Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám, 2015

►Kỷ niệm CM tháng 8 và 2/9: Hãy chôn “chiếc bẫy” xuống địa ngục

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2015

Blog RFA

Võ Thị Hảo

24-08-2015

“Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?…”

(Theo hồi ký “Đèn cù” của  Trần Đĩnh)

Những oan hồn tạo ra từ 70 năm nay trên con đường cách mạng ấy đã và đang rộn ràng hòa vào những đôi mắt sống của người dân. Những mắt ấy mở chong đêm ngày theo dõi và tính sổ những cuộc bội phản nhân dân, đợi ngày kết thúc cái chính thể phi tự nhiên ấy , tới  một cuộc Đại Giải Oan cho nước Việt.

  •  Giết và giẫm đạp cả thi thể “Mẹ nuôi cách mạng”

Những chứng nhân của thời Cải cách ruộng đất hoặc những người đã đọc, đã nghe kể qua câu chuyện này thì không thể không bị ám ảnh về số phận đau thương của bà và hàng triệu người VN khác bởi chính sự phản trắc, sự tàn ác của chính những người đứng đầu đất nước và cán bộ đội cải cách thời đó. Không một lý do nào có thể biện minh  cho những tội ác ấy.

Người ta vẫn phải nhắc đến người đàn bà ấy, gần 70 năm nay, từ ngày bà bị chính quyền cách mạng xử tử . Không năm nào không nhắc, nhất là mỗi khi đến dịp rầm rộ kỷ niệm cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9. Chuyện không thể cũ đi, vì nỗi oan chưa được giải và nguyên nhân của những cuộc oan mới ngày càng chồng chất trên đầu nhân dân VN.

Oan hồn của người đàn bà ấy, và hàng triệu người VN khác đương nhiên không thể không bay lượn trên bầu trời Ba Đình, chong triệu đôi mắt đợi ngày kết thúc của cái thể chế phản trắc ấy, bởi cái gì dối trá và đi ngược lại quyền lợi đất nước thì sẽ đến ngày tự hoại.

 “Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng…Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”(Qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu quốc trong đội cải cách ruộng đất- Trần Đĩnh ghi)

Ngày ấy Việt Minh cướp chính quyền thành công và có ngày Cách mạng tháng Tám 1945.

Bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ngây ngất hạnh phúc vào ngày ấy. Lý tưởng giải phóng nô lệ, tự do dân chủ bình đẳng bác ái mà bà theo đuổi nay đã được Việt Minh hứa thực thi trên đất nước của bà.

Người đàn bà ấy đã “phóng xe nhà có cắm cờ đỏ sao vàng, từ Hải Phòng lên Thái Nguyên nơi quân Nhật còn chiếm đóng, đến tận Đình Cả Võ Nhai để báo tin cho con trai và đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền”.

Tư liệu cho biết, bà được người Việt Minh tôn xưng là “Mẹ nuôi của cách mạng”, mẹ nuôi của Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ và Trường Chinh. Cái người đàn bà ngây thơ một lòng tin yêu cách mạng ấy đã cứu  giúp rất nhiều đầu lĩnh cao cấp nhất của Việt Minh như , Hoàng Quốc Việt, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị …

Bà  không biết rằng chính bà và nói đúng hơn là hầu hết dân VN, đã sập một cái bẫy lớn nhất, tàn bạo  nhất, chỉ do đã quá ngây thơ tin vào những lừa mỵ. Bà đã đặt quá nhiều ảo tưởng vào một miếng mồi đặt sẵn trong bẫy.

Đó là miếng mồi được phun thứ nước hoa gây áo giác về lý tưởng giải phóng dân tộc và xóa áp bức, nô lệ.

Dù bà có công lớn với Việt Minh bao nhiêu đi nữa, dù bà có là mẹ nuôi cách mạng, thì cửa bẫy cũng đã sập xuống. Thân xác bà không lâu sau sẽ tan nát bởi các con nuôi của chính bà – những người đã qua thời hàn vi, nay chững chạc đứng trong hàng nguyên thủ quốc gia hãm hại. 

Bà Năm vốn là một người lam lũ làm lụng mà có tài kinh doanh. Bắt đầu từ buôn sắt vụn, bà dần tậu ruộng vườn, đồn điền và hiệu buôn.

Theo nhiều tư liệu để lại thì bà Năm đã làm theo lời ngon ngọt của Tổng Thư ký Hội nhà văn VN Nguyễn Đình Thi. Ông Thi cũng có được đức lớn như nhiều người cầm bút VN khác,  là thành danh và lập nghiệp, vinh thân phì gia suốt đời bởi tài năng dẫn dụ kẻ khác bỏ tiền của ra và chết bỏ xác cho cách mạng, còn số phận của những người đã nghe theo ông thì ông phủi tay.

Bà Năm đã bỏ phần lớn tài sản ra để giuisp đỡ nuôi nấng nhiều đoàn quân và và nhiều đầu lĩnh quyền lực nhất của Việt Minh trong đó có Hồ Chí Minh…

Đó là thời Việt Minh còn hàn vi trứng nước, bất cứ lúc nào cũng có thể chết đói hoặc bị bắt giam bởi quân chính phủ Pháp nên họ cần bà và những nhà địa chủ, tư sản, những trí thức nổi tiếng và họ cần xương máu của dân để lập nên ngai vàng cho họ. Thuở ấy, ngay cả việc mua vài khẩu súng thì Việt Minh cũng phải trông vào tài ăn nói để khuyến dụ  dân bỏ vàng ra cho họ thông qua “Tuần lễ vàng”  ….

Bà Năm là một trong những người đóng góp công của  lớn nhất cho Cách mạng Tháng tám. Ngoài nhà cửa, lương thực vải vóc thóc gạo thuốc men vô kể, bà đã đóng góp tương đương 700 lạng vàng. Sau cách mạng 1945, bà cũng theo cách mạng tản cư lên Thái Nguyên, mua lại đồn điền của một ông Tây và tiếp tục dùng đồn điền, tiền bạc  hỗ trợ kháng chiến. Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội đã được che chở và nuôi nấng trong đồn điền của bà.

Khi chính phủ VNDCCH tổ chức Tuần lễ vàng, bà lại đóng góp hơn 100 lạng vàng. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà tự tay san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên để hưởng ứng.

Người VN không lạ gì điển tích bát cơm Xiếu mẫu ngày xưa, Hàn Tín thuở hàn vi đói khát, gặp được bà Xiếu mẫu giặt sợi bên sông mang cho bát cơm ăn. Sau này  hiển đạt, ông đã  mời bà Xiếu mẫu đến để bái tạ, trả ơn cả ngàn lạng vàng.

Các cán bộ Việt Minh và cách mạng tháng 8 cùng quan chức VN sau này thì luôn làm ngược lại ông Hàn Tín và đức cư xử của người Việt. Họ ăn vô số bát cơm của bà Năm, mặc quần áo bà, ở nhà bà. Bà nuôi quân, bà cho tiền mua súng, nhưng họ trả ơn bằng cách chà đạp và giết bà cũng như giết nhiều ân nhân khác của cách mạng.

Vì bà chỉ có công, không có tội nên để giết bà, các con nuôi, bây giờ đã là chủ tich, phó chủ tịch nước và toàn những chức danh thuộc hàng đứng đầu nước VNDCCH đã gán cho Mẹ nuôi tội   “giả dối nhằm chui sâu leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại” và tội “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Nhiều người đưa ra chứng cứ khẳng định rằng Hồ Chí Minh đã viết bài ““Địa chủ ác ghê” ký bút danh là C.B(của Bác) đăng trên báo Nhân dân ngày 21/7/1953. Chính bài báo này là đòn sấm sét, đổ cho bà tội “làm chết 23 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, tra tấn đánh đập hàng chục nông dân…, đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến…”.

Thuở các vị này còn phải sống nhờ vào “bát cơm Siếu mẫu” của bà, họ âu yếm gọi bà là Mẹ Nuôi. Khi cách mạng thành công, vài năm sau, chính quyền đã đủ lông đủ cánh, có Trung quốc tư vấn dạy dỗ và nuôi nấng, lại có cả mấy chục triệu dân đóng sưu thuế cung phụng, thì chính những đầu lĩnh đó đã ký lệnh đem bà ra đấu tố, lăng mạ bà. Bà bị họ phát động cho cả ngàn người đổ tội và chửi rủa, tịch thu hết tài sản.

Rồi bà bị bắn bằng một loạt đạn hèn hạ từ sau lưng.

Nhớ công ơn nuôi nấng của bà, các con nuôi ưu tiên cho Mẹ cho bà được xử chết đầu tiên để làm điểm tựa phát động “cuộc cách mạng long trời lở đất”.

Chưa đủ, họ còn cho đội cải cách ruộng đất nhảy lên giẫm đạp xác bà cho gẫy nát để  lọt vào cỗ áo quan rẻ mạt. Hai con trai của bà, dù cũng đã tham gia cách mạng lập công lớn nhưng cũng bị đấu tố, dù còn sống sót nhưng cả đời cũng bị trù dập và suốt đời sống trong địa ngục vì nỗi oan khuất trút lên đầu cả dòng họ.

* “Người bịt râu”

Con bà Năm đội đơn gần 70 năm đi đòi công lý cho bà và gia đình nhưng tận đến bây giờ, dù  đảng và nhà nước VN biết rõ, những tác giả gây ra tội ác ất chết từ lâu nhưng nhà cầm quyền hiện tại cũng không chịu trả lại công bằng cho gia đinh bà.

Để làm được cách mạng tháng 8 và xây dựng được thể chế cộng sản và vận hành nó, người ta phải có gan đem Mẹ nuôi cách mạng ra hành hạ, giết chết rồi giẫm đạp lên xác. Cũng phải có gan  tráo trở đổ tội và giết hại bao đồng chí mình – những đồng chí đã vì lý tưởng mà đem của nhà, đem tri thức ra để xây dựng những chi bộ đầu tiên cho cách mạng, làm cái nôi nuôi nấng đưa Việt Minh, đưa kháng chiến đến thắng lợi?!

Để làm được cuộc cách mạng và thể chế cộng sản, họ cũng phải có gan đổ tội cho người vô tội, dám chửi bới nhục mạ cha mẹ theo số đông để sống sót hoặc để tiến thân. Họ phải đủ gan để “thà giết nhầm mười người còn hơn bỏ sót một địch” và đào tận gốc trốc tận rễ trí thức cùng những người tài giởi giàu có!

Theo hồi ký “Đèn cù “ của Trần Đĩnh thì lúc đó ông là phóng viên báo Nhân dân được Trường Chinh cử viết bài tường thuật về vụ đấu tố. Hồ Chí Minh đã ngụy trang bằng cách bịt râu, Trường Chinh thì đeo kính râm bí mật tới dự vụ đấu tố.

Đến khi sửa sai cải cách ruộng đất, oan án của bà Năm, dù những người có quyền lực nhất đều biết nhưng cũng không chịu làm chỉ vì họ không thể thừa nhận cái sai và tội ác của chính họ trực tiếp gây ra và tiếp tục che giấu.

Cải cách Ruộng đất đi kèm Chỉnh đốn Đảng là quà tặng mang tính “bom nguyên tử”, “bom chất độc” đầu tiên mà cách mạng đã giáng cho những ân nhân của họ và người  dân VN. Bằng việc vu oan, cướp, tra khảo và giết, họ đã đem ruộng đất cướp được chia cho bần cố nông nhưng để cướp đoạt lại vĩnh viễn vào 3 năm sau đó – 1959 cho đến tận bây giờ dưới mỹ từ “sở hữu toàn dân”.

Từ 1959 đến nay, rồi qua và Hiến pháp 1980, Luật Hợp tác xã 1990, người VN bị tước đoạt quyền sở hữu ruộng đất, sống vật vờ hồn xác trên mảnh đất mình đổ mồ hôi xương máu. Riêng nông dân cũng phải gánh hơn một ngàn loại và lệ phí ngoài sưu cao thuế nặng để nuôi bộ máy tham nhũng một cổ ba tròng. Chưa đủ, họ hoàn toàn có thể bị chính quyền kết hợp với một lực lượng bạo quyền nào đó cướp đi bất cứ lúc nào và khi họ có phản ứng kêu oan thì sẽ bị đàn áp, bắt giam thậm chí đánh chết trong đồn công an và con cháu, anh em gia đình cũng bị trả thù thành không chốn nương thân.

* Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục vì đây là thế giới Người

Đó là thành quả Cách mạng Tháng Tám. Thành quả của một chính thể độc tài cộng sản. Đó chính là chiếc bẫy khổng lồ với bộ răng sắc nhọn trường tồn đã 70 năm trên đầu dân VN. Chiếc bẫy đó đã quy định đường ray vận hành cho nó: bất cứ ai lên cầm quyền cũng phải quay ra phản bội quyền lội nhân dân, đất nước và dân tộc để giữ ghế và quyền lợi riêng cùng phe nhóm.

Lẽ ra người VN đã có thể an lòng lắng dịu với những số phận đau thương do những chính sách và hành vi sai lầm của chính quyền cách mạng gây nên, nếu như những nhà cầm quyền thế hệ ấy và thế hệ sau biết cư xử công bằng, minh oan, đền bù cho họ và vận hành bộ máy cầm quyền theo đúng những điều họ đã hứa ban đầu khi hô hào dân nổi dậy giúp họ giành chính quyền.

 Nhưng không, ngay cả thế hệ sau này không liên quan gì đến tội ác thời các thế hệ tiền bối đã làm nhưng họ cũng không sửa sai, lại tiếp tục lừa mỵ và phản trắc người dân

Người oan đã chết, thân xác họ đã tan hòa vào đất, nhưng nỗi oan và món nợ mà xã hội nợ họ thì tồn tại mãi mãi trong người sống. Nỗi oan đó chỉ lắng dịu đi khi xã hội giải oan cho họ bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói.

Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục, vì đây là thế giới Người.

Và không chỉ dân đâu, chính những người có quyền lực đang hành ác hiện nay cũng cần thoát khỏi chiếc bẫy đó, vì chẳng quyền lực, địa vị, tiền bạc nào tồn tại được mãi mãi. Họ và con cháu họ cũng cần được trở lại làm người, sống trong tự trọng và bình an.

Advertisements

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ?

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2015

Nguyễn Tường Thụy

Nguyễn Thị Từ Huy

24-08-2015

Tác giả Nguyễn Thị Từ Huy vừa gia nhập Hội nhà báo Độc lập Việt Nam. Chị gửi bài viết sau đây, “coi như sản phẩm ra mắt” Hội.

Tựa đề bài viết này của tôi lấy cảm hứng từ một câu châm ngôn của các trí thức Nga : “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa », trong một phân tích rất đáng đọc « Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai », của Leon Aron, do Trần Ngọc Cư dịch, đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế: Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai

Tôi không muốn xâm phạm tự do đọc và tự do tiếp nhận của quý độc giả, mọi người sẽ có cảm nhận và đánh giá của mình về bài viết của Leon Aron. Ở đây tôi chỉ nêu ra một tiếp nhận của tôi.

Tác giả bài viết cho thấy rằng Liên Xô sụp đổ hoàn toàn không phải do bị các thế lực phản động tác động, cũng không phải do áp lực về kinh tế, mà là do ý thức về nhân phẩm và đạo đức của người dân Nga và của cả lãnh đạo Liên Xô. Họ không muốn và không thể tiếp tục sống trong «suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin». (Cá nhân tôi có lẽ sẽ lựa chọn chữ «đạo đức» để dịch, nhưng tôi tôn trọng cách dịch này của dịch giả Trần Ngọc Cư).

Chính là sự phán xét của lương tâm, chính là sự đau khổ nội tâm của từng cá nhân đã thúc đẩy sự thay đổi toàn bộ cấu trúc xã hội. Hãy đọc câu này của Aleksandr Yakovlev, một cựu đại sứ Nga, để hiểu người Nga đã chịu đựng những dằn vặt nội tâm như thế nào:

“Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.

Ý kiến trên phản ánh tâm trạng của những người dân Nga. Còn dưới đây là tâm trạng của một lãnh đạo thuộc hàng cao cấp:

“[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên”.

Không có một thế lực thù địch nào từ bên ngoài có thể làm cho chế độ toàn trị Liên Xô sụp đổ. Cái chế độ phi nhân ấy chỉ có thể bị thay thế khi chính những con người trong hệ thống ấy, lãnh đạo cũng như người dân, ý thức được sự nhục nhã của đời sống vô đạo đức và quyết định tự tìm lại phẩm giá cho mình.

Chúng ta, những người Việt Nam ở thế kỷ XXI, chúng ta hãy đọc bài báo của Leon Aron và hãy thử nói xem: chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ?

Paris, 24/7/2015

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu….Những công dân ngoan hiền của chế độ, những người dân thành thị nay đã bị thuần hóa

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2015

Tìm niềm vui trong nổi bất tiện…Không ai than vãn…

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu

FB Hoàng Dũng

Gia Hiền

24-08-2015

Ảnh: Nam Nguyễn (Chiều 21/8/2015, người dân trong ngõ 814 đường Láng (Đống Đa) chia nhau từng xô nước)

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu
Cúi đầu trước tiền tài, cúi đầu sau mông người khác
Cúi đầu trước chính mình, cúi đầu bạc nhược
Chỉ ngẩng đầu…
…vì…
…đôi lúc…
…phải cạo râu!


Thế hệ tôi, cơm áo gạo tiền níu thân sát đất
Cuộc sống bon chen
Tay trần níu chặt
Bàn chân trần không dám bước hiên ngang.

Thế hệ tôi, nhận quá nhiều những di sản hoang mang
Đâu là tự do, đâu là lý tưởng?
Đâu là vì mình, và đâu là vì nước
Những câu hỏi vĩ mô cứ luẩn quẩn loanh quanh…

Thế hệ tôi, ngày và đêm đảo lộn tanh bành
Đốt ngày vào đêm, và đốt đêm không ánh sáng
Nếu cho chúng tôi một nghìn ngày khác
Cũng chẳng để làm gì, có khác nhau đâu?

Thế hệ tôi, tự ái đâu đâu
Và tự hào vì những điều huyễn hoặc
Tự lừa dối mình, cũng như lừa người khác
Về những niềm tin chẳng chút thực chất nào!

Chúng tôi nghe và ngắm những siêu sao
Chỉ với mươi lăm nghìn cho vài ba tin nhắn
Văn hóa ngoại giao là trà chanh chém gió
Và nồi lẩu tinh thần là những chiếc I-phone

Thế hệ tôi, ba chục đã quá già
Và bốn chục, thế là đời chấm hết
Không ghế để ngồi, thì thôi, ngồi bệt
Mối lo hàng ngày là tiền trong tài khoản có tăng lên?

Thứ đắt nhất bây giờ là từng lạng NIỀM TIN
Thứ rẻ nhất, lại là LỜI HỨA
Sự dễ dãi đớn hèn khuyến mại đến từng khe cửa
Có ngại gì mà không phản bội nhau?

Không, tôi không đại diện thế hệ mình đâu!
Và thế hệ tôi cũng không đại diện cho điều gì sất!
Trăm năm sau, lịch sử sẽ ghi vài dòng vắn tắt:
Có một thế hệ buồn, đã nhạt nhẽo đi qua…

_____

Kênh 14/ Trí Thức Trẻ

Bi hài người dân viết “cáo phó nước” vì chờ mãi chẳng thấy nước đâu

Định Nguyễn

22-08-2015

Bị mất nước sạch kéo dài khiến cuộc sống của nhiều người dân ở phường Láng Thượng, Hà Nội rơi vào cảnh khốn đốn dở khóc dở cười, nhiều người đã “nổi cáu” viết “cáo phó nước”.

Gần nửa tháng nay, người dân tổ 36, phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội bị mất nước sạch, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, cuộc sống của nhiều người rơi vào cảnh khốn đốn, dở khóc dở cười.

Nhiều ngày nay, người dân phải khổ sở vì thiếu nước, nghe tin xe chở nước sạch sẽ đến, người dân háo hức mang xô thùng chờ từ sớm.

Mất nước sạch quá lâu, nhiều người "nổi cáu" viết và dán "cáo phó nước" ngay trước các ngõ hẻm.

Có lẽ vì quá “nổi cáu” người dân đã dán “cáo phó nước” tại các con ngõ phản ánh tình trạng mất nước sạch kéo dài và yêu cầu cơ quan chức năng sớm cấp nước sạch trở lại để phục vụ sinh hoạt. Nhiều hộ dân mua máy bơm áp với giá 2 triệu đồng và thức đêm chờ bơm nước nhưng không thể sử dụng được vì đường ống không có nước.

Theo ông Toàn, Tổ trưởng tổ dân phố 36 cho biết, sau khi có một xe nước cung cấp nước cho người dân vào chiều 20/8, ông phải gọi điện lên công ty nước sạch Đống Đa yêu cầu cấp một xe nữa.

H1

Cảnh mang xô chậu chờ đợi tấp nập

Một người dân phấn khởi trong lúc chờ lấy nước

Chiều 21/8, khi biết tin xe chở nước miễn phí đến, nhiều người dân vô cùng phấn khởi, tập trung lại để chờ nước.

Cầm theo nhiều xô đi hứng nước mong có nước đủ sinh hoạt, bà Hằng, một người dân trong phố chia sẻ, suốt những ngày mất nước sạch vừa qua cuộc sống của gia đình bà bị đảo lộn, khốn khổ.

“Việc tắm rửa cũng phải tiết kiệm, mọi người trong gia đình chia nhau đi đâu đó để tắm nhờ hoặc tranh thủ tắm ở cơ quan. Mấy ngày nay thời tiết thủ đô oi nóng, cuộc sống của người dân rất cần đến nước nhưng không biết đến khi nào chúng tôi mới có nước sinh hoạt trở lại”, bà Hằng tâm sự.

Khi xe téc chở nước sạch miễn phí được đưa tới...

Cùng chung nỗi khổ như bà Hằng, gia đình anh Hùng có tất cả 5 nhân khẩu cũng phải lao đao vì mất nước sạch. Anh Hùng cho biết, gia đình anh ở tận sâu trong ngõ nên suốt những ngày qua không có một giọt nước nào để dùng.

“Gia đình tôi phải mua nước bình tốn kém rất nhiều nhưng không biết làm cách nào khác, chỉ dám đánh răng, nấu cơm và tận dụng một ít nước rửa rau. Để tiết kiệm nước, gia đình chỉ mua các loại củ quả về ăn để ít phải dùng đến nước rửa”, anh Hùng phân trần.

Nhiều người không chen được vào trong đành đứng chờ bên ngoài.

H1

H1

Một phụ nữ hồ hởi khi hứng được nhiều xô nước về nhà mình.

Anh Nguyễn Kim Huy, nhân viên công ty nước sạch Đống Đa cho biết, sẽ hỗ trợ người dân đến hết tuần này theo chỉ đạo của cấp trên.

https://anhbasam.wordpress.com/2015/08/24/4846-the-he-toi-mot-the-he-cui-dau/#more-151264

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

► Chương trình Giáo dục ở VN tuân theo mệnh lệnh của ai?

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2015

Giáo dục – Mệnh lệnh của ai?

21-8-2015

Theo FB Mạnh Kim

Như một ngôi nhà cũ mục, từng mảng vữa bục ra rồi rơi vụn chất thành đống đổ nát với hình hài quái gở kinh dị, đó là hình ảnh nền giáo dục đổ đốn và thối nát chúng ta đang chứng kiến. Đã có người nói rằng giáo dục là vấn đề của mọi người. Nó không phải là trách nhiệm riêng của ông Bộ trưởng hay Bộ giáo dục. Mọi người không thể đổ hết lỗi lên đầu ngành quản lý giáo dục… Có người nói rằng trong cái văn hóa đổ lỗi phổ biến tràn lan hiện tại, mọi người nên tự nhìn lại bản thân và “giáo dục” chính mình, trước khi trút tội cho cơ quan quản lý giáo dục… Đó là những ý kiến ngụy biện, ngoa ngôn và hèn nhát. 

Trừ khi trở về văn hóa “ăn lông, ở lỗ”, chúng ta không thể không thấy rằng vấn đề giáo dục, y tế và các dịch vụ công nói chung là những thiết chế căn bản của một xã hội hiện đại định hình sau hàng ngàn năm tiến hóa. Nó giúp phân biệt một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh” với một xã hội rừng rú nơi không tồn tại những khái niệm đại loại “hoạch định chính sách”. Nó giúp phân biệt một xã hội loài người với “xã hội” loài vật. Không mô hình xã hội nào, tư bản hay cộng sản, có thể vất bỏ vai trò của chính sách và người hoạch định chính sách. Và không người dân nào, kể cả phương Tây, có thể thoát khỏi ảnh hưởng của chính sách. Người dân không thể tự là bác sĩ, không thể tự là giáo viên, không thể tự là luật sư. Do đó, người dân luôn cần những thiết chế được thiết kế để bảo vệ họ. Và việc bảo vệ họ là đương nhiên. Vì họ đã phải đóng thuế để nuôi những thiết chế đó. Như một qui luật thị trường, họ có quyền chỉ trích khi thiết chế không làm tròn vai trò và khi thiết chế không đáp ứng được kỳ vọng của họ. 

““Ai cũng biết vai trò quan trọng then chốt của giáo dục đối với tiền đồ dân tộc. Thế nhưng, từ nhiều năm, chúng ta đã để cho giáo dục VN tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chưa bao giờ tình hình giáo dục trở nên bức xúc như hiện nay. Nhìn chung cả nước, hệ thống giáo dục chưa ra khỏi trạng thái lộn xộn bất bình thường, hoạt động không theo quy luật khoa học, hiệu quả kém, chất lượng thấp… Chúng ta đã có nhiều cố gắng để vực giáo dục lên, song những căn bệnh chính của nó không hề giảm, trái lại ngày càng trầm trọng và kéo dài chưa biết đến bao giờ. Điều đó cho thấy nguyên nhân trì trệ không phải chỉ do những sai lầm cục bộ về điều hành quản lý (tuy phần trách nhiệm của bộ máy quản lý không nhỏ), mà chủ yếu là sai lầm từ gốc, sai lầm từ nhận thức, quan niệm, tư duy cơ bản. Nói vắn tắt, là sai lầm có tính chất hệ thống, sai lầm thiết kế, không thể khắc phục bằng những biện pháp điều chỉnh chắp vá, sai đâu sửa đó, càng sửa càng rối, mà cần phải cương quyết xây dựng lại từ gốc…””.

Đoạn trích trên có thể giúp một số người đang nhìn nền giáo dục nước nhà bằng góc hẹp qua kẽ hở bàn tay có thể gạt bớt cái mông muội ngụy biện đi để mà hiểu ra rằng, bàn về giáo dục không phải là việc phát biểu nông cạn một cách vô giáo dục. Phần trích trên là của giáo sư Hoàng Tụy, trong bài viết “Kiến nghị về chấn hưng giáo dục”, đưa ra từ tháng 11-2004. Kể từ đó đến nay, bức tranh giáo dục có khá hơn không? Những vấn đề giáo sư Hoàng Tụy nêu ra đến nay có thay đổi gì tích cực? “Chấn hưng giáo dục, mệnh lệnh từ cuộc sống” – báo Tuổi Trẻ từng “gào” lên một cách thảm thiết nhân Kiến nghị Hoàng Tụy – đến nay kết quả thế nào? 

Có người nói, nền giáo dục quốc gia không thể chấn chỉnh nếu chỉ “ngồi đó mà chửi” mà không có đóng góp ý kiến ôn hòa. Nhưng có ý kiến ôn hòa nào, từ những nhà giáo dục học thực thụ, được lắng nghe và được thực hiện? Có quan chức giáo dục nào đủ cam đảm để con cái họ được học và được dạy bằng “sản phẩm giáo dục” mà họ đẻ ra? Tại sao có hiện tượng người dân, dù phải chấp nhận bán nhà, vẫn lo cho con đi “tỵ nạn giáo dục”? Có người khá giả nào mà không cho con học trường quốc tế? Đó có phải là “mệnh lệnh từ cuộc sống” từ thực tế, khi mà người dân cay đắng nhận ra rằng cái chính sách giáo dục nước nhà mà họ đang được “thụ hưởng” như một thiết chế của “xã hội văn minh” đã hoàn toàn bế tắc và đổ nát? Ai chịu trách nhiệm, nếu không phải những người thiết kế chính sách?

—————

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

►”Cách mạng Mùa Thu” là sản phẩm của sự tuyên truyền

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2015

Quốc Khánh phải là ngày: Đánh dấu chấm dứt chế độ “độc tài”

Hoàng Thanh Trúc
 

“Chưa đúng lúc, bởi chế độ độc tài CS còn cai trị, nhưng trong tương lai không xa lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ khẳng định chỉ ra: 2 tháng 9-1945 chính là ngày quốc nạn, ngày khởi đầu của cuồng tín, tội lỗi, gây nên núi xương sông máu cho cả dân tộc mà trừ chế độ CSVN ra không một quốc gia nào trên thế giới này phạm phải, giống như vậy”.

Quốc Khánh là một trong những ngày lễ quan trọng ở hầu hết các nước. Ý nghĩa phổ quát của quốc khánh là ngày khai sinh ra quốc gia hoặc đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại, chính trị hay văn hóa mà dù muốn hay không thì thành quả của nó mang lại ít ra cũng phải bao hàm các nhân tố tạo nên những yếu tố “chân, thiện, mỹ”, 3 giá trị nhân văn cốt lõi mà xã hội loài người ở bất cứ nơi đâu, thuộc chế độ nào, trong vai trò lãnh đạo dân tộc nhất thiết đều phải hướng đến.

Chữ “Khánh” đi kèm với Quốc cũng có nhiều giải thích khác nhau nhưng tựu trung là: Khởi sự, thành lập hoặc vui mừng.

Vì vậy nếu ai thấm đẫm chân lý tốt đẹp của ngày Quốc Khánh thì rõ ràng không thể lấy ngày 2 tháng 9 -1945 để vui mừng hân hoan khi mà bản chất của ngày này là nền móng của sự dối trá mà ông Hồ Chí Minh và những người CSVN đã xây trên đó “lâu đài XHCN”, không phải bằng sự thịnh vượng hạnh phúc của toàn dân mà là bằng máu xương, tang tóc, trầm luân khổ ải suốt 2/3 thế kỷ của cả dân tộc mà di lụy sai lầm từ đó đến tận ngày nay vẫn còn tiếp diễn (tranh chấp biển Đông).

Nhân ngày 2 tháng 9 sắp tới, chúng ta thử hoài niệm kiểm lại một lần nữa xem có đúng là như thế không, giá trị thật của ngày này mà “nhà nước CSVN” lấy đó làm “quốc khánh” để huy động toàn dân chào mừng khoa trương.

Đến hôm nay qua tư liệu, nhân chứng, vật chứng trong và ngoài nước thì khá nhiều người Việt Nam đều đã biết, ông Hồ chí Minh và CSVN vận dụng những thủ đoạn cực đoan xảo trá và bạo lực nhuộm màu chủ nghĩa cộng sản để cướp chính quyền non trẻ Trần Trọng Kim của Vương Triều hoàng gia Việt Nam được Vua Bảo Đại phê chuẩn ngày 17-4-1945 ra mắt Quốc dân ngày 19-4-1945.

(Trần Trọng Kim qua Việt Nam Sử Lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, và Chính phủ Trần Trọng Kim là nhân tố của tình thế và thời đại với hoài bão bước đầu thực thi thể chế Quân chủ lập hiến đặt nền móng hướng đến mô hình “Dân chủ Đại nghị” mà khuôn mẫu là các Hoàng Gia của nhiều nước phát triển văn minh trên thế giới hiện nay) (Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay số 346 -12/2009- Tổng biên tập/ ĐB/QH ông Dương Trung Quốc).

htt_quocKhanhPhaiLaNgay01
htt_quocKhanhPhaiLaNgay02
Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân

htt_quocKhanhPhaiLaNgay03
Dù bị Hồ chí Minh ép “thoái vị” nhưng năm 1949 Vua Bảo Đại vẫn được nhân dân Hà Nội chào đón với cờ vàng 3 sọc mà không thấy cờ đỏ sao vàng (tư liệu Văn khố Pháp).

htt_quocKhanhPhaiLaNgay04
Dân chúng Sài Gòn mít tinh, 1947, yêu cầu vua Bảo Đại trở lại chấp chính. Hàng chục ngàn người với một rừng biểu ngữ

Vì vậy đối diện với lịch sử, khi nhà Nguyễn và Vương Triều vua Bảo Đại đang chấp chính (dù có bị thực dân khống chế một phần) vẫn là một triều đại hợp pháp của Việt Nam đang hiện hữu tại thời điểm ấy (1945) mà 2 thế lực Pháp và Nhật đều nhìn nhận thì việc Hồ Chí Minh và CSVN cướp chính quyền (chính phủ) Trần Trọng Kim, tạo áp lực ép cho Vua Bảo Đại phải thoái vị là hành vi bất hợp pháp của bọn “phản quốc, nghịch tặc” dù núp bóng dưới khẩu hiệu “Bài phong, đã thực”.

Mới đây, một thông tin từ báo Tuổi Trẻ ra ngày 27/8 cho biết, để tuyên truyền phụ họa cho ngày “quốc khánh 2/9” sắp tới, Bảo tàng Lịch sử và cách mạng tỉnh Thừa Thiên – Huế vừa mở cửa phòng trưng bày tái hiện sự kiện vua Bảo Đại thoái vị; trong đó có “đắp tượng” mô hình cảnh vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho phái đoàn Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ảnh dưới). Bảo tàng sẽ mở cửa miễn phí cho nhân dân và du khách tham quan vào ngày 2-9.

htt_quocKhanhPhaiLaNgay05

“Tuyên truyền” là truyền bá những thông tin lệch lạc để quảng bá cho một mục tiêu chính trị bất chính hay một quan điểm bất minh, thì bên cạnh tin trên chúng ta cũng nên tham khảo lại một đoạn ngắn có liên quan trong “Hồi ký của Vua Bảo Đại” (*) để thêm một góc nhìn khác của sự kiện “thoái vị”.

Trích đoạn nguyên văn:

“… Tạ Quang Bửu, là người báo cho tôi (vua Bảo Đại) biết có một nhóm kháng chiến được thành lập ở miền thượng du, vùng Cao Bằng có tên là “Liên đoàn Việt Minh”. Cầm đầu nhóm này là Võ Nguyên Giáp người của Việt Minh”.

“… Có rất nhiều tin xấu đến tai tôi. Nguyễn Văn Sâm, người đại diện của tôi ở Sài Gòn chưa thấy tới nhiệm sở. Nghe tin ông ấy bị ám sát sau khi rời khỏi Huế trên đường vào Sài Gòn. Ai đã giết ông ấy??… Ở Hà Nội cũng đang xảy ra những biến cố rất quan trọng. Ngay sau khi Nhật đầu hàng, có những toán xung phong dưới quyền Võ Nguyên Giáp đột nhập vào thành phố Ngày 17-8, dưới sự xúi dục của những toán này, trong một cuộc biểu tình tụ tập 20 ngàn người trước Nhà Hát Lớn. Mọi người đều hô to “Độc lập” và trương cờ mới màu đỏ sao vàng, Cờ vàng 3 sọc đỏ của Đế quốc Việt Nam bị giựt xuống…

“Sau đó ít lâu, giám đốc Bưu điện Huế xin được gặp tôi. Ông ta đưa cho tôi một điện tín gửi đi từ Hà Nội. Nội dung bức điện tín: “Trước lòng quyết tâm của toàn thể dân tộc sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nền độc lập quốc gia, chúng tôi kính cẩn xin Hoàng Thượng làm một cử chỉ lịch sử là trao quyền lại”. Điện tín này được ký bởi “Ủy ban Nhân dân Cứu quốc đại diện mọi đảng phái và mọi tầng lớp nhân dân”. Nhưng không có tên ai ký…” (hết trích)

… “kính cẩn xin Hoàng Thượng”… cũng có nghĩa công nhận là thần dân của một Vương Triều, vậy lấy tư cách gì để buộc một Quốc Vương đang trị vì vừa thành lập Tân Chính Phủ mở đầu cho sứ mạng lấy lại độc lập trọn vẹn phải từ chức trao quyền lại cho một nhóm người vô danh tiểu tốt từ trong hang hốc núi rừng mới chui ra (Ủy ban Nhân dân Cứu quốc đại diện mọi đảng phái và mọi tầng lớp nhân dân), và… nhân dân nào? phúc quyết bao giờ? dựa trên cơ sở pháp lý từ đâu? ai công nhận?

Nói tới cái chiêu bài “bài phong đã thực” (bài bác Hoàng gia phong kiến và đánh đuổi thực dân) thì không thể không chỉ ra sự dối trá và cuồng tín chủ nghĩa cộng sản nên mù lòa thế giới quan của Hồ Chí Minh và CSVN.

Bối cảnh thế giới và tiến trình văn minh của nhân loại đã chứng minh cho CSVN thấy gần với Việt Nam, cùng thời điểm, một loạt các quốc gia Đông Nam Á đã lấy lại độc lập bằng giải pháp hòa bình mà chẳng có quốc gia nào phải hao tốn máu xương như CSVN để “đả Thực” dân cả!

Có thể nói rằng cuối thế kỷ 20 sau thế chiến II khi guồng máy phát xít xâm lược Đức, Ý, Nhật bị đập tan, dấy lên tinh thần văn minh xóa bỏ hình thức thuộc địa từ Hội Quốc Liên (LHQ) các quốc gia bị đô hộ trên thế giới (sớm hay muộn) sẽ lấy lại độc lập trong hòa bình là xu thế tất yếu như ánh bình minh vươn lên mà không cần phải phụ thuộc vào bất cứ tiếng gà gáy nào.

Còn “bài Phong” kiến ư? Tại thời điểm 1945 và hiện nay, thế giới vô số các Hoàng Gia và Vương triều ngự trị hòa bình cùng thần dân mình trong quang minh chính đại, gần Việt Nam như: Campuchia, Thailand, Malaysia, Brunei, Nhật Bản; Trung Đông như: Ả Rập Saudi, Bahrain, Bhutan, Jordan, Kuwait, Oman, Qatar… Xa hơn, Châu Âu như: Vương quốc Anh, Bắc Ireland, Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển v.v… (Canada, Australia, New Zealand vài thế kỷ qua vẫn một lòng tôn thờ nữ hoàng Anh) mà nhà nước CSVN đang ngửa tay hàng năm ăn mày viện trợ khá nhiều từ các Vương Quốc này, thì cái khẩu hiệu “bài phong đã thực” ngày đó chỉ là rác rưởi trang điểm trong nhất thời cho thủ đoạn mưu đồ du nhập và áp đặt chủ nghĩa XH/CS ngoại lai vào đất nước Việt Nam mà thôi.

Cướp được chính quyền rồi, vài tháng sau, ngày 2 tháng 9 tại Ba Đình, Hà Nội CSVN tổ chức một buổi mít tinh huy động người dân tham dự nghe Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập mà CSVN lấy ngày ấy làm “Quốc Khánh 2 tháng 9” hôm nay. 

Nội dung bản tuyên ngôn mà ngay chính đảng CSVN cũng nhìn nhận là “copy” từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn là bản “Tuyên ngôn độc lập 1776” của Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp. 

“Sử dụng hai bản tuyên ngôn này, Bác đã khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc ta”!? (Báo điện tử CSVN) (**)

Liền sau đó, “Bác” chứng minh “không có gì quí hơn độc lập tự do”, “khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc ta” bằng cách đích thân sang Tàu và Liên xô gặp Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Stalin-LeNin để “xin chỉ tiêu” (số lượng) rồi về đè dân mình ra đấu tố “đào tận gốc trốc tận rễ” gây nỗi kinh hoàng khắp các tỉnh thành miền Bắc, giết người như giết gà vịt đếm số lượng cho “đủ chỉ tiêu” báo cáo cho CS/Nga Tàu để lập công xin chính thức gia nhập vào khối quốc tế CS và cầu viện vũ khí! để làm “tiền đồn” XHCN.

Trong tuyển tập “Lịch sử kinh tế Việt Nam” (tập hai) xuất bản tại Hà Nội ghi nhận đã có 172.008 người đã bị giết trong CCRĐ. (***)

htt_quocKhanhPhaiLaNgay06
htt_quocKhanhPhaiLaNgay07
Thành quả “Độc Lập” 2-9 (Trung Quốc chỉ đạo CSVN làm theo- 1953)

htt_quocKhanhPhaiLaNgay08
Đây là thành quả “Độc Lập” 2-9, CSVN mang lại cho đồng bào Miền Nam (đặt chất nổ giết hại dân lành, không cho các đô thị miền Nam thanh bình).

Trong khi 2 tháng 9-1945 Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn dõng dạc lên án chế độ thực dân “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong những bể máu” thì đồng bào mình (hai miền Nam Bắc) đang yên lành đôn hậu làm ăn chẳng có ai “khởi nghĩa” gì ráo trọi, bỗng nhiên “Bác” nghe lời 2 đồng chí Nga Tàu ra lệnh đấu tố “tắm máu” giết gần hai trăm ngàn dân ta một cách tàn bạo, bất nhân, gây nên đảo lộn luân thường đạo lý làm tan nát ly tán hàng vạn gia đình đang êm ấm!? Cốt chỉ để lập thành tích “báo công” với quốc tế CS! 100 năm đô hộ, thực dân Pháp cũng không hề giết dân Việt tàn bạo như vậy!

Thử hỏi trên thế giới (trừ CS) thì có đảng phái, nhà nước, chính phủ quốc gia nào vô nhân đạo, cuồng tín, điên rồ bằng hành vi khát máu man rợ với ngay chính đồng bào của mình như trường hợp này?

Xương thịt của hàng trăm ngàn đồng bào bị giết oan dường như chưa tan hết nhưng hàng ngày, hàng năm, báo chí “đảng ta” vẫn cứ ra rả như thế này: “Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn bản chính luận hiện đại với hệ thống lý lẽ đanh thép có sức thuyết phục cao. Nó là kết quả của tầm nhìn sâu rộng, của bao suy nghĩ trăn trở, và hơn cả là của một tấm lòng luôn luôn hướng về đất nước, về nhân dân của Hồ chí Minh…”!?

Hướng về “đất nước, nhân dân” hay hướng về “Nga Tàu và quốc tế CS? -172.000 oan hồn CCRĐ nếu được sống lại chắc phải sôi gan “hộc máu” chết thêm một lần nữa khi nghe những luận điệu xảo trá, đạo đức giả, nêu trên!

htt_quocKhanhPhaiLaNgay09

Cũng vì “một tấm lòng luôn luôn hướng về đất nước, về nhân dân của Hồ chí Minh…” mà hàng triệu đồng bào miền Bắc “sợ quá” phải gạt nước mắt từ giã quê cha đất tổ lũ lượt kéo nhau vào miền Nam tự do lánh nạn CS, một cuộc di cư lớn nhất sau thế chiến 2 (1954)

htt_quocKhanhPhaiLaNgay10
“Nhớ đấy, ta Độc Lập là vào Nam nổ súng đánh cho Liên Xô-Trung Quốc”

htt_quocKhanhPhaiLaNgay11
Hy sinh đánh cho “Liên Xô-TQ” cho Mỹ ra về, cho Tàu Cộng vào biển Đông. Hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Bắc nằm xuống như thế này. Họ không hề biết máu xương họ ông HCM và CSVN lợi dụng như lót đường rước con voi TQ một mình một cõi vào biển Đông như dày lên mả tổ VN hôm nay.

Cũng từ tuyên ngôn 2 tháng 9 “nhà nước đảng ta” rất tuyệt đối độc lập, nhưng… “ta vào Nam nổ súng là đánh cho quốc tế CS Nga, Tàu” (Lê Duẫn) để đưa tiển vong linh hàng triệu thanh niên “sinh Bắc tử Nam” và nữa triệu đồng bào miền Nam hồn lìa khỏi xác mà mắt mở trừng trừng như gào thét oán than “Chúng tôi đâu có yêu cầu, sao các ông lại vào miền Nam giải phóng, giết chúng tôi khi chúng tôi đang ấm no hạnh phúc trong ngôi nhà của chính mình”!?.

htt_quocKhanhPhaiLaNgay12
“Bằng, Dân” hỏi: giá thật lòng?
“Linh” cười phấn khởi: “Mười Đồng” bán ngay.
(Thành Đô 3/9/1990)

Năm 1990, CSVN thể hiện sự “độc lập” lên cao trào là khi Liên Xô và quốc tế cộng sản thi nhau sụp đổ, chới với hốt hoảng không còn nơi “nương tựa” các chóp bu CSVN quay qua Trung Quốc xin chấp nối lại “tình đồng chí cũ”. Cuối năm, sau nhiều lần tích cực chủ động “ngoại giao đi đêm” các chóp bu CSVN đã chấp nhận một cuộc họp “bí mật” giữa 2 đảng CS Việt-Trung do các chóp bu CSTQ bố trí tại Thành Đô thay vì phải là chính thức tại Bắc Kinh (tránh tai mắt các hãng thông tấn và bào chí quốc tế thường trú đưa tin không có lợi).

Di lụy cuộc họp sau đó dẫn tới 900km2 đất đai (trong đó có ải Nam Quan) Bắc biên giới và hàng trăm ngàn km2 lãnh hải vịnh Bắc bộ đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc (và còn xin trong tương lai cho VN làm một phần lãnh thổ tự trị thuộc TQ!?).

Văn kiện cuộc họp Thành Đô tới nay là 24 năm, công luận trong nước trăn trở bức xúc lên tiếng hỏi nhưng các chóp bu CSVN vẫn dấu kín, giữ cho văn kiện “độc lập” tới cùng? Không cho ai xâm phạm mở ra, chỉ có nội bộ chóp bu “đảng ta” sống để dạ, chết mang theo!

Thêm một lần nữa chúng ta đọc lại một vài đoạn nổi bật trong Bản tuyên ngôn Độc Lập ngày 2 tháng 9 mà “bác ta” hùng biện:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi – Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” (HCM)

Tuy nhiên, chỉ riêng đảng CSVN là có quyền chối cãi, từ thượng tầng nhà nước trung ương đến hạ tầng cơ sở xã, huyện địa phương và các cơ quan kinh tế tài chánh ngoài xã hội khắp các tỉnh thành phố trong cả nước với hàng triệu chổ ngồi “màu mỡ, thơm tho” mà hơn 85 triệu người dân phải đổ mồ hôi sôi nước mắt đóng thuế tạo ra nhưng chỉ dành riêng cho con cháu bầy đàn những đảng viên CS ngự trị, đó là: “luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi – Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” (HCM).

Vâng! đúng là như vậy, cười ra nước mắt của tự do và bình đẳng “không ai chối cãi được”. Dưới chế độ độc tài CS toàn dân Việt Nam bầu Quốc Hội cơ quan quyền lực cao nhất của mình nhưng duy nhất chỉ được phép chọn lựa các ửng cử viên ĐB/QH là đảng viên CS do đảng CSVN đưa ra mà thôi. “Đó là bình đẳng, là lẽ phải không ai chối cãi được”(HCM)!

Một sự kiện khác, năm 1945 lịch sử ghi nhận, nương theo chiều gió chính trị ngày 11 tháng Ba năm 1945, vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama vào điện Kiến Trung để tuyên bố: Nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo. Bản tuyên ngôn đó có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện Triều đình, chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại (nguyên văn):

“Cứ theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo Hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập”. (Vua Bảo Đại)

Theo đó triều đình hoàng gia Việt Nam hủy bỏ Hòa ước Patenotre ký với Pháp năm 1884 vốn đã áp đặt nền bảo hộ thực dân lên toàn cõi nước Việt. Tiếp theo Vua Bảo Đại ban hành Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3 /1945 lấy khẩu hiệu “Dân Vi Quý” (民爲貴) làm phương châm trị quốc. Nhà sử học Trần Trọng Kim được nhà vua triệu ra Huế giao nhiệm vụ thành lập Nội các (chính phủ) mới. (Wikipedia) (****)

Tuy nhiên, vào ngày 2-9-1945, sau khi cướp được chính quyền của CP Trần Trọng Kim, ép vua Bảo Đại thoái vị – “Bác ta” copy gần như nguyên si nội dung lời tuyên bố của Vua Bảo Đại đưa vào bản tuyên ngôn để “hùng biện” trước toàn dân:

“Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” (HCM)

Hai bối cảnh, một tuyên ngôn, nội dung bản chất tương tự nhau, Vua Bảo Đại trước, Hồ Chí Minh sau.

Từ Vua Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim hướng Việt Nam đến một Hoàng Gia Dân chủ Đại nghị vốn là khuôn mẫu là các Hoàng Gia khả kính của nhiều nước phát triển văn minh trên thế giới hiện nay.

Từ Hồ Chí Minh, mang một ý đồ bịp bợm ru ngủ toàn dân để du nhập, tròng lên đầu dân ta một cái thong lọng chủ nghĩa XH/CS ngoại lai ảo vọng gây nên núi xương sông máu mà hiện nay nhân loại của thế giới đang kinh tởm nguyền rủa chôn lấp từ bỏ nó. 

Hiện tại, khi CNXH/CS sụp đổ suy tàn dù đảng CSVN biến thể như con tắc kè thay đổi màu da, ra sức tuyên truyền dối trá bóp méo tiền sử rằng “đảng” có công lãnh đạo “thống nhất đất nước vì độc lập tự do” (chứ không còn là cho quốc tế CS Nga Tàu nữa), nhưng không khó lắm để chúng ta, toàn dân Việt, nhận diện toàn cục, cụ thể hai mặt phải trái lươn lẹo trí tráo của vấn đề này.

htt_quocKhanhPhaiLaNgay13
htt_quocKhanhPhaiLaNgay14
“Độc Lập 6 sao” và công nhận biển đảo nước mình là của “thiên hạ”

Đúc kết lại, ông Hồ Chí Minh biến ngày 2 tháng 9-1945 thành một cổ máy mà CSVN vận hành, trình tự tạo ra những sản phẩm:

– 1954 Du nhập CNCS, chia đôi đất nước, làm ly tán lòng người hàng chục vạn gia đình với hàng triệu người miền Bắc chạy trốn vào Nam.

– 1953-1956 Triển khai đấu tố CCRĐ, thảm sát 172.000 đồng bào vô tội. 

– 1958 Ký công hàm bán nước (một vấn nạn VN nan giải với Trung cộng hiện nay). 

– 1945-1975 Tạo ra nội chiến cốt nhục tương tàn, 30 năm một thế hệ thanh niên hy sinh vô nghĩa.

– 1975 Phá hoại Hiệp định Paris, đánh chiếm miền Nam, hủy diệt (cải tạo công thương nghiệp) một nền kinh tế miền Nam trù phú đang năng động phát triển đồng bộ với các quốc gia Đông Nam Á.

– 1975 Kết thúc chiến tranh, vẫn còn đày đọa vô nhân đạo giết hại trong lao tù rừng sâu nước độc hàng trăm ngàn nhân sĩ, quân cán chính tinh hoa của miền Nam, của đất nước, là đồng bào anh em với chính họ.

– 1990 Hội Nghị “bí mật” Thành Đô (làm hao hụt cương thổ quốc gia).

– Lấy vũ khí Trung cộng đẩy Mỹ đi bằng máu xương Việt Nam, thay đổi diện mạo “địa chính trị” cho Tàu cộng có cơ hội một mình một cõi vào biển Đông xâm lược biển đảo thách thức đe dọa an ninh và chủ quyền của quốc gia hiện nay.

Và điều đáng suy nghĩ rất đớn đau trong trái tim mọi người dân Việt, khởi đầu từ ngày 2 tháng 9 năm 1945, 70 năm hao tốn thời gian và xương máu cho một chủ nghĩa XH/CS mà ngày nay bị nhân loại nguyền rủa, đang lụi tàn, còn Việt Nam lại là một trong 4 nước XHCN/CS độc tài lạc hậu lẻ loi còn sót lại trên 190 quốc gia tư bản tự do hay đa nguyên dân chủ, mà hàng năm “nhà nước, đảng ta” phải cúi mặt xin ăn mày viện trợ “tư bản giãy chết” và mấy trăm ngàn con em Việt Nam phải tha phương cầu thực hành nghề vợ hờ, osin, bán sức lao động như nô lệ nơi hai nước giàu mạnh nằm ở tóp hàng đầu thế giới là Đài Loan và Hàn Quốc, hai quốc gia có cùng số phận lãnh thổ bị chia cắt do ý thức hệ CS như VN nhưng mục tiêu tối thượng của Đài Loan và Hàn Quốc là trước hết “dân phải giàu thì nước mới mạnh” chứ dứt khoát không “thống nhất” bằng mọi giá, nhất là giá máu xương của nhân dân cho chủ nghĩa cộng sản… như CSVN.

Khái quát dẫn chứng cụ thể như thế để chúng ta, những người dân Việt hiểu rằng, lịch sử bản chất vốn dĩ là một đường thẳng tuyệt đối, không một thế lực nào uốn cong hay bẻ gãy được. Giống như vậy, tội ác ghi bằng máu của đồng bào là một vết nhơ không một chất cường toan nào có thể xóa nổi, nó lưu lại mãi trong ký ức và trong mọi trái tim nhân bản Việt, dù có là hàng ngàn năm sau nữa.

Nếu không vì thiếu hiểu biết hay mất trí hoặc điên khùng, thì chỉ có phường lưu manh bịp bợm mới hân hoan “bắn pháo hoa” chào mừng cái ngày 2 tháng 9, một ngày bất hạnh tạo nên chất chồng những sự kiện đáng buồn không thể chối cãi ấy của đất nước dân tộc, mà đơn giản dễ hình dung ra nhất (xin lập lại) là hãy nhìn sang Hàn Quốc, họ chưa cần “thống nhất” với Bắc triều Tiên, nhưng hàng trăm ngàn con cháu Việt Nam phải tự nguyện xếp hàng thi nhau sang Hàn Quốc “ở đợ”? và CSVN tự hào là “thống nhất” nhưng phải “cống hiến” một phần đất trời biển đảo (chắc chắn không bao giờ lấy lại được) của cha ông cho “đồng chí” xâm lược Trung cộng.

Và vì vậy, nhà nước CSVN bản chất vốn dĩ hay tuyên truyền và dối trá nên họ nói gì thì cứ nói, nhưng có “khua môi múa mỏ” như thế nào chăng nữa thì thế giới đã chứng minh XHCN chỉ là ảo vọng, không hề có thật và “Chủ nghĩa Cộng Sản là tội ác chống nhân loại” với hàng trăm triệu nạn nhân trong đó có Việt Nam mà Hồ Chí Minh là một trong những thủ phạm đã được nhận diện chỉ danh đích thị (*****) thì Quốc Khánh của Việt Nam phải là (một ngày nào đó): Chấm dứt chế độ “CS/độc tài” mới mang đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của chính nó.

(Có thể “ai đó” cho rằng luận điệu này là xuyên tạc, phản động thì xin phản biện “chỉ giáo” ra những cái phản động, xuyên tạc trong bài viết trên, tại trang mạng này). Hy vọng và cám ơn lắm thay!

Hoàng Thanh Trúc

(*)http://www.viet-studies.info/kinhte/BaoDai_HCM_DL.htm
(**)http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30505&cn_id=57830
(***)http://lichsuvn.net/forum/showthread.php?t=30947
(****)vi.wikipedia.org/wiki/Đế_quốc_Việt_Nam
(*****)http://www.danchimviet.info/archives/74055/thoi-bao-ba-lan-xep-hang-ho-chi-minh/2013/03

https://doithoaionline.wordpress.com/2014/08/31/quoc-khanh-phai-la-ngay-danh-dau-cham-dut-che-do-doc-tai/
31/8/2014

Nguồn: http://www.geocities.ws/xoathantuong/htt_quocKhanhPhaiLaNgay.htm 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Các cường quốc và VN sau thế chiến II – (Bối cảnh cộng sản VN cướp chính quyền)

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2015

Các cường quốc và VN sau thế chiến II

Tác giả: 

19-8-2015

Phái đoàn Nhật Bản trên boong tàu Michouri

1.- THẾ CHIẾN THỨ 2 CHẤM DỨT TẠI Á CHÂU

Lãnh tụ Đức Quốc Xã Adolf Hitler tự tử ngày 30-4-1945. Đức Quốc Xã đầu hàng Đồng minh ngày 7-5-1945. Thế chiến thứ 2 chấm dứt tại Âu Châu.

Tại Á Châu, Nhật Bản tiếp tục chiến đấu chống Trung Hoa, Anh và Hoa Kỳ. Lúc đó Nhật Bản vẫn còn bang giao với Liên Xô. Nhật Bản ký hòa ước bất tương xâm với Liên Xô từ ngày 13-4-1941. Khi tự biết sắp thua trận, bộ Ngoại giao Nhật báo cho đại sứ Nhật ở Moscow (thủ đô Liên Xô) ngày 12-7-1945 rằng Nhật hoàng muốn nhờ Liên Xô đứng làm trung gian với Đồng minh, để thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh. Đại sứ Nhật ở Moscow trình bày lại ý định của chính phủ Nhật với bộ Ngoại giao Liên Xô. Chính phủ Liên Xô làm thinh, không trả lời.

Ngày 6-8-1945, Hoa Kỳ thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hiroshima (Nhật Bản), giết chết 130,000 người. Liên Xô biết Nhật sẽ phải đầu hàng, liền mời đại sứ Nhật tại Moscow đến bộ Ngoại giao Liên Xô lúc 5 giờ chiều 8-8-1945 và ngoại trưởng Mikhailovich Molotov (Liên Xô) thông báo cho đại sứ Nhật biết rằng Liên Xô quyết định tuyên chiến với Nhật. (Basil Collier, The Second World War: a Military History, Gloucester, Mass.: Peter Smith, 1978, tt. 529-530.)

Sáng sớm hôm sau (9-8-1945), Liên Xô tràn quân qua chiếm Mãn Châu, và vùng đông bắc Trung Hoa, chỉ vài giờ trước khi Hoa Kỳ dội thêm quả bom nguyên tử thứ hai xuống thành phố Nagasaki, giết chết 75,000 người.

Nhật hoàng Hiro Hito (trị vì 1926-1989) tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện ngày 14-8-1945. Hiệp ước đầu hàng được ký kết trên chiến hạm Missouri (Hoa Kỳ), thả neo trong vịnh Đông Kinh (Tokyo) ngày 2-9-1945. Như thế là thế chiến thứ 2 hoàn toàn chấm dứt ở Á Châu.

2.- HỘI NGHỊ YALTA (4-2 đến 14-2-1945)

Ở Âu Châu, trước khi Đức đầu hàng, đại diện ba cường quốc Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô họp hội nghị thượng đỉnh tại Yalta, một thành phố nghỉ mát ở Crimea, phía tây nam Liên Xô từ 4-2 đến 14-2-1945. Tại đây, Winston Churchill (thủ tướng Anh), Franklin Roosevelt (tổng thống Hoa Kỳ), và Joseph Stalin (bí thư thứ nhứt đảng CS Liên Xô), bàn về việc phân chia vùng ảnh hưởng ở Âu Châu, chính là phân chia Đức và các nước chịu ảnh hưởng của Đức, việc thành lập Liên Hiệp Quốc và việc Liên Xô tham chiến chống Nhật Bản ở Á Châu, vì lúc đó Liên Xô chưa tuyên chiến với Nhật Bản.

Riêng về vấn đề Đông Dương, thuộc địa cũ của Pháp, ngoại trưởng Hoa Kỳ là Edward Reilly Stettinius chính thức trình bày kế hoạch Quốc tế quản trị (International trusteeship) cho Đông Dương trong phiên họp ngày 9-2-1945 tại hội nghị Yalta. Theo kế hoạch nầy, sau khi Nhật Bản đầu hàng, Đông Dương sẽ được đặt dưới quyền của một Hội đồng Quốc tế quản trị gồm đại diện Hoa Kỳ, Trung Hoa, Pháp, Liên Xô, các nước Đông Dương và Phi Luật Tân. Hội đồng quản trị sẽ hoạt động trong vòng năm mươi (50) năm, cho người Đông Dương đủ sức tự trị, rồi mới giao trả độc lập cho các nước Đông Dương, giống như kinh nghiệm nước Phi Luật Tân. Thủ tướng Anh Winston Churchill cực lực phản đối kế hoạch International trusteeship. (W. A. Williams, T. McCormick, L. L. Gardner, W. LaFerber, America in Vietnam, New York: W. W. Norton, 1989, tr. 31.)

Theo Franklin Roosevelt, tại Yalta lãnh tụ Liên Xô là Joseph Stalin đồng ý kế hoạch nầy. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tr. 204.) Tuy nhiên, tháng 8-1945, ngoại trưởng Liên Xô là Molotov lại phủ nhận việc Quốc tế quản trị ở Đông Dương. (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I: 1945-1954, Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội, 2002, tr. 221.)

Tổng thống Franklin Roosevelt từ trần ngày 12-4-1945 trong lúc đương nhiệm. Phó tổng thống Harry Truman lên thay, và thay luôn chính sách Hoa Kỳ về Đông Dương. Lý do thay đổi có thể do Truman lo ngại kế hoạch International Trusteeship ở Đông Dương làm mất lòng Pháp, và Pháp có thể gây khó khăn trong việc ngăn chận sự bành trướng của Liên Xô ở Âu Châu. Vì vậy, Truman chủ trương tôn trọng chủ quyền Pháp ở Đông Dương, để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu. (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31.) Đây là một thay đổi quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Dương.

3.- HỘI NGHỊ POTSDAM (17-7 đến 2-8-1945)

Sau khi Đức thất trận và đầu hàng ngày 7-5-1945, đại diện Hoa Kỳ là tổng thống Harry Truman, đại diện nước Anh lúc đầu là thủ tướng Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Joseph Stalin, bí thư thứ nhất đảng CSLX, cùng họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, cách 17 dặm về phía tây nam Berlin (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945. Hội nghị có mục đích bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, phân chia các khu vực chiếm đóng, việc tái thiết nước Đức và các điều kiện đưa ra cho nước Đức thất trận.

Bên cạnh đó, cũng tại Potsdam, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (tổng thống Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh), không tham khảo ý kiến của Pháp, cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật ngày 26-7-1945. Lúc đó, Nhật còn tiếp tục chiến đấu ở Á Châu. Liên Xô không tham dự vào tối hậu thư vì Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu và chưa tuyên chiến với Nhật.

Tối hậu thư nầy, thường được gọi là tối hậu thư Potsdam, buộc Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh, như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc… Riêng về Đông Dương, quân Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc và do quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16. (Ngang qua thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.) Tối hậu thư Potsdam không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương.

Điều nầy sẽ tạo ra một khoảng trống hành chính và chính trị tại Đông Dương một khi những quyết định trong tối hậu thư Potsdam được thi hành, vì nếu Nhật đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, sẽ sụp đổ, thì ai sẽ là người có thẩm quyền tại Đông Dương? Phải chăng Anh và Hoa Kỳ cố tình bỏ ngỏ khoảng trống chính trị để tạo điều kiện cho Pháp trở lại Đông Dương?

4.- NGƯỜI HOA KỲ LIÊN LẠC VỚI VIỆT MINH

Tại Cao Bằng, ngày 11-11-1944, một máy bay trinh sát Hoa Kỳ bị lâm nạn vì hỏng máy ở biên giới Hoa Việt. Trung uý phi công Rudolph Shaw nhảy dù ra khỏi phi cơ và được một đơn vị du kích Việt Minh (VM) tìm thấy. Họ đưa Shaw đến gặp Hồ Chí Minh (HCM) ở Pắc Bó. (William Duiker, Ho Chi Minh a life, New York: Hyperion, 2000, tt. 282-283.)

Đây là cơ hội tốt cho HCM, vì từ lâu HCM muốn kiếm cách liên lạc với người Hoa Kỳ để nhờ giúp đỡ. Hồ Chí Minh đích thân đưa phi công Rudolph Shaw đến căn cứ Hoa Kỳ tại Côn Minh (Vân Nam), trả lại cho quân đội Hoa Kỳ. Nhân cơ hội nầy, HCM xin tiếp kiến tướng Claire L. Chennault, tư lệnh Không đoàn 14 của Hoa Kỳ tại Hoa Nam, nhưng bị từ chối. (R. Bartholomew-Feis, The OSS and Ho Chi Minh, unexpected Allies in the War against Japan, University Press of Kansas, 2006, tr. 111.)
Tuy nhiên, sau khi quân đội Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương ngày 9-3-1945, người Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi thái độ đối với VM và HCM. Ngoài những hậu quả chính trị trực tiếp, cuộc đảo chánh nầy đưa đến vài hậu quả ngầm đáng chú ý như sau:

Thứ nhứt, các lực lượng Pháp trên toàn cõi Đông Dương bị tê liệt. Quân đội người Việt thuộc quyền chỉ huy của Pháp như lính khố đỏ, lính khố xanh, lính khố vàng, cũng ngưng hoạt động. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập ngày 17-4-1945, không có bộ Quốc phòng, không có quân đội. Quân đội Nhật thay thế quân đội Pháp, nhưng quân đội Nhật chỉ kiểm soát các thành phố, các trục lộ giao thông, và chú tâm lo việc rút quân về nước. Nhật không tổ chức quân đội địa phương người Việt, không kiểm soát được an ninh các vùng nông thôn và rừng núi.

Việt Minh nhân cơ hội nầy hoạt động và phát triển mạnh mẽ, xây dựng lực lượng hạ tầng, tổ chức các đội du kích địa phương, nhất là vùng rừng núi. Lúc đó, nạn đói đang trầm trọng. Việt Minh cướp các kho gạo (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions Du Seuil, 1952, tr. 131), hoặc VM âm thầm chận bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo từ miền Nam ra, rồi đem tiếp tế cho mật khu của họ. (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power, University of California Press, Berkeley, 1995, tt. 102-103.)

Việt Minh dùng thực phẩm cướp được làm phương tiện tuyên truyền, chiêu dụ dân chúng gia nhập VM. Ai theo VM thì có thực phẩm mà ăn. Ví dụ nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) về sau tự thú nhận rằng ông theo VM vì bản thân và gia đình quá đói. (Văn Cao, “Tại sao tôi viết Tiến quân ca”, viết ngày 7-7-1976, đăng lại trong sách Thiên Thai, tuyển tập nhạc Văn Cao, TpHCM: Nxb Trẻ, 1988, tt. 14-17.)

Thứ hai, Pháp bị Nhật lật đổ. Tình báo Pháp ở Đông Dương bị hạn chế, trong khi đó quân Đồng minh cần tin tức về hoạt động của quân đội Nhật Bản bên trong Đông Dương. Người Hoa Kỳ không tin tưởng những tổ chức chính trị và những đảng phái Việt Nam thân Nhật trong nước, hay có liên hệ với Nhật, nên không nhờ đến họ. Việt Minh chống các đảng phái nầy và chống quân đội Nhật. Do đó, trước đây người Hoa Kỳ không muốn quan hệ với HCM. Nay người Hoa Kỳ thay đổi thái độ, muốn nhờ VM cung cấp tin tức hoạt động của quân đội Nhật Bản ở Đông Dương.

Chiều 17-3-1945, trung uý Charles Fenn, sĩ quan O.S.S., lần đầu tiên đến gặp HCM tại Côn Minh (Kunming) thuộc tỉnh Vân Nam (Yunnan). Ba ngày sau (20-3-1945), hai bên gặp nhau lần thứ hai, bàn chuyện HCM trở về Việt Nam, thiết lập những trạm tình báo, trang bị máy vô tuyến của O.S.S., và O.S.S. sẽ huấn luyện chuyên viên người Việt. O.S.S. tức Office of Strategic Services (Sở tình báo chiến lược) là tiền thân của C.I.A. (Central Intelligence Agency).

Charles Fenn đặt cho HCM một bí danh là Lucius. Hồ Chí Minh xin Charles Fenn cho gặp tướng Claire L. Chennault. Fenn đồng ý với điều kiện HCM không được yêu cầu Chennault giúp đỡ bất cứ viện trợ gì. Cuối cuộc gặp gỡ ngày 29-3-1945, HCM xin tướng Chennault tặng một tấm hình lưu niệm và được Chennault chấp thuận. (Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam?, California: University of California Press, Berkely, 1980, tr. 58.) Dưới tấm hình, Claire Chennault viết: “Yours Sincerely, Claire L. Chennault.” Có tài liệu kể rằng trong một cuộc họp ở chiến khu trước năm 1945, HCM dùng tấm hình nầy để tuyên truyền rằng ông ta được quân đội Hoa Kỳ ủng hộ.

5.- HOẠT ĐỘNG CỦA O.S.S. TẠI VIỆT NAM

Có hai toán O.S.S. phụ trách vấn đề Việt Nam. Toán thứ nhứt là O.S.S. 202 do thiếu tá Archimedes L. A. Patti làm trưởng toán, đóng trụ sở ở Côn Minh (Kunming, Vân Nam, Trung Hoa). Toán thứ hai là O.S.S. 404 do trung tá Peter Dewey làm trưởng toán, đóng trụ sở ở Tích Lan (Ceylon tức Sri Lanka).

Khoảng giữa tháng 4-1945, HCM cùng hai nhân viên vô tuyến của O.S.S. về Cao Bằng. Từ đây, O.S.S. chính thức hợp tác với VM. Ngày 16-7-1945, A. Patti gởi một toán tình báo hỗn hợp Mỹ-Pháp, do thiếu tá Allison K. Thomas chỉ huy, gồm 6 người, nhảy dù xuống làng Kim Lộng (Tân Trào, Tuyên Quang). Toán tình báo nầy bắt tay ngay vào việc, lập một phi trường tạm thời cho phi cơ nhỏ hạ cánh, chọn 100 cán bộ VM để huấn luyện. (Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người & huyền thoại, tập 2: 1925-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa, tt. 358-359.)

Sau khi Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945, thiếu tá A. Patti, trưởng toán O. S. S. 202, đến Hà Nội ngày 22-8-1945 bằng phi cơ. Patti khá thân thiện với giới lãnh đạo VM, đã giúp HCM soạn và sửa lại bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945. (A. Patti, sđd. tr. 223.) Đây là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai. Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên do vua Bảo Đại công bố tại Huế ngày 11-3-1945.

Những sĩ quan O.S.S. khuyến khích VM đòi độc lập, tách ra khỏi nước Pháp, hướng về phía Hoa Kỳ, và hứa hẹn Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam xây dựng lại nền kinh tế đã suy sụp, tái thiết lại các hải cảng và các thiết lộ. (Philippe Devillers, sđd. tr. 202.)

Tại Nam Kỳ, theo kế hoạch Embarkment, để điều tra tội phạm chiến tranh ở Đông Dương, trung tá Peter Dewey, trưởng toán O.S.S. 404 (Hoa Kỳ) ở nam Đông Dương, đến Sài Gòn ngày 2-9-1945. Ngày 26-9-1945, trung tá Dewey bị bắn chết trên đường từ phi trường về trụ sở O.S.S.. Nguyên nhân do phía VM đưa ra là vì tướng Douglas Gracey, tư lệnh lực lượng Anh đến Sài Gòn giải giới quân đội Nhật, không cho phép Peter Dewey trương cờ Mỹ khi di chuyển, nên Dewey bị tưởng lầm là người Pháp và bị bắn.

Sau biến cố nầy, ngày 29-9-1945, thiếu tá A. Patti ở Hà Nội được lệnh rút khỏi Việt Nam. Ngày 1-10-1945, A. Patti rời Hà Nội đi Côn Minh (Kunming, Trung Hoa), chấm dứt nhiệm vụ của ông tại Việt Nam. (A. Patti, sđd. tr. 364.) Toán tình báo O.S.S. bị rút khỏi Việt Nam có thể vừa vì cả Pháp lẫn VM đều không muốn toán O.S.S. có mặt ở Hà Nội.

Dư luận về phía Pháp cho rằng toán O.S.S. chống lại sự trở lui của người Pháp. Có thể vì dư luận nầy, ngày 5-10-1945, thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Dean Acheson (từ 1945 đến 1947) gởi cho đặc phái viên O.S.S. ở Côn Minh một điện văn báo cho biết rằng Hoa Kỳ “không phản đối cũng không tham dự việc Pháp tái lập sự kiểm soát Đông Dương.” (“neither opposed nor assisted reestablishment of French control in Indochina”). (A. Patti, sđd. tr. 379).

Về phía VM, khi nhóm O.S.S. đến Việt Nam, tuy bề ngoài thân thiện, nhưng VM lo ngại các nhân viên O.S.S. theo chế độ dân chủ, lại chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền Quốc Dân Đảng Trung Hoa, sẽ ủng hộ VNQDĐ, Việt Cách, Đại Việt, là các đảng phái chính trị theo lý tưởng dân tộc, dân chủ, đối lập với VM cộng sản. Nhân viên O.S.S. rút đi là điều VM mong muốn, vì không có người nước ngoài, VM sẽ dễ thi hành kế hoạch tiêu diệt các đảng phái đối lập, chiếm độc quyền chính trị.

6.- CÁC NƯỚC CỘNG SẢN

Khi VM chiếm chính quyền năm 1945, đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) do Mao Trạch Đông lãnh đạo đang tranh đấu với Quốc Dân Đảng Trung Hoa do Tưởng Giới Thạch đứng đầu, nên đảng CSTH chưa giúp được gì nhiều cho VM.

Hồ Chí Minh về Hà Nội vào tháng 8-1945 để chuẩn bị cướp chính quyền, thì Stephane Solosieff, người Liên Xô, có thể là nhân viên tình báo, có mặt ở Hà Nội để theo dõi tình hình. Tại Hà Nội, Solosieff chủ động tìm gặp trưởng toán tình báo Hoa Kỳ (O.S.S) ở Hà Nội là thiếu tá A. Patti. (A. Patti, sđd. tr. 178.) Phải chăng Solosieff muốn báo cho phía Hoa Kỳ biết rằng đại diện của Liên Xô cũng đang có mặt ở Hà Nội để theo dõi tình hình? Lúc đó, không ai biết Solosieff liên lạc như thế nào với HCM?

Ngày 28-8-1945, đại sứ Liên Xô ở Pháp là A. E. Bogomolov gởi về Moscow một công điện đề nghị áp dụng chế độ Quốc tế quản trị (International trusteeship) tại Việt Nam. Ngoại trưởng Liên Xô là Mikhailovich Molotov đã chỉ thị rằng “Liên Xô không có lập trường như vậy”. (Đặng Phong, sđd. tr. 221.) Chỉ thị của Molotov cho thấy Liên Xô không đồng ý chủ trương Quốc tế quản trị. Lúc đó Liên Xô mới đặt nền thống trị tại các nước Đông Âu do quân đội Liên Xô chiếm đóng sau khi Đức bại trận. Liên Xô không muốn các nước khác xen vào chuyện Đông Âu và không muốn có chuyện Quốc tế quản trị ở Đông Âu, nên Liên Xô bác chuyện Quốc tế quản trị ở Việt Nam. Hơn nữa, Liên Xô muốn lấy lòng Pháp để vận động Pháp chống lại kế hoạch của Hoa Kỳ ở Tây Âu.

Hồ Chí Minh ra mắt chính phủ VNDCCH tại Hà Nội ngày 2-9-1945. Ngày 22-9-1945, HCM ký dưới tên là Hoshimin, gởi cho Stalin một công điện thông báo việc thành lập nước VNDCCH, nhưng không được Moscow trả lời hay chúc mừng. Ngày 21-10-1945, Hoshimin gởi một công điện thứ hai. Công điện nầy đến tay V. G. Dekanzonov, thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô. Ông nầy chuyển bức công điện cho Vụ trưởng vụ châu Âu I của Liên Xô với ghi chú: “Đề nghị không trả lời, đưa vào lưu trữ.” (Đặng Phong, sđd. tr. 221.)

Trong khi đó, lễ đầu hàng và giải giới quân đội Nhật Bản tại Việt Nam chính thức được tổ chức ngày 28-9-1945 ở Hà Nội tại phủ toàn quyền Pháp cũ, dưới sự chủ trì của Lư Hán và đại diện Đồng minh. Trong phòng hành lễ treo bốn lá cờ Hoa Kỳ, Anh Quốc, Trung Hoa và Liên Xô, không có cờ Pháp. Ngoài đại diện các nước Đồng minh, còn có sự hiện diện của đại diện Liên Xô là Stephane Solosieff. (A. Patti, sđd. tt. 360-361.)

Tại Hà Nội không có phái bộ ngoại giao của Liên Xô. Phái đoàn Ba Lan (Poland) thay mặt cho Liên Xô trong những liên lạc ngoại giao với Việt Nam. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 233.) Lúc đó, sau thế chiến thứ 2, Liên Xô bận rộn giải quyết những khó khăn kinh tế trong nước và nhất là đang lo đối phó với những khó khăn ở các nước Đông Âu mà Liên Xô mới chiếm đóng. Hơn nữa, chiến tranh lạnh chưa xảy ra, Liên Xô ít có quyền lợi ở Viễn đông nên chưa mấy chú ý đến Việt Nam. Tuy vậy, chắc chắn Liên Xô không ngừng theo dõi tình hình chính trị Việt Nam, và không ai biết rõ sự liên lạc bí mật giữa hai đảng cộng sản của hai nước như thế nào?

(Toronto, 18-08-2015)

© Trần Gia Phụng

© Đàn Chim Việt

Nguon: danchimviet.info

Bác sĩ Nguyễn Tường Bách-Người kết thúc chiến tranh quốc cộng 1945

Ông Nguyễn Tường Bách

Sự ra đi của Bác sĩ Nguyễn Tường Bách ngày 11/5/2013 tại Fountain Valley , Orange County, California, hưởng thọ 97 tuổi, đã hoàn toàn kết thúc cuộc chiến tranh Quốc-Cộng 1945…(về phe Quốc Gia). Phe Quốc Gia ở đây được định nghĩa là những người chống lại lý thuyết Mác Xít, chống lại Cộng sản. Phe Cộng sản thì vẫn còn một người thuộc thành phần lãnh đạo từ thời 1945 là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cũng nên biết thêm, cụ Bách là cộng tác viên thân cận của nhóm Tự Lực Văn Đoàn từ ngày nhóm này ra số báo Phong Hóa đầu tiên (thời gian này nhóm chưa lấy tên là TLVĐ).

Về quân sự cụ Võ Nguyên Giáp đi trước cụ Bách. Vào năm 1944 trong khi cụ Bách mới tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội thì theo tài liệu của Cộng sản, vào ngày 22-12-1944 tại Cao Bằng cụ Giáp thành lập Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam) tại chiến khu Trần Hưng Đạo, lúc đó có 34 người được trang bị 2 súng ngắn, 17 súng trường, 14 súng kíp và duy nhất một súng máy. Nhưng không có tài liệu hay chứng cớ nào cho thấy sau đó lực lượng vũ trang vài chục người đó được phát triển nhiều hơn. Lịch Sử đảng Cộng sản cũng thừa nhận sau khi Nhật thất trận, các tù nhân chính trị được chính phủ Trần Trọng Kim trả tự do, trong đó có cả những tù nhân cộng sản, thì số lượng đảng viên cộng sản chỉ khoảng 5 ngàn người. Đấy là con số do cộng sản công bố; con số thực có lẽ ít hơn nhiều.

Phe Quốc gia gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng, và Đại Việt có lẽ số đảng viên cũng không nhiều hơn. Lúc đó Bác sĩ Nguyễn tường Bách sáng lập lực lượng Quốc Gia Thanh Niên Đoàn, đồng thời chỉ huy lực lượng quân sự của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Bác sĩ Bách cũng thú nhận số đảng viên và lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng không nhiều và so với lực lượng của cộng sản có phần yếu hơn (xem hồi ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua và tập truyện Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn của Ng. Tường Bách).

Do tình cờ lịch sử, cả hai cụ Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Tường Bách đều có một số điểm tương đồng. Trước tiên, cả hai cụ cùng ở vị trí lãnh đạo cao cấp của hai lực lượng chống đối nhau thời 1945: Cụ Bách ở Việt Quốc, cụ Giáp ở Việt Minh, một tổ chức của Cộng Sản dựng lên để thu hút thành phần yêu nước cũng tương tự như tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau này được Cộng Sản Miền Bắc lập nên năm 1960, trá hình là một tổ chức yêu nước của nhân dân miền Nam. Cả hai cụ đều là nhân vật lãnh đạo lực lượng vũ trang của tổ chức của mình. Và thật lạ lùng, cả hai cụ cùng trường thọ và là hai vị cuối cùng thuộc giới lãnh đạo cao cấp trong cuộc tranh chấp Quốc Cộng 1945. Bác sĩ Bách vừa mãn phần ở tuổi 97; cụ Võ Nguyên Giáp vẫn còn sống và đã 103 tuổi.

Cả hai cụ cùng là trí thức tiểu tư sản. Cụ Võ Nguyên Giáp xuất thân cử nhân luật và là giáo sư sử tại trường trung học Thăng Long, một trường trung học nổi tiếng vì có nhiều giáo sư nổi tiếng nhất Hà Nội thập niên 1930. Trong thời gian đó cụ Nguyễn Tường Bách học đại học Y khoa Hà Nội và tốt nghiệp Bác sĩ năm 1944, ở tuổi 28, cùng lớp với Giáo Sư Thạc Sỹ Y Khoa Trần Đình Đệ, cựu Khoa trưởng Đại học Y khoa miền Nam. Cụ Võ Nguyên Giáp lớn hơn Bác sĩ Bách 5 tuổi nên hoạt động chính trị có lẽ trước Bác sĩ Bách cũng khoảng từng ấy năm. Vào thập niên 1930 – 1940 thanh niên Việt Nam hoạt động trong các tổ chức bí mật chống Pháp ở tuổi rất trẻ. Trong hồi ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua ( hồi ký VNMTKQ) ở trang 36, cụ Bách cho biết tinh thần cách mạng chống Pháp của học sinh trường Bưởi như sau, “một bạn học năm thứ ba (ghi chú của người viết, tức là mới lớp 8) có đến tìm tôi (ghi chú của người viết, lúc đó cụ Bách mới 13 tuổi và học lớp 6), và đưa một tờ truyền đơn ký tên là “Thanh Niên Ái Quốc,” rủ tôi vào một tiểu tổ lúc đó thành lập ngay trong trường. Tôi ngỏ ý tán thành.” Sau này, Bác sĩ Bách khởi đầu hoạt động chính trị từ thời còn là sinh viên y khoa trong đảng Đại Việt Dân Chính do nhà văn Nhất Linh là anh ông thành lập khoảng 1939.

Cả cụ Võ Nguyên Giáp lẫn Bác sĩ Bách đều không được huấn luyện quân sự mà đều được tổ chức của mình trao nhiệm vụ lãnh đạo quân sự. Điều đó cho thấy lực lượng quân sự của cả hai bên lúc đó đều không đủ mạnh để đương đầu với thực dân Pháp. Cụ Bách từng cười mà nói với tôi, “Chú là bác sĩ mà anh em giao cho chỉ huy quân sự thì đủ hiểu là lực lượng mình không mạnh!”

Cả hai cụ đều là đại biểu trong Quốc Hội khóa 1 năm 1946. Cụ Giáp là đại biểu của Cộng sản (núp dưới danh xưng Việt Minh). Bác sĩ Bách là đại biểu của Việt Quốc.

Trong chính phủ Liên Hiệp Quốc Cộng cụ Giáp giữ chức Bộ Trưởng Nội Vụ. Bác sĩ Bách tuy không tham gia chính phủ Liên Hiệp nhưng khi tôi hỏi vấn đề này thì Bác Sĩ Bách cho biết cụ đã có hai người anh tham gia chính phủ Liên Hiệp với tư cách Bộ Trưởng rồi, đó là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam là Bộ Trưởng Ngoại Giao và nhà văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long làm Bộ Trưởng Kinh Tế nên đảng Việt Quốc trao cho cụ trọng trách tổ chức nội bộ đảng. Nhưng cụ cũng cho biết trong công tác chính phủ hàng ngày cụ cũng tham gia với tư cách đại biểu của Việt Quốc, do đó cụ cũng nhiều lần trực tiếp gặp cụ Hồ Chí Minh và cụ Võ Nguyên Giáp cũng như các thành viên khác của Cộng Sản trong Quốc Hội và Chính Phủ.

Cả hai cụ đều là những nhân vật lãnh đạo cuối cùng của tổ chức của mình còn sống sót từ thời 1945 cho tới đầu thế kỷ 21. Bác sĩ Bách tuy khoảng hai năm cuối sức khỏe đã yếu, không đi lại được, nhưng tinh thần vẫn còn minh mẫn, vẫn còn trả lời những câu hỏi liên quan tới các hoạt động văn hóa của TLVĐ và các hoạt động vũ trang chống Cộng thời 1945 cho tới lúc cụ và lực lượng Việt Quốc thất bại phải bôn tẩu sang Trung Quốc năm 1946.

Trong hai, ba tháng cuối trước khi qua đời Bác sĩ Bách tuy còn tỉnh táo nhưng đã kém trí nhớ; cụ quên cả tên những người cháu tới thăm cụ, ngay cả tôi cụ cũng không nhớ tên, chỉ biết là cháu gọi bằng chú. Thời gian này chỉ kéo dài vài tháng và Bác sĩ Bách không phải trải qua giai đoạn dùng dụng cụ trợ sinh (life support) trước khi qua đời. Như thế Bác sĩ Bách đã có một sự ra đi mau mắn của người già, một điều mà những người già đều mơ ước. Đây là một may mắn cho cụ.

Cụ Võ Nguyên Giáp không may mắn bằng. Tuy “còn sống” nhưng nghe nói từ lâu cụ Giáp đã không còn biết gì hết, phải dùng dụng cụ trợ sinh (life support).

Là em út trong gia đình Nguyễn Tường, cụ Nguyễn Tường Bách đã là một trong những cây bút trẻ nhất góp mặt trong những số báo Phong Hóa đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Lúc đó cụ mới 17 tuổi, chưa xong trung học. Tôi hỏi cụ, “Lúc đó chú tới tòa báo với tư cách một chú em nhỏ tới chơi xem các anh của chú làm báo hay chú tới với tính cách ngang hàng của người cộng tác?” Cụ nói, “Tuy lúc đó chú nhỏ, nhưng chú tới với tính cách người cộng tác; chú viết mà.”

Tuy sau này khi từ giã gia đình ra đi làm cách mạng, Bác sĩ Bách ở hoàn cảnh một gia đình khá giả như chàng Dũng trong Đoạn Tuyệt hay Đôi Bạn, hai cuốn tiểu thuyết của Nhất Linh, nhưng khởi đầu cụ Bách sinh ra trong một gia đình nghèo. Có thể nói là cực nghèo (xem hồi ký về Gia Đình Nguyễn Tường của cụ Nguyễn Thị Thế, em gái cụ Nhất Linh). Tuy ông nội cụ làm tri huyện (tương đương quận trưởng hay chủ tịch huyện) Cẩm Giàng, nhưng qua đời đã lâu và gia đình trở nên túng quẩn. Bố cụ Bách lại hầu như cả đời không làm gì để nuôi gia đình. Mãi gần cuối đời bố cụ mới đi làm thông ngôn tòa sứ bên Lào. Theo gia phả bên họ Lê, tức bên họ mẹ các anh em Nguyễn Tường thì “ông Nhu làm thông ngôn ngạch tòa Công sứ”. “Ông Nhu” ở đây chính là bố của các cụ Nguyễn Tường. Bố các cụ không phải làm người bẻ ghi (người gác) ga xe lửa Cẩm Giàng như một số sách sau 1975 viết. Hồi ký của cụ bà Thế ở trang 48 cho biết bố các cụ làm thông ngôn cho ông Công Sứ Hải Tường một thời gian. Sau đó ông ta được đổi sang làm Công Sứ tỉnh Sầm Nứa bên Lào. Năm 1917, tình cờ gặp lại ông Công Sứ đó ở Hà Nội, ông Công Sứ mời bố các cụ sang làm thông ngôn cho ông ở bên Lào và ngày 31-8-1917 bố các cụ lên đường (hồi ký của cụ Thế trang 59). Nhưng bố các cụ chỉ làm được tám tháng thì qua đời vì bạo bệnh.

Kể từ đó gia đình 9 người gồm mẹ, 7 anh chị em và bà nội chỉ trông vào việc buôn gạo của mẹ cụ. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 8, cụ Bách viết, “Cảnh nghèo nàn thiếu thốn trong gia đình, dù mẹ tôi và bà tôi cố gắng xoay sở, cũng chưa giải quyết được vì đông con.” Trang 30, cụ lại viết về việc người con gái duy nhất trong gia đình, là chị Thế của cụ, không được đi học vì nhà nghèo, “Trong lúc gia đình khó khăn chị không được đi học nữa và về nhà giúp mẹ trong việc buôn bán…Chị cần cù đảm đương mọi việc trong gia đình, đã giúp đỡ không ít để các anh em yên tâm học hành, làm việc.”

Cảnh nghèo khiến nhiều năm gia đình Nguyễn tường không ăn tết. Trang 57 của hồi ký cụ Thế ghi, “Tết năm nay nhà không gói bánh chưng. Bà ngoại thấy tôi hỏi nhà cháu đã gói bánh chưa, tôi đáp thưa bà năm nay mợ cháu không có tiền nên không gói ạ.”Chẳng những không có tiền ăn tết mà mẹ các cụ có năm còn phải trốn nợ vào ngày cuối năm. Sau này vì lý do tuyên truyền chính trị, cộng sản lên án Tự Lực Văn Đoàn có cái nhìn xã hội của những kẻ thuộc giai tầng “bên trên” nhìn xuống.

Thực ra không phải vậy. Quan niệm xã hội của anh em Nguyễn Tường trong Tự Lực Văn Đoàn đã hình thành từ cái huyện Cẩm Giàng nghèo khổ, cực kỳ nghèo khổ mà gia đình Mẹ Lê trong truyện của Thạch Lam là điển hình và gia đình các nhà văn này cũng không khá hơn các gia đình nghèo trong phố huyện, nơi theo sự kể lại trong gia đình và trong các hồi ký, chỉ có mấy gia đình giầu là gia đình mấy “chú Tầu” chủ tiệm trên phố chính của huyện. Có thể nói vào thời đó, gần như cả huyện Cẩm Giàng đều nghèo như Nhà Mẹ Lê cho nên ngoài anh em nhà Nguyễn Tường không gia đình nào có con ra khỏi phố huyện sau khi “tốt nghiệp” sơ cấp (ba năm đầu của bậc tiểu học) để tiếp tục học cao hơn. Trong hồi ký VNMTKQ, ở trang 9, cụ Bách mô tả cái nghèo của dân huyện Cẩm Giàng, ” chung quanh, cảnh nghèo khổ, tiêu điều trong các gian nhà lụp xụp, cảnh chân lấm tay bùn của nông dân cặm cụi trên đồng ruộng lầm lội; những người chỉ có một cái khố che thân, cảnh chợ phiên lèo tèo…tất cả những cái đó đã ăn sâu vào trí óc chúng tôi. Về sau đã thúc dục chúng tôi muốn viết lên, muốn làm một cái gì để thay đổi tình trạng đó.” Bà chị gái của cụ, bà Thế, ở trang 53 hồi ký của riêng mình cũng ghi, “Xóm chợ gần nhà tôi toàn là người làm ruộng quê ở Hà Nam, Phủ Lý vì bị lụt lội không đủ sống nên đưa nhau đến đây. Đa số gia đình làm nghề đi kéo xe hoặc làm mướn như nhà bác Đối, đánh cá vớt tép như nhà bác Lê và còn nổi tiếng nghèo vì quá đông con.” Truyện ngắn Nhà Bác Lê nổi tiếng của Thạch Lam chính là dựa trên chuyện thực của gia đình bác Lê này. Và gia đình Nguyễn Tường cũng không khá hơn những gia đình trong xóm. Trong mấy tạp chí địa phương của Cẩm Giàng ngày nay, người dân địa phương cũng xác nhận cha ông họ thời trước 1945 thật là nghèo, không có tiền gửi con đi học ở bên ngoài phố huyện, nên toàn huyện không có người đỗ đạt, ngoại trừ mấy anh em nhà Nguyễn Tường. Cơ ngơi gọi là “Trang trại Nguyễn Tường, TLVĐ” tại Cẩm Giàng được tạo lập sau này, sau khi mấy anh em nhà Nguyễn Tường đã thành đạt ở Hà Nội, giúp mẹ trở về Cẩm Giàng lập trại để an dưỡng tuổi già (xem hồi ký về gia đình Nguyễn Tường của Nguyễn Thị Thế).

Anh em nhà Nguyễn tường sống trong hoàn cảnh gần như đáy cùng xã hội. Ở trang 54 cuốn hồi ký, cụ bà Thế viết tiếp, “Những năm mất mùa đói kém, xe kéo chẳng ai đi những gia đình này bữa cơm bữa cháo. Nhà tôi chưa phải ăn thiếu nhưng cũng chả giầu gì hơn họ.” Từ hoàn cảnh gần như đáy cùng xã hội đó, anh em Nguyễn Tường của cụ đã vươn lên qua sự thông minh và quyết tâm, và nhất là quyết tâm của một bà mẹ tuyệt vời. Trong hồi ký VNMTKQ, ở trang 30-31, cụ Bách vừa mô tả cái nghèo của gia đình vừa mô tả sự quyết tâm nuôi con ăn học của mẹ cụ qua đôi câu “cãi nhau” giữa mẹ cụ và Thạch Lam, ““Lâu nay không biết mày làm gì? Nhà đương túng bấn mà sao không mang được một đồng về? – Có lẽ vì anh bỏ trường rồi chưa làm việc gì. So với các anh lớn, có thể anh không làm cho mẹ vừa lòng lắm. Hai mẹ con cãi cọ một lúc, rồi không biết sao cả hai đều khóc. Ngạc nhiên, chúng tôi chạy ra ngoài. -Con xin lỗi mẹ, con sẽ đi làm.” Anh vừa nói vừa gạt nước mắt, trông cũng đáng thương. Chắc anh nghĩ rằng mình cũng chưa làm gì giúp mẹ. -Ừ thì mẹ cũng tha lỗi cho con. Nếu muốn đi học, thì dù thiếu thốn, cả nhà cũng sẽ giúp.””

Tất cả mấy anh em của cụ từ những năm đầu đi học đã học ở ngôi trường duy nhất, chỉ có bậc sơ cấp (3 lớp đầu bậc tiểu học) trong cái huyện Cẩm Giàng cực kỳ nghèo khổ đó. Như đã kể, dân huyện quá nghèo, không ai đủ điều kiện cho con cái theo đuổi sách đèn ở mức vượt khỏi lũy tre làng. Chỉ có mấy anh em cụ, nhờ quyết tâm của bà mẹ, là thoát khỏi sau bậc tiểu học để lên Hà Nội tiếp tục theo đuổi sách đèn. Mẹ các cụ, sau khi chồng mất, một mình phải lo kiếm tiền nuôi gia đình tổng cộng 9 miệng ăn kể cả mẹ chồng. Để vượt qua nhiệm vụ khó khăn đó, mẹ các cụ rất cương quyết, cho các con bỏ việc mặc áo tang cho hết sầu thảm, không khóc lóc để có tinh thần mà làm ăn. Ở trang 52 hồi ký cụ Thế, có ghi: ” Em Bẩy lúc đó mới có ba tuổi bà tôi cũng bắt đội khăn sô, tôi thì đầu chẳng có tóc cũng phải chít khăn như người lớn, quần may bằng vải chàm trông y mán vậy. Mẹ tôi bắt bỏ hết bảo chúng nó còn bé bắt để tang chi trông sầu thảm. Bà nội khóc thì mẹ tôi nói người chết đã yên phận rồi, bây giờ bà phải thương các cháu lo sao cho khỏi chết đói, để yên con phải lo buôn bán chứ cứ ngồi khóc hoài sao, người chết cũng chả sống lại được mà người sống thì chết đói.”

Mẹ các cụ là người bà mà thế hệ chúng tôi luôn ngưỡng mộ là một phụ nữ rất cứng rắn và cương quyết trong mục tiêu theo đuổi, nhưng lại rất dịu dàng với các con cháu. Mục tiêu theo đuổi cả đời của cụ là sự học của các con trai. Khi cụ mang cốt của phu quân từ bên Lào về chôn tại Cẩm Giàng, cụ mẹ chồng nghĩ phải tìm ngôi đất nào cho phát phú ngay chứ nghèo quá đi thôi (Hồi ký cụ Thế trang 64). Nhưng cũng chính trang hồi ký này ghi, “Thầy địa lý cho mời mẹ tôi tới bàn cãi bà muốn phát phú thì con cháu học dốt, hay quý và thọ thì nghèo, bà tính sao. Mẹ tôi nói ngay quý và thọ thôi chứ phú trọc mà làm gì.” Chẳng biết có phải nhờ ông thầy địa lý người Tầu đặt mộ hay không mà sau này mấy anh em ông đều phát Quí như độc giả đều biết (nhưng không phát Phú). Mặc dù nghèo gần như không đủ ăn, nhưng với chuyện học của các con thì cụ hết lòng, kể cả phải cho tiền mua sách từ bên Pháp về cho các con học. Và may mắn thay các con cụ đều học giỏi, người nào cũng từng nhiều lần đứng nhất lớp, nhất trường, hay nhất cuộc thi và cũng từng thi nhẩy hai lớp ở bậc trung học, rút ngắn được khá nhiều thời gian và tiền bạc. Trang 62 hồi ký của cụ Thế ghi, “Các anh tức lắm về bàn với mẹ tôi gửi mua bên Pháp đủ các thứ sách đem về học gấp. Năm sau đổi tuổi đi thi đậu thành ra đỡ được hai năm, đỡ tốn bao nhiêu công lao và tiền bạc. “

Mấy anh em của cụ rất quyết tâm và thông minh nên thường chiếm giải nhất hay học thi nhẩy lớp. Từ anh Cả, hầu như cụ nào cũng học nhẩy hai lớp (hồi ký cụ Thế trang 62). Trang 62 của cuốn hồi ký cụ Thế cũng ghi muốn học vượt lớp thì phải đổi giấy khai sinh cho thêm tuổi. Từ hồi bé, trong gia đình, nhiều lần tôi đã nghe chuyện tất cả các chú bác và bố tôi đều học giỏi nên phải khai thêm tuổi để đi thi, tôi thường thắc mắc làm thế nào để các anh em của bố tôi đổi tuổi? Mới đây, đọc kỹ trong hồi ký của cô tôi, ở trang 72, cụ Thế đã ghi, “Thỉnh thoảng chúng tôi lại sang chơi bên ấp Phiên Đình là ấp có ông lý trưởng đã đưa cả triện lý trưởng cho mẹ tôi muốn đóng vào đâu thì đóng. Chắc hẳn ông không thể ngờ được cái triện đó đã giúp cho mấy nhà văn nổi tiếng trong văn học sử sau này.” Hóa ra, để đổi tên, đổi tuổi của mấy anh em nhà Nguyễn Tường, bà nội tôi cứ lấy cái triện của ông lý trưởng ấp Phiên Đình, huyện Cẩm Giàng mà “ịn” vào giấy khai sinh mới do chính cụ làm lại là xong(?) Cụ Bách cũng nhẩy hai lớp, và thường được giải nhất cuối năm. Phần thưởng mang về phải chở bằng xe kéo. Nghe vậy anh em chúng tôi thấy thực dân Pháp tuy thế mà rất chuộng sự học, cho dù là sự học của dân bản xứ.

Việc học của cụ Bách thật buồn cười, và sự đối xử của mẹ cụ cùng các anh cụ đối với việc học của cụ cũng rất thoáng; có thể nói là quá thoáng so với cả tiêu chuẩn giáo dục gia đình bây giờ. Theo dõi việc học của cụ Bách ở bậc trung học thôi cũng giúp hiểu thêm về sinh hoạt của Tự Lực Văn Đoàn ngay từ buổi đầu ra báo Phong Hóa. Năm 1929 cụ Bách thi vào trường Bưởi và đỗ thứ 28 trong khi nhà trường chỉ lấy có 130 người trong số rất đông học sinh dự thi. Cụ đỗ cao nhờ bài Pháp Văn (hồi ký VNMTKQ trang 33 và 35).

Nhưng ngay trong ngày khai trường, cụ Bách đã cảm thấy một bầu không khí ngột ngạt, khó thở, mà cụ cho là bầu không khí thực dân. Ở trang 35 cụ viết, “Một bầu không khí thực dân…tôi nghĩ. Tôi liên tưởng đến những truyền đơn, báo bí mật và những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp…Từ ngày ấy, đối với nhà trường, tự nhiên tôi đã không có thiện cảm.” Cuối cùng, sau khi mới lên năm thứ hai, tương đương lớp 7 ngày nay, cụ bỏ trường về Cẩm Giàng tự học thi Tú Tài Tây. Ở trang 41 hồi ký VNMTKQ cụ viết, “1931. Suy nghĩ vài tháng rồi, tôi lấy một quyết định mạo hiểm: bỏ học về nhà. Tôi sợ nói ra, mẹ tôi và các anh chị sẽ phê bình tới tấp và sẽ ngăn cản. Vì có ai dại mà bỏ đi một trường học tốt như vậy, không dễ thi vào. Và nếu tự học thì có làm nổi không, bằng Tú Tài đâu phải dễ lấy; mà tôi lúc này mới lên năm thứ hai.”

Gia đình cụ rất phóng khoáng, ngay cả trong việc học của con cái là việc quan trọng nhất trong mọi gia đình. Trang 44, cụ ghi nhận, “Khác hẳn với dự đoán của tôi, các anh tôi chẳng ai cho là việc đáng bàn, còn mẹ tôi sau khi do dự, cũng bằng lòng: “-Ừ thì mày về nhà mà học lấy. Nhưng phải chăm mới được.”

Năm 1933 cụ thi Tú Tài Tây phần thứ I và trượt. Tưởng cũng nên nhắc lại, năm 1929 cụ Bách mới thi đỗ vào năm thứ nhất trường Trung học Bưởi, tức là vào lớp 6. Năm 1931, ở năm lớp 7 cụ xin bỏ học để về Cẩm Giàng tự học. Thế mà năm 1933, tức là đáng lẽ mới hết lớp 9 (đệ tứ niên trường Bưởi) cụ đã đi thi Tú Tài Tây phần thứ nhất, tức là vượt 2 lớp (10, 11). Các anh em khác đều học vượt hai lớp như cụ. Mặc dù thi trượt nhưng cụ cũng đã đỗ phần thi viết, tức là đỗ các môn chính. Và cụ chỉ bị trượt vì vào vấn đáp môn Anh Văn. Anh văn cụ tự học nên phần phát âm sai hoàn toàn. Cũng trang 57 cụ kể, “gặp giám khảo hắc búa, bắt tôi đọc một một đoạn truyện “David Copperfield” của Dickens. Tôi gân cổ đọc, còn ông chỉ ngồi cười. Sau tôi mới hiểu, vì ông nghe chẳng hiểu gì hết với cái tiếng Anh lạ tại của tôi. Tất nhiên là trượt, về nhà học lại.” Đọc tới đây tôi lại nhớ tới kinh nghiệm của chính tôi. Năm 1962, tôi học đệ tam Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định, thi nhẩy tú tài I, cũng đỗ thi viết, rồi vào vấn đáp cũng trượt vì vấn đáp tiếng Anh. Ông giám khảo nói tiếng Anh với tôi rằng, “tiếng Anh của anh khiến tôi thất vọng”. Như vậy chế độ thi cử của Pháp tuy khó về nội dung nhưng lại rất mềm dẻo về thủ tục, học sinh muốn thi là nộp đơn thi, không cần học bạ gì cả. Nhưng tại sao lại có vấn đề giới hạn tuổi đi thi thì tôi chưa tìm hiểu được. Tới thời Việt Nam Cộng Hòa thì thủ tục có khó hơn một chút, là muốn thi Tú Tài I thì phải có giấy đã học lớp 11 của một trường tư hay của bất cứ một tư nhân nào có bằng cử nhân chứng nhận. Việc chứng nhận chỉ cần ký tên rồi mang công chứng chữ ký, thủ tục không quá vài phút. Chế độ thi cử hiện nay thủ tục không được dễ như vậy, chặt chẽ hơn, nhưng trình độ học sinh lại kém hơn nhiều.

Một điều đáng ghi nhận là chính cái năm thi trượt Tú Tài phần I (hè 1933), tức là đáng lẽ mới học lớp 9, cụ Bách đã bắt đầu tham gia viết báo, làm thơ trên tờ Phong Hóa. Ở trang 57 hồi ký VNMTKQ, cụ viết: “Năm đó, thi bằng Tú Tài phần thứ nhất, tôi đã “trượt vỏ chuối,” tuy đã cuốc bở hơi tai trước kỳ thi.” Ở trang 58, cụ Bách viết tiếp, “Thế là lại phải cuốc một năm nữa…Cũng may, năm ấy, tôi bắt đầu bước vào nghề viết báo, làm thơ, nên thì giờ cũng dễ trôi qua.”

Năm sau, 1934 cụ mới đỗ Tú Tài Tây phần I nhờ ông giám khảo thi vấn đáp tiếng Anh không quá khó. Như vậy sau hai năm học trong trường và ba năm tự học vất vả mới đỗ được Tú Tài Tây phần thứ I, cụ thấy không tự học được nữa mà phải vào trường. Và cụ không trở lại trường Bưởi mà xin vào trường tây Albert Sarraut. Ở trang 55 hồi ký VNMTKQ cụ kể: “Một cách chật vật, tôi cũng qua được phần thứ nhất bằng Tú Tài Tây…Nhưng phải đối diện với phần thứ hai làm sao đây? Theo ý kiến của các bạn, muốn ăn chắc, nên xin vào học trong trường Trung Học Albert Sarraut.” Ông viết tiếp, “Mùi thực dân của trường này tất sẽ nặng nề, nhưng đành phải chịu.”

Ông giỏi triết và học thi Tú Tài Triết. Trang 59 ông kể, “Vì trước kia, tôi đã ưa đọc những sách triết học, nên được giáo sư dạy môn triết mến, những tác văn của tôi thường thường ông chỉ sửa chữa rất ít và khuyến khích.” Trong nói chuyện riêng tư cụ kể nửa năm đầu cụ vất vả vì tiếng Pháp thua đám học sinh gốc của trường và thua đám tây, đầm. Nhưng nửa năm sau thì cụ vượt lên đứng đầu. Cụ viết ở trang 55 hồi ký VNMTKQ: “Cuối năm, dù không dốc hết sức để ôn tập các bài vở, nhưng may mắn tôi cũng được giải nhất trong lớp và tương đối dễ dàng qua được phần thứ hai bằng Tú Tài…” Vị giáo sư Triết người Pháp rất thích cụ và cứ ngỡ sau này cụ sẽ theo ban triết trên đại học.

Như vậy cụ đỗ Tú Tài phần II vào năm 1935. Nhưng tại sao, mặc dù học giỏi, mãi 9 năm sau, năm 1944, cụ Bách mới đỗ Bác sĩ. Từng có nhiều dịp gần gũi cụ mà chúng tôi không để ý tới chi tiết này để hỏi. Thời gian này gia đình cụ đã vươn lên tới mức bề ngoài cũng không thua kém gia đình nào; mấy anh đầu đã đi làm có chức phận. Đặc biệt anh Tam của cụ (Nhất Linh) đã tốt nghiệp cử Nhân khoa học ở Pháp về và thành lập báo Phong Hóa.

Tuy gia cảnh đã thăng tiến cả về kinh tế lẫn tiếng tăm, nhưng cụ Bách lúc nào cũng đau nỗi đau “không duyên cớ” của chàng Dũng trong Đoạn Tuyệt & Đôi Bạn, hai tác phẩm của Nhất Linh được giới trẻ thời đó ưa thích. Cái nỗi đau không rõ ràng vì không liên hệ trực tiếp tới cuộc sống của bản thân và gia đình mình. Nhưng lúc nào cụ cũng suy nghĩ, muốn làm một cái gì đó…không rõ ràng. Có thể nói, tâm trạng của cụ Bách lúc đó là tâm trạng chung của giới trẻ ở cái thời có nhiều cuộc chuyển mình của đất nước từ sau cuộc khởi nghĩa bất thành đưa tới đoạn đầu đài của lãnh tụ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của ông trong Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cái tâm trạng đó chắc chắn cũng là tâm trạng của Nhất Linh từ thời rất trẻ và ông đã đưa được vào văn chương. Tất cả những điều này đã được cụ Bách mô tả ở trang 32 hồi ký VNMTKQ: “Sau 1925, là một giai đoạn rung động mạnh trong xã hội Việt Nam và cũng rung động đến cả tầng lớp học sinh nhỏ…Những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp, về những truyền đơn bí mật như tờ “Hồn Nước”, in bằng thạch mà chúng tôi truyền nhau đọc, những cuộc bãi công, biểu tình, cái tên Nam Đồng thư xã v.v… đều ít nhiều khơi dậy lòng yêu nước của những tâm hồn trẻ thơ.” Và rồi cụ thể hơn, cụ viết rằng, chính cái đêm khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng mà các anh em cụ chứng kiến, hồi hộp theo dõi tại Hà Nội đã ảnh hưởng và tạo nên Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn sau này. Ở trang 37 hồi ký VNMTKQ, cụ Bách viết, “Một ngày tháng 2 năm 1930. Buổi tối, độ chín mười giờ…Bà, mẹ tôi đã đi ngủ. Nhớ lại còn ngồi trên gác đọc sách có anh Tam (Nhất Linh), anh Sáu (Thạch Lam) và tôi. Anh Cả đi làm ca đêm vắng nhà. Chung quanh im lặng. Bỗng đột ngột, vẳng từ xa đến mấy tiếng nổ, xem ra lớn hơn tiếng súng thường. Tiếng gì đây? mọi người sửng sốt. Súng? Bom, tạc đạn? Trong thời kỳ bất thường này chúng tôi nghĩ ngay tới một cuộc nổi dậy. Anh Tam chạy ra phía cửa sổ, hé mở cánh cửa nghe ngóng. Vài tiếng nổ thêm, lác đác. Trong thâm tâm, chúng tôi hi vọng đây sẽ là một cuộc tấn công lớn của cách mệnh; đều khát vọng cuộc khởi nghĩa sẽ đưa tới chấm dứt sự thống trị hung tàn của thực dân, dành được độc lập tự do cho dân tộc. Tiếng nổ hình như vọng tới từ trên, phía bờ sông. Nhưng rất nhanh, im lặng lại trở lại…Anh em chúng tôi chờ đợi một thời gian, không thấy có động tịnh gì khác, lại đặt mình xuống giường. Không ai nói với ai một câu nào, những đều biết là suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Có lẽ ai cũng đã cảm thấy thất vọng sâu xa…Mặc dầu thất bại, nhưng tấm gương anh hùng ấy vẫn luôn in mãi trong trí óc anh em chúng tôi.” Và ở trang 39, cụ kết luận về ảnh hưởng của cái đêm “cách mạng Nguyễn Thái Học” đó đối với xã hội nói chung và đối với TLVĐ sau này như sau, “Tinh thần này không những sẽ phản ảnh trong các cuộc cách mệnh sau này, mà còn sẽ phản ảnh về các lãnh vực văn hóa, xã hội. Nếu không có tinh thần này, thì nói riêng, cũng sẽ không có Nhất Linh, Phong Hóa, và Tự Lực Văn Đoàn.”

Lược qua tình hình vừa nêu, người ta có thể hiểu tại sao cụ Bách lúc đó tuy học trường Tây nhưng nỗi đau “vô cớ” vẫn ám ảnh khôn nguôi. Tình yêu và lý tưởng luôn luôn là cuộc sống và nỗi ám ảnh của tuổi trẻ. Với cụ Bách cũng vậy. Cụ Bách trẻ, đẹp trai, tài hoa, chơi nhạc hay, khiêu vũ giỏi, học cũng giỏi, lại thuộc gia đình đang nổi tiếng vì thành lập được nhóm TLVĐ, dĩ nhiên không thiếu cô mê. Trong mấy cô gái trẻ có một cô cùng lớp mà tới những ngày cuối đời mới đây, khi tới thăm cụ, tôi vẫn được nghe cụ nhắc lại. Cô ta là đầm lai, học cùng lớp. Mỗi chiều tan học cô ta thường đạp xe theo cụ trên đường về. Thời đó “Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường” (tên của Hà Nội do Thạch Lam đặt) còn yên tĩnh với những con đường chìm dưới hai hàng cây, với Hồ Gươm lóng lánh bên hàng liễu rủ, biểu tượng của thủ đô ngàn năm văn vật, với Nghi Tàm, Quảng Bá, hai tụ điểm của trai thanh gái lịch vào mỗi cuối tuần, với những nam thanh nữ tú ngày ngày đạp xe đạp từ từ dong duổi trên các ngã đường. Hà nội của những năm xưa đó chưa có khói xe, chưa có kẹt đường. Hà Nội của mơ và mộng. Bây giờ mỗi khi nói tới một Hà Nội thời êm ấm đó nhiều người Hà Nội trung niên trở lên thường nói, “Hà nội thời Tự Lực Văn Đoàn”. Nhưng chàng thanh niên Nguyễn Tường Bách lúc nào cũng u-uẩn một tâm trạng. Trong đáy cùng tâm khảm, chàng tuổi trẻ Nguyễn Tường Bách luôn có một “chàng Dũng”, sau này xuất hiện trong Đoạn Tuyệt và Đôi Bạn. Không phải chỉ có cụ là có tâm trạng của chàng Dũng. Nhất Linh cũng vậy. Đã có một thời Nhất Linh trên đường lưu vong làm cách mạng đã đổi tên Nguyễn Tường Tam thành Nguyễn Tường Dũng để che dấu tung tích. Trong hồi ký VNMTKQ trang 140 cụ Bách kể: “Anh Tam lúc này lấy tên là Nguyễn Tường Dũng (đúng như tên anh chàng Dũng trong truyện Đoạn Tuyệt), bị giam vào một hang đá gần Liễu Châu…” Về cô đầm lai đó, cụ đã nói với tôi, “Cuối cùng chú nghĩ không thể yêu cô ta được, vì cô ta là đầm lai”. Và từ đó cụ cắt đứt liên hệ với cô ta. Tuy cũng như Dũng của Đoạn Tuyệt, lúc đầu chưa biết phải làm gì, nhưng việc đầu tiên đối với cụ Nguyễn Tường Bách là phải cắt đứt một “mối tình mới chớm”, chỉ vì cô ta có máu Tây.

Thế là con đường trước mặt của chàng Dũng Nguyễn Tường Bách đã khá được định hình: phải tìm cách đưa đất nước thoát vòng nô lệ thực dân Pháp. Cũng như Dũng đã giã từ Loan, dù chàng rất yêu, để lên đường làm một điều gì đó cho quê hương, chàng Dũng Nguyễn Tường Bách cũng cắt đứt một mối tình mới chớm để khởi đầu một con đường mới cho dân tộc. Ở hoàn cảnh của Cụ Bách, với 3 người anh đang mở tuần báo Phong Hóa cũng với ước vọng phải làm cuộc đổi mới cho quê hương, thì con đường hợp lý nhất và khả thi nhất đối với chàng Dũng Nguyễn Tường Bách là gia nhập cùng nhóm Phong Hóa với các anh để dùng tài văn chương của mình, qua các phóng sự, qua các bài viết, cho độc giả thấy được những nét đẹp về nước non và văn hóa dân tộc cùng những cảnh “Bùn Lầy Nước Đọng”, những cảnh khốn cùng của người dân nô lệ để từ đó mỗi người dân tự ý thức phải tìm một con đường cứu nước. Tự Lực Văn Đoàn đã khởi đi như thế; và chàng Dũng Nguyễn Tường Bách cũng khởi đi như thế.

Cụ Bách có tài văn chương và cụ mê văn chương. Cụ đã có những bài phóng sự hay. Cụ đã có ít ra là một truyện ngắn viết về một đêm Giao Thừa ở nhà thương thực cảm động. Khi hỏi về truyện ngắn này cụ Bách không còn nhớ. Tám mươi năm rồi còn gì! Tôi và Bác sĩ Nguyễn Tường Giang, con trai thứ của Thạch Lam trong nhiều lần nói chuyện với cụ có hỏi, “Tại sao chú không vào TLVĐ?” Cụ trả lời, “Vào TLVĐ đối với chú thì không khó, nhưng lúc đó việc vào TLVĐ đâu có quá quan trọng.” Chúng tôi hỏi tiếp, “TLVĐ lúc đó chưa nổi tiếng à?” Cụ cho biết, “Lúc đó TLVĐ cũng nổi tiếng rồi chứ, nhưng đâu ngờ nổi tiếng như sau này.”

Cụ có khiếu viết văn và thích viết văn. Vả lại cụ thích đọc sách triết và giỏi về triết mà. Cụ viết văn ở tuổi rất nhỏ. Ở trang 32 cuốn hồi ký, cụ viết: “qua việc đọc những tác phẩm thời ấy, tôi cũng thấy ngứa tay, và viết bừa ra mấy truyện ngắn khi còn 11, 12 tuổi.” Cụ cho biết cụ thích viết văn hơn làm bác sĩ nhưng cụ phải học đại học. Không thích nghề bác sĩ lắm nhưng cụ cho biết lúc đó toàn 3 nước Đông Dương (Việt, Miên, Lào) chỉ có một đại học Hà Nội. Mà đại học Hà Nội ngoài phân khoa Canh Nông cụ không thích thì chỉ còn lại có hai phân khoa Luật và Y. Cụ không thích Luật, học luật thời đó đa số chỉ để ra làm quan, quan huyện (quận trưởng) chẳng hạn. Tất cả các anh em cụ mặc dù có thừa điều kiện để đi vào quan trường nhưng không ai thích làm quan. Ở trang 29 hồi ký cụ viết: “Trong anh em chúng tôi, không ai thích làm quan, và cũng không thích quan. Chúng tôi không thích quan liêu, quyền quý, cũng như trọc phú chỉ biết trục lợi; không thích triều đình phong kiến và những kẻ cộng tác với bọn thực dân.”

Và thế giới quan-trường đã bị một trong các tác giả của TLVĐ là Khái Hưng chỉ trích trong tác phẩm “Gia Đình”. Như vậy cụ chỉ còn một con đường là học Y để ra làm bác sĩ. Cụ phải học bác sĩ nhưng cụ cũng luôn đau khổ vì không thích nghề này. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 97, cụ viết: “Trong đời tôi, có lẽ một sự lầm lẫn trong nhiều lầm lẫn khác, là việc vào học y khoa. Lấy nó làm một cái cần câu cơm hạng tốt, không hơn không kém. Vì tôi cũng như một số bạn hữu khác, lúc mới vào học, rất ít nghĩ đến tính chất “cứu nhân độ thế” hay là những câu châm ngôn của Hippocrate.” Nhưng dù sao, nghề y đã cứu cụ và gia đình cụ trong suốt gần 40 năm lưu vong bên Trung Cộng. Cụ cho biết chính nghề Y đã giúp cụ và gia đình tồn tại tương đối nhàn hạ và bình an hơn các người dân Trung Hoa cùng thời tại địa phương trong suốt mấy chục năm kẹt lại tại Trung Cộng. Đặc biệt, cụ kể, trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Cộng (1966), những đồng nghiệp hay xếp của cụ bị Hồng Vệ Binh bắt mang đi diễu phố và đánh đập tàn nhẫn, thương tật, không ai giám cứu giúp, thì cụ, vì có qui chế ngoại kiều, nên không bị Hồng Vệ Binh hành hạ, do đó cụ có cơ hội kín đáo cứu chữa những người bị đánh đập. Sau này những người đó trở lại nắm quyền đều nhớ ơn cụ.

Khi hai chúng tôi hỏi sao cụ không tiếp tục vừa viết văn vừa học Y khoa thì cụ cho biết học y khoa rất bận rộn. Vào những năm chót y khoa thì tình hình chính trị lôi cuốn nên cụ càng bận rộn hơn. Đó là lý do cụ chấm dứt con đường văn chương ngoài việc sau khi đã tốt nghiệp y khoa cụ làm chủ nhiệm rồi chủ bút mấy tờ báo của Việt Quốc trong những năm đầu của cuộc tranh chấp Quốc Cộng 1945. Hồi ký của Hứa Bảo Liên ở trang 65 và 67 ghi rằng sau khi chế độ thực dân Pháp bị xụp đổ, tờ Ngày Nay bộ mới ra đời với cụ làm chủ nhiệm. Sau đó tờ này bị đình bản, tờ Bình Minh ra đời cụ lại làm chủ nhiệm. Không lâu sau tờ này lại bị đình bản, tờ Việt Nam Thời Báo ra đời, cụ làm chủ bút. Trong những tờ báo này chủ yếu cụ viết bình luận chính trị. Chẳng bao lâu sau, tờ Việt Nam Thời Báo lại bị đình bản, tờ Việt Nam ra đời. Tờ này là cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng đối chọi với tờ Cờ Giải Phóng của Việt Minh, cụ lại được anh em cử làm chủ nhiệm với sự cộng tác của các tác giả Khái Hưng, Hoàng Đạo. Hàng ngày cụ phải đọc kỹ tờ “Cờ Giải Phóng” của Việt Minh để đối chọi những quan điểm bất đồng. Ở trang 68, tác giả Hứa Bảo Liên (nàng Loan của Nguyễn tường Bách) viết tiếp, “Đầu năm 1946, anh Bách ở luôn nhà báo cho tiện làm việc. Mỗi khi ra ngoài phải có người bảo vệ. Anh bận rộn đến nỗi tóc không cắt, râu không cạo, đầu tóc bờm xờm như người “vô gia cư”.

Trụ sở của mấy tờ báo này chính là trụ sở của TLVĐ, số 80 Quan Thánh Hà Nội (hiện nay tòa nhà to lớn này vẫn còn mang số cũ và có nhiều người cư trú, nhưng không ai biết đó là căn nhà gắn liền với những biến động văn hóa và lịch sử đất nước của một thời gian gần 15 năm cho tới 1946 khi Bác sĩ Bách chỉ huy lực lượng vũ trang Việt Quốc rút lui khỏi Hà Nội lên chiến khu của Việt Quốc ở Vĩnh Yên.

Trong thời gian sinh hoạt văn nghệ với TLVĐ cụ Bách thân với một số những cây bút trẻ như Huy Cận, Xuân Diệu…và đặc biệt cụ hay nhắc tới nhà thơ Huyền Kiêu, một nhà thơ to, khỏe và nghèo, là người bạn thân nhất của cụ. Cụ Bách đã phù rể trong đám cưới của Huyền Kiêu. Tường Bách, Đinh Hùng, và Huyền Kiêu là ba trong số những người trẻ nhất trong đám văn hữu thân cận TLVĐ. Trong số những người văn nghệ sĩ trẻ kia có thể kể thêm Xuân Diệu và Huy Cận. Đinh Hùng đã gọi nhóm 3 người bạn thân này là “ba tiểu quỷ”. Có một giai thoại về Huyền Kiêu do Đinh Hùng kể, mà nghe qua vừa thấy bùi ngùi, vừa thấy được hết cái tình cảm thân thương của anh em văn nghệ sĩ thân cận với TLVĐ, vừa thấy được phần nào, cái “bề sâu” của TLVĐ. Giai thoại đó có tựa, “Khái Hưng và Nhất Linh trong thơ Huyền Kiêu” do nhà văn Quốc Nam thuật lại lời Đinh Hùng như sau (1):

Huyền Kiêu vốn là bạn thân thuở nhỏ của Đinh Hùng, ở Hà Nội … Là hàng xóm, gần nhà Thạch Lam nơi phường Trúc Bạch, tôi thường ghé thăm Thạch Lam, bàn chuyện thơ văn rất lấy làm tương đắc. Và rồi tôi dẫn Huyền Kiêu lại giới thiệu: “Huyền Kiêu, một nhà thơ rất có triển vọng! Tên thực anh ta là Bùi Kiều. KIÊU HUYỀN KIỀU! Huyền Kiêu, giản dị vậy!”

Thạch Lam cười xòa, vui vẻ dẫn hai bạn … thơ vào thư phòng trò chuyện. Nơi cư trú của gia đình nhà văn Thạch Lam, trong Tự Lực Văn Đoàn, là một ngôi nhà tranh đặc biệt, cất theo kiểu Nhà Ánh Sáng, do phong trào Nhà Ánh Sáng mà báo Ngày Nay phát động từ mấy năm trước. Có phòng khách, phòng ngủ, với đầy đủ tiện nghi …Tuy là nhà lợp tranh, vách bằng đất bùn nhồi rơm, láng xi măng, quét vôi sáng sủa, ngôi nhà trông thật bề thế vì vẻ cao ráo, thoáng mát của nó. Nhất là ở cạnh Hồ Tây quanh năm thoáng mát. Có vườn hoa trồng đủ cây cảnh lạ, đẹp. Một thú chơi tao nhã của tác giả “Hà Nội Băm Sáu Phố Phường”…

Một bữa vào cuối hè sang thu, Thạch Lam nhắn chúng tôi (vẫn lời Đinh Hùng) đến nhà anh dùng bữa cơm tối. Theo thông lệ, chúng tôi đến sớm, ngồi nơi vườn hoa, ngắm cảnh chiều tà trên gương hồ bát ngát … “gió rung trăng”. Thật thế đấy, nhằm đầu tháng ta, trăng mọc sớm, lơ lửng dưới làn nước trong; từng cơn gió nhẹ lướt mặt hồ, rung động …
Thạch Lam cười vui: 
– Huyền Kiêu làm thơ đi! Nếu cần, tớ gà cho. 
Tôi chẳng mấy ngạc nhiên, vì đã hơn lần được nghe Thạch Lam nói chuyện về Thơ, phẩm bình về các trường phái Thơ …
Tuy nhiên Huyền Kiêu vốn khiêm tốn, chỉ ậm ừ, cười bảo: 
– Để lát nữa. Có lẽ sau bữa cơm tối nay, trong lúc tửu hậu trà dư … chúng mình thơ thẩn … 
– Được lắm! 
Đúng lúc, có tiếng chị Thạch Lam gọi. Và Khái Hưng, Nhất Linh ở đâu tới, cũng ào ra vườn. Một lát lại có cả Thế Lữ nữa. 
Chủ nhà nhìn mọi người, khắp lượt, bảo: 
– Quần hùng tề tựu gần đủ. Thôi mời quý vị vào dùng bữa, kẻo nguội cả. 
Vào nhà thì đã thấy Nguyễn Tường Bách ở đấy từ bao giờ…

Cơm xong, chuyện vãn khá lâu. Mãi khuya đêm Nhất Linh mới bảo, vẻ thật trịnh trọng: “Lát nữa tôi sẽ phải rời xa các anh em, nên có thể đây là một đêm họp mặt để tạm biệt. Chuyến hành trình này sẽ không lâu đâu. Chúng ta sẽ còn gặp lại nhau. Bây giờ chúng ta có thể chia tay nhau được rồi. Riêng tôi, tôi còn có điều nói riêng với anh Khái Hưng, vậy các bạn ra vườn chơi, hoặc đi ngủ. Thành thật cảm ơn tất cả…”
Tôi nhớ đại ý thế, vì đã quá lâu ngày. Mọi người đều buồn nhưng không ai lên tiếng – không có can đảm lên tiếng hỏi, vì đều biết Nhất Linh là người hoạt động cách mạng. Đã đến lúc phải “mạnh tay” với thực dân Pháp, chứ không còn ở giai đoạn làm văn hóa để nâng cao dân trí người mình nữa …
Ba đứa tôi cùng kéo nhau ra vườn, ngồi nghe cá quẫy, nhìn trăng vời vợi. Có lẽ Thế Lữ đã về nhà gần đấy. Quanh quẩn vẫn chỉ có Huyền Kiêu, Thạch Lam và tôi thôi. Và Thạch Lam, lại chính là Thạch Lam, khơi mào sau khi đã nghĩ lung:
– Thơ … ra rồi! Này, hãy nghe đây! và anh đặng hắng, ngâm:
“Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề …”
Đấy câu mở đầu đấy! Huyền Kiêu hãy làm tiếp đi! 
Huyền Kiêu và tôi ngơ ngác. Tôi không rõ vì sao bữa nay Thạch Lam lại nhiều … thi hứng đến thế.
– Được! Huyền Kiêu nói. “Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề …” Ờ, được đấy. Và anh ngẫm nghĩ. Câu mở của Thạch Lam thật tuyệt. Nó gợi ý cho tôi về một cái gì có thể gọi là …”cổ kính”. Một đêm tiễn đưa nhau chẳng hạn. Hệt đôi bạn Khái Hưng và Nhất Linh trong đêm khuya nay … trước giờ ly biệt.
– A, khá! Thạch Lam cười. Anh nắm bắt được ý thơ rồi đấy. Vậy cứ thế mà tiếp nối. Tôi vào nhà đem trà nóng ra đây nhá. Nhân thể coi xem họ ra sao?
Một lát sau Thạch Lam đem bình trà và tách ra, bảo:
– Anh ba tôi và Khái Hưng im lìm ngồi trong thư phòng. Cả hai đều không nói năng gì cả. Phòng không đèn đóm nên bóng tối chan hòa. Ánh trăng mờ tỏ … Có con mèo tam thể tôi nuôi quyện dưới ghế Nhất Linh ngồi. Bên cửa sổ sát vách tường, bức liễn trúc treo rung động dường như cảm thông cho đôi bạn đang nhấp chén rượu suông trong phút giờ sắp ly biệt …
Tôi chợt lên tiếng: 
– Buồn thật. Mà cổ nhân cũng đã từng than: “Ôi! biệt ly sao mà buồn thế!” thật là chí lý.
Chúng tôi uống trà. Trăng vừa lặn. Gà rền tiếng gáy phía xa. Sao dần rơi … dần rơi và tôi chợt thấy lành lạnh.
Vẫn không thấy chút động tĩnh gì nơi Khái Hưng và Nhất Linh ở trên nhà. Tôi cảm nghĩ trong giờ phút thiêng liêng ấy, ta không nên vọng động. Cũng đừng hỏi han gì cả. Trời sắp sáng rồi.

Và quả thật, ở bên Hồ Tây bữa ấy, trong sân nhà Thạch Lam, ba đứa chúng tôi đều rất dè dặt, hạn chế từng câu nói, tiếng cười. Trong khi ấy Huyền Kiêu thầm lặng “làm việc”: suy tư về ý thơ và ý nghĩa của sự chia tay của đôi bạn văn Tự Lực Văn Đoàn.
Chợt Huyền Kiêu nói:
– Tôi thử đọc cho các anh nghe. Bài thơ nhan đề “Tương Biệt Dạ”. Hay, dở tùy nghi Thạch Lam và Đinh Hùng giúp sửa lại. Và anh khe khẽ ngâm sau khi dục Thạch Lam vào nhà lấy giấy bút ghi tốc ký, bất kể trời vừa sập tối lại vì trăng đã chẳng còn… Tình bạn thơ – văn giữa chúng tôi thắm thiết là thế đó.

Tương Biệt Dạ

Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề 
Ý sầu lên vút tới sao Khuê 
Quý thay giây phút gần tương biệt 
Lưu luyến người đi với kẻ về.

Ngồi suốt đêm trường không nói năng 
Ngậm ngùi chén rượu ánh vừng giăng 
Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ 
Có giống như mình lưu luyến chăng?

Đã tắt lò hương lạnh phím đàn 
Thư phòng sắp sẵn để cô đơn 
Trời cao mây nhạt ngàn sao rụng 
Một giải sương theo vạn dặm buồn

Sớm biệt ly nhau không nhớ nhau 
Nửa đêm chợt tỉnh bỗng dưng sầu 
Giăng mùa Xuân đó, ai tâm sự? 
Anh đã xa rồi, anh biết đâu?

Bài “Tương Biệt Dạ” của Huyền Kiêu, sáng tác vào chớm thu năm Canh Thìn – 1940, chỉ mấy tháng sau là bước sang năm Tân Tỵ – 1941… Khi hoàn thành bài “Tương Biệt Dạ”, vào nhà thì Nhất Linh đã lên đường từ lúc nào rồi …

Trong giới sinh viên tích cực hoạt động bí mật chống Pháp cụ Bách thân với cụ Dương Đức Hiền, lúc đó làm chủ tịch Tổng hội Sinh viên, sau này là chủ tịch Đảng Dân chủ. Hai cụ Nguyễn Tường Bách và Dương Đức Hiền cùng trong đảng Đại Việt Dân Chính do Nhất Linh thành lập. Trong hồi ký, ở trang 123, tình bạn của hai cụ được cụ Bách mô tả như sau: “Một buổi tối sau, có người lên gác trọ tìm tôi. Nhìn rõ, mới biết là anh Dương Đức Hiền. Chúng tôi vui mừng xiết tay nhau…cả hai đều chưa bị khó dễ. Anh Tam (ghi chú của người viết: tức Nhất Linh) vẫn mất tích. Sau có tin báo là anh đã trốn ra ngoài nước, đi Quảng Châu. Hai chúng tôi đồng ý tạm thời hãy nằm im, xem tình thế biến chuyển ra sao.”

Nhưng rồi chẳng bao lâu sau, vì khác chính kiến, tình bạn thắm thiết đó tan rã. Trong hồi ký của Hứa Bảo Liên, trang 64 ghi lại mối quan hệ chặt chẽ giữa cụ Bách và Cụ Dương Đức Hiền. Tác giả cuốn hồi ký viết, “…có người bạn anh Bách là anh Dương Đức Hiền tỏ ý muốn gặp anh Bách để bàn chuyện. Hiền trước kia là bạn cùng một chí hướng và cùng tham gia vào một tổ chức quốc gia. Sau này tổ chức bị Pháp khủng bố, qua một thời gian sau đó, anh ta tham gia vào phong trào Việt Minh và sáng lập đảng Dân Chủ.”

Một cách chi tiết hơn, trong hồi ký VNMTKQ ở trang 153 cụ Bách thuật lại: “Một hôm, vào tháng 6, tôi đương ngồi sửa bài tại tòa soạn thì ở dưới đưa lên một người lạ mặt. Anh ta bảo có thư riêng của một người bạn thân nhờ đưa đến. Rồi anh rút từ ống giầy ra một tờ giấy mỏng. Dưới ký tên một người mà tôi cũng không ngờ đến: Anh Dương Đức Hiền. Đã hơn một năm, tôi không được nghe tin tức gì về anh.” Trong thư cụ Dương Đức Hiền trước cùng đảng Đại Việt Dân Chính với cụ Bách nhưng nay đã đại diện Việt Minh, hẹn gặp để bàn luận việc cộng tác chung. Cụ Bách và cụ Khái Hưng được đề cử đi gặp cụ Dương Đức Hiền. Nơi gặp cách Hà Đông độ năm cây số. Cụ Bách viết tiếp, “Chúng tôi đạp xe gần tới Hà Đông thì rẽ vào một con đường nhỏ, lầy lội, có khúc phải vác cả xe lên vai, lội bùn mà đi. Gần đến bờ sông Nhuệ, tới một tòa miếu cổ, thì thấy một người mặc quần áo nâu ra đứng đợi. Tuy quần áo khác, nhưng vẫn nhận ra được anh Hiền, gầy hơn, mặt đen sạm, nhưng hai hàm răng lại quá trắng, chẳng cần là mật thám cũng biết đây là một nông dân giả hiệu.

Chúng tôi ngồi trên thềm miếu, nhìn xuống giòng sông Nhuệ nhỏ nước chảy êm đềm, trông hao hao giống con sông Sen ở quê nhà. Chung quanh vắng không có bóng người, chỉ có một người ngồi sau miếu, có lẽ là một tay súng hộ vệ.

Sau vài lời hàn huyên, anh cho biết là đã gia nhập vào Việt Minh, với tư cách lãnh đạo đảng Dân Chủ, và khuyên chúng tôi cùng các anh em Đại Việt Dân Chính khác cũng nên tham gia Việt Minh, không nên đứng lừng khừng nữa. Anh cầm tờ Ngày Nay trong tay, phê bình chủ trương của nó không triệt để, không cách mạng theo đường lối công nông. Anh nói Việt Minh nay đã phát triển mạnh, có căn cứ quân sự, được Đồng Minh ủng hộ…Chúng tôi chỉ nghe, không giải thích gì. Có lẽ vì thế mà anh thất vọng, rằn giọng nói,

-Nếu các anh cứ lừng khừng như thế mãi, thì có ngày Nhật sẽ beng đầu các anh, mà nếu không thì cách mạng sẽ beng đầu các anh!” Cụ Bách và Khái Hưng hơi ngạc nhiên, vì lời dọa dẫm lại do một đồng chí cũ đưa ra. Hai cụ chỉ cười, đưa mắt nhìn nhau. Cuối cùng cụ Bách đáp, “Cách mạng Việt Nam thì có nhiều con đường để đi, không nhất định là phải tham gia vào Việt Minh. Song về việc hợp tác, chúng tôi sẽ về bàn với các anh em rồi sẽ trả lời sau.”

Cuộc hẹn gặp lại sau đó một tuần đã không thành, vì Cụ Hiền nhắn là cụ phải đi lên miền trên có việc cần và sẽ liên lạc lại sau. Hai bên không gặp lại cho tới mấy tháng sau, bất ngờ cụ Bách lại gặp lại cụ Hiền trong một buổi hợp tác đảng phái, mà từ bạn hữu đã trở nên đối địch. Cụ Bách viết tiếp ở trang 155, “Âu cũng là định mệnh. Chúng tôi cũng muốn hợp tác vì công cuộc chung, góp sức với nhau để đuổi quân xâm lăng ra khỏi nước. Song thực ra, hai bên có thể chân thành cộng tác với nhau không, lại là một vấn đề khó giải.”

Sự chia tay của hai cụ, chính là điển hình sự chia tay của cả một thế hệ cùng ôm mộng đánh đổ thực dân Pháp, nhưng theo hai con đường khác nhau. Thậm chí, còn có sự chia rẽ của những anh em ruột thịt cùng một gia đình, hay của hai cha con, chỉ vì lý do tương tự. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 100, cụ Bách viết, “Nhưng, trong hàng ngũ người Việt chủ trương giải phóng dân tộc, dành độc lập, đã có những chia rẽ sâu xa về ý thức hệ, về sách lược và đường lối hoạt động.” Thế hệ 1945 là thế hệ của những người yêu nước, dù là cộng sản hay quốc gia. Tất cả đều có một điểm chung đẹp đẽ là đánh đuổi thực dân Pháp. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 101, cụ Bách viết, “Nhiều phần tử trí thức và sinh viên, bị thôi thúc bởi lòng yêu nước, sẽ kế tiếp nhau tham dự vào những phong trào chống Pháp, hoặc cộng sản hoặc không cộng sản.”

Thế hệ thanh niên thập niên 1940-45 là một thế hệ “đẹp” với nhiều ước vọng dành độc lập cho tổ quốc. Đặc biệt thế hệ 1945, ở cả hai khuynh hướng Quốc, Cộng, trong tình hình thế chiến thứ II, các dân tộc thuộc địa vươn lên dành độc lập, đã là một thế hệ “huyền thoại” trong lịch sử cận đại của Việt Nam với nhiệt tình yêu nước không bờ bến, sẵn sàng từ bỏ gia đình, người yêu để lên đường cứu nước. Thế hệ 1945 huyền thoại đã được Đằng Phương (bút hiệu của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy) mô tả qua bài thơ Những Anh Hùng Vô Danh, mà những câu mở đầu thật cảm động và bi tráng: Họ là những anh hùng không tên tuổi – Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông, Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh, Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Nhưng thế hệ đó cũng trải qua nhiều bi thảm. Cái bi thảm thể hiện trong tình bạn của cụ Bách với những người bạn thân thương nhất của cụ, mà sau này, mỗi lần nhắc lại cụ vẫn bùi ngùi. Trong những chia rẽ của tình bạn, có lẽ sự chia tay với Dương Đức Hiền làm cụ ray rứt nhất. Cả hai đều có nhiệt tình chống Pháp, lúc đầu cùng chung một hướng, cùng chung một đoàn thể. Nhưng rồi sau cả hai lại theo hai con đường khác nhau: Quốc Gia và Cộng Sản. Thực ra, thế hệ thanh niên với những người như cụ Dương Đức Hiền mang bầu nhiệt huyết theo Việt Minh không phải là theo Cộng Sản. Ngày nay, khá nhiều các đảng viên Cộng Sản lão thành từ thời 1945 và cuộc kháng chiến 9 năm đã thú nhận lúc đó không biết Cộng Sản là gì, không biết chủ thuyết Mác Lê là gì, chỉ một lòng chiến đấu vì độc lập, tự do của tổ quốc.

Người Cộng Sản đã thắng keo đầu khi họ chớp thời cơ, nhân một cuộc biểu tình của công chức Hà Nội ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim ăn mừng nước nhà Độc Lập, thoát khỏi ách thực dân Pháp. Cộng Sản đã nhanh tay biến cuộc biểu tình của nhân dân Hà Nội yêu nước thành cuộc biểu tình của Cộng Sản, dưới danh nghĩa Việt Minh. Và Cộng Sản đã cướp được chính nghĩa.

Chính phủ liên hiệp Quốc Cộng hình thành sau đó đã không có được điều cơ bản là sự tin tưởng lẫn nhau của cả hai phe. Cho nên sự liên hiệp sớm đi tới tan rã. Lịch sử hợp tan của gia đình Nguyễn Tường của cụ Bách cũng gắn liền với giai đoạn hợp tan này của lịch sử dân tộc. Một ngày, cụ Bách bất ngờ tới thăm người chị, bà Nguyễn Thị Thế, nhà ở đê Yên Phụ, cũng gần nhà Thạch Lam. Tuy cùng ở Hà Nội nhưng đã lâu rồi cụ Bách vì bận việc chính sự đã không tới thăm chị và mấy đứa cháu như thường xuyên trước kia. Lần tới thăm bất ngờ này khiến bà chị và mấy đứa cháu ngạc nhiên. Cuộc gặp gỡ đã được Thế Uyên, con của bà Thế, kể lại đại khái như sau: Bất ngờ thấy chú Bách tới sau một thời gian dài vắng mặt. Lần này lại thấy chú đi có một người hộ vệ đứng ở đầu ngõ. Cũng như mọi lần, Thế Uyên lục túi cụ Bách định tìm kẹo. Nhưng lần này chàng không thấy kẹo mà chỉ lôi ra được mấy viên đạn. Cuộc nói chuyện của cụ Bách với mẹ Thế Uyên lần này ngắn ngủi và có vẻ nghiêm trọng. Cụ cho chị cụ biết cụ phải ra đi, và ra đi khá lâu, không biết bao giờ về. Đi đâu thì cụ không nói. Dĩ nhiên cùng với sự chia tay với gia đình, cụ Bách cũng phải chia tay với “nàng Loan” của cụ.

Sau khi rời Hà Nội Cụ Bách lên chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Vĩnh Yên. Theo hồi ký của “nàng Loan của Bách”, Cụ Bách ít gửi tin tức về. “Nàng Loan” của cụ Bách dự tính tiếp tục học đại học tại Trung Quốc. Trong hồi ký “Nguyễn Tường Bách và Tôi” của Bà Hứa Bảo Liên, phu nhân của Cụ Bách, “nàng Loan” của cụ Bách kể chuyện giã từ giữa “Loan và Dũng” ở trang 73 như sau:

“Tự nhiên tôi nghĩ có lẽ tôi phải lên chiến khu cho anh Bách biết tôi dự tính đi học. Kỳ thực lúc đó, tôi cũng không biết hiện anh đang ở đâu? Chiến khu ở chỗ nào? Sau hỏi ra rồi tôi mới đáp xe hơi, sau chuyển sang đi thuyền đến Việt Trì. Vừa đặt chân tới đất này, tôi cảm thấy nhẹ nhõm, nhưng rất mau tôi lại cảm thấy không khí khẩn trương, người đi lại rất ít. Thỉnh thoảng lại nghe có tiếng súng nữa. Tôi tìm đến trụ sở thì gặp ngay anh Bách và anh Vũ (ghi chú của người viết, tức cụ Vũ Hồng Khanh, một lãnh tụ quân sự của VNQDĐ). Có lẽ anh cũng không ngờ tôi đến thăm anh trong lúc này. Tôi cho anh biết tôi dự tính đi Trung Quốc học. Lúc đó chúng tôi cũng không biết bao giờ mới gặp lại nhau vì trong thời buổi loạn lạc này, không ai có thể tiên đoán được tương lai! Mà lúc đó anh cũng không nói cho tôi biết đảng bộ và quân đội của Việt Quốc đã dự định rút khỏi Việt Trì để lên Yên Báy. Sáng hôm sau, tôi đáp thuyền rồi đổi sang xe hơi trở về Hà Nội.”

Không đương cự nổi với Cộng Sản tại Hà Nội, cụ Bách phải dẫn lực lượng vũ trang của Việt Quốc lui về vùng chiến khu Việt Quốc ở Vĩnh Yên, nơi có đồn điền nổi tiếng của một đảng viên cao cấp của Việt Quốc là Đỗ Đình Đạo. Trên cuộc rút quân đó, lực lượng Việt Quốc và Cộng Sản (Việt Minh) đã đụng độ khốc liệt. Trong một lần giao tranh, cụ bắt được một cấp lãnh đạo của Việt Minh, sau này lên tướng. Trong tình cảm lãng mạn tiểu tư sản, cụ không trói hay đánh đập người “tù binh”, mà chỉ tước khí giới rồi cho ngủ chung với lực lượng vũ trang của cụ tại nơi đóng quân. Ngày hôm sau, hai chiếc xe hơi cắm cờ Việt Minh và cờ Việt Nam Quốc Dân Đảng từ Hà Nội tới, trên xe có đại diện hai phe trong chính phủ Liên Hiệp, yêu cầu trả tự do cho người “tù binh Việt Minh” và lãnh người “tù binh” đó về Hà Nội. Người đại diện Việt Quốc trên một trong hai xe hơi đó lại chính là nhà văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, anh thứ tư của cụ (xem Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn của Nguyễn Tường Bách và Hồi ký của Hứa Bảo Liên)

Chẳng bao lâu sau sự chia rẽ của chính phủ Liên Hiệp Quốc Cộng đi tới chỗ tiêu diệt lẫn nhau một cách tàn khốc hơn. Tại làng Phượng Dực, quê của bà Nhất Linh, trong căn nhà của bà, Cộng Sản (dưới danh nghĩa Việt Minh), trên con đường truy lùng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và gia đình, đã bắt mang theo 4 người gồm có bà Nguyễn Tường Tam, con trai Nguyễn Tường Việt của cụ Nguyễn Tường Tam khi đó mới khoảng 14 tuổi, em ruột của bà Nguyễn Tường Tam, tên Tín, và bố tôi, cụ Nguyễn Tường Cẩm, anh thứ hai của cụ Nguyễn tường Tam. Cộng sản dắt 4 người tù họ gọi là “phản động” đi về vùng họ kiểm soát. Một hôm tình cờ, máy bay đồng minh tới bỏ bom. Văn phòng nơi giam giữ xụp đổ. Hai người tù đàn ông đang bị xích nên không thoát được. Chỉ có bà Nguyễn Tường Tam và người con trai 14 tuổi không bị trói nên thoát được. Lại vẫn là máu tiểu tư sản, anh Nguyễn Tường Việt mới đây kể lại, trước khi đi trốn, anh và mẹ đã nâng cái cây sườn nhà đổ xập đang đè lên một người cán bộ để cứu người cán bộ đang bị thương này. Sau đó hai mẹ con phải trốn 15 ngày dưới hầm trong căn nhà của một người giúp việc ngày xưa tốt bụng và trung thành mà chúng tôi gọi là anh Tí, trước khi anh giúp việc này tìm được cách đưa vợ con cụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam trốn về Hà Nội. Còn bố tôi và người em bà Nhất Linh, bị thủ tiêu mất tích kể từ đó. Cái sự bi thảm trong cuộc chiến Quốc Cộng đã xảy ra cho gia đình tất cả các anh em Nguyễn Tường của Cụ Bách cũng là những bi thảm tương tự xảy ra cho nhiều gia đình khác.

Khi bàn tới sự thất bại của phe Quốc gia trước đối thủ Cộng sản người ta thường nói tới sự quyết liệt và tài tổ chức khéo léo của phe Cộng Sản hơn hẳn phe Quốc Gia. Nhưng người ta ít bàn tới việc người Cộng Sản quyết liệt ra sao và họ tổ chức giỏi như thế nào.

Từ 1945 cho tới 1975 người Quốc Gia bị thua Cộng Sản vì thái độ “không quyết liệt với kẻ thù,” trong khi Cộng Sản thì hoàn toàn trái ngược. Trong những thanh toán nhau giữa hai phe, người Cộng Sản quyết liệt hơn ở điểm họ truy lùng toàn bộ bố mẹ, anh, chị, em, vợ con, kể cả con còn niên thiếu của đối thủ chính trị để tiêu diệt. Họ gọi chung những người đó là “thành phần phản động”. Một đòn hiểm ác hơn nữa là CS cô lập không những người bị cho là phản động mà còn cô lập cả gia đình họ. Cộng sản vận động, và đe dọa mọi người trong xóm, mọi bạn bè, họ hàng bà con không được quan hệ với cá nhân và gia đình của người bị họ cho lành “thành phần phản động”. Ngay cả những người bạn thân, học trò ruột ra đường trông thấy họ từ xa cũng né tránh sang bên kia đường, không dám chạm mặt, không dám chào hỏi dù chỉ một câu, sợ bị liên lụy có thể mang họa vào thân, nhẹ thì bị kiểm điểm, nặng thì bị đi tù. Sự cô lập, bỏ đói của Cộng sản đối với cụ Phan Khôi hay các nhà văn trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, hoặc với các trí thức từng có công với Cộng Sản như Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo v.v… là những ví dụ cho thấy sự độc ác, quyết liệt của Cộng sản khác hẳn chủ trương, chính sách ôn hòa, hợp lý, hợp tình người của người Quốc Gia. Sự quyết liệt một cách độc ác của cộng sản đã được Luật gia Nguyễn Mạnh Tường mô tả khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Hòa Khánh ở trang 712 cuốn Nhân Văn Giai Phẩm của Thụy Khuê. Hòa Khánh hỏi, “Luật sư có bị bắt, bị giam cầm gì không? Trả lời, “Không. Chỉ bị đuổi ra khỏi những nơi đang làm việc. Và độc ác nhất là bị cô lập hoàn toàn. Các anh cứ tưởng tượng suốt mấy chục năm trời, không ai dám đến gặp tôi cả. Họ sợ bị liên lụy đến bản thân, đến gia đình của họ. Có khi đi ngoài đường, nhìn thấy tôi từ xa, là bạn bè, học trò cũ của tôi phải tránh đi chỗ khác.” Hòa Khánh hỏi, “trong thời gian suốt mấy chục năm trời như vậy, luật sư làm gì để sống?” Trả lời, “Không làm gì cả. Xin việc gì người ta cũng không nhận…cứ bán dần đồ đạc trong nhà mà ăn tiêu…Rồi tất cả đồ đạc cạn dần…Tôi lại sống bằng sự bố thí của anh em, bạn bè.” Đọc hết tường thuật về sự đàn áp của cộng sản đối với gia đình tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, người ta thấy kinh hãi tới độ không tưởng tượng được là có thể tàn bạo tới như vậy (2). Hoàn cảnh bị cô lập và đàn áp của tiến sĩ Trần Đức Thảo cũng kinh hãi tương tự. Và đỉnh điểm là bà vợ Tiến sĩ Trần Đức Thảo không chịu nổi phải nạp đơn ly dị với ông vào năm 1960 (3). Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chính sách cô lập, đàn áp, bỏ tù (gọi là cải tạo), tịch thu nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, cửa tiệm, kho hàng, cơ xưởng sản xuất và triệt đường sinh sống lại được áp dụng trên qui mô rộng lớn toàn miền nam đối với hàng trăm ngàn quân nhân, công chức, doanh nhân và người Việt gốc Hoa. Và lần này không phải chỉ vài gia đình tan nát như ở miền bắc sau 1954, mà là cả chục ngàn gia đình vợ chồng bị tan nát, chia lìa.

Việc truy đuổi để tiêu diệt toàn thể bố mẹ, vợ con, anh chị em của đối thủ chính trị là điều không một tổ chức chính trị nào của người Quốc Gia chủ trương. Sự khác biệt về cách đối xử của người Quốc gia và Cộng sản đối với thành phần khác chính kiến bắt nguồn từ sự khác biệt trong lý thuyết hành động. Chủ thuyết Mác Lê dậy các cán bộ Cộng Sản phải phân loại nhân dân ra từng thành phần không chỉ dựa trên hành vi chính trị hay kinh tế của cá nhân người đó mà còn dựa trên lý lịch gia đình ba đời. Phe Quốc gia không buộc người dân khai lý lịch ba đời hay hai đời mà chỉ đòi hỏi người dân khai lý lịch về phần cá nhân họ mà thôi. Dựa trên lý lịch ba đời mỗi người dân bị Cộng sản phân loại vào một thành phần nào đó để hoặc được hưởng ân huệ hoặc bị đàn áp, triệt hạ. Ngày 5/6/2013, trên trang mạng “Bảo Tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh“, trong bài Quá trình thành lập Xứ uỷ Trung Kỳ và các Tỉnh đảng bộ Nghệ Tĩnh, tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân viết nguyên văn, “Xứ uỷ Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: thanh trừng trí phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ,” Cho tới hiện nay, thế kỷ thứ 21, Cộng Sản vẫn còn áp dụng nguyên tắc của luật rừng này. Ngày nay họ đàn áp, triệt hạ tất cả cha mẹ, anh chị em của những phần tử đối kháng bằng nhiều cách như ép chủ nhà chấm dứt hợp đồng thuê nửa chừng, ép công ty họ đang làm việc phải sa thải họ v.v… Chưa kể họ còn cho công an mặc thường phục đóng vai côn đồ hành hung, gây tai nạn giao thông v.v…Cái thâm độc của CS ở đây còn thể hiện ở điểm họ không chủ trương gây tai nạn chết người mà chỉ gây thương tật nặng. Như vậy, nạn nhân vẫn còn sống và từ đó trở thành một gánh nặng cho toàn bộ gia đình. Ví dụ thì đầy dẫy trên báo chí lề trái (blogs). Mới đây, ngày 19/6/2013 trong bài “Đinh Nhật Uy bị bắt vì “không thuyết phục được Đinh nguyên Kha nhận tội“?” ký giả Trương Minh Đức viết, “Kể từ khi sinh viên Đinh Nguyên Kha bị bắt thì công an địa phương luôn sách nhiễu gia đình bằng nhiều thủ đoạn, họ thường xuyên gọi điện thoại với những khách hàng đến sửa chữa máy vi tính tại cơ sở của Đinh Nhật Uy (ghi chú của Ng. tường Tâm: người anh), công an hăm dọạ khách hàng là nếu làm ăn với gia đình “phản động” này thì hãy coi chừng đó! và cũng kể từ đó không ai dám đến làm ăn với cơ sở của Đinh Nhật Uy, thời gian vắng khách kéo dài Uy không chịu nổi với các khoản thuế, chi phí… Đành phải đóng cửa để về vườn làm bất cứ công việc gì cho gia đình. Từ một Kỹ Sư Công nghệ thông tin, chuyên gia máy tính đành phải về cuốc đất trồng rau, giăng lưới bắt từng con cá sặc để góp thêm cho mẹ Liên chờ đến chuyến thăm nuôi gởi cho em Nguyên Kha đang ở trong tù… đang thất nghiệp không giúp ích được gì nên tính lên Sài Gòn in tái bản thêm 400 cuốn sách kỹ thuật về sửa chữa máy Photocoppy mà Uy cùng mấy người bạn đồng xuất bản trước đây, nếu bán được cũng có ít tiền giúp mẹ để phụ giúp nuôi em Kha… nhưng khi vừa đến nhà in thì bị từ chối với lý do là tên của Nhật Uy có trong cuốn sách đó nên không được in tái bản!??..”

Ngày 19-6-2013 trong phản hồi bài: “Một gợi ý cho biểu tình ở VN: Đứng im để biểu tình ở Thổ …” Một khách với mã số 90908 đã viết, “Tôi không biết cách xử lý của cảnh sát các nước khắc nghiệt tới đâu, nhưng tôi biết rõ ở VN, không chỉ cảnh sát, cả một guồng máy sẽ ập xuống, không chỉ bản thân người đi biểu tình, cả gia đình thân quyền cũng vạ lây. Triệt đường sinh kế, cô lập sinh hoạt, triệu tập lên triệu tập xuống, rỉ tai, hù dọa, rồi nếu cần thì thuê mướn bọn xã hội đen hành xử kiểu côn đồ…Kể sơ sơ những thứ lồ lộ ra trước mắt mọi người thế chứ còn những chiêu ngầm gian xảo hơn, tàn bạo hơn, có thể tôi vẫn chưa kịp nắm rõ.

Phe Quốc Gia không có một lý thuyết hành động nào phân loại người dân theo lý lịch gia đình để có chính sách đối xử tương ứng cho nên không có chính sách đàn áp, tiêu diệt thân nhân, gia đình của các phần tử Cộng Sản. Trong suốt 21 năm của chính quyền miền Nam, không một người vợ nào của Cộng Sản nằm vùng bị bắt nếu không có bằng chứng chính người đó hoạt động cho Cộng Sản. Vợ con họ cũng không bị đuổi việc cho dù đang làm việc cho chính quyền. Các khách hàng làm ăn với vợ con họ cũng không bị đe dọa để chấm dứt buôn bán với họ. Không một người con nào của cán bộ cộng sản nằm vùng hay tập kết ra Bắc bị đuổi học hay không xin được việc làm trong công sở chỉ vì liên hệ gia đình. Nhiều khi người Quốc gia còn đối xử với các đối thủ Cộng sản một cách “Quân tử tầu” nữa. Sự việc này mới đây đã được nhiều “cộng sản nằm vùng” thuật lại. Bài “Có một giờ G khác vào năm 1974″ đăng trên báo Saigon Tiếp Thị (http://sgtt.vn/Loi-song/177101/Co-mot-gio-G-khac-vao-nam-1974.html) có lời thuật của “Đại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung”. Người phi công của Không Quân Saigon ném bom Dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đã thuật lại việc Chính Quyền Saigon và Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân Saigòn đối xử với vợ con ông sau khi ông theo Cộng Sản phản bội Việt Nam Cộng Hòa như sau: “…thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn. Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Bài báo thuật tiếp, “Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tướng không quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ.” Người Quốc gia là như vậy, “tiểu tư sản”, lại thêm “quân tử tầu”, nên thua Cộng Sản là phải.

Còn nói về tài tổ chức khéo léo của Cộng Sản hơn hẳn người Quốc Gia thì phải hiểu rằng người Quốc Gia thua kém Cộng Sản chỉ vì khác hẳn Cộng Sản, người Quốc Gia tổ chức theo nguyên tắc Pháp Quyền (rules of law), trong khi Cộng Sản không có luật, hay chỉ có luật để trưng bày, trong thực tế họ dùng luật miệng, luật rừng. Chính vì nguyên tắc Pháp Quyền của Người Quốc Gia mà đại đa số cán bộ Cộng Sản nằm vùng đã được ung dung hoạt động để cuối cùng phá hỏng cái nền dân chủ Pháp Quyền đã từng bảo vệ người dân cũng như bảo vệ chính họ. Ngày nay, họ đang tranh đấu quyết liệt đòi chính quyền Cộng Sản phải trả lại cho họ những nhân quyền họ từng được hưởng ở miền Nam mà ngày xưa chính họ phá bỏ. Để hiểu rõ điều này, tốt hơn hết nên nghe tường thuật của cựu “Việt Cộng nằm vùng” Hạ Đình Nguyên trong bài “Nguyễn Phương Uyên, tôi có thể làm gì cho em?” đăng ngày 5-11-2012 trên trang mạng Việt-studies (-http://viet-studies.info/kinhte/HaDinhNguyen_NguyenPhuongUyen.htm) ” Đối tượng mà chúng tôi chống, lúc bấy giờ, là Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa, song lại có đôi điều mà trái tim công bằng của tuổi trẻ ghi nhớ như là nét son của một xã hội công dân – dù nó chưa tương xứng để gọi tên như thế– Tôi nhớ tại Tối Cao Pháp viện, Tổng thống VNCH – Nguyễn Văn Thiệu, đã đích thân đến Tòa án can thiệp, tranh luận tay đôi với Viện trưởng Nguyễn Minh Tiết, rằng cần phải kết án 21 SV trong số 42 SVHS đã bị bắt vừa qua là Việt Cộng, vì có bằng chứng minh bạch. Ông Viện trưởng Tiết đã cương quyết bác bỏ, vì sự tra tấn dã man là bằng chứng của ép cung, lời cung đã khai không còn giá trị. Thế là hầu hết đã được trả tự do ngay sau phiên tòa. Trong đó có một số anh chị có vai trò trong tổ chức Thành đoàn CS.” Cái tổ chức của người Quốc Gia kém xa Cộng Sản ở điểm mà chính ông Hạ Đình Nguyên cũng phải nhận định tiếp, “Dù các anh chị ấy có lập trường kiên định, một lòng trung thành với con đường lý tưởng đã chọn, song không khỏi ghi nhớ về tính cách của một vị quan tòa, và nguyên tắc, dù chưa phải là thực chất của một thể chế dân chủ, nhưng ở đó có một số điểm tựa để cho người dân tin cậy, là hệ thống luật pháp về dân sự, dù thời điểm đó đang là chiến tranh.” Người Quốc Gia tổ chức kém Cộng Sản bởi vì họ có một tổ chức tư pháp bảo vệ người dân như vậy.
Người Quốc Gia đã hành xử hoàn toàn khác người Cộng Sản, “dù thời điểm đó đang là chiến tranh” (mượn lời Việt Cộng nằm vùng Hạ Đình Nguyên) do đó trong một thời điểm của lịch sử họ đã thua.

Sự thất bại của đoàn quân Việt Quốc đã khiến cụ Bách và các đồng chí phải bôn tẩu sang Trung Quốc. Cũng như Loan và Dũng trong Đoạn Tuyệt và Đôi Bạn, cuối cùng hai người cũng tái hồi. Cụ Bách và nàng Loan của cụ cuối cùng cũng tái hồi. Loan của cụ Bách tên là Hứa Bảo Liên, một cô gái xinh xắn, mau mắn, đánh bóng bàn giỏi, người Hà Nội Việt gốc Hoa, thường vào nhà thương làm thiện nguyện và quen chàng sinh viên y khoa Nguyễn Tường Bách trẻ tuổi, đẹp trai, tài hoa, đàn hay, nhẩy giỏi, học giỏi, ở đó. Như vừa trình bày ở trên, khi cụ Bách chia tay với cô Hứa Bảo Liên trong chiến khu hai người không một hứa hẹn gì. Chính trường chưa rõ nét mà cuộc đời của chàng Dũng Nguyễn Tường Bách thì vô định, sống nay chết mai, ai biết được đường tên mũi đạn. Sau khi lên thăm giã từ chàng thanh niên bác sĩ Nguyễn Tường Bách tại chiến khu của VNQDĐ tại Việt Trì, cô Hứa Bảo Liên lên đường sang du học bên Côn Minh, Trung Quốc. Sự giã từ đã tưởng như vĩnh viễn. Nhưng cuộc tái ngộ bất ngờ của hai người được nàng Loan Hứa Bảo Liên kể lại ở trang 91 cuốn hồi ký “Nguyễn Tường Bách và Tôi” như sau:

“Một buổi chiều mùa thu vào cuối tuần, tôi vội vàng ra trường để cùng các anh Tam (Nhất Linh), Long (Hoàng Đạo) và các anh em khác ra ga Côn Minh…Mọi người đang đứng đợi. Mãi lâu mới có một đoàn xe lửa từ từ tiến vào trong ga. Chuyến xe này từ Khai-Viễn tới. Tất cả mọi người đều chăm chú nhìn những hành khách đang xuống xe. Mãi sau có một anh chỉ cho mọi người nhìn theo, đằng xa có một toán người ăn mặc giống nhau, với những bộ đồ mầu xanh đã bạc. Trên vai người nào cũng đeo một túi vải và chiếc bi -đông đựng nước. Tất cả đều gầy, đen và trông có vẻ mệt mỏi so với những hành khách khác. Anh Bách gầy hơn hết, và đen rạm đến khó nhận ra. Được cái anh vẫn điềm tĩnh vui vẻ bắt tay mọi người. Cuối cùng tất cả đều vui mừng trở về trụ sở. Túi vải anh không có gì đáng giá, ngoài vài bộ quần áo thay đổi, áo len cũng không có. Trên tay anh có chiếc đồng hồ cũ và chiếc nhẫn tôi tặng cho anh trước kia, có lẽ là vật đáng giá nhất mà anh đã đem theo.” Hình ảnh tái ngộ bất ngờ của Bác sĩ Nguyễn Tường Bách và người yêu tại một sân ga xa xôi, giữa thời chinh chiến, mang đậm nét lãng mạn cách mạng của Dũng và Loan trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Tự Lực Văn Đoàn.

Thế là một giai đoạn đầy biến động của lịch sử đất nước đã sang trang với sự thất bại của đoàn quân Việt Quốc. Đó là năm 1946 với sự tan rã của chính phủ Liên Hiệp Quốc Cộng. Khi được tôi và bác sĩ Nguyễn Tường Giang con cụ Thạch Lam hỏi, “Trong đời chú điều gì làm chú hối tiếc nhất?” thì không ngập ngừng cụ trả lời ngay: “Chú hối tiếc nhất là vào thời điểm 1945, các chú chỉ chậm chân 15 phút để rồi cuộc chiến Quốc Cộng kéo dài cho mãi tới thế hệ các cháu ngày nay.”Khi nói tới sự chậm chân 15 phút, ý cụ muốn nói tới việc Phe Quốc Gia đã không quyết liệt để có chủ trương cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim để rồi chỉ trong 15 phút bất ngờ Phe Cộng Sản đã biến cuộc biểu tình ủng hộ chính quyền Trần Trọng Kim, ăn mừng nước nhà độc lập khỏi ách thực dân Pháp và Nhật, thành một cuộc biểu tình cướp chính quyền của phe họ.

Theo hồi ký của Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, nxb Văn Hoá, Houston, 1996, thì Bác sĩ Chữ lúc đó là đại diện chính phủ Trần Trọng Kim đã từ chối đề nghị  của quân Nhật dẹp loạn Việt Minh. Ngoài ra trong một bài phát biểu tại Đại Hội Toàn Đảng Đại Việt năm 1998, tại San Jose, California, USA, ông Hoàng Nhật Tiến, đảng viên niên trưởng (sau này, năm 2006 là chủ tịch Đảng) đã tiết lộ rằng, Cụ Trương Tử Anh, lãnh tụ chung của các đảng quốc gia, đã dè dặt không muốn cướp chính quyền Hà nội nhân ngày công chức biểu tình 19/8/1945 mặc dù các đảng viên các đảng phái quốc gia đã hết sức thuyết phục. Sự thiếu quyết liệt của các đảng phái Quốc Gia đã mang lại cơ hội cho Cộng Sản chiếm được chính nghĩa trước nhân dân.

Thực ra, Việt Minh Cộng Sản không đủ cán bộ để làm cuộc biểu tình đông như vậy, họ chỉ cướp công và giấu mặt cộng sản để cướp chính nghĩa mà thôi. Tâm sự tiếc nuối của cụ Nguyễn Tường Bách đã được mô tả ngắn gọn trong tựa đề của một bài phỏng vấn cụ Bách đăng trên tuần báo Saigon USA của Luật Sư Nguyễn Tâm xuất bản tại San Jose, California, Hoa Kỳ ngày 11-1-1999; tựa đề đó là: “Lỡ Một Bước, Hận Ngàn Thu”.

Năm 1946 Bác sĩ Nguyễn Tường Bách và các đồng chí của ông đã một lần thất bại trước đối thủ Võ Nguyên Giáp và phe Cộng Sản và phải bôn tẩu sang Trung Quốc. Năm 2013, trong một trận “quyết đấu tay đôi”, vì cả hai phe giờ chỉ còn hai cụ, một lần nữa Bác sĩ Nguyễn Tường Bách lại thất bại trước cụ Võ Nguyên Giáp khi phải ra đi sang bên kia thế giới, trong khi cụ Võ Nguyên Giáp vẫn còn ở lại, dù phải mang ống thở.

Cuộc chiến Quốc Cộng thế hệ 1945 như vậy chính thức đã kết thúc. Nhưng cuộc chiến giữa những người Quốc gia, được hiểu là những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, và những đảng viên Cộng Sản mù quáng vẫn còn tiếp diễn. Tuy nhiên khác với thời kỳ ba mươi năm chiến tranh 1945-1975, cuộc chiến Quốc Cộng hiện nay đang diễn ra với phần áp đảo nghiêng về phe đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền. Mặc cho trước mắt, phe Cộng Sản cầm quyền còn đang hung hãn, nhưng sự hung hãn hiện nay của phe Cộng Sản cầm quyền chỉ như sự vùng vẫy của con thú đang lâm vào đường cùng không lối thoát.

© Nguyễn Tường Tâm

© Đàn Chim Việt

———————————————-
(1) http://www.hocxa.com/VanHoc/KhaiHung/KHung&NLinhtrongthoHKieu_QuocNam.php ; Khái Hưng và Nhất Linh trong thơ Huyền Kiêu

-Hồi Ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua cuốn I của Nguyễn Tường Bách.
-Hồi Ký về Gia Đình Nguyễn Tường của Nguyễn Thị Thế
(2): Nhân Văn Giai Phẩm-tác giả Thụy Khuê-nhà xuất bản Tiếng Quê Hương Virginia-ấn bản 2012
(3): http://www.viet-studies.info/TDThao/NTNhat_TDThao_NKVien.htm
Đăng trên VieTimes-10-11-12/10/2007-Chuyện người vợ “duy nhất” của… hai học giả lớn Việt Nam
-Ấn bản ngày 24-6-2013 này khác với ấn bản đã được công bố ngày 19-6-2013.

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Ý kiến: Việt Minh nắm quyền do đâu? Có “cách mạng tháng 8” không?

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2015

BBC

TS Đoàn Xuân Lộc

Gửi cho BBC từ Anh quốc

19-08-2015

H1‘Cách mạng tháng Tám’ năm 1945 vẫn là một đề tài gây nhiều tranh luận, bàn cãi, với nhiều diện giải, nhận định hoàn toàn trái ngược nhau về nhiều khía cạnh khác nhau của sự kiện này.

Một trong những điều gây tranh cãi là bản chất và nguyên nhân dẫn đến thành công của cuộc ‘cách mạng’ đưa Việt Minh lên nắm quyền lúc đó.

Giới lãnh đạo, quan chức cũng như sử học, báo chí chính thống ở Việt Nam thường tuyên truyền rằng đó là cuộc ‘tổng khởi nghĩa giành chính quyền’ được ‘chuẩn bị công phu’, ‘diễn ra nhịp nhàng trên cả nước’ và đã ‘thành công rực rỡ’, đưa Việt Nam ‘bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội’.

Họ còn cho rằng thắng lợi của cuộc cách mạng này ‘là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng đúng đắn và đầy sáng tạo’ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trái lại, một luồng ý kiến khác lại khẳng định chẳng có chuyện Việt Minh, một lực lượng do ĐCS lãnh đạo, ‘cướp’ hay ‘giành chính quyền’ gì – và càng không có chuyện họ phải ‘đánh đấm’ để ‘giành chính quyền’ – vì vào thời điểm đó có một ‘khoảng trống quyền lực’ và Việt Minh đã có mặt đúng lúc để lấp chỗ trống ấy.

Vậy thực chất cuộc ‘khởi nghĩa’ hay ‘Cách mạng tháng Tám’ ấy là gì và điều gì đã khiến Việt Minh lên nắm quyền và lập nên nước ‘Việt Nam Dân chủ Cộng hòa’ lúc đó?

Khoảng trống quyền lực

Quân Nhật vào Đông Dương tháng 9/1941

Thực ra ngay sau ‘Cách mạng tháng Tám’ đã có ‘một số người’ cho rằng những người Cộng sản hay Việt Minh không phải chiến đấu gì để ‘giành chính quyền’ mà chẳng qua vì may mắn nên ‘vớ được chính quyền’. Vì vậy, vào dịp kỷ niệm một năm ‘Cách mạng tháng Tám’, trong cuốn sách cùng tên, Trường Chinh, Tổng bí thư ĐCS Đông Dương lúc đó, đã lên án những người ấy và bác bỏ nhận định đó.

Tuy vậy, dù ông Trường Chinh chính thức lên tiếng bác bỏ, dựa vào những sự kiện diễn ra vào thời điểm ấy và các nhân chứng, sử liệu xác đáng khác, học giả, đặc biệt là giới nghiên cứu nước ngoài, đều kết luận rằng những người Cộng sản có thể dễ dàng lên nắm quyền hay tiến hành thành công, nhanh gọn ‘Cách mạng tháng Tám’ là vì có một khoảng trống quyền lực vào giữa và cuối tháng Tám năm 1945.

Với việc Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 14/08, lực lượng Nhật chiếm đóng tại Việt Nam cũng như chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật bảo hộ đã suy yếu và cũng không còn cơ sở đề tồn tại. Trong khi đó, mãi tới đầu tháng Chín, quân Đồng minh mới tới Việt Nam để giải giáp Nhật.

Như William J. Duiker ghi nhận trong Vietnam: Nation in Evolution, xuất bản năm 1983, chỉ trong vòng hai tuần – từ ngày 14/08 đến ngày 28/08, khi vua Bảo Đại thoái vị – miền Bắc và miền Trung đã gần như hoàn toàn nằm trong tay Việt Minh và chỉ ở miền Nam những người Cộng sản buộc phải chia sẻ quyền lực với những lực lượng, thành phần khác.

Theo học giả này đó là một cuộc chuyển giao quyền lực nhanh gọn, hầu như không có đổ máu gì.

Theo nhà nghiên cứu Pháp Pierre Roussett, tác giả cuốn Communisme et Nationalisme Vietnamien, xuất bản năm 1978, thực ra Việt Minh là lực lượng được mang tới quyền lực, hơn là người đã giành được quyền lực.

Stein Tonnesson, người đã có nguyên một công trình nghiên cứu về ‘Cách mạng tháng Tám’, cũng nhận định rằng Việt Minh có thể dễ dàng lên nắm quyền, không phải mất xương máu gì, vì có khoảng trống quyền lực ở Việt Nam lúc đó.

Trong cuốn The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War, xuất bản năm 1991, Stein Tonnesson cho rằng lãnh đạo ĐCS không bao giờ nghĩ nhiệm vụ của họ sẽ nhẹ nhàng, đơn giản như thế. Mọi chuyện diễn ra nhanh chóng và khác hẳn với những gì họ tính toán, chuẩn bị.

Ông nhắc lại người ta thường cho rằng ‘Cách mạng tháng Tám’ thành công là nhờ Hồ Chí Minh có một chiến lược tuyệt vời và Việt Minh đã xây dựng được một quân đội nhân dân. Nhưng thực tế, quân giải phóng và sự lãnh đạo của Việt Minh chỉ đóng một vai trò khiêm tốn trong cuộc cách mạng này.

Chẳng hạn, theo Stein Tonnesson, ông Võ Nguyên Giáp đã chuẩn bị quân đội để đánh Nhật và chắc ông cũng đã nuôi ước mơ dẫn binh lính của mình tiến về Hà Nội sau khi đã làm nên những chiến thắng lịch sử. Nhưng Hà Nội đã được lực lượng cách mạng địa phương chiếm một tuần trước khi những nhóm lính đầu tiên của ông về thành phố.

Hơn nữa, không một lãnh đạo cao cấp nào của Đảng Cộng sản có mặt khi những nhóm người trẻ tuổi cầm cờ Việt Minh giành chính quyền ở Việt Nam trong hai tuần đó.

Stein Tonnesson cũng chỉ ra rằng Việt Nam không phải là nơi duy nhất có các lãnh đạo quốc gia lên nắm quyền mà không phải đối đầu vũ lực vào thời điểm Nhật đầu hàng. Ở Indonesia, Sukano và Hatta đã tiến hành thương lượng với tư lệnh quân đội Nhật ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh. Hai nhà lãnh đạo này còn bay trở lại Jarkata trên một máy bay của Nhật và tuyên bố độc lập cho nước Cộng hòa Indonesia vào ngày 17/8 – hai ngày trước khi có cuộc nổi dậy ở Hà Nội.

Có thể để nhằm bác bỏ ý kiến cho rằng Việt Minh may ‘vớ được chính quyền’ mà không phải chiến đấu gì, như Stein Tonnesson nhắc lại, cả trong cuốn ‘Cách mạng tháng Tám’ ra mắt năm 1946 và bài ‘Cách mạng hay đảo chính’ đăng trong Cờ giải phóng ngày 12/09/1945, ông Trường Chinh đã nhấn mạnh rằng trong cuộc khởi nghĩa tháng Tám, máu đã đổ nhiều nơi.

Cũng vì nặng giáo điều, Trường Chinh lý luận một cuộc cách mạng thực sự phải có đổ máu và ông cảm thấy tiếc vì cuộc khởi nghĩa tháng Tám đã không có thêm bạo lực.

Vẫn theo Stein Tonnesson, trong một chừng mực nào đó, để bù đắp cho việc thiếu đổ máu trong cuộc nổi dậy, lực lượng cách mạng đã giết một số người ‘phản bội’ sau đó. Ông cũng nhắc đến cuốn Vietnam 1945: The Quest for Power của David Marr, được xuất bản năm 1997, trong đó ước tính rằng nhiều ngàn người được cho là ‘kẻ thù của Cách mạng’ đã bị giết hoặc chết khi bị bắt giữ vào thời điểm giữa cuối tháng Tám và tháng Chín năm 1945.

Khát vọng độc lập

H1

Nhưng cũng có nhiều yếu tố quan trọng khác khiến cuộc khởi nghĩa hay Cách mạng tháng Tám diễn ra nhanh gọn, không đổ máu và Việt Minh có thể dễ dàng lên nắm quyền lúc đó.

Trong The Communist Road to Power in Vietnam, xuất bản năm 1981 và tái bản năm 1996, William J. Duiker nhận định rằng bất cứ cuộc cách mạng nào cũng có yếu tố thời cơ và thời cơ càng chín muồi, cách mạng càng dễ thành công nhanh gọn và Cách mạng tháng Tám không phải là ngoại lệ.

Ngoài có ‘khoảng trống quyền lực’, William J. Duiker nêu ra nhiều yếu tố, điều kiện thuận lợi khác để một cuộc khởi nghĩa hay cách mạng nổ ra ở Việt Nam lúc ấy và Việt Minh đã biết tận dụng những yếu tố, điều kiện đó.

Trong những yếu tố, điều kiện được William J. Duiker và nhiều học giả khác đưa ra có nạn đói 1944-45 ở các tỉnh Bắc Trung bộ và sự tê liệt, sụp đổ nhanh chóng của chính quyền cũ (từ trung ương đến địa phương, từ nông thôn đến thành thị).

Theo Stein Tonnesson số người chết trong nạn đói đó được Việt Minh đưa ra vào năm 1945 cũng như được tuyên truyền những năm đó là hai triệu. Nhưng ông cho rằng con số đó bị cường điệu hóa và ước tính số người thiệt mạng khoảng từ 500 ngàn đến một triệu người. Tuy vậy, ông vẫn cho rằng nạn đói là một thảm họa và nó có tác động chính trị rất lớn.

Cụ thể, nó làm người dân căm thù, tức giận (với chính sách đô hộ của Nhật hay sự bất lực của chính phủ Trần Trọng Kim), cảm thấy tuyệt vọng và đòi hỏi phải có thay đổi. Chính điều này đã đặt nền móng để Cách mạng tháng Tám diễn ra và kết thúc thành công, nhanh gọn.

H1

Những vụ tấn công, cướp các kho thóc lúc đó cũng huấn luyện người dân trong các hoạt động tập thể, giúp họ biết tự nguyện tổ chức, phối hợp với nhau trong các cuộc xuống đường biểu tình (chẳng hạn như đòi vua Bảo Đại thoái vị hay thành lập một chính phủ mới do Việt Minh lãnh đạo) lúc ấy.

Một chi tiết khác mà giới nghiên cứu đều nêu ra là trong hai tuần ấy ở Hà Nội, Huế và nhiều thành phố lớn khác ở Việt Nam đã có nhiều cuộc biểu tình quy tụ hàng chục ngàn – thậm chí hàng trăm ngàn – người đủ mọi thành phần khác nhau trong xã hội và những cuộc biểu tình này đã góp phần quan trọng trong thành công của cuộc khởi nghĩa tháng Tám.

Những cuộc tụ tập đông như vậy có thể dễ dàng diễn ra lúc đó là vì trong khoảng hơn bốn tháng nắm quyền, chính phủ Trần Trọng Kim (từ 17/04 đến 25/08) đã khuyến khích tự do ngôn luận và cổ vũ người dân tham gia vào các hoạt động chính trị. Theo Stein Tonnesson, đó là giai đoạn duy nhất trong thế kỷ 20 người dân Việt Nam gần như hoàn toàn được tự do ngôn luận.

Trong ‘The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March-August 1945’ được đăng trong tạp chí Journal of Asian Studies năm 1986, Vũ Ngự Chiêu nhận định rằng khuyến khích sự tham gia chính trị của đám đông là một trong những đóng góp, thành công đáng chú ý của chính phủ Trần Trọng Kim.

Có thể nói không chỉ trong thế kỷ 20 mà ngay cả trong những năm đầu của thế kỷ 21 này, người dân Việt Nam vẫn không được tự do ngôn luận, hội họp, tụ tập biểu tình như dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim.

Một yếu tố quan trọng khác – nếu không muốn nói là yếu tố quyết định – khiến cuộc khởi nghĩa tháng Tám bùng nổ và thành công nhanh chóng là khát vọng độc lập, dân chủ, tự do của nhân dân Việt Nam.

Tóm lại, các điều kiện để tiến hành một cuộc cách mạng ở Việt Nam lúc đó (nhằm chấm dứt sự đô hộ của đế quốc, thực dân, kết thúc sự thống trị của chế độ phong kiến và thành lập một quốc gia độc lập, một nhà nước dân chủ, cộng hòa) đã chín muồi.

Theo William J. Duiker, tại những xã hội thuộc địa khác, những người có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, phi cộng sản là lực lượng đứng lên lấp chỗ trống quyền lực cũng như tận dụng những điều kiện chín muồi khác lúc đó để nắm quyền. Nhưng ở Việt Nam, phần vì chia rẽ, phần vì thiếu một đường lối rõ ràng, các phe phái, lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc, không cộng sản lúc ấy không thể làm những điều đó.

Nhưng một yếu tố khác khiến những người Cộng sản hay Việt Minh chiếm được cảm tình, giành được sự ủng hộ của nhiều người thuộc mọi giai tầng xã hội lúc ấy là họ biết tạo một hình ảnh cởi mở, tiến bộ. Đây cũng là một trong những lý do tại sao họ, chứ không phải một lực lượng nào khác lên nắm quyền lúc ấy.

Nhiều người ủng hộ

H1

Trong cuốn Britain in Vietnam – Prelude to Disaster, 1945-6, xuất bản 2007, Peter Neville cho rằng nhân vật trung tâm trong những biến cố tháng Tám năm 1945 là Hoàng đế Bảo Đại. Theo học giả này, việc vua Bảo Đại thoái vị đã mở đường cho một nhóm người thuộc nhiều thành phần, đảng phái, khuynh hướng khác nhau lập nên ‘Việt Nam Dân chủ, Cộng hòa’. Ông cũng cho rằng nếu vua Bảo Đại không từ ngôi, Việt Minh không thể lên nắm quyền.

Rất khó để đánh giá một nhận định như vậy. Nhưng có thể nói việc vua Bảo Đại chấp nhận thoái vị, ‘sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi cá nhân’ vì ‘sự đoàn kết’ quốc gia, dân tộc trong thời điểm lịch sử ấy, và làm Cố vấn tối cao cho chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó chứng tỏ ông cũng ủng hộ Việt Minh và chính phủ lâm thời do Việt Minh lãnh đạo.

(Theo các nhà sử học, tháng 8 1945, các cán bộ cộng sản VN mang mã tấu và súng đã bao vây din Vua Bảo Đại, sau đó đại thần Phan Kế Toại đã vào trong dinh của nhà vua, và ép Vua Bảo Đại viết thư thoái vị. Trước đó, các cán bộ cộng sản cũng dùng cách hăm dọa để ép Thủ Tướng Trần Trọng Kim phải từ chức. Trần Hoàng sẽ tìm lại bài viết trong blog có viết chi tiết này và sẽ post link).

Chuyện nhiều người thuộc các đảng phái chính trị khác – hay thậm chí có người không thuộc một đảng phái nào – tham gia chính phủ lâm thời do Việt Minh lãnh đạo lúc ấy cũng chứng tỏ các đảng phái, giới trí thức lúc ấy cũng ủng hộ Việt Minh.

Một thành viên trong chính phủ lâm thời ấy là ông Nguyễn Mạnh Hà, một người Công giáo, nắm giữ chức Bộ trưởng Kinh tế. Theo Peter Neville, Hồ Chí Minh bổ nhiệm ông vì muốn có sự ủng hộ của những người Công giáo. Ở miền Bắc lúc ấy có khoảng một triệu người Công giáo (chiếm khoảng 10% dân số lúc đó). Tác giả này cũng cho biết, trong số những người tụ tập tại Quảng trường Ba Đình để nghe ông Hồ Chí Minh đọc ‘Tuyên ngôn độc lập’ ngày 02/09/1945 cũng có rất đông người Công giáo.

Trong Hồ Chí Minh’s Independece Declaration, một chương trong cuốn Essays into Vietnamese Past, xuất bản năm 1995, David G. Marr còn cho biết ngày 02/09/1945 lại rơi vào ngày Chủ nhật và cũng là ngày Giáo hội Công giáo kính các Thánh tử đạo Việt Nam nên Nhà thờ Chính tòa cũng như nhiều nhà thờ khác ở Hà Nội chật kín người tham dự thánh lễ.

Và sau thánh lễ, để biểu hiện sự ủng hộ với chính phủ mới, các vị chủ chăn đã dẫn con chiên mình về Quảng trường Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập.

Việc nhân dân, đủ mọi tầng lớp, thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội lúc đó đồng loạt xuống đường làm cuộc khởi nghĩa tháng Tám, giành sự ủng hộ cho Việt Minh và chính phủ lâm thời lúc đó cũng không có gì là khó hiểu. Ý tưởng, nguyện vọng, mục đích xây dựng một nước ‘Việt Nam Dân chủ, Cộng hòa’ – trong đó mọi người ‘có quyền bình đẳng’ về quyền lợi, ‘quyền được sống’, ‘quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’ – mà những người Cộng sản hay Việt Minh lúc đó khởi xướng, theo đuổi hoàn toàn đáp ứng được mong đợi, khát vọng của người dân.

Tuyên truyền rằng ‘Cách mạng tháng Tám’ thành công là nhờ vào việc chủ nghĩa ‘Mác-Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam’ là giả dối, nếu không muốn nói là lố bịch.

Tuyên ngôn độc lập ông Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9 không đề cập đến gì ‘Cách mạng tháng 10’ của Nga năm 1917 hay ‘chủ nghĩa ‘Mác-Lênin’. Trái lại, Bản Tuyên ngôn ấy được mở đầu bằng việc trích dẫn ‘Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ’ và ‘Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791’.

H1

————–

Tưởng niệm người soạn thảo “Chiếu thoái vị” cho vua Bảo Đại

Báo  công an nhân dân

11:56 18/03/2009
Hội Khoa học lịch sử Việt Nam vừa tổ chức Lễ tưởng niệm cụ Phạm Khắc Hòe, một nhân sỹ yêu nước, người đã có nhiều cống hiến xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

Tại Lễ tưởng niệm, Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã đánh giá: Cuộc đời cụ Phạm Khắc Hòe là tấm gương chuyển biến tư tưởng của trí thức Việt Nam, một Đổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng của Triều đình Bảo Đại với lòng yêu nước sáng suốt đã nhận thức đúng đắn con đường phải đi theo của đất nước, dân tộc và nhân dân nhằm lái vua Bảo Đại đi theo con đường chính nghĩa.

Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, trên cương vị là Đổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng của Triều đình Bảo Đại, khi được cán bộ cách mạng liên hệ và giác ngộ, cụ đã góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ phong kiến từ bên trong và bảo toàn kho tàng, của cải của triều đình giao cho chính quyền nhân dân.

Trong khi các thế lực phản động ra sức lôi kéo nhà vua và xúi giục triều đình dựa vào Nhật, Pháp để chống lại Việt Minh, cụ Phạm Khắc Hòe đã tích cực thuyết phục vua Bảo Đại chấp nhận thà “Làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ” và cũng trong thời khắc lịch sử ấy, cụ Phạm Khắc Hòe đã soạn thảo chiếu thoái vị cho vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn và đó cũng là triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, cụ Phạm Khắc Hòe đã lần lượt được Nhà nước ta giao đảm nhận các chức vụ: Giám đốc Nha Pháp chính, Bộ Nội vụ; Đổng Lý Văn Phòng Bộ Nội vụ; Cố vấn kiêm Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị đàm phán với Pháp ở Đà Lạt và Phông-ten-blô.

Tháng 12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ bị thực dân Pháp bắt giam ở Hỏa Lò, sau đó đưa đi giam giữ tại Sài Gòn, Đà Lạt và tìm mọi thủ đoạn để dụ dỗ mua chuộc, nhưng cụ kiên quyết từ chối, buộc chúng phải đưa cụ ra quản thúc ở Hà Nội. Sau đó được sự giúp đỡ của tổ chức, cụ đã bí mật trốn lên chiến khu Việt Bắc để tham gia kháng chiến và trở lại làm Đổng Lý Văn Phòng, Bộ Nội vụ.

Sau hòa bình lập lại, cụ tiếp tục được giao làm Vụ trưởng Vụ Dân chính kiêm Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ; Vụ trưởng Vụ Pháp chế Phủ Thủ tướng cho đến khi nghỉ hưu.

Từ tháng 4/1961, cụ được tín nhiệm cử làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiều khóa, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Luật gia Việt Nam và được Nhà nước ta tặng thưởng nhiều huân chương cao quý

L.V.

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam, Tư Liệu Lịch Sử | Leave a Comment »

►Các sĩ quan, cựu sĩ quan QĐND Việt Nam tham gia lừa đảo qua bán hàng đa cấp?

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2015

Ngọc Thu

Posted by adminbasam on 14/08/2015

Ngọc Thu

15-08-2015

“Chương trình: Không cần làm gì hết mà vẫn có tiền! Chỉ ở nhà ăn và chơi thôi! Bỏ ra 9,3 tỷ đồng, thu về 450 tỷ. Tỷ suất lợi nhuận là 4800%”. Đó là điều mà những người tham gia khóa huấn luyện của Liên Kết Việt đã được nghe. Bình luận viên: “Có là nhà kinh doanh đại tài hàng đầu thế giới như Bill Gates hay Warren Buffet cũng phải tôn là sư phụ!”

Theo clip Đại hội Hoa hồng của Công ty Liên Kết Việt giới thiệu, ban lãnh đạo công ty gồm có ông Lê Xuân Hà, là sĩ quan QĐND VN, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP. Ông Hà đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị Liên Kết Việt.

Ông Lê Xuân Hà (phải), Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP, là người được giới thiệu là lãnh đạo công Liên Kết Việt. Nguồn ảnh: otofun.net

Ngoài ra còn có Đại tá Nguyễn Văn Tùng, Phó tổng Giám đốc Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP; Đại tá Dương Công Minh, Phó TGĐ Đối ngoại Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP.

Ông Nguyễn Văn Tùng - Đại tá, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Thiết bị y tế BQP phát biểu khai mạc chương trình Đại hội hoa hồng của Liên Kết Việt

Các sĩ quan cao cấp khác mà một người huấn luyện của Liên Kết Việt đưa ra để lừa dân gồm: Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng và Thiếu tướng Nguyễn Huy Chung, nguyên Viện phó Viện kiểm sát Trung ương.

Hãy nghe ông Lê Thanh Sơn, đại diện Công ty cổ phần Liên Kết Việt trả lời về mối liên hệ của các quan chức BQP với Liên Kết Việt:

Câu hỏi cuối về các sĩ quan QĐND Việt Nam mà Liên Kết Việt đã giới thiệu trong Đại hội Hoa hồng như các đại tá, về chữ BQP có phải là Bộ Quốc Phòng hay không, ông Lê Thanh Sơn đã trả lời ấp úng.

Báo QĐND đã từng nhắc tới ông Lê Xuân Hà, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiết bị Y tế BQPMF5-08 – niềm tự hào của khoa học quân sự Việt Nam.

Thông tin, hình ảnh các sĩ quan, cựu sĩ quan QĐND VN đang mặc quân phục có ở trong website Liên Kết Việt: ĐẠI HỘI HOA HỒNG LẦN 1 – ĐƯỜNG ĐẾN THÀNH CÔNG CỦA CHI NHÁNH LIÊN KẾT VIỆT TP. HỒ CHÍ MINH và ĐẠI HỘI HOA HỒNG THÁNG 7 VÀ TỔNG KẾT TRAO THƯỞNG XE MÁY

H1

Các sĩ quan, cựu sĩ quan QĐND VN tham dự Đại hội hoa hồng của Liên Kết Việt

Phải chăng các sĩ quan, cựu sĩ quan Bộ Quốc Phòng đã lừa đảo người dân qua cty Liên Kết Việt trong vụ bán hàng đa cấp? Câu trả lời dành cho độc giả.

Mời xem thêmSự kiện: “Đường đến thành công – Lễ đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ – Trao tặng Huy hiệu Vàng Danh hiệu Giám đốc Liên Kết Việt” ngày 03/05/2015

Bức ảnh dưới đây cho thấy, Liên Kết Việt (Công ty Cổ phần Liên kết Sản xuất – Thương mại Việt Nam) trực thuộc Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP và Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP này thuộc Bộ Quốc Phòng. Có thể suy ra mối liên hệ giữa Bộ Quốc Phòng với Liên Kết Việt:

Ảnh: Chủ tịch HĐQT Lê Xuân Hà vinh dự nhận Bằng khen của Thủ tướng trao tặng Công ty

H1– DOANH NHÂN LÊ XUÂN HÀ VINH DỰ ĐÓN NHẬN BẰNG KHEN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

H1

H1

– CHỦ TỊCH TẬP ĐOÀN THIẾT BỊ Y TẾ BQP ĐÓN NHẬN KỶ NIỆM CHƯƠNG “DOANH NHÂN THIỆN TÂM THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH”

____

Kênh 14/ Trí Thức Trẻ

Clip: Xem MC truyền hình “xoay” chuyên viên đa cấp với loạt câu hỏi chất vấn

Hồng Minh

14-08-2015

Màn chất vấn của MC với ông Lê Thanh Sơn - (Ảnh cắt từ clip

Sau khi được mời tham dự vào chương trình Bản tin tài chính phát sóng trên VTV1, một chuyên gia đa cấp đã phủ nhận hoàn toàn những chiêu trò mà công ty mình đang dùng để lôi kéo người khác vào công ty. Nhưng màn chất vấn sau đó giữa MC và chuyên gia này khiến người xem không khỏi bật cười.

Đó là nội dung được phát sóng trên chương trình Tài chính kinh doanh của VTV1 vào sáng nay (14/8). Bằng màn phỏng vấn đanh thép cùng những lý lẽ thuyết phục, đại diện của một doanh nghiệp tự xưng là công ty đa cấp đã bị “hớ” trước những câu trả lời của mình trên truyền hình.

Tại buổi nói chuyện, chương trình đã mời ông Lê Thanh Sơn – chuyên viên đào tạo đại diện của Công ty Liên Kết Việt để trao đổi về sự thật xoay quanh một phóng sự mà VTV đã thực hiện từ trước đó về buổi thuyết trình của một nhân viên công ty đa cấp.

Theo đoạn phóng sự này, một thanh niên trẻ tự xưng là nhân viên bán hàng đa cấp của Công ty cổ phần Liên kết sản xuất Thương mại Việt Nam (hay còn gọi là Công ty Liên kết Việt) đã dõng dạc thuyết trình về mô hình bán hàng đa cấp của công ty mình.

Trong đó, cái gọi là “bán hàng nhưng không cần bán hàng, bán hàng làm gì khi mà không cần làm gì cũng có tiền” đã thu hút sự chú ý đặc biệt của những người nghe. Ngót cả trăm người, quá nửa là phụ nữ, còn lại là ông bà già, nông dân, suốt 2 tiếng đồng hồ, tất cả đã ngồi nuốt từng lời của một người tự xưng là ban giám đốc của Công ty Liên kết Việt.

Cái được gọi là “Các bác không cần phải làm gì hết mà cũng có tiền” của nhân viên thuyết trình đã hâm nóng cả căn phòng. Thậm chí người này còn dùng những con số cụ thể để tô vẽ vào những lý lẽ của mình khi chứng minh rằng bỏ ra 9,3 tỷ đồng, thu về 450 tỷ, tỷ suất lợi nhuận là 4.800% hay 48 lần và thuyết phục người dân rằng có là kinh doanh đại tài cũng phải cúi đầu.

Không chỉ mách nước cách sinh lời trong mơ, Liên kết Việt còn chu đáo đến độ mách nước cách giấu gia đình, người thân để nộp tiền vào đa cấp. Kẻ thuyết trình ở trên, kẻ nói đế theo ở dưới, giống như một vở kịch chèo được diễn thành công. Con đường đến giấc mơ làm giàu dường như đang trải thảm đỏ với những người dân này.

Tuy nhiên, mặt khác, sau khi xem lại toàn bộ đoạn phóng sự ghi lại hình nhân viên của công ty mình thuyết trình về mô hình đa cấp, ông Lê Thanh Sơn – chuyên viên đào tạo đại diện của Công ty Liên kết Việt – người được mời đến trường quay lại khẳng định toàn bộ clip này là lời chia sẻ hoàn toàn sai sự thật về Công ty Liên kết Việt.

“Anh này là người chia sẻ, không thuộc nhân viên, cán bộ của công ty. Và công ty không chủ trương đưa người này về thuyết trình”, ông Sơn khẳng định.

Trả lời MC về sự xuất hiện của người thuyết trình không phải là nhân viên của công ty, ông Lê Thanh Sơn lấp liếm: “Đây chỉ là một đại lý, nhà phân phối của công ty. Điều này phải nói đến trách nhiệm của đại lý với công ty, khi đại lý ký với công ty thì phải chịu trách nhiệm với những lời tuyên truyền của mình. Đặc biệt, việc cử nhân sự lên thuyết trình thế này thì đại lý phải chịu trách nhiệm với ban lãnh đạo công ty. Chúng tôi sẽ có hình thức xử lý xác đáng đối với nhân viên cũng như đại lý này.

Chưa hết, MC còn đề cập tới chi tiết người này còn dùng những lời lẽ nguy hiểm, thậm chí nêu tên các nguyên lãnh đạo của Bộ Quốc phòng để “dựa hơi” và làm cơ sở cho bài thuyết trình của mình. Cụ thể, người thuyết trình trong clip đã giới thiệu Ban lãnh đạo của công ty là nguyên ủy viên trung ương Đảng, sau khi về hưu lại tiếp tục xây dựng công ty này, thuộc tập đoàn thiết bị y tế Bộ Quốc phòng (tên viết tắt là BQP).

Ông Lê Thanh Sơn tiếp tục phủ nhận hoàn toàn những điều này. “Tên đầy đủ của công ty chúng tôi là Công ty Cổ phần sản xuất thương mại Việt Nam, đã được cấp phép hoạt động ngày 22/12/2014. Do vậy, tất cả những lời chia sẻ của nhà phân phối phải chịu trách nhiệm với pháp luật. Trên giấy phép kinh doanh đa cấp, tất cả những lời chia sẻ của người này đều không chính xác với những hoạt động của công ty”.

Khi được hỏi về đoạn video trên website của công ty về Đại hội hoa hồng, trong đó ông Lê Thanh Sơn chính là MC dẫn dắt Đại hội đã giới thiệu nhiều vị là Đại tá đương chức của Bộ Quốc phòng đang tham gia vào Ban lãnh đạo của công ty, hành vi thiếu chính đáng của doanh nghiệp đa cấp tiếp tục bị bóc trần. Đặc biệt, những câu hỏi dồn dập được MC đưa ra đã khiến đại diện doanh nghiệp gần như “cứng họng” và vội vàng “sửa sai”: “Tất cả đều có chức danh và tham gia vào ban lãnh đạo công ty, nghỉ hưu và hiện đang làm tại tập đoàn thiết bị y tế BQP”.

Trên thực tế, với cái tên viết tắt là BQP, rất nhiều người đã lầm tưởng và đều nghĩ công ty này trực thuộc Bộ Quốc Phòng cũng như hoàn toàn tin tưởng vào uy tín cùng những lý thuyết suông từ những bài thuyết trình về mô hình bán hàng trong mơ của công ty cung cấp. Tuy nhiên, thông tin cuối cùng được chương trình nhắc đến và khẳng định lại những thủ đoạn của doanh nghiệp đa cấp: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã được giới thiệu trong clip vừa rồi cho biết, chưa từng tham gia hoạt động kinh doanh hay điều hành tại bất kỳ công ty nào và Bộ Quốc phòng khẳng định không có bất kì liên kết nào với Công ty Liên kết Việt hay tập đoàn thiết bị y tế – thông tin từ VTV cho hay.

Đọc tiếp »

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Vụ “Tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước”…nay, Sĩ quan trong danh sách “xử lý nghiêm” trúng cử Bí thư Đảng ủy

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2015

Lao Động

20-08-2015

Tàu của Bộ đội biên phòng Quảng Trị nằm yên tại cảng nhưng lập hồ khống tuần tra biển để rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng

Như Lao Động đã thông tin, sau loạt bài về Bộ đội biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị lập hồ sơ tuần tra biển khống để rút ruột nhà nước nhiều tỉ đồng trong các năm 2013, 2014, Bộ Tư lệnh BĐBP đã có kết luận khẳng định sai phạm trước hết thuộc về Chỉ huy trưởng và Chính ủy BĐBP Quảng Trị là đại tá Nguyễn Trọng Tiềng và đại tá Nguyễn Đức Khánh.

Đồng thời, Bộ Tư lệnh BĐBP cũng công bố danh sách 6 sĩ quan liên quan sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định sau khi có kết quả kiểm tra, xử lý của Tỉnh ủy Quảng Trị, trong đó đứng đầu danh sách là Chỉ huy trưởng và Chính ủy có tên trên.

Tuy nhiên, cho đến ngày 19.8, Tỉnh ủy Quảng Trị vẫn chưa có kết luận kiểm tra và hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân sai phạm tại Đảng ủy BĐBP tỉnh. Trong khi đó, tại đại hội Đảng bộ BĐBP tỉnh Quảng Trị vừa kết thúc, ông Nguyễn Đức Khánh- đại tá, Chính ủy đã được bầu giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Về vụ “tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng”, ngày 14.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự Trung ương đã có công văn chỉ đạo số 62/VKS-P1 yêu cầu Viện Kiểm sát quân sự BĐBP và Bộ Tư lệnh BĐBP kiểm tra vụ việc do Báo Lao Động nêu và báo cáo bằng văn bản để Viện Kiểm sát quân sự Trung ương có cơ sở báo cáo Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương.

Thực hiện chỉ đạo này, ngày 16.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự BĐBP đã phát công văn số 34 VKS-B1 “về việc yêu cầu báo cáo vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra tại đơn vị theo báo Lao Động nêu”, yêu cầu Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị tiến hành kiểm tra và báo cáo bằng văn bản nội dung sự việc và kết quả giải quyết.

———————————————————————————

Quảng Trị: Tuần tra biển khống, “rút ruột” Nhà nước hàng tỉ đồng

6-7-2015

(LĐ) – Số 152 TỔ PV ĐIỀU TRA

Các tàu tuần tra chỉ nằm bờ, nhưng Biên phòng tỉnh Quảng Trị vẫn lập hồ sơ khống để rút tiền của Nhà nước. Ảnh: H.N

Điều tra của phóng viên Báo Lao Động cho thấy, việc tuần tra, kiểm soát, hoạt động giám sát nghề cá trên biển do Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị đảm nhiệm đã có sự trục lợi. Hàng chục bộ hồ sơ khống về những chuyến tuần tra biển đã được lập để “rút ruột” Nhà nước hàng tỉ đồng.

Những năm qua, tình hình trên biển diễn biến phức tạp, ngư dân ra khơi đánh bắt thủy-hải sản trong vùng biển chủ quyền của nước ta thường bị tàu nước ngoài uy hiếp. Chính vì vậy, Nhà nước đã đầu tư, bỏ ra số tiền lớn để lực lượng thực thi pháp luật tiến hành tuần tra, sẵn sàng bảo vệ ngư dân khi có sự cố xảy ra.

 

Tuy nhiên, điều tra của phóng viên Báo Lao Động cho thấy, việc tuần tra, kiểm soát, hoạt động giám sát nghề cá trên biển do Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị đảm nhiệm đã có sự trục lợi. Hàng chục bộ hồ sơ khống về những chuyến tuần tra biển đã được lập để “rút ruột” Nhà nước hàng tỉ đồng.

Tuần tra biển… trên giấy

Khu vực biên giới biển tại tỉnh Quảng Trị có 10 xã, 2 thị trấn thuộc 4 huyện ven biển (Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng) và huyện đảo Cồn Cỏ có bờ biển dài 75km. Vùng đặc quyền kinh tế biển ở tỉnh rộng hơn 8.400km2. Hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân khá thuận lợi, vì vùng biển này nhiều tài nguyên. Tuy nhiên, những năm trở lại đây, có tình trạng tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển của tỉnh Quảng Trị để bắt trộm hải sản. Phạm vi hoạt động của những tàu này cách đảo Cồn Cỏ về hướng bắc – đông bắc đến đông – đông nam. Cứ lợi dụng đêm tối, các tàu nước ngoài xâm phạm lãnh hải để khai thác thủy hải sản, ban ngày lại rút ra ngoài.

Bên cạnh đó, một số tàu được cấp giấy phép trong vùng đánh bắt chung, lợi dụng sơ hở trong công tác kiểm tra giám sát của lực lượng chức năng đã lấn át ngư trường, tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất trật tự trị an trên biển. Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại vận chuyển các loại lâm sản, khoáng sản… vẫn xảy ra. Chính vì những lý do đó, Hải đội 2 – Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Trị đã xây dựng kế hoạch số 115/KH-HĐ – tuần tra kiểm soát bảo vệ vùng biển, giám sát hoạt động nghề cá. Kế hoạch này nêu rõ, phải tổ chức tàu thuyền tuần tra khu vực xung quanh đảo Cồn Cỏ, vùng nội thủy, lãnh hải trong phạm vi được phân công.

Tất cả những bản kế hoạch tuần tra bảo vệ ngư dân đánh bắt trên biển đều được đại tá Nguyễn Trọng Tiềng – Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh Quảng Trị phê duyệt. Trên cơ sở đó, liên tiếp những lệnh điều động tàu thuyền “trên giấy” và hồ sơ “khống” đã được hoàn chỉnh để thanh toán tiền theo quy định; bởi các tàu được điều động vẫn nằm yên ở trong bờ, neo đậu ở Hải đội 2.

Ngư dân rất cần sự hỗ trợ từ lực lượng biên phòng. Ảnh: T.L 

Rút ruột hàng tỉ đồng

Trong kế hoạch 115 đã nói ở trên, 2 tàu BP 30-12-01 và tàu BP 30-04-01 được “điều động” tham gia tuần tra. “Từ 15h ngày 14.8.2014 tàu xuất phát tại đơn vị đi tuần tra trên biển theo kế hoạch, sau đó trở về đợi cơ tại âu tàu đảo Cồn Cỏ tiếp nhiên liệu, nước ngọt, tiếp tục đợi cơ nắm tình hình và tổ chức tuần tra, giám sát nghề cá đợt tiếp theo” – kế hoạch nêu rõ đường đi của tàu.

Và trong thời gian đi tuần tra, tàu BP 30-12-01- tàu vỏ sắt, lượng dầu dự trữ trên tàu tối đa chỉ 4.000 lít- nhưng đã tiêu thụ hết 13.900 lít dầu diesel và 417 lít dầu nhờn; còn tàu BP 30-04-01 – tàu vỏ gỗ, lượng dầu dự trữ tối đa 2.000 lít nhưng đã tiêu thụ hết 5.203 lít dầu diesel và 157 lít dầu nhờn. Tổng số tiền mà Nhà nước phải thanh toán riêng cho hạng mục nhiên liệu 2 chiếc tàu này đã gần nửa tỉ đồng (chưa kể tiền ăn thêm đi biển và phụ cấp đặc biệt). Tương tự, ở các kế hoạch 135/KH-HD ngày 14.9.2014; kế hoạch 169/KH-HD ngày 6.11.2014; kế hoạch 174/KH-HD ngày 18.11.2014; kế hoạch 185/KH-HD ngày 4.12.2014… qua kiểm tra sổ trực chỉ huy, trực ban, nhật ký hàng hải, nhật ký máy chính các tàu BP 30-12-01 và BP 30-04-01 tại Hải đội 2 cho thấy những gian dối tương tự, vẫn được quyết toán “khống”, với số tiền không hề nhỏ.

Kết quả xác minh của Bộ Tư lệnh Biên phòng tại BĐBP tỉnh Quảng Trị mới đây đã xác nhận trong năm 2013 – 2014 đã có 11 kế hoạch tuần tra giám sát nghề cá trên biển được lập khống với tổng số tiền đã được quyết toán gần 1,9 tỉ đồng, trong đó riêng nhiên liệu gần 1,750 tỉ đồng và tiền ăn thêm đi biển + phụ cấp đặc biệt là 91,4 triệu đồng. Tuy nhiên, một cán bộ công tác trên các tàu được quyết toán khống này khẳng định rằng trên thực tế số lượng tàu tuần tra được quyết toán khống còn lớn hơn nhiều.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

► Chóp bu CSVN về hưu được lấy luôn “xe công”

Posted by hoangtran204 trên 19/08/2015

Người Việt

17-08-2015

HÀ NỘI (NV) .-“Tứ trụ triều đình” khi về hưu được lấy luôn “xe công” mà các ông vẫn sử dụng khi còn đương chức, một quy định quyền lợi khá đặc biệt không biết có ở các nước khác hay không.

H1

Theo một “Quyết định” mới được ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 4/8/2015 thì bốn ông thường được gọi “tứ trụ triều đình” là tổng bí thư đảng CSVN, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội, sau khi nghỉ hưu, được mang theo về với mình chiếc xe hơi vẫn dùng khi còn đương chức, và cái xe đó “không quy định mức giá cụ thể”.

Điều này nằm ở điều 3 Chương II về “Tiêu chuẩn, định mức, chế độ trang bị, sử dụng xe ô tô phục vụ công tác” của bản Quyết Định mang số 32/2015/QĐ-TTg “Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”.

Cái xe của các ông “tứ trụ triều đình” không quy định giá cụ thể nên có thể là Mercedes, Lexus, Acura,  Rolls Royce hay một thứ xe xịn gì khác trong khi những ông bà ở những vị thế trong đảng và nhà nước CSVN thấp hơn đều có quy định cụ thể. Những người này được ấn định là được quyền sử dụng xe công  chỉ trong thời gian còn ở chức vụ đó và giá chiếc xe tối đa cũng được ấn định.

Cũng vì vậy mà những năm qua người ta thấy có nhiều lời tố cáo một số ông bà có chức có quyền của chế độ đã “mua xe công vượt tiêu chuẩn” và cũng có những lời đe dọa thu hồi, nhưng “hô hào nhiều, xử phạt ít” như một bản tin trên báo điện tử VNExpress trước đây.

Cái quyết định số 32 do ông thủ tướng Dũng ký ban hành nói trên không những tham chiếu “Luật tổ chức chính phủ”, “Luật ngân sách nhà nước”, “Luật quản lý tài sản nhà nước” mà còn tham chiếu cả “Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 26/11/2013”.

Thỉnh thoảng, người ta vẫn thấy báo chí tại Việt Nam, từ trung ương đến các tỉnh thị địa phương vẫn đăng tải các bản tin về học tập “gương chống tham ô lãng phí” của ông Hồ, hay những phiên họp về thực hiện “phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

Các đảng bộ khắp các tỉnh thị đều phải “tổ chức học tập, quán triệt  đến toàn thể Cán bộ, đảng viên, CCVC Văn phòng UBND tỉnh, xây dựng chương trình hành động cho toàn khoá. chỉ đạo sát sao việc nghiên cứu, học tập và chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.”

Như cái “quyết định” nói trên mà ông Nguyễn Tấn Dũng ký thì “tứ trụ triều đình” được mang xe công “không quy định mức giá cụ thể” về nhà xài riêng vĩnh viễn, không được coi là tham nhũng.

Người ta chỉ thấy quyết định đó quy định “chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô” cho các quan chức tại “các cơ quan, tổ chức, đơn vị, ban quản lý dự án và công ty nhà nước” mà các tốn kém “tổ chức hạch toán và công khai chi phí sử dụng…”

Không thấy nói tiền xăng, tiền sửa chữa bào trì xe, tiền thuế xe “không quy định mức giá cụ thể” ai sẽ trả khi ‘tứ trụ’ về hưu. Mục này thấy không được đề cập trong “Quyết định”.

Lạm dụng xe công rất phổ biến tại Việt Nam. Các quan lấy xe công đi chợ, đi lễ hội thấy báo chí chụp bảng số xe phơi trên mặt báo khá nhiều. Thậm chí xe cứu thương được dùng làm xe cho quan y tế đi họp.(TN)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Khủng bố: nước người và nước ta

Posted by hoangtran204 trên 19/08/2015

18-8-2015

Sáng nay, qua một anh bạn bên Thái Lan tôi mới biết trung tâm Bangkok mới bị đánh bom khủng bố. Cuộc đánh bom làm cho 22 người chết, hơn 120 người bị thương (1). Thật kinh khủng. Nhìn hình thì thấy nơi bị đánh bom là Đền Erawan nổi tiếng, gần bên khách sạn Erawan nơi tôi từng lưu trú ở đây 2 đêm hơn 1 năm trước. Thật không ngờ một nơi linh thiêng và sầm uất lại là mục tiêu của khủng bố.

Tôi nghĩ khả năng rất cao là khủng bố, vì thủ phạm rõ ràng “thiết kế” cuộc đánh bom nhằm gây thiệt hại nhiều nhất và nặng nhất cho cộng đồng. Họ chọn giờ chiều (7 pm) và ngôi đền nổi tiếng, giữa một khu phố lớn và sầm uất. Anh bạn người Thái của tôi cho rằng không có người Thái nào nghĩ đến cài bom vào một đền tôn giáo, nhất là ngôi đền nổi tiếng như Erawan. Theo một bản tin tối nay của một đài truyền hình Úc thì cảnh sát đã xác nhận được một nghi phạm, nhìn hình thì thấy có vẻ là người Trung Đông (và phóng viên cũng bình luận như thế). Dĩ nhiên, chỉ là nghi phạm, nên chưa có thể nói gì hay kết luận gì.

Tình hình chính trị xã hội Thái Lan không được lí tưởng mấy. Hai phe áo vàng và áo đỏ luân phiên biểu tình làm bất ổn ở một khu phố Bangkok. Chỉ một khu thôi, chứ nhìn chung toàn thành phố thì “business as usual”. Đã có 2 cuộc đảo chánh theo tiêu chuẩn Thái Lan (có nghĩa là đảo chính ôn hoà). Thỉnh thoảng cũng có một vài bạo động trên đường phố, nhưng nói chung là không ảnh hưởng đến du khách. Nhưng lần này thì rất khác, vì rõ ràng kẻ chủ mưu nhắm vào du khách. Ở khu này buổi chiều có rất nhiều quán bar lịch sự, là những địa điểm giải trí rất hay sau một ngày làm việc mệt nhọc. Ấy thế mà kẻ khủng bố đã cướp đi sự an lành của người dân. Những kẻ khủng bố phải bị lên án.

Có một sự trùng hợp rất thú vị, là trong ngày Bangkok đang kinh qua thảm hoạ thì ở VN báo chí lại vinh danh một người [có thể xem là] khủng bố. Báo VNexpress đi bài về một nữ biệt động Sài Gòn từng đánh bom làm nổ máy bay với ý định giết 80 cố vấn Mĩ trên một chiếc máy bay Boeing 707 (2). Bài báo không nói rõ, nhưng hình như vụ đánh bom không thành công. Tôi hơi nghi là nếu máy bay Boeing 707 thì phải có chở hành khách dân sự chứ, như vậy vụ đám bom rõ ràng là nhằm giết thường dân nữa. Không chỉ đánh bom máy bay, bà này còn tham gia đánh bom cuộc triển lãm trước Toà đô chính (tức UBND ngày nay) vào ngày 26/10/1962 làm 7 người chết và 47 người bị thương. Như vậy, những hành động đánh bom khủng bố đang xảy ra ngày nay chẳng là mới gì đối với VN, vì 50 năm trước người Việt đã từng làm như thế.

Nhiều khi tôi không hiểu nổi báo chí VN tại sao họ lại đi ca ngợi những hành động giết chóc như thế. Trước đây, người ta còn viết những bài báo mô tả chi tiết kế hoạch ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Và, còn nhiều bài báo ca ngợi ám sát, ca ngợi khủng bố. Những việc trong quá khứ nên để nó vào dĩ vãng, khơi lại làm gì để làm cho nạn nhân và gia đình họ thêm đau lòng, mà còn mang tiếng là ca ngợi khủng bố. (Điều thú vị là sau này thì con của bà đánh bom khủng bố kia lại đi du học ở … Mĩ!)

Người Anh có chữ “distaste” để diễn tả cảm giác ghê tởm trước một bản tin, một bài viết, hay một hành vi. Có thể nói rằng bài báo trên VNexpress là một loại bài distaste như thế. Tôi nghĩ chắc chỉ là một sự tình cờ trong khi VN vinh danh hành động khủng bố, thì ở thủ đô nước láng giềng khủng bố đang gây thảm hoạ cho người dân và bị toàn thế giới lên án. Tôi đoán rằng sự trùng hợp này làm cho Chính phủ VN hơi khó khăn để gửi một thông điệp chia buồn đến Thái Lan.

====

(1) http://edition.cnn.com/2015/08/17/asia/thailand-bangkok-bomb/

(2) http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/to-am/nu-biet-dong-sa-i-go-n-tung-da-nh-no-ma-y-bay-my-2897994.html

Nguon:

https://m.facebook.com/drtuanvnguyen/posts/1480338845612570

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

► Tất cả chúng ta phải lên tiếng trước những bất công của xã hội để làm cho xã hội tốt hơn!

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

16-08-2015

Vụ triển lãm Milan Expo 2015 của Việt Nam đã có một diễn biến mới: Nhà nước đã quyết định thu hồi những sản phẩm thời trang lai Tàu (1). Cụ thể là mấy bộ quần áo lai căng [Tàu] và phản cảm (mà tôi từng phê bình khá nặng nề) sẽ bị thu hồi. Như vậy là dư luận mạng cũng có hiệu quả gây áp lực đến các cơ quan Nhà nước phải hành động.

Nhưng họ (quan chức) vẫn quanh co vấn đề quầy trái cây lèo tèo như là chợ chiều và quầy thức ăn. Họ nói ” VEFAC đánh giá khu ẩm thực Việt Nam tại Expo hiện nay vẫn là một trong những khu ẩm thực mà khách đến thưởng thức thuộc loại đông so với các khu xung quanh.” Tôi tìm hiểu VEFAC là ai, thì hoá ra đó là tổ chức của VN có tên là “Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam”. Tưởng là ý kiến của ai, hoá ra đó là ý kiến của nhóm phụ trách triển lãm. Đúng là mèo khen mèo dài đuôi. Sao mà họ trơ trẽn đến như thế nhỉ?

Đáng lí ra họ phải có con số bao nhiêu khách đến thưởng thức ẩm thực, thu nhập bao nhiêu, và càng hay hơn, nếu họ so với Thái Lan. Kiểu nói khơi khơi như thế thì ai mà tin được, mà lại còn mang tiếng là nguỵ biện. Đúng như câu người Tây hay nói “You can not teach an old dog new tricks.” Tôi không dịch, các bạn tự tìm hiểu sẽ biết.

Chuyện nọ xọ chuyện kia, tôi mới nhận được thư của ông cựu Chánh án Toà án tối cao Úc Michael Kirby, và muốn chia sẻ đôi điều cùng các bạn. Các bạn có lẽ còn nhớ tôi có một cái note về buổi nói chuyện của ông Kirby tại Viện Garvan vào hôm đầu tuần (2). Sau đó, vì bận nên tôi không gặp ông để nói vài ba điều, do đó tôi gửi cho ông một email đại khái nói rằng tôi thích bài chia sẻ những trải nghiệm của ông, cám ơn những gì ông đã làm cho người tị nạn Việt Nam (và tự giới thiệu tôi là một người trong nhóm đó). Hôm nay, ông trả lời như sau mà tôi nghĩ ông sẽ không phiền nếu tôi chia sẻ ở đây (tôi xin phép cắt bỏ những chỗ ông ấy khen “nổ” về tôi):

“Dear Tuan,

Thank you for your friendly and thoughtful email, following my talk at the Garvan Institute.

I express my appreciation and praise to you, both for your own distinguished achievements and for the upbringing of your children to be practitioners helping others. […]

If only our country could see the contribution that refugees have made to our lives, health and well-being, there would be a different attitude.

This is why those who have been refugees (just like those who are gay) have to speak up and confront hostility, prejudice and ignorance.

I support your gesture in writing letters of protest against unthinking policies towards genuine refugee applicants. I hope that you and your children will continue to do this.

Thank you for bringing to Australia not only your DNA, talents and skills. But also a kind heart and a concern for others.

With admiration,

Michael Kirby”

(Tạm dịch: Tuấn mến, Cám ơn anh về cái điện thư thân mật và sâu sắc, sau bài nói chuyện của tôi ở Viện Garvan.

Tôi bày tỏ sự cảm kích của tôi và có lời khen ngợi anh và gia đình anh về những thành tựu, của chính anh, và nuôi nấng con cái thành những người có ích cho xã hội. […]

Tôi ước rằng đất nước chúng ta có thể thấy sự đóng góp của người tị nạn đã làm phong phú cho cuộc sống, sức khoẻ và phúc lợi của chúng ta, thì hẳn họ đã có một thái độ khác.

Đây chính là lời giải thích tại sao những người tị nạn (cũng giống như người đồng tính luyến ái) phải nói lên tiếng và đối chất với những thái độ thù địch, định kiến và thiếu hiểu biết.

Tôi ủng hộ hành động viết thư phản đối Chính phủ về những chính sách thiếu suy nghĩ đối với những người tị nạn đích thực. Tôi hi vọng rằng anh và con cái anh sẽ tiếp tục làm việc này.

Cám ơn anh đã đem đến cho Úc không chỉ chất liệu di truyền, tài năng, và kĩ năng, mà còn là tấm lòng tử tế và mối quan tâm đến người khác.

Với lòng cảm phục,

Michael Kirby”)

Tôi biết khi viết thư cho ông Kirby thì ông sẽ trả lời. Tuy nhiên, tôi không ngờ ông trả lời rất ư là thân thiện như thế. Những đoạn ông “nổ” về tôi (và tôi đã gọt bỏ) cho thấy rõ ràng ông hay người thư kí của ông đã tìm hiểu (hay nói theo tiếng Anh là “làm bài tập”) về tôi. Nhưng toát lên trong lá thư là ông vẫn còn rất thiết tha với sự đấu tranh cho người tị nạn và đồng tính. Xin nhắc lại rằng ông là người đồng tính, có lẽ là người đồng tính nổi tiếng nhất của nước Úc. Một người đã nghỉ hưu, gần 80 tuổi, mà vẫn tiêu ra thì giờ để trả lời thư của công chúng. Thật đáng phục.

Nhân câu chuyện trao đổi thân mật với ông Kirby làm tôi liên tưởng đến “mối tình” của tôi và vài bạn khác với các quan chức cao cấp VN. Các bạn có lẽ còn nhớ khoảng 5 năm trước (thời gian đi nhanh quá), chúng tôi gồm 12 người có quan tâm đến tình hình đất nước soạn thảo một “Bản ý kiến” (3). Mỗi chúng tôi soạn một phần, và tôi soạn phần giáo dục, khoa học và y tế. Chúng tôi tiêu ra rất nhiều thì giờ, soạn thảo cẩn thận từng chữ và từng con số. Chúng tôi dùng tên “Bản ý kiến” chứ không “Kiến nghị”, và cũng chẳng “xin” gì cả. Chúng tôi thông qua những người trong hệ thống gửi Bản ý kiến cho các bác trong Chính phủ và BCT. Nhưng chẳng ai trả lời cả. Nhớ có hôm gặp chú Tư Trung (Dương Quang Trung, chủ tịch Hội Y học TPHCM), chú kéo tôi ra ngoài nói rằng chú đã đọc Bản ý kiến và thích lắm, chú hỏi “Vậy chớ mấy ổng có ai trả lời chưa?” Tôi buồn buồn nói: “Không có ai trả lời cả chú à”. Chú Tư vỗ vai tôi, cười cười nói: “Thôi kệ, mình cứ làm việc mình nghĩ là có ích cho nước”. Sau này, tôi hơi nản, không tham gia ý kiến gì nữa cả, vì nghĩ mình tốn thì giờ mà chẳng dẫn đến đâu, thôi thì lo làm chuyện nhỏ có ích hơn.

Các bạn thấy rõ ràng hai cách ứng xử (của ông Kirby và các bác trong Chính phủ) rất khác nhau. Tôi chẳng trách gì đâu. Thật ra, khi tôi tiếp xúc các bác trong Chính phủ (không nhiều) đều thấy họ rất thân mật, lúc nào cũng tỏ thái độ lắng nghe mình. Tôi chỉ ngạc nhiên là tại sao họ không trả lời thư. Tôi nghĩ có lẽ văn hoá của mấy quan chức VN, cũng như bên Liên Xô cũ, là không bàn chuyện quan trọng hay có gì dính dáng gì với người ngoài đảng trên giấy trắng mực đen. Gặp nhau ngoài đời thì họ nói thoải mái, nhưng trên giấy tờ thì rất im lặng. Tôi nghĩ đó có lẽ là lí do tại sao họ ngần ngại trả lời thư của công chúng như tôi.

Quay lại câu chuyện thu hồi những bộ quần áo lai căng, tôi nghĩ là một kết cục rất đẹp. Công này phải kể đến phần lớn từ những hình ảnh và cái note của chị Nguyễn Thị Oanh, sau đó là các cư dân mạng khác đã lên tiếng. Điều này làm tôi nhớ đến những người có quan điểm hơi thụ động như “lên tiếng làm gì, có làm gì được đâu”, hay những ý kiến mang tính mỉa mai như “anh hùng bàn phím”. Những người có quan điểm như thế rõ ràng là sai. Tất cả chúng ta thấy cái gì không đúng thì phải lên tiếng chứ (như ông Kirby có nói trong thư cho tôi đấy). Nên nhớ rằng “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không hết là bất nghĩa.” Tất cả chúng ta phải lên tiếng trước những cất công và bất cập của xã hội để làm cho xã hội tốt hơn.

anhbasam.wordpress.com

____

(1) Thu lại toàn bộ sản phẩm thời trang không phù hợp tại Expo Milan 2015 (NLĐ).

(2) Một giờ với Chánh án Michael Kirby (Nguyễn Văn Tuấn/ BS).

(3) Cải cách toàn diện để phát triển đất nước (VHNA).

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►40 năm đã trôi qua, đảng CSVN Vẫn còn sợ hãi bóng dáng của VNCH

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2015

DL – Võ Thị Thanh Hải là giáo viên đang dạy trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận 2. Vì yêu thích và đăng những bài viết liên quan đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà cô đã bị công an quận 2 mời làm việc với lí do “trao đổi một số vấn đề về An ninh trật tự”. Bài viết dưới đây là lời cô giáo Thanh Hải thuật lại sự việc.

Tôi là Võ Thị Thanh Hải hiện là giáo viên trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi Q2. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại 22/8 đường 31, phường Bình Trưng Tây Q2, Tp HCM.

Khoảng hơn 14h30′ ngày 17.07 2015, công an hộ tịch tên là Thanh đưa “giấy mời” tôi đúng 15h cùng ngày đến trụ sở Công an phường Bình Trưng Tây, Q2 ở số 197A Nguyễn Duy Trinh để “trao đổi một số vấn đề về An ninh trật tự”. “Giấy mời” chỉ ghi cộc lốc người làm việc với tôi sẽ là “ông Thân”, không kèm theo họ tên đầy đủ hay cấp bậc, chức vụ của ông này.

Về lý do bị mời, tôi đã thắc mắc tại sao tôi không làm điều gì gây mất trật tự an ninh, không phá làng phá xóm hay chửi bới gây lộn với ai mà bị công an mời đi làm việc về an ninh trật tự. Tôi yêu cầu công an hộ tịch – người đưa giấy mời- phải cho biết lý do chính đáng về buổi làm việc. Tôi cũng yêu cầu công an cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật là phải gửi giấy mời trước 3 ngày chứ không thể tùy tiện gửi giấy mời và yêu cầu công dân đi làm việc cách nhau chưa đầy 30 phút như thế. Chính vì vậy tôi đã không đi lên phường làm việc.

Ba ngày sau, 20.07.2015 tôi lại nhận được “giấy mời” cũng từ tay công an hộ tịch tên Thanh, yêu cầu tôi đúng 15h ngày 23.07.2015 cũng đến địa điểm cũ để “bổ túc hồ sơ nhân khẩu” cũng do “ông Thân” đón tiếp. Đúng ngày giờ, tôi đến trụ sở Công an phường Bình Trưng Tây thì không phải ông Thân tiếp mà là ông Long, công an Quận 2 tiếp chuyện. Trong suốt buổi “làm việc”, ông Long không hề nói về vấn đề nhân khẩu như trong giấy mời đã thông báo mà lại chất vấn về các bài đăng trên facebook cá nhân của tôi.

Mở đầu buổi “làm việc”, ông Long đưa cho tôi một xấp giấy A4 in sẵn những bài viết đã đăng trên FB của tôi và hỏi: “Đây có phải là những bài viết của chị hay không?” Tôi xác nhận đó là những bài viết của tôi. Ông Long bắt tôi ký xác nhận vào các bài viết đó. Sau đó ông Long đã đặt ra rất nhiều câu hỏi và bắt tôi trả lời như: “Chị lấy những hình ảnh này ở đâu ra? Và chị đã chia sẻ với những ai? Lý do vì sao chị đăng lên như vậy khi chị đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, không phải là chế độ Việt Nam cộng hòa?”
Ông Long lý luận: “Chị nên hiểu cờ vàng 3 sọc đỏ là của chế độ VNCH đã sụp đổ, thất bại lâu rồi. Nó đã đi vào quá khứ…”. Và ông này cũng kết tội tôi: “Chị là một giáo viên sống ở chế độ XHCN cờ đỏ sao vàng chứ không phải cờ vàng 3 sọc đỏ. Chị là một giáo viên dạy các cháu “mầm non” (thực ra tôi dạy bậc tiểu học) cũng đang sống trong chế độ XHCN như thế là không được, không đúng. Nếu như thế chị sẽ làm sai lệch tư tưởng của các cháu.”
Tôi trả lời mặc dù tôi đăng các bài về VNCH nhưng khi lên lớp, tôi vẫn dạy theo đúng chương trình của Bộ Giáo dục, tôi vẫn truyền đạt đúng theo nội dung sách giáo khoa của nhà nước XHCN. Và tôi luôn dạy các em những điều tốt đẹp để sau này trở thành những con người có ích cho đất nước, cho xã hội.”

Ông Long yêu cầu tôi tháo gỡ các hình ảnh và các bài viết liên quan đến Việt Nam Cộng Hòa; bắt tôi cam kết không được viết tiếp những bài về VNCH nữa. Tôi không đồng ý vì tôi thấy mình không làm điều gì sai cả. Tôi tin rằng người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Hiện nay, không có quy định nào của pháp luật cấm đưa lên Facebook cá nhân những hình ảnh liên quan đến lịch sử Việt Nam bất kể là thời nào, kể cả thời Việt Nam Cộng Hòa.

Sau buổi “làm việc” với công an tôi không được giữ một bản photo “làm việc” nào mặc dù trước khi “làm việc”, tôi đã yêu cầu và được phía công an chấp thuận. Họ lấy lý do máy Photocop bị hỏng, không thể sao ra một bản cho tôi giữ. Lẽ ra trước khi hứa để tôi giữ một bản, họ nên nói rõ với tôi về việc này. Khi tôi tự đi ra cửa hàng photo thì bị 3 người là công an Long, công an Khang và cô thư ký tên Dân yêu cầu chủ tiệm không photo văn bản cho tôi.
Mọi chuyện tưởng đã chấm dứt vì không thấy họ mời gọi gì nữa. Nhưng đến sáng ngày 10.08.2015 trong buổi họp Hội đồng Sư phạm đầu năm thì tôi được bộ 3 Ban giám hiệu thông báo là Trưởng phòng giáo dục vừa gọi điện yêu cầu Nhà trường không được phân lớp cho tôi, và tôi phải chờ quyết định của Phòng điều động tôi đi nơi khác.

Vào lúc 14 giờ 16 phút ngày 12 tháng 8, ông Hiệu trưởng Trần Văn Dàng gọi điện và hẹn tôi 7h30’sáng ngày 13.08.2015 có mặt tại Phòng Giáo dục quận 2 để họp trao đổi về nội dung điều động công tác. Trong buổi trao đổi, Trưởng phòng giáo dục đề nghị chuyển tôi về trường Bồi dưỡng thường xuyên (những giáo viên, cán bộ bị kỷ luật thường bị chuyển về đây) để phụ việc quản lý về chuyên môn của ngành. Tôi thắc mắc tại sao rất nhiều giáo viên không thuyên chuyển ai lại chọn ngay tôi? Tại sao không chuyển tôi đi trường khác vẫn là giáo viên dạy lớp lại về Trường BDTX làm công việc phụ quản lý về công tác chuyên môn? Sao không chọn những giáo viên trẻ năng nổ, xông sáo có nhiều năng lực hơn mà lại chuyển tôi?

Tôi có yêu cầu được giữ một bản sao nội dung làm việc nhưng ông Tùng, Trưởng phòng Giáo dục từ chối yêu cầu trên của tôi. Ông này hứa là sẽ chuyển văn bản này về Ủy ban Nhân dân quận 2. Tôi không hiểu vì sao tôi không được giữ văn bản làm việc liên quan đến mình mà lại phải chuyển về Ủy ban quận? Hơn nữa, ông Trưởng phòng Giáo dục còn “nhắn nhủ” với tôi mình làm cha mẹ cần chú ý làm những gì để không ảnh hưởng đến tương lai của con cái. Và tôi trả lời, tôi là người mẹ tuyệt vời, các con tôi luôn tự hào về mẹ của chúng. Tôi cũng luôn dạy các con tôi rằng, không được làm những điều trái với lương tâm và trách nhiệm của một con người.

Tôi biết, con đường phía trước của mình rất nhiều khó khăn thậm chí hiểm nguy. Xét thấy tôi không làm gì vi phạm pháp luật, không làm gì trái với đạo đức của một nhà giáo. Nhưng chỉ vì bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa mà tôi bị trù dập, sách nhiễu. Bằng lương tâm và trách nhiệm của một nhà giáo chân chính, tôi tuyên bố sẽ không khuất phục và sẽ tham gia vào công cuộc tranh đấu cho nhân quyền và quyền lợi của học sinh nghèo.

Sài Gòn ngày 15 tháng 8 năm 2015.
Võ Thị Thanh Hải

———————–

Có thật  “Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no”?

FB Nhân Thế Hoàng

14-08-2015

H1Qua khẩu hiệu “Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no” được treo trước cổng một cơ quan nhà nước cho chúng ta thấy điều gì?

Từ khẩu hiệu trên nếu đem so sánh với thực tế, chúng ta có thể kết luận là: “thấy zậy mà không phải zậy à nghe.”

Giờ thử phân tích xem vì sao lại đưa ra kết luận trên nhé:

1. Nếu đảng là hạnh phúc thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt hiện nay lại cảm thấy không hạnh phúc đến vậy. Với phần đông dân số sống trong nghèo khó, thu nhập không đủ cho chi tiêu hàng ngày thì hạnh phúc cái nỗi gì; chưa kể đến thực phẩm độc hại, môi trường ô nhiễm, thuế phí chồng chất, đường xá thì ổ gà, ổ voi…vv…Vậy lấy gì để khẳng định là hạnh phúc như khẩu hiệu mà đảng đưa ra đây?

2. Nếu Đảng là văn minh, thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt lại thiếu văn minh đến vậy? Đi đến đâu thì trộm cắp, làm gái đến đó, thảm sát diễn ra như cơm bữa; cướp, giết, hiếp thì lộng hành như chốn không người, vượt đèn đỏ, xã rác, khạc nhổ nơi công cộng đã ăn sâu vào số đông dân số…vv…. Vậy như thế nào gọi là văn minh?

3. Nếu đảng là dân chủ thì sao mở miệng nói trái ý đảng đều bị quy vào thành phần suy thoái hoặc phản động? Tại sao dân không được chọn người dẫn dắt mình mà toàn là “đảng cử dân bầu”? Tại sao dân không có quyền lập hội nhóm, biểu tình…vv…. Vậy như thế nào gọi là dân chủ?

4. Nếu Đảng là hoà bình thì tại sao dưới sự dẫn dắt của đảng, ngư dân lúc ra biển toàn bị “tàu lạ” cướp phá, Hoàng-Trường Sa thì địch nó xây cả căn cứ quân sự trên đó, rồi thác bản giốc, ải nam quan giờ ở đâu? Vậy có phải cam chịu để họ cướp phá, muốn làm gì thì làm trên lãnh thổ của mình được gọi là hoà bình?

5. Nếu Đảng là ấm no thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng Việt Nam giờ như một cái trại từ thiện khổng lồ đến vậy? Trẻ em miền núi phải bắt chuột để bữa ăn có thịt, dân đau ốm nằm chờ chết vì không tiền đi viện; trẻ em, người già đi bán vé số, ăn xin đầy đường, người dân phải bán cả nội tạng để cải thiện cuộc sống…vv….
Vậy ấm no mà đảng hứa mang lại cho dân sao những điều trên vẫn còn nhiều vô kể?
…………………

Một số người sẽ nguỵ biện rằng những trường hợp trên nước nào cũng có, rằng chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, rằng sao toàn nhìn vào những điều tiêu cực để phán xét….nhưng bạn có công nhận rằng những điều kể trên nó hiếm xảy ra ở các nước văn minh (nơi không hề có khẩu hiệu như kiểu trên), trong khi ở nước ta thì nó hiện hữu đầy rẫy từ thành thị cho đến tận nông thôn, nhìn đâu cũng thấy tiếng kêu ai oán khắp nơi.

Có lẽ đảng nên đưa ra khẩu hiệu cho dễ hiểu rằng “các thành viên của đảng luôn được hưởng những điều trên” thì nó đúng hơn là dành cho dân. Người cộng sản làm cách mạng không phải là để đem lại hạnh phúc cho người dân, họ làm cách mạng để người dân mang lại hạnh phúc cho họ là khẩu hiệu đúng nhất hiện nay mọi người à!

———————–

Khởi tố đối tượng ‘chuyên xúc phạm, vu khống lãnh đạo’

16-8-2015

Ông Đinh Tất Thắng bị bắt giữ. Ảnh Dân Trí

Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Thanh Hóa vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Đinh Tất Thắng, về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Đinh Tất Thắng (SN 1943, ở thôn Quyết Thắng 2, xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân) là đối tượng chuyên khiếu kiện kéo dài. Theo xác minh của cơ quan công an, từ năm 1999 đến 2008, Đinh Tất Thắng lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo đã dùng lời lẽ xúc phạm, vu khống các lãnh đạo Trung ương, tỉnh Thanh Hóa và huyện Thọ Xuân.

Trước đó, vào tháng 1/2008, Đinh Tất Thắng đã bị Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 9 tháng tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Sau khi ra tù từ năm 2009 đến nay, Đinh Tất Thắng tiếp tục tái phạm. Từ tháng 6/2015 đến nay, Đinh Tất Thắng đã liên tiếp gửi đơn, thư tố cáo vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân một số lãnh đạo Trung ương, tỉnh Thanh Hóa và tập thể Huyện ủy, UBND huyện và Công an huyện Thọ Xuân.

Hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, của Đinh Tất Thắng đã phạm vào điều 258 Bộ Luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và dư luận xã hội.

Cơ quan An ninh điều tra Công an Thanh Hóa đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam 3 tháng đối với Đinh Tất Thắng về tội danh nêu trên.

Hiện vụ án đang tiếp tục được cơ quan An ninh Điều tra công an Thanh Hóa điều tra làm rõ.

Trần Lê (Dân Trí)

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | 1 Comment »

►Bộ Công an đề nghị TNLT Tạ Phong Tần định cư tại Hoa Kỳ

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2015

TMCNN

13-08-2015

TNLT Tạ Phong Tần. Ảnh: TMCNN

GNsP‬ (13.08.2015) –Tại trại giam số 5 Thanh Hóa, Bộ Công an vào đề nghị TNLT (tù nhân lương tâm) Tạ phong Tần định cư tại Hoa Kỳ.

Thông tin trên được TNLT Tạ Phong Tần nói cho em gái là cô Tạ Minh Tú trong chuyến thăm nuôi vào ngày 12.08.2015.

Cô Tạ Minh Tú thuật lại: “Có ba người ở Bộ Công vào trại giam nói với chị Tần là có muốn định cư ở Mỹ không, nếu muốn hãy viết đơn ‘xin’ định cư ở Mỹ và họ sẽ ‘giúp’. Chị Tần nói là, chị Tần không có tội nên không cần phải ‘xin xỏ’ ai hết, nhà nước này có lỗi với chị nên phải ‘xin lỗi’ mới đúng. Nếu phía đại diện Hoa Kỳ vào gặp chị thì chị sẽ làm theo yêu cầu của họ.”

Trong tương lai, nhà cầm quyền sẽ trục xuất TNLT Tạ Phong Tần qua Hoa Kỳ như đã từng trục xuất Blogger Nguyễn Văn Hải – Điếu Cày. Đó là lời nhận định của cô Tú khi trao đổi với cô Tần trong trại giam. Cô Tú nói: “Tôi nói với chị Tần, chị không cần phải xin xỏ vì họ đang muốn trục xuất chị giống như anh Hải Điếu Cày vậy. Bởi vì ở trong nước, chị là một người đấu tranh mạnh mẽ, là ‘cái gai’ trong mắt họ, nên họ sẽ không để chị ở trong nước đâu.”

“Họ muốn trục xuất chị Tần thì điều này nói lên nhà cầm quyền không muốn thay đổi chế độ cai trị độc tài của họ.” Cô Tú nhận xét.

Về phía gia đình, cô Tú mong muốn cô Tần được đoàn tụ với gia đình. “Gia đình tôi rất đơn chiếc, không còn ai ngoài tôi với chị Tần. Tôi muốn chị Tần ở nhà để gia đình tôi được đoàn tụ. Nhưng, tôi vẫn tôn trọng quyết định của chị Tần.” Cô Tú bày tỏ.

Trong chuyến thăm lần này, TNLT Tạ Phong Tần cho cô Tú biết: “ở đùi có một khối u to bằng nắm tay, nó không đau, nhưng lại đau ở các vùng kế bên và đau từng cơn. Bác sĩ trong trại giam nói nếu đau quá phải mổ…”

Trong thực tế, Blogger Tạ Phong Tần có hơn 700 bài viết trên blog Công Lý và Sự Thật, cô đã phơi bày trước ánh sáng qui mô của tệ nạn tham nhũng trong nước. Cô đưa ra một loạt các vấn đề xã hội, bao gồm việc ngược đãi trẻ em, tham nhũng, thuế má không công bằng và việc tịch thu đất bất hợp pháp của các quan chức của đảng tại các địa phương. Trước khi trở thành một nhà báo, cô Tạ Phong Tần là nữ cảnh sát trong guồng máy của Hà Nội. Điều này đem lại cho cô một cái nhìn sâu sắc về hoạt động của hệ thống cai trị.

Chỉ vì lên tiếng nói trước những bất công của xã hội mà cô Tần bị nhà cầm quyền cộng sản kết án 10 năm tù giam với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” theo khoản 2 điều 88 BLHS trong phiên tòa sơ thẩm hồi ngày 24.09.2012, và y án trong phiên tòa phúc thẩm ngày 28.12.2012. Cô Tần đã phản đối bản án bất công này.

Trước khi TNLT Tạ Phong Tần ra trước vành móng ngựa, thân mẫu của cô là bà Đặng Thị Kim Liên uất ức tự thiêu ngay tại trụ sở Tỉnh ủy Bạc Liêu ngày 30.07.2012. Cái chết của bà tạo chấn động cho nhà cầm quyền cũng như công luận trong và ngoài nước. Cô Tần không được về chịu tang mẹ. Lúc đó, cô đang bị tạm giam tại số 4 Phan Đăng Lưu, Bình Thạnh, Sài Gòn.

Vào tháng 9.2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền trao cho TNLT Tạ Phong Tần và 7 người VN khác giải thưởng Hellman/Hammett vì đã dùng ngòi bút để bênh vực quyền của những con người yếu thế.

Vào tháng 7.2012, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton bày tỏ sự quan tâm của bà đến ba thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do đang bị bắt giữ. Hiện nay, ông Nguyễn Văn Hải –tức Blogger Điếu Cày và ông Phan Thanh Hải –tức Blogger Anh Ba Sài Gòn, đã được tự do.

____

BBC

13-08-2015

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần tháng 6/2015

Từ trại giam Thanh Hóa, nhà hoạt động Tạ Phong Tần cho người nhà biết bà được cán bộ thuộc bộ Công An khuyên ‘làm đơn xin đi định cư Hoa Kỳ’.

Hôm 13/8, trao đổi với BBC qua điện thoại, bà Tạ Minh Tú, em gái của bà Tạ Phong Tần, cho biết vừa đi thăm bà Tần ở trại giam số 5, Thanh Hóa trước đó một ngày.

Bà Tần cho em gái biết ba cán bộ thuộc bộ Công An khuyên bà ‘làm đơn xin đi định cư Mỹ’ thì họ sẽ xin giùm. Bà Tần nói không làm theo điều này.

“Chị tôi khẳng định với họ rằng mình không có tội mà phải xin. Trừ phi đại diện phía Mỹ trao yêu cầu này trực tiếp đến chị tôi hoặc người nhà”, bà Tú nói.

Bà Tú cho biết trong cuộc gặp, bà có nói với chị gái là ‘không cần làm đơn, họ cũng tống cổ chị đi giống như anh Điếu Cày sớm thôi!’.

Tuy vậy, bà Tú khẳng định đến nay, chưa có bất kỳ người thuộc Tổng lãnh sự quán hoặc đại sứ quán Hoa Kỳ liên hệ gia đình về việc này.

Ngoài ra, bà Tú cho biết bà Tần đang bị khối u ở đùi hành hạ đau từng cơn nhưng không có điều kiện chữa trị trong trại giam.

Tháng 6/2015, gia đình Tạ Phong Tần nói bà đã ăn uống trở lại từ ngày 14/6 sau nhiều tuần tuyệt thực.

Bà Tần, trong cuộc gặp đã nói là bà thôi tuyệt thực từ 14/6 và đã ăn cơm trở lại, nhưng với bà bây giờ thì ‘sống cũng như chết, không tuyệt thực cũng chết mà tuyệt thực cũng chết’, theo lời bà Tạ Minh Tú.

Trước đó, bà Tần nói với gia đình bà quyết định tuyệt thực vì bị “cán bộ trại giam ngược đãi tù chính trị, giam trong trong phòng giam không có cửa sổ và còn xây tường cao chắn ngang cửa chính”, bà Tú nói.

Bà Tạ Phong Tần, chủ trang blog Công lý và Sự thật, bị bắt vào ngày 5/9/2011 và bị kết án tù 10 năm vào năm 2012 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nêu tên một số nhà báo mà Mỹ nói là ‘bị bỏ tù sai trái’, trong đó có bà Tạ Phong Tần.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry nói bà Tạ Phong Tần ‘đang thụ án 10 năm tù ở Việt Nam vì vạch trần tham nhũng của chính phủ’.

Trước đó, bà Tạ Phong Tần cũng được ông John Kerry và Đệ nhất Phu nhân Mỹ Michelle Obama trao giải Phụ nữ Can đảm của Thế giới hồi tháng 3/2013.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Giam giữ Ba Sàm là phạm pháp

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2015

Blog RFA

Nhà văn Võ Thị Hảo

13-08-2015

Blogger "Anh Ba Sàm" Nguyễn Hữu Vinh

Ba Sàm vì ai mà lao khổ?

Trên thực tế, ai dám dấn thân vào hiểm nguy, cứu mạng được một người thì đã xứng đáng được tôn làm anh hùng. Người VN cũng biết ơn và tôn vinh những người ấy.

Nhưng có những loại anh hùng khác, thậm chí là siêu anh hùng. Do thiển cận hoặc do sợ hãi, người VN lại thường thờ ơ ghẻ lạnh, tệ bạc, thậm chí a dua với nhà cầm quyền mà ném đá, tước quyền sống với những siêu anh hùng.

Lẽ nào chúng ta không biết những siêu anh hùng đó có thể cứu mạng cả hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu người, và quan trọng là cả những thế hệ tương lai?

Hiệu quả việc làm của các siêu anh hùng được nhân lên rộng lớn bởi trí tuệ, bởi nhận thức hợp thời đại và nắm được khoa học vì con người, biến thành một đòn bẩy khai sáng và bảo vệ cho cộng đồng. Họ dám chịu hy sinh thân mình mà đấu tranh với nhà cầm quyền lạc hậu, bất lương nhằm cải cách thể chế chính trị để thực hiện bằng được quyền con người, đa nguyên, công bằng, bình đẳng, bác ái, ấm no giàu mạnh cho toàn dân.

Một trong những kiểu siêu anh hùng đó  là những nhà bất đồng chính kiến, dám phản đối lại nhà cầm quyền bạo ngược. Họ thường bị nhà cầm quyền đàn áp, giam giữ, triệt hạ. Khi họ bị cầm tù trong nhà giam độc tài, họ được thế giới gọi là „tù nhân lương tâm“. Ông Nelson Mandela của Nam Phi và bà Aung San Suu Kyi của Myanma là một trong những siêu anh hùng đó.  Họ bị chính quyền gọi là giặc của thời loạn nhưng là siêu anh hùng của nhân loại.

Ở VN, những người bất đồng chính kiến, dám hy sinh quyền lợi bản thân, dùng ngòi bút và các hình thức đấu tranh khác để bảo vệ  quyền lợi đất nước và người dân, cũng đang dấn bước theo con đường đó.

Thật thảm hại là do thiếu hiểu biết hoặc do sợ hãi, đa phần người VN, thay vì biết ơn, ủng hộ, làm theo họ thì lại  thường né tránh tất cả những vấn đề mà họ cho rằng „liên quan đến chính trị“. Nhiều người lại còn a dua theo chính quyền để tẩy chay, nhục mạ, hành hạ, tước quyền sống của những người dùng  ngòi bút và lời nói của mình bảo vệ cả gần trăm triệu người bị cướp bóc những thứ còn to lớn và nguy hại gấp triệu lần: đó là quyền tự do ngôn luận và quyền con người.

Trong bầu không khí nhà cầm quyền VN ngày càng lệ thuộc vào Trung quốc trên mọi mặt, nguy cơ mất nước ăn mòn VN từng giờ từng phút cùng với nạn côn đồ cướp bóc của công từ phía những quan chức công quyền,  trong khi cả ngàn tờ báo và tạp chí truyền thông lề phải bị buộc phải câm lặng, những người biểu tình ôn hòa bị đàn áp chỉ vì biểu lộ lòng yêu nước và phản đối TQ lấn chiếm biển đảo, trang blog anhbasam đã là một điểm sáng thể hiện lương tri, lòng tự trọng của công dân VN bằng việc đưa thông tin về sự thật. Từ chỗ hợp lòng người, trang blog này đã mau chóng được cảm thông và chia sẻ của những bạn đọc „đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu“ trong và ngoài nước.

Lẽ ra Ba Sàm và những cộng sự của anh phải được tạo điều kiện làm báo và tôn vinh bởi anh đã đưa lại lợi ích cho cộng đồng. Nhưng ngược lại, anh bị giam vào ngục.

Ai đã nổi giận vì những sự thật bị che giấu đã được đưa ra ánh sáng dưới sự chia sẻ thông tin của Ba Sàm? Bạo quyền nào đã thâm thù hành động yêu nước của anh và những cây bút phản biện xã hội? Ai đã e sợ sức mạnh ngăn trở con đường bán nước của những cây bút trên mạng xã hội? Ai đạt được quyền lợi trong việc triệt hạ Ba Sàm?

Ngày 5/5/2014, blogger Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và một đồng nghiệp bị cơ quan an ninh Việt Nam bắt khẩn cấp, bị cáo buộc vi phạm điều 258 Bộ Luật Hình sự. Vụ bắt giữ này diễn ra chỉ vài ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan trên thềm lục địa Việt Nam và trang Ba Sàm đã có nhiều bài phản đối trong khi cả ngàn tờ báo truyền thông lề phải bị bịt miệng, phải im lặng.

Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự là Nguyễn Thị Minh Thúy đã gia nhập đội ngũ „tù nhân lương tâm“ trong tình trạng như vậy.

Việc bắt giữ họ đã gây phẫn nộ trong và ngoài nước. Hơn một năm nay, họ và những tù nhân lương tâm của VN không bị cộng đồng lãng quên. Những đợt đấu tranh mạnh mẽ đòi trả tự do cho họ đã được dấy lên ở nhiều nơi.

*  „Khai quốc công thần“ cũng bị phụ bạc

Hương hồn những „khai quốc công thần“ cộng sản chắc cũng không thể nằm yên dưới mồ khi nhiều người trong số họ và thân nhân họ cũng đã bị đội ngũ những hậu thế hái quả ngọt do chính tay các bậc tiền bối lao khổ trồng nên giày xéo chỉ vì dám tiếp cận và công bố sự thận hoặc không hợp phe cánh.

Việc con trai mình bị bắt giam và kết tội oan ức đã góp phần làm héo mòn, giết chết bà Ái Việt mẹ của Ba Sàm. Bà là vợ của ông Nguyễn Hữu Khiếu –nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động. Gia đình này cũng là ruột thịt với nguyên Bộ trưởng công an Lê Minh Hương. Nhưng theo nhiều nhân chứng đã tố cáo thì tại đám tang bà Ái Việt, không những con trai bà không được tạm tại ngoại để chịu tang mẹ, mà một số công an và an ninh còn làm những việc vô đạo như bao vây, giật và xé một số băng tang trên vòng hoa viếng bà. Gây náo loạn tại đám tang là việc vô lương tối kỵ.

Từ ngày Ba Sàm bị tù, cuộc sống gia đình anh bị đảo lộn và bị đe dọa nghiêm trọng. Vợ anh, chị Lê Thị Minh Hà mặc dù bản thân thường xuyên ốm đau nhưng đã phải xếp lại việc nhà, lận đận đi vận động trong và ngoài nước kêu oan và đòi trả tự do cho chồng. Nghị lực và lòng quyết  tâm của chị thật đáng vị nể, vì chị xác định không chỉ là nỗi oan khuất của riêng gia đình chị, mà thông qua oan án của anh Vinh và đồng nghiệp mà đấu tranh cho nhân quyền của người VN và các tù nhân lương tâm. Thật không khỏi xót xa cho người đàn bà bé nhỏ ốm đau ấy thân gái dặm trường, lo một ngày nào đó, vừa bị tra tấn về tinh thần, vừa quá vất vả về công việc, chị sẽ gục ngã trên đường trường kêu oan cho chồng…

Trong nhà giam, chồng chị cũng từng bị đối xử tàn tệ. Theo luật sư Hà Huy Sơn, căn cứ vào tố cáo của thân chủ, Ba Sàm từng bị giam giữ cùng một tội phạm sự đã bị khởi tố về tội giết người và có những đặc điểm tâm lý bất thường. Đó là một đòn độc địa, có thể mượn bàn tay tù hành hạ tù hoặc giết tù mà chính quyền vô can. Nếu gia đình và luật sư cùng công luận không viết đơn phản đối tới Viện Kiểm sát và giám thị trại giam B14 Bộ công an đề nghị đổi người cùng giam để cứu lấy tính mạng Ba Sàm thì giờ nay không biết anh sẽ ra sao..

Những hành vi trên đây của nhà chức trách đã khiến cho người dân thấy rõ, những ai góp phần dựng lên, thậm chí hy sinh cả xương máu cho một chính thể độc tài thì cũng rất khó tránh khỏi hậu quả là chính thể ấy cũng sẽ giáng lên các tiền bối hoặc hoặc hậu duệ của họ những oan khuất chí mạng.

Ba Sàm vô tội, nhà chức trách phạm pháp

Căn cứ cáo trạng và pháp luật VN hiện hành, các luật sư, công luận, nhiều tổ chức quốc tế đã chứng minh ông Vinh và bà Thúy hoàn toàn vô tội.  Việc bắt giam họ không những trái với đạo đức, đi ngược lại quyền lợi của đất nước VN mà còn là phạm pháp.

Hành vi của ông Vinh và bà Thúy (nếu có) cũng không thể cấu thành tội phạm. Hai bản Kiến nghị đình chỉ vụ án do Luật sư Trần Quốc Thuận và nhóm luật sư gửi lên các cơ quan hữu trách đã phân tích  rõ về việc vụ án đã được tiến hành một cách trái pháp luật, không có hành vi phạm tội nào có thể được chứng minh. Lệnh bắt khẩn cấp dựa trên các chứng cứ được thu thập một cách bất hợp pháp, không thỏa mãn điều kiện bắt khẩn cấp của Bộ luật tố tụng hình sự, chứng cứ không hợp pháp theo quy định của Luật giám định tư pháp. Đây là bản Kiến nghị thứ 2 của các luật sư yêu cầu Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao ra quyết định đình chỉ vụ án do trái pháp luật nhưng đến nay các nhà chức trách này vẫn cố tình không đình chỉ vụ án.

* Phải trả tự do ngay và vô điều kiện

Dư luận trong nước và nhiều tổ chức quốc tế đã rất công phẫn về việc làm này của nhà cầm quyền VN.

Ngày 10/12/2014, ông Ed Royce, chủ tịch đối ngoại Hạ viện Mỹ đã trao cho đại sứ VN tại Washington D.C yêu cầu trả tự do vô điều kiện và ngay tức khắc cho blogger Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự của ông là bà Nguyễn Thị Minh Thúy. Đồng thời, ông yêu cầu rằng nhà cầm quyền VN phải tôn trọng quyền căn bản của công dân, trong đó có quyền tự do diễn đạt suy nghĩ của mình, nếu muốn xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa hai quốc gia.

Trước đó, nhân ngày Quốc tế Nhân quyền 10/12/2014, Tổ chức Theo dõi Nhân quyến thế giới cũng đã kêu gọi VN ngừng sử dụng những quy định phi lý để bỏ tù những người bất đồng chính kiến với cáo buộc là „lạm dụng quyền tự do dân chủ“. Họ đã lên án VN mưu toan bịt miệng các blogger và hành động này đã „biến lời cam kết của nhà cầm quyền VN tại Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc thành những lời giễu cợt“. Giám đốc châu Á của Tổ chức Nhân quyền Thế giới cho biết vào ngày 11/12/2014 rằng họ đã mất kiên nhẫn với chính quyền cộng sản VN: „họ hứa rằng cải thiện nhân quyền, nhưng đã không giữ lời“.

Ngày 31/10/2014, ông Tom Koenigs – Trưởng nhóm nhân quyền thuộc Đảng Xanh – quốc hội Đức đã lên án rằng việc bắt giam ông Vinh và cộng sự là trái với công ước về các quyền dân sự và chính trị mà VN đã tham gia ký kết và vi phạm nghiêm trọng quyền tự do báo chí và tự do thông tin, là những quyền con người phổ quát. Ông cam kết yêu cầu trả tự do cho ông Vinh và bà Thúy đến cùng.

Cũng trong ngày 4/11/2014, nghị sĩ QH Liên bang Đức, ông Martin Patzel đã thông báo về việc ông nhận đỡ đầu cho Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, sau khi tiếp xúc với bà Lê Thị Minh Hà tại QH nước này. Được biết, ông cũng là người có nhiều sáng kiến trong việc vận động đòi trả tự do cho nhà hoạt động bảo vệ quyền lợi công nhân Đỗ Thị Minh Hạnh trước đây.

Ngày 19/11/2014, có tới bốn dân biểu Mỹ cùng gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, yêu cầu trả tự do cho ông Vinh và bà Thúy.Với những lời lẽ đanh thép, họ yêu cầu chính quyền VN hủy bỏ mọi cáo buộc và trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện  cho họ.

Tổ chức Ký giả Không biên giới lên án gay gắt vụ vi phạm nhân quyền này. Đại diện tổ chức khẳng định rằng họ và cộng đồng quốc tế phải làm tất cả những gì có thể làm được đề hối thúc trả tự do cho những người bị cầm tù chỉ vì họ đã phổ biến thông tin và thực thi quyền tự do của mình dựa trên điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền.

Người VN chúng ta ai cũng mong muốn có một cuộc sống tự do, ấm no hạnh phúc, công bằng. Nếu muốn thế, trước hết phải có tự do ngôn luận. Trong điều kiện ấy các nhà báo, các cây bút… từ nhiều nguồn, nhiều phía khác nhau sẽ đem hành vi của những cá nhân, tổ chức ra soi xét dưới ánh ngày. Khi đó, những hành vi chính đáng sẽ được ủng hộ, hành vi hại cộng đồng phải bị loại bỏ, nguwoif gây ra phải chịu hậu quả, sự công bằng được lập lại, mỗi cá nhân trong cộng đồng sẽ được bảo vệ khỏi sự xâm hại của những kẻ khác.

Nếu ta sống trên đời mà không quan tâm đến quyền làm người của chính mình và hành động để bảo vệ nó, thì đương nhiên chỉ là đạt mức động vật bậc cao!

Lẽ nào ở thế kỷ XI này mà chúng ta vẫn cam tâm làm giống động vật bậc cao, chỉ chăm chú chải chuốt bộ da và cái máng ăn của mình? Lẽ nào chúng ta thấy kẻ đồ tể đến bắt người vô tội hoặc ngay cả ân nhân cứu mình mà vẫn thờ ơ?! Như thế sao tránh khỏi một ngày không xa, chính chúng ta cũng sẽ bị mang đi „xẻ thịt“?!

Chúng ta mang ơn những người tự nguyện nhận lấy thương tổn và lao khổ trên con đường dấn thân đòi công lý và tự do chung cho toàn dân VN. Ta mang ơn Ba Sàm, cộng sự của anh cùng bao nhân sĩ trí thức, bao tù nhân lương tâm trước đây và bây giờ cùng ngày sau đang bị đầy đọa trong ngục tối.

Chúng ta mang ơn những dân oan đã không im lặng nhẫn nhục, dám nếm mật nằm gai đưa oan khuất của họ ra trước công luận dù họ thường bị xua đuổi đánh đập khi đến kêu oan trước công đường. Nỗi oan của họ cũng phải được coi chính là  nỗi oan của mỗi người trong chúng ta.

Người VN trước đến nay từng coi trọng ân nghĩa, cũng có lương tri. Ta cần phải làm tất cả, không mệt mỏi để trả lại tự do cho anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy cùng các tù nhân lương tâm khác. Bởi vì họ là những người nhiệt thành yêu nước, kiên quyết bảo vệ chủ quyền tổ quốc, tin tưởng ở xu thế dân chủ hóa không thể đảo ngược được, đem lại lợi ích cho toàn thể dân tộc VN.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Tự truyện của TS Nguyễn Thanh Giang liên quan đến “Thư gửi Bộ Chính trị” của ông Kiệt

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2015

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang

Tác giả gửi tới Dân Luận

Như đã nói trong chương trước, sự xuất hiện môn Cổ Địa Từ đã làm cơ sở bảo lãnh cho Thuyết Trôi dạt Lục địa, mà những ý niệm của Thuyết Trôi dạt Lục địa có tầm quan trọng to lớn đối với các ngành khoa học về Trái Đất chẳng kém gì học Thuyết Tiến hóa của Darwin trong sinh học. Cho nên trong nửa cuối thế kỷ trước, Cổ Địa Từ là một trong những vấn đề khoa học được Liên Hợp Quốc quan tâm. Tháng 3 năm 1982, tổ chức CCOP của Liên Hợp Quốc mở Hội thảo Quốc tế mang tên “Nghiên cứu Cổ Địa Từ vùng Đông Nam Á – Thái Bình Dương”. Tôi được mời tham dự và trình bầy công trình nghiên cứu.

Sở dĩ tôi có diễm phúc, được mời đích danh, vì năm 1981 ông Johathan, chủ tịch CCOP sang thăm Việt Nam, Tổng cục đưa ông ấy đến thăm Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Cổ Địa Từ của tôi. Ngay lúc ấy ông ấy đã hẹn sẽ mời tôi dự Hội thảo Cổ Địa Từ Quốc tế vào năm sau đó.

Tôi vốn đã bị “ghi sổ đen” vì lý lịch gia đình. Ngay khoảng thời gian đó lại xẩy ra hai sự việc bị xem là “phản bội tổ quốc”. Đoàn cán bộ 3 người của Bộ Nông nghiệp cử đi công tác ở Nhật thì ông trưởng đoàn trốn ở lại không về. Một nhà toán học, bí thư một chi bộ ở Viện Khoa học Việt Nam được cử đi thực tập ở Pháp cũng biệt tăm. Cho nên công an dứt khoát ngăn trở tôi. Họ suy luận rằng, đến những người cốt cán như vậy còn sẵn sàng bỏ cơ quan, bỏ tổ quốc, tôi có gia đình ở Mỹ mà cho ra khỏi biên giới thì khác nào thả hổ về rừng. Cho nên ròng rã nhiều tháng trời không xin được hộ chiếu, tôi đến phàn nàn với giáo sư Tạ Quang Bửu.

Giáo sư Tạ Quang Bửu (1910–1986) được xem là người đặt nền móng cho lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Việt Nam.

Năm 1930 ông thi đỗ vào trường Centrale Paris, theo học chương trình cử nhân khoa học ở Đại học Sorbonne, học toán ở các Đại học Paris, Đại học Bordeaux (Pháp).

Trở về nước năm 1934, ông không ra làm quan mà đi dạy toán và tiếng Anh tại trường tư, ban đầu là trường Phú Xuân, sau là trường dòng Providence (Thiên Hựu) ở Huế.

Năm 1946 ông tham gia đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, rồi Hội nghị Fontainebleau (Pháp) đàm phán với Pháp và nhân đó sang Zurich dự lễ kỷ niệm 200 năm thành lập Hội các nhà khoa học tự nhiên Thụy Sĩ vào tháng 7 năm đó.

Tháng 7 năm 1947, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8, ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu đã chỉ đạo và biên soạn cuốn sách “Bắn máy bay bằng súng trường tập trung” phổ biến rộng rãi khắp nơi, khiến máy bay Pháp phải dè chừng trên vùng trời Việt Nam. Kinh nghiệm này cũng được áp dụng cho dân quân du kích Việt Nam dùng súng trường bộ binh trong Chiến tranh chống Mỹ.

Tuy kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác nhau, ông vẫn dành thời gian truyền thụ kiến thức của mình cho các thế hệ học trò. Ngay trong những ngày Cách mạng mới thành công, ông vừa tham gia các công việc của chính phủ vừa giảng dạy môn vật lý tại Đại học Hà Nội.

Khi làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, ông vẫn tham gia hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật quân sự. Mùa hè năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon ra lệnh thả thuỷ lôi trên sông biển và phong toả cảng Hải Phòng. Ông đã trực tiếp chỉ đạo một tổ nghiên cứu thiết kế, chế tạo khí tài phá thuỷ lôi (mật danh GK1) để chống lại thủy lôi chiến lược MK 52 của Mỹ, khí tài phá bom từ trường (mật danh GK2) do Tiến sĩ Vũ Đình Cự làm tổ trưởng.

Khi giặc Mỹ dùng bom TN (từ trường) nổ chậm phong toả các tuyến vận tải ở khu IV, đường Trường Sơn, giáo sư Tạ Quang Bửu đã cùng các nhà khoa học Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự tìm ra nhiều cách phá nổ vô hiệu hoá bom TN để thông tuyến cho người, xe ra mặt trận.

Các vị lãnh đạo Nhà nước rất kính nể Giáo sư.

Vốn trân quý tinh thần say mê sáng tạo khoa học kỹ thuật, Giáo sư lặn lội sang tận Như Quỳnh để thăm xét Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Cổ Địa Từ của tôi, rồi trở nên yêu quý tôi.

Giữ nhiều chức vụ cao nhưng vốn có tư chất khoa học thanh sạch, Giáo sư sống rất đạm bạc. Những buổi tôi đến thăm, sau hàng mấy tiếng đồng hồ đàm đạo về nhiều vấn đề thời sự khoa học, có lúc Giáo sư “khoe” mấy con lợn nhà Giáo sư nuôi trong bếp phát triển rất tốt vì có các phó tiến sỹ ở Viện Khoa học Việt Nam thường đến chăm sóc. Hồi ấy nhà nhà nuôi lợn, bất kể nông, công, sỹ… Mỗi nhà chỉ một vài con, nuôi bằng nước vo gạo, nước rửa bát, cọng rau… Nhà tôi cũng nuôi một con lợn. Vì nhà chật, tiêu chuẩn chỉ được 24 mét vuông, bếp liền phòng ngủ nên lợn ngủ ngay dưới gầm giường. Hôm mổ lợn, anh em trong cơ quan đến xúm tay giúp, người chọc tiết cạo lông, người trải nilon ngồi bán thịt ngay trước cổng khu tập thể.

Chị vợ tôi năm 1975 vào tiếp quản Sài Gòn được bố trí ở một đơn nguyên trên tầng 9 của một khách sạn sang trọng, cũng nuôi lợn.

Bây giờ nhớ lại, tôi vừa mủi lòng, vừa xấu hổ vì đôi lúc đã tặng Giáo sư những món quà quá mọn. Lúc là một chai rượu hổ cốt mua ở một hợp tác xã miền núi, lúc chỉ mấy cân măng khô. Vậy mà Giáo sư vẫn trân quý. Vào những năm giữa thập kỷ 80, sức đã yếu, đi lại khó khăn nhưng hôm nào tôi ra về, Giáo sư cũng tiến tôi ra tận cầu thang.

Xem xong giấy mời của tổ chức CCOP, Giáo sư viết thư tay và bảo con gái (cũng tên là Tuyết Mai) đem đến cho Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng. Tôi cầm bút phê của Chủ tịch HĐBT về nộp cho Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Điệp. Vậy mà công an vẫn khăng khăng ngăn trở. Vợ tôi và chú ruột tôi phải giúp “chạy” thêm đến ông Tố Hữu ở bên Ban Bí thư Trung Ương Đảng. Chú ruột tôi là anh em cọc chèo với Tố Hữu. Bố vợ tôi là người mà nhà báo Thép Mới đã kể rằng: “Hôm xưa, có một ngày Tố Hữu vượt ngục về đến đầu cầu Thượng Tứ thì gặp chàng thợ điện “quần áo xanh, râu xanh xanh, lông mày rậm”. Chàng thợ điện ấy đã đưa Tố Hữu về nhà ẩn trốn và giúp Tố Hữu bắt liên lạc với Trung ương. Khi tiễn bạn lên đường, Thôi Hữu đã đưa cho Tố Hữu cả nửa tháng lương của mình. Cho nên Tố Hữu đã từng nức nở khóc thương người bạn ân tình: “Nhớ mày, nhớ mãi mày người đồng chí thủy chung, nhớ mãi tiếng cười khanh khách của mày trong buổi chiều xám buồn thảm của thành phố Huế những ngày đen tối nhất” ”.

Vẫn không xong, công an vẫn dùng mọi thủ đoạn ngáng trở. Trước ngày Hội thảo một tuần họ mới cấp hộ chiếu cho tôi và đinh ninh rằng có tài thánh tôi cũng không lên đường được. Ngày ấy, thông thường muốn xin viza vào Malaysia phải đợi hai tuần. Trong tình trạng hết sức khẩn trương, vợ tôi lại phải huy động thêm em vợ tôi xắn tay vào. Nguyễn thị Minh Phương có nhiều học trò ở Bộ Ngoại giao và các sứ quán nên chỉ ba ngày tôi lấy được viza. Bên cạnh đó, nhờ ông Chiêu, thư ký riêng của ông Tố Hữu và ông Năng, thư ký riêng của ông Phạm Văn Đồng thường xuyên động viên, nhắc nhở nên có lúc đã nản lòng, tôi vẫn cậm cạnh chuẩn bị. Khi đã cầm trong tay đầy đủ cả: hộ chiếu, viza, vé máy bay mới biết thiếu đôi giầy. Mười hai giờ đêm, tôi phải đem đôi giầy há mõm ra nhà ông thợ giầy gần Chợ Mơ gõ cửa gọi ông dậy nằn nì nhờ sửa và đánh xi giúp.

Tôi đi trót lọt lên chiếc máy bay Yak40 của Liên Xô xóc như ngồi xe tải vượt Trường Sơn. Hồi ấy để sang được đến Kuala Lumpur phải qua ba chặng. Hà Nội – Viên Chăn, Viên Chăn – BangKok, BangKok – Kuala Lampur.

Xuống sân bay BangKok, không tìm thấy chiếc valy ký gửi trong khoang hành lý máy bay. Tôi rũ hẳn người, cho rằng mình không thể nào thoát khỏi bàn tay sắt của công an. Bản báo cáo, các bản đồ, đồ thị và … cuốn tự điển đều bỏ trong valy. Đành rằng đã cố học thuộc bản báo cáo nhưng không có bản đồ, đồ thị thì trình bầy sao được!

Sang đến Đại sứ quán ta ở BangKok, nghe tin có cán bộ được Liên Hợp Quốc mời đi dự Hội thảo Khoa học Quốc tế, đại sứ Hoàng Bảo Sơn hoan hỷ ra đón. Nhìn tôi từ đầu đến chân, Đại sứ thốt lên: “Nhà khoa học ta ra nước ngoài mà trông tội nghiệp nhỉ!”. Hồi ấy, cán bộ ra nước ngoài là phải lên Ban Tài chính Trung Ương mượn giày dép quần áo. Tôi không kịp làm thủ tục ấy.

Vốn là người có tư tưởng thoáng (hình như sau này ông hơi bị thất sủng), đại sứ Hoàng Bảo Sơn rất khẩn trương tìm cách đưa ngay chiếc valy từ Vien Chăn về BangKok cho tôi. Tôi đến Hội thảo trễ một ngày.

Hồi ấy tôi được xem là nổi tiếng giỏi về ngoại ngũ ở Tổng cục Địa chất. Thực ra tôi “nổi tiếng giỏi ngoại ngữ” chỉ vì chuyên gia Liên Xô I. Kharlamov “tuyên truyền”. Năm 1962, I. Kharlamov và tôi thực hiện tuyến đo đầu tiên thành phần ngang của Từ trường Trái Đất từ Hà Nội lên Sapa. Ngủ ở Nhà khách Tỉnh ủy Lào Kai tôi đã từng đứng giữa làm phiên dịch cho hai chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc nói chuyện với nhau. Lên Sapa, một hôm vào phòng tôi, I. Kharlamov tròn mắt thấy tôi đang tra cứu một cuốn sách tiếng Pháp. Thế là ông về Tổng cục khoe khắp nơi: “Trong khi tôi chưa thành thạo tiếng mẹ đẻ thì thằng Giang nó biết đến gần chục ngoại ngữ: tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Tày …”.

Thực ra I. Kharlamov và nhiều chuyên gia Liên Xô khác đều bị tôi bịp. Trình độ tiếng Nga của tôi chỉ vừa đủ để đọc sách và hội thoại trong lĩnh vực chuyên môn khoa học kỹ thuật Địa Vật lý. Tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp. Tiếng Anh cũng thế. Nói sang các vấn đề xã hội, văn hóa là tôi nghe như vịt nghe sấm và ú ớ không dịch ngược được. Cho nên tôi đành phịa. Khi A nói với B, tôi không dịch nổi câu của A mà chỉ nói với B một câu nào đó mà tôi tự nghĩ ra và có thể dịch được. Khi B nói với A, cũng thế. Kết quả là cả A lẫn B đều chỉ được nói chuyện với tôi nhưng cứ tưởng là đang được nói với nhau. Cái “giỏi” của tôi là phịa làm sao để câu chuyện giữa A và B liền mạch và có lý. Khổ một nối là hồi ấy đi cùng chuyên gia đến địa phương nào cũng được cấp ủy và chính quyền địa phương chiêu đãi. Rượu bia vào, hai bên đếu hỏi chuyện “dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa” và chuyện “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” chứ có nói chuyện Địa Vật lý đâu!

Tôi thi Primaire bằng tiếng Pháp nhưng đến hết Đệ nhị niên, 1949, thì nhà nước bỏ tiếng Pháp, dạy tiếng Anh. Lên Cấp Ba, nhà trường lại bỏ tiếng Anh dạy tiếng Trung Quốc. Vào đại học, học tiếng Nga. Mặc dù sau này rất tích cực tự học và có được học tập trung mấy tháng tiếng Anh cùng với một lớp chuẩn bị đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài nhưng tôi vẫn chỉ sử dung tiếng Anh chủ yếu để đọc sách chuyên môn. Nghe và nói tiếng Anh rất lõm bõm. Giao tiếp tiếng Nga khá hơn vì tôi thường làm việc với chuyên gia Liên Xô. Cho nên, sau khi đọc thuộc lòng bản báo cáo tôi phải rào đón: “Đề nghị quý vị đặt câu hỏi nên nói chậm rãi, rõ ràng. Tốt hơn, xin hỏi bằng tiếng Nga”. Không ai hỏi bằng tiếng Nga. Tôi trả lời bằng tiếng Anh không thấu đáo lắm nhưng thấy mọi người vẫn có vẻ trân quý. Nhiều người đến xin bản copy báo cáo.

Biết thân biết phận, “lý lịch đen”, xuống sân bay Kuala Lumpur tôi về ngay Đại sứ quán trình diện. Mấy hôm Hội thảo tôi ở ngay trong ký túc xá trường Đại học Tổng hợp Malaysia. Trừ tham gia một lộ trình khảo sát địa chất dài 300km do Hội nghị tổ chức, tôi không dám đi đâu. Họp xong lại về ở trong Đại sứ quán ta. Tôi đã phải xin ông Đại sứ bản xác nhận sự nghiêm túc của mình:

Đại sứ quán Việt Nam

Tại Malaysia

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

Kinh gửi : Đồng chí Trần Đức Lương

Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất

Đồng chí Nguyễn Thanh Giang được Tổng cục cử đi dự hội nghị khoa học Cổ Địa Từ Đông Nam Á và Thái Bình Dương tại Kula Lumpur từ 1/3 đến 5/3 năm 1982 . Đồng chí Giang báo cáo cho đại sứ quán biết là đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ do Tổng cục giao cho, góp phần làm cho hội nghị hiểu được thêm về khoa học Cổ Địa Từ của ta.

Trong thời gian ở Kula Lumpur, đồng chí Nguyễn Thanh Giang đã quan hệ chặt chẽ với Đại sứ quán.

Chúng tôi xin phản ánh để đồng chí rõ và xin chúc đồng chí mạnh khỏe .

Kuala Lumpur ngày 8/3/1982

Đại sứ

Vũ Bạch Mai

Biết tôi trên đường về có ghé đại sứ quán ta ở Thái Lan, Bộ Công nghiệp Thái Lan cho người đến mời tôi đến tư vấn cho Thái Lan triển khai việc nghiên cứu Cổ Địa Từ. Đại sứ Hoàng Bảo Sơn gặp tôi hỏi “Anh định ăn mặc thế này đến làm khách của người ta đấy à”. Rồi ông sai người đi mượn áo, mượn giày cho tôi. Ông không cho tôi đi xe của người Thái đến đón mà xuất một chiếc xe sang nhất của Đại sứ quán ta đồng thời cử một phiên dịch vừa giỏi tiếng Anh, vừa giỏi tiếng Thái đi tháp tùng tôi.

Về đến sân bay Nội Bài tôi bị giữ lại khám xét rất kỹ, đến nỗi sân bay chỉ còn mình tôi mà chiều đã ngả tối. (Hồi ấy các chuyến bay quốc tế rất thưa thớt).

Thực ra, sự rắc rối có phần do tôi “ôm đồm” gây ra. Nhẽ ra, valy của tôi gần như rỗng, chỉ hai bộ quần áo thường, hai bộ quần áo lót, không complet cravat, mấy cân mỳ chính, mấy gói bánh kẹo mua về làm quà. (radiocaset và một vài thứ đáng mua khác thì vợ tôi đã mua vì cô ấy cũng vừa đi công tác Malaysia về qua Thái Lan cách đấy dăm tháng).

Mở valy ra, công an thấy đầy ứ những đùm, những gói, kể cả thư từ, đều là của anh em ở đại sứ quán gửi. Hồi ấy anh em công tác ở đại sứ quán nói chung lương thấp, chỉ trên dưới 60 USD/tháng. Khoản tiền 900USD chi cho 5 ngày Hội thảo của tôi được xem là quá lớn. Tôi chiêu đãi Đại sứ quán ta ở Kuala Lumpur hai bữa: một tiệc mặn, một tiệc ngọt. Thấy tôi dễ tính, ai gửi tôi cũng nhận, quá nửa số anh em trong Đại sứ quán lại nhờ tôi chuyển quà về cho gia đình. Có người gửi cả pin đèn (loại pin giống pin con thỏ bây giờ bán bẩy nghìn một đôi). Ông đại sứ thì “nhờ chuyển về hai kilo đường đề con gái bồi dưỡng những ngày ôn thi đại học” ….

Ở Đại sứ quán ta ở BangKok có một bác già làm ở phòng bảo vệ. Bác này thân tình một cách bỗ bã. Từ Viêt Nam sang, tôi diện một sơ mi cộc tay mới may bằng phin trắng có hoa chìm mà vợ tôi vừa mua ở Thái Lan mấy tháng trước. Ở nhà, mặc đến cơ quan ai cũng khen đẹp một cách hiện đại. Thế mà vừa thấy tôi, bác ấy đã phủ đầu: “Anh là nhà khoa học mà sao anh mặc cái áo giống của mấy bà bán rau ngoài chợ thế!”. Chính bác ấy thấy tôi từ Malaysia về xách chiếc valy khệ nệ hơn hẳn lúc đi đã chất vấn tôi và khuyên tôi cân thử kéo bị quá tải phải nộp nhiều cước cho hàng không. Quả nhiên, quá tài đến hơn 30kg. Tôi phải giảm tải bằng cách đưa biếu bác ấy mấy cân đường và mấy thứ rẻ tiền hơn cước phí máy bay, định rồi về Việt Nam sẽ mua đền cho người ta. Bác ấy mắng tôi “Sao anh ngu thế, chỉ biết làm khoa học thôi à! Ai lại gửi đường bao giờ. Mà gửi thì anh phải bắt góp tiền cước phí máy bay chứ”. Quả nhiên, bóc xem thử thì thấy mì chính chứ không phải đường.

Về đến cơ quan tôi phải viết bản báo cáo tường tận:

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

Báo cáo tình hình tham dự hội nghị Cổ Địa Từ Quốc tế

Người tham dự hội nghị và viết báo cáo: Nguyễn Thanh Giang, phó tiến sĩ khoa học, Trưởng phòng Địa vật lý – Liên doàn Bản đồ Địa chất – Tổng cục địa chất .

Tên hội nghị: Hội nghị Nghiên cứu Cổ Địa Từ vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Địa điểm hội nghị: Kuala Lampur, thủ đô Malaysia .

Thời gian hội nghị: Từ ngày 1 đến 5 tháng 3 năm 1982

Cơ quan tổ chức hội nghị: Tổ chức CCOP của Liên Hợp Quốc

Thành phần hội nghị: Các nhà nghiên cứu Cổ Địa Từ, nghiên cứu địa chất, cán bộ giảng dạy đại học gồm: 11 giáo sư tiến sĩ, 21 tiến sĩ và các cán bộ nghiên cứu thuộc các nước Úc, Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Inđonesia, Nhật, Malaysia, Hà Lan,Tân Tây Lan, Papua New Ghine, Philippin, Thái Lan, Vương quốc Anh, Mỹ, Việt Nam.

Số đại biểu Việt Nam: Một

Tài chính: Ngoài vé máy bay, Liên Hợp Quốc đã cấp cho tôi 900 đola Mỹ. Tôi đã chi tiêu theo sự hướng dẫn của Đại sứ quán Việt Nam tại Kuala Lampur và đã nộp lại cho Đại sứ quán ta tai Kuala Lumpur 300 đola Mã Lai, nộp cho Đại sứ quán ta tại BangKok 180 dola Mỹ .

Nội dung hội nghị: Có 26 bản báo cáo khoa học được trình bày tại hội nghị: (đã được liệt kê rõ ràng).

Ngoài phần báo cáo, hội nghị còn có phần thảo luận chung và các yêu cầu, mục đích và phương hướng công tác nghiên cứu Cổ Địa Từ vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương. (cũng đã được nêu chi tiết trong báo cáo)

Những diễn biến ngoài hội nghị:

Vì chuẩn bị khá cập rập, lẽ ra lên đường ngày thứ 5, nhưng phải hoãn lại ngày thứ 7 (27/2/1982). Thêm vào đó đã gặp một sự không may là chiếc va li của tôi không hiểu vì sao đã bị bốc rỡ xuống Vien Chan. Đến BangKok tôi phải chờ va li chuyển đến sau 2 ngày. Do vậy, tôi đến hội nghị chậm mất một ngày.Tuy vậy tôi vẫn kịp nghe báo cáo chính, dự hội thảo và trình bầy đầy đủ báo cáo của mình .

Hội nghị chỉ nhằm công bố các kết quả và thảo luận về vấn đề nghiên cứu Cổ Địa Từ trong vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương nên vắng mặt Liên Xô và các nước XHCN. Hầu hết thành viên đều là các nhà khoa học thực thụ, vả chăng hội nghị chỉ nhằm vào một vấn đề khoa học sâu và hẹp nên nói chung trong hội nghị không đề cập đến vấn đề chính trị .

Trung Quốc chỉ cử một đại biểu (Gia Nia Hong), đại biểu này là nhà địa chất không hiểu biết về Cổ Địa Từ nên không có báo cáo và không phát biểu trong hội nghị.

Trong các câu chuyện ngoài hội nghị, có lần P.Untang (đại biểu Indonesia) hỏi tôi: “Sau chiến tranh có nhiều người bỏ nước ra đi, ngài có nghĩ rằng họ sẽ trở về không?”. Tôi trả lời: “Như ngài biết chúng tôi đã qua một cuộc chiến tranh lâu dài và nặng nề .Hậu quả của sự tàn phá làm cho chúng tôi đang gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Dăm năm nữa chắc chắn còn khó hơn nhiều. Nhưng tôi tin rằng mươi năm sau cuộc sống sẽ khá hơn rõ rệt. Khi ấy chắc một số nào đó sẽ về”. Un.tung tiếp lời: “Tôi biết các ngài đang xây dựng lại đất nước và có thể sẽ khá hơn”.

Kết quả hội nghị và thu hoạch:

Tôi bắt tay xây dựng phòng thí nghiệm và xúc tiến việc nghiên cứu Cổ Địa Từ hoàn toàn bằng cách tự tìm hiểu. Hội nghị đã chỉ cho tôi một số hướng nghiên cứu tốt. Ngoài hội nghị, tôi đã có dịp hỏi một số giáo sư, tiến sĩ nổi tiếng để giải đáp cho mình khá nhiều vấn đề mắc mớ về phương pháp đo đạc và xử lý phân tích số liệu. Tôi cũng đã nhận được trên 10 tài liệu bổ ích do các nhà nghiên cứu Cổ Địa Từ của Nhật, Anh, Úc … tặng.

Hôm tôi về BangKok, một đại biểu Thái Lan còn đến đại sứ quán ta mời tôi đến Cục Địa chất Thái Lan tiếp tục trao đổi. Đồng chí Đại sứ Hoàng Bảo Sơn cho đây là trường hợp hiếm có nên khuyến khích và cho phiên dịch đi cùng với tôi. Sau buổi làm việc này, Đại sứ Hoàng Bảo Sơn tỏ ý khen ngợi.

Đại sứ Việt Nam tại Kuala lampur đã có công văn gửi Tổng cục Địa chất phản ánh sự đánh giá tốt về chuyến đi họp này của tôi .

Ý kiến đề xuất:

Cổ Địa Từ tuy là vấn đề mới nhưng đang phát triển mạnh mẽ và thực sự có đóng góp tốt trong việc định tuổi đá, liên kết địa tầng, nghiên cứu kiến tạo nhằm phát hiện các tiền đề khoáng sản và điều tra thiên nhiên. Nước ta là nước đầu tiên trong vùng Đông Nam Á dám đặt vấn đề ứng dụng phương pháp khoa học này và đã tự xây dựng thành công bước đầu Phòng Thí nghiệm Cổ Địa Từ. Cần tiếp tục tạo điều kiện tốt đẩy mạnh công tác này với số vốn đầu tư ban đầu và chi tiêu hàng năm không quá lớn .

Cần khẩn trương cho mua một vài loại máy và thiết bị mới của Tiệp Khắc và của Pháp và cho người đi thực tập tại Tiệp, Anh, Pháp, Đức hoặc Hà Lan, Úc.

Xin nhà nước cho những người làm công tác nghiên cứu Cổ Địa Từ ở Việt Nam có thể trao đổi tài liệu khoa học tương đối dễ dàng với các nước vì những tài liệu này ít liên quan đến bí mật quốc gia.

Cần tạo điều kiện cho một số công trình nghiên cứu Cổ Địa Từ có giá trị được hoàn thành trong vài năm tới để năm 1989 có thể tham gia hội nghị Cổ Địa Từ Quốc tế do Liên Hợp Quốc tổ chức tại Trung Quốc.

Ngày 30 tháng 3 năm 1982

Người viết báo cáo

Nguyễn Thanh Giang

Để đỡ phức tạp, trong báo cáo tôi đã không kể chuyện giáo sư-tiến sỹ Michael Fuller ở trường đại học Illinoi Chicago rủ tôi sang Hoa Kỳ cùng cộng tác nghiên cứu Cổ Địa Từ, hứa sẽ bố trí cho tôi được sử dụng các thiết bị hiện đại, có độ chính xác cao hơn, miễn là tôi phụ trách phần khai thác các tài liệu bằng tiếng Nga. Ông Gia Nia Hong thì rủ tôi sang Trung Quốc làm việc (Hồi ấy Việt Nam – Trung Quốc đang hận thù nhau). Tôi từ chối khéo, bảo rằng tôi phải trở về vì đồng nghiệp Việt Nam rất trông đợi. Ông ta lại gạ tôi bay vòng qua Hồng Kông chơi ….

Tôi đã chèo chống cật lực về chuyên môn và ngoại ngữ để giữ thể diện cho Tổ quốc, đặng góp phần nhỏ cho các nước Phương Tây thêm ngưỡng mộ Việt Nam. Tôi đã thể hiện được cái bản lĩnh “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di”, khước từ những lời mời ngọt ngào để trở về với Tổ quốc (khi ấy còn nghèo khổ hơn bây giờ nhiều, đến nỗi mấy nhà khoa học đảng viên cũng bỏ trốn đi).

Tưởng rằng từ đây tôi sẽ được nhìn nhận, được xóa bỏ bớt sự kỳ thị. Nhưng không ngờ, tai ương lại ập đến. Những người đã ngăn trở tôi không được, bây giờ trở nên thù ghét tôi. Chẳng thà tôi không trở về để họ được tiếng là nghiệp vụ cao. Việc tôi đi rất nghiêm túc mà lại trở về nghiêm chỉnh làm cho họ mất uy tín với cấp trên. Thế là … Lởn vởn khắp cơ quan tôi, lan cả sang cơ quan vợ tôi, những lời đồn đại rất lơ mơ, rất hiểm ác về chuyến đi của tôi. Nào là tôi đến hội nghị ấm ớ nửa tiếng Anh, nửa tiếng Nga nên bị người ta đuổi xuống. Nào là, vừa thấy xuất hiện bản đồ địa vật lý phóng xạ toàn Miền Bắc (do tôi chỉ đạo thành lập) ở Mỹ, nên công an đang điều tra xem có phải Nguyễn Thanh Giang đem sang bán không? vv …Hồi ấy, đụng đến vấn đề phóng xạ là kinh khủng lắm. Cho nên đâu đó nghĩ rằng tôi là một tội phạm tù mọt gông đang tạm thời được thả lỏng. Tôi bị lao đao điêu đứng, dở sống dở chết. Thấy ở Cục Bản đồ Địa chất không hợp nữa, tôi ngỏ ý xin đi. Bốn cơ quan, trong và ngoài Tổng cục Địa chất, hoặc ngỏ lời, hoặc viết công văn chính thức xin tôi. Công an đánh hơi thấy ở đâu sắp nhận đều dến dọa rằng tôi đang là đối tượng nghi vấn. Tôi bị cho ngồi chơi xơi nước suốt mấy năm trời. Phòng Thí nghiệm của tôi cũng tan nát. Uất úc đến nỗi có lúc tôi đã nghĩ đến cái chết.

Rồi, vợ con tôi cũng bị ảnh hưởng. Tôi đành viết bức thư trần tình dưới đây:

Hà Nội ngày 9 tháng 3 năm 1991

Kính gửi Ban lãnh đạo Bộ Nội vụ

Tôi xin khẩn thiết kính báo cáo với các đồng chí như sau:

Tôi là Nguyễn Thanh Giang, phó tiến sĩ khoa học, hiện công tác tại Liên đoàn Vật lý Địa chất .Tôi tham gia kháng chiến từ 1953, suốt gần 40 năm công tác, tôi luôn hết lòng vì sự nghiệp của Tổ Quốc, của Cách mạng. Tôi sống rất trung thực, trong sáng, chưa hề mắc sai sót, khuyết điểm dù chỉ đến mức phải đem ra kiểm điểm, phê bình ở nhóm, ở tổ. Trong nhiều phương diện tôi đều có ý chí phấn đấu cao và đã có một số đóng góp không quá nhỏ. Điều đáng phàn nàn là hầu hết việc làm của tôi với mong muốn và có khả năng công hiến xứng đáng hơn cho dất nước đều bị ngáng trở.

Năm 1982, tôi được LHQ mời dự hội nghị tại Kuala Lumpur. Người ta đã ra sức kìm giữ tôi nhưng nhờ giáo sư Tạ Quang Bửu trao đổi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thủ tướng đã can thiệp trực tiếp để tôi được đi họp. Tại đây, tôi là người Đông Nam Á duy nhất trình bày báo cáo khoa học thuộc lĩnh vực hoàn toàn mới: Cổ Địa Từ học. Tôi rất nghiêm túc, tạo ra được một tiếng vang nhỏ cho đất nước, được bạn bè nước ngoài quí nể. Thế mà khi trở về, một số cán bộ ở A78 Bộ Nội vụ lúc bấy giờ, đã tìm mọi cách hãm hại ngầm tôi. Tôi đã phải quằn quại trong nhiều năm trời nhưng vẫn cố giữ mình sống chững chạc, làm việc nghiêm chỉnh.

Tháng 9/1989, tôi được mời đọc báo cáo tại Hội nghị Địa chất Quốc tế lần thứ 28. Đây là bản báo cáo khoa học đầu tiên của nước Việt Nam dưới chế độ chúng ta được trình bày tại thủ đô Hoa Kỳ.

Do được biết đến từ khá sớm, một số nhà khoa học nước ngoài ngỏ ý muốn sang Việt Nam cộng tác với tôi để nghiên cứu về địa vật lý và dịa chất Đông Dương.

Sau mấy năm trời làm mọi thủ tục xin phép nhà nước rất công phu, được Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ đồng ý, tháng 8/1990 hai giáo sư Mỹ sang ta. Đúng ngày hai giáo sư sang, một số cán bộ Cục A25 đột nhiên đến cơ quan tôi, buộc tôi thay đổi toàn bộ nội dung, chương trình làm việc mà trước đó tôi đã báo cáo đầy đủ với các cơ quan cấp trên.

Hai giáo sư này là những chuyên gia địa chất, địa vật lý rất nổi tiếng, có nhiều công trình nghiên cứu trên hầu hết lãnh thổ các nước Đông Nam Á. Họ rất vui sướng được trở thành nhân vật lịch sử là những nhà địa chất Mỹ đầu tiên đến Hà Nội. Họ vừa nhận một cán bộ Viện Khoa học Việt Nam và hiện đang đào tạo cho ta một tiến sĩ địa chất Việt Nam đầu tiên tại Mỹ ở trường Đại học Ilinois-Chicago. Họ đang tổ chức một cuộc hội thảo khoa học và đã gửi giấy mời 9 cán bộ khoa học của ta sang dự từ 8 đến 19/5/1991 bằng tài trợ của Uỷ ban Hợp tác Khoa học Mỹ với Việt Nam.

Những việc làm của họ có thể do cảm tình với ta, có thể do động cơ riêng là muốn có vai trò lịch sử, muốn có đề tài để xin lập quĩ cho các chương trình nghiên cứu khoa học, đào tạo tiến sĩ của họ từ các công ty thăm dò, khai thác dầu khí, khoáng sản của Mỹ đang muốn vào Việt Nam trong hòa cảnh chính phủ họ còn cấm vận với ta. Dù bất kể động cơ nào, nhưng qua giao tiếp, tôi thấy họ là những nhà khoa học thực thụ và những việc làm của họ rất có lợi cho ta.

Thế mà, không hiểu tại sao tôi cứ bị nghi ngờ cứ bị ngược đãi. Gần đây, lại một sự việc hết sức đau lòng xẩy ra:

Con trai tôi, Nguyễn Giang Vũ, kỹ sư Địa Vật lý, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp từ năm 1988. Đây là một thanh niên khỏe mạnh, học khá giỏi, được bạn bè, hàng xóm và mọi người yêu mến vì hiền lành, chân thực sống rất nhân ái. Mấy năm nay, do không kiếm được việc làm hợp chuyên môn, tôi đành để cháu ở nhà vừa học vừa dạy tiếng Anh và chờ đợi xin việc làm. Ngày 01/3/1991, do vừa có chuyên môn, vừa khá tiếng Anh, cháu được nhận vào làm hợp đồng tại Trung tâm Địa Vật lý Biển. Cháu đang rất hào hứng chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để sáng 14/3/1991 lên đường công tác tại Thuận Hải thì 13/3/1991 một cán bộ A25 đến báo với thủ trưởng cơ quan là không được cho cháu đi vì “Người làm hợp đồng, không phải biên chế thì không được đi làm việc ở nơi có chuyên gia nước ngoài!?” .

Thật là vô lý. Tôi nghĩ, đây hẳn có sự mờ ám chứ không thể là chủ trương của Đảng và Nhà nước. Một đôi lần, không kiềm chế nổi, tôi đã to tiếng với một vài cán cán bộ của Bộ Nội vụ (Nay là Bộ Công an). Nóng nẩy là điều không nên, nhưng họ đã gây nên những điều uất ức không thể chịu nổi ….

Tôi luôn tôn trọng các cán bộ Bộ Nội vụ làm việc vì trách nhiệm của Đảng và Nhà nước dẫu những việc làm của họ có thể gây phiền hà cho mình. Song, không thể chấp nhận những kẻ hoặc muốn ra oai, hoặc do quan liêu, tắc trách, hoặc do nhận thức không đúng đắn mà cậy thế để làm những việc sai trái.

Tôi vẫn duy trì lòng tin ở tương lai, ở dân tộc tôi, ở sự đổi mới đúng đắn của Đảng. Nhưng, sao lại thế? Sao họ lại muốn ám hại cả đời con tôi? Mấy hôm nay, con trai tôi rất buồn. Tôi đã phải nói dối với con tôi, nhưng nếu nó biết (và có thể là nó đã biết) là nó cũng bị theo dõi, nghi ngờ, bị phân biệt đối xử thì với tuổi trẻ trong sáng liệu nó có chịu nổi không? Tôi đang trông chờ và rất tin rằng nó sẽ có điều kiện kế tục một số dự kiến khoa học của tôi. Song tình hình này sợ làm nó nếu không bị tâm thần thì cũng không còn thiết học hành, phấn đấu làm gì nữa. Cứ tiếp tục không có công ăn việc làm, lại sống trong vô vọng, còn có khả năng nó sẽ bị tha hóa. Nếu vậy, không chỉ họ sẽ giết chết hoài bão còn lại của tôi mà chính là họ giết cả con tôi. Gây buồn khổ quá mức chịu đựng thì có lẽ là họ đang bức tử tôi.

Vấn đề không phải chỉ vì con tôi. Dứt khoát không thể tha thứ cho sự lộng hành, cho những nhận thức cố hữu lạc hậu, những cách xem xét, giải quyết quan liêu, vô trách nhiệm. Nó vừa sai đường lối của Đảng, không đúng chính sách, không đúng pháp luật của nhà nước và phi đạo lý. Nó làm hại uy tín của Bộ Nội vụ, phá hoại lòng tin và gây phẫn nộ của quần chúng với nhà nước, trong khi, hơn lúc nào hết, chúng ta đang cần động viên sức đóng góp của mọi tầng lớp trong nhân dân để xây dựng đất nước. Để bảo đảm sự ổn định và phát triển .

Tôi tha thiết cầu mong sự quan tâm của các đồng chí. Xin kính chúc sức khỏe của các đồng chí.

Trân trọng.

Nguyễn Thanh Giang

Ít lâu sau tôi mới biết được rằng những dầy vò đầy ải xẩy ra với tôi sau chuyến đi nước ngoài đầu tiên đó không chỉ gây bởi chính sách kỳ thị về lý lịch của Đảng mà còn do “đòn thù” của một cán bộ công an.

ĐVT là một sỹ quan công an của Bộ Nội vụ được phân công theo giõi Cục Bản đồ Địa chất. Vợ hắn công tác ở Cục này. Không biết vợ hắn có tằng tịu với kỹ sư HTD trong cùng cơ quan không nhưng vợ hắn hẹn gặp kỹ sư HTD ở vườn hoa Cột Cờ vào một buổi tối, bảo là để nhờ vả mua bán gì đó, vì sáng hôm sau, nhà địa chất này sẽ bay sang Indonesia dự một Hội thảo Quốc tế về Địa Mạo – Đệ tứ. Hai người vừa ngồi trò chuyện trên ghế đá chưa lâu thì ĐVT xông tới hô toáng lên. “Ôi bà con ơi, thằng này ăn cướp vợ của tôi”. Ba bốn đồng bọn của ĐVT ùa vào đấm đá túi bụi bằng các ngón đòn tra tấn của công an. HTD phải vào bệnh viện cấp cứu, bỏ mất chuyến đi tư bản rất hiếm hoi đối với cán bộ của ta lúc bấy giờ. Cơ quan của chúng tôi rất bất bình, đã gửi công văn lên cấp trên phàn nàn về vụ việc này và nhận được phản hồi từ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu. ĐVT nghi tôi là người đã giúp đưa đơn tố cáo của HTD lên ông Tố Hữu. Hắn trù diệt tôi tàn bạo đến mức Trời cũng căm phẫn và ra tay trừng trị hắn. Vào dịp hắn bị cơ quan xử lý kỷ luật nên buồn tủi mà phát bệnh, vợ con hắn càng chán hắn, bỏ bê không chăm sóc. ĐVT đã treo cổ tự tử ngay trên đầu giường anh ta.

Năm 1989 tôi được mời sang dự Hội nghị Địa chất Quốc tế lần thứ 28 ở Washington D.C. Lần này thủ tục trong nước khá dễ dàng vì có ông Phạm Quốc Tường- Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng làm trưởng đoàn. Cùng đi có ông Nguyễn Khắc Vinh – viện trưởng Viện Địa chất và Khoáng sản và ông Trần Mạnh Quảng. Hồi ấy Hà Nội chưa có Đại sứ quán Hoa Kỳ, phải sang Thái Lan mới lấy được viza vào Mỹ. Người xếp hàng ở Phòng cấp viza vào Mỹ ở Thái Lan khá đông nhưng được lần lượt gọi tên cho vào rất nhanh. Đến lượt tôi, người thường trực vừa dở hộ chiếu ra xem bỗng vẫy tay và hô to: “Eh, ViCi”. Thế là một lính Mỹ đen cao chừng hai mét, to như Hộ pháp, quấn quanh người đủ súng ngắn, dùi cui, bộ đàm …. cứ ắc ê theo sau tôi đúng cự ly ba mét. Tuy vậy viza vào Mỹ của tôi được cấp khá nhanh với thời hạn không chỉ ba tháng mà một năm.

Sự kỳ thị của nước ngoài đối với tôi còn xẩy ra hôm tôi xuống sân bay Kuala Lumpur. Như đã nói, sang Malaysia năm 1982 là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của tôi. Vì đi lần đầu rất tớ ngớ, không biết mô tê răng rứa ở đâu. Xuống đến sân bay tôi phải tính toán chen chân làm sao để lúc nào cũng đi ở giữa dòng người. Vì sao vậy? để người ta đi đâu thì mình theo đi đấy, người ta làm gì thì mình đủ thì giờ quan sát để biết cách mà làm theo. Không đi đầu được vì không biết đâu mà đi. Không được để mình đi ở sau cùng vì xong việc ở chỗ này, tất cả đã đi sang chỗ khác, mình còn đứng lại thì sau đấy chẳng còn biết theo ai. Thế mà lúc đứng trình hộ chiếu, người ở các nước khác đều được duyệt qua rất nhanh. Riêng hộ chiếu Việt Nam của tôi bị soi rất kỹ. Họ phải điện thoại đi điện thoại lại để hỏi đâu đó. Mọi người đã đi hết, tôi phải chạy tìm mãi mới thấy được người cùng trên chuyến bay với mình để biết rằng phải đứng ở chỗ ấy để chờ lấy hành lý.

Năm 1991 tôi cầm đầu một phái đoàn 12 người sang Hoa Kỳ để làm một seminaire về địa chất Đông Dương ở Đại học IIinoi Chicago và Đại học Texas A&M. Đây là phái đoàn lớn nhất của Việt Nam Cộng sản “đổ bộ” vào Mỹ, tính cho đến năm ấy. Lớn không chỉ tính theo số lượng mà còn ở chất lượng. Hầu hết đều là các Phó giáo sư-tiến sỹ có hàm cục, vụ, viện: PGS.TS Tô Linh, vụ phó một vụ ở Văn phòng Phủ Thủ tướng; PGS.TS Nguyễn Trọng Yêm, viện trưởng Viện Điạ chất, Viện Khoa học Việt Nam: PGS.TS Trần Văn Trị, cục phó Cục Địa chất và Khoáng sản; TS Nguyễn Giao, viện phó Viện Dầu Khí, kỹ sư Nguyễn Xuân Bao, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ Địa chất, PGS.TS Tăng Mười, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Vật lý – Địa chất … Tôi vừa là người ngoài Đảng duy nhất, vừa có chức vụ chính quyền nhỏ nhất, nhưng là trưởng đoàn vì chính là tôi và bà J. Ladinsky – Chủ tịch Ủy ban hợp tác khoa học với Việt Nam và Lào của Hoa Kỳ đã tác tạo nên chuyến đi này. Tiền tổ chức Seminaire rút từ quỹ của chương trình Hợp tác Nghiên cứu Địa chất Đông Đương giữa tôi với hai giáo sư Mỹ mà tôi gặp ở Hội thảo Quốc tế về Cổ Địa Từ ở Kuala Lumpur. Thành phần đoàn đi gồm những ai đều do tôi chỉ định và bà Ladinsky viết giấy mời. Còn một lý do nữa để tôi phải là trưởng đoàn vì trong cả đoàn đi, chỉ mình tôi khá tiếng Anh hơn cả.

Tôi còn phải cầm đầu một đoàn 5 người đi Trung Quốc vào năm 1994. Năm đó tôi đề xuất tổ chức Hội thảo Địa Vật lý Quốc tế ở Hà Nội. Vì chức vụ bé, lại không Đảng nên tôi chỉ là Trưởng Ban Tổ chức. Tuy nhiên khách nước ngoài chủ yếu giao dịch với tôi. Về nước, phía Trung Quốc gửi thư mời tôi tổ chức cho một đoàn khách sang thăm. Chủ yếu là họ muốn giới thiệu sự “vĩ đại” và chào mời mình mua máy Địa Vật lý của họ. Chỉ là một phái đoàn rất nhỏ nhưng chúng tôi được chiều chuộng hết mức. Cho nên tôi nghĩ rằng chuyện sa bẫy của ông Lê Khả Phiêu rất dễ có thực. Chỉ mươi ngày, chúng tôi được nếm hàng trăm món sơn hào hải vị. Có cả mỹ nữ hay ra vào phòng riêng chăm sóc chu đáo, đôi khi có cử chỉ đưa tình.

Năm 1996 tôi lại được mời sang Đại học UCLA ở Los Angeles. Giấy mời như sau:

Tiến sỹ Giang thân mến

Tôi rất vui lòng mời ông đến Trường Đại học Tổng hợp UCLA từ 15 đến 30 tháng 4 năm 1996 nhằm thăm viếng khoa Các Khoa học về Vũ trụ và Trái Đất. Tiến sỹ David Jackson, giám đốc Trung tâm Động đất Nam California sẽ mời ông tham quan các thiết bị nghiên cứu tại Bộ môn của ông ấy và sẽ giới thiệu ông với các bạn đồng nghiệp.

Tại đây chúng tôi mong ông có thể thuyết giảng trong Bộ môn và trình bầy về các hoạt động của Hội Địa Vật lý Việt Nam. Chúng tôi cũng hy vọng rằng cuộc thăm viếng của ông sẽ đặt cơ sở cho sự hợp tác nghiên cứu trong tương lai giữa các Khoa học về Trái Đất và Vũ trụ của UCLA và Hội Địa Vật lý Việt Nam.

Các chương trình Hải ngoại và Nghiên cứu Quốc tế của UCLA sẽ giúp ông liên hệ với ký túc xá của Khoa. Hội Hữu nghị Việt Nam Hoa Kỳ sẽ chu cấp toàn bộ chi phí về việc đi lại cũng như chi phí ăn ở trong thời gian ông ở Hoa Kỳ.

Chúng tôi mong được ông chấp nhận lời mời của chúng tôi và trông chờ chuyến viếng thăm của ông.

Trân trọng

John N. Hawkins

Chủ nhiệm Các Chương trình Hải ngoại và Nghiên cứu Quốc tế -Giáo sư về Giáo dục So sánh.

Vì mấy năm trước đó tôi đã có một số bài viết kêu gọi Đổi Mới mạnh hơn chủ trương của Đảng nên bị coi là ăn phải bả Phương Tây nên chuyến đi này lại bị ngăn chặn. Đấu tranh căng thẳng mệt mỏi quá rồi, tôi đành buông xuôi. Bỗng nhiên một hôm thủ trưởng cơ quan động viên tôi: “Chuyến đi vừa qua đã nhỡ nhưng nếu ông có giấy mời lại thì có khi ông sẽ được đi đấy”. Tôi không tin lắm, nhưng khi nghe thêm một cán bộ bảo vệ của Tổng cục Địa chất cũng nói như thế thì tôi quyết định viết thư thông báo với UCLA rằng tôi có thể sắp xếp thời gian để sang vào học kỳ Mùa Thu. Nhận được giấy mời lần hai, quả nhiên hầu như có người giúp tôi làm thủ tục xuất cảnh một cách rất xuôn xẻ. Trước khi đi, công an tổ chức bũa tiệc liên hoan khá linh đình tại một nhà hàng sang trọng gồm hai đai tá, một thiếu tá, một đại úy. Vừa ăn tôi vừa sót ruột, nghĩ rằng họ moi quả này nặng quá. Ăn xong tôi rút ví thanh toán nhưng bị ngăn lại: “Hôm nay chúng tôi chiêu đãi anh bằng tiền của cơ quan”.

Sau này tôi mới biết chính thủ tướng Võ Văn Kiệt đã can thiệp trực tiếp cho chuyến đi của tôi. Số là, vào năm 1995 do khác biệt về nhận thức, bị phe Lê Đức Anh và Đỗ Mười dồn ép, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tung ra bức “Thư gửi Bộ Chính trị”. Bức thư này bị săn lùng ghê gớm mà hậu quả là Lê Hồng Hà và Hà Sỹ Phu bị vào tù. Tôi viết bài “Thế nào là định hướng đúng” (ghi lại ở Phụ chương dưới đây) bênh vực Võ Văn Kiệt. Bài này không chỉ được công chúng trong, ngoài nước đánh giá cao mà còn làm cho giới lãnh đạo cũng phải suy ngẫm nên đã bồi sức được cho Võ Văn Kiệt.

Chỉ ai oán ở chỗ, đúng ngày tôi được lên máy bay để thưởng công cho bài viết bênh vực “Thư gửi Bộ Chính trị” thì hai người, Lê Hồng Hà và Hà Sỹ Phu, có công phổ biến bức thư đó lại phải ra trước vành móng ngựa!

Lộc trời chỉ được hưởng có vậy. Năm 1997 tôi được mời dự Hội nghị Quốc tế về Địa học ở Thụy Sỹ. Mặc dù vé máy bay đã được gửi cho tôi, báo cáo khoa học của tôi đã được ban tổ chức Hội nghị Địa Vật lý Quốc tế lần thứ 59 của Hội các nhà Địa học và Kỹ sư Châu Âu đưa vào chương trình và sắp xếp trình bầy từ 14h50’ đến 15h15’ tại Hội trường 1, Khu hội nghị Palexpo, Geneva, Thụy Sỹ, nhưng người ta đã giở mọi thủ đọan để ngăn trở thành công. Khi họ đưa hộ chiếu cho tôi thì Hội nghị chỉ còn một ngày là bế mạc.

Sau đó tôi còn nhận được giấy mời đi Hội nghị Khoa học Quốc tế ở Brazin, ở Úc… nhưng tôi đã “Từ nay khép cửa phòng thu/ Không tu thì cũng như tu mới là”!

PHỤ CHƯƠNG

Thế nào là định hướng đúng?

Trong 5 thành tựu lớn ghi trong dự thảo báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương đảng CSVN khóa VII, thì hai thành tựu nổi bật có thể biểu diễn bằng những số liệu cụ thể.

Một là: “Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế-xã hội, lần đầu tiên hoàn thành vượt mức nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm”. (1)

Hai là: “Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây, cô lập, tham gia tích cực vào đời sống của cộng đồng quốc tế”. (1)

Chưa bao giờ trên đất nước ta niềm mơ ước “tứ hải giai huynh đệ” lại được hiện thực hóa tích cực như những ngày gần đây. Trước kia, dưới khẩu lệnh “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”, vòng tay hữu ái giai cấp của ta dẫu giang rộng đến mấy cũng không vượt nổi kích cỡ của con số 81.

Vậy mà, “Đến nay nước ta có quan hệ ngoại giao với 160 nước, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước. Hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào nước ta. Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế dành cho ta viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay để phát triển…”. (1)

Nhờ vậy, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tăng khá nhanh. Vốn đăng ký của các dự án được cấp giấy phép đã ở con số 18 tỷ USD.

Cho đến 1986, nếu kim ngạch xuất khẩu mới ở mức 439 triệu rúp + 350 triệu USD, thì năm 1995 đã tăng lên 4,7 tỷ USD, làm cho tổng kim ngạch 5 năm (1991-1995) đạt trên 16 tỷ USD, vượt chừng 20% so với kế hoạch.

Đúng như lời thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Việt Nam đơm hoa kết trái trên mặt trận đối ngoại tích tụ từ sự phát triển kinh tế năng động và sự ổn định của đất nước…”. (2)

Được vậy là nhờ đổi mới đường lối đối ngoại của đảng, từ: “tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc…”, (3) sang: “đa dạng hóa và đa phương hóa, tranh thủ tối đa mặt đồng, hạn chế mặt bất đồng…. Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi…”, (4) và: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. (4)

Thế giới quan của chúng ta đã được cải tạo để không chỉ nhìn thấy đen trắng, mà vươn tới khả năng nhìn được bảy màu của quang phổ chính trị quốc tế.

Khối lượng và mật độ thành tựu trên lĩnh vực ngoại giao của ta trong mấy năm gần đây lớn hơn toàn bộ các thi kỳ trước của đảng CSVN. Chỉ riêng việc liệt kê các thành tựu chính trong lãnh vực này đã thấy ngổn ngang: “khôi phục quan hệ bình thường và phát triển sự hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc; tăng cường quan hệ và đoàn kết hữu nghị đặc biệt với Lào; phát triển quan hệ với các nước láng giềng khác, các nước trong khu vực, trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức ASEAN; củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống với nhiều nước, từng bước đổi mới quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) và Đông Âu; mở rộng quan hệ với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và khu vực; bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ; thiết lập và mở rộng quan hệ với nhiều nước Nam Á, Trung Đông, châu Phi, châu Mỹ La Tinh”. (1)

Phải chăng vì ngổn ngang như vậy mà cách sắp xếp của phần này trong Dự thảo chưa hợp lý và có chỗ hơi ngược.

Tuy còn phải bàn thêm, nhưng ít ra cách sắp xếp của thủ tướng Võ Văn Kiệt có phần hợp lý hơn khi ông nói: “Các sự kiện mới là Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, ký kết hiệp định khung với Liên minh châu Âu (EU), bình thường hóa quan hệ với Mỹ…”. (2)

Dẫu vậy, ngoại giao trong thời kỳ này có hạn chế rất cơ bản là chúng ta mới chỉ chủ yếu mở ra mối quan hệ về kinh tế, trong khi những đòi hỏi hội nhập với cộng đồng quốc tế lại bao gồm rất nhiều lãnh vực khác rất quan trọng như: thông tin, khoa học-công nghệ, chính trị, tư tưởng, giáo dục và đào tạo….

Để có thể hội nhập tốt hơn vào cộng đồng thế giới đặng “tiếp tục tiến lên trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố khó lường hết được”, (1) ta cần nhìn các vấn đề quốc tế xác thực.

Không được minh bạch lắm khi Dự thảo viết: “Các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội”. (1)

Các nước gọi là xã hội chủ nghĩa hiện nay đếm không hết mấy ngón tay trên một bàn tay. Lực lượng đã nhỏ nhoi vậy lại không thống nhất được như một lực lượng chính trị-kinh tế. Mấy thập kỷ gần đây, chính các lực lượng này lại thường gây chiến tranh, quấy động hòa bình thế giới: chiến tranh Trung-Xô, chiến tranh Trung-Việt, chiến tranh Việt Nam-Campuchia, chiến tranh Nga-Tsesnưi, nội chiến giữa các cộng đồng trong Liên bang Nam Tư cũ…. Hiện giờ là eo biển Trung Quốc-Đài Loan, biên giới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (Bắc) Triều Tiên, đảo nhỏ Cuba… đều là những điểm nóng nhức nhối của địa cầu.

(…… lược bớt)

Trong các “Khuyết điểm và yếu kém” , có lẽ khuyết điểm “Trong phát triển kinh tế nhiều thành phần, việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng vừa buông lỏng” (1) dễ liên hệ hơn cả với sự quy kết về chệch hướng XHCN.

Ở đây, đối với kinh tế tư nhân, dự thảo báo cáo nêu lên hai mặt. Một mặt là chưa giải quyết tốt một số chính sách để khuyến khích kinh tế tư nhân phát huy tiềm năng. Mặt khác, chưa quản lý tốt thành phần kinh tế này.

Đối với quốc doanh, chỉ thấy kiểm điểm “Chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo động lực và điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân”. (1)

Kiểm điểm như vậy rõ ràng thiên lệch và từ đây không định ra được phương thức chỉ đạo nền kinh tế quốc dân phát triển tốt hơn.

Đúng là trong thời gian qua, do luật pháp chưa hình thành đầy đủ và chưa được thực thi nghiêm túc nên kinh tế tư nhân lợi dụng luồn lách buôn lậu, trốn thuế…, làm cho có lúc, có nơi, thị trường bị quấy đảo. Tuy nhiên, vừa mới được vực dậy sau những trận càn quyết liệt của các chiến dịch hợp tác hóa, cải tạo công thương…, lại bị đối xử chưa được bình đẳng lắm mà các doanh nghiệp tư nhân vẫn mọc lên như nấm. Dẫu còn sơ khai, manh mún, nhưng cho đến nay, trong nông nghiệp, kinh tế hộ giữ vai trò chủ yếu, và lực lượng kinh tế các thành phần ngoài quốc doanh đã chiếm tới 60% sản phẩm quốc nội (GDP).

Điều đó chứng tỏ sức sống của kinh tế tư nhân mãnh liệt chừng nào, tiềm năng kinh tế tư nhân lớn lao biết bao nhiêu!

Buôn lậu, trốn thuế… đâu chỉ là khuyết tật của kinh tế tư nhân. Nhiều lúc, nhiều nơi, các thành phần kinh tế nhà nước còn phạm các tội này lớn hơn, nguy hiểm hơn.

(……. lược bớt)

Trong khi lực lượng kinh tế các thành phần ngoài quốc doanh tạo ra tới 60% GDP, thì kinh tế quốc doanh chỉ đóng góp được khoảng hơn một nửa con số đó. Đã vậy, các con số thống kê doanh nghiệp nhà nước lại rất khó xác định là đúng đắn. Tình trạng lãi giả, lỗ thật rất phổ biến. Một công ty thuốc lá địa phương có năm nộp ngân sách được 52 tỷ đồng nhưng chính năm đó lại lỗ 3,5 tỷ và lỗ lũy kế là 7,7 tỷ đồng. Một nhà máy Bia nộp ngân sách 18,8 tỷ đồng nhưng lỗ trong năm là 3,1 tỷ đồng….

Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là các bầu sữa tong teo của của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản.

Giám đốc một công ty Khách sạn-Du lịch hạng xoàng, doanh thu chỉ 1,8 tỷ đồng/năm, nhưng chỉ riêng tiền chi cho hắn tiếp khách mỗi tháng mất khoảng 17 triệu đồng, trong khi lương bình quân của cán bộ công nhân viên làm việc cho hắn chỉ được 166 ngàn đồng/tháng.

Thu nhập của người lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước nói chung vừa thấp, vừa không công bằng giữa các đơn vị, giữa các lĩnh vực. Ngay trong từng đơn vị, việc phân phối cũng chưa gắn bó với năng suất lao động, nhất là ở các đơn vị gặp khó khăn. Trong khi công nhân phải nghỉ việc không có lương hoặc chỉ nhận được đồng lương chết đói, thì người có chức, có quyền vẫn chi tiêu xa hoa, lãng phí.

Vậy mà, sao vẫn phải “tập trung các nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước” và gán ghép cho nó cái chỉ tiêu chiếm tỷ trọng 60% GDP?

Liệu có làm thế nào trong dăm năm tới đạt được chỉ tiêu đó không? Hay là, nó chỉ đạt được tỷ trọng đó khi GDP phải teo lại?

Liệu có ai thích cái cơ chế đó chỉ vì còn muốn lợi dụng nó để biến một số phần tử trong “giai cấp mình” thành những tên tư bản đỏ – những tên tư bản được đề bạt, được chỉ định, được bao cấp, được bảo vệ bằng chuyên chính vô sản? Chính những tên này không chỉ bóc lột dã man hơn mà còn đục ruỗng nền kinh tế tàn tệ hơn bất cứ loại tư sản nào!

Phải chăng chính vì vậy mà người ta ngụy tạo ra đủ thứ: kinh tế dân sự, kinh tế đoàn thể, kinh tế đảng, kinh tế lực lượng vũ trang… nhằm khuấy đục cả xã hội lên để nuôi béo những con cò?

Không hiểu vì sao chúng ta lại cứ phải luẩn quẩn, tơ vương mãi với cái định đề rất mập mờ chất chứa trong bản thân nó đầy những mâu thuẫn không giải quyết được: “Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN”.

Nhiều người khuyên can rằng không nên duy danh định nghĩa làm gì. Các cụ nói “dzậy” mà không phải “dzậy” đâu. Thấy thế nào đúng thì cứ tự ý mà làm, đừng có bàn cãi rồi mang vạ vào thân.

Không thể như vậy được, vì đã danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì hành không thể thông được.

Nhỡn tiền đã rõ đấy. Sở dĩ ta cứ phải ép buộc phát triển kinh tế quốc doanh chỉ vì phải định hướng XHCN. Mặc dù để cứu vớt sự sống còn, tình hình quá bức bách buộc phải thay đổi rất nhiều điều cơ bản và phải biến hóa gần như hoàn toàn khác rồi, nhưng ai đó vẫn ngoan cố không dám phủ định chính mình khi hơn một lần đã khẳng định: “Công cuộc Cách mạng XHCN phải là một quá trình cải biến Cách mạng về mọi mặt nhằm đưa nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế XHCN dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”. (6)

Thế vậy rồi cứ phải quanh quanh co co. Từ chỗ coi đặc trưng cơ bản của nhà nước XHCN là thủ tiêu phát triển kinh tế hàng hóa, đến chỗ phải thừa nhận kinh tế thị trường. (Mà, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao). Buộc phải thừa nhận sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa nhưng lại vẫn cứ rào trước đón sau rằng: đất đai, nhà xưởng, hầm mỏ, cầu cống, sức lao động, chất xám không phải là hàng hóa, chúng không thể được sử dụng làm đối tượng mua bán tự do!

Sự lập lờ không rõ trắng đen, không ra tiến chẳng ra thoái đã trở nên rất nguy hiểm.

Nào phải chỉ trong lãnh vực đấu tranh chính trị, tư tưởng văn hóa, mà ngay trong lãnh vực kinh tế cũng có bao nhiêu bậc tài trí đã chết một cách oan uổng, tức tưởi. Điển hình là bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú: Kim Ngọc!

Đã nói rằng: “kinh tế thị trường có nhiều mặt mâu thuẫn với bản chất của XHCN”, (1) mà mâu thuẫn về bản chất tức là mâu thuẫn đối kháng rồi, thì làm sao có thể hợp sức để xây dựng nên một cái gì lành mạnh, tốt đẹp.

Sự lập lờ phải chăng là cần thiết để tạo cơ sở cho thói ngụy biện; cứ hễ những gì xấu, những gì sai thì đổ tội cho kinh tế thị trường; những gì làm đẹp lòng mọi người thì bảo là do định hướng đúng XHCN? Phép bùa này đã từng đi vào dân ca: “mất mùa là tại thiên tai, được mùa bởi có thiên tài đảng ta”!

Ông Đặng Tiểu Bình đã cứu cả xã hội Trung Quốc khổng lồ đang ì ạch suy thoái ra khỏi khủng hoảng với nguy cơ sụp đổ nhờ câu thần chú “mèo trắng, mèo đen miễn bắt được chuột”. Ta vốn “sính” học tập Trung Quốc, nhưng ý chừng lần này lại muốn cải biến thành “bắt được chuột phải gọi là mèo trắng, vô dụng thì trắng, vàng, tam thể đều phải gọi là mèo đen”.

Như vậy thì thật là nguy hiểm. Có thể sau một vài thành quả ban đầu, “kinh tế ngầm” sẽ nổi lên, Ma-fia đủ loại sẽ khống chế nền kinh tế và nguy hiểm hơn, xã hội mắc chứng loạn thị, trắng đen, phải trái bị lộn xòng, nền văn hóa cũng không còn là văn hóa.

Hãy nghe Khổng Tử nói: “Chính giả chính dã, tử suất dĩ chính, thực cảm bất chính?… Kỳ thân chính, bất lệnh như hành; kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng” (Chính trị là làm mọi việc cho ngay thẳng, lấy ngay thẳng mà khiến người thì ai dám không ngay thẳng?… Mình ngay thẳng thì không sai khiến người ta cũng làm; mình không ngay thẳng thì có sai khiến cũng không ai làm theo).

*

 

Nên chăng, chỉ cần xác định đơn giản, rõ ràng, hợp lý hơn: “Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước” với những định hướng cụ thể, thiết thực như sau:

– Dân giàu, nước mạnh, bảo đảm công bằng xã hội, tôn trọng tự do, dân chủ.

– Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự, bảo đảm chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân.

– Chấp nhận và phát huy những giá trị của thế giới văn minh trên cơ sở bảo vệ độc lập chủ quyền và bản sắc văn hóa của dân tộc….

– Văn minh hiện đại gắn liền với bảo vệ môi trường thiên nhiên và cảnh quan lịch sử của đất nước.

Ngày 1 tháng 5 năm 1996.

Nguyễn Thanh Giang

CHÚ THÍCH CỦA TÁC GIẢ:

(1) Dự thảo Báo cáo Chính trị của BCH/TƯĐ khóa VII trình đại hội lần thứ VIII của Đảng CSVN.

(2) Báo cáo của Chính phủ do thủ tướng Võ Văn Kiệt trình bày tại kỳ họp lần thứ 8 Quốc hội khóa IX.

(3) Báo cáo chính trị trình bày tại đại hội lần thứ VI đảng CSVN.

(4) Báo cáo Chính trị trình bày tại hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII Đảng CSVN. (5) Nguyễn Văn Tri, tạp chí Thông Tin Lý Luận, tháng 1-96.

(5) Nghị quyết của đại hội lần thứ III Đảng CSVN.

Trên đây là bài viết cổ súy tức thời bức thư của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Mới đây, học giả Nguyến Trung đã cung kính tưởng niệm bức thư đó qua bài viết “Hai mươi năm bức thư của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (09.8.1995 – 09.8.2015)”. Tác giả Nguyễn Trung mở đầu bài viết của mình như sau: “Bước vào tuổi 80, tôi không ít những ký ức vui và buồn. Một trong những ký ức đeo đuổi tôi dai dẳng nhất, đó là bức thư của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt ngày 09-08-1995 gửi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, kiến nghị Đảng phải thay đổi gần như tất cả, để trở thành một đảng khác, ngõ hầu có thể đưa đất nước lên con đường của phát triển”.

NGUYỄN THANH GIANG

Nguồn: Chương Mười Bốn, tự truyện “Người Đội Số”

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► Một Tấm Huân Chương Cho Sâu và Chuột

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2015

Một Tấm Huân Chương Cho Sâu & Chuột

10-8-2015

Tác giả: 

 

image00

Còn nói đến Tạp Chí Cộng Sản thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo Nhân Dân không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì

Nguyễn Dương

Thông Tấn Xã Việt Nam vừa hân hoan loan một tin vui:

Sáng 4-8, tại Hà Nội, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 85 năm Ngày Tạp chí ra số đầu tiên (5-8-1930 / 5-8-2015) và đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước – Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai.

Giữa thời đại internet, báo bổ ở khắp mọi nơi – trên toàn thế giới – đangdẫy chết hàng loạt mà Tạp Chí Cộng Sản vẫn sống hùng, sống mạnh để “đón nhận phần thưởng cao qúi” thì quả là một kỳ tích vô cùng đáng kể, và đáng nể.

Cả làng báo Việt Nam đều xuýt xoa chia mừng, và râm ran tán thưởng, chỉ riêng có mỗi ông Nguyễn Dương (nghe đâu là bạn bè của Trương Duy Nhất, hay chính thằng chả không chừng)là không biểu đồng tình. Ổng chê cái tạp chí này “là cơ quan đánh bóng lư đồng” và “chả có ma nào đọc” cả!

Châm chọc và mỉa mai đến vậy mà (chắc) vẫn chưa đã miệng nên đương sự còn viết cả một bài báo dài thòng (Những Chiếc Lồng Sonvới rất nhiều lời lẽ cay đắng, cùng dè bỉu. Bài này tuy dài thiệt nhưng vì trang S.T.T.D bữa nay còn trống (hoàn toàn) nên xin được “ịn” lại toàn văn, nghĩa là “copy & paste” nguyên con, để đọc … cho nó đã:

Sáng nay gặp mấy thằng bạn dân báo lề đảng “khạnh khẹ” nhau: Mày làm báo TW sướng thật, đi đến đâu cũng được ở nhà to, hưởng lộc lớn, chẳng bù cho bọn tao suốt ngày phải cắp cặp chạy theo. Tay kia không phải vừa: Bọn ông cũng đâu thua gì, cũng ăn trên ngồi trước thiên hạ.

Hỏi ra mới biết các chú báo đảng địa phương Sài Gòn đang phân bì thiệt hơn với mấy bác báo đảng TW vì các anh í  vừa được về ở nhà to, được trang bi xe cộ, phương tiện tác nghiệp tân thời hơn.

Nhà Khách Báo Nhân Dân Ở Tam Đảo.Nguồn ảnh: toa-soan-bao-nhan-dan-tam-dao-hotel

Số là tạp chí Cộng sản (TCCS), cơ quan lý luận và chính trị của TW đảng CSVN (cơ quan thường trực miền Nam, số 19 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) và báo Nhân dân (ND), cơ quan TW của đảng CSVN (cơ quan thường trú tại Tp HCM, số 40 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) vừa được dọn về nhà mới.

Đúng là không hẹn mà gặp, cả hai anh phát ngôn của đảng cùng chọn một con đường khá đẹp nằm ở trung tâm Sài Gòn để đặt bản doanh của mình. Tuy chỉ là cơ quan thường trực ở Tp HCM nhưng cả hai đều tọa lạc trong tòa nhà cao hơn chục tầng, mới xây dựng khang trang khiến người qua lại phải choáng ngợp.

 Khi tôi đứng chụp hình trước cơ quan thường trú báo ND,một anh mặc áo quần tươm tắt chạy ra cự nự đầy vẻ nghiệp vụ báo chí “ông chụp hình đây làm gì?

image02

Tôi nói xạo: Thấy tòa nhà đẹp quá em chụp về in lịch. Hắn ta khoái chí cười hè hè. Mặc dù không được các ảnh mời “nhân dân” vào chơi xem nhà mới, nhưng tôi đoán chắc rằng trong đó là những căn phòng sang trọng với máy lạnh mở suốt ngày, bàn ghế bóng ngời, các bộ máy vi tính, laptop đời mới trưng bày la liệt.

Đúng là những con họa mi ở đây cả phần hồn lẫn phần xác được chăm lo nơi đến chốn, “nắng không đến đầu, mưa không đến tóc”. Thảo nào các chú chim trống, các ả chim mái ở đây lại “hót” hay đến thế.

Trong làng báo chí mọi người vẫn khẳng định: Làm báo ND là sướng nhất. Quanh năm suốt tháng chỉ việc đi dự hội nghị, khai trương, động thổ, trao huân chương… Đi đến đâu các anh báo ND đều được trọng vọng, ăn trên ngồi trước.

Các cơ quan từ TW đến địa phương họp hành, khai trương gì báo nào cũng có thể bỏ qua nhưng báo ND thì không bao giờ dám thất lễ.  Tôi có anh bạn trước đây chỉ làm báo địa phương làng nhàng, thế nhưng từ khi được chuyển qua làm phóng viên thường trú của báo ND là khác hẳn; ăn nói cũng khệ nệ, cha chú hơn, nhưng đổi lại chẳng còn bài viết nào ra hồn, tay nghề cũng lụn bại từ  ấy.

Thế nhưng, nếu cho đọc giả bình chọn thì có lẽ tờ ND là báo tào lao nhất, tẻ nhạt và… xạo nhất. Hầu như trên tất cả các sạp bán báo đều không thấy bóng dáng anh ND.

Nói không ngoa, báo chí cách mạng thời hoạt động bí mật còn kiếm dể hơn kiếm một tờ báo ND ngày nay. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một bài viết ngắn trên blog có tên laothayboigia, trong đó có câu: Từ khi các gia đình Việt dùng quen giấy vệ sinh cuộn, báo Nhân dân càng trở nên khó tiếp cận với quần chúng.

 Còn ông hàng xóm của tôi đã gần 30 năm tuổi Đảng nói một câu rất “thiệt tình”: Bọn tau bây giờ đọc báo ND chỉ đọc mục… cáo phó.

Thử hỏi bao nhiều vụ tham ô, tham nhũng lớn có anh phóng viên báo ND nào mò ra đâu, bao nhiêu chuyện bức xúc, khẩn thiết của người dân các anh có lên tiếng đâu. Các anh chỉ nói theo kiểu “định hướng”, vuốt đuôi. Các anh chỉ giỏi lo chuyện trên trời, bận phân tích bao giờ kinh tế Mỹ sụp đổ, tỷ lệ thất nghiệp của châu Âu tăng cao so với cùng kỳ năm trước, lo Gaddafi còn trụ lại được bao lâu nữa…

 Thực tế là ngày nay báo ND chỉ được “lưu hành” trong các cơ quan nhà nước, các chi bộ mà phần lớn là  moi tiền của ngân sách ra mua, đa số người ta đọc báo ND là đọc chùa, chứ chẳng mấy ai  bỏ tiền túi ra mua cả. Nực cười là báo làm ra không bán được nhưng bộ sậu báo ND vẫn sống khỏe, hưởng mọi bổng lộc của đảng ban phát, sống trên đầu trên cổ người khác. Tiền đó ở đâu ra??

 Còn nói đến TCCS thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo ND không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì vì ở đây chỉ toàn là những cây bút cỡ đại tá, tiến sĩ Nguyễn Văn Quang.

Những chuyện đơn giản mấy ảnh làm cho phức tạp lên với mớ lý luận chỉ để hù dọa mấy anh các bộ chưa xóa mù chính trị. Các anh cứ nhai đi nhai lại mớ tín điều cũ rích, ngồi mơ mộng bao giờ thì chủ nghĩa tư bản giãy chết.

Phối cảnh Tòa nhà Tạp chí Cộng sản. Tọa lạc tại số 19 đường Phạm Ngọc Thạch, phường 6, quận 3, TP HCM. Ảnh: PVV.COM

Không quá khi nói rằng đây là cơ quan đánh bóng lư đồng, chân đèn. Các anh suốt ngày ca ngợi sự ưu việt, bách chiến bách thắng của CN Mác – Lê Nin, các anh tô son, vẽ thêm râu cho ông Mác, ông Hồ mà ngay các ông ấy có sống dậy cũng không nhận ra mình.

 Xin thưa các anh TCCS. Sản phẩm các anh làm ra chẳng ma nào đọc đâu, từ Bộ chính trị cho đến mấy anh đảng viên quèn đều biết tỏng các anh nói xạo, là đồ ba trợn nhưng họ buộc phải nuôi các anh, vỗ béo các anh vì các anh là những con vẹt đầu đàn, các anh có nhiệm vụ là người lĩnh xướng cho dàn đồng ca của hàng triệu con vẹt khác.

Thú thật tự thâm tâm tôi các anh làm gì thì mặc xác các anh, hôm nay các anh cưỡi voi thì rồi ngày mai các anh cũng xuống chó. Thế nhưng thằng dân đen tôi không thể nào không uất khi đối lập với hình ảnh ăn trơn mặc trắng, nhà cao cửa rộng của các anh là cảnh bần cùng của người dân. Trong những chiếc lồng son của các anh các anh có thấy được nỗi cơ cực của người dân nghèo như thế này không:

– Bệnh viện quá tải, 7 bệnh nhân/giường: Thông tin này được ông Lương Ngọc Khuê – Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) đưa ra tại Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm của khu vực phía Bắc, tổ chức ở Hà Nội ngày 13.9.2011 (Dân Việt).

– Quá tải bệnh viện, bệnh nhân nằm gầm giường, hành lang: Hầu hết bệnh viện tại TP HCM đều trong tình trạng quá tải, bệnh nhân nằm kín các hành lang. Ở các bệnh viện nhi, trẻ em nằm một giường 4-5 cháu, thậm chí người nhà phải giành nhau một chỗ ở gầm giường để trải chiếu cho bé nghỉ (Vnexpress).

– Quá tải bệnh viện lên đến con số “khủng” 364% (Lao Động).

– Bệnh viện Báo động xuống cấp, quá tải. Bệnh nhân… mặc áo mưa truyền nước biển (ykhoanet.com).

– 30 HS nghỉ học chăn bò do… trường xuống cấp: Hơn 30 em học sinh đã tốt nghiệp tiểu học ở thôn Mai Hạ (xã Mai Đình, Hiệp Hòa, Bắc Giang) không được nhận vào trường huyện bạn – THCS Đông Tiến, với lí do cơ sở vật chất của trường đã xuống cấp (Tiền Phong).

– Một trường học đã hết chỗ để xuống cấp: Đó là trường Tiểu học Liên Trì, xã Bình Hiệp, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Ngôi trường này có 6 phòng học cấp 4 được xây dựng từ hơn 40 năm trước nên hiện đã hết chỗ để… xuống cấp. Trong số 6 phòng học thì đã có 3 phòng bị mưa lũ làm sập hoàn toàn, các phòng còn lại thì tường bị nứt toác, cửa sổ chắp vá đủ loại ván, nhiều thanh gỗ trên trần bị mối gặm gần hết làm mái ngói cong vẹo có nguy cơ chờ… sập. Hằng ngày 200 học sinh phải “bám trường, bám lớp” dù tính mạng luôn bị rình rập (Thanh Niên).

– Vừa học vừa lo… trường sập: Hơn 400 học sinh và giáo viên trường Tiểu học số 1 Triệu Phước (xã Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị) ngày ngày vừa học vừa nơm nớp lo sợ khi phải ngồi bên những chiếc bàn mục ruỗng chỉ chờ gãy, những tấm ngói thủng lỗ chỗ nhìn thấu mặt trời (Dân Trí).

– Một trường mầm non 40 tuổi xuống cấp trầm trọng (Đất Việt).
Nói vậy thôi chứ có bao giờ các anh chị gặp những “cảnh đời” như thế. Các anh chi có đau ốm gì thì đã có bệnh viện tư nhân, bệnh viện quốc tế lo, con cái của anh chị đều được “cơ cấu” vào các trường điểm, trường chuẩn quốc gia, quốc tế. Các anh chị cứ yên tâm mà luyện thanh, luyện giọng để cất cao tiếng hót ca ngợi đảng, ca ngợi chế độ.

          Chào thân ái và sẽ quyết toán!

Người Cùng Khổ NGUYỄN DƯƠNG.

(Ngun: Trương Duy Nht blog)

Trương Duy Nhất blog đã bị đóng từ lâu nhưng bài viết thượng dẫn thì có thể tìm thấy nơi nhiều trang mạng khác. Thiệt là một bài báo thấm thía. Chỉ tiếc là cách dùng từ, đôi chỗ(những con họa mi” – “những chiếc lồng son”) có hơi bị … cliché!

Ông Trương Tấn Sang chơi chữ tân kỳ hơn thấy rõ. Chủ Tịch Nước gọi những người làm báo – kiểu như báo Nhân Dân và Tạp Chí Cộng Sản – là một “bầy sâu,” chớ không phảì là “bầy chim họa mi.”

Tương tự, ông Nguyễn Phú Trọng cũng “tân kỳ” không kém. Ông mô tả đây là một … bầy chuột. Tuy thế, vì bầy chuột này có công trạng làm loa tuyên truyền cho chế độ nên không bị “ném” đá mà còn được tuyên dương – vẫn theo như bản tin (thượng dẫn) của TTXVN:

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến trao Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai tặng tập thể cán bộ, công chức, viên chức người lao động của Tạp chí Cộng sản.

Thỉnh thoảng lại mang huân chương đem trao cho cả bầy sâu hay lũ chuột, rồi kêu gọi chúng phải là “lực lượng đi đầu trong đấu tranh phòng chống tham nhũng” thì quả là một chuyệnkhôi hài – một kiểu giễu dai, và giễu dở!

© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Việt Nam, Đảng, quân đội và nhân dân: Duy trì sự chi phối chính trị trong giờ mở cửa

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2015

 

5-8-2015

Benoit de Tréglodé

Phong Uyên chuyển ngữ

Dịch giả gửi tới Dân Luận

Vài lời giới thiệu: Benoit de Tréglodé là chủ nhiệm chương trình Á đông ở Học viện Khảo cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp (IRSEM), đồng thời cũng là nghiên cứu viên Trung tâm Đông Nam Á và là cựu giám đốc Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á hiện đại (IRASEC) ở Bangkok. Là một nhà Việt Nam học, De Tréglodé được Tạp chí Địa lý – Chính Herodote xuất bản ở Paris ủy nhiệm soạn thảo cùng với nhiều tác giả khác, một số đặc biệt về Địa lý – Chính Việt Nam: “Les Enjeux géopolitique du Việt Nam” ( Địa lý – Chính Việt Nam với những ăn thua). Số đăc biệt này mang số 157, dày 215 trang được xuất bản tháng Sáu năm 2015. Mỗi bài viết đều có phần thư mục kèm theo.

Từ 30 năm nay, chính sách Đổi mới vẫn được tiến hành song song với sự ngự trị của Đảng – Nhà nước trên xã hội Việt Nam. Mặc dầu có sự canh tân không thể chối cãi được, nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ có sự thay đổi trong giới tinh hoa cầm quyền. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chấm dứt nhiệm kỳ thứ Hai (2006-2012) trước ngày Đại Hội thứ XII của ĐCSVN khai mạc tháng 1-2016 này, đã là đối tương của những chỉ trích đến từ mọi phía. Và sự mất lòng tin của người dân Việt Nam đối với giới tinh hoa cầm quyền của mình vẫn tiếp tục mỗi ngày một tăng lên từ 10 năm nay. Chúng tôi sẽ chứng minh là, mặc dầu những sự chỉ trích đó, hai diễn viên chánh trong lịch sử chính trị Việt Nam hiện đại vẫn là ĐCSVN và QĐNDVN. Vì những hành động và sự kiểm sát toàn diện, hai thế lực này đang đứng giữa ngã ba của những căng thẳng giữa độc đoán chính trị và mở cửa kinh tế mà Đàng – Nhà nước và xã hội Việt Nam đang phải trải qua từ khi Liên Xô sụp đổ và sự hội nhập của đất nước trên sân khấu quốc tế. Đồng thời đất nước cũng đang chứng kiến sự tham nhũng lan tràn trong xã hội mà ĐCSVN, cũng như QĐNDVN, hoàn toàn bất lực, không ngăn cản được, trước sự ta thán của một xã hội dân sự đang trỗi dậy.

KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ KIỂM SÁT CỦA ĐẢNG – NHÀ NƯỚC

Ở Việt Nam, nhờ Internet, những bàn bạc về chính trị được đại chúng hóa. Blog chính trị “Chân dung quyền lực”, được coi là thân cận với Nguyễn Tấn Dũng, nếu căn cứ vào những bộc lộ về đời sống của các lãnh đạo bị coi là đối lập. Ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại, những blogs, đồ đệ của trash news, đánh vào sự ưa thích của dân gian, rất được nhiều người đọc. Tâm trạng hiện giờ là mọi người chỉ thích nghe những tin đồn, những tố cáo, những chỉ trích đến từ mọi phía trong xã hội Việt Nam hiện đại, nhất là ở miền Nam : càng như tuồng chèo, càng nhiều chế nhạo, càng trào phúng, càng biếm họa, càng được nhiều người đọc. Mọi người thích sự nhả nhớt hơn là nói về hệ tư tưởng mà về lý thuyết, Đảng hoàn toàn bị tắt nghẽn. Các lãnh đạo cũng không thể cứ đem mãi những chiến công trong chiến tranh chống Mỹ và chống Tàu năm 1979, để làm tăng sự hợp pháp chính trị của mình.

Có người hỏi, thế thì làm sao chính quyền vẫn có người theo? Làm sao giảng nghĩa được tầng lớp trung lưu thành thị vẫn không biểu lộ sự mất kiên nhẫn đối với giới chính trị? Một trong những lý do là, để vẫn giữ được sự kết hợp trong xã hội, chính quyền luôn luôn sử dụng bạo lực, dù chỉ là tượng trưng. Năm 2014, nước CHXHCNVN không ngớt tuyên truyền là nhờ ơn Đảng, Việt Nam không bị rơi vào tình cảnh Ukrainia ( nội chiến giữa phe thân Nga và quân đội Ukrainia năm 2014-2015 ) và Thái Lan ( đụng độ giữa phái Đỏ và phái Vàng cho đến khi có cuộc đảo chính cuả tướng Prayuth tháng 5 năm 2014 ). Trong giới truyền thông, chính quyền không ngớt lời lặp đi lặp lại là ĐCSVN đã bảo đảm hòa bình và ổn định xã hội cho Việt Nam và “đa đảng bây giờ còn sớm quá, sẽ gây ra hỗn loạn trong một xã hội chưa chuẩn bị kịp”. Lập luận đó, tuy gặp nhiều chỉ trích nặng nề, trong thực tế cũng được đa số người Việt đồng ý, ngay cả trong giới trí thức. Ngoài ra đa số thế hệ trẻ cũng chả thích gì những chuyện chính trị, chỉ mơ mộng thành công trong đời sống vật chất của mình. Sau cùng, mầm mống của xã hội dân sự, vừa mới chớm nở, đã bị phá tan từ trong trứng. Vả lại, trong mọi trường hợp, cũng không có một đòi hỏi cải cách chính trị nào rõ ràng ngoại trừ trong một số nhỏ những người hoạt động sống ở miền Nam.

Khi mà “chính quyền bị coi là ở xa vời”, người dân Việt tự an phận với những luật lệ mà dù thế nào, cũng không thể áp dụng một cách cứng ngắc được. Bằng những mưu mẹo và cách tránh lé, đi xiên qua những tiêu chuẩn của chế độ, người dân Việt tự tạo cho mình một không gian tự do mỡi ngày một lớn. Trong lòng xã hội Việt Nam, tính cách quan liêu của chế độ luôn luôn được mềm dẻo hóa nhờ ở cái văn hóa dàn xếp tay đôi nằm ở mọi cấp bậc. Cái văn hóa đó làm dịu những căng thẳng nằm sẵn trong cái hệ thống cơ cấu và chính trị. Đảng – Nhà nước biết người dân không luôn luôn “theo” và có nhiều luật lệ, tuy chả đem đến kết quả nào, nhưng cũng giúp chế độ chính trị thích ứng được, không nhiều thì ít, với hoàn cảnh.

SỰ TĂNG CƯỜNG NHỮNG PHƯƠNG TIỆN KIỂM SÁT

Bộ máy chính trị Việt Nam, tuy vậy cũng lo ngại hậu quả của sự mỗi ngày một nhiều người dân không thèm đếm xỉa đến những người làm chính trị. Người ta có thể đưa chứng cớ là gần đến Đại hội XII của ĐCSVN (2016), CHXHCNVN tăng cường mọi công cụ kiểm sát của mình. Mặc dầu có những đổi mới từ năm 1986, Việt Nam vẫn không bao giờ đặt lại vấn đề sự ưu tiên của Trung Ương Tập quyền và của chế độ độc đảng. TƯTQ nằm ở mọi cấp bậc và những cơ cấu của Nhà nước bị ghép đôi với những cơ cấu của Đảng. Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được khẳng định trong hiến pháp 2013. Đảng viên ĐCS là hiện thân của quyền hành đi từ làng xã đến mỗi quận trong thành phố. Tháng Giêng năm 2014, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lăng xê một thí nghiệm tập trung hơn nữa trong tay Đảng quyền quyết định, khi đề nghị hợp nhất chức vụ chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh với chức vụ bí thư Đảng; một cách để bắt chước Trung Quốc hợp nhất Bí thư Đảng và chủ tịch nước, nhằm sau ĐH 12 mình sẽ là người nắm chức vụ mới này.

Nếu không thể chối cãi được là chế độ độc đảng bị khủng hoảng hệ tư tưởng, ĐCSVN vẫn duy trì ảnh hưởng rất lớn trong xã hội với gần 4 triệu đảng viên và 45 ngàn tổ chức địa phương (tổ và phân bộ). Đối với đa số người dân, ĐCSVN không còn là nơi đạo đức được ký thác mà trái lại là nơi Tư bản ngự trị. Xã hội đã thay đổi : vào Đảng là cho mình có cơ hội mở rộng những mối quan hệ và cải thiện đời sống vật chất.

Sau Đảng, Quân đội Nhân dân Việt Nam là diễn viên chính thứ hai trong hệ thống chính trị. Quyền hành của bộ trưởng bộ Quốc phòng vượt ra ngoài khuôn khổ quân sự. QĐNDVN giữ vai trò trọng tài và người bảo vệ sự chính thống của Đảng trong những trò chơi quyền hành đang khuấy động giới chính trị. Những trò chơi này một phần bị chi phối bởi những phe phái miền Nam (Giới chính trị Việt Nam được tổ chức thành những nhóm tùy theo ở miền nào, thuộc gia đình nào, tập đoàn nào) và bởi những mối liên lạc với Trung Quốc. Quân ủy Trung ương quyết định mọi chuyện dính dáng đến quân sự, kể cả việc đầu tư vào những kỹ nghệ nằm trong tay bộ Quốc phòng. Ngân quỹ chính thức năm 2014 là 3,29 tỷ đô la, chỉ là một phần nhỏ ngân quỹ thật của Bộ nằm trong cái gọi là “dự trữ đặc biệt”. Quân đội (là người sở hữu đất đai lớn nhất nước), góp phần vào việc làm tăng giá trị lãnh thổ, trong những chương trình mở mang đường xá, trồng cây thông và nông nghiệp, cũng như giám sát những khu vực có hầm mỏ và kỹ nghệ. Quân đội cũng quản lý những vùng biên giới (nơi mà sự giao dịch xuyên biên giới là nguồn lợi tức rất lớn lao cho cán bộ địa phương) và những vùng hàng hải (bảo vệ ngư dân và bảo vệ những dàn khoan ngoài biển).

Đại hội XI ĐCSVN năm 2011 đã tăng cường vai trò của quân đội, biến nó thành bức tường thành cuối cùng chống với sự phản đối chính trị. QĐNDVN có riêng những cơ cấu chồng chất lên những thể chế dân sự : bộ tham mưu, quân khu, vùng quân sự phụ thuộc thẳng chính quyền trung ương. Những tổ, những ủy ban quân sự của Đảng có nhiều quyền hành hơn những tổ, những ủy ban dân sự; một kim tự tháp bắt đầu từ cấp đại đội lên đến ủy ban trung ương và bộ chính trị, đều thuần túy quân sự.

Để giới hạn mọi hình thức phản đối của dân chúng trên khắp lãnh thổ, ĐCSVN và QĐNDVN tăng cường phạm vi hoạt động của những cơ quan đàn áp : Bộ Công an, Công an nhân dân và tình báo nội địa. Bộ Quốc phòng và cơ quan tình báo quân sự (Tổng cục II). Những “ban” có nhiệm vụ kiểm sát của bộ Văn hóa và Thông tin.

Bộ Công an là cơ quan có ảnh hưởng nhiều nhất trong bộ máy chính trị và trên khắp lãnh thổ. Đứng đầu bộ từ năm 2011, tướng Trần Đại Quang, ủy viên bộ Chính trị và những người phụ tá của ông ta, đều có một ghế ngồi trong Ủy ban Trung ương. Bộ Công an gồm sáu tổng cục lớn, trong đó tổng cục Cảnh sát gồm 1,2 triệu người, được trải ra khắp lãnh thổ và đơn vị nổi tiếng của nó là Đơn vị A42 có nhiệm vụ giám sát những phương tiện truyền thông (cùng với TCII – bộ QP). Bộ CA có phòng sở ở 49 tỉnh và ở 5 thành phố (Hà Nội, TP. HCM, Cần thơ, Đà nẵng, Hải phòng). Ngay ở những quận trong những thành phố lớn cũng có nhân viên bộ CA. Bộ CA còn có một màng lưới rất rộng những dư luận viên được coi là rất đắc lực. Sau hết là bộ Văn hóa và thông tin, được coi là cơ cấu hiện hữu nhất của cái bộ máy giám sát quan liêu vì mọi báo chí, truyền thanh, truyền hình, mọi xuất bản, đều phải có giấy phép của Bộ này. Với Bộ, Internet là một sự thách thức lớn nhất.

Những cơ quan tình báo Việt Nam có đặc tính là luôn luôn dính dáng vào những sự việc chính trị, nhất là trước khi có Đại hội Đảng. Năm 2004, đại tướng Võ Nguyên Giáp tố cáo Tổng cục II đã giúp đỡ bộ trưởng bộ Quốc phòng Nguyễn Tấn Dũng tranh chức thủ tướng và Nguyễn Tấn Dũng đã đạt được quyền hành năm 2006. Ngay trước khi có ĐH XI , vào khoảng năm 2010, người ta đã trách TC II đứng đằng sau một chiến dịch đàn áp các bloggers và các nhà hoạt động chính trị dưới sự thúc đẩy của Bắc Kinh. Trong hoàn cảnh như vậy, rất nhiều người Việt bắt đầu tự hỏi, có thật hay tưởng tượng, bộ máy an ninh Trung Quốc có can thiệp vào xứ sở của mình. Có những rỏ rỉ, được tiết ra từ giới truyền thông, nói về sự cạnh tranh giữa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang qua sự trung gian của 2 cơ quan an ninh (Công an và Quốc phòng). Bởi vậy, không có gì là ngạc nhiên nếu trước viễn tượng ĐH XII, Nguyễn Tấn Dũng lại sài hai cơ quan này. Sự mới mẻ là cả hai cơ quan đều không còn cạnh tranh nhau để cùng chung sức phục vụ tham vọng của Dũng năm 2016 sắp tới.

GIỚI CẦM QUYỀN VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Từ khi sự giao thiệp với Trung Quốc được bình thường hóa năm 1992, không có gì xẩy ra ở Việt Nam mà không có dấu ấn chính trị Trung Quốc và nằm ngoài ảnh hưởng Trung Quốc. Bởi vậy, đừng có chờ đợi có sự chống đối TQ đến từ giới cầm quyền. Người Tàu cũng biết thừa những lãnh đạo Việt Nam phải công cụ hóa sự căng thẳng có tính cách dân tộc để tăng sự hợp pháp của mình đối với quần chúng khi người dân có thể đặt vấn đề sự trường tồn chính trị của ĐCSVN khi xã hội và kinh tế được mở cửa. Nhiều khi những cuộc trách móc lỗ miệng có vẻ gay cấn, nhưng rút cục những giải pháp mà Trung Quốc đề ra phần nhiều được chấp thuận, chẳng hạn như trường hợp giàn khoang HYSY 981 mùa Thu năm 2014.

Những lãnh đạo Việt Nam đều biết là những chức vụ chóp bu (Bí thư ĐCSVN, Thủ tướng, Chủ tịch nước và bộ trưởng bộ Quốc phòng) đều phải có sự ưng thuận ngầm của ĐCSTQ. Cái lobbying ấy cũng tốn rất nhiều tiền cho Tàu. Theo nhiều nhà quan sát, Bắc Kinh phải bỏ ra 15 tỷ đô la dưới nhiều hình thức : đầu tư, những chương trình hợp tác, viện trợ Việt Nam tham dự những hoạt động của Asean, và nhất là tiền hỗ trợ thẳng vào túi các lãnh đạo.

MỘT THĂNG BẰNG MỚI ĐƯỢC TẠO RA TỪ THAM NHŨNG

Sự liên quan giữa tăng trưởng Việt Nam và sự giầu sang có tính cách phô trương của một số người trong giới chính trị mỗi ngày một biểu lộ từ khoảng 10 năm nay. Ở Việt Nam, nắm quyền hành là một hoạt động làm giầu. Những sự lên xuống của kinh tế, nhất là từ cuộc khủng hoảng năm 2008, đã gây căn thẳng trong bộ máy nhà nước. Những mối liên lạc giữa những người lãnh đạo và giới làm áp phe, sự toa rập cần thiết giữa những người nắm quyền và những người làm kinh tế cũng làm tăng sự căng thẳng. Những sự cạnh tranh ở chóp bu Nhà nước cũng phản ánh sự đấu đá nhau về quyền lợi kinh tế giữa những cá nhân, những phe phái, những tập đoàn, nhưng tuyệt nhiên không chứng tỏ là có sự yếu kém trong lòng hệ thống. Từ 15 năm nay, sự canh tân của đất nước cũng phải trả giá bằng một sự tham nhũng tràn lan khắp mọi tầng lớp trong xã hội. Tuy lương lậu mọi người, (công chức cũng như tư chức) rất thấp, nhưng số người giầu vẫn tăng vòn vọt. Tham nhũng chỗ nào cũng có mặt, không có cách nào ngăn cản được, vì một lẽ dễ hiểu là trong bộ máy quan liêu, từ đỉnh cao tới đáy, ai cũng nợ ai một cái ơn nào. Chả ai dại gì mà đi tố cáo cái lô gíc của sự “tự phân chia lại nhau” như vậy. Những người lạc quan cho là phải 2 thế hệ cái tập quán đó mới thay đổi. Những người thực tế, lấy thí dụ Inđônêsia hay Thái Lan, cho là Việt Nam bắt buộc phải qua “kiểu phát triển” đó. Họ giải thích tham nhũng có những mặt tiêu cực nhưng cũng có những mặt tích cực. Tham nhũng đang tạo ra một thăng bằng mới trong xã hội khiến mọi phần tử trong cộng đồng đều phải phụ thuộc lẫn nhau. Đó cũng là lí do khiến đa số người Việt không chống lại cái hệ thống tham nhũng vì coi đó là cái thang máy xã hội mở ra cho tất cả mọi người : “Nếu mày giầu, mày chui vào bộ máy quyền hành, và mày sẽ giầu hơn nữa. Nếu mày nghèo, mày muốn giầu, mày dư biết làm sao có thể làm được.”

Sau hết, tham nhũng còn đem lại một hậu quả nữa trong sự tiếp súc với chính quyền. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, mọi công việc ( trong công vụ cũng như trong quân đội hay trong khu vực kinh tế) đều mua bằng tiền và cũng là một phương tiện để làm tăng sự kết hợp những người cầm quyền. Sự mua bán chức vụ ở Á đông là một vấn đề nhậy cảm, ít được biết đến hay bị nhận chìm trong im lặng. Về mục này, có thể nói, viện trợ Trung Quốc cho sự phát triển Việt Nam hầu như không bao giờ có. Thủ tục từ trước tới nay là những món tiền quan trọng được trao tận tay, tùy từng trường hợp, cho mỗi lãnh đạo để đổi lại một sự hỗ trợ nào đó. Trong 2 nhiệm kỳ đứng đầu hành pháp, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thường xuyên cần củng cố ảnh hưởng của mình để có được đa số trong Quốc hội. Theo vài nhà quan sát, giá một phiếu trong QH (498 đại biểu) phỏng chừng 100 ngàn đô. Giá còn cao rất nhiều hơn nữa nếu muốn có sự hỗ trợ của một ủy viên Trung ương (175 người) hay của một ủy viên bộ chính trị (16 người). Cái lo gíc này cứ tiếp tục tăng lên tùy theo thứ hạng trong bộ máy chính trị : để có được một ghế trong bộ Chính trị, vì phải có cuộc bỏ phiếu của Ủy ban Trung ương, phải bỏ ra chừng 1 triệu đô. Rõ ràng là Trung Quốc theo đường lối này, đã đã tìm thấy cách tăng cường ảnh hưởng của mình trong giới cầm quyền của nước CHXHCNVN và biến những kẻ nhận tiền thành những con nợ tinh thần của mình, phải chịu sự giám hộ của mình. Về phía Việt Nam, những tín hiệu, được lập đi lập lại về sự bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với Bắc Kinh, lẽ tất nhiên chỉ hoàn toàn là giả tạo.

KẾT LUẬN

Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện thời không phải là không gặp hiểm nguy vì tăng trưởng và phát triển không đi đôi với nhau. Tuy Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng, sự tạo ra công ăn việc làm rất khó khăn : 1,6 triệu người trẻ đi vào thị trường kiếm việc làm mỗi năm, chỉ chừng 800 ngàn người có việc. Trước khi xẩy ra cuộc khủng hoảng năm 2008, những cơ nghiệp lớn đều được tạo ra từ những chỗ thân cận Nhà nước, trong bối cảnh mọi áp phe đều được điều hành từ những quan hệ. Nói một cách tổng quát, ở Việt Nam, cũng giống như ở nhiều quốc gia “hậu cộng sản”, nổi lên một nền kinh tế “mafia”, được điều hành bởi một nhóm nhỏ gồm gia đình, thân hữu của các vị lãnh đạo cao cấp và những người làm áp phe mới, đứng đầu một hệ thống có tôn ti thứ bậc như trong quân đội được tạo dựng từ tham nhũng và quyền lợi.

 

Vietnam, the Party, the Army and the People. Maintaining Political Influence at the Time of the Opening.

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Tàu: đứa con nít bự xác

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

11-08-2015

Trong chuyến bay SGN – Paris năm ngoái, tôi ngồi bên cạnh một hành khách Tây rất thú vị. Anh ta nói tiếng Anh khá, và quan tâm đến vấn đề Biển Đông, nên chúng tôi có một buổi trò chuyện hào hứng, có lúc làm hành khách khác hơi ngạc nhiên! Anh ta đưa ra nhận xét: Tàu (China) mãi mãi, xưa cũng như nay, chỉ là một đứa trẻ to thân. Nói theo cách nói của dân miền Tây tôi là: một đứa con nít mà bự xác.

Bự xác hay bự con là nói đến vật lí. Đất nước Tàu thì dĩ nhiên là rất rộng. Chẳng những đất rộng mà dân cũng đông (một phần là do đẻ nhiều trước đây). Còn “Con nít” là đề cập đến thể chất và đầu óc suy nghĩ như trẻ con. Suy nghĩ thể hiện qua lời nói. Nghĩ ấu trĩ thì lời nói cũng ấu trĩ. Những hành vi của các quan chức Tàu gần đây đối với các nước láng giềng như Philippines (và ngôn ngữ trong hội nghị về Biển Đông) cho thấy quả thật Tàu là một đứa con nít bự xác.

Có thể lấy phản ứng của phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Tàu mới đây để minh chứng cho nhận xét trên. Phản ứng trước bình luận của Tổng thống Philippines rằng những yêu sách của Tàu ở Biển Đông qua đường 9 đoạn chẳng khác gì đòi hỏi của Hitler, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Tàu mất bình tĩnh và mắng rằng Tổng thống Philippines là một kẻ ngu dốt. Tổng thống Philippines vui vẻ nói rằng ông rất thích phát ngôn của Tàu vì nó cho thấy Tàu đuối lí, nên mới dùng đến đòn công kích cá nhân.

Tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất quen thuộc có tên là ad hominem nhưng cũng rất hiệu quả. Ngài tổng thống nói về yêu sách của Tàu, còn phát ngôn viên Tàu thì nói về cá nhân ngài tổng thống. Vấn đề ở đây là yêu sách vô lí của Tàu, nhưng phát ngôn viên lại xoay sang hướng cá nhân. Một sự chuyển hướng tranh luận như thế là thể hiện sự đuối lí, không cãi được bằng lí lẽ nên tấn công cá nhân người tranh luận. Đúng như Tổng thống Aquino nhận xét “Vâng, tôi cảm ơn Tân Hoa Xã vì chính họ đã tái xác nhận giá trị quan điểm của chúng tôi. Khi ai đó không thể trả lời một vấn đề, họ mới phải viện đến việc chửi đổng”. Hành vi chửi đổng đó chẳng khác gì thi đấu võ mà đánh dưới thắt lưng. Nói như viên phát ngôn Tàu là hèn.

Công kích cá nhân như nói trên có khi rất hiệu quả, vì nó đánh lạc hướng vấn đề. Thay vì tập trung thảo luận về vấn đề, người ta lại tập trung vào cá nhân người đặt vấn đề. Mà những thông tin liên quan đến cá nhân, đời tư thường “mặn” hơn, hấp dẫn hơn, và do đó cuốn hút người ta hơn. (Mà chưa biết ai ngu dốt, viên phát ngôn của Bộ ngoại giao Tàu hay Tổng thống Aquino ngu dốt?) Hệ quả là nó biến cuộc tranh luận thành một cái chợ trời chữ nghĩa, nơi đó người ta ném qua quăng lại những ngôn từ bẩn thỉu và đáng khinh.

Điều đáng nói là nguỵ biện kiểu công kích cá nhân lại rất phổ biến trên báo chí VN, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến những người bất đồng chính kiến. Thay vì bàn về ý kiến hay hành vi của họ thì giới báo chí hay có xu hướng viết về đời tư của họ. Những kiểu nguỵ biện như thế chẳng những có hiệu quả làm vẩn đục môi trường thảo luận, mà nó còn thể hiện một sự lười biếng trong suy nghĩ. Vì lười biếng nên người ta phải sử dụng cái gì dễ nhất và sẵn có về cá nhân, và do đó dẫn đến giảm chất lượng trong thảo luận. Việt Nam mới có một phát ngôn viên ngoại giao mới. Hi vọng rằng anh này cao hơn đồng nghiệp Tàu của anh ta một cái đầu và làm gương để báo chí không dùng đến ad hominem nữa.

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Như một giấc mơ điện ảnh

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2015

Hoàng Chí Phong nói mọi thứ trong tương lai phải khác. Tương lai cho một cuộc Cách Mạng Dù Vàng quay trở lại sẽ nhắm đến một cuộc đấu tranh cho việc thay đổi về thể chế chính trị, mà thời hạn đạt được là năm 2030, trước khi thời hạn cho phép “một quốc gia, hai chế độ” sẽ kết thúc vào năm 2047. 

Như một giấc mơ điện ảnh

12-8-2015

Tuấn Khanh

Theo Tuấn Khanh’s Blogimage

Như một cuốn phim dài hấp dẫn chưa có hồi kết, chàng thanh niên Hoàng Chí Phong lại lên tiếng cho biết anh vẫn tiếp tục hành trình của mình, vì một Hồng Kông trong ước mơ của những người rất trẻ. 

Những tuyên bố mới nhất của Hoàng Chí Phong trên tạp chí Le Monde vào tháng trước, cho thấy cuốn phim Cách Mạng Dù Vàng năm 2014 có thể là một cuộc trình diễn đầy ngẫu hứng, không định trước cái kết cho mình, nhưng những gì sắp tới đây, sẽ là một bộ phim được sản xuất hết sức chặt chẽ, với phần kịch bản và diễn viên chính cũng sẽ do Hoàng Chí Phong đảm trách.

Nhân vật 18 tuổi này, được tờ Fortune bình chọn là 1 trong 10 có ảnh hưởng quan trọng nhất trên hành tinh năm 2015, giải thích lý do cuộc Cách Mạng Dù Vàng lại kết thúc đáng tiếc như vậy, là vì họ đã không giới thiệu sâu rộng kế hoạch của phong trào đến từng người dân Hồng Kông, để có được một sự hưởng ứng mạnh mẽ và thống nhất hơn. Hoàng Chí Phong nói mọi thứ trong tương lai phải khác. Tương lai cho một cuộc Cách Mạng Dù Vàng quay trở lại sẽ nhắm đến một cuộc đấu tranh cho việc thay đổi về thể chế chính trị, mà thời hạn đạt được là năm 2030, trước khi thời hạn cho phép “một quốc gia, hai chế độ” sẽ kết thúc vào năm 2047. Đây được coi là cơ hội cuối cùng cho thế hệ mới ở Hồng Kông trong việc bứt ra khỏi gọng kềm của Bắc Kinh, chọn cho vùng đất của mình một con đường tự do, dân chủ mà họ đã quyết chọn.

Không khác gì những khán giả xem phim, những ai quan tâm đến cuộc Cách Mạng Dù Vàng ở Hồng Kông vẫn hồi hộp chờ xem kẻ ác sẽ đến từ đâu, nhân vật chính sẽ thoát hiểm và có thành công hay không. 

Có lẽ vào lúc này, giới chính trị phụng sự quyền lực cho Bắc Kinh đang căng thẳng để vận dụng mọi bùa phép nhằm ngăn trở cuộc cách mạng. Đổng Kiến Hoa, nhân vật được Bắc Kinh giao trọng trách nhận lại Hồng Kông từ người Anh vào năm 1997, đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bị mất chế độ ở vùng đất này, đã kêu gọi bổ sung luật pháp từ đại lục, phủ lên luật pháp hiện hành của Hồng Kông. Thậm chí, Stanley Ng., đại diện cho thành phần hãnh tiến thân Bắc Kinh cũng kêu gọi soạn thảo một đạo luật chống lật đổ.

“Chúng tôi cần 3-4 năm”, Hoàng Chí Phong nói về một khoảng lặng dự kiến, trước khi có một trận cuồng phong mới của những người cầm dù vàng. Trong cuộc xuống đường năm 2014, người Hồng Kông nói rằng đã có đến 1,2 triệu người tham gia, bằng 1/6 tổng số của cư dân của vùng đất này.

Trước khi có một sự thay đổi nào đó xuất hiện, tâm trạng buồn chán về thể chế cộng sản-khác biệt đang lấn dần trong đời sống, đã khiến giới trẻ Hồng Kông lên tiếng về nhiều mặt văn hoá, xã hội, đạo đức… của đại lục đang tràn vào, khiến họ cảm thấy không còn là chính mình, không còn là vùng đất của mình. Sự chuyển động này âm ỉ và lớn dần, không khác gì đêm trước của một cuộc cách mạng.

Một trong những cuốn sách gần đây khiến chính quyền Bắc Kinh tức giận, là tác phẩm Lost in transition (tạm dịch: lạc lõng trong chuyển giao) của tác giả Yui-Wai Chu, xuất bản năm 2014. Tựa cuốn sách này nhại lại bộ phim Lost in translation (2003) của nữ đạo diễn Sofia Coppola. Trong sách, vị giáo sư của trường đại học Hồng Kông đã đáp đúng tâm trạng của hàng triệu người vô cùng tiếc nhớ khi nói về một vùng đất tươi đẹp, trước khi trao trả cho Trung Quốc. Ông mô tả một Hồng Kông đang mất dần sự độc đáo của mình, bởi sự xoá bỏ rất chủ tâm của Bắc Kinh. Giới trẻ Hồng Kông đọc và gối đầu giường về một quá khứ kiêu hãnh, đặc biệt không quên nhận định sắc bén của giáo sư Chu: “thống nhất địa lý hoàn toàn không thể thống nhất được văn hoá, và sự thống nhất đó giúp chúng ta nhìn rõ hơn tình trạng ‘một quốc gia, hai nền văn hoá’ (one country, two cultures) hiện nay”.

Dĩ nhiên, người Hồng Kông không phản bội lại tổ tiên mình, nhưng họ không chịu nổi những người từ đại lục có chút tiền, ăn to nói lớn, mua vét, ăn cạn mọi thứ đang có trên đảo quốc này. Họ cũng không chịu nổi chuyện những người mẹ đi từ Bắc Kinh đến, tự nhiên cho con ăn hoặc tiêu tiểu ngay trên tàu. Sự khác biệt đó đang là hố ngăn cách sự thống nhất trong lòng người, ngày càng lớn dần.

Mốt nhại lại câu nói “một quốc gia, hai chế độ” do Bắc Kinh tuyên truyền cứ nở rộ. Giới làm điện ảnh Hồng Kông cứ hay đùa bằng khẩu ngữ “một bộ phim, hai phiên bản” (one movie, two version) để nói về chuyện làm phim cứ phải phập phồng chờ lưỡi kéo kiểm duyệt. Hồng Kông từng là kinh đô điện ảnh của Châu Á trong nhiều thập niên, nhưng giờ đây, mọi thứ đã nhạt nhẽo, và là sự tiếc nuối của người dân Hồng Kông, cũng như của cả một thế kỷ những người hâm mộ điện ảnh Hương Cảng.

Trong danh sách 100 bộ phim hay nhất một thời đại mà các trang mạng của Hồng Kông bình chọn, hầu hết những cuốn phim được nhớ mãi mãi, đều được sản xuất trước năm 1997. Edmmund Lee, nhà bình luận điện ảnh nổi tiếng của tạp chí Time Out, đã nói trong chương trình kỷ niệm 100 năm điện ảnh Hồng Kông (2012) rằng “chúng ta sẽ khó mà tìm lại được, dù nhiều tiền hơn hay nhiều diễn viên giỏi hơn”.

Trong những kỳ vọng lẻ loi mà người Hồng Kông còn nghĩ đến, có lẽ đó là Hoàng Chí Phong và hành trình đến tương lai đẹp như điện ảnh của anh. Vượt lên sự nhàm chán và áp đặt của ý nghĩa thống nhất địa lý và chính trị từ chính quyền trung ương, người sinh viên trẻ này đang cùng thế hệ của mình, dần hình thành một siêu phẩm, với tuyên ngôn “hãy để chúng tôi sống với tự do mà chúng tôi đã chọn”.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

Người Việt Nam Ngày nay Đi Du Lịch mang thông hành Việt Nam (Xã Hội Chủ Nghĩa)…Đi tới đâu thì bị nghi ngờ ăn cắp vặt tới đó. Thật là vất vả để cải chính…

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2015

Nỗi niềm xuất nhập cảnh của người mang thông hành Việt Nam (Xã Hội Chủ Nghĩa)

Người Việt Nam (XHCN) Ngày nay Đi Du Lịch..

Người Buôn Gióho chieu vn

Lần thứ nhất mình đến Mã Lai, xin visa của sứ quán tại đó để đi Châu Âu.

Thời gian xin mất 2 ngày, hôm nay xin thì ngày kia được visa. Lúc làm thủ tục lấy vé, bỗng nhiên hai thằng cảnh sát Mã Lai lại gần đòi xem hộ chiếu mình. Nó dẫn mình đứng tránh quầy thủ tục và ngắm visa mãi. Nó hỏi sao mày đi xa thế mà hành lý của mày không có.

May là ông bạn dịch vẫn còn. Mình bảo tôi sang đó có người đón, không cần mang gì cả.

Thằng cảnh sát nhìn mình từ đầu đến chân, nó bảo xem hành lý của mình. Thật thảm hại, hành lý của mình đúng một cái nilong trong đó có đúng bộ quần áo hè và vài tờ giấy Cảnh sát Mã Lai hỏi tại sao bên đó mùa đông, mày mặc thế này và chỉ mang thế này.

Mình bảo nói rồi, có người đón, họ sẽ mang đủ cho tôi.

Hai thằng xem hành lý, lắc đầu nhìn nhau vẻ nghi ngờ, một thằng moi ra cái kính lúp gắn lên mắt soi visa. Soi đến toét mắt, nó phải gỡ kính ra chớp chớp mắt, xoa mắt rồi soi lại. Lúc sau nó hỏi tại sao mày không xin visa ở nước mày, lại sang đây xin.

Mình bảo tao sang chơi nhà anh bạn này, chỉ anh bạn dịch, tự nhiên nổi hứng muốn đi châu Âu vì có bạn bên đó bảo lãnh mời. Nên xin luôn ở đây. Thằng cảnh sát Mã lại hỏi tại sao mày xin có hai ngày được visa. Mình bảo cái này mày hỏi đại sứ nước cấp visa, chứ tao làm sao biết.

Bọn nó gọi điện đi đi hỏi đâu đó, lúc sau có điện thoại lại, chắc bên kia trả lời.Thấy nét mặt chúng nó giãn ra hết căng thẳng. Nhưng nó không cho mình đi, nó cứ bắt đứng đấy cùng nó.

Đến sát giờ, có một cô tiếp viên đi đến, nó nói gì đó. Anh bạn dịch bảo nó kêu mình đi theo cô ấy. Mình đi theo cô tiếp viên kia , được ưu tiên đi qua chỗ soát hành lý trước, đến thẳng chỗ lên máy bay. Lại gặp hai thằng cảnh sát đó, nó cười rất tươi với mình.

Khi đến Hà Lan, máy báy đỗ người ta đưa cái cầu thang ống ra cửa máy bay. Đang đi trên cái ống đấy gặp cảnh sát Hà Lan đeo tiểu liên, súng ngắn dắt hông , to như hộ pháp. Cứ thằng nào tóc đen nó lùa hết lại một góc xem hộ chiếu, đến khi nhìn thấy hô chiếu mình thằng cảnh sát hô to – Viet Nam.

Lập tức các thằng khác chạy đến ào ào, quây mình riêng ra một góc riêng. Chúng nó xem visa, rồi mang visa đi đâu. Mấy thằng còn lại thì canh giữ mình không rời mắt một giây. Lúc sau thằng mang hộ chiếu của mình lại, chúng nó dẫn mình vào một cái phòng, hỏi mình gì đó nhưng vô ích vì mình chả biết mẹ tí tiếng Anh nào. Mình đưa nó mẩu giấy chỉ có câu anh bạn viết sẵn, tôi không biết tiếng Anh, làm ơn dẫn tôi đến chuyến bay XZ…Một lúc mình lấy mấy tờ giấy mời cho nó xem, bọn nó đọc xong ồ à gật gật rồi mang giấy đi. Lúc quay lại mang cà fe và bánh cho mình bảo ăn đi. Mình ăn và uống xong nó giơ tay mời ra hiệu đi theo nó, dẫn ra chỗ đóng dấu nhập cảnh rồi đưa ra cửa chờ chuyến bay của mình.

Lần thứ hai nhập cảnh ở Thuỵ Sĩ, đi cùng bà Võ Thị Hảo. Đến lượt mình lại bị chặn, bà Hảo đi qua rồi mình gọi. Bọn nó cũng cho bà ấy quay lại dịch. Bà Hảo nói tiếng Anh cũng tàm tạm, giải thích một hồi nó cũng đóng dấu cho mình đi qua. Bà Hảo nói nó nghi em nhập lậu, giấy tờ giả nên nó phải kiểm tra. Trong chuyến đi ấy, mình sang Pháp rồi về Đức. Chưa kịp ra cửa đi, ở đây cùng EU nên không phải nhập cảnh, thế mà có hai thằng cảnh sát Đức nó chặn xem visa, thấy hộ chiếu Việt Nam nó cho mình luôn vào một cái phòng. Một thằng ngồi canh, một thằng cầm visa đi đâu đó, đến hơn nửa tiếng quay về nó cho mình đi. Báo hại cho chị Phạm Thị Hoài đứng chờ đón bên ngoài lo lắng tưởng mình mất tích.

Lần thứ ba nhập cảnh ở Đức trên chuyến bay có nhiều người Việt Nam. Mấy người Việt đến ô nhập cảnh bị gạt lại chờ, mình thì đưa visa đưa luôn cả giấy mời nên qua dễ. Đang ung dung hào hứng đi vì qua nhanh chóng hơn mấy lần, lấy hành lý xong kéo đi thì lại bị một em cảnh sát chặn đường đưa vào một cái phòng để khám đồ lại. Trong phòng có mấy cảnh sát nữa, thấy họ nói gì có loáng thoáng Viet Nam, Viet Nam. Em cảnh sát xỏ găng bắt đầu khám hành lý. Còn cậu cảnh sát thì có cái gậy điện tử rà quanh người. Họ xem giấy mời và gọi điện theo số trên tờ giấy. Xong họ dẫn mình ra tận chỗ người đón bên ngoài. Lúc bị khám ở trong cái phòng có cửa kính, trong lúc chờ mình nhìn lối đi vẫn chưa thấy mấy người Việt đi cùng mình chưa đi qua, chắc họ cũng chưa qua ô nhập cảnh.

Lần thứ tư mình đi Mỹ, bay từ Hà Lan. Sao mà mình ghét bọn Hà Lan thế. Chờ mãi đến ô xuất cảnh, nó nhìn hộ chiếu Viet Nam, nó quay sang thằng đứng bên cạnh quầy giơ hộ chiếu kêu Vietnam. Thằng đứng bên cạnh lập tức nhào lại, cầm hộ chiếu dẫn mình ngược ra, bao người nhìn mình như tội phạm. Đcm bọn chó này, thế là hai lần nó cư xử mình như tội phạm.

Lại được vào phòng riêng cách ly ngồi, may là nó cho hút thuốc, vừa ngồi nó vừa soi mói nhìn thái độ của mình. Soi một lúc nó ra hiệu mình ngồi chờ, còn nó cầm hộ chiếu mình đi. Nửa tiếng sau nó quay lại dẫn mình đi đến một chỗ riêng để cho dấu xuất cảnh đi Mỹ.

Hoá ra bọn Mỹ lại tử tế nhất. mình không biết tiếng, nó đưa tờ giấy mình chả biết khai gì. Thằng nhập cảnh nó đóng quầy nó lại, dẫn mình ra một chỗ trợ giúp, ở đó người ta in cho mình một bản khai tiếng Việt. Xong nó đi đâu dẫn về một ông người Việt làm quét dọn sân bay, ông này già đến gần 70 tuổi người di tản thuyền nhân. Ông già hướng dẫn mình khai xong thì đưa mình ra một quầy riêng, thằng cảnh sát đó hỏi mình ở Mỹ bao lâu. Mình bảo 15 ngày ( tất nhiên là ông già dịch cho ). Nó đóng nhát cho ở 6 tháng , kịch khung du lịch luôn.

Lúc ở lối từ quầy nhập cảnh đi ra, gặp hai thằng cảnh sát Mỹ đứng, nghĩ nó sẽ lại gọi kiểm tra này nọ, không ngờ nó cười tươi, giơ tay như chào đón khách quý, nó chỉ lối mình ra bên ngoài rất tận tình.

Lạ nhất từ Mỹ về Châu Âu lại không qua cửa xuất hay nhập cảnh nào. Cứ như là đi trong châu Âu với nhau vậy.

Còn đi từ Tiệp, Ba Lan bằng tàu hay ô tô thì lần nào cũng bị Đức kiểm tra kỹ giấy tờ. Nhất là hộ chiếu xanh xanh mầu xanh ngát Việt nam thì nó còn dùng máy móc kiểm tra chưa đủ, phải gọi điện hỏi tận đâu chán chê. Soi xét hành lý mang theo đủ thứ rồi mới ok chào với lời cảm ơn.

Ghét nhất vẫn thằng Hà Lan, có lần đi tàu sang Hà Lan. Đang nhiên có hai thằng thường phục ngồi cạnh, thì thầm như là bạn, nó hé lòng bàn tay cho mình nhìn thấy cái thẻ cảnh sát. Mình hiểu ý đưa nó visa, rồi tự đứng dậy lấy hành lý mở ra cho nó xem. Nó xem visa rồi lắc đầu ra hiệu không xem hành lý, chào cái bỏ đi.

Sau này mới biết hoá ra Hà Lan là điểm trung chuyển người sang Anh trồng cỏ. Từ đấy thôi ghét bọn Hà Lan, chung quy cũng tại bộ dạng của mình, đi sang Pháp hay đi đâu gặp bọn bán lẻ ma tuý nó đứng, nhìn thấy mình còn nháy mắt, giơ tay chào thì trách đéo gì bọn cảnh sát.

Từ đấy mình rút ra, chắc tại bộ dạng mình lưu manh, chứ chả phải vì cái hộ chiếu Việt Nam của mình. Nghĩ thế tự dưng lại thấy tự hào cầm hộ chiếu của dân tộc anh hùng, đánh thắng bao nhiêu cường quốc mạnh trên thế giới.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Du Lich | Leave a Comment »

►Tiến sĩ Nguyễn Quang A và kịch bản dân chủ hóa Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2015

Tiến sĩ Nguyễn Quang A và kịch bản dân chủ hóa Việt Nam

9-8-2015

 

Một góc hội trường khách sạn Lord

 

Tối ngày 6/8/2015 tại khách sạn Lord nằm phía Nam thủ đô Warszawa (Ba Lan) tiến sĩ Nguyễn Quang A đã có cuộc tọa đàm liên quan tới vấn đề dân chủ hóa Việt Nam. Buổi tọa đàm nằm trong một chuỗi các hoạt động của tiến sĩ trong chuyến thăm châu Âu một tháng lần này. Ngoài Ba Lan, chủ đề dân chủ hóa cũng được ông trình bày tại Berlin, Stuttgart, Praha và Frankfurt.

Với sự chuẩn bị gấp gáp và chưa thông báo được rộng rãi, buổi tọa đàm đã thu hút được hơn 30 người tham dự, chủ yếu là các cựu sinh viên, nghiên cứu sinh tại Ba Lan. Trong không khí ấm áp, cởi mở diễn giả và tham dự viên đã cùng trao đổi và bàn luận về nhiều vấn đề thời sự cấp bách của đất nước.

Các kịch bản dân chủ

Buổi hội thảo dựa trên bài viết “Dân chủ hóa: Vài bài học quốc tế và kịch bản khả dĩ cho Việt Nam” – còn đang trong quá trình hoàn thiện – của tác giả Nguyễn Quang A. Nói đúng ra, đó là một công trình nghiên cứu khá công phu và đầy tính chuyên nghiệp của ông liên quan tới dân chủ hóa Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A và Nguyễn Thái Linh

Bài viết cũng tổng hợp kinh nghiệm vài chục năm qua của nhiều nước, từ Á châu, Đông Âu tới châu Phi, châu Mỹ La tinh và các cách tiếp cận dân chủ của những nước này.

Tác giả cũng phân tích những xung đột hiện nay trong xã hội Việt Nam, những cuộc đình công của công nhân với xu hướng ngày càng gia tăng, các cuộc xuống đường của dân oan mất đất, xung đột về tôn giáo, sắc tộc, phong trào bảo vệ môi sinh.v.v.

Trong hàng ngàn các cuộc đình công diễn ra trong những năm qua, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới cuộc đình công mới đây của 90 ngàn công nhân hãng PouYuen đã biến thành cuộc xuống đường và dẫn tới những thay đổi về chính sách bảo hiểm xã hội.

Dựa trên những kinh nghiệm quốc tế, tình hình Việt Nam và trên cơ sở phát triển một tài liệu mới công bố gần đây của Benedict J. Tria Kerkvliet, tác giả đã đưa ra 4 cách tiếp cận dân chủ khác nhau.

– Từ trên xuống: Do những người lãnh đạo cộng sản ‘tự diễn biến’, tự phân hóa và dẫn dắt quá trình dân chủ hóa.

– Đối đầu: cách tiếp cận trực diện giữa lực lượng đối lập, phong trào dân chủ huy động sức mạnh của nhân dân nhằm giải thể chính quyền, thiết lập chế độ mới.

– Tham dự vào chính quyền các cấp, qua cách tự ứng cử.

– Qua con đường phát triển xã hội dân sự, nâng cao dân trí

Nội dung hội thảo

Trong các kịch bản trên, việc tham dự vào chính quyền ít khả thi nhất, bởi không có thể chế độc tài nào cho phép tự do ứng cử. Thực tế Việt Nam đã cho thấy, một số trường hợp tự ứng cử đã thất bại ngay từ vòng ngoài như trường hợp của các ông Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ.

Quá trình dân chủ hóa trải qua các giai đoạn khác nhau như:Chuẩn bị, chuyển đổi và củng cố. Việt Nam hiện đang ở trong giai đoạn chuẩn bị. Giai đoạn này có kể kéo dài nhiều năm, thậm chí vài chục năm. Cuộc cách mạng dân chủ (nhung hay không nhung) diễn ra ở pha chuyển đối, pha này tương đối ngắn so với 2 pha còn lại. Trong pha củng cố dân chủ, người ta cần phải chú ý tới hiện tượng thụt lùi dân chủ, như nó đã xảy ra ở một số nước.

Xã hội dân sự và ‘đảng vận’

Mỗi người, tùy theo quan điểm và sự lựa chọn cá nhân, có thể tham dự vào quá trình ‘chuẩn bị’ cho sự chuyển hóa dân chủ ở Việt Nam với một cách tiếp cận phù hợp.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A và nhóm của ông thiên về xu hướng phát triển xã hội dân sự, nâng cao dân trí, thực thi dân quyền. Ông cũng là một trong những người khởi xướng Diễn đàn Dân sự và là một trong những đại diện của trường phái này.

Thực ra các tổ chức xã hội dân sự đã hình thành từ nhiều năm nay ở Việt Nam và âm thầm hoạt động. Một số tổ chức trong đó đã đóng góp hữu hiệu vào việc cái thiện dân sinh, thậm chí điều chỉnh hay thay đổi một số chính sách của nhà nước. Theo thống kê từ bài thuyết trình, có tới hơn chục ngàn tổ chức dân sự trong cả nước, nhưng trong đó, khoảng 25 tổ chức mới hình thành trong vài năm gần đây theo hơi hướng dân chủ luôn nằm trong tầm ngắm của chính quyền. Có thể kể tới, Hội Anh Em Dân Chủ, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Phụ Nữ Nhân Quyền, Văn Đoàn Độc Lập, Nhà Báo Độc Lập, Blogger VN.v.v.

Về chủ trương thực hiện dân quyền, tiến sĩ Nguyễn Quang A nhấn mạnh, phải làm cho người dân biết các quyền của mình và cứ thế mà thực hiện, không cần phải xin phép, thông qua ai. Và tiến tới trong tương lai, cứ nhà nước có hội gì, chúng ta có hội đó, cạnh tranh với nhau.

Cũng trong phần thảo luận, liên quan tới các kịch bản dân chủ hóa cho Việt Nam, tiến sĩ Quang A cho biết, ông không ủng hộ các hình thức bạo lực, nhưng thừa nhận rằng, ngay cả hình thức này cũng có tác dụng nhất định của nó trong việc thúc đẩy dân chủ ở Việt Nam.

Ông Trần Quốc Quân phát biểu ý kiến

Song song với việc thúc đẩy xã hội dân sự, ông đưa ra khái niệm ‘đảng vận’. Bằng phương thức này, ông hy vọng ở sự chuyển biến của các đảng viên, nhất là các quan chức cấp cao, nhằm thúc đẩy dân chủ theo kịch bản thứ nhất – từ trên xuống. Trả lời câu hỏi liên quan tới chuyện ‘đảng vận’, diễn giả cho biết, nhóm của ông đã ‘đánh tiếng’ với chính quyền ít nhất từ 3 năm nay, ‘khích’ họ thay đổi theo chiều hướng dân chủ để có lợi cho dân, cho nước và đi vào lịch sử như những ‘nhà cải cách’.

Tất nhiên, phải thừa nhận rằng, không có quan chức cộng sản nào muốn thay đổi, nếu không có sức ép từ phía dưới, thông qua các hoạt động đòi hỏi nhân quyền bền bỉ từ nhiều năm qua, bằng sự lên tiếng và chấp nhận tù tội của nhiều người hoạt động đối lập ở Việt Nam.

Chính quyền trong những năm qua đã có những biến chuyển nhất định, nhưng còn quá nhỏ bé so với nhu cầu thực tiễn cũng như sự kỳ vọng của giới hoạt động. Do vậy, bên cạnh các hoạt động thúc đẩy dân chủ khác, thì công cuộc ‘đảng vận’ sẽ vẫn tiếp tục trong thời gian tới.

Trung Quốc và vấn đề ngoại cảnh

Nhưng bất kỳ cuộc cách mạng nào, sự chuyển đổi nào cũng chịu sự tác động của ngoại cảnh. Và trong nhiều trường hợp, ngoại cảnh đóng vai trò quan trọng.

Những thay đổi dẫn tới sự sụp đổ chế độ cộng sản ở châu Âu có yếu tố ‘ngoại cảnh’ từ những cải cách chính trị do Gorbachev khởi xướng ở Liên Xô.

Việt Nam trong một bối cảnh tương tự như hiện nay, chịu ảnh hưởng quá lớn vào Trung Quốc từ chế độ chính trị cho tới kinh tế, văn hóa, vậy khả năng dân chủ như thế nào? – Một người đặt câu hỏi.

Diễn giả Nguyễn Quang A cho rằng, ở đây có 2 chiều. Chiều thứ nhất, nếu Trung Quốc có dân chủ, thì có thể chỉ 24 giờ sau, Việt Nam sẽ dân chủ liền. Nhưng chiều thứ 2, Việt Nam vẫn có thể có dân chủ trước Trung Quốc và nước này sẽ ‘không làm gì được’. Ông đưa ra dẫn chứng về Đài Loan và Mông Cổ.

Tôi tin là trường hơp Việt Nam có dân chủ trước, Trung Quốc sẽ không đưa quân vào đâu và đảng cộng sản Việt Nam cũng không kêu gọi sự can thiệp từ Trung Quốc vì họ không muốn làm Lê Chiêu Thống thứ 2” – ông đưa ra nhận định.

Trước những thắc mắc về vai trò của quân đội và sự can thiệp của lực lượng này khi Việt Nam có biến, ông Nguyễn Quang A nói, ông không quá bi quan về quân đội qua sự tiếp xúc với một số tướng lĩnh, đã có những trường hợp quân đội từ chối can thiệp theo yêu cầu của chính quyền như vụ ‘quan tài diễu phố’ ở Vĩnh Phúc.

Ngoại cảnh còn phải kể tới những biến cố hoàn toàn bất ngờ, không ai có thể tiên liệu trước được như thiên tai lớn, động đất… có thể thúc đẩy, thậm chí dẫn tới sự thay đổi ở Việt Nam.

Về câu hỏi, công đồng người Việt ở nước ngoài nên làm gì, làm như thế nào để góp phần vào tiến trình dân chủ hóa đất nước?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng, vai trò của người Việt hải ngoại là rất quan trọng. Họ có thể tuyên truyền cái hay, cái đẹp của xã hội dân chủ tới người dân trong nước, mỗi người có thể bắt đầu với chính người thân và bạn bè của mình. Sự giúp đỡ về tài chính với các nhà hoạt động cũng rất cần thiết, nhất là với những người bị o bế, phong tỏa mọi con đường sống, không thể tìm được chỗ làm việc.

Trò chuyện lúc giải lao

Buổi tọa đàm kết thúc trong tiếng vỗ tay dài và sự nuối tiếc của nhiều người; tiếc cho những người không có mặt, tiếc vì mình đã không biết tới những điều này sớm hơn, tiếc vì ở ngay một quốc gia được coi là cái nôi của cách mạng nhung nhưng kiến thức về dân chủ của nhiều người còn quá hạn hẹp và tiếc vì thời gian 4 tiếng đồng hồ trôi đi quá nhanh.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói, ông ‘rất tham lam’. Ông muốn qua những buổi hội thảo này để lắng nghe ý kiến, thu thập các đóng góp, nhằm hoàn thiện công trình đang dang dở của mình, làm tài liệu cho giới trẻ Việt Nam. Không biết tiến sĩ có thu nhặt được gì qua buổi hội thảo này hay không, nhưng chắc chắn mỗi người nghe đều nhập tâm được điều gì đó bổ ích cho mình.

Ảnh sử dụng trong bài  của Hoàn Lê

© Đàn Chim Việt

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: “Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển!”

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2015

10-8-2015

Đó là lời “nói đùa” mà rất đau của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới được chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan thuật lại với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước về Đà Nẵng dự hội nghị.

Không cạnh tranh được trong ASEAN thì nói gì đến cạnh tranh với Mỹ, EU

Tiếp tục bài nói chuyện “Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa trong hội nhập quốc tế” tại hội nghị kết nối các DN nhỏ và vừa toàn quốc do Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam tổ chức chiều 8/8 ở Đà Nẵng (Infonet đã đưa tin), chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan nêu rõ, nhìn vào các FTA mà Việt Nam đã ký kết cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta với các đối tác chiếm tỉ lệ rất lớn và sắp tới sẽ tiếp tục tăng trưởng hơn nữa.

Hàng trăm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước tham dự hội nghị kết nối do Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tổ chức tại Đà Nẵng ngày 8/8 (Ảnh: HC)

Tuy nhiên, nếu nhìn vào bước đường hội nhập thì có thể thấy điều rất đáng lo là năng lực cạnh tranh của Việt Nam cho đến nay vẫn còn thua xa các nước ASEAN 6. Đã 20 năm tham gia ASEAN nhưng Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm 4 nước lạc hậu hơn của ASEAN (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar).

“Do vậy, năm 2014, Thủ tướng đã đưa ra những cố gắng để cải thiện môi trường kinh doanh một cách cơ bản cho DN, và sau đó quyết định lấy năm 2015 là “Năm Doanh nghiệp”. Trên tinh thần đó, nhiều nơi cũng quyết định lấy năm nay là năm của DN. Quốc hội, Ban Kinh tế TƯ cũng coi năm nay là năm tập trung để cải thiện cho DN. Cải thiện môi trường kinh doanh chính là để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam!” – Bà Phạm Chi Lan nói.

Theo bà, Thủ tướng quyết định lấy chuẩn của các nước ASEAN làm chuẩn cho năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Năm 2014, Thủ tướng chủ trương Việt Nam phải cải thiện các chỉ số của Ngân hàng Thế giới về môi trường kinh doanh sao cho ngang bằng với ASEAN 6. Năm nay thì Thủ tướng đưa ra tiêu chuẩn ở mức cao hơn là đến năm 2015, Việt Nam phải cạnh tranh được với ASEAN 4 (4 nước tiên tiến nhất trong ASEAN).

“Tham gia hội nhập với rất nhiều nước lớn nhưng ASEAN phải là nơi đầu tiên mà Việt Nam có thể cạnh tranh được. Không cạnh tranh được trong ASEAN thì phải nói thẳng là với các đối tác lớn hơn như Hoa Kỳ, EU có khả năng cạnh tranh cao hơn rất nhiều thì Việt Nam sẽ vô cùng khó khăn!” – Chuyên gia Phạm Chi Lan nhấn mạnh.

Để có 1 đồng lợi nhuận phải mất… 1,02 đồng “bôi trơn”!

Bà Phạm Chi Lan còn nêu rõ, không chỉ xếp hạng về môi trường kinh doanh mà xếp hạng về thể chế của Việt Nam hiện nay cũng khá thấp. Đặc biệt, trong xếp hạng về thể chế thì Việt Nam xếp ở mức rất kém trong các chỉ số về chi phí ngoài pháp luật, chi phí “bôi trơn” so với nhiều nước khác.

“Một điều tra cho thấy, ở Việt Nam, trung bình cứ 1 đồng lợi nhuận thì DN phải mất 1,02 đồng cho “bôi trơn”. Có nghĩa, nếu tham nhũng ở nước ta giảm đi 50% thì đã làm tăng được 50% lợi nhuận của DN rồi. Đây là một trong những điều giải thích tại sao DN Việt Nam cứ nhỏ mãi. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam từng nhận xét DN Việt Nam hiện nay có xu hướng… li ti hóa, tức là nhỏ đi so với trước!” – chuyên gia Phạm Chi Lan cho hay.

Dẫn số liệu điều tra của Phòng Thương mại – Công nghiệp Việt Nam cho thấy, so với 10 năm trước đây thì quy mô của DN Việt Nam hiện chỉ còn bằng một nửa, chuyên gia Phạm Chi Lan bức xúc đặt câu hỏi. “Đáng lẽ sau 10 năm, quy mô của DN Việt Nam phải lớn lên chứ tại sao lại nhỏ đi?”. 

Rồi bà trả lời: “Một trong những nguyên nhân chính là tham nhũng đã lấy mất lớn hơn so với lợi nhuận của DN. Bị lấy mất lợi nhuận rồi thì DN còn gì để tái đầu tư, để mở rộng được? Và DN sẽ co lại vì họ làm được 1 nhưng có những ông khác không làm gì cả mà tước đoạt của họ hơn 1 thì tội gì họ làm nữa”.

Chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan phát biểu tại hội nghị (Ảnh: HC)

Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, trong các nước tham gia TPP thì Việt Nam xếp ở hàng thấp nhất về trình độ công nghệ dù đây là yếu tố mà ai cũng biết là vô cùng quan trọng đối với năng lực cạnh tranh. Đây là vấn đề thuộc về tầm quốc gia và phải được Nhà nước ưu tiên quan tâm chứ không hoàn toàn thuộc trách nhiệm của DN.

“Hệ thống chính sách của chúng ta nói rất nhiều, rất hay về đổi mới công nghệ nhưng trên thực tế, rất nhiều DN cho biết họ không thể tiếp cận được với những chính sách khuyến khích của Nhà nước. Chỉ ai tự có năng lực thì mới tự đổi mới công nghệ được thôi chứ còn họ “quên” đi tất cả những cái của Nhà nước, bởi vì chi phí để nhận được ưu đãi có khi lại còn lớn hơn cả mức được ưu đãi. Đó là điều rất đau gây cản trở cho sự phát triển công nghệ của chúng ta!” – chuyên gia Phạm Chi Lan bức xúc nói.

Mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển?!

Bà Phạm Chi Lan nêu rõ, Nhà nước phải cố gắng rất nhiều để đàm phán và ký kết các FTA, trong đó phải có những nhượng bộ để các đối tác mở cửa thị trường cho mình. Nhưng trên thực tế, đến thời điểm này tận dụng được tốt nhất FTA đã ký chỉ là với Hàn Quốc. Theo đó, hơn 73% chứng nhận xuất khẩu sang Hàn Quốc là được hưởng ưu đãi. Nhưng đi sâu vào 73% này thì lại thấy đa phần DN được hưởng ưu đãi lại là DN Hàn Quốc chứ không phải Việt Nam.

“Điều đó cho thấy DN Việt Nam chưa tận dụng được những ưu thế từ FTA. Chúng tôi đang đề xuất Bộ Công thương xem lại chính cách thức của Bộ trong việc cung cấp các ưu đãi hoặc phổ biến như thế nào mà để DN Việt Nam tiếp cận được ưu đãi thấp như thế? Nếu DN không biết hoặc quá khó để tiếp cận được thì là thành phí hoài công sức của các vị ấy đi đàm phán. Đây cũng là sự lãng phí rất lớn!” – Bà Phạm Chi Lan nói.

Theo chuyên gia này, khó khăn đối với DN Việt Nam gần như là chuyện muôn thuở. 5 – 7 năm nay, Diễn đàn Kinh tế thế giới tiến hành điều tra thì đều cho ra sơ đồ tương tự nhau về khó khăn của DN Việt Nam chứ không thay đổi bao nhiêu. Bà nói thẳng là cảm thấy rất đau khi các chuyên gia Diễn đàn Kinh tế thế giới hỏi: Tại sao Việt Nam kỳ lạ thế, những điều này nói hoài mà không sửa được, không thay đổi được?

“Một số chuyên gia WB còn nói đùa Việt Nam có lẽ là mô hình kỳ lạ nhất thế giới. Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển!” – chuyên gia Phạm Chi Lan nói một cách khá chua chát.

Theo bà, khi tham gia các FTA thì không phải chỉ cạnh tranh ở tầm DN mà cạnh tranh ở tầm nhà nước cũng vô cùng quan trọng. Nhà nước Việt Nam cũng phải cạnh tranh với Nhà nước của các nước khác về thể chế, môi trường kinh doanh, năng lực điều hành nền kinh tế vĩ mô… Mặc dù khi tham gia các FTA thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đòi hỏi cao hơn, khắc nghiệt hơn nhưng chính điều này sẽ giúp Việt Nam nâng tầm mình lên.

“Nói thật, chơi mà cứ cạnh tranh loanh quanh trong cái ao của ASEAN thì không đủ. Chúng ta phải cố gắng để vươn ra biển lớn, chấp nhận sóng gió lớn hơn thì mới có thể vượt lên được. Trong điều kiện môi trường kinh doanh của chúng ta chưa thuận lợi, khi có các hiệp định mới này, chắc chắn Nhà nước sẽ phải thay đổi nhiều về hệ thống luật pháp, chính sách trong nước cho phù hợp với các cam kết. Và từ đó đổi mới kinh tế sang hệ thống kinh tế thị trường đầy đủ sẽ giúp cho môi trường kinh doanh tại Việt Nam tốt hơn, bình đẳng hơn!” – Chuyên gia Phạm Chi Lan nhấn mạnh.

HẢI CHÂU

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

►Tây Mĩ nó cũng thế

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2015

Theo Fb Nguyễn Tuấn

10-8-2015

Đó là một phản ứng khá phổ biến khi có ai đó (như tôi chẳng hạn) chỉ ra những sự bất cập trong chính sách của Việt Nam. Đó cũng là một cách biện minh dĩ nhiên là thiếu tính thuyết phục. Thật ra, có thể xem đó là một sự nguỵ biện, và tôi sẽ giải thích tại sao.

Rất thường xuyên, khi có người phản biện những bất cập ở Việt Nam, là có người phản ứng theo kiểu biện minh rằng “ở đâu cũng thế”. Hai chữ “ở đâu” thường là lấy Mĩ và Âu châu làm tiền đề. Chẳng hạn như khi đứng trước những chứng cứ không thể chối cãi về quan chức tham nhũng, thì có hai phản ứng chính. Phản ứng cực đoan là chửi bới người nêu vấn đề là … phản động. Loại người với phản ứng này thì chúng ta không nên mất thì giờ, vì rõ ràng là họ thuộc vào loại lười biếng suy nghĩ và vô giáo dục. Một phản ứng nhẹ nhàng hơn là “Ôi, ở đâu cũng thế. Ở Âu Mĩ, chính khách cũng tham nhũng đó thôi.”

Lối nguỵ biện này rất phổ biến ở chính khách. Chẳng hạn như mới đây có người mới đi thăm Mĩ về, ông ấy nói rằng ở Mĩ cũng có những dân biểu “cúp cua” họp Quốc hội. Ông này muốn nói rằng đại biểu QH Mĩ cúp cua thì đại biểu VN làm thế có gì sai đâu?!

Thoạt đầu mới nghe qua loại phản ứng này, có lẽ nhiều người sẽ gật gù đồng ý, vì nó có lí và ở khía cạnh nào đó cũng đúng. Nhưng nếu là người có kĩ năng tranh biện thì cách phản ứng đó có vấn đề. Vấn đề thứ nhất là nó phạm vào nguỵ biện đánh tráo chủ đề (còn gọi là distraction). Chủ đề là việc Việt Nam tiêu tiền tỉ để xây tượng đài của một cá nhân, là việc tham nhũng (là sai và xấu), chứ chủ đề bàn luận không phải các chính khách bên Mĩ, bên Tây làm gì. Kiểu nguỵ biện này có mục tiêu làm cho người đặt vấn đề phải mất thì giờ bàn chuyện chẳng liên quan gì với vấn đề được đặt ra. Kẻ nguỵ biện làm cho cuộc bàn luận đi ra ngoài chủ đề chính của bàn luận, và thế là họ đạt mục tiêu làm loãng câu chuyện.

Vấn đề thứ hai là hàm ý nói rằng ở Âu Mĩ, nơi văn minh và dân chủ, mà chính khách còn tham nhũng, thì chính khách VN tham nhũng cũng là chuyện có thể chấp nhận được. Đây là một cách biện minh dở nhất, vì nó dựa vào một giả định rằng Âu Mĩ là chuẩn mực, nhưng dĩ nhiên giả định này sai. Chẳng lẽ người Âu Mĩ phạm tội giết người, và điều đó biện minh rằng người Việt cũng giết người?! Cách nguỵ biện đó cũng hàm ý đổ thừa việc tham nhũng cho người khác, đó là chính khách Âu Mĩ. Một cái sai của biện minh này là tham nhũng là chấp nhận được!

Ngoài những thói nguỵ biện đó ra, tôi thấy có khá nhiều người dùng nguỵ biện kiểu tấn công cá nhân (ad hominem, tu quoque). Những loại này thì dễ nhận ra, vì chúng thường xuất hiện dưới dạng như “đừng có ngồi đó mà làm anh hùng bàn phím”, “có làm gì được cho đất nước chưa mà lớn tiếng phê bình”, “giao cho anh làm lãnh đạo, anh có làm được không”, “không hài lòng thì cút đi khỏi Việt Nam”, v.v. Loại ngụy biện này thể hiện trình độ thấp của kẻ phát ngôn. Thật ra, họ đáng thương hại hơn là đáng trách, bởi vì họ chưa được dạy cách thức bàn luận đàng hoàng, mà chỉ quen với thói lưu manh mà hệ thống đã gieo vào đầu óc họ.

Như tôi từng nói, nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét “phản động”. Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến “phía bên kia cũng ác ôn”. Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì.

Nguỵ biện nói cho cùng là vấn đề chân lí và sự thật. Vấn đề ở VN là chân lí nó được bóp méo và vặn vẹo làm cho người dân nghĩ rằng chỉ có một chân lí duy nhất. Quan sát trên báo chí, internet, đến nghị trường, từ những người có học (cỡ sư sĩ), đến chính khách, và cả thường dân ai ai cũng dùng những lí lẽ mà họ không biết là lỗi nguỵ biện. Chẳng hạn như gần đây nhất có người cảnh báo rằng coi chừng những thông tin lợi dụng dân chủ đòi đa đảng, nhưng trong thực tế đó là cái cớ để đàn áp những người nói khác chính quyền. Đó cũng là một dạng của nguỵ biện – nguỵ biện dựa vào nguồn tin vu vơ. Còn sự thật thì cũng bị giả tạo và giả dối sản sinh (như vụ Lê Văn Tám). Những thói nguỵ biện nó được xây dựng trên sự dối trá mà thể chế đã tạo ra quá lâu, nên khó có thể chỉnh sửa một sớm một chiều. Chỉ khi nào nền giáo dục có sự tham gia bình đẳng từ các nhóm xã hội, thay vì bị sự kiểm soát của một thế lực chính trị, thì tình trạng nguỵ biện vẫn còn.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

► Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

Posted by hoangtran204 trên 09/08/2015

VOA

Bùi Tín

09-08-2015

Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.

Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh – lão – bệnh – tử của mỗi đời người; quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.

Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh HueiBo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo – nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.

Cũng mới đây mạng Đại Kỷ Nguyên, cơ quan ngôn luận của Pháp Luân Công Đạo Pháp do Đạo sư Lý Hồng Chí sáng lập, đã đi đầu trong phong trào Tam Thoát – Thoát Đảng, Thoát Đoàn, thoát Đội và Thoát mọi loại tổ chức khác của Đảng CS Trung Quốc mà Ông cho là tà giáo man rợ, là tội ác chống nhân loại.

Hiện con số người tuyên bố công khai Tam Thoát đã lên đến 221.000.000 người, làm biến đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và đại khối nhận dân Trung Quốc lương thiện.Trên Đại Kỷ Nguyên hiện đang đăng bài “Đảng CS Trung Quốc vong » cho rằng ĐCSTQ không thể cưỡng lại số phận đã được định đoạt là giải thể, tiêu vong trong thời gian không xa. Chiến dịch “diệt hổ đập ruồi, săn cáo» đang ở hồi kết thúc, không thể nào xuống lưng hổ vì “kỵ hổ nan hạ» (cưỡi hổ thì khó xuống).

Màn chót ngay trước mắt là triệt con hổ Thượng tướng Quách Bá Hùng và con trai là tướng Quách Chính Cương, vì Quách từng là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ, cánh tay phải của Giang Trạch Dân, bị tống giam khi đang cải trang làm phụ nữ để tìm cách thoát sang Hồng Kông.

Mạng Minh Huei còn nhận địng rằng sau cuộc họp Bộ Chính trị ở Bắc Đới Hà mùa hè này, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ gạt Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, cả 3 hiện nằm trong Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên ở chóp bu quyền lực, là thế lực cuối cùng phò Giang Trạch Dân, để ngay sau đó diệt chính Giang, coi là đòn ân huệ để giải thể luôn ĐCSTQ, chuyển sang mang một tên mới – “Đảng Xã hội Dân chủ” hoặc “Đảng Dân tộc Trung Hoa”, như trước đây Lý Thụy Hoàn, một ủy viên kỳ cựu của Bộ Chính trị đã gợi ý, sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể hồi cuối năm 1991. Hiện nay, Tập Cận Bình đang kết chặt với Vương Kỳ Sơn và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong Thường vụ Bộ Chính trị, và với 2 Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ là 2 Thượng tướng Phạm Tường Long và Hứa Kỳ Lương, thay thế Từ Tài Hậu đã chết và Quách Bá Hùng vừa sa lưới.

Một bản tiểu sử dài của Giang Trạch Dân được phổ biến rộng rãi trong 6 tháng qua, chỉ rõ Giang xuất thân từ một gia đình đại Hán gian từng phục vụ phát xít Nhật thời Uông Tinh Vệ, đã tự nhận là con nuôi liệt sỹ, gia đình cách mạng CS nòi để leo lên đỉnh cao quyền lực và phá nát Đảng CS không có cách gì cứu vãn nổi.

Đại Kỷ Nguyên còn cho biết trong tháng 7/2015 Tập Cận Bình quy định tất cả các cán bộ đảng viên CS phải làm lễ tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp”, từ bỏ lệ tuyên thệ trung thành với Đảng CS và học thuyết CS, từ đó đưa đảng vào “lãnh cung», tử vong vĩnh viễn.

Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn một năm nay các Tòa án Trung Quốc tiếp nhận đơn của mọi công dân kiện cáo về việc người thân của họ trong Đạo Pháp Luân Công bị sát hại trong lao tù, các bộ phận cơ thể được rao bán khắp mọi nơi. Hiện nay đã có 80 vạn lá đơn kiện đích danh ông Giang Trạch Dân về tội ác này do chính Giang đề xướng và thực hiện qua bộ máy 610 – được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1999 – trên tinh thần Đảng CS theo Duy Vật chống mọi tà giáo Duy Tâm.

Tuy không phải từ những nguồn tin chính thức được tin cậy hoàn toàn, tôi vẫn thu thập, ghi chép, bình luận các thông tin trên đây với tất cả sự thận trọng dè dặt cần thiết, để các bạn đọc của VOA rộng đường tham khảo và theo dõi thêm.

Nếu như ĐCSTQ thật sự tiêu vong trong thời gian tới, khi cây cổ thụ Trung Quốc bị đổ trốc rễ, như số phận Đảng CS Liên Xô hồi cuối năm 1991, thì không ai có thể hình dung rõ sau đó hậu quả đối với tình hình Đông Nam Á và toàn thế giới sẽ ra sao.

Trung Quốc sẽ vẫn còn là một thực thể hay sẽ vỡ ra thành các mảnh lớn nhỏ khi nó có đến hàng trăm dân tộc với tiếng nói, nguồn gốc, tôn giáo khác nhau?

Chắc chắn sẽ là tin tốt lành cho nhân dân Việt Nam khi cái họa bành trướng tệ hại sẽ có cơ chấm dứt để nhân dân ta có thể sống hoàn toàn độc lập tự do, hòa hiếu, hợp tác và cùng phát triển với mọi nước xa gần.

Nước cờ Thoát Trung, gắn bó với các bạn bè dân chủ xa gần, bẻ lái chiến lược lúc này thật đúng lúc, đúng thời cơ, là cao kiến, hợp lòng dân, đúng theo vận nước vậy.

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Những lời hứa hẹn có cánh và buôn bán hi vọng

Posted by hoangtran204 trên 09/08/2015

Những lời hứa hẹn có cánh và buôn bán hi vọng

Nguyễn Văn Tuấn

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

8-8-2015

Nhân dịp nói chuyện khẩu hiệu, tôi chợt nhớ đến những phát ngôn mang tính hứa hẹn của các lãnh đạo và quan chức trước đây. Bây giờ nhìn/đọc lại những phát ngôn đó cũng rất thú vị, và nó làm cho con người (nếu còn sống) trở nên khiêm tốn hơn.

Đầu tiên, câu nói nổi tiếng nhất về tương lai Việt Nam sáng chói phải kể đến câu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước 1975, ở ngoài Bắc, ông nói rằng “Còn non còn nước còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Tôi nghĩ câu này rất quan trọng, vì sau ngày “giải phóng”, đi đâu cũng nghe thấy câu nói này. Nó có hiệu lực vừa như là một lời hiệu triệu quần chúng, vừa hứa hẹn một tương lai xán lạn cho Việt Nam. Tôi nghĩ có lẽ vì câu đó mà biết bao người hăng hái lao ra chiến trường sẵn sàng hi sinh vì một tương lai “Hơn mười ngày nay”. Nhưng lúc đó chắc chẳng có ai hỏi thế nào là 10 lần hơn? Để rồi 40 năm sau khi kết thúc chiến tranh thì Việt Nam nằm trong số những nước nghèo kém nhất thế giới.

Một câu nói quan trọng khác cũng mang tính hứa hẹn nhưng cụ thể hơn là từ TBT Lê Duẩn. Năm 1976 (lúc đó tôi còn ở trong nước và đang hăng say góp phần xây dựng XHCH), tôi còn nhớ như in là trong một bài diễn văn ông hứa rằng “Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh.” Lúc đó tôi ngạc nhiên lắm, bởi vì những thứ vật dụng đó đâu có gì là quá khỏi tầm tay. Trước năm 1975 tôi đã có xe Honda rồi, còn nhà Ba Má tôi ở trong quê đã có radio và tivi rồi (nhưng chưa có tủ lạnh). Thời đó, tôi còn nhớ cứ mỗi tối về, nhà tôi y như cái rạp hát. Tối nào có chương trình tuồng cải lương thì ôi thôi, tôi rất bận rộn. Ba tôi và mấy trưởng lão thì ngồi ghế sofa trong phòng khách, còn má tôi và mấy dì cô khác thì trên bộ ván ngựa có tuổi đời lớn gấp hai lần tôi, còn mấy đứa con nít trong làng thì ngồi ngoài nhà, chống cằm lên xem cải lương. Tôi thì bận rộn ra oai, làm trật tự, tên nào lộn xộn bị tôi doạ là “lần sau không cho mày xem”. Những kỉ niệm thời thơ ấu là thế, vậy mà bây giờ có cái ông kia ổng nói 10 năm nữa sẽ có tivi và radio, thì tôi ngạc nhiên, vì tôi không biết ổng nói với ai.

Dĩ nhiên, ai cũng biết những năm sau khi ông phát biểu câu nói nổi tiếng đó thì VN bắt đầu lụn bại. Miền Nam chưa bao giờ thiếu gạo mà phải đói và ăn bo bo. Thuốc thì chỉ có xuyên tâm liên trị bách bệnh. Bây giờ mà tìm lại những bài báo của các giáo sư y khoa thời đó quảng bá cho xuyên tâm liên thì chắc đọc hay lắm. Những gia đình ở thành phố có đồ đạt trong nhà thì dần dần bán hết. Thay vì 10 năm nữa mỗi gia đình VN có cái tivi, radio và tủ lạnh, thì thực tế ngược lại là họ mất tivi, radio và tủ lạnh. Chẳng những mất mấy thứ gia dụng đó, mà còn mất luôn xe cộ, và trong nhiều trường hợp, mất luôn mạng sống.

Đến giáo dục, tôi mới đọc lại một bài báo chưa cũ lắm (2006), nói đến kế hoạch xây dựng một số đại học đẳng cấp quốc tế. Trong bài báo “Làm gì để hội nhập giáo dục đại học” (1), GS TSKH Bành Tiến Long, lúc đó là thứ trưởng Bộ GDĐT, cho biết mục tiêu tổng quát của công cuộc đổi mới giáo dục đại học là “đến năm 2020, […] xây dựng một số trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế.” Lúc đó ai cũng phấn khích trước một viển ảnh xán lạn của giáo dục VN, và VN sẽ làm cho các đại học trong vùng xấu hổ. Thừa thắng xông lên, có đại học kí kết với tập đoàn dầu khí xây dựng đề án để VN có giải thưởng Nobel.

Thế nhưng năm nay đã là 2015, chỉ còn 5 năm nữa là đến 2020, nhưng các đại học Việt Nam vẫn còn ì ạch, chưa đi đến đâu. Công trình nghiên cứu thì vẫn rất ít, chỉ bằng “đếm trên đầu ngón tay” so với các đại học lớn trong vùng. Đại học lớn nhất và khá nhất của VN mỗi năm chỉ công bố được 200 bài báo, chỉ bằng 1/10 đến 1/20 của các đại học lớn trong vùng ASEAN. Lượng đã ít mà phẩm còn kém hơn, vì phần lớn các công trình khoa học VN thường được công bố trên tập san có ảnh hưởng thấp và có ít trích dẫn. Với thành tích công bố quốc tế như hiện nay, các đại học VN chưa có tư cách để nói đến “đẳng cấp quốc tế” được. Phải thành thật với nhau như thế.

Trong ngành y tế, chúng ta còn nhớ một lời hứa rất nổi tiếng của ông Nguyễn Quốc Triệu. Cách đây không lâu (có lẽ là 2008?) ông NQT lúc đó mới nhậm chức Bộ trưởng Bộ Y tế có hứa trước quốc dân rằng trong vòng 3 năm, mỗi bệnh nhân sẽ có 1 giường riêng, thay vì 3 người nằm chung giường như lúc đó. Thế nhưng chúng ta biết rằng lời hứa đó đã không thành hiện thực. Một điều rất thú vị là sau này khi phóng viên nhắc ông về lời hứa đó, ông thản nhiên nói rằng ông chưa bao giờ hứa như thế!

Tóm lại, các lời hứa hẹn của giới lãnh đạo và quan chức trong thời gian qua chỉ là … hứa hẹn cho suông miệng. Tôi gọi những lời hứa hẹn có cánh đó là buôn bán hi vọng. Điều đáng ngạc nhiên là những món hàng hi vọng của họ vẫn có khách hàng! Bây giờ thì một số người buôn bán hi vọng đã qua đời, nên chúng ta không có dịp hỏi họ nghĩ gì khi bán món hàng đó. Nhưng một số người vẫn còn sống, tôi không biết họ có ngượng khi đọc lại những gì họ từng phát biểu. Dù họ có ngượng hay tự xấu hổ, thì những gì xảy ra trong quá khứ (xa và gần) cho thấy chúng ta chẳng có lí do gì để mua những món hàng hi vọng của giới chính trị, mà cứ xem như là những loại “mãi võ sơn đông” cho vui mắt.

====

(1) http://vietbao.vn/Giao-duc/Lam-gi-de-hoi-nhap-giao-duc-dai-hoc/65053127/202/

(2) Tôi phải thêm là ở bên Úc cũng có một ông thủ tướng buôn bán hi vọng, nhưng ông sám hối. Đó là thủ tướng Bob Hawke, lúc mới lên chức, ông hứa rằng đến năm 1990 sẽ không có trẻ em sống trong nghèo nàn. Nhưng sau này thì lời hứa đó trớt quớt, và bị phe đối lập đem ra diễu cợt trên TV. Mấy năm trước, khi phóng viên hỏi ông nghĩ gì câu nói đó, ông tỏ vẻ rất thành khẩn nói rằng đó là một trong những lời hứa ngu xuẩn nhất trong sự nghiệp. Ông rối rít xin lỗi dân chúng. Ước gì VN có người hành xử như ông Hawke.

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

Trần Thị Hải Ý

Trích bài chủ: “Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh.” (Lê Duẩn).

@ TBT Lê Duẩn nói câu này trong ngày mồng 1 Tết Bính Thìn 1976, và còn nằm nguyên trong sách «Xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa» – Nxb Văn Hoá, Hà Nội 1977, trang 59).
Mời xem thêm: Cố vương Lê Duẩn và 22 phát ngôn ‘đỉnh cao trí tuệ’ http://danlambaovn.blogspot.fr/2015/07/co-vuong-le-duan-va-22-phat-ngon-inh.html

Козак Нгуен

Thưa GS, chuẩn quá ạ. Nhưng còn vấn đề này e là không nhỏ mà GS chưa kịp đưa vào bô sưu tập:

Ngay từ Đại hội IX năm 2001, Đảng đã đặt ra mục tiêu “đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
CS nó vậy GS ơi, trong câu trích dẫn của GS, hình như ông duẩn còn nói đại loại là trong mâm cơm mỗi gđ phải có 5 món hay 5 món trở lên gì gì đó…
P/S Nguyễn Cuốc Triệu làm bộ trưởng từ 2 tháng 8 năm 2007 – 3 tháng 8 năm 2011

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Cả hai “đồng chí, anh em” đóng kịch với nhau

Posted by hoangtran204 trên 08/08/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

07-08-2015

Thỉnh thoảng tôi tự hỏi chính giới Tàu nghĩ gì về đồng nghiệp họ ở Việt Nam. Dù biết rằng qua báo chí chúng ta có thể hiểu là họ không đánh giá cao, nhưng tôi vẫn muốn biết xem họ nghĩ gì. Tình cờ đọc được một đoạn văn được xem là “tối mật” của Mao Trạch Đông viết về Việt Nam làm tôi suy nghĩ về mối quan hệ Việt – Tàu hết sức thú vị. Tôi nghĩ bất cứ ai đang phấn đấu làm bạn với Tàu cộng có lẽ phải ngượng ngùng khi đọc câu của họ Mao.

Họ Mao nói “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ.Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta.” Đọan văn đó được trích từ văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của Bộ Ngoại giao Việt Nam, và được công bố 4/10/1979 (1).

Có lẽ những ai từng theo dõi Tàu không ngạc nhiên về câu nói trên, vì trong cái nhìn của giới chính khách Tàu, Việt Nam là một kẻ phản bội, không thể tin tưởng. Trước khi phát động chiến tranh chống VN, Đặng Tiểu Bình tuyên bố với báo chí quốc tế rằng “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”. Thật hiếm thấy một nguyên thủ quốc gia nào mà ăn nói du côn như Đặng, nhưng rất có thể y quá giận nên không kiềm chế được ngôn ngữ trước phóng viên quốc tế. (Trớ trêu một điều là tên này vẫn còn được khá nhiều người VN hâm mộ và thần tượng.)

Ngay cả thường dân Tàu dường như cũng không có thiện cảm với VN. Báo chí Tàu (nhất là tờ Hoàn cầu Thời báo) ra rả chửi Việt Nam, và đòi gây chiến tranh chống Việt Nam. Trước đây, trong một cuộc thăm dò ý kiến người dân Tàu bên China, kết quả cho thấy phần lớn dân Tàu nghĩ người Việt là phản bội, xảo quyệt, không đáng tin cậy. Trong cái nhìn của họ, Tàu là đại ân nhân của VN, vì Tàu từng giúp Bắc VN đánh Tây, đánh Mĩ. Chưa nói giúp vì động cơ gì, nhưng đó là cái nhìn của họ. Họ cũng nghĩ rằng khi thành công thì VN trở mặt. Họ lấy thái độ của ông Lê Duẩn là một ca tiêu biểu. Trước kia, khi cần vũ khí và tiền bạc của Tàu, thì ông Duẩn tỏ ra thân Tàu; đến khi thấy Liên Xô khá hơn, thì lại chạy theo Liên Xô và quay sang chửi Tàu thậm tệ. Có tài liệu còn cho thấy ông chửi thẳng vào mặt Mao (mà nhiều người xem là dũng cảm, nhưng tôi thì nghĩ thái độ đó không khéo chút nào). Tài liệu trên (1) được công bố dưới thời ông Duẩn. Nhìn như thế thì rõ ràng người Tàu có lí do để ghét Việt Nam.

Ngày nay thì lịch sử có vẻ tái lập. Chỉ cách đây vài tháng, trước ngày kỉ niệm cuộc chiến 1979, một lãnh đạo của đảng CSVN đã tuyên bố rằng VN vẫn chung thủy với Tàu trong cái “truyền thống đoàn kết quốc tế thủy chung” (2). Rồi mới đây nhất là một phát ngôn trung thành khác từ một tướng lãnh VN: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng thân thiện và điều đó không bao giờ thay đổi. Nhiều thế hệ đã qua, nhân dân hai nước đã thiết lập và duy trì mối quan hệ, cùng tồn tại, hình thành rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa” (3).

Đặt quan điểm chung thuỷ này với nhận định “Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ … Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta” trên đây, ai cũng có thể thấy có gì đó không “add up” (nói theo tiếng Anh), hay không ăn khớp. Câu nói của Mao còn sờ sờ ra đó, ngay trên báo chí “chính thống”. Câu nói của Đặng Tiểu Bình cũng còn đó trên giấy trắng mực đen. Những câu nói xách mé và xấc xược của các tướng lãnh Tàu cộng và bỉnh bút của Hoàn cầu Thời báo vẫn còn lưu lại đó. Trước những lời nói xấc xược và khinh bỉ của Tàu như thế mà những người ở vị trí lãnh đạo quốc gia lại thề thốt “thuỷ chung” với họ! Thật không thể nào hiểu nổi.

Chỉ có một cách giải thích là cả hai phía, Tàu và Việt Nam, đều đóng kịch. Chẳng ai tin ai cả, Tàu chẳng bao giờ tin Việt Nam, và Việt Nam lúc nào cũng nghi ngờ Tàu. Những ngôn từ hoa mĩ là chỉ nói cho có, chứ trong thâm tâm thì người nói nghĩ ngược lại. Thật ra, đó cũng chính là tình nghĩa đồng chí của những người cộng sản, ngay cả trong cùng một nước và cùng cộng đồng dân tộc. Bề ngoài thì cười cười, tay bắt, tay ôm, hôn hít (ghê ghê), nhưng trong bụng thì một bồ dao găm, muốn thanh trừng lúc nào cũng được. Đúng như Nguyễn Du từng tả: “Bề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

___

(1) Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay – Kỳ 43: Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao (MTG).

(2) Tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, tính tiên phong của Ðảng, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh(*) (ND).

(3) Tướng Vịnh: Quan hệ hữu nghị Việt-Trung không bao giờ thay đổi(VOA/ BS).

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

► Thiếu niên 15 tuổi dám đả đảo CSVN ở huyện Thạnh Hoá bị bắt giữ

Posted by hoangtran204 trên 08/08/2015

Thiếu niên 15 tuổi dám đả đảo CSVN ở huyện Thạnh Hoá bị bắt giữ

6-8-2015

T5, 08/06/2015 – 10:38
Vào tối ngày 06 tháng 8 năm 2015, em Nguyễn Mai Thảo Vy báo tin anh trai Nguyễn Mai Trung Tuấn, chỉ mới 15 tuổi, bị công an bắt giữ sau 4 tháng bị truy nã vì tội “cố ý gây thương tích” trong vụ giải toả đất ở huyện Thạnh Hoá – tỉnh Long An.

Sự việc xảy ra vào ngày 14 tháng 4 năm 2015, khi nhà cầm quyền huyện Thạnh Hóa đã huy động một lực lượng rất đông gồm: công an, cảnh sát cơ động, dân quân tự vệ đến để cưỡng chế thu hổi đất gia đình ông Nguyễn Trung Can, Nguyễn Trung Tài, và Nguyễn Thị Nhanh thuộc khu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa.

Chính quyền huyện Thạnh Hoá đền bù cho dân chỉ có 300.000(vnd)/m2 nhưng bán cho người khác là 3 triệu đồng/m2. Số lãi thu được nhằm vụ lợi mục đích cá nhân.

Gia đình ông Nguyễn Trung Can và bà Mai Thị Hương đã nhiều lần gửi kiến nghị, khiếu kiện về việc làm sai trái của chính quyền địa phương về việc thu hồi đất của gia đình nhưng không được giải quyết.

Sau đó, 12 người trong gia đình ông Nguyễn Trung Can và bà Mai Thị Kim Hương bị bắt giam và bị khởi tố. Còn Nguyễn Mai Trung Tuấn (con ông Mai Trung Can) bị truy nã vì tội “cố ý gây thương tích” theo điều 104, bộ Luật Hình Sự.

Tuy nhiên, trong bản kết luận của cơ quan Cảnh Sát Điều Tra và bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân huyện Thanh Hoá gửi cho gia đình không có nhắc đến hành vi của Nguyễn Mai Trung Tuấn. Nhưng bản kết luận và cáo trạng cho biết đang truy nã Nguyễn Mai Trung Tuấn về tội “cố ý gây thương tích” theo điều 104, bộ Luật Hình Sự.

Em Nguyễn Mai Thảo Vy cho phóng viên SBTN biết: “Hiện tại em đang rất lo lắng cho tình trạng của anh trai. Công an đã truy nã anh trai em trong 4 tháng qua. Nay anh trai đang chữa bệnh ở Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận thì bị công an họ bắt giữ và di lý về tỉnh Long An. Hiện tại đang ở công an tỉnh Long An. Hôm xảy ra cưỡng chế, anh trai ấy chẳng làm gì sai pháp luật. Anh ấy chỉ ngăn cản công an vào cưỡng chế nhưng bị họ đánh lại giờ phải mang bệnh. Vậy mà họ vu khống là anh trai em đánh trọng thương người khác.”

Được biết, hôm xảy ra vụ cưỡng chế đất, Nguyễn Mai Trung Tuấn đã cầm loa kêu gọi nhà cầm quyền huyện Thạnh Hoá dừng ngay việc cưỡng chế và hô lớn các khẩu hiệu: “Tiêu diệt đảng CSVN, đả đảo đảng cộng sản bán nước, đả đảo Nguyễn Tấn Dũng bán nước,…”

Sống trong một xã hội luôn luôn phải đối đầu với sự áp bức, bóc lột đã khiến thiếu niên chỉ mới 15 tuổi mất niềm tin vào chính quyền CSVN, để dám đấu tranh cho đến cùng, dù có phải hy sinh tính mạng trước bạo quyền.

Ân Thiên / SBTN

Khởi tố một cậu bé vị thành niên liên quan đến vụ cưỡng chế đất tại Long An

Dân Luận tổng hợp

07-08-2015

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn

DL – Chiều nay, Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi, đã bị khởi tố theo điều 257 BLHS tội “Chống người thi hành công vụ”. Trước đó, 12 người trong gia đình bao gồm cả bố mẹ của cháu Tuấn đã bị bắt trong một vụ cưỡng chế ngày 14/4/2015. Tất cả đều bị khởi tố theo điều 257 BLHS.

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn bị bắt vào chiều ngày hôm qua, 6/8/2015. Theo thông tin từ “Phong trào liên đới dân oan tranh đấu”: Đến sáng nay, người thân cháu Tuấn đến trụ sở công an tỉnh Long An để tìm hiểu tình hình của cháu Tuấn thì phía công an cho biết chỉ đưa cháu Tuấn về đồn làm việc chứ không làm gì cháu cả.

Đến 14 giờ chiều thì người nhà cháu Tuấn nhận được “Thông Báo về việc bắt người đang bị truy nã Nguyễn Mai Trung Tuấn” và bị khởi tố vì tội “Chống người thi hành công vụ”

Thông Báo về việc bắt cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn là con trai đầu của dân oan Mai Thị Kim Hương – Nguyễn Trung Can, tỉnh Long An. Ngày 14/4/2015, 12 người trong gia đình, bao gồm cả ba mẹ cháu Tuấn đã bị bắt vì kháng cự lực lượng cưỡng chế đất. Tất cả những người bị bắt sau đó đều bị khởi tố theo điều 257 BLHS, tội “Chống người thi hành công vụ”

Như vậy, gia đình cháu Tuấn có 4 người thì bị bắt giam, khởi tố 3 người. Chỉ còn 1 người em gái út của Tuấn là Nguyễn Mai Thào Vy (13 tuổi) là đang được tại ngoại.

Gia đình dân oan Mai Thị Kim Hương - Nguyễn Trung Can

Thông tin những quy định về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:

BLHS, Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.2- Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Truyền thông dưới các chế độ độc tài

Posted by hoangtran204 trên 08/08/2015

” ngoài mục tiêu lừa dối và nhồi sọ, bất cứ hệ thống truyền thông nào của các chế độ độc tài cũng đều nhắm tới một mục tiêu khác nữa: định hướng dư luận. Công việc định hướng này bao gồm hai khía cạnh chính: Một là “giáo hoá” và hai là làm lạc hướng…”

Truyền thông dưới các chế độ độc tài

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

06-08-2015

H1Một trong những khác biệt lớn nhất giữa dân chủ và độc tài là ở phương diện truyền thông. Nói một cách vắn tắt, khác với các chế độ dân chủ, dưới các chế độ độc tài, truyền thông có hai đặc điểm chính: độc quyền và kiểm duyệt. Mức độ độc quyền và kiểm duyệt tuỳ thuộc vào mức độ độc tài. Tất cả các chế độ độc tài đều áp dụng, dưới những hình thức khác nhau, chính sách kiểm duyệt đối với các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng chỉ có các chế độ độc tài toàn trị (totalitarianism) mới áp dụng chính sách độc quyền một cách triệt để.

Việt Nam là một chế độ độc tài toàn trị như thế: Với truyền thông, họ áp dụng cả phương thức độc quyền lẫn phương thức kiểm duyệt.

Ở miền Bắc, trong những năm đầu sau Hiệp định Geneva, ngoài báo chí nhà nước còn có báo chí tư nhân. Nhờ sự tồn tại của báo chí và nhà xuất bản tư nhân ấy, phong trào Nhân Văn Giải Phẩm mới được hình thành. Nhưng khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị đánh, tất cả các tờ báo và nhà xuất bản tư nhân đều bị bóp chết. Từ đó về sau, nhà nước hoàn toàn độc quyền trong lãnh vực truyền thông. Đến giữa thập niên 1980, với phong trào đổi mới, nhà nước cho phép tư nhân hoá kinh tế, nhưng cho đến tận bây giờ, họ vẫn từ khước việc tư nhân hoá báo chí và xuất bản. Tất cả các tờ báo, các đài phát thanh và truyền hình, cũng như tất cả các nhà xuất bản tại Việt Nam hiện nay đều hoàn toàn nằm trong tay nhà nước.

Độc quyền báo chí và xuất bản, giới lãnh đạo vẫn chưa an tâm. Cả báo chí lẫn xuất bản đều bị kiểm duyệt ngặt nghèo. Mọi bài báo cũng như mọi cuốn sách đều được dò xét từng câu từng chữ. Nhưng kiểm duyệt không vẫn chưa đủ. Bên cạnh việc kiểm duyệt chính thức, ở Việt Nam cũng như ở dưới mọi chế độ độc tài khác, đều có hai hình thức kiểm duyệt khác: hậu kiểm duyệt và tự kiểm duyệt. Hậu kiểm duyệt là hình thức kiểm duyệt sau khi tờ báo hay cuốn sách đã được in và được phát hành. Khi phát hiện ra một chi tiết có vấn đề về chính trị, người ta áp dụng biện pháp thu hồi ấn phẩm và trừng phạt tác giả. Ghê sợ trước những biện pháp trừng phạt như thế, hầu hết các tác giả đều tự đặt mình ở thế tự kiểm duyệt, nghĩa là tự mình cắt bỏ những chỗ gai góc, có thể bị xem như có vấn đề trong quá trình sáng tác. Trong bài “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” viết năm 1987, nhà văn Nguyễn Minh Châu có nói đến cái thảm cảnh tự kiểm duyệt ấy: lúc nào cũng giấu giếm, cũng rào đón, cũng che chắn, vừa viết một câu trung đã phải vội vã chêm ngay vào một câu nịnh cho… an toàn dù phải trả giá bằng chính tác phẩm của mình, những tác phẩm chỉ có giá trị minh hoạ nhất thời.

Nhưng độc quyền và kiểm duyệt như vậy để làm gì?

Có hai mục tiêu chính mà tất cả các chế độ độc tài và độc tài toàn trị nhắm tới là: nhồi sọ và lừa dối. Nguyên tắc ở đây là, nói theo Hitler, cứ nói dối, nói dối đi nói dối lại mãi, một cách thật giản dị, đến lúc nào đó, người ta sẽ tin là thật. Và khi đã tin rồi thì mọi người dần dần trở thành những con chó của Ivan Pavlov: Cả tư tưởng lẫn cảm xúc, hành vi và mọi phản ứng của họ đều bị điều kiện hoá. Trong bài “Authoritarian regimes retool their media-control strategy”, Robert Orttung và Christopher Walker cho trong cái gọi là “mọi người” ở đây, có bốn đối tượng chính: Một là những thành phần “ưu tú” trong chế độ, tức các đảng viên và cán bộ các cấp trong hệ thống cầm quyền, để họ tiếp tục trung thành với chế độ. Hai là dân chúng nói chung để họ vừa kính trọng lại vừa sợ hãi, không dám chống lại chế độ. Ba là các thành phần đối lập cũng như các tổ chức dân sự: Với cả hai, hệ thống truyền thông độc quyền của nhà nước luôn luôn tìm cách bôi nhọ và cô lập, để dưới mắt dân chúng, họ hiện hình như những thế lực đen tối đe doạ đến sự ổn định và phát triển kinh tế. Bốn là với những người thường xuyên sử dụng internet, chính quyền sẽ sử dụng nhiều cách khác nhau để hoặc dựng tường lửa và/hoặc kiểm duyệt để không phải ai cũng có thể tiếp cận được với những thông tin bất lợi cho chế độ.

Tuy nhiên, ngoài mục tiêu lừa dối và nhồi sọ, bất cứ hệ thống truyền thông nào của các chế độ độc tài cũng đều nhắm tới một mục tiêu khác nữa: định hướng dư luận. Công việc định hướng này bao gồm hai khía cạnh chính: Một là “giáo hoá” và hai là làm lạc hướng.

Tạo nên những con người sùng bái một cách mê tín đối với giới lãnh đạo cũng như đảng lãnh đạo cũng là một cách “giáo hoá”. Tuy nhiên, đối với dân chúng nói chung, hình thức “giáo hoá” phổ biến nhất, nói theo Robert Orttung và Christopher Walker trong bài dẫn trên, là làm cho mọi người trở thành thụ động và vô cảm, không quan tâm đến chính trị cũng như đến số phận của đất nước nói chung: “Để duy trì quyền lực, các chế độ độc tài đều giữ đại đa số quần chúng ở ngoài chính trị.”

Một khía cạnh khác của truyền thông dưới các chế độ độc tài mà người ta dễ quên lãng là đánh lạc hướng sự quan tâm của quần chúng. Áp dụng cách thức này, khi chính quyền gặp vấn đề rắc rối, người ta bèn tung ra một sự kiện hay một tin đồn vu vơ nào đó nhằm khêu gợi sự tò mò của mọi người khiến mọi người đuổi theo sự kiện hoặc tin đồn ấy mà quên bẵng đi vấn đề chính của chính quyền.

Nhớ, cách đây mấy năm, khi kinh tế gặp khó khăn với hiện tượng nhiều đại công ty nhà nước, nổi bật nhất là tập đoàn doanh nghiệp Vinashin, bị phá sản để lại những món nợ khổng lồ, dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt về vấn đề trách nhiệm không những của cá nhân mà còn của các cơ quan nhà nước. Mấy tháng sau, khi không khí vẫn còn nóng hổi, các cơ quan truyền thông xúm vào loan tải tin tức về bệnh tình của “cụ” rùa ở hồ Hoàn Kiếm. Chính quyền lập “khu điều dưỡng” cho rùa. Các nhà “rùa học” ở Hà Nội liên tục lên ti vi nói chuyện về rùa. Dân chúng rình rập quanh hồ Hoàn Kiếm để cố chụp hình rùa. Mọi người đều quan tâm đến rùa và quên phắt đi chuyện kinh tế của đất nước.

Những chuyện như thế chắc đã, đang và sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần…

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

► Cái “Nguyên Trạng” Đâu Rồi? Lộ Trình Quan Hệ Quốc tế của VN – Cơ hội Thoát Hán?

Posted by hoangtran204 trên 08/08/2015

Đinh Tấn Lực

Qua khỏi một điểm nhất định nào đó là sẽ không còn đường quay ngược lại. Đó chính là điểm cần phải đạt đến” – Franz Kafka.

Chuỗi thời sự hậu Mỹ Du của ngài tổng bí đã nối liền quá nhiều điều đáng ngẫm…

12/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius ghé thăm cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở Quận Cam, California. Đài BBC đi tựa bài tường thuật “Đại sứ Mỹ: ‘Việt Nam đang có những thay đổi’ ”. Bài viết còn dẫn thêm lời phát biểu của Ted: “Nếu không nắm lấy cơ hội này là không hoàn thành nhiệm vụ”.

19/7/2015 – Đệ nhị phu nhân Hoa Kỳ, Tiến sĩ Jill Biden, thăm viếng Việt Nam, gặp gỡ Phó CTN Nguyễn Thị Doan và phu nhân Mai Thị Hạnh của CTN Trương Tấn Sang. Nội dung mặt nổi trên truyền thông đại chúng giữa Jill với cánh nội tướng nhà nước VN là thuộc phạm trù… những tiến bộ trong quan hệ Việt Mỹ.

22/7/2015 – Hàng nghìn tăng ni phật tử tụ về chùa Vĩnh Nghiêm tham dự một buổi lễ cầu siêu bi hùng, công khai bày tỏ lòng tưởng nhớ ghi công 64 liệt sĩ hy sinh trong trận thảm sát Gạc Ma. BT/BQP/VN vắng mặt, thay vào đó là Thiếu tướng Lê Mã Lương phát biểu cảm tưởng. Hầu hết các báo đều được đi tin lẫn đăng video clip về trận Gạc Ma.

27/7/2015 – CTN Trương Tấn Sang, lần đầu tiên chính thức và mạnh dạn công khai có cuộc gặp gỡ thân mật các cựu chiến binh của hai sư đoàn 313 & 314, là những đơn vị từng anh dũng chiến đấu chống bọn giặc xâm lược bá quyền bành trướng dọc theo biên giới phía Bắc của Việt Nam, thuộc khu vực Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

27/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, trong buổi làm việc với Bộ QP VN, được Thứ trưởng QP Nguyễn Chí Vịnh, thay mặt BT/BQP/VN tiếp đón bên lề cuộc Hội thảo Quốc tế về Lực lượng Gìn giữ Hoà bình của LHQ. Trong dịp này, Ted tiết lộ rằng “Vào tháng 9/2015, nhiều khả năng hai bên sẽ thảo luận hợp tác sản xuất vũ khí”.

27/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, trong dịp này, tiết lộ thêm rằng cũng trong khoảng tháng 9 tới đây, Đô đốc Paul Zukunft, Tư lệnh lực lượng Duyên Phòng Hoa Kỳ, sẽ viếng thăm Việt Nam, theo đề nghị của BT/BQP Mỹ Ashton Carter trong chuyến viếng thăm một đơn vị cảnh sát biển VN tại Hải Phòng hồi đầu tháng 6 vừa qua.

28/7/2015 – Đài VOA đăng tin BT/BNG Hoa Kỳ John Kerry sẽ viếng thăm Hà Nội vào đầu tháng 8 tới đây, nhân chuyến công du các nước Ai Cập, Qatar, Singapore, Mã Lai. Tại Mã Lai, John sẽ họp với 10 thành viên của Hiệp hội ASEAN. Chủ đề chính là Biển Đông, và có nhiều xác suất là John sẽ lặp lại yêu cầu TQ chấm dứt nỗ lực xây đảo nhân tạo.

28/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, trong buổi họp báo công bố kết quả chuyến công du Mỹ Quốc của ngài tổng bí vừa qua, đã tiết lộ là rất thú vị khi nghe ngài tổng bí lặp lại 2 lần từ “bạn bè”, với hai vị nguyên thủ số 1 và số 2 của Mỹ, tức đã “Thể hiện sự tin cậy, tin tưởng lẫn nhau chứ không phải là một quan hệ đổi chác”.

28/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, cũng trong buổi họp báo này, tiết lộ thêm một tin tức rất đáng quan tâm khác nữa, ngoài việc thành hình trường đại học Fulbright tại VN, là, vị Chánh thẩm Toà Án Tối Cao Liên Bang Hoa Kỳ sẽ viếng thăm VN trong thời gian tới. Ted kết luận rằng “Quan hệ Việt-Mỹ chưa bao giờ tốt hơn hiện tại”.

29/7/2015 – Trong cuộc hội thảo tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington DC, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương Daniel Russel có một phát biểu được báo chí tranh nhau VN giật tít lớn: “Mỹ tuyên bố ‘không trung lập’ trong vấn đề biển Đông”.

29/7/2015 – David Cameron, là vị Thủ tướng đầu tiên của Vương quốc Anh viếng thăm VN, trong hai ngày 29 và 30 tháng 7, cốt yếu là nhằm các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, điều ngạc nhiên khiến dư luận quốc tế xôn xao là nguyên nhân nào và nhắm vào ai mà trước khi đến VN, David tuyên bố không nhân nhượng với tệ nạn rửa tiền ở Anh.

30/7/2015 – BT NG VN Phạm Bình Minh công du Nhật Bản, tham dự phiên họp của Uỷ ban Hợp tác Việt Nhật lần thứ 7, đồng thời, chuẩn bị thủ tục cho chuyến viếng thăm của ngài tổng bí. Trước đó, trong chuyến công du Nhật Bản hồi đầu tháng 7, Thủ tướng VN cũng đã bày tỏ ý nguyện của ngài tổng bí là được thăm Nhật.

31/7/2015 – Lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ do Sứ quán VN tại Mỹ chủ trì đã diễn ra tại thủ đô Washington DC. Tường thuật buổi lễ long trọng này, các báo lại thi đua giật tít: “Mỹ luôn đứng cạnh VN để bảo vệ hoàn bình Biển Đông”.

*

Lộ Trình Quan Hệ Quốc tế của VN, với những dữ kiện vừa nêu nói lên điều gì?

Chí ít, người đọc sẽ ráp nối tin thời sự để tự rút tỉa một vài nhận định:

  1. CTN  Trương Tấn Sang  đã tỏ ra mạnh dạn tự ý từ bỏ thế trung tả để nghiêng về phía trung hữu, một khi thấy phía cực tả đã xảy ra lắm điều tơi tả. Chỉ không rõ ngài có dám mạnh dạn thả tù những người đã từng phản đối thái độ hung hãn của Tàu trước đây?
  2. Thủ tướng chính phủ vận động cho Tổng bí thư đảng công du là một điều xưa nay hiếm. Nhắm tới Nhật Bản ngay sau Hoa Kỳ, là hai nước cùng một trục đối đầu với Bắc Kinh trên vùng biển lưỡi bò, lại càng là một hiếm hoi gần trăm năm mới có một.
  3. Nếu điều đó xảy ra, liệu rằng Tổng bí thư Ba Đình có đến Đông Kinh với tư cách lãnh tụ của phe thân Bắc Kinh như trước giờ từng hành xử nữa không? Hay ngài tổng bí đã ngã lòng, chấp nhận suy thoái, sau khi bị cắt cánh trói chân?
  4. Phía Mỹ liên tục khai triển nhiều chiêu thức tiếp thị của các Cty bán bảo hiểm, lần này là bảo hiểm chính trị, đặc thù và cụ thể là không đụng chạm gì tới thể chế hiện hành của Hà Nội. Nếu thay đổi xảy ra là do tự thân nó thay đổi!
  5. Thủ tướng Anh Quốc lại vô tình hé lộ một khung sườn làm việc mà nhiều người cho rằng có liên quan đến công thức Miến Điện trước đây: Lời hăm doạ (cũng là điều kiện thuận thảo) về cách rửa tiền, tẩu tán tài sản… mà không chỉ ở Anh.
  6. Những lời mật ngọt vuốt ve đám con trời trong cơn cắn răng nghiến lợi tất nhiên không thể thiếu, nhưng tông điệu chiều chuộng sẽ thấp hơn, với nhịp độ thưa hơn. Cũng tất nhiên, nhân sự BQP/VN trách nhiệm khâu này vẫn là hợp lý hơn cả.
  7. Gút lại, giới quan tâm thời sự VN thấy ra một điều chắc nịch là cái “nguyên trạng” của VN đã biến dạng.Có khi là đã vỡ toang ở một điểm khó lòng quay lại đường xưa. Cuba có cách của Cuba. VN cũng có cách riêng của VN. Nhất định thế!
  8. Điều thay đổi ngoạn mục này tạo ra một tâm lý lạc quan cho nhiều người từng chờ đợi cơ hội Thoát Hán, nhưng ngược lại cũng gây ra nỗi lo lắng về một tương lai VN đắm chìm vào một chế độ độc tài không cộng sản chưa chắc tốt đẹp gì.
  9. Có phải rằng, nói theo giọng Ted, chưa bao giờ nhu cầu xây dựng một liên minh chính trị của người Việt Nam yêu tự do dân chủ để ngăn chận đường xoay của độc tài độc đảng là to lớn hơn và khẩn thiết hơn hiện tại?

01/8/2015
– Tròn 74 năm ngày sinh báo “Việt Nam Độc Lập”. Kỷ niệm 60 năm khánh thành đường sắt liên vận nối liền Bắc Việt với TQ và mong rằng không ai cần đếm thêm.

Blogger Đinh Tấn Lực

Nguon: http://www.danluan.org

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Hoa Ky, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »