Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy, 2014

►Họp báo kết quả sợ bộ chuyến thăm của báo cáo viên đặc biệt LHQ về tự do tôn giáo và tín ngưỡng (7/2014)

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2014

Họp báo kết quả sợ bộ chuyến thăm của báo cáo viên đặc biệt LHQ về tự do tôn giáo và tín ngưỡng

 

Hà Nộ i- 31-7-2014

 

Photo: Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo tín ngưỡng Heiner Bielefeldt tại Hà Nội ngày 31/7/2014

 

Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo tín ngưỡng Heiner Bielefeldt tại Hà Nội ngày 31/7/2014

 

 

 

Trưa nay, Buổi họp báo của ông Heiner Bielefeldt vừa được bắt đầu lúc 12:00 tại Phòng họp Rose, Trụ sở UNDP Hà Nội, 25-29 phố Phan Bội Châu, Hà Nội. Như đã thông báo, nội dung cuộc họp báo công khai này, ông Heiner sẽ thông báo kết quả sơ bộ chuyến thăm của ông những ngày qua tại Hà Nội, SaiGon, miền Tây.

Cuộc họp chính thức bắt đầuHiện đang có đông đảo những người quan tâm, anh chị em đấu tranh ở Hà Nội, Saigon tham dự.

Có khoảng 100 người tham dự buổi họp báo này. Chúng tôi thấy có sự tham dự của các hãng thông tấn quốc tế như Reuters, các phóng viên của VRNs, Dân Luận. Các đại diện cho các tổ chức xã hội dân sự như Con Đường Việt Nam, Voice… Những người đấu tranh như JB Nguyễn Hữu Vinh, Bạch Hồng Quyền, Nguyễn Hồ Nhật Thành…

Ông Heiner cho biết: “Dự định đi thăm An Giang, Gia Lai và Kon Tum của đoàn không may đã bị gián đoạn từ ngày 28 đến 30/7. Tôi nhận được những thông tin đáng tin cậy là một số cá nhân tôi muốn gặp đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ, cảnh cáo, đe dọa, sách nhiễu hoặc bị công an ngăn cản việc đi lại. Ngay cả những người đã gặp được tôi cũng không tránh khỏi việc bị công an theo dõi hoặc chấn vấn ở một mức độ nhất định. Ngoài ra, việc di chuyển của tôi cũng bị giám sát chặt bởi “Những cán bộ an ninh hoặc công an” mà chúng tôi không được thông báo rõ, đồng thời sự riêng tư và bảo mật của một số cuộc gặp gỡ cũng bị ảnh hưởng. Những việc này là sự vi phạm rõ ràng các điều khoản tham chiếu của bất kỳ chuyến thăm quốc gia nào.”

photo.php_.jpg

Đoạn báo cáo của ông Heiner Bielefeldt do ctv Dân Luận cung cấpÔng Heiner yêu cầu chính phủ Việt Nam đảm bảo an toàn cho những người đã tiếp xúc với ông, với các báo cáo viên. Ông cho rằng việc lợi dụng và lạm dụng Điều 258 (một điều luật mơ hồ, không rõ ràng) trong Bộ Luật Hình sự của Việt Nam để xử tù những người theo tôn giáo khác nhau dẫn đến ảnh hưởng tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Đặc biệt, ông lưu ý: Chưa có một khiếu nại nào thành công khi bị khép vào điều luật 258 này.

Vi phạm lớn nhất của chính quyền là sức ép của họ, không cho người dân tự do lựa chọn tôn giáo, tín ngưỡng mà ép họ phải chọn tôn giáo tín ngưỡng nào đó theo sự sắp đặt.

Anh Nguyễn Hồ Nhật Thành đại diện tổ chức Voice đưa ra câu hỏi với ông Heiner Bielefeldt rằng: các nước ông qua có các cơ quan, ban Tôn giáo như ở Việt Nam không!?

Trả lời câu hỏi này, Theo blogger JB Nguyễn Hữu Vinh tường thuật lại, ông đặc phái viên cho biết đại ý như sau: Cách tiếp cận tôn giáo mỗi đảng phái, mỗi đất nước có một cách khác nhau. Có những nước có bộ phận phụ trách tôn giáo để liên kết hoặc giải quyết các mối quan hệ tôn giáo giữa các nhóm, các tôn giáo khác, có những nước không có. Khi không có, thì việc liên hệ giữa các tôn giáo tự họ giải quyết.

Được biết trong buổi họp báo có đại diện của Bộ ngoại giao Việt Nam tuy nhiên người này không nêu rõ họ tên và chức vụ của mình. Đại diện Bộ ngoại giao giải thích rằng: ” Đây chắc chắn là một sự hiểu lầm của ông vì việc ngăn chặn đi lại đó là để bảo vệ an ninh và an toàn cho ông, Năm báo cáo viên trong bốn năm qua tới thăm Việt Nam không hề có người nào nói như ông! Và chúng tôi cam đoan rằng, tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng”

Đại diện Bộ ngoại giao giấu tên: áo xanh đeo thẻ giữa hình luôn lẩn tránh máy chụp hình. Ảnh do CTV Dân Luận cung cấpCuộc họp kết thúc lúc 13h30 phút.

Photo: Nguyễn Hồ Nhật Thành đang nói về tự do tôn giáo tín ngưỡng và việc anh bị chặn không được gặp ông Heiner tại Saigon ngày 25/07 vừa qua.</p><br />
<p>Trực tiếp tại Con Đường Việt Nam

 

Nguyễn Hồ Nhật Thành đang nói về tự do tôn giáo tín ngưỡng và việc anh bị chặn không được gặp ông Heiner tại Saigon ngày 25/07 vừa qua.

Chị Thanh Nghiên được anh David đsq Úc giải cứu đưa về nhà thờ an toàn rồi,
còn con đường về Hải Phòng thì chưa biết sao
Photo: Chị Thanh Nghiên được anh David đsq Úc giải cứu đưa về nhà thờ an toàn rồi, còn con đường về Hải Phòng thì chưa biết sao :)
Gặp ông Đại sứ Mỹ David B. Shear trong buổi hội thảo” Truyền thông phi nhà nước” sáng nay.
Photo: Gặp ông Đại sứ Mỹ David B. Shear trong buổi hội thảo" Truyền thông phi nhà nước" sáng nay.

 

nguồn:  Con Đường Việt Nam  và danluan.org

Advertisements

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►Thư ngỏ của một số đảng viên Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 29/07/2014

Nguồn: anhbasam.wordpress.com

28-7-2014

THƯ NGỎ

 Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay,Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.

Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua.

Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị.

Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây:

1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị.

Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.

Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi.

Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!

______________________

DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ GỬI BCH TW VÀ TOÀN THỂ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội.
  2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội.
  6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội.
  9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội.
  10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội.
  11. Hà Tuân Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội.
  12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội.
  13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội.
  14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng.
  15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam.
  16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội.
  17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội.
  18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
  19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An.
  20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh.
  21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội.
  22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
  24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh.
  25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội
  26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội.
  28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký‎ Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
  30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư k‎ý của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
  31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh.
  33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội.
  35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội.
  36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
  38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội.
  39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội.
  41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
  42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh.
  43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh.
  44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, TP. Huế.
  45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
  47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội.
  49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh.
  50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh.
  51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế.
  52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội.
  53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh.
  54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh.
  55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
  56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
  57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1991, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1996, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội.

_____________________

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng qua lăng kính ba phán quyết Tòa án Quốc tế

Posted by hoangtran204 trên 27/07/2014

Tác dụng pháp lý của thư Phạm Văn Đồng qua lăng kính ba phán quyết Tòa án Quốc tế

.
Phạm Quang Tuấn
.

26-7-2014

 

Gần đây một số tác giả, trong đó có cả những luật sư, đã phân tích giá trị pháp lý của thư (hoặc công hàm hay công thư [1]) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1958) dựa theo các nguyên tắc pháp lý quốc tế. Dĩ nhiên, biết những nguyên tắc luật pháp nào phải áp dụng là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng chẳng kém là phải biết Tòa diễn giải và áp dụng những nguyên tắc đó ra sao. Bài này duyệt qua phán quyết của Tòa án Quốc tế về ba vụ án tranh chấp chủ quyền: đảo Pedra Branca, Đông Greenland và đền Preah Vihear.

Trong vụ Pedra Branca có một lá thư từ một viên Đổng Lý tương tự như thư Phạm Văn Đồng. Vụ Đông Greenland không có văn kiện chính thức mà chỉ có một lời nói từ một vị ngoại trưởng. Vụ Preah Vihear không có văn kiện hay lời nói nào từ bỏ chủ quyền của mình hay công nhận chủ quyền của nước khác. Cả ba việc này đều đóng một phần quan trọng đưa đến việc Tòa xử mất chủ quyền. Từ đó, ta sẽ có thể suy ra vài điều về tác dụng của thư Phạm Văn Đồng nếu chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa được đem ra kiện trước tòa. Người nào không có thì giờ đọc hết có thể đi thẳng đến câu cuối (kết luận 14) bài này.

Lưu ý:

Vài lý lẽ trong bài này có thể khiến tác giả bị gọi là “thân Tàu” hay “Việt gian”. Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người kiểm điểm, mà là người gây ra lỗ thủng.

Phần I. Ý định trong thư Phạm Văn Đồng

Như ta sẽ thấy trong các phần sau, ý định (intention) diễn tả trong một lá thư hay văn kiện chiếm một vài trò chính yếu trong sự phân xử của Tòa án Quốc tế. Vì có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của thư Phạm Văn Đồng nên cần xem lại thư này nói gì. Nguyên văn thư Phạm Văn Đồng như sau ([A] và [B] do tác giả bài này đánh số thêm để tiện việc bàn luận):

Kính gửi đồng chí Chu Ân-lai,

Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa tại Bắc Kinh.

Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

[A] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

[B] Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

PHẠM VĂN ĐỒNG

Thủ tướng Chính phủ

nước Việt-nam dân chủ cộng hoà

Thư này “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố” ngày 4/9/1958 của Trung Quốc mà nội dung như sau (theo bản tiếng Anh của bộ Ngoại giao Mỹ viện dẫn tạp chí Peking Review [2]):

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, gồm Trung Quốc đất liền và các đảo dọc bờ, Ðài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Penghu và tất cả các đảo khác trên biển cả thuộc Trung Quốc.

(2) Đường cơ sở của lãnh hải thuộc đất liền Trung Quốc và các đảo dọc bờ biển là các đường thẳng nối liền các điểm cơ sở trên bờ và các đảo ngoại biên dọc bờ biển [offshore outlying islands]; Vùng biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là lãnh hải của Trung Quốc. Vùng biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong đường cơ sở, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongding, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được đi vào hải phận Trung Quốc và vùng trời trên hải phận này.

(4) Những nguyên tắc trong đoạn (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Penghu hiện còn bị chiếm đóng bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Đây là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, các nước ngoài không được xen vào.

Thư Phạm Văn Đồng là một lá thư chính thức (Công Thư hay Công Hàm), ký tên và đóng dấu bởi thủ tướng một quốc gia, người đứng đầu chính phủ, nhân danh chính phủ để nói và đầy đủ tư cách để đại diện quốc gia của mình.

Bức thư gồm hai câu chính: câu đầu (A) bày tỏ lập trường, thái độ: tán thành bản tuyên bố của Trung Quốc. Câu sau (B) nói về hành động cụ thể: chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.

Nhiều tác giả và phát ngôn viên Việt Nam (chẳng hạn [3]) cho rằng vì thư Phạm Văn Đồng không viết rõ những chữ “Hoàng Sa” và “Trường Sa” nên không thể nói là đã chấp nhận chủ quyền Trung Quốc ở hai quần đảo. Họ cho rằng bản tuyên bố nói về bề rộng 12 hải lý là ý chính, những ý khác (kể cả hải phận quanh Hoàng Sa – Trường Sa) chỉ là ý phụ, thư Phạm Văn Đồng chỉ tán thành ý chính này chứ không tán thành những ý phụ. Những người sính ngôn ngữ luật gọi đây là “nguyên tắc bốn góc”: chỉ được hiểu từ những gì được viết ra trong văn bản, không được suy gì thêm.

Có người còn viện dẫn nguyên tắc “phải giải thích văn bản theo cách nào ít hại nhất cho tác giả” trong luật quốc tế. Tuy nhiên, dù giải thích “trong bốn góc” và “ít hại nhất” thì cũng vẫn phải hợp lý và tuân theo những nguyên tắc logic phổ quát và các định luật ngôn ngữ căn bản. Chẳng hạn, trong vụ Pedra Branca ta sẽ thấy Tòa hiểu câu “[chúng tôi] không đòi hỏi sở hữu [đảo này]” là “[chúng tôi] không đòi hỏi chủ quyền [đảo này]”, dù theo luật pháp thì không có sở hữu chưa chắc là không có chủ quyền.

Thử áp dụng nguyên tắc “trong bốn góc”, ta đọc thấy rằng ông Phạm Văn Đồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. Lưu ý chữ “bản”, nói về cả văn bản, chứ không phải chỉ nói về một trong những tuyên bố trong văn bản: mặc nhiên là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành toàn bộ nội dung của bản tuyên bố đó. Nếu chỉ tán thành một phần và không tán thành phần khác thì không thể nói là tán thành bản tuyên bố được. Bản tuyên bố nói trong đoạn 4 rằng lãnh hải Trung Quốc bọc quanh Hoàng sa và Trường sa, tức là ông Phạm Văn Đồng đã tán thành điều đó, không cần phải nhắc lại trong thư của mình.

Lấy ví dụ, khi tòa án hỏi nhân chứng: “Ông/bà có hứa sẽ nói sự thật, tất cả sự thật và không gì khác ngoài sự thật?” (Do you swear to say the truth, the whole truth and nothing but the truth?), nhân chứng chỉ cần trả lời “I do” là đủ hiểu họ hứa tất cả những điều được hỏi, chứ không thể hiểu là họ chỉ hứa phần 1 nhưng không hứa phần 2 hay 3, v.v., và chắc chắn là không thể cãi rằng “tôi chỉ nói ‘I do’ chứ tôi đâu có hứa gì đâu?”. Hoặc trong thủ tục kết hôn, khi được hỏi “Anh/chị có hứa/thề sẽ…” (theo sau là nhiều lời hứa) cô dâu chú rể chỉ cần trả lời “Có” (I do) chứ không cần phải nhắc lại tất cả các lời hứa người hành lễ vừa đọc.

Có người cho rằng câu B trong thư Phạm Văn Đồng làm hẹp lại nghĩa của câu A: câu A tán thành chung chung, câu B mới viết cụ thể là tôn trọng hải phận 12 hải lý. Khi mà nói về một điều tức là loại ra hay bác bỏ những điều không nói. Lý luận đó chỉ có thể đúng nếu không có đoạn “tán thành bản tuyên bố” trong câu A, vì không thể vừa tán thành một bản văn vừa không tán thành nhiều điều trong bản văn đó. Hơn nữa, câu B không phải là làm rõ nghĩa câu A như nhiều người lý luận, mà nói về một hành động cụ thể (chỉ thị các cơ quan…) phát sinh từ sự tán thành trong câu A.

Có người cho rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa – Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo.

Có người [4] viết rằng, dựa theo “nguyên tắc thực lòng” (principle of good faith) trong luật quốc tế, vì chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là những người rất yêu nước, đã từng hy sinh xương máu để bảo vệ chủ quyền đất nước nên họ không thể thực lòng muốn nhường lãnh thổ cho nước khác, do đó Tòa Án Quốc Tế sẽ không nhìn nhận ý định đó trong thư Phạm Văn Đồng. Diễn giải “thực lòng” theo kiểu này thì thật kỳ quặc, vì như vậy mỗi nước sẽ có quyền tha hồ tuyên bố, ký hiệp ước lừa bịp các nước khác, rồi tuyên bố rằng tôi không “thực lòng” (in good faith) khi viết hay ký những văn kiện đó và do đó chúng không ràng buộc tôi được! Diễn giải kiểu đó thì “nguyên tắc thực lòng” sẽ phải gọi là “nguyên tắc dối trá” (principle of bad faith)!

Thực ra, sự “thực lòng” trong giao dịch quốc tế phải hiểu là người viết hay ký thực lòng hiểu ý nghĩa của cái mình đang viết hay đang ký như thế nào, và sẽ thực lòng thi hành những gì đã hứa, chứ không có nghĩa là khi mình nói dối, nói mà “không thực lòng”, thì không sợ sẽ bị ràng buộc. Nguyên tắc này cần thiết để diễn dịch những hiệp ước, văn kiện trong đó có thể có sự hiểu lầm do khác biệt văn hóa chẳng hạn, và để đảm bảo là mỗi nước thực tâm thi hành những điều đã hứa [5].

Nếu ông Phạm Văn Đồng thực lòng chỉ tán thành việc cho bề rộng lãnh hải Trung Quốc rộng 12 hải lý thì ông vẫn có thể bỏ đoạn A đi, chỉ viết rằng: “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý ấy”. Như vậy chẳng đủ biểu lộ sự đoàn kết với nước anh em hay sao? (“Tôn trọng” chưa chắc đã là “tán thành”, tôn trọng nói về hành xử, tán thành nói về thái độ, tâm ý.)

Nói tóm lại, khó chối cãi rằng trong thư Phạm Văn Đồng, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tán thành hay chấp nhận Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa – Trường Sa. Ít nhất, thư này không phản ứng gì về câu “áp dụng cho … quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Nam Sa [Trường Sa]” trong bản tuyên bố của Trung Quốc: ta sẽ thấy là điều này rất quan trọng.

Phần II. Vụ án Pedra Branca

Tóm tắt vụ án

Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge là những đảo nhỏ nằm trong eo biển Malacca giữa Singapore và Malaysia. Thế kỷ 19 trở về trước những đảo này thuộc về vương quốc Johor, nay là một bang của Malaysia. Năm 1844 Johor cho phép chính quyền thuộc địa Anh xây và sau đó liên tục cai quản một hải đăng trên Pedra Branca. Năm 1979 Malaysia (quốc gia kế thừa Johor) công bố một bản đồ vẽ nhóm đảo này nằm trong lãnh hải của mình. Singapore (quốc gia kế thừa chính quyền thuộc địa Anh) phản đối. Hai nước đưa ra Tòa Án Quốc Tế phân xử năm 2003. Tòa xử là Pedra Branca thuộc về Singapore, Middle Rocks thuộc về Malaysia, còn South Ledge là đảo chìm khi nước lên, nên theo luật biển chủ quyền sẽ tùy thuộc nằm trong lãnh hải của nước nào (lãnh hải khu này chưa phân định xong) [6, 7].

Một sự kiện nổi bật trong quá trình này xảy ra năm 1953. Năm đó, chính quyền thuộc địa Anh viết thư cho Johor yêu cầu làm rõ tình trạng pháp lý của Pedra Branca. Quyền Đổng lý Tiểu bang (Acting State Secretary) Johor viết thư trả lời. Vì đáp thư Johor được tòa coi là có ý nghĩa rất quan trọng trong vụ án này, và có nhiều điểm tương đồng với thư Phạm Văn Đồng, nên cần biết rõ nội dung của nó. Nguyên văn lá thư như sau (đoạn 196 trong [6]):

“I have the honour to refer to your letter…dated 12th June 1953, addressed to the British Adviser, Johore, on the question of the status of Pedra Branca Rock some 40 miles from Singapore and to inform you that the Johore Government does not claim ownership of Pedra Branca.”

dịch:

“Tôi xin trân trọng đề cập đến thư của ngài ngày 12 tháng 6 năm 1953, gửi cho Cố vấn Anh, Johore, về tình trạng của Pedra Branca cách Singapore khoảng 40 dặm và xin thông báo rằng Chính phủ Johore không đòi quyền sở hữu Pedra Branca.”

Những tiêu chuẩn pháp lý được Tòa áp dụng

Tòa đã xác định những tiêu chuẩn pháp lý được áp dụng như sau (“đoạn xxx” chỉ những đoạn có số thứ tự trong phán quyết của Tòa [6]):

  • Muốn kết luận là đã có sự thay đổi chủ quyền thì cần có những bằng cớ rõ rệt, không thể nghi ngờ, căn cứ vào cách hành xử hai bên và những sự kiện liên hệ (đoạn 122).

(122. Critical for the Court’s assessment of the conduct of the Parties is the central importance in international law and relations of State sovereignty over territory and of the stability and certainty of that sovereignty. Because of that, any passing of sovereignty over territory on the basis of the conduct of the Parties, as set out above, must be manifested clearly and without any doubt by that conduct and the relevant facts. That is especially so if what may be involved, in the case of one of the Parties, is in effect the abandonment of sovereignty over part of its territory.)

  • Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức (chẳng hạn, một hiệp ước chuyển nhượng chủ quyền), thậm chí không cần hai bên nói ra (tacit), mà tập trung vào ý định (intention) của hai bên. Sự thay đổi chủ quyền có thể suy diễn từ cách hành xử của hai bên.

(120. Any passing of sovereignty might be by way of agreement between the two States in question. Such an agreement might take the form of a treaty,[…] The agreement might instead be tacit and arise from the conduct of the Parties. International law does not, in this matter, impose any particular form. Rather it places its emphasis on the parties’ intentions (cf. e.g. Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Preliminary Objections, I.C.J. Reports 1961, pp. 17, 31).)

  • Nếu một nước không phản ứng khi cần thiết, chẳng hạn khi nước khác khẳng định chủ quyền trên vùng đất của mình, thì chủ quyền có thể coi là đã chuyển qua nước kia. Hành xử này gọi là sự đồng ý hay chấp nhận ngầm (acquiescence).

(121. Under certain circumstances, sovereignty over territory might pass as a result of the failure of the State which has sovereignty to respond to conduct à titre de souverain of the other State or, as Judge Huber put it in the Island of Palmas case, to concrete manifestations of the display of territorial sovereignty by the other State (Island of Palmas Case (Netherlands/United States of America), Award of 4 April 1928, RIAA, Vol. II, (1949) p. 839). Such manifestations of the display of sovereignty may call for a response if they are not to be opposable to the State in question. The absence of reaction may well amount to acquiescence. The concept of acquiescence “is equivalent to tacit recognition manifested by unilateral conduct which the other party may interpret as consent…” (Delimitation of the Maritime Boundary in the Gulf of Maine Area (Canada/United States of America), Judgment, I.C.J. Reports 1984, p. 305, para. 130). That is to say, silence may also speak, but only if the conduct of the other State calls for a response.)

Tóm tắt lý luận và phán quyết của Tòa

Để phân xử chủ quyền, Tòa đã xem xét quá trình liên quan đến chủ quyền trong từng giai đoạn lịch sử:

(i) Thời kỳ 1844 trở về trước: Sau khi xem xét những bằng chứng lịch sử, Tòa kết luận rằng ở thời điểm 1844, Pedra Branca và Middle Rocks thuộc về Johor (nay là một tiểu bang của Malaysia).

(ii) Trong thời gian 1844-1852, Johor đã cho phép Anh xây hải đăng trên Pedra Branca. Tòa không kết luận gì về sự kiện này, và cho rằng việc này không có nghĩa là Johor từ bỏ chủ quyền.

(iii) Từ 1852 tới 1952, Johor không có động thái nào khẳng định chủ quyền trên các đảo liên hệ.

(iv) Năm 1953, để trả lời một lá thư từ Đổng Lý Thuộc Địa (Colonial Secretary) Singapore hỏi về chủ quyền Pedra Branca, quyền Đổng Lý Tiểu Bang (Acting State Secretary) Johor viết lá đáp thư như đã nói, khẳng định là Johor “không sở hữu” Pedra Branca. Tòa viết trong phần Kết Luận rằng rất lá thư này “có ý nghĩa lớn” (“has major significance” đoạn 275) và kết luận rằng ở thời điểm 1953 Johor đã hiểu (understood), tức là đã chấp nhận, rằng họ không còn chủ quyền trên Pedra Branca (đoạn 223).

(v) Trong khoảng thời gian 1953-1980 Singapore đã nhiều lần khẳng định chủ quyền trên Pedra Branca nhưng Johor/Malaysia không phản ứng. Không những thế đã có những tài liệu và bản đồ Malaysia cho thấy rằng Pedra Branca thuộc Singapore.

Căn cứ vào quá trình trên, Tòa kết luận rằng vị trí hai bên đã dần dà “tiến hóa hội tụ” (convergent evolution) về một quan điểm chung: chủ quyền Pedra Branca thuộc Singapore. Tuy nhiên Middle Rocks được cho là (vẫn) thuộc về Malaysia, vì không có một quá trình “tiến hóa hội tụ” tương tự.

Có thể tóm tắt phán quyết của Tòa như sau: Johor/Malasia đã mất chủ quyền Pedra Branca vì cách hành xử của họ trong suốt nhiều năm cho thấy rằng họ không còn coi đảo này thuộc về họ.

Nhận xét về phán quyết Pedra Branca

  • Tuy đòi hỏi bằng chứng rõ rệt, không thể nghi ngờ được cho việc thay đổi chủ quyền, nhưng Tòa coi rằng hình thức của bằng chứng (chẳng hạn hiệp ước chính thức) không quan trọng, mà quan trọng là ý định (intention hay understanding) của hai bên, thông qua cách hành xử.
  • Tòa đã xử cho Singapore được chủ quyền Pedra Branca, mặc dù ở thời điểm 1844 chủ quyền thuộc Johor (Malaysia) và sau đó không hề có hiệp ước nào chính thức chuyển nhượng chủ quyền.
  • Tòa không căn cứ vào một văn kiện hay biến cố nào duy nhất, mà căn cứ vào một quá trình theo đó quan điểm của hai bên dần dần thay đổi theo cùng một hướng: sự thụ động của Johor/Malaysia từ 1844 tới 1952, đáp thư Johor 1953, sự thụ động của Malaysia khi Singapore thi hành chủ quyền trong thời gian 1953-1980.
  • Tuy nhiên, tòa coi đáp thư Johor (1953) là “có ý nghĩa lớn” (has major significance) bởi vì nó cho thấy rằng ở thời điểm đó, Johor không còn coi Pedra Branca là của mình nữa.
  • Để ý là Tòa viết (đoạn 222) rằng trong thư này chữ “sở hữu” – ownership – phải hiểu là “chủ quyền” – sovereignty, mặc dù Malaysia đã yêu cầu Tòa phân biệt hai khái niệm đó (đoạn 198): ta thấy là nguyên tắc diễn giải “ít hại nhất” hay “trong bốn góc” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý.
  • Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền (đoạn 226), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì nó chỉ được viết để trả lời một câu hỏi, nên không có tác dụng quyết định về mặt pháp lý (conclusive legal effect)[8].
  • Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor gây ra estoppel (đoạn 227), nhưng tòa không chấp nhận (đoạn 228) vì thư đó không hội đủ các điều kiện cho estoppel, đặc biệt là nó đã không khiến cho Singapore làm gì thiệt hại cho mình. [9].
  • Singapore thỉnh nguyện Tòa rằng đáp thư Johor là một hành động đơn phương có tính cách ràng buộc (binding unilateral undertaking) (đoạn 228), nhưng Tòa không đồng ý (đoạn 229) vì đáp thư Johor không viết trong bối cảnh Anh tuyên bố chủ quyền trên Pedra Branca hay đang có tranh chấp, mà chỉ là để trả lời một câu hỏi [8].
  • Tuy ba thỉnh nguyện trên của Singapore bị bác, nhưng điều đó không thay đổi kết quả tối hậu: Malaysia vẫn thua kiện.

Phần III. Vụ án Đông Greenland

Tóm tắt vụ án

Đảo Greenland được người Na Uy khám phá và định cư từ khoảng thế kỷ 10-11. Từ 1380 tới 1814 Na Uy là một phần của Đan Mạch. Đan Mạch đã kiểm soát Greenland và chủ quyền của Đan Mạch được một số nước khác ngầm công nhận (acquiesce). Tuy nhiên, những cơ sở của Đan Mạch đều nằm ở Tây Greenland và do đó Na Uy khi đã độc lập cho rằng Đan Mạch không có chủ quyền ở Đông Greenland. Sau nhiều thương nghị không có kết quả, năm 1931 Đan Mạch đem vụ này ra Tòa Công Lý Quốc Tế Thường Trực (Permanent Court of International Justice), tiền thân của Tòa Án Quốc Tế. Năm 1933 Tòa xử Đan Mạch được chủ quyền toàn đảo Greenland [10].

Câu trả lời của Ngoại trưởng Ihlen

Bài này không đi vào chi tiết vụ án mà chỉ nói về một sự kiện quan trọng mà Tòa cho là có tính cách quyết định. Ngày 14/7/1919 trong một cuộc gặp mặt giữa Ngoại Trưởng Đan Mạch và Ngoại Trưởng Na Uy, Ngoại Trưởng Đan Mạch nói rằng Đan Mạch sắp yêu cầu các nước công nhận chủ quyền Đan Mạch trên toàn thể Greenland, và hy vọng việc này sẽ không gặp khó khăn từ phía Na Uy. Ngoại Trưởng Na Uy, ông Ihlen, nói rằng sẽ xem xét vấn đề, và ngày 22/7, trong một cuộc gặp mặt khác, Ihlen nói rằng Na Uy sẽ không gây khó dễ (“ne fera pas de difficultés”) về vấn đề này. Câu nói này được chính Ngoại Trưởng Ihlen ghi nhận trong một biên bản, mà Tòa dịch từ tiếng Pháp như sau:

“The Danish Government has for some years past been anxious to obtain the recognition of all the interested Powers of Denmark’s sovereignty over the whole of Greenland, and it proposes to place this question before the above-mentioned Committee at the same time. During the negotiations with the U.S.A. over the cession of the Danish West Indies, the Danish Government raised this question in so far as concerns recognition by the Government of the U.S.A., and it succeeded in inducing the latter to agree that, concurrently with the conclusion of a convention regarding the cession of the said islands, it would make a declaration to the effect that the Government of the U.S.A. would not object to the Danish Government extending their political and economic interests to the whole of Greenland.

The Danish Government is confident (he added) that the Norwegian Government will not make any difficulties in the settlement of this question.

I replied that the question would be examined.

14/7 – 19 Ih.”

“II. To-day I informed the Danish Minister that the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question.

22/7 – 19 Ih.”

Tòa nhận xét về câu trả lời của Ihlen như sau (các đoạn đánh số là từ phán quyết quả Tòa [10]):

  • Câu trả lời của Ihlen không có nghĩa là Ihlen công nhận Đan Mạch có chủ quyền Đông Greenland (tức là Ihlen có thể hiểu rằng ở thời điểm đó, Đan Mạch chưa coi là mình có chủ quyền Đông Greenland nhưng đang dự định mở rộng chủ quyền sang đó) (đoạn 188).
  • Tuy nhiên câu trả lời của Ihlen là một lời hứa có tính cách ràng buộc Na Uy, bởi nó xuất phát từ một ngoại trưởng, đứng trên cương vị đại diện nước mình để trả lời đại diện ngoại giao một nước khác, về một vấn đề thuộc thẩm quyền của ông ta. Tòa nhấn mạnh là kết luận này không thể nào chối cãi được (beyond dispute) (đoạn 192).
  • Tòa coi tuyên bố của Ihlen là vô điều kiện và có tính cách quyết định (definitive) (đoạn 195).
  • Do đó, Na Uy không được phản đối hay tranh dành (contest) chủ quyền của Đan Mạch ở Đông Greenland, và dĩ nhiên không được chiếm đóng phần đất nào ở Greenland (đoạn 202).

Nhận xét về phán quyết của Tòa

  • Chỉ một lời nói (có biên bản) của một người có thẩm quyền đại diện quốc gia cũng có thể ràng buộc quốc gia đó về vấn đề chủ quyền. Điều này minh chứng rõ nguyên tắc “Luật pháp quốc tế không nhấn mạnh vào hình thức” mà ta đã thấy ở Phần II.
  • Điều này cũng cho thấy là quan niệm “mọi sự thay đổi chủ quyền phải do quốc hội phê duyệt” là sai lầm. Quan niệm này đôi khi thấy trong các bài báo Việt Nam.
  • Điều này cũng cho thấy là những bàn cãi trong cộng đồng và truyền thông tiếng Việt về gọi thư Phạm Văn Đồng là công hàm hay công thư là hoàn toàn vô bổ. Dù gọi là gì đi nữa thì nó cũng đã được ký tên và đóng dấu bởi một thủ tướng, người đầy đủ thẩm quyền đại diện chính phủ, và tuyên bố lập trường của chính phủ.

Phần IV. Vụ án đền Preah Vihear

Tóm tắt vụ án

Preah Vihear là một ngôi đền cổ nằm sát biên giới Thái Lan-Cambodia. Đền này xây trên đỉnh một vách đá, cũng là đường phân thủy, chạy đại khái theo hướng đông-tây, nhìn về phía nam (vùng thấp) là Cambodia, nhìn về phía bắc (vùng cao) là Thái Lan.

Năm 1904, Thái Lan và Pháp (đại diện thuộc địa Cambodia) ký một hiệp ước về biên giới, theo đó thì sẽ dùng đường phân thủy làm biên giới ở khu vực này. Hai nước thành lập một ủy ban liên hợp để xác định biên giới. Áp dụng nguyên tắc đường phân thủy thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Tuy nhiên, năm 1907 sở địa đồ Pháp trình ủy ban liên hợp biên giới một địa đồ theo đó thì đường biên giới vẽ chệch về phía bắc đường phân thủy, khiến Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia. Việc đó gây tranh chấp và được đưa ra phân xử tại Tòa án Quốc tế năm 1962. Tòa xử cho chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia [11].

Lý lẽ của Thái Lan

Cambodia chủ yếu dựa vào bản đồ 1907 để chứng tỏ chủ quyền của mình. Những lý lẽ chính của Thái Lan là:

1. Hai nước đã ký hiệp ước thỏa thuận nguyên tắc dùng đường phân thủy làm biên giới, theo đó thì Preah Vihear thuộc Thái Lan. Bản đồ 1907 là do Pháp vẽ và công bố, Thái Lan không dự phần, và đã vẽ sai vì không theo đúng đường phân thủy. Không có văn kiện chính thức nào nói rằng bản đồ này được ủy ban liên hợp 1904 chấp nhận.

2. Thái Lan đã liên tục thi hành chủ quyền ở đền Preah Vihear bằng cách chiếm đóng, quản lý.

Phán quyết của Tòa

Tòa chấp nhận rằng bản đồ 1907 “không có tính cách ràng buộc” ([11], trang 19). Tuy nhiên, nguyên tắc dùng đường phân thủy trong hiệp định biên giới 1904 cũng không ràng buộc nếu cả hai bên thỏa thuận không áp dụng nó trong trường hợp nào đó (“it was certainly within the power of the Governments to adopt such departures”) ([11], trang 20). Vấn đề là có sự thỏa thuận này không ở Preah Vihear, và điều này tùy thuộc vào ủy ban liên hợp 1904.

Tòa nhận xét rằng:

  • Bản đồ 1907 đã được trình cho mọi thành viên ủy ban liên hợp 1904 và công bố rất trọng thể, gửi cho nhiều sứ quán Thái Lan và nhiều cơ quan quốc tế. Tuy nhiên, không có lời phản đối nào từ Thái Lan. Tòa cho rằng do đó Thái Lan đã đồng ý ngầm (acquiesce).
  • Thái Lan nói rằng chỉ những viên chức thấp của họ thấy bản đồ 1907. Tòa cho rằng đó là lỗi của Thái Lan, nước này phải chịu hậu quả. Hơn nữa, sự sai biệt giữa đường biên giới và đường phân thủy quá rõ rệt nên không thể viện cớ lầm lẫn ([11], trang 24).
  • Năm 1934-35, Thái Lan tự làm bản đồ lấy và nhận thấy sự sai biệt, nhưng vẫn không nói gì.
  • Năm 1937, Thái Lan vẽ một bản đồ cho thấy Preah Vihear nằm trong lãnh thổ Cambodia.
  • Năm 1947 Thái Lan và Pháp thương nghị ở Washington để hòa giải về các vấn đề biên giới, nhưng Thái Lan không đưa ra vấn đề Preah Vihear.
  • Chuyến viếng thăm đền của bộ trưởng nội vụ Damrong năm 1930 như là khách của Pháp được coi là đặc biệt quan trọng. Năm 1930, một công sứ Pháp tại Cambodia lấy tư cách “chủ nhà” mời Hoàng thân Damrong, bộ trưởng nội vụ Thái Lan, tới thăm Preah Vihear và trương cờ Pháp tại đó. Ông này tới thăm mà không nói gì để khẳng định chủ quyền của Thái Lan. Tòa viết như sau: “Khó có thể tưởng tượng một sự khẳng định chủ quyền rõ ràng hơn thế từ phía Pháp. Việc đó đòi hỏi một phản ứng. Thái Lan đã không làm gì”, và việc đó cho thấy có vẻ Thái Lan đã “ngầm công nhận” (tacit recognition) chủ quyền của Cambodia trên Preah Vihear.

(When the Prince arrived at Preah Vihear, he was officially received there by the French Resident for the adjoining Cambodian province, on behalf of the Resident Superior, with the French flag flying. The Prince could not possibly have failed to see the implications of a reception of this character. A clearer affirmation of title on the French Indo-Chinese side can scarcely be imagined. It demanded a reaction. Thailand did nothing. Furthermore, when Prince Damrong on his return to Bangkok sent the French Resident some photographs of the occasion, he used language which seems to admit that France, through her Resident, had acted as the host country. The explanations regarding Prince Damrong’s visit given on behalf of Thailand have not been found convincing by the Court. Looking at the incident as a whole, it appears to have amounted to a tacit recognition by Siam of the sovereignty of Cambodia (under French Protectorate) over Preah Vihear, through a failure to react in any way, on an occasion that called for a reaction in order to affirm or preserve title in the face of an obvious rival claim.)

  • Về việc Thái Lan đã chiếm đóng hay quản lý Preah Vihear, Tòa cho là những hành động này thường là do chính quyền địa phương, và không đủ để triệt tiêu (cancel out) lối hành xử im lặng của chính quyền trung ương.
  • Năm 1949, Pháp viết thư cho Thái Lan yêu cầu rút lính gác Thái khỏi đền, nhưng Thái Lan không trả lời.
  • Năm 1954 Cambodia (mới độc lập) gửi một lá thư tương tự, nhưng Thái Lan không trả lời.

Vì những lý do trên Tòa phán quyết với đa số 9/3 rằng chủ quyền Preah Vihear thuộc về Cambodia.

Nhận xét về phán quyết Preah Vihear

  • Thái Lan và Pháp (đại diện Cambodia) đã ký hiệp ước biên giới ghi rõ là đường biên giới đi theo đường phân thủy, và theo điều khoản đó thì Preah Vihear phải thuộc về Thái Lan.
  • Thái Lan không hề ký một hiệp ước hay có một tuyên bố đơn phương nào từ bỏ chủ quyền Preah Vihear.
  • Tuy nhiên, dùng nguyên tắc acquiescence (đồng ý ngầm), Tòa đã cho rằng Thái Lan không có chủ quyền vì đã nhiều lần không phản ứng trước những hành động hay tài liệu có thể hiểu là khẳng định chủ quyền của Pháp hay Cambodia.
  • Tòa cho rằng hành động chiếm đóng hay quản lý của Thái Lan không đủ để triệt tiêu thái độ im lặng, ngầm đồng ý của nước này khi cần phải có phản ứng.

KẾT LUẬN

1. Về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, Tòa Án Quốc Tế dựa vào nội dung và ý định trong các văn kiện, cũng như vào các hành động và sự kiện, hơn là vào hình thức văn kiện.

2. “Ý định” phải hiểu là ý định diễn tả trong văn kiện, chứ không phải ý định ngầm của kẻ muốn dấu diếm hay ngần ngại thổ lộ ý định thật như có người đã giải thích.

3. Những nguyên tắc “chỉ đọc trong bốn góc của văn bản”, “phải hiểu cách nào ít hại nhất cho người viết” không thể đánh bại một cách hiểu hợp lý (xem cách Tòa diễn giải lá thư của Johor trong vụ Pedra Branca).

4. Chỉ một lời nói (có biên bản) của một đại diện có thẩm quyền (như ngoại trưởng) cũng có thể ràng buộc một quốc gia về vấn đề chủ quyền (xem vụ Đông Greenland).

5. Acquiescence – đồng ý ngầm, không nói gì khi cần thiết phải nói, tức là khi nước khác khẳng định chủ quyền trên đất của mình hay đất có tranh chấp bằng văn kiện hày hành động – cũng có tác dụng như là lời nói hay văn kiện. Điều này được thấy rõ trong vụ án đền Preah Vihear, khi Thái Lan thua kiện dù không hề có tuyên bố gì từ bỏ chủ quyền.

6. Thư Phạm Văn Đồng không phản đối khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa – Trường Sa, nên có thể bị coi là acquiescence.

7. Hơn thế nữa, thư Phạm Văn Đồng có thể coi là đã tán thành rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

8. Thư Phạm Văn Đồng không thể coi là một hiệp ước hay văn kiện chính thức nhường chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung Quốc. Do đó, dùng những công ước về hiệp ước quốc tế để tìm hiểu tác dụng thư này chưa chắc sẽ đưa đến những kết luận chính xác.

9. Thư Phạm Văn Đồng có lẽ không đủ để gây ra estoppel khiến Việt Nam không có quyền tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa – Trường Sa.

10. Tuy nhiên, nếu thư Phạm Văn Đồng là một yếu tố khiến Trung Quốc giúp Việt Nam Dân Shủ Cộng Sòa trong chiến tranh Việt Mỹ, gây tổn thương cho binh lính hay nhân viên Trung Quốc trong cuộc chiến đó, thì có thể estoppel sẽ được áp dụng [9]. (Điều tai hại là chính người Việt cũng có khi đưa ra lý lẽ này để giải thích thư Phạm Văn Đồng!)

11. Tuy nhiên, tập trung vào khía cạnh estoppel của thư Phạm Văn Đồng là một việc sai lầm. Nguy hiểm chính của nó không ở chỗ đó.

12. Kết hợp thư Phạm Văn Đồng với các hành động và thái độ khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1954-75, nhất là sự im lặng trong trận chiến Hoàng Sa 1974, nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa ở Tòa án Quốc tế sẽ có khả năng không nhỏ là tòa sẽ xử rằng từ 1954 tới 1975 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chấp nhận chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

13. Ngay cả khi Tòa cho rằng thư Phạm Văn Đồng không có ý định nói gì về chủ quyền trên Hoàng Sa – Trường Sa, kết luận 12 ở trên vẫn chính xác (vì lý do đã nói ở kết luận 5).

14. Nếu đem xử về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa ở Tòa Án Quốc Tế mà đứng trên quan điểm Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoàn toàn là kế tục (continuation, successor) của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và không kế tục quốc gia nào khác, thì có khả năng không nhỏ là Việt Nam thua kiện và mất hẳn chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa.

Phạm Quang Tuấn

______________________________________

CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU

[1] Ngay sau khi lá thư của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng được gửi đi, báo Nhân Dân gọi nó là “công hàm”. Từ này sau đó được dùng rộng rãi. Gần đây truyền thông trong nước thường gọi nó là công thư. Các nhà nghiên cứu và truyền thông ngoại quốc thường chỉ gọi là “Phạm Văn Đồng letter”, cũng đôi khi gọi là diplomatic note. Trong cộng đồng Việt Nam, cách gọi lá thư gần đây đã gây nhiều tranh cãi, nhiều người cho rằng không gọi nó là công hàm tức là cố ý giảm thiểu tầm quan trọng hay chính thức của nó. Bài này sẽ theo tập tục ngoại quốc và gọi là “thư Phạm Văn Đồng”. Như bài này sẽ cho thấy, dù gọi nó là gì thì giá trị pháp lý của nó cũng không thay đổi.

[2] www.state.gov/documents/organization/58832.pdf

[3] Nguyen Le Ha, Giá trị pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng theo luật pháp quốc tế và cơ hội ngàn vàng để Việt Nam xác quyết chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa

http://boxitvn.blogspot.fr/2014/07/gia-tri-phap-ly-cong-ham-pham-van-ong.html

[4] Cao Huy Thuần, Công hàm Phạm Văn Đồng – Góp ý về việc giải thích.

http://www.diendan.org/viet-nam/gop-y-ve-viec-giai-thich-cong-ham-pham-van-dong.

[5] V. Lowe, International Law, OUP, 2007 pp. 116-117

[6] International Court Of Justice (2008) Case Concerning Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), Judgment of 23 May 2008. http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14492.pdf

[7] Y. Tanaka (2008) Passing of Sovereignty: the Malaysia/Singapore Territorial Dispute before the ICJ. http://www.haguejusticeportal.net/index.php?id=9665

[8] Việc Tòa không chấp nhận ba thỉnh cầu của Singapore coi đáp thư là văn kiện chính thức từ bỏ chủ quyền, là ràng buộc hay gây estoppel có thể hơi khó hiểu nên cần biết chính xác là câu hỏi trong lá thư của Anh nói gì. Nguyên văn câu hỏi như sau: “It is [now] desired to clarify the status of Pedra Branca. I would therefore be most grateful to know whether there is any document showing a lease or grant of the rock or whether it has been ceded by the Government of the State of Johore or in any other way disposed of.” Câu hỏi đó không nói rằng Anh có hay đòi chủ quyền Pedra Branca, mà chỉ hỏi là Johor có còn giữ chủ quyền hay không, và do đó Tòa đã đi tới những kết luận như trên.

[9] Trong luật quốc tế, estoppel là sự ngăn cấm một nước (A) không được có những hành động mâu thuẫn gây hại cho nước (B) khác, cụ thể là không thể làm ngược những gì mình đã nói. Estoppel đòi hỏi ba yếu tố: thứ nhất, lời tuyên bố của A phải rõ ràng, không thể hiểu lầm; thứ hai, lời tuyên bố phải tự nguyện, vô điều kiện, và bởi người có thẩm quyền; và cuối cùng, B phải làm gì thiệt cho mình hoặc lợi cho A vì đã thực lòng tin vào lời tuyên bố của A. (First, the statement creating the estoppel must be clear and unambiguous; second, the statement must be voluntary, unconditional, and authorized; and finally, there must be good faith reliance upon the representation of one party by the other party either to the detriment of the relying party or to the advantage of the party making the representation.) (M.L. Wagner (1986) Jurisdiction by Estoppel in the International Court of Justice. California Law Review Volume 74, 1777-1804.)

[10] Permanent Court of International Justice (1933) Legal Status of Eastern Greenland – Denmark v. Norway, Judgment. http://www.worldcourts.com/pcij/eng/decisions/1933.04.05_greenland.htm

[11] International Court Of Justice (1962) Case concerning the temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), http://www.icj-cij.org/docket/files/45/4871.pdf.

[12] Article ler: La frontière entre le Siam et le Cambodge part, sur la rive gauche du Grand Lac, de l’embouchure de la rivière Stung Roluos, elle suit le parallèle de ce point dans la direction de l’est jusqu’à la rencontre de la riière Prék Kompong Tiam, puis, remontant vers le nord, elle se confond avec le méridien de ce point de rencontre jusqu’à la chaîne de montagnes Pnom Dang Rek. De là elle suit la ligne de partage des eaux entre les bassins du Nam Sen et du Mékong, d’une part, et du Nam Moun, d’autre part, et rejoint la chaîne Pnom Paclang dont elle suit la crête vers l’est jusqu’au Mékong. En amont de ce point, le Mékong reste la frontière du royaume de Siam, conformément à l’article ler du traité du 3 octobre 1893. (theo [10], trang 14)

 

———–

 

Khách Kẹt Đường  gửi lúc 21:38, 26/07/2014 – mã số 124091

Thành thật mà nói, những điều Tiến sĩ PHẠM QUANG TUẤN nói trong bài cũng không phải MỚI MẺ gì cả, vì rải rác đó đây, các học giả TRƯƠNG NHÂN TUẤN và DƯƠNG DANH HUY cũng từng đã nêu ra và phân tích ba án lệ trong bài. Tuy nhiên, cách viết của Tiến sĩ PHẠM QUANG TUẤN rất rõ ràng, dễ hiểu, và mang tính thuyết phục vô cùng lớn. Đây là điểm mà tôi rất trân trọng và cám ơn ông. Phải nói rằng, Tiến sĩ PHẠM QUANG TUẤN, tuy viết ít, nhưng bài nào của ông cũng rất xuất sắc và đóng góp rất lớn vào tiến trình giải thể ĐCSVN.

Điều tôi ngạc nhiên nhất là ý kiến của Giáo sư NGUYỄN HUỆ CHI trong phần dẫn nhập (introduction) cho bài của Tiến sĩ PHẠM QUANG TUẤN. Là một Giáo sư, đã đọc nhiều bài về công hàm Phạm Văn Đồng từ cả chục năm qua, mà mãi đến tận bây giờ Giáo sư HUỆ CHI mới nhận ra chân tướng phản quốc của những người như ông Phạm Văn Đồng và bộ sậu gồm các đồng chí của cụ ĐỒNG trong Bộ Chính Trị đảng Lao Động VN (kể cả “kụ” Hồ, “kụ” Giáp) thì e rằng Giáo sư tuy thông minh nhưng có phần hơi chậm hiểu. Tôi tự hỏi điều gì đã làm Giáo sư và quý ngài trí thức của chế độ chậm hiểu đến thế. Phải chăng đó là ảnh hưởng của nền giáo dục XHCN mà quý ngài đã hấp thụ từ thời trai trẻ. Hay là vì hào quang chói lòa của đấng “lãnh tụ vĩ đại” đã làm hoa mắt quý vị? Buồn thay!

————–

Lào Xào gửi lúc 22:23, 26/07/2014 – mã số 124094
Nguyễn Huệ Chi viết:

“Thử nghĩ, công thư của một ông Thủ tướng là “phản động”, “phản quốc” thì bản thân ông Thủ tướng và bộ sậu Chính phủ của ông ta là gì?”

Tại sao GS Chi chỉ nhắm vào ông PVĐ, trên ông này là ông Hồ nữa. Hay GS Chi sợ đụng chạm?

Nguyễn Huệ Chi viết:

“Càng ngày càng thấy cái gọi bằng liên minh cộng sản nhân danh chủ nghĩa vô sản quốc tế trong thế kỷ XX chỉ ẩn giấu phía sau độc nhất mỗi mưu đồ thôn tính lãnh thổ của nước lớn đối với nước nhỏ.”

Điệu Tango cần có hai người. Đã đành là Tàu+ muốn thôn tính nước ta,nhưng trách nhiệm của thầy trò Hồ không thể bỏ qua.
Trên nhận xét này, GS Chi tự mâu thuẫn trong lập luận của ông khi sau đó viết:

Nguyễn Huệ Chi viết:

“Ngu dại thay những ai vì quá nôn nóng tìm đường cứu nước vào những năm 20-30 thế kỷ trước, đem tấm lòng nhiệt huyết băng vời sang Tàu sang Nga để chỉ mua lấy một sợi dây thừng về quấn chân dân tộc.”

“Tìm đường cứu nước” để dẫn đến hành động bán nước (qua công hàm của Đồng và những hành động củ đcs hiện nay), vậy có nên gọi là cứu nước?

Trở lại bài viết của học giả Tuấn:

Một bài viết mạch lạc; tài liệu, chứng cứ rõ ràng, không cảm tính, không thiên vị. Hy vọng nó giúp ích rất nhiều cho nhận định về đcs VN.

————

TQVN  gửi lúc 23:23, 26/07/2014 – mã số 124096

Bác Khách Kẹt Đường,

Có thể do điều kiện và phương tiện bác “sáng” hơn nhiều người. Tôi cũng từng hơi ngu là không nhìn thấy chân tướng của ông Hồ cho đến khi được tiếp cận được nhiều thông tin về ông ấy. Những việc bác Huệ Chi đã và đang làm, theo tôi là đáng mừng vả đáng trân trọng, nhất là suy tư: Ngu dại thay những ai vì quá nôn nóng tìm đường cứu nước vào những năm 20-30 thế kỷ trước, đem tấm lòng nhiệt huyết băng vời sang Tàu sang Nga để chỉ mua lấy một sợi dây thừng về quấn chân dân tộc. Thiển nghĩ tất cả trí thức XHCN trong và ngoài ĐCSVN (kể cả trên DL và đang sống ở hải ngoại!) có suy tư và hành động như bác Huệ Chi cũng cho thấy một phần ánh sáng trong đường hầm đen tối cho dân tộc Việt Nam!

————

Hồ Gươm gửi lúc 07:05, 27/07/2014 – mã số 124117

Chào các bác,

Tôi đã chỉnh sửa lại bài viết này theo yêu cầu của tác giả Phạm Quang Tuấn vì CTV (cộng tác viên) của Dân Luận khi dẫn bài này từ trang BauxiteVN đã có một vài thiếu sót nhỏ có thể khiến bạn đọc khó theo dõi, ngoài ra bài viết được gửi tới Dân Luận tác giả có thêm một vài bổ xung.

Vì lý do đó cho nên tôi bỏ phần dẫn nguồn từ trang BauxiteVN mà dẫn nguồn của Dân Luận và bởi vậy, tôi cũng bỏ phần lời dẫn nhập của gs Nguyễn Huệ Chi có trong bài viết được phổ biến trên trang BauxiteVN.

Thân mến

HG

———–

Hà Hiển gửi lúc 13:26, 27/07/2014 – mã số 124131

Tóm lại, bài viết của tác giả cuối cùng đưa đến 14 kết luận và tất cả các kết luận này đều hỗ trợ cho ý kiến bao trùm của bài viết rằng viẹc kiện TQ sẽ là vô vọng, khả năng VN sẽ thua kiện là rất nhiều nếu như dựa vào lập luận của CHXHCN Việt Nam.

Với tư cách là một luật sư thì bài viết như thế là đầy đủ với mục đích phản biện lại quan điểm của nhà nước VN hiện thời. Những ý kiến tác giả nêu ra rất đáng tham khả, xứng đáng là một tài liệu phản biện rất có giá trị.

Với vai trò phản biện của một luật sư thì bài viết đã hoàn hảo. Những tranh cãi, nếu có về chuyện học thuật xin giành cho những người thông tỏ về công pháp quốc tế. Nhưng vì tác giả không chỉ là luật sư mà là một luật sư người Việt, điều tôi chờ đợi tiếp ở tác giả là sau bài này, tác giả tiếp tục có một bài viết nữa mà ở đó tác giả tư vấn một giải pháp nào đó để giúp cho Việt Nam khả dĩ có thể thắng kiện TQ theo những lập luận của các vị khác với quan điểm hiện nay của nhà nước.

Và không chỉ đối với ông Phạm Quang Tuấn, Trương Nhân Tuấn, điều người ta mong đợi ở tất cả các luật sư NGƯỜI VIỆT là sau những tranh cãi về học thuật, các vị đưa ra những giải pháp có TÍNH THỰC TIỄN để giúp nước. Mục đích cuối cùng của các luật sư, theo tôi không phải là sự đua tranh hơn kém về mặt học thuật với nhau và với người đọc mà là đưa ra những giải pháp bảo vệ cho thân chủ của mình một cách tốt nhất, là “hóa giải” những lập luận của phía đối phương. Và tôi nghĩ “thân chủ” của các vị hẳn phải là tổ quốc Việt Nam.

Trân trọng.

———–

NJ  gửi lúc 16:31, 27/07/2014 – mã số 124140
TVVN viết:

“-Có một điều tôi cảm thấy rất ngạc nhiên mà vẫn chưa tự giải thích được.
Không hiểu tại sao vào lúc này có nhiều “chiên gia”, “luật sư”, “nhà nghiên cứu” đồng loạt lên tiếng thúc dục đảng ta khởi kiện mà họ thừa biết rằng:-Điều kiện tiên quyết để kiện là không có, cả hai phía đều không công nhận tòa.

-Chẳng có bên nào có lý lẽ chắc chắn dựa trên luật quốc tế, nếu không muốn nói là phía VN có vẻ đuối hơn do CHPVĐ.”

Thật tình, tôi chẳng muốn còm hay phản biện về đề tài này nữa, vì các lý do trên.

Mặc dầu vậy, tôi xin bổ túc thêm,

phía VN yếu hơn, không chỉ vì công hàm/công thư/thư PVĐ,

mà còn vì sự im lặng mang tính chấp nhận, đồng thuận

từ phía VNDCCH khi VNCH mất Hoàng Sa năm 1974 (bài chủ có nói)

nhà nước CHXHCN VN khi Trường Sa bị TQ cưỡng chiếm bằng bạo lực năm 1988.

Cuộc chiến năm 1988 tuy được báo chí đăng tải, nhưng nhà nước CHXHCN VN đã không lên tiếng tố cáo hành động xâm lăng này của TQ.

Bác nào tìm được một công văn, công thư chính thức nào của nhà nước CHXHCNVN với nội dung tố cáo giặc TQ xâm lăng, cướp đảo Gạc Ma của VN, hãy đưa lên mạng để minh oan cho nhà nước CHXHCN VN. Công văn chính thức chứ không phải bản tin trên báo nào đó của 700 tờ báo ở VN.

Nhà nước CHXHCNVN chỉ mới lên tiếng những năm gần đây.
Những tuyên bố miệng chứ không có công văn, công thư, thư chính thức nào.

Những tuyên bố này không có giá trị vì sự im lặng đồng thuận quá lâu.

Nguyễn Jung

————–

Hà Hiển  gửi lúc 18:22, 27/07/2014 – mã số 124145

Đồng ý với tác giả khi ông viết : “Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người kiểm điểm, mà chính là người gây ra lỗ thủng.”

Nhưng tiếc là với bài viết này tác giả mới cố gắng tìm ra các “lỗ thủng” theo cách nhìn của ông chứ người đọc chưa thấy tác giả “vá lại” ở đâu hoặc đưa ra cách thức “vá lại” như thế nào. Đó phải chăng cũng là điều rất đáng phải kiểm điểm lúc này cho những tác giả của những bài viết kiểu như thế này! Việc kiểm điểm “người gây ra lỗ thủng” tất nhiên là việc không thể trốn tránh, nhưng phải chăng đó là việc trong nhà, không “xử” lúc này thì lúc khác, thiết nghĩ chưa phải là việc ưu tiên cao nhất cần phải làm hiện nay.

————

Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!!  gửi lúc 20:55, 27/07/2014 – mã số 124154

Cơm nước xong vào DL vẫn thấy một sự im lặng hoàn toàn. Trong lúc chờ đợi sự im lặng là vàng chấm dứt, tạm sửa câu giáo đầu này lại:

“Trong bối cảnh Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, xin hãy coi bài này như một cố gắng kiểm điểm áo giáp của mình trước khi ra trận, xem có lỗ thủng nào không để tìm cách vá lại. Nếu tìm ra lỗ thủng thì “Việt gian” “thân Tàu” không phải là người gây ra lỗ thủng , mà chính là người kiểm điểm.”

Nhân tiện, làm con bò nhai lại lần thứ hai:

Phạm Quang Tuấn viết:

“Có người cho rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần thiết phải tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa – Trường Sa vì những đảo này đang dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng Hòa. Lý luận như vậy là lẫn lộn chủ quyền với sự quản lý. Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia, tức là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tự coi là có chủ quyền trên mọi phần đất Việt Nam từ bắc tới nam, và mọi hải đảo“.

Ấy Mới Chết Tôi Chứ !!! viết:

“Rất tiếc đây chỉ là lý luận một chiều. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng nói rõ rằng nước Việt Nam là một nước thống nhất không thể phân chia. Trích nguyên văn tiếng Anh: “Viet-Nam is an independent Republic, one and indivisible”.

Dựa vào hiến pháp của cả VNCH và VNDCCH thì có cả 2 thực thể chính trị đều cùng tồn tại ở bên đây và bên kia vĩ tuyến 17, và cả 2 đều nhận là đại diện của một nước Việt Nam thống nhất không thể phân chia.

Vậy thì có 2 “state” ở trên bản đồ hình chữ S, hay là chỉ duy nhất 1 “state” và nếu chỉ duy nhất 1 “state” thì VNCH hay VNDCCH là 1 “state” duy nhất này?”

—————-

NGT  gửi lúc 22:42, 27/07/2014 – mã số 124157

Trong thời gian chờ đợi các comments, bác đọc tài liệu này do bác Khách giới thiệu ở Quán Nước DL.

https://www.danluan.org/tin-tuc/20090201/quan-nuoc-dan-luan#comment-124135

The Spratly Islands Dispute: International Law, Conflicting Claims, and Alternative Frameworks For Dispute Resolution

Robin Gonzales
University of Nevada, Las Vegas, gonza971@unlv.nevada.edu

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Lãnh đạo nào của Việt Nam chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc Báo cáo viên Liên hiệp quốc?

Posted by hoangtran204 trên 27/07/2014

 

Lãnh đạo nào của Việt Nam chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc Báo cáo viên Liên hiệp quốc?

 27-7-2014
Phạm Chí Dũng
.

.

Vụ việc Công an TP.HCM và công an một số địa phương ngăn chặn không cho ra khỏi nhà đối với những người đấu tranh dân chủ vào ngày 25/7/2014 và cả một số ngày sau đó là bằng chứng mới nhất, sống động nhất và cũng lộ liễu nhất về việc “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người”.

Ngày 25/7 cũng là thời điểm mà một đoàn giám sát về tự do tôn giáo của Liên hiệp quốc dẫn đầu bởi ông Heiner Biederfeldt, Báo cáo viên đặc biệt của LHQ, vào TP. HCM để gặp gỡ một số chức sắc tôn giáo và nhân chứng, nhằm kiểm chứng tính thực chất về việc “Việt Nam chấp nhận các khuyến nghị của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc” là như thế nào.

Không chỉ bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, bà Dương Thị Tân (vợ tù nhân Điếu Cày Nguyễn Văn Hải), cựu tù nhân chính trị Phạm Bá Hải, mà hai mục sư Tin Lành là Nguyễn Hoàng Hoa và Nguyễn Mạnh Hùng cũng bị công an địa phương ngăn chặn ngay tại nhà riêng nhằm không cho tiếp xúc với ông Heiner Biederfeldt – Báo cáo viên đặc biệt của LHQ. Bất cứ động tác nào của công dân hợp pháp muốn rời khỏi nhà đều bị nhân viên an ninh và cảnh sát xô đẩy bằng hành vi thô bạo và hoàn toàn bất hợp pháp.

Vi phạm cam kết

Trước khi được chấp thuận tham gia chính thức vào Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, Nhà nước Việt Nam đã cam kết trước chủ tịch Hội đồng nhân quyền 14 điều, trong đó có nội dung sẽ mời báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo đến Việt Nam, và “sẽ tạo điều kiện tốt nhất” để báo cáo viên này được tiếp xúc với những ai mà Liên hiệp quốc thấy cần gặp.

Vào nửa đầu năm 2014, cam kết trên được giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam là ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước, và ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng chính phủ, cùng Bộ Ngoại giao và Bộ Công an Việt Nam nhiệt tình lặp lại trong những cuộc làm việc với Thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Wendy Sherman và Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hoa Kỳ. Cam kết về tự do tôn giáo cũng được đưa vào báo cáo chính thức của Phái đoàn Việt Nam tại buổi xem xét báo cáo đầu ra của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 6/2014 tại Thụy Sĩ.

Một ủy viên Bộ chính trị khác và được xem là ứng viên tiềm tàng cho cương vị Tổng bí thư tại đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 vào năm 2016 – ông Phạm Quang Nghị – cũng vừa đưa ra khẩu hiệu “Việt Nam luôn bảo đảm nhân quyền” trong chuyến công du của ông ở Hoa Kỳ vào thời gian này.

Để có được sự thuận thảo của các quốc gia trong khối Hiệp định đối tác thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận tham gia vào Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc cùng các điều kiện về nhân quyền và dân chủ hợp lý mà cộng đồng quốc tế đòi hỏi. Tuy nhiên, bằng chứng ngăn chặn công dân mới nhất vừa nêu đã cho thấy đối với giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam, nói làm vẫn là hai hành vi khác nhau về bản chất, không chỉ bản chất chính trị mà cả về tư cách chính khách.

Tư cách chính khách?

Sự khác biệt quá cơ bản về bản chất trên có lẽ đã là nguyên do đủ nặng ký để Nhà nước Úc, dù trước đây khá nhã nhặn với chính quyền Việt Nam, nay cũng phải tỏ thái độ kiên quyết hơn trong việc đòi hỏi Việt Nam phải tôn trọng hơn nữa các quyền con người.

Ngay trước thềm cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Úc sẽ diễn ra vào cuối tháng 7/2014, chính quyền Việt Nam lại ghi thêm một điểm rất xấu về “thành tích” vi phạm nhân quyền. Việc vi phạm không chỉ lần đầu và mang tính hệ thống như thế tất yếu dẫn đến những câu hỏi không thể lảng tránh:

1. Việc ngăn chặn bất hợp pháp đối với công dân như trên là do Công an TP. HCM và công an một số địa phương “chủ động biện pháp nghiệp vụ”, hay những cơ quan công an này được chỉ đạo bởi những cấp lãnh đạo nào?

2. Nếu cơ quan công an được chỉ đạo, vậy những lãnh đạo nào của Việt Nam đã chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc với Báo cáo viên Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo?

3. Nếu việc chỉ đạo ngăn chặn công dân như thế thuộc về trách nhiệm của lãnh đạo Việt Nam – những người vẫn thường ra mặt hứa hẹn với Liên hiệp quốc và Hoa Kỳ 14 điều cam kết về nhân quyền, liệu Liên hiệp quốc và chính giới phương Tây nên có cái nhìn sâu xa và rạch ròi đến mức nào đối với những lãnh đạo ấy, kể cả một cái nhìn liên đới với hai dự luật Nhân quyền Việt Nam và Chế tài nhân quyền Việt Nam còn đang treo ở Thượng nghị viện Mỹ?

.

Phạm Chí Dũng
Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam
Phát ngôn viên Hội Cựu tù nhân lương tâm Việt Nam
Thành viên Diễn đàn Xã hội dân sự Việt Nam

* * *

Pham Chi Dung – What government leaders of Vietnam ordered to prevent citizens from meeting UN Rapporteur?

Ho Chi Minh City Department of Police and some local policemen barred some pro-democracy activists from going out of home from July 25, 2014 to some days later it’s the latest, liveliest and most blatant example about “State of Vietnam always respects and guarantees human rights.”

On July 25, Mr. Heiner Biederfeldt, the UN Special Rapporteur on freedom of religion arrived HCM city to meet a number of religious leaders and witnesses to verify how the nature of the “Vietnam accepted the recommendations of the Human Rights Council of the United Nations” is.

Not only Dr. Nguyen Dan Que, independent journalist Pham Chi Dung, Mrs. Duong Thi Tan(ex-wife prisoner Nguyen Van Hai Dieu Cay), former prisoner of conscience Pham Ba Hai were prevented at their home gate, but also two Protestant pastor Nguyen Hoang Hoa and Nguyen Manh Hung did. Any movement of legitimate citizens to go out one’s houses was pushed inside by security policemen rudely and entirely illegally.

Breached its Commitment

Before being formally approved to be a member of the Human Rights Council of the UN, the Vietnam authorities committed 14 conditions, including inviting the UN special rapporteurs of religious freedom to Vietnam, and “creating the best conditions” so that he can meet anyone necessarily.

In the first half of 2014, the above commitment was reiterated by the high-level leaders, President Truong Tan Sang, PM. Nguyen Tan Dung, the Foreign Ministry and the Ministry of Public Security in the meeting with U.S. Deputy Secretary of State Wendy Sherman and Special Advisor to the Government of the United States. Commitment to religious freedom also integrated in the official report of the Vietnam delegation at the UN Human Rights Council in June 2014, Switzerland.

One other member of Politburo Mr. Pham Quang Nghi, considered as a potential candidate for General Secretary of the Communist party in the 12th congress in 2016, also just launched the slogan “Vietnam always ensures human rights” in his tour to the United States recently.

By the agreement of nations within Trans-Pacific Partnership (TPP), the State of Vietnam was accepted to participate in the Human Rights Council at the United Nations with condition that it meets human rights and democracy the international community requires. However, the most last evidence to prevent citizens mentioned has shown that to senior leaders in Vietnam, “say and do” are still two different acts, politically and morally.

Morality of politician?

The said difference may be the reason that Australia, though formerly quite courteous to the government of Vietnam, expressed their stronger stance in demanding the Vietnam state should respect more human rights.

Ahead of the human rights dialogue between Vietnam and Australia on late July 2014, Vietnam government scored a very bad point about the “achievement” of human rights violations. Such not-to-be-the-first violation but systemic, inevitably leads to questions can not be avoided:

1. Illegal prevention with “actively operational measures” to the above citizens executed by either themselves – the HCMC police and some local police or order from the higher levels?

2. If the police was directed, so what leaders of Vietnam have instructed to prevent citizens contacting with the UN Rapporteur on freedom of religion?

3. If such direction to prevent citizens is the responsibility of Vietnam’s leaders who often come out promising with the UN and the U.S. about 14 commitments on human rights, what extend the UN and the Western world should have a deep and sharp look at these leaders, including a link with two bills, Vietnam human Rights Act and the Vietnam Human Rights Sanctions, are still pending in U.S. Senate?

Pham Chi Dung, PhD.
President of Independent Journalists Association of Vietnam
Spokesman of Former Vietnamese Prisoner of Conscience
Member of Vietnam’s Civil Society Forum

Translated by Trang Thien Long

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tương lai nào cho luật sư Việt Nam (Ngô Ngọc Trai) – Tưởng niệm Giáo sư Vũ Văn Mẫu (Lê Công Đinh)

Posted by hoangtran204 trên 25/07/2014

Để giúp bạn đọc dễ so sánh, Trần Hoàng đặt 2 bài viết này trên cùng 1 trang. Bạn đọc muốn tìm các bài cùng 1 chủ đề, bạn click vào chủ đề ấy bên phần DANH MỤC bên tay trái; chủ đề của bài viết cũng được tìm thấy ở cuối cùng của bài viêt (Post in _____ )

Tương lai nào cho luật sư Việt Nam

24-7-2014

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Theo blog Ngô Ngọc Trai

Trong buổi tọa đàm giữa Đoàn luật sư Hà Nội và Đoàn luật sư thành phố Pari của Pháp, cử tọa hết sức thán phục khi được biết Đoàn luật sư Pari có lịch sử đã 800 năm.

Hãy hình dung, khi mà vua quan quân lính nhà Trần còn đang rong ruổi thanh gươm yên ngựa để chống giặc, thì ở thủ đô Pari của nước Pháp, đã có những người mặc áo lông choàng đứng ở phiên tòa mà biện hộ cho người bị cáo.

Tức là khi ở Việt Nam sự sống còn của quốc gia dân tộc còn chưa được đảm bảo chứ đừng nói gì đến quyền của kẻ tội nhân ở chốn công đường, thì ở nước Pháp đã hình thành nên một thiết chế mà sự đúng đắn là bệ đỡ đã giúp nó tồn tại cho tới tận ngày nay.

Vai trò thủ lĩnh

Suốt lịch sử 800 năm hẳn những người luật sư của Pari đã đối diện với biết bao biến động thời cuộc. Để có thể vượt qua được mọi sóng gió như thế, hẳn là có nhiều nguồn sức mạnh trụ đỡ.

Một nguồn sức mạnh cho nghề luật sư đó là nghề nghiệp này mang tính chính đáng nghĩa hiệp, phù hợp với luân thường đạo lý con người khi một người đứng ra bảo vệ cho kẻ yếu trước một sức mạnh áp đảo là cường quyền.

Nhưng chỉ sức mạnh từ luân lý sẽ không đủ để đoàn luật sư Pari tồn tại được cho tới ngày nay. Mà nó còn được dẫn dắt bởi những thế hệ người thủ lĩnh đoàn với đầy đủ tư cách đạo đức và sự uyên bác về trí tuệ.

Những thế hệ người thủ lĩnh chắc chắn phải nhận được sự tín nhiệm của các thành viên, được sự kính nể của cơ quan tư pháp đương quyền, có như thế tiếng nói và hành động mới có trọng lượng và sức thuyết phục.

Ví như các vị vua đời đầu của nhà Trần hoặc vị anh hùng Trần Hưng Đạo, hẳn là phải có kiến thức hiểu biết và phong độ uy tín như thế nào mới có thể điều binh khiển tướng chống giặc ngoại xâm ba lần thành công.

Trong bất kỳ một tổ chức nào, vai trò của người thủ lĩnh đều rất quan trọng, kinh nghiệm kiến thức của họ sẽ quyết định con đường mà tổ chức sẽ đi. Nhưng đặc biệt trong giới luật sư, khi thước đo nghề nghiệp là uy tín thương hiệu thì người đứng đầu càng phải là người có uy tín và danh dự nhất.

Cũng chỉ đặc biệt ở nghề luật sư, sự thành công là ở khả năng thuyết phục của lời nói, như thế thì điều tối kỵ là danh bất chính vì nếu thế thì ngôn sẽ bất thuận. Không có uy tín, không được tín nhiệm thì nói ai người ta nghe?

Sự áp đặt vô lý

Thấy được bề dày lịch sử của đoàn luật sư Pari như vậy, nhìn lại giới luật sư Việt Nam mà thấy buồn.

Nghề luật sư ở Việt Nam thực sự mới hoạt động từ vài ba chục năm nay, số lượng luật sư cả nước tính đến nay chỉ khoảng 8000, con số rất nhỏ so với các hội đoàn khác, ví như hội luật gia số thành viên là 46.000.

Giới luật sư cũng chưa tạo dựng được hình ảnh đáng trân trọng trong xã hội. Nguyên do một phần vì hệ thống chính trị không coi trọng quyền tư pháp, quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền lập pháp và hành pháp, trong khung cảnh đó giới luật sư chịu chung số phận hẩm hiu.

Một nguyên nhân khác là sự yếu kém nội tại của giới luật sư mà chỉ người trong nghề mới hiểu, nhiều người thờ ơ vô trách nhiệm, không có bản lĩnh chính kiến trước các vấn đề của tổ chức, không có tinh thần dấn thân cho nghề nghiệp.

Thời điểm năm 2009 khi Liên đoàn luật sư Việt Nam được thành lập, chính quyền đã sắp đặt để những người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư lại đứng đầu tổ chức luật sư cả nước. Những người chưa hề có uy tín nghề nghiệp lại đứng trên cả những luật sư với thâm niêm mấy chục năm hành nghề.

Đứng đầu tổ chức luật sư nguyên là một phó chánh án tòa án tối cao, một người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư. Cấp phó thường trực của ông này là một vị nguyên là vụ trưởng một vụ của Bộ tư pháp, một người cũng hầu như chưa hề hành nghề luật sư.

Có thể họ tuy không hành nghề những cũng biết về nghề luật sư, nhưng biết với trải nghiệm là hoàn toàn khác nhau.

Những người chưa từng đổ một giọt mồ hôi lên các trang hồ sơ tài liệu và chưa từng khóc thầm vì những trái ngang của cơ chế, họ làm sao thấu hiểu những vấn đề của nghề luật sư?

Những người vì đã đến tuổi nghỉ hưu nên phải thôi chức ở cơ quan nhà nước, rồi lại được cơ cấu sang đứng đầu một tổ chức khác, thì lấy đâu ra nhiệt huyết cống hiến của những con người này.

Không sống bằng thu nhập nghề nghiệp, đã có nguồn thu nhập khác là lương hưu, hy vọng gì họ sẽ trăn trở thao thức để vạch đường tìm lối cho nghề luật sư phát triển?

Việc áp đặt nhân sự không chính đáng đã phạm phải vấn đề húy kỵ nhất của nền tư pháp đó là sức mạnh thuộc về công lý và chính nghĩa chứ không thuộc về cường quyền.

Xuất phát từ đâu mà chính quyền lại áp đặt lối nhân sự như vậy. Phải chăng đó là thâm ý của chính quyền, áp đặt nhân sự kém năng lực để kìm hãm giới luật sư trong trì trệ, níu giữ nền tư pháp nước nhà trong tăm tối lạc hậu?

Còn nhiều khó khăn

Đứng trước sự áp đặt ngang trái như vậy nhưng hầu hết giới luật sư đều im lặng, cũng có vài người không đồng tình nhưng cuối cùng cũng cam chịu chấp nhận.

Chính quyền đã thiếu tôn trọng giới luật sư, người luật sư cũng vô trách nhiệm với tổ chức của mình, không biết cái nào là nguyên nhân của cái nào.

Tựu chung lại, giới luật sư đã thất bại trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Khi không bảo vệ được quyền lợi của chính mình thì luật sư còn bảo vệ được cho ai?

Bao nhiêu tổ chức hội đoàn trong xã hội có lúc họ cần được bảo vệ quyền lợi, nhưng hẳn họ sẽ nghĩ là mấy người đó còn chẳng làm được gì ra hồn cho tổ chức của họ, sao bảo vệ được cho chúng ta?

Nhìn vào chính cách hành xử của giới luật sư, xã hội sẽ dành cho mức độ tín nhiệm tương xứng.

Người dân không nghĩ đến luật sư đầu tiên khi gặp vướng mắc, họ sẽ tự giải quyết lấy bằng cách nhờ vả người quen hay lo lót cán bộ chính quyền. Chỉ khi sự việc rối tung lên và không tự giải quyết nổi họ mới tìm đến luật sư.

Vì xã hội chưa tín nhiệm nên nghề luật sư ở Việt Nam không phải là một nghề đem lại thu nhập cao. Trừ một vài thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và trừ ra những luật sư đã thành công kiếm tiền từ những mảng công việc khác rồi mới chuyển sang làm luật sư, số đông còn lại đời sống còn nhiều khó khăn.

Ở các tỉnh, khi không vào được công chức nhà nước hoặc không được làm tại các công ty lớn, nhiều người mới đành hài lòng với nghề luật sư.

Khi gặp gỡ trao đổi với luật sư các tỉnh, sẽ dễ dàng nhận thấy những nét ưu tư trăn trở trên gương mặt, qua những câu chuyện sẽ thấy tâm trạng bải hoải chán chường bế tắc.

Nhưng tất cả lại chỉ trông trờ vào sự thay đổi từ nơi khác, rất hiếm người có bản lĩnh táo bạo thấy được sự thay đổi cần ở ngay nơi mình.

Làm thế nào?

Giới luật sư ở Việt Nam chưa cho thấy là một nghề nghiệp của những con người có kiến thức thuộc tầng lớp trí thức nhận được sự tôn kính của xã hội.

Lâu nay giới luật sư được vinh danh một phần là nhờ hào quang quá khứ của giới luật sư thủa xưa vốn được nhân dân gọi là “thầy cãi”. Một phần là vay mượn giá trị của người luật sư phương Tây qua những bộ phim hình sự truyền hình.

Giới luật sư Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc để xứng với kỳ vọng của xã hội về nghề luật sư.

Lâu nay các luật sư mới chỉ có thói quen vận dụng các quy định pháp luật hiện tại, không mấy ai đặt câu hỏi tại sao luật lại quy định như thế này mà không phải thế khác, để tạo cơ chế thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân.

Đứng trước quy định bất cập của pháp luật, khi tháo gỡ cho khách hàng nhiều luật sư chỉ biết luồn lọt sao cho được việc mà không mấy ai quan tâm đấu tranh để loại bỏ quy định bất cập ấy.

Ngay với những vấn đề liên quan đến quyền lợi của giới mình, như có những luật chưa tạo điều kiện để giới luật sư hành nghề, nhưng giới luật sư cũng không có tiếng nói phản ánh.

Gần gũi hơn nữa là công tác nhân sự của tổ chức luật sư, nhiều luật sư cũng chẳng thèm quan tâm, nhiều luật sư cho rằng họ vẫn hành nghề tốt mà chẳng cần biết đến ai là người đứng đầu tổ chức của họ.

Đó thực sự là lối suy nghĩ làm việc của đông đảo luật sư Việt Nam, không quan tâm đến tổ chức.

Và đó là cách làm nghề không bền vững và không có tương lai.

Luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật TNHH Công Chính

Tưởng niệm Giáo sư Vũ Văn Mẫu

Lê Công Định

Theo FB Ls Lê Công Định

 

Hôm nay vừa tròn 100 năm ngày sinh của Giáo sư Vũ Văn Mẫu (25/7/1914 – 25/7/2014). Là một học giả lỗi lạc về luật pháp và chính trị gia nổi tiếng trước năm 1975 tại miền Nam, ông từng là Thượng nghị sĩ, Ngoại trưởng và Thủ tướng của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, ngoài ra ông còn là Khoa trưởng và Giáo sư thực thụ của Đại học Luật khoa Sài Gòn. Ông qua đời năm 1998 tại Paris.

Giáo sư Vũ Văn Mẫu có kiến thức uyên bác về cựu và tân học, biết nhiều ngoại ngữ như Anh, Pháp, Latin và Hán. Ông trước tác nhiều tác phẩm luật học rất giá trị bằng tiếng Việt, mà cho đến nay chưa ai có thể so sánh. Tác phẩm của ông được các giáo sư luật đối chiếu danh tiếng thế giới như René David và John E.C Brierley trích dẫn trong các tác phẩm của mình.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông thông qua các tác phẩm ông để lại, từ sách, giảng văn, tạp chí, đến cả luận án tiến sĩ luật mà ông đệ trình tại Pháp. Năm 1989 tôi tốt nghiệp trường luật XHCN, đầy tự tin vì là sinh viên giỏi và chịu khó học hỏi, tích lũy kiến thức. Trong công việc đầu tiên của mình sau khi ra trường, trợ lý Trưởng Phòng Công chứng Nhà nước, tôi được tiếp xúc kho tư liệu và thư viện của Phòng Chưởng khế Sài Gòn trước năm 1975. Thú thật, khi đọc các văn kiện pháp lý và chứng thư công chứng được soạn bằng tiếng Việt và tiếng Pháp trong kho tàng ấy, tôi đã hiểu từ mơ hồ đến … không hiểu gì cả.

Nhanh chóng nhận ra rằng mình đã hoàn toàn không được trang bị những quan niệm nền tảng của một nền học thuật pháp lý đúng nghĩa, tôi lập tức tìm đến các hiệu sách cũ còn bày bán các sách, giảng văn và tạp chí luật được ấn hành tại Sài Gòn trước đây. Một trong những tác giả mà tôi đọc nhiều nhất chính là Giáo sư Vũ Văn Mẫu, hầu như mọi trước tác của ông bằng tiếng Việt và tiếng Pháp tôi đều đọc đi đọc lại nhiều lần, thậm chí học được cả cách hành văn chính xác, ngắn gọn song trau chuốt từ ông.

Năm 1993 lần đầu tiên được diện kiến Giáo sư Vũ Văn Mẫu tại tư gia trên đường Sương Nguyệt Ánh, nhờ tháp tùng thầy của tôi là Tiến sĩ luật Đào Quang Huy (Đại học Luật khoa Sài Gòn), tôi thật ấn tượng về nếp sống bình dị và phong thái tự tại của một bậc đại trí ẩn dật như ông. Ông kể lại việc đệ trình luận án tiến sĩ luật vào năm 1948 và sau đó thi bằng Agrégation (Thạc sĩ luật) khó khăn như thế nào để làm giáo sư luật tại Pháp. Ông cũng thuật lại nhiều sự kiện hậu trường lúc đảm nhiệm chức vụ Ngoại trưởng dưới thời cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và giữ cương vị Thủ tướng trong chính quyền của cố Tổng thống Dương Văn Minh.

Một người thầy đáng kính khác của tôi là Tiến sĩ luật Võ Phúc Tùng (Đại học Luật khoa Sài Gòn), trong những câu chuyện sau giờ dạy riêng cho tôi về nền văn chương và luật học của Pháp, đã kể một mẩu chuyện mà ông ấn tượng về Giáo sư Vũ Văn Mẫu. Vì muốn viết một luận án tiến sĩ luật với đề tài “Les droits de la personne humaine sur son corps” (tạm dịch, quyền của con người trên thân thể của mình) (cần lưu ý, cho đến năm 1975, tại Đại học Luật khoa Sài Gòn hầu hết các luận án tiến sĩ ngành tư pháp phải viết và đệ trình bằng tiếng Pháp dù thầy và trò đều là người Việt), nên thầy tôi đến xin ý kiến của Giáo sư Vũ Văn Mẫu, lúc ấy vừa là giáo sư, vừa là Thượng nghị sĩ. Vừa nghe xong, vị giáo sư nói ngay rằng: “Tại sao anh lại chọn một công trình nghiên cứu khó khăn như thế? Lĩnh vực này không có nhiều tài liệu khảo cứu. Sau luận án tiến sĩ của Giáo sư Pháp André Decocq vào năm 1960 nhiều người muốn đào sâu thêm, nhưng hầu như không ai thành công với đề tài này. Anh phải thận trọng nếu không giới học giả Pháp sẽ chỉ trích anh.” Sau đó, vị giáo sư hướng dẫn thầy tôi tìm các tài liệu cần quan tâm.

Thầy tôi nói, sau khi nghe Giáo sư Vũ Văn Mẫu góp ý, ông choáng váng và tự hỏi rằng với bao nhiêu công việc quản lý và giảng dạy đại học, cùng hoạt động chính trị hàng ngày bận rộn như thế, vị giáo sư ấy tìm đâu ra thì giờ để có thể đọc rất nhiều về các lĩnh vực khác nhau của luật pháp, bởi trước đấy thầy tôi từng xin ý kiến của một vài giáo sư khác về đề tài luận án của mình, nhưng chưa thấy ai hiểu thấu đáo lĩnh vực quá chuyên sâu này!

Đối với các vị thầy của tôi, Tiến sĩ Võ Phúc Tùng và Tiến sĩ Đào Quang Huy, cũng như đối với nhiều vị học giả và luật sư khả kính khác thời Việt Nam Cộng Hòa, Giáo sư Vũ Văn Mẫu là một ngọn đuốc soi đường của nhiều thế hệ. Mặc dù chỉ là hậu bối và không trực tiếp lắng nghe ông giảng dạy, song gia tài học thuật ông để lại cũng đủ để tôi trang bị một hệ thống kiến thức nền tảng về luật học và nhận ra đâu là khoa học thật sự.

Nhân tiện, xin lạc đề một chút, trong thời gian bị giam và điều tra vào năm 2009, một vài vị tướng an ninh đến gặp tôi và xưng là tiến sĩ luật. Lúc trò chuyện với họ, bỗng nhớ về Giáo sư Vũ Văn Mẫu và các thầy của tôi, bất giác tôi mỉm cười thích thú. Cũng là một chữ “tiến sĩ” đó, mà sao khác xa nhau thế? Giá mà họ đừng khệ nệ với bằng cấp “tiến sĩ” như thi sĩ Tú Xương mô tả, chắc tôi đã kính trọng hơn nhiều lắm!

Trở lại câu chuyện, hôm nay nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Giáo sư Vũ Văn Mẫu, tưởng nhớ đến ông, tôi vẫn không thôi ao ước một ngày trên đất nước này, người Việt có được một nền luật pháp và học thuật pháp lý đạt đến tầm vóc và đỉnh cao của thế giới văn minh Tây phương, mà một thời tại mảnh đất miền Nam tưởng chừng chúng ta đã gần đạt đến.


(Hình đính kèm là tập luận án của Giáo sư Vũ Văn Mẫu đệ trình tại Đại học Luật khoa Paris ngày 1/7/1948)

(Có thể tham khảo thêm bài viết của Luật sư Lê Quang Vy tại https://www.facebook.com/quangvy.le.5 )

Posted in Luật Pháp | 1 Comment »

►Chứng cứ lịch sử và khía cạnh pháp luật về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 25/07/2014

Chứng cứ lịch sử và khía cạnh pháp luật về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông

 18-7-2014

 GS Tạ Văn Tài, Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ

CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ KHÍA CẠNH LUẬT PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN Ở VÙNG BIỂN CHUNG QUANH. TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP ĐÃ VÀ CÓ THỂ XẢY RA VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC BẰNG THƯƠNG NGHỊ, HÒA GIẢI HAY TÀI PHÁN

Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả các đá, bãi ngầm – phải nói thế mới đúng về mặt sự kiện thực tại và về mặt pháp luật và mới tôn trọng các quốc gia khác trong vùng) và các quyền chủ quyền (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật dành cho Việt Nam, thì có căn bản chắc chắn trong các chứng cớ sự kiện lịch sử và trong quốc tế công pháp truyền thống và luật quốc tế mới của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea,UNCLOS).

Ở đây, chúng tôi chỉ có thể trình bày những điểm chính trong một bài viết ngắn, vì trình bày chi tiết sẽ cần một bài dài hơn. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng đề ra các căn bản vững chắc cho việc xác lập chủ quyền Việt Nam và do đó sẽ tỏ rõ thiện chí của lập trường Việt Nam khi nói đến các đường lối thương nghị, hòa giải và tài phán về chủ quyền quốc gia và khai thác chung quốc tế.

1. Căn bản về sự kiện lịch sử và pháp lý của chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo và của các quyền chủ quyền trong các vùng biển bao quanh chúng

1.1. Sự xác lập chủ quyền lãnh thổ trên từng mẩu đất, đá trong các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Sự xác lập này phải dựa vào quy tắc thủ đắc chủ quyền lãnh thổ của luật quốc tế truyền thống hay thông lệ của 4 thế kỷ qua: một chính quyền của một quốc gia muốn xác lập chủ quyền trên một vùng đất đai thì phải tuyên bố ý định đó, sau khi khám phá hay chiếm hữu đất đai đó, và liên tục quản lý trong hòa bình, và nếu bị một chính quyền khác dùng võ lực chiếm mất, thì phải phản đối để không cho quyền lực mới đó thủ đắc chủ quyền bằng thời hạn tiêu diệt, nghĩa là có một thời gian mà chủ thể quyền lực mới thi hành chủ quyền liên tục mà không ai phản đối.

Mỗi một quốc gia yêu sách chủ quyền đối với một mẩu đất trong hai quần đảo nói ở đây (xin lưu ý chúng tôi dùng chữ “mẩu đất” vì hầu hết, nếu không phải tất cả, các mẩu đất chỉ là đá (reef, rock), chứ không phải là đảo (island), theo định nghĩa của UNCLOS), thì phải trưng ra chứng cứ đã khám phá và chiếm ngụ mẩu đất đó hợp pháp, trong hòa bình. (Vì thế mà Hoa Kỳ luôn nói, rất hữu lý, là không thiên về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, và chỉ khuyến cáo tranh chấp phải giải quyết trong hòa bình, theo luật quốc tế).

Ở Trường Sa, các mẩu đất đã được khám phá, chiếm ngụ và quản lý trong hòa bình bởi các quốc gia Đông Nam Á, và giữa họ không có tranh chấp lớn gì, và thực ra chỉ có tranh chấp khi một thế lực bên ngoài là Trung Quốc, chiếm đoạt bằng võ lực đá Gạc Ma từ tay Việt Nam vào năm 1988, giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, và gần đây lấn chiếm đá ngầm Scarborough của Philippines, đuổi dân chài và tàu chiến của Philippines ra xa. Nhưng chiếu luật quốc tế, các vụ xâm chiếm bằng võ lực này không biện minh được cho chủ quyền của Trung Quốc, vì UNCLOS chỉ dành quyền xây đảo nhân tạo trên đá ngầm cho các nước cận duyên, và nhất là cả Việt Nam và Philippines liên tục phản đối để tránh cho sự thủ đắc bằng thời hiệu khỏi xảy ra.

Riêng trường hợp Việt Nam, thì đã có các bằng chứng lịch sử ghi rõ chính quyền Việt Nam thời xưa đã ra lệnh các hải đội quốc gia làm các cuộc hải trình hàng năm của nhà nước ra Hoàng Sa trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến 9 Tây lịch). Hải trình này thực hiện bởi Đội Hoàng Sa (lập vào thời chúa Nguyễn Phúc Lan, 1635 – 1648). Và cũng đi ra Trường Sa, Côn Sơn và Hà Tiên – hải trình này thực hiện bởi Đội Bắc Hải, lập năm 1776. Đó là những chứng tích lịch sử được ghi nhận trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686) của Đỗ Bá hay trong Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn. Ngoài ra, còn có cả chứng cứ trong các tài liệu Trung Quốc, như Hải ngoại kỷ sự (1696) của Thích Đại Sán. Đến thế kỷ XIX, tài liệu lịch sử thời Nguyễn cho thấy các cuộc hải trình do nhà nước tổ chức vẫn tiếp tục từ năm 1803 đến khi người Pháp đô hộ Việt Nam (từ năm 1884), với những chỉ dụ chi tiết cho các đơn vị hải quân và các viên chức hành chánh địa phương. Thời thuộc địa, nhà cầm quyền Pháp nói tới ít ra là 6 đá hay mỏm đất trong vùng Trường Sa. Từ 1945, Việt Nam là quốc gia chiếm nhiều đá nhất với 29 đảo, đá (hay ít hơn, nếu trừ đi số đá bị Trung Quốc chiếm năm 1988 và các năm sau). So sánh với nước khác thì Trung Quốc mới chỉ bắt đầu để ý đến Trường Sa vào năm 1947 qua việc ông Bai Meichu, một nhân viên cấp thấp, vẽ bản đồ “đường 9 đoạn” thâu tóm 80% Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đối với Trường Sa, Trung Quốc hành động trên thực tại lần đầu tiên là khi Trung Hoa Dân quốc (THDQ) chiếm đảo Itu-Aba (đảo Ba Bình) năm 1956 mà không cần dùng võ lực, và lần thứ hai là khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) tấn công lực lượng hải quân Việt Nam năm 1988 tại đảo Gạc Ma. Trong khi Trung Quốc dùng võ lực lấn chiếm một số đá ở Trường Sa, thì Việt Nam tôn trọng luật quốc tế và quyền lợi các nước Đông Nam Á, vì Luật Biển Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1.1.2013, ghi nhận là danh sách các đảo, đá thuộc Việt Nam sẽ công bố sau – chắc là muốn định mức độ chủ quyền phải chăng, sau khi bàn với các nước Đông Nam Á khác.

Trong vùng quần đảo Hoàng Sa, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên các đảo/đá chỉ xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam. Trong biến cố làm cho tranh chấp sôi nổi mạnh mẽ là việc Trung Quốc, vào tháng 5.2014, đặt giàn khoan dầu khí HD-981 ở vùng biển giữa Hoàng Sa và miền Trung Việt Nam, ngay cạnh hai lô thăm dò dầu khí 142 và 143 của Việt Nam, thì Trung Quốc tuyên bố một câu là vị trí đặt giàn khoan “là hoàn toàn trong vùng biển của Hoàng Sa thuộc Trung Quốc”, hàm ý là ở trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, tính từ Hoàng Sa, nơi họ đã chiếm bằng quân sự, gần đây nhất là cuộc hải chiến năm 1974 với Việt Nam Cộng hòa. Vậy ta phải bàn về điểm pháp lý là quốc gia nào có chủ quyền chính đáng trên Hoàng Sa, vì việc tranh chấp chủ quyền nơi đây dã kéo ra một thời gian dài, cuộc khủng hoảng gây ra do giàn khoan HD-981 chỉ là biến cố gần đây nhất.

Những sự kiện lịch sử về việc Việt Nam khám phá và chiếm cứ Hoàng Sa (cũng như một số đá trong Trường Sa, như nói trên) thì có thể truy tầm trong các sử liệu Việt Nam đã có nhiều thế kỷ, thí dụ Phủ biên tạp lục nói ở trên, trong khi đó thì sử liệu Trung Quốc không đả động gì tới Hoàng Sa, Trường Sa, và nói đảo Hải Nam là biên giới cực nam của nước Tàu; trong các sử liệu Tàu đó, phải kể bản đồ chi tiết, năm 1717, thời vua Khang Hi nhà Thanh, do các nhà truyền giáo Dòng Tên nước Pháp soạn, mà một bản sao của J.B. Bourguignon mới được Thủ tướng Đức Angela Merkel tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Sử liệu Việt Nam thời các vua chúa và thời Pháp thuộc cho thấy nhiều lần nhà nước tuyên bố chủ quyền và xác lập quản lý cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Nhật ký của các nhà truyền gíao và du ký của các du khách Tây phuơng cũng nhắc lại như vậy.

Có hai nhóm đảo/đá trong Hoàng Sa. Nhóm phía tây, có tên là Crescent (nhóm Nguyệt Thiềm hay nhóm Lưỡi Liềm), trong đó có Hoàng Sa (Pattle), theo luật quốc tế phải coi là thuộc Việt Nam dù hiện do Trung Quốc chiếm, vì Trung Quốc đoạt bằng võ lực năm 1974 nơi tay Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong sự chống cự của hải quân VNCH thì cũng không tạo ra chủ quyền hợp pháp của họ, và cũng không tước mất đi quyền thừa kế quốc gia về mặt chủ quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam), mà chính quyền này liên tục phản đối sự chiếm cứ của người Tàu từ bao năm nay.

Về nhóm các hòn đảo, đá phía đông của Hoàng Sa, gọi là nhóm Amphitrite, trong đó có Phú Lâm (tiếng Anh gọi là Woody, tiếng Pháp gọi là Boisée), thì do người Pháp lơ là, nên vào năm 1909, Tổng đốc Quảng Đông tự cho mình quyền cho người Nhật khai thác phosphate ở đó, và do đó có người cho là sự xác lập chủ quyền Việt Nam không vững lắm. Nhưng lập trường giải thích ngược lại cũng có lý: nhiều sử liệu cho thấy công ty người Nhật Mitsui Bussan Kaisha tôn vinh thẩm quyền nhà cai trị Pháp, người Pháp vào năm 1920 gửi một phái đoàn khoa học tới Amphitrite, kể cả ở Phú Lâm, rồi vào năm 1938 lập đài khí tượng ở đây, vào năm 1946 phản đối quân đội THDQ chiếm đóng, và sau cùng năm 1950 trao quyền cho chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại khi quân đội Trung Hoa rút lui. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về hậu chiến, Liên Xô đưa ra đề nghị để Trung Quốc cai quản hai quần đảo, nhưng Hội nghị không ủng hộ, nhưng rồi sau đó Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Quốc gia Việt Nam ra tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì không nước nào phản đối. Sau khi Ngô Đình Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia tại VNCH (Miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Geneva 1954), thì ngoại trưởng của ông xác lập chủ quyền Việt Nam lần nữa, khi Trung Quốc chiếm Phú Lâm bằng võ lực năm 1956, do đó tránh hậu quả thời tiêu chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa.

Bây giờ ta cần giải quyết một sự kiện: cái công thư (hay công hàm) ngoại giao ngày 14.9.1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH ở Miền Bắc Việt Nam) gửi Tổng lý (Thủ tướng) Chu Ân Lai nhân dịp Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý. Sau nhiều lần viện dẫn công thư Phạm Văn Đồng, coi đó là lời nhượng lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam, thì vào tháng 6.2014, Trung Quốc lại dùng nó nhân dịp đặt giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Do đó, ta phải bàn luận cứ pháp lý trong chi tiết. Nội dung văn thư đại khái như sau: Sau khi Chu Ân Lai tuyên bố lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý tính từ lãnh thổ Trung Quốc, gồm lục địa và các đảo ở đại dương, như Đài Loan và các đảo quanh đó, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác, thì ông Phạm Văn Đồng viết cho ông Chu Ân Lai như sau: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý (Chu Ân Lai) rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.

Công thư không nói gì đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết, Hiệp định Geneva năm 1954 chia đôi Việt Nam đã trao quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, ở phía nam vĩ tuyến 17 (lằn ranh chia cắt) cho VNCH ở phía nam vĩ tuyến đó. Do đó, nhiệm vụ xác lập và hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc thẩm quyền VNCH. Chính quyền này, và hải quân của họ, đã mạnh mẽ xác định chủ quyền trong và sau trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa hải quân VNCH – lúc đó đang chiếm ngụ và quản lý các quần đảo – và hải quân Trung Quốc xông tới tấn công. Thủ tướng Phạm Văn Đồng của VNDCCH không có thẩm quyền, hay ý định, ra một tuyên bố chủ quyền về các quần đảo lúc đó đang thuộc VNCH. Ông chỉ tuyên bố công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố trước đó.

Sự hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) theo luật quốc tế. Cho nên dù rằng nguyện vọng trong khẩu hiệu “Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” biểu lộ một lý tưởng của nhiều người Việt, kể cả Hồ Chí Minh, thì từ năm 1954 đến năm 1975, sự hiện hữu của hai nước Việt Nam, tức VNDCCH và VNCH, là đúng với luật quốc tế, và theo đó VNCH là quốc gia hành xử chủ quyền tại các quần đảo trong thời gian đó.

CHXHCN Việt Nam là quốc gia kế quyền lãnh việc thừa kế vai trò chủ quản các quần đảo. Việc thừa kế chủ quyền này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới trong một bài diễn văn tại Quốc hội ngày 25.11.2011. Ông nói rằng vào năm 1974, Trung Quốc dùng võ lực chiếm nốt Hoàng Sa “đang dưới quyền quản lý thực tại của chính phủ Sai Gòn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối cuộc tấn công và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Năm 1975..Hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa,….năm đảo này do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý, chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta mở rộng thêm lên 21 đảo”.

Chiếu điều khoản quy định về sự hiện hữu của một. quốc gia trong Công ước Montevideo năm 1933 đúc kết luật pháp quốc tế truyền thống hay thông lệ đã có nhiều thế kỷ, thì VNCH là một chủ thể hội đủ 4 điều kiện pháp lý của một quốc gia: (a) một dân số ổn định, (b) một lãnh thổ rõ ràng, (c) một chính quyền, và (d) khả năng lập bang giao với các quốc gia khác. Khi các quốc gia nhìn nhận một quốc gia hội đủ 4 điệu kiện pháp lý này và lập bang giao với nó, thì sự nhìn nhận này là một quyết định chính trị thêm vào 4 tiêu chuẩn pháp lý. Do đó, dù một quốc gia không ưa và không nhìn nhận một quốc gia khác, nó cũng không thể triệt tiêu tư cách quốc gia của nước đó. Thí dụ Cuba bị Mỹ ghét và không nhìn nhận, thì Mỹ cũng không thể xóa bỏ tư cách quốc gia của Cuba. Trong thập niên 1920, Mỹ không nhìn nhận Liên Xô do người Bolsheviks cai trị, nhưng các tòa án Mỹ cũng phải công nhận quốc gia đó và do đó công nhận quốc gia đó có đặc quyền miễn trừ ngoại giao, không thể bị kiện để bị đòi bồi thường về chuyện quốc hữu hóa các tài khoản ký thác trong các ngân hàng ở Liên Xô. Thế mà VNCH đã được mấy chục nước nhìn nhận. Ngay Liên Xô cũng có lúc đề nghị thu nhận hai nước Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Việc nhận vào Liên Hiệp Quốc chỉ là một vấn đề chính trị và không phải là một tiêu chuẩn pháp lý quyết định sự ra đời của một quốc gia. Hiệp định Geneva quy định là Việt Nam tạm thời chia làm hai miền cho đến khi tổng tuyển cử thống nhất. Sự quy định đó cũng không phải là tiêu chuẩn để nói rằng chỉ có một Việt Nam sau đó, và VNCH “không có dưới ánh mặt trời”. Nói như vậy là không hiểu luật quốc tế trong nhiều thế kỷ đã quy định các tiêu chuẩn của sự hiện hữu của một quốc gia, là lẫn lộn các tiêu chuẩn của luật quốc tế với sự sắp xếp chính trị tạm thời do một số cường quốc đưa ra trong Hiệp định Geneva mà chỉ có một số quốc gia tham gia ký, là quên cả cái thực tại chính trị là vài chục quốc gia đã nhìn nhận VNCH, mà một số nhỏ các quốc gia ký Hiệp định không thể truất quyền của vài chục quốc gia đó.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói, và có thể nói trong quá khứ, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mặc nhiên ám chỉ (mơ hồ trong trường hợp này là một nghệ thuật ngoại giao và chính trị) là có hai nước Việt Nam thời gian 1954 trở đi, và ông chỉ nói tới tuyên nhận 12 hải lý lãnh hải của ông Chu Ân Lai mà không nói đến các vùng đất mà ông Chu liệt kê. Vì rằng làm sao mà ông Phạm Văn Đồng có quyền ban bố cho Trung Quốc chủ quyền đối với các vùng đất, đá cai quản bởi Đài Loan và các nước Đông Nam Á, kể cả VNCH? Nói có hai nước Việt Nam trong thời gian 20 năm đó cũng không làm giảm thành tích thống nhất đất nước sau này, sau năm 1975, vì trong lịch sử thế giới, nhiều quốc gia bị chia cắt rồi lại thống nhất, hay ngược lại. Tan hợp, hợp tan là lẽ thường trên trái đất.

Điểm thứ hai là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương không có giá trị nhượng đất, chiếu theo luật quốc tế. Cái lý thuyết Estoppel trong luật quốc nội một số nước, theo đó “điều nói ra thì không thể rút lại”,không thể áp dụng dễ dàng trong bang giao quốc tế, vì có điều kiện áp dụng khó hơn, như vụ giữa Đức với Đan Mạch và Hà Lan về tranh chấp thềm lục địa đã xử. Ngoài ra, Tòa án Công lý Quốc tế, trong vụ “Nuclear Tests Case, Australia & New Zealand versus France” năm 1974 (I.C.J.253), xét về ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương (unilateral declaration), đã xử rằng khi xét ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải giải thích chặt chẽ “ý định” của ngưòi tuyên bố: “Khi các quốc gia đưa ra tuyên bố có thể hạn chế bớt tự do hành động của mình, thì cần giải thích chặt chẽ… Chỉ cần xét văn từ trong lời tuyên bố có tỏ rõ một ý định rõ ràng hay không… Tòa án phải có quan điểm riêng về ý định của tác giả về ý nghĩa và phạm vi của lời tuyên bố đơn phương… Và không có thể theo quan điểm của một quốc gia khác không phải là một tham dự viên của lời tuyên bố đó”. Theo tiêu chuẩn của quy tắc luật trong bản án đó, ý định của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công thư năm 1958 phải được thẩm định theo văn từ hiển hiện trong văn bản (nói theo danh từ các luật sư hay dùng, là “within the four corners of the page”–trong bốn góc của trang giấy), thì công thư trên chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến các lãnh thổ thuộc quyền các nước khác. Ngoài ra, công thư cũng nên được chiếu rọi thêm ánh sáng bằng cách đặt công thư đó trong khuôn khổ Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH. Theo đó, vai trò Thủ tướng là một nhân viên của nội các, dưới quyền Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước (điều 44); và quyết định quan trọng như nhượng chủ quyền lãnh thổ, thì Chủ tịch nước phải ký một hiệp ước (điều 49, khoản a và h), rồi lại phải có Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao, phê chuẩn (điều 22 và 23). Theo học lý “ultra vires” (vượt quyền), ông Phạm Văn Đồng không thể hành xử quyền qua mặt Chủ tịch nước và Quốc hội được. Nghĩa là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là lời tuyên bố ủng hộ ngoại giao hải phận 12 hải lý mà Trung Quốc nóng lòng tuyên bố, vì lúc đó mối đe dọa của Hoa Kỳ đang tiến sát tới lục địa Trung Quốc, với sự hiện diện của quân đội Đài Loan có Hoa Kỳ hỗ trợ với tàu chiến và pháo hạm tại 2 đảo Kim Môn và Mã Tổ, chỉ cách Trung Quốc đại lục vài cây số, và với Hạm đội 7 mạnh mẽ gấp bội tại eo biển Đài Loan.

Tóm lại một tòa án quốc tế không cần để ý đến cách giải thích công thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 một cách chủ quan, như Trung Quốc đã làm, để thủ lợi cho mình.

Còn vài luận cứ khác của Trung Quốc cũng nên bàn để bác bỏ:

Trung Quốc viện dẫn hai bài báo trong Nhân Dân nhật báo, số ngày 6.8.1958 đăng bản tuyên bố của Chu Ân Lai mà có cả đoạn ghi hai chữ Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa) và số báo ra ngày 9.5.1965 phản đối Mỹ vi phạm hải phận Trung Quốc tại Tây Sa và Nam Sa. Trung Quốc cũng nhắc lại lời thứ trưởng ngọai giao VNDCCH Ung Văn Khiêm về sự kiện này, rồi nói VNDCCH đã im lặng nhiều năm, không phản đối Trung Quốc khi Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm thuộc nhóm Amphitrite ở phía đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956, và khi Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Cresent phía tây vào năm 1974. Sau hết, Việt Nam đã in bản đồ có ghi tên Tây Sa (Trung Quốc), Nam Sa (Trung Quốc) cùng với cuốn sách giáo khoa lớp 9, có một dòng như sau: “Chuỗi đảo từ Nam Sa và Tây Sa, tới Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ và Châu Sơn, có hình như cái cung và tạo thành bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc”.

Việt Nam có thể phản biện là ngay công thư Phạm Văn Đồng cũng không tạo ra văn kiện nhượng đất, thì có ăn thua gì mấy bài báo của phóng viên hay lời nói của ông Ung Văn Khiêm, chỉ nhắc lại nguyên văn những lời của Trung Quốc để “nịnh” Trung Quốc ở thời điểm Việt Nam tùy thuộc viện trợ Trung Quốc. Những lời này không có giá trị nhượng đất, vì theo luật, văn thư nhượng đất phải xuất phát từ các cơ quan có thẩm quyền. Về sự im lặng của VNDCCH khi mất các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa trước 1975, thì lý do là vào thời gian đó, nhiệm vụ phản đối là ở trong tay VNCH, đang có chủ quyền và đang quản lý các quần đảo. Và VNCH đã phản đối mạnh mẽ, bằng lời và bằng trận hải chiến anh dũng năm 1974. Sau đó, khi sắp thống nhất đất nước và sau khi thống nhất, hải quân của VNDCCH nhanh chóng chiếm Trường Sa, và sau đó, từ 1976, chính phủ nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiếng phản đối Trung Quốc để bảo lưu chủ quyền trên các đảo, đá, đã bị Trung Quốc chiếm. Việt Nam in bản đồ ghi chú như đã nói là chiều theo cách tuyên truyền của Trung Quốc (mà Trung Quốc có cử cố vấn làm việc trong cục bản đồ của Việt Nam), mà không có giá trị của lời minh thị nhượng đất của một cơ quan có thẩm quyền như Quốc trưởng trong một văn bản, và cũng vô giá trị về xác lập chủ quyền như việc Trung Quốc in hình “đường 9 đoạn” vào hộ chiếu do Trung Quốc cấp cho công dân của họ, thì cũng chẳng tạo ra chủ quyền của Trung Quốc đòi chiếm trên 80% Biển Đông. Câu văn trong sách giáo khoa lớp 9 chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền, một hoa ngữ, để ủng hộ Trung Quốc vào lúc mà họ đang lo lời tuyên bố trước đó của Tổng thống Mỹ Johnson ấn định vùng đó là vùng chiến tranh, chứ không phải là văn kiện nhượng đất. Mà làm sao Việt Nam có thể nhượng Đài Loan hay các hòn đảo của các nước Đông Nam Á cho Trung Quốc chỉ bằng việc in một câu trong sách giáo khoa?

Sau khi giải quyết khúc mắc chính là công thư Phạm Văn Đồng năm 1958, thì nếu nhìn toàn cục diện thời gian hơn 20 năm, 1954 – 1975, trong đó có hai nước Việt Nam, ai cũng thấy vai trò xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và quản lý chúng, là ở trong tay VNCH, do Hiệp định Geneva 1954 trao phó. Hiệp định này có một số cường quốc ký, cả Trung Quốc và VNDCCH cũng ký (do ông Phạm Văn Đồng đại diện). Hành xử chủ quyền do quốc tế giao, Tổng thống Ngô Đình Diệm của VNCH ký hai sắc lệnh sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam, gửi hải quân đến các quần đảo này, và cho phép một kỹ nghệ gia khai thác phosphate. Việc xác lập chủ quyền của VNCH đối với quần đảo Hoàng Sa được bày tỏ rõ rệt, mạnh mẽ nhất với cuộc hải chiến ngày 19.1.1974 của hải quân VNCH chống lại hải quân Trung Quốc tới xâm chiếm Hoàng Sa, sau khi Trung Quốc thông báo chủ quyền (với hòn đảo này) vào ngày 12.1.1974 thì VNCH đã phản đối vào ngày 16.1.1974 với lời yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp. Sau trận hải chiến, ngày 20.1.1974, VNCH lại yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc họp khẩn để can thiệp. Lần chót VNCH nêu vấn đề chủ quyền và phản đối Trung Quốc là tại Hội nghị Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào ngày 28.6.1974 ở Caracas (Venezuela).

Sau khi thống nhất đất nước, CHXHCN Việt Nam, kế quyền về các quần đảo, đã nhiều lần phản đối sự xâm chiếm của Trung Quốc. Ngày 24.9.1975, khi gặp phái đòan Việt Nam sang thăm, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nhìn nhận có tranh chấp về các quần đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam, và gợi ý đàm phán để giải quyết. Liên tục nhiều năm, Việt Nam đã phản đối và đưa ra các chứng cứ lịch sử về chủ quyền, trong lời tuyên bố hay các bạch thư (sách trắng) vào các năm: 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988 (phản đối Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào đảo Hải Nam), 1990, 1991, 1994 (phản đối Trung Quốc ký hợp đồng với hãng Crestone cho phép thăm dò trong thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam), 2012 (phản đối Trung Quốc đưa ra chương trình quản lý các đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Việt Nam cũng phải đổ máu bảo vệ chủ quyền ở Gạc Ma năm 1988 khi đem đồ tiếp tế đến cho các chiến sĩ bảo vệ hòn đá đó, mà Trung Quốc tàn sát 64 chiến sĩ hải quân khi họ đang lội nước ngang lưng. Trong vụ giàn khoan HD-981 từ tháng 5.2014 đến nay, Việt Nam đã đưa tàu kiểm ngư và tàu cảnh sát biển tới vùng biển nơi HD-981 đang hoạt động trái phép để bảo vệ chủ quyền và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan. Ngư dân Việt Nam vẫn tiếp tục đánh cá ở gần đó, mặc dùng bị các tàu Trung Quốc bao vây nhưng họ vẫn giữ một khoảng cách an toàn, hầu tránh xung đột võ trang, vừa để mưu sinh, vừa để bảo vệ chủ quyền với sự tự kiềm chế, mặc dù Trung Quốc rất hung hãn, dùng võ lực, đâm tàu Việt Nam và dùng súng nước tấn công tàu Việt Nam. Các lời phản đối và hành động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển Hoàng Sa trong vụ giàn khoan HD-981 càng cho thấy chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh luôn được duy trì, không hề bị xói mòn.

1.2. Quyền lợi Việt Nam trong vùng biển, tức vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Vùng biển quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông là nơi Trung Quốc gây ra tranh chấp vì Trung Quốc vẽ ra “đường 9 đọan”, còn gọi là “đường lưỡi bò”, để mạo nhận chủ quyền trong khu vực rộng tới 80% Biển Đông. Nhưng Trung Quốc không đưa ra được căn bản luật quốc tế nào cho sự nhận vơ này, mà còn mơ hồ hay mâu thuẫn trong lúc biện giải tại các hội nghị quốc tế, khi thì nói đến “vòng cung lịch sử” (historical circumference), khi thì nói đến các “vùng biển lân cận” (adjacent waters) tính từ các đảo/đá của Hoàng Sa và Trường Sa mà họ cũng đã nhận vơ như đã nói ở trên.

Nhưng các yêu sách quá đáng và vô căn cứ này trái với UNCLOS, vì các điều 56, 57, 76, 77 qui định là các quốc gia cận duyên (quanh Biển Đông) có chủ quyềnquyền chủ quyền (sovereign rights) về tài nguyên trong vùng lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý tính từ đường cơ sở (base line), tức lằn mức thủy triều thấp, và trong vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, cũng như ở thềm lục địa (Continental Shelf, CS) tính từ đường cơ sở ra thềm lục địa hay 200 hải lý. Các quyền chủ quyền về tài nguyên, tài nguyên sinh vật như cá sống trong vùng nước 200 hải lý đó, cũng như tài nguyên vô sinh như dầu khí và khoáng chất dưới đáy biển, là các quyền chuyên độc hay dành riêng (exclusive rights) của các quốc gia cận duyên, mà họ được hưởng mà không cần ra tuyên bố xác lập. Các quốc gia cận duyên có quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá, dù nhô trên mặt nước biển hay ngầm, thành các đảo nhân tạo, thi hành nghiên cứu biển, qui định việc bảo vệ môi sinh, miễn là họ tôn trọng các quốc gia khác khi họ sử dụng quyền tự do lưu thông hải hành (freedom of navigation) hay đặt các ống dẫn dầu và cáp ngầm. Các quốc gia khác đó không có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia cận duyên, nếu không có sự ưng thuận minh thị của các nước cận duyên. Thực là UNCLOS dành các quyền chuyên độc cho các nước cận duyên một cách chắc chắn như “đinh đóng cột”.

Về cái quyền của tất cả các quốc gia, cận duyên hay không cận duyên, được tự do lưu thông trên biển, tại vùng đặc quyền kinh tế hay vùng biển cả (high sea) ở ngoài xa hơn, thì nó bị vướng mắc vào yêu sách “đường 9 đoạn” vô căn cứ của Trung Quốc (tại Hội nghị phân chia biên giới biển ở Houston, Hoa Kỳ năm 2010, đại điện Trung Quốc đã mở miệng nói một câu rất xúc phạm các nước khác là “vào trong vùng ‘đường 9 đoạn’, quí vị phải tuân theo luật Trung Quốc”). Đường “đường 9 đoạn” này hoàn toàn trái với UNCLOS (điều 89 của UNCLOS nói yêu sách chủ quyền trên biển cả là vô giá trị) và trái với luật quốc tế cổ truyền, hay ngay cả luật tương đối mới là Hội nghị Luật Biển năm 1958 (chỉ công nhận vùng lãnh hải 3 hải lý thôi).

Được vẽ ra bởi một nhân viên cấp thấp từ thời Trung Hoa Dân quốc năm 1947, “đường 9 đoạn” bị lãng quên cho đến năm 2009, khi triển vọng dầu khí ngày càng cao ở Biển Đông, thì Trung Quốc mới đưa “đường 9 đoạn” này vào hồ sơ xin nới rộng thềm lục địa gửi Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Ấn định biên giới thềm lục địa (UN Commission on the Limit of the Continental Shelf). Lập tức, nó bị Việt Nam, Philippines và Indonesia phản đối. Những bằng chứng lịch sử Trung Quốc đưa ra để biện minh cho “đường 9 đoạn” xâm phạm vào quyền của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Đông Nam Á, như bằng chứng về các cuộc hải trình của Đô đốc Trịnh Hòa vào thế kỷ XV, thì không thể thắng được các bằng chứng cả 4 ngàn năm sinh họat nghề cá, du lịch và thương mại hàng hải, của các dân tộc Malaysia, Indonesia (họ đến tận Madagascar, để lại ngôn ngữ và 50% gene), Philippines, Việt Nam và Đế chế Khmer – Phù Nam thời trung đại – có trình bày trong hồ sơ Philippines nộp cho Tòa án Trọng tài về Luật Biển.

Các viên chức và học gỉa Trung Quốc đã không trả lời nổi các câu chất vấn về yêu sách chủ quyền ở đại dương trong “đường 9 đoạn” tại các hội nghị quốc tế.

2. Dù có căn bản vững chắc về sự kiện và về pháp lý cho chủ quyền của mình, người Việt nên chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền đã hay sẽ xảy ra qua thủ tục thương nghị, hòa giải (trong đó có giải pháp khai thác chung) hay tài phán.

Tranh chấp ở Biển Đông trở nên gay gắt khi Trung Quốc vào ngày 2.5.2014 đã kéo giàn khoan dầu khí HD-981 vào đặt trong vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa, cách bờ biển miền Trung Việt Nam chưa tới 120 hải lý để khoan thăm dò dầu khí. Trong khi Trung Quốc nói vị trí đặt giàn khoan này nằm ở trong vùng biển của Tri Tôn, gần đảo Hải Nam của Trung Quốc thì Việt Nam nói là nó đặt trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Sau hơn 70 ngày tranh luận gay go khắp nơi và gây nhiều va chạm trên biển, và sự cô lập của Trung quốc trước phản ứng mạnh bất lợi cho Trung quốc trên trường ngoại giao quốc tế, từ Việt Nam đến các cường quốc Âu, Mý,Úc,Nhật,Ấn v.v.thì đến ngày 15.7.2014,Trung Quốc đã rút giàn khoan này, nhưng nói là vì để tránh bão và có thì giờ nghiên cứu các mẫu dầu khí thu được, nghĩa là giành quyền quay lại ở Biển Đông. Như vậy tranh chấp lại có thể tái phát và những bàn luận sau đây, tức sự phân tích toàn cục các vấn đề tranh chấp biển đảo và đề nghị các sách lược hay thủ tục giải quyết tranh chấp, vẫn là cần thiết cho tương lai. cho các học gỉa cùng các nhà làm chính sách.

Trước tiên, phải liệt kê các vấn đề tranh chấp trước khi suy ra các cơ quan, định chế và thủ tục giải quyết tranh chấp.

2.1. Việc Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, kèm theo các biện pháp võ lực, dẫn tới các vi phạm chủ quyền lãnh lãnh thổ của Việt Nam về đảo/đá, do luật quốc tế truyền thống cũ quy định và các vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam về tài nguyên trong các vùng biển dưới mặt nước, và quyền tự do lưu thông của mọi quốc gia, do luật mới của UNCLOS 1982 dành cho các quốc gia, nhất là các quốc gia cận duyên quanh Biển Đông.

Bộ Ngọai giao Trung Quốc biện minh cho việc đặt giàn khoan vào vị trí đã nói bằng một câu ngắn gọn rất nham hiểm, vì họ tránh viện dẫn “đường 9 đoạn” đã bị các nước chất vấn, rằng giàn khoan “đặt hoàn toàn trong vùng nước của Hoàng Sa của Trung Quốc” (placed completely within the water of China’s Paracels). Như vậy là họ nói hai vế trong câu này, mà Việt Nam phải cố bác bỏ với các luận cứ có nội dung vững chắc như nói trên:

– Vế (i): Hoàng Sa thuộc chủ quyền của họ từ lâu (sau này họ đưa thêm vào hồ sơ nộp cho Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Kimon sau khi Việt Nam phản đối mạnh mẽ, có sự ủng hộ của nhiều nước, để nói là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng xác nhận lại cái chủ quyền này mà họ đã có từ lâu). Việt Nam sẽ phải cãi lại về điểm chủ quyền lãnh thổ này, theo như đã nói ở trên khi bàn về chứng cứ lịch sử, công thư ông Phạm Văn Đồng và các biến cố xác lập chủ quyền, kể cả trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, và vấn đề này, phải kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) ở The Hague, Hà Lan. Tuy nhiên, kiện đòi chủ quyền lãnh thổ tại ICJ, phải vượt trở ngại là làm sao cho Trung Quốc chấp nhận ra tòa với việc ký nhận điều khoản nhiệm ý (optional clause) công nhận thẩm quyền của ICJ.

– Vế (ii): vị trí giàn khoan ở trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa đang thuộc quyền Trung Quốc. Việt Nam cũng sẽ phải cãi về điểm này là vẫn liên tục phản đối sự chiếm đóng sau khi Trung Quốc dùng võ lực tấn công quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và năm 1974, rồi chiếm đóng từ đó đến nay; khẳng định rằng Trung Quốc không có quyền về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa như họ tuyên bố. Một luận cứ khác để bác cái vế (ii) này là nói rằng, cho dù giả thiết – giả thiết mà thôi – là Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa, để bàn cho hết lý lẽ, thì Việt Nam có thể xin Tòa án Trọng tài Luật Biển – đây là vụ kiện thứ 2 của Việt Nam – theo thẩm quyền bắt buộc về giải thích và áp dụng UNCLOS, phải ra một bản án tuyên nhận rằng tất cả các hòn như Tri Tôn hay ngay cả Phú Lâm tại Hoàng Sa, đều không hội đủ điều kiện để là đảo theo định nghĩa của Điều 121 của UNCLOS. Đó phải là nơi có đủ điều kiện hỗ trợ cho đời sống con người và một nền kinh tế tự túc, lúc còn trong tình trạng thiên nhiên sơ khai (như có nước ngọt, thực phẩm nuôi và trồng tại chỗ – nếu chỉ có cocacola thay nước như một học giả Malaysia nói đùa, thì không phải là đảo); không đủ điều kiện là đảo thì chỉ có thể là đá (reef, rock) theo khoản 3 của Điều 121. Và nếu là đá thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở chung quanh, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý (theo khoản 3, Điều 121). Còn nếu là đảo thì có các vùng nước chung quanh như lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous Zone), vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giống như lục địa vậy. Trước Tòa án Trọng tài Luật Biển, Việt Nam có thể theo thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) để kéo Trung Quốc ra tòa, mà yêu cầu tòa dùng thẩm quyền giải thích và áp dụng UNCLOS (Điều 286 và Điều 288), để Việt Nam trình bày được chứng cứ lịch sử của nhiều thế kỷ về hoạt động của đội Hoàng Sa trước đây hàng năm đi ra quần đảo đều phải mang nước ngọt và thực phẩm đi theo, rồi không sống quanh năm trong một nền kinh tế tự túc được, và do đó, ngay bây giờ Trung Quốc cũng không đòi quy chế đảo cho Hoàng Sa được, và cũng không đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho Hoàng Sa được. Và do đó, giàn khoan HD-981 đã xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Mở rộng chiến thuật phản biện này sang các đá ở Trường Sa, mà minh chứng tất cả các hòn ở đó đều là đá trong trạng thái thiên nhiên trước khi xây các kiến trúc nhân tạo, thì có thể giảm thiểu nhiều sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc trong vùng biển Trường Sa, vì dù Trung Quốc có chiếm vài đá và đá ngầm, họ cũng không thể đòi gì rộng hơn 12 hải lý lãnh hải quanh các đá đó (đá ngầm cũng không tạo ra lãnh hải, có xây trên đó cũng không tạo thành đảo, và chỉ quốc gia cận duyên mới có quyền xây trên đá ngầm – điều 60 UNCLOS), không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xuất phát từ các hòn đá; và “đường 9 đoạn” càng mất cơ sở là có hòn đất nào đó để bám vào, làm cứ điểm xuất phát.

Nhưng Trung Quốc còn có thể dùng luận cứ khác, không dựa vào Hoàng Sa, mà dựa vào bờ biển Hải Nam làm đường cơ sở, từ đó tính ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ là 200 hải lý, và đo đó giàn khoan nằm trong khoảng 180 hải lý của các vùng biển đó của Trung Quốc, và dù giàn khoan cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý, thì kết quả sau cùng cũng là sự chồng lấn giữa hai vùng biển của hai quốc gia cận duyên đối diện nhau mà ta thấy đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới. Chiếu theo UNCLOS, thì bổn phận pháp lý của hai quốc gia đó là thương lượng để tìm một giải pháp công bình (equitable solution) trước khi khởi kiện đem nhau ra tòa, thí dụ giải pháp dùng “đường trung tuyến” (median line) chẳng hạn. Điều này có nghĩa là vụ Việt Nam kiện Trung Quốc thì sẽ có khó khăn hơn vụ Philippines kiện Trung Quốc (dù Philippines kiên nhẫn thương nghị với Trung Quốc suốt 17 năm, Philippines cũng không có bổn phận pháp lý phải thương nghị, vì Trung Quốc dùng võ lực chiếm đá ngầm Scarborough cách Trung Quốc hơn ngàn hải lý, ở trong thềm lục địa của Philippines, chứ không có vùng chồng lấn nào cả, rồi xây thêm kiến trúc nhân tạo, cho nên nó không tạo ra quyền nào về vùng biển đó, hay đảo nhân tạo đó). Nhưng dù nội dung thương lượng sẽ khó, nhưng Việt Nam đã nỗ lực thương lượng, 30 lần cố liên lạc ở nhiều cấp, cao và thấp, với Trung Quốc mà không được trả lời, thì Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS như đề cập dưới đây.

Điểm thứ 2 để Việt Nam kiện trước Tòa án Trọng tài Luật Biển là Trung Quốc đã vi phạm Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS là từ chối đáp lại 30 lần Việt Nam đưa lời mời thương lượng, tức là đã không tỏ ra có tinh thần hiểu biết và hợp tác (understanding and cooperation) mà lại còn dùng các biện pháp võ lực như bắn súng nước hay đâm vào tàu Việt Nam để gây thiệt hại về vật chất hay thân thể cho phía Việt Nam, thay vì có các đề nghị về các biện pháp tạm thời, theo các điều khoản trên.

Điểm thứ 3 Việt Nam có thể kiện là Trung Quốc, đó là Trung Quốc với tư cách là một quốc gia cận duyên, đã làm cản trở tự do lưu thông trên biển – vi phạm khoản 1a Điều 297 của UNCLOS – bằng cách gửi một số lớn tàu hải giám, hải cảnh, ngư chính, cả tàu quân sự và máy bay quấy rối ở vùng biển quanh vị trí họ đặt trái phép giàn khoan, không cho các tàu của các nước khác tới gần, không cho tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư Việt Nam thực thi pháp luật hay thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động mưu sinh theo truyền thống.

Điểm thứ 4 Việt Nam có thể kiện Trung Quốc là hành động do họ gây ra đã vi phạm nhân quyền của dân chài Việt Nam, tức là họ đã dùng bạo lực đâm chìm tàu của ngư dân Việt Nam (vụ Trung Quốc đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 ngày 26.5.2014 chẳng hạn), ngăn cản họ đánh cá trong các vùng ngư trường truyền thống của họ, chiếm đoạt ngư cụ và cá, bắt chuộc tầu cá. Như vậy là tước đi quyền kiếm sống của ngư dân Việt Nam. Vi phạm này, nếu xảy ra trong vịnh Bắc Bộ thì Việt Nam có thể viện dẫn Hiệp định Trung – Việt về Nghề Cá ở vịnh Bắc Bộ, buộc hai bên phải giải quyết hòa bình. Nếu vi phạm xảy ra ở ngoài vùng vịnh Bắc Bộ, thì Chính phủ có thể kiện Trung Quốc hay ủy quyền cho dân chài kiện Trung Quốc, trước Tòa án Trọng tài Luật Biển theo quy định của UNCLOS, hay có thể nêu vấn đề Trung Quốc vi phạm nhân quyền hàng loạt này trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Trong tương lai, các điểm vi phạm của Trung Quốc nói trên vẫn có thể dùng bởi các nhà làm chính sách hay bởi các chuyên gia pháp luật để làm điểm kiện (counts) trong một hoàn cảnh khác sau vụ giàn khoan, trong đó Trung Quốc tuy tuyên bố “trỗi dậy trong hòa bình” nhưng kỳ thực vẫn hung hãn vi phạm luật quốc tế và quyền lợi quốc gia Việt Nam

2.2. Các cơ quan, định chế và thủ tục gỉai quyết tranh chấp.

Một nguyên tắc căn bản phải theo trong các tranh chấp từ khi có Liên Hiệp Quốc là bổn phận pháp lý của mọi quốc gia phải dùng phương pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp, chiếu theo Điều 2 và điều 33 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, và chỉ được dùng võ lực khi tự vệ chính đáng, vì rằng từ nay chỉ có Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mới được giao phó việc dùng võ lực, để giữ hòa bình.

Có 3 thủ tục chính: (i) các thủ tục phi tài phán như thương lượng, hòa giải; (ii) thủ tục tài phán trước Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa án Trọng tài Luật Biển; và (iii) trình ra các cơ quan chính trị quốc tế như Đại hội đồng hay Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc hay các tổ chức khu vực như ASEAN.

(i). Trước hết là thủ tục thương lượng và hòa giải

Về tranh chấp phân chia ranh giới vùng biển, như trường hợp chồng lấn giữa hai vùng đặc quyền kinh tế hay hai thềm lục địa của hai nước, thì khoản a Điều 298, cũng như Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS đòi hỏi các quốc gia có bờ biển gần nhau phải dùng tới các thủ tục đó, để nỗ lực đạt tới những giải pháp công bình (equitable solutions). Việt Nam theo đúng UNCLOS, đã kêu gọi thương lượng, tới chừng 30 lần, kể cả việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam liên lạc với lãnh đạo Trung Quốc mà Trung Quốc không hồi đáp. Việt Nam được công luận thế giới ủng hộ vì hành xử bình tĩnh hơn Trung Quốc, mang tiếng là “anh khổng lồ bắt nạt”. Vô hình trung, Việt Nam áp dụng ngọai giao mềm dẻo như ngọai trưởng Talleyrand của Napoleon đã khuyên trong câu: “trong ngọai giao, không nên hăm hở quá”, hay như vua Quang Trung làm lành xin cưới công chúa nhà Thanh sau khi đại thắng quân Thanh. Việt Nam nhấn mạnh đến nhu cầu thương lượng thân thiện giữa các nước bình đẳng theo đúng tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS và các thỏa ước trong vùng nhưTuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) giữa ASEAN với Trung Quốc. Rõ ràng là sau khi nhận thấy các quốc gia Á châu lo ngại sự hung hãn của Trung Quốc qua những gì họ đã làm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào tháng 5 và 6.2014, sẽ khiến các nước này ngã theo Mỹ, Nhật, châu Âu, Ấn Độ, Úc, thì Trung Quốc mới dịu giọng mà gửi cho Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một tờ trình, gợi ý là có lẽ hai nước Trung Quốc và Việt Nam chưa có thương lượng về ranh giới biển, cho nên hai bên nên có dịp trình các yêu sách theo thủ tục UNCLOS. Và vào ngày 16.7.2014 thì Trung Quốc rút giàn khoan.

Ngoài thương lượng song phương, các quốc gia nhỏ tại Đông Nam Á phải cùng nhau, và cùng các cường quốc khi thích hợp, sử dụng ngọai giao đa phương để nói chuyện với Trung Quốc về vấn đề tự do lưu thông trên biển và khai thác tài nguyên trong vùng biển cả ngoài các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Phải có mặt trận thống nhất kiểu này mới làm chùn bước Trung Quốc khi vi phạm nền pháp trị quốc tế, vì Trung Quốc sẽ ngại bị cô lập hóa. Đặc biệt, Việt Nam nên sử dụng ngoại giao đa phương vì tuy là quốc gia mạnh nhất Đông Nam Á về quân sự, nhưng Việt Nam là ở tuyến đầu mà Trung Quốc nghĩ là có thể bắt nạt, để làm gương cho các nước nhỏ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận rõ điểm này khi ông tuyên bố là Việt Nam muốn làm việc với ASEAN trước tiên về Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (Code of Conduct, COC) trước khi bàn với Trung Quốc, hay khi ông kêu gọi tại Diễn đàn Shangri-La là cần tạo “niềm tin chiến lược” (strategic trust).

Có nên dùng thương nghị để đạt các thỏa ước phát triển chung (joint development) hay không? Ông Đặng Tiểu Bình đề nghị 3 khẩu hiệu cho 3 thành tố của giải pháp của Trung Quốc cho các tranh chấp về đảo/đá và vùng biển ở Biển Đông: “zhu quan zai wo, ge zhi zheng yi, gong tong kaifa” (chủ quyền ở ta, gạt bỏ tranh chấp, hợp tác khai thác). Khẩu hiệu 2 chính là ước muốn của các nước Đông Nam Á, vì ta thấy nỗ lực vẫn tiếp tục cho việc triển khai DOC, vốn chỉ là khuyến cáo, thành COC có giá trị ràng buộc pháp lý, để giảm tranh chấp. Khẩu hiệu 3 chỉ là danh từ khác cho đường lối phát triển tài nguyên thiên nhiên trong thế giới ngày nay, tức liên doanh giữa một quốc gia với các xí nghiệp của quốc gia khác, thí dụ liên doanh khai thác dầu khí giữa hãng Mỹ và Việt Nam trong vùng biển Việt Nam, trong đó hợp đồng chia sản phẩm là một thành tố; không ai cần lo lắng về các liên doanh này. Chỉ có khẩu hiệu 1 của ông Đặng về chủ quyền là có thể gây lo ngại cho các nước nhỏ ở Đông Nam Á, vì có vẻ như Trung Quốc giống như con hổ nằm rình mồi sẽ xông ra nuốt chửng các nước yếu khi thâu tóm chủ quyền trên Biển Đông. Chúng tôi đề nghị giải tỏa nỗi lo sợ này bằng cách giảm hành vi đe dọa, bá quyền, lấn lướt của Trung Quốc với sự chất vấn liên tục trong thương lượng và có thể cả trong các vụ kiện trong các tòa án quốc tế, buộc Trung Quốc phải định nghĩa rõ, theo luật quốc tế, các yêu sách chủ quyền của họ và giới hạn của yêu sách ấy, trên đảo đá, trong các vùng biển. Cũng như trong tòa án quốc nội, cần có sự chất vấn (cross-examination) giữa các bên đương tụng thì chân lý mới sáng tỏ. Và trong tòa án quốc nội hay quốc tế, lập trường các bên sẽ ôn hòa hơn, phải chăng hơn, tránh được xung đột. Khi Trung Quốc phải trình ra các lý lẽ làm nền tảng cho các yêu sách của họ, theo tiêu chuẩn của luật quốc tế, họ sẽ bớt ngang ngược hơn, và sẽ tỉnh thức mà thấy là một đại cường muốn được kính trọng và có uy tín, tức là những thành tố của vai trò và ảnh hưởng của cường quốc, thì họ phải cư xử có trách nhiệm, có tốt lành, tôn trọng nền pháp trị, chứ không như kẻ côn đồ ngoài vòng pháp luật. Đức Đạt Lai Lạt Ma có nói rằng: “Đương đầu với Trung Quốc cần phải cương quyết giữ vững lập trường, không sợ hãi, mà cũng không tỏ sự tức giận”.

(ii) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Trọng tài Luật Biển (ATLS)

a. Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế về chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa – mà Trung Quốc đang xâm chiếm của Việt Nam từ năm 1974, thì phải vượt qua được sự từ chối trình diện tòa của Trung Quốc vì họ sẽ không ký điều khoản nhiệm ý (optional clause) để nhận thẩm quyền của Tòa, do đó tòa sẽ có thể không thụ lý vụ kiện.

Nhưng thiết nghĩ có hai cách vượt trở ngại này.

– Trước hết, trong vụ Case Concerning United States Diplomatic and Consular Staff in Teheran II (US v. Iran) (ICJ 1980), khi một quốc gia từ chối trình tòa để phản đối thẩm quyền tòa, Tòa vẫn tuyên án được theo quy tắc sau: Nếu Tòa án Công lý Quốc tế thấy quốc gia vắng mặt trước đó, trong một văn kiện, như Hiệp ước thân hữu chẳng hạn, đã có ưng thuận nào đó về thẩm quyến tòa và hơn nữa quốc gia nguyên đơn có trình hồ sơ đầy đủ và có tính thuyết phục cao, Tòa có thể tuyên án dù quốc gia kia vắng mặt. Vậy Việt Nam mà trình bày đủ chứng cứ lịch sử và luận cứ pháp lý vững chắc về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thì có thể xin một bản án có lợi, nếu có thể tìm ra sự ưng thuận ra tòa có trong Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc vào năm 2000. Hoặc có thể bắt chước Trung Quốc trong vụ kiện của Philippines không ra tòa án trọng tài nhưng xuất bản mấy ngàn trang sách về nội dung lập trường của mình, như một biện pháp vận dụng dư luận quốc tế; Việt Nam có thể chuẩn bị kỹ hồ sơ chủ quyền lãnh thổ trên Hoàng Sa mà đem nạp trong đơn kiện ở Tòa án Công lý Quốc tế, kèm lời mời Trung Quốc chấp nhận thẩm quyền của tòa để làm sáng tỏ vấn đề. Giáo sư Jerome A. Cohen trong Hội thảo quốc tế Hoàng Sa, Trường Sa – Sự thật lịch sử, tổ chức ở Đà Nẵng ngày 20.6.2014 mong đợi các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á cứ đến gõ cửa Tòa án Công lý Quốc tế rồi mời Trung Quốc (nếu họ tin là lẽ phải về phần mình), thì ra tòa mà bàn luận. Dù Việt Nam có nạp hồ sơ và bị từ chối xét xử vì Trung Quốc không chịu trình tòa, thì cũng như đã “treo” được hồ sơ trước cửa Tòa cho thiên hạ đọc, và đạt được thắng lợi tuyên truyền trước công luận quốc tế.

– Thứ hai, Việt Nam hay một nước bạn của Việt Nam có ảnh hưởng mạnh, có thể yêu cầu Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hay một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc xin một bản án cho ý kiến (advisory opinion)về bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa thì Tòa án Công lý Quốc tế cũng có thể cho. Thí dụ như trong án Advisory Opinion on the Western Sahara (ICJ 1975), do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu xin một bản án ý kiến về một yêu sách lãnh thổ, thì Tòa án Công lý Quốc tế đưa ra quy tắc là Tòa không cần sự ưng thuận của một quốc gia liên hệ mà vẫn cho một bản án ý kiến về một tranh chấp lãnh thổ.

b) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài Luật Biển. Một quốc gia có thể dùng thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) quy định trong các Điều 286 và 288 của UNCLOS để yêu cầu tòa giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS. Ngay trong tranh chấp về các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn mà một quốc gia, khi gia nhập UNCLOS, đã làm bảo lưu gạt bỏ ra khỏi sự ưng thuận ra tòa của họ, thì quốc gia khác, dựa vào khoản 4 Điều 298, cũng có thể đưa tranh chấp với quốc gia đã làm bảo lưu ra tòa theo thủ tục bắt buộc.

Như đã nói ở trên về các vi phạm của Trung Quốc mà Việt Nam có thể liệt kê như các điểm khiếu tố ra tòa (counts), Việt Nam có thể viện dẫn trong thủ tục bắt buộc trước Tòa án Trọng tài Luật Biển các vi phạm hay các điểm khiếu tố sau:

– Trung Quốc, trong các hành vi quanh giàn khoan HD-981 vừa qua, đã vi phạm khoản 1a Điều 297, vì đã ngăn cản, với tư cách quốc gia cận duyên, sự tự do lưu thông hàng hải và hoạt động khác như đặt cáp ngầm của quốc gia cận duyên khác.

– Trung Quốc có hành vi hung hãn bá quyền, không chịu thương lượng trong tinh thần hiểu biết và cộng tác, hay áp dụng các biện pháp tạm thời, dù Việt Nam đề nghị cả 30 lần.

– Trung Quốc có thể bị dân chài Viêt Nam kiện vi phạm nhân quyền của họ, trong một vụ họ kiện riêng, với sự ủy quyền của nhà nước Việt Nam, theo đúng tinh thần của UNCLOS.

(iii). Sự can thiệp chính trị của các tổ chức quốc tế

– ASEAN, với Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông luôn luôn có ích, và nên nỗ lực đạt tới Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông.

– Can thiệp của Tổng Thư ký hay Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể làm hạ nhiệt sự hung hãn của Trung Quốc, nhất là có kèm theo các lời phê bình của các đại cường, như lời Thủ tuớng Nhật Bản Shinzo Abe hay lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2014. Sau khi Đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, trong tháng 5.2014, yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon can thiệp, và viết công hàm ngọai giao và ra thông cáo báo chí, than phiền là giàn khoan vi phạm luật quôc tế, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, nếu cần, sẽ dùng biện pháp tự vệ, thì Trung Quốc gợi ý nên có thương lượng giữa hai nước, nhất là về việc định ranh giới biển công bình, mà hai bên chưa làm. Trung Quốc cũng tuyên bố không dùng tàu chiến bảo vệ giàn khoan. Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc tỏ ra lạc quan. Và quả nhiên, nay thì giàn khoan rút đi.

Kết luận

Dư luận quốc tế, nhất là các nước phương Tây và Nhật Bản, Ấn Độ đã bênh vực cho lẽ phải của Việt Nam. Philippines thì mong Việt Nam khởi kiện sớm. Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa, ngõ hầu có dịp xác lập chủ quyền, chứ nếu không lại lỡ dịp nhờ pháp luật quốc tế để đẩy mạnh quyền lợi quốc gia của mình.

18.7.2014

Tác giả: GS Tạ Văn Tài là Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ

nguồn: anhbasam.wordpress.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Nền y tế, giáo dục, văn hóa, của nước nhà vẫn như cũ, y như hồi 1958…

Posted by hoangtran204 trên 24/07/2014

Vẫn như cũ!

24-7-2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nhìn kĩ những gì xảy ra ở VN gần đây thì tôi nghĩ VN chẳng đổi mới trong tư tưởng và cách hành xử. Có thể lấy vụ Nhã Thuyên để minh hoạ cho nhận xét đó. Nhã Thuyên viết một luận văn về một nhóm văn chương có tên là “Mở Miệng”, và luận văn được cho điểm tuyệt đối 10/10. Nhưng đùng một cái, người ta lập một hội đồng khác đánh giá lại luận văn và thu hồi bằng thạc sĩ của cô ấy. Trước và sau sự kiện đó, trên báo chí xuất hiện những bài viết “đánh” Nhã Thuyên, mà ngôn ngữ và luận điệu y chang như những bài thời Nhân văn Giai Phẩm. Như vậy, chúng ta thấy về học thuật, chẳng có gì đổi mới. VN vẫn là nước thiếu tự do học thuật. Vụ Nhã Thuyên cho thấy một cách rõ nhất nền học thuật VN chẳng có gì đổi mới so với thời bao cấp.

Có thể lấy ngành giáo dục ra làm một minh hoạ khác. Người lãnh đạo ngành giáo dục kêu gọi cải cách. Các nhóm nhân sĩ trí thức cũng cho rằng nền giáo dục VN cần phải có cải cách triệt để để hội nhập quốc tế. Nhưng làm sao cải cách được khi cái vòng kim cô chính trị vẫn còn lơ lửng trên đầu. Giáo dục VN hiện nay lẫn lộn giữa tuyên truyền và giáo dục. Mở bất cứ quyển sách giáo khoa nào về văn học, sử, thậm chí địa lí, chúng ta đều thấy rất nhiều nội dung trong đó mang tính tuyên truyền một chiều. Có những nội dung tuyên truyền mang tính bịa đặt (như câu chuyện Lê Văn Tám) nhưng mãi đến nay vẫn chưa sửa. Nói chung, chẳng có gì đổi mới gì trong giáo dục.

Ngành giáo dục chịu sử điều khiển của Ban tuyên giáo. Ban tuyên giáo là một thiết chế rất đặc biệt trong hệ thống tổ chức theo mô hình Mao – Stalin, có nhiệm vụ kiểm soát toàn bộ hệ thống văn học và giáo dục, thậm chí kiểm soát tư tưởng của người dân. (Mở ngoặc để nói thêm là thời đại ngày nay (với internet và xa lộ thông tin toàn cầu), có ai điên rồ đến nỗi kiểm soát suy nghĩ của người dân, vì việc làm đó hoàn toàn không thể và không tưởng). Nhưng về mặt cơ chế thì hoàn toàn chẳng có gì đổi mới.

Ở bất cứ cấp nào thì đảng và Nhà nước vẫn song song nhau. Về nhân sự, cách làm của VN cũng chẳng có gì đổi mới. Cách tuyển dụng cán bộ hay bổ nhiệm thì vẫn theo kiểu “qui hoạch” và “cơ cấu”. Tất cả mô hình hoạt động này đều là “di sản” của mô hình tổ chức Mao-Stalin. Nói cách khác, về cách tuyển dụng nhân sự, vẫn chẳng có gì đổi mới.

Nhìn bề ngoài thì có lẽ nhiều người nghĩ rằng VN đã đổi mới nhiều và hiện đại nhiều. Quan chức đã bắt đầu biết mặc veston và thắt caravat (thay vì mặc áo đại cán), biết nói chút đỉnh tiếng Anh. Cơ quan mới mẻ và văn minh hơn (chứ không còn tình trạng văn phòng có sẵn cái giường ngủ). Nhưng đó chỉ là bề ngoài, chứ phía trong thì tôi có cảm giác vẫn y chang như cũ, như thời bao cấp. Có khi nó thể hiện ra cách nói làm cho người ta ngỡ ngàng. Không hề có đổi mới trong tư duy và cách làm việc, thì rất khó mà nói đến chuyện hội nhập quốc tế.

 *Mời các bạn thưởng thức trình độ cao siêu của cán bộ đảng ta, đang làm đại biểu quốc hội

Phát biểu của đại biểu quốc hội Nguyễn Bắc Việt về tình hình căng thẳng tại Biển Đông 

.

https://www.youtube.com/watch?v=Wd03UkpoVa8

.

Nguyên Văn bài phát biểu của Đại Biểu Nguyễn Bắc VIệt (Ninh Thuận):

Kính thưa Quốc Hội, tôi xin được tham doa (gia) một số ý kiến như sau:

Thứ nhất về đánh giá tình hình, tôi cơ bản nhất tri báo cáo của chính phủ, ờ tuy nhiên với tính hình diễn ra gần đây thì cho thấy, thì cần phải đánh giá sát hơn nữa tình hình. Thứ nhất (lần 2) về chiến lược Biển có thể nói trong thời gian qua thực hiện chiến lược biển theo nghị quyết TW 7 khóa X chưa được quan tâm đúng mức, cho nên sự kiện biển đông thì chúng ta mới thấy cần cái đội tầu hiện đại, cần cái tầu thuyền công xuất lớn cho ngư dân đánh bắt xa bờ dài ngày chúng ta mới thấy cần cái dịch vu hậu cần cho nghề cá (Biển Đông là vấn đề khẳng định quyền lãnh thổ quốc gia, trong đó có địa lý chính trị, giao thương, khoáng sản, hải sản…chứ không phải chuyện giành giựt đánh cá mà sắm tầu lớn tầu nhỏ thưa ngài), nghị quyết TW nêu nhưng đến nay nhất là sau sự kiện vinashin chúng ta đã không tập trung đúng mức (ở đâu tọt vô vụ Vinashin?).

Thứ 2: Trong đánh giá cần phải nhìn nhận và đánh giá tình hình bảo vệ mội trường gắn với phát triển bền vững thời gian vừa qua và gần đây có thể nói có những vấn đề chúng ta thấy là trong điều hành lãnh đạo chưa tốt từng địa phương, đây địa phương chúng tôi thấy rất rỏ có cái điễm này không phải chỉ vấn đền đất đai mà dân khiếu kiện, mà bây giờ là vấn đề bảo vệ môi trường liên quan đến đời sống của ND, thì theo chúng tôi thì cần phải có sự nhìn nhận đánh giá để có giải pháp (một lần nửa ở đâu rơi xuống chuyện môi trường? vá tự nhiên cần đánh giá , có giài pháp?).

Thứ 3: Trong đánh giá chúng ta cần phải thấy đó là vẫn còn biểu hiện chủ quan mất cảnh giác trước âm mưu chóng phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Vệt Nam, thực tế sự kiện Biển Đông từ ngoài khơi nhưng mà vào bờ liên quan đến đập phá là có vấn đề thì chúng ta thì cần phải thấy và…(Đất nước lâm nguy bị TQ chiếm Biển, đang cần cầu viện từ liên minh thì cha này nói: âm mưu của thế lực thù địch? cho hỏi âm mưu nào? thế lực thù địch nào? họ ở đâu? tên gì? thưa ngài!).

Thứ 4: theo tôi thì cần phải đánh giá thực sự đó là lòng dân, cán bộ đảng viên chưa yên trước bất ổn của thị trường tiêu thụ, trước tham nhũng tiêu cực, trước tệ nạn XH, trước trật tự an toàn XH, trước yêu cầu của việc làm, trước yêu cầu của thực hiện chế độ chính sách cho các đối tượng mà chúng ta còn nợ 2 đề án(?) đến nay vẫn chưa cho ý kiến, cái đấy là về tình hình thì tôi xin tham gia một số ý kiến như vậy, còn vấn đề Biển Đông theo tôi thì từ sáng đến giờ và những ngày qua trong phát biểu thì có thể nói tôi đồng tình với các ý kiến phát biểu ở một vế đó là vế thể hiện lòng yêu nước (Lòng yêu nước được gọi là Vế?) nhưng còn một vế theo tôi thì chúng ta chưa thực sự quan tâm đó là yêu chế độ và lo cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế (lấy lòng yêu nước để lo phong trào cộng sản quốc tế? trong khi mình đang bị TQ hiếp dâm vẫm một mực đi lo cho quốc tế?).

Xin báo cáo với các đồng chí thì thời điểm này chúng ta nên nhớ di chúc của Bác (Lại lôi Bác ra…), Bác để lại cho chúng ta lời di chúc trong đó khi nói về phong trào cộng sản Bác đã nói: ” là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đâu lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em”, tôi mong rắng đảng ta sẽ ra sức hoạt động góp phần đắc lực về việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em, trên nền tảng chủ nghĩa max-lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý có tình (khối đại đoàn kết này mất rồi từ khi Đông Âu tan rã và Liên bang nga sụp đổ rồi thưa ông), dẩn 2 lời di chúc của Bác từng với lời căn dặn của Bác với cụ Huỳnh Thúc Khác trước khi Bác lên đường đi sang Pháp năm 46, Bác có dặn “dí bất biến, ứng vạn biến” Theo tôi dí bất biến ứng vạn biến bây giờ đó là độc lập dân tộc phải gắng với chủ nghĩa xã hội, rất tiếc trong phát biểu chúng ta chưa thực sự quan tâm đến nội dung này chính vì vậy theo tôi đối với chúng ta hiện nay chúng ta cái cần đó là làm sao chúng ta sớm làm diệu tình hình Biển Đông, hai chúng ta phải chủ động đấu tranh với âm mưu chóng phá của các thế lực thù địch.

Thứ 3 bảo đảm môi trường ổn định hòa bình của việt nam của khu vực và của thể giới và chính vì vậy đối sách giải pháp của chúng ta thì theo tôi:  thứ 1, phải sác định cho rỏ nguyên nhân, phải biết đau lòng với tình hình hiện nay của phong trào cộng sản công nhân quốc tế 2 nước XHCN lình xình với nhau như thế này ai có lợi? (Ông ta không đâu lòng vì đất nước và dân tộc mà đau lòng vì 2 AE XHCN xích mích nhau);  thứ 2, phải kiên định mục tiêu lý tưởng “dí bất biến, ứng vạn biến” như Bác đã căn dặn đó là phải làm sao dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH (nghĩa là không có XHCN dân tộc không có độc lập?), đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho cách mạng Việt Nam từ khi có đảng đến nay, xem nhẹ chúng ta sẽ chệch hướng. Thứ 3, nắm chắc quan điểm đường lối phương pháp cách mạng pháp luật của VIệt Nam trong đấu tranh hiện nay sử dụng luật biển Việt Nam, sử dụng hiến pháp của chúng ta để đấu tranh và thứ 4 xiết chặt kỷ cương thông tin trê báo chí, bảo đảm đúng địng hướng (Như vậy HCM đi tỉm đường cứu nước để được tự do là vô nghĩa thưa Ngài?).

Và những việc cần làm ngay thì theo tôi thì chúng ta cần cái thứ nhất phải làm sao gập gở tiếp xúc với TQ để làm diu tình hình Biển Đông sớm đưa lại tình hình như trước khi xẩy ra sự kiện (TQ đang ăn cướp, mình bị ăn cướp lại tìm cách làm dịu tình hình? hay nói cách khác Vợ ông bị hiếp dâm xong ông đi xoa dịu tình hình với thằng hiếp dâm?), thứ 2 sử lý nghiêm minh các đối tượng kích động thông báo công khai và thứ 3 là không vì tình hình Biển Đông mà sao nhảng nhiệm vụ phát triển kinh tế XH của đất nước (Biển Đông liên quan trực tiếp đến kinh tế thưa ngài con Lừa ạh)….tôi xin hết ý kiến.

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

►Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958–Công hàm Phạm Văn Đồng

Posted by hoangtran204 trên 24/07/2014

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

Trong thảo luận về hiệu lực của Công hàm Phạm Văn Đồng có vấn đề về tư cách quốc gia (state) của VNCH ở thời điểm 14/9/1958 (lúc công hàm đưa ra). Dù tâm tư, nguyện vọng của đa số dân chúng cũng như lãnh đạo miền Nam lúc đó đều cho rằng quốc gia Việt Nam chỉ là một, và ngay cả lời nói đầu hiến pháp VNCH 1956 cũng hàm ý này “[ý] thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan”. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ luật pháp quốc tế thì VNCH có vẻ hội đủ các tiêu chuẩn để có tư cách một quốc gia: có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có chính phủ, và có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác như nêu trong công ước Montevideo 1933.

Ở thời điểm 4/1975 thì tư cách này có vẻ hiển nhiên: lúc đó VNCH đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia khác ở cấp bán chính thức, và dĩ nhiên trên thực tế cũng có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có Chính phủ, tức là hội đủ 4 tiêu chuẩn để có tư cách quốc gia .

Còn vào thời điểm 14/9/1958, thì trên thực tế VNCH cũng đảm bảo được 3 tiêu chuẩn dân số, lãnh thổ, chính phủ; và tiêu chuẩn có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác thì có vẻ vẫn đảm bảo. Theo danh sách các nước công nhận VNCH cho tới ngày 7/8/1958 lưu ở Văn khố quốc gia Úc (NAA) có tới 62 nước chính thức hoặc hàm ý công nhận VNCH. Danh sách này ở trang 40-42 (và 44,45) trong hồ sơ “Saigon – Vietnam relations with other countries general [re Republic of Vietnam also known as South Vietnam]” gồm 157 trang số hiệu NAA: A4531, V221/5, có thể truy cập trực tuyến ở recordsearch.naa.gov.au. Xin giới thiệu bản chính và bản dịch danh sách này tới tất cả các bạn đọc có quan tâm:

1. Bản chính:

clip_image002

clip_image004

clip_image006

2. Bản dịch:

____________________________________

Hồ sơ V 221/5

669

18 tháng 8 năm 1958

Bộ trưởng,

Bộ ngoại giao,

Canberra.

Việt Nam: Công nhận bởi các quốc gia khác

Đính kèm là danh sách (tính đến 7 tháng 8 năm 1958) tất cả các nước hiện công nhận Việt Nam Cộng Hoà cùng với ngày mà họ công nhận nước Cộng hòa này.

(đã ký)

(D.C Nutter)

Thứ trưởng

DANH SÁCH CÁC NƯỚC CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

1. Hoa Kì 26.10.1955

2. Pháp –

3. Vương quốc Anh –

4. Úc –

5. New Zealand –

6. Thái Lan –

7. Nhật Bản –

8. Ý –

9. Trung Hoa QDĐ 27.10.1955

10. Hàn Quốc –

11. Hà Lan 1.11.1955

12. Philippines 2.11.1955

13. Tây Ban Nha 3.11.1955

14. Cuba –

15. Haiti –

16. Bolivia 6.11.1955

17. Ecuador –

18. Brazil 8.11.1955

19. Liberia –

20. Nicaragua –

21. Chile 10.11.1955

22. Hy Lạp –

23. Luxembourg 11.11.1955

24. Argentina 12.11.1955

25. Costa Rica 13.11.1955

26. Canada 14.11.1955

27. Lào 15.11.1955

28. Thổ Nhĩ Kỳ 18.11.1955

29. Bỉ 22.11.1955

30. Áo 23 11.1955.

31. Tây Đức 5.12.1955

32. Vatican 9.12.1955

33. Liên minh Nam Phi 14.12.1955

34. Honduras 12.12.1955

35. Venezuela 15.12.1955

36. Guatemala –

37. Colombia 6.1.1956

38. Sudan 5.2.1956

39. Jordan 21.2.1956

40. Bồ Đào Nha 24.5.1955

41. Đan Mạch 3.1.1957

42. Lebanon 5.3.1957

43*. Ghana 6.3.1957

44*. Ma-rốc 18.6.195

45*. Tunisia 3.8.1957

46*. Malaysia 31.8.1957

47. Thụy Sĩ 1.4.1958

48. Thụy Điển 3.7.1958

49*. Iraq 2.8.1958

——————————–

50. Indonesia

51. Na Uy

Indonésia và Na Uy tương ứng đã trao đổi giấy chấp nhận tổng lãnh sự và lãnh sự ở Sài Gòn, theo luật pháp quốc tế coi như một công nhận “theo pháp lí “(de jure”)

——————————-

Các nước sau đây không thông báo chính thức công nhận nhưng đã bỏ phiếu cho VNCH gia nhập Liên Hiệp Quốc, hàm ý công nhận VN:

52. Ireland (Ai-len)

53. El Salvador

54. Peru

55. Panama

56. Uruguay

57. Iran

58. Ethiopia

59. Cộng hòa Dominica

——————————-

60. Ấn Độ: Ấn Độ đã bổ nhiệm một Tổng lãnh sự ở Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự

61. Miến Điện: Miến Điện đã nhận một Tổng lãnh sự của Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự; điều này tương đương với việc công nhận “trên thực tế” (de facto)

62. Campuchia: Vả lại. Campuchia và Việt Nam đã trao đổi đại diện.

(Danh sách cập nhật đến ngày 7/8/1958)

_________________________________

* Nước được Việt Nam Cộng Hòa công nhận.

Theo Bauxite

  1. Thủy Quân Lục Chiến VNCH bắt sống quân Trung Cộng tại Hoàng Sa

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Việc thi hành hiệp định Genève- (Trần Gia Phụng)

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2014

.

Ho Chi Minh, president of the Democratic Republic of Vietnam, speaking at City Hall, Paris,

on 4 July 1946, during negotiations with the French. AP Photo

Nét mặt của ông HCM đã thay đổi rất nhiều từ 1945, 1946, và 1954. Hình của AP thì chắc chăc là không thể tô vẽ gì, tấm hình thứ 2 (1945?) có dấu vết chỉnh sửa làm cho sáng lên. Hình thứ 3 chụp chung với Chu Ân Lai cũng có dấu chỉnh sửa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại chiến dịch Biên giới (1950) 

Nguồn: ngoisao.vn

http://en.wikipedia.org/wiki/Ho_Chi_Minh

Việc thi hành hiệp định Genève

Tác giả:

20-7-2014

eca86ba05494149e2cd538

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève (20-7-1954), chúng ta thử nhìn lại Cộng Sản Việt Nam (CSVN) dựa vào lý do nào để khởi binh tấn công Nam Việt Nam (NVN)?

Hiệp định Genève

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản). Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào Cambodia. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève)gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:

Việt Nam được chia thành hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Cửa sông Bến Hải tức Cửa Tùng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam Viêt Nam. Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực. Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt. Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia. Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn. Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).

Ai vi phạm hiệp định Genève

Hiệp định này ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Bàn Môn Điếm ngày 27-7-1953 ở Triều Tiên, hiệp định không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, chẳng có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN đã gài người hay lưu quân ở lại đất Bắc. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đúng đắn hiệp định.

Trái lại, nhà nước VNDCCH do Việt Minh cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève. Sau đây là hai bằng chứng cụ thể do phía cộng sản đưa ra về sau:

Thứ nhứt, tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), giữa thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và chủ tịch nhà nước VNDCCH Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết, Hồ Chí Minh đã đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị (Chu Ân Lai và hội nghị Genève) Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).

Thứ hai, Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại miền Nam như Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273), để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam (Tháng 10-1954, TƯCMN đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TƯĐ (khóa III) đảng LĐ (ngày 23-1-1961) ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành TƯCMN.)

Hai tài liệu trên đây do phía cộng sản Việt Nam tiết lộ, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của NVN hay Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định đã ký kết.

Cộng sản đòi hỏi điều không có

Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Thế mà ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Nam Việt Nam (NVN) là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho 1955 rằng chính phủ QGVN tức NVM không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành.

Tuy sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thay chính phủ QGVN, nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ BVN quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Một điều lạ lùng là trong hiệp định Genève, không có một điều khoản nào nói đến việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà nhà cầm quyền CS cứ nhất định đòi hỏi tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Thật ra, sau khi hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng: Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký. Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành? Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là bản tuyên bố không chữ ký.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.

Cộng sản bịa đặt lý do để tấn công QGVN

Cộng sản BVN vi phạm hiệp định Genève, nhưng lại bịa đặt ra hai lý do để tấn công NVN: 1) Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 2) Nam Việt Nam là tay sai đế quốc Mỹ nên BVN quyết định chống Mỹ cứu nước.

Về lý do thứ nhứt, như trên đã viết, hiệp định Genève không đề cập đến giải pháp chính trị tương lai cho Việt Giải pháp tổng tuyển cử nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, nên chỉ có tính cách khuyến cáo chứ không có tính cách bắt buộc phải thi hành.

Lý do thứ hai hoàn toàn có tính cách tưởng tượng vì sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam tái thiết đất nước, ổn định cuộc sống của dân chúng sau chiến tranh, chứ Hoa Kỳ không viện trợ quân sự, chưa đem quân vào Việt Nam.

Nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng. Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.

Lúc đó, Hoa Kỳ đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan chống Trung Cộng. Hoa Kỳ còn giúp bảo vệ Nam Triều Tiên và Nhật Bản, nên Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ chẳng những tại Đông Á, mà còn chống Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh phía nam của chính Trung Cộng.

Hơn nữa, cho đến năm 1960 là năm BVN khởi động chiến tranh tấn công NVN, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế cho NVN chứ Hoa Kỳ không đem quân vào NVN. Chỉ sau khi BVN tấn công và uy hiếp mạnh mẽ NVN, Hoa Kỳ mới đem quân vào giúp NVN năm 1965. Vì vậy, chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” năm 1960 là hoàn toàn bịa đặt. Như thế, BVN cố tình đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” vừa để kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin viện trợ cộng sản quốc tế và thi hành nghĩa vụ quốc tế, như Lê Duẫn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô” (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.)

Kết luận

Hiệp định Genève là hiệp định đình chỉ quân sự. Chính thể QGVN hay VNCH tức NVN đã thi hành đúng hiệp định. Trong khi VNDCCH liên tục vi phạm hiệp định nầy. Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, VNDCCH mở cuộc chiến từ năm 1960, tấn công Việt Nam Cộng Hoà dưới chiêu bài thống nhất đất nước và chống Mỹ cứu nước. Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genéve xin ôn lại điều nầy để giới trẻ trong và ngoài nước thấy rõ nguyên nhân của cuộc chiến 1960-1975, làm cho đất nước điêu tàn và khoảng 3 triệu người Việt tử vong, xuất phát từ VNDCCH hay BVN do đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển.

Điều nầy càng làm sáng tỏ chính nghĩa của VNCH, cương quyết chống lại CSBVN, bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại sự xâm lăng của cộng sản và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Dầu thất bại, chính nghĩa tự do dân chủ của VNCH vẫn luôn luôn sáng ngời và luôn luôn là mục tiêu tối hậu mà nhân dân Việt Nam hiện đang cố gắng vươn tới.

© Trần Gia Phụng
© Đàn Chim Việt

Tác giả:

Posted in Hiệp định Geneve 20-7-1954 | 1 Comment »

►Luật sư nói với đài BBC: ‘Chưa có cơ sở’ nói Ba Sàm sắp được thả-

Posted by hoangtran204 trên 22/07/2014

.
.

Luật sư Hà Huy Sơn nói sức khỏe của ông Nguyễn Hữu Vinh có “kém đi so với bên ngoài”

Luật sư bào chữa cho blogger Nguyễn Hữu Vinh (tức Ba Sàm), nói thông tin về việc ông sắp được trả tự do là “chưa có cơ sở”.

Nhận định trên được ông Hà Huy Sơn đưa ra để phản hồi lại thông tin trên trang mạng của Hội nhà báo Độc lập Việt Nam trước đó.

Hôm 21/7, trang Việt Nam Thời báo đăng tải bài viết của nhà báo Phạm Chí Dũng cho biết ông Vinh “có thể được trả tự do trong thời gian tới”, theo “những thông tin không chính thức”.

Ông Vinh bị bắt giữ hồi đầu tháng Năm cùng với bà Nguyễn Thị Minh Thúy vì cáo buộc “Lợi dụng quyền tự do dân chủ” theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự.

Trả lời BBC hôm 22/7, Luật sư Hà Huy Sơn cho biết thông tin trên trang Việt Nam Thời báo là “chưa có cơ sở xác nhận”.

“Tuần này tôi vẫn tiếp tục làm việc với điều tra viên, chưa có thông tin chính thức gì cả”, ông nói.

“Chưa có dấu hiệu gì là tạm đình chỉ vụ án, chưa có dấu hiệu thả đâu”.

Ông Sơn cũng cho biết ông “không có nhiều hy vọng” rằng thân chủ sẽ sớm được trả tự do.

Trong cuộc nói chuyện qua điện thoại với BBC cùng ngày, nhà báo Phạm Chí Dũng thông báo đầu tháng Tám này sẽ là thời điểm lệnh tạm giam lần một đối với ông Nguyễn Hữu Vinh kết thúc.

Luật sư Sơn cũng xác nhận “ngày 5/8 này sẽ hết thời hạn điều tra ba tháng”.

Tuy nhiên, ông cho biết “theo luật thì người ta có thể gia hạn thêm ba tháng nữa”.

“Có lẽ đến gần ngày đấy mới biết được”, ông nói thêm.

Luật sư Sơn cũng cho biết hiện sức khỏe của ông Vinh “kém đi so với khi ở bên ngoài, nhưng tinh thần vẫn tốt.”

‘Làm rõ hành vi sai phạm’

Blogger Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt ngày 5/5 vì cáo buộc “đã có hành vi đăng tải các bài viết trên mạng Internet nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân, quy định tại Điều 258 – Bộ luật Hình sự”, theo thông báo từ Bộ Công an.

Thông báo cũng nói cơ quan điều tra đang “làm rõ hành vi sai phạm của Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy để xử lý theo quy định của pháp luật.”

Ông Nguyễn Hữu Vinh nổi tiếng với vai trò sáng lập và điều hành trang điểm tin Ba Sàm.

Ông từng là sỹ quan an ninh, sau ra ngoài mở công ty thám tử tư.

Tuy vậy, hơn một năm qua, ông đã thôi điều hành trang tin này, chuyển cho một quản trị ở bên Hoa Kỳ.

Tin cho hay ông từng có liên quan tới hai trang mạng đăng nhiều thông tin thuộc diện “nhạy cảm” là Dân Quyền và Chép Sử Việt.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Sổ tay Nhịp Cầu Thế Giới: ANH BA SÀM (20-7-2014)

Posted by hoangtran204 trên 22/07/2014

Đọc tiếp »

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Việc Trung Quốc rút giàn khoan chẳng nói lên điều gì

Posted by hoangtran204 trên 22/07/2014

Việc Trung Quốc rút giàn khoan chẳng nói lên điều gì

Clint Richards (The Diplomat – Nhật Bản

Phạm Nguyên Trường dịch
Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng đứng vững trước áp lực trong khu vực và dường như sẽ trở lại khi họ muốn.

Hôm thứ tư, Hong Lei, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc bất ngờ tuyên bố với Tân Hoa xã là giàn khoan HYSY 981 của Công ty dầu khi quốc gia của nước này (CNPC) đã rời khỏi vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, đang tranh chấp với Việt Nam, tức là rút khỏi vị trí mà nó đã chiếm giữ từ ngày 2 tháng 5. Từ khi được đưa tới đây, giàn khoan này luôn là nguồn gốc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc, với những vụ đụng độ hầu như hàng ngày giữa cảnh sát biển và tàu đành cá giữa hai nước, và những vụ biểu tình phản đối Trung Quốc đầy bạo lực ở Việt Nam. Trong khi việc di chuyển vội vàng là một bất ngờ và quan trọng vì một số lí do, thì bà Hong khẳng định rằng Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của Trung Quốc và rằng “Trung Quốc cực lực phản đối những hành động cản trở phi lí của Việt Nam và đã có những biện pháp an ninh cần thiết nhằm bảo đảm cho hoạt động của giàn khoan này.”

gian-khoan-4437-1399609626-7771-1405493056
Quyết định đưa giàn khoan về đảo Hải Nam một tháng trước khi kết thúc kế hoạch hoạt động đặt ra một số câu hỏi. Ban đầu CNPC tuyên bố rằng giàn khoan sẽ ở lại vị trí đó cho đến ngày 15 tháng 8, nhưng thứ ba vừa rồi họ lại nói rằng công tác thăm dò và khoan đều đã hoàn thành. Phó giám đốc phòng nghiên cứu của CNPC, ông Wang Zhen, nói phân tích ban đầu cho thấy rằng khu vực này có “những điều kiện căn bản và tiềm năng cho việc khai thác dầu, nhưng phải đánh giá toàn diện các số liệu thì mới có thể tiến hành khai thác thử.” Như vậy là, Trung Quốc đã tự đưa ra lí do để họ có thể quay trở lại nếu họ muốn, nhưng bằng cách nói một cách tù mù về việc cần phải đánh giá thêm trước khi quay trở lại có nghĩa là Trung Quốc có thể quyết định khi nào và có cần xem xét lại cuộc tranh cãi này với Việt Nam hay không.

Việc rút giàn khoan trước thời hạn một cách bất ngờ mà không hề báo trước đưa người ta đến giả thiết cho rằng Trung Quốc đang tìm cách giảm căng thẳng với Việt Nam và có thể khuất phục trước áp lực của cộng đồng quốc tế về đòi hỏi tới 90% diện tích biển Đông của họ, một việc làm đã gây nên những cuộc tranh cãi đầy thù nghịch của nước này với cả Việt Nam lẫn Philippines. Có thể là như thế, nhưng Trung Quốc vẫn giành cho mình lí do để quay trở lại nếu họ muốn.

Trong khi không đưa ra lí do chính thức cho việc rút sớm giàn khoan, Tân Hoa xã nhận xét rằng công tác khai thác thử không thể tiến hành ngay được vì đã đến mùa gió bão. Còn một quan chức trong ngành này, một người có hiểu biết về công việc, thì nói với hãng Reuters rằng rút sớm sẽ tạo điều kiện sử dụng giàn này vào những công việc khác. Vì đây là giàn khoan mới nhất và hiện đại nhất của Trung Quốc, có thể khoan sâu gấp đôi những giàn khoan khác của Trung Quốc cho nên hai lí do này có thể nghe được. Trung Quốc cũng đã rút hết tất cả các tàu biển dùng để bảo vệ giàn khoan và khu vực tranh chấp. Theo ông Hà Lê, phó cục trưởng Cục kiểm ngư Việt Nam, thì Việt Nam cũng đã rút 30 tầu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư khỏi khu vực để tránh cơn bão Rammasun.

Điều lạ lùng là Trung Quốc đã từ bỏ tuyên bố chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa đúng vào lúc khi mà những cú đâm bằng tàu và tấn công bằng súng phun nước của họ đã làm hỏng 27 tàu và 15 kiểm ngư của Việt Nam bị thương. Thậm chí những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc, bùng lên hồi tháng 5, cũng đã giảm hẳn sau khi bị chính phủ đàn áp, có thể là do sự phụ thuộc về kinh tế của nước này vào Trung Quốc, mà cũng có thể là họ nhận thức được rằng hải quân của Việt Nam không thể nào địch được Trung Quốc.
Vì trong tương lai gần Việt Nam đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa, quyết định rút sớm dường như là do căng thẳng trong khu vực đang gia tăng. Đường chín đoạn mà Trung Quốc mới đưa ra gần đây khẳng định chủ quyền trong khu vực biển Đông gây ra căng thẳng với cả Việt Nam và Philippines đã là chất xúc tác cho sự hợp tác về an ninh trong khu vực. Nhật Bản, đối thủ lớn nhất của Trung Quốc trong khu vực này, đã tận dụng được cơ hội và hứa cung cấp tàu cảnh sát biển và thắt chặt quan hệ quốc phòng với các nước có liên quan. Trung Quốc cũng trở thành mục tiêu phê phán chủ yếu trong cuộc đối thoại Shangri-La hồi cuối tháng 5 vừa qua, lúc đó cả Mĩ và Nhật đều nói cố gắng của Trung Quốc nhắm làm thay đổi hiện trạng là xu hướng quan trong nhất trong khu vực.

Mặc dù Trung Quốc dường như đã tạm thời lùi bước, nhưng có vẻ như họ đang tính đến những bước đi lâu dài về sau. Trung Quốc chưa từ bỏ bất kì đòi hỏi nào, mà còn cho thấy họ có thể khẳng định được ý chí của mình (ít nhất là với nước Việt Nam yếu hơn hẳn) và sẽ đạt được mục đích của mình mặc cho sự bất mãn trong khu vực và những vụ đụng độ diễn ra hầu như mỗi ngày. Trung Quốc dường như coi đây là việc tạo ra một tiền lệ, chứng tỏ rằng họ có thể áp đặt cách lí giải của mình về những đường biên giới trong khu vực mà không gặp phải phản ứng tiêu cực mạnh mẽ nào. Thay vì giảm áp lực, có khả năng xảy ra là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy có thể xem xét lại những vấn đề như thế này vào lúc và ở nơi mà họ lựa chọn trong tương lai, và cho đến lúc đó cán cân an ninh khu vực sẽ không có thay đổi đáng kể hoặc chưa thể củng cố được. Nếu không phải như thế thì cũng không có gì phải lo, giàn khoan đã trở về vùng lãnh hải của mình một cách an toàn và Trung Quốc đã chứng minh rằng họ có đủ phương tiện để có thể đứng vững trước áp lực được duy trì thường xuyên trong khu vực này.

Theo Blog Phạm Nguyên Trường

 

Tác giả: Phạm Nguyên Trường

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Không xác định được kẻ thù thì làm sao bảo vệ tổ quốc?

Posted by hoangtran204 trên 21/07/2014

Tác giả Ngô Minh
Bà Trần Thị Hài biểu tình phản đối trước tòa Tổng Lãnh Sự TQ ở Sài Gòn năm 2007. Sau đó, bà đã bị công an bắt giam tù 1 năm về “tội quấy rối nơi công cộng”       nguyentuongthuy2012.wordpress.com
.

Ngày 2/6/2014, tôi nghe Đài truyền hình VTV Huế đưa tin Trung ương đã mở lớp bồi dưỡng cho đối tượng từ thiếu tá trở lên của Công an và Quân đội về Chiến lược quốc phòng của Đảng, về chống âm mưu diễn biến hòa bình, âm mưu của các thế lực thù địch, về phát triển kinh tế… Tôi nghe biên tập viên không nói gì về kẻ thù đang xâm lược biển Đông của Việt Nam là Trung Quốc cả.

Báo quân đội nhân dân số ra ngày 14/7/2014, trong bài Quân đội ta mang đậm bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, cũng viết: “Ngày nay, đất nước ta hòa bình và thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đang mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế, xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Các thế lực thù địch lại lợi dụng đẩy mạnh chống phá nước ta trên nhiều lĩnh vực thông qua thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, cùng tác động của nền kinh tế thị trường, tình hình thế giới và khu vực. Vì vậy, chúng ta càng phải giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nhằm tăng cường bản chất chính trị của giai cấp công nhân trong toàn quân.” Bài viết cũng không nói gì về kẻ thù xâm lược là anh bạn 4 tốt 16 chữ vàng Trung Quốc khốn nạn ấy cả. Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Ủy viên Bộ Chính trị Phùng Quang Thanh tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 13 ở Singapore vừa qua cũng nêu rõ: “Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển. Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi….”

Nghĩa là theo quan điểm của lãnh đạo Đảng CSVN hiện nay, Trung Quốc không phải là kẻ thù.

Còn “thế lực thù địch” theo cách gọi của Trung Quốc (mà Việt Nam học theo) là những người đối lập, khác chính kiến, những người không theo quan điểm của Đảng Cộng Sản. Mà những người như thế thì không thể tạo nên cuộc chiến tranh xâm lược nước ta được. Vậy là Đảng, nhà nước ta đến nay vẫn không xác định được ai là kẻ thù của đất nước để mà đề phòng và chống trả.

Cách đây gần 10 năm, đọc mạng tôi thấy sự tiết lộ của một sĩ quan ở Tổng Cục 2 về đối tượng tác chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay vẫn là “:quân đội Mỹ”, quân đội Trung Quốc không phải là đối tượng tác chiến mà là “anh em”. Hay thiệt !

Quan niệm như thế cực kỳ nguy hiểm cho vận mệnh Tổ Quốc. Lịch sử từ ngàn năm trước Trung Quốc đã là kẻ thù truyền klếp của nhân dân Việt Nam. Chúng đã bị Hai Bà Trung, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ … đánh cho tan tành. Nhưng chúng vẫn không chừa tham vọng bành trướng xâm chiếm nước ta. Vua Trần Nhân Tông đã căn dăn: “Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.”

Đặc biệt, từ thời kỳ Đảng Công sản lãnh đạo đất nước đến nay, chúng lợi dụng sự ngây thơ, tin tưởng “bốn phương vô sản đều là anh em” của ta để lấn tói. Trung Quốc đã mở nhiều cuộc chiến tranh xâm chiên biên giới hải đảo nước ta: Chúng đánh chiếm Quần đảo Hoàng Sa năm 1974 làm 74 chiến sĩ ta hy sinh, Trung Quốc xua 60.000 quân tấn công toàn biên giới phía Bắc tháng 2-1979 làm hàng vạn chiến sĩ nhân dân ta hy sinh. Chúng gây chiến tranh xâm chiến biên giới Vị Xuyên Hà Giang năm 1984; chúng đánh chiếm đảo Gac Ma năm 1988 làm 64 chiến sĩ ta hy sinh… Trên toàn tuyến biên giới Việt –Trụng, ở đâu chúng cũng lấm chiếm đất ta. Tổng diện tích chúng lấn chiến bằng diện tích bằng tỉnh Thái Bình.

Nguy hiểm hơn, chúng hạ dặt giàn khoan HD 981 sâu vào thềm lục địa và cùng đặc quyền kinh tế Việt Nam từ 2-5-2014 đến 16-7-2014. Một khi giàn khoan đó và hàng trăm tàu và máy bay đủ loại đi kèm theo vào biển VN là một hành động xâm lược trắng trợn. Chúng cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam; chúng xua đuổi, đâm chìm tàu thuyền của ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển Việt Nam. Chúng bắt bớ đánh đập ngư dân Việt Nam. Có thể nói, chưa nước nào bị TQ xâm phạm chủ quyền biển đảo nhiều như Việt Nam, nhưng chưa thấy phía Việt Nam dám thực hiện bất kỳ vụ bắt giữ ngư dân TQ nào xâm phạm vùng biển nước ta, mặc dù hàng ngày hàng trăm tàu của Trung Quốc vào đánh cá tại ngư trường Việt Nam ở miền Trung, đảo Cồn Cỏ cách bờ chỉ vài chục hải lý, mà chỉ thấy xảy ra trường hợp ngược lại: TQ liên tục bắt giữ, thậm chí đã bắn giết chết ngư dân VN trên vùng biển thuộc chủ quyền VN. Trong khi đó, các nước xung quanh đã không nương tay đối với TQ, khi những ngư dân TQ xâm phạm vùng biển các nước khác. Đã xảy ra nhiều vụ bắt giữ ngư dân và tàu đánh cá TQ khi họ xâm phạm chủ quyền các nước Philippines, Indonesia, Nhật, Nam Hàn…

Những hành động đó của trung Quốc không thể gọi là gì khác ngoài ba chữ: Giặc xâm lược ! Đã gọi là giặc xâm lược tức là kẻ thù của nhân dân ta, kẻ thù của dân tộc ta, dù nó mang danh chủ nghĩa nào.Sống bên cạnh một nước lớn, chuyên môn dòm ngó nước ta, một mặt ta phải có chính sách ngoại giao khôn ngoan, mềm dẻo, nhưng tuyệt đối không quỳ gối trước chúng. Trước dã tâm xâm lược đất đai, biển đảo của bọn bành trướng Bắc Kinh, chúng ta phải có chiến lược quốc phòng phù hợp để chống lại. Chúng ta sẽ dùng chiến tranh nhân dân để đánh trả như thế nào ? Kế hoạch ra sao ? Quân đội ta phải có kế hoạch tác chiến chống Trung Quốc khi chiến tranh xảy ra. Khi chúng đánh sang biên giới đất liền, bầu trời thì sẽ đối phó như thế nào? Khi chúng xâm chiến quần đảo Trường Sa, bộ đội ta sẽ tác chiến như thế nào, bằng thứ vũ khí gì để giữ đảo.

Nhưng đến nay ở Trường Sa vẫn chưa bố trí tên lửa thì nguy quá. Rồi phải tính đến chuyện quan hệ với các nước trong khu vực, kể cả Mỹ để cùng chống giặc xâm lước. Luận điểm “Việt Nam không liên minh với nước khác để chống nước thứ ba” là luận điểm sai trái, là nghe theo sự xúi dục của Trung Quốc. Chúng ta liên minh là để chống bọn xâm lược, chứ không phải chống nước thứ ba. Nếu cần phải lên kế hoạch tác chiến ngay trên đất kẻ thù như Lý Thường Kiệt đã làm. Chúng ta phải lên kế hoạch đánh chiếm lại quần đảo Hoàng Sa thân yêu.v.v..Tất cả phải lên kế hoạch lâu dài, tỉ mỉ, đào tạo, trang bị cho quân đội thật thiện hiến, không được tư duy theo nhiệm kỳ, không một phút lờ là.

Không xác định được kẻ thù thì làm sao bảo vệ được Tổ Quốc ! Đề nghị các tướng lĩnh, các nhà lãnh đạo đất nước chia sẻ cùng tôi chuyện vô cùng cấp bách này.

Theo blog Ngô Minh

——————

Ý kiến bạn đọc:

Mường MánCó một sự bất đồng về nhận thức kẻ thù giữa nhà cầm quyền cộng sản VN và người dân.

Đối với nhà cầm quyền cộng sản, Trung cộng là bạn, là đồng chí, là người thầy. Truyền thống – vâng, có thể nói đó là truyền thống – có từ rất lâu đời, từ thời ông Hồ Chí Minh còn là một sĩ quan trong quân đội Trung cộng. Có thể nói không ngoa rằng chính Hồ Chí Minh là người mang chủ nghĩa Mao về VN, và duy trì nó cho đến ngày hôm nay. Chính Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho sự lệ thuộc của VN vào Trung cộng. Những người cộng sản sau này chỉ vun bồi cái nền móng đó mà thôi.

Điều trớ trêu là Trung cộng không xem  nhà cầm quyền cộng sảnVN là đồng minh. Trung cộng chỉ xem VN như là một chư hầu. Và hình như VN cũng vui vẻ làm chư hầu cho Trung cộng.

Nhưng đối với người dân, Trung cộng là kẻ thù truyền kiếp. Không một người dân bình thường nào mà không thấy cái hoạ xâm lược của Trung cộng. Chính sự
“lệch pha” giữa kẻ cầm quyền và người dân này sẽ có ngày nổ ra và ngày đó sẽ có hàng triệu Lê Chiêu Thống tìm đất sống bên Trung cộng.

 

Những bài bạn đọc chú ý nhất trong tuần qua

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)
►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.
►Hôm nay là đúng 60 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954
►Di cư vào miền Nam 1954
Việt Nam Đang Hy Vọng rằng
►Bí Mật lịch sử Trung-Việt 1990 (1)
►”Xin đừng quên blogger anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh”
►6 Hạt Giống Đỏ: Cha truyền con nối
►Đơn khiếu nại của vợ Nguyễn Hữu Vinh ( Ba Sàm)

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►”Xin đừng quên blogger anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh”

Posted by hoangtran204 trên 21/07/2014

“Xin đừng quên blogger anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh”

20-7-2014

Trọng Thành,  RFI phỏng vấn Phạm Đoan Trang

 

Đầu tháng 5/2014, blogger Anh Ba Sàm, tức ông Nguyễn Hữu Vinh, bị cơ quan an ninh Việt Nam bắt giữ và bị cáo buộc vi phạm điều 258 Bộ Luật Hình sự. Vụ bắt giữ nhân vật truyền thông nổi tiếng bậc nhất trong giới blogger Việt Nam – rơi đúng vào ít ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan trên khu vực thềm lục địa Việt Nam – dường như có xu hướng chìm vào quên lãng.

Trả lời RFI hôm nay, luật sư Hà Huy Sơn – một trong ba người bào chữa cho ông Nguyễn Hữu Vinh – cho biết tình trạng sức khỏe của thân chủ ông tương đối ổn định, “nhưng không được tốt so với thời gian trước“.

Hôm thứ Năm 17/07 vừa qua, đã diễn ra phiên hỏi cung lần thứ 6 với sự có mặt của luật sư. Hai luật sư cùng bảo vệ ông Nguyễn Hữu Vinh là luật sư Nguyễn Minh Long (đoàn Luật sư Hà Nội) và luật sư Trịnh Minh Tân (đoàn luật sư Sài Gòn).

Ông Nguyễn Hữu Vinh, 58 tuổi, bị bắt ngày 05/05/2014, cùng với người cộng sự, bà Nguyễn Thị Minh Thúy, 34 tuổi. Luật sư cho biết, theo luật Việt Nam, cơ quan điều tra có quyền tạm giữ người bị bắt để điều tra theo điều 258 trong vòng ba tháng (thời gian bị tạm giữ có thể được triển hạn). Điều 258 Bộ Luật Hình sự Việt Nam quy định về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước” thường xuyên bị giới bảo vệ nhân quyền trong nước và quốc tế lên án như một công cụ mà chính quyền sử dụng để đàn áp những người có tiếng nói độc lập với chính quyền.

Trong khuôn khổ Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR), ngày 20/06/2014, tại Genève, chính phủ Việt Nam thông báo chấp thuận 182 khuyến nghị về cải thiện nhân quyền của các nước, trong đó có đề nghị 156 (của Úc) và 157 (của Canada) về sửa đổi các điều 79, 88 và 258 Luật Hình sự « để bảo đảm tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, bao gồm nghĩa vụ theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị ».

Để chuyển đến quý thính giả thông tin về vụ án, về những hoạt động chủ yếu của blogger Anh Ba Sàm và những phản ứng của dư luận trong và ngoài nước, RFI đặt câu hỏi với nhà báo Phạm Đoan Trang, một người từng làm việc nhiều năm trong nước, hiện đang vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ.

RFI: Trước hết, xin nhà báo Phạm Đoan Trang cho biết nhận định chung của chị về vụ blogger Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh bị bắt.

Phạm Đoan Trang: Cũng như các vụ bắt tương tự, vụ bắt nào đối với những người bất đồng chính kiến hay những người có hoạt động ủng hộ dân chủ, các blogger có khuynh hướng hoạt động nhân quyền… luôn luôn gây tranh cãi. Bao giờ cũng có một bộ phận dư luận cho rằng, những người đó là « sai pháp luật », bộ phận khác cho rằng những người đó là « con bài của chính quyền », « con bài trong một cuộc đấu tranh phe phái » nào đấy, « đấu tranh nội bộ nào đấy », đến khi không dùng đến nữa thì họ bị bắt…

Với quan điểm của tôi, bất cứ cuộc bắt người nào mà vi phạm quyền cơ bản của con người, của công dân, đều đáng lên án cả, không cần biết người đó là của phe phái nào, không cần biết là người đó có mục đích gì trong việc thể hiện quyền tự do ngôn luận của họ. Hơn nữa, việc Anh Ba Sàm bị bắt, đối với tôi, còn nghiêm trọng hơn các vụ khác, hơn tất cả các vụ bắt các blogger khác từ trước đến nay, bởi vì, theo quan điểm cá nhân của tôi, Anh Ba Sàm gần như là một biểu tượng của cuộc đấu tranh của các blogger vì quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt. Do đó, việc bắt anh ấy gần như là một đòn đánh trực tiếp thẳng cánh, gọi là không kiêng nể gì cả, của chính quyền vào giới blogger, vào quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, tự do quan điểm của công dân Việt Nam, của người dân Việt Nam.

RFI: Vì sao chị lại coi Anh Ba Sàm là biểu tượng của cuộc đấu tranh vì tự do ngôn luận ở Việt Nam?

Phạm Đoan Trang: Khi tôi nói về Anh Ba Sàm, tôi nghĩ rằng ý kiến của tôi không khỏi gây tranh cãi, tuy nhiên tôi cũng sẽ cố gắng khách quan hết sức có thể.

Thứ nhất là, khi mạng xã hội vào Việt Nam năm 2005, đó là lần đầu tiên trong lịch sử xuất bản ở Việt Nam, người dân Việt Nam mới biết đến khái niệm gọi là « mạng xã hội », một diễn đàn tương đối tự do để người ta có thể bày tỏ được quan điểm của mình, mà không sợ bị hậu quả gì sau đó. Trước đó, internet đã vào Việt Nam từ năm 1997, nhưng tôi nghĩ rằng, cái văn hóa Diễn đàn/Forum vẫn không kích thích cái quyền tự do biểu đạt mạnh bằng mạng xã hội. Bởi vì mạng xã hội là nơi chúng ta có thể tự xuất bản, không cần phải chờ người khác xuất bản hộ.

Yahoo, blog vào Việt Nam năm 2005 thì được hưởng ứng rất nồng nhiệt, thì đến năm 2007, Anh Ba Sàm đã có blog và đã bắt đầu nổi tiếng rồi. Anh ấy thành lập blog Ba Sàm vào ngày 09/09/2007, tức là trước cả thời điểm Câu lạc bộ Nhà báo tự do của anh Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) được thành lập.

Tôi không muốn so sánh hoạt động của blog Anh Ba Sàm cũng như các trang blog khác, bởi vì, đối với tôi, tất cả đều là « báo chí công dân », đều là góp phần vào thúc đẩy quyền tự do thông tin, thúc đẩy chuyện minh bạch thông tin trong người dân Việt Nam. Nhưng có thể so sánh về mặt văn hóa chẳng hạn, về văn hóa của độc giả, tôi thấy blog của Anh Ba Sàm phù hợp hơn với dân chúng miền Bắc, hay nói đúng hơn những người sống với chế độ cộng sản lâu hơn, (họ) sợ hãi hơn, quy phục hơn.

Ở phía Bắc, người ta sợ hơn, và nếu quy phục cũng quy phục hơn, cái thái độ vô cảm, sợ hãi, thái độ thần phục ở phía Bắc cũng nặng hơn, thái độ thân chính quyền cũng nặng hơn. Ngoài Bắc, người ta hay nói « gần lửa rát mặt », gần trung ương thì khiếp sợ hơn là ở xa.

Chính vì thế, blog Anh Ba Sàm ngay từ đầu đã chọn một cách tiếp cận với độc giả một cách bình dân và ở mức họ chấp nhận được, tức là họ không quá sốc trước các thông tin Anh Ba Sàm đưa ra. Anh Ba Sàm ngay từ đầu không chủ trương chửi chính quyền một cách gọi là tát nước vào mặt, không gọi người ta là « cộng sản bán nước », « tay sai Tàu » hay « vẹm nô », « cộng nô »…, tức là ở mức chấp nhận được. Giới chấp nhận được có thể là những người quan tâm đến chính trị, nhưng ban đầu họ còn sợ, hoặc những người chưa có kinh nghiệm gì cả. Tôi thấy độc giả của Anh Ba Sàm có cả sinh viên, có cả thanh niên, có cả cựu chiến binh, tầng lớp cán bộ về hưu, tầng lớp học giả, trí thức, các chuyên gia… Nói chung các tiếp cận của anh ấy nó nhẹ nhàng hơn, thuyết phục hơn, không gây sốc cho họ. Từ đó, anh ấy giúp họ hé màn thông tin, các thông tin mà chính quyền không thích người dân được biết, hoặc biết mà không hiểu gì, không hiểu cần phải nghĩ thế nào…

Tôi rất muốn nhấn mạnh điểm này vì, thực sự mà nói, độc giả Việt Nam nói chung khả năng đọc hiểu, khả năng cảm nhận, hay nói rộng hơn là khả năng tư duy, phản biện bị phá hỏng khá nhiều. Họ thậm chí không biết rằng chính quyền có thể sai, Nhà nước có thể sai. Đến khi thấy có những chính sách quá bất hợp lý. Thí dụ như chuyện năm 2007, 2008, thì có chính sách là người nào vòng ngực dưới 0,72m thì không được cấp bằng lái xe máy. Điều này quá là vô lý, nhưng mà không phải người dân nào cũng hiểu được điều đó, họ ngờ ngợ, không biết nên nghĩ thế nào. Những lúc đó là khi những nhà báo công dân như Anh Ba Sàm lên tiếng. Họ, cụ thể như Anh Ba Sàm bình luận rất dí dỏm, tôi chỉ nhớ là các bình luận rất gần gũi, hài hước và giúp độc giả định hình quan điểm một cách gọi là gần với chân lý nhất, gần với thực tiễn đời sống nhất và nói chung là hợp lý nhất.

Tất nhiên, cũng có những lúc anh ấy định hướng, làm truyền thông sai, không hợp lý, nhưng trường hợp đó ít hơn những trường hợp đúng. Trường hợp khá là rõ ràng là cách đây 2 năm khi phong trào Con đường Việt Nam mới bắt đầu thành lập, Anh Ba Sàm là một trong những người phản ứng dữ dội nhất. Nhưng sau đó hai năm, phong trào Con đường Việt Nam đã thể hiện họ không phải là « chim mồi », không phải là một phong trào do chính quyền lập ra để bẫy dân. Về điểm đó, Anh Ba Sàm đã định hướng sai.

RFI: Giai đoạn Anh Ba Sàm vừa làm trang điểm tin, bình luận… bắt đầu từ năm 2007 kéo dài cho đến thời gian gần đây. Trước khi bị bắt, dường như Anh Ba Sàm có mở thêm một hai trang nữa, đặc biệt là trang Chép Sử Việt. Xin chị cho biết một đôi nét.

Phạm Đoan Trang: Trước khi có trang Chép Sử Việt, Anh Ba Sàm có trang Việt sử ký, sau đó trang này bị hacker đánh sập mất, anh ấy chuyển sang Chép Sử Việt.

Tôi thấy rằng hai trang này, mà đặc biệt là Chép Sử Việt, đã chạm vào một điểm mà chính quyền ghét nhất. Đó là « chuyện bí mật cung đình ». Đó là một điểm nữa tạo nên sự khác biệt. với nhiều blogger khác. Anh Ba Sàm là thành phần chúng ta hay gọi là thành phần « con ông cháu cha », hay « thái tử đảng ». Cha của anh ấy nguyên là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô. Đối với người cộng sản, «bí mật » là sức mạnh của họ, cho nên họ đặc biệt là kỵ và ghét những người nào lộ bí mật của họ ra ngoài. Ngay từ thế hệ cộng sản tiền bối, như ông Phạm Văn Đồng hay ông Võ Nguyên Giáp…, cho dù cuộc đời họ có sóng gió thế nào, họ có trải qua kỷ niệm cay đắng với đồng đội, họ luôn luôn im lặng. Chúng ta không biết thực chất ông Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Võ Nguyên nghĩ gì, phản ứng như thế nào khi bị điều đi làm Trưởng ban Sinh đẻ có kế hoạch. Cụ luôn giữ bí mật.

RFI: Nếu đọc lại một số bài viết của Anh Ba Sàm ngay trước khi bị bắt, đơn cử như « Có thể Bác Hồ và Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bị Trung Quốc kiện vì ”chôm” bài hát Kết đoàn » (loạt bài 3 kỳ từ ngày 02 đến 05/05) hay bài « Đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri » hay « Giáo hoàng ban phước cho con chiên »? (bài ngày 04/04) chẳng hạn. Điều mà gọi là « bí mật » trên thực tế phải chăng là nhìn ra những gì mà người quan sát bình thường không thấy được, và nói với một giọng điệu ít người có, giọng điệu mang tính giễu cợt hay là châm chọc, châm biếm thẳng các lãnh đạo cao cấp nhất… như chị vừa cho biết.

Phạm Đoan Trang: Tôi cũng nghĩ như vậy: đã tiết lộ « bí mật », mà lại còn thêm tính hài hước vào đây, thì đảng Cộng sản không thể chịu nổi. Nhìn chung, họ ghét những người moi « bí mật » của họ ra và chưa kể còn biết cách truyền tải những bí mật đến với công chúng nữa.

RFI: Ở Việt Nam, những gì được gọi là các thông tin mật và những gì được coi là « mật » được đăng tải trên do trang blog Anh Ba Sàm?

Phạm Đoan Trang: Đó là tất cả những thông tin nào mà không có trên mặt báo (chính thức). Ví dụ như chuyện Ban Tuyên giáo chỉ đạo, sau vụ chìm tàu ở Hạ Long, tháng 2/2010 hay 2011. Sau vụ này, Ban Tuyên giáo chỉ đạo không đưa đậm, không đưa về vụ đó nữa, sợ ảnh hưởng đến Vịnh Hạ Long. Bản thân « tin » đó chẳng báo nào đưa cả. Không báo nào dám đưa, ví dụ « hôm nay Ban Tuyên giáo chỉ đạo chúng tôi » như vậy. Không báo nào đưa, nhưng Anh Ba Sàm đưa như thế. Đó là chuyện hậu trường của báo chí. Rồi quá trình hợp tác ra quyết định, chính sách của các quan, rồi quá trình các cuộc họp…, có phần thông tin công khai, có phần không, thì anh ấy thường (mang đến cho công luận? ) các phần “không công khai“, không đưa lên mặt báo (chính thức) được.

Ngoài ra « bí mật » còn là thái độ, hành xử của quan chức nào đấy. Những bài đó, chẳng báo nào đưa. Chúng ta thấy, kể cả chuyện ông quan chức này chỉ đạo cái này, ông kia cái kia…, được tin ông ấy nhảy dựng lên, la lối chẳng hạn… Không bao giờ chúng ta biết được đời thường hay đầu óc các quan chức ở ngoài (thực chất – ndr) như thế nào. Anh Ba Sàm cũng công khai hết những cái đó.

Thực ra những điều đó chẳng có gì bí mật đối với một nước có nền báo chí bình thường, còn ở ta nó khác. Phải có một lớp hào quang bao xung quanh, quá trình hoạch định chính sách phải bí mật, nhất là phải tạo cảm giác khó lắm, phức tạp lắm, đòi hỏi những bộ óc ghê gớm lắm…

Nhìn chung họ ghét những người moi « bí mật » của họ ra, rồi lại biết cách truyền tải « bí mật » ấy đến công chúng nữa. Nếu như không phải là Anh Ba Sàm, mà là một người khác may mắn lấy được những thông tin gọi là « bí mật cung đình » như vậy, chưa chắc họ đã biết cách truyền đạt đến công chúng, chưa chắc họ đã biết cách gọi là diễn giải nó, bình luận nó, đưa đến công chúng để người dân hiểu được, để định hình được quan điểm… Anh Ba Sàm rất thông minh, rất nhiều ý tưởng, đấy chính là điều khiến blogger này trở thành rất nguy hiểm đối với chính quyền. Tôi nói thế này, có thể là so sánh làm không vừa lòng nhiều người, nhưng tôi nghĩ rằng chính quyền sẽ không sợ một blogger «chửi đổng », cứ lên mạng « chửi Đảng, chửi Nhà nước »…, họ không sợ bằng một blogger thông minh, hài hước, biết cách kể chuyện, biết cách truyền tải thông tin đến độc giả, và từ việc đó, lại biết cách kết nối với độc giả nữa, có khả năng kết nối trước cả khi có facebook. Với tất cả những cái đó, Anh Ba Sàm trở nên « nguy hiểm » hơn so với các blogger khác trong mắt chính quyền.

Họ ý thức được điều « bí mật » là đoàn kết và sức mạnh của Đảng. Anh Ba Sàm, con của một công thần, lại tiết lộ những chuyện đó. Tiết lộ những chuyện đó là chạm vào « tử huyệt », chạm vào điểm mà đảng Cộng sản ghét nhất, nên họ phải bắt sớm. Chúng ta có thể tự hỏi, tại sao bao nhiêu năm nay anh ấy làm việc bình luận, điểm tin, các bình luận ngày càng sắc hơn, mà không sao cả, tôi nghĩ rằng chính bởi vì anh ấy chưa đụng đến các « tử huyệt » kia.

Ngoài ra tôi có một ý, mà nhiều người nói, nhưng chưa kiểm chứng được: Anh Ba Sàm bị bắt chỉ ba ngày sau khi Trung Quốc kéo giàn khoan 981 (ngày 02/05/2014) và vài ngày trước cuộc biểu tình lớn (11/05/2014). Có người cho rằng việc bắt Anh Ba Sàm là để ngăn chặn trước phe chống Trung Quốc trong chính quyền và tâm lý chống Trung Quốc trong người dân, bởi vì, theo tôi biết, Anh Ba Sàm là người có tinh thần dân tộc chủ nghĩa rất mạnh, một người chủ trương dùng lòng yêu nước chống Trung Cộng. Suy đoán như vậy tôi nghĩ cũng có thể có lý.

RFI: Blogger Anh Ba Sàm dù được coi là « lề trái », tức truyền thông nằm ngoài Nhà nước, nhưng dường như quan hệ của blogger này với giới báo chí của truyền thông Nhà nước không gặp trở ngại?

Phạm Đoan Trang: Đó cũng là một đặc điểm thú vị của Anh Ba Sàm, đó là anh ấy không chủ trương chống lại « lề phải ». Tôi cũng muốn nhấn mạnh điều này. Bởi vì các vị biết, người cộng sản ý thức rất rõ sức mạnh của thông tin và sức mạnh của sự bí mật. Nói cách khác, bí mật tạo nên quyền lực của họ. Vì vậy cho nên họ quản lý rất chặt. Họ quản lý thông tin theo cách là chỉ có những đối tượng nhất định mới có được một số thông tin nào đó, chỉ có tầng lớp cao nhất mới nắm được thông tin đầy đủ nhất. Thông tin sẽ được rót xuống dưới theo hướng ít dần đi. Trong xã hội có một lực lượng có được tương đối thông tin so với các thành phần khác, đó là nhà báo. Ngay trong giới báo chí cũng vậy, họ cũng quản lý theo lối là nhà báo nào càng thân chính quyền, và có khả năng làm công cụ tốt cho họ thì có được đặc quyền đặc lợi, và có thông tin. Còn những thành phần đã mang tính « chống đối », mang tính « lề trái », như kiểu tôi chẳng hạn, thì rất khó có thông tin. Luôn luôn ở cấp dưới, không bao giờ được dự những hội nghị quan trọng, được tiếp cận với những cuộc gặp quan trọng, để có được những thông tin « mật ».

Anh Ba Sàm chắc cũng nhìn được điểm đó và thấy rằng, nền báo chí công dân của chúng ta, của các blogger không thể nào chuyên nghiệp được, hấp dẫn được, hay được, nếu không dựa trên nền tảng sự thật và thông tin. Nghĩa là nếu không có thông tin từ chính quyền, chính thống, thì nó sẽ mãi mãi là một thứ báo chí chỉ có « chửi đổng » và gọi là « tự sướng » với nhau, chứ không tiếp cận được người dân nhiều bằng báo chí chính thống. Hiểu được điều đó cho nên anh ấy rất chú trọng quan hệ với giới báo chí chính thống, báo chí « lề phải ». Anh ấy không chống lại họ ngay từ đầu. Ví dụ, mọi người có thể để ý là anh ấy không bao giờ chửi « lề phải » là lũ « lưỡi gỗ », gộp hết vào một bọn, «lũ vẹt », hay « báo lá cải », những từ xúc phạm họ. Mà anh luôn lọc tìm trong nền báo chí « lề phải» ấy, có những gương mặt nào, cá nhân nào, hoặc tờ báo nào có xu hướng tiến bộ, ủng hộ dân chủ, thì anh ấy tìm cách quan hệ tốt với họ để có thông tin.

Tôi phải nói thành thật là, giới báo chí lề phải của chúng tôi rất nhiều người quý Anh Ba Sàm. Và trong chúng tôi, có những người bí mật hợp tác với anh ấy, và một điều hay nữa là anh ấy bảo mật điều đó, bảo mật thông tin cho chúng tôi, đúng theo nguyên tắc bảo vệ nguồn tin. Nên Anh Ba Sàm được nhiều nhà báo rất tin cậy.

Tôi nghĩ rằng bây giờ, khi Anh Ba Sàm bị bắt rồi, thì chúng ta không còn một blog nào ở cái mức độ như vậy được nữa, ở mức độ có thể làm cầu nối được nữa. Mà cũng không còn blogger nào có nhiều thông tin « cơ mật » như Anh Ba Sàm được nữa. Có thể họ có, nhưng họ không biết cách làm truyền thông, không lan truyền được các thông tin đó đến cộng đồng như Anh Ba Sàm nữa. Anh Ba Sàm bị bắt là một tổn thất, một mất mát lớn cho cộng đồng blog Việt Nam, nền dân báo của Việt Nam.

RFI: Xin chị cho biết mọi người, những blogger, những người quan tâm đến truyền thông, cụ thể ở hải ngoại, phản ứng như thế nào về vụ Anh Ba Sàm bị bắt.

Phạm Đoan Trang: Đây cũng là một điểm mà tôi thấy có sự khác biệt lớn giữa người trong nước và người Việt hải ngoại. Ở ngoài này, người ta không biết Anh Ba Sàm nhiều. Có thể vì cách tiếp cận của Anh Ba Sàm là bình dân, nhẹ nhàng và không quá gay gắt, được người trong nước hưởng ứng, đặc biệt là phía Bắc, thì phía Nam và phía hải ngoại không chấp nhận được kiểu đó chăng? Họ cho rằng đó là kiểu “hai mang“, “mập mờ“, “không quyết liệt“, “không dứt khoát“, “không thẳng thắn“. Có thể vậy?!

Ngoài này, tôi thấy người ta không biết anh ấy nhiều, không ủng hộ nhiều, đặc biệt là quan điểm (nghi ngờ) chắc lại là thành phần « thái tử », con ông cháu cha! Quan điểm này rất nặng. Người ta không tin rằng những thành phần như vậy có thể tốt được, có thể tiến bộ được.

Tôi nói như vậy không phải là về tất cả cộng đồng người Việt hải ngoại, nhưng một số gặp gỡ tạo cho tôi một ấn tượng chung như vậy.

Và tôi cũng chưa biết làm thế nào để (anh ấy) không bị rơi vào quên lãng. Nếu tất cả mọi người không làm gì cả, để nó rơi vào quên lãng, thì tôi nghĩ rằng bản án sẽ là khá nặng với Anh Ba Sàm.

Với Anh Ba Sàm, nếu chuyện đó xảy ra, thì tôi nghĩ khá là bất công cho anh ấy, tội nghiệp cho Anh Ba Sàm, vì đó là một người đóng góp quá nhiều cho việc công khai hóa, tự do hóa thông tin ở Việt Nam, nâng cao dân trí. Như anh ấy nói « khai dân trí, phá vòng nô lệ ». Anh ấy đóng góp rất nhiều cho quá trình đó, mà nếu mà lúc anh ấy lâm nạn mà không được cứu giúp, thì tôi nghĩ là một điều bất công và có phần bất nhẫn với anh ấy.

Nếu được, mong quý vị thính giả, cũng như Đài, nỗ lực giúp đỡ trong trường hợp Anh Ba Sàm. Xin hãy làm những việc mà trong nước không thể làm được.

Rất là mong muốn quý vị hãy tìm hiểu nhiều hơn về trường hợp blogger Anh Ba Sàm, hãy cố gắng nỗ lực, giúp đỡ, gây tiếng nói để Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh sớm được trả tự do.

RFI: Xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Đoan Trang.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | 1 Comment »

►Di cư vào miền Nam 1954

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2014

 

Câu chuyện Di cư vào miền Nam của tôi

Tác giả: 

Nguồn: danchimviet.info

dicu1954_2

Năm 1954, tôi vừa tốt nghiệp văn bằng Tú tài II qua kỳ thi vào tháng 6 tại Hà nội, thì được tin quân đội quốc gia đã rút khỏi miền quê tôi tại Huyện Xuân Trường Tỉnh Nam Định để ra Hải phòng bằng đường thủy. Và một số bà con ruột thịt của tôi cũng tìm cách kiếm được thuyền bè để mà đi theo đoàn quân tới được thành phố cảng này. Tôi lại có ông anh cả thuộc đơn vị quân đội trú đóng ở Quảng Yên sát với mỏ than Hòn Gai. Nên vào đầu tháng 7, tôi đã tìm cách đi từ Hà nội đến Hải phòng để tìm gặp bà con và đi thăm gia đình ông anh luôn thể.

Trước khi rời Hà nội, tôi phải đến nhà Thầy Nguyễn Ngọc Cư là Phó Trưởng Ban Giám Khảo kỳ thi Tú Tài, để xin Thầy cấp cho một Giấy Chứng Nhận Đã Thi Đậu Tú Tài, để nộp kèm theo hồ sơ ghi danh vào Đại học. Dù đã biết rõ tôi là học trò của Thầy tại trường Chu Văn An, mà đã thi đậu trong kỳ thi vừa qua, Thầy vẫn phải cẩn thận rà lại danh sách các thí sinh trúng tuyển, rồi mới cấp cho tôi một “Giấy Chúng Nhận Tạm Thời” để tùy nghi sử dụng. Thầy nói : Giấy Chứng Nhận Chính Thức phải do Nha Học Chánh thuộc Bộ Giáo Dục cấp phát, chứ Ban Giám Khảo chỉ có thể cấp Giấy Chứng Nhận Tạm Thời mà thôi. Biết tôi có ý định vào miền Nam, Thầy cầu chúc tôi lên đường gặp nhiều may mắn.

Ở vào tuổi 20 lúc đó, tôi nhìn cuộc đời với nhiều lạc quan tin tưởng, nên chẳng hề e ngại trước cuộc phiêu lưu phải rời xa quê hương đất Bắc, để mà đi tới miền Nam xa xôi cả mấy ngàn cây số. Một phần đó là do tính ưa thích đi đây đi đó xông pha mạo hiểm của tuổi trẻ – như cụ Nguyễn Công Trứ nói : “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây – Cho phỉ sức vãy vùng trong bốn bể”. Nhưng phần lớn chính là do động cơ thúc đảy bởi cái chuyện “phải tránh thoát khỏi cái nạn cộng sản độc tài nham hiểm “, mà đang sắp sửa bủa vây, bao trùm xuống khắp miền Bắc.

Tôi phải ở lại thành phố Hải phòng đến hơn một tháng, thì mới tìm được phương tiện chuyên chở vào đến Sài gòn hồi giữa tháng 8. Đó là nhờ một ông chú là cháu của bà nội tôi, tên là chú Nhân. Chú làm việc tại cơ quan hành chánh phụ trách về việc sắp xếp tàu bè đi vào Nam, nên đã xin cấp trên ưu tiên cấp phát giấy tờ di chuyển cho tôi và một bà cô là Cô Nguyệt để leo lên được chiếc tàu khá lớn của quân đội Pháp có tên là Gascogne. Con tàu này chuyên môn chở quân trang quân dụng cho quân đội, nên không có đủ tiện nghi như là tàu chở hành khách thông thường. Nhưng mà lúc đó, lớp người di cư tỵ nạn chúng tôi đâu còn có sự lựa chọn nào khác, miễn là đi thoát khỏi miền Bắc cộng sản là được may mắn lắm rồi. Số lượng hành khách trên tàu lúc đó có đến 7 – 800 người, phần đông là từ các tỉnh xa thuộc đồng bằng sông Hồng mà sớm ra được tới Hải phòng để kịp đi vào Nam trong mấy chuyến đầu tiên được tổ chức cấp tốc sau ngày ký kết Hiệp Định Geneva 20 Tháng Bảy 1954, chia đôi đất nước. Mãi mấy tháng sau, thì mới có loạt các tàu của Mỹ với các tiện nghi thoải mái hơn để chuyên chở số lượng rất đông đảo người di cư từ Bắc vào Nam.

Con tàu chạy trong chừng ba ngày, thì đến Cap Saint Jacques, tức là cảng Vũng Tàu bây giờ, để chuẩn bị vào cửa sông đi đến bến Nhà Rồng của thành phố Sài gòn. Sau khi tàu cập bến ít lâu, thì chúng tôi được xe chuyên chở đưa tới nơi tạm cư là trường Tiểu học Tôn Thọ Tường trên đường Trần Hưng Đạo bây giờ (mà hồi đó vẫn còn mang tên Pháp là Boulevard Galliéni) cũng gần với Chợ Bến Thành.

Lúc đó bên phía đối diện với ngôi trường, thì có một tòa nhà lớn đang được xây cất, mà sau này chính là rạp chiếu phim Đại Nam. Bà con di cư chúng tôi được các công nhân ở đây thật là hào phóng cấp cho một số gỗ ván gỡ ra từ giàn “cốt pha”(coffrage), để dùng làm củi đun cơm, nấu nước. Đó thật là một nghĩa cử đầu tiên của người dân Sài gòn đối với lớp người mới chân ướt chân ráo từ ngòai Bắc vào miền Nam – chuyện này khiến cho tôi cứ nhớ hoài.

Chúng tôi được mấy bà con đến được Sài gòn vài ba tuần lễ trước, nên họ tìm đến để chỉ dẫn đường đi nước bước tại cái thành phố rộng mênh mông này. Riêng tôi thì gặp lại một số bạn bè cũng từ Hà nội hay từ Nam Định mà đến đây trước như Võ Thế Hào, Trần Ngọc Vân, Nguyễn Phi Hùng . Các bạn cũng giúp tôi việc này chuyện nọ trong bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ.

I – Những kỷ niệm khó quên của Sinh viên Di cư.

Sau vài bữa, thì tôi làm xong thủ tục ghi danh ở Đại học Saigon và được nhận vào ở trong Trường Gia Long là nơi được dành riêng cho các sinh viên di cư. Tại đây, sinh viên chúng tôi được cư ngụ trong khu ký túc xá, nên có đày đủ tiện nghi về nơi ăn chốn ở, nhà vệ sinh, phòng tắm giặt thật là đàng hoàng tươm tất. Ban tiếp cư còn lo cho chúng tôi mỗi ngày ba bữa ăn đày đủ. Và mỗi tháng chúng tôi còn được cấp phát cho một số tiền nho nhỏ để chi tiêu lặt vặt.

Cũng tại nơi tạm cư này, có lần chúng tôi lại được tiếp đón cả Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn chánh phủ đến thăm nom và úy lạo sinh viên nữa. Nói chung, thì sự chăm sóc của nhà nước đối với lớp người di cư đầu tiên trong mấy tháng cuối năm 1954 rõ ràng là đã được tổ chức hết sức chu đáo, gọn gàng. Đặc biệt là mấy trăm sinh viên từ Hanoi như tôi đã được hưởng một chế độ ưu đãi quá tốt đẹp, vượt xa ngoài sự mong ước của nhiều người trong hàng ngũ chúng tôi.

Nhưng rồi đến lúc các học sinh tựu trường, thì sinh viên chúng tôi phải di rời ra cư ngụ tại khu lều vải được dựng lên trên nền đất của Khám lớn Sài gòn cũ sát bên Tòa Án, để trả lại trường ốc cho nữ sinh Gia Long. Vào cuối năm, trời Saigon nắng nực nên vào ban trưa nhiều anh em chúng tôi phải tìm cách chạy đến các công sở lân cận, nơi có nhiều bóng cây che rợp cho bớt nóng. Và chúng tôi đã ăn cả hai cái Tết Tây và Tết Ta đầu năm 1955, tại khu lều vải tạm trú này.

II – Vài chuyện ngộ nghĩnh tại Khu Lều Khám Lớn.

Xin vắn tắt ghi lại vài chuyện vui vui ngộ nghĩnh trong dịp vui xuân năm Ất Mùi 1955 tại Khu Lều Khám Lớn như sau đây.

1 – Một nhà báo người Pháp của tờ “Le Parisien libéré” đến chụp hình và phỏng vấn sinh viên chúng tôi. Anh chụp ảnh lia lịa về cái cảnh anh Lưu Trung Khảo viết mấy câu đối Tết bằng chữ Hán. Từ đó mà sinh viên chúng tôi tặng cho anh Khảo cái biệt danh “Ông Đồ Khảo”.

Hồi đó sinh viên chúng tôi đều nói rành tiếng Pháp, nên đã trả lời các câu hỏi của anh nhà báo này một cách suôn sẻ thỏai mái. Tôi còn nhớ đã nói với anh ấy rằng : “Chúng tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của sự tàn bạo của người cộng sản độc tài. Do đó mà phải bỏ lại quê hương ở miền Bắc để đi tìm được tự do tại miền Nam này. Cụ thể là riêng trong gia đình tôi, thì đã có hai người bị cộng sản sát hại. Đó là vào năm 1947 công an cộng sản đã giết ông cậu là em của mẹ tôi tên là Tống Văn Dung và đem quăng xác ông xuống con sông Trì Chính ở Phát Diệm .Và họ còn đến tận nhà bắt cả cha tôi là Đoàn Đức Hải từ năm 1948 mang đi biệt tích luôn…”

2 – Cũng vào dịp Tết Ất Mùi này, Đoàn Sinh viên Di cư chúng tôi còn thực hiện được một tờ Đặc san lấy tên là “Lửa Việt’ với chủ đề là “Xuân Chuyển Hướng” với các cây bút sau này rất nổi danh, đó là Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sĩ Tế, Dõan Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền v.v…

3 – Và riêng tại căn lều gồm 8 người của tôi, thì để mừng xuân anh bạn Bùi Đình Nam đã ra tay làm đầu bếp chiên cho chúng tôi một món bí tết thật đặc sắc. Chúng tôi lại còn được uống cả một chai rượu chát hiệu Beaujolais của Pháp nữa. Miếng ngon này làm cho bọn trẻ chúng tôi lúc đó mới ở vào cái tuổi đôi mươi, thì không bao giờ mà chúng tôi lại quên được.

Thật là những kỷ niệm khó quên của cái thời bọn thanh niên trai trẻ chúng tôi mới đến sinh sống nơi miền đất xa lạ Sài gòn này. Cuối cùng, thì vào khoảng sau Tết Âm lịch không lâu, chúng tôi được dọn đến khu Đại học xá Minh Mạng vừa mới xây cất xong. Sinh viên di cư chúng tôi là những người đầu tiên đến cư ngụ tại khu cư xá này với đày đủ tiện nghi phòng ốc, giường tủ, điện nước …Và cứ như vậy cuộc sống của chúng tôi lần hồi đi vào mức ổn định và hòa nhập được với nền nếp của cả thành phố thủ đô của miền Nam tự do, phồn thịnh và thanh bình.

III – Chuyện về các anh chị em trong gia đình của tôi.

Còn về phần riêng gia đình các anh chị em ruột thịt của tôi, thì kẻ trước người sau chúng tôi đều quy tụ lại được với nhau trên mảnh đất miền Nam an lành, và nâng đỡ bảo bọc nhau xây dựng lại cuộc sống mới. Lúc đó các anh chị lớn đều ra sức hợp với nhau mà chăm lo chu đáo cho mấy em còn nhỏ dại cỡ tuổi 10 – 16, vì cha mẹ chúng tôi đều đã khuất bóng từ trước rồi.

Và rồi đến lượt các cháu thuộc thế hệ thứ hai trong đại gia đình chúng tôi , thì các cháu đều đã thành đạt tại miền Nam này. Vì thế, khi các cháu khôn lớn, thì đều bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ vì đã hy sinh hết mình, để mà đem được các cháu vào miền Nam – và nhờ đó mà các cháu có được những cơ hội tốt đẹp để học tập và gặt hái được nhiều thành công trên đời. Điều này càng rõ rệt, vì sau năm 1975 chúng tôi được gặp lại bà con từ quê hương ngoài Bắc vào thăm, thì họ đều xác nhận là họ bị cán bộ cộng sản đàn áp, bóc lột, chèn ép kỳ thị tàn bạo đến độ túng đói khốn khổ điêu đứng vô cùng!

* * Năm 2014 này, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Đặt Chân đến miền Nam Tự Do (1954 – 2014), tôi xin ghi lại một số kỷ niệm riêng tư của mình như là một chứng từ của một thanh niên là một thành viên của khối gần một triệu người di cư tỵ nạn cộng sản, mà đã phải bỏ lại tất cả tài sản nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả cha ông trên đất Bắc để đi xây dựng cuộc sống mới tại miền đất tự do, no ấm và an hòa ở phía Nam của tổ quốc Việt nam.

Và nhân dịp này, với tư cách là một người thụ ơn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân các quốc gia đã góp phần yểm trợ cho công cuộc di chuyển và định cư vĩ đại của cả triệu đồng bào chúng tôi trong những ngày tháng đen tối đó. Và tôi cũng không quên công lao của các nhân viên Chánh phủ, của Quân đội miền Nam Việt nam, và của biết bao nhiêu cơ quan thiện nguyện khác mà đã lo lắng chăm sóc thật là chu đáo tận tình cho lớp người di cư chúng tôi vào thuở đó. Dù chỉ là một cá nhân nhỏ bé, lời nói của tôi lại hết sức trung thực, như là một biểu hiện của sự cảm thông sâu sắc và quý mến chân thành đối với tất cả các vị ân nhân đáng kính của cả một thế hệ người di cư từ miền Bắc Việt nam năm 1954 vậy.

Nhân tiện, tôi cũng thấy cần phải ghi lại nơi đây tấm lòng quảng đại nhân ái của nhân dân miền Nam – đã mở rộng vòng tay đón nhận và bao bọc che chở cho bà con ruột thịt là nạn nhân khốn khổ bất hạnh của nạn độc tài cộng sản, nên đã phải bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn ở ngòai Bắc để tìm tự do tại miền Nam. Ân nghĩa đó thật là cao cả rộng lớn như Trời Biển và đã góp phần củng cố thêm cho Sức mạnh tổng hợp của tòan thể Dân tộc chúng ta nữa.

Thành phố Costa Mesa California, tháng Bảy năm 2014

© Đoàn Thanh Liêm

© Đàn Chim Việt

 

—————-

 

Năm 1954, tại Hội An

 

20-7-2014

Phạm Xuân Đài

 

Tâm hồn tôi ngay từ khi còn bé đã được xây dựng với rất nhiều hình ảnh của đất Bắc, đặc biệt là Hà Nội, qua các sách tôi đọc. Sách Hồng, sách Truyền Bá Quốc Ngữ từ lúc vừa biết đọc, lớn lên một chút, tôi tiếp tục đọc sách Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả khác: Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài v.v… và tiếp nhận thông tin đủ mọi mặt của đời sống đất Bắc qua văn chương. Thuở ấy sách xuất bản từ Sài Gòn mà tôi có được thì tuyệt đối chỉ là truyện Tàu của nhà Yễm Yễm Thư Trang: Tam Quốc, Tây Du, Thủy Hử… rất hấp dẫn và có ích về kiến thức lịch sử, văn hóa Tàu, nhưng tất cả những gì về văn học Việt Nam thì đều đến từ Hà Nội. Nhưng cho đến cuộc di cư của đồng bào miền Bắc năm 1954 thì tôi mới thực sự bắt đầu tiếp xúc với người Bắc.

Mùa hè năm 1954 tôi đã là một thiếu niên, vừa đủ hiểu biết để theo dõi các chuyển biến quân sự chính trị của đất nước, từ trận Điện Biên Phủ đầu tháng Năm cho đến khi ký kết hiệp định Genève vào tháng Bảy, và tiếp theo đó là cuộc di cư của đồng bào ngoài Bắc vào Nam. Bây giờ đã lớn tuổi, nhớ lại quãng thời gian ấy, tôi thấy cậu thiếu niên là tôi lúc đó hầu như đã trưởng thành hẳn trong vòng có mấy tháng với những biến cố rung động cả đất nước và con người Việt Nam.

Cuộc di cư của đồng bào miền Bắc đối với tôi bắt đầu ngay từ sau khi hiệp định đình chiến và chia đôi đất nước được ký kết tại Thụy Sĩ. Tôi rúng động khi biết sẽ mất Hà Nội, và những ngày ấy tôi thường theo dõi đài phát thanh Hà Nội –thời đó gọi là đài Hirondelle (chim Én)– mà trước kia tôi chưa bao giờ nghe. Tôi còn nhớ buổi phát thanh cuối cùng của Tổng hội Sinh viên Hà Nội trước khi từ giã đất Bắc để vào Nam, nghe xong lòng tôi buồn như muốn khóc. Không biết trong buổi phát thanh đó có mặt các anh Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo… hay không, sau này quen biết với các anh tôi chưa bao giờ hỏi điều ấy. Nhưng buổi phát thanh ấy đã hằn trên tâm hồn mới lớn của tôi một ấn tượng lớn lao về lịch sử, về sự chia cắt và nỗi nhớ thương một Hà Nội mà từ nay trở đi sẽ không còn là Hà Nội như tôi đã biết từ trước nữa.

Bài hát Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương phổ biến trong mùa hè ấy đối với tôi mãi mãi là một nhạc phẩm lớn ghi lại nỗi niềm, như tôi vừa viết, nhớ thương một Hà Nội từ nay sẽ không còn như xưa nữa. 

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/huong-ve-ha-noi-hoang-duong-le-dung.ASjiTCHNoN.html

 

Đó không phải chỉ là lời giã biệt của một chuyến đi, mà là giã biệt vĩnh viễn những thành tựu văn hóa ngàn năm cô đúc trong một đô thị đầy ắp lịch sử và các giá trị nhân văn của một dân tộc. Suốt bài hát những tiếng kêu khắc khoải Hà Nội ơi, Hà Nội ơi lặp đi lặp lại trước mỗi tiểu khúc mô tả kỷ niệm, nếp sống, vẻ đẹp của người, của cảnh… như là một cố gắng dựng lại bao cái tinh hoa của Hà Nội trước khi vĩnh viễn dứt lìa. Quả thế, kể từ đó, tất cả vẻ đẹp cổ điển của Hà Nội đã hoàn toàn bị xóa bỏ không còn bao giờ hồi phục được nữa.

Thế rồi vào một ngày cuối hè đầu thu năm ấy, thành phố Hội An nhỏ bé và cổ kính của chúng tôi bắt đầu đón tiếp người Bắc di cư. Mấy cái lều thật lớn được dựng lên trong khu vực sân quần vợt của thành phố, và một hôm đầy ắp người ở. Nhưng đó chỉ là nơi tạm trú, không lâu các gia đình ấy tản đi thế nào tôi không rõ, chỉ thấy lều trại được giở đi, và thành phố có thêm một số gia đình người Bắc cư ngụ đây đó, công sở có nhiều người Bắc làm việc hơn, niên khóa mới 1954-55 trường Trần Quý Cáp chúng tôi có thêm một số bạn học mới nói tiếng Bắc, trong đó có những “cô em Bắc Kỳ nho nhỏ” rất duyên dáng. Và từ thời điểm này một số giáo sư mới di cư bắt đầu về dạy tại trường, trong đó có thầy Dương Đức Nhự mà mãi cho đến bây giờ tôi vẫn giữ những liên hệ đầy tình cảm. Và, một tiệm phở được khai trương một cách tạm bợ ở một con đường gần chợ. Tiệm phở này tôi cho là một nét văn hóa ẩm thực Bắc Kỳ đầu tiên xuất hiện một cách rõ rệt tại cái thành phố rất kiên cố về mặt truyền thống của chúng tôi. Trên những chuyến xe đò Hội An – Đà Nẵng nay thường có mặt một số hành khách mới, đó là một số các bà di cư có lẽ đi buôn bán, khi bước lên xe thường nói “Tôi đi Tu Đoan” mãi sau tôi mới hiểu các bà muốn nói Tourane, tức Đà Nẵng gọi theo lối Pháp.

Làn sóng di cư đến với Hội An tương đối mỏng và nhẹ nhàng, tất cả bà con di cư hòa nhập vào nếp sống Hội An một cách êm đềm, không gây một xáo trộn nào trên vẻ trầm lặng của thành phố cổ này. Nhưng ai cũng biết tầm cỡ của cuộc di cư trên cả miền Nam thì rất lớn lao, đã đem lại nhiều thay đổi tích cực trên nhiều lãnh vực trong phần lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17. Điều ấy dễ hiểu, vì bỗng nhiên miền Nam có thêm gần một triệu công dân, trong đó có rất nhiều thành phần ưu tú của đất nước.

Từ đó đến nay 60 năm đã qua. Chẵn một chu kỳ 12 con giáp. Trong đời một người khó có chuyện gặp lại kỷ niệm lần thứ hai sáu mươi năm biến cố này.

PXĐ

Posted in Hiệp định Geneve 20-7-1954 | 1 Comment »

►Hôm nay là đúng 60 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2014

Hiệp Định Genève 20-7-1954 chia đôi đất nước là do miền Bắc và các nước ngoài quyết định (Trung Quốc, Pháp, Mỹ), miền Nam Việt Nam phản đối và không ký vào bản hiệp định ấy

Sông Bến Hải

Tác giả: Phạm Hữu Trác

Hiệp định Genève 20-7-1954 (*) lấy sông Bến Hải làm ranh giới đình chiến giữa hai miền Nam Bắc, từ đó hai chữ Bến Hải đi vào lịch sử Việt Nam.

Sông Bến Hải còn có tên là Rào Thanh bắt nguồn từ vùng núi Động Chân, tỉnh Quảng Trị, thuộc dãy Trường Sơn, cao hơn mặt biển 500m, chẩy theo hướng từ tây nam sang đông bắc, đổ ra biển ở Cửa Tùng, thuộc quận Vĩnh Linh, Quảng Trị. Sông dài chừng 100km, nơi rộng nhất khoảng 200m, hai đầu sông rất hẹp, ở thượng nguồn nơi có nhà thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, ở Cửa Tùng lòng sông rộng 30m. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông Bến Hói, theo tiếng địa phương hói có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc trại ra là Bến Hải.

Từ đầu nguồn sông Bến Hải chẩy được 80km thì gặp sông Sa Lung từ phía tây bắc đổ vào, hai sông hợp lưu chẩy tiếp ra biển, qua làng Minh Lương ở bờ bắc nên có tên là sông Minh Lương. Do phải kiêng húy tên vua Minh Mạng, nên cả tên làng và tên sông đều đổi thành Hiền Lương, cây cầu gần ngã ba sông cũng mang tên là Hiền Lương.

Sông Bến Hải (Hình 1)
Nguồn: Google Maps

Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ số 1 bắc qua sông Bến Hải, nơi sông rộng hơn 150m, lui một ít về phía nam vĩ tuyến 17, thuộc quản hạt quận Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tính đến nay đã có nhiều lần cấu trúc chiếc cầu bắc qua sông Bến Hải thay đổi, nhưng cây cầu lịch sử vẫn là cây cầu từ 1952 đên 1967. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8 lần.

Cây cầu mà tôi đã đứng trên đó do người Pháp xây dựng năm 1952 bằng bê tông cốt sắt dài 178m, rộng 4m, hai bên có thành chắn cao 1,2m, trọng tải tối đa 18 tấn, gồm 7 nhịp, mặt cầu lát bằng 894 tấm ván gỗ thông, chia ra miền bắc một nửa, miền nam một nửa, mỗi bên 89m. Ở giữa cầu ngăn ra bằng hai vạch song song, trừ cảnh sát hai bên có thể đi qua hết chiều dài của cầu, người khác chỉ được đứng trong phạm vi giới hạn nam bắc của mình. Cây cầu này tồn tại 15 năm từ 1952 cho đến 1967 khi máy bay Mỹ phá sập.

Mỗi đầu cầu có một đồn cảnh sát 16 người (phía bắc gọi là đồn công an) thường xuyên cử hai nhân viên tuần tiễu an ninh trên cầu. Nghe nói ở Cửa Tùng cũng có một đồn cảnh sát ở bờ bắc thuộc xã Vinh Quang và một đồn ở phía nam thuộc xã Cát Sơn. Sau năm 1965, khi chiến tranh leo thang thì hệ thống đồn bót dọc hai bên sông Bến Hải đều ngưng hoạt động.

                                         Câu Hiền Lương cũ và mới (Hình 2)   

http://www.giaothongvantai.com.vn/giao-thong-phat-trien/ha-tang/201401/vi-tuyen-17-va-dau-an-cau-hien-luong-446452/


Nguồn: Google Maps

Phục vụ tại sư đoàn 1 bộ binh từ 1963 đến 1965 (1), tôi đã nhiều lần ra thăm cầu Hiền Lương, mổi lần đối với tôi là một kỷ niệm khó quên. Vì là trong vùng 5 cây số phi quân sự, nên mỗi lần đến cầu đều phải mặc thường phục, nếu đi quân xa thì mang phải mang số ẩn tế, có khi vội thì lấy bùn bôi lấp đi bảng số quân xa.

Lần đầu tiên vào cuối năm 1963, lúc mới đến đơn vị mới là đã muốn đi thăm Bến Hải. Từ Huế theo quốc lộ số 1, qua Quảng Trị rồi Đông Hà, khi vào tới địa hạt Vĩnh Linh là đã thấy lòng nao nao vì nhớ nhà sau 9 năm xa miền Bắc. Dòng sông chẩy chậm, trên cầu gió nhẹ, đứng ở bên này vạch trắng mà nhớ lại những xót xa lúc xuống tầu há mồm rời miền Bắc.

Lần khác theo đoàn sinh viên Sài Gòn ra thăm Huế đi cùng với tướng Nguyễn Chánh Thi. Khi đoàn người tới chân cầu thì hai nhân viên công an miền Bắc sang bên này quan sát, quả nhiên không bao lâu sau thì có tin cộng sản phản đối sự hiện diện của tướng Thi ở vùng phi quân sự. Mấy ông Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nã Đại trong Ủy hội Quốc tế Đình chiến từ đâu bỗng thấy kéo đến, bên ta trả lời là tướng Thi ngoài chức vụ tư lệnh sư đoàn có là đại biểu chính phủ tại khu 11 chiến thuật, một trách vụ hành chính. Thế là xong một hiệp, mà không biết trong vòng 21 năm đã có bao nhiêu vụ khiếu nại qua hai bên cầu.

Cầu Hiền Hương (cũ)
Nguồn: Panoramio (Google)

 

Cầu Hiền Lương nhìn từ miền Nam

Khoảng giữa tháng 9-1964 vài đồng nghiệp và tôi rủ nhau ra thăm Bến Hải. Hôm ấy tướng Lâm Văn Phát kéo quân vào Saigon áp lực đảo chính, ở ngoài giới tuyến nghe rõ nhạc hành quân trên đài phát thanh Saigon cùng với tin tức và kêu gọi của hai phe, đảo chính và phản đảo chính. Ở trên cầu Hiền Lương hai anh công an miền Bắc đến chào hỏi “đồng bào”, rồi tỏ ý chê bai, nói với chúng tôi là mấy anh tướng miền Nam thích đánh nhau tranh dành quyền hành, anh bạn Lý Hồng Sen nhanh trí đáp lại:

Bên tôi dân chủ như vậy đó, ai làm việc không được thì bắt xuống, bây giờ để chứng tỏ dân chủ, ở giữa cầu này, tôi hô đả đảo Nguyễn Khánh, đồng chí phải hô đả đảo Hồ Chí Minh.

Nói xong anh giơ tay hô lớn đả đảo Nguyễn Khánh, rồi đòi anh công an trả nợ phần của anh đối với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên anh công an bị ngọng, trách ngược lại người “đồng bào” kỳ cục. Chúng tôi bồi thêm, cật vấn anh ta tại sao chân cầu phía bắc lại có cái cổng lớn trên ghi bốn chữ “Nam Bắc Một Nhà”, giữa nhà sao lại xây cổng?

Khi Không quân Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu oanh tạc bắc vĩ tuyến 17, nhiệm vụ của quân y sư đoàn là bay trên trực thăng phía nam sông Bến Hải để yểm trợ cứu cấp trường hợp phi công bị trúng thương. Tôi nhớ hình như hồi đó quân đội Việt Nam sử dụng trực thăng loại Huey, chở được tám người, hai cáng thương, thường bay hai chiếc để hỗ trợ lẫn nhau. Trường hợp may mắn, chúng tôi đã có hy vọng tiếp cứu đuợc phi công Phạm Phú Quốc, nếu máy bay trúng đạn của anh còn bay được sâu về phía nam. Cuối cùng chúng tôi chẳng cứu được ai mà trớ trêu hơn nữa, chính chúng tôi phải lo cho mình, số là hôm ấy một trong hai chiếc trực thăng hỏng máy, phải đáp xuống đất, tất cả dụng cụ trang bị quân sự và y khoa phải tháo gỡ cùng với phi hành đoàn đưa sang chiếc thứ hai bay về sân bay thành nội Huế.

Ngày 19-3-1965 tôi cũng muốn ra chứng kiến cảnh trục xuất giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và ký giả Cao Minh Chiếm qua cầu Hiền Lương, nhưng vì bận công tác khác nên không thể ra coi được.

Năm 1967 cầu bị phi cơ Mỹ đánh sập, đến 1972 khi đem quân chiếm miền Nam, công binh cộng sản bắc cầu phao qua sông Bến Hải lùi 20m về phía thượng lưu cầu cũ. Năm 2003 công việc phục chế cầu Hiền Lương phỏng theo kiểu cũ hoàn thành, mặt cầu được lát bằng gỗ lim.

Tôi cứ băn khoăn về những yếu tố nào trong cuộc điều đình mặc cả giữa Pháp và Việt Minh trong cuộc đàm phán Genève đã đưa đến thỏa thuận nhận sông Bến Hải làm ranh giới, Cho đến mấy năm gần đây nhờ những tài liệu mới xuất bản (2) mới có thể lần ra manh mối việc chia đôi đất nước. Xin ghi lại ở đây những nét chính yếu.

Vào tuần lễ thứ ba của hội nghị, phương án vạch một giới tuyến nam bắc hầu như đã được công nhận, Phạm Văn Đồng đưa ra ý kiến lấy vĩ tuyến 13 làm ranh giới, các nước phương tây phản đối dữ dội.

Chu Ân Lai thấy cần phải thuyết phục phía Việt Minh, trên đường từ Genève trở về Bắc Kinh qua thăm Ấn Độ và Miến Điện, bèn triệu tập một phiên họp tại Quảng Tây với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, cùng hai cố vấn Trung Quốc bên cạnh Việt Minh là La Qúi Ba và Vi Quốc Thanh, để thông báo cho biết tình hình đàm phán và vấn đề chia vùng.

Cuộc gặp gỡ này diễn ra tại Liễu Châu (thành phố thuộc tỉnh Quảng Tây) trong 8 phiên họp từ ngày, từ 3 đến 5 tháng 7, 1954. Sau khi Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh trình bày tình hình chiến trường, Chu Ân Lai thuyết giảng dài về vấn đề chiến tranh và hòa bình. Ông trình bày rất tỉ mỉ, cho rằng trước mắt có ba khả năng, thượng sách là hòa được, trung sách là đánh rồi hòa, hạ sách là đánh tiếp. Cuối cùng ông cho biết có hy vọng vạch đường phân giới tạm thời tại vĩ tuyến 16. Ông khuyến dụ: từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc là nơi Việt Nam hưng quốc, có 13 triệu dân, có hải cảng, có thể xây dựng. Vì người Pháp đòi chia vùng ở vĩ tuyến 18 và vì vĩ tuyến 16 ở phía nam Đà Nẵng nên muốn trấn an người Pháp, ông bảo cảng Đà Nẵng, Huế và quốc lộ số 9 (từ Đông Hà sang Lào, ở phía bắc thị xã Quảng Trị) có thể đặc biệt lưu lại cho Pháp một hai năm, như thế chúng ta có thể đòi các điều kiện khác.

Hồ Chí Minh nói vào lúc xế chiều ngày 4 tháng 7, ông nói ta phải giúp Mendès-France khỏi đổ, hạ quyết tâm tranh thủ hòa bình. Buổi tối hôm đó Chu Ân Lai báo cáo về trung ương, xin lùi ngày về Bắc Kinh, họp thêm một ngày nữa liên quan đến phương án giải quyết cụ thể.

Trong phiên họp sáng ngày 5 tháng 7, 1954 Võ Nguyên Giáp biểu thị đồng ý chọn vĩ tuyến 16, nhưng nói thêm vì Phạm Văn Đồng đang đề xuất phương án vĩ tuyến 13, nên có thể lùi từng bước, đến vĩ tuyến 16 là giới hạn cuối cùng, khi rút quân miền Nam thì rút từ cấp tỉnh trở lên, nhưng từ cấp huyện trở xuống và đội du kích không rút, đem cất giấu vũ khí.

Vi Quốc Thanh đồng ý với ý kiến chủ hòa của Chu Ân Lai, nếu tiếp tục đánh, có thể đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại đưa vào kể địch mạnh (Mỹ). Đó là tình hình đòi hỏi chúng ta phải tránh né nhất. Chu Ân Lai nói xen vào: đó không phải là giả thiết mà là sự thật.

Khi kết quả hội nghị Liễu Châu đã thực hiện hoàn toàn theo dự kiến của Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh phát biểu có tính cách tổng kết, hiện nay chúng ta đang đứng trước ngã tư đường, có khả năng hòa cũng có khả năng chiến, phương hướng chủ yếu là tranh thủ hòa chuẩn bị chiến. Bởi vì khẩu hiệu trước đây là kháng chiến đến cùng, bây giờ lại muốn hòa, đối với người bình thường thậm chí là cán bộ, rốt cuộc thì cái nào đúng đây. Nên vấn đề hàng đầu là đả thông tư tưởng, nếu chuẩn bị tiếp thu Hà Nội, thì phải chuẩn bị một loạt cán bộ mà hiện nay không đủ, vẫn cần các đồng chí cố vấn giúp đỡ.

Ngay trong ngày kết thúc hội nghị, Hồ Chí Minh đã tự tay thảo chỉ thị 5/7 gửi cho Phạm Văn Đồng, xác định “phương án thấp nhất trong đàm phán” (chấp nhận vĩ tuyến 16), chỉ thị này gửi qua Trung ương đảng Cộng sản Trung quốc trước, nếu không có ý kiến, sẽ chuyển cho đồng chí để tiến hành.

Tối ngày 5 tháng 7, cử hành phiên họp thứ tám, chủ yếu bàn về tình hình sau khi ngưng bắn, tiếp quản thành thị, hội nghị thảo luận và sửa chữa bốn điều trong “Bố cáo yên dân khi vào thành phố” do La Qúi Ba khởi thảo, tiếp theo bàn luận và sửa chữa “Chính sách vùng tiếp quản” cũng do La Qúi Ba khởi thảo. Cuối cùng Chu Ân Lai tuyên bố kết thúc hội nghị.

Một tuần lễ sau khi về Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Genève ngày 12-7-1954, nghe các phụ tá báo cáo tình hình đàm phán. Thứ trưởng Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng đoàn đại biểu Việt Minh lần lữa không chịu theo chỉ thị 5/7 của Hồ Chí Minh là do đã đề cao lực lượng của mình và đặc biệt là đánh giá quá cao chiến thắng Điện Biên Phủ, vì thế đã không nhượng bộ thích ứng, đồng thời còn có tư tưởng Liên bang Đông Dương, không phân biệt nổi cách mạng nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc là hai loại không cùng tính chất.

Khó khăn hiện nay là Pháp chủ trương lấy vĩ tuyến 18 làm giới hạn, trong khi Trung ương Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đồng ý lấy vĩ tuyến 16, nhưng đoàn đại biểu VN vẫn dừng lại ở vĩ tuyến 14-15.

Hoành Sơn Quan ở Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh
Nguồn: Google maps

9 giờ 30 tối hôm đó Chu Ân Lai đến khách sạn của đoàn đại biểu Việt Nam hội đàm với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Trần Công Tường thì được biết ngày 11 và 12-7-1954 Phạm Văn Đồng đã gặp Mendès-France, Phạm Văn Đồng thử thăm dò vĩ tuyến 16, nhưng Mendès-France ngang nhiên từ chối, kiên trì đòi vĩ tuyến 18. Đến nửa đêm, nhận thấy nơi Phạm Văn Đồng trú ngụ không đủ bảo đảm bí mật, Chu Ân Lai đề nghị về nơi ông trú ngụ tại biệt thự Vạn Hoa bàn tiếp, tại đây Chu Ân Lai cho Phạm Văn Đồng biết là nếu tiếp tục đánh nhau, ít ra cũng phải ba năm, thế nhưng Mỹ can thiệp là điều khó tránh khỏi, lúc đó không phải là vấn đề ba năm nữa.

Chu Ân Lai cho rằng nếu VN muốn giữ vùng tập kết tại Liên Khu Năm (Quảng Ngãi, Bình Định) thì phía Pháp cũng đòi giữ vùng tập kết tại đồng bằng sông Hồng. Nếu dứt khoát lấy ranh giới vĩ tuyến 16 thì có thể thành lập một dạng quốc gia ở phía bắc, qua phổ thông bầu cử mà hoàn thành thống nhất.

Chu Ân Lai còn cho biết sau chỉ thị 5/7, Mao Trạch Đông có thương nghị lại với Hồ Chí Minh và hai người đã đồng ý lấy đường số 9 làm giới tuyến, dù điểm này không viết trong văn kiện 5/7.

Ngày hôm sau, 13-7-1954, Chu Ân Lai tiếp Mendès-France lúc 10 giờ 30 sáng tại biệt thự Vạn Hoa. Thủ tướng Pháp trải ra một bản đồ trước mặt Chu Ân Lai và nói: không có đường giới tuyến nào thích hợp hơn vĩ tuyến 18. Nhất định ngài sẽ nói với tôi Việt Minh chiếm nhiều nơi giữa vĩ tuyến 13 đến 16, thế nhưng giữa vĩ tuyến 16 và 18 chúng tôi có vùng chiếm lĩnh.

Không thể lấy diện tích ra để so sánh, trên thực tế những thành phố như Hà nội Hải phòng, Huế, Tourane, đồng bằng sông Hồng, tính quan trọng về dân số, chính trị, kinh tế đều lớn hơn những vùng mà Việt Minh rút khỏi. Lấy dân số ra mà nói, vùng chúng tôi phải rút là 300.000 dân, còn Việt Minh chỉ phải rút có 30.000 người.


cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Nguồn: OntheNet

Vạch đường giới tuyến về địa lý, lịch sử và logique đều nên lấy porte d’Annam (cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang) gần vĩ tuyến 18 là hợp lý nhất. Vì biết Mendès-France chiều hôm ấy sẽ về Paris gặp Foster Dulles, Chu Ân Lai nhấn mạnh muốn để cho hòa bình được củng cố phải có sự bảo đảm của các nước tham dự, ám chỉ không muốn Mỹ đứng ngoài cuộc đàm phán, đồng thời khéo léo cho biết Việt Minh có khả năng nhượng bộ.


Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Nguồn: OntheNet

Đến ngày 19 tháng 7, cuộc đàm phán vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng, vấn đề vạch đường giới tuyến còn giằng co. Hồi 12 giờ 45 ngày hôm đó, Mendès-France và Eden cùng với các phụ tá đến gặp Chu Ân Lai thảo luận một giờ đồng hồ. Khi kết thúc Eden đề nghị phụ tá Caccia của ông sẽ gặp Trương Văn Thiên thảo luận thêm vào buổi chiều. Năm giờ bốn mươi lăm phút chiêù ngày 19-7-1954, thứ trưởng Trương Văn Thiên đến nơi ở của phái đoàn Anh, hội kiến với Caccia, phụ tá Eden. Trương Văn Thiên thông báo nhượng bộ cuối cùng, có thể chấp nhận đường giới tuyến khoảng 10 cây số về phía bắc đường số 9. Thiên nhấn mạnh nếu đối phương không tiếp nhận, chúng tôi chỉ có thể mua vé bay bay về nhà. Caccia nói 10 cây số sợ rằng hẹp quá. Thiên nói có thể bắt chước Triều Tiên, thiết lập khu phi quân sự 5 cây số ở mỗi bên. Caccia đề nghị là giữa đường số 9 và vĩ tuyến 17 có hai con sông, có thể chọn một trong hai con sông đó làm giới tuyến (Bến Hải và Sa Lung?). Tiếp đó hai người bàn đến vấn đề tổng tuyển cử…

Chiều tối ngày 20 tháng 7 năm 1954 vì đại biểu Campuchia, đại biểu Lào và đại biểu Việt Nam Ngô Đình Luyện lại có những đề nghị khác, cuộc thương lượng phải kéo dài thêm, mà hạn chót của Mendès-France đối với quốc hội Pháp là nửa đêm, nên đồng hồ trong phòng họp phải ngưng lại vào lúc 24 giờ. Mãi đến 3 giờ 20 sáng đại biểu quân sự hai bên mới có thể tề tựu tại đại sảnh của Liên Hiệp Quốc, thiếu tướng Delteil đại diện quân đội viễn chinh Pháp, thứ trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu đại diện Việt Minh ký tên trên hiệp định đình chiến. Sau khi ký xong Tạ Quang Bửu tươi cười tới trước mặt Delteil đề nghị bây giờ chúng ta hãy cùng uống một ly sâm banh. Delteil trả lời: chắc ông biết rõ là tôi không thể nhận lời, nói xong ông ta đi thẳng về phía phái đoàn của mình.

Sông Bến Hải đi vào lịch sử từ giờ phút đó.


Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.(1) Hồi đó Sư đoàn 3 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Công Hòa chưa thành lập, Sư đoàn I Bộ binh trách nhiệm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, tức là khu chiến thuật 11.
(2) Phần lớn tài liệu trích từ quyển “Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngoã hội nghị” bản chữ Hán do Tiền Giang (钱江,Qian Jiang) viết xong 24-11-2004, bản dịch sang Việt ngữ “Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954” của Dương Danh Dy.
DCVOnline: (*)The Geneva Agreements of 1954 (còn gọi là “Geneva Accords”)
Nguồn bài báo: dcvonline.net
Bài liên quan:

►Hôm nay là đúng 60 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954

Trần Hoàng

20-7-2014

Nước Việt Nam đã không may vì  thua cộng sản hai lần qua việc ký  2 hiệp định, Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973. 

Hiệp Định Geneve 20-7-1954 đã chia Việt Nam ra làm 2 nước. Miền Bắc theo chế độ cộng sản, và Miền Nam theo chế độ dân tự do dân chủ.  

TT Ngô Đình Diệm đã từ chối không ký Hiệp định Geneve 1954. Trung Quốc đã dùng áp lực quân sự và ngoại giao giúp đảng CSVN chiếm được Miền Bắc bằng Hiệp Định Geneve 1954.

Sự giúp đỡ của TQ dành cho ông HCM và Đảng LĐVN là kết quả của cuộc đi cầu viện của ông Hồ Chí Minh vào đầu năm 1950.  Ông HCM qua Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông và sau đó qua Liên Xô gặp Stalin vào mùa xuân 1950 để xin quân đội Trung Quốc qua VN giúp đánh Pháp, và xin vũ khí, quân trang quân dụng và lương thực. 

HCM còn viết thư cầu cứu Stalin xin vũ khí và xin làm theo lời chỉ bảo của Stalin để giết nông dân VN trong vụ cải cách ruộng đất (nguồn trong phần ý kiến phản hồi -comment)

Tình báo của Đài Loan và Pháp cho biết, vào năm 1950,  Mao đã hứa giúp ông HCM sau khi cả hai đã ký một hiệp định bí mật.

Những biểu hiện của đảng CSVN trong suốt thời gian từ 1956-2012  cho thấy hiệp định bí mật ấy là có thật. Theo đó,  ông HCM và đảng Lao Động Việt Nam (tức đảng csvn) đã hứa đền ơn cho Trung Quốc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, và núi Lão Qua…nếu như Trung Quốc giúp ông HCM đánh Pháp, và lấy Miền Bắc 1954 và Miền Nam 1975.

Sau khi giúp ông HCM và đảng LĐVN (tức đảng CSVN) chiếm được Miền Bắc bằng thủ đoạn chính trị rất cáo già qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954, Trung Quốc lấy công lần thứ nhất bằng cách chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Để hợp pháp hóa quần đảo Hoàng Sa về tay Trung Cộng,  ngày 4-9-1958 Trung Quốc ra công bố về chủ quyền biển đảo, và  buộc Miền Bắc phải ký xác nhận. Ông HCM đã sai TT Phạm Văn Đồng ký Công Hàm 14-9-1958, nội dung là đồng ý chủ quyền vùng biển đảo, và lãnh hải của Trung Quốc.  

http://www.youtube.com/watch?v=JtyVPmQl_zM    

Sau khi bắt tay với Mỹ năm 1972, TQ đã dò hỏi và biết được cuộc chiến VN sẽ kết thúc năm 1973. Trung Quốc đã lấy công lần thứ 2 bằng cách chiếm một số đảo khác trong quần đảo Hoàng Sa.  Khi ấy, Hải Quân VNCH đã tấn công các chiến hạm của Trung Quốc và0  ngày 19-1-1974 để bảo vệ chủ quyền các hòn đảo này. (Mời các bạn đọc  Tư Liệu Lịch Sử, để thấy lập trường của đảng CSVN qua phát biểu của Lê Đức Thọ với tướng Lê Quang Hòa vào 1973.).     

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Có thể nói,  Hiệp định Geneve 20-7-1954 là thành công bước đầu và quan trọng nhất trong lịch sử của đảng CSVN.  Trước đó, từ ngày thành lập đảng từ 1930 cho đến 1954, đảng CSVN phải trốn chui, trốn nhủi, và phải đổi tên rất nhiều lần, thậm chí đảng còn phải giải tán và đi vào hoạt động bí mật như sau khi “cướp chính quyền 1945″. Đảng CSVN hoàn toàn không có văn phòng đại diện, không có cơ sở chính danh ở bất cứ thành phố nào ở Việt Nam hay bất cứ nơi đâu từ 1930 cho mãi đến năm 1954. Nhưng sau hiệp định Geneve 1954, ông HCM và đảng nghiễm nhiên trở thành ông chủ của một nửa nước Việt Nam. Đó là một ‘thắng lợi’ lớn nhất, quan trọng nhất kể từ ngày thành lập đảng CS Đông Dương vào năm 1930. Và, đó cũng là vận xui của nước VN và cả dân tộc VN bắt đầu. Vì các con quỷ đỏ đã cõng rắn vào nhà, để rồi con rắn độc Trung Cộng tiếp tục chiếm dần biển đảo và biên giới của VN trong giai đoạn  từ 1956-2000. Và cuộc chiến tranh kéo dài 21 năm, 1954-1975 mà Lê Duẫn gọi là “Ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc”

[Đảng CSVN và Nhà nước thường hay chửi rủa chế độ phong kiến, điển hình là chửi rủa các vị vua nhà Nguyễn là nhu nhược, tay sai, bán nước… Nhưng diện tích của nước VN dưới triều đại phong kiến, vua nhà Nguyễn và thời Pháp đô hộ vẫn rộng lớn hơn rất nhiều so với hiện nay do đảng CSVN và nhà nước cai trị.  

Cụ thể, dưới thời vua nhà Nguyễn, từ 1802 cho đến khi chính phủ đầu tiên của một nước VN độc lập và thống nhất của Thủ tướng Trần Trọng Kim tuyên bố độc lập vào ngày 17-4-1945, lãnh thổ và lãnh hải của VN bao gồm các Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Móng Cái, Núi Lão Sơn… rộng lớn hơn rất nhiều so với thời đảng CSVN chiếm quyền 59 năm qua. Sau khi bắt tay làm “đồng chí anh em” với Trung Cộng 1950.

Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 là chiến thắng của cộng sản lần thứ 2, đẩy cả nước VN dưới ách độc tài và cai trị của đảng CSVN.  Hoàng Sa, Trường Sa, Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Núi Lão Sơn, nhiều vùng ở tỉnh Móng Cái…nay nằm trong tay của Trung Quốc cũng vì đảng CSVN và ông HCM đã cầu viện Trung Quốc năm 1950.

Sau khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa 1974, và chiếm Trường Sa 1988, lẻ ra các đảng viên của đảng CSVN phải biết đó là nổi nhục mất đất đai biển đảo phải la lớn cho cả thế giới biết Trung Cộng chiếm biển đảo của ta, và cố tìm cách đòi lại. Nhưng không, đảng CSVN nhào qua thần phục Trung Cộng qua cuộc họp bí mật ở Thành Đô, ngày 3 và 4 tháng 9, 1990. Đồng bào VN không một ai được biết tới cuộc họp này, mà chính là Trung Cộng tung ảnh lên các trang mạng xã hội, để làm bằng cớ buộc đảng CSVN và nhà nước phải ký Hiệp Ước Biên Giới 31-12-1999. Trong các hình ảnh Trung Cộng tung lên mạng, mọi người có thể nhìn thấy Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Di Niên, Lê Khả Phiêu…đang rất hí hửng khi nói chuyện với chủ tịch TQ Giang Trạch Dân.  

Các hình ảnh ấy cho thấy: Đó là một lũ bán nước cầu vinh.  Để cho kẻ thù chiếm lấy đất đai biển đảo do tổ tiên để lại mà không cảm thấy nhục nhã, không biết lập ngày đêm bàn mưu tính kế, luyện tập quân đội và làm cho quốc gia phú cường dân giàu nước mạnh để chờ thời cơ đánh cho kẻ thù 1 trận, đòi lại đất đai biển đảo đã mất…Trái lại, suốt mấy chục năm qua, các đảng viên cao cấp của đảng CSVN còn xum xoe đi theo nịnh hót kẻ thù, và còn khoe khoang: TQ là “anh em 4 tốt, 16 chữ vàng”…

Các bạn thử đọc bài dưới đây thì sẽ thấy rõ tính nhất quán thần phục của đảng CSVN và nhà nước đối với Trung Cộng không phải chỉ mới hôm nay, mà là 40 năm về trước. 

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Ôn lại lịch sử

Đảng CSVN và Nhà Nước luôn tìm cách viết lại lịch sử  bằng cách nhấn mạnh đến các hoạt động của họ vào năm 1945. Nhưng nếu ta bình tỉnh đặt câu hỏi: tại sao cuốn phim nói về ngày độc lập 2-9-1945 chỉ kéo dài có 20 giây? Ai mời Pháp trở lại Việt Nam qua Hiệp định 6-3-1946? Chính là ông HCM.

Sau đó, ông và đảng CS của ông kêu gọi sự  hợp tác với các đảng phái quốc gia để chống Pháp (1946-1954). Khi các đảng phái quốc gia (vì cũng muốn nước nhà độc lập) hợp tác với đảng CSĐD, thì đảng CS do ông HCM lãnh đạo đã sai người ban đêm đi ám sát giết chết các nhà lãnh đạo của các đảng phái quốc gia, mặt khác đảng viên cộng sản  bí mật  báo cho quân Pháp đến chặn bắt các nhân vật trong các đảng phái quốc gia, và mặt khác tiêu diệt các trí thức nhân sĩ như  Phạm Quỳnh, Dương Bá Trạc, Huỳnh Thúc Kháng (rồi đổ tội cho Pháp)… và giết các nhà lãnh đạo tôn giáo như giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ (1947), Lý Đông A (  1947 ), giám mục Ngô Đình Khả…hàng  ngàn người yêu nước không theo cộng sản và đảng viên của các đảng phái quốc gia đã bị cộng sản ám sát, giết hại, chặt chân, bỏ vào bao bố thả trôi sông… 

Khi nhắc lại giai đoạn lịch sử 1945, ông bà cha mẹ ta thường nói “…Việt Minh CƯỚP chính quyền vào tháng 8, năm 1945…”, họ dùng chữ CƯỚP là rất đúng, mà chính đảng và nha nước cũng dùng chữ cướp chính quyền. Thật ra, trước đó khi Pháp đầu hàng Nhật vào tháng 3/1945, nước Việt Nam, Lào, Kampuchea đã được Nhật khuyến khích: hãy tuyên bố độc lập khỏi tay nước Pháp.

Vua Bảo Đại đã tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ ngày 16-3-1945, và chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập do Thủ tướng Trần Trọng Kim thành lập, và ra mắt 10 bộ trưởng vào ngày 17-4-1945, tấm hình ra mắt quốc dân đồng bào vào ngày 17-4-1945 vẫn trong sách sử. (Vì ghen tức về chuyện này, đảng và nhà nước giấu bén chuyện hội đồng chính phủ do Thủ Tướng Trần Trọng Kim đứng đầu nội các, thậm chí trong sách lịch sử dạy cho học sinh, đảng CSVN cũng không viết về tên các nhân vật và các biến cố ấy. Thay vào đó, đảng cứ tuyên truyền với dân là: nước VNDCCH do HCM thành lập, và tuyên bố độc lập vào ngày 2-9-1945. 

*Mời các bạn đọc thêm bài này

Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra]

Tại sao chiến tranh Việt Nam kết thúc?

_Chiến lược đóng quân của  Mỹ  ở  Việt Nam đã thay đổi khi  TT Nixon bắt tay với Trung Quốc năm 1972. Lúc ấy, Mỹ muốn dùng Trung Quốc gây hấn thêm nữa với Liên Xô để buộc quân đội Liên Xô phải đóng 1 triệu quân dọc theo biên giới  Liên Xô- Trung Quốc; việc này ắt sẽ làm cho sức mạnh của Liên Xô bị chia đôi và yếu hẳn đi bên phía Âu Châu, và cùng lúc đẩy Liên Xô ở vào thế  nằm giữa hai gọng kềm (giữa TQ và các nước thuộc khối NATO (16 nước Tây âu và Mỹ). 

Chiến lược của Mỹ từ 1963-1972 là đem quân Mỹ vào miền Nam, và dùng miền Nam Việt Nam như một tiền đồn chống cộng. Họ cho rằng nếu mất Miền Nam, thì các nước khác như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia… sẽ rơi vào tay cộng sản (đây gọi là học thuyết Domino).

Nhưng sự tham dự của quân đội Mỹ ở  Việt Nam kéo dài từ 1965-1972 mà cuộc chiến gần như không có dấu hiệu kết thúc bằng biện pháp quân sự, đồng thời sự thiệt mạng và bị thương của lính Mỹ được báo chí Mỹ  thống kê và đếm hàng tuần đã làm cho dân chúng Mỹ buồn bả và mất tinh thần. Và khi ra tranh cử TT năm 1968, TT Nixon đã hứa nếu đắc cử, ông sẽ rút quân đội Mỹ về nước trước khi nhiệm kỳ của ông kết thúc vào 20-1-1973…

Bước ngoặc đã đến với TT Nixon khi ông và bộ tham mưu nhận ra Trung Quốc đang ve vãn muốn đi đêm với Mỹ  (kinh tế của Trung Quốc bế tắc, cả nước rơi vào nạn đói kéo dài, Mao muốn tìm lối thoát, nên đứng ra làm trung gian, giúp Mỹ đàm phán với miền Bắc VN, và lợi dụng cơ hội tiếp xúc ấy để  bí mật bàn bạc với Mỹ về các vấn đề khó khăn của họ…các kế hoạch kinh tế 5 năm của TQ thất bại từ 1959-1972 ); kinh tế , tài chánh, công nghiệp và nông nghiệp của  TQ  sụp đổ từ 1966, đặc biệt nạn đói ở TQ lúc ấy đang tràn lan khắp nước, dân chúng chết hàng 20 triệu người…mọi người đều phải ăn cháo…An ninh lương thực bị đe dọa, và TQ cũng muốn kết thân với Mỹ để rảnh tay khỏi phải viện trợ 2 tỷ đô la hàng năm cho miền Bắc Việt Nam, và dùng Mỹ như một đồng minh để thoát khỏi sự đe dọa của Liên Xô (cả hai nước cộng sản LX và TQ đã  dàn quân đánh nhau  chí chết ở biên giới vào năm 1969).

Tóm lại, khi Mỹ bắt tay được với Trung Quốc 1972, Mỹ được lợi, Trung Quốc được lợi, và chiến tranh Việt Nam đã phải kết thúc. Nhưng, cái giá mà Hồ Chí Minh và đảng CSVN gây ra chiến tranh và chiếm cho bằng được Miền Nam là quá lớn. Hơn 1 triệu 300 ngàn bộ đội đã chết, 2 triệu thường dân đã hy sinh, 326 ngàn sĩ quan và binh sĩ của VNCH đã chết, 58 ngàn binh sĩ Mỹ đã tử thương. Tỉ lệ chết giữa Mỹ, VNCH, và bộ đội như sau. Cứ 1 lính Mỹ chết, thì có 5 lính VNCH hy sinh, và 20 bộ đội miền Bắc tử thương. Và cố Tổng thống Ronald Reagan đã nói thêm: “Chấm dứt chiến tranh Việt Nam không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong, vì lẽ cái giá phải trả cho loại hoà bình đó là ngàn năm tăm tối cho những thế hệ sinh ra tại Việt Nam về sau. 

———

*(Mỹ cắt quân viện cho miền Nam từ 1,5 tỷ đô la năm 1972, xuống còn 700 triệu đô la năm 1973, và rồi chỉ còn 300 triệu đô la năm 1975  trong bối cảnh giá xăng dầu năm 1973 gia tăng và kinh tế Mỹ (theo đúng chu kỳ) mỗi 7-10 năm đang rơi vào khủng hoảng).

***

*Nhân đây, phải nhắc đến tài nhìn xa trông rộng của ông Ngô Đình Nhu. vào tháng 9- 1963, ông Nhu nói: nếu TT Ngô Đình Diệm không còn làm TT nữa, thì Miền Nam VN chỉ đứng vững được 10 năm.  Quá chính xác. Mỹ rất ghét ông Ngô Đình Nhu, vì ông Nhu quá tài giỏi.  (Mỹ luôn luôn tìm cách ép TT Diệm đẩy ông Nhu ra nước ngoài). Ông Nhu dùng Ấp Chiến Lược triệt hạ được 98% cộng sản ở miền Nam,

 
nguồn danchimviet.info
Dưới đây là hai bức thư Hồ chí Minh gửi Stalin để xin chỉ thị về đề án Cải Cách Ruộng Đất diệt chủng Việt tộc :Thư thứ nhất :
 Đồng chí Stalin thân mến:Xin gửi ngài chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Chương trình hành động được lập bởi chính tôi dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, Văn Sha San.Đề nghị ngài xem xét và cho chỉ dẫn.Gửi lời chào cộng sản.Hồ Chí Minh, 31/10/1952Nguồn tài liệu: Cục lưu trữ quốc gia Nga:
http://www.rusarchives.ru/evants/exh…tnam1/22.shtml
———-Thư thứ hai:Đồng chí Stalin kính mếnTôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
– Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có ngừơi chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc tốt đẹp nhất .Hồ Chí Minh
30-10-1952 đã kýhttp://vietvungvinh.com (link của bài viết này đã bị hỏng)———-

vybui says:

Thưa độc giả Trần Kha,

Khi tôi bỏ công viết những dòng này thì tôi tin là ông không biết nhiều lắm về chế độ CS tại VN, hay có biết cũng chỉ là biết những gì họ cho ông biết. Nếu có hơn thì cũng do sách vở, báo chí cả trong lẫn ngoài nước đề cập đến, chẳng hạn về cuộc Cải Cách Ruộng Đất mà ông và vài vị độc giả đang thảo luận.

Ông nói không sai, CCRĐ CHÍNH THỨC bắt đẩu vào ngày 19/12/1953 khi luật CCRĐ được ban hành. Nhưng trước đó, vào những năm 1951 ở Khu Tư( Thanh-Nghê-Tĩnh) thì nó đã được bắt đầu. Trước đó nữa vào năm 1949 qua một Thông Tư Liên Bộ, nó đã được đề cập đến. Nhưng thực ra, ngay từ khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, những vùng do Việt Minh kiểm soát đã hình thành cuộc cải cách ruộng đất dù mới có tính cách sơ bộ do những nguyên nhân sau:
– Tình hình an ninh tại một số vùng làm cho người Pháp, Việt thân Pháp bỏ đi, ruộng đất của họ được phân phối cho nông dân để lôi kéo từng lớp chiếm đại đa số ở nông thôn Miền Bắc đi theo VM.
– Một số đia chủ vì sợ và có it nhiều hiểu biết về VM cũng bỏ đi và để lại ruộng đất.
-Dùng bạo lực quy kết những điền chủ là thông đồng với Pháp để cướp đoạt tài sản, ruộng đất cuả họ…

VM ngay từ những năm 1946, không những lấy đất của những thành phần trên, mà đối với những người có nhiều ruộng đang cho thuê, VM cũng đã cắt giảm điạ tô, bãi bỏ mọi khoản tiền(luá) thuê ruộng (của điền chủ). Theo tài liệu chính thức của Đảng CSVN( Đại Cương Lịch Sử VN, do Lê Mậu Hãn chủ biên, nhà xuất bản Giáo Dục, tháng 3, 2007) thì công cuộc CCRĐ đã được Đảng và CP TIẾP TỤC TỪNG BƯỚC GIẢI QUYẾT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP( từ 1946), nhưng chỉ đến 1953 mới ban hành luật và phát động quy mô trên cả nước (VNDCCH).

Đây là lời phát biểu cuả HCM tại phiên họp thứ 3 Quốc Hội (khoá I) :
“….Luật CCRĐ cuả ta chí nhân, chí nghĩa, hợp tình, hợp lý. Chẳng những là cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng để cày, mà đồng thời CHIẾU CỐ “đồng bào” Phú Nông, “đồng bào” Địa Chủ…”

Chiếu cố như thế nào chắc mọi người đã rõ. Ai là ‘đồng bào’ cuả tên CS HCM/ Hồ Tập Chương thì miễn bàn.
Bao nhiêu “đồng bào” cuả CS đã hiến tiền bạc, tài sản, ngay cả sinh mạng cho chúng như mẹ con bà Cát Hanh Long, cha con ông Đặng Văn Hướng, Đặng Văn Việt Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174 khét tiếng và hàng chục, hàng trăm ngàn những người yêu nước bị giết vì thuộc thành phần trí thức thành thị, phú nông, trung nông, điền chủ ở thôn quê.
Một trường hợp khốn nạn là cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, từng là Tổng Đốc Thanh Hoá, một nhà nho trong sạch, yêu nước, dù bỏ quan về làm dân, CS cũng không tha. Năm 1954, cụ bị đấu tố, bị kết án 20 năm tù bị đưa đi “cải tạo”. Cụ đã nhịn đói cho đến chết khi bọn CS nhốt cụ vào cũi, tới bữa ăn, chúng đem cho it cơm để trong lá chuối đặt dưới đất và bắt cụ sủa gâu gâu như chó rồi mới được ăn. Dù cha CHẾT THẢM, CHẾT NHỤC như vậy, tên khốn nạn NGUYỄN KHẮC VIỆN (Bác Si) và bày em nó như NGUYỄN KHẮC PHÊ, NGUYỄN KHẮC PHI … vẫn một lòng đi theo CS và suốt đời phục vụ đắc lực cho Hồ và bè lũ. Cũng may trong số con cụ Nguyễn Khắc Niêm còn GS Nguyễn Khắc Dương, ( ĐH Đà Lạt) là đi theo đường khác, phục vụ Quốc Gia Dân Tộc, và bị đối xử vô cùng khắc nghiệt khi CS chiếm được Miền Nam.

http://www.danchimviet.info/archives/80869/afp-mot-nguoi-duc-kien-nha-cam-quyen-ha-noi/2013/10

Posted in Hiệp định Geneve 20-7-1954 | 1 Comment »

►Huyền thoại cái “lai quần”…

Posted by hoangtran204 trên 19/07/2014

Govapha
19-7-2014

 

Nói tới “lai quần”, là nhìn xuống. Chỉ có dân đen nghía xuống với nhau.

Mấy thằng trên cao, đíu nhìn xuống bao giờ. Tung hô như vẹt “lai quần anh hùng, anh hùng lai quần”, trong đầu thì tính toán còn lại cái “lai quần” khoắng mẹ cho xong. Thế là “lai quần” bị hành hạ điêu đứng từ trên bờ xuống tới ruộng, từ quê ra đến phố. Dù “lai quần” sống lên lão làng đã thành huyền thoại. Ở trong hội “huyền thoại” là bảnh tỏn lắm chứ giỡn sao. Như huyền thoại cáo khô, huyền thoại bà mẹ Việt Nam anh hùng, huyền thoại thánh, huyền thoại chiến sĩ anh hùng, huyền thoại bách chiến bách thắng của đảng cộng sản Việt Nam, huyền thoại tình hữu nghị Việt-Trung… là lá chắn của bộ mặt chế độ.

“Còn cái lai quần cũng đánh” là câu nói của Út – Tịch, chiến sĩ “gái” kiên cường được kết nạp vào đảng nhân dân cách mạng miền Nam, do lập được nhiều chiến công.

Tôi ấn tượng với chiến công“nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bót lấy súng không tốn một viên đạn. Hoan hô huyền thoại “lai quần” Út – Tịch.

Lần cà phê cà pháo, nghe anh em giang hồ đồn đại, người dân sống ở Cầu Kè – quê thím “lai quần” – nói thím Út rất mê đánh bài. Câu nói “Còn cái lai quần cũng đánh”, không liên quan tới chuyện đánh giặc mà nói tới vụ đánh bài. Còn thằng Hiển ngọng – quý tử của thím Út – có mở quán bia ôm đối diện với nghĩa trang của “má nó”. Úi trời, má đánh con ôm, con hơn má là nhà có phúc. Cố lên Hiển ngọng. Tin đồn nghe chơi cho vui.

“Còn cái lai quần cũng đánh”, cống hiến và hy sinh. Sẽ được vinh danh thành “bà mẹ Việt Nam anh hùng” hay được phong tặng “gia đình liệt sĩ”.

Lão Trịnh một lần đi thăm nhà bảo tàng ở Quảng Bình, nhìn thấy bức tranh mẹ Suốt liền liền đẻ ra “Huyền thoại mẹ”. Mẹ huyền thoại dầm mưa quài. Dầm mưa canh con ngủ, canh hầm, canh bước quân thù. Lần nào mẹ về cũng đứng dưới mưa. Cho ướt tới bến.

Còn người mẹ Bàn Cờ của nhà thơ Kim Ngân, lúc chuyền cơm qua vách cấm cũng ngay chóc khi ngoài trời đổ mưa. Mưa với mẹ, mẹ với mưa, cha nội này phán chắc cú, giặc đợi chết từng giờ. Những người mẹ Bàn Cờ năm xưa, có người đã mất, có người giờ mắt mỏi lưng còng tóc bạc phơ. Còn bươn chải mưu sinh bên lề chợ, vài trái chanh, nhúm ớt, mớ hành. Ngồi bệt dưới đất, cái “lai quần” nhăn nhúm cong queo bạc màu như đời mẹ úa, nước mắt rưới cơm. Chén cơm nghĩa tình trong một ngày mưa hay hình dáng mẹ về đứng dưới mưa che đàn con ngủ, dễ lay động lòng người, rất “đẹp” trong câu thơ lời nhạc, thắm đỏ con “đường kách mệnh”.

cuopdanoan.jpg

 

Ngày xưa nổ vang trời “Còn cái lai quần cũng đánh”,
Ngày nay sự thật phũ phàng “Còn cái lai quần cũng cướp!”
 

Tôi không có ý xúc phạm gì đâu, càng nói thêm chua chát khi trong trí hiện ra hình ảnh những người dân oan khốn khổ. Có những gia đình bị cướp đất, bàn thờ liệt sĩ còn đó, giấy chứng nhận bà mẹ Việt Nam anh hùng còn đó. Trong hàng ngũ dân oan, cũng có những người dân quê tay lấm chân bùn, cả đời bám đất bám ruộng. Bị chính quyền cướp trắng, đẩy dân vào tình cảnh “sống dở chết dở”, không nhà không việc, hó hé phản kháng là đi tù.

Những thân phận dân oan, phần nhiều là người già, ngày đêm dãi nắng dầm mưa, ăn đói ngủ vỉa hè, ốm lòi xương sườn giơ xương sống. Những đôi bàn tay từng chôn xác người thân, xóa dấu vết con về, được chế độ cộng sản ca tụng lên tận mây xanh. Cũng có những đôi bàn tay, đóng từng đồng tiền thuế tẩm đầy mồ hôi nước mắt, nuôi dưỡng chính cái hệ thống đang cướp tài sản của mình. Gia tài còn lại trong đôi bàn tay run, là hàng chữ kêu oan“Độc lập tự do – Nằm co vệ đường – Mất đất mất nhà”. Những đôi mắt tuyệt vọng. Chờ công lý? Hai chữ công lý bị mớ “luật rừng rú” của lũ cướp nuốt chửng mất. Những ngày cuối đời không chốn dung thân, không cần đứng dưới mưa, đời những bà mẹ anh hùng, đời những người dân quê đã ướt như chuột lột. Với thân phận người mẹ đi qua chiến tranh, hay trong thân phận người mẹ dân oan trong thời bình. Hai chữ huyền thoại là một sự mỉa mai vô cùng. Danh hiệu bà mẹ anh hùng trở nên kịch cỡm nhố nhăng.

Trên những trang bờ lốc lề phải, hình ảnh những người dân oan sẽ nhận thêm những cú tát vỡ mặt, những cú đạp xuống tận bùn đen. Trên khúc quanh lịch sử tang thương, có những người phụ nữ “còn cái lai quần cũng đánh” được ca ngợi, thì cũng có những người phụ nữ lặn lội thân cò thăm nuôi con, thăm nuôi chồng ở những trại tù cải tạo. Những người phụ nữ chết khô trên những vùng đất kinh tế mới, những người phụ nữ chết gục ngoài biển khơi, những người phụ nữ lạc loài trên đất khách. Nào là, lãnh tiền của bọn “rân chủ” nhằm bôi nhọ chính quyền nhân dân. Tụ tập đông người nhằm phá hoại gây mất trật tự. Người phản đối có hành động cởi truồng là vi phạm thuần phong mỹ tục. Phụ nữ gì mà cởi truồng! Thật là bỉ ổi không biết nhục nhã để đạt mục đích. Cởi mà đòi được công bằng thì ai cũng cởi hết (công an lột quần phụ nữ thì đíu nghe đứa nào chửi). Bọn thế lực thù địch lợi dụng người thiếu hiểu biết thuê tiền để chống phá nhà nước, các chiến sĩ công an rất đau đầu khi phải đối mặt và xử lý những trường hợp này… Không thấy một lời đồng cảm nào. Thành phần này rất đông, phần nhiều là người trẻ. Đây là sự thật, một sự thật không lấy gì làm vui. Đối diện những suy nghĩ khác biệt với tôi, nỗi buồn đặc quánh cổ.

Họ đang chửi ai? Những người dân nghèo khổ, tay không tấc sắt trước bạo lực đàn áp, trước những thằng ăn cướp chà đạp lên quyền con người, đái vào luật pháp. Đòi lại đất đòi lại nhà đã bị cướp trong sự tuyệt vọng. Những người có công với cách mạng“còn cái lai quần cũng đánh” góp phần đúc nên chế độ này, mà những người trẻ đó đang ra sức bảo vệ. Bảo vệ con người mới là quan trọng, dân không giàu lấy đâu nước mạnh.

Chế độ độc tài này nó cướp ráo, chúng nó sa hoa thụ hưởng, dân nghèo có miếng đất dung thân cũng không còn. Chị em phụ nữ nào nhất quyết giữ chặt cái “lai quần” chúng nó cũng áp bức tới đường cùng, sự đè nén vỡ tung ép dân tô hô luôn. Chúng nó không thèm biết đến sự tồn tại của những con người vất vưởng đáng thương này. Nói gì thì nói, truyền thông tuyên truyền của nhà nước, hệ thống giáo dục của chế độ, sự tiếp tay của văn nô bồi bút ít nhiều cũng thành công trong việc định hướng. Thà mất tất cả chứ quyết không mất cáo khô mất đảng. Đã thành công trong sự kích động căm thù tới “phản động”với “thế lực thù địch”, cho là thành phần nguy hiểm cần cảnh giác.

Đất nước không của riêng ai. Biết bao thế hệ đổ xương máu để gìn giữ. Ai cho phép lũ mọt sâu có quyền cắt đất cắt rừng cắt biển đem bán đem dâng cho tầu cộng? Lũ bán nước có chui ống cống ngàn lần cũng chưa hết tội.

Tôi không tin được những lời yêu nước từ mồm của chúng nó. Tại sao phải tin từ lũ nói một đàng luôn có hành động ngược lại. Nhìn thằng Ếch uốn éo nhỏ giọng Yêu cầuTrung Quốc không tái diễn giàn khoan trái phép” đã chán. Đừng xạo ke đi mầy, tuồng cũ diễn hoài. Năm 2009, chúng mầy cũng nói Đề nghị Trung Quốc không cản trở ngư dân”. Thằng tầu cộng đáp lại bằng hành động tiếp tục rượt đuổi, đâm tàu, bắt giữ, giết hại ngư dân. Tầu cộng còn bố láo ra lệnh cấm ngư dân đánh cá trong lãnh hải Việt Nam. Mỗi ngày giặc tầu càng thêm lấn sâu càng thêm ngang ngược. Chúng mầy chỉ biết đề nghị qua tới yêu cầu cho có lệ, màu mè làm chó gì hả?

Đảng cướp chúng mầy không lo đối phó với tầu cộng, không minh bạch chân thật trong mối quan hệ với dân. Cho dân biết tình hình thực tế đang đối diện với giặc tầu nguy hiểm như nào, chia sẻ với dân cần đương đầu ra sao khi đất nước bị xâm chiếm. Đứng về phía dân, ủng hộ dân chống ngoại xâm. Đặt quyền lợi tổ quốc lên trên hết. Thói tệ bạc vô nhân của chúng nó chính là sự che dấu thông tin, bóp méo uốn nắn sự thật, luôn nói tốt cho chính thằng giặc xâm lăng đất nước. Khiến ngư dân không biết và rồi bị giết hại. Phần nhiều người dân hồn nhiên vui chơi, không nghĩ không lo hiểm họa trước mắt.

Mặt khác, chúng nó chăm chỉ cướp đất dân nghèo, siêng năng bắt bỏ tù dân vì tội xuống đường chống ông cố lạ của chúng nó, khuyến khích ngư dân ra biển mặc kệ sống chết. Đảng thúi này không xứng đáng nắm vận mệnh quốc gia, chúng nó rất xem thường trách nhiệm gánh vác. Đất nước trở thành món mồi riêng tư béo bở, tham nhũng thành quốc nạn, tệ nạn quan liêu bóc lột lan tràn, bạo lực lên ngôi, bán nước cho giặc.

Nhìn kỹ từng hoạt động của đảng thúi này trong thập niên trở lại, chúng nó không bao giờ thoát khỏi được áp lực từ Trung cộng. Chúng nó chọn lựa vâng lời và phục tùng. Càng duy trì tình trạng cũ chỉ có mất và mất nữa. Từ từ mất và mất sạch. Phải xoá sổ đảng cộng sản độc tài VietNam. Chế độ này còn tồn tại thì không bao giờ có thể đánh đuổi được tầu cộng hiểm ác hầu bảo vệ đất nước, vì chính chúng nó để yên cho ngoại xâm lấn chiếm. Muốn quốc tế tôn trọng Việt Nam như nào, hiểu về Việt Nam như nào? Khi thấy thằng xâm chiếm với thằng lải nhải chủ quyền bằng mồm bắt tay nhau thắm thiết, thằng “bị” xâm chiếm còn vác đít qua chầu thiên triều quài. Khi thấy hình ảnh từng người dân lành vô tù vì bày tỏ lòng yêu nước khi lên tiếng về chủ quyền. Quan điểm của tôi, không thể trông chờ gì vào giải pháp yếu hèn chỉ biết đề nghị với yêu cầu bằng mồm từ bè lũ bán nước này.

Sẽ không bao giờ có hạnh phúc ấm no thật sự khi đêm ngày vẫn còn những tiếng khóc oan khiên, những ta thán đói nghèo, những hoàn cảnh oan ức của dân lành trải dài suốt mọi miền đất nước. Không bao giờ có độc lập tự do dân chủ đúng nghĩa khi quyền con người bị chà đạp hôm nay, dân tộc lầm than hôm nay, đất nước lâm nguy hôm nay. Trên khúc quanh lịch sử tang thương, có những người phụ nữ “còn cái lai quần cũng đánh” được ca ngợi thì cũng có những người phụ nữ chết khô trên những vùng đất kinh tế mới, những người phụ nữ chết gục ngoài biển khơi, những người phụ nữ lạc loài trên đất khách. Lịch sử chân thật nhất không vì thánh cho nhiều, huyền thoại cho nhiều, lăng tẩm cho nhiều, tượng đài cho nhiều, anh hùng cho nhiều, liệt sĩ cho nhiều, “còn cái lai quần cũng đánh” cho nhiều (điều duy nhất chỉ Việt Nam mới có), mà là từng số phận con người, lương tri mỗi con người mới làm nên lịch sử chân thật nhất.

Phía sau thành trì cánh mạng vinh quang ẩn chứa bịp bợm, tráo trở, vô nhân, bán nước. Mặt trái của huyền thoại “bà mẹ Việt Nam anh hùng” là những mảnh đời cùng cực, những thân phận lưu vong trên chính quê hương mình. Chế độ độc tài cộng sản thể hiện sự đớn hèn với giặc ác với dân suốt bấy lâu nay. ĐCSVN đi chết đi.

Lừa bịp, cướp từ cái “lai quần” của đàn bà. ĐM, mắc ói.

Govapha (Đi và Phá)

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Tự Sự của Hữu Loan – Tác Giả “Đồi Tím Hoa Sim”

Posted by hoangtran204 trên 18/07/2014

TỰ SỰ CỦA HỮU LOAN – TÁC GIẢ “ĐỒI TÍM HOA SIM”

“Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955.

Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố.

Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái gì nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội “Phóng tay” phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu. Họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội “Phóng tay” phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.

Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa !

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì …”

 

Ngôi mộ đơn sơ trên đồi sim Nga Lĩnh , Nga Sơn….của nhà thơ Hữu Loan. Vùng quê Nga Lĩnh gọi nhà thơ là Ông Tú Loan.

Ruoi Trau's photo.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Nghi án 60 năm – Nữ Văn Sĩ Thụy An

Posted by hoangtran204 trên 18/07/2014

Nghi án 60 năm

18-7-2014

Tác giả: 

Cách đây sáu chục năm, trước khi Việt Minh cộng sản tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), tại thành phố nầy xảy ra vụ án mạng ông Đỗ Đình Đạo, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, mà cho đến nay chưa biết ai là thủ phạm, nhưng lại ảnh hưởng lâu dài đến cuộc đời của nữ văn sĩ Thụy An.

1.- NỮ VĂN SĨ THỤY AN

Bà Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến, sinh ngày 24 tháng 8 năm bính thìn (21-9-1916), con gái đầu của ông Lưu Tiến Ích và bà Phùng Thị Tôn, người làng Hòa Xá, huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Bà từ trần tại Sài Gòn ngày 7 tháng 5 năm kỷ tỵ (10-6-1989), thọ 74 tuổi (tuổi ta), pháp danh Nguyên Quy. (Theo tộc phả Bùi tộc Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam.)

 

Thụy An- Lưu Thị Yến. Ảnh Wikipedia

Năm 1934, lúc 18 tuổi, bà kết hôn với ông Bùi Nhung (1907-1987). Bùi Nhung là con cụ Bùi Thức (tiến sĩ Nho học), người Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam, và là em ông Bùi Kỷ (phó bảng Nho học), và cũng là em bà Bùi Thị Tuất tức bà Trần Trọng Kim. Hai ông bà Bùi Nhung-Thụy An có sáu người con là Bùi An Dương, Bùi Thụy Băng, Bùi Thu Linh (nữ), Bùi Dương Chi, Bùi Ngọc Trinh (nữ) và Bùi Châu Công.

Sau khi sinh người con út, Thụy An sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng không ly dị. Lý do vì lúc đó, Bùi Nhung liên hệ tình cảm với bà Lưu Thị Trạch, tên thường gọi là Việt. Bà Trạch hay Việt là em ruột bà Thụy An, nên Thụy An im lặng rút lui, nhường chồng cho em.

Bùi Nhung là nhà văn, nhà giáo, bút hiệu Băng Dương, đã từng làm giám đốc Đài phát thanh Hà Nội năm 1948-1949 và sau đó 1951-1954. Bùi Nhung còn làm giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954, trong thời gian 300 ngày trước khi Hải Phòng bị Việt Minh tiếp thu. (Việt Minh tiếp thu Hải Phòng ngày 13-5-1955.) Trong thời gian nầy, xảy ra vụ án mạng Đỗ Đình Đạo ngày 29-7-1954. Bà Thụy An bị nghi ngờ và bị bắt giữở nhà ga xe hỏa gần Hải Phòng. Bùi Nhung biết được, đã đến thăm bà Thụy An.

Bà Thụy An là nữ tiểu thuyết gia duy nhất có tên trong bộ sách Nhà văn hiện đại do Vũ Ngọc Phan biên soạn. Bộ sách nầy gồm 4 quyển, do Tủ sách Tao Đàn, Nxb. Tân Dân ấn hành tại Hà Nội từ năm 1942 đến năm 1945, đánh số trang liên tục, trong đó quyển tư viết về các tiểu thuyết gia. Bộ sách nầy về sau được tái bản nhiều lần. Vũ Ngọc Phan cho rằng tiểu thuyết Một linh hồn (xuất bản 1943) của bà Thụy An là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam trước năm 1945.

Ngoài tài làm thơ và viết tiểu thuyết, bà Thụy An còn làm báo, viết phóng sư. Sau khi kết hôn, Thụy An cùng chồng vào Sài Gòn lập ra tuần báo Đàn Bà Mới. Bùi Nhung làm giám đốc chính trị (directeur politique), còn Thụy An làm giám đốc kiêm chủ bút (directrice et rédactrice-en-chef).

Tại Sài Gòn, lúc đầu báo quán Đàn Bà Mới nằm trên đường Leman. (Đường Leman về sau là đường Cao Bá Nhạ, quận 1.) Sau đó, báo quán đổi qua số 43 đường Galliéni. (Đường Galliéni về sau đổi thành đường Trần Hưng Đạo.) Báo Đàn Bà Mới xuất bản hàng tuần vào ngày Thứ Bảy, ra số đầu tiên (số 1) ngày Thứ Bảy 1-12-1934. Khi đổi trụ sở qua đường Galliéni, Đàn Bà Mới cũng đổi ngày ra là Thứ Hai hằng tuần. Số cuối cùng (số 95) ra ngày Thứ Sáu 4-6-1937.

Năm 1938, bà Thụy An ra Hà Nội, xuất bản tuần báo Đàn Bà, phát hành vào ngày Thứ Sáu hàng tuần, số đầu ra ngày 16-2-1938 và số cuối vào tháng 4-1939. Tòa soạn tuần báo Đàn Bà đặt trên đường Wiélé. (Đường nầy về sau đổi thành đường Tô Hiến Thành.)

Theo bà Bùi Ngọc Trinh, con gái của bà Thụy An, thì Thụy An từng làm Giám đốc Vietnam Press, nhưng theo người cháu của bà Thụy An thì ông biết chắc chắn Thụy An có làm việc cho Vietnam Press, nhưng không rõ chức vụ. (Nói chuyện với ông Quyền tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Cũng theo nguồn tin trong gia đình, thì vào năm 1951, Thụy An đưa bốn trong sáu người con, vào sinh sống ở Sài Gòn. Đó là An Dương, Thu Linh, Ngọc Trinh và Châu Công. Hai người còn lại là Thụy Băng và Dương Chi sống với ông Bùi Nhung và bà vợ sau của ông Nhung.

Hinh1

Không được biết do tình trạng gia đình, hay do công việc, Thụy An lúc nầy hay ra vào Sài Gòn – Hà Nội. Theo lời kể của Bùi Thụy Băng, con trai bà Thụy An, thì khoảng nửa tháng trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, Thụy An từ Sài Gòn ra Hà Nội. (Thụy Khuê, Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Virginia: Nxb. Tiếng Quê Hương, 2012, tr. 179.) Tuy nhiên, Việt Minh tiếp thu Hà Nội ngày 10-10-1954. Nếu nửa tháng trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội tức khoảng cuối tháng 9. Trong khi đó, Đỗ Đình Đạo chết ngày 29-7-1954. Lúc đó, Thụy An đã có mặt tại Hà Nội. Vậy Thụy An phải ra Hà Nội trước ngày nầy. Nếu trước nửa tháng thì có thể trước ngày ký kết hiệp định Genève 20-7-1954. Đây là chuyến đi cuối cùng của Thụy An vì sau đó bà mắc nạn và ở lại đất Bắc.

hinh2

Văn nghiệp bà Thụy An khá phong phú. Bà có thơ đăng trên tạp chí Nam Phong năm 13 tuổi (1929). Bà làm nhiều thơ nhưng không in thành tập. Về tiểu thuyết, ngoài truyện dài Một linh hồn, bà xuất bản hai tập truyện ngắn là Vợ chồng (25 câu chuyện về hạnh phúc gia đình) và Bốn mớ tóc. Bìa sau của tập truyện ngắn Bốn mớ tóc có in dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết về Đỗ Đình Đạo.

Thụy An còn nhiều tác phẩm viết sau năm 1954 ở Bắc Việt Nam và cả trong thời gian ở tù vì vụ Nhân văn Giai phẩm, chưa được ấn hành. Dầu bị xáo trộn trong gia đình, Thụy An vẫn tiếp tục hoạt động báo chí, sáng tác văn thơ, nhưng bất ngờ bà bị mắc nạn vào nghi án về cái chết của người bạn gia đình là Đỗ Đình Đạo.

2.- ĐỖ ĐÌNH ĐẠO BỊ ĐỘT TỬ

Đỗ Đình Đạo sinh ngày 17-7-1911 tại Hà Nội, là con của cụ Đỗ Đình Tiến (bị Việt Minh giết) và cháu nội của Đô thống Đỗ Đình Thuật. Ông gia nhập Đại Việt Dân Chính Đảng do Nguyễn Tường Tam thành lập năm 1938, rồi gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Năm 1952, thủ tướng chính phủ Quốc Gia Việt Nam là NguyễnVăn Tâm giao cho Đỗ Đình Đạo chỉ huy Đoàn Quân Thứ Lưu Động (Groupe Administratif Mobile en Opération viết tắt là GAMO) ở Bắc Việt. Trước hiệp định Genève, Việt Nam chưa bị chia hai, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ ngày 7-7-1954. Hai ngày sau (7-7-1954), ông Diệm bổ nhiệm Hoàng Cơ Bình làm đại biểu chính phủ tại Bắc Việt kiêm chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt. Uỷ ban nầy còn có Trần Trung Dung làm uỷ viên dân sự và thiếu tướng Nguyễn Văn Vận làm uỷ viên quân sự, chính thức hoạt động ngày 12-7-1954. Hoàng Cơ Bình mời Đỗ Đình Đạo vào Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt, có thể vì ông Đạo đang chỉ huy binh đoàn GAMO, nắm trong tay lực lượng quân sự.

Những người lúc đó ở Hà Nội cũng như ở Hải Phòng, chuẩn bị di cư vào Nam, cho biết là đã được tin Đỗ Đình Đạo bị ám hại vào cuối tháng 7-1954. Trong sách Việt Nam Quốc Dân Đảng, tác giả Hoàng Văn Đào xác định Đỗ Đình Đạo đột ngột từ trần tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, Hà Nội tối 29-7-1954. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ II, Sài Gòn: 1970, tr. 489.)

Đường Tuyên Quang về sau đổi thành đường Cao Bá Quát. Ngôi nhà nầy là nhà của bà Thụy An. Lúc đó, Hà Nội vẫn còn thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam. Nhà đương cuộc tìm thấy Đỗ Đình Đạo bị đột tử một mình trong nhà bà Thụy An, nên truy tìm bà để mở cuộc điều tra và chận bắt bà tại ga xe lửa nhỏ gần Hải Dương.

Được tin nầy, báo chí Hà Nội liền chạy những bài phóng sự về cái chết của Đỗ Đình Đạo, có tựa đề nóng bỏng, giật gân, nhằm hấp dẫn độc giả: Vụ án vì TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ? Báo chí còn cho biết bản khám nghiệm pháp y tử thi Đỗ Đình Đạo do bác sĩ Phán ký tên, kết luận rằng ông Đạo bị chết vì chất độc cyanure de mercure. (Theo lời người con ông Đạo.)

Khi Đỗ Đình Đạo bất ngờ từ trần, bà Đỗ Đình Đạo cùng 12 người con đang sinh sống ở Sài Gòn. Được hung tin, bà Đạo ngất xỉu, đau yếu. Chị của ông Đạo cùng người con gái đầu của ông Đạo, lúc đó 22 tuổi, từ Sài Gòn ra Hà Nội, lo việc tang ma cho nạn nhân.

Dựa vào những bài phóng sự trên báo chí, nhiều câu chuyện chung quanh cái chết của Đỗ Đình Đạo được bàn tán, nhất là mối liênn hệ giữa Đỗ Đình Đạo với người chủ nhà là Thụy An.

3.- LIÊN HỆ GIỮA THỤY AN VÀ ĐỖ ĐÌNH ĐẠO

Để thấy rõmối liên hệ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo, trước hết cần chú ý là Đỗ Đình Đạo không phải chỉ là bạn của Thụy An, mà còn là bạn với cả Bùi Nhung, chồng bà Thụy An.

Về phía Thụy An, tuy sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng bà không ly dị chồng. Thụy An đã im lặng hy sinh hạnh phúc của mình cho em ruột mình, và vẫn còn thương yêu chồng con nên không đoạn tuyệt chồng mà bà chỉ tự ý sống ly thân, chứ không phải bà ly thân vì phán quyết của tòa án. Đây là sự hy sinh mà ít phụ nữ có thể chịu đựng được.

Về phía Đỗ Đình Đạo, ông là một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, chỉ huy một binh đoàn lớn. Ông giao thiệp rộng, và ông cũng là bạn của Bùi Nhung. Ông không thể tự mình làm hại đến tình bạn và cũng là tình đồng chí với Bùi Nhung. Chắc chắn Đỗ Đình Đạo không dại gì có mối liên hệ bất chính với Thụy An để bị mang tai tiếng, mất bạn bè, mất đồng chí, còn bị giới chính trị, dân chúng và ngay cả binh đoàn GAMO, chê cười, khinh dễ mình, làm suy giảm niềm tin của mọi người.

Đỗ Đình Đạo có vợ và 12 người con. Người con đầu sinh năm 1932 và người con út sinh năm 1954, ngay trước khi Đỗ Đình Đạo qua đời. Đỗ Đình Đạo chăm sóc gia đình, vợ con rất chu đáo. Gia đình ông hạnh phúc. Các con ông Đạo xác nhận ông Đạo là chỗ thân tình với hai ông bà Bùi Nhung và Thụy An, chứ ông không phải là tình nhân của Thụy An.

Trong gia đình Bùi Nhung, người cháu của Bùi Nhung cho biết rằng Thụy An và Bùi Nhung đều là bạn của Đỗ Đình Đạo. Vảo đầu năm 1954, người cháu nầy sống trong nhà của Bùi Nhung ở Ngõ Nhà Đo (Hà Nội). Người nầy thấy Đỗ Đình Đạo thỉnh thoảng đến nhà Bùi Nhung, nhưng để theo dõi tin tức thời sự hơn là chuyện tình cảm. Người nầy khá kính trọng Đỗ Đình Đạo, cũng đã từng gặp gỡ riêng tư và có một lần đi xem hát giải trí ở Hà Nội với Đỗ Đình Đạo.

Như thế, trong thực tế, không hề có liên hệ tình cảm nam nữ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo. Cũng trong thực tế, những hoạt động cá nhân của hai bên cho thấy đây là mối liên hệ bạn bè và nhất là chính trị lúc bấy giờ. Các con cháu trong gia đình của cả hai bên, lúc đó đã khôn lớn, có người học lớp Đệ tứ (lúc đó học lớp đệ tứ tức lớp 9 là khá lớn tuổi), có người học năm cuối bậc trung học (chuẩn bị thi tú tài), biết quan sát, cũng chẳng thấy có dấu hiệu tình cảm gì giữa hai bên. (Người viết hỏi chuyện riêng biệt con cháu hai bên.)

Ngang đây vấn đề liên hệ bạn bè giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo đã khá rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “quan hệ vợ chồng”(?) như Việt Minh cộng sản tuyên tuyền khi kết án Thụy An và một số sách báo sau nầy viết lại.

4.- NGHI ÁN VỤ ĐỖ ĐÌNH ĐẠO BỊ ĐỘT TỬ?

Có một câu hỏi mà chắc chắn nhiều người đặt ra là tại sao Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954 tại nhà Thụy An? Lúc đó, Thụy An vừa từ Sài Gòn ra Hà Nội vì mục đích là để kiếm cách cứu Bùi Việt Quốc là con của Bùi Nhung với người vợ sau là Lưu Thị Trạch, em gái bà Thụy An. Bùi Nhung đang làm giám đốc Đài phát Hà Nội. Bùi Việt Quốc bị Việt Minh bắt cóc để áp lực Bùi Nhung không được di chuyển đài Phát thanh Hà Nội xuống Hải Phòng để tiếp tục tiếng nói của chính phủ Quốc Gia Việt Nam trước khi cộng sản tiếp thu Hải Phòng (13-5-1955), rồi mang vào Nam Việt Nam. Ngoài ra, Thụy An còn ra Hà Nội nhằm thông báo cho Đỗ Đình Đạo một số tin tức và diễn tiến chính trị ở Sài Gòn.

Khi Đỗ Đình Đạo bị đột tử trong nhà bà Thụy An, thì thủ tục đầu tiên chính quyền Hà Nội, thuộc chính phủ Quốc Gia Việt Nam, phải tìm chủ nhà để mở cuộc điều tra. Chủ nhà chính là bà Thụy An. Vụ án mới chỉ bắt đầu tiến hành, cuộc điều tra chưa kết thúc, chưa đưa ra xét xử trước tòa án. Đây mới chỉ là nghi án, chưa có kết luận gì cả, nhưng do đề tài báo chí TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ, nên nhiều dư luận đồn đoán lan truyền.

Một trong những lời đồn đoán quan trọng là người ta nghi ngờ phải chăng Thụy An làm việc cho Việt Minh cộng sản, nên nhận lệnh giết Đỗ Đình Đạo là một lãnh tụ quốc gia? Tuy nhiên, nếu Thụy An theo lệnh của Việt Minh giết Đỗ Đình Đạo, thì sau khi hành động, Thụy An phải tìm đường trốn vào mật khu của Việt Minh để được an toàn. Lúc đó Việt Minh đang bao vây Hà Nội và chờ đợi ngày tiếp thu. Đàng nầy, không có chuyện Thụy An trốn theo Việt Minh.

Ngoài ra, cuộc sống của Thụy An trước cũng như sau khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), cho thấy rằng trước sau Thụy An chẳng liên lạc gì với Việt Minh, cũng không cộng tác với Việt Minh. Chẳng những thế, Việt Minh còn trù dập và vu cáo Thụy An làm gián điệp cho Pháp trong vụ án Nhân văn Giai phẩm năm 1960.

Sau nầy, chính Thụy An cũng thổ lộ là bà không biết ai giết Đỗ Đình Đạo? Cần chú ý thêm là khi xuất bản tập truyện ngắn Bốn mớ tóc, Thụy An cho in trên bìa sau sách nầy dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết để ca tụng Đỗ Đình Đạo. Như thế, xét cho cùng, nếu không giúp đỡ Đỗ Đình Đạo, người bạn của gia đình, thì Thụy An chẳng có lý do gì để đầu độc Đỗ Đình Đạo. Bà giết ông Đạo để làm gì? Chẳng vì tình, cũng chẳng vì tiền, mà cũng chẳng vì tranh chấp chính trị?

Thực tế, dư luận chung lúc đó cho rằng chính Việt Minh đã ám sát Đỗ Đình Đạo. Việt Minh vốn chủ trương giết tiềm lực, tiêu diệt tất cả những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, có khả năng đối kháng với Việt Minh. Từ năm 1945, nhiều lãnh tụ quốc gia bị Việt Minh thanh toán mà không vết tích như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Trương Tử Anh, Nguyễn Hữu Thanh (Lý Đông A), Nhượng Tống…

5.- THỤY AN BỎ TRỐN

Theo lời bà Thụy An sau nầy kể lại cho người cháu của ông Bùi Nhung, thì ngày 29-7-1954, Đỗ Đình Đạo mượn nhà Thụy An để tổ chức hội họp. Tin trong gia đình bà Thụy An cho biết hôm đó là một cuộc họp chính trị, có người không muốn dùng công sở của chính phủ, cũng không muốn thuê các nhà hàng hay khách sạn vì sợ lộ bí mật, nên ông Đạo mới mượn nhà bà Thụy An để tổ chức hội nghị, tức địa điểm trung lập. (Nói chuyện với ông Q., cháu Bùi Nhung ngày 8-7-2014.)

Cũng tin trong gia đình, Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954, thì sáng ngày hôm sau, Thụy An về nhà. Bà thấy Đỗ Đình Đạo đã chết, nằm ngay ngắn, trên bàn có một bát (tô) miến, mà về sau nhà đương cuộc Hà Nội nói là có chất độc. Bà Thụy An không biết ai đã giết Đỗ Đình Đạo, hay Đỗ Đình Đạo tự sát, nhưng trước tình trạng nầy, bà hoảng sợ bỏ trốn.

Trên chuyến tàu hỏa từ Hà Nội đi Hải Phòng, Thụy An bị bắt tại một nhà ga nhỏ cuối cùng trước khi đến Hải Phòng, và bị tạm giữ ngay tại đó, trong một căn phòng, bên ngoài do một người da đen, bận thường phục canh gác. Vì vậy Thụy An không biết cơ quan nào đã bắt mình: Phòng nhì Pháp, hay sở Liêm phóng (Công an), hoặc Cảnh sát?

Được tin vợ bị bắt, Bùi Nhung liền tìm đến thăm. Ông Nhung nói với vợ đại ý rằng ông không đủ thế lực và khả năng để bảo lãnh Thụy An ra khỏi tù. Bà hãy đợi xem thình hình, rồi sẽ liệu định sau. Thụy An liền nhờ Bùi Nhung mua giúp cho bà một chai rượu Tây (Pháp), để bà tặng cho người canh gác, nhằm nhờ ông ta giúp đỡ khi có việc cần. Bùi Nhung làm theo lời vợ yêu cầu. Bà Thụy An tặng chai rượu cho người canh gác. Tối hôm đó, người da đen canh gác uống rượu say. Bà Thụy An lợi dụng cơ hội bỏ trốn. (Toàn bộ câu chuyện về cái chết ông Đạo và bà Thụy An bị bắt, bỏ trốn theo lời bà Thụy An kể lại cho người cháu tên là Q. năm 1988. Ông Q. nói chuyện với người viết tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Thụy An kể rằng khi người tây đen đang say sưa , bà xin đi nhà vệ sinh (cầu tiêu), rồi chui xuống lổ hầm nhà vệ sinh và bỏ trốn ra ngoài. Bà đến nhà một người bạn gần đó tắm rửa và thay áo quần, rồi theo xe hỏa trở ngược về Hà Nội.

Thời bấy giờ, loại cầu tiêu phổ thông là cầu tiêu đổ thùng. Cầu tiêu xây cao, phía dưới là một hầm cầu, xây kín 3 phía, còn chừa một phía làm cửa. Trong hầm cầu đặt một cái thùng để đựng chất uế thải. Mỗi tối hay sáng sớm, một người phu đổ thùng đến mở cửa, thay thùng cũ, đặt một thùng khác thế vào. Vì không dội nước, nên cái lỗ cầu thường rộng để khỏi bị dính khi đi cầu. Nhờ vậy, Thụy An mới chui xuống được hầm cầu để bỏ trốn.

Khi chính quyền Quốc Gia Việt Nam di chuyển vào Nam sau hiệp định Genève, hồ sơ vụ việc Đỗ Đình Đạo và Thụy An được Tòa thượng thẩm Hà Nội chuyển vào Tòa thượng thẩm Huế. Trong hồ sơ nầy, đến đoạn Thụy An bỏ trốn, thì người ta ghi rằng bà Thụy An trổ nóc cầu tiêu để thoát thân. (Theo lời kể của ông M. Đ.N. tức giáo sư Nguyễn Hữu Thứ, chánh án Tòa thượng thẩm Huế. Giáo sư Thứ kể cho người viết là ông đã tận mắt đọc lại hồ sơ nầy.)

Như thế là hai nguồn tin riêng biệt (tòa án và Thụy An) đều cho biết rằng Thụy An bỏ trốn sau khi vào cầu tiêu. Chỉ khác nhau là phía tòa án cho rằng Thụy An trổ nóc nhà cầu mà ra, còn Thụy An tự kể là đã chui xuống hầm cầu trốn đi. Thực ra sức vóc phụ nữ thì khó có thể trổ nóc để thoát thân và trước viễn cảnh bị giam cầm, Thụy An phải chấp nhận chui hầm cầu dầu thiếu vệ sinh và hôi hám để bỏ trốn.

Do bị chính quyền Quốc Gia Việt Nam truy nã, Thụy An lo ngại, không dám di cư vào Nam Việt Nam mà đành phải ở lại Bắc Việt Nam, trong khi Bùi Nhung và con cái đều vào Nam. Sau đó, tại Bắc Việt Nam, Thụy An lại bị liên hệ vào một vụ án khác.(Vào Nam Việt Nam, Bùi Nhung xuất bản năm 1965 tập hồi ký Thối nát, về giai đoạn 1945-1954.)

6.- THỤY AN VÀ VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM

Sau năm 1954, tại Bắc Việt Nam nhà văn lão thành Phan Khôi chia giới văn nghệ sĩ Hà Nội thành hai thành phần rõ rệt: 1) Nhóm “lãnh đạo văn nghệ” hay những “ông quan văn nghệ”, viết văn theo lệnh của đảng Lao Động (LĐ tức đảng Cộng Sản), được đảng LĐ tin cậy, giao nhiệm vụ chỉ huy, đứng đầu là Tố Hữu. 2) Nhóm “quần chúng văn nghệ” là những thành phần còn lại, yêu tự do dân chủ, không muốn gò bó trong giáo điều và sự quản lý của “lãnh đạo văn nghệ.” Nhóm thứ hai đông đảo hơn, vận động cởi trói văn nghệ. Cao điểm của cuộc vận động là các báo Giai Phẩm và Nhân Văn xuất hiện năm 1956.

Đảng LĐ liền trấn áp, tổ chức học tập, bắt bớ, tù đày những văn nghệ sĩ phản kháng. Thế nhưng vẫn chưa đủ. Thụy An không tham gia và không viết bài cho cả hai báo Giai Phẩm và Nhân Văn, vẫn bị bắt giam tại ngục thất Hỏa lò Hà Nội vì bị cộng sản cho rằng bà tác động mạnh đến hai nhóm nầy. Khi viên công an cộng sản hỏi cung, y nói với bà Thụy An rằng: “Chị có mù đâu mà không thấy chế độ tốt đẹp ra sao, lại không giác ngộ và mất tin tưởng ở chế độ, trong đầu chứa chấp toàn ý tưởng phản động.” Trở về lại phòng giam, Thụy An tự chọc mù một mắt. Cán bộ trai giam hỏi Thụy An lý do vì sao tự chọc mù một mắt, bà trả lời: “Chế độ của các anh nhìn một mắt cũng đã thấy quá nhiều cái xấu xa chịu không nổi rồi, để cả hai mắt chắc tôi không sống nổi.” (Thụy An kể chuyện cho người cháu là ông Q.) Đúng là đàn bà dễ có mấy tay!

Ngày 21-1-1960, Thụy An bị Tòa án cộng sản kết tội 15 năm tù giam, vì bị tố cáo là tiếp tay cho cả hai nhóm Giai phẩm và Nhân văn, và làm gián điệp cho Pháp. Tuy nhiên, theo Thụy An, vụ án nầy chỉ là sự trả thù cá nhân của Tố Hữu mà thôi. Thụy An kể rằng trong một lần gặp nhau ở Hội nhà văn Hà Nội, Tố Hữu nói với Thụy An: “Tôi thấy chị làm thơ cũng khá, sao không đưa cho báo đăng?” Thụy An liền trả lời: “Thơ thì chỉ có một cái chiếu mà anh ngồi hết cả chỗ thì còn đâu ra chỗ mà ngồi. Tôi không thích ngồi ở mép chiếu.” Từ đó Tố Hữu để tâm thù ghét và kiếm cơ hội ám hại Thụy An. Đó là nguyên nhân chính đưa đến việc Thụy An bị bộ máy tuyên truyền cộng sản dưới quyền Tố Hữu vu cáo và bà bị truy tố ra tòa án, để cuối cùng lãnh 15 năm tù giam.(Bà Thụy An kể cho ông Q.)

Thụy An ở bị nhà cầm quyền cộng sản giam từ 1960 đến 1973. Sau hiệp định Paris (27-1-1973), bà ra khỏi tù trong dịp mà cộng sản gọi là “Đại xá chính trị phạm”. Bà được cộng sản cho vào sinh sống ở Sài Gòn năm 1977. Lúc đó, một số con của bà đã di tản qua Hoa Kỳ. Bà liên lạc được với các con nhưng chưa có cơ hội gặp lại. Sau đây là thư bà Thụy An gởi cho người con trai đầu là Bùi An Dương: (thủ bút do ông Q. cung cấp)

Hinh3

KẾT LUẬN

Trước đây, đã có nhiều sách báo viết về vụ án mạng Đỗ Đình Đạo, nhưng thiếu ý kiến của những người trong cuộc hoặc con cháu của người trong cuộc kể lại. Ngoài các tài liệu cũ, bài viết nầy chẳng những dựa vào những cuộc nói chuyện với con cháu của cả hai bên ông Đỗ Đình Đạo và bà Thụy An, mà còn kiểm chứng thêm với một số thân hữu lớn tuổi đã từng trải qua giai đoạn chuyển tiếp ở Hà Nội và Hải Phòng năm 1954, trước khi di cư vào Nam, đã từng đọc báo hay nghe thuật lại diễn tiến vụ án. Hy vọng bài báo nầy có thể góp thêm vài thông tin mới, ví dụ mối quan hệ giữa Đỗ Đình Đạo và Thụy An là tình bạn trong sáng giữa hai người và hai gia đình, chứ hai người không phải là tình nhân như một số tài liệu trước đây.

Tuy nhiên, cuối cùng vấn đề quan trọng là ai đã sát hại Đỗ Đình Đạo tối 29-7-1954 tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, tức đường Cao Bá Quát, thì vẫn chưa có câu trả lời cụ thể, ngoài sự hoài nghi là cái chết của Đỗ Đình Đạo nằm trong kế hoạch giết tiềm lực của Việt Minh cộng sản, thủ tiêu tất cả những ai có khả năng chống lại cộng sản. Như thế, nếu cộng sản còn cầm quyền, thì có thể nghi án nầy sẽ chìm dần theo thời gian mà chẳng bao giờ có phần kết luận.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 16-7-2015)

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Thói quen Khó bỏ- Vì có bão lớn, Trung Quốc chỉ tạm thời rút Giàn khoan, nhưng Thủ tướng Dũng đang phét lác: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan”

Posted by hoangtran204 trên 18/07/2014

“Thủ tướng Dũng: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan”

Gs Nguyễn Minh Thuyết nói 18-7-2014: “…Người đứng đắn không bao giờ nhận anh em với quân trộm cướp, giết người”. 

“Phải tìm cách nhanh chóng thoát khỏi sợi dây thòng lọng”

 

Nhưng, Thủ tướng Dũng vào ngày 17-7-2014 vẫn nhắc lại  “Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc và các bên liên quan đàm phán hòa bình, giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế.”

Lão Nguyễn Tấn Dũng có lẽ không biết TC rút đi vì bão nên đã chém gió:

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/18…trai-phep.html

 

Thói quen khó bỏ

17-7-2014

GS Nguyễn Văn Tuấn
.
.

Ngay từ lúc cái giàn khoan HD-981 còn ở vùng biển VN, đã có người tưởng tượng rằng một ngày nào đó Tàu quyết định rút giàn khoan đi nơi khác, và tác giả một cách hài hước cho rằng lúc đó sẽ có một số quan chức VN xuất hiện trên báo chí nói đó là một thắng lợi của VN. Tưởng chỉ là chuyện giả tưởng, ai dè nó lại là sự thật.

Khi giàn khoan mới rút đi được một ngày, đã có quan chức kiểm ngư tuyên bố rằng “Tôi cho rằng Trung Quốc di chuyển giàn khoan vì sức ép đấu tranh của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam trên biển; trên nhiều mặt trận khác họ đều rơi vào thế bị động, cô lập”.

Phải nói đó là một tuyên bố rất … khó nghe. Trong suốt thời gian giàn khoan HD-981 ở vùng biển của VN, các nhóm “chấp pháp” VN có gây được tác động nào đâu. Mỗi lần tàu kiểm ngư hay tàu cảnh sát biển ra ngoài đó là bị tàu của Tàu xua đuổi, đâm húc gây hư hại nghiêm trọng. Nếu không bị đâm va, thì tàu của VN cũng phải trốn chạy loanh quanh trên vùng biển của mình. Tàu của VN chẳng những rất nhỏ so với tàu của Tàu, nhưng còn rất cũ kĩ. Lực lượng kiểm ngư qua lời của chính ông cục trưởng còn không bảo vệ được ngư dân thì nói gì đến chuyện gây sức ép cho Tàu cộng. Tàu kiểm ngư không có cách gì đến gần giàn khoan do các tàu của Tàu cộng dàn ngang bảo vệ, thì làm gì tàu kiểm ngư VN có khả năng gây áp lực cho giàn khoan. Ấy thế mà vị quan chức đó nói lấy có lấy được rằng giàn khoan HD-981 phải rút đi vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN!

Người khác thì suy luận rằng giàn khoan rút đi là một thắng lợi về ngoại giao của VN. Thật ra, ngoại giao VN có làm nhiều trong trường hợp này, nhưng tác động thì không rõ mấy. Những bài báo tranh luận trên báo chí phổ thông chắc chắn chẳng có tác động gì đến giàn khoan. Những nỗ lực ngoại giao cấp cao đều chẳng dẫn đến đâu. Dương Khiết Trì sang VN cũng chẳng có một thoả thuận nào. VN nói về nộp hồ sơ phản đối Tàu thì Tàu đã làm trước! VN nói sẽ kiện Tàu cộng ra toà án quốc tế, nhưng cho đến nay thì việc làm đó chắc sẽ không thành hiện thực. Nói tóm lại, hoạt động ngoại giao thì có đấy, nhưng tác động thì không rõ ràng, nếu không muốn nói là không hiện hữu. Ngay cả 13 ngư dân VN bị Tàu bắt, ngoại giao VN đã làm gì ngoài việc nhờ Tàu … xác định toạ độ!

Tàu cộng rút giàn khoan vì họ đã đạt được mục tiêu, chứ không phải vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN, và càng không do áp lực ngoại giao của VN. Dĩ nhiên, VN phải tuyên bố là Tàu không được đưa giàn khoan vào biển VN. Nhưng nếu ngay ngày hôm nay, Tàu cộng tuyên bố kéo giàn khoan khác vào vùng biển VN thì phía VN cũng chẳng làm gì được để ngăn chận họ. VN không có nhiều lựa chọn để đối đầu với Tàu, và đó là một thực tế.

Có thể tiên đoán rằng sau giàn khoan sẽ đến ngư dân là nạn nhân của Tàu cộng. Chúng sẽ cho tàu tuần tra trong vùng biển mà chúng cho là của Tàu. Chúng sẽ tăng cường ngăn chận ngư dân ta đánh cà và bắt bớ ngư dân, như là một phát biểu về chủ quyền của họ đối với vùng biển bao bọc bởi bản đồ 9 đoạn. Theo tôi nghĩ, bản đồ này chính là nguồn cội của tất cả nguồn cội về xung đột giữa Tàu và các nước trong vùng. Ngày nào bản đồ này chưa được vô hiệu hoá, ngày đó ngư dân VN vẫn còn khổ và sẽ có nhiều giàn khoan được hạ đặt vào vùng biển của VN.

 

———–

 

Thủ tướng Dũng: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan

Hiệu Minh

Giàn khoan bắt đầu rút.

Truyền thông VN đưa tin, Thủ tướng Việt Nam “yêu cầu Trung Quốc không tái diễn hành vi hạ đặt trái phép giàn khoan” sau khi Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan Hải Dương 981. Người phát ngôn BNG VN cũng ra tuyên bố tương tự.

Tin cho hay, giàn khoan đã được dịch chuyển ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Phía TQ cho biết họ rút giàn khoan vì lý do mưa bão, dù đã tìm thấy dầu. Họ có thể quay lại bất kỳ lúc nào.

Thủ tướng Dũng còn nói thêm “Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc và các bên liên quan đàm phán hòa bình, giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế.”

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cùng ngày vẫn khẳng định khu vực giàn khoan tác nghiệp là “lãnh thổ vốn có của Trung Quốc”. “Trung Quốc kiên quyết phản đối Việt Nam quấy nhiễu một cách vô lý hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp Trung Quốc,” người phát ngôn Hồng Lỗi nói.

Bài học cho VN

Việc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam là một tín hiệu rõ ràng của phía Trung Quốc gửi lãnh đạo đảng CS Việt Nam, hãy STOP “hữu nghị và hợp tác tốt đẹp”, 16 chữ vàng, 4 tốt. Đó là sự lừa đảo.

TQ không tôn trọng Việt Nam, quan hệ giữa hai nước không bình đẳng, không muốn cùng phát triển, không đếm xỉa đến dư luận quốc tế. Kẻ thù số 1 đã lộ mặt. Thay vì sợ diễn biến hòa bình đến từ phương Tây và Mỹ, hãy biết đối phó với kẻ đang đâm sau lưng Việt Nam.

Nếu Trung Quốc tái diễn hạ đặt giàn khoan, các vị đừng tái diễn bằng sự im lặng và hành xử lúng túng như vừa qua. VN phải lên tiếng mạnh mẽ, đừng ra lệnh cho truyền thông phải im lặng hay rút bài vì sự “toàn cục” theo đạo diễn của Trung Quốc. Cần xốc lại những tờ báo, tìm tổng biên tập giỏi, đạo tạo đội ngũ phóng viên có hiểu biết, để đối phó với bộ máy khổng lồ của Trung Quốc.

Tìm quan hệ, đối tác, đồng minh nhằm chống lại sự bành trướng của TQ là mục tiêu đối ngoại hàng đầu trong những tháng tới.

Xây dựng nội lực mạnh, bớt phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc, tìm sự hợp tác lâu dài và ổn định, hơn là phụ thuộc vào ý thức hệ.

Quyền lợi quốc gia là tối thượng.

HM. 16-7-2014

 

———–
-Trung Cộng rút giàn khoan 981 chỉ vì lý do họ biết trước bão sắp quét qua vùng Hoàng Sa mà thôi.
———–
Mục tiêu của TQ trong vụ đặt giàn khoan 981 trong vùng biển của đảo Tri Tôn, thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, từ đầu tháng 5-2014 theo tôi, là : 
1/ khẳng định chủ quyền của TQ tại quần đảo Hoàng Sa, 
2/ thăm dò thái độ VN trong việc xác định ranh giới biển của quần đảo Hoàng Sa,
3/ xác định trữ lượng dầu khí dưới thềm lục địa trong vùng lưu vực sông Hồng (lưu vực sông Hồng trải dài từ các cửa các nhánh sông Hồng ở miền Bắc, trải dài cho đến các tỉnh miền Trung). Việc khảo sát này đã được thực hiện đồng bộ cùng lúc với những giàn khoan khác của TQ, đặt rải rác trong vùng cửa vịnh Bắc Việt.
4/ chuẩn bị cho việc tuyên bố « vùng nhận diện phòng không » của TQ trong biển Hoa Nam (tức Biển Đông theo VN). Đây là phần quan trọng nhất còn thiếu trong chiến lược phòng ngự hải dương của TQ.
Việc cho rút lui giàn khoan 981 vào thời điểm này, nhân cơn bão Rammasun, là quyết định khôn ngoan của TQ. Không cần phải lưu lại giàn khoan lâu hơn (đến tháng 8 như dự định), vì các mục tiêu đã đạt được, trong lúc chi phí cho giàn khoan là quá lớn (vì phải điều động cùng lúc hàng trăm tàu bè cùng nhân sự điều hành).
Thái độ của VN (xem việc giàn khoan rút lui) như là một chiến thắng (về ngoại giao) là không phù hợp. Trong vụ này, ngoài Phi lên tiếng ủng hộ VN, các nước khác trong khối ASEAN đều im lặng, cũng như phần còn lại của thế giới. Hoa Kỳ và Nhật lên tiếng phản đối TQ trong vụ giàn khoan 981, là vì TQ làm thay đổi nguyên trạng Biển Đông. Việc này đe dọa cho an ninh và quyền lợi kinh tế của họ (và các nước đồng minh của họ). 
Vì vậy VN cần phải chuẩn bị những bước đi thích hợp để đối phó với tình trạng giàn khoan này di dời xa hơn về phía nam, cận bờ biển VN hơn. Mọi tán dương (theo lối tự sướng) của VN hôm nay (khi TQ rút giàn khoan), không phải đơn thuần là một thái độ không phù hợp với hoàn cảnh, mà còn thể hiện một hiện tượng bệnh hoạn về trí tuệ của lãnh đạo VN trước dư luận thế giới.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Vận động quốc tế cho Anh Ba Sàm và Nguyễn Thị Minh Thúy

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2014

Vận động quốc tế cho Anh Ba Sàm và bảo vệ Facebook

17-7-2014
Đỗ Quyên

Cùng với việc Việt Nam “chủ động hội nhập quốc tế” như cách nói của chính phủ, các cá nhân, tổ chức dân sự trong và ngoài nước cũng tăng cường các hoạt động truyền thông về nhân quyền, phản ánh tình hình nhân quyền ở Việt Nam ra cộng đồng quốc tế.

Từ ngày 5 đến 10/7, ba nhà hoạt động nhân quyền người Việt Nam là nhà hoạt động quyền con người Lê Quốc Tuấn, luật sư Trần Quỳnh Vi và nhà báo Đoan Trang đã đến Washington DC để thúc đẩy một số hoạt động như vậy. (Ông Lê Quốc Tuấn và luật sư Quỳnh Vi là thành viên phong trào Con Đường Việt Nam).

Ba người đã có những cuộc tiếp xúc với một quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, các tổ chức nhân quyền quốc tế như Freedom House, World Movement for Democracy, Open Tech Fund…

Tại các cuộc gặp, ba người thông báo sơ qua về tình hình nhân quyền ở Việt Nam kể từ tháng 1/2014, khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.

Ngoài việc bắt giam thêm một số blogger như Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), Nguyễn Thị Minh Thúy, chính quyền chuyển sang hướng tăng cường sử dụng các biện pháp “ngoài luật pháp” để trấn áp những tiếng nói đòi hỏi dân chủ-nhân quyền. Khuynh hướng này ngày càng rõ nét với những biện pháp cụ thể như: sử dụng côn đồ, dân phòng để gây sự và đánh đập nhà hoạt động nhân quyền; sách nhiễu, theo dõi, nghe trộm điện thoại, hack email và tài khoản Facebook; huy động đội ngũ “dư luận viên” khiêu khích, xúc phạm và đe dọa các blogger ủng hộ dân chủ.

Thủ thuật mới trong đàn áp nhân quyền

Trong nội dung các cuộc tiếp xúc, ba nhà hoạt động phản ánh cho cử tọa một “chiêu thức” mới của chính quyền Việt Nam trong việc đàn áp quyền tự do thông tin, tự do biểu đạt. Đó là huy động lực lượng “dư luận viên” sách nhiễu các blogger, Facebooker trên mạng. Đặc biệt, xác định được Facebook là diễn đàn duy nhất tương đối tự do để những người tham gia có thể phát biểu quan điểm hoặc kết nối với nhau, nên trong thời gian gần đây, dư luận viên đã sử dụng trò “báo cáo vi phạm” để “tố” với Facebook, đánh sập trang của các blogger, Facebooker ủng hộ dân chủ-nhân quyền.

Ngoài ra, nhà nước còn leo thang trong việc ngăn chặn quyền tự do đi lại của người dân: Gần 60 blogger đã bị tịch thu hộ chiếu và/hoặc cấm xuất cảnh, hoặc không lý do, hoặc với một lý do rất mơ hồ là “an ninh quốc gia”. Đại diện cho phong trào Con Đường Việt Nam, ông Lê Quốc Tuấn và luật sư Trần Quỳnh Vi đã chính thức công bố một danh sách cập nhật (chưa đầy đủ) gần 60 trường hợp này.

Phía Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, một quan chức cho biết ông rất quan tâm đến thủ thuật “báo cáo vi phạm lên FB” của lực lượng an ninh mạng, dư luận viên ở Việt Nam, vì quả thật là nó quá mới. Ông cũng ghi chép và tiếp nhận danh sách những người bị cấm xuất cảnh mà Con Đường Việt Nam cung cấp.

Bảo vệ Anh Ba Sàm và các tù nhân lương tâm

Quan chức trên cho hay, Hoa Kỳ đã nhiều lần nêu vấn đề “trả tự do cho tù nhân lương tâm” trực tiếp với chính phủ Việt Nam, tại các cuộc đối thoại nhân quyền cũng như các diễn đàn quốc tế khác. Ông khẳng định, Mỹ sẽ tiếp tục nêu vấn đề này, gồm cả trường hợp Anh Ba Sàm, trong các cuộc tiếp xúc tương lai với chính phủ Việt Nam.

Luật sư Trần Quỳnh Vi phản ánh tình trạng đối xử vô nhân đạo với các tù nhân, trong đó có tù nhân lương tâm. Hai trường hợp bi thảm gần đây là thầy giáo Đinh Đăng Định – đã mất vì ung thư một thời gian ngắn sau khi được “ân xá” – và anh Huỳnh Anh Trí – chết vì nhiễm HIV/AIDS trong tù. Luật sư Vi nhấn mạnh, mọi sự đối xử tồi tệ, hành hạ về thể xác và hạ nhục về nhân phẩm đối với tù nhân đều là vi phạm Công ước Quốc tế về Chống Tra tấn, mà Việt Nam đã ký tháng 11 năm ngoái nhưng chưa phê chuẩn.

Ba nhà hoạt động đề nghị Mỹ và các tổ chức nhân quyền quốc tế lưu ý đến việc bảo vệ các tù nhân lương tâm, thúc đẩy chính phủ Việt Nam phê chuẩn và thực thi Công ước Chống Tra tấn, đồng thời, có các biện pháp để buộc nhà nước Việt Nam phải tôn trọng tự do thông tin, tự do biểu đạt trên Internet và cả ngoài đời thực.

Đáp lại, quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng cải thiện nhân quyền là điều kiện tiên quyết để Mỹ tán thành việc Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Một tổ chức khác, Freedom House, tỏ ra rất quan tâm đến Anh Ba Sàm – trường hợp điển hình bị đàn áp tự do ngôn luận – và Nguyễn Thị Minh Thúy, bị bắt giam trong khi hai con còn nhỏ, không nơi nương tựa.

Cũng trong thời gian vận động nói trên, vào sáng ngày 9 tháng 7, tại trước điện Capitol, Quốc hội Hoa Kỳ, nhà báo Đoan Trang đã đại diện cho VOICE, phát biểu cùng một nhóm 5 dân biểu hàng đầu của quốc hội Hoa Kỳ (Loretta Sanchez, Rosa DeLauro, George Miller, Louise Slaughter, và Donna Edwards) về chủ đề “tại sao TPP không thể thành công”.

Trong ngày cuối cùng, trước khi rời thủ đô Washington DC, nhà hoạt động Lê Quốc Tuấn và nhà báo Đoan Trang đã dành cho đài SBTN và RFA một cuộc phỏng vấn. Tại đây cả hai tiếp tục nhấn mạnh đến sự sai trái của chính quyền trong việc trường hợp bắt giữ blogger Anh Ba Sàm, cô Nguyễn thị Minh Thuý.

 

 

 

 

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►’Nếu không có kiều hối, Việt Nam phá sản rồi’ – Chuyên gia KT Bùi Kiến Thành:

Posted by hoangtran204 trên 16/07/2014

Chuyên gia Bùi Kiến Thành: ‘Nếu không có kiều hối, Việt Nam phá sản rồi’ 

Chuyên gia cũng cho rằng dự trữ ngoại hối 35 tỷ USD “chưa ăn thua gì”, vẫn yếu so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế. 

Ngày 18/06 vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) đã nâng tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng thêm 1%. Việc điều chỉnh tỷ giá này có thực sự hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu? Cùng với việc tín dụng ngoại tệ tăng trưởng khá cao trong 6 tháng đầu năm, liệu có khiến cho tình hình ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng trở nên căng thẳng và đẩy lãi suất huy động ngoại tệ lên?

Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành về những vấn đề này.

* Thưa ông, ông đánh giá thế nào về động thái điều chỉnh tỷ giá vừa rồi của NHNN?

Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Trước hết là tỷ giá cũng không có tăng gì nhiều, chỉ 1% thôi. NHNN đã nghiên cứu về giá trị thật của đồng tiền Việt Nam. Nhiều chuyên gia đánh giá là đồng Việt Nam đang không đúng giá trị thật, giá trị thật thấp hơn nhiều.

Chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện đang có 2 vấn đề. Một là giá trị thật của đồng VND cần được điều chỉnh. Chủ trương mỗi năm điều chỉnh khoảng 2- 3%, năm nay, sau nửa năm điều chỉnh 1% thì cũng là bình thường thôi, không có gì là ngoài dự đoán của những người theo dõi tỷ giá Việt Nam.

Vấn đề thứ hai là làm sao để các nhà xuất khẩu không thiệt hại quá nhiều khi chuyển đồng USD sang nội tệ, thêm nữa là giúp cho xuất khẩu mạnh hơn. Đối với các nhà xuất khẩu, điều chỉnh tỷ giá thì họ được lợi thêm 1% khi chuyển đổi ra nội tệ. Điều này cũng hỗ trợ doanh nghiệp phần nào, nhưng đó chỉ là một chuyện nhỏ mà nhà nước phải làm thôi.

Việt Nam có đặc thù là xuất khẩu nhưng tỷ lệ nội hóa của mình không có bao nhiêu, nguyên liệu hầu hết là nhập từ nước ngoài về. Ví dụ như năm vừa rồi, 68% kim ngạch xuất khẩu đến từ các Doanh nghiệp FDI nhưng các DN này phần lớn là nhập khẩu nguyên liệu. Trong 68% ấy có đến 40 – 50 % là hàng nhập về. Tính ra “tinh” của nó chả có bao nhiêu.

Khi hạ giá trị đồng VND xuống thì mình cũng phải trả tiền nguyên liệu cao hơn. Vì thế nó cũng không phải lợi thế cho mình xuất khẩu vì nó không làm cho hàng hóa Việt Nam rẻ hơn nhiều so với DN nước ngoài.

* Theo thông tin từ NHNN, tính đến tháng 6/2014, tín dụng ngoại tệ tăng 12,03% trong khi tín dụng VND chỉ tăng 2,17%. Ông đánh giá như thế nào về mức tăng trưởng tín dụng ngoại tệ mạnh như vậy?

Trước đây theo nguyên tắc doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ về mới được vay ngoại tệ, tức là Doanh nghiệp xuất khẩu là chính nhưng vừa rồi Nhà nước có chính sách mới cho phép các DN thuộc 5 lĩnh vực được vay ngoại tệ. Đây có thể là một nguyên nhân khiến cho tín dụng ngoại tệ tăng mạnh.

Tuy nhiên, theo tôi, chính sách muốn tạo ưu đãi đối với các lĩnh vực đó nhưng đi ngược nguyên tắc có ngoại tệ mới được vay, và nó có thể ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ và tỷ giá nếu thị trường không có đủ ngoại tệ để bán. Lãi suất cho vay VND quá cao, người ta ít vay tiền VND. Tự nhiên mình tạo ra cầu về ngoại tệ như thế, sau này không quản lý nổi. Chính sách tỷ giá như thế là mầm tạo căng thẳng sau này.

Còn về phía người đi vay, tôi muốn nói rằng lãi suất huy động ngoại tệ thấp hơn lãi suất huy động VND, huy động cao thì cho vay cao, huy động thấp thì cho vay thấp. Nhưng người đi vay cần phải cẩn thận xem xét trong mối quan hệ với chính sách tỷ giá để tính toán xem lãi suất đi vay thật của mình là bao nhiêu?

Ngoài ra, cũng có những Doanh nghiệp có quan hệ với Ngân hàng, vay USD rồi chuyển sang VND gửi vào Ngân hàng hưởng lãi suất. Việt Nam có nạn cho vay mà không kiểm soát giám định luồng tiền có đi đúng hướng hay không cho nên người ta có thể thực hiện điều này.

* Theo báo cáo của UBGS Tài chính quốc gia, tỷ lệ cho vay/tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng đã tăng lên mức 95,5% trong tháng 5/2014. Thưa ông, việc nâng tỷ giá VND/USD để hỗ trợ DN xuất khẩu có thể làm tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao thêm và gây ra căng thẳng ngoại tệ cho hệ thống hay không?

Có căng thẳng ngoại tệ là vì nhà nước mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ và Ngân hàng đã cho vay ngoại tệ đến mức gần 100% tiền gửi, không còn có đủ ngoại tệ để cho vay. Thế thì phải đi mua. Mua nhiều làm đẩy giá ngoại tệ lên. Mà mua ở đâu? Mua trên thị trường liên Ngân hàng. Không có thì mua của tư nhân, từ đó mà đẩy lãi suất huy động ngoại tệ lên. Cho nên tôi mới nói là phải thận trọng. Không phải là nhà nước quyết định một cái, mở thêm ra cho 5 lĩnh vực được vay ngoại tệ là được yên. Cho nhiều đối tượng được vay ngoại tệ thì sẽ khan hiếm thôi.

Có một vấn đề quan trọng mà ít người quan tâm. Đó là con số mỗi năm lượng kiều hối gửi về gần 11 tỷ USD. Đây là số tiền rất quan trọng. Nếu không có khoản tiền này thì dự trữ ngoại hối của mình được bao nhiêu đâu? Tính sơ sơ, 10 năm nay kiều hối gửi về là hơn 100 tỷ USD, không có khoản này thì Việt Nam đã phá sản rồi, làm gì có ngoại tệ để chi khi mà anh xài nhiều hơn làm ra. Vấn đề nhập siêu cũng là nhờ kiều hối chứ lấy đâu ra mà trả.

Nói rõ hơn, cán cân thương mại của Việt Nam luôn ở trong tình trạng nhập siêu. Nhưng cán cân thanh toán thì cân bằng được là nhờ kiều hối và đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, xét lại các khoản đầu tư nước ngoài thì thực tế họ có cho không mình đâu. “Nó” vào rồi “nó” đi ra. ODA cũng vậy, không phải là khoản cho không. Khi sử dụng các khoản vốn này, Việt Nam đều phải mua hàng hóa, nguyên liệu của các nước cho vay. Họ cho vay nhưng chính ra là tìm cách bán hàng cho mình. Họ ưu đãi lãi suất nhưng không ưu đãi giá cả bán hàng. Vào cuộc là họ lấy mất 20% lợi nhuận của mình rồi. Thế nhưng mình coi ODA là ghê gớm lắm, thậm chí coi như tiền chùa xài thoải mái. Trong khi chỉ có kiều hối là đồng bào mình cho không đất nước.

* Thưa ông, trong những ngày vừa qua, đồng USD liên tục xuống giá so với VND. Có ý kiến cho rằng điều này là do cầu ngoại tệ không nhiều hay nói cách khác là doanh nghiệp nhập khẩu đang yếu nên giảm nhu cầu ngoại tệ để mua hàng hóa. Xin ông cho biết ý kiến của mình?

Người ta nói mò thế thôi. Con số mỗi ngày lên xuống là chuyện mưa nắng thất thường trên thị trường mua bán ngoại tệ. Phải nhìn xu hướng lâu dài thế nào chứ đừng nhìn 1, 2 ngày. Giờ Ngân hàng đang cho vay nhiều ngoại tệ, mà muốn tiếp tục cho vay thì phải đi mua như tôi đã nói ở trên. Nếu chính sách là mở rộng cho vay bằng ngoại tệ mà cung ngoại tệ không theo kịp thì giá ngoại tệ sẽ lên. Về dài hạn là như thế.

Theo thị trường nếu cung thiếu thì giá lên. Lãi suất huy động đồng USD sẽ cũng phải lên mà thôi.

* Có thêm ý kiến cho rằng con số dự trữ ngoại hối “kỷ lục” 35 tỷ USD cũng có thể là một biểu hiện của sức cầu ngoại tệ không lớn?

Thế nào là kỷ lục? Chưa bao giờ mình đạt được mức ấy nhưng không có nghĩa nó là lớn. Lúc trước có 1000 đồng trong túi, lúc sau có 1 tỷ. 1 tỷ đồng đó là kỷ lục, nhưng nó có đủ không? Có đáp ứng được nhu cầu của mình không? Có 35 tỷ USD đấy nhưng nhu cầu của đất nước lúc này là bao nhiêu? Chúng ta vẫn phải đi vay ngân hàng thế giới, vay các tổ chức quốc tế, vay các nước phát triển… Kỷ lục nhưng vẫn yếu so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

* Vậy ông đánh giá thế nào về khoản dự trữ ngoại tệ 35 tỷ USD này? Khoản này có đảm bảo thị trường không thiếu hụt nguồn cung hay không?

35 tỷ ăn thua gì, có 12 tuần lễ nhập khẩu, sao gọi là an toàn được. Nhỡ có sự kiện gì làm người ta ùa đi mua ngoại tệ, ngân hàng nhà nước phải đứng ra bình ổn bằng cách bán USD thì không có đủ mà bán được. Nhất là khi cán cân thương mại lại bị nhập siêu. Mình chỉ dựa vào ODA được chút ít. Họ nói giải ngân 7 tỷ, 8 tỷ nhưng có giải ngân thế đâu. Vừa rồi phó thủ trướng Hoàng Trung Hải nói còn 21 tỷ USD chưa giải ngân được trong số 57 tỷ ODA cam kết tức là gần 40%. Khi chúng ta không đáp ứng yêu cầu của người cho vay vì họ bắt mình mua giá này, bắt đưa ra chương trình nọ kia để họ phê duyệt giải ngân, mình không đồng ý thì họ không giải ngân thôi. Khi đó chúng ta lại không giải quyết được nguồn vốn để đầu tư các dự án.

35 tỷ chỉ là một nguồn mà cũng không dùng được nguồn đấy, vì nó là dự trữ, chỉ đáp ứng nhu cầu mười mấy tuần nhập khẩu. Cho nên tới đây vẫn phải làm sao để tăng dự trữ ngoại hối hơn nữa. Bằng cách nào? Từ nguồn trong nước, vay nước ngoài, từ nguồn vô hạn định của Ngân hàng trung ương là tạo ra tín dụng cho Doanh nghiệp phát triển…

Chúng ta phải xem chính sách tiền tệ là như thế nào? Các nước như Mỹ, Nhật khởi đầu như thế nào, từ đâu mà họ lớn mạnh lên? Phải xem ngân hàng trung ương của các quốc gia khác họ làm thế nào để xây dựng một hệ thống tài chính ngân hàng hiệu quả! Có đi vay thì cũng phải biết cách sử dụng vốn vay cho hiệu quả chứ không phải là tiêu xài hoang phí, rút ruột công trình…

Xin cảm ơn ông rất nhiều!

Hải Minh

Theo Trí Thức Trẻ
http://vinacorp.vn/news/chuyen-gia-b…-roi/ct-563666

 

Việt kiều đã gởi về nước hơn 73 tỷ đô la, trong khoảng thời …2000-2013

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Kinh Te | Leave a Comment »

►Viết blog cho một nền dân chủ tương lai: Câu chuyện Anh Ba Sàm (Trần Hoàng dịch)

Posted by hoangtran204 trên 15/07/2014

Viết blog cho một nền dân chủ tương lai: Câu chuyện Anh Ba Sàm

Trần Hoàng (dịch)
Posted on July 14, 2014

 

Vào một ngày cuối xuân ở Hà Nội (5-5-2014), các cán bộ thuộc Bộ Công an Việt Nam đã tung ra một cuộc đột kích bất ngờ vào nhà ở và cơ sở kinh doanh của anh Nguyễn Hữu Vinh, một blogger nổi tiếng, còn được biết qua bút danh Anh Ba Sàm (nghĩa là anh chàng nói chuyện tầm phào). Vinh và cô Nguyễn Thị Minh Thúy, người phụ tá của anh, đã bị bắt giữ ngay lập tức.

Một cuộc bố ráp đột xuất vào nhà và “bắt khẩn cấp”, như cách nói của công an, là một kỹ thuật thường xuyên được các lực lượng an ninh Việt Nam thực hiện để trấn áp giới bất đồng chính kiến. Đối với trường hợp anh Vinh, hiện công an đã đạt được mục đích này. Hai trong số các trang web mà anh Vinh quản trị vào thời điểm đó – Chép Sử Việt và Dân Quyền – đã bị đóng ngay sau khi anh bị bắt, điều này ám chỉ rằng  công an đã  giành được quyền kiểm soát và mật khẩu của các trang web này. Tuy nhiên, các trang blog khác, đặc biệt là trang Ba Sam News, đã ở ngoài tầm kiểm soát của công an và vẫn tiếp tục  công việc hàng ngày.

.
Anh Vinh hiện đang bị giam giữ, không được gặp luật sư và những cuộc viếng thăm của gia đình bị công an từ chối không cho  gặp. Anh Vinh là người tù mới nhất trong  số  300 tù nhân lương tâm tại Việt Nam (bị giam giữ) trong 5 năm qua.

Báo chí Việt Nam là của nhà nước, và cả công an nhân dân cũng như quân đội nhân dân đều có hàng chục cơ quan phát thanh, truyền hình, và các  nhà xuất bản riêng của họ. Họ đã miêu tả Vinh như một blogger chuyên viết và bình luận về các vấn đề chính trị xã hội Việt Nam với giọng điệu thiên về chỉ trích”, “luôn tìm cách làm cho mọi thứ của Việt  Nam là xấu xa, tồi tệ giống như con người của y ”.

Vậy, Nguyễn Hữu Vinh là ai? Anh Vinh sinh năm 1956 trong gia đình của một  cán bộ cộng sản cao cấp. Cha của Vinh, ông Nguyễn Hữu Khiếu, từng hai lần là đại sứ VN tại Liên Xô trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến năm 1980. Vì Liên Xô đã từng là người “anh cả” của Việt Nam trong thời chiến tranh lạnh, nên gốc gác này là một đặc quyền cực lớn, và như Vinh tự thừa nhận trong một hồi tưởng ngắn vào năm 2012: Anh Vinh và gia đình đã từng sống một cuộc đời mà những người Việt khác chỉ có thể mơ ước.

Là một “thái tử đảng” sáng chói, Vinh đã tốt nghiệp Học viện An ninh, sau đó trở thành một sĩ quan an ninh trước khi tham gia vào một chức vụ trong Ban Việt Kiều (thuộc Bộ Ngoại Giao). Những kinh nghiệm làm việc với các nhà trí thức Việt Nam ở nước ngoài khiến ông bị ám ảnh với ý nghĩ “ xã hội đã bị lãng phí quá nhiều, hậu quả của các chính sách sai lầm”.

Là một người có nhiều ý tưởng, anh Vinh có lẻ  là một trong những người đầu tiên nhìn thấy sức mạnh tiềm năng của Internet trong việc hướng đến tâm tư và mở mắt cho người dân ở Việt Nam. Năm 2005, khi Yahoo! 360 ° đến với Việt Nam, anh đã sớm thấy mình “viết blog” như bất kỳ thiếu niên nào ở các thành phố lớn. 

Ban đầu, trang blog Anh Ba Sam trên Yahoo! 360° của anh tạo ra trong tháng 9 năm 2007 đăng tải các bài ông viết cho các phương tiện truyền thông nhà nước. Tuy nhiên, Vinh sớm nhận ra nhu cầu của người dân trong nước, cần biết thông tin về Việt Nam nhìn từ góc độ nước ngoài. Dân chúng trong nước muốn biết “thế giới đang nghĩ gì về mình”. Sau đó anh tập trung vào việc dịch các bài báo nước ngoài sang tiếng Việt cho người đọc blog của mình. 

Sau cùng, anh Vinh đã bắt đầu cung cấp không chỉ các bài viết về Việt Nam mà còn cả những tài liệu về mối quan hệ Việt-Trung, mà ngay cả hiện nay vẫn còn là một vấn đề rất nhạy cảm về mặt chính trị.

Những quan hệ của Vinh với một số người trong bộ máy nhà nước đã cung cấp được các nguồn tin hữu ích. Tuy nhiên, chính việc này đồng thời lại cũng khiến tạo nên những nghi ngờ rằng anh là một công an chìm. Nhiều người từng hỏi tại sao Nguyễn Hữu Vinh, người đã đăng tải các tài liệu mà đảng cầm quyền không muốn cho công chúng đọc được, lại không hề bị bắt giữ?

Đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Blog Ba Sàm đã bị cơ quan công an xác định là một tụ điểm của các lực lượng “chống nhà nước” ở bên trong và bên ngoài Việt Nam. Trang web này đã phải hứng chịu nhiều cuộc tấn công liên tục.

Năm ngày sau khi ông Vinh và cô Thúy bị bắt, hai trong số các đồng sự của họ đã đưa ra một lời tuyên bố thách thức “Nguyễn Hữu Vinh bị bắt, nhưng Ba Sàm thì không!“. Lời tuyên bố chứa hàm ý về sự nổi lên của một phong trào viết blog mạnh mẽ hơn nữa, viết vì sự thay đổi ở Việt Nam, với các blogger đi theo con đường khai sáng những giá trị tự do dân chủ cho các công dân Việt Nam – con đường mà Ba Sàm đã đi. Có rất nhiều lý do để tin rằng chính quyền Việt Nam sẽ không dễ dàng buộc được các blogger im tiếng mãi mãi.

@Trần Hoàng – dịch

Nguồn: cima.ned.org

 Blogging for a Future Democracy: The Story of Anh Ba Sam

 

 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Các nước trong khu vực đang nóng lòng chờ một sự dứt khoát mạnh mẽ của Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 15/07/2014

Nhiều bài báo cho rằng: VN cần có thái độ dứt khoát và phải lên tiếng mạnh mẻ về HS, TS, Biển Đông…nhunwg thật ra, đảng CSVN và nhaf nước chắc chắn sẽ không thay đổi. Họ tiếp tục thái độ ởm ờ như bao lâu nay, vì họ không thể không vâng lời Trung Quốc. . TQ sẽ tung tài liệu mật về sự bán nước cầu vinh của HCM, LD, và các mật ước mà đảng CSVN đã ký tại Thành Đô 3-9-1990, , tcác hiệp định bí mật về biển đảo và biên giới mà hai nước đã ký kết ngày 31-12-1999, và các mật ước  ký kết năm 2011

Khu vực đang theo dõi và nóng lòng chờ một sự dứt khoát mạnh mẽ của Việt Nam

13-7-2014

Mạnh Kim  (Hà Nội)

Dự hội thảo thường niên lần thứ tư về biển Đông do Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược (CSIS) tổ chức ngày 10 và 11-7-2014 (1616 Rhode Island Ave, NW, Washington, DC), với chủ đề “Recent Trends in the South China Sea and U.S. Policy”, dân biểu Cộng hòa Mike Rogers, chủ tịch Ủy ban tình báo Hạ viện Hoa Kỳ, đã chỉ trích gay gắt Trung Quốc và cáo giác nước này là “tham ăn, gây hấn trơ tráo”. Nhận định rằng “đã đến lúc chúng ta phải thay đổi đối thoại và phải giảm bớt sự tôn trọng trong ngôn ngữ ngoại giao”, Mike Rogers cũng yêu cầu Chính phủ Mỹ phải có biện pháp đối phó trực diện hơn với Bắc Kinh, và Mỹ nên tăng cường việc chia sẻ thông tin tình báo lẫn hợp tác quân sự với các quốc gia trong khu vực…

Nhìn ở một góc độ, có thể diễn dịch rằng ý kiến Mike Rogers là sự chỉ trích thường thấy và quá quen thuộc trong chính trường Mỹ, khi phe đối lập luôn moi móc để hạ uy tín cánh chính trị cầm quyền. Nó dường như chỉ phản ánh một cuộc đấu đá nội bộ nước Mỹ không hơn không kém. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ khác, rộng hơn, chỉ trích Mike Rogers không hẳn là chuyện nội bộ của riêng nước Mỹ. Nó là một vấn đề quốc tế, liên quan chính sách đối ngoại có ảnh hưởng lâu dài đến lợi ích chính trị và tương lai nước Mỹ.

Đến giờ thì có thể khẳng định Barack Obama không phải George W. Bush và John Kerry không phải Hillary Clinton. Xem ra cặp đôi Obama-Kerry “hợp rơ” nhau hơn, và xem ra không phải tự nhiên mà bà Hillary chỉ “phò” Obama có một nhiệm kỳ. Khó có thể nói Obama đang bỏ lỏng trận địa nhưng cũng khó có thể nói Obama đang thật sự thành công trong việc kiềm chế Trung Quốc. Nếu cách tiếp cận vấn đề của Obama đối với Trung Quốc như vài năm qua vẫn được thực hiện, sẽ chẳng có lý do gì để Bắc Kinh chần chừ “thôn tín” khu vực bằng chiến lược càn quét cấp tập như đang diễn ra.

Với Trung Quốc bây giờ, việc chỉ trích, lên án, tố cáo, bày tỏ bất bình… gì gì đó sẽ không thể mảy may có tác dụng. Bắc Kinh đã lộ rõ bộ mặt trơ tráo bất chấp dư luận, vậy thì “lên án” có hiệu quả gì? Quan sát đòn thế ứng xử trong các hồ sơ quốc tế khác, đặc biệt Syria, Bắc Kinh đã “đọc” được “bài tủ” của Obama. Và như vậy Trung Quốc cứ mạnh tay dồn hết tốc lực để đặt biển Đông vào thế sự đã rồi. Họ chắc chắn tranh thủ ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định” khu vực trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ tổng thống Obama.

Nói cách khác, với Trung Quốc bây giờ, chỉ bằng việc “đánh động dự luận quốc tế” thôi thì không ăn thua. Điều này cũng nên được xem là một thực tế mà Việt Nam cần phải nhìn nhận để từ đó buộc phải thay đổi chiến thuật. Đừng hòng mong Trung Quốc chùn bước, nếu Mỹ, Việt Nam, và khu vực không có bất kỳ biện pháp cứng rắn và cụ thể nào.

Ở đây không phải là nói đến chiến tranh, là “xúi” phải đánh nhau bằng súng đạn, mà nói đến một sách lược đối phó trực diện và mang tính công nhiều hơn thủ. Đó là sự can đảm đứng lên kêu gọi xây dựng quan hệ quốc phòng với các nước khu vực, sự dứt khoát rõ ràng trong việc tìm ra giải pháp giảm thiểu lệ thuộc kinh tế, sự mạnh mẽ kết nối với những nước lớn khu vực như Nhật, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ… Sự tự tin ở đây không phải là các câu nói mơ hồ đại loại “Việt Nam không liên kết với bất kỳ nước lớn nào để chống lại một nước khác” mà phải là ngược lại mới đúng, bằng các cam kết giấy trắng mực đen về “đối tác chiến lược” toàn diện, đặc biệt quân sự, và đặc biệt với Nhật. Không tranh thủ sự cứng rắn và quyết tâm của Shinzo Abe ở thời điểm này thì còn chờ đến lúc nào, trong khi Abe không thể vĩnh viễn ngồi ghế thủ tướng để “thấy khi nào tiện và thích hợp” thì mới ngỏ lời? Sự tự tin ở đây không phải là “kêu gọi các nước lên án Trung Quốc” mà là phải cùng các nước khu vực “gom” hồ sơ lôi Trung Quốc ra tòa…

Có thể thấy một điều là khu vực đang theo dõi và nóng lòng chờ một sự dứt khoát mạnh mẽ của Việt Nam. Không phải do uy tín chính trị hoặc ảnh hưởng kinh tế của Việt Nam tại khu vực, cũng chẳng phải Việt Nam có giá trị như một đầu tàu có thể lôi kéo cả khu vực, mà là bởi Việt Nam đang được mặc định là một vệ tinh của Trung Quốc. Do đó, độ rung chấn chắc chắn sẽ lớn và gây sốc nếu “vệ tinh” này tự tạo ra đủ lực để bứt thoát khỏi quỹ đạo Bắc Kinh. Không chỉ gây sốc, mức độ rung chấn của sự kiện còn sẽ tạo ảnh hưởng mang lại hiệu ứng dây chuyền. Xét về nhiều mặt, Việt Nam, dù sao, cũng hơn Myanmar nhiều. Giá trị của sự kiện Việt Nam bứt khỏi Trung Quốc cũng sẽ mang lại nhiều “phần thưởng” hơn nhiều.

Thời gian rõ ràng không đứng về phe mình. Việc “mua thời gian” để chờ Mỹ hoặc Nhật ra tay rồi “tùy cơ ứng biến”, nếu điều này thực sự có, rõ ràng là một giải pháp ở thế đường cùng chứ không phải lá bài của một nhà chiến lược chủ động. Cục diện đang nghiêng về Trung Quốc, phải thừa nhận như vậy. Chờ họ đánh rồi mới tính cách gỡ, theo cách khá bị động như của Obama, hoặc rất bị động như của Việt Nam, sẽ chỉ có thể nếm mùi thất bại. Để đánh Trung Quốc, phải ra tay chủ động, phải ra đòn trên mọi mặt trận, như kiểu Shinzo Abe. Nước Mỹ đang cần một Shinzo Abe và châu Á-Thái Bình Dương đang cần rất nhiều Shinzo Abe!

 

Theo FB Mạnh Kim

 

———————

Đến lúc phải mạnh mẽ hơn

13-7-2014

Nguyễn Thanh Tuấn 

Nghị quyết 412 của Thượng viện Mỹ phê chuẩn ngày 10-7 yêu cầu Trung Quốc trả lại nguyên trạng tình hình biển Đông diễn ra chỉ đúng một ngày sau khi đối thoại chiến lược và kinh tế Trung – Mỹ (SED) kết thúc.

Được đề xuất từ hồi tháng 4 (để phản ứng việc Trung Quốc áp đặt vùng nhận dạng phòng không ADIZ ở biển Hoa Đông), nghị quyết được cập nhật tình hình biển Đông sau vụ Trung Quốc kéo giàn khoan 981 vào Hoàng Sa để rồi phê duyệt ngay trong tuần. Thời điểm của phê duyệt nhấn mạnh lại xu thế trái ngược của quan hệ Mỹ – Trung: nồng ấm về kinh tế, lạnh về chính trị. Kết thúc đối thoại SED, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jacob Lew ca ngợi việc Bắc Kinh minh bạch hóa hơn về tiền tệ nhưng Ngoại trưởng John Kerry thì luôn cảnh báo Trung Nam Hải không thể hành động đơn phương và không được tạo hiện trạng mới trên biển. Quan hệ song phương Mỹ – Trung vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng quan hệ chính trị thì đã xấu đi rất nhiều – tuyên bố của quan chức Mỹ ngày càng căng thẳng hơn, những lời lẽ ngoại giao có cánh ngày càng thưa đi.

Tại hội thảo biển Đông của CSIS ở Washington trong tuần, tiến sĩ Chu Shulong của Đại học Thanh Hoa một lần nữa quy kết Mỹ đã làm quan hệ khu vực xấu đi, đặc biệt là từ sau phát biểu của ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hà Nội năm 2010 khẳng định biển Đông là lợi ích quốc gia của Mỹ. Tình hình thực tế thì đã nóng dần lên với việc Trung Quốc chiếm bãi ngầm Scarborough, Bắc Kinh đơn phương áp đặt ADIZ và mới đây nhất là ngoại giao “giàn khoan” với giàn khoan 981 và một loạt giàn khoan nhỏ hơn khác hăm he vào biển Đông.

Lo ngại lớn nhất của các nước trong khu vực lúc này là việc Mỹ thiếu kiên quyết sẽ khiến Trung Quốc ngày càng lấn tới. Thông điệp về chuyện Washington phải mạnh mẽ hơn được chính Chủ tịch Ủy ban tình báo Hạ viện Mike Rogers tuyên bố. “Giờ là lúc thay đổi cách đối thoại và không nên quá lịch sự” trong đối thoại ngoại giao với Bắc Kinh, ông nói. Tuyên bố không lựa chọn bên của Washington thực tế đang làm khó chính các nước bạn bè và đồng minh của họ tại khu vực khi phải đối đầu với một cường quốc ngạo ngược và hung hăng trong hành xử như Trung Quốc. Bà Bonnie Glaser, chuyên gia của CSIS, chỉ rõ trong hội thảo: “Trung Quốc nghĩ Mỹ sẽ không hành động và các nước láng giềng còn lại sẽ phải nhượng bộ”.

Phó đô đốc Yoji Koda của Nhật tại hội thảo nêu ra thực tế là cả Mỹ và Nhật đã tính toán sai thế nào về mục đích thật sự của Bắc Kinh. Theo ông, sau khi chiếm Gạc Ma năm 1988 và Scarborough năm 2012 thì chỉ đến cuối năm 2013 Washington và Tokyo mới hiểu được ý đồ thật sự của Trung Quốc: các bãi san hô ngầm ở Gạc Ma và bãi cạn Scarborough là lý tưởng để xây dựng các sân bay trên biển. Vị trí của Gạc Ma là tâm điểm đi tới các cực đông – tây – nam – bắc ở biển Đông cùng trong khoảng cách từ 650-900km. Xây dựng được căn cứ quân sự ở đây sẽ giúp giấc mộng độc chiếm biển Đông của Bắc Kinh.

Những bước xẻo trên biển rất mỏng kiểu “salami” của Bắc Kinh đã khiến Mỹ và các cường quốc không lường và khó trở tay. Giờ là lúc Washington cần một chính sách rõ ràng, mạnh mẽ thật sự hơn nữa đối với Bắc Kinh!

THANH TUẤN

 

 

———————

 

* Lê Văn Mọi – danluan.org 

Từ đầu tháng 5 đến nay, đã có biết bao bài báo viết về vụ Trung quốc đặt giàn khoan 981 trên biển Đông thuộc hải phận nước ta, đã có biết bao ý kiến cả trong lãn ngoài nước đóng góp, gợi ý cho nhà nước ta giải quyết.

Thế nhưng thái độ của Đảng (nhà nước ta) cứ ỡm à ỡm ờ, ẩm ương, không dứt khoát.

Họ không tập trung đối phó với ngoại bang mà lại tập trung vào việc đối phó với dân, không phải chì tập trung vào việc ngăn chặn mất ổn định chính trị mà là đàn áp, giở mọi thủ đoạn đối với người yêu nước. Trong số những người này thì có rất nhiều người còn deo thẻ Đảng, cũng cần nói rõ là không phải người nào còn thẻ đảng, còn họp chi bộ đều đặn đều là CS, vì CS bây giờ có nghĩa là đứng về phe làm nô lệ cho Trung quốc, nói toạc móng heo ra là những kẻ nội gián bán nước.

Vì sao nhiều người (chứ không phải chỉ có một người đang viết còm này) đã đưa ra điều khẳng định trên, chứ không còn hoài nghi nữa. Lý do thì dễ thôi: một là Đảng còn giấu giếm nội dung Hội nghị Thành Đô 1990, hai là thái độ đê hèn trước sự leo thang ngày càng tăng của Trung quốc, trong đó chú ý đến lời phát biểu của một vài quan chức trong lực lượng vũ trang như quân đội và cảnh sát biển, đó là những người có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ dân thì không hề có thái độ cứng rắn và cương quyết, chỉ “kiên trì” nhũn như con chi chi. Điều thứ ba như đã nói, đó là lo ĐÁNH DÂN CHỨ KHÔNG LO ĐÁNH GIẶC.

NHƯ VẬY THÌ ĐẰNG SAU NHỮNG LỜI NÓI PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC THÌ ĐẢNG CÓ GÌ ẨN KHUẤT? CÓ PHẢI QUAN CHỨC CỦA TA ĐÃ ĂN TIỀN CUẨ TRUNG QUỐC KHÔNG?

Có thì nói CÓ, không thì nói KHÔNG. Chỉ cần trả lời một từ đơn giản thôi. Có thể các quan chức của ta thừa biết là nếu ta dứt khoát với Trung quốc mà quan hệ chặt chẽ đồng minh với các nước khác thì nước ta có “sẽ mang lại nhiều ‘phần thưởng’ hơn nhiều” như tác giả Mạnh Kim đã nêu. Thế nhưng các quan chức của ta đã nhận “phần thưởng” của Trung quốc hậu hĩnh hơn nhiều nên “há miệng mắc quai”.

Hiện nay Trung quốc chỉ còn một “đồng minh” và tay sai bảo duy nhất là Việt cộng (chứ không phải nhân dân Việt Nam) vì Bắc Triều tiên trước kia gắn bó với Trung quốc thì nay đã good bye, coi Trung quốc là kẻ thù rồi.

Đảng đã thế thì DÂN không thể thế, tức là không chịu làm tay chân cho Trung quốc. Thế thì DÂN phải làm gì bây giờ? Dĩ nhiên đến giờ bộ mặt bán nước của CS đã rõ. Cần nhắc lại với bàn dân thiên hạ: không phải bất cứ ai còn đeo thẻ Đảng, còn họp chi bộ đều là CS. Danh nghĩa thì Đảng CS có hơn 3 triệu đảng viên, nhưng may lắm thì chỉ còn khoảng 3 nghìn CS, tức là 3 nghìn kẻ nối gót Lê Chiêu Thống mà thôi. Những người khác cũng coi như trong hàng ngũ nhân dân, thực sự là nhân dân. Vậy thì hãy đánh bài ngửa với Đảng, hỏi

ĐẢNG CÓ THEO TRUNG QUỐC HAY KHÔNG? CHỈ CẦN TRẢ LỜI CÓ HOẶC KHÔNG.

Nếu Đảng trả lời ậm à ậm ừ thì có nghĩa là ĐẢNG THEO TRUNG QUỐC.

Như vậy thì DÂN KHÔNG THEO ĐẢNG NỮA VÀ CHO ĐẢNG VÀ TRUNG QUỐC VÀO CÙNG MỘT PHE. DÂN PHẢI ĐỨNG LÊN CỨU NƯỚC. KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO.  

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Lên tiếng thay cho một người không còn cơ hội lên tiếng: Bà Ngô Đình Nhu

Posted by hoangtran204 trên 13/07/2014

Lên tiếng thay cho một người không còn cơ hội lên tiếng: Bà Ngô Đình Nhu

11-7-2014

Tác giả:  

Bà Trần Lệ Xuân

Bà Ngô Đình Nhu qua đời ngày 24-4-2011, tại Rome. Thế là kể như cả một thế hệ những người lãnh đạo miền Nam thời tuổi trẻ của tôi đã không còn nữa. Tính đến nay cái chết của bà thấm thoắt đã được hơn ba năm!!

Hôm nay, một lần nữa, xin lên tiếng như một tưởng niệm và nói thay cho một người đã làm thinh. Tôi là người ngay từ lúc 9, 10 tuổi đã đem lòng ái mộ ông Ngô Đình Nhu, phu quân của bà lúc ông còn hoạt động ở Bắc vào những năm 1950-1952. Tôi đã giáp mặt ông một số lần trong bộ đồ bốn túi với nụ cười nhếch mép. Anh cả tôi lúc bấy giờ cũng theo học những lớp về Xã Hội do ông tổ chức và giảng dạy. Làm sao tôi không quý mến ông được.

Sau này, thời thế thay đổi tôi và ông đều chọn ở miền Nam làm quê hương. Giã từ đất Bắc. Giã từ cộng sản. Ông là biểu tượng cho miền Nam chống lại ý thức hệ cộng sản. Tôi theo gót chân ông và tiếp tục con đường ông đã đi..

Vào miền Nam, tôi ngây thơ tưởng thế là tạm yên. Đất nước miền Nam đang đứng lên, đang xây dựng với niềm tin và hy vọng. Tôi lo học hành, lo chơi. Không ngờ, cộng sản lại lén lút đeo đuổi phá hoại xóm làng miền Nam chúng tôi một lần nữa.

Họ lại muốn giải phóng chúng tôi.

Lần này thì ông đóng vai một lãnh tụ dấu mặt. Chưa bao giờ thấy ông dùng công xa, có xe còi hụ chạy ngoài đường phố. Dân chùng nhiều người chưa biết mặt ông. Phải chăng đó là cái dở của ông. Nhưng lại một lần nữa, tôi lại có một số dịp gặp ông tham dự các buổi lể của Viện Đại học Đà Lạt trong vai trò cố vấn, còn tôi- với tư cách sinh viên viện đại học-. Đã đôi lần, tôi tính bạo dạn lên gặp ông để hỏi chuyện. Nhưng lần nào cũng vậy, buổi lễ gần xong là ông đã biến đi đằng nào rất nhanh. Chắc tính ông kín đáo, không thích gặp gỡ, nói chuyện la cà xã giao. Ông đến và đi kín đáo.

Nhưng tôi còn nhớ như in là ông thường đi một mình, không có bà Nhu bên cạnh. Việc công, việc tư, ông phân biệt rõ ràng. Chắc hẳn bà Nhu lúc ấy đang ngồi ở ngôi biệt thự ở Đà Lạt chơi với các con của bà. Mà nay thì tôi mới hiểu tại sao ông làm như vậy..Ông không thích đàn bà dính dáng vào chuyện chính trị của ông. Và nỗi khỗ của ông và bà cũng từ chỗ này, gây ra những tranh cãi, buồn phiền. Ông đi biền biệt, không biết đi đâu, gặp những ai, làm gì!! Phần bà thì muốn dính dáng vào nhiều truyện, cả truyện tư đến truyện đời công, truyện chính trị, chính em!! Bà sốc nổi, ông bình tĩnh. Bà thông minh, ông thâm trầm. Bà thích xuất hiện trước đám đông, ông tránh mặt. Thực sự nếu bà hiểu được bà đang nắm được một ưu vật hiếm có trong tay thì hai người hạnh phúc biết bao.

Đến khi tôi bắt đầu cầm bút thì ông đã không còn nữa. Bao nhiêu biến cố đau thương xã hội, chính trị bầy ra mỗi ngày, miền Nam như con tàu trôi nổi, không định hướng. Chỉ càng về sau này, từ người trí thức đến người lãnh đạo đến người dân thường mới thấm thía được sự mất mát ấy!!

Muộn quá rồi. Thua vào tay cộng sản.

Những người đàn anh của tôi như giáo sư Tôn Thất Thiện nói: Cả trăm năm nữa, chúng ta cũng không có được người như ông Diệm. Rồi những người như anh Huỳnh Văn Lang, anh Lê Châu Lộc từng sát cánh với anh em nhà ông cũng nói một tuồng như vậy.

Tôi phải tin như thế thôi. Không có anh ông và không có ông, miền Nam như mất hướng. Người Mỹ đến VN để giúp chúng tôi chống lại cộng sản, nhưng trước tiên họ tìm cách giết những người bạn của họ..

Phần tôi, chót trân trọng ông, tôi không thể nghĩ khác được. Tôi càng thấy khâm phục ông hơn về sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về chính trị, nhất là khi đọc Chính Đề của ông. Lòng quý mến ấy của tôi càng tăng khi ông và cụ Diệm bị bọn tướng lãnh thảm sát. Tôi tôn quý ông lúc sống và tiếc thương ông lúc chết! Ai nói khác thì mặc kệ họ.

Cái thất bại của gia đình họ Ngô là cụ Diệm không phải là người làm chính trị. Cụ có thể đã đi tu ngay từ cái ngày cụ tạm thời trú ngụ ở một dòng tu bên Bỉ. Còn ông Nhu, có lúc tâm sự trong vụ Phật giáo, ông cho rằng đáng nhẽ ông phải là một giáo sư sử học, ngồi nghiên cứu thay vì làm chính trị.!! Phải chăng cả hai ông đã chọn lầm nghề!!

Bản thân ông là người ít bạn mà nhiều kẻ thù. Kẻ thù ngay trong số những người từng tin cẩn và hợp tác như trường hợp những Trần Kim Tuyến, Nguyễn Đình Thuần, Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính. Và nhất là người Mỹ. Cái chết của anh em ông là do người Mỹ dàn dựng gây ra chứ không ai khác!! Và ngay khi sang Mỹ ‘giải độc”, bà Ngô Đình Nhu, dù không có đảm lược chính trị, nhưng lại có cái bản năng nhạy bén chính trị đã tuyên bố thẳng thừng:

‘Whoever has the Americans as allies does not need any ennemies’. 

(Bất cứ ai (nước nào) có người Mỹ là đồng minh thì họ không cần bất cứ kẻ thù nào nữa…)

Và câu nói sau đây chẳng khác gì một lời tiên đoán số phận miền Nam sau khi chế độ Đệ nhất cộng hòa không còn nữa:

‘I can predict to you all that the story in Viet Nam is only at its beginning’. (Tôi  có thể tiên đoán với tất cả mọi người rằng câu chuyên ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu)

Phần tôi lại có thêm cái may mắn là hoặc được đọc, được rèn đúc thêm hoặc là được gặp một số nhân chứng của thời Đệ Nhất Cộng Hòa như quý ông Tôn Thất Thiện, Cao Xuân Vỹ, trung tá Nguyễn văn Minh, thượng nghị sĩ Lê Châu Lộc, ông trung tướng Tôn Thất Đính, đại tá Nguyễn Hữu Duệ, ông Huỳnh Văn Lang, Minh Võ và nhiều người khác. Hoặc là được hiểu biết nhiều hơn về chế độ với Nhị Lang, Lansdale, cụ Quách Tòng Đức, cụ Đoàn Thêm, luật sư Lâm Lễ Trinhvv..

Không lẽ tất cả những người đã một thời góp bàn tay xây dựng nên một miền Nam một thời đều nghĩ sai, viết sai cả sao?

Về phía người Mỹ thì phải nói ngược lại. Phải nhìn nhận có những người như Haberstam và Browne, họ đã đi tìm vinh quang nghề nghiệp trên những xác chết của hai vị lãnh đạo Đệ nhất cộng hòa và xác chết của những người lính VNCH.

Cả hai đều nhận được giải thưởng Pulitzer vào năm 1964, sau khi hai anh em ông Diệm đã chết.

Tôi không nói oan cho những kẻ cầm bút giết người trên. Hãy để một người đồng nghiệp thuộc loại sáng giá nhất sau này-Stanley Karnow- nhận xét về đám ký giả này:

‘Cái thảm kịch của Việt Nam lúc bấy giờ lại trở thành giấc mơ của một số ký giả, nhưng lại là một cơn ác mộng đối với các viên chức chính phủ Mỹ vì họ lo sợ rằng những biến cố ở Việt Nam sẽ khiến dư luận Mỹ chống lại những nỗ lực chiến tranh ở Việt Nam. Kiểm duyệt thì không được mà không kiểm duyệt thì thật khó kiểm soát những phóng viên trẻ năng động như David Haberstam của tờ The New york Times. Neil Sheehan của United Press International và Malcom Browne của Associated Press.. Những phóng viên trẻ này đưa ra tràn ngập những tin tức thật cũng có mà giả cũng không thiếu được cung cấp bởi những kẻ thù của chế độ’.

Một ký giả uy tín và lão thành ở thời kỳ ấy là Joseph Alsop đã thẳng thừng kết án các đồng nghiệp trẻ của ông là đang tiến hành một chiến dịch tuyên truyền tồi tệ chống lại ông Diệm và ông so sánh đám ký giả này giống thời kỳ họ từng chống lại tướng Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc trước khi sụp đổ rơi vào tay Trung Cộng.

Về cuốn Finding the Dragon Lady của bà Monique Brinson Demery

Cuốn sách trên được xuất bản năm 2013, nghĩa là sau hai năm khi bà Ngô Đình Nhu qua đời. Đây là công trình làm việc tốn khá nhiều công sức và năm tháng. Tác giả, giống như nhiều người Mỹ khi làm công tác nghiên cứu đã chuẩn bị học tiếng Việt đến nơi đến chốn. Demery học với Ngô Như Bình ở đại học Harvard. Demery cũng đã được sự chỉ dẫn của Edward Miller- một giáo sư, một nhà sử học Mỹ có những cái nhìn sử học khách quan và chính xác hơn các nhà sử học thế hệ đàn anh của tôi. Tôi rất trân trọng những ý kiến mới mẻ của Ed.Miller.

Và ít lắm là trong vòng năm trời tác giả Demery đã liên lạc, trao đổi và theo đuổi bà Nhu!! Bà Nhu vốn tránh mọi tiếp xúc, phỏng cấn- trừ một hai trường hợp cho Stanley Karnow cho chương trình đài truyền hình. Phải nhìn nhận cái kiên trì và phương pháp làm nghiên cứu của người Mỹ qua tác giả trẻ- bà Demery-.

Vì thế, khi cuốn sách vừa mới ra thì tôi đã cất công tìm đọc ngay và cũng cảm thấy thất vọng sau khi đọc xong. Cái thất vọng của tôi có thể người đọc khác có thể không thấy. Nếu đi tìm hiểu một tác giả chỉ cốt thu nhặt sự kiện, các chứng từ, các nhân chứng, vật chứng, cùng lắm ta có được một nhân dạng. Điều chính yếu là phải vào được bên trong tác giả, chia sẻ với con người trong một hoàn cảnh. Về điều nay, chưa thật sự có một giao cảm, một tin tưởng nào giữa bà Nhu và Demery. Theo như tôi hiểu thì bà Nhu vẫn e ngại người ký giả trẻ tuổi này.

Cái thất vọng thứ nhất khi đọc Demery là tác giả chịu nhiều ảnh hưởng của Haberstam và Malcom Browne trong cách trình bày các sự kiện lịch sử miền Nam một cách thiên lệch. Khi còn sinh viên, bà đã có dịp đọc những lời nhận xét hận oán cùng cực của Malcon Browne như sau:

‘Theo kinh nghiệm riêng của tôi thì bà Nhu là một kẻ thù nguy hiểm nhất cho bất cứ người đàn ông nào’. . Tại sao Malcon Browne lại có một nhận xét cay nghiệt như thế thì không biết được. Nhưng phần cá nhân Browne thì lại được phía tranh đấu Phật giáo tín cẩn vào loại số một. Ông là người được thông báo ngày giờ, địa điểm tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức và bức hình của M. Browne được gửi đi khắp thế giới vào từng mỗi gia đình Mỹ trong buổi sáng hôm sau!!

Và chính từ sự gợi hứng từ M. Browne mà Demery đi tìm lại bà Nhu. Một bà Nhu không phải một góa phụ sống lẻ loi đơn độc một mình ở Paris. Mà một bà Nhu thuở vang bóng một thời với một nhãn hiệu đi kèm: Dragon Lady- một phụ nữ tinh quái, gian ác, ngổ ngáo, xấc xược. Tệ hơn nữa, không phải đệ nhất phu nhân mà một con khốn chết tiệt!!

Nếu chỉ đi tìm một bà Nhu như thế thì chỉ cần dở mấy sách vỡ cũ ra là có đủ! Cần gì mất năm năm tra hỏi. Và nếu muốn tham khảo thêm tiếng Việt thì nên tìm đọc cuốn Đệ Nhất Phu nhân của tên đạo văn là Hoàng Trọng Miên..

Tôi tự hỏi văn hóa Mỹ, người Mỹ viết tham khảo có dùng những từ thóa mạ như thế với những mệnh phụ phu nhân như Bà Kennedy không?

Cái thất vọng thứ hai là phần lớn các sự kiện đều đã được nhiều tác giả, nhiều người nói tới và không đem lại điều chi mới lạ. Người nào bảo mới là vì chưa đọc cho đủ tài liệu. Như trường hợp bà Nhu tổ chức với Giám mục Lê Hữu Từ đem một số dân di cư đi biểu tình ủng hộ ông Diệm lúc ban đầu, người ta đã nói tới rồi. Việc bà Nhu can thiệp vào vụ đảo chánh 1960, người ta cũng nhắc tới rồi..Tướng Khánh là người trong cuộc cũng đả kể lại đầy đủ với luật sư Lâm Lễ Trinh.

Những chi tiết về đời sống của bà Nhu lúc còn trẻ, lúc lập gia đình, lúc ở Đàlạt, lúc ở trong Dinh Độc Lập đều vụn vặt, chắp nối và nhiều chi tiết không cần phải nói ra..Những chi tiết về gia đình ông bà Chương-bố mẹ ruột bà Nhu- một thứ cai thầu chính trị- một thứ gió chiều nào ngả theo chiều đó- trong nhà lúc đón tiếp những nhân vật lãnh đạo Nhật, lúc đón chính khách Pháp, lúc tiếp đón Bảo Đại- ra vào tấp nập, tai tiếng lắm, đủ thứ chuyện…cũng là chuyện không cần phải đợi đến tài liệu mật thám Pháp khui ra. Bảo Đại trong hồi ký của ông cũng gián tiếp nhắc đến những liên hệ của ông với bà Nam Trân!! Nhưng đó phải chăng cũng là những điều quan yếu đối với bà Nhu!!

Cái điều duy nhất mà người đọc có thể thu lượm được khi đọc cuốn sách là một vài tâm sự của bà Nhu đối với ông Nhu..Bà tỏ ra buồn phiền, bực bội, chán nản, cô đơn vì có cảm tưởng ông Nhu không quan tâm gì đến bà. Chỉ lo chuyện chính trị..Và cũng từ chỗ đó bà muốn nhảy ra hoạt động chính trị, xã hội- một điều cả ông Nhu, ông Diệm và nhất là ông Cẩn rất khó chịu.. Tìm cho ra địa chỉ chỗ ở của bà Nhu tại một building trên đường Charles Floquet, số 24. Cuối cùng tác giã đã gửi thư, đã có thể liên lạc điện thoại với bà Nhu. Bước đầu đã đạt được.-
Cuốn sách của bà Monique Brison Demery chủ yếu ghi lại những phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu qua điện thoại. Phải công nhận sự kiên nhẫn trì chí của tác giả trong khoảng thời gian năm năm trời- và tìm đủ mọi cách để khai thác cá nhân và cuộc đời bà Ngô Đình Nhu. Ngay cả nếu cần, mang cả con nhỏ sang Paris để được sự chú ý của bà Nhu. Nhưng kết quả cho đến phút chót là một thất bại, vì bà Nhu đã nghi ngại và hai lần thất hẹn không cho gặp như đã hứa!!

Cái được còn lại là một tập sách nhỏ nhan đề Những viên sỏi trắng. Đây không phải là thứ hồi ký cũng không phải nhật ký. Nó là một thứ suy niệm ( Méditations) đượm tính chất huyền bí ( Mystique) dựa vào thánh kinh. Nó không dễ dàng gì để hiểu nếu không nắm được cái chìa khóa mở nó. Nhưng nó lại là bản tóm lược toàn diện hành trình đời sống tâm linh của bà Nhu kể từ năm 1963-2011. Gần 50 năm trời!! Gần 50 năm trời sống ẩn dật, khép kín, sống đúng phẩm cách con người, sống đúng mẫu mực của một phụ nữ góa bụa hầu như không tỳ vết. 50 năm đó tự nó xóa tẩy mọi vết nhơ, vết bôi nhọ trên phẩm giá một người phụ nữ. Mà ngay những kẻ thâm độc nhất và có thừa khả năng dựng truyện cũng đành im tiếng!

Rất tiếc, phần đời ấy lại chỉ được tác giả viết thoáng qua trong vài trang, chương 16: In Exile. Và cũng chả có thể nào trách được tác giả, vì khả năng của bà không đủ để có thể theo dõi những chặng đường tâm linh với nhiều lối nói trình bày mang tính ẩn dụ. Và cũng vì mục đích chính của tác giả là khai thác, đi tìm con người ác phụ trong bà Nhu!! Muốn thỏa trí tò mò, có lẽ bà Demery nên xoay hướng tìm hiểu những nhân vật nước Mỹ như dòng họ anh em nhà Kennedy, bà cựu tổng thống Kennedy cũng như bà Joan Kennedy..Như mới đây, tôi đi qua một tiệm sách thấy một tạp chí có nhan đề rất gợi tò mò: Anh em nhà Kennedy, ai giết Marilyn Monroe?

Những điều mà bà Déméry mong đợi thu thập được như cuộc đời riêng của bà Nhu, những truyện thâm cung bí sử, những chuyện liên quan đến tình ái nếu có, những dính dáng của bà với sinh hoạt chính trị miền Nam, hay những hiểu biết của bà qua ông Ngô Đình Nhu về các nhân vật liên quan đến chế độ, những thành bại của chế độvv. Kết quả thu thập thật ít ỏi. Trong nhật ký riêng của bà Nhu viết năm 1959, bà bầy tỏ một cách tuyệt vọng về cuộc sống hôn nhân của bà. Về sự thờ ơ của ông Nhu, về thú đi săn, về sự cách biệt tuổi tác khiến ông không thể làm gì hơn những gì ông đã làm!! Nói chung, bà khát vọng những chiều chuộng, những lời nói vuốt ve tuổi trẻ của bà, những giây phút lãng mạn… Và rồi những ước vọng thầm kín của một người đàn bà ở tuổi 32.. Bà nói một cách mơ hồ, thóang qua hình ảnh một người tên H. Hắn là một thứ Don Juan và chỉ có thế, không cho biết bất cứ chi tiết cụ thể nào về mối liên lạc đó. Nó như một cơn gió thoảng qua rồi thôi. Biên giới của cái được, cái cho phép và cái cấm kỵ trong tình huống lúc bấy giờ cho đến ngày hôm nay có thể cũng không có điều chi cho phép một sự ngờ vực.. Gần 50 sống cuộc đời cô thế vẫn như tảng đá ngầm, không gì lay chuyển được. Sự lựa chọn trong cuộc đời đôi khi không dễ dàng gì!! Không, người ta không thể nào biết hơn được những điều mà người ta đã biết như thế.

Tôi còn dám nói như một kết luận là chính bà Nhu cũng không hiểu ông Nhu cho đủ. Theo cụ Cao Xuân Vỹ – người thân cận với ông Nhu kể cho tôi nghe- Ông Nhu là người say mê chính trị nên mọi chuyện khác ông coi thường. Ông ăn mặc giản dị đến xuềnh xoàng. Ngay khi đã vào ở trong dinh, ông vẫn áo sơ mi bỏ ra ngoài, đi dép lệt xệt. Trong khi những chức sắc khác vào dinh thì quần áo chỉnh tề, lon chậu, mũ áo đầy đủ. Ông vượt lên trên cái thường tình của mọi người. Trong phòng làm việc, bày biện sơ sài, sách vở, tài liệu vất tung tóe trên sàn nhà, trên giường ngủ lộn xộn. Đó là thế giới của riêng ông. Ông không muốn bà dòm ngó vào, cũng không cần ai thu xếp dọn dẹp. Ông chỉ có thú say mê đọc sách và đi săn hổ. Khi không hiểu, khi không tôn trọng thế giới của người đàn ông- một người trí thức thượng thặng- một chính trị gia già dặn, sắc sảo- thì khó đủ nghĩa làm vợ một người đàn ông như thế!! Khi muốn kéo thấp người đàn ông xuống đến những chi tiết nhỏ, câu chuyện thường ngày là một cách gián tiếp xâm phạm đến những cuộc sống tinh thần của người ấy. Cho nên, thật khó cho cả hai người vì đôi khi không cùng nhìn về một hướng. Ý nghĩa câu nói của St. Exupéry về tình yêu lứa độ trong trường hợp này thật là cần thiết.

· Trong một dịp, nếu tôi nhớ không lầm do cụ Đoàn Thêm kể lại, ông phải đại diện chính phủ sang Pháp, lúc bấy giờ người ta mới cuống lên, phải đặt may gấp cho ông một bộ vét cho trang trọng xứng đáng đại diện chính phủ một nước. Lại còn vấn đề chức vụ? Ông chẳng có chức vụ gì cả, cũng chẳng nằm trong quy chế lương bổng. Rồi mọi người đồng ý đặt cho ông chức cố vấn…Từ đó, chữ cố vấn được chính thức dùng. Ông không có lương bổng, tiền là do quỹ đen của ông Diệm cho ông. Một chi tiết nhỏ là khi bà Nhu và con gái đi dự hội nghị và sang Mỹ, trong túi họ chỉ có 5000 Mỹ kim và khi bên nhà đảo chính ông Diệm, bà Nhu không có tiền trả cho khách sạn!! Họ được một số bạn bè Mỹ ứng cho mà vẫn thiếu hụt.

· Trong 9 năm cầm quyền thời ông Diệm, có người dân đô thành nào thấy ông Ngô Đình Nhu ngồi trên xe Limousine, có còi hụ, có xe cảnh sát dẫn đường không? Phần tôi chưa bao giờ nhìn thấy cả. Nhưng chỉ ít lâu sau 1963, Phó Thủ tướng Văn Hóa Đỗ Mậu, tướng Tôn Thất Đính đi đâu là kéo theo cả một đoàn tùy tùng, rầm rộ, còi hụ, dẹp đường, dẹp xá. Điều đó cho thấy phong cách của hai loại người!!

· Để chứng minh cho thấy- dù trong cảnh vực nào-, người phụ nữ vẫn chỉ là người phụ nữ trong gia đình. Trong một lần duy nhất, bà Nhu bắt gặp ông Nhu cùng 8 người đàn ông khác, đang ngồi quây quần và ở giữa có một người bị tra hỏi và bị đánh có máu me trên mặt. Tất cả những người có mặt hôm đó, ngay cả kẻ bị đánh làm như thể không có chuyện gì xảy ra khi bà Nhu vào. Khi ông Nhu về phong ngủ của hai vợ chồng, bà đã tò mò muốn biết chuyện gì xảy ra, người bị đánh là ai. Ông Nhu vốn bản tính kín đáo không trả lời. Bản thân bà Nhu bị chính ông Ngô Đình Nhu ngăn cản, cách ly bà ra khỏi những sinh hoạt chính trị. Sinh hoạt của bà mỗi ngay là giặt giũ quần áo, nấu ăn và tắm rửa cho con cái. Sau này, một vài hoạt động nổi của bà- như Hội Phụ nữ Liên Đới- chỉ là thứ chính trị trình diễn hơn là thực tiễn. Một người đàn bà như thế có thể nào biết được tất cả những sinh hoạt chính trị miền Nam?

Hơn nữa, hoạt động chính trị của ông Nhu không có tính cách bàn giấy để giải quyết các công văn giấy tờ mà phần lớn là những hoạt động về những chính sách, những quyết định, những họp mặt bí mật, những âm mưu tính toán..

· Bà Nhu hoàn toàn đứng ngoài lề các hoạt động chính trị của ông Nhu. Bà càng hăng hái xuất hiện, càng bất lợi cho chế độ và càng bất lợi cho bà như lời nhận xét của cụ Đoàn Thêm như sau đây:
· Dù không làm hay chưa làm việc gì có hại, người đàn bà không thể thừa thế nhà chồng mà xen vào việc chính quyền.
· Sự ra mặt của bà, dưới mắt số đông, trái ngược hẳn với hình ảnh cố hữu của phụ nữ Á Đông khiêm nhượng, ý nhị hiền hậu, của người mẹ, người vợ Việt Nam.
· Nguyên do sâu xa nhất và đích thật nhất của nỗi ác cảm với bà là do người đã đẹp mà lại muốn khỏe và hách nữa thì quá lắm, không chịu nổi. Đối với ông Nhu, người ta còn nhẫn nhịn, nhưng đối với bà thì ngay cả sự xuất đầu lộ diện cũng không được tán thành hay dung thứ.
· Nên dù trái hay phải, người đàn bà Việt Nam muốn vội sống theo theo đàn bà tiền phong(Avant garde) Âu Mỹ, tất chưa thể được yên thân trên một đất nước mà nhiều người còn ghê sợ những Võ Hậu, những Từ Hy.
· Tâm lý số đông như vậy nên nhiều con mắt dễ nhìn thấy những sơ hở và lỗi lầm để buộc lỗi gay go. Mỗi lời nói việc làm của bà đều là những cớ, những dịp cho cho dư luận chỉ trích nghiêm ngặt..

Bi kịch của chế độ bắt đầu từ chỗ đó!!!

Phần tác giả Demery, viết về bà Nhu mà như thiếu tư liệu để viết!! Viết cái gì? Viết con người bà hay viết về chế độ..Cuối cùng viết về con người bà thì ít mà viết chung về chế độ mà nhiều phần bà như thể đứng ngoài cuộc. Để bù lấp những khoảng trống ấy về các bí mật chính trị, tác giả bắt buộc phải trích dẫn những phần tài liệu từ nhiều nguồn mà phần lớn người đọc có thể đã biết rồi. Và sự sắp xếp cuốn sách không khỏi có những vá víu dựa vào những nhận xét của người khác. Câu hỏi chính còn lại đặt ra là tác giả có tỏ ra mức độ khách quan với một tấm lòng không khi đi tìm một bà Ngô Đình Nhu? Cứ như tôi hiểu, bà Demery đi tìm một bà Ngô Đình Nhu- như một Dragon Lady? Hiểu như thế, tôi cho là việc tìm kiếm coi như uổng công.
· Ngay nhan đề cuốn sách đã không ổn khi gọi bà Nhu là: Dragon Lady. Nhan đề này cũng từng được gán cho bà Tưởng Giới Thạch 20 năm về trước. Có một sự trùng hợp ý nghĩa gì chăng? Hình bìa lại chọn bức hình bà Nhu đang nhắm mắt tập bắn trong một buổi chủ tọa Thanh nữ cộng hòa với nền mầu đỏ chói chang.Trông quả thực không phản ánh đúng con người bà Ngô Đình Nhu. Mầu bìa như bị hoen ố chung quanh một cách cố ý và vụng về. Khá khen cho người nào đó đã vẽ mẫu bìa này.
· Và trong những lời trích dẫn ở trang trong tờ bìa. Người ta cố tình gán cho bà Nhu cái trách nhiệm không nhỏ là làm sụp đổ nền đệ nhất cộng hòa. Có nghĩa là bỏ quên đi tất cả vai trò và trách nhiệm của người Mỹ trong việc lật đổ này.
· Và trước khi vào chương một, tác giả không quên trích dẫn một câu thơ của William Watson do thượng nghĩ sĩ Stephen Young, tiểu bang Ohio trong đó có câu chót: The woman with the serpent’s tongue.( Người dàn bà với cái lưỡi của con rắn).
· Trong các trích dẫn các tác giả đầy rẫy những lời nhận xét bất xứng, gọi bà Nhu là con nọ, con kia.Những nhà báo như Halberstam, Browne, Stanley Karnov thì ít nhiều coi bà Nhu như một thứ kẻ thù. Tôi tự hỏi, không biết họ có dám viết như thế về những nhân vật như bà Kennedy hay không?
· Phần cuối đời của bà Nhu, chương 16 vỏn vẹn được vài trang, từ trang 213-225. Điều đó cho thấy một sự bất cân xứng khi tìm hiểu cuộc đời bà Nhu!!!Đối với kẻ viết bài này, bà Nhu đã chết và đem theo bà tất cả những gì bí nhiệm của cuộc đời đầy sóng gió và khổ lụy của bà..Tôi không biết còn ai khổ hơn bà Nhu cả lúc sống và lúc chết? Nghĩ tới bà, tôi nghĩ tới hoàn cảnh bà Nam Phương Hoàng Hậu. Đó là số phận dành cho những người dàn bà mà đáng nhẽ họ có thể có một cuộc sống mà bất cứ người phụ nữ nào cũng ao ước đạt được!!
Và việc đi tìm bà Nhu trong cuốn sách cuối cùng ta bắp gặp một Bà Nhu- một người đàn bà bình thường như hằng trăm người khác. Họa chăng bà có một số nổi niềm riêng. Bà cảm thấy buồn bực, bị quẫn trí vì người chồng lo chuyện thế sự, quanh năm vắng nhà bất tử..Và một cảnh đời như thế có chi xa lạ với những hoàn cảnh những người phụ nữ có chồng làm chính trị?

Nhưng cũng có thể vì thế mà bà bị rơi vào tình trạng trầm uất.

Ra ngoại quốc như một kẻ lưu vong- .Biết bao nhiêu nỗi cay đắng, cô đơn và tủi nhục! Một hoàn cảnh chẳng khác xa mấy với hoàn cảnh hoàng hậu Nam Phương lúc bỏ Đà Lạt sang Pháp vào năm 1950!!

Những người đi tìm hiểu bà lại thường thiếu một tấm lòng, một sự chia sẻ. Nói như bà Clinton trong cuốn sách mới xuất bản: Hard choices. Có nhiều chọn lựa thật khó và dù chọn lựa nào thì cũng phải có một cái đấu và một con tim. Họ đến với bà như một kẻ đi truy tầm quá khứ mà thiếu một sự trân trọng!!

Cuốn sách của tác giả Demery vì thế thiếu hẳn một sự chia xẻ về thân phận một người phụ nữ trong những hoàn cảnh cực đoan nhất, đầy đọa nhất như mất chồng, mất con, mất sự nghiệp, mất tương lai, mất mọi nguồn hy vọng, mất tin tưởng vào tình đời, tình con người..

Và trong những trường hợp như thế, từ chỗ tối tăm của vực sâu của tuyệt vọng dọi sáng lên một nguồn hy vọng một niềm tin tôn giáo. Và vì thế ta mới hiểu được tải sao bà viết về Những viên sỏi trắng. Những viên sỏi trắng đã vực bà dậy để bà đi hết con đường nhân thế.

Có lẽ, theo tôi, điều quan trọng nhất không hẳn là đào xới quá khứ đi tìm những mảnh vụn đời sống mà biết tôn trọng cuộc sống riêng, cô độc, khép kín của bà.

Cho nên, tôi có cảm tưởng tác giả Demery đã không hiểu gì về con người thực của bà Nhu, nhất là phần cuộc đời còn lại từ năm 1963 cho đến khi bà mất vào 24 tháng tư, 2011ở Rome.. Cũng giống như hoàng hậu Nam Phương, bà đem theo sang bên kia thế giới một nỗi niềm riêng mà không thể chia sẻ cùng ai được!!

Những năm tháng sau 1963, chính là phần đời sống giúp bà nhận diện ra chính mình, nhận ra hướng đi của cuộc đời còn lại của bà.

Không hiểu được phần đời này của bà, không nắm bắt được con người thực của bà.

Bà tìm một lối gỉai thoát trong cuộc sống thông qua những suy niệm tôn giáo.. Và bà đã viết ra những kinh nghiệm suy tư này dưới cái tên Những viên sỏi trắng.

Và đã hẳn, vì người ta đã không bắt gặp được một bà Nhu ăn nói bạo miệng, với những lời tuyên bố bốc lửa!! Họ thất vọng. Họ cũng sẽ thất vọng khi họ tìm đọc cuốn La République du Viet Nam et les Ngô Đình suivi des mémoires posthumes de madame Ngô Đình Nhu do con trai Ngô Đình Quỳnh và con gái bà in sau khi bà qua đời.

Tôi cũng đã nhiều lần nói truyện với ông Trương Phú Thứ về cuốn sách do bà Nhu trao cho ông TPT để chuyển ngữ ra tiếng Việt và để xuất bản. Cũng theo ông TPT thì cuốn sách không có giá trị gì về lịch sử, về nội bộ chính trị VN trong giai đoạn ấy. Và nếu ai chờ đợi những điều như thế trong tập sách này thì hoàn toàn vô vọng..

Bằng chứng sách đã được in ra bằng tiếng Pháp, nhưng ít ai nhắc tới và giới thiệu hoặc phẩm bình. Bản thân tôi cũng điện thoại và gửi điện thư cho ông Ngô Đình Quỳnh, nhưng không được ông trả lời. Chắc ông nghi ngại nhiều thứ!!

Câu hỏi chính còn lại đặt ra là tác giả có tỏ ra mức độ khách quan với một tấm lòng không khi đi tìm một bà Ngô Đình Nhu? Cứ như tôi hiểu, bà Demery đi tìm một bà Ngô Đình Nhu- như một Dragon Lady? Hiểu như thế, tôi cho là việc tìm kiếm coi như uổng công.
Về cuốn nhật ký 1959-1963 của bà Nhu

Trong một bài viết đăng trên dvonline.net, nhan đề Đi tìm bà Nhu, gặp ông Đại úy. Tác giả Trần Giao Thủy tiết lộ bà Nhu có viết một cuốn nhật ký từ năm 1959-1963. Cuốn sách này hiện nay do đại úy James Văn Thạch có được. Trần Giao Thủy do liên lạc được với viên đại úy người Mỹ lai Việt Nam. Đại úy James là con của trung tá John W. Peterkin đã nghỉ hưu, một cựu sĩ quan Mỹ đã từng phục vụ trong chiến tranh Cao Ly và Việt Nam. Ông lấy một phụ nữ VN có tên là bà Thạch Thị Ngọc, một nữ lực sĩ trong môn nhảy cao.

Đại úy James sinh năm 1976, lớn lên ở Bellerose, Queens, Newyork và tốt nhgiệp cử nhân khoa sử tại St. John

Cũng theo tác giả Trần Giao Thủy, đại úy James đã liên lạc được với bà Demery và hai người đã gặp nhau tại một quán cà phê Starbuck và đã cho bà Demery đọc qua cuốn sách. Cuốn sách khổ 12cm-18cm đã úa cũ, gáy phải dán keo..Những trang trong viết bằng mực xanh, mực nâu, có khi mực đỏ. Nét chữ nghiêng và tuồng chữ giống hệt tuồng chữ trong những lá thư của bà Ngô Đình Nhu. Lại nữa, ký giả David Horwitz, đài NBC trong một chương trình phát hình ngày 28 tháng ba- 1964, người ta thấy được tấm bảng ghi rõ ” Sự thật về ngày 11 tháng/ 11-1960, tài liệu tối mật trích nhật ký của bà Ngô Đình Nhu nhủ danh Trần Lệ Xuân’.

Như thế, bằng vào những lời trình bày của Trần Giao Thủy, ngưới ta có thể đi tới kết luận, đây là một tài liệu thật, một nhật ký riêng của bà Ngô Đình Nhu viết trong khoảng 1959-1963. Có thể chúng ta khỏi mất thời giờ bàn cãi thêm nữa.

Vấn đề nên bàn cãi là nguồn gốc lai lịch cuốn nhật ký, do đâu mà đại úy John có được. Hiện viên đại úy này vẫn không cho biết rõ nguồn gốc của nó.

Được hỏi vì sao có được cuốn nhật ký này. Viên đại úy nói một cách không rõ ràng là do có bà con làm việc trong chính thể VNCH nên có được.

Trong câu trả lời Demery thì vắn tắt hơn: Tôi lớn lên, rồi tôi có cuốn sách đó. Một câu trả lời mà như không trả lời gì cả!! Và người ta có quyền suy luận rằng chắc là do viên trung tá Mỹ có một cơ duyên nào đó có được cuốn nhật ký đã giữ trong nhiều năm và nay trao lại cho con trai..

Câu hỏi là giữ như thế để làm gì? Trong khi tác giả cuốn nhật ký đó là bà Ngô Đình Nhu sống lưu vong từ năm 1963.. Chỉ cần nhắc điện thoại- nhật ký của người ta thì trả cho người ta-đơn giản chỉ có thế và đem trao trả đến tận tay cuốn nhật ký.. Cử chỉ ấy đẹp biết mấy!!

Tôi cũng nhắc một trường hợp khác để chúng ta cùng suy nghĩ. Căn nhà trong Tân Sơn Nhất của ông bà Nguyễn Cao Kỳ do một viên đại tá chiếm ngụ.. Ông này thu thập một số hình ảnh riêng của bà Kỳ và thư từ của bà cất riêng một chỗ. Sau đó, ông đại tá phải sang đánh giặc bên Campuchia. Biết nguy hiểm, có thể chết, ông gói sấp hình ảnh tài liệu của bà Kỳ và dặn vợ con, khi nào có thể liên lạc được với gia đình ông Kỳ thì trao lại cho họ.

Khoảng 10 năm sau nối lại được liên lạc, Bà Kỳ hẹn về và đến nhận sấp hình ảnh tài liệu và thắp hương trước bài vị ông sĩ quan chung quanh có con cháu của ông ta..

Chính tôi được xem những tấm hình này..

Đấy là những tình tự con người vượt trên quá khứ, chiến tranh hận thù..

Cũng theo Trần Giao Thủy, chính bà Nhu cũng biết có cuộc triển lãm này và bà đã phản đối việc dùng tài liệu riêng tư của bà mà không có phép.

Người ta cũng không biết vào thời gian nào thì đại úy James có được cuốn nhật ký này tính từ 1965 trở đi. Chỉ biết rằng, theo lời ông tiết lộ, đã có một cơ sở báo chí muốn thương lượng để phát hành cuốn nhật ký này.

Nhưng chính gia đình bà Nhu, qua người con rể, ông Olindo Borsooi, chồng của bà Ngô Đình Lệ Quyên cũng ngỏ ý xin lại cuốn nhật ký đó và để lưu trữ như một khối di sản của dòng họ Ngô Đình.

Cả hai đề nghị trên đều bị ông Đại Úy từ chối vì không thích hợp với quan điểm và dự tính của người đang giữ cuốn nhật ký. Qua trao đổi với Trần Giao Thủy, ông này cho rằng viên đại úy là người rất say mê sử học, nhất là sử VN.. Cái say mê lấy của người làm của mình cho thấy tư cách người say mê này thế nào?

Qua tất cả những chặng đường gian nan, chòng chéo, vụ lợi, bất minh…vể cuốn nhật ký bị lưu lạc trong nhiều năm. Sự khám phá ra cuốn nhật ký vô tình biến nhà báo Trần Giao Thủy thành thứ người hùng, một thứ nhà báo chuyên ngiệp đã có công khám phá ra tài liệu bí mật, cất giữ từ hơn nửa thế kỷ nay.

Đấy là một kỳ công mấy ai đạt được!!

Tôi không biết rõ luật lệ ở Hoa Kỳ về quyền sở hữu tài sản trí tuệ xét sử như thế nào?

Nhưng cứ như theo cách sử sự bình thường theo công tâm mà nói, một cuốn nhật ký của một người phụ nữ đang còn sống nay không trao trả lại là một điều đáng trách!! Tư cách gì, ông đại úy cho rằng cuốn nhật ký của một người đàn bà có chồng làm chính trị, bị ám hại lại trở thành tài liệu mang tính lịch sử của Việt Nam, nó thuộc về toàn dân VN.

Những chữ lịch sử Việt Nam, thuộc toàn dân VN đều là những lời tuyên bố cao ngạo và trống rỗng. Và ông nói thêm: Nó là một tài liệu quan trọng cần phổ biến khắp nơi, cho tất cả những ai quan tâm đến giai đoạn đó trong lịch sử VN cận đại. Cuốn nhật ký không thể chỉ là hàng mẫu trưng bầy trong viện bảo tàng và nó cũng không thể bị cắt, chỉnh sửa để xuất bản.

Cần phổ biến khắp nơi mà ông lại giữ chịt không biết bao nhiêu năm rồi và đến bao giờ thì toàn dân VN sẽ được diễm phúc đọc một tài liệu được ông coi là vô giá?

Và mục đích chính của ông là giữ cuốn Nhật Ký ‘vô giá’, not for sale này, sau đó ông sẽ cho xuất bản và tiền bán sách, ông sẽ dùng để tu chỉnh nghĩa trang Bình An.

Xét về mặt pháp lý, về mặt ứng xử, về mặt đạo lý con người- mặc dầu ông cho rằng tập tài liệu thuộc toàn dân- Nhưng thực ra, từ đầu tới của, ông chỉ khăng khăng muốn giữ cho riêng mình và ông tự cho mình có quyền quyết định muốn in ấn và xử dụng số tiền lời tùy theo ý ông..

Bất kể đến quyền lợi tinh thần của gia đình bà Ngô Đình Nhu.. Con cái bà phải chăng có quyền bảo vệ thanh danh cho mẹ mình?

Nội dung cuốn sách là nhật ký cho nên có thể có nhiều nỗi niềm riêng tư của bà Nhu. Tôi cứ giả dụ rằng trong đó viết rất nhiều chuyện riêng tư đến đọc mà ngượng, hoặc đọc mà ứ nước mắt, hoặc đọc mà thỏa mãn thú tính đi nữa.. Nó vẫn chỉ riêng cho bà và chỉ riêng cho bà Nhu, mình bà biết, mình bà hay-. Nó là thành phần bản thân bà- nó là cõi riêng, nó là chính bà với những điều tối mật như chuyện chăn gối, chuyện hụt hẫng, chuyện trông chờ một cái gì xảy đến như cơn mưa mùa hạ, một sự lấp đầy chan hòa. Mà ngay cả người chồng của bà cũng không nên dòm ngó vào-. Có thể đó là những bất hòa, cãi cọ, giận hờn, nặng lời đến chửi bới nhau, chén vỡ bay tung tóe, cửa đóng đến sầm, vội vã bỏ đi săn biền biệt không về. Có những đêm mất ngũ, nước mắt chan hòa trên gối, nằm trăn trở một mình… Có thể là những ghen tuông, gọi tình địch là con đĩ, một thứ dơ dáy, một thứ súc vật-. Và cũng có thể là những suy nghĩ trái chiều như một thứ trả thù bằng cách khơi dậy, mơ đến những ham muốn nhất thời ngoài vòng. Và nay mai, nó sẽ đượ in ấn, phát hành hằng trăm ngàn ấn bản và được công khai hóa..cho bất cứ ai muốn đọc?

Phải chăng cái đó ta gọi là các sự kiện lịch sử, đến tình hình chính trị miền Nam?

Đây là một thái độ ngụy trí thức, giả đạo đức, giả nhân nghĩa mà thực sự chứa đựng một tâm địa nhỏ nhen.

Nghĩ đến thái độ và cách hành xử của ông đại úy James Văn Thạch làm tôi liên tưởng đến một vài trường hợp xin ghi ra sau đây.
Trường hợp cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Thượng sỹ Thông dịch viên Nguyễn Trung Hiếu cùng một người Mỹ tên Fred đang lo đốt những tài liệu bị loại bỏ thì Nguyễn Trung Hiếu yêu cầu đừng đốt một cuốn nhật ký.

Thế là cuốn nhật ký được Fred giữ lại. Mấy hôm sau, Hiếu tìm được phần hai của cuốn Nhật Ký. Cả hai cùng đọc và chia xẻ với người đã chết.

Và làm gì còn biên giới thù hận với người đã hy sinh, nằm xuống bên này, bên kia.

Năm 1972, Fred trở về Mỹ mang theo cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Fred trong nhiều năm trời tìm đủ mọi cách để có thể trao lại cuốn nhật ký cho gia đình Đặng Thùy Trâm.

Và cuối cùng thì Frederic Whitehurst cũng đạt được ý nguyện, trả cuốn nhật ký về tận tay gia đình mẹ của Đặng Thùy Trâm!!

Con người cao quý với tấm lòng rộng rãi bao la của Fred với một nghĩa cử cao đẹp tuyệt vời, anh đã giữ cuốn nhật ký 35 năm vốn được coi là kẻ thù địch và anh đã vượt khỏi cái ranh giới ấy để đến ngày 29-4-2005, anh chính thức viết thư cho em gái của Đăng Thùy Trâm là Đặng Kim Trâm xin gửi trả lại gia đình cuốn nhật ký ấy.

Câu chuyện của Rich

Câu chuyện thứ hai do nhà văn Uyên Thao viết lại về trường hợp một người lính Mỹ tên Rich đã bắn chết một cán binh cộng sản ngay trong tầm súng của anh ta. Và sau trận chiến, Rich đã rút được trong ví của người cán binh cộng sản một tấm hình nhỏ síu, ông ta chụp với một bé gái chừng 6 tuổi. Tấm hình ấy cứ ám ảnh Rich mãi về sau. Trong dịp ông đến viếng bức tường ghi tên 58 ngàn binh sĩ Mỹ tử trận tại Việt Nam, ông đã để lại tấm hình với lời ghi:

‘ Thưa ông,
Suốt 22 năm nay, tôi giữ hình ông ở trong ví. Hôm ấy tôi mới 18 tuổi, khi chúng ta trông thấy nhau trên con đường mòn gần Chu Lai, Việt Nam. Xin tha thứ cho tôi đã giết ông. Đã nhiều lần trong những năm qua. Tôi nhìn hình ông và người con gái tôi đoán là con ông. Mỗi lần tim tôi bừng cháy với nỗi đau tội lỗi.
Xin ông tha thứ cho tôi.

Bức thư và tấm hình lại được một người Mỹ cựu chiến binh cũng có tấm lòng tên Duery Felton- một người quản lý phòng sưu tập tại đài kỷ niệm cất giữ. Thế là cả hai quyết đi gặp nhau và cùng gửi thư cho tòa đại sứ Hà Nội tại Hoa Thạnh Đốn.. Câu chuyện kết thúc một cảnh đẹp đến rơi nước mắt khi Rich tìm gặp lạii đứa con gái trong tấm hình.. Ông quyết định bay qua Việt Nam và đích thân đặt tấm hình vảo tay cô bé. |Nay đã trưởng thành và có gia đình.

Lúc này đã là mùa xuân năm 2000 và là năm thứ 33 kể từ khi Rich nhìn thấy tấm hình.

Cao đẹp biết là bao qua ba câu chuyện tôi vừa kể. Tự nó là lời biện minh để cho những ai còn tin tưởng rằng việc giữ tập hồi ký của bà Ngô Đình Nhu là điều chính đáng.

Có một sụ thật đơn giản được nhắc đi nhắc lại đến nhàm chán. Nhưng vẫn xin nhắc lại ở đây: Cái gì của Caesar, xin hãy trả lại cho Caesar.

© Đàn Chim Việt

 danchimviet.info

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Về chuyện giàn khoan HD-981, Thượng Viện Mỹ phản đối và yêu cầu TQ rút lui khỏi HS và TS, trong khi Quốc Hội VN im lặng vì quá sợ hải Trung Cộng

Posted by hoangtran204 trên 12/07/2014

Quốc hội Nước CHXHCNVN vô can, họ không ra nghị quyết phản đối TQ, không có tuyên bố nào về Biển Đông! Họ coi chuyện TQ xâm nhập hải phận VN, khoan dầu, chiếm HS và TS là  không liên can gì tới VN!

+Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (26-6-2014): “Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

+Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (17-5-2014) tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học VN sáng 17.5 ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa”, báoThanh Niên).

+Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh: cương quyết giữ vững tình hữu nghị với Trung Quốc.

Tất cả các lời tuyên bố và hành động trên cho thấy: Đảng CSVN và Nhà nước bỏ mặc Biển Đông, HS và TS cho Trung Quốc chiếm đóng và muốn làm gì thì làm. Lý do: HCM, Lê Duẩn, đảng CSVN cùng Bộ Chính Trị và chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng đã đổi chác biển đảo để lấy vũ khí của Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam 1950-1975

“Biển của Việt Nam bị Trung Quốc xâm lăng, nhưng Quốc hội Việt Nam không ra nghị quyết đòi Trung Quốc rút dàn khoan. Trong khi báo chí VN hoan nghênh Quốc Hội Mỹ ra nghị quyết phản đối TQ.

Đúng là Đảng Cộng Sản Việt Nam bạc nhươc. Nhà cầm quyền Việt Nam bạc nhược, hèn với giặc, ác với dân. Biển đảo, biên giới đã dâng cho Tàu rồi!
Xưa nghe theo lời Tàu, CSVN đánh Mỹ “xâm lược”, nhưng thật ra gây nên cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cưỡng chiếm Miền Nam, dựng nên chế độ độc tài cho cả nước. Bây giờ mới biết ai là kẻ xâm lược, ai là tay sai của ai. Thật nhục!”

 

KỲ HỌP THỨ 7, QUỐC HỘI KHÓA XIII:

Quốc hội sẽ không ra nghị quyết về Biển Đông

Thứ Hai, 20:04  23/06/2014

(NLĐO) – Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chiều 23-6 cho biết đề nghị của một số đại biểu Quốc hội về việc Quốc hội ra nghị quyết về Biển Đông tại kỳ họp này sẽ không được thực hiện.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 23-6. Ảnh: Long Thắng
Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 23-6. Ảnh: Long Thắng

 

Trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 23-6, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho biết về đề xuất của một số đại biểu Quốc hội là cần có nghị quyết riêng của kỳ họp về tình hình Biển Đông sẽ không được thực hiện.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu giải thích ngay từ đầu kỳ họp, Quốc hội đã thảo luận, trao đổi bàn bạc rất kỹ và công khai tại hội trường về vấn đề Biển Đông. Sau đó, Quốc hội có Thông cáo số 2 tuyên bố rõ lập trường chính nghĩa của Việt Nam, nói rõ quan điểm xử lý vấn đề Biển Đông.

Trong kỳ họp này, Ủy ban đối ngoại của Quốc hội đã có công hàm gửi đến cho Quốc hội và nghị sĩ các nước, trong đó nêu rõ những yêu cầu và quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông.

“Dự kiến tại phiên bế mạc kỳ họp vào ngày 24-6, Chủ tịch Quốc hội một lần nữa sẽ nói rõ lập trường của Quốc hội Việt Nam để cử tri và đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế rõ về thái độ của Việt Nam trước vấn đề Biển Đông” – ông Uông Chu Lưu cho biết.

Trước đó, phát biểu trước Quốc hội sáng ngày 19-6, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP HCM) tha thiết đề nghị Quốc hội ban hành một nghị quyết về Biển Đông và “tha thiết đề nghị các đại biểu Quốc hội ủng hộ quan điểm của mình”.

“Nếu Quốc hội lần này không có tuyên bố nào về Biển Đông thì nhân dân sẽ rất hoang mang, còn dư luận thế giới thì sẽ băn khoăn về việc này và đặt ra câu hỏi tại sao nghị sĩ các nước lại phải lên tiếng về các vấn đề trên Biển Đông” – đại biểu Nghĩa bày tỏ.

Thế Dũng

Báo Lao Động

 

*một định nghĩa về nghị quyết của trang “baodientu.chinhphu.vn”:

“Nghị quyết là văn bản được ban hành theo quyết định của tập thể cơ quan, tổ chức.”

Nguồn:
http://baodientu.chinhphu.vn/Huong-dan-chinh-sach-phap-luat/Tham-quyen-ban-hanh-Quyet-dinh-va-Nghi-quyet/67890.vgp

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa đề nghị Quốc hội cần ra nghị quyết về biển Đông. Tuy nhiên, các đại biểu khác lại cho là chưa cần thiết.

“Phiên họp Quốc hội (QH) sáng 19-6, đại biểu (ĐB) Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) thay vì phát biểu thảo luận dự án Luật Căn cước công dân, ông dành thời gian nêu ý kiến đề nghị QH trong kỳ họp này cần phải ra một nghị quyết về biển Đông. Ông Nghĩa cho rằng cần phải có nghị quyết ấy để tuyên bố với nhân dân Trung Quốc (TQ) và nhân dân thế giới lập trường chính nghĩa của Việt Nam, lên án hành vi sai trái của TQ trên biển Đông, vạch trần âm mưu “vừa đấm vừa xoa”, “vừa đánh vừa đàm”… của TQ.”

Nguồn  http://plo.vn/thoi-su/quoc-hoi-can-ra-nghi-quyet-rieng-ve-bien-dong-476851.html

Bản tin trên được đăng vào ngày 20.6.2014 (Nguyễn Jung)

Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị quyết về Biển Đông

Ngày 10/7, với toàn bộ phiếu thuận, Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua Nghị quyết mang mã số S.RES.412 về Biển Đông yêu cầu Trung Quốc quay lại nguyên trạng trước ngày 1/5/2014.

Theo phóng viên TTXVN tại Washington, Nghị quyết S.RES.412 được một số thượng nghị sỹ có ảnh hưởng bảo trợ như Chủ tịch thường trực Thượng viện Patrick Leahy; Thượng nghị sỹ John McCain; Thượng nghị sỹ Robert Menendez; Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Thượng viện Benjamin Cardin; Thượng nghị sỹ James Risch; Thượng nghị sỹ Marco Rubio; Thượng nghị sỹ Dianne Feinstein và Thượng nghị sỹ John Cronyn.

Nghị quyết khẳng định sự ủng hộ của chính phủ Mỹ đối với quyền tự do hàng hải, sử dụng các vùng biển và không phận ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương theo đúng quy định của luật pháp quốc tế.

Nghị quyết nêu rõ mặc dù không phải là một bên có yêu sách ở Biển Đông nhưng Mỹ là một cường quốc châu Á-Thái Bình Dương, có lợi ích quốc gia trong việc khuyến khích và ủng hộ các quốc gia trong khu vực hợp tác với nhau để giải quyết các tranh chấp bằng con đường ngoại giao và hòa bình; phản đối việc cưỡng bức, hù dọa, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.

Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng sống còn của tuyến hàng hải qua Biển Đông, cho rằng việc gia tăng các hoạt động tuần tra và đưa ra các quy định đối với các vùng biển và không phận có tranh chấp ở Biển Đông đang làm gia tăng căng thẳng cũng như nguy cơ đối đầu.

Nghị quyết S.RES.412 liệt kê một loạt hành động của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

Cụ thể, ngày 1/5 vừa qua, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC), với sự tháp tùng của hơn 25 tàu, đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) tại lô 143, cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý.

Sau đó, Trung Quốc điều động thêm hơn 80 tàu, trong đó có 7 tàu quân sự, và sử dụng máy bay trực thăng, vòi rồng để ngăn chặn hoặc có những hành động đe dọa, nhiều lần cố tình đâm húc tàu của Việt Nam. Trung Quốc cũng thiết lập vùng bất khả xâm phạm xung quanh giàn khoan Hải Dương-981…

Nghị quyết cho rằng các yêu sách lãnh thổ và hành động trên đây của Trung Quốc là không thể biện minh theo luật pháp quốc tế như đã được nêu rõ trong UNCLOS và là một hành động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã ký với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2002.

Nghị quyết cũng lên án việc cưỡng chế, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực gây cản trở các hoạt động hàng hải, hối thúc chính phủ Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 cùng các lực lượng ra khỏi các vị trí hiện nay, ngay lập tức trả mọi việc trở về nguyên trạng trước ngày 1/5/2014.

Liên quan đến căng thẳng ở biển Hoa Đông, Nghị quyết S.RES.412 chỉ trích việc Trung Quốc đơn phương áp đặt Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở vùng biển này từ ngày 23/11/2013, coi đây là hành động vi phạm công ước về hàng không dân dụng, gây căng thẳng quan hệ với các nước trong khu vực như Nhật Bản và Hàn Quốc./.

Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị quyết về Biển Đông (VietnamPlus)

Thượng viện Mỹ thông qua nghị quyết về biển Đông,Thời 

Việt Nam hoan nghênh Thượng viện Mỹ yêu cầu TQ rút 

 

——-

Nhường vấn đề tranh chấp biển Đông cho… Mỹ

11-7-2014

Theo FB Mạnh Kim

Mạnh Kim (Hà Nội)

Việc Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết “S.Res.412” ngày 10-7-2014, xảy ra trong bối cảnh Ngoại trưởng John Kerry vừa đến Bắc Kinh dự cuộc họp Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Hoa Kỳ-Trung Quốc, là bằng chứng nữa cho thấy mức độ rắn tăng dần của Mỹ đối với Trung Quốc. Cần nói rõ, “S.Res.412” là nghị quyết được đưa ra trình Thượng viện ngày 7-4-2014 và nó được soạn trên tinh thần nhấn mạnh sự ủng hộ của Chính phủ Mỹ về tự do hàng hải cũng như việc tuân thủ luật pháp quốc tế về việc sử dụng vùng biển và không gian tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chứ chẳng phải “chờ” đến sự kiện giàn khoan HD-981 (1-5-2014) mới bắt đầu được soạn, dù rằng nội dung “S.Res.412” đã được điều chỉnh vào ngày 20-5-2014 trong đó có cập nhật sự kiện giàn khoan. Nói vậy để thấy nhân tố Trung Quốc đã làm nóng nghị trường Mỹ lâu nay rồi, bất chấp có sự kiện giàn khoan hay không. Diễn giải rằng Thượng viện Mỹ “ủng hộ Việt Nam” bằng “S.Res.412” là không đúng. Mỹ chẳng việc gì “ủng hộ Việt Nam” cả khi Việt Nam không hề có vẻ gì cần đến Mỹ!

 

“S.Res.412” chỉ là một bước tiếp theo trong tiến trình Mỹ “đánh” Trung Quốc bằng ngoại giao. Đó là một thể hiện nữa của cuộc so găng tranh giành vị thế khu vực giữa hai anh lớn Mỹ-Trung. Các động thái leo thang ào ạt bằng chiến lược đánh chiếm cực nhanh khiến khu vực lẫn Mỹ không kịp thở của Trung Quốc đã buộc Washington phải đạp ga tăng tốc. Diễn biến từ đầu năm đến nay, về việc Mỹ liên tiếp cáo buộc Trung Quốc bằng ngôn ngữ dứt khoát hơn, đã cho thấy điều đó. Nói cách khác, làm gì thì làm, Mỹ không thể bỏ châu Á-Thái Bình Dương cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, nhiều nước khu vực, nắm được tâm lý này, đã lợi dụng chính sách trên của Mỹ để đẩy một phần chính sách đối ngoại của quốc gia mình, đặc biệt vấn đề tranh chấp biển Đông, cho… Mỹ! Chẳng việc gì phải nghiêng hẳn về phía Mỹ cho rách việc! Trước sau gì Mỹ nóng ruột quá thì cũng nhào vô! Lối hành xử như vậy thật ra chỉ giúp “mua thời gian” trong ngắn hạn thôi. Đến lúc “quỹ thời gian” cạn rồi thì làm gì? Cần phải nhấn mạnh rằng, chính sự không dứt khoát của nhiều nước khu vực đã khiến Trung Quốc có quá nhiều thuận lợi để thực hiện chính sách bành trướng. Nước Mỹ đã báo động lâu rồi, từ khi Obama mới lên ghế tổng thống kìa, nhưng sự phản hồi từ nhận thức mối đe dọa Trung Quốc mà Mỹ nhận được của khu vực là quá ít. Trong khi đó, chính sách Obama là quá rõ: chỉ chơi với những tay có thái độ rõ ràng, như Myanmar hoặc Philippines. Gút lại, Mỹ không thể và không bao giờ bỏ châu Á. Họ đang cần sự ủng hộ khu vực để làm được điều đó. Một liên minh chống Trung Quốc đang hình thành. Thậm chí Washington còn có thể đang mượn tay Nhật để móc cả Bắc Triều Tiên về phía mình. Một khi liên minh đó trở nên gắn kết rộng và sâu hơn, Mỹ sẽ chẳng còn cần những anh trước nay chỉ đứng vòng ngoài dòm ngó xem tình hình thế nào. Lúc đó, cần Mỹ thì đã muộn, hoặc phải trả bằng cái giá khác hơn bây giờ!

 

“Thay vì “phản đối nghiêm khắc” trước các nghị quyết của Quốc hội Mỹ như mọi lần, lần này, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Việt Nam lại “hoan nghênh”!   http://vietnamnet.vn/…/hoan-nghenh-nghi-quyet-thuong…

Summary: S.Res.412 — 113th Congress (2013-2014)

Shown Here:
Reported to Senate amended (05/20/2014)

States that the Senate: (1) condemns coercive actions or the use of force to impede freedom of operations in international airspace to alter the status quo or to destabilize the Asia-Pacific region; (2) urges China to refrain from implementing the declared East China Sea Air Defense Identification Zone and to refrain from taking similar provocative actions elsewhere in the Asia-Pacific region; (3) commends Japan and the Republic of Korea for their restraint; and (4) calls on China to withdraw its HD-981 drilling rig and associated maritime forces from their current positions, refrain from maritime maneuvers contrary to the Convention on the International Regulations for Preventing Collisions at Sea, and return to the status quo as it existed before May 1, 2014.

Sets forth U.S. policy regarding: (1) supporting allies and partners in the Asia-Pacific region; (2) opposing claims that impinge on the rights, freedoms, and lawful use of the sea; (3) managing disputes without intimidation or force; (4) supporting development of regional institutions to build cooperation and reinforce the role of international law; and (5) assuring continuity of operations by the United States in the Asia-Pacific region.

https://beta.congress.gov/bill/113th-congress/senate-resolution/412

—————————–

Trương Tấn Sang:( 26-6-2014) “Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

Phó Thủ Tuớng Vũ Đức Đam: Trước đó, tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học VN sáng 17-5-2014 ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa”, báoThanh Niên). 

Việt Nam-Trung Quốc: Ai vay nợ và ai phải trả

 
QLB

Song Chi – Trong buổi tiếp xúc với cử tri tại TP.HCM ngày 26 tháng 6, ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có những câu phát biểu được báo chí trích dẫn, về vấn đề mà người dân quan tâm nhất hiện nay là tình hình biển Đông và mối quan hệ với Trung Quốc. 

Chỉ cần đọc/nghe qua những phát biểu này của một trong bốn nhân vật đứng đầu bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, người ta cũng có thể nhận ra quá nhiều điều không ổn trong quan điểm, tư duy, não trạng của các lãnh đạo VN. Từ đó dẫn đến cách hành xử lúng túng, bị động, bạc nhược của họ trước Bắc Kinh bao lâu nay. 

Chẳng hạn, khi nói về công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, “Chủ tịch Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “Ông Phạm Văn Đồng (cố thủ tướng) có bao giờ nói Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc đâu, đã đăng công khai trên mạng hết rồi…” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

Đây là lập luận chống chế quen thuộc của nhà cầm quyền VN sau khi vụ công hàm của Phạm Văn Đồng bị công khai trước nhân dân VN và quốc tế. Về việc này, Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn viết trên facebook: 

Ông Phạm Văn Đồng không nói HS-TS là của Tàu?

…Đúng là công hàm PVĐ không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Nhưng ông tán thành tuyên bố của Tàu rằng HS-TS là của Tàu. Trong công hàm đó câu đầu tiên viết rằng:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc”.

Vậy thì Tuyên bố 4/9/1958 của Tàu là gì? Trên mạng vẫn còn lưu hành bản tiếng Hoa và một bản dịch tuyên bố 4/9/1958. Tuyên bố có đoạn viết:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Như vậy trong Tuyên bố trên Tàu cộng họ nói rõ rằng HS-TS là của họ (hay theo cách gọi Tây Sa-Nam Sa của Tàu). Chính phủ VNDCCH tôn trọng và tán thành Tuyên bố đó thì cũng có nghĩa là tán thành và công nhận HS-TS là của Tàu rồi. Khó nói cách khác được.”

(nguồn: facebook Nguyen Tuan) 

Không chỉ các ông lãnh đạo mà nhiều người dân, nhất là đám dư luận viên trên mạng cũng lập luận tương tự để “chạy tội” cho cái công hàm tai hại, nhưng phải thấy rằng trước quốc tế mà cứ cố cãi như thế này thì không thể thắng được Trung Cộng về lý. 

Nói về quan hệ VN-Trung Quốc: “Trước việc Trung Quốc lấy cớ từng giúp Việt Nam trong quá khứ để gây hấn ở biển Đông, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định, Việt Nam mang ơn thì có cách trả ơn, chứ Trung Quốc không được áp đặt.” (“VN mang ơn thì sẽ trả, nhưng Trung Quốc không được áp đặt”, Dân Trí). 

Bao lâu nay, phía Trung Cộng tất nhiên là thường xuyên nhắc đi nhắc lại việc đã từng giúp đỡ Bắc Việt “đánh Pháp đuổi Mỹ”, lấy đó làm cớ để mắng mỏ VN vô ơn mỗi khi quan hệ giữa hai đảng cộng sản trở nên xấu đi. 

Nhưng không chỉ Trung Cộng, từ các thế hệ lãnh đạo cho tới nhiều tướng tá, quan chức khác nhau của đảng cộng sản VN cũng liên tục nhắc nhở… chính họ và người dân VN, phải biết ơn Trung Quốc.

Người dân VN hoàn toàn có quyền hỏi lại đảng và nhà nước cộng sản rằng hãy nói rõ ràng và sòng phẳng một lần, ai nợ ai. 

Chỉ có đảng cộng sản VN nợ đảng cộng sản Trung Quốc để có đủ sức tiến hành hai cuộc chiến, trong đó cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc. Đối với đa số người VN, đó là một cuộc chiến không mong muốn, vậy tại sao người dân VN phải mang nợ Trung Quốc. 

Những thông tin, tư liệu được bạch hóa phần nào trong những năm qua đã nói lên tính chất phi lý, vô nghĩa, cái giá quá đắt phải trả cũng như những hệ lụy nặng nề cho đất nước, dân tộc VN từ việc đảng cộng sản chấp nhận sự viện trợ từ Trung Cộng để đổi lấy việc tiến chiếm miền Nam, thống nhất đất nước nhưng lại bị lệ thuộc lâu dài vào Bắc Kinh về mọi mặt. 

Và họ đã phải trả món nợ này không chỉ bằng hàng núi xương máu của nhân dân mà cả tài nguyên, những sự ưu tiên trong lĩnh vực kinh tế cho tới một phần lãnh thổ lãnh hải. 

Những thông tin, tư liệu đó cũng cho thấy cuộc chiến chống Mỹ của Bắc Việt thật ra có lợi cho chính Trung Cộng như thế nào, đảng cộng sản Trung Quốc lẽ ra phải cảm ơn sự mù quáng của đảng cộng sản VN thì đúng hơn. 

Nhưng đó là quan hệ mắc mứu giữa hai đảng, nhân dân VN chả dự phần gì vào để mà cứ phải mang ơn, biết ơn. 

Về phía những người cộng sản, chính cái tâm lý mắc nợ, mang ơn này đã khiến họ luôn luôn ở vào thế yếu khi phải đương đầu với Trung Cộng để bảo vệ độc lập chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ. 

Tự trói buộc mình vào sự tương đồng về mặt ý thức hệ, mặc dù ai cũng rõ cho đến thời điểm này thì cả Trung Quốc lẫn VN đều không còn là hai đảng cộng sản đúng nghĩa và cũng chả bên nào còn thực lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, lý thuyết Marxism-Leninism nữa. 

Tiếp đến tự trói buộc mình vào mối ân oán nợ nần, quan hệ 4 tốt 16 chữ vàng giữa hai đảng cộng sản, trong khi trên thực tế, Bắc Kinh từ lâu đã không coi mối quan hệ hai bên ra cái gì. Và bây giờ, là lần thứ hàng trăm hàng ngàn, Trung Cộng đang công khai xâm lược VN, thách thức, lăng nhục nhà cầm quyền VN. 

Chừng nào các lãnh đạo, quan chức cộng sản ở VN tự mình rũ bỏ được cái tâm lý mắc nợ ấy trong mối quan hệ với Bắc Kinh thì họ mới có đủ sáng suốt và sức mạnh để đi cùng một con đường với nhân dân và với thời đại: Thoát Cộng, thoát Trung, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cương quyết giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trông chờ ở nhà cầm quyền VN điều đó thì khác nào hái sao trên trời! 

Cuối cùng, trong các phát biểu của ông Chủ tịch nước, có một ý sau nói về việc bảo vệ chủ quyền: 

Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

Trước đó, tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học VN sáng 17.5 ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa”, báoThanh Niên). 

Và nếu chú ý tìm kiếm thêm thì chúng ta sẽ thấy không chỉ có hai nhân vật trên phát biểu những ý tương tự. 

Nghe thì có vẻ quyết tâm, đầy xúc động (!) nhưng thật ra nói như vậy có nghĩa là các ông giương cờ trắng, chào thua giặc trước rồi và ủy thác việc đòi lại Hoàng Sa cũng như bảo vệ chủ quyền cho…con cháu. 

Các ông không sợ người dân rồi con cháu sau này và cả lịch sử nguyền rủa muôn đời vì đã vay mượn các nước để tiêu xài cho đã đời này, mặt khác, tài nguyên đất nước, đất đai, biển, đảo… có bao nhiêu khai thác sạch, cho thuê hay bán sạch để ăn ngay đời này, còn nợ công cho tới việc đòi lại lãnh thổ lãnh hải thì để cho con cháu gánh, hay sao? 

Chỉ qua một buổi nói chuyện của một trong Tứ trụ triều đình của VN mà đã bộc lộ bao nhiêu vấn đề trong quan điểm, tư duy của các lãnh đạo VN, chả trách gì tình hình cứ ngày càng bi đát, tuyệt vọng. 

VN có thể mất nước đến nơi mà nhà cầm quyền vẫn chưa tìm ra, và cũng không thực tâm muốn tìm, con đường để thoát khỏi Trung Cộng, bảo vệ được độc lập chủ quyền, giang sơn gấm vóc của non sông.

Nguồn: FB Song Chi

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Tòa phúc thẩm: Vụ 5 công an đánh chết người: “hủy án sơ thẩm điều tra lại”

Posted by hoangtran204 trên 11/07/2014

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

5 công an dùng nhục hình đánh chết anh Ngô Thanh Kiều trước tòa. Báo Pháp LuậtPhiên phúc thẩm 5 công an dùng nhục hình đánh chết công dân Ngô Thanh Kiều tại trụ sở Công an thành phố Tuy Hòa kết thúc sau gần ba buổi làm việc. Đến hai giờ chiều ngày 9 tháng 7, hội đồng xử án ra phán quyết được phía gia đình bị hại và luật sư hài lòng.

Phản ứng hài lòng

Hội đồng xét xử phiên phúc thẩm 5 công an tại Phú Yên dùng nhục hình đánh chết nạn nhân Ngô Thanh Kiều hồi trung tuần tháng 5 năm 2012 vào ngày 9 tháng 7 tuyên hủy án sơ thẩm điều tra lại từ đầu.

Đây là kết quả mà gia đình nạn nhân cũng như luật sư cảm thấy thỏa đáng và theo đúng chỉ đạo của chủ tịch nước Trương Tấn Sang sau khi diễn ra phiên sơ thẩm hồi cuối tháng ba và đầu tháng tư vừa rồi.

Chị Trần thị Tâm, vợ của nạn nhân Ngô Thanh Kiều cho biết ý kiến sau khi có kết quả của phiên tòa phúc thẩm trong hai ngày 8 và 9 tháng 7:

Tòa nghị án là điều tra lại từ đầu vì tòa sơ thẩm vừa rồi xử không khách quan và có những tình tiết chưa làm rõ. Gia đình mong hủy để điểu tra ai là người đánh dập nội tạng. Chứ vừa rồi 4 bị cáo kia không chấp nhận đánh vào bụng, làm dập nội tạng, chấn thương phần mềm. Họ nói chỉ đánh vào chân thôi, còn trên đầu cũng không ai nhận hết.

Chỉ mong họ chuyển tội thành tội giết người và bắt người trái pháp luật. Vì tôi nghĩ tòa không bao giờ khởi tối ông Lê Đức Hoàn về tội bắt người trái pháp luật mà chỉ là tội ‘gây hậu quả thôi’.

Giờ mình chờ người ta hủy và xét xử lại như thế nào thôi.

Ông Lê Đức Hoàn là thượng tá phó công an thành phố Tuy Hòa, trưởng ban chuyên án vụ dẫn đến cái chết của nạn nhân Ngô Thanh Kiều, và đây là lần đầu tiên ông này xuất hiện tại tòa.

Chị Trần thị Tâm, vợ của nạn nhân Ngô Thanh Kiều và 2 con tại tòa (Tuoitre online)

Theo đề nghị của luật sư bào chữa cho bị hại thì phải khởi tố ông thượng tá Lê Đức Hoàn, phó công an thành phố Tuy Hòa 3 tội danh ‘bắt giữ người trái pháp luật, giết người và gây hậu quả nghiêm trọng’

Tuy nhiên tại tòa tất cả những điều liên quan đến việc ông này ra lệnh bắt giữ và có mặt trong thời gian làm việc đối với nạn nhân bị công an dùng nhục hình đánh chết đều bị ông này chối bỏ.

Luật sư Võ An Đôn, bào chữa cho bị hại, nói về điều đó:

Tòa hỏi ít thôi, chỉ hỏi về trách nhiệm và tại tòa ông này chối hết. Trong hồ sơ vụ án, bản thân ông cũng như trong quá trình điều tra vụ án, các bị cáo và nhân chứng đều khai rằng ông là người ra lệnh bắt bị hại Ngô Thanh Kiều (mà) không có lệnh, rồi việc các bị cáo dùng dùi cui đánh chết bị hại, ông thường xuyên ra vào phòng hỏi cung, ông biết và thấy hết. Thế nhưng tại tòa, ông chối hết không nhận hành vi nào.

Sau khi hội đồng xét xử tuyên bố kết quả phiên phúc thẩm, luật sư Võ An Đôn, cũng bài tỏ hài lòng về quyết định của hội đồng xét xử nhưng với sự dè dặt:

Hôm nay tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại và xét xử lại từ đầu rất là đúng pháp luật. Vì trong vụ án này , giai đoạn điều tra và bản án sơ thẩm sai qui định pháp luật và không khách quan. Nên việc hủy bản án sơ thẩm là đúng nguyện vọng của tôi cũng như của quần chúng nhân dân. Tôi hài lòng vì đúng với luật pháp và sự chỉ đạo của chủ tịch nước nhưng sắp đến đây sẽ ra sao thì tôi chưa biết được!

Ông Lê Đức Hoàn cho rằng mình không biết cấp dưới dùng nhục hình với Ngô Thanh Kiều (nld.com.vn)

Bản án sơ thẩm cho năm bị cáo từng là công an sử dụng nhục hình gây ra cái chết cho bị hại Ngô Thanh Kiều là Nguyễn Thân Thành Thảo 5 năm tù giam, Nguyễn Minh Quyền 2 năm, Phạm Ngọc Mẫn 1 năm 6 tháng tù giam. Hai người được hưởng án treo là Đỗ Như Huy và Nguyễn Tấn Quang.

Cả gia đình nạn nhân và các bị cáo đều kháng án đối với các mức án sơ thẩm như vừ nêu.

Luật sư bị ngăn cản

Tại phiên phúc thẩm trong hai ngày 8 và 9 tháng 7 vừa qua, luật sư Võ An Đôn, người bào chữa cho nạn nhân Ngô Thanh Kiều trong phiên sơ thẩm và cả trong phiên phúc thẩm cho biết những tồn tại của phiên xử:

Tôi đưa ra 6 vấn đề nhưng điều bất thường nhất của phiên tòa là chủ tọa phiên tòa thường xuyên khủng bố luật sư và bên bị hại. Họ nói nếu luật sư của bên bị hại mà nói những vấn đề gì nhạy cảm hoặc đi sâu vào vụ án thì chủ tọa hăm sẽ cho lực lượng công an bắt giữ hoặc đuổi ra tòa. Thường khi nói những chuyện nhạy cảm thì bị tắt micro không lên loa được.

Dù bị hăm dọa ngay tại tòa cũng như áp lực từ nhiều phía khi tham gia bào chữa cho bị hại Ngô Thanh Kiều, luật sư Võ An Đôn cho biết ông vẫn tiếp tục theo đuổi vụ án này:

Càng ngày thấy áp lực càng lớn, ai cũng e ngại cho tôi; nhưng tôi vẫn làm vì mình làm được điều tốt, điều đúng. Nếu có mệnh hệ gì thì mình cũng hạnh phúc thôi, không có sao hết!

Tình trạng công an lộng hành

Việc xét xử 5 công an tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên cũng như hình phạt đối với những công an từng gây ra cái chết cho người dân khi họ làm việc, dường như không được nhiều đồng nghiệp của họ ở những nơi khác chú ý đến.

Đơn cử gần đây lại có tin những vụ công an đánh người ngay giữa ban ngày trên đường phố như ở thành phố Hồ Chí Minh và tại Thanh Hóa.

Vào ngày 8 tháng 7, một công an viên thôn Xuân Hòa, xã Phú Xuân, huyện Krong Nang, tỉnh Dak Lak, ông Lê Viết Hùng, được chính phó thủ trưởng cơ quan điều tra của tỉnh này xác nhận đã bị bắt khẩn cấp.

Công an viên này cùng một số nhân viên tự quản trong thôn bắt giữ một người bị tình nghi trộm cắp tài sản vào tối 3 tháng 7, đưa về hội trường thôn làm việc. Ngày hôm sau, vợ nạn nhân lên hội trường thì thấy chồng nằm bất động dưới đất, mặt mày tím tái, miệng mũi trào ra máu. Khi đưa nạn nhân đến Bệnh Viện Đa khoa tỉnh Dak Lak thì các bác sĩ kết luận nạn nhân bị chấn thương sọ não. Gia đình đưa nạn nhân xuống Bệnh Viện Chợ Rẫy để cứu chữa nhưng đã chết trên đường đi.

Một số thân nhân của những gia đình có người thân chết một cách bất minh khi bị làm việc với công an và bạn hữu của họ hình thành một nhóm kêu gọi công an phải ngưng ngay hành động giết chết công dân như thế.

Truyền thông và dư luận cùng lên tiếng, thế nhưng dường như các tiếng nói như thế vẫn chưa cảnh tỉnh được nhiều người đang được trao phó trách nhiệm thi hành công vụ. Và hành xử của họ vẫn nặng tay một cách không thương tiếc đối với người dân, dẫn đến những cái chết oan uổng bởi công lý không được thực thi một cách công tâm.

 

———–

Bài liên quan

Rùng mình chuyện 5 công an Tuy Hòa đánh anh Ngô Thanh Kiều dã man đến chết

http://www.hennhausaigon2015.com/2014/03/30/44693/

 

Posted in Công An | Leave a Comment »

►Chiến tranh Việt Nam: Sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân

Posted by hoangtran204 trên 11/07/2014

Sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân

 

Tác giả: Dương Thu Hương

4/7/2014

Vốn thích nhạc không lời nhưng đôi khi tôi vẫn nhớ về một câu hát cũ, “Anh ở đầu sông, em cuối sông. Chung nhau dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Lãng mạn sao, những cặp tình nhân cùng uống chung một dòng nước. Và hạnh phúc thay những kẻ có thể sống cả đời bên một con sông êm đềm, qua những mùa lúa chín không tiếng súng, những trưa hè có thể nép mình dưới bóng các rặng cây. Nhưng đó là chuyện cổ tích.

Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, cự bất khả tri không chỉ xẩy ra giữa hai nền văn hoá Đông-Tây mà còn xẩy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một dòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới… Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu.

Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.”

Đây là kinh nghiệm của chính tôi.

Năm 1994, tôi sang Pháp lần đầu, được một nhóm “Việt kiều yêu nước” đón tiếp. Có lẽ tên ấy được đặt ra khi nhóm này tham gia vào phong trào chống chiến tranh và người cầm đầu nhóm ấy đã từng là phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ trong các hội nghị đàm phán hưu chiến ở Paris. Khoảng năm 1990, cũng nhóm này đứng lên lấy chữ ký của Việt kiều trí thức ở Mỹ, Đức, Úc và Pháp trong bản kiến nghị yêu cầu nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam mở rộng dân chủ. Sau bản kiến nghị ấy, họ bị cấm về nước một thời gian khá dài, thậm chí còn bị gọi là “các phần tử phản động”.

Như thế, phải hiểu là giữa nhóm Việt kiều này với tôi có chung mục đích tranh đấu cho quyền sống của người dân Việt Nam. Có lẽ cũng vì lý do ấy, họ đón tôi, ít nhất đấy là điều tôi nghĩ. Cuộc đón tiếp diễn ra nồng nhiệt, dường như mang mầu sắc bạn hữu. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, tôi nhận thấy giữa họ với tôi có rất nhiều điểm bất đồng, đặc biệt là sự nhìn nhận về cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Tôi tự nhủ, “Người ta sống trên đời, thường tụ thành bè, còn bạn là thứ quý hiếm, nó còn quý hiếm hơn tình yêu vì không có bệ đỡ tình dục. Tình bạn đòi hỏi một sự cảm thông sâu sắc, những phẩm chất tương đồng, và cơ duyên để có thể cùng nhìn về một hướng, cùng đi theo một ngả. Vì lẽ đó, tình bạn không thể có được một cách dễ dãi. Không có thứ tình cảm nào không cần thử thách, cho dù là tình yêu, tình bạn hay tình đồng đội, tất thảy đều cần phải nung qua lửa mới biết vàng thau”.

Nghĩ thế, tôi chọn thái độ im lặng, lảng tránh các cuộc tranh cãi, vì nếu không là bạn, hà tất phí nước bọt để đôi co?

Tôi biết rõ rằng, đối với nhóm Việt kiều này cuộc chiến tranh chống Mỹ là cần thiết, là niềm kiêu hãnh, là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn nhất trong lịch sử, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất, tàn khốc nhất đã xảy ra trong một tình thế đen trắng lẫn lộn, các khái niệm bị đánh tráo, kẻ tham gia cuộc chiến ở phía Bắc nhầm lẫn do trói buộc bởi ngôn từ, kẻ tham chiến ở phương Nam bị cuốn vào dòng chảy của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cả hai bên đều bị đặt vào thế đã rồi.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là bài học đau đớn nhất, nhục nhã nhất cho dân tộc Việt Nam, mà kẻ chịu trách nhiệm không chỉ là người Mỹ mà còn là chính những người lãnh đạo cộng sản phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh ấy, dân tộc Việt tự biến mình thành vật đệm giữa hai toa tầu, là đám lính đánh thuê cho hai hệ thống tư tưởng trái chiều đang tiến hành cuộc chiến tranh Lạnh. Trong suốt một thập kỷ, nước Việt Nam đã thực sự biến thành cái cối xay thịt khổng lồ nhất trong lịch sử của toàn thể loài người. Vì lẽ ấy, theo tôi, cả người thắng lẫn người thua phải biết sám hối, và nếu muốn lật trang cho lịch sử đất nước, trước hết kẻ thắng phải biết câm mồm lại đừng huyênh hoang nữa; còn kẻ thua cũng phải biết câm mồm lại, thôi chửi rủa, cả hai phía không nên tiếp tục đào bới cái thây ma lên mà ngửi. Nếu không đủ can đảm nhìn nhận vấn đề như nó vốn thế, họ chỉ còn là đám thú rừng bị lọt xuống một cái bẫy của lịch sử và không bao giờ có thể nhẩy lên khỏi hố sâu.

Năm 2005, tôi trở lại Pháp.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” chủ động mời tôi đến ăn cơm tối với họ để trao đổi tình hình. Tôi nhận lời. Bữa cơm ấy diễn ra ở một quán ăn thuộc quận 13. Trước khi đến Paris, tôi đã ở Turin (Ý) một tuần. Trong tuần lễ đó, khá nhiều báo Ý đã phỏng vấn tôi và đã đăng bài tức khắc. Một trong số các bài báo ấy, có đề tựa “Mười triệu người chết trong cuộc chiến Việt Nam”.

Trong các cuộc phỏng vấn tại Turin, tôi đã kể lại hai điều:

– Thứ nhất, khi làm người viết thuê cho các ông tướng, tôi được nghe họ nói với nhau: Chúng ta chỉ công bố con số thật sự khi người Mỹ bồi thường chiến tranh. Như thế, con số phía Mỹ đưa ra (khoảng 5 triệu tử vong) lẫn con số chính quyền Việt Nam đưa ra (hai triệu rưỡi) đều là số sai sự thật.

– Thứ hai, chỉ khi đến Turin tôi mới biết lính các nước chết ra sao và nhờ có sự so sánh ấy, tôi mới biết thân phận người lính và người dân Việt Nam đau khổ đến mức nào. Năm 2005, cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Iraq. Báo mỗi ngày đều đăng tin bao nhiêu lính Mỹ, bao nhiêu lính Iraq tử vong. Nếu con số đó chạm tới năm chục đã khiến các nhà báo làm rộn lên, chất vấn tổng thống. Khi số tử vong chạm đến số 100 thì sự căng thẳng trong chính trường đã khiến Nhà Trắng điên đầu. Trong chiến tranh Việt-Mỹ, mỗi lần B52 bay qua, chỉ hai ba phút, dân thường, thanh niên xung phong chết hai trăm, ba bốn trăm, thậm chí nơi đông hơn sáu trăm người nhưng không có một dòng trên báo, không một câu trên đài phát thanh. Không ai hay biết, kể cả người Việt lẫn người nước ngoài.

Tôi nói với các nhà báo Ý:

“Tới tận năm nay, gần sáu mươi tuổi tôi mới thấm thía sự khác biệt giữa kiếp người. Nhờ đọc báo phương Tây, tôi mới biết là người Mỹ và người Iraq chết như người, chết theo kiểu người. Chúng tôi, những người Việt Nam, chúng tôi chết như kiến, chúng tôi chết như ruồi, chúng tôi chết như lá khô rụng, cái chết của chúng tôi hoà lẫn bùn đen, và tan trong câm lặng.”

Vì ở Turin có những Việt kiều liên hệ chặt chẽ với nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris và gửi báo cho họ nên trong bữa cơm tối hôm ấy, tôi bắt buộc phải bàn cãi với họ về chủ đề chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi đã thuật lại cho họ nghe sự tổn thất to lớn của dân tộc khi những người lãnh đạo mắc chứng vĩ cuồng. Rất nhiều trận xảy ra khi lực lượng trinh sát thăm dò địa hình địa vật không kỹ, bộ phận hậu cần chuẩn bị khí tài chưa đủ nhưng cấp chỉ huy ham lập thành tích nên cứ đẩy lính ra chiến trường, kết quả là đại bại. Trong khi ở chiến trường xác lính chết ngập suối, nước không chảy được, chim cắt chim kền kền ăn thịt no đến mức không bay lên nổi, lệnh ở Hà Nội vẫn tiếp tục giục tấn công. May mắn là còn có những vị tướng biết thương dân, thương lính, khóc đỏ mắt, quyết định rút quân và làm báo cáo giả để gỡ tội.

Hồi ấy, tổng tư lệnh của cuộc chiến là Lê Duẩn, đã đưa ra khẩu hiệu:

“Dân tộc chúng ta là dân tộc anh hùng, chỉ có thắng không có thua.

Quân đội chúng ta là quân đội anh hùng, chỉ có tiến không có lùi.”

Điều đó có nghĩa: Chỉ tiến công, không phòng thủ!

Xưa nay, trong lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc, bao giờ chúng ta cũng lùi về rừng núi để chờ thời gian mài mòn lòng kiêu ngạo lẫn ý chí quân địch, cũng là để khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt quật ngã chúng, cũng là để củng cố quân đội rồi chờ thời cơ thuận lợi mới huy động binh lính và dân chúng tổng tấn công. Khẩu hiệu của ông Lê Duẩn đưa ra là một sự sáng tạo thuần tuý, một ý thơ bay bổng, xuất phát từ tham vọng và lòng kiêu mạn cộng sản. Nhưng thơ phú là thứ chỉ để ngâm ngợi khi gió mát trăng thanh, thơ mà trà trộn với chiến tranh nó biến thành núi xương sông máu.

Đám tướng lĩnh không dám tuyên bố thẳng thừng, nhưng đều hiểu ngầm rằng lãnh tụ của họ là một kẻ vĩ cuồng.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris nghe tôi nói xong thì hai nhân vật chủ chốt phản ứng dữ dội. Ông X bảo:

– Mục tiêu biện minh cho phương pháp. Muốn thắng cuộc trong chiến tranh thì phải chấp nhận tất cả.

Ông Y phản ứng với con số Mười triệu:

– Con số đó không thật. Ở nước Pháp chúng tôi có các biện pháp khoa học về dân số để chứng mình là con số ấy sai. Làm sao chị có thể nghe theo mấy thằng tướng ngu ấy được?

Tôi im lặng không đáp. Nhưng hôm sau, tôi có nhờ ông Phan Huy Đường, lúc đó còn dịch sách của tôi, nói lại với ông Y:

– Nhờ Đường nói với ông bạn của Đường là về Việt Nam chớ mở mồm mà bảo mấy ông tướng là ngu. Bởi vì, rất nhiều hạ sĩ quan thời đó (trung uý, đại uý, thiếu tá…) biết rõ rằng sinh mạng họ được bảo tồn là nhờ những ông tướng thực sự thương lính và không ham thành tích như tướng Vũ Lăng. Bây giờ, nếu không giải ngũ họ cũng đã leo lên đại tá hoặc thiếu tướng. Nếu ông Y mở mồm bảo tướng của họ là thằng ngu hẳn họ sẽ cho một báng súng vào đầu, hiền hoà nhất họ cũng khạc vào mặt.

Đấy là phản ứng duy nhất của tôi. Trong thâm tâm, tôi quyết định chia tay.

Tôi nghĩ, đám người này cần cuộc chiến tranh chống Mỹ như người đàn bà cần son phấn. Giữa họ với ta chẳng còn điều gì đáng nói. Một cuộc chia tay vĩnh viễn là điều hợp lý hơn cả. Không cần kiệt xuất thông minh, chỉ cần chịu khó quan sát sẽ thấy ngay rằng cộng đồng người Việt ở nước Pháp là một cộng đồng không bản sắc, sống co cụm, một bầy thỏ ngoan ngoãn đối với chính quyền. Họ không gây ra các vụ lộn xộn như người da đen và người Arab theo đạo Hồi, nhưng họ cũng chẳng có tiếng nói, chẳng có một gương mặt nào trên các diễn đàn quyền lực. Vì bản chất nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó nên họ thành công ở mức trung bình, trở thành kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, giáo viên đã là giấc mơ tột đỉnh. Hội nhập vào xã hội Pháp chưa lâu, sự tự tin vào bản thân chưa đủ, họ lại bị ám ảnh bởi thân phận lớp người Việt Nam nhập cư trước họ, những người lính thợ bị thực dân cưỡng bức rời quê hương sang Pháp phục vụ tại một số nhà máy làm thuốc súng để thay thế cho các công nhân Pháp ra chiến trường.

Năm 1937, để dự phòng chiến tranh, bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Quân Đội (ministre de la Colonie et de la Défense) Georges Mandel dự tính tuyển 80.000 người Đông Dương. Tháng 6 năm 1940 đám thanh niên Việt Nam được dẫn đến hải cảng Pháp gồm: 10.750 người trung kỳ, 7.000 người miền Bắc, 2.000 người miền nam. Đám lính thợ này đã bị đối xử như những con vật, bị dồn vào sống trong những khu nhà tồi tàn, không điện và thiếu nước, không nơi vệ sinh, không lò sưởi và thức ăn không đủ nửa khẩu phần. Mùa đông, những kẻ khốn khổ ngủ trên sàn, đại tiểu tiện ngay bên ngoài cửa, người nọ dẫm vào phân người kia. Đói khát, họ phải đào rễ củ và hái rau dại về ăn. Cái sự thật tàn nhẫn này bị vùi trong câm lặng. Cho đến đầu thế kỷ XXI, mới có vài nhà báo Pháp lên tiếng. Sau đó, Bernard Kouchner, vốn là một ngôi sao cánh tả nhưng sau thất bại của Ségolen Royal trong cuộc tranh cử 2007, đã nhận lời làm bộ trưởng bộ ngoại giao cho chính phủ Sarkozy mới chính thức lên tiếng xin lỗi vì: “Nước Pháp đã đối xử với những người lính thợ Việt Nam như đối với súc vật.”

Trong thực tiễn, nước Pháp đã đối xử với đám lính thợ Việt Nam còn tệ hơn súc vật bởi khi cưỡng chế thanh niên Việt Nam sang Pháp, họ dồn đám người này xuống hầm tầu còn tầng trên, thoáng mát hơn thì để dành cho… những con bò. Cái kinh nghiệm tồi tệ ấy được cấy trong tim như một quá khứ sầu thảm, cộng đồng người Việt không thể tránh khỏi mặc cảm của những kẻ vừa là dân nhập cư, vừa mang nhãn hiệu “Được lôi ra từ vùng đất thuộc địa”. Thế nên, cuộc sống tinh thần của họ dường như đột ngột khởi sắc, bừng bừng ánh sáng khi cuộc chiến tranh Việt-Mỹ xẩy ra. Tại sao?

Dễ hiểu thôi, tinh thần “Bài Mỹ” là chất xi-măng gắn kết một số đông quốc gia trên thế giới, không chỉ các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa nhưng ngay cả các nước phương Tây. Hành vi của nước Mỹ không chỉ gợi lên lòng căm thù nhưng kèm theo đó cả sự sợ hãi. Nếu có tiền lệ một nước nhược tiểu bị Mỹ chà nát thì sẽ đến lượt các nước khác theo thành ngữ, “Không bao giờ có lần thứ nhất, lần thứ hai mà lại không có lần thứ ba”.

Vả chăng, về mặt lý, cuộc chiến này không thể biện minh, “Không một người Việt Nam nào mang bom sang giết người Mỹ.”

Dù cộng sản hay không cộng sản thì sự thực là không có một người Việt Nam nào cầm dao hoặc cầm súng sang tận nước Mỹ để giết một người Mỹ, hoặc ngay đến một con bò trong trang trại Mỹ cũng không.

Vì thế, lương tâm nước Mỹ phải thức tỉnh. Các vụ biểu tình phản đối chiến tranh trước toà Nhà Trắng của Mỹ điệp với các cuộc biểu tình trước sứ quán Mỹ tại các nước khác. Tiếng hát và ngọn lửa tự thiêu của trí thức Mỹ đốt nóng cả châu Mỹ La-tinh và châu Âu.

Vào thời điểm ấy, người Việt Nam nhập cư chống chiến tranh được hưởng một sự ưu đãi vô tiền khoáng hậu. Đi đến đâu họ cũng được thăm hỏi, giúp đỡ, được coi là người của “một dân tộc anh hùng”. Và, trên các diễn đàn chống chiến tranh, đại diện của “tổ chức Việt kiều yêu nước” được xuất hiện bên cạnh những nhân vật quan trọng bản xứ mà nếu không nhờ ân sủng của cuộc chiến này, không bao giờ họ có cơ hội và có tư thế tiếp xúc. Để ví von, có thể nói rằng: Những con chim vốn nép mình trong bóng tối nhờ ánh đạn lửa mà được nhô đầu ra và há mỏ cất tiếng kêu.

Thế nên, họ cần cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Lòng ích kỷ, cái kiêu ngã của con người quả là vô giới hạn. Những kẻ sống ở một phương trời, cần máu đồng bào phải đổ ở một phương trời khác để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của chính mình.

Chiến tranh thật đẹp khi nó được tạo bằng máu xương kẻ khác!

Từ đây, tôi nghi ngờ hai từ “yêu nước”. Phía sau danh từ này có vô vàn tâm trạng, có vô số động cơ, hoặc xác thực, hoặc ngầm ẩn, hoặc có ý thức, hoặc vô thức.

Danh từ nào cũng lập lờ và cũng có khả năng phản lại nghĩa chính thống.

Như thế, giữa người Việt với người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông vô hình. Chắc chắn cũng còn khá lâu mới bắc được cầu qua những con sông ấy.

Chiến tranh Việt-Mỹ đã qua, nhưng sau đó không lâu cái tên Việt Nam lại dội lên trên các kênh thông tin quốc tế. Lần này, là một thứ ồn ào dơ dáy. Chẳng còn là người anh hùng bé nhỏ dám đương đầu với đế quốc Mỹ mà là tác giả của Khổ nạn Thuyền nhân.

Ở châu Âu, phái đoàn Việt Nam không còn được chào đón bằng cờ và hoa mà bằng cà chua và trứng thối. Tôi nhớ rằng lần đi châu Âu, ông Võ Văn Kiệt đã hứng trọn một quả trứng thối vào giữa mặt còn đến lượt ông Phan Văn Khải thì thoát nạn nhờ sự bố trí, dàn cảnh công phu của cảnh sát Pháp. Sự đời vốn đổi thay như các lớp tuồng. Điều khốn khổ cho người Việt Nam là dường như họ chỉ được biết đến trong các tình huống đau khổ.

Kể từ khi làn sóng “Thuyền nhân” dịu đi, Việt Nam gần như chẳng còn gì để nhớ. Cứ nghe đài phương Tây thì biết, người ta chỉ nhắc tới hai từ Việt Nam khi nhắc tới cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, bởi rất nhiều trí thức phương Tây, đặc biệt là các văn nghệ sĩ đã tham gia vào phong trào chống chiến tranh và tuổi trẻ của họ gắn bó với những kỷ niệm của một thời sôi động. Tuy nhiên, ngay cả những người kiên nhẫn nhất và hiểu biết Việt Nam nhiều nhất cũng chưa dám quả quyết rằng họ nắm được sự thực về cuộc chiến tranh này. Điều đó, quá khó khăn.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:

– Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?

Tôi đáp:

– Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.

Anh bạn chưng hửng:

– Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.

Tôi cười:

– Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.

Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương.

Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.

Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.

Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.

Dương Thu Hương
4/7/2014

 

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Đơn khiếu nại của vợ Nguyễn Hữu Vinh ( Ba Sàm)

Posted by hoangtran204 trên 10/07/2014

Đây là đơn khiếu nại và đòi trả tự do cho Nguyễn Hữu Vinh mà nhiều người bấy lâu nay chờ đọi. Đon viết ngắn gọn chính xác nêu đầy đủ những gì muốn nói. 

 

Đơn khiếu nại của vợ Nguyễn Hữu Vinh ( Ba Sàm)

 

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————————-

TP.Hà Nội, ngày  05 tháng 06 năm 2014

ĐƠN KHIẾU NẠI

V/v khởi tố bắt oan sai đối với chồng tôi là Nguyễn Hữu Vinh, đề  nghị trả tự dngay.

 

                        

 

Kính gửi:

–         Ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng ban cải cách tư pháp;

–         Ông Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an;

–         Ông Nguyễn Bá Thanh – Trưởng ban nội chính Trung ương;

–         Ông Nguyễn Hòa Bình, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao;

–         Ông Nguyễn Văn Hiện, Chủ nhiệm ủy ban tư pháp Quốc Hội.

 

Tôi là Lê Thị Minh Hà, sinh 1958, trú tại: 5/2/4D phố Đặng Văn Ngữ, phườngTrung Tự, quận Đống Đa, TP.Hà Nội, là vợ của anh Nguyễn Hữu Vinh đang bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt tạm giam theo điều 258 Bộ luật hình sự: “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Kính thưa các Quý vị đại diện của các Cơ quan có thẩm quyền

Tôi nguyên là: học sinh khóa D8 – Đại học an ninh nhân dân,  cán bộ Viện nghiên cứu khoa học Công an; là người vợ tuy tôi không tham gia vào các công việc của chồng tôi đã và đang làm nhưng tôi hiểu tấm lòng của chồng tôi là một người yêu nước, hết lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân. Chồng tôi, nguyên là học sinh khóa D6 – Đại học an ninh, đã từng công tác tại Bộ Công an; Ban Việt kiều Trung ương -Bộ Ngoại giao; xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng, có nhiều công lao với Nhà nước và nhân dân (bố đẻ là ông Nguyễn Hữu Khiếu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Lao động, Giám đốc Công an khu IV, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Cộng hòa Liên bang Nga).

Theo tôi, trang thông tin Anh Ba Sam của chồng tôi chỉ là trang thông tin cá nhân, ghi nhận thông tin từ các trang thông tin báo chí chính thống và thông tin công khai bên ngoài với tính chất như điểm tin với mong muốn cung cấp choBạn đọc có được nhiều luồng thông tin khác nhau về một vấn đề để có nhìn nhận khách quan, trên cơ sở đó đưa ra ý kiến đóng góp thiết thực hữu ích cho đất nước và cho nhân dân.

Các nội dung chính trang thông tin này tập trung đăng tải là:

Cảnh báo về tình hình biển Đông, biên giới để Nhà nước, nhân dân nêu cao cảnh giác đối phó với tình hình Trung Quốc xâm lấn, thôn tính đất nước.

Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng thực tế xảy ra  trên nhiều lĩnh vực để Nhà nước và nhân dân được biết  góp phần làm trong sạch Bộ máy Nhà nước, trả lại niềm tin cho nhân dân.

Cung cấp những bài viết liên quan đến việc thực thi đúng Hiến pháp về nhân quyền, tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng; chống bè phái, cục bộ địa phương đơn vị; chống lợi ích nhóm; chống bè phái độc quyền; chống đàn áp nhân dân, cần lắng nghe ý kiến nhân dân; quan tâm hơn nữa đời sống nhân dân (nhất là các vùng nông thôn, miền núi, dân tộc).

Nêu và kiến nghị về đường lối đối ngoại của đất nước phải rõ ràng, rành mạch, không được lấp lửng, không dĩ hòa vi quý, không định kiến. Trang thông tin như muốn nói rõ : cần  hợp tác toàn diện với nước Mỹ, các nước trong cộng đồng Châu Âu, các nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước Đông Âu (cũ, mới) và Ấn Độ;… Có như vậy mới không lệ thuộc kinh tế của Trung Quốc , bảo vệ được chủ quyền của đất nước.

Do đó, việc chồng tôi làm là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp, trong khuôn khổ pháp luật cho phép (pháp luật không cấm) về quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền tự do ngôn luận; quyền được đưa ra và thể hiện chính kiến của mình. Đồng thời quán triệt lời dạy của Bác Hồ: “Dân chủ là để cho dân được mở miệng ra nói”.

Như vậy: buộc tội và bắt giam chồng tôi, một người thực hiện đúng pháp luật, đúng lời dạy của Bác của Cơ quan ANĐT có đúng người, đúng tội và đúng luật không?

Yêu cầu Cơ quan ANĐT khi áp Điều 258 Bộ luật hình sự để bắt chồng tôi phải đưa ra các chứng cứ chứng minh: chồng tôi lợi dụng cái gì? Lợi ích bị xâm phạm cụ thể là  gì? Định lượng ra sao? Nhà nước, tổ chức, công dân nào tố cáo chồng tôi với tư cách chủ thể bị hại? Cơ quan tổ chức nào giám định thiệt hại để lượng hình? Ngoài ra, những việc chồng tôi đăng tải các bài định hướng dư luật theo chiều hướng tích cực có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho công cuộc bảo vệ đất nước, đối ngoại, chống bè phái, lợi ích nhóm, chống tham nhũng,… thì tại sao lại bỏ qua? Thành tích và thiếu sót (nếu có) phải được xác định rõ ràng, minh bạch.

Từ những nội dung nêu trên, tôi tin rằng chồng tôi hết lòng hết dạ vì Tổ quốc và dân tộc,  không vì động cơ cá nhân, không làm thiệt hại quyền lợi ích hợp pháp của bất cứ  ai kể cả tổ chức hay cá nhân.

Tôi đề nghị trả tự do ngay cho chồng tôi và đình chỉ vụ án !                

Kính mong các vị đại diện cao nhất của Nhà nước và của các Cơ quan hành pháp có liên quan nhanh chóng giải quyết yêu cầu chính đáng nêu trên của tôi.

Đề nghị trả lời kết quả xử lý thỏa đáng cho tôi bằng văn bản trong vòng 15 ngày theo luật định từ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

 

 Kính đơn.

 

 

Nơi nhận:                                                                                   Người làm đơn

–  Như trên;                                                                                        Ký tên   

LÊ THỊ MINH HÀ

–  Ông Tô Lâm (Thứ trưởng Bộ Công an);                                   

Tổng cục trưởngTổng cục An ninh I và II;                                                                

–  A83, A87,A92 Bộ Công an;

–  Luật sư Hà Huy Sơn;

–  Lưu                  

 

 Chị Lê Thị Minh Hà gửi cho Quê Choa    

_________________

 

►Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã bị Bộ Công An bắt giữ ở Hà Nội vào ngày 5-5-2014

 

*Những nhân vật xúi giục bắt giữ anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh

-Những nhân vật đang điều hành và đứng đàng sau lưng trang nguyentandung.org

-Ban Tuyên Giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo thành phố Hà Nội

-Công an văn hóa

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | 1 Comment »

►Ai thống trị Việt Nam ngày nay? Stephen B. Young

Posted by hoangtran204 trên 10/07/2014

Stephen B. Young, người Hoa Kỳ, Luật sư, nói tiếng Việt, có vợ là người Việt, đã sang VN nhiều lần. Đọc kỹ bài viết, mọi người sẽ thấy cách hành văn của một người ngoại quốc viết tiếng Việt, tuy rất kinh điển, rành lịch sử Việt Nam.

Ai thống trị Việt Nam ngày nay?

young

Stephen B. Young

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ. Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là “Đảng Cộng Sản Việt Nam“

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình.
Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?
Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng CộngSản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác.Tôi nói đó là một “thứ đảng phái” vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành “chính nghĩa xã hội chủ nghĩa” theo ý hệ Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng “hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học”. Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

Ông Bảo nói thêm rằng “tổ chức anh chị em cán bộ phải giử quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ”.

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình ”chính nghĩa Mác-Lê.” một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng, ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước.

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng “chính nghĩa Mác-Lê” để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng.

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảng thì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt đi thôi?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới. Và cả biển nữa! Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra. Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn. Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bịdẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyẽn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng. Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viễn đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả,để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.

Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – “ hoàng đế chính thuyết ”– là lý thuyết xâydựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều, tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy”.

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ “nhân bản, khoa học, khai phóng ” …

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo “ hoàng đế chính thuyết ”.

Như vậy làm Mỹ Ngụy là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và “dân ngụy.” không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Nguồn: daihocsuphamsaigon.org/index.php/bienkhao/1714-aithongtrivn

 

Bài liên quan

1. Stephen B.Young:Kenneth Todd Young và TT Ngô Đình Diệm..

-2.Ai thống trị VN ngày nay?(Stephen B Young)- –

 

http://www.saungon.net/tbl/?itemid=2151

 

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »