Trần Hoàng Blog

►Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II)

Posted by hoangtran204 trên 20/12/2008

Sự xây dựng lực lượng vũ trang của Bắc Kinh đã và đang gia tăng khả năng của họ để hướng sức mạnh vào không gian và hải phận bờ biển phía Đông của họ và trong các vùng biển nước sâu ở trên. Kết quả TQ đang được trang bị tốt hơn để hăm dọa Đài Loan hơn họ đã từng làm cách đây chỉ hơn 10 năm, và TQ đang tiến gần tới điểm nơi đó họ có khả năng đặt ra một thách thức không thể coi thường được tới ưu thế quân sự của Mỹ trong vùng Tây Thái Bình Dương.

Kể từ giữa thập niên 1990s, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân (PLA) đã và đang đạt được nhiều ý nghĩa cho việc khám phá, truy tìm, và nhắm mục tiêu vào các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm lớn khác. Mục đich là để có thể bắn hạ chúng với mọi thứ từ các tiểu đỉnh có vận tốc rất nhanh, tới các hỏa tiển tầm ngắn bắn ra từ lục địa bằng các đầu đạn hạt nhân. Trong cuộc khủng hoảng ở tương lai, các chiến hạm chính của Mỹ chuyên phóng ra hỏa lực từ ngoài biển, một khi bị tổn hại, có thể không đủ khả năng để vận chuyển một cách an toàn trong vòng vài trăm hải lý cách bờ biển của TQ.

Thêm vào đó, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đang tích lũy được đủ các tên lửa tầm trung mang đầu đạn thường và các hỏa tiển tự điều khiển có thể bắn phá hầu hết các mục tiêu quan trọng ở miền Đông Á, bao gồm các căn cứ Mỹ ở trong miền nầy. Gần đây, quân đội TQ đã biểu diễn khả năng dò tìm và phá hủy những vật trên không gian tựa như các vệ tinh viễn thông và các vệ tinh do thám, và quân đội TQ cũng đã và đang trở nên quan tâm rất nhiều trong các kỹ thuật chiến tranh trên mạng toàn cầu, cái mà họ dường như đang xử dụng để thâm nhập vào các hệ thống mạng computer của các doanh nghiệp và chính quyền ở cả Châu Âu và Mỹ.

Sau cùng, sự hiện đại hóa của Quân Đội Nhân Dân và sự mở rộng của lực lượng tên lửa hạt nhân chiến lược của TQ có thể làm yếu đi những sự tín nhiệm về các bảo đảm của Mỹ về an ninh của miền nầy. Khôngđiều nào trong số các điều kể trên có ý nóirằng Mỹ sẽ buộc lòng phải rút lui khỏi Á Châu.

Vẫn còn ít có ý nghĩa cho rằng một cuộc chiến tranh hầu như có thể xẩy ra vào bất cứ lúc nào, ngay cả một cuộc chiến tranh lạnh theo kiểu mới. Nhưng sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang gia tăng nhanh, và sự thăng bằng về các khả năng chiến tranh đang bắt đầu chuyển sang hướng thuận lợi của TQ. Những ưu điểm trong sức mạnh quân sự lâu nay đã và đang hổ trợ vị trí an ninh của Mỹ ờ Đông Á chẳng bao lâu sẽ là một chuyện của quá khứ.

Các Chiến Lược Thay Thế

Hiện có 3 cách, nói rộng ra, theo đó Mỹ có thể đáp ứng tới các sự gia tăng nầy:

_Tham Gia Chủ Quyền [*]

_Gia tăng sự Tham dự vào các định chế

_Tăng cường sự quân bình

Thứ nhất, được ưa chuộng bởi một số người tự cho là thuộc loại thực tế, làthừa nhận sự nổi bật của TQ và tìm kiếm một sự quản lý lưỡng cực chung xuyên qua vùng Thái Bình Dương sự quản lý chúng ấy sẽ bao gồm một sự thông cảm ngầm lên các phạm vi của sự ảnh hưởng. Mỹ có thể đồng ý, thí dụ, chấp nhận ưu thế của người Trung Quốc ở một nữa phía đông đất liền và hải đảo của miền Đông Âu và Đông Á để đổi lấy sự bảo toàn vị trí riêng của họ như một đấu thủ lãnh đạo trên vùng biển Đông Á. Một số nhà chiến lược người TQ bàn bạc rằng phạm vi của họ nên trải rộng vào trong biển Thái Bình Dương, có lẻ tới chuổi đảo thứ nhất chạy từ đỉnh phía nam Nhật Bản, xuống quá miền duyên hải phía tây của Phi luật Tân và Mã lai Á và bao gồm trong đó là Đài Loan và phần lớn Biển Đông.

Dù tốt hơn hay xấu, chẳng có sự thỏa thuận nào là có thể xẩy ra. Cho rằng sự lệ thuộc gia tăng của TQ lên các mặt hàng nhập khẩu thực phẩm, nhiên liệu, và những nguồn tài nguyên khác, Trung Quốc không thể trong đợi để chấp nhận một tình thế mà trong đó quyền lui tới vùng biển thì lệ thuộc vào thiện chí và đặc quyền của Mỹ. Về phần mình, Mỹ sẽ miễn cưỡng (không thích) nhường ưu thế ở một miền lãnh hải chứa đựng nhiều tài nguyên đang tranh cải, những hải lộ chủ yếu, và một số nước bạn bè theo chế độ dân chủ tin cậy vào Mỹ cho sự an ninh của họ.

Thay vì tìm kiếm một sự đồng ý vào các phạm vi ảnh hưởng, Washington có thể gấp đôi nở lực của họ vào sự tham dự. Những người bênh vực của chiến lược nầy, bao gồm hầu hết các nhân vật quốc tế dòng chính theo chủ nghĩa tự do, đã đề nghị rằng Mỹ và các quốc gia Á Châu khác nên làm nhiều hơn nữa để làm cho TQ trở thành một nước tham dự toàn phần vào trong hệ thống hiện hữu của các qui luật và các tổ chức quốc tế. Như nhà lý thuyết G. John Ikenberry cắt nghĩa, “Mỹ không thể nào ngăn cản sự trổi dậy của TQ, nhưng Mỹ có thể giúp bảo đảm rằng sức mạnh và quyền hạn của TQ được sử dụng phải nằm trong phạm vi những điều nội qui và các định chế mà Hoa Kỳ và các đối tác của nó đã thiết lập vào thế kỷ trước” [3]

Thêm vào niềm tin của họ trong những hiệu quả của các tổ chức quốc tế, hầu hết các nhà theo chủ nghĩa tự do cũng tin rằng sự cải thiện và dân chủ đang đến với TQ một cách không thể nào tránh được, chắc có lẻ không sớm thì muôn. Những quyền quốc bên ngoài có thể không có khả năng để xúc tiến sự chuyển đổi nầy của TQ, nhưng họ có thể trì hoãn chuyện ấy nếu như họ chấp nhận và thực hiện các chính sách có tính chất phối hợp như hăm dọa hay không tôn trọng, kết quả là khơi dậy ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc và làm chậm lại tiến trình của sự tự do hóa. Bởi vậy phe phái nầy đang dùng lý lẻ rằng, Mỹ nên thận trọng cực độ về chuyện thắt chặc những quan hệ với các đồng minh, tăng cường các lực lượng vũ trang của Mỹ trong các miền nầy, hay cố gắng làm chậm bớt sự thủ đắc các kỹ thuật vũ khí tối tân của Quân Đội Nhân Dân TQ. Bỏ qua vai trò riêng của họ trong sự khiêu khích châm ngòi cho một phản ứng của Mỹ, TQ sẽ xem các hành động nầy như là các hành động thù địch có khuynh hướng bao vây và kềm chế TQ. Bắc kinh sẽ xử dụng bất luận điều gì mà Washington đang làm để biện hộ cho hành động gia tăng quân sự của TQ và tập trung sự hổ trợ dành cho sự cai trị của đảng Cộng Sản được lâu dài.

Đề từ chối ban cho TQ cơ hội nầy, một số nhà quan sát tin rằng Mỹ nên đi trước các biện pháp nầy. Nhưng hãy dễ dãi vào chuyện cân bằng và đặt nhiều sự chú trọng vào sự tham dự sẽ có nghĩa là hạ giảm bớt một vụ đánh cá cược không chắc. Nếu TQ tự do hóa khi sức mạnh của họ gia tăng, có nhiều khả năng của sự chạm trán sẽ lu mờ hay giảm sút, ngay cả những hình thức sâu xa hơn của sự tham dự và hợp tác có khả năng là có thể thực hiện được. Sau cùng Washington có thể quyết định nhường đường cho một nước TQ dân chủ đang trổi dậy, [cũng giống như Anh đã chọn lựa để chấp nhận] ưu thế của Mỹ ở Bán Cầu Phía Tây vào cuối thế kỷ thứ 19. Nhưng nếu TQ gia tăng mạnh mẻ hơn mà không cải thiện, hay trở nên yếu kém, không còn ổn định và không thể tiên đoán được, các đồng minh của Mỹ và các lực lượng vũ trang triển khai tiền tuyến sẽ vẫn là những công cụ của chính sách của Mỹ. Thật là không khôn ngoan để cho phép TQ teo lại trên cơ bản của một lý thuyết chưa chắc chắn về sự dân chủ hóa của TQ.

Về mối lựa chọn thứ Ba: Một số biến đổi của đường lối được pha trộn mà Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi kể từ cuối cuộc chiến tranh lạnh? Lựa chọn nầy vẫn còn đem ra xủ dụng hiện nay, nhưng chúng ta nên điều chỉnh hỗn hợp các yếu tố mà phương pháp ấy bao hàm. Trong khi đẩy sự tham dự lên hàng đầu, chúng ta cũng cần cải thiện những nổ lực của chính phủ của TT Bush để duy trì “một cán cân quân bình về quyền lực để bênh vực và ưu đãi cho sự tự do” ở Châu Á. Đặt qua một bên những đặc tính bất thường có tính chất sự kiện, điều nầy có nghĩa là gì trong thực hành? Liên hệ tới Trung Quốc, có nghĩa rằng các nhà làm chính sách người Mỹ nên được huống dẫn bởi 3 nguyên lý.

Tiếp tục Tham Dự: Thuong mại và đàm phán có thể vẫn còn làm biến đổi TQ nữa: Cuối cùng, nền kinh tế thị trường và nền chính trị độc tài có thể chứng minh là kỵ nhau và không tương hợp. Trong lúc nầy,

phần hùn mấu chốt của Trung quốc trong sự ổn định có thể làm các nhà lãnh đạo của họ cẩn thận hơn nữa về chuyện ủng hộ lòng vòng và có ý muốn nhiều hơn để hợp tác trong những đề tài quan tâm chung. Chính phủ của Obama nên tiếp tục tìm kiếm ra những lãnh vực nơi mà những niềm quan tâm giữa Mỹ và TQ trùng hợp nhau và làm việc chung nhau ở bất cứ nơi đâu có thể làm.

Sự tham dự không vượt qua được sự hữu ích, nhưng nó yêu cầu sự điều chỉnh và một sự định giá ngay thẳng, khách quan về các hiệu quả của nó. Thổi phồng qui mô của sự cải cách chính trị của Trung Quốc hay xếp đặt cácmối quan tâm của TQ cùng với các mối quan tâm của các quốc gia dân chủ tiền tiến chỉ là dàn cảnh cho sự thất vọng và có hiệu quả ngược lại.

Tránh Những Chuyện Nhạy Bén Thái Quá Những bước đầu (sáng kiến) có ý đồ làm gia tăng sức mạnh về vị trí của Mỹ ở Châu Á đang gây ra các cuộc phảnđối và những lời cảnh báo mạnh mẻ từ Bắc Kinh. Những phản ứng của TQ đang được thu gomlại và lập đi lập lại bởi các người chủ trích ở Mỹ và ở Châu Á, những người nầy xử dụng chúng để tranh luận và thuyết phục chống lại làm bất cứ điều gì có thể làm chọc giận Trung Quốc.Trong khi sẽ là một lầm lỗi để gạt bỏ qua các lời tuyên bố của TQ là ngoài tầm kiểm soát, chấp thuận các điều ấy như là một giá trị bề ngoài (mà không chứng minh) thì có nguy cơ ban cho TQ một quyền phủ quyết hiệu quả về các hành động của Mỹ. Những nhà chiến lược người Trung Quốc có khuynh hướng thổi phồng những điểm nhạy bén của họ, vẽ ra “các đường mực đỏ” rất rõ ràng trước các hành động mà họ xem xét như là không thể chấp nhận được. Bằng cách làm tê liệt hay ít nhất là làm chậm các đáp ứng tới việc gia tăng sức mạnh riêng của họ, TQ có thể hy vọng làm nghiên cán cân lực lượng có sẵn từ trước vào trong sự thuận lợi của họ

quyền ấy sẽ dường như không thể được thực hiện được (,,). Để ngăn chận điều nầy, các giới chức người Mỹ phải nên có đầu óc cứng rắn và sáng suốt đủ để biết sự khác biệt giữa những hăm dọa khoác lác ầm ỉ hay những hăm dọa thành thật.

Tiếp tục nói về các quyền lợi của con người (nhân quyền), dân chủ, và sự minh bạch.

Khi sự giàu có và quyền lực của TQ đã và đang gia tăng, hầu hết các chính quyền dân chủ đã và đang trở nên ít lên giọng chỉ trích Trung Quốc về sự thiếu tôn trọng các quyền tự do chình trị và các quyền cơ bản của con người. Hiện nay, những lời phàn nàn như thế được xem ra là không có hiệu quả và tự khoan dung mà còn có nguy hiềm cho các quyền lợi thương mại, Nướ Mỹ vẫn còn cất cao tiếng nói chỉ trích TQhơn hầu hết các quốc gia khác, nhưng phán xét từ sự đáp ứng chính thức bị câm lại về những tình trạng bất an tại Tây Tạng vào mùa xuân năm 2008, chuyện ấy đang trở thành đáng chú ý hơn.

Vì các lý do chiến lược cũng như các lý do đạo đức, sẽ là một lầm lỗi dể cho chủ đề chỉ trích ấy bị bỏ qua. Trong lúc khoe khoang khoát lac hay bắt nạt và lý thuyết, tụng niệm các câu thần chú về các đức
tính của dân chủ thì không có ích hay ngay cả vất bỏ hết các thành tích mà mình đã đạt được, Hoa kỳ không nên giữ thái độ im lặng trên những đề tài đó (vũ đàn áp Tây Tạng 2008- TH). Thỉnh thoảng, những cuộc biểu tình có tổ chức đúng vào thời gian có các hành động ngược đãi được dùng để thông báo với Bắc Kinh rằng cả thế giới vẫn đang chăm chú nhìn vào và quan tâm vào chuyện Trung Quốc đối xử với các công dân của họ ra sao. Một chính sách ngoại giao công khai và khôn khéo hơn của Mỹ giữ một vai trò quan trọng ở nơi đây, đó là nhắc nhở những nước khác về đặc trung thật sự của chế độcộng sản Trung Quốc và những giới hạn mà chế độ nầy áp đặt lên nhằm ngăn chặn các mối liên hệ giữa Trung Quốc và các nước dân chủ. Những bạn bè thật sự của nước Mỹ ở trong miền nầy vẫn còn là những quốc gia đồng minh theo chế độ dân chủ và các nhà lãnh đạo Hoa kỳ sẽ không bao giờ nên co cụm lại mà không nói lên tiếng phản đối như thế (trong vụ Tây Tạng).

Áp lực lên Trung Quốc cho những sự công khai to lớn hơn về các ngân sách quân sự và các kế hoạch của họ dùng để phục vụ cho một mục đích tương tự. Sự bí mật của TQ về đề tài nầy làm nổi bật lên đặc tính khép kín của chế độ nầy và nêu lên những câu hỏi hợp lý về mục đích sau cùng của sự gia tăng ngân sách dành cho quân đội của họ. Nếu các nhà làm chính sách Trung Quốc trở nên ngay thẳng hơn về các chương trình quân sự lâu dài của họ, những sự lo ngại của các nước làng giềng của họ sẽ hầu như lớn hơn –không nhất thiết là một điều xấu.

Một Chương Trình Nghị Sự Trong Miền

Đường lối của Mỹ hướng tới các nước làng giềng của Trung Quốc sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn sự ổn định trong miền nầy. Liên quan tới phần còn lại của Châu Á, Mỹ nên làm 4 điều:

Củng cố các mối liên hệ song phương.

Công việc quan trọng nhất của Mỹ ở Châu Á sẽ tiếp tục thi hành dựa trên cơ bản song phương, và các đối tác đáng tin cậy nhất của Hoa Kỳ sẽ vẫn là những quốc gia nói trên mà qua họ, [Hoa Kỳ sẽ chia sẻ] các nguyên tắc chính trị và các sự quan tâm.

Không có chút nào là lỗi thời, điều gọi là hệ thống “liên lạc với nhau và liên lạc xuyên qua một trung tâm” liên kết Washington với nhiều thủ đô khác nhau trong miền sẽ vẫn còn là chủ yếu tới chính sách Á Châu của Mỹ. Nhưng hệ thống nầy sẽ đòi hỏi những sự chú ý thướng xuyên và những sự củng cố mạnh hơn.

Chính phủ của Obam không nên tự cho phép mình xỏ mũi và đánh lừa bởi lời hứa hẹn xa xôi, không chắc chắn của những tổ chức an ninh mới mẻ của nhiều nước Á Châu. Thay vì đó, Hoa Kỳ nên tập trung vào làm mới lại đồng minh Nam Hàn và Mỹ, hồi phục lại các tiến bộ đã làm trong những năm gần đây hướng tới một đồng minh “bình thường” hon với Nhật Bản, và tiếp tục xây đắp một quan hệ đối tác chiến lược chân thành với Ấn Độ. Trong vài ba năm tới đây, Mỹ cũng nên mở rộng và làm sâu đậm các mối liên hệ của họ với Indonesia, một nước dân chủ vừa nổi lên mà – cùng với Úc – nên gia tăng thành một vai trò lãnh đạo ở miền Đông Nam Á.

Thắt Chặt Mối Quan Hệ Giữa các quốc gia dân chủ ở Á Châu

Sự nghèo nàn của các tổ chức quốc tế ở Á Châu so sánh vói Âu Châu đã và đang là một đề tài của nhiều sự thảo luận kể từ khi có sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Nhiều phương cách đã và đang được đề nghị: Một Cộng đồng Đông Á lấy kiểu mẫu từ Liên Hiệp Âu Châu, một sự phối hợp của các cường quốc chính của Đông Bắc Á Châu sẽ bao gồm ít nhất năm trong số sáu quốc gia tham dự trong cuộc Đàm Phán Sáu Bên (Mỹ, TQ, Nhật, Nga, và Nam Triều Tiên), và các quốc gia khác. Với điều kiện rằng Mỹ có một ghế tại bàn hội nghị nầy, Mỹ không có lý do để phản đối tới bất cứ những sự đề nghị nào, nhưng Hoa kỳ không nên trong cậy vào các tổ chức rộng rải và mới mẻ trong miền nầy để bảo đảm các quyền lợi của họ hay gìn giữ hòa bình.

Tốt hơn nhiều cho những mục đích nầy là một tầng lớp mới của sự liên lạc liên kết các nước dân chủ ở Châu Á lẫn nhau và liên kết tới Hoa Kỳ. Các nước dân chủ nầy có nhiều điều để bàn luận giữa họ, hay ít ra là làm sao họ sẽ phối hợp các chính sách ngoại giao, đầu tư và viện trợ ngoại quốc của họ để khuyến khích sự lan tràn của dân chủ tự do khắp miền nầySự trổi dậy của Trung Quốc là một bằng chứng rõ ràng nhất về nhu cầu để phối hợp một cách có hiệu quả hơn. Nếu các quốc gia dân chủ hy vọng quân bình được sức mạnh đang gia tăng của TQ, các quốc gia nầy nên đóng góp các tài nguyên của họ.

Một số cơ chế đã được đề nghị nhằm đạt được những mục đích nầy, thí dụ như một số quốc giaÁ châu nên hợp lại thành một khối tương đương với khối NATO, thì không thích hợp hiện nay. Không tiên đoán được tương lai của TQ ra sao và những niềm quan tâm hợp lý về chuyện khiêu khích TQ một cách không cần thiết đang làm cho đề nghị này trở thành một ý kiến không được chấp nhận. Tuy nhiên, một cộng đồng của các quốc gia dân chủ ở Á Châu sẽ có một lợi thế mềm dẽo hơn và có thể là một phần của một liên minh lớn toàn cầu của các quốc gia có suy nghĩ như họ.

Những ai phản đối lại ý kiến nầy trên cơ sở cho rằng sự hình thành tổ chức như vậy thì có tính chất “chia rẻ” hay gây hấn với các chế độ độc tài thì nên nhớ lại rằng khối Cộng đồng Châu Âu hiên nay là một tổ chức quốc tế có các điều kiện chính trị rất nghiêm khắc khi gia nhập. Thực tế rằng Trung Quốc đã và đang thiết lập một câu lạc bộ riêng của họ dành cho các chính quyền ở Trung Á (Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải – thành lập 1996 và 2001, gồm 6 nước, Nga và Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan and Uzbek [6])
sẽ làm nhẹ bớt những quan tâm về chuyện thành lập một nhóm các quốc gia dân chủ ở Á Châu.

Hướng tới sau cùng, Mỹ nên tập trung vào các thời kỳ ngắn hạn về chuyện cổ vỏ sự liên lạc và họp tác giữa những nhóm nhỏ ngoại biên đã và đang nổi lên khắp miền nầy. Hoa Kỳ và Nhật Bản là những đồng minh. Nhật và Ấn Độ đã và đang hội họp với nhau trên rất nhiều lãnh vực nhạy bén, cũng như là Ấn Độ và Hoa Kỳ cũng họp nhau. Tại sao lại không tổ chức những cơ hội cho các viên chức của cả 3 quốc gia ngồi lại cùng nhau? Những cuộc hội nghị thường xuyên giữa Nhật, Mỹ và Nam Hàn đã và đang đổ vỡ trong những năm gần đây vì những mối căng thẳng giữa Tokyo và Seoul. Tổng thống Obama nên thử hàn gắn và làm lành lại những mối bất đồng nầy và phục hồi lại một cuộc đàm phán chiến lược tay ba giữa các quốc gia dân chủ của miền Bắc Á Châu nầy. Nếu các nước khác như Úc muốn tham gia vào trong các cuộc bàn thảo, thì quá tốt đẹp.

Mục đích của tất cả cuộc đối thoại và hợp tác sẽ là cổ vỏ những bàn luận thành thực giữa các chính quyền có cùng suy nghĩ và và thiết lập các cơ chế ngoại vi đa phương và thường xuyên liên lạc nhằm chia sẽ tin tức, xem xét lại các chọn lựa trong những biến cố khác nhau, và thiết lập một phương pháp chung để liên lạc và có thể tham gia vào các cuộc hành quân tập trận. điều trở nên cần thiết trong biến cố này là để củng cố những mối quan hệ nầy gần gủi hơn tương tự như một liên minh theo truyền thống, hầu hết những điều cơ bản cần yếu sẽ được đưa ra. Chắc chắn Trung Quốc sẽ không thích bất cứ điều gì liên quan đến chuyện nầy,nhưng sẽ không ngăn cấm các quốc gia dân chủ tự bảo vệ mình và tự bảo đảm các quyền lợi của họ.

Duy Trì Sự luân chuyển tự do của các hàng hóa và con người. Chống lại chủ nghĩa bảo vệ mâu dịch thì có tính chất chủ yếu để duy trì mối quan hệ tốt đẹp nhất với TQ, nhưng bảo vệ mậu dịch cũng cần thiết cho sự sống còn để chống lại nền kinh tế đang gia tăng của TQ đang thu hút vào. Nếu Hoa Kỷ đòng chặt thị trường của mình không cho các hàng nhập cảng và các đầu tư của Á Châu vào Mỹ, miền nầy sẽ trở thành lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Ngoài sự cung cấp những phúc lợi kinh tế cho các nước liên quan, sự mở cửa thị trường của Hoa kỳ sẽ làm yếu đi những nổ lực của TQ trong việc tự đặt họ vào tâm điểm của một khối kinh tế độc quyền trong miền nầy.

Tương tự như thế, nhưng sự luân chuyển của con người cũng phải được tự do. Khi TQ tiếp tục xây dựng lên những viện đại học thành công, các phòng thí nghiệm và các khu công nghệ tiên tiến, TQ se trở thành một nam châm hấp dẫn nhiều người có tài năng và tham vọng khắp Á Châu và thế giới. Nếu ý kiến chông lại việc di dân và sự lo sợ chủ nghĩa khủng bố tạo ra kết quả là những hàng rao cao khi vào nước Mỹ, chúng ta có thể tự mình tước đoạt dòng nhập cư đều đặn của những người di dân tài ba và nhiều tham vọng, họ luôn luôn là một trong những ưu điểm có giá trị nhất trong sự cạnh tranh toàn cầu về khoa học và kỹ thuật.

Vị trí của nước Mỹ cũng như quyền lực của người Á Châu không chỉ nằm trong các quyền lợikinh tế và quan tâm chiến lược nhưng còn trong những mối quan hệ mạnh mẻ về gia đình, niềm tin, và kinh nghiệm cá nhân. Trong mấy chục năm qua những mối quan hệ nầy đã và đang buộc chặt Hoa Kỳ với Nam Hàn, Nhật bản, Úc và Philippines. Ngày nay, những mối liên hệ ấy đang liên kết Hoa kỳ với Ấn độ và TQ. Nếu những mối liên hệ ấy đơm hoa kết quả, chúng nên được thường xuyên nhắc nhở và làm cho tươi mát lại. Đối với Hoa Kỳ, sự cởi mở là một nguồn sức mạnh vĩnh viễn của quốc gia cũng giống như dấu hiệu của sự tự tin lâu dài.

Gia tăng các khả năng Quân Đội. Yếu tố sau cùng trong một chiến lược ở bình diện rộng cho Châu Á có thể chứng minh là rất khó lòng để thưc hiên. 10 năm tới đây, và chắc có lẻ là lâu hơn nữa, Mỹ sẽ phải làm nhiều để đáp ứng tới khả năng về sự gia tăng quân sự của TQ – bởi vì Mỹ cần tránh các lựa chọn của mình sao cho khỏi bị thu hẹp lại trong những cuộc khủng hoảng có thể xẩy ra, và cũng để bảo đảm rằng những đồng minh và các kẻ thù không mất niềm tin vào những bảo đảm an ninh của người Mỹ. Nếu không có quyền lực đáng tin cậy của Hoa Kỳ trong miền nầy, một số các quốc gia đồng minh đã có thể lựa chọn giải pháp đơn phương và căng thẳng như thủ đắc các vũ khí hạt nhân. Các quốc gia khác đã có thể tìm kiếm sự dàn xếp tốt nhất với Bắc Kinh. Các viễn cảnh cho sự truyền bá tự do sẽ phai mờ, và các nguy cơ của mâu thuẩn sẽ gia tăng.

Các mối quan tâm thì rõ ràng, những chướng ngại vật để đưa ra hành động thích hợp sẽ cao. Cho rằng giá cả quá cao dành cho việc duy trì quân đội hiệu lực ở vùng Thái Bình Dương – đặc biệt khi quốc gia nầy sẽ bị siết chặt ngân sách bởi nền kinh tế đang gặp khó khăn –áp lực để đối phó và giải quyết những khó khăn ở trong nước cần thiết hơn và có thể khuyến dụ các chính phủ trong tương lai làm ở mức tối thiểu. Điều nầy sẽ là một canh bạc đầy nguy hiểm. Trong thời đại mà các nhà lý thuyết và các nhà ngoại giao đang ham mê “quyền lực mềm mỏng”, sự cân bằng về vũ khí vẫn mang tính quyết định. Các nhà lãnh đạo quốc gia có trách nhiệm không có sự lựa chọn nào ngoại trừ phải đi theo điều ấy

*************

[1] Victor Cha, “Chiến Thắng Châu Á” Tạp chí Đối Ngoại (tháng 11 và 12/ 2007)

[2] Văn phòng của Bộ Trưởng Quốc Phòng, Bản Báo Cáo Hàng năm tới Quốc Hội: Quân Lực của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc 2008

[3] Ikenberry, “Sự Trổi Dậy của Trung Quốc và Tương lai của Phương tây” Hệ Thống Các nước Tự Do có thể Tồn tại?

Tạp Chí Đồi Ngoại (tháng 1/ tháng 2, năm 2008)

[4] TQ đã cố tình giảm giá trị đồng nhân dân tệ để có lợi thế trong xuất khẩu. Ở bên trong TQ, có nhiều hàng hóa xuất cảng sang Mỹ, và khi bán thì thu ngoại tệ đô la càng nhiều ở Hoa Kỳ; Ngược lại, vì giá đô la cao hơn nhân dân tệ, hàng hóa Hoa kỳ ở TQ trở thành quá đắt giá, dân chúng TQ không thích mua hàng cuả Mỹ. Hàng của Mỹ cũng không cạnh tranh được với hàng hóa của các nước khác ở TQ.

[5] Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á là những quốc gia chống cộng sản mạnh mẻ nhất cảu thế giới và là những người bạn đáng tin cậy nhất của Hoa Kỳ, thực tế tạo tahnh1 một quasi-alliance. Đó là 6 quốc gia nằm trong Hiệp Hội gọi tắt là ASEAN: Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan.

[6] http://en.wikipedia.org/wiki/Shanghai_Cooperation_Organisation

[*]Tham gia cùng nhau bảo vệ chủ quyền bởi hai hay nhiều quốc gia, hay một kế hoạch để đạt được điều ấy: “Những đồng minh lo sợ rằng họ là những con tốt đen trong một sự tham gia chủ quyền với một siêu cường quốc”

Joint sovereignty, especially joint rule of territory by two or more nations, or a plan to achieve it: “The allies would fear that they were pawns in a superpower condominium” (New Republic).


President Hu Jintao (R) shakes hands with US Treasury Secretary Henry Paulson in Beijing December 13, 2007. Paulson led the US delegation for the China-US Strategic Economic Dialogue which ended on Thursday. [Xinhua]

http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2007-12/14/content_6321199.htm

8 phản hồi to “►Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II)”

  1. Đóng cửa said

    Trước tin l An Ha rất cm ơn mr.Trần Hong, v đ dịch bi ny cho B Con cng được xem. An Ha một lầm nữa cm ơn mr.Trần Hong!!!

  2. TranHoang said

    Bạn An Hoa`: cm ơn bạn đ giới thiệu một bi viết rất hay. Nhờ phải đọc kỹ v đọc chậm từng chữ, từng cu trong bi nầy trong vng mấy giờ đồng hồ để dịch, TH mới pht hiện được nhiều nghĩa quan trọng của tc giả m TH đ bỏ qua khng ch khi mới đọc qua bản tiếng Anh lần đầu. Phải ni rằng sau khi đọc được bi nầy, TH đ củng cố lại kiến thức của mnh rất nhiều.

    TH sẽ dịch bi ca Bộ trưởng ti chnh đương nhiệm Ben Bernanke trong 10 ngy sắp tới. V bi đang post ha ra l quan hệ mật thiết với bi chnh sch của Mỹ đối với TQ trong 30 năm qua v nn tiếp tục với TQ ra sao trong những năm sắp đến của Ben Bernanke.

    lưu : TH mới sửa lại một số đoạn bị lỗi typing, bị cắt mất chữ, hoặc bị lỗi chnh tả,…cc đoạn ấy rất quan trọng v nằm trong dấu [ ]

    đặc biệt l đoạn sau đy:

    Như nh l thuyết G. John Ikenberry cắt nghĩa, [“Mỹ khng thể no ngăn cản sự trổi dậy của TQ, nhưng Mỹ c thể gip bảo đảm rằng sức mạnh v quyền hạn của TQ được sử dụng phải nằm trong phạm vi những điều nội qui v cc định chế m Hoa Kỳ v cc đối tc của n đ thiết lập vo thế kỷ trước” [3]

    Cu nầy l một lời cảnh co TQ khng được lộn xộn ở Biển Đng. Nếu VN biết trước được chnh sch nầy của Mỹ, th VN nn gia nhập Hiệp Hội cc Quốc Gia Đng Nam từ năm 1977…th c lẻ VN đ khng bị mất TS v HS.

    Chỉ v ngu dốt, thiển cận, m để cho đất đai của tổ tin bị mất vo tay TQ.

  3. Đóng cửa said

    🙂 Nếu VN kg bắt Mỹ đền b Chiến tranh 3 tỷ $ (Nicxon hứa 1973, nhưng kg đưa ra Quốc Hội) năm 1977, th Mỹ đ bnh thường ha với VN năm 1977 rồi (rt kinh nghiệm vụ Chất đọc Mu da cam :-)); Chnh v VN lm Mỹ mất mặt v thua trận, lại cn đi đền b, nhn cơ hội ny Khựa Lobby để Mỹ bnh thường ha quan hệ (đẩy Đi Loan ra khỏi LHQ). Đọc bi ny đng l c Mỹ, cc nước Chu nn để TQ hnh xử theo quy tắc chung. Nhưng quan điểm chủ đạo vẫn l chia sẻ lợi ch với TQ (nếu kg lm tốt hơn), v lợi ch của Mỹ vẫn l trn hết. Nhật cn ra ra nếu kg ph hợp với lợi ch của Mỹ! Nn VN đừng c ảo tưởng, tc giả vẫn coi dn Ty Tạng l con dn của NN TQ th cc tộc nhược hy vọng g! VN nn lm thn với Ấn Độ, Nhật v chung lợi ch, v tranh thủ Mỹ cang nhiều cng tốt (trnh phản ứng tiu cực của TQ). Hong Sa mất l của Mỹ từ lu rồi (biết VNCH kg giữ đc Nam VN, để TQ khống chế Biển Đng trnh ảnh hưởng của Lin X tới ASEAN), Trường Sa cũng vậy nn việc mất mt ny kg phải do chủ quan của VN. VN muốn khống chế Biển Đng trừ phi lợi ch của Mỹ bị TQ xm phạm nghim trọng v VN phải c niềm tin với Mỹ, điều ny kh qua (QH Mỹ vẫn coi VN l kẻ th tiềm tng, VN cũng vậy). i thương thay cho tương lai của dn tộc Việt ta 😦

  4. Đóng cửa said

    An Ha thấy dng ny ảnh hưởng nhất đến VN 🙂 “Mỹ sẽ phải lm nhiều để đp ứng tới khả năng về sự gia tăng qun sự của TQ – bởi v Mỹ cần trnh cc lựa chọn của mnh sao cho khỏi bị thu hẹp lại trong những cuộc khủng hoảng c thể xẩy ra, v cũng để bảo đảm rằng những đồng minh v cc kẻ th khng mất niềm tin vo những bảo đảm an ninh của người Mỹ. Nếu khng c quyền lực đng tin cậy của Hoa Kỳ trong miền nầy, một số cc quốc gia đồng minh đ c thể lựa chọn giải php đơn phương v căng thẳng như thủ đắc cc vũ kh hạt nhn. Cc quốc gia khc đ c thể tm kiếm sự dn xếp tốt nhất với Bắc Kinh. Cc viễn cảnh cho sự truyền b tự do sẽ phai mờ, v cc nguy cơ của mu thuẩn sẽ gia tăng.

  5. […] Vertical Farming, Trứng, và dầu ►Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II) […]

  6. […] Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II) […]

  7. […] Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II) […]

  8. […] I. Friedberg đã  viết bài « ►Châu Á Đứng Dậy-Chiến Lược của Mỹ   và ►Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II) » đăng trong tạp chí Foreign Affair tháng 1 và 2/ 2009. (Trần Hoàng […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: