Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một, 2008

Entry for November 30, 2008

Posted by hoangtran204 trên 30/11/2008

Đi Du Học Mỹ là nối nhịp cầu quan hệ Việt Mỹ.  

Rồi nay lại ca tụng:  Đại tướng Lê Đức Anh với nhịp cầu quan hệ Việt – Mỹ

Sự thật  có phải như vậy không? Mời các bạn đọc 3 phần sau đây.

Thực tế là đảng CSVN và nhà nước VN đã bỏ lỡ một cơ hội lớn để bang giao với Hoa kỳ năm 1976. Đảng CSVN gồm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, Đỗ Mười, Võ Chí Công,..và bọn cán bộ cao cấp dưới quyền muốn nắm quyền lực cai trị đất nước để giành bổng lộc và chia chác chiến lợi phẩm cướp được ở Miền Nam. Kết quả là cả nước nghèo và bị tụt hậu đến 50-200 năm so với các nước ở vùng Đông Nam Á.

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30/4/ 1975, Jimmy Carter đắc cử tổng thống Mỹ vào tháng 11/ 1975. Khi nhậm chức TT ngày 20/1/1976, chính sách ngoại giao hàng đầu của TT Jimmy Carter lúc ấy là bang giao với VN.

Vì quyền lợi chiến lược ở Á châu, Mỹ muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN ngay lúc ấy mặc dầu cuộc chiến VN từ lúc đã và đang xảy ra cho đến sau khi kết thúc đã để lại nhiều sự chia rẽ và nhiều nổi buồn cho người dân ở quốc gia nầy. Tuy vậy, đầu năm 1976, TT Jimmy Carter đã cử một phái đoàn Mỹ liên lạc với VN để đàm phán và xúc tiến bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Hoa kỳ với VN.

Suốt 24 tháng trường ròng rã của năm 1976 và 1977, Mỹ đã tìm đủ cách thuyết phục VN ( kể cả hứa hẹn tái thiết VN) để mong hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, nhưng cuối cùng Mỹ đã thất bại. Chính phủ VN lúc ấy tính vốn đa nghi, thiếu hiếu biết về chính trường của Mỹ, thiếu tầm nhìn chiến lược, (vì chịu ảnh hưởng của Liên Sô lẫn Trung Quốc) và quan điểm của VN lúc ấy lại BẮT BUỘC Mỹ phải bồi thường chiến tranh VN (một sự kiện gần như Mỹ chưa từng làm với quốc gia nào hết). Khi ra điều kiện không được, LD và bộ chính trị quyết định quay lưng với Mỹ và bắt tay với Liên Sô.

Cuộc đàm phán giữa Mỹ và Việt Nam hoàn toàn thất bại khi Việt Nam tấn công qua Kampuchea 1978. Trong khoảng vài tháng đầu tiên, hoàng thân Shihanouk kêu cứu yêu cầu thế giới và Mỹ, Âu châu, và Liên Hiệp quốc cũng yêu cầu VN rút khỏi Kampuchea, nhưng chính phủ VN đã từ chối.

Mỹ và Tây Âu hăm dọa sẽ cấm vận nếu VN không chịu rút ra khỏi Kampuchea. Khi VN không chịu rút quân ra khỏi Kampuchea, lệnh cấm vận bắt đầu có hiệu lực.

Trong khoảng thời gian 1978-1990, ông Lê Đức Anh và Lê Đức Thọ sang kampuchea để quần thảo với quân đội Pôn Pốt cho đến khi VN hoàn toàn kiệt quệ kinh tế 1986, và cả nước VN ở bên lề nạn đói. Sau khi ông Lê Duẫn chết 1986, hai ông Nguyễn văn Linh cùng ông Võ văn Kiệt nhìn thấy quá nguy hiểm vì khối Đông Âu và Liên Sô đã cắt viện trợ cho VN. Hai ông nầy đành phải chấp nhận ngồi vào bàn thương thuyết với Liên Hiệp Quốc để rút khỏi Kampuchea trong thời hạn 3 năm, từ 1988-1991. Đổi lại, Mỹ bắt đầu tiếp viện thuốc men, viện trợ y tế và thực phẩm cho VN 1986, 1987, 1988 . Đồng thời bật đèn xanh cho Nam Hàn, Thái Lan, Singapore, Mã lai Á vào VN để thiết lập hãng xưởng và các xí nghiệp may, giày, và xuất cảng hải sản bắt đầu ra đời.

Tình hình kinh tế của Mỹ và Nhật rất xấu trong giai đoạn TT Bush (cha) 1988-1992. Ở Mỹ, nạn thất nghiệp lên cao, và lãi suất cũng lên cao. TT Bush (cha) gia tăng thuế làm giới trung lưu oán ghét và vì không giải quyết được vấn đề kinh tế nên ông đã bị thất cử. Và TT Clinton đã đắc cử 11/1991.

Khi lên nhậm chức 1992, TT Clinton đã hạ lãi suất, ký hiệp định NAFTA cho các nước trong vùng Bắc Mỹ và Nam Mỹ giao thương rộng rãi để kích thích nền kinh tế, các hãng Mỹ dời qua Mexico và Canada để lợi dụng nhân công thấp và hạ giá thành sản phẩm xuống thấp.

Sau khi ổn định được kinh tế quốc nội, TT Clinton bắt đầu nghĩ đến bình thường quan hệ ngoại giao với VN như chính sách đã vạch sẵn. Vì vậy Mỹ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN 1995 xuất phát từ thời hai ông NVL và VVK. Người có công không phải là LĐA như bài báo dưới đây ca ngợi.

(* Chắc ông LĐA hiện đang bị bệnh nặng lắm nên mới có bài báo dưới đây. Hoặc những đảng viên đệ tử của  ông ta muốn đánh bóng tên tuổi để dành các vị trí lãnh đạo nào đó)

————————————————————
Đại tướng Lê Đức Anh với nhịp cầu quan hệ Việt – Mỹ

http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/5460/index.aspx
30/11/2008 09:31 (GMT + 7)

Những câu chuyện, nhận định về Đại tướng Lê Đức Anh trong vai trò là nhà ngoại giao chiến lược, người góp phần tái thiết chiếc cầu quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ.

Đại tướng Lê Đức Anh không chỉ là nhà quân sự đã từng trực tiếp chiến đấu, chỉ huy suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc (chống Pháp, chống Mỹ) và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Polpot; là một trong những nhà lãnh đạo tầm cỡ trong thời kỳ Đổi mới đất nước đất nước mà còn là một nhà ngoại giao chiến lược…

Làm ngoại giao từ tinh thần của Bác

“Mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này, trở nên có lợi cho toàn thế giới” – Đại tướng Lê Đức Anh thường nhắc lại câu nói ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đã làm được như vậy.

Có thể nói Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam là một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ trong công tác ngoại giao.

Ông là người tái thiết chiếc cầu quan hệ Việt – Mỹ vốn bị gián đoạn trong lịch sử, hay nói chính xác hơn: Đại tướng Lê Đức Anh là một trong những người thiết yếu góp phần quan trọng trong việc bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ từ khâu đột phá ban đầu đến việc thúc đẩy, mở rộng quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ để ngày càng phát triển tốt đẹp.

Trong một lần trao đổi gần đây, tôi mạnh dạn hỏi Đại tướng Lê Đức Anh: Sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), phía ta và Mỹ còn có nhiều mặc cảm định kiến về nhau, nói thẳng là trong nội bộ lãnh đạo cấp cao của ta cũng chưa nhất trí lắm trong việc nhìn nhận, xử lý các mối quan hệ với Mỹ. Vậy xuất phát từ đâu, Đại tướng dám đứng mũi chịu sào mở đột phá khẩu đầu tiên trong việc bình thường hóa quan hệ giữa nước ta và Mỹ?

Ông cười: Xuất phát từ đâu ư? Xuất phát từ lịch sử bang giao của cha ông ta, từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi làm đến cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông vẫn chưa hiểu hết Bác.

Đến khi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sau này làm Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh mới có điều kiện nghiên cứu về Bác và vỡ bao nhiêu điều.

Ông tâm sự: “Càng nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, ta mới biết Người vĩ đại biết nhường nào! Bác luôn đi trước thời đại trong mọi vấn đề.

Tư tưởng của Bác Hồ bao la như biển rộng. Nói là học tập, làm theo gương Bác Hồ; không phải dễ. Trước hết phải có trí tuệ, thứ nữa là niềm tin và lòng dũng cảm. Nếu không, chúng ta sẽ không hiểu thấu đáo tư tưởng Hồ Chí Minh, dẫn đến vận dụng một cách lệch lạc, lúc hữu, lúc tả…

Một trong những vấn đề cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh bao quát hết thẩy là sự bao dung và lòng nhân ái…”

Đại tướng Lê Đức Anh trầm ngâm một lát, hình như ông đang nhớ lai những sự kiện đã qua và thận trọng sàng lọc, cân nhắc xem cái gì đáng nói.

Ông kể: Khi Mậu Thân (1968) nổ ra, tình hình càng phức tạp không chỉ đối với phía Mỹ, mà còn đối với ta. Ngay trong nội bộ Đảng đến ngoài xã hội cũng có thái đội nhìn nhận đánh giá khác nhau, kể cả quốc tế trước bối cảnh Mỹ tiến hành chiến tranh quyết liệt ở Việt Nam.

Chính vào thời điểm đó Bác Hồ có thơ Chúc Tết: “”Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào””.

Bác không dùng từ tiêu diệt Mỹ. Bởi Bác biết thế nào Mỹ cũng rút khỏi nước ta, vì phong trào đòi Mỹ rút quân về nước của nhân dân Mỹ nổi lên rất cao. Ngay trong phái chủ chiến của Mỹ cũng có một số người phản đối cuộc chiến ở Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chông Mỹ cứu nước của ta ngày càng được nhân dân Mỹ và Quốc tế ủng hộ thành phong trào rầm rộ. Điều đó tác động mạnh mẽ đến nước Mỹ và các nước trên thế giới.

Còn đối với Ngụy, Bác bảo đánh cho chúng nhào, chứ không có ý tiêu diệt, thù hận…

Mục đích của Bác Hồ đặt ra cho quân, dân ta chỉ đánh để Mỹ cút, Ngụy nhào. Điều này thể hiện sự nhất quán tư tưởng bao dung, nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở bất cứ hoàn cảnh lịch sử cụ thể nào.

Thấm nhuần tư tưởng bao dung, nhân ái của Bác, nên sau khi giải phóng Miền Nam những người đã từng tham gia quân đội, chính quyền ngụy không bị chúng ta bắt bớ, mà chỉ cho họ học tập chính trị hiểu rõ đúng, sai…

Tướng ngụy và một số người giữ các chức vụ cao trong chính quyền ngụy, ta cũng thả.

Sau giúp các bạn Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của PônPốt cũng vậy, mặc dù bọn Polpot đã giết hại dã man hàng triệu người, chúng ta không hề có sự trả thù.

Nhờ vậy, ta đã tạo điều kiện mở đường cho những ai trót lầm lỡ, sau này được quay về xây dựng quê hương, đất nước.

Rõ ràng ngay trong cuộc chiến tranh, Bác Hồ đã tính đến quan hệ Việt – Mỹ sau này, nên chỉ đánh cho Mỹ cút, tức là buộc Mỹ phải bỏ ý đồ xâm lược nước ta. Còn nếu sau này Mỹ sang Việt Nam với tinh thần thiện chí, hữu nghị, thái độ ta sẽ khác. Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, nếu ai có thiện chí! Đây cũng là truyền thống hòa hiếu của dân tộc ta mà Bác Hồ lĩnh hội được từ cha ông qua những bài học giữ nước.

Tôi lắng nghe Đại tướng Lê Đức Anh nói, thầm nghĩ: “”Ông già” này ghê thật, làm bất cứ điều gì đều có cơ sở, nền tảng vững chắc, khoa học. Đại tướng Lê Đức Anh dựa vào tư tưởng bao dung, nhân ái của Bác Hồ để dám đứng mũi chịu sào, nối lại quan hệ Việt – Mỹ.

Thật vậy, về quan hệ Việt – Mỹ, ngay từ đầu năm 1941, Bác Hồ đã sớm thấy vai trò to lớn của nước Mỹ đối với thế giới. Trong cuốn Why Viet nam? (Tại sao Việt Nam?), Archimedes Patti viết: “”Nhờ có đầu óc phân tích và sự thông hiểu sâu sắc tình hình chính trị thế giới, ông Hồ Chí Minh đã sớm rút ra kết luận, phải tranh thủ tình cảm của nước Mỹ””.

Và sự thực, khi biết có một phi công Mỹ bị bắn rơi ở vùng biên giới, Bác Hồ đã chỉ thị giúp người phi công này (Trung úy Shaw) trở về với quân đồng minh ở Côn Minh.

Về việc này, theo cứ liệu: Fenn, Trung uý hải quân ở Ban Không trợ mặt đất. (AGAS) kể lại: “”Tướng Mỹ Chennault rất cảm ơn ông Hồ về việc người phi công được cứu thoát. Tướng Chennault đã ký tặng ông Hồ tấm ảnh chân dung của mình với dòng chữ: “”Bạn chân thành của anh””. Claire L. Chennault.

Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 12/1946, một số người đại diện của Mỹ, cả cơ quan tình báo quân sự OSS đã có quan hệ hợp tác với phía ta (Việt Minh) như: Đại úy Lucien Concin, thiếu tá Allison Thomas, thiếu tá Patti…

Vì thế sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, vài tháng sau, Bác Hồ đã cho thành lập “”Việt – Mỹ thân hữu hội””.

Ngày 16/ 02/ 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ, Franklin D. Roosvelt: “”Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”” – Hồ Chí Minh toàn tập (1,2,3) NXB Chính trị Quốc gia – 2000.

Rất tiếc do hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động, nên quan hệ Việt – Mỹ bị gián đoạn.

Người công dân danh dự thành phố New York

Đại tướng Lê Đức Anh tiếp tục câu chuyện một cách sôi nổi: Sau ngày giải phóng, nước ta gặp không ít khó khăn về mặt kinh tế. Tình hình Campuchia đã vậy, quan hệ nước ta với Liên Xô, không nói làm gì, nhưng quan hệ với Trung Quốc không ít khó khăn.

Phải tính đường quan hệ với Mỹ. Nhưng lúc này giữa ta và Mỹ còn nhiều bất đồng. Phía Mỹ thì kiêu căng, tự cho mình là nước lớn, giầu mạnh. Phía ta thì dị ứng với Mỹ đủ mọi phương diện.

Đặt lại quan hệ với Mỹ ư? Nói ra, ai cũng sợ. Song, cứ để Mỹ bao vây cấm vận, nước ta khó làm ăn, nghèo lại càng nghèo vì do hậu quả chiến tranh để lại… Phải phá thế cấm vận của Mỹ. Đó là một quyết tâm của Bộ Chính trị. Nhưng bằng cách nào?

Đại tướng Lê Đức Anh đề nghị phải mở rộng quan hệ với thế giới thứ ba, cụ thể là ASEAN trước khi đặt quan hệ bình thường với Mỹ.

Bởi muốn đặt quan hệ với Mỹ, trước tiên phải tìm cách tiếp cận với họ. Nhưng bằng con đường nào?. Bằng chính trị? Không được, vì giữa ta và Mỹ khác nhau về thể chế, quan niệm…

Bằng kinh tế ư? Càng không được, vì Mỹ giàu có, mạnh về tiềm lực; còn ta là nước nghèo, lấy gì mà trao đổi với họ?

Suy nghĩ mãi, cuối cùng Đại tướng Lê Đức Anh thấy chỉ có con đường khoa học là có thể tiếp cận để bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Vì khoa học là thành tựu chung của nhân loại. Khoa học không có biên giới, bản thân nó không mang mầu sắc chính trị hay bất kỳ định kiến nào. Chỉ có con người sử dụng khoa học với mục đích khác nhau mà thôi.

Trong khoa học có nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau, cân nhắc mãi, Đại tướng Lê Đức Anh quyết định chọn ngành Y, vì ngành Y mang tính nhân đạo, phục vụ con người. Không ai có thể phản đối được.

Sau khi bàn bạc, Đại tướng Lê Đức Anh quyết định lấy chuyên ngành phẫu thuật ngoại khoa để tiếp cận với phía Hoa Kỳ.

Đại tướng Lê Đức Anh nói: “”Tôi biết Giáo sư, Tiến Sỹ Y khoa Nguyễn Huy Phan là người có uy tín, hiện là Phó Giám đốc Bệnh viện 108 là người có chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức, lập trường vững vàng. Lúc này tôi đang làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1986), nên tôi mời Giáo sư Phan đến gặp riêng và giao nhiệm vụ.

Đây là một việc hệ trọng, đồng chí phải giữ bí mật, chỉ được thể hiện mình là một nhà khoa học thuần túy. Trong giao tiếp không nói đến các vấn đề chính trị. Nhân Hội nghị phẫu thuật Quốc tế được tổ chức tại Thủ đô Pari , Pháp, tôi liền cử Giáo sư Phan đi dự””.

Tại Hội nghị, Giáo sư Nguyễn Huy Phan trình bày nhiều vấn đề. Nhưng có vấn đề của Giáo sư Phan đưa ra được các đại biểu dự Hội nghị rất quan tâm và quý trọng, nhất là các đại biểu nữ. Đó là việc chỉnh hình giúp những người bị thương, bị bệnh mất dương vật, nay tạo ra dương vật mới để họ lấy vợ, sinh con. Kỹ thuật đó được mang ra thực hành tại Hội nghị và đạt kết quả tốt.

Cả Hội nghị vỗ tay hoan nghênh Việt Nam nhân đạo. Có nhiều tiến sỹ, bác sĩ là nữ đến gặp Giáo sư Phan với lòng kính trọng tài năng. Tại Hội nghị, đại biểu các nước, kể cả Mỹ đều mời Giáo sư Phan sang hướng dẫn. Và Giáo sư Phan được mời đi nhiều nơi nói chuyện, hướng dẫn.

Tại Mỹ nhiều người đến dự nghe Giáo sư Phan thuyết trình. Họ tỏ ra thân thiện, mừng rỡ.

Trong khi trao đổi, Giáo sư Phan thẳng thắn nói: “Việt Nam vừa trải qua chiến tranh còn nghèo khổ, nhiều người bị bệnh tật, tàn phế…”

Phía Mỹ hỏi thẳng: Mỹ có thể giúp Việt Nam cái gì?

Giáo sư Phan trả lời: “Ở Việt Nam nhiều người cần giúp lắm, Nhưng phổ biến và trước mắt là giúp “”phẫu thuật nụ cười”” cho những người hở môi, hàm ếch. Nếu thực hiện, phải làm cho trẻ em trước, rồi đến phụ nữ”.

Phía Mỹ đồng ý ngay. Vài tháng sau, phía Mỹ cử các đoàn y tế Phẫu thuật nụ cười sang Việt Nam. Và họ đã có mặt ở nhiều nơi để triển khai công việc nhân đạo trên.

Sau một thời gian tiếp xúc và làm việc với Giáo sư Phan, phía Mỹ đã mời ông Nguyễn Huy Phan làm Công dân danh dự của Bang New York. Giáo sư Nguyễn Huy Phan điện về xin ý kiến, Đại tướng Lê Đức Anh bảo cứ nhận. Ông sẽ báo cáo Bộ Ngoại giao.

Sau đó Đại tướng Lê Đức Anh gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hỏi ý kiến về trường hợp Giáo sư Phan, Bộ trưởng Thạch đồng ý ngay.

Từ đó, phía Mỹ mới mời ta sang tham quan, trao đổi.

Ở Mỹ, ngành Y rất được coi trọng, họ quý người làm nghề Y. Giới chính khách Mỹ càng quý ngành Y hơn. Qua con người cụ thể: Giáo sư Nguyyễn Huy Phan, phía Mỹ thấy người Việt Nam cũng giỏi như họ, lại nhu mì, hiền hòa. Từ đó rất quý Việt Nam. Và nước ta đặt quan hệ chính trị với Mỹ từ đấy.

Từ Mỹ, Giáo sư Nguyễn Huy Phan báo cáo về có hai tiến sỹ người Việt, Quốc tịch Mỹ hiện làm ở hãng hàng không Boeing muốn làm rể Việt Nam, cụ thể là lấy con gái Giáo sư Phan.

Đại tướng Lê Đức Anh trả lời: ““Nếu anh chị đồng ý thì cho chúng nó lấy nhau. Băn khoăn làm gì, nên để tâm vào làm việc lớn””.

Sau đó con gái út ông Phan tên là Hoa lấy Tiến sỹ Bích, người Mỹ gốc Việt. Và chính người con rể ông Phan sau này đã đi quan hệ với giới chính khách Mỹ, làm cho họ hiều Việt Nam hơn, dần dần thay đổi quan điểm. Nay hai vợ chồng Bích – Hoa đã có con, thỉnh thoảng vẫn về Việt Nam và ghé thăm Đại tướng Lê Đức Anh.

Thời điểm đó ở nước nhà (trong Quân đội) có một số người nghĩ ông Phan theo Mỹ, nên khi Đại tướng Lê Đức Anh ốm, ông Phan về nước muốn vào thăm, nhưng không được. Và Giáo sư Phan phải nhờ bà Võ Thị Lê, vợ Đại tướng Lê Đức Anh dẫn vào mới được gặp.

Khi Đại tướng Lê Đức Anh khỏi bệnh, nói lại với một số cán bộ cao cấp về trường hợp Giáo sư Nguyễn Huy Phan, ông Phan mới được minh oan. Sau này Giáo sư Nguyễn Huy Phan được bầu làm Chủ tịch Hội Việt – Mỹ.

Khi ông Phan mất được tặng Huân chương hạng Ba. Lúc đó, Đại tướng Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước thấy vậy, liền mời Viện Thi đua khen thưởng lên, nói: “”Anh Phan là người có công lớn, tôi sẽ trình Bộ Chính trị sau. Các anh cứ làm thủ tục trao tặng Huân Chương Độc lập hạng nhất cho anh Phan. Tôi xin chịu trách nhiệm””.

Sau đó, Đại tướng Lê Đức Anh báo cáo sự việc trên với Bộ Chính trị, và Bộ Chính trị nhất trí: Đối với Giáo sư Nguyễn Huy Phan, sao lại khen thưởng thấp thế, rất xứng đáng lên hạng cao. Nói thế, nhưng thời kỳ này, phía ta vẫn còn dị ứng với Mỹ. Hồi đó ai được cử đi Mỹ học đều không dám đi, mặc dù chúng ta biết nước Mỹ có một nền kinh tế, khoa học phát triển cao. Cần phải học hỏi họ để áp dụng cho nước nhà.

Khổ nỗi những người được cử đi Mỹ học về, lại thành kiến với họ, không bố trí công việc hay sắp xếp một cách tuỳ tiện với hàng trăm lý do khác nhau. Còn đối với Việt kiều về nước làm ăn lại không tạo điều kiện, mà còn gây khó dễ. Còn nhiều chuyện khó nói lắm.

Để loại bỏ dị ứng và xoá đi những mặc cảm với Mỹ, lúc này con trai Đại tướng Lê Đức Anh là Lê Hà đang công tác ở Bộ Kế hoạch – Đầu tư thi đỗ Đại học Harvard ở Mỹ. Lãnh đạo Bộ Kế hoạch – Đầu tư hỏi Đại tướng Lê Đức Anh: “”Có cho cháu Hà đi không?” Đại tướng Lê Đức Anh nói: “”Cứ cho cháu đi để bớt dị ứng với Mỹ, vì dư luận thấy con Chủ tịch nước còn đi Mỹ học có làm sao đâu, huống hồ là mình””.

Thực tế sang bên ấy, cháu Hà học vào loại giỏi, nhưng khi về nước công tác vẫn gặp một số trục trặc…

Nghe Đại tướng Lê Đức Anh tâm sự, tôi mạnh dạn hỏi: Đồng chí Lê Đức Thọ hồi đó không nhận giải Nobel Hoà bình cùng với ông Kissinger, có phải một phần do lý do còn nhiều người dị ứng với Mỹ? Đại tướng Lê Đức Anh im lặng. Sự im lặng của ông đã trả lời cho tôi.

Song, lịch sử không ngừng vận động. Thời cuộc đã đổi thay! Sau hơn 30 năm chấm dứt chiến tranh, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã chuyển sang giai đoạn mới. Quá khứ đã khép lại. Cả hai nước Việt – Mỹ đều hướng tới tương lai trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi.

Ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Ngày 12/7/1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Tháng 8/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ đã khai trương Đại sứ quán tại Washington và Hà Nội.

Và tại New York, (từ ngày 22 – 24/10/1995), Đại tướng Lê Đức Anh với tư cách là Chủ tịch
nước CHXHCN Việt Nam đã đọc diễn văn chào mừng tại Lễ kỷ niệm lần thứ 50 thành lập Liên Hợp Quốc, bài diễn văn đó gây chấn động dư luận, được hoan nghênh nhiệt liệt: ““Liên hiệp quốc cần tự đổi mới, trước hết phải là một tổ chức dân chủ, mối quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa Liên hợp quốc và từng quốc gia phải là mối quan hệ dân chủ và bình đẳng”“.

Thế là sau 140 năm quan hệ Việt – Mỹ bị gián đoạn, giờ được nối lại bởi một người dám đứng mũi chịu sào, tái thiết chiếc cầu đó – Đại tướng Lê Đức Anh – để quan hệ Việt – Mỹ ngày càng phát triển, hợp tác toàn diện một cách tốt đẹp như ngày hôm nay.

Ánh Hồng

———————————————————————–

Cập nhật 16-4-2014

Các bạn đọc kết luận của bài báo nói trên và so sánh với bài của dịch của Ngọc Thu, 15-4-2014  sẽ thấy thêm một trong các bài báo phơi bày sự thật rất nhục nhã cho đảng CSVN đã phải chủ động XIN bang giao với Mỹ; Lê Đức Anh chăngr có công trạng gì như bài báo trên tâng bốc nịnh bợ trong dịp ông LĐA (2008) đang được đánh bóng. Lê Đức Anh là phu cạo mũ cao su, sau trở thành cai đồn điền. Gần đây bị các đảng viên đảng CSVN tố giác  ông ta chưa vào đảng như lý lịch tự khai do ông viết.

Đến năm 1975, ông LĐA chỉ mới là đại tá. Sau 30-4-1975, Lê Đức Thọ biết rằng không thế tranh giành với Lê Duẩn ở VN, ông ta muốn qua Kampuchea làm vương. Nhưng cần có đàn em đi “khai phá mở đường”. Lê Đức Thọ đã giao nhiệm vụ ấy cho một số tướng lãnh chỉ huy đánh Kampuchia cùng với LĐA. LĐA rất khôn khéo, mỗi khi cướp vàng của người Khmer và  chia chác cho Lê Đức Thọ nên được Thọ đỡ đầu . Về sau, khi Lê Duẩn chết 1986, Trường Chinh tạm thời lên ngôi TBT được 5 tháng, và trong thời gian này, kinh tế VN và chính trị VN đang  ở thời kỳ đen tối nhất, lạm phát tăng lên từ 50-900%, không có ngoại tệ, không có xăng dầu, bị cấm vận và cả thế giói bao vây, các phe nhóm có quyền lục nhất ở VN không có đủ tài kinh bang tế thế nên phải tạm hòa hoãn với nhau. Bọn này cử Nguyễn Văn Linh lên ngôi TBT. Lê Đức Thọ chỉ đẩy Lê Đức Anh lên làm bộ trưởng quốc phòng. 

Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Ngọc Thu dịch

15-4-2014

Lời người dịch30-4: Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Bạn có biết: Việt Nam đã từng trả nợ chiến tranh cho Mỹ? Việt Nam đã trả các khoản vay của chính quyền Sài Gòn thời chiến tranh, để đổi lấy các khoản vay mới của Mỹ và phương Tây và đó cũng là điều kiện để Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN.

Đó là cái giá mà chính phủ CSVN, hay nói đúng hơn là người dân VN đã phải trả, do chính phủ CSVN không chịu bình thường hóa quan hệ với Mỹ ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cứ khăng khăng đòi bồi thường chiến phí 3,25 tỉ Mỹ kim. Tiền bồi thường của Mỹ ở đâu không thấy, chỉ thấy sau đó phía VN phải bỏ tiền ra bồi thường chiến phí.

Thắng trong chiến tranh, nhưng chỉ 20 năm sau chính phủ CSVN đã phải đầu hàng Mỹ về kinh tế.

Đây là bài viết của GS Michel Chossudovsky về những thỏa thuận bí mật giữa chính phủ CSVN với các tổ chức tài chính quốc tế trước năm 1995.

Ngọc Thu

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc bằng lực lượng cộng sản chiếm giữ Sài Gòn và sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ấy trong Dinh Tổng thống. Khi đội quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Sài Gòn, các nhân viên Hoa Kỳ và lính thủy quân lục chiến Mỹ cuối cùng đã vội vã sơ tán từ nóc tòa nhà Đại Sứ quán Mỹ. Hai mươi năm sau, một câu hỏi cơ bản vẫn chưa có lời giải đáp: Ai đã thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam?

Việt Nam chưa bao giờ nhận được khoản tiền bồi thường nào cho chiến tranh từ Mỹ về các tổn thất nhân mạng rất lớn và sự tàn phá [của chiến tranh], nhưng một thỏa thuận đã đạt được ở Paris vào năm 1993, yêu cầu Hà Nội nhận các khoản nợ của chính quyền Sài Gòn, một chính quyền không còn tồn tại nữa của Tướng Thiệu. Bản thoả thuận này có nhiều chỗ tương đương với việc bắt buộc Việt Nam bồi thường cho Washington các phí tổn chiến tranh.

Ngoài ra, việc áp dụng sâu rộng cải cách kinh tế vĩ mô dưới sự giám sát của các định chế Bretton Woods cũng là một điều kiện cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận của Mỹ. Những cải cách thị trường tự do này hiện đã định đoạt học thuyết chính thức của Đảng Cộng sản.

Qua việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Washington vào năm 1994, việc nhắc đến vai trò tàn bạo của Mỹ trong chiến tranh đang ngày càng được xem như không đúng lúc và không thích hợp. Không ngạc nhiên, Hà Nội đã quyết định dịu giọng trong lễ kỷ niệm Sài Gòn đầu hàng để không phải xúc phạm đến kẻ thù trong chiến tranh trước đây của họ. Lãnh đạo Đảng Cộng sản gần đây đã nhấn mạnh “vai trò lịch sử” của Hoa Kỳ trong việc “giải phóng” Việt Nam từ chế độ Vichy (Pháp) và sự chiếm đóng của Nhật Bản suốt Đệ Nhị Thế chiến.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các đặc vụ Mỹ của Cục Tình báo Chiến lược (OSS: tiền thân của CIA ngày nay) đã có mặt bên cạnh Hồ Chí Minh. Trong khi Washington đã cung cấp vũ khí và hỗ trợ tài chính cho phong trào kháng chiến Việt Minh, chiến lược này phần lớn được thiết kế để làm suy yếu Nhật Bản trong giai đoạn cuối của Đệ Nhị Thế chiến, mà không có cam kết gửi lực lượng bộ binh Mỹ tới với số lượng lớn.

Ngược lại với bầu không khí dịu giọng và hạn chế trong kỷ niệm đánh dấu chiến tranh Việt Nam kết thúc, lễ kỷ niệm 50 năm ngày độc lập được cử hành long trọng, với một loạt các nghi lễ và các hoạt động chính thức bắt đầu từ tháng 9 và kéo dài đến Tết âm lịch.

Việt Nam bồi thường chiến tranh

Trước khi “bình thường hóa” quan hệ với Washington, Hà Nội đã bị buộc phải trả các khoản nợ xấu phát sinh của chế độ Sài Gòn do Mỹ hậu thuẫn. Tại hội nghị các nhà tài trợ tổ chức ở Paris hồi tháng 11 năm 1993, các khoản vay và số tiền viện trợ tổng cộng gần 2 tỷ Mỹ kim đã được cam kết để hỗ trợ cho cải cách thị trường tự do ở Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay sau khi hội nghị, một cuộc họp bí mật đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris (Paris Club).

Tại cuộc họp này, có sự góp mặt của đại diện các chính phủ phương Tây. Về phía Việt Nam, TS Nguyễn Xuân Oánh, cố vấn kinh tế cho Thủ tướng, đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán.

Tiến sĩ Oánh, một cựu quan chức của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đã giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính và sau đó là Quyền Thủ tướng trong chính quyền quân sự của Tướng Dương Văn Minh, mà Mỹ đưa vào hồi năm 1963 sau vụ ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm và em trai. Tiến sĩ Oánh, trong khi giữ vai trò trung gian, chính thức thay mặt chính quyền cộng sản, dù sao cũng đã đáp ứng được nhu cầu của các chủ nợ phương Tây.

Các thỏa thuận đã được ký kết với IMF (đã được công bố) phần lớn chỉ là tượng trưng. Số lượng không đáng kể: Hà Nội buộc phải trả cho IMF 140 triệu đô (thuộc sở hữu của chính quyền Sài Gòn) như một điều kiện để nối lại các khoản vay mới. Nhật Bản và Pháp, những chủ nhân thuộc địa cũ của Việt Nam giai đoạn Vichy, hình thành cái gọi là “Những người bạn của Việt Nam” để cho Hà Nội vay số tiền cần thiết để hoàn trả cho IMF.

Tuy nhiên, sự sắp xếp gia hạn các khoản nợ song phương (của chế độ Sài Gòn) không bao giờ được tiết lộ. Nhưng cuối cùng thì thỏa thuận bí mật này (đạt được dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris) là công cụ quyết định để Washington dỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa các quan hệ ngoại giao. Việc sắp xếp này cũng là yếu tố quyết định trong việc tháo khoán các khoản vay đã được cam kết tại hội nghị các nhà tài trợ năm 1993, do đó Việt Nam bị đặt dưới sự ủy thác của các chủ nợ Nhật Bản và phương Tây. Như vậy, chỉ 20 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã đầu hàng về mặt kinh tế.

Bằng cách công nhận hoàn toàn tính hợp pháp của các khoản nợ, Hà Nội đã đồng ý hoàn trả các khoản vay đã hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Hơn nữa, chính phủ của ông Võ Văn Kiệt cũng đã chấp nhận thực hiện đầy đủ các điều kiện thông thường (giảm giá, tự do hóa thương mại, tư nhân hóa, v.v.) của một chương trình điều chỉnh cơ cấu do IMF tài trợ. Những cải cách kinh tế này ra mắt vào giữa thập niên 1980 với các định chế Bretton Woods, trong hậu quả chiến tranh tàn khốc, đã khởi đầu một giai đoạn mới về sự tàn phá kinh tế và xã hội: lạm phát đã dẫn đến phá giá liên tục, bắt đầu từ năm 1973 dưới chế độ Sài Gòn, năm theo sau sự rút lui của quân đội Hoa Kỳ. Ngày nay, một lần nữa Việt Nam tràn ngập các ghi chú bằng đô la Mỹ, đã thay thế phần lớn tiền đồng Việt Nam. Với giá cả tăng cao, thu nhập thực tế đã giảm xuống tới mức thấp nhất.

Lần lượt những cải cách đã ồ ạt giảm năng lực sản xuất. Hơn 5.000 trong số 12.300 doanh nghiệp nhà nước đã bị đóng cửa hoặc được chỉ đạo phá sản. Các hợp tác xã tín dụng đã bị loại bỏ, tất cả các khoản tín dụng dài hạn và trung hạn cho ngành công nghiệp và nông nghiệp đã bị đóng băng. Chỉ tín dụng ngắn hạn là có sẵn, với lãi suất 35%/ năm (năm 1994). Ngoài ra, thỏa thuận IMF đã cấm nhà nước cung cấp hỗ trợ ngân sách, hoặc cho nền kinh tế nhà nước hoặc cho một khu vực tư nhân mới chớm nở.

Chương trình nghị sự về những cải cách đã bị che giấu này bao gồm nền tảng công nghiệp mất ổn định ở Việt Nam. Các ngành sản xuất công nghiệp nặng, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và khai thác khoáng sản, xi măng, sắt thép sẽ được tổ chức lại và được thực hiện dựa trên số vốn nước ngoài. Tài sản nhà nước có giá trị nhất sẽ được chuyển giao để củng cố và duy trì cơ sở công nghiệp, hoặc để phát triển một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thuộc sở hữu và kiểm soát bởi dân chúng.

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, hơn một triệu công nhân và hơn 20.000 công nhân viên chức (trong đó đa số là nhân viên y tế và giáo viên) đã bị sa thải. Lần lượt, nạn đói địa phương đã nổ ra, ảnh hưởng đến ít nhất một phần tư dân số cả nước. Những sự đói khát này không giới hạn ở các khu vực thiếu lương thực. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam, 25% số dân trưởng thành tiêu thụ chưa tới 1.800 calories mỗi ngày. Ở các thành phố, sự mất giá của tiền đồng cùng với việc loại bỏ trợ cấp và kiểm soát giá cả đã dẫn đến giá gạo và các nhu yếu phẩm khác tăng vọt.

Những cải cách này đã dẫn đến việc cắt giảm mạnh mẽ các chương trình xã hội. Với việc áp dụng học phí, ba phần tư trong số một triệu trẻ em bỏ học khỏi hệ thống trường công trong vài năm (từ 1987-1990). Các trạm y tế và bệnh viện sụp đổ, sự hồi sinh của một số bệnh truyền nhiễm như sốt rét, lao phổi và tiêu chảy được Bộ Y tế và các nhà tài trợ nhận ra. Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới xác nhận rằng, số người tử vong do bệnh sốt rét tăng gấp ba lần trong bốn năm đầu của thời kỳ cải cách, cùng với sự suy sụp của việc chăm sóc sức khỏe và giá cả các loại thuốc chống sốt rét tăng vọt. Chính phủ (dưới sự hướng dẫn của các nhà tài trợ quốc tế) cũng đã ngưng hỗ trợ ngân sách để cung cấp các thiết bị y tế và bảo trì, dẫn đến tình trạng tê liệt toàn bộ hệ thống y tế công cộng. Tiền lương thật sự của nhân viên y tế và điều kiện làm việc đã giảm đáng kể: tiền lương hàng tháng của các bác sĩ y tế tại một bệnh viện huyện thấp tới mức $15 một tháng.

Mặc dù Mỹ đã bị đánh bại trên chiến trường, nhưng hai thập niên sau đó Việt Nam dường như đã đầu hàng kẻ thù chiến tranh trước đây của mình về mặt kinh tế.

Không có những quả bom viên bằng thép hay màu cam, không có bom napalm, không có hóa chất độc hại: một giai đoạn mới của sự hủy diệt kinh tế và xã hội đã diễn ra. Những thành tựu của cuộc đấu tranh trong quá khứ và nguyện vọng của một quốc gia toàn vẹn chưa hoàn thành và đã bị xóa gần như với một nét bút (chữ ký).

Điều kiện nợ và điều chỉnh cơ cấu dưới sự ủy thác của các chủ nợ quốc tế tạo ra do hậu quả của chiến tranh Việt Nam, một công cụ thuộc địa bất bạo động chính thức và hiệu quả như nhau và sự bần cùng hóa ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu người.

——

Tác giả: Michel Chossudovsky là giáo sư kinh tế tại Đại học Ottawa và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa.

Bài viết trên đã được viết năm 1995, đầu tiên được đăng tải vào ngày 30 tháng 4 năm 1995, trong bối cảnh kỷ niệm 20 năm “Giải phóng Sài Gòn”.

Một bài phân tích sâu hơn dựa trên những nghiên cứu thực tế được tiến hành ở Việt Nam, tập trung vào những cải cách tân tự do của Hà Nội, sau đó đã được đăng trong cuốn sách của Michel Chossudovsky, The Globalization of Poverty, ấn bản đầu tiên năm 1997, ấn bản thứ hai vào năm 2003.

Nguồn bản gốchttp://www.globalresearch.ca/who-won-the-vietnam-war/172

Nguồn bản dịch: https://www.facebook.com/BasamVN/posts/619964634763977

———————————————–

(Cập nhật 16-4-2014: Phần dưới đây đã từng nằm ở phần nhập đề  ( post vào 30-11-2008), nay được đưa xuống cuối bài cho thích hợp với nội dung của chủ đề )

Đi Du Học Mỹ là nối nhịp cầu quan hệ Việt Mỹ.

1./TH lấy làm ngạc nhiên khi đọc bài báo dưới đây cho rằng con của ông kia đậu vào trường đại học.

Ở Mỹ, chẳng có trường đại học nào thi tuyển sinh hết. Chẳng có trường nào tổ chức thi cử chọn sv vào năm thứ nhất vào học nên chẳng có chuyện đậu hay rớt. SV nào muốn vào học năm thứ nhất thì cứ việc nộp đơn và chờ trường cứu xét gởi giấy về báo được nhận hay không được nhận.

Việc tuyển chọn vào đại học chỉ căn cứ vào một số tiêu chuẩn như:
_điểm SAT hoặc ACT (là kỳ thi mà học sinh lớp 9, 10, 11, 12 nào muốn thi thì cứ việc đóng tiền 30 đô lệ phí và cứ việc ghé vào một trung tâm gần nhà để thi vào ngày thứ Bảy. Kỳ thi được tố chức 7, 8 lần một năm; bài thi do một tổ chức tư nhân soạn bài thi, tổ chức thi, chấm bài và công bố điểm thi. Tổ chức tư nhân nầy không phải là cấp dưới của bộ giáo dục, và cũng không liên hệ hay chịu sự sai khiến chỉ huy của bất cứ đại học nào hết).
_phiếu điểm hay thành tích học 4 năm trung học từ lớp 9-12
_thành tích về các hoạt động ngoại khóa ngoài thời giờ học, thì học sinh ấy có tham gia hoạt động nào không: thí dụ: đá banh, đánh kiếm, bơi lội, máu ba lê, trượt băng, trong đội tuyển thể thao, hướng dẫn và dạy các em học sinh ở các khu vực nghèo, viết và xuất bản tác phẩm …
_Viết một bài luận văn mà đề bài do trường đại học đưa ra cho năm đó. Kèm bài luận vào đơn xin nhập học và gởi đến cho trường.

Hàng năm, các trường đại học như Harvard, Yale, Princeton vẫn dành chỗ khoảng 5-7% để cho sinh viên nước ngoài vào học năm thứ nhất và họ cho học bổng 100% cho nơi ăn, ở, chi tiêu… Thông thường các học bổng loại nầy cấp cho  sinh viên từ các nước nghèo, đặc biệt là các trường nầy thường lấy lòng chính phủ nào đó, thì họ nhận con của các cán bộ cao cấp của các nước cộng sản cho vào nhập học năm thứ nhất; hoặc nhận bất cứ SV nào do các nước cộng sản đưa danh sách mà không cần biết khả năng của SV ấy ra sao. (Nhưng đối với sv trong nước, được nhận vào học các trường nầy rất khó khăn vì nhà trường đặt tiêu chuẩn chọn lựa rất cao).

Ngoài ra, các trường nổi tiếng hàng năm cũng cấp học bổng cho con cái của các cán bộ cộng sản cho vào học ngành master để lấy bằng tiến sĩ và cũng không cứu xét gắt gao như họ đã làm đối với SV trong nước. (Trường hợp ở trong bài báo dưới đây là một thí dụ)

Advertisements

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chinh Sach doi ngoai, Nhan Vat Chinh tri | 2 Comments »

Entry for November 30, 2008

Posted by hoangtran204 trên 30/11/2008

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Con Lu nhà tôi (I)

Trong ba chú chó mới sinh, bà dì ở Ðà Lạt cho tôi một con và được chọn ưu tiên. Cả ba đều là chó đực nên chỉ cần lựa con nào có bộ lông đẹp nhất là đủ. Khi tôi ngồi sà vào ổ của ba chú chó chưa mở mắt, chợt con có màu lông xám, hai đốm vàng trên lưng ngúc ngoắc đầu đánh hơi bò về phía tôi. Nó đưa cái mõm mũm mĩm, ươn ướt ủi vào bàn chân của tôi. Cái đuôi cũn cỡn ngoe nguẩy như loài chuột xạ…

Hai tuần lễ sau tôi ghé thăm dì. Bầy chó đã mở mắt đang ngậm vú mẹ. Khi nghe tiếng tôi trốc trốc, chú chó lông xám ấy bỏ vú mẹ bò vào lòng tôi. Dù màu lông không nổi bật như hai con kia nhưng tôi thích cái tính thân thiện của nó ngay từ giờ phút đầu.

Mang chó về nhà, con tôi chê màu lông nhớp nhem rồi tự động đặt tên là Lu. Dù mới một tháng tuổi, nhưng khi rời chó mẹ về nhà tôi, Lu ít khi kêu đêm như những chú chó con khác. Ban đầu cho Lu bú bằng bình sữa, rồi cho ăn sữa đặc đổ vào đĩa. Chỉ ba tháng sau là Lu lớn như thổi.

Lai lịch của dòng họ nhà Lu cũng ly kỳ lắm. Jolie là tên mẹ của Lu, giống chó xù Nhật Bản, nhỏ con, chân thấp, dáng đi lũn cũn. Nó hay qua nhà láng giềng đùa giỡn với anh chàng berger to con, tai vểnh, đôi chân sau vạm vỡ. Một hôm, lũ trẻ đến trước nhà Dì tôi kêu giật giọng rằng là con Jolie bị con chó berger của ông Tư Ðợi tha đi khắp khu vườn. Dượng tôi hốt hoảng chạy sang. Những tưởng con berger đã cắn chết con xù của nhà dượng. Nào ngờ cảnh tượng lạ lùng rất khó tin đã xảy ra: Con berger lẹo với Jolie nhỏ hơn nó gấp mấy lần. Vì là phần kết thúc sau “cuộc mây mưa” của loài chó, cho nên hắn tha con cái còn mắc cứng phía sau đuôi. Hai chân sau của con Jolie bị treo hỏng trên cao chỉ còn cái mõm và đôi chân trước bị kéo lê trên đất. Nàng kêu toáng lên khiến chàng đâm hoảng na chạy khắp vườn như na cái đuôi của mình trở nên nặng chình chịch. Kết quả cuộc tình giữa hai “chủng tộc”, nàng Jolie đẻ ra ba chú chó lai. Nhờ vậy mà đời con của nàng không còn mang dáng dấp thấp lè tè của loài chó xù nữa.
Con Lu lớn lên bộ lông ngày càng đẹp. Màu xám của mẹ pha màu vàng của bố mướt mượt như nhung. Hai đốm vá màu vàng đậm nằm hai bên hông, thoạt trông như yên ngựa. Dù không to con lớn xác như bố nhưng con Lu cũng vượt trội hơn đám chó nhà. Chân cao, dáng đi oai vệ như loài hổ. Hai vai rộng, u thịt nổi vồng lên khi nó bước đi. Cặp mắt ánh lên màu lửa như có thần lực. Ðàn chó hàng xóm gặp Lu là cụp đuôi chạy dài. Sau này, những lần đi săn giải trí loanh quanh ở những khu đồi còn an ninh, tôi mới nhận biết loài chồn, loài thỏ thấy Lu là hồn xiêu phách lạc, đứng chôn chân tại chỗ. Mỗi lần con tôi đi học về là dành nhau ôm Lu vào lòng. Tình cảm giữa chó và người không hề phân biệt. Ngoài cái khứu giác bẩm sinh độc đáo của loài chó có thể đánh hơi hàng mấy dặm, thính giác con Lu còn phân biệt được tiếng xe quen thuộc của tôi từ xa. Nó nghểnh mõm, ve vẩy đuôi chạy ra trước sân. Nhìn cử chỉ đó là nhà tôi đoán biết tôi sắp về đến nhà. Lu cạ vào chân tôi từ lúc xuống xe đến khi tôi vỗ về âu yếm nó mới chịu đi nơi khác. Lu cũng cảm nhận khá nhạy bén lúc tôi buồn bực hay giận hờn. Những lúc ấy nó nằm khoanh tròn nhìn tôi với ánh mắt buồn xo. Ðến khi tôi vui vẻ trở lại là Lu chạy đến cạ lưng vào người và liếm tay tôi như để hòa đồng niềm hân hoan với chủ.

*

Sau ngày “gẫy gánh 75”, tôi lên đường trình diện ban Quân quản thị xã. Tôi mang theo mười ngày gạo cùng ít đồ dùng, từ biệt vợ con với bao âu lo trong lòng. Khi bước ra khỏi cửa, con Lu cứ luấn quấn cản bước chân, tôi trực nhớ đến nó liền cúi xuống ôm Lu vào lòng. Ánh mắt ươn ướt buồn thiu của nó nhìn tôi chẳng khác gì đôi mắt của vợ tôi rươm rướm lệ. Lu liếm vào mặt tôi như quyến luyến từ biệt chủ phải đi xa lâu ngày. Trong tù, nhớ lại ánh mắt con Lu, tôi hiểu ra rằng loài chó còn có một giác quan đặc biệt, cảm tính rất nhạy bén về thái độ và tâm trạng của người gần gũi nó . Những tưởng mười ngày nửa tháng rồi quay về, nào ngờ cách biệt gia đình với thời gian dài hun hút. Tôi nhớ con Lu cũng tương tự như nhớ các con tôi. Nỗi lo ngại của tôi là lương thực ngày một khó khăn làm sao vợ tôi chạy đủ bữa cho đàn con bốn đứa lại thêm miệng ăn con chó.

Một ngày nọ, nhà tôi lên trại tù thăm, cho biết chú Dương Thái Lân, con của bà cô Út tôi từ Bắc về Nam có ghé thăm gia đình. Chú ấy bảo con Lu có cốt tướng nòi săn, muốn xin nó về đơn vị nuôi để săn mồi cải thiện thịt tươi. Lân là vai em nhưng lớn tuổi hơn tôi nhiều. Ði bộ đội từ trước 1954, sau tập kết ra Bắc được sang Tiệp Khắc học ngành cầu đường. Hiện là thủ trưởng đơn vị Công binh sửa đường ở Cao nguyên. Vợ tôi nhất quyết không cho con chó, lấy lý do phải qua ý kiến của chồng.

Một hôm, quản giáo trại gọi tôi lên văn phòng ban giám đốc. Một anh bộ đội mặc áo quần đại cán ngồi trong phòng tiếp khách tay cầm một tờ tạp chí cuốn tròn. Anh cán bộ thấy tôi vào, liền hỏi :

– Nguyễn Tấn đấy à?

Tôi ngập ngừng :

-Thưa vâng.

-Tôi là Dương Thái Lân.

Tôi à lên một tiếng để tỏ rằng mình biết hắn là ai. Thực ra, qua 21 năm ở Bắc và mấy năm đi bộ đội Vệ Quốc Ðoàn làm sao tôi nhớ nỗi cái khuôn mặt ngày xưa của thằng em con bà cô Út. Ðưa tờ báo cuốn tròn cho tôi, hắn bảo:

– Ngày trước anh cũng viết sách, làm báo dữ dằn đấy nhỉ?

Tôi mở cuộn báo thì ra là tờ Bán nguyệt san Quyết Tiến. Ðó là tạp chí do tôi trách nhiệm biên tập trước 75 do cơ quan USAID của Hoa Kỳ yểm trợ ngân khoảng để in ấn phân phát cho các đơn vị Ðịa phương quân và Nghĩa quân.

Lân bảo:

– Tôi có đọc trong đó truyện dài “Nhật Ký Bích Phương” của anh viết đăng nhiều kỳ về Tết Mậu Thân 68. Viết bạo đấy chứ, theo đúng sách lược tuyên truyền chống cách mạng của Mỹ Ngụy.

Tôi giật mình và cảm thấy bất an. Hắn đưa tay ra hiệu lấy lại cuốn tạp chí rồi lên tiếng:

– Tôi có ghé nhà thăm chị Tấn. Giai đoạn này mà trong nhà còn nuôi con chó kiểu tiểu tư sản. Anh không sợ cặp mắt của quần chúng hay sao?

Tôi than thở:
– Thời gạo châu củi quế, nhà tôi phải chạy gạo cho bốn miệng ăn, nhưng vì nuôi nó
từ lúc mới sinh nên tình cảm gắn bó như thành viên trong gia đình.

Hắn ngắt lời:

– Tôi có đề nghị với chị cho tôi mang con chó đó về đơn vị để đỡ bớt khẩu phần ăn cho gia đình nhưng chị bảo phải qua ý kiến anh. Mới nhìn là tôi biết nó thuộc giống chó săn quý hiếm và có thể chống lạïi cả thú dữ.

Tôi bực mình trước cái lối điếm lỏi, nhưng cố nén giọng:

– Nếu chú thích con chó thì về hỏi nhà tôi, quyền quyết định ở bà ấy.

Tôi đứng lên chào hắn rồi đi thẳng xuống trại.

*

Ðến kỳ thăm nuôi sau, bà xã tôi báo tin chú Lân đến nhà bắt con Lu đi rồi. Bỗng dưng mắt tôi như nhòa sương, lòng xót thương con Lu vô hạn. Từ ngày vào tù, tôi nghi ngờ tất cả những gì người ta nói. Giờ đây Lân bảo đem Lu về nuôi hay ăn thịt chỉ có trời biết. Thấy mắt tôi rưng rưng ngấn lệ, vợ tôi an ủi:

– Lũ con mình cơm không đủ ăn mà phải nhường cho chó một ít, lòng em cũng xót xa lắm. Nó thiếu ăn nên cả đêm chạy rông kiếm mồi đến sáng mới về nhà. Lông nó ướt nhớp nháp, đầy bùn. Biết đâu có cơm bộ đội dư thừa thân nó sẽ mập ra. Mình có giữ lại một thời gian sau cũng bị người ta đập chết làm thịt thôi. Xã hội bây giờ thiên hạ ghiền thịt chó lắm, anh có biết không?

Hết giờ thăm nuôi, tôi đứng vào hàng. Nhìn đôi mắt nhòa lệ của vợ khiến lòng tôi xót xa vô cùng. Cả đêm hôm đó hình bóng con Lu cứ chập chờn trong giấc ngủ. Tôi mơ thấy đôi mắt buồn rười rượi của Lu nhìn tôi trong ngày ra đi như báo hiệu rằng nó không còn dịp gặp chủ nữa. Cái cảm giác man mác êm êm của lưỡi nó liếm vào mặt, vào cổ, giờ đây tôi vẫn không quên. Niềm tin gắng gượng nhỏ nhoi vào lời hứa của thằng em con bà cô là xin con Lu để canh chừng thú dữ và săn mồi. Vả lại, cái công khó của Lân đã lặn lội đường xa đến trại cải tạo để gặp tôi nên cũng an ủi phần nào.

Ba tháng sau, vợ tôi với khuôn mặt hớn hở báo với tôi con Lu không còn ở với chú Thái Lân nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi dồn. Nàng kể:

– Cách đây một tuần lễ, chú ấy bất thần đột nhậâp vô nhà mình không giữ kẽ như những lần trước. Chú dáo dác nhìn trước nhà, nhìn sau nhà, cả cái phòng ngủ của vợ chồng mình chú cũng ghé mắt quan sát. Ðột nhiên Lân hỏi:

– Con Lu có chạy về đây không chị?

Em sững sờ hỏi:

– Nó ở với chú mà?

– Tức lắm chị ơi, Lân ngồi vào cái ghế đặt ngoài hiên, nói tiếp: “Trước khi đi công tác Hà Nội, tôi gởi Lu cho chị nuôi lo ăn hàng ngày. Không ngờ các đồng chí trong đơn vị lợi dụng lúc tôi vắng nhà, bắt con Lu làm thịt đánh chén. Chúng bỏ con chó vào bao bố dìm xuống nước. Khi mở bao ra con chó không còn thở nữa. Họ yên chí ngồi chờ nồi nước đang nấu cho thật sôi để cạo lông. Ca nước sôi đầu tiên tưới vào lưng con Lu, bất ngờ nó vùng dậy chạy đi mất dạng. Lập tức các đồng chí ấy cầm súng lùng sục các ven rừng nhưng chẳng thấy nó đâu nữa. Tôi yên chí con Lu sẽ trở lại nhà chị vì nó vừa khôn vừa có sức mạnh khác thường. Tôi đánh giá thành tích săn bắt mồi của con Lu rất cao. Nó thường xuyên bắt được chuột đồng, thỉnh thoảng chồn hoặc thỏ. Mình có chất tươi thêm vào bữa ăn nên tôi quý nó lắm. Kể xong, Lân đi ra xe xách vào một bao cát đựng đầy gạo, bảo:

– Ðây là số gạo tiêu chuẩn tôi đi công tác còn thừa, chị nhận cho các cháu bồi dưỡng và thêm phần cho con Lu. Nếu nó có trở về đây xin chị báo tin cho tôi biết.

Lân ra đi được một ngày.

Hôm sau, lúc chạng vạng tối, cả nhà đang ăn cơm, con Lu không biết từ đâu chạy xồng xộc vào nhà, mình nó ướt đẫm mồ hôi. Trên lưng một vết phỏng to bằng bàn tay lột hết lớp lông và đã bắt đầu làm mủ. Lũ con mình ôm con Lu vào lòng mừng rơi nước mắt. Cả nhà phải nhịn một phần cơm cho nó. Loáng cái là nó vét sạch đĩa cơm độn sắn. Lu ve vẩy đuôi, đưa lưỡi liếm từng người trong gia đình như để điểm lại những người thân. Mấy đứa con mang Lu ra giếng chà xát xà phòng, tắm rửa, bắt sạch ve vắt bám vào da. Em khui bình thuốc Peniciline rắc lên vết phỏng. Chờ đến tối, bọn em mang Lu về gởi cho ông bà ngoại vì biết thế nào chú Lân cũng trở lại tìm chó. Ðêm đó, Lu cứ theo chân em đòi về, thằng Doãn phải ngủ nhà ngoại để giữ con Lu ở lại. Em vuốt ve vỗ về:

– Con phải ở lại đây với ngoại. Lu không được theo mẹ về nhà, người ta sẽ đến bắt con đi, biết hông?”. Lu vểnh tai nghe lời em dặn nên ngoan ngoãn nằm trong lòng của Doãn mà không còn hậm hực đòi về nữa.”

Từ đó, hễ thấy người nào mặc áo quần xanh lá cây vào nhà là Lu chui dưới gầm giường chìa đầu ra, nhe răng gầm gừ. Chỉ cần một cú giậm chân là đủ để nó phóng ra vồ ngay. Sau lần thoát chết, con Lu nghi ngờ hầu hết mọi người, chỉ trừ gia đình tôi và ông bà ngoại. Tính thân thiện của con Lu giờ đây không còn nữa. Loài chó rất trung thành với chủ nhưng khi bị một lần đối xử tàn nhẫn với nó là bỏ nhà đi luôn.

Gia đình ông bố vợ tôi tuy ở thị trấn nhưng vì là vùng đất đai đã tạo mãi từ trước khi trở thành thị tứ nên nhà cửa vườn tược rộng thênh thang. Tiếp giáp với vườn cây ăn trái là cánh đồng mía, nay thuộc hợp tác xã nông nghiệp. Lu không bao giờ ra trước đường phố mà chỉ lùng sục trong vườn cây, ruộng mía sau nhà tha hồ bắt chuột, chim chóc, rắn rít. Nó sống như một tử tù thoát ngục. Nó biết ngoài xã hội loài người đang nhìn nó một cách thèm thuồng. Họ chỉ chờ cơ hội là biến thân xác nó thành miếng nhừ, miếng mận.

Ngày ra tù, tôi vào thăm ông bà nhạc gia. Khi vợ chồng tôi vừa đến cổng nhà, con Lu đánh hơi được từ trong nhà phóng ra chồm lên người tôi. Với sức nặng của nó đã khiến tôi té ngồi xuống đất. Người nhà ngỡ con Lu tấn công kẻ lạ mặt nên vội la lên : “Bố đấy Lu, tránh ra!” Nhưng không. Nó xoải hai chân trước đứng trên đùi tôi rồi đưa lưỡi liếm trên khắp mặt mày, tai cổ của tôi. Qua cơn hốt hoảng vì cú ngã bất ngờ, tôi hiểu ra con Lu đang mừng chủ. Tôi liền ôm chầm lấy nó rồi người và chó lăn lộn trên nền sân xi-măng. Cha mẹ vợ tôi vui mừng thấy con rể được ra tù. Hàng xóm đứng nhìn cảnh người vật ôm nhau, họ không tránh khỏi xúc động trong lòng.

Sáu tháng sau, nhà tôi sắp xếp cho tôi và thằng con trai lớn một chuyến vượt biển. Tôi phải xin hộ khẩu ở
nhà bà dì tận làng An Vĩnh gần mũi Ba-Tâng-Gâng. Tôi có tên trong tổ hợp đánh bắt cá bằng lưới mành với ông dượng và mấy người em bà con. Tôi dắt con Lu theo để tránh cặp mắt của láng giềng và tránh luôn chú Lân bất thần đến nhà bắt gặp nó. Trước một ngày tới điểm hẹn, vợ tôi dẫn thằng Doãn, con trai đầu lòng của tôi xuống nhà bà dì để chuẩn bị lên đường. Sáng hôm sau, nhà tôi mang con Lu lên xe lam trở về nhà.

Ðêm 30 tháng hai âm lịch, trời không trăng nhưng rừng sao trên trời đủ soi rõ đường đi trên bãi cát trắng lờ mờ. Hơi nước biển mát lạnh cùng với ngọn gió tây thổi lồng lộng làm cho đám người trốn trong các bờ bụi rét run cầm cập. Họ cố dõi mắt về hướng biển. Mười giờ… mười một giờ… đến mười hai giờ ba mươi khuya, ánh đèn pin từ gành đá chợt nháy sáng báo hiệu ghe con đã đến. Tốp đầu tiên gồm bốn người lần lượt tiến ra gành đá. Tiếp theo là hai cha con tôi cùng hai người ở cánh bắc cũng xuất hiện. Cuộc “ra quân” âm thầm nhưng đúng theo thứ tự ấn định. Còn mười phút nữa mới đến tốp cuối cùng. Bỗng, phía sau làng có tiếng chân người chạy rầm rập rồi tiếng súng nổ loạn xạ. Toán đầu quay trở lại chạy tản mác vào xóm. Hai người cánh bắc cũng thế. Riêng tôi chạy băng qua gành rồi luồn vào lùm cây đước. Thằng Doãn, trước khi đi tôi đã dặn dò kỹ lưỡng. Nếu họ bắt được là cứ khai đi một mình đừng để liên lụy đến Ba. Toán du kích chia nhau chạy lùng trong xóm. Một du kích đuổi theo Doãn, đến gần bìa làng hắn chộp được cổ con tôi. Thằng bé la toáng lên: “Thả tôi ra, thả tôi ra”. Anh du kích xách thằng bé lên cao. Tay chân nó không ngừng giẫy giụa. Chợt, một bóng đen từ trong hàng dừa phóng ra nhảy chồm lên bám vào cổ anh du kích. Con chó! Tôi thầm kêu lên. Nó tấn công khá bất ngờ khiến anh ta đánh rơi cây súng và buông thằng nhỏ để đánh vật với con chó. Anh ôm đầu con chó nhưng răng chó càng lúc càng lún sâu vào cổ như con quỷ Dracula đang hút máu người. Hắn kêu cứu. Một lúc sau mới có đồng đội đến tiếp sức. Con chó cũng vừa nhả ra chạy vào trong xóm. Một loạt súng của người mới đến bắn đuổi theo. Tôi nghe tiếng ăng ẳng của chó từ trong xóm vọng ra. Một nghi ngờ thoáng qua, chẳng lẽ con Lu ? Nhưng tôi yên tâm ngay bởi con Lu đã được vợ tôi dẫn về nhà trong ngày hôm trước. Núp trong đám cây đước tôi quan sát đầy đủ cảnh chó và người vật nhau. Con chó xuất hiện trong bóng đêm chớp nhoáng như loài sói vồ mồi. Hình ảnh con chó ngoạm cổ anh du kích, tôi liên tưởng đến ma cà rồng đội lốt chó để hút máu người. Nhưng dù ma hay chó tôi cũng thầm cảm ơn nó đã giải cứu cho con tôi và giải thoát được bao nhiêu người.

Tôi về đến nhà lúc tờ mờ sáng nhờ chiếc xe Honda thồ đi kiếm khách sớm. Tắm rửa thay áo quần xong, chợt nhớ đến con chó. Tôi hỏi vợ:

– Con Lu đâu?

Bà ấy bảo:

– Khi xe lam vừa đến ngả ba quốc lộ, con Lu vọt xuống xe chạy ngược theo con đường về hướng biển. Em nghĩ nó trở lại với anh và con. Nếu có điều gì không may xảy ra cho nó thì em biết làm sao bây giờ. Tôi nhìn vợ buông tiếng thở dài :

– Thôi rồi!

Tôi nghĩ ngay đến tiếng kêu đau đớn của chó vang lên sau tiếng súng. Con Lu có thể chết vì loạt đạn bắn theo. Tôi cảm thấy đau xót vô cùng.

Chờ trời tối hẳn, dì tôi mướn xe Honda thồ đưa Doãn về với chúng tôi. Vợ tôi ôm con vào lòng, khóc thút thít:

– Giờ con đã thoát được về đây với mẹ cùng các em. Từ nay trở đi, đói no, chết sống mẹ nhất quyết không để gia đình ta chịu cảnh phân ly.

Doãn nhìn tôi hỏi:

– Ba có thấy con Lu không?

Chẳng đợi tôi trả lời, Doãn quả quyết:

– Lúc ông du kích buông con ra, trước khi chạy trốn, con có quay lại nhìn thấy con Lu đang ngoạm cổ ông ấy.

– Như vậy là con Lu đã chết vì loạt đạn, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi kết luận . Các con tôi đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Tôi an ủi:

– Dù sao thì mình đã dành tình thương và chăm sóc Lu như con trong gia đình. Nó có chết cũng là cái chết có ý nghĩa, một nghĩa cử vô cùng cao quý của loài chó không khác gì con người.

*

Cả nhà đang say ngủ. Ðột nhiên, tôi nghe tiếng cào sột soạt vào cánh cửa trước. Im ắng một hồi lâu, tiếng cào lại nổi lên lần nữa. Ghé mắt nhìn ra ngoài, tôi chẳng thấy gì cả. Chỉ có bóng đêm bao trùm và sương mù dày đặc phủ đầy trời. Tôi thiếp đi một chốc. Tiếng sột soạt nổi lên lần thứ ba. Lần nầy lâu hơn và ở ngay cánh cửa hông. Tôi vội bật đèn lên, hé cửa nhìn ra. Hốt hoảng, tôi kêu lên:

– Em ơi, con Lu trở về.

Cửa mở toang, Lu đi khập khiễng vào nhà. Tôi ôm Lu vào lòng và nước mắt tôi tuôn trào. Tôi khóc vì vui mừng và khóc vì thương nó quá đỗi. Bầy con tôi xúm vào quấn quýt bên Lu. Máu khô bê bết trên mông và đùi trái của nó. Một viên đạn ghim vào đùi sau, rất may là không đụng xương. Tôi rửa sạch vết thương bằng rượu cồn, xoa thuốc đỏ rồi băng kín vết thương lại.

Từ năm 1986 chính sách đổi mới, thị trấn quê tôi bắt đầu có sinh khí trở lại. Chẳng bao lâu sau, nơi đây buôn bán sầm uất. Cửa hàng tư nhân được mở ra tranh đua cùng với cửa hàng quốc doanh. Ðời sống có phần dễ thở hơn.

Sau trận chiến biên giới Việt Trung năm 1979, Dương Thái Lân và cả đơn vị công binh được điều động đến vùng thượng du Bắc Việt. Vì thế con Lu sống thoải mái với chúng tôi không còn lo lắng gì nữa.

Ðến tháng 7 năm 1991, gia đình tôi lên đường đi Mỹ theo diện tỵ nạn HO8. Con Lu cũng vừa tròn 18 tuổi. Nó đã quá già chỉ lẩn quẩn trong nhà. Nhưng khi có khách đến là nó vẫn không quên chạy vào gầm giường.

Ngày gia đình tôi vào Sài Gòn để lên máy bay, tôi cho Lu theo đến ga xe lửa cùng với bà con đưa tiễn. Khi còi tàu hụ từ xa, Lu đứng dậy sủa vang cả khu vực nhà ga. Trước khi lên tàu, mỗi người trong gia đình chúng tôi đều thay nhau ôm Lu vào lòng, rưng rưng, lưu luyến. Khi tiếng còi báo hiệu tàu chuyển bánh, con Lu nhìn đoàn tàu rồi tru lên một tràng dài. Ðây là tiếng tru lần đầu tiên trong cuộc đời 18 năm của nó. Tôi rùng mình. Tiếng tru thật áo não tưởng chừng như lời trối trăng vĩnh biệt của Lu nhắn gởi.

Khi qua Mỹ rồi, chúng tôi được thư nhà cho biết, con Lu không
chịu về nhà nữa. Nó lẩn quẩn ở khu vực nhà ga cho đến một ngày vào mùa Ðông rét buốt, Lu nằm chết bên đường rầy xe lửa, nơi mà chúng tôi đã ôm hôn nó trước khi bước lên tàu.

Hay tin Lu chết, con tôi ôm nhau khóc. Nước mắt chảy ròng ròng như khóc thương một người thân đã ra đi vĩnh viễn. Riêng tôi thầm nghĩ : “Cũng may là nó đã quá già yếu, thân chỉ còn da bọc xương nên được chết toàn thây. Dù muốn dù không nhân viên nhà ga cũng phải chôn xác Lu ở một nơi nào đó trong lòng đất. Ðất mãi mãi ấp ủ thân xác nó và ngàn vạn năm sau biết đâu bộ xương của Lu sẽ hóa thạch tồn tại mãi trên mảnh đất Việt Nam.”

Tôi khóc âm thầm trong đêm như khóc cho đứa con của tôi còn để lại quê nhà nay không còn nữa. Suốt mấy đêm liền tôi nghĩ về Lu như nghĩ về một con người quả cảm và thủy chung.

DCVOnline.net

Posted in Uncategorized | 3 Comments »

Entry for November 29, 2008

Posted by hoangtran204 trên 29/11/2008

Obama to nominate Clinton secretary of state Mon.

Obama sẽ bổ nhiệm bà Hillary Clinton làm bộ trưởng ngoại giao vào thứ hai tuần tới.

By BETH FOUHY, Associated Press Writer Beth Fouhy, Associated Press Writer 20 mins ago

Democratic officials say President-elect Barack Obama will nominate Sen. Hillary Rodham Clinton to be his secretary of state on Monday.

Obama plans to announce the New York senator as part of his national security team at a press conference in Chicago, the officials said Saturday. They requested anonymity because they were not authorized to speak publicly for the transition team.

To clear the way for his wife’s nomination, former President Bill Clinton has agreed to disclose the names of every contributor to his foundation. He’ll also refuse contributions from foreign governments to the Clinton Global Initiative, his annual charitable conference, and will cease holding C-G-I meetings overseas.

—————————————–

Deal on donors paves way for Clinton Cabinet post

By BETH FOUHY, Associated Press Writer
,
1 hr 40 mins ago

President-elect Barack Obama planned to nominate Sen. Hillary Rodham Clinton as his secretary of state on Monday, transforming a once-bitter political rivalry into a high-level strategic and diplomatic partnership.

Obama will name the New York senator to his national security team at a news conference in Chicago, Democratic officials said Saturday. They requested anonymity because they were not authorized to speak publicly for the transition team.

To clear the way for his wife to take the job, former President Bill Clinton agreed to disclose the names of every contributor to his foundation since its inception in 1997. He’ll also refuse donations from foreign governments to the Clinton Global Initiative, his annual charitable conference, and will cease holding CGI meetings overseas.

Bill Clinton‘s business deals and global charitable endeavors were expected to create problems for the former first lady‘s nomination. But in negotiations with the Obama transition team, the former president agreed to several measures designed to bring transparency to his post-presidential work.

The former president had long refused to disclose the identities of contributors to his foundation, saying many gave money on condition that they not be identified. He’s now agreed to do so, and has volunteered to step away from day-to-day management of the foundation while his wife serves as secretary of state.

Bill Clinton also agreed to submit his speaking schedule to vetting by the State Department and White House counsel, and to submit any new sources of income to similar ethical review.

Obama’s choice of Hillary Clinton was an extraordinary gesture of goodwill after a year in which the two rivals competed for the Democratic nomination in a long, bitter primary battle.

The two clashed repeatedly on foreign affairs during the 50-state contest, with Obama criticizing Clinton for her vote to authorize the Iraq war and Clinton saying that Obama lacked the experience to be president. She also chided him for saying he would meet with leaders of rogue nations like Iran and Cuba without preconditions.

The bitterness began melting away in June after Clinton ended her campaign and endorsed Obama. She went on to campaign for him in his general election contest against Republican Sen. John McCain.

Advisers said Obama had for several months envisioned Clinton as his top diplomat, and he invited her to Chicago to discuss the job just a week after the Nov. 4 election. The two met privately Nov. 13 in Obama’s downtown transition office.

Clinton was said to be interested and then to waver, concerned about relinquishing her Senate seat and the political independence it conferred. Those concerns were largely ameliorated after Obama assured her she would be able to choose a staff and have direct access to him, advisers said.

Remaining in the Senate also may not have been an attractive choice for Clinton. Despite her political celebrity, she is a relatively junior senator without prospects for a leadership position or committee chairmanship anytime soon.

Some Democrats and government insiders have questioned whether Clinton is too independent and politically ambitious to serve Obama as secretary of state. But a senior Obama adviser has said the president-elect had been enthusiastic about naming Clinton to the position from the start, believing she would bring instant stature and credibility to U.S. diplomatic relations and the advantages to her serving far outweigh potential downsides.

Clinton, 61, a Chicago native and Yale Law School graduate, practiced law and served as the first lady of Arkansas during her husband’s 12 years as governor of the state, from 1979-81 and 1983-1992.

Clinton was the nation’s first lady from 1993 to 2001. The same year George W. Bush defeated Al Gore to succeed her husband in the White House, Clinton ran for the Senate as a New York Democrat. She won re-election in 2006 and was widely regarded as the favorite for her party’s nomination for president in 2008.

In the Senate, Clinton served on the Armed Services Committee, the Committee on Environment and Public Works and the Committee on Health, Education, Labor and Pensions.

http://news.yahoo.com/s/ap/20081130/ap_on_go_pr_wh/clinton_secretary_of_state

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Khủng Hoảng Tài Chánh Ảnh Hưởng

Posted by hoangtran204 trên 28/11/2008

Giới đầu tư vào thị trường bất động sản tại Việt Nam có thể sắp vỡ nợ

Saturday, November 29, 2008

Hà Nội (NV) – Cách nay ít lâu, Ngân Hàng Nhà Nước CSVN từng báo cáo với Quốc Hội CSVN rằng, tổng số tiền cho vay để đầu tư vào bất động sản tại Việt Nam đã lên tới 115 ngàn tỉ đồng. Mới đây, Ngân Hàng Nhà Nước CSVN lại tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục báo cáo về các khoản đã cho vay để đầu tư vào bất động sản.

Trước sự kiện đó, tờ Sài Gòn Tiếp Thị đã phỏng vấn ông Lê Quốc Lý, vụ trưởng tài chính tiền tệ, Bộ Kế Hoạch và Ðầu Tư, bởi yêu cầu mới kể của Ngân Hàng Nhà Nước CSVN đang gây ra sự nghi ngại về khả năng tồn tại của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

Ông Lê Quốc Lý giải thích: “Tuy tổng số tiền cho vay để đầu tư vào bất động sản (115 ngàn tỉ đồng), chỉ chiếm khoảng 9.5% tổng dư nợ tín dụng, song nợ xấu của thị trường bất động sản được xem là chưa thống kê hết. Do đó, Ngân Hàng Nhà Nước cần kiểm tra lại. Việc rà soát lại các khoản cho vay và các khoản thế chấp để vay vốn đầu tư vào bất động sản là rất cần thiết. Nếu ngân hàng nào có vấn đề thì phải có ngay giải pháp để không xảy ra đổ bể”.

Tuy nhiên cũng ông Lý trấn an: “Yêu cầu của thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước không đồng nghĩa với ‘tình hình của các ngân hàng đang rất xấu’. Ðiều đó đơn thuần chỉ là phải giám sát các khoản cho vay, sau một thời gian quản lý lỏng lẻo”.

Một số tờ báo ở Việt Nam đã từng cảnh báo rằng, những khoản cho vay đáng ngại, nhiều rủi ro nhất là cho vay có nhận thế chấp để người vay đầu tư vào bất động sản. Ðáng lưu ý là tới nay, các số liệu về những khoản cho vay loại này chưa được công bố. Cũng vì vậy, tờ Sài Gòn Tiếp Thị đã đề nghị ông Lý cho biết, loại nợ đó đang chiếm tỷ lệ thế nào trong tổng số vốn cho vay để đầu tư vào bất động sản (?)

Vụ trưởng tài chính tiền tệ của Bộ Kế Hoạch và Ðầu Tư CSVN không trả lời trực tiếp thắc mắc ấy. Ông ta chỉ khẳng định rằng: “Phần lớn các khoản cho vay để đầu tư vào bất động sản đều dựa trên tài sản thế chấp. Khoản 115 ngàn tỉ đồng đã cho vay chắc chắn phải có thế chấp. Tuy nhiên, điều nguy hiểm, cần quan tâm là tài sản dùng để thế chấp đã được định giá thế nào. Các ngân hàng thương mại được yêu cầu cho vay không quá 70% giá trị của tài sản thế chấp so với giá nhà nước quy định. Giá nhà nước quy định bao giờ cũng thấp hơn giá thị trường. Theo tôi biết, nhiều ngân hàng chỉ cho vay từ 45-50% giá trị tài sản thế chấp theo giá nhà nước qui định. Trong khi đó, đến nay, những tài sản thế chấp chưa mất giá đến 30% hoặc 40%. Do vậy, có thể yên tâm với các khoản cho vay để đầu tư vào bất động sản”.

Tuy nhiên, chính ông Lý cũng không dám đoan chắc: “Dù sao cũng cần kiểm tra lại những khoản cho vay mà tài sản thế chấp được đánh giá quá cao để có biện pháp xử lý kịp thời”.

Những số liệu mới nhất do Bộ Tài Chính CSVN và Hiệp Hội Bất Ðộng Sản đã công bố cho thấy, tỷ lệ đầu cơ bất động sản lên tới 80% ở Sài Gòn và chiếm 70% ở Hà Nội. Cũng vì vậy, người ta thực sự băn khoăn về “sức khỏe” của hệ thống ngân hàng thương mại khi thị trường bất động sản đã “đóng băng” khá lâu. Sau khi nghe mô tả về những băn khoăn này, ông Lý cả quyết: “Tôi cho là phải rà soát kỹ càng, chặt chẽ. Với những người đầu cơ, tôi nghĩ, phải chấp nhận cho họ phá sản vì lợi ích của đất nước và đa số dân chúng. Lúc giá bất động sản lên cao, có người thu lợi vài trăm tỉ đồng, Nhà nước không được gì, dân chúng cũng không được gì. Họ có tiền mua biệt thự, xe hơi, nay, tình hình nguy hiểm thì kêu gọi lập quỹ cứu bất động sản. Tôi phản đối lập quỹ này. Nếu cứu họ, sẽ tạo ra làn sóng mới trong việc tăng giá bất động sản và chẳng biết tới bao giờ người bình thường mới mua được nhà”.

Dù vẫn khẳng định “khi giới đầu tư bất động sản không trả được nợ, các ngân hàng có phải phát mãi tài sản thế chấp thì vẫn bảo đảm thu hồi đủ vốn” nhưng ông Lý thú nhận: “Ðó là trong tình huống 115 ngàn tỉ đã cho vay có tài sản thế chấp được định giá đúng. Còn nếu từng được định giá lỏng lẻo thì đó sẽ là vấn đề”.

Ở cương vị vụ trưởng tài chính tiền tệ thuộc Bộ Kế Hoạch và Ðầu Tư, ông Lý thú nhận: “Tôi nghĩ cho vay tới 115 ngàn tỉ đồng, tức 8 tỉ USD, để đầu tư vào bất động sản là nhiều so với quy mô kinh tế Việt Nam. Lâu nay có nhiều nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh theo kiểu ‘tay không bắt giặc’. Nên kiểm soát chặt chẽ, không khuyến khích việc cho vay kiểu này nữa”.

Lúc được đề nghị dự báo về việc các khoản vay để đầu tư vào bất động sạn sắp tới hạn phải thanh toán vào cuối năm nay, ông Lý trả lời: “Cho đến nay, giá bất động sản chưa xuống vì giới đầu cơ vẫn còn có thể huy động vốn từ các nguồn khác để trả lãi cho ngân hàng.
Ðến thời điểm này và sắp tới họ phải có các giải pháp khác để trả cả nợ gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ phải thu cả vốn lẫn lãi về”.

Lúc đó, điều gì sẽ xảy ra: Chỉ có giới đầu tư bất động sản vỡ nợ hàng loạt hay nhiều ngân hàng thương mại phá sản theo? Tuy không ai dám xác quyết nhưng kiểu trả lời lấp lửng của ông Lê Quốc Lý khiến giới quan sát tin rằng, tương lai thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam thực sự ảm đạm. (G.Ð.)

—————————————————–

Nghĩ sao ?

Đầu năm 2006, Vinashin một doanh nghiệp nhà nước dược chính phủ bảo kê và vay mượn 340 triệu đô la Mỹ theo hình thức VN bán công khố phiếu cho nước ngoài, các nhà đầu nước ngoài mua công khố phiếu ấy. 10 năm sau, 2016, dù Vinashin làm ăn thua lỗ ra sao, nhà nước cũng phải trả lại đúng 750 triệu đô la Mỹ cho các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, Vinashin hàng năm, phải trả đóng vào một số tiền tương ứng 75 triệu để trả.

Suốt 2 năm qua, Vinashin lỗ te tua, chứng khoáng của Vinashin tuột dốc 90%, và nếu nền kinh tế tài chánh thế giới tiếp tục yếu kém như giới chuyên môn tính từ đây cho đến 2011, thì có nghĩa là Vinashin lỗ từ 2006-2011. Và đến 2016, thì chính phủ phải trả cho nước ngoài 750 triệu đô la vì đã bảo kê cho Vinashin mượn 340 triệu để làm ăn.

Doanh nghiệp vận tải biển lo lắng vì cước giảm mạnh

Chủ Nhật, 2/11/2008, 19:41 (GMT+7)

(TBKTSG Online) – Sự suy thoái của nền kinh tế thế giới kéo theo nhu cầu vận chuyển hàng nhập khẩu – xuất khẩu sụt giảm khiến giá cước vận tải đường biển cũng giảm mạnh theo.

Trong khoảng ba tháng gần đây, cước phí vận tải đường biển đã giảm từ 50 đến 70% và các chuyên gia dự báo rằng đến đầu năm tới tình hình vẫn có thể tiếp tục xấu đi.

Nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải lâu năm nói rằng họ không bất ngờ trước việc giá cước giảm vì đây là ảnh hưởng dây chuyền từ cuộc khủng hoảng tài chính, dẫn đến nền kinh tế thế giới suy yếu. Thế nhưng, việc giá cước giảm mạnh và chưa có dấu hiệu dừng lại đã trở thành nỗi lo lắng lớn của doanh nghiệp khi mà không biết trong thời gian tới “ai còn, ai mất”.

Ông Nguyễn Quang Hùng, Giám đốc điều hành Công ty vận tải Sunnytrans – đối tác Việt Nam trong liên doanh vận tải tàu biển Barwil Sunnytrans, ví rằng giá cước đang xuống dốc không phanh. Chỉ trong khoảng thời gian chưa tới ba tháng, giá thuê tàu hàng trọng tải lớn đã rớt từ 70.000 đô la Mỹ/ngày xuống còn 10.000 đô la Mỹ/ngày.Còn ông Nguyễn Quế Dương, Trưởng ban quản lý và khai thác tàu biển – Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), cũng cho rằng không thể tưởng tượng là chỉ trong vòng một tuần, giá cho thuê định hạn tàu hàng rời trọng tải 74.000 DWT từ mức 40.000 đô la Mỹ/ngày xuống còn 19.000 đô la Mỹ/ngày.

Cả doanh nghiệp sở hữu đội tàu lớn lẫn các đại lý tàu biển cho các hãng tàu nước ngoài đều than rằng đây là thời kỳ quá khó khăn đối với họ. Ông Hùng ở Barwil Sunnytrans nói rằng với lịch chạy tàu 20-30 chuyến/tháng thì việc giải bài toán làm sao vẫn có hàng để chạy mà không lỗ tiền nhiên liệu, nhân công… quả thật rất khó khăn.

Ông cũng cho biết vừa nhận được thông báo nói rằng một số hãng tàu nước ngoài như NOL, HMN, MOL, MSC, Hapag Lloyd… có khả năng cho khoảng 40 tàu nằm bờ tại Singapore vì chạy tàu thu không đủ bù chi. “Nghĩ đến tình cảnh thị trường trong nước, qua mùa này không biết doanh nghiệp nào trụ lại nổi, doanh nghiệp nào sẽ phá sản”, ông than.

Nỗi lo lắng của các doanh nghiệp vẫn tải biển vẫn chưa dừng lại, nhiều dự báo cho thấy tình hình khó khăn sẽ tiếp tục kéo dài, vì số lượng hợp đồng cho thuê tàu – đặc biệt là các hợp đồng với thời hạn dài, lại phụ thuộc vào tình hình xuất-nhập khẩu. Do nền kinh tế thế giới chưa thể hồi phục ngay nên nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa trong năm 2009 nhiều khả năng bị sụt giảm, kéo theo ảnh hưởng đối với ngành vận tải biển, đồng thời sự cạnh tranh gay gắt trong ngành cũng sẽ dẫn đến giá cả giảm thêm.

SONG NGUYÊN

http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/thuongmai/11623/

——————————————————————–

Đừng mong vốn ODA được nước ngoài quản lý chặt hơn08:05′ 15/04/2006 (GMT+7)

(VietNamNet) – Sau vụ bê bối ở PMU18, cuối tuần trước Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính rà soát lại cơ chế phân bổ, sử dụng, quản lý và kiểm tra việc sử dụng vốn ODA. Sau đây là ý kiến của một trong số các chuyên gia liên quan đến vấn đề đó.

Vụ ăn cắp của công tại PMU18 liên quan đến các quan chức cao cấp là một tín hiệu báo động đỏ về vấn đề trong sạch của guồng máy nhà nước, trong đó có việc dùng tiền vay nước ngoài để phát triển kinh tế. Dù mượn cho Nhà nước chi tiêu hay mượn bằng cách bán trái phiếu để phát triển công ty thì Nhà nước cũng là người bảo lãnh, có trách nhiệm chi trả nếu như công ty không có khả năng trả.

ODA (Official Development Assistance) là vốn hỗ trợ phát triển kinh tế, không phải là tiền viện trợ mà là tiền vay nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế với điều kiện ưu đãi như lãi suất, thời gian trả dài hạn. Lãi suất ưu đãi của tổ chức quốc tế là dựa vào Libor rate sáu tháng (lãi suất trên thị trường liên ngân hàng London) cộng thêm chừng 0,4 điểm phần trăm. Như vậy lãi suất hiện nay là khoảng 3,75%, tức là thấp hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường. Lãi suất ODA mượn của Chính phủ Nhật còn thấp hơn nữa, hiện dưới 1%. Ngoài chi phí trả lãi, nước mượn còn phải trả dịch vụ phí lên tới 1,1% tổng số tiền vay.

Nếu phải đi vay trên thị trường trái phiếu quốc tế thì lãi suất cao hơn nhiều. Chẳng hạn vừa qua (3/ 2006) Việt Nam bán trái phi
u 10 năm trị giá 750 triệu đô la Mỹ để gây vốn cho Công ty Đóng tàu Vinashin thì lãi suất phải trả là 7,5%. Chi phí trả cho công ty bán trái phiếu có thể lên tới 3% tổng số tiền trái phiếu. Như vậy, số tiền thực chất nhận về để sử dụng có thể chỉ là 340 triệu đô la Mỹ, sau 10 năm phải trả đúng 750 triệu đô la Mỹ.

Việt Nam hiện đang nợ nước ngoài 19 tỉ đô la Mỹ (năm 2005). Hầu hết là tiền vay ưu đãi. Số tiền phải trả hàng năm hiện nay là 2 tỉ, và có thể tăng lên 3 tỉ sau vài năm vì thời hạn ưu đãi ba năm đầu chưa phải trả nợ. Kế hoạch năm năm (2006-2010) tính mượn thêm 17 tỉ đô la nữa, tức là mỗi năm mượn thêm 3,4 tỉ. Số ngoại tệ cần thêm hàng năm có thể lên đến 6,4 tỉ vừa để trả nợ cũ và mượn nợ mới. Rất có khả năng là sau năm năm số nợ nước ngoài sẽ lên tới 32 tỉ, tăng từ 34% lên 45-50% GDP. Lúc đó nền kinh tế bắt đầu vượt ngưỡng an toàn. Nếu tính theo kế hoạch năm năm, tổng đầu tư của nền kinh tế có thể là 120 tỉ đô la Mỹ, đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách và do Nhà nước cho vay lại, hoặc bảo đảm) là 45 tỉ, và tính theo tỷ lệ ăn cắp của công hiện nay là 20% – mà theo Tổng cục Cảnh sát thì có thể lên tới

30% – thì số tiền thất thoát sẽ là 10 tỉ đô la, bằng 60% số nợ mới Nhà nước định vay nước ngoài.

Như đã nói, khả năng vay ưu đãi các tổ chức quốc tế và các nước chỉ có thể xảy ra với các khoản vay mới. Số nợ cũ, nếu phải vay để trả sẽ phải dựa vào lãi suất cao hơn nhiều trên thị trường tài chính thế giới, cũng như áp lực phải trả nhanh hơn nhiều.

Việc vay tiền ODA từ các nước và các tổ chức tài chính quốc tế không bảo đảm rằng dự án sẽ được thực hiện hiệu quả hơn. Sẽ lầm to nếu ai đó nghĩ rằng các tổ chức quốc tế luôn theo dõi sát sao việc thực hiện dự án. Ngân hàng Thế giới đã viết rõ ràng trong Cẩm nang thực hiện dự án: “Việc theo dõi đánh giá (trong kỳ và cuối kỳ) là trách nhiệm của nhóm điều hành dự án của nước đi vay”. Ban Kiểm tra của Ngân hàng Thế giới chỉ nhằm kiểm tra hành vi trong sạch của nhân viên ngân hàng nếu có điều tiếng. Tất nhiên tiền vay Ngân hàng Thế giới hoặc Chính phủ Nhật, thường được phép rút ra từng chặng tùy thuộc tiến độ thực hiện của dự án. Điều này chỉ giúp họ tạm ngưng hoặc ngừng hẳn giải ngân tiền cho vay nếu như họ thấy dự án không theo đúng tiến độ hoặc nghe ngóng thấy dự án có vấn đề. Thái độ sau là hạn hữu.

Kinh nghiệm theo dõi vài dự án nhỏ của tôi cho thấy là khả năng của một người đứng xa đánh giá là hết sức hạn chế vì không thể biết rõ được người thực hiện dự án có thật sự chi cho những yêu cầu ghi trong dự án. Thí dụ việc kiểm tra chi mua giấy để in tài liệu điều tra hoặc in sách thì chỉ có thể biết được nếu như có điều tra xem xét số sách, số mẫu điều tra và sách thực in. Điều này chỉ có ban kiểm tra của nước sở tại với đầy đủ quyền kiểm tra mới có thể thực hiện được. Nếu như một cơ quan viện trợ nào đó muốn kiểm tra tới mức chi li thì lập tức họ khó tránh khỏi việc tạo ra vấn đề chính trị liên quan đến “chủ quyền” của nước sở tại.

Vấn đề kiểm tra, đánh giá công trình, vì thế, phải dựa vào cơ chế tổ chức trong sạch và có khả năng của nước sở tại.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ô Nhiễm Tại Châu Á và Bắc kinh

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2008

Liên Hiệp Quốc Thông báo về

Mối đe doạ Ô nhiễm tại châu Á

The New York Times

Bài của ANDREW JACOBS

Ngày 13-11-2008

BẮC KINH – [Một hỗn hợp khí độc hại tới sức khỏe gồm khói than đen kịt như bồ hóng, khói hòa lẫn với sương mù] và những hóa chất độc che mờ mặt trời, [ bám vào và làm nghẹt] phổi của hàng triệu người dân và làm biến đổi các [mô hình khí hậu] trên những khu vực rộng lớn của Á châu, theo một báo cáo vừa mới được công bố hôm thứ Năm của Liên Hiệp Quốc cho biết.

[Các loại khói sản phẩm phụ của] xe hơi, khói do chặt-đốt ruộng nương trong nông nghiệp], đun nấu bằng phân gia súc khô hay gỗ và từ các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than đá, [những dòng khói chứa đựng các chất ô nhiễm nầy bốc từ dưới lên] che phủ bầu trời miền nam châu Phi, vùng lòng chảo Amazon và Bắc Mỹ. Thế nhưng chúng được thể hiện rõ ràng nhất ở châu Á, nơi mà cái gọi là những đám mây khí quyển màu nâu đang đột ngột làm suy giảm ánh sáng mặt trời trên nhiều thành phố của Trung Quốc và dẫn tới việc làm suy giảm năng suất cấy trồng trên những cánh đồng vùng nông thôn Ấn Độ, một nhóm với hơn cả tá các khoa học gia đã và đang nghiên cứu vấn đề này kể từ năm 2002 [đang tường thuật].

[“Sự bắt buộc để hành động] chưa bao giờ rõ ràng hơn như hiện nay,” đó là lời của Achim Steiner, giám đốc điều hành của Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc, tại Bắc Kinh, nơi mà bản tường trình đã nhận diện như là một trong những thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới, và cũng là nơi mà [bản báo cáo] này được công bố.

Làn sương mù màu hơi nâu nầy, đôi lúc kết thành một lớp dày hơn [một cây số rưỡi và có thể thấy một cách rõ ràng] từ trên phi cơ, kéo dài từ Bán đảo A-rập cho tới biển Hoàng Hải. Vào mùa xuân, màn sương mù này [vượt quá] Bắc và Nam Triều Tiên và Nhật Bản. Thỉnh thoảng đám mây đó [trôi dạt] tới phía đông tận California.

Báo cáo [nầy] đã xác định được 13 thành phố như là những điểm nóng với những đám mây nâu, trong số đó có Bangkok, Cairo, New Delhi, Tehran và Seoul của Nam Triều Tiên.

Bản báo cáo được công bố vào một ngày khi mà bầu trời vốn [nổi tiếng bị ô nhiễm] của riêng Bắc Kinh tự nhiên [quang đãng] một cách khác thường. [Trái lại,] vào hôm thứ Tư, thủ đô đã lại bị che phủ trong một màn sương mù dày đặc muốn nghẹn thở từ loại [sản phẩm thứ cấp của ngành] công nghiệp nặng, các lò sưởi gia đình chạy than và 3,5 triệu chiếc xe hơi làm tắc nghẽn các con đường [của thành phố Bắc Kinh].

Tháng trước, chính phủ nước này [đã tái đưa ra] một số quy định hạn chế giao thông từng được áp đặt ở Bắc Kinh trong thời gian diễn ra Olympic; những quy định này buộc mỗi tuần các xe hơi tư nhân phải ngừng lưu thông trên đường một ngày và ngừng hoạt động 30% xe cộ của chính quyền vào bất cứ ngày định sẵn nào. [Tính gộp lại, theo các giới chức cho biết thì những giải pháp mới đã và đang ]loại được 800.000 xe hơi hoạt động trên đường phố.

Theo báo cáo của Liên hiệp quốc, khói bụi làm trở ngại từ 10% tới 25% ánh sáng mặt trời chiếu xuống các con đường [của thành phố Bắc Kinh]. Bản báo cáo còn chọn ra thành phố Quảng Châu ở phía nam, nơi mà [khói đen như mồ hóng] và bụi đã che mờ ánh sáng tự nhiên mất 20% kể từ những năm 1970.

Trên thực tế, các nhà khoa học thực hiện bản báo cáo này cho rằng [lớp mền của sương khói mù nầy có thể đã bù đắp lại một sự hâm nóng xuất phát sự tích tụ của các loại khí đốt gây hiệu ứng nhà kính bằng cách hiện tượng phản chiếu] năng lượng mặt trời ra khỏi trái đất [1]. Các khí đốt gây hiệu ứng nhà kính, trái ngược hẳn, lại giúp cho việc chặn giữ hơi ấm của mặt trời và dẫn tới một sự gia tăng nhiệt độ trên đại dương.

Các nhà khoa học thời tiết nói rằng những đám khói bụi tương tự từ nền công nghiệp hóa ở các nước giàu sau cuộc Đệ nhị Thế chiến đã làm nặng nề thêm tình trạng ấm dần lên toàn cầu qua những năm 1970. Các luật lệ về chống ô nhiễm đã loại bỏ nhiều bức màn che phủ đó.

Mưa có thể làm sạch bầu trời, song một số bụi bẩn rơi xuống trái đất đã dừng lại trên bề mặt của những dòng sông băng trên dãy Himalaya trở thành nguồn nước cho hàng tỉ người ở Trung Quốc, Ấ Độ và Pakistan. Như một hệ quả, các sông băng cung cấp nước cho những vùng Yangtze, Ganges, Indus và các nhánh Sông Hoàng Hà [đang hấp thụ] nhiều ánh sáng mặt trời hơn và tan chảy nhanh hơn, các nhà nghiên cứu đánh giá.

Theo Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc, những sông băng này đã co rút lại 5% kể từ những năm 1950 và, với tốc độ sút giảm hiện tại, chúng có thể co rút thêm 75% vào năm 2050.

“Chúng tôi đã từng nghĩ là đám mây màu nâu này như là một vấn đề của khu vực, thế nhưng giờ đây chúng tôi nhận ra tác động của nó là lớn hơn nhiều,” theo lời ông Veerabhadran Ramanathan, người đứng đầu nhóm khoa học gia của Liên Hiệp Quốc. “Khi chúng tôi nhìn thấy đám sương khói vào một ngày và không thấy vào một ngày tiếp theo, điều đó có nghĩa là nó đã bay đi nơi khác.”

Mặc dù toàn bộ tác động của thứ sương khói này không được hiểu một cách đầy đủ, nhưng ông Ramanathan, một giáo sư về khí hậu và khoa học đại dương thuộc trường Đại Học California, San Diego, cho biết chúng có lẽ đang ảnh hưởng đến lượng mưa tại những vùng đất của Ấn Độ và
ông nam Á, nơi mà mưa rào trong mùa mưa đã và đang giảm sút trong mấy chục năm nay, và vùng miền trung Trung Quốc, nơi những trận lũ tàn khốc đã trở nên thường xuyên hơn.

Ông cho biết một số nghiên cứu đã gợi lên rằng những đám khói bụi mồ hóng che phủ mặt trời đã khiến cho các vụ thu hoạch lúa khắp châu Á bị sút giảm sản lượng tới 5% kể từ những năm 1960.

Đối với những ai hít phải thứ hỗn hợp khí độc hại này, tác động có thể dẫn tới chết người. Henning Rodhe, một giáo sư khí tượng hóa học thuộc trường Đại học Stockholm, ước đoán rằng 340.000 người ở Trung Quốc và Ấn Độ chết mỗi năm do các chứng bệnh về tim mạch và hô hấp có thể được truy nguyên từ sự phát tán của các nhà máy sử dụng than đá đốt cháy, các xe tải dùng động cơ diesel và các bếp lò sưởi dùng củi. “Các tác động duy nhất lên sức khỏe là một lý do khiến ta phải giảm bớt những đám mây màu nâu này,” ông nói.

Andrew C. Revkin đã đóng góp cho bài báo này từ New York.

Một bản phóng tác của bài báo này có trên số báo in ra ngày 14-11-2008, trang A6 của tờ New York Times.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

[1] Chữ dùng ở đây có thể là solar rays chứ không phải là solar energy. Tia sáng mặt trời (solar rays) khi chiếu xuống trái đất bị lớp mền của sương khói mù phản chiếu (ngược trở lại) ra khỏi trái đất, nhưng năng lượng mặt trời dưới dạng sức nóng (nhiệt năng) bị các lớp sương khói mù nầy hấp thụ và giữ lại, và dẫn tới một sự gia tăng nhiệt độ trên đại dương.

xem thêm ở nguồn : http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe

——————————————————–

In May, Chinese circulated in Tiananmen Square amid thick smog. Beijing is one of the world’s most polluted cities.

The New York Times

——-

U.N. Reports Pollution Threat in Asia

By ANDREW JACOBS

Published: November 13, 2008

BEIJING — A noxious cocktail of soot, smog and toxic chemicals is blot ting out the sun, fouling the lungs of millions of people and altering weather patterns in large parts of Asia, according to a report released Thursday by the United Nations.

The byproduct of automobiles, slash-and-burn agriculture, cooking on dung or wood fires and coal-fired power plants, these plumes rise over southern Africa, the Amazon basin and North America. But they are most pronounced in Asia, where so-called atmospheric brown clouds are dramatically reducing sunlight in many Chinese cities and leading to decreased crop yields in swaths of rural India, say a team of more than a dozen scientists who have been studying the problem since 2002.

“The imperative to act has never been clearer,” said Achim Steiner, executive director of the United Nations Environment Program, in Beijing, which the report identified as one of the world’s most polluted cities, and where the report was released.

The brownish haze, sometimes in a layer more than a mile thick and clearly visible from airplanes, stretches from the Arabian Peninsula to the Yellow Sea. In the spring, it sweeps past North and South Korea and Japan. Sometimes the cloud drifts as far east as California.

The report identified 13 cities as brown-cloud hot spots, among them Bangkok, Cairo, New Delhi, Tehran and Seoul, South Korea.

It was issued on a day when Beijing’s own famously polluted skies were unusually clear. On Wednesday, by contrast, the capital was shrouded in a thick, throat-stinging haze that is the byproduct of heavy industry, coal-burning home heaters and the 3.5 million cars that clog the city’s roads.

Last month, the government reintroduced some of the traffic restrictions that were imposed on Beijing during the Olympics; the rules forced private cars to stay off the road one day a week and sidelined 30 percent of government vehicles on any given day. Over all, officials say the new measures have removed 800,000 cars from the roads.

According to the United Nations report, smog blocks from 10 percent to 25 percent of the sunlight that should be reaching the city’s streets. The report also singled out the southern city of Guangzhou, where soot and dust have dimmed natural light by 20 percent since the 1970s.

In fact, the scientists who worked on the report said the blanket of haze might be temporarily offsetting some warming from the simultaneous buildup of greenhouse gases by reflecting solar energy away from the earth. Greenhouse gases, by contrast, tend to trap the warmth of the sun and lead to a rise in ocean temperatures.

Climate scientists say that similar plumes from industrialization of wealthy countries after World War II probably blunted global warming through the 1970s. Pollution laws largely removed that pall.

Rain can cleanse the skies, but some of the black grime that falls to earth ends up on the surface of the Himalayan glaciers that are the source of water for billions of people in China, India and Pakistan. As a result, the glaciers that feed into the Yangtze, Ganges, Indus and Yellow Rivers are absorbing more sunlight and melting more rapidly, researchers say.

According to the Chinese Academy of Sciences, these glaciers have shrunk by 5 percent since the 1950s and, at the current rate of retreat, could shrink by an additional 75 percent by 2050.

“We used to think of this brown cloud as a regional problem, but now we realize its impact is much greater,” said Veerabhadran Ramanathan, who led the United Nations scientific panel. “When we see the smog one day and not the next, it just means it’s blown somewhere else.”

Although the clouds’ overall impact is not entirely understood, Mr. Ramanathan, a professor of climate and ocean sciences at the University of California, San Diego, said they might be affecting precipitation in parts of India and Southeast Asia, wher
e monsoon rainfall has been decreasing in recent decades, and central China, where devastating floods have become more frequent.

He said that some studies suggested that the plumes of soot that blot out the sun have led to a 5 percent decline in the growth rate of rice harvests across Asia since the 1960s.

For those who breathe the toxic mix, the impact can be deadly. Henning Rodhe, a professor of chemical meteorology at Stockholm University, estimates that 340,000 people in China and India die each year from cardiovascular and respiratory diseases that can be traced to the emissions from coal-burning factories, diesel trucks and wood-burning stoves. “The impacts on health alone is a reason to reduce these brown clouds,” he said.

Andrew C. Revkin contributed reporting from New York.

A version of this article appeared in print on November 14, 2008, on page A6 of the New York edition

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for November 27, 2008

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2008

http://online.wsj.com/quotes/main.html?type=djn&symbol=JPM

http://online.wsj.com/quotes/main.html?symbol_or_name=GS&type=usstock+usfund&submit=Go&sym_name_switch=symbol

GS

Today: 76:50 when 11/26/08 04:00 PM
change : 4.72 % change: 6.58%
52-Week Low: 47.41 when (11/21/2008)

52-Week High: 234.22 when (11/30/2007)

BigCharts

—————————————————————————————————–

JPM
Today : 30.41 when 11/26/08 04:00 PM
change : 0.85 % change: 2.86%
52-Week Low: 19.69 when (11/21/2008)

52-Week High: 50.63 when (11/30/2007)

BigCharts

—————————————————————————

INTC
Today : 13.97 when 11/26/08 04:00 PM
change : 0.84 change: 6.40%
52-Week Low: 12.06 when 11/21/2008
52-Week High: 27.99 when 11/30/2007

BigCharts

—————————————————————–

mmm

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Kinh tế và Tài Chánh Thế Giới đang Khủng hoảng, Nhưng

Posted by hoangtran204 trên 26/11/2008

Cả Thế Giới Lo Sốt vì tài chánh và kinh tế đang đến hồi nguy kịch và tất cả các nhà Kinh tế và Tài Chánh đang tìm cách thoát khỏi tình trạng đen tối nhất của 100 năm qua và chưa tìm được lối ra, trong khi đó chính phủ Việt Nam đang khoe khoang kinh tế gia tăng, tài chánh ổn định.

Ai có kiến thức về hiện tình kinh tế và tài chánh của VN trong 1 năm qua cũng hiểu đây là sự lừa dối. Nhưng nói láo kiểu ấy thì thiệt hại nhiều hơn là lợi. Vì quốc tế và các nước âu châu, các ngân hàng sẽ ngưng cho VN vay tiền với lãi suất thấp và ngưng các chương trình viện trợ nhân đạo cho người nghèo, các chương trình phát triển ở nông thôn…

http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2008/11/3BA08C67/

Thu Nhập Người VN có thể Vượt 1.000 USD

Chưa tính tới yếu tố lạm phát và tỷ giá đôla, năm 2008 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người ước khoảng 1.027-1.030 USD. Mốc thu nhập này sẽ đưa Việt Nam lần đâu tiên ra khỏi danh sách các nước nghèo trên thế giới.

> Kinh tế chuẩn bị cho kịch bản xấu trong năm 2009

Thông điệp này được Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát đi đúng vào dịp 20/11. “Năm 2008, lần đầu tiên tổng sản phẩm nội địa theo đầu người của Việt Nam sẽ vượt 1.000 USD mỗi năm. “Việt Nam sẽ ra khỏi danh sách các nước nghèo của thế giới”, ông viết.

Con số GDP bình quân này được Tổng cục Thống kê (GSO) tính toán theo giá thực tế, dựa trên kết quả kinh tế của 9 tháng đầu năm. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 835 USD. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm nay vào khoảng 6,5-6,7%.

Theo ông Nguyễn Bích Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, con số thu nhập bình quân đầu người ở trên 1.000 USD là ước tính cho cả năm 2008, được tính toán dựa trên dự báo GDP của nền kinh tế trong năm nay, giả định về tỷ giá hối đoái bình quân trong 12 tháng và dân số của cả năm khoảng 86,18 triệu người.

GSO tính toán các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong đó có GDP bình quân thu nhập đầu người, nhằm phục vụ cho việc Chính phủ xây dựng các kịch bản kinh tế cho năm 2009. GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2008 sẽ được “chốt” và công bố trong niêm giám thống kê vào tháng 5 năm sau.

Để tính GDP bình quân, thông thường giới chuyên gia tính theo 2 cách. Thứ nhất là tính theo giá thực tế và tỷ giá đôla. Một cách nữa là phương pháp sức mua tương đương, và được so sánh với các nền kinh tế khác.

Chuyên gia kinh tế tại một tổ chức quốc tế cho rằng, cần xem xét tác động thực tế của tăng trưởng kinh tế đến đời sống người dân dựa trên sức mua của đồng tiền, trong bối cảnh lạm phát tại Việt Nam trong năm 2008 ước tính khoảng 22%. Vì thế, cần trừ đi mức tăng giá 22% và quy đổi theo tỷ giá thời điểm cuối năm.

Với một người có thu nhập 10 triệu đồng trong năm 2007 và tăng lên 11 triệu đồng trong năm 2008, mức tăng vẫn chưa bù lại được mức tăng giá khoảng 22% trong năm. Theo chuyên gia này, GDP tăng lên phản ánh quy mô của nền kinh tế đã tăng, với trường hợp của Việt Nam là nhờ đầu tư tăng. Tương ứng với tổng thu nhập quốc nội tăng, là GDP bình quân đầu người sẽ tăng theo.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khi có GDP bình quân đầu người vượt 950 USD, các quốc gia ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, và bước sang nhóm có thu nhập trung bình. Thông thường, các tổ chức quốc tế sẽ hỗ trợ và theo dõi tiến triển kinh tế của các quốc gia này trong vòng 3-5 năm tiếp theo.

Ngọc Châu

Thực tế: Mức GDP bình quân trên 1.000 USD của cả năm sẽ là kết quả bất ngờ với nhiều người Việt Nam. Trong hơn 9.500 người tham gia một khảo sát nhanh trên VnExpress.net (tính đến 14h ngày 27/11), có tới 60,7% cho rằng, GDP bình quân ở dưới 800 USD, và chỉ 10,9% nhận định là trên 1.000 USD.

——————————————————————

So sánh tin VN với các nước khác:

Các chính quyền khắp thế giới đã và đang hứa hẹn bỏ ra 2.600 tỉ đô la để cứu các ngân hàng và khởi động sự phát triển kinh tế của nước họ.

1./Mỹ dẫn đầu kế hoạch chi ra 150 tỉ đô la phát chẩn cho toàn dân vào tháng 2/2008, 700 tỉ để cứu các ngân hàng vào đầu tháng 10. Tổng cộng 6% GDP

Hôm 25/11/08, bộ trưởng tài chánh Henry Paulson đã đề nghị gia tăng thêm 800 tỉ đô la. Như vậy, tổng cộng trong 2 tháng qua, bộ tài chánh đã đồng ý 1550 tỉ đô la để cứu vụ khủng hoảng tài chánh 2008.

Số tiền kể trên không tính đến 300 tỉ đô la tài trợ cho các ngân hàng và công ty tài chánh địa ốc để các nơi nầy tiếp tục cho dân chúng mượn tiền mua nhà và mua xe vào những tháng cuối năm 2008 và trong năm 2009. Ngoài ra ngân hàng dự trử liên bang cắt giảm tiền lời (cho các ngân hàng mượn) từ 5.25% xuống còn 1% và đã gia tăng cho các ngân hàng (cổ phần) mượn từ năm 2007.

_Mỗi năm, số nhà cửa bán ra ở Mỹ trung bình là 5-6 triệu căn nhà mới
_Mỗi năm, số lượng xe mới bán ra ở thị trường bên trong nước Mỹ là 11-14 triệu chiếc. Năm ngoái đến năm nay chỉ còn 10.5 triệu chiếc.

3./ Anh đã hứa bỏ ra 450 tỉ đô la để cứu nguy nền tài chánh và tìm các làm cho kinh tế trở lại bình thường. (số tiền nầy tương đương với 21% GDP)
4./ Chính phủ nước Ireland hứa hẹn 550 tỉ đô la để giúp các ngân hàng và bảo đảm với các khách hàng rằng tiền của họ gởi vào sẽ không bị mất mát và các món nợ xấu mà ngân hàng lỡ cho vay cũng được chính phủ bảo đảm. Nhưng các ngân hàng phải chị lỗ khoảng 2 tỉ đô la.
5./ Pháp bỏ ra 50 tỉ đô la giúp các ngân hàng (số tiền nầy tương đương với 2% GDP)
6./ Tây Ban Nha bỏ 111 tỉ đô hay 8% GDP
7./ Đức bỏ ra 151 tỉ đô la hay 7% của GDP, trong ấy 100 tỉ tiền cho các ngân hàng mượn để xoay xuở, 25 tỉ giảm thuế không đánh vào ai mua xe mới, 25 tỉ để cứu các ngân hàng thoát khỏi các món nợ xấu, vay không trả. và hứa 504 tỉ bảo đảm cho các cuộc vay mươn giữa các ngân hàng với nhau.
8./Thụy sĩ bỏ ra 66 tỉ đô hay 15% GDP
9./ Nga 209 tỉ đô la hay 12% GDP
10./ Ấn độ bỏ 41 tỉ đô la, hay 5% GDP, cho các ngân hàng mượn tiền xoay xưở.
11./Trung Quốc bỏ ra 586 tỉ đô cho 2 năm. Trong số ấy có khoảng 195 tỉ dùng để phát triển hạ tầng cơ sở đường sá, đi
n, nước… cho các miền quê và các phục vụ xã hội. 146 tỉ sẽ dành phát triển cho hệ thông hỏa xa, xa lộ, và phi trường; phần còn lại, 245 tỉ, sẽ dùng để chi tiêu vào công tác y tế, xây dựng bệnh viện, mở thêm trường y khoa, giáo dục, xây dựng trường học, xây dựng nhà cửa, và …
12./ Nam Hàn bỏ ra 80 tỉ đô la hay 9% GDP. Bao gốm phát chẩn cho dân chúng 25 tỉ đô la, 55 tỉ cho các nhà nhà xuất khẩu mượn tiền vì ngân hàng từ chối không cho vay, 100 tỉ bảo đảm với các ngân hàng ngoại quốc cứ cho các công ty tư nhân Nam Hàn mượn tiền, chính phủ sẽ bảo đảm các món nợ ấy.
13./ Nhật 68 tỉ đô la hay hay 1% GDP. Chính phủ giảm thuế và không thu thuế cho ai mua nhà, giảm tiền thu phí cầu và đường mà người dân phải trả hàng ngày khi xử dụng. Cho tất cả các doanh nghiệp nhỏ mượn tiền nếu có nhu cầu, và bảo đảm thêm 322 tỉ với các ngân hàng để các nơi nầy tiếp tục cho các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và trung bình được mượn tiền.

Business week Dec 1, 2008 (báo giấy) Phát hành trước 1 tuần và khác với ấn bản trên internet).

**Xem ra, cho đến giờ phút nầy, chính phủ ta cũng không phát thảo được một kế hoạch nào để làm giống như các quốc gia khác nhằm thúc đẩy nền kinh tế tài chánh và giúp đỡ giới nông dân và công nhân . Mà lại đang bận rộn ra sức tuyên truyền láo về kinh tế phát triển, tài chánh gia tăng.

Đó là cái giá mà người dân phải gánh chịu vì đủ thứ chuyện mà ai cũng biết…

@@@
A./ 50 người Mỹ tặng tiền bạc nhiều nhất để hổ trợ trong các lãnh vực giáo dục, nhân đạo, từ thiện, y tế tại nước Mỹ và khắp thế giới của các nước đang phát triển trong năm 2008
http://images.businessweek.com/ss/08/11/1124_biggest_givers/51.htm

B./
——————————————————————-

Lịch sử có ủng hộ tự do?

James Reynolds

Phóng viên thường trú của BBC ở Bắc Kinh

Khi không có quả cầu thủy tinh, lá trà, hay cỗ máy thời gian, thì khó mà đoán được chuyện gì sẽ diễn ra trong tương lai.

Một số dự đoán dễ dàng trở thành điều sai, ví dụ như ngày xưa từng có vị giáo sư tuyên bố không thể chế tạo xe lửa tốc độ cao vì hành khách sẽ không thở được, hay có nhà toán học chứng minh với cả thế giới là những hệ thống máy nặng hơn không khí sẽ không thể bay được.

Dù vậy, nỗi lo dự báo sai không ngăn người ta tính toán về tương lai của Trung Quốc.

Lịch-sử-nói-tự-do-sẽ-đến

Từ sau ngày kết thúc Cuộc chiến tranh lạnh năm 1989, một trường phái nổi bật bên phía đối thủ chính của Trung Quốc – Hoa Kỳ, tin rằng nền dân chủ sẽ đến với Trung Quốc, vì rằng tự do thương mại sẽ kéo theo tự do dân chủ, và rằng con đường tất yếu của lịch sử là hướng đến tự do.

Hãy tạm gọi đây là trường phái Lịch-sử-nói-tự-do-sẽ-đến. Hai đời tổng thống Mỹ ủng hộ tư tưởng này:

“Tôi đã nói với Giang chủ tịch là khi nhắc đến nhân quyền và tự do tôn giáo thì Trung Quốc nằm ở phần sai của lịch sử. Không giống những người khác, tôi không tin là chỉ đơn thuần là tăng cường quan hệ thương mại sẽ giúp mở cửa và tự do. Chúng ta phải nỗ lực để tăng tốc bánh xe lịch sử” – Tổng thống Bill Clinton, Washington DC, 11.6.1998.

“Tôi lạc quan về tương lai của Trung Quốc. Giới trẻ lớn lên trong không khí tự do mua bán sẽ kéo theo đòi hỏi về tự do, đặc biệt là tháo bỏ kiểm duyệt Internet. Trung Quốc sẽ thay đổi đúng lúc và đem theo lịch sử cùng truyền thống. Thay đổi sẽ đến” – Tổng thống George W Bush, Bangkok, 7.8.2008

Đừng-tin-vào-điều-đó

Quan điểm rất rõ ràng. Nhưng cũng còn có một trường phái khác, tạm gọi là Đừng-tin-vào-điều-đó.

Quan điểm này cho rằng dân chủ không hề cần thiết cho Trung Quốc chút nào cả, mà quí vị có thể đọc thêm trong quyển sách của nhà báo James Mann: The China Fantasy.

Có vẻ như trường phái Đừng-tin-vào-đó từng có cơ hội xuất hiện trong bản thảo báo cáo gần đây của tình báo Mỹ về viễn cảnh thế giới trong năm 2025…

“Các thay đổi khác ít có thể dự báo trước, vì là kết quả tương tác qua lại giữa một vài xu hướng và tùy thuộc vào khả năng lãnh đạo. Các câu hỏi liệu xem Trung Quốc và Nga có trở thành quốc gia dân chủ hay không thuộc vào nhóm này. Xu hướng gia tăng số lượng dân trung lưu ở Trung Quốc tăng khả năng đó nhưng không đủ để tạo thành biến chuyển dứt khoát”. – Xu hướng toàn cầu năm 2025, Hội đồng tình báo quốc gia Hoa Kỳ, xuất bản tháng 11 năm 2008.

Điểm chung

Như vừa trình bày, có hai trường phái ngược với nhau. Phe Lịch-sử-nói-tự-do-sẽ-đến tin/hi vọng là Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc và dân chủ, ví dụ cũng giống như Mỹ. Nhưng phe Đừng-tin-vào-điều-đó thì lại cho rằng Trung Quốc sẽ thành cường quốc và nhiều khả năng sẽ không có dân chủ, ví dụ sẽ không giống như Mỹ. Chúng ta chờ xem quan điểm của chính phủ Obama sẽ như thế nào.

Như vậy, bất kể dự báo sẽ có dân chủ hay không, hai bên cùng thống nhất là Trung Quốc sẽ ngày càng thêm mạnh vào năm 2025:

“Trung Quốc sẽ có thêm ảnh hưởng đối với thế giới trong vòng 20 năm tới hơn bất kỳ quốc gia nào. Nếu xu hướng như hiện nay tiếp tục phát triển,
thì đến năm 2025 Trung Quốc sẽ là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới và sẽ là cường quốc về quân sự. Họ cũng sẽ là nước xuất khẩu tài nguyên lớn nhất và cũng là người xả nhiều chất thải làm hại môi trường sống nhất.” – Xu hướng toàn cầu năm 2025, Hội đồng tình báo quốc gia Hoa Kỳ, xuất bản tháng 11 năm 2008.

Nhưng đó là cách nhìn của người Mỹ, thế còn người Trung Quốc nhìn tương lai của mình như thế nào?

Quan điểm của Trung Quốc

Nói chung quốc gia này vẫn tiếp tục đi theo chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, được biết qua cái tên tạm dịch là “Chỉ thị 24”.

“Quan sát bằng cái đầu lạnh, giữ vững vị trí, xử trí tình hình một cách bình tĩnh, giấu tiềm năng và kiếm thêm thời gian, phòng thủ tốt, và đừng bao giờ nổi bật”. (trích từ tác phẩm Trung Quốc và di sản của Đặng Tiểu Bình của Michael E Marti)

Năm 2003, ban lãnh đạo mới của Trung Quốc xây dựng chính sách từ những lời căn dặn của Đặng Tiểu Bình, đưa ra khẩu hiệu minh họa con đường phát triển của đất nước trở thành cường quốc: “tăng trưởng hòa bình”. Nói cách khác, là chúng tôi sẽ không chiếm nước của quí vị và bắt tất cả quí vị phải nói tiếng Trung Quốc.

Đảng cộng sản Trung Quốc luôn muốn nhấn mạnh là Trung Quốc vẫn chỉ là một nước đang phát triển và vẫn còn mất nhiều thời gian mới trở thành điều thách thức hay có khả năng vượt qua Hoa Kỳ.

Các con số có thể chứng minh cho quan điểm của Trung quốc. Hai chỉ số thể hiện ngay sức mạnh của một quốc gia là tiền và súng. Hiện tại kinh tế Hoa Kỳ lớn gấp bốn lần Trung Quốc, và Hoa Kỳ chi tiền cho quốc phòng nhiều gấp mười lần Trung Quốc. Cho nên nếu xét về số tiền chi ra và số thuốc súng để đốt thì Hoa Kỳ vẫn còn dẫn trước rất xa.

Hàng hải

Nhưng Trung Quốc vẫn có tham vọng riêng. Rõ ràng là quốc gia này muốn thể hiện uy lực, đặc biệt là trong vùng Đông Á. Về mặt chính trị, họ vẫn muốn bảo đảm làm sao cho đảo quốc tự trị ngoài Đài Loan không tuyên bố độc lập. Về kinh tế thì Trung Quốc muốn bảo vệ tuyến đường ngoại thương, vì một phần đáng kể hàng hóa Trung Quốc nhập khẩu đi từ Ấn Độ Dương vào Thái Bình Dương qua eo biểu Malacca.

Đảng cộng sản tin là cách tốt nhất để bảo đảm cho tuyến đường đó là phát triển hải quân. Các báo cáo mới nhất cho rằng Trung Quốc muốn chế tạo hàng không mẫu hạm. Tham vọng quân sự của Trung Quốc khiến một số quan chức Hoa Kỳ, ví dụ như một nghị sĩ Mỹ mà tôi phỏng vấn so sánh Trung Quốc với con cá mập trong phim Hàm cá mập. Tại một điểm nào đó trong tương lai hai nước sẽ tranh giành nhau về uy thế trong vùng Thái Bình Dương.

Về lâu dài, Trung Quốc, Hoa Kỳ và các nước khác có thể sẽ ở vào vị thế cạnh tranh hay thậm chí chiến đấu vì nguồn tài nguyên. Mức tăng nhu cầu đột ngột ở Trung Quốc được đáp ứng bằng nguồn tài nguyên từ các nước khác, đặc biệt là châu Phi, Trung Đông, và Nam Mỹ. Để tiếp tục phát triển thì Trung Quốc phải tiếp tục nhập nguyên liệu. Vậy điều gì sẽ xảy ra khi ai cũng cần dùng đến một nguồn nguyên liệu duy nhất?

Câu trả lời là chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra. Cũng như tôi đã nói từ đầu bài, dự báo thường sai. Cần nhớ rằng ngành tình báo Hoa Kỳ không hề dự đoán việc xây dựng bức tường Berlin năm 1961 lẫn sự sụp đổ của nó năm 1989.

Cho nên, không ai biết điều gì sẽ xảy ra năm 2025, tất nhiên là trừ trường hợp bạn có trong tay cỗ máy thời gian.

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Những Biến cố Dẫn tới Sự dính líu của Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 25/11/2008

ở Việt Nam

California Literally Review

Rufus Phillips

Ngày 30-10-2008

[Nước Mỹ đã thả dù các điệp viên OSS xuống miền bắc Việt Nam từ năm 1945 trước khi] kết thúc cuộc Đệ nhị Thế chiến ở châu Á. Sự trợ giúp đó đã được dành] cho phong trào kháng chiến của Việt Nam để chống lại Nhật Bản, chủ yếu cho mặt trận dân tộc chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Tuy nhiên, [sự tham dự đáng kể của Hoa Kỳ đã không bắt đầu liền lúc ấy mà cho mãi về sau đó kia.]

Năm 1949, Trung Quốc rơi vào tay những người Cộng sản. Cuộc Chiến tranh Lạnh đã lên tới đỉnh điểm của nó tại Âu châu, với cuộc Không Vận Berlin * đang được thực kiện và Hoa Kỳ [đang cố gắng hết sức để hàn gắn] Tây Âu vào một hiệp ước phòng thủ chung. [Nằm trong số các mối quan tâm chủ yếu] là Pháp và Ý, hai nước có các đảng Cộng sản hoạt động mạnh mẽ ở trong nước. Pháp đã quay lại Đông Dương năm 1945 để xác nhận lại quyền kiểm soát thuộc địa và bị sa lầy vào một cuộc chiến quân sự thu hút số lượng binh lính gia tăng chưa từng thấy để chống lại [phong trào Việt Minh đang bị Cộng sản kiểm soát]. [Để giúp đỡ cho đồng minh Pháp của mình chống lại] những người Cộng sản ở Âu châu, Tổng thống Truman [đã chịu áp lực] ngày càng tăng để cung cấp sự trợ giúp quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Hơn nữa, sự sụp đổ của [Trung Hoa Quốc Gia vào năm 1949 vào tay cộng sản] làm cho tình hình có vẻ như toàn bộ Đông nam Á có thể sẽ đi theo con đường tương tự, bắt đầu với những quốc gia Đông Dương: Việt Nam, Cambodia và Lào. [Kết quả], vào tháng Ba năm 1950, Tổng thống Truman đã phê chuẩn một chương trình viện trợ quân sự đầu tiên mười lăm triệu đô la cho Đông Dương và Thái Lan, với hầu hết số viện trợ được gửi tới trực tiếp cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Sự dính líu của [người Mỹ chúng ta] đã có một bước tiến quan trọng.

Vào đầu năm 1954, sau chín năm chiến đấu, tương lai của Đông Dương [đã ở trong điều kiện nguy kịch]. Cuộc chiến của Pháp chống lại Việt Minh đang diễn ra không thuận lợi. Một kế hoạch [để ngăn chặn Việt Minh chiếm lấy Lào] bằng cách tạo ra một vị trí cố thủ trong thung lũng Điện Biên Phủ phía bắc Việt Nam, để khóa tuyến đường xâm chiếm chính của quân đội Việt Minh và nhử họ vào một cuộc đối đầu có tính quyết định với hỏa lực vượt trội của người Pháp, đã chứng tỏ một thất bại thê thảm.

Mùa Xuân năm 1954, xuất hiện khả năng người Pháp có thể thất bại tại trận địa Điện Biên Phủ, làm cho việc trợ giúp Pháp trong cuộc chiến tranh cũng chấm dứt. Các giới chức bên trong Chính phủ của Eisenhower [đã trở nên mất bình tỉnh. Câu hỏi vào lúc ấy] là liệu Hoa Kỳ [có nên trực tiếp can thiệp giúp đỡ] bằng quân sự để tránh một cuộc thất bại của Pháp hay không? Tuy nhiên, Tổng thống Eisenhower đã mạnh mẽ chống lại [ý kiến của việc can thiệp trực tiếp] bằng binh lính hoặc các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.

Thậm chí trước khi tai hoạ lờ mờ hiện ra ở Điện Biên Phủ, sức ép công luận Pháp đã gia tăng đòi kết thúc cuộc chiến, đưa đến kết quả người Pháp hoan nghênh một hội nghị quốc tế về Đông Dương để tìm kiếm một sự kết thúc xung đột qua đàm phán. Hội nghị Geneva bắt đầu vào ngày 26 tháng Tư năm 1954, với Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tư cách là những các Cường Quốc tham gia cùng với Việt Minh và Chính phủ Việt Nam (do ông Bảo Đại đứng đầu) cũng như các quốc gia Lào và Cambodia. Vào ngày 7 tháng Năm, [mười một ngày sau đó], Điện Biên Phủ đã rơi vào tay lực lượng Việt Minh của Tướng Võ Nguyên Giáp, giật khỏi tay người Pháp bất cứ điều kiện nhượng bộ nào mà họ có thể đòi hỏi.

Sau khi tờ nhật báo Le Journal d’Extreme Orient ở Sài Gòn, ngày 4 tháng Năm năm 1954, đăng một lời tuyên bố của Tổng ủy Pháp, Maurice Dejean, rằng không có “ý định” chia cắt Việt Nam, tách Việt Nam ra làm hai vùng lãnh thổ vào tháng Sáu, tâm điểm của những cuộc thảo luận bí mật giữa người Pháp và Việt Minh. Trong lúc thành phần chủ yếu của các lực lượng Việt Minh chính quy đang ở miền Bắc, thì các lực lượng hỗn hợp Pháp Việt thực ra đã kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ cả ở phía Bắc cũng như phía Nam. Hơn nữa, một phần quan trọng dân cư ở miền Bắc là người Thiên chúa giáo, đã từng kiên quyết chống lại Việt Minh và chắc chắn là mục tiêu cho một cuộc trả thù.

Trong lúc người Pháp bí mật thương lượng với Việt Minh, những người Việt Nam không phải cộng sản bị bỏ rơi trong bóng tối cho tới khi thỏa thuận được thi hành. Khi hội nghị diễn ra đều đều tẻ nhạt trong tháng Sáu thì một khuôn khổ thỏa thuận không chính thức đã đạt được [ở hậu trường]. Việt Nam sẽ bị chia cắt từ vĩ tuyến 17, các lực lượng của Pháp và đồng minh Việt Nam của họ sẽ tản cư khỏi miền Bắc rồi tập hợp tại miền Nam, và các lực lượng Việt Minh sẽ tản cư từ miền Nam ra miền Bắc, tất cả hoạt động này được hoàn tất vào tháng Năm năm 1955. Một Uỷ Hội Kiểm soát Quốc tế, gồm có Ba Lan, Ấn Độ và Canada, giám sát việc thực hiện những điều khoản của Hiệp định Ngừng bắn tại ba Nước Liên hiệp Đông Dương. Trong một nghị định thư không được ký kết tại Geneva, các cuộc bầu cử quốc gia, diễn ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, dự định được tổ chức trong vòng hai năm sau khi kết thúc hội nghị. Chính phủ Eisenhower có quan điểm bên trong nội bộ coi [hiệp định] Geneva như là một tai hoạ. Đặc biệt làm trầm trọng thêm là sự thất bại của người Pháp trong việc huấn luyện nhiều hơn cho những binh lính người Việt và sớm tạo sự độc lập thực sự cho những người Việt Nam không cộng sản. Trong khi ông Bảo Đại trị vì với tư c
ch Hoàng đế từ tận vùng Riviera [nước Pháp], thì hệ thống cai trị của ông như là một thành viên của Liên hiệp Pháp [vẫn không có được tình trạng độc lập thực sự]. Quân đội Việt Nam chưa bao giờ hoàn toàn tự mình hành quân tác chiến và đã phải phụ thuộc hết vào sự hỗ trợ hậu cần của người Pháp.

Người Việt Nam không theo cộng sản đã rơi vào tình trạng cực kỳ choáng váng, chán nản và giận dữ. Căn cứ vào [môi trường chính trị] ở miền Nam, một cuộc tiếp quản của Cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong vòng hai năm, hoặc thậm chí ít hơn, có vẻ như là [không thể nào tránh khỏi]. Ngoài những khái niệm mập mờ là bằng cách nào đó tập hợp được người Việt Nam ở miền Nam và những [kế hoạch không rõ ràng cho việc cài cắm các nhân viên đặc vụ ngầm ở lại ngoài Bắc] để hướng dẫn cuộc chiến tranh du kích chống lại Việt Minh, Hoa Kỳ [đã ít có kế hoạch] là làm thế nào để ngăn ngừa một cuộc tiếp quản hoàn toàn của Cộng sản.

Như một giải pháp tuyệt vọng, Đại tá Edward G. Lansdale, khi đó đã được chỉ định làm cho Cơ quan Tình báo Trung ương [CIA], được gọi trở lại vào tháng Một năm 1954, khi sự bất hòa đối với người Pháp đã kéo dài thêm, nếu như ông ta đến Việt Nam chỉ để làm cái trò “ảo thuật” giống như ông đã từng làm ở Philippines. Ở đó, trong vai trò một cố vấn, ông đã giúp người Philippines đánh bại những người Huk ** cộng sản và bầu Ramon Magsaysay với tư cách là Tổng thống trong một cuộc bầu cử không có gian lận. Quyết định [cử ông tới VN] là một hành động kết hợp bởi Ngoại trưởng John Foster Duller, anh trai ông ta là Allen Dulles, Giám đốc CIA, và Tổng trưởng Quốc phòng. Tướng John “Iron Mike” O’ Daniel, đứng đầu nhóm cố vấn quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MAG) và Đại sứ Donald Heath, cũng đề cử ông.

Khi Ngoại trưởng Dulles nói cho Lansdale biết rằng Tổng thống Eisenhower muốn ông nhận nhiệm vụ này, Lansdale đã trả lời là ông sẽ đi, song chỉ là để giúp cho người Việt Nam thôi, chứ không phải cho người Pháp. Đó là kế hoạch hành động, ông được truyền đạt như vậy. Điều này đã trở thành một nền tảng quan trọng cho nhiệm vụ của ông, thứ đã chi phối, trong một thời gian ngắn, đối với tiến trình lịch sử. Nó cũng làm thay đổi đường đời của tôi và đến cả những người khác nữa. Lansdale đã không nhận những chỉ thị để tới Việt Nam cho đến hết tháng Năm [khi kết quả] của hiệp định Geneva đã rõ ràng. Những chỉ thị này đã chấm dứt với [một câu viết riêng tư] khác thường là “Chúa trời ban phúc cho anh” từ Allen Dulles. Lansdale đã tới Sài Gòn vào ngày 1 tháng Sáu năm 1954. Sau khi đặt chân xuống đất, Lansdale đã yêu cầu có một nhóm để trợ giúp mình, được biết tới như là Phái bộ Quân sự Sài Gòn [Saigon Military Mission]. Cơ quan này có hai mục đích [đáng chú ý]: ngăn chặn người Bắc Việt Nam xâm chiếm miền Nam và chuẩn bị [ở lại kháng chiến] ở miền Bắc và tại miền Nam trong trường hợp miền nầy bị sụp đổ. .

Trước khi người Pháp đặt chân tới vào nửa cuối Thế kỷ 19, toàn bộ Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền với một ngôn ngữ chung và một lịch sử tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của Trung Hoa trong Thế kỷ 14. Sau các cuộc chiến tranh [của các phe nhóm trong triều đại giữa các vùng], Hoàng đế Gia Long của Triều Nguyễn đã thống nhất đất nước vào năm 1802. Hoàng đế Bảo Đại đại diện cho thế hệ thứ 13 của triều đại này.

Sau khi Pháp hứa nhưng không bao giờ chịu trao quyền độc lập cho Việt Nam, trong một chuỗi những thỏa thuận liên tiếp bắt đầu vào năm 1948, họ đã bỏ lại nửa phía bắc của nước này cho Việt Minh trong khi vẫn kiểm soát [một cách hiệu quả] nửa phần còn lại. Họ đã phát hành đồng tiền Việt Nam và điều hành ngân hàng quốc gia, [quản trị những ngành dịch vụ công cộng như điện nước], và hướng dẫn trên thực tế quân đội và cảnh sát quốc gia, [chỉ có nguồn xăng dầu cho xe cộ và các máy bay là thuộc về Liên Đoàn Công Binh của người Pháp]. [Giới lãnh đạo nước Pháp thì bị tiêm nhiễm với huyền thoại tự cho là đúng rằng] người Việt Nam sẽ không chịu chiến đấu và Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia nên Ngoại trưởng Pháp Bidault đã long trọng tuyên bố với Ngoại trưởng Dulles vào tháng Tư năm 1954, rằng [“Sự độc lập không phải là yếu tố then chốt để đưa tới lòng can đảm. Việt Nam đã là một quốc gia, là nước, mà trong 1.500 năm qua, chưa bao giờ có bất cứ chủ quyền nào.”]

Với sự miễn cưỡng đầy giận dữ, Cao ủy Pháp [đã không dọn đi] khỏi Dinh Norodom ở Sài Gòn cho tới tháng Chín năm 1954 [để nhường chỗ] cho kẻ chiếm đóng mới, Thủ tướng Ngô Đình Diệm, người đã tới đây từ tháng Bảy. [Được bổ nhiệm bởi Vua Bảo Đại] như là một hy vọng cuối cùng cho Nam Việt Nam, ông Diệm được nhiều quan chức Mỹ xem như là một nhân vật tầm thường [với ít cơ may] để tạo nên sự ủng hộ của dân chúng. Đi tới những phạm vi quanh quan điểm của người Mỹ là những cách nhìn nhận của Tòa đại sứ Mỹ tại Paris rằng ông Diệm là “một nhân vật thần bí như đạo sĩ Yoga … ông xuất hiện quá thanh tao và chất phác để có khả năng đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng và những kẻ vô liểm sỉ mà ông sẽ bắt gặp ở Sài Gòn.” Ông Diệm đã nhận thấy bản thân mình chẳng khác gì một tù nhân trong Dinh Gia Long, [nơi ông được đưa vào chức vụ lúc ban đầu]. Lúc đó, lực lượng canh gác dinh thự của ông được cung cấp bởi Cảnh sát Quốc gia [và cơ quan nầy thì bị kiểm soát bởi Bình Xuyên [1], một nhóm giang hồ] với quân đội riêng được [chu cấp tiền bạc bởi người Pháp và hoạt động bằng cách tống tiền.]

Một thuật ngữ Pháp được ưa chuộng để miêu tả Nam Việt Nam sau hiệp định Geneva là một “panier de crabes” (cái giỏ cua). [Người Pháp và người Mỹ đã bất hòa là do bởi sự cạnh tranh các quyền lợi]. Người Việt Nam bị chia rẽ giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Hoàng
ế Bảo Đại, các giáo phái gồm Cao Đài và Hòa Hảo, [nhóm giang hồ Bình Xuyên và Quân đội Việt Nam], cũng như nhiều đảng phái chính trị bị hất cẳng từ miền Bắc (Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt) và [những người tị nạn trốn chạy] từ miền Bắc. Trong nhiều năm, người Pháp đã chơi trò chia để trị nhằm làm cho nhiều nhóm phái người Việt ít tin tưởng lẫn nhau. [
Câu hỏi trong tâm trí người Mỹ là làm sao có một quốc gia nào hoặc một chính phủ đoàn kết nào bị xiết chặc như vầy mà có thể vặn mình thoát khỏi lại tình trạng hỗn loạn này?]

***

Bài trên trích từ đoạn Mở đầu của cuốn “Why Vietnam Matters” với sự cho phép của nhà xuất bản Naval Institute Press.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* The Berlin Air Lift (Cuộc Không Vận Berlin): bắt đầu bằng Cuộc Phong tỏa Berlin [The Berlin Blockage], từ ngày 24-6 đến ngày 11-5-1949, là một trong những khủng hoảng nghiêm trọng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Lạnh lúc mới nổ ra. Nó bắt đầu khi những Liên Xô phông tỏa tuyến đường sắt và đường bộ từ ba cường quốc phương Tây là Mỹ, Anh và Pháp tới phần phía Tây của thành phố Berlin do phương Tây chiếm đóng… Sau đó Mỹ và đồng minh phương Tây phải lập cầu hàng không để tiếp vận cho Tây Berlin … (wikipedia).

** Huk: hoạt động du kích do Cộng sản cầm đầu ở Philippines, được triển khai trong thời gian diễn ra cuộc Đệ nhị Thế chiến khi du kích quân có vũ trang chống lại người Nhật … (wikipedia)

[1] http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Xuy%C3%AAn

———————————————-

Events Leading to America’s Involvement in Vietnam

by Rufus Phillips

October 30th, 2008

The United States parachuted OSS agents into northern Vietnam in 1945, before the end of World War II in Asia. Support was given to Vietnamese resistance against the Japanese, mainly to Ho Chi Minh’s nationalist front movement, the Vietnamese Independence League (Vietminh). However, substantial U.S. engagement did not begin until later.

In 1949, China fell to the Communists. The Cold War was at its peak in Europe, with the Berlin Air Lift underway and the U.S. desperately trying to weld Western Europe into a common defense pact. Of critical concern were France and Italy, which had strong domestic Communist parties. The French had returned to Indochina in 1945 to reassert colonial control and were caught in a deepening military struggle involving ever growing numbers of troops against the Communist controlled Vietminh. To shore up its ally against the Communists in Europe, President Truman came under increasing pressure to provide military assistance to the French in Indochina. Moreover, the fall of China in 1949 made it appear likely that all of Southeast Asia might go the same way, beginning with the associated states of Indochina: Vietnam, Cambodia and Laos. Thus, in March 1950, President Truman approved an initial fifteen million dollar military aid program for Indochina and Thailand, with most of the aid going directly to the French armed forces in Indochina. Our involvement had taken a significant step.

By early 1954, after eight years of struggle, Indochina’s future hung in the balance. France’s war against the Vietminh was not going well. A plan to prevent a Vietminh take over of Laos by creating a redoubt in the northern Vietnam valley of Dien Bien Phu blocking the main route of invasion and luring Vietminh forces into a decisive confrontation with French superior fire power proved a dismal failure.

By the Spring of 1954, it appeared the French might lose the battle for Dien Bien Phu, causing French support for the war to collapse. Officials within the Eisenhower Administration became frantic. The question at hand was should the U.S. directly intercede militarily to prevent a French defeat? President Eisenhower, however, strongly resisted the idea of directly intervening with U.S. troops or bombers.

Even before disaster loomed at Dien Bien Phu, French public pressure had grown for an end to the war, resulting in the French welcoming an international conference on Indochina to seek a negotiated end to the conflict. The Geneva Conference opened on April 26, 1954, with France, the United Kingdom, the Soviet Union, China and the United States as Great Power participants along with the Vietminh and the State of Vietnam (ruled by Bao Dai) as well as the States of Laos and Cambodia. On the 7th of May, eleven days later, Dien Bien Phu fell to the Vietminh forces of General Vo Nguyen Giap, severely undercutting any concessions which the French might have requested.

After the Saigon newspaper, Le Journal d’Extreme Orient, on May 4, 1954, published a declaration by Maurice Dejean, French Commissioner General that there was no “ intention of” partitioning Vietnam, dividing Vietnam into two territories became, in June, the centerpiece of secret discussions between the French and the Vietminh. While the bulk of regular Vietminh forces were in the North, the combined French and Vietnamese forces controlled almost as much territory in the North as in the South. Moreover, a substantial part of the population in the North was Catholic, had strongly resisted the Vietminh and was certain to be a target for retaliation.

While the French secretly negotiated with the Vietminh, the non-communist Vietnamese were left in the dark until the deal was cut. As the conference droned into June a framework of understanding was reached behind the scenes. Vietnam would be separated at the 17th parallel, French forces and their Vietnamese allies would evacuate the North to regroup in the South, and Vietminh forces would evacuate from the South to the North, all this to be accomplished by May 1955. An International Control Commission, composed of Poles, Indians and Canadians, was to supervise carrying out the terms of the Cease Fire Agreement in the three Associated States of Indochina. In an unsigned protocol at Geneva, national elections, covering all of Vietnam, were proposed within two years after the conference’s conclusion. The Eisenhower Administration viewed Geneva internally as a disaster. Particularly exasperating was the French failure to train more Vietnamese soldiers and to give the noncommunist Vietnamese real independence beforehand. While Bao Dai reigned as Emperor from the Riviera, his regime as a member of the French Union still had no truly independent status. The Vietnamese Army had never operated completely on its own and was entirely dependent on French logistical support.

The non-communist Vietnamese lapsed into severe shock, depression and anger. Given the political vacuum in the South, a Communist takeover of all of Vietnam within two years, or even less, seemed unavoidable. Be
yond vague ideas of somehow rallying the Vietnamese in the South and contingency plans for creating stay-behind agents to conduct guerrilla warfare against the Vietminh, the U.S. had little idea of how to prevent a complete Communist take-over.

As a desperate measure, Colonel Edward G. Lansdale, then assigned to the Central Intelligence Agency, had been asked back in January 1954, when the odds against the French were already lengthening, if he would go to Vietnam to work the same “ magic” he had in the Philippines. There, as an advisor, he helped the Filipinos defeat the Communist Huks and elect Ramon Magsaysay as President in a clean election. The decision to send him was a joint one by Secretary of State, John Foster Dulles, his brother Allen Dulles, Director of the CIA, and by the Defense Department. General John “Iron Mike” O’Daniel, head of the American Military Advisory Group (MAG) in Saigon and Ambassador Donald Heath, also asked for him.

When Secretary of State Dulles informed Lansdale that President Eisenhower wanted him to go, Lansdale said he would do so only if it was to help the Vietnamese, not the French. That was the idea, he was told. This became an important basis for his mission, which influenced, for a time, the course of history. It also changed the course of my life and that of others. Lansdale did not receive orders to go to Vietnam until the end of May when the outcome of Geneva was clear. Those orders ended with an unusual personal note of “God bless you” from Allen Dulles. Lansdale arrived in Saigon on June 1, 1954. After getting his feet on the ground Lansdale called for a team to assist him, known as the Saigon Military Mission. It had two daunting purposes: prevent the North Vietnamese from taking over the South and prepare stay behind resistance in the North and in the South in case it too fell.

Before the French came in the second half of the 19th Century, all of Vietnam had been a sovereign country with a common language and with a history of freeing itself from Chinese domination in the 14th Century. After dynastic wars between the regions, Emperor Gia Long of the Nguyen Dynasty united the country in 1802. Emperor, Bao Dai, represented the 13th generation of this dynasty.

After France promised, but never delivered Vietnam independence, in a succession of agreements beginning in 1948, they had ceded the northern half of the country to the Vietminh while still effectively controlling the remainder. They issued Vietnam’s currency and ran its national bank, operated the public utilities and effectively controlled the national army and police whose only source of gasoline for its vehicles and airplanes was the French Expeditionary Corps. So imbued was the French leadership with the self-justifying myth that the Vietnamese would not fight and Vietnam had never been a nation that Foreign Minister Bidault solemnly told Secretary Dulles in April 1954, “Independence was not a key to courage. Vietnam was a country, which, for 1,500 years, has never had any sovereignty.”

With teeth-gnashing reluctance the French High Commissioner would not move out of Norodom Palace in Saigon until September 1954 to make room for its new occupant, Prime Minister Ngo Dinh Diem, who had arrived in July. Appointed by Bao Dai as a last hope for South Vietnam, Diem was viewed by many American officials as a cipher with little chance of generating popular support. Going the rounds of American opinion were the views of the American Embassy in Paris that Diem was, “a Yogi-like mystic … he appears too unworldly and unsophisticated to be able to cope with the grave problems and unscrupulous people he will find in Saigon.” Diem found himself something of a prisoner in Gia Long Palace where he was first installed. At the time, his palace guard was provide d by the National Police who were in turn controlled by the Binh Xuyen, a gangster sect with its own private army funded by the French and racketeering.

A favorite French term to describe South Vietnam after Geneva was a “panier de crabes” (basket of crabs). At odds were the competing interests of the French and the Americans. The Vietnamese were divided between new Prime Minister Diem, Emperor Bao Dai, the religious sects of the Cao Dai and Hoa Hao, the gangster sect of the Binh Xuyen and the Vietnamese Army, as well as various displaced political parties from the North (the VNQDD and the Dai Viet) and the refugees fleeing the North. For years the French had played divide and rule so that the various Vietnamese groups had little trust in each other. The question on American minds was how could any coherent government or country ever be wrung out of this mess?

***

From the Prologue to “Why Vietnam Matters” with the permission of Naval Institute Press.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Trung Quốc Thăm Dò Dầu khí Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 25/11/2008

Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc CNOOC lên Kế hoạch 29 tỉ đô la Thăm dò Dầu khí ở Biển Đông

Wang Ying

Ngày 24-11-2008

Tập đoàn dầu khí Cnooc Ltd. của Trung Quốc và các đối tác có thể bỏ ra khoảng 200 tỉ nhân dân tệ (29 tỉ đô la) để [khai thác các mỏ nhiên liệu ở Biển Đông] trong một nỗ lực lớn nhất của nước này [để rút lên] các nguồn dự trữ ngoài biển khơi.

Những món tiền đầu tư [trong khoảng thời gian từ năm 2009 cho đến năm 2020 bao gồm một khoản ước tính là [15 tỉ nhân dân tệ] từ công ty mẹ là tập đoàn dầu khí quốc gia China National Offshore Oil Corp (CNOOC). để lắp đặt các thiết bị khoan trong vùng nước sâu, Luo Donghong, kỹ sư trưởng về thiết kế phát triển của tổ hợp Thâm Quyến thuộc Cnooc đã cho các phóng viên và các nhà phân tích biết hôm 22 tháng Mười một. Ông đã không nói rõ tên các công ty sẽ là đối tác với nhà sản xuất dầu khí ngoài khơi lớn nhất Trung Quốc này.

Nhu cầu về năng lượng lên cao trong nền kinh tế lớn thứ tư thế giới đang thúc đẩy tập đoàn Cnooc của nhà nước đẩy mạnh việc thăm dò của mình trong một khu vực mà nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam và Indonesia đã đưa ra những yêu sách về chủ quyền lãnh thổ. Công ty sẽ khoan sâu gấp hai lần so với các giếng khoan hiện tại của mình nằm ngoài khơi Trung Quốc trong khi các đối thủ cạnh tranh trên toàn cầu của nó phải cắt giảm chi phí sau khi giá dầu giảm 66% so với mức kỷ lục vào tháng Bảy (2008, $147/ 1 thùng dầu).

“Tiềm năng khổng lồ chưa được công ty khai thác trên Biển Đông, mà phần lớn chưa được khảo sát kỹ,” đó là nhận xét của Wang Aochao, một nhà phân tích tại Thượng Hải thuộc hãng UOB-Kay Hian Ltd., khi ông trả lời phỏng vấn qua điện thoại hôm nay. “Công ty này sẽ cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các quốc gia.”

Biển Đông, trải rộng trên 3,5 triệu km vuông, kéo dài từ Singapore cho tới Eo biển Đài Loan và bằng một phần ba diện tích Trung Quốc. Vào tháng Bảy, chính phủ Trung Quốc đã phản đối một kế hoạch của Exxon Mobil Corp., công ty dầu lửa lớn nhất thế giới, định cùng với Việt Nam thăm dò dầu khí tại khu vực này, với lý do là dự án đó chứng tỏ một sự xâm phạm đến đòi hỏi dựa trên nghiên cứu lịch sử của Trung Quốc về lãnh thổ.

Cổ phiếu của Cnooc đã leo lên 2% đạt 5,16 đô la HongKong tại thị trường HongKong, trong khi chỉ số Hang Seng đã rớt xuống 1,6 %.

Khuyến khích Tăng trưởng

Trung Quốc, nước tiêu thụ dầu lửa nhiều thứ hai thế giới, đang xúc tiến làm các dự án bao gồm các nhà máy điện hạt nhân, những đường ống dẫn khí gas và các nhà máy lọc dầu [để giúp kích thích] nền kinh tế trong nước và thỏa mãn những nhu cầu năng lượng trong tương lai. Nước này sẽ đuổi kịp Hoa Kỳ để trở thành nhà tiêu thụ dầu lửa và khí gas lớn nhất thế giới trong khoảng năm năm nữa, theo đánh giá tháng Chín của Royal Dutch Shell Plc.

“Công ty này [sẽ duy trì] ngân quỹ thăm dò của mình trên Biển Đông vào năm tới,” Li Fanrong, tổng giám đốc tổ hợp thuộc công ty có trụ sở tại Bắc Kinh, đã cho biết tại thành phố [Thẩm Quyến] ở miền nam nước này. “Việc đầu tư này mới chỉ là một [ước tính sơ bộ phản ánh tiềm năng khổng lồ] về các nguồn dự trữ dầu lửa và khí gas trong khu vực.”

Các nguồn Dự trữ Nhiên liệu

Các nguồn dự trữ nhiên liệu địa chất [tại các khu vực nằm sâu] dưới Biển Đông có thể đạt tới [22 tỉ thùng dầu] vào năm 2020 và toàn bộ sản lượng hàng năm có thể lên tới 350 triệu thùng dầu, ông Luo cho biết. Trung Quốc có thể tiêu thụ 8,2 triệu thùng dầu mỗi ngày vào năm 2009, theo như đánh giá của Cơ Quan Năng lượng Quốc tế, nhà tư vấn cho 28 quốc gia tiêu thụ dầu lửa có trụ sở tại Paris.

Nhu cầu của Trung Quốc về khí gas tự nhiên là “khổng lồ” tại các tỉnh miền biển như Quảng Đông, Phúc Kiến và Triết Giang, ông Li cho biết.

Cnooc và các đối tác trong tương lai của họ [đang dự đoán sẽ khoan sâu tới 3.000 m ngoài khơi vào trước năm 2020], so với độ sâu nhất hiện tại là 1.485m, ông Luo nói. “Vùng nước sâu là một khu vực then chốt của những nguồn dự trữ gia tăng trong tương lai,” ông cho biết tiếp.

Chi phí thực tế cho vùng Biển Đông sẽ phụ thuộc vào những biến số có thể thay đổi khác bao gồm giá nguyên liệu thô như thép, ông Li nhận định.

Các đối tác tham gia thăm dò hiện tại của Cnooc tại Biển Đông bao gồm Devon Energy Corp., Husky Energy Inc và Anadarko Petroleum Corp., ông Luo nói. Công ty thăm dò Trung Quốc sẽ đầu tư 1,04 tỉ đô la để thăm dò trong năm 2008 trong khi nhắm vào ít nhất là để thay thế cho bất cứ nguồn dự trữ nào mà nó đã khai thác hết, theo như Cnooc cho biết vào tháng Một.

Công ty này [đang lên kế hoạch] sản xuất trong khoảng từ 195 triệu cho tới [199 triệu thùng vào năm nay], so với sản lượng năm ngoái là từ 169 tới 171 thùng, [công ty nầy đã cho biết vào hồi đầu năm 2008].

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

xem thêm blog của TTX Ba Sàm

http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe

—————————————-

Bloomberg

————

Cnooc Plans $29 Billion South China Sea Exploration

By Wang Ying

Nov. 24 (Bloomberg) — Cnooc Ltd. and its partners may spend about 200 billion yuan ($29 billion) to develop fuel deposits in the South Chi
na Sea in the nation’s biggest push to tap reserves off the coast.

The investments between next year and 2020 include an estimated 15 billion yuan by parent China National Offshore Oil Corp. to build deepwater drilling equipment, Luo Donghong, chief development engineer at Cnooc’s Shenzhen unit, told reporters and analysts on Nov. 22. He didn’t name the companies that will partner China’s biggest offshore oil producer.

Rising energy demand in the world’s fourth-biggest economy is prompting state-run Cnooc to boost exploration in an area where nations including Vietnam and Indonesia have laid territorial claims. The company will drill twice the depth of its existing wells off the coast of China as its global rivals cut spending after oil prices fell 66 percent from its July record.

“Huge potential lies untapped for the company in the South China Sea, which is largely unexplored,” Wang Aochao, a Shanghai-based analyst with UOB-Kay Hian Ltd., said by telephone today. “The company will need to tackle the relationship between countries well.”

The South China Sea, covering 3.5 million square kilometers, stretches from Singapore to the Straits of Taiwan and is a third of the size of China. In July, the Chinese government opposed a plan by Exxon Mobil Corp., the world’s biggest oil company, to explore for fuel in the area with Vietnam, saying the project marks a breach of its historical claim to the region.

Cnooc climbed 2 percent to close at HK$5.16 in Hong Kong trading, while the benchmark Hang Seng Index dropped 1.6 percent.

Stimulate Growth

China, the world’s second-biggest oil user, is expediting projects including nuclear power plants, gas pipelines and oil refineries to help stimulate the domestic economy and meet future energy demand. The country will overtake the U.S. as the world’s biggest oil and gas consumer in about five years, Royal Dutch Shell Plc said in September.

“The company will maintain its exploration budget for the South China Sea next year,” Li Fanrong, general manager of the unit of the Beijing-based company, said in the southern city of Shenzhen. “The investment is only a rough estimate that reflects the immense potential of oil and gas reserves in the area.”

Fuel Reserves

Geological fuel reserves in the deepwater fields of the South China Sea may reach 22 billion barrels of oil equivalent by 2020 and overall annual output may rise to 350 million barrels, Luo said. China may consume 8.2 million barrels of oil a day in 2009, according to the International Energy Agency, the Paris-based adviser to 28 oil-consuming nations.

China’s demand for natural gas is “huge” in the coastal provinces of Guangdong, Fujian and Zhejiang, said Li.

Cnooc and its future partners aim to drill up to 3,000 meters deep in the offshore area by 2020, compared with the current maximum depth of 1,485 meters, said Luo. “Deepwater is a key area for future incremental reserves,” he said.

The actual spending for the South China Sea will depend on other variables including the price of raw materials such as steel, said Li.

Cnooc’s current exploration partners in the South China Sea include Devon Energy Corp., Husky Energy Inc. and Anadarko Petroleum Corp., Luo said. The Chinese explorer will invest $1.04 billion in exploration in 2008 as it aims to at least replace any reserves it depletes, Cnooc said in January.

The company plans to produce between 195 million and 199 million barrels of oil equivalent this year, compared with last year’s output of between 169 million and 171 million barrels, it said then.

— With reporting by Winnie Zhu in Shanghai. Editors: Ang Bee Lin, John Viljoen.

To contact the reporter on this story: Wang Ying in Beijing at ywang30@bloomberg.net.

Last Updated: November 24, 2008 03:54 EST

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Vụ Ám Sát TT Diệm & Kennedy Dẫn Tới Việt Nam War

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2008

Đánh giá lại Diệm: Cái nhìn khác về miền Nam

Tiến sĩ Kathryn Statler
Viết riêng cho BBCVietnamese.com
21 Tháng 11 2008

Vẫn nằm trong loạt bài đánh giá về nhân vật Ngô Đình Diệm nhân 45 năm ngày xảy ra cuộc đảo chính tháng 11.1963, xin giới thiệu với quý vị bài viết của tiến sĩ Kathryn Statler, Phó Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học San Diego, Hoa Kỳ.

Trong cuốn sách của tôi, Thay thế Pháp: Nguồn gốc của sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, tôi đánh giá cách người Mỹ thay Pháp ở miền Nam sau Hội nghị Geneva 1954.

Hiệp định Geneva đã tạm tái lập hòa bình giữa lực lượng của Hồ Chí Minh và Pháp, và chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17.

Các lãnh đạo Pháp tin rằng họ sẽ duy trì ảnh hưởng ở Nam Việt Nam, nhưng không được khi người Mỹ bắt đầu chiếm các vị trí trước đây nằm trong tay Pháp.

Khôn hơn người ta tưởng

Có lẽ yếu tố quan trọng nhất định hình sự chuyển đổi ảnh hưởng từ Pháp sang Mỹ chính là Diệm. Sau khi đã loại bỏ được ảnh hưởng của Pháp ở miền Nam, ông lại xoay sang mục tiêu tìm kiếm độc lập trước người Mỹ.

Các quan chức Mỹ ủng hộ Diệm sau Geneva vì họ bị thu hút bởi nhãn hiệu chống tham nhũng, chống cộng, thân phương Tây, Thiên Chúa giáo. Nhưng hóa ra Diệm, một cách có hệ thống, đã phá ngang các yêu cầu của Mỹ ở miền Nam, tuyên bố ông là một lãnh đạo Á châu tự chủ.

Lúc Diệm trở thành Thủ tướng, cả đồng minh lẫn kẻ thù đều nghĩ Diệm là một người có đạo đức, nguyên tắc, trung thực nhưng không khôn lắm về chính trị.

Diệm đã chứng tỏ ông khôn hơn người ta tưởng. Đến giữa tháng Năm 1955, Diệm đã loại hầu hết đối thủ trong nước, đặc biệt các nhóm Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.

Lúc Diệm trở thành Thủ tướng, cả đồng minh lẫn kẻ thù đều nghĩ Diệm là một người có đạo đức, nguyên tắc, trung thực nhưng không khôn lắm về chính trị

Ông cũng góp vai trò vào công cuộc vận chuyển và tái định cư thành công nhất trong lịch sử hiện đại, khi người tị nạn miền Bắc đổ vào miền Nam sau Hội nghị Geneva 1954.

Diệm cũng phá vỡ kế hoạch bầu cử năm 1956 theo như quy định của Hiệp định Geneva, với lý do Nam Việt Nam đã bị loại trừ khỏi cuộc đàm phán và đã không ký thỏa thuận chung cuộc.

Từ 1954 cho đến khi bị ám sát năm 1963, Diệm hoan nghênh viện trợ của Mỹ nhưng chống lại cố gắng chỉ đạo chính sách của miền Nam.

Bên cạnh đó, Diệm tìm cách có sự tôn trọng và hợp tác của các nước trung lập Thế giới thứ Ba, để không bị xem là con rối của Mỹ.

Diệm mặc đồ như một người phương Tây vì ông nhận thức rằng đó là nơi của trung tâm quyền lực, nhưng ông quyết đi theo con đường riêng ở Đông Nam Á.

Điều thú vị là đến cuối thập niên 1950, từ chỗ cực lực bài Pháp, Diệm bắt đầu nỗ lực hàn gắn quan hệ với Pháp để chứng tỏ mình độc lập trước Washington.

Chính sách ngoại giao

Đối ngoại là lĩnh vực Diệm có nhiều thành công nhất. Mục tiêu ngoại giao đầu tiên của ông là nâng vị thế quốc tế của Nam Việt Nam, bằng cách bình thường hóa quan hệ với các quốc gia khác.

Đến tháng 10.1956, Nam Việt Nam có 11 phái bộ tại Pháp, Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, Italy, Nhật, Thái Lan, Philippines, Campuchia, Lào, Hong Kong, Djakarta và Đài Bắc, và có nhiều nước công nhận hơn miền Bắc (hơn 40 nước vào đầu năm 1958).

Diệm ngày càng lo ngại rằng các nước châu Á xem ông là “người do Tây nhào nặn”. Sau khi đã bảo đảm được sinh mạng chính trị của miền Nam, và của chính ông, ông bớt phụ thuộc hơn vào Mỹ.

Trước thời hạn bầu cử 1956, Diệm dè bỉu các nước “không liên kết”, nhưng sau khi hạn chót đã đi qua, ông thay đổi chính sách: cải thiện quan hệ với các nước châu Á.

Trước tiên Diệm ve vãn Ấn Độ, đích thân đi đến New Delhi năm 1957. Một mục tiêu của chuyến thăm là chứng tỏ ông không phải như Lý Thừa Vãn của Nam Hàn, Tưởng Giới Thạch của Đài Loan – những người mà ông xem là chư hầu của Mỹ.

Diệm cũng bắt đầu tới các nước khác, đón tiếp nhiều lãnh đạo như U Nu của Miến Điện, để tăng vị thế quốc tế của ông.

Ông bay đến Washington, Canberra, Seoul, Bangkok, Delhi, Rangoon, gặp Thủ tướng Nhật, các phái đoàn của Marốc và Iraq. Diệm cũng đạt thỏa thuận đoàn kết chống cộng sản cùng với Úc, Nam Hàn và Thái Lan.

Ông cố gắng phát triển quan hệ với khối trung lập, giao thiệp với các nước Ảrập và thương lượng với Nhật về việc bồi thường chiến tranh.

Diệm cũng đăng ký gia nhập thật nhiều tổ chức quốc tế để quảng bá cho quốc gia miền Nam.

Đến cuối năm 1957, Nam Việt Nam có đại diện ở ít nhất 20 tổ c
hức liên quan Liên Hiệp Quốc và là thành viên của IMF.

Hành động cân bằng giữa Á châu và Mỹ đưa Diệm đi đến ngã tư đường trong chính sách ngoại giao vào năm 1958.

Theo chuyên gia hàng đầu về Việt Nam khi đó, Bernard Fall, miền Nam có thể cứ nằm trong tay Mỹ để bị gọi là chư hầu. Hoặc Sài Gòn có thể tìm lối đi trung dung, nhưng khi đó lại đối phó với bất ổn chính trị, vấn nạn kinh tế.

Cuối cùng, Diệm và em trai, Ngô Đình Nhu, ủng hộ quan điểm duy trì sự độc lập của miền Nam trong tương quan với Mỹ.

Đến năm 1960, 55 nước đã chính thức công nhận miền Nam – một thành tựu khá lớn khi so với sự cô lập của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam.

Thất bại trong nước

Mặc dù khá thành công khi khẳng định sự độc lập về đối ngoại trong giữa thập niên 1950, nhưng đến khi John Kennedy đắc cử, Diệm để mất chủ động trong cả lĩnh vực đối ngoại và đối nội, vì sự can thiệp gia tăng của Mỹ và việc Diệm không thể ứng phó với các vấn đề trong nước.

Những khó khăn của miền Nam một phần có thể quy cho việc Mỹ không hiểu được chủ nghĩa dân tộc của Thế giới thứ Ba và những động cơ của Diệm.

Các viên chức Mỹ ở Sài Gòn tiếp tục ngạc nhiên là dù có viện trợ, Diệm vẫn chống đối cải cách của Mỹ.

Trong khi đó, Diệm cũng bực tức vì sao người Mỹ không hiểu quyết tâm của ông muốn đi theo con đường riêng, bỏ qua cả hệ thống tư bản dân chủ và kinh tế tập trung cộng sản.

Sau rốt, chính vì Diệm quyết tâm đi theo con đường riêng mà các tướng lĩnh miền Nam và Hoa Kỳ đã lật đổ ông

Chúng ta sẽ không bao giờ biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ Diệm.

Dù có thành công trong ngoại giao, nhưng Diệm khó lòng trở thành lá chắn hiệu quả chống lại quyết tâm thống nhất hai miền của Hà Nội.

Nhưng có lẽ những thành tựu của ông lâu nay đã bị đánh giá thấp.

Đây là người đã loại bỏ phe Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên, buộc Pháp rời bỏ cựu thuộc địa, lấy được viện trợ đáng kể của Mỹ, và buộc cộng đồng quốc tế chấp nhận “sự tan rã của ý tưởng bầu cử toàn quốc 1956”, và buộc họ thừa nhận rằng đất nước không thể được thống nhất chừng nào người cộng sản còn cầm quyền ở miền Bắc.

Diệm cũng lập ra một hiến pháp trao quyền lực tuyệt đối cho hành pháp, lập ra Quốc hội miền Nam, và giúp hàng trăm ngàn người tị nạn miền Bắc hòa nhập cuộc sống.

Diệm cũng có nhiều nhược điểm, như các nhà chỉ trích trước và nay đã chỉ ra. Đặc biệt, chính sách cải cách ruộng đất tai hại, đàn áp chính trị, và chỉ nghe ý kiến của người thân đã làm chính thể bị suy yếu.

Nhưng Diệm không phải là bù nhìn. Sau rốt, chính vì Diệm quyết tâm đi theo con đường riêng mà các tướng lĩnh miền Nam và Hoa Kỳ đã lật đổ ông.

Về tác giả:Bà Kathryn Statler lấy bằng tiến sĩ lịch sử ở Đại học Santa Barbara năm 1999 và dạy ở Đại học San Diego từ 2005. Tác phẩm đầu tay, Replacing France: The Origins of American Intervention in Vietnam, được NXB ĐH Kentucky ấn hành năm 2007.


JFK và Việt Nam

Vụ ám sát Kennedy ngày này 45 năm trước đã dẫn tới một cuộc chiến tranh của người Mỹ.

Bài của Gordon M. Goldstein

Ngày 22-11-2008

Vụ ám sát John F. Kenneky ngày này 45 năm trước đã mang lại một sự kết thúc đột ngột cái thời mà những người hâm mộ ông gọi là Camelot *, một kỷ nguyên tổng thống của vẻ bề ngoài điển trai quyến rũ, thông minh, hóm hỉnh và những triển vọng. Thế nhưng vụ án mạng thậm chí đã có một hậu quả sâu xa hơn: ngày 22-11-1963, là một ngày có ý nghĩa nhất trong lịch sử của cuộc Chiến tranh Việt Nam **.

Không thể biết một cách chính xác liệu Kennedy sẽ chế ngự cuộc khủng hoảng ở Việt Nam ra sao nếu như ông còn sống. Thế nhưng rõ ràng rằng ông đã tỏ ra cương quyết tránh để Việt Nam trở thành một cuộc chiến của người Mỹ và rằng ông đã mong rút quân hoàn toàn trong một nhiệm kỳ thứ hai của mình.

Vào thời điểm Kennedy nhậm chức năm 1961, sự dính líu của quân đội Mỹ ở Đông nam Á bị hạn chế bằng những chuyến vận chuyển vũ khí từ tàu biển và số lượng nhỏ các cố vấn quân sự. Song chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam khi đó đang phải đối mặt với một cuộc nổi dậy ngày càng mạnh mẽ của cộng sản và, ngay tại Hoa Kỳ, [áp lực đã và đang gia tăng để chuyển bộ binh vào VN.]

Qua diễn biến tình hình của năm đó, các cố vấn của Kennedy đã trình lên ông cả nửa tá hoặc hơn các đề nghị Mỹ- hóa cuộc chiến. Trong một bản phúc trình, Tổng trưởng Quốc phòng Robert McNamara, Ngoại trưởng Dean Rusk và nhóm các cố vấn quân sự cao cấp nhất (Join Chiefs of Staff) biện luận rằng [rất khó ngăn chặn] “sự sụp đổ của Nam Việt Nam bởi bất cứ giải pháp nào [mà thiếu sự hiện diện] của quân đội Hoa Kỳ trên một quy mô đáng kể.”

Các cố vấn của Kennedy nói với ông rằng để bảo vệ chính quyền Sài Gòn thì có thể phải cần tới 200.000 lính chiến. McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia, đã tin rằng sự có mặt quân đội Mỹ là vấn đề sống còn. “Lào chưa bao giờ thật sự là của chúng ta sau năm 1954,” Bundy giải thích cho vị tổng thống đa nghi khi viện dẫn tới quốc gia Đông nam Á này, nơi mà Kennedy đã từng chống lại sự can thiệp. “Việt Nam là [của chúng ta] và họ muốn thuộc về [chúng ta].”

Kennedy không dễ chấp thuận. Trong một thời gian dài trước khi trở thành tổng thống, ông đã nói toạc ra tại Quốc hội rằng cần đề phòng kinh nghiệm thảm khốc của người Pháp tại Việt Nam, coi đó như mà một lý do để Hoa Kỳ đừng bao giờ tham gia vào một cuộc chiến trên bộ tại đó. Vào mùa hè năm 1961, ông nói ông đã chấp nhận kết luận của Tướng Douglas MacArthur, người đã khuyên nên phản đối một cuộc chiến trên bộ tại châu Á, khi nhấn mạnh rằng thậm chí một triệu lính bộ binh Mỹ cũng không thể đủ để thắng thế. Ông sẽ cung cấp viện trợ và huấn luyện quân sự cho chính quyền Sài Gòn, song ông sẽ không cho phép gửi đi lực lượng lục quân.

Qua ba năm nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Kennedy đôi lúc [đã xử dụng thuật hùng biện có tính hiếu chiến] về vấn đề Việt Nam. Ông cũng đã gia tăng thêm số cố vấn và nhân viên huấn luyện quân sự tại đây lên xấp xỉ 16.000. Thế nhưng cả McNamara và Bundy đều trở nên tin rằng Kennedy sẽ không Mỹ hóa cuộc chiến – [thậm chí nếu như cái giá là sự xâm chiếm của chủ nghĩa cộng sản ở Nam Việt Nam.]

Kennedy đã nhận thức rõ rằng sự bất lực của Hoa Kỳ trong việc chặn con Đường mòn Hồ Chí Minh — những tuyến đường thâm nhập và tái cung cấp trang thiết bị quân sự từ Bắc Việt Nam — sẽ làm cho nó không thể đánh bại các cuộc nổi dậy. [“Những con đường mòn này là lý do dẫn tới sự thất bại,”] Kennedy nói với một phụ tá vào mùa xuân năm 1962, [“và là một lý lẻ ủng hộ thêm cho sự leo thang chiến tranh.”] Kennedy đã quá nghi ngại khi ông không úp mở gì với viên phụ tá Tòa Bạch Ốc Michael Forrestal rằng tỉ lệ cá cược cho việc chiến thắng được Việt Cộng là 100 ăn 1.

Đầu năm 1963, Kennedy nói với Lãnh đạo phe Đa số tại Thượng viện Mike Mansfield, người đã chống lại việc dính líu ngày càng nhiều của Hoa Kỳ tại Việt Nam, rằng ông sẽ bắt đầu cho rút các cố vấn quân sự khỏi Nam Việt Nam vào đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình năm 1965. Kennedy đã để lộ kế hoạch tương tự của Roswell Gilpatric, thứ trưởng Quốc phòng. Thế nhưng tấn thảm kịch ở Dallas vào tháng Mười một năm 1963 đã thay đổi mọi chuyện.

Điều gì đã xảy ra sau cái chết của Kennedy là một câu chuyện đã trở thành quen thuộc. Lyndon B. Johnson kế tục vị trí tổng thống năm 1964, và vào tháng Tám năm đó ông đã lợi dụng một biến cố không rõ ràng trên Vịnh Bắc Bộ để lấy được một sự chuẩn thuận của quốc hội không hạn chế các hành động quân sự chống lại Bắc Việt Nam. Vào ngày 8 tháng Ba năm 1965, Johnson gửi 3.500 lính Hải quân đầu tiên tới Việt Nam. Trong vòng mấy tháng ông đã phê chuẩn việc triển khai 175.000 binh lính nữa.

Nếu như Kennedy còn sống, ông sẽ có được những lợi thế to lớn vào năm 1965. Trong một nhiệm kỳ thứ hai, Kennedy [sẽ không thể bị tổn hại trước các cử tri đoàn]. Ông sẽ không có cái chương trình nghị sự xây dựng những dự luật Xã hội Vĩ đại [Great Society] rõ lớn lao hào phóng của Johnson để cố gắng thuyết phục Quốc hội. Ông đã thiết lập được một thông lệ kiên quyết loại bỏ những cố vấn của mình khi cần thiết. Và ông sẽ bước vào nhiệm kỳ bốn năm cuối của mình như là một nhà quán quân cho cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, một thành tích về an ninh quốc gia [sẽ làm gia tăng quyền kiểm soát vào tay của ông ta một cách có hiệu quả].

“Vì vậy ông không phải tự chứng tỏ bản thân mình ở Việt Nam,” Bundy biện luận khi hồi tưởng lại quá khứ. “Ông ấy có thể giảm bớt được những mất mát của đất nước lúc đó. Ông ấy có thể làm điều này do việc từ chối gây ra một cuộc chiến tranh của người Mỹ.”

Vị tổng thống Kennedy đó trong vai trò là một tổng chỉ huy quân đội đã không có được cơ hội để quyết định một số phận khác cho Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam đã làm sâu đập thêm bi kịch từ sự ra đi của ông và cũng nhấn mạnh thêm di sản quý báu của ông, vẫn hết sức liên quan 45 năm sau đó: [sự suy xét và phán đoán của vị tổng tư lệnh, chẳng bao lâu nữa sẽ nằm] trên đôi vai của vị Tổng thống mới đắc cử Barrack Obama, rút cục [ xác định rõ sự khác biệt] giữa chiến tranh và hòa bình.

Gordon M. Gildstein là tác giả của cuốn “Những bài học trong Thảm hoạ: McGeorge Bundy và Con đường đi tới Chiến tranh tại Việt Nam,” mới được Times Books xuất bản.

* Camelot: thành phố trong truyền thuyết của Vua Arthur, xứ sở hòa bình, tươi đẹp, mộ đạo, có học thức.

** Để hiểu vụ ám sát TT Kennedy, mời xem thêm: “Sự giống nhau của hai vụ ám sát”-(BBC-VN); “JFK và cuộc đảo chính Diệm“; “Đoạn phim m
ới về vụ ám sát JFK
“;

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

nguồn: TTX Ba Sàm

http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?p=2617&n=28500

———————————————–

Los Angeles Times

———–

JFK and Vietnam

Kennedy’s assassination 45 years ago today made it an American war.

By Gordon M. Goldstein
November 22, 2008

The assassination of John F. Kennedy 45 years ago today brought an abrupt end to what his admirers called Camelot, a presidential era of glamour, intelligence, wit and possibility. But the murder had an even more profound consequence: Nov. 22, 1963, was the single most significant day in the history of the Vietnam War.

It’s not possible to know for certain how Kennedy would have managed the crisis in Vietnam had he lived. But it’s clear that he was determined to prevent Vietnam from becoming an American war and that he expected to withdraw fully during a second term.

At the point Kennedy assumed office in 1961, American military involvement in Southeast Asia was limited to arms shipments and a small number of advisors. But the South Vietnamese regime of Ngo Dinh Diem was facing an increasingly potent communist insurgency and, in the U.S., pressure was building to send in ground troops.

Over the course of the year, Kennedy’s advisors presented him with half a dozen or more proposals to Americanize the war. In one, Secretary of Defense Robert McNamara, Secretary of State Dean Rusk and the Joint Chiefs of Staff argued that it would be difficult to prevent “the fall of South Vietnam by any measures short of the introduction of U.S. forces on a substantial scale.”

Kennedy’s advisors told him that to defend the Saigon regime might take more than 200,000 combat troops. McGeorge Bundy, national security advisor, believed that commit ting American troops was vital. “Laos was never really ours after 1954,” Bundy explained to the skeptical president, invoking another Southeast Asian nation where Kennedy had resisted intervention. “Vietnam is and wants to be.”

Kennedy was not receptive. Long before becoming president, he had spoken out in Congress against the disastrous French experience in Vietnam, citing it as a reason the U.S. should never fight a ground war there. In the summer of 1961, he said he had accepted the conclusion of Gen. Douglas MacArthur, who counseled against a land war in Asia, insisting that even a million American infantry soldiers would not be sufficient to prevail. He would offer military aid and training to Saigon, but he would not authorize the dispatch of ground forces.

Over the three years of his presidency, Kennedy sometimes invoked hawkish rhetoric about Vietnam. He also increased the military advisors and training personnel there to roughly 16,000. But McNamara and Bundy both came to believe that Kennedy would not have Americanized the war — even if the price was communism in South Vietnam.

Kennedy realized that the inability of the United States to shut down the Ho Chi Minh Trail — the lines of infiltration and resupply from North Vietnam — would make it impossible to defeat the insurgency. “Those trails are a built-in excuse for failure,” Kennedy told an aide in the spring of 1962, “and a built-in argument for escalation.” Kennedy was so dubious he declared to White House aide Michael Forrestal that the odds against defeating the Viet Cong were 100 to 1.

In early 1963, Kennedy told Senate Majority Leader Mike Mansfield, who opposed increased U.S. involvement in Vietnam, that he would begin withdrawing advisors from South Vietnam at the beginning of his second term in 1965. Kennedy disclosed the same plan to Roswell Gilpatric, his deputy secretary of Defense. But the tragedy in Dallas in November 1963 changed everything.

What happened after Kennedy’s death is a familiar story. Lyndon B. Johnson ran for president in 1964, and in August of that year he used an ambiguous incident in the Gulf of Tonkin to extract an open-ended congressional authorization for military action against North Vietnam. On March 8, 1965, Johnson sent the first 3,500 Marines to Vietnam. Within months he had approved deploying 175,000 combat troops.

If Kennedy had lived, he would have enjoyed enormous advantages in 1965. In a second term, Kennedy would have been invulnerable to the electorate. He would not have had Johnson’s grand liberal agenda of Great Society legislation to ram through Congress. He had established a firm practice of overruling his advisors when necessary. And he would have entered his final four years as the champion of the Cuban missile crisis, a national security accomplishment that would have dramatically strengthened his hand.

“So he does not have to prove himself in Vietnam,” Bundy retrospectively argued. “He can cut the country’s losses then. He can do it by refusing to make it an American war.”

That Kennedy as commander in chief was not provided the opportunity to determine a different fate for the United States in Vietnam deepens the tragedy of his loss and also underscores his profound legacy, still richly relevant 45 years later: The judgment of the commander in chief, soon to be resting on the shoulders of President-elect Barack Obama, ultimately determines the difference between war and peace.

Gordon M. Goldstein is the author of “Lessons in Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam,” recently published by Times Books.


Posted in Uncategorized | 3 Comments »