Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hội Nghị Thành Đô 1990’ Category

►Trung Quốc bất ngờ công bố: mẹ già của dân tộc VN, tức là vợ của HCM, không phải là Tăng Tuyết Minh!

Posted by hoangtran204 trên 14/06/2017

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Biên Giới, Chinh Tri Xa Hoi, Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Vì sao nhà cầm quyền Việt Nam gia tăng các cuộc đàn áp biểu tình yêu nước

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2016

 

17-6-2016

Những cuộc biểu tình yêu nước, chống xâm lăng từ phương Bắc của người dân Việt Nam khắp trong Nam ngoài Bắc luôn bị nhà cầm quyền đàn áp bằng mọi cách. Những người yêu nước tham gia các cuộc biểu tình này luôn được đảng và nhà nước CSVN coi là “thế lực thù địch”.

bieutinh

Nhiều câu hỏi đặt ra, là tại sao một nhà nước tự xưng “của dân, do dân, vì dân” và một đảng tự nhận lấy trách nhiệm là “của dân tộc” lại có những hành động tự nhổ vào mặt mình mà không hề thấy ngượng?

Lý giải điều này, nhiều khi không thể lấy những logic thông thường của cuộc sống và không thể giải thích nếu không chứng kiến những hành vi của nhà cầm quyền Hà Nội với một thời kỳ dài và có hệ thống.

Từ kẻ thù truyền kiếp đến bạn 4 tốt và 16 chữ vàng

Lịch sử sẽ không bao giờ được nói “giá như”. Nhưng, nếu có thể nói, thì “giá như hệ thống cộng sản Đông Âu, liên bang Xô Viết không bị sụp đổ, có lẽ lịch sử Việt Nam sẽ khác hơn”.

Hẳn nhiên là vậy, bởi dù những nhà lãnh đạo CSVN luôn to tiếng khi tuyên bố Độc lập, tự do, thế nhưng, lịch sử Đảng CSVN lại là một lịch sử có bề dày không bao giờ độc lập. Và ở đó, lịch ích dân tộc chỉ là thứ yếu.

Trong thời kỳ mâu thuẫn Trung – Xô gay gắt, cuộc chiến tại Miền Nam Việt Nam là cuộc chiến giữa hai hệ ý thức đã và đang đến hồi khốc liệt. Khi đó, ĐCSVN tình nguyện đưa đất nước làm “tuyến đầu” của  ý thứchệcộng sản chống lại  ý thứchệtư bản. Việt Nam trở thành chiến trường, máu xương người dân Việt cứ vậy mà đổ xuống bằng vũ khí được chuyển đến cả từ hai phía.

Thời kỳ đó, những người CSVN đưa đất nước lệ thuộc vào hệ thống XHCN.

Rồi cuộc chiến kết thúc ngày 30/4/1975.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, mối quan tâm “giặc ngoài” đã tạm lắng, thì những người CSVN đưa đất nước bước vào một giai đoạn mới: Chiến đấu với “thù trong” là nội bộ giữa các nước Cộng sản anh em.

Hẳn nhiều người còn nhớ, từ những năm 1978 trở đi, khi mối quan hệ Việt – Xô được tăng cường và kết quả là Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Liên Xô, thì tương tự, mối quan hệ Việt – Trung xấu đi nhanh chóng. Từ chỗ là mối quan hệ “anh em” trong phe XHCN – vốn những nước Cộng sản vẫn thích chia phe, cánh như một nguyên tắc ngoại giao và nội trị – bỗng nhiên trở thành thù địch một cách sâu sắc.

Trên mặt trận truyền thông, những bài báo, bình luận đã liên tục đưa ra những điều được ẩn giấu đằng sau mối quan hệ được che lấp ba chục năm trước bởi những lời lẽ hoa mỹ và rất “trung thực” từ những cái loa của đảng.

Ở đó, mối quan hệ Việt – Trung là mối quan hệ Việt Nam luôn bị bắt nạt, hà hiếp với những âm mưu thôn tính hết sức thâm độc từ giới cầm quyền Bắc Kinh. Theo hệ thống tuyên truyền của đảng CSVN, thì “đảng và nhà nước” ta đã biết từ lâu, ngay từ khi người Cộng sản Trung Quốc mới nắm quyền tại Hoa lục.

cuọcchien19

Kết quả của những sự xấu đi nhanh chóng đó, là cuộc chiến tàn khốc tháng 2/1979 mà nhà cầm quyền Trung Cộng đã huênh hoang là dạy cho Việt Nam một bài học. Và cũng kết quả cuộc chiến là những “thắng lợi to lớn” của đảng CSVN đã đạt được là đã “dạy ngược lại cho Trung Cộng nhiều bài học”.

Nhưng, hậu quả thì người dân Việt Nam phải chịu là hàng vạn người đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh, mà sau này nhiều lần nhà cầm quyền CSVN đã cố tình bỏ quên cuộc chiến đó.

Trớ trêu thay, mối tình Việt – Xô và hệ thống cộng sản không thể là nguồn nuôi sống một nhà nước, một đảng “độc lập” một cách lâu dài. Khi cả hệ thống cộng sản thi nhau sụp đổ không thể cưỡng lại. Những người Cộng sản Việt Nam trở nên bơ vơ không còn chỗ bấu víu.

Khi đó, dù cho âm mưu bành trướng và thôn tính Việt Nam của bọn bá quyền bành trướng Bắc Kinh đã bị “đảng ta biết trước từ lâu” thì đảng vẫn phải tìm kiếm một chỗ bấu víu nào đó để tồn tại.

Và để tồn tại, bất chấp những nguy cơ cho đất nước, dân tộc Việt Nam, đảng CSVN lại tiếp tục “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” tìm đến với kẻ thù dân tộc.

Kể từ đó, đất nước bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ nô lệ bởi phương Bắc.

Ý đảng đi ngược lòng dân

Để kiếm chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại của mình, Đảng Cộng sản đã không ngần ngại chấp nhận bước đi cùng ma quỷ.

Thế nhưng, những người Cộng sản hiểu rõ tinh thần dân tộc và ý chí của người dân Việt Nam như thế nào khi dân Việt đã từng nghe theo lời của đảng tuyên truyền, mà hàng triệu người đã bỏ mạng chỉ vì lý tưởng độc lập, tự do của đất nước, sẽ không dễ dàng chấp nhận một thân phận nô lệ được lặp lại trong lịch sử.

Vì thế, con đường đi của đảng càng gian nan trong lòng dân và điều không thể giấu diếm, là người dân biết rõ đó là con đường đi ngược lại lợi ích của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Vì thế, những bước đi của Đảng CSVN với kẻ thù dân tộc là những bước đi vụng trộm và giấu diếm. Đó là những cuộc đi đêm giữa những kẻ tự xưng nắm quyền lực với kẻ thù của đất nước.

Hàng loạt câu hỏi không được trả lời rành mạch và nhiều lời đồn đoán rằng với bản hiệp định Biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, Đảng CSVN đã đứng trên lưng nhân dân, để nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam rơi vào tay giặc. Hiệp định đó đã là mối quan tâm, cũng là nguyên cớ cho hàng loạt người bị đảng bỏ tù khi đòi biết nội dung của nó.

Thậm chí, cho đến nay, một Hội nghị giữa VN và TQ vẫn bị giấu kín về nội dung, trở thành những lời đồn đoán cho mọi người dân Việt về ý nghĩa của nó nhưng Đảng CSVN vẫn không dám minh bạch: Hội nghị Thành Đô.

Những câu hỏi dần sáng tỏ

Có thể nói rằng, điều mà Đảng CSVN không ngờ đến, là sau những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thế giới, mạng Internet phổ cập đến từng người, thì những bước đi của Đảng bị soi rất kỹ. Qua đó, người dân nhận chân được ai mới là bạn, ai mới là thù và ai đang vì quyền lợi dân tộc cũng như ai đang làm tay sai cho giặc.

Hệ thống tuyên truyền của đảng ngày càng mất tác dụng bởi lối tuyên truyền một chiều, bóp méo sự thật, bất chấp đạo đức, lương tâm và quyền lợi đất nước đã bị bóc trần. Từ đó cái gọi là “lòng tin” của người dân vào sự “vĩ đại, sáng suốt và tài tình” của đảng đã không còn chỗ đứng.

Có chăng, chỉ là sự giả vờ tin, giả vờ tuân phục và giả vờ chấp nhận bởi bạo lực của súng đạn, nhà tù hoặc món lợi trước mắt mà đảng đem lại cho họ sau khi bóc lột người dân, bán rẻ tài nguyên đất nước và… vay nợ nước ngoài.

Vì thế, thái độ của lãnh đạo Đảng CSVN trước quân thù, đã chứng tỏ nhiều điều người dân chú ý từ lâu và dần dần đưa ra một kết luận chính xác.

Nếu như trước đây người ta ngạc nhiên vì sao Đảng CSVN cố tình bỏ qua cuộc chiến 1979, thì ngày nay người ta hiểu rằng đó chỉ vì cái tình bạn 16 chữ vàng mà đảng đang tô vẽ để tìm chỗ dựa cho mình.

Nếu trước đây, người ta không hiểu vì sao cuộc chiến Gạc Ma 1988 với 64 quân nhân có trang bị vũ khí đầy đủ đã bị giết chết mà không được nổ súng, thì ngày nay người ta hiểu mục đích của việc hy sinh tính mạng họ, lãnh hải và lãnh thổ đất nước chỉ là tiến đến cái Hội nghị Thành Đô sau đó.

Nếu trước đây, người dân thắc mắc về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ra sao mà mỗi khi ai nói rằng là của Việt Nam thì bị đàn áp, thậm chí vào tù, thì ngày nay, người ta biết Đảng CSVN đã có công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng mở lối.

Và câu hỏi nhiều người đặt ra là vì sao Đảng CSVN vốn biết âm mưu thôn tính Việt Nam bởi mộng bá quyền bành trướng của Trung Cộng là không thay đổi mà vẫn một mực kết nghĩa anh em, bạn vàng? Thì câu trả lời đã khá rõ ràng rằng trên thế giới, chủ nghĩa Cộng sản hoang tưởng và độc tài đã không còn chỗ đứng và Trung Cộng là thành trì cuối cùng còn sót lại. Nếu không bám vào đó, thì đảng “độc lập” có nguy cơ ra khỏi đời sống dân tộc này.

Những bước đi đến đích nô lệ có bài bản

Nhiều người ngạc nhiên vì sao có những sự thay đổi trong cách hành

Những cuộc biểu tình yêu nước, chống xâm lăng từ phương Bắc của người dân Việt Nam khắp trong Nam ngoài Bắc luôn bị nhà cầm quyền đàn áp bằng mọi cách. Những người yêu nước tham gia các cuộc biểu tình này luôn được đảng và nhà nước CSVN coi là “thế lực thù địch”.

bieutinh

Nhiều câu hỏi đặt ra, là tại sao một nhà nước tự xưng “của dân, do dân, vì dân” và một đảng tự nhận lấy trách nhiệm là “của dân tộc” lại có những hành động tự nhổ vào mặt mình mà không hề thấy ngượng?

Lý giải điều này, nhiều khi không thể lấy những logic thông thường của cuộc sống và không thể giải thích nếu không chứng kiến những hành vi của nhà cầm quyền Hà Nội với một thời kỳ dài và có hệ thống.

Từ kẻ thù truyền kiếp đến bạn 4 tốt và 16 chữ vàng

Lịch sử sẽ không bao giờ được nói “giá như”. Nhưng, nếu có thể nói, thì “giá như hệ thống cộng sản Đông Âu, liên bang Xô Viết không bị sụp đổ, có lẽ lịch sử Việt Nam sẽ khác hơn”.

Hẳn nhiên là vậy, bởi dù những nhà lãnh đạo CSVN luôn to tiếng khi tuyên bố Độc lập, tự do, thế nhưng, lịch sử Đảng CSVN lại là một lịch sử có bề dày không bao giờ độc lập. Và ở đó, lịch ích dân tộc chỉ là thứ yếu.

Trong thời kỳ mâu thuẫn Trung – Xô gay gắt, cuộc chiến tại Miền Nam Việt Nam là cuộc chiến giữa hai hệ ý thức đã và đang đến hồi khốc liệt. Khi đó, ĐCSVN tình nguyện đưa đất nước làm “tuyến đầu” của  ý thứchệcộng sản chống lại  ý thứchệtư bản. Việt Nam trở thành chiến trường, máu xương người dân Việt cứ vậy mà đổ xuống bằng vũ khí được chuyển đến cả từ hai phía.

Thời kỳ đó, những người CSVN đưa đất nước lệ thuộc vào hệ thống XHCN.

Rồi cuộc chiến kết thúc ngày 30/4/1975.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, mối quan tâm “giặc ngoài” đã tạm lắng, thì những người CSVN đưa đất nước bước vào một giai đoạn mới: Chiến đấu với “thù trong” là nội bộ giữa các nước Cộng sản anh em.

Hẳn nhiều người còn nhớ, từ những năm 1978 trở đi, khi mối quan hệ Việt – Xô được tăng cường và kết quả là Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Liên Xô, thì tương tự, mối quan hệ Việt – Trung xấu đi nhanh chóng. Từ chỗ là mối quan hệ “anh em” trong phe XHCN – vốn những nước Cộng sản vẫn thích chia phe, cánh như một nguyên tắc ngoại giao và nội trị – bỗng nhiên trở thành thù địch một cách sâu sắc.

Trên mặt trận truyền thông, những bài báo, bình luận đã liên tục đưa ra những điều được ẩn giấu đằng sau mối quan hệ được che lấp ba chục năm trước bởi những lời lẽ hoa mỹ và rất “trung thực” từ những cái loa của đảng.

Ở đó, mối quan hệ Việt – Trung là mối quan hệ Việt Nam luôn bị bắt nạt, hà hiếp với những âm mưu thôn tính hết sức thâm độc từ giới cầm quyền Bắc Kinh. Theo hệ thống tuyên truyền của đảng CSVN, thì “đảng và nhà nước” ta đã biết từ lâu, ngay từ khi người Cộng sản Trung Quốc mới nắm quyền tại Hoa lục.

cuọcchien19

Kết quả của những sự xấu đi nhanh chóng đó, là cuộc chiến tàn khốc tháng 2/1979 mà nhà cầm quyền Trung Cộng đã huênh hoang là dạy cho Việt Nam một bài học. Và cũng kết quả cuộc chiến là những “thắng lợi to lớn” của đảng CSVN đã đạt được là đã “dạy ngược lại cho Trung Cộng nhiều bài học”.

Nhưng, hậu quả thì người dân Việt Nam phải chịu là hàng vạn người đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh, mà sau này nhiều lần nhà cầm quyền CSVN đã cố tình bỏ quên cuộc chiến đó.

Trớ trêu thay, mối tình Việt – Xô và hệ thống cộng sản không thể là nguồn nuôi sống một nhà nước, một đảng “độc lập” một cách lâu dài. Khi cả hệ thống cộng sản thi nhau sụp đổ không thể cưỡng lại. Những người Cộng sản Việt Nam trở nên bơ vơ không còn chỗ bấu víu.

Khi đó, dù cho âm mưu bành trướng và thôn tính Việt Nam của bọn bá quyền bành trướng Bắc Kinh đã bị “đảng ta biết trước từ lâu” thì đảng vẫn phải tìm kiếm một chỗ bấu víu nào đó để tồn tại.

Và để tồn tại, bất chấp những nguy cơ cho đất nước, dân tộc Việt Nam, đảng CSVN lại tiếp tục “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” tìm đến với kẻ thù dân tộc.

Kể từ đó, đất nước bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ nô lệ bởi phương Bắc.

Ý đảng đi ngược lòng dân

Để kiếm chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại của mình, Đảng Cộng sản đã không ngần ngại chấp nhận bước đi cùng ma quỷ.

Thế nhưng, những người Cộng sản hiểu rõ tinh thần dân tộc và ý chí của người dân Việt Nam như thế nào khi dân Việt đã từng nghe theo lời của đảng tuyên truyền, mà hàng triệu người đã bỏ mạng chỉ vì lý tưởng độc lập, tự do của đất nước, sẽ không dễ dàng chấp nhận một thân phận nô lệ được lặp lại trong lịch sử.

Vì thế, con đường đi của đảng càng gian nan trong lòng dân và điều không thể giấu diếm, là người dân biết rõ đó là con đường đi ngược lại lợi ích của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Vì thế, những bước đi của Đảng CSVN với kẻ thù dân tộc là những bước đi vụng trộm và giấu diếm. Đó là những cuộc đi đêm giữa những kẻ tự xưng nắm quyền lực với kẻ thù của đất nước.

Hàng loạt câu hỏi không được trả lời rành mạch và nhiều lời đồn đoán rằng với bản hiệp định Biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, Đảng CSVN đã đứng trên lưng nhân dân, để nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam rơi vào tay giặc. Hiệp định đó đã là mối quan tâm, cũng là nguyên cớ cho hàng loạt người bị đảng bỏ tù khi đòi biết nội dung của nó.

Thậm chí, cho đến nay, một Hội nghị giữa VN và TQ vẫn bị giấu kín về nội dung, trở thành những lời đồn đoán cho mọi người dân Việt về ý nghĩa của nó nhưng Đảng CSVN vẫn không dám minh bạch: Hội nghị Thành Đô.

Những câu hỏi dần sáng tỏ

Có thể nói rằng, điều mà Đảng CSVN không ngờ đến, là sau những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thế giới, mạng Internet phổ cập đến từng người, thì những bước đi của Đảng bị soi rất kỹ. Qua đó, người dân nhận chân được ai mới là bạn, ai mới là thù và ai đang vì quyền lợi dân tộc cũng như ai đang làm tay sai cho giặc.

Hệ thống tuyên truyền của đảng ngày càng mất tác dụng bởi lối tuyên truyền một chiều, bóp méo sự thật, bất chấp đạo đức, lương tâm và quyền lợi đất nước đã bị bóc trần. Từ đó cái gọi là “lòng tin” của người dân vào sự “vĩ đại, sáng suốt và tài tình” của đảng đã không còn chỗ đứng.

Có chăng, chỉ là sự giả vờ tin, giả vờ tuân phục và giả vờ chấp nhận bởi bạo lực của súng đạn, nhà tù hoặc món lợi trước mắt mà đảng đem lại cho họ sau khi bóc lột người dân, bán rẻ tài nguyên đất nước và… vay nợ nước ngoài.

Vì thế, thái độ của lãnh đạo Đảng CSVN trước quân thù, đã chứng tỏ nhiều điều người dân chú ý từ lâu và dần dần đưa ra một kết luận chính xác.

Nếu như trước đây người ta ngạc nhiên vì sao Đảng CSVN cố tình bỏ qua cuộc chiến 1979, thì ngày nay người ta hiểu rằng đó chỉ vì cái tình bạn 16 chữ vàng mà đảng đang tô vẽ để tìm chỗ dựa cho mình.

Nếu trước đây, người ta không hiểu vì sao cuộc chiến Gạc Ma 1988 với 64 quân nhân có trang bị vũ khí đầy đủ đã bị giết chết mà không được nổ súng, thì ngày nay người ta hiểu mục đích của việc hy sinh tính mạng họ, lãnh hải và lãnh thổ đất nước chỉ là tiến đến cái Hội nghị Thành Đô sau đó.

Nếu trước đây, người dân thắc mắc về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ra sao mà mỗi khi ai nói rằng là của Việt Nam thì bị đàn áp, thậm chí vào tù, thì ngày nay, người ta biết Đảng CSVN đã có công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng mở lối.

Và câu hỏi nhiều người đặt ra là vì sao Đảng CSVN vốn biết âm mưu thôn tính Việt Nam bởi mộng bá quyền bành trướng của Trung Cộng là không thay đổi mà vẫn một mực kết nghĩa anh em, bạn vàng? Thì câu trả lời đã khá rõ ràng rằng trên thế giới, chủ nghĩa Cộng sản hoang tưởng và độc tài đã không còn chỗ đứng và Trung Cộng là thành trì cuối cùng còn sót lại. Nếu không bám vào đó, thì đảng “độc lập” có nguy cơ ra khỏi đời sống dân tộc này.

Những bước đi đến đích nô lệ có bài bản

Nhiều người ngạc nhiên vì sao có những sự thay đổi trong cách hành xử của Đảng CSVN thời gian gần đây mà không thể giải thích.

Chẳng hạn, nếu những năm 2007 về sau, ai nói đến Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, lập tức được coi là thế lực thù địch của đảng. Đến mức báo chí bị đình bản, kỷ luật bởi chỉ phạm húy điều đó! Thế nhưng giờ đây báo chí lại tha hồ khẳng định điều này?

Chẳng hạn, vì sao cuộc chiến 1979 trên biên giới phía Bắc đã có một thời đảng cố tình lãng quên, giờ vẫn có người được nhắc lại?

Chẳng hạn, vì sao những lệnh cấm vô lý trên Biển Đông từ nhà cầm quyền Trung Cộng, việc bắn giết ngư dân không được nhà cầm quyền VN quan tâm mặc dân sống chết, giờ đây người dân thấy nhà nước đã mở miệng mà không phải là “Tàu lạ, thuyền lạ”?

Phải chăng là lương tâm con người hay tinh thần dân tộc đã được thức tỉnh trong Đảng CSVN?

Xin thưa là không.

Đó chỉ là những màn kịch đúng quy trình.

Khi mà mọi sự đã rồi, Trung Cộng đã xây xong sân bay, đồn bốt và đưa vũ khí lên lãnh thổ Việt Nam một cách vững chắc ngoài Biển Đông, thì dù nhà nước VN có kêu gào, có tố cáo, có phản đối… cũng chỉ là chuyện nói với “đầu gối” mà thôi. Bởi ngay sau đó sẽ là màn đón tiếp bằng 21 phát đại bác, là chiêu đãi hoan hỷ, là cảm ơn… để nhận được một số tiền.

Nhưng tác dụng của việc kêu gào không hề nhỏ trong nhân dân. Bởi, với cách đó, họ đang cố phủi trách nhiệm của mình trước quốc dân đồng bào về việc mất lãnh thổ vào tay giặc.

Nhiều người hỏi rằng: Tại sao nhà cầm quyền CSVN không dám đối đầu với Trung Cộng bằng một cuộc chiến như năm 1979?

Xin thưa là chẳng bao giờ còn có điều đó. Bởi họ thừa biết rằng, nếu có chiến tranh thì phải giao vũ khí cho người dân, mà khi đó đích ngắm đầu tiên của người dân vào kẻ thù, là chính họ.

Câu trả lời cho một câu hỏi lớn, nhiều người chưa tìm được lời giải đáp là: Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam tố cáo, phản đối Trung Cộng xâm lược, thế nhưng khi người dân biểu tình phản đối, họ đàn áp không thương tiếc. Có mâu thuẫn ở đây chăng?

Xin thưa là hoàn toàn không

Ảnh: Internet

Ảnh: Internet

Điều mà Đảng CSVN quan tâm lớn nhất, không phải là chuyện lòng yêu nước của người dân, mà chính là vị trí độc tài của họ. Mà những kẻ độc tài thì không bao giờ thích người dân bày tỏ ý kiến của mình, dù chỉ là lòng yêu nước.

Những cuộc biểu tình, nếu không bị dập tắt, sẽ là ngọn lửa thiêu cháy sự độc tài bằng ý chí của người dân.

Do vậy, không và sẽ không bao giờ, những kẻ độc tài thích bất cứ một cuộc biểu tình nào mà họ không kiểm soát được.

Hà Nội, 17/7/2016. Trước giờ biểu tình ủng hộ phán quyết Đường lưỡi bò

  • J. B Nguyễn Hữu Vinh

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

► Việt Nam ‘buông’ Hoàng Sa cho TQ?

Posted by hoangtran204 trên 06/11/2015

BBC

5-11-2015

Cựu quan chức cao cấp của Hội Hữu nghị Việt – Trung nói ‘dường như’ Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa trước sức ép của Trung Quốc.

Tiến sỹ Vũ Cao Phan, nguyên Phó Chủ tịch và Tổng thư ký của hội nói ông đã khuyến cáo lãnh đạo Việt Nam yêu cầu ông Tập Cận Bình chấp nhận đàm phán về quần đảo Hoàng Sa, mà hiện Trung Quốc đang chiếm toàn bộ, trong chuyến đi này.

Tuy nhiên ông Phan nói với Nguyễn Hùng trong Bàn tròn thứ Năm hàng tuần của BBC rằng phía Việt Nam đã bỏ ngoài tai.

Tiến sỹ Phan, Viện trưởng Viện Chính trị và Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế của Đại học Bình Dương, nói:

“Theo tôi có lẽ bức xúc cơ bản của người dân là chính quyền chưa nhìn thẳng vào sự thực…

“Tôi đề xuất cũng có gì lớn đâu. Điều kiện như thế này ta có thể nói được mà cũng không nói…

“Chúng ta cứ tuyên truyền ở trong nước về Hoàng Sa và Trường Sa và triển vọng thế này thế khác…

“Chúng ta nói thế giới nào có biết đâu. Rất nhiều bạn bè quốc tế nói với tôi rằng đối với Hoàng Sa hình như Việt Nam buông.”

Trong khi đó Phó Giáo sư Nông Lập Phu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, Trung Quốc nói ông đã được học Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) là của Trung Quốc.

Ông nói: “Tôi từ nhỏ cũng đọc địa lý Trung Quốc nói là Tây Sa, Nam Sa là đất nước của Trung Quốc.”

‘Nói mãi đá cũng phải mòn’

Tiến sỹ Vũ Cao Phan nói quan điểm “nhìn về đại cục” trong quan hệ Việt – Trung rất mơ hồ và Việt Nam còn có vẻ còn “sợ” khiến Trung Quốc dựa vào đó để lấn át.

Ông nói: “Rõ ràng trong quan hệ Việt Nam với Trung Quốc hình như là Việt Nam chịu sự dẫn dắt của Trung Quốc và Việt Nam thiếu chủ động.

Image captionTiến sỹ Vũ Cao Phan nói ít nhất ngư dân Việt Nam phải được đánh cá tại những nơi họ từng hoạt động ở Hoàng Sa

“Chúng ta là nước nhỏ, chúng ta khiêm tốn, chúng ta tôn trọng Trung Quốc, chúng ta tôn trọng tình hữu nghị và chúng ta phấn đấu cho điều đó nhưng điều gì có thể thì chúng ta phải nói chứ, ưỡn ngực, thẳng lưng lên mà nói chứ…

“Người dân người ta đánh giá có thể vì một lợi ích nào chăng? Hay vì bản thân mình không tự đánh giá mình cao hay tự mình nhìn Trung Quốc quá cao, quá lớn chăng?”

Ông Phan nói quan hệ hai bên “phải hữu nghị, phải tốt đẹp nhưng phải bình đẳng” và rằng Việt Nam phải đòi Trung Quốc đặt Hoàng Sa lên bàn đàm phán và nêu giải pháp:

“Tôi đã nói có biện pháp nữa là ba tháng, sáu tháng một lần ta gửi công hàm qua đường ngoại giao yêu cầu đàm phán.

“Nói mãi đá cũng phải mòn chứ. Mà những chuyện này đàm phán cũng có lợi ích cho Trung Quốc chứ.

“Ít nhất hình ảnh của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam và đối với dư luận thế giới sẽ khác đi…

“Mong muốn tối thiểu của tôi là ngư dân Việt Nam có quyền đánh cá hợp pháp trên ngư trường lịch sử và truyền thống của mình.”

‘Hải quân đáng gờm’

Trong lúc đó bà Phương Nguyễn, chuyên gia Đông Nam Á của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế gọi tắt là CSIS ở Washington cho rằng cần đặt Hoàng Sa và Trường Sa vào bối cảnh rộng hơn.

Image captionBà Phương Nguyễn nói những gì Trung Quốc có hứa với Việt Nam ‘chỉ là lời nói’

Bà nói với Bàn tròn thứ Năm:

“Tôi nghĩ về các vấn đề trên biển chúng ta không nên chỉ nhìn vào những tiến triển giữa Trung Quốc và Việt Nam mà chúng ta phải đặt nó vào bối cảnh Trung Quốc muốn gì trong vùng biển này.

“Trung Quốc muốn dùng Trường Sa và Hoàng Sa để làm bàn đạp để thiết lập Trung Quốc là lực lượng hải quân đáng gờm ở tây Thái Bình Dương.

“Về lâu dài, nếu việc này tiếp tục, mục tiêu của Trung Quốc là đẩy Hải Quân Hoa Kỳ khỏi vùng biển tây Thái Bình Dương…

“Trung Quốc có nói gì với Việt Nam, có ký kết gì với Việt Nam, có hứa gì với Việt Nam cũng chỉ là lời nói.

“Hành động trên biển của Trung Quốc sẽ không phụ thuộc gì vào những gì hai bên đàm phán hoặc là đồng ý với nhau mà phụ thuộc nhiều hơn vào tham vọng của Trung Quốc ở phía tây Thái Bình Dương.”

Bà Phương Nguyễn cũng nói Bắc Kinh hiện đang ở vào thế khó xử theo sau việc Hoa Kỳ cho tàu chiến áp sát đảo đá do Trung Quốc đang chiếm tại quần đảo Trường Sa mà Việt Nam cùng các nước khác cũng tuyên bố chủ quyền.

Nếu ngăn cản tàu Hoa Kỳ, bà Phương Nguyễn nói, Trung Quốc sẽ vi phạm luật quốc tế vì hai đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây trên đá ngầm Subi và Vành Khăn (Trung Quốc gọi là Chử Bích và Mỹ Tế), không được hưởng 12 dặm hải lý xung quanh mà vẫn phải để tàu quốc tế qua lại.

Phản đối Tập Cận Bình

Nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh từ Nha Trang nói khoảng 150 người đã xuống đường phản đối chuyến thăm của ông Tập Cận Bình tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hôm 5/11 khiến công an bắt giữ hàng chục người.

Image captionBà Như Quỳnh nói Việt Nam cần bảo vệ quyền lợi của ngư dân ngay cả khi muốn có quan hệ tốt hơn với Trung Quốc

Cũng có những hình ảnh cho thấy người biểu tình bị đánh đổ máu.

Bà Như Quỳnh cho rằng chính quyền cần tôn trọng quyền ‘tiếp đón’ ông Tập của người dân theo cách của riêng họ.

Nhà hoạt động từng được giải thưởng nhân quyền quốc tế cũng nói thêm về chuyện chính quyền cũng phải bảo vệ các ngư dân trên Biển Đông khi họ muốn có quan hệ tốt với Trung Quốc: “Nhà nước nào cũng tồn tại trên nguyện vọng và lợi ích của người dân bởi vậy một bộ phận dù nhỏ của người dân cũng phải được đảm bảo về đời sống, lợi ích và sự an toàn trong việc mưu sinh của họ, phải được đảm bảo và nhà nước phải xem đó là một phần cốt lõi tạo nên giá trị bền vững của nhà nước để đặt lên bàn ngoại giao.”

Trong lúc đó nhà nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc ở Quảng Tây, ông Nông Lập Phu, phản đối các cuộc biểu tình chống ông Tập ở Việt Nam và cho rằng nó không có lợi cho việc cải thiện quan hệ hai bên.

Ông nói thêm: “Những vấn đề trên biển hai nước lãnh đạo hai Đảng hai nước đã có cơ chế để giải quyết vấn đề này rồi.

Image copyrightNong Lap Phu
Image captionPhó Giáo sư Nông Lập Phu nói từ bé ông đọc rằng Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) là của Trung Quốc

“Vừa rồi tôi xem TV theo Tiến sỹ Vũ Cao Phan giới thiệu, Đảng, Chính phủ Việt Nam đón tiếp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình rất long trọng, trọng thị.

“Trong điều kiện này có một số người lên đường bày tỏ phản đối là không có lợi cho việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam.”

Phó Giáo sư Nông Lập Phu cũng nói thêm chính Việt Nam cũng bắt tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc chứ không chỉ có Trung Quốc đơn phương làm như vậy với ngư dân Việt Nam.

Ông nói người dân Việt Nam không hiểu hết tình hình quan hệ hai bên và đã có những hành động mà ông cho là không hợp lý.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Vô Cảm: sự bất hạnh của dân tộc

Posted by hoangtran204 trên 20/10/2015

Vô cảm. Tại sao?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản và đã được nhiều người đề cập: Đó là hậu quả của các chính sách tuyên truyền và giáo dục của nhà cầm quyền mà biểu hiện cụ thể nhất là qua lập luận: “Chuyện quốc gia đại sự hãy để nhà nước lo, đồng bào đừng bận tâm.” Xin lưu ý là kiểu lập luận này khác hẳn với chủ trương của đảng Cộng sản trước đây. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp cũng như chiến tranh Nam Bắc, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội lúc nào cũng đề cao sức mạnh của quần chúng, kêu gọi quần chúng tham gia vào các công tác chính trị. Bây giờ, ngược lại, họ đẩy quần chúng ra ngoài, biến thành những kẻ bàng quan và vô trách nhiệm trước các biến động của đất nước. Có thể nói là họ sợ việc quần chúng quan tâm đến chính trị.”

VÔ CẢM: SỰ BẤT HẠNH CỦA DÂN TỘC

Nguyễn Hưng Quốc

15-10-2015

Trong bài “Mất cảnh giác” cách đây ba tuần, tôi nhìn vấn đề từ giác độ những người cầm quyền. Trong bài này, tôi nhìn từ góc cạnh khác: sự mất cảnh giác của người dân. Luận điểm chính của tôi là: Không những giới lãnh đạo mà ngay cả phần lớn dân chúng cũng hờ hững trước những hiểm hoạ đến từ Trung Quốc.

Một người bạn thân của tôi có cháu họ – con của một cán bộ cao cấp trong chính quyền-, trước, du học tại Úc, sau, về Việt Nam làm giám đốc chi nhánh một công ty nào đó của Trung Quốc. Người cháu rủ bạn tôi sang Trung Quốc chơi với những lời hứa hẹn đầy hấp dẫn. Bạn tôi, vốn ghét những âm mưu bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông, hỏi: “Mày không khó chịu trước các hành động ngang ngược của Trung Quốc đối với Việt Nam à?” Người cháu cười to và đáp: “Thôi, bận tâm làm gì về mấy chuyện đó, chú. Cứ coi như Việt Nam đã mất trắng vào tay Trung Quốc rồi, mình có làm gì được nữa chứ. Lo chơi cho vui, chú ạ.”

Tôi có một số bạn bè thuộc giới trí thức tại Việt Nam. Họ không sỗ sàng như người cháu của bạn tôi. Nhưng thái độ của họ trước nguy cơ giành lấn biển đảo của Trung Quốc thì cũng như vậy. Trong những lần chuyện trò, bao giờ tôi cũng là người gợi chuyện về mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc chứ không bao giờ là họ cả. Ngay cả khi tôi đặt vấn đề, người ta cũng lảng sang chuyện khác với lý do giống nhau: “Mình có làm được gì đâu. Suy nghĩ làm gì cho mệt óc!”

Một số người có thể cãi: Các ví dụ tôi nêu ở trên chỉ là những ngoại lệ. Ở đây, chúng ta gặp ngay một khó khăn: Khác với ở Tây phương, ở Việt Nam không có những cuộc điều tra dư luận để chúng ta có được những con số chính xác. Tuy nhiên, bù vào đó, chúng ta có thể quan sát từ kinh nghiệm giao tiếp riêng của mình. Trước đây, những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều người đủ mọi giới, tôi nhận thấy ít người thực sự quan tâm đến chính trị. Mà nếu quan tâm, những điều họ quan tâm cũng chỉ quanh quẩn những giai thoại về đời sống của một số chính khách. Điều quan trọng nhất trong chính trị là chính sách thì thường bị bỏ quên.

Với những người chưa có dịp về Việt Nam, có thể quan sát điều này trên facebook. Nghe nói ở Việt Nam hiện nay có khoảng 30 triệu người sử dụng facebook. Không ai có thể biết hết những người chơi facebook ấy. Nhưng theo ghi nhận của tôi, trong số mấy ngàn “friend” và gần mười ngàn “follower”, những người thực sự quan tâm đến chính trị chỉ là thiểu số. Phần lớn chỉ thích chuyện ăn uống, quần áo, vui chơi, du lịch… thuần tuý có tính chất giải trí. Nhiều người tuyên bố thẳng thừng: Sẽ huỷ kết bạn với những người thích bàn chuyện chính trị. Về phương diện xã hội, trước đây có một số cuộc xuống đường biểu tình chống Trung Quốc ở Sài Gòn và Hà Nội nhưng số người tham gia bao giờ cũng rất thưa thớt. Mà mấy năm gần đây, những cuộc biểu tình như thế cũng hoàn toàn vắng bóng.

Có thể nói người Việt Nam ở Việt Nam rất ít bận tâm đến các vấn đề chính trị, kể cả vấn đề quan trọng nhất liên quan đến độc lập và chủ quyền quốc gia trên Biển Đông. Ít hơn hẳn những người Việt Nam đang sống ở hải ngoại. Ở hải ngoại, ở đâu và lúc nào người ta cũng trăn trở với các diễn biến chính trị trong nước. Mà không phải chỉ là người Việt Nam lưu vong. Cộng đồng lưu vong nào cũng vậy. Cũng chia sẻ một số những ký ức tập thể giống nhau. Cũng dằn vặt về vấn đề bản sắc. Và cũng khắc khoải với những biến động chính trị ở quê gốc. Nhiều người, từ Việt Nam sang, có dịp gặp gỡ nhiều người Việt sống ở hải ngoại, cứ thắc mắc: Sao sống xa quê hương lâu đến thế mà vẫn không quên quá khứ và vẫn không thoát được những ám ảnh về chính trị?

Điều quan trọng là người Việt Nam ở Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến chính trị hơn hẳn ngày trước. Trước, ở miền Nam, hầu như lúc nào người ta cũng sôi sục chuyện chính trị. Ở miền Bắc cũng vậy. Trong đời sống cũng như trong văn học, đề tài chính trị lúc nào cũng nóng hổi. Chỉ có hiện nay người ta mới nguội lạnh trước số phận của đất nước. Nguội lạnh đến mức gần như vô cảm. Tại sao?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản và đã được nhiều người đề cập: Đó là hậu quả của các chính sách tuyên truyền và giáo dục của nhà cầm quyền mà biểu hiện cụ thể nhất là qua lập luận: “Chuyện quốc gia đại sự hãy để nhà nước lo, đồng bào đừng bận tâm.” Xin lưu ý là kiểu lập luận này khác hẳn với chủ trương của đảng Cộng sản trước đây. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp cũng như chiến tranh Nam Bắc, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội lúc nào cũng đề cao sức mạnh của quần chúng, kêu gọi quần chúng tham gia vào các công tác chính trị. Bây giờ, ngược lại, họ đẩy quần chúng ra ngoài, biến thành những kẻ bàng quan và vô trách nhiệm trước các biến động của đất nước. Có thể nói là họ sợ việc quần chúng quan tâm đến chính trị.

Mà sợ cũng phải. Năm ngoái, khi chính quyền Hà Nội chủ trương chặt hạ 6700 cây xanh trên 190 con đường ở thủ đô, dân chúng phản đối quyết liệt, cuối cùng, chính quyền phải rút lại cái lệnh quái gở ấy, hơn nữa, còn bị buộc phải kiểm điểm về quyết định và quá trình thi jhành quyết định ấy của mình. Đầu năm nay, dân chúng phát hiện và phản đối việc tỉnh Sơn La có dự án chi cả 1.400 tỉ đồng cho việc xây dựng khu lưu niệm, kể cả tượng đài Hồ Chí Minh, đã khiến không những chính quyền Sơn La mà cả chính phủ trung ương phải lúng túng. Đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải ra lệnh xét duyệt lại dự án bị dân chúng phản đối ấy. Gần đây, khi dân chúng phát hiện những lỗi sai nghiêm trọng trong bộ sách thực hành kỹ năng sống bậc tiểu học, Bộ giáo dục đã phải ra lệnh thu hồi toàn bộ các cuốn sách ấy.

Qua các trường hợp hoạ hoằn vừa kể, chúng ta thấy rõ sức mạnh của quần chúng (nếu quần chúng biết tận dụng!). Đó là điều chắc chắn chính quyền Việt Nam không hề mong muốn. Chính vì thế, họ có hai sách lược: Một là giấu giếm toàn bộ các việc làm của họ để không ai biết và không ai phê phán cả. Hai là họ nỗ lực tuyên truyền và giáo dục dân chúng trở thành vô cảm. Cho đến nay, không thể nói là họ không thành công. Tiếc, sự thành công của họ lại là một bất hạnh lớn nhất của cả nước.

***

NGUỒN: NGUYỄN HƯNG QUỐC BLOG TRÊN VOA

 

***
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Mất cảnh giác

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2015

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

26-9-2015

H1Một người bạn của tôi, từ Hà Nội sang, kể tôi nghe chuyện này: Cách đây mấy năm, Bộ Công an Việt Nam xây dựng trụ sở mới ở đường Phạm Hùng, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở rất đồ sộ và lộng lẫy do một nhà thầu Trung Quốc thiết kế và xây dựng. Đến lúc xây xong, người ta mới sực nhớ một chuyện: Có thể Trung Quốc cho gắn các thiết bị do thám trong toà nhà để ghi âm tất cả các cuộc đối thoại trong đó. Thế là người ta sợ. Nhưng không có cách gì lật tung cả toà nhà ra để tìm các thiết bị do thám ấy. Mà tìm chưa chắc đã thấy. Cuối cùng, người ta chọn giải pháp: cho các nhân viên cấp trung và cấp thấp vào làm việc trong trụ sở mới, còn giàn lãnh đạo cao cấp thì vẫn ở lại trụ sở cũ.

Nghe câu chuyện ấy, tôi không thể không thắc mắc: Tại sao một việc đơn giản như vậy mà người ta không thể đoán trước được? Bạn tôi cười: “Thế mới nói! Ở Hà Nội, ai cũng đặt ra câu hỏi ấy. Nhưng không ai công khai và chính thức trả lời cả. Có khi câu trả lời rất đơn giản: Bất cẩn!”

Một chuyện nữa cũng làm tôi thắc mắc: Trung Quốc đã khởi sự việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo ít nhất cũng từ một hai năm trước, vậy tại sao bộ đội Việt Nam đóng trên các hòn đảo gần đấy lại không hay biết gì cả? Thế giới – và cả người Việt nữa – chỉ biết sự kiện ấy vào đầu năm nay khi Mỹ loan tin kèm theo các bức ảnh được chụp từ vệ tinh. Tại sao? Câu trả lời không chừng cũng vì họ không quan tâm, hay nói cách khác, bất cẩn.

Có thể nói, trong quan hệ với Trung Quốc, giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay rất bất cẩn. Trước đây, Bộ Thương mại Việt Nam giao hẳn cho phía Trung Quốc toàn quyền quyết định nội dung tờ báo mạng bằng tiếng Việt của họ. Nhiều tờ báo loan cả tin bộ đội Trung Quốc tập luyện ở những vùng biển và hải đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam theo các bản tin lấy từ báo chí của Trung Quốc mà không một chút phân vân hay phê phán. Nhiều cơ sở du lịch in bản đồ Việt Nam trong đó Hoàng Sa và Trường Sa được ghi rõ là thuộc về Trung Quốc. Cách đây mấy năm, dư luận rất phẫn nộ khi biết một số tỉnh miền Trung và miền Bắc cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn (trong vòng 50 năm) trên 300.000 hecta đất rừng đầu nguồn được xem là có vị trí chiến lược. Cuối năm ngoái, người ta cũng phát hiện nhà cầm quyền Thừa Thiên – Huế cho phép công ty Trung Quốc xây dựng khu du lịch ngay dưới chân đèo Hải Vân, nơi, cũng theo giới quân sự, có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Mới đây, báo chí lại loan tin chính quyền Quảng Ngãi thuê một công ty của Trung Quốc (CPG, có trụ sở chính tại Singapore) làm dự án quy hoạch huyện đảo Lý Sơn, nơi được xem là có vị trí trọng yếu ở mặt trận Biển Đông. Bị hỏi, giới chức ở tỉnh Quảng Ngãi trả lời là họ không biết vai trò của Trung Quốc trong tập đoàn ấy, hơn nữa, họ còn nhấn mạnh là họ làm theo đề nghị từ “các đơn vị cấp trên”. Chưa hết. Ông Lê Viết Chữ, Bí thư tỉnh uỷ, còn nói thêm: “Quan điểm cá nhân của tôi thì tôi không phân biệt tập đoàn đó thuộc quốc gia nào, tất cả chúng ta đều có quan hệ với nhau hết.”

Lời tuyên bố của ông Lê Viết Chữ rõ ràng là sai. Trong quan hệ với Việt Nam, không phải nước nào cũng như nước nào. Với các nước khác, kinh tế chỉ là kinh tế. Nhưng với Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đã từng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Trung Quốc cũng đã chiếm bảy hòn đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa vào năm 1988. Trung Quốc đã từng xua quân tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979. Trung Quốc đã từng đưa giàn khoan HD-981 vào thăm dò ngay trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014. Trung Quốc cũng đã từng ngang ngược cho Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, là “sân sau” của họ. Đó là những chuyện trong quá khứ. Lại là quá khứ không xa xôi gì lắm. Trong tương lai, ai cũng biết rõ không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên con đường 9 đoạn vốn trùm lấp lên phần lớn Biển Đông của Việt Nam. Nói cách khác, cụ thể hơn: Nếu Trung Quốc không có ý định đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam thì họ cũng sẽ tìm mọi cách để chiếm đoạt Biển Đông của Việt Nam. Điều đó, trên thế giới, hầu như không ai nghi ngờ cả. Vậy tại sao chính quyền Việt Nam lại không biết, lại vẫn tiếp tục bất cẩn?

Theo tôi, có ba lý do chính:

Thứ nhất là người ta bị Trung Quốc mua chuộc. Có hai yếu tố khiến khả năng này là hiện thực: Một mặt, Trung Quốc vẫn nổi tiếng xưa nay về các việc đút lót trong quan hệ ngoại giao với các nước khác; mặt khác, cán bộ các cấp Việt Nam từ trước đến nay cũng nổi tiếng về việc nhận hối lộ. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các dự án của Việt Nam đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc: tiền “bôi trơn” và “lại quả” của họ cao.

Thứ hai, người ta thành thực tin là Trung Quốc tốt, là Trung Quốc sẽ không bao giờ đánh Việt Nam, do đó, người ta không cần phải cảnh giác hay lo lắng gì trong các quan hệ với Trung Quốc cả. Sự tin tưởng này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả của công tác tuyên truyền của đảng Cộng sản và chính quyền trung ương vốn tập trung vào khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng” lúc nào cũng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ sau vụ giàn khoan HD-981 đến nay, các khẩu hiệu này ít được nhắc nhở, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dám nói thẳng Trung Quốc là một sự đe doạ lớn đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo. Tin tức về các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như các hành động ngang ngược của Trung Quốc như truy đuổi các thuyền đánh cá Việt Nam ngay trong hải phận của Việt Nam ít được đề cập. Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vẫn là hình ảnh Trung Quốc như một đối tác chiến lược gần gũi của Việt Nam. Dưới ảnh hưởng của việc tuyên truyền như thế, một số người Việt Nam, kể cả các viên chức cán bộ, từ trung ương xuống địa phương, nghĩ sai về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó, đâm ra bất cẩn trước âm mưu bá quyền của Trung Quốc không có gì là khó hiểu.

Thứ ba, người ta không tin cũng không bị mua chuộc, nhưng người ta mặc kệ, coi đó là chuyện của người khác, không dính líu gì đến mình cả. Có lẽ đây là tâm trạng khá phổ biến ở Việt Nam. Trong những người bạn ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi tiếp xúc, nhiều người hiểu rất rõ những nguy cơ đến từ Trung Quốc nhưng khi nhìn thấy giới lãnh đạo bất động, họ cũng không quan tâm, xem việc Việt Nam rơi vào quỹ đạo thống trị của Trung Quốc là chuyện đã rồi và không thể đảo ngược được. Từ bất cần, nếu có chút quyền hành, họ cũng trở thành bất cẩn.

Dù vì bất cứ lý do gì, những sự thiếu cảnh giác như thế cũng là một điều rất đáng ngạc nhiên. Một trong những truyền thuyết cổ và phổ biến nhất của Việt Nam, chuyện Mỵ Châu và Trọng Thuỷ, đã đặt vấn đề cảnh giác trong quan hệ với Trung Quốc. Những năm chiến tranh, mặc dù quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Quốc vẫn còn êm thắm, Tố Hữu vẫn nhớ bài học ấy và từng nhắn nhủ:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Sự bất cẩn hay thiếu cảnh giác của chính quyền Việt Nam hiện nay chắc chắn không phải vì chuyện “trái tim lầm chỗ để trên đầu”. Nhưng nếu không phải “trái tim” thì là cái gì? Theo tôi, không chừng chỉ có tính ích kỷ và sự ngu dốt.

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [1]

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [1]

pobrane

Các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam từ ngày đảng hình thành cho tới nay đã ảnh hưởng tới đất nước và dân tộc ta ra sao.
Trước hết nói về nhân vật

Hồ Chí Minh

Sinh ngày 19-5-1890, mất 2-9-1969, là người sáng lập đảng CS Việt Nam và đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại Hà Nội. Hồi nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, tự Tất Thành, đỗ bằng tiểu học năm 1909, năm thứ hai trung học bị đuổi, năm 1910 đến Phan Thiết dậy chữ Hán và chữ quốc ngữ, năm 1911 vào Sài Gòn học trường Bá nghệ ba tháng, trường này đào tạo nhân công hàng hải.
Ngày 5-6-1911 Thành sang Pháp, xin làm bồi trên tầu buôn Latouche-Tréville, tháng 7-1921 tới Pháp. Nguyễn Tất Thành xin học trường Thuộc địa nhưng bị từ chối. Từ năm 1912-1913, Thành sang Mỹ sau đó sang Anh làm nghề cào tuyết, phụ bếp, học tiếng Anh tại đây cho tới năm 1916, cuối năm 1917 về lại Pháp và ở đó cho tới 1923. Năm 1919 Thành gia nhập đảng Xã hội Pháp, lấy tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920 đọc luận cương của Lénine, tin tưởng chủ nghĩa Cộng Sản rồi làm báo Le Paria, Người Cùng Khổ tố cáo chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

Năm 1922 Nguyễn Ái Quốc đến Nga tham dự Đại hội quốc tế Cộng Sản, tháng 6-1923 ông theo học CS tại Nga, năm 1924 được bầu vào Ban chấp hành đoàn quốc tế nông dân và được cử làm Ủy viên ban phương đông. Năm 1924-1927 Nguyễn Ái Quốc sang Tầu lấy tên Lý Thụy, có nhiệm vụ tuyên truyền tư tưởng cách mạng ra vùng Đông phương. Năm 1925 ông tập hợp người Việt kiều tại Trung Hoa thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chính phủ Tưởng Giới Thạch khủng bố các đảng viên CS Tầu, VN nên Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Hương Cảng rồi thoát sang Nga, tháng 11-1927 được cử đi Pháp.

Năm 1928-1929 Nguyễn Ái Quốc ở Thái Lan, năm 1928 ông cải trang thành nhà sư để tuyên truyền cho các Việt kiều tại đây, cuối năm 1929 ông lại sang Tầu. Ngày 3-2-1930 tại Cửu Long thuộc Hương Cảng, theo chỉ thị của Quốc tế CS, ông thống nhất ba tổ chức CS thành đảng CS Việt Nam, sau đổi thành Đảng CS Đông Dương rồi đổi thành Đảng Lao Động VN. Tháng 3-1930 ông sang Thái rồi lại sang Tầu. Năm 1931 lấy tên Tầu Tống Sơ Văn (Sung Man Cho), bị chính quyền Hương Cảng bắt giam, họ tính giao lại cho Pháp nhưng nhờ luật sư Frank Loseby bào chữa được thả ra ngày 28-12-1932, ông đi Thượng Hải rồi trở lại Nga.

Nguyễn Ái Quốc đến Nga lần thứ hai mùa xuân năm 1934 với bí danh Lin, theo học trường Quốc tế Lénine (1934-1935), tham dự Đại hội VII Đệ tam quốc tế với vai trò quan sát viên. Năm 1938 ông bị Nga giam lỏng, bị nghi ngờ vì được Hương Cảng trả tự do nhưng không có bằng cứ nên lại được thả ra. Trong giai đoạn này Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập lần lượt làm Tổng bí thư Đảng CS Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc giữ nhiệm vụ liên lạc viên giữa Quốc tế CS và đảng CS Đông Nam Á.

Năm 1938, ông trở lại Tầu vai Thiếu tá Hồ Quang thuộc Bát Lộ Quân (Lộ quân thứ 8) cho tới năm1939. Đầu tháng 1-1941 Ủy viên Trung ương đảng sang Tầu mời ông về nước lãnh đạo cách mạng, về VN ngày 28-1-1941 qua lối Cao Bằng, lấy bí danh Già Thu tới ở hang Bắc Bó Cao Bằng. Ngày 13-8-1942 ông lấy tên Hồ Chí Minh sang Tầu vận động Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, lần đầu tiên xử dụng tên HCM trong giấy tùy thân. Hai tuần sau bị chính quyền địa phương bắt giam một năm, ông viết Nhật ký trong tù, ngày 10-9-1943 HCM được thả nhờ người Mỹ vận động với Quốc dân đảng Trung Hoa, HCM tham gia Ban chấp hành trung ương VN cách mệnh đồng minh hội.

Cuối tháng 9-1944 Hồ Chí Minh về nước thành lập đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân 34 người. Cuối 1944 ông trở lại Côn Minh cho tới đầu 1945 và gặp Tướng Mỹ Chennault tại đây, ông này sẵn sàng giúp Việt Minh. Họ muốn dùng VM chống Nhật giải cứu cho các phi công Mỹ, cung cấp tin tức tình báo, đổi lại Mỹ giúp họ vũ khí, thuốc men, huấn luyện…

Tháng 7-1945 Hồ Chí Minh bị sốt rét rất nặng tưởng chết, toán OSS (US Office of Strategic Servieces) đã giúp chữa bệnh cho ông, bác sĩ quân y tên Paul Hogland đã ở đó 2 tháng và cứu sống họ Hồ.

Ngày 16-8-1945 Tổng bộ VM họp tại Tân Trào cử Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 15-8-1945 Nhật đầu hàng Đồng minh, Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 7-8 vì bất lực, chính phủ không có quân đội. Khi ấy tình hình trong nước rất lộn xộn. Việt Minh tổng khởi nghĩa cướp chính quyền 19-8, ngày 22-8 họ gửi điện văn vào Huế yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã cướp được chính quyền. Ngày 25-8-1945, nhà vua đọc bản tuyên ngôn thoái vị trước cửa Ngọ môn lâu.

Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Họ Hồ có cho viên chỉ huy OSS biết là ông theo chủ nghĩa Lénine, tham gia đảng CS Pháp, gia nhập Đệ tam Quốc tế vì họ có quan tâm vấn đề thuộc địa. Người Mỹ cho rằng HCM là CS bù nhìn của Moscow, tới cuối tháng 9-1946 họ rút hết cố vấn Mỹ về nước chấm dứt mọi liên lạc với Việt Minh.

Võ Nguyên Giáp thay mặt HCM giải tán các đảng phái rồi tàn sát họ đẫm máu, ngày 23-9-1945 Pháp tấn công Sài Gòn, ngày 6-1-1946 tổng tuyển cử bầu Quốc hội. QH khóa I cử ra chính phủ kháng chiến do HCM làm chủ tịch nước VN Dân chủ Cộng hòa vừa là Thủ tướng, về đối ngoại không được quốc gia nào công nhận. Vì bị các đảng phái tố cáo HCM, Việt Minh là CS nên tháng 11-1945 ông cho giải tán Đảng CS Đông Dương (giả vờ) và nhượng bộ đối lập Việt Cách, Việt Quốc 70 ghế tại Quốc hội mà không qua bầu cử.

Đầu năm 1946, Pháp bắt đầu thương thuyết với chính phủ Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh để được thay thế quân Tầu giải giới Nhật tại miền Bắc, sau đó thương thuyết với Việt Minh. Đầu tháng 3-1946 Tướng Leclerc cho đổ bộ lên Hải Phòng, VM ký với Pháp Hiệp định sơ bộ thuận cho Pháp vào BV. Họ mượn tay Pháp để đuổi Tầu về nước (1) và củng cố nội bộ, tiêu diệt các đảng phái quốc gia không CS. Theo tờ tường trình của Tướng Leclerc gửi chính phủ Pháp ngày 27-3-1946 thì tính tới cuối năm, VM đã thủ tiêu, giết hại tổng cộng khoảng 50,000 người (2). Đảng CS đã bắt đầu nhúng tay vào máu của dân tộc VN, Giáp được Pháp giúp đỡ cho tấn công các đảng phái QG, phái Troskist, Công giáo…

Cuối tháng 5-1946, HCM và Phạm Văn Đồng sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Hội nghị thất bại, HCM ở lại ký bản tạm ước với Bộ trưởng thuộc địa Pháp Moutet. Tại Hà Nội hai bên ngày càng căng thẳng, tối 19-12-1946 Việt Minh tấn công quân Pháp mở đầu cho cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ. Tháng 2-1947 VM rút lên Việt Bắc, sang năm 1948, Pháp mở rộng vùng chiếm đóng tại Quảng Yên, Kiến An, Hà Đông, Ninh Bình, Sơn Tây và Việt Trì. VM chỉ hoạt động du kích, quấy phá đồn bót, phục kích công voa.

Sang năm 1949, tháng 7 tới tháng 9 Pháp mở các cuộc hành quân chiếm Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phát Diệm và Bùi Chu. Từ giữa và cuối 1949, Trung Cộng thắng thế tại Hoa lục, tình hình biến chuyển. Bernard Fall nói khi Trung Cộng tiến sát biên giới Việt Hoa tháng 11-1949 thì chương I của chiến tranh Đông Dương đã được đóng lại, người Pháp không còn cơ hội chiến thắng (3). Năm 1950 gió đã đổi chiều khi Trung Cộng chiếm trọn vẹn nước Tầu. VM được họ tiếp tế vũ khí đạn dược ồ ạt và huấn luyện tại biên giới. Trung Cộng giúp VM thành lập hai sư đoàn đầu tiên 304, 308 bằng kết hợp các trung đoàn chủ lực tại BV và Trung Việt. VM đã đủ mạnh và bước sang giai đoạn cầm cự.

Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận lớn đầu tiên mà họ gọi là chiến thắng Cao Bắc Lạng. Tại trận này quân Pháp rút bỏ Cao Bằng bị chận đánh tan nát, thiệt hại khoảng 7,000 người và nhiều kho vũ khí, trận đánh rung động cả nước Pháp, không ngờ VM có thể mạnh đến thế. Sự hình thành, bành trướng lớn mạnh cũng như sống còn của VM không phải vì họ cướp được chính quyền tháng 8-1945, không phải nhờ tài lãnh đạo siêu việt của họ Hồ… mà nhờ Mao đã chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Sự kiện CS Tầu thắng thế họ Tưởng đã thay đổi khúc quành lịch sử tại Đông Dương, hơn thế nữa nó còn ảnh hưởng tới cả thế giới từ đó cho tới tận ngày hôm nay. Tháng 1-1951 Trung Cộng giúp VM thành lập được 5 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn pháo binh.

Thời cơ đã tới cho họ Hồ, nếu Mao bị Tưởng đánh bại những năm 1946, 47…thì số phận của VM cũng sẽ tàn lụi theo vì không có sự giúp đỡ của CS Tầu

Tết Canh Dần 1950 HCM sang Tầu, sang Nga, tại Đại hội đảng II giữa tháng 2-1951, đổi tên đảng CS Đông Dương thành đảng Lao động VN, tại Đại hội này, đảng Lao Động khởi xướng cải cách ruộng đất, xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt bọn bóc lột, phản quốc, phản động, địa chủ, Việt gian, cường hào, đối lập…để nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ tháng 1-1952 họ Hồ gửi bản chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động VN cho Staline để “Đề nghị duyệt xét và chỉ dẫn”, HCM cho biết chương trình hành động do chính ông và được Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ. Cải cách ruộng đất được phát động cuối năm 1953 (tại hậu phương do VM kiểm soát) sau 1954 được tiếp tục lại năm 1956, 1957 tại miền Bắc giết hại trên một trăm nghìn người, đầu năm 1956 khởi sự sửa sai, HCM khóc lóc nhận sai lầm.

Tình hình quân sự do HCM lãnh đạo, Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã đạt nhiều thắng lợi nhờ viện trợ và huấn luyện của Trung Cộng. Sau trận Cao Bắc Lạng tháng 10-1950, mấy tháng sau Tướng De Lattre được Pháp cử sang làm Tư lệnh Đông Dương. Ông đã đánh thắng Võ Nguyên Giáp nhiều trận lớn, chuyển bại thành thắng, nhưng De Lattre chỉ chiến đấu được gần một năm thì bị bệnh nặng phải về Pháp. Từ đầu 1952, Tướng Salan lên thay khi VM ngày càng mạnh, nhờ viện trợ Trung Cộng. Giữa năm 1953 Tướng Navarre, Tư lệnh mới cho biết những năm 1953, 1954 quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp (4). Trận Điện Biên Phủ kéo dài từ ngày 13-3 tới ngày 7-5 thì thất thủ, 11 ngàn quân Liên Hiệp Pháp bị bắt làm tù binh, trên 2,000 bị giết chưa kể trên 2,000 mất tích, VM thiệt hại khoảng 10,000 người. Họ thắng trận nhờ viện trợ tiếp liệu ồ ạt từ Hoa Lục sang.

Cuộc chiến tám năm khói lửa (1946-1954) giành độc lập của họ Hồ đã gây lên cảnh núi xương sông máu: khoảng 300,000 thanh niên tử trận, 500,000 bị thương, 150,000 người thường dân thiệt mạng. Quân đội Liên hiệp Pháp có 75,500 người tử trận, Quân đội QGVN có 419,000 người gồm cả chết, bị thương và bị bắt (5). Miền Bắc đã trở thành bãi chiến trường, nhiều thành phố, tỉnh lỵ trung du, đồng bằng hoang tàn vì bom đạn.

Hai bên đều mệt mỏi, ngày 20-7-1954 Pháp và Việt Minh ký kết Hiệp định Genève chia đôi đất nước, quân Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam rút về miền nam dưới vĩ tuyến 17, thời hạn vào nam ra Bắc được ấn định 300 ngày. Tại các thành phố lớn Hà Đông, Hà Nội, Hải Dương…nhiều nhà đã lên đường vào nam.

Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, tại các đình làng người ta tổ chức hội hè, ảnh Hồ chủ tịch treo ở giữa, hình Mao chủ tịch và đồng chí Ma Lăng Cốp treo ở hai bên, thanh niên, thiếu nữ nhảy múa hát sol đố mì….Khi cuộc di cư bắt đầu, tại các làng mạc người dân thường chọn ở lại trong khi dân tỉnh lên máy bay tại Hà Nội hoặc xuống Hải Phòng lên tầu vào nam. Mấy tháng sau khi Việt Minh về tiếp thu, Hà Đông Hà Nội đã y như thành phố chết, vắng tanh vắng ngắt. Tại miền quê chính sách thuế nông của VM đã làm người dân tuyệt vọng, thật là khủng khiếp, chính phủ đánh thuế cao gấp mười lần thời Quốc gia nên nhiều gia đình trung lưu không còn đường nào khác là ra đi. Rất nhiều người sống ở hậu phương muốn vào nam nhưng điều kiện khó khăn đã khiến họ phải ở lại. Muốn đi nam phải xuống Hải Phòng, muốn đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng phải có giấy thông hành, chỉ có một số ít người xin được giấy của bà con ở Hà Nội về cạo sửa làm giấy giả để lên tầu hỏa xuống Hải Phòng rồi vào Nam. Tổng cộng có khoảng gần một triệu người di cư vào nam, nếu thời hạn di cư kéo dài thêm thì số người ra đi còn tăng hơn nhiều.

Khoảng giữa năm 1955, khi cuộc di cư kết thúc, bác Hồ xuống Hải phòng khóc than đồng bào đã hiểu lầm và bỏ xứ ra đi. Thập niên 60, HCM giảm dần các hoạt động chính trị, ông hay sang Tầu tham quan, chữa bệnh nhất là những năm 1967, 1968, 1969 ông đau nặng sang Tầu nhiều lần. Từ năm 1963 HCM tuyên bố sẽ bàn giao cho Lê Duẫn chỉ còn giữ vai trò tượng trưng, quyền lực dần dần vào tay Duẫn. Nhờ người phụ tá đắc lực Lê Đức Thọ mà Duẫn tạo dựng uy quyền tối thượng tại BV.

Một số người Tây phương (Pierre Asselin) cũng như Nguyễn thị Liên Hằng (tác giả Hanoi’War) có nhận định cho rằng Duẫn đã cô lập Hồ, Giáp và các đồng minh của họ để chiếm quyền lực tuyệt đối. Tôi nghĩ chuyện này khó tin vì mọi người đều rõ Hồ chí Minh là tay lưu manh chúa cả thế giới đều biết, chẳng lẽ lại chịu để bọn em út Duẫn, Thọ soán ngôi dễ dàng như vậy. Nếu nói là HCM thiếu sức khỏe nhường địa vị cho Duẫn, Thọ như dư luận phía CS cho biết thì còn tin được.

Trên thực tế các quyết định, kế hoạch lớn vẫn cần HCM chỉ đạo, phê duyệt (thí dụ hòa đàm Paris) vì ông vẫn là Chủ tịch đảng (1951-1969), sau khi HCM chết, không ai được cử thay thế chức vụ này. Nhiều người Mỹ hiểu sai về tình hình chính trị đảng CSVN, cựu Tổng thống Nixon năm 1985 nói về sự sai lầm của TT Johnson những năm 1965, 1966,1967 :

“Chúng ta cần biết là không bao giờ dụ dỗ, mơn trớn Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến mà phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (No More Vietnams trang 82).

Sự thực trong những năm này HCM đã giao quyền cho Lê Duẫn. HCM mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội. CSVN tạo nhiều huyền thoại ca tụng HCM, ông là nhà văn, nhà thơ, nhà cách mạng, biết nhiều thứ tiếng…Thời kỳ kháng chiến, Việt Minh lưu truyền một bài thơ Hán văn dưới đây mà họ nói là của bác (báo Sài Gòn thập niên 60 có cho đăng lại).

Thu dạ
Dạ bán canh thâm tiệm đắc nhàn
Thu phong thu vũ báo thu hàn
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng
Du kích qui lai tửu vị tàn.

(tôi xin dịch xuôi: 
Đêm Thu
Nửa đem canh khuya ta tạm được chút nhàn 
Gió thu, mưa thu báo cái lạnh của mùa thu tới
Bỗng nghe tiếng sáo thu từ sườn núi bên kia vọng lại
Quân du kích trở về khi chén rượu (tiễn) chưa tàn)

Chẳng biết bài thơ có phải do bác làm hay không nhưng nội dung thật là giả tạo, trận chiến tàn khốc máu chẩy thịt rơi được diễn tả thật thi vị y như cảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt đời nhà Đường.

Có dư luận nói CSVN bắt chước như khỉ, thấy ngưới ta lấy tên lãnh tụ Lénine đặt tên thành phố Saint Petersburg là Leninegrad cũng đặt tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Thấy người ta ướp xác Lénine tại quảng trường đỏ cũng ướp xác họ Hồ tại quảng trường Ba Đình, thật là gớm ghiếc. Nay bên Nga họ đang nghiên cứu đưa xác Lénine đem chôn vì việc bảo quản tốn kém và dơ bẩn. Cái xác chết đúng lý phải đem chôn lại trưng bầy cho thiên hạ tới ngắm, rất phản văn minh phản tiến bộ. Thấy người ta dựng tượng cũng bắt chước dựng tượng khắp nơi, nay toàn quốc đang lên cơn sốt tượng đài. Dân còn nghèo, lợi tức đầu người đứng thứ 138 trên thế giới mà đã xây khoảng 140 tượng HCM, CSVN dự trù trong năm nay sẽ cho xây thêm nhiều tượng cho đủ con số 200. Sơn La đang lên kế hoạch xây tượng HCM với chi phí 65 triệu đô la, xây tượng, xây cầu.. chẳng qua chỉ là để kiếm chác đục khoét công quĩ nhà nước.

Ngày nay tại VN nhiều chùa quốc doanh thờ tượng Hồ Chí Minh bên tượng Phật, cái trò khỉ này bị coi là xúc phạm, Đức Phật là đấng từ bi không giết đến một con giun, con kiến phải ngồi chung với kẻ sát nhân. Nhiều người miền Bắc cho tới nay vẫn còn bị ảnh hưởng tuyên truyền nhồi sọ về HCM, ngay cả đảng viên phản tỉnh trốn ra nước ngoài vẫn còn khen ngợi, ca tụng HCM, thậm chí họ còn nói CSVN nay đi sai đường của bác.

Tư tưởng HCM thực ra chỉ là sự cóp nhặt tư tưởng Mác Lê, bác trình độ tiểu học lấy đâu ra tư tưởng. Nhiều nhà sử gia Mỹ khen ông HCM là nhà ái quốc, họ khen cho vui thôi thực ra họ thừa biết ông ta là tay sai Đệ Tam Quốc tế, vả lại lời nói chẳng mất tiền mua, họ có mất vốn mất lãi gì đâu?

Hồ Chí Minh là Chủ tịch đảng kiêm Chủ tịch nhà nước như Lénine của Sô Viết, ông ta là Chủ tịch đảng duy nhất của CSVN (18 năm 195 ngày), sau khi HCM chết, người đứng đầu đảng được mệnh danh là Tổng bí thư hay Bí thư thứ nhất, Chủ tịch đảng chỉ dành riêng cho HCM, một chức vị danh dự.

Lê Duẩn

Giữ chức vụ Bí thư thứ nhất đảng Lao động VN từ 1960-1976, Tổng bí thư đảng CSVN từ 1976-1986. Duẩn là người giữ chức Tổng bí thư lâu nhất 25 năm, người có uy quyền cao nhất của CSVN như Tập Cận Bình, Đặng Tiểu Bình bên Tầu. Năm 1954, khi Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội người ta chỉ nghe nói tới bốn nhân vật chủ chốt Hồ, Giáp, Chinh, Đồng và một số sĩ quan cao cấp Thiếu tướng văn tiến Dũng, Đại tá Vương Thừa Vũ… khi ấy Lê Duẫn, Lê Đức Thọ hoàn toàn vô danh, không ai biết tới
Duẩn sinh ngày 7-4-1907 tại Quảng Trị trong một gia đình nông dân, mất ngày 10-7-1986. Năm 1920 học hết tiểu học, Duẫn học hết năm thứ nhất trung học (đệ thất) rồi nghỉ. Năm 1926 làm nhân viên sở hỏa xa, bẻ ghi đường rầy xe lửa Đà nẵng. Năm 1930 Duẫn gia nhập đảng CS Đông Dương, năm 1931 là ủy viên tuyên huấn Bắc kỳ, tháng 4-1931 bị Pháp bắt ở Hải Phòng kết án 20 năm tù.

Năm 1939 Lê Duẩn được bầu vào Ban thường vụ trung ương đảng, năm 1940 bị Pháp bắt đầy ra Côn đảo án tù 10 năm, đến 1945 được đón về, năm 1946 làm việc bên Hồ Chí Minh. Từ 1946-1954 ông được cử làm Bí thư xứ ủy Nam bộ, sau này là Trung ương cục miền nam, Chính ủy bộ tư lệnh nam bộ. Năm 1951 Lê Duẫn được vào Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) và Bộ chính trị trong kỳ Đại hội đảng lần 2. Năm 1952 ra Việt Bắc họp Trung ương đảng được Hồ Chí Minh giữ lại làm phụ tá tới đầu năm 1954, được cử làm quyền bí thư Trung ương cục miền nam.

Năm 1954-1957 ông được phân công ở lại miền nam lãnh đạo, HCM chọn Duẫn vì ông ta nắm vững đường lối trung ương am hiểu địa thế. Tới 1957 HCM gọi Lê Duẫn ra Hà Nội gấp để có thể điều hành công việc chung của đảng. Tháng 9-1960 tại Đại hội toàn quốc lần thứ III, Duẫn được bầu vào BCHTƯ và Bộ chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất BCHTƯ đảng. Từ 1960 theo một số nhận định HCM sức khỏe yếu, Lê Duẫn trở thành người có quyền hành cao nhất.

Đại hội toàn quốc lần thứ IV tháng 12-1976 và lần thứ V tháng 3-1982, Duẩn tiếp tục được bầu giữ chức Tổng bí thư cho tới chết, tại Đại hội V, Lê Duẩn sức khỏe yếu, Ban chấp hành giao một số việc cho Trường Chinh. Lê Duẫn lên nắm quyền và tiếp tục theo đuổi cuộc chiến mà HCM giao lại qui mô hơn, đẫm máu hơn. Tác giả Nguyễn thị Liên Hằng cách đây mấy năm xuất bản cuốn Hanoi’s war, ý nói cuộc chiến này do Hà Nội phát động. Tôi nghĩ nó không hoàn toàn đúng, nếu nói cuộc Thế chiến thứ II tại Châu Âu do Bá Linh phát động hay cuộc Thế chiến tại Á châu do Đông Kinh chủ trương thì hoàn toàn đúng vì họ tự làm được vũ khí, tự quyết định được. Hà Nội không tự làm được vũ khí, họ phải xin viện trợ quân sự của Nga, Trung Cộng, phải được CS quốc tế chấp thuận nên họ không tự ý phát động cuộc chiến được.

Sở dĩ CS quốc tế chấp thuận viện trợ cho BV một số hàng khổng lồ tổng cộng 2 triệu 362 ngàn tấn hàng hậu cần và vũ khí (6) vì BV là một quân tốt quá lợi hại, là mũi nhọn xung kích của CS quốc tế để làm suy yếu đế quốc. BV có lẽ là quân tốt của CS quốc tế hơn là một cường quốc quân sự.

Những năm cuối thập niên 50 VC bắt đầu đánh du kích và ám sát trưởng ấp, xã trưởng, thập niên 60 họ cho xâm nhập các cán bộ tập kết, năm 1961 Việt Cộng gia tăng lực lượng tới 25,000 cuối năm 1961. TT Kennedy cho tăng quân số VNCH lên 200,000 người, năm 1962 viện trợ cho VNCH ba đại đội trực thăng H-21, 16 phi cơ vận tải C-123, hai chi đoàn thiết giáp M-113 (7) …
Việt Cộng bị bao vây tiêu diệt dần dần, quân đội VNCH nhờ chiến thuật, vũ khí mới đã đạt thắng lợi năm 1962. Năm 1964, lợi dụng tình hình chính trị miền Nam xáo trộn, Lê Duẫn cho gia tăng xâm nhập cán binh, tiếp liệu. Giữa năm 1965 trung bình một tuần VNCH mất một quận và một tiểu đoàn, TT Johnson vội đưa quân sang ngăn chận CS, cho tới 1968 đã có tới nửa triệu quân Mỹ tại miền nam. BV gia tăng xâm nhập, cuộc chiến mở rộng. Vì sự sai lầm của Johnson đem áp dụng chiến tranh giới hạn (limited war) vào VN kéo dài cuộc chiến khiến phong trào chống đối ngày càng lên cao. Trận Mậu thân 1968 là thảm bại quân sự của BV nhưng lại là thảm bại chính trị cho Johnson. Người Mỹ thua tại mặt trận đất nhà mặc dù trong những năm 1965, 1966, 1967.. đã tiêu diệt được hàng mấy trăm ngàn tên địch.

Lê Duẩn áp dụng triệt để chiến lược cố đấm ăn xôi đẩy thanh niên vào chỗ chết khiến người dân và Quốc hội Mỹ quá chán chiến tranh Đông Dương. Họ đã áp lực tân Tổng thống Nixon rút quân ký Hiệp định Paris tháng 1-1973, để rồi Quốc hội Dân chủ cắt giảm dần viện trợ quân sự cho VNCH, tới tháng 2-1975 quân đội miền nam chỉ còn đủ đạn chiến đấu trong vòng một tháng (8). Sài Gòn thất thủ ngày 30-4-1975, cuộc chiến giải phóng miền nam của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ thực ra chỉ là một cuộc ăn cướp vĩ đại như nhận xét của ông Bùi Tín.

Tiếp tục sự nghiệp binh đao máu lửa của sư phụ, Lê Duẩn lãnh đạo một cuộc chiến dài đằng đẵng bắt đầu từ cuối thập niên 50 cho tới cuối thập niên 80. Mấy năm sau cuộc chiến cốt nhục tương tàn 1975, cuối thập niên 70 khởi đầu cuộc chiến giữa các chế độc Cộng Sản. Dưới thời Lê Duẫn, chiến tranh loạn lạc liên tu bất tận khiến nhân dân khốn khổ trăm bề.

Rạn nứt giữa Bắc Kinh và Hà Nội khởi đầu từ 1968, Lê Duẩn có khuynh hướng thân Nga và đụng chạm với Trung Cộng. Hai bên bất đồng quan điểm, Bắc Kinh muốn CSVN dùng chiến tranh du kích có giới hạn nhưng Duẫn và tập đoàn của ông muốn đánh qui ước để sớm chiếm được vựa lúa miền nam. Hà Nội muốn nói chuyện trực tiếp với Mỹ tại Paris bắt đầu tháng 5-1968 mà Trung Cộng phản đối cuộc hòa đàm này. Tới năm 1972 khi Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông thì bị BV cho là phản bội cách mạng, từ năm 1973, giới lãnh đạo Bác Kinh cho biết CSVN là kẻ thù. Năm 1975 Lê Duẫn sang Tầu từ chối liên minh với Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Hà Nội càng thân Nga, Tầu đỏ càng sợ bị cô lập, tháng 7-1978, Trung Cộng cắt hết viện trợ, rút cố vấn về nước.
Ngày 3-11-1978 Hà Nội ký Hiệp ước hữu nghị với Nga về thương mại văn hóa và cả quốc phòng, an ninh hai nước để phòng thủ chung khiến Bắc Kinh lo ngại thế gọng kìm Nga phương Bắc và CSVN phương nam. Tháng 4 và tháng 9- 1977 Khmer đỏ được Bắc Kinh giúp đỡ khuyến khích đã tấn công vào lãnh thổ VN bằng các sư đoàn chính qui, đốt phá làng mạc, giết hại dân lành. CSVN cũng cho quân đánh sâu vào đất Miên rồi rút lui, cuối 1978 Pol Pốt huy động hàng trăm ngàn ngưới tấn công toàn biên giới, CSVN sau cùng huy động 6 quân đoàn (khoảng 15 sư đoàn,180,000 quân) gồm cả pháo, xe tăng, máy bay… Từ đầu tháng 12-1978 cho tới cuối tháng 3-1979 CSVN đã chiếm đươc gần hết lãnh thổ Miên và thành lập chính quyền mới, cho tới tháng 12-1989 thì rút khỏi Khmer theo điều kiện của Mỹ để được bãi bỏ cấm vận và bang giao. Theo dữ kiện phía CS cho biết có khoảng 15,000 quân CSVN bị giết, 30,000 người bị thương phía Khmer đỏ có hàng trăm nghìn bị tử thương chưa kể thường dân.

Trung Cộng đã khiêu khích biên giới từ lâu nay yêu cầu Hà Nội phải rút khỏi Miên nếu không sẽ đánh thẳng vào VN. Ngày 17-2-1979 họ đưa khoảng từ 300 ngàn tới 500 ngàn quân tấn công trên toàn biên giới, chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng và một số thị trấn khác rồi rút quân một tháng sau vào ngày 16-3. Tổn thất nhân mạng mỗi bên khoảng 20,000 người. Cuộc chiến đã để lại nhiều ảnh hưởng lâu dài với kinh tế VN, cuộc xung đột còn kéo dài hơn 10 năm nữa.

Lê Duẩn người nắm quyền tuyệt đối của Hà Nội đã gây nên nhiều cuộc chiến trong mấy chục năm sau Hiệp định Genève, đồng thời tập đoàn của ông ta đưa ra đường lối sai lầm về kinh tế. Hậu quả của các cuộc chiến tranh liên miên đưa tới khủng hoảng về kinh tế, đời sống. Từ 1976 tới 1986 CSVN bị cô lập, ông Trần Văn Thọ (Giáo sư Đại học Waseda, Đông Kinh) nói về kinh tế thời Lê Duẩn: mười năm sau năm 1975 là một giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử VN. Là một nước nông vi bản, 80% là dân quê, thiếu ăn phải ăn độn bo bo, khoai sắn từ 1976 tới 1979. Lương thực theo đầu người giảm  liên tục từ 1976 tới 1979, sau đó có tăng trở lại nhưng cũng không bằng 1976. Sản xuất công nghiệp đình trệ, vật dụng thiếu, nhân dân vô cùng khốn khổ. Nguyên nhân chính do sai lầm trong chính sách phát triển nhất là vội vã áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa vào kinh tế miền nam. Nguy cơ thiếu ăn kéo dài cho tới thời kỳ đổi mới cuối năm 1986 mới biến chuyển. Tổng sản lượng trong 10 năm trước ngày đổi mới (1976-1986) chỉ thăng 35% (trung bình một năm 3,5%) trong khi dân số tăng 22%, lợi tức đầu người chỉ tăng khoảng 1%. Việt Nam trong khoảng thời gian này được xếp trong số 10 nước nghèo đói nhât thế giới.

Áp dụng mô hình Xã hội chủ nghĩa, một lý thuyết kinh tế mọi rợ từ một xã hội bán khai vào một đất nước tân tiến như miền nam VN thất bại không có gì khó hiểu. Nó cho thấy Lê Duẫn và tập đoàn ấu trĩ lạc hậu là nhường nào, Lê Duẩn một con người thất học và độc đoán, nắm mọi quyền lực trong tay đã tàn phá đất nước và đầy đọa dân tộc ta như thế nào.

Lê Duẫn nói
“Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta”

Xin hãy nghe nhà lãnh đạo học lực tiểu học phát biếu vào dịp Tết 1976 như sau:

“Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh”

Câu nói này của Duẫn chỉ khiến cho dân Sài Gòn cười bể bụng, những cái mà ông ta hứa hẹn họ đã có từ trên mười năm trước
Mồng một Tết 1976, Duẫn về thăm quê tại làng Hậu Kiên, Quảng Trị nói:

“Mồng 1 tết mà tôi đến thăm nhà nào cũng thấy luộc sắn. Bà con ta còn nghèo quá! Trong đời hoạt động cách mạng, tôi đã chịu nghèo khổ, nhưng bây giờ đất nước đã được thống nhất, phải lo làm sao để cho dân giàu lên. Phấn đấu để đồng bào ta, các ông bà già, trẻ con mỗi bữa có một quả trứng, một cốc sữa mà rất khó.”

Thật là ghê tởm cho cái phản văn minh, phản tiến bộ mà Duẩn đem lại cho đất nước.

Được Hồ Chí Minh gọi về Bắc và giúp cho lên giữ chức Bí thư thứ nhất thay thế Trường Chinh năm 1957, Lê Duẫn dần dần trở thành nhân vật số một của chế độ. Duẫn phạm nhiều tội ác với dân tộc VN gấp bội lần HCM, cuộc chiến mà ông ta ngoan cố tiến hành vĩ đại hơn và tàn phá đất nước gấp mười lần cuộc chiến tám năm khói lửa của họ Hồ. Duẫn đã biến VN trở thành quân tốt quá lợi hại của CS quốc tế, đã làm đổ quá nhiều xương máu của nhân dân ta qua ba cuộc chiến liên tục từ 1958 cho tới cuối 1989.
Theo tiết lộ mấy năm gần đây của ông Bùi Tín và một số cựu đảng viên, Lê Duẫn và đồng bọn đã chia chác nhau 18 tấn vàng lấy được từ Ngân hàng quốc gia VNCH năm 1975. Người ta cho biết nay không còn dấu tích gì của số vàng khổng lồ này.
May mà Duẫn chết bệnh để rồi chính sách đổi mới thay thế con đường mọi rợ độc đoán của một nhà lãnh đạo  vô học như ông ta đã kéo dài mấy chục năm đằng đẵng.

Trường Chinh

Tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9-2-1907 tại làng Hành Thiện, Nam Định, mất ngày 30-9-1988 tại Hà Nội. Trường Chinh đã hai lần giữ chức Tổng bí thư, ngoài ra ông giữ chức Chủ tịch nhà nước 1981-1987, Chủ tịch Quốc hội 1960-1981.

Năm 1954, khi Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, bốn nhân vật chính của đảng là Hồ Chí Minh Chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nhà nước, Võ Nguyên Giáp Tổng tư lệnh quân đội nhân dân, Trường Chinh Tổng Bí Thư đảng, Phạm Văn Đồng Phó thủ tướng, trong đó Trường Chinh được coi là nhân vật số hai của chế độ. Trường Chinh viết sách báo tuyên truyền cho Việt Minh như một lý thuyết gia của chế độ nhưng thực ra tư tưởng của ông cũng không có gì mới lạ. Ông ta nổi tiếng ở chiến lược trường kỳ kháng chiến nhất định thành công.

Đặng Xuân Khu thuộc gia đình nho giáo, từ nhỏ đã học Tứ Thư, Ngũ Kinh, thơ Đường, lớn lên theo Tây học bậc thành chung (đệ nhất cấp sau này), vì tham gia chính trị nên bị đuổi học năm 1926. Năm 1927 Xuân Khu lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng thương mại, năm 1929 Khu vận động thành lập Đông Dương CS đảng và là một trong những đảng viên đầu tiên. Cuối năm 1930 bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù, năm 1936 được trả tự do. Tại hội nghị Trung ương khóa 7 họp tại Bắc Ninh tháng 11-1940, Trường Chinh được bầu vào Ban CHTƯ cùng được cử làm quyền Tổng bí thư thay thế Nguyễn văn Cừ. Tháng 5-1941 tại Hội nghị trung ương lần thứ 8 họp tại Cao Bằng, Trường chinh được bầu Tổng bí thư kiêm trưởng ban tuyên huấn Trung ương, năm 1943 bị Pháp xử tử hình khiếm diện.

Tháng 3-1945, ông triệu tập Hội nghị thường vụ trung ương xác định thời cơ tổng khởi nghĩa cướp chính quyền. Trong giai đoạn chuẩn bị cho Cách mạng tháng tám 1945, tại Hội nghị toàn quốc của đảng do Trường Chinh trụ trì, ông được giao phụ trách ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Cuối năm 1945, đảng CS Đông dương tự tuyên bố giải tán (giả vờ) và chuyển thành Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương do Trường Chinh làm hội trưởng.

Kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, ông viết một loạt bài nổi tiếng rất dài với tựa đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi” trên báo Sự thật năm 1947. Võ Nguyên Giáp nhận định bác Hồ là linh hồn của kháng chiến, Trường Chinh là người đề ra đường lối cụ thể, chỉ đạo cụ thể về lý luận. Năm 1951 tại Đại hội đảng lần thứ 2, đổi tên đảng là Đảng Lao động VN, ông lại được bầu vào Ban CHTƯ và giữa chức Tổng bí thư cho tới tháng 10-1956. Báo Cứu quốc đăng bài giới thiệu đánh giá: Hồ chủ tịch là linh hồn của cách mạng thì ông Trường Chinh là bàn tay điều khiển chỉ huy.

Năm 1951 đường lối cải cách ruộng đất được đưa ra trong báo cáo chính trị của Trường Chinh tại Đại hội lần thứ 2, thừa nhận những địa chủ không phản quốc có quyền công dân, quyền tài sản. Năm 1953Việt Minh chiếm ưu thế chiến trường, Trường Chinh được cử làm trưởng ban cải cách ruộng đất Trung ương. Cuộc cải cách ban đầu có kết quả, tịch thu tài sản của bọn phản quốc chia cho bần cố nông.

Sau khi kiểm soát được miền bắc, cuối năm 1954 do áp lực của các cố vấn Tầu, chiến dịch Cải cách ruộng đất được đẩy mạnh tới chỗ tàn bạo, đổ máu, bắn giết..khiến hơn một trăm ngàn người bị thiệt mạng. Trường Chinh phải chịu trách nhiệm và từ chức Tổng bí thư, sau đó ông đứng đầu công tác sửa sai. Năm 1958 Trường Chinh được bổ nhiệm Phó thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban khoa học nhà nước. Năm 1960 được bầu vào Ban CHTƯ, Ủy viên Bộ chinh trị, Chủ tịch quốc hội cho tới năm 1976. Sau khi chiếm được miền nam ngày 30-4-1975, Trường Chinh tuyên bố trên đài phát thanh:

“Nay nhà nhà ai nấy đều đã có cơm ăn áo mặc, trẻ em đều được cắp sách đến trường, đó là những thành quả của đảng ta mà qua lịch sử VN từ xưa tới nay chưa ai thực hiện được”

Không hiểu người miền Bắc nghĩ sao về lời nói của ông Chủ tịch quốc hội, người miền nam, dân Sà goòng nghe xong thì họ cười bể bụng!

Năm 1981 ông được bầu vào chức Chủ tịch hội đồng nhà nước, Chủ tịch hội đồng quốc phòng, ngày 14-7-1986 Trường Chinh được bầu làm Tổng bí thư thay thế Lê Duẫn chết bệnh.

Tháng 12-1986 tại Đại hội đảng lần thứ 6 ông rút khỏi các chức vụ quan trọng của đảng và nhà nước, làm cố vấn cho BCHTƯ đảng. Trường Chinh mất ngày 30-9-1988 thọ 81 tuổi. Người ta cho rằng Trường Chinh là người bảo thủ, phụ trách tuyên truyền nhưng chính ông là người phát động đổi mới nhường chỗ cho Nguyễn Văn Linh tại Đại hội 6. Ông ta nói trên truyền hình tôi và đồng chí Lê Đức Thọ xin không ghi danh ứng cử…

Trường Chinh là người tán thành đổi mới nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng 10 năm sau ngày chiếm được miền nam, Võ Văn Kiệt nói Trường Chinh là Tổng bí thư đổi mới. Các cán bộ cao cấp đánh giá Trường Chinh là người đóng góp nhiều cho sự nghiệp cách mạng, tạp chí Cộng sản nói Trường Chinh là Tổng bí thư đặt nền móng cho công cuộc đổi mới, ông được coi là người bảo thủ nhưng cuối đời quan điểm của ông thay đổi thành cấp tiến.

Thực ra theo lời một cán bộ trung cấp, giám đốc hồi hưu (tôi được tiếp xúc năm 1989) cho biết Gorbachov, Tổng bí thư CS Liên xô đã cử người sang làm đảo chính không cho đổ máu. Tôi nghĩ nếu không có sự ép buộc của Liên Xô lớp người bảo thủ như Trường Chinh, Lê Đức Thọ sẽ còn nắm quyền dài dài, đến Tết họ mới chịu thoái vị. Một cố vấn của Trường Chinh phát biểu: Giữa năm 1986 đói khổ, các dự án lớn thất bại, nguyên liệu khan hiếm, lạm phát 300, 400, 500, 700%… Lòng dân hoang mang, trong khi khủng hoảng Trường Chinh quyết định táo bạo đưa đất nước phát triển theo đường lối mới sau khi đã trải qua những sai lầm.

Sự thực ngoài đổi mới ra họ không còn đường nào khác khi Nga bắt đầu từ bỏ CS, từ bỏ kinh tế chỉ huy sang kinh tế tự do. Trong bài “VN từ 1990”, William S. Turley nói về đổi mới của CSVN như sau: sự sụp đổ của Đông Âu khiến CSVN bị cô lập, từ 1985 bắt dầu rút khỏi Căm Phu Chia, tháng 9-1989 rút hết. VN cải thiện quan hệ các nước láng giềng, bang giao với Mỹ từ 1995, cùng năm được gia nhập khối ASEAN cho thấy VN được hội nhập với các nước khác, tái lập hòa bình. Họ tập trung cải cách kinh tế cuối thập niên 80, chính phủ tiến hành những bước thực tiễn, đáp ứng thực trạng trong nước. CSVN đổi mới vì họ không còn con đường nào khác. Những điểm chính đổi mới gồm: luật đầu tư có chút cấp tiến, bãi bỏ hợp tác xã nông nghiệp, chấm dứt bao cấp, giảm bỏ các công ty quốc doanh. Việc làm ở lãnh vực tư gia tăng, đầu tư ngoại quốc tăng, khai thác dầu, sản xuất hàng công nghiệp nhẹ, kỹ nghệ du lịch. Trong thời gian ngắn VN chuyển từ giao thương với các nước CS sang giao thương với Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn, Đài Loan, Nhật…

Đó là cái nhìn của Tây phương về đổi mới.

Từ ngày CSVN thành hình cho tới cuộc chiến chống Pháp, Trường Chinh luôn là cánh tay phải đắc lực của họ Hồ, của đảng. Gần cuối năm 1956 ông ta từ chức Tổng bí thư vì cải cách ruộng đất, Lê Duẩn lên thay.

Nếu không có Cải cách ruộng đất, Trường Chinh vẫn làm Tổng bí thư, ông ta không chống Tầu như Lê Duẫn, tôi nghĩ cuộc chiến sẽ nhỏ hơn trong những năm 1965, 1966, 1967… không đẫm máu như thời Lê Duẫn và chắc sẽ không có cuộc chiến Việt- Miên, Việt-Hoa cuối thập niên 70.

(còn tiếp)

© Đàn Chim Việt

———————————————————-

(1) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 15
(2) Quân sử 4, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong giai đọan hình thành 1946-1955, Bộ Tổng Tham Mưu VNCH năm 1972, trang 22
(3) Street Without Joy trang 32
(4) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 47
(5) Wikipedia, Yahoo.fr: Guerre d’Indochine
(6) BBC.Vietnamese.com ngày 10-5-2006: Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh. Đăng Phong, Năm Đường Mòn Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Trí thức Hà nội 2008, trang 120, 121
(7) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 20, 21.

(8) Cao Văn Viên, Những ngày cuối VNCH trang 92

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

► Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [2]

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [2]

Tiếp theo phần I

 

Ảnh VietNamNet

Nguyễn Văn Linh

Sinh ngày 1-7-1915, mất 27-4-1998, là Tổng bí thư CSVN từ 1986 tới 1991, người mở đường có công với đổi mới của kinh tề VN, tên thật là Nguyễn Văn Cúc.

Sinh tại xã Giai Phạm, Hưng Yên BV xuất thân gia đình công chức. Ngày 1-5-1930 Nguyễn Văn Linh bị Pháp bắt vì tội tuyên truyền chống Pháp bị tù Côn đảo cho tới 1936 được thả, cùng năm được kết nạp vào đảng CS Đông Dương. Ông hoạt động ở Hải Phòng, sau chuyển lên hoạt động ở Hà Nội, vào Sài Gòn dưới quyền bí thư Sài Gòn Nguyễn Thị Minh Khai.
Năm 1939 ông được điều ra miền Trung, năm 1941 NVL bị bắt ở Vinh và bị đầy đi Côn Đảo lần thứ hai. Năm 1945 ông hoạt động ở miền tây Nam bộ, sau đó ở Sài Gòn Chợ Lớn với cương vị bí thư thành ủy Sài Gòn. Năm 1947 Linh là thường vụ xứ ủy Nam bộ, năm 1955-1960 ông là Đặc khu uỷ Sài Gòn Gia Định. Năm 1957-1960 ông là quyền bí thư xứ ủy Nam bộ, năm 1960 tại Đại hội đảng lần thứ 3, được bầu vào BCHTƯ (1961-1964) làm Bí thư rồi Phó bí thư Trung ương cục miền nam.

Năm 1976 NVL làm Bí thư thành ủy TP Hồ chí Minh, tháng 12-1976 tại Đại hội 4 ông được vào BCHTƯ Bộ chính trị. Tại Đại hội 5 ông ta rút khỏi Bộ chính trị vào Sài Gòn làm Bí thư thành ủy năm 1981 thay Võ Văn Kiệt. Tháng 6-1986 khi Trường Chinh làm Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban bí thư Trung ương đảng, sau vào Bộ chính trị. Tháng 12-1986, tại Đại hội 6 NVL được bầu vào BCHTƯ, Ủy viên bộ chính trị, giữ chức Tổng bí thư đảng kiêm đảng ủy quân sự trung ương (1987).

Từ đây bắt đầu giai đoạn đổi mới, cởi mở của CSVN, sau nhiệm kỳ Tổng bí thư (1986-1991) ông xin lui không ứng cử nhiệm kỳ tiếp theo, ông mất năm 1998, thọ 83 tuổi. Khi còn là Bí thư thành ủy TP HCM, NVL thực hiện xóa bỏ quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Trong nhiệm kỳ làm TBT, NVL góp phần xoay chuyển tình thế mở đường cho đổi mới. Ông ta đưa ra quan niệm mới, ý tưởng mới cách làm mới, bỏ chế độ giai cấp lãnh đạo đi máy bay riêng, đi xe gắn máy lạnh, ông chống cái cũ, chống bảo thủ, giáo điều.

Trong một bài đăng tháng 6-1987, Nguyễn Văn Linh nói sau Đại hội 4 phát động nói thẳng nói thật, cho phê bình sửa chữa, chống trì trệ công khai đăng báo, phổ biến trên đài phát thanh nói về các sai lầm kể cả của cán bộ cao cấp. Về vấn đề đổi mới ông nói: chủ trương đổi mới toàn diện , đúng định hướng xã hội chủ nghĩa với cách làm thích hợp, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chống tham nhũng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Có người đánh giá Nguyễn Văn Linh lội ngược dòng chính trị, lịch sử. Ông ta vực dậy kinh tế TP HCM, là người đóng góp to lớn cho cách mạng. Phó giáo sư tiến sĩ Đào Công Tiến giảng nghĩa “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tiến tới mục tiêu chống áp bức bóc lột bất công, tiến tới ấm no hạnh phúc…

Nhưng trên thực tế XHCN tại VN ngày nay đầy rẫy bất công áp bức, bóc lột, bọn thống trị ăn trên ngồi chốc, cha truyền con nối, chỉ có con ông cháu cha, con cái đảng viên được hưởng mọi ưu quyền đặc lợi ấm no hạnh phúc.

Đỗ Mười

Sinh ngày 2-2-1917 tên thật là Nguyễn Duy Cống, Tổng bí thư đảng CSVN từ tháng 6-1991 tới tháng 12-1997. Sinh trưởng trong một gia đình trung nông, lớn lên làm thợ sơn, năm 1936 tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương, năm 1939 gia nhập đảng CS Đông Dương, năm 1941 bị giam 10 năm tại Hỏa lò.

Năm 1945 Nguyễn Duy Cống vượt ngục tham gia khởi nghĩa tỉnh Hà Đông, sau cách mạng tháng tám, Cống giữ chức bí thư tỉnh ủy Hà Đông. Sau đó làm tỉnh ủy Hà Nam , bí thư tỉnh ủy Nam Định, bí thư Ninh Bình, Chính ủy kiêm tư lệnh liên khu 3. Năm 1955 Cống làm Bí thư thành ủy Hải Phòng, tháng 3-1955 Ủy viên dự khuyết trung ương đảng, năm 1956 Thứ trưởng Bộ nội thương. Năm 1960 Cống được bầu làm Ủy viên trung ương đảng khóa 3, đại biểu quốc hội khóa 2.

Năm 1961-1969 Cống làm Chủ nhiệm ủy ban vật giá nhà nước, năm 1969 làm Phó thủ tướng chủ nhiệm văn phòng kinh tế phủ Thủ tướng, năm 1971 Đại biểu quốc hội khóa 4, Phó thủ tướng. Năm1973 ông giữ chức Bộ trưởng bộ xây dựng, năm 1976 được bầu Ủy viên trung ương đảng, ủy viên dự khuyết Bộ chính trị. Năm 1977 ông giữ chức Phó thủ tướng, Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp XHCN, Phụ trách Cải tạo công thương nghiệp miền nam VN.

Năm 1981 Đỗ Mười làm đại biểu quốc hội khóa 7, Phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng, năm 1982 ông được bầu vào Trung ương đảng, ủy viên Bộ chính trị. Năm 1988 ông làm Chủ tịch hội đồng bộ trưởng, năm 1991 được bầu làm Tổng bí thư trung ương đảng khóa 7, năm 1986 được bầu Tổng bí thư khóa 8, tháng 12-1997 ông từ nhiệm chức Tổng bí thư chuyển sang làm cố vấn trung ương đảng.

Đỗ Mười cổ võ đổi mới nhưng không thay cơ cấu chính trị, ông ta nói với báo chí: đảng ta vẫn theo xã hội chủ nghĩa, con đường duy nhất đúng. Đỗ Mười bị chỉ trích vì gây ra thảm kịch đánh tư sản ngày 23-3-1978 khi ông làm Phó thủ tướng Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp. Mười cho khoảng 60 ngàn đoàn viên Thanh niên CS đi khắp nơi (tại miền nam) đóng cửa kiểm kê các nhà tư sản rồi lấy nhà đuổi đi kinh tế mới, thời gian này có tới mấy chục ngàn cơ sở thương mại bị đóng cửa trong một ngày.
Chiến dịch thất nhân tâm này khiến nhiều người phải tự tử và đi vượt biên, một cuộc ăn cướp vĩ đại trắng trợn, trấn lột tài sản các thương gia để bỏ túi chia chác nhau, lấy nhà phân phối cho các đảng viên từ ngoài Bắc vào. ước lượng có hai triệu người đi vượt biên, mấy trăm nghìn người thiệt mạng ngoài biển khơi.

Sau này Đỗ Mười bị kết án là người đã gây ra thảm kịch kinh tế miền nam sau 1975, đây là một kế hoạch ngu xuẩn khi đem một chủ nghĩa kinh tế mọi rợ, lạc hậu áp dụng vào một xã hội tấn tiến tại miền nam VN. Thập niên 50 Mười là người xử lý chuyên môn địa hạt kinh tế nhưng chỉ đối với một nền kinh tế lạc hậu bán khai. Những năm 1976-1979 ông ta thất bại trong việc tổng hợp hai nền kinh tế Bắc-Nam. Với cương vị người phụ trách cải tạo công thương nghiệp miền nam, ông ta toàn quyền như vua đã dồn hai nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa làm một. Những người chống Đỗ Mười kết án ông này chịu trách nhiệm nhiều nhất cho sự thất bại thê thảm nền kinh tế hậu chiến 1976.

Lê Khả Phiêu

Ông giữ chức Tổng bí thư CSVN từ tháng 12-1997 tới tháng 4 -2001, là người kế nhiệm Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu cũng là một Tướng lãnh cấp bậc Thượng tướng, Chủ nhiệm cục chính trị.

Phiêu sinh ngày 27-12-1931 ở ở làng Thượng Phúc, Thanh Hóa, năm 1945 tham gia phong trào Việt Minh, gia nhập đảng CSĐông Dương năm 1949. Đầu tháng 5-1950 ông gia nhập quân đội đi từ binh nhì lên chính trị viên đại đội. Từ 1954 tới 1958 giữ chức chính trị viên tiểu đoàn rồi trung đoàn,1966 giữ chức Chính ủy kiêm trung đoàn trưởng TĐ 9 sư đoàn 304.

Năm 1967 ông được điều động vào chiến trường Trị Thiên làm Chính ủy trung đoàn 9, năm 1970 giữ chức Phó chủ nhiệm chính trị quân khu Trị Thiên. Tháng 5-1974, khi Quân đoàn hai được thành lập ông được cử giữ chức chủ nhiệm cục chính trị Quân đoàn, cấp bậc Thượng tá.

Năm 1978 ông giữ chức Phó tư lệnh Quân khu 9, cấp bậc Đại tá, tháng 4-1984 được thăng Thiếu tướng giữ chức Phó tư lệnh chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị, Phó bí thư ban cán sự Bộ tư lệnh quân tình nguyện VN tại Campuchia. Tháng 8-1988 CSVN rút quân, Lê Khả Phiêu được thăng Trung tướng, về làm Phó chủ nhiệm tổng cục chính trị. Tháng 9-1991ông giữ chức Chủ nhiệm tổng cục chính trị Quân đội nhân dân, năm 1992 được phong Thượng tướng.

Tháng 6-1992 tại Hội nghi BCHTƯ lần thứ 13, ông được bầu vào Ban bí thư trung ương đảng. Tháng 1-1994 tại Hội nghị toàn quốc, LK Phiêu được bầu vào Bộ chính trị, tháng 6-1996 được bầu ủy viên thường vụ Bộ chính trị

Ngày 26-12-1997 tại Hội nghị trung ương lần thứ 4, BCHTƯ đảng (khóa 8) Lê Khả Phiêu được giữ chức Tổng bí thư BCHTƯđảng CSVN, cũng là đại biểu qốc hội khóa 9, 10.

Trong một bài đăng trên BBC.Vietnamese ngày 22-6-2006 (Sự ra đi của một Tổng bí thư) có nói: tại Đại hội đảng lần thứ 9 của CSVN (từ 19-4 đến 22-4-2001) Lê Khả Phiêu bị hạ bệ, Nông Đức Mạnh được cử lên thay. Đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu bị nội bộ đảng chỉ trích.

Bộ chính trị bỏ phiếu tỷ lệ 12/6 đồng ý để ông Lê Khả Phiêu ở lại tới năm 2003 nhưng ngày 17-4, tại cuộc họp các đại biểu (toàn quốc) trước khi chính thức khai mạc đại hội 9 đã đảo ngược quyết định của Bộ chính trị và bỏ phiếu hạ bệ Tổng bí thư.

Lê Khả Phiêu giữ chức TBT từ 1997 bị cáo buộc là người có nhiều tham vọng, muốn làm Tổng bí thư kiêm luôn Chủ tịch nước (y như bác Hồ). Phiêu bị tai tiếng là người bè phái, bổ nhiệm nhiều người xứ Thanh Hóa, ngoài ra bị cáo buộc đã dùng tình báo quân đội để theo dõi các Ủy viên bộ chính trị. Dưới thời Lê Khả Phiêu, kinh tế bị thoái trào, tham nhũng mạnh, đầu tư nước ngoài vào VN giảm từ 4 tỷ đô la năm 1998 xuống còn 1,48 tỷ năm 1999.

LKP không muốn cải tổ doanh nghiệp quốc doanh cùng những lời phát biểu ý thức hệ của ông khiến ông bị kết án là bảo thủ và ngả về Trung Quốc. Tại Hội nghị Bắc Kinh, Lê Khả Phiêu nhượng bộ Trung Cộng về sự phân định vịnh Bắc Bộ không có sự chấp thuận trước của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương và cả Bộ ngoại giao. Phiêu không tôn trọng những người đã đưa ông lên làm lãnh đạo, năm 1997 ông lên giữ chức Tổng bí thư chủ yếu là do Lê Đức Anh bảo trợ.

Tháng 4-2001 ban cố vấn gồm Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh đã gây sức ép buộc Lê Khả Phiêu phải ra đi. Phiêu đã tính bãi bỏ chức cố vấn nhưng họ đã ra tay trước, ông ta không có quan hệ tốt với các ủy viên Bộ chính trị, xì căng đan nghe lén, và bị cáo buộc quá thân Tầu.

Hệ thống chính trị CSVN đã thay đổi, trước đây thế hệ lãnh đạo có các quan hệ bảo trợ (tức tay chân thân tín) và quan hệ rộng trong ba lãnh vực đảng, quân đội và nhà nước. Thế hệ lãnh đạo gần đây không sở hữu một hệ thống quyền lực như thế. Lê Khả Phiêu không mạnh như Lê Duẫn nên đã bị hạ bệ, ông ta không củng cố được một nền móng quyền lực mạnh.

Nông Đức Mạnh

Ông làm Chủ tịch quốc hội từ 1992-2001, sinh ngày 11-9-1940 tại xã Cường Lợi, Bắc Kạn, xuất thân nông dân, dân tộc Tày.
Mạnh tham gia cách mạng từ 1958, vào đảng CS ngày 5-7-1963, từ 1958-1961 học trường trung cấp Nông lâm Hà Nội. Hai năm sau ông làm công nhân lâm nghiệp ty lâm nghiệp Bắc Kạn. Năm 1967-1971 Mạnh du học về lâm nghiệp tại Leningrad Liên sô. Năm 1972-1973 ông về nước làm Phó ban thanh tra ty lâm nghiệp, năm 1973-1974 làm Giám đốc lâm trường Phú Lương, năm 1974-1976 theo học trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Năm 1976-1978 Mạnh làm Tỉnh ủy viên, trưởng ty lâm nghiệp Bắc Thái, năm 1980-1984 làm Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch ủy ban nhân dân Bắc Thái, từ 1984-tháng 10/1986 giữ chức Chủ tịch ủy ban nhân dân Bắc Thái.

Từ tháng 11-1986 tơi tháng 2-1989 Mạnh giữ chức Tỉnh ủy Bắc Thái, Ủy viên dự khuyết trung ương đảng, tháng 3 -1989 tại Hội nghị BCH trung ương khóa 6, Mạnh được vào Ủy viên chính thức trung ương đảng. Tháng 11-1989 được bầu bổ sung đại biểu quốc hội. Tháng 6-1991,tại Đại hội 7 Trung ương đảng, Mạnh được bầu vào Bộ chính trị. Tháng 9-1992 Nông Đức Mạnh được bầu làm Chù tịch quốc hội khóa 9, tháng 9-1997 Chủ tịch quốc hội khóa 10, tháng 1-1998 được phân công thường vụ Bộ chính trị.
Tháng 4-2001, tại Đại hội toàn quốc khóa 9 Nông Đức Mạnh được bầu vào BCHTƯ và Tổng bí thư Ban CHTƯ. Tháng 4-2006, tại Đại hội 10, Mạnh lại được bầu làm Tổng bí thư đảng.

Có tin đồn Nông Đức Mạnh là con không chính thức của Hồ Chí Minh và Nông Thị Trưng (1920-2003) đã là quản gia của “bác” những năm 1941, 1942, chuyện này có thể là lý do ông được đưa lên ngôi vị Tổng bí thư. Một tờ báo tóm lược thân thế Nông Đức Mạnh sau khi ông này được giữ chức Tổng bí thư, bà Trưng được coi là mẹ ông.

Ngày sinh trong tiểu sử chính thức của NĐM là 11-9-1940 khi ấy ông Hồ còn ở bên Tầu, về VN tháng 2-1941 và gặp bà Trưng tháng 7-1941. HCM có làm một bài thơ tặng cho Trưng năm 1944 và tặng bà này một cuốn sổ, ông đề một hàng chữ “Tặng cháu Nông Thị Trưng để chúc cháu học tập tốt”. Bài thơ ấy sau được dậy cho các học sinh tiểu học. Tháng 4-2001 một ký giả hỏi ông trong một cuộc họp báo xin ông xác nhận lời đồn thì ông đáp: “Mọi con dân VN đều là con cháu bác Hồ”. Tháng giêng năm 2002, một ký giả của báo Time Asia lại hỏi ông về tin đồn này, ông phủ nhận không phải là con của bác Hồ và cha ông tên là Nông Văn Lai, mẹ ông Hoàng Thị Nhị.

Trong bài VN từ 1990, William S. Turley có nói về Nông Đức Mạnh: (Lê Khả Phiêu) bất lực vì tham nhũng và tăng trưởng trì trệ khiến các nhà lãnh đạo quyết định thay Lê Khả Phiêu bằng Nông Đức Mạnh vào tháng 4-2001. Ông này bắt tay vào việc bài trừ tham nhũng, hội nhập nhiều hơn vào kinh tế toàn cấu. Tổng sản lượng (GDP) lại tăng mạnh, giao thương với Mỹ được tái lập. Cuối năm 2006, VN được chấp thuận trở thành hội viên thứ 150 của WTO, tổ chức thương mại quốc tế kể từ tháng giêng 2007.

Nguyễn Tấn Dũng

Thủ tướng đương nhiệm CSVN, ông là Thủ tướng nhiều quyền lực nhất của CSVN từ trước đến nay. Trước đây đảng chỉ huy nhà nước, nhưng dần dần trong cơ chế CSVN đảng nới bớt sự kiểm soát chính phủ, vai trò chỉ đạo của đảng đã mờ nhạt dần.

Dũng sinh ngày 17-11-1949 tại cà Mâu, còn gọi là Ba Dũng. Năm 1961 tham gia bộ đội, làm liên lạc viên, rồi cứu thương, y tá, y sĩ. Các chức vụ đã giữ: tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó, ngày 10-6-1967 gia nhập đảng lao Động VN. Năm 1969 Dũng cấp bực trung úy, đã thoát chết trong một trận càn quét của địch tại Cà Mâu. Ngày 30-4-1975, Ba Dũng cấp bậc trung úy, chính trị viên đại đội quân y Rạch Giá. Sau 1975, Ba Dũng giữ các cấp bậc chức vụ Thượng úy, chính trị viên tiểu đoàn, Đại úy, chủ nhiệm chính trị trung đoàn, Thiếu tá, trưởng ban cán bộ Kiên Giang.

Tháng 10-1981, Ba Dũng phục viên (giải ngũ) tham gia chính trị, giữ các chức vụ Tỉnh ủy Kiên Giang, Bí thư đảng ủy quân sự Kiên Giang. Tháng 1-1995 Ba Dũng giữ chức Thứ trưởng bộ nội vụ, được bầu Ủy viên trung ương đảng tại đại hội lần 6 (1986) và lần 7 (1991). Ngày 1-7-1996 ông được bầu làm Ủy viên bộ chính trị, Bí thư BCHTƯ, Trưởng ban kinh tế trung ương.

Tháng 9-1997 Đại biểu quốc hội khóa 10, Thủ tướng PhanVăn Khải cử NTDũng làm Phó thủ tướng, Chủ tịch hội đồng tài chính. Tháng 5-1998 Quốc hội thông qua cử Ba Dũng làm Tống đốc ngân hàng nhà nước và giữ chức vụ này cho tới 1999. Ngày 16-5-2006 Thủ tướng Phan Văn Khải đề cử Nguyễn Tân Dũng thay ông ta tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội ngày 27-6-2006 và ông được bầu làm tân Thủ tướng trẻ nhất trong 20 năm trước đó. Ngày 25-7-2007, kỳ họp Quốc hội khóa 12 Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục được ủng hộ bầu làm Thủ tướng với tỷ lệ 96,96%. Ngày 26-7-2011 Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử Thủ tướng nhiệm kỳ 2 tại kỳ họp Quốc hội thứ 13 với tỷ lệ 94%.

Về đối ngoại, Nguyễn Tân Dũng là một nhân vật cải cách, VN trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế Quốc tế WTO. Trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008-2009, lạm phát tại VN cao nhất khu vực 25%. Nguyễn Tấn Dũng đã thông qua gói kích cầu 8 tỷ đô la nhưng bị coi là thất bại không đạt mục đích, các khu vực không khởi sắc ngoại trừ thị trường chứng khoán. Thâm hụt ngân sách lên 8% so với 5% năm 2008. Tới 2010 ảnh hưởng tệ hại hơn: bội chi ngân sách báo động, dự trữ ngoại hối quá thấp, bất ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát tăng cao, chính sách thắt chặt tiền tệ gây khó khăn kinh tế, Quĩ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng thế giới WB đề nghị VN thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô. Ngày 20-10-2012 Nguyễn Tấn Dũng xin lỗi trước Quốc hội về những yếu kém, khuyết điểm của chính phủ trong sự lãnh đạo, quản lý, điều hành.

Ngày 11-6-2009 lần đầu tiên một Thủ tướng của CSVN bị thưa kiện, Luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện ông Dũng vi hiến về ký quyết định khai thác quặng bauxite ở Tây nguyên VN vì có luật bảo vệ môi trường nhưng tòa án Hà Nội đã bác đơn kiện này.

Trong nhiệm kỳ đầu của Nguyễn Tấn Dũng kinh tế bị bất ổn nghiêm trọng gồm nhiều rủi ro suy thoái, kinh tế VN bất ổn nhiều so với các nước trong khu vực. Nguyễn Tấn Dũng bị đặt câu hỏi về khả năng quản lý kinh tế, trước khi ông ta làm Thủ tướng (năm 2006) tốc dộ tăng trưởng khả quan như sau:

7,08% năm 2002, 7,34% năm 2003, 7,79% năm 2004 và 8,44% năm 2005. Khi Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng Tổng sản lượng quốc gia giảm mạnh: năm 2007 đạt tỷ lệ 8,23%, năm sau 2008 tỷ lệ xuống 6,31%, năm 2009 xuống còn 5,32%, năm 2010 tăng chút đỉnh 6,78%, năm 2011 khoảng hơn 5% . Lạm phát tăng cao nhất châu Á, đời sống nhân dân khó khăn, mức thu nhập giai đoạn 2008-2010 tăng bình quân 9,3% nhưng lạm phát lên cao 40%. Nguyễn Tấn Dũng phá giá tiền tệ 4 lần trong vòng 14 tháng tính tới ngày 13-2-2011.

Trong kỳ họp Quốc hội khóa 13 Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận có sai lầm trong quản lý kinh tế. Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Đại sứ VN tại Trung Cộng (1974-1987) chỉ trích Dũng không không có năng lực quản lý xã hội, kinh tế, các tập đoàn kinh tế Vinashin, Vinalines … đã thất thoát hằng nghìn tỷ của nhân dân. Nguyễn Trọng Vĩnh cũng chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng độc đoán, độc tài.

Từ một sĩ quan cấp úy năm 1975 Nguyễn Tấn Dũng đã leo lên đỉnh cao quyền lực, một phần vì cơ chế chinh trị đổi thay, đảng không còn chỉ huy nhà nước mạnh như xưa. Vai trò của đảng bị lu mờ, lịch sử sang trang, nay việc kết nạp đảng viên khó khăn, đảng đã phải tổ chức vũ sexy khêu gợi mà vẫn ế khách. Theo nhận xét của William S. Turley (trong bài VN từ 1990) thì hiến pháp mới (CSVN) năm 1992 như một bước tiến về việc đảng nới lỏng sự kiểm soát chính quyền (… a new constitution enacted in 1992 was seen as a step toward loosening party control of the government…) . Ngoài ra một phần do Ba Dũng khôn ngoan cài đặt tay chân thân tín vào trong bộ máy công an và quân đội mà danh từ CS gọi là người bảo trợ.

Giống như Đặng Tiểu Bình thập niên 70, 80, 90 trước đây dù chỉ là Phó thủ tướng, Phó chủ tịch đảng nhưng thực sự năm vận mệnh nước Tầu, Nguyễn Tấn Dũng là người lãnh đạo đất nước CSVN hiện nay mặc dù ông ta không phải là Chủ tịch nước hay Tổng bí thư đảng. Theo trang mạng Dân Làm Báo, ông Ba đang cài đặt thân tín bộ hạ tại các địa phương để đoạt nhiều phiếu trong kỳ Đại hội tới và sẽ nắm luôn chức Tổng bí thư cũng như Chủ tịch nước.

Nay Tổng Sản lượng quốc gia VN trong khoảng từ 180-187 tỷ, đứng vào khoảng từ thứ 55-57 (9) trên thế giới, tăng trưởng kinh tế khoảng 6% năm 2014, 2015. Lợi tức đầu người khoảng 2000 đô la một năm (10) (gần bằng 1/3 lợi tức Tầu), đứng thứ khoảng từ 130-138 trong số 180 nước trên thế giới. VNCS hiện là một nước nghèo đói lạc hậu, sản xuất cũng như xuất cảng còn yếu kém, trên thực tế chỉ làm gia công cho các nước đầu tư. Các nguồn lợi chính là tiền Việt kiều gửi về khoảng 13 tỷ đô la một năm (con số do nhà nước đưa ra) khai thác dầu khí, tài nguyên thiên nhiên, đầu tư nước ngoài, dịch vụ….Mặc dù được quốc tế trợ giúp nhiều nhưng giới lãnh đạo phí phạm tài nguyên, tham nhũng, quản lý tồi khiến cho nền kinh tế lụn bại không khá nổi.

So với các nước lân bang tại Đông nam Á về mặt kinh tế, người ta ước lượng nước VNCS sẽ phải mất khoảng từ 15 tới 20 năm để theo kịp Đại Hàn, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông…và khoảng 10 năm để theo kịp Thái Lan, Mã lai.. cũng như khoảng 7 năm để theo kịp Phi luật Tân, Nam Dương…Hiện nay mức sống còn thua cả Miên, Lào.

Tài sản tập trung tay một số người mà hầu hết là các viên chức, đảng viên cao cấp, những người này sở hữu hằng tỷ đô la gồm tiền ký gửi tại ngoại quốc, đất đai, khách sạn, cơ sở dịch vụ, xí nghiệp…. Những người có mức sống cao đa số đảng viên hoặc có liên hệ họ hàng với cán bộ. Tại Đông Nam Á nay chưa có nước nào chênh lệch giầu nghèo ghê tởm như tại nước Xã hội chủ nghĩa (giả hiệu) VN. Nhà giầu không ai khác hơn là các nhà tư sản đỏ, đảng viên, họ kinh doanh làm ăn lớn rồi chuyển những số tiền khổng lồ ăn cắp của nhân dân ra nước ngoài.

Ví như khi ta gửi 100 đô la qua dịch vụ cho thân nhân ở VN, không phải rằng họ đưa số tiền đó về nước mà họ sẽ lấy số tiền tiền này tại VN đưa cho thân nhân ta và số tiền ta gửi sẽ được đưa vào trương mục của tư sản đỏ tại Mỹ. Nước mưa xuống suối lại xuôi về nguồn, người Mỹ vừa được tiếng nhân đạo, họ lại chẳng mất gì. Con cháu Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẫn, Nguyễn Tấn Dũng…đều được du học bên Nga, Âu Mỹ, họ toàn là phú gia địch quốc, con rể Ba Dũng mới mua đội banh hai trăm triệu đô tại Mỹ.

Phó GS Tiến sĩ Đào Công Tiến đã giảng “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tiến tới mục tiêu con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, đạt được cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc; nhân dân lao động làm chủ.

Hoàn toàn láo khoét, chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ bóc lột, áp bức kinh tởm nhất trong lịch sử nhân loại, hồi xưa tại miền nam người ta hay nhắc câu ngạn ngữ:

“Bọn thực dân, phong kiến, tư bản làm thịt lợn chúng ăn thịt nạc, nhân dân còn có miếng xương mà gặm, thằng Cộng sản nó ăn cả cứt, nhân dân không có đến một miếng xương”

Cương lĩnh 1991 của Đảng khẳng định rõ xã hội XHCN là một xã hội có nền kinh tế phát triển cao; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhưng trên thực tế đạo đức xã hội VN nay hoàn toàn băng hoại, đĩ điếm trộm cướp, xì ke ma túy… tràn lan khắp nơi. Người ta ước lượng một khi chế độ CS sụp đổ, phải mất vài thế hệ mới xây dựng lại xã hội lành mạnh như trước.
Hình thành 1945, CSVN sống sót và lớn mạnh từ khi Mao chiếm được Hoa Lục 1949, 50. Họ đã làm đổ quá nhiều xương máu của nhân dân để theo tiến lên chủ nghĩa xã hội chết đói, nay quay đầu lại kinh tế tự do.

Nhiều người nói Việt Nam xấu hổ vì có đảng Cộng sản

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

—————————————————————-
(9) List of countries by GDP (nominal), Wikipedia
(10) List of countries by GDP (nominal) per capita Wikipedia

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Uncategorized, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

► ‘Việt – Trung và Giải pháp Đỏ’

Posted by hoangtran204 trên 03/07/2015

Tư liệu: ‘Việt – Trung và Giải pháp Đỏ’

1-7-2015

bbc.com/vietnamese

Để cung cấp thêm một góc nhìn vào các diễn biến dẫn tới bình thường hóa quan hệ Việt – Trung và hội nghị Thành Đô 3-4/09/1990, BBC xin giới thiệu phần tư liệu từ cuốn Hồi ký của nhà ngoại giao Trần Quang Cơ (1927-2015):

Những biến động lớn trong tình hình thế giới bên ngoài lúc này đã tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ của lãnh đạo ta về phương hướng chiến lược đối ngoại.

null
TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu phái đoàn VN sang Thành Đô 3-4/09/1990

Cuộc khủng hoảng chính trị tại nhiều nước theo chế độ XHCN đã bùng nổ từ năm 1989 và đang có chiều hướng lan rộng ra.

Tháng 6.89 xảy ra vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, Hung, Tiệp, Ba Lan đều đã sụp đổ.

Đầu tháng 10.89, TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ, Honecker bị lật…

Trước tình hình ấy, trong nội bộ lãnh đạo ta đã nảy sinh những ý kiến khác biệt trong nhận định về sự kiện Thiên An Môn cũng như về những biến đổi dồn dập tại các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô.

Nổi lên là ý kiến nhấn mạnh mặt XHCN của Trung Quốc, phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, để chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác. Chính điều đó đã tạo nên bước ngoặt khá đột ngột trong thái độ của ta đối với Trung Quốc…Lào cũng đã thoả thuận trao đổi đại sứ trở lại với Trung Quốc và bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, đánh dấu bằng cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của Kayson Phomvihan, TBT Đảng NDCM Lào, tháng 10.89.

Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7.10.89 ở Bắc Kinh mà Đặng Tiểu Bình đã bộc lộ rõ phần nào những tính toán sâu xa của mình đối với Việt Nam:

“Phân hoá Việt -Lào, Việt – Campuchia, Việt – Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng: Việt Nam đã có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh còn sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam.

Lúc đầu Trung Quốc cho là vì Brezhnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ý đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc vì Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương…”

Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Đặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Đặng kể lại khi làm TBT Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 1963, đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, khen anh Linh là “người tốt, sáng suốt và có tài”; nhờ Kayson chuyển lời hỏi thăm anh Linh; khuyên Nguyễn Văn Linh nên giải quyết dứt khoát vấn đề Campuchia, nếu làm được việc này thì sẽ khôi phục được uy tín của Việt Nam.

Cho đây là việc Việt Nam phải làm, vì những gì Việt Nam đang làm là sai lầm; mong muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trước khi ông ta nghỉ hưu… Về điều kiện bình thường hoá quan hệ Trung – Việt, Đặng nhấn mạnh Việt Nam phải rút hết quân, rút triệt để, rút thật sự khỏi Campuchia thì sẽ có bình thường hoá quan hệ (tuy lúc đó ta đã kết thúc đợt rút quân cuối cùng khỏi Campuchia từ ngày 26.9.89).

Theo thông báo của đại sứ Lào tại Trung Quốc, trong 70 phút nói chuyện với Kayson, Đặng nói về Việt Nam và quan hệ Trung – Việt tới 60 phút.

Ngày 21.10.89 Bộ Chính trị ta đã họp để nhận định về phát biểu của Đặng Tiểu Bình khi tiếp Kayson cuộc họp đã đi đến kết luận là:

“Trong lúc Trung Quốc đang còn găng với ta, ta cần có thái độ kiên trì và thoả đáng, không cay cú, không chọc tức nhưng cũng không tỏ ra nhún quá. Cần tiếp tục thực hiện đường lối Đại hội VI và Nghị quyết 13 của BCT, cần thấy cả mặt XHCN và mặt bá quyền nước của Trung Quốc. Trong khi cố kéo Trung Quốc, ta cần đồng thời hoạt động trên nhiều hướng; củng cố kết chặt chẽ với Lào; phân hoá Mỹ, phương Tây, ASEAN với Trung Quốc.”

null
Vụ Thiên An Môn tác động mạnh đến tư duy của Hà Nội

Theo phương hướng đó, ngày 6.11.89, anh Thạch đã chuyển qua đại sứ Trung Quốc thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu Bình, ngỏ ý mong sớm có bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ba tuần sau, anh Thạch lại gửi thư cho Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp ngày 6/11 và đề nghị phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng ngoại giao tại Hà Nội hoặc Bắc Kinh trong tháng 12.89. Nhưng Trung Quốc không trả lời thông điệp của TBT ta lẫn thư của anh Thạch.

Vấn đề Campuchia

Mãi đến ngày 12.12.89, Đại sứ Trung Quốc mới gặp anh Thạch chuyển thông điệp miệng của Trung Quốc trả lời TBT Nguyễn Văn Linh, vẫn đặt điều kiện cho việc nối lại đàm phán với ta:

“Đồng chí Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo khác của Trung Quốc chân thành mong muốn sớm bình thường hoá quan hệ Trung – Việt. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu làm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện. Việc khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa có thể cải thiện nếu bỏ qua vấn đề Campuchia.

Đồng chí Đặng Tiểu Bình có nêu ra là việc Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để và việc Campuchia lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía Trung Quốc sẵn sàng suy xét đề nghị của Việt Nam về việc mở vòng thương lượng mới ở cấp thứ trưởng nếu Việt Nam chấp nhậnmột cơ chế giám sát quốc tế do LHQ chủ trì có 4 bên Campuchia tham gia để kiểm chứng việc rút quân Việt Nam và lập chính phủ bốn bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kỳ quá độ.”

Ngày 11.11.89, BCT họp bàn và thông qua đề án đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia. Trên cơ sở đánh giá tình hình quân sự, chính trị trên chiến trường và xu thế chung trên thế giới, ta chủ trương cần phấn đấu đạt một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. Để ra 4 phương án về cơ quan quyền lực ở Campuchia trước tổng tuyển cử. Phương án thấp nhất là giữ nguyên bộ máy của hai chính phủ đang tồn tại, lập chính phủ liên hiệp hai bên ở trung ương để tổ chức tổng tuyển cử và thực hiện những điều thoả thuận.

Ngày 2.12.89, anh Thạch sang bàn với BCT Campuchia, phân tích chiến tranh ở Campuchia là một cuộc nội chiến, Việt Nam không thể đưa quân trở lại (4 ngày sau khi Việt Nam rút quân đợt cuối, lực lượng Son San đã đánh chiếm Thmar Ponk; ngày 22.10.89, Khmer Đỏ đánh chiếm Pailin và uy hiếp thị xã Battambang, theo yêu cầu của Bạn, ta phải đưa lực lượng đặc biệt lên giúp), nói kỹ về tính chất quốc tế của vấn đề Campuchia và xu thế trên thế giới. Bàn với Bạn cần đấu tranh để đạt một giải pháp chính trị để giành giật thắng lợi từng bước. BCT Bạn hoàn toàn nhất trí và thấy cần sử dụng vai trò LHQ như sáng kiến của Ngoại trưởng Úc G. Evans ngày 24.11.89.

Cuộc họp BCT ta ngày 6.12.89 đã bàn về sáng kiến của Úc và nhất trí về việcsử dụng vai trò LHQ. Sau khi trao đổi, BCT Campuchia hoàn toàn đồng ý với ý kiến của BCT ta. Từ ngày 10-25.1.90, Bạn triệu tập Hội nghị TƯ 10 để bàn đi vào giải pháp chính trị. Ngày 18.1.90, quốc hội Campuchia đã thông qua việc để LHQ tổ chức tổng tuyển cử, uỷ quyền cho Hunxen đàm phán về vấn đề này.

Việc ta và Bạn Campuchia chấp nhận sử dụng vai trò LHQ và xem xét sáng kiến của Úc để giải quyết vấn đề phân chia quyền lực bị bế tắc ở Hội nghị quốc tế Paris đã thúc đẩy mạnh mẽ các diễn đàn bàn về vấn đề Campuchia: cuộc họp IMC ở Jakarta ngày 26.3.90, các cuộc họp P5, cuộc họp Hun Sen-Sihanouk vòng 6 ở Bangkok ngày 22.2.90

Từ 26.2 đến 1.3.90 tại thủ đô Indonesia đã họp Hội nghị không chính thức về Campuchia (IMC).

Dự họp ngoài các bên Campuchia, Việt Nam, Lào và 6 nước ASEAN (như họp JIM), còn có thêm đại diện Tổng Thư ký LHQ, Pháp và Úc. Hội nghị không ra được tuyên bố chung vì Khmer Đỏ dùng quyền phủ quyết.

Thất bại của Mặt trận Giải phóng Sandino trong cuộc tổng tuyển cử ở Nicaragua ngày 25.2.90 và thất bại của cuộc họp IMC về vấn đề Campuchia ở Jakarta ngày 28.2.90 đã tác động mạnh vào lãnh đạo ta về phương hướng giải quyết vấn đề Campuchia.

Ngày 8.3.90, cố vấn Lê Đức Thọ cho gọi tôi và anh Đinh Nho Liêm đến nhà riêng ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân nói mấy ý kiến về vấn đề Campuchia:

“Cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề Campuchia. Phải giải quyết với Trung Quốc, nếu không thì không giải quyết được vấn đề Campuchia. Không thể gạt Khmer Đỏ. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, có thể nói “không để trở lại chính sách sai lầm trong quá khứ”. Không chấp nhận LHQ tổ chức tổng tuyển cử. Cần nêu phương án lập chính phủ liên hiệp lâm thời hai bên bốn phái để tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề Campuchia trước Đại hội VII để khai thông những vấn đề khác.”

Hai hôm sau anh lại nói với Nguyễn Cơ Thạch những ý đó. Sự việc này khiến tôi suy nghĩ: tại sao lại thay đổi phương hướng đối sách trước khi đại hội Đảng họp ? Tại sao lại chỉ nói với anh Thạch sau khi đã nói với chúng tôi?

Từ ngày 8-20.3.90, Heng Somrin nghỉ ở Hà Nội, có dịp gặp gỡ TBT Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Lê Đức Thọ, Cố vấn Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh trao đổi về tình hình Liên Xô Đông Âu, Nicaragua và tất nhiên về tình hình Campuchia. TBT Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói cần phải cảnh giác với LHQ, không thể để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Từ đấy Bạn Campuchia chuyển sang phương án SNC tổ chức tổng tuyển cử, không tán thành để LHQ tổ chức tổng tuyển cử nữa. Sau này, ngày 11.8.90, khi nhắc lại vấn đề này, Hun Sen than phiền với anh Ngô Điền, Đại sứ ta ở Phnom Penh:

“Khi anh Heng Somrin đi nghỉ ở Hà nội, đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh gặp anh Heng Somrin tỏ lo ngại về việc sử dụng vai trò LHQ. Anh Heng Somrin về nói lại cái này. Tôi có nói là giao cho LHQ có mặt phức tạp nhưng giao cho SNC phức tạp hơn vì nó có hệ thống, người nhiều mà ta còn phải lo đối phó với cả LHQ nữa. Cái này làm tôi rất khó. Quyết định của hai đồng chí TBT làm tôi rất khó. Không nên để có ý kiến khác nhau giữa TBT và Thủ tướng. Tôi phải làm theo ý kiến nhất trí… Việc sử dụng vai trò LHQ hay SNC là bộ phận quan trọng của quyết định chiến lược có đi vào giải pháp chính trị hay không. Dùng SNC rất phức tạp. Campuchia không đủ người và khả năng tham gia các uỷ ban của SNC để đối phó với bọn kia.” Hun Sen còn cho biết ngày 20-21.5.90, khi 3 TBT Việt Nam, Lào, Campuchia gặp nhau tại Hà nội nhân dịp 100 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, bàn việc không để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia, TBT Đảng Lào Kayson băn khoăn điều này và nói: “ Ta nhận rồi ta lại thôi. Ta trèo cao rồi, nếu tuột xuống dễ ngã đau”.

Đến ngày 3.4.90, Trung Quốc đột nhiên lại biểu thị hoan nghênh việc thứ trưởng Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh “kiểm tra sứ quán” và công bố tin Trung Quốc sẽ đàm phán với thứ trưởng ngoại giao Việt Nam về vấn đề Campuchia.

Lúc này CP 87 đã giải thể. Các thành viên thường trực của CP 87 đều đã được bổ nhiệm đi nhận các trọng trách ở nước ngoài.

Anh Đặng Nghiêm Hoành đã nhận quyết định đi Đại sứ ở Trung Quốc. Anh Trần Xuân Mận nhận chức Đại sứ ở Angiêri. Anh Nguyễn Phượng Vũ trên đường đi nhận chức Đại sứ ở Philipinnes, đã chết trong tai nạn máy bay trên bầu trời Thái Lan.

Thay vào đó, Bộ Ngoại Giao đã lập Nhóm ad-hoc về giải pháp Campuchia với nhiệm vụ cụ thể hơn vì vấn đề Campuchia đã đến lúc giải quyết. Nhóm vẫn do tôi phụ trách, có các anh Trần Huy Chương, Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Nguyễn Can tham gia.

Nhóm nghiên cứu giải pháp Campuchia chúng tôi nhận định có mấy lý do đã khiến Trung Quốc mềm mỏng hơn trong thái độ đối với Việt Nam về vấn đề Campuchia:

  • Quan hệ Mỹ – Xô đang có chuyển động mạnh. Chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12.89 đến tháng 5.90, đã có 2 cuộc gặp cấp cao Xô Mỹ. Trong khi đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây chậm khôi phục sau vụ Thiên An Môn.
  • Giữa Trung Quốc với Mỹ, ASEAN, phương Tây đang nảy sinh những mâu thuẫn mới về vấn đề Campuchia, chủ yếu trong vấn đề đối xử với Khmer Đỏ. Trong các cuộc họp 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An tháng 2 và tháng 3.90, Trung Quốc ở thế bị cô lập đã buộc phải có nhân nhượng và phải chấp nhận vai trò lớn của LHQ.
    null
    LHQ đóng vai trò đem các lãnh đạo Khmer Đỏ ra xét xử
  • Đàm phán Sihanouk – Hunxen có tiến triển. Ngày 9.4.90 Sihanouk có phần nhượng bộ khi đưa ra 9 điểm giải pháp, nhận lập Hội đồng Dân tộc Tối cao (SNC33) gồm số đại diện bằng nhau của hai chính phủ, 6 của Chính phủ Phnom Penh và 6 của “Chính phủ Campuchia Dân chủ” như Hun Sen đề nghị; không đòi giải tán Nhà nước Campuchia (SOC), tuy đòi thực quyền cai quản Campuchia trong thời kỳ quá độ phải là cơ cấu quyền lực của LHQ.

Ngày 10.4.90, BCT họp bàn phương hướng thúc đẩy giải pháp chính trị vấn đề Campuchia. Đề án đấu tranh sách lược về vấn đề Campuchia do Bộ Ngoại Giao dự thảo: dùng công thức LHQ nói về vấn đề diệt chủng và cho Khmer Đỏ vào chính phủ liên hiệp Campuchia, nhận vai trò Sihanouk. BCT thấy không nên giao cho LHQ tổ chức tổng tuyển cử mà nên trở lại phương án 4 mà BCT thông qua ngày 6.12.89 (lập chính phủ liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử.)

Đại đa số BCT đồng ý. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu.

Bảo vệ chủ nghĩa xã hội

TBT Nguyễn Văn Linh có ý kiến:

“Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ CNXH, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa 2 nước. Các vấn đề khác giải quyết sau… một Campuchia thân thiện với Trung quốc, thân thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề Campuchia có lợi cho Campuchia… Phương án 4 là tốt. Không để LHQ nhúng tay vào vì LHQ là Mỹ, Thái Lan là Mỹ”.

Riêng Nguyễn Cơ Thạch nói rõ quan điểm của Bộ Ngoại giao là cần tranh thủ Trung Quốc, song đồng thời phải chuẩn bị có 3 khả năng về thái độ của Trung Quốc.

khả năng 1: Trung Quốc cùng ta bảo vệ chủ nghĩa xã hội;

khả năng 2: Trung Quốc cấu kết với Mỹ chống ta như trước;

null
Đặng Tiểu Bình ‘bình thường hóa quan hệ’ với VN để tranh thủ Mỹ là chính

khả năng 3: Trung Quốc vừa bình thường hoá quan hệ với ta, vừa tranh thủ Mỹ, Phương Tây là chính.

Lúc đó tôi có cảm giác nhiều uỷ viên BCT không tán thành quan điểm này vì đã có định hướng “cùng Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc”.

Ngày 16.4.90, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị theo hướng sớm làm lành với Bắc Kinh, anh Nguyễn Cơ Thạch đi PhnomPenh gặp bốn người chủ chốt trong BCT Campuchia: Heng Somrin, Chea Sim, Hun Sen và Sor Kheng để cố thuyết phục bạn nên tính tới bước sách lược về vấn đề diệt chủng và không gạt Khmer Đỏ.

Nhưng Bạn Campuchia không đồng ý và tỏ ra muốn giữ đường lối độc lập trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, không muốn ta đàm phán với Trung Quốc về các vấn đề nội bộ của Campuchia. Bạn tỏ ra rất găng về vấn đề diệt chủng, nói nếu bỏ ta sẽ không còn vũ khí gì chống lại các luận điệu của đối phương vu cáo “Việt Nam xâm lược Campuchia”, “chính quyền PhnomPenh do Việt Nam dựng lên”. Hơn nữa chính lúc này phương Tây lại đang khơi lên vấn đề lên án diệt chủng.

Phải nhận rằng ta khuyên bạn Campuchia đi vào “Giải pháp Đỏ” (từ năm 1987), việc ta thuyết phục Bạn chấp nhận vai trò của LHQ (tháng 12.89) rồi lại bảo Bạn bác vai trò của LHQ (tháng 3.90), khuyên Campuchia đi vào phương án 4 (lập chính phủ liên hiệp 2 bên) (tháng 4.90) đã gây nghi ngờ trong lãnh đạo Campuchia đối với Việt Nam. Việc lãnh đạo Campuchia không chấp nhận gợi ý của BCT ta trong cuộc hội đàm ngày 17.4.90 đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ Việt Nam-Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia.

Ngày 2.5.90 dưới danh nghĩa “đi kiểm tra sứ quán”, anh Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh để có cuộc “trao đổi ý kiến không chính thức” với Trung Quốc. Lần này đối tác không phải thứ trưởng Lưu Thuật Khanh mà là trợ lý bộ trưởng Từ Đôn Tín. Phụ tá cho anh Liêm là anh Đặng Ngiêm Hoành, lúc này đã là đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc từ tháng 2.90. Cuộc đàm phán có vài tiến triển nho nhỏ.

null
Campuchia ngày nay đã có tổng tuyển cử đa đảng

Nội dung cuộc trao đổi ý kiến chủ yếu về vấn đề Campuchia. Ta tỏ ra mềm dẻo hơn, nói có thể trao đổi ý kiến về một giải pháp toàn bộ, nhưng không thể quyết định về các vấn đề nội bộ Campuchia. Từ nhắc lại lời Đặng: Để giải quyết vấn đề Campuchia cần phải thực hiện 3 điểm: một là, Việt Nam thực sự rút quân, rút “sach sẽ, triệt để”, đó là tiền đề cho việc giải quyết vấn đề Campuchia; hai là, sau khi Việt nam rút quân, 4 bên Campuchia cần thực hiện liên hiệp; ba là, chính phủ liên hiệp phải do hoàng thân Sihanouk đứng đầu, Polpot không được mà Hun Sen cũng không được. Nếu những vấn đề trên được giải quyết thì có thể nói là chúng ta đã kết thúc quá khứ, tiếp đó sẽ mở ra tương lai.

Lần này phía Trung Quốc đi vào những vấn đề thuần tuý nội bộ của Campuchia, đòi ta đàm phán về phạm vi quyền lực của SNC và về việc xử lý quân đội “4 bên” Campuchia. Về vấn đề chính quyền Campuchia trong thời kỳ quá độ (từ khi Việt Nam rút hết quân đến khi tổng tuyển cử), Từ nói Trung Quốc thấy tốt nhất là thành lập một chính phủ liên hiệp 4 bên – gọi là Hội đồng Dân tộc Tối cao cũng được – băng không thì phải chọn phương án giao quyền cho LHQ. Chính quyền thời kỳ quá độ này phải bao gồm cả 4 bên Campuchia (với hàm ý Khmer Đỏ được chính thức coi là một bên tham chính) mới thể hiện được tinh thần hoà giải dân tộc. Nếu các đồng chí thấy nói 4 bên có khó khăn thì nói là các bên Campuchia cũng được. Không gạt một bên nào, không bên nào nắm độc quyền. Trong buổi làm việc với anh Đặng Ngiêm Hoành sáng 4.5.90, Vụ phó Trương Thanh cũng nhắc lại ý này: “Hội đồng này bao gồm đại diện của 2 chính phủ, 4 bên hay các bên Campuchia đều được.”

Từ nói: “Nếu so sánh giữa phương án chính phủ liên hiệp lâm thời do Trung Quốc đề ra và phương án LHQ quản lý thì chúng tôi vẫn thấy phương án Trung Quốc là tốt hơn”.

Về vấn đề diệt chủng, Từ nói có ý đe doạ là nếu cứ khẳng định Khmer Đỏ phạm tội thì phía bên kia sẽ nói Việt Nam là xâm lược và Phnom Penh là nguỵ quyền, cho nên, không nên nói đến vấn đề đó nữa.

Trong đàm phán, phía Trung Quốc để lộ rõ ý đồ muốn SNC thực tế sẽ thay thế chính phủ Phnom Penh; còn quân đội của Bốn bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm được chỉ định rồi giải giáp toàn bộ; ít nhất là lúc đầu giảm quân số tới mức tối đa. Mục đích là tước bỏ thế mạnh cả về chính quyền lẫn về lực lượng vũ trang của Nhà nước Campuchia.

Cách làm của Trung Quốc đúng là “một mũi tên bắn hai đích”, vừa xoá sạch thành quả cách mạng Campuchi, vừa phân hoá quan hệ Việt Nam-Campuchia.

…Đáng chú ý là Từ Đôn Tín đã gợi ý là sau khi Việt Nam và Trung Quốc nhất trí được về giải pháp Campuchia thì ba nước Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan sẽ họp lại. Điều này chứng tỏ là Thái Lan giữ một vai trò không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khmer Đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề Campuchia.

Về bình thường hoá quan hệ hai nước, phía Trung Quốc không mặn mà gì với gợi ý của ta về việc xích lại gần hơn giữa hai nước XHCN để cứu vãn sự nghiệp XHCN chung trên thế giới đang lâm nguy. Trung Quốc chỉ đặt quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chung sống hoà bình như với các nước láng giềng khác.

Phần vì tình thế thúc bách đẩy nhanh giải pháp Campuchia, phần vì hài lòng với cuộc gặp ấy, Tiền Kỳ Tham đồng ý đầu tháng 6 sẽ cử Từ Đôn Tín sang Hà nội với danh nghĩa “khách của đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội” để tiếp tục trao đổi ý kiến với ta.

Đây là lần đầu tiên trong 10 năm qua phía Trung Quốc nhận sang Hà Nội đàm phán với ta, trong khi tuyệt đại đa số các đợt đàm phán Việt – Trung đều tiến hành ở Bắc Kinh.

Đồng thời thái độ này đã được lãnh đạo ta hiểu như một cử chỉ thiện chí đặc biệt của Trung Quốc đối với Việt Nam…

Tựa của bài tư liệu do BBC đặt, từ Chương 9 ‘ĐẶNG TIỂU BÌNH TIẾP KAYSONE PHOMVIHAN ĐỂ NÓI VỚI VIỆT NAM’ trong cuốn hồi ký của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Trần Quang Cơ, người vừa qua đời hôm25/06/2015 ở Hà Nội.

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Ông Nguyễn Văn Linh: công trạng với đảng và với dân

Posted by hoangtran204 trên 01/07/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

30-06-2015

Nguyễn Văn Linh

Hôm còn ở Sài Gòn, đi trên đường thỉnh thoảng thấy hình ông Nguyễn Văn Linh (NVL) được treo khá ư trang trọng. Bây giờ mới biết là ngày mai là ngày lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Nói đến tên ông này, rất nhiều người (trong đó có tôi) nghĩ rằng ông là người rất cấp tiến, người chủ xướng phong trào “Đổi mới” cứu Việt Nam khỏi sự suy sụp về kinh tế, người cởi trói văn nghệ, v.v. Nhưng sau này biết thêm chút thì thấy tất cả những hiểu biết đó đều … sai, vì trong thực tế ông là một người rất bảo thủ.

Chẳng cần tìm chứng cứ đâu xa về tính bảo thủ của ông. Ví dụ như hôm nay, có bài “Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng” trên Vietnamnet (1), và “người” ở đây chẳng ai khác hơn là ngài NVL! Tôi hết sức ngạc nhiên khi người ta chạy cái tít hết sức bảo thủ như thế trên báo, giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó cũng là một phát biểu của vài người đang lãnh đạo đất nước hiện nay.

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên chúng ta biết được tính bảo thủ của ông NVL. Theo Hồi kí “Hồi ức và Suy nghĩ” của Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ (ông mới qua đời tuần này) thì ngay từ thập niên 1980s khi thế giới XHCN sụp đổ, ông NVL đã triệu tập Bộ Chính trị là nói rằng: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!” (2) Nói là làm. Sau đó, ông sang Tàu kí kết hiệp định Thành Đô mà cho đến nay chẳng ai biết nội dung là gì, chỉ biết ông Trần Quang Cơ nhận định rằng “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm: Giải háp Đỏ”. Còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nhận định rằng “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bô ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta” và ông cảnh báo rằng một thời Bắc thuộc thứ IV đã bắt đầu.

Trong cuốn sách “Bên thắng cuộc”, Huy Đức thuật lại rằng năm 1989, khi mà thế giới XHCN đang sụp đổ liên hoàn, thì ông NVL có một chuyến công du sang Đông Đức với mục tiêu chính là cứu vãn chủ nghĩa xã hội. Ông định nhân dịp này triệu tập một hội nghị các đảng cộng sản để cứu phong trào cộng sản quốc tế. Trong buổi họp, ông NVL gọi Gorbachev là “kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Chẳng hiểu sao lời nói đó đến tai Gorbachev, và như là một trả đũa Gorbachev tỏ thái độ khinh miệt NVL ra mặt. Khi NVL xin được tiếp kiến Gorbachev (lúc đó cũng đang có mặt ở Đông Đức) để bàn việc cứu vãn tình thế, Gorbachev cố tình cho NVL “leo cây” vài lần. Nhưng cuối cùng thì Gorbachev cũng ban cho ông Linh một ân huệ: được diện kiến ông ấy. Huy Đức viết về buổi tiếp kiến như sau:

“Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. […]

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: ‘Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh’.”

Đúng là một lời mỉa mai chẳng cần dấu giếm gì cả. Nhưng đọc đoạn Gorbachev đối xử với ông NVL mới thấy chua chát. Trong khi ông NVL nhiệt tình trình bày đại kế hoạch nhằm cứu phong trào cộng sản thì Gorbachev tỏ ra thờ ơ và lãnh đạm, và khinh thị ra mặt. Ý kiến nào của ông NVL cũng được Gorbachev phê là “rất tốt”, mà không buồn tình nói gì thêm. Khi NVL đề nghị Gorbachev đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản quốc tế, thì “Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: ‘Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!’.” Vui nhất là khi ông NVL mời Gorbachev đến thăm Việt Nam, thì “Gorbachev lại kêu lên: ‘Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước’.” Khi ông NVL đề cập xin viện trợ thì “Gorbachev xua tay, không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: ‘Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi’.” Ấy thế mà ngày hôm sau báo Nhân Dân đưa tin “cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Câu chuyện trên cho thấy ông NVL hình như không biết những diễn biến trên thế giới, nên ông vẫn nghĩ rằng có thể cứu vãn chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản. Ông không hề biết kẻ ông phê phán là “cơ hội” lại chính là kiến trúc sư đang giật sập bức tường Bá Linh. Chỉ hơn một tháng rưỡi sau khi hội kiến với ông NVL trong nỗ cứu vãn phe xã hội chủ nghĩa, ngày 25-12-1989, Tổng bí thư Nicole Ceausescu và vợ ông đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn ở Romania.

Trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức qua lời kể của những người trong cuộc mô tả ông NVL có tính hơi nhỏ mọn (3). Ít ai biết rằng ông NVL không ưa ông Võ Văn Kiệt. Khi ông NVL mất chức trong Bộ Chính trị và về sống ở Sài Gòn, ông phàn nàn rằng “Khi tôi mất Bộ Chính trị, về Sài Gòn, Sáu Dân không bao giờ gặp tôi.” Đó là một trong những lí do ông Linh không chọn ông Kiệt làm thủ tướng. Ông NVL từng nhận xét ông Kiệt như sau: “Dốt mà không chịu học. Làm Uỷ ban Kế hoạch còn không xong lấy đâu ra thủ tướng” (3). Chẳng những không ưa ông Kiệt, ông NVL còn làm hại đàn em của ông Kiệt, như cụ thể việc ông ra lệnh bắt giam ông Dương Văn Ba (4), một người từng giúp ông Kiệt trong thời chiến và sau này điều hành một công ti khai thác gỗ với Lào.

Báo chí chính thống ngày nay viết rằng ông NVL là người có công Đổi mới. Nhưng hình như ông Trường Chinh (chứ không phải NVL) mới là người đề xướng chủ trương này. Mà thật ra, cũng chẳng có gì hay ho trong việc “Đổi mới” vì đó là điều tất yếu trong bất cứ xã hội nào. Nhưng tôi nghĩ báo chí đánh giá đúng là ông NVL có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng” (5), vì rõ ràng là ông đã thành công duy trì sự lãnh đạo của đảng CS ở VN trong khi các đảng CS khác bên Đông Âu đều tiêu tan. Còn công trạng của ông NVL đối với đất nước và nhân dân — nếu có — thì nên để cho các nhà sử học sau này đánh giá công minh hơn, nhất là đến ngày mà sự kiện “Thành Đô” sẽ được bạch hoá.

____

(1) Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng (VNN).

(2) Hậu họa “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh (viet-studies).

(3) Bên Thắng Cuộc – Chương 14: Khoảng cách Linh – Kiệt (vinadia).

(4) Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ (viet-studies).

(5) Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam (VOA).

Nguon: 

GS Nguyễn Văn Tuấn

anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4225-ong-nguyen-van-linh-cong-trang-voi-dang-va-voi-dan/#more-148702 

——–

Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam

VOA

Trần Phan

28-06-2015


Bài viết này nhằm thảo luận về “đóng góp to lớn của ông Nguyễn Văn Linh đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đất nước và của miền Nam”, không đề cập tới sự đóng góp của ông Linh đối với đảng của ông. Bài viết xin nói về 1) giai đoạn kháng chiến cứu nước thời kì 1954-1975 (chống Mỹ) và 2) giai đoạn xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam từ năm 1975 tới khi ông Linh mất.     
Ngày 22/6/2015, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh ông Nguyễn Văn Linh, cố tổng bí thư đảng CSVN, tại Tp HCM, thành ủy đảng CSVN, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam Tp HCM tổ chức cuộc hội thảo có tên là “Đồng Chí Nguyễn Văn Linh với Cách Mang Miền Nam, với Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, Tp HCM” nhằm “khẳng định và tri ân những cống hiến, đóng góp to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đảng, của dân tộc, đất nước và của miền Nam”. Nhiều tham luận tại hội thảo có cùng nhận định: cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với thời kì đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến cứu nước và xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1).

Phần 1: Giai Đoạn Kháng Chiến Cứu Nước (chống Mỹ) thời kì 1954-1975

Quả thật, ông Linh có vai trò rất lớn trong cuộc cuộc “kháng chiến Chống Mỹ Cứu Nước”, cuộc chiến thường được các nhà quan sát chính trị nước ngoài gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Ông là một trong những nhà lãnh đạo cao cấp nhất tại miền Nam thời gian đó.

Cuộc kháng chiến đã đi tới thắng lợi hoàn toàn: đánh bại chế độ Miền Nam ngày 30-4-1975, thống nhất toàn bộ đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam kể từ đó.

Để xem các đóng góp của ông cho Miền Nam, cho Dân tộc lớn như thế nào, ta cần nhìn mục tiêu của cuộc chiến.

Nếu mục tiêu là Mỹ rút ra khỏi Việt Nam và chế độ Miền Nam thua trận, thì quả thật ông Linh đã lập công rất lớn và rất đẹp cho Miền Nam, cho Dân tộc.

Nếu mục tiêu là dân chúng Miền Nam ấm no và hạnh phúc, đất nước Việt Nam phát triển thì chúng ta đánh giá kết quả việc làm của ông như thế nào?

Hai mươi năm nội chiến từng ngày, nhiều tác giả, nhiều tài liệu đã nêu lên các con số kinh hoàng về người chết, về làng mạc, thành phố bị tàn phá, người viết không lặp lại đây. Chỉ biết bom đạn ngày đêm tàn phá khắp Miền Nam suốt 20 năm dài, người Việt giết người Việt với “lòng hận thù ngất trời”, rất rất nhiều gia đình có người thân ở hai bên nổ súng vào nhau. Cuộc thảm sát Huế – Mậu Thân mà tới bây giờ chính quyền còn giấu giếm cho thấy mức độ vô nhân đạo kinh hoàng của người giết người, người có súng giết người tay không, anh em, bằng hữu, xóm giềng giết nhau. Tại Huế, các chiến binh của ông Linh đã giết khoảng năm ngàn người tay không, nghe mà tưởng chuyện của thời quân Mông Cổ chiếm thành của một dân tộc khác tám thế kỉ trước! Đạo lí nào, truyền thống nào của dân tộc cho phép con dân nước Việt làm như thế? Các chính ủy của ông Linh đã tuyên truyền thế nào mà người Việt có thể căm thù người Việt tới vậy?        

Trước khi cuộc chiến mà ông Linh góp phần quan trọng lãnh đạo bùng lên, Miền Nam đang giàu có, dân chúng đang sống thanh bình no ấm. Năm 1960, GDP/người của Miền Nam tự do là 223 USD, cao gấp 3 lần con số 74 USD của Miền Bắc cộng sản.

Lúc ấy chiến tranh vừa chấm dứt vài năm, hai miền Nam Bắc vừa khắc phục hậu quả chiến tranh và bắt tay tạo dựng cuộc sống thanh bình. Thay vì dốc sức xây dựng Miền Bắc cho đời sống dân chúng khá lên, ông Linh và các đồng chí ông lại đưa cán binh Cộng sản từ Miền Bắc nghèo kém vào đánh phá Miền Nam sung túc. Hậu quả của cuộc chiến đó là kinh tế Miền Nam ngày càng tuột dốc nhanh. Miền Nam càng tuột dốc, càng tan nát, ông và các đồng chí càng phấn khởi, vui mừng. Càng gia tăng đánh phá, đào mô, phá cầu, giựt mìn, pháo kích, ám sát…

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí ông có yêu thương dân chúng Miền Nam không? Có yêu thương dân chúng Miền Bắc không? Có tấm lòng ủng hộ công cuộc xây dựng và phát triển Dân tộc không? Nếu nói rằng có, ắt chúng ta cũng nên làm một cuộc thăm dò xem dân chúng Miền Nam có thích được yêu thương như vậy không.

Cuộc chiến tàn khốc mà ông lãnh đạo giương cao ngọn cờ “Chống Mỹ Cứu Nước”, bởi vì “Mỹ là giặc cướp nước”. Bây giờ, ai cũng thấy Mỹ không cướp nước Việt Nam. Nếu ông và các đồng chí không đánh Miền Nam từ cuối những năm 1950, Mỹ đã không đổ quân vào Việt Nam năm 1965. Ông Linh lo sợ Mỹ khai thác tài nguyên của Miền Nam, bóc lột dân chúng? Không biết ông có cặp mắt nhìn gần quá không, nhưng thời đại đã khác xa rồi. Mỹ là nước giàu mạnh nhất thế giới, tổ chức xã hội hữu hiệu nhất thế giới, là nước dẫn đầu Thế giới Tự do. Quyền lợi của Mỹ nằm ở chỗ bảo vệ Thế giới Tự do chống lại làn sóng đỏ Cộng sản. Để yên cho Miền Nam thanh bình xây dựng kinh tế và làm đồng minh của Mỹ có lợi biết bao: kinh nghiệm xây dựng xã hội Tự do Dân chủ, thiết lập các giá trị sống tiến bộ, hệ thống luật pháp, trình độ quản lý, đầu tư, khoa học, công nghệ… bao nhiêu là tri thức trao đổi và chuyển giao cho Miền Nam. Thời đại đó, kích thước và tính chất dân số đó, tài nguyên đó… bao nhiên là điều kiện cho Miền Nam phát triển, đến nỗi ông Lý Quang Diệu bên Singapore phải thèm thuồng, mơ ước!

Miền Nam phát triển mạnh cũng có nghĩa là tổ quốc Việt Nam của dân tộc Việt Nam mạnh. Năm 1960, xã hội Miền Nam văn minh, chất lượng cuộc sống dân Miền Nam tươi đẹp và đầy triển vọng. Tốt đẹp hơn Miền Bắc, và tốt đẹp hơn Trung Công rất nhiều. Thay vì gìn giữ hòa bình cho dân tộc, tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm hai miền để Nam và Bắc Việt Nam cùng giàu mạnh, thì chiến binh Miền Bắc mang vũ khí Trung Cộng trùng trùng lớp lớp tiến công Miền Nam gây thảm cảnh nồi da xáo thịt, đất nước tan tành!     

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí của ông có nhìn được cục diện chính trị, khuynh hướng phát triển của thế giới không? Có thấy được dã tâm Trung Cộng thúc đẩy hai Miền Việt Nam chém giết nhau để tự hao mòn nguyên khí không?

Cần biết rằng lúc đó Việt Nam đã có những nhà trí thức, nhà hoạt động chính trị nhìn sự việc rõ như ban ngày, đã phân tích và đưa ra các tiên đoán tình hình thế giới và quan hệ Trung Quốc-Việt Nam mà ba mươi năm sau thực tế cho thấy rất chính xác. Ông Ngô Đình Nhu, trong tác phẩm Chính Đề Việt Nam, từ năm 1960 đã nói: Nếu các nhà lãnh đạo Miền Bắc không thoát khỏi chủ nghĩa Cộng Sản thì: a) sự phát triển của dân tộc sẽ bế tắc, và b) mở cửa đưa các thế hệ sau này vào vòng lệ thuộc rồi bị xâm chiếm bởi Trung Cộng.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Ông Linh và các đồng chí ông có đủ tầm nhìn của một “nhà lãnh đạo tài năng, một tư duy sáng tạo, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam”, như ông Lê Thanh Hải ca tụng (2), để thấu hiểu các lời tiên đoán chính trị rất đúng đắn của ông Nhu không? Và nếu ông Linh có tầm nhìn đó, thì ông có mục tiêu gì khi lãnh đạo cuộc chiến “Chống Mỹ Cứu Nước” tàn phá Miền Nam? Mục tiêu đó có đồng hành với mục tiêu phát triển đất nước lâu dài không?

Phần 2: Giai Đoạn Xây Dựng, Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Từ Sau Năm 1975

Sau khi Việt Nam được thống nhất bằng bạo lực và đặt dưới quyền toàn trị của đảng CSVN, toàn bộ đất nước suy sụp nhanh chóng.

Sự suy sụp bắt đầu từ việc chính quyền thắng trận, bằng các thủ đoạn mang tính lừa gạt, lùa viên chức chính quyền và quân đội chế độ Miền Nam vào các trại cải tạo, thực chất là các nhà tù, giam cầm và đày ải họ suốt những năm dài sau đó. Trong khi đó, bên ngoài trại cải tạo, dân chúng bị tước đoạt tài sản qua các chiến dịch đánh Tư sản mại bản, cải tạo Công Thương Nghiệp, đổi tiền, ngăn sông cấm chợ…      

Những chứng nhân thời cuộc những năm 1975-1985 còn nhớ cảnh tượng kinh hoàng của một xã hội từ Tự do và Công bằng trở thành Toàn trị và Phân biệt đối xử, từ có cơm ăn áo mặc trở thành ăn độn, rách rưới, từ nề nếp và đạo đức trở thành xô bồ với mọi giá trị đảo lộn… chỉ trong vòng vài năm!

Khi xã hội suy thoái cùng cực, tên tuổi ông Linh được gắn với bút danh NVL kí dưới các bài báo “Những Việc Cần Làm Ngay” nêu lên những sự kiện trong xã hội và yêu cầu sửa đổi.

Thực ra các bài báo ngắn với bút danh NVL đó chỉ để giải quyết một vài cách làm quá tệ hại của đảng CSVN đang cầm quyền. Những việc nêu lên nhỏ quá so với tầm của một nhà lãnh đạo cỡ ông. Các bức xúc mà chúng đề cập chỉ như những chiếc lá nhỏ ngoài đầu cành con, không hề động tới các nhánh bên trong, tới thân cây hay gốc cây.

Việc tham gia giải quyết thiếu lương thực… cho thành phố cũng vậy. Nó chỉ giúp cho lòng dân tạm dịu cơn bất bình và đảng của ông kéo dài thời gian thống trị trên đất nước bị kìm hãm mà giàu tiềm năng này.

Buổi đầu, ông được mọi người nhìn như một nhà đổi mới. Nhưng khi các vấn đề xã hội và đất nước bắt đầu cần các thay đổi căn bản hơn một chút thì ông dần dần bộc lộ là một người bảo thủ, rất bảo thủ. Bảo thủ với ý nghĩa ông là một nhà lãnh đạo “luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng”, luôn kiên định lập trường “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (3).

Trước hết ông chống lại tất cả các chính sách cởi mở hơn, nới rộng hơn quyền tự do cho dân chúng. Ông chống lại Tự do báo chí và quyền ra báo tư nhân.

Ông chống lại các khuynh hướng đổi mới tư tưởng trong nội bộ đảng của ông. Ông chống tất cả những yêu cầu mang lại Tự do hơn cho dân chúng, chống tất cả những yêu cầu giảm tính toàn trị trong sự thống trị của đảng ông trên đất nước này. Ông là nhân vật quan trọng tham gia hạ bệ ông Trần Xuân Bách, người đồng chí trong Bộ Chính trị có tư tưởng hướng về đa nguyên.

Bởi vì ông biết chắc chắn rằng, khi người dân có quyền tự do hơn, có kiến thức hơn về cách tổ chức xã hội, về quyền con người của đa số các quốc gia trên thế giới, thì cái mặt nạ “của dân, do dân và vì dân” của chính quyền do đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt hoàn toàn bị lột ra trước công chúng. Những điều gian trá đảng ông đã làm trong quá khứ sẽ bị phơi bày. Điều này được một hậu duệ của ông tuyên bố thật thà: “Bỏ điều 4 Hiến pháp nghĩa là chúng ta tự sát”. Do đó, ông rất kiên định trong việc tăng cường tính lãnh đạo của đảng, đồng nghĩa với việc không cho dân chúng hưởng bất cứ một quyền tự do căn bản nào. Quả thực, ông rất kiên định với mục tiêu không gì lay chuyển được cho “đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi lãnh đạo nước Việt Nam” như ông đã từng tuyên bố.         

Khi hệ thống Cộng sản thế giới rung rinh và sắp sụp đổ cuối thập niên 1980, ông Linh càng thể hiện là người mong muốn cứu vãn hệ thống ấy trên thế giới. Những vận động cuống cuồng và nháo nhào của ông trong thế cờ tàn của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở mức độ toàn cầu cho thấy tầm vóc tri thức, tư tưởng thảm hại của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đau đớn thay cho Việt Nam, vào thời điểm rất quan trọng của lịch sử thì lại có một người lãnh đạo thiếu kiến thức như thế! Vậy là, trong khi các nước Đông Âu và Liên Xô, những nước Cộng sản hùng hậu và tiêu biểu nhất thế giới, quyết định từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản để mà tổ chức xã hội theo mô hình Tự do Dân chủ, Tam quyền phân lập và từ đó đưa đất nước họ ngày càng ổn định và giàu mạnh, ấm no hơn, thì Việt Nam, sẵn lợi thế có một Miền Nam nhiều kinh nghiệm của thế giới Tự do, lại bị đẩy sâu hơn vào thể chế toàn trị Cộng sản. Trong việc này, ông Nguyễn Văn Linh có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng”. Nhưng với Nhân dân, với Miền Nam thì ông Linh đã mang lại những tác hại to lớn lâu dài cho tương lai dân tộc.

Bởi vì, để giữ thể chế toàn trị Cộng sản lỗi thời trên tổ quốc Việt Nam, ông đã cùng với dàn lãnh đạo cao nhất nước sang Thành Đô phủ phục trước đảng Cộng sản và chính quyền Trung Quốc. Tác hại của Hội nghị Thành Đô đó khủng khiếp tới mức ông Nguyễn Cơ Thạch, một đồng chí trong Bộ Chính trị của ông phải thốt lên: “Một thời kì Bắc Thuộc mới đã bắt đầu!”

Trước Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc đã tiến đánh Việt Nam. Cuộc chiến biên giới giết chết mười vạn quân dân Việt Nam, san bằng các thành phố họ đi qua. Sau đó là cuộc chiến ngoài biển giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, chiếm của Việt Nam một số đảo mà hiện nay là căn cứ quan trọng để Trung Quốc uy hiếp toàn bộ lãnh thổ nước ta. Dư âm các cuộc chiến còn vang vọng, máu của dân ta còn nhỏ tươi dòng, lòng dân ta còn căm phẫn, chỉ vì ích kỉ bảo vệ đảng Cộng sản lỗi thời của riêng mình, ông Linh nỡ tròng cái ách nô thuộc của Trung Hoa lên đầu dân tộc!

Trước Hội nghị Thành Đô, dù tiến đánh Việt Nam, Trung Hoa chỉ là người hàng xóm hung hăng ngoài cửa. Sau Hội nghị Thành Đô, họ là thầy, là cha chú của Việt Nam. Nhìn họ cười ngạo nghễ trước giới cầm quyền Việt Nam khúm núm, nhìn họ hung hăng lấn chiếm và chính quyền Việt Nam hèn yếu cúi đầu, nhìn họ ra lịnh và chính quyền Việt nam vâng lời đàn áp dân chúng… lòng người Việt Nam nào không đau? Họ đã bước vào bên trong Việt Nam qua các vùng lãnh thổ Tây Nguyên, các tỉnh địa đầu biên giới, các vùng đất hiểm yếu của Việt Nam. Người dân tin rằng họ đã nằm trong giới cầm quyền cao cấp của đất nước…

Các tham luận cùng nhận định cho rằng ông Linh đã cống hiến, đóng góp to lớn vào sự nghiệp “xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Tôi không hoài nghi và cũng không thảo luận nhận định này.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Trong khi “xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” ông Linh có làm hại cho việc xây dựng và bảo vệ “tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta” không?

“Tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta”, ý của người viết muốn nói tổ quốc Việt Nam từ thủa bình minh của những bộ tộc Việt trên châu thổ sông Hồng, qua hai ngàn năm lớn lên, tiếp theo một ngàn năm Bắc thuộc, rồi giành lại độc lập tới giờ hơn một ngàn năm nữa. Tổ quốc đó, được bảo vệ và phát triển qua bao đời, từ xa xưa tới nay, thành một dãy đất hình chữ S kéo dài từ ải Nam Quang tới mũi Cà Mau, ngoài khơi có các đảo Cát Bà, Cái Bàn, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc… Trên dải đất đó, dân tộc Việt Nam thấm nhuần truyền thống lòng hiếu thảo, tình đồng bào, tình làng nghĩa xóm và tinh thần chống ngoại xâm, cái họa ngoại xâm thường trực đến từ láng giềng phương Bắc. Hai chữ Tổ quốc đó, vài dòng không diễn hết ý, mà ngàn trang cũng không đủ, chỉ biết đối với những người Việt nặng lòng với đất nước tổ tiên thì tâm tình Tổ quốc luôn rào rạt trong từng mạch máu, và réo sôi khi vận nước nguy nan.

_____

Tài liệu tham khảo:

1) HỒNG HIỆP. Bài Học Về Tư Duy Đổi Mới Và Gắn Bó Với Dân. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 2.

2), 3) LÊ THANH HẢI. Đồng chí Nguyễn Văn Linh – Nhà lãnh đạo tài năng, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 3.

———

Ông Trần Quang Cơ qua đời

BBC

28-06-2015

 Ông Trần Quang Cơ trong một cuộc tiếp xúc với chuyên gia Liên Xô (ảnh của báo Quân đội Nhân dân)

Nguyên thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89.

Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7.

Ông Cơ là người từng khước từ chức bộ trưởng ngoại giao mà Đảng Cộng sản Việt Nam sắp đặt sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991.

Ông Trần Quang Cơ sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997.

Có thể nói ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao.

Ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ năm 1986.

Trong suốt 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Campuchia.

Ông cũng tham gia tiến trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với các nước lớn Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc.

‘Hồi ức và Suy nghĩ’

Năm 2001 ông cho ra cuốn hồi ký mang tựa đề ‘Hồi ức và Suy nghĩ‘ gây tiếng vang vì đụng chạm tới những vấn đề vẫn được giữ kín về chính trị nội bộ và quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc.

Đánh giá về ông, cựu đại sứ Nguyễn Ngọc Trường nói: ” Ông Cơ là một nhà ngoại giao lão luyện, có tầm nhìn chiến lược”.

“Ông có chính kiến, độc lập, đặc biệt là không tán thành cách tiếp cận cơ hội với Trung Quốc như một số nhân vật cấp cao thời bấy giờ.”

Sau khi từ chối chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1991 vì cho rằng không thể làm việc khi một số nhân vật cao cấp trong dàn lãnh đạo Việt Nam lúc đó quá ngả về phía Trung Quốc, cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Trần Quang Cơ cũng tự xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN.

Theo ông Nguyễn Ngọc Trường, “có thể xem ông Cơ như một nhà nho hiện đại, biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng nhưng có lẽ không biết biến…”

“Các phẩm chất ấy không phải ai cũng có. Đó là nhân cách lớn của Trần Quang Cơ.”

Trong cuộc phỏng vấn với BBC nhân dịp 30 năm cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, ông Trần Quang Cơ đã bình luận rằng căn nguyên (của cuộc chiến Việt – Trung) là xung quanh vấn đề quyền lợi nước lớn, liên quan tới vấn đề Đông Dương.

Ông nói: “Các nước lớn họ có tính toán của riêng họ, nhưng tình hình quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn bất lợi cho Việt Nam”.

“Tôi thấy điều mình có thể làm khác, là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ.”

Thời kỳ vô cùng khó khăn của ngoại giao Việt Nam này đã được phản ánh trong cuốn hồi ký Trần Quang Cơ, với những chi tiết như về Hội nghị Thành Đô 1990 cho thấy “các giới hạn của môt thời kỳ lịch sử, cái khó của đất nước đứng cạnh Trung Quốc và chịu sức ép của Trung Quốc”, theo Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường.

Ông Trường nói với BBC: “Cuốn hồi ký thể hiện tính khách quan, không phải là chống Tàu, mà là ‘thân Việt’”.

“Chính vì vậy mà nhân dân biết đến ông và tôn trọng ông.”

____

Mời xem lại hồi ký Trần Quang Cơ: Hồi ức và Suy nghĩ (Ba Sàm).

Nguon:  anhbasam.wordpress.com/2015/06/28/4210-ong-tran-quang-co-qua-doi/#more-148654

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Nghệ sĩ Kim Chi ăn năn lỗi lầm to lớn N

Posted by hoangtran204 trên 23/04/2015



Posted on 20/04/2015 by conglyvasuthat

https://www.facebook.com/RFAVietnam/posts/10153270549779571:0

Đài Á Châu Tự Do

NỖI LÒNG 30/4 của nữ nghệ sỹ Kim Chi (người quấn khăn rằn trong hình) Xin hãy kiên nhẫn , nhẫn nại với tôi , lắng nghe và đọc các tâm sự đau khổ của tôi.
Trước đây mỗi năm tới ngày 30/4 tôi rất vui nên hay tổ chức gặp gỡ bạn bè. Nhiều lần tôi bay vào SG cùng đồng đội về thăm căn cứ cũ ở miền Đông, miền Tây Nam bộ. Chúng tôi thắp hương cho bè bạn đã hi sinh để bày tỏ lòng tri ân với những người đã để lại tuổi xuân ở chiến trường. Rồi chúng tôi quây quần bên nhau cùng ôn lại bao kỉ niệm buồn, vui những năm chiến tranh ác liệt. Trong lòng chúng tôi tràn ngập niềm vui và tự hào vì nghĩ rằng mình đã dâng hiến cả tuổi trẻ để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước..

Ngày còn trẻ khi đang phục vụ trong đoàn Văn công Giải Phóng ở chiến trường, tôi rất tha thiết được kết nạp vào đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG. Ngày được kết nạp tôi đã sung sướng đến trào nước mắt. Tôi nghĩ là mình đang được đứng trong đội ngũ những người tiên phong nhất, tốt đẹp nhất, những con người dám đem cả mạng sống ra để giải phóng quê hương. Ngày ấy tôi tin mãnh liệt vào sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG. Rằng “Giải phóng miền Nam để chấm dứt chiến tranh. Sẽ xây dựng một Việt Nam ẤM NO, TỰ DO, DÂN CHỦ, HẠNH PHÚC và GIÀU MẠNH”. Vì tin tưởng mạnh mẽ cho nên tôi luôn ở trong tâm thế sẵn sàng hi sinh cho tương lai tốt đẹp của đất nước…

Những văn nghệ sĩ trên chiến trường thời ấy, cũng như tôi, ai cũng tin tưởng sau chiến tranh Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng. Nhưng bây giờ, nếu nhạc sĩ Xuân Hồng còn sống, chắc ông sẽ chọc tôi: “Buồn chi, nước mắt lại trào?”. Đúng, ngày xưa khóc trong niềm vui chiến thắng, nay tôi lại phải khóc ‘trong nỗi đau thời cuộc’, trong những nỗi buồn da diết!
“Vui sao, nước mắt lại trào” – bây giờ tôi mới thấy đó là niềm vui ngộ nhận, sai lầm rất to lớn trong đời tôi !!! Hóa ra, niềm vui, niềm tin và những hy vọng cứ sáng lên trong tôi suốt thời chiến trường khói lửa ấy là do “nghệ thuật tuyên truyền” giả dối , ma quái , xảo quyệt của Bác Hồ Tàu Chệt Hồ Tập Chương và đảng CSVN !!!!!, và có lẽ chính người đi tuyên truyền thời ấy nay cũng “tâm tự vấn tâm” , tự hỏi lòng mình , tâm trí mình về sự ‘ngộ nhận’ to lớn đó !!!

Mấy năm qua, mỗi lần 30/4 tôi mất hẳn cảm giác hạnh phúc, mất hẳn sự tự hào như những năm trước đây. Tôi buồn vì niềm tin trong tôi hoàn toàn đổ vỡ. Nghĩ lại, nhận rõ và xác thực hơn: Những năm tôi ‘đi theo lý tưởng’ Bác Đảng và bom đạn thì quả là tôi “lớn rồi mà như ngây thơ , ngu xuẩn , dại khờ “. Tôi cũng như biết bao đồng đội đã qúa ‘ngây thơ , ngu ngốc’

Đúng thế, dần dần tôi nhận ra lời tuyên bố hùng hồn của đảng CS ngày ấy nay như không hồn , vô ý nghĩa ! Những điều nói và làm khác biệt nhau , trái ngược nhau , nói một đường , nhưng lại làm một ngả khác , đường khác , nẻo khác !!!! làm ngược với nói như thế, dân Nam bộ chúng tôi đã đúc rút: “Nói dzậy mà hổng phải dzậy”. Thực tế đời sống chính trị-xã hội đã hoàn toàn khác biệt trái ngược với những điều tôi hằng tâm niệm … Chỉ thấy toàn là những sự giả dối , gian trá , lọc lừa , độc ác , tham ô mà họ không dễ tự nhận biết, không dễ sám hối !!!

Trong cương lĩnh đảng CSVN tuyên bố “người cày có ruộng”. Vì lẽ đó nên con em nông dân đi lính , đi bộ đội đông nhất khi đất nước có chiến tranh. Ở nông thôn miền Bắc VN đóng góp quá nhiều máu xương cho các cuộc chiến. Vậy mà cho đến hôm nay có rất nhiều gia đình vẫn đói nghèo vì bị cướp đất , cướp đồng , cướp ruộng cho những dự án. Có còn xứ sở nào nhiều dân oan như ở VN không ?? Hiến pháp VN không công nhận quyền tư hữu ruộng đất là cố tình để những nhóm lợi ích tước đoạt ruộng đất của nông dân. Câu chuyện chính quyền Tiên Lãng Hải Phòng dùng cả lực lượng quân đội và công an tấn công cưỡng chế đất của anh em nhà Đoàn Văn Vươn đã khiến dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Kết quả là luật pháp VN đã dùng luật rừng để bỏ tù người nông dân can đảm dám dám chống lại sự bất công , sự vô lý , sự phi lý , sự gian ác của cường quyền và bạo lực . Đau xót lắm! Căm hận lắm !….

Người nông dân mất ruộng , mất đất , mất vườn , mất nhà buộc phải ra thành phố kiếm sống ở các khu công nghiệp. Các chủ nhà máy , chủ hãng xưởng bóc lột họ đến tận xương tủy.

Trong số đó có nhiều người thuộc diện gia đình có công, đáng ra họ phải được nhà nước quan tâm chăm sóc. Mỗi khi tổng động viên, chính cha, anh, chồng , con họ đã ra trận và có rất nhiều người đã không trở về. Cho tới nay có rất nhiều gia đình còn chưa lấy được hài cốt của con em và thân nhân mình ….. Đảng và nhà nước thật qúa bất nhân , tàn ác và phi nghĩa …………….

Đó là những chiến sĩ VN đã hi sinh trong chiến tranh biên giới Việt – Trung ở phía Bắc. Các phần đất đó nay bị Trung Quốc lấn chiếm , tước đoạt …. và các chiến sĩ , các bộ đội đã hy sinh trong các trận hải chiến với Trung quốc để bảo vệ các biển đảo …. Nay cũng bị Trungquốc chiếm đoạt , cướp mất …. Đã như vậy , các lãnh đạo tồi tệ của CHXHCN CSVN lại còn hỗ trợ , giúp đỡ và bán các đất đai , lãnh thổ , lãnh hải , biển đảo VN cho kẻ thù Tàu Chệt để lấy tiền , vàng bạc của TQ đem chia nhau bỏ vào túi bị riêng của cá nhân !!!!……..

Đã 40 năm “ giải phóng Miền Nam” nhưng với người Miền Nam thì từ ngữ “ giải phóng” đầy mỉa mai. Miền Nam trước đây được biệt danh là “ hòn ngọc viễn đông”. Nhưng “ giải phóng” vô thì họ bị mất nhà cửa , mất tài sản , mất của cải , tiền bạc. Rồi chồng con bị tù đầy… Mất tất cả nên hàng triệu người miền Nam buộc phải trở thành thuyền nhân bỏ nước ra đi , chạy trốn Bác Hồ và các đảng viên Cộng Sản !!!!!. Đã hàng mấy trăm ngàn người bị chết trôi trên biển , làm mồi cho cá mập…. Nhưng họ vẫn tìm mọi cách để chạy đi trốn Cộng Sản … Vì sao như vậy , vì lý do nào ????? Nếu Cộng Sản tốt đẹp , tốt lành thì họ đã ở lại với Cộng Sản rồi !!! Đằng nầy nếu cái cột đèn , con kiến , cái bàn , cái ghế mà có thể chạy được thì chúng sẽ chạy ra khỏi VN để trốn thoát Cộng Sản !!!!!!! Tại sao có nhiều kẻ ngu dốt , xuẩn ngốc , khờ khạo lại không nhận biết và thấu hiểu những điều nầy ??? ??? Những kẻ chiến thắng đã cư xử với người thua cuộc tàn bạo một cách tiểu nhân. Khi nhân ra được sự tồi tệ này tôi thấy vô cùng đau đớn !!!! Tôi nhận thấy đảng , nhà nước và các lãnh đạo của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thật rất tồi tệ , đê hèn , ghê tởm , đáng khinh bỉ , đáng phỉ nhổ còn hơn rác , còn hơn mấy thứ rận , rệp , trùn , giun , sán chết sình , chết toi ở bờ đê , đáy ruộng , bờ tre , bờ cỏ !!!!! Không thể tưởng tượng được !!!!! …….

Báo chí của đảng cứ ra rả nhận mình là “công bộc của dân”. Nhưng các “công bộc” nầy lại có đất đai , nhà cửa nguy nga, tráng lệ ở khắp nơi trong nước, ngoài nước…. Họ giàu nứt đất , nẻ đai , giàu đến nỗi gà ăn bạc , ăn tiền của họ … Tiền bạc họ gửi ra bạc tỉ dollas ở ngân hàng thế giới. Các “ công bộc” cấp to thì ăn công trình, dự án to. Các “ công bộc” cấp nhỏ ở nông thôn thì lùa bắt bò, dê, gà , vịt của nhân dân chạy vào chuồng nhà họ hàng đàn. Mà đó là những súc vật mà dân chúng nuôi để hỗ trợ cho chương trình xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Bọn họ hăm dọa sẽ trả thù những người dám tố cáo . Cái bọn “ công bộc” giả hiệu ấy chúng ăn từ dưới ăn lên, từ trên ăn xuống thì hỏi dân lành làm sao sống nổi?? Con cháu các quan , các cán bộ và các đại gia nhà nước đều được đưa sang du học ở các nước tư bản tự do, nhiều nhất là ở Mỹ…. Khi trở về nước họ đều nắm giữ những chức vụ quan trọng để tiếp tục đục khoét , ăn bẩn , xơi nuốt tiền bạc của nhân dân và đè đầu , cưỡi cổ sống trên xương máu của nhân dân !!!! ….

Cái gọi là “xây dựng kinh tế định hướng XHCN” đã làm cho nhà nước thua lỗ hàng nghìn tỉ đồng ở nhiều dự án như Vinasin, Vinalines, Bauxite…Đường sá chỉ làm vài hôm đã sụt lún vì nhà thầu ăn bớt vật tư, làm ăn dối trá…Họ bán tất cả những gì có thể và giờ đây bán tiếp cây xanh ở thủ đô Hà Nội … Họ đốn bỏ các cây cổ thụ đó để dọn đường , dọn nơi , dọn chỗ cho trống trải , quang đãng , không có gì cản trở , vấp váp để cho các trực thăng , các máy bay lên thẳng , xuống thẳng , các xe tăng , thiết giáp , các quân xa của các binh đội Cộng Sản Trung quốc sang tấn công , đánh chiếm , xâm lăng , thống trị , cai quản Việt Nam một cách thật rất dễ dàng bất cứ khi nào Trung quốc muống sang để chiếm cứ bắt VN làm nô lệ liếm nước tiểu của bọn chúng !!!! Thật là qúa thê thảm !!! Qúa nham hiểm , qúa độc ác , qúa gian trá , lọc lừa , gạt gẫm toàn thể nhân dân và Dân Tộc Việt Nam !!!!!

Nhà nước tiêu tốn quá nhiều tỉ đồng cho những việc xây dựng các tượng đài chỉ nhằm để phô trương , khoe khoang khoác lác bề ngoài … Thay vì dùng tiền đó để xây những chiếc cầu cho các tỉnh nghèo miền núi để trẻ em đi học qua sông không phải đu giây, không phải lội nước.

Về đường lối thì ĐCS và nhà nước VN vẫn quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội không tưởng , phi nhân , phi nghĩa , phi lý mặc dù tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói rằng : “ có thể trăm năm nữa XHCN cũng chưa hoàn thiện”…. !!!! ….

Chính vì cái đường lối kì quái này mà hiện nay đất nước vẫn đói nghèo , lạc hậu, thụt lùi !!!!

Về quan hệ quốc tế thì VN ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc một cách thảm hại cả kinh tế lẫn chính trị:

– Biển đảo, đất đai biên giới của VN bị Trung Quốc ngang nhiên lấn chiếm mà các lãnh đạo VN cam tâm im lặng . Đáng lẽ ra VN phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về việc TQ ngang nhiên đưa con tàu HD 981 vào hải phận VN. Không dám kiện đã là hèn. Hèn hơn nữa là thẳng tay đàn áp những ai lên tiếng phản đối. Đội ngũ công an luôn sẵn sằng khủng bố, bắt bớ, tù đầy những người chống Trung Quốc. Đám dư luận viên hung hãn như một lũ chó ghẻ điên khùng , chúng vô học , vô giáo dục , vô lương tri , chúng tấn công, chửi bới những người đi tưởng niệm các chiến sĩ đã hi sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa. Chúng gán tội , ghép tội , dán cho những người dám đấu tranh cái nhãn hiệu là “ phản động”….

– VN cho Trung Quốc thuê đến hơn 340.000 ha đất rừng hạn 50 năm. Đó là những vùng rừng núi có tính chiến lược dọc các tỉnh biên giới phía Bắc , vì vậy Trung quốc tha hồ đưa các bộ đội của nó trá hình , giả dạng làm các công nhân vào chiếm đóng , đóng chốt ở các miền đó đến lâu dài vô thời hạn như bọn chúng đã đóng chốt ở các đảo của Tây Sa , Hoàng Sa , Trường Sa ….. Nhà nước Cộng Sản VN làm sao đuổi chúng đi , vô phương cách !!!!! ….

– Các blogger , các nhà báo dám lên tiếng tố cáo càc lãnh đạo , các cán bộ tham nhũng , hối lộ , đòi ăn tiền , biển thủ công qũy , gian lận , gian tham , ăn cướp , ăn trộm , bóc lột dân chúng và chống Trung Quốc xâm lăng , xâm lược lần lượt bị bắt nhốt vào tù. Hiện nay trong các trại giam còn rất đông các tù nhân lương tâm , những người vì yêu nước thương dân !!!!

– VN đã tham gia kí kết Quốc Tế Nhân Quyền (QTNQ), có chân trong ban lãnh đạo QTNQ. Nhưng chính VN là nước vi phạm quyền Sống , Quyền Tự Do Căn Bản Của con người nhiều nhất… Nhiều Tù Nhân Lương Tâm bị tra tấn đánh đập hết sức dã man trong các trại giam. 
Bao nhiêu vụ án oan sai đẩy người ngây thơ , thật thà , lương thiện , vô tội vào cảnh tù đày…

Với tôi bây giờ 30/4 không phải là giải phóng miền Nam…. Miền Nam trước đây là mơ ước của Thái Lan, của Singapore , Mã Lai , Nam Hàn …. Vậy mà bây giờ VN ta tụt xa , thua xa , sau họ hằng thế kỉ ….

Bây giờ mỗi lần 30/4, tâm trạng tôi rất đau đớn bởi vì niềm tin vào đảng CSVN và chế độ XHCN , niềm tin vào các lãnh đạo Cộng Sản vô học , vô giáo dục , thấp kém , vô tri thức , vô lương tri , vô nhân nghĩa đã hoàn toàn đổ vỡ. Các nỗi đau buồn không diễn tả được bằng lời.

Nhưng tôi có một niềm tin mãnh liệt vào ý chí của toàn dân VN cả trong và ngoài nước sẽ không để mặc cho những người lãnh đạo muốn làm gì cũng được. Những trí thức, đảng viên cấp tiến, những sĩ quan quân đội bên anh em trẻ trong các tổ chức xã hội dân sự cùng sát cánh trong đội ngũ xuống đường ngày càng đông. Theo xu thế văn minh tiến bộ của loài người nhất định nhân dân sẽ đòi được NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ, phải có hai thứ đó thì mới mong THOÁT TRUNG. Chỉ có thoát Trung thì Việt Nam mới cất cánh. 

Hiện nay các tỉnh phía Nam công nhân các nhà máy đã xuống đường hàng trăm ngàn người. Đó là báo hiệu đã có nhiều người bước qua nỗi sợ hãi. Tôi tin rồi sẽ tới lúc mọi người sẽ nhận ra mình phải tự cứu mình. Nhất định ngày đó sẽ tới. Các vị quan chức cao cấp hãy tin đi khi mà nhân dân đã nổi giận thì các vị sẽ mất tất cả. Nhất định nhân dân sẽ CHIẾN THẮNG. Chủ Nghĩa Cộng Sản , Chủ Nghĩa Xã Hội – Chế Độ Cộng Sản , Chính Sách Cộng Sản đã qúa lỗi thời , qúa lạc hậu , qúa sai lầm , qúa gian trá , qúa độc ác , Chỉ có lọc lừa , gạt gẫm nhân dân mà thôi !!!!!

Tôi mơ ước một ngày rất gần nước Việt Nam sẽ đổi mới theo cùng thời đại trên trái đất này với một thể chế chính trị thực sự hợp lòng dân , một đất nước thực sự có Tự do, Dân chủ, Nhân quyền và Công Lý , Công Đạo . Khi đó, tôi ‘lại sẽ vui’ biết bao khi được đoàn tụ cùng tất cả bà con, anh chị em ở hải ngoại trở về trong niềm vui hòa hợp dân tộc, cùng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh.

Hà Nội, tháng 4.2015 
Ký Tên 
Nghệ Sỹ Xuất Sắc Kim Chi

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma 14-3-1988?

Posted by hoangtran204 trên 13/03/2015

“…Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như TQ đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là Lê Đức Anh đã lệnh Không được nổ súng! ”

Mời các bạn xem lại phim 14-3-1988 do quân đội TQ phát tán trên mạng internet năm 2007. Trong khi đó, đảng CSVN giấu diếm rất kỹ vụ Gạc ma.

https://www.youtube.com/watch?v=ZEmirnjLef4

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc-Ma

RFA

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

12-03-2015

Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng...

Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc

Lệnh không được nổ súng

Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.

Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu Tự Do lệnh không được nổ súng này

-Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.

Thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó Chính trị trung đoàn công binh 83 kể lại với báo chí cái chết của trung úy Trần Văn Phương người đầu tiên ôm cờ chịu bị lính Trung Quốc bắn chết trước mặt đồng đội. Thượng tá Hoan xác nhận đây là hành động kềm chế trước sự hung hãn của lính Trung Quốc:

-Sau một thời gian giằng co nhau quyết liệt và xảy ra việc Phương bị thương và sau chết tại đảo và Lanh thì bị thương nằm gục xuống rồi thì anh em cùng với nhau đối với bọn Trung Quốc đó cuối cùng thì bọn nó nhanh chóng rút lui ra. Nhưng mà nó có cái chuyện, tức là nó nổ súng trước còn ta thì có thái độ kềm chế chủ yếu là mềm dẻo để giải quyết đúng đắn khẳng định rõ chủ quyền Việt Nam, tôi đã ở đây rồi! Thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cứ nổ súng vào cán bộ chiến sĩ của xây dựng và đi giữ đảo.

Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là Thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:

-Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là khi trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù, tướng Lê Mã Lương chia sẻ:

-Trong lịch sử của Hải quân Nhân dân Việt Nam chưa có trận nào mà hải quân ta chỉ có mấy phút thôi chúng ta chết đến hơn nửa đại đội. Không có chuyện lịch sử Hải quân, lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh chỉ trong mấy phút mà tiêu như thế, trừ bom, nó bỏ trúng đội hình đang hành quân hoặc là nó thả trúng đội hình đang đóng quân còn trong đánh nhau ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó. Cho nên đó là cái nỗi đau mà nỗi đau này nó âm ỉ và nó sẽ đi với người lính cho tới khi kết thúc sứ mệnh trên cái đất này.

TS Nguyễn Văn Khải người tham dự buổi hội thảo cho biết nhận xét của ông về việc tướng Lương công khai điều mà Bộ quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam giấu kín sau sự cố Gạc Ma:

-Câu đó của Lê Mã Lương là hoàn toàn đúng bởi vì những năm 80 tôi là TS Thiếu tá và có anh họ là Lê Ngọc Hiền là Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng quân đội cho nên những chuyện này chúng tôi biết cả.

Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh

Ông Nguyễn Khắc Mai giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết cho biết vai trò của ông Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, người được xem là đã ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:

-Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Một Bộ trưởng Quốc Phòng thấy giặc nó xâm lấn bờ cõi của mình mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người mình để cho nó nã súng nó bắn!

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh:

-Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người tình báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài gì đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lý lịch rồi thì được lòng ông Lê Đức Thọ, ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau này thành chủ tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.

Sau khi bị tàn sát, thi thể những người lính tay không súng ống ấy không phải đều được về nhà mà một số rất lớn đã trôi dạt khắp vùng biển quê hương bởi Bộ Quốc phòng Việt Nam không có một một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới phải làm. Ông Nguyễn Khắc Mai nhận xét:

-Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải can thiệp với Chữ thập đỏ quốc tế để tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im, bởi vì anh sợ Tàu mà. Động chạm đến Tàu thì anh run lên vì anh bị cầm tù rồi.

Tại sao cứ im lặng? chỉ cho mấy cái anh cấp người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói tới nói lui một điệp khúc nhàm chán vô cùng và bọn Trung Quốc nó không thèm đếm xỉa gì tới, nó coi đấy là cái chuyện tào lao thì đấy là cái đau, đấy là cái nhục về Gạc Ma.

Ngày 14 tháng Ba mỗi năm không những là ngày giỗ chung của 64 gia đình liệt sĩ nhưng còn là ngày mà lịch sử Việt Nam sẽ phải làm rõ ai là thủ phạm chính trong cuộc tàn sát này. Mặc dù nó được phóng lớn lên thành cuộc chiến Gạc Ma nhưng người trong cuộc biết rõ đó là một cuộc chiến mà bên bị hại không được nổ súng.

—————

Thảo luận nhân 27 năm sự kiện Gạc Ma

12-3-2015

BBC và các khách mời của Bàn tròn trực tuyến hôm thứ Năm thảo luận nhân sự kiện đánh dấu tròn 27 năm đảo Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa, bị hải quân Trung Quốc chiếm từ tay quân đội Việt Nam. Theo tin chính thức, sau trận hải chiến ở cụm đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, phía Việt Nam có 64 chiến sĩ hy sinh, 9 người bị bắt làm tù binh.

Cuộc tọa đàm bàn tròn được phát trực tuyến trên các kênh Youtube và Google Hangout của BBC Việt ngữ và trang nhà của chúng tôi vào lúc 19h30 tới 20h00 giờ Việt Nam, hôm 12/3/2015.

Một số câu hỏi được các khách mời của Tòa đàm trao đổi xoay quanh các vấn đề:

– Bài học gì rút ra cho Việt Nam về sự kiện ‘trận hải chiến’ được cho là không cân sức gần ba chục năm về trước ở Gạc Ma ngày 14/3/1988?

– Tại sao hải quân Việt Nam theo một số nguồn khảo cứu và nhân chứng nói đã không được phép nổ súng, kháng cự trong khi bên tấn công là hải quân Trung Quốc có hỏa lực và tàu chiến được trang bị để tấn công và chiếm đảo dễ dàng?

– Nếu Việt Nam nổ súng liệu có thể giữ được đảo Gạc Ma hay sẽ gặp kết cục tương tự như khi Việt Nam Cộng hòa nổ súng để bảo vệ Hoàng Sa nhưng vẫn mất phần mà họ chiếm giữ ở quần đảo này?

– Vì sao cho tới nay, quân đội và chính quyền Việt Nam vẫn chưa cho tiến hành tìm kiếm, thu gom hài cốt sáu chục binh sỹ bị đắm cùng 3 chiếc tàu hải quân? Việt Nam đợi tới bao giờ mới tiến hành công việc thu gom này?

Gần đây, một nhà sử học quân sự, Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam, ông Lê Mã Lương, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự đưa ra chi tiết tại một cuộc hội thảo trong nước, được công bố trên mạng Internet, rằng một ‘cán bộ lãnh đạo’ cấp cao của quân đội Việt Nam khi đó đã ra lệnh ‘không được nổ súng’ nếu và khi xảy ra cuộc tấn công của Trung Quốc tại Trường Sa vào thời điểm đó.

Tướng Lương cũng nói thêm cựu Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam khi đó, ông Nguyễn Cơ Thạch, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, đã ‘đập bàn’ và chất vấn Bộ Chính trị Việt Nam sau khi mất Gạc Ma rằng “ai đã ra lệnh” để hải quân không thể tự vệ.

Nhìn lại sự kiện của Gạc Ma sau 27 năm, Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm gì và cần có những động thái gì, nếu như không muốn lặp lại sự kiện đã diễn ra hôm 14/3/1988?

Mời các quý vị đón theo dõi chương trình Tọa đàm http://bit.ly/1Ag9kzv của chúng tôi vào 19h30 giờ Việt Nam ngày thứ Năm, 12/3/2015.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/03/150311_hangout_gac_ma_27years

——-

Lê Đức Anh, người móc nối giữa đảng CSVN và Trung Quốc dẫn tới Hội nghị bí mật Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990

Mời các bạn đọc loạt bài dưới đây:

Giai Đoạn 1990-2014

 Bối cảnh dẫn tới Hội nghị Thành Đô. 

 

►Thiếu tướng Lê Duy Mật yêu cầu đảng CSVN tổng kết cuộc chiến 1979-1984 và công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô  (20-7-2014)

►Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô tháng 9/ 1990 cho nhân dân biết (3-8-2014)

►Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN về thỏa hiệp Thành Đô 9/1990 (7-8-2014)

►Phải công khai tất cả nội dung của hội nghị Thành đô-Tại sao đảng giấu kín mà không vinh danh Hội Nghị Thành Đô 1990

  (1982-2005)

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | 6 Comments »

►Lập trường của đảng và chính phủ là: sợ mất lòng Trung Quốc – Lập trường của thanh niên ngày nay là: Giờ mà có một chính phủ thế này, chết mình cũng theo…!

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2015

Tướng Phùng Quang Thanh chỉ cất tiếng nói của Bộ Chính Trị đảng CSVN chứ ông ta không dám tuyên bố điều gì trái với đảng chỉ đạo. Đảng CSVN thì đã dâng nước VN cho Trung Quốc  trong Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990. Dẫu TQ chiếm thêm các tỉnh phía Bắc mà hứa để cho đảng CSVN tiếp tục nắm quyền cai trị thì đảng cũng hài lòng quá rồi.  Hội nghị Thành Đô 3-9-1990

Sự ngây thơ của tướng Phùng Quang Thanh

14-1-2015

FB Nguyễn Văn Đài

 

1507802_288020131405895_1357660815510661136_n

Thứ nhất, tướng Thanh phấn khởi khi được phía TQ tiếp đón “nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị.” Chuyện này thì rõ rồi, khi họ đang từng bước xây dựng các căn cứ quân sự trên các đảo đã chiếm được của VN, rồi lại tiếp đón đoàn của tướng Thanh như vậy là rất nhà nghề và thủ đoạn. Tương tự như người chủ đánh mấy con chó hư, rồi lại cho chúng ăn ngon, vuốt ve để chúng không cắn lại.

Thứ hai, tướng Thanh cho biết: “Chúng tôi thống nhất với nhau là tranh chấp thì phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình, còn quân đội thì phải kiểm soát được tình hình trên biển, hết sức tránh việc sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực và tránh không để xảy ra xung đột và va chạm vũ trang trên biển.”

Trong khi TQ đang hàng ngày, hàng giờ tiến hành xây dựng các căn cứ quân sự, tập trận trong khu vực chủ quyền của VN. VN muốn bảo vệ chủ quyền thì phải sử dụng quân đội để ngăn cản hành vi trái phép của TQ. Tướng Thanh thỏa thuận như vậy chẳng khác gì để mặc cho TQ tha hồ xây dựng, mà không bị ngăn cản. Đây là sự ngây thơ hay bán nước?

Thứ ba, tướng Thanh nói tiếp: “Chúng tôi có trao đổi là giờ phải giữ nguyên hiện trạng, trên Biển Đông phải thực hiện cho đầy đủ DOC. Tinh thần, quan điểm chung là không mở rộng khu vực tranh chấp. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam”.

Thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng như hiện nay là VN mất hết chủ quyền rồi, vì TQ đã hoàn thành việc xây dựng đường băng trên đảo Phú lâm của Hoàng Sa. Các căn cứ trên Trường Sa cũng sắp hoàn thành. Giữ nguyên hiện trạng là công nhận chủ quyền của TQ ở những đảo, những khu vực mà TQ đã cưỡng chiếm của VN. Trong giai đoạn này TQ chưa cần thiết phải mở rộng tranh chấp, họ chỉ cần hoàn thiện các điểm đã chiếm được và chờ đợi thời cơ. Lại là ngây thơ hay bán nước?

Thứ tư, tướng Thanh tiếp tục: “Hứa thì bạn không hứa nhưng nói chung hai bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Còn hiện nay trên biển, nói thật là các bên đều có hoạt động xây dựng. Đài Loan cũng xây dựng, Philippines cũng tiến hành xây dựng đường băng, Malaysia có xây dựng và Việt Nam cũng có hoạt động xây dựng. Đó đều là các hoạt động tôn tạo, nâng cấp, mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các lực lượng đóng quân trên đảo để đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão, đảm bảo điều kiện sinh hoạt trên đảo. Tuy nhiên nguồn lực của ta còn có hạn nên việc xây dựng quy mô chưa lớn như Trung Quốc”.

TQ không bao giờ đi hứa với 1 thằng khờ, thằng ngu. Nước nào cũng xây dựng, nhưng VN xây dựng trên vùng có chủ quyền của mình, còn TQ xây dựng bất hợp pháp trên khu vực có chủ quyền của VN. Lập luận của tướng Thanh giống như của 1 người chẳng hiểu biết gì, vừa ngốc vừa khờ.

Thứ năm, cuối cùng tướng Thanh nhấn mạnh: “Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực”.

TQ luôn muốn chiếm toàn bộ quần đảo Trường Sa của VN trong hòa bình, không cần dùng vũ lực. Sau khi họ hoàn thành các căn cứ quân sự ở Trường Sa, họ sẽ từng bước bao vây, cô lập, phong tỏa và cuối cùng sẽ chiếm trọn Trường Sa. VN không sử dụng vũ lực để bảo vệ chủ quyền tức là để cho TQ chiếm nốt quần đảo Trường Sa trong hòa bình?

Kết luận: Tôi không hiểu tại sao một người khờ khạo, ngốc nghếch như vậy lại có thể đứng đầu bộ Quốc phòng, đứng đầu lực lượng vũ trang được??? Lại còn đại diện cho 1 quốc gia đi đàm phán với TQ??? Đất nước tôi, dân tộc tôi thật là bất hạnh!

Theo Facebook Nguyễn Văn Đài

—–

 

Nhà nước có chức năng cơ bản quan trọng nhất là bảo vệ chủ quyền tổ quốc, nhà nước nào không lo bảo vệ tổ quốc mà chỉ lo mất lòng đế quốc thì đấy là bọn bù nhìn bán nước hại dân…!

Hoan hô chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã thay mặt nhân dân Việt Nam dõng dạc tuyên bố đanh thép về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải trước toàn thể nhân loại… Giờ có một chính phủ thế này, chết mình cũng theo…!  Nguyen Lan Thang

 

‪#‎ĐMCS‬

Nhà nước có chức năng cơ bản quan trọng nhất là bảo vệ chủ quyền tổ quốc, nhà nước nào không lo bảo vệ tổ quốc mà chỉ lo mất lòng đế quốc thì đấy là bọn bù nhìn bán nước hại dân...!

Hoan hô chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã thay mặt nhân dân Việt Nam dõng dạc tuyên bố đanh thép về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải trước toàn thể nhân loại... Giờ có một chính phủ thế này, chết mình cũng theo...!

#ĐMCS
Like · ·

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh sáp nhập vào Trung Quốc (năm 2020)? (cựu Đại tá Phạm Quế Dương)

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2015

Ông PQD nguyên Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự hiện sống ở Hà Nội

Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Phạm Quế Dương- Hà Nội

(cựu đại tá Phạm Quế Dương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự)

14-1-2015

 

 

tq-vn

Thiếu tướng Hà Thành Châu, Chính ủy Tổng cục công nghiệp Quốc phòng Việt Nam, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08-4-2013 . Ở đây, ông đã nhờ một viên chức cao cấp Hoa Kỳ trao cho chủ bút Tạp chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu tối mật liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Tập tài liệu này xuất xứ từ anh vợ ông, là thiếu tướng chính ủy Tổng cục 2 , thời trung tướng Nguyễn Chí Vịnh làm Tổng cục trưởng.

Tập tài liệu chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI, mang bí số ML887 ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam: Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tiến Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu tại Thành Đô năm 1990.
Nội dung những cuộc họp bí mật ấy cho biết kế hoạch sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc dự kiến tổ chức qua ba giai đoạn:

– Giai đoạn 1: 15/7/2020 Quốc gia tự trị
– Giai đoạn 2: 5/7/2040 Quốc gia thuộc trị
– Giai đoạn 3: 5/7/2060 Tỉnh Âu Lạc

Tỉnh trưởng vẫn là người Việt, đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng đốc Quảng Châu (Trung Quốc).

Sau khi sáp nhập, tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ chính ,tiếng Việt là ngôn ngữ phụ.

Trong hội đàm, với lời lẽ bề trên, lãnh đạo Trung Quốc, ban mật lệnh, giáo huấn, răn đe, dạy dỗ lãnh đạo Việt Nam phải làm những gì suốt 70 năm, từng bước một: “Âm thầm,lặng lẽ,từ từ như tầm ăn dâu, khéo như dệt lụa Hàng Châu;êm như thảm nhung Thẩm Quyến. Sử dụng thể thức “Diễn biến hòa bình.”, làm cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nhìn nhận rõ là Trung Quốc “ không cướp nước Việt.” mà chính người Việt Nam tự mình “dâng nước” và tự ý đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thì khấu đầu trước Đặng Tiểu Bình “ Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc bỏ qua hiểu lầm, xóa bỏ các bất đồng đã qua. Phía Việt Nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ tịch dày công xây dựng trong quá khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng “Quy chế tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh” như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng,Tân Cương, Quảng Tây.

 

Tôi sửng sốt, trăn trở, không tin ở sự xác thực của sự kiện này. Những vị lãnh đạo nêu tên trên vốn là những người yêu nước trực tiếp tham gia góp phần chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống Tàu giành độc lập tự do. Lịch sử cận hiện đại Việt Nam là nối tiếp lịch sử 4000 năm, từ đời Hùng Vương ,đã từng đánh bại các cuộc xâm lược của các triều đại lịch sử Trung Quốc: Hán,Đường,Tống,Nguyên,Minh,Thanh. Ngày nay không thể nào có những người lãnh đạo, vì bất cứ lý do gì cúi đầu xin được làm một khu tự trị của Trung Quốc, bởi vì như vậy là bán nước, phỉ báng ông cha, phản bội dân tộc.

Trước hiện tượng Trung Quốc cho xuất bản hai cuốn sách của Hồ Tuấn Hùng và Huỳnh Tâm đưa nhiều dẫn chứng rạch ròi để khẳng định Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Đài Loan (Trung Quốc) đã lũng đọan tinh thần nhân dân ta, gây nên những nghi vấn rất tai hại, vậy mà hệ thống tuyên huấn- thông tin của ta vẫn coi như không có trách nhiệm gì!. .

Không thể im lặng một cách rất tội lỗi như vậy được nữa, tôi đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí của Đảng ta, nhất là báo Nhân Dân – cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng,Nhà nước và Nhân dân Việt Nam – hãy làm sáng tỏ vụ việc này và công khai cho nhân dân ta biết

01/1/2015

Phạm Quế Dương
Khu tập thể 37 Lý Nam Đế – Hà Nội
ĐT: 62700002

 (Tác giả gửi đăng)

nguồn: danchimviet.info

* Phạm Quế Dương là cựu Đại tá trong QĐNDVN, nguyên Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự hiện sống ở Hà Nội

Hà Nội đưa cựu Đại tá Phạm Quế Dương ra tòa về tội lợi dụng dân chủ

13-7-2004

     Ngày mai, Tòa Án Nhân Dân Hà Nội sẽ xét xử Cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương, một trong những nhân vật bất đồng chính kiến được thế giới ca ngợi. Ông Phạm Quế Dương, 73 tuổi, sẽ bị xử về các tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước và không chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản chế hành chính.
Ðây cũng là hai tội mà hôm thứ Sáu tuần trước, Chính Quyền Việt Nam đã tuyên phạt một nhân vật bât đồng chính kiến là Giáo Sư Trần Khuê 19 tháng tù.
Cho đến chiều hôm nay, Bộ Ngoại Giao Hà Nội đã từ chối tất cả các đơn xin được theo dõi phiên tòa mà những nhà báo nước ngoài nộp. Một viên chức của Việt Nam còn nói sẽ không có nhà ngoại giao nào được vào phòng xử và trước đó, ngay cả đơn xin biện hộ cho ông Phạm Quế Dương của một luật sư ở Pháp cũng đã bị bác.
Cũng xin được nhắc lại Cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương từng là một trong những nhà sử học quân đội nổi tiếng của Việt Nam. Giữa thập niên 90, ông quyết định trả thẻ đảng để tranh đấu cho tự do, dân chủ và công bằng. Ông bị bắt hôm 28 tháng 12 năm 2002, sau khi từ Hà Nội vào Sài Gòn thăm bạn bè và tiếp xúc với Giáo Sư Trần Khuê.
Ông Dương bị bắt lúc đang lên tầu về lại Hà Nội và một ngày sau đó, công an thành phố Hồ Chí Minh cũng bắt ông Trần Khuê.

Cựu Ðại tá Phạm Quế Dương bị 19 tháng tù

14-7-2004

Trong phiên xử kết thúc lúc 3 giờ chiều hôm nay, tòa án nhân dân Hà Nội đã tuyên phạt Cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương 19 tháng tù về các tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước và không chấp hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản chế hành chính.
Ông Phạm Quế Dương, 73 tuổi, sẽ được thả vào cuối tháng này, vì đã bị giam cầm đủ thời hạn mà tòa tuyên phạt.
Cựu Ðại tá Phạm Quế Dương từng là một trong những nhà sử học quân đội nổi tiếng của Việt Nam. Giữa thập niên 90, ông quyết định trả thẻ đảng để tranh đấu cho tự do, dân chủ và công bằng. Ông bị bắt hôm 28 tháng 12 năm 2002, sau khi từ Hà Nội vào Sài Gòn thăm bạn bè và tiếp xúc với Giáo Sư Trần Khuê.
Ông Dương bị bắt lúc đang lên tầu về lại Hà Nội và một ngày sau đó, công an thành phố Hồ Chí Minh cũng bắt ông Trần Khuê.
Trong phiên tòa hồi tuần trước, Giáo sư Trần Khuê cũng bị tòa án ở thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 19 tháng tù về các tội tương tự như tội mà nhà nước cáo buộc cho ông Dương và đến cuối tháng này Giáo Sư Khuê cũng sẽ được thả. Tòa án Hà Nội tuyên phạt Cựu Ðại tá Phạm Quế Dương 19 tháng tù

nguồn: hqvnch.net

—-

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Toàn dân phải tự bảo vệ độc lập, tự do”

22-12-2014

VOV.VN -Nói về chiến lược Quốc phòng toàn dân thì đầu tiên là phải độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ và toàn dân phải tự bảo vệ độc lập, tự do của mình.

Phóng viên VOV phỏng vấn Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Chí Vịnh: Quan hệ quốc phòng trước hết là tạo lòng tin và tạo sự ủng hộ của quốc tế đối với chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Có người hỏi tôi rằng Bộ Quốc phòng ký với nước này, nước kia với mục đích gì. Lợi ích đầu tiên là khẳng định độc lập tự chủ của Việt Nam. Chúng ta độc lập tự chủ, quan hệ với tất cả các nước trên thế giới miễn là nước ấy tôn trọng chế độ chính trị của chúng ta, tôn trọng lợi ích quốc gia dân tộc của chúng ta. Chúng ta không đứng về bên nào trong quan hệ quốc tế cả.

Cho nên nếu nói về chiến lược Quốc phòng toàn dân thì đầu tiên là phải độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và muốn có nền hòa bình không lệ thuộc thì toàn dân phải tự bảo vệ độc, lập tự do của mình

nguồn: http://vov.vn/chinh-tri/thuong-tuong-nguyen-chi-vinh-toan-dan-phai-tu-bao-ve-doc-lap-tu-do-373417.vov

Comment:

Chúng tao mua 1 lít xăng cũng phải trích 8 ngàn tiền thuế cho chúng mày, thế chúng mày để tiền ấy đi đâu mà bắt chúng tao phải phơi mặt ăn đòn… ông nuôi con chó nó còn biết giữ nhà, chứ nuôi cái loại chúng mày… phí cơm lại còn phản chủ…! Có cái loại chó nào lại đi bắt chủ ra cắn trộm hả trời…! FB Nguyễn Lân Thắng

 

 

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Thú tội kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam – (Trúc Giang)

Posted by hoangtran204 trên 09/01/2015

Bài nầy nêu những bằng chứng cụ thể về hoạt động của hai đảng CS Việt-Trung trong chương trình 30 năm (1990-2020) sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc. Họ gọi đấy là “đại cuộc”, và ngụy trang bằng cụm từ “16 chữ vàng”.

Thú tội kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trúc Giang

1- Mở bài

Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau:

“Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh

Ông Thanh nói:”Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.” (Phùng Quang Thanh)

Ông Thanh ví cuộc tranh chấp như mâu thuẩn trong một gia đình rất đúng. Về mâu thuẩn gia đình thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phái đoàn của đảng CSVN đã xin cho Việt Nam được làm một khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Bắc Kinh, và đã được “Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc “gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)

Mâu thuẫn trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là hiện thực, Tây Tạng và Tân Cương là một chứng minh cụ thể.

GS Carl Thayer cho biết: “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể”, do đó ta có thể nhận ra ‘mâu thuẫn gia đình’ nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu”. Đó là lời xác nhận của một cán bộ Việt Cộng cao cấp thuộc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao, đã tuyên bố sau Hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên năm 1990.

Bài nầy nêu những bằng chứng cụ thể để chứng minh hoạt động của hai bên Việt-Trung trong chương trình 30 năm về mọi mặt gọi là “đại cuộc”, và ngụy trang bằng cụm từ “16 chữ vàng”

Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đã cấy sinh tử phù và đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán ngụy hiện nay như cá nằm trên thớt, vô phương cục cựa.

Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành sự kiện vĩ đại đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 16 chữ vàng.

Tuyên bố của Phùng Quang Thanh thật đúng là lời thú tội kinh hoàng đối với người Việt trong nước.

Cho dù Wikileaks không tiết lộ, xem như không có biên bản đó, thì xuyên qua những hành động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước.

2- Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh

Thanh-do-1990

hntd

Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tài liệu chi tiết như sau:

“Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh , Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ”.

“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

“Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)

3- Bí mật của chương trình 30 năm sát nhập Việt Nam vào Trung Cộng

Hội nghị tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nhưng nội dung CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là bí mật.

Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện”…

Những cụm từ nêu trên là cái nhãn hiệu che giấu chương trình 30 năm ở Thành Đô.

4- Sự ra đời của “16 chữ vàng”

4.1. Bước mở đầu

Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

Trung Cộng cho biết con đường hợp nhất của hai nước vô cùng thuận lợi vì đó là những đặc thù về địa lý tự nhiên, chế độ chính trị, văn hoá, xã hội và vận mệnh của hai dân tộc, của hai đảng được xem như một.

“Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan

Việt Trung tuy hai mà một, tương nhập là lẻ tất yếu và hợp tình, hợp lý.

4.2. Trung Cộng khởi tạo phương châm 16 chữ vàng

Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó.

Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

16 chữ vàng:

Láng giềng hữu nghị (mục lân hữu hảo), hợp tác toàn diện (Toàn diện hợp tác), ổn định lâu dài (Trường kỳ ổn định), hướng tới tương lai (Diện hướng vị lai).

Tháng 11 năm 2000 khi tân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang diện kiến thì Giang Trạch Dân nhắc đến và nhấn mạnh, phương châm 16 chữ vàng là cái khung chỉ đạo căn bản và nhất quán để Việt Nam phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Cũng giống như những người tiền nhiệm, Nông Đức Mạnh hạ quyết tâm thực hiện nội dung của 16 chữ vàng.

5- Thực hiện chương trình 30 năm trên cơ sở 16 chữ vàng

5.1. Nội dung chương trình

Chương trình 30 năm Thành Đô được các đời Tổng bí thư CSVN ký kết qua những bản tuyên bố chung về hợp tác toàn diện để Việt Nam hội đủ điều kiện sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

Hợp tác toàn diện về các mặt:

– Việc quản lý đảng, quản lý nhà nước thông qua những cuộc thăm viếng của các lãnh đạo cao cấp hai bên.

– Giao lưu về các mặt: chính trị, kinh tế thương mại, quân sự, văn hóa, hữu nghị nhân dân…từng bước nâng lên tầm cao mới sẵn sàng cho ý nguyện hội nhập theo tinh thần của hội nghị Thành Đô năm 1990.

5.2. Những bước cụ thể đã được thực hiện

5.2.1. Hợp tác toàn diện về việc quản lý đảng và quản lý nhà nước

Các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước hai bên liên tục có những cuộc viếng thăm quan trọng, không ngừng vun đắp quan hệ hợp tác toàn diện, từng bước nâng lên tầm cao mới để đáp ứng “nguyện vọng của nhân dân hai nước” là hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

1) Những lãnh đạo Trung Cộng sang thăm Việt Nam

Từ tháng 11 năm 1992 đến năm 2013 đã có 8 lãnh đạo cao cấp Trung Cộng đến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng CSVN.

Thủ tướng Lý Bằng (tháng 11 năm 1992). Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch Đàng (tháng 11, 1994 và tháng 3, 2002). Chủ tịch nước Giang Trạch Dân (tháng 6, 1996). Thủ tướng Chu Dung Cơ (tháng 11, 1996). Thủ tướng Ôn Gia Bảo (tháng 12, 1996).

Từ 31-10 đến 2-11-2005 Hồ Cẩm Đào kinh lý Việt Nam. Đó là chuyến viếng thăm cao cấp nhất, đầy đủ cương vị: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy TW, là bước ngoặt quan trọng thúc đẩy Việt Nam hội nhập vào Trung Quốc.

Sau đó là viếng thăm của Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Quốc Cường. Ngoài ra còn có nhiều lãnh đạo cấp thấp tới lui rộn rịp.

2) Các lãnh đạo Việt Nam sang chầu thiên triều

Tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà thực chất là hoàn tất chương trình 30 Thành Đô, sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Ngoài những bản tuyên bố chung, Việt Nam bị bắt buộc phải thành lập “Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Toàn Diện” để làm việc một cách cụ thể với Ủy ban Hợp tác Toàn diện của Trung Cộng.

Phiên họp lần thứ tư, phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp Tác Toàn Diện .

Vì sao phải thành lập ủy ban chỉ đạo hợp tác toàn diện? Một quốc gia độc lập chỉ cần xác định chính sách ngoại giao là đủ. Khi cần thì ký những hiệp ước, những thỏa thuận riêng biệt cho mỗi vấn đề.

5.2.2. Hợp tác toàn diện về kinh tế với Bắc Kinh

1) Thiết lập những nguyên tắc luật pháp căn bản về kinh tế

Năm 2005, trong số 44 hiệp định và thỏa thuận về kinh tế và thương mại, Việt Nam và Trung Cộng đã có 20 văn bản thỏa thuận làm căn bản pháp lý trong quan hệ giữa Việt Nam với các địa phương bên Trung Cộng. Đó là: Hiệp định thương mại, Hiệp định mua bán vùng biên giới, Hiệp định thành lập Ủy Ban Việt-Trung về kinh tế và thương mại.

Hiệp định giao thông đường sắt cao tốc và đường bộ, đường hàng không để lưu thông hàng hóa giữa địa phương với trung ương Bắc Kinh.

Từ ngày 1-1-2004 Việt Nam và Trung Cộng thực hiện bãi bỏ thuế xuất, nhập khẩu. Các cặp cửa khẩu hai bên đã được khai thông tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông tự do, mở ra một thời kỳ giao lưu hàng hóa không biên giới giữa hai bên.

2) Kinh tế Việt Nam đã lệ thuộc vào chính quyền trung ương Bắc Kinh

Hợp tác toàn diện về kinh tế thương mại.

a. Về đầu tư xây dựng

Nhà thầu Trung Cộng hầu như thắng thầu hầu hết những công trình quan trọng với loại thầu trọn gói EPC, còn gọi là “hợp đồng trọn gói” hay “hợp đồng chìa khoá trao tay”.

EPC là Engineering , Procurement and Construction. (Thiết kế, mua sắn, xây dựng).

Hiện nay có 90% gói thầu EPC được giao cho Trung Cộng thực hiện, bao gồm những dự án lớn và quan trọng về năng lượng (nhà máy điện), kim loại, hoá chất…điều nầy cho biết Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng rồi.

b. Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

Thương lái Trung Cộng xâm nhập vào các vùng sâu, dùng thủ thuật giá, mua những thứ như cây tràm cỗ ở Quảng Ngãi, và những thứ không biết để làm gì, nhưng đã để lại những tác hại vô cùng to lớn. Đó là đánh phá thị trường VN.

Nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp giá rẻ, mà không được kiểm soát về chất lượng, vệ sinh, an toàn, thậm chí có những mặt hàng Trung Cộng mà dán nhãn sản xuất ở VN. Nhiều trường hợp dán cờ Trung Cộng trên các sản phẩm bày bán ở các siêu thị VN.

Hàng hóa rẻ tiền của Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, giết chết các công ty trung bình và nhỏ trong nước, đưa đến công nhân thất nghiệp.

c. Nhập siêu của Việt Nam chứng tỏ lệ thuộc kinh tế

Năm 2013, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa Trung Cộng (TC) 36tỷ 960 triệu USD, trong khi đó xuất khẩu chỉ có 13tỷ 960 triệu USD. Đó là nhập siêu. Sự chênh lệch về cán cân mậu dịch nầy khiến cho VN phụ thuộc vào TC.

TS Lê Đăng Doanh nêu nhận xét: “Mức nhập siêu to lớn nầy gây sức ép rất nặng khiến cho VN phụ thuộc vào TC: mất ngoại tệ, mất thị trường trong nước, công nhân mất việc. Khi người dân mua hàng hóa TC đồng nghĩa với việc trả lương cho công nhân nước nầy”.

5.2.3. Hợp tác toàn diện về văn hóa giáo dục

1) Việt Nam cam kết giáo dục nhân dân về 16 chữ vàng và 4 tốt

Ngày 21-2-2013, Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên BCT dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang Bắc Kinh. Hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác toàn diện cho giai đoạn 5 năm từ 2014-2019.

Nguyễn Thiện Nhân, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cam kết, với tư cách Chủ tịch Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ quốc VN (MT/TQ/VN), ông sẽ vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt 16 chữ vàng và 4 tốt để hoàn thành tốt thoả thuận của hai bên từ khi bình thường hóa năm 1990. Ông Nhân cho biết MT/TQ/VN sẽ triển khai chức năng và nhiệm vụ mới trong Hiến pháp 2013 là “giám sát phản biện xã hội” để tăng cường hiểu biết của nhân dân Việt Nam với nhân dân Trung Quốc.

Việt Nam sẽ thực hiện Cung Văn hoá Việt-Trung tại Hà Nội. Trong 15 năm, kể từ 2005 Việt Nam đã cử hơn 100 đoàn đại biểu văn hóa trên các lãnh vực: báo chí, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, truyền hình sang tham quan học hỏi và trình diễn ở Bắc Kinh.

2) Giáo dục thanh niên

Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam và Bí thư Thứ nhất TƯ Đoàn Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Đắc Vinh giao lưu với các đại biểu thanh niên hai nước.

Hữu nghị giữa hai đoàn thanh niên khu tự trị VN & Trung Quốc.

Theo một hiệp định, mỗi năm Trung Cộng cấp 130 suất học bổng cho sinh viên VN, đồng thời VN chỉ cấp 15 học bổng cho sinh viên Trung Cộng, có nghĩa là Bắc Kinh đào tạn cán bộ tương lai cho họ.

Việt Nam đưa những đoàn thanh niên sang thăm viếng, hợp tác hữu nghị với thanh niên sắc tộc của các khu tự trị. Nổi bật nhất là Liên hoan thanh niên VN-TQ được tổ chức vào ngày 26-11-2013, 3,000 thanh niên do Nguyễn Thiện Nhân hướng dẫn tham dự liên hoan. Trong diễn văn, ông Nhân cho biết: “Đây là dịp để thế hệ trẻ hai nước kết chặt quan hệ hai đảng, hai nước, không ngừng đơm hoa kết trái, vun đắp tình hữu nghị của hai dân tộc”.

Định hướng dư luận, Lập Viện Khổng Tử, nằm trong hợp tác văn hoá giáo dục cho thanh niên.

16 chữ vàng và 4 tốt là chiêu bài ngụy trang cho chương trình 30 năm để VN hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, nói thẳng ra là chương trình bán nước của đảng CSVN.

5.2.4. Trung Cộng di dân vào Việt Nam

Bọn Tàu khựa vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi luông tuồng như đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn họ đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng người Hoa cả.

Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxit Tây Nguyên đến Cà Mau, có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy quốc phòng, cơ xưởng…

Những người di dân tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

1) Khu phố Tàu Bình Dương

Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố (Chữ Tàu trên cổng vào).

Khu công nghệ cao Khu thể thao.

Tờ Việt Báo tại hải ngoại có bài viết tựa đề: “Cờ Trung Quốc treo rợp Bình Dương: Dân Việt có nguy cơ mất đất”

Theo bài báo thì “Cờ Trung Cộng treo tưng bừng tại Bỉnh Dương để mừng Quốc Khánh lần thứ 90 của Trung Cộng bởi vì người Hoa đang cư ngụ đông đảo ở Phố Tàu nơi đây.

Một bài viết có tựa đề “Phố người Hoa, Rừng người Hoa, sòng bạc người Hoa,…và người Hoa” còn đưa ra quan ngại rằng “trong một tương lai không xa, con cháu người VN sẽ không còn được sống trên quê hương mình”.

Bài báo viết tiếp:

“Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẳng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt sẽ chỉ được sử dụng một phạm vi bao nhiêu bởi vì, biển, rừng, đô thị đều có bóng dáng của người Hoa.

Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó chen chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện 1,000 giường, một khu phức hợp: thể thao, hội nghị, tiệc cưới, một sân golf, các cửa hiệu thương mại và một khu giải trí.

Bọn Tàu khựa sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực VN không được vào kiểm tra cần thiết để nắm quyền kiểm soát khu vực.

Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy hỏi quyền lực quốc gia còn đâu nữa?

6- Những bản tuyên bố chung của lãnh đạo CSVN

6.1. Thỏa thuận 4 điểm của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh

Ngày 22-8-2006, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh thúc đẩy tăng cường quan hệ toàn diện và nhất trí với Hồ Cẩm Đào 4 khía cạnh:

Thứ nhất. Lãnh đạo cao cấp hai bên phải duy trì “quan hệ gần gũi” thông qua những cuộc viếng thăm cấp cao.

Thứ hai. Quan hệ kinh tế thương mại phải được nâng lên nấc thang cao mới, cụ thể hơn.

Thứ ba. Vấn đề lãnh thổ phải luôn luôn đạt được “sự đồng thuận”, bảo đảm ổn định lâu dài. (Nếu đồng thuận thì ổn định)

Thứ tư. Hai bên thống nhất về chính sách ngoại giao, quốc phòng để có nền tảng phát triển bền vững và hữu nghị.

Năm 2009, tỉnh Hải Nam và Việt Nam nhất trí hợp tác toàn diện về chiến lược quân sự.

(Tại sao một quốc gia lại phải hợp tác với một tỉnh của quốc gia khác?)

6.2. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào ngày 15-10-2011

1. Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước.

2. Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

3. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ (1990), khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.( Thôn tính tương lai)

6.3. Bản tuyên bố chung của Trương Tấn Sang

Trong bản tuyên bố chung ngày 21-6-2013 được ký bởi Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, có đoạn ghi như sau:

– Dân sự: Đào tạo nhân dân, văn hóa, giáo dục, y tế, sản xuất, chế biến. Khai thác lãnh thổ, lãnh hải, đất liền, biên giới, cửa khẩu, biển Đông, rừng núi, đầu tư, khoa học, công nghệ, kinh tế, thương mại, môi trường, nông nghiệp, ngư nghiệp, dầu khí, giao thông, vận tải và du lịch.

– Chính trị: Xây dựng nguồn máy đảng, và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tham vấn chính phủ, ban tuyên giáo, ban đối ngoại trung ương, ban lý luận, đào tạo hữu nghị quân, dân, cán chính cao cấp.

– Quân sự: Quân đội, quốc phòng, khí tài, an ninh, ngoại giao.

Kế hoạch toàn diện qui định mỗi bộ phận đặt đường dây nóng tự quản và kết nối quản trị Bắc Kinh.

(Đường dây nóng tự quản với Bắc Kinh là nhận lịnh trực tiếp từ chính quyền trung ương ở Bắc Kinh)

Ngoài ra, đảng CS và nhà nước Việt Nam, ưu tiên để 4 tỉnh phía Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam được hưởng đặc quyền khai thác toàn diện trên 7 tỉnh biên giới của Việt Nam, như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Người Trung Quốc được hưởng qui chế “bất xâm phạm” từ khi có mặt tại Việt Nam để thi hành công tác khai thác toàn diện trên lưng người Việt Nam.

“Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các tỉnh, khu vực của hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, hợp tác toàn diện với 4 khu tự trị của Trung Quốc gồm có: Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam”.

Trước hết Trung Cộng muốn Việt Nam hội nhập với 4 khu tự trị để trở thành 5 khu tự trị gồm có: Mãn, Tạng, Hồi, Mông và khu tự trị mới là Việt Nam. Và cờ Trung Cộng trở thành 6 ngôi sao mà VN đã dùng để chào mừng Tập Cận Bình vừa qua.

Thực tế là chỉ có 3 tỉnh của Trung Cộng mà đòi hợp tác toàn diện với 7 tỉnh Việt Nam, tạo điều kiện dễ dàng và hợp pháp cho thương lái, nhân viên Trung Cộng được đi khắp mọi nơi để nắm tình hình các mặt, biết rõ địa hình địa vật, đường đi lối về, tài nguyên, khoáng sản, đặc sản để khi cần thì xử dụng.

Trên Facebook, nhà bình luận Trần Trung Đạo nêu nhận xét như sau: “Đọc bản tuyên bố chung mới thấy số phận chùm gởi của CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản 8 điểm mà có tổng cộng 29 lần “nhất trí”.

7- Cộng Sản Việt Nam bị cấy sinh tử phù

Trung Cộng đang nắm trong tay những con bài tẩy bằng văn bản chính thức đã được các lãnh đạo CSVN ký và cam kết thi hành. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng chỉ là con bài thứ nhất mà thôi. Những lá bài khác như biên bản bí mật ở Thành Đô năm 1990 và những bản tuyên bố chung đã được ký kết như đã nêu trên.

Thiên la địa võng đã bày ra để khống chế và trừng trị Hán ngụy Việt Nam nếu phản chủ. Các vị trí chiến lược chủ yếu như rừng đầu nguồn, Lào, Campuchia, Tây Nguyên, hệ thống giao thông cao tốc xuyên Việt…và những sư đoàn của đạo quân thứ năm dưới lớp áo công nhân, thương nhân…khiến cho số phận của lãnh đạo CSVN thê thảm như con cá nằm trên tấm thớt của Trung Cộng.

Khi Tập Cận Bình niệm thần chú thì bộ tứ “hùng dũng sang trọng” vừa ôm đầu vừa gật đầu lia lịa.

8- Vì sao Trung Cộng không muốn đưa nội vụ ra tòa án quốc tế?

Ngày 2-6-2014 báo South China Morning Post tường thuật rằng ngày 1-6-2014 Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ yêu cầu toà án trọng tài quốc tế phân xử tranh chấp, nhưng nói đó là tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc.

Trước đó, Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết là VN đã chuẩn bị bằng chứng cho hồ sơ pháp lý nầy, nhưng mọi việc sẽ do Bộ Chính Trị quyết định.

Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ lại lên tiếng là kiện chẳng ăn thua gì.

Có thể dùng câu “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm” để biết bản chất của CSVN trong vấn đề nầy.

Vì sao Trung Cộng không muốn nội vụ được đưa ra toà án quốc tế?

Không phải TC sợ bị thua kiện, vì họ đã có khả năng vô hiệu hóa vụ kiện 100% bởi quyền phủ quyết ở HĐ/BA/LHQ, mà cũng không phải vì Trung Cộng sợ dư luận quốc tế, vì nếu sợ thì đã không làm ngang tàng như thế..

Điều mà Trung Cộng mong muốn là “những mâu thuẩn trong gia đình” phải để gia đình giải quyết. Tập quán Á Đông là nếu đưa chuyện nôi bộ gia đình ra ngoài thì chẳng khác gì “vạch áo cho người xem lưng”. Điều Trung Cộng muốn là Việt Nam phải là một trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc mà Nguyễn Văn Linh đã lặn lội từ Hà Nội đến Thành Đô để thỉnh cầu hồi năm 1990.

Đây là phép thử, xem CSVN có đủ can đảm để thoát ra đại gia đình các dân tộc TQ đó không?

Nếu quan sát kỹ những tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh và Trần Công Trục nêu trên, thì có thể đoán được lãnh đạo CSVN vẫn còn hèn nhát, vì không dám phản chủ, nên chỉ dám nói mà không dám làm. Hơn nữa Việt Cộng đã bị cấy sinh tử phù và niền chiếc vòng kim cô lên đầu rồi thì chẳng còn hành động can đảm nào nữa cả.

Hãy chờ xem!

9- Kết luận

Giả sử như Wikileaks không tiết lộ biên bản bí mật ở hội nghi Thành Đô năm 1990, hoặc xem như không có nó, thì những hành động của đảng CSVN cũng đã bị lên án là bán nước, hèn nhát vì đã đặt đất nước, dân tộc Việt Nam dưới tay bọn Trung Cộng. Sự thật hiển nhiên đó không thể vối cãi được.

Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng từ lâu rồi. Ông Vương Gia Thụy, Trưởng ban Đối ngoại Trung Cộng, đã nêu những bằng chứng cho thấy Việt Nam đã được sát nhập vào Trung Cộng, như sau: “Việt Nam và Trung Quốc đã hợp tác chiến lược toàn diện. Cơ chế xã hội giống hệt nhau. Con đường phát triển tương tự như một. Quan hệ hai nhà nước ổn định và cùng một mục đích phát triển chấn hưng sự nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc. Hãy đối chiếu với di chúc của vua Trần Nhân Tông thì thấy rõ ngay. Nhà vua di chúc: “Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhũ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau” (Vua Trần Nhân Tông)

“Các vua Hùng có công dựng nước. Đức Trần Hưng Đạo có công giữ nước để bác cháu ta tha hồ bán nước!”.

© Trúc Giang

Nguồn © Đàn Chim Việt

 

Bài liên quan.

Bán Tài Nguyên Khoa’ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Phải công khai tất cả nội dung của hội nghị Thành đô-Tại sao đảng giấu kín mà không vinh danh Hội Nghị Thành Đô 1990

Posted by hoangtran204 trên 08/08/2014

Tôi không biết Bộ chính trị và Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đang nghĩ gì và làm gì.  Nhưng có một điều tôi biết chắc chắn: Họ không muốn, tuyệt đối không muốn chúng ta biết những gì họ đang làm và đang nghĩ.  ((Biết và Không Biết, theo Nguyễn Hưng Quốc)

VINH DANH HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ

 7-8-2014

Chênh Huỳnh Ngọc

Vào cuối thập kỉ 80 của thế kỉ trước, đảng Cộng sản Việt nam và nước CHXHCN Việt Nam như nghìn cân treo trên đầu sợi tóc. Nhà nước cộng sản được cho là thành trì Liên Xô và các nhà nước cộng sản Đông Âu hoàn toàn tan rã và sụp đổ. Đảng CSVN và nhà nước VN không những bị cô lập với thế giới mà còn phải đối đầu trực diện với một kẻ thù cực kỳ nguy hiểm và hùng mạnh ngay sát biên giới đang liên tục gây hấn trên đất liền cũng như trên biển để lăm le thôn tính VN.
.

Ảnh những người tham dự hội nghị Thành Đô được phía nhà cầm quyền Bắc Kinh công bố
.
Trong “tình thế cực kỳ nguy hiểm” như vậy, những người lãnh đạo tối cao của đảng CSVN đã tìm ra con đường cứu nguy để kéo dài sự tồn tại của đảng và nhà nước XHCN. Đó là bí mật tiếp xúc với chính kẻ thù và thành công đi đến một hội nghị lịch sử vô tiền khoáng hậu: Hội Nghị Thành Đô năm 1990. 
Theo tài liệu từ cựu đại sứ Trung cộng tại VN thời đó, ông Lê Đức Anh là người có công thiết kế các cuộc tiếp xúc bí mật, và theo tài liệu công khai từ phía Bắc Kinh, đoàn lãnh đạo cấp cao VN tham dự và đưa đến sự thành công của hội nghị gồm có các ông Nguyễn Văn Linh– tổng bí thư, Đổ Mười– Thủ Tướng, Phạm Văn Đồng– cố vấn BCT.Cho rằng Hội nghị Thành Đô là một bước ngoặc lịch sử vĩ đại mở ra đường thoát và duy trì sự tồn tại của đảng CSVN và nhà nước CHXHCN Việt Nam cho đến tận bây giờ.
Cho rằng HN Thành Đô đã biến kẻ thù nguy hiểm không đội trời chung là Trung cộng thành đồng minh hợp tác toàn diện mang lại lợi ích cho cả hai nước.
Cho rằng HN Thành Đô giúp bảo vệ được chủ quyền và lãnh thổ VN đồng thời giữ vững được hòa bình và ổn định trong khu vực.
Cho rằng HN Thành Đô giúp đảng và nhà nước VN chống lại âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực dân chủ “thù địch” trong và ngoài nước đang gây ra sự bất an cho đảng và nhà nước.Thế thì:
-Tại sao từ 24 năm qua, đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN không hề công khai nhắc đến hội nghị Thành Đô? Đến ngay thời điểm nầy đảng viên CS và nhân dân VN chỉ biết về sự tồn tại của hội nghị qua công bố từ phía nhà cầm quyền Bắc Kinh.
-Tại sao không vinh danh hội nghị nầy trước toàn đảng, toàn dân và ghi danh hội nghị vào các văn kiện lịch sử?
-Tại sao không tuyên dương công trạng và ghi danh vào lịch sử những người có công lớn đưa đến sự thành công của hội nghị là các ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng? Nhất là sau khi các ông Nguyễn Văn Linh và Phạm Văn Đồng chết đi, trong tiểu sử và điếu văn đọc trước mộ của hai ông không hề nhắc một lời đến công trạng to lớn nầy?
-Tại sao, đã qua 24 năm kể từ ngày ký kết, nội dung hội nghị và những gì ký kết trong hội nghị giữa hai đảng và hai nhà nước không được công khai minh bạch ra cho toàn đảng và tòan dân được biết? Có gì khuất tất mờ ám phải che giấu?Với tư cách một công dân, tôi cho rằng hội nghị Thành Đô là một trong những hội nghị lịch sử quyết định đến vận mệnh của đất nước và toàn thể dân tộc Việt Nam, trong đó có cá nhân tôi. Do vậy tôi yêu cầu đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN phải công khai mọi nội dung về hội nghị Thành đô, nếu đảng CSVN và nhà nước vẫn còn tự nhận mình là đảng từ nhân dân mà ra và là nhà nước của dân, do dân, vì dân.
                                                                     7.8.2014
                                                          Công dân Huỳnh Ngọc Chênh
———————-
CAI TRỊ VÀ QUẢN TRỊ
Đảng cộng sản chỉ biết cai trị (rule) chứ không biết quản trị (govern).
Để cai trị, rất đơn giản, chỉ cần ba thứ: công an, quân đội và nhà tù.
Để quản trị, người ta cần cái đầu và con tim. Cái đầu để biết nhìn xa, nghĩ rộng; và con tim để biết bao dung với những cái khác, từ đó, tạo nên sức mạnh bằng sự đồng thuận chung trong xã hội. Hơn nữa, quản trị cũng cần rất nhiều kiến thức và kỹ năng cũng như một số đức tính phù hợp với một văn hóa chính trị dân chủ lành mạnh. (theo VOA- Nguyễn Hưng Quốc)
———————

Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần biết

———————-

KIẾN NGHỊ của một số cựu sĩ quan Lực lượng vũ trang nhân dân gửi Lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ CHXHCN Việt Nam

Nguồn: boxitvn 

Ngày 2 tháng 9 năm 2014

Kính gửi: – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang Nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh

-Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

Chúng tôi là những người lính trọn đời “Trung với Nước, Hiếu với Dân”, luôn trăn trở với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân. Đứng trước tình hình nghiêm trọng, đe dọa an ninh, chủ quyền và sự phát triển của Quốc gia, chúng tôi vô cùng lo lắng và thấy cần phải kiến nghị với Lãnh đạo Nhà nước một số điểm như sau.

1. Lực lượng vũ trang mang tên Nhân dân phải luôn luôn vì Nhân dân, nên không được huy động Quân đội và Công an vào bất cứ việc gì có hại cho Nhân dân. Sức mạnh của Lực lượng vũ trang chỉ có được khi dựa vào Nhân dân, nên không được đánh mất tín nhiệm đối với Nhân dân. Vì vậy, để bảo vệ uy tín của Quân đội là lực lượng có nhiệm vụ hiến định “quốc phòng”, tức là bảo vệ Tổ quốc trước ngoại xâm, cần chấm dứt ngay việc huy động Quân đội vào những sự vụ mang tính đối kháng với Nhân dân, như giải tỏa đất đai, ngăn chặn các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa… Để khôi phục uy tín của Công an, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ hiến định “bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”, tuyệt đối không lạm dụng lực lượng Công an vào việc đàn áp những người dân vô tội, chỉ yêu cầu giải quyết quyền lợi hợp pháp của mình.

2. Các chiến sĩ Lực lượng vũ trang chỉ có thể yên tâm rèn luyện và sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc khi tin tưởng rằng cống hiến của họ luôn được Nhà nước ghi nhận thỏa đáng và gia đình của họ sẽ được Nhà nước chăm sóc chu đáo. Việc cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và mấy trận chiến bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và quyết tâm chiến đấu của Lực lượng vũ trang. Đó là sai lầm không được phép tái phạm. Để khắc phục hậu quả, phải nhanh chóng giải quyết những cách cư xử không đúng đối với với thương binh và gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, phải sớm khôi phục danh dự và quyền lợi đã bị lãng quên của các liệt sĩ và thương binh đã hy sinh xương máu trong chiến tranh biên giới phía bắc và ngoài biển đảo, gấp rút tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ dọc biên giới phía Bắc đã bị bỏ bê hơn hai chục năm qua.

3. Lực lượng vũ trang cần được xác định rõ ràng và chính xác đối thủ, không thể mơ hồ biến thù thành bạn hoặc coi bạn là thù. Đối tượng tác chiến của Quân đội phải là những thế lực có thể đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong hiện tại và tương lai, chứ không thể là những đối thủ đã thuộc về quá khứ. Đối tượng khống chế của Công an phải là những kẻ tội phạm và các hành vi vi phạm hiến pháp, pháp luật, dù ở trong hay ngoài bộ máy cầm quyền, chứ không thể là những người dân vô tội. Lịch sử đã chỉ ra rằng Nhân dân ta phải thường xuyên đề cao cảnh giác trước nguy cơ ngoại xâm từ nước láng giềng phương Bắc. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trên vùng đặc quyền kinh tế của của chúng ta, tuy nay đã tạm rút đi, nhưng vẫn cho thấy họ không hề từ bỏ quyết tâm bá chiếm Biển Đông. Lịch sử cũng cho thấy, sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước cựu thù đã hợp tác với nhau rất hiệu quả và bền vững, ví dụ như mối quan hệ giữa CHLB Đức và ba nước Mỹ, Anh, Pháp, giữa Nhật Bản và Mỹ, giữa Việt Nam và hai nước Pháp, Nhật Bản. Do đó, không thể vì những quan niệm bảo thủ, giáo điều mà đánh mất các cơ hội hợp tác với các cường quốc tiên tiến văn minh, nhằm phát triển kinh tế, công nghệ, nâng cao sức mạnh quốc phòng và tăng cường sự ủng hộ quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

4. Là người chủ và người bảo vệ đất nước, Nhân dân và lực lượng vũ trang phải được biết chính xác hoàn cảnh thực tế của Quốc gia. Vì vậy, Nhà nước phải báo cáo rõ ràng với Nhân dân về thực trạng quan hệ Việt-Trung và về những ký kết liên quan đến lãnh thổ trên biên giới, biển đảo và các hợp đồng kinh tế ảnh hưởng lớn đến an ninh và chủ quyền của Quốc gia. Về Hội nghị Thành Đô, có tin nói rằng Tân Hoa xã và Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đã công bố nội dung thỏa thuận giữa hai bên, trong đó trích dẫn: “Việt Nam mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. Chúng tôi không biết thật giả thế nào, yêu cầu Chủ tịch và Thủ tướng cho chúng tôi và nhân dân biết rõ thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô năm 1990. Chuyến đi thăm Trung Quốc gần đây của đặc phái viên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận với phía Trung Quốc về ba nguyên tắc chỉ đạo phát triển quan hệ Việt-Trung mà nội dung chỉ nhắc lại những câu sáo ngữ, không nói gì tới thực trạng và các biện pháp chấm dứt các hành động ngang ngược của thế lực bành trướng Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta trong mưu đồ bá chiếm Biển Đông. Chưa biết bên trong còn có những thỏa thuận cụ thể gì, nhưng toàn dân và toàn quân yêu cầu lãnh đạo Đảng và Nhà nước có đối sách đúng đắn trước mưu đồ và hành vi xâm lược của thế lực bành trướng Trong Quốc, không thể chấp nhận thái độ thể hiện sự thần phục họ, và càng đòi hỏi phải công khai, minh bạch thực trạng quan hệ giữa hai bên.

Trên đây là mấy đòi hỏi cấp bách, nhằm khôi phục uy tín của Quân đội và Công an trong Nhân dân, đồng thời tăng cường sức chiến đấu của Lực lượng vũ trang, để có thể đáp ứng được những thách thức to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

DANH SÁCH NGƯỜI KÝ

1. Lê Hữu Đức, Trung tướng – nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham Mưu.

2. Trần Minh Đức, Thiếu tướng – nguyên Phó Tư lệnh về hậu cần Mặt trận Trị Thiên – Huế.

3. Huỳnh Đắc Hương, Thiếu tướng – nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào.

4. Lê Duy Mật, Thiếu tướng – nguyên Tư lệnh Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.

5. Bùi Văn Quỳ, Thiếu tướng – nguyên Phó Tư lệnh về chính trị bộ đội Tăng–Thiết giáp.

6. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng – nguyên Chính ủy Quân khu 4.

7. Bùi Văn Bồng, Đại tá – nguyên Trưởng Đại diện báo Quân đội Nhân dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

8. Phạm Quế Dương, Đại tá – nguyên Tổng Biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự.

9. Nguyễn Gia Định, Nghệ sĩ ưu tú Điện ảnh quân đội.

10. Lê Hồng Hà – nguyên Chánh Văn phòng Bộ Công an, ủy viên Đảng đoàn Bộ Công an.

11. Phạm Hiện, Đại tá – nguyên Chánh Văn phòng B 68 đoàn chuyên gia giúp Campuchia.

12. Xuân Phương, Đại tá – nguyên chuyên viên Cục Nghiên cứu Tổng cục Chính trị.

13. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá – nguyên cán bộ thuộc Bộ Công an.

14. Đào Xuân Sâm, Cựu chiến binh Hà Nội – nguyên chủ nhiệm khoa Quản lý kinh tế Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

15. Tạ Cao Sơn, Đại tá – nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.

16. Đoàn Sự, Đại tá– nguyên Phó Cục trưởng Cục Xuất bản Tổng cục Chính trị.

17. Lê Văn Trọng, Đại tá – nguyên Trưởng Ban lịch sử Cục Nghiên cứu Bộ Tổng Tham Mưu.

18. Nguyễn Thế Trường, Đại tá – nguyên Tổng Biên tập báo Quân giải phóng Trung Trung bộ.

19. Nguyễn Văn Tuyến, Đại tá cán bộ tiền khởi nghĩa – nguyên cán bộ Viện Lịch sử Quân sự.

20. Nguyễn Huy Văn (tức Kim Sơn), Đại tá lão thành cách mạng – nguyên Phó Trưởng phòng Sở chỉ huy Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham Mưu.

 

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | 1 Comment »

►Thiếu tướng Lê Duy Mật yêu cầu đảng CSVN tổng kết cuộc chiến 1979-1984 và công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

                                      Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

    Hà Nội ngày 20 tháng 07 năm 2014

Kính gửi: Đ/C Tổng Bí thư  BCHTW Đảng
Các đ/c Uỷ viên Bộ Chính Trị
Các đ/c Uỷ viên Ban Bí thư TW Đảng
Các đ/c ủy viên Trung ương Đảng khóa XI.

Tôi là: Lê Duy Mật – Thiếu tướng – Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) thay mặt một số đảng viên xin được nêu thắc mắc và kiến nghị như sau:

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1984 cũng là một trong những cuộc chiến đẫm máu vô cùng đau thương trong lịch sử nước ta. Đây là cuộc chiến tương tự các cuộc chiến Bạch Đằng,Chi Lăng, Đống Đa, nhưng tại sao đã qua 30 năm mà cuộc chiến này vẫn không được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cấp thiết trước mắt. Việc tổng kết này vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà đối tượng chiến đấu vẫn là một, khi mà quân xâm lựợc đang cận kề chứ không xa xôi như trong các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh đó các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984 ,chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nhưng vẫn không được giải quyết ,mà chỉ có những lời hứa hẹn xuông.
Phải chăng có một nguyên nhân mà chúng tôi săp nêu lên sau đây.

Chúng ta đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay từ Trung Quốc gây ra, khiến cho nước ta sản xuất lẹt đẹt, lạc hậu, đã thế, họ lại còn có những lời sỉ nhục đôi với cả dân tộc ta :“Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”.
Vậy mà, lãnh đạo ta không hề có một phản ứng nào!

Rồi khi bọn xấu trà trộn trong đám biểu tình được xúi giục phá phách gần 1000 nhà máy của Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore,Trung Quốc, thì công an lúc đó làm ngơ , sau đó mới xuất hiện, chỉ xử lý qua loa và xin lỗi xin đền bù thiệt hại cho họ. Trong khi đó Tung Quốc đâm phá gần 30 tàu ,thuyền của chúng ta thì không quyết liệt đòi bồi thường, mà chỉ “nhẹ nhàng” lên án.

Khi có hiện tượng bất thường nho nhỏ về dân sự thì lập tức nửa đêm đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh bị gọi đến để nhận thư phản kháng, còn khi Trung Quốc gây hại cho ta thì chỉ có cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam đến gặp cơ quan Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội để giao công hàm phản kháng.

Lạ lùng nhất là tỉnh ủy Quảng Đông mà lại ngang nhiên gửi công văn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phải thực hiện 16 việc phải làm. Một thái đọ trịch thượng ,coi thường nước ta rất vô lễ mà ta vẫn chịu đựng.

Trung Quốc tự tiện cho giàn khoan vào xâm nhập lãnh hải Việt Nam bất chấp mọi ý kiến phản đối của nhân dân ta và dư luận các nước lên án. Khi rút đi, họ tuyên bố là do họ đã xong việc. Trung Quốc làm như vậy mà ta vẫn khen Trung Quốc là bạn tốt,16 chữ vàng và 4 tốt. Đến nỗi dư luận thế giới cũng phải ngạc nhiên về thái độ quá ư nhu nhược của chúng ta.

Ngạc nhiên hơn là Nhà nước đàn áp những người biểu tình chống xâm lược ở trong nước mà chỉ khuyến khích biểu tình ở nước ngoài.

Chẳng lẽ một dân tộc Việt Nam anh hùng đã ba lần chiến thắng Nguyên Mông, đã có Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu mà nay lại hèn kém như vậy sao! Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó . Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ.Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông,Tây Tạng,Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên , và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020)  để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.” .(Hết trích)  (1) .

Vì vậy, chúng tôi yêu cầu trong hội nghị TW này,  Bộ chính trị , Ban Bí thư cần công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô, để chứng minh thực hư thế nào.Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như vậy thì rõ ràng là một bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước như là phản bội Tổ Quốc.  Vì vậy, chúng tôi đề nghị Hội nghị TW xem xét và ra tuyên bố phản bác bản thỏa hiệp đó ,chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và những người thực hiện sau này. Có như vậy Đảng ta mới thực sự là một Đảng chân chính ,dám nhận khuyết điểm ,dám công khai khuyết điểm như Bác Hồ đã nói :” Một Đảng mà không dám nhận khuyết điểm, công khai khuyết điểm là một Đảng hỏng”.

Theo điều lệ Đảng (điều 3 khoản 3), Đảng là của nhân dân lao động, Đảng của toàn thể đảng viên vì vậy chúng tôi có quyền yêu cầu phải công khai các hoạt động của những người lãnh đạo để dân biết ,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra như trong các Nghị quyết TW đã đề ra .

Trên đây là những kiến nghị tâm huyết và bức xúc của đảng viên. Tôi mong rằng: Bộ chính trị, Ban bí thư nên tôn trọng ý kiến của các đảng viên cơ sở và thực hiện các việc nói trên .Tóm lại là:

1-  Tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược năm 1979 ,thực hiện chính sách qui tập mồ mả ghi công các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược cũng như bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc trước đây của dân tộc ta, tổ chức kỷ niệm trọng thể hàng năm.

2-  Công khai bản Thỏa hiệp Thành Đô tháng 9/1990 để toàn dân, toàn Đảng biết được thực hư và ra tuyên bố để giải thích các hiện tượng tiêu cực . Thỏa hiệp Thành Đô là thứ ung nhọt đang di căn khắp cơ thể đất nước ta.

Nguy cơ mất nước đang là sự thật, mong các đồng chí có lương tâm ,vì sự nghiệp của tổ quốc mà thực hiện cho được. Nếu ở Hội nghị Trung ương X này không ra được bản tuyên bố thì yêu cầu đưa vào chương trình Đại hội Đảng bất thường hoặc Đại hội 12.

Chúng tôi chờ mong hồi đáp của các đồng chí.

Kính

Thiếu tướng Lê Duy Mật

© Đàn Chim Việt

——————————————–

(1) Theo tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Trung Quốc

http://www.danchimviet.info/archives/89406/mot-thieu-tuong-yeu-cau-tong-ket-cuoc-chien-1979-1984-va-cong-khai-thoa-thuan-thanh-do/2014/08

 

http://bongbvt.blogspot.com/2014/08/thieu-tuong-le-duy-mat-co-hay-khong-mot.html#more

 

————————

 

 

 

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►“xuất cảng tù chính trị để đổi chác quyền lợi” – Quốc tế yêu cầu Việt Nam ngừng sử dụng tù chính trị như những con tin để đem ra đổi chác với cộng đồng quốc tế

Posted by hoangtran204 trên 16/04/2014

Quốc tế yêu cầu Việt Nam ngừng sử dụng tù chính trị làm con tin 
Friday, April 11, 2014 7:39:34 PM 

Báo Người Việt

VIỆT NAM (NV)  “Nhà cầm quyền Việt Nam nên ngưng bắt giữ những nhân vật đối lập, sau đó sử dụng họ như con tin để đổi lấy sự nhượng bộ của cộng đồng quốc tế về kinh tế hay quân sự.”

Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo Quốc Tế (CPJ) vừa đưa ra lời kêu gọi này sau khi nhà cầm quyền Việt Nam phóng thích ông Cù Huy Hà Vũ, một nhân vật bất đồng chính kiến, để ông Vũ sang Hoa Kỳ chữa bệnh. 

Trong cuộc trao đổi với VOA, ông Bob Dietz, điều phối viên chương trình Châu Á Của CPJ, cho biết, CPJ hoan nghênh việc trả tự do cho ông Cù Huy Hà Vũ nhưng hết sức lo ngại khi nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục thi hành chính sách đàn áp, tống giam, ngược đãi những nhân vật bất đồng chính kiến, hoạt động cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, sử dụng tù chính trị như những con tin để đem ra đổi chác với cộng đồng quốc tế.

Theo ông Dietz, tuy cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đều chưa thông tin chính thức về trường hợp ông Cù Huy Hà Vũ được trả tự do nhưng có thể suy đoán là giữa hai bên đã đạt được một số thỏa thuận trong vụ này. 

Ông Cù Huy Hà Vũ không phải là trường hợp đầu tiên bởi trong quá khứ, Việt Nam vẫn thường xuyên hành sử như vậy. 

Việc ông Cù Huy Hà Vũ được trả tự do diễn ra trong bối cảnh nhà cầm quyền Việt Nam đang cần Hoa Kỳ hỗ trợ về nhiều mặt. Từ nhu cầu tăng cường “hợp tác quân sự” với Hoa Kỳ để đối phó với tham vọng bành trướng của Trung Quốc trên biển Ðông, đến sự ủng hộ của Hoa Kỳ để trở thành một thành viên trong Hiệp Ðịnh Ðối Tác Tự Do Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) để kinh tế Việt Nam có thể hồi phục. Hoa Kỳ đã nhiều lần khẳng định, chỉ đáp ứng những nhu cầu này nếu Việt Nam đạt được những tiến bộ cụ thể về “nhân quyền.”

Ông Dietz dẫn trường hợp ông Ðinh Ðăng Ðịnh, một trong những người tù chính trị từng liên tục được cộng đồng quốc tế yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam phóng thích, cuối cùng được chính quyền Việt Nam trả tự do như một sự đáp ứng yêu cầu này, khi ông trong tình trạng “thập tử, nhất sinh” và trên thực tế, ông Ðịnh đã qua đời chỉ hai tuần sau khi được trao “quyết định đặc xá” là vô nhân đạo.

Ðến nay, nhiều người tù chính trị như ông Nguyễn Văn Hải (blogger Ðiếu Cày) được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm, đòi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do từ lâu vẫn đang bị cầm giữ. Ðiều đó cho thấy, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn cố tình thực hiện chính sách bất khoan dung đối với những người bất đồng chính kiến. 

Ðây cũng là lý do ông Dietz kêu gọi cộng đồng quốc tế tỉnh táo khi thảo luận với Việt Nam về vấn đề nhân quyền. 

Theo ông Dietz, khi Việt Nam đã là một thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền Quốc Tế thì vấn đề mà cộng đồng quốc tế cần quan tâm, không nên là bao nhiêu tù chính trị đã được thả mà cần là bao giờ chính quyền Việt Nam chấm dứt đàn áp, không tận dụng việc đàn áp như một phương tiện để đạt đến nhiều mục tiêu khác nhau.

Ông Dietz cảnh báo nhà cầm quyền Việt Nam rằng, chính sách “xuất cảng tù chính trị để đổi chác quyền lợi” không phải là phương thức phát triển, mà cần chấm dứt chính sách này. (G.Ð)

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Tù Chính Trị | 1 Comment »

►Kẻ cắp gặp bà già và chuyện Hòa Giải 2014: TNS Ngô Thanh Hải trả lời RFA về cuộc gặp gỡ với Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn- Lấy chân thành xóa hố sâu thù hận

Posted by hoangtran204 trên 07/04/2014

Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đi guốc trong bụng TT Nguyễn Thanh Sơn qua bài phỏng vấn dưới đây.

Hiện nay, VN đang vận động xin vào tổ chức thương maị TPP, mục đích để xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài được giảm thuế thấp hơn mức hiện nay. Việc này nhằm cứu nguy cho tình hình chính trị bị bao vây và nền kinh tế sa lầy của VN chứ chẳng đem lợi gì cho người dân VN. Vì thế, nên 2-3 năm qua, TT Nguyễn Thanh Sơn đi vận động với Việt Kiều và có bài phỏng vấn hôm 5-4-2014, Lấy chân thành xóa hố sâu thù hận  đăng trên các báo  Tuổi Trẻ, Báo Mới, Thanh Niên… Đây là bài tuyên truyền của Ban Tuyên Giáo đảng CSVN, nhằm lừa gạt những người nhẹ dạ cả tin.

Muốn hiểu ông Nguyễn Thanh Sơn  nói gì trong cuộc phỏng vấn đăng trên các báo trong nước hôm 5-4-2014, ta cần đọc bài dưới đây trước, chú ý tới các đòi hỏi của TNS Ngô Thanh Hải, rồi sau đó đọc bài có tựa đề: Lấy chân thành xóa hố sâu thù hận 

Nhớ lại chuyện tương tự từng xảy ra khi VN đang xin Mỹ cho vào WTO (2004-2006). Nhà nước VN  sợ Việt Kiều phản đối và Hoa kỳ sẽ không yểm trợ cho VN vào WTO…

...Năm 2004, Bộ Chính Trị  đưa ra nghị quyết 36 nhằm mục đích vận động Việt Kiều hậu thuẩn cho VN vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhưng nghị quyết 36 còn có mục đích kèm theo là: xâm nhập và phá hoại tình đoàn kết giữa các tôn giáo và hội đoàn Việt Kiều ở các nước ngoài. 

Trước khi vào được WTO, đảng và nhà nước VN đã TẠM THỜI có nhiều sự nhượng bộ và hòa hoãn vào lúc ấy để được việc.

Nhưng sau khi xong việc, VN vào được WTO năm 2006, thì đảng và nhà nước giở trò bắt bớ giam tù  600 người dân trong nước, họ là những người có quan điểm khác biệt với đảng CSVN và nhà nước.  https://www.amnesty.nl/sites/default/files/public/vn_final_version_nov_2013.pdf

Nếu muốn chân thành hòa giải, thì tại sao đảng và nhà nước không làm những điều đơn giản như đề nghị của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải (Canada) trả lời bài phỏng vấn dưới đây.

(Tạm bỏ qua chuyện ông Nguyễn Thanh Sơn bắt bẻ TNS Ngô Thanh Hải, và dùng kế ly gián phát biểu không đúng sự thât, mục đích của ông Sơn là làm cho Việt kiều nghi ngờ lập trường của TNS Ngô Thanh Hải). 

TNS Ngô Thanh Hải trả lời RFA về cuộc gặp gỡ TT Nguyễn Thanh Sơn

Tường An, thông tín viên RFA

06-04- 2014

Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải (phải) và Thứ trưởng ngoại giao VN Nguyễn Thanh Sơn gặp gỡ tại Canada hôm 12 tháng 3 năm 2014. Courtesy Thời Báo

 

Ngày 12 tháng 3 vừa qua. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn và đại sứ Việt Nam tại Canada có cuộc gặp gỡ riêng với Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải.

Sau đó, trong một cuộc trả lời phỏng vấn với đài Phố Bolsa TV, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đã tiết lộ về nội dung cuộc gặp gỡ này, trong đó có những chi tiết đã làm một số người Việt trong cộng đồng hải ngoại bất mãn và nghi ngờ về quan điểm của Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải.

Để rộng đường dư luận, Thông tín viên Tường An có cuộc trao đổi với Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải để có tiếng nói hai chiều.

Phục vụ cộng đồng người Việt Quốc gia

Tường An: Thưa Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải, xin ông có thể cho biết cuộc gặp gỡ riêng này là do ông yêu cầu hay do từ phía ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn ạ?

TNS Ngô Thanh Hải: Dạ thưa xin chào cô Tường An của đài Á Châu Tự Do, trước hết xin cám ơn cô đã cho chúng tôi cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Để trả lời câu hỏi của cô thì cái cuộc gặp gỡ riêng thì cuộc gặp gỡ riêng là do chính phái đoàn Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn xin gặp riêng tôi để trình bày một số việc trước khi có cuộc gặp chính thức với bên phái đoàn của Bộ Ngoại Giao. Thực ra, lúc đầu họ chỉ muốn xin gặp riêng tôi thôi, nhưng tôi không chịu. Tôi đòi gặp riêng rồi thì phải gặp chính thức bên Ngoại giao nữa mới được. Sau đó, ngày 12/3 tôi gặp riêng họ (gồm ông Nguyễn Thanh Sơn, đại diện Đại sứ Việt Nam tại Canada và tôi) trong vòng 1 tiếng, sau đó phái đoàn bên Cộng sản Việt Nam gồm 8 người gặp chính thức phái đoàn Bộ Ngoại Giao, trong đó có phái đoàn của tôi và bên Thượng viện, có bà Tổng giám đốc đặc trách vấn đề Nhân quyền của Canada.

Tường An: Xin Thượng Nghị sĩ có thể cho biết về nội dung của cuộc gặp gỡ riêng này không ạ?

TNS Ngô Thanh Hải: Dạ thưa thì trong buổi họp đó thì Nguyễn Thanh Sơn chỉ nêu ra một số vấn đề mà đảng Cộng sản Việt Nam không bằng lòng về công việc làm của tôi. Thứ nhất Nguyễn Thanh Sơn có đặt vấn đề là cấp lãnh đạo Việt Nam không bằng lòng về các lời tuyên bố của tôi tại Canada, nhất là tại Toronto khi tôi tuyên bố là tôi không chấp nhận chế độ Cộng sản Việt Nam và đảng Cộng sản Việt Nam phải giải thể và phải được thay thế. Vấn đề thứ hai ông Nguyễn Thanh Sơn cũng không bằng lòng việc tôi tranh đấu cho các nhà đấu tranh, các tổ chức tranh đấu cho tự do dân chủ, tự do báo chí, tự do ngôn luận cho Việt Nam ở trong nước, nhất là họ chống Trung cộng trong vấn đề chiếm đảo Hoàng Sa và Trường Sa và họ chỉ trích đảng Cộng sản Việt Nam không bảo vệ đất nước, thì ông Nguyễn Thanh Sơn cho tôi có cái nhìn một chiều về vấn đề này. Ông Nguyễn Thanh Sơn ráng thuyết phục, ráng cắt nghĩa rằng những người này vi phạm luật lệ, luật hành của Việt Nam chứ không phải là những người tranh đấu.

Cái thứ ba nữa, ông Nguyễn Thanh Sơn cũng không bằng lòng công việc của tôi như một Thượng Nghị Sĩ Canada, ổng nói rằng tôi đại diện Canada thì tôi chỉ nên lo sự liên hệ giữa Canada và Việt Nam mà thôi chứ không có đặt vấn đề phục vụ cho cộng đồng. Thì tôi cũng nói rằng: thứ nhất, tôi là Thượng Nghị Sĩ Canada do đó cái vấn đề liên hệ giữa Canada và Việt Nam sẽ dựa trên vấn đề di trú, vấn đề giáo dục… Tuy nhiên tôi là người Canada gốc Việt, tôi cũng là người là người tranh đấu, do đó tôi cũng phải tranh đấu cho tất cả những người Việt Nam ở trong nước và tôi cũng phục vụ cho cộng đồng người Việt Quốc gia tại hải ngoại, thành ra Nguyễn Thanh Sơn cho rằng tôi có cái nhìn một chiều và không giữ đúng vai trò của một Thượng Nghị sĩ Canada.

Yêu cầu thả tù nhân chính trị

Tường An: Được biết, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn cũng có khuyên ông về Việt Nam để nhìn thấy sự phát triển của đất nước, để không có cái nhìn một chiều, ông có nghĩ rằng ông sẽ suy xét để làm theo lời khuyên đó không ạ?

TNS Ngô Thanh Hải: Ông Nguyễn Thanh Sơn cũng ráng thuyết phục tôi về thăm Việt Nam. Tôi khẳng định từ chối. Tôi nói rằng như một người Canada gốc Việt, tôi không về thăm Việt Nam, tôi không về thăm một quốc gia Cộng sản. Tôi ra điều kiện với ông Nguyễn Thanh Sơn rằng nếu mà tôi về thì các ông phải thả những người tù nhân chính trị mà tôi đã đưa danh sách 10 người, đó là Cha Lý, như là Nguyễn văn Hải Điếu Cày, Võ Minh Trí tức là Việt Khang, rồi Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ rồi (Đinh) Nguyên Kha đó…

Tôi đòi cô Phương Uyên phải được đi học, Huỳnh Thục Vy, Thầy Quảng Độ, bác sĩ Nguyễn Đan Quế không bị quản chế.

Thì đó là danh sách tôi đưa cho ông Nguyễn Thanh Sơn rằng nếu mà tôi về thì những người đó phải được thả thì tôi mới về chứ về để đi viếng thăm, đi du lịch thì tôi không về.

Sau khi nói cái này rồi thì ổng cho tôi có cái nhìn một chiều và ổng cũng so sánh rằng ông Nguyễn Cao Kỳ là một cựu Thủ tướng, một cựu lãnh tụ quốc gia mà sao tôi không về, thì tôi có nói rằng Nguyễn Cao Kỳ là việc của ông Nguyễn Cao Kỳ còn Ngô Thanh Hải là việc của ông Ngô Thanh Hải vì tôi về thì có cái điều kiện là anh phải thả các tù nhân chính trị.

 

HN_280314_HN2-250.jpg
Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải và Thứ trưởng ngoại giao VN Nguyễn Thanh Sơn gặp gỡ tại Canada hôm 12 tháng 3 năm 2014. Courtesy Thế Giới Mới.

 

Tường An: Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cũng nói rằng Thượng Nghị sĩ đã hoàn toàn nhất trí với quan điểm của ông ấy về việc Việt Nam đã xử sự hợp tình hợp lý với những người bất đồng chính kiến vi phạm pháp luật Việt Nam cũng như đồng ý với quan điểm của ông Sơn rằng Linh Mục Nguyễn văn Lý là người quậy phá. Xin ông nói rõ hơn về việc này ạ?

TNS Ngô Thanh Hải: Đúng lý ra, ông Nguyễn Thanh Sơn nhờ tòa đại sứ liên lạc để gặp riêng tôi, yêu cầu xin gặp riêng tôi, ông Sơn ráng phân trần và giải thích mọi sự bắt bớ và cho rằng những người này đã vi phạm luật lệ của Việt Nam chứ không phải là những người đấu tranh cho tự do báo chí và tự do ngôn luận.

Theo tôi nghĩ thì đảng Cộng sản Việt Nam rất ráng cố gắng để giải thích những chuyện bắt bớ, đánh đập. Theo tôi nghĩ, nếu nói rằng Cha Lý hay là Việt Khang mưu toan lật đổ chính phủ với điều lệ 88 hay 258, tôi nghĩ rằng những người này không có súng đạn, không có quân đội làm sao mà âm mưu lật đổ chính phủ được? Thành ra đó là điều mà tôi không có chấp nhận, dù họ cố gắng giải thích, giải bày như thế nào trong cuộc gặp gỡ riêng tư thì tôi nghĩ rằng công việc bào chữa của ông đối với những người đấu tranh ở trong nước, những bloggers vi phạm luật lệ nhà nước là không đúng sự thật.

Hơn nữa, chính tôi đã vận động Bộ Ngoại giao Canada can thiệp cho Linh Mục Lý đi chữa bênh thì không có lý do gì mà tôi đồng ý với ông Nguyễn Thanh Sơn rằng Linh Mục Lý là người quậy phá cả.

Mặc dù ông ta cũng đã phân trần riêng tư với tôi rất nhiều. Nhưng tôi cũng nêu ra tại buổi họp chính thức. Buổi họp với đại diện Bộ Ngoại Giao kéo dài 45 phút. Và trước Bộ Ngoại giao thì họ cũng phân trần giống như họ phân trần riêng với tôi. Khi mà gặp gỡ chính thức thì tôi cũng nêu ra chính thức trước mặt Bộ Ngoại giao. Có thể vì lý do đó mà họ không bằng lòng chăng? Tôi không hiểu!

Tường An: Trước đây, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cũng nói rằng có những người Việt ở hải ngoại chỉ vì đồng tiền, muốn có thu nhập thêm, chỉ vì nhu cầu cuộc sống mà tham gia biểu tình, lần này ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn lại nói những điều mà như nãy giờ chúng ta trao đổi thì thấy rằng dường như nó không đúng với nội dung cuộc tiếp xúc. Ông có nhận định gì về việc này ạ?

TNS Ngô Thanh Hải: Những lời của ông Nguyễn Thanh Sơn nói ra thì có thể lung lay sự đấu tranh của một số người thì tôi xin những người đó nên vững tâm và nên có niềm tin vững chắc. Tôi xin chúng ta nên có một cái nhìn phán đoán khi có một lời tuyên bố nào ở phía Cộng sản Việt Nam. Đừng để nghị quyết 36 mà họ đã đưa ra chia rẽ cộng đồng của chúng ta tại hải ngoại.

Những gì mà Cộng sản đã nói, đã nếu ra để phân bày, thanh minh thanh nga đối với tôi thì tôi cũng không cho đó là sự thật mà công việc của tôi vẫn là tranh đấu cho một nước Việt Nam Dân chủ Tự do. Ngoài ra, với tư cách là Thượng Nghị sĩ Canada tôi có bổn phận và trách nhiệm đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thả tất cả những người đấu tranh trong nước vì Cộng sản Việt Nam đã vi phạm nhân quyền.

Tường An: Ngoài những chi tiết mà ông cho biết về cuộc gặp gỡ, ông Nguyễn Thanh Sơn còn nói thêm điều gì không ạ?

 

TNS Ngô Thanh Hải: Dạ thưa… (cười)… khi mà ông Nguyễn Thanh Sơn vô phòng tôi mà gặp lá cờ vàng ba sọc đỏ đứng bên cạnh lá cờ Canada thì ông ta cũng không vui lắm, kể cả ông Đại sứ Việt Nam cũng không vui lắm và ông ta nói rằng cái lá cờ này là lá cờ của quá khứ rồi, anh là một Thượng Nghị sĩ Canada thì trong vấn đề liên hệ ngoại giao thì anh phải treo cờ của chúng tôi.

Thì tôi cũng nói rằng: tôi là một Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt, tôi phục vụ cho Canada là một chuyện mà tôi còn phục vụ cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại ở Canada nữa mà cái lá cờ này là lá cờ tượng trưng cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại ở Canada đấu tranh cho Tự do Dân chủ mà tôi là người đấu tranh cho Tự do Dân chủ thì tôi không có lý do gì mà tôi không treo cờ Việt Nam Cộng Hòa trong văn phòng của tôi cả.

Còn cờ Cộng sản Việt Nam thì tôi đã không chấp nhận chế độ Cộng sản Việt Nam thì chuyện treo cờ Cộng sản Việt Nam trong văn phòng tôi là không có, thành ra ổng cũng hơi hơi bực mình, ổng không vui. Nhưng mà không vui hay bực mình là chuyện của ông Nguyễn Thanh Sơn chứ không phải là chuyện của tôi, thành ra chuyện mà tôi treo cờ cũng là một hình thức mà họ không bằng lòng lắm.

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

Tường An: Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn có nói trong cuộc phỏng vấn với đài Phố Bolsa TV là Thượng Nghị sĩ đã đồng tình, đồng ý với những gì ông ấy nêu ra về các nhà bất đồng chính kiến, ông ấy cũng đánh giá đó là hai cuộc gặp gỡ (cuộc gặp gỡ riêng với Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải trong vòng 1 tiếng và cuộc gặp gỡ chung với đại diện Bộ Ngoại Giao Canada trong vòng 45 phút. RFA) có nhiều đồng thuận giữa hai bên. Xin ông cho biết cuộc gặp gỡ 1 tiếng đồng hồ này này đã đưa đến những đồng thuận gì ạ?

Cái chuyện mà ông Nguyễn Thanh Sơn nói là tôi đồng ý với các vấn đề của Cộng sản Việt Nam thì tôi không bao giờ tôi nói là tôi đồng ý cái gì cả. 
-TNS Ngô Thanh Hải

TNS Ngô Thanh Hải: Dạ thưa không có đồng thuận gì hết đó, tôi không đồng ý những gì mà ông Nguyễn Thanh Sơn nói. Cái chuyện mà ông Nguyễn Thanh Sơn nói là tôi đồng ý với các vấn đề của Cộng sản Việt Nam thì tôi không bao giờ tôi nói là tôi đồng ý cái gì cả. Bởi vì ông Nguyễn Thanh Sơn ráng lo phân trần và giải thích những hành động của Cộng sản Việt Nam đối với những nhà đấu tranh, đối với Cha Lý, đối với việc Trung cộng chiếm đất Hoàng Sa và Trường Sa. Ổng có nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa không có mất, thì ổng ráng giải thích. Nói tóm lại, trong buổi nói chuyện hôm đó thì cái phần “thanh minh thanh nga”, phân trần, bào chữa của ông Nguyễn Thanh Sơn mà tôi không bao giờ chấp nhận lời phân trần đó.

Trong cuộc nói chuyện riêng đó, cá nhân tôi không đồng ý bất cứ một điểm nào mà ông Nguyễn Thanh Sơn nói về những nhà bất đồng chính kiến bị bắt tù và tôi cũng không có nhu cầu hòa hợp hòa giải với Cộng sản Việt Nam mà chính Cộng sản Việt Nam phải hòa hợp hòa giải với người dân trong nước.

Tuy nhiên trong buổi họp riêng đó thì ổng tưởng rằng tôi sẽ không nêu ra trong buổi họp chính thức với Bộ Ngoại giao. Nhưng mà khi mà trong buổi họp chính thức với Bộ Ngoại giao về danh sách 10 người mà tôi đã nêu ra. Trong 45 phút nói chuyện với Bộ Ngoại Giao Canada, ông Nguyễn Thanh Sơn đã cố gắng phân trần từng trường hợp trong danh sách 10 người mà tôi đưa ra, nói là họ vi phạm pháp luật Việt Nam, nhưng tôi hoàn toàn bác bỏ luận điệu đó. Theo tôi nghĩ đó là lý do mà làm cho họ không hài lòng cho lắm.

Và sẵn đây tôi cũng nói luôn với cô là Canada của chúng tôi đã chấp nhận hồ sơ của Cha Lý cho Cha Lý qua Canada chữa bệnh, hồ sơ đã xong xuôi hết rồi, vào giờ chót thì chính Cha Lý không chịu đi qua Canada bởi vì Cha Lý sợ khi qua Canada chữa bệnh rồi thì ông không được trở lại Việt Nam để tranh đấu.

Thì trong buổi gặp với ông Phó Thủ tướng Vũ văn Ninh tôi có nêu ra là những người được đi ra chữa bệnh thì các ông cũng phải cho họ về, thì ông Sơn kể cả ông phó Thủ tướng Vũ văn Ninh không trả lời câu hỏi của tôi.

Và ông Sơn có nói một câu rất là… rất là vui, ông Sơn nói rằng: Những người tù nhân chính trị này, nếu Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải và Canada bảo lãnh thì tôi thả cho ra hết… Tôi không biết rằng khi ông nói ra câu đó là với ngụ ý gì? Tuy nhiên tôi biết rằng ông Nguyễn Thanh Sơn không có đủ quyền hành, bởi vì trên ông còn 16 người trong Bộ Chính trị nữa, thành ra vấn đề đó ông nói ra, ông đưa ra thì tôi cũng chỉ cười vậy thôi chứ tôi không có đặt nặng vấn đề đó nhưng tôi có nói với Bộ Ngoại Giao hãy lưu ý câu đó của ông Nguyễn Thanh Sơn. Tôi có nói với Bộ Ngoại Giao: quý vị nhớ nghe nhé! Chính ông này nói rằng nếu chúng ta bảo lãnh thì họ sẽ thả ra đó!”

Tường An: Thưa Thượng Nghị sĩ, được biết trong thời gian gần đây, đặc biệt nhiều đoàn viên của Liên Minh Dân chủ Việt Nam hoặc thân nhân của đoàn viên Liên Minh Dân chủ Việt Nam, (một đoàn thể chính trị mà ông Ngô Thanh Hải là Chủ Tịch. RFA) về Việt Nam bị sách nhiễu hoặc trục xuất mặc dù họ không hề làm chính trị mà họ chỉ là thân nhân của đoàn viên Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.Thượng Nghị sĩ nghĩ sao về việc này ạ?

TNS Ngô Thanh Hải: Từ ngày tôi lên Thượng Nghị sĩ cho tới nay, thì tôi cũng có cái nhận xét đó: Tất cả những người Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, thân nhân hay những người có liên hệ đến Liên Minh Dân chủ Việt Nam khi họ đi về thì họ bị bắt, hoặc làm khó dễ, hoặc trục xuất ra khỏi Việt Nam dù rằng họ đi về chỉ để thăm Cha Mẹ ốm đau, hoặc lo vấn đề chôn cất thì cũng bị tương tự như vậy.

Tôi không hiểu rằng đó là một hình thức cảnh báo của Cộng sản Việt Nam đối với Liên Minh Dân Chủ Việt Nam của chúng tôi hay không nhưng mà tôi thấy có những hành vi, những hành động khá đặc biệt riêng với Liên Minh Dân Chủ Việt Nam do tôi lãnh đạo. Thành ra lời nói của ông Nguyễn Thanh Sơn kêu gọi hòa hợp hòa giải với hải ngoại, tôi thấy rằng câu nói đó không đi đôi với hành động. Cộng sản Việt Nam đưa ra hòa hợp hòa giải mà nội cái chuyện đi về thăm Cha Mẹ hay là chôn cất mà Cộng sản Việt Nam còn không làm được thì tôi không tin rằng những câu nói của Cộng sản Việt Nam hoặc là của ông Nguyễn Thanh Sơn về vấn đề hòa hợp hòa giải hay hòa giải hòa hợp gì đó thì đối với tôi không thật lòng hoặc không trung thực lắm.

Tường An: Xin cám ơn Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải đã dành cho đài Á Châu Tự Do cuộc phỏng vấn này ạ.

 

———————————————————————-

 

Tuổi trẻ

05/04/2014 09:52 (GMT + 7)

Lấy chân thành xóa hố sâu thù hận

 


Những vòng hoa được thả xuống biển trong buổi lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hi sinh trên vùng biển Trường Sa (tháng 5-2013) – Ảnh: nguyễn khánh

 

TT – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cho biết chuyến tàu thăm quần đảo Trường Sa của bà con kiều bào được tổ chức tới đây sẽ có lễ cầu siêu tại đảo Trường Sa Lớn và dọc hành trình hướng đến các anh hùng liệt sĩ Quân đội nhân dân VN, chiến sĩ VN cộng hòa đã tử trận để bảo vệ Hoàng Sa và các thuyền nhân tử nạn.

Trả lời phỏng vấn riêng Tuổi Trẻ chiều 4-4, ông Sơn nói chuyến thăm Trường Sa của bà con kiều bào lần này là chuyến đi thứ ba, có ý nghĩa rất lớn là tiếp tục khẳng định quyết tâm bảo vệ biển đảo.

Thuyền nhân tử nạn là nạn nhân chiến tranh

* Được biết chuyến đi thứ ba này có sự tham dự của một số nhân vật chống đối, ông có thể tiết lộ gì thêm?

Ảnh: Nguyễn Khánh

Chuyến đi này chúng tôi đã vận động, mời về một số nhà báo, một số người xưa nay vẫn chống đối rất cực đoan. Cách đây hơn một tuần, tôi đã đi công tác nước ngoài và vận động, đưa về một số người cực đoan, chống đối quyết liệt để họ đến với Trường Sa nhằm chứng minh những việc chúng ta đang làm.

Tôi tin rằng những người này về sẽ tiếp tục chứng kiến để khẳng định sự thật, chân lý mà chúng ta đang thực hiện, để bảo vệ từng mét nước, từng hòn đảo. Chuyến đi lần này thêm một lần nữa khẳng định với kiều bào về chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, cũng để khẳng định kiều bào là một phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc VN, họ đã và đang đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp bảo vệ biển đảo. Chuyến đi cũng thêm một lần nữa nhắn nhủ với bà con kiều bào rằng chúng ta đang làm tốt nhiệm vụ thay họ giữ gìn chủ quyền của Tổ quốc.

Trong chuyến đi lần này, chúng tôi cũng kế thừa truyền thống đại đoàn kết của các chuyến đi trước là mời đại diện sáu tôn giáo lớn tham dự, sẽ tổ chức các lễ cầu siêu ở đảo Trường Sa Lớn và trên đường đi cho những anh hùng liệt sĩ của Quân đội nhân dân VN đã hi sinh trong quá trình bảo vệ biển đảo. Chúng ta cũng ghi nhận sự hi sinh của những người lính VN cộng hòa trong lực lượng hải quân đã bảo vệ Hoàng Sa năm 1974.

Chúng ta cũng tưởng nhớ và thương tiếc những người dân VN vô tội đã ra đi và bị chết trong cuối thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980. Chúng tôi coi những thuyền nhân tử nạn là những nạn nhân chiến tranh, ra đi vì bị tuyên truyền, kích động bởi thông tin một chiều, bởi khó khăn về đời sống kinh tế và nhiều nguyên nhân khác, vậy thì hãy cầu siêu để linh hồn họ được siêu thoát trên vùng biển quê nhà. Qua đó chúng ta cũng mong muốn vùng biển Đông thật sự là vùng biển hòa bình, hữu nghị, còn chủ quyền của chúng ta thì chúng ta phải kiên quyết giữ, những khu vực, hòn đảo đang bị chiếm đóng trái phép tạm thời thì chúng ta sẽ đấu tranh bằng biện pháp hòa bình để đòi lại.

* Việc tổ chức lễ cầu siêu cùng lúc cho các liệt sĩ Quân đội nhân dân VN, quân nhân VN cộng hòa và các thuyền nhân tử nạn có thể tạo ra những tâm tư khác nhau, xin ông giải thích rõ ý tưởng và mong muốn của việc này?

Hố sâu hận thù sẽ ngăn cách mãi nếu không có những giải pháp đột phá, nếu không có những con người tiên phong dám ngồi lại với nhau, không có những cầu nối chân thành

» NGUYỄN THANH SƠN
(Thứ trưởng Bộ Ngoại giao)

– Tôi cho rằng chúng ta là những người chiến thắng, đã có công thống nhất đất nước sau một thời kỳ dài đấu tranh gian khổ để chống thực dân và đế quốc. Hoàng Sa bị mất trong khi vẫn còn chính quyền VN cộng hòa ở miền Nam. Lịch sử để mất Hoàng Sa chúng ta đã biết quá rõ, đó là thời điểm chúng ta đang phải tập trung lực lượng để thống nhất đất nước, đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Chúng ta cũng hiểu sự hi sinh, mất mát to lớn của nhân dân hai miền Nam – Bắc. Chính vì vậy sau khi thống nhất đất nước, hội nhập với thế giới, từng bước nâng cao vị thế trên trường quốc tế thì chúng ta cũng không quên một bộ phận rất nhỏ trong số những người VN đang định cư ở nước ngoài còn mang trong lòng mình sự hận thù. Bằng chính sách đại đoàn kết dân tộc, chúng ta chân thành kêu gọi họ hãy trở về để tận mắt chứng kiến những việc chúng ta đang làm, để xây dựng một nước VN đoàn kết, độc lập, tự do, phát triển. Tuyệt đại đa số kiều bào, 90% trong số 4,5 triệu người đang sống ở nước ngoài, đã trở về đất nước để thăm viếng, đầu tư, góp một nguồn lực to lớn cho việc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Việc chúng tôi tổ chức các lễ cầu siêu cho những người đã ngã xuống, trong đó có những binh sĩ thuộc quân lực VN cộng hòa, họ đã không cầm súng chống lại chúng ta mà đã kiên quyết chiến đấu bảo vệ từng mét nước, từng hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa đến cùng, chắc chắn sẽ nhận được sự đồng tình của nhân dân. Việc làm này thêm một lần nữa khẳng định rằng dân tộc VN là một, chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa và Trường Sa là nhất quán và rõ ràng với các bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể chối cãi.

Cầu siêu cho những người lính thuộc quân lực VN cộng hòa đã hi sinh tại Hoàng Sa cũng khẳng định chúng ta công tâm, thành tâm ghi nhận công lao của những người con ưu tú đã chiến đấu, hi sinh vì sự vẹn toàn của đất mẹ – Tổ quốc VN. Tôi mong muốn rằng chúng ta sẽ thực hiện những việc đại nghĩa như thế này cho đến khi vùng biển Đông thuộc chủ quyền của chúng ta không còn tranh chấp. Chúng ta sẽ đấu tranh đòi lại chủ quyền trên những vùng biển, hòn đảo đang tạm thời bị chiếm đóng. Và chúng ta sẽ tiếp tục các hoạt động này cho đến khi bà con cô bác người Việt trên khắp thế giới quy tụ về một mối, không còn hận thù và chia cắt trong lòng dân.

Phải bằng tấm lòng thành

* Ông đã làm thế nào để thuyết phục những người đối lập trở về tham gia các đoàn thăm Trường Sa?

– Hố sâu hận thù sẽ ngăn cách mãi nếu không có những giải pháp đột phá, nếu không có những con người tiên phong dám ngồi lại với nhau, không có những cầu nối chân thành. Trong rất nhiều năm qua, một số bà con cô bác chúng ta ở bên ngoài đã nghe thông tin một chiều, hiểu không đúng về tình hình đất nước, đặc biệt là chủ quyền biển đảo. Tôi nghĩ rằng việc xây dựng cầu nối giữa nhân dân trong nước với những tổ chức, cá nhân còn chống đối thì trước hết phải bằng tấm lòng thành. Chúng ta là những người chủ đất nước thì phải đến với họ bằng sự chân thành để xóa đi những mặc cảm, những suy nghĩ cực đoan. Qua các cuộc tiếp xúc, bằng các hoạt động khác nhau, chúng tôi đã thể hiện tinh thần như vậy và ngày càng nhiều người trong số họ có mong muốn trở về để tận mắt chứng kiến thực tế đất nước.

* Thưa ông, việc thuyết phục các cơ quan chức năng của VN để những người chống đối được trở về có khó khăn không?

– Rất là khó khăn. Để cho những người đó trở về thì trước hết chúng tôi phải làm việc với các cơ quan chức năng, đặc biệt là các cơ quan an ninh. Chúng tôi cũng phải có những cam kết, thỏa thuận để làm sao những người này về thật sự đem lại cho chúng ta những lợi ích chung: đó là họ sẽ có những phát biểu khách quan, có những nhìn nhận đúng đắn về thực tế đất nước. Còn lại thì mỗi cơ quan có một chức năng, nhiệm vụ và ở đâu cũng vậy, tư tưởng bảo thủ, nghi kỵ cũng vẫn còn. Ý kiến của các cơ quan có thể khác nhau, nhưng tôi cho rằng quan trọng nhất là kết quả cuối cùng. Tôi vẫn nói với các cơ quan truyền thông bên ngoài rằng các bạn không cần phải tô son điểm phấn thêm cho tình hình đất nước, có như thế nào quý vị cứ nói như vậy, nói đúng sự thật chứ đừng bóp méo, cắt vá, xuyên tạc.

* Ông có mong muốn đến lúc nào đó, ngoài các chuyến đi được Nhà nước tổ chức như thế này còn có các chuyến du lịch theo nhu cầu cho kiều bào và khách nước ngoài ra thăm Trường Sa?

– Đây là một ý tưởng rất tốt. Hiện nay chúng ta chưa tổ chức được việc này là do vùng biển đảo đang có tranh chấp với nước ngoài. Trong tương lai, khi công ước về Luật biển được thực thi nghiêm túc, khi các nước tôn trọng những quy tắc ứng xử cùng thiết lập, tôn trọng chủ quyền của nhau thì việc VN tổ chức các chuyến du lịch tới Trường Sa hoàn toàn có thể thực hiện được.

LÊ KIÊN thực hiện

Nguồn:
CHÉP SỬ VIỆT

 

——————————————————————————-

Vua tham nhũng Nguyễn Ðức Nhanh lên chức phó tổng cục trưởng An Ninh

04-06-2010

Tư Ngộ/Người Việt

Ngày Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010 vừa qua, Tướng Nguyễn Ðức Nhanh, được thăng chức phó tổng cục trưởng Tổng Cục An Ninh, nhưng vẫn kiêm nhiệm cả chức giám đốc Sở Công An Hà Nội.

Báo điện tử “An Ninh Thủ Ðô” cơ quan tuyên truyền của Sở Công An Hà Nội có một bản tin dài ca ngợi sự bổ nhiệm dựa theo công văn bổ nhiệm là “Ðồng chí Thiếu Tướng Nguyễn Ðức Nhanh, với cương vị là ủy viên Thường vụ Thành ủy, Bí thư Ðảng ủy, Giám đốc CATP Hà Nội, đã có nhiều thành tích trong lãnh đạo, chỉ huy lực lượng Công an Thủ đô, lập nhiều chiến công xuất sắc, đóng góp vào thành tích chung của ngành Công an và Thủ đô Hà Nội.”

 

Hai bố con Nguyễn Ðức Nhanh và Nguyễn Ðức Quang tự Quang Béo chụp hình bên hồ Gươm?  (Hình” thongtinberlin.net)

Khi vụ án cờ bạc nhiều triệu đô la của Bùi Tiến Dũng, tổng giám đốc Ban Quản Lý các dự án (cầu đường) PMU 18 của Bộ Giao Thông Vận Tải nổ ra hồi năm 2006, một trong những cái láo của Dũng bị phanh phui trên báo là cho nhiều quan chức của nhiều ngành, cơ quan khác nhau xài chùa xe hơi của các dự án hoàn tất. Ðúng ra, các xe này phải bán đi, thanh lý tài sản của dự án. Nguyễn Ðức Nhanh đã phải trả lại một cái xe hơi do Bùi Tiến Dũng cúng.

Tổng cục An Ninh thuộc Bộ Công An Việt Nam chia làm hai, gồm: Tổng Cục An Ninh I, lo chuyện đối ngoại, tình báo hải ngoại. Tổng Cục An Ninh II lo an ninh nội địa.

Ông Nguyễn Đức Nhanh tại giáo xứ Thái Hà

 

Nguyễn Ðức Nhanh đã tham gia chỉ đạo vụ Giáo xứ Thái Hà 2008. (Hình: thongtinberlin.net) ———————–>

Không thấy bản tin của cái báo “An Ninh Thủ Ðô” nói Nguyễn Ðức Nhanh sẽ nắm giữ cái “cục” nào trong số 12 “Cục” của Tổng Cục An Ninh II. Chỉ biết TCAN II có tới 9 phó tổng cục trưởng.

Một điều đặc biệt là, kẻ cầm đầu Tổng Cục An Ninh II là Thiếu Tướng Phạm Dũng, trong khi 4 trong 9 ông tổng cục phó lại cấp trung tướng. Ðó là Vũ Hải Triều, Trịnh Lương Hy, Sơn Cang và Nông Văn Lưu.

Hồi đầu tháng 5 vừa qua, Vũ Hải Triều khi tham dự một cuộc họp với giới báo chí của chế độ đã khoe rằng ngành an ninh đã đánh sập hơn 300 báo điện tử và blogs loan tải tin tức “lề trái.”

Sự tiết lộ này được phổ biến trên một số diễn đàn đã làm ông Cù Huy Hà Vũ phẫn nộ gửi thư cho ông này nói, “Tôi vô cùng kinh tởm ông vì chỉ có loại dã man mới có hành vi phản văn minh đến như thế.”

Tướng Nhanh từng xuất hiện trên báo chí “lề trái” cho thấy đã nằm đằng sau các cuộc đàn áp giáo dân Công Giáo đòi “công lý” qua các vụ biểu tình cầu nguyện ở Thái Hà và Tòa Khâm Sứ Hà Nội.

Con dâu, bố chồng (Nguyễn Ðức Nhanh), bố vợ (Nguyễn Thanh Sơn, thứ trưởng Ngoại giao CSVN), Nguyễn Ðức Quang tự Quang béo (từ trái sang phải). (Hình: thongtinberlin.net) (Sau khi đám cưới, cả hai hiện sống ở Mỹ, Washington DC).

Gia đình ông Nhanh có một đời sống xa hoa mà nếu không có ăn hối lộ, tham nhũng cỡ nặng, không thể có tiền tiêu vung vít qua cửa sổ như thế. Những hình ảnh ăn sinh nhật ở nhà hàng khách sạn 5 sao. Ai muốn tìm những hình ảnh xa hoa của gia đình Nguyễn Ðức Nhanh va con trai lớn tên Quang, thường gọi là Quang béo, chỉ cần vào google tra cứu là ra rất nhiều.

Chân dung thật của ông Nguyễn Ðức Nhanh, chẳng gì đọc một lá đơn tố cáo của một thuộc cấp của ông phổ biến hồi năm ngoái trên Internet.

Trong thư tố cáo gửi Bộ Trưởng CA Lê Hồng Anh và nhiều chức sắc khác, đề ngày 11 tháng 4, 2009, ông Nguyễn Sơn, một cán bộ thuộc cấp của ông Nhanh viết rằng, “chưa bao giờ Công an Hà Nội lại nát như hiện nay và người gây ra tình trạng này chính là ông Nguyễn Ðức Nhanh, giám đốc Công an Hà Nội.

Trước đây, việc chạy chức, chạy quyền cũng đã xảy ra trong Công an Hà Nội nhưng chưa mang tính chất phổ biến. Nhưng từ khi ông Nguyễn Ðức Nhanh lên làm giám đốc thì việc chạy chức, chạy quyền đã trở thành phổ biến, đương nhiên, với bất kỳ ai muốn lên giữ vị trí lãnh đạo, dù nhỏ nhất là phó công an phường. Việc bổ nhiệm, luân chuyển đều do ông Nhanh quyết định hết. Các đồng chí phó giám đốc đều không có vai trò gì. Nhiều trường hợp, ông Nhanh nhận tiền chạy chức, chạy quyền rồi, nhưng bị dư luận Công an Hà Nội không đồng tình, vì số cán bộ đó đã từng bị kỷ luật, ông Nhanh lại lấy danh cấp trên để lấn át, như: “trường hợp này, anh Út, anh Ba, anh Bốn ở Bộ và Bí thư, chủ tịch TP đã đồng ý rồi” hoặc “trường hợp này do anh Út, anh Ba, anh Bốn ở Bộ, đ/c Bí thư, chủ tịch TP giới thiệu.” Thủ đoạn này của ông Nhanh ảnh hưởng xấu đến các đ/c lãnh đạo, nhất là những ai không hiểu thủ đoạn, con người thật của ông Nhanh.

Gần đây, ông Nhanh đang dùng chính sách luân chuyển cán bộ để rung dọa buộc mọi người phải chạy để lấy tiền; đồng thời tạo cớ để đệ tử người Hà Tây cũ (ông Nhanh là người Hà Tây) nắm giữ những chức vụ quan trọng của Công an Hà Nội. Có đồng chí đang làm trưởng một đơn vị ổn định, phát huy năng lực tốt, ông Nhanh điều sang đơn vị khác để tạo điều kiện cho đàn em lên. Ông Hải, trưởng phòng cảnh sát giao thông đang làm thủ tục nghỉ hưu, thấy có nhiều người muốn vào vị trí lãnh đạo này, ông Nguyễn Ðức Nhanh thông qua một số đệ tử bắn tin ra giá, ai muốn lên trưởng phòng cảnh sát giao thông thì phải nộp 1 triệu đô la. Ðã có người nộp 1 triệu đô và đã được ông Nhanh chấm chọn làm trưởng phòng cảnh sát giao thông (đương nhiên, sau khi lên chức họ sẽ tìm mọi cách thu hồi lại số tiền đã đổ ra và đó chính là nguyên nhân gây ra tiêu cực, sách nhiễu nhân dân). Mọi nguồn tiền chạy chức, chạy quyền đều đổ về gia đình ông Nguyễn Ðức Nhanh.

Ðám cưới con trai ông Nguyễn Ðức Nhanh cũng là đám cưới kỳ cục, sặc mùi xã hội đen nhất từ trước đến nay. Ngoài việc tổ chức linh đình diễn ra 3 ngày liền với lượng khách lên đến mấy nghìn người, ông Nhanh còn sai mấy đệ tử là những tên trùm xã hội đen (chơi với ông Nhanh từ khi ông ta còn là trưởng phòng cảnh sát điều tra) cầm thiệp mời đến gặp những tên có máu mặt trong giới xã hội đen, trùm buôn lậu, đòi nợ thuê, bảo kê nói là ông Nhanh mời nhưng yêu cầu không được đến dự đám cưới.

Mời cưới mà không cho người ta đến dự đám cưới thì chỉ có là yêu cầu nộp tiền, gọi là “mừng vọng cháu”. Trung bình mỗi phong bì “mừng vọng cháu” này không dưới 3,000 USD. Nhiều tiền nên con trai ông Nhanh (Nguyễn Ðức Quang) đã trở thành tay chơi khét tiếng Hà Nội (chỉ cần lên mạng Internet gõ Nguyễn Ðức Quang thì sẽ có nhiều bài, ảnh phản ánh việc ăn chơi của Nguyễn Ðức Quang).

Xin khẳng định rằng, gia trưởng, độc đoán, ông Nhanh không kém đàn anh đi trước, nhưng nịnh hót, lưu manh thì đàn anh, đàn chị đi trước gọi ông Nhanh là sư phụ.”

Ðể leo lên ghế cao hơn, ông Nhanh đã chi bao nhiêu? Liệu $50 triệu USD đủ không? Nếu cùng phe cánh và biết cách chung chi phải phép, càng tham nhũng càng dễ leo cao.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=113786&z=157

———————————————————————-

Sinh mạng chính trị của tướng Nhanh và cuộc họp báo bất thường ngày 2/8/2011 tại Ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội

5-8-2011

Ở Hà Nội, Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh rất nổi tiếng vì nhiều cái “nhanh” nhưng lần họp báo này là cái “nhanh” khác liên quan đến chính sinh mạng chính trị của tướng Nhanh. Mấy ngày trước hôm thứ Ba 2/8, nếu ai tinh ý sẽ thấy 1 chiếc xe mang biển công an thành phố, kính đen kín bí mật vào cổng sau Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội qua lối phố Tôn Đản (đối diện cổng sau Vietcombank). Người để ý nhất cũng khó phát hiện khách trên xe bởi khi rẽ vào khuôn viên, người khách này không chậm chễ và rất kín đáo lỉnh ngay lên tầng, sau đó nhanh chóng lọt vào phòng của Trưởng ban Hồ Quang Lợi. Cung cách đi lại của người này rất “nghiệp vụ” nhằm tránh các con mắt soi mói như thể đang giấu diếm hoặc đảm bảo một bí mật gì đó.
 
Song vẫn có người biết vị khách với cung cách đi lại rất “nghiệp vụ” kia là Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II – Bộ Công an, Giám đốc Công an Thành phố Hà Nội. Vậy cơn cớ gì khiến tướng Nhanh phải “nhanh” và “nghiệp vụ” đến vậy ngay giữa lòng thành phố mà ông ta là trùm an ninh?
Loại đối thủ, Nhanh chiếm ghế Giám đốc Công an Thành phố Hà Nội.
Khi Công an thành phố Hà Nội tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm bầu giám đốc Công an thay tướng Phạm Chuyên về hưu thì Đại tá Nguyễn Đức Nghi phó giám đốc Công an Thành phố phụ trách an ninh và hậu cần chiếm số phiếu cao nhất. Sau đại tá Nghi là đến đại tá Đỗ Kim Tuyến – Tiến sỹ, Phó giám đốc. Phiếu của Nhanh rất thấp và chẳng ai nghĩ Nhanh sẽ lên được Giám đốc.
Đảng ủy, Ban Giám đốc Công an Thành phố làm báo cáo gửi Bộ. Ngay lập tức, Nhanh đã nhanh lên khóc với Lê Hồng Anh (đương nhiên khóc bằng tiền). Bằng một hành động chưa có tiền lệ, Bộ Công an đã tổ chức một hội nghị bất thường về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tổ chức cán bộ tại Công an Hà Nội. Đại tướng, Bộ trưởng Lê Hồng Anh đến phát biểu chỉ đạo hội nghị.
Trong bài phát biểu, Lê Hồng Anh chẳng chỉ đạo chi sất mà áp đặt một cách thô bạo. Viên tướng này nói toẹt ra: Hà Nội hiện nay không lo về mảng an ninh, hậu cần (nhằm để loại Nghi ra) cũng chưa cần đòi hỏi cao lắm về khoa học (mục đích để loại Đại tá, Tiến sỹ Đỗ Kim Tuyến) mà cần một người có kinh nghiệm về mảng cảnh sát (ám chỉ Nhanh) (xin giải thich chỗ này: Công an được chia làm hai mảng – An ninh và cảnh sát).
Sau đó, áp đặt bâng quơ này được Văn phòng Bộ “đóng” vào 1 văn bản gọi là Thông báo kết luận chỉ đạo hội nghị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ Công an TP Hà Nội, trong đó, Nhanh được xếp là ứng cử viên số 1 (dĩ nhiên số 2 và 3 chỉ làm cảnh). Ai dám chống nào?
Thế là kết quả bổ phiếu tín nhiệm cơ sở kia (vốn là quy trình cứng) nhanh chóng bị lãng quên. Trước khi rời hội nghị, Hồng Anh không bắt tay ai mà chỉ bắt tay Nguyễn Đức Chung, tức Chung “con” (lúc đó mới là Thượng tá, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hà Nội) và quay lại chỉ đạo “mồm” với Ban Giám đốc mà Nhanh đã nhanh chân lên đứng ngay sau rằng: cần chú ý bồi dưỡng thế hệ lãnh đạo kế cận như đồng chí này. Ai cũng biết Chung “con” từ lâu đã nhận Hồng Anh là bố nuôi. Thật là một sự bảo kê trắng trợn.
Nguyễn Đức Nhanh lên Trung tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh II – Bộ Công An
Sau khi lên Giám đốc Công an, Nhanh được thăng hàm Thiếu tướng.
Theo Luật Công an Nhân dân, trần quân hàm giám đốc công an tỉnh thành chỉ là Thiếu tướng. Không dừng ở đó, Nhanh đã nhanh trí lách luật và chạy cấp trên, để có thể được thăng lên tiếp Trung tướng. Sau khi lại “khóc’ nhiều với thủ trưởng, Nhanh đã khiến thủ trưởng mủi lòng.
Nhân một hội nghị của Bộ Công an về tăng cường thế trận an ninh nhân dân, nâng cao cảnh giác, chống diễn biến hòa bình, sẵn sàng làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực phản động, Hồng Anh chỉ đạo rằng hơn lúc nào hết, công tác an ninh của thành phố Hà Nội phải đặt lên hàng đầu. Do đó, để kịp thời đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực phản động trên địa bàn Thủ đô, nâng cao hiệu quả phối hợp chiến đấu, Tổng cục an ninh cần có 1 lãnh đạo là giám đốc công an thành phố. Vậy là Nhanh nghiễm nhiên làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II – Bộ Công an.
Chỉ ít lâu sau, Nhanh được thăng quân hàm Trung tướng. Luật Công an Nhân dân quy định trần quân hàm cấp lãnh đạo Tổng cục là Trung tướng. Để xoa dịu bức xúc ở Hà Nội, Hồng Anh đã phong 1 loạt tướng cho Công an Hà Nội: Trần Long Xuyên – Phó giám đốc phụ trách tổ chức, tham mưu, lên Thiếu tướng. Đỗ Kim Tuyến – phụ trách cảnh sát, lên thiếu tướng. Công an Hà Nội trở thành đơn vị địa phương giữ kỷ lục về số tướng – 3 tướng. Điều chưa có trong lịch sử.
Việc Nhanh lên Trung tướng, Phó Tổng cục trưởng có nhiều uẩn khúc. Thứ nhất, trước hội nghị an ninh Bộ tổ chức ít lâu, chính Lê Hồng Anh về Công an Hà Nội chỉ đạo rằng Hà Nội chỉ cần người có kinh nghiệm về lĩnh vực cảnh sát mà không cần lo lĩnh vực an ninh (để nâng Nhanh, loại Nghi và Tuyến). Vậy mà ngay sau đó, để hợp thức hàm Trung tướng cho Nhanh, Hồng Anh lại đưa ra chỉ đạo kiểu xoay ngược 180 độ rằng ở Hà Nội, mảng an ninh cần được coi trọng số 1. Trong khi đó, chính Nhanh lại trưởng thành, đi lên từ lĩnh vực cảnh sát mà chưa bao giờ làm bất cứ công tác nào của lĩnh vực an ninh. Bằng những tuyên bố bất nhất, bằng thái độ lươn lẹo, bằng việc điều 1 anh cảnh sát địa phương lên làm lãnh đạo một đơn vị nghiệp vụ an ninh cấp bộ – Hồng Anh đã bộc lộ đầy đủ nhất bản chất bỉ ổi, tha hóa của một con người chưa bao giờ được rèn luyện, thử thách, tự nhiên được phong thẳng lên đại tướng.
Song song với việc phù phép cho Nhanh, Hồng Anh chỉ đạo phong Đại tá và đưa Nguyễn Đức Chung tức Chung “con” lên Phó Giám đốc Công an thành phố. Để đứa con nuôi này rộng đường quan lộ lên chức Giám đốc trong thời gian gần, đường dây của Hồng Anh đã đưa được Chung vào Thành ủy viên trong kỳ Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội (Giám đốc công an TP phải là Thành ủy viên – tức thành viên Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Tp Hà Nội).
Không dừng ở đó, Hồng Anh còn “bố trí” đưa Đỗ Kim Tuyến lên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm, đưa Nguyễn Đức Nghi lên Giám đốc Sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy Hà Nội. Giờ, Chung “con” là người duy nhất có thể ngồi lên ghế Thiếu tướng, Giám đốc Công an Hà Nội. Các vị Phó giám đốc còn lại đều quá tuổi “cơ cấu”. Bằng những việc làm như trên, Hồng Anh đã chính thức biến mình thành ông trùm của tập đoàn quyền lực trong ngành công an. Ung dung sắp xếp bên dưới như vậy để Hồng Anh tự tin bước vào trận quyết đấu nhân sự Đại Hội Đảng toàn quốc 11 nhằm bảo vệ ghế bộ trưởng để tiếp tục thao túng, tiếp tục trục lợi.
Thời gian xung quanh Đại hội Đảng toàn quốc 11 vừa qua là lúc các bên luôn sử dụng các ‘biện pháp nghiệp vụ” để triệt nhau, trong đó lực lượng công an được sử dụng triệt để trong những cuộc so đấu. Vụ Hồ Đức Việt ngã ngựa ngay trong Hội nghị Trung ương bàn về nhân sự Đại Hội là một minh chứng.
Cuộc so đấu trong nội bộ Bộ Công an
Khi sắp xếp nhân sự Đại Hội, có phái muốn đưa nhân sự mới là Trung tướng, thứ trưởng Trần Đại Quang (sinh năm 1950, quê Ninh Bình) vào ghế bộ trưởng Bộ Công an và Hồng Anh “bị” đẩy lên Thường trực Ban Bí thư. Nước cờ này hết sức thâm độc đối với Hồng Anh. Tuy là đi lên nhưng thực chất là đi xuống bởi lẽ cái ghế Thường trực ban Bí thư chỉ hữu danh mà vô thực, Hồng Anh không muốn. Ông ta muốn ngồi ghế Bộ trưởng để sai khiến, để thao túng, để ăn tiền. Điều này khiến Hồng Anh vô cùng nóng mặt và phải ra tay triệt hạ. Công an Hà Nội (cụ thể là Nhanh và Chung “con”) được lệnh “sẵn sàng” để trên điều động. Rà soát các yếu điểm, quan hệ của Quang, với tin tức các “đặc tình”, các đầu mối cung cấp về. Một bức tranh được vẽ lên như sau.
Để đủ tuổi “cơ cấu” tiếp, năm 2004, Trần Đại Quang đã lo xa và “nhờ” Đinh Văn Hùng (khi ấy là Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình) chứng nhận Quang sinh năm 1956 (tức bớt đi 6 tuổi). Việc chứng nhận này có mấy uẩn khúc:
-thứ nhất, thẩm quyền xác nhận năm sinh thuộc Sở Tư pháp, không thuộc Chủ tịch UBND tỉnh.
-Thứ hai, giấy chứng nhận năm sinh mà Hùng ký không phù hợp với hệ thống mẫu văn bản đã ban hành của ngành Tư pháp. –Thứ ba, Hùng ký giấy chứng nhận không dựa trên cơ sở đề xuất nào, và ký trước khi rời ghế Chủ tịch vài ngày.
-Thứ tư, toàn bộ giấy tờ, học bạ, bằng cấp của Quang từ trước tới nay đều ghi rõ năm sinh là năm 1950. Với năm sinh này, Quang đã hết tuổi “cơ cấu” nhân sự cho Đại Hội 11.
Phe Lê Hồng Anh quyết định đánh Quang bằng 2 mũi giáp công.
-Thứ nhất, tung lên internet toàn bộ câu chuyện, tư liệu về việc Quang khai gian năm sinh để “tạo dư luận” trước Đại Hội nhằm tiện bề hạ gục Quang.
-Thứ hai, chỉ đạo Nhanh và Chung “con” mở chuyên án lớn nhắm vào Đinh Văn Hùng (lúc này là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình), cánh tay tài chính, hậu phương lớn của Trần Đại Quang.
Chuyên án triệt hạ và thủ tiêu nhân chứng.
Ngày 29/5/2010, Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án liên quan đến hai chiếc lọ lục bình và chiếc trống đồng (hàng quốc cấm) mà ông Đinh Văn Hùng – nguyên bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình là “nhân vật” chính.
Vụ việc được phát hiện ra khi cơ quan công an đang tiến hành điều tra vụ mất cắp đôi lục bình ở giáo xứ Hà Hồi, thì chị Nguyễn Thị Nga – con gái ông Nguyễn Thế Võ (chuyên gia đồ cổ) và Cao Trường Sơn – con rể Bí thư tỉnh uỷ Đinh Văn Hùng- đã mang đôi lục bình và 1 chiếc trống đồng lên Hà Nội nộp cho cơ quan điều tra. Xác định tính nghiêm trọng của vụ án, cơ quan công an đã tiến hành khởi tố vụ án “trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đôi lục bình sau khi bị mất trộm đã tái xuất hiện vào khoảng tháng 8/2005 trong tay anh Trương Văn Sơn, còn có tên “Sơn ba thá”, trùm buôn đồ cổ ở Hà Nội. Qua một thời gian vòng vo luân chuyển qua hiệu cầm đồ và mách mối, cuối cùng hai chiếc bình đã được bán cho ông Đinh Văn Hùng với giá 40.000 USD.
Số phận của chiếc trống đồng cũng ba chìm bảy nổi. Vào khoảng tháng 6/2009, ông Trần Huy Nghị (47 tuổi, trú tại xã Hồng Thái Đông, Đông Triều, Quảng Ninh) đã mua được nó từ người bán sắt vụn. Sau một thời gian sang tên đổi chủ, giới thiệu mách mối, cuối cùng chiếc trống này cũng về tay ông Hùng với giá 1,2 triệu USD. Hội đồng giám định của Hà Nội kết luận chiếc trống có niên đại cách đây khoảng 2.000 năm và được sản xuất từ Trung Quốc. Theo Điều 6 và 7 Luật Di sản văn hoá, chiếc trống đồng này thuộc di sản Nhà nước quản lý, cấm mua bán, trao đổi.
Sau đó, dư luận cả nước đã sôi sục về việc Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng lấy đâu ra tiền để mua món đồ cổ trị giá hàng chục tỷ đồng như vậy? Vụ việc đang điều tra thì ông Đinh Văn Hùng bị kỷ luật về Đảng, khai trừ khỏi Trung ương.
Tuy nhiên, việc tiếp tục đánh án đã gặp phải lực cản “vô hình”. Vụ án đã quá thời hạn điều tra rất lâu nhưng cơ quan điều tra vẫn chưa thể khởi tố bị can nào.
Sau khi hết hạn điều tra vào 31/10/2010, cơ quan điều tra đã tiếp tục gia hạn điều tra nhiều lần. Trong thời gian này, Trương Văn Sơn tức Sơn “ba thá” đã bị thủ tiêu. Đầu mối quan trọng để lần ra sự liên đới của ông Đinh Văn Hùng đã đột ngột tử vong trong một vụ tai nạn. Vụ này khiến người ta rùng mình nhớ lại việc Đại sứ Đinh Bá Thi bị đâm chết trong một vụ tai nạn bí ẩn ở Hàm Tân, Thuận Hải năm 1978.  (theo vài nguồn tin trên mang, báo chí lức ấy đăng tin ông Thi bị tai nạn xe ở Cầu Sài Gòn). Đầu mối thứ hai là Nguyễn Thế Võ (trùm đồ cổ Ninh Bình) thì đột ngột bị tâm thần.
Vụ này, đến nay vẫn dậm chân tại chỗ. Sau Đại Hội Đảng 11, Trần Đại Quang vào ghế Bộ trưởng. Với sự lên ngôi ấy, chuyên án đồ cổ chưa được giải quyết bỗng chốc trở thành con dao lưỡi sắc bén và nhọn hoắt đang kề vào cổ Nguyễn Đức Nhanh và Nguyễn Đức Chung.
Người nắm đằng chuôi là tân Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang. Lê Hồng Anh thì ngậm ngùi, bất lực bỏ mặc con nuôi và đệ tử cho đối thủ chọc tiết.
Những cú phản đòn của Trung tướng tân Bộ trưởng TĐQ
Thực ra, không phải bây giờ Trần Đại Quang mới ra tay.
Trở lại thời kỳ trước Đại hội 11, phe của Lê Hồng Anh trên đà thừa thắng. Nhanh đã thực hiện một cú ảo thuật về chính trị song đã bị phe của Quang trên Bộ “đọc vị” và chặn đứng.
Số là sang năm đã đến tuổi hưu, chính Nhanh cũng thấy mình khó cưỡng và phải nhường ghế Giám đốc cho Chung “con” trong tương lai gần. Nhanh lại chưa muốn về mà muốn “cống hiến đến hơi thở cuối cùng”.
Nhân kỳ hiệp thương giới thiệu đại biểu quốc hội vừa qua, Nhanh đã ép Ban Giám đốc công an thành phố và Thành ủy Hà Nội làm văn bản cử Nhanh là ứng cử viên đại biểu quốc hội, đoàn Hà Nội.
Khi văn bản lên đến Bộ, đúng lúc phe của Trần Đại Quang đã chiếm thượng phong. Ngay lập tức, Bộ Công an đã ra văn bản nêu rõ “không cử đồng chí Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh tham gia ứng cử đại biểu quốc hội TP Hà Nội vì nhiệm vụ của đồng chí trên hai cương vị Giám đốc Công an TP Hà Nội và Phó Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh II là rất quan trọng và nặng nề”.
Nhanh đã rất ranh ma khi tham gia ứng cử đại biểu quốc hội. Y dự tính: nhiệm kỳ quốc hội là kéo dài tới 2016, chờ bầu và bàn giao nhiệm vụ cho quốc hội khóa tiếp theo cũng là năm 2017. Như vậy Nhanh có thể “cống hiến” đến năm 65 tuổi. Hơn nữa, sau khi trúng đại biểu quốc hội, Nhanh sẽ chạy 1 ghế trong Hội đồng an ninh quốc gia. Song toan tính này đã bị phe của Trần Đại Quang chặn đứng.
Cuộc họp báo của tướng Nhanh ngày 2/8/2011
Thế chính trị của Nhanh đang như ngàn cân treo sợi tóc: vụ án đồ cổ có thể bị lật ngược. Rất có thể kết cục của Nhanh sẽ như tướng Phạm Xuân Quắc, thậm chí tệ hơn. Mọi ngả đi lên đều bế tắc. Quốc hội thì không được vào. Tổng cục an ninh II thì bây giờ chẳng thèm mời Nhanh lên dự bất cứ cuộc họp nào, mặc dù Nhanh là Phó Tổng cục trưởng. Nhanh rùng mình nhớ lại số phận của Ủy viên Bộ chính trị Hoàng Văn Hoan lúc sắp bị Lê Đức Thọ và lê Duẩn “chọc tiết” – cũng chẳng được mời đi họp. Không được mời đi họp tức là có vấn đề. Đó là giặc ngoài.
Còn thù trong thì sao? Chung “con” đang ngày càng gây bè kéo cánh, không coi Nhanh ra gì cả.
Không chừng, chỉ vài ngày nữa Nhanh sẽ có Thông báo quyết định chờ nghỉ hưu. Nên nhớ là quyết định chờ nghỉ nhé, chưa phải là quyết định nghỉ chính thức. Nó thường được đưa ra trước thời điểm nghỉ hưu chừng 6 tháng mà nếu không có gì thay đổi, đầu năm 2012, Nhanh sẽ nhận được quyết định nghỉ chính thức. Rất có thể Thông báo nghỉ hưu sẽ đến sớm hơn. Trong trường hợp xấu nhất, Nhanh sẵn sàng đón nhận giây phút ấy nhưng cầu mong quyết dịnh, hay thông báo hay là bất cứ cái gì mà trên định thì đừng xảy ra trước Tết. Để Nhanh còn có 1 cái Tết trọn vẹn, 1 cái Tết đầy ắp phong bì và quà biếu. Nếu quyết định hoặc thông báo đưa ra trước Tết thì Nhanh còn gì là Tết nữa. Công an Hà Nội đã có tiền lệ rồi. Đại tá Nguyễn Đình Hoành – giám đốc – nhận Thông báo nghỉ hưu vào 23 Tết âm lịch. Kết quả là tết ấy nhà Hoành lạnh tanh, thưa hẳn khách, quà và phong bì. Càng nghĩ, Nhanh càng rùng mình.
Đang thù trong giặc ngoài như vậy thì lại sinh ra cái vụ Trung Quốc cắt cáp, sinh ra lũ biểu tình này. Thật rách việc. Nhanh còn đâu tâm trí và thời giờ để nghĩ về chủ quyền, biển đảo. Kệ mẹ, cứ cho lũ đàn em tự biết phải dùng “nghiệp vụ” thế nào. Bọn Bộ với Tổng Cục thế nào cũng tru lên. Kệ mẹ, ai bảo chúng mày coi khinh tao. Nhanh kệ thật.
Không ngờ bọn đàn em u mê trong hệ tư tưởng “còn Đảng, còn mình” không phân biệt được đâu là sáng, đâu là tối, ai cũng là phản động hết. Bắt. Đánh. Đập. Một cái đạp vào mặt người yêu nước đã đi vào lịch sử. Cả nước sôi lên, dư luận ầm ầm. Đơn từ gửi tứ tung đi các nơi đòi truy cứu trách nhiệm người đứng đầu Công an Thành phố.
Báo chí thì như lũ đỉa đói. Mấy ngày nay cứ bám riết hỏi cái này cái kia. Lũ ăn hại. Bỏ mẹ. Đến nước này thì bỏ mẹ. Không khéo mấy thằng Bộ lại chơi khăm mình đây. Mà không dập nhanh vụ này, Quốc hội đang họp, mấy thằng “thối mồm” lại có cớ để tru tréo. Lần này thì Nhanh thấy nguy hiểm. Nguy quá, nguy quá. Đàn áp biểu tình yêu nước. Có “gì” với Trung Quốc đây. Vụ này mà mấy thằng an ninh trên Bộ nhảy vào thì rách việc to.
Vắt óc nghĩ mãi, Nhanh ngoắt tay gọi lái xe đưa sang Ban Tuyên giáo Thành ủy “nói chuyện” với Hồ Quang Lợi – Trưởng ban- nhằm “định hướng” dư luận.
Hồ Quang Lợi bày cho cách tổ chức cuộc họp giao ban báo chí định hướng dư luận nhưng ban Tuyên giáo thành ủy chỉ giao ban báo chí thường kỳ vào thứ Sáu hàng tuần. Tức phải đợi đến thứ Sáu ngày mồng 5 tháng 8. Nhanh bảo như thế thì chậm quá. Ngọn lửa bây giờ cháy ngày càng to, phải dập ngay, phải định hướng ngay, bắt đầu từ bọn báo chí thối mồm. Ngó nhìn Lợi, sao Nhanh thấy ghét thằng xứ Nghệ này thế. Chợt nhớ, thằng cha này cùng làng Quỳnh Đôi với Hoàng Văn Hoan, không khéo … Nghĩ đến đó, Nhanh móc 2 tập giấy toàn USD ra đưa cho Lợi bảo chỉ đạo anh em lo giúp. Nhanh cài thêm đây cũng là nhiệm vụ chính trị của cả thành phố. Mắt Lợi chợt sáng lên như rắn mồng 5… Trước lúc chia tay, Lợi nói như chắc: anh về sai mấy thằng văn phòng soạn 1 văn bản như kiểu Thông tấn xã VN rồi phắc qua đây (fax) …. Không phải báo cáo với anh Nghị đâu, hì hì. Lợi cười đóng chặt cái cặp mắt lươn ti hí của hắn lại …
Những việc còn lại diễn ra như mọi người đã biết. Trong một cử chỉ khẩn trương và nhã nhặn hiếm có, tướng Nhanh họp báo tại ban Tuyên giáo Thành ủy chiều ngày 2/8 năm 2011, gọi việc “tụ tập – Bộ Ngoại giao” là biểu tình yêu nước, thanh minh rằng Công an Hà Nội không có chủ trương đàn áp biểu tình yêu nước. Thông báo đã đình chỉ chức vụ của tác giả cái đạp vào mặt người yêu nước – cái đạp đã đi vào lịch sử.

———————————————

 

 

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Về 3 Người Việt Vừa Bị Bắt Ở Thái Lan – do an ninh VN qua Thái vu khống họ là tội phạm kinh tế mục đích là dẫn độ (Đặng Chí Hùng) về VN để trừng phạt về tội nói ra các sự thật và bí mật của đảng

Posted by hoangtran204 trên 22/12/2013

Trong một vài năm qua, nhân vật bí mật Đặng Chí Hùng đã làm cho đảng CSVN và công an  tức giận điên lên mà không làm gì được vì anh ta đã tố giác và trình bày rất lưu loát các việc làm bí mật của Bộ Chính Trị, Ủy viên trung ương đảng của đảng CSVN. Anh đã lên mạng trả lời các cuộc phỏng vấn ghi lại trong hệ thống youtube.com và  paltalk.com về  các thâm cung bí sử của các nhân vật chóp bu csvn, các vụ hợp tác bí mật, bán đất đai, bán biên giới, buôn hàng, hậu trường chính trị  giữa 2 đảng CSVN và TQ…

Nếu các tin tức của anh Đặng Chí Hùng lâu nay nói ra không chính xác, chắc chắn an ninh và công an sẽ không thèm để ý,. Nhưng thực tế vừa qua cho thấy, các tin tức mà anh Hùng đã là các tin chính xác, nên công an phải bỏ công thăm dò anh, và sai an ninh qua tận Thái Lan tìm cách gạt cảnh sát Thái Lan, và gài mưu lập bằng chứng để xin dẫn độ Đặng Chí Hùng đem về VN trị tội. 

Các bạn coi thêm ở đây nếu không vào được thì xem trực tiếp từng phim post ở dưới bài này.

Tin anh bị bắt ở Thái Lan đã được cộng đồng mạng chia xẻ và làm nhiều việc có ý nghĩa như sau

http://danlambaovn.blogspot.com/2013/12/tin-cap-nhat-ve-ang-chi-hung-truong.html#disqus_thread

Trương Quốc Huy trả lời RFA từ trại giam ở Bangkok

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-12-20

Thanh Trúc (RFA) – Ba người Việt tị nạn chính trị tại Thái Lan, Trương Quốc Huy, Lê Văn Quang và đặc biệt là Đặng Chí Hùng, mà cảnh sát Thái Lan bắt giữ hôm 12 theo yêu cầu của anh ninh Việt Nam, hiện vẫn bị giam tại IDC Trung Tâm Giam Giữ Quốc Tế ở Bangkok.

An ninh Việt Nam tra hỏi 

Qua vài phút có thể nói chuyện với Thanh Trúc từ Trung Tâm Giam Giữ Quốc Tế ở Bangkok, Trương Quốc Huy cho biết anh và Lê Văn Quang không bị nhốt chung với Đặng Chí Hùng. Nội vụ dẫn đến chuyện bị bắt và quá trình hỏi cung được anh thuật lại như sau: 

Trương Quốc Huy: Tình trạng của anh Hùng và anh Quang là đang trong thời gian chờ đợi qui chế chính thức của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, còn như Huy thì Huy đã có được quí chế tị nạn chính thức của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc rồi. Đại đa số người tị nạn giống như Huy, anh Lê Văn Quang rồi những người khác thường là hộ chiếu hoặc những giấy tờ tùy thân thường là hết hạn ở Thái, chỉ có mỗi giấy của UNHCR họ cấp cho mình thôi.

Cuộc phỏng vấn Trương Quốc Huy ở đây, hoặc ở đây

Cảnh sát Thái đầu tiên thì họ nói vì lý do mình không trình được giấy tờ hợp lệ thành ra buộc họ phải còng tay mình họ đưa về trung tâm của IDC ở Bangkok. Đến trung tâm rồi thì mới biết được là có sự xuất hiện của đại diện Lãnh Sự Quán Việt Nam và cảnh sát Việt Nam. Họ đem theo cái lệnh để bắt người này tên là Đặng Chí Hùng và còn nhiều tên khác nữa. An ninh Việt Nam và nhân viên của Đại Sứ Quán vào đây là cần hợp tác để đi tìm người này, họ đưa cái hình và hỏi tôi biết người này hay không. Tôi nói là trước đây tôi không biết anh này làm gì bên Thái cả, chỉ biết anh ta ở gần nhà tôi thôi. 

Thì cảnh sát Việt Nam, trong đó có một người từng bắt em cách đây 6 năm, anh ta gọi em là “Trương Quốc Huy khỏe không, yêu cầu hợp tác trình báo” . Em nói ở đây là đất nước Thái và tôi không có vi phạm pháp luật gì ở nước này cả, tôi chỉ có đăng ký với UN để tôi được định cư nước thứ ba thôi. Họ hỏi có biết anh Hùng ở đâu không, họ yêu cầu được kiểm tra các số phone trên điện thoại. Cảnh sát Thái kiểm tra số điện thoại, kiểm tra hình ảnh coi có hình của anh Hùng trong đó hay không, nhưng mà có sự chứng kiến của hai người bị bắt là em và anh Lê Văn Quang.

Sau đó thì cơ quan an ninh Việt Nam cũng nói là có khả năng dẫn mấy người này về Việt Nam. Họ nói chuyện với nhau cho mình nghe thấy như vậy.

Thanh Trúc: Khi nghe như thế thì cảm giác của Trương Quốc Huy lúc đó thế nào?

Trương Quốc Huy: Bên phía Thái Lan thì họ chỉ nói cái này là làm theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam. Còn bên phía an ninh Việt Nam thì họ nói theo kiểu hăm dọa, nói dù ở bên này họ vẫn có thể dẫn mình về Việt Nam được. Em cũng có cãi lại, em nói tôi có làm gì đâu mà các anh phải dẫn tôi về Việt Nam, tôi không phải là tội phạm. Lúc đó thật ra thì cái cảm giác cũng lo sợ mặc dù không nói ra, không biết là nó như thế nào.

Thanh Trúc: Rồi sau đó bằng cách nào mà Trương Quốc Huy biết Đặng Chí Hùng đã bị bắt?

Trương Quốc Huy: Đến buổi chiều cảnh sát Thái đưa em và anh Lê Văn Quang vào phòng tạm giữ. Đến sáng hôm sau, 3 nhân viên an ninh của Việt Nam đi vào trong trại giam. Khi mở cửa ra thì đầu tiên nhất là thấy anh Hùng xuất hiện ngoài sân tại trước đây có gặp mặt anh rồi. Họ đưa anh qua một cái bàn làm việc riêng, tức là một cái chỗ thăm gặp bình thường trong Trung Tâm Tạm Giữ Người Nước Ngoài. Sau đó, họ đưa Huy với anh Lê Văn Quang ra, cảnh sát Thái nói là có nhân viên của Việt Nam muốn nói chuyện với các anh về các vấn đề liên quan. Ra ngoài bàn thì mới nhìn thấy và mới biết anh Hùng cũng bị bắt vào buổi chiều ngày hôm đó.

Khi làm việc, nhân viên an ninh của Việt Nam để một tờ giấy và một cây viết lên bàn, nói là chính phủ Việt Nam dư sức đưa các anh về Việt Nam, thì chiều này các anh ra tòa để xử cái tội cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan mà nếu các anh có nguyện vọng muốn về Việt Nam hoặc muốn ở đây để chờ đi nước thứ ba thì các anh phải viết tờ giấy này cho tụi tôi và nếu có gì tụi tôi giúp đỡ cho các anh đóng tiền phạt. (dụ để gài bẩy)

Họ yêu cầu viết ở trên là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, Đơn Thỉnh Nguyện. Họ bắt Huy với anh Quang hai người ra hai góc khác nhau, kêu là viết đi. Nhưng Huy từ chối không viết, bởi việc đưa tôi về hay giữ tôi ở đây là chuyện của UN Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tôi không cần phải viết cái này. Nếu tôi viết thì tôi yêu cầu gặp luật sư, và các anh làm việc theo theo trình tự nào phải báo cho tôi biết. Buổi làm việc hôm nay là buổi các anh thăm chúng tôi hay các anh thẩm cung, mà nếu thẩm cung thì không phải chỗ này tại vì chỗ này là chỗ thăm gặp.

Sau khi tôi từ chối không viết thì anh ta nói cái này tùy các anh thôi, tụi tôi muốn giúp đỡ các anh. Thế là họ cất tờ giấy và cây viết đi.

Thanh Trúc: Đó là phần Trương Quốc Huy và Lê Văn Quang, còn anh Đặng Chí Hùng thì như thế nào?

Trương Quốc Huy: Anh Đặng Chí Hùng thì họ đưa giấy ra, nói đây là cái lệnh truy nã đỏ, nói có thể dẫn độ Đặng Chí Hùng về Việt Nam. Đó là lời anh Hùng kể lại cho tụi tôi, tức là khi anh làm việc với nhân viên an ninh từ Việt Nam sang đó.

Thanh Trúc: Sau khi mà Trương Quốc Huy và Lê Văn Quang từ chối không viết đơn thỉnh nguyện thì phía an ninh Việt Nam giải quyết như thế nào?

Trương Quốc Huy: Đến buổi chiều ngày hôm đó thì phía Thái Lan thông báo với em là Trương Quốc Huy, anh Lê Văn Quang và anh Đặng Chí Hùng, tức là 3 người phải chịu ra tòa, phải chịu phạt hành chính về cái lỗi đã định cư bất hợp pháp tại Thái Lan. Họ cho 3 người đi chung ra ngoài tòa, họ xử phạt và yêu cầu mỗi người đóng 6.000 baht, tương đương 200 đô la, thế cho việc phải ở tù 48 ngày.

Thanh Trúc: Ngay lúc đang nói chuyện với Thanh Trúc đây thì tình trạng của Trương Quốc Huy, Lê Văn Quang, Đặng Chí Hùng như thế nào?

Trương Quốc Huy: Hiện tại thì anh Lê Văn Quang với tôi ở chung phòng dành cho những người nước ngoài mà chờ đợi bị trục xuất về nước hoặc đi nước thứ ba hay là cái gì đó thì họ tạm giữ ở trung tâm này. Anh Hùng thì ở một phòng khác nhưng tất cả 3 vẫn còn trong Trung Tâm Giam Giữ Người Nước Ngoài của Thái Lan tức IDC.

Thanh Trúc: Theo Trương Quốc Huy thì Đặng Chí Hùng bị truy nã về tội gì?

Trương Quốc Huy: Theo người cảnh sát Thái thuật lại thì với công hàm của bên Đại Sứ Quán Việt Nam và nhân viên an ninh Việt Nam thì anh Đặng Chí Hùng bị truy nã vì có liên quan đến các gian lận tài chính. Nhưng mà không biết bên phía Việt Nam họ gọi là gì bởi vì tôi không được đọc tờ giấy đó, tôi chỉ có được nhìn cái hình thôi.

Thanh Trúc: Thực Tế, theo Trương Quốc Huy, vấn đề Đặng Chí Hùng gian lận tài chính có xác thực không?

Trương Quốc Huy: Theo quan điểm của tôi, đây là họ muốn hạn chế những người bất đồng chính kiến của Việt Nam ở bên này, họ cho là những người này chống phá thành ra họ muốn có một việc gì đó để họ giam giữ tất cả mọi người lại.

Thanh Trúc: Trương Quốc Huy có biết ở bên ngoài những tổ chức nào hoặc cá nhân nào mà tìm cách giúp đỡ can thiệp cho trường hợp của Trương Quốc Huy, Lê Văn Quang và Đặng Chí Hùng hay không?

Trương Quốc Huy: Ở trong IDC có đầy đủ các văn phòng của các tổ chức, chẳng hạn văn phòng JRS, một đối tác của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc tại Thái. Họ cũng tiến hành giúp đỡ về vấn đề pháp lý, về vấn đề định cư nước thứ ba hoặc tình trạng giam giữ trong IDC này như thế nào. Rồi có cả văn phòng của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc ở trong này thì họ cũng phỏng vấn và những việc tiến hành về hồ sơ cũng đi theo đúng trình tự.

Thanh Trúc: Riêng cá nhân anh Đặng Chí Hùng thì có giống trường hợp Trương Quốc Huy và Lê Văn Quang không?

Trương Quốc Huy: Vì chưa có gặp được anh Hùng trực tiếp để nói chuyện thành ra cũng chưa biết được. 

Thanh Trúc: Xin cám ơn thời giờ của anh, cầu chúc Trương Quốc Huy, Lê Văn Quang, Đặng Chí Hùng mọi điều tốt lành.

Tác giả: 

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=um88_IUqQJA

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=ca0lRHCZM3U

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=1mLw-QU5L-0

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=UoRATgQ-uuo

Về 3 Người Việt Vừa Bị Bắt Ở Thái Lan

BPSOS

Tuần qua, tin tức về 3 người Việt ở Thái Lan bị cảnh sát Thái bắt đã tạo hoang mang cho số 900 đồng bào đang lánh nạn ở quốc gia này. Nhiều người Việt ở hải ngoại đã bày tỏ mối quan tâm và lo lắng.

Chiều tối ngày 11 tháng 12, cảnh sát Thái bắt Trương Quốc Huy và Lê Văn Quang tại căn chung cư nơi hai anh đang tá túc. Cảnh sát Thái cũng đã hỏi chủ nhà người Thái về anh Đặng Chí Hùng, mà tên trên giấy tờ là Phạm Mạnh Hùng. Tuy nhiên anh Hùng đã chuyển đến ở một khu chung cư khác, cùng với gia đình anh Trần Quốc Hiền. Cả hai khu chung cư có cùng một chủ nhà.

Sáng hôm sau ông chủ nhà đã báo động cho anh Hùng để phòng thân.

Anh Hùng và anh Hiền đã cùng đến gặp luật sư của Cao Uỷ Tị Nạn LHQ để xin sự bảo vệ. Tuy nhiên, luật sư bảo hai anh cứ yên tâm về nhà, không việc gì phải lo lắng. Khi bước vào sân của khu chung cư, cảnh sát Thái mặc thường phục đã bắt ngay anh Hùng, còng tay anh và đưa về phòng để lục soát. Cảnh sát cho biết là chỉ được lệnh bắt anh Hùng nên đã để yên cho anh HIền và gia đình.

Hiện nay hai anh Huy và Hùng đã bị đưa vào trại giam của sở di trú Thái Lan (IDC) còn anh Quang thì, theo nguồn tin chưa kiểm chứng được, đang phải làm lao động để đóng tiền phạt nhập cảnh bất hợp pháp.

Ngay khi anh Hùng bị cảnh sát bắt, BPSOS đã được một đồng bào trong nhóm giáo dân Cồn Dầu báo cho biết. Chúng tôi đã thực hiện ngay một số công việc như sau:

– Thông tin cho Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc ở cấp cao nhất và yêu cầu can thiệp
– Thông tin đến bộ phận bảo vệ người tị nạn của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và đến Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Thái Lan
– Phối hợp với các tổ chức bảo vệ pháp lý cho người tị nạn và các tổ chức nhân quyền ở Thái Lan để lên tiếng với chính phủ Thái

Ngày 16 tháng 12, chúng tôi đã truy ra được số IDC của hai anh Huy và Hùng và nhờ một người ngoại quốc đến IDC để thăm hai anh. Tuy nhiên người này mới chỉ thăm được anh Huy. Trại giam IDC cho biết là anh Hùng bị giam trong quy chế đặc biệt nên chỉ được thăm vào những giờ giấc nhất định. Người này sẽ trở lại để thăm anh Hùng nội trong tuần này.

Chúng tôi hiện có 3 mục tiêu:

(1) Ngăn chặn mọi ý định cưỡng bức hồi hương các anh Hùng, Huy và Quang
(2) Kêu gọi Hoa Kỳ nhận định cư sớm anh Huy vì anh đã có quy chế tị nạn và đã được phái đoàn Hoa Kỳ phỏng vấn đợt một trong tiến trình nhận định cư
(3) Kêu gọi CUTN/LHQ gấp rút hoàn tất tiến trình phỏng vấn tị nạn cho anh Hùng và khởi đầu tiến trình này đối với anh Quang

Theo luật hiện hành ở Thái Lan, mọi người đến Thái Lan lánh nạn đều bị xem là cư trú bất hợp pháp, ngay cả sau khi được CUTN/LHQ công nhận tư cách tị nạn. Vì không còn trại tị nạn, họ phải sống lẩn lút giữa người dân Thái và thường xuyên đứng trước hiểm nguy bị bắt và tống giam. Một khi bị đưa vào trại IDC thì họ sẽ ở đó cho đến khi hồi hương hoặc đi định cư ở một quốc gia khác. Trong một số trường hợp, người đã có quy chế tị nạn của CUTN/LHQ có thể đóng tiền thế chân để được ra ngoài sống nhưng phải trở lại IDC trình diện hàng tháng.

Ngày 16 tháng 12, khi tiếp xúc với DB Ed Royce, Chủ Tịch Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện, tại văn phòng của Ông ở Nam Cali, một phái đoàn người Việt đã nêu trường hợp của các anh Hùng, Huy và Quang. DB Royce cho biết sẽ lập tức liên lạc với Đại Sứ Hoa Kỳ ở Thái Lan cũng như Tổng Trưởng Tư Pháp của Thái Lan để ngăn chặn mọi ý định dẫn độ. Tại buổi họp trước đó với nhân viên đại diện cho TNS Barbara Boxer, phái đoàn yêu cầu TNS Boxer lên tiếng với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
Phái đoàn gồm có Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS; Ông Lê Tinh Thông, Bác sĩ kiêm nhạc sĩ Trung Chỉnh và phu nhân; Luật sư Mike Võ, thành viên hội đồng quản trị của BPSOS ở California; và cô Khánh Doãn và cô Kathy Võ, nhân viên của BPSOS.

BPSOS hiện có văn phòng hoạt động ở Thái Lan với mục đích bảo vệ số ngày càng đông các đồng bào chạy sang quốc gia này lánh nạn cộng sản. BPSOS thực hiện trang blog:

bpsosrcs.wordpress.com để hướng dẫn đồng bào về luật lệ ở Thái Lan, cách phòng thân, thủ tục cứu xét quy chế tị nạn của LHQ, và các thông tin liên quan đến đời sống tị nạn.

BPSOS gửi đăng

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=JE5hpysYJYQ

http://www.youtube.com/watch?v=XrgcThzuhbk

Vậy là chắc chắn Đặng Chí Hùng sẽ được đi định cư trong thờ gian sắp tới.

Bạn vào google.com và gõ dòng chữ: những sự thật không thể chối bỏ, và nhấp chuột vào chữ  search (tìm kiếm) để đọc các bài viết và nghe giọng nói của Đặng Chí Hùng. Hoặc vào youtube.com viết chữ Đặng Chí Hùng và xem phim phỏng vấn.

——————————

Cập nhật:

Đặng Chí Hùng, thành viên Lao Động Việt đã đến bến bờ tự do

dch 1Ngày 10 tháng 9 năm 2014, vào lúc 5 giờ chiều giờ địa phương, công đồng người Việt tại Toronto và dân biểu Ted Opitz đã vui mừng chào đón một người tị nạn Cộng sản từ Bangkok đến Canada. Thượng Nghĩ Sĩ Ngô Thanh Hải bận công tác bên Âu Châu cũng đã gửi lời chào mừng: anh Đặng Chí Hùng đã đến được bến bờ tự do sau gần 11 tháng bị tạm giam ở trại IDC, Bangkok, Thái Lan.

Đặng Chí Hùng là ai?

Đặng Chí Hùng (ĐCH), tên thật là Phạm Mạnh Hùng, sinh ngày 16/8/1982, xuất thân từ một gia đình mà Cha Mẹ là cán bộ của nhà nước. Tuy lớn lên trong chế độ Cộng sản nhưng ĐCH đã sớm có ý thức về dân chủ, nhân quyền của thế giới tự do nên sau khi học xong Đại học Bách khoa Hà Nội, bên cạnh công việc kiếm sống bằng nghề buôn bán, sửa chữa máy vi tính và điện thoại, ngoài việc đọc các báo chí chính thống, anh đã đọc rất nhiều sách vở “ngoài luồng” để có một sự so sánh cho riêng mình. Từ đó, anh đã bắt đầu viết những bài phản biện, nói lên sự thật của chế độ dưới bút danh “Người Hà Nội”, kể từ đó, anh đã nằm vào tầm ngắm của công an Hà Nội. Sau khi tham gia những cuộc biểu tình chống Trung quốc năm 2007-2008, anh bị bắt giam 1 tuần để điều tra. Sau những chỉ dấu có thể bị công an Hà nội thủ tiêu, anh trốn vào Sài gòn và tiếp tục viết bài dưới một bút danh khác mà anh đã dùng cho tới bây giờ: “Đặng Chí Hùng”. Bút hiệu Đặng Chí Hùng đã được độc giả trong và ngoài nước biết đến qua các loạt bài “Những sự thật cần phải biết, Những sự thật không thể chối bỏ” v.v…

Đào thoát

dch 2Cuối năm 2010, Đặng Chí Hùng gia nhập Uỷ Ban Bảo Vệ người Lao Động Việt Nam (thành viên của Lao Động Việt) để đấu tranh cho quyền lợi công nhân. Giữa năm 2012, Đặng Chí Hùng cộng tác với đài Đáp Lời Sông Núi, do đó, anh lại càng là mục tiêu truy quét của công an Cộng sản Việt Nam. Nhận thấy Việt Nam không còn là nơi chốn an toàn nữa, Đặng Chí Hùng đào thoát sang Kam Pu Chia năm 2013, hai tháng sau, anh vượt biên giới sang Thái Lan, tại đây, anh tiếp tục tìm hiểu về đời sống công nhân Việt Nam tại Thái Lan và viết bài đăng trên Dân Làm Báo và nhiều trang mạng hải ngoại khác. Trong thời gian này, Lao Động Việt tìm cách cho Đặng Chí Hùng sang Malaysia để anh có thể giúp đỡ cho công nhân Việt Nam xuất khẩu tại đây. Nhưng việc chưa thành thì anh bị công an Cộng sản Việt Nam kết hợp với cảnh sát Thái Lan bắt vào trại tạm giam IDC ở Bangkok với các tội danh hình sự như trốn thuế, thiếu nợ công ty v.v… Họ còn đưa Interpol vào cuộc với mục đích dẫn độ ĐCH về Việt Nam.

IDC và cuộc vận động cho ĐCH

Thời gian đầu trong tù, Đặng Chí Hùng bị giam ở phòng số 7, đó là nơi giam các tù nhân quốc tế; 10 ngày sau, Hùng bị chuyển sang phòng 15 với 2 người Trung Quốc khác, tại đây tù nhân bị theo dõi 24/24. Chế độ ăn uống rất kham khổ và số lần thăm cũng rất hạn chế, đây cũng là nơi chờ đợi để chuẩn bị dẫn độ về Việt Nam. 24 ngày sau, do bị trưởng phòng đánh nên Hùng được ban quản lý IDC chuyển sang phòng 5, phòng này giam từ 50-70 tù nhân, chế độ thoải mái hơn và Hùng ở đây cho đến khi được đi định cư.

Trong thời gian đó, đài Đáp Lời Sông Núi đã tìm luật sư cho Hùng. Lao Động Việt đã liên lạc với Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải để nhờ giúp đỡ. Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đã bắt tay ngay vào việc, ông liên hệ với Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc tại Bangkok và Bộ di trú Canada. Với sự can thiệp của chính phủ Canada đã chứng minh Đặng Chí Hùng vô tội, ngày 26/5 án Inperpol của Hùng đã được gở bỏ và ngày 27/5, Bộ di trú Canada đã mua vé máy bay cho Hùng sang Vancouver.

Tuy nhiên, số Hùng hãy còn lận đận nên xảy ra cuộc cuộc đảo chánh tại Thái Lan vào đúng thời điểm đó, chính phủ bị lật đổ nên không ai nhận lãnh trách nhiệm ký giấy xuất cảnh cho Hùng. Thế là vé máy bay bị huỷ bỏ và Hùng phải tiếp tục thêm những ngày hoang mang về số phận của mình tại trại tạm giam IDC.

Trong những ngày chờ đợi, được tin một người H’mong đã bị dẫn độ về Lào làm Hùng thêm lo lắng. Rồi đến việc ban quản lý trại IDC bố trí cho một người Việt phạm tội giết người ở Phuket nằm kế mình làm Hùng thêm lo sợ bị thủ tiêu vì lẽ, tại Bangkok, ảnh hưởng của công an Cộng sản Việt nam không nhỏ, người ta ngờ rằng Cộng sản Việt nam và Trung quốc đã tiếp tay cho cuộc đảo chánh quân sự tại Thái Lan. Và, trên tầng trên của trại tạm giam của IDC luôn luôn có một văn phòng của Công an Việt Nam.

Văn phòng của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải tại Ottawa vẫn tiếp tục làm việc chặt chẽ với bộ di trú Canada và Cao Uỷ tị nạn Liên Hiệp Quốc tại Bangkok, sau chuyến đi bất thành ngày 27/5, họ quyết định cho Đặng Chí Hùng đi định cư tại Toronto, nơi có công đồng người Việt đông nhất Canada. Mọi việc đã sẵn sàng, mọi tổ chức liên hệ đã được thông báo để đón tiếp Đặng Chí Hùng. Trở ngại cuối cùng là chữ ký xuất cảnh của chính phủ Thái Lan, và đó cũng là bước khó khăn nhất, vì với tình trạng bất ổn tại đây, không ai có đủ thẩm quyền để ký cả.

Bến bờ tự do

Ngày 2 tháng 9, Thượng Nghĩ Sĩ Ngô Thanh Hải đi công tác tại Âu Châu, Ngày 4 tháng 9, lần đầu tiên Đặng Chí Hùng được nói chuyện trực tiếp với Thượng Nghĩ Sĩ Ngô Thanh Hải qua điện thoại. TNS Hải đã trấn an Hùng rằng mọi việc diễn tiến tốt đẹp, tất cả chỉ còn là vấn đề thời gian, hãy bình tĩnh chờ đợi. Thật bất ngờ, 2 giờ sau khi nói chuyện với Hùng, Văn phòng TNS Ngô Thanh Hải thông báo một tin phấn khởi là giấy xuất cảnh cho Đặng Chí Hùng đang được tiến hành.

Ngay sau đó, Bộ di trú Canada mua vé máy bay cho Đặng Chí Hùng. Ngày 8/9 Hùng đã cầm chiếc vé máy bay Air Canada xuất hành lúc 6.50 sáng ngày 10/9 với điểm đến là Toronto. Tuy nhiên mãi đến ngày 9/9 Hùng vẫn rất lo lắng vì giấy xuất cảnh vẫn chưa có. Chiều ngày 9/9, Hùng báo tin vui là đã có giấy xuất cảnh.

Nhưng hình như số Đặng Chí Hùng phải trải qua những giờ phút phập phồng cho nên 7 giờ tối ngày 9/9, hai cảnh sát dẫn Hùng ra phi trường Bangkok cùng với những người khác, sau khi những người khác đi định cư thì 2 người cảnh sát dẫn Hùng… trở về trại tạm giam IDC. Hùng ngủ một đêm ở phòng thăm nuôi, sáng hôm sau lúc 4 giờ, cảnh sát Thái Lan và bộ di trú cũng như người của cao Uỷ tị nạn Liên Hiêp Quốc đưa Hùng trở ra phi trường, lúc đó Hùng mới thở phào nhẹ nhõm và khi ngồi trên máy bay Đặng Chí Hùng mới thấy mình thật sự tự do.

Chuyến máy bay Air Canada 002 đáp xuống phi trường Toronto trễ hơn 20 phút. Thật bất ngờ, một phái đoàn hàng chục người gồm cộng đồng người Việt tại đây, các cơ quan truyền thông và đặc biệt có cả sự hiện diện của Dân biểu Ted Opitz cũng như nhân viên Bộ Di Trú đã sẵn sàng chờ đón Đặng Chí Hùng với hoa và cờ vàng ngập cả một góc phi trường. Ngạc nhiên cũng đến về phía cộng đồng là Đặng Chí Hùng cũng xuất hiện với lá cờ vàng khoác trên vai làm cho hai bên càng dễ nhận ra nhau và đến gần với nhau hơn. Theo Đặng Chí Hùng, đó là lá cờ của một người em kết nghĩa đã tặng Hùng trước khi đi định cư. Và, Hùng đã hứa, khi nào đi định cư thì cũng sẽ mang nó theo vì đó là biểu tượng của tự do.

Ngay tại phi trường, Hùng đã được thông báo là được cấp ngay giấy chứng nhận thường trú dân mà không phải qua bất kỳ một cuộc phỏng vấn nào. Hùng được thuê một căn phòng của chính phủ, đồng hương tại đây đã giúp cho Hùng những thủ tục cần thiết lúc đầu.

Toronto sẽ là nơi Đặng Chí Hùng mở cho mình một tương lai mới và sẽ là nơi Hùng đem hết sức mình phục vụ cho đất nước đã cưu mang mình cũng như sẽ sát cánh cùng đồng bào đấu tranh cho một Việt Nam Tự do, Dân chủ và Nhân quyền.

© Lao Động Việt

  

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Hội Nghị Thành Đô 1990 | 1 Comment »

►5-12-1967 vụ thảm sát kinh hoàng đã xảy ra tại khu làng Dak Son, thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Sông Bé

Posted by hoangtran204 trên 06/12/2013

Bốn mươi sáu năm trước, đúng vào ngày này 05/12/1967, một vụ thảm sát kinh hoàng đã xảy ra tại khu làng Dak Son, thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Sông Bé.  

Cuộc thảm sát này đã được thực hiên một cách có hệ thống và có tổ chức bởi hai tiểu đoàn Cộng quân với khoảng gần 600 lính chính quy thuộc trung đoàn 88, sư đoàn 1 bộ binh của Cộng Sản Bắc Việt.  Cuộc thảm sát này đã cho thấy sự tàn bạo, dã man của đoàn quân Cộng Sản xâm lược.  Một tội ác chống lại nhân loại mà Cộng Sản Hà Nội không thể nào chối cãi hay bào chữa.

Dak Son là một ngôi làng “Cuộc Sống Mới” được dựng lên bởi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cho khoảng 800 đồng bào dân tộc miền núi (Montagnards) sau khi họ đã vượt thoát từ những vùng cao nguyên bị kiểm soát, khủng bố, hoặc chiếm đóng bởi những đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt (CSBV). 

Những người này đã bỏ trốn từ những nơi mà Cộng Sản Bắc Việt đã huênh hoang tuyên truyền là “Vùng Giải Phóng” ra vùng mà Cộng sản gọi là bị “Mỹ-Ngụy kềm kẹp” vì họ không muốn sống với Cộng sản, hoặc sau khi sống một thời gian họ đã không chịu nỗi sự khủng bố và tàn ác của các lực lượng Cộng quân này.  Ở đây ta cũng cần phân biệt rõ Cộng Quân Bắc Việt  mà Mỹ gọi là NVA (North Vietnamese Army) và cái gọi Mặt Trận Giải Phóng mà Mỹ gọi là VC (Việt Cộng).  Cộng Quân Bắc Việt là lực lượng quân đội chính quy mặc quân phục, đôi nón cối với những vũ khí hạng nặng như xe tăng, đại bác, súng phun lửa, v.v… Trong khi VC là lực lượng nón tai bèo và không được trang bị tận răng như CSBV và thường không có khả năng công khai chiếm đóng và kiểm soát lâu dài những khu vực lớn.

Từ năm 1964 đến 1967, có khoảng 800.000 người dân tộc ở các miền cao nguyên Trung phần đã bỏ trốn khỏi các vùng chiếm đóng của Cộng Sản để trở về sống với chính phủ VNCH.  Việc bỏ trốn trên quy mô lớn này đã làm cho những đoàn quân của CSBV bị thiệt hại rất nhiều về nguồn lương thực, tài chính, nhân công, cũng như làm mất đi chỗ dựa, và bia đỡ đạn (human shields).  Cũng cần nhắc lại rằng, các đoàn quân CSBV đi đến đâu là chúng bắt dân ở đó phải dựng nhà, đóng góp lương thực, đóng thuế, bắt thanh niên phải phục vụ tải đạn, hoặc đưa họ lên đường mòn Hồ Chí Minh làm phu cho chúng.  Khi dân chúng bỏ trốn, chẳng những bọn chúng mất hết những thứ đó mà còn mất đi cả bia đỡ đạn, vì nếu không có dân thì máy bay, đại bác của Mỹ và VNCH tha hồ oanh tạc và pháo kích.

Vừa cay cú, tức tối, vừa lo sợ rằng những người dân tộc khác cũng sẽ bắt chước mà bỏ trốn về phía VNCH, bọn CSBV đã nhiều lần dụ dỗ, hăm dọa,và khủng bố những khu làng “Cuộc sống mới” này.  Riêng tại làng Dak Son, sau khi những trò dụ dỗ và dọa nạt không thành, CSBV đã dùng hai tiểu đoàn thuôc trung đoàn 88 tấn công vào khu làng Dak Son vào lúc quá nữa đêm để trừng phạt và trả thù.  Trung đoàn 88 là một trung đoàn chính quy đặc biệt chuyên về sử dụng súng phun lửa và được trang bị khoảng 60 súng phun lửa. Lực lượng của Măt Trân Giải Phóng không có loại vũ khí này.

Sau khi đã chiếm được làng, đoàn quân man rợ này đã hò hét và ra lệnh phải thiêu hủy toàn bộ làng Dak Son.  Theo bản tin tức của tờ báoTime đăng một tuần sau đó, thì mục đích của cuộc tấn công làng Dak Son không phải là để thắng một trận đánh quân sự mà là cố tình tàn sát dân thường một cách quy mô và đẩm máu để trả thù, để khủng bố, và để răn đe

Những dòng lửa phóng ra đã đốt cháy nhà cửa kể cả những ai đang trốn hoặc không kịp chạy khỏi nhà.  Một số người sống sót chạy xuống hầm để trốn thì bị ngộp thở chết vì khói.  Một số nhà chưa cháy thì bị phá sập bởi lựu đạn. Khi đã hết nhiên liệu phóng lửa thì CSBV bắt đầu dùng tới súng để tàn sát những người trong làng.  Họ tìm được 160 người còn sống và bắt ra khỏi hầm rồi xử tử tại chỗ 60 người tại đó, số 100 người còn lại thì bị Cộng sản bắt theo vô rừng.

Sau khi CSBV rút lui, một số dân còn lại ở trong làng bắt đầu đi tìm người thân của mình.  Họ đi từng hầm một để kiếm người còn sống và kéo những xác chết ra khỏi hầm.  Khắp nơi trong làng họ phải chứng kiến những cảnh xác bị đốt cháy đỏ với thịt da bị lột khỏi thân thể, những em bé bị cháy đến nỗi xác bị dính liền vào xác mẹ.  Đại đa số những nạn nhân là đàn bà và trẻ em.  Tổng cộng 252 dân làng đã bị giết trong cuộc tàn sát này, đặc biệt là có một người dân bị mất 13 người thân chỉ trong vòng một đêm.

Trong trận thảm sát tại Huế năm Mậu Thân 1968, CSBV đã đập đầu và chôn sống hơn 6000 người.  Nạn nhân là những nhân viên dân sự, hành chánh, giáo viên, học sinh, sinh viên và giáo sư trường đại học Y Khoa Huế, trong đó có hai vợ chồng bác sĩ người Tây Đức tình nguyện sang giảng dạy y khoa tại đại học Huế.  Sau đó, Trường Chinh đã tuyên bố rằng đó là những kẻ ác ôn, tay sai của đế quốc và họ cần phải bị trừng trị bởi bạo lực cách mạng.

Vậy những người dân dân tộc miền núi này có phải là thành phần ác ôn không?  Đồng bào dân tộc Montagnards là những người rất hoang dã họ không đọc sách, không nghe radio, phụ nữ của họ không mặc áo, và họ cũng không cần biết ai thắng, ại thua trong cuộc chiến.  Họ chỉ muốn được sống yên thân và tự do.  Vậy mà bọn Cộng Sản dã man này chỉ trong hai tiếng đồng hồ đã thiêu chết 252 người, làm vô số người bị thương, đốt nhà cửa, ruộng vườn của họ ra tro.

Đó là hành động của đoàn quân “giải phóng” sao? 

Bọn Cộng Sản Hà Nội có thể trả lời câu hỏi tại sao khi đoàn quân “giải phóng” của họ đi đến đâu là dân chúng, kể cả đồng bào các dân tộc thiểu số đều phải từ bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ cha, đất tổ mà chạy trốn không?

Những tội ác diệt chủng này của Cộng Sản có thể nào bỏ qua được không?

– Tim Pham

 https://www.facebook.com/timphampost

==================================================================

 

Hình chụp với nhà báo Mỹ trước khi xảy ra vụ thảm sát.

Hình chụp với nhà báo Mỹ trước khi xảy ra vụ thảm sát.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►xây dựng XHCN từ 1954, nay TNT đảng cho biết se tiếp tục lãnh đạo thêm 87 năm nữa…mà cũng không biết đã có CNXH hoàn thiện ở VN hay chưa!

Posted by hoangtran204 trên 01/12/2013

Hiến pháp đã được Quốc Hội thông qua hôm 28-11, và đảng tiếp tục lãnh đạo đưa cả nước tiến lên XHCN. Lời hứa hẹn 146 năm sẽ tiến lên thiên đường. Sướng nhé!

THẾ LÀ ĐỜI TỄU KHÔNG CÓ MAY MẮN TRÔNG THẤY THIÊN ĐƯỜNG XHCN RỒI!

 

Phỏng vấn TBT Nguyễn Phú Trọng  -23-10-2013,  Nguồn: Tuổi Trẻ.

Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa“. 

 

——————

Sữa để em thơlụa tặng già…

Thái Bá Tân

Ở nước ngoài, quan chức
Thường là con nhà giàu.
Giàu, học hành tử tế
Để được người dân bầu.

Nước ta thì ngược lại,
Quan chức phải Công, Nông.
Công, Nông nghèo, ít học.
Bù lại, có chữ “hồng”.

Vậy là ta thấy rõ
Hai điều trái ngược nhau:
Giàu, học để lãnh đạo.
Nghèo, làm quan để giàu.

Tham khảo

►Dinh thự khủng và 100ha vườn cao su của Chủ tịch UBND Tỉnh Bình Dương

Biệt thự 100 tỷ, Tận mắt khối tài sản trên đất của gia đình Bí thư tỉnh ủy Hải Dương

 »

Khóc vì hối hận đã có 172.000 người chết trong Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956

Xây dựng XHCN từ 1954 đến nay được 59 năm, nhưng chưa đem lại sự ấm no cho người dân. Đảng và Nhà nước khuyến khích dân đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài  để thoát khỏi nghèo đói!  

Theo thời vụ, có 500.000 đến 600.000 người VN hiện đang làm việc bên Malaysia, Đài Loan, Phi Châu, các nước vùng Ả Rập, Trung Đông,…Họ làm những công việc ít tiền, mà dân địa phương chê và không muốn làm.  

Khi đi lao động, họ còn bị cán bộ đảng viên của sở TBXH, Bộ Ngoại Giao, Công An quản lý Xuất Nhập Khẩu, bọn cò…nả tiền để được làm giấy tờ nhanh, có rất nhiều trường hợp bị lừa đảo như sau

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/co-moi-tung-tin-lua-dao-ve-thi-truong-lao-dong-han-quoc-2918645.html

Tháng trước, TBT Ng. Phú Trọng băn khoăn thắc mắc: đến cuối thế kỷ này, tức là 87 năm nữa, chưa biết VN đã tiến tới XHCN hoàn thiện chưa!!!  Báo Tuổi Trẻ.

Trích bài phỏng vấn TBT Ng. Phú Trọng: “Bác Hồ còn nói là Đảng phải chịu trách nhiệm, không chỉ những cái lớn mà từ những cái như “tương, cà, mắm, muối”, “cái kim, sợi chỉ”. Một người dân đói là Đảng phải chịu trách nhiệmDân ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, Đảng phải chịu trách nhiệm. Cho nên, việc thể hiện trong Hiến pháp lần này là bước tiến so với Hiến pháp hiện hành.”

“… Có lẽ trong lịch sử làm luật, làm Hiến pháp và trong sinh hoạt chính trị của chúng ta, hiếm có cuộc nào dân chủ sâu rộng và thực chất như thế này”

Bà mẹ liệt sĩ trước túp lều tranh của mình

nguồn: UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN, ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA LÀ THẾ NÀY?

* Những gia đình nghèo khổ 

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Suy nghĩ của đảng viên khác với người bình thường…

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2013

Sự thật là đảng ta có “nhiều người tốt” việc tốt không?

Chỉ cần đọc 3 thí dụ dưới đây sẽ thấy rõ đảng viên đảng csvn khác với người bình thường.

*Bị bệnh chí tử, nhưng cố giấu không chịu chữa trị, cũng chỉ vì hy vọng được đề bạc vào các chức vụ cao hơn.

(Chuyện bệnh tật của đại tướng Đoàn Khuê, Lê Đức Anh, …)

*Họ đối xử với nhau rất tàn nhẫn.

Theo blog BS Ngọc  có trích một đoạn trong cuốn Bên Thắng Cuộc như sau:

– Tàn nhẫnSự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như sau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

Theo blog BS Ngọc

*Đảng viên đảng CSVN coi đảng còn hơn cha mẹ của họ.

Đối với họ, đảng là trên hết, dù là từ thời 1953 hay 2013,  còn đảng còn mình ( Voa Tiếng Việt). Cấp trên muốn giết chết cha mẹ của họ, thì họ cũng Ô-Kê. Miễn sao đảng cứ cho họ tiếp tục làm đảng viên để cống hiến!

Ông Võ Viết Thanh là trung tướng, cha mẹ của ông bị đảng CSVN giết chết,  và chính các đồng chí của ông xác nhận, nhưng ông vẫn một lòng trung thành với đảng!  Ông không dám tố cáo tội ác của đảng,  không dám viết hồi ký tố cáo các việc làm bất nhân của đảng, mà chỉ âm thầm chịu đựng,…

Ông Phạm Tuyên, nhạc sĩ sáng tác ca khúc nổi tiếng…Cha của ông là cụ Thượng Thư Phạm Quỳnh, bị HCM và đảng giết chết năm 1946, vùi thây bên vệ đường. Hẳn, ông biết cái chết của người cha do cộng sản sát hại. Lẻ thường, con người ta ở trong hoàn cảnh ấy sẽ trở nên đau xót, đứng lên tố cáo tội ác, chất vấn sự thể rồi tới đâu thì tới. Nhưng ông ta vẫn cung cúc tận tụy phụng sự đảng.

Ông Đại tá Đặng Văn Việt, con hùm xám đường 4, có cha bị cộng sản đấu tố cho đến chết trong cải cách ruộng đất 1953, nhưng ông vẫn yên lặng suốt 60 năm qua, và vẫn cung cúc tận tụy phục vụ đảng. Câu chuyện gia đình ông được thuật lại ở đây.Đem tâm tình viết lịch sử: Lại chuyện nhà với chuyện nước non“. ở đây)

Ông Tổng Bí Thư đảng Trường Chinh Đặng Xuân Khu đã đấu tố cha mẹ ông tới chết trong cải cách ruộng đất, và tiếp tục phục vụ đảng cho đến chết. Chưa từng nghe thấy ông ta hay con cháu của ông ta tỏ ý hối tiếc về việc này.

Đảng là tối cao, trên cả cha mẹ và gia đình, tấm bảng Còn Đảng Còn Mình, treo trước cổng Bộ Công An ở Hà Nội 2010 (nguồn) nói lên điều ấy.

————–

Các cán bộ cao cấp một lòng phục vụ Trung Quốc để được cân nhắc lên các chức vụ cao hơn:

Hé lộ những bí mật của đảng –  Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnhLê Hiếu Đằng, 12-8-2013

———

Chuyện mấy cái phong bì

tác giả: Phan Chi

23-8-2013

Vì có tư tưởng đổi mới theo hướng đa nguyên đa đảng, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VI (tháng 3 năm 1990), ông Trần Xuân Bách đã bị phê phán gay gắt và bị kỷ luật, phải ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương và bị khai trừ khỏi Đảng. Tháng 8 năm 1990 ông nghỉ hưu với tư cách là chuyên viên Bộ Ngoại giao.

1. Tôi quen một ông luật sư. Quen qua thơ phú vì ông này làm thơ khá hay. Trước thềm Đại hội 7, ông này đang ở Đoàn Luật sư Đồng Nai, là cán bộ trẻ có triển vọng, được đi dự đại hội tỉnh đảng bộ Đồng Nai. Tại đại hội, ông phát biểu rất hăng hái, thẳng thắn theo tinh thần đổi mới. Để rồi ra khỏi đại hội, ông được mời thẳng về nhà giam và ở đó hai năm với cái tội là tay chân Trần Xuân Bách.

Một lần tôi vào Sài Gòn, được ông (nay đã được phục hồi đảng tịch, làm ở Đoàn Luật sư Tp HCM)) mời đi uống bia. Tôi hỏi:
– Vậy ông có quen biết gì ông Trần Xuân Bách không?
Ông lắc đầu cười:
– Quen biết gì đâu. Đến một trang tài liệu từ ông Trần Xuân Bách tôi cũng chả có. Mình là đảng viên quèn, làm sao quen được ông BCT?
Ừ, thôi, chuyện cũ qua rồi, không nói nữa, uống bia cho ngon miệng!

2. Hôm rồi tôi vô tình gặp bà Thịnh vợ ông Bách ở nghĩa trang Mai Dịch (đã viết cách đây vài hôm)
Bà Thịnh kể:
– Hôi anh Bách nằm bệnh viện, ông LKP vào thăm ông Hoàng Bích Sơn nằm gần phòng anh Bách nhưng không ghé thăm anh Bách. Mặc dù anh Bách có nhiều ân tình với LKP. Tôi phải xin cái phong bì có tiêu đề của VP Trung ương, bỏ vào đó 5 triệu rồi nói với anh Bách là anh LKP vào thăm nhưng anh ngủ nên em không gọi anh dậy. Ông ấy có gửi chút tiền bồi dưỡng.

Và nhiều lần như thế, có ông nào vào nhưng không ghé thăm anh là tôi lại ngụy tạo phong bì cho anh vui.
Trước khi mất anh Bách thanh thản lắm, nói:
– Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt.

Nguồn: https://www.facebook.com/pcthang/posts/10200681846152089

Chú thích của TH:

Các từ viết tắt trong bài chủ và phần ý kiến.

-LKP = Lê Khả Phiêu, TBT đảng CSVN.

Hủi = cộng sản

Tiệc = đảng

TW= trung ương;  thí dụ ủy ban trung ương đảng…

  • Dân Choa Khổ! Gorbachev Việt Nam đến lúc chết mà cũng chưa được biết sự thật.
  • Nguyen Nguyen Không biết bây giờ ở bên kia thế giới ông Bách đã biết chuyện này chưa?
  • Phan Chi Dân Choa, Nguyen Nguyen, Chắc là biết rồi vì bà Thịnh kể cho tôi nghe lúc đứng ngay cạnh mộ ông Bách mà!
  • Nguyễn Xuân Thịnh Cô Thịnh còn chắt chiu những đồng tiền cơ cực để mua cho cụ Bách những tiêu chuẩn nhu yếu phẩm của một UVBCT mà lúc đó cụ đã bị cắt sạch.
  • Phan Chi Nguyễn Xuân Thịnh, Đúng vậy. Bà ấy kể vẫn đều đều mua sữa tươi “tiêu chuẩn BCT” cho chồng uống.
  • Nguyễn Xuân Thịnh Dạ, nhưng mà cô ấy mua giấu để cụ Bách vẫn nghĩ mình được TW chăm sóc đầy đủ.
  • Phan Chi Nguyễn Xuân Thịnh, Tôi chưa kể hết đâu. Ba năm liền ông ấy không nhận được một đồng xu lương nào nữa cơ!
  • Nguyen Nguyen Không có điều kiện tìm tòi, lục lọi, đọc nhiều nhưng cứ điểm qua một số tư liệu lịch sử thì thấy không có tổ chức chính trị nào be bét, toét toe và bẩn thỉu bằng các đảng cộng sản. Từ ĐCS Liên Xô, Trung Quốc, Hunggari, Bungari, CHDC Đức cho đến Triều Tiên, Việt Nam…
  • Nguyễn Xuân Thịnh Cái vụ không nhận được đồng lương nào là vi phạm PL, sau hình như cụ Tô có phàn nàn. Nhìn chung là em “khâm phục” tinh tần của từ ĐC.
  • Gã Đầu Bạc Đọc cái từ tắt LKP nhà em cứ nghĩ là một loại Phân Lân cơ,sau định thần lại mới ra,cơ mà nó cũng giống phân thật he heeê
  • Trung Dao Ngoc Đáng buồn nhất là ai cũng nói dối nhau, đến cả vợ cũng nói dối chồng mà rồi cho đó là mình làm đúng. Sao bà Thịnh cứ phải nói dối để ông Bách chết rồi vẫn tưởng Đảng còn người tốt.See Translation
  • Tit Bin Đọc cái còm của chú Trung Dao Ngọc cháu buồn mất năm phút. thấy chú chả hiểu j về phụ nữ VN cả.
    Thế là bà Thịnh có công làm cho các UVTW tốt lên hả chú Phan Chi?
  • Nguyen Nguyen Bà Thịnh làm vậy chắc cũng để gây tê cho ông Bách bớt nhức nhối, não nề thôi Trung Dao Ngoc ạ. Điều này cũng giống như người ta thường động viên người bị ung thư bằng cách dấu bệnh thôi mà.
  • Phan Chi Trung Dao Ngoc, Theo tôi không nên lên án bà Thịnh. Người vợ muốn cho chồng vui, chồng thanh thản trước khi chết. Người vợ làm việc đó theo cách mà bà ấy cho là tốt nhất. Với người sắp lìa cõi sống, chúng ta vẫn thường hay nói dối. Ví dụ ông cụ bị ung thư giai đoạn cuối nhưng con cháu chỉ bảo là viêm dạ dày, v.v.
  • Hoang Hai Bang Hủi tất cả thôi! Ông Bách mất sớm nên được đồng cảm kha khá, chứ ông sống thêm ít năm nữa cũng chửa biết thế nào. Kính mong ông ở thế giới bên kia thông cảm!
  • Phan Chi Hoang Hai Bang, Chú nói thế thì gay cho tôi với chú rồi! Mai rày con cái chúng ta nó nói các ông bô đều hủi hết thì hóa ra tôi với chú đều là người xấu? Ở đời có người xấu kẻ tốt chứ. Tôi không bênh vực ông TXB, tôi cũng không mê tín gì ông ta. Nhưng việc gì ông ấy làm tốt thì ta phải công nhận.
  • Nguyen Nguyen He he…Cứ theo như lối nghĩ của ku Bằng thì tất cả những ai chết sớm đều chưa đủ điều kiện để đánh giá là người tốt hay xấu!
  • Hoang Hai Bang Những việc khác em không nói. Nhưng trong phạm vi thông tin trong bài này thôi: Các cụ mình xưa – hòa nước sông chén rượu ngọt ngào. Ông TXB cần tí sữa tươi nuôi cái ảo tưởng về tình đồng chí!?!?!? Nếu đã đạt đến tầm vì người khác, sẽ rất an nhiên tự tại, chứ không quá lụy sầu vì lòng người đen bạc đâu… đấy, mấy cái ví dụ tí ti từ những thông tin nho nhỏ trong bài thôi! Bác Phan Chi với bác Nguyen Nguyen.
  • Ba Baloxanh Đang có quyển Đại Gia đấy, các bác nên đọc.
  • Nguyen Nguyen Hình như ku Bằng chưa đọc “Bên thắng cuộc” thì phải? Người xưa từng nói rằng, trong mọi sự kinh hoàng trên đời này thì không có gì khủng khiếp bằng chính sự quay lưng phản bội của đồng đội.
    Ở nước Nga Xô viết thời Staline hoặc nước Trung Hoa thời kỳ Mao Trạch Đông…đã có vô số các đồng chí vô cùng trung kiên trước giặc nhưng rồi cũng phải quỵ ngã không gượng nổi vì sự nham hiểm và đê tiện từ các đồng chí của mình một thời. Vì thế, đặt ra cho TXB một yêu cầu phải “an nhiên tự tại, không quá lụy sầu vì lòng người đen bạc” e rằng hơi có phần nào giống truyện chưởng Kim Dung đấy ku em ạ!
  • Phan Chi Hoang Hai Bang, sao ta lại cứ muốn người khác phải là Thánh, trong khi họ cũng chỉ là người để khi họ không phải là Thánh thì ta gọi họ là hủi? Mà thực ra ông TXB đâu có Cần Tý sữa tươi nuôi ảo tưởng tình đồng Chí. Bà vợ ông ấy thương chồng thì làm cho chồng bớt sốc, như Nguyen Nguyen nói đó là chút thuốc gây tê thôi mà?
  • Hoang Hai Bang Bên thắng cuộc là một tập hợp tư liệu đáng trân trọng của Ô sin Huy Đức. Nhưng trong cuốn này có một số chi tiết / tư liệu thấy không hợp lý, anh Nguyen Nguyen. Cái sự anh nói là khủng khiếp nhất thì thằng em này lại không cho là thế! Từ xửa xưa rồi…
  • Hoang Hai Bang Em không muốn ông ấy phải là thánh đâu bác Phan Chi. Mà cái từ ” hủi ” thì theo thói quen hành văn hơi tùy tiện, em không cho nó vào trong ngoặc kép thôi mà.Hề hề hề…
  • Phan Chi Hoang Hai Bang, thực ra cái bi hài trong mẩu chuyện của tôi là ở chỗ ông TXB cũng như nhiều người khác đã là nạn nhân của cái mà ông ấy cống hiến và theo đuổi. Đó mới là điều đáng quan tâm.
  • Hoang Hai Bang Vờng, cái này thì em nhất trí, bác Phan Chi. Nhất trí 100%. Em còm nhát đầu tiên là do cái câu cuối sùng trong cái sì ta tút của bác đấy thôi, chứ không em chỉ đọc rồi lai một phát!
  • Trung Dao Ngoc Xin lỗi các bạn tôi đã viết ra làm các bạn buồn. Đừng nghĩ tôi không hiểu bà Thịnh, cũng như nhiều người VN luôn “lựa lời mà nói”. Tôi thì luôn cho rằng lời nói thật dù cay đắng cũng đáng giá hơn nhiều những lời ngọt ngào giả dối. Hoặc nói ra, hoặc im lặng, đừng lừa nhau.
  • Zan Hanoi Chả có gì buồn cả, vì không chỉ “người VN” đầu bác Trung Dao Ngoc ạ, mọi người trên đời này đều “lựa lời mà nói” thế cả, mà cái tay nổi tiếng nhất môn này là Dale Carnegie trong “Đắc nhân tâm” – người Mỹ, được nhiều người Mỹ ca ngợi và không ít hơn chửi là “đệ nhất đạo đức giả”. Em thấy cụ bà TXB cư xử hoàn toàn hợp lý hợp tình.
  • Nam Sinh Đoàn Em xin miễn bàn.
  • Dang Long Vợ cụ B hay, lấy tiền túi này bỏ túi kia. Điển hình PNVN
    Vợ cụ Bách chắc lúc nào cũng phải sẵn PB 5 chai trong túi nhỉ.
  • Chinh Pham Em trân trọng sự thật. Sự thật là bài học tốt nhất để rút kinh nghiệm.
  • Bùi Công Sinh Vợ bác Bách thật có tâm
    Tất cả chỉ để chồng cầm mà vui
    Vì tưởng người tốt trên đời
    Vẫn còn nhiều lắm lọt vào “ Trung ương”
    Sự thật nghe thấy mà thương!
  • Nguyen Nguyen Bản chất của người phương Đông mà cụ thể là người Việt thường có nhiều kiểu thương người không giống như văn hóa phương Tây. Họ sẵn sàng che đậy, dấu diếm và ôm trọn mọi sự thật đau đớn, phũ phàng về mình để cho người thân yêu nhất của họ tránh được nỗi tan nát, thất vọng, buồn phiền trước những sự thật thảm thương không lối thoát. Hành động của bà vợ ông TXB cũng là một tính cách bẩm sinh, di truyền của nòi giống người Việt chúng ta. Nếu chỉ trích, lên án hành động và lối ứng xử của bà Thịnh với ông TXB là giả dối, e rằng chúng ta đã đơn thuần nhìn vào bề mặt của hiện tượng chứ chưa nhìn ra bản chất của vấn đề.
    Về vấn đề này, mỗi người đều có một quan niệm riêng, ít ai giống ai nhưng để nói về một ai hoặc một việc gì, theo mình hãy nhìn nó từ góc nhìn mang tính xã hội và các tập tính văn hóa của nó.
  • Cho Trang “Và nhiều lần như thế, có ông nào vào nhưng không ghé thăm anh là tôi lại ngụy tạo phong bì cho anh vui.
    Trước khi mất anh Bách thanh thản lắm, nói:
    – Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt.”Hehe, “người tốt” trong Tiệc là những người dúi phong bì 5 củ/lượt cho chiến hữu ạ. Tiệc viên tiền đâu mà nhiều thế? Văn hóa phong bì đúng là do Tiệc phát minh ra chứ đâu! UV BCT cũng phong bì nhé, và có phong bì thì gọi là goodman nhé!
  • Tôn Nữ Ngọc Hoa Phụ nữ hạnh phúc nhất khi thấy người thân yêu của mình hạnh phúc . Bà Thinh hành xử như thế là hợp lẽ lắm. Vừa thêm niềm vui lại vừa giữ niềm tin vào tình cảm đồng chí cho chồng. NH ngưỡng mộ cái phong bì của bà lắm anh Phan Chi ạ. Cảm ơn anh nhé
  • Pham Doanh Ông Bách đã chống lại tập thể thì sao còn đồng chí ở cái tập thể ấy, và cần chi sự thăm viếng của họ ? Những cái phong bì ấy biết có làm ông vui không ?
  • Yen Bui De Nhung nam 90 ma bo phong bi tham nguoi om da ” nga ngua” cha con gi nhung 5 trieu? Nhung nguoi bo phong bi 5 tr moi la nguoi tot? Co ve nhu cac quan ( va phu nhan cac quan) cang to cang quan lieu anh nhi?
  • Phan Chi Yen Bui De, Nhà giột từ đâu hả em?
  • Tit Bin Chuyện vợ làm cho chồng vui lúc tuổi già bệnh tật là chuyện hết sức bình thường. Nghe các bác cứ đưa đồng chí đồng chiêc, trung ương trung iêc, tư tưởng tư tiêc vào đây chán hết cả mớ đời! Đồng chí mí trung ương thì là cái đêch gì ở đây. Ở đây người ta chỉ bàn đến cái tình người, tình người lúc về già, lúc sắp xuống lỗ, các bác ợ.
  • Phan Chi Tit Bin, Lúc nào rảnh chú thì thầm với cháu một điều nhé? Chỉ chú cháu mình biết thôi.
  • Tit Bin Ô con ki chú Phan Chi! Cả bố cháu cũng ko cho biết hả chú? Thế thì bố cháu lại nói: “Đảng mềnh còn nhiều người tốt thật”! Tội nghiệp ông già…
  • Yen Bui De Papa e sap 45 tuoi dang, ve huu, van con giu chuc quan nho teo (cap chu ky cho may tram dang vien 76 khu pho ay) van co chut qua cap nhi nhang. Ca nha e deu dang vien, om dau gi do deu co phong bi. Chi co e nhan vien quen, it bong loc nen luon phai chanh long vi cu cung luon noi: nguoi ta quy minh nguoi ta moi cho. Hoa ra e kg duoc quy huhu!
  • Lê Khánh Mai Buồn cho tình đồng chí trong buổi sa cơ

Đảng ta hơn ở chỗ vẫn còn nhiều người tốt?

Gocomay

nguồn: gocomay.wordpress.com

24-3-2013

Dạo này nhận Job (việc) mới, bận tối ngày. Nên cũng có phần sao nhãng việc đàn sáo (gõ phím). Nhưng hôm nay, tình cờ vào Quê choa đọc được Chuyện mấy cái phong bì của Phan Chi khiến mình lại tủm tỉm cười và có hứng loạn bàn chút cho đỡ “nhạt miệng” (chữ của NQL). Chứ cái thá vô công dồi nghề như mình, hơi đâu mà mua dây buộc cho nhọc lòng…

1.- Thời còn ở làng, hàng năm cứ đến lễ Hội chùa Thày (7/3 âm lịch) là mình hay cơm nắm muối vừng theo các anh chị đi trẩy hội. Nhớ dạo đó tinh đi bộ chứ làm gì đã có đủ xe đạp mỗi người một chiếc mà đi. Từ nhà đến núi Thày, đi tắt qua bãi Giá cũng phải tới mươi cây số. Nhưng cứ nghĩ tới cảnh được trèo lên các tảng đá tai mèo chênh vênh mà ngắm xuống khung cảnh chùa chiền, làng mạc và cánh đồng bên dưới là lòng mọi người lại háo hức một cách lạ kỳ. Không biết nhà thơ nổi tiếng xứ ĐoàiQuang Dũng (quê Đan Phượng) thời ở làng có giống tâm trạng của tôi không? Nhưng khi đọc tới cái câu “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng” trong tuyệt phẩm nổi tiếng Đôi mắt người Sơn Tây thì tôi tin cái đẹp hoang sơ của tuổi ấu thơ ở một vùng đầy ca dao ổ tích như xứ Đoài, người nào kinh qua chả cảm nhận được.

Cho đến một năm, khi tôi đã đi thoát ly được vài năm rồi. Hôm rủ bạn bè từ thành phố đạp xe ngót ba chục cây số về thăm lại núi Thày ngay sau hội chùa hàng năm. Chúng tôi lại leo ra các mỏm đá chơi vơi thi nhau chụp ảnh kỷ niệm. Đói lại trải báo lên các mỏm đá tai mèo, nơi có các tán cây hoa đại (cây bông xứ) để dùng bữa trưa một cách ngon lành. Vừa ăn vừa ngắm lúa vàng đang sắp vào vụ thu hoạch bên dưới. Khi vừa ăn xong, lúc thu dọn chiến trường thì phát hiện ra bên dưới các tảng đá thơ mộng đó là vô số các bãi phân khô (chắc do các du khách đi trẩy hội gửi lại) ở trong các khe đá được phủ những túm lá khô tai tái ngụy trang bên trên nên chả ai phát hiện được. Vậy mà bữa ăn vẫn ngon lành như thường. Thế mới biết cái câu “khuất mắt trông coi” là thế!

2.- Vào mùa xuân năm 1976, tôi cùng Lê Định và Vi Kiến Hoà (Hoà là thân phụ của nhà thơ Vi Thùy Linh) lên làm phim tốt nghiệp ở Trường Thanh Niên Lao Động XHCN Hoà Bình. Được ông Lượng – Bí thư đảng ủy và anh Xum hiệu phó đón tiếp rất thịnh tình và đưa đi quay ở tất cả các cơ sở vừa học vừa làm của nhà trường. Lên phân hiệu 2 rộng mênh mông bát ngát ở Đà Bắc thấy hàng loạt gốc dâu và gốc canh-ki-na cổ thụ bị đánh bỏ để chổng ngược trên các bờ ruộng ven đường. Hỏi ra thì được biết đó là hậu qủa của các chỉ thị (tùy hứng) của các vị lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước mỗi khi lên thăm nông trường cứ phán bừa là phải trồng cây gì và nuôi con gì khiến thầy trò cả trường bị nhiều phen khốn đốn. Nay không thu được chút lợi ích kinh tế nào đành phá bỏ toàn bộ để quay lại trồng sắn và xu hào cứu đói cho học sinh.

Năm 1979 khi tôi xin chuyển về làm việc tại Hãng phim TL&KH TW, kể lại chuyện đó cho anh em nghe, anh Thiệu (lúc đó làm quản đốc) cho biết chuyện đó các anh ấy cũng chẳng lạ gì. Anh kể, hồi ông Tố Hữu còn đương kim trưởng Ban tuyên huấn TW, một hôm xuống thăm Thái Bình, lúc qua phà Tân Đệ, anh lái xe tranh thủ lúc chờ phà chạy đi mua chuối về đãi thủ trưởng. Thời đó ở khắp Miền Bắc chuối tây người ta cắt ra bán theo túm, mỗi túm từ 2 đến 3 qủa. Ông Tố Hữu vừa ăn vừa hỏi anh lái xe kiêm cần vụ là mỗi túm như thế giá bao nhiêu? Anh lái xe nhanh trí nói 3 hào (thực tế là 5 hào) cho thủ trưởng đỡ xót. Vậy mà ông Lành đã nổi cơn tam bành nói: “chết.. chết thật, một túm chuối nhỏ xíu mà giá tới 3 hào, đắt bằng một bữa ăn tập đoàn…”. Ngay sau chuyến đi đó về ông cho gọi tất tật các cơ quan báo đài lên họp (trong đó có xưởng phim TL&KH) và chỉ thị phải ngay lập tức tuyên truyền rầm rộ cho các địa phương phải đẩy mạnh nuôi trồng 3 con và 3 cây. Trong đó chuối là một trong những cây được đặc biệt quan tâm…

3.- Một bộ phim hay khá hiếm hoi của điện ảnh xứ mình – phim Bao giờ cho đến tháng mười, tôi thấy ấn tượng đặc biệt với hình ảnh ông bố chồng cô Duyên (do Lại Phú Cương đóng). Có một chi tiết Đặng Nhật Minh xử lý khá đắt mà tôi để ý chưa thấy các nhà phê bình phim nào đề cập tới. Đó là chi tiết ông già tay run rẩy sờ vào khẩu súng lục đeo bên hông của cái anh bộ đội mà Duyên nhờ đóng giả chồng mình (đã chết) từ Cam-pu-chia trở về vào cái phút lâm chung của ông già đau khổ. Và ông ta đã được mãn nguyện trước khi nhắm mắt xuôi tay để về với tổ tiên. Khi mắt đã mờ nhòa mà bàn tay run rẩy vẫn cố gắng quở quạng chạm được vào cái bao da đựng khẩu súng ngắn anh bộ đội cùng đơn vị (mà cô Duyên nhờ) để cố lừa ông lần cuối (như đã từng lừa ông bằng những bức thư giả mạo nhờ thầy giáo làng viết giúp bấy nay) để mong ông được thanh thản phiêu diêu nơi tiên giới trước khi từ giã cõi trần. Thật kỳ lạ cái đứa con trai giả mạo vừa từ chiến trường khốc liệt trở về với súng lục đeo hông (biểu tượng sự thăng tiến trong quân ngũ) đã khiến ông trào nước mắt sung sướng. Vết thương chiến tranh, vết thương sâu nặng trong tâm con người đau khổ ấy coi như đã được vá lành trong cái phút tử biệt sinh ly! Dù đấy chỉ là một trò lừa của những người thân cùng bất đắc dĩ phải làm

4.- Chuyện mấy cái phong bì của Phan Chi có đề cập tới việc ông Bách (Trần Xuân Bách) đã bị mấy cái phong bì (nói dối) mà trước khi chết vẫn tấm tắc khen: “Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt”.

Những ai đã đọc cuốn Bên thắng Cuộc (Chường 13 – Phần 2 – Quyền bính) thì sẽ càng rõ hơn tại sao lúc ông Bách không còn bổng lộc như thời “lên voi”, bà vợ trẻ của ông cựu Bí thư Trung Ương Đảng đã phải đi làm thêm vào ban đêm để phụ cho bữa cơm hàng ngày của gia đình đỡ bị bôi bác. Những điều dấu diếm (nói dối) nhỏ đó chắc cũng đã phần nào củng cố cái niềm tin (hão) cho một ông “vua thập thể” khi bị thất sủng vẫn tin rằng chế độ do ông tạo dựng vẫn không đến nỗi qúa cạn tàu ráo máng qúa đối với người đã ngã ngựa như ông. Ông đã nhắm được mắt để về cõi vĩnh hằng.

Ông Lê Hiếu Đằng trong lần tham gia biểu tình với các bạn trẻ (mùa hè 2011)

5.- Mấy hôm nay trên các diễn đàn báo chí quốc doanh như các báo QĐND; Nhân Dân; Đại Đoàn Kết và Công An Nhân Dân đã công kích dữ dội lên bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh… của ông Lê Hiếu Đằng mà không hề dẫn lại nguồn. Khiến tôi phải tìm đọc lại trên mạng một lần cho biết. (Xem ở đây). Thực ra những vấn đề ông Đằng nêu ra chả có gì mới mẻ cả. Đó thuần túy chỉ là sự công khai quan điểm cá nhân để gọi là “tính sổ” với ĐCS VN và với bản thân… một cách minh bạch, sòng phẳng như cách nói của ông Đằng. Nó như tiếng lòng của một người đã đi theo đảng ngót nửa thế kỷ. Nay quỹ thời gian cũng chả còn được là bao, lại đau yếu bệnh tật. Ông muốn mình và mọi người có suy nghĩ giống ông dứt khoát quan điểm một lần nhằm sửa lại những gì mà ông và đảng của ông đã gieo tai ương (dù vô tình hay cố ý) lên quê hương xứ sở và đồng bào mình.

Những lời từ đáy lòng ông như lời một người gần đất xa trời. Như tiếng khẩn thiết của một con chim kêu lên những tiếng bi thương và chân thật trước khi vĩnh biệt sự sống. Vậy mà…

Nếu so với Trần Xuân Bách hay Trần Độ, ông Lê Hiếu Đằng không phải là đối thủ nặng ký của giới chóp bu trong chính quyền CS đương thời. Trong thâm tâm, tôi đảm bảo giới lãnh đạo CS cũng chả thù oán cá nhân gì với một ông già chỉ ở tầm lãnh đạo bậc trung có tư tưởng cấp tiến đã về hưu, từng theo đảng tới già nửa đời người nay không còn tha thiết gì với tổ chức đảng (thời buổi chợ chiều) nữa.

Nhưng cái sợ của giới chóp bu là nếu để ngọn cờ tầm tầm bậc trung ấy mà tập hợp được một lực lượng đông đảo các đảng viên ly khai trở thành một lực lượng đối lập nặng ký nhằm cạnh tranh ảnh hưởng về mặt chính trị với ĐCS đang trị vì thì đó sẽ là một tai hoạ nhãn tìền. Vì thế những tên “lính gác” tư tưởng của đảng ở báo QĐND; Nhân Dân; Đại Đoàn Kết và CAND với phương châm “còn đảng còn mình” đã được lệnh tấn công và bôi nhọ bằng mọi giá vào con người và tư tưởng của Lê Hiếu Đằng. Nhằm tiêu diệt cái mầm đối lập (mà đảng không bao giờ chấp nhận) để tránh mọi hậu hoạ về sau.

Như vậy chẳng nói ai cũng rõ, nếu cứ khuất mắt trông coi như vụ dùng xong bữa (mà vẫn thấy ngon) ở đỉnh núi chùa Thầy. Chuyện các gốc cây cổ thụ ở trường Thanh niên LĐXHCN Hòa Bình hay túm chuối đắt hơn cả bữa cơm tập đoàn ở Tân Đệ. Chuyện công kích lại việc ”tính sổ” của ông Lê Hiếu Đằng… đã chứng tỏ những “đỉnh cao trí tuệ” của hệ thống quan liêu này luôn độc quyền chân lý và không bao giờ chấp nhận thực tiễn sinh động của cuộc sống đang diễn ra một cách khách quan khoa học hàng ngày.

Bởi bất kỳ thể chế toàn trị nào mà chả muốn bưng bít mọi thông tin và bắt muôn dân phải tin theo một thứ định hướng chủ quan mà không có một phản biện xã hội nào được phép tồn tại và thách thức lại ý chí sắt đá của tầng lớp cai trị độc quyền. Trong bối cảnh u ám ấy chuyện mấy cái phong bì và bữa những bữa ăn ít biến động trong mâm cơm hàng ngày trong câu chuyện ông Trần Xuân Bách bị thất sủng mà vẫn giàu trí tưởng thật về thể chế và tình người trong cái tổ chức sắt máu (qua câu ngộ nhận: Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt) đã tự nó nói lên tất cả bản chất của sự việc rồi.

Trong câu chuyện phút lâm chung của ông bố chồng cô Duyên (Bao giờ cho đến tháng mười) lại đem đến cho ta một cảm nhận khác về mối quan hệ giữa thật và giả. Đôi khi sự dối lừa ngọt ngào còn giúp con người ta chữa lành các nỗi đau. Sự tuyệt vọng để giúp nhau cùng tồn tại trong cuộc sống vốn đầy tai ương bất hạnh. Như vậy ai dám bảo bất cứ cái dối gian nào cũng đều đáng trách? Khi những điều bất đắc dĩ ấy nó không chỉ là yếu tố tâm lý, chính trị mà còn tiềm ẩn cả yếu tố văn hóa tâm linh của dân tộc mình ở trong đó nữa.

Mặc dù vậy, đứng về mặt chính danh, một hệ thống mà chuyên dùng bạo lực và lừa mị để biện minh cho sự tồn tại của mình. Hệ thống ấy trước sau cũng sụp đổ. Có điều nó sẽ theo kịch bản nào?

Là con dân luôn nặng lòng với quê hương, ai chả muốn sự chuyển đổi ngọt ngào. Để chả bao giờ phải bị giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò….

Gocomay

_______________________

►Lê Hiếu Đằng : Những điều nói rõ thêm…và Suy Nghĩ trong những ngày nằm Bịnh (bản có sửa chữa)

Sự quẫn cùng về phương pháp định hướng dư luận của ba tờ báo lớn: Nhân dân, Quân đội Nhân Dân và Đại Đoàn Kết

AI VỤNG VỀ HƠN AI?

* * *

Nhiều sai lầm, lệch lạc trong bài viết trên giường bệnh của ông Lê Hiếu Đằng (09:09:00 24/08/2013)

Sự thật không như những điều anh Lê Hiếu Đằng suy nghĩ (24/08/2013)

“Màn tung hứng” vụng về (QĐND – Thứ Sáu, 23/08/2013, 0:45 (GMT+7)

Khi người bệnh sám hối (23/08/2013)

——————–

http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2013/08/11/dem-tam-tinh-viet-lich-su-lai-chuyen-nha-voi-chuyen-nuoc-non-bang-phong-dang-van-au/

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN | 1 Comment »

►Bàn về hiệu quả thực tế của những “vũ khí” giữ gìn Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 03/08/2013

 

Sĩ Phu

30-7-2013

nguồn: dcvonline.net

bien

Một khi nhà nước đã “hợp tác chiến lược” với giặc Bành trướng bằng kế sách 16+4, tức cái gọng kìm rất mềm ngày càng khóa chặt, …

Trước hết xin cảm ơn Trung tâm Minh triết đã có thư mời tôi đến dự cuộc họp mặt của các tác giả có công trình về chủ quyền Biển Đảo Việt Nam.

Tôi rất muốn có mặt để trực tiếp được nghe ý kiến các tác giả đã dày công nghiên cứu sưu tầm tư liệu về chủ quyền nước ta tại Hoàng Sa – Trường Sa và chia sẻ quyết tâm sắt đá giữ gìn Biển Đảo, nhưng do điều kiện sức khỏe không ra Hà Nội dự được, tôi xin có một lời bàn ngắn ngủi gửi đến cuộc họp mặt, với sự hiểu biết còn hạn hẹp, cũng mong góp phần nhỏ vào cuộc trao đổi thân mật và rất có ý nghĩa này.

Trước hết, dù là vũ khí chính trị, vũ khí ngoại giao, quân sự, lịch sử, văn hóa, dân vận…xin gọi chung là “vũ khí”.

Vùng viển đang có tranh chấp.

Về vũ khí lịch sử, chúng ta đã sưu tầm được những văn bản, những bản đồ, hiện vật chứng minh từ hàng thế kỷ nay Hoàng Sa-Trường Sa đã thuộc vùng quản lý của tổ tiên ta, trong khi chính bản đồ của Trung Quốc từ năm 1904 đã cho thấy ranh giới của họ chỉ đến đảo Hải Nam, những tư liệu lịch sử ấy rất quý giá, kết tinh tấm lòng và công sức của nhiều người, như những vũ khí rất có giá trị. Đã có nhiều tác giả, nhiều công trình, nhiều sáng kiến đáng tôn vinh trong buổi gặp mặt này, nhưng để các “vũ khí” phát huy được hiệu quả mong muốn, tôi xin bổ sung mấy điều sau đây.

1. Phải có chỗ cho chứng cứ phát huy

Ta nói đó là những chứng cứ “không thể tranh cãi” nhưng không thể tranh cãi là trong một môi trường có Công Lý và Nhân Tâm, chứ vô tác dụng trước một kẻ đã quyết một bề truyền kiếp xâm lược, chỉ cãi chày cãi cối, ngổi xổm lên Nhân tâm và Công lý, những lời thiện tâm chỉ là giả vờ để che mắt và bịt miệng. Vậy làm thế nào để buộc đối phương phải đối mặt với Công lý và Nhân tâm?

Về Công lý, muốn buộc đối phương phải đối mặt cần đưa các bằng chứng ấy lên Tòa án quốc tế, mà Philippines đã cho ta một tấm gương. Chủ trương đối thoại tay đôi với kẻ mạnh đang ức hiếp mình chính là vô tình hay hữu ý tiếp tay cho nó “ngọt ngào thôn tính” đất nước mình. Không chống được sai lầm này thì những chứng cứ của ta cũng vô tác dụng.

Về nhân tâm, nếu song song với những chứng cứ lịch sử, mà nhà nước lại bỏ tù những người lên tiếng chống kẻ xâm lược thì khác nào tạo ra một môi trường phản nhân tâm, cả nhân tâm trong nước và nhân tâm thế giới, còn ai tin vào kế sách chống xâm lược của một nhà nước như thế? Trong một môi trường thiếu vắng sức mạnh của Nhân tâm như vậy thì chứng cứ lịch sử phỏng có giá trị gì?

2. Giá trị thời gian trong chuỗi chứng cứ

Trong môi trường của Nhân tâm và Công lý thì những chứng cứ lịch sử càng có niên đại xa xưa càng có giá trị, càng đáng tin cậy, càng thuyết phục lòng người. Trái lại trong môi trường “chày cối” và ức hiếp thì dẫn chứng càng xa xưa càng không đáng để ý, càng thua kém những sự thực đang diễn ra trước mắt.

Để dễ hiểu ta lấy ví dụ vườn tược nhà anh A bị anh B láng giềng bày mưu chiếm lĩnh. Anh A đem gia phả nhà mình ra chỉ cho tên hàng xóm thấy chủ quyền của A. Tên hàng xóm chẳng hề nao núng, liền bảo: Tôi cóc cần biết đây là của cụ 5 đời hay 10 đời của anh, đấy là việc của gia đinh anh, chỉ biết mới năm ngoái chính bố anh lúc còn sống đã xác nhận khu vườn ấy là của tôi rồi, có chữ ký của bố anh rành rành ra đây! Con cháu đã đem gán nợ cho người ta rồi còn giở gia phả làm chi cho rách việc?

Vì thế công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 là một căn cứ quan trọng để họ khẳng định ý kiến của Việt Nam đã chấp nhận Hoàng Sa-Trường Sa thuộc lãnh hải Trung Quốc, bất chấp những bằng chứng xa xưa. Muốn giữ Biển Đảo thì phải phủ định giá trị pháp lý của Công hàm ấy là việc cần phải làm. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, những ký kết, những nhượng bộ và những thái độ im lặng (hay chỉ phản đối lấy lệ) trước những hành vi xâm lược diễn ra sau Công hàm 1958, từ cuộc cầu hòa ở Thành Đô đến nay, của đảng và nhà nước Việt Nam còn mang giá trị cam kết cao hơn nhiều so với Công hàm 1958. Cứ thế, bước đi sau còn tệ hơn bước đi trước. Ta biết trong chuỗi các văn bản, chuỗi các ứng xử, các cam kết thì cái sau luôn có giá trị hơn cái trước, nhưng những cam kết bí mật những năm gần đây giữa hai ĐCS thì dân lại không được biết, chúng ta không được biết!!!

3. Mặt trận giữ nước phải liên hoàn

Tóm lại việc trưng ra những chứng cứ lịch sử phải đi kèm với việc đưa ra Tòa án quốc tế, với sử dụng sức mạnh đa phương, với việc trả tự do và vinh danh những người đã dũng cảm lên tiếng chống bọn xâm lược mới, với việc không chấp nhận thủ đoạn 16+4 (là thứ yêu thương giả để cắn xé thật)…nếu không thì những chứng cứ lịch sử quý giá mà ta tìm được cũng chỉ để cho ta “nhâm nhi” nâng chén tự sướng với nhau trong khi kẻ cướp cứ yên chí lấn dần bờ cõi! Đất nước sẽ mất dần trong sự đã rồi, trong sự lãng quên của cộng đồng thế giới vốn đầy rẫy cảnh cá lớn nuốt những con cá bé ham mồi, dại dột và cô độc.

Nếu không đấu tranh từng bước liên hoàn với những hoạt động trong và ngoài nước như trên đề cập thì tôi e công phu sưu tập vũ khí lịch sử của chúng ta chẳng những bị uổng phí, mà biết đâu nếu nạn Bắc thuộc trở lại (dưới cái áo khoác mới) thì những chứng cứ quý giá ấy của dân tộc Việt Nam mình sẽ bị thu sạch, đốt sạch hoặc mang về Bắc quốc như lịch sử nghìn năm Bắc thuộc còn ghi!

4. Phải giữ nước trước tiên bằng “vũ khí chính trị”

Sau cùng xin nói: Đánh giặc giữ nước tất nhiên cần vũ khí quân sự. Nhưng vũ khí nào cũng cần một bộ phận châm ngòi “phát hỏa” như cò súng, ngòi nổ hay các nút bấm… Những nút bấm điều khiển ấy luôn thuộc về thuộc bộ phận Chính Trị!

Biển Đông. Nguồn: Copyright cil.nus.edu.sg

Kế hoạch giữ nước trước hết là phải giữ nước từ Chính trị và bằng Chính trị. Một nền chính trị ưu việt để giữ nước mạnh hơn mọi vũ khí. Một quyết định chính trị khôn ngoan có thể hiệu quả hơn hàng tỷ đô la mua vũ khí. Trong trường hợp ngược lại, một chữ ký có thể làm vô hiệu toàn bộ lực lượng vũ trang của một quốc gia. Nếu không biết những nút bấm thuộc về đâu thì tàu ngầm, tên lửa, máy bay hiện đại mua của Nga của Mỹ…cũng đều vô dụng, có khi còn tự hại mình.

Xét về giá trị trong đấu tranh thì chính trị cao hơn quân sự, thực tại cao hơn quá khứ, hành động cao hơn ngôn từ, thực tế cao hơn mơ tưởng…Chỉ khi nền chính trị tạo được sự đồng thanh cả nước một lòng chống giặc, từ người lãnh đạo cao nhất, đến các lực lượng võ trang, đến các trí thức và mỗi người dân, với sự hỗ trợ của thế giới văn minh, thì khi ấy những “vũ khí” trong đó có vũ khí quân sự và vũ khí lịch sử của chúng ta mới được sử dụng có hiệu quả, mới có ý nghĩa. Một khi nhà nước đã “hợp tác chiến lược” với giặc Bành trướng bằng kế sách 16+4, tức cái gọng kìm rất mềm ngày càng khóa chặt, trong khi đất nước và nhân dân chính là đối tượng xâm hại của kế sách rất hiểm đó, thì không hiểu những vũ khí sẽ nằm trong tay ai, ai sẽ sử dụng, sử dụng để làm gì, hỏi ai mà không lo lắng?

Tôi tin tất cả chúng ta trong cuộc gặp mặt này đều hiểu được điều đơn giản ấy. Điều đơn giản ấy chắc người cầm quyền cũng thừa sức nhận ra, nhưng vì sao không muốn thoát ra hoặc không thoát ra được, trả lời câu hỏi này chắc hẳn cần những bài viết và những cuộc thảo luận khác nữa.[*]

Xin gửi đến cuộc họp mặt một lời thân thiết và trân trọng. Mong được tiếp nhận những cao kiến từ cuộc họp mặt thân mật này. Vô cùng cảm ơn.

Đà Lạt ngày 30/7/2013


Bài do tác giả gởi. DCVOnline minh hoạ.

[*] Xin tham khảo bài “Giải Cộng nhi thoát”.

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Từ đại hội đảng lần 3 đến Đại Hội Đảng lần thứ 11…Các kế hoạch đề ra năm 1971, 42 năm sau vẫn chưa thực hiện được!

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2013

Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của đảng vào tháng 3/ 1971, đã xác định công nghiệp hóa XHCN của chúng ta.  Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại”…

Tại Đại hội IV của Đảng (1976), chính sách thì đã có thay đổi chút ít “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất”. Trích  Đường Lối Cách Mạng

.

.

42 năm sau, sự thật ở nơi đây…

“…ngành cơ khí – một trong bốn ngành công nghiệp mũi nhọn – chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp…” 

“Cần nhìn thẳng vào thực tế là chúng ta chưa sản xuất được sản phẩm cụ thể gì trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, kể cả con ốc hay cái đinh vít, ngoài việc làm rất tốt là nhập linh kiện về lắp ráp!”.

2013

Công nghiệp mũi nhọn hay… lắp ráp?

26/06/2013

TT – “10 năm trước tôi đã ngồi ở những phòng họp tương tự thế này để bàn về việc phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn của thành phố, giờ đây vẫn mục tiêu này chúng ta đang loay hoay đi tìm sản phẩm công nghiệp đặc trưng”.

Sau gần 10 năm triển khai, Cụm côn

Đó là phát biểu của ông Từ Minh Thiện, đại biểu HĐND TP.HCM, về thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tại buổi làm việc mới đây với Sở Công thương TP.

Theo các chuyên gia, dù được xem là ngành mũi nhọn, được kỳ vọng là đòn bẩy thúc đẩy các ngành khác tăng tốc, nhưng đến nay ngành công nghiệp trên địa bàn vẫn chưa tạo ra được bước đột phá nào. Trong đó, ngành cơ khí – một trong bốn ngành công nghiệp mũi nhọn – chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp…

Có tiếng nhưng không có miếng

Ông T. – giám đốc Công ty chế tạo máy TT, một trong những doanh nghiệp chế tạo máy dược phẩm hàng đầu hiện nay tại TP.HCM – thừa nhận: “Cần nhìn thẳng vào thực tế là chúng ta chưa sản xuất được sản phẩm cụ thể gì trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, kể cả con ốc hay cái đinh vít, ngoài việc làm rất tốt là nhập linh kiện về lắp ráp!”.

Thành lập từ năm 1998 với số vốn đầu tư ban đầu hơn 2 tỉ đồng cùng vài chục công nhân, hiện TT đã có trong tay hơn 200 lao động với nhiều thiết bị chuyên dụng được đầu tư hơn 100 tỉ đồng ở nhà xưởng khá khang trang.

“Hiện chỉ có hai doanh nghiệp cùng thời với tôi là còn hoạt động. Những doanh nghiệp thành lập sau này cũng xuất thân từ TT, nên xét về việc phát triển gần như không có” – ông T. nói.

Theo ông T., để sản xuất được máy sấy tầng sôi tạo hạt (một thiết bị trong quá trình bào chế thuốc), đơn vị này phải nhập tất tần tật, chẳng chừa gì. Chỉ cho chúng tôi xem các miếng đệm làm bằng silicon có tác dụng bịt kín các chi tiết khi lắp ráp máy, ông T. ngao ngán nói: “Ngay cả thứ này mà cũng phải nhập vì ở VN chẳng ai sản xuất cả!”.

Ông T. thừa nhận dù trên từng sản phẩm xuất khẩu đều có dòng chữ “made in Vietnam”, nhưng “chỉ có công lao động lắp ráp và lựa chọn loại thiết bị, linh kiện… mới thật sự là của TT”!

Thương hiệu Samco của Tổng cơ khí Giao thông vận tải Sài Gòn cũng vậy. Có trong tay xí nghiệp cơ khí ôtô và cơ khí chuyên dụng, nhưng Samco cũng chỉ làm giàn khung bên ngoài, táplô và trang trí nội thất bên trong. Còn các thiết bị quan trọng như thanh truyền lực, bộ giảm tốc, hộp số, động cơ…đều phải nhập khẩu do trong nước chưa sản xuất được.

“Dù tỉ lệ nội địa hóa đã đạt 43%, trong đó có một số bộ phận, linh kiện mua từ trong nước như ăcquy, dây điện…, nhưng phần lớn giàn khung sắt xi bên ngoài chúng tôi vẫn phải nhập nguyên liệu rồi mới chế tạo khung sườn xe được” – ông Nguyễn Hồng Anh, tổng giám đốc Samco, nói.

Năm 2012, Samco sản xuất 420-450 xe buýt và xe khách các loại, đáp ứng khá khiêm tốn so với nhu cầu hàng ngàn chiếc/năm của chủng loại xe này ở thị trường nội địa.

Cái khó bó cái khôn

“Nếu nói về tên gọi cho từng sản phẩm, cái gì chúng ta cũng… có mặt. Nhưng sản phẩm làm ra có đáp ứng được nhu cầu thị trường hay không, chứ khoan nói cạnh tranh với các nước lại là một vấn đề khác” – ông Đỗ Phước Tống, phó chủ tịch Hội Cơ khí TP.HCM kiêm giám đốc Công ty cơ khí Duy Khanh, nhận xét.

Trong nhóm bốn ngành công nghiệp trọng yếu gồm các ngành cơ khí chế tạo, hóa chất – cao su – nhựa, chế biến lương thực – thực phẩm, điện tử – công nghệ thông tin và dệt may – da giày đã được TP.HCM quy hoạch đầu tư và phát triển, nhưng đến nay để có thể “điểm mặt đặt tên” sản phẩm có khả năng cạnh tranh trong từng nhóm ngành nói trên là một điều khó khăn.

Mặc dù ngành cơ khí chế tạo, cơ khí công nghệ cao được TP.HCM đặt mục tiêu hướng tới sẽ là ngành tạo ra giá trị gia tăng cao với công nghệ hiện đại, nhưng thực tế số doanh nghiệp đầu tư vào ngành cơ khí theo hướng sản xuất chuyên nghiệp rất ít.

Theo ông Tống, nguyên nhân chính là do phần lớn doanh nghiệp sản xuất cơ khí hiện nay đầu tư mang tính tự phát, vốn ít, trong đó hơn 80% là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mà khi ít vốn thì không thể đầu tư máy móc thiết bị chuyên dụng, không thể làm ra được sản phẩm chất lượng đồng nhất nên lại rơi vào vòng luẩn quẩn: gia công, lắp ráp và sửa chữa, dẫn đến giá trị gia tăng trong sản xuất rất thấp. “Thành phố vẫn có doanh nghiệp cơ khí hoạt động. Nhưng để tìm cho ra doanh nghiệp đầu tư chuyên sâu, làm đúng chuyên ngành, có sản phẩm được trong giới lẫn khách hàng công nhận đạt chất lượng, thật tình không quá một bàn tay” – ông Tống đăm chiêu nói.

Theo ông T., chính sách thuế quá bất hợp lý đã giết chết ngay từ ban đầu ý định đầu tư của doanh nghiệp. “Chẳng ai muốn lao đầu vào đá để chết khi nhập khẩu linh kiện về sản xuất lắp ráp lại đắt hơn nhập khẩu nguyên chiếc về kinh doanh” – ông bức xúc. Theo ông T., sản phẩm của doanh nghiệp làm ra cũng bị cạnh tranh gay gắt từ máy nhập khẩu của Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật… “Giá bán của TT luôn cao hơn hàng nhập từ Trung Quốc nên dù sản phẩm làm ra đạt chứng nhận chất lượng tiêu chuẩn xuất khẩu sang châu Âu, được doanh nghiệp nước ngoài đặt hàng tới tấp, nhưng doanh nghiệp dược phẩm trong nước không mặn mà” – ông T. lắc đầu nói.

Theo ông Nguyễn Hồng Anh, thay vì đầu tư hết sức dàn trải vào cả bốn nhóm ngành công nghiệp trọng yếu thì “UBND thành phố nên tập trung đầu tư tổng lực vào từng ngành, với từng giai đoạn hết sức cụ thể”. Nếu làm được điều này, theo ông Anh, may ra TP.HCM mới có được một sản phẩm công nghiệp “nên hình nên dáng”, có nội lực thật sự. “Chứ cứ để như lâu nay, nhìn lại thành phố cái gì cũng có, mà có được cái gì cụ thể đủ sức cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu thì vẫn chỉ biết loay hoay đi tìm” – ông Anh nói.

 

Cách nay gần 10 năm, dự án xây dựng cụm công nghiệp cơ khí ôtô theo chủ trương của UBND TP, do Công ty CP Hòa Phú (gồm ba cổ đông là Samco, Sinvesco và CII) làm chủ đầu tư, đã được triển khai. Cụm công nghiệp rộng 100ha này từng được kỳ vọng trở thành “trung tâm sản xuất linh kiện ôtô; đóng mới, sửa chữa, lắp ráp ôtô; thiết kế và đóng mới các phương tiện cơ giới đường bộ, là nơi thu hút các doanh nghiệp sản xuất trong và ngoài nước của lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ…”.Thế nhưng đến nay dự án này vẫn còn ngổn ngang dù đã bỏ hơn 200 tỉ đồng để đền bù giải tỏa.“Từng có doanh nghiệp Nhật muốn đầu tư sản xuất túi khí ôtô tại cụm công nghiệp này nhưng bây giờ họ đã đi sang Thái Lan. Thủ tục chuyển đổi cụm công nghiệp thành khu công nghiệp với nhiều hạng mục liên quan vẫn còn vướng mắc, thành ra…” – ông Hồng Anh nói.

Trần Vũ Nghi 

http://tuoitre.vn/Kinh-te/555894/cong-nghiep-mui-nhon-hay–lap-rap.html

———

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Nhân ngày Phật Đản 24-5-2013: “TỪ BỎ THẾ GIỚI DUY ÁC ĐỂ THÀNH PHẬT”

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2013

Cần phân biệt:

– Giáo hội Phật giáo Việt Nam (thành lập 1981) là giáo hội Phật giáo duy nhất được chính phủ Việt Nam công nhận hiện nay[1]và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

-Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (thành lập 1964 ở miền Nam), không được nhà nước công nhận, giáo hội này không chịu để cho MTTQ Việt Nam chỉ huy và quản lý). Hòa thượng Thích Quãng Độ là Tăng Thống của GHPGVN Thống Nhất hiện đang bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện đường Trần Huy Liệu quận Phú Nhuận. 

TỪ BỎ THẾ GIỚI DUY ÁC ĐỂ THÀNH PHẬT

 Trần Mạnh Hảo

 “Chao ôi thành Phật rồi sao nhỉ ?”  (thơ T.M.H.)

 ( Viết nhân kỷ niệm 2637 năm ngày Phật đản : (15 – 04 âm lịch Qúy Tỵ) dương lịch ngày  24-05-2013)

2

Chúng tôi viết bài báo này trước hết để mừng lễ Phật Đản lần thứ 2637 .

Nhân đây cũng xin thỉnh các thầy của “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, một giáo hội của “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, một nhà nước vô thần, theo thuyết Marx-Lenine chủ trương diệt tôn giáo, rằng với tiêu chí : “ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM – Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” liệu có đúng với tôn chỉ đạo cứu khổ, đạo từ bi của Phật Tổ hay không ?

Đạo Phật chủ trương duy thiện, chủ nghĩa Marx – Lenin chủ trương duy ác ( xin xem thêm hai bài viết của chúng tôi : “ Bàn qua về hội chứng tuyệt đối trong chủ nghĩa duy ác của Marx” và bài “ Karl Marx ông là ai mà đầy đọa dân tộc tôi mãi thế ?” – quý vị chỉ cần đánh tên hai bài viết này vào công cụ tìm kiếm google.com là có thể đọc được).

Cũng xin quý bạn đọc xem qua tiêu chí của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, một giáo hội chủ trương hòa trộn Phật vào Marx, hòa trộn thiện vào ác, hòa trộn từ bi vào chủ trương bạo lực ( giết người) của thuyết đấu tranh giai cấp, hòa trộn việc tôn nghiêm phát triển chùa chiền vào hành vi phá chùa, ném trôi sông tượng Phật ( sẽ dẫn chứng sau) :

“Giáo hội Phật giáo Việt Nam

1

Trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ, Hà Nội

Giáo hội Phật giáo Việt Nam là giáo hội Phật giáo duy nhất được chính phủ Việt Nam công nhận hiện nay[1]và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Giáo hội được thành lập sau Đại hộiPhật giáo Việt Nam tổ chức tại tùng lâm Quán SứHà Nội vào ngày 7 tháng 11 năm1981 nhằm thống nhất tất cả sinh hoạt Phật giáo của tăng ni, phật tử Việt Nam. Pháp chủ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ VI (2007-2012) là đại lão hòa thượngThích Phổ Tuệ.

Phương châm của Giáo hội là: “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội.””

http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_h%E1%BB%99i_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3 %A1o_Vi%E1%BB%87t_Nam

Trên báo “Văn Nghệ” của Hội nhà văn Việt Nam số mừng tết Qúy Tỵ 2013 vừa qua, trong bài :” Năm tháng gọi về” của nhà văn Đỗ Chu ( người vừa được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật), có đoạn viết về việc các nhà lãnh đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam hồi năm 1955, 1956 mở chiến dịch triệt phá chùa chiền tàn khốc, cụ thể là việc phá chùa ở vùng núi Yên tử, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông khai mở thiền phái Trúc Lâm của Phật giáo Đại Việt, như sau :

“ Hỏi các vị bô lão trong vùng mới biết có chùa là do Tây đốt, có chùa là do ta đốt, ta đốt phá mới nhiều mới dữ. Một cụ chống gậy lọm khọm bước đến trước tôi kể, chính tôi hồi ấy đã được cấp trên gọi đi đốt phá cả chục ngôi chùa, tượng lớn tượng nhỏ cho trôi sông tuốt. Rồi ông cụ tặc lưỡi cười rất thành thực, thì cái thời nó thế, tôi lúc đó trẻ đang hăng lắm, được phong làm trưởng ban phá hoại huyện.

( trích bài “ NĂM THÁNG GỌI VỀ” –ĐỖ CHU)

http://www.vanvn.net/news/9/3118-nam-thang-goi-ve.html

Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa

(Trích trong tác phẩn “Chuyện Làng Ngày Ấy” của nhà văn Võ Văn Trực” do NXB Lao Động ấn hành tháng 6 năm 1993. )

Người viết bài này do trình độ yếu kém nên chưa hiểu được chuyện uyên thâm của các quý thầy lãnh đạo “ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam ngoài việc thờ Phật, các vị còn thờ cả học thuyết duy ác của Marx-Lênine trong hệ thống hàng nghìn ( có khi hàng vạn?) ngôi chùa trên khắp đất nước ta là sao ? Kính xin chư thầy chỉ giáo cho kẻ vô minh này, xin cám ơn quý thầy (!)

Ngài ( Đức Thế Tôn) đến thế giới này không để làm vua, mặc dù Ngài là thái tử sẽ nối ngôi vua cha. Ngài đến thế giới này không để làm thần linh nắm cả trời đất trong lòng bàn tay, đặng ban phát chân lý cho mọi người. Ngài đến thế giới này không để làm một tiên tri biết trước mọi sự, hay làm một anh hùng cứu thế, làm một thánh nhân ngụ trong linh hồn trường tồn bất diệt.

Vâng, Ngài đến thế giới này chỉ để làm một con người, hơn nữa là một con người nghèo khổ, một con người bình thường như mọi con người vô danh ẩn mình trong thế giới khổ đau. Có điều, con người mà Ngài đạt tới là một con người được tu luyện bằng thiền định vươn tới một trí tuệ trác việt, vươn tới sự giác ngộ vượt thoát mọi khổ đau sinh diệt vô thường. Từ con người bình thường đến Phật chừng như chỉ cần vượt qua lằn ranh của một sợi tóc, hay một khoảng thời gian nhỏ nhất gọi là sát-na…

Dường như Ngài ( tồn tại trong phần thiện căn của Tâm tha nhân) dẫn dắt chúng sinh đến bờ của sợi tóc ấy, sát na ấy để chúng sinh tự mình vượt qua bản ngã ( ảo ngã, hư ngã), giữ lấy chân ngã  mà thành Phật. Ngài đã vượt qua trùng trùng trở ngại để tự mình đến tới bờ của sợi tóc ấy bằng 35 năm trầm tư mặc tưởng, khổ luyện tu hành; và trong một sát na lóe sáng đốn ngộ, Ngài thăng hoa giác ngộ, bước qua sợi tóc kia mà thành Phật. Sợi tóc mà Ngài đã vượt qua sau 49 ngày thiền định dưới gốc bồ đề kia, với chúng sinh có khi là nghìn trùng sông núi…

Phật chỉ cho ta con đường đến cõi giác ngộ nằm ở chính trong ta mà sao ta không tìm thấy ? Khi tâm ta và thân ta lạc mất nhau thì sao ta ngộ được điều kỳ diệu : “ Phật tại tâm” ? Hãy ngồi xuống trong tĩnh lặng, quên đi mọi khổ đau dục vọng muộn phiền tìm lại tâm mình đang trôi dạt ngoài cõi ta bà, để tâm nhập làm một với thân ta mà thiền định, sẽ thấy Phật trong từ bi hỉ xả nơi chính tâm hồn mình…

Không có môi trường đa nguyên tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do chính trị của thời đại Ngài- tiểu vương quốc Kapilavatsu, tuyệt nhiên không thể có Phật giáo. Ngày ấy, khi Ngài trốn ( cùng đệ tử Xa-nặc)  khỏi lầu son gác tía đi tìm con đường giải thoát khỏi bể khổ trần gian vô thường, ở thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, ngoài tư tưởng chính thống của Bà-la-môn, còn có hai trào lưu tư tưởng khác không chính thống nhưng không bị chính quyền xua đuổi hay cấm cản là các hiền giả không theo thuyết chân lý tuyệt đối Bà-la-môn mà tu theo trường phái khổ hạnh hành xác; ngoài ra, một số hiền giả còn chủ trương duy vật vô thần, chỉ tin vào chủ nghĩa khoái lạc gọi là học phái Carvaka/Lokoyata…

Năm 35 tuổi sau 49 ngày thiền định đạt tới sự giác ngộ triệt để để thành Phật, Ngài trả lời Bà Tất Tra trong kinh Trường A Hàm, quyển 16 như sau :

“ Nếu Bà La Môn thông Tam Minh kia không thấy Thượng Đế ( Brahman), tiên sư của Bà La Môn thông Tam Minh cũng không thấy Brahman, các Bà La Môn thông Tam Minh, những cựu tiên nhân như A Tra Ma… cũng không một ai thấy Brahman. Thế thì biết rằng những điều Bà La Môn thông Tam Minh nói không phải sự thật”.

Ngài thiền định để phá bỏ tiểu ngã ( Atman) và đại ngã ( Brahman) của Bà La Môn, phá bỏ những gì bất biến trường tồn để thành Phật, lẽ nào khi vừa sinh ra, Ngài đã tự phụ trỏ vào ngực mình mà nói một câu không hề có tính Phật : “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” như người đời tôn sùng Ngài quá mà gán cho Ngài lời nói của phàm phu tục tử tự cao tự đại dường ấy ?

Không, Phật không hề lộng ngôn như thế : “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” là ai đó ngụy tạo gán cho Ngài, đi ngược lại bản chất từ bi hỉ xả khiêm cung giản dị của Ngài.  Trong bài : “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn ám chỉ điều gì ?” của tác giả Master Duy Tuệ viết trên Internet ngày 24/01/2010 lại xuyên tạc câu nói kia mà có ai đó từ xa xưa đã gán cho Đức Phật,  bằng cách giải thích không đúng rằng :

“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là câu nói của con người. Câu nói này nhằm mang lại lợi ích cho người nghe, để cho người nghe thức tỉnh về giá trị làm người của họ. Cho nên câu nói trên có thể giải thích rằng là: Trên trời dưới đất này, đời sống của con người là đặc biệt có giá trị, là đặc biệt hay! Hãy tìm hiểu giá trị đặc biệt của mình chứ đừng tìm hiểu giá trị đặc biệt nào nằm ngoài con người của mình, trước nhất là cần tìm giá trị đặc biệt nơi chính mình trước. Khi mình đã tìm thấy giá trị đặc biệt nơi chính mình rồi thì hãy đem giá trị đặc biệt ấy để ứng dụng vào cuộc sống mà chúng ta đang hiện hữu. Nếu chúng ta không hiểu được giá trị đặc biệt của chính mình thì mình sẽ bị lầm lạc trong cuộc sống, mình sẽ rắc rối trong cuộc đời.”

http://duytuequote.blogspot.com/2011/05/140-thien-thuong-thien-ha-duy-nga-oc.html

Thần thánh hóa Ngài đến mức hoang đường như bịa chuyện bà mẹ Ngài mộng thấy một con voi trắng từ trời chui vào bụng bà thành sự hoài thai thái tử Tất -Đạt – Đa là không đúng bản chất và giáo lý của Ngài, rằng :

”Hoàng hậu Ma Da (Maya), vợ của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), trong lúc ngủ đã có một giấc mơ tuyệt diệu. Bà mơ thấy một luồng ánh sáng trắng từ bầu trời chiếu xuống thân thể mình, theo luồng ánh sáng này là một con voi chiến, thân hình trắng xóa với sáu chiếc ngà.

Luồng ánh sáng và con voi này bay càng lúc càng gần và cuối cùng nhập vào thân bà. Lúc ấy Hoàng hậu Ma Da tỉnh dậy với một niềm hoan hỷ tràn đầy, chưa từng có trước đây…

Sau đó vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch, Ðức Phật ra đời tại vườn Lâm-tì-ni. Sau khi sinh ra, Ngài bước bảy bước, mỗi bước có hiện ra một hoa sen nâng đở chân Ngài. Ngài tuyên bố là Ngài là người đáng tôn thờ nhất ( duy ngã độc tôn).”

http://www.viengiac.vn

Phật không công nhận Phạm Thiên ( Brahman), Ngài coi đấng Đại Ngã này là sự bịa đặt như vừa dẫn trên, lẽ nào chúng sinh sau này lại hoang đường nói chính Brahman và Tứ đại Thiên vương ( mà Ngài không cộng nhận) đã nhờ Ngài giáng trần như quan niệm thiếu Phật tính sau đây :

Trước khi giáng trần, thái tử Tất-đạt-đa (Siddhattha) đã trải qua nhiều kiếp tu hành chứng quả vị Bồ-tát, hiệu là Hộ Minh, an trú tại cung trời Đâu-suất. Theo lời thỉnh cầu của Phạm Thiên và Tứ Đại Thiên Vương, Bồ-tát giáng trần

http://tongiaovadantoc.com  (ban này  do một ủy viên trung ương đảng CSVN đứng đầu. Có quyền lực sai công an bắt bớ, đánh đập, bỏ tù bất cứ ai mà họ cho là bọn tôn giáo phản động…)

Chúng tôi xin quý Phật tử và qúy Tăng Ni : “ Cái gì của Phật hãy trả về cho Phật, cái gì của Bà La Môn ( đạo hữu thần) hãy trả về cho Bà La môn”; rằng nếu chúng ta cứ tiếp tục thần thánh hóa Đức Phật, chúng ta sẽ không thể nào tới được cõi GIÁC NGỘ của Ngài. Xin dẫn ra đây mấy lời Phật dạy :

Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian – quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?” (Trung Bộ Kinh)

– “Hết thảy các hành là vô thường và khổ đau”.

Hết thảy các Pháp là vô ngã”

Ngay cả khi cúng bái niệm Phật, hay trong những lúc nguy nan, người Việt hay khấn, ví dụ : “ Cầu xin Trời Phật độ trì cứu giúp”, hoặc : “Cầu xin Thần Phật độ trì chúng sinh”…Đức Phật, hay đạo Phật không công nhận có Thượng Đế ( Trời), không công nhận có thần linh, sao lại ghép cái không có làm một với Phật như thế ?

Nên nhớ, khi thái tử Tất Đạt Đa đi tìm sự giải thoát, Ngài đã thử tìm trong một số lối hành đạo cực đoan, ví dụ việc suốt 06 năm ngài tu theo phái hành xác của trường phái khổ hạnh nhưng không đạt đạo; Ngài bèn tìm ra con đường trung đạo ( xóa cực đoan) để tìm giải thoát đích thực sau này.

Đọc kinh Phật ta thấy một số điều cực đoan, quá trớn được cho là lời Phật dạy, thậm chí có những điều trái ngược nhau được chép trong cùng một pho kinh cũng được cho là lời Phật. Có lẽ còn khá nhiều bộ kinh do các tổ đời sau trước tác, viết ý chủ quan, thiếu tính Phật của mình để lộng giả thành chân biến thành lời Phật dạy chăng ? Ví dụ như câu nói về diệt dục rất cực đoan, rất dung tục sau đây lại được gán cho lời Phật dạy :

Ký giả Mỹ Simon Alex hỏi vị sư Tích Lan Bhante Gunaratana câu nói dưới đây có phải lời  Phật dạy không : “Thà rằng đưa dương vật vào miệng một con rắn độc hay một con rắn hổ mang kinh tởm có lẽ còn tốt hơn là đưa nó vào một người đàn bà”. Nhà sư thường đi giảng kinh Phật trên khắp các đại học danh tiếng trên thế giới thừa nhận rằng đúng là lời này có ghi trong kinh Phật.

(Trích bài :’Thời Đức Phật, nhiều người tin rằng tình dục rất thánh thiện’ (http://www.nguoiduatin.vn/thoi-duc-phat-nhieu-nguoi-tin-rang-tinh-duc-rat-thanh-thien-a81110.html)(Ký giả Simon Alev của tờ “Giác ngộ là gì” (What is Enlightenment) của Hoa Kỳ phỏng vấn một nhà sư Tích Lan, ngài Bhante Gunaratana về chủ đề Phật giáo và tình dục.)

Dục nghĩa là ham muốn, mà ham muốn lớn nhất trong dục là ái dục, tức tình yêu trai gái. Dục ( ham muốn) là bản năng của sinh vật nói chung, con người nói riêng. Khát nước đòi uống là dục, đói đòi ăn là dục, ham muốn ái tình là dục, thở khí oxy vào để sống là dục, tham giàu là dục, tham chức quyền là dục ( nằm trong bản năng thống trị kẻ khác của sinh vật), tham sống sợ chết là dục, ham muốn được giải thoát, được giác ngộ cũng có thể được coi là dục…

Nói tóm lại, DỤC phần lớn là bản năng tự nhiên, sinh ra đã có trong con người. Cho nên về nguyên tắc DỤC KHÔNG THỂ DIỆT vì DỤC là bản năng con người, chỉ có thể TIẾT DỤC mà thôi. Ngay đến cả Đức Thích Ca Màu Ni sau khi giác ngộ thành Phật lúc 35 tuổi, cho tới khi Ngài viên tịch năm 80 tuổi vẫn còn bị DỤC đeo đẳng; vì Ngài vẫn chưa thoát khỏi vô thường đói ăn khát uống, còn phụ thuộc vào các hành như phải thở, phải ăn, phải uống, phải làm các hành vi trao đổi chất của con người, thì sao lại đề ra tiêu chí DIỆT DỤC cực đoan như thế ? Nên nhớ là Đức Phật tổ năm 80 tuổi đã viên tịch vì ngộ độc thức ăn; chính Ngài khi tại thế cũng chưa thoát khỏi vô thường…Sau khi viên tịch, Ngài nhập Niết Bàn. Còn Niết Bàn là gì, ở đâu, tồn tại trong dạng thức nào thì Phật không nói. Chúng sinh phải tự tìm ra Niết Bàn trong tâm mình khi đã giác ngộ thoát khỏi tham, sân, si, đạt tới cõi từ bi hỉ xả…

Việc một số kinh sách được gán cho là lời Phật dậy( ngụy tạo) có thái độ lên án gay gắt, thậm chí phỉ nhổ, nguyên rủa hành vi tính giao của con người là một sự vô lối, một ứng xử thiếu văn hóa người, mà thiếu văn hóa người thì cũng thiếu văn hóa Phật…Thử hỏi ai trong chúng ta, kể cả Đức Thế Tôn không được sinh ra bởi hành vi giao phối giữa cha và mẹ mình ? Nên nhớ là từ thời Đức Phật còn theo đạo Bà La Môn, Ngài cũng từng qùy lạy hiện thân của thần Siva là Linga ( dương vật) và Yoni ( âm vật) ? Một số chi nhánh của đạo Bà La Môn ( Ấn độ giáo sau này) còn coi hành vi tính giao là hành vi giúp con người được giải thoát, là hành vi đạt đến cõi thần Siva, biểu hiện của nhập thể Atman vào đại thể Brahman. Người viết bài này từng được chiêm ngưỡng nhiều phù điêu đắp nổi trong các đền thờ Ấn độ giáo mô tả cảnh thần Siva trần truồng làm tình với vợ mình là thần Uma trong rất nhiểu kiểu dáng giao hợp khác nhau, một biểu tượng giải thoát hữu hiệu giúp tiểu ngã ( linh hồn cá nhân) nhập vào đại ngã là linh hồn vũ trụ ( Brahman)…Ngay cả Đức Phật ngày còn trong cung điện chưa đi tìm đạo giải thoát cũng có vợ ( nàng Da-đu-đà) có con ( La-hầu-la), có cung tần mỹ nữ hầu xung quanh Ngài…

Nếu hành vi tính dục phải bị triệt tiêu trong chúng sinh như nhiều ngụy thư mạo lời Phật dạy thì than ôi, ngày nay làm gì còn chùa chiền, làm gì còn đạo Phật, làm gì còn PHẬT PHÁP TĂNG ?  Vì ngụy thư kia cho hành vi truyền giống là nhơ bẩn nên con người đã bị tuyệt diệt từ ngót hai nghìn năm nay rồi ? Phật không cấm hành vi tính dục trong hôn nhân. Phật chỉ dạy con người cần tiết dục và không được hoang dâm vô độ, không được ngoại tình. Chuyện một số kinh sách ngụy tạo lời Phật dạy cho rằng chỉ có các vị chân tu trong chùa, không có hành vi tính giao mới có thể giác ngộ, còn những người tu tại gia có vợ có chồng thì không thể giác ngộ, không thể thành Phật là những lời sàm tấu thiếu tính Phật…

Không phải bỗng dưng mà nhà bác học Albert Eienstein đã vinh danh đạo Phật như sau :

Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ.  Tôn giáo ấy phải vươt lên Thượng đế của cá nhân và tránh giáo điều cùng lý thuyết thần học.  Bao trùm cả tự nhiên và tâm linh, nó phải được căn cứ trên cảm nhận phát sinh từ kinh nghiệm của tất cả mọi thứ tự nhiên và tâm linh như một sự hợp nhất đầy đủ ý nghĩa.  Đạo Phật trả lời cho những sự mô tả này.  Nếu có một tôn giáo mà có thể đương đầu với những nhu cầu của khoa học hiện đại đấy sẽ là Đạo Phật.( Albert Einstein)

(Albert Einstein, 1954) From Albert Einstein:The Human Side, edited by Helen Dukas and Banesh Hoffman, Princeton University Press)(http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-qt/con-nguoi-qt/5136-Albert-Einstein-voi-Thuong-de-va-Phat-giao.html)

 Khoa học càng phát triển càng gần với Phật giáo về vũ trụ luận, về thuyết nhân quả, về tính không của vạn vật, về sự không thể cắt rời của vạn pháp, về sự vô thường của tự nhiên và con người…Khoa học lấy sự hiểu biết làm mục đích. Phật giáo lấy sự giác ngộ, sự giải thoát của con người làm mục đích. Đạo Phật nói cho cùng là một liệu pháp tâm lý để giúp con người diệt khổ. Còn khoa học dùng tư duy để tìm kiếm chân lý của thế giới vật chất.

Hãy nhìn Đức Phật như nhìn một con người, một con người đã giác ngộ, đã bỏ được tham sân si, chứ đừng nhìn Ngài như nhìn một vị thần linh hay một đấng cứu nhân độ thế.

Nhận thức đầu tiên của thái tử Tất Đạt Đa về thực tại khi Ngài có dịp ra ngoài cung điện của vua cha là thế giới này là một thế giới khổ đau. Càng tiếp xúc với chúng sinh, Ngài càng cảm thấy trần gian này là bể khổ. Con người từ sinh, lão, bệnh, tử …cái nào cũng khổ. Làm sao tìm ra một con đường cứu khổ cho chính Ngài và cho chúng sinh ? Một vị thái tử sống trong cung vàng điện ngọc, sống với cung tần mỹ nữ, với vợ đẹp con khôn như Ngài làm sao lại có thể gọi là khổ ? Vâng, nỗi khổ tinh thần dày vò Ngài khi Ngài nhìn thấy chúng sinh khổ đau. Lấy nỗi đau khổ của tha nhân làm nỗi đau khổ của bản thân mình, thái tử Tất Đạt Đa, một tín đồ Bà La Môn chỉ còn biết trầm tư mặc tưởng đắm mình vào bản thể tuyệt đối của vị thần tối cao ( Thượng Đế) Brahman để cầu cứu đấng toàn năng giúp Ngài và chúng sinh thoát khỏi bể khổ…

Với trí thông minh trác việt, Ngài hầu như đã thuộc lòng bộ kinh Vệ Đà, kinh “Áo nghĩa thư- Upanisad” khởi nguồn cho thần học Bà La Môn. Thế giới trong kinh Vệ Đà là một thế giới thần linh ở lẫn giữa con người, thực hư lẫn lộn, đàn bò thì bay như mây còn mây thì gặm cỏ như bò, các vị thần cũng hoan lạc, yêu đương, làm tình như chim muông, các đạo sĩ hóa phép thần thông trong sự biến hóa của Atman như những con sứa bay nhảy trong biển cả Brahman vô tận vô cùng…Nơi khổ đau và khoái lạc thay đổi cho nhau như thần linh thay áo…Nơi sống chết hoán vị cho nhau trong hòa điệu tuyệt đối của các linh hồn ( Atman) trường cửu li ti như sao trời trong vòng tay các thiên hà vũ trụ Brahman…

Thái tử Tất Đạt Đa ngồi kiết già kiểu Bà La Môn để thoát khỏi ý thức, đặng nhập tiểu ngã ( Atman) là linh hồn mình vào làm một với Đại ngã tuyệt đối Brahman. Nhưng sau hàng nghìn buổi kiết già kia, thái tử Tất Đạt Đa vẫn thấy mình cô đơn ngồi giữa vũ trụ vô cùng, vẫn thấy nỗi sợ, nỗi khổ vây bủa Ngài như giặc. Và cái quan trọng nhất, Ngài buồn vì đấng Thượng Đế toàn năng Brahman đã bỏ rơi Ngài, bỏ rơi chúng sinh trong bể khổ mà không hề đưa tay cứu vớt…

 Ngài đã cầu nguyện, nhập thiền, đã hòa tan linh hồn mình ( Atman) vào linh hồn tuyệt đối Brahman như giọt nước hòa vào biển cả. Nhưng tiếng cầu xin, tiếng kêu thương của Ngài xin Thượng Đế tam vị nhất thể Brahman –Shiva- Vishnu cứu khổ chúng sinh vẫn chừng như vô vọng…

May mà truyền thống Vệ Đà là một truyền thống mở, khá tự do cho người ta lựa chọn tín ngưỡng, chấp nhận trong niềm tin tuyệt đối vẫn còn sự hoài nghi.

Ngay cả trong kinh Rig – Veda ca ngợi tuyệt đối thần sáng tạo vũ trụ Brahman vẫn thấy nỗi hoài nghi day dứt con người về sự tồn tại của vị Chúa tể của Bà La Môn giáo :

 Buổi đó, hoàn toàn chẳng có gì cả, mặt trời rực rỡ kia không có,

Mà vòm trời là cái khăn phủ mênh mang kia, cũng không có.

Vậy thì cái gì trùm lên, che phủ, chứa chất vạn vật?

Phải chăng là vực nước sâu thẳm?

Thời đó không có chết — vậy mà không có gì là bất tử,

Không phân biệt ngày và đêm,

Cái Nhất, cái Ðộc Nhất, không có hơi mà tự thở lấy được.

Ngoài Cái đó ra không có cái gì khác nữa.

Tối tăm, và hồi đầu cái gì cũng chìm trong cảnh tối tăm mù mịt — như biển không ánh sáng — Cái mầm khuất trong cái vỏ

Bỗng nẩy ra, duy nhất, dưới sức nóng nung nấu.

Thế là lần đầu tiên, lòng thương yêu xuất hiện, nó là dòng suối mới

Của tinh thần, các thi sĩ suy tư và thấy được trong lòng mình

Mối liên lạc giữa cái không được tạo ra với những vật được tạo ra.

Tia sáng đó chiếu ra, xâm chiếm hết, nó phát xuất từ trời hay từ đất?

Giống đã gieo và người ta thấy các năng lực cao cả xuất hiện

Ở dưới thấp là thiên nhiên, ở trên cao là quyền năng và ý lực.

Ai là người vén được màn bí mật? Ai là người cho ta biết

Sự sáng tạo muôn vật đó từ đâu mà có?

Chính các thần linh cũng chỉ xuất hiện sau này.

Vậy thì ai là người biết được sự sáng tạo mầu nhiệm đó từ đâu mà có?

Ðấng nào đã gây ra sự sáng tạo đẹp đẽ đó.

Là do vô tình hay hữu ý?

Ðấng Tối Cao trên tầng trời cao nhất kia

Biết được — nhưng biết đâu chừng, có thể chính Ngài cũng không biết nốt.”

(Lịch sử văn minh Ấn Ðộ,

NXB Văn Hóa, năm 1996, tt 58- 59 phần thơ trên do Nguyễn Hiến Lê dịch)

Từ khi biết chúng sinh ngoài cung điện của vua cha đều chìm trong bể khổ, thái tử Tất Đạt Đa đã cầu nguyện Thượng Đế Brahman cứu giúp, rằng chỉ cần đấng tuyệt đối búng ngón tay là chúng sinh thoát khổ liền. Chẳng lẽ đấng tuyệt đối của vũ trụ này không biết thương xót con người ư ? Nỗi hoài nghi về sự tồn tại của Brahman trong lòng thái tử Tất Đạt Đa mỗi ngày mỗi lớn; cho đến lúc Ngài kết luận dứt khoát : không hề có Thượng Đế, không hề có thần linh, chỉ có con người đau khổ phải tự cứu mình và cứu đồng loại cùng thoát khổ, đặng tìm ra niềm vui sống bằng sự giác ngộ của tâm thức mà thôi.

Trong quyết định lìa bỏ tất cả để theo con đường khổ hạnh tìm chân lý giải thoát thì sự từ bỏ Thượng Đế nơi thái tử Tất Đạt Đa là sự từ bỏ khó khăn nhất, đau khổ nhất, quằn quại nhất. Barhman đã bao nhiêu năm là máu thịt, là khát vọng của Ngài về một sự bất tử của linh hồn ( tiểu ngã) hòa cùng tuyệt đối đại ngã Thượng Đế…

Vĩnh biệt Thượng Đế, vĩnh biệt ngai vàng mà vua cha đã dành cho Ngài, vĩnh biết cha mẹ, vĩnh biệt vợ con, vĩnh biệt cung vàng điện ngọc…thái tử Tất Đạt Đa cùng với đệ tử Xa-Nặc nửa đêm trốn khỏi cung điện để làm một nhà tu khổ hạnh, chân đất, áo vải gai, không nhà không cửa, một mình khất thực đi tìm con đường giải thoát cho chính Ngài và cho chúng sinh…

Mỗi chúng sinh cần phải đi lại con đường gian khó chông gai tìm đạo của Ngài không phải trên trần gian mà chính ở ngay trong tâm mình. Ngài đã dùng 80 năm trong cuộc tại thế của mình để mở cho chúng sinh con đường tìm ra Niết Bàn ngay chính trong lòng mình. Con đường ấy Ngài đã phải đi qua 06 năm tu hành theo phái khổ hạnh, hành hạ thân xác mình đến tàn tạ, héo khô như rơm rạ, xuýt đã mất mạng nếu không có một người con gái dâng cho Ngài bát cơm trộn sữa.

Ngài đã đi qua con đường của vua chúa để chuẩn bị làm vua mà vẫn không thoát khổ

Ngài đã đi qua con đường xa hoa khoái lạc với cung tần mỹ nữ mà vẫn không thoát khổ.

Ngài đã đi qua con đường hôn nhân của một gia đình tuyệt mỹ với vợ đẹp con khôn, giàu sang không ai sánh mà vẫn không thoát khổ

Ngài đã tin tưởng tuyệt đối vào Thượng Đế Brahman mà Thượng Đế vì không có thật nên vẫn không thoát khổ

Ngài đã bỏ cung điện ra đi làm người hành khất để tìm chân lý qua sự hành xác là con đường tu khổ hạnh mà vẫn không thoát khổ

Ngài bèn ngồi dưới gốc bồ đề để từ bỏ mọi con đường trên mặt đất, đặng ngồi kiết già, dùng tâm chiếu rọi vào bên trong, tìm ra con đường vào chính mình bằng sự thiền định suốt 49 ngày đặng thoát khỏi vọng ngã, thoát khỏi mê lầm vọng tưởng…

Và Ngài đã giác ngộ, đóa sen đốn ngộ đã xòe nở dưới chân Ngài. Ngài đã vượt qua sinh diệt, vượt qua sắc không, vượt qua mọi giới hạn vô thường…mà thành Phật…

Đức Thích Ca Mầu Ni một con người vĩ đại nhất nhưng khiêm cung giản dị nhất trần gian đã đến thế giới khổ đau này để ban tặng chúng sinh niềm vui. Đạo từ bi của Ngài là từ bi trong hỉ xả, trong niềm vui sống trút hết lòng ta vào với lòng người. Trong toàn cõi Ấn Độ cách đây hơn 2600 năm, sự phân biệt giai cấp còn rất kinh khủng và tàn khốc. Đa số dân nghèo ở đẳng cấp nô lệ còn khổ hơn súc vật.

 Ngài đã đến thế giới này để xóa bỏ mọi rào ngăn giai cấp, chẳng lẽ lại để một giai cấp vô sản ( không có thật) giết hại các giai cấp khác để độc tôn cầm quyền như lý thuyết Marx –Lenine đang được các vị thầy chùa của “ Phật giáo quốc doanh” có tên là “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam” đưa vào thờ chung với Phật bằng tiêu chí : “ Đạo pháp-Dân tộc- chủ nghĩa xã hội” hay sao ? Ngài đã đến thế giới này để xóa bỏ cái ác, xác lập chân thiện mỹ trong loài người, lẽ nào lại để các để tử của Ngài rước chủ nghĩa duy ác Marx – Lenine vào chùa hòa cùng tiêu chí diệt ác của Ngài sao ?

Trong bài : “Một nơi an lành cho Bác” của Tưởng Năng Tiến in trên website Dân Làm báo, viết về chiến dịch thần thánh hóa ông Hồ Chí Minh theo kiểu Dũng Lò Vôi đưa tượng ông Hồ vào chùa của “Lạc cảnh Đại Nam quốc tự” (ở Bình Dương) để thờ như một ông Phật, tác giả viết  :

Sự kiện này được phóng viên của Đàn Chim Việt, thường trú tại Varsovie, tường thuật như sau: 

 “Trong phần nghi lễ chính, đại sứ Nguyễn Hoằng và phu nhân đã cùng làm lễ hô thần nhập tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nghi lễ, việc ‘mời’ linh hồn Hồ Chí Minh để nhập vào tượng trực tiếp từ Lăng trên quảng trường Ba Đình hay từ hang Pác bó, và Bác sang Ba Lan bằng phương tiện giao thông nào là một điều bí hiểm thuộc ‘bí mật ngoại giao’ mà ông Hoằng đại sứ giữ kín không tiết lộ.”