Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai, 2011

Cửa Hàng Xăng dầu Mai Dịch, Hà Nội, một đại lý của Tổng Cty Xăng dầu Quân Đội, có pha thêm 15% methanol và Oxygen 9% có thể là nguyên nhân khiến một số xe máy cháy nổ thời gian vừa qua

Posted by hoangtran204 trên 31/12/2011

Phát hiện xăng có methanol vượt mức cho phép

Phát hiện mẫu xăng bất thường
> Hàng loạt vụ cháy xe do xăng?

TP – Hôm qua Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCCĐLCL) công bố một số mẫu xăng xét nghiệm có hàm lượng methanol trong xăng vượt mức cho phép, và đây có thể là nguyên nhân khiến một số xe máy cháy nổ thời gian vừa qua

Cửa hàng Xăng dầu Mai Dịch, Km9 đường Hồ Tùng Mậu, chụp tối 30-12. Cửa hàng này là đại lý của Tổng Cty Xăng dầu Quân đội 	Ảnh: Nguyễn Hoài
Cửa hàng Xăng dầu Mai Dịch, Km9 đường Hồ Tùng Mậu, chụp tối 30-12. Cửa hàng này là đại lý của Tổng Cty Xăng dầu Quân đội Ảnh: Nguyễn Hoài.

Cục Quản lý Chất lượng Sản phẩm Hàng hóa, thuộc Tổng cục TCCĐLCL, cho hay đơn vị này đã phối hợp với Sở Khoa học Công nghệ Hà Nội tiến hành kiểm tra đột xuất và lấy mẫu tại cửa hàng xăng dầu Mai Dịch (Km9, Hồ Tùng Mậu, Cầu Giấy, Hà Nội). Cửa hàng xăng này thuộc Công ty Cổ phần Sản xuất Dịch vụ Xuất – Nhập khẩu Từ Liêm. Kết quả phân tích mẫu xăng từ cửa hàng cho thấy mẫu xăng không đảm bảo Quy chuẩn QCVN 1: 2009/BKHCN.

Sản phẩm có tên xăng không chì RON92, được bán tại cửa hàng có hàm lượng methanol chiếm tới 15,3% thể tích, hàm lượng oxy thực tế chiếm 8,8% khối lượng (vượt hơn ba lần mức cho phép) và hàm lượng nước là 366 ppm.

Theo ông Nguyễn Anh Đức, Viện phó Viện Dầu khí Quốc gia, methanol có công thức hoá học CH3OH, còn gọi là methyl alcohol; nó là một chất lỏng, trong suốt, dễ bay hơi, cùng trọng lượng riêng với xăng. Theo tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (TCVN 6776), hàm lượng methanol được phép có trong xăng là rất thấp, dưới 1%.

Ông Đức nhận định, hàm lượng methanol được phát hiện lên đến 15,3% chính là nguyên nhân dẫn đến hàm lượng oxy vượt hơn ba lần mức cho phép, đồng thời thúc đẩy quá trình bay hơi của xăng, làm tăng nguy cơ gây cháy nổ.

Việc pha methanol vào xăng sẽ giúp chủ các cửa hàng kinh doanh xăng dầu tăng lợi nhuận bởi, theo ông Đức, một lít methanol bán trên thị trường hiện nay có giá khoảng 11.000 đồng/lít, bằng một nửa giá xăng.

Theo TS vật lý Nguyễn Văn Khải, cần có sự vào cuộc tổng thể của nhiều cơ quan chức năng như công an, đăng kiểm, cơ khí, cháy nổ, và hóa học, v.v, để tìm nguyên nhân.

Nguyễn Hoài

———————

TP – Theo lãnh đạo các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu, không có một doanh nghiệp đầu mối nào dám cho methanol vào xăng cả vì khi pha vào sẽ gây hiện tượng tách lớp xăng và methanol.

Xe máy cháy rụi trên đừong Hai Bà Trưng Hà Nội
Xe máy cháy rụi trên đừong Hai Bà Trưng Hà Nội. Ảnh: Hoàng Hà

Với xăng dầu bán tại các đại lý chính thức, chỉ cần kiểm tra mẫu lưu của lô hàng với xăng bán thực tế là biết ngay chất lượng và ai là người ăn gian trong chất lượng xăng bán ra.

Trao đổi với PV Tiền Phong, Phó tổng giám đốc Petrolimex Vương Thái Dũng, cho biết việc các cơ quan quản lý vào cuộc tìm nguyên nhân của các vụ cháy ô tô, xe máy xảy ra ở nhiều địa phương thời gian gần đây là việc cần thiết, phải làm. Theo đại diện Petrolimex, mặt hàng xăng quan trọng nhất là chỉ số octan. Chất lượng xăng dầu do công ty cung cấp cho các tổng đại lý, đại lý luôn đảm bảo tiêu chuẩn và có thể kiểm chứng bằng các mẫu lưu tại các cửa hàng, đại lý ở các địa phương nên không thể gian lận được. Nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước là phải đi kiểm tra.

“Riêng với Petrolimex, tôi khẳng định tất cả các sản phẩm xăng dầu các loại được tổng công ty nhập khẩu từ nước ngoài về và cung cấp cho thị trường trong nước hoàn toàn đảm bảo đúng các tiêu chuẩn Việt Nam quy định, không pha, trộn thêm bất cứ thành phần, hóa chất nào khác. Người tiêu dùng hoàn toàn yên tâm rằng tất cả các cửa hàng của Petrolimex bán ra các sản phẩm xăng dầu đúng tiêu chuẩn quy định” – ông Dũng tuyên bố.

Ông Đặng Vinh Sang, Tổng Giám đốc Saigon Petro cũng cho biết, xăng dầu của các doanh nghiệp đầu mối nhập về không bao giờ có chuyện thêm chất phụ gia này hay chất pha thêm kia như các chuyên gia nói trên báo chí thời gian gần đây. “Phải nói thẳng không có một đại lý nào đi pha methanol vào xăng cả. Không ai dám pha hết. Còn cơ quan chức năng phát hiện, bắt được ông nào trong trạm xăng bán xăng pha methanol thì bái phục họ luôn. Không ai ngu gì làm như thế” – ông nói.

Lãnh đạo một doanh nghiệp xăng dầu đầu mối cũng khẳng định, với xăng kém chất lượng bán trên thị trường không có chuyện cho thêm chất để tăng chỉ số octan. Nếu có cho thêm thì sẽ là một dạng nhiên liệu khác có giá thành rất rẻ, chỉ bằng khoảng 50% giá thành của xăng, pha vào xăng để tăng khối lượng bán ra để thu lời. Loại nhiên liệu mà để pha vào xăng có giá thành rẻ nhất trên thị trường hiện nay chỉ có methanol (rượu methyl, là một chất cồn, có công thức hóa học là CH3OH, không màu, dễ cháy, dễ tan trong nước).

“Không có một doanh nghiệp đầu mối nào dám cho methanol pha vào xăng cả vì khi pha vào sẽ gây hiện tượng tách lớp xăng và methanol. Chỉ cần cho 10% methanol vào xăng là đủ để gây tách lớp do không hòa tan được trong xăng. Ngay cả các đại lý cũng không dám làm điều này”.

Một chuyên gia ngành xăng dầu cho biết, nói cho acetone vào xăng sẽ gây chảy nhựa là không đúng. Nếu có pha acetone vào xăng thì nó sẽ làm nở cao su, không làm rò rỉ xăng được. Theo chuyên gia này, hiện xăng nhập khẩu về đến Việt Nam tính ra chỉ khoảng 1.000 USD/tấn còn acetone thì đắt hơn gần 200 USD, thì không ai pha đồ đắt hơn vào xăng cả.

—————————————————————————————–

Việt Nam tiêu thụ 37,5 triệu lít xăng dầu mỗi ngày

Thứ ba, 29 Tháng bảy 2008

Ông Vương Thái Dũng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Petrolimex cho biết, mỗi ngày đơn vị này bán ra 7,5 triệu lít xăng và 15 triệu lít dầu các loại, chiếm 60% thị phần xăng dầu trong cả nước.

Với những số liệu trên có thể ước tính, lượng xăng, dầu tiêu thụ mỗi ngày của Việt Nam là 12,5 triệu lít xăng và 25 triệu lít dầu.

Nếu tính bình quân một tháng, Việt Nam sẽ tiêu thụ khoảng 3.750 triệu lít xăng và 7.500 triệu lít dầu các loại. Đồng nghĩa số lượng xăng dầu tiêu thụ mỗi năm là 135.000 triệu lít.

Theo ông Võ Văn Quyền, Phó Vụ trưởng Vụ chính sách thị trường trong nước (Bộ Công Thương), lượng dự trữ xăng dầu bắt buộc theo quy định của Nghị định số 55/2007 là tối thiểu 20 ngày.

Trên thực tế, các DN nhập khẩu đầu mối luôn đảm bảo nhập đủ và vượt yêu cầu bắt buộc kể cả trong những lúc khó khăn nhất.

B.C

Advertisements

Posted in Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

Nhà đầu tư nhỏ lẻ: Hết tham lam đến than khóc

Posted by hoangtran204 trên 31/12/2011

 

Cứ cho là từ đây đến Tết âm lịch, sẽ có một con sóng “từ thiện”. Nhưng từ thiện cho ai thì lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Vẫn không nhà đầu tư nhỏ lẻ nào biết được những con sóng từ thiện sẽ kéo dài bao lâu và bao nhiêu phần trăm, hay chính họ lại đang chuẩn bị lao vào một chiến dịch than khóc mới.

Tiền, tiền, tiền và tiền!

Hài kịch và bi kịch cứ nối tiếp chuyển hóa lẫn nhau trong một TTCK nhộn nhạo trò ú tim. Chỉ mới vài ngày trước, tiếng kêu khóc còn nổi lên ồn ã trên các diễn đàn chứng khoán, thì như một phép màu về “cải lão hoàn đồng”, ngay sau đó nhà đầu tư nhỏ lẻ lại lập tức lao theo thứ mà họ gọi là “ánh sáng cuối đường hầm”.

Hình ảnh bi hài đó xảy ra vào phiên giao dịch ngày 28/12 – thời điểm cận kề Tết dương lịch.

Một lần nữa, trong không biết bao nhiêu lần từ đầu năm đến nay, vẫn không ít người chẳng thể kềm chế được cơn tham lam của mình.

Một lần nữa từ đầu năm đến nay, thị trường lại trở mặt với sự quay quắt đến sống sượng, đưa các nhà đầu tư nhỏ lẻ vào cơn mê ngủ với ác mộng xen lẫn ảo vọng.

Hãy nhìn vào đồ thị của chỉ số chứng khoán hai sàn từ tháng Giêng năm 2011 và đà trôi trượt của chúng từ đó đến giờ, bạn sẽ chẳng khó khăn gì để nhận ra đã có biết bao cái bẫy được giăng ra trên suốt nhiều cung đường than khóc.

Tiếng khóc lại đã được não nuột hóa bởi những bài viết mang tính “chia sẻ”. Không nghe lời vợ, một nhà đầu tư đã mất gần hết vốn liếng và gia đình anh ta có nguy cơ tan vỡ thật sự. “Đến nước này mẹ con em chỉ còn chết mà thôi!” – cảm nhận của bạn ra sao khi nghe lời ca thán ấy?

Bi kịch là thế, bi quan đến tận cùng là thế, không phải bây giờ mới lộ ra mà vào giữa năm 2011 người ta đã tưởng như tính bi kịch đã lên đến cao điểm…, nhưng vào bất cứ lúc nào, bất cứ hoàn cảnh có tín hiệu nào “lạc quan”, vẫn có những nhà đầu tư nhỏ lẻ lao vào đuổi mua giá trần.

Cơn say sóng của họ có lẽ còn hơn cả hình ảnh mê muội của thiêu thân. Thà chứng khoán bỏ tôi chứ tôi không thể bỏ chứng khoán!

Thế còn những người đã phải nhập viện tâm thần thì sao? Không biết bao nhiêu hoàn cảnh tan nát đã hiển hiện trước mắt nhà đầu tư, rõ mồn một, trong một môi trường mà về sau này nhiều người đã chẳng ngần ngại gọi thẳng tên của nó: “sòng bạc” – một “sòng bạc” cao cấp.

Cũng là nghiên cứu vĩ mô và vi mô, phân tích kỹ thuật đủ cả… Nhưng không một ai qua mặt được kẻ chi phối thị trường. Ngược lại, tuyệt đại đa số nhà đầu tư nhỏ lẻ đều bị nhốt chung vào một rọ, giống như hình ảnh mà người ta ví như một bầy cua lổm ngổm chỉ chờ bị bắt ra từng con một.

Tâm lý nhà đầu tư nhỏ lẻ Việt Nam thật là khó hiểu, khó hiểu đến khủng khiếp! Từ năm 2007, trong con sóng dữ dội mà đã làm giàu cho không biết bao nhiêu người, chính phóng viên của tờ Financial Times đã phải thốt lên “Không thể tưởng tượng được sự điên loạn của nhà đầu tư Việt!”.

Tiền, tiền, tiền, tiền và tiền! Tất cả cứ hệt như vở kịch của nhà soạn kịch Mỹ Arthur Miller, trong đó các công dân gương mẫu chà đạp lên nhau mà sống!

Ngay cả khi Tết đã đến gần và người ta đã quá thấm thía bài học xương máu cần phải vớt vát từng đồng xu cắc bạc trong thời suy thoái đầy khốn khó, ai đó vẫn sẵn sàng tung ra những đồng tiền cuối cùng để rước họa vào thân.

Những nhà đầu tư đã trút giận trên các diễn đàn chứng khoán cũng sẵn lòng “đi về cõi vĩnh hằng” nếu tài khoản của họ bị công ty chứng khoán giải chấp 100% vào ngày 31/12 năm nay. Than thở về nỗi buồn mất mát.

Từ thiện cho ai?

Nhưng kể ra cũng nên khách quan hơn, khi từ cung đoạn thê thảm giữa năm 20011, một số nhà đầu tư đã dần rút vốn. Một số khác đã quay lưng lại với thị trường. Những người này lại góp thêm một tiếng nói phản biện đối với “trò cờ bạc”, vạch rõ chân tướng của nạn cờ bạc chứng khoán, về một thị trường hoàn toàn thiếu minh bạch, hoàn toàn mất công bằng, chỉ là trò ăn thịt của những con cá mập lớn đối với bầy cá mập nhỏ và tất cả những loài không phải là cá mập.

Trong những nhịp sóng “phục hồi kỹ thuật” mấy tháng gần đây, dường như một số nhà đầu tư đã “tỉnh hồn” hơn. Họ không còn say sưa lao vào bắt đáy hay mua đuổi giá trần. Tình hình đó cũng làm cho nhóm tạo lập thị trường bị khó khăn hơn trong hành vi chi phối nhân loại.

Nhưng nếu cả người nước ngoài cũng phải nhìn nhận về “sự điên loạn” và tâm lý bầy đàn hiện rõ trong tâm tưởng của nhà đầu tư nhỏ lẻ Việt Nam, thì bản thân chúng ta cũng phải thừa nhận rằng cờ bạc đã trở thành một thói quen có lẽ vô cùng khó dứt bỏ trong tâm lý người Việt.

Thực tế đã chứng minh quá rõ, bất cứ thị trường nào, từ vàng đến ngoại tệ, từ bất động sản đến chứng khoán, nơi nào có mùi tiền và mùi đầu cơ là lại có người nhảy vào, không kẻ này thì kẻ khác.

Đó cũng là một loại tâm lý đặc trưng để các nhóm đầu cơ thượng thặng không phải quá lo lắng, để hầu hết những đợt đánh lên đánh xuống của những kẻ này đều mang lại hiệu quả, thậm chí là hiệu quả lớn hơn cả mong đợi.

Bởi vậy, than khóc vẫn là than khóc, nhưng vào bất cứ lúc nào thị trường chứng khoán được đánh lên, không khí chộn rộn lại lập tức thay thế cho những giọt nước mắt. Người ta tạm quên đi những khoảnh khắc đắng lòng, tạm quên bức màn đen của những ám ảnh tự vẫn…, để lại lao vào một giai đoạn “ái ố” mới.

Lần này cũng vậy, khi Tết âm lịch đang đến gần. Những nhà đầu tư nhỏ lẻ lao vào mua đuổi giá trần vẫn có thể viện dẫn lý do thị trường đã về vùng quá thấp và đang có những thông tin tích cực về sự chuyển biến của thị trường trong năm 2012.

Nhưng trong khi tin tức tích cực vẫn còn quá ít, thì thông tin tiêu cực lại quá nhiều.

Hàng loạt công ty chứng khoán đang chìm vào cơn ác mộng về thanh khoản, giá điện và có thể cả giá xăng dầu đang có nguy cơ bị các nhóm lợi ích đẩy cao mà có thể tạo đà cho kích động lạm phát, vào bất cứ thời điểm nào cũng có thể xảy ra thêm những vụ đổ vỡ tín dụng chứng khoán…

Chưa có gì quá tích cực, nếu xét trên bình diện kinh tế vĩ mô.

Chưa kể đến trường hợp chứng khoán có thể rơi vào tình thế bị bỏ quên, hay nói trắng ra là bị bỏ rơi.

Cứ cho là từ đây đến Tết âm lịch, sẽ có một con sóng “từ thiện”. Nhưng từ thiện cho ai thì lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Vẫn không nhà đầu tư nhỏ lẻ nào biết được những con sóng từ thiện sẽ kéo dài bao lâu và bao nhiêu phần trăm, hay chính họ lại đang chuẩn bị lao vào một chiến dịch than khóc mới.

Việt Thắng

DIỄN ĐÀN KINH TẾ VIỆT NAM

Posted in Tài Chánh-Thuế, Đầu Tư | Leave a Comment »

95% mẫu thịt heo ở Tp. HCM chứa khuẩn độc

Posted by hoangtran204 trên 31/12/2011

Ở nước ngoài, tất cả các loại thịt sống khi bày ra bán trong chợ đều phải để trong các kệ dài và nhiệt độ của ngăn kệ đựng thịt là 0 độ C.

Ngoài lớp thịt có một lớp ny lông che lại, và tay người mua chỉ chạm bên ngoài lớp ny lông bao thịt.

Nhờ các yếu tố ấy, thịt được lưu giữ gần 1 tuần trong các siêu thị và cửa hàng mà không bị hư và ít có nguy cơ nhiễm khuẫn E. coli.

Tất cả các cửa hàng bán thịt đều phải xin giấy phép của y tế và bị cơ quan này đến tận nơi để kiểm tra hàng năm.

Luật pháp cấm buôn bán thịt mà không có cơ sở bảo quản đông lạnh, và không có giấy phép bán thịt sống. Người mua cũng không dám mua các loại thịt không qua kiểm nghiệm và có mộc xác nhận thịt đủ tiêu chuẩn của Sở thú y.

95% mẫu thịt heo ở Tp. HCM chứa khuẩn độc

Gần 95% mẫu thịt heo sống vừa được kiểm tra tại TP.HCM trong dịp cận Tết bị phát hiện nhiễm khuẩn E. coli và tụ cầu vàng… Đây là những vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm cho đường tiêu hóa.

Thông tin trên được ông Vũ Trọng Thiện, Phó Viện Trưởng Viện Vệ sinh Y tế công cộng TP.HCM cho biết ngày 29/12.

Ngoài ra, trong số 1.833 mẫu được Viện lấy từ 12 nhóm thực phẩm các loại thì có tới 47% trong số đó không đạt ATVSTP.

Về mặt hàng nhập khẩu được Viện Vệ sinh Y tế công cộng kiểm tra cũng phát hiện nhiều vấn đề. Cụ thể có tới hơn 50% mẫu bia rượu nhập có hàm lượng Aldehyde, mentanol vượt quá quy định cho phép. Nguồn tin trên trang VNN không cho biết rõ các hàng hàng nhập khẩu này có xuất xứ từ nước nào. Trong những năm qua, nhiều thực phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc tiêu thụ trên thị trường Việt Nam có chứa những chất gây nguy hại tới sức khỏe và tính mạng con người.

Các chuyên gia về thực phẩm và y tế Việt Nam bày tỏ sự lo ngại về vấn đề ATVSTP trong dịp Tết Nguyên đán này. Song đây là vấn đề diễn ra hàng ngày tại Việt Nam. Báo chí liên tục đưa tin về các vụ ngộ độc tập thể xảy ra sau các bữa ăn trưa của công nhân, học sinh, sinh viên, thậm chí sau các tiệc cưới tại những nhà hàng sang trọng.

Ngoài thực phẩn tươi sống nhiễm khuẩn, rượu rởm, rượu giả cũng là lý do gây tổn hại sức khỏe. Các loại rượu này được bày bán tràn lan ở Việt Nam, đặc biết vào dịp Tết.

Bộ máy quản lý thị trường quá yếu kém cộng với tệ nạn ăn hối lộ đã khiến người tiêu dùng Việt Nam phải hứng chịu hậu quả từ những sản phẩm kém chất lượng và không đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm.

© Đàn Chim Việt

Phi công người Mỹ của Vietnam Airlines đột tử
Friday, December 30, 2011

HÀ NỘI (NV) -Mới lái cho hãng hàng không Vietnam Airlines khoảng hai tháng, một phi công quốc tịch Mỹ lâm bệnh và chết đột ngột tại Singapore.

 

Máy bay của hãng Vietnam Airlines. (Hình: JIJI PRESS /AFP/Getty Images)

Thi hài của viên phi công Randal Kufl 55 tuổi, công dân Hoa Kỳ đã được đưa về nước hôm 29 tháng 12.

Tin của báo Tiền Phong cho biết, ông Kufl làm việc cho hãng hàng không Việt Nam – Vietnam Airlines (VNA) mới được hai tháng nay. Ông là cơ trưởng lái máy bay Airbus A320 của VNA.

Cũng theo Tiền Phong thì mới đây, hôm 14 tháng 12, thấy người không được khỏe, ông Kufl xin nghỉ phép để sang Singapore chữa bệnh tràng dịch màng phổi. Không ngờ, ông Kufl đột ngột qua đời trên giường bệnh.

Ðây là vụ phi công đột tử thứ hai của hãng hàng không Việt Nam. Trước đó khoảng một tháng là vụ một phi công người Việt Nam đột tử tại một khách sạn ở Paris sau khi hoàn tất chuyến bay từ Sài Gòn sang Paris.

Báo Tiền Phong cũng cho hay, sau vụ đột tử này, hãng hàng không Việt Nam đã buộc các phi công trên 40 tuổi phải khám bệnh mỗi năm hai lần và cho phép nghỉ để chữa bệnh.

Dù đã buộc các viên phi công phải áp dụng qui định chặt chẽ nói trên, VNA cũng vẫn không ngăn chận được vụ đột tử thứ hai xảy ra ngày 29 tháng 12 vừa qua. (P.L.)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Coi thường dân Nga, Putin muốn cai trị nước Nga một cách độc tài nên đang bị mọi người -bất kể màu da và sắc tộc- đứng lên chống lại

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2011

Putin đánh mất sự nhạy cảm chính trị

Lời người dịch: Nhiều người ngờ rằng, một cuộc cách mạng đang diễn ra ở Nga khi người dân bất chấp giá lạnh, hết lần này tới lần khác, xuống đường biểu tình. Lần sau đông hơn lần trước. Cuộc biểu tình hôm thứ Bẩy vừa qua theo một số đánh giá khác nhau, khoảng từ 80 tới 120 ngàn người đã tham dự.

Hiện trên các trang blog ở Nga đang xuất hiện lời kêu gọi biểu tình mới, dự tính vào 14/1/2012 này. Con số người xuống đường, theo các blogger, có thể tới nửa triệu thậm chí hơn nữa.

Putin và Medvedev đã có những động thái nhún nhường nhất định song không làm vừa lòng công chúng cũng như phe đối lập.

Hôm qua, Putin đăng đàn phát biểu công kích phe đối lập là không có chương trình hành động và thiếu người lãnh đạo đồng thời lên tiếng bác bỏ yêu cầu hủy bỏ kết quả cuộc bầu cử Quốc hội hôm 4/12. Ông nói thêm rằng, việc hủy bỏ này phải do Tòa án quyết định, trong khi Tòa đã loại bỏ những đòi hỏi của phe đối lập ngay cả khi nếu phe này đưa ra bằng chứng.

Putin cũng hứa hẹn “sẽ trung thực tuyệt đối” trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng Ba tới này. Nhưng liệu còn mấy ai tin nữa không?

Trong một diễn biến khác, được đánh giá là “vô cùng đặc biệt”, Giáo hội chính thống ở Nga đã lên tiếng bày tỏ sự ủng hộ với những người biểu tình. Giới chức sắc tôn giáo ở Nga vốn có tiếng là bảo thủ và luôn đứng về phía nhà cầm quyền nên động thái này đang gây sự chú ý của dư luận.

Những diễn biến mới nhất ở Nga cho thấy bài toán mà ông Putin đang giải không đơn giản như những toan tính ban đầu của ông và độc tài bị chối bỏ bất kể mầu da, sắc tộc. ( Sự kiện Putin muốn tự sắp xếp chức vụ để cai trị nước Nga một cách độc tài đã và đang bị mọi người, bất kể màu da và sắc tộc, đứng lên chống lại – HT)

Chúng ta hãy cùng theo dõi phân tích của nhà báo Nga, Ivan Preobrazhenski, qua phần phỏng vấn của Marcin Wojciechowski- một nhà báo kỳ cựu của Gazeta Wyborcza.

Putin bị người dân khoác bao cao su lên đầu. Ảnh Reuters

Marcin Wojciechowski: Điều gì sẽ xảy ra với nước Nga?

Ivan Preobrazhenski: Tôi hy vọng rằng, từ những cuộc biểu tình này sẽ hình thành nên một phong trào phản ứng dân sự đích thực. Chính quyền cũng như một số người người lãnh đạo biểu tình nào đó đang cố gắng chia rẽ phong trào ra thành những khuynh hướng chính trị. Đó là một cố gắng vô vọng. Putin cho đến giờ vẫn không hiểu những gì đã xảy ra hôm thứ Bẩy. Ông ta cứ nghĩ rằng, vài ba sự cố bất lợi này sẽ được giải quyết thông qua các cuộc nói chuyện trước kỳ bầu cử vào tháng Ba và rồi tình hình sẽ trở lại bình thường.

– Liệu có trở lại bình thường được không?

Tôi nghĩ rằng không. Với một bộ phận người xem truyền hình, có thể chính quyền vẫn thuyết phục được họ rằng, biểu tình được lấy cảm hứng từ Mỹ, rằng do tình báo Mỹ giật dây. Nhưng thật là thú vị, chính quyền không thể đem CIA ra dọa chúng tôi được nữa. Kẻ thù chính hiện nay chính là chính quyền Liên bang.

Chính quyền đã sử dụng những cách [đe dọa] như trên, song các cuộc biểu tình vẫn mạnh lên, chứ không yếu đi. Chắc chắn, khoảng 100 ngàn người dân Moscow đã tham gia biểu tình, khiến uy tín của Putin thực sự giảm sút.

Tôi cho rằng, một nửa các địa phương của Nga hiện không còn coi Putin là anh hùng giống như trước kia nữa. Hơn nữa, cảm nhận của các địa phương thậm chí còn cấp tiến hơn ở Moscow. Ở các địa phương đó, người dân có những đòi hỏi cụ thể về xã hội cũng như trên phương diện cá nhân. Họ thường nhìn xa trông rộng hơn dân thủ đô- nơi người dân chỉ biểu tình hòa bình dưới bóng của một lực lượng tinh túy nào đó chứ không muốn làm cách mạng thực sự.

Ở các tỉnh, người dân sẵn sàng ‘bứng’ đi một số thống đốc và thanh toán những kẻ lâu nhâu xung quanh, những kẻ này thường nắm quyền tối cao ở các địa phương.

– Có gì khác nhau giữa những người ủng hộ và những người phản đối trong các cuộc biểu tình này?

Những ngưởi phản đối dựa vào những hiểu biết về thế giới từ Internet và các trang mạng độc lập. Ngược lại, người ủng hộ tin vào thông tin từ truyền hình nhà nước và luận điệu của họ về một âm mưu của Mỹ tiếp tay cho phe đối lập làm cuộc cách mạng mới ở Nga.

– Tại sao Putin ngày hôm qua lại một lần nữa phê phán phe đối lập?

Ông ta đã đánh mất sự nhạy cảm. Ai cũng thấy rõ, cuộc bầu cử tháng Ba tới không lương thiện. Mọi người không còn tin tưởng vào những lời hứa của Putin, rằng cuộc bầu cử sắp tới sẽ khác đi. Để công bằng, cần có sự tham gia của những ứng viên thực sự trong lực lượng đối lập. Rõ ràng, hiện giờ Tòa án bác bỏ hồ sơ của phe đối lập thậm chí ngay cả khi họ có những bằng chứng về sự bầu cử gian lận vừa qua. Lấy gì để đảm bảo rằng, 3 tháng nữa, mọi thứ lại trung thực?

– Nhưng việc đăng ký ứng cử viên đã kết thúc rồi. Cái bây giờ có thể làm là ngăn chặn hoặc cải thiện bộ máy bầu cử?

Có thể thay đổi những quy định bầu cử. Tuy nhiên, nếu thực hiện điều này trong quá trình tranh cử thì không phù hợp với pháp luật và gây tranh cãi. Cũng có thể lui lại thời hạn bầu cử, khi mà tất cả các ứng cử viên tự nguyện rút lui khỏi việc tranh cử. Trong lúc đó, có thể thay đổi các điều khỏan bầu cử và tiến hành một cuộc bầu cử công bằng sau 1, 2 tháng nữa với sự tham gia đầy đủ của các ứng viên đối lập. Nếu Putin thực sự muốn có một kỳ bầu cử công bằng thì ông ta phải thực hiện điều này.

Theo tôi, người dân sẽ vẫn tiếp tục xuống đường cho tới khi những đòi hỏi của họ được hiện thực. Ngày nay việc bãi nhiễm chủ tịch Ủy ban bầu cử nhằm giảm bớt căng thẳng không còn thuyết phục được ai nữa.

– Điều gì sẽ xảy ra, nếu Putin vẫn tiếp tục dẫn phiếu trong cuộc bầu cử sắp tới và lại trở thành tổng thống?

Thì các cuộc biểu tình phản đối sẽ mạnh mẽ hơn nhiều. Việc gian lận kết quả bầu cử quốc hội vừa qua, thực ra chính quyền đã “làm hại” Putin. Nếu kết quả Duma hôm 4/12, đảng Nước Nga Thống Nhất chỉ thắng 35% thay vì 48,5%  và phải lập liên minh với đảng của Zhirinovsky (Đảng Dân chủ Tự do Nga viết tắt là LDPR- ND) hay đảng Công lý Nga thì đã không ai xuống đường làm gì.

Nhưng ai đó trong bộ máy chính quyền đã cố gắng hết sức để chứng tỏ rằng, đảng Nước Nga Thống Nhất không thể bị bất cứ thất bại nào, khiến cho bây giờ Putin đang gặp phải những vấn đề lớn. Thực ra, quyết định gian lận bầu cử có thể là một hành động khiêu khích nhằm chống lại Putin, nhưng ông ta đã không nhìn thấy nó.

– Liệu Putin có lý hay không, khi nói rằng lực lượng đối lập không có lãnh đạo và thiếu vắng một chương trình nghị sự?

Điều đó không có ý nghĩa gì cả. Chúng ta có thể thấy, đang hình thành một phong trào dân sự, chứ không phải là chính trị. Nhưng nếu chính quyền vẫn cư xử như hiện nay, thì không lâu nữa, số người xuống đường không phải là 100 ngàn đâu, mà có thể là nửa triệu.

– Đám thân cận của Putin sẽ sát cánh cùng ông ta tới phút cuối không, hay sẽ rời bỏ khi nhận ra rằng, Putin không còn làm chủ được tình hình nữa?

Những người thân cận đó có thể chia ra làm 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là những cá nhân độc lập, có một vị trí nhất định trong chính trường như cựu bộ trưởng Tài chính Alexei Kudrin hoặc cựu Chủ nhiệm văn phòng Tổng thống Vladislav Surkov. Nhóm thứ hai là những người chịu ơn Putin và biến mình thành tay sai như Igor Sechin hay phó thủ tướng Igor Shuvalov. Nhóm này có thể sẽ ở bên Putin đến cuối cùng, nhưng vào thời điểm quan trọng nào đó, họ cũng có thể bán đứng Putin để đổi lấy sự an toàn cho bản thân và tài sản của mình.

– Còn những người biểu tình, họ là ai?

Những người biểu tình hôm thứ Bẩy phần lớn ở vào lứa tuổi từ 18 tới 40, nhiều người trong đó có trình độ cao và một phần tư điều hành các doanh nghiệp tư nhân. Đây là kết quả của cuộc khảo sát xã hội do một trung tâm của nhà nước có tên là WCIOM tiến hành ngay tại cuộc biểu tình hôm thứ Bẩy. Theo đó, 66% số người nhận được thông tin về biểu tình từ Internet. 89% khẳng định sẽ tham gia lần biểu tình tiếp theo. Hơn 70% khẳng định sẵn sàng làm quan sát viên trong cuộc bầu cử Tổng thống tới đây, còn 98% số người được hỏi nói, họ sẽ xuống đường nếu kỳ bầu cử tới tiếp tục bị gian lận.

Phần phỏng vấn của Wyborcza.

© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri Nga | Leave a Comment »

Cuộc sống khác biệt: Thưởng tết cho giáo viên… một bịch hạt dưa- Nhà tướng cảnh sát chống tội phạm bị mất trộm bạc tỉ

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2011

Trong khi Báo Sài gòn Tiếp Thị đăng : Thưởng tết cho giáo viên… một bịch hạt dưa!, thì cùng ngày có tin Nhà tướng cảnh sát chống tội phạm bị mất trộm bạc tỉ

Báo mạng viết “Các báo trong nước đều đưa tin về các vụ việc này nhưng không báo nào đặt vấn đề, quan chức Việt Nam lấy đâu ra lắm tiền như vậy?” Có người còn phê bình: “Tên tướng cướp này đi cướp của của dân đen, thì bây giờ bị trộm vào nhà  lấy bớt đi thì cũng là luật công bằng mà thôi.”

Cách đây vài chục năm, người Việt Nam đi theo “cách mạng”, được hứa hẹn như vậy: ta tiến lên chủ nghĩa xã hội tươi đẹp, rồi lên tiếp cộng sản chủ nghĩa thì lúc ấy mọi người (không phân biệt già trẻ, nghề nghiệp, học thức…) sẽ được : “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.  Chỉ vì lời hứa huyễn hoặc bấy nhiêu thôi, mà chiến tranh VN xảy ra và 4 triệu người Việt Nam đã chết, bao nhiêu gia đình ly tán, hàng triệu người vào tù, hàng triệu người vượt biển để chạy trốn, và hàng trăm ngàn người chết trên Biển Đông chỉ vì muốn tránh thứ chủ nghĩa điên khùng ấy.

56 năm tiến lên chủ nghĩa xã hội, bao nhiêu đại hội đảng trôi qua, mà kết quả cứ như thế này  Thưởng tết cho giáo viên… một bịch hạt dưa! Trong khi đó việc trộm qua, trộm lại vẫn xảy ra.

Nhà Tướng Cảnh Sát chống Tội Phạm bị mất trộm bạc tỉ

Thứ Tư, 28/12/2011 22:15

(NLĐO) – Không biết vô tình hay hữu ý và tên đạo chích dám cả gan đột nhập vào nhà ông Vũ Hùng Vương – Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát điều tra tội phạm – Bộ Công an ở Hà Nội – để “nẫng” số tiền mặt, vàng và ngoại tệ trị giá tới 1 tỉ đồng.

Tin từ Công an quận Cầu Giấy – Công an TP Hà Nội cho biết vào hồi 20 giờ 50 phút ngày 25-12, lợi dụng lúc cả gia đình đi vắng, kẻ gian đã đột nhập vào nhà ông Vũ Hùng Vương – Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát điều tra tội phạm – tại phường Dịch Vọng Hậu (quận Cầu Giấy, Hà Nội).
Tên trộm táo tợn đã lấy đi 550 triệu đồng, 9 cây vàng, 12 chỉ vàng tây, 500 USD, 500 đôla Úc, 40.000 won Hàn Quốc, 1 đồng hồ đeo tay… với tổng trị giá khoảng 1 tỉ đồng.

Theo thông tin ban đầu, kẻ gian đã trèo tường rào lên lan can tầng 2, dùng xà cầy phá khóa cửa đột nhập vào nhà.

Hiện vụ trộm đang được cơ quan công an tiếp tục điều tra.

Được biết, ngôi nhà của ông Vũ Hùng Vương có 3 tầng, 2 mặt tiền, trong ngõ lớn thuộc phường Dịch Vọng Hậu.

Một phía ngôi nhà của gia đình ông Vũ Hùng Vương – Ảnh VNE

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Thưởng tết cho giáo viên…một bịch hạt dưa!

Posted by hoangtran204 trên 28/12/2011

Trong lịch sử nước nhà, có lẻ không có một chế độ nào mà coi rẻ thầy cô giáo như chế độ CHXHCN Việt Nam. Suốt từ khi cai trị miền Bắc năm 1954 và cho đến nay, chính phủ qui định việc trả lương cho các thầy cô giáo rất thấp, chỉ ngang bằng với lương công nhân.

Đến khi Tết đến, đa số mọi ngành nghề đều có lương tháng 13, nhưng với giáo chức thì kể như không có gì hết. Với chính sách đãi ngộ cho thầy cô giáo như thế này thì làm sao mà có học sinh giỏi.

Không có gì làm cho người ta tủi thân, mặc cảm và dễ đánh mất lòng tự trọng cho bằng phải chịu đựng cuộc sống thiếu thốn và kham khổ kéo dài hết thập niên này, qua thập niên khác.

Chính quyền hiện nay đã đạt được tất cả những gì mà họ có thể làm đó là bần cùng hóa một tuyệt đại đa số dân chúng và dùng răn đe cùng bạo lực của công an để đè bẹp những ai dám phản kháng. Mục đích sau cùng của họ là nắm giữ quyền lực để tiếp tục chia chác các quyền lợi mà họ đã và đang chiếm đoạt của xã hội.

SGTT – Thứ sáu, ngày 23 tháng mười hai năm 2011

SGTT.VN – Năm hết, tết đến, trong khi các ngành, các cấp mừng vui với chuyện tiền thưởng tết, ở tỉnh Quảng Ngãi, có giáo viên chỉ nhận quà tết trị giá 100.000 đồng, thậm chí có giáo viên chưa bao giờ biết khái niệm về tiền thưởng tết.

Giáo viên vùng cao xã Trà Trung chưa biết khái niệm về tiền thưởng tết.

23 năm chưa từng nhận quà tết

Khi chúng tôi hỏi về tiền thưởng tết sắp đến, ông Nguyễn Trà, hiệu trưởng trường trung học cơ sở và tiểu học Trà Trung, huyện Tây Trà (Quảng Ngãi) cười nói: “Tôi lên xã vùng cao này dạy được tám năm, nhưng chưa bao giờ nghe tiền thưởng tết, thậm chí quà tết cũng không có nữa”.

Ông Trà kể: “Tết Tân Mão, giáo viên ở đây nghe nói có tiền cho tết, thế nhưng, chờ đến tết, rồi qua tết, cũng không thấy đâu. Mãi đến tháng 9.2011, tụi tôi, mỗi người nhận được 100.000 đồng, gọi là tiền tết Tân Mão”.

Theo ông Trà, muốn có tiền “tươi” cho giáo viên ăn tết, thì phải có các hoạt động để có quỹ phúc lợi như: dạy phụ đạo, tổ chức văn nghệ, thu học phí… tuy nhiên, đối với vùng miền núi này, những chuyện ấy không thể có.

Tương tự như hoàn cảnh của giáo viên ở vùng cao xã Trà Trung, cả huyện Tây Trà và năm huyện miền núi khác của tỉnh Quảng Ngãi cũng vậy. Mới đây, tôi gặp anh Trần Kim Mậu ở số 85 đường Bắc Sơn, thành phố Quảng Ngãi, khi anh về nhà lấy gạo chở lên vùng cao – nơi anh dạy là trường THCS Ba Lế, huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi. Anh Mậu kể: “Đến nay, sau 23 năm đi dạy học ở sáu xã vùng cao, tới giờ này, tôi chưa một lần nhận được quà tết, huống hồ là tiền thưởng, tiền hỗ trợ tết”.

Mang câu chuyện của giáo viên vùng cao kể lại với chị tôi là giáo viên tiểu học ở huyện Bình Sơn, chị tôi cho biết, 16 năm đứng trên bục giảng, hầu như năm nào, chị tôi cũng có quà tết. Tuy nhiên, thường quà tết là: “Nếu năm nay là bịch hạt dưa, thì sang năm là lít dầu ăn, trị giá khoảng từ 50.000 – 60.000 đồng”, chị tôi nói.

Lực bất tòng tâm

Chuyện tiền thưởng tết của giáo viên ở vùng miền núi và nông thôn là vậy, còn tiền thưởng tết của giáo viên ở thành thị, thành phố thì sao? Trao đổi với chúng tôi, cô Võ Thị Xuân, hiệu phó trường THCS Trần Phú (thành phố Quảng Ngãi) cho biết, sau 33 năm đi dạy, cô Xuân chưa hề một lần nhận tiền thưởng tết. Theo cô Xuân, ngày trước, khi còn dạy ở trường nội trú con thương binh liệt sĩ, cô Xuân không những không nhận được quà, mà cô còn trích tiền lương của mình để giúp cho học sinh.

“Còn bây giờ, nếu có, thì đó là phần quà tết trị giá dưới 100.000 đồng do hội Phụ huynh học sinh tặng. Muốn có tiền hỗ trợ cho giáo viên ăn tết, nhà trường phải tổ chức dạy phụ đạo tại trường, sau đó lấy 25% tiền học sinh nộp sung vào quỹ phúc lợi và đến tết, lấy tiền đó hỗ trợ cho giáo viên. Thế nhưng, ở trường này, chỗ học cho học sinh còn không đủ thì lấy gì tổ chức dạy phụ đạo cho học sinh”, cô Xuân nói.

Còn thầy Đỗ Tấn Khoa, hiệu trưởng trường THPT Ba Gia (huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) cho biết: “Tết Tân Mão 2011, tiết kiệm hết sức, nhà trường chúng tôi hỗ trợ cho gần 100 cán bộ giáo viên nhà trường từ 400.000 – 500.000 đồng/giáo viên, còn tết Nhâm Thìn năm nay thì do tình hình khó khăn chung, chúng tôi chưa biết như thế nào”.

Trao đổi với ông Thái Văn Đồng, giám đốc sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Ngãi về chuyện tiền thưởng tết cho giáo viên, ông Đồng lắc đầu nói:

“Lực bất tòng tâm em ơi! Ngành giáo dục biết lấy nguồn nào để hỗ trợ cho anh chị em giáo viên ăn tết? Nếu đi xin tiền thưởng tết, chỉ một giáo viên là 100.000 đồng, thì tỉnh Quảng Ngãi có hơn 16.000 giáo viên, phải mất 2 tỉ đồng. Nhưng liệu có xin được không?”

Theo ông Đồng, hiện nay, ngành giáo dục tỉnh Quảng Ngãi đang chuẩn bị tổ chức đêm văn nghệ để quyên góp tiền cho học sinh nghèo và học sinh khuyết tật. Trong dịp này, ngành cũng vận động mỗi giáo viên đóng góp 50.000 đồng giúp cho học sinh nghèo, khó khăn. “Đã không nhận quà, còn phải trích lương ra cho học sinh nghèo nữa. Nhưng biết làm sao đây, đời nhà giáo là vậy mà”, ông Đồng chia sẻ.

bài và ảnh: Phạm Anh

—————————————————-

29/09/2009

Cô giáo mầm non nhận lương bằng lúa, lạc

TP – Trường mầm non ấy có nhiều chuyện lạ, có đồ chơi mới để cho mạng nhện bám đầy, giờ ra chơi cô giáo phải cầm roi đứng hai hàng ở ngoài sân. Có những lúc dân trả công cho cô giáo bằng lúa, lạc và chó con!

Các em học sinh bên bức tường sắp đổ

Khi cô giáo cầm roi đứng thành hàng…

Cuối hè nóng như lò nung, bước vào lớp học của trường mầm non cụm Bắc Sơn, xã Long Thành (Yên Thành, Nghệ An) vẫn thấy nắng chiếu lên đầu mình.

Tôi ngửa cổ nhìn lên mái nhà thấy trống huơ trống hoác, lộ cả một khoảng trời xanh lóa nắng. Mạng nhện chăng đầy những viên ngói vỡ. Rui mè bị mối mọt ăn rỗng ruột. Mái nhà có thể sập xuống bất cứ lúc nào.

Nếu không có kỳ nghỉ hè ngắn ngủi các em học sinh mầm non vẫn học ở trong nhà này. Những vật dụng tối thiểu nhất của trường mầm non ở đây đều thiếu. Đồ chơi, tranh vẽ, bếp ăn, nhà vệ sinh, tất cả trở nên xa lạ và xa xỉ ở trong ngôi nhà đổ nát.

Tôi thấy một chiếc xích đu còn mới  nhưng mạng nhện chăng, bụi bặm bám đầy. Vì sao các cháu không chơi chiếc xích đu ? Cô giáo Nguyễn Thị Lành cười buồn: “Chiếc xích đu này do UBND tỉnh Nghệ An tặng  nhưng cô không dám cho các cháu chơi vì sợ các cháu tranh nhau dễ xảy ra tai nạn”.

Cạnh chiếc xích đu, bức tường xiêu vẹo lở loét vôi vữa có thể đổ xuống bất cứ lúc nào. Cô giáo dạy học lúc nào cũng trong tâm trạng lo ngay ngáy mái nhà sập, tường đổ, nên muốn đưa  các cháu ra sân chơi. Nhưng một khi ra sân chơi lại đối diện với nỗi lo khác.

Sân chơi rộng, trên đó chơ vơ  chiếc cầu trượt thô kệch, xám đen vô cảm. Màu xám đen ấy, trong mắt các nhà tâm lí sư phạm mầm non, có vẻ thù địch với trí tưởng tượng trẻ thơ.  Ngay cả chiếc cầu trượt ấy các cháu cũng ít khi được chơi vì một lý do quen thuộc ở đây, sợ tranh nhau bị tai nạn.

Khi các cháu  ra sân chơi, mỗi cô giáo cầm một  cái roi đứng dàn hàng ngang ngoài sân. Cô giáo Nguyễn Cẩm Tú giải thích cho tôi hành động có vẻ bạo lực này: “Vì sân chơi không có rào chắn, nên các cô phải cầm roi đứng canh, đề phòng các cháu rơi xuống ao xuống mương ngay cạnh sân chơi”.

Chiều hôm ấy, các cháu mầm non cứ lúc trong nhà, lúc lại ra sân chơi, gương mặt ngây thơ dường như đã hằn lên những nỗi lo mà ở tuổi thơ  không đáng có. Ở trong thì sợ nhà sập, ra ngoài thì trời nắng, lại có thể rơi xuống ao, mương.

Mỗi lần đến lớp, cô giáo cứ phải “trông trời, trông đất, trông mây” như nông dân vào vụ cấy. Nhiều hôm mưa, cô trò phải nép vào góc lớp, nước mưa tuôn xối xả, ngập cả nền nhà. Các cháu nhỏ nước mắt lẫn nước mưa…

Chiếc xích đu mới tinh vẫn chỉ nằm đấy, trước bao ánh mắt thèm muốn của các cháu

Lương cô giáo trả bằng lúa, lạc và chó con

Long Thành đang vào vụ thu hoạch lúa, đấy cũng là lúc các cô giáo bắt đầu một hành lộ nan mà họ không hề muốn: Đến nhà các phụ huynh thu tiền học. Một tháng các cháu đi học trường mầm non cụm Bắc Sơn xã Long Thành này phải nộp 54 nghìn đồng. Nhưng với số tiền này, đa số các bậc phụ huynh đều phải khất nợ. Khất đến khi bán lợn, bán bò, đến vụ thu hoạch lúa.

Dân ở cụm Bắc Sơn thuộc diện nghèo nhất xã Long Thành, xã Long Thành lại thuộc diện nghèo nhất huyện Yên Thành. Nghèo lại đông con. Có nhà ba, bốn đứa đi học mầm non, nên 54 nghìn đồng đóng học  mỗi tháng cũng là thách thức. Người nghèo không đủ tiền cho con học bán trú nên buổi trưa các cháu phải về nhà ăn cơm, chiều lại đến lớp.

Cô Tú nói với cô Lành: “Em đi từ sáng mà mới  thu được tiền có vài ba nhà. Nhiều phụ huynh vẫn khất: Tui chưa có tiền mô, cho tui nợ. Họ nói rứa mình biết làm sao. Quả thật họ không có tiền”.

Có nhiều nhà đề nghị: “Thôi thì nhà tui chưa có tiền, nhưng tui xin được trả lúa thay tiền được không. Đằng nào cô giáo cũng phải mua lúa về ăn mà”. Các cô giáo đành đồng ý. Cho nên, cô giáo đi thu tiền học vẫn thường mang theo bao tải để đựng thóc.

Cô giáo Nguyễn Thị Vinh, hiệu trưởng trường mầm non Long Thành, tâm sự: “ Chuyện trả tiền học bằng thóc lúa ngô là có thật. Giờ đây việc trả lương cho giáo viên hạ cấp dần từ lúa sang màu để các cô giáo làm thức ăn”.

Có một chuyện ở Bắc Sơn ai cũng biết. Ấy là chuyện một cô giáo đến nhà một phụ huynh rất nghèo để thu tiền học. Phụ huynh này nói như sắp khóc: “Cô giáo ơi, nhà tui không còn  đồng nào cả. Thôi thì có ổ chó con đây, cô giáo bắt vài con về nuôi coi như trả công cho cô nhé”.

Cô giáo biết nếu mình từ chối chắc người đàn ông kia sẽ khóc mất, nên vui vẻ bắt ổ chó con về.

Chuyện có thật, và cô giáo đang kể câu chuyện đó với tôi, coi đó là kỷ niệm khó phai, buồn đắng trong cuộc đời của mình.

Cô giáo Nguyễn Thị Lành nói: “Chúng tôi không hề muốn đến nhà dân thu tiền học. Chúng tôi chỉ muốn đi dạy, đến tháng được nhận lương. Nhưng nếu không đi như thế thì không biết lấy gì mà sống”.

Lương bình quân của mỗi cô giáo ở trường mầm non cụm Bắc Sơn chỉ 650 nghìn đồng/tháng. Từng ấy lương trong thời buổi vật giá leo thang này, xem ra sống còn chật vật hơn cả nông dân. Chưa kể số tiền dân còn khất nợ.

Các cô giáo cũng không thể đi bắt nợ. Thậm chí, đi thu nợ với gương mặt lạnh lùng vô cảm. Các cô không thể! Nhiều cô khi đến nhà phụ huynh, nhìn thấy gia cảnh, cả cô và phụ huynh ôm lấy nhau và khóc.

Qua điện thoại, cô giáo Nguyễn Thị Vinh, Hiệu trưởng trường mầm non Long Thành thông tin: Cô trò mầm non cụm Bắc Sơn sắp được chuyển sang trường mới khang trang. UBND xã Long Thành đã quan tâm đầu tư xây dựng trường mới. UBND xã cũng hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm cho các cô giáo. Năm nay, lương các cô sẽ được tăng lên mức một triệu đồng.

Phùng Nguyên

——————————————-

Posted in Giao Duc | 1 Comment »

Thị trường chứng khoán VN đang thoi thóp, đã mất 90% giá trị

Posted by hoangtran204 trên 27/12/2011

Báo chí viết:

-“Không còn là “nghiệt ngã”, mà phải dùng từ “dã man” cho cái thị trường chưa hé ra một chút tương lai này.

-“HNX sẽ bị đánh xuống đến mức nào trong ngắn hạn. Trước mắt, mốc 55 điểm chỉ còn được nhìn vào như một chốt chặn về tâm lý. Dưới 55 điểm là mốc 50 điểm. Nhưng dù 55 điểm hay 50 điểm thì HNX cũng đã mất mát quá nhiều so với đỉnh phục hồi 218 điểm của nó sau thời khủng hoảng 2008…Còn nếu so với đỉnh 460 điểm mà sàn Hà Nội lập vào tháng 3/2007, đến nay HNX đã mất đến gần 90% giá trị – một tỷ lệ chỉ có thể so sánh với cuộc đại phẫu của chỉ số Dow Jones của nước Mỹ vào những năm đại khủng hoảng 1929-1931.

-“Khác hẳn với năm 2009 khi Nhà nước còn tương đối dồi dào về tiền mặt và đã sẵn lòng chi ra gói kích cầu 8 tỷ USD, năm 2012 không có đến vài phần trăm xác suất cho sự việc này lặp lại. Trong bối cảnh mà hầu hết các ngân hàng và doanh nghiệp đều bị siết chặt về dòng tiền, nguồn nào sẽ kích động cho thị trường chứng khoán bật lên?

-“Chúng ta, những nhà đầu tư nhỏ lẻ luôn ý thức được thân phận bèo bọt của mình, chỉ còn biết nhắm mắt cầu nguyện. Để sự dã man nào cũng có giới hạn của nó, sự lũng đoạn đến đâu vẫn còn giữ được chút nhân tính. Nếu không phải như thế thì Tết sẽ trở nên một trong những thời đoạn khủng khiếp nhất của đời người.”

Bi kịch chứng khoán: “Âm mưu và tình yêu”

Tác giả: Việt Thắng

Bài đã được xuất bản.: 26/12/2011

(VEF.VN) – Ai cũng biết thị trường càng lao dốc mạnh thì càng ẩn chứa động cơ và âm mưu. Liệu đó có phải tình huống như là vở bi kịch “Âm mưu và tình yêu” của nhà soạn kịch Đức Schiller hay còn mang một tên gọi nào khác?

Không còn là “nghiệt ngã”, mà phải dùng từ “dã man” cho cái thị trường chưa hé ra một chút tương lai này.

Chỉ sau vài ba phiên được tăng “cho có”, nhóm lũng đoạn thị trường lại lập túc đánh xuống không thương tiếc tất cả những gì chưa xuống và cần phải xuống.

Động thái trên xảy ra ngược lại với kỳ vọng ngắn ngủi của chúng tôi trong ngắn hạn. Trước đó, đã chớm thấy hy vọng về một đợt tăng với biên độ khoảng 10% từ giữa tháng 12/2011 đến Tết âm lịch. Xét ra, sự mong chờ vớt vát này này cũng không có gì là quá đáng khi suốt năm 2011 đã trở nên thảm thiết với mọi nhà đầu tư. Hơn nữa, vào giai đoạn sát Tết của các năm 2009 và 2010, thị trường cũng luôn “được” ưu ái.

Kết thúc tuần qua, có một cái gì đấy rất bất thường khi đã xảy ra động tác đánh xuống quyết liệt. Gần như mọi cổ phiếu, từ lớn đến nhỏ, đều chịu chung số phận nằm sàn. Hiện tượng này lại diễn ra trong bối cảnh mà sự hứa hẹn “giải cứu chứng khoán” một lần nữa được nêu ra. Nhưng tuyên bố lần này có hơi đặc biệt hơn – xuất phát từ phía Ngân hàng nhà nước.

Điều đáng thất vọng nhất là HNX đang biến động giảm không khác gì xu thế của chỉ số chứng khoán Hy Lạp – như một dự báo của chúng tôi cách đây không lâu.

Giá trị bán ròng của khối ngoại lên đến gần 600 tỷ đồng trong tuần qua phải chăng là kịch bản lặp lại của xu thế bán ròng từ khối này suốt từ quý 1 cho đến nay?

Và từ quý 1 đến nay, thị trường lên hay xuống?

Xu thế lao dốc của hai chỉ số chứng khoán là hiện hữu một cách không cần bàn cãi. Nhưng vấn đề là HNX sẽ bị đánh xuống đến mức nào trong ngắn hạn. Trước mắt, mốc 55 điểm chỉ còn được nhìn vào như một chốt chặn về tâm lý.

Dưới 55 điểm là mốc 50 điểm. Nhưng dù 55 điểm hay 50 điểm thì HNX cũng đã mất mát quá nhiều so với đỉnh phục hồi 218 điểm của nó sau thời khủng hoảng 2008.

Còn nếu so với đỉnh 460 điểm mà sàn Hà Nội lập vào tháng 3/2007, đến nay HNX đã mất đến gần 90% giá trị – một tỷ lệ chỉ có thể so sánh với cuộc đại phẫu của chỉ số Dow Jones của nước Mỹ vào những năm đại khủng hoảng 1929-1931.

Vào thời kỳ đen tối trên, thậm chí chính phủ Mỹ phải đặt ra cả một thiết chế: Bank Holiday. Sự ngừng nghỉ bắt buộc của một bộ phận trong hệ thống ngân hàng đã phản ánh làn sóng vỡ nợ trên các thị trường chứng khoán dâng cao đến mức nào.

Hiện thời, tất nhiên nền kinh tế Việt Nam chưa đến nỗi bĩ cực như thế. 2011 vẫn là năm mà hầu hết các ngân hàng báo lãi, còn thời điểm cuối năm vẫn là lúc mà ngân hàng hào phóng chi thưởng Tết từ 6-12 tháng lương cho nhân viên.

Trong khi đó, rất nhiều công ty chứng khoán đang mắc nợ ngân hàng và nợ cả cổ đông của mình. Không một giá trị thặng dư nào được phát hiện để bù đắp cho loạt triệu chứng trầm cảm trong suốt năm qua.

Phía sau đã trôi qua, mọi thông tin tích cực lẫn tiêu cực. Hiện tại hầu như chỉ có tin tức xấu về những công ty chứng khoán nối tiếp nhau mất thanh khoản, đóng cửa văn phòng giao dịch và cho nghỉ việc nhân viên. Còn phía trước chỉ thấy một màn trời u ám của việc thắt chặt chính sách tiền tệ.

Nếu nhiều doanh nghiệp bất động sản vẫn như ngồi trên đống lửa khi không thể thanh toán dù một phần lãi vay ngắn hạn cho ngân hàng vào thời điểm cuối năm, thì nhà đầu tư chứng khoán và các quỹ nước ngoài cũng không khác gì hội chứng “chết lâm sàng”.

Những lời hứa hẹn bay bổng của Ủy ban chứng khoán nhà nước đã đều bay biến.

Hy vọng duy nhất còn sót lại chỉ là tương lai hạ lãi suất. Tương lai này đã được Ngân hàng nhà nước hứa hẹn từ khá lâu trong quá khứ nhưng lại chưa hề được tiệm cận trong thời gian tới.

Với nhà đầu tư nhỏ lẻ, đến lúc này, bất kể là lãi suất huy động hay lãi suất cho vay, lãi suất nào cũng được, miễn là có giảm. Mong mỏi này xét ra còn chất chứa hơn cả mong đợi của các doanh nghiệp sản xuất.

Vì đó có thể là cứu cánh duy nhất cho nền chứng khoán nước nhà. Cứu cánh ấy cũng hầu mong có thể xuất phát từ một sự “nghĩ lại” nào đó, của một số ai đó, trong đó có những nhà tạo lập thị trường.

Chỉ có như thế, thị trường mới có được hy vọng không tiếp tục rơi, hoặc tốt hơn thế là phục hồi nhẹ.

Chứ thật khó tưởng tượng ra tương lai phục hồi mạnh.

Khác hẳn với năm 2009 khi Nhà nước còn tương đối dồi dào về tiền mặt và đã sẵn lòng chi ra gói kích cầu 8 tỷ USD, năm 2012 không có đến vài phần trăm xác suất cho sự việc này lặp lại. Trong bối cảnh mà hầu hết các ngân hàng và doanh nghiệp đều bị siết chặt về dòng tiền, nguồn nào sẽ kích động cho thị trường chứng khoán bật lên?

Một tuần lễ chìm trong lao dốc lại là một cận cảnh đang đe dọa các nhà đầu tư. Trong tuần này, khả năng hồi phục của thị trường là rất khó. Thậm chí cũng khó có được những phiên nảy lại đủ mạnh.

Chúng ta, những nhà đầu tư nhỏ lẻ luôn ý thức được thân phận bèo bọt của mình, chỉ còn biết nhắm mắt cầu nguyện. Để sự dã man nào cũng có giới hạn của nó, sự lũng đoạn đến đâu vẫn còn giữ được chút nhân tính.

Nếu không phải như thế thì Tết sẽ trở nên một trong những thời đoạn khủng khiếp nhất của đời người.

Ai cũng biết thị trường càng lao dốc mạnh thì càng ẩn chứa động cơ và âm mưu. Liệu đó có phải là vở bi kịch “Âm mưu và tình yêu” của nhà soạn kịch Đức Schiller hay còn mang một tên gọi nào khác?

Posted in Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Trận mưa bom Giáng sinh ở Hà Nội 1972

Posted by hoangtran204 trên 26/12/2011

Trọng Đạt

Hòa đàm bế tắc.

Sau trận tổng công kích Tết Mậu Thân Tổng thống Johnson quá mệt mọi vì cuộc chiến tranh Việt Nam, ngày 31-3-68, ông tuyên bố không tái tranh cử và tạm thời cho ngưng oanh tạc một phần lớn lãnh thổ Bắc Việt từ vĩ tuyến thứ 20 trở lên, ông kêu gọi Hà Nội hãy tỏ thiện chí hòa đàm nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh. Một tháng sau Cộng Sản Bắc Việt nhận lời đàm phán.

Hội nghị được tổ chức tại khách sạn Majestic, thủ đô Ba Lê nước Pháp khai mạc ngày 10-5-1968 ông W. Averell Harriman đại diện phía Mỹ, Xuân Thủy phía Hà Nội. Đây là một hội nghị được quốc tế chú ý nhất từ trước tới nay có hơn 3,000 phóng viên các nước tới theo dõi lấy tin.

Hà nội khăng khăng đòi Mỹ phải ngưng oanh tạc toàn diện miền Bắc.  Ngày 31-10-1968 Johnson nhượng bộ cho ngưng dội bom trên toàn miền Bắc.

Hòa đàm thực sự bắt đầu dưới nhiệm kỳ chính phủ Cộng Hòa Nixon, nhậm chức đầu năm 1969. Hà Nội ngoan cố đòi hai điều kiện tiên quyết: Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam ViệtNam, lật đổ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu để thay thế bằng chính phủ lâm thời ba thành phần. Hoa Kỳ rút quân dần dần mỗi năm, từ 530 ngàn người Mỹ đóng ở miền Nam 1968 cho tới 1972 chỉ còn vài chục nghìn người, Bắc Việt vẫn  ngoan cố đói phải lật đổ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.

Sở dĩ BV ngoan cố không chịu đàm phán nghiêm chỉnh vì họ đã được phong  trào phản chiến và Quốc hội Mỹ gian tiếp hoặc trực tiếp yểm trợ.  Theo Nixon (trong No More Vietnams trang 127) hành động của đám sinh viên bạo động đã khuyến khích CSBV gây chiến không chịu đàm phán nghiêm chỉnh. Bọn biểu tình vô tình kéo dài chiến tranh làm lợi cho CS. Tại cuộc hòa đàm đại diện BV đã nhiều lần hỗn hào chửi bới phái đoàn Mỹ, họ nắm được cái tẩy của hành pháp Mỹ đang gặp khó khăn vì bị Quốc hội và phản chiến chống đối.

Cuối tháng 3-1972, BV đem đại binh tấn công qui mô trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa  tổng cộng 10 sư đoàn chính qui có xe tăng, đại bác phòng không yểm trợ đánh ba tỉnh lớn Bình Long, Kontum, Quảng Trị cho tới giữa tháng 9-1972 quân đội VNCH tái chiếm cổ thành Quảng Trị và cuộc chiến được gọi Mùa hè đỏ lửa chấm dứt. BV bị thiệt hại nặng khoảng từ 70 cho tới 100 ngàn cán binh, phía VNCH vào khoảng 30 ngàn người tử trận. Không quân và Hải quân Mỹ yểm trợ tối đa, Hoa Kỳ muốn VNCH phải thắng để lấy ưu thế tại bàn hội nghị. Người Mỹ đã mở lại các cuộc oanh kích miền Bắc để trả đũa BV, họ gọi là Operation Linebacker bombing, chiến dịch oanh tạc Linebacker I này bắt đầu từ 10-5 đến 23-10-1972.

Cuối năm 1972 Hoa Kỳ  mở chiến dịch Linebacker II (Linebacker thứ hai) đây là chiến dịch oanh tạc của không quân nhằm vào BV trong giai đoạn chót của Mỹ trong chiến tranh VN từ 18-12 tới 29-12-1972, cũng  được gọi vui là Christmas bombing, Cuộc oanh tạc vào dịp  Giáng sinh. Đây là cuộc oanh tạc lớn nhất của không quân Mỹ từ sau Thế chiến thứ hai, nó  là sự tiếp tục của Chiến dịch Linebacker I kể trên, điều khác biệt là Linebacker II oanh tạc bằng B-52 chứ không bằng máy bay chiến thuật như Linebacker.

Trước Giáng Sinh 1972 gần 3  tháng , vào ngày 8-10-1972 Kissinger và  Lê đức Thọ gặp nhau ở Ba Lê để thảo luận về những đề nghị mới của hai phía tìm kiếm hòa bình. Lê Đức Thọ đề nghị kế hoạch mới của BV: Ngưng bắn tại chỗ, Mỹ rút quân, trao đổi tù binh BV, VNCH, Chính phủ lâm thời của Mặt trận giải phóng, giữ nguyên, BV không đòi Thiệu từ chức, Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ cho VNCH, cả Hà Nội và Mỹ đều được tiếp tục viện trợ cho đồng minh trên căn bản đồng đều nhau, BV sẽ không xâm nhập, Mỹ sẽ tái thiết BV, thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải dân tộc, thực hiện bầu cử tại miền Nam VN, sẽ có ba quyền lực: Chính phủ Sài Gòn, Mặt Trận giải phóng, Thành phần thứ ba gồm đại diện cả hai bên. Cả ba phải có sự nhất trí, mọi hành động của hội đồng mới phải có sự đồng ý của TT Thiệu.

Ngày 11-10-1972 tòa đại sứ Pháp tại Hà Nội bị thiệt hại trong cuộc ném bom của Mỹ, Đại sứ Pháp  Pierre Susini bị thương nặng Lê Đức Thọ phản đối với Kissinger, Hoa kỳ ngưng oanh tạc 23-10-1972. Ngày 16-10-1972 Kissinger trở lạiParishọp với Xuân Thủy trong khi Lê Đức Thọ đang về Hà Nội. Hai bên lại họp ngày 17-10-1972, họ bất đồng ý kiến hai điểm: Việc thay thế định kỳ vũ khí của miền nam VN, thả tù binh CS do VNCH giam giữ. BV muốn ký hiệp định trước tháng 11-1972, họ tin rằng Nixon sẽ nhượng bộ trước kỳ bầu cử Tổng thống sắp tới hơn là sau bầu cử. Kissinger đồng ý những điều khoản mới, ông cho Nixon biết và được Nixon chấp thuận.

Sơ thảo Hiệp định sẽ được ký tại Hà Nội ngày 31-10-1972. Kissinger bay đến Sài Gòn ngày 18-10 để gặp TT Thiệu, VNCH không đồng ý với  bản hiệp định mới và không hài lòng với Kissinger cho là đã phản bội. TT Thiệu đòi sửa 129 điều khoản trong đó đòi khu phi quân sự phải coi như biên giới quốc gia, không còn là ranh giới quân sự tạm thời, VNCH phải được coi như một quốc gia biệt lập, nếu được như vậy thì BV sẽ không còn lý do gây chiến tranh để thống nhất đất nước như họ đang làm.

Về điểm này sử gia Stanley Karnow trongVietnama History trang 665 đã chua chát nói.

“Thật là mỉa mai hết chỗ nói, người Mỹ đã chiến đấu bao nhiêu năm để bảo vệ nền độc lập của miền nam VN bây giờ họ lại phủ nhận tính hợp pháp của nó”

(That, however, was the supreme irony of the moment. After fighting for years to defend South Vietnam’s independence, The United Stated was now denying its legitimacy)

Ngày 26-10 ông Thiệu tiến thêm một bước, công bố bản dự thảo đã được sửa khi ấy giới lãnh đạo miền Bắc cho rằng Kissinger đã đánh lừa họ, họ bèn công bố một số phần của thỏa ước cho người ta cảm tưởng rằng thỏa ước phù hợp mục đích của Hoa Kỳ và chính phủ Sài Gòn. Kissinger muốn tạo niềm tin cho cả hai miền, ông quả quyết với BV rằng mình thật tình và với Sài Gòn rằng Mỹ đã gây hiểu lầm. Kissinger họp báo tại tòa Bạch ốc lạc quan tuyên bố ta có thể tin hòa bình đang ở trong tầm tay (We believe that peace is at hand).

Ngày 20-11-1972 những điều khoản tu sửa của VNCH và  44 điều khoản thay đổi do Nixon yêu cầu đã được Kissinger  trao cho phái đoàn CSVN. Những khoản yêu cầu gồm: Khu phi quân sự được coi như ranh giới quốc tế giữa hai nước, quân đội CSBV rút về Bắc, BV bảo đảm ngưng bắn lâu dài tại Đông Dương, một lực lượng quốc tế giữ gìn hòa bình sẽ được thành lập để quan sát ngưng bắn.

Khi đọc xong, phía BV rút những nhượng bộ và mặc cả thêm khiến Kissinger bèn nói dậm chân tại chỗ rồi. Cuộc nói chuyện dự trù 10 ngày chấm dứt ngày 13-12 với thỏa thuận của hai bên bắt đầu thương thảo,  cuộc đối thoại tan vở hôm ấy, phái đoàn Hà Nội từ chối không chịu tiếp tục đàm phán.

Nixon đang định kỳ hạn cho ngày ký Hiệp Định tháng 1-1973, lời tuyên bố của Kissinger khiến dân Mỹ tin tưởng, kỳ vọng ở thỏa hiệp. TT Nixon  lo phiên họp Quốc hội thứ 93 sẽ bắt đầu ngày 3-1-1973, ông sợ các nhà lập pháp Dân chủ sẽ ban hành luật chấm dứt chiến tranh trước khi ông thực hiện cam kết hòa bình trong danh dự của mình.Phía BVđánh hơi thấy phiên họp Quốc hội trong tháng 1-1973 có thể ban hành luật chấm dứt chiến tranh Đông Dương đến lúc ấy thì khỏe re, bất chiến tự nhiên thành, khỏi phải họp hành ký kết. Đó là một lỗi lầm tai hại của họ đưa tới trận đòn tàn khốc   nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh VN.

Tổng thống Nixon quan tâm trước hết chi phí chiến dịch Linebacker, máy bay, nhân lực gửi tới Đông Nam Á đè nặng lên ngân sách Ngũ giác đài, tổng cộng 4 tỷ vào giữa mùa thu và Bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair đã khẩn khoản đề nghị Nixon xin Quốc hội một ngân khoản để trang trải. Kissinger và Nixon được biết lập pháp sẽ có thể nắm cơ hội để đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến.

Quyết định và thảo kế hoạch.

Kissinger từ Paris về ngày 14-12-1972 ông bàn với Nixon sau đó gửi tối hậu thư cho Hà Nội đe dọa nếu BV không trở lại bàn hội nghị trong 72 giờ đồng hồ (3 ngày) sẽ đưa tới hậu quả nghiêm trọng. Cũng trong ngày Nixon ra lệnh phong tỏa cảng Hải Phòng bằng máy bay thả mìn và cho Bộ tư lệnh không quân nghiên cứu kế hoạch oanh tạc trong giới hạn 72 giờ. Nixon  bác bỏ lời Kissinger khuyên Tổng thống lên truyền hình thông báo chiến dịch, ông  lệnh cho Kissinger mở cuộc họp báo ngày 16-12 để nói cho dư luận biết hòa đàm bế tắc vì BV ngoan cố. Kissinger ám chỉ cho biết chính phủ sẽ có biện pháp mạnh.

Một trong những phương châm của Nixon là nếu đã dùng vũ lực thì phải tận dụng sức mạnh vô giới hạn, một khi đã áp dụng sức mạnh quân sự thì tốt nhất là phải đánh xả láng, once a decision had been made to apply military muscle, it was best to go all out (Walter Isaacson – Kisinger A Biography trang 468). Trước ngày mở oanh tạc, Nixon chỉ thị cho Đô đốc Moorer:  “Đây là cơ hội để ông xử dụng  hỏa lực quân sự hữu hiệu để thắng địch, nếu không ông sẽ chịu trách nhiệm” .

Nixon lấy Linebacker II để gấy thiệt hại tối đa về vật chất cho BV, trong khi Linebacker I tháng 5-1972 để phá hoại bộ máy quân sự BV, Nixon xử dụng Linebacker II để tiêu diệt tinh thần chiến đấu của địch cũng như để chứng tỏ cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy ông là con người thép (Larry Berman –  No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam, trang 215)

Thời hạn tối hậu thư đã qua, hai hôm sau vào ngày 18-12 , Mỹ mở cuộc oanh tạc Hà Nội. Về sau các sử gia nghiên cứu về cuộc chiến Đông Nam Á đồng ý với quan điểm của Nixon cho rằng BV ngoan cố không chịu trở lại phòng họp. Hai bên đã muốn thương thảo nhưng BV lại từ chối trở lại, họ chờ phiên họp sắp tới của Quốc Hội. Mục đích của TT Nixon không phải để thuyết phục BV mà để thuyết phục ông Thiệu, Nixon cho biết dù điều khoản của hiệp định ngưng bắn như thế nào, VNCH có thể tin vào lời hứa của ông sẵn sàng yểm trợ cho miền Nam khi BV vi phạm hiệp định.

Sau chiến dịch Linebacker I, Hoa Kỳ có 207 B-52 dành cho chiến trường Đông Nam Á, gồm 54 chiếc (mẫu B-52-D) đóng tại phi trường U-Tapao Thailan và 153 chiếc khác tại căn cứ Andersen, đảo Guam (gồm 55 chiếc B-52 D và 98 B-52G).

Chiến dịch  coi như xử dụng một nửa tổng số máy bay B-52 của Không đoàn oanh tạc cơ Mỹ, các vị chỉ huy của Bộ chỉ huy chiến thuật không quân miễn cưởng chấp nhận sự xử dụng những máy bay đắt giá và những phi hành đoàn huấn luyện tốn kém. Sự huy động một lực lượng máy bay B-52 lớn chưa từng thấy trong cuộc chiến và dự án tấn công đại qui mô quanh Hà Nội 20 km cho thấy thể hiện sự thay đổi lớn trong việc huy động lực lượng không quân.

Nhiều vị trong Bộ chỉ huy cũng đồng ý với chiến dịch bay vào màng lưới phòng không dầy đặc của BV hy vọng chứng tỏ các oanh tạc cơ có khả năng vượt qua hệ thống hỏa tiễn tinh khôn địa không SAM (surface-to-air missiles) do Nga chế tạo cũng như súng phòng không và máy bay nghênh chiến MIG. Lý do chính phải dùng B-52 cho chiến dịch thay vì phi cơ chiến thuật vì tháng 12 thuộc mùa mưa tại miền Bắc VN, thời tiết xấu gây khó khăn cho các phi cơ chiến thuật vì các máy bay này cần quan sát bằng mắt. B-52 có khả năng tham chiến dù thời tiết xấu cũng như tốt nên đã được chọn giữ vai trò then chốt cho chiến dịch này. B-52 đã được trang bị hệ thống bom vận hành theo radar và các máy bay yểm trợ. Các pháo đài bay này có thể tấn công mục tiêu hoặc với những bom có tia laser hướng dẫn khi thời tiết tốt hoặc dùng hệ thống oanh tạc do radar hướng dẫn.

Chiến dịch này lấy tên Linebacker II được phác họa tại Bộ chỉ huy không quân tại Omaha, Nebraska, vì giới hạn thời gian chỉ có ba ngày và qua kinh nghiệm của chiến dịch trước Linebacker I theo đó máy bay MIG nghênh chiến sẽ là mối đe dọa cho oanh tạc cơ Mỹ. Các vị chỉ huy ban kế hoạch cho máy bay tới Hà Nội làm ba đợt vào ban đêm, mỗi đợt cùng đi một đường, cùng cao độ, các oanh tạc cơ bay theo đội hình ba chiếc (cells) để tăng hiệu quả.

Mỗi khi ném bom xong các máy bay sẽ quay về phía tây mà Bộ tham mưu gọi là chuyển hướng sau mục tiêu (post-target turns, gọi tắt PTT), sự chuyển hướng này sẽ có hai hiệu quả không thuận lợi cho các oanh tạc cơ B-52 có thể hướng vào cơn gió mạnh ngược chiều, nó sẽ làm giảm tốc độ còn 185 km/giờ và sẽ kéo dài thêm thời gian ở tại mục tiêu có thể làm giảm hiệu quả đội hình cũng như trở thành bia cho radar của hỏa tiễn SAM dưới đất.

Trận mở đầu

Trong ba nhiệm vụ của chiến dịch như Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề ra trong ba đêm liên tiếp bắt đầu từ 18-12-1972, đêm đầu tiên 129 máy bay được tung vào chiến dịch, trong đó 87 chiếc từ Guam, 39 chiếc yểm trợ thuộc Bộ tư lệnh không lực 7 (The seven air force), Lực lượng đặc nhiệm 77 Hải quân và Thủy quân lục chiến yểm trợ các oanh tạc cơ B-52 qua sự cung cấp các máy bay F-4 hộ tống, F-105 Wild Weasel để tiêu diệt hỏa tiễn SAM của BV, máy bay EB-66 thuộc không quân và EA-6 thuộc hải quân, máy bay chaff plane, loại máy bay thả những miếng kim loại dát mỏng (chaff) để gây rối loạn radar đối phương, (chaff = tiny strips of metal foil that are dropped to confused radar), KC-135 tiếp tế nhiên liệu trên không, và các máy bay giải cứu phi hành đoàn.

Mục tiêu của đợt thứ nhất là phi trường Kép, Phúc Yên và Hòa Lạc, một nhà kho tại Yên Viên trong khi đợt thứ hai và thứ ba tấn công các mục tiêu quanh Hà Nội. Ba máy bay bị rớt do khoảng 220 hỏa tiễn SAM của BV, trong số này hai chiếc B-52G từ Guam và một B-52D từ U-Tapao Thái lan, ngoài ra hai B-52 D từ Guam bị thương nặng cố lết về U-Tapao sửa chữa, chỉ có một phi hành đoàn của ba máy bay bị hạ được giải cứu, cũng tối hôm ấy một F-111 của không quân bị bắn hạ trong khi ném bom đài phát thanh Hà Nội.

Đêm thứ hai (19-12) có 97 phi vụ do  oanh tạc cơ B-52 tham dự, mục tiêu gồm sở Hỏa xa Kinh Nỗ và kho hàng lân cận, nhà máy nhiệt điện Thái Nguyên cũng như nhà ga Yên Viên. Mặc dù có khoảng 185 hỏa tiễn SAM do BV phóng lên và một số oanh tạc cơ bị hư hại vì trúng đạn nhưng không cái nào bị rớt. Bộ chỉ huy hy vọng đêm thứ ba, tức đêm cuối của chiến dịch cũng sẽ tốt đẹp như lần trước.

Mục tiêu thứ ba ngày 20-12 do 99 oanh tạc cơ thực hiện gồm ga xe lửa Yên Viên, nhà kho Yên Mỗ, nhà máy điện Thái Nguyên, địa điểm bốc rở hàng tại Bắc Giang, nhà ga Kinh Nỗ, kho nhiên liệu săng dầu tại cũng như gần Hà Nội.

Vì thấy đợt hai bị thiệt hại nhẹ, đợt ba được tiến hành y như trước đó là một lỗi lầm tai hại, phía Mỹ ra chiều tự mãn với phương thức trước. Trong đêm thứ ba BV cũng học được kinh nghiệm qua phương thức ấy, pháo đài bay B-52 khi tiến vào Hà Nội thấy MIG ở xa xa nhưng chúng không nghênh chiến mà chỉ để báo cáo cho dưới đất biết cao độ và tốc độ của máy bay Mỹ. Thế là BV cho bắn xả láng hỏa tiễn địa không và đại bác phòng không lên các máy bay Mỹ. Lộ trình tái diễn, ngựa quen đường cũ đã đưa tới thảm bại cho Mỹ, 6 B-52 bị bắn rơi trong đêm thứ ba (gồm hai B-52D và bốn B-52G), sự thiệt hại nặng của những B-52 trị giá 8 triệu đô la khiến Quốc Hội và người dân phẫn nộ, họ yêu cầu chấm dứt oanh tạc.

Vì đợt ba tái diễn như hai lần trước khiến phòng không BV đã có kinh nghiệm và phóng 300 quả lên mục tiêu, sáu B-52G và ba B-52D bị thiệt hại trong đợt tấn công thứ nhất và thứ ba, một B-52D quay về Thái Lan bị rớt ở Lào. Chỉ có hai trong số tám người của phi hành đoàn được cứu thoát. Chiến dịch gây phản ứng dữ dội, Bộ chỉ huy không quân bị áp lực nhiều phía: “Chấm dứt cuộc tắm máu này!” nhiều sĩ quan cao cấp trong Bộ chỉ huy không quân cho rằng ta có thể mất nhiều oanh tạc cơ và thuyết ưu thế của không quân có thể vô nghĩa.

Vấn đề chính ở chỗ chiến thuật của Bộ chỉ huy không ghi nhận sự đe dọa của máy bay MIG trong ba đợt của chiến dịch. Chiến thuật không thay đổi vể đường bay, cao độ, đội hình, thời gian. Các vị chỉ huy giải thích sự không thay đổi ấy sẽ thuận lợi cho các phi hành đoàn B-52 không có kinh nghiệm bay vào một trận địa nguy hiểm. Nhà sử gia về không quân Earl Tilford lại có ý kiến khác:

“Sau nhiền năm oanh tạc những khu rừng không phòng ngự và thói quen phác họa kế hoạch chiến tranh nguyên tử đã nuôi dưởng một định kiến trong tư tưởng các vị chỉ huy suýt đưa tới tai họa… chiến thuật nghèo nàn kết hợp với tính tự tin quá cao đã khiến cho mấy đợt bay tấn công đầu tiên của chiến dịch thành cơn ác mộng cho các phi hành đoàn B-52”

(Wikipedia, Operation Linerbacker II)

Tổng thống Nixon cho lệnh tiếp tục sau ba ngày kể trên. Thay đổi thứ nhất ta thấy được do các vị chỉ huy tại Mỹ phân biệt sự khác biệt giữa các cơ phận radar của các mẫu B-52 (B-52G, B-52D), thiết bị trên mẫu G được xử dụng để ứng phó với các dàn phòng không tinh khôn, tối tân do Nga chế tạo, nó không phải để ứng phó với các hỏa tiễn SAM-2 xưa cũ và hệ thống radar của BV. Các vị chỉ huy không quân tại Omaha nhấn mạnh chỉ có máy bay tại U-Tapao được trang bị các bộ phận tinh khôn mới được đưa vào trận địa tại BV. Do đó các đợt tấn công sau sẽ bị cắt giảm về tầm vóc (số lượng máy bay) mặc dù chiến thuật không thay đổi.

Tối thứ tư 21-12-1972 của chiến dịch, 30 chiếc oanh tạc cơ từ U-Tapao đến thả bom kho hàng thuộc địa phận Hà Nội, Văn Điển, phi trường Quảng Tề. Hai oanh tạc cơ bị hỏa tiễn SAM bắn rớt. Đêm hôm sau 22-12 mục tiêu được chuyển từ Hà Nội xuống Hải Phòng nhắm vào kho săng dầu nhiên liệu. Lần này cũng 30 máy bay tham dự trận đánh, không bị thiệt hại về B-52 nhưng một F-111 bị bắn rớt xuống nhà ga Kinh Nỗ.

Ngày 22-12 một cánh của bệnh viện Bạch Mai ngoại ô Hà Nội bị một chuỗi bom lạc đánh trúng. Sự thiệt hại đã khiến BV và các nhà phản chiến Mỹ la ó lên, bệnh viện này cách đường bay của phi trường Bạch mai 100 mét và một kho quân sự chỉ cách đó chưa tới 200 mét , bệnh nhân đã được di tản nhưng không may 28 bác sĩ, y tá, dược sĩ bị thiệt mạng.

Hai ngày trước Giáng Sinh, các vị chỉ huy không quân đưa các căn cứ SAM và các phi trường vào danh sách mục tiêu, máy bay F-111 của Không quân được đưa tới trước khi oanh tạc cơ đến để giảm mối nguy của máy bay địch lên nghênh chiến. F-111 đã rất thành công trong chiến dịch tiêu diệt các dàn hỏa tiễn địa không của BV.

Đêm thứ sáu 23-12 các oanh tạc cơ cũng tránh Hà Nội và tấn công các vị trí hỏa tiễn địa không tại phía bắc thành phố và ga xe lửa Lạng Đăng. Không bị thiệt hại máy bay nào, đêm hôm sau cuộc hành trình may mắn (cũng tránh Hà Nội) tiếp tục. Ba mươi oanh tạc B-52 cơ được 69 phi cơ chiến thuật yểm trợ tấn công nhà ga Thái Nguyên và Kép, không có máy bay nào của Mỹ bị mất trong chiến dịch này.

Mặc dù B-52 đảm nhiệm vai trò chính nhưng các phi cơ chiến thuật cũng rất tích cực trong việc yểm trợ. Trong khi các pháo đài bay và phi cơ  F-111 thực hiện các phi vụ trong ban đêm, trung bình 69 máy bay chiến thuật  của Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến tấn công ban ngày, trung bình gần 100 phi xuất một ngày. Sự thiệt hại của những phi cơ này rất nhẹ, chỉ hơn mười chiếc trong toàn bộ chiến dịch, lý do cũng không có gì khó hiểu vì phòng không BV chỉ đợi ban đêm mới chống trả dữ dội các mục tiệu xuất hiện.

Trận cuối

Sau trận oanh kích ngày 24 -12-1972, chiến dịch tạm ngưng 36 giờ nghỉ lễ Giáng Sinh 1972, trong khi đó các nhà kế hoạch gia không quân làm việc, họ duyệt lại chiến thuật cho giai đoạn kế tiếp tức giai đoạn chót. Vì bị thiệt hại ở giai đoạn đầu nên họ dự trù một cuộc tấn công dữ dội vào các phi trường BV khi bắt đầu tấn công trở lại. Giai đoạn này cũng cần thiết, từ ngày Giáng Sinh hầu hết các mục tiêu chiến thuật của BV đã bị ném bom tan nát . Sau đó các vị chỉ huy đã giao kế hoạch chiến thuật cho các  giới chức Không quân thuộc cấp tại Không Lực Tám (Eighth Air Force) đóng tại Guam, ở đây cấp chỉ huy nhanh chóng duyệt lại chiến thuật đã có nhiều  thiệt  hại trước đây.

Nay thay vì tấn công nhiều đợt, các oanh tạc cơ có thể đánh và rút tại mục tiêu trong vòng 20 phút, các pháo đài bay này có thể đến từ nhiều hướng và nhiều cao độ khác nhau. Các oanh tạc cơ có thể tùy nghi muốn rút theo đường nào thì rút, kế hoạch rút về hướng tây (post-target turns) trước đây bị loại bỏ. Các pháo đài bay đến từ bảy địa điểm khác nhau sẽ tấn công mười mục tiêu trong phạm vi Hà Nội, Hải Phòng, trong đó có bốn địa điểm từ vịnh BV.

Ngày 26 -12-1972, tổng cộng 120 oanh tạc cơ cất cánh ném bom ga xe lửa Thái Nguyên, Kinh Nỗ, đường xe lửa Đức Nội, Hà Nội, Hải Phòng và khu nhà ga Vân Điển, 78 oanh tạc cơ xuất phát từ Anderson (Guam), đó là trận oanh tạc “trong một lần” lớn nhất trong lịch sử của Bộ chỉ huy chiến dịch, 42 chiếc khác từ Thái Lan. Các oanh tạc cơ được 113 máy bay chiến thuật yểm trợ như thả những miếng lá kim loại dát mỏng phá rối radar BV, hộ tống, phá hủy các dàn hỏa tiễn địa không…

Hệ thống phòng không của BV mặc dù còn hữu hiệu nhưng bị tràn ngập bởi số lượng máy bay lớn cũng như  rất khó tìm ra máy bay trong khoảng thời gian ngắn và bị màn dầy đặc của các miếng kim loại dát mỏng do máy bay chiến thuật thả xuống. BV đã bắn lên khoảng 950 hỏa tiễn trước đây, kho tên lửa nay đã gần cạn, họ chỉ bắn lên được 68 quả SAM trong chiến dịch này. Một B-52 bị hạ gần Hà Nội, một cái khác bị hư hại nặng quay đầu về U-Tapao bị hủy hoại, chỉ có hai người trong phi hành đoàn sống sót.

Tối sau 27-12-1972 có 60 oanh tạc cơ tiến hành chiến dịch, một số tấn công các vị trí hỏa tiễn địa không, số  còn lại đánh phá đường xe lửa Lạng Đăng, Đức Nội, Trùng Quang và Văn Điển. Một B-52 bị thương nặng khiến phi hành đoàn nhẩy dù xuống Lào được cứu thoát, một chiếc khác không may khi oanh tạc ga xe lửa Trùng Quang bị trúng đạn. Trong chiến dịch  ban đêm hai phi cơ F-4 và một máy bay trực thăng cấp cứu HH-53 bị bắn rơi.

Ngày thứ 10 tức 28-12-1972 tổng cộng có 60 B-52 trong đó 15 chiếc loại G và 15 loại D từ Anderson, Guam, và 30 chiếc loại D từ U-Tapao, các máy bay tấn công năm mục tiêu làm sáu đợt, trong đó bốn đợt đánh vào các mục tiêu thuộc địa phận Hà Nội (gồm cơ sở cung cấp hỏa tiễn địa không), trong khi đó đợt năm đánh ga xe lửa Lạng Đăng ở Tây Nam Lạng Sơn, một số lớn các tuyến đường vận tải từ Trung Cộng. Không có máy bay nào bị rớt trong chiến dịch này.

Ngày thứ 11 tức ngày 29-12 là trận oanh tạc chót cùng, chỉ còn một ít mục tiêu chiến lược còn lại tại BV đáng lưu ý, tuy nhiên còn hai kho hỏa tiễn SAM tại Phúc Yên và ga xe lửa Lạng Đăng có thể oanh tạc được. Tổng cộng 60 chiếc máy bay lại tiến về Bắc nhưng thay đổi việc chọn lựa loại mẫu. U-Tapao lại cung cấp 30 mẫu D, lực lượng từ Anderson thay đổi, đưa 12 mẫu G và 18 mẫu D trên không phận BV, cuối cùng 30 B-52D làm nhiệm vụ oanh tạc trên vùng cán chảo BV và phía Nam VN, lần này cũng không có máy bay nào bị phòng không, máy bay MIG của BV hay hỏa tiễn bắn hạ

Thương lượng và ký kết.

Ngày 22-12-1972 Hoa Kỳ kêu gọi Hà Nội trở lại bàn hội nghị để bàn thảo những khoản đã đề ra từ tháng 10. Ngày 26-12, Hà Nội báo cho Hoa Thịnh Đốn họ muốn nhấn mạnh cho Nixon biết oanh tạc không phải là lý do để quyết định, Bộ chính trị BV cho biết ngưng oanh tạc không phải là điều kiện tiên quyết cho cuộc đàm phán. Nixon trả lời ông muốn các cuộc đàm phán về kỹ thuật, thủ tục bắt đầu ngày 2-1-1973 và ông sẽ ngưng oanh tạc nếu BV đồng ý. Họ thỏa thuận và Nixon ngưng chiến dịch dội bom trên vĩ tuyến 20 từ ngày 29-12. Kế đó ông báo cho Kissinger chấp nhận những điều khoản đã có từ tháng 10 để ký Hiệp Định. Thượng nghị sĩ Henry Jackson thuộc Dân chủ, tiểu bang Washington khuyên Tổng thống Nixon nói chuyện trên truyền hình cho nhân dân biết chúng ta oanh tạc BV để buộc họ trở lại bàn hội nghị.

Nay vấn đề trở ngại là sự đồng ý của TT Thiệu, Nixon cố gắng trấn an ông bằng lá thư ngày 5-1-1973 rằng:

“Xin cam kết với ông chúng tôi sẽ tiếp tục yểm trợ trong thời gian sau khi ký kết và sẽ trả đũa hết mình nếu BV vi phạm thỏa hiệp”

(Wikipedia, Operation Linebacker II)

Theo Walter Isaacson trong Kisinger, A Biography trang 486, những thư cam kết do Kissinger bí mật soạn cho TT Nixon không hỏi ý kiến Quốc hội, lý do không có gì khó hiểu: Kissinger biết rõ nếu đưa ra công luận bàn bạc sẽ bị Thượng viện đánh chìm ngay. Tuy nhiên ông Thiệu vẫn không chịu, ngày 14-1-1973, TT Nixon phải hăm dọa:

“Tôi đã nhất quyết tiến hành ký Hiệp Định vào ngày 23-1-1973. Nếu cần tôi sẽ đơn phương ký với họ.

(Wikipedia, Operation Linebacker II)

Trong No More Vietnams trang 167 Nixon cũng nói

“Chỉ khi chúng tôi tuyến bố nếu cần chúng tôi sẵn sang ký Hiệp định dù ông  không ký thì lúc ấy ông ấy miễn cưỡng phải ký”     

TT Nixon cũng đã nói cho ông Thiệu biết nếu miền Nam không chịu ký kết Hiệp định, gây trở  ngại cho hoà đàm thì Quốc Hội Mỹ sẵn sàng ra luật chấm dứt chiến tranh tháng 1-1973, cắt đứt viện trợ  bỏ rơi VNCH để đánh đổi lấy 580 tù binh Mỹ tại Hà Nội. Theo Nixon từ 1969  Quốc hội  Mỹ đã nhiều lần định bỏ rơi VNCH để đổi lấy hoà bình .

Một ngày trước thời hạn, TT Thiệu đành phải chấp thuận thỏa ước sự thực cũng không làm gì hơn được.

Ngày 9-1-1973 Kissinger và Lê Đức Thọ trở lạiParis, thỏa thuận giữa Mỹ và BV về cơ bản chính là cái bản sơ thảo hai bên đã đạt được từ hơn ba tháng trước (tức từ tháng 10-1972). Những yêu cầu do Mỹ thêm vào từ tháng 12-1972 đã bị loại bỏ nói khác đi bất lợi cho Mỹ. John Negroponte, một trong những phụ tá của Kissinger đã gay gắt nói trong khi hai bên thương lượng như sau:

“Chúng ta oanh tạc BV để họ phải chấp nhận sự nhượng bộ của chúng ta”

     (We bombed the North Vietnamese into accepting our concessions – Wikipedia, Operation Linebacker II)

 Khu phi quân sự do Hiệp định Genève ấn định từ 1954 không được coi là biên giới giữa hai nước. Việc yêu cầu quân đội BV rút khỏi miền Nam VN về Bắc không thấy ghi một tí nào trong Hiệp định, tuy nhiên Lê Đức Thọ có hứa miệng với Kissinger sẽ rút 30,000 quân  CSBV về Bắc.

Yêu cầu ngưng bắn cho toàn cõi Đông dương không được ghi trong Hiệp Định, một lần nữa Kissinger lại hài lòng với lời “thỏa thuận miệng” (verbal understanding) rằng ngưng bắn tại Lào sẽ được thực hiện cùng lúc hoặc sau VNCH một chút. Thỏa thuận vềCambốt không được đặt ra vì tại nơi đây nay BV không có tí ảnh hưởng nào đối với Khmer đỏ.

Hiệp ĐịnhParisđược ký tại khách sạn Majestic tạiParisngày 27 tháng giêng năm 1973.

Hậu quả.

Trong chiến dịch Linebacker II tổng cộng có 741 phi xuất B-52 để oanh tạc Hà Nội và 729  phi vụ đã thực hiện xong. Có 15,237 tấn bom đạn đã được ném xuống 18 mục tiêu về kỹ nghệ và 14 mục tiêu quân sự kể cả tám căn cứ hỏa tiễn địa không (SAM), trong khi đó các máy bay chiến thuật cũng đã ném xuống 5,000 tấn bom đạn. Cùng thời gian này có 212 phi vụ B-52 được thêm vào tại Nam VN để yểm trợ cho các chiến dịch dưới đất, 10 B-52 đã bị bắn rớt ngoài Bắc và năm chiếc khác bị thương rớt ở Lào hoặc Thái lan, 33 quân nhân thuộc các phi hành đoàn B-52 đã bị thiệt mạng hoặc mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ, 33 người khác bị bắt làm tù binh và 26 ngươi khác đã được cứu vớt. Bắc Việt cho biết họ đã bắn hạ 34 chiếc B-52, 4 chiếc F-111 trong suốt chiến dịch.

769 phi vụ phụ thêm do Không Lực và 505 phi vụ do  Hải Quân và Thủy quân lục chiến để yểm trợ cho các pháo đài bay B-52, có 12 máy bay bị thiệt hại trong chiến dịch gồm: Hai F-111, ba F-4, hai A-7, hai A-6, một EB-66, một trực thăng cấp cứu HH-53, một thám thính RA-5C, trong chiến dịch này mười (10) phi công bị thiệt mạng, tám (8) bị bắt, mười một (11) được cứu thoát.

Toàn thể thiệt hại của chiến dịch là 27 chiếc gồm 15 B-52 và 12 máy bay chiến thuật: Không quân mất 15 B-52, hai F-4, hai F-111, một EB-66 và một trực thăng cứu nạn HH-53. Hải quân mất hai A-7, hai A-6, một RA-5, và một F-4. Trong số tất cả máy bay bị bắn rơi có mười bẩy (17) chiếc bị bắn rớt vì hỏa tiễn SA-2, ba (3)  chiếc bị máy bay MIG của BV bắn rơi ban ngày, ba (3) chiếc do đại bác phòng không, bốn chiếc không rõ nguyên do. Tổng cộng có tám (8) máy bay MIG bị bắn rớt trong đó hai chiếc do đại liên phòng không ở đuôi B-52 hạ.

Thiệt hại về vật chất hạ tầng cơ sở của BV rất nặng nề: Không quân ước lượng 500 đường xe lửa bị đình chỉ hoạt động, 372 toa xe lửa và ba triệu gallons săng dầu bị phá hủy, 80% điện năng của BV bị hư hỏng. Nhập lượng tiếp liệu vào BV được tình báo Mỹ đánh giá là 160,000 tấn hàng tháng khi mới tiến hành chiến dịch. Đến tháng 1-1973, nhập lượng này đã tụt xuống còn 30,000 tấn, vào khoảng năm lần. Mặc dầu Hà Nội la làng “Mỹ đã trải thảm bom lên nhà thương, trường học, các khu dân cư, phạm vào những tội ác man rợ đối với nhân dân ta”, nhưng chính họ đã cho biết toàn bộ chỉ có 1,624 người thường dân bị thiệt mạng.

Với khoảng 20,000 tấn bom được thả xuống Hà Nội, Hải Phòng, sự  thiệt hại dân sự tương đối nhẹ, chỉ có 1,318 người tại Hà Nội và 306 người tại Hải Phòng thiệt mạng, nếu so sánh với chín ngày oanh tạc thành phố Hamburg, nước Đức năm 1944, chỉ có vào khoảng chưa tới 10,000 tấn bom được ném xuống mà có tới 30,000 người bị giết.

Nhiều giới chức trong Không quân cho rằng nếu năm 1965 mà cũng đánh cho BV tan nát như Giáng Sinh năm 1972 thì đã thắng rồi, họ sai lầm ở chỗ năm 1972 chiến tranh đến thời kỳ kết thúc và trận oanh tạc này chỉ là  cú đấm cuối cùng. Ngoài ra bang giao của Mỹ với Nga, Trung Cộng đã thay đổi nhiều trong những năm có hòa đàm với BV, oanh tạc mạnh năm 1965 có thể lôi kéo CS quốc tế vào cuộc chiến và có thể leo thang đi tới chiến tranh nguyên tử, nay kỳ hạn hòa bình đã thay đổi và Hoa Kỳ không còn muốn chiến thắng nữa, họ chuyễn sang rút bỏ.

Nhận xét

Như thế trận mưa bom Giáng sinh long trời lở đất năm 1972 có mục đích chính là để đưa BV trở lại bàn hội nghị. Sau ngày 30-4-1975 nhiều người ở miền Bắc vàoNamcho biết nếu Mỹ ném bom thêm một tuần nữa thì BV sẽ phải đầu hàng vì chịu không nổi. Gần đây có nguồn tin một cựu nhân viên FBI tên Ted Gunderson tiết lộ rằng một sĩ quan lãnh sự Mỹ lãnh sự tại VN đã nghe vào đầu xuân năm 1973 từ phòng truyền tin tại Sài Gòn lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt trong trận oanh tạc của Mỹ đầu xuân 1973 (tức trận oanh tạc Giáng sinh 1972), thế nhưng CIA đã thay thế toàn bộ nhân viên của phòng truyền tin và ém nhẹm đi tin này để cho sự điều đình giữa Tổng thống Nixon và Mao được xúc tiến và dâng miền Nam cho CS qua Hòa đàm Paris.

Tin đồn do những người ngoài Bắc đem vào Nam và tin của Ted Gunderson hoàn toàn sai lạc vô căn cứ, trước hết TT Nixon cho oanh tạc BV là để đưa họ trở lại bàn hội nghị như đã nói ở trên, họ chỉ muốn ký hiệp định Paris rồi rút quân về nước (The terms of peace had also changed as the United States went from wanting victory to settling for an easy exit – Wikipedia, Linebacker II bombing raid).       

“Nhưng ý định của Hoa Kỳ trong cuộc dội bom phủ đầu năm 1972 không còn ý nghĩa quân sự nữa mà cuộc dội bom chỉ là một thái độ chính trị: Hoa Kỳ chỉ muốn CSVN trở lại hội nghị, kết thúc cuộc chiến trên giấy tờ, để Hoa Kỳ có thể rút khỏi Việt Nam – dù hiệp ước đó có bất lợi cho Hoa Kỳ và VNCH đến đâu. Và Hoa Kỳ đã đạt được ý định sau 11 ngày dội bom”

(Nguyễn kỳ Phong ,Vũng Lầy Của Bạch Ốc, trang 300)

Ngoài ra đối với BV, Mỹ không có tư cách để buộc họ phải đầu hàng như đã buộc Nhật đầu hàng năm 1945. Đối với VN, Mỹ tham chiến chỉ  là để trợ giúp VNCH tự vệ chống CS, giữ toàn vẹn lãnh thổ miền Nam chứ không phải để chiếm miền Bắc. Chúng ta cũng cần lưu ý mặc dù BV bị các pháo đài bay B-52 đánh nhừ tử thừa sống thiếu chết, các hạ tầng cơ sở BV bị bắn phá tan tành gần sập tiệm thế mà họ vẫn đòi được Mỹ phải nhượng bộ tại bàn hội nghị như đã nói ở trên.

Hiệp định ký kết vẫn chỉ là những thỏa thuận cũ từ tháng 10-1972. Bắc Việt lỳ lợm như thế thì thử hỏi đến bao giờ họ mới chịu hàng, cho dù cuộc oanh tạc có tiêu diệt hàng trăm nghìn người thường dân vô tội hoặc hơn thế họ cũng chẳng quan tâm. Trong thời gian chiến tranh Lê Duẫn đã từng nói sẵn sàng nướng thêm một hai triệu người nữa để tiếp tục chiến đấu.

Năm 1989 tác giả bài viết này có dịp nói chuyện với một Trung tá CSBV đã giải ngũ về cuộc oanh tạc Giáng sinh 1972, ông ta bảo:

“Bây giờ hết coi là bí mật thì tôi mới dám nói, ngay hôm máy bay Mỹ ném bom dữ dội, các đường dây diện thoại bị đứt hết, trung ương mất liên lạc với địa phương, sau mười ngày oanh tạc, hai bên cùng đuối và rồi Mỹ phải ngưng cuộc tấn công”.     

 

Trong phim VietNam a Television History (Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình) do các ký giả, sử gia Mỹ, Anh, Pháp thực hiện đã được chiếu ở VN giữa thập niên 80,  đoạn nói về Mỹ ngưng ném bom như sau:

“Cuối tháng 12-1972 Hoa Kỳ ngưng ném bom BV, không phải vì bị thế giới lên án, cũng không phải vì người dân Mỹ biểu tình chống đối mà vì sự thiệt hại nặng nề của không quân trong chiến dịch này”.

Ý kiến của cựu Trung tá CS và nhận định của cuốn phim như trên đều không đúng sự thật, như đã nói ở trên phòng không của BV cuối tháng 12 đã hoàn toàn kiệt lực, số tên lửa tồn kho đã cạn sạch khiến họ phải xin chịu ngồi vào bàn hội nghị, vả lại “Chiến thuật Lì” không còn ăn khách, hiệu lực . Mỹ ngưng oanh tạc cũng vì các mục tiêu để đánh phá cũng không còn, hạ tầng cơ sở BV đã bị oanh tạc tan nát hết, không còn gì để triệt hạ nữa.

(The final two days of Linebacker II encountered only one problem: a lack of suitable targets –Wikipedia,  Linebacker II bombing raid).    

“Người Mỹ ký hiệp định Ba Lê với mục đích rút ra khỏi vũng lầy VN đồng thời trao đổi tù binh Mỹ. Quyền lợi chính của miềnNamkhông được chú trọng đến. Hiệp địnhParisđược ký kết để tránh cho nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát.

Trong trận oanh tạc long trời lở đất mùa Giáng Sinh năm 1972, Nixon đã một công đôi chuyện, vừa bắt BV trở lại bàn hội nghị và vừa đánh phá tan tành hạ tầng cơ sở miền Bắc như đã nói ở trên: phi trường, nhà ga, kho hàng, tiếp liệu bị hủy hoại. Nixon đã đánh  BV tan nát để sau khi Mỹ rút đi họ sẽ không có khả năng xâm lược miềnNam, như thế ông ta cũng đã làm hết sức mình để cứu vãn sự sụp đổ củaVNCH.

Theo Nixon (trong No more Vietnams), sau khi ký Hiệp định Paris, VNCH mạnh hơn miền Bắc vì CSBV bị tổn thất quá nặng trong trận  mùa hè đỏ lửa 1972, khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh bị thiệt mạng, 75% số xe tăng bị bắn cháy. Cộng thêm trận oanh tạc Giáng sinh 1972, BV bị kiệt quệ về vũ khí đạn dược. Nhưng sau Hiệp định, Hà Nội  lại được  CS quốc tế viện trợ đều đặn và dồi dào trong khi  Quốc hội Mỹ đã cắt giảm viện trợ xương tủy VNCH đưa tới sụp dổ tháng 4-1975

Trong trận oanh tạc Giáng Sinh 1972 kể trên BV đã đủ sức chống trả và gây thiệt hại đáng kể cho không lực của một siêu cường thì ta mới thấy CS quốc tế đã viện trợ cho BV dồi dào như thế nào, có người cho rằng Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã viện trợ quân sự cho BV để đánh nhau với Mỹ chứ không phải để đánh nhau với VNCH.

Theo bản tin BBCVietnamese.com ngày 10-5-2006: Trong  buổi hội thảo của Viện Lịch Sử Quân Sự CSVN tổ chức tại Sài Gòn ngày 14 và 15-4-2006, hai “đồng chí” Lê Quang Lạng và Trần Tiến Hoạt đã công bố nguồn viện trợ quân sự của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em cho CSVN trong cuộc chiến tranh 1954-1975. Họ cho biết về tên lửa Liên xô đã viện trợ 10,169 quả, về máy bay chiến đấu Liên Xô viện trợ 316 chiếc, Trung Quốc anh em 142 chiếc. Trong giai đoạn 1969-1972, BV đã nhận được 684,666 tấn hàng viện trợ vũ khí và trang bị kỹ thuật, giai đoạn 1973-1975 BV nhận được 649,246 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật như thế CS quốc tế vẫn viện trợ cho BV dồi dào từ đầu tới cuối cuộc chiến.

Hoa Kỳ không cung cấp cho miềnNamđủ hỏa lực để có thể tự vệ chông lại một đối phương quá hùng mạnh đã được trang bị những vũ khí hiện đại dồi dào cả về phẩm lẫn lượng. Đa số các sách báo Mỹ viết về chiến tranh ViệtNam(như Walter Isaacson trong Kisinger, A Biography trang 488)  nhận định rằng VNCH không thể tự đứng vững mà họ phải dựa vào quân đội Mỹ và khi Mỹ rút đi miềnNamsụp đổ.

Độc giả Mỹ, người dân Mỹ hiểu rằng quân đội miềnNamkhông đủ sức tự vể. Sự thực có phải quân đội VNCH tác chiến thua kém quân đội BV không? Các Tướng lãnh miền nam thua tài thao lược so với các Tướng miền Bắc? hoàn toàn không.

Có một sự thực mà hấu như không thấy người Mỹ, tác giả Mỹ nào chịu công nhận: hỏa lực Hoa Kỳ cung cấp cho miền Nam hầu như luôn luôn thua kém hỏa lực hùng hậu mà CS quốc tế cung cấp cho BV, hay nói khác  đi Hoa Kỳ đã không chạy đua kịp với CS quốc tế về quân viện cho chiến trường Việt nam, đưa tới hậu quả sụp đổ  ngày 30-4-1975.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

———————————

Tài Liệu Tham Khảo

Wikipedia: Operation Linebacker II

The Hauenstein Center for Presidential: Nixon and the Christmas bombing.

AirSpacemag.com, Military Aviation: The Christmas bombing.

Commondreams.org: The Christmas bombings, by James Carrell.

Namvets.com: Vietnamese remember Christmas from hell.

U.S Centenial of flight commission: Linebacker II bombing raid.

History.com, History made every day: Nixon announces start of Christmas bombing ofNorth Vietnam.

History.com: Statistic about the Vietnam war.

Digital History: Nixon andViet Nam.

Wikipedia: Opposition to theUSinvolvement in the Vietnam war.

Walter Isaacson: Kisinger, A Biography , Simon & Schuter 1992

Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal inVietnam,  The Free Press 2001.

Richard Nixon:No MoreVietnams, Arbor House,New York1985.

The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985.

James H.Willbanks:Vietnamwar Almanac, Facts on file – 2009

StanleyKarnow:Vietnam, A History, A Penguin Books 1991.

Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The Vietnam War, A history in documents, Oxford University Press 2002.

Lam Quang Thi: Autopsy The Death OfSouth Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing

Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh: BBCvietnamese.com, 10-5-2006

Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh ViệtNam1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006.

Nguyễn Kỳ Phong: Tự Điển Chiến Tranh ViệtNam, TựÏ Lực 2009.

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh ViệtNamToàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Đặng Phong: 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trí Thức, Hà Nội 2008

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh, 2005.

—————–

Có phải vì sợ chuyễn chiến tranh lạnh thành Thế Chiến thứ Ba không nhưng những dấu hiệu về mức độ phản ứng trả đuả trong các chiến trận VN rất giới hạn cuả Hoa kỳ đã chứng tỏ rõ điều đó. Suốt thời chính quyền TT Johnson , các cuộc dội bom tại đuờng mòn HCM và ngoài vĩ tuyến 17 , các cuộc ruợt đuỗi tàn quân CS chạy sang Kampuchia đều bị ngăn chận . Sau này trong các hồi ký từ Trung tá Oliver North , đại tuớng Norman Schwarzkopf cho đến Đại tuớng Colin L. Powell ,William Westmoreland đều than phiền là “đánh giặc bằng một tay.”Nhưng đến thời TT R.Nixon chiến luợc đã thay đổi mà ” Cuộc dôị bom 12 ngày Hànội trong Xmas 1972 “là một bằng chứng. Chính cuộc dội bom trên 10 mục tiêu quân sự mà Nixon bảo ,”The bastards (Hanội )have never been bombed like they’re going to be bombed this times.” với tên 1,300 nguời chết trong 12 ngày. (nhờ kỷ thuậ nên chính xác, ít sai lạc hơn so với Thê chiến hai với các cuộc dội bom tại Đúc chĩ một đêm đã gây chết từ 50 đến 60 ngàn nguời ).Tư liệu mới tiết lộ trong cuốn sách tên “No Peace, No honor “(1) mới xuất bản cuả ” giaó sư Đại học Berkeley ,Larry Berman mà ta biết đuơc các điều sau này :

-Chính cuộc dội bom Xmas này đã khiến Hànội rùng mình vội vã xin Hoa kỳ mở lại “hội đàm tại Paris ” mặc dù vài ngày truớc đó Lê Đức Thọ đã to mồm huênh hoang với giọng điệu đại ngôn như LĐ Tho thách thức :” Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom , ngang bằng năm sáu trăm bom nguyên tử . Chúng tôi giữ quyết tâm chống trả lại các ông.” (” We have undergone tens of millions of tons of bombs and shells, equaling 500-600 atomic bombs, but we are not afraid. We are determined to oppose you. )

– Một chùm bom đã rơi sát nhà ơ cuả Lê Đức Thọ…( có lẽ đã khiến Thọ vội vã hoà đàm vì hú hồn thoát chết cã nhà.)

– Một bài học là đánh thẵng , mang chiến tranh vào nhà , vào bản thân và gia đình chúng thì mới hiệu quả vì chúng chĩ khua mồm cho nguời khác chêt . Con cái cuả chúng nó có đứa nào chết không hay ở ngoại quôc tất cã . Đây là điều bất công muốn nói cã hai miềm Nam Bắc.

– Một sự thực khác đuợc tiết lộ bên cạnh Hội đàm Paris là, mặc dù mang nhãn hiệu các “nhà cách mạng sống chết cho lý tuởng cao đẹp cuả nhân loại ” bằng mồm
nhưng chúng đã lén lút “mang theo hàng loạt gái đẹp làm gái đĩ “để chúng nó du hí sau lưng vợ con.

Mong Đàn Chim Việt hay tác giả Trọng Đạt nếu có thể xin nghiên cưú và phổ biến rộng rãi các sự thực sưu tầm đuợc này về trong nuớc. Cám ơn nhiều.
———————————————————————————————————————————–
(1) Sách tên “NO PEACE, NO HONOR “,GS Larry Berman viết :
– The peace talks collapsed on Dec. 13, and the next day Nixon ordered a resumption of the bombing. This time, he had only one goal : to bring
Hanoi back to the negotiating table. On Dec. 18, Linebacker II, “Christmas bombing,” began with B-52 bomber sorties and fighter bomber srties striking the Hanoi-
Haiphong area. Nixon has said,” The bastards have never been bombed like they’re going to be bombed this times.” Nixon told Admiral Moore, “ I don’t want any more of this crap about the fact that we couldn’t hit this target or that one. This is your chance to use military power effectively to win this war.”…Admiral Moore issued the order to execute expanded air attacks with an objective of “maximum destruction of selected military targets in the vicinity of Hanoi/Haiphong.” Kissinger later wrote , “ The North Vietnamese committed a cardinal (important) error in dealing with Nixon, they corned(make difficult) him.” (p.215)

-After the initial seven days of bombing, Nixon ordered a Christmas pause. On Dec. 26, he renewed the attacks, and almost immediately, Hanoi agreed to resume negotiations. The post-December 26 attacks were massive in scale. Ten targets from fifteen directions received the brunt of the attack. It was classic cause and effect . Linebacker II was terminated on December 29. On December 28 Kissinger had informed Bunker that “We have asked the North Vietnamese to meet with me in Paris on January 3… We have no answer from them at this time, but there is an outside possibility that they will accept.” Hanoi did. (p.219)

-From Paris, William Sullivan , a member of the negotiating team, cable Kissinger that the technical experts had met and that his North Vietnamese counterparts acted “hang dog”, reflecting the effects of the bombing on their morale… Sullivan later recalled. The senior members of the Vietnamese delegation had been back in Hanoi during the bombing. In fact, I was informed…that one string of bombs had fallen very close to Le Duc Tho ‘s house. So they absorbed the full impact of the bombing, and they were aware that it was a serious effort…(page 222, )

Posted in Chien Tranh Viet Nam | 2 Comments »

Các cuộc biểu tình ở Nga chống Putin thu hút hàng mấy chục ngàn người

Posted by hoangtran204 trên 25/12/2011

Thousands against Putin

Bản dịch@ Trần Hoàng 2011

Nhiều chục ngàn người Nga đã tràn ngập các đại lộ ở thủ đô Mát-cơ-va vào ngày Thứ Bảy để  đòi hỏi các cuộc tự do bầu cử và đòi hỏi phải chấm dứt 12 năm nắm quyền của Thủ Tướng Putin. Đây là cuộc biểu tình lớn nhất kể từ khi có các cuộc biểu tình cách đây 20 năm đã làm sụp đổ Liên xô. Sự thờ ơ chính trị trong những năm gần đây đã không còn nữa khi  nhiều người hét lên: “Chúng tôi là sức mạnh!”

Cuộc biểu tình diễn ra hôm nay lớn hơn và tổ chức tốt hơn so với một cuộc biểu tình tương tự (đã xảy ra) cách đây hai tuần trước. Và các cuộc tuần hành nhỏ hơn diễn ra trên khắp đất nước Nga đang khuyến khích các nhà lãnh đạo phe đối lập hy vọng để có thể duy trì một phong trào phản đối rộng rải được châm ngòi bởi một cuộc bầu cử quốc hội gian lận vào ngày 4 tháng 12 vừa qua.

Sự nhiệt tình cổ vũ Mikhail Gorbachev, là nhà lãnh đạo Liên Xô cuối cùng, đã tuyên bố giải tán Liên Bang Xô Viết vào ngày 25 tháng 12, 1991.

“Tôi sung sướng là vẫn còn sống để thấy nhân dân đang thức tỉnh. Điều này làm gia tăng niềm hy vọng lớn”, Gorbachev 80 tuổi cho biết trên đài phát thanh Ekho Moskvy. Ông kêu gọi Putin noi theo gương ông và từ bỏ quyền lực một cách hòa bình. Nếu Putin bước xuống, ông sẽ được ghi nhớ cho những điều tích cực mà ông đã làm, Gorbachev nói. Nhà lãnh đạo Liên Xô cũ này, đã và đang gia tăng chỉ trích Putin mạnh mẻ hơn, có rất ít ảnh hưởng đến nước Nga hiện nay.

Tuy nhiên, những người biểu tình hiện nay không có ai là thủ lĩnh và không ứng viên nào có khả năng đặt ra một thách thức nghiêm trọng đối với Putin,  là người có ý định quay trở lại chức tổng thống trong một cuộc bỏ phiếu vào tháng 3 sắp tới. Trong một cuộc bầu cử công bằng, nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản kỳ cựu này sẽ đặt ra mối đe dọa mạnh nhất, và ông đã tham gia vào điện Kremlin trong việc gièm pha các cuộc biểu tình.

Ngay cả tại cuộc biểu tình hôm thứ Bảy, một số các diễn giả đã bị sự chế nhạo của đám đông. Các nhóm tự do, nhóm dân tộc và khối cánh tả khác nhau đã tham gia và dường như đoàn kết với nhau chỉ bởi ước muốn được nhìn thấy “một nước Nga không có Putin,” một câu hát rất phổ biến.

Putin, người đã không đưa ra các lời phản ứng công khai nào về cuộc biểu tình phản đối vào ngày thứ Bảy, tuy ban đầu, ông đã chế nhạo những người biểu tình là các nhân viên nhận tiền của phương Tây (để đi biểu tình). Ông cũng nói mỉa mai rằng ông đã nghĩ là những dải ruy băng trắng mà người biểu tình mặc như là biểu tượng là cái “áo mưa” (bao cao su của phái nam). Kể từ thời gian gần đây, Putin đã nhắc đến các cuộc biểu tình một cách nghiêm túc hơn, và trong một nỗ lực để ngăn chặn sự tức giận, ông đã đưa ra một loạt các cải cách để cho phép có sự cạnh-tranh-chính-trị trong các cuộc bầu cử trong tương lai.

Đài truyền hình của nhà nước có tường thuật cuộc biểu tình hôm thứ Bảy, nhưng đã không truyền đi các lời chỉ trích khắc nghiệt nhất về Putin.

Ước tính số lượng người biểu tình giao động từ 30.000 đến 120.000 được những người tổ chức cho biết. Những người biểu tình đứng chật một đại lộ rộng lớn, có chỗ cho gần 100.000 người, trải dài khoảng 2,5 km từ điện Kremlin, khi nhiệt độ ngoài trời giảm xuống thấp dưới không độ C.

Có một sân khấu ở cuối con đường có các biểu ngữ “Nga sẽ được tự do” và “Cuộc bầu cử này là một trò hề.” Cảnh sát trang bị nặng nề bao quanh những người tham gia, những người biểu tình đứng trong vòng rào cản kim loại, và một chiếc trực thăng cảnh sát bay lượn trên không.

Alexei Navalny, một luật sư chống tham nhũng và cũng là một blogger nổi tiếng, đã kích động đám đông khi ông lên sân khấu. Ông đã làm cho những người biểu tình hô vang “Chúng tôi là sức mạnh!”

Luật sư Navalny đã trải qua 15 ngày tù vì tội dẫn đầu một cuộc biểu tình vào ngày 5 tháng 12, một cách bất ngờ cuộc biểu tình này đã thu hút hơn 5.000 người và châm ngòi cho một chuỗi các cuộc biểu tình khác.

Đảng Thống Nhát Nước Nga của Putin đã bị mất 25% số ghế trong cuộc bầu cử, nhưng thông qua những nhà quan sát độc lập (về bầu cử) đã nói là có sự gian lận khắp nơi. Đảng Thống Nhất Nước Nga, được xem như là đại diện cho một bộ máy quan liêu tham nhũng, đã trở thành đảng của những kẻ lừa đảo và trộm cắp, một cụm từ được đặt ra bởi Navalny.

Chúng tôi có đủ người để chiếm lấy điện Kremlin“, Navalny hét lên với đám đông. “Nhưng chúng tôi là những người hòa bình và chúng tôi sẽ không làm điều đó – nhưng nếu những kẻ lừa đảo và trộm cướp này cứ tiếp tục lừa dối chúng tôi, chúng tôi sẽ nắm lấy những gì thuộc về của chúng ta.”

Các nhà lãnh đạo các cuộc biểu tình bày tỏ sự hoài nghi về những cải cách chính trị có tính chất hứa hẹn của Putin.

“Chúng tôi không tin tưởng Putin”, lãnh đạo phe đối lập Boris Nemtsov nói với những người đi biểu tình, ông kêu gọi người biểu tình tụ tập lại sau những ngày nghỉ lễ năm mới để đảm bảo rằng các thay đổi đã đề xuất được đặt thành các điều luật.

Ông và các diễn giả khác kêu gọi những người biểu tình đi bầu vào tháng ba để lật đổ Putin. “Một tên trộm không nên ngồi trong điện Kremlin“, Nemtsov nói.

Các lãnh đạo biểu tình cho biết họ sẽ tiếp tục thúc đẩy cho việc tái tổ chức lại cuộc bầu cử quốc hội và trừng phạt các quan chức bầu cử bị cáo buộc gian lận, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn gian lận trong cuộc bầu cử tổng thống tháng ba.

Cựu vô địch cờ vua thế giới Garry Kasparov là một trong số những người tìm cách để cung cấp cho những người biểu tình, một ý thức sức mạnh quyền lực.

Hiện có rất nhiều người của chúng ta ở đây, và họ (chính phủ) chỉ là một nhóm rất ít“, Kasparov phát biểu từ sân khấu. “Họ đang chui rúc trong cơn sợ hãi, núp đàng sau các hàng rào cảnh sát.”

Đám đông này phần lớn là những người trẻ tuổi, nhưng cũng có một số lượng khá lớn của những người trung niên và người cao tuổi, một số người trong bọn họ đi khập khiễng một cách chậm chạp và tựa vào các cây gậy.

“Chúng tôi muốn hỗ trợ cho những người đang đấu tranh cho quyền của chúng tôi,” Darya Andryukhina 16-năm-tuổi, cho biết cô cũng đã tham dự các cuộc biểu tình trước.

“Mọi người đã đến đây bởi vì họ muốn được tôn trọng,” Tamara Voronina, 54 tuổi, cho biết bà rất tự hào rằng ba đứa con trai cũng đã tham gia cuộc biểu tình.

Putin bình luận về người biểu tình mang bao cao su chỉ  làm cho họ tức giận thêm và gây cảm hứng cho một số người sáng tạo một số đáp ứng. Một người biểu tình hôm Thứ Bảy đã dựng phim hình ảnh của Putin với cái đầu  được bao bọc trong một bao cao su như một khăn trùm đầu của các bà ngoại. Nhiều người khác bơm bao cao su cho căng phồng lên cùng với các bong bóng bay.

Các cuộc biểu tình phản ánh một sự thất vọng chán nãn ngày càng tăng với Putin. Khởi đầu Putin được bầu làm tổng thống vào năm 2000, và vẫn còn nắm giữ quyền lực sau khi chuyển vào làm thủ tướng trong năm 2008. Trắng trợn gian lận trong cuộc bầu cử quốc hội một cách bất ngờ (đã làm tăng sự giận dữ) trong  tầng lớp trung lưu, một giai cấp, mà trong nhiều năm qua, đã rất thờ ơ với những gì có liên quan tới chính trị.

“Không ai có đủ khả năng tụ tập được rất nhiều người đến đây hơn Putin, ông ta đã xúc phạm hết cả nước,” ông Viktor Shenderovich, một nhà báo và nhà văn trào phúng.

Hai cuộc biểu tình tại St Petersburg vào ngày thứ Bảy đã thu hút tổng cộng 4.000 người.

Tôi có mặt ở đây bởi vì tôi quá mệt mỏi về những lời dối trá của chính phủ“, ông Dmitry Dervenev, 47 tuổi, một nhà thiết kế. “Thủ tướng xúc phạm cá nhân tôi khi ông nói rằng những người đến đây biểu tình bởi vì họ đã được Bộ Ngoại giao Mỹ trả tiền. Tôi đang có mặt ở đây bởi vì tôi là một công dân của đất nước tôi.”

Putin cáo buộc Hoa Kỳ khuyến khích và tài trợ các cuộc biểu tình làm suy yếu Nga.

Cựu bộ trưởng tài chính của Putin đã làm những người biểu tình ngạc nhiên khi ông ta nói rằng quốc hội hiện nay nên phê duyệt những thay đổi đề xuất bầu cử, và sau đó hãy từ chức để chấp thuận các cuộc bầu cử quốc hội mới được tổ chức. Alexei Kudrin, người vẫn còn gần gũi với Putin, cảnh báo rằng làn sóng các cuộc biểu tình có thể dẫn đến bạo lực và kêu gọi thiết lập một cuộc đối thoại giữa các phe đối lập và chính phủ.

“Nếu không, chúng tôi sẽ mất cơ hội chuyển đổi hòa bình,” ông Kudrin nói.

Kudrin cũng đã tham gia các cuộc kêu gọi lật đổ  Giám đốc Ủy ban bầu cử Trung ương Nga Vladimir Churov.

Putin đã hứa sẽ tự do hóa các quy tắc đăng ký cho các đảng đối lập và khôi phục lại cuộc bầu cử trực tiếp của các thống đốc, mà ông đã bãi bỏ vào năm 2004. Putin đứng vào vai tổng thống (Dmitry Medvedev), và giải thích rõ ràng những đề xuất thay đổi vào lúc đọc diễn văn toàn quốc hômThứ Năm vừa qua.

Gorbachev, tuy nhiên, cho biết chính phủ dường như đang bối rối và nhầm lẫn.

“Họ không biết phải làm gì cả,” ông nói. “Họ đang cố gắng để ra khỏi cái bẫy mà họ đã lái vào trước đó.”

Bản dịch@ Trần Hoàng 2011

Associated Press nhà văn Nataliya Vasilyeva và Jim Heintz đóng góp cho bài tường thuật này.


Anti-Putin protests draw tens of thousands

Associated PressBy LYNN BERRY and VLADIMIR ISACHENKOV | AP

MOSCOW (AP) — Tens of thousands of Russians jammed a Moscow avenue Saturday to demand free elections and an end to Prime Minister Vladimir Putin’s 12-year rule, in the largest show of public outrage since the protests 20 years ago that brought down the Soviet Union. Gone was the political apathy of recent years as many shouted “We are the Power!”

The demonstration, bigger and better organized than a similar one two weeks ago, and smaller rallies across the country encouraged opposition leaders hoping to sustain a broad protest movement ignited by a fraud-tainted parliamentary election on Dec. 4.

The enthusiasm also cheered Mikhail Gorbachev, the last Soviet leader who closed down the Soviet Union on Dec. 25, 1991.

“I’m happy that I have lived to see the people waking up. This raises big hopes,” the 80-year-old Gorbachev said on Ekho Moskvy radio.

He urged Putin to follow his example and give up power peacefully. If Putin stepped down now, he would be remembered for the positive things he did, Gorbachev said. The former Soviet leader, who has grown increasingly critical of Putin, has little influence inRussia today.

But the protesters have no central leader and no candidate capable of posing a serious challenge to Putin, who intends to return to the presidency in a March vote. In a fair election, the veteran Communist Party leader would pose the strongest threat, and he has joined the Kremlin in disparaging the protests.

Even at Saturday’s rally, some of the speakers were jeered by the crowd. The various liberal, nationalist and leftist groups that took part appear united only by their desire to see “Russia without Putin,” a popular chant.

Putin, who gave no public response to the protest Saturday, initially derided the demonstrators as paid agents of the West. He also said sarcastically that he thought the white ribbons they wore as an emblem were condoms. Putin has since come to take their protests more seriously, and in an effort to stem the anger he has offered a set of reforms to allow more political competition in future elections.

Kremlin-controlled television covered Saturday’s rally, but gave no air time to Putin’s harshest critics.

Estimates of the number of demonstrators ranged from the police figure of 30,000 to 120,000 offered by the organizers. Demonstrators packed much of a broad avenue, which has room for nearly 100,000 people, about 2.5 kilometers (some 1.5 miles) from the Kremlin, as the temperature dipped well below freezing.

A stage at the end of the avenue featured banners reading “Russia will be free” and “This election Is a farce.” Heavy police cordons encircled the participants, who stood within metal barriers, and a police helicopter hovered overhead.

Alexei Navalny, a corruption-fighting lawyer and popular blogger, electrified the crowd when he took the stage. He soon had the protesters chanting “We are the power!”

Navalny spent 15 days in jail for leading a protest on Dec. 5 that unexpectedly drew more than 5,000 people and set off the chain of demonstrations.

Putin’s United Russia party lost 25 percent of its seats in the election, but hung onto a majority in parliament through what independent observers said was widespread fraud. United Russia, seen as representing a corrupt bureaucracy, has become known as the party of crooks and thieves, a phrase coined by Navalny.

“We have enough people here to take the Kremlin,” Navalny shouted to the crowd. “But we are peaceful people and we won’t do that — yet. But if these crooks and thieves keep cheating us, we will take what is ours.”

Protest leaders expressed skepticism about Putin’s promised political reforms.

“We don’t trust him,” opposition leader Boris Nemtsov told the rally, urging protesters to gather again after the long New Year’s holidays to make sure the proposed changes are put into law.

He and other speakers called on the demonstrators to go to the polls in March to unseat Putin. “A thief must not sit in the Kremlin,” Nemtsov said.

The protest leaders said they would keep up their push for a rerun of the parliamentary vote and punishment for election officials accused of fraud, while stressing the need to prevent fraud in the March presidential election.

Former world chess champion Garry Kasparov was among those who sought to give the protesters a sense of empowerment.

“There are so many of us here, and they (the government) are few,” Kasparov said from the stage. “They are huddled up in fear behind police cordons.”

The crowd was largely young, but included a sizable number of middle-aged and elderly people, some of whom limped slowly to the site on walkers and canes.

“We want to back those who are fighting for our rights,” said 16-year-old Darya Andryukhina, who said she had also attended the previous rally.

“People have come here because they want respect,” said Tamara Voronina, 54, who said she was proud that her three sons also had joined the protest.

Putin’s comment about protesters wearing condoms only further infuriated them and inspired some creative responses. One protester Saturday held a picture montage of Putin with his head wrapped in a condom like a grandmother’s headscarf. Many inflated condoms along with balloons.

The protests reflect a growing weariness with Putin, who was first elected president in 2000 and remained in charge after moving into the prime minister’s seat in 2008. Brazen fraud in the parliamentary vote unexpectedly energized the middle class, which for years had been politically apathetic.

“No one has done more to bring so many people here than Putin, who managed to insult the whole country,” said Viktor Shenderovich, a columnist and satirical writer.

Two rallies in St. Petersburg on Saturday drew a total of 4,000 people.

“I’m here because I’m tired of the government’s lies,” said Dmitry Dervenev, 47, a designer. “The prime minister insulted me personally when he said that people came to the rallies because they were paid by the U.S. State Department. I’m here because I’m a citizen of my country.”

Putin accused the United States of encouraging and funding the protests to weaken Russia.

Putin’s former finance minister surprised the protesters by saying the current parliament should approve the proposed electoral changes and then step down to allow new parliamentary elections to be held. Alexei Kudrin, who remains close to Putin, warned that the wave of protests could lead to violence and called for establishing a dialogue between the opposition and the government.

“Otherwise we will lose the chance for peaceful transformation,” Kudrin said.

Kudrin also joined calls for the ouster of Central Election Commission chief Vladimir Churov.

Putin has promised to liberalize registration rules for opposition parties and restore the direct election of governors he abolished in 2004. Putin’s stand-in as president, Dmitry Medvedev, spelled out those and other proposed changes in Thursday’s state-of-the nation address.

Gorbachev, however, said the government appears confused.

“They don’t know what to do,” he said. “They are making attempts to get out of the trap they drove themselves into.”

____

Associated Press writers Nataliya Vasilyeva and Jim Heintz contributed to this report.

Alexei Navalny, a corruption-fighting lawyer and popular blogger, electrified the crowd when he took the stage. He soon had the protesters chanting “We are the power!”

Navalny spent 15 days in ja

Posted in Chinh Tri Nga, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Dân chúng Trung Quốc và Ai Cập biểu tình, không hề sợ hải công an của các chính phủ độc tài này

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2011

Trung Quốc : Chính quyền đàn áp biểu tình chống ô nhiễm ở Giang Tô

Trọng Thành

Đài RFI

Cảnh sát Trung Quốc phong tỏa đường vào Hải Môn, Giang Tô, ngày 22/12/2011 REUTERS

Theo AFP, cuộc biểu tình tại thành phố Hải Môn (Giang Tô), với hàng nghìn người tham gia, chống lại một nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm, diễn ra trong hai ngày, thứ ba 20/12 và thứ tư 21/12, đã chuyển thành đụng độ đẫm máu, sau khi bị chính quyền đàn áp.

Trả lời phỏng vấn của AFP qua điện thoại, những người tham gia biểu tình ở Hải Môn cho biết có 2 người thiệt mạng, gồm một thiếu niên 15 tuổi và một phụ nữ.

Còn theo đài truyền hình Oriental TV, có trụ sở tại Hồng Kông, về phía những người tham gia biểu tình, các đụng độ khiến 6 người thiệt mạng và gần 200 người bị thương. Các phương tiện truyền thông ở Hồng Kông còn phổ biến các bức ảnh một công an bị thương trong các đụng độ, và một chiếc xe của công an bị lật nhào, sau khi bị tấn công bằng gạch đá.

Một nhân chứng cho biết, ngày hôm nay, thứ năm 22/12, công an có mặt trên khắp các đường phố và chính quyền bắt đầu tiến hành các vụ bắt bớ. Một số cư dân khác ở Hải Môn thì khẳng định trên trang blog của họ rằng, « thiết quân luật » đã được thi hành trong thành phố, nhằm ngăn cản những người phản kháng tiếp tục biểu tình.

Hiện tại, AFP không có khả năng kiểm chứng được các sự kiện kể trên qua các nguồn tin độc lập

Trong bối cảnh căng thẳng này, bộ trưởng Công an Trung Quốc Chu Vĩnh Khang, ủy viên thường trực Bộ Chính trị đảng Cộng sản, và là người quê gốc Giang Tô, đã lên tiếng yêu cầu chính quyền địa phương nỗ lực để làm dịu bớt sự phẫn nộ của dân chúng.

Ông Chu Vĩnh Khang nói : « Chúng ta phải tăng cường các cố gắng trung gian hòa giải để giải quyết các xung đột và phản kháng này ». Bộ trưởng Công an Trung Quốc nhấn mạnh : « Chúng ta vừa phải tôn trọng các chuẩn mực văn minh trong khi áp dụng luật pháp, vừa phải xử lý những sự cố do đám đông gây ra và những hành động cá nhân cực đoan theo pháp luật ».

Một người lãnh đạo cuộc phản kháng ở Ô Khảm đã được trả tự do

Liên quan đến cuộc phản kháng tại làng Ô Khảm (Quảng Đông), nơi có 13.000 cư dân sinh sống, ngày hôm qua, chính quyền đã tỏ ra nhân nhượng với việc giảm bớt sự hiện diện của công an và hứa trả tự do cho những người lãnh đạo phong trào. Như vậy, phong trào phản đối nạn tham nhũng và tước đoạt đất đại tại làng Ô Khảm đã ngưng lại.

Cũng ngày hôm nay, ông Trương Kiến Thành (Zhang Jiancheng), một trong các lãnh đạo cuộc nổi dậy ở Ô Khảm, đã được trả tự do. Nói chuyện với AFP, một người thân của ông Trương Kiến Thành cho biết, ông vừa về nhà vào buổi chiều nay. Cũng theo người nhà của ông Trương, người lãnh đạo biểu tình ở Ô Khảm chỉ được trả tự do có điều kiện, bị buộc phải giữ im lặng và không có quyền trả lời phỏng vấn.

Ông Trương Kiến Thành đã bị bắt cách đây hai tuần. Xin nhắc lại là một người lãnh đạo khác của cuộc nổi dậy là ông Tiết Kim Ba đã bị chết tại nơi giam giữ. Theo mô tả của những người thân, ông Tiết Kim Ba bị chết vì tra tấn. Cái chết của ông Tiết khiến phong trào phản kháng bùng lên mạnh mẽ.

Ngày hôm nay, báo chí chính thống tại Trung Quốc chỉ trích thái độ của chính quyền tại Ô Khảm, vì đã tiến hành phong tỏa làng này hơn mười ngày, trước khi chọn biện pháp hòa giải. Tờ Nhân dân nhật báo nhận định, chính quyền địa phương đã thất bại trong việc « đáp ứng các đòi hỏi có lý của dân làng » và điều này khiến cho « bạo lực leo thang ».

Trung Quốc gia tăng kiểm soát internet tại Quảng Đông

Liên quan đến các biện pháp khống chế dư luận trong bối cảnh các xung đột bùng nổ tại một số địa phương, chính quyền Bắc Kinh vừa mở rộng lệnh kiểm soát việc sử dụng internet tại tỉnh Quảng Đông. Lệnh này, có hiệu lực từ thứ Sáu tuần trước, buộc 7 nhà cung cấp dịch vụ internet chính của vùng này yêu cầu những người lập các trang blog mới phải sử dụng danh tính thực của họ khi đăng ký.

Cùng với các mạng xã hội, các trang blog cá nhân là nơi hình thành một công luận xã hội mới tại Trung Quốc. Theo các số liệu chính thức, số người dùng blog cá nhân tại Trung Quốc đã tăng gấp ba lần trong năm nay. Chính quyền lo ngại việc lan truyền thông tin trên các trang mạng cá nhân vượt ra ngoài tầm kiểm soát.

Ai Cập: phụ nữ phản đối cảnh sát bạo hành

Một phụ nữ Ai Cập cầm bức ảnh in cảnh người phụ nữ bị cảnh sát kéo lê trên đường, hở hết ngực và bụng và bị đạp vào người -Ảnh: AFP
Chính quyền Quân sự Ai Cập phải lên tiếng bày tỏ thái độ “đáng tiếc nhất” trước việc cảnh sát đã kéo lê một phụ nữ biểu tình dưới đất, khiến cô hở hết áo lót và bụng, sau đó còn đạp lên bụng cô.

Một đoạn video ghi lại hình ảnh này đã khiến phụ nữ Ai Cập nổi giận. Họ kêu gọi phụ nữ cả nước tham gia cuộc tuần hành mang tên “Hàng triệu phụ nữ” vào ngày 20-12.

Reuters cho biết ban đầu cuộc tuần hành có khoảng vài trăm phụ nữ, khởi đầu từ quảng trường Tahir, sau đó những người biểu tình đi trên các con đường và thu hút khoảng 2.000 người tham gia đủ mọi tầng lớp và giới. Họ giơ hình ảnh những người biểu tình bị lạm dụng và kêu gọi chính quyền thay đổi cách hành xử vô nhân đạo này.

Theo AFP, chính quyền Ai Cập phải tìm cách hạ nhiệt bức xúc của người dân bằng cách hứa trừng trị thích đáng những cảnh sát bạo hành. Chính quyền kêu gọi các bên bình tĩnh và hứa sẵn sàng thảo luận về bất kỳ đề nghị nào giúp đem lại sự ổn định và an toàn cho Ai Cập.

Navi Pillay, cao ủy Liên Hiệp Quốc về quyền con người, cho rằng hành động bạo lực chống lại phụ nữ là điều “cực kỳ gây sốc và không thể không bị trừng phạt”.

Hạnh Nguyên   Báo Tuổi Trẻ

___________________________

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Chăn Gối với Kẻ Thù – Sleeping With the Enemy

Posted by hoangtran204 trên 23/12/2011

Xin mời quý vị đọc một bài viết của một cựu sĩ quan Hoa Kỳ đã từng chiến đấu trên chiến trường Việt Nam, cựu bộ trưởng Bộ Hải Quân Hoa Kỳ và hiện là thượng nghị sĩ liên bang của Hoa Kỳ, nói lên quan điểm về cuộc chiến Việt Nam.

Thú thật, cho đến bây giờ mới thấy một người Mỹ trí thức có đầy đủ hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam đã viết một bài chân thật, rất đáng kính trọng và rất đáng đưa vào lịch sử của Hoa Kỳ để cho con cháu người dân Hoa Kỳ được hiểu rõ hơn cuộc chiến Việt Nam mà trước đây những kẻ viết lịch sử Hoa Kỳ đã thiếu dữ kiện sống để viết.

THG

Nguồn Thư viện Viet Nam tvvn.org

Chăn Gối với Kẻ Thù-Sleeping With the Enemy

James Webb

Biết giải thích như thế nào với những đứa con của tôi rằng khi tôi mười mấy, đôi mươi, những tiếng nói ồn ào nhất của những người cùng tuổi, cùng thời với tôi lại nhắm mục đích phá nát những nền tảng của xã hội Hoa Kỳ, để xây dựng lại một xã hội dựa theo quan điểm đầy tự mãn của họ.

Giờ đây nhìn lại, ngay cả chúng ta, những người đã trải qua giai đoạn này, cũng không hiểu được tại sao lại có những kẻ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu, lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cả Quốc Hội cũng bị nhiễm những con vi khuẩn nầy.

Sau khi Tổng Thống Nixon từ chức vào tháng Tám 1974, cuộc bầu cử mùa Thu năm ấy mang lại 76 tân dân biểu thuộc đảng Dân Chủ và 8 thượng nghị sĩ. Đại đa số những dân cử chân ướt, chân ráo này đã tranh cử dựa trên cương lãnh của (Thượng nghị sĩ) Mc Govern. Nhiều người trong số họ được xem như những ứng viên yếu kém trước khi Nixon từ chức, vài người không xứng đáng thấy rõ, chẳng hạn như Tom Downey, 26 tuổi, thuộc New York, người chưa từng có một nghề ngỗng gì và vẫn còn ở nhà với mẹ.

Cái gọi là Quốc Hội hậu Watergate (1) này diễu hành vào thành phố với một sứ mệnh vô cùng quan trọng mà sau này trở thành điểm tập hợp cho cánh Tả của Hoa Kỳ: Chấm dứt sự giúp đỡ của nước Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào cho chính quyền đang bị vây khốn Nam Việt Nam. Không nên lầm lẫn ở chỗ này – đây không phải là sự kêu gào thanh niên Mỹ đừng đi vào cõi chết của những năm trước đây. Những người lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Việt Nam hai năm trước rồi, và đã tròn bốn năm không có một người Mỹ nào bị tử trận.

Bởi những lý do mà không một viện dẫn lịch sử nào có thể bào chữa được, ngay cả sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, cánh Tả vẫn tiếp tục những cố gắng để đánh gục nền Dân Chủ còn phôi thai của Nam Việt Nam. Phụ tá sau này của Tòa Bạch Ốc Harold Ickesnhiều người khác trong “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh” – có một lúc được giúp đỡ bởi một người tuổi trẻ nhiều tham vọng: Bill Clinton làm việc để cắt toàn bộ những khoản tài trợ của Quốc Hội nhằm giúp miền Nam Việt Nam tự bảo vệ.

Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là những con ác quỷ trong chánh quyền Nam Việt Nam. Những đồng minh của họ trong Quốc Hội liên tục thêm vào những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ. 

Rồi đến đầu năm 1975 Quốc Hội Watergate giáng một đơn chí tử xuống các nước Đông Dương không Cộng Sản. Quốc Hội mới được bầu lên đã lạnh như băng, từ chối lời yêu cầu gia tăng quân viện cho miền Nam Việt Nam và Cam Bốt của Tổng Thống Gerald Ford. Ngân khoản dành riêng này sẽ cung cấp cho quân đội Cam Bốt và Nam Việt Nam đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ. Bất chấp sự kiện là Hiệp Định Paris 1973 đặc biệt đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam, đến tháng Ba phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49, chống lại bất kỳ viện trợ quân sự bổ sung cho Nam Việt Nam và Cam Bốt.

Trong các cuộc tranh luận, luận điệu của phe Tả phản chiến gồm toàn những lời lên án các đồng minh đang bị chiến tranh tàn phá của Hoa Kỳ. Và đầy những hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia này dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản. Rồi dân biểu Christopher Dodd, tiêu biểu cho sự ngây thơ hết thuốc chữa của các đồng viện, lên giọng đầy điệu bộ “gọi chế độ Lon Nol là đồng minh là làm nhục chữ nghĩa… Tặng vật lớn nhất mà đất nước chúng ta có thể trao cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình, không phải súng. Và cách tốt nhất để đạt được mục đích này là chấm dứt viện trợ quân sự ngay lập tức.”

Sau khi trở thành chuyên gia đối ngoại trong vòng chỉ có hai tháng kể từ lúc thôi bú mẹ, Tom Downey chế diễu những cảnh cáo về tội ác diệt chủng sắp sửa xảy ra ở Cam Bốt, cái tội ác đã giết hơn một phần ba dân số của quốc gia này, như sau: “Chính phủ cảnh cáo rằng nếu chúng ta rời bỏ các quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng những cảnh cáo cho việc tắm máu trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài việc tắm máu hiện nay.”

Trên chiến trường Việt Nam việc chấm dứt viện trợ quân trang, quân cụ là một tin làm kinh ngạc và bất ngờ. Các cấp chỉ huy quân đội của miền Nam Việt Nam đã được đảm bảo về việc viện trợ trang thiết bị khi người Mỹ rút quân – tương tự như những viện trợ Hoa Kỳ vẫn dành cho Nam Hàn và Tây Đức – và đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tái oanh tạc Bắc Việt, nếu Bắc Việt tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Paris 1973. Bây giờ thì họ đang mở mắt trừng trừng nhìn vào một tương lai bất định khủng khiếp, trong lúc khối Sô Viết và Trung Cộng vẫn tiếp tục yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt. (Vào năm 1975, trong khi Bộ Đội Miền Bắc  đang được 17 nước XHCN viện trợ lẫn cho mượn để đánh nhau với Miền Nam VN với mức 2,5 đến3  tỷ đô la hàng năm, thì ở  Miền Nam, Quân đội VNCH chỉ được Mỹ viện trợ 750 triệu đô la vào năm 1974; và rồi sang năm 1975 chỉ còn 350 triệu mỹ kim,  số tiền này qui ra đạn dược và tiếp liệu, mà một số đang trên đường chở bằng tàu thủy đến VN, nhưng hàng chưa đến nơi thì miền Nam đã mất -Theo tài liệu đã dẫn đâu đó trong blog này của Trần Hoàng)

Trong lúc quân đội Nam Việt Nam, vừa choáng váng vừa mất tinh thần, tìm cách điều chỉnh lại lực lượng để đối phó với những sự thiếu thốn trang thiết bị cần thiết, quân đội chính quy miền Bắc được tái trang bị đầy đủ lập tức phát động cuộc tổng tấn công. Bắt giữ được nhiều đơn vị bị cô lập, quân Bắc Việt tràn xuống vùng đồng bằng trong vòng có 55 ngày.

Những năm về sau, tôi đã phỏng vấn những người lính miền Nam Việt Nam còn sống sót trong những cuộc giao tranh, nhiều người đã bị trải qua hơn chục năm trong các trại tù tập trung của Cộng Sản sau khi cuộc chiến chấm dứt. Những điệp khúc này không bao giờ chấm dứt:

– “Tôi không còn đạn dược.”

– “Tôi chỉ còn 3 quả đạn pháo cho mỗi khẩu một ngày.”

– “Tôi không còn gì để phát cho binh sĩ của tôi.”

– “Tôi phải tắt máy truyền tin, bởi vì tôi không thể nào chịu đựng được nữa khi phải nghe những lời kêu gọi xin tiếp viện.”

Phản ứng của Hoa Kỳ trước sự xụp đổ này cho thấy có hai nhóm khác nhau, và điều này vẫn còn tiếp tục được thấy rõ trong nhiều vấn để mà chúng ta đang phải đương đầu ngày nay. Đối với những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam, và đối với gia đình, bạn bè, và những người cùng quan điểm chánh trị với họ, đây là là một tháng đen tối và tuyệt vọng.

Những khuôn mặt mà chúng ta thấy đang chạy trốn sự tấn công của Bắc Việt là những khuôn mặt rất thật và quen thuộc, không phải đơn thuần là những hình ảnh truyền hình. Những thân người xoay trong không gian như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi họ đeo và bám vào thân trực thăng hay phi cơ một cách tuyệt vọng, có thể là những người chúng ta quen biết hoặc đã từng giúp đỡ. Ngay cả đối với những kẻ không còn niềm tin vào khả năng đánh bại Cộng Sản, đây không phải là cách để chấm dứt cuộc chiến.

Đối với những kẻ từng trốn tránh cuộc chiến và lớn lên tin rằng đất nước chúng ta là quỷ dữ, và ngay cả khi họ thơ mộng hoá những ý định của người Cộng Sản, những tuần lễ sau cùng này đã chối bỏ trách nhiệm của mình trong sự xụp đổ này bằng những phê phán quân đội Nam Việt Nam đầy tính sa lông, hay là công khai reo mừng.

Ở trung tâm Luật Khoa của Đại Học Georgetown nơi tôi đang theo học, việc Bắc Việt trắng trợn ném bỏ các điều cam kết về hòa bình và bầu cử trong Hiệp Định Paris 1973, và tiếng xe tăng của Bắc Việt trên đường phố Sài Gòn được xem như là một cái cớ để thực sự ăn mừng.

Sự chối bỏ trách nhiệm vẫn còn tràn lan trong năm 1997. Thực ra cái kết cuộc này chính là mục tiêu của phong trào phản chiến đã cố gắng không ngừng nghỉ trong những năm theo sau sự rút quân của Mỹ. George McGovern, thẳng thắn hơn nhiều người, công khai tuyên bố với người viết trong lúc nghỉ khi thâu hình cho chương trình “Crossfire” của CNN vào năm 1995. Sau khi tôi đã lý luận rằng cuộc chiến rõ ràng là có thể thắng được ngay cả vào giai đoạn cuối nếu chúng ta thay đổi chiến lược của mình, ứng cử viên Tổng Thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, đã bình luận rằng: “Anh không hiểu là tôi KHÔNG MUỐN chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?” Ông McGovern không chỉ có một mình. Ông ta là phần tử của một nhóm nhỏ, nhưng vô cùng có ảnh hưởng lớn trong chính trường. Sau cùng họ đã đạt được điều họ muốn.

Có lẽ không còn minh chứng nào lớn hơn cho không khí hân hoan chung quanh chiến thắng của Cộng Sản là giải thưởng điện ảnh năm 1975, được tổ chức vào ngày 8 tháng 4, ba tuần trước khi miền Nam xụp đổ.

Giải phim tài liệu hay nhất được trao cho phim Hearts and Minds, một phim tuyên truyền độc ác tấn công những giá trị văn hóa Hoa Kỳ cũng như những cố gắng của chúng ta để hỗ trợ cho sự chiến đấu cho nền Dân Chủ của miền Nam Việt Nam. Các nhà sản xuất Peter Davis và Bert Schneider (người thủ diễn một vai trong câu chuyện của David Horowitz) cùng nhau nhận giải Oscar. Schneider thẳng thừng trong việc công nhận sự ủng hộ những người Cộng Sản của mình.

Đứng trước máy vi âm ông ta nói:

– “Thật là ngược đời khi chúng ta đang ở đây, vào thời điểm mà Việt Nam sắp được giải phóng.”

Rồi giây phút đáng kinh ngạc nhất của Hollywood xảy ra – dù giờ đây đã được họ cố tình quên đi. Trong lúc quốc gia Việt Nam, mà nhiều người Mỹ đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan biến dưới bánh xích của xe tăng, Schneider lôi ra một điện tín được gởi từ kẻ thù của chúng ta, đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và đọc to lên lời chúc mừng cho phim của mình. Không một phút giây do dự, những kẻ nhiều quyền lực nhất của Hollywood đứng dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.

Chúng ta, những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam hoặc là những người ủng hộ những cố gắng ở đó, nhìn lại cái khoảnh khắc này của năm 1975 với sự sửng sốt không nguôi và không bao giờ quên được. Họ là ai mà cuồng nhiệt đến thế để đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta? Sao họ lại có thể chống lại chính những người đồng hương của mình một cách dữ tợn đến thế? Sao họ có thể đứng dậy để hoan nghênh chiến thắng của kẻ thù Cộng Sản, kẻ đã làm thiệt mạng 58,000 người Mỹ và đè bẹp một đồng minh chủ trương ủng hộ Dân Chủ? Làm sao có thể nói rằng chúng ta và họ đang sống trong cùng một đất nước?

Từ lúc ấy đến nay, không một lời nào của Hollywood nói về số phận của những con người biến mất sau bức màn tre của Việt Nam. Không ai đề cập đến những trại tù tập trung cải tạo mà hàng triệu chiến binh miền Nam Việt Nam đã bị giam giữ, 56,000 người đã thiệt mạng, 250,000 bị giam hơn 6 năm, nhiều người bị giam đến 18 năm.

Không người nào chỉ trích việc cưỡng bách di dân, tham nhũng, đàn áp những người bất đồng chính kiến, cướp đất, cướp nhà của dân hay là chế độ Công An trị mà hiện vẫn còn đang tiếp diễn. Thêm vào đó, ngoại trừ phim Hamburger Hill có ý tốt nhưng kém về nghệ thuật, người ta chỉ hoài công nếu muốn tìm một phim thuộc loại có tầm vóc diễn tả các chiến binh Hoa Kỳ ở Việt Nam với đầy đủ danh dự và trong những khung cảnh có thật.

Tại sao? Bởi vì cộng đồng làm phim, cũng như những kẻ thuộc loại đỉnh cao trí tuệ trong xã hội, chưa bao giờ yêu thương, kính phục, hay ngay cả thông cảm với những con người đã nghe theo tiếng gọi của đất nước, lên đường phục vụ. Và vào lúc mà một cuộc chiến âm thầm nhưng không ngừng nghỉ đang diễn ra về việc lịch sử sẽ ghi nhớ đất nước chúng ta tham dự ở Việt Nam như thế nào? Những kẻ chế diễu chính sách của chính quyền, trốn lính, và tích cực ủng hộ kẻ thù, cái kẻ thù mà sau cùng trở nên tàn độc và thối nát, không muốn được nhớ đến như là những kẻ quá đỗi ngây thơ và lầm lẫn.

Giữa những người dân Mỹ bình thường, thái độ của họ trong khoảng thời gian rối ren này lành mạnh hơn nhiều. Đằng sau những tin tức bị thanh lọc và những bóp méo về Việt Nam, thực tế là những công dân của chúng ta đồng ý với chúng ta, những người đang chiến đấu, hơn là với những kẻ làm suy yếu cuộc chiến đấu này. Khá thú vị là điều nầy đặc biệt đúng với tuổi trẻ Mỹ, mà giờ đây vẫn còn được mô tả như là thành phần nổi loạn chống chiến tranh.

Như được tường trình lại trong bài “Ý Kiến Quần Chúng”, những kết quả thăm dò của Gallup từ năm 1966 cho đến khi Hoa Kỳ chấm dứt sự tham dự chiến tranh ỏ Việt Nam cho thấy tuổi trẻ Mỹ thực ra ủng hộ cuộc chiến Việt Nam lâu bền hơn bất cứ lứa tuổi khác. Ngay cả cho đến tháng 1 năm 1973, khi 68 phần trăm dân Mỹ trên 50 tuổi tin rằng chuyện gởi quân sang Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm những người tuổi từ 25 đến 29 đồng ý. Những phát hiện này cho thấy giới trẻ nói chung rõ ràng là không cực đoan, điều này đã được củng cố thêm bằng kết quả bầu cử năm 1972 – trong đó lứa tuổi từ 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn là George McGovern bằng tỷ lệ 52% so với 46 phần trăm.

Tương tự như vậy, mặc dù trong quá khứ những người chống đối này, mà ngày nay đang thống lãnh giới báo chí và giới khoa bảng, đã khăng khăng nói ngược với thực tế, sự xâm nhập vào Cam Bốt năm 1970 đã được ủng hộ quần chúng mạnh mẽ. Sự xâm nhập này đã gây ra sự phản đối rộng khắp ở các sân trường đại học, kể cả một vụ xung đột làm cho bốn người chết ở Kent State University. Theo những kết quả thăm dò dư luận của Harris gần 6 phần 10 dân Mỹ tin rằng sự xâm nhập vào Cam Bốt là đúng đắn. Đa số được hỏi ý kiến, trong cùng bản thăm dò này vào tháng 5 năm 1970, ủng hộ tái oanh tạc Bắc Việt, một thái độ cho thấy sự bác bỏ hoàn toàn phong trào phản chiến.

Các cựu chiến binh Việt Nam, dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh, trong các bản tin, và trong các lớp học, như là những chiến binh miễn cưỡng và thất bại, vẫn được những người dân Mỹ bình thường tôn trọng. Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến giờ về những cựu chiến binh Việt Nam (Harris Survey, 1980, ủy quyền bởi Veterans Administration), 73 phần trăm công chúng và 89 phần trăm cựu chiến binh Việt Nam đồng ý với câu phát biểu: “Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là QUÂN ĐỘI CHÚNG TA ĐƯỢC YÊU CẦU CHIẾN ĐẤU TRONG MỘT CUỘC CHIẾN MÀ CÁC LÃNH TỤ CHÍNH TRỊ Ở WASHINGTON KHÔNG CHO HỌ ĐƯỢC PHÉP CHIẾN THẮNG”; 70 phần trăm những người từng chiến đấu ở Việt Nam không đồng ý với câu phát biểu: “Những gì chúng ta gây ra cho nhân dân Việt Nam thật đáng xấu hổ.” Trọn 91 phần trăm những người đã từng phục vụ chiến đấu ở Việt Nam nói rằng họ hãnh diện đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm nói rằng họ thấy thoải mái với thời gian ở trong quân đội. Hơn nữa, 71 phần trăm những người phát biểu ý kiến cho thấy họ sẵn sàng chiến đấu ở Việt Nam một lần nữa, ngay cả nếu biết rằng cái kết quả chung cuộc vẫn như thếsự giễu cợt sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.

Bản thăm dò này còn có cái gọi là “nhiệt kế đo cảm giác,” để đo lường thái độ của công chúng đối với những nhóm người khác nhau, với thang điếm từ 1 đến 10. Cựu chiến binh từng phục vụ ở Việt Nam được chấm điểm 9.8 trên thang điểm này. Bác sĩ được 7.9, phóng viên truyền hình 6.1, chánh trị gia 5.2, những người biểu tình chống chiến tranh 5.0, kẻ trốn quân dịch và chạy sang Canada được cho 3.3.

Trái ngược với những câu chuyện huyền thoại được dai dẳng phổ biến, hai phần ba những người phục vụ ở Việt Nam là quân tình nguyện chứ không phải bị động viên, và 77 phần trăm những người tử trận là quân tình nguyện. Trong số những người tử trận: 86 phần trăm là da trắng, 12.5 phần trăm người Mỹ gốc Phi Châu và 1.2 phần trăm thuộc các chủng tộc khác. Những cáo buộc rất phổ biến như là chỉ có dân thuộc các nhóm thiểu số và người nghèo được giao cho những công tác khó khăn trong quân đội khi ở Việt Nam là điều sai lạc.

Sự bất quân bình trong cuộc chiến, thực ra chỉ đơn giản là do những thành phần đặc quyền đặc lợi trốn tránh trách nhiệm của mình, và chính những người này kể từ thời gian ấy đã kiên trì bôi bẩn những kinh nghiệm về cuộc chiến để nhằm tự bào chữa cho chính mình, phòng khi sau này sẽ bị lịch sử phán xét.

Thế còn những kẻ không những đã hiểu sai ý nghĩa một cuộc chiến, mà còn không hiểu nổi dân tộc của mình, những kẻ thuộc thành phần tinh hoa của xã hội đó bây giờ ra sao? Bây giờ họ đang ở đâu nếu không phải ở trong Tòa Bạch Ốc? Trên vấn đề lịch sử quan yếu này, cái vấn đề đã xác định thế hệ của chúng ta, họ dấu mình thật kín. Họ nên dấu mình như thế.

Đối với những kẻ đã đem cuộc hành trình tuổi trẻ đánh bạc trên cái ý tưởng rằng tổ quốc mình là một lực lượng ác quỷ, sau khi nhận ra sự ngây thơ của mình trong những năm sau năm 1975, chắc họ phải có một cảm giác rất kinh khủng. Thật là sáng mắt, sáng lòng cho những kẻ đã tỉnh thức, đã tự vượt qua được phản ứng chối tội, để chứng kiến cảnh tượng hàng trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam chạy trốn “ngọn lửa tinh nguyên của cách mạng” trên những con tàu ọp ẹp, sự chạy trốn mà chắc chắn 50 phần trăm đã vùi thây dưới đáy biển, hoặc là nhìn thấy những hình ảnh truyền hình của hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt nằm lăn lóc trên những cánh đồng hoang, một phần nhỏ của hàng triệu người bị giết bởi những người Cộng Sản “giải phóng quân.”

Thực vậy, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận. Thật đáng tủi nhục biết bao khi nhìn vào khuôn mặt của một thương binh, hay là nghe diễn từ tốt nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá-cố của em đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ, chiến đấu cho một lý tưởng mà bọn họ công khai mỉa mai, chế diễu, và xem thường. Và thật là một điều đáng xấu hổ khi chúng ta có một hệ thống chính-quyền đã để cho em học sinh đó thành công nhanh chóng ở đây, mà lại không thực hiện được một hệ thống như vậy ở quê hương của em.

Nguồn  tvvn.org

Sleeping With the Enemy By: James Webb

TheAmericanEnterprise.org | Wednesday, April 30, 2003

It is difficult to explain to my children that in my teens and early twenties the most frequently heard voices of my peers were trying to destroy the foundations of American society, so that it might be rebuilt according to their own narcissistic notions. In retrospect it’s hard even for some of us who went through those times to understand how highly educated people—most of them spawned from the comforts of the upper-middle class—could have seriously advanced the destructive ideas that were in the air during the late ’60s and early ’70s. Even Congress was influenced by the virus.After President Nixon resigned in August of 1974, that fall’s congressional elections brought 76 new Democrats to the House, and eight to the Senate. A preponderance of these freshmen had run on McGovernesque platforms. Many had been viewed as weak candidates before Nixon’s resignation, and some were glaringly unqualified, such as then-26-year-old Tom Downey of New York, who had never really held a job in his life and was still living at home with his mother.This so-called Watergate Congress rode into town with an overriding mission that had become the rallying point of the American Left: to end all American assistance in any form to the besieged government of South Vietnam. Make no mistake—this was not the cry of a few years earlier to stop young Americans from dying. It had been two years since the last American soldiers left Vietnam, and fully four years since the last serious American casualty calls there.For reasons that escape historical justification, even after America’s military withdrawal the Left continued to try to bring down the incipient South Vietnamese democracy. Future White House aide Harold Ickes and others at “Project Pursestrings”—assisted at one point by an ambitious young Bill Clinton—worked to cut off all congressional funding intended to help the South Vietnamese defend themselves. The Indochina Peace Coalition, run by David Dellinger and headlined by Jane Fonda and Tom Hayden, coordinated closely with Hanoi throughout 1973 and 1974, and barnstormed across America’s campuses, rallying students to the supposed evils of the South Vietnamese government. Congressional allies repeatedly added amendments to spending bills to end U.S. support of Vietnamese anti-Communists, precluding even air strikes to help South Vietnamese soldiers under attack by North Vietnamese units that were assisted by Soviet-bloc forces.Then in early 1975 the Watergate Congress dealt non-Communist Indochina the final blow. The new Congress icily resisted President Gerald Ford’s January request for additional military aid to South Vietnam and Cambodia. This appropriation would have provided the beleaguered Cambodian and South Vietnamese militaries with ammunition, spare parts, and tactical weapons needed to continue their own defense. Despite the fact that the 1973 Paris Peace Accords called specifically for “unlimited military replacement aid” for South Vietnam, by March the House Democratic Caucus voted overwhelmingly, 189-49, against any additional military assistance to Vietnam or Cambodia.The rhetoric of the antiwar Left during these debates was filled with condemnation of America’s war-torn allies, and promises of a better life for them under the Communism that was sure to follow. Then-Congressman Christopher Dodd typified the hopeless naiveté of his peers when he intoned that “calling the Lon Nol regime an ally is to debase the word…. The greatest gift our country can give to the Cambodian people is peace, not guns. And the best way to accomplish that goal is by ending military aid now.” Tom Downey, having become a foreign policy expert in the two months since being freed from his mother’s apron strings, pooh-poohed the coming Cambodian holocaust that would kill more than one-third of the country’s population, saying, “The administration has warned that if we leave there will be a bloodbath. But to warn of a new bloodbath is no justification for extending the current bloodbath.”

On the battlefields of Vietnam the elimination of all U.S. logistical support was stunning and unanticipated news. South Vietnamese commanders had been assured of material support as the American military withdrew—the same sort of aid the U.S. routinely provided allies from South Korea to West Germany—and of renewed U.S. air strikes if the North attacked the South in violation of the 1973 Paris Peace Accords. Now they were staring at a terrifyingly uncertain future, even as the Soviets continued to assist the Communist North.

As the shocked and demoralized South Vietnamese military sought to readjust its forces to cope with serious shortages, the newly refurbished North Vietnamese immediately launched a major offensive. Catching many units out of position, the North rolled down the countryside over a 55-day period. In the ensuing years I have interviewed South Vietnamese survivors of these battles, many of whom spent ten years and more in Communist concentration camps after the war. The litany is continuous: “I had no ammunition.” “I was down to three artillery rounds per tube per day.” “I had nothing to give my soldiers.” “I had to turn off my radio because I could no longer bear to hear their calls for help.”

The reaction in the United States to this debacle defines two distinct camps that continue to be identifiable in many of the issues we face today. For most of those who fought in Vietnam, and for their families, friends, and political compatriots, this was a dark and deeply depressing month. The faces we saw running in terror from the North Vietnamese assault were real and familiar, not simply video images. The bodies that fell like spinning snowflakes toward cruel deaths after having clung hopelessly to the outer parts of departing helicopters and aircraft may have been people we knew or tried to help. Even for those who had lost their faith in America’s ability to defeat the Communists, this was not the way it was supposed to end.

For those who had evaded the war and come of age believing our country was somehow evil, even as they romanticized the intentions of the Communists, these few weeks brought denials of their own responsibility in the debacle, armchair criticisms of the South Vietnamese military, or open celebrations. At the Georgetown University Law Center where I was a student, the North’s blatant discarding of the promises of peace and elections contained in the 1973 Paris Accords, followed by the rumbling of North Vietnamese tanks through the streets of Saigon, was treated by many as a cause for actual rejoicing.

Denial is rampant in 1997, but the truth is this end result was the very goal of the antiwar movement’s continuing efforts in the years after American withdrawal. George McGovern, more forthcoming than most, bluntly stated as much to this writer during a break in taping a 1995 edition of cnn’s “Crossfire.” After I had argued that the war was clearly winnable even toward the end if we had changed our strategy, the 1972 presidential candidate who had offered to go to Hanoi on his knees commented, “What you don’t understand is that I didn’t want us to win that war.” Mr. McGovern was not alone. He was part of a small but extremely influential minority who eventually had their way.

There is perhaps no greater testimony to the celebratory atmosphere that surrounded the Communist victory in Vietnam than the 1975 Academy Awards, which took place on April 8, just three weeks before the South’s final surrender. The award for Best Feature Documentary went to the film Hearts and Minds, a vicious piece of propaganda that assailed American cultural values as well as our effort to assist South Vietnam’s struggle for democracy. The producers, Peter Davis and Bert Schneider [who plays a role in David Horowitz’s story—see page 31], jointly accepted the Oscar. Schneider was frank in his support of the Communists. As he stepped to the mike he commented that “It is ironic that we are here at a time just before Vietnam is about to be liberated.” Then came one of the most stunning—if intentionally forgotten—moments in Hollywood history. As a struggling country many Americans had paid blood and tears to try to preserve was disappearing beneath a tank onslaught, Schneider pulled out a telegram from our enemy, the Vietnamese Communist delegation in Paris, and read aloud its congratulations to his film. Without hesitating, Hollywood’s most powerful people rewarded Schneider’s reading of the telegram with a standing ovation.

Those of us who either fought in Vietnam or supported our efforts there look at this 1975 “movie moment” with unforgetting and unmitigated amazement. Who were these people who so energetically poisoned the rest of the world’s view of us? How had they turned so virulently against their own countrymen? How could they stand and applaud the victory of a Communist enemy who had taken 58,000 American lives and crushed a struggling, pro-democratic ally? Could they and the rest of us be said to be living in the same country anymore?

Not a peep was heard then, or since, from Hollywood regarding the people who disappeared behind Vietnam’s bamboo curtain. No one has ever mentioned the concentration camps into which a million South Vietnamese soldiers were sent; 56,000 to die, 250,000 to stay for more than six years, and some for as long as 18. No one criticized the forced relocations, the corruption, or the continuing police state. More to the point, with the exception of the well-intentioned but artistically weak Hamburger Hill, one searches in vain for a single major film since that time that has portrayed American soldiers in Vietnam with dignity and in a true context.

Why? Because the film community, as with other elites, never liked, respected, or even understood those who answered the call and served. And at a time when a quiet but relentless battle is taking place over how history will remember our country’s involvement in Vietnam, those who ridiculed government policy, avoided military service, and actively supported an enemy who turned out to be vicious and corrupt do not want to be remembered as having been so naive and so wrong.

Among everyday Americans, attitudes during this troubled time were much healthier. Behind the media filtering and distortion on Vietnam, the fact is that our citizenry agreed far more consistently with those of us who fought than with those who undermined our fight. This was especially true, interestingly, among the young Americans now portrayed as having rebelled against the war.

As reported in Public Opinion, Gallup surveys from 1966 to the end of U.S. involvement show that younger Americans actually supported the Vietnam war longer than any other age group. Even by January of 1973, when 68 percent of Americans over the age of 50 believed it had been a mistake to send troops to Vietnam, only 49 percent of those between 25 and 29 agreed. These findings that the youth cohort as a whole was distinctly unradical were buttressed by 1972 election results—where 18- to 29-year-olds preferred Richard Nixon to George McGovern by 52 to 46 percent.

Similarly, despite persistent allegations to the contrary by former protesters who now dominate media and academia, the 1970 invasion of Cambodia—which caused widespread campus demonstrations, including a riot that led to four deaths at Kent State University—was strongly supported by the public. According to Harris surveys, nearly 6 in 10 Americans believed the Cambodian invasion was justified. A majority in that same May 1970 survey supported an immediate resumption of bombings in North Vietnam, a complete repudiation of the antiwar movement.

Vietnam veterans, though persistently maligned in film, news reports, and classrooms as unwilling, unsuccessful soldiers, have been well thought of by average Americans. In the most comprehensive study ever done on Vietnam vets (Harris Survey, 1980, commissioned by the Veterans Administration), 73 percent of the general public and 89 percent of Vietnam veterans agreed with the statement that “The trouble in Vietnam was that our troops were asked to fight in a war which our political leaders in Washington would not let them win.” Seventy percent of those who fought in Vietnam disagreed with the statement “It is shameful what my country did to the Vietnamese people.” Fully 91 percent of those who served in Vietnam combat stated that they were glad they had served their country, and 74 percent said they had enjoyed their time in the military. Moreover, 71 percent of those who expressed an opinion indicated that they would go to Vietnam again, even knowing the end result and the ridicule that would be heaped on them when they returned.

This same survey contained what was called a “feelings thermometer,” measuring the public’s attitudes toward various groups on a scale of 1 to 10. Veterans who served in Vietnam rated a 9.8 on this scale. Doctors scored a 7.9, TV reporters a 6.1, politicians a 5.2, antiwar demonstrators a 5.0, and draft evaders who went to Canada came in at 3.3.

Contrary to persistent mythology, two-thirds of those who served during Vietnam were volunteers rather than draftees, and 77 percent of those who died were volunteers. Of those who died, 86 percent were Caucasian, 12.5 percent were African-American, and 1.2 percent were from other races. The common claim that it was minorities and the poor who were left to do the dirty work of military service in Vietnam is false. The main imbalance in the war was simply that the privileged avoided their obligations, and have persisted since that time in demeaning the experience in order to protect themselves from the judgment of history.

And what of these elites who misread not only a war but also their own countrymen? Where are they now, other than in the White House? On this vital historical issue that defined our generation, they now keep a low profile, and well they should.

What an eerie feeling it must have been for those who staked the journey of their youth on the idea that their own country was an evil force, to have watched their naiveté unravel in the years following 1975. How sobering it must have been for those who allowed themselves to move beyond their natural denial, to observe the spectacle of hundreds of thousands of South Vietnamese fleeing the “pure flame of the revolution” on rickety boats that gave them a 50 percent chance of death at sea, or to see television pictures of thousands of Cambodian skulls lying in open fields, part of the millions killed by Communist “liberators.” How hollow the memories of drug-drenched and sex-enshrined antiwar rallies must be; how false the music that beatified their supposedly noble dissent.

Indeed, let’s be frank. How secretly humiliating to stare into the face of a disabled veteran, or to watch the valedictory speech of the latest Vietnamese-American kid whose late-father fought alongside the Americans in a cause they openly mocked, derided, and despised. And what a shame that the system of government that allowed that student to be so quickly successful here is not in place in the country of her origin.

James Webb, a Marine rifle platoon and company commander in Vietnam, has served as Secretary of the Navy and is the author of several novels.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Hoa Ky, Đảng CSVN | 2 Comments »

Mỹ la trời vì tin tặc của quân đội Trung Quốc nghe lén Văn Phòng Thương Mại của Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 22/12/2011

Mỹ đang la trời về việc phát hiện, trong hơn một năm qua, các tin tặc của quân đội Trung Quốc đã và đang nghe lén các giới chức  của Văn Phòng Thương Mại của Mỹ, những người này có liên hệ vào các chính sách thương mại giữa Mỹ và các nước Á Châu.

Các tin tặc của quân đội Trung Quốc đã xâm nhập vào các computer (để  sao chép các tài liệu) và bao gồm việc đọc toàn bộ chính sách thương mại của Mỹ.

Trung Quốc đã và đang tấn công vào tất các công ty lớn của Mỹ, tất cả mọi cơ quan của chính quyền Mỹ, và ngay cả các tổ chức làm việc thiện nguyện (phi chính phủ). “Họ đọc các email trao đổi của mọi người”.  Cố vấn chống khủng bố của Tòa Bạch Ốc Richard Clarke nói với hảng truyền hình ABC của Mỹ.

Sự xâm nhập vào hệ thống computer của Văn Phòng Thương Mại Mỹ quá hoàn chỉnh và sâu xa đến đổi có lần bộ phận điều chỉnh nhiệt độ của văn phòng đã tự động liên lạc với một computer ở Trung Quốc. Và có lần nhiều nhân viên còn phát hiện một trong các máy in trong Văn Phòng Thương Mại tự động in ra chữ Trung Quốc.

“Tôi không nghĩ Văn Phòng Thương Mại có bất cứ thứ gì đáng giá để ăn trộm, nhưng đó là một phần của một mảng trộm cắp của người TQ là lấy đi bất cứ thứ gì có thể, và đó là điều đáng lo ngại cho chúng ta,” ông Clarke phát biểu.

Nhiều nguồn tin khác nói với hãng tin ABC rằng bất cứ giây phút nào cũng có hàng vài trăm cuộc tấn công trên mạng vào các computer của các công ty của Mỹ và các cơ quan của chính quyền Mỹ.

Cuối năm 2009, các tin tặc đặt căn cứ ở Trung QUốc đã đột nhập vào các máy chủ của Google để đọc email và tin tức cá nhân của các nhà hoạt động nhân quyền. Và cũng trong cùng chiến dịch này 29 công ty lớn của Mỹ cũng bị đột nhập, gồm Yahoo, tập đoàn hóa chất Dow, và tập đoàn tài chánh Morgan Stanley.

Các dân biểu và nghị sĩ của Mỹ đã nói là Trung Quốc đang tham dự vào các hoạt động gián điệp kinh tế với mức độ họ chưa bao giờ được thấy trước đây.

Tính chung lại, Mỹ đang chảy máu vì nạn gián điệp kinh tế và thiệt hại chừng 250 tỷ đô la.

“Đây là một sự hăm dọa chiến lươc quốc gia với mức độ lâu dài của nước Mỹ. Đây là một đề tài mà sự thất bại không thể là một chọn lựa. (Chúng ta phải giải quyết để không bị nạn gián điệp kinh tế và phải chiến thắng).

Trung Quốc, dĩ nhiên, là chối bỏ hết các sự kiện nầy.
By (@PierreTABC) and OLIVIA KATRANDJIAN
Dec. 21 2011

For more than a year, hackers with ties to the Chinese military have been eavesdropping on U.S. Chamber of Commerce officials involved in Asia affairs, authorities say.

The hackers had access to everything in Chamber computers, including, potentially, the entire U.S. trade policy playbook.

“The Chinese have attacked every major U.S. company, every government agency, and NGO’s. Their attacking the Chamber of Commerce is part of a pattern of their attacking everything in the US. If you’re working on U.S.-China relations with an NGO, government agency, you can be sure the Chinese are reading your emails and on your computer,” Richard Clarke, former White House counter-terrorism adviser, told ABC News.

At one point, the penetration into the Chamber of Commerce was so complete that a Chamber thermostat was communicating with a computer in China. Another time, chamber employees were surprised to see one of their printers printing in Chinese.

“I don’t think the Chamber of Commerce has anything worth stealing, but it’s part of a pattern of the Chinese stealing of everything they can, and that’s worrying,” Clarke said.

Sources tell ABC News that at any given moment that there are hundreds of cyber attacks targeting U.S. companies and government agencies.

In late 2009, sources say China-based hackers broke into Google’s computers and looked at the email accounts of human rights activists. In the same operation, 29 other companies were hit, including Dow Chemical, Yahoo and Morgan Stanley.

The same year, a Chinese spy at Ford Motor Company downloaded thousands of files on hybrid engine design and gave them to the Chinese government, and a cyber attack traced to China allegedly stole design secrets to a U.S. stealth fighter jet.

Congressional leaders say China is engaged in economic espionage on a scale never seen before.

“You stack all of that up and I think there’s a case to be made that this may be the greatest transfer of wealth through theft and piracy in the history of the world and we are on the losing end of it,” said Sen. Sheldon Whitehouse of Rhode Island.

Overall, the U.S. is hemorrhaging economic espionage to the tune of $250 billion.

“This is a national, long-term strategic threat to the United States of America. This is an issue where a failure is not an option,” said Robert Bryant at the National Counterintelligence Executive.

The Chinese, of course, have denied it all.

Posted in Trung Quốc đang làm gì ở Châu Mỹ | Leave a Comment »

Nợ của Công Ty Điện Lực (EVN) đã lên tới 200.000 tỷ đồng, khoảng 10 tỷ đô la Mỹ!

Posted by hoangtran204 trên 21/12/2011

SONG HÀ

19/12/2011 11:00 (GMT+7)

picture Lợi nhuận đầu tư ngoài ngành của EVN chỉ đạt k

Kiểm toán Nhà nước vừa hoàn tất kiểm toán báo cáo tài chính năm 2010 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Theo đó, tính đến ngày 31/12/2010, các khoản đầu tư tài chính dài hạn của công ty mẹ EVN lên tới gần 50.000 tỷ đồng, trong đó chiếm gần 90% là vào những công ty con. Còn lại là vào các công ty liên doanh, liên kết và một số khoản đầu tư dài hạn khác. Tuy nhiên, tổng lợi nhuận thu về chỉ khoảng 540 tỷ đồng, đạt tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư chỉ hơn 1%.

Kết quả kiểm toán cho thấy, EVN đã đầu tư trên 2.100 tỷ đồng vào các lĩnh vực nhạy cảm và ngoài ngành kinh doanh chính như bất động sản, bảo hiểm, ngân hàng… chiếm 3,27% vốn chủ sở hữu. Những lĩnh vực trên đều gặp khó khăn nhất định nên hiệu quả đầu tư giảm sút. Chẳng hạn, giá trị cổ phiếu trên thị trường chứng khoán giảm sút so với thời điểm phát hành nên các khoản đầu tư của EVN vào đây không đem lại hiệu quả.

Bên cạnh đó, EVN cũng đầu tư kém hiệu quả vào lĩnh vực viễn thông gây thua lỗ lớn. Tập đoàn này đã đầu tư 100% vốn vào Công ty Thông tin viễn thông điện lực (EVN Telcom), với số vốn đầu tư tính đến 31/12/2010 lên tới 2.442 tỷ đồng, nhưng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2010 đã giảm tới 42% so với năm 2009.

Kết quả kinh doanh trong 3 năm gần nhất của EVN Telecom sụt giảm liên tiếp. Nếu như năm 2008 lợi nhuận đạt được 93,8 tỷ đồng thì 2009 giảm còn 8,3 tỷ đồng và chuyển thành lỗ trên 1.050 tỷ đồng năm 2010. Tuy nhiên, EVN đã không chuyển toàn bộ chi phí thiết bị đầu cuối chờ phân bổ từ năm 2006  -2008 vào chi phí hoạt động của EVN Telecom mà chuyển cho các tổng công ty điện lực trực thuộc EVN với số tiền lên tới 1.026 tỷ đồng.

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cho thấy số nợ phải trả của EVN tính đến hết năm 2010 là trên 200.000 tỷ đồng, chiếm gần 80% tổng nguồn vốn. Khoản tiền EVN nợ tiền mua điện của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tính đến 30/6/2011 đã lên tới hơn 8.860 tỷ đồng và nợ Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam hơn 1.200 tỷ đồng.

Tổng số lỗ của EVN năm 2010 trên 8.400 tỷ đồng; tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu âm (-) 14,8%; tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản âm (-) 2,78%.

Riêng khâu sản xuất, kinh doanh điện lỗ trên 10.500 tỷ đồng chủ yếu do năm 2010, các nhà máy thuỷ điện thiếu nước nên EVN phải huy động nhà máy điện chạy dầu và mua điện ngoài hệ thống với giá cao cấp 3 – 4 lần giá bán bình quân. Cộng thêm các yếu tố khác như biến động giá nhiên liệu, biến động tỷ giá hối đoái, nhiều nhà máy điện chậm đi vào vận hành nên hệ thống thiếu công suất, phải huy động điện chạy dầu giá thành cao… khiến số lỗ của EVN thêm lớn.

Cuối tháng 10 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có công văn yêu cầu Bộ Tài chính, Công Thương kiểm tra, đánh giá việc đầu tư vào các lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư vào EVN Telecom của EVN.

Thủ tướng cũng chỉ đạo EVN kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan đến những vi phạm phát hiện qua thanh tra và báo cáo Thủ tướng  kết quả thực hiện.

Posted in Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Chỉ cần nhìn Chứng Khoáng Việt Nam mất giá trị hơn 75%, thì biết nền kinh tế VN ra sao

Posted by hoangtran204 trên 21/12/2011

Người giàu nhất Việt Nam mất trắng 350 triệu đô la

Thị trường chứng khoán xuống giá

Tuesday, December 13, 2011 4:37:18 PM

Thị trường chứng khoán mất giá

VIỆT NAM (NV) – Chủ tịch tổ hợp kinh tế Hoàng Anh Gia Lai Ðoàn Nguyên Ðức đang lâm nguy vì mất trắng số tài sản trị giá 350 triệu đô la.

Ông bầu Ðức. (Hình: VNExpress)

Ðây là tin gây sốc mới nhất được báo mạng ‘Cafe F/TTVN’ tung ra khi nói về người từng gây sốc dư luận Việt Nam và nhiều vùng thế giới bằng một loạt sự kiện mà chưa có người Việt Nam nào trong nước theo kịp.

Theo trang mạng VFF, hồi tháng 9 năm 2010, ông Ðoàn Nguyên Ðức được coi là người giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ông còn được báo giới gọi là ông “bầu” vì đứng ra thành lập và điều hành một đội túc cầu Việt Nam mang tên Hoàng Anh-Gia Lai (HA-GL), thuê cả cầu thủ Thái Lan, với một chi phí tốn kém khoảng 70 tỉ đồng Việt Nam, tương đương 3 triệu 500 ngàn đô la mỗi năm.

Cũng theo VFF, trị giá chứng khoán mà ông bầu Ðức sở hữu vào cuối năm 2010 lên tới 11,000 tỉ đồng Việt Nam, tương đương 600 triệu đô.

Mới đây, sau khi giá cổ phiếu HA-GL từ 81,000 đồng Việt Nam tương đương 4 đô la rớt còn 30,000 đồng tức khoảng 1.5 đô, ông bầu Ðức và ban lãnh đạo HA-GL đã tung tiền ra mua 3 triệu cổ phiếu. Tin mới nhất cho biết, cổ phiếu HA-GL nay chỉ còn 20,000 đồng, tương đương 1 đô la/cổ phiếu mà chưa ai dám mua.

Việc rớt giá cổ phiếu thê thảm đưa tới hậu quả: tổng tài sản tính bằng cổ phiếu của HA-GL hiện nay chỉ còn hơn 5,000 tỉ đồng, tương đương với 250 triệu đô. Như vậy là mặc dù đã mua vào 3 triệu cổ phiếu nhưng tài sản của HA-GL đã bị mất suýt soát 350 triệu đô la.

Một trong những hoạt động của ông bầu được thế giới “chiêm ngưỡng” là việc HA-GL phát hành trái phiếu của mình tại thị trường Singapore giữa năm nay, thu về 90 triệu đô. Theo ông bầu Ðức, đó là trái phiếu có kỳ hạn 5 năm và áp dụng lãi suất 9.875%/năm. Tiền lãi trái phiếu này được thanh toán 6 tháng một lần, lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 11 vừa qua và đợt thanh toán chót sẽ diễn ra vào ngày 20 tháng 5 năm 2016.

Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, đợt niêm yết và phát hành trái phiếu HA-GL tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán Singapore nhằm huy động 200 triệu đô la Mỹ để đầu tư cho các dự án thủy điện và trồng cao su tại Lào và Việt Nam.

Với Việt Nam thì đây là một việc làm táo bạo của thương nhân Việt Nam khi vươn ra thị trường tài chính khu vực. Trong khi đó, theo ông Ðoàn Nguyên Ðức thì đó là phương cách huy động vốn quốc tế nhằm “bảo đảm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư trong và ngoài nước.” Theo ông, nếu không tìm được nguồn vốn quốc tế như thế thì công ty ông không thể nào tìm được các khoản vay lớn như thế, nhất là các khoản vay dài hạn ở trong nước.

Ông Ðoàn Nguyên Ðức được báo Dân Trí ca ngợi là người giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam vào tháng 9 năm 2010. Ông đứng đầu nhóm 120 thương gia kinh doanh chứng khoán ở Việt Nam, gồm những người nắm trong tay ít nhất 100 tỉ đồng trị giá chứng khoán, tương đương 5 triệu đô.

Báo Ðất Việt còn cho biết cũng mới đây, HA-GL trở thành công ty Việt Nam đầu tư lớn nhất tại Lào với số vốn lên tới 100 triệu đô gồm nhiều dự án bao gồm nhà máy đường, nhiệt điện, phân bón, ethanol… Cũng theo Ðất Việt, các dự án này sẽ đồng loạt đi vào hoạt động vào tháng 9 năm sau, giúp HA-GL thu hàng trăm triệu đô la mỗi năm qua các hoạt động xuất cảng.

Ông bầu Ðức cũng đã đưa HA-GL vào hoạt động đầu tư xây dựng trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê tại thủ đô Lào, đồng thời xây nhà máy chế biến gỗ, khai thác mỏ sắt, mỏ đồng, trồng cao su và xây dựng nhà máy thủy điện…

Tháng 11 vừa qua, ông Ðức được chính phủ Lào cấp giấy phép xây dựng hai sân bay tại tỉnh Attapeu và Hữu Phăn mà năm tới sẽ bắt đầu đón nhận những chuyến bay đầu tiên. Chưa hết, ông bầu Ðức cũng đã đồng ý góp vốn hàng triệu đô thành lập đội túc cầu quốc gia Lào và tổ chức giải vô địch quốc gia nước này vào thời gian tới.

Báo Ðất Việt cho rằng ông Ðoàn Nguyên Ðức là một doanh nhân “tỏa sáng.” Ðặc biệt kể từ tháng 9 năm nay, ông được tạp chí Wall Street Journal đưa vào danh sách 29 doanh nhân quyền lực nhất Ðông Nam Á và trở thành nhân vật xuất sắc nhất Việt Nam của công ty Ernst & Young sẽ được trao giải tại Pháp tháng 6 năm 2012.

Trong những giây phút riêng tư, ông bầu Ðức cho rằng việc HA-GL nuôi đội túc cầu mang tên thương hiệu của mình là để “quảng bá cho thương hiệu” chứ năm nào cũng phải bù một nửa chi phí lỗ lã. Còn việc sắm máy bay để được ca ngợi là “người Việt Nam đầu tiên có máy bay riêng,” ông Ðức cũng thú nhận đã tốn 15,000 đô mỗi tháng cho chiếc máy bay Beechcraft King Air 350 trị giá 7 triệu đô mua cách nay 3 năm. Có lần theo ông thì đi máy bay riêng vừa thuận tiện trong việc đi lại vừa để tạo uy tín cho mình.

Ông bầu Ðức trên máy bay riêng đi lại từ Việt Nam sang Lào. (Hình: VNExpress)

Dù vậy, con đường hoạt động của ông bầu Ðức và HA-GL không phải lúc nào cũng yên ả. Mới đây, khi bị tổ chức Standard & Poor’s hạ điểm tín dụng xuống hạng B, ông Ðức biện minh rằng ai cũng nói tốt trong tình hình hiện nay tức là “nói dóc.” Hồi tháng 9 qua, ông cũng đã kiện tỉnh Lâm Ðồng gây khó khăn cho HA-GL khi đòi thu hồi 8 căn biệt thự mà trước đó đã giao cho HA-GL để kinh doanh khách sạn tại thành phố Ðà Lạt.

Phải đến năm 2013 mới bắt đầu thu lãi từ các dự án đầu tư ở Lào, trong khi đang mắc nợ và trị giá tài sản tính bằng chứng khoán bị “bốc hơi” 350 triệu đô, người ta đang chờ xem ông Ðức sẽ chống chọi ra sao. (PL)

* Nguồn tin trong nước nói rằng đàng sau bầu Đức là các tướng trong quân đội. Bầu Đức là đai diện kinh doanh của Quân đội NDVN được chia phần khai thác rừng; chặt hết các gỗ quý trong rừng già thuộc hàng trăm km rừng ở miền Trung, và xuất khẩu gỗ qua Mỹ, Âu châu, và các nước Á Châu.  Việc kinh doanh ở Kampuchea và Lào của bầu Đức cũng do quân đội hổ trợ. Các phe phái công an không

———————————-

Các quỹ Dragon Capital mất hơn 100 triệu USD trong 11 tháng đầu năm

Thứ 4, 14/12/2011

Riêng trong tháng 11, sự suy giảm của thị trường đã làm các quỹ này mất 33 triệu USD.

Hiện Dragon Capital đang quản lý 5 quỹ là VEIL, VGF, VDeF và VPF và VRI. Trong đó, 2 quỹ lớn nhất chuyên đầu tư cổ phiếu là VEIL và VGF; VDeF đầu tư trái phiếu, VPF đầu tư bất động sản và VRI chuyên về đầu tư tài nguyên khoáng sản.

Tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của 4 quỹ VEIL, VGF và VDeF, VPF tính đến cuối tháng 11 đạt 645 triệu USD.

So với cuối năm 2010, NAV của các quỹ này đã mất hơn 100 triệu USD, trong đó, riêng trong tháng 11 mất 33 triệu USD.
Ngoài ra, Quỹ tài nguyên VRI-Vietnam Resource Investments (Holdings) Limited có NAV đạt 95,7 triệu USD tính đến cuối tháng 10.

VEIL – Vietnam Enterprise Investments Limited

Tính tới 24/11, giá trị tài sản ròng của quỹ là 356,78 triệu USD, giảm 5,38% so với tháng trước và giảm 13,52% so với cuối năm 2010.

Mức chiết khấu của thị giá so với NAV của quỹ hiện khá thấp, ở mức 13%.

Cổ phiếu niêm yết hiện chiếm 69%, tương đương hơn 246 triệu USD. VEIL hiện là một trong những quỹ đầu tư cổ phiếu lớn nhất tại thị trường chứng khoán Việt Nam.

Các khoản đầu tư lớn khác có Kỳ phiếu Masan chiếm 20%, vốn đầu tư cổ phần tư nhân chiếm 6%…

Về nhóm ngành, chiếm tỷ trong lớn nhất là tài chính phức hợp (MSN, HAG..) với 31%; thực phẩm và đồ uống (VNM…) chiếm 22%; Ngân hàng (ACB) chiếm 15%, Bất động sản chiếm 14%.

Các cổ phiếu lớn nhất trong danh mục của VEIL và VGF tính đến 1/12

Vietnam Growth Fund Limited – VGF

Tính tới 24/11, giá trị tài sản ròng của quỹ là 189,1 triệu USD, giảm 5,25% so với tháng trước và giảm 11,78% so với đầu năm.

Tỷ lệ chiết khấu của quỹ là 13,3%, tương đương với VEIL.

Danh mục của quỹ gồm cổ phiếu niêm yết chiếm 69%, Kỳ phiếu Masan chiếm 28%, tiền chiếm 3% và cổ phiếu OTC chiếm 1%.
KAL
TTVN/Dragon Capital
 ——————————————————————–
Bloomberg đăng rằng VNI có thể giảm dưới 300, tức hơn 25%, từ nay đến Tết.

http://www.bloomberg.com/news/2011-1…ties-says.html

Tin này sẽ CHẤN ĐỘNG giới Kinh tế, Tài chánh, trong vùng Đông Nam Á trong vài tiếng nữa.


Riêng trong tháng 11, sự suy giảm của thị trường đã làm các quỹ này mất 33 triệu USD.

Hiện Dragon Capital đang quản lý 5 quỹ là VEIL, VGF, VDeF và VPF và VRI. Trong đó, 2 quỹ lớn nhất chuyên đầu tư cổ phiếu là VEIL và VGF; VDeF đầu tư trái phiếu, VPF đầu tư bất động sản và VRI chuyên về đầu tư tài nguyên khoáng sản.

Tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của 4 quỹ VEIL, VGF và VDeF, VPF tính đến cuối tháng 11 đạt 645 triệu USD.

So với cuối năm 2010, NAV của các quỹ này đã mất hơn 100 triệu USD, trong đó, riêng trong tháng 11 mất 33 triệu USD.
Ngoài ra, Quỹ tài nguyên VRI-Vietnam Resource Investments (Holdings) Limited có NAV đạt 95,7 triệu USD tính đến cuối tháng 10.
VEIL – Vietnam Enterprise Investments Limited Tính tới 24/11, giá trị tài sản ròng của quỹ là 356,78 triệu USD, giảm 5,38% so với tháng trước và giảm 13,52% so với cuối năm 2010.
Mức chiết khấu của thị giá so với NAV của quỹ hiện khá thấp, ở mức 13%.

Cổ phiếu niêm yết hiện chiếm 69%, tương đương hơn 246 triệu USD. VEIL hiện là một trong những quỹ đầu tư cổ phiếu lớn nhất tại thị trường chứng khoán Việt Nam.

Các khoản đầu tư lớn khác có Kỳ phiếu Masan chiếm 20%, vốn đầu tư cổ phần tư nhân chiếm 6%…

Về nhóm ngành, chiếm tỷ trong lớn nhất là tài chính phức hợp (MSN, HAG..) với 31%; thực phẩm và đồ uống (VNM…) chiếm 22%; Ngân hàng (ACB) chiếm 15%, Bất động sản chiếm 14%…
Các cổ phiếu lớn nhất trong danh mục của VEIL và VGF tính đến 1/12

Vietnam Growth Fund Limited – VGF

Tính tới 24/11, giá trị tài sản ròng của quỹ là 189,1 triệu USD, giảm 5,25% so với tháng trước và giảm 11,78% so với đầu năm.

Tỷ lệ chiết khấu của quỹ là 13,3%, tương đương với VEIL.

Danh mục của quỹ gồm cổ phiếu niêm yết chiếm 69%, Kỳ phiếu Masan chiếm 28%, tiền chiếm 3% và cổ phiếu OTC chiếm 1%.
KAL

Theo TTVN/Dragon Capit

Posted in Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Lãnh Tụ Bắc Hàn Kim Jong Il, 69 tuổi, đã chết vì bệnh Suy Tim hôm 17-12-2011

Posted by hoangtran204 trên 19/12/2011

Ông chết trên xe lửa trong khi đang đi kiểm tra. Kim Jong Il, bị bệnh tiểu đường và bệnh tim. Năm 2008, ộng bị tai biến mạch máu não. Ông nổi tiếng về việc hút cigar, uống rượu cognac, và thích các món ăn ngon.

Thị trường chứng khoán của Hàn Quốc rớt xuống gần 4%, Nhật -1%, Hồng Kong -2% và Thượng Hải -2%

  • North Korean leader Kim Jong-Il has died, and the communist country must now follow his son Kim Jong-Un, state media announced Monday. (AFP Photo/Dmitry Astakhov)

PYONGYANG, North Korea (AP) — Kim Jong Il, North Korea’s mercurial and enigmatic longtime leader, has died of heart failure. He was 69.

In a “special broadcast” Monday from the North Korean capital, state media said Kim died of a heart ailment on a train due to a “great mental and physical strain” on Dec. 17 during a “high intensity field inspection.” It said an autopsy was done on Dec. 18 and “fully confirmed” the diagnosis.

Kim is believed to have suffered a stroke in 2008, but he had appeared relatively vigorous in photos and video from recent trips to China and Russia and in numerous trips around the country carefully documented by state media. The communist country’s “Dear Leader” — reputed to have had a taste for cigars, cognac and gourmet cuisine — was believed to have had diabetes and heart disease.

“It is the biggest loss for the party … and it is our people and nation’s biggest sadness,” an anchorwoman clad in black Korean traditional dress said in a voice choked with tears. She said the nation must “change our sadness to strength and overcome our difficulties.”

South Korean media, including Yonhap news agency, said South Korea put its military on “high alert” and President Lee Myung-bak convened a national security council meeting after the news of Kim’s death. Officials couldn’t immediately confirm the reports.

The news came as North Korea prepared for a hereditary succession. Kim Jong Il inherited power after his father, revered North Korean founder Kim Il Sung, died in 1994.

In September 2010, Kim Jong Il unveiled his third son, the twenty-something Kim Jong Un, as his successor, putting him in high-ranking posts.

Asian stock markets moved lower amid the news, which raises the possibility of increased instability on the divided Korean peninsula.

South Korea’s Kospi index was down 3.9 percent at 1,767.89 and Japan’s Nikkei 225 index fell 0.8 percent to 8,331.00. Hong Kong’s Hang Seng slipped 2 percent to 17,929.66 and the Shanghai Composite Index dropped 2 percent to 2,178.75.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ

Posted by hoangtran204 trên 19/12/2011

Đoan Trang

Theo blog Đoan Trang

Trong suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành, qua phản ánh của phim ảnh, nghề báo đẹp như được một phủ lớp hào quang.

Nhà báo được tiếp xúc với số lượng người cực lớn, trong đó có nhiều quan chức cao cấp, văn nghệ sĩ nổi tiếng. Nhà báo có thể “dồn” một ông cốp tới lúc phải đắng họng, có thể vạch trần những âm mưu xấu xa, có thể bá vai bá cổ một nhà văn chụp ảnh, hay ôm hoa đứng bên các nghệ sĩ. Nhà báo có xu hướng là người quảng giao, rất hiểu biết, nói chuyện hay ho, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, giữa biết đủ ngóc ngách của xã hội. Nhà báo có xu hướng thông minh, hài hước, dũng cảm, biết chụp ảnh. Nghề báo là nghề đầy vinh quang và có cả sự phiêu lưu mạo hiểm…

Đó là suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành về nghề báo và nhà báo. Tất nhiên, không phải 100% ý kiến đánh giá đều như vậy. Ở thái cực kia, người ta lại nghĩ nhà báo Việt Nam là cái lũ đầu rỗng, nỏ mồm chém gió và nói phét, đã thế lại đểu, chỉ giỏi vặt tiền doanh nghiệp, nói tục chửi bậy kinh khiếp mà viết lách thì không bài nào sạch lỗi.

Người ta cũng có thể nghĩ nhà báo Việt Nam là một lũ cừu, cứ sểnh ra là viết sai, viết láo, viết không có lợi cho tình hình chung, làm phương hại tới quan hệ giữa Việt Nam và một quốc gia nào đó.

Người ta còn nghĩ nhà báo Việt Nam là một bọn bồi bút, bọn lưỡi gỗ tuyên truyền phản dân hại nước, ngậm miệng ăn tiền. Không đếm được có bao nhiêu lời mạt sát “lề phải” trên mạng: “não nhẵn”, “óc phẳng”, “hèn hạ”, “ngu xuẩn”, “vô lương tâm”…

Tuy nhiên, không thể tóm gọn diện mạo của cả làng báo Việt Nam trong một vài tính từ tích cực hay tiêu cực nào. Vì họ có tất cả những gương mặt ấy, khía cạnh ấy. Và dù thế nào đi nữa, trong đội ngũ các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa-tư tưởng (cách gọi khác của từ “đàn cừu”), vẫn luôn có những nhà báo lề phải ngày đêm lặng lẽ mang những gì tốt đẹp nhất mình có thể tìm được đến cho độc giả.

Tôi kính phục họ – những nhà báo trung thực, giấu sự phản kháng vào trong thầm lặng. Thật tiếc là, dẫu vô cùng muốn viết về họ, nhưng ngay cả lúc này, tôi vẫn cứ phải giấu tên các nhà báo ấy, để họ ở yên trong trận tuyến của họ – vì lẽ mọi lời nói ám chỉ đến họ đều có thể trở thành thông tin chỉ điểm.

“Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này…”

Họ trước hết là những người rất thông minh, sắc sảo. Và chúng ta đều hiểu là, một người có đầu óc thông minh, sắc sảo, biết xét đoán và biết phản biện, sẽ không bao giờ chấp nhận sự định hướng, lừa mị, bưng bít. Không thể che mắt họ bằng lối nhồi sọ của thế kỷ trước.

Họ cũng “phản động” chẳng kém bất kỳ nhà báo tự do, blogger lề trái nào. Nhưng trong hoàn cảnh của họ, họ không thể thoải mái viết bài phê phán, chỉ trích rồi đưa lên mạng tùy thích. Họ im lặng, cố gắng mang đến cho độc giả những thông tin tốt nhất có thể có được, thông qua một lối diễn đạt nhẹ nhàng nhất, và chỉ thầm ước mong: rồi độc giả sẽ hiểu.

Không có họ, ai là người đưa những thông tin đầu tiên về đại dự án bauxite 2009 ở Tây Nguyên ra công luận?

Không có họ, ai đưa những phát ngôn “đỉnh cao trí tuệ” trong chính trường Việt Nam lên mặt báo? Ai ghi lại những câu nói “bất hủ”, phản ánh trình độ (ít nhất là khả năng tư duy logic, khả năng diễn đạt) đáng báo động của một bộ phận không nhỏ quan chức nước nhà?

Không có họ, ai phản ánh về những vụ dân thường chết trong đồn công an một cách bí hiểm? Cho dù nhiều sự việc đau lòng như thế có thể chẳng đi về đâu, nhưng ít nhất, cũng nhờ có họ mà chuyện đã được đưa ra công luận.

Không có họ, ai viết về nạn mãi lộ? về lũ lụt, tai nạn, tiền cứu trợ bị bớt xén hay hàng cứu trợ toàn bột giặt? về những tai nạn thảm khốc – cho thấy một xã hội đầy rủi ro, tỷ lệ tử chắc chắn là cao hơn mức 6/1.000 người dân/năm rất nhiều? về những bê bối trong trường học, bệnh viện? về một Vinashin vỡ nợ? Tất nhiên, việc báo chí viết về Vinashin hay các bê bối tương tự rất có thể chỉ là kết quả của những đấu đá nội bộ “trên thiên đình”, trong đó báo chí được sử dụng làm công cụ, vũ khí để bắn giết nhau, nhà báo chỉ là những con tốt mà thôi. Nhưng dù sao thì lũ tốt đen ấy cũng đã làm được công việc đưa một phần sự thật ra ánh sáng.

Cũng có những lúc lề trái và lề phải “phối hợp tác chiến” một cách rất hoàn hảo. Hình ảnh những người dân đi đầu trong đoàn biểu tình mùa hè năm 2011, giương cao tờ báo Thanh Niên với hàng chữ nổi bật trên trang nhất: “Không chủ trương trấn áp người biểu tình yêu nước”, có đủ nói lên sự ủng hộ ngấm ngầm của lề phải cho lề trái chăng? Tôi nhớ ở đâu đó, một độc giả bình luận: “Báo Thanh Niên đã góp sức để người dân thể hiện lòng yêu nước một cách an toàn – và quý báo cũng… an toàn!”.

Họ cũng ra đi. Ra đi nhiều lắm. Cứ sau mỗi vụ tờ báo nào đó bị xử lý, rất có thể là lại có hàng loạt người “bay”. Nhất là với cái thứ văn hóa đổ vấy của người Việt Nam, khi một loạt bài được “trên” biểu dương, thì lãnh đạo tòa báo hưởng, mà khi loạt bài bị “đánh” thì chỉ có thằng đánh máy, con sửa mo-rát là chết, mà lại là chết trong âm thầm, không ai hay biết.

Cũng nhiều người tự động bỏ đi, vì chán ngán, vì bế tắc. Một trong những người ấy đã gửi tôi một dòng tin nhắn mà không bao giờ tôi quên được: “Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ”. (1)

Vì nhân dân

Năm 2009, trong một bài về “Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 1975”, tôi đã viết: “… nghề báo thì bao giờ cũng vậy, là niềm vui, là nỗi buồn, là lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và cả những giọt nước mắt”. Đó thực chất là điều tôi muốn nói về báo chí Việt Nam sau năm 1975. Tôi không biết trong cuộc chiến thầm lặng chống lại sự bưng bít, bóc trần cái xấu, thúc đẩy sự minh bạch, bao nhiêu nhà báo đã lau nước mắt.

Chiều 2/8/2011. Ngày ấy, ở Hà Nội diễn ra hai sự kiện: phiên xử phúc thẩm TS. Luật Cù Huy Hà Vũ cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, với nội dung thông báo kết quả điều tra vụ “đạp mặt người biểu tình”.

Cảm giác “lạnh người” khi nghe tin ấy: Bộ Công an tổ chức họp báo ngay tại Thành ủy Hà Nội (giữa trung tâm thủ đô) để thông báo kết quả điều tra. Và trước đó,  tin đồn ít nhiều rằng đã có những cuộc tiếp xúc, điều đình giữa công an và người biểu tình bị đạp mặt – anh Nguyễn Chí Đức. Chúng tôi đều hiểu rằng, không có lý gì mà công an tự tin đến thế. Chắc là sẽ có một diễn biến gì đó…

3 giờ chiều, từ ngoài đường, tôi gọi điện cho bạn (vừa ở cuộc họp báo ra):

– Tình hình sao rồi mày?

– Xong rồi. Họ bảo tay Đức chống đối, ngồi bệt xuống đất, nên công an phải khiêng lên xe đưa về đồn. Ông Đức cũng bảo không bị ai đánh, viết tường trình nói rõ thế rồi.

– Còn cái clip kia?

– Không xác định được có phải là giả không.

– Thế bây giờ mày định…?

– Thì về viết bài, có thế nào viết như thế chứ còn định gì. So what? (thế thì sao)

So what cái cục cứt! – chưa bao giờ tôi thô lỗ như thế trên điện thoại di động. – Mày định thế nào? Mày muốn cứ thế mà tương vào bài à? Mày không hỏi Chí Đức lấy một câu à?

– Mày muốn gì? Có giỏi thì mày viết đi, viết xem có đăng được không?

Hai người chửi nhau một trận nảy lửa trên điện thoại.

– Đừng có vô lý thế. Mày phải hiểu là không thể khác được. Trong trường hợp này tao chỉ có thể làm hết sức mình là phản ánh lại đúng sự việc qua lời của công an, và sẽ ghi rõ là “theo kết luận điều tra”. Thông tin được chừng nào tới người đọc tốt chừng ấy. Mày viết theo kiểu đa chiều, lấy ý kiến Chí Đức, xem có đăng được không? Sao cáu kỉnh vô lý thế? Có phải lỗi của tao không?

Đến lượt tôi ngồi bệt xuống đất, tay run bắn lên vì giận. Phải, chính tôi mới là kẻ vô lý. Tại sao tôi lại gầm lên trên điện thoại, lại văng tục với bạn tôi – nhà báo mà tôi nể phục, quý trọng, nhà báo mà tôi vẫn thường yêu mến bảo: “Như John Lennon và Paul McCartney, hai ta song kiếm hợp bích”. Tại sao tôi lại nói bạn như thế, trong khi cả hai đều hiểu ai là những kẻ phải chịu trách nhiệm về tất cả chuyện này.

Bất cứ người làm báo chuyên nghiệp nào cũng hiểu quá rõ rằng, “trung thực, khách quan, công bằng” là các nguyên tắc đạo đức hàng đầu; và nếu ở một nền truyền thông đa chiều như phương Tây, thì sau khi dự một cuộc họp báo của cơ quan công an như thế, việc tiếp theo phóng viên phải làm là phỏng vấn “phía bên kia”, tức là nạn nhân Nguyễn Chí Đức, để xem anh có ý kiến như thế nào, có thực anh đã viết tường trình khẳng định mình không bị đạp mặt hay không.

Nhưng báo chí nước mình nó khác, khác ghê lắm. Mà chẳng riêng báo chí, nói chung là cái nước mình nó khác. Video clip ghi lại hình ảnh vụ đạp mặt không được thừa nhận một cách thản nhiên. Cuộc họp báo của cơ quan công an, tổ chức tại Thành ủy Hà Nội, không có mặt Nguyễn Chí Đức, cũng không mời bất cứ một ai trong số những người đã ký kiến nghị đề nghị xử lý nghiêm vụ đạp mặt công dân. Kết luận chỉ hàm ý đơn giản là Nguyễn Chí Đức ăn vạ. Hỡi ôi, cả một hệ thống xông vào vùi dập một công dân! Và chúng tôi đã chẳng thể làm gì để bảo vệ công dân ấy.

Nhưng bạn tôi nói đúng. Chúng tôi không làm khác được. Trong một nền báo chí được định hướng chặt chẽ, sát sao. Trong một nền truyền thông nơi “quyền bình luận” của nhà báo bị triệt tiêu sạch sẽ – đừng hỏi vì sao báo chí (lề phải) Việt Nam bao năm qua không có nổi một cây viết bình luận cho ra hồn; phóng viên, nhà báo đâu có cái quyền ấy; nó là quyền của lực lượng “chống âm mưu diễn biến hòa bình” kia. Trong một nền truyền thông nơi báo chí bị coi như công cụ, nhà báo không khác gì con chó, khi nào bảo sủa thì sủa, bảo im thì im. Thì người làm báo phải lựa chọn. Hoặc là im lặng để cố gắng đưa được thông tin tới bạn đọc chừng nào tốt chừng ấy. Hoặc ra đi.

Và trong cuộc chiến lặng thầm đưa thông tin tới bạn đọc, nhiều nhà báo chỉ còn biết gạt nước mắt, thở dài mỗi khi bị hiểu nhầm, bị nghe chửi (oan) là “lưỡi gỗ”, “chó lợn”, “ngu xuẩn”… Đôi khi, họ làm tôi nhớ đến một câu hát buồn:

Many times I’ve been alone,
and many times I’ve cried.
Many ways you’ve never known,
but many ways I’ve tried…
” (2)

Ngước mắt nhìn trời…

Năm 2011 khép lại bằng một vài sự kiện, trong đó có chuyến về nước của GS. Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt. Một trong những nhà báo thầm lặng mà tôi cũng rất yêu mến, khi tôi hỏi “có theo sự kiện này không”, đã trả lời: “Khi thất vọng với mặt đất thì là lúc nên nhìn lên trời”.

Dẫu là một câu nói đùa, nhưng nó đúng. Nhìn lên trời cũng là một cách để bớt ức chế với mặt đất. Nếu không ngước mắt nhìn trời, họ – những nhà báo vẫn cố gắng bám trụ với nghề, chấp nhận cay đắng, chấp nhận sự định hướng của một lực lượng mà năng lực truyền thông hẳn nhiên là thua xa họ – sẽ không chịu nổi bao nhiêu bụi bặm, rác rưởi.

Thôi thì chúng ta có thể hy vọng rằng, mọi việc được làm trên thế giới này đã được tiến hành bằng hy vọng.

Ghi chú:

1. Tiểu thuyết “Suối nguồn” (The Fountainhead, 1943) của Ayn Rand.

2. Ca khúc “Con đường dài và khúc khuỷu” (The Long and Winding Road, 1970) của “The Beatles”.

3. “Everything that is done in the world is done by hope” (Martin Luther).

*****************************************

Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên nói: Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

*****************************************

  Ai?

Thái Bá Tân

Theo Facebook

Vào năm ấy, ở mặt trận ấy, hai nghìn người lính trẻ được lệnh xuống đồng bằng tham chiến. Sau một đêm, chỉ ba mươi người sống sót trở về!

Nhiều năm qua tôi luôn bị ám ảnh bởi con số khủng khiếp này trong một câu khô khan và thuần túy mang tính thông tin. Chính xác đó là câu thơ trong bài “Ai? Tôi!” của nhà thơ Chế Lan Viên khi ông viết về chiến dịch Mậu Thân. Tác giả nêu câu hỏi: “Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó?” Và chính ông tự trả lời mình: “Tôi! Tôi / người viết những câu thơ cổ võ / Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong”.

Một tâm hồn nhạy cảm! Một nhân cách lớn! (Anh Chế Lan Viên ơi, em đây, Thái Bá Tân đây. Cảm ơn anh đã nói hộ lòng em. Em còn giữ tập thơ anh tặng ngày nào.)

Đằng sau những con số này là những con số khác còn khủng khiếp hơn: Một triệu người lính cách mạng và hai triệu dân thường Việt Nam đã hy sinh trong cái ta thường gọi là “cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”.

Như nhà thơ, tôi cũng bị ám ảnh bởi câu hỏi của ông: Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó? Không phải tôi, tất nhiên, vì tôi là người bình thường và chỉ nhờ ngẫu nhiên mới không bị gộp vào con số đó. Tôi không ra lệnh, không đưa ra các quyết sách lớn về đại cục. Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa tôi hoàn toàn vô tội. Không, tôi vẫn phải chịu một phần trách nhiệm vì đơn giản tôi là một công dân và đã để đất nước mình rơi vào hoàn cảnh như vậy. Một công dân tốt còn biết đau về cái chết của đồng bào.

Câu hỏi tiếp: Liêu có đáng phải hy sinh ghê gớm như thế để “giải phóng dân tộc” không, mà rồi, giải phóng khỏi ai? Khỏi những đồng bào Việt Nam khác ở bên kia chiến tuyến?

Một câu hỏi nữa: Ba mươi người sống sót trong số 2000 người ấy bây giờ thế nào, và họ nghĩ gì về sự trận đánh ấy của họ mà đài báo ta lúc ấy gọi là “thắng lợi, nhưng ta phải chịu một số thương vong nhất định”?

Khá vất vả, cuối cùng tôi cũng tìm được một người, ngay trong huyện Diễn Châu quê tôi. Điều này lần nữa làm tôi giật mình: Sao lúc nào, ở đâu có đánh nhau ác liệt nhất và nhiều người chết nhất cũng có mặt những người lính nông dân Nghệ Tĩnh của tôi? Có thể chỉ ngẫu nhiên, nhưng vẫn giật mình.

Đó là một lão nông trạc tuổi tôi, trên sáu mươi chút ít, nhưng trông hom hem với một chân thọt và một tay hơi khuỳnh khuỳnh.

“Chuyện từ đời tám hoánh nào, hơi đâu mà nhớ đến. Mà cũng chẳng còn lúc nào rỗi để nhớ”. Ông nói khi tôi gợi chuyện.

“Con cháu một bầy, toàn ăn hại. Lại thêm trận lụt vừa rồi ngập hết lúa như bác thấy.”

“Bác có cảm giác thế nào khi sống sót trở về rừng?”

“May! Còn thế nào nữa. May thoát chết như bác nói. Nhờ giả vờ chết mà sống đấy.”

“Sau đó thì sao?”

Thì đánh nhau tiếp. Trong số ba mươi người sống sót lần ấy, nghe nói chỉ năm người trở về nhà khi chiến tranh kết thúc. Trong đó có tôi. Cũng nhờ may rủi thôi”.

Tôi lặng người, chẳng biết nói gì thêm.

“Sự hy sinh của các bác thật to lớn.” Tôi lên tiếng khi thấy im lặng mãi bất tiện. “Các bác là những người anh hùng, dũng cảm, dám xã thân vì nước…”

“Anh hùng, dũng cảm cái đếch gì. Người ta bảo đi lính thì đi. Bảo xung phong thì xung phong. Không xung phong, không dũng cảm mà được à? Không bị địch bắn chết thì cũng bị đồng đội đằng sau bắn vào lưng!”

Mấy thằng nhỏ thấy có khách, xúm lại hóng hớt. Ông chúng quát:

“Chúng mày biến! Mai kia thằng Tàu nó đánh, sẽ đến lượt chúng mày! Không thoát được đâu!”

Cuộc gặp này để lại trong tôi một ấn tượng nặng nề.

Tôi cũng may. May chưa bao giờ viết thơ cổ vũ người khác ra trận. May không phải là một trong ba mươi người sống sót ấy, chính xác hơn, năm người. Nếu không tôi sẽ đau khổ lắm. Chả là đời trót cho tôi cái chữ nên hay suy luận và mặc cảm. May nữa là tôi không bao giờ phải bắn vào lưng đồng đội nếu họ không xung phong, và ngược lại. May! Và tôi cảm ơn số phận điều ấy.

Nhưng tôi cũng có con cháu, và như ông ấy nói, mai kia thằng Tàu đánh mình, sẽ đến lượt chúng. Nghĩ mà sợ. Sợ và buồn. Vì lão nông kia, tôi và con cháu của tôi không có sự lựa chọn nào khác. Vì chúng tôi, vì tất cả chúng ta, đơn giản chỉ là những con tốt vô danh trên bàn cờ của các nhà lãnh đạo đất nước.

Cầu mong cho họ biết thương dân và có những quyết định sáng suốt.

1. 11. 2011

______________________

Chế Lan Viên – Ai? Tôi!

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi!

Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười

(Rút trong sổ tay thơ tập 5 của tác giả)

*Có ai đã từng đọc thống kê kinh hoàng về 1.146.250 bộ đội VN đã chết, 780.000 thương binh, 300.000 bộ đội bị mất tich…đó là cái giá của chiến tranh do đảng CSVN gây ra.  

“Hiện nay, cả nước có trên 8,8 triệu đối tượng người có công (chiếm gần 10% dân số). Trong đó, có hơn 1.146.250 liệt sĩ; trên 3.000 Bà mẹ VNAH còn sống; trên 780.000 thương binh và người được hưởng chính sách như thương binh; 1.253 Anh hùng LLVT, Anh hùng lao động trong kháng chiến; 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng; khoảng 187.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; 109.468 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày… Hiện còn trên 1,4 triệu  người có công đang được hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.

Cả nước có khoảng 7.000 công trình ghi công liệt sĩ, trong đó có khoảng 3.000 nghĩa trang liệt sĩ với tổng số trên 780.000 ngôi mộ; trong đó khoảng 303.000 ngôi mộ còn thiếu thông tin, hơn 208.000 hài cốt chưa phát hiện, tìm kiếm, quy tập được.”  Baomoi.com

***

CÁC CÔ GÁI LÀNG TÔI

Tác giả Thái Bá Tân

Viết truyện này, tức là vô tình tôi đã chạm đến một nỗi đau khác của chiến tranh. Một nỗi đau âm thầm, đặc biệt và khó nói. Cũng vì thế mà xưa nay dù biết, người ta cứ ngài ngại không muốn nhắc tới. Vì tế nhị, và cả vì thương mà đành bất lực. Ðó là việc từ chiến tranh trở về, hàng vạn, có thể hàng triệu các cô gái nhỡ thì không lấy được chồng. Với phụ nữ, thử hỏi còn nỗi đau nào lớn và “khó nói” hơn?

Tôi được nghe kể và biết khá nhiều chuyện như thế. Trong một truyện ngắn gần đây tôi có sử dụng ít chi tiết từ câu chuyện của một bà bạn. Bà kể với tôi mà cứ như xưng tội với cha đạo. Theo bà thì chính bà đã giết chết một cô thanh niên xung phong tội nghiệp.

Số là vào cuối năm 1971, cái cô gái thanh niên xung phong trong một đơn vị toàn nữ suốt nhiều năm liền ở rừng Trường Sơn heo hút ấy đã bị phát hiện “làm chuyện bậy bạ” bên bờ suối khi lén đi tắm một mình. Và bà bạn tôi, lúc đó là người phụ trách đơn vị, chẳng nhiều tuổi hơn bao nhiêu, đã đem cô ra kiểm kiểm trước mọi người. “Chúng tôi “quần” cô ấy ghê lắm. Ðặc biệt là tôi. Chỉ huy mà. Tuy nhiên, miệng nói vậy thôi, chứ trong lòng thì thương. Tôi chủ trì buổi họp ấy. Bây giờ nghĩ lại thấy thật chua xót và cũng buồn cười. Nghĩ một đường, nói một nẻo. Không ít người cũng lớn tiếng phê bình cô gái đó như tôi. Ðem cả đạo đức cách mạng và lý tưởng ra mà phê bình. Cái thời ấy là thế, và nó phải thế” Bà buồn bã nói thêm: “Sáng hôm sau chúng tôi thấy cô ấy treo cổ chết trên cành cây sau lán. Tất cả do tôi, do tôi hết!” Bà còn cho biết cũng vì lý do tâm, sinh lý ấy mà đơn vị bà ngày càng có nhiều chuyện kỳ cục, thí dụ bỗng dưng vô cớ mấy đứa cười sằng sặc như một lũ điên, rồi sau lại ôm nhau khóc. “Có đứa điên thật. Cứ trần truồng chạy tồng ngồng giữa rừng. Tội nghiệp.”

Ở chiến trường đã thế, về nhà các cô càng khổ hơn, vì phần lớn đã ngoài ba mươi, lại ở nông thôn. Mà nông thôn thì ai lấy gái già, nếu còn người để lấy?

Khoảng mươi năm đầu sau chiến tranh, một số tờ báo mạnh dạn đề cập vấn đề này. Cũng chỉ nói chung chung, thương chung chung, chứ chẳng gợi ra được giải pháp cụ thể nào. Cả xã hội đều biết. Cả xã hội muốn làm cái gì đó giúp họ, nhưng cuối cùng vẫn bất lực. Không lẽ cho quay lại chế độ đa thê?

Thế là hàng vạn, hàng chục vạn các cựu thanh niên xung phong cứ lầm lũi sống một mình và chuẩn bị tinh thần để kéo dài như thế suốt đời. May công đoàn và các cấp chính quyền không còn khắt khe như trước về tội chửa hoang. Con ngoài giá thú cuối cùng cũng được luật pháp và người đời thừa nhận.

Tôi nhớ một lần, năm 1983, trên đường đi Bảo Lộc, Cao Bằng, thì xe chết máy và chúng tôi phải ngủ lại qua đêm ở một đơn vị sửa chữa đường bộ, đúng ngày đơn vị này được tuyên dương thành tích gì đấy. Liên hoan, ăn uống vui vẻ lắm. Nhưng chỉ toàn đàn bà, và đều đã ba bốn chục tuổi. Thì ra họ cũng là thanh niên xung phong chuyển ngành. Cụ thể là sau chiến tranh, cả một đơn vị được bê hầu như nguyên xi từ Trường Sơn ra đây.

Ðêm hôm ấy, sau bữa liên hoan mà chúng tôi được mời dự, tôi nghe có tiếng khóc, không phải một mà hình như nhiều người. Thủ trưởng đơn vị, một ông già hom hem đang chờ về hưu, bảo tôi:

– Các bà ấy vẫn thế đấy. Cứ có dịp vui lại đêm nằm ôm nhau khóc. Chuyện chồng con ấy mà. Tội nghiệp.

– Thế quanh đây không có đàn ông à? – tôi hỏi. – Các cơ quan, xí nghiệp hay đơn vị bộ đội nào chẳng hạn?

– Trong vòng bán kính hai mươi cây số thì không. Xa hơn một chút có công trường khai thác đá và một đội biên phòng. Cũng kết nghĩa, giao lưu, thăm hỏi nhau đủ chuyện, nhưng chẳng ích gì. Chỉ thêm nhiều vụ chửa hoang. – Rồi ông thủ trưởng của hơn hai mươi bà công nhân ấy thở dài chép miệng: – Tôi đến khổ với các bà ấy!

Tôi không hiểu ông nói khổ là khổ theo nghĩa nào.

*

Nếu làng là hình ảnh xã hội thu nhỏ, thì làng tôi phản ánh đầy đủ tình trạng này của toàn xã hội. Thời chống Mỹ, nhiều cô gái làng tôi là thanh niên xung phong, một số hy sinh nhưng phần lớn sống sót trở về, (bỏ lại đằng sau gần mười năm tuổi trẻ, cái tuổi dễ lấy chồng nhất) và rồi… ế CHỒNG. Ở quê tôi, con gái ngoài hai mươi lăm chưa lấy được chồng thì bị chính thức coi là ế, bị gạt khỏi danh sách những đối tượng có thể đặt vấn đề.

Như những người cùng tuổi thời ấy, từ những cô bé tóc vàng hoe vì chang nắng suốt ngày ngoài đồng để chăn trâu, bắt cua, làm ruộng, tất cả các cô gái làng tôi học xong phổ thông đều đua nhau viết đơn xung phong, rồi ra đi, miệng hát vang bài ca “đường ra trận ngày này đẹp lắm”. Mọi người, mọi chuyện thật hồn nhiên, vô tư. Thật vui. Thật đẹp. Và cái cuộc sống dẫu gian nguy nhưng hồn nhiên và vui vẻ ấy chỉ bị hẫng hụt khi chiến tranh kết thúc, họ bất chợt thấy mình đã không còn trẻ, lờ mờ cảm thấy những mối lo đang đợi. Tôi có một bài thơ thế này, viết trong một dịp về quê và gặp một vài người trong số họ.
Các cô gái làng tôi
Lên đường đi diệt Mỹ,
Khoác ba-lô, và rồi
Từ cô, thành đồng chí.

Họ đi vào chiến tranh
Mà như đi vào hội,
Những cô gái hiền lành,
Vui, hồn nhiên quá đỗi.

Nhiều, nhiều năm chiến trường
Họ cũng vui như vậy,
Dù đói, dù bị thương,
Bom rơi và lửa cháy.

Và chỉ ngày hòa bình
Họ buồn khi trở lại
Bỗng sững sờ thấy mình
Không còn là con gái.

Buồn càng buồn gấp đôi,
Vì hình như lúc ấy
Không người nào làng tôi
Biết họ buồn như vậy.

Nói trong làng không ai biết họ buồn là cách nói của thơ, để nhấn mạnh nỗi buồn và sự mặc cảm của họ. Trên thực tế ai cũng dễ dàng nhận thấy điều đó. Gì thì gì, với phụ nữ, nhất là phụ nữ nông thôn, chuyện chồng con vẫn là điều quan trọng nhất. Nó không đơn thuần là hạnh phúc riêng tư, mà còn uy tín của cả gia đình. Dân làng thông cảm và thương họ lắm. Tuy vậy, khi kén vợ cho con trai thì lại chọn những cô mới lớn.

Ở quê tôi người ta lấy vợ gả chồng cho con rất sớm. Ðàn ông ở tuổi các cô mà chưa vợ thì chỉ có thể là mới đi bộ đội về – số này không nhiều do đã hy sinh hay được bố mẹ lo cưới xin trước khi lên đường – hoặc những người “nhỡ nhàng” do vợ chết, li dị, hoặc những người tật nguyền và cả loại thuộc “thành phần bất hảo”. Không còn ai khác, một số cô thành vợ những người ấy. Số khác xin đi làm công nhân ở mỏ đá Hoàng Mai để cạnh tranh với những cô khác cũng đang ế chồng ở đấy. Còn phần đông ở lại làng làm ruộng, sống cùng nhà với bố mẹ già, hoặc nếu bố mẹ chết thì thui thủi một mình. Ðơn giản là sự cân bằng của cái quy luật cung cầu tự nhiên về nam nữ trong hôn nhân đã bị phá vỡ.

Thường vẫn thế, trong muôn vàn cái thiếu thốn sau chiến tranh, có một cái thiếu mà phụ nữ thấm thía hơn ai hết. Ðó là thiếu đàn ông để lấy chồng. Thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến bài thơ của Iulia Ðrunhina về đề tài này. Bà từng là nữ sinh trung học xung phong ra trận trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô. Ðời tư bà cũng không mấy xuôn xẻ. Bà mới tự tử chết cách đây mấy năm, nghe nói có liên quan đến sự sụp đổ của nhà nước Xô-viết mà bà đã hy sinh tuổi trẻ mình để bảo vệ.

Thắng trận, trở về nhà,
Các nữ sinh – chiến sĩ
Mang hai mươi tuổi đời
Như hai mươi thế kỷ.

Các huân chương, dù sao,
Vẫn ít hơn vết sẹo.
Hình như đời còn dài
Mà đã thành các “cựu”.

Các cô gái về nhà.
Nhà không còn, giặc đốt.
Không cha mẹ, anh em,
Không chiếc dao, cái cột…

Nghĩa là lại từ đầu
Bắt đầu vào cuộc sống.
Bắt đầu diện đôi giày
Kiểu nhà binh thô rộng.

Vâng, nhưng diện với ai
Khi khắp làng không thấy
Bóng một chàng trai nào?
Sau chiến tranh là vậy.

Thiếu đàn ông để yêu
Ðã trở thành nỗi khổ.
Các thế hệ sau này
Chắc khó tin điều đó.

Ba mươi năm sau, ở Việt Nam, các cô gái làng tôi cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Còn bây giờ, tức là thêm ba mươi năm nữa, chúng ta vẫn cảm thấy khó tin vào cái sự thật ấy, dù nó đã thực sự tồn tại. Ngay trong làng ta, quanh ta, hay thậm chí với người thân của ta. Một nỗi đau nhức nhối mà xưa nay chẳng ai có thể làm gì được để giúp đỡ. Không cả một lời an ủi hay một cử chỉ nhỏ để bày tỏ sự thông cảm âu yếm.

*

Cuối năm 1978, trên đường công tác từ Hà Nội vào Sài Gòn, tôi ghé thăm nhà và được biết cô Duyên đi tu. Cô cũng là một trong những cựu thanh niên xung phong ở làng tôi và cùng cảnh ngộ.

Cô Duyên là con gái nhà hàng xóm, hơn tôi hai tuổi, nhập ngũ từ năm 1965. Không hiểu sao phải hơn một năm sau khi chiến tranh kết thúc mới thấy cô trở về. Cô là người nổi tiếng xinh đẹp trong làng. Nghe nói đã có hẹn ước gì đó với ông anh con bác tôi. Sau này, khi anh tôi hy sinh ở Quảng Trị năm 1968, không thấy ai nhắc đến chuyện ấy nữa. Có thể người ta ý tứ tránh cho cô những phiền toái trong việc chồng con sau này.

Ðúng như trong bài thơ của Ðrunhina, khi cô trở về thì chẳng còn gì. Nhà trúng bom, cả bố mẹ và cậu em trai cô đều chết. Cô cũng phải tự mình làm lại tất cả, bắt đầu từ việc dựng một ngôi nhà lá, sắm sửa đồ đạc, rồi hòa dần vào nếp sống chung của làng và… để ý tìm chồng. Chính xác hơn là chờ người ta đến hỏi mình làm vợ. Nghe kể lại thì cũng có khá nhiều người tìm đến với cô, nhưng vẫn chỉ là những người “có vấn đề”, chắc vì thế nên cô từ chối. Có vẻ như cô sẵn sàng sống độc thân suốt đời chứ không chịu lấy những người cô thấy không xứng đáng.

Trước đây, tuy thuộc hạng em út, nhưng nhờ ông anh, tôi thường được cô cho đi chơi cùng, kể cả những đêm hai người và đám thanh niên lớn hơn ra bờ Kênh Nhà Lê hát đối cùng con trai, con gái làng Phúc Nhạn bên kia kênh. Cô hát hay, đối đáp nhanh và sắc sảo. Chắc thời ấy nhiều người mê cô chứ không riêng gì anh tôi. Hơn thế, cô lại chín chắn, có bản lĩnh và luôn được bầu làm bí thư chi đoàn. Sau chiến tranh, dù không tích cực như trước nhưng cô vẫn tham gia đầy đủ các hoạt động xã hội trong làng xã. Cô cũng là người lao động giỏi, biết lo toan, sống hòa thuận với xóm giềng và được mọi người yêu mến. Tóm lại, trừ chuyện chồng con, mọi việc với cô đều ổn. Vậy sao bỗng nhiên cô bỏ đi tu?

Theo người ta kể lại thì cách đấy độ nửa năm có anh cán bộ tỉnh về làm việc ở xã. Chắng hiểu quan hệ hai người thế nào mà sau đó cô Duyên bỏ làng vào Vinh, nói đã xin được việc làm nhà nước ở đấy. Thế mà chưa đầy hai tháng sau thì thấy cô quay về, rồi xin vào nhà chùa, cũng cắt tóc, mặc áo nâu và sống hẳn ở chùa.

Ðó là chùa Yên Quang, nằm cạnh quốc lộ, phía bên kia sông Bùng, chùa lớn nhất trong cả huyện Diễn Châu, cách làng chúng tôi khoảng mười cây số. Cô chẳng giải thích vì sao. Người ta chỉ có thể đoán già đoán non, rằng phải có chuyện gì đấy nghiêm trọng xẩy ra giữa cô và anh cán bộ nọ, nên một người bản lĩnh và yêu đời như cô mới có một quyết định cực đoan như vậy. Có người bảo cô bị lừa, rằng anh kia đã có vợ và chỉ muốn quan hệ với cô như bồ bịch hay một dạng vợ lẽ. Cũng có người nói chuyện phức tạp hơn nhiều.

Dần dần sự kiện giật gân này cũng lắng xuống. Người ta đã ít bàn tán về cô, và cuối cùng chấp nhận mọi việc như nó hiện có. Thay cho hai tiếng “cô Duyên” giản dị trước đây, bây giờ mọi người, cả già lẫn trẻ, đều gọi cô là “sư cô Ðàm Duyên”. Không biết nhà chùa có chức danh “sư cô” không, hay chỉ sư ông, sư bà và chú tiểu thôi. Cũng không biết vì đâu có chữ “Ðàm” ấy. Tôi thấy dân làng gọi thế: Sư cô Ðàm Duyên.

Lần ấy vì vội, tôi không có thời gian tới chùa Yên Quang xem cụ thể thế nào, nhân tiện nói chuyện đôi câu với cô Duyên, nếu cô chịu nói. Dù sao cô cũng suýt là chị dâu tôi, và ngày trước chúng tôi từng chơi thân với nhau.

Mãi ba năm sau tôi mới gặp cô, lần gặp thứ hai kể từ ngày cô đi thanh niên xung phong. Hôm ấy trời không mưa nhưng u ám, lại không đúng ngày lễ nên cảnh chùa có vẻ buồn và cô tịch.

Tôi dựng xe vào gốc cây bên đường, định không vào chùa vội mà đứng bên ngoài quan sát một chốc đã. Chùa chỉ có bốn người. Một vị sư già trụ trì, một bà sư nữa cũng già, và hai người khác trẻ hơn. Một trong hai người ấy là cô Duyên, bây giờ là “sư cô Ðàm Duyên”.

Khi tôi đến, cô đang quét sân chùa. Mặt cô buồn buồn nhưng thanh thản và vô cảm. Một khuôn mặt còn giữ được nhiều nét đẹp, khiến tôi không thể không nhớ tới một cô Duyên linh hoạt, yêu đời ngày nào, khi cô cho tôi đi theo trong những đêm hát ghẹo bên Kênh Nhà Lê. Tôi thử hình dung mà không được khuôn mặt ấy thế nào suốt mười năm chiến trường khói lửa. Mỗi người một số phận, một hoàn cảnh, tất nhiên. Một khi cô chọn cách sống thoát tục này thì hẳn phải có lý do của nó. Tôi không có quyền và không muốn can thiệp. Tuy nhiên, đứng nhìn cô từ từ đưa những nhát chổi trên sân chùa vốn đã sạch bóng, tôi cbỗng cảm thấy buồn, và thầm nghĩ:

Ðường đời lỡ bước nhân duyên,
Cô bước chân vào cửa thiền,

Quét nhặt từng bông hoa đại,
Ðể qua cái thời con gái.

Nay già… Nếu không trọc đầu,
Chẳng biết tóc bạc đến đâu.

Tôi đứng thêm chốc nữa rồi lặng lẽ đạp xe về làng, không muốn khuấy động sự yên tĩnh trong lòng cô sau bao sóng gió của cuộc đời. Nhưng cô có thực sự cảm thấy thanh thản trong lòng không? Cô có hoàn toàn dửng dưng với những gì sôi động đang diễn ra xung quanh không?

Từ đấy, những lần hiếm hoi về thăm quê (cả nhà tôi từ lâu đã dọn lên thành phố), tôi đều tranh thủ tới chùa Yên Quang. Lần nào cũng chỉ đứng ngoài nhìn vào. Sau lần gần đây nhất, tức là vào năm 1995, trở lại Hà Nội, tôi có viết bài thơ về cô Duyên, một trong những cô gái làng tôi mà cũng là của nhiều làng khác khắp cả nước. Bài thơ đã đăng báo. Tôi nghĩ nó nói đủ những gì tôi muốn nói về nỗi đau này của chiến tranh. Nỗi đau không của riêng ai.

SƯ CÔ ĐÀM DUYÊN

Lại vãn chùa Yên Quang –
Vẫn đều đều tiếng mõ,
Hoa đại vẫn rơi vàng
Trên sân nền gạch đỏ.

Ngoài đường tiếng ô tô
Xen lẫn lời niệm Phật.
Chỉ sau chùa, ven hồ
Không còn ba chậu quất.

Và sư cô Ðàm Duyên
Tay vẫn lần tràng hạt
Như ngày mới nhập thiền
Còn ngỡ ngàng, dút dát.

Là thanh niên xung phong
Những năm gian khổ nhất,
Về, nhỡ thì, muộn chồng,
Cô nương nhờ cửa Phật

Ðể tìm sự thảnh thơi
Trong lời kinh, hương khói,
Mong rũ sạch bụi đời
Ðã làm cô mệt mỏi.

Kia, sư cô đang ngồi
Quay lưng ra mặt phố,
Quay lưng cả với đời,
Lặng yên như tượng gỗ.

Sư cô đang nghĩ gì?
Phải chăng còn vương vấn
Chút bụi đời, nhiều khi
Nhớ những ngày mặt trận?

Phải chăng nơi cửa thiền
Sư tĩnh tâm, hạnh phúc,
Hay sư cô Ðàm Duyên
Vẫn cô Duyên trần tục?

Vẫn thế chùa Yên Quang,
Vẫn đều đều tiếng mõ,
Hoa đại vẫn rơi vàng
Trên sân nền gạch đỏ.

Và tiếng còi ô tô
Vẫn bay vào inh ỏi…
Tôi đứng nhìn sư cô
Thấy mình như có lỗi

Trong việc để sư ngồi
Quay lưng ra mặt phố,
Quay lưng cả với đời,
Lặng yên như tượng gỗ…

Hà Nội, 21.4.2001

Posted in Báo chí cách viết, Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | 1 Comment »

Đơn vị cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi Iraq

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2011

Tuy rút khỏi Iraq, quân đội Mỹ vẫn còn 3500 người đang cố vấn cho các lực lượng của chính phủ Iraq. Nguồn dầu hỏa của Iraq đứng hàng thứ 4 thế giới thì không dễ gì mà Mỹ để mất vào tay một nước nào khác. Thời điểm sắp tới  là có cuộc tranh cử tổng thống ở Mỹ, và không dễ gì TT Obama sẽ thắng một cách vinh quang như 4 năm trước.
Mới các bạn đọc bài báo trên Wall Street Journal được dịch như sau.
DCVOnline: Sau gần chín năm, tốn 800 tỉ đô-la, với 4.500 lính Mỹ hy sinh và khoảng chừng 100.000 người dân Iraq bị thiệt mạng, cuộc chiến tranh ở Iraq giờ chấm dứt – tối thiểu là về phía  quân đội Hoa Kỳ. Lúc 7:30 sáng hôm nay giờ địa phương, đơn vị cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ từ Iraq đã băng qua biên giới đi vào Kuwait, cũng trên một con đường quân đội Hoa Kỳ dùng để tiến vào Iraq năm 2003.

Một triệu rưỡi lính Hoa Kỳ – nam cũng như nữ – đã phục vụ trên chiến trường Iraq. Nhưng cho đến hôm nay, cuộc chiến đang để lại nhiều di sản chiến tranh mà cần thời gian để cho thấy, liệu sự hy sinh của họ có xứng đáng hay không (2).

Trong số những người lính nói trên, đã có nhiều binh sĩ người Mỹ gốc Việt thuộc các cấp phục vụ cho quê hương Hoa Kỳ của mình, giờ đang trên đường về lại Mỹ. DCVOnline mến chúc những qúy vị này có được một mùa Giáng Sinh ấm cúng với gia đình và người thân.

Biên giới Iraq – KuwaitĐoàn quân xa cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ rời Iraq sáng sớm Chủ Nhật hôm nay, chấm dứt một sứ mệnh quân sự kéo dài chín năm trời qua.

Đoàn xe tải bọc sắt và xe kéo lăn bánh qua biên giới Iraq-Kuwait lúc qúa nữa đêm. Đoàn quân xa được ánh đèn quay phim và từ những máy chụp hình đón chào; một vài quân nhân bóp còi khi họ đi qua cánh cổng khoảng chừng mười mét nằm phía bên này của biên giới Kuwait.

Cuộc rút quân bằng đường bộ này là giai đoạn sau cùng của một nỗ lực hậu cần gay go để mang tất cả binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Iraq trước ngày 31 tháng Mười Hai. Kế hoạch rút quân này bắt đầu nhiều tháng trước đây, theo viên chức quân sự Hoa Kỳ cho hay.

Binh sĩ Hoa Kỳ rời Iraq trong tình trạng an ninh được kiểm soát ngặt nghèo, người ta lo ngại là phiến binh sẽ tổ chức những cuộc tấn công chỉ nhắm vào mục đích là được báo chí để ý tới và đăng tải lên hàng đầu. Đại tá Không quân Claude Tudor của Phi đoàn Không yểm 368, là đơn vị phối hợp yểm trợ trên không cho đoàn quân xa cuối cùng nói là những người lên phương án rút quân đã có những thay đổi vào giờ phút cuối “để bảo đảm là chúng tôi giữ không cho phiến quân có cơ hội để làm gì hết.”

Lính của Lữ đoàn 3, Chiến đoàn 1 Thiết giáp, nhóm cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ rời Iraq, vượt biên giới qua Kuwait hôm khuya thứ Bảy. Nguồn: AP


Khi đoàn quân xa cuối cùng lăn bánh về phía biên giới, một đơn vị nhảy dù cứu nguy của Không Quân đang ở trong tình trạng sẵn sàng, chuẩn bị nhảy vào khi có chuyện khẩn cấp. Trung tá Không quân Carlos Brown diễn tả đơn vị này như là “một lực lượng phản ứng nhanh” có thể được gởi đến ngay lập tức để thi hành nhiệm vụ cứu sinh mạng binh sĩ Hoa Kỳ trong trường hợp khẩn cấp.

“Chúng tôi sẵn sàng để cứu và đưa người đó ra, trong trường hợp khẩn cấp,” ông nói.

Chiến dịch quân sự của Hoa Kỳ bắt đầu với “tấn công mãnh liệt và nỗi kinh hoàng”: là một cuộc tấn công bằng quân sự dữ dội, tiến quân nhanh để áp đảo quân đội Iraq và làm Iraq trở thành rắn không đầu khi làm mất khả năng lãnh đạo của Iraq. Cuộc rút quân này được lên kế hoạch để tiến hành nhẹ nhàng, không cốt làm lớn chuyện lên — một cuộc rút quân hầu như không ai thấy sau gần chín năm chiến tranh.

Chiếc quân xa cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ băng qua biên giới lúc 7 giờ 30 sáng giờ địa phương hôm nay, là khi mặt trời bắt đầu lên ở sa mạc.

Binh sĩ Hoa Kỳ đánh dấu cuộc chấm dứt chiến dịch ở Iraq một cách chính thức hôm thứ Năm ngày 15 tháng Mười Hai ở Baghdad. Nhưng quân đội Hoa Kỳ sẽ được một phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ rất lớn (2) thay thế để giám sát cả hai – việc bán dụng cụ quân đội cho Iraq – cũng như làm việc để giảm những khủng hoảng gây ra bởi nạn bè phái và chủng tộc hiện vẫn chưa được giải quyết.

Chính phủ ông Obama thông báo là chính phủ ông sẽ rút tất cả binh sĩ về nước sau những cuộc họp giữa Baghdad và Washington và Hoa Kỳ không đạt được sự thỏa thuận với Baghdad là binh sĩ Hoa Kỳ đồn trú ở Iraq phải được phép miễn xử theo luật địa phương trong thời gian đồn trú ở đó.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) Final U.S. Troops Leave Iraq, Ending Nearly 9-Year Mission. The Wall Street Journal, 18 December 2011, by Nathan Hodge with contribution from Sam Dagher in Baghdad
(2) ‘The war is over’: Last US soldiers leave Iraq. NBC News, msnbc.com staff, Reuters and The Associated Press contributed to this report.

Theo bài báo này, sau khi quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi Iraq, phái đoàn ngoại giao của Hoa Kỳ sẽ lên tới 16.000 người. Trong đó, bao gồm 2.000 nhân viên ngoại giao và chính phủ liên bang Hoa Kỳ, phần còn lại – 14.000 người – là nhân viên làm việc theo hợp đồng và đa số đặc trách an ninh.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Mỹ sẽ đưa Chiến hạm tới Singapore, Philippines

Posted by hoangtran204 trên 17/12/2011

17.12.2012

Hải quân Mỹ cho biết sẽ triển khai một số Tuần dương hạm ( tàu tuần tra) dọc bờ biển Singapore và Philippines trong những năm tới.

BRP Gregorio del Pilar – Khu trục hạm lớn nhất của Philippines mua của Mỹ với giá hơn 10 triệu USD Ảnh: Philippine Star.

Các nhà phân tích quốc phòng cho rằng, động thái này của Mỹ khiến Trung Quốc lo ngại bị bao vây và bị gây sức ép trong vấn đề tranh chấp trên Biển Đông.

“Trong những năm tới, hải quân Mỹ sẽ tập trung vào “ngã ba hàng hải chiến lược” của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”, Đô đốc hải quân Mỹ Jonathan Greenert nói. Ông cho biết hải quân Mỹ đã có kế hoạch “triển khai một số tàu chiến cận duyên  mới nhất tại cơ sở hải quân của Singapore” bên cạnh kế hoạch của Tổng thống Mỹ Barack Obama đưa thêm Thủy quân lục chiến tới căn cứ quân sự tại Darwin (Úc) vào năm tới.

Ông Greenert nói: “Điều này sẽ giúp hải quân Mỹ duy trì vị trí thống lãnh toàn cầu mà không cần nhiều chiến hạm và máy bay như hiện tại”. Chiến hạm cận duyên hải là các tàu  hoạt động tại vùng ven biển, có thể chống lại thuỷ lôi, tàu ngầm diesel, tàu nhỏ, có vũ trang và tốc độ cao 75 km/ giờ.

“Quy mô các chiến hạm được triển khai trong kế hoạch lần này khá nhỏ song nó khiến Trung Quốc phải lo lắng và không thể làm gì để ngăn chặn kế hoạch này”, Euan Graham, quan chức cao cấp của Chương trình An ninh Hàng hải thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (Singapore), nói. Thời gian đồn trú của các tàu chiến tại Singapore không được tiết lộ.

Sẽ đưa Chiến đấu cơ tới Philippines, Thái Lan

Ông Greenert cho biết các chiến hạm sẽ tập trung vào Biển Đông nhằm chống lại nạn cướp biển và buôn bán trái phép. “Năm 2025, các máy bay P-8A Poseidon hoặc máy bay tuần tra biển không người lái sẽ tới Philippines hoặc Thái Lan nhằm giúp các quốc gia này giám sát hải phận”, Đô đốc nói.  [Đây là lối nói thăm dò xem TQ có phản ứng gì không, chứ thật ra, TQ biết rõ các vệ tinh của Mỹ hàng ngày vẫn chụp ảnh các vùng biển đảo chung quanh Trung Quốc]

Một nguồn tin cho hay kế hoạch triển khai hải quân tại Philippines cũng đã được thảo luận. Philippines, một đồng minh của Mỹ từng vài lần va chạm với Trung Quốc vì tranh chấp trên Biển Đông, rất hoan nghênh các động thái trên. “Chúng tôi cùng ở trong khu vực châu Á -Thái Bình Dương và chúng tôi đang đối mặt với các thách thức an ninh chung”, phát ngôn viên quốc phòng Philippines, Peter Paul Galvez nói.

Theo các nhà phân tích, tranh chấp chủ quyền tại những khu vực nhiều dầu mỏ và hải đảo tại Biển Đông đang là mối đe dọa an ninh lớn nhất châu Á hiện nay. Đây là tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới, nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Hơn một nửa tàu chở dầu của thế giới đi qua tuyến đường này.

Trong một hội nghị thượng đỉnh khu vực hồi tháng 10, Tổng thống Obama nói rằng Mỹ muốn đảm bảo các tuyến đường biển luôn được lưu thông và hoà bình. Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tỏ ra bực mình, sau khi nhiều quốc gia châu Á khác đồng tình quan điểm của Mỹ. Ông Ôn Gia Bảo cho biết “lực lượng bên ngoài” không có tư cách can thiệp các tranh chấp hàng hải nhạy cảm, phức tạp.

“Sự hiện diện khiêm tốn của 2.500 Thủy quân lục chiến tại Úc không phải là con số lớn và không có nghĩa là tất cả tàu chiến này đều hướng đến Trung Quốc”, Paul Dibb, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng tại Đại học Quốc gia Úc, nhận xét. “Dù tôi không thấy có sự bao vây của Mỹ với Trung Quốc, nhưng quốc gia đang trỗi dậy của châu Á này chắc chắn là một phần trong kế hoạch triển khai hải quân lần này của Mỹ”, ông Dibb nói.

Theo kế hoạch lần này, các Tuần dương hạm duyên hải sẽ được giám sát chặt chẽ bởi hãng Lockheed Martin (Mỹ), Austal (Úc), General Dynamics Corp (Mỹ) và một số hãng chế tạo vũ khí khác đang sản xuất 2 mẫu chiến hạm mới cho hải quân Mỹ, và hi vọng bán cho các quốc gia khác trong những năm tới.

Gia Tùng

Theo Reuters

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bị thâm hụt 12 tỷ đô la, Chính phủ VN tung 300.000 tỷ đồng vừa giải cứu ngân hàng, vừa mua lại 9 tỷ đô la do Việt Kiều gởi về, nhưng làm gia tăng lạm phát (dân lãnh đủ) và độc quyền mua rẻ đô la, không cho tỷ giá vượt mức 22.000 đồng, để chính phủ hưởng lợi

Posted by hoangtran204 trên 16/12/2011

Lời tựa: Loạt 3 bài báo dưới đây cho thấy lạm phát của VN sẽ gia tăng khủng khiếp vào năm 2012.  Đây là hậu quả của việc tung 300 000 tỷ đồng (tương đương 15 tỷ đô la, hay 17% của GDP) vào nền kinh tế và vì thế, mức độ lạm phát sẽ lên đến đỉnh điểm trong năm 2012.

Thông thường, sau khi tung hết số tiền này ra (bằng cách cho các ngân hàng muôn tiền, trả nợ cho các tổng công ty và tập đoàn để tiếp tục tồn tại) thì 7 tháng sau, lạm phát sẽ gia tăng. Vậy là vật giá sẽ leo thang vào tháng 2, 3 năm 2012.

Nhưng tờ Bloomberg, trong bài báo với tựa đề “Việt Nam có tiến bộ trong việc giới hạn tỉ lệ lạm phát nhanh nhất châu Á” (x-cafevn.org) và (danluan.org), đang quãng cáo cho chính quyền VN để kêu gọi các nhà đầu tư ngoại quốc hãy bỏ tiền vào Việt Nam (mức đầu tư vào tháng 2- 2012 ở VN đang giảm 54 %, so với tháng 2 năm ngoái)

Người dân Việt Nam đã và đang đối mặt với vật giá mỗi tuần mỗi lên cao từ cuối năm 2011 và 2 tháng đầu năm 2012. Mức lạm phát sẽ gia tăng rất cao vào mùa hè này và kéo dài cho đến cuối năm 2012. Khi đó, các tập đoàn và tổng công ty lại kêu ca đang bị thua lỗ nữa, và sẽ liên tục kêu gào chính phủ VN cứu trợ,  và rồi đảng sẽ thảo luận rồi tung gói cứu trợ hàng trăm ngàn tỷ đồng vào ngân hàng và thị trường vào mùa Hè 2013.  Lạm phát rồi sẽ gia tăng nữa. Đó là bài bản lập đi lập lại trong 20 năm qua, kể từ thời ông Võ Văn Kiệt.

Dưới đây là 3 bài báo về kinh tế và tài chánh quan trọng nhất trong năm 2011.

Tháng 9, 2011, báo Thanh Niên cho hay, chính phủ VN tung  300.000 tỷ đồng vào thị trường bằng cách cho các ngân hàng vay (nguồn Bài 3).  Các ngân hàng thượng mại đang túng quẩn tiền mặt sẽ được vay mỗi tháng 59 ngàn tỷ đồng, và toàn bộ số tiền 300 ngàn tỷ nầy sẽ được đưa vào thị trường vào trước cuối tháng 12-2011.

Cũng theo bài báo dưới đây, năm nay, chính phủ VN cho biết bị thâm hụt 12 tỷ đô la, và lạm phát của VN đứng hạng nhì thế giới ( Somalia đứng hạng nhất).

Báo đăng tin, trong năm 2011, Việt kiều đã gởi về nước hơn 9 tỷ đô la qua các ngân hàng và các cơ sở chuyển tiền , và chưa tính chừng 2 tỷ đô la tiền mặt do hơn 500.000 ngàn Việt kiều bỏ túi đem về ăn lễ Giáng Sinh và dịp Tết sắp tới đây.

Kết quả trực tiếp của hành động tung 14,5 tỷ đô la hay 300 000 tỷ đồng VN vào thị trường là sẽ có lạm phát (hay đồng tiền VN  mất giá rất khủng khiếp)  xảy ra vào khoảng tháng 7-2012.

Chính phủ VN tung tiền đồng vào thị trường với các mục đích cứu nguy nên kinh tế kiệt quệ thông qua các cách sau đây. Một, cho các ngân hàng mượn tiền để ngân hàng có tiền mặt giao dịch và trả lương vì hệ thống ngân hàng VN hiện nay sắp sụp đổ. Hai, thông qua việc dùng 1 ngân hàng này mua lại 3 ngân hàng kia, hay sáp nhập 3 ngân hàng thương mại trong tuần qua (mà giám đốc và phó giám đốc ngân hàng là ai thì các bạn đã biết rồi); Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV) trở thành chủ của 3 ngân hàng kia. Ba, trả tiền cho 91 tập đoàn tổng công ty nhà nước đang thua lỗ hàng năm và trả lương cho hơn 6 triệu công nhân biên biên chế nhà nước. Bốn, đây là điểm sống còn của chế độ: mua lại 9 tỷ đô la kiều hồi do Việt Kiều gởi về và ít nhất là 2-3 tỷ đô la Mỹ do 500 000 Việt kiều về nước hàng năm mang theo tiền mặt chi tiêu.

Chính phủ VN nghĩ: Dùng 300 000 tỷ đồng để mua lại 9 tỷ đô la do Việt kiều gởi về và 2-3 tỷ đô la tiền mặt do Việt kiều bỏ túi về VN giúp gia đình, chi tiêu…Số tiền nay tương đương 10% GDP, thì các vấn nạn còn lại  như thâm hụt ngân sách, thiếu ngoại hối để trả tiền lời cho số tiền mà VN đã vay mượn 57 tỷ đô la của các nước tư bản giãy chết, của World Bank, của Asia Development Bank, của các tập đoàn tài chánh của Nhật, Đài Loan, Anh, Mã Lai… sẽ được hóa giải. Nhưng chuyện không phải thế.  Uống thuốc để chữa bệnh thì tất nhiên phải có hiệu quả phụ. Ở đây sẽ làm lạm phát, vật giá gia tăng, doanh nghiệp sẽ dừng sản suất, xuất khẩu sẽ sụt giảm, và nhiều người sẽ mất việc làm.

Đối với các quốc gia khác, thì chính phủ nào đạt được các “thành tích” tung hơn 15% của GDP vào thị trường thì kể như chính phủ đó sẽ bị sụp đổ rồi. Nhưng ở VN thì khác, lạm phát đứng hàng nhì thế giới, chính phủ thâm hụt ngân sách hơn 12 tỷ đô la (10% GDP), ngân hàng bên bờ vực của sụp đổ, thiếu hụt ngoại hối để trả nợ 57 tỷ đi vay của nước ngoài…đã được các Việt kiều “giải cứu”.  Thật đáng mỉa mai thay!

Đọc 3 bài báo dưới đây, các bạn sẽ thấy rõ vấn đề này.

Bài 1- Kiều hối về Việt Nam nhiều nhất thế giới

14-12-2011

Bất chấp kinh tế thế giới khó khăn, nguồn kiều hối về Việt Nam năm 2011 được dự báo sẽ đạt trên 9 tỷ USD. Như vậy, Việt Nam đã trở thành 1 trong 10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất trên thế giới.

Năm nay, doanh số của phòng kinh doanh dịch vụ chuyển tiền và kiều hối của Ngân hàng Vietinbank ước đạt trên 1,3 tỷ USD, đây là con số lớn nhất từ trước tới nay mà Ngân hàng này có được.

Tuy nhiên, đằng sau mức tăng trưởng ấn tượng về lượng kiều hối lên tới trên 9 tỷ USD trong năm nay, câu hỏi được quan tâm nhất lúc này đó là tại sao cả thế giới đang ngập chìm trong khó khăn, vậy mà dòng tiền đổ về Việt Nam lại tăng cao kỉ lục như vậy?

Bằng hình ảnh “nước chảy chỗ trũng”, cộng với sự hấp dẫn về hiệu quả sinh lời của đồng vốn, ông Ngô Xuân Hải, Trưởng phòng kinh doanh dịch vụ chuyển tiền và kiều hối ngân hàng Vietinbank đã lí giải về hiện tượng kiều hối tăng cao này ở Việt Nam.

“Sở dĩ kiều hối năm nay tăng trưởng cao như vậy là vì bây giờ, kiều hối ngoài mục đích là trợ cấp thân nhân thì còn là dòng tiền đầu tư, ví dụ như đầu tư bất động sản, đầu tư kinh doanh hay đơn giản là chỉ cần hưởng chênh lệch lãi suất”, ông Ngô Xuân Hải cho biết.  [Lối giải thích này không ổn. Thị trường BĐS ở VN đóng băng từ mấy năm nay nên tiền kiều hối cũng không phải dùng để mua nhà đất. Tiền kiều hối cũng không dùng để đầu tư kinh doanh, vì số doanh nghiệp phá sản và đóng cửa hơn 200 000 ngàn DN. Hàng hòa sản suất ra bán không ai mua, còn để tòn kho. Hưởng chênh lệch lãi suất? Chỉ là một số nhỏ làm chuyện này, vì tiền đồng VN mất giá, gởi ngân hàng để làm gì].

 

Một con số thống kê thú vị nữa cũng đã được Ngân hàng Vietinbank dẫn ra, đó là có tới 30% lượng kiều hối bán cho ngân hàng và sau đó chuyển sang VND đang có xu hướng tăng lên. (chuyển sang VND = đổi ra tiền đồng)

 

Một thống kế mới nhất từ Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia cho hay, có tới 52% lượng kiều hối đổ vào bất động sản, số còn lại được dùng để gửi tiết kiệm và tiêu dùng. Dù chưa có chính sách nhằm định hướng dòng tiền kiều hối, nhưng rõ ràng với 9 tỷ USD, chiếm gần 1/10 GDP của Việt Nam thì đây là một trợ lực hữu hiệu cho nền kinh tế.

 

Ông Đặng Trung Dũng, Phó TGĐ Ngân hàng SHB nhận định: “Tôi nghĩ, lượng tiền kiều hối đã trở thành thành phần rất quan trọng đối với kinh tế Việt Nam, nó có ý nghĩa rất lớn đối với cán cân thanh toán, cán cân thương mại của Việt Nam. Con số 9 tỷ USD đã nói lên tất cả, nhất là trong bối cảnh cả thế giới gặp khó khăn thì lượng kiều hối một mặt nào đó cũng phản ánh sự hấp dẫn và ổn định của thị trường Việt Nam”.

 

Rõ ràng với gần 4 triệu Việt kiều sống trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng hàng vạn lao động xuất khẩu, hiện nay, nguồn lực kiều hối trong tương lai vẫn được coi là còn dư địa và tiềm năng tăng trưởng. Hiện tại, với 9 tỷ USD, ít nhất sức ép về sự thiếu hụt cán cân vãng lai và là nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế cũng sẽ được giảm thiểu rất nhiều.

 

tác giả CHÍ SƠN

 

——————————————————————————

Thật sự ra đây là chính phủ bỏ tiền ra để cứu 3 ngân hàng thương mại đang thua lỗ, hay nói cách khác là hùn vốn vào các ngân hàng này. Và Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV) được chính phủ chỉ định nắm đầu 3 ngân hàng thương mại bị thua lỗ.

Bài 2- Sáp nhập 3 ngân hàng tại TP.HCM

6-12-2011

Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Sài Gòn là 3 ngân hàng đầu tiên được chấp thuận sáp nhập tự nguyện, theo công bố của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình sáng nay.

Cả ba ngân hàng Đệ Nhất (Ficombank), Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và Sài Gòn (SCB) đều có trụ sở tại TP HCM, với tổng vốn điều lệ (tính tới cuối tháng 9) là 10.600 tỷ đồng và tổng tài sản 154.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được chỉ định tham gia toàn diện vào ngân hàng mới sau hợp nhất, với tư cách đại diện vốn nhà nước.

Ủy ban Nhân dân TP HCM sáng nay họp bàn cùng 3 ngân hàng và BIDV để có thể tiến tới ký kết các văn bản hợp nhất ngay trong ngày hôm nay.

Thống đốc Nguyễn Văn Bình công bố thông tin trên tại cuộc họp giao ban báo chí của Bộ Thông tin Truyền thông tổ chức sáng nay tại Hà Nội.

“Bước đầu tiên trong quá trình tái cơ cấu ngân hàng theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, sáng nay Ngân hàng Nhà nước thông qua chủ trương hợp nhất 3 ngân hàng có trụ sở chính tại TP HCM là Đệ Nhất – Ficombank, Tín Nghĩathương mại cổ phần Sài Gòn – SCB”, Thống đốc Nguyễn Văn Bình khẳng định.

Theo ông, 3 ngân hàng này thời gian qua gặp khó khăn về thanh khoản chủ yếu do dùng nhiều vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Khi nguồn vốn ngắn hạn không còn dồi dào, 3 ngân hàng này đã mất khả năng thanh toán tạm thời.

“Ngân hàng Nhà nước đã hỗ trợ thanh khoản cho cả 3 ngân hàng này, nên tình hình ổn hơn. 3 ngân hàng này đã họp và đi đến quyết định tự nguyện hợp nhất, để phát huy thế mạnh của nhau, hỗ trợ cho nhau, đồng thời tiết giảm chi phí vận hành nhằm tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn, với khả năng tiếp cận thị trường lớn hơn, mạng lưới rộng hơn”, ông nói thêm.

Thống đốc Bình cho biết Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam sẽ tham gia toàn diện vào ngân hàng mới sau hợp nhất, từ Hội đồng quản trị, Ban điều hành và các phòng ban quan trọng. Với tư cách đại diện vốn Nhà nước, BIDV sẽ phải đảm bảo để ngân hàng sau hợp nhất không bị phá sản, đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền hợp pháp, qua đó ổn định kinh tế vĩ mô cũng như chính trị, xã hội trên địa bàn TP HCM và cả nước.

“Quyền lợi của người gửi tiền hợp pháp được đảm bảo, bởi thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã hỗ trợ thanh khoản cho 3 ngân hàng này và sắp tới ngân hàng sau hợp nhất lại có sự tham gia của Nhà nước”, Thống đốc cam kết.

Sắp tới, các bên liên quan sẽ tiến hành đánh giá lại hoạt động của cả ba ngân hàng, đánh giá các khoản nợ, vốn, tài sản còn lại của các ngân hàng. Và sau khi có đánh giá chính thức của kiểm toán, Ngân hàng Nhà nước sẽ cân nhắc tỷ lệ tham gia vốn Nhà nước trong ngân hàng này.

“Chi phí xử lý 3 ngân hàng này chưa tính toán được, còn chờ quá trình đánh giá lại hoạt động của cả ba ngân hàng”, Thống đốc nói.

Đây là 3 ngân hàng đầu tiên được phép hợp nhất kể từ khi Ngân hàng Nhà nước công bố chủ trương tái cơ cấu toàn diện hệ thống ngân hàng vào tháng 10. Thống đốc Bình cho biết, đề án tái cơ cấu ngân hàng đã được Chính phủ thông qua về mặt nguyên tắc và sớm trình Bộ Chính trị thời gian tới. Trong giai đoạn đầu tiên, từ nay đến hết quý I/2012, sẽ hoàn tất quá trình đánh giá lại và sắp xếp, phân loại các ngân hàng theo tình trạng sức khỏe, để có biện pháp xử lý phù hợp.

Trước khi thông tin hợp nhất ba ngân hàng được công bố chính thức hôm nay, đã có một loạt động thái chuẩn bị cho kế hoạch này. Đầu tiên là cam kết hỗ trợ thanh khoản của BIDV với Ficombank (hạn mức tín dụng là 5.000 tỷ đồng). Tiếp đó là thỏa thuận hợp tác chiến lược ký kết giữa Quỹ Đầu tư Australia Macquarie, tập đoàn tài chính đang quản lý số tài sản trị giá khoảng 317 tỷ USD, với cả ba ngân hàng Đệ Nhất (Ficombank), Sài Gòn (SCB) và Tín Nghĩa (TinNghiaBank). Theo đó ông Lee George Lam, Chủ tịch phụ trách khu vực Đông Dương của Macquarie Capital được chỉ định là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn của ba ngân hàng trên. Macquarie Capital sẽ cố vấn về chiến lược kinh doanh mới của các ngân hàng này cũng như việc tìm kiếm cổ đông chiến lược, huy động vốn cũng như khả năng phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu.

Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của 3 ngân hàng:

Đơn vị: Tỷ đồng

  Tín Nghĩa Sài Gòn Đệ nhất
9T/2011 2010 9T/2011 2010 9T/2011 2010
Vốn điều lệ 3.399 3.399 4.185 4.185 3.000 3.000
Tổng tài sản 58.940 46.414 78.014 60.183 17.100 7.649
Lợi nhuận trước thuế 579 378 530 544 219 141
Lợi nhuận sau thuế 432 284 401 405    
Tiền gửi khách hàng 35.029 25.546 40.900 35.121 8.800
(*)
5.360
(*)
Nguồn: Báo cáo Tài chính Quý 3/2011
(*): Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư

Song Lin

———

Khi vay được tiền của nhà nước, các ngân hàng sẽ bớt kẹt tiền, có thêm nhiều thanh khoảng (tiền) để hoạt động.  Và họ sẽ đổi tiền đồng lấy tiền đô la, rồi giao nộp tiền đô cho chính phủ Hà Nội. vốn đã vị thâm hụt 12 tỷ đô la vào năm nay.

Việc bơm 300 ngàn tỷ đồng ( hay 14,4 tỷ tiền đô la) vào thị trường sẽ làm lạm phát ở VN sẽ trở nên kinh hoàng vào tháng 5-tháng 7 năm 2012.

Bài 3-Việt Nam ‘cố ổn định kinh tế’

Thứ sáu, 23 tháng 9, 2011

Chính phủ Việt Nam đề xuất lên Bộ Chính trị của Đảng cầm quyền các biện pháp cố gắng ‘ổn định kinh tế vĩ mô’ và giảm mục tiêu tăng trưởng Đại hội Đảng nêu ra đi 0,5% mỗi năm.

Thay cho mục tiêu ‘phát triển nhanh, bền vững’, trong dự thảo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa lên Bộ Chính trị, nay chỉ còn là “đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô”.

Truyền thông Việt Nam cho hay trong hai ngày 22-23/9, lãnh đạo Kế hoạch và Đầu tư đã “làm việc riêng” để báo cáo với Bộ Chính trị về các nội dung của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015.

Dù nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XI hồi đầu năm xác định Việt Nam sẽ phấn đấu “phát triển nhanh, bền vững” trong kế hoạch năm năm tới, nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng mục tiêu này nên được điều chỉnh để phản ánh thực trạng hiện nay.

Họ nêu lên Bộ Chính trị ý kiến rằng trước hết cần “đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững”, thay cho phát triển nhanh, một dấu hiệu Chính phủ lo ngại trước các chỉ số kinh tế xấu.

Mức tăng trưởng của Việt Nam cũng được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất nên đặt ở mức là 6,5 – 7% mỗi năm, thấp hơn trung bình 0,5% so với Nghị quyết của Đại hội Đảng XI.

Tiếp tục bơm tiền?

Tình hình biến động của thị trường tại Việt Nam gây lo lắng trong dân chúng và giới doanh nghiệp.

Lạm phát tại Việt Nam hiện tháng sau cao hơn tháng trước và các biến động thị trường vàng, đô la và chứng khoán đang đặt ra nhiều câu hỏi về khả năng điều hành kinh tế của Chính phủ.

Theo ý kiến một số chuyên gia, các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục làm ăn thua lỗ thì thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục thời kỳ ảm đạm.

Tân chính chủ của ông Dũng không có thay đổi nhiều về nhân sự.

Giới quan sát, như Bấm Giáo sư Hà Tôn Vinh gần đây cho BBC hay, nỗ lực của Chính phủ Việt Nam tập trung vào chống lạm phát một cách quyết liệt sẽ để lại hậu quả lâu dài cho các doanh nghiệp vốn sẽ mất nhiều thời gian để phục hồi trở lại.

Gần đây, có tin rằng Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam bơm thêm 300 ngàn tỉ đồng (khoảng 14.4 tỉ đô la) vào thị trường, một dấu hiệu nhiều nhà kinh tế từng khuyến cáo phải ngăn chặn gia tăng tín dụng để chống lạm phát.

Theo báo Thanh Niên, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam sẽ bơm thêm vào thị trường tài chính 300,000 tỉ đồng (khoảng 14.4 tỷ đô la) để các ngân hàng thương mại có thể cho vay với tổng số tiền lên đến 59,500 tỉ đồng một tháng.

Vẫn nguồn tin này nói rằng kế hoạch này sẽ không vượt quá chỉ tiêu tăng khối lượng tiền được bơm vào thị trường quá 15 đến 16% trong khi tín dụng cung cấp lên đến 20%.

GS Hà Tôn Vinh thì đề nghị Chính phủ “có giải pháp dài hơi chứ không phải giải pháp tình thế như hiện nay vốn chỉ tập trung vào ưu tiên ngắn hạn là chống lạm phát”.

Còn theo bản tin Reuters hôm 23/9, thâm hụt cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam lên tới 1 tỷ đô la chỉ trong tháng 9 năm nay, và nhìn trên bình diện cả năm tính tới nay là 6,84 tỷ đô la.

Reuters trích số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê Việt Nam về tháng 9 ghi nhận: xuất khẩu tăng 36,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 8,3 tỷ đô la, nhưng nhập khẩu cũng tăng 33,4%, lên 9,3 tỷ đô la.

Vẫn Bộ Kế hoạch và Đầu tư được Reuters trích lời cho hay họ dự kiến thâm hụt cho cả năm là 12 tỷ đô la.

Mất cân bằng xuất nhập khẩu liên tục được coi là một yếu tố quan trọng khiến đồng tiền Việt Nam mất giá mạnh trong những năm qua.

Nguồn Thanh Niên (bài nầy đã bị xóa)

nguồn Cộng Đồng Ngân Hàng và Nguồn Nhân Lực

Nhưng khi tung vào thị trường 300 000 tỷ đồng để mua lại 9 tỷ đô la do Việt kiều gởi về, thì cả hai vấn nạn trên được hóa giải.

Đối với các quốc gia khác, thì chính phủ nào đạt được các “thành tích” nói trên thì kể như đã bị sụp đổ. Nhưng ở VN thì khác, các “thành tích” kinh tế tài chánh nói trên đã được các Việt kiều “giải cứu”.  Thật đáng mỉa mai thay!

Posted in Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | 2 Comments »

►Chế độ Dân Chủ ích lợi gì?

Posted by hoangtran204 trên 15/12/2011

Chú ý: Trong bài xã luận dưới đây, phần trong ngoặc [ ] được tôi thêm vào cho rõ nghĩa.

Ngô Nhân Dụng – Dân Chủ ích lợi gì?

Submitted by TongBienTap on Thu, 12/15/2011 – 05:48

Nguồn: báo Người Việt

09.12.2011

Ở các nước dân chủ, mỗi lần có một cuộc vận động tranh cử, người ta lại thấy nhiều bất mãn về không khí chính trị.

Như cuộc vận động tranh cử hiện đang diễn ra ở nước Mỹ chẳng hạn. Ngược lại, tại một nước độc tài, một cuộc bầu cử hơi tự do một chút cũng khiến mọi người thêm tin tưởng rằng cơ chế chính trị dân chủ hy vọng sẽ giúp quốc gia sẽ tiến bộ hơn. Như tình trạng ở Nga trong mấy ngày nay. Chế độ dân chủ giống như một cái bánh: Ðược nếm một chút thì người ta thèm muốn ăn nhiều hơn; nhưng khi được ăn mãi thì lại dễ thấy chán!

Sang năm nước Mỹ mới có bầu cử tổng thống và Quốc Hội. Nhưng không khí chính trị đã sôi nổi, hào hứng nhờ các nhà chính trị bên đảng Cộng Hòa đang giành nhau để được đảng đưa ra làm ứng cử viên tổng thống. Một tháng nữa mới có những cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa nhưng từ nửa năm nay đã có hàng chục nhà chính trị rất sáng giá vận động hòng được đảng đưa ra đối đầu với đương kim Tổng Thống Barack Obama. Hãy tạm coi họ đều là những ứng cử viên tổng thống. Với tình trạng kinh tế đang trì trệ và khó hy vọng khá lên nhiều trong 12 tháng tới, ai chính thức được làm ứng cử viên Cộng Hòa sẽ hy vọng được làm tổng thống nước Mỹ từ năm 2013.

Nhưng chính cuộc vận động sôi nổi này làm nhiều người thấy chán nản. Theo dõi các cuộc tranh luận của họ, có những vị ứng cử viên tổng thống làm người ta phát chán. Nhiều người Mỹ tự hỏi: Cái ông (hay bà) này mà sẽ làm tổng thống của tôi hay sao? Thí dụ như ông Herman Cain, nhà triệu phú chủ nhân nhiều tiệm ăn thành công, có tài ăn nói, có lúc đã vượt lên đứng hàng đầu. Ông đưa ra một chính sách thuế rất giản dị, ai cũng hiểu được, gọi là “999,” ba thứ thuế cái nào cũng đánh 9%. Ai cũng biết các suất thuế như vậy sẽ làm ngân sách chính phủ Mỹ thiếu tiền tiêu, nhưng nếu có ai đặt câu hỏi thì ông Cain coi như chuyện đó không quan trọng! May mắn cho đảng Cộng Hòa, có đến 4 phụ nữ xuất hiện tố cáo ông đã sách nhiễu tình dục họ; rồi chính ông cũng thú nhận đã từng ngoại tình. Sau cùng ông Cain phải rút lui, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.

Một ứng cử viên sáng giá khác là ông Rick Perry, thống đốc tiểu bang Texas. Ông có những khẩu hiệu rất hay, dựa trên thành tích đã quản trị thành công trong một tiểu bang vào hạng lớn và giầu nhất nước Mỹ. Có lúc ông đã vượt lên chạy hàng đầu, qua mặt cả Mitt Romney và Newt Gingrich; được coi như niềm hy vọng của đảng. Nhưng bây giờ ông đã xuống, rất thấp. Ông Perry có cái tật hay quên một cách thảm hại, đặc biệt là quên tên! Ðãng trí một lần thì dễ được bỏ qua, vì ai cũng có lúc quên; nhưng quên đến mấy lần, quên toàn những chuyện quan trọng, thì những người ủng hộ ông cũng phải lo! Một lần, lên ti vi tranh luận với các ứng cử viên khác, ông trình bày dự án chính trị sẽ thi hành khi lên làm tổng thống: Chính phủ liên bang to lớn quá, phải cắt bớt (Ai cũng đồng ý!). Cho nên Tôi, Perry, sẽ xóa bỏ bớt ba bộ trong chính phủ Mỹ. Thứ nhất là Bộ Thương Mại; thứ hai là Bộ Giáo Dục; và thứ ba là bộ… bộ nào nhỉ, quên mất rồi!  [đó là Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường EPA. Đây là một cơ quan rất có quyền lực thật sự và độc lập với chính quyền. Một khi cơ quan này lên tiếng về vấn đề ô nhiễm môi trường ở một nơi nào đó do các tập đoàn hay đại công ty gây ra hay có nguy cơ gây ra, thì 50 vị thống đốc và Tổng Thống Mỹ cũng không dám đưa ra ý kiến ngược lại với cơ quan nầy. Mặc dầu TT Obama ký lệnh cho khai thác dầu khí vùng Vịnh Mexico, nhưng khi hãng dầu BP bị tai nạn nổ giếng khoan làm tràn dầu ra vùng biển Florida, cơ quan Bảo vệ Môi Trường đã nhanh chóng vào cuộc, và việc khoan dầu ở vùng vịnh này dường như đã bị đình chỉ vô hạn định]

Mới ngày hôm qua, ông Rick Perry lại biểu diễn tính đãng trí một lần nữa. Ðang đi vận động ở Iowa, nói chuyện với ban biên tập tờ báo lớn nhất tiểu bang, The Des Moines Register, ông Perry chỉ trích Tổng Thống Obama đã Ðề Cử Hai Thẩm Phán Tối Cao, “thí dụ như là…” Nói tới đó ông Perry lúng túng nghĩ không ra cái tên vị thẩm phán này. Ông tự hỏi thầm, nhưng ai cũng nghe thấy, “Không, không phải là Montemayor…” Một nhà báo có hảo ý nhắc tên vị nữ thẩm phán: “Sotomayor.” Ông Perry sung sướng nhắc lại: “Sotomayor, đúng, Sotomayor.” Sau đó, ông chỉ trích các quan tòa Tối Cao Pháp Viện đã can thiệp vào “quyền tự do cầu nguyện” ở trong các trường học. Ðó là một đề tài rất hấp dẫn. Cho nên ông lên tiếng phản đối “Tám vị thẩm phán tối cao không do dân bầu ra; thành thật mà nói, họ không chịu trách nhiệm với ai hết!” Ý kiến này sẽ được nhiều người đồng ý. Chỉ có một điều bất ổn, là Tối Cao Pháp Viện nước Mỹ xưa nay vẫn có chín vị thẩm phán. Ðề tài Tối Cao Pháp Viện là do ông Perry chọn, để ông phê phán định chế này. Tôn giáo là một lãnh vực ông được rất nhiều người tán thưởng. Vậy mà ông quên cả con số 9 người hay 8 người. Nhiều người sẽ tự hỏi: Sao ông không chịu học trước khi lên trả bài?

Chắc cuối cùng ông Rick Perry khó qua mặt được Mitt Romney và Newt Gingrich để giành lấy vai trò ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hòa. Nhưng các màn biểu diễn tính hay quên khiến nhiều người đã thất vọng về khả năng chính trị của ông. Và nếu ông cứ tiếp tục vận động thêm vài tháng nữa, có lúc người ta sẽ thất vọng cả về những chuyện tranh cử và bầu cử sơ bộ. Liệu hai chính đảng lớn ở Mỹ không tìm ra cách nào khác để chọn một ứng cử viên chính thức hay sao? [ Ông Gingrich 68 tuổi, ly dị 2 bà vợ trước, hiện có bà vợ thứ ba. Ông tự nhận là người không trung thành với các bà vợ; ông có thói quen hay bồ bịch với các thư ký của ông.]

Chưa hết, hãy chờ đến sang năm. Khi đảng Cộng Hòa chọn xong rồi, cuộc tranh cử giữa ông Barack Obama với, hoặc ông Mitt Romney hoặc ông Newt Gingrich, sẽ diễn ra với những cảnh đấu đá, chê bai, bới móc và có khi bôi bẩn nhau rất nặng nữa. Dân chúng sẽ còn chứng kiến nhiều cảnh không phải lúc nào cũng hay ho, đáng ngưỡng mộ. Vậy mà, sau cùng, một trong mấy người đó sẽ lên làm tổng thống cai trị dân Mỹ trong bốn năm! Có cách nào khác hay không?

[Ông Mitt Romney theo đạo Mormon. Ông chỉ có 1 vợ. Nhưng người Mỹ biết đạo Mormon cho phép 1 người chồng có thể sống chung với nhiều vợ. Đó là điều làm nhiều phụ nữ không ưa thích. Giới bảo thủ Mỹ không thích đạo này và từ đó không thích ông Romney. Ông Romney 64 tuổi là một luật sư và có bằng MBA. Ông cũng là một triệu phú rất thành công trong ngành đầu tư, và là một cựu Thống đốc 2003-2007. Ông nổi tiếng nhờ làm cho tiểu bang Massachusetts thu được nhiều tiền trong ngân sách, và về việc ông ký thông qua luật bảo hiểm y tế. Đây là tiểu bang duy nhất của nước Mỹ mà mọi người dân ở trong tiểu bang Massachussetts đều có bảo hiểm y tế.  Khi còn là thống đốc, nhờ sự góp ý và giúp đỡ của thượng nghị sĩ Edward Kennedy (đảng Dân Chủ), ông đã vận động quốc hội tiểu bang biểu quyết thông qua đạo luật bảo hiểm y tế và ông ký ban hành luật này buộc toàn thể dân chúng trong tiểu bang Massachusetts phải có bảo hiểm hay chịu phạt thuế. Có lẻ, ông Romney sẽ được dân chúng thuộc đảng Cộng Hòa đề cử ra tranh với TT Obama, vì vấn đề lớn hiện nay của nước Mỹ là làm sao kinh tế lên, mọi người cần có việc làm để nạn thất nghiệp giảm xuống hơn hiện nay, và bảo hiểm y tế…]

Nhưng khi nhìn lại những vị tổng thống được kính trọng nhất trong lịch sử Mỹ, như ông Lincoln, như hai ông Roosevelt, ta thấy ông nào cũng đều đã trải qua những cuộc tranh cử giống y như vậy cả! Ðọc lịch sử nghe những điều các đối thủ bôi nhọ ông Lincoln, phải thấy là kỳ lạ!

Chế độ Dân Chủ có một khuynh hướng kỳ lạ này, là rất thích phơi bầy những cái xấu của mình! Sống giữa các cuộc vận động tranh cử, nhiều người phải phát chán. Một người quan sát ngoại quốc sẽ lại đặt câu hỏi: Có cách nào khác (coi lành mạnh và sạch sẽ hơn), để chọn một người cai trị quốc gia hay không?

Ở một nước độc tài thì khác hẳn. Chế độ độc tài rất giỏi trong nghề che đậy, giấu diếm. Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại. Dân chúng biết càng ít càng tốt!  [ Nghe quen quen như chế độ ở VN hiện nay]

Thử nhìn ông Vladimir Putin mà coi. Ông ta chỉ xuất hiện trước công chúng để đóng trò một người hùng; chỉ thua Thống Chế Stalin ngày xưa mà thôi! [Giới truyền thông Ngan đưa tin và hình ảnh] Putin bắn súng. Putin đấu võ. Putin cưỡi ngựa (cởi trần, khoe bộ ngực lực sĩ). Putin lái máy bay, lái cả tầu ngầm. Putin đứng giữa đoàn nữ vệ binh (các cô y phục rất khiêm tốn). Ðầy rẫy trên truyền hình, trên báo, trên màn ảnh lớn, trên cả nhãn hiệu Vodka. Ông Putin còn được các đồng chí Trung Quốc chọn trao giải Hòa Bình mang tên ông Khổng Tử nữa!

Trước đây hai tháng cả nước Nga và cả thế giới chỉ thấy một chính quyền Putin vô địch, được toàn dân ngưỡng mộ, kính yêu, không ai thay thế nổi; sang năm ông chắc chắn sẽ làm chúa tể Ðiện Kremlin thêm 12 năm nữa. Ai than vãn hay tỏ ý nghi ngờ sẽ bị công an mật vụ hỏi thăm, nhiều nhà báo can đảm đã mất mạng.

Nhưng chỉ cần cho dân chúng bỏ phiếu tự do hơn một chút, bầu không khí đã thay đổi. Tự nhiên hàng chục ngàn người dân bỗng thấy họ mạnh dạn hơn. Họ dám xuống đường tố cáo bầu cử gian lận! Một phụ nữ nói, “Trước đây tôi không bao giờ đi biểu tình. Vì sợ cũng có, mà còn vì tôi nghĩ đi biểu tình cũng chẳng thay đổi gì được. Nhưng bây giờ khác. Chủ Nhật này tôi sẽ đi biểu tình!” Một người dân bình thường bỗng thấy can đảm. Vì bắt đầu tin tưởng vào những quyền tự do căn bản của thể chế tự do dân chủ: Tự do hội họp; và tự do phát biểu. Chắc những quyền đó phải hấp dẫn, phải đưa tới những kết quả tốt hơn tình trạng độc tài! Một điều chắc chắn: Những người Nga đi biểu tình ngày mai, Chủ Nhật 11 tháng 12 năm 2011, đều mong muốn đất nước họ được tự do dân chủ hơn.

Ðể làm gì? Tất nhiên, để cuộc sống kinh tế, xã hội tốt đẹp hơn. Ðể con cháu họ sống hạnh phúc hơn. Nhưng, sẽ đến ngày nước Nga tự do dân chủ thật, các cuộc bầu cử sẽ có nhiều ứng cử viên tham dự, họ sẽ tranh luận với nhau trước công chúng, cãi nhau như mổ bò, y như ở Mỹ bây giờ. Và sau đó nhiều người sẽ thất vọng, sẽ tự hỏi: Có cách nào khác để chọn người cai trị mình hay không?

Nhưng chúng ta biết, chế độ dân chủ tự do không bảo đảm sẽ tìm ra những người lãnh đạo tốt nhất, giỏi nhất, đẹp trai hay xinh gái nhất nước để trao quyền. Dân chủ tự do là một chế độ không hoàn hảo, và không hứa hẹn những kết quả hoàn hảo. Dân chủ tự do không cam kết sẽ tạo ra một xã hội “lý tưởng” – như các chủ nghĩa viển vông thường mê hoặc những người dại dột.

Vậy thì đâu là giá trị đặc biệt của thể chế dân chủ tự do khiến loài người đã mất bao công tranh đấu, theo đuổi, muốn thực hiện bằng được? Hiện nay ở nước Miến Ðiện người ta cũng náo nức đặt những viên đá đầu tiên xây dựng con đường tự do dân chủ cho các thế hệ tương lai. Nhiều người dân các nước Á Rập cũng đang hào hứng xây dựng xã hội mới dân chủ tự do hơn.

Ưu điểm của chế độ tự do dân chủ là nó tạo ra một cái khung, cái sườn cho cuộc sống chung; để giới hạn quyền hành của những người đóng vai cai trị. Khi sống trong khung cảnh pháp lý đó, có thể ngăn ngừa được những tai hại do tình trạng lạm quyền sinh ra. Chỉ cần cho người dân quyền thay đổi người cầm quyền một cách tự do, khuynh hướng lạm quyền sẽ bị hạn chế. Trong một nước độc tài thì tham nhũng, bất công, đàn áp, tham quyền cố vị sẽ khó sửa chữa được. Khi được tự do, người ta có hy vọng thay đổi. Dân chủ tự do không hứa hẹn thiên đường. Nhưng sẽ giúp xã hội loài người tránh rơi xuống địa ngục. Vì vậy loài người vẫn tiếp tục khát khao tự do dân chủ.

Posted in Chinh Tri Hoa Ky, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Người Hàn Quốc biểu tình phản đối Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 15/12/2011

Đây là sự khác biệt giữa một quốc gia tự do dân chủ Hàn Quốc và nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

-Khi một sĩ quan Hải quân của Nam Triều Tiên lên kiểm soát tàu đánh cá của TQ đang vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Nam Triều Tiên, ông ta bị ngư dân Trung Quốc đâm chết. Người dân Nam Triều Tiên và binh lính đã dùng quyền biểu tình để phản đối Trung Quốc mà không cần biết cuộc biểu tình của họ có theo đúng với đường lối của chính phủ Nam Hàn với Trung Quốc hay không.

-Trái lại, khi  ngư phủ Việt Nam đang đánh cá trong ngư trường thuộc vùng đặc quyền kinh tế của VN, và rồi bị quân Trung Quốc bắt giữ tàu, đánh đập, hoặc giết chết, và khi dân chúng VN biểu tình phản đối hành động tàn ác của Trung Quốc trong các năm qua, thì chính phủ VN đã ngăn cấm không cho phép biểu tình, mà còn bắt bỏ tù những ai tham gia biểu tình. Quan điểm của chính phủ VN là lo sợ làm Trung Quốc giận!

Người Hàn Quốc biểu tình phản đối TQ

thứ tư, 14 tháng 12, 2011

Người biểu tình Hàn Quốc dẫm đạp cờ Trung Quốc
Vụ va chạm trên Hoàng Hải đã thổi bùng tình cảm chốngTrung Quốc của người dân Hàn Quốc

Hàn Quốc đã tổ chức tang lễ cho người lính tuần dương bị thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc đâm chết trong khi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra trước tòa đại sứ nước này ở Seoul.

Các thành viên gia đình và đồng đội đã khóc trong tang lễ tại thành phố cảng Incheon hôm thứ Tư 14/12 của Lee Cheong-ho, người lính tuần duyên 41 tuổi chết hôm 12/12.

Ba người con của ông Lee đã ôm di ảnh cha khóc nức nở. Ông sẽ được an táng ở nghĩa trang quốc gia.

Trong khi đó, các dân biểu Nam Hàn đã kêu gọi ra điều luật đòi chính phủ Trung Quốc phải xin lỗi một cách chính thức và đúng mức.

‘Không khoan nhượng nữa’

Trong khi đó, hơn 200 người đã tụ tập trước tòa đại sứ Trung Quốc hôm 14/12 để phản đối chính phủ Trung Quốc và các ngư dân nước này.

Những người biểu tình, phần lớn là những người hoạt động thuộc phe bảo thủ và có cả các cựu chiến binh, đã hô vang các khẩu hiệu chống Trung Quốc và phá hủy một mô hình tàu cá nhỏ có gắn quốc kỳ Trung Quốc.

Họ hối thúc chính phủ Hàn Quốc hành động chống lại tình trạng đánh bắt trái phép của ngư dân Trung Quốc.

“Tàu cá Trung Quốc đã có những hoạt động đánh bắt bất hợp pháp tại vùng Biển Tây của chúng ta trong thời gian dài,” Park Chang-dal, chủ tịch Liên đoàn Tự do Hàn Quốc và là một trong những người tham gia biểu tình, nói.

“Chính phủ của chúng ta cho đến nay vẫn khoan nhượng với họ, nhưng chúng ta không thể khoan nhượng với họ nữa sau hành động giết người này,’ ông nói thêm.

“Chính phủ và nhân dân chúng ta phải hợp tác để chấm dứt các hành động này.”

An ninh cũng đã được tăng cường bên ngoài Tòa đại sứ Hàn Quốc ở Bắc Kinh hôm thứ Tư 14/12 sau khi nó dường như bị bắn súng hơi, một quan chức Hàn Quốc cho biết.

Bộ Ngoại giao Hàn Quốc nói họ vẫn chưa rõ loại vũ khí nào đã được sử dụng trong vụ bắn vỡ cửa sổ tòa đại sứ của họ ở Bắc Kinh hôm thứ Ba 13/12. Không có ai bị thương trong vụ tấn công này.

Trong một bản tin phát đi từ Bắc Kinh, thông tấn xã Yonhap của Hàn Quốc dẫn một nguồn tin cho rằng một viên đạn kim loại có khả năng được bắn ra từ một khẩu súng hơi trong khi không có ai nghe được tiếng đạn.

Hiện vẫn chưa rõ liệu vụ tấn công này có liên quan đến vụ va chạm trên Hoàng Hải hay không.

Chính phủ Hàn Quốc hứa sẽ đưa ra những biện pháp cứng rắn để ngăn chặn tình trạng ngư dân Trung Quốc đánh bắt trái phép.

Tổng thống Lee Myung-bak nói rằng chính phủ sẽ cấp thêm ngân sách cho lực lượng tuần duyên để lực lượng này tăng cường hoạt động tại vùng biển Hoàng Hải.

“Chúng tôi sẽ có những biện pháp căn bản để cho những thảm họa như thế này sẽ không bao giờ xảy ra một lần nữa,” Tổng thống Lee Myung-bak nói trong một bài diễn văn do trợ lý của ông đọc.

Văn phòng Tổng thống Hàn Quốc thông báo chuyến thăm được dự kiến của Tổng thống Lee Myung-bak đến Trung Quốc có thể phải xem xét lại.

‘Những tên cướp biển’

Truyền thông Hàn Quốc phản ứng rất giận dữ với vụ việc. Họ lên án Trung Quốc đã không hề chia buồn với cái chết của người lính tuần duyên.

Nhật báo Joong Ang Ilbo bình luận vụ việc này có nguy cơ châm ngòi căng thẳng ngoại giao tồi tệ nhất từ trước đến nay giữa hai quốc gia.

Nhật báo này chạy tít ‘những tên cướp biển’ trên trang nhất, trong khi tờ Chosun Ilbo bình luận trong một bài xã luận rằng lực lượng tuần duyên nên có thêm nhiều tàu và có được hành động mạnh bạo hơn trong cuộc chiến chống lại các ngư dân Trung Quốc được trang bị đầy đủ vũ khí.

Giới chức Hàn Quốc nói họ có chiếc áo đẫm máu, hung khí gây án và đầy đủ các bằng chứng khác để cáo buộc viên thuyền trưởng này tội sát nhân.

“Thuyền trưởng tàu cá chối bỏ đã đâm người lính tuần duyên. Nhưng chúng tôi có bằng chứng vững chắc bao gồm quần áo dính máu của ông ta, do đó chúng tôi không có khó khăn gì để buộc tội ông ta,” người phát ngôn lực lượng tuần duyên Hàn Quốc nói với hãng tin AFP.

Các quan chức Hàn Quốc cho biết viên thuyền trưởng Trung Quốc sẽ đối mặt với cáo buộc sát nhân và trong khi 8 người khác trên tàu cá bị buộc tội cản trở người thi hành công vụ.

Bộ Ngoại giao Hàn Quốc đã triệu tập đại sứ Trung Quốc ở Seoul để phản đối về vụ việc.

Trước đó, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân nói rằng Bắc Kinh đang cố gắng xác minh vụ việc và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với phía Hàn Quốc khi được hỏi rằng liệu Trung Quốc có bồi thường cho gia đính người sỹ quan tuần duyên hay không.

Không xin lỗi

Ông Lưu Vi Dân phát biểu hôm thứ Ba 13/12 rằng Trung Quốc lấy làm tiếc trước các chết của người lính tuần duyên, nhưng không hề đả động gì đến chuyện xin lỗi.

Trong khi đó, một nhóm các nghị sỹ Hàn Quốc đang yêu cầu có những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc hơn các ngư dân Trung Quốc đánh bắt trái phép.

Hai mươi nghị sỹ của Đảng Đại dân tộc cầm quyền đã cùng ký tên vào một nghị quyết yêu cầu Bắc Kinh trấn áp việc đánh bắt trái phép của các ngư dân nước này.

“Chính phủ Trung Quốc phải có một lời xin lỗi có trách nhiệm và cam kết không tái diễn để cho những hy sinh như thế này… sẽ không bao giờ xảy ra một lần nữa,” Nghị sỹ Chung Ok-Nim, người đứng đầu nhóm ký kết, phát biểu hôm thứ Tư ngày 12/12.

Bà cũng kêu gọi chính phủ tăng cường lực lượng tuần duyên và cho phép họ sử dụng vũ khí một cách mạnh bạo hơn.

Các tàu cá Trung Quốc thường xuyên bị bắt gặp đánh bắt trong vùng biển Hàn Quốc. Tuy nhiên họ thường xuyên được thả sau khi nộp tiền phạt.

So với 370 tàu cá Trung Quốc bị bắt vì đánh bắt trái phép vào năm 2010, con số này đã tăng lên đến 430 tàu trong năm 2011, theo lực lượng tuần duyên Hàn Quốc.

Họ cũng cho biết những lần chạm trán trước để ngăn chặn tàu cá Trung Quốc thường kết thúc trong bạo lực.

Hồi tháng 10 lực lượng tuần duyên nước này cho biết họ đã phải dùng hơi cay và đạn cao su để chế ngự các ngư dân Trung Quốc dùng dùi cui và cuốc xẻng tấn công họ.

Trong 5 năm vừa qua, tổng cộng hai lính tuần duyên của Hàn Quốc đã bị giết và 28 người khác bị thương trong các chiến dịch truy bắt tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế.

Vùng biển trong vùng đặc quyền kinh tế của Hàn Quốc, nằm giữa Trung Quốc và bờ biển phía tây của bán đảo Triều Tiên, có rất nhiều cua và cá cơm.

Chỉ mới tuần trước, Hàn Quốc đã yêu cầu đại sứ Trung Quốc cố gắng ngăn chặn tình trạng đánh bắt trái phép của ngư dân nước này.

Hàn Quốc cũng đã tăng tiền phạt lên các tàu cá nước ngoài bị phát hiện hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này, một động thái phản ánh rõ ràng sự mất kiên nhẫn của chính phủ Hàn Quốc với sự gia tăng nhanh chóng của các tàu cá Trung Quốc vi phạm.

Với 300.000 tàu cá và 8 triệu ngư dân, Trung Quốc có đội tàu đánh cá lớn nhất thế giới với sản lượng đánh bắt lên đến hơn 17 triệu tấn.

Tuy nhiên với sản lượng đánh bắt ngày càng giảm sút trong vùng biển gần bờ biển Trung Quốc, các tàu cá nước này ngày càng đánh bắt xa bờ để phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước.

——–

Chủ đề liên quan

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Dòng Chúa Cứu Thế từ chối tiếp Ban Tôn giáo và Dân tộc -Bỏ tù 2 phật tử thuộc Phật Giáo Hòa Hảo

Posted by hoangtran204 trên 14/12/2011

Ban Tôn Giáo và Dân Tộc là một tổ chức rất quyền lực của đảng CSVN nhằm đối phó, quản lý, và tiêu diệt bất cứ ai thuộc khối tôn giáo có ý tưởng không khuất phục nhà nước. Khi nhận được lệnh của Ban này, Công an và an ninh chìm sẵn sàng đánh đập, bắt bớ, bỏ tù, không cho xuất cảnh, bắt cóc, quản thúc… các linh mục và các nhà sư của tất cả các tôn giáo tại VN. Khi tòa án xử linh mục, sư, phật tử, con chiên…và kết án bao nhiêu năm, đều theo lệnh của Ban Tôn Giáo và Dân Tộc.

Theo các blogger, các tu sĩ, hồi ký của những cán bộ cao cấp của ban này, và nhiều người miền Bắc hiện đang sống trong nước, chính Ban Tôn Giáo và Dân Tộc đã tiêu diệt phật giáo và công giáo ngoài miền Bắc trong giai đoạn 1954-1975. Sau năm 1975, ban này đã đặt kế hoạch tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất thành lập ở miền Nam 1964, và đã giao nhiệm vụ cho hòa thượng Thích Trí Thủ dựng lên Giáo Hội  Phật Giáo VN vào năm 1981.

Các sư sải trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam (của nhà nước, trực thuộc Mặt Trận TQVN) có người là chân tu, nhưng không chịu nổi sự sự đàn áp và hăm dọa của công an nên đành khuất phục và cắt đứt liên lạc với GHPGVN Thống Nhất. Ngoài ra, các sư sải trong Giáo Hội PGVN cũng có người là công an, họ có vợ con đàng hoàng, và gia đình thường ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh. Các sư công an trụ trì các chùa chiền mà họ vừa chiếm được (sau năm 1975 bằng nhiều mưu kế thâm sâu) của các sư thuộc GHPGVN Thống Nhất. Họ làm một công đôi việc, vừa quản lý được chùa và các phật tử mà vừa quản lý được tiền công quả cúng dường của bá tánh, rồi đem nộp tiền lại cho đảng bộ của Ban Tôn Giáo và Dân Tộc tại tỉnh và thành phố nơi có chùa.

Cũng bằng cách làm trên, Ủy ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước  được thành lập năm 1983 nhằm phá vỡ và chia rẻ các linh mục trong khối Công Giáo. Nhưng, Giáo Hội Công giáo VN là một tổ chức rất chặt chẻ, Giáo Hội ở Miền Nam và Miền Trung biết rõ các mưu đồ này. Và sau năm 1975, như được tiếp sức bởi số lượng khoảng 4 triệu người công giáo ở miền Nam,  các nhà thờ và họ đạo ở Miền Bắc dần dần phục hồi sức mạnh nội tại như trước năm 1954.  Ban Công Giáo và Dân Tộc đã không thành công lắm trong nhiệm vụ xâm nhập và quản lý giáo hội Công giáo (cụ thể là các nhà thờ, và các họ đạo) như họ đã và đang nắm gần hết Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất.

Dòng Chúa Cứu Thế từ chối tiếp ban Tôn

giáo- Dân tộc

Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) Tp. HCM cho biết, họ đã gởi  công văn từ chối tiếp phái đoàn của Ban Tôn giáo và Dân tộc tới chúc Giáng sinh và năm mới.

Lý do là trong suốt năm qua, những văn thư của Dòng Chúa Cứu Thế VN gởi đến Ban tôn giáo – Dân tộc đều không được phúc đáp và trả lời. Việc viếng thăm này chỉ là hình thức, không diễn tả thực chất chức năng của Ban này đối với các tổ chức tôn giáo.

Phúc đáp của DCCT Tp. HCM:

 Theo DCCT Việt Nam

nguồn danchimviet.info.com/archives/40861

***************************************************

Việt Nam bỏ tù Phật tử vì “lạm dụng

quyền tự do dân chủ”

DCVOnline -Tin Associated Press

HÀ NỘI, Việt Nam – Việt Nam kết án tù hai nhà hoạt động Phật giáo vì đã rải truyền đơn và phát tán đĩa CD chống chính phủ, truyền thông nhà nước cho hay.

Nguyễn Văn Lia và Trần Hoài An đã bị kết án về tội “lạm dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước,” báo giới nhà nước đưa tin hôm thứ ba.

Ông Lia lãnh án năm năm, và An nhận ba năm tù.

Ông Lia, 71 tuổi, đã phủ nhận những cáo buộc trong phiên tòa dài nửa ngày, và cho biết con gái của mình, Nguyễn Thị Ngọc Lúa, theo dõi phiên tòa nhờ loa bên ngoài phòng xử.

Các quan chức tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới ở phía nam tỉnh An Giang từ chối bình luận.

Ông An và Lia là thành viên của nhóm Phật giáo Hòa Hảo. Họ đã bị bắt giữ vào tháng Tư sau khi nhà chức trách tìm thấy 15 cuốn sách, 64 đĩa CD và DVD và 36 tài liệu cáo buộc chính phủ vi phạm nhân quyền và đàn áp tự do tôn giáo, Thông tấn xã Việt Nam đưa tin hôm thứ ba.

Human Rights Watch có trụ sở tại New York-yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho ông Lia và cho rằng bản án “quá đáng và không thể chấp nhận được.”

Người ta tự hỏi chính phủ Việt Nam chính xác đã sợ cái gì đối với một người cao tuổi như cụ Nguyễn Văn Lia, người đã dành cả đời cho tôn giáo, đã làm họ lo sợ đến nỗi rất phải giam ông vào tù,” Phil Robertson, Phó Giám đốc  phân bộ Châu Á của Tổ Chức Nhân Quyền (Human Rights Watch) đã nhận định.

Ông Robertson cho biết cụ Lia, người bị huyết áp cao và một số xương sườn bị gãy, cần được trả tự do để đi điều trị.

Hiện nay chưa có thêm tin về Trần Hoài An.

Việt Nam không chấp nhận những thách thức chế độ độc đảng.

© DCVOnline


Nguồn: Vietnam sentences 2 Buddhist activists to prison for ‘abusing democratic freedoms’
By Associated Press, Updated: Tuesday, December 13, 6:21 AM
                                      *******************************************
Sự thực và gia đình nạn nhân kêu cứu:
ĐƠN CỦA BÀ TRẦN THỊ BẠC LỚN KÊU CỨU CHO CHỒNG NGUYỄN VĂN LÍA LÃNH ĐẠ O PGHH TRUYỀN THỐNG

Posted on Tháng Mười Hai 14, 2011

ĐƠN CỦA BÀ TRẦN THỊ BẠC LỚN KÊU CỨU CHO CHỒNG NGUYỄN VĂN LÍA LÃNH ĐẠO PGHH TRUYỀN THỐNG
PHẬT GIÁO HÒA HẢO NĂM ĐẠO THỨ 72
****************
ĐƠN KÊU CỨU
Kính gởi:
-Liên Hiệp Quốc Tổng Thống Hiệp Chủng Hoa Kỳ
và các nước yêu chuộng tự do trên thế giới.
-Chủ Tịch Thượng, Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ.
-Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ.
-Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
-Các Cơ Quan Truyền Thông Thế Giới.
-Ban Trị Sự Giáo hội PGHH Trung Ương hải ngoại
để tường và nhờ chuyển đạt.
Tôi tên: Trần Thị Bạc Lớn, sinh năm 1951, hiện ngụ ấp Kiến Quới 2, xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Việt Nam. Hôm nay, tôi xin trình bày sự việc chồng tôi, ông Nguyễn Văn Lía bị Tòa án huyện Chợ Mới đưa ra xét xử vào ngày 13 tháng 12 năm 2011.
Chồng tôi và tôi cùng đi đám giỗ vào ngày 24 tháng 4 năm 2011 (nhằm ngày 22 tháng 3 năm Tân Mão). Đi tới xã Hòa An, Chợ Mới, công an giao thông Chợ Mới tổ chức bắt phạt xe, dù chúng tôi có đầy đủ giấy tờ để sử dụng xe theo luật pháp của Việt Nam. Nhưng công an Chợ Mới tự ý bẻ kính chiếu hậu cáo buộc chúng tôi đã vi phạm luật giao thông, chúng tôi không đồng ý kí tên vào biên bản, công an tổ chức vây ráp và bắt giải về trụ sở công an xã Hòa An, sau đó đưa về công an thị trấn Mỹ Luông. Đến hơn 21 giờ cùng ngày, công an cho người chở tôi về nhà. Riêng chồng tôi, gia đình không biết rõ ông bị đưa đi đâu. Và hơn 06 tháng, gia đình mới được gặp mặt, thăm nuôi chồng tôi. Trong những lần gặp mặt, tôi nhận thấy sức khỏe chồng tôi ngày càng giảm sút vì những tháng ngày lao lý.
Vào ngày 30 tháng 11 năm 2011 mẹ con tôi đến trại giam thăm nuôi, chồng tôi kể lại: trong trại giam công an bắt chồng tôi ký tên chịu tội, chồng tôi cương quyết không ký tên chịu tội, công an hành hung chồng tôi buộc ảnh phải ký, cuối cùng công an bẻ lọi tay chồng tôi và đè chồng tôi cạo đầu, chồng tôi vùng vẫy bị chúng đè bấm gảy 2 bẹ sường. Rồi sáng ngày hôm nay trước phiên toà, Toà Án buộc chồng tôi ký tên chịu tội, chồng tôi quyết định không ký và có thái độ phản đối quyết liệt, rồi mấy tên công an tiếp tục dùng chiêu cũ lôi chồng tôi ra phía sau, không biết chúng làm gì mà 2 bày tay chồng tôi sưng và bầm xanh!!!
Được biết chồng tôi sẽ được đưa ra xét xử công khai tại Tòa Án Nhân Dân huyện Chợ Mới vào ngày 13 tháng 12 năm 2011, gia đình cũng phần nào an tâm vì sẽ được gặp mặt và chứng kiến phiên tòa xét xử người thân của mình một cách công bằng, tôi tin tưởng vào luật pháp Việt Nam, chồng tôi sẽ được trả tự do về với gia đình. Nhưng tất cả là một sự thật phũ phàng và tàn nhẫn. Gia đình không nhận được một thông báo hay giấy mời nào từ Tòa Án huyện Chợ Mới để tham gia phiên tòa sáng nay. Với tình cảm tha thiết vợ chồng, cha con và sự mong đợi sau bao ngày xa cách, chúng tôi cũng chuẩn bị sẽ đi đến Tòa Án để dự thính phiên tòa sáng nay. Chúng tôi nghĩ rằng Tòa Án là nơi rộng cửa, mọi công dân Việt Nam có quyền tham dự, chứng kiến việc xét xử, huống chi hôm nay lại là phiên tòa xét xử người thân của mình là điều vô cùng hợp lý và hợp tình. Chúng tôi đi với niềm tin sẽ được gặp mặt người thân và tham dự phiên tòa dù là không nhận được giấy thông báo của Tòa Án hay là phải ngồi ngoài hành lang để ngóng đợi tin tức và thấy mặt người thân.
Trước 2 ngày diễn ra phiên tòa, công an đã tổ chức lực lượng đông đảo theo dõi, giám sát nhà tôi 24/24. Khoảng 06 giờ sáng, rất đông công an ập vào nhà tôi. Họ giả nhân nghĩa lý do là tình hàng xóm láng giềng nên tới khuyên tôi nên ở nhà không được đi tới Tòa Án. Tôi nói : “Chồng tôi có tội gì mà mấy ông bắt giam 08 tháng nay, bây giờ đưa ra tòa xét xử mà lại không cho mẹ con tôi đi. Không được vô trong tham dự, mẹ con tôi đứng ở ngoài hành lang nghe cũng được. Luật nào mà cấm vợ, con không được tham dự phiên tòa xét xử chồng, cha của chúng tôi?”. Công an vẫn bao vây nhà tôi và tìm cách ngăn cản. Mẹ con tôi lên xe và đi đến tòa án. Ra khỏi nhà khoảng 100m, rất đông công an tổ chức lực luợng chặn xe, kiểm tra giấy tờ. Sau khi kiểm tra tất cả giấy tờ đều hợp lệ nhưng công an vẫn không cho đi, kéo dài thời gian. Sau đó, con tôi Nguyễn Thế Lữ và Nguyễn Thị Ngọc Lụa được phép đi (vì cháu Lữ có giấy triệu tập của Toà Án huyện Chợ Mới với tư cách những người tham gia tố tụng). Tôi và con trai Nguyễn Trọng Luật đi sau cũng bị công an chặn xe, kiểm tra giấy tờ. Giấy tờ hợp lệ nhưng công an vẫn không cho mẹ con tôi đi với lý do thật vô lý: nghi ngờ giấy phép lái xe của con tôi là giả nên phải đợi công an huyện Chợ Mới xuống kiểm tra rồi mới trả lại giấy phép lái xe cho con tôi. Tôi nói : “Con tôi thi bằng lái do công an tổ chức thi, công an cấp giấy phép lái xe mà bây giờ nói bằng lái xe giả là sao?”. Công an vẫn dây dưa, cản trở mẹ con tôi không cho đi, không trả lại bằng lái xe cho con tôi. Vì quá bức xúc và uất ức, tôi đã ngất xỉu giữa đường. Nghe con trai nói lại, lúc đó công an vẫn trơ mắt, thản nhiên nhìn, không một chút xót thương, không cho con tôi chở tôi đi bệnh viện hay bác sĩ. Những người hàng xóm đã giúp đỡ kè tôi vào nhà họ nằm nghỉ. Sau đó, con trai tôi đưa tôi về. Có ai lại dửng dưng, lạnh lùng và nhẫn tâm trước nỗi bất hạnh của người khác như thế? Những ai có lòng nhân đạo, tình người có lẽ không cư xử như vậy đâu!!!
Tất cả bạn bè, đồng đạo và người thân của chúng tôi cũng bị chặn đường, ngăn cản. Tất cả mọi ngả đường đều có chốt canh và ngăn cản, không ai được lui tới khu vực gần Tòa Án. Mẹ con tôi nằm ở nhà vô cùng đau khổ và lo lắng, trông đợi từng phút trôi qua trong tâm trạng đau đớn, uất ức không biết chồng mình bị khép tội như thế nào, có bị đánh đập, ép cung hay không….Bà mẹ chồng đã ngoài 80 tuổi cũng phải gạt nước mắt trở về nhà không được thăm con trai mình vì công an ngăn cản, chặn xe. Đến gần 11 giờ, con tôi-Nguyễn Thế Lữ và Nguyễn Thị Ngọc Lụa về kể lại sự việc cho gia đình nghe.
Sau khi bị công an kiểm tra giấy tờ xe lần thứ nhất (như phần trên tôi đã trình bày) Thế Lữ và Ngọc Lụa đi gần tới Tòa Án Chợ Mới lại bị 6 xe công an tiếp tục chặn xe, kiểm tra giấy tờ xe lần thứ hai. Lần này, công an cũng dây dưa kéo dài thời gian và đòi kiểm tra cả giấy triệu tập của cháu Lữ, nhưng con tôi không đồng ý. Cuối cùng, công an cũng cho hai cháu qua chốt canh thứ hai. Cháu Lữ được vào tham gia phiên tòa, cháu Lụa bị công an bao vây bắt buộc phải rời khỏi phiên tòa. Cả đoạn đường từ đường chính vào tòa án đều bị công an bao vây, ngăn cản. Tất cả mọi sinh hoạt thường ngày của người dân bị ngăn cản, chỉ có công an với công an mới lui tới khu vực này. Phiên tòa bắt đầu từ 08 h15. Ngoài mặt công an nói xét xử công khai, hợp pháp nhưng thực chất là một phiên tòa thầm lặng, không bình thường dường như đã được sắp đặt từ trước. Những người tham gia phiên tòa là ai? Không phải là thân nhân, bạn bè mà là cán bộ của các cơ quan, đoàn thể nhà nước như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Công an….và họ cũng đã được sắp đặt đâu vào đó, mỗi người tham gia phiên tòa với tư cách những người tham gia tố tụng (gồm 10 người)
1/ Lê Minh Triết.
2/ Võ Văn Diêm
3/ Trương Văn Thức (vắng mặt)
4/ Trần Văn Ngọt
5/ Hồ Thanh Vân (tư Nang)
6/ Nguyễn Hồng Đơn
7/ Nguyễn Văn Hoa
8/ Trương Kim Long
9/ Nguyễn Thế Lữ
10/ Dương Văn Anh
đều bị kèm kẹp bởi 2,3 công an. Và trong suốt thời gian diễn ra phiên tòa, không ai được phát biểu, nếu có phát biểu cũng chỉ được nói vài câu ngắn gọn. Đại diện Viện kiểm sát đọc bản cáo trạng xong, chồng tôi đã phát biểu: “Các ông nói sai sự thật, không đúng như thế tôi không nhận”. Lập tức công an giữ an ninh trong phiên tòa ập lại kéo lê chồng tôi nhốt vào một phòng riêng sau hội trường-nơi diễn ra phiên tòa xét xử. Chồng tôi hô lớn tiếng : “Cộng sản đàn áp tôn giáo. Cộng sản đàn áp tôn giáo. Thả tôi ra, thả tôi ra”. Tiếng kêu thật thảm thiết nhưng tuyệt vọng vì ai nghe được những lời ấy khi chung quanh chỉ là công an và công an. Công an bên ngoài tòa án cũng tràn vào bên trong với số lượng đông đảo có thể áp chế hay đàn áp bất cứ lúc nào nếu ai phản ứng trước hành động nặng tay của họ đối với chồng tôi. Trong thời gian được phát biểu tại phiên tòa để tự bảo vệ quyền lợi cho mình (phiên tòa không có luật sư bảo vệ quyền lợi cho những người bị gọi là “bị cáo”), chồng tôi có đặt ra một số câu hỏi cho chủ tọa và tất cả những người có thẩm quyền trong phiên tòa:
Trong cáo trạng, các ông buộc tội tôi vi phạm luật giao thông khi đi trên tỉnh lộ nhưng không chấp hành yêu cầu của công an giao thông và có những lời lẽ xúc phạm những người thi hành nhiệm vụ là hoàn toàn sai trái, không đúng với sự thật. Tôi bị công an giao thông chặn xe, kiểm tra giấy tờ ở đoạn đường thuộc ấp An Bình, xã Hội An, huyện Chợ Mới. Khi công an kiểm tra giấy tờ, tôi có đầy đủ những giấy tờ hợp lệ để lưu thông xe theo luật của nhà nước.
Các ông gọi chúng tôi là bọn Lía và Hoài Ân là không đúng. Chúng tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vô tội bị bắt bớ. Trước khi bị tòa án tuyên án, chúng tôi vẫn có đầy đủ quyền lợi của một công dân Việt Nam. Chúng tôi không phải là người đứng đầu một tổ chức hay xúi giục người khác làm những chuyện phi pháp nên các ông không thể gọi chúng tôi là bọn.
-Tôi viết những Thỉnh nguyện thư, Thư yêu cầu…là để đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của tất cả tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo chớ không vì quyền lợi riêng tư của tôi hay một cá nhân nào. Tôi đấu tranh đòi quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, đòi hỏi trao trả tài sản cho PGHH cũng là vì tập thể, vì lợi ích nhà nước vì các ông luôn tuyên bố với thế giới rằng Việt Nam luôn có tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, không vi phạm nhân quyền.
-Các ông buộc tội tôi lén lút gặp phái đoàn tôn giáo của Hoa Kỳ lại là một điều vu khống kế tiếp. Vì tôi và những đồng đạo của tôi được gặp phái đoàn tôn giáo của Hoa Kỳ là hoàn toàn đúng với luật pháp nhà nước. Tổ chức tôn giáo Hoa Kỳ đã làm việc với nhà nước Việt Nam trước khi họ sang đây. Và chúng tôi nhận được thư mời của phái đoàn Tôn giáo Hoa Kỳ qua đường bưu điện của Việt Nam. Điều đó là hoàn toàn hợp pháp. Tại sao các ông lại buộc tội chúng tôi lén lút, mờ ám gặp phái đoàn tôn giáo Hoa Kỳ để xuyên tạc những đường lối, chính sách đúng đắn của nhà nước Việt Nam?
-Nhận được Giải tự do tôn giáo Nguyễn Kim Điền 2011 là niềm vinh hạnh cho tất cả khối tín đồ PGHH, không phải chỉ riêng tôi. Và số tiền giải thưởng, tôi chia một phần cho ông Trần Hoài Ân, một phần cho tôi, một phần làm từ thiện và một phần để giúp đỡ những người đang bị tù tội.
-Các ông lại cáo buộc tôi nhận tiền viện trợ từ nước ngoài của ông Tăng Văn Ngô, Huỳnh Hiệp… những phần tử phản động của nước ngoài để nhằm tuyên truyền lật đổ nhà nước Việt Nam với âm mưu diễn biến hòa bình là điều không đúng sự thật.
Chồng tôi luôn phủ nhận tất cả những cáo buộc của tòa án và không nhận tội. Trước khi tuyên án, chủ tọa phiên tòa có hỏi chồng tôi là muốn nói lời cuối cùng hay yêu cầu nào không? Chồng tôi trả lời: “Tôi chỉ có một yêu cầu là các ông hãy trả tự do cho tôi ngay lập tức nếu không quá muộn màng”. Trong thời gian tòa giải lao để nghị án, cháu Lữ chỉ ngồi ở xa hỏi thăm sức khỏe chồng tôi. Cuối cùng, tòa án tuyên án ông Nguyễn Văn Lía mức án tù 5 năm và ông Trần Hòai Ân mức án 3 năm với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức” theo khoản 2 điều 258 Bộ luật hình sự. Phiên tòa kết thúc lúc 10 giờ 45 phút.
Kính thưa quí ông, mẹ con tôi xét nghĩ, theo điều luật 70 của hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là: “tất cả người dân Việt Nam đều có quyền tự do dân chủ và tự do Tôn giáo” khi người dân đã vì tôn giáo làm đúng luật thì CS cho là tội lợi dụng quyền tự do tôn giáo. Nếu người dân làm đúng luật dân chủ thì đó là tội lợi dụng quyền dân chủ. Như vậy thì đây không phải là luật mà chính đây là cái bẩy để đưa người dân vào tù.
Hiện nay sức khoẻ của chồng tôi rất xấu do công an đối xử rất tàn nhẫn, trong thời gian qua và trước phiên toà, mẹ con tôi vô cùng đau khổ, bức xúc, uất ức nên viết đơn này gởi đến các cơ quan nói trên và mong các Ngài ra tay cứu giúp chồng tôi qua nạn ách này…
Tôi vợ ông Nguyễn Văn Lía
Trần Thị Bạc Lớn

*CÔNG AN ĐIỀU TRA ĐÃ DÙNG THỦ THUẬT ÉP CUNG, Mớm CUNG, DỤ Dỗ, LỪA PHỈNH, ĐE DỌA, cài cấy, DÀN DỰNG MỘT SỐ NGƯỜI TRONG VỤ ÁN NHẸ DẠ CẢ TIN, KÝ NHẬN TỘI, CŨNG NHƯ TRONG PHIÊN TÒA ĐÃ CÔNG KHAI NHẬN TỘI ĐỂ XIN ĐƯỢC GIẢM ÁN ( TRƯỜNG HỢP CỦA ANH TRẦN HOÀI ÂN” TƯ TIỂU”) NHẰM ĐỂ HỢP PHÁP HÓA PHIÊN TÒA, HỢP PHÁP HÓA BẢN ÁN, ĐỂ GHÉP TỘI ÔNG NGUYỄN VĂN LÍA.
TU HÀNH, LÀM VIỆC THIỆN, GIẢNG ĐẠO, KHUYÊN NGƯỜI ĂN HIỀN Ở LÀNH, LÀM GƯƠNG MẪU, MẪU MỰC CHO CON CHÁU, LÀM TỪ THIỆN, CHO GẠO, TIỀN, MÌ,ÁO,CHĂN,MÙNG GIÚP BÀ CON CÓ HOÀN CẢNH NEO ĐƠN, CÔI CÚT, KHÔNG AI NUÔI DƯỠNG, KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA MÀ CÔNG AN, VIỆN KIỂM SOÁT, PHIÊN TÒA CHO LÀ CÓ TỘI.
CHỒNG TÔI KHÔNG NHẬN TỘI NÊN BỊ ĐÁNH ĐẠP TÀN NHẪN, ĐỐI XỬ KHẮC NGHIỆT. TRONG LÚC ĐIỀU TRA VÀ GIAM GIỮ.ĐÂY LÀ SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM.
Ghi chú :TRÊN ĐÂY LÀ Ý KIẾN CỦA ĐỒNG ĐẠO THAM GIA PHIÊN TÒA.
Nguồn:LÀNG BÁO

Posted in Tôn Giáo | Leave a Comment »

Nam Triều Tiên đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc để phản đối

Posted by hoangtran204 trên 13/12/2011

Ngư phủ Trung Quốc giết sĩ quan tuần duyên Nam Triều Tiên

Thứ Hai, 12 tháng 12 2011

Giới hữu trách Nam Triều Tiên cho hay một trong các sĩ quan tuần duyên của họ đã bị thuyền trưởng một tàu đánh cá của Trung Quốc giết hại ngoài khơi. Từ Seoul, thông tín viên VOA Steve Herman gửi về bài tường thuật sau đây.

Steve Herman | Seoul

Viên thuyền trưởng Trung Quốc bị cảnh sát Nam Triều Tiên bắt giữ tại Incheon

Hình: AP
Viên thuyền trưởng Trung Quốc bị cảnh sát Nam Triều Tiên bắt giữ tại Incheon

Nam Triều Tiên đã triệu tập đại sứ Trung Quốc đến Seoul chỉ vài giờ đồng hồ sau khi cáo buộc một viên thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc đã sát hại một sĩ quan tuần duyên Nam Triều Tiên.

Trưởng ban điều tra trạm tuần duyên ở Incheon, Ang Sung-chik nói rằng chiếc tàu Trung Quốc đã bị chận hồi sáng hôm nay trong vùng Hoàng Hải vì đánh cá bất hợp pháp trong đặc khu kinh tế của Nam Triều Tiên, nhưng bên ngoài lãnh hải.

Giới chức này nói rằng, sau khi chống cự kịch liệt, 8 thành viên của chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đã bị bắt. Nhưng ông nói viên thuyền trưởng của chiếc tàu trong khoang lái đã dùng một vũ khí không rõ đâm hai trong số 4 sĩ quan tuần duyên lên tàu.

Giới hữu trách nói viên trung sĩ 41 tuổi đã chết vì bị nội thương trầm trọng tại một bệnh viện ở Incheon.

Chiếc tàu của Trung Quốc đã bị giữ và thủy thủ đoàn 9 người đã bị câu lưu ở Nam Triều Tiên.

Tại Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Vị Dân nói rằng giới hữu trách sẽ hợp tác với Seoul trong cuộc điều tra về sự cố.

Ông Lưu cho hay Trung Quốc đã tiến hành các biện pháp giáo dục ngư dân Trung Quốc về các hiệp định ngư nghiệp đã ký với Nam Triều Tiên và củng cố việc kiểm soát các ngư thuyền ra khơi để ngăn chặn việc đánh cá bên ngoài hải phận

Ông Lưu cũng kêu gọi chính phủ Nam Triều Tiên bảo vệ quyền lợi của các ngư dân Trung Quốc và đối xử với họ một cách nhân đạo.

Đây là vụ va chạm chết người đầu tiên giữa giới hữu trách Nam Triều Tiên và các ngư phủ Trung Quốc ngoài khơi kể từ năm 2008. Trong sự cố lần trước, một cuộc giao tranh với ngư dân Trung Quốc trong hải phận Nam Triều Tiên đã khiến một sĩ quan tuần duyên của Nam Triều Tiên thiệt mạng và 6 người khác bị thương.

Đội tuần duyên Nam Triều Tiên nói rằng các vụ tàu thuyền Trung Quốc vi phạm hải phận đã gia tăng. Lực lượng này cho biết đã phạt 470 tàu đánh cá Trung Quốc về tội đánh cá bất hợp pháp, so với 370 vụ trong năm ngoái.

Tháng trước, Nam Triều Tiên loan báo sẽ bắt đầu trấn áp các tàu thuyền Trung Quốc trong đặc khu kinh tế của mình.

Giới quan sát nói các đoàn ngư thuyền của Trung Quốc đã tràn ra xa hơn bờ biển của họ để đáp ứng nhu cầu gia tăng về thủy sản trong nước.

Khu vực xảy ra vụ đối đầu hôm nay nổi tiếng là có nhiều cua xanh, cá đù – hay cá sú – và cá cơm.

Ngư phủ Trung Quốc đâm chết sĩ quan tuần duyên Hàn Quốc

Thân nhân của viên sĩ quan tuần duyên Hàn Quốc bị thuyền trưởng Trung Quốc đâm chết, tại nhà tang lễ bệnh viện Incheon, ở phía tây Seoul ngày 12/12/2011.

Thân nhân của viên sĩ quan tuần duyên Hàn Quốc bị thuyền trưởng Trung Quốc đâm chết, tại nhà tang lễ bệnh viện Incheon, ở phía tây Seoul ngày 12/12/2011.

REUTERS/Ha Sa-Hun/Yonhap

Một sĩ quan tuần duyên Hàn Quốc bị đâm chết, người thứ hai bị thương khi vây bắt hai tàu cá Trung Quốc xâm nhập lãnh hải. Thủ phạm là một thuyền trưởng cùng toàn bộ 9 thuyền viên bị bắt. Đại sứ Trung Quốc tại Seoul bị triệu mời lên Bộ Ngoại giao để nghe phản đối. Vụ việc xảy ra vào ngày hôm nay 12/12/2011 trên biển Hoàng Hải khi tuần duyên Hàn Quốc bố ráp hai ngư thuyền Trung Quốc đánh cá bất hợp pháp trong hải phận Hàn Quốc, cách đảo Socheong 55 hải lý.

Tuần duyên Hàn Quốc cho biết là khi họ đang chuẩn bị lục soát chiếc tàu cá thứ nhất, trọng tải 66 tấn, thì bất ngờ chiếc thứ hai lao đến cứu. Thuyền trưởng của tàu đập cửa sổ lấy mảnh kính đâm hai sĩ quan Hàn Quốc. Hai nạn nhân được trực thăng khẩn cấp đưa về bệnh viện Incheon nhưng một trong hai người, họ Lee, từ trần vì vết thương quá nặng.

Viên thuyền trưởng sát nhân này bị bắt với tội danh cố sát và vi phạm vùng đặc quyền kinh tế Hàn Quốc. Cả hai tàu cá bị tịch thu, toàn bộ hai đoàn thủy thủ bị câu lưu để điều tra.

Trong khi đó tại Seoul, Bộ Ngoại giao Hàn Quốc đã triệu đại sứ Trung Quốc Trương Hâm Sâm lên Bộ để phản đối. Thứ trưởng Ngoại giao Park Suk Hwan « Yêu cầu chính quyền Trung Quốc triệt để chận đứng tình trạng đánh cá bất hợp pháp và hành động phi pháp của ngư dân Trung Quốc ». Seoul cũng đòi Bắc Kinh « Phải bày tỏ sự hối tiếc và cam kết không để cho tái diễn tình hình tương tự ».

Theo AFP, đại sứ Trung Quốc đã lên tiếng « lấy làm tiếc » và hứa « nhanh chóng » chuyển về Bắc Kinh yêu cầu của Seoul.

Đây là lần thứ hai trong vòng không đầy 4 năm xảy ra vụ ngư phủ Trung Quốc dùng vũ lực giết sĩ quan tuần duyên Hàn Quốc.

Theo hãng Yonhap, chỉ tính trong vòng năm năm qua, Hàn Quốc đã bắt khoảng 2.600 tàu cá Trung Quốc xâm nhập lãnh hải và giam giữ khoảng 800 thuyền viên một thời gian sau khi đóng tiền phạt.

Tuy nhiên, song song với việc Bắc Kinh phô trương sức mạnh quân sự, ngư dân Trung Quốc càng ngày càng tỏ ra lộng hành và số vụ đánh cá bất hợp pháp càng ngày càng tăng : từ 370 vụ trong năm 2010 tăng lên 475 vụ trong thời gian chưa trọn năm nay.

Cuối tháng 12 năm ngoái, một tàu cá Trung Quốc ủi vào tàu tuần duyên Hàn Quốc để chống cự. Hậu quả là tàu chìm, hai thuyền viên thiệt mạng. Tháng 10 năm nay, cảnh sát biển Hàn Quốc phải sử dụng khói cay và đạn cao su để khống chế một tàu đánh cá Trung Quốc chống cự bằng gậy gộc.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Biểu Tình Phản Đối Thủ Tướng Putin và đảng của ông ta

Posted by hoangtran204 trên 11/12/2011

 

Biểu tình lớn ở Nga

Biểu tình ở Moscow 10/12

Theo những con số khác nhau của các hãng thông tấn, số người biểu tình phản đối bầu cử gian lận ở Nga ngày hôm qua tại Moscow, thứ Bẩy 10/12/2011, vào khoảng 40-50 ngàn người. Sau khi đảng nước Nga Thống Nhất tuyên bố thắng cử, làn sóng biểu tình đã bùng phát ở Nga. Dù, mức độ thắng cử của đảng Nước Nga Thống Nhất khá khiêm tốn, chưa đầy 50% nhưng kết quả này bị nhiều người cho là gian lận.

Biểu tình rộng khắp

Bất chấp tiết trời lạnh, có mưa và tuyết, những người biểu tình đã kiên quyết đòi bãi bỏ kết quả bầu cử và gọi đảng của Putin là đảng của những “thằng ăn cắp”.

Một lãnh đạo phe đối lập là Vladimir Ryzhkov đọc to bản yêu sách của người biểu tình, đòi hủy kết quả bỏ phiếu ngày 4/12, tổ chức bầu cử lại, cho đăng ký nhiều đảng đối lập, cách chức chủ tịch ủy ban bầu cử và thả ngay những người biểu tình bị bắt trước đây.

“Nước Nga đã thay đổi, tương lai đã thay đổi”, thủ lĩnh đảng đối lập nói.

Trong các cuộc biểu tình trước đó khoảng 300- 400 người biểu tình đã bị tạm giữ. Các cuộc biểu tình theo hiến pháp Nga là hợp pháp. Tuy nhiên, nhà chức trách chỉ cấp giấy phép cho 300 người biểu tình, nhưng con số thực tế đã lớn hơn con số cho phép cả trăm lần.

Tuy nhiên, ông Konstantin Kosachyov, một nghị sĩ đảng Nước Nga Thống nhất, phát biểu thay mặt Kremlin, bác bỏ yêu sách thương lượng mà các tổ chức biểu tình đặt ra. “Với tất cả sự tôn trọng những người đến biểu tình hôm nay, tôi xin nói rằng họ không phải là một chính đảng”, ông Kosachyov nói.

Không chỉ ở Moscow, biểu tình cũng diễn ra ở nhiều nơi khác ở Nga. Tại St. Peterburg, khoảng 10000 người biểu tình.

Tại Urals của Barnaul có khoảng 1.000 người tập trung biểu tình. Ở quảng trường trung tâm Chita khoảng 200 người. Ngay cả vùng Krasnoyarsk, Siberia cũng có vài trăm người tham dự.

Còn ở thành phố Khabarovsk, Viễn Đông Nga, theo hãng thông tấn Nga RIA Novosti, cuộc biểu tình xuất phát từ cáo buộc gian lận trong bầu cử cũng thu hút được ít nhất 50 người tham gia.

Tại Novosibirsk, dẫu nhiệt độ ngoài trời lạnh đến âm 15 độ C nhưng vẫn có đến 3.000 người xuống đường tham gia tuần hành trên đường phố.

Bên ngoài lãnh sự quán Nga tại New York, tập trung khoảng 200 kiều dân Nga với biểu ngữ đòi tổ chức bầu cử lại.

Nga kết tội Mỹ kích động

Ngay khi làn sóng biểu tình vừa bùng phát, truyền thông nhà nước Nga đã chĩa mũi dùi vào Mỹ. Putin nói: “Tôi đã theo dõi các phản ứng đầu tiên của các đối tác Hoa Kỳ của chúng ta”.

Và ông nhắc tới đích danh bà ngoại trưởng Hoa Kỳ: “Trước hết, đó là những gì bà ngoại trưởng đã làm, bà ấy nói rằng bầu cử là gian dối và không công bằng, cho dù bà ấy chưa nhận được các tài liệu từ các quan sát viên bầu cử”…

Putin cũng lớn tiếng cho rằng phương Tây ra tín hiệu, cung cấp tài chính và kích động người biểu tình ở Nga.

Hoa Kỳ bác bỏ

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói các chương trình tài trợ của Hoa Kỳ nhằm ủng hộ “quá trình bầu cử công bằng, tự do và minh bạch” chứ không phải để gây ảnh hưởng tới các nhóm chính trị và không tài trợ cho biểu tình.

Hôm 9/12, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chính thức bác bỏ cáo buộc của Thủ tướng Nga Vladimir Putin rằng Ngoại trưởng Hillary Clinton khuyến khích phe đối lập biểu tình.

Người phát ngôn từ Washington, Mark Toner nói: “Khó có thể nghĩ ra điều gì xa sự thật hơn thế.”

Trong khi đó, báo chí phương Tây đăng nhiều bài bình luận về sự quay trở lại của Putin và ví ông với Mubarak của nước Nga.

Tổng hợp theo BBC, Wyborcza, PAP

Posted in Chinh Tri, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Vì thiếu bộ-phận-móc-chận-giữ phản lực cơ, Hàng Không mẫu hạm Thi Lang, chạy bằng dầu cặn diesel của Trung Quốc sẽ không có Phản lực cơ trên boong tàu!

Posted by hoangtran204 trên 10/12/2011

Mấy chục năm qua, nhà nước, công an và quân đội ta rất sợ hải Trung Quốc.  Và càng sợ hải hơn bao giờ hết kể từ khi TQ khoe là có Hàng Không Mẫu Hạm Thi Lang năm 2010.  Sợ đến độ mà sau mỗi lần có cấp lớn của nhà nước nhậm chức, thì vài tuần sau phải qua CHẦU bên Bắc Kinh để cúng bái và nhận chỉ thị. Thậm chí, chỉ cần nghe nhắc tới tên TQ là nhiều giới chức cao cấp và công an của VN đã… ướt quần. Bởi vậy, khi dân chúng VN đi biểu tình phản đối TQ ở Hà Nội và Sài Gòn, nhà nước sai công an vội vả bắt và dẹp ngay.

Trung Quốc làm tới bằng cách khoe khoang sẽ cho chạy thử Hàng Không Mẫu Hạm. Nhưng trong 4 lần chạy thử, thì có 3 lần, HKMH Thi Lang bị chết máy, và phải dùng tàu kéo về bãi sửa chửa. Nay có thêm tin tức cho biết là Nga đã  từ chối bán hệ thống hãm phi cơ trên hành không mẫu hạm này cho Trung Quốc.

Kết quả là chiếc hàng không mẫu hạm chạy bằng dầu cặn diesel của Trung Quốc trống trơn và không có 1 chiếc phản lực cơ nào đậu trên boong tàu.

(Khi phi cơ đáp xuống HKMH, thì vận tốc của nó rất cao, trên 400 km giờ, vì vậy cần phải có hệ thống hãm chận phi cơ lại để giảm tốc độ, nếu không, phi cơ sẽ chạy xuống biển. Phi đạo trên mặt đất dài tối thiểu 3 km nên không cần hệ thống hãm. Phi đạo trên HKMH chỉ dài 300 mét, nên cần có hệ thống hãm.

*Điều gì đã làm Nga đổi ý và từ chối bán hệ thống hãm phi cơ trên hành không mẫu hạm này cho Trung Quốc ở phút cuối như thế?

Nga bất mãn với Trung Quốc khi Trung Quốc ăn cắp mẫu của chiến đấu cơ Su-33 loại đáp trên hàng không mẫu hạm của Nga để tự xào nấu, rồi chế biến cho chính họ.

*chúng tôi nhận được lệnh bất ngờ từ Mạc Tư Khoa bảo cắt hết liên lạc với đối tác Trung Hoa. Nói khác đi, chúng tôi đã không thể bán cho Trung Quốc những hệ thống hãm này cũng như các dụng cụ khác cho hàng không mẫu hạm của họ.”

*Bộ ngoại giao Nga ngay sau đó tuyên bố “kỹ thuật và vũ khí chiến lược không được bán cho Trung Quốc.”

Câu trả lời chính thức từ phía Nga như nhau: “Ngăn cấm xuất cảng hệ thống vũ khí chiến lược cho Trung Quốc. Hàng không mẫu hạm, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, kỹ thuật sản xuất vũ khí nguyên tử — tất cả những thứ này là vũ khí chiến lược.

Mời các bạn đọc bài dịch đăng trên báo dcvonline.net

——————————-

DCVOnline: Trung Quốc đã tự thiết kế và sản xuất chiến đấu cơ, điển hình là hai loại chiến đấu cơ mới và tối tân nhất FC-1 và J-10. Tuy nhiên, Trung Quốc (vì chưa biết cách chế tạo nên) vẫn phải nhập của Nga động cơ phản lực cho chiến đấu cơ của họ. (2)

Những động cơ phản lực này được sản xuất theo đơn đặt hàng của Trung Quốc, và được bàn giao như một sản phẩm đã hoàn chỉnh. Nga không bàn giao công nghệ sản xuất động cơ phản lực cho Trung Quốc.

Theo giới chuyên môn ước tính, phải đến năm 2016, may ra Trung Quốc mới tự sản xuất động cơ phản lực.

Giờ DCVOnline mời bạn đọc đọc bản tin về chuyện hàng không mẫu hạm của Trung Quốc… chưa có hệ thống hãm (arresting gears) để giữ phi cơ khi đáp xuống boong tàu.
*************************************

Theo bản tin trên của Hải quân Nga được đăng lại trên trang mạng Navy Recognition cho hay, thì chiếc hàng không mẫu hạm (HKMH) đầu tiên của Trung Quốc đang gặp trở ngại mới và bất ngờ, vì chiếc HKMH Varyag được đóng từ thời Xô-viết đã không được gắn hệ thống hãm để giữ phi cơ lại khi đáp xuống boong tàu, và hiện không rõ là Trung Quốc có mua được hệ thống hãm này không.Năm 2007, hãng thông tấn Kanwa tường thuật từ thành phố St. Petersburg, (Nga) là Trung Quốc sẽ mua bốn hệ thống hãm do Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Hàng hải (Marine Engineering Research Institute) chế tạo và do nhà máy Proletarsky Zavod sản xuất, nhà máy này xưa nay vốn sản xuất tất cả hệ thống hãm và các móc cho hệ thống hãm phi cơ cho nước Nga.Kanwa cũng tường thuật là theo một nguồn tin ở nhà máy Proletarsky Zavod, viên chức Trung Quốc đã viếng thăm nhà máy này nhiều lần trước đây và tuyên bố không dấu diếm là họ muốn mua tối thiểu  4 hệ thống hãm phi cơ này. Cuộc thương thảo của họ xảy ra ở văn phòng hãng Rosoboronexport; bao gồm người đàm phán đại diện cho nhà máy Proletarsky Zavod, và viên chức Trung Quốc đã yêu cầu nhà máy cung cấp những thông tin kỹ thuật.Năm 2011, một nguồn tin có thẩm quyền nói với phóng viên của hãng thông tấn Kanwa là cuộc thương thảo của họ đang gặp phải trở ngại bất ngờ — đó là giới chức đặc trách cho kỹ nghệ quốc phòng Nga đã quyết định không bán hệ thống hãm phi cơ này cho Trung Quốc.

Cần hệ thống hãm – landing gears and arresting gears – để giữ phi cơ khi đáp xuống boong tàu hàng không mẫu hạm. Không có hệ thống này, thì HKMH Varyag của Trung Quốc tha hồ chở … phi cơ trực thăng! Nguồn hình: U.S. Navy photo by Photographer’s Mate 3rd Class Sabrina A. Day


Theo nguồn tin này, Trung Quốc tìm cách mua những móc hãm phi cơ từ Ukraine thay vì mua trực tiếp từ Viện NCKT Hàng Hải và hãng Proletarsky Zavod, và những móc hãm trên chỉ thích hợp cho loại máy bay huấn luyện JL-9 và loại “nhái mẫu” J-15.Điều gì đã làm Nga đổi ý và từ chối bán hệ thống hãm phi cơ trên hành không mẫu hạm này cho Trung Quốc ở phút cuối như thế? Hãng thông tấn Kanwa đã hỏi bộ ngoại giao và bộ quốc phòng Nga nhiều lần về việc mua kỹ thuật đóng hàng không mẫu hạm của Nga.
Câu trả lời chính thức từ phía Nga như nhau:Ngăn cấm xuất cảng hệ thống vũ khí chiến lược cho Trung Quốc. Hàng không mẫu hạm, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, kỹ thuật sản xuất vũ khí nguyên tử — tất cả những thứ này là vũ khí chiến lược.“Tuy nhiên, khi Kanwa điều tra thêm về việc này, thì họ tìm thấy lý do chính cho vấn đề không phải ở chỗ “cấm xuất cảng vũ khí chiến lược cho Trung Quốc” nhưng vì Nga bất mãn với Trung Quốc khi Trung Quốc ăn cắp mẫu của chiến đấu cơ Su-33 loại đáp trên hàng không mẫu hạm của Nga để tự xào nấu, rồi chế biến cho chính mình.Trước đó, trong năm 2007, nguồn tin cho Kanwa hay là chế tạo và sản xuất hệ thống hãm phi cơ trên hàng không mẫu hạm là một tiến trình phức tạp mà chỉ có Nga và Hoa Kỳ là có kỹ thuật thích hợp vào thời điểm đó. Chính Ấn Độ cũng phải mua hệ thống hãm này của Nga. Theo Kanwa, “trong qúa khứ, hàng không mẫu hạm được gắn với bốn hệ thống hãm phi cơ, nhưng chiếc HKMH mới của Ấn Độ lại được trang bị với ba hệ thống hãm mà thôi, điều đó cho thấy hệ thống hãm do Nga chế tạo và sản xuất có độ tin cậy rất cao.”
Hệ thống hãm trên hàng không mẫu hạm, không những trên boong mà còn có cả hệ thống phức tạp nằm dưới lòng tàu. Sai một ly là … tha hồ tắm biển! Nguồn hình: norfolknavyflagship.com


Theo bản tin của hải quân Nga cho hay thì một đại diện cho hãng Rosoboronextport ông A. Plotnikov vừa mới đây nói với hãng thông tấn Kanwa là “Trung Quốc rất muốn mua hệ thống hãm phi cơ này nhưng chúng tôi đã không bán.

Năm 2006, giám đốc Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Hàng hải và hãng sản xuất Proletarsky Zavod cho phóng viên Kanwa hay là Trung Quốc sẵn sàng mua bốn hệ thống hãm cho phi cơ sau nhiều vòng đàm phán. Tuy nhiên, vào năm 2011 này ông nói là “chúng tôi nhận được lệnh bất ngờ từ Mạc Tư Khoa bảo cắt hết liên lạc với đối tác Trung Hoa. Nói khác đi, chúng tôi đã không thể bán cho Trung Quốc những hệ thống hãm này cũng như các dụng cụ khác cho hàng không mẫu hạm của họ.”

Bộ ngoại giao Nga ngay sau đó tuyên bố “kỹ thuật và vũ khí chiến lược không được bán cho Trung Quốc.”

Những dữ kiện nói trên cho thấy lý do tại sao những hệ thống hãm phi cơ trên đã không được giao cho trung tâm huấn luyện phi hành Yanliang vào tháng Tám năm 2010 rồi và tại sao những hệ thống này đã chưa được gắn trên hàng không mẫu hạm Varyag trước đây cho chuyến thử đầu tiên.

Theo ông A. Plotnikov, hiện đang có một số hệ thống hãm cũ ở Ukraine, và Trung Quốc có thể mua lại. Tuy nhiên, những hệ thống hãm cũ này chỉ được dùng như hàng mẫu để trình diễn mà thôi. Nhưng người ta tin rằng sau khi Trung Quốc mua lại những hệ thống này từ Ukraine, họ có thể nghiên cứu sự cấu tạo và rồi Trung Quốc sẽ cần thời gian để phát triển cho mình một hệ thống tương tự trong tương lai.

© DCVOnline

Posted in Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Miến Điện đã đi những bước thay đổi ngoạn mục chỉ trong vòng 14 tháng qua

Posted by hoangtran204 trên 09/12/2011

Dù dân số Miến Điện là 54 triệu dân, có chung đường biên giới với Trung Quốc, bị Trung Quốc xâm lấn vùng biên giới phía Bắc, và “Bắc Kinh chi phối gần trọn nền kinh tế sản xuất của xứ này, xâm nhập khắp các mặt văn hóa, nhân công, đất đai, tài nguyên và cả an ninh.

Điển hình là Trung Quốc đặt hai đường ống dầu khí dài trên 1100 cây số nối liền từ biên giới TQ ra tận bờ biển Myanmar, xây dựng vô số đập thủy điện khắp nước để sản suất điện bán cho Trung Quốc, cùng một dự phóng tân trang thiết lộ và xây dựng 1 cảng nước sâu ngó ra vịnh Bengal. TQ có tổng vốn đầu tư lên tới 16 tỷ mỹ kim hiện nay, cộng thêm kim ngạch giao thương gần 5 tỷ mỹ kim trong năm 2010, nghiễm nhiên đã là bầu sữa “đối tác thương mại” lớn nhất của lãnh đạo Myanmar.”

Ngược lại, dàn lãnh đạo quân phiệt của Myanmar cũng nhìn về Bắc Kinh như một điểm tựa địa chính trị duy nhất, một mô hình cai trị mẫu mực cần noi… nên đã từng công khai thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối, kể cả sự tán đồng quyết định tàn sát sinh viên Thiên An Môn 1989.

Nói chung, Myanmar, dưới các triều độc tài quân phiệt, từng được coi là một chư hầu gương mẫu của TQ”, giống y hệt Việt Nam hiên nay.

Nhưng,  mọi chuyện đã thay đổi nhanh chóng ở Miến Điện chỉ trong vòng 14 tháng qua.  Trước hết là Miến Điện quăng vào thùng rác “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Myanmar”, để trở thành “Cộng Hòa Liên Bang Myanmar”, và tổ chức bầu cử.

Kế đến, Tân Tổng Tư Lệnh Quân đội Miến, tướng Min Aung Hlaing, đi thăm VN tháng 3/2011 thay vì sang cúi đầu lãnh ấn ở Bắc Kinh.

Cách đây 1  tháng, Miến Diện đá đít Trung Quốc và Ra lệnh cho công nhân Trung Quốc quay trở về nước, không được xây đập thủy điện nữa.

Trung Quốc làm được gì? Trung Quốc chẳng dám làm gì hết!

Ở Việt Nam thì sao? Luận điệu của đảng ta là: “chúng ta phải nhân nhượng Trung Quốc vì TQ là nước lớn, ta là nước bé, chiến tranh VN vừa chấm dứt, ta cần có ổn định chính trị để phát triển kinh tế…Rồi nào là: trình độ dân trí Việt Nam còn thấp, không nên dân chủ hóa sớm…” Nhưng khi so sánh với việc làm của Miến Điện trong 14 tháng qua, các luận điệu nói trên “của ban tuyên giáo trung ương bổng chốc trở thành giẻ rách.”

Đúng là đồ chết nhát! Chỉ được tài võ trang hùng hậu, dùng số đông đi ăn hiếp dân lành VN vô tội, nhưng sợ  Trung Quốc đến ướt quần.  Bởi vậy  cứ hay đi nhát ma người khác woài!

Kép Chánh Đột Biến Thành Nhắc Tuồng

Đinh Tấn Lực

Triển khai hiệu quả Lộ trình dân chủ, vì hòa giải và hòa hợp dân tộc, tổ chức bầu cử công bằng, dân chủ, với sự tham gia của tất cả các đảng phái. Qua đó, sớm ổn định và tập trung phát triển đất nước Myanmar” – Nguyễn Tấn Dũng.

* * *Nói theo tay tiền nhiệm của Tư Sang thì đúng là bầu bạn Myanmar đang… ”tự sát” [*].

Mà đã vậy thì, suy ra, Ba Dũng có công lớn trong việc góp phần vừa “động viên” lại vừa “phân hóa nội bộ” để giật sập một thể chế hữu nghị [**].

Tháng 4-2010, trong cuộc họp thượng đỉnh ASEAN tại Hà Nội, Ba Dũng ở cương vị chủ nhà kiêm chủ tịch luân phiên của Hiệp Hội này, đã có những phát biểu “chỉ đạo xử lý” tình hình Myanmar, rồi lặp lại lần nữa, rốt ráo và chi tiết hơn, khi sang thăm Myanmar sau đó. Nghe cứ như hồi 1987, ông Reagan đòi Gorbachev giật sập bức tường Bá Linh.

Bức tường độc tài độc đảng ở Ngưỡng Quảng hiện đang hóa bùn từng mảng lớn.

Còn ở đây, Ba Dũng đang ra sức chữa cháy trước các mồi lửa củi đậu nấu đậu của bọn Tư Sang.

Sự thể thế nào?

* * *Sau Brunei-1984 và VN-1995, ASEAN kết nạp thêm 3 thành viên sau cùng là Lào-1997, Miến-1997, và Miên-1999. Cả 3 đều do phần lớn công sức vận động của Việt Nam, với ý đồ (có chỉ đạo từ đâu đó để) tạo dựng một cõi liên kết độc tài Đông Dương mở rộng ngay giữa lòng chảo Hiệp hội Các nước Đông Nam Á. Trong đó, Lào và Miến có chung biên giới ở vùng Tam giác vàng. Còn Lào và Miên thì đã có duyên (Pháp định) gắn kết hữu cơ với Việt Nam từ 1887, bằng tên gọi Union Indochinoise.

Riêng Miến Điện, tức Burma, hay đương danh chính thức là Cộng hòa Liên bang Myanmar, bất kể từ lâu vẫn là thành viên khối Phi Liên Kết, đã kinh qua thực tiễn mồi chài lẫn thử thách để mối quan hệ với VN được “nâng lên một tầm cao mới”, dù chỉ là mức chạm sàn, tít mù bên dưới tầm cao quan hệ với TQ từ bấy đến nay.

Myanmar có diện tích gấp đôi, tài nguyên gấp đôi, nhưng dân số chỉ hơn phân nửa của VN đôi chút, và từng là một trong các quốc gia giàu có hàng đầu Đông Nam Á vào thời còn là thuộc địa của Anh (1885-1948), với lượng gạo xuất khẩu đứng đầu thế giới bấy giờ.

Trước đó nữa, vào thời 1100, vương quốc Pagan này còn được gọi là Đế chế Miến Điện, và kể từ thời 1364, vương quốc Ava này có một nền văn minh vang danh khu vực.

Còn sau giai đoạn Anh thuộc, vào thời 1961, Đại biểu Thường trực U-Thant của Miến Điện là người đầu tiên của phương Đông được bầu làm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, với một nữ nhân viên xuất chúng có tên là Daw Aung San Suu Kyi.

Đến năm 1962, tướng Ne-Win đảo chính, lên cầm quyền, rồi đổi tên nước (nghe khá quen tai) là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Myanmar. Hệ quả 26 năm dưới triều đại độc tài độc đảng của Ne-Win là vào năm 1987, tương ứng với thời VN rã họng kêu gọi thế giới cứu đói, Myanmar được xếp vào thứ hạng các nước kém phát triển nhất hành tinh.

Năm 2006, giới lãnh đạo quân nhân của Myanmar dời đô từ Ngưỡng Quảng (Rangoon) về một khu vực yên tĩnh ở gần Pyinmana, đặt tên chính thức cho thủ đô mới là Naypyidaw, có nghĩa là “vùng đất của những ông vua”.

Trong suốt nửa thế kỷ, qua nhiều triều đại của các ông vua tập thể nhiều tiền lắm đạn này, Myanmar lâm vào cảnh đất nước bị cô lập thành ốc đảo, kinh tế bị cấm vận đến kiệt quệ, còn nhân dân bị cưỡng bức lao động/bóp nghẹt thông tin/hạn chế giáo dục/tràn ngập buôn người/thường trực đói cơm… và bao phen tắm máu, tiêu biểu là vụ đàn áp long trời lở đất 8-8-88, một khi lòng dân không như ý đảng. Đó là chưa kể các đạo luật “không được khoan dung” đối với các nhân vật bất đồng chính kiến. Không ai rõ chúng có được đánh thứ tự trong khoảng giữa các con số 79 tới 88 chăng, nhưng rõ ràng vị khôi nguyên Nobel Hòa Bình Daw Aung San Suu Kyi đã được nhân loại biết tới như một nạn nhân bi hùng của chế độ suốt nhiều chục năm qua.

Khẩu hiệu đại trà đâu đâu cũng thấy trong suốt thời này là “đất nước chỉ mạnh khi nào quân đội mạnh”, với tỷ lệ ngân sách quốc phòng so với GDP đứng hàng top-15 của thế giới, hiện to gấp 4 lần ngân sách y tế và giáo dục gộp lại, nhưng vẫn không giúp cho Myanmar đủ mạnh để thoát khỏi móng vuốt của người anh em XHCN Trung Quốc.

Bắc Kinh chi phối gần trọn nền kinh tế sản xuất của xứ này, xâm thực đều khắp các mặt văn hóa, nhân công, đất đai, tài nguyên và cả an ninh. Điển hình là hai đường ống dầu khí dài trên 1100 cây số nối liền từ biên giới TQ ra tận bờ biển Myanmar, với vô số đập thủy điện khắp nước, cùng một dự phóng tân trang thiết lộ và xây dựng 1 cảng nước sâu ngó ra vịnh Bengal. TQ có tổng vốn đầu tư lên tới 16 tỷ mỹ kim hiện nay, cộng thêm kim ngạch giao thương gần 5 tỷ mỹ kim trong năm 2010, nghiễm nhiên đã là bầu sữa “đối tác thương mại” lớn nhất của lãnh đạo Myanmar.

Ngược lại, dàn lãnh đạo quân phiệt của Myanmar cũng nhìn về Bắc Kinh như một điểm tựa địa chính trị duy nhất, một mô hình cai trị mẫu mực cần noi… nên đã từng công khai thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối, kể cả sự tán đồng quyết định tàn sát sinh viên Thiên An Môn 1989.

Nói chung, Myanmar, dưới các triều độc tài quân phiệt, từng được coi là một chư hầu gương mẫu của TQ (trên trường đua, có chăng, đau đớn thay, chỉ là VN ta). Mà điều đó không nhất thiết chỉ là nhận định riêng của Bắc Kinh.

* * *Dưới tán lọng bảo bọc “tận tâm tận lực” đó của TQ, mấy ai dám nghĩ hội đồng quân nhân lãnh đạo Myanmar sẽ không còn cơ hội cưỡng lại lòng dân và các loại áp lực quốc tế?

Thế mà, phép lạ chăng, lãnh đạo Myanmar đã có cách ngẩng mặt nói không với TQ và gật đầu với nhân dân Miến Điện:

  • Tháng 10/2010, tên chính thức của nước này được cắt ngắn bớt mấy từ khóa: “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Myanmar” trở thành “Cộng Hòa Liên Bang Myanmar”, chỉ 2 tuần trước khi xứ này tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên sau 20 năm người dân không thấy mặt lá phiếu.
  • Tháng 3/2011, tân Tổng tư lệnh Quân đội Min Aung Hlaing đi thăm VN thay vì sang khấu đầu lãnh ấn ở Bắc Kinh.
  • Tháng 8/2011, tân Tổng thống Thein Sein đã gặp, trao đổi và nhất trí với lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi bốn điểm: 1) Cùng nhau nỗ lực vì hoà bình, ổn định và phát triển của đất nước theo nguyện vọng của nhân dân; 2) Hợp tác vì phát triển kinh tế, xã hội và xây dựng hệ thống dân chủ; 3) Nỗ lực hợp tác trên cơ sở cùng có lợi; 4) Tiếp tục thúc đẩy mạnh đối thoại.
  • Tháng 9/2011, Tổng thống Thein Sein công bố ngưng xây đập thủy điện Myitsone trên sông Irrawaddy, một dự án đầu tư hàng chục tỷ mỹ kim của tập đoàn điện lực China Power Investment, mà nếu hoàn thành, sẽ dẫn 90% công suất về phục vụ mẫu quốc thiên triều.
  • Tháng 10/2011, tân chính phủ Myanmar quyết định trả tự do cho 6000 tù nhân, trong đó có hơn 200 tù nhân chính trị (trong tổng số 2000 người bị giam về tội bất đồng chính kiến).
  • Giữa tháng 11/2011, Hội nghị các Ngoại trưởng của ASEAN ra nghị quyết chuẩn thuận cho Myanmar giữ chức Chủ tịch Luân phiên của ASEAN vào năm 2014.
  • Cuối tháng 11/2011, Quốc hội Myanmar thông qua đạo luật bảo đảm quyền biểu tình thông thoáng cho người dân xứ này. Lãnh tụ đối lập Daw Aung San Suu Kyi cho biết sẽ ra tranh cử đại biểu quốc hội kỳ tới.
  • Đầu tháng 12/2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton thực hiện chuyến thăm viếng kéo dài 3 ngày để trao đổi với chính giới Myanmar cùng Daw Aung San Suu Kyi, và cam kết rằng Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ tiến trình cải cách dân chủ nhiều hơn nữa ở xứ này.
  • Trong tuần đầu tháng 12/2011, hình ảnh và bài viết về Daw Aung San Suu Kyi, lần đầu tiên, đã xuất hiện trên dàn báo chính quy của Myanmar…

Tiếp theo ba trái bon tấn cắt bỏ cụm từ chết tiệt “XHCN”, cất dẹp dự án mông muội Myitstone và chấp nhận Sinh Hoạt Chính Trị Đa Nguyên, hầu hết những nút thắt cổ dân đã lần lượt được tháo gỡ. Không ai chắc bao nhiêu phần trăm nỗ lực này đến từ lời phán hữu nghị ở mức chạm sàn dẫn trên của Nguyễn Tấn Dũng.

Nếu còn nhớ đến vó câu của Hốt Tất Liệt và bốn lần quân Mãn Thanh từng hằn vết trên lãnh thổ Myanmar từ nhiều thế kỷ trước, cộng với hàng chục vạn công nhân TQ đang thi công khạc nhổ khắp nơi trên đất nước này hiện nay, mọi người đều rõ là chính cái bóng đè của TQ lên trên “những ông vua tập thể” xứ này là nguyên nhân của lụn bại mà nhân dân Myanmar muốn vượt qua.

Nếu còn nhớ đến thông điệp nhậm chức của tân Tổng thống Thein Sein, người ta đều rõ là Myanmar

  • cần hòa nhập vào sân chơi rộng thoáng và bình đẳng của thế giới trong trào lưu dân chủ hóa toàn cầu;
  • cần giải tỏa các thứ lệnh cấm vận và áp lực quốc tế; và
  • cần tự thân vượt thoát ra khỏi cái bóng đổ tàn khốc của TQ, như lòng dân nước này từ lâu mong mỏi, cùng một khối lớn sĩ quan trung niên thúc đẩy ngay trong quốc hội, để đất nước có cơ cất cánh.

Cái gốc chuyển hóa vẫn là khát vọng nhân dân chứ không phải duy trì quyền bính.

Chủ đích sau cùng vẫn là canh tân đất nước chứ không phải ổn định chính trị.

* * *Những cải cách êm thắm tại Myanmar đang dấy lên một triều sóng tại Á Châu, không khác gì hương hoa Nhài lan tỏa ở Bắc Phi & Trung Đông hồi đầu năm.

Hình ảnh TQ hiện giờ là một bức tranh thu điếu đã bị đóng khung cô lập.

Ngay cả Nhật Bản cũng hiển lộ mối quan tâm sâu sắc hơn về hiểm họa TQ trong khu vực. Hội Nghị Dân Chủ Hóa Á Châu đã được tổ chức hoành tráng tại Nhật Bản, trong bối cảnh thời sự thế giới đặc biệt của năm 2011: 1) Sự kiện Hoa Lài tại Bắc Phi; 2) Hoa Kỳ tích cực trở lại vùng Á Châu Thái Bình Dương; 3) Những chuyển hóa chính trị tại Miến Điện.

Tham dự diễn đàn hội nghị là các các diễn giả Tin Win (Miến Điện); Lý Thái Hùng (Việt Nam); Pima Gyalpo (Tây Tạng); Ilhaqm Mahmut (Ngô Duy Nhĩ); Olhunud Daichin (Mông Cổ); Thừa Văn Lập (Hoa Lục). Họ đã cùng với 3 nhân vật khác trong ban tổ chức của Nhật Bản đồng thành lập một Hội Đồng Liên Đới Tự Do Dân Chủ Á Châu, và công bố bản Tuyên Ngôn Dân Chủ Hóa Á Châu 2011.

* * *Những cải cách êm thắm đó của Myanmar có ảnh hưởng gì tới VN ta?

Đầy!

Lời phán đóng khung ở đầu bài, quất ngược vào mặt phán quan, và trở thành cây thước đo mức độ tệ hại về tình hình nhân quyền, dân chủ, báo chí, quyền biểu tình và tù chính trị ở VN.

Nó còn là cây thước đo chuẩn xác về độ ươn hèn của lãnh đạo xứ ta, một khi đảng viên các cấp từ thủ đô Hà Nội xuống tới vùng sâu vùng xa đều thấy như nhau là: Với một loạt ứng xử can trường của tân chính phủ Myanmar, Bắc Kinh chắc chắn là không thể kìm nén nỗi mày nhăn mặt nhó, nhưng rồi …làm gì nhau? Vậy thì, hà cớ chi Bắc bộ Phủ nhà ta cố bập bùng thắp đuốc mà vẫn ướt đũng …sợ ma?

Nó khóa cổ ban Tuyên giáo Trung ương, khiến cho nỗ lực ngáng chân tiến trình dân chủ hóa VN bằng một loạt ngụy luận rổn rảng (vì ổn định chính trị / vì phát triển kinh tế / vì trình độ dân trí v.v…) bổng chốc trở thành giẻ rách.

Nội bộ đảng viên, và cả quần chúng ngoài đảng, dạo này quên khuấy các bản tin lộ hàng hay nữ sinh lột áo nhau trên báo. Họ bận khoan nhặt kháo nhau về thông điệp cân bằng ở Úc của Tổng thống Mỹ Barack Obama, và các cam kết nức lòng ở Miến của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Cấn sườn hơn, họ thấy rõ, cũng như cả thế giới thấy rõ, VN ta lệt bệt sau lưng Miến Điện là nước mình đã cất công vận động ASEAN mấy năm trước, bởi lẽ, vở kịch đổi mới của ta vẫn quanh năm xài lại mớ tuồng tích cổ/đạo diễn xưa/đào kép cũ:

Trong lúc Luật biểu tình Miến Điện đã được nhanh chóng thông qua thì Luật biểu tình Việt Nam chỉ được đưa ra quốc hội để tranh cãi có nên bàn trong khóa này hay bỏ ra vô thời hạn, với hàng loạt đại biểu được Ban Tuyên giáo Trung ương cho dựng rạp diễn hài. Đại biểu Hoàng Hữu Phước được giao và đã làm tốt vai hài chính.

Trong lúc Miến Điện thả hàng trăm tù chính trị, và đang chuẩn bị thả thêm hàng ngàn người bất đồng chính kiến khác, thì VN vận công bắt cóc hàng loạt người ở Vinh, ở Thái Hà, ở Sài Gòn… tự tiện đưa vào trại phục hồi nhân phẩm hoặc tù cải tạo… Rồi sau đó diễn màn thả đúng 1 người là anh Trương Quốc Huy, giảm án 1 người là thầy Phạm Minh Hoàng, và lục đục lên phương án trục xuất Ls. Lê Công Định.

Nghĩa là, nói chung, bàn thắng đẹp của Myanmar đè bẹp bóng ma TQ hết đường cựa quậy đã quăng lưới giao thông vây khốn Bộ chính trị Hà Nội tứ bề.

Ngay bên trong thượng tầng đảng, đám Tư Sang đang nhịp đùi nhắp rượu bất chiến tự nhiên thành, một khi Ba Dũng đang bị bọn Tử Cấm Thành tới tấp dí vào mặt một câu hỏi gây ngọng cấp tính:

– Hà cớ gì lại tài khôn xúi dại Myanmar cho nó bứt rời thiên triều đế chế? Đang là Kép Chánh lại muốn rơi tòm xuống phường Nhắc Tuồng đấy phỏng?

09-12-2011- Nhân mùa Quốc Tế Nhân Quyền 2011.

Blogger Đinh Tấn Lực

Chú thích

(*) và (**) đều là lời của “Triết” gia.

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước

Posted by hoangtran204 trên 08/12/2011

Bài phỏng vấn dưới đây có nội dung rất xúc tích. Các chữ, các câu trong câu hỏi và trong câu trả lời đều có rất nhiều ẩn ý sâu xa. Chú ý, phần bàn luận có chữ màu xanh, nằm trong dấu ngoặc [] là của Trần Hoàng.

 

Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước

Tác giả: Huỳnh Phan (thực hiện)

Tuần Việt Nam Dec 6, 2011

Việt nam đã đi gần đến nơi, nhưng câu chuyện chiến lược đã cản trở. Việt Nam đã tình cờ rơi vào ván bài chiến lược của các nước lớn, và lại là một con bài chẳng mấy quan trọng, có thể bị “dập” bất cứ lúc nào.

LTS: Có thể nói trong quá trình bình thường hoá và phát triển quan hệ Việt – Mỹ gần 4 thập kỷ qua, ông Lê Văn Bàng là người chứng kiến và tham gia ở các mức độ khác nhau hầu như từ đầu tới cuối.

Từ một chuyên viên theo dõi tình hình thực hiện Hiệp định Paris, theo dõi báo chí và dư luận Mỹ để báo cáo cho lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Chính trị, đến vị trí phụ trách quan hệ của Vụ Bắc Mỹ.

Từ một trưởng phòng liên lạc, đại biện lâm thời, rồi trở thành đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Mỹ.

Thôi chức thứ trưởng ngoại giao vào đầu năm 2008, ông lại tham gia dự án KX03 về chính sách đối ngoại của Đảng, trong đó phần của ông là quan hệ song phương Việt – Mỹ trong các mối tương quan song phương và đa phương khác.

Kể từ tháng 4. 2011, ở tuổi 64, ông lại tham gia vào một chương trình khác liên quan đến hai quốc gia nhiều duyên nợ này – dự án bệnh viện Việt – Mỹ.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu của trao đổi với cựu Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng về những dấu mốc trong tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ, với cả những nỗ lực xích lại gần nhau và những hiểu lầm, những bước tiến và bước hụt, trong những bối cảnh lợi ích của hai bên tham gia tiến trình này bị tác động, chi phối bởi những lợi ích trong những mối quan hệ khác.

– Nhà báo Huỳnh Phan: Lần đầu tiên ông tiếp xúc với người Mỹ là khi nào?

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng:Đó là khi ông Henry Kissinger vào Hà Nội đầu năm 1973 (10.1-13.1), do ông Lê Đức Thọ mời, trước khi hai bên chính thức ký Hiệp định Paris vào 27.1.1973. Một dịp may bất ngờ đối với một nhân viên ngoại giao mới vào ngành được vài tháng như tôi (ông Lê Văn Bàng vào Bộ Ngoại giao tháng 10.1972, sau khi tốt nghiệp đại học ở Cuba, chuyên ngành tiếng Anh – TG).

Đoàn của ông Kissinger đến Nội Bài vào buổi tối. Khi đó, sân bay Nội Bài còn tung toé hết lên, chỉ được mỗi cái đường băng là tử tế. Tôi được giao toàn bộ nhóm phi công chuyên cơ, khoảng 20 người, làm hướng dẫn và phiên dịch cho họ.

Tuy vậy, tôi vẫn có hai kỷ niệm đáng nhớ về ông Kissinger.

Kỷ niệm thứ nhất là khi dẫn cả đoàn ông Kissinger đến thăm Bảo tàng Mỹ thuật (ở đường Nguyễn Thái Học), nhân dân nghe tin có Kissinger đến, họ tập trung rất đông dưới sân bảo tàng biểu tình phản đối. Nhiều người còn cầm đá, cầm gạch, bịt chặt cửa không cho đoàn ra.

Tôi cảm thấy căng quá. Hà Nội vừa mới trả qua đợt tàn phá kinh khủng của B52 Mỹ suốt 12 ngày đêm mà. Tuy nhiên, cuối cùng, chúng tôi cũng dẫn được đoàn Kissinger ra ngoài theo lối cửa sau, ra đường Cao Bá Quát.

Kỷ niệm thứ hai là khi dẫn ông tới Bảo tàng Lịch sử. Khi nghe dịch cái biển ghi 4 câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”, ông ấy nói luôn: “Đây là Điều khoản 1 của Hiệp định Paris (khẳng định độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam)”.

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng

Ấn tượng của ông về ông Kissinger?

Trước đó, tôi cũng đọc nhiều về Kissinger, và, khi gặp, tôi cảm nhận ông quả là một người giỏi giang, uyên bác, và có nhiều mưu mẹo. Hơn nữa, đối đầu được với ông Lê Đức Thọ trên bàn đàm phán suốt 4 năm ròng chắc hẳn không phải tay vừa. [Kissinger là một cáo già, một tay chơi toàn cầu. Còn Lê Đức Thọ chỉ là một con tốt trên bàn cờ, vì vậy, không thể nào so sánh Kissinger với Lê Đức Thọ. Thủ đoạn của LĐ Thọ chỉ nằm trong phạm vi hiếp đáp các đảng viên ở ngoài Bắc; hãy đọc tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên và Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn mới biết Lê Đức Thọ ]

Ý ông muốn nói đến việc ông Kissinger đã khéo léo “đẩy” cam kết cụ thể phía Mỹ trong viện trợ giúp hàn gắn vết thương chiến tranh và tái thiết thời hậu chiến ở Việt Nam (3,25 tỷ USD viện trợ không hoàn lại trong 5 năm và khoảng 1-1,5 tỷ USD viện trợ lương thực và hàng hoá), như ông Lê Đức Thọ đã kiên quyết đòi hỏi, sang bức công hàm của Tổng thống Richard Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng (ngày 1.2.1973)?

Hơn nữa, trong bức công hàm này, Tổng thống Nixon còn gài thêm rằng “mỗi thành viên thực hiện theo những quy định của Hiến pháp của mình”. Theo qui định của Hiến pháp Mỹ, có viện trợ (hay)không và viện trợ bao nhiêu là do bên lập pháp quyết định, chứ không phải bên hành pháp.

_Đúng vậy. Và không ngờ đó lại là chỗ nghẽn trong đàm phán bình thường hoá giữa Việt Nam và Mỹ trong những năm sau đó.

[Lời bàn của Trần Hoàng: ý của Lê Văn Bàng nói là: năm 1976,  TT Jimmy Carter đã cử phái đoàn Mỹ qua Paris đàm phán và kêu gọi VN hãy bình thường hóa với Mỹ. Cuộc đàm phán này do Mỹ chủ xướng, kéo dài  từ 1976- đến cuối năm 1978 mà VN vẫn khăng khăng đòi Mỹ viện trợ tái thiết. Lê Duẫn và Lê Đức Thọ không hiểu ra rằng: Khi Miền Bắc  tấn công và chiếm Miền Nam 30-4-1975, thì  họ đã vi phạm các điều khoản trong hiệp định Paris, coi như phá vở Hiệp Định,  là vi phạm luật, vậy làm sao mà bắt Mỹ  phải thi hành các điều khoản đã cam kết trong hiệp định đó?

Phái đoàn đàm phán của TT Jimmy Carter (1976-1978) vẫn mềm mỏng nói rằng: VN hãy bình thường hóa quan hệ ngoại giao trước, rồi hành pháp của TT Carter sẽ dùng các thỏa hiệp chính trị với quốc hội Mỹ, và rồi sẽ cung cấp tiền bạc cho VN. Và rằng tiền viện trợ cho VN  nên được gọi bằng 1 cái tên khác, và có thể không phải là 3 tỷ, mà  bằng cách viện trợ mỗi năm 1 ít, có khi còn nhiều gấp mấy lần số 3 tỷ đô la.

Nhưng Lê Đức Thọ và Lê Duẫn vì kiến thức rất kém cỏi về chính trị của nước Mỹ, họ  cứ tưởng hành pháp Mỹ có quyền nhiều hơn quốc hội Mỹ! Và cứ kỳ kèo để kéo dài thời gian. Mỹ nhờ Trung Cộng nói hộ. Cuối cùng, Trung Quốc trong vai trò trung gian, đã nhìn thấy cơ hội và nhảy vào hớt trọn, kêu gọi Mỹ đầu tư vào TQ (1980-1990, Mỹ, Âu Châu, và Á châu đầu tư vào Trung Cộng hơn 500 tỷ đô la. 

Thật ra, cuộc vận động của TQ mời Mỹ vào đầu tư đã xảy ra từ khi Mỹ nhờ TQ làm trung gian đàm phán với VN 1971. Mao trạch Đông tính tình đa nghi nên vẫn nghi ngại chưa muốn Mỹ vào đầu tư. Sau khi Mao chết 1976, phe đảng của Hoa Quốc Phong và bè lũ 4 tên bị loại bỏ, và  Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền, ông đã viếng thăm Hoa Kỳ tháng 1-1979. Sau cuộc viếng thăm của Đặng Tiểu Bình 1979, Trung Cộng chính thức mở cửa, mời Mỹ, Âu Châu và các nước Á Châu vào TQ đầu tư làm ăn. Chỉ trong 1 thập niên, 1980-1990, số tiền đầu tư vào Trung Cộng là 500 tỷ đô la- theo Tạp chí The Economist (1992-1993). 

Trở lại giai đoạn 1972-1978 là giai đoạn Trung Cộng tìm đủ mọi cách tiến tới làm thân với Mỹ, sau khi nhận ra rằng: chủ nghĩa cộng sản không thể làm cho đất nước giàu, nhân dân rất đói khổ. GDP của Trung Cộng ước tính chỉ bằng 500 tỷ đô la (năm 1976).  

Thắng lợi của TQ trong giai đoạn này là đã làm cho Mỹ thấy lợi nếu Mỹ đầu tư vào TQ, và đồng thời Mỹ nhận ra rằng: khi Mỹ liên kết với Trung Cộng để nhờ  nước này ghìm chân Liên Xô ở phía Á Châu (Trung Cộng duy trì hơn 1 triệu bộ đội tại vùng biên giới phía Bắc, buộc Liên Xô phải duy trì 1 lực lượng quân đội thường trực 1 triệu quân đóng dọc theo biên giới Liên Xô và Trung Cộng. Việc này làm kinh tế của Liên Xô càng thêm suy sụp).

Kết quả,  Mỹ đã bỏ hẳn đàm phán với VN về chuyện bình thường hóa ngoại giao 1978, và Mỹ chuyển hướng qua đầu tư vào TQ (thay vì tái thiết cho VN); Trước đó, Mỹ nhờ TQ làm trung gian cho cuộc đàm phán vào năm 1977- đầu năm 1978. Và cuộc tấn công của VN vào Kampuchea cuối năm 1978 đã cắt đứt cuộc đàm phán giữa Mỹ và VN. – T.H.]

(Cựu thứ trưởng ngoại giao Lê văn Bàng nói tiếp)Trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, phía Việt Nam đã chiến thắng khi buộc Mỹ phải ký hiệp định hoà bình và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam

[Để ý: câu này rất mâu thuẩn với đầu bài “Rơi vào ván bài nước lớn, VN lỡ bước”; tựa đề cho thấy Lê văn Bàng hiện nay đã hiểu rõ vấn đề: 1972, Mỹ bắt tay TQ, bao vây Liên Xô, và chấp nhận bỏ Miền Nam VN từ 1973. Chiến lược Mỹ chuyển qua: đánh rắn phải đánh vào cái đầu,  đánh vào đuôi rắn thì làm sao giết được nó… ].

Thế nhưng, tiếp nhận một đất nước bị tàn phá vào thời điểm thống nhất đất nước, cộng với kinh tế ngày càng khó khăn những năm sau đó, yêu cầu kiên quyết của phía Việt Nam là Mỹ viện trợ để tái thiết, theo điều khoản 21 của hiệp định, là hoàn toàn hợp lý.

[Đến đây thì chứng tỏ khả năng đọc hiểu của Lê Văn Bàng về hiệp định Paris 1973 là có vấn đề, và cũng đồng thời chứng tỏ cho đọc giả thấy rằng: Lê Đức Thọ và Lê Duẫn đã không hiểu rõ các câu, các chữ trong Hiệp Định Paris 27-1-1973. Theo các điều khoản trong hiệp định này, nếu Miền Bắc hay Miền Nam vi phạm, nghĩa là nếu Miền Bắc tấn công Miền Nam, hoặc ngược lại, thì các điều khoản còn lại trong Hiệp Định sẽ không có giá trị thi hành. Đó là lý do tại sao từ 1975 cho đến mãi mãi về sau, đảng CSVN không thể đòi Mỹ viện trợ tái thiết, hay thưa kiện Mỹ ra tòa án quốc tế, để đòi hỏi Mỹ phải thi hành hiệp định Paris 1973.  T.H.]

Tuy nhiên, kể từ khi Tổng thống Jimmy Carter của Đảng Dân chủ lên nắm quyền (đầu năm 1977), và thể hiện mạnh mẽ mong muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, ông ta lại vấp phải một thách thức rất lớn từ phái Cộng hoà trong Quốc hội.

Khi thấy vấn đề MIA/POW (người mất tích trong chiến tranh và tù binh) của Mỹ bị phía Việt Nam gắn với điều 21 của Hiệp định, và cả bức thư hứa hẹn của Tổng thống Nixon, những nghị sĩ Cộng hoà đã phản ứng rất mạnh. Đỉnh điểm là đầu tháng 5.1977, khi Mỹ và Việt Nam bắt đầu đàm phán bình thường hoá ở Paris, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu cấm bất kỳ viện trợ nào cho Việt Nam.

Có phải đó là lý do, trong chuyến đi một số nước châu Á vào tháng 7.1978, Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền đã tuyên bố với báo chí quốc tế là Việt Nam không yêu cầu thực hiện điều 21 của hiệp định nữa, hay không? Bởi trong ba vòng đàm phán trong năm 1977 ở Paris, do chính ông Phan Hiền làm trưởng đoàn, Việt Nam luôn coi việc thực hiện điều 21 là điều kiện tiên quyết để bình thường hoá.

Tôi nghĩ còn có thêm một lý do quan trọng khác nữa. Đến lúc đó, lãnh đạo Việt Nam đã nhận thức được tình hình đã thay đổi quá nhiều, nhất là sự căng thẳng với Trung Quốc, với việc cắt viện trợ và rút chuyên gia về nước, và Campuchia, khi chính quyền Khmer Đỏ đã có các cuộc xâm phạm biên giới phía Tây Nam, lên tiếng đòi xem lại vấn đề phân định lãnh thổ giữa hai nước, cũng như cắt đứt quan hệ ngoại giao.

Việt Nam, lúc đó, đã đồng ý vào COMECON (Hội đồng Tương trợ Kinh tế), chuẩn bị ký một hiệp ước đồng minh với Liên Xô, và cho phép hải quân của họ sử dụng Cảng Cam Ranh (1978). Đổi lại, Liên Xô cam kết tăng viện trợ cho Việt Nam.

Tức là đến thời điểm đó, lãnh đạo Việt Nam đã có sự chuyển hướng chiến lược. Và, như vậy, nhu cầu tái thiết từ viện trợ của Mỹ không còn quan trọng như trước nữa.

[Điều này cho thấy, đảng CSVN đã sai lầm vì các lãnh đạo của đảng quá kém cỏi và có tầm nhìn chiến lược quá hạn hẹp về cục diện thế giới. Thực tế cho thấy, từ năm 1976-1986, Việt Nam thiếu lương thực, thiếu điện, thiếu xăng dầu, thuốc men,…cả nước rơi vào đói khổ triền miên cho đến 1991.

Trong 15 năm, 1976-1991, Việt Nam nghèo thê thảm. Điện cúp mỗi tuần 5 ngày. Xe hơi chạy bằng than. Cả nước ở bên lề nạn đói và dân chúng phải ăn bo bo, bột mì mốc, khoai mì. Không có đường để ăn. Không có vải để  may mặc.  Còn Liên Xô gần như kiệt quệ . Và càng kiệt quệ hơn  sau Liên Xô tấn công vào Afghanistan năm 1979.

VN chỉ bắt đầu khá lên khi Mỹ bỏ cấm vận 1988, cho phép Thái lan, Mã lai, Singapore, Nam Hàn, Nhật…vào đầu tư vào từ 1989-1994, là giai đoạn đầu của “đổi mới” – T.H.]

Tức là chính sức ép từ phía Bắc, và phần nào đó từ phía Tây Nam, đã khiến lãnh đạo Việt Nam quyết định phải nhanh chóng bình thường hoá vô điều kiện với Mỹ?

Đúng vậy. Trước sức nóng chủ yếu từ phương Bắc, nếu khộng có luồng gió ôn hoà từ phía Tây thì căng lắm. Và, vì vậy, vào tháng 9.1978, Việt Nam cử một trưởng đoàn mới là Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sang đàm phán kín với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Holbrooke, chấp nhận bình thường hoá vô điều kiện.

[Điều này chứng tỏ đảng CSVN lệ thuộc và chịu sự quản lý của đảng CSTQ, và cho thấy rằng, các nhân vật lãnh đạo của họ quá kém cỏi. Đã bỏ lở cơ hội bang giao với Mỹ vào năm 1976, và sau đó đã để cho TQ phổng tay trên. Chuyện kém cỏi ấy lập lại về sau,  dưới thời TT Clinton,  khi Mỹ mời VN gia nhập WTO 1998, đảng CSVN lại ngần ngừ, đi hỏi ý kiến TQ và rồi bị  TQ chơi xỏ, TQ đi sau, mà nhảy vào WTO trước 2001; mãi tới  năm 2006,  thì VN mới dám vào WTO.]

Thoả thuận xong với ông Holbrooke, ông Thạch chờ suốt mà không có câu trả lời từ Bộ Ngoại giao Mỹ. Sự nhượng bộ của Việt Nam đã quá muộn, bởi, trong thời gian đó, đã có những biến chuyển mạnh mẽ của tình hình thế giới, và Mỹ không thể ứng xử như cũ. Bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc lúc đó là ưu tiên hàng đầu của Mỹ.

Mike Morrow, người đầu tiên phỏng vấn được ông Nguyễn Cơ Thạch khi ông lên nhậm chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1980, có kể rằng, trong cuộc phỏng vấn đó, ông Thạch tiết lộ rằng ông đã nói thẳng với người đồng cấp Holbrooke rằng Mỹ không cần phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tức là có thể bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, rồi sau đó với Việt Nam. 

[Mỹ bình thường hóa quan hệ với VN năm 1994 sau khi VN thỏa thuận việc rút quân khỏi Kampuchea 1988-1991. Mỹ yêu cầu VN rút quân khỏi Kampuchea từ 1979, nếu không thì Mỹ sẽ không bang giao.

Đảng cộng sản VN được thành lập năm 1930, lấy tên là Đảng Cộng Sản Đông Dương. Họ đã có tham vọng chiếm Lào và Kamphuchea từ dạo ấy. Sau khi Đảng CSVN chiếm được miền Nam 1975, họ đã tìm cách thôn tính Kampuchea. Thời cơ đưa đến vào năm 1978, khi  Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh tranh không lại với Lê Duẫn, nên cả hai muốn làm vương bên Kampuchea, cả hai lập mưu kế các vụ xâm nhập biên giới và cùng nhau xung phong đánh Kampuchea từ 1977. ( Blog này có bài viết khá hay các bạn nên đọc).   Sau khi chiếm được Kampuchea, cả hai đã bận rộn cướp vàng bên đất Miên. (Lê Đức Thọ ở bên Kampuchea 1978-1982),

Vì mục đích giải phóng Kampuchea để chiếm giữ lâu dài và vì tham lợi, nên đảng CSVN cứ trì hoãn mãi cho đến khi nền kinh tế VN kiệt quệ,  hoàn toàn sụp đổ, đời sống dân chúng cả nước bị nạn đói đe dọa hàng ngày, 1977-1986.

Cuối cùng, khi Lê Duẫn chết 1986, Nguyễn văn Linh, Võ văn Kiệt và Đỗ Mười (mới dám) và nhận ra cần phải thay đổi chiến lược nếu không sẽ chết. Đảng CSVN đã thông qua ông VV Kiệt bắn tiếng và cam kết với Liên Hiệp Quốc là sẽ rút khỏi Kampuchea  trong vòng 3 năm  (giai đoạn 1987-1989), với điều kiện…VN sẽ nhận được sự giúp đỡ kinh tế và đầu tư của khối tư bản!  

Thật là đáng mỉa mai thay cho việc giải phóng Miền Nam, làm chết hơn 5 triệu người VN, bắt giam 1 triệu quân cán chính Miền Nam, đánh cướp nhà cửa và  tư sản Miền Nam và cào bằng cho miền Nam nghèo như Miền Bắc, đốt sạch hết sách vỡ của miền Nam, hủy hoại văn hóa của miền Nam, làm cho hơn 3 triệu người Miền Nam phải chạy ra khỏi nước bất chấp chết chóc, rồi gây chiến tranh để chiếm Kampuchea,  bắt cả nước tiến lên XHCN đến nổi cả nước bị đói, kinh tế bị thất bại te tua, nay đảng CSVN quay về đúng với con đường lựa chọn mà Miền Nam Việt Nam đã chọn lựa và đi từ hồi 1954-1975! T.H.]

Việc Vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Trần Quang Cơ, người sang New York cùng ông Thạch hồi tháng 9.1978,  còn cố chờ sang cả tháng 1.1979, tức là sau khi Mỹ đã ký thoả thuận xong với với Trung Quốc, càng khẳng định cho quyết tâm “còn nước còn tát” này của phía Việt Nam.

Đúng là Việt Nam đã thực sự hy vọng sẽ bình thường hoá được với Mỹ trong thời gian đó. Tôi còn nhớ là đã được Bộ Ngoại giao cử vào biên chế đại sứ quán tương lai, phụ trách mảng văn phòng. Tuy đại sứ chưa chọn, nhưng biên chế sứ quán thì đâu vào đấy. Tháng 12.1978, Bộ Ngoại giao Mỹ còn chuyển cho phía Việt Nam ảnh chụp toà đại sứ ở Washington D.C. của chính quyền Sài Gòn cũ nữa.

Tức là chúng ta đã tính đến việc lập ngay sứ quán khi thoả thuận bình thường hoá được ký kết.

Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn tiếp Đại sứ Lê Văn Bàng tại Lễ trình Quốc thư.

Phóng viên kỳ cựu của hãng AP là Peter Arnett, người đã tháp tòng đoàn nghị sĩ Mỹ vào Hà Nội mùa hè năm 1976, đã nói rằng dưới thời Tổng thống Carter, Mỹ muốn cải thiện quan hệ của mình ở Trung Mỹ với việc trả kênh đào Panama cho nước này quản lý. Ông đã tập trung nhiều công sức và thời gian để thuyết phục Quốc hội phê chuẩn hiệp ước mà ông ký với Tướng Omar Torrijos vào tháng 9.1977, và vì vậy đã sao nhãng phần nào câu chuyện bình thường hoá với Việt Nam.

Ông có ý kiến gì về nhận định đó?

Lê Văn Bàng: Tôi nghĩ ông ta hoàn toàn chính xác khi nói tới nỗ lực của Tổng thống Carter trong việc lấy lại hình ảnh và ảnh hưởng của Mỹ ở Trung Mỹ, và Mỹ La tinh nói chung. Bởi, sau Việt Nam, Mỹ thất thế cả về uy tín lẫn kinh tế, và Liên Xô đã tranh thủ mở rộng ảnh hưởng, rất mạnh. Họ vươn tay tới Angola, Mozambique, hay Ethiopia ở châu Phi, và nhất là Nicaragua – một quốc gia nằm ngay “sân sau” của Mỹ.

[Ông Lê Văn Bàng quá quan trọng hóa vai trò của Nicaragua. Nước này có nhiều sông rạch như miền Tây, và tài nguyên rất nghèo nàn, Nicaragua, một nước quá nghèo, quá nhỏ, dân số rất ít, chỉ hơn 5,5 triệu người vào năm 2011. Ông Lê văn Bàng cũng lầm vì  Nicaragua không phải là sân sau của nước Mỹ. Nicaragua nằm cách xa Texas (Mỹ) là 2000 km. Mexico mới nằm giáp ranh với Mỹ.  Nhấp chuột vào chữ Nicaragua sẽ thấy bản đồ: Mỹ nằm ở phía Bắc, rồi đến Mexico, và Nicaragua là một giải đất nằm ở phía Nam. Lối nói của ông Bàng  là 1 cách chạy tội và bao che cho sự ngu muội của các nhà lãnh đạo của đảng CSVN.)

Nhưng quan trọng hơn, Mỹ đã phải tập trung vào “con bài” Trung Quốc, dựa trên cơ sở sự bất đồng sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc, nhằm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới giữa Mỹ và Liên Xô.

Đến thời điểm lãnh đạo Việt Nam thực sự mong muốn bình thường hoá ngay với Mỹ, phía Mỹ lại chưa muốn. Bởi, như vậy, họ khó thúc đẩy bình thường hoá và cải thiện quan hệ với Trung Quốc được.

Tóm lại, Việt nam đã đi gần đến nơi, nhưng câu chuyện chiến lược đã cản trở. Việt Nam đã tình cờ rơi vào ván bài chiến lược của các nước lớn, và lại là một con bài chẳng mấy quan trọng, có thể bị “dập” bất cứ lúc nào. 

[Những phân tích của T.H. ở  trong ngoặc kép [ ] nói trên, cho thấy ông Lê Văn Bàng không thành thật. Đó là cách nói của những người cộng sản. Dùng 20-30 phần trăm các sự kiện có thật, và dán vào 70-80% là các lời nói dối với mục đích nhằm che đậy sự thật.]

Khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia cuối năm 1978, mọi mối tiếp xúc hầu như bị cắt đứt. Ngay cả vấn đề MIA/POW, một trong những lời hứa của ông Jimmy Carter với hiệp hội những gia đình có người Mỹ mất tích trong chiến tranh khi tranh cử, Mỹ cũng chẳng quan tâm nữa.

[Lúc nầy là đã muộn rồi, lịch sử đã sang trang. Đảng CSVN đã đánh mất 1 cơ hội quý báu bang giao với Mỹ mà phải chờ đợi 20 năm sau mới thực hiện được. Chung quy là vì quá ngu muội trong tầm nhìn chính trị thế giới, và trong giai đoạn này, đảng viên ĐCSVN đã tham lam cướp đất đai hãng xưởng ở Miền Nam (nói trệch qua là đánh tư sản), cướp đất đai của chùa chiền và nhà thờ, say mê bắn giết hàng ngàn sĩ quan và giới chức hành chánh VNCH tháng 5-1975- 1978, bỏ tù 300 000 sĩ quan và giới chức VNCH từ 1975 cho đến 1983 hoặc 1991 mới thả ra. Cũng trong giai đoạn này, Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh bận rộn làm vương và cướp vàng của Kampuchea 1979-1988. Thật ra, việc đánh Kampuchea đã thực hiện từ năm 1977. Blog này có bài viết khá hay các bạn nên đọc.]

Thậm chí đến năm 1981, khi chúng tôi đã chuẩn bị rất kỹ một chuyến thăm cho ông Andrew Young, cựu Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc và cựu cố vấn của Tổng thống Carter, Bộ Ngoại giao Mỹ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan vẫn không chấp thuận cho họ sang Việt Nam.

Mọi chuyện phải chờ đến năm 1985, Mỹ mới quay lại Việt Nam…

[ Đoạn này Lê Văn Bàng phát biểu cũng không đúng. Chỉ đến sau khi Lê Duẫn chết năm 1986, Nguyễn văn Linh lên làm Tổng Bí thư, và cùng với Võ Văn Kiệt mới mạnh dạn tìm cách quan hệ với Mỹ, bằng cách tự nguyện rút quân ra khỏi Kampuchea. Nhưng nhóm Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đang bận rộn chia chát vàng bên Kampuchea chần chừ không chịu rút về. Lê Đức Thọ đau yếu từ 1987 và chết 1990.

Cuối  năm 1986, VN hoàn toàn kiệt quệ về năng lượng, nhiên liệu, lương thực, cả xã  Quỳnh Lưu ở Nghệ An nổi dậy đánh công an, rồi bị Trung Quốc đánh chiếm Trường Sa 1988, TQ cũng tấn công đánh chiếm núi Lão Qua 1986-1991, sức cùng, lực tận,  VN đành phải chấp nhận rút quân khỏi Kampuchea. Liên Xô kiệt quệ, rồi sụp đổ, Trung Quốc biến thành kẻ thù, VN có còn đi lên XHCN một mình hay không? Tất nhiên là không. Đọc lịch sử thành lập, ta thấy ngay đảng CSVN đã lệ thuộc nước ngoài từ lúc mới ra đời. Khi thì đảng phải lệ thuộc  Liên Xô, khi thì Trung Quốc, khi thì lệ thuộc cả hai. Không có một giây phút nào mà các nhân vật lãnh đạo của đảng CSVN được quyền hành động. Nhất nhất đều hỏi ý kiến của Liên Xô hoặc Trung Quốc vì  2 nước này  cung cấp tiền bạc, lương thực, súng ống, xăng dầu cho đảng CSVN. Bởi vậy chính Lê Duẫn viết: “ta đánh miền Nam và đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc…”]

(Còn tiếp…)

Posted in Chinh Tri Viet Nam | 1 Comment »

Các nước viện trợ nói với TT Nguyễn Tấn Dũng: Bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa không nên bị trừng phạt, nhưng ngược lại nên khuyến khích

Posted by hoangtran204 trên 08/12/2011

Các nước viện trợ kêu gọi Việt Nam tăng cường cải cách kinh tế và cải thiện nhân quyền

Hà Nội – Các nước và các tổ chức tài trợ Việt Nam hôm nay thứ Ba ngày 6 tháng Mười Hai khẩn thiết kêu gọi Việt Nam gia tăng những nỗ lực cải cách kinh tế và cảnh cáo nước cộng sản này hãy cải thiện nhân quyền hay có nguy cơ làm phương hại đến sự thành công kinh tế của Việt Nam.

Việt Nam kể từ hôm đầu năm đã tập chú đến sự ổn định nền kinh tế thay vì là phát triển, đang vât vã với sự lạm phát cao nhất Á châu ở mức 20 phần trăm và hiện đang rất cần đẩy mạnh những cải cách kinh tế, các nước viện trợ nói.

“Dễ cho Việt Nam rất nhiều để theo đuổi chương trình tái cấu trúc (nền kinh tế) ngay bây giờ hơn là phải tái cấu trúc nền kinh tế sau khi đã bị lâm vào tình trạng khủng hoảng,” giám đốc của Ngân hàng Thế giới (World Bank) đặc trách Việt Nam, bà Victoria Kwakwa nói trong buổi họp của các nước viện trợ ở Hà Nội.

Kể từ hôm tháng Hai, những người hoạch định chính sách đã và đang cố gắng ổn định nền kinh tế bị đang bị khốn khó vì nhiều thách đố khác nhau xảy ra cùng lần bao gồm dự trữ ngoại quốc giảm dần, cách biệt trong cán cân mậu dịch, áp lực giảm của tiền đồng và sự lạm phát phi mã không kiềm chế được.

Việt Nam cần tiến hành cải cách mảng ngân hàng, tư nhân hóa những doanh nghiệp nhà nước, đơn giản hóa phương cách quản trị và làm nhiều hơn nữa để chống tham nhũng đang tràn lan, các nước viện trợ phát biểu ở buổi họp.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Giám đốc Ngân hàng Thế giới đặc trách Việt Nam bà Victoria Kwakwa. Nguồn hình: AFP, Hoàng Đình Nam


Các nước viện trợ cũng bày tỏ “sự hối tiếc” trước tình trạng dân chủ của nhà nước độc tài này, họ cảnh cáo là một hồ sơ nhân quyền tồi tệ có thể có hại cho tiến trình kinh tế.

Cuộc trấn áp các nhà bất đồng chính kiến mới đây nhất làm xấu đi cái uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế trong lãnh vực nhân quyền cũng như “sự phát triển kinh tế và xã hội về lâu về dài,” đại sứ Na Uy Stale Torstein Risa phát biểu.

Hằng chục người chỉ trích chính trị một cách ôn hòa đã bị kết án tù dài hạn kể từ khi Việt Nam tiến hành cuộc trấn áp sự tự do ngôn luận vào cuối năm 2009, theo Tổ chức Ân xá Quốc tế.

Biểu tình hiếm xảy ra ở Việt Nam nhưng đã có một số cuộc biểu tình được tổ chức trong năm nay từ vấn đề tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc cho đến chuyện tranh chấp đất đai của người dân oan với nhà cầm quyền địa phương. Một số cuộc biểu tình này đã bị công an dùng vũ lực giải tán.

“Bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa không nên bị trừng phạt, nhưng ngược lại nên khuyến khích,” ông Risa nói, ông nói thêm đây là quan điểm của những nước viện trợ cho Việt Nam như Na Uy (Norway), Gia Nã Đại (Canada), Tân Tây Lan (New Zealand) và Thụy Sĩ (Switzerland).

Thủ tướng Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng nói nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền của người dân đối với tự do và nhân quyền nhưng ông cảnh cáo là những quyền như thế “phải được thể hiện trong khung hiến pháp và luật định”.

Nhà nước Việt Nam sẵn sàng mở cuộc đối thoại về những vấn đề này với các nước viện trợ để “hiểu biết lẫn nhau hơn nữa,” theo ông Dũng.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) Donors urge Vietnam to speed up economic reforms. AFP, 6 December 2011

Posted in Tài Chánh-Thuế, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Nói là một chuyện, còn Làm là một chuyện khác: Không nên nhầm lẫn

Posted by hoangtran204 trên 06/12/2011

NÓI

Nguồn VOA

“Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp ở Biển Đông.

Người đứng đầu chính phủ Việt Nam phát biểu như sau trong phiên chất vấn tại quốc hội ngày hôm nay 25-11-2011:

“Đối với Hoàng Sa thì năm 1956, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các quần đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của Chính quyền Sài Gòn (tức Chính quyền Việt Nam Cộng hòa). Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hiệp quốc can thiệp. Chính phủ Cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này.”

Theo tin của Đài Phát thanh và Truyền hình Hồng Kông (RTHK), đây là lần đầu tiên một giới chức hàng đầu của chính phủ ở Hà Nội công khai nói rằng Trung Quốc đã dùng sức mạnh để chiếm đóng Hoàng Sa, quần đảo  mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và cũng tuyên bố có chủ quyền.  (nguồn)

LÀM

Thư của các ông Lê Hiếu Đằng, Andre Menras Hồ Cương Quyết, Cao Lập, Bùi Tiến An gửi

Thành ủy, Ủy ban Nhân dân TPHCM

Nhấp chuột vào bản scan dưới đây để đọc, hoặc bấm cùng lúc 2 nút Ctrl và dấu +

nguồn anhbasam.wordpress.com

Đính chính tin trên BBC: Ông Lê Hiếu Đằng vừa liên lạc, nhờ Ba Sàm đính chính nội dung đăng tải trên trang BBC Vietnamese sáng nay: “Trước việc tổ chức chiếu phim”Hoàng sa- nỗi đau mất mát” không có ai triệu tập anh CaoLập và tôi (LêhiếuĐằng) như BBC đưa tin. Chúng tôi đề nghị gặp  người có thẩm quyền để hỏi cho ra lẽ lý do cấm chiếu phim, nhưng tất cả đều “trốn”. Rõ ràng đây là một việc làm  mờ ám, không minh bạch của chính quyền tp HCM.”  15h50′ – BBC cho biết đã bổ sung thông tin cuối bài.

———–

Công an TPHCM ngăn chặn,

cấm chiếu phim về Hoàng Sa

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc vừa cho biết: Chiều nay, 29/11/2011, tại cafe Ami Art, Khu du lịch Văn Thánh, TPHCM, các ông André Menras Hồ Cương Quyết, Lê Hiếu Đằng, Cao Lập, v.v.. tổ chức chiếu phim Hoàng Sa-Việt Nam: Nỗ đau mất mát nhưng đã bị các cơ quan chức năng đình chỉ. Tham dự “hụt” buổi chiếu phim, chúng tôi thấy sự hiện diện của khách mời đều là nhóm thân hữu như  GS.TS Nguyễn Đăng Hưng (VK Bỉ), Nhà văn Hoàng Hưng, Nhà thơ Lê Thị Kim, Nguyễn Hòa VCV, Nguyên P.TBT Báo SGGP Kha Lương Ngãi, Vợ chồng họa sĩ Lê Triều Điển, Vợ chồng nhà thơ Bùi Chí Vinh,… các phóng viên của các báo TT, CATP,…và nhiều người nguyên là nguyên, nguyên, …

Đặc biệt chiều nay có ông David Cyranoski, Biên tập viên chính của Tạp chí Nature, người đã có bài phản biện “đường lưỡi bò” vô lý của các học giả Trung Quốc trên tạp chí này.

Trước đó, sáng nay tại nhà GS.TS Nguyễn Đăng Hưng, PGS.TS Hoàng Dũng (ĐHSP TP.HCM), nhà văn Hoàng Hưng, NNC Đinh Kim Phúc đã có buổi trao đổi với ông David Cyranoski, Biên tập viên chính của Tạp chí Nature về những vấn đề chung quanh “đường lưỡi bò” vô lý của các học giả Trung Quốc, về những luận cứ, luận chứng trong việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, về vấn đề di chứng chất độc da cam tại Việt Nam và nhiều vấn đề quan trọng khác.

Qua tiếp xúc, chúng tôi thấy “ông Tây” David Cyranoski cũng giống như “ông Tây” André Menras yêu Việt Nam như người Việt Nam.

—————————————————–

Ý kiến một số blogger trong nước như sau:

_”Hôm qua, thêm “Hoàng Sa – nỗi đau mất mát” bị cấm, cho dù chỉ là một cuộc chiếu ra mắt trong khuôn khổ một nhóm nhân sĩ thân hữu tại một quán cà phê. Một bộ phim tài liệu quí về cuộc sống ngư dân huyện đảo Lý Sơn và “thân phận Hoàng Sa” mà tôi nghĩ là nó cần được đem ra nhà hát lớn, đem vào chiếu cả trong hội trường Quốc hội, trong phủ Chủ tịch, trong văn phòng Chính phủ và trong hội trường Trung ương đảng.

Khi còn đương nhiệm Chủ tịch nước, ông Nguyễn Minh Triết đã ủng hộ và động viên André Menras – Hồ Cương Quyết làm phim này. Vụ Thông tin báo chí bộ Ngoại giao cũng có những hỗ trợ, giúp đỡ tích cực đoàn làm phim. Thế nhưng khi công chiếu thì bị cấm. Cái cách ngăn cản không cho chiếu cũng rất mập mờ. Theo nhà thơ Đỗ Trung Quân, nguyên nhân được đưa ra từ các “nhà tư tưởng thành ủy” là vì bộ phim này “không có yếu tố đảng”.

Thú thật, đến tôi cũng chả hiểu “yếu tố đảng” là cái quái gì và vì sao một cuốn phim tài liệu về ngư dân, về Lý Sơn, về Hoàng Sa như thế lại cần phải có “yếu tố đảng” để làm gì? Ông Lê Hiếu Đằng thì đã cố gắng tìm mọi cách liên hệ với những người có thẩm quyền của thành phố để hỏi lý do vì sao cấm nhưng tất cả đều tìm cách “trốn”.

Vậy vì sao nó vẫn bị cấm tại TP HCM?

Ngược lại chuyện biểu tình. Tại sao Hà Nội được mà TP HCM lại cấm? Cho dù sau này Hà Nội có cản ngăn, thậm chí đàn áp thô bạo, nhưng phải công nhân một thực tế là trước đó họ đã “cho phép” bằng cách không chặn, mà ngược lại chỉ tổ chức giữ an ninh và hướng cho các cuộc biểu tình không đi quá đà. Thậm chí, cả giàn lãnh đạo cao nhất của chính quyền thủ đô dám công khai mời nhóm nhân sĩ trí thức biểu tình đến đối thoại trực tiếp. Dù sau này đổ bể ra những vụ đàn áp thô bạo, nhưng phải thừa nhận rằng đã có lúc chính quyền Hà Nội dám đối thoại, dám chấp nhận cho dân biểu tình, thậm chí họ còn công khai nhìn nhận đó là hành vi yêu nước.

Sài Gòn không có được điều này.

Quay trở lại chuyện phim “Hoàng Sa – nỗi đau mất mát”, chính quyền đã làm gì để đến mức người dân phải hoảng hốt đến thế? Đến mức ông thợ dán được thuê vẽ áp phích cho buổi giới thiệu ra mắt phim với hàng chữ “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng hoảng sợ không dám làm. Cấm đoán đến mức để người dân hoảng sợ như thế thì nên gọi cái chính quyền ấy là ấu trĩ hay… Hít-le?

Sài Gòn trước đây thoáng thế, mà sao Sài Gòn hôm nay cái gì cũng sợ. Sợ biểu tình, sợ Chế Linh, đến cả cuốn phim tài liệu về dân nghèo ở một huyện đảo xa lắc không dính gì đến TP HCM cũng sợ. Sợ nên cấm, cản, ngăn. Cấm cản ngăn mãi, lặp lại trong quá nhiều chuyện khiến không thể không nghĩ: hay tư duy quản lý của bộ máy chính quyền TP HCM chưa được… giải phóng, hay “sức khỏe tư tưởng” của bộ máy thành phố này đang có vấn đề?”

_”Các vấn đề nêu trên không phải chỉ xảy ra ở Saigon mà nó có thể xảy ra ở bất kỳ địa phương khác ở VN vì nó còn tùy thuộc vào ban lãnh đạo đảng ở nơi đó (bí thư, CT UB, CA, ban tuyên giáo). Mỗi bí thư đảng bộ như một ông vua con, hắn cùng thường vụ chi bộ định đoạt (ngầm) tất cả mọi việc ở địa phương đó. Có kiện cũng khó vì bên VKS và tòa án, các đảng viên ở đó đều phải theo chỉ đạo của thường vụ chi bộ. Ở Saigon hiện nay, phải hỏi Lê Thanh Hải và Quyết Tâm, hai kẻ lãnh đạo chịu trách nhiệm chính

Tóm lại chính quyền địa phương từ UB, CA, VKS, tòa án chỉ có chức năng thừa hành lệnh (ngầm) của chi bộ đảng (bí thư + thường vụ). Nó vừa cồng kềnh, vừa tốn kém, vừa phản dân chủ, vi phạm hiến pháp.

“trốn” và im lặng là phong cách chung của các lãnh đạo CSVN hiện nay khi có vấn đề liên quan đến trách nhiệm của họ.

“yếu tố đảng” : nó cho thấy có bàn tay của ban tuyên giáo thò vào. Lê Thanh Hải (bí thư) và Nguyễn Thị Quyết Tâm (trưởng ban tuyên giáo) là hai người chịu trách nhiệm”  nguồn http://danluan.org/node/10465

Bổ sung, hồi 20h35′, 30/11/2011 – Mời xem cuốn phim Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát – La Meurtrissure, tiếc là chưa có tiếng Việt: ở đây

 

—————————————————————————————-

 

MITTON: Odious Dung

Hanoi leader crushes dissent and the economy

Roger Mitton – The Washington Times-Thursday, September 2, 2010

HO CHI MINH CITY

Let’s take the really bad news first. Not only did it stink, but the Obama administration, which should lambast this kind of thing, held its nose and instead ramped up its ongoing courtship of Hanoi as a hedge against China.

Last week, at the 65th anniversary of Vietnam’s public security forces, Prime Minister Nguyen Tan Dung urged the police to continue to crush relentlessly any fledgling political bodies that might threaten the dominance of the ruling communist regime.

He told the massed ranks of the state security services to fight the “cunning plots of hostile forces and to prevent political opposition parties setting up to threaten our government.”

Vietnam’s constitution forbids the creation of any political party except the Communist Party of Vietnam. Keep that in mind when you castigate nearby Burma, which may oppress opposition parties horribly but at least allows them to exist.

Days before Mr. Dung’s odious exhortation, its effects were demonstrated starkly once again when the police arrested professor Pham Minh Hoang, a lecturer in applied mathematics at the Ho Chi Minh City Institute of Technology.

Mr. Hoang was charged with belonging to an opposition group, and during his arrest, the police read out Article 79 of Vietnam’s penal code, which bars “activities aimed at overthrowing the government.”

Under this provision, the authorities have detained dozens of pro-democracy activists, teachers, lawyers and independent bloggers and sentenced them to many years in jail.

Last month, the noted lawyer Le Cong Dinh lost his appeal against a five-year sentence for “trying to overthrow the state” and went back to his cell along with his fellow pro-democracy advocates – one of whom was sentenced to 16 years.

These men also were convicted of espousing “peaceful evolution” – the notion that as a country develops economically, there will be a concurrent societal evolution that will permit greater political openness.

This idea, often touted by quislinglike Western governments as they lean over backward to excuse certain “strategically valuable” regimes such as Vietnam, Saudi Arabia and Ethiopia, has proved fallacious more often than not.

That certainly has been the case in Vietnam, where economic development has, if anything, been accompanied by more and more draconian moves against any form of political pluralism.

A Canadian diplomat in Hanoi told me that the country was going backward and its brutal crackdown on citizens espousing peaceful evolution made him “despair.”

One of his American diplomatic colleagues informed me that public security officials claimed quite aggressively that political dissidents were criminals. “That is stupid and offensive,” he said.

Yet there was a stunningly muted response from Foggy Bottom and the White House and even from Congress.

Indeed, last month, on the 15th anniversary of the normalization of ties between Washington and Hanoi, the Senate Foreign Relations chairman and great liberal Democrat Sen. John Kerry, said, “Vietnam’s domestic politics are gradually changing, becoming more open and transparent.”

Of course they are. That’s why the Vietnamese arrested Mr. Hoang and Mr. Dinh and all the rest. That’s why they ban all other political parties.

That’s why they rigorously censor the Internet.

That’s why, every Tuesday, the nation’s editors-in-chief troop over to the Information Ministry to be told what they can and can’t write.

Sure, Mr. Kerry, things are getting more open and transparent in Vietnam. And pigs are flying higher, too, you know.

Memo to Hanoi: There is nothing wrong with people getting involved in politics. As President Kennedy said: “Political action is the highest responsibility of a citizen.”

And now the bad news:

Vietnam has a collapsing currency. On Aug. 17, the same day when Mr. Hoang was arrested, Mr. Dung’s government devalued the dong for the third time since November.

After the official 2.1 percent devaluation, the dong plummeted further and was not helped when a government adviser let slip that Vietnam risked a foreign-currency liquidity “shock.”

Its currency has now slumped 5.2 percent this year – the worst performance of 17 monitored Asian currencies.

Vietnam also has racked up a catastrophic trade deficit this year that has nearly doubled to $7.4 billion in the seven months to July.

It also has the world’s worst-performing stock market. The benchmark VN Index has dropped 8.4 percent this month – the most of 93 markets tracked by Bloomberg globally.

Mr. Dung’s communist regime is not only throwing innocent pro-democracy advocates into jail, but it has proved utterly inept at running an economy.

Second memo to the dinosaurs: Consider why, despite social unrest, Thailand’s economy is booming.

The reason lies in last week’s comment by Industry Minister Chaiwuti Bannawat, who said, “The government has a role to play in supporting the private sector, but not leading it. I don’t believe the government is more capable than the private sector.”

That last sentence should be blown up and hung over the desk of every Vietnamese official involved in leading its still largely state-run economy into bankruptcy.

And the sleeping apologists down at Foggy Bottom, along with the misguided strategists at the Pentagon who are coddling Hanoi in order to curb the rise of China, would be strongly advised to take a long, cold look at what’s going wrong in Vietnam.

Roger Mitton is a former senior correspondent with Asiaweek and a former bureau chief in Washington and Hanoi for the Straits Times of Singapore.

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Chính quyền Miến Điện đã Ký hiệp định Ngừng Bắn với nhóm quân Nổi Dậy

Posted by hoangtran204 trên 05/12/2011

Miến Điện đã và đang thực hiện một loạt những hành động cải thiện trong 1 năm qua. Chính phủ Miến Điện đã từ bỏ việc quản thúc tại gia nhà lãnh đạo dân chủ Aung San Suu Kyi, tổ chức các cuộc đối thoại với nhóm đối lập đòi hỏi dân chủ này và thả một số các tù nhân chính trị.

Trong những dấu hiệu gần đây nhất Chính phủ Miến Điện, được hậu thuẩn của quân đội, đã chịu đối thoại với các đối thủ, và đang đạt được một thỏa thuận ngừng bắn với một nhóm chính trong số nhiều  nhóm kháng chiến quân thuộc  khối sắc tộc;  nhiều nhóm kháng chiến quân đang giao tranh với quân đội của chính phủ Miến và đang xé toạc quốc gia này.

Theo nguồn tin của Thống tấn Xã Pháp, AFP, hiệp ước này đã được ký kết giữa những người đại điện của Quân đội Tỉnh Khan ở Miền Nam  và chính quyền địa phương trong vùng đông bắc của Miến Điện. Hla Maung Shwe, người thành lập nhóm xã hội dân sự  Egress- Miến- Điện đã chứng kiến cuộc ký kết này.

Đã không có sự xác nhận từ chính quyền Miến Điện hay Quân Đội Tỉnh Khan ở Miền Nam, nhưng websites về tin tức Irrawaddy, điều hành bởi các nhà báo Miến Điện lưu vong, đã cho biết hiệp định này diễn ra ở thủ phủ Taunggyi của tỉnh Shan, bao gồm các sự bảo đảm về phát triển kinh tế và cùng tham gia các nổ lực chống lại thuốc phiện giữa chính quyền địa phương và nhóm kháng chiến quân khối sắc tộc.

Trong bước kế tiếp sẽ là các cuộc thương lượng với chính quyền trung ương Miến Điện.

 

Các cuộc bầu cử hồi năm ngoái đã bầu ra một chính phủ dân sự trên danh nghĩa là nắm quyền lực, nhưng chính phủ này vẫn giữ các mối liên hệ chặt chẻ với quân đội.

Nội chiến đã tàn phá nhiều miền của đất nước kể từ khi Miến Điện độc lập vào năm 1948.  Hiện nay, đòi hỏi chính của cộng đồng quốc tế bao gồm sự chấm dứt các cuộc xung đột, cũng như chấm dứt các hành động ngược đãi nhân quyền bị cáo buộc là có liên quan tới quân đội chính phủ Miến Điện.


Quân đội Miền Nam thuộc tỉnh Shan đã và đang là một trong các lực lượng nổi dậy lớn nhất vẫn đang chiến đấu với quân đội của chính phủ Miến Điện, với hàng ngàn du kích quân chủ yếu đóng quân gần biên giới với Thái Lan.

Các nhà lãnh đạo Myanmar hồi tháng trước đã tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình gần biên giới Thái Lan-Myanmar với một số nhóm dân tộc chiến đấu một cuộc đấu tranh lâu dài đòi hỏi quyền tự trị và các quyền khác, theo những người tham dự đàm phán cho biết.

“Họ (Shan Nhà nước Quân đội miền Nam) là nhóm đầu tiên thuộc những người đã ký thỏa thuận hòa bình trong số  năm nhóm mà chúng tôi đã gặp”, Hla Maung Shwe cho biết.

Ông cho biết Bộ trưởng Bộ Đường sắt của Miến Điện, ông  Aung Min, đã hiện diện làm nhân chứng trong khi đoàn đại biểu của nhóm nổi dậy mà người đứng đầu là Chuẩn Tướng Sài Lưu.

Những người hòa giải cũng đang cố gắng đạt được thỏa thuận hòa bình với nhóm Liên minh Quốc gia Karen, nhóm Quân đội Độc lập Kachin (KIA), nhóm Mặt Trận Dân tộc Chin  và Đảng Tiến bộ quốc gia Karenni, ông Hla Maung Shwe cho biết  thêm.

Ở miền đông tỉnh Karen, các quân kháng chiên có vũ trang đã tiến hành cuộc nổi dậy kéo dài nhất trong lịch sử của Myanmar, họ chiến đấu với chính phủ kể từ năm 1949, trong khi chiến đấu cũng đã nổ ra vào hồi  tháng Sáu ở phía bắc tỉnh Kachin gần biên giới với Trung Quốc.

Truyền thông nhà nước Miến Điện hôm thứ Năm đã loan tin rằng các cuộc đàm phán hòa bình đã được tổ chức giữa chính phủ và phiến quân Kachin, và hai bên đã đồng ý tiếp tục đối thoại.

“Nhóm Quân đội Độc lập Kachin KIA là nhóm khó khăn nhất để đạt được một thỏa thuận hòa bình với chính phủ”, Hla Maung Shwe thuộc nhóm xã hội dân sự Miến Điện cho biết.

Sau các cuộc hội đàm lịch sử với nhà cầm quyền Miến Điện ở thủ đô Naypyidaw  vào thứ năm, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã hoan nghênh những gì bà ấy nói là những nỗ lực của chính quyền nhằm giải quyết cuộc xung đột chủng tộc.

“Tuy nhiên, khi bạo lực khủng khiếp đang tiếp tục diễn ra ở một nơi mà xung đột nội bộ kéo dài nhất thế giới, Miến Điện sẽ còn gặp nhiều khó khăn để bắt đầu một chương lịch sử mới”, bà nói thêm.

Tỉnh Shan chủ yếu theo Phật giáo là nhóm dân tộc lớn hàng thứ hai ở Miến Điện, chiếm khoảng 9 phần trăm dân số, và tỉnh Shan bao gồm một khu vực rộng lớn của vùng đông bắc Miến Điện.

 

Myanmar ceasefire with major rebel group

By Hla Hla Htay | AFP – Sat, Dec 3, 2011

Myanmar has reached a ceasefire deal with one of the war-torn country’s major ethnic guerrilla groups, a mediator said Saturday, in the latest sign the new army-backed regime is reaching out to its opponents.

The pact was signed Friday by representatives of the Shan State Army South and the local government in the northeastern state, Hla Maung Shwe, founder of the civil society group Myanmar Egress, who witnessed the agreement, told AFP.

The was no immediate confirmation from the Myanmar government or the Shan State Army, but the Irrawaddy news website, run by journalists in exile, said the agreement in the Shan State capital of Taunggyi also included government assurances of economic development and joint efforts against drugs.

It said the next step would be negotiations with the central government.

The country formerly known as Burma has made a series of reformist moves in the past year — releasing democracy leader Aung San Suu Kyi from house arrest, holding dialogue with the opposition and freeing some political prisoners.

Elections last year brought a nominally civilian government to power, but it retains close links with the army.

Civil war has wracked parts of the country since its independence in 1948, and an end to the conflicts, as well as alleged human rights abuses involving government troops, is a key demand of the international community.

The Shan State Army South has been one of the biggest rebel forces still battling the government, with thousands of guerrilla fighters mostly stationed near the border with Thailand.

Myanmar’s leaders last month held peace talks near the Thai-Myanmar border with several ethnic groups fighting a long-running struggle for autonomy and rights, according to people involved.

“They (the Shan State Army South) are the first group who signed the peace agreement among the five groups that we have met,” Hla Maung Shwe said.

He said Myanmar’s Railways Minister Aung Min was present as a witness while the Shan rebel delegation was headed by Brigadier General Sai Luu.

Mediators were also trying to reach peace agreements with the Karen National Union, the Kachin Independence Army (KIA), the Chin National Front and the Karenni National Progressive Party, he added.

In eastern Karen State, armed rebels have been waging Myanmar’s longest-running insurgency, battling the government since 1949, while fighting has also raged since June in northern Kachin State near the Chinese border.

Myanmar state media reported on Thursday that peace talks had been held between the government and Kachin rebels, and the two sides had agreed to continue dialogue.

“The KIA is the most difficult to reach a peace agreement with,” Hla Maung Shwe said.

US Secretary of State Hillary Clinton welcomed what she said were efforts by the regime to resolve ethnic conflicts after historic talks with the country’s rulers in the capital Naypyidaw on Thursday.

“But as long as the terrible violence continues in some of the world’s longest-running internal conflicts, it will be difficult to begin a new chapter,” she added.

The mainly Buddhist Shan are the country’s second-biggest ethnic group, accounting for about nine percent of the population, and Shan State covers a vast area of northeastern Myanmar.

http://news.yahoo.com/myanmar-ceasefire-major-rebel-group-001156943.html

 

Normal
0

false
false
false

MicrosoftInternetExplorer4

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}

Các cuộc bầu cử hồi năm ngoái đã bầu ra một chính phủ dân sự trên danh nghĩa là nắm quyền lực, nhưng chính phủ này vẫn giữ các mối liên hệ chặt chẻ với quân đội.

Nội chiến đã tàn phá nhiều miền của đất nước kể từ khi Miến Điện độc lập vào năm 1948.  Hiện nay, đòi hỏi chính của cộng đồng quốc tế bao gồm sự chấm dứt các cuộc xung đột, cũng như chấm dứt các hành động ngược đãi nhân quyền bị cáo buộc là có liên quan tới quân đội chính phủ Miến Điện.


Quân đội Miền Nam thuộc tỉnh Shan đã và đang là một trong các lực lượng nổi dậy lớn nhất vẫn đang chiến đấu với quân đội của chính phủ Miến Điện, với hàng ngàn du kích quân chủ yếu đóng quân gần biên giới với Thái Lan.

Các nhà lãnh đạo Myanmar hồi tháng trước đã tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình gần biên giới Thái Lan-Myanmar với một số nhóm dân tộc chiến đấu một cuộc đấu tranh lâu dài đòi hỏi quyền tự trị và các quyền khác, theo những người tham dự đàm phán cho biết.

“Họ (Shan Nhà nước Quân đội miền Nam) là nhóm đầu tiên thuộc những người đã ký thỏa thuận hòa bình trong số  năm nhóm mà chúng tôi đã gặp”, Hla Maung Shwe cho biết.

Ông cho biết Bộ trưởng Bộ Đường sắt của Miến Điện, ông  Aung Min, đã hiện diện làm nhân chứng trong khi đoàn đại biểu của nhóm nổi dậy mà người đứng đầu là Chuẩn Tướng Sài Lưu.

Những người hòa giải cũng đang cố gắng đạt được thỏa thuận hòa bình với nhóm Liên minh Quốc gia Karen, nhóm Quân đội Độc lập Kachin (KIA), nhóm Mặt Trận Dân tộc Chin  và Đảng Tiến bộ quốc gia Karenni, ông Hla Maung Shwe cho biết  thêm.

Ở miền đông tỉnh Karen, các quân kháng chiên có vũ trang đã tiến hành cuộc nổi dậy kéo dài nhất trong lịch sử của Myanmar, họ chiến đấu với chính phủ kể từ năm 1949, trong khi chiến đấu cũng đã nổ ra vào hồi  tháng Sáu ở phía bắc tỉnh Kachin gần biên giới với Trung Quốc.

Truyền thông nhà nước Miến Điện hôm thứ Năm đã loan tin rằng các cuộc đàm phán hòa bình đã được tổ chức giữa chính phủ và phiến quân Kachin, và hai bên đã đồng ý tiếp tục đối thoại.

“Nhóm Quân đội Độc lập Kachin KIA là nhóm khó khăn nhất để đạt được một thỏa thuận hòa bình với chính phủ”, Hla Maung Shwe thuộc nhóm xã hội dân sự Miến Điện cho biết.

Sau các cuộc hội đàm lịch sử với nhà cầm quyền Miến Điện ở thủ đô Naypyidaw  vào thứ năm, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã hoan nghênh những gì bà ấy nói là những nỗ lực của chính quyền nhằm giải quyết cuộc xung đột chủng tộc.

“Tuy nhiên, khi bạo lực khủng khiếp đang tiếp tục diễn ra ở một nơi mà xung đột nội bộ kéo dài nhất thế giới, Miến Điện sẽ còn gặp nhiều khó khăn để bắt đầu một chương lịch sử mới”, bà nói thêm.

Tỉnh Shan chủ yếu theo Phật giáo là nhóm dân tộc lớn hàng thứ hai ở Miến Điện, chiếm khoảng 9 phần trăm dân số, và tỉnh Shan bao gồm một khu vực rộng lớn của vùng đông bắc Miến Điện.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »