Roaring Young Lions

Click to enlarge

Oilfields in the Cuu Long Basin offshore southeastern Vietnam typify the country’s fractured basement reservoirs.

Bach Ho (White Tiger), Vietnam’s largest oilfield, produces almost 280,000 barrels of oil per day from granitoid basement.

Recently, a basement-reservoir play extension in the nearby Su Tu or “lion” fields generated wide industry interest.

The Su Tu Den (Black Lion) field currently produces about 80,000 barrels per day, but PetroVietnam expects to increase output to 200,000 barrels per day within three years.

In September, PetroVietnam announced that up to $300 million dollars will be spent on production enhancement in Cuu Long Block 15-1, where Su Tu Den is located.

Neighboring fields Su Tu Vang (Golden Lion) and Su Tu Trang (White Lion) also show promise for production increases, it said.

Wallace G. Dow, an AAPG member and consultant in The Woodlands, Texas, calls the Cuu Long oil “paraffinic, classic lacustrine crude” expelled into fractured basement from lower source rock.

“The oils in the basement are virtually identical to the oils in the sandstone sitting around the basement,” Dow said.

“This is the key — they migrate updip through faults into the basement, in horst blocks,” he said.

Dow emphasized that the oil’s components indicate a lacustrine organic facies with lipid-rich, land-plant debris and fresh-water algal material, refuting theories of abiogenic origin in this area.

Exploration Challenge

Discoveries on basement highs in Cuu Long can encounter thousands of feet of oil column.

“When you open up a 1,000-foot section, you don’t need more than 2 or 3 percent porosity. The oil migrated recently, so it’s still all there. You can produce a lot of oil,” Dow said.

Cuu Long’s challenge is predicting where to drill, according to Dow, and “a lot of companies have lost their shirts trying to drill these darn things.

“The whole problem is, how do you do these plays?” he asked. “Some companies want to believe there are plays away from these horst blocks. I’m sure there are, but are they economic?”

A joint venture, Cuu Long Joint Operating Co., conducts oil and gas development on Cuu Long Block 15-1, including the Su Tu fields.

Partners are:

  • PetroVietnam, 50 percent.
  • ConocoPhillips, 23.25 percent.
  • Korean National Oil Corp., 14.25 percent.
  • South Korean oil refiner SK Corp., 9 percent.
  • French company Geopetrol, 3.5 percent.

Operating in Vietnam is “like operating just about anywhere else,” said Georg Storaker, ConocoPhillips country manager of Vietnam in Ho Chi Minh City.

Storaker said the venture’s general manager is seconded in from PetroVietnam and the deputy general manager from ConocoPhillips, with other companies providing representation.

By agreement, partners make operating decisions jointly, under voting rights specified in the working contract.

“It works. It’s functional to do it this way,” Storaker observed. “But it tends to become very bureaucratic to operate in this fashion.”

He said Vietnam may return to the partner-operated approach used in earlier government-sponsored ventures, providing more direct operator control.

Build-As-You-Go

Having no refining capacity of its own, Vietnam exports all of its crude production and imports processed fuels and petrochemical products.

“All oil markets are out of the country,” Storaker said. “All gas production is going into domestic markets, primarily for power generation.”

With minimal petroleum infrastructure in place, development can be a build-as-you-go effort. Much of the support manufacturing takes place in Vietnam, according to Storaker.

“The simple wellhead structures, the jackets and topsides, we build here in Vung Tau, the harbor city just outside of Ho Chi Minh City,” he said.

The Cuu Long venture had no problem identifying prospects on Block 15-1, said Bill Schmidt, ConocoPhillips general manager for Vietnam.

“The first well that was drilled was a successful discovery,” Schmidt said. “It was targeting the basement. The block was picked up based upon the success of the Bach Ho field.”

Basement reservoirs at Bach Ho and the Block 15-2 Rang Dong field, where ConocoPhillips has a 36 percent interest, indicated the play concept could be extended.

“For that reason, there was a lot of interest in what was considered this ‘golden block,’ Block 15-1. Basically, it came in as expected in Su Tu Den and Su Tu Vang,” Schmidt said.

“They were the two nicest structures on the block,” he added.

Riding a Horst

The company’s ongoing development plan is typical of local operating style: Find a horse, or horst, and ride it.

“Block 15-1 is the one that has the longest life, that we’re tying most of our future on,” Storaker said. “The Rang Dong field that got us started has a life expectancy of 2017.

“We are now moving into the preliminary engineering phase of Su Tu Vang,” he continued, “and if everything goes the way we hope, we would like to sanction it in 2005 for first production in 2007.”

The third discovery, Su Tu Trang, is in evaluation. It initially tested at 70 million cubic feet of gas and 8,500 barrels of condensate production per day, Storaker said.

“We have been shooting a lot of seismic work on that structure in the past year,” he added, and an appraisal well is slated for 2005.

“We are also likely to go out and drill an exploratory well on another prospect we see out on the block,” Storaker said.

At Rang Dong, where water injection began in 2004, ConocoPhillips plans to add one production platform and one new liquids handling platform this year.

ConocoPhillips also holds an equity interest in the 242-mile Nam Con Son pipeline system, linking gas supplies from the offshore basin to gas markets in southern Vietnam.

For the period 2005-10, PetroVietnam plans to triple gas production and add 7-to-10 new oil and gas fields, Nguyen said.

Vietnam also will focus on infrastructure construction to develop its domestic natural gas market and reduce dependence on imported oil products.

Things in Motion

After a series of false starts and delays, including the loss of a Russian venture partner, PetroVietnam now plans to begin operating a $1.6 billion, in-country refining complex at Dung Quat by 2007.

Vietnam continues to develop rapidly, Storaker said, promising a stronger domestic market for transportation fuels and power-generation gas in the future.

“It’s growing quite fast — there is a growth rate of about 7 percent a year,” he said. “There’s a focused effort here on getting more high-tech industry into this area.

“There’s tons of things to be done to, for example, catch up with the speed of the neighbor to the north,” he added.

Continued exploration success in Vietnam presents the industry with an increasingly attractive place to work, to operate and to chase offshore plays.

“Things are in motion down here,” Storaker said.

————

Northern Vietnam Offshore Discovery Sparks Potential Territorial Dispute

PetroVietnam announced the first discovery of oil offshore northern Vietnam in October 2004.

The find came in the area of Blocks 102 and 106 of Yen Tu field, about 70 kilometers east of Hai Phong, with an initial reserves estimate of 700-800 million barrels.

Venture partners include the company’s Petroleum Investment and Development Co., Malaysia’s Petronas and the Singapore Petroleum Co.

China quickly announced it was concerned and displeased by Vietnam’s exploration in the area.

Territorial rights in nearby parts of the South China Sea have been claimed by six countries — China, Vietnam, Malaysia, the Philippines, Brunei and Taiwan.

Source  brent crude oil

—-

For Venezuela, a Treasure in Oil Sludge

By JUAN FORERO

Published: June 1, 2006

PUERTO LA CRUZ, Venezuela — The sludge in the glass jar on David Nelson’s bookshelf here is thicker than molasses and was once thought worthless. But the Chevron Corporation, whose operations he runs in eastern Venezuela, has spent about $1 billion turning what was once called liquid coal into oil, helping transform a swath of scrub grass into a great frontier for oil production.

The region, the Orinoco Belt, is in fact so promising that President Hugo Chávez of Venezuela says it contains up to 235 billion barrels of recoverable oil; if true, the reserves would rival those of Saudi Arabia.

“We do know that the Orinoco is underdeveloped,” said Mr. Nelson, 49, a geologist from California with 27 years’ experience developing heavy-grade oil. “And the resources in the Middle East are at their midpoint.”

David Rochkind/Polaris for The New York Times

This great, largely untapped treasure is pitting a leftist government aiming to use oil revenue for social programs against multinational corporations like Chevron, which were invited here a decade ago to develop the Orinoco Belt, a 54-square-mile area some 120 miles south of here.

With demand rising, worldwide supplies threatening to decline and oil prices near record levels, the struggle in this country underscores the growing debate between governments and oil companies worldwide over profits from technologically challenging but potentially lucrative oil fields — whether in the Caspian Sea, the Arctic tundra or here in the Orinoco region.

Venezuela will be the host for an OPEC meeting on June 1, where Mr. Chávez can be expected to emphasize his country’s vast potential. It clearly has a lot to gain from the Orinoco, where daily oil production has slid to 2.6 million barrels, from 3.3 million barrels five years ago. To underline the region’s potential, President Chávez has asked oil companies from as far away as China and Russia to certify the size of the hefty reserves.

Saudi Arabia, still the giant among world oil suppliers and the leading force in OPEC consultations, scoffs at such boasts.

Yet, what is under the ground here in Venezuela, the Western Hemisphere’s largest oil-exporting nation, has become so valuable that companies throughout the world want to drill for more, and Mr. Chávez, who regards his government as revolutionary, wants it to have a larger slice of the earnings.

In Venezuela, foreign companies including Exxon Mobil, Chevron, ConocoPhillips, BP and Total of France could lose once-favorable terms and in essence be forced to transfer up to $8 billion in value to the government, just as some opportunities elsewhere are drying up.

The big oil companies are right to be rattled. In April, Mr. Chávez’s populist government took control of 32 mostly marginal oil fields across Venezuela that had been managed by foreign concerns. Then on May 16, the National Assembly raised royalties on the four heavy crude oil projects of the Orinoco to 33.3 percent, from 16.6 percent, and is planning to increase taxes to 50 percent, from 34 percent.

The government says it is preparing to capture a bigger stake in the Orinoco — turning control of projects that produce 600,000 barrels a day over to Venezuela’s state oil company, Petróleos de Venezuela. Energy officials say the government could take up to 60 percent control of the so-called strategic associations, as the projects are called. No timetable has been laid out, but leaders in the National Assembly, which is controlled by Mr. Chávez’s forces, say it is only a matter of time.

“With the high price of petroleum on the market, we are going to share in the excess earnings of the strategic associations,” Mario Isea, president of the assembly’s hydrocarbons commission, which is allied with Mr. Chávez, said in an interview. “They have gone years without paying royalties and effectively paying commercial taxes instead of petroleum taxes.”

In the mid-1990’s, President Rafael Caldera’s government, eager to develop oil discovered in the 1930’s, opened the region to foreign investment because the state oil company had neither the capital nor the technology to develop the Orinoco’s semisolid sludge. Oil prices were low, world supplies easily met demand and Venezuela had on its hands a crude oil so heavy, so filled with impurities, that it was not even known as oil, but rather bitumen.

But then, given a virtual tax holiday intended to stimulate investment — the royalty rate was 1 percent — the multinationals embarked on a process of drilling and, more recently, upgrades that permit refining Orinoco crude oil into a lighter, marketable product.

In the Hamaca field, an area the size of Houston that produces oil for Chevron, ConocoPhillips and the Venezuelan state company, oil now slurps through an octopus-like system of horizontal wells that reach out as far as 8,000 feet.

The drill bits are equipped with sensors that emit seismic signals measuring what they are passing through — whether rock, sandstone, fine shale, sand or clay.

“Obviously, we’d love to find deposits with sweet light crude in shallow fields,” said Mr. Nelson, who carefully explains the complex challenges his company faces. “That’s not where energy resources are, so we have to adapt.”

Back in a control room near his office in this Caribbean port, geologists and engineers monitor wall-size screens and make quick decisions whether the drill needs to bore ahead, or move up or down.

The idea is to have the drill moving fast, at hundreds of feet an hour, into blue-shaded patches, which signal porous material that would contain crude oil.

“Our goal is to first find sand and once we find it, stay in it,” said Mike Waite, a senior geophysicist who leads the team monitoring the drilling.

Just west of here, gunk from the Orinoco is turned into oil at the Jose Industrial Complex, a virtual city of pipes, water-treatment lagoons, smokestacks, pits and storage tanks. Since the first shipment of Hamaca oil left aboard the tanker Overseas Sophie two years ago, the project has produced an average of 180,000 barrels a day.

Mr. Nelson said the project, among the most intricate in the world, is worth it, “but you have to put some elbow grease into it.”

“These projects are big,” he said. “They’re complicated. They have a lot of moving parts. You have a lot of complicated negotiations with governments. It’s not a business of instant gratification.”

All told, according to a recent Deutsche Bank report on the Orinoco projects, $17 billion has been invested, about $3.5 billion in the Hamaca project alone. Big energy companies, including some from Brazil and China, would like nothing more than free rein to ramp up investments and produce more.

Ali Moshiri, Chevron’s Latin America exploration and production group chief, said in April that Venezuela needed $200 billion to develop the heavy oil reserves.

“There’s a sense of urgency, not a sense of luxury,” said Mr. Moshiri, who predicted that 90 percent of Venezuela’s production would come from the Orinoco in the years ahead.

The government, to be sure, talks of increasing production to 5.8 million barrels a day by 2012, from 2.6 million barrels now. But Venezuela, which as a leading voice in the Organization of the Petroleum Exporting Countries has advocated a particularly tough form of oil nationalism, wants to achieve this on its own terms.

Its energy minister, Rafael Ramírez, who is also the president of Petróleos de Venezuela, said in an interview that the deals that multinational companies signed with the government in the 1990’s were “absurd,” giving Venezuela little in return.

“They are beholden to their stockholders, and we are beholden to our country,” Mr. Ramírez said.

Venezuelan officials contend that exploration and production in the Orinoco has become easy, even risk-free, with a barrel of oil costing less than $1 to produce, down from $2 in 1995.

Energy officials here assert that the multinationals exaggerated the technical challenges and costs, swindling the state.

They also argue that the companies have made extraordinary profits — and will continue to do so even with higher taxes and royalties.

“They have made a fortune,” said Mr. Isea, the president of the hydrocarbons commission. “This remains an excellent business. I do not think anyone will leave.”

Venezuelan officials say their measures are enshrined in a 2001 law that says the state oil company must have a 51 percent stake in projects; they sidestep questions about previous contracts being grandfathered in.

Mr. Ramírez and lawmakers also say that a 1945 hydrocarbons law permits the government to raise royalties when the price of oil goes up.

The foreign companies, trying to avoid controversy, do not publicly dispute the Venezuelan government’s statements. But Larry Goldstein, president of the Petroleum Industry Research Foundation, an industry-supported analysis group in New York, said: “In Venezuela today, I don’t believe contracts have meaning. And it affects the production, no matter what the Venezuelans say.”

The game of oil brinkmanship continues, with Mr. Ramírez saying that the companies have few options.

“It’s no secret for anyone that the big deposits, the giant ones, are finished,” he said. “There are no new oil regions that compare to the Orinoco Belt.”

The recent Deutsche Bank report agreed, saying that “few are likely to quickly turn their backs on reserves of the order seen in Venezuela.”

“They may not like Chávez,” the report added. “They may not like his regime. But they also know that he has probably done as much to support high oil prices through his rhetoric and posturing as any individual. This president is no fool. And at the end of the day, you go where the oil is.”

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Năng Lượng và Mỏ, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »