Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy, 2010

Về quá trình thay đổi tư duy ở Nga: Một Putin mới

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2010

Về quá trình thay đổi tư duy ở Nga: Một Putin mới

TTX dịch theo Newsweek số ra ngày 21/6/2010

Nhà lãnh đạo Nga vốn đã từng chỉ trích Mỹ và đi theo đường lối của Stalin hiện nay đang ủng hộ một sự tan băng quan trọng trong chính sách đối ngoại của Nga.

Chỉ ba năm trước đây, Vladimir Putin say sưa nói về việc Mỹ đang tìm cách trở thành “ông chủ duy nhất” của thế giới và chỉ trích NATO “đang trườn đến các đường biên giới của Nga”. Ông cũng đã ra lệnh viết lại các cuốn sách lịch sử của Nga nhằm ca ngợi vai trò của Stalin, điều này báo động thế giới rằng khả năng khôi phục một chế độ Xô Viết chuyên quyền sắp diễn ra.

Thay vì chỉ trích phương Tây, Thủ tướng Putin nói về các thỏa thuận kinh doanh với châu Âu và châu Mỹ, về các khu vực thương mại và các khoản vay. Và thay vì ca ngợi Stalin, hồi tháng 5, Putin đã thẳng thắn thừa nhận sự tàn bạo của “chế độ chuyên chế” của Stalin khi ông đứng bên cạnh Thủ tướng Ba Lan tại Katyn, nơi quân đội Liên Xô đã tử hình 20.000 sĩ quan và binh lính Ba Lan vào năm 1940.

Dự án lớn nhất của Putin năm nay đó là hình thành một hiệp định về mối quan hệ đối tác hợp tác lớn mới với Liên minh châu Âu mà sẽ bao trùm mọi thứ từ thương mại đến du lịch không cần thị thực.

Và một học thuyết chính sách đối ngoại mới của Cremli, sau nhiều tháng tiến triển, đang vạch ra các kế hoạch chi tiết để tạo ra một thế giới trong đó Nga sẽ “phụ thuộc lẫn nhau” vào các cường quốc lớn khác, có thể kể đến Liên minh châu Âu và Mỹ với tư cách là các đối tác đáng ao ước nhất.

Sự mềm mại mới trong giọng điệu của Putin không phản ánh bất kỳ sự nhụt chí nào liên quan đến mục tiêu cơ bản của ông: phục hồi địa vị của Nga với tư cách là một nước lớn.

Theo những người biết ông, Putin tận đáy lòng mà nói vẫn là “một silovik điển hình”, silovik là từ viết tắt để chỉ một nhóm gồm các cựu mật vụ có tư tưởng diều hâu vẫn đang thống trị giới tinh hoa của Nga.

Yury Krupnov, Giám đốc Viện nghiên cứu nhân khẩu học, nhập cư và phát triển khu vực của Matxcơva và là người gần gũi với Putin nói: “Bạn đừng hiểu sai rằng Putin sẽ để Nga trở nên yếu kém“. Thứ đã thay đổi đó là lần đầu tiên trong một thập kỷ, thế giới cuối cùng đang đi theo cách của Putin, và ông cuối cùng cũng có thể nghỉ xả hơi đôi chút.

Trong khoảng thời gian làm tổng thống, từ 2000-2008, Putin đã đấu tranh để bảo vệ những gì ông xem là phạm vi ảnh hưởng chính đáng của Nga, dọc theo chiều dài của những vùng đã từng là lãnh thổ của Liên Xô. Ba Lan đã từng tìm cách trở thành một căn cứ cho hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Mỹ. Ucraina quyết tâm gia nhập NATO và Grudia cũng vậy và đã tìm cách hất cẳng quân đội Nga khỏi các nước cộng hòa ly khai của họ là Apkhadia và Nam Ossetia.

Hiện nay, chính quyền Obama đã rút lại kế hoạch bố trí các dàn tên lửa đánh chặn ở Ba Lan và cộng hòa Séc; việc gia nhập NATO cũng không được bàn đến ở Ucraina do thắng lợi của một vị tổng thống thân Matxcơva trong bầu cử; và Nga đã sáp nhập một cách hiệu quả các vùng lãnh thổ phía Bắc Grudia và đây là kết quả của cuộc xâm lược diễn ra hồi năm 2008. NATO thậm chí còn đề nghị bao gồm cả Nga vào các kế hoạch phòng thủ tên lửa của châu Âu.

Và vào tháng 5/2010, Putin đã ký một thỏa thuận gia hạn hợp đồng thuê căn cứ hải quân của mình ở Sevastopol, Ucraina vốn lâu nay là ngôi nhà của Hạm đội Biển Đen gây tranh cãi của Nga. Putin cũng củng cố sự chi phối về năng lượng của Nga đối với châu Âu, ký kết một loạt các thỏa thuận về đường ống dẫn khí Dòng chảy phương Nam, chuyển khí đốt trực tiếp từ Nga sang Bungari và Trung Âu.

Mỹ cũng trông có vẻ không còn quá đe dọa đối với những lợi ích của Nga. Mặc dù Putin và George W.Bush đã xuất phát với một khởi đầu tốt đẹp khi Tổng thống Mỹ vào năm 2001 tuyên bố đã “nhìn thấu” tâm hồn của Putin, các mối quan hệ nhanh chóng xấu đi do những nghi ngờ của Nga rằng Mỹ xúi giục “các cuộc cách mạng màu” đã lật đổ các chế độ thân Putin ở Grudia, Ucraina, Xécbia và Cưgơrưxtan.

Hiện nay, khi mà Bush và chương trình nghị sự tự do của ông đã không còn, Putin có thể chấp nhận đề nghị của Tổng thống Barack Obama “khởi động lại” các mối quan hệ. Obama, theo lời của Dmitry Rogozin, đại diện của Nga tại NATO, là “một nhà tư tưởng trẻ tuổi, hiện đại”, đã nỗ lực xoa dịu sự lo ngại của Nga rằng Mỹ muốn ve vãn các đồng minh lâu đời nhất của Nga.

Bất chấp cuộc chiến gay go về địa chính trị trong quá khứ, Putin hiện đang thoải mái chìa tay ra với phương Tây như ông đã làm vào những ngày đầu làm tổng thống, khi Nga ủng hộ cuộc chiến của Bush ở Apganixtan.

Về cơ bản, nỗ lực của Putin nhằm khôi phục các mối quan hệ với phương Tây phản ánh thực tế rằng Nga rất cần nguồn ngoại hối. Điều chắc chắn là sự bùng nổ của Nga thời Putin là dựa vào nguồn tiền bán dầu lửa. Nhưng hầu hết các công ty của Nga thực sự phát triển dựa trên ngồn vốn rẻ mạt mượn từ phương Tây với số tiền là 450 tỷ USD.

Số tiền đó hiện đã hết sạch. Đầu năm nay, Bộ Phát triển Kinh tế của Nga đã tính toán rằng từ nay đến năm 2013 Nga sẽ cần phải có khoảng 1 nghìn tỷ USD để thực hiện những kế hoạch đầy tham vọng nhằm phục hồi cơ sở hạ tầng đang xuống cấp nghiêm trọng chẳng hạn như hệ thống đường ray xe lửa, các trường học và bệnh viện – và ngân sách chỉ có thể bù đắp 1/3 con số đó.

Quỹ ổn định hóa trị giá 150 tỷ USD được tạo ra trong những năm tăng trưởng mạnh sẽ bị tiêu hết vào cuối năm 2011. Điểm mấu chốt là Cremli đưa ra những con số này và nhận ra rằng Nga không thể hiện đại hóa – thậm chí là tồn tại – nếu thiếu đầu tư nước ngoài.

Một nguồn tin cao cấp từ Bộ Ngoại giao nói: “Cuộc khủng hoảng này cho thấy rằng Nga sẽ không thể phát triển một cách độc lập“.

Chính vì vậy, sự thân thiện mới của Putin được định hướng bởi những nhu cầu của chính nước Nga. Thái độ kiêu ngạo dựa vào dầu lửa đã khiến Putin có lập trường hiếu chiến nhất vào năm 2008 – khi giá dầu lửa đạt mức 146 USD/thùng, gấp đôi mức giá hiện nay và Cremli tràn ngập tiền từ trên trời rơi xuống – hiện đã hết.

Dmitri Trenin thuộc Trung tâm Moscow Carnegie nói: “Cuộc khủng hoảng kinh tế đã xóa bỏ sự ngạo mạn đã đánh dấu sự kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của Putin. Nếu bạn chấp nhận rằng trừ khi bạn hiện đại hóa, thì bạn sẽ bị gạt ra rìa, hoặc nếu bạn chấp nhận rằng bạn không thể hiện đại hóa mình,… thì lúc đó chính sách đối ngoại của bạn sẽ tương đối rõ ràng. Bạn cần phải chìa tay ra với những nước phát triển mà có thể trở thành những nguồn lực cho sự hiện đại hóa của bạn”.

Putin dường như chắc chắn đã chấp nhận thông điệp hiện đại hóa này, dành phần lớn thời gian của mình để thu hút đầu tư nước ngoài và ủng hộ “thành phố cách tân” mới của Nga tại Skolkovo gần Matxcơva.

Hoặc như Phó Chủ tịch Đuma Quốc gia Sergei Markov, là một thành viên trong ê kíp của Putin trong hơn một thập kỷ đề cập, “ở Putin chẳng có gì thay đổi – ông vẫn luôn bị phương Tây hóa”, ít nhất là so với các nhân vật thuộc nhóm siloviki vốn theo đường lối dân tộc chủ nghĩa hơn.

Markov nói rằng điều khác biệt là Mỹ không còn “đối xử với Nga như thể một gã ngốc. 90% hành động hướng tới phương Tây của Putin là bởi vì Nga không thể hiện đại hóa mà thiếu các chuyên gia và các công nghệ của phương Tây”. 10% còn lại là do thực tế rằng “Putin cần phương Tây để chống lại mối đe dọa Hồi giáo cực đoan mà Nga đang phải đương đầu cả ở bên trong biên giới nước này dưới hình thức các cuộc nổi dậy đang diễn ra ở Bắc Cápcadơ lẫn các phần tử Hồi giáo cực đoan ở Trung Á”.

Những kết quả của sự suy xét lại này là đáng kể. Theo một bản thảo về học thuyết mới của Nga do Newsweek tại Nga thu thập được gần đây, nền tảng của chính sách đối ngoại của Nga sẽ là việc tạo ra một thế giới không có bạn bè hay đối thủ, mà chỉ có các lợi ích.

Thay cho sự đối đầu với Grudia và việc nói về các mối đe dọa từ NATO cũng như từ các kế hoạch phòng thủ tên lửa của Mỹ là sự nhấn mạnh mới vào việc “hội nhập nền kinh tế và văn hóa của Nga” với các nước láng giềng như EU và Trung Quốc.

Biểu tượng của tinh thần mới này thể hiện rõ ràng nhất ở Quảng trường Đỏ trong lễ kỷ niệm Ngày chiến thắng phát xít Đức (9/5), khi lần đầu tiên quân đội từ Mỹ, Anh, Pháp đến Ba Lan đã diễu hành bên cạnh các binh lính và các tên lửa hạt nhân của Nga.

Chỉ vài ngày trước đó, Tổng thư ký NATO, Anders Fogh Rasmussen, đã đề nghị tham khảo ý kiến của Nga liên quan đến những kế hoạch mới nhất của họ về phòng thủ tên lửa ở châu Âu.

Đầu năm nay, Nga đã ký Hiệp ước START mới đã được chờ đợi từ lâu về các vũ khí chiến lược với Mỹ. Thậm chí có cả cuộc đối thọa về việc Mỹ thúc đẩy Nga gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), củ cà rốt mà phương Tây đung đưa trước mũi Nga kể từ 1993.

Rogozin, một nhà chính trị theo đường lối dân tộc chủ nghĩa trước đây, cũng là người được cử đi làm đại diện của Nga tại NATO kể từ hai năm trước nói: “Tôi không thể mơ tưởng về một sự tan băng như vậy khi tôi đến Brussels”.

Rogozin đã từng gọi liên minh này là “con tê giác bị mù”.

Hiện nay, Rogozin nói rằng “một cửa sổ cơ hội đã mở ra cho chúng tôi… Chúng tôi đang nỗ lực nhằm dọn sạch tất cả những thứ rác rưởi nằm trên con đường tiến tới các mối quan hệ tốt đẹp hơn”.

Một số yếu tố may mắn đã góp phần cải thiện tình hình nói trên. Giá hàng hóa duy trì ở mức cao hơn nhiều so với những dự đoán được đưa ra sau sự sụp đổ tài chính năm 2008. Cùng với quỹ bình ổn giá dầu lửa hiện đang thu nhỏ lại, đó là những yếu tố hết sức quan trọng để giúp Putin giữ chặt sự kiểm soát đất nước bằng việc ném tiền vào các lĩnh vực bất ổn trong ngành công nghiệp.

Các chính trị gia thân phương Tây ở Ucraina đã tranh cãi rất nhiều tới mức họ đã để ngỏ một con đường cho nhân vật thân Matxcơva, Viktor Yanukovych, lên nắm quyền.

Đã có một sự cải thiện đáng kể trong các mối quan hệ với Ba Lan sau cái chết của tổng thống Lech Kaczynski trong vụ tai nạn máy bay trên đường đến dự lễ tưởng niệm vụ thảm sát Katyn. Nga không chỉ nhanh chóng điều tra vụ tai nạn mà Putin còn thẳng thừng thừa nhận rằng các nạn nhân trong vụ Katyn đã “bị thiêu chết trong ngọn lửa đàn áp của chủ nghĩa Stalin”.

Katyn luôn là phong vũ biểu chủ chốt cho thấy sự sẵn lòng của Nga giao tiếp một cách thành thật với thế giới; sự thừa nhận của Mikhail Gorbarchev vào năm 1990 rằng vụ thảm sát này là do Liên Xô tiến hành, chứ không phải Đức Quốc xã, đã giúp khuyến khích nhiều tiếng nói ở Đông Âu bắt đầu nói lên sự thật về kỷ nguyên Xô Viết.

Nhưng phần lớn sự tan băng mới nói trên diễn ra là do hữu ý. Cả Putin lẫn tổng thống Dmitry Medvedev đều dành phần lớn sức mạnh của họ hành động như các đại diện thương mại cấp cao của Nga.

Danh sách các dự án chung EU-Nga là rất dài: chỉ riêng với Đức, Putin đã ký thỏa thuận để Nga tham gia thiết kế và sản xuất loại máy bay Airbus A350 mới, một thỏa thuận với Deutsche Bahn và Siemens để phát triển các tuyến xe lửa cao tốc, và một dự án mở các nhà máy lắp ráp các loại xe Volkswagen, Daimler, và BMW ở Nga – chưa kể đến đường ống dẫn khí “Dòng chảy phương Bắc” dưới Biển Ban Tích.

Đầu tháng này, Medvedev đã đến thăm Đan Mạch và Nauy nhằm thu hút nguồn đầu tư ở khu vực Scandinavi. Ông cũng đã ký các thỏa thuận về chia sẻ các nguồn tài nguyên ở Biển Barent, các dự án chung về ngành đóng tàu ở Bắc Cực, bảo tồn năng lượng, công nghệ nano và truyền thông – ông cũng nhất trí chấm dứt cuộc tranh chấp đường biên giới đã tồn tại lâu nay với Nauy.

Theo Medvedev, Nga “phải ngừng cau có với thế giới và bắt đầu mỉm cười”.

Đáng buồn thay cho các nhà cải cách của Nga, sự tan băng mới này lại không xảy ra ở trong nước. Mặc dù Medvedev đang lên tiếng về việc tạo thuận lợi nhiều hơn cho các đảng đối lập, nhưng Cremli lại đàn áp thẳng tay các đảng đối lập thực sự, buộc tội một đảng theo “chủ nghĩa khủng bố” và thúc đẩy một đạo luật mà theo đó Cơ quan An ninh Liên bang có quyền bắt giam đối tượng tình nghi mà không cần xét xử.

Cựu phó thủ tướng và hiện nay là một nhà lãnh đạo đối lập, Boris Nemtsov, nói rằng Cremli lo ngại cuộc cải cách thực sự bởi vì nó đang điều hành “một hệ thống tham nhũng mà sẽ bị sự tự do hóa phá hủy”. Tuy nhiên, không một chính phủ nào ở phương Tây muốn hủy hoại sự tan băng này bằng cách chỉ trích Cremli về những vụ vi phạm nhân quyền.

Masha Lipman thuộc trung tâm Moscow Carnegie nói: “Hiện Cremli không bị phương Tây chỉ trích. Trong khi đó, các hoạt động chính trị nội bộ của Nga vẫn độc đoán như trước – thậm chí còn tồi tệ hơn”.

Chế độ dân chủ của Nga có thể vẫn bị đóng băng ở tầng sâu nhất, nhưng hành trình của Putin từ một nhân vật hay kích động chống Mỹ trở thành một đại diện bán hàng thân thiện cho giới kinh doanh Nga đang được hoan nghênh và là hành động đáng chú ý.

Một thử nghiệm quan trọng về sự tan băng này sẽ là việc gia nhập WTO, một trong những trở ngại trước mắt đối với đầu tư và thương mại của phương Tây ở Nga.

Tháng 6/2009, Putin đã làm cho cả thế giới ngạc nhiên bằng hành động rút khỏi các cuộc đàm phán với WTO và nêu lên ý tưởng về một liên minh thuế quan với Belarus và Kazakhstan. Liên minh này hiện đang suy sụp, và Nga dự kiến sẽ nối lại các cuộc đàn phán với WTO sau hội nghị thượng đỉnh với EU và cuộc gặp giữa Obama và Medvedev.

Một vấn đề khác có thể là việc khôi phục lại thỏa thuận với Mỹ về trao đổi hạt nhân thương mại, vốn đã bị hủy bỏ do hậu quả của cuộc chiến tranh giữa Nga và Grudia, mà sẽ cho phép Nga tái chế nhiên liệu hạt nhân của Mỹ và theo đuổi các dự án chung về nghiên cứu hạt nhân.

Đây là những thỏa thuận tốt đẹp đối với phương Tây, bởi vì chúng sẽ khiến thái độ hiêu chiến

Posted in Chinh Sach doi ngoai, Chinh Tri Nga | Leave a Comment »

Tổng Cục II – Vụ án Năm Châu, Sáu Sứ, và T4 – vai trò của Lê Đức Anh, Đỗ Mười, và Nguyễn Chí Vịnh

Posted by hoangtran204 trên 26/07/2010

RFA
12-17 tháng 8, 2009


Cơ quan Tình báo quân đội Việt Nam
và những dấu hiệu của một đại họa

Trân Văn
Phóng viên RFA
1
“Tổng cục 2” là cách gọi tắt cơ quan đặc trách tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam và kể từ năm 2004 đến nay, ba từ “Tổng cục 2” nhắc nhiều người nhớ đến một scandal, tuy ầm ĩ nhưng vẫn chưa có hồi kết.

Hồi thượng tuần tháng 6, chỉ trong vòng hai ngày, tướng Võ Nguyên Giáp – một nhân vật được xem như “khai quốc công thần” của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay – đã gửi liên tiếp hai lá thư, lặp lại một yêu cầu từng được ông nêu ra từ đầu năm 2004, đó là những nhân vật cao cấp trong Đảng và chính quyền đương nhiệm, cần giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến Tổng cục 2 thuộc Bộ Quốc Phòng.

 

Scandal “Tổng cục 2”

Đã và đang có những dấu hiệu cho thấy “Tổng cục 2” không còn đơn thuần là một scandal về những thủ đoạn tàn độc mà một số cá nhân, phe nhóm trong Đảng CSVN sử dụng để triệt hạ đối thủ của mình, nhằm thâu tóm quyền lực.

Các tình tiết trước, trong và sau scandal “Tổng cục 2” chỉ ra một nguy cơ khác, đáng ngại hơn đối với vận mệnh quốc gia.

Tiền thân của cơ quan tình báo quân đội Việt Nam hiện nay là Phòng Tình báo Quân ủy hội, thành lập vào tháng 10 năm 1945, do ông Hoàng Minh Đạo phụ trách. Sau một sắc lệnh được ban hành vào tháng 3 năm 1946 về tổ chức Bộ Quốc Phòng, tháng 3 năm 1947, Phòng Tình báo Quân ủy hội được chuyển thành Cục Tình báo, còn được gọi là Cục Quân báo hoặc gọi tắt là Cục 2.

Trong 48 năm sau đó, Cục 2 vẫn chỉ là một cơ quan trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thế rồi đến năm 1995, Cục 2 được nâng lên thành Tổng cục 2, với tên gọi chính thức là Tổng cục Tình báo Quốc phòng và từ vị trí phụ thuộc, Tổng cục 2 được chuyển thành cơ quan ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu.

Vai trò của Tổng cục 2, được ông Nông Đức Mạnh, khi ấy đang là Chủ tịch Quốc hội, hợp pháp hoá bằng Pháp lệnh Tình báo ban hành vào tháng 12 năm 1996. Sau đó, pháp lệnh vừa kể được ông Võ Văn Kiệt chi tiết hoá, bằng Nghị định 96, ban hành vào tháng 9 năm 1997.

Pháp lệnh Tình báo đã đưa Tổng cục 2 thoát ra khỏi sự kiểm soát của Bộ Quốc Phòng khi xác định: “Lực lượng tình báo Việt Nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước)”.

Và Nghị định 96 đã phá vỡ mọi giới hạn về vai trò và hoạt động của Tổng cục 2, khi nhấn mạnh: “Đối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe doạ chống lại Đảng CSVN, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”

Cũng vì thế, Tổng cục 2 trở thành một cơ quan, liên tục bị các công thần như: ông Phạm Văn Xô – một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, cựu Phó Ban Tổ chức Trung ương hoặc những cán bộ, sĩ quan cao cấp của Đảng CSVN, chính quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam như:

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, người thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng Chu Huy Mân – cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đại tướng Nguyễn Quyết – cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh – cựu Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Thượng tướng Phùng Thế Tài – cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền – cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo – cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Quân sự. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp – cựu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương. Trung tướng Đồng Văn Cống – cựu Phó Tổng thanh tra Quân đội.

Trung tướng Lê Tự Đồng – cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Phạm Hồng Sơn – cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Nguyễn Hoà – cựu Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự tại Lào.

Thiếu tướng Nguyễn Tài – cựu Thứ trưởng Bộ Công an. Ông Nguyễn Văn Thi – cựu Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền… cùng với rất đông cán bộ lão thành cách mạng, sĩ quan cấp tá, đòi phải kiểm tra toàn diện, xử lý triệt để.

 

Siêu quyền lực

Tổng cục 2 đã hoạt động ra sao và đã làm những gì khiến các công thần, những trụ cột của chế độ phẫn nộ đến như vậy?

Trong nhiều thư được gửi liên tục cho Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, những nhân vật vừa kể đã nêu ra vai trò, ý đồ của một số người tham gia nâng Cục 2 thành Tổng cục 2 và biến Tổng cục 2 thành một cơ quan “siêu quyền lực”, khiến Tổng cục 2 trở thành hiểm họa.

Trong đó, có hai sai phạm bị xác định là “siêu nghiêm trọng” và được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: Vụ Sáu Sứ và vụ T4.

Ông Bùi Tín – cựu Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, người theo dõi rất sát các diễn biến liên quan đến Tổng cục 2, tóm tắt về vụ Sáu Sứ:

“Vụ Sáu Sứ còn gọi là vụ Năm Châu, xảy ra từ Đại hội 7, năm 1991. Vụ đó do bàn tay của Tổng cục 2, bố trí cho một số Đảng viên lâu năm ở miền Nam là Năm Châu và Sáu Sứ ra Hà Nội, mục đích để giăng bẫy ông Võ Nguyên Giáp, rồi từ đó, kết luận là ông Võ Nguyên Giáp bè phái, tham quyền, có ý đồ tập trung một số tay chân của mình để lật đổ Bộ Chính trị và chính quyền hồi đó.

Thế nhưng tất cả những chuyện này là chuyện dựng đứng. Do đó mà ông Giáp yêu cầu phải làm rõ vụ Năm Châu và Sáu Sứ. Lúc ấy, họ cho rằng ông Giáp có ý định giành quyền Tổng bí thư và được ông Trần Văn Trà tiếp sức. Ông Trần Văn Trà định là giành chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Thế nhưng tất cả những cái đó đều là sự bịa đặt của Lê Đức Anh, của Nguyễn Chí Vịnh, của Đỗ Mười, để làm hại ông Võ Nguyên Giáp. Đấy là tóm tắt vụ Sáu Sứ với Năm Châu. Cả ông Năm Châu, bà Sáu Sứ đều đã chết rồi.”

Vụ T4 cũng có tính chất tương tự, ông Bùi Tín kể tiếp:

“Vụ T4 là vụ Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng cục 2 bịa đặt rằng họ đã đặt được một gián điệp của Việt Nam vào cơ quan CIA và điệp viên đó có bí danh là T4. T4 thông báo danh sách những người đã cộng tác với CIA, đã tiếp xúc với CIA, đã làm tay sai cho CIA.

Danh sách đó dài lắm. Nó lên tới hơn 20 người. Trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà rồi những người lúc bấy giờ đang còn tại chức như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,..

Mục đích của họ là gì? Mục đích của họ là bôi nhọ những người đó, rồi Tổng cục 2 cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười được nước láng giềng lớn giúp đỡ làm một cuộc đảo chính, lật đổ hết và dựng lên một chính quyền mới, một Bộ Chính trị mới, một Ban Chấp hành Trung ương hoàn toàn mới và hoàn toàn là tay sai của Bắc Kinh.

Đó là mưu đồ của T4 và cũng đã bị ông Giáp tố cáo, yêu cầu phải giải quyết một cách triệt để.”

Theo nhiều tài liệu, Sáu Sứ và T4 chỉ là hai trong hàng loạt sai phạm đã xảy ra tại Tổng cục 2 và sự phẫn nộ trong hàng ngũ các công thần, những trụ cột của chế độ đã buộc Đảng CSVN phải tính đến việc xem xét toàn diện các sai phạm này vào năm 2005.

Kết qủa xem xét, xử lý ra sao? Chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp và tường trình trong bài kế tiếp

 

2

 

Trong buổi phát thanh trước, Trân Văn đã tóm tắt về sự hình thành Cục Tình báo của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, còn được gọi là Cục Quân báo, hay gọi tắt là Cục 2 và vì sao, năm 1995, Bộ Tổng Tham mưu đồng ý cho Cục 2 tách ra để nâng lên thành Tổng cục Tình báo Quốc phòng, quen được gọi là Tổng cục 2, trước khi Pháp lệnh Tình báo được ban hành vào cuối năm 1996, cũng như một số nguyên nhân khiến cơ quan này bị hàng loạt công thần, trụ cột của chế độ lên tiếng đòi phải kiểm tra toàn diện, xử lý triệt để.

Buổi phát thanh này, Trân Văn trình bày tiếp những diễn biến sau đợt phản ứng đầu tiên, kéo dài trong hai năm 2004 và 2005.

Không chỉ dàn dựng vụ Sáu Sứ và T4 với những tình tiết như ông Bùi Tín đã kể trong bài trước, tại Tổng cục 2 còn xảy ra nhiều chuyện tày trời khác.

 

Phá hoại Đảng một cách có hệ thống

Sau lá thư đề ngày 3 tháng 1 năm 2004 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó ông yêu cầu, Hội nghị Trung ương 9, khoá 9 xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh một tổ chức mà ông nhận định là “siêu đảng, siêu chính phủ, phá hoại Đảng một cách có hệ thống”, ở lá thư viết ngày 17 tháng 6 năm 2004 – một trong những tài liệu được nhận định là quan trọng nhất đối với vụ Tổng cục 2 – Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, một trong những người được Bộ Chính trị phân công theo dõi việc bảo vệ chính trị nội bộ, cho biết: Các vấn đề của Tổng cục 2 còn nhiều như tổ chức thu thập tài liệu và theo dõi cán bộ cao cấp, tổ chức cơ sở làm tài liệu giả, vu cáo nhiều đồng chí là đã làm tay sai cho địch. Người của Tổng cục 2 đã bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài. Người của Tổng cục 2 làm parabol để thu tiền bất hợp pháp, gian lận thuế giá trị gia tăng. Người của Tổng cục 2 còn đưa tài liệu lên mạng Internet nói xấu cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, Tổng cục 2 đã sử dụng một số người phức tạp, cài cắm người vào các cơ quan Đảng, Nhà nước để lấy tin, tung tin, bịa đặt, lừa dối Đảng… Cán bộ tình báo quân sự còn cấp giấy chứng minh quân báo cho tay chân Năm Cam hoạt động và liên hệ chặt chẽ với tay chân Năm Cam…

Khó mà tưởng tượng được những hành động phạm pháp nghiêm trọng ấy lại diễn ra trong một cơ quan làm nhiệm vụ tình báo quân sự cấp chiến lược. Cơ quan tình báo mà bịa ra cơ sở đặc tình “ma” để lừa dối, vu khống chính trị cán bộ cao cấp từ Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, Đại tướng, Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng… là phạm tội ngang với tội phản bội Tổ Quốc, phản bội Đảng.

Cũng theo tướng Nguyễn Nam Khánh: Những bản tin mà Tổng cục 2 đưa ra là nhằm vu khống chính trị, lừa dối, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại Đảng, Nhà nước và quân đội, gây sự phân tâm, lũng đoạn tinh thần cán bộ đảng viên và nhân dân, vi phạm nghiêm trọng pháp luật, nguyên tắc kỷ luật đảng, tạo ra oan trái và đau khổ cho nhiều đồng chí. Với những bản tin mà tôi không thể trích dẫn hết, đã buộc cấp lãnh đạo cao nhất điều tra, thẩm tra, ít nhất là 10 vụ gây ra rất nhiều phức tạp.

Tướng Nguyễn Nam Khánh nhận định: Đó là hành động phá hoại đảng, phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại Tổ Quốc. Đó không phải là chuyện riêng nội bộ Tổng cục 2, nội bộ Bộ quốc phòng. Đó là vấn đề của toàn Đảng, của pháp luật, của chế độ xã hội chủ nghĩa, liên quan đến an ninh của Tổ Quốc, đến đại đoàn kết dân tộc. Đó chính là nguy cơ làm mất sự ổn định chính trị, đã gây hậu quả nghiêm trọng… Nếu không kiên quyết xử lý thì sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị ngày càng tăng, như một ung nhọt làm tan rã Đảng và chế độ.

 

“Thất trảm sớ”

Những ý kiến như thế của tướng Nguyễn Nam Khánh, của ông Phạm Văn Xô, một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi của hàng chục vị tướng và nhiều cán bộ lão thành cách mạng, nhiều sĩ quan cấp tá đã được tiếp nhận thế nào? Việc xem xét, xử lý các sai phạm ra sao?

Ông Bùi Tín kể:  Lá thư của ông Giáp được rất nhiều vị tướng, từ ông Chu Huy Mân đến một số vị thiếu tướng, đặc biệt ông Nguyễn Nam Khánh hết sức ủng hộ. Do đó trước Đại hội 10, năm 2005, Ông Nông Đức Mạnh bị buộc phải tổ chức ra một ban, gọi là Ban Kiểm tra liên ngành đặc biệt, gồm đại diện của: Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Tối cao, Bộ Tư pháp, Ban Bảo vệ Trung ương, Cục Bảo vệ Quân đội, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính,… lên đến hơn 20 người. Ban Kiểm tra liên ngành đã làm việc và đã có một báo cáo-  mà tôi được biết là dày đến 70 trang – hoàn thành trước Đại hội 10.

Trước khi Đại hội 10 họp thì ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh cùng với Bộ Chính trị lúc đó có một sáng kiến là ỉm báo cáo này đi. Họ cho là báo cáo này nguy hiểm quá. Nếu trong Đảng và nhân dân được biết thì có thể tạo ra sự đảo lộn rất lớn về chính trị. Ông ấy viện cớ là nếu phổ biến, trung ương mà biết, đại hội mà biết thì gia đình, bạn bè họ đều biết thì khó có thể giữ được bí mật. Cho nên ông Nông Đức Mạnh mới thuyết phục Bộ Chính trị, thuyết phục Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội 10 là không phổ biến báo cáo tuyệt mật đó.

Ông ấy yêu cầu là do sự ổn định của chế độ, ổn định của Đảng, coi như Bộ Chính trị khoá trước đã xem và coi như đã giải quyết xong xuôi. Hủy báo cáo này đi, coi như báo cáo này không có.

Vì sao những người có trách nhiệm xem xét, giải quyết các sai phạm xảy ra ở Tổng cục 2 đã quyết định như vậy mà câu chuyện về cơ quan này vẫn chưa kết thúc? Ông Bùi Tín giải thích: Vấn đề này không thể ỉm hoàn toàn được, bởi vì nó dai dẳng, bởi vì ngay trong Tổng cục 2 đã có những sĩ quan dũng cảm, có những sĩ quan trung thành với sự thật, trung thành với nhân dân, thấy những việc làm bậy quá nên tiếp tục tố cáo. Trong đó có hai ông là ông Vũ Minh Ngọc và ông Vũ Minh Trí. Ngay từ năm 2005, ông Vũ Minh Ngọc đã có một lá thư gọi là “Thất trảm sớ”, nêu lên 7 tên rất nguy hiểm, cần phải gạt bỏ mới có thể cứu được Đảng, cứu được chế độ. Sau đó, ông Vũ Minh Ngọc viết thư thứ hai và cũng gửi cho cả tướng Giáp. Tướng Giáp rất ủng hộ ý kiến: Phải giải quyết triệt để vụ án siêu nghiêm trọng của Tổng cục 2. Năm nay, thư của ông Vũ Minh Trí hâm lại vụ này và tướng Giáp lại lên tiếng ủng hộ một lần nữa.    

Người gửi “Thất trảm sớ” – Trung tá Vũ Minh Ngọc hiện nay thế nào? Tâm trạng cũng như suy nghĩ của một số cán bộ lão thành cách mạng sau khi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 quyết định ém nhẹm vụ Tổng cục 2 ra sao? Đó sẽ là nội dung bài thứ ba. Mời qúy vị đón nghe.

 

 

Tâm trạng cũng như suy nghĩ của một số cán bộ lão thành cách mạng sau khi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 quyết định ém nhẹm vụ Tổng cục 2 ra sao?

Trong hai bài trước, Trân Văn đã tổng hợp và tường trình về những nội dung có liên quan đến các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại Tổng cục 2, cũng như lối xử lý hết sức khó hiểu của lãnh đạo Đảng CSVN đối với Tổng cục 2.

Ở bài này, Trân Văn phỏng vấn một số nhân vật có liên quan hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến việc tố cáo các sai phạm tại Tổng cục 2.

 

Chờ đợi cho đến chết  

Đến nay, hầu hết những người từng lên tiếng yêu cầu xem xét, xử lý các sai phạm ở Tổng cục 2, trong giai đoạn từ cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000 đến năm 2005 như: ông Phạm Văn Xô, Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Trung tướng Đồng Văn Cống, Trung tướng Nguyễn Hoà,… đều đã qua đời, phần lớn những người còn lại thì già yếu, bệnh tật.

Chúng tôi đã thử gọi điện thoại, phỏng vấn một số người để xin thêm ý kiến của họ về vụ Tổng cục 2, cũng như suy nghĩ, thái độ của họ về cách xử lý vụ này của lãnh đạo Đảng CSVN.

Cuộc phỏng vấn đầu tiên được thực hiện với cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc – nhân vật đã từng gửi “Thất trảm sớ”. Người nhấc điện thoại là vợ cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, bà cho biết:  Bây giờ ông cháu đang bị bệnh cho nên trí nhớ không tốt lắm nhưng mà thôi cũng để ông cháu gặp cho nó khuây khỏa… Có người gọi có phải bác Ngọc không và muốn hỏi chuyện… Đây ông nghe…

Tuy đang trong tình trạng bán thân bất toại kèm nhiều chứng bệnh khác, sức khoẻ rất kém, song khi nghe đề cập đến Tổng cục 2, cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, 82 tuổi vẫn cố gắng xác nhận với chúng tôi qua một cuộc trao đổi ngắn:

Trân Văn: Sau khi bác gửi thư, đến nay có hồi báo gì không ạ?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Chưa có hồi âm gì ạ.

Trân Văn: Từ khi bác gửi thư, các cơ quan chức năng có cử người đến hỏi thăm thêm về những nội dung trong thư không?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Không ạ!

Trân Văn: Hiện nay, vụ Tổng cục 2 cũng vẫn cứ còn như cũ phải không ạ?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Vâng!

Cuộc phỏng vấn thứ hai, theo dự tính sẽ thực hiện với ông Nguyễn Văn Thi, vẫn  được gọi là Năm Thi, Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền giai đoạn trước tháng 4 năm 1975, có 69 tuổi Đảng, người mà từ năm 1986 đã gửi sáu lá thư yêu cầu lãnh đạo Đảng CSVN giải quyết hàng loạt vấn nạn trong Đảng, trong đó có vụ Tổng cục 2.

Đến tháng 2 năm 2006, ông Nguyễn Văn Thi tiếp tục gửi lá thư thứ 7, trực tiếp phê bình Tổng Bí thư, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 vì đã hành xử không dân chủ với ông cũng như những đảng viên khác đã từng gửi các thư tương tự.

Tuy nhiên chúng tôi không thể trò chuyện với ông. Vợ ông giải thích:  Nhà tôi bịnh nặng lắm, đang nằm nhà thương anh ạ!  Đúng ra là ổng không còn tỉnh. Anh hỏi… nó, nó quá muộn rồi. Vấn đề đó anh đừng hỏi nữa vì những vấn đề có liên quan đến ông Cống, ông Xô này kia nọ…

Nói chung là người ta đã làm đền thờ ông Đồng Văn Cống này kia nọ rồi… Nói chung, tôi chỉ mong rằng đừng có ai nói thêm về những việc như thế và cũng hổng muốn nghe, cũng hổng được rảnh tâm lắm.

Dù Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, đã từng xác định đóng lại vụ Tổng cục 2 song trong lá thư thứ 7, ghi ngày 3 tháng 2 năm 2006, gửi Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, ông Nguyễn Văn Thi vẫn tiếp tục khẳng định:

Trách nhiệm đó trước hết thuộc về người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, đến Bộ Chính trị mà tôi và nhiều Đảng viên trong cả nước cho rằng, Trung ương Đảng khoá 9 đã tiếp tục duy trì ảnh hưởng của hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh vì nể nang hoặc cố tình để bảo vệ chức danh  do nhờ hai ông này mà có được.

Không đưa ra giải quyết các vụ án này là che giấu khuyết điểm của Trung ương 9 đã tiếp tục kéo dài từ khoá 4 đến nay để bảo vệ quyền lợi cá nhân của một số người, bất chấp uy tín của toàn Đảng và tiếp tục không muốn đổi mới để cải cách hệ thống chính trị và quản lý Nhà nước, không muốn thay đổi nhân sự lãnh đạo Trung ương Đảng bằng những người trong sạch, có đức, có tài, có uy tín trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

Hậu quả sẽ là Đảng viên chân chính cả nước sẽ tiếp tục đấu tranh để chỉ rõ trách nhiệm thuộc về Ban Chấp hành khoá 9 mà người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư. 

 

Vẫn đòi làm rõ

Thực tế cho thấy, điều ông Nguyễn Văn Thi khẳng định hoàn toàn chính xác. Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trung tá Vũ Minh Trí, đang làm việc tại Tổng cục 2 đã gửi  một lá thư dài 13.000 chữ, khẳng định, Tổng cục 2 hiện làm cho “quân đội ta, Đảng ta, Nhà nước ta đang gặp phải hiểm họa vô cùng to lớn ngay từ bên trong, ngay ở bên trên”, cơ quan này hiện “khủng hoảng trầm trọng và toàn diện về lý luận, tư duy nghiệp vụ, phương châm, phương pháp, thủ đoạn, nề nếp, chế độ công tác, tổ chức lực lượng…”.

Theo Trung tá Trí, ngoài ông Nguyễn Chí Vịnh, trung tướng, Tổng cục trưởng, từng bị Đại học Kỹ thuật Quân sự đuổi học khi còn là sinh viên sĩ quan vì hạnh kiểm kém, Tổng cục 2 đang là nơi dung dưỡng nhiều người thiếu kinh nghiệm, kiến thức, tư cách, thậm chí có tiền án, ham danh, hám lợi, song vẫn thăng tiến rất nhanh cả về cấp bậc lẫn chức vụ bởi là thân nhân, thân hữu, hoặc là thủ túc của ông Nguyễn Chí Vịnh.

Trong thư, Trung tá Trí viết: Chúng làm điệp báo nhưng không tổ chức xây dựng điệp viên, tình báo viên mà nghĩ ra khái niệm “cán bộ mật”, “cán bộ diện B” để đưa từ bên ngoài quân đội vào tổ chức điệp báo hàng ngàn người mà nếu xét theo nguyên tắc, yêu cầu của điệp báo chiến lược thì hoàn toàn không có khả năng điệp báo (đặc biệt là về mặt quân sự). Phần lớn số này là người thân quen của chúng.

Với các “cộng tác viên mật” cũng có tình trạng tương tự. Điều kỳ lạ là trong số “cán bộ mật”, “cộng tác viên mật” đó, có rất nhiều người đang làm việc trong các cơ quan quân – dân – chính – đảng của ta, một số người còn là cán bộ cấp cục –vụ – viện trở lên. Trên khắp thế giới, từ xưa tới nay, chỉ có chúng làm điệp báo chiến lược mà không xây dựng điệp viên, tình báo viên.

Chúng dùng tổ chức và hoạt động điệp báo làm bình phong, dùng kế hoạch điệp báo làm công cụ chủ yếu để bòn rút công quỹ. Có thể khẳng định trong 10 năm trở lại đây, tất cả các kế hoạch điệp báo có mức kinh phí đáng kể của Tổng cục 2 đều ít nhiều mắc sai phạm về mặt kinh tế, tài chính.

Nếu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán một cách chặt chẽ, chắc chắn sẽ phát hiện ra nhiều vụ tham nhũng lớn, nhiều tên tham nhũng lớn.

Thư của Trung tá Vũ Minh Trí còn nhiều nội dung đáng chú ý khác và người “hâm” lại vụ Tổng cục 2 – Trung tá Vũ Minh Trí nói gì với Đài Á Châu Tự Do? Mời quý vị xem bài 4.

 

4

 

Trong ba buổi phát thanh trước, quý vị đã nghe Trân Văn tường trình về một số vấn đề liên quan đến Tổng cục 2 mà nhiều công thần của Đảng CSVN, cũng như hàng chục tướng lĩnh của cả Quân đội Nhân dân Việt Nam lẫn Công an Nhân dân Việt Nam cùng nhận định là “sai phạm siêu nghiêm trọng”, cần xử lý triệt để, song cuối cùng vẫn bị lãnh đạo Đảng CSVN làm ngơ.

Quý vị cũng đã nghe một số nhân vật nhắc đến Trung tá Vũ Minh Trí, sĩ quan Tổng cục 2, tác giả lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008, được xem như tác nhân “hâm” lại một scandal từng bị nhấn chìm. Vừa rồi, lá thư này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc đến để lập lại yêu cầu lãnh đạo Đảng và Nhà nước kiên quyết xử lý vụ Tổng cục 2.

Bây giờ, mời quý vị tiếp tục nghe Trân Văn giới thiệu các nội dung đáng quan tâm trong thư của Trung tá Vũ Minh Trí và cuộc trao đổi ngắn giữa Trân Văn và trung tá này…

Hồi đầu tháng này, các diễn đàn điện tử công bố hai lá thư do Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết cách nay hai tháng. Trong cả hai thư, tướng Võ Nguyên Giáp cùng cho biết lý do viết thư là vì đã nhận và đọc thư của Trung tá Vũ Minh Trí.

 

Lề lối lãnh đạo

Ở thư đầu, ghi ngày 8 tháng 6, gửi cho hai cựu Tổng Bí thư là ông Đỗ Mười và ông Lê Khả Phiêu, tướng Giáp cho rằng: “Các anh phải thống nhất độ quan trọng của vấn đề và góp phần cùng Bộ Chính trị và Trung ương giải quyết bằng được”.

Sang thư sau, ghi ngày 10 tháng 6, gửi các thành viên trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tướng Giáp thẳng thắn nêu thắc mắc về lối mà lãnh đạo Đảng và chính phủ hiện nay sử dụng ông Nguyễn Chí Vịnh, sau hàng loạt sai phạm được xem là “siêu nghiêm trọng”: “Đồng chí Nông Ðức Mạnh nói với tôi là (NV: ông Nguyễn Chí Vịnh) không thể lên trung tướng và chưa biết đưa đi đâu để rèn luyện nhưng thực tế lại không làm như vậy mà tiếp tục thăng quân hàm và giao trọng trách Tổng cục trưởng, hiện nay vừa đề bạt là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng làm cho ai cũng ngạc nhiên, lo lắng và nếu không làm rõ thì chắc sẽ còn lên nữa”.

 

Lũng đoạn, phá hoại

Trong bài trước chúng tôi đã giới thiệu một phần nội dung thư tố cáo của Trung tá Vũ Minh Trí, đó là việc ông Nguyễn Chí Vịnh thu nạp thân nhân, thân hữu, tập hợp thủ túc để lũng đoạn Tổng cục 2 và bòn rút công quỹ. Tuy nhiên ông Nguyễn Chí Vịnh và các “chiến hữu” của ông ta còn làm những gì để sau khi đọc thư của Trung tá Trí, tướng Giáp phải lên tiếng cảnh báo: “Tình hình đang cực kỳ nguy hiểm đối với Quân đội, đối với Đảng”?

Trong thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trung tá Vũ Minh Trí kể rằng, ông Nguyễn Chí Vịnh và “phe lũ” đã “lừa dối cấp trên”,gửi nhiều “tin tình báo” không khẳng định được độ xác thực của nội dung thông tin, chiếm tỷ lệ lớn nhất và gây tác hại nhiều nhất là “tin về nội bộ”, gây nên sự nghi kỵ, rối ren. Rất nhiều thông tin là do thêm thắt, ngụy tạo nhằm vu cáo, bôi nhọ, lật đổ.”

Cũng theo Trung tá Trí, Tổng cục 2 đã thu thập, tạo dựng thông tin về hàng ngàn cán bộ quân – dân – chính đảng, trong đó có hàng trăm người từ cấp ủy viên trung ương trở lên, không ít người đang là viên chức cao cấp của Đảng như ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị, của chính phủ như hai phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Hoàng Trung Hải, một số bộ trưởng, thứ trưởng, kể cả hai thứ trưởng Bộ Công an là các ông Nguyễn Văn Hưởng, ông Nguyễn Khánh Toàn. Rồi bí thư các tỉnh, các thành phố lớn như ông Lê Thanh Hải (TP.HCM), ông Nguyễn Bá Thanh (thành phố Đà Nẵng)…

Dù Tổng cục 2 đã tạo ra vô số rắc rối trong quá khứ vì theo dõi, thu thập rồi ngụy tạo thông tin, thế nhưng tình trạng này vẫn tái diễn, Trung tá Trí tiết lộ: “Gần đây Nguyễn Chí Vịnh giao cho một cơ quan trực thuộc Tổng cục trưởng Tổng cục 2 nhiệm vụ tổ chức thu thập thông tin, lập hồ sơ về nhiều cán bộ cấp cao ngoài Tổng cục 2 trong khi Tổng cục 2 không hề có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, bảo vệ chính trị nội bộ, thanh tra, kiểm tra Đảng đối với các tổ chức, cá nhân bên ngoài Tổng cục 2”.

Cũng vì vậy, Trung tá Trí nhận định: Chính Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ mới phá hoại Tổng cục 2 toàn diện nhất, triệt để nhất. Trước sự phá hoại ghê gớm của chúng, trước thực trạng bi đát của Tổng cục 2 hiện nay, có người nêu câu hỏi: Phải chăng chúnglà “điệp viên ảnh hưởng” của các thế lực thù địch? Đánh giá như vậy về Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ có quá mức không?… Hoàn toàn không nếu đã đọc hàng loạt tin tức, tài liệu mà trong đó Tổng cục 2 nhận định: Nguyễn Mạnh Cầm, Phan Diễn, Trần Bạch Đằng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Trương Tấn Sang, Võ Viết Thanh, Phan Văn Trang, Nguyễn Ngọc Trừu,… là có yếu tố địch. Hoàn toàn không nếu đánh giá thực trạng Tổng cục 2 hiện nay một cách khách quan, chặt chẽ theo đúng yêu cầu của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

Thư của Trung tá Vũ Minh Trí còn cung cấp nhiều chi tiết khác được xem là hết sức nhạy cảm như sự hỗ trợ đặc biệt mà các ông Lê Đức Anh – cựu Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, Nông Đức Mạnh – Tổng Bí thư đương nhiệm, Phạm Văn Trà – cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, Nguyễn Huy Hiệu – hiện là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, Lê Văn Dũng – hiện là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị,… dành riêng cho ông Nguyễn Chí Vịnh. Cũng vì vậy, trong thư ghi ngày 10 tháng 6, tướng Giáp yêu cầu Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương “cần chú ý bảo vệ người tố cáo”.

 

Trách nhiệm, dũng cảm

Chúng tôi đã thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn với Trung tá Vũ Minh Trí, tác giả thư tố cáo ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008:

Trân Văn: Thưa ông, tôi được đọc thư của ông về vụ Tổng cục 2 và sau đó là thư của tướng Giáp, tôi muốn hỏi thăm ông về lá thư. Thưa ông, theo ông, với hiện tình của Tổng cục 2 như hiện nay, nó vi phạm những nguyên tắc nào trong tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam ạ?

Trung tá Vũ Minh Trí: Vâng! Thực ra tất cả những thư của tôi, tôi không gửi đến những địa chỉ bên ngoài ông ạ! Cho nên là những nội dung đấy, tôi cũng chỉ trao đổi với những cơ quan hay là những cá nhân có thẩm quyền thôi! Đấy là một, thứ hai là những chuyện này cũng không tiện trao đổi trên điện thoại, cho nên là rất cám ơn ông đã quan tâm nhưng mà xin ông cho kiếu được không ạ?

Trân Văn: Dạ được ạ! Tôi hiểu! Chỉ xin hỏi thêm ông một vài câu.

Trung tá Vũ Minh Trí: Dạ vâng, ông cứ hỏi ạ…

Trân Văn: Thưa ông, cho đến nay, ông có gặp khó khăn từ đồng đội của mình không ạ? Nếu tôi không lầm thì có lẽ ông cũng làm việc trong Tổng cục 2?

Trung tá Vũ Minh Trí: Ông ạ! Nếu đã gọi là đồng đội thì thật sự không gặp khó khăn gì. Nếu là đồng đội thì sẽ giúp đỡ mình thôi. Nếu thật sự là đồng đội của tôi đều rất là ủng hộ tôi, đều rất là giúp đỡ tôi, ông ạ!

Trân Văn: Dạ, trong thư của tướng Giáp, tướng Giáp có nhắc trực tiếp đến ông và tướng Giáp cho rằng, việc mà ông đã làm là việc làm của một người có trách nhiệm cao, dũng cảm. Tôi nghĩ có lẽ là nội tình hết sức phức tạp thì tướng Giáp mới đưa ra nhận định như thế, thành ra tôi muốn hỏi thăm thêm những diễn biến sau việc ông gửi lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008 đi…

Trung tá Vũ Minh Trí: Thực ra để làm đến nơi, đến chốn việc nào, kể cả việc nhỏ cũng đều là phức tạp. Tôi cũng chưa được đọc thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu quả thực đại tướng đánh giá như vậy thì tôi thấy cũng hơi ngượng bởi vì mình cũng chưa được như vậy đâu ông ạ!

Vì sao Tổng cục 2 có thể “lợi dụng tính chất hết sức chuyên biệt của tình báo để mưu cầu lợi riêng, bất chính” như Trung tá Vũ Minh Trí nhận xét trong hàng chục năm mà vẫn vô sự? Điều đó có lợi cho ai? Chúng tôi sẽ tổng hợp và tường trình trong bài cuối. Mời quý vị đón nghe

 

5

 

Trong bốn bài của loạt bài “Cơ quan Tình báo Quân đội Việt Nam: Những dấu hiệu của một đại họa”, Trân Văn đã tóm tắt và tường trình về hàng loạt vấn đề được các công thần, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp của Quân đội, Công an Việt Nam xác định là “sai phạm nghiêm trọng”, xảy ra tại Tổng cục 2 như: lũng đoạn cơ quan tình báo quân đội, bòn rút công quỹ, theo dõi – thu thập thông tin rồi bịa đặt, vu cáo nhiều viên chức lãnh đạo Đảng và chính quyền, gây nghi kỵ, chia rẽ trong nội bộ,…

Đáng chú ý là sau hàng chục năm, những “sai phạm nghiêm trọng” đó vẫn không được xem xét, xử lý thấu đáo nên tiếp tục làm nội bộ Đảng, nội bộ chính quyền, nội bộ quân đội Việt Nam bị phân hóa trầm trọng. Cũng vì vậy, đã có khá nhiều người tự hỏi, có những ai đã và đang đứng phía sau vụ này (?).

Trân Văn tiếp tục tổng hợp và tường trình bài thứ năm của loạt bài này…

 

Ai đứng phía sau?

Tuy không đưa ra câu trả lời cho câu hỏi, ai đã và đang đứng phía sau các “sai phạm nghiêm trọng” xảy ra ở Tổng cục 2 nhưngTrung tá Vũ Minh Trí, người viết lá thư tố cáo ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008 đã cung cấp một số chi tiết, giúp người đọc tự tìm câu trả lời. Đó là: Thời gian qua, Tổng cục 2 bỏ qua tiêu chuẩn, thu hút, tiếp nhận con cháu rất nhiều cán bộ cấp cao của quân đội, Đảng, Nhà nước như: Lê Đức Anh, Lê Văn Dũng, Phùng Khắc Đăng, Nguyễn Huy Hiệu, Vũ Tuyên Hoàng, Bùi Văn Huấn, NôngĐức Mạnh, Phạm Hồng Lợi, Cao Tiến Phiếm, Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Trà, Đỗ Quang Trung… vào đào tạo ở Học viện Khoa học Quân sự, làm việc trong Tổng cục 2 (việc mà thời trước hầu như không có).

Cũng theo Trung tá Vũ Minh Trí: Không phải ngẫu nhiên mà trong Tổng cục 2 có nhiều ý kiến cho rằng, những năm qua, NguyễnChí Vịnh đã “qua mặt”, đã “lừa” được hầu hết lãnh đạo cấp cao của quân đội, Đảng, Nhà nước, thậm chí “bỏ túi” được các vị LêĐức Anh, Nông Đức Mạnh, Phạm Văn Trà, Lê Văn Dũng, Nguyễn Huy Hiệu, Phạm Văn Long,…

 

Vai trò Lê Đức Anh

Nếu lật lại các tài liệu liên quan đến Tổng cục 2, có thể thấy trong hầu hết đơn, thư tố cáo, yêu cầu giải quyết vụ Tổng cục 2, hầu hết công thần cũng như tướng lĩnh cao cấp của chế độ đều cùng đề cập đến một người, giữ vai trò như cha đẻ Tổng cục 2, đồng thời là tổng đạo diễn các vụ việc được gọi là “siêu nghiêm trọng”. Đó là ông Lê Đức Anh.

Ở lá thư viết ngày 17 tháng 6 năm 2004, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh kể: Trước Đại hội 7 (NV: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 7 có nhiệm kỳ từ 1991 đến 1996), tâm trạng cán bộ, cả phía Nam và phía Bắc có nhiều lo lắng, băn khoăn về nhân sự cấp cao của Đảng, nhiều cán bộ không vừa lòng một số đồng chí trong Bộ Chính trị Khóa 6. Nhiều ý kiến muốn thay đổi một sốỦy viên Bộ Chính trị. Trong đó dư luận tập trung không đồng tình đồng chí Lê Đức Anh… và trong thực tế, vụ Năm Châu – Sáu Sứ bùng lên ở thời điểm nhạy cảm đó, đã giúp ông Lê Đức Anh tiếp tục đảm nhiệm cương vị Ủy viên Bộ Chính trị.

Tướng Nguyễn Nam Khánh kể tiếp: Trong khóa 7, đồng chí Lê Đức Anh được bầu vào Bộ Chính trị và sau đó được bầu làm Chủ tịch nước, phụ trách cả an ninh, quốc phòng và đối ngoại… Được sự chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Anh, Pháp lệnh tình báo và Nghị định 96/CP đã được soạn thảo và chuyển qua Quốc hội và Chính phủ… Lợi dụng Nghị định 96/CP, Tổng cục 2 đã có sự lộng quyền nghiêm trọng, sự thao túng nghiêm trọng, phá hoại dân chủ và phá hoại đoàn kết nội bộ, gây chia rẽ và bè phái rất nghiêm trọng trong Đảng. Tổng cục 2 muốn vu khống ai thì vu khống, muốn trừng trị ai thì bày chuyện trừng trị, muốn gài người vào cơ quan nào thì gài, tổ chức kinh doanh tràn lan, lạm dụng các hoạt động gọi là “tình báo” để tiêu tiền, thậm chí tạo ra “cơ sở đặc tình” không có thật để tiêu tiền.

 

Man trá lý lịch

Tiểu sử cá nhân của ông Lê Đức Anh do Đảng và chính quyền Việt Nam công bố, cho biết, ông Lê Đức Anh là Ủy viên Bộ Chính trị trong bốn khóa liên tục, từ khóa 5 đến khóa 8, kéo dài từ 1982 đến 2001. Ông Lê Đức Anh từng là Tổng Tham mưu trưởng, Bộ trưởng Quốc Phòng, Chủ tịch Nhà nước. Năm 2008, ông được tặng huy hiêu “70 năm tuổi Đảng”.

Tuy nhiên theo một thư tố cáo ghi ngày 3 tháng 2 năm 2005 của các ông Phạm Văn Xô (Hai Xô – một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, cựu Phó Ban Tổ chức Trung ương), ông Đồng Văn Cống (Bảy Cống – cựu Phó Tổng thanh tra Quân đội), ông Nguyễn Văn Thi (Năm Thi – cựu Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền) – những người từng là cấp trên của ông Lê Đức Anh thì ông Lê Đức Anh đã man khai cả lý lịch cá nhân, lẫn man khai tư cách Đảng viên: Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người giúp việc thân cận cho chủ đồn điền De Lalant, một sĩ quan phòng nhì của Pháp… Cũng theo các ông này, ông Lê Đức Anh chưa bao giờ được kết nạp vào Đảng CSVN và họ cũng như một số cán bộ cách mạng lão thành khác ở miền Nam, đã lên tiếng tố cáo sự man trá này từ năm 1982.

Trong thư đã dẫn, các ông Phạm Văn Xô, Đồng Văn Cống, Nguyễn Văn Thi nhận định: Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng, xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ Vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng cục 2 với quyền hạn siêu Đảng, siêu Nhà nước, được hợp pháp hóa bằng Pháp lệnh tình báo của Quốc hội và Nghị định 96/CP, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9… đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Cố vấn Lê Đức Anh.

Tại một tài liệu khác là thư của ông Nguyễn Đức Tâm – cựu Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, ghi ngày 3 tháng 1 năm 2001 – với tư cách là một trong những người đã từng nhận các đơn thư tố cáo – ông Tâm phân trần: Về thư đồng chí Năm Thi tố cáo đồng chí Lê Ðức Anh tôi đã trao đổi với anh Lê Ðức Thọ, anh Thọ có ý kiến đại thể như sau: Ðây chỉ là vấn đề cần quan tâm nhưng chưa đủ cơ sở để kết luận, sau này sẽ tiếp tục điều tra (lúc này cũng đang rối lên về nhân sự chủ chốt của Ðại hội 6). Sau Ðại hội 6, tôi cũng đặt ra vấn đề với anh Nguyễn Văn Linh nhưng anh Linh không giao trách nhiệm để tổ chức điều tra (lý do có thể rất phức tạp, tôi không dám viết ra đây, chỉ xin trực tiếp báo cáo với Bộ Chính trị hoặc Ủy Ban Kiểm tra Trung ương.

Tên ông Lê Đức Anh không chỉ xuất hiện trong các thư, đơn tố cáo đòi xử lý triệt để vụ Tổng cục 2. Việc đối chiếu những tài liệu khác có thể góp phần lý giải câu hỏi, vì sao các sai phạm của Tổng cục 2, tuy kéo dài hơn một thập niên nhưng không thể xử lý. Mời quý vị đón nghe bài cuối.

 

6

 

Trong năm bài của loạt bài “Cơ quan Tình báo quân đội Việt Nam và những dấu hiệu của một đại họa”, quý vị đã nghe nhiều ý kiến của các công thần cũng như tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Đảng CSVN, trong chính quyền và trong quân đội cùng cảnh báo rằng, Tổng cục 2 đang làm cho tình hình trở thành cực kỳ nguy hiểm đối với quân đội, đối với Đảng.

 

Sai phạm nghiêm trọng của Tổng cục 2

Phải chăng sự nguy hiểm chỉ đe dọa quân đội và Đảng? Mời quý vị nghe Trân Văn tường trình bài cuối cùng và chúng tôi mong nhận thêm ý kiến phản hồi từ quý thính giả sau loạt bài này…

Trong nhiều thư, đơn tố cáo, yêu cầu giải quyết những sai phạm nghiêm trọng tại Tổng cục 2 suốt từ thập niên 1990 đến nay, tên ông Lê Đức Anh được lập đi, lập lại khá nhiều lần.

Đáng chú ý là tên của ông Lê Đức Anh không chỉ xuất hiện trong những tài liệu liên quan đến Tổng cục 2.

Cũng vì vậy, việc đối chiếu một số tài liệu khác có thể góp phần lý giải câu hỏi, vì sao các sai phạm của Tổng cục 2, tuy kéo dài hơn một thập niên, gây bất bình sâu rộng nơi cán bộ, đảng viên cả trong, lẫn ngoài quân đội nhưng vẫn không thể xử lý đến nơi, đến chốn.

Ở hồi ký “Hồi ức và suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, ông Trần Quang Cơ đã từng kể như thế này về ông Lê Đức Anh, trong phần tường thuật về “Đại hội 7 và cái giá phải trả cho việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc”:

Sau Ðại hội 7, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Ðức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của Tổng Bí thu Ðỗ Mười, quyết định. Những phần công việc vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Ðối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về việc vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể:

Ngày 5 tháng 8 năm 1991, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: “Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Ðức Duy (Ðại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh”. Lê Ðức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Ðối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: “Vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Ðảng xin làm qua Trương Ðức Duy”.

Hoặc thế này: Ðể dọn đường cho cuộc gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8 năm 1991, tối 31 tháng 7 Hồng Hà đảm bảo với Từ Ðôn Tín: “Ðồng chí Lê Ðức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ vì chưa có “tiền sự” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với Bộ Chính trị để có ý kiến chỉ đạo không những về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc.

Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”. Sau khi đã cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, còn hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai trò Liên Hiệp Quốc thì phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt – Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”.

Một thái độ ươn hèn, yếu đuối

Ông Trần Quang Cơ than: Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại!…

Trở lại với nội dung chính của loạt bài này, liệu lần này, vụ Tổng cục 2 và những “sai phạm nghiêm trọng” ở cơ quan này sẽ được giải quyết dứt điểm? Ông Bùi Tín nhận định:  Tất cả mọi vấn đề quy chiếu vào mối quan hệ với Trung Quốc, trong đó nổi bật là thái độ yếu đuối, có thể nói là ươn hèn và phụ thuộc.

Ngay từ năm 1991, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng là Ủy viên Bộ Chính trị đã phải kêu lên là chúng ta lại bước vào thời kỳ Bắc thuộc mới. Chính do những nhận định như thế của Nguyễn Cơ Thạch mà Bắc Kinh yêu cầu Bộ Chính trị phải gạt ngay ông Nguyễn Cơ Thạch ra. Đúng là sau đó, Nguyễn Cơ Thạch bị mất chức.

Tôi nghĩ đấy là một biểu hiện rất rõ, từ vấn đề bauxite, vấn đề Tổng cục 2, vấn đề mất đất, mất biển, vấn đề tàn sát ngư dân đều quy chiếu vào mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Thái độ của Bộ Chính trị hiện nay là một thái độ ươn hèn, yếu đuối. Bởi vì họ nghĩ rằng, muốn tồn tại thì phải dựa vào Trung Quốc, bởi vì họ cho rằng Việt Nam và Trung Quốc cùng theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin, cùng chung chế độ độc đảng, họ nghĩ rằng Trung Quốc lớn như thế thì khó mà có thể chìm, do đó mà bám lấy cái phao này.

Tôi nghĩ là họ đã tính lầm bởi tinh thần tự chủ của dân tộc Việt Nam mạnh lắm. Tôi nghĩ là nhân dân mình đã thức tỉnh. Do đó trong tình hình mới, tôi nghĩ là họ khó có thể bịt được vụ Tổng cục 2.

 

Sư lớn mạnh của các đoàn “tình báo hành động”

Đó là hy vọng của một số người, còn đây là thực tế được một người trong cuộc, Trung tá Vũ Minh Trí tường thuật tại thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008: Nhiều người ở Tổng cục 2 rất lo ngại khi thấy giữa thời bình, khả năng xảy ra chiến tranh đã được Đảng nhận định qua mấy kỳ đại hội là không có mà Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ lại xây dựng lực lượng trinh sát bộ đội nằm trong đội hình Cục quân báo rồi Cục tình báo vốn chỉ ở cấp tiểu đoàn thời chống Pháp, chống Mỹ, cấp trung đoàn thời chiến tranh hai đầu biên giới phía Bắc và phía Tây Nam lên thành 3 đoàn “tình báo hành động” là: K3,74,94.

Cả ba đều có quy mô cấp lữ đoàn (đoàn trưởng được thăng quân hàm tới đại tá), đều do tay chân thân tín nhất của Nguyễn Chí Vịnh nắm, đều đóng ở các đô thị lớn bậc nhất của đất nước, đều triển khai nhiều hoạt động điệp báo và đều được trang bị các vũ khí, trang thiết bị đặc chủng, trong đó có mấy chục xe thiết giáp.

Họ tự hỏi “tình báo hành động” thực chất là gì? Tại sao các đoàn “tình báo hành động” đó lại có quy mô lớn như vậy trong khi quy mô lực lượng trinh sát bộ đội của các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng chỉ ở cấp tiểu đoàn? Chúng nhằm vào đối tượng tác chiến nào? Rõ ràng lo ngại của họ không phải là vô cớ.

Trong thư ghi ngày 10 tháng 6 năm nay, gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, tướng Giáp yêu cầu xem xét vụ Tổng cục 2 và “có chủ trương giải quyết những sai trái một cách kiên quyết, triệt để, đúng nguyên tắc” không chỉ  “để bảo vệ quân đội, bảo vệ Đảng” mà còn nhằm “bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước”.

“Bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước” cũng là ý đã được ông nhắc tới khi yêu cầu xem xét những chủ trương liên quan đến bauxite cách nay vài tháng.

 

Nguồn:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/VN-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part1-TVan-08122009133511.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part-2-08132009165929.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-Part3-08142009103229.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part4-tvan-08152009102020.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part5-tvan-08162009112939.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part6-08182009135251.html

 

 

—————————————————————————-

Lý Tống  và Đàm Vĩnh Hưng

21-7-2010

 

Mời các bạn đọc các bài báo ghi lại các sự kiện, các phỏng vấn do chính ĐVH và LT phát biểu… nhận thức của các bạn đọc sẽ thay đổi 180 độ, sự hiểu biết về chính trị của các bạn sẽ già dặn hơn một cách ngoạn mục, và hiểu được bản chất sâu xa của việc làm của ĐVH và LT. Nó không giống như đa số chúng ta thoạt nghĩ (ủng hộ/không ủng hộ) việc làm của LT ngay từ lúc đầu.  Chỉ có ĐVH và LT biết rõ họ đã và đang làm gì.

1. / Giấy hôn thú 2004

2./ Cô dâu Liên Phạm, tâm sự của ĐVH

3. ĐVH tại Bế mạc Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp thanh niên TP.HCM lần VI, nhiệm kỳ 2009-2014:

4./ ĐVH, một trong số 69 Ủy Viên của Hội LHTN

5./ ĐVH không phải là người đi kiếm cơm. Nhà 5 triệu đô của ĐVH

6./ Phỏng vấn Lý Tống sau khi được bail. LT cho biết lý do tại sao có…vụ nầy

7./ Lý Tống là ai  (giữa trang dưới đây)

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Nhan Vat Chinh tri | 2 Comments »