Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hòa Hợp Hòa Giải’ Category

►Một ly rượu mừng chưa hòa hợp hòa giải được dân tộc

Posted by hoangtran204 trên 18/01/2017

Một ly rượu mừng chưa hòa hợp hòa giải được dân tộc

18-1-2017

Xích Tử

Rộ lên vào những ngày giáp tết Đinh Dậu này, việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho phép ca khúc Ly rượu mừng của nhạc sĩ quá cố Phạm Đình Chương được biểu diễn “chính thức” trên những sàn diễn “chính thức” trong những sự kiện chính thống.

Đọc tiếp »

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Hòa Hợp Hòa Giải, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Đại học Fulbright VN (FUV) theo quan điểm của GS Nguyễn Mạnh Hùng

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

RFA

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

7-6-2016


Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến để nói về Đại học Fulbright trong một sự kiện tại Trung tâm Hoa Kỳ tại Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội ngày 07 tháng tám năm 2015. Photo: AFP

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến để nói về Đại học Fulbright trong một sự kiện tại Trung tâm Hoa Kỳ tại Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội ngày 07 tháng 8 năm 2015. Photo: AFP

Trong chuyến công du vừa qua của Tổng thống Obama (từ ngày 22 đến 25-5-2016), VN đã ký kết với Hoa Kỳ thành lập đại học Fulbright tại VN và động thái này được người Việt đón nhận với tâm trạng phấn khởi. Tuy nhiên cũng có những dư luận trái chiều về việc này.

Mặc Lâm phỏng vấn GS Nguyễn Mạnh Hùng về vấn đề này.

Món quà của Mỹ

Mặc Lâm: Thưa GS, đại học Fulbright đã chính thức mở tại VN, là người theo dõi dự án này từ lâu xin GS cho biết tầm quan trọng của nó đối với VN ra sao và liệu nó sẽ giúp gắn bó hơn nữa quan hệ giữa hai quốc gia hay không?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Đại học Fulbright Vietnam (FUV) bắt nguồn từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright do trường Đại học Harvard cộng tác với Trường Đại học kinh tế thành phố HCM. Sự hình thành của FUV là kết quả của các cố gắng từ hơn mười năm nay để thành lập môt trường đai học có đẳng cấp quốc tế, có sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Mỹ và Việt Nam.

Theo dự tính, đây sẽ là môt trường đại học tư, không lợi nhuận, tự trị, có đẳng cấp quốc tế, được thừa nhận (accredited) theo tiêu chuẩn giáo dục đại học Mỹ. Việt Nam từ lâu muốn thiết lập môt đại học có đẳng cấp quốc tế mà chưa làm đươc thì đây là một món quà của Mỹ đóng góp vào việc phát triển Việt Nam và xiết chặt quan hệ giữa hai nước, hai dân tôc, ít nhất là trên phương diện văn hóa, giáo dục.

Nhưng ý định tốt này có thực hiên được hay không tùy cách cư xử của hai chính phủ, nhất là nước chủ nhà.

Mặc Lâm: Tuy VN đón nhận nó như một tin vui nhưng một số trí thức đã công khai chống lại vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị của trường Fulbright là ông Bob Kerrey vì ông này từng tham gia vụ thảm sát tại Thạnh Phong. GS có chia sẻ gì về cá nhân ông Kerrey về những đóng góp của ông cho VN trong những năm qua?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Thái độ chống đối là điều dễ hiểu, nhất là đối với người ở Việt Nam. Có dư luận chống nhưng cũng có dư luận ủng hộ.  Chống đối hay ủng hộ tùy thuôc vào cách nhìn, cảm tính, kinh nghiệm cá nhân, và tính toán của mỗi người.

Trong một cuôc hội luận bàn tròn của BBC tuần trước, một chuyên viên truyền thông, cô Đỗ Thị Thủy, nói rằng cách đây hơn 10 năm cô đã phỏng vấn một nạn nhân vụ thảm sát Thanh Phong cho tuần báo Time là bà Phạm Thị Lành; bà này xác nhận không thấy tận mắt sự việc mà người ta quy tội cho ông Kerrey. Một phóng viên BBC, ông Nguyễn Hùng, mới gọi điện thoại phỏng vấn ông cựu Chủ tịch xã Thạnh Phong ông này trả lời vội rằng “chuyện cũ rồi nên bỏ qua.” Đó là quan điểm của người dân đia phương. Tranh cãi xảy ra giữa những người ở trung ương và không phải là nạn nhân trực tiếp của vụ thảm sát.

Tôi tôn trọng cả hai cách nhìn, nhưng tôi đồng cảm với bài viết của cựu đai biểu Quôc Hôi Nguyễn Minh Thuyết và tuyên bố của Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Bí Thư thành ủy TP HCM Đinh La Thăng. Cả hai đều chủ trương tha thứ. Tôi chỉ xin có thêm môt số nhận xét sau đây.

Thứ nhất, việc này đã xảy ra cách đây gần nửa thế kỷ, chính môt số nạn nhân và người ở đia phương đã tỏ ý muốn bỏ qua. Trong khi ấy thì ông Bob Kerrey đã tỏ lời ăn năn, xin lỗi với sư thành khẩn và ở mức độ chưa từng thấy, nhất là những lời ấy xuất phát từ một nhân vât đươc coi là can đảm, chính trực, và trọng danh dự. Về phương diên tâm lý, rõ ràng ông Kerrey muốn làm mọi việc tốt cho dân tộc Việt Nam để chuộc lỗi lầm của ông ấy. Các cụ ta thường nói “đánh kẻ chạy đi, ai đánh kẻ chạy lai.” Tại sao không để cho ông Kerry có cơ hội giúp VN?

Thứ hai, về khả năng chuyên môn thì ông Kerry có kinh nghiệm với hai trường đại học tân tiến của Mỹ không tổ chức theo lề lối cổ truyền, là New School ở New York và Dự Án Minerva ở San Francisco. Dự Án Minerva đưa ra một mô himh đại học mới, có phẩm chất của những đại học nổi tiếng tại Mỹ nhưng học phí lại rất rẻ. Để giảm phí tổn, sinh viên được khuyên khích học một số môn dễ học trên internet; trường không có giáo sư cơ hữu và chủ trương mời các học giả và chuyên viên nổi tiếng ở khắp nơi trên thế giới để dạy những khóa ngắn hay tiếp xúc với sinh viên qua không gian ảo (cyber space). Mô hình này có nhiếu khía cạnh giống như FUV, nhất là trong giai đoạn phôi thai.

Thứ ba, về phương diện tình cảm cá nhân, ba ông Kerry, McCain, và Kerrey mới viết chung một bài báo trên tờ New York Times ủng hộ và chống lưng cho ông Obama bỏ hoàn toàn viêc cấm bán vũ khi sát thương cho Việt Nam. Họ vừa là chiến hữu vừa là bạn thân, họ mến trọng và tin tưởng nhau. Cùng với ông Thomas Vallery, những người ấy đã đóng góp vào việc vận động thành lập trường FUV từ năm 1991. Ở Mỹ không còn bao nhiêu chính trị gia tha thiết với Việt Nam. Buộc những người có thiện cảm với Việt Nam như các ông Kerry, McCain và Vallely phải bỏ rơi bạn họ thì họ sẽ nghĩ gì về thiện chí và cái mà chính phủ VN rêu rao khi có lợi cho mình, là “gác quá khứ, hướng tơi tương lai.”

Theo thiển ý, việc chấp nhận ông Kerrey vừa phù hợp với truyền thống nhân ái của dân tôc, vừa phù hợp với chính sách “gác quá khứ, hướng về tương lai” của chính phủ, vừa không làm nản lòng những người còn có thiện chí muốn giúp Việt Nam, vừa không thọc gậy vào bánh xe lòng tin chiến lược mới băt đầu quay giữa hai nước.

Mặc Lâm: Mới nhất là việc trả lời của Bộ ngoại giao VN, tuy không nói trắng ra nhưng người phát ngôn Lê Hải Bình gián tiếp cho rằng vai trò của ông Kerrey là không thích hợp. Theo GS với cái nhìn của một nhà chuyên môn và tích lũy nhiều kinh nghiệm cuộc chiến VN ông có ý kiến gì về quan điểm của Bộ Ngoại giao VN?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Phát biểu cá nhân thì hiểu được, nhưng phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoai Giao làm cho người ta phải thắc mắc. Ông Bình không thể phát biểu với tư cách cá nhân mà phát biểu với tư cách chính phủ hay ít nhất cũng với tư cách của một bộ trong chính phủ. Tôi không nghĩ đó là sáng kiến riêng của Bộ Ngoại giao, bác ý kiến của Ủy viên bộ CT Đinh La Thăng.

Nếu đây là ý kiến của chính phủ thì nó là môt vi phạm vụng về đến nguyên tắc tự trị đại học, nền tảng quan trong nhất của bất cứ một trường đại học có đẳng cấp quốc tế nào. Điều này cho thấy chính phủ Việt Nam có vẻ không mặn mà lắm với FUV với những tiêu chuẩn cao của nó.

Mặc Lâm: Theo ông, cửa Fulbright đã mở, trí thức VN nên có những thái độ nào nhằm thúc đẩy cho ngôi trường này phù hợp thật sự với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Không có mô thức suy nghĩ nào đúng cho mọi trí thức, mỗi người có lối suy luận và quyết định riêng. Trong ngành khoa học xã hội, tri thức và trí thức khó có thể phát triên đươc hết tiềm năng trong một đại học không được quyên tư trị và tự do học thuật (academic freedom). Nhưng người đã từng làm việc tại các trường đại học Tây phương, nhất là các học giả thượng thặng, khó có thể cảm thấy thoải mái làm việc trong khung cảnh ấy.

Mặc Lâm: Xin cám ơn GS.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Hòa Hợp Hòa Giải, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► Xin hỏi bà Ninh Tôn Nữ: Động cơ nào…

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

Xin hỏi bà Ninh Tôn Nữ: Động cơ nào…

Blog RFA

CanhCo

6-6-2016

Bà Tôn Nữ Thị Ninh. Nguồn: Tim Sloan/ AFP/ GettyBà Tôn Nữ Thị Ninh. Nguồn: Tim Sloan/ AFP/ Getty

Ông Obama đến Việt Nam mang theo hai món quà, thứ nhất là bỏ cấm vận vũ khí sát thương, thứ hai là Đại học Fulbright Việt Nam.

Món thứ nhất cần phải mua, còn món thứ hai hoàn toàn biếu không từ ngân sách của Quốc hội Mỹ và các nguồn tài trợ do vận động gây quỹ của các tổ chức hay tư nhân tại Mỹ. Trường được vận hành phi lợi nhuận, không có cổ đông và vì vậy không có việc chia lãi cho người góp vốn xây dựng ngôi trường này. Trường được huy động vốn hoạt động qua một quỹ tín thác và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Fulbright Việt Nam được giao cho ông Bob Kerrey.

Trên danh nghĩa ông Bob Kerrey là người trực tiếp vận động để quỹ này có tiền và có lẽ danh tiếng của ông mới là yếu tố quan trọng nhất để được chọn làm công việc khá nhiêu khê nhưng không lương này.

Nhìn tổng quát thì trường Đại học Fulbright Việt Nam là mô hình đáng ghi nhận thiện chí của người Mỹ và chính phủ Mỹ. Từ nhiều năm qua, chính phủ Mỹ đã đào tạo cho Việt Nam rất nhiều TS để trở về làm việc tại Việt Nam. Chữ Fulbright trên văn bằng của họ là niềm kiêu hãnh không cần che dấu. Những đóng góp của các chương trình Fulbright rất thiết thực cho hoàn cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hòa nhập vừa qua và không ai có thể nghi ngờ kết quả mà Fulbright mang lại cho Việt Nam.

Đó là những học bổng đơn lẻ và con số sinh viên Việt Nam được học bổng có thể nói đếm trên đầu ngón tay hằng năm. Trường Đại học Fulbright mở ra tại Việt Nam sẽ thu hút số sinh viên đáng kể và nó chính là làn sóng giáo dục mới thúc đẩy ước mơ cho giới trẻ Việt Nam và ngôi trường này sẽ nhanh chóng làm đối trọng cho những ngôi trường khác, công hay tư, phải xem xét lại chính mình.

Tuy nhiên sau một lúc phấn khởi, một vài nhân vật trí thức Việt Nam lại bày tỏ sự không hài lòng khi biết được rằng ông Bob Kerrey, người được đề cử làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Fulbright Việt Nam lại có tì vết trong cuộc chiến Việt Nam. Cụ thể ông đã chỉ huy một toán biệt kích hải quân tập kích vào Thạnh Phong, một ấp nhỏ thuộc tỉnh Bến Tre và giết chết 24 người trong đó có 14 phụ nữ, trẻ em và một người già.

Ông Kerrey xác nhận mình là người chỉ huy mặc dù ông không giết người nào trong số này. Thế nhưng trong bao năm qua ông đã nỗ lực làm mọi việc để giúp Việt Nam và hơn hết là giúp cho chính ông thoát được ám ảnh về cuộc hành quân đó.

Trong các trí thức chống lại ông, nổi cộm lên là phát biểu gay gắt hơn ai hết của bà Tôn Nữ Thị Ninh. Tuy cố chứng minh là bà quen biết khá nhiều người Mỹ và không hề thành kiến nhưng bà đặt câu hỏi về lòng hối hận của ông Kerrey và yêu cầu ông nên rút lui khỏi Fulbright.

Trả lời báo chí bà nói: “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ”.

Hãy nhìn lại cách mà bà Ninh phán xét. Thứ nhất bà cho rằng không ai chứng nhận được sự hối hận vì nó nằm trong lòng của ông Kerrey. Như vậy là bà cực đoan và nguy hiểm. Cực đoan, vì là một trí thức, lại là “trí thức lớn”, trước khi phán xét bà phải biết thế nào là research, tham khảo mọi nguồn từ con người cho tới tài liệu xem người mà bà nghi ngờ có được chứng minh ngược lại hay không. Nguy hiểm, vì sự nghi ngờ xem ra có cơ sở ấy lại là mảnh đất màu mỡ cho lòng tị hiềm có cơ hội trồi lên trước khi niềm hy vọng về một nền giáo dục đầy tiềm năng đơm hoa kết trái.

Bà Ninh từng vận động thành lập ngôi trường mang tên Đại học Trí Việt nhưng sau nhiều năm xin hết đầu này tới đuôi nọ, nguồn tài chánh từ nước ngoài vẫn là giấc mơ, cùng lúc hồ sơ thành lập trường vẫn nằm trong ngăn kéo của các cơ quan trách nhiệm. Bà đã quá rõ vai trò của người vận động cho số tiền lớn và liên tục mỗi năm không phải là việc dễ dàng. Trong lập luận chống đối ông Bob Kerrey bà không ngại dùng hạ sách: “hôn nhân dị chủng”.  

Bà nói: “Nếu phía Mỹ khăng khăng giữ quyết định của mình, thì đối với tôi, không còn có thể coi đây là một dự án chung như nhóm sáng lập vẫn khẳng định. Vì rằng như trong một cuộc hôn nhân, hai bên cần phải lắng nghe, tôn trọng cảm xúc và suy nghĩ của nhau”

Cuộc hôn nhân đã thành hình, đã ký giấy hôn thú, đã nhận của hồi môn từ Mỹ, đã tiệc tùng liên tục tại Hà Nội lẫn Sài Gòn vậy mà bà Tôn Nữ Thị Ninh lại cho rằng không thể coi đó là dự án chung, và bà thất vọng.

Bà có quyền thất vọng, và có lẽ đó là cái quyền “hợp lý” nhất dành cho bà. Bởi lẽ khi bà nghi ngờ một con người ở phía bên kia cuộc chiến có thật tâm hối hận việc họ tàn sát người dân Việt Nam hay không, thì người Việt cũng có quyền đặt câu hỏi về sự hối hận của những người bà gọi là đồng chí, họ có hối hận về các vụ thảm sát người dân Việt trong cuộc chiến hay không.

Bà là người Huế, là danh gia vọng tộc, lại là một cán bộ ngoại giao, văn hóa cao cấp sao lại không biết vụ thảm sát Mậu thân với bao nhiêu cái chết oan khuất mà đến nay chưa một ai lên tiếng nhận trách nhiệm về mình như ông Bob Kerrey nhận tại Thạnh Phong?

Bà có biết trong trận chiến cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh vào sáng ngày 21-4-1975, tại ấp Phú Mỹ, xã Tân Lập, huyện Xuân Lộc (nay là ấp Phú Mỹ, xã Xuân Lập, thị xã Long Khánh), một cuộc tàn sát tập thể do các “anh lính cụ Hồ” gây ra làm hơn hai trăm thường dân thiệt mạng oan khốc. Cựu chiến binh Trần Đức Thạch, cựu phân đội trưởng trinh sát Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 QĐNDVN đã là chứng nhân cho cuộc thảm sát này và quan trọng nhất: anh ta vẫn còn sống.

Giữa những cuộc thảm sát có mục đích ấy, theo bà ai cần sám hối hơn ai? Người chỉ huy trận đánh Xuân Lộc hay ông sĩ quan Bob Kerrey?

Chỉ cần hai câu chuyện này thôi bà nên nghiên cứu lại để lần sau có phát ngôn thì nên kiệm lời.

Nước Việt luôn có những bài học tươi rói hàng ngày, bởi khi bà vừa phát biểu xong thì VTV lại có chương trình “động cơ nào….” Để nói về vụ cá chết.

Giống như “chị” Tạ Bích Loan, tôi muốn hỏi nhỏ bà: Động cơ nào khiến bà gay gắt một cách khó hiểu đối với ông Bob Kerrey như vậy? Và động cơ nào khiến một người ham nói như bà lại im lặng trước hàng ngàn cái chết từ từ ngay tại quê hương Huế của bà sau khi vụ Vũng Áng xảy ra làm người dân lo tái mặt?

_________

 

BOB KERREY LÀ KHỞI ĐIỂM XẤU CHO TRƯỜNG ĐH FULBRIGHT

Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Tp.HCM

2-6-2016

Thời sinh viên, tôi từng tham gia biểu tình ở Paris chống chiến tranh VN trong những năm 1960-70. Mặt khác, luận án thạc sĩ của tôi là về nhà văn Mỹ William Faulkner. Và trong gần 30 năm hoạt động đối ngoại, tôi đã xây dựng được những mối quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và bạn bè với đông đảo người Mỹ thuộc nhiều thành phần, từ các nhà ngoại giao như đại sứ Pete Peterson, những nhóm đã góp phần trực tiếp vào phong trào phản chiến như của John McAuliff và Sally Benson, đến những doanh nhân như Ernie Bower, những cựu chiến binh như Bobby Muller và Tom Vallely (người mang chương trình Fulbright đến VN), hay báo chí như Murray Hierbert, giới học thuật nghiên cứu như Walter Issacson. Do vậy, tôi không phải là người vì quá khứ mà “ghét” hay ác cảm với người Mỹ. Như hầu hết người VN, tôi sẵn sàng gạt quá khứ sang một bên để hướng tới tương lai cùng với nhân dân hai nước vì lợi ích chung.

Về phía VN, giáo dục là một lợi ích có ý nghĩa chiến lược. Do đó tôi ủng hộ và đã có mặt tại buổi trao giấy phép thành lập cho ĐH Fulbright ở TP HCM hôm 25-5. Và như mọi người, hy vọng rằng đây sẽ là một trường góp phần tạo động lực cho nền giáo dục đại học VN lành mạnh, chất lượng và hội nhập thế giới.

Tuy nhiên, khi biết rằng cựu thượng nghị sĩ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm chủ tịch HĐQT của trường ĐH mới, tôi vô cùng bàng hoàng và không thể hiểu nổi.

Ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2-1969: điều này không thể chối cãi và chính ông Kerrey cũng thừa nhận.

Có thể nhìn nhận vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau, cả phía Việt Nam và phía Mỹ. Nhưng một điều chắc chắn, sự việc đó là đủ để kết luận Bob Kerrey, nói theo cách nhẹ nhất, hoàn toàn không thể giữ vị trí chủ tịch HĐQT Đại học Fulbright. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật đó. Vì rằng:

– Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ. Tôi biết nhiều trường hợp cựu chiến binh Hoa Kỳ không trực tiếp dính tới các vụ thảm sát hiện sống trên lãnh thổ VN và góp phần ở các địa phương để giảm thiểu hậu quả chiến tranh như Chuck Searcy với dự án tháo gỡ bom mìn ở Quảng Trị, hay hàng năm về tận nơi để tìm kiếm sự tha thứ của những nạn nhân Mỹ Lai như Billy Kelly (dù không hề tham gia thảm sát nào).

– Bob Kerrey quan niệm giữ vị trí lãnh đạo ĐH Fulbright góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai bên. Tuy nhiên, như ông đã trả lời Financial Times (Anh) cách đây 1-2 ngày, ông sẵn sàng từ chức, nếu sự tham gia của ông có thể tổn hại đến dự án. Tôi nghĩ, không cần chần chừ hơn nữa, nếu ông rời vị trí ngay bây giờ như ông tuyên bố “sẵn sàng” thì cử chỉ đó là cử chỉ tự trọng và sẽ được người Việt Nam đánh giá cao. Thiết nghĩ, nhiều người Mỹ sẽ đồng tình với quyết định đó của ông.

– Tôi biết rằng vài người liên quan trực tiếp đến dự án công khai khẳng định rằng Bob Kerrey là người “hoàn toàn phù hợp” để giữ vị trí lãnh đạo đó. Tôi xin hỏ,i lẽ nào nước Mỹ không còn ai có thể vận động vốn cho trường ĐH Fulbright ngoài Bob Kerrey? Nếu nhóm dự án thực hiện việc lựa chọn vị trí chủ tịch HĐQT với nhiều ứng viên một cách công khai, thì tôi tin chắc là đã có thể tìm được người phù hợp về mặt chuyên môn và kinh nghiệm, nhưng tên tuổi không bị mang tiếng như vị này. Sẽ là một vết đen không thể xoá sạch khỏi sự ra đời của trường đại học danh giá như ĐH Fulbright nếu đây là chủ tịch sáng lập của ĐH này. Những người bạn Mỹ mà tôi có trao đổi hai hôm nay cùng chia sẻ quan điểm như thế.

– Nếu phía Mỹ khăng khăng giữ quyết định của mình, thì đối với tôi, không còn có thể coi đây là một dự án chung như nhóm sáng lập vẫn khẳng định. Vì rằng như trong một cuộc hôn nhân, hai bên cần phải lắng nghe, tôn trọng cảm xúc và suy nghĩ của nhau. Nếu không như thế thì hoá ra dự án đại học Fulbright là dự án của người Mỹ, thành lập một ĐH Mỹ tại VN, trong đó ý kiến và sự đóng góp của người Việt hoàn toàn là thứ yếu.

Có thể nói, việc bố trí Bob Kerrey là chủ tịch HĐQT ĐH Fulbright thể hiện sự vô cảm đối với cảm xúc và suy nghĩ của không ít người Việt Nam, nếu không nói là xem thường phản ứng và lòng tự trọng của chúng ta.

Tôi tin rằng, sự điều chỉnh đó không những không ảnh hưởng đến quan hệ hai nước đang tiến triển tốt đẹp. Ngược lại, việc này sẽ đặt hợp tác Việt Mỹ trong khuôn khổ ĐH Fulbright trên một nền tảng, khởi điểm bình đẳng, lành mạnh và vững bền.”

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Hòa Hợp Hòa Giải, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Chế độ cộng sản VN sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp hòa giải?

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2015

VOA

Trà Mi

17-04-2015

Trà Mi phỏng vấn Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt cách đây 4 thập niên, nhưng mâu thuẫn trong nội bộ người Việt dẫn tới cuộc chiến và phát sinh từ sau ngày 30/4/75 tới nay vẫn chưa được hóa giải bất chấp những nỗ lực ‘hòa hợp hòa giải dân tộc’.

Nguyên nhân vì sao và làm thế nào để người Việt thật sự ‘hòa hợp-hòa giải’ với nhau? Đó cũng là nội dung cuộc trao đổi hôm nay giữa Trà Mi VOA với một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng xuất thân từ gia đình cách mạng có công lớn với chế độ cộng sản Việt Nam, người từng lãnh án tù vì các hoạt động đấu tranh dân chủ và bị trục xuất sang Mỹ tị nạn chính trị cách đây một năm: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

VOA: Khái niệm ‘hòa hợp hòa giải’ được nhắc tới rất nhiều, nhưng mấu chốt của mâu thuẫn cần hòa hợp hòa giải là gì?

TS Hà Vũ: Mọi người vẫn hay nói tới ‘hòa hợp hòa giải’, nhưng cần phải làm rõ rằng thứ nhất đây là sự hòa giải giữa chính thể cộng sản hiện hành với những người đã làm việc trong chính thể Việt Nam Cộng hòa trước 30/4/1975. Thứ hai là sự hòa giải với những người đang sống tại Việt Nam và phản đối chế độ độc tài của đảng cộng sản Việt Nam. Tựu chung lại, hòa giải với quá khứ hay hiện tại. Nói cách khác, hòa giải với những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa là hòa giải về mặt tinh thần. Còn hòa giải với những người có quan điểm đối lập với chính quyền do đảng cộng sản Việt Nam kiểm soát hiện nay là hòa giải thực tế.

VOA: Theo nhận xét của ông, giữa người Việt trong và ngoài nước, giữa hai ý thức hệ cộng sản và dân chủ tư bản trong lòng người Việt đã ‘hòa,’ ‘hợp’ và ‘giải’ đã đạt tới mức nào sau 40 năm chiến tranh kết thúc?

TS Hà Vũ: Phía chính quyền cộng sản Việt Nam không hề có thiện chí bởi vì nói đến hòa giải tức là phải  chấp nhận quan điểm chính trị đối lập. Đằng này họ chỉ là lợi dụng nhằm tháo gỡ những khó khăn về mặt kinh tế, tháo gỡ những cái nhìn rất xấu về một chế độ toàn trị luôn thù địch với những ai có quan điểm ngược lại với quan điểm của mình. Để bắt đầu đi vào hòa giải thực chất với quá khứ, yêu cầu đầu tiên là phải công nhận Việt Nam Cộng hòa là một chính quyền của người Việt ở miền Nam trước năm 1975. Thứ hai, để thực hiện sự hòa giải, khi mời người Việt ở nước ngoài về nước thì cũng phải bảo đảm cho họ quyền tự do ngôn luận, thể hiện quan điểm chính trị của họ về dân chủ-tự do hoặc thậm chí về chính thể Việt Nam Cộng hòa.

VOA: Ông nhận xét thế nào về thiện chí hòa hợp hòa giải của phía những người có quan điểm đối lập với đảng cộng sản Việt Nam?

TS Hà Vũ: Tôi nghĩ người Việt bất cứ lúc nào cũng hướng về Tổ quốc, muốn đóng góp để vừa bảo toàn lãnh thổ của quốc gia Việt Nam, đặc biệt trước sự xâm lăng từ phía Trung Quốc. Tôi biết tất cả người Việt ở nước ngoài, đặc biệt ở Mỹ, đau đáu chuyện đó, rất muốn đóng góp. Mọi người muốn dùng tiềm năng từ kinh tế cho tới chất xám, kể cả các quan hệ chính trị và ngoại giao, để giúp Việt Nam có thể phát triển thành một nước được kính trọng trên thế giới. Thế nhưng, đúng là có sự luôn luôn chống cộng sản tới cùng, không chấp nhận chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay. Tôi không cho đấy là thiếu thiện chí, mà đấy là một quan điểm chính trị.

VOA: Những người thân chính phủ cộng sản Việt Nam cho rằng chỉ có thể hòa hợp hòa giải với những người có thiện chí, có tinh thần xây dựng, chứ không thể hòa hợp hòa giải với những thành phần chỉ muốn đối đầu, chỉ muốn mặc cả để làm điều kiện. Ý kiến ông ra sao?

TS Hà Vũ: Quan điểm như vậy là độc tài, tức là họ chỉ cho rằng họ là duy nhất có chân lý, họ cho rằng những người nào chấp nhận chế độ cộng sản mới là người có thiện chí. Trong khi đó, hòa giải là đi đến giải quyết một cách hòa bình giữa các quan điểm chính trị khác biệt, thậm chí đối lập với nhau, để tìm ra một mẫu số chung.

VOA: Vấn đề ở đây là mỗi bên cần thay đổi cách nhìn về nhau. Phía bên kia cũng có thể lập luận ngược lại rằng ‘Nếu muốn tôi thay đổi cách nhìn và tạo niềm tin hơn nữa đối với tôi, thì anh cũng phải thay đổi cách nhìn về tôi. Thay vì anh chỉ muốn xóa bỏ chế độ cộng sản Việt Nam, thì có thể có một cách khác cùng hàn gắn và cùng nhau phát triển.’ Phản hồi của ông thế nào?

TS Hà Vũ: Tôi đã có những kinh nghiệm rất cụ thể rồi. Năm 2010, chính tôi đã đưa ra những giải pháp đầu tiên để bắt đầu những sự hòa hợp hòa giải. Đó là phải gọi tên đúng của cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến. Tôi cũng đưa ra một giải pháp nữa là công nhận những chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh tại Hoàng Sa trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam. Thế nhưng, cho tới giờ, chính quyền cộng sản Việt Nam không những không chấp nhận đề nghị của tôi, (tôi đã làm kiến nghị gửi Quốc hội), mà lại còn bỏ tù tôi. Thành ra, cuối cùng tôi rút ra kết luận là không thể có hòa giải với chính quyền cộng sản Việt Nam mà chỉ có thể giải thể chế độ cộng sản này đi. Một khi chế độ cộng sản Việt Nam bị giải thể thì tự dưng sẽ có sự hòa giải giữa các quan điểm khác nhau. Bởi vì lúc đó, chế độ sẽ là dân chủ-đa đảng, ai cũng có quyền nói lên quan điểm của mình, không còn ai bị coi là thù địch với ai nữa, mà đó chỉ là sự khác biệt hay đối lập về mặt chính trị mà thôi.

VOA: Nhiều người đặt vấn đề vì sao đối với ‘người ngoài’ như quốc gia cựu thù Mỹ, chính phủ cộng sản Việt Nam có thể hòa hợp hòa giải, bỏ qua quá khứ, tiến tới cùng hợp tác xây dựng nhanh chóng và hiệu quả hơn đối với ‘người nhà’ là những đồng bào khác ý thức hệ với họ? Phải chăng lòng hận thù của người Việt mình chưa được hóa giải nên mâu thuẫn mới kéo dài cho tới ngày hôm nay?

TS Hà Vũ: Trước hết, tôi khẳng định chuyện chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, nước cựu thù trong chiến tranh, là vì vấn đề ngoại giao và vụ lợi về mặt kinh tế. Tiếp nữa, chính quyền cộng sản Việt Nam đang bị Trung Quốc tấn công trên mọi phương diện nên họ cần tìm kiếm những hỗ trợ từ bên ngoài.

VOA: Hoa Kỳ là một bên tham chiến góp phần tạo sự rạn nứt trong xã hội Việt Nam. Theo ông, quan hệ Việt-Mỹ có ảnh hưởng ra sao đến việc hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam?

TS Hà Vũ: Việc Mỹ quay trở lại Châu Á, Đông Nam Á và có thiện chí tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, tôi tin rằng sự trở lại đó của Mỹ chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến việc dân chủ hóa Việt Nam. Trên cơ sở đó, phong trào dân chủ ở Việt Nam sẽ được tạo điều kiện để phát triển. Chính phong trào dân chủ ở Việt Nam sẽ là nhân tố quyết định để đưa đến một sự hòa giải thật sự, tức là giải thể chế độ cộng sản Việt Nam.

VOA: Ngoài sự ảnh hưởng của mối quan hệ Việt-Mỹ, riêng đối với những người Việt với nhau, ông có đề nghị gì không để tạm gác chuyện ‘được-mất’ trong quá khứ để cùng hướng tới chuyện ‘được-mất’ trong tương lai người Việt?

TS Hà Vũ: Đảng cộng sản Việt Nam hãy chủ động từ bỏ chế độ toàn trị của mình đi, thực hiện dân chủ-nhân quyền mà bước đầu là phải xóa bỏ các điều luật đàn áp dân chủ-nhân quyền như 79, 88, và 258 trong Bộ luật Hình sự, trả tự do cho các tù nhân chính trị, bảo đảm những quyền cơ bản của công dân Việt Nam bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do tôn giáo và đề ra lộ trình tiến hành bầu cử tự do.

VOA: Trong lộ trình hòa hợp hòa giải ông đề nghị, bản thân là con trai một công thần của nhà nước cộng sản Việt Nam thoát ly đấu tranh dân chủ dẫn tới cuộc sống lưu vong tại Mỹ hiện nay, nhìn thấy ý hướng của người cộng sản từ trong nước và hiểu được mong muốn khát khao của người Việt hải ngoại khi ra đây, ông nghĩ mình có thể góp phần thế nào thúc đẩy tiến trình hòa hợp hòa giải của người Việt nhanh và hiệu quả hơn?

TS Hà Vũ: Việc tôi có mặt tại Mỹ, đương nhiên tôi vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh vì dân chủ-nhân quyền Việt Nam. Người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp vào tiến trình hòa giải thực chất, tức là đưa tới chế độ dân chủ-đa đảng, bằng cách nêu quan điểm của mình trên các phương tiện đại chúng đặc biệt là internet để người Việt trong nước hiểu thêm thế nào là chế độ dân chủ; gây sức ép với chính quyền Mỹ cả lập pháp lẫn hành pháp để Mỹ có biện pháp thúc đẩy dân chủ-nhân quyền Việt Nam thông qua hợp tác kinh tế, hợp tác tương trợ về quân sự, và ngoại giao; ủng hộ trực tiếp những người đấu tranh dân chủ trong nước. Kết luận lại, việc hòa giải chỉ có thể diễn ra khi chế độ cộng sản Việt Nam được chấm dứt.

VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

Posted in Hòa Hợp Hòa Giải | Leave a Comment »

►Hậu Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn: Những Pavlov Mang Họa.

Posted by hoangtran204 trên 11/02/2015

Người Việt cả hai miền đã hòa hợp hòa giải từ lâu rồi vì cả hai cùng nhận ra họ là nạn nhân của chế độ độc tài cộng sản.  Đi tiên phong trong lãnh vực này là các nhà văn và nhà thơ đang sống ở các nước ngoài, và các nhà báo, nhà văn, nhà thơ,…đang sống ở trong nước (những người đã từng bị cs bắt bỏ tù, hoặc có tư tưởng và hành động phản kháng nhà cầm quyền trong nước). Điểm chung của họ ngày nay là không bao giờ muốn sống dưới chế độ cs và không muốn hòa hợp hòa giải với đảng CSVN.

Buổi tưởng niệm Nhà văn Bùi Ngọc Tấn do Tủ sách Tiếng Quê Hương và Nhật báo Người Việt tổ chức lúc 2 giờ ngày 7 tháng Hai năm 2015 tại phòng sinh hoạt Người Việt.

Sau đây là bài phát biểu của Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hậu Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn:
Những Pavlov Mang Họa.

Nguyễn Xuân Nghĩa, California

7-2-2015

Với tôi, đây là một sự vinh hạnh khi được mời lên diễn đàn này trình bày về tác phẩm cuối cùng, là di cảo mới nhất, của nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Sau cả vạn người đã đọc ông và cả trăm người đã phát biểu về con người và văn nghiệp của Bùi Ngọc Tấn, tôi là người muộn màng đẩy một cánh cửa đã mở sẵn. Vì vậy, xin quý vị thông cảm cho nếu chẳng nói điều mới lạ.

Hôm mùng năm vừa rồi và sáng nay lên chùa, tôi đã thắp một nén nhang cầu nguyện nhân dịp 49 ngày tạ thế của Bùi Ngọc Tấn. Nơi đây, hiển nhiên là quý vị cũng đã tưởng niệm như rất nhiều người Việt khác trên địa cầu trong thời gian qua.

Được yêu cầu giới thiệu cuốn Hậu Chuyện Kể Năm 2000 do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương vừa phát hành, tôi đã có một kinh nghiệm cay đắng ngọt bùi.

Ngọt bùi là khi thưởng thức một tác phẩm văn chương khiến mình đọc rất chậm, rồi đọc lại, nhất là những đoạn bi thương về gia đình tác giả gồm có sáu người. Cay đắng là khi phải đặt sách xuống trong tiếng thở dài, có khi là sự phẫn nộ, về con người và đất nước thê thảm của mình. Nhưng những cảm giác riêng tư ấy thật ra hoàn toàn vô ích ở đây. Từng người trong quý vị sẽ có nhận thức riêng của mình sau khi đọc.

Tôi chỉ xin nói rằng đây là một tác phẩm nên đọc – và phải đọc.

***

Trước hết, một cách ý thức hay vô thức, mọi nhà văn đều tiếp nhận những gì đã được viết ra từ trước. Vì vậy, khi nói về một tác phẩm văn chương, chúng ta đều có thói quen đối chiếu, đó là so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia, của cùng một nhà văn hay của nhiều tác giả khác. Tôi khó làm chuyện đó vì chẳng có cơ sở gì để đối chiếu hay so sánh. So sánh với Tolstoy, Dostoevsky hay Ghoerghiu sao?

Bùi Ngọc Tấn có chỗ đứng riêng với những tác phẩm lừng danh của ông, không vì số phận hẩm hiu của tác giả mà vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Chúng ta nên tìm đọc để biết là vào hậu bán thế kỷ 20, người Việt viết văn ra sao. Cũng như phải đọc Vũ Trọng Phụng để nhìn một đỉnh cao của nghệ thuật văn chương Việt Nam trước khi có tai ách cộng sản. Hai cây bút viết trong hai hoàn cảnh với văn phong quá khác biệt, mà vẫn là tiêu biểu cho hai thời kỳ.

Và tiêu biểu nhất cho thời kỳ cộng sản là cả hai tác giả này đều bị chế độ đả kích!

***
Sau biến cố 1.9.7.5., những người ở miền Nam chúng ta có 20 năm gần như bị bão hòa với nhiều cuốn sách viết về kinh nghiệm tù đầy của chế độ cộng sản, mà người ta gọi là “cải tạo” – dù có tập trung hay không. Trong hoàn cảnh chính trị thời đó, những ai lạnh lùng tỉnh táo thì chịu đựng và kết luận rằng đó là luật chơi tàn khốc của lẽ thắng bại. Nó độc ác và vô ích. Thế thôi.

Nhưng sau đấy, từ những năm 1995 trở về sau, trong hàng ngũ của những người chiến thắng, từ bên trong xã hội cộng sản đã thống nhất trên cả nước, bỗng xuất hiện nhiều cuốn hồi ký về cái nạn tù đầy và cải tạo của những người đã góp phần tạo nên chiến thắng 1.9.7.5.

Tức là hơn 40 năm sau cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của Hoàng Văn Chí về nỗi oan khiên giành cho giới nghệ sĩ và trí thức trong nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” tại miền Bắc, chúng ta mới phát giác là qua gần nửa thế kỷ tương tàn ấy, nhiều người ở miền Bắc đã có kinh nghiệm về “cải tạo” rất sớm.

Mà họ lại không may mắn bằng những người tù ở trong Nam.

Tù cải tạo ở trong Nam còn có một lý do tự an ủi, dù mong manh, rằng mình chống họ thì khi thua trận tất nhiên là bị hành hạ. Những người tù ở miền Bắc không được như vậy. Họ thành thật dâng hiến tuổi thanh xuân cho “cách mạng”, và chẳng có tội gì như trường hợp Bùi Ngọc Tấn, vậy mà cũng bóc lịch hay chăn kiến trong tù.

Người miền Nam dùng chữ “bóc lịch” làm ta liên tưởng đến tư thế đứng. Chứ “chăn kiến” thì phải ngồi. Mà đứng hay ngồi thì cũng đều ở trong cũi cả! Tù trong hay tù ngoài, tù trước và tù sau, tù ta hay tù nó đều là tù cả! Sau đó thì gia nhập bộ lạc “Tà Ru”. Tù ra để sống trong một nhà tù lớn hơn, và rất dễ mắc bệnh tâm thần vì hàng ngày hàng giờ vẫn có cảm giác như bị theo dõi để lại trở về chốn cũ, là trại giam cũ.

Những phát giác ấy đến với người ở trong Nam khi đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, rồi Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn hay Đèn Cù của Trần Đĩnh. Nỗi ê chề đó càng khiến mình ân hận là không cố gắng nhiều hơn để đất nước có một kết cục khác.

Qua đến tác phẩm mới, và là cuối cùng, của Bùi Ngọc Tấn, Hậu Chuyện Kể, chúng ta còn được một di sản khác. Một bức tranh xã hội của miền Bắc trong những năm chiến tranh.

Nói như một kẻ vô tư và vô tâm của người thiên về xã hội học hay người chuyên về “ác học của nhân loại”, thì Chuyện Kể Năm 2000 là một cuốn phim hay.

Sau đó 15 năm, ta lại được xem nhiều trích đoạn hay trailers về việc thực hiện cuốn phim nổi tiếng này. Nếu chỉ như vậy thì tác phẩm mới chẳng quảng cáo gì thêm cho tuyệt tác kia. Nét nhân hậu của Hậu Chuyện Kể là vẽ ra chân dung của nhiều nhân vật đã góp phần hoàn thành cuốn phim. Tôi dùng chữ “nhân hậu” vì chú ý nhất đến sự kiện là trong xã hội cùn mằn độc ác đó vẫn có loại người bất thường đến siêu phàm.

Họ dám sống thật, nói thật và chật vật tranh đấu để một cuốn sách vừa phát hành đã bị cán thành bột – mà vẫn xuất hiện ở nơi khác. Xin hãy đọc để xem Bùi Ngọc Tấn cùng gia đình và bạn hữu đếm thế nào về 1.500 cuốn sách đã xuất bản, đã phát tán mà vẫn phải gom đủ cho chế độ thủ tiêu! Chung quanh ông vẫn còn chán vạn người tử tế nên ở bên ngoài chúng ta mới được đọc Chuyện Kể Năm 2000.

Vì vậy chúng ta không nên tuyệt vọng.

***

Là kẻ ngoại đạo của thế giới nghệ thuật, tôi cứ nghĩ rằng nghệ sĩ không thể là người trầm tư. Ta chẳng thể cứ ngồi Thiền mà thành Phật được! Cũng vậy, nghệ sĩ là người muốn làm một cái gì đó thật đẹp, và phải cố làm thì may ra mới biết cái đó là cái gì! Mà rồi đẹp hay xấu là thuộc quyền thẩm định của người khác.

Bùi Ngọc Tấn là nhà văn bị bẻ bút mất 20 năm sau năm năm tù đầy, mà vẫn cố làm một cái gì đó. Mất cả chục năm mới ra một chuyển kể cho hậu thế, của thế kỷ 21. Cuốn Hậu Chuyện Kể viết về sự cố gắng đó. Ngoài giá trị của một bức tranh xã hội, hay bối cảnh cho việc nghiên cứu về xã hội học của một chế độ tồi bại, cuốn sách mà chúng ta chào mừng hôm nay còn cho thấy tiến trình gian nan của sự cố gắng, sự sáng tạo.

Kinh khủng nhất là khi ông viết mà vẫn thấy bóng cây xoan dật dờ trong trí nhớ lại cũng mập mờ che khuất sự dòm ngó của chế độ! Nhiều khi các nghệ sĩ muốn làm đẹp cho đời thì cũng là những người bị đời hành hạ nhiều nhất.

Nén nhang cho Bùi Ngọc Tấn cũng phải là lời tri ân.

***
Sau cùng, tôi xin được nói về một chuyện ngoài văn chương, khi cảm được tiểu tựa của cuốn sách, là Thời Biến Đổi Gien.

Các nhà bác học về nhân chủng hay khảo cổ có thể giảng cho chúng ta rằng loài người đã mất cả triệu năm, rẻ nhất là mấy vạn năm, mới từ trạng thái bò bốn chân và suy nghĩ bằng cái bụng tiến dần lên trình độ đứng thẳng. Sau cả vạn năm vục mặt xuống đất, chúng ta mới dần dần đi bằng hai chân và suy nghĩ bằng cái đầu, với bộ não ngày càng lớn hơn theo tầm nhìn xa hơn và cao hơn.

Chế độ cộng sản lại hoàn thành một phép lạ – tôi gọi là phép lạ chứ không là một sự kỳ diệu – là chỉ trong một thế hệ là có vài chục năm đã khiến nhiều người đi bằng hai chân biến thành loài thú bốn cẳng. Đấy là hiện tượng đổi gien. Đám hậu sinh của Pavlov với thử nghiệm rất khoa học về phản xạ của con chó để điều kiện hóa con người lại tự biến thành con vật bốn chân có khả năng đánh hơi rất cao.

Những kẻ bò bốn chân là bọn khuyển ưng khuyển phệ xục xạo vào thế giới của con người bình thường để bảo vệ một chế độ bất thường. Họ là những kẻ suy nghĩ bằng bụng dạ hẹp hòi và được huấn luyện để áp bức người khác qua đủ loại bạo lực.

Trong cuốn sách, Bùi Ngọc Tấn còn cho biết thêm rằng cái loài bốn chân ấy vẫn có kẻ… nối dõi tông đường. Ông đã bị hai thế hệ theo nhau bách hại. Rồi tủm tỉm cười với vẻ hiền hòa cố hữu. Rằng ông có sống đến 120 tuổi đâu để trở thành đối tượng của thế hệ công an đời thứ ba!

Tôi trộm nghĩ rằng thế hệ thứ ba của loài thú bốn chân ấy sẽ sớm thất nghiệp chính là nhờ nhiều tác phẩm có khả năng cảm hóa như của Bùi Ngọc Tấn. Ông không còn ở với chúng ta nữa, nhưng ta nên tự chuẩn bị cho tiến trình “cải tạo ngược”.

Là với lòng nhân sẽ giúp cho đám người độc ác kia trở lại trạng thái bình thường, để dân ta được sống bình thường trong tự do như các xã hội văn minh khác. Đọc cuốn sách như một di cảo buồn, tôi vẫn thấy ra niềm hy vọng đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nam California, Ngày 20150207

 

——-

Trước khi mất mấy tuần, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tuy rất đau, nhưng vẫn không giấu được sự phấn khích khi nói đến cuốn sách “Thời Biến Đổi Gen” khi ấy sắp được xuất bản ở California. Ông nói với chúng tôi: “Xin đảm bảo là không làm mất thời gian của các bạn”. Ông đi đã hơn 49 ngày. Thưa nhà văn Bùi Ngọc Tấn, ông chưa bao giờ làm mất thời gian của ai, chỉ có thời gian của ông – hàng chục năm – là đã từng bị đánh cắp. (nhà báo Huy Đức – Trương Huy San)

 
Buổi tưởng niệm Nhà văn Bùi Ngọc Tấn do Tủ sách Tiếng Quê Hương và Nhật báo Người Việt tổ chức lúc 2 giờ ngày 7 tháng Hai năm 2015 tại phòng sinh hoạt Người Việt.</p>
<p>Sau đây là bài phát biểu của Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. </p>
<p>Hậu Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn:<br />
Những Pavlov Mang Họa.</p>
<p>Với tôi, đây là một sự vinh hạnh khi được mời lên diễn đàn này trình bày về tác phẩm cuối cùng, là di cảo mới nhất, của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. </p>
<p>Sau cả vạn người đã đọc ông và cả trăm người đã phát biểu về con người và văn nghiệp của Bùi Ngọc Tấn, tôi là người muộn màng đẩy một cánh cửa đã mở sẵn. Vì vậy, xin quý vị thông cảm cho nếu chẳng nói điều mới lạ.</p>
<p>Hôm mùng năm vừa rồi và sáng nay lên chùa, tôi đã thắp một nén nhang cầu nguyện nhân dịp 49 ngày tạ thế của Bùi Ngọc Tấn. Nơi đây, hiển nhiên là quý vị cũng đã tưởng niệm như rất nhiều người Việt khác trên địa cầu trong thời gian qua.  </p>
<p>Được yêu cầu giới thiệu cuốn Hậu Chuyện Kể Năm 2000 do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương vừa phát hành, tôi đã có một kinh nghiệm cay đắng ngọt bùi. </p>
<p>Ngọt bùi là khi thưởng thức một tác phẩm văn chương khiến mình đọc rất chậm, rồi đọc lại, nhất là những đoạn bi thương về gia đình tác giả gồm có sáu người. Cay đắng là khi phải đặt sách xuống trong tiếng thở dài, có khi là sự phẫn nộ, về con người và đất nước thê thảm của mình. Nhưng những cảm giác riêng tư ấy thật ra hoàn toàn vô ích ở đây. Từng người trong quý vị sẽ có nhận thức riêng của mình sau khi đọc. </p>
<p>Tôi chỉ xin nói rằng đây là một tác phẩm nên đọc - và phải đọc.</p>
<p>***</p>
<p>Trước hết, một cách ý thức hay vô thức, mọi nhà văn đều tiếp nhận những gì đã được viết ra từ trước. Vì vậy, khi nói về một tác phẩm văn chương, chúng ta đều có thói quen đối chiếu, đó là so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia, của cùng một nhà văn hay của nhiều tác giả khác. Tôi khó làm chuyện đó vì chẳng có cơ sở gì để đối chiếu hay so sánh. So sánh với Tolstoy, Dostoevsky hay Ghoerghiu sao?</p>
<p>Bùi Ngọc Tấn có chỗ đứng riêng với những tác phẩm lừng danh của ông, không vì số phận hẩm hiu của tác giả mà vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Chúng ta nên tìm đọc để biết là vào hậu bán thế kỷ 20, người Việt viết văn ra sao. Cũng như phải đọc Vũ Trọng Phụng để nhìn một đỉnh cao của nghệ thuật văn chương Việt Nam trước khi có tai ách cộng sản. Hai cây bút viết trong hai hoàn cảnh với văn phong quá khác biệt, mà vẫn là tiêu biểu cho hai thời kỳ. </p>
<p>Và tiêu biểu nhất cho thời kỳ cộng sản là cả hai tác giả này đều bị chế độ đả kích!</p>
<p>***<br />
Sau biến cố 1.9.7.5., những người ở miền Nam chúng ta có 20 năm gần như bị bão hòa với nhiều cuốn sách viết về kinh nghiệm tù đầy của chế độ cộng sản, mà người ta gọi là "cải tạo" – dù có tập trung hay không. Trong hoàn cảnh chính trị thời đó, những ai lạnh lùng tỉnh táo thì chịu đựng và kết luận rằng đó là luật chơi tàn khốc của lẽ thắng bại. Nó độc ác và vô ích. Thế thôi.</p>
<p>Nhưng sau đấy, từ những năm 1995 trở về sau, trong hàng ngũ của những người chiến thắng, từ bên trong xã hội cộng sản đã thống nhất trên cả nước, bỗng xuất hiện nhiều cuốn hồi ký về cái nạn tù đầy và cải tạo của những người đã góp phần tạo nên chiến thắng 1.9.7.5.</p>
<p>Tức là hơn 40 năm sau cuốn "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" của Hoàng Văn Chí về nỗi oan khiên giành cho giới nghệ sĩ và trí thức trong nhóm "Nhân Văn Giai Phẩm" tại miền Bắc, chúng ta mới phát giác là qua gần nửa thế kỷ tương tàn ấy, nhiều người ở miền Bắc đã có kinh nghiệm về "cải tạo" rất sớm. </p>
<p>Mà họ lại không may mắn bằng những người tù ở trong Nam. </p>
<p>Tù cải tạo ở trong Nam còn có một lý do tự an ủi, dù mong manh, rằng mình chống họ thì khi thua trận tất nhiên là bị hành hạ. Những người tù ở miền Bắc không được như vậy. Họ thành thật dâng hiến tuổi thanh xuân cho "cách mạng", và chẳng có tội gì như trường hợp Bùi Ngọc Tấn, vậy mà cũng bóc lịch hay chăn kiến trong tù. </p>
<p>Người miền Nam dùng chữ "bóc lịch" làm ta liên tưởng đến tư thế đứng. Chứ "chăn kiến" thì phải ngồi. Mà đứng hay ngồi thì cũng đều ở trong cũi cả! Tù trong hay tù ngoài, tù trước và tù sau, tù ta hay tù nó đều là tù cả! Sau đó thì gia nhập bộ lạc "Tà Ru". Tù ra để sống trong một nhà tù lớn hơn, và rất dễ mắc bệnh tâm thần vì hàng ngày hàng giờ vẫn có cảm giác như bị theo dõi để lại trở về chốn cũ, là trại giam cũ.</p>
<p>Những phát giác ấy đến với người ở trong Nam khi đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, rồi Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn hay Đèn Cù của Trần Đĩnh. Nỗi ê chề đó càng khiến mình ân hận là không cố gắng nhiều hơn để đất nước có một kết cục khác.</p>
<p>Qua đến tác phẩm mới, và là cuối cùng, của Bùi Ngọc Tấn, Hậu Chuyện Kể, chúng ta còn được một di sản khác. Một bức tranh xã hội của miền Bắc trong những năm chiến tranh. </p>
<p>Nói như một kẻ vô tư và vô tâm của người thiên về xã hội học hay người chuyên về "ác học của nhân loại", thì Chuyện Kể Năm 2000 là một cuốn phim hay. </p>
<p>Sau đó 15 năm, ta lại được xem nhiều trích đoạn hay trailers về việc thực hiện cuốn phim nổi tiếng này. Nếu chỉ như vậy thì tác phẩm mới chẳng quảng cáo gì thêm cho tuyệt tác kia. Nét nhân hậu của Hậu Chuyện Kể là vẽ ra chân dung của nhiều nhân vật đã góp phần hoàn thành cuốn phim. Tôi dùng chữ "nhân hậu" vì chú ý nhất đến sự kiện là trong xã hội cùn mằn độc ác đó vẫn có loại người bất thường đến siêu phàm. </p>
<p>Họ dám sống thật, nói thật và chật vật tranh đấu để một cuốn sách vừa phát hành đã bị cán thành bột - mà vẫn xuất hiện ở nơi khác. Xin hãy đọc để xem Bùi Ngọc Tấn cùng gia đình và bạn hữu đếm thế nào về 1.500 cuốn sách đã xuất bản, đã phát tán mà vẫn phải gom đủ cho chế độ thủ tiêu! Chung quanh ông vẫn còn chán vạn người tử tế nên ở bên ngoài chúng ta mới được đọc Chuyện Kể Năm 2000. </p>
<p>Vì vậy chúng ta không nên tuyệt vọng.</p>
<p>***</p>
<p>Là kẻ ngoại đạo của thế giới nghệ thuật, tôi cứ nghĩ rằng nghệ sĩ không thể là người trầm tư. Ta chẳng thể cứ ngồi Thiền mà thành Phật được! Cũng vậy, nghệ sĩ là người muốn làm một cái gì đó thật đẹp, và phải cố làm thì may ra mới biết cái đó là cái gì! Mà rồi đẹp hay xấu là thuộc quyền thẩm định của người khác. </p>
<p>Bùi Ngọc Tấn là nhà văn bị bẻ bút mất 20 năm sau năm năm tù đầy, mà vẫn cố làm một cái gì đó. Mất cả chục năm mới ra một chuyển kể cho hậu thế, của thế kỷ 21. Cuốn Hậu Chuyện Kể viết về sự cố gắng đó. Ngoài giá trị của một bức tranh xã hội, hay bối cảnh cho việc nghiên cứu về xã hội học của một chế độ tồi bại, cuốn sách mà chúng ta chào mừng hôm nay còn cho thấy tiến trình gian nan của sự cố gắng, sự sáng tạo.</p>
<p>Kinh khủng nhất là khi ông viết mà vẫn thấy bóng cây xoan dật dờ trong trí nhớ lại cũng mập mờ che khuất sự dòm ngó của chế độ! Nhiều khi các nghệ sĩ muốn làm đẹp cho đời thì cũng là những người bị đời hành hạ nhiều nhất. </p>
<p>Nén nhang cho Bùi Ngọc Tấn cũng phải là lời tri ân.</p>
<p>***<br />
Sau cùng, tôi xin được nói về một chuyện ngoài văn chương, khi cảm được tiểu tựa của cuốn sách, là Thời Biến Đổi Gien.</p>
<p>Các nhà bác học về nhân chủng hay khảo cổ có thể giảng cho chúng ta rằng loài người đã mất cả triệu năm, rẻ nhất là mấy vạn năm, mới từ trạng thái bò bốn chân và suy nghĩ bằng cái bụng tiến dần lên trình độ đứng thẳng. Sau cả vạn năm vục mặt xuống đất, chúng ta mới dần dần đi bằng hai chân và suy nghĩ bằng cái đầu, với bộ não ngày càng lớn hơn theo tầm nhìn xa hơn và cao hơn.</p>
<p>Chế độ cộng sản lại hoàn thành một phép lạ - tôi gọi là phép lạ chứ không là một sự kỳ diệu - là chỉ trong một thế hệ là có vài chục năm đã khiến nhiều người đi bằng hai chân biến thành loài thú bốn cẳng. Đấy là hiện tượng đổi gien. Đám hậu sinh của Pavlov với thử nghiệm rất khoa học về phản xạ của con chó để điều kiện hóa con người lại tự biến thành con vật bốn chân có khả năng đánh hơi rất cao. </p>
<p>Những kẻ bò bốn chân là bọn khuyển ưng khuyển phệ xục xạo vào thế giới của con người bình thường để bảo vệ một chế độ bất thường. Họ là những kẻ suy nghĩ bằng bụng dạ hẹp hòi và được huấn luyện để áp bức người khác qua đủ loại bạo lực. </p>
<p>Trong cuốn sách, Bùi Ngọc Tấn còn cho biết thêm rằng cái loài bốn chân ấy vẫn có kẻ... nối dõi tông đường. Ông đã bị hai thế hệ theo nhau bách hại. Rồi tủm tỉm cười với vẻ hiền hòa cố hữu. Rằng ông có sống đến 120 tuổi đâu để trở thành đối tượng của thế hệ công an đời thứ ba!</p>
<p>Tôi trộm nghĩ rằng thế hệ thứ ba của loài thú bốn chân ấy sẽ sớm thất nghiệp chính là nhờ nhiều tác phẩm có khả năng cảm hóa như của Bùi Ngọc Tấn. Ông không còn ở với chúng ta nữa, nhưng ta nên tự chuẩn bị cho tiến trình "cải tạo ngược". </p>
<p>Là với lòng nhân sẽ giúp cho đám người độc ác kia trở lại trạng thái bình thường, để dân ta được sống bình thường trong tự do như các xã hội văn minh khác. Đọc cuốn sách như một di cảo buồn, tôi vẫn thấy ra niềm hy vọng đó.</p>
<p>Nguyễn-Xuân Nghĩa<br />
Nam California, Ngày 20150207
Nguyễn Xuân Nghĩa  (ngồi) và Bùi Ngọc Tấn

Posted in Hòa Hợp Hòa Giải, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

Vì chính phủ ở Hà Nội từ chối tìm hài cốt các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ đã tạm ngưng viện trợ 1 triệu đô la cho chương trình giúp tìm Bộ Đội Miền Bắc đã mất tích trong chiến tranh

Posted by hoangtran204 trên 02/10/2011

Đảng và nhà cầm quyền Hà nội rất xứng đáng để  ông Webb, một nghị sĩ Mỹ, giảng dạy cho bài học về hòa giải và đạo đức. Đã được người ta khai tâm mở tuệ  như thế mà còn chưa chịu hiểu, nên đành phải phạt mà thôi.

Mỹ ngừng khoản tiền tìm hài cốt tử sĩ của các bộ

đội miền Bắc đã chết trong chiến tranh VN

nguồn BBC

Thứ sáu, 30 tháng 9, 2011

Bộ Ngoại giao Mỹ tạm ngừng khoản chi 1 triệu đôla cho chương trình giúp tìm lính Việt Nam mất tích trong chiến tranh sau khi chính phủ ở Hà Nội từ chối tìm hài cốt lính Việt Nam Cộng Hòa.

Tin này được Thượng Nghị sỹ Jim Webb loan báo hôm 29/09 – ông từng là Thủy quân Lục chiến ở Việt Nam và thường xuyên thăm Việt Nam từ 1991.

Ông nói chương trình bị ngừng “cho đến khi chúng tôi có sự bảo đảm vững chắc rằng chương trình sẽ áp dụng bình đẳng cho những người từng chiến đấu cho mọi bên”.

Hồi tuần trước, Thượng Nghị sỹ Jim Webb đã kêu gọi cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ – USAID – ngừng chương trình.

Ông Webb phản đối việc phân biệt đối xử giữa lính ‘Việt Cộng’ và Việt Nam Cộng hòa

‘Mục tiêu hòa giải’

Vị chủ tịch Ủy ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Mỹ nói trong một thông báo hôm 22/9:

“Việc thực hiện chương trình phải thể hiện sự tôn trọng như nhau đối với tất cả những người đã phục vụ trong quân ngũ và chết trong chiến tranh cũng như mang lại sự an ủi cho những người đã mất người thân yêu trong cuộc chiến lịch sử và thảm khốc.”

“Chương trình hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm tìm kiếm hài cốt của những người lính Việt Nam có thể là cơ hội quý báu để thúc đẩy mục tiêu hòa giải – nhưng chỉ khi nó được thực hiện với sự tôn trọng đúng mực cho tất cả những người đã chiến đấu chứ không phải chỉ đối với một bên này, hay bên kia.”

Thông báo của vị Thượng Nghị sỹ cũng nói một con số không xác định các tử sỹ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa được xác định danh tính trong khi Nghĩa trang Bình An (trước đây là Biên Hòa) đang “trong tình trạng cực kỳ bỏ hoang và đổ nát”.

Nghĩa trang Biên Hòa
Ông Webb nói Nghĩa trang Biên Hòa, nay là Bình An, đang ở trong tình trạng “cực kỳ hoang tàn và đổ nát”

Ông Webb cũng nhắc lại chuyện ông sẽ cố gắng để “khôi phục khu đất thiêng liêng” của nghĩa trang Biên Hòa “để bày tỏ sự tôn trọng những người lính đã ngã xuống trong chiến tranh.

Ông Jim Webb, người có vợ là bà Hong Le Webb, người miền Nam Việt Nam, nói: “Đây là điều quan trọng trong tinh thần hòa giải và đối với quan niệm trung thành và tôn trọng của người Mỹ rằng chúng ta không bao giờ quên những người đã ở bên chúng ta, ngay cả khi chúng ta bước vào tương lai và hợp tác với những người từng chiến đấu chống lại chúng ta.”

Các chuyên gia nói Bấm Nghĩa trang Biên Hòa là “sáng kiến của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu” và hoàn thành năm 1966.

Hồi năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có Bấm quyết định chuyển 58 ha khu đất nghĩa địa Bình An thuộc tỉnh Bình Dương, khi đó do Bộ Quốc phòng quản lý, sang sử dụng vào mục đích dân sự.

Đông đảo độc giả BBC khi đó đã có Bấm bình luận về quyết định này.

Những người tới thăm nghĩa trang gần đây nói các công trình xây dựng và nhà máy hiện bao quanh khu vực nghĩa trang.

***************************************************

Hoa Kỳ ngưng tài trợ dự án MIA dành cho bộ đội Việt Nam

Bill BartelTin The Virginia-PilotHoa Kỳ ngưng tài trợ cho dự án tìm người Việt bị mất tích trong chiến tranhBộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ không tài trợ cho một dự án ở Việt Nam nhằm đi tìm và xác nhận nguồn gốc những người đã chết mất xác trong chiến tranh trước đây cho đến lúc viên chức Hoa Kỳ được bảo đảm là dự án này không chỉ dành riêng cho những người lính đã từng chiến đấu chống lại Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ Jim Webb thông báo hôm qua thứ Năm ngày 29 tháng Chín.”Tôi đã được thông báo là Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã liên lạc với nhà nước Việt Nam, rằng sẽ không có ngân qũy nào trong chương trình USAID được sử dụng để tìm kiếm những người bị mất tích từ cuộc chiến cho đến lúc chúng tôi có được sự cam kết là chương trình này sẽ được áp dụng bình đẳng cho mọi người – bất cứ ai và tất cả các phe – đã từng tham dự trận chiến,” ông Webb nói qua một bản thông báo đã được công bố.
Thượng Nghị Sĩ Jim Webb và vợ, bà Hồng Lê Webb, trong buổi họp báo tại Hà Nội năm 2007 khi ông đến đây lần đầu tiên. Nguồn hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images


“Đây không là một chuyện nhỏ,” ông nói. “Điều này quan trọng vô cùng đối với tinh thần hoà giải, và cũng quan trọng đối với quan niệm trung thành và kính trọng của Hoa Kỳ, là chúng tôi sẽ không bao giờ quên những người đã từng chiến đấu với chúng tôi, ngay cả lúc chúng tôi hướng về tương lai qua việc làm việc chung với những người đã từng chiến đấu chống lại chúng tôi.”

TNS Webb đã yêu cầu ngưng lại số tiền viện trợ 1 triệu đô-la sau khi ông biết được nhà nước Việt Nam đã năng nỗ dùng số tiền tài trợ này để kìm kiếm và xác định 650.000 người bị mất tích hay những người lính đã chết nhưng chưa được xác định hài cốt thuộc Quân đội miền Bắc, hay Việt Cộng, nhưng không thấy nhà nước cộng sản Việt Nam có một nỗ lực nào nhằm tìm kiếm người người lính miền Nam bị mất tích trong chiến tranh của Quân đội Việt Nam Cộng hoà, vốn là đồng minh của Hoa Kỳ.

“Nếu được thi hành với sự kính trọng dành cho những người đã từng chiến đấu và đã chết, thì chương trình hợp tác này giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm tìm kiếm hài cốt những người lính Việt Nam bị mất tích là một cơ hội hợp tác vô giá,” ông Webb nói. “Nhưng sự tìm kiếm hài cốt này phải vinh danh tất cả mọi người đã từng phục vụ và hy sinh trong chiến tranh và giúp làm vơi đi niềm thống khổ cho gia đình họ – những người đã có người thân mất trong chiến tranh trên chiến trường bi thảm và lịch sử này.”

TNS Webb, chủ tịch của tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương Vụ của Ủy ban Quan hệ Quốc tế của Thượng viện Hoa Kỳ, là một cựu chiến binh được nhiều huân chương trong cuộc Chiến tranh Việt Nam trước đây.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) U.S. halts funding of Vietnam MIA project. The Virginia-Pilot, 30 September 2011

*Các bài liên quan

______________________________________________________________________

Giám đốc sở bị tố nhận ‘lót tay’ hơn nửa tỷ đồng

Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Cà Mau bị tố nhận tiền “lót tay” của một nhà thầu xây dựng hơn nửa tỷ đồng. Tỉnh ủy Cà Mau đã lập đoàn kiểm tra để làm rõ.

Trao đổi với VnExpress.net, một lãnh đạo của UBND tỉnh Cà Mau cho biết Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã nhận được báo cáo của đảng viên công tác tại Sở Lao động Thương binh và xã hội tố giám đốc Sở – bà Chung Ngọc Nhãn, được một doanh nghiệp “biếu” hơn nửa tỷ đồng để “chạy” dự án.

Theo báo cáo, Sở Lao động tỉnh Cà Mau làm chủ đầu tư xây dựng công trình nâng cấp Nghĩa trang liệt sĩ huyện Năm Căn giai đoạn hai. Cuối năm 2011, công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Phương Nam do ông Lê Thanh Phương làm giám đốc trúng gói thầu này với trị giá hơn 11 tỷ đồng. Sau đó, ông Phương đã “lót tay” hơn 500 triệu đồng cho bà Nhãn và ông Nguyễn Trung Tâm (Phó phòng Kế hoạch tài chính) cũng nhận 200 triệu đồng từ nhà thầu.

Kèm với báo cáo gửi lãnh đạo tỉnh Cà Mau còn có cuộn băng ghi âm được cho là của ông Phương nói về việc “đi đêm” này.

Trả lời báo Pháp Luật TP HCM, bà Nhãn xác nhận có việc tố cáo và cho biết đã đề nghị Đảng ủy Sở cùng các bộ phận chuyên môn xác minh. Đây là thông tin không chính xác, xúc phạm đến cá nhân bà Nhãn và cả tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau và nhất quyết làm rõ trắng đen việc này.

Theo nữ giám đốc Sở Lao động tỉnh Cà Mau, Sở này đã mời ông Phương lên làm việc và ông này khẳng định không hề có chuyện đưa tiền cho bà Nhãn. Còn việc vì sao lại nói trong băng ghi âm về chuyện đã “lót tay”, ông Phương cho rằng đó chỉ là dự tính. Ông Phương bảo đã trúng thầu khá lâu nhưng chưa được giao mặt bằng thi công, tưởng do mình chưa “biết điều” với chủ đầu tư nên định sẽ “bôi trơn” lãnh đạo Sở. Song, ông này chưa thực hiện.

Tuy nhiên, cũng theo báo Pháp Luật TP HCM, khi làm việc với Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Sở Lao động, ông Nguyễn Trung Tâm thừa nhận đang giữ 200 triệu đồng của ông Phương để trong một gói quà nhưng không dám sử dụng, đợi qua Tết sẽ trả lại.

Ngày 24/2, ông Phạm Minh Quang, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau cho biết, Tỉnh ủy Cà Mau đã chỉ đạo lập đoàn kiểm tra làm rõ tố cáo bà Nhãn và ông Tâm nhận tiền của nhà thầu. Sáng cùng ngày đoàn kiểm tra mới chính thức làm việc nên ông chưa tiết lộ thêm thông tin.

Theo ông Lê Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy Dân chính Đảng tỉnh Cà Mau thì nơi đây cũng đang tiến hành làm rõ nội dung có liên quan đến tiêu cực đối với đảng viên do Đảng ủy Dân chính đảng quản lý.

Thiên Phước

http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2012/02/giam-doc-so-bi-to-nhan-lot-tay-hon-nua-ty-dong-1/

Nhà thầu tố Giám đốc sở nhận hối lộ bị bắt vì ‘vu khống’Giám đốc sở bị tố nhận ‘lót tay’ hơn nửa tỷ đồng

Kỷ luật cán bộ bị tố nhận ‘lót tay’ hơn nửa tỷ đồng

———–

Lời tựa:

Bauxite Việt Nam xin đăng bài viết dưới đây của cộng tác viên quen biết Hà Văn Thịnh, như một một lời bộc bạch riêng tư gửi đến TGM Ngô Quang Kiệt, đồng thời cũng là một tiếng nói tâm tình của cá nhân tác giả với bạn đọc xa gần, để mong được bạn đọc lượng thứ, về một việc làm không phải trước đây của mình. Xin hết sức hoan nghênh thái độ thực sự cầu thị của người đồng nghiệp và cầu mong cho anh mọi điều tốt lành.

Bauxite Việt Nam

Xin Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt tha thứ!

Hôm nay (27.9.2011), đọc – nghe từ ABS, tôi được biết những gì mình viết về TGM ngày nào (đăng trên báo Lao động, nhan đề Đáng rủa sả thay) là một sai lầm  và, ở mức độ nào đó, có thể coi là một tội ác khó có thể biện minh. Tôi muốn cầu xin một sự thứ tha nhưng chắc chắn rằng sự day dứt của lương tâm thì chẳng thể nào nguôi ngoai được…

Qua đây, cũng xin nói cho rõ “vụ” này. Hồi ấy, tôi là cộng tác viên thường xuyên của báo Lao động. Viết với đam mê và trách nhiệm thực sự của nghĩ suy là mình luôn bảo vệ cái đúng, chống lại những điều sai (ấu trĩ, ngây ngô, ngu dốt…; để cho độc giả và quý vị xa gần phán xét, mặc nhiên tôi không phàn nàn hay khiếu nại). Một lần, tôi nhận được điện thoại của ông Tô Quang Phán, Phó TBT (nay là Tổng BT Hà Nội mới), nói rằng Tổng GM Ngô Quang Kiệt tuyên bố cầm hộ chiếu Việt Nam thấy nhục nhã, hãy viết ngay một bài bình luận về sự kiện trên…

Nhận được lệnh, với thông tin 8 chữ, tôi viết liền cho kịp bài báo để mai đăng, sau khi đã đọc lại toàn bộ Kinh Thánh. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu nổi, vì sao chỉ sau có mấy tiếng đồng hồ, vừa đọc Kinh Thánh lại vừa viết ra được bài báo tổng hòa và tận cùng của nỗi đau, sự xấu hổ mà không hề có một thoáng mảy may băn khoăn về chuyện đúng, sai? Xem ra, sự đui dốt, thỏa thuê khó tìm thấy giới hạn.

Bây giờ, tôi biết tôi xứng đáng bị rủa sả bởi những lời tàn tệ. Tôi viết bài này để xin một sự thứ tha, chắc rằng Chúa Nhân Từ sẽ tha thứ cho tôi, coi như đó là một tai nạn của lỗi lầm và xuẩn ngốc; nhưng, những bạn đọc yêu mến sự thật và công lý thì chẳng thế, bao giờ…

Điều còn lại sau lời cầu xin này nó dài lắm và khủng khiếp lắm. Tôi đã gần như mất hết niềm tin bởi những gì mà những người có quyền lực đang gieo rắc các nỗi đau có tên gọi khác nhau nhưng giống nhau về bản chất trên khắp đất nước. Được bốn chục tỷ đồng để bay tà tà rồi ngủ yên trong hai lá đơn từ chức, ai cũng muốn như thế, kể cả tôi. Nếu “lừa đảo” hàng chục tỷ đồng dễ hơn húp cháo thì cái “cơ chế” đó là cơ chế gì? Cả Kế toán trưởng của Cục Điện ảnh và Vinashin đều đào tẩu xong rồi mới nghe thấy phát lệnh truy nã trong khi ai cũng biết, nếu thật sự muốn theo dõi – giữ – bắt những tội phạm cỡ ấy, việc trốn thoát còn khó hơn cả lên giời!…

Tôi biết tin vào ai khi những điều sai hầu như đều có bệ đỡ hiệu quả, rỡ ràng? Tôi đã như một kẻ đui mù thách đấu với Tổng GM Ngô Quang Kiệt chỉ bằng cái sinh tử lệnh có 8 chữ, tức là bằng đúng một nửa của 16 chữ vàng cắt dán! Lỗi lầm và đau xót đang được đo bằng sự xa xót ê chề. Tôi chỉ còn biết sùng kính ngước nhìn lên và nói tới hai chữ: Cầu Xin!

Huế, 28.9.2011.

H.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Posted in Hòa Hợp Hòa Giải | Leave a Comment »