Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hội Nghị Thành Đô 1990’ Category

►Trung Quốc bất ngờ công bố: mẹ già của dân tộc VN, tức là vợ của HCM, không phải là Tăng Tuyết Minh!

Posted by hoangtran204 trên 14/06/2017

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Biên Giới, Chinh Tri Xa Hoi, Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Vì sao nhà cầm quyền Việt Nam gia tăng các cuộc đàn áp biểu tình yêu nước

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2016

 

17-6-2016

Những cuộc biểu tình yêu nước, chống xâm lăng từ phương Bắc của người dân Việt Nam khắp trong Nam ngoài Bắc luôn bị nhà cầm quyền đàn áp bằng mọi cách. Những người yêu nước tham gia các cuộc biểu tình này luôn được đảng và nhà nước CSVN coi là “thế lực thù địch”.

bieutinh

Nhiều câu hỏi đặt ra, là tại sao một nhà nước tự xưng “của dân, do dân, vì dân” và một đảng tự nhận lấy trách nhiệm là “của dân tộc” lại có những hành động tự nhổ vào mặt mình mà không hề thấy ngượng?

Lý giải điều này, nhiều khi không thể lấy những logic thông thường của cuộc sống và không thể giải thích nếu không chứng kiến những hành vi của nhà cầm quyền Hà Nội với một thời kỳ dài và có hệ thống.

Từ kẻ thù truyền kiếp đến bạn 4 tốt và 16 chữ vàng

Lịch sử sẽ không bao giờ được nói “giá như”. Nhưng, nếu có thể nói, thì “giá như hệ thống cộng sản Đông Âu, liên bang Xô Viết không bị sụp đổ, có lẽ lịch sử Việt Nam sẽ khác hơn”.

Hẳn nhiên là vậy, bởi dù những nhà lãnh đạo CSVN luôn to tiếng khi tuyên bố Độc lập, tự do, thế nhưng, lịch sử Đảng CSVN lại là một lịch sử có bề dày không bao giờ độc lập. Và ở đó, lịch ích dân tộc chỉ là thứ yếu.

Trong thời kỳ mâu thuẫn Trung – Xô gay gắt, cuộc chiến tại Miền Nam Việt Nam là cuộc chiến giữa hai hệ ý thức đã và đang đến hồi khốc liệt. Khi đó, ĐCSVN tình nguyện đưa đất nước làm “tuyến đầu” của  ý thứchệcộng sản chống lại  ý thứchệtư bản. Việt Nam trở thành chiến trường, máu xương người dân Việt cứ vậy mà đổ xuống bằng vũ khí được chuyển đến cả từ hai phía.

Thời kỳ đó, những người CSVN đưa đất nước lệ thuộc vào hệ thống XHCN.

Rồi cuộc chiến kết thúc ngày 30/4/1975.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, mối quan tâm “giặc ngoài” đã tạm lắng, thì những người CSVN đưa đất nước bước vào một giai đoạn mới: Chiến đấu với “thù trong” là nội bộ giữa các nước Cộng sản anh em.

Hẳn nhiều người còn nhớ, từ những năm 1978 trở đi, khi mối quan hệ Việt – Xô được tăng cường và kết quả là Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Liên Xô, thì tương tự, mối quan hệ Việt – Trung xấu đi nhanh chóng. Từ chỗ là mối quan hệ “anh em” trong phe XHCN – vốn những nước Cộng sản vẫn thích chia phe, cánh như một nguyên tắc ngoại giao và nội trị – bỗng nhiên trở thành thù địch một cách sâu sắc.

Trên mặt trận truyền thông, những bài báo, bình luận đã liên tục đưa ra những điều được ẩn giấu đằng sau mối quan hệ được che lấp ba chục năm trước bởi những lời lẽ hoa mỹ và rất “trung thực” từ những cái loa của đảng.

Ở đó, mối quan hệ Việt – Trung là mối quan hệ Việt Nam luôn bị bắt nạt, hà hiếp với những âm mưu thôn tính hết sức thâm độc từ giới cầm quyền Bắc Kinh. Theo hệ thống tuyên truyền của đảng CSVN, thì “đảng và nhà nước” ta đã biết từ lâu, ngay từ khi người Cộng sản Trung Quốc mới nắm quyền tại Hoa lục.

cuọcchien19

Kết quả của những sự xấu đi nhanh chóng đó, là cuộc chiến tàn khốc tháng 2/1979 mà nhà cầm quyền Trung Cộng đã huênh hoang là dạy cho Việt Nam một bài học. Và cũng kết quả cuộc chiến là những “thắng lợi to lớn” của đảng CSVN đã đạt được là đã “dạy ngược lại cho Trung Cộng nhiều bài học”.

Nhưng, hậu quả thì người dân Việt Nam phải chịu là hàng vạn người đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh, mà sau này nhiều lần nhà cầm quyền CSVN đã cố tình bỏ quên cuộc chiến đó.

Trớ trêu thay, mối tình Việt – Xô và hệ thống cộng sản không thể là nguồn nuôi sống một nhà nước, một đảng “độc lập” một cách lâu dài. Khi cả hệ thống cộng sản thi nhau sụp đổ không thể cưỡng lại. Những người Cộng sản Việt Nam trở nên bơ vơ không còn chỗ bấu víu.

Khi đó, dù cho âm mưu bành trướng và thôn tính Việt Nam của bọn bá quyền bành trướng Bắc Kinh đã bị “đảng ta biết trước từ lâu” thì đảng vẫn phải tìm kiếm một chỗ bấu víu nào đó để tồn tại.

Và để tồn tại, bất chấp những nguy cơ cho đất nước, dân tộc Việt Nam, đảng CSVN lại tiếp tục “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” tìm đến với kẻ thù dân tộc.

Kể từ đó, đất nước bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ nô lệ bởi phương Bắc.

Ý đảng đi ngược lòng dân

Để kiếm chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại của mình, Đảng Cộng sản đã không ngần ngại chấp nhận bước đi cùng ma quỷ.

Thế nhưng, những người Cộng sản hiểu rõ tinh thần dân tộc và ý chí của người dân Việt Nam như thế nào khi dân Việt đã từng nghe theo lời của đảng tuyên truyền, mà hàng triệu người đã bỏ mạng chỉ vì lý tưởng độc lập, tự do của đất nước, sẽ không dễ dàng chấp nhận một thân phận nô lệ được lặp lại trong lịch sử.

Vì thế, con đường đi của đảng càng gian nan trong lòng dân và điều không thể giấu diếm, là người dân biết rõ đó là con đường đi ngược lại lợi ích của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Vì thế, những bước đi của Đảng CSVN với kẻ thù dân tộc là những bước đi vụng trộm và giấu diếm. Đó là những cuộc đi đêm giữa những kẻ tự xưng nắm quyền lực với kẻ thù của đất nước.

Hàng loạt câu hỏi không được trả lời rành mạch và nhiều lời đồn đoán rằng với bản hiệp định Biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, Đảng CSVN đã đứng trên lưng nhân dân, để nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam rơi vào tay giặc. Hiệp định đó đã là mối quan tâm, cũng là nguyên cớ cho hàng loạt người bị đảng bỏ tù khi đòi biết nội dung của nó.

Thậm chí, cho đến nay, một Hội nghị giữa VN và TQ vẫn bị giấu kín về nội dung, trở thành những lời đồn đoán cho mọi người dân Việt về ý nghĩa của nó nhưng Đảng CSVN vẫn không dám minh bạch: Hội nghị Thành Đô.

Những câu hỏi dần sáng tỏ

Có thể nói rằng, điều mà Đảng CSVN không ngờ đến, là sau những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thế giới, mạng Internet phổ cập đến từng người, thì những bước đi của Đảng bị soi rất kỹ. Qua đó, người dân nhận chân được ai mới là bạn, ai mới là thù và ai đang vì quyền lợi dân tộc cũng như ai đang làm tay sai cho giặc.

Hệ thống tuyên truyền của đảng ngày càng mất tác dụng bởi lối tuyên truyền một chiều, bóp méo sự thật, bất chấp đạo đức, lương tâm và quyền lợi đất nước đã bị bóc trần. Từ đó cái gọi là “lòng tin” của người dân vào sự “vĩ đại, sáng suốt và tài tình” của đảng đã không còn chỗ đứng.

Có chăng, chỉ là sự giả vờ tin, giả vờ tuân phục và giả vờ chấp nhận bởi bạo lực của súng đạn, nhà tù hoặc món lợi trước mắt mà đảng đem lại cho họ sau khi bóc lột người dân, bán rẻ tài nguyên đất nước và… vay nợ nước ngoài.

Vì thế, thái độ của lãnh đạo Đảng CSVN trước quân thù, đã chứng tỏ nhiều điều người dân chú ý từ lâu và dần dần đưa ra một kết luận chính xác.

Nếu như trước đây người ta ngạc nhiên vì sao Đảng CSVN cố tình bỏ qua cuộc chiến 1979, thì ngày nay người ta hiểu rằng đó chỉ vì cái tình bạn 16 chữ vàng mà đảng đang tô vẽ để tìm chỗ dựa cho mình.

Nếu trước đây, người ta không hiểu vì sao cuộc chiến Gạc Ma 1988 với 64 quân nhân có trang bị vũ khí đầy đủ đã bị giết chết mà không được nổ súng, thì ngày nay người ta hiểu mục đích của việc hy sinh tính mạng họ, lãnh hải và lãnh thổ đất nước chỉ là tiến đến cái Hội nghị Thành Đô sau đó.

Nếu trước đây, người dân thắc mắc về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ra sao mà mỗi khi ai nói rằng là của Việt Nam thì bị đàn áp, thậm chí vào tù, thì ngày nay, người ta biết Đảng CSVN đã có công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng mở lối.

Và câu hỏi nhiều người đặt ra là vì sao Đảng CSVN vốn biết âm mưu thôn tính Việt Nam bởi mộng bá quyền bành trướng của Trung Cộng là không thay đổi mà vẫn một mực kết nghĩa anh em, bạn vàng? Thì câu trả lời đã khá rõ ràng rằng trên thế giới, chủ nghĩa Cộng sản hoang tưởng và độc tài đã không còn chỗ đứng và Trung Cộng là thành trì cuối cùng còn sót lại. Nếu không bám vào đó, thì đảng “độc lập” có nguy cơ ra khỏi đời sống dân tộc này.

Những bước đi đến đích nô lệ có bài bản

Nhiều người ngạc nhiên vì sao có những sự thay đổi trong cách hành

Những cuộc biểu tình yêu nước, chống xâm lăng từ phương Bắc của người dân Việt Nam khắp trong Nam ngoài Bắc luôn bị nhà cầm quyền đàn áp bằng mọi cách. Những người yêu nước tham gia các cuộc biểu tình này luôn được đảng và nhà nước CSVN coi là “thế lực thù địch”.

bieutinh

Nhiều câu hỏi đặt ra, là tại sao một nhà nước tự xưng “của dân, do dân, vì dân” và một đảng tự nhận lấy trách nhiệm là “của dân tộc” lại có những hành động tự nhổ vào mặt mình mà không hề thấy ngượng?

Lý giải điều này, nhiều khi không thể lấy những logic thông thường của cuộc sống và không thể giải thích nếu không chứng kiến những hành vi của nhà cầm quyền Hà Nội với một thời kỳ dài và có hệ thống.

Từ kẻ thù truyền kiếp đến bạn 4 tốt và 16 chữ vàng

Lịch sử sẽ không bao giờ được nói “giá như”. Nhưng, nếu có thể nói, thì “giá như hệ thống cộng sản Đông Âu, liên bang Xô Viết không bị sụp đổ, có lẽ lịch sử Việt Nam sẽ khác hơn”.

Hẳn nhiên là vậy, bởi dù những nhà lãnh đạo CSVN luôn to tiếng khi tuyên bố Độc lập, tự do, thế nhưng, lịch sử Đảng CSVN lại là một lịch sử có bề dày không bao giờ độc lập. Và ở đó, lịch ích dân tộc chỉ là thứ yếu.

Trong thời kỳ mâu thuẫn Trung – Xô gay gắt, cuộc chiến tại Miền Nam Việt Nam là cuộc chiến giữa hai hệ ý thức đã và đang đến hồi khốc liệt. Khi đó, ĐCSVN tình nguyện đưa đất nước làm “tuyến đầu” của  ý thứchệcộng sản chống lại  ý thứchệtư bản. Việt Nam trở thành chiến trường, máu xương người dân Việt cứ vậy mà đổ xuống bằng vũ khí được chuyển đến cả từ hai phía.

Thời kỳ đó, những người CSVN đưa đất nước lệ thuộc vào hệ thống XHCN.

Rồi cuộc chiến kết thúc ngày 30/4/1975.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, mối quan tâm “giặc ngoài” đã tạm lắng, thì những người CSVN đưa đất nước bước vào một giai đoạn mới: Chiến đấu với “thù trong” là nội bộ giữa các nước Cộng sản anh em.

Hẳn nhiều người còn nhớ, từ những năm 1978 trở đi, khi mối quan hệ Việt – Xô được tăng cường và kết quả là Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Liên Xô, thì tương tự, mối quan hệ Việt – Trung xấu đi nhanh chóng. Từ chỗ là mối quan hệ “anh em” trong phe XHCN – vốn những nước Cộng sản vẫn thích chia phe, cánh như một nguyên tắc ngoại giao và nội trị – bỗng nhiên trở thành thù địch một cách sâu sắc.

Trên mặt trận truyền thông, những bài báo, bình luận đã liên tục đưa ra những điều được ẩn giấu đằng sau mối quan hệ được che lấp ba chục năm trước bởi những lời lẽ hoa mỹ và rất “trung thực” từ những cái loa của đảng.

Ở đó, mối quan hệ Việt – Trung là mối quan hệ Việt Nam luôn bị bắt nạt, hà hiếp với những âm mưu thôn tính hết sức thâm độc từ giới cầm quyền Bắc Kinh. Theo hệ thống tuyên truyền của đảng CSVN, thì “đảng và nhà nước” ta đã biết từ lâu, ngay từ khi người Cộng sản Trung Quốc mới nắm quyền tại Hoa lục.

cuọcchien19

Kết quả của những sự xấu đi nhanh chóng đó, là cuộc chiến tàn khốc tháng 2/1979 mà nhà cầm quyền Trung Cộng đã huênh hoang là dạy cho Việt Nam một bài học. Và cũng kết quả cuộc chiến là những “thắng lợi to lớn” của đảng CSVN đã đạt được là đã “dạy ngược lại cho Trung Cộng nhiều bài học”.

Nhưng, hậu quả thì người dân Việt Nam phải chịu là hàng vạn người đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh, mà sau này nhiều lần nhà cầm quyền CSVN đã cố tình bỏ quên cuộc chiến đó.

Trớ trêu thay, mối tình Việt – Xô và hệ thống cộng sản không thể là nguồn nuôi sống một nhà nước, một đảng “độc lập” một cách lâu dài. Khi cả hệ thống cộng sản thi nhau sụp đổ không thể cưỡng lại. Những người Cộng sản Việt Nam trở nên bơ vơ không còn chỗ bấu víu.

Khi đó, dù cho âm mưu bành trướng và thôn tính Việt Nam của bọn bá quyền bành trướng Bắc Kinh đã bị “đảng ta biết trước từ lâu” thì đảng vẫn phải tìm kiếm một chỗ bấu víu nào đó để tồn tại.

Và để tồn tại, bất chấp những nguy cơ cho đất nước, dân tộc Việt Nam, đảng CSVN lại tiếp tục “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” tìm đến với kẻ thù dân tộc.

Kể từ đó, đất nước bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ nô lệ bởi phương Bắc.

Ý đảng đi ngược lòng dân

Để kiếm chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại của mình, Đảng Cộng sản đã không ngần ngại chấp nhận bước đi cùng ma quỷ.

Thế nhưng, những người Cộng sản hiểu rõ tinh thần dân tộc và ý chí của người dân Việt Nam như thế nào khi dân Việt đã từng nghe theo lời của đảng tuyên truyền, mà hàng triệu người đã bỏ mạng chỉ vì lý tưởng độc lập, tự do của đất nước, sẽ không dễ dàng chấp nhận một thân phận nô lệ được lặp lại trong lịch sử.

Vì thế, con đường đi của đảng càng gian nan trong lòng dân và điều không thể giấu diếm, là người dân biết rõ đó là con đường đi ngược lại lợi ích của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Vì thế, những bước đi của Đảng CSVN với kẻ thù dân tộc là những bước đi vụng trộm và giấu diếm. Đó là những cuộc đi đêm giữa những kẻ tự xưng nắm quyền lực với kẻ thù của đất nước.

Hàng loạt câu hỏi không được trả lời rành mạch và nhiều lời đồn đoán rằng với bản hiệp định Biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, Đảng CSVN đã đứng trên lưng nhân dân, để nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam rơi vào tay giặc. Hiệp định đó đã là mối quan tâm, cũng là nguyên cớ cho hàng loạt người bị đảng bỏ tù khi đòi biết nội dung của nó.

Thậm chí, cho đến nay, một Hội nghị giữa VN và TQ vẫn bị giấu kín về nội dung, trở thành những lời đồn đoán cho mọi người dân Việt về ý nghĩa của nó nhưng Đảng CSVN vẫn không dám minh bạch: Hội nghị Thành Đô.

Những câu hỏi dần sáng tỏ

Có thể nói rằng, điều mà Đảng CSVN không ngờ đến, là sau những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thế giới, mạng Internet phổ cập đến từng người, thì những bước đi của Đảng bị soi rất kỹ. Qua đó, người dân nhận chân được ai mới là bạn, ai mới là thù và ai đang vì quyền lợi dân tộc cũng như ai đang làm tay sai cho giặc.

Hệ thống tuyên truyền của đảng ngày càng mất tác dụng bởi lối tuyên truyền một chiều, bóp méo sự thật, bất chấp đạo đức, lương tâm và quyền lợi đất nước đã bị bóc trần. Từ đó cái gọi là “lòng tin” của người dân vào sự “vĩ đại, sáng suốt và tài tình” của đảng đã không còn chỗ đứng.

Có chăng, chỉ là sự giả vờ tin, giả vờ tuân phục và giả vờ chấp nhận bởi bạo lực của súng đạn, nhà tù hoặc món lợi trước mắt mà đảng đem lại cho họ sau khi bóc lột người dân, bán rẻ tài nguyên đất nước và… vay nợ nước ngoài.

Vì thế, thái độ của lãnh đạo Đảng CSVN trước quân thù, đã chứng tỏ nhiều điều người dân chú ý từ lâu và dần dần đưa ra một kết luận chính xác.

Nếu như trước đây người ta ngạc nhiên vì sao Đảng CSVN cố tình bỏ qua cuộc chiến 1979, thì ngày nay người ta hiểu rằng đó chỉ vì cái tình bạn 16 chữ vàng mà đảng đang tô vẽ để tìm chỗ dựa cho mình.

Nếu trước đây, người ta không hiểu vì sao cuộc chiến Gạc Ma 1988 với 64 quân nhân có trang bị vũ khí đầy đủ đã bị giết chết mà không được nổ súng, thì ngày nay người ta hiểu mục đích của việc hy sinh tính mạng họ, lãnh hải và lãnh thổ đất nước chỉ là tiến đến cái Hội nghị Thành Đô sau đó.

Nếu trước đây, người dân thắc mắc về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ra sao mà mỗi khi ai nói rằng là của Việt Nam thì bị đàn áp, thậm chí vào tù, thì ngày nay, người ta biết Đảng CSVN đã có công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng mở lối.

Và câu hỏi nhiều người đặt ra là vì sao Đảng CSVN vốn biết âm mưu thôn tính Việt Nam bởi mộng bá quyền bành trướng của Trung Cộng là không thay đổi mà vẫn một mực kết nghĩa anh em, bạn vàng? Thì câu trả lời đã khá rõ ràng rằng trên thế giới, chủ nghĩa Cộng sản hoang tưởng và độc tài đã không còn chỗ đứng và Trung Cộng là thành trì cuối cùng còn sót lại. Nếu không bám vào đó, thì đảng “độc lập” có nguy cơ ra khỏi đời sống dân tộc này.

Những bước đi đến đích nô lệ có bài bản

Nhiều người ngạc nhiên vì sao có những sự thay đổi trong cách hành xử của Đảng CSVN thời gian gần đây mà không thể giải thích.

Chẳng hạn, nếu những năm 2007 về sau, ai nói đến Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, lập tức được coi là thế lực thù địch của đảng. Đến mức báo chí bị đình bản, kỷ luật bởi chỉ phạm húy điều đó! Thế nhưng giờ đây báo chí lại tha hồ khẳng định điều này?

Chẳng hạn, vì sao cuộc chiến 1979 trên biên giới phía Bắc đã có một thời đảng cố tình lãng quên, giờ vẫn có người được nhắc lại?

Chẳng hạn, vì sao những lệnh cấm vô lý trên Biển Đông từ nhà cầm quyền Trung Cộng, việc bắn giết ngư dân không được nhà cầm quyền VN quan tâm mặc dân sống chết, giờ đây người dân thấy nhà nước đã mở miệng mà không phải là “Tàu lạ, thuyền lạ”?

Phải chăng là lương tâm con người hay tinh thần dân tộc đã được thức tỉnh trong Đảng CSVN?

Xin thưa là không.

Đó chỉ là những màn kịch đúng quy trình.

Khi mà mọi sự đã rồi, Trung Cộng đã xây xong sân bay, đồn bốt và đưa vũ khí lên lãnh thổ Việt Nam một cách vững chắc ngoài Biển Đông, thì dù nhà nước VN có kêu gào, có tố cáo, có phản đối… cũng chỉ là chuyện nói với “đầu gối” mà thôi. Bởi ngay sau đó sẽ là màn đón tiếp bằng 21 phát đại bác, là chiêu đãi hoan hỷ, là cảm ơn… để nhận được một số tiền.

Nhưng tác dụng của việc kêu gào không hề nhỏ trong nhân dân. Bởi, với cách đó, họ đang cố phủi trách nhiệm của mình trước quốc dân đồng bào về việc mất lãnh thổ vào tay giặc.

Nhiều người hỏi rằng: Tại sao nhà cầm quyền CSVN không dám đối đầu với Trung Cộng bằng một cuộc chiến như năm 1979?

Xin thưa là chẳng bao giờ còn có điều đó. Bởi họ thừa biết rằng, nếu có chiến tranh thì phải giao vũ khí cho người dân, mà khi đó đích ngắm đầu tiên của người dân vào kẻ thù, là chính họ.

Câu trả lời cho một câu hỏi lớn, nhiều người chưa tìm được lời giải đáp là: Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam tố cáo, phản đối Trung Cộng xâm lược, thế nhưng khi người dân biểu tình phản đối, họ đàn áp không thương tiếc. Có mâu thuẫn ở đây chăng?

Xin thưa là hoàn toàn không

Ảnh: Internet

Ảnh: Internet

Điều mà Đảng CSVN quan tâm lớn nhất, không phải là chuyện lòng yêu nước của người dân, mà chính là vị trí độc tài của họ. Mà những kẻ độc tài thì không bao giờ thích người dân bày tỏ ý kiến của mình, dù chỉ là lòng yêu nước.

Những cuộc biểu tình, nếu không bị dập tắt, sẽ là ngọn lửa thiêu cháy sự độc tài bằng ý chí của người dân.

Do vậy, không và sẽ không bao giờ, những kẻ độc tài thích bất cứ một cuộc biểu tình nào mà họ không kiểm soát được.

Hà Nội, 17/7/2016. Trước giờ biểu tình ủng hộ phán quyết Đường lưỡi bò

  • J. B Nguyễn Hữu Vinh

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

► Việt Nam ‘buông’ Hoàng Sa cho TQ?

Posted by hoangtran204 trên 06/11/2015

BBC

5-11-2015

Cựu quan chức cao cấp của Hội Hữu nghị Việt – Trung nói ‘dường như’ Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa trước sức ép của Trung Quốc.

Tiến sỹ Vũ Cao Phan, nguyên Phó Chủ tịch và Tổng thư ký của hội nói ông đã khuyến cáo lãnh đạo Việt Nam yêu cầu ông Tập Cận Bình chấp nhận đàm phán về quần đảo Hoàng Sa, mà hiện Trung Quốc đang chiếm toàn bộ, trong chuyến đi này.

Tuy nhiên ông Phan nói với Nguyễn Hùng trong Bàn tròn thứ Năm hàng tuần của BBC rằng phía Việt Nam đã bỏ ngoài tai.

Tiến sỹ Phan, Viện trưởng Viện Chính trị và Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế của Đại học Bình Dương, nói:

“Theo tôi có lẽ bức xúc cơ bản của người dân là chính quyền chưa nhìn thẳng vào sự thực…

“Tôi đề xuất cũng có gì lớn đâu. Điều kiện như thế này ta có thể nói được mà cũng không nói…

“Chúng ta cứ tuyên truyền ở trong nước về Hoàng Sa và Trường Sa và triển vọng thế này thế khác…

“Chúng ta nói thế giới nào có biết đâu. Rất nhiều bạn bè quốc tế nói với tôi rằng đối với Hoàng Sa hình như Việt Nam buông.”

Trong khi đó Phó Giáo sư Nông Lập Phu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, Trung Quốc nói ông đã được học Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) là của Trung Quốc.

Ông nói: “Tôi từ nhỏ cũng đọc địa lý Trung Quốc nói là Tây Sa, Nam Sa là đất nước của Trung Quốc.”

‘Nói mãi đá cũng phải mòn’

Tiến sỹ Vũ Cao Phan nói quan điểm “nhìn về đại cục” trong quan hệ Việt – Trung rất mơ hồ và Việt Nam còn có vẻ còn “sợ” khiến Trung Quốc dựa vào đó để lấn át.

Ông nói: “Rõ ràng trong quan hệ Việt Nam với Trung Quốc hình như là Việt Nam chịu sự dẫn dắt của Trung Quốc và Việt Nam thiếu chủ động.

Image captionTiến sỹ Vũ Cao Phan nói ít nhất ngư dân Việt Nam phải được đánh cá tại những nơi họ từng hoạt động ở Hoàng Sa

“Chúng ta là nước nhỏ, chúng ta khiêm tốn, chúng ta tôn trọng Trung Quốc, chúng ta tôn trọng tình hữu nghị và chúng ta phấn đấu cho điều đó nhưng điều gì có thể thì chúng ta phải nói chứ, ưỡn ngực, thẳng lưng lên mà nói chứ…

“Người dân người ta đánh giá có thể vì một lợi ích nào chăng? Hay vì bản thân mình không tự đánh giá mình cao hay tự mình nhìn Trung Quốc quá cao, quá lớn chăng?”

Ông Phan nói quan hệ hai bên “phải hữu nghị, phải tốt đẹp nhưng phải bình đẳng” và rằng Việt Nam phải đòi Trung Quốc đặt Hoàng Sa lên bàn đàm phán và nêu giải pháp:

“Tôi đã nói có biện pháp nữa là ba tháng, sáu tháng một lần ta gửi công hàm qua đường ngoại giao yêu cầu đàm phán.

“Nói mãi đá cũng phải mòn chứ. Mà những chuyện này đàm phán cũng có lợi ích cho Trung Quốc chứ.

“Ít nhất hình ảnh của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam và đối với dư luận thế giới sẽ khác đi…

“Mong muốn tối thiểu của tôi là ngư dân Việt Nam có quyền đánh cá hợp pháp trên ngư trường lịch sử và truyền thống của mình.”

‘Hải quân đáng gờm’

Trong lúc đó bà Phương Nguyễn, chuyên gia Đông Nam Á của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế gọi tắt là CSIS ở Washington cho rằng cần đặt Hoàng Sa và Trường Sa vào bối cảnh rộng hơn.

Image captionBà Phương Nguyễn nói những gì Trung Quốc có hứa với Việt Nam ‘chỉ là lời nói’

Bà nói với Bàn tròn thứ Năm:

“Tôi nghĩ về các vấn đề trên biển chúng ta không nên chỉ nhìn vào những tiến triển giữa Trung Quốc và Việt Nam mà chúng ta phải đặt nó vào bối cảnh Trung Quốc muốn gì trong vùng biển này.

“Trung Quốc muốn dùng Trường Sa và Hoàng Sa để làm bàn đạp để thiết lập Trung Quốc là lực lượng hải quân đáng gờm ở tây Thái Bình Dương.

“Về lâu dài, nếu việc này tiếp tục, mục tiêu của Trung Quốc là đẩy Hải Quân Hoa Kỳ khỏi vùng biển tây Thái Bình Dương…

“Trung Quốc có nói gì với Việt Nam, có ký kết gì với Việt Nam, có hứa gì với Việt Nam cũng chỉ là lời nói.

“Hành động trên biển của Trung Quốc sẽ không phụ thuộc gì vào những gì hai bên đàm phán hoặc là đồng ý với nhau mà phụ thuộc nhiều hơn vào tham vọng của Trung Quốc ở phía tây Thái Bình Dương.”

Bà Phương Nguyễn cũng nói Bắc Kinh hiện đang ở vào thế khó xử theo sau việc Hoa Kỳ cho tàu chiến áp sát đảo đá do Trung Quốc đang chiếm tại quần đảo Trường Sa mà Việt Nam cùng các nước khác cũng tuyên bố chủ quyền.

Nếu ngăn cản tàu Hoa Kỳ, bà Phương Nguyễn nói, Trung Quốc sẽ vi phạm luật quốc tế vì hai đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây trên đá ngầm Subi và Vành Khăn (Trung Quốc gọi là Chử Bích và Mỹ Tế), không được hưởng 12 dặm hải lý xung quanh mà vẫn phải để tàu quốc tế qua lại.

Phản đối Tập Cận Bình

Nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh từ Nha Trang nói khoảng 150 người đã xuống đường phản đối chuyến thăm của ông Tập Cận Bình tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hôm 5/11 khiến công an bắt giữ hàng chục người.

Image captionBà Như Quỳnh nói Việt Nam cần bảo vệ quyền lợi của ngư dân ngay cả khi muốn có quan hệ tốt hơn với Trung Quốc

Cũng có những hình ảnh cho thấy người biểu tình bị đánh đổ máu.

Bà Như Quỳnh cho rằng chính quyền cần tôn trọng quyền ‘tiếp đón’ ông Tập của người dân theo cách của riêng họ.

Nhà hoạt động từng được giải thưởng nhân quyền quốc tế cũng nói thêm về chuyện chính quyền cũng phải bảo vệ các ngư dân trên Biển Đông khi họ muốn có quan hệ tốt với Trung Quốc: “Nhà nước nào cũng tồn tại trên nguyện vọng và lợi ích của người dân bởi vậy một bộ phận dù nhỏ của người dân cũng phải được đảm bảo về đời sống, lợi ích và sự an toàn trong việc mưu sinh của họ, phải được đảm bảo và nhà nước phải xem đó là một phần cốt lõi tạo nên giá trị bền vững của nhà nước để đặt lên bàn ngoại giao.”

Trong lúc đó nhà nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc ở Quảng Tây, ông Nông Lập Phu, phản đối các cuộc biểu tình chống ông Tập ở Việt Nam và cho rằng nó không có lợi cho việc cải thiện quan hệ hai bên.

Ông nói thêm: “Những vấn đề trên biển hai nước lãnh đạo hai Đảng hai nước đã có cơ chế để giải quyết vấn đề này rồi.

Image copyrightNong Lap Phu
Image captionPhó Giáo sư Nông Lập Phu nói từ bé ông đọc rằng Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) là của Trung Quốc

“Vừa rồi tôi xem TV theo Tiến sỹ Vũ Cao Phan giới thiệu, Đảng, Chính phủ Việt Nam đón tiếp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình rất long trọng, trọng thị.

“Trong điều kiện này có một số người lên đường bày tỏ phản đối là không có lợi cho việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Việt Nam.”

Phó Giáo sư Nông Lập Phu cũng nói thêm chính Việt Nam cũng bắt tàu thuyền đánh cá của Trung Quốc chứ không chỉ có Trung Quốc đơn phương làm như vậy với ngư dân Việt Nam.

Ông nói người dân Việt Nam không hiểu hết tình hình quan hệ hai bên và đã có những hành động mà ông cho là không hợp lý.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Vô Cảm: sự bất hạnh của dân tộc

Posted by hoangtran204 trên 20/10/2015

Vô cảm. Tại sao?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản và đã được nhiều người đề cập: Đó là hậu quả của các chính sách tuyên truyền và giáo dục của nhà cầm quyền mà biểu hiện cụ thể nhất là qua lập luận: “Chuyện quốc gia đại sự hãy để nhà nước lo, đồng bào đừng bận tâm.” Xin lưu ý là kiểu lập luận này khác hẳn với chủ trương của đảng Cộng sản trước đây. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp cũng như chiến tranh Nam Bắc, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội lúc nào cũng đề cao sức mạnh của quần chúng, kêu gọi quần chúng tham gia vào các công tác chính trị. Bây giờ, ngược lại, họ đẩy quần chúng ra ngoài, biến thành những kẻ bàng quan và vô trách nhiệm trước các biến động của đất nước. Có thể nói là họ sợ việc quần chúng quan tâm đến chính trị.”

VÔ CẢM: SỰ BẤT HẠNH CỦA DÂN TỘC

Nguyễn Hưng Quốc

15-10-2015

Trong bài “Mất cảnh giác” cách đây ba tuần, tôi nhìn vấn đề từ giác độ những người cầm quyền. Trong bài này, tôi nhìn từ góc cạnh khác: sự mất cảnh giác của người dân. Luận điểm chính của tôi là: Không những giới lãnh đạo mà ngay cả phần lớn dân chúng cũng hờ hững trước những hiểm hoạ đến từ Trung Quốc.

Một người bạn thân của tôi có cháu họ – con của một cán bộ cao cấp trong chính quyền-, trước, du học tại Úc, sau, về Việt Nam làm giám đốc chi nhánh một công ty nào đó của Trung Quốc. Người cháu rủ bạn tôi sang Trung Quốc chơi với những lời hứa hẹn đầy hấp dẫn. Bạn tôi, vốn ghét những âm mưu bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông, hỏi: “Mày không khó chịu trước các hành động ngang ngược của Trung Quốc đối với Việt Nam à?” Người cháu cười to và đáp: “Thôi, bận tâm làm gì về mấy chuyện đó, chú. Cứ coi như Việt Nam đã mất trắng vào tay Trung Quốc rồi, mình có làm gì được nữa chứ. Lo chơi cho vui, chú ạ.”

Tôi có một số bạn bè thuộc giới trí thức tại Việt Nam. Họ không sỗ sàng như người cháu của bạn tôi. Nhưng thái độ của họ trước nguy cơ giành lấn biển đảo của Trung Quốc thì cũng như vậy. Trong những lần chuyện trò, bao giờ tôi cũng là người gợi chuyện về mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc chứ không bao giờ là họ cả. Ngay cả khi tôi đặt vấn đề, người ta cũng lảng sang chuyện khác với lý do giống nhau: “Mình có làm được gì đâu. Suy nghĩ làm gì cho mệt óc!”

Một số người có thể cãi: Các ví dụ tôi nêu ở trên chỉ là những ngoại lệ. Ở đây, chúng ta gặp ngay một khó khăn: Khác với ở Tây phương, ở Việt Nam không có những cuộc điều tra dư luận để chúng ta có được những con số chính xác. Tuy nhiên, bù vào đó, chúng ta có thể quan sát từ kinh nghiệm giao tiếp riêng của mình. Trước đây, những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều người đủ mọi giới, tôi nhận thấy ít người thực sự quan tâm đến chính trị. Mà nếu quan tâm, những điều họ quan tâm cũng chỉ quanh quẩn những giai thoại về đời sống của một số chính khách. Điều quan trọng nhất trong chính trị là chính sách thì thường bị bỏ quên.

Với những người chưa có dịp về Việt Nam, có thể quan sát điều này trên facebook. Nghe nói ở Việt Nam hiện nay có khoảng 30 triệu người sử dụng facebook. Không ai có thể biết hết những người chơi facebook ấy. Nhưng theo ghi nhận của tôi, trong số mấy ngàn “friend” và gần mười ngàn “follower”, những người thực sự quan tâm đến chính trị chỉ là thiểu số. Phần lớn chỉ thích chuyện ăn uống, quần áo, vui chơi, du lịch… thuần tuý có tính chất giải trí. Nhiều người tuyên bố thẳng thừng: Sẽ huỷ kết bạn với những người thích bàn chuyện chính trị. Về phương diện xã hội, trước đây có một số cuộc xuống đường biểu tình chống Trung Quốc ở Sài Gòn và Hà Nội nhưng số người tham gia bao giờ cũng rất thưa thớt. Mà mấy năm gần đây, những cuộc biểu tình như thế cũng hoàn toàn vắng bóng.

Có thể nói người Việt Nam ở Việt Nam rất ít bận tâm đến các vấn đề chính trị, kể cả vấn đề quan trọng nhất liên quan đến độc lập và chủ quyền quốc gia trên Biển Đông. Ít hơn hẳn những người Việt Nam đang sống ở hải ngoại. Ở hải ngoại, ở đâu và lúc nào người ta cũng trăn trở với các diễn biến chính trị trong nước. Mà không phải chỉ là người Việt Nam lưu vong. Cộng đồng lưu vong nào cũng vậy. Cũng chia sẻ một số những ký ức tập thể giống nhau. Cũng dằn vặt về vấn đề bản sắc. Và cũng khắc khoải với những biến động chính trị ở quê gốc. Nhiều người, từ Việt Nam sang, có dịp gặp gỡ nhiều người Việt sống ở hải ngoại, cứ thắc mắc: Sao sống xa quê hương lâu đến thế mà vẫn không quên quá khứ và vẫn không thoát được những ám ảnh về chính trị?

Điều quan trọng là người Việt Nam ở Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến chính trị hơn hẳn ngày trước. Trước, ở miền Nam, hầu như lúc nào người ta cũng sôi sục chuyện chính trị. Ở miền Bắc cũng vậy. Trong đời sống cũng như trong văn học, đề tài chính trị lúc nào cũng nóng hổi. Chỉ có hiện nay người ta mới nguội lạnh trước số phận của đất nước. Nguội lạnh đến mức gần như vô cảm. Tại sao?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản và đã được nhiều người đề cập: Đó là hậu quả của các chính sách tuyên truyền và giáo dục của nhà cầm quyền mà biểu hiện cụ thể nhất là qua lập luận: “Chuyện quốc gia đại sự hãy để nhà nước lo, đồng bào đừng bận tâm.” Xin lưu ý là kiểu lập luận này khác hẳn với chủ trương của đảng Cộng sản trước đây. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp cũng như chiến tranh Nam Bắc, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội lúc nào cũng đề cao sức mạnh của quần chúng, kêu gọi quần chúng tham gia vào các công tác chính trị. Bây giờ, ngược lại, họ đẩy quần chúng ra ngoài, biến thành những kẻ bàng quan và vô trách nhiệm trước các biến động của đất nước. Có thể nói là họ sợ việc quần chúng quan tâm đến chính trị.

Mà sợ cũng phải. Năm ngoái, khi chính quyền Hà Nội chủ trương chặt hạ 6700 cây xanh trên 190 con đường ở thủ đô, dân chúng phản đối quyết liệt, cuối cùng, chính quyền phải rút lại cái lệnh quái gở ấy, hơn nữa, còn bị buộc phải kiểm điểm về quyết định và quá trình thi jhành quyết định ấy của mình. Đầu năm nay, dân chúng phát hiện và phản đối việc tỉnh Sơn La có dự án chi cả 1.400 tỉ đồng cho việc xây dựng khu lưu niệm, kể cả tượng đài Hồ Chí Minh, đã khiến không những chính quyền Sơn La mà cả chính phủ trung ương phải lúng túng. Đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải ra lệnh xét duyệt lại dự án bị dân chúng phản đối ấy. Gần đây, khi dân chúng phát hiện những lỗi sai nghiêm trọng trong bộ sách thực hành kỹ năng sống bậc tiểu học, Bộ giáo dục đã phải ra lệnh thu hồi toàn bộ các cuốn sách ấy.

Qua các trường hợp hoạ hoằn vừa kể, chúng ta thấy rõ sức mạnh của quần chúng (nếu quần chúng biết tận dụng!). Đó là điều chắc chắn chính quyền Việt Nam không hề mong muốn. Chính vì thế, họ có hai sách lược: Một là giấu giếm toàn bộ các việc làm của họ để không ai biết và không ai phê phán cả. Hai là họ nỗ lực tuyên truyền và giáo dục dân chúng trở thành vô cảm. Cho đến nay, không thể nói là họ không thành công. Tiếc, sự thành công của họ lại là một bất hạnh lớn nhất của cả nước.

***

NGUỒN: NGUYỄN HƯNG QUỐC BLOG TRÊN VOA

 

***
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Mất cảnh giác

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2015

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

26-9-2015

H1Một người bạn của tôi, từ Hà Nội sang, kể tôi nghe chuyện này: Cách đây mấy năm, Bộ Công an Việt Nam xây dựng trụ sở mới ở đường Phạm Hùng, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở rất đồ sộ và lộng lẫy do một nhà thầu Trung Quốc thiết kế và xây dựng. Đến lúc xây xong, người ta mới sực nhớ một chuyện: Có thể Trung Quốc cho gắn các thiết bị do thám trong toà nhà để ghi âm tất cả các cuộc đối thoại trong đó. Thế là người ta sợ. Nhưng không có cách gì lật tung cả toà nhà ra để tìm các thiết bị do thám ấy. Mà tìm chưa chắc đã thấy. Cuối cùng, người ta chọn giải pháp: cho các nhân viên cấp trung và cấp thấp vào làm việc trong trụ sở mới, còn giàn lãnh đạo cao cấp thì vẫn ở lại trụ sở cũ.

Nghe câu chuyện ấy, tôi không thể không thắc mắc: Tại sao một việc đơn giản như vậy mà người ta không thể đoán trước được? Bạn tôi cười: “Thế mới nói! Ở Hà Nội, ai cũng đặt ra câu hỏi ấy. Nhưng không ai công khai và chính thức trả lời cả. Có khi câu trả lời rất đơn giản: Bất cẩn!”

Một chuyện nữa cũng làm tôi thắc mắc: Trung Quốc đã khởi sự việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo ít nhất cũng từ một hai năm trước, vậy tại sao bộ đội Việt Nam đóng trên các hòn đảo gần đấy lại không hay biết gì cả? Thế giới – và cả người Việt nữa – chỉ biết sự kiện ấy vào đầu năm nay khi Mỹ loan tin kèm theo các bức ảnh được chụp từ vệ tinh. Tại sao? Câu trả lời không chừng cũng vì họ không quan tâm, hay nói cách khác, bất cẩn.

Có thể nói, trong quan hệ với Trung Quốc, giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay rất bất cẩn. Trước đây, Bộ Thương mại Việt Nam giao hẳn cho phía Trung Quốc toàn quyền quyết định nội dung tờ báo mạng bằng tiếng Việt của họ. Nhiều tờ báo loan cả tin bộ đội Trung Quốc tập luyện ở những vùng biển và hải đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam theo các bản tin lấy từ báo chí của Trung Quốc mà không một chút phân vân hay phê phán. Nhiều cơ sở du lịch in bản đồ Việt Nam trong đó Hoàng Sa và Trường Sa được ghi rõ là thuộc về Trung Quốc. Cách đây mấy năm, dư luận rất phẫn nộ khi biết một số tỉnh miền Trung và miền Bắc cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn (trong vòng 50 năm) trên 300.000 hecta đất rừng đầu nguồn được xem là có vị trí chiến lược. Cuối năm ngoái, người ta cũng phát hiện nhà cầm quyền Thừa Thiên – Huế cho phép công ty Trung Quốc xây dựng khu du lịch ngay dưới chân đèo Hải Vân, nơi, cũng theo giới quân sự, có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Mới đây, báo chí lại loan tin chính quyền Quảng Ngãi thuê một công ty của Trung Quốc (CPG, có trụ sở chính tại Singapore) làm dự án quy hoạch huyện đảo Lý Sơn, nơi được xem là có vị trí trọng yếu ở mặt trận Biển Đông. Bị hỏi, giới chức ở tỉnh Quảng Ngãi trả lời là họ không biết vai trò của Trung Quốc trong tập đoàn ấy, hơn nữa, họ còn nhấn mạnh là họ làm theo đề nghị từ “các đơn vị cấp trên”. Chưa hết. Ông Lê Viết Chữ, Bí thư tỉnh uỷ, còn nói thêm: “Quan điểm cá nhân của tôi thì tôi không phân biệt tập đoàn đó thuộc quốc gia nào, tất cả chúng ta đều có quan hệ với nhau hết.”

Lời tuyên bố của ông Lê Viết Chữ rõ ràng là sai. Trong quan hệ với Việt Nam, không phải nước nào cũng như nước nào. Với các nước khác, kinh tế chỉ là kinh tế. Nhưng với Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đã từng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Trung Quốc cũng đã chiếm bảy hòn đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa vào năm 1988. Trung Quốc đã từng xua quân tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979. Trung Quốc đã từng đưa giàn khoan HD-981 vào thăm dò ngay trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014. Trung Quốc cũng đã từng ngang ngược cho Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, là “sân sau” của họ. Đó là những chuyện trong quá khứ. Lại là quá khứ không xa xôi gì lắm. Trong tương lai, ai cũng biết rõ không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên con đường 9 đoạn vốn trùm lấp lên phần lớn Biển Đông của Việt Nam. Nói cách khác, cụ thể hơn: Nếu Trung Quốc không có ý định đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam thì họ cũng sẽ tìm mọi cách để chiếm đoạt Biển Đông của Việt Nam. Điều đó, trên thế giới, hầu như không ai nghi ngờ cả. Vậy tại sao chính quyền Việt Nam lại không biết, lại vẫn tiếp tục bất cẩn?

Theo tôi, có ba lý do chính:

Thứ nhất là người ta bị Trung Quốc mua chuộc. Có hai yếu tố khiến khả năng này là hiện thực: Một mặt, Trung Quốc vẫn nổi tiếng xưa nay về các việc đút lót trong quan hệ ngoại giao với các nước khác; mặt khác, cán bộ các cấp Việt Nam từ trước đến nay cũng nổi tiếng về việc nhận hối lộ. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các dự án của Việt Nam đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc: tiền “bôi trơn” và “lại quả” của họ cao.

Thứ hai, người ta thành thực tin là Trung Quốc tốt, là Trung Quốc sẽ không bao giờ đánh Việt Nam, do đó, người ta không cần phải cảnh giác hay lo lắng gì trong các quan hệ với Trung Quốc cả. Sự tin tưởng này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả của công tác tuyên truyền của đảng Cộng sản và chính quyền trung ương vốn tập trung vào khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng” lúc nào cũng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ sau vụ giàn khoan HD-981 đến nay, các khẩu hiệu này ít được nhắc nhở, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dám nói thẳng Trung Quốc là một sự đe doạ lớn đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo. Tin tức về các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như các hành động ngang ngược của Trung Quốc như truy đuổi các thuyền đánh cá Việt Nam ngay trong hải phận của Việt Nam ít được đề cập. Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vẫn là hình ảnh Trung Quốc như một đối tác chiến lược gần gũi của Việt Nam. Dưới ảnh hưởng của việc tuyên truyền như thế, một số người Việt Nam, kể cả các viên chức cán bộ, từ trung ương xuống địa phương, nghĩ sai về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó, đâm ra bất cẩn trước âm mưu bá quyền của Trung Quốc không có gì là khó hiểu.

Thứ ba, người ta không tin cũng không bị mua chuộc, nhưng người ta mặc kệ, coi đó là chuyện của người khác, không dính líu gì đến mình cả. Có lẽ đây là tâm trạng khá phổ biến ở Việt Nam. Trong những người bạn ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi tiếp xúc, nhiều người hiểu rất rõ những nguy cơ đến từ Trung Quốc nhưng khi nhìn thấy giới lãnh đạo bất động, họ cũng không quan tâm, xem việc Việt Nam rơi vào quỹ đạo thống trị của Trung Quốc là chuyện đã rồi và không thể đảo ngược được. Từ bất cần, nếu có chút quyền hành, họ cũng trở thành bất cẩn.

Dù vì bất cứ lý do gì, những sự thiếu cảnh giác như thế cũng là một điều rất đáng ngạc nhiên. Một trong những truyền thuyết cổ và phổ biến nhất của Việt Nam, chuyện Mỵ Châu và Trọng Thuỷ, đã đặt vấn đề cảnh giác trong quan hệ với Trung Quốc. Những năm chiến tranh, mặc dù quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Quốc vẫn còn êm thắm, Tố Hữu vẫn nhớ bài học ấy và từng nhắn nhủ:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Sự bất cẩn hay thiếu cảnh giác của chính quyền Việt Nam hiện nay chắc chắn không phải vì chuyện “trái tim lầm chỗ để trên đầu”. Nhưng nếu không phải “trái tim” thì là cái gì? Theo tôi, không chừng chỉ có tính ích kỷ và sự ngu dốt.

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [1]

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [1]

pobrane

Các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam từ ngày đảng hình thành cho tới nay đã ảnh hưởng tới đất nước và dân tộc ta ra sao.
Trước hết nói về nhân vật

Hồ Chí Minh

Sinh ngày 19-5-1890, mất 2-9-1969, là người sáng lập đảng CS Việt Nam và đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại Hà Nội. Hồi nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, tự Tất Thành, đỗ bằng tiểu học năm 1909, năm thứ hai trung học bị đuổi, năm 1910 đến Phan Thiết dậy chữ Hán và chữ quốc ngữ, năm 1911 vào Sài Gòn học trường Bá nghệ ba tháng, trường này đào tạo nhân công hàng hải.
Ngày 5-6-1911 Thành sang Pháp, xin làm bồi trên tầu buôn Latouche-Tréville, tháng 7-1921 tới Pháp. Nguyễn Tất Thành xin học trường Thuộc địa nhưng bị từ chối. Từ năm 1912-1913, Thành sang Mỹ sau đó sang Anh làm nghề cào tuyết, phụ bếp, học tiếng Anh tại đây cho tới năm 1916, cuối năm 1917 về lại Pháp và ở đó cho tới 1923. Năm 1919 Thành gia nhập đảng Xã hội Pháp, lấy tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920 đọc luận cương của Lénine, tin tưởng chủ nghĩa Cộng Sản rồi làm báo Le Paria, Người Cùng Khổ tố cáo chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

Năm 1922 Nguyễn Ái Quốc đến Nga tham dự Đại hội quốc tế Cộng Sản, tháng 6-1923 ông theo học CS tại Nga, năm 1924 được bầu vào Ban chấp hành đoàn quốc tế nông dân và được cử làm Ủy viên ban phương đông. Năm 1924-1927 Nguyễn Ái Quốc sang Tầu lấy tên Lý Thụy, có nhiệm vụ tuyên truyền tư tưởng cách mạng ra vùng Đông phương. Năm 1925 ông tập hợp người Việt kiều tại Trung Hoa thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chính phủ Tưởng Giới Thạch khủng bố các đảng viên CS Tầu, VN nên Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Hương Cảng rồi thoát sang Nga, tháng 11-1927 được cử đi Pháp.

Năm 1928-1929 Nguyễn Ái Quốc ở Thái Lan, năm 1928 ông cải trang thành nhà sư để tuyên truyền cho các Việt kiều tại đây, cuối năm 1929 ông lại sang Tầu. Ngày 3-2-1930 tại Cửu Long thuộc Hương Cảng, theo chỉ thị của Quốc tế CS, ông thống nhất ba tổ chức CS thành đảng CS Việt Nam, sau đổi thành Đảng CS Đông Dương rồi đổi thành Đảng Lao Động VN. Tháng 3-1930 ông sang Thái rồi lại sang Tầu. Năm 1931 lấy tên Tầu Tống Sơ Văn (Sung Man Cho), bị chính quyền Hương Cảng bắt giam, họ tính giao lại cho Pháp nhưng nhờ luật sư Frank Loseby bào chữa được thả ra ngày 28-12-1932, ông đi Thượng Hải rồi trở lại Nga.

Nguyễn Ái Quốc đến Nga lần thứ hai mùa xuân năm 1934 với bí danh Lin, theo học trường Quốc tế Lénine (1934-1935), tham dự Đại hội VII Đệ tam quốc tế với vai trò quan sát viên. Năm 1938 ông bị Nga giam lỏng, bị nghi ngờ vì được Hương Cảng trả tự do nhưng không có bằng cứ nên lại được thả ra. Trong giai đoạn này Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập lần lượt làm Tổng bí thư Đảng CS Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc giữ nhiệm vụ liên lạc viên giữa Quốc tế CS và đảng CS Đông Nam Á.

Năm 1938, ông trở lại Tầu vai Thiếu tá Hồ Quang thuộc Bát Lộ Quân (Lộ quân thứ 8) cho tới năm1939. Đầu tháng 1-1941 Ủy viên Trung ương đảng sang Tầu mời ông về nước lãnh đạo cách mạng, về VN ngày 28-1-1941 qua lối Cao Bằng, lấy bí danh Già Thu tới ở hang Bắc Bó Cao Bằng. Ngày 13-8-1942 ông lấy tên Hồ Chí Minh sang Tầu vận động Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, lần đầu tiên xử dụng tên HCM trong giấy tùy thân. Hai tuần sau bị chính quyền địa phương bắt giam một năm, ông viết Nhật ký trong tù, ngày 10-9-1943 HCM được thả nhờ người Mỹ vận động với Quốc dân đảng Trung Hoa, HCM tham gia Ban chấp hành trung ương VN cách mệnh đồng minh hội.

Cuối tháng 9-1944 Hồ Chí Minh về nước thành lập đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân 34 người. Cuối 1944 ông trở lại Côn Minh cho tới đầu 1945 và gặp Tướng Mỹ Chennault tại đây, ông này sẵn sàng giúp Việt Minh. Họ muốn dùng VM chống Nhật giải cứu cho các phi công Mỹ, cung cấp tin tức tình báo, đổi lại Mỹ giúp họ vũ khí, thuốc men, huấn luyện…

Tháng 7-1945 Hồ Chí Minh bị sốt rét rất nặng tưởng chết, toán OSS (US Office of Strategic Servieces) đã giúp chữa bệnh cho ông, bác sĩ quân y tên Paul Hogland đã ở đó 2 tháng và cứu sống họ Hồ.

Ngày 16-8-1945 Tổng bộ VM họp tại Tân Trào cử Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 15-8-1945 Nhật đầu hàng Đồng minh, Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 7-8 vì bất lực, chính phủ không có quân đội. Khi ấy tình hình trong nước rất lộn xộn. Việt Minh tổng khởi nghĩa cướp chính quyền 19-8, ngày 22-8 họ gửi điện văn vào Huế yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã cướp được chính quyền. Ngày 25-8-1945, nhà vua đọc bản tuyên ngôn thoái vị trước cửa Ngọ môn lâu.

Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Họ Hồ có cho viên chỉ huy OSS biết là ông theo chủ nghĩa Lénine, tham gia đảng CS Pháp, gia nhập Đệ tam Quốc tế vì họ có quan tâm vấn đề thuộc địa. Người Mỹ cho rằng HCM là CS bù nhìn của Moscow, tới cuối tháng 9-1946 họ rút hết cố vấn Mỹ về nước chấm dứt mọi liên lạc với Việt Minh.

Võ Nguyên Giáp thay mặt HCM giải tán các đảng phái rồi tàn sát họ đẫm máu, ngày 23-9-1945 Pháp tấn công Sài Gòn, ngày 6-1-1946 tổng tuyển cử bầu Quốc hội. QH khóa I cử ra chính phủ kháng chiến do HCM làm chủ tịch nước VN Dân chủ Cộng hòa vừa là Thủ tướng, về đối ngoại không được quốc gia nào công nhận. Vì bị các đảng phái tố cáo HCM, Việt Minh là CS nên tháng 11-1945 ông cho giải tán Đảng CS Đông Dương (giả vờ) và nhượng bộ đối lập Việt Cách, Việt Quốc 70 ghế tại Quốc hội mà không qua bầu cử.

Đầu năm 1946, Pháp bắt đầu thương thuyết với chính phủ Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh để được thay thế quân Tầu giải giới Nhật tại miền Bắc, sau đó thương thuyết với Việt Minh. Đầu tháng 3-1946 Tướng Leclerc cho đổ bộ lên Hải Phòng, VM ký với Pháp Hiệp định sơ bộ thuận cho Pháp vào BV. Họ mượn tay Pháp để đuổi Tầu về nước (1) và củng cố nội bộ, tiêu diệt các đảng phái quốc gia không CS. Theo tờ tường trình của Tướng Leclerc gửi chính phủ Pháp ngày 27-3-1946 thì tính tới cuối năm, VM đã thủ tiêu, giết hại tổng cộng khoảng 50,000 người (2). Đảng CS đã bắt đầu nhúng tay vào máu của dân tộc VN, Giáp được Pháp giúp đỡ cho tấn công các đảng phái QG, phái Troskist, Công giáo…

Cuối tháng 5-1946, HCM và Phạm Văn Đồng sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Hội nghị thất bại, HCM ở lại ký bản tạm ước với Bộ trưởng thuộc địa Pháp Moutet. Tại Hà Nội hai bên ngày càng căng thẳng, tối 19-12-1946 Việt Minh tấn công quân Pháp mở đầu cho cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ. Tháng 2-1947 VM rút lên Việt Bắc, sang năm 1948, Pháp mở rộng vùng chiếm đóng tại Quảng Yên, Kiến An, Hà Đông, Ninh Bình, Sơn Tây và Việt Trì. VM chỉ hoạt động du kích, quấy phá đồn bót, phục kích công voa.

Sang năm 1949, tháng 7 tới tháng 9 Pháp mở các cuộc hành quân chiếm Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phát Diệm và Bùi Chu. Từ giữa và cuối 1949, Trung Cộng thắng thế tại Hoa lục, tình hình biến chuyển. Bernard Fall nói khi Trung Cộng tiến sát biên giới Việt Hoa tháng 11-1949 thì chương I của chiến tranh Đông Dương đã được đóng lại, người Pháp không còn cơ hội chiến thắng (3). Năm 1950 gió đã đổi chiều khi Trung Cộng chiếm trọn vẹn nước Tầu. VM được họ tiếp tế vũ khí đạn dược ồ ạt và huấn luyện tại biên giới. Trung Cộng giúp VM thành lập hai sư đoàn đầu tiên 304, 308 bằng kết hợp các trung đoàn chủ lực tại BV và Trung Việt. VM đã đủ mạnh và bước sang giai đoạn cầm cự.

Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận lớn đầu tiên mà họ gọi là chiến thắng Cao Bắc Lạng. Tại trận này quân Pháp rút bỏ Cao Bằng bị chận đánh tan nát, thiệt hại khoảng 7,000 người và nhiều kho vũ khí, trận đánh rung động cả nước Pháp, không ngờ VM có thể mạnh đến thế. Sự hình thành, bành trướng lớn mạnh cũng như sống còn của VM không phải vì họ cướp được chính quyền tháng 8-1945, không phải nhờ tài lãnh đạo siêu việt của họ Hồ… mà nhờ Mao đã chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Sự kiện CS Tầu thắng thế họ Tưởng đã thay đổi khúc quành lịch sử tại Đông Dương, hơn thế nữa nó còn ảnh hưởng tới cả thế giới từ đó cho tới tận ngày hôm nay. Tháng 1-1951 Trung Cộng giúp VM thành lập được 5 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn pháo binh.

Thời cơ đã tới cho họ Hồ, nếu Mao bị Tưởng đánh bại những năm 1946, 47…thì số phận của VM cũng sẽ tàn lụi theo vì không có sự giúp đỡ của CS Tầu

Tết Canh Dần 1950 HCM sang Tầu, sang Nga, tại Đại hội đảng II giữa tháng 2-1951, đổi tên đảng CS Đông Dương thành đảng Lao động VN, tại Đại hội này, đảng Lao Động khởi xướng cải cách ruộng đất, xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt bọn bóc lột, phản quốc, phản động, địa chủ, Việt gian, cường hào, đối lập…để nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ tháng 1-1952 họ Hồ gửi bản chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động VN cho Staline để “Đề nghị duyệt xét và chỉ dẫn”, HCM cho biết chương trình hành động do chính ông và được Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ. Cải cách ruộng đất được phát động cuối năm 1953 (tại hậu phương do VM kiểm soát) sau 1954 được tiếp tục lại năm 1956, 1957 tại miền Bắc giết hại trên một trăm nghìn người, đầu năm 1956 khởi sự sửa sai, HCM khóc lóc nhận sai lầm.

Tình hình quân sự do HCM lãnh đạo, Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã đạt nhiều thắng lợi nhờ viện trợ và huấn luyện của Trung Cộng. Sau trận Cao Bắc Lạng tháng 10-1950, mấy tháng sau Tướng De Lattre được Pháp cử sang làm Tư lệnh Đông Dương. Ông đã đánh thắng Võ Nguyên Giáp nhiều trận lớn, chuyển bại thành thắng, nhưng De Lattre chỉ chiến đấu được gần một năm thì bị bệnh nặng phải về Pháp. Từ đầu 1952, Tướng Salan lên thay khi VM ngày càng mạnh, nhờ viện trợ Trung Cộng. Giữa năm 1953 Tướng Navarre, Tư lệnh mới cho biết những năm 1953, 1954 quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp (4). Trận Điện Biên Phủ kéo dài từ ngày 13-3 tới ngày 7-5 thì thất thủ, 11 ngàn quân Liên Hiệp Pháp bị bắt làm tù binh, trên 2,000 bị giết chưa kể trên 2,000 mất tích, VM thiệt hại khoảng 10,000 người. Họ thắng trận nhờ viện trợ tiếp liệu ồ ạt từ Hoa Lục sang.

Cuộc chiến tám năm khói lửa (1946-1954) giành độc lập của họ Hồ đã gây lên cảnh núi xương sông máu: khoảng 300,000 thanh niên tử trận, 500,000 bị thương, 150,000 người thường dân thiệt mạng. Quân đội Liên hiệp Pháp có 75,500 người tử trận, Quân đội QGVN có 419,000 người gồm cả chết, bị thương và bị bắt (5). Miền Bắc đã trở thành bãi chiến trường, nhiều thành phố, tỉnh lỵ trung du, đồng bằng hoang tàn vì bom đạn.

Hai bên đều mệt mỏi, ngày 20-7-1954 Pháp và Việt Minh ký kết Hiệp định Genève chia đôi đất nước, quân Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam rút về miền nam dưới vĩ tuyến 17, thời hạn vào nam ra Bắc được ấn định 300 ngày. Tại các thành phố lớn Hà Đông, Hà Nội, Hải Dương…nhiều nhà đã lên đường vào nam.

Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, tại các đình làng người ta tổ chức hội hè, ảnh Hồ chủ tịch treo ở giữa, hình Mao chủ tịch và đồng chí Ma Lăng Cốp treo ở hai bên, thanh niên, thiếu nữ nhảy múa hát sol đố mì….Khi cuộc di cư bắt đầu, tại các làng mạc người dân thường chọn ở lại trong khi dân tỉnh lên máy bay tại Hà Nội hoặc xuống Hải Phòng lên tầu vào nam. Mấy tháng sau khi Việt Minh về tiếp thu, Hà Đông Hà Nội đã y như thành phố chết, vắng tanh vắng ngắt. Tại miền quê chính sách thuế nông của VM đã làm người dân tuyệt vọng, thật là khủng khiếp, chính phủ đánh thuế cao gấp mười lần thời Quốc gia nên nhiều gia đình trung lưu không còn đường nào khác là ra đi. Rất nhiều người sống ở hậu phương muốn vào nam nhưng điều kiện khó khăn đã khiến họ phải ở lại. Muốn đi nam phải xuống Hải Phòng, muốn đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng phải có giấy thông hành, chỉ có một số ít người xin được giấy của bà con ở Hà Nội về cạo sửa làm giấy giả để lên tầu hỏa xuống Hải Phòng rồi vào Nam. Tổng cộng có khoảng gần một triệu người di cư vào nam, nếu thời hạn di cư kéo dài thêm thì số người ra đi còn tăng hơn nhiều.

Khoảng giữa năm 1955, khi cuộc di cư kết thúc, bác Hồ xuống Hải phòng khóc than đồng bào đã hiểu lầm và bỏ xứ ra đi. Thập niên 60, HCM giảm dần các hoạt động chính trị, ông hay sang Tầu tham quan, chữa bệnh nhất là những năm 1967, 1968, 1969 ông đau nặng sang Tầu nhiều lần. Từ năm 1963 HCM tuyên bố sẽ bàn giao cho Lê Duẫn chỉ còn giữ vai trò tượng trưng, quyền lực dần dần vào tay Duẫn. Nhờ người phụ tá đắc lực Lê Đức Thọ mà Duẫn tạo dựng uy quyền tối thượng tại BV.

Một số người Tây phương (Pierre Asselin) cũng như Nguyễn thị Liên Hằng (tác giả Hanoi’War) có nhận định cho rằng Duẫn đã cô lập Hồ, Giáp và các đồng minh của họ để chiếm quyền lực tuyệt đối. Tôi nghĩ chuyện này khó tin vì mọi người đều rõ Hồ chí Minh là tay lưu manh chúa cả thế giới đều biết, chẳng lẽ lại chịu để bọn em út Duẫn, Thọ soán ngôi dễ dàng như vậy. Nếu nói là HCM thiếu sức khỏe nhường địa vị cho Duẫn, Thọ như dư luận phía CS cho biết thì còn tin được.

Trên thực tế các quyết định, kế hoạch lớn vẫn cần HCM chỉ đạo, phê duyệt (thí dụ hòa đàm Paris) vì ông vẫn là Chủ tịch đảng (1951-1969), sau khi HCM chết, không ai được cử thay thế chức vụ này. Nhiều người Mỹ hiểu sai về tình hình chính trị đảng CSVN, cựu Tổng thống Nixon năm 1985 nói về sự sai lầm của TT Johnson những năm 1965, 1966,1967 :

“Chúng ta cần biết là không bao giờ dụ dỗ, mơn trớn Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến mà phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (No More Vietnams trang 82).

Sự thực trong những năm này HCM đã giao quyền cho Lê Duẫn. HCM mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội. CSVN tạo nhiều huyền thoại ca tụng HCM, ông là nhà văn, nhà thơ, nhà cách mạng, biết nhiều thứ tiếng…Thời kỳ kháng chiến, Việt Minh lưu truyền một bài thơ Hán văn dưới đây mà họ nói là của bác (báo Sài Gòn thập niên 60 có cho đăng lại).

Thu dạ
Dạ bán canh thâm tiệm đắc nhàn
Thu phong thu vũ báo thu hàn
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng
Du kích qui lai tửu vị tàn.

(tôi xin dịch xuôi: 
Đêm Thu
Nửa đem canh khuya ta tạm được chút nhàn 
Gió thu, mưa thu báo cái lạnh của mùa thu tới
Bỗng nghe tiếng sáo thu từ sườn núi bên kia vọng lại
Quân du kích trở về khi chén rượu (tiễn) chưa tàn)

Chẳng biết bài thơ có phải do bác làm hay không nhưng nội dung thật là giả tạo, trận chiến tàn khốc máu chẩy thịt rơi được diễn tả thật thi vị y như cảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt đời nhà Đường.

Có dư luận nói CSVN bắt chước như khỉ, thấy ngưới ta lấy tên lãnh tụ Lénine đặt tên thành phố Saint Petersburg là Leninegrad cũng đặt tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Thấy người ta ướp xác Lénine tại quảng trường đỏ cũng ướp xác họ Hồ tại quảng trường Ba Đình, thật là gớm ghiếc. Nay bên Nga họ đang nghiên cứu đưa xác Lénine đem chôn vì việc bảo quản tốn kém và dơ bẩn. Cái xác chết đúng lý phải đem chôn lại trưng bầy cho thiên hạ tới ngắm, rất phản văn minh phản tiến bộ. Thấy người ta dựng tượng cũng bắt chước dựng tượng khắp nơi, nay toàn quốc đang lên cơn sốt tượng đài. Dân còn nghèo, lợi tức đầu người đứng thứ 138 trên thế giới mà đã xây khoảng 140 tượng HCM, CSVN dự trù trong năm nay sẽ cho xây thêm nhiều tượng cho đủ con số 200. Sơn La đang lên kế hoạch xây tượng HCM với chi phí 65 triệu đô la, xây tượng, xây cầu.. chẳng qua chỉ là để kiếm chác đục khoét công quĩ nhà nước.

Ngày nay tại VN nhiều chùa quốc doanh thờ tượng Hồ Chí Minh bên tượng Phật, cái trò khỉ này bị coi là xúc phạm, Đức Phật là đấng từ bi không giết đến một con giun, con kiến phải ngồi chung với kẻ sát nhân. Nhiều người miền Bắc cho tới nay vẫn còn bị ảnh hưởng tuyên truyền nhồi sọ về HCM, ngay cả đảng viên phản tỉnh trốn ra nước ngoài vẫn còn khen ngợi, ca tụng HCM, thậm chí họ còn nói CSVN nay đi sai đường của bác.

Tư tưởng HCM thực ra chỉ là sự cóp nhặt tư tưởng Mác Lê, bác trình độ tiểu học lấy đâu ra tư tưởng. Nhiều nhà sử gia Mỹ khen ông HCM là nhà ái quốc, họ khen cho vui thôi thực ra họ thừa biết ông ta là tay sai Đệ Tam Quốc tế, vả lại lời nói chẳng mất tiền mua, họ có mất vốn mất lãi gì đâu?

Hồ Chí Minh là Chủ tịch đảng kiêm Chủ tịch nhà nước như Lénine của Sô Viết, ông ta là Chủ tịch đảng duy nhất của CSVN (18 năm 195 ngày), sau khi HCM chết, người đứng đầu đảng được mệnh danh là Tổng bí thư hay Bí thư thứ nhất, Chủ tịch đảng chỉ dành riêng cho HCM, một chức vị danh dự.

Lê Duẩn

Giữ chức vụ Bí thư thứ nhất đảng Lao động VN từ 1960-1976, Tổng bí thư đảng CSVN từ 1976-1986. Duẩn là người giữ chức Tổng bí thư lâu nhất 25 năm, người có uy quyền cao nhất của CSVN như Tập Cận Bình, Đặng Tiểu Bình bên Tầu. Năm 1954, khi Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội người ta chỉ nghe nói tới bốn nhân vật chủ chốt Hồ, Giáp, Chinh, Đồng và một số sĩ quan cao cấp Thiếu tướng văn tiến Dũng, Đại tá Vương Thừa Vũ… khi ấy Lê Duẫn, Lê Đức Thọ hoàn toàn vô danh, không ai biết tới
Duẩn sinh ngày 7-4-1907 tại Quảng Trị trong một gia đình nông dân, mất ngày 10-7-1986. Năm 1920 học hết tiểu học, Duẫn học hết năm thứ nhất trung học (đệ thất) rồi nghỉ. Năm 1926 làm nhân viên sở hỏa xa, bẻ ghi đường rầy xe lửa Đà nẵng. Năm 1930 Duẫn gia nhập đảng CS Đông Dương, năm 1931 là ủy viên tuyên huấn Bắc kỳ, tháng 4-1931 bị Pháp bắt ở Hải Phòng kết án 20 năm tù.

Năm 1939 Lê Duẩn được bầu vào Ban thường vụ trung ương đảng, năm 1940 bị Pháp bắt đầy ra Côn đảo án tù 10 năm, đến 1945 được đón về, năm 1946 làm việc bên Hồ Chí Minh. Từ 1946-1954 ông được cử làm Bí thư xứ ủy Nam bộ, sau này là Trung ương cục miền nam, Chính ủy bộ tư lệnh nam bộ. Năm 1951 Lê Duẫn được vào Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) và Bộ chính trị trong kỳ Đại hội đảng lần 2. Năm 1952 ra Việt Bắc họp Trung ương đảng được Hồ Chí Minh giữ lại làm phụ tá tới đầu năm 1954, được cử làm quyền bí thư Trung ương cục miền nam.

Năm 1954-1957 ông được phân công ở lại miền nam lãnh đạo, HCM chọn Duẫn vì ông ta nắm vững đường lối trung ương am hiểu địa thế. Tới 1957 HCM gọi Lê Duẫn ra Hà Nội gấp để có thể điều hành công việc chung của đảng. Tháng 9-1960 tại Đại hội toàn quốc lần thứ III, Duẫn được bầu vào BCHTƯ và Bộ chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất BCHTƯ đảng. Từ 1960 theo một số nhận định HCM sức khỏe yếu, Lê Duẫn trở thành người có quyền hành cao nhất.

Đại hội toàn quốc lần thứ IV tháng 12-1976 và lần thứ V tháng 3-1982, Duẩn tiếp tục được bầu giữ chức Tổng bí thư cho tới chết, tại Đại hội V, Lê Duẩn sức khỏe yếu, Ban chấp hành giao một số việc cho Trường Chinh. Lê Duẫn lên nắm quyền và tiếp tục theo đuổi cuộc chiến mà HCM giao lại qui mô hơn, đẫm máu hơn. Tác giả Nguyễn thị Liên Hằng cách đây mấy năm xuất bản cuốn Hanoi’s war, ý nói cuộc chiến này do Hà Nội phát động. Tôi nghĩ nó không hoàn toàn đúng, nếu nói cuộc Thế chiến thứ II tại Châu Âu do Bá Linh phát động hay cuộc Thế chiến tại Á châu do Đông Kinh chủ trương thì hoàn toàn đúng vì họ tự làm được vũ khí, tự quyết định được. Hà Nội không tự làm được vũ khí, họ phải xin viện trợ quân sự của Nga, Trung Cộng, phải được CS quốc tế chấp thuận nên họ không tự ý phát động cuộc chiến được.

Sở dĩ CS quốc tế chấp thuận viện trợ cho BV một số hàng khổng lồ tổng cộng 2 triệu 362 ngàn tấn hàng hậu cần và vũ khí (6) vì BV là một quân tốt quá lợi hại, là mũi nhọn xung kích của CS quốc tế để làm suy yếu đế quốc. BV có lẽ là quân tốt của CS quốc tế hơn là một cường quốc quân sự.

Những năm cuối thập niên 50 VC bắt đầu đánh du kích và ám sát trưởng ấp, xã trưởng, thập niên 60 họ cho xâm nhập các cán bộ tập kết, năm 1961 Việt Cộng gia tăng lực lượng tới 25,000 cuối năm 1961. TT Kennedy cho tăng quân số VNCH lên 200,000 người, năm 1962 viện trợ cho VNCH ba đại đội trực thăng H-21, 16 phi cơ vận tải C-123, hai chi đoàn thiết giáp M-113 (7) …
Việt Cộng bị bao vây tiêu diệt dần dần, quân đội VNCH nhờ chiến thuật, vũ khí mới đã đạt thắng lợi năm 1962. Năm 1964, lợi dụng tình hình chính trị miền Nam xáo trộn, Lê Duẫn cho gia tăng xâm nhập cán binh, tiếp liệu. Giữa năm 1965 trung bình một tuần VNCH mất một quận và một tiểu đoàn, TT Johnson vội đưa quân sang ngăn chận CS, cho tới 1968 đã có tới nửa triệu quân Mỹ tại miền nam. BV gia tăng xâm nhập, cuộc chiến mở rộng. Vì sự sai lầm của Johnson đem áp dụng chiến tranh giới hạn (limited war) vào VN kéo dài cuộc chiến khiến phong trào chống đối ngày càng lên cao. Trận Mậu thân 1968 là thảm bại quân sự của BV nhưng lại là thảm bại chính trị cho Johnson. Người Mỹ thua tại mặt trận đất nhà mặc dù trong những năm 1965, 1966, 1967.. đã tiêu diệt được hàng mấy trăm ngàn tên địch.

Lê Duẩn áp dụng triệt để chiến lược cố đấm ăn xôi đẩy thanh niên vào chỗ chết khiến người dân và Quốc hội Mỹ quá chán chiến tranh Đông Dương. Họ đã áp lực tân Tổng thống Nixon rút quân ký Hiệp định Paris tháng 1-1973, để rồi Quốc hội Dân chủ cắt giảm dần viện trợ quân sự cho VNCH, tới tháng 2-1975 quân đội miền nam chỉ còn đủ đạn chiến đấu trong vòng một tháng (8). Sài Gòn thất thủ ngày 30-4-1975, cuộc chiến giải phóng miền nam của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ thực ra chỉ là một cuộc ăn cướp vĩ đại như nhận xét của ông Bùi Tín.

Tiếp tục sự nghiệp binh đao máu lửa của sư phụ, Lê Duẩn lãnh đạo một cuộc chiến dài đằng đẵng bắt đầu từ cuối thập niên 50 cho tới cuối thập niên 80. Mấy năm sau cuộc chiến cốt nhục tương tàn 1975, cuối thập niên 70 khởi đầu cuộc chiến giữa các chế độc Cộng Sản. Dưới thời Lê Duẫn, chiến tranh loạn lạc liên tu bất tận khiến nhân dân khốn khổ trăm bề.

Rạn nứt giữa Bắc Kinh và Hà Nội khởi đầu từ 1968, Lê Duẩn có khuynh hướng thân Nga và đụng chạm với Trung Cộng. Hai bên bất đồng quan điểm, Bắc Kinh muốn CSVN dùng chiến tranh du kích có giới hạn nhưng Duẫn và tập đoàn của ông muốn đánh qui ước để sớm chiếm được vựa lúa miền nam. Hà Nội muốn nói chuyện trực tiếp với Mỹ tại Paris bắt đầu tháng 5-1968 mà Trung Cộng phản đối cuộc hòa đàm này. Tới năm 1972 khi Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông thì bị BV cho là phản bội cách mạng, từ năm 1973, giới lãnh đạo Bác Kinh cho biết CSVN là kẻ thù. Năm 1975 Lê Duẫn sang Tầu từ chối liên minh với Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Hà Nội càng thân Nga, Tầu đỏ càng sợ bị cô lập, tháng 7-1978, Trung Cộng cắt hết viện trợ, rút cố vấn về nước.
Ngày 3-11-1978 Hà Nội ký Hiệp ước hữu nghị với Nga về thương mại văn hóa và cả quốc phòng, an ninh hai nước để phòng thủ chung khiến Bắc Kinh lo ngại thế gọng kìm Nga phương Bắc và CSVN phương nam. Tháng 4 và tháng 9- 1977 Khmer đỏ được Bắc Kinh giúp đỡ khuyến khích đã tấn công vào lãnh thổ VN bằng các sư đoàn chính qui, đốt phá làng mạc, giết hại dân lành. CSVN cũng cho quân đánh sâu vào đất Miên rồi rút lui, cuối 1978 Pol Pốt huy động hàng trăm ngàn ngưới tấn công toàn biên giới, CSVN sau cùng huy động 6 quân đoàn (khoảng 15 sư đoàn,180,000 quân) gồm cả pháo, xe tăng, máy bay… Từ đầu tháng 12-1978 cho tới cuối tháng 3-1979 CSVN đã chiếm đươc gần hết lãnh thổ Miên và thành lập chính quyền mới, cho tới tháng 12-1989 thì rút khỏi Khmer theo điều kiện của Mỹ để được bãi bỏ cấm vận và bang giao. Theo dữ kiện phía CS cho biết có khoảng 15,000 quân CSVN bị giết, 30,000 người bị thương phía Khmer đỏ có hàng trăm nghìn bị tử thương chưa kể thường dân.

Trung Cộng đã khiêu khích biên giới từ lâu nay yêu cầu Hà Nội phải rút khỏi Miên nếu không sẽ đánh thẳng vào VN. Ngày 17-2-1979 họ đưa khoảng từ 300 ngàn tới 500 ngàn quân tấn công trên toàn biên giới, chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng và một số thị trấn khác rồi rút quân một tháng sau vào ngày 16-3. Tổn thất nhân mạng mỗi bên khoảng 20,000 người. Cuộc chiến đã để lại nhiều ảnh hưởng lâu dài với kinh tế VN, cuộc xung đột còn kéo dài hơn 10 năm nữa.

Lê Duẩn người nắm quyền tuyệt đối của Hà Nội đã gây nên nhiều cuộc chiến trong mấy chục năm sau Hiệp định Genève, đồng thời tập đoàn của ông ta đưa ra đường lối sai lầm về kinh tế. Hậu quả của các cuộc chiến tranh liên miên đưa tới khủng hoảng về kinh tế, đời sống. Từ 1976 tới 1986 CSVN bị cô lập, ông Trần Văn Thọ (Giáo sư Đại học Waseda, Đông Kinh) nói về kinh tế thời Lê Duẩn: mười năm sau năm 1975 là một giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử VN. Là một nước nông vi bản, 80% là dân quê, thiếu ăn phải ăn độn bo bo, khoai sắn từ 1976 tới 1979. Lương thực theo đầu người giảm  liên tục từ 1976 tới 1979, sau đó có tăng trở lại nhưng cũng không bằng 1976. Sản xuất công nghiệp đình trệ, vật dụng thiếu, nhân dân vô cùng khốn khổ. Nguyên nhân chính do sai lầm trong chính sách phát triển nhất là vội vã áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa vào kinh tế miền nam. Nguy cơ thiếu ăn kéo dài cho tới thời kỳ đổi mới cuối năm 1986 mới biến chuyển. Tổng sản lượng trong 10 năm trước ngày đổi mới (1976-1986) chỉ thăng 35% (trung bình một năm 3,5%) trong khi dân số tăng 22%, lợi tức đầu người chỉ tăng khoảng 1%. Việt Nam trong khoảng thời gian này được xếp trong số 10 nước nghèo đói nhât thế giới.

Áp dụng mô hình Xã hội chủ nghĩa, một lý thuyết kinh tế mọi rợ từ một xã hội bán khai vào một đất nước tân tiến như miền nam VN thất bại không có gì khó hiểu. Nó cho thấy Lê Duẫn và tập đoàn ấu trĩ lạc hậu là nhường nào, Lê Duẩn một con người thất học và độc đoán, nắm mọi quyền lực trong tay đã tàn phá đất nước và đầy đọa dân tộc ta như thế nào.

Lê Duẫn nói
“Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta”

Xin hãy nghe nhà lãnh đạo học lực tiểu học phát biếu vào dịp Tết 1976 như sau:

“Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh”

Câu nói này của Duẫn chỉ khiến cho dân Sài Gòn cười bể bụng, những cái mà ông ta hứa hẹn họ đã có từ trên mười năm trước
Mồng một Tết 1976, Duẫn về thăm quê tại làng Hậu Kiên, Quảng Trị nói:

“Mồng 1 tết mà tôi đến thăm nhà nào cũng thấy luộc sắn. Bà con ta còn nghèo quá! Trong đời hoạt động cách mạng, tôi đã chịu nghèo khổ, nhưng bây giờ đất nước đã được thống nhất, phải lo làm sao để cho dân giàu lên. Phấn đấu để đồng bào ta, các ông bà già, trẻ con mỗi bữa có một quả trứng, một cốc sữa mà rất khó.”

Thật là ghê tởm cho cái phản văn minh, phản tiến bộ mà Duẩn đem lại cho đất nước.

Được Hồ Chí Minh gọi về Bắc và giúp cho lên giữ chức Bí thư thứ nhất thay thế Trường Chinh năm 1957, Lê Duẫn dần dần trở thành nhân vật số một của chế độ. Duẫn phạm nhiều tội ác với dân tộc VN gấp bội lần HCM, cuộc chiến mà ông ta ngoan cố tiến hành vĩ đại hơn và tàn phá đất nước gấp mười lần cuộc chiến tám năm khói lửa của họ Hồ. Duẫn đã biến VN trở thành quân tốt quá lợi hại của CS quốc tế, đã làm đổ quá nhiều xương máu của nhân dân ta qua ba cuộc chiến liên tục từ 1958 cho tới cuối 1989.
Theo tiết lộ mấy năm gần đây của ông Bùi Tín và một số cựu đảng viên, Lê Duẫn và đồng bọn đã chia chác nhau 18 tấn vàng lấy được từ Ngân hàng quốc gia VNCH năm 1975. Người ta cho biết nay không còn dấu tích gì của số vàng khổng lồ này.
May mà Duẫn chết bệnh để rồi chính sách đổi mới thay thế con đường mọi rợ độc đoán của một nhà lãnh đạo  vô học như ông ta đã kéo dài mấy chục năm đằng đẵng.

Trường Chinh

Tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9-2-1907 tại làng Hành Thiện, Nam Định, mất ngày 30-9-1988 tại Hà Nội. Trường Chinh đã hai lần giữ chức Tổng bí thư, ngoài ra ông giữ chức Chủ tịch nhà nước 1981-1987, Chủ tịch Quốc hội 1960-1981.

Năm 1954, khi Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, bốn nhân vật chính của đảng là Hồ Chí Minh Chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nhà nước, Võ Nguyên Giáp Tổng tư lệnh quân đội nhân dân, Trường Chinh Tổng Bí Thư đảng, Phạm Văn Đồng Phó thủ tướng, trong đó Trường Chinh được coi là nhân vật số hai của chế độ. Trường Chinh viết sách báo tuyên truyền cho Việt Minh như một lý thuyết gia của chế độ nhưng thực ra tư tưởng của ông cũng không có gì mới lạ. Ông ta nổi tiếng ở chiến lược trường kỳ kháng chiến nhất định thành công.

Đặng Xuân Khu thuộc gia đình nho giáo, từ nhỏ đã học Tứ Thư, Ngũ Kinh, thơ Đường, lớn lên theo Tây học bậc thành chung (đệ nhất cấp sau này), vì tham gia chính trị nên bị đuổi học năm 1926. Năm 1927 Xuân Khu lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng thương mại, năm 1929 Khu vận động thành lập Đông Dương CS đảng và là một trong những đảng viên đầu tiên. Cuối năm 1930 bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù, năm 1936 được trả tự do. Tại hội nghị Trung ương khóa 7 họp tại Bắc Ninh tháng 11-1940, Trường Chinh được bầu vào Ban CHTƯ cùng được cử làm quyền Tổng bí thư thay thế Nguyễn văn Cừ. Tháng 5-1941 tại Hội nghị trung ương lần thứ 8 họp tại Cao Bằng, Trường chinh được bầu Tổng bí thư kiêm trưởng ban tuyên huấn Trung ương, năm 1943 bị Pháp xử tử hình khiếm diện.

Tháng 3-1945, ông triệu tập Hội nghị thường vụ trung ương xác định thời cơ tổng khởi nghĩa cướp chính quyền. Trong giai đoạn chuẩn bị cho Cách mạng tháng tám 1945, tại Hội nghị toàn quốc của đảng do Trường Chinh trụ trì, ông được giao phụ trách ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Cuối năm 1945, đảng CS Đông dương tự tuyên bố giải tán (giả vờ) và chuyển thành Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương do Trường Chinh làm hội trưởng.

Kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, ông viết một loạt bài nổi tiếng rất dài với tựa đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi” trên báo Sự thật năm 1947. Võ Nguyên Giáp nhận định bác Hồ là linh hồn của kháng chiến, Trường Chinh là người đề ra đường lối cụ thể, chỉ đạo cụ thể về lý luận. Năm 1951 tại Đại hội đảng lần thứ 2, đổi tên đảng là Đảng Lao động VN, ông lại được bầu vào Ban CHTƯ và giữa chức Tổng bí thư cho tới tháng 10-1956. Báo Cứu quốc đăng bài giới thiệu đánh giá: Hồ chủ tịch là linh hồn của cách mạng thì ông Trường Chinh là bàn tay điều khiển chỉ huy.

Năm 1951 đường lối cải cách ruộng đất được đưa ra trong báo cáo chính trị của Trường Chinh tại Đại hội lần thứ 2, thừa nhận những địa chủ không phản quốc có quyền công dân, quyền tài sản. Năm 1953Việt Minh chiếm ưu thế chiến trường, Trường Chinh được cử làm trưởng ban cải cách ruộng đất Trung ương. Cuộc cải cách ban đầu có kết quả, tịch thu tài sản của bọn phản quốc chia cho bần cố nông.

Sau khi kiểm soát được miền bắc, cuối năm 1954 do áp lực của các cố vấn Tầu, chiến dịch Cải cách ruộng đất được đẩy mạnh tới chỗ tàn bạo, đổ máu, bắn giết..khiến hơn một trăm ngàn người bị thiệt mạng. Trường Chinh phải chịu trách nhiệm và từ chức Tổng bí thư, sau đó ông đứng đầu công tác sửa sai. Năm 1958 Trường Chinh được bổ nhiệm Phó thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban khoa học nhà nước. Năm 1960 được bầu vào Ban CHTƯ, Ủy viên Bộ chinh trị, Chủ tịch quốc hội cho tới năm 1976. Sau khi chiếm được miền nam ngày 30-4-1975, Trường Chinh tuyên bố trên đài phát thanh:

“Nay nhà nhà ai nấy đều đã có cơm ăn áo mặc, trẻ em đều được cắp sách đến trường, đó là những thành quả của đảng ta mà qua lịch sử VN từ xưa tới nay chưa ai thực hiện được”

Không hiểu người miền Bắc nghĩ sao về lời nói của ông Chủ tịch quốc hội, người miền nam, dân Sà goòng nghe xong thì họ cười bể bụng!

Năm 1981 ông được bầu vào chức Chủ tịch hội đồng nhà nước, Chủ tịch hội đồng quốc phòng, ngày 14-7-1986 Trường Chinh được bầu làm Tổng bí thư thay thế Lê Duẫn chết bệnh.

Tháng 12-1986 tại Đại hội đảng lần thứ 6 ông rút khỏi các chức vụ quan trọng của đảng và nhà nước, làm cố vấn cho BCHTƯ đảng. Trường Chinh mất ngày 30-9-1988 thọ 81 tuổi. Người ta cho rằng Trường Chinh là người bảo thủ, phụ trách tuyên truyền nhưng chính ông là người phát động đổi mới nhường chỗ cho Nguyễn Văn Linh tại Đại hội 6. Ông ta nói trên truyền hình tôi và đồng chí Lê Đức Thọ xin không ghi danh ứng cử…

Trường Chinh là người tán thành đổi mới nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng 10 năm sau ngày chiếm được miền nam, Võ Văn Kiệt nói Trường Chinh là Tổng bí thư đổi mới. Các cán bộ cao cấp đánh giá Trường Chinh là người đóng góp nhiều cho sự nghiệp cách mạng, tạp chí Cộng sản nói Trường Chinh là Tổng bí thư đặt nền móng cho công cuộc đổi mới, ông được coi là người bảo thủ nhưng cuối đời quan điểm của ông thay đổi thành cấp tiến.

Thực ra theo lời một cán bộ trung cấp, giám đốc hồi hưu (tôi được tiếp xúc năm 1989) cho biết Gorbachov, Tổng bí thư CS Liên xô đã cử người sang làm đảo chính không cho đổ máu. Tôi nghĩ nếu không có sự ép buộc của Liên Xô lớp người bảo thủ như Trường Chinh, Lê Đức Thọ sẽ còn nắm quyền dài dài, đến Tết họ mới chịu thoái vị. Một cố vấn của Trường Chinh phát biểu: Giữa năm 1986 đói khổ, các dự án lớn thất bại, nguyên liệu khan hiếm, lạm phát 300, 400, 500, 700%… Lòng dân hoang mang, trong khi khủng hoảng Trường Chinh quyết định táo bạo đưa đất nước phát triển theo đường lối mới sau khi đã trải qua những sai lầm.

Sự thực ngoài đổi mới ra họ không còn đường nào khác khi Nga bắt đầu từ bỏ CS, từ bỏ kinh tế chỉ huy sang kinh tế tự do. Trong bài “VN từ 1990”, William S. Turley nói về đổi mới của CSVN như sau: sự sụp đổ của Đông Âu khiến CSVN bị cô lập, từ 1985 bắt dầu rút khỏi Căm Phu Chia, tháng 9-1989 rút hết. VN cải thiện quan hệ các nước láng giềng, bang giao với Mỹ từ 1995, cùng năm được gia nhập khối ASEAN cho thấy VN được hội nhập với các nước khác, tái lập hòa bình. Họ tập trung cải cách kinh tế cuối thập niên 80, chính phủ tiến hành những bước thực tiễn, đáp ứng thực trạng trong nước. CSVN đổi mới vì họ không còn con đường nào khác. Những điểm chính đổi mới gồm: luật đầu tư có chút cấp tiến, bãi bỏ hợp tác xã nông nghiệp, chấm dứt bao cấp, giảm bỏ các công ty quốc doanh. Việc làm ở lãnh vực tư gia tăng, đầu tư ngoại quốc tăng, khai thác dầu, sản xuất hàng công nghiệp nhẹ, kỹ nghệ du lịch. Trong thời gian ngắn VN chuyển từ giao thương với các nước CS sang giao thương với Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn, Đài Loan, Nhật…

Đó là cái nhìn của Tây phương về đổi mới.

Từ ngày CSVN thành hình cho tới cuộc chiến chống Pháp, Trường Chinh luôn là cánh tay phải đắc lực của họ Hồ, của đảng. Gần cuối năm 1956 ông ta từ chức Tổng bí thư vì cải cách ruộng đất, Lê Duẩn lên thay.

Nếu không có Cải cách ruộng đất, Trường Chinh vẫn làm Tổng bí thư, ông ta không chống Tầu như Lê Duẫn, tôi nghĩ cuộc chiến sẽ nhỏ hơn trong những năm 1965, 1966, 1967… không đẫm máu như thời Lê Duẫn và chắc sẽ không có cuộc chiến Việt- Miên, Việt-Hoa cuối thập niên 70.

(còn tiếp)

© Đàn Chim Việt

———————————————————-

(1) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 15
(2) Quân sử 4, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong giai đọan hình thành 1946-1955, Bộ Tổng Tham Mưu VNCH năm 1972, trang 22
(3) Street Without Joy trang 32
(4) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 47
(5) Wikipedia, Yahoo.fr: Guerre d’Indochine
(6) BBC.Vietnamese.com ngày 10-5-2006: Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh. Đăng Phong, Năm Đường Mòn Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Trí thức Hà nội 2008, trang 120, 121
(7) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 20, 21.

(8) Cao Văn Viên, Những ngày cuối VNCH trang 92

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

► Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [2]

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [2]

Tiếp theo phần I

 

Ảnh VietNamNet

Nguyễn Văn Linh

Sinh ngày 1-7-1915, mất 27-4-1998, là Tổng bí thư CSVN từ 1986 tới 1991, người mở đường có công với đổi mới của kinh tề VN, tên thật là Nguyễn Văn Cúc.

Sinh tại xã Giai Phạm, Hưng Yên BV xuất thân gia đình công chức. Ngày 1-5-1930 Nguyễn Văn Linh bị Pháp bắt vì tội tuyên truyền chống Pháp bị tù Côn đảo cho tới 1936 được thả, cùng năm được kết nạp vào đảng CS Đông Dương. Ông hoạt động ở Hải Phòng, sau chuyển lên hoạt động ở Hà Nội, vào Sài Gòn dưới quyền bí thư Sài Gòn Nguyễn Thị Minh Khai.
Năm 1939 ông được điều ra miền Trung, năm 1941 NVL bị bắt ở Vinh và bị đầy đi Côn Đảo lần thứ hai. Năm 1945 ông hoạt động ở miền tây Nam bộ, sau đó ở Sài Gòn Chợ Lớn với cương vị bí thư thành ủy Sài Gòn. Năm 1947 Linh là thường vụ xứ ủy Nam bộ, năm 1955-1960 ông là Đặc khu uỷ Sài Gòn Gia Định. Năm 1957-1960 ông là quyền bí thư xứ ủy Nam bộ, năm 1960 tại Đại hội đảng lần thứ 3, được bầu vào BCHTƯ (1961-1964) làm Bí thư rồi Phó bí thư Trung ương cục miền nam.

Năm 1976 NVL làm Bí thư thành ủy TP Hồ chí Minh, tháng 12-1976 tại Đại hội 4 ông được vào BCHTƯ Bộ chính trị. Tại Đại hội 5 ông ta rút khỏi Bộ chính trị vào Sài Gòn làm Bí thư thành ủy năm 1981 thay Võ Văn Kiệt. Tháng 6-1986 khi Trường Chinh làm Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban bí thư Trung ương đảng, sau vào Bộ chính trị. Tháng 12-1986, tại Đại hội 6 NVL được bầu vào BCHTƯ, Ủy viên bộ chính trị, giữ chức Tổng bí thư đảng kiêm đảng ủy quân sự trung ương (1987).

Từ đây bắt đầu giai đoạn đổi mới, cởi mở của CSVN, sau nhiệm kỳ Tổng bí thư (1986-1991) ông xin lui không ứng cử nhiệm kỳ tiếp theo, ông mất năm 1998, thọ 83 tuổi. Khi còn là Bí thư thành ủy TP HCM, NVL thực hiện xóa bỏ quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Trong nhiệm kỳ làm TBT, NVL góp phần xoay chuyển tình thế mở đường cho đổi mới. Ông ta đưa ra quan niệm mới, ý tưởng mới cách làm mới, bỏ chế độ giai cấp lãnh đạo đi máy bay riêng, đi xe gắn máy lạnh, ông chống cái cũ, chống bảo thủ, giáo điều.

Trong một bài đăng tháng 6-1987, Nguyễn Văn Linh nói sau Đại hội 4 phát động nói thẳng nói thật, cho phê bình sửa chữa, chống trì trệ công khai đăng báo, phổ biến trên đài phát thanh nói về các sai lầm kể cả của cán bộ cao cấp. Về vấn đề đổi mới ông nói: chủ trương đổi mới toàn diện , đúng định hướng xã hội chủ nghĩa với cách làm thích hợp, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chống tham nhũng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Có người đánh giá Nguyễn Văn Linh lội ngược dòng chính trị, lịch sử. Ông ta vực dậy kinh tế TP HCM, là người đóng góp to lớn cho cách mạng. Phó giáo sư tiến sĩ Đào Công Tiến giảng nghĩa “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tiến tới mục tiêu chống áp bức bóc lột bất công, tiến tới ấm no hạnh phúc…

Nhưng trên thực tế XHCN tại VN ngày nay đầy rẫy bất công áp bức, bóc lột, bọn thống trị ăn trên ngồi chốc, cha truyền con nối, chỉ có con ông cháu cha, con cái đảng viên được hưởng mọi ưu quyền đặc lợi ấm no hạnh phúc.

Đỗ Mười

Sinh ngày 2-2-1917 tên thật là Nguyễn Duy Cống, Tổng bí thư đảng CSVN từ tháng 6-1991 tới tháng 12-1997. Sinh trưởng trong một gia đình trung nông, lớn lên làm thợ sơn, năm 1936 tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương, năm 1939 gia nhập đảng CS Đông Dương, năm 1941 bị giam 10 năm tại Hỏa lò.

Năm 1945 Nguyễn Duy Cống vượt ngục tham gia khởi nghĩa tỉnh Hà Đông, sau cách mạng tháng tám, Cống giữ chức bí thư tỉnh ủy Hà Đông. Sau đó làm tỉnh ủy Hà Nam , bí thư tỉnh ủy Nam Định, bí thư Ninh Bình, Chính ủy kiêm tư lệnh liên khu 3. Năm 1955 Cống làm Bí thư thành ủy Hải Phòng, tháng 3-1955 Ủy viên dự khuyết trung ương đảng, năm 1956 Thứ trưởng Bộ nội thương. Năm 1960 Cống được bầu làm Ủy viên trung ương đảng khóa 3, đại biểu quốc hội khóa 2.

Năm 1961-1969 Cống làm Chủ nhiệm ủy ban vật giá nhà nước, năm 1969 làm Phó thủ tướng chủ nhiệm văn phòng kinh tế phủ Thủ tướng, năm 1971 Đại biểu quốc hội khóa 4, Phó thủ tướng. Năm1973 ông giữ chức Bộ trưởng bộ xây dựng, năm 1976 được bầu Ủy viên trung ương đảng, ủy viên dự khuyết Bộ chính trị. Năm 1977 ông giữ chức Phó thủ tướng, Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp XHCN, Phụ trách Cải tạo công thương nghiệp miền nam VN.

Năm 1981 Đỗ Mười làm đại biểu quốc hội khóa 7, Phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng, năm 1982 ông được bầu vào Trung ương đảng, ủy viên Bộ chính trị. Năm 1988 ông làm Chủ tịch hội đồng bộ trưởng, năm 1991 được bầu làm Tổng bí thư trung ương đảng khóa 7, năm 1986 được bầu Tổng bí thư khóa 8, tháng 12-1997 ông từ nhiệm chức Tổng bí thư chuyển sang làm cố vấn trung ương đảng.

Đỗ Mười cổ võ đổi mới nhưng không thay cơ cấu chính trị, ông ta nói với báo chí: đảng ta vẫn theo xã hội chủ nghĩa, con đường duy nhất đúng. Đỗ Mười bị chỉ trích vì gây ra thảm kịch đánh tư sản ngày 23-3-1978 khi ông làm Phó thủ tướng Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp. Mười cho khoảng 60 ngàn đoàn viên Thanh niên CS đi khắp nơi (tại miền nam) đóng cửa kiểm kê các nhà tư sản rồi lấy nhà đuổi đi kinh tế mới, thời gian này có tới mấy chục ngàn cơ sở thương mại bị đóng cửa trong một ngày.
Chiến dịch thất nhân tâm này khiến nhiều người phải tự tử và đi vượt biên, một cuộc ăn cướp vĩ đại trắng trợn, trấn lột tài sản các thương gia để bỏ túi chia chác nhau, lấy nhà phân phối cho các đảng viên từ ngoài Bắc vào. ước lượng có hai triệu người đi vượt biên, mấy trăm nghìn người thiệt mạng ngoài biển khơi.

Sau này Đỗ Mười bị kết án là người đã gây ra thảm kịch kinh tế miền nam sau 1975, đây là một kế hoạch ngu xuẩn khi đem một chủ nghĩa kinh tế mọi rợ, lạc hậu áp dụng vào một xã hội tấn tiến tại miền nam VN. Thập niên 50 Mười là người xử lý chuyên môn địa hạt kinh tế nhưng chỉ đối với một nền kinh tế lạc hậu bán khai. Những năm 1976-1979 ông ta thất bại trong việc tổng hợp hai nền kinh tế Bắc-Nam. Với cương vị người phụ trách cải tạo công thương nghiệp miền nam, ông ta toàn quyền như vua đã dồn hai nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa làm một. Những người chống Đỗ Mười kết án ông này chịu trách nhiệm nhiều nhất cho sự thất bại thê thảm nền kinh tế hậu chiến 1976.

Lê Khả Phiêu

Ông giữ chức Tổng bí thư CSVN từ tháng 12-1997 tới tháng 4 -2001, là người kế nhiệm Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu cũng là một Tướng lãnh cấp bậc Thượng tướng, Chủ nhiệm cục chính trị.

Phiêu sinh ngày 27-12-1931 ở ở làng Thượng Phúc, Thanh Hóa, năm 1945 tham gia phong trào Việt Minh, gia nhập đảng CSĐông Dương năm 1949. Đầu tháng 5-1950 ông gia nhập quân đội đi từ binh nhì lên chính trị viên đại đội. Từ 1954 tới 1958 giữ chức chính trị viên tiểu đoàn rồi trung đoàn,1966 giữ chức Chính ủy kiêm trung đoàn trưởng TĐ 9 sư đoàn 304.

Năm 1967 ông được điều động vào chiến trường Trị Thiên làm Chính ủy trung đoàn 9, năm 1970 giữ chức Phó chủ nhiệm chính trị quân khu Trị Thiên. Tháng 5-1974, khi Quân đoàn hai được thành lập ông được cử giữ chức chủ nhiệm cục chính trị Quân đoàn, cấp bậc Thượng tá.

Năm 1978 ông giữ chức Phó tư lệnh Quân khu 9, cấp bậc Đại tá, tháng 4-1984 được thăng Thiếu tướng giữ chức Phó tư lệnh chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị, Phó bí thư ban cán sự Bộ tư lệnh quân tình nguyện VN tại Campuchia. Tháng 8-1988 CSVN rút quân, Lê Khả Phiêu được thăng Trung tướng, về làm Phó chủ nhiệm tổng cục chính trị. Tháng 9-1991ông giữ chức Chủ nhiệm tổng cục chính trị Quân đội nhân dân, năm 1992 được phong Thượng tướng.

Tháng 6-1992 tại Hội nghi BCHTƯ lần thứ 13, ông được bầu vào Ban bí thư trung ương đảng. Tháng 1-1994 tại Hội nghị toàn quốc, LK Phiêu được bầu vào Bộ chính trị, tháng 6-1996 được bầu ủy viên thường vụ Bộ chính trị

Ngày 26-12-1997 tại Hội nghị trung ương lần thứ 4, BCHTƯ đảng (khóa 8) Lê Khả Phiêu được giữ chức Tổng bí thư BCHTƯđảng CSVN, cũng là đại biểu qốc hội khóa 9, 10.

Trong một bài đăng trên BBC.Vietnamese ngày 22-6-2006 (Sự ra đi của một Tổng bí thư) có nói: tại Đại hội đảng lần thứ 9 của CSVN (từ 19-4 đến 22-4-2001) Lê Khả Phiêu bị hạ bệ, Nông Đức Mạnh được cử lên thay. Đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu bị nội bộ đảng chỉ trích.

Bộ chính trị bỏ phiếu tỷ lệ 12/6 đồng ý để ông Lê Khả Phiêu ở lại tới năm 2003 nhưng ngày 17-4, tại cuộc họp các đại biểu (toàn quốc) trước khi chính thức khai mạc đại hội 9 đã đảo ngược quyết định của Bộ chính trị và bỏ phiếu hạ bệ Tổng bí thư.

Lê Khả Phiêu giữ chức TBT từ 1997 bị cáo buộc là người có nhiều tham vọng, muốn làm Tổng bí thư kiêm luôn Chủ tịch nước (y như bác Hồ). Phiêu bị tai tiếng là người bè phái, bổ nhiệm nhiều người xứ Thanh Hóa, ngoài ra bị cáo buộc đã dùng tình báo quân đội để theo dõi các Ủy viên bộ chính trị. Dưới thời Lê Khả Phiêu, kinh tế bị thoái trào, tham nhũng mạnh, đầu tư nước ngoài vào VN giảm từ 4 tỷ đô la năm 1998 xuống còn 1,48 tỷ năm 1999.

LKP không muốn cải tổ doanh nghiệp quốc doanh cùng những lời phát biểu ý thức hệ của ông khiến ông bị kết án là bảo thủ và ngả về Trung Quốc. Tại Hội nghị Bắc Kinh, Lê Khả Phiêu nhượng bộ Trung Cộng về sự phân định vịnh Bắc Bộ không có sự chấp thuận trước của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương và cả Bộ ngoại giao. Phiêu không tôn trọng những người đã đưa ông lên làm lãnh đạo, năm 1997 ông lên giữ chức Tổng bí thư chủ yếu là do Lê Đức Anh bảo trợ.

Tháng 4-2001 ban cố vấn gồm Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh đã gây sức ép buộc Lê Khả Phiêu phải ra đi. Phiêu đã tính bãi bỏ chức cố vấn nhưng họ đã ra tay trước, ông ta không có quan hệ tốt với các ủy viên Bộ chính trị, xì căng đan nghe lén, và bị cáo buộc quá thân Tầu.

Hệ thống chính trị CSVN đã thay đổi, trước đây thế hệ lãnh đạo có các quan hệ bảo trợ (tức tay chân thân tín) và quan hệ rộng trong ba lãnh vực đảng, quân đội và nhà nước. Thế hệ lãnh đạo gần đây không sở hữu một hệ thống quyền lực như thế. Lê Khả Phiêu không mạnh như Lê Duẫn nên đã bị hạ bệ, ông ta không củng cố được một nền móng quyền lực mạnh.

Nông Đức Mạnh

Ông làm Chủ tịch quốc hội từ 1992-2001, sinh ngày 11-9-1940 tại xã Cường Lợi, Bắc Kạn, xuất thân nông dân, dân tộc Tày.
Mạnh tham gia cách mạng từ 1958, vào đảng CS ngày 5-7-1963, từ 1958-1961 học trường trung cấp Nông lâm Hà Nội. Hai năm sau ông làm công nhân lâm nghiệp ty lâm nghiệp Bắc Kạn. Năm 1967-1971 Mạnh du học về lâm nghiệp tại Leningrad Liên sô. Năm 1972-1973 ông về nước làm Phó ban thanh tra ty lâm nghiệp, năm 1973-1974 làm Giám đốc lâm trường Phú Lương, năm 1974-1976 theo học trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Năm 1976-1978 Mạnh làm Tỉnh ủy viên, trưởng ty lâm nghiệp Bắc Thái, năm 1980-1984 làm Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch ủy ban nhân dân Bắc Thái, từ 1984-tháng 10/1986 giữ chức Chủ tịch ủy ban nhân dân Bắc Thái.

Từ tháng 11-1986 tơi tháng 2-1989 Mạnh giữ chức Tỉnh ủy Bắc Thái, Ủy viên dự khuyết trung ương đảng, tháng 3 -1989 tại Hội nghị BCH trung ương khóa 6, Mạnh được vào Ủy viên chính thức trung ương đảng. Tháng 11-1989 được bầu bổ sung đại biểu quốc hội. Tháng 6-1991,tại Đại hội 7 Trung ương đảng, Mạnh được bầu vào Bộ chính trị. Tháng 9-1992 Nông Đức Mạnh được bầu làm Chù tịch quốc hội khóa 9, tháng 9-1997 Chủ tịch quốc hội khóa 10, tháng 1-1998 được phân công thường vụ Bộ chính trị.
Tháng 4-2001, tại Đại hội toàn quốc khóa 9 Nông Đức Mạnh được bầu vào BCHTƯ và Tổng bí thư Ban CHTƯ. Tháng 4-2006, tại Đại hội 10, Mạnh lại được bầu làm Tổng bí thư đảng.

Có tin đồn Nông Đức Mạnh là con không chính thức của Hồ Chí Minh và Nông Thị Trưng (1920-2003) đã là quản gia của “bác” những năm 1941, 1942, chuyện này có thể là lý do ông được đưa lên ngôi vị Tổng bí thư. Một tờ báo tóm lược thân thế Nông Đức Mạnh sau khi ông này được giữ chức Tổng bí thư, bà Trưng được coi là mẹ ông.

Ngày sinh trong tiểu sử chính thức của NĐM là 11-9-1940 khi ấy ông Hồ còn ở bên Tầu, về VN tháng 2-1941 và gặp bà Trưng tháng 7-1941. HCM có làm một bài thơ tặng cho Trưng năm 1944 và tặng bà này một cuốn sổ, ông đề một hàng chữ “Tặng cháu Nông Thị Trưng để chúc cháu học tập tốt”. Bài thơ ấy sau được dậy cho các học sinh tiểu học. Tháng 4-2001 một ký giả hỏi ông trong một cuộc họp báo xin ông xác nhận lời đồn thì ông đáp: “Mọi con dân VN đều là con cháu bác Hồ”. Tháng giêng năm 2002, một ký giả của báo Time Asia lại hỏi ông về tin đồn này, ông phủ nhận không phải là con của bác Hồ và cha ông tên là Nông Văn Lai, mẹ ông Hoàng Thị Nhị.

Trong bài VN từ 1990, William S. Turley có nói về Nông Đức Mạnh: (Lê Khả Phiêu) bất lực vì tham nhũng và tăng trưởng trì trệ khiến các nhà lãnh đạo quyết định thay Lê Khả Phiêu bằng Nông Đức Mạnh vào tháng 4-2001. Ông này bắt tay vào việc bài trừ tham nhũng, hội nhập nhiều hơn vào kinh tế toàn cấu. Tổng sản lượng (GDP) lại tăng mạnh, giao thương với Mỹ được tái lập. Cuối năm 2006, VN được chấp thuận trở thành hội viên thứ 150 của WTO, tổ chức thương mại quốc tế kể từ tháng giêng 2007.

Nguyễn Tấn Dũng

Thủ tướng đương nhiệm CSVN, ông là Thủ tướng nhiều quyền lực nhất của CSVN từ trước đến nay. Trước đây đảng chỉ huy nhà nước, nhưng dần dần trong cơ chế CSVN đảng nới bớt sự kiểm soát chính phủ, vai trò chỉ đạo của đảng đã mờ nhạt dần.

Dũng sinh ngày 17-11-1949 tại cà Mâu, còn gọi là Ba Dũng. Năm 1961 tham gia bộ đội, làm liên lạc viên, rồi cứu thương, y tá, y sĩ. Các chức vụ đã giữ: tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó, ngày 10-6-1967 gia nhập đảng lao Động VN. Năm 1969 Dũng cấp bực trung úy, đã thoát chết trong một trận càn quét của địch tại Cà Mâu. Ngày 30-4-1975, Ba Dũng cấp bậc trung úy, chính trị viên đại đội quân y Rạch Giá. Sau 1975, Ba Dũng giữ các cấp bậc chức vụ Thượng úy, chính trị viên tiểu đoàn, Đại úy, chủ nhiệm chính trị trung đoàn, Thiếu tá, trưởng ban cán bộ Kiên Giang.

Tháng 10-1981, Ba Dũng phục viên (giải ngũ) tham gia chính trị, giữ các chức vụ Tỉnh ủy Kiên Giang, Bí thư đảng ủy quân sự Kiên Giang. Tháng 1-1995 Ba Dũng giữ chức Thứ trưởng bộ nội vụ, được bầu Ủy viên trung ương đảng tại đại hội lần 6 (1986) và lần 7 (1991). Ngày 1-7-1996 ông được bầu làm Ủy viên bộ chính trị, Bí thư BCHTƯ, Trưởng ban kinh tế trung ương.

Tháng 9-1997 Đại biểu quốc hội khóa 10, Thủ tướng PhanVăn Khải cử NTDũng làm Phó thủ tướng, Chủ tịch hội đồng tài chính. Tháng 5-1998 Quốc hội thông qua cử Ba Dũng làm Tống đốc ngân hàng nhà nước và giữ chức vụ này cho tới 1999. Ngày 16-5-2006 Thủ tướng Phan Văn Khải đề cử Nguyễn Tân Dũng thay ông ta tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội ngày 27-6-2006 và ông được bầu làm tân Thủ tướng trẻ nhất trong 20 năm trước đó. Ngày 25-7-2007, kỳ họp Quốc hội khóa 12 Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục được ủng hộ bầu làm Thủ tướng với tỷ lệ 96,96%. Ngày 26-7-2011 Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử Thủ tướng nhiệm kỳ 2 tại kỳ họp Quốc hội thứ 13 với tỷ lệ 94%.

Về đối ngoại, Nguyễn Tân Dũng là một nhân vật cải cách, VN trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế Quốc tế WTO. Trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008-2009, lạm phát tại VN cao nhất khu vực 25%. Nguyễn Tấn Dũng đã thông qua gói kích cầu 8 tỷ đô la nhưng bị coi là thất bại không đạt mục đích, các khu vực không khởi sắc ngoại trừ thị trường chứng khoán. Thâm hụt ngân sách lên 8% so với 5% năm 2008. Tới 2010 ảnh hưởng tệ hại hơn: bội chi ngân sách báo động, dự trữ ngoại hối quá thấp, bất ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát tăng cao, chính sách thắt chặt tiền tệ gây khó khăn kinh tế, Quĩ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng thế giới WB đề nghị VN thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô. Ngày 20-10-2012 Nguyễn Tấn Dũng xin lỗi trước Quốc hội về những yếu kém, khuyết điểm của chính phủ trong sự lãnh đạo, quản lý, điều hành.

Ngày 11-6-2009 lần đầu tiên một Thủ tướng của CSVN bị thưa kiện, Luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện ông Dũng vi hiến về ký quyết định khai thác quặng bauxite ở Tây nguyên VN vì có luật bảo vệ môi trường nhưng tòa án Hà Nội đã bác đơn kiện này.

Trong nhiệm kỳ đầu của Nguyễn Tấn Dũng kinh tế bị bất ổn nghiêm trọng gồm nhiều rủi ro suy thoái, kinh tế VN bất ổn nhiều so với các nước trong khu vực. Nguyễn Tấn Dũng bị đặt câu hỏi về khả năng quản lý kinh tế, trước khi ông ta làm Thủ tướng (năm 2006) tốc dộ tăng trưởng khả quan như sau:

7,08% năm 2002, 7,34% năm 2003, 7,79% năm 2004 và 8,44% năm 2005. Khi Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng Tổng sản lượng quốc gia giảm mạnh: năm 2007 đạt tỷ lệ 8,23%, năm sau 2008 tỷ lệ xuống 6,31%, năm 2009 xuống còn 5,32%, năm 2010 tăng chút đỉnh 6,78%, năm 2011 khoảng hơn 5% . Lạm phát tăng cao nhất châu Á, đời sống nhân dân khó khăn, mức thu nhập giai đoạn 2008-2010 tăng bình quân 9,3% nhưng lạm phát lên cao 40%. Nguyễn Tấn Dũng phá giá tiền tệ 4 lần trong vòng 14 tháng tính tới ngày 13-2-2011.

Trong kỳ họp Quốc hội khóa 13 Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận có sai lầm trong quản lý kinh tế. Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Đại sứ VN tại Trung Cộng (1974-1987) chỉ trích Dũng không không có năng lực quản lý xã hội, kinh tế, các tập đoàn kinh tế Vinashin, Vinalines … đã thất thoát hằng nghìn tỷ của nhân dân. Nguyễn Trọng Vĩnh cũng chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng độc đoán, độc tài.

Từ một sĩ quan cấp úy năm 1975 Nguyễn Tấn Dũng đã leo lên đỉnh cao quyền lực, một phần vì cơ chế chinh trị đổi thay, đảng không còn chỉ huy nhà nước mạnh như xưa. Vai trò của đảng bị lu mờ, lịch sử sang trang, nay việc kết nạp đảng viên khó khăn, đảng đã phải tổ chức vũ sexy khêu gợi mà vẫn ế khách. Theo nhận xét của William S. Turley (trong bài VN từ 1990) thì hiến pháp mới (CSVN) năm 1992 như một bước tiến về việc đảng nới lỏng sự kiểm soát chính quyền (… a new constitution enacted in 1992 was seen as a step toward loosening party control of the government…) . Ngoài ra một phần do Ba Dũng khôn ngoan cài đặt tay chân thân tín vào trong bộ máy công an và quân đội mà danh từ CS gọi là người bảo trợ.

Giống như Đặng Tiểu Bình thập niên 70, 80, 90 trước đây dù chỉ là Phó thủ tướng, Phó chủ tịch đảng nhưng thực sự năm vận mệnh nước Tầu, Nguyễn Tấn Dũng là người lãnh đạo đất nước CSVN hiện nay mặc dù ông ta không phải là Chủ tịch nước hay Tổng bí thư đảng. Theo trang mạng Dân Làm Báo, ông Ba đang cài đặt thân tín bộ hạ tại các địa phương để đoạt nhiều phiếu trong kỳ Đại hội tới và sẽ nắm luôn chức Tổng bí thư cũng như Chủ tịch nước.

Nay Tổng Sản lượng quốc gia VN trong khoảng từ 180-187 tỷ, đứng vào khoảng từ thứ 55-57 (9) trên thế giới, tăng trưởng kinh tế khoảng 6% năm 2014, 2015. Lợi tức đầu người khoảng 2000 đô la một năm (10) (gần bằng 1/3 lợi tức Tầu), đứng thứ khoảng từ 130-138 trong số 180 nước trên thế giới. VNCS hiện là một nước nghèo đói lạc hậu, sản xuất cũng như xuất cảng còn yếu kém, trên thực tế chỉ làm gia công cho các nước đầu tư. Các nguồn lợi chính là tiền Việt kiều gửi về khoảng 13 tỷ đô la một năm (con số do nhà nước đưa ra) khai thác dầu khí, tài nguyên thiên nhiên, đầu tư nước ngoài, dịch vụ….Mặc dù được quốc tế trợ giúp nhiều nhưng giới lãnh đạo phí phạm tài nguyên, tham nhũng, quản lý tồi khiến cho nền kinh tế lụn bại không khá nổi.

So với các nước lân bang tại Đông nam Á về mặt kinh tế, người ta ước lượng nước VNCS sẽ phải mất khoảng từ 15 tới 20 năm để theo kịp Đại Hàn, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông…và khoảng 10 năm để theo kịp Thái Lan, Mã lai.. cũng như khoảng 7 năm để theo kịp Phi luật Tân, Nam Dương…Hiện nay mức sống còn thua cả Miên, Lào.

Tài sản tập trung tay một số người mà hầu hết là các viên chức, đảng viên cao cấp, những người này sở hữu hằng tỷ đô la gồm tiền ký gửi tại ngoại quốc, đất đai, khách sạn, cơ sở dịch vụ, xí nghiệp…. Những người có mức sống cao đa số đảng viên hoặc có liên hệ họ hàng với cán bộ. Tại Đông Nam Á nay chưa có nước nào chênh lệch giầu nghèo ghê tởm như tại nước Xã hội chủ nghĩa (giả hiệu) VN. Nhà giầu không ai khác hơn là các nhà tư sản đỏ, đảng viên, họ kinh doanh làm ăn lớn rồi chuyển những số tiền khổng lồ ăn cắp của nhân dân ra nước ngoài.

Ví như khi ta gửi 100 đô la qua dịch vụ cho thân nhân ở VN, không phải rằng họ đưa số tiền đó về nước mà họ sẽ lấy số tiền tiền này tại VN đưa cho thân nhân ta và số tiền ta gửi sẽ được đưa vào trương mục của tư sản đỏ tại Mỹ. Nước mưa xuống suối lại xuôi về nguồn, người Mỹ vừa được tiếng nhân đạo, họ lại chẳng mất gì. Con cháu Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẫn, Nguyễn Tấn Dũng…đều được du học bên Nga, Âu Mỹ, họ toàn là phú gia địch quốc, con rể Ba Dũng mới mua đội banh hai trăm triệu đô tại Mỹ.

Phó GS Tiến sĩ Đào Công Tiến đã giảng “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tiến tới mục tiêu con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, đạt được cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc; nhân dân lao động làm chủ.

Hoàn toàn láo khoét, chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ bóc lột, áp bức kinh tởm nhất trong lịch sử nhân loại, hồi xưa tại miền nam người ta hay nhắc câu ngạn ngữ:

“Bọn thực dân, phong kiến, tư bản làm thịt lợn chúng ăn thịt nạc, nhân dân còn có miếng xương mà gặm, thằng Cộng sản nó ăn cả cứt, nhân dân không có đến một miếng xương”

Cương lĩnh 1991 của Đảng khẳng định rõ xã hội XHCN là một xã hội có nền kinh tế phát triển cao; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhưng trên thực tế đạo đức xã hội VN nay hoàn toàn băng hoại, đĩ điếm trộm cướp, xì ke ma túy… tràn lan khắp nơi. Người ta ước lượng một khi chế độ CS sụp đổ, phải mất vài thế hệ mới xây dựng lại xã hội lành mạnh như trước.
Hình thành 1945, CSVN sống sót và lớn mạnh từ khi Mao chiếm được Hoa Lục 1949, 50. Họ đã làm đổ quá nhiều xương máu của nhân dân để theo tiến lên chủ nghĩa xã hội chết đói, nay quay đầu lại kinh tế tự do.

Nhiều người nói Việt Nam xấu hổ vì có đảng Cộng sản

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

—————————————————————-
(9) List of countries by GDP (nominal), Wikipedia
(10) List of countries by GDP (nominal) per capita Wikipedia

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Uncategorized, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

► ‘Việt – Trung và Giải pháp Đỏ’

Posted by hoangtran204 trên 03/07/2015

Tư liệu: ‘Việt – Trung và Giải pháp Đỏ’

1-7-2015

bbc.com/vietnamese

Để cung cấp thêm một góc nhìn vào các diễn biến dẫn tới bình thường hóa quan hệ Việt – Trung và hội nghị Thành Đô 3-4/09/1990, BBC xin giới thiệu phần tư liệu từ cuốn Hồi ký của nhà ngoại giao Trần Quang Cơ (1927-2015):

Những biến động lớn trong tình hình thế giới bên ngoài lúc này đã tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ của lãnh đạo ta về phương hướng chiến lược đối ngoại.

null
TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu phái đoàn VN sang Thành Đô 3-4/09/1990

Cuộc khủng hoảng chính trị tại nhiều nước theo chế độ XHCN đã bùng nổ từ năm 1989 và đang có chiều hướng lan rộng ra.

Tháng 6.89 xảy ra vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, Hung, Tiệp, Ba Lan đều đã sụp đổ.

Đầu tháng 10.89, TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ, Honecker bị lật…

Trước tình hình ấy, trong nội bộ lãnh đạo ta đã nảy sinh những ý kiến khác biệt trong nhận định về sự kiện Thiên An Môn cũng như về những biến đổi dồn dập tại các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô.

Nổi lên là ý kiến nhấn mạnh mặt XHCN của Trung Quốc, phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, để chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác. Chính điều đó đã tạo nên bước ngoặt khá đột ngột trong thái độ của ta đối với Trung Quốc…Lào cũng đã thoả thuận trao đổi đại sứ trở lại với Trung Quốc và bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, đánh dấu bằng cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của Kayson Phomvihan, TBT Đảng NDCM Lào, tháng 10.89.

Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7.10.89 ở Bắc Kinh mà Đặng Tiểu Bình đã bộc lộ rõ phần nào những tính toán sâu xa của mình đối với Việt Nam:

“Phân hoá Việt -Lào, Việt – Campuchia, Việt – Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng: Việt Nam đã có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh còn sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam.

Lúc đầu Trung Quốc cho là vì Brezhnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ý đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc vì Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương…”

Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Đặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Đặng kể lại khi làm TBT Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 1963, đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, khen anh Linh là “người tốt, sáng suốt và có tài”; nhờ Kayson chuyển lời hỏi thăm anh Linh; khuyên Nguyễn Văn Linh nên giải quyết dứt khoát vấn đề Campuchia, nếu làm được việc này thì sẽ khôi phục được uy tín của Việt Nam.

Cho đây là việc Việt Nam phải làm, vì những gì Việt Nam đang làm là sai lầm; mong muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trước khi ông ta nghỉ hưu… Về điều kiện bình thường hoá quan hệ Trung – Việt, Đặng nhấn mạnh Việt Nam phải rút hết quân, rút triệt để, rút thật sự khỏi Campuchia thì sẽ có bình thường hoá quan hệ (tuy lúc đó ta đã kết thúc đợt rút quân cuối cùng khỏi Campuchia từ ngày 26.9.89).

Theo thông báo của đại sứ Lào tại Trung Quốc, trong 70 phút nói chuyện với Kayson, Đặng nói về Việt Nam và quan hệ Trung – Việt tới 60 phút.

Ngày 21.10.89 Bộ Chính trị ta đã họp để nhận định về phát biểu của Đặng Tiểu Bình khi tiếp Kayson cuộc họp đã đi đến kết luận là:

“Trong lúc Trung Quốc đang còn găng với ta, ta cần có thái độ kiên trì và thoả đáng, không cay cú, không chọc tức nhưng cũng không tỏ ra nhún quá. Cần tiếp tục thực hiện đường lối Đại hội VI và Nghị quyết 13 của BCT, cần thấy cả mặt XHCN và mặt bá quyền nước của Trung Quốc. Trong khi cố kéo Trung Quốc, ta cần đồng thời hoạt động trên nhiều hướng; củng cố kết chặt chẽ với Lào; phân hoá Mỹ, phương Tây, ASEAN với Trung Quốc.”

null
Vụ Thiên An Môn tác động mạnh đến tư duy của Hà Nội

Theo phương hướng đó, ngày 6.11.89, anh Thạch đã chuyển qua đại sứ Trung Quốc thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu Bình, ngỏ ý mong sớm có bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ba tuần sau, anh Thạch lại gửi thư cho Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp ngày 6/11 và đề nghị phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng ngoại giao tại Hà Nội hoặc Bắc Kinh trong tháng 12.89. Nhưng Trung Quốc không trả lời thông điệp của TBT ta lẫn thư của anh Thạch.

Vấn đề Campuchia

Mãi đến ngày 12.12.89, Đại sứ Trung Quốc mới gặp anh Thạch chuyển thông điệp miệng của Trung Quốc trả lời TBT Nguyễn Văn Linh, vẫn đặt điều kiện cho việc nối lại đàm phán với ta:

“Đồng chí Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo khác của Trung Quốc chân thành mong muốn sớm bình thường hoá quan hệ Trung – Việt. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu làm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện. Việc khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa có thể cải thiện nếu bỏ qua vấn đề Campuchia.

Đồng chí Đặng Tiểu Bình có nêu ra là việc Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để và việc Campuchia lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía Trung Quốc sẵn sàng suy xét đề nghị của Việt Nam về việc mở vòng thương lượng mới ở cấp thứ trưởng nếu Việt Nam chấp nhậnmột cơ chế giám sát quốc tế do LHQ chủ trì có 4 bên Campuchia tham gia để kiểm chứng việc rút quân Việt Nam và lập chính phủ bốn bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kỳ quá độ.”

Ngày 11.11.89, BCT họp bàn và thông qua đề án đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia. Trên cơ sở đánh giá tình hình quân sự, chính trị trên chiến trường và xu thế chung trên thế giới, ta chủ trương cần phấn đấu đạt một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. Để ra 4 phương án về cơ quan quyền lực ở Campuchia trước tổng tuyển cử. Phương án thấp nhất là giữ nguyên bộ máy của hai chính phủ đang tồn tại, lập chính phủ liên hiệp hai bên ở trung ương để tổ chức tổng tuyển cử và thực hiện những điều thoả thuận.

Ngày 2.12.89, anh Thạch sang bàn với BCT Campuchia, phân tích chiến tranh ở Campuchia là một cuộc nội chiến, Việt Nam không thể đưa quân trở lại (4 ngày sau khi Việt Nam rút quân đợt cuối, lực lượng Son San đã đánh chiếm Thmar Ponk; ngày 22.10.89, Khmer Đỏ đánh chiếm Pailin và uy hiếp thị xã Battambang, theo yêu cầu của Bạn, ta phải đưa lực lượng đặc biệt lên giúp), nói kỹ về tính chất quốc tế của vấn đề Campuchia và xu thế trên thế giới. Bàn với Bạn cần đấu tranh để đạt một giải pháp chính trị để giành giật thắng lợi từng bước. BCT Bạn hoàn toàn nhất trí và thấy cần sử dụng vai trò LHQ như sáng kiến của Ngoại trưởng Úc G. Evans ngày 24.11.89.

Cuộc họp BCT ta ngày 6.12.89 đã bàn về sáng kiến của Úc và nhất trí về việcsử dụng vai trò LHQ. Sau khi trao đổi, BCT Campuchia hoàn toàn đồng ý với ý kiến của BCT ta. Từ ngày 10-25.1.90, Bạn triệu tập Hội nghị TƯ 10 để bàn đi vào giải pháp chính trị. Ngày 18.1.90, quốc hội Campuchia đã thông qua việc để LHQ tổ chức tổng tuyển cử, uỷ quyền cho Hunxen đàm phán về vấn đề này.

Việc ta và Bạn Campuchia chấp nhận sử dụng vai trò LHQ và xem xét sáng kiến của Úc để giải quyết vấn đề phân chia quyền lực bị bế tắc ở Hội nghị quốc tế Paris đã thúc đẩy mạnh mẽ các diễn đàn bàn về vấn đề Campuchia: cuộc họp IMC ở Jakarta ngày 26.3.90, các cuộc họp P5, cuộc họp Hun Sen-Sihanouk vòng 6 ở Bangkok ngày 22.2.90

Từ 26.2 đến 1.3.90 tại thủ đô Indonesia đã họp Hội nghị không chính thức về Campuchia (IMC).

Dự họp ngoài các bên Campuchia, Việt Nam, Lào và 6 nước ASEAN (như họp JIM), còn có thêm đại diện Tổng Thư ký LHQ, Pháp và Úc. Hội nghị không ra được tuyên bố chung vì Khmer Đỏ dùng quyền phủ quyết.

Thất bại của Mặt trận Giải phóng Sandino trong cuộc tổng tuyển cử ở Nicaragua ngày 25.2.90 và thất bại của cuộc họp IMC về vấn đề Campuchia ở Jakarta ngày 28.2.90 đã tác động mạnh vào lãnh đạo ta về phương hướng giải quyết vấn đề Campuchia.

Ngày 8.3.90, cố vấn Lê Đức Thọ cho gọi tôi và anh Đinh Nho Liêm đến nhà riêng ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân nói mấy ý kiến về vấn đề Campuchia:

“Cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề Campuchia. Phải giải quyết với Trung Quốc, nếu không thì không giải quyết được vấn đề Campuchia. Không thể gạt Khmer Đỏ. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, có thể nói “không để trở lại chính sách sai lầm trong quá khứ”. Không chấp nhận LHQ tổ chức tổng tuyển cử. Cần nêu phương án lập chính phủ liên hiệp lâm thời hai bên bốn phái để tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề Campuchia trước Đại hội VII để khai thông những vấn đề khác.”

Hai hôm sau anh lại nói với Nguyễn Cơ Thạch những ý đó. Sự việc này khiến tôi suy nghĩ: tại sao lại thay đổi phương hướng đối sách trước khi đại hội Đảng họp ? Tại sao lại chỉ nói với anh Thạch sau khi đã nói với chúng tôi?

Từ ngày 8-20.3.90, Heng Somrin nghỉ ở Hà Nội, có dịp gặp gỡ TBT Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Lê Đức Thọ, Cố vấn Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh trao đổi về tình hình Liên Xô Đông Âu, Nicaragua và tất nhiên về tình hình Campuchia. TBT Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói cần phải cảnh giác với LHQ, không thể để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Từ đấy Bạn Campuchia chuyển sang phương án SNC tổ chức tổng tuyển cử, không tán thành để LHQ tổ chức tổng tuyển cử nữa. Sau này, ngày 11.8.90, khi nhắc lại vấn đề này, Hun Sen than phiền với anh Ngô Điền, Đại sứ ta ở Phnom Penh:

“Khi anh Heng Somrin đi nghỉ ở Hà nội, đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh gặp anh Heng Somrin tỏ lo ngại về việc sử dụng vai trò LHQ. Anh Heng Somrin về nói lại cái này. Tôi có nói là giao cho LHQ có mặt phức tạp nhưng giao cho SNC phức tạp hơn vì nó có hệ thống, người nhiều mà ta còn phải lo đối phó với cả LHQ nữa. Cái này làm tôi rất khó. Quyết định của hai đồng chí TBT làm tôi rất khó. Không nên để có ý kiến khác nhau giữa TBT và Thủ tướng. Tôi phải làm theo ý kiến nhất trí… Việc sử dụng vai trò LHQ hay SNC là bộ phận quan trọng của quyết định chiến lược có đi vào giải pháp chính trị hay không. Dùng SNC rất phức tạp. Campuchia không đủ người và khả năng tham gia các uỷ ban của SNC để đối phó với bọn kia.” Hun Sen còn cho biết ngày 20-21.5.90, khi 3 TBT Việt Nam, Lào, Campuchia gặp nhau tại Hà nội nhân dịp 100 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, bàn việc không để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia, TBT Đảng Lào Kayson băn khoăn điều này và nói: “ Ta nhận rồi ta lại thôi. Ta trèo cao rồi, nếu tuột xuống dễ ngã đau”.

Đến ngày 3.4.90, Trung Quốc đột nhiên lại biểu thị hoan nghênh việc thứ trưởng Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh “kiểm tra sứ quán” và công bố tin Trung Quốc sẽ đàm phán với thứ trưởng ngoại giao Việt Nam về vấn đề Campuchia.

Lúc này CP 87 đã giải thể. Các thành viên thường trực của CP 87 đều đã được bổ nhiệm đi nhận các trọng trách ở nước ngoài.

Anh Đặng Nghiêm Hoành đã nhận quyết định đi Đại sứ ở Trung Quốc. Anh Trần Xuân Mận nhận chức Đại sứ ở Angiêri. Anh Nguyễn Phượng Vũ trên đường đi nhận chức Đại sứ ở Philipinnes, đã chết trong tai nạn máy bay trên bầu trời Thái Lan.

Thay vào đó, Bộ Ngoại Giao đã lập Nhóm ad-hoc về giải pháp Campuchia với nhiệm vụ cụ thể hơn vì vấn đề Campuchia đã đến lúc giải quyết. Nhóm vẫn do tôi phụ trách, có các anh Trần Huy Chương, Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Nguyễn Can tham gia.

Nhóm nghiên cứu giải pháp Campuchia chúng tôi nhận định có mấy lý do đã khiến Trung Quốc mềm mỏng hơn trong thái độ đối với Việt Nam về vấn đề Campuchia:

  • Quan hệ Mỹ – Xô đang có chuyển động mạnh. Chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12.89 đến tháng 5.90, đã có 2 cuộc gặp cấp cao Xô Mỹ. Trong khi đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây chậm khôi phục sau vụ Thiên An Môn.
  • Giữa Trung Quốc với Mỹ, ASEAN, phương Tây đang nảy sinh những mâu thuẫn mới về vấn đề Campuchia, chủ yếu trong vấn đề đối xử với Khmer Đỏ. Trong các cuộc họp 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An tháng 2 và tháng 3.90, Trung Quốc ở thế bị cô lập đã buộc phải có nhân nhượng và phải chấp nhận vai trò lớn của LHQ.
    null
    LHQ đóng vai trò đem các lãnh đạo Khmer Đỏ ra xét xử
  • Đàm phán Sihanouk – Hunxen có tiến triển. Ngày 9.4.90 Sihanouk có phần nhượng bộ khi đưa ra 9 điểm giải pháp, nhận lập Hội đồng Dân tộc Tối cao (SNC33) gồm số đại diện bằng nhau của hai chính phủ, 6 của Chính phủ Phnom Penh và 6 của “Chính phủ Campuchia Dân chủ” như Hun Sen đề nghị; không đòi giải tán Nhà nước Campuchia (SOC), tuy đòi thực quyền cai quản Campuchia trong thời kỳ quá độ phải là cơ cấu quyền lực của LHQ.

Ngày 10.4.90, BCT họp bàn phương hướng thúc đẩy giải pháp chính trị vấn đề Campuchia. Đề án đấu tranh sách lược về vấn đề Campuchia do Bộ Ngoại Giao dự thảo: dùng công thức LHQ nói về vấn đề diệt chủng và cho Khmer Đỏ vào chính phủ liên hiệp Campuchia, nhận vai trò Sihanouk. BCT thấy không nên giao cho LHQ tổ chức tổng tuyển cử mà nên trở lại phương án 4 mà BCT thông qua ngày 6.12.89 (lập chính phủ liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử.)

Đại đa số BCT đồng ý. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu.

Bảo vệ chủ nghĩa xã hội

TBT Nguyễn Văn Linh có ý kiến:

“Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ CNXH, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa 2 nước. Các vấn đề khác giải quyết sau… một Campuchia thân thiện với Trung quốc, thân thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề Campuchia có lợi cho Campuchia… Phương án 4 là tốt. Không để LHQ nhúng tay vào vì LHQ là Mỹ, Thái Lan là Mỹ”.

Riêng Nguyễn Cơ Thạch nói rõ quan điểm của Bộ Ngoại giao là cần tranh thủ Trung Quốc, song đồng thời phải chuẩn bị có 3 khả năng về thái độ của Trung Quốc.

khả năng 1: Trung Quốc cùng ta bảo vệ chủ nghĩa xã hội;

khả năng 2: Trung Quốc cấu kết với Mỹ chống ta như trước;

null
Đặng Tiểu Bình ‘bình thường hóa quan hệ’ với VN để tranh thủ Mỹ là chính

khả năng 3: Trung Quốc vừa bình thường hoá quan hệ với ta, vừa tranh thủ Mỹ, Phương Tây là chính.

Lúc đó tôi có cảm giác nhiều uỷ viên BCT không tán thành quan điểm này vì đã có định hướng “cùng Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc”.

Ngày 16.4.90, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị theo hướng sớm làm lành với Bắc Kinh, anh Nguyễn Cơ Thạch đi PhnomPenh gặp bốn người chủ chốt trong BCT Campuchia: Heng Somrin, Chea Sim, Hun Sen và Sor Kheng để cố thuyết phục bạn nên tính tới bước sách lược về vấn đề diệt chủng và không gạt Khmer Đỏ.

Nhưng Bạn Campuchia không đồng ý và tỏ ra muốn giữ đường lối độc lập trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, không muốn ta đàm phán với Trung Quốc về các vấn đề nội bộ của Campuchia. Bạn tỏ ra rất găng về vấn đề diệt chủng, nói nếu bỏ ta sẽ không còn vũ khí gì chống lại các luận điệu của đối phương vu cáo “Việt Nam xâm lược Campuchia”, “chính quyền PhnomPenh do Việt Nam dựng lên”. Hơn nữa chính lúc này phương Tây lại đang khơi lên vấn đề lên án diệt chủng.

Phải nhận rằng ta khuyên bạn Campuchia đi vào “Giải pháp Đỏ” (từ năm 1987), việc ta thuyết phục Bạn chấp nhận vai trò của LHQ (tháng 12.89) rồi lại bảo Bạn bác vai trò của LHQ (tháng 3.90), khuyên Campuchia đi vào phương án 4 (lập chính phủ liên hiệp 2 bên) (tháng 4.90) đã gây nghi ngờ trong lãnh đạo Campuchia đối với Việt Nam. Việc lãnh đạo Campuchia không chấp nhận gợi ý của BCT ta trong cuộc hội đàm ngày 17.4.90 đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ Việt Nam-Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia.

Ngày 2.5.90 dưới danh nghĩa “đi kiểm tra sứ quán”, anh Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh để có cuộc “trao đổi ý kiến không chính thức” với Trung Quốc. Lần này đối tác không phải thứ trưởng Lưu Thuật Khanh mà là trợ lý bộ trưởng Từ Đôn Tín. Phụ tá cho anh Liêm là anh Đặng Ngiêm Hoành, lúc này đã là đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc từ tháng 2.90. Cuộc đàm phán có vài tiến triển nho nhỏ.

null
Campuchia ngày nay đã có tổng tuyển cử đa đảng

Nội dung cuộc trao đổi ý kiến chủ yếu về vấn đề Campuchia. Ta tỏ ra mềm dẻo hơn, nói có thể trao đổi ý kiến về một giải pháp toàn bộ, nhưng không thể quyết định về các vấn đề nội bộ Campuchia. Từ nhắc lại lời Đặng: Để giải quyết vấn đề Campuchia cần phải thực hiện 3 điểm: một là, Việt Nam thực sự rút quân, rút “sach sẽ, triệt để”, đó là tiền đề cho việc giải quyết vấn đề Campuchia; hai là, sau khi Việt nam rút quân, 4 bên Campuchia cần thực hiện liên hiệp; ba là, chính phủ liên hiệp phải do hoàng thân Sihanouk đứng đầu, Polpot không được mà Hun Sen cũng không được. Nếu những vấn đề trên được giải quyết thì có thể nói là chúng ta đã kết thúc quá khứ, tiếp đó sẽ mở ra tương lai.

Lần này phía Trung Quốc đi vào những vấn đề thuần tuý nội bộ của Campuchia, đòi ta đàm phán về phạm vi quyền lực của SNC và về việc xử lý quân đội “4 bên” Campuchia. Về vấn đề chính quyền Campuchia trong thời kỳ quá độ (từ khi Việt Nam rút hết quân đến khi tổng tuyển cử), Từ nói Trung Quốc thấy tốt nhất là thành lập một chính phủ liên hiệp 4 bên – gọi là Hội đồng Dân tộc Tối cao cũng được – băng không thì phải chọn phương án giao quyền cho LHQ. Chính quyền thời kỳ quá độ này phải bao gồm cả 4 bên Campuchia (với hàm ý Khmer Đỏ được chính thức coi là một bên tham chính) mới thể hiện được tinh thần hoà giải dân tộc. Nếu các đồng chí thấy nói 4 bên có khó khăn thì nói là các bên Campuchia cũng được. Không gạt một bên nào, không bên nào nắm độc quyền. Trong buổi làm việc với anh Đặng Ngiêm Hoành sáng 4.5.90, Vụ phó Trương Thanh cũng nhắc lại ý này: “Hội đồng này bao gồm đại diện của 2 chính phủ, 4 bên hay các bên Campuchia đều được.”

Từ nói: “Nếu so sánh giữa phương án chính phủ liên hiệp lâm thời do Trung Quốc đề ra và phương án LHQ quản lý thì chúng tôi vẫn thấy phương án Trung Quốc là tốt hơn”.

Về vấn đề diệt chủng, Từ nói có ý đe doạ là nếu cứ khẳng định Khmer Đỏ phạm tội thì phía bên kia sẽ nói Việt Nam là xâm lược và Phnom Penh là nguỵ quyền, cho nên, không nên nói đến vấn đề đó nữa.

Trong đàm phán, phía Trung Quốc để lộ rõ ý đồ muốn SNC thực tế sẽ thay thế chính phủ Phnom Penh; còn quân đội của Bốn bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm được chỉ định rồi giải giáp toàn bộ; ít nhất là lúc đầu giảm quân số tới mức tối đa. Mục đích là tước bỏ thế mạnh cả về chính quyền lẫn về lực lượng vũ trang của Nhà nước Campuchia.

Cách làm của Trung Quốc đúng là “một mũi tên bắn hai đích”, vừa xoá sạch thành quả cách mạng Campuchi, vừa phân hoá quan hệ Việt Nam-Campuchia.

…Đáng chú ý là Từ Đôn Tín đã gợi ý là sau khi Việt Nam và Trung Quốc nhất trí được về giải pháp Campuchia thì ba nước Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan sẽ họp lại. Điều này chứng tỏ là Thái Lan giữ một vai trò không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khmer Đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề Campuchia.

Về bình thường hoá quan hệ hai nước, phía Trung Quốc không mặn mà gì với gợi ý của ta về việc xích lại gần hơn giữa hai nước XHCN để cứu vãn sự nghiệp XHCN chung trên thế giới đang lâm nguy. Trung Quốc chỉ đặt quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chung sống hoà bình như với các nước láng giềng khác.

Phần vì tình thế thúc bách đẩy nhanh giải pháp Campuchia, phần vì hài lòng với cuộc gặp ấy, Tiền Kỳ Tham đồng ý đầu tháng 6 sẽ cử Từ Đôn Tín sang Hà nội với danh nghĩa “khách của đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội” để tiếp tục trao đổi ý kiến với ta.

Đây là lần đầu tiên trong 10 năm qua phía Trung Quốc nhận sang Hà Nội đàm phán với ta, trong khi tuyệt đại đa số các đợt đàm phán Việt – Trung đều tiến hành ở Bắc Kinh.

Đồng thời thái độ này đã được lãnh đạo ta hiểu như một cử chỉ thiện chí đặc biệt của Trung Quốc đối với Việt Nam…

Tựa của bài tư liệu do BBC đặt, từ Chương 9 ‘ĐẶNG TIỂU BÌNH TIẾP KAYSONE PHOMVIHAN ĐỂ NÓI VỚI VIỆT NAM’ trong cuốn hồi ký của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Trần Quang Cơ, người vừa qua đời hôm25/06/2015 ở Hà Nội.

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Ông Nguyễn Văn Linh: công trạng với đảng và với dân

Posted by hoangtran204 trên 01/07/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

30-06-2015

Nguyễn Văn Linh

Hôm còn ở Sài Gòn, đi trên đường thỉnh thoảng thấy hình ông Nguyễn Văn Linh (NVL) được treo khá ư trang trọng. Bây giờ mới biết là ngày mai là ngày lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Nói đến tên ông này, rất nhiều người (trong đó có tôi) nghĩ rằng ông là người rất cấp tiến, người chủ xướng phong trào “Đổi mới” cứu Việt Nam khỏi sự suy sụp về kinh tế, người cởi trói văn nghệ, v.v. Nhưng sau này biết thêm chút thì thấy tất cả những hiểu biết đó đều … sai, vì trong thực tế ông là một người rất bảo thủ.

Chẳng cần tìm chứng cứ đâu xa về tính bảo thủ của ông. Ví dụ như hôm nay, có bài “Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng” trên Vietnamnet (1), và “người” ở đây chẳng ai khác hơn là ngài NVL! Tôi hết sức ngạc nhiên khi người ta chạy cái tít hết sức bảo thủ như thế trên báo, giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó cũng là một phát biểu của vài người đang lãnh đạo đất nước hiện nay.

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên chúng ta biết được tính bảo thủ của ông NVL. Theo Hồi kí “Hồi ức và Suy nghĩ” của Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ (ông mới qua đời tuần này) thì ngay từ thập niên 1980s khi thế giới XHCN sụp đổ, ông NVL đã triệu tập Bộ Chính trị là nói rằng: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!” (2) Nói là làm. Sau đó, ông sang Tàu kí kết hiệp định Thành Đô mà cho đến nay chẳng ai biết nội dung là gì, chỉ biết ông Trần Quang Cơ nhận định rằng “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm: Giải háp Đỏ”. Còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nhận định rằng “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bô ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta” và ông cảnh báo rằng một thời Bắc thuộc thứ IV đã bắt đầu.

Trong cuốn sách “Bên thắng cuộc”, Huy Đức thuật lại rằng năm 1989, khi mà thế giới XHCN đang sụp đổ liên hoàn, thì ông NVL có một chuyến công du sang Đông Đức với mục tiêu chính là cứu vãn chủ nghĩa xã hội. Ông định nhân dịp này triệu tập một hội nghị các đảng cộng sản để cứu phong trào cộng sản quốc tế. Trong buổi họp, ông NVL gọi Gorbachev là “kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Chẳng hiểu sao lời nói đó đến tai Gorbachev, và như là một trả đũa Gorbachev tỏ thái độ khinh miệt NVL ra mặt. Khi NVL xin được tiếp kiến Gorbachev (lúc đó cũng đang có mặt ở Đông Đức) để bàn việc cứu vãn tình thế, Gorbachev cố tình cho NVL “leo cây” vài lần. Nhưng cuối cùng thì Gorbachev cũng ban cho ông Linh một ân huệ: được diện kiến ông ấy. Huy Đức viết về buổi tiếp kiến như sau:

“Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. […]

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: ‘Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh’.”

Đúng là một lời mỉa mai chẳng cần dấu giếm gì cả. Nhưng đọc đoạn Gorbachev đối xử với ông NVL mới thấy chua chát. Trong khi ông NVL nhiệt tình trình bày đại kế hoạch nhằm cứu phong trào cộng sản thì Gorbachev tỏ ra thờ ơ và lãnh đạm, và khinh thị ra mặt. Ý kiến nào của ông NVL cũng được Gorbachev phê là “rất tốt”, mà không buồn tình nói gì thêm. Khi NVL đề nghị Gorbachev đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản quốc tế, thì “Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: ‘Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!’.” Vui nhất là khi ông NVL mời Gorbachev đến thăm Việt Nam, thì “Gorbachev lại kêu lên: ‘Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước’.” Khi ông NVL đề cập xin viện trợ thì “Gorbachev xua tay, không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: ‘Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi’.” Ấy thế mà ngày hôm sau báo Nhân Dân đưa tin “cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Câu chuyện trên cho thấy ông NVL hình như không biết những diễn biến trên thế giới, nên ông vẫn nghĩ rằng có thể cứu vãn chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản. Ông không hề biết kẻ ông phê phán là “cơ hội” lại chính là kiến trúc sư đang giật sập bức tường Bá Linh. Chỉ hơn một tháng rưỡi sau khi hội kiến với ông NVL trong nỗ cứu vãn phe xã hội chủ nghĩa, ngày 25-12-1989, Tổng bí thư Nicole Ceausescu và vợ ông đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn ở Romania.

Trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức qua lời kể của những người trong cuộc mô tả ông NVL có tính hơi nhỏ mọn (3). Ít ai biết rằng ông NVL không ưa ông Võ Văn Kiệt. Khi ông NVL mất chức trong Bộ Chính trị và về sống ở Sài Gòn, ông phàn nàn rằng “Khi tôi mất Bộ Chính trị, về Sài Gòn, Sáu Dân không bao giờ gặp tôi.” Đó là một trong những lí do ông Linh không chọn ông Kiệt làm thủ tướng. Ông NVL từng nhận xét ông Kiệt như sau: “Dốt mà không chịu học. Làm Uỷ ban Kế hoạch còn không xong lấy đâu ra thủ tướng” (3). Chẳng những không ưa ông Kiệt, ông NVL còn làm hại đàn em của ông Kiệt, như cụ thể việc ông ra lệnh bắt giam ông Dương Văn Ba (4), một người từng giúp ông Kiệt trong thời chiến và sau này điều hành một công ti khai thác gỗ với Lào.

Báo chí chính thống ngày nay viết rằng ông NVL là người có công Đổi mới. Nhưng hình như ông Trường Chinh (chứ không phải NVL) mới là người đề xướng chủ trương này. Mà thật ra, cũng chẳng có gì hay ho trong việc “Đổi mới” vì đó là điều tất yếu trong bất cứ xã hội nào. Nhưng tôi nghĩ báo chí đánh giá đúng là ông NVL có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng” (5), vì rõ ràng là ông đã thành công duy trì sự lãnh đạo của đảng CS ở VN trong khi các đảng CS khác bên Đông Âu đều tiêu tan. Còn công trạng của ông NVL đối với đất nước và nhân dân — nếu có — thì nên để cho các nhà sử học sau này đánh giá công minh hơn, nhất là đến ngày mà sự kiện “Thành Đô” sẽ được bạch hoá.

____

(1) Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng (VNN).

(2) Hậu họa “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh (viet-studies).

(3) Bên Thắng Cuộc – Chương 14: Khoảng cách Linh – Kiệt (vinadia).

(4) Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ (viet-studies).

(5) Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam (VOA).

Nguon: 

GS Nguyễn Văn Tuấn

anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4225-ong-nguyen-van-linh-cong-trang-voi-dang-va-voi-dan/#more-148702 

——–

Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam

VOA

Trần Phan

28-06-2015


Bài viết này nhằm thảo luận về “đóng góp to lớn của ông Nguyễn Văn Linh đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đất nước và của miền Nam”, không đề cập tới sự đóng góp của ông Linh đối với đảng của ông. Bài viết xin nói về 1) giai đoạn kháng chiến cứu nước thời kì 1954-1975 (chống Mỹ) và 2) giai đoạn xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam từ năm 1975 tới khi ông Linh mất.     
Ngày 22/6/2015, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh ông Nguyễn Văn Linh, cố tổng bí thư đảng CSVN, tại Tp HCM, thành ủy đảng CSVN, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam Tp HCM tổ chức cuộc hội thảo có tên là “Đồng Chí Nguyễn Văn Linh với Cách Mang Miền Nam, với Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, Tp HCM” nhằm “khẳng định và tri ân những cống hiến, đóng góp to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đảng, của dân tộc, đất nước và của miền Nam”. Nhiều tham luận tại hội thảo có cùng nhận định: cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với thời kì đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến cứu nước và xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1).

Phần 1: Giai Đoạn Kháng Chiến Cứu Nước (chống Mỹ) thời kì 1954-1975

Quả thật, ông Linh có vai trò rất lớn trong cuộc cuộc “kháng chiến Chống Mỹ Cứu Nước”, cuộc chiến thường được các nhà quan sát chính trị nước ngoài gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Ông là một trong những nhà lãnh đạo cao cấp nhất tại miền Nam thời gian đó.

Cuộc kháng chiến đã đi tới thắng lợi hoàn toàn: đánh bại chế độ Miền Nam ngày 30-4-1975, thống nhất toàn bộ đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam kể từ đó.

Để xem các đóng góp của ông cho Miền Nam, cho Dân tộc lớn như thế nào, ta cần nhìn mục tiêu của cuộc chiến.

Nếu mục tiêu là Mỹ rút ra khỏi Việt Nam và chế độ Miền Nam thua trận, thì quả thật ông Linh đã lập công rất lớn và rất đẹp cho Miền Nam, cho Dân tộc.

Nếu mục tiêu là dân chúng Miền Nam ấm no và hạnh phúc, đất nước Việt Nam phát triển thì chúng ta đánh giá kết quả việc làm của ông như thế nào?

Hai mươi năm nội chiến từng ngày, nhiều tác giả, nhiều tài liệu đã nêu lên các con số kinh hoàng về người chết, về làng mạc, thành phố bị tàn phá, người viết không lặp lại đây. Chỉ biết bom đạn ngày đêm tàn phá khắp Miền Nam suốt 20 năm dài, người Việt giết người Việt với “lòng hận thù ngất trời”, rất rất nhiều gia đình có người thân ở hai bên nổ súng vào nhau. Cuộc thảm sát Huế – Mậu Thân mà tới bây giờ chính quyền còn giấu giếm cho thấy mức độ vô nhân đạo kinh hoàng của người giết người, người có súng giết người tay không, anh em, bằng hữu, xóm giềng giết nhau. Tại Huế, các chiến binh của ông Linh đã giết khoảng năm ngàn người tay không, nghe mà tưởng chuyện của thời quân Mông Cổ chiếm thành của một dân tộc khác tám thế kỉ trước! Đạo lí nào, truyền thống nào của dân tộc cho phép con dân nước Việt làm như thế? Các chính ủy của ông Linh đã tuyên truyền thế nào mà người Việt có thể căm thù người Việt tới vậy?        

Trước khi cuộc chiến mà ông Linh góp phần quan trọng lãnh đạo bùng lên, Miền Nam đang giàu có, dân chúng đang sống thanh bình no ấm. Năm 1960, GDP/người của Miền Nam tự do là 223 USD, cao gấp 3 lần con số 74 USD của Miền Bắc cộng sản.

Lúc ấy chiến tranh vừa chấm dứt vài năm, hai miền Nam Bắc vừa khắc phục hậu quả chiến tranh và bắt tay tạo dựng cuộc sống thanh bình. Thay vì dốc sức xây dựng Miền Bắc cho đời sống dân chúng khá lên, ông Linh và các đồng chí ông lại đưa cán binh Cộng sản từ Miền Bắc nghèo kém vào đánh phá Miền Nam sung túc. Hậu quả của cuộc chiến đó là kinh tế Miền Nam ngày càng tuột dốc nhanh. Miền Nam càng tuột dốc, càng tan nát, ông và các đồng chí càng phấn khởi, vui mừng. Càng gia tăng đánh phá, đào mô, phá cầu, giựt mìn, pháo kích, ám sát…

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí ông có yêu thương dân chúng Miền Nam không? Có yêu thương dân chúng Miền Bắc không? Có tấm lòng ủng hộ công cuộc xây dựng và phát triển Dân tộc không? Nếu nói rằng có, ắt chúng ta cũng nên làm một cuộc thăm dò xem dân chúng Miền Nam có thích được yêu thương như vậy không.

Cuộc chiến tàn khốc mà ông lãnh đạo giương cao ngọn cờ “Chống Mỹ Cứu Nước”, bởi vì “Mỹ là giặc cướp nước”. Bây giờ, ai cũng thấy Mỹ không cướp nước Việt Nam. Nếu ông và các đồng chí không đánh Miền Nam từ cuối những năm 1950, Mỹ đã không đổ quân vào Việt Nam năm 1965. Ông Linh lo sợ Mỹ khai thác tài nguyên của Miền Nam, bóc lột dân chúng? Không biết ông có cặp mắt nhìn gần quá không, nhưng thời đại đã khác xa rồi. Mỹ là nước giàu mạnh nhất thế giới, tổ chức xã hội hữu hiệu nhất thế giới, là nước dẫn đầu Thế giới Tự do. Quyền lợi của Mỹ nằm ở chỗ bảo vệ Thế giới Tự do chống lại làn sóng đỏ Cộng sản. Để yên cho Miền Nam thanh bình xây dựng kinh tế và làm đồng minh của Mỹ có lợi biết bao: kinh nghiệm xây dựng xã hội Tự do Dân chủ, thiết lập các giá trị sống tiến bộ, hệ thống luật pháp, trình độ quản lý, đầu tư, khoa học, công nghệ… bao nhiêu là tri thức trao đổi và chuyển giao cho Miền Nam. Thời đại đó, kích thước và tính chất dân số đó, tài nguyên đó… bao nhiên là điều kiện cho Miền Nam phát triển, đến nỗi ông Lý Quang Diệu bên Singapore phải thèm thuồng, mơ ước!

Miền Nam phát triển mạnh cũng có nghĩa là tổ quốc Việt Nam của dân tộc Việt Nam mạnh. Năm 1960, xã hội Miền Nam văn minh, chất lượng cuộc sống dân Miền Nam tươi đẹp và đầy triển vọng. Tốt đẹp hơn Miền Bắc, và tốt đẹp hơn Trung Công rất nhiều. Thay vì gìn giữ hòa bình cho dân tộc, tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm hai miền để Nam và Bắc Việt Nam cùng giàu mạnh, thì chiến binh Miền Bắc mang vũ khí Trung Cộng trùng trùng lớp lớp tiến công Miền Nam gây thảm cảnh nồi da xáo thịt, đất nước tan tành!     

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí của ông có nhìn được cục diện chính trị, khuynh hướng phát triển của thế giới không? Có thấy được dã tâm Trung Cộng thúc đẩy hai Miền Việt Nam chém giết nhau để tự hao mòn nguyên khí không?

Cần biết rằng lúc đó Việt Nam đã có những nhà trí thức, nhà hoạt động chính trị nhìn sự việc rõ như ban ngày, đã phân tích và đưa ra các tiên đoán tình hình thế giới và quan hệ Trung Quốc-Việt Nam mà ba mươi năm sau thực tế cho thấy rất chính xác. Ông Ngô Đình Nhu, trong tác phẩm Chính Đề Việt Nam, từ năm 1960 đã nói: Nếu các nhà lãnh đạo Miền Bắc không thoát khỏi chủ nghĩa Cộng Sản thì: a) sự phát triển của dân tộc sẽ bế tắc, và b) mở cửa đưa các thế hệ sau này vào vòng lệ thuộc rồi bị xâm chiếm bởi Trung Cộng.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Ông Linh và các đồng chí ông có đủ tầm nhìn của một “nhà lãnh đạo tài năng, một tư duy sáng tạo, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam”, như ông Lê Thanh Hải ca tụng (2), để thấu hiểu các lời tiên đoán chính trị rất đúng đắn của ông Nhu không? Và nếu ông Linh có tầm nhìn đó, thì ông có mục tiêu gì khi lãnh đạo cuộc chiến “Chống Mỹ Cứu Nước” tàn phá Miền Nam? Mục tiêu đó có đồng hành với mục tiêu phát triển đất nước lâu dài không?

Phần 2: Giai Đoạn Xây Dựng, Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Từ Sau Năm 1975

Sau khi Việt Nam được thống nhất bằng bạo lực và đặt dưới quyền toàn trị của đảng CSVN, toàn bộ đất nước suy sụp nhanh chóng.

Sự suy sụp bắt đầu từ việc chính quyền thắng trận, bằng các thủ đoạn mang tính lừa gạt, lùa viên chức chính quyền và quân đội chế độ Miền Nam vào các trại cải tạo, thực chất là các nhà tù, giam cầm và đày ải họ suốt những năm dài sau đó. Trong khi đó, bên ngoài trại cải tạo, dân chúng bị tước đoạt tài sản qua các chiến dịch đánh Tư sản mại bản, cải tạo Công Thương Nghiệp, đổi tiền, ngăn sông cấm chợ…      

Những chứng nhân thời cuộc những năm 1975-1985 còn nhớ cảnh tượng kinh hoàng của một xã hội từ Tự do và Công bằng trở thành Toàn trị và Phân biệt đối xử, từ có cơm ăn áo mặc trở thành ăn độn, rách rưới, từ nề nếp và đạo đức trở thành xô bồ với mọi giá trị đảo lộn… chỉ trong vòng vài năm!

Khi xã hội suy thoái cùng cực, tên tuổi ông Linh được gắn với bút danh NVL kí dưới các bài báo “Những Việc Cần Làm Ngay” nêu lên những sự kiện trong xã hội và yêu cầu sửa đổi.

Thực ra các bài báo ngắn với bút danh NVL đó chỉ để giải quyết một vài cách làm quá tệ hại của đảng CSVN đang cầm quyền. Những việc nêu lên nhỏ quá so với tầm của một nhà lãnh đạo cỡ ông. Các bức xúc mà chúng đề cập chỉ như những chiếc lá nhỏ ngoài đầu cành con, không hề động tới các nhánh bên trong, tới thân cây hay gốc cây.

Việc tham gia giải quyết thiếu lương thực… cho thành phố cũng vậy. Nó chỉ giúp cho lòng dân tạm dịu cơn bất bình và đảng của ông kéo dài thời gian thống trị trên đất nước bị kìm hãm mà giàu tiềm năng này.

Buổi đầu, ông được mọi người nhìn như một nhà đổi mới. Nhưng khi các vấn đề xã hội và đất nước bắt đầu cần các thay đổi căn bản hơn một chút thì ông dần dần bộc lộ là một người bảo thủ, rất bảo thủ. Bảo thủ với ý nghĩa ông là một nhà lãnh đạo “luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng”, luôn kiên định lập trường “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (3).

Trước hết ông chống lại tất cả các chính sách cởi mở hơn, nới rộng hơn quyền tự do cho dân chúng. Ông chống lại Tự do báo chí và quyền ra báo tư nhân.

Ông chống lại các khuynh hướng đổi mới tư tưởng trong nội bộ đảng của ông. Ông chống tất cả những yêu cầu mang lại Tự do hơn cho dân chúng, chống tất cả những yêu cầu giảm tính toàn trị trong sự thống trị của đảng ông trên đất nước này. Ông là nhân vật quan trọng tham gia hạ bệ ông Trần Xuân Bách, người đồng chí trong Bộ Chính trị có tư tưởng hướng về đa nguyên.

Bởi vì ông biết chắc chắn rằng, khi người dân có quyền tự do hơn, có kiến thức hơn về cách tổ chức xã hội, về quyền con người của đa số các quốc gia trên thế giới, thì cái mặt nạ “của dân, do dân và vì dân” của chính quyền do đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt hoàn toàn bị lột ra trước công chúng. Những điều gian trá đảng ông đã làm trong quá khứ sẽ bị phơi bày. Điều này được một hậu duệ của ông tuyên bố thật thà: “Bỏ điều 4 Hiến pháp nghĩa là chúng ta tự sát”. Do đó, ông rất kiên định trong việc tăng cường tính lãnh đạo của đảng, đồng nghĩa với việc không cho dân chúng hưởng bất cứ một quyền tự do căn bản nào. Quả thực, ông rất kiên định với mục tiêu không gì lay chuyển được cho “đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi lãnh đạo nước Việt Nam” như ông đã từng tuyên bố.         

Khi hệ thống Cộng sản thế giới rung rinh và sắp sụp đổ cuối thập niên 1980, ông Linh càng thể hiện là người mong muốn cứu vãn hệ thống ấy trên thế giới. Những vận động cuống cuồng và nháo nhào của ông trong thế cờ tàn của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở mức độ toàn cầu cho thấy tầm vóc tri thức, tư tưởng thảm hại của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đau đớn thay cho Việt Nam, vào thời điểm rất quan trọng của lịch sử thì lại có một người lãnh đạo thiếu kiến thức như thế! Vậy là, trong khi các nước Đông Âu và Liên Xô, những nước Cộng sản hùng hậu và tiêu biểu nhất thế giới, quyết định từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản để mà tổ chức xã hội theo mô hình Tự do Dân chủ, Tam quyền phân lập và từ đó đưa đất nước họ ngày càng ổn định và giàu mạnh, ấm no hơn, thì Việt Nam, sẵn lợi thế có một Miền Nam nhiều kinh nghiệm của thế giới Tự do, lại bị đẩy sâu hơn vào thể chế toàn trị Cộng sản. Trong việc này, ông Nguyễn Văn Linh có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng”. Nhưng với Nhân dân, với Miền Nam thì ông Linh đã mang lại những tác hại to lớn lâu dài cho tương lai dân tộc.

Bởi vì, để giữ thể chế toàn trị Cộng sản lỗi thời trên tổ quốc Việt Nam, ông đã cùng với dàn lãnh đạo cao nhất nước sang Thành Đô phủ phục trước đảng Cộng sản và chính quyền Trung Quốc. Tác hại của Hội nghị Thành Đô đó khủng khiếp tới mức ông Nguyễn Cơ Thạch, một đồng chí trong Bộ Chính trị của ông phải thốt lên: “Một thời kì Bắc Thuộc mới đã bắt đầu!”

Trước Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc đã tiến đánh Việt Nam. Cuộc chiến biên giới giết chết mười vạn quân dân Việt Nam, san bằng các thành phố họ đi qua. Sau đó là cuộc chiến ngoài biển giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, chiếm của Việt Nam một số đảo mà hiện nay là căn cứ quan trọng để Trung Quốc uy hiếp toàn bộ lãnh thổ nước ta. Dư âm các cuộc chiến còn vang vọng, máu của dân ta còn nhỏ tươi dòng, lòng dân ta còn căm phẫn, chỉ vì ích kỉ bảo vệ đảng Cộng sản lỗi thời của riêng mình, ông Linh nỡ tròng cái ách nô thuộc của Trung Hoa lên đầu dân tộc!

Trước Hội nghị Thành Đô, dù tiến đánh Việt Nam, Trung Hoa chỉ là người hàng xóm hung hăng ngoài cửa. Sau Hội nghị Thành Đô, họ là thầy, là cha chú của Việt Nam. Nhìn họ cười ngạo nghễ trước giới cầm quyền Việt Nam khúm núm, nhìn họ hung hăng lấn chiếm và chính quyền Việt Nam hèn yếu cúi đầu, nhìn họ ra lịnh và chính quyền Việt nam vâng lời đàn áp dân chúng… lòng người Việt Nam nào không đau? Họ đã bước vào bên trong Việt Nam qua các vùng lãnh thổ Tây Nguyên, các tỉnh địa đầu biên giới, các vùng đất hiểm yếu của Việt Nam. Người dân tin rằng họ đã nằm trong giới cầm quyền cao cấp của đất nước…

Các tham luận cùng nhận định cho rằng ông Linh đã cống hiến, đóng góp to lớn vào sự nghiệp “xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Tôi không hoài nghi và cũng không thảo luận nhận định này.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Trong khi “xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” ông Linh có làm hại cho việc xây dựng và bảo vệ “tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta” không?

“Tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta”, ý của người viết muốn nói tổ quốc Việt Nam từ thủa bình minh của những bộ tộc Việt trên châu thổ sông Hồng, qua hai ngàn năm lớn lên, tiếp theo một ngàn năm Bắc thuộc, rồi giành lại độc lập tới giờ hơn một ngàn năm nữa. Tổ quốc đó, được bảo vệ và phát triển qua bao đời, từ xa xưa tới nay, thành một dãy đất hình chữ S kéo dài từ ải Nam Quang tới mũi Cà Mau, ngoài khơi có các đảo Cát Bà, Cái Bàn, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc… Trên dải đất đó, dân tộc Việt Nam thấm nhuần truyền thống lòng hiếu thảo, tình đồng bào, tình làng nghĩa xóm và tinh thần chống ngoại xâm, cái họa ngoại xâm thường trực đến từ láng giềng phương Bắc. Hai chữ Tổ quốc đó, vài dòng không diễn hết ý, mà ngàn trang cũng không đủ, chỉ biết đối với những người Việt nặng lòng với đất nước tổ tiên thì tâm tình Tổ quốc luôn rào rạt trong từng mạch máu, và réo sôi khi vận nước nguy nan.

_____

Tài liệu tham khảo:

1) HỒNG HIỆP. Bài Học Về Tư Duy Đổi Mới Và Gắn Bó Với Dân. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 2.

2), 3) LÊ THANH HẢI. Đồng chí Nguyễn Văn Linh – Nhà lãnh đạo tài năng, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 3.

———

Ông Trần Quang Cơ qua đời

BBC

28-06-2015

 Ông Trần Quang Cơ trong một cuộc tiếp xúc với chuyên gia Liên Xô (ảnh của báo Quân đội Nhân dân)

Nguyên thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89.

Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7.

Ông Cơ là người từng khước từ chức bộ trưởng ngoại giao mà Đảng Cộng sản Việt Nam sắp đặt sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991.

Ông Trần Quang Cơ sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997.

Có thể nói ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao.

Ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ năm 1986.

Trong suốt 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Campuchia.

Ông cũng tham gia tiến trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với các nước lớn Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc.

‘Hồi ức và Suy nghĩ’

Năm 2001 ông cho ra cuốn hồi ký mang tựa đề ‘Hồi ức và Suy nghĩ‘ gây tiếng vang vì đụng chạm tới những vấn đề vẫn được giữ kín về chính trị nội bộ và quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc.

Đánh giá về ông, cựu đại sứ Nguyễn Ngọc Trường nói: ” Ông Cơ là một nhà ngoại giao lão luyện, có tầm nhìn chiến lược”.

“Ông có chính kiến, độc lập, đặc biệt là không tán thành cách tiếp cận cơ hội với Trung Quốc như một số nhân vật cấp cao thời bấy giờ.”

Sau khi từ chối chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1991 vì cho rằng không thể làm việc khi một số nhân vật cao cấp trong dàn lãnh đạo Việt Nam lúc đó quá ngả về phía Trung Quốc, cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Trần Quang Cơ cũng tự xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN.

Theo ông Nguyễn Ngọc Trường, “có thể xem ông Cơ như một nhà nho hiện đại, biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng nhưng có lẽ không biết biến…”

“Các phẩm chất ấy không phải ai cũng có. Đó là nhân cách lớn của Trần Quang Cơ.”

Trong cuộc phỏng vấn với BBC nhân dịp 30 năm cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, ông Trần Quang Cơ đã bình luận rằng căn nguyên (của cuộc chiến Việt – Trung) là xung quanh vấn đề quyền lợi nước lớn, liên quan tới vấn đề Đông Dương.

Ông nói: “Các nước lớn họ có tính toán của riêng họ, nhưng tình hình quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn bất lợi cho Việt Nam”.

“Tôi thấy điều mình có thể làm khác, là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ.”

Thời kỳ vô cùng khó khăn của ngoại giao Việt Nam này đã được phản ánh trong cuốn hồi ký Trần Quang Cơ, với những chi tiết như về Hội nghị Thành Đô 1990 cho thấy “các giới hạn của môt thời kỳ lịch sử, cái khó của đất nước đứng cạnh Trung Quốc và chịu sức ép của Trung Quốc”, theo Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường.

Ông Trường nói với BBC: “Cuốn hồi ký thể hiện tính khách quan, không phải là chống Tàu, mà là ‘thân Việt’”.

“Chính vì vậy mà nhân dân biết đến ông và tôn trọng ông.”

____

Mời xem lại hồi ký Trần Quang Cơ: Hồi ức và Suy nghĩ (Ba Sàm).

Nguon:  anhbasam.wordpress.com/2015/06/28/4210-ong-tran-quang-co-qua-doi/#more-148654

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Nghệ sĩ Kim Chi ăn năn lỗi lầm to lớn N

Posted by hoangtran204 trên 23/04/2015



Posted on 20/04/2015 by conglyvasuthat

https://www.facebook.com/RFAVietnam/posts/10153270549779571:0

Đài Á Châu Tự Do

NỖI LÒNG 30/4 của nữ nghệ sỹ Kim Chi (người quấn khăn rằn trong hình) Xin hãy kiên nhẫn , nhẫn nại với tôi , lắng nghe và đọc các tâm sự đau khổ của tôi.
Trước đây mỗi năm tới ngày 30/4 tôi rất vui nên hay tổ chức gặp gỡ bạn bè. Nhiều lần tôi bay vào SG cùng đồng đội về thăm căn cứ cũ ở miền Đông, miền Tây Nam bộ. Chúng tôi thắp hương cho bè bạn đã hi sinh để bày tỏ lòng tri ân với những người đã để lại tuổi xuân ở chiến trường. Rồi chúng tôi quây quần bên nhau cùng ôn lại bao kỉ niệm buồn, vui những năm chiến tranh ác liệt. Trong lòng chúng tôi tràn ngập niềm vui và tự hào vì nghĩ rằng mình đã dâng hiến cả tuổi trẻ để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước..

Ngày còn trẻ khi đang phục vụ trong đoàn Văn công Giải Phóng ở chiến trường, tôi rất tha thiết được kết nạp vào đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG. Ngày được kết nạp tôi đã sung sướng đến trào nước mắt. Tôi nghĩ là mình đang được đứng trong đội ngũ những người tiên phong nhất, tốt đẹp nhất, những con người dám đem cả mạng sống ra để giải phóng quê hương. Ngày ấy tôi tin mãnh liệt vào sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG. Rằng “Giải phóng miền Nam để chấm dứt chiến tranh. Sẽ xây dựng một Việt Nam ẤM NO, TỰ DO, DÂN CHỦ, HẠNH PHÚC và GIÀU MẠNH”. Vì tin tưởng mạnh mẽ cho nên tôi luôn ở trong tâm thế sẵn sàng hi sinh cho tương lai tốt đẹp của đất nước…

Những văn nghệ sĩ trên chiến trường thời ấy, cũng như tôi, ai cũng tin tưởng sau chiến tranh Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng. Nhưng bây giờ, nếu nhạc sĩ Xuân Hồng còn sống, chắc ông sẽ chọc tôi: “Buồn chi, nước mắt lại trào?”. Đúng, ngày xưa khóc trong niềm vui chiến thắng, nay tôi lại phải khóc ‘trong nỗi đau thời cuộc’, trong những nỗi buồn da diết!
“Vui sao, nước mắt lại trào” – bây giờ tôi mới thấy đó là niềm vui ngộ nhận, sai lầm rất to lớn trong đời tôi !!! Hóa ra, niềm vui, niềm tin và những hy vọng cứ sáng lên trong tôi suốt thời chiến trường khói lửa ấy là do “nghệ thuật tuyên truyền” giả dối , ma quái , xảo quyệt của Bác Hồ Tàu Chệt Hồ Tập Chương và đảng CSVN !!!!!, và có lẽ chính người đi tuyên truyền thời ấy nay cũng “tâm tự vấn tâm” , tự hỏi lòng mình , tâm trí mình về sự ‘ngộ nhận’ to lớn đó !!!

Mấy năm qua, mỗi lần 30/4 tôi mất hẳn cảm giác hạnh phúc, mất hẳn sự tự hào như những năm trước đây. Tôi buồn vì niềm tin trong tôi hoàn toàn đổ vỡ. Nghĩ lại, nhận rõ và xác thực hơn: Những năm tôi ‘đi theo lý tưởng’ Bác Đảng và bom đạn thì quả là tôi “lớn rồi mà như ngây thơ , ngu xuẩn , dại khờ “. Tôi cũng như biết bao đồng đội đã qúa ‘ngây thơ , ngu ngốc’

Đúng thế, dần dần tôi nhận ra lời tuyên bố hùng hồn của đảng CS ngày ấy nay như không hồn , vô ý nghĩa ! Những điều nói và làm khác biệt nhau , trái ngược nhau , nói một đường , nhưng lại làm một ngả khác , đường khác , nẻo khác !!!! làm ngược với nói như thế, dân Nam bộ chúng tôi đã đúc rút: “Nói dzậy mà hổng phải dzậy”. Thực tế đời sống chính trị-xã hội đã hoàn toàn khác biệt trái ngược với những điều tôi hằng tâm niệm … Chỉ thấy toàn là những sự giả dối , gian trá , lọc lừa , độc ác , tham ô mà họ không dễ tự nhận biết, không dễ sám hối !!!

Trong cương lĩnh đảng CSVN tuyên bố “người cày có ruộng”. Vì lẽ đó nên con em nông dân đi lính , đi bộ đội đông nhất khi đất nước có chiến tranh. Ở nông thôn miền Bắc VN đóng góp quá nhiều máu xương cho các cuộc chiến. Vậy mà cho đến hôm nay có rất nhiều gia đình vẫn đói nghèo vì bị cướp đất , cướp đồng , cướp ruộng cho những dự án. Có còn xứ sở nào nhiều dân oan như ở VN không ?? Hiến pháp VN không công nhận quyền tư hữu ruộng đất là cố tình để những nhóm lợi ích tước đoạt ruộng đất của nông dân. Câu chuyện chính quyền Tiên Lãng Hải Phòng dùng cả lực lượng quân đội và công an tấn công cưỡng chế đất của anh em nhà Đoàn Văn Vươn đã khiến dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Kết quả là luật pháp VN đã dùng luật rừng để bỏ tù người nông dân can đảm dám dám chống lại sự bất công , sự vô lý , sự phi lý , sự gian ác của cường quyền và bạo lực . Đau xót lắm! Căm hận lắm !….

Người nông dân mất ruộng , mất đất , mất vườn , mất nhà buộc phải ra thành phố kiếm sống ở các khu công nghiệp. Các chủ nhà máy , chủ hãng xưởng bóc lột họ đến tận xương tủy.

Trong số đó có nhiều người thuộc diện gia đình có công, đáng ra họ phải được nhà nước quan tâm chăm sóc. Mỗi khi tổng động viên, chính cha, anh, chồng , con họ đã ra trận và có rất nhiều người đã không trở về. Cho tới nay có rất nhiều gia đình còn chưa lấy được hài cốt của con em và thân nhân mình ….. Đảng và nhà nước thật qúa bất nhân , tàn ác và phi nghĩa …………….

Đó là những chiến sĩ VN đã hi sinh trong chiến tranh biên giới Việt – Trung ở phía Bắc. Các phần đất đó nay bị Trung Quốc lấn chiếm , tước đoạt …. và các chiến sĩ , các bộ đội đã hy sinh trong các trận hải chiến với Trung quốc để bảo vệ các biển đảo …. Nay cũng bị Trungquốc chiếm đoạt , cướp mất …. Đã như vậy , các lãnh đạo tồi tệ của CHXHCN CSVN lại còn hỗ trợ , giúp đỡ và bán các đất đai , lãnh thổ , lãnh hải , biển đảo VN cho kẻ thù Tàu Chệt để lấy tiền , vàng bạc của TQ đem chia nhau bỏ vào túi bị riêng của cá nhân !!!!……..

Đã 40 năm “ giải phóng Miền Nam” nhưng với người Miền Nam thì từ ngữ “ giải phóng” đầy mỉa mai. Miền Nam trước đây được biệt danh là “ hòn ngọc viễn đông”. Nhưng “ giải phóng” vô thì họ bị mất nhà cửa , mất tài sản , mất của cải , tiền bạc. Rồi chồng con bị tù đầy… Mất tất cả nên hàng triệu người miền Nam buộc phải trở thành thuyền nhân bỏ nước ra đi , chạy trốn Bác Hồ và các đảng viên Cộng Sản !!!!!. Đã hàng mấy trăm ngàn người bị chết trôi trên biển , làm mồi cho cá mập…. Nhưng họ vẫn tìm mọi cách để chạy đi trốn Cộng Sản … Vì sao như vậy , vì lý do nào ????? Nếu Cộng Sản tốt đẹp , tốt lành thì họ đã ở lại với Cộng Sản rồi !!! Đằng nầy nếu cái cột đèn , con kiến , cái bàn , cái ghế mà có thể chạy được thì chúng sẽ chạy ra khỏi VN để trốn thoát Cộng Sản !!!!!!! Tại sao có nhiều kẻ ngu dốt , xuẩn ngốc , khờ khạo lại không nhận biết và thấu hiểu những điều nầy ??? ??? Những kẻ chiến thắng đã cư xử với người thua cuộc tàn bạo một cách tiểu nhân. Khi nhân ra được sự tồi tệ này tôi thấy vô cùng đau đớn !!!! Tôi nhận thấy đảng , nhà nước và các lãnh đạo của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thật rất tồi tệ , đê hèn , ghê tởm , đáng khinh bỉ , đáng phỉ nhổ còn hơn rác , còn hơn mấy thứ rận , rệp , trùn , giun , sán chết sình , chết toi ở bờ đê , đáy ruộng , bờ tre , bờ cỏ !!!!! Không thể tưởng tượng được !!!!! …….

Báo chí của đảng cứ ra rả nhận mình là “công bộc của dân”. Nhưng các “công bộc” nầy lại có đất đai , nhà cửa nguy nga, tráng lệ ở khắp nơi trong nước, ngoài nước…. Họ giàu nứt đất , nẻ đai , giàu đến nỗi gà ăn bạc , ăn tiền của họ … Tiền bạc họ gửi ra bạc tỉ dollas ở ngân hàng thế giới. Các “ công bộc” cấp to thì ăn công trình, dự án to. Các “ công bộc” cấp nhỏ ở nông thôn thì lùa bắt bò, dê, gà , vịt của nhân dân chạy vào chuồng nhà họ hàng đàn. Mà đó là những súc vật mà dân chúng nuôi để hỗ trợ cho chương trình xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Bọn họ hăm dọa sẽ trả thù những người dám tố cáo . Cái bọn “ công bộc” giả hiệu ấy chúng ăn từ dưới ăn lên, từ trên ăn xuống thì hỏi dân lành làm sao sống nổi?? Con cháu các quan , các cán bộ và các đại gia nhà nước đều được đưa sang du học ở các nước tư bản tự do, nhiều nhất là ở Mỹ…. Khi trở về nước họ đều nắm giữ những chức vụ quan trọng để tiếp tục đục khoét , ăn bẩn , xơi nuốt tiền bạc của nhân dân và đè đầu , cưỡi cổ sống trên xương máu của nhân dân !!!! ….

Cái gọi là “xây dựng kinh tế định hướng XHCN” đã làm cho nhà nước thua lỗ hàng nghìn tỉ đồng ở nhiều dự án như Vinasin, Vinalines, Bauxite…Đường sá chỉ làm vài hôm đã sụt lún vì nhà thầu ăn bớt vật tư, làm ăn dối trá…Họ bán tất cả những gì có thể và giờ đây bán tiếp cây xanh ở thủ đô Hà Nội … Họ đốn bỏ các cây cổ thụ đó để dọn đường , dọn nơi , dọn chỗ cho trống trải , quang đãng , không có gì cản trở , vấp váp để cho các trực thăng , các máy bay lên thẳng , xuống thẳng , các xe tăng , thiết giáp , các quân xa của các binh đội Cộng Sản Trung quốc sang tấn công , đánh chiếm , xâm lăng , thống trị , cai quản Việt Nam một cách thật rất dễ dàng bất cứ khi nào Trung quốc muống sang để chiếm cứ bắt VN làm nô lệ liếm nước tiểu của bọn chúng !!!! Thật là qúa thê thảm !!! Qúa nham hiểm , qúa độc ác , qúa gian trá , lọc lừa , gạt gẫm toàn thể nhân dân và Dân Tộc Việt Nam !!!!!

Nhà nước tiêu tốn quá nhiều tỉ đồng cho những việc xây dựng các tượng đài chỉ nhằm để phô trương , khoe khoang khoác lác bề ngoài … Thay vì dùng tiền đó để xây những chiếc cầu cho các tỉnh nghèo miền núi để trẻ em đi học qua sông không phải đu giây, không phải lội nước.

Về đường lối thì ĐCS và nhà nước VN vẫn quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội không tưởng , phi nhân , phi nghĩa , phi lý mặc dù tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói rằng : “ có thể trăm năm nữa XHCN cũng chưa hoàn thiện”…. !!!! ….

Chính vì cái đường lối kì quái này mà hiện nay đất nước vẫn đói nghèo , lạc hậu, thụt lùi !!!!

Về quan hệ quốc tế thì VN ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc một cách thảm hại cả kinh tế lẫn chính trị:

– Biển đảo, đất đai biên giới của VN bị Trung Quốc ngang nhiên lấn chiếm mà các lãnh đạo VN cam tâm im lặng . Đáng lẽ ra VN phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về việc TQ ngang nhiên đưa con tàu HD 981 vào hải phận VN. Không dám kiện đã là hèn. Hèn hơn nữa là thẳng tay đàn áp những ai lên tiếng phản đối. Đội ngũ công an luôn sẵn sằng khủng bố, bắt bớ, tù đầy những người chống Trung Quốc. Đám dư luận viên hung hãn như một lũ chó ghẻ điên khùng , chúng vô học , vô giáo dục , vô lương tri , chúng tấn công, chửi bới những người đi tưởng niệm các chiến sĩ đã hi sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa. Chúng gán tội , ghép tội , dán cho những người dám đấu tranh cái nhãn hiệu là “ phản động”….

– VN cho Trung Quốc thuê đến hơn 340.000 ha đất rừng hạn 50 năm. Đó là những vùng rừng núi có tính chiến lược dọc các tỉnh biên giới phía Bắc , vì vậy Trung quốc tha hồ đưa các bộ đội của nó trá hình , giả dạng làm các công nhân vào chiếm đóng , đóng chốt ở các miền đó đến lâu dài vô thời hạn như bọn chúng đã đóng chốt ở các đảo của Tây Sa , Hoàng Sa , Trường Sa ….. Nhà nước Cộng Sản VN làm sao đuổi chúng đi , vô phương cách !!!!! ….

– Các blogger , các nhà báo dám lên tiếng tố cáo càc lãnh đạo , các cán bộ tham nhũng , hối lộ , đòi ăn tiền , biển thủ công qũy , gian lận , gian tham , ăn cướp , ăn trộm , bóc lột dân chúng và chống Trung Quốc xâm lăng , xâm lược lần lượt bị bắt nhốt vào tù. Hiện nay trong các trại giam còn rất đông các tù nhân lương tâm , những người vì yêu nước thương dân !!!!

– VN đã tham gia kí kết Quốc Tế Nhân Quyền (QTNQ), có chân trong ban lãnh đạo QTNQ. Nhưng chính VN là nước vi phạm quyền Sống , Quyền Tự Do Căn Bản Của con người nhiều nhất… Nhiều Tù Nhân Lương Tâm bị tra tấn đánh đập hết sức dã man trong các trại giam. 
Bao nhiêu vụ án oan sai đẩy người ngây thơ , thật thà , lương thiện , vô tội vào cảnh tù đày…

Với tôi bây giờ 30/4 không phải là giải phóng miền Nam…. Miền Nam trước đây là mơ ước của Thái Lan, của Singapore , Mã Lai , Nam Hàn …. Vậy mà bây giờ VN ta tụt xa , thua xa , sau họ hằng thế kỉ ….

Bây giờ mỗi lần 30/4, tâm trạng tôi rất đau đớn bởi vì niềm tin vào đảng CSVN và chế độ XHCN , niềm tin vào các lãnh đạo Cộng Sản vô học , vô giáo dục , thấp kém , vô tri thức , vô lương tri , vô nhân nghĩa đã hoàn toàn đổ vỡ. Các nỗi đau buồn không diễn tả được bằng lời.

Nhưng tôi có một niềm tin mãnh liệt vào ý chí của toàn dân VN cả trong và ngoài nước sẽ không để mặc cho những người lãnh đạo muốn làm gì cũng được. Những trí thức, đảng viên cấp tiến, những sĩ quan quân đội bên anh em trẻ trong các tổ chức xã hội dân sự cùng sát cánh trong đội ngũ xuống đường ngày càng đông. Theo xu thế văn minh tiến bộ của loài người nhất định nhân dân sẽ đòi được NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ, phải có hai thứ đó thì mới mong THOÁT TRUNG. Chỉ có thoát Trung thì Việt Nam mới cất cánh. 

Hiện nay các tỉnh phía Nam công nhân các nhà máy đã xuống đường hàng trăm ngàn người. Đó là báo hiệu đã có nhiều người bước qua nỗi sợ hãi. Tôi tin rồi sẽ tới lúc mọi người sẽ nhận ra mình phải tự cứu mình. Nhất định ngày đó sẽ tới. Các vị quan chức cao cấp hãy tin đi khi mà nhân dân đã nổi giận thì các vị sẽ mất tất cả. Nhất định nhân dân sẽ CHIẾN THẮNG. Chủ Nghĩa Cộng Sản , Chủ Nghĩa Xã Hội – Chế Độ Cộng Sản , Chính Sách Cộng Sản đã qúa lỗi thời , qúa lạc hậu , qúa sai lầm , qúa gian trá , qúa độc ác , Chỉ có lọc lừa , gạt gẫm nhân dân mà thôi !!!!!

Tôi mơ ước một ngày rất gần nước Việt Nam sẽ đổi mới theo cùng thời đại trên trái đất này với một thể chế chính trị thực sự hợp lòng dân , một đất nước thực sự có Tự do, Dân chủ, Nhân quyền và Công Lý , Công Đạo . Khi đó, tôi ‘lại sẽ vui’ biết bao khi được đoàn tụ cùng tất cả bà con, anh chị em ở hải ngoại trở về trong niềm vui hòa hợp dân tộc, cùng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh.

Hà Nội, tháng 4.2015 
Ký Tên 
Nghệ Sỹ Xuất Sắc Kim Chi

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »