Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Một, 2011

Hóa ra chuyện đường sắt cao tốc bàn bạc năm rồi là vì có lệnh ở trên đưa xuống

Posted by hoangtran204 trên 24/01/2011

Chắc chắn phải làm thôi… Đây rồi…Ông Long Li, Giám đốc Sở Giao thông Nam Ninh nói rằng, tuyến đường sắt cao tốc chạy đến Singapore ngang qua Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng Hành lang kinh tế Nam Ninh – Singapore.


Trung Quốc sắp xây tuyến tàu cao tốc đến

Singapore qua Hà Nội

Trong giai đoạn đầu tiên sẽ được khởi công từ giữa năm 2011, tuyến đường này sẽ nối thành phố thủ phủ Nam Ninh của tỉnh Quảng Tây với thành phố Bằng Tường ở gần biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Tờ China Daily dẫn nguồn tin từ Ủy ban Cải cách và Phát triển Khu tự trị cho biết, tuyến đường sắt cao tốc trên là ưu tiên hàng đầu của chính quyền thành phố Nam Ninh trong 5 năm tới, sẽ làm tăng lượng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.

“Một trong những nhiệm vụ chính của chúng tôi trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015) là thúc đẩy việc xây dựng tuyến đường sắt cao tốc từ Nam Ninh tới các nước ASEAN như Singapore để thành lập một hành lang quốc tế, thúc đẩy thương mại đối ngoại của tỉnh Quảng Tây”, Chủ tịch Khu tự trị dân tộc Choang, ông Ma Biao, cho biết.

Ông Long Li, Giám đốc Sở Giao thông Nam Ninh nói rằng, tuyến đường sắt cao tốc chạy đến Singapore ngang qua Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng Hành lang kinh tế Nam Ninh – Singapore.

“Chúng tôi sẽ đầu tư 15,6 tỷ Nhân dân tệ (2,36 tỷ USD) để xây dựng tuyến đường sắt nối từ Nam Ninh tới Singapore chạy qua Việt Nam. Tuyến đường sẽ đặc biệt quan trọng trong việc thiết lập Hành lang kinh tế Nam Ninh-Singapore”, ông này cho hay.

Hành lang này bắt đầu từ Nam Ninh của Quảng Tây, chạy qua thủ đô Hà Nội của Việt Nam, sang Vientiane (Lào), Phnom Penh (Campuchia), Bangkok (Thái Lan) và Kuala Lumpur (Malaysia) trước khi đến Singapore.

Cũng theo tờ China Daily, như vậy Quảng Tây sẽ trở thành trung tâm buôn bán của toàn khu vực với ASEAN là khối đối tác thương mại lớn nhất. Đài CRI cho hay, 11 tháng đầu năm 2010, ASEAN tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Quảng Tây, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 5,4 tỷ USD, tăng 29,4%.

Theo Diệp Anh
VnEconomy

Posted in Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs | Leave a Comment »

Công ty Securency hối lộ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 24/01/2011

Nick McKenzie và Richard Baker
Tqvn2004 chuyển ngữ

Công ty Securency, công ty in ấn tiền polymer thuộc Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA), bị tố cáo hối lộ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bằng cách trả học phí cho con ông ta đi du học tại một trường đại học đắt tiền ở Anh Quốc.

LDT01.jpg

Ông Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Sự sắp xếp này là một trong những ưu đãi tài chính hấp dẫn mà công ty thuộc Ngân hàng Dự trữ Úc đã bị cáo buộc là đã rót cho quan chức Việt Nam để đổi lấy một thỏa thuận rằng Việt Nam sẽ in đồng tiền của mình bằng vật liệu tiền polymer của Securency.

Vụ hối lộ này đã giúp công ty Securency thắng hợp đồng cung cấp vật liệu in tiền lớn tại Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2009.

Sự việc xảy ra ngay dưới mũi của các thành viên hội đồng quản trị của Securency do Ngân hàng Dự trữ Úc bổ nhiệm, những người này đã để công ty thực hiện hành vi hối lộ lên đến nhiều triệu đô-la tiền hoa hồng vào các tài khoản ở nước ngoài của các công ty trung gian để giành hợp đồng từ các quan chức nước ngoài.

Không có ai trong số các cựu giám đốc của Securency tại Úc phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của hội đồng quản trị trong việc ngăn chặn hành vi hối lộ đang bị cáo buộc của Securency.

Những tiết lộ mới sẽ làm tăng áp lực đối với Cảnh sát Liên bang Úc trong việc truy tố các giám đốc điều hành của Securency đứng đằng sau giao dịch với Việt Nam, đây sẽ là vụ truy tố hành vi hối lộ nước ngoài đầu tiên ở Úc.

Các nguồn tin pháp lý đã xác nhận với tờ The Age rằng quỹ của Securency đã được sử dụng để trả tiền học phí đại học cho một người con của ông Lê Đức Thúy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2007.

Ông Thúy, hiện vẫn là một quan chức có quyền lực, ngồi ở vị trí Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, đã trao hợp đồng trị giá hàng chục triệu đô-la cho Securency. Trước khi trở thành Thống đốc Ngân hàng, ông là một trợ lý của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đỗ Mười.

Các nguồn tin cho biết, Cảnh sát Liên Bang Úc đã thẩm vấn một số nhân viên cao cấp của Securency năm ngoái về việc thanh toán lệ phí đại học.

Một quỹ đen bí mật của Securency đã được sử dụng để thanh toán hàng chục ngàn đô-la tiền học phí cho con ông Thúy tham dự vào trường Đại học Durham (University of Durham). Quỹ đen này được thiết lập bằng một phần của số tiền hoa hồng trị giá 15 triệu đô la mà Securency trả cho người trung gian, ông Lương Ngọc Anh, để đổi lại sự trợ giúp để công ty này giành được hợp đồng.

Securency đã trả tiền hoa hồng vào tài khoản ngân hàng dưới sự chỉ đạo của ông Lương Ngọc Anh – bao gồm một ở Thụy Sĩ và một ở Hồng Kông. Securency đã trả một phần lớn tiền hoa hồng cho ông Lương, người được cho là một quan chức Việt Nam, mà không có các biện pháp chống hối lộ thích hợp cũng như chứng cứ cho thấy người nhận xứng đáng nhận thù lao.

Các nguồn tin pháp lý xác nhận với tờ The Age rằng Cảnh sát Liên bang Úc nghi ngờ rằng tiền hoa hồng đã được chuyển đến các quan chức chính quyền Việt Nam hoặc họ hàng của họ. Nguồn tin cũng nói rằng các giám đốc điều hành cao cấp của Securency đã từ chối một cách cá nhân rằng mình không liên quan trực tiếp đến việc trả hối lộ, bao gồm cả vụ trả phí học đại học.

Theo luật pháp chống hối lộ của Úc, việc cung cấp lợi ích cho một quan chức nước ngoài để dành được lợi thế kinh doanh là bất hợp pháp. Một công ty có thể phải chịu tội hối lộ do các chi nhánh nước ngoài của mình thực hiện. Hội đồng quản trị của Securency, công ty do Ngân hàng Dự trữ Úc sở hữu một nửa, đã chấp thuận khoản thanh toán hàng triệu đô-la tiền hoa hồng cho công ty trung gian Việt Nam.

Thống đốc Ngân hàng Dự Trữ Úc và Ngân khố Liên Bang đã từ chối thực hiện một cuộc điều tra tìm hiểu liệu hội đồng quản trị Securency, hay Ngân hàng Dự Trữ Úc, đã không thực hiện các biện pháp phòng ngừa hối lộ cần thiết đối với công ty này.

Nguồn: ở đây

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Chống tham nhũng cơ cấu như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 24/01/2011

Trần Vinh Dự

Hồi giữa tháng 12 vừa qua xảy ra một sự kiện hi hữu trên báo Vietnamnet. Đó là việc tờ báo này đăng một bài có tựa đề “Cảnh sát đứng đầu bảng về tham nhũng”. Bài này sau đó bị lấy xuống nhưng hiện nay vẫn còn được lưu ở nhiều trang mạng khác. Ngay sau đó Vietnamnet đã bị khiển trách và phải đăng công khai cải chính và cáo lỗi. Tổng biên tập cũng như thư ký xuất bản của tờ báo này bị khiển trách, còn phóng viên viết tin nhận hình thức kỉ luật cảnh cáo và sẽ không được cấp thẻ nhà báo trong đợt tới.

Khoảng 5 năm trước, khi tôi còn là nghiên cứu sinh tại University of Texas at Austin, tôi quan tâm khá sâu đến chủ đề tham nhũng theo khía cạnh học thuật. Tôi nghĩ hiện nay cũng là dịp hay để nhăc lại chủ đề này. Cũng xin lưu ý rằng một phiên bản khác của bài này đã được đăng trên Tuổi Trẻ từ hồi năm 2006 dưới cái tên “Hai cú hích để chống tham nhũng

Tham nhũng – kẻ thù của phát triển

Các thống kê cho thấy từ năm 1960-2005, viện trợ nước ngoài đổ vào châu Phi lên tới 450 tỉ USD. Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn 1975-2000, tổng sản phẩm quốc nội của châu lục này giảm với con số trung bình 0,59%/năm. Cũng trong cùng thời kỳ, GDP bình quân đầu người của châu Phi tính theo ngang giá trong sức mua giảm từ 1.770 USD xuống còn 1.479 USD.

Wolfgang Kasper, giáo sư kinh tế của Đại học New South Wales, cho rằng khoản tiền khổng lồ mà thế giới đổ vào khu vực này chỉ đem lại lợi ích cho nhóm tinh hoa đồi bại (kleptocratic elites). Không những chúng không giúp gì được cho những người nghèo thật sự cần tới viện trợ, chúng còn tạo điều kiện cho các thế lực thống trị các nạn nhân này củng cố quyền lực và duy trì tình trạng bần cùng của họ.

Tham nhũng cơ cấu

Trong vài thập kỷ gần đây, việc vận dụng lý thuyết tương tác chiến lược (game theory) vào các nghiên cứu về tham nhũng đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ bản chất, loại hình và tính bền vững của từng loại tham nhũng, cũng như các phương pháp cắt bỏ chúng khỏi cơ thể xã hội.

Trong các loại tham nhũng, có một dạng đặc biệt nguy hiểm được gọi là tham nhũng cơ cấu. Đó là tình huống trong đó hành vi tham nhũng được coi là tối ưu đối với tất cả những người nắm quyền lực. Nó là một điểm cân bằng của nền hành chính, một dạng tập quán trong đó tất cả mọi người có quyền lực đều lạm dụng nó để khai thác lợi ích bất chính cho riêng mình. Cá nhân nào trái với nguyên tắc ứng xử này đều bị “sức ép” hoặc gạt ra ngoài lề. Theo giáo sư Michael Johnston, tham nhũng cơ cấu có ba đặc điểm lớn là tính phổ biến, tổ chức theo chiều dọc và liên kết ngang.

Tính phổ biến hàm ý rằng trong mỗi cơ quan quyền lực, những người nắm quyền đều lạm dụng quyền lực ở những mức độ nhất định nhằm phục vụ lợi ích riêng.

Tổ chức theo chiều dọc có nghĩa là việc lạm dụng quyền lực không tồn tại riêng ở một mức tổ chức nào, mà xuyên suốt từ trên xuống, theo đó cấp trên nắm rõ sự lạm dụng quyền lực của cấp dưới và ăn chia với cấp dưới các khoản lợi mà thuộc hạ của họ gặt hái được.

Liên kết ngang là các ban ngành hay địa phương khác nhau không cạnh tranh và vạch mặt nhau. Trái lại, chúng cấu kết với nhau nhằm thu lợi tối đa từ tham nhũng và duy trì sự bền vững của hiện trạng.

Vì các đặc điểm này, khi một nền hành chính nằm trong tình trạng tham nhũng cơ cấu thì tự nó không thể chữa khỏi được căn bệnh này, mà cần phải có những tương tác từ bên ngoài thì mới mong ra khỏi được tình trạng cân bằng bền. Đó là các cú hích.

Hai cú hích

Hai cú hích được nhiều người kỳ vọng là (1) chiến lược cây gậy và củ cà rốt của các tổ chức tài trợ quốc tế như WB, ADB, và các chương trình viện trợ song phương; và (2) sự vận động của xã hội dân sự.

Trong khoảng mười năm trở lại đây, các nhà tài trợ và các tổ chức tài chính quốc tế đã không còn tin tưởng nhiều vào các nỗ lực chống tham nhũng của các chính phủ xin viện trợ. Họ đã thảo luận về chính sách viện trợ có điều kiện. Theo đó, cộng đồng quốc tế phải có trách nhiệm buộc các nước nhận tài trợ thực hiện các chiến lược chống tham nhũng cụ thể nếu họ muốn hưởng các khoản viện trợ hoặc các khoản vay ưu đãi.

Phát biểu trong cuộc hội thảo hồi tháng 10-2005 về “thách thức tham nhũng trong các dự án viện trợ phát triển”, Peter Egens Pedersen, kiểm toán trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), nhấn mạnh: “ADB sẽ tạm ngưng hoặc hủy bỏ các khoản cho vay nếu ADB phát hiện có tham nhũng”. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đã có những nỗ lực tương tự.

Tuy nhiên, Pedersen cũng thừa nhận “nếu xã hội dân sự còn chưa tham gia cuộc chiến này, thì chúng ta không thể chống tham nhũng một cách thành công”. Xã hội dân sự mà Pedersen đề cập chính là cú hích thứ hai.

Câu chuyện về sự tham gia của xã hội dân sự vào các nỗ lực chống tham nhũng không phải là mới mẻ và các bài học thành công không hề ít. Hong Kong là một trong những ví dụ độc đáo nhất. Cho đến tận những năm 1980, hòn đảo này ngập chìm trong tham nhũng cơ cấu. Tuyệt đại đa số cư dân ở đây cho rằng tham nhũng là chuyện đương nhiên và kháng cự lại nó là chuyện vô ích.

Tuy nhiên, khi chính quyền của Hong Kong lập ra Ủy ban Độc lập chống tham nhũng (ICAC), cơ quan này đã biết dựa vào xã hội dân sự để thay đổi cách nhìn của dân chúng về tham nhũng. Cùng với xã hội dân sự, ICAC đã tổ chức các buổi hòa nhạc và thể thao với chủ đề chống tham nhũng, xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình, phân phát các ấn phẩm tới các trường học, tạo ra các kênh an toàn để người dân có thể gửi các khiếu nại, tố cáo… Xuyên suốt các hoạt động này, tham nhũng luôn được mô tả như là một thứ ung nhọt gây nguy hiểm cho các gia đình, cho nền kinh tế và cho các giá trị Trung Hoa truyền thống.

Trong vòng chưa đầy một thập kỷ, sự liên kết giữa xã hội dân sự và ICAC đã thay đổi được tâm thức của người dân Hong Kong. Tham nhũng không còn được coi là chuyện đương nhiên, đặc biệt là trong số những người trẻ tuổi. Hiện nay, theo đánh giá của Transparency International, Hong Kong đang là một trong những vùng đất ít tham nhũng nhất trên thế giới.

Một ví dụ gần hơn là trường hợp của Thái Lan. Theo Transparency International, chỉ số CPI của Thái Lan năm 1995 chỉ có 2,79 trên tổng số 10 điểm, đến năm 1998 tăng lên 3 điểm và năm 2005 đã lên tới 3,8 điểm.

Trong những thành công này có phần đóng góp rất lớn của xã hội dân sự. Riêng trong năm 2003, mạng lưới nhân dân ngăn chặn và chống tham nhũng, với sự tham dự của nhiều tổ chức dân sự, đã tiến hành 11 chương trình hành động trên toàn quốc, qui tụ trên 50.000 người từ giới truyền thông, các hiệp hội sinh viên, các tổ chức phi chính phủ và các tu sĩ Phật giáo. Mạng lưới này đã kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia (NCCC) của Thái Lan và được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á.

Những hoạt động tiêu biểu của mạng lưới này trong năm 2003 bao gồm từ việc soạn và trình diễn các vở kịch chống tham nhũng tại các trường học; sử dụng một chương trình phát thanh thường kỳ nhằm hướng dẫn người dân đoàn kết để cải tạo xã hội; tới việc tuyển chọn và đào tạo 350 tu sĩ trên khắp đất nước để họ dạy lại thanh thiếu niên về đạo đức công dân. Mạng lưới này cũng soạn thảo các tài liệu hướng dẫn như “100 cách chống tham nhũng”, “Danh sách các cá nhân và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chống tham nhũng”. Các tài liệu này đều được in ấn và phát tán rộng rãi, cũng như đã được đăng tải trên Internet.

Ông Jaseem Ahmed, giám đốc văn phòng ADB ở Thái Lan, đã khẳng định: “Chúng tôi nhận ra rằng tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại tham nhũng là các cộng đồng và các tổ chức dựa trên cộng đồng. Vì thế, tiếp cận tham dự thông qua xã hội dân sự thiết yếu trong việc chống tham nhũng một cách hiệu quả”.

Để khẳng định vai trò to lớn của xã hội dân sự, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trong báo cáo “Chống tham nhũng: vai trò của xã hội dân sự là gì? – Kinh nghiệm từ OECD” vào năm 2003, đã khẳng định: “Xã hội dân sự có vai trò trụ cột trong cuộc chiến chống tham nhũng. Ngày nay, sự khẳng định này là không thể bác bỏ được. Xã hội dân sự đã trở thành đầu tàu cho các nỗ lực chống tham nhũng trên toàn thế giới”.

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

nguồn: ở đây

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Ba người hoạt động công đoàn bị cấm mời luật sư

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2011

Thật ra: khi các nhà tư bản của Đài  Loan, Nam Hàn, Singapore, Mã Lai, Nhật vào đầu tư tiền bạc xây dựng hãng xưởng ở Việt Nam kể từ 1989 cho đến 2011 (và sẽ còn tiếp tục trong 20 năm hoặc 30 năm nữa), thì một trong các điều kiện then chốt là sự thỏa thuận của chính quyền VN giữ cam kết với các tư bản á châu nầy  là:

1./ Chỉ trả cho công nhân mức lương từ 50-100 đô la. Và trong thời gian làm việc, nếu công nhân đòi hỏi tăng lương, thì chính quyền địa phương phải có nhiệm vụ bắt giữ những người công nhân cầm đầu việc đòi hỏi quyền lợi nầy; và cũng sẽ bỏ tù bất cứ ai tiếp tay, giúp đỡ cho các công nhân đòi hỏi việc tăng lương và quyền lợi của họ.Tất cả những người nầy đều phải đi tù vì chạm vào thỏa thuận ngầm nầy.

(Chính quyền địa phương và trung ương rất hăng say chuyện đàn áp công nhân,  vì đổi lại, họ được các chủ hảng xưởng trả tiền công đàn áp công nhân bằng cách rót thẳng tiền vào tài khoản ngân hàng của con cái (các nhân vật chính quyền cao cấp nầy) hiện đang du học ở nước ngoài hoặc dùng lối kết hôn giả với Việt kiều để ở lại nước ngoài.)

Anh Hùng, cô Hạnh và anh Chương chắc chắn sẽ bị tù rất nặng vì họ đã viết đơn giúp công nhân đòi tăng lương. Họ không có cách nào thoát được các bản án nặng nề.

Cách đây vài năm, Luật sư Lê Thị Công  Nhân (mới được ra khỏi tù) cũng đã làm như vậy vì cô đã nhận ra được mấu chốt nầy, và hơn thế nữa, cô đã tìm cách phá tan liên minh giữa chính quyền và các tư bản á châu bằng cách thành lập Công đoàn Độc lập (để chống lại với công đoàn của đảng, là một tổ chức kiểm soát công nhân nằm ngay tại các hãng xưởng; công đoàn báo cáo với chủ và công an khi phát hiện công nhân đòi hỏi tăng lương).

Kết quả LS Lê Thị Công Nhân phải vào tù. Nhưng vì cô nầy quá giỏi, quá nổi tiếng cả bên trong và ngoài nước VN nên chỉ bị ngồi tù 3 năm. Tương tự, ba người dưới đây chắc chắn phải sẽ bị xử tù rất nặng vì họ còn quá trẻ và không có được sự hổ trợ mạnh mẻ như trường hợp của luật sư LTCN.

Chuyện nầy xảy ra ở Trung Quốc trong thời gian từ 1982-1990.  Nhưng chính quyền TQ quả nhiên khôn hơn nhiều, ban đầu họ đàn áp công nhân rất mạnh, nhưng chừng 3 năm sau, họ chỉ đàn áp công nhân một cách chiếu lệ. Vì thế các nhà tư bản nước ngoài (xây dựng hãng xưởng ở TQ) sau cùng phải nhượng bộ các đòi hỏi của công nhân và phải dần dần tăng lương cho công nhân TQ lên 250-400 đô mỗi tháng và hiện nay lương gia tăng lên 600-800 đô mỗi tháng. 

Khi giá công nhân ở TQ tăng cao, các nhà tư bản á châu  bèn chạy qua VN mở hãng xưởng để tìm được nguồn lao động rẻ tiền hơn như thời kỳ 1980 ở Trung Quốc. Sự hợp tác giữa chính quyền VN với các nhà thư bản Á châu trong suốt 20 năm qua trong việc đè ép mức lương công nhân sao cho mức lương ấy chỉ nằm trong khoảng 50-100 đô là một hành động quá tàn ác, làm cho người công nhân VN nghèo tới mức chỉ kiếm đủ tiền ăn.

Nếu có ai từng bước vào các nhà máy ở Bình  Dương, Thủ Đức, Biên  Hòa, sẽ thấy rõ cuộc sống của người công nhân VN hôm nay ra sao. Họ sống chen chúc nhau trong những căn phòng 4-6 người rất nóng nực. Sau ca làm việc 10-12 tiếng, họ rời khỏi hảng về đến phòng trọ và chỉ ăn uống qua loa, hay ăn mì gói rồi đi ngũ và ngày mai tiếp tục đi làm. Lương chỉ 50-100 đô, khoảng 1 triệu- 2,5 triệu, thì họ không thể mua đồ ăn như cá thịt. Hậu quả, rồi đây khi các cô gái này lập gia đình, xã hội chúng ta sẽ có một thế hệ các em bé còi cọc và suy dinh dưỡng.    

Nhiều cô gái xuất thân từ nông thôn đành phải hy sinh đi bán bia ôm, làm trong các cửa hàng Karaoke trá hình để nhận lãnh tiền nhiều hơn đi làm công nhân; một số khác không chống nổi cám dỗ và sa đọa, đành rơi vào vũng bùn của xã hội hiện nay; một số khác quá tuyệt vọng, đành chấp nhận lấy chồng nước ngoài, và xem đó như là một cuộc thử thách “5 ăn, 5 thua” để có cơ may giúp đỡ gia đình. 

Ba người hoạt động công đoàn bị cấm mời luật sư

Theo Dân Làm Báo

Ba người hoạt động bảo vệ quyền lợi công nhân là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương đã bị công an tỉnh Trà Vinh ngăn cản không cho mời luật sư bào chữa. Được biết, phiên tòa phúc thẩm dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 24/01/2011, tại Tòa án nhân dân TP.HCM

Trước đó, trong phiên tòa sơ thẩm vụ án “Phá rối an ninh” tại Trà Vinh, 3 người bạn trẻ đã bị tuyên phạt mức án nặng nề: Hùng bị 9 năm, Hạnh và Chương cùng bị 7 năm tù.

Tin cho biết, thân nhân của Hùng, Hạnh, Chương cùng ký hợp đồng bào chữa với luật sư Đặng Thế Luân, thuộc Đoàn LS Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau nhiều tháng đi lại, hỏi han, đến nay luật sư vẫn chưa được tiếp cận hồ sơ vụ án và gặp thân chủ.

Công an trại giam Trà Vinh liên tục dùng đủ mọi cách để ngăn cản không cho 3 người bạn trẻ viết đơn mời luật sư. Khi gia đình vào thăm nuôi, công an ngăn cấm không được nhắc đến chuyện luật sư, thậm chí còn thách thức gia đình khiếu nại.

Dù đã cố gắng chạy đi khắp nơi nhờ can thiệp, nhưng đáp lại vẫn là những yêu cầu vô lý và đùn đẩy trách nhiệm giữa Tòa án và Trại giam. Chỉ còn 2 ngày nữa phiên tòa dự kiến sẽ diễn ra, trong đó có hai ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật), khả năng phiên tòa phúc thẩm vụ “phá rối an ninh” tiếp tục không có luật sư bào chữa.

Blogger Đông A SG, bạn của Hùng và Hạnh cho biết, “Vụ án của các bạn có nhiều uẩn khúc, tôi có lý do để tin rằng Hùng – Hạnh – Chương đã bị ép cung, đánh đập trong quá trình giam giữ”.

Các bằng chứng cáo buộc 3 người bạn đều mang tính áp đặt và ngụy tạo, hành động ngăn cản luật sư càng làm tăng thêm nghi ngờ về việc cơ quan công an đang che dấu những vi phạm, cụ thể là hành vi tra tấn & ép cung anh Nguyễn Hoàng Quốc Hùng.

3 người bảo vệ quyền lợi công nhân Hùng, Hạnh, Chương bị bắt vào tháng 2/2010, sau 8 tháng giam giữ mới bị đem ra xét xử. Nhiều tổ chức nhân quyền và nghiệp đoàn trên thế giới đã mạnh mẽ lên tiếng phản đối bản án nặng nề đối với 3 người hoạt động ôn hòa này.

nguồn Theo Dân Làm Báo

Posted in Cong Nhan Viet Nam | 1 Comment »

Ở Việt Nam mà làm thế này là chắc chắn bị công an VN đánh và tòa án cho đi tù ít nhất là 7-10 năm

Posted by hoangtran204 trên 20/01/2011

Phải công nhận là hiến pháp và luật pháp của tư bản giãy chết được các cấp chính quyền tôn trọng.  Hiến pháp và luật pháp cho người dân có tự do ngôn luận, có quyền biểu tình…thì người dân cứ dựa vào quyền của mình mà làm.

Điều quan trọng nữa là các cấp trên và cảnh sát Mỹ cũng hiểu rõ hiến pháp và luật pháp rất rõ ràng. Họ không đánh đập, bắt giam, hay theo dõi gì người dân đi biểu tình. Họ chỉ đứng đó quan sát và giữ trật tự cho dân chúng biểu tình. Còn dân chúng thì  hô vang các khẩu hiệu phản đối và tuần hành trên đường phố.

Cũng may là dạ tiệc đã được quyết định tổ chức trong nhà, chứ dạ tiệc mà được tổ chức ngoài trời là kể như  khách khứa không nuốt nổi thức ăn.

Người Việt Nam và chuyến công du Hoa kỳ của Hồ Cẩm Đào

DCVOnline: Chuyến viếng thăm 4 ngày đến Hoa Kỳ của chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã bắt đầu từ ngày 19/01. Trong dịp này, Hồ Cẩm Đào đã được Barack Obama tiếp đãi Quốc Yến tại Tòa Bạch Ốc. 

Điều này đã đi ngược lại với thông lệ do người tiền nhiệm, tổng thống Goerge W.Bush đặt ra là Quốc Yến chỉ dành để khoản đãi nguyên thủ của các nước đồng minh, do đó ông đã thay Quốc Yến bằng bữa ăn trưa tại Nhà Trắng trong lần viếng thăm của Hồ năm 2006.

Và điều này cũng gây ra làn sóng dư luận phản đối từ nhiều phía ở Hoa Kỳ.

Bên cạnh đó, việc Hồ được tiếp đãi Quốc yến vào ngày 19/01, là ngày hải quân Trung cộng đã cưỡng chiếm Hoàng Sa hồi năm 1974 đã làm nhiều người Việt Nam trong cũng như ngoài nước bất bình.

Blogger Mẹ Nấm đã tung lên mạng lưới Internet một petition có nội dung kêu gọi Obama hoãn ngày tổ chức đón tiếp Hồ chỉ trong 3 ngày trước, và đến nay đã thu được hơn 700 chữ ký.

Từ Nha Trang, DCVOnline đã trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với blogger Mẹ Nấm, tức Nguyễn Ngọc Như Quỳnh về vấn đề này như sau…

Người Mỹ gốc Việt và Hu JIntao tại WAshinton DC (19/01)
Nguồn: vietbao.com 


DCVOnline: Những động lực gì đã thúc đẩy bạn viết petition đề nghị tổng thống Barack Obama hoãn việc tiếp đón Hồ Cẩm Đào vào ngày 19/01 này tại Tòa Bạch Ốc trong chuyến công du của Hồ đến Hoa Kỳ?

Blogger Mẹ Nấm: Sơ qua nội dung, tôi có nhắc đến ngày 19/01/1974 là ngày hải quân Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ tay hải quân của Việt Nam Cộng hòa, và sau khi Saigon thất thủ thì Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa từ đó. Sự thật lịch sử này thì những người ở lứa tuổi như chúng tôi trở xuống thì không được biết trong sách giáo khoa. Thực sự đối với những người trẻ, Hoàng Sa – Trường Sa vẫn còn là một khái niệm rất mù mờ.

Vì vậy khi đọc được tin tổng thống Obama sẽ tiếp đón Hồ Cẩm Đào ở Nhà Trắng vào ngày 19/01 này, và vì Mỹ đã lên tiếng trong cam kết trên biển Đông nên tôi thấy nó thực sự không công bằng lắm với dân tộc mình. Theo tập quán, khi một quốc gia tổ chức những ngày tiếp đón hay lễ hội nào đấy mà nó không phù hợp với truyền thống, lịch sử dân tộc của quốc gia khác, gây ảnh hưởng đến ngoại giao thì người của quốc gia đệ tam này sẽ viết thư kiến nghị đến nước đó và đề nghị họ dời ngày tổ chức ấy lại. Đó là lý do tôi viết thư này.

DCVOnline: Nhưng xuất phát từ những suy nghĩ nào mà bạn lại viết petition này?

Blogger Mẹ Nấm: Thứ nhất là vị trí chiến lược của Hoàng Sa đối với Việt Nam, tôi thấy người dân hoàn toàn không có quyền làm chủ trên một phần đất nước của mình là quần đảo Hoàng Sa này. Từ năm 2009 đến nay ngư dân ra khơi thì bị bắt giữ, bị bắn giết. Ngay tại Hoàng Sa, tôi muốn Trung Quốc phải giữ cam kết trên biển Đông.

Nhà nước Việt Nam không dám nói thì người dân phải lên tiếng, phải có một phần trách nhiệm để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Đó là lý do chính khiến cho tôi viết thư này.

DCVOnline: Cho đến hôm nay petition này đã thu thập được bao nhiêu chữ ký và chủ yếu là thành phần nào ký vào đấy?

Blogger Mẹ Nấm: Thực sự tôi chỉ có 3 ngày để lấy chữ ký nên tôi chỉ đặt ra mục tiêu là thu được 500 chữ ký. May mắn là tôi đã đạt được 500 chữ ký trước thời hạn, và đến giờ phút này đã có gần 700 chữ ký. Tôi thống kê được những người ghi địa chỉ trong nước khoảng hơn 42%, còn lại chủ yếu là người Việt ở Mỹ và các nước khác. Bên cạnh đó có nhiều bạn bè người nước ngoài quan tâm đến việc phân định chủ quyền và nội dung thư kiến nghị này cũng ký tên.

DCVOnline: Bạn mong muốn sẽ đạt được những điều gì qua bản kiến nghị này?

Blogger Mẹ Nấm: Nếu có nhiều thời gian chuẩn bị kiến nghị hơn tôi nghĩ người ta sẽ xem xét lại việc tổ chức tiếp đón này, tiếc là thời gian quá gấp gáp. Cho nên tôi nghĩ khả năng cho việc họ thực hiện yêu cầu của mình là thấp. Tuy nhiên, tôi mong muốn rằng đúng ngày 19/01, những người nhận được bức thư này sẽ biết rằng đó là ngày có một biến cố lịch sử đã xảy ra và biến cố đó chứng minh rằng Hoàng Sa là của Việt Nam.

Tôi nghĩ mục đích lớn nhất của tôi chính là muốn nhắc cho mọi người Việt Nam nhớ rằng ngày 19/01/1974 là một ngày không được phép quên trong lịch sử Việt Nam cho dù lịch sử hiện tại đang cố tình để quên ngày đó.

DCVOnline: Câu hỏi ngoài lề, bạn vừa dùng cụm từ “Saigon thất thủ”, là một người sinh sau biến cố 30/04/1975, bạn nghĩ gì và hiểu gì khi dùng cụm từ này?

Blogger Mẹ Nấm: Thực sự cho dù chúng tôi có được dạy như thế nào về chiến thắng 30/04/1975 đi nữa thì với nhìn nhận của tôi đó là một cuộc nội chiến. Trong hoàn cảnh vừa phải chống ngoại xâm là Tàu và vừa phải đánh nhau với người anh em của mình, tôi nghĩ tôi dùng chữ “Saigon thất thủ” là đúng với hoàn cảnh đó.

Cuộc chiến 1975 trong suy nghĩ của tôi thì không có ai là người chiến thắng cả, cả dân tộc này phải trả giá, cho đến tận bây giờ vẫn phải trả giá về điều đó cho nên không có cái gọi là chiến thắng năm 1975 dù chúng tôi được dạy như vậy.

DCVOnline: Cảm ơn blogger Mẹ Nấm đã dành cho DCVOnline cuộc trò chuyện này. Bây giờ là 16:00 (giờ Washington,D.C) ngày 19/01, qua điện thoại, chúng tôi cũng đã liên lạc với ký giả tự do Trần Đông Đức hiện đang có mặt tại Washington, D.C trongđoàn biểu tình. Trần Đông Đức điểm qua một số diễn biến chính…

Này, đồng đô-la nên gọi là đồng quan Mỹ đi cho tiện.
Nguồn: allvoices.com 


Trần Đông Đức: Hiện tại công viên Lafayetes trước mặt Tòa Bạch Ốc có khoảng gần 1 nghìn người biểu tình đa số của các tổ chức Tây Tạng, Tân Cương, Độc lập Đài Loan, Dân chủ Tiến bộ Trung Quốc, Pháp Luân Công và người Việt Nam tự do.

Nhóm Dân chủ Tiến bộ Trung Quốc tham gia khá đông đảo do ông Ngụy Kinh Sinh dẫn đầu, yêu cầu trả tự do cho Lưu Hiểu Ba.

Khoảng 13 giờ chiều có những tiết mục sân khấu ngoài trời đặc sắc về văn hóa Tây Tạng, Tân Cương, nói về vấn đề nhân quyền, độc lập, đòi đuổi Hồ Cẩm Đào ra khỏi Washington DC… Nói chung rất đa dạng, nhiều màu sắc.

Rút kinh nghiệm của lần trước đây khi các lãnh đạo Trung Quốc đến Mỹ đều bị chống đối dữ dội, lần này tất cả các vòng ngoài cảnh sát bọc kín hết, chỉ để đúng 1 khoảng nhất định để biểu tình thôi.

DCVOnline: Bạn có thể mô tả chi tiết hơn một số tiết mục văn nghệ này?

Phong trào Falung Gong và đảng CSTQ
Nguồn: Washington Post 


Trần Đông Đức: Ví dụ như họ làm con lân có hình dạng giống ma quái đại diện cho thế lực hắc ám Trung Quốc, con rồng thì không có màu đỏ tươi mà lại có màu rất u ám chẳng hạn. Họ tạo ra những hình ảnh để đưa ra sự biến thái của cộng sản Trung Quốc đang hủy hoại văn hóa, lối sống… của người dân trong nước.

DCVOnline: Những người Việt Nam tham dự biểu tình với số lượng thế nào và họ mang theo những biểu ngữ, hình ảnh… gì?

Trần Đông Đức: Nhóm người Việt Nam tự do xin được giấy phép biểu tình từ 13 giờ đến 17 giờ. Vì thời gian chuẩn bị quá gấp gáp, nên họ không xin được giấy phép để bắt đầu biểu tình sớm hơn.

Hiện từ chỗ quan sát của tôi, tôi thấy đoàn Việt Nam có khoảng trên 100 người với nhiều lá cờ vàng ba sọc đỏ.

DCVOnline: Đoàn Việt Nam có đóng góp gì trong cuộc biểu tình hôm nay?

Trần Đông Đức: Việt Nam có vấn đề hơi khác các nhóm kia, mình chống Trung Quốc theo kiểu mình là một nước riêng biệt, “độc lập”, vị trí cũng khác các nhóm kia. Việt Nam mình năm nay nhân đúng ngày mất Hoàng Sa nên chú trọng kêu gọi ông Obama nhớ lại sự kiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa ngày 19/01

Từ 9 giờ sáng đến 13 giờ các đoàn hò hét hô khẩu hiệu chống đối để hâm nóng bầu không khí

13 giờ là thời điểm để đại diện các nhóm lên phát biểu. Tiếc là thời gian có hạn nên đoàn Việt Nam đã không kịp đọc petition của blogger trong nước là Mẹ Nấm như dự định ban đầu.

DCVOnline: Petition của blogger Mẹ Nấm đã được bên đấy đón nhận thế nào?

Người Tibet chống cuộc thăm viếng Mỹ của Hu Jintao
Nguồn: Washington Post 


Trần Đông Đức: Việt Nam mình chuẩn bị rất gấp gáp khoảng 1 tuần trở lại đây thôi khi biết Obama tiếp Hồ Cẩm Đào vào ngày 19/01 là ngày Hoàng Sa bị Trung cộng cưỡng chiếm, trong khi đó các cộng đồng khác đã chuẩn bị trước đó vài tháng rồi.

Việt Nam chỉ có đến sứ quán Tàu để biểu tình chống Tàu thôi, chứ chưa bao giờ đi biểu tình chống lãnh tụ Trung Quốc trực tiếp như kiểu này hết.

Do đó Petition của blogger Mẹ Nấm trong thời gian quá ngắn nên chưa kịp đăng tin lên báo chí Việt ngữ bên này, chỉ mới ở dạng email thôi. Tuy nhiên có nhiều người bắt được petition này thấy cảm động lắm nên đoàn Việt Nam lấy đó làm chủ đề cho buổi biểu tình của mình luôn. Một số người ở cộng đồng Việt Nam cũng gửi thư đến ủng hộ petition này. Tiếc là chỉ trong vòng vài ngày nên truyền thông tiếng Việt bên này chưa kịp chuyển tải để nhiều người biết hơn nữa.

DCVOnline: Bên ủng hộ Hồ Cẩm Đào hiện đang có những hoạt động gì?

Trần Đông Đức: Bên ủng hộ chủ yếu là các du học sinh Trung Quốc được tòa Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ vận động đến Washington DC để tuần hành vào ngày 18 và ngày 20 chào mừng chuyến viếng thăm này của Hồ.

Được biết những du sinh này được sứ quán Trung cộng thông qua các hội sinh viên Trung Quốc ở các trường đại học cung cấp toàn bộ chi phí đi lại ăn ở nếu ở xa đến, đồng thời mỗi sinh viên tham gia tuần hành sẽ được phát 50 USD.

DCVOnline: Còn dư luận Mỹ trước việc tiếp đón này ra sao?

Đảng Dân Chủ Trung Hoa chống cuộc viếng thăm của Hu Jintao (18/01)
Nguồn: Washington Post 


Trần Đông Đức: Người Mỹ cũng có xu hướng phản đối việc tiếp đón này trên báo chí. Tôi không thấy nhóm người Mỹ nào ủng hộ Trung Quốc, họ không có, có lẽ họ cũng đã cảnh tỉnh. Năm nay mình thấy nhiều người Trung Quốc đi trên đường đã ủng hộ Lưu Hiểu Ba.

Trên báo chí, những bài báo cho thấy dư luận thấy vấn đề Trung Quốc thì chẳng ai thích rồi, nên đón như đón quốc khách thì đương nhiên họ ghét, họ bảo vừa tốn kém vừa không cần thiết.

Ông Bush đã có đặt ra tiền lệ là chỉ dành Quốc yến cho nguyên thủ các nước đồng minh thôi chứ không phải dành cho những kẻ độc tài nên lúc xưa ông đã từ chối dùng Quốc yến đón tiếp Hồ Cẩm Đào rồi. Bây giờ Obama lại đón như vậy nên dư luận chung họ ghét, và họ nêu nhiều lý do như đang khó khăn mà tiếp đón ăn uống tốn kém không cần thiết chẳng hạn, đấy.

Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc phải biện hộ cho hành động này, nhận định rằng dù sao Ấn Độ và Trung Quốc cũng là hai cường quốc đang lên, hai vùng quá lớn, mà đã đón Ấn Độ rồi mà không đón Trung Quốc thì không hay. Ngoài ra Tòa Bạch Ốc cũng cam kết rằng sẽ đưa ra trao đổi thẳng thắn với phía Trung Quốc tất cả những vấn đề mọi người quan tâm, trong đó có vấn đề về nhân quyền sẽ được phía Mỹ đưa ra nói thẳng hết.

Quần chúng đương nhiên họ không thích tiếp đón như thế rồi, nhưng những người biện hộ cho rằng nếu Trung Quốc không được tiếp đón thân thiện thì sẽ không tốt trong quan hệ quốc tế. Đón Hồ Cẩm Đào thì đây cũng là cơ hội cuối cùng để Hồ được đón như một quốc khách, vì Hồ chưa bao giờ được đón tiếp như Giang Trạch Dân cả.

DCVOnline: Cảm ơn ký giả tự do Trần Đông Đức đã tường thuật lại cho DCVOnline.

© DCVOnline

nguồn ở đây

——

Không chỉ có người biểu tình bên ngoài, mà các nhân vật cao cấp của chính quyền cũng phản đối cuộc viếng thăm của  Hồ Cảm Đào. “Mối căng thẳng giữa hai nước đã hiển hiện rõ ràng giữa tất cả sự long trọng và nghi lễ trong ngày. Lãnh tụ khối đa số Thượng viện Harry Reid của Nevada và là một thành viên của đảng ông Obama, đã gọi là Hồ “một nhà độc tài”.”

Và ” Tại Hạ viện, một số thành viên mới của đảng Cộng hòa, lãnh đạo Uỷ ban Đối ngoại đã công kích các thành tích về nhân quyền, bành trướng quân sự, các động thái tài chính và mua bán vũ khí của chế độ này”. Và cụ thể hơn…””Khi chiến tranh lạnh đã kết thúc hơn hai thập kỷ trước, nhiều người ở phương Tây từng cho rằng mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản đã được chôn theo đống đổ nát của bức tường Berlin. Tuy nhiên, trong khi Mỹ ngủ quên, một Trung Quốc độc đoán đã nổi dậy” dân biểu chủ tịch Uỷ ban, Ilena Ros-Lehtinen, (R) tiểu bang Florida, đã tuyên bố.”

Obama gây áp lực với Trung Quốc về tiền tệ, nhân quyền

01/20/2011 – 10:44

Nguồn: Ben Feller, AP

Lê Quốc Tuấn, X-Cafe chuyển ngữ

19.01.2011

Obama áp lực lên Trung Quốc về tiền tệ, nhân quyền và ca ngợi những giao dịch kinh doanh giữa hai nước.

WASHINGTON (AP) – Đả động đến một căn nguyên chính của sự căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc, hôm thứ Tư, Tổng thống Barack Obama đã chào đón Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào bằng cách nhấn mạnh đến sự cần thiết của các quốc gia đối với việc thực hiện nhân quyền. Hồ đã đáp trả với lời kêu gọi hai nước phải tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau.

Tuy nhiên, trong dấu hiệu của các liên kết kinh tế ngày càng tăng giữa hai siêu cường, tòa Bạch Ốc cho biết Trung Quốc dự định sẽ công bố những giao dịch kinh doanh lớn có thể có ý nghĩa của 45 tỉ USD trong xuất khẩu mới của Mỹ. Tòa Bạch Ốc cũng cho biết rằng Trung Quốc đã thực hiện những biện pháp quan trọng để ngăn chặn hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ và mở rộng đầu tư của Mỹ.

Obama chào đón Hồ vào toà Bạch Ốc bằng thảm đỏ và đầy đủ trang trọng, đánh dấu sự khởi đầu của cuộc họp hai ngày nhằm giải quyết các vấn đề thương mại, an ninh và nhân quyền vốn từng là nguyên nhân gây nên căng thẳng giữa hai cường quốc trong thời gian qua.

“Lịch sử cho thấy rằng xã hội sẽ hài hòa hơn, các quốc gia sẽ thành công hơn và thế giới sẽ công chính hơn khi các quyền và trách nhiệm của tất cả các quốc gia và mọi người dân được tôn trọng bao gồm cả các quyền phổ quát của mọi con người”, Obama tuyên bố trong bài phát biểu của mình.

Các chính sách nhân quyền của Trung Quốc đã gây ra căng thẳng giữa hai cường quốc đối nghịch, với việc Mỹ sự kêu gọi Trung Quốc thả tự do cho những người bất đồng chính kiến bị giam cầm, kể cả nhân vật đoạt giải Nobel hòa bình Lưu Hiểu Ba, người đã bị ngăn cản không thể tham dự buổi lễ trao giải vào ngày 10 tháng mười hai tại thủ đô Na Uy.

Dù sao, giọng điệu của Obama cũng thân thiện, chào đón sự nổi lên của Trung Quốc như một sức mạnh kinh tế toàn cầu. “Chúng ta có một quyền lợi rất lớn trong sự thành công của nhau” ông nói.

Hồ Cẩm Đào cho biết mối quan hệ giữa hai nước đã phát triển đến một trong những “ý nghĩa có tính chiến lược và ảnh hưởng đến toàn cầu”.

Tuy nhiên, ông nhấn mạnh thêm: “Trung Quốc và Hoa Kỳ phải tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển và lợi ích cốt lõi của nhau”.

Nói đến “lợi ích cốt lõi” Hồ đề cập đến những vấn đề mà Trung Quốc sẽ không thể chấp nhận thử thách, chẳng hạn như khẳng định của mình đối với đảo quốc đang tự quản của Đài Loan, từng tách khỏi lục địa giữa cuộc nội chiến vào năm 1949, và đối với Tây Tạng, vốn đã nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Mỹ, bao gồm Obama, đã từng liên tục gây khó chịu cho Trung Quốc bằng những cuộc hội kiến với Đức Đạt lai lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng lưu vong

Mối căng thẳng giữa hai nước đã hiển hiện rõ ràng giữa tất cả sự long trọng và nghi lễ trong ngày. Lãnh tụ khối đa số Thượng viện Harry Reid của Nevada và là một thành viên của đảng ông Obama, đã gọi là Hồ “một nhà độc tài”.

Tại Hạ viện, một số thành viên mới của đảng Cộng hòa, lãnh đạo Uỷ ban Đối ngoại đã công kích các thành tích về nhân quyền, bành trướng quân sự, các động thái tài chính và mua bán vũ khí của chế độ này. Một số nhân chứng đã khai tại một phiên điều trần của ủy ban hôm Thứ tư, trong số đó có các quân nhân và nhà ngoại giao đã nghĩ hưu, đã lập lại những lời khe khắt về Trung Quốc của các nhà lập pháp.

“Khi chiến tranh lạnh đã kết thúc hơn hai thập kỷ trước, nhiều người ở phương Tây từng cho rằng mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản đã được chôn theo đống đổ nát của bức tường Berlin. Tuy nhiên, trong khi Mỹ ngủ quên, một Trung Quốc độc đoán đã nổi dậy” dân biểu chủ tịch Uỷ ban, Ilena Ros-Lehtinen, (R) tiểu bang Florida, đã tuyên bố.

Chuyến thăm cấp nhà nước đã đánh dấu chuyến đi đầu tiên của Hồ Cẩm Đào đến Mỹ hồi năm 2006, khi buổi lễ đón tiếp ông đã bị hoen ố bởi những sai sót về nghi thức ngoại giao bao gồm một cơn giận dữ từ một người biểu tình thuộc giáo phái Pháp Luân Công. Không có một sơ sót tưong tự như thế đã xảy ra hôm thứ Tư.

Tiếp theo là hai năm thăng trầm, với một Trung Quốc quyết đoán đã cư xử lạnh nhạt trước với Mỹ trong vấn đề biến đổi khí hậu, không hành động gì nhiều để lôi kéo đồng minh Bắc Triều Tiên không thể đoán trước của mình và đã đáp trả yếu ớt với lời thỉnh cầu làm giảm thiểu sự bất cân đối về thương mại của Mỹ. Về phần mình, Mỹ đã trêu tức Trung Quốc bằng cách bán vũ khí cho Đài Loan và mời đức Đạt Lai Lạt Ma đến Tòa Bạch Ốc.

Hiện nay, cả hai bên đang thiết lập một giai điệu tích cực hơn.

Hồ dừng bước trước hiên tòa Bạch Ốc hôm thứ Tư như một phần của một cuộc dàn dựng kỹ lưỡng, hoàn tất với cuộc đón chào của tổng thống, phó Tổng thống Joe Biden với các phu nhân của họ và một hàng dài các thành viên Chính phủ cùng các chức sắc Trung Quốc.

Obama và Hồ Cẩm Đào đứng nghiêm khi ban quân nhạc tấu lên hai bài quốc thiều. Bản quốc ca Trung Quốc đã được xướng tên đúng như của nước “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” nhằm tránh một sơ sót từng xảy ra trong chuyến thăm 2006 của Hồ Cẩm Đào, khi một người xướng lễ đã nhầm lẫn sử dụng tên quốc gia chính thức của Đài Loan.

Có một sự cố không lường trước, khi Deborah Mullen, vợ của Đô đốc Mike Mullen, tham Mưu trưởng liên quân, bị ngất đi vào cuối lời nhận định của Hồ Cẩm Đào. Bà đã được phu quân dìu vào bên trong. Đại úy Hải quân John Kirby, phát ngôn viên của Đô đốc Mullen nói rằng Deborah Mullen đã nhanh chóng hồi phục và “khỏe mạnh”.

Hai nhà lãnh đạo đã duyệt qua đội quân danh dự trên sân phía nam toà Bạch Ốc. Sau đó họ đi đến trước khán đài, nơi họ đã bắt tay nhau và được một nhóm trẻ em và thanh thiếu niên cầm cờ Trung Quốc và Hoa Kỳ, bao gồm cả Sasha, con gái 9 tuổi của Obama đón chào. Tất cả các học sinh đều theo học trong khu vực Washington với các chương trình nghiên cứu về Trung Quốc và ngôn ngữ Trung Quốc.

Sau đó Obama và Biden đã gặp gỡ Hồ trong Văn phòng Bầu dục trước một cuộc họp mở rộng bao gồm các ban tham mưu của mình. Trước phiên họp, hai nhà lãnh đạo đứng cho các nhiếp ảnh viên chụp những thủ tục bắt tay thông thưòng của phòng Bầu dục, Obama đã được nghe thấy tham gia vào một loại trò chuyện tiêu biểu để phá vỡ căng thẳng: Thời tiết.

“Đây là thời tiết tháng Giêng rất điển hình ở Washington”, Obama giải thích cho vị khách của mình.

Tổng thống cũng sẽ chủ trì một phiên họp với ông Hồ, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu Trung Quốc và 14 giám đốc điều hành người Mỹ, nhiều người trong số đó đang tìm kiếm một sự cởi mở từ phía Trung Quốc.

Minh họa các tác động chính trị của vấn đề thương mại, một liên minh lưỡng đảng của 84 thành viên Hạ viện tuyên bố họ đã gửi đến Omaba một lá thư yêu cầu ông phải cứng rắn với chủ tịch Trung Quốc về những gì các nhà lập pháp gọi là sự vi phạm dai dẳng của Trung Quốc về luật thương mại quốc tế.

Nôn nóng muốn nêu ra những thành công về thương mại, tòa Bạch Ốc cho biết Trung Quốc sẽ công bố những thương vụ hôm thứ Tư để mua 45 tỉ USD trong xuất khẩu của Mỹ, bao gồm một thỏa thuận 19 tỉ để mua 200 máy bay Boeing.

Một bản dữ kiện của toà Bạch Ốc Nhà Trắng cho biết những thỏa thuận đó sẽ tạo ra 235.000 việc làm ở Mỹ, Trung Quốc cũng sẽ đầu tư vào nông nghiệp, viễn thông và các công ty máy tính vào xuất khẩu của Mỹ.

Hồ sơ về nhân quyền của Trung Quốc thì  nghèo nàn và xấu đi, với hàng loạt các vi phạm khác nhau từ kiểm duyệt báo chí, internet đến giam giữ bất hợp pháp những người bất đồng chính kiến, rồi hành quyết mà không theo đúng thủ tục tòa án, theo chính phủ Mỹ. Trong một cuộc họp báo chỉ có một nhóm phóng viên báo chí và truyền hình tham dự – cuộc họp báo nầy được thiết kế để nhấn mạnh sự tự do ngôn luận trên sân nhà của Obama – Hồ Cẩm Đào đã bị hỏi dồn và phải trả lời để biện hộ cho đường lối đối xử của nhà nước dành cho người dân. Ban đầu ông đã không trả lời, ông nói rằng ông chưa bao giờ nghe câu hỏi đã được người thông dịch chuyển ngữ, mặc dù nhân viên tòa Nhà Trắng nói rằng câu hỏi đó đã được người dịch cho ông ta nghe rồi.

Khi được nhắc lại câu hỏi lần thứ hai, ông Hồ Cẩm Đào đã bào chữa về việc cổ vỏ  nhân quyền của đất nước TQ. Nhưng rồi ông nói thêm rằng Trung Quốc đang trải qua các thách thức vì đang phát triển đất nước và “rất nhiều điều vẫn cần phải được thực hiện tại Trung Quốc về nhân quyền.” Ông cho biết Trung Quốc ở vị trí để thu thập các lời khuyến cáo từ các nước khác, nói: “. Chúng tôi cũng đang có ý muốn để học hỏi” (vấn đề nhân quyền).

Về phần mình, Obama đã phải tìm một sự cân bằng, sẵn sàng đứng lên (bảo vệ) cho các quyền tự do, trong khi không dẫm lên chân của Hồ Cẩm Đào trong suốt thời gian có cuộc họp báo thu gọn đón tiếp một vị khách đang viếng thăm cấp quốc gia.

Obama nói rằng mối quan hệ của Mỹ với Trung Quốc là dựa trên nền kinh tế và an ninh của thế giới, và rằng nó không thể dừng lại trên  “sự căng thẳng” về sự công bằng về quyền con người.

Nhấn mạnh cho một tầm nhìn xa và thận trọng hơn, ông Obama nói:. “Tôi muốn đề nghị rằng đã có một sự tiến bộ ở Trung Quốc trong 30 năm qua kể từ khi có việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao lần đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Và kỳ vọng của tôi là, 30 năm sắp tới đây, chúng ta sẽ nhìn thấy sự tiến bộ nhiều hơn nữa. ”

Tuy nhiên, chen lẫn trong các ý kiến của họ là những nhắc nhở rằng không có số lượng hợp tác nào sẽ vượt qua các lợi ích cốt lõi của mỗi nước.

Charles Freeman, một chuyên gia về Trung Quốc tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế, cho biết ý kiến của Hồ Cẩm Đào về quyền con người là một nhượng bộ nhỏ đối với mối quan tâm của Mỹ. “Họ đã học được trong những năm qua là ném một miếng xương cho những người Mỹ là một cách khá tốt để làm câm miệng họ lại”, Freeman nói.

Sophie Richardson, vị giám đốc châu Á của Human Rights Watch, nói rằng Trung Quốc lại đưa ra luận điệu tương tự như trước đó, nhưng điều ấy tựa như thêm chút ít vào việc thực tập một bài học về quan hệ với công chúng.

Trước đó, khi cuộc viếng thăm của Hồ Cẩm Đào vừa mới bắt đầu, Obama đã thẳng thừng nói về quyền con người. “Lịch sử cho thấy rằng các xã hội hài hòa hơn, các quốc gia có nhiều thành công hơn, và thế giới thì tốt đẹp hơn khi các quyền và trách nhiệm của tất cả các quốc gia và tất cả mọi người dân được tôn trọng,” ông nói.

Các nhân viên của Nhà Trắng cho biết, ông Hồ trong lúc nói chuyện riêng tư với Obama, đã bày tỏ tình cảm tương tự về nhu cầu của Trung Quốc cần làm nhiều hơn nữa về nhân quyền. Họ bày tỏ sự ngạc nhiên khi Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố công khai và trong khi đi công cán ở nước ngoài. Điển hình các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thường lập luận rằng phương cách mà Trung Quốc hành xử về nhân quyền là một vấn đề thuộc về nội bộ.

Trong chốn riêng tư, Obama đặc biệt đã hỏi (ông Hồ Cẩm Đào) về trường hợp của người thắng giải Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba, một nhà bất đồng chính kiến bị bỏ tù và  bị ngăn cản tham dự buổi lễ vào ngày 10 tháng 12, 2010 tại thủ đô Na Uy. Obama, đã thắng giải Nobel Hòa Bình vào năm 2009, đã không đề cập Liu Hiểu Ba trước công chúng vào hôm thứ Tư.

Về một vấn đề tranh cãi khác, Obama nói rằng Hoa Kỳ tiếp tục tin rằng tiền tệ của Trung Quốc có giá thấp, làm cho nhập khẩu của Trung Quốc rẻ hơn tại Hoa Kỳ và hàng hóa Mỹ đắt hơn tại Trung Quốc. Ông nói ông Hồ đã được chuyển sang một hệ thống dựa trên thị trường, “nhưng nó không nhanh như chúng ta muốn.”

“Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đang quan ngại quá trình chuyển đổi ấy có xảy ra nhanh ra sao  và những gián đoạn gì có thể xảy ra”, Obama đã nói như thế khi vị chủ tịch nướcTrung Quốc đứng bên cạnh ông trong một phòng ở phía Đông của tòa nhà trắng, và có đầy những phóng viên truyền thông và các giới chức chính quyền. “Nhưng tôi tự tin rằng đó là điều đúng cần phải làm.”

Tổng thống Mỹ cho biết đã đến lúc phải dừng lại xem mọi vấn đề quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ qua lăng kính của sự cạnh tranh. Ông nói rằng khi Trung Quốc phát triển và mở rộng các tiêu chuẩn sống của người dân TQ, điều đó không chỉ có lợi cho sự nhân đạo, mà còn có ý nghĩa kinh tế. Và dựa theo đó ông cho là có ý nghĩa tốt cho các công ty Mỹ.

“Chúng tôi muốn bán cho bạn tất cả các loại công cụ”, Obama nói với các vị khách Trung Quốc của ông, khiến mọi người phát tiếng cười. “Chúng tôi muốn bán cho bạn những chiếc máy bay. Chúng tôi muốn bán cho bạn các chiếc xe. Chúng tôi muốn bán cho bạn phần mềm..” Ông cũng nói rõ: “Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng sự trổi dậy có tính cách hòa bình của Trung Quốc là tốt lành cho thế giới và rất tốt cho nước Mỹ.”

Chú ý về các lỗi lầm đón tiếp cách đây 5 năm, khi Hồ Cẩm Đào viếng thăm của Tổng thống George W. Bush, Nhà Trắng dường như đã tổ chức cuộc chuyến viếng thăm cấp nhà nước mà không có một vấn nạn nào hét – đó là, ngoại trừ các vấn đề dịch thuật làm cho cuộc họp báo kéo dài thời gian và nhiều lần trở nên rất khó hiểu. Hồ đi bộ với ông Obama trên sân cỏ ở phía Nam trong buổi lễ tiếp kiến lúc đến và dành thời gian để bắt tay các trẻ em mỉm cười, thậm chí chia sẻ một lúc với con gái út của Tổng thống Mỹ, 9 tuổi, Sasha.

Associated Press nhà văn Matthew Pennington, Jim Kuhnhenn, Tom Raum, Donna Cassata, Julie Pace, Erica Werner, Darlene Superville và Nancy Benac đóng góp cho báo cáo này.

***

nguồn ở đây

Bản dịch trên X-cafevn.org không sát với nguyên bản tin. TH dịch 1/2 phần sau của bài nói trên, bắt đầu từ chữ Hồ sơ nhân quyền …cho đến hết bài.

Bản dịch trên X-cafevn đã bị người dịch làm nhầm lẫn, kết hợp 2 bài báo làm một. Người dịch dường như lấy 1/2 trước của bài nầy rồi  xen vào 1 đoạn của 1 bài khác…phần sau trên bản dịch của x-cafevn được post dưới đây.

“Các công ty Mỹ cũng nổi cáu với chính sách “sáng tạo bản địa” của Trung Quốc, vốn sẽ giới hạn sức mua sản phẩm nước ngoài của Bắc Kinh với những sản phẩm được thiết kế ở Trung Quốc. Tòa Bạch Ốc cho biết Trung Quốc sẽ có những biện pháp để nới lỏng chính sách đó.

Tòa Bạch Ốc cũng tuyên bố rằng Trung Quốc đang tiến hành các biện pháp để bảo vệ tốt hơn nhằm chống lại việc chính phủ sử dụng các phần mềm bất hợp pháp. Lâu nay, doanh nghiệp Hoa Kỳ đã phàn nàn về hành vi trộm cắp “sở hữu trí tuệ” tràn lan ở Trung Quốc.

Sau đó vào buổi chiều, hai nhà lãnh đạo tổ chức một cuộc họp báo ngắn gọn – một loại thực hành không được phổ biến lắm cho Hồ – giới hạn trong bốn câu hỏi. Sau đó Hồ sẽ được khoản đãi một bữa tiệc trưa của Bộ Ngoại giao. Phần nổi bật của nghi lễ chuyến thăm sẽ là một buổi quốc yến xa hoa rực rở vào tối thứ Tư.

Obama và Hồ Cẩm Đào đã dự một bữa ăn tối riêng vào tối thứ ba, mỗi bên được hai quan chức hàng đầu của mình tháp tùng, tại dinh thự tổng thống ở tòa Bạch Ốc. Dù chương trình nghị sự chất đầy các vấn đề nặng ký, những kỳ vọng vẫn còn là khiêm tốn.

“Có lẽ việc vượt qua được cảm giác không tin tưởng nhau là điều quan trọng nhất”, ông Charles Freeman, một chuyên gia về Trung Quốc tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế, một cơ quan tham vấn có trụ sở tại Washington cho biết.

Chuyến viếng thăm của Hồ Cẩm Đào đến khi quỹ đạo chính trị đã chuyển dịch cho cả hai nước. Thành công của Trung Quốc trong việc khắc phục được cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã trùng hợp với những lo lắng trong số các nước láng giềng ở châu Á về sức mạnh quân sự ngày càng tăng của họ.

Cuối cùng, sự ngờ vực đó có lợi cho Hoa Kỳ, khi các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Việt Nam đã cẩn thận để thắt chặt quan hệ mạnh mẽ hơn với Hoa Kỳ như là một quyền lực trong khu vực. Obama đã công du đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Indonesia trong tháng Mười một phần là để tăng cường các mối quan hệ như một vùng đệm chống lại sức mạnh của Trung Quốc.

Nền kinh tế Mỹ đã cho thấy dấu hiệu phục hồi và Obama cũng đã hồi phục từ các vấn đề chính trị của riêng mình, đặc biệt là việc mất một ghế của Quốc hội về Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng Mười. Một hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân, ông phối hợp với Nga đã được phê duyệt và ông đã được ca ngợi cho một giọng nói chuẩn mực trong các hậu quả của vụ thảm sát bắn giết bừa bãi ở Arizona. Bảng thăm dò ý kiến xếp hạng của ông trước đó đã bắt đầu hồi phục sau nhiều tháng buồn nản này.

Tuy nhiên, minh họa cho địa hình chính trị thay đổi ở Washington, các cuộc hội họp và nghi lễ tại tòa Bạch Ốc đã cạnh tranh sự chú ý cho một cuộc bỏ phiếu tại Hạ viện, vừa được kiểm soát bởi thành phần Đảng Cộng hòa, để bãi bỏ đạo luật chăm sóc sức khỏe ấn tượng của Obama.”

Posted in Chinh Tri Hoa Ky, Chinh tri Trung Quoc, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

Những món nợ giấu kín

Posted by hoangtran204 trên 20/01/2011

Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

Nguồn ở đây

2010-08-04

Khi dư luận tại Việt Nam bàng hoàng vì vụ tập đoàn quốc doanh Vinashin bị ngập nợ thì ở bên ngoài, thế giới lại chú ý đến một hiện tượng bất ngờ không kém.

AFP PHOTO/HOANG DINH Nam 

Logo của tập đoàn Vinashin tại trụ sở chính ở Hà Nội hôm 19/07/2010

Đó là những khoản nợ vĩ đại của các chính quyền địa phương tại Trung Quốc, nơi mà người ta cứ tưởng là có dự trữ ngoại tệ dồi dào và còn đem tiền cho người khác vay. Nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng hai hiện tượng Vinashin và Trung Quốc mắc nợ đều có chung một số nguyên do. Ông trình bày sự việc và giải thích như sau với Việt Long trong mục Diễn đàn Kinh tế tuần này…

Cùng hệ thống – cùng hậu quả

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trước hết, chúng ta nói qua về vụ tập đoàn quốc doanh Vinashin bị mắc nợ có thể đến hơn bốn tỷ đô la, là một biến cố đang gây chấn động tại Việt Nam khiến ông Chủ tịch Tổng giám đốc đã bị ngưng chức. Sau đó thì mình sẽ tìm hiểu vì sao mà người ta có thể đi vay dễ dàng như vậy…

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi lại xin nói ngược và nêu lên một vấn đề khác vì hiện tượng Vinashin không là hãn hữu. Vấn đề khác là Trung Quốc thật ra cũng ngập nợ mà dư luận bên ngoài không biết. Các Công ty Đầu tư Địa phương của xứ này được chính quyền địa phương lập ra để đi vay tiền vô tội vạ và tính đến đầu năm nay thì mắc nợ ít ra là một ngàn bảy trăm tỷ đô la, bằng một phần ba tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc. Y như Vinashin tại Việt Nam, họ hồn nhiên vay tiền để thổi vào các dự án vô giá trị về kinh tế và không thể sinh lời nên sẽ vỡ nợ.

Khi ấy, chính quyền Bắc Kinh sẽ giải quyết ra sao? Người ta cứ nói rằng với hơn hai ngàn tỷ đô dự trữ ngoại tệ, Trung Quốc đang là một quốc gia chủ nợ của thế giới mà ít khi nhìn ra khối nợ bị che giấu đó. Đấy là “hiện tượng Vinashin”, nhưng với màu sắc và kích thước Trung Quốc! Và nguyên nhân vì sao thì tất nhiên là cũng giống nhau.

Việt Long: Ông vừa nêu ra một con số gây giật mình là 1.700 tỷ đô la nợ nần của các Công ty Đầu tư Địa phương của Trung Quốc. Các công ty này là gì mà có thể vay mượn đến như vậy?

Tôi xin đề nghị là mình hãy nhìn sâu vào cơ chế và hệ thống kinh tế của Trung Quốc thì có khi thấy ra những nguyên nhân đã dẫn tới vụ Vinashin ở Việt Nam. Cùng một hệ thống thì cũng dẫn tới một hậu quả.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi xin đề nghị là mình hãy nhìn sâu vào cơ chế và hệ thống kinh tế của Trung Quốc thì có khi thấy ra những nguyên nhân đã dẫn tới vụ Vinashin ở Việt Nam. Cùng một hệ thống thì cũng dẫn tới một hậu quả. Tôi xin trình bày sự kiện, rồi mới phân tích nguyên do trước khi ta rút kết luận về hiện tượng Vinashin.

Trước hết, các chính quyền địa phương tại Trung Quốc thường thiếu hụt ngân sách nên phải vay tiền. Nhưng theo luật lệ có dời đổi liên miên, mức vay của họ bị trung ương hạn chế. Vì vậy, chính quyền các tỉnh, huyện hay thành phố mới lập ra Công ty Đầu tư Địa phương để thay mặt vay tiền từ các ngân hàng cũng là quốc doanh. Chính quyền trung ương có thấy việc đó, nhưng từ hai năm nay lại khuyến khích – như chính quyền Việt Nam đã khuyến khích Vinashin dù rằng tập đoàn này đã bị trễ nợ khi đáo hạn từ hai năm nay rồi. Lý do khiến Bắc Kinh khuyến khích chuyện đó vì tin rằng nhờ vậy mà tiền sẽ sớm được giải ngân thực hiện các dự án ở địa phương.

Kết quả thì có hơn 8.000 Công ty Đầu tư Địa phương đã ra đời và vay tiền các ngân hàng của nhà nước ở địa phương, với sự ủng hộ của chính quyền địa phương, để thực hiện các dự án cho địa phương, như cầu đường, nhà máy điện hay khách sạn, văn phòng, sân vận động, v.v… đôi khi với đất đai do chính quyền địa phương cấp cho các công ty đầu tư này làm tài sản thế chấp và thường thì với điều kiện tín dụng ưu đãi vì là dự án của địa phương.

yuan-dollar-euro.jpg-250.jpg
Hình minh họa. AFP photo

Việt Long: Ông vui lòng xác định với thính giả một bản sơ đồ toàn cảnh trước khi nói đến sự vận hành của hệ thống đó.  Như quý thính giả có thể hiểu: trung ương cho địa phương lập ra công ty đầu tư thực tế là quốc doanh ở địa phương, đi vay tiền của ngân hàng cũng quốc doanh ở địa phương, với đất đai, tiếng là tài sản của toàn dân nhưng do nhà nước quản lý ở địa phương để đưa vào dự án của địa phương. Tức là một hệ thống kinh tế của nhà nước, mà ở cấp bộ địa phương, có phải vậy không? Nhưng chắc ông không quên rằng Vinashin là tập đoàn mang tầm cỡ quốc gia, kinh doanh một ngành chiến lược cho quốc gia?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về việc lập ra tập đoàn gọi là có tầm cỡ quốc gia như Vinashin thì chỉ là sáng kiến dại dột năm 2006, học lại từ các “chaebol” Nam Hàn mà quên mất hậu quả là khủng hoảng năm 1997 khiến nhiều “chaebols” vỡ nợ và phải cải cách sau đó. Mà “chaebols” Nam Hàn đều là tư doanh đi lên sau mấy chục năm tích lũy, học hỏi chứ các tập đoàn Việt Nam chỉ là con ếch muốn sớm to bằng con bò, được nhà nước thổi lên bằng tiền đi vay. Nói chung, tập đoàn nhà nước hay công ty đầu tư địa phương, tất cả chỉ là hệ thống do nhà nước ban xuống, bên trong là do đảng lập ra và chỉ đạo vì nếu không là đảng viên thì chẳng thể ngồi vào các vị trí quyết định ấy. Ông Chủ tịch Vinashin cũng thế, là bí thư đảng trong tập đoàn này, và thi hành chiến lược quốc gia bằng cách mua hàng đồng nát và kinh doanh bừa phứa qua mấy trăm chi nhánh.

Nhìn chung thì trong hệ thống kinh tế nhà nước, mọi người đều tin là có nhà nước yểm trợ nên nảy sinh tâm lý ỷ thế mà bất cẩn. Cụ thể tại Trung Quốc nếu dự án không có đất làm tài sản thế chấp thì ngân hàng địa phương đòi chính quyền ký giấy đảm bảo rồi cho vay. Ấn tín nhà nước là yếu tố an toàn cho hệ thống, nhưng theo kiểu “cha chung không ai khóc”.

Bây giờ, nói về sự vận hành của hệ thống thì yếu tố chính trị thực tế là quan hệ giữa đảng viên và quan chức địa phương với nhau trong các địa hạt hành chính, ngân hàng và đầu tư. Yếu tố tiền tài thực tế là sự chia chác đỉnh chung cho từng hợp đồng tín dụng, từng dự án. Đều là của công mà do cán bộ phân bố cho nhau và báo cáo lên trên là đã có dự án này dựa án kia được thực hiện, rồi cắt băng khánh thành hay hạ thủy…

Hệ thống kinh tế – chính trị

vinashin2-250.jpg
Một cửa hàng kinh doanh ôtô, xe máy tại Hà Nội thuộc Công ty cổ phần Công nghiệp tàu thủy và xe máy – một trong 200 công ty của Vinashin. Photo courtesy of tuoitre.vn

Việt Long: Bây giờ, ta nói qua kết quả của chuỗi hiện tượng đó. Các Công ty Đầu tư và ngân hàng cùng chính quyền địa phương tại Trung Quốc đã làm được những gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Kết quả của sự vận hành sáng tạo ấy là người ta lấy quyết định kinh tế mà bất kể rủi ro lời lỗ, nhưng đảng viên cán bộ thì đều có lợi. Trước hết là tín dụng ngân hàng của nhà nước được cấp dễ dàng cho các dự án đầu tư hay đầu cơ về bất động sản ở địa phương. Dân thì mất đất, nhưng quan chức có lợi và ngân hàng ôm vào một núi nợ khi bong bóng đầu cơ bị bể. Thế giới đang chờ đợi một vụ khủng hoảng ngân hàng vô cùng vĩ đại tại Trung Quốc vì khoản nợ lên tới một phần ba tổng sản lượng quốc gia lại là nợ thối, không sinh lời và sẽ mất. Các trương chủ bỏ tiền tiết kiệm vào ngân hàng sẽ trắng tay và nổi loạn nếu nhà nước không đứng ra trả nợ đậy.

Thứ hai, người ta thực hiện các dự án vĩ đại mà vô dụng, không kém gì các dự án của tập đoàn Vinashin đang được phanh phui ở nhà. Một thí dụ được giới nghiên cứu quốc tế nhắc tới là tại thành phố Ngân Xuyên, thủ phủ của Khu tự trị Ninh Hạ, gọi là Hồi Ninh Hạ.

Ninh Hạ là tỉnh nghèo vào hạng thứ ba của cả Hoa lục – chỉ có hai tỉnh hay khu hành chính nghèo hơn – cần trung ương cấp cho 70% số thu ngân sách mà lại đang mắc nợ 15 tỷ đô la, bằng 75% sản lượng kinh tế của cả địa phương. Lý do là họ vay tiền thực hiện các dự án quy mô và vô dụng, như một cao ốc có kích thước và dáng vẻ của tòa nhà Empire State Building tại Mỹ, hơn 100 tầng, cao gần 400 thước. Hoặc một viện bảo tàng nguy nga, một thư viện khổng lồ, một trung tâm khoa học và công nghệ tân tiến, cái nào cũng lớn bằng mấy sân banh, mà trống không, chưa nói đến sân vận động thênh thang và nhiều biệt thự tráng lệ cho tiêu chuẩn triệu phú. Cư dân nơi đó thưa thớt, đa số thuộc tộc Hồi, và quá nghèo để sử dụng loại phương tiện công ích hoành tráng như vậy. Mà địa phương không thể thu được tiền thì làm sao bảo trì và trả nợ?

Việt Long: Vì sao người ta lại thực hiện loại công trình như vậy ở giữa một khu vực khô cằn của sa mạc trong một địa phương thật ra vẫn còn rất nghèo? Người ta không biết tính hay sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Như trong vụ Vinashin, người ta có biết tính cả đấy. Nhưng là ai tính và tính cho ai, vì mục đích gì? Trong ngần ấy dự án phi lý này, cái hợp lý là mối lợi của đảng viên quan chức khi ký hợp đồng cho vay và thực hiện công trình, rồi phó mặc tất cả cho người khác.

Cấp lãnh đạo địa phương thì viện dẫn lý do rất phải đạo rằng họ thi hành chỉ thị của trung ương, là góp phần phát triển các khu vực lạc hậu nghèo đói ở miền Tây. Cấp lãnh đạo tại trung ương thì té ngửa, rồi đành tự an ủi và tuyên truyền rằng tộc Hồi được nâng đỡ và Ninh Hạ đang nhảy vọt vào thế kỷ 21. Nó cũng tương tự như lời quảng cáo về Vinashin đã xuất hiện từ năm 2008 là có công nghiệp đóng tàu tiên tiến nhất, có thể vượt qua cả nước Anh về tính hiện đại!

000_Hkg3832193-250.jpg
Trụ sở Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (ABC) tại Bắc Kinh hôm14 tháng 7 năm 2010. AFP Photo

Thực tế thì Bắc Kinh có thấy ra mối nguy nên từ tháng Sáu vừa qua, Quốc vụ viện Trung Quốc đã ra chỉ thị. Rằng thứ nhất, các chính quyền địa phương phải đảm bảo là mọi cơ sở đầu tư của địa phương đều có khả năng trả được nợ. Nếu sau này không trả được thì sự việc sẽ ra sao, chúng ta chưa biết. Thứ hai, địa phương phải hoàn tất các dự án dang dở trước khi khởi công dự án mới. Nếu đang thi công mà không vay thêm được tiền thì các dự án lưng chừng này sẽ đổ xuống đâu, người ta cũng chưa biết, nhưng chắc chắn đang là nỗi đau đầu cho địa phương.

Trong khi ấy, thực tế phũ phàng của kinh tế và chính trị khiến chính quyền trung ương vẫn không thể đạp thắng được vì cần tạo ra việc làm. Và họ phải tiếp tục Chương trình Phát triển miền Tây trong 10 năm tới, với ngân khoản hơn một trăm tỷ đô la riêng cho năm nay, vì sợ động loạn xuất phát từ nông dân nghèo, từ đám “dân công” là công nhân di động đang đi kiếm việc, từ dân thiểu số sắc tộc. Vì vậy, Bắc Kinh đang gặp thế lưỡng nan là bị khủng hoảng ngân hàng với kích thước vĩ đại của Trung Quốc, hoặc bị suy trầm kinh tế và động loạn xã hội.

Trong khi núi nợ vẫn chồng chất hàng ngày, lãnh đạo đòi kích thích kinh tế cho hồ hởi để chuẩn bị Đại hội đảng và thế giới thì hạ mức khả tín của Việt Nam khi vay tiền.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Việt Long: Tổng kết lại câu chuyện kinh hoàng này và nhớ tới vụ Vinashin, ta rút tỉa ra những bài học gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về Trung Quốc, lãnh đạo xứ này phải quan niệm lại vai trò và trách nhiệm ngân sách của các địa phương và phải kiểm soát được sự chi tiêu hay gọi là đầu tư của các địa phương. Nếu không, trung ương è cổ lãnh nợ chứ không thể huênh hoang được nữa.

Thứ hai, chuyện này đưa ta trở về Việt Nam, cần giải tỏa hệ thống kinh tế thực tế là nhà nước, khi thì đội mũ tập đoàn quốc doanh, khi thì khoác áo tổng công ty nhà nước, hay ngân hàng của nhà nước, và khi nào cũng có thể lấy quyết định mờ ảo và mờ ám mà thị trường và luật pháp không kiểm soát được trong khi vẫn được ở trên bao che vì cái gọi là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây không chỉ là vụ đảng viên cán bộ tham ô làm thất thoát tài sản quốc gia. Tham nhũng hay tệ nạn đưa thân nhân gia đình vào chốn bẻo bở này chỉ là hậu quả. Nguyên nhân nằm trong hệ thống kinh tế và chính trị ở trên.

Chuyện Vinashin kinh doanh sai trái và vỡ nợ về pháp lý vì trễ hạn trả nợ đã xảy ra từ cuối năm 2008. Vậy mà sau đó chính nhà nước, là Chính phủ và Thủ tướng, vẫn bao che vì lý do này lý do nọ để Vinashin vay thêm và thực hiện các dự án quái đản và hoang phí cho tới ngày phá sản. Khi ta mới chỉ thấy Vinashin vỡ mủ thì nhiều doanh nghiệp nhà nước khác vẫn đang mưng mủ mà dân chúng không biết. Trong khi núi nợ vẫn chồng chất hàng ngày, lãnh đạo đòi kích thích kinh tế cho hồ hởi để chuẩn bị Đại hội đảng và thế giới thì hạ mức khả tín của Việt Nam khi vay tiền.

Việt Long: Ông nhắc đến việc công ty lượng cấp tín dụng là Fitch vừa hạ trái phiếu Việt Nam xuống bốn nấc dưới cấp đầu tư, tức là có giá trị của giấy lộn, của junk bond. Câu hỏi cuối, thưa ông, trong hoàn cảnh hôm nay đâu là những rủi ro của Việt Nam, và ông có thấy gì sáng sủa đôi chút không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Hạ tầng cơ sở vật chất và luật pháp lạc hậu lẫn giáo dục tồi tệ khiến xứ này khó phát triển lành mạnh, bền vững và cân đối được, cho dù bất cứ ai lên lãnh đạo vào lúc này hay vào những năm tới. Đó là rủi ro từ trung hạn đến trường kỳ. Trước mắt, tham nhũng làm vẩn đục môi trường đầu tư và nản chí doanh gia quốc tế, và khả năng trả nợ rất yếu khiến Việt Nam vay tiền khó hơn, trả nợ càng đắt hơn. Mà nếu lại vay tiền theo kiểu Ninh Hạ thì khủng hoảng sẽ là tất yếu: vốn liếng của Việt Nam chi đủ cho hai tháng nhập khẩu thôi!

Việt Long: Xin cảm ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

————–


Posted in Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►19-1-1974 Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm

Posted by hoangtran204 trên 19/01/2011

Quyết tâm và sự dũng cảm của hải quân VNCH trong trận đánh Hoàng Sa 19-1-1974

Lê Mai

Ngày 19.1 hàng năm lại đến. Nó là cái mốc thời gian, ít nhất cũng nhắc nhở mỗi người dân VN không được quên thời điểm quần đảo Hoàng Sa của Tổ quốc mất vào tay TQ, chưa biết bao giờ mới lấy lại được. Càng đáng lo ngại hơn khi nhiều ngư dân VN bây giờ không thể, không dám ra khơi nữa – một cách trực tiếp buông trôi chủ quyền. Điều đó đòi hỏi đất nước cần có những quyết sách phù hợp, chủ động đương đầu với tình hình trên biển Đông – tất nhiên, với một phong cách VN, phong thái VN từng được thế giới vị nể.

Năm mươi lăm năm trước, ngày 26.5.1956, Chính phủ VNCH chính thức ra tuyên bố trước thế giới nêu rõ, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Nam VN. Ba ngày sau đó, Chính phủ TQ ủy nhiệm Bộ Ngoại giao ra tuyên bố, “quyết không cho phép xâm phạm chủ quyền của TQ đối với quần đảo Tây Sa và các đảo khác thuộc về TQ, yêu cầu Nam VN phải đình chỉ ngay tất cả mọi hoạt động khiêu khích”.

Tuy nhiên, Chính phủ VNCH tiếp tục có nhiều tuyên bố cũng như hành động để bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi đã đóng quân tại 6 đảo đá (TQ gọi là đánh chiếm), cuối tháng 8.1973, VNCH lại tuyên bố sẽ đưa hơn 10 đảo đá vào địa phận quản lý của tỉnh Phước Tuy. Hải quân VNCH thực hiện tuần tra vùng biển Hoàng Sa, ngăn cản ý định của TQ đòi chiếm quần đảo này.

Mâu thuẫn ngày một dâng cao tất yếu sẽ đưa đến hành động quân sự. Chúng ta biết, bối cảnh quốc tế khi đó rất phức tạp. Cuộc nội chiến đã kéo dài, gây nhiều đau thương. Lợi ích của nước nhỏ đã bị các nước lớn mang ra đổi chác. Bài học về độc lập, tự chủ không bao giờ cũ. Lịch sử đã chứng minh, trong trận đánh Hoàng Sa, TQ đã đi đêm với Hoa Kỳ để Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc. Điều này là rõ ràng, không thể tranh cãi.

Chỉ huy cao nhất của trận đánh Hoàng Sa phía TQ là Đặng Tiểu Bình, người vừa được khôi phục công tác.

Tháng 12.1973, Mao Trạch Đông triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị tại phòng đọc sách của mình, quyết định bổ nhiệm Đặng Tiểu Bình làm Tổng Tham mưu trưởng.

Mao nói:

“Nay tôi mời đến một quân sư, tên là Đặng Tiểu Bình. Ông này có nhiều người sợ, nhưng làm việc tương đối quả đoán. Tôi xin tặng đồng chí hai câu: trong nhu có cương, trong bông có kim, bên ngoài hòa khí một chút mà bên trong là cả một công ty gang thép”.

Đặng là người có uy vọng rất cao trong quân đội TQ. Rõ ràng, trận đánh Hoàng Sa đã được TQ trù tính và chuẩn bị rất kỹ. Họ có cả tàu khu trục Komal và tên lửa Ukhơ. Ngược lại, phía Nam VN lại bị bất ngờ lớn. Và, phía Bắc VN cũng vậy.

Tuy nhiên, sự chỉ huy quyết đoán, từ cấp cao nhất của VNCH, sự dũng cảm của hải quân VNCH thì ngay cả TQ cũng phải công nhận.

Đây là mô tả của họ:

“Sáng ngày 18.1, tàu Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng của Nam VN trong mấy ngày qua vẫn lởn vởn ở vùng biển gần đảo Cam Tuyền, lại đến gần tàu cá số 407 của TQ, dùng loa gào thét, buộc tàu cá TQ phải ra khỏi vùng biển này. “Không đi, chúng ta sẽ tiêu diệt cả tàu lẫn người bây giờ” – sỹ quan Nam VN nói.

Trong không khí đe dọa không có kết quả, tàu Trần Khánh Dư mở hết tốc lực, lao thẳng vào tàu cá 407, phá hủy buồng lái của tàu.

Đêm 18.1, sóng gió ầm ầm.

Hải quân Nam VN quyết tâm đọ sức với hải quân TQ bảo vệ Tây Sa, đã cử thêm tàu hộ vệ mang tên Sóng Gầm (chắc là họ chỉ hộ tống hạm Nhật Tảo) đến vùng biển cụm đảo Vĩnh Lạc, hội tụ với 3 tàu khu trục mang tên Trần Khánh Dư, Lý Thường Kiệt, Trần Bình Trọng đã xâm nhập trước đó.

Sáng sớm ngày 19.1.1974, sau một ngày “thi gan” với hải quân TQ, hải quân Nam VN quyết tâm lợi dụng tàu chiến hòng nuốt chửng các tàu tuần tiễu có trang bị kém hơn của hải quân TQ (?), tiến tới chiếm cả cụm đảo Vĩnh Lạc.

Hai tàu Lý Thường Kiệt và Sóng Gầm giàn sẵn thế trận từ vùng biển phía bắc đảo Quảng Kim tiếp cận biên đội tài hải quân TQ. Còn hai tàu Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng thì từ phía Nam tiếp cận hai đảo Tham Hàng và Quảng Kim.

Tàu Lý Thường Kiệt giương cao nòng pháo, lao thẳng vào biên đội hải quân TQ. Ỷ vào thế có lớp vỏ thép dày, tàu Lý Thường Kiệt không những không thay đổi hướng đi, ngược lại còn dùng mũi tàu húc thẳng vào tàu 396, làm hỏng cột đài chỉ huy, lan can mạn trái và máy quét mìn.

Tàu Lý Thường Kiệt ngang nhiên đi giữa 2 tàu hải quân TQ, lao về phía đảo Tham Hàng, Quảng Kim, sau đó thả 4 xuồng cao su, chở hơn 40 tên sỹ quan binh sỹ Nam VN đổ bộ lên đảo ngay trước mặt tàu chiến TQ.

Sau khi chiếm lĩnh vị trí có lợi ở vòng ngoài, cả 4 tàu chiến hải quân Nam VN bỗng nhiên đồng loạt nổ súng vào 4 tàu chiến của biên đội hải quân TQ. Dưới làn pháo dày đặc của tàu địch, tàu chiến của hải quân TQ liên tiếp bị trúng đạn, một số nhân viên bị thương”…

Sau khi kết thúc trận đánh Hoàng Sa, Nam VN dồn dập điều động máy bay, tàu chiến sẵn sàng phục thù. Hải quân Nam VN ngoài việc cử 2 tàu khu trục từ Vũng Tàu và Nha Trang ra tập kết Đà Nẵng, còn cử 6 tàu chiến từ Đà Nẵng cơ động về hướng Hoàng Sa, đồng thời lệnh cho không quân và hải quân ở khu vực này chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Tiếc rằng, bối cảnh khi đó không cho phép tiếp tục trận đánh.

Được thua trong một trận đánh là chuyện bình thường. Nhưng trong trận hải chiến Hoàng Sa, ta thấy quyết tâm và sự dũng cảm rất cao của sỹ quan và binh sỹ VNCH. Họ đã làm theo lời tiền nhân, đối với một tấc đất của Tổ quốc, phải kiên quyết giữ gìn. Đó là một bài học lớn – bài học lịch sử mà không một ai được phép quên.( Nguồn: Tranhung09 )

http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=7251

—————-

Từ trận hải chiến Hoàng Sa 1974 tới cuộc tàn sát các chiến sĩ hải quân Việt Nam tại Trường Sa năm 1988


 

Thời gian gần đây, trước hành động xâm lăng ngày một ngang nhiên của Trung Quốc tại Biển Đông, hai chữ Hoàng Sa & Trường Sa đã trở thành một mẫu số chung cho cuộc tranh đấu chống quân xâm lăng Trung cộng và tập đoàn tay sai. Trong tinh thần này, Nhóm Blogger Tự Do trong cộng đồng mạng đã tìm cách góp phần trong khả năng vận động của mình qua công tác mệnh danh: “Không quên các chiến sĩ Hoàng Sa & Trường Sa”. Đề cao vai trò của những ai đã hy sinh mạng sống để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo này là một việc làm chính nghĩa, đó là lý do một trong những việc làm đầu tiên của Nhóm là tổ chức viếng thăm và tặng quà một số chiến sĩ và quả phụ Hoàng Trường Sa.

Các cuộc hải chiến Hoàng Sa (1974) và Trường Sa (1988) đã được diễn ra trong hai hoàn cảnh khác nhau bởi hai tổ chức quân đội Việt Nam khác nhau. Nhưng sự hy sinh của các chiến sĩ Hoàng Sa hay các chiến sĩ Trường Sa đều là những đóng góp cao cả cho quê hương nên phía sau Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có một dân tộc duy nhất: Dân Tộc Việt Nam. Cuộc viếng thăm và tặng quà các chiến sĩ Hoàng Trường Sa đã được thực hiện bởi những người Việt ở trong và ngoài nước phối hợp với nhau bằng phương tiện Internet, điều này cho thấy Internet chẳng những là phương tiện để thông tin mà còn để phối hợp công việc, đó là lý do các chính quyền độc tài đã tìm mọi cách để phá hoại và ngăn cản mạng lưới Internet. Nhắc tới hải chiến Hoàng Sa thì phải kể tới gương hy sinh anh dũng của vị hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo HQ10 là Trung Tá Ngụy Văn Thà, hạm phó là Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí và thủy thủ đoàn. Vì vậy mà nhóm tổ chức đặt nặng vào việc thăm viếng gia đình các bà quả phụ Nguỵ Văn Thà và Nguyễn Thành Trí. Một nhân vật khác cũng được lưu ý là Thượng Sĩ Giám Lộ Lữ Công Bẩy, ông là một chiến sĩ phục vụ trên chiến hạm Trần Khánh Dư HQ4 và là tác giả một bài bút ký giá trị về trận Hoàng Sa, được đăng tải bởi cả báo chí trong nước lẫn báo trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại.

ImageBanana - LuCongBay2008.jpg
Cựu chiến sĩ Hoàng Sa Lữ Công Bảy

Lời Bùi Thanh: Trưa hôm nay , 19-1-2008, tôi có cuộc trò chuyện qua điện thọai với một người đàn ông lớn tuổi – người có mặt trong cuộc hải chiến Hòang Sa đúng 34 năm trước. Đó là Lữ Công Bảy, quân nhân trên chiến hạm Trần Khánh Dư HQ-04.
Được phép của ông , tôi đưa lên blog những hồi ức 34 năm truớc, những sự việc được ông ghi lại trong một quyển vở học trò. Tôi, Bùi Thanh, đã rơi nước mắt khi đọc những dòng chữ của ông. Ông nói: “Tôi sợ các bạn trẻ quên nó, vì không biết và không nhớ gì về nó”.
Bùi Thanh

Biển động

Khi tôi ghi lại những dòng hồi ký này thì sự việc đã xảy ra 34 năm (19.1.1974 – 19.1.2008). Đã 34 năm trôi qua, những gì mà tận mắt tôi đã chứng kiến, những gì mà tôi đã trực tiếp tham gia trong trận hải chiến với hải quân Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974 vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi.
Hôm nay tôi ghi lại hồi ký này để tưởng niệm các chiến sĩ hải quân VN đã hi sinh vì nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ phần đất mà tổ tiên ta đã khai phá và giữ gìn .

Trích: Hải Chiến Hòang Sa – tường trình 34 năm sau (Hồi ức của nhân chứng Lữ Công Bảy trên chiến hạm HQ 4).
Ông Bẩy là nhân sự hướng dẫn cuộc thăm viếng chiến sĩ Hoàng Trường Sa tại Sài gòn. Ngoài ông còn có sự tham dự của một nhân sự quan trọng khác là cô Đinh Mỹ Lệ, con gái Liệt Sĩ Đinh Ngọc Doanh. Khi Trung Úy Doanh tử trận tại Trường Sa Lệ mới chỉ là một em bé được bồng trên lòng.ImageBanana - 880314DinhNgocDoanh.jpg

Vào ngày 9/4/2010, khi phái đoàn tới thăm viếng bà quả phụ Ngụy Văn Thà được hướng dẫn bởi ông Lữ Công Bẩy và cô Đinh Mỹ Lệ thì đây là sự việc có ý nghĩa đặc biệt.

ImageBanana - HSBay.jpg01CAD8321

Hai nhân vật then chốt trong công tác tặng quà là cô Đinh Mỹ Lệ (con gái Liệt sĩ Trường Sa Đinh Ngọc Doanh) và Chiến sĩ Hoàng Sa Lữ Công Bẩy (Giám Lộ Chiến hạm HQ4). Sự tham gia của 2 người đã nói lên rằng : Đằng sau Hoàng Sa & Trường Sa chỉ có một dân tộc Việt Nam, chiến đấu chống một kẻ thù là quân xâm lăng Trung cộng và tập đoàn tay sai.

ImageBanana - HSTha.jpg01CAD8321

Ông Đỗ Văn Huy cùng phái đoàn đến thăm viếng và tặng quà cho gia đình bà quả phụ Ngụy Văn Thà (Hạm Trưởng Chiến hạm HQ10).

ImageBanana - HSTri.jpg01CAD8321

Phái đoàn tặng quà cho con trai và con gái Cố Hạm Phó HQ10 Nguyễn Thành Trí.

Quà tặng cũng được gửi tới bà quả phụ Đinh Ngọc Doanh hiện cư ngụ tại Cam Ranh do cô Lệ chuyển giao. Trong thư liên lạc với chúng tôi, cô Lệ viết:

Tối hôm 9/4, sau khi nhận được quà của  Bác (Bác Hoàng, Bác Thu – Nguyen) và Anh Huy, cháu đã gọi điện thoại về kể cho Má cháu nghe, dù cháu chưa biết nhiều về Các Bác và Anh   nữa.

Sắp tới đây, ngày 23/04 ( nhằm ngày Giỗ tổ Hùng Vương), cháu sẽ về  Cam Ranh thăm Má cháu, cháu sẽ chuyển quà của Bác và Anh đến Má cháu.Và cũng sẽ kể chi tiết cho Má cháu nghe về Bác(Bác Hoàng, Bác Thu – Nguyen, Bác Bình, Bác Bảy), về Anh , về gia đình của Bác Trí, Bác Thà mà cháu đã được đi thăm vào hôm 09/04

Ngoài ra Nhóm cũng tổ chức thăm viếng và tặng quà cho chiến sĩ Hoàng Sa Trần Dục tại Huế và chiến sĩ Trường Sa Trương Văn Hiền tại Ban Mê Thuột.

ImageBanana - HSTranDuc.JPG

Ông Nguyễn Anh Toàn đã tới nhà cựu chiến sĩ Trần Dục tại Huế để thực hiện công tác trao tặng quà.

ImageBanana - P100046150.jpg

Ông Trần Dục đã gìn giữ huy hiệu trên 36 năm trời, mặc dù từ sau 30/4/1975 phải sống dưới một chế độ luôn có chính sách trả thù những người đã phục vụ cho chế độ củ. Điều này cho thấy sự trân quí và niềm hãnh diện của chiến sĩ Hoàng Sa Trần Dục, về thời gian ông phục vụ trên chiếc Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ 4).

Người sau cùng được viếng thăm là anh Trương Văn Hiền, mặc dù anh đang sống tại một ấp hẻo lánh trong vùng Ban Mê Thuật.
Trong vụ các chiến sĩ hải quân Việt Nam bị Trung cộng tàn sát tại  bãi đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa, có 64 chiến sĩ bị bắn chết tại chỗ khi đang đứng nửa mình ngâm dưới nước. Anh Hiền là 1 trong số 9 người bị thương và được tầu Trung cộng vớt, bị giam trong 3 năm trước khi được trao trả lại cho phía Việt Nam.

ImageBanana - image006.jpg

Hình anh Trương văn Hiền khi bị Trung cộng bắt làm tù binh

ImageBanana - image004.jpg

Trương văn Hiền ngày nay

Anh Hiền bị thương ở chân, theo chị Phượng vợ của anh tâm sự thì:

“Anh yếu không làm gì được nhiều. Nhiều đêm đang ngủ anh kêu đau buốt đầu gối như có con gì bò ở trong, khó chịu lắm, khổ sở lắm, mà nào có tiền đi khám. Nhà nghèo thì ai cũng thế, khi thập tử nhất sinh mới liều tới bệnh viện thôi. Anh cứ đòi lấy cưa để cưa chân mình đi luôn cho khỏi đau…”Sau chuyến viếng thăm và tặng quà đầu tiên được tổ chức vào đầu tháng 4/2010, Nhóm Blogger Tự Do dự trù vận động nhiều cuộc thăm viếng khác trong tương lai. Ngoài ra, Nhóm cũng gửi thư thăm hỏi và hình kỷ niệm chiến hạm Nhật Tảo HQ10 tới các chiến sĩ Hoàng Sa cư ngụ tại hải ngoại mà Nhóm liên lạc được.

ImageBanana - HQ10.jpg

Ngoài việc thăm hỏi và tìm cách yểm trợ vật chất các chiến sĩ Hoàng Trường Sa, Nhóm Blogger Tự Do cũng thực hiện 1 blog mang tên “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” ( http://hsatsavietnam. multiply.com )với chủ trương:

•    Thu gom các tài liệu liên hệ tới địa dư, lịch sử của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

•    Viết bài, phổ biến tài liệu, tham gia các vận động cho mục tiêu bảo vệ Hoàng Sa , Trường Sa và Biển Đông của Việt Nam.

Ngoài việc tiến hành chương trình thăm viếng và hỗ trợ chiến sĩ Hoàng Trường Sa nêu trên, Blog “HS-TS-VN” mong sẽ trở thành một trong những nơi tập trung tài liệu đa dạng về HS và TS cho những ai muốn tham khảo, tìm hiểu. Xa hơn nữa, mong rằng nơi đây sẽ trở thành một điểm hẹn cho những người Việt Nam có lòng với dân tộc, muốn góp sức bảo vệ Tổ Quốc, chấm dứt độc tài, xây dựng dân chủ và canh tân đất nước.

Rạng Đông
trong Nhóm Blogger Tự Do.

Nguồn:

http://rangdongsoc.multiply.com/

——

 

Phần 1 : Mở Đầu

Vào đầu năm 1974, trong lúc tình hình chiến sự tại Việt Nam trở nên vô cùng sôi động với các trận đánh lớn diễn ra trên khắp bốn vùng chiến thuật thì ngoài khơi Biển Đông đã xảy ra một trận hải chiến có tầm vóc lịch sử giửa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng. Đây là lần đầu tiên kể từ khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dưới thời Nhà Trần đánh thắng quân Mông Cổ, Nam quân lại đụng độ với Bắc quân trên mặt biển. Và cũng như những lần trước, tuy lực lượng của kẻ thù phương Bắc mạnh hơn gấp nhiều lần, các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa noi gương Thánh Tổ đã anh dũng chiến đấu, gây cho địch những tổn thất nặng nề.

Vào thời điểm đó, Tổng Thống Nixon trước đây đã dùng chính sách “ngoại giao bóng bàn” ve vãn được Trung Cộng nên nhiều dư luận cho rằng Hoa Kỳ đã gián tiếp bàn giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng cũng như bán đứng miền Nam Việt Nam chỉ một năm sau đó. Nghi vấn này sẽ được bàn tới ở phần sau. Điều quan trọng cần nói ở đây là ngay trong thời gian trận hải chiến xảy ra cách đây gần một phần tư thế kỷ, chính các sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng không giám nghĩ rằng Hải Quân Việt Nam sẽ tham chiến vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch. Những “cố vấn” kiêm chuyên gia về Hải Quân này dự trù rằng các chiến hạm Việt Nam sẽ lặng lẽ rút lui bỏ mặc quần đảo Hoàng Sa thân yêu rơi vào tay giặc.

Những ước đoán trên được căn cứ vào thái độ của Hải Quân Hoa Kỳ lúc đó đang làm bá chủ Biển Đông nhưng cho biết họ đứng ngoài vòng tranh chấp. Ngoài ra, họ cũng không đồng ý việc xử dụng các khinh tốc đĩnh (PT boat) tại Đà Nẵng, tuy với thủy thủ đoàn Việt Nam điều khiển nhưng lại do Hoa Kỳ kiểm soát. Ngay tới khi trận hải chiến đã kết thúc, lực lượng HQ Hoa Kỳ vẫn còn từ chối tiếp cứu những thủy thủ Việt Nam lâm nạn, một điều trái ngược với qui luật của người đi biển. Cho tới nay, chúng tôi đã nhiều lần viết thư yêu cầu phòng Quân Sử của Hải Quân Hoa Kỳ cung cấp những dữ kiện đã được giải mật về trận Hải Chiến Hoàng Sa, nhưng lúc nào họ cũng trả lời “không có bất cứ một tài liệu nào liên quan trong hồ sơ lưu trữ”. Đây là một điều rất khó tin vì lúc đó, Hải Đoàn 77 (Task Force 77) của HQ Hoa Kỳ gồm nhiều mẫu hạm và các chiến chạm yểm trợ tổng Cộng gần 20 tầu chiến đang hoạt đng đang hoạt động tại vị trí “Yankee” (Yankee Station) cách Hoàng Sa về phía Đông Bắc không xa. Thật sự Hoa Kỳ có hoàn toàn “không biết” hay đứng ngoài vụ tranh chấp hay không? Vì lý do gì? Mời độc giả tuần tự theo dõi các diễn biến của trận hải chiến tại Hoàng Sa để tìm câu trả lời.

Tác phẩm “Biển Đông Nổi Sóng” của Trần Đỗ Cẩm sẽ được phát hành trong tương lai. Bài “Trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa” là một phần tài liệu được trích từ trong tác phẩm này. Tác giả giữ bản quyền. Nếu trích đăng, yêu cầu ghi rõ xuất sứ. Cảm ơn.

Nhưng ngoài sự dự đoán của Hoa Kỳ cũng như của Trung Cộng, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa dù đơn độc và cô thế cũng đã dùng hết sức tham chiến. Các chiến sĩ áo trắng đã can đảm nổ súng vào quân xâm lăng và chiến đấu đến tận cùng khả năng của mình. Sau trận hải chiến, dư luận báo chí quốc tế đã bày tỏ nhiều thiện cảm qua những bài bình luận rất thuận lợi cho Việt Nam trong khi lên án bọn xâm lược Trung Cộng.

Trước hết, tưởng cũng cần nêu lên một vài điểm liên quan đến việc sưu tầm tài liệu để viết bài này. Nói chung, đây là việc rất khó khăn vì đa số đã bị thất lạc hoặc vùi chôn trong quá khứ. Thứ nhất, trận hải chiến xảy ra cách đây đã lâu nên những chi tiết ngay cả đối với những người đã trực tiếp tham dự không ít thì nhiều cũng bị mai một với thời gian. Vả lại, mỗi nhân chứng tùy theo vị trí và hoàn cảnh sẽ có tầm nhìn và nhận xét khác nhau, do đó việc tường thuật trung thực như một máy quay phim thiết tưởng không thể nào thực hiện được. Thứ hai, tuy đã có một số bài viết về Hoàng Sa nhưng những tài liệu này phần lớn dựa vào ký ức nên kém chính xác và chưa đủ để nói lên tầm vóc quan trọng của biến cố lịch sử này. Thứ ba, vì miền Nam đã bị Cộng Sản xâm chiến nên những tài liệu chính thức như các phúc trình hậu hành quân của các chiến hạm tham chiến cũng như của BTL/HQ rất khó sao lục lại. Theo HQ Trung Tá Vũ Hữu San, báo Le Courier du Vietnam cho biết ngày nay còn có một bản Tổng Kết Hải Chiến Hoàng Sa của BTL/HQ trình BTTM/QLVNCH lưu giữ tại Hà Nội. Chúng tôi nghe nói HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc đang sử soạn viết về trận hải chiến tại Hoàng Sa, dự trù hoàn tất vào năm 1999 là ngày kỷ niệm 25 năm trận đánh. Đây là một nguồn tin rất đáng khích lệ, vì chắc chắn Đại tá là người biết nhiều nhất và đủ thẩm quyền nhất để tường thuật về trận đánh do chính ông chỉ huy.

Vì những lý do trên, tuy khả năng và hoàn cảnh hạn hẹp, chúng tôi cũng cố gắng viết lại trận hải chiến tại Hoàng Sa, càng gần với sự thật càng tốt, căn cứ vào những tài liệu thâu thập được cũng như những lời kể lại của các nhân chứng. Tác giả may mắn và hãnh diện được là bạn cùng khóa 11 SQHQ Nha Trang với hai trong số bốn vị Hạm Trưởng tham chiến, đó là HQ Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 và HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5. Hai Hạm Trưởng còn lại là HQ Trung Tá Lê Văn Thự (Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16) thuộc khóa 10 SQHQ Nha Trang và cố HQ Trung Tá Ngụy Văn Thà thuộc khoá 12 SQHQ Nha Trang là các khóa sát trên và dưới trong lúc cùng học tại Nha Trang nên cũng có dịp quen biết ít nhiều. Ngoài ra, chúng tôi cũng có dịp tiếp chuyện nhiều lần với HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc là Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật trong trận hải chiến tại Hoàng Sa. Chúng tôi cũng cám ơn anh bạn trẻ Trương Văn Quang hiện cư ngụ tại Úc Châu đã trợ giúp sưu tầm nhiều hình ảnh và chi tiết hiếm có. Nhưng dù sao, bài viết này chắc chắn sẽ còn rất nhiều thiếu sót và kém chính xác, tác giả mong mỏi sẽ được những người biết chuyện thăng thắn phê bình xây và bổ túc để phần tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa được thêm đầy đủ.

Để dễ dàng theo trận hải chiến lịch sử tại Hoàng Sa, trước khi tường thuật chi tiết về trận, chúng tôi sẽ nói qua về quần đảo này và sau cùng sẽ nêu lên vài nhận xét và bình luận.

Khái lược về quần đảo Hoàng Sa
(Xem bản đồ vùng Đông Nam Á)

1. Biển Đông: Xác Định một Danh Từ

Trên các bản đồ cũng như hải đồ quốc tế, vùng biển cực Tây của Thái Bình Dương nằm về phía Nam lục địa Trung Hoa thường được gọi là South China Sea. Theo thông lệ, các nhà hàng hải thời xưa thường lấy tên khu vực đất liền lân cận để đặt tên vùng biển tiếp giáp. Vì vậy, trên bản đồ, chúng ta thấy những tên biển quen thuộc như: Biển Ấn Độ hay Ấn Độ Dương (Indian Ocean), Biển Nhật Bản (Sea of Japan), Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin), Vịnh Thái Lan (Gulf of Thailand) hay Vịnh Mễ Tây Cơ (Gulf of Mexico) v.v…

Do đó, South China Sea chỉ đơn thuần được dùng để chỉ vùng biển nằm về phía Nam lục địa Trung Hoa. Tuy có chữ “China” trong đó nhưng danh từ này không bao hàm ý nhĩa “của” hay “thuộc về” Trung Hoa, cũng như Vịnh Mễ Tây Cơ không phải là tài sản riêng của Mexico. Sở dĩ cần xác định như trên để tránh những hiểu lầm, vì rất có thể khi thấy chữ “China”, một số người người có thể ngộ nhận là “của Trung Hoa”. Riêng đối với người Việt Nam, tuy South China Sea ở phía Nam Trung Hoa, nhưng lại nằm về phía Đông của Việt Nam, nên thiết tưởng “Biển Đông” là tên chính xác để mệnh danh vùng biển thân yêu này. Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã có danh từ Biển Đông. Bằng chứng là những câu ca dao quen thuộc như:

“Dã tràng xe xát Biển Đông,
Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì”

Hoặc “Thuận vợ thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn”.

Trong bài “Văn Tế Cá Sâu” bằng tiếng Nôm của đại học sĩ Nguyễn Thuyên cũng có câu như sau:

“Ngạc ngư kia hỡi mày có hay,
Biển Đông rộng rãi là nơi mày,
Phú Lương đây thuộc nơi Thánh vực,
Lạc lối đâu mà lại tới đây?”

Nhận xét như trên, chúng tôi mạnh dạn đề nghị các sách báo của người Việt nên dùng danh xưng Biển Đông để thay thế cho từ ngữ Nam Hải hay South China Sea. Đây không những là một việc làm “danh chính ngôn thuận”, mà còn nhắc nhở chúng ta luôn luôn nhớ đến vùng biển thân thiết đã gắn liền với vận mạng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử.

2. Vị Trí

Trên bản đồ hàng hải, quần đảo Hoàng Sa là một chuỗi gồm trên 100 đảo nhỏ nằm ngoài khơi Việt Nam, giữa kinh tuyến 111 độ – 113 độ Đông và vĩ tuyến 15 độ 45 – 17 độ 05 Bắc. Nói khác đi, quần đảo này cách bờ biển Đà Nẵng chừng 170 hải lý (khoảng 300 cây số) về hướng Đông và có khoảng cách từ 400 hải lý đến 500 hải lý (720 cây số đến 900 cây số) đối với các hải cảng Sài Gòn, hải Phòng, Hương cảng và Manila. Theo tục truyền, toán thám sát dưới triều vua Gia Long báo cáo quần đảo này có nhiều bãi cát vàng, vì vậy nên được đặt tên là Hoàng Sa.

3. Địa Thế

Trên các hải đồ quốc tế, quần đảo Hoàng Sa được gọi là Paracel Islands hay Paracels. Có người cho rằng tên Paracel bắt nguồn từ chữ Bồ Đào Nha “Paracel” có nghĩa là “đá ngầm”. Giả thuyết này nghe cũng khá hợp lý vì mấy thế kỷ trước đây, dân Bồ Đào Nha (Portugal) và Tây Ban Nha (Spain) có rất nhiều đi hải thuyền nổi tiếng chu du thám hiểm vòng quanh thế giới. Đi tới đâu, họ dùng tên của nước mình để đặt cho những vùng biển hay đãt lạ chưa được ghi chép trên bản đồ. Hơn nữa, các đảo trong vùng Hoàng Sa thường rất thấp, chỉ cao chừng vài ba thước trên mặt biển nên trông như những bãi đá ngầm khi thủy triều lên. Giả thuyết thứ hai cho rằng “Paracel” là tên một thương thuyền thuộc công ty Đông Ấn của người Anh bị mắc cạn và chìm tại vùng Hoàng Sa vào khoảng thế kỷ thứ 16. Chúng tôi thiết nghĩ giả thuyết thứ hai này có vẻ hữu lý hơn, vì trong quần đảo Hoàng Sa có nhóm đảo Amphitrite là tên của một tàu Pháp gặp nạn tại Hoàng Sa khi vượt biển buôn bán với Trung Hoa vào thế kỷ thứ 17.

Theo các bản đồ cổ của Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa mang tên bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng vì cát tại đây thường có màu vàng, nhất là tại đảo Quang Hòa. Người Trung Hoa gọi vùng này là Hsisha hay Xisha Quandao tức là Tây Sa quần đảo. Quần đảo Hoàng Sa gồm có rất nhiều đảo lớn, đảo nhỏ, cồn cát, bãi cát, đá ngầm v.v… nên rất khó xác định có tổng cộng bao nhiêu “đơn vị”. Đảo cao nhất là Rocky Island nhô cao khỏi mặt nuớc chừng 20 thước. Sách cổ Việt Nam cho biết có cả thảy chừng 130 đảo, cồn v.v… Tuy nhiên, trên các hải đồ quốc tế chúng ta thấy chỉ ghi nhận vài ba chục đảo lớn. Tưởng cũng cần nói thêm, ngoài các đảo, cồn và đá nổi cao khỏi mặt nước, vùng Hoàng Sa còn có hai bãi ngầm (Bank hay Shoal) rất lớn luôn luôn chìm dưới mực nước biển, đó là Macclesfield và Scarborough Shoal nằm về hướng Đông. Những bãi ngầm hay vùng nước cạn giữa biển này rất nguy hiểm cho các tàu bè qua lại vì khi thời tiết tốt, mặt biển trông rất phẳng lặng bình yên không có dấu hiệu de dọa nào, chỉ khi trời nổi sóng gió mới thấy những lượng sóng bạc đầu trên các vùng bã hay đá ngầm.

Nếu chỉ kể riêng những đảo (đá, đất, bãi cát, cồn … cao hơn mặt biển), quần đảo Hoàng Sa được các nhà hàng hải chia thành hai nhóm chính: đó là nhóm Trăng Khuyết và nhóm An Vĩnh.

A. Nhóm Trăng Khuyết (Crescent Group)
(Xem bản đồ quần đảo Hoàng Sa)

Những đảo thuộc nhóm này kết hợp lại thành một hình cánh cung hay lưỡi liềm nên được đặt tên là Trăng Khuyết hay Nguyệt Thiềm, tên quốc tế là Crescent hay Croissant. Đây là nhóm đảo quan trọng nhất nằm về phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, tức là gần với đất liền Việt Nam nhất. Nhóm này gồm 7 hòn đảo chính và một số bãi ngầm.

1. Đảo Hoàng Sa (Pattle Island): Đây là hòn đảo chính của quần đảo, nhưng lại không phải là đảo lớn nhất. Đảo này hình bầu dục, chiều dài khoảng 950 thước, chiều rng khoảng 650 thước. các cơ sở quân sự, đài khí tượng, hải đăng, cầu tàu … đều đặt trên hòn đảo này. Những cơ sở này đa số được thiết lập từ thời Pháp thuộc, đều thuộc quyền sở hữu của VNCH. Ngoài ra còn có các kiến trúc khác như Miếu Bà, Nhà Thờ, bia chủ quyền Việt Nam và đường xe gờng dẫn ra cầu tầu để chuyển vận phân bón. Vì là đảo chính có nhiều cơ sở hành chánh nên thường dùng làm tên chung cho cả quần đảo.

Đảo Hoàng Sa đủ lớn để thiết lập một phi đạo ngắn tầm. Vào đầu năm 1974, VNCH dự trù xây cất một phi trường tại đây nhưng khi toán công binh thám được tầu Hải Quân chở ra tới nơi thì đảo bị Trung Cộng cưỡng chiếm. Dưới thời VNCH, có một trung đội Địa Phương Quân thuộc chi khu Hòa Vang thuộc tiểu khu Quảng Nam đồn trú .

2. Đảo Cam Tuyền (hay Hữu Nhật – Robert Island): Đảo mang tên một xuất đội dưới triều nhà Nguyễn tên thật là Nguyễn Hữu Nhật. Diện tích đảo này chừng 0.32 cây số vuông, nằm cách đảo Hoàng Sa chừng 3 hải lý về hướng Nam. Đảo có một vòng san hô bao chung quanh, có chỗ ăn liền tới bờ đảo.

3. Đảo Duy Mộng (Drummond Island): Hình bầu dục, cao chừng 4 thước trên mặt biển, diện tích chừng 0.41 cây số vuông. Nước tương đối sâu, tầu lớn có thể vào sát bờ chỉ cách vài ba trăm thước. Trong trận hải chiến tại Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974, đa số các chiến hạm trung Cộng tập trung quanh đảo này.

4. Đảo Quang Ảnh (hay Vĩnh Lạc – Money Island): Quang Ảnh là tên một vị đi trưởng dưới triều Nguyễn tên thật là Phạm Quang Ảnh. Vào thời vua Gia Long, vị đội trưởng này thường đem hải thuyền ra Hoàng Sa để thu lượm hải vật. Đảo cao chừng 6 thước, diện tích gần nửa cây số vuông. Chung quanh đảo có nhiều đá ngầm và san hô rất nguy hiểm cho tầu bè.

5. Đảo Quang Hòa (Duncan Island): Là hòn đảo lớn nhất trong nhóm trăng khuyết với diện tích chừng nửa cây số vuông. Quanh đảo là bãi cát mầu vàng, có lẽ vì vậy mà cả quần đảo mang tên Hoàng Sa, bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng. Vì có nhiều đảo nhỏ nối liền với nhau bằng những giải cát nên có một số hải đồ chia đảo này thành hai đảo Quang Hòa Đông và Quang Hòa tây. Chung quanh đảo có vòng san hô bao bọc. Trong trận hải chiến giữa HQ VNCH và Trung Cộng, chiến hạm đôi bên đã đụng độ nhau tại mặt Tây, chỉ cách đảo mấy hải lý.

6. Đảo Bạch Qủy (Passu Island): Đảo cấu tạo bằng san hô, rất thấp, chỉ nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống. Đảo rất trơ trọi khiến người khó có thể sinh sống.

7. Đảo Tri Tôn (Triton Island): Gần với đất liền Việt Nam nhất. Đảo trơ trọi toàn đá và san hô chết.

8. Các bãi ngầm: Ngoài các đảo chính nêu trên trong vùng biển thuộc nhóm Trăng Khuyết còn có một số bãi ngầm đáng kể và rất nguy hiểm cho tầu bè qua lại sau đây:

Bãi Antelope Reef: Gồm toàn san hô ngầm, nằm về phía Nam đảo Hữu Nhật và phía Đông đảo Quang Ảnh.
Bãi Vuladdore: Nằm về hướng Đông Nam của nhóm Trăng Khuyết, các chừng 20 hải lý.
Bãi Discovery Reef: Là bãi ngầm lớn nhất. Đây là một vòng rng toàn san hô, chiều dài chừng 15 hải lý và rộng chừng 5 hải lý.
B. Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group)

Nằm về hướng Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa. An Vĩnh nguyên là tên của một xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi thời trước. Sách Đại Nam Thực Lục Tiên Biên chép về xã này như sau: “Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát kéo dài tới không biết mấy ngàn dậm, tục gọi là Vạn Lý Hoàng Sa Châu … Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn có đặt đi Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi … ”

Nhóm An Vĩnh còn có tên là Amphitrite hay Tuyên Đức, gồm nhiều đảo tương đối lớn và cao. Sau đây là một số đảo chính:

Đảo Phú Lâm.
Đảo Cây, còn gọi là đảo Cù Mộc.
Đảo Lincoln.
Đảo Trung.
Đảo Bắc.
Đảo Nam.
Đảo Tây.
Đảo Hòn Đá.
Hải đảo quan trọng nhất trong nhóm An Vĩnh là đảo Phú Lâm, còn gọi là Woody Island nằn cạnh đảo Hòn Đá nhưng diện tích lớn hơn nhiều. Trước đệ nhị thế chiến, ngưới Pháp tại Đông Dương đã khai thác những đảo thuộc nhóm An Vĩnh. Họ cũng thiết lập tại đây một đài khí tượng giống như trên đảo

Hoàng Sa. Sau thế chiến thứ hai, Pháp phái chiến hạm Savorgnan de Brazza đến chiếm lại các đảo tại vùng Hoàng Sa từ tay người Nhật vào tháng 6 năm 1946. Nhưng sau đó vì chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Pháp phải rút quân về đất liền. Lợi dụng cơ hội Hoàng Sa bị bỏ trống, Trung Hoa lấy cớ giải giới quân Nhật đã lén đổ quân lên đảo Phú Lâm rồi chiếm đóng luôn đảo này. Ngoài ra, họ cũng tiến xa hơn về phía Nam, chiếm luôn đải Thái Bình (Itu Aba) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Vào ngày 13 tháng 1 năm 1947, người Pháp tại Đông Dương chính thức phản kháng hành động chiếm đóng các hải đảo bất hợp pháp của Trung Hoa và phái chiến hạm le Tonkinois ra Hoàng Sa. Thấy đảo Phú Lâm dã bị chiếm đóng và phòng thủ kỹ lưỡng, chiến hạm này quay về đảo Hoàng Sa (Pattle Island) để đổ 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân Việt Nam lên chiếm đóng đảo này. Khi Trung Hoa Dân Quốc phải bỏ Hoa Lục chạy sang Đài Loan, họ cũng rút quân ở đảo Phú Lâm và Thái Bình về. Mãi tới 7 năm sau khi làm chủ được lục dịa, Trung Cộng mới cho quân chiếm đóng Đảo Phú Lâm vào đêm 20 rạng ngày 21 tháng 2 năm 1956.

Trong nhóm An Vĩnh, ngoài Phú Lâm còn có một hòn đảo quan trọng khác, đó là đảo Lincoln, nằm về phía Đông của nhóm. Đây là đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa với diện tích chừng 1.6 cây số vuông hay tương đương 400 acres, bề cao chừng 3 – 4 thước. Hiện nay, dự đoán có chừng 4,000 quân Trung Cộng trên các đảo tại vùng Hoàng Sa.

4. Chủ Quyền Việt Nam Tại Quần Đảo Hoàng Sa

Vào thế kỷ thứ 18, bộ sách “Phủ Biên Tạp Lục” của ông Lê Quí Đôn đã có nói tới Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách này cũng kể việc người Việt Nam đã khai thác hai quần đảo này ngay từ thời Lê mạt. Các tài liệu khác nói về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa là bộ “Hoàng Việt Địa Dư Chí” được ấn hành vào năm Minh Mạng thứ 16 tức là năm 1834. Cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú (1782 – 1840).

Hơn nữa, bộ “Đại Nam Nhất Thống Chí” trong cuốn nói về tỉnh Quảng Ngãi có kể việc Chúa Nguyễn cho thành lập đội Hoàng Sa gồm 70 người cứ mỗi năm vào tháng 3 thì ra đảo thu lượm hải vật rồi trở về vào tháng 8. Vào năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua cũng sai quan quân dùng thuyền chở gạch đá ra dựng một ngôi chùa và bia chủ quyền tại đảo Hoàng Sa có khắc hàng chữ nôm “Minh Mạng năm thứ 16”. Ngoài các sử gia bản xứ, một số các tác giả người Pháp cũng nói tới chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 1836 Đức giám mục Taberd đã viết trong cuốn sách “Địa dư, lịch sử và mô tả mọi dân tộc cùng với tôn giáo và phong tục của hộị” (Univer, histoire et description de tous les peuples, de leurs religion et coutumes) như sau:

“Tôi không kể dài dòng về những đảo thuộc Nam Kỳ, nhưng chỉ nhận xét rằng từ 34 năm nay, người Nam Kỳ đã chiếm cứ nhóm quần đảo Paracels mà người An Nam gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa, thực là những hòn đảo nhỏ bí hiểm, gồm những mỏm đá xen lẫn với các bãi cát mà những người đi biển đều kinh hãi. Tôi không rõ họ có thiết lập cơ sở gì ở đó không, nhưng chắc chắn rằng Hoàng Đế Gia Long nhất định muốn mở rộng lãnh thổ của Hoàng Triều bằng cách chiếm quần đảo này, và vào năm 1816, ngài đã long trọng trương lá cờ tại đây”.

Trong tác phẩm “Hồi ký về Đông Dương”, ông Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi rằng vua Gia Long đã chính thức thu nhận quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816. Khi người Pháp đặt nền bảo hộ trên toàn cỏi Đông Dương, họ cũng tiếp tục lãnh nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa. Vào các năm 1895 và 1896, có hai chiếc thương thuyền tên Bellona và Iruezi Maru chở đồng cho người Anh bị đắm tại nhóm đảo Tuyên Đức và bị người Trung Hoa đến đánh cướp. Đại diện người Anh tại Bắc Kinh đòi nhà Thanh phải bồi thường vì có một số đồng được đem về bán tại đải Hải Nam. Nhưng chính quyền nhà Thanh không chịu bồi thường, viện cớ quần đảo Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Hoa.

Các quốc gia trong vùng Đông Nam Á cũng mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa. Vào đầu thế kỷ 20, một công ty Nhật tên Motsli Bussan Kaisha đã đệ đơn xin chính quyền Pháp tại Đông Dương cấp quyền đặc nhượng khai thác phosphate tại đây. Năm 1925, tàu Lanessan chở phái đoàn nghiên cứu của Hải Học Viện Nha Trang ra thám sát quần đảo Hoàng Sa. Phái đoàn này xác nhận Hoàng Sa là một phần của lãnh thỗ Việt Nam vì dính liền với thềm lục địa Việt Nam.

Tại hội nghị San Francisco vào ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Việt Nam cũng đã lên tiếng xác nhận chủ quyền Việt Nam tại hải đảo thuộc Biển Đông. Ông tuyên bố truớc hội nghị: “Chúng ta cần phải lợi dụng mọi cơ hội để dập tắt mầm mống chiến tranh, vì vậy chúng tôi xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đến nay vẫn luôn luôn là những thành phần của lãnh thổ Việt Nam”. Trong tổng số 51 quốc gia tham dự, không một quốc gia nào – kể cả Trung Hoa – lên tiếng phản đối nên lời tuyên bố này đã được ghi vào biên bản của hội nghị.

Dưới thời Pháp thuộc, Việt Nam đã thiết lập những cơ sở hành chánh tại Hoàng Sa qua nghị định số 156-SC ngày 15-6-1932 của Toàn Quyền Đông Dương. Trong đạo dụ số 10 ký ngày 30-3-1938, Hoàng Đế Bảo Đại sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Ngày 5-5-1938, Toàn Quyền Đông Dương thiết lập hai đơn vị hành cháng tại quần đảo Hoàng Sa. Đó là đơn vị Trăng Khuyết và phụ cận (délégation du Croissant et dépendences) và đơn vị Tuyên Đức và phụ cận (délégation de l’Amphitrite et dépendences). Ngày 13-7-1961 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 175-NV đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam thay vì tỉnh Thừa Thiên và đặt tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nghị định số 709-BNV-HC ngày 21-10-1969 của Thủ Tướng Chính Phủ đã sát nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

5. Bằng cớ bán nước của Việt Cộng

(Xem Văn thư Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai)Trong lúc miền Nam Việt Nam ra sức bảo vệ các quần đảo tại Biển Đông chống lại các hành động xâm lăng của ngoại quốc thì Việt Cộng tại miền Bắc lại nịnh bợ, thản nhiên công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là các bằng cớ: – Vào năm 1956, ngoại trưởng Việt Cộng là Ung Văn Khiêm tuyên bố:” Hà Nội nhìn chủ quyền của Trung Cộng đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Cộng gọi là Tây Sa và Nam Sa.”

– Trong số báo phát hành ngày 22-9-1958, tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Việt Cộng đã đăng một bản tin với tựa đề “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định về hải phận của Trung Quốc.” Nguyên văn bản tin này như sau: “Sáng ngày 21-9-1958, đồng chí Nguyễn Khang, Đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Trung quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bằng Phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đã chuyển bức công hàm sau đây của Chính phủ ta:

“Thưa đồng chí Tổng Lý,
Tổng lý Quốc vụ viện nuớc Cộng hòa nhân dân Trung hoa,Chúng tôi in trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc. Chính phủ nước Việt nam dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc rong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958
Phạm Văn Đồng
Thủ tướng Chính phủ
Nước Việt nam dân chủ Cộng hòa

– Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, tờ báo Sài Gòn Giải Phóng vào tháng 5 năm 1976 đã đăng một bài xã luận liên quan tới quần đảo Hoàng Sa, trong đó có những câu nịnh bợ Trung Cộng rất ngớ ngẩn như sau:

“Trung quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà còn là người thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi (Việt Nam, Trung Quốc, sông liền sông, núi liền núi). Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này, Trung quốc sẽ sẵn sàng giao lại.”Về sau, vào năm 1979, hai đồng chí thầy trò “sông liền sông, núi liền núi” này đã dậy nhau một bài học đẫm máu tại vùng biên giới Hoa – Việt. Tới năm 1988, người thầy tín cẩn Trung Cộng đã chẳng những không giao lại quần đảo Hoàng Sa cho tên đày tớ Việt Cộng mà còn xua quân chiếm luôn quần đảo Trường Sa. Ngày 14-3-1988, tàu chiến Trung Cộng bắn chìm 3 chiến hạm của hải quân Việt Cộng (một chiếc thuộc loại Shangai do Trung Cộng viện trợ trước đây, một tuần duyên hạm PGM cũ của Hải Quân VNCH, một hải vận hạm do Nga Sô viện trợ) khiến trên 100 lính Việt Cộng thương vong. Trung Cộng đã dùng những bức công hàm của Việt Cộng công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Biển Đông để làm bằng cớ. Bị bí lối, Việt Cộng trâng tráo giải thích trên tờ báo Nhân Dân số ra ngày 26-4-1988:

“Đúng là có những lời tuyên bố đó. Cần phải đặt những lời tuyên bố này đúng trong bối cảnh lịch sử của nó … Trong cuộc chiến đãu một mất một còn, chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân sự lớn hơn mình rất nhiều, Việt Nam tranh thủ được Trung quốc gắn chặt với cuc chiến đấu của Việt Nam càng nhiều bao nhiêu và ngăn chận Mỹ xử dụng hai quần đảo cũng như vùng Biển Đông chống lại Việt nam, thì càng tốt bấy nhiêu. Phải đứng trên tinh thần đó và trong bối cảnh đó để hiểu các tuyên bố nói trên.” ————————————————————————————

trở về (zurück)

Prev: Chương trình 2011 Từ Hoàng Sa tới Trường Sa
Next: Trận Hải Chiến Tại Quần Đảo Hoàng Sa (Phần 2)

—–

III. Những Diễn Biến Trước Trận Hải ChiếnVụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông đột ngột trở nên sôi động vào ngày 11-1-1974 khi Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang nằm trong tay Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là một phần lãnh thổ của họ. Để làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Cộng (TC) phái nhiều tầu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng VNCH chiếm đóng. Ngay ngày hôm sau 12-1-74, Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc của VNCH đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Cộng, đồng thời Bộ Tư Lệnh HQ/VNCH cũng chuẩn bị tăng cường chiến hạm tuần tiễu tại vùng biển Hoàng Sa. Lúc đó, chỉ có một trung đội Địa Phương Quân thuộc chi khu Hòa Vang thuộc tiểu khu Quảng Nam gồm 24 người đóng tại đảo Hoàng Sa cùng với 4 nhân viên thuộc đài khí tượng. Các đảo khác trong nhóm Nguyệt Thiềm không có quân VNCH trú đóng.

Trong các ngày kế tiếp, TC tiếp tục đổ người lên các đảo khác. Tính cho đến ngày 15-1-74, quân TC đã chiếm đóng các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drummond).

1. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) tới Hoàng Sa

Để bảo vệ chủ quyền chính đáng tại Biển Đông, ngày 15-1-74, BTL/HQ/VNCH ra lệnh cho HQ-16 trực chỉ Hoàng Sa để tăng cường cho lực lượng trú phòng, đồng thời dùng biện pháp ôn hòa yêu cầu lực lượng Trung Cộng rời khỏi lãnh hải VNCH. Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường Kiệt còn chở thêm một phái đoàn Công Binh 6 người thuộc BTL/Quân Đoàn I gồm 1 Thiếu Tá trưởng đoàn, 1 cố vấn dân sự Hoa Kỳ, 2 Trung Úy và 2 Trung Sĩ Công Binh. Tháp tùng theo phái đoàn còn có một người Hoa Kỳ bận đồ dân sự và HQ Đại Úy Trần Kim Diệp thuộc BTL/HQ/V1DH. Phái đoàn này có nhiệm vụ thám sát địa thế để thiết lập một phi trường nhỏ trên đảo Hoàng Sa.

HQ-16 do HQ Trung Tá Lê Văn Thự (khóa 10 SQHQ Nha Trang) làm Hạm Trưởng. Hạm Phó là HQ Thiếu Tá Trần Văn Hoa Em (khóa 11 SQHQ Nha Trang) lúc đó nghỉ phép không có mặt trên chiến hạm. Cơ khí trưởng là Đại Úy CK Hiệp (khóa 14 SQHQ Nha Trang). Đúng ra, HQ-16 đã mãn hạn tuần dương tại vùng I và đang chuẩn bị trở về Sài Gòn nghỉ bến, chuẩn bị ăn tết Giáp Dần. Công tác phụ trội tại Hoàng Sa của HQ-16 đuợc dự trù sẽ chấm dứt trong vòng 5 ngày. Tình trạng chiến hạm khiển dụng tương đối khả quan, nhưng quân số không được đầy đủ vì gần Tết nên nhiều người đi phép, chờ chiến hạm trở về Sài Gòn mới trình diện.

Sáng ngày 16 tháng 1, HQ-16 tới Hoàng Sa, sau đó thả một xuồng đổ bộ gồm 4 nhân viên cơ hữu để đưa 6 người trong phái đoàn thám sát lên đảo Hoàng Sa. Công tác hoàn tất tốt đẹp không có gì trở ngại. Sau đó, chiến hạm tiếp tục công tác tuần dương và phát hiện một số tầu lạ đang quanh quẩn trong vùng đảo Cam Tuyền (Robert) về phía Nam. HQ -16 liền đổi đường tới gần để điều tra. Đây là những tầu tương đối nhỏ như loại tầu đánh cá sơn màu xanh đậm có bề ngang hơi lớn với đài chỉ khá lớn như loại tầu quân sự. Chiến hạm dùng đèn hiệu để liên lạc yêu cầu các tầu lạ cho biết xuất xứ theo đúng qui luật hàng hải quốc tế nhưng không được trả lời. Khi đến gần hơn mới nhìn rõ những chiếc tầu này treo cờ Trung Cộng. Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường Kiệt một mặt lập tức báo cáo sự phát hiện về BTL/HQ/V1ZH tại Đà Nẵng, đồng thời dùng cờ, đèn và cả máy phóng thanh bằng tiếng Trung Hoa yêu cầu các tầu Trung Cộng phải lập tức rời khỏi lãnh hải Việt Nam. Nhưng các tầu Trung Cộng vẫn không trả lời, một số nhân viên mặc quân phục mầu xanh nhạt còn đứng trên boong buông những lời lẽ khiếm nhã và cử chỉ trêu chọc. HQ-16 vẫn kiên nhẫn dùng loa phóng thanh liên lạc, sau cùng phía tầu Trung Cộng cũng lên tiếng, đòi hỏi ngược lại, yêu cầu HQ-16 rời khỏi lãnh hải của họ! Cứ như vậy, đôi bên dằng co suốt ngày 16 tháng 1, không bên nào chịu nhượng bộ cho tới tối TDH Lý Thường Kiệt phải di chuyển xa hơn ra ngoài khơi để tránh vùng đá ngầm nước cạn nguy hiểm cho sự an toàn của chiến hạm.

Cùng ngày tại Sài Gòn, hãng thông tấn UPI loan tin chiến hạm và binh sĩ Việt Nam đã nổ súng vào một toán người đang c¡m cờ Trung Cộng tại đảo Cam Tuyền. Không rõ phía Trung Cộng có b¡n trả hay không. Trong lúc đó, các giới chức cao cấp trong chính phủ cũng đang họp khẩn để tìm cách đối phó với sự hiện diện đáng nghi ngờ của Trung Cộng tại Hoàng Sa. Trong một cuộc họp báo, Ngoại Trưởng Vương Văn B¡c cho biết tầu Trung Cộng đã xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ bộ người lên các hải đảo và “hành động này đã mang đến sự đe dọa cho nề an ninh chung trong vùng”.

Sáng sớm ngày 17-1, khi HQ-16 quay trở lại vùng đảo Cam Tuyền thấy có tầu Trung Cộng vẫn còn ở đó. Ngoài ra, gần đảo Vĩnh Lạc (Money) lân cận cũng có thêm tầu Trung Cộng xuất hiện với hàng trăm lá cờ mầu đỏ cằm rải rác ven bờ biển dọc theo bãi cát tr¡ng. Có lẽ những chiếc tầu mới này đã đổ người lên đảo c¡m cờ trong đêm để mạo nhận chủ quyền của Trung Cộng. Hai chiếc tầu dùng để chở quân của Trung Cộng mang số 402 (tên Nam Ngư) và 407.

Tại Sài Gòn, nguồn tin Reuters cho biết Trung Cộng đã gửi hai chiến hạm đến Hoàng Sa sau khi các binh sĩ VNCH b¡n vào toán người Trung Cộng trên các hải đảo. Phát ngôn viên quân sự, Trung Tá Lê Trung Hiền cũng cho biết Hải Quân đã phái 6 chiến hạm lớn nhất ra Hoàng Sa để theo dõi các chiến hạm Trung Cộng. Trung Tá Hiền tuyên bố tiếp “Trong lúc này, chúng tôi chưa thể nói sẽ hành động ra sao – gửi thêm lực lượng tăng viện hay chỉ đuổi toán Trung Cộng ra khở hòn đảo Cam Tuyền”.

2. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) nhập vùng

Ngay khi nhận được báo cáo của HQ-16 phát hiện nhiều tầu Trung Cộng xâm nhập hải phận Hoàng Sa, BTL/HQ/V1DH lập tức phản ứng. Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh HQ/V1DH chỉ thị KTH Trần Khánh Dư HQ-4 ra Hoàng Sa tăng cường, đồng thời ra lệnh cho HQ-16 đổ bộ nhân viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền để triệt hạ cờ Trung Cộng. Khu Trục Hạm (KTH) Trần Khánh Dư do Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San làm Hạm Trưởng. Trung Tá San, xuất thân Khóa 11 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Tác phong đứng đ¡n, luôn luôn tuân hành và hoàn tất chu đáo mọi chỉ thị của thượng cấp, Trung Tá San không những là một sĩ quan hải quân tài giỏi, mà còn là một hạm trưởng được xếp vào hàng xuất s¡c nhất của Hải Quân Việt Nam. Hạm phó của KTH Trần Khánh Dư là Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Thành S¡c, bạn cùng khóa 11 SQHQ Nha Trang với Hạm Trưởng Vũ Hữu San.

Tại cầu tầu của bán đảo Tiên Sa, Đà Nẵng, lúc đó HQ-4 đang nhận dầu, nước ngọt cũng như thực phẩm, được lệnh hoàn tất việc tiếp tế và lên đường càng sớm càng tốt vì tình hình tại Hoàng Sa mỗi lúc một căng thẳng thêm. Mọi nhân viên trên chiến hạm đều ráo riết chuẩn bị và làm việc không ngưng nghỉ để kịp thời lên đường. Vào khoảng nữa đêm 16 rạng ngày 17 tháng 1, KTH Trần Khánh Dư vận chuyển tách bến Đà Nẵng trực chỉ Hoàng Sa, chở theo một trung đội Biệt Hải thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải do Đại Úy Nguyễn Văn Tiến chỉ huy. Tới xế trưa ngày 17-1, khoảng 2 giờ chiều, chiến hạm ra tới vùng hành quân, hợp cùng với HQ-16 tuần tiễu tại Hoàng Sa. Trong thời gian này, Trung Tá San được Phó Đề Đốc TL/HQ/V1ZH chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng cuộc Hành Quân Bảo Vệ Quần Đảo Hoàng Sa, chịu trách nhiệm điều động cả hai chiến hạm.

Khi vừa nhập vùng, Hạm Trưởng HQ-4 đã có những hành động tức thời để uy hiếp lực lượng Trung Cộng. HQ-16 được lệnh vận chuyển từ phía B¡c (đảo Hoàng Sa) xuống, trong khi HQ-4 từ hướng Nam (đảo Vĩnh Lạc) tiến lên tạo thành thế gọng kìm xiết chặt hai chiếc tầu Trung Cộng vào giữa. Thấy lực lượng VNCH được tăng cường và nhất là có phản ứng mạnh hơn so với ngày hôm trươc, hai chiếc tầu Trung Cộng lảng xa khỏi đảo Cam Tuyền nhưng vẫn bám chặt vùng. Đôi bên lại dùng loa phóng thanh để trao đổi yêu sách, bên này đòi bên kia phải rời khỏi hải phận của mình. Thấy dằng co hồi lâu không đạt được kết quả mong muốn, Trung Tá San ra lệnh cho HQ – 4 húc nhẹ mũi tầu của mình vào một tầu Trung Cộng như muốn đẩy xa ra ngoài khơi để cảnh cáo. Vì mũi tầu HQ-4 cao lớn nên đã làm đài chỉ huy của tầu Trung Cộng thấp hơn bị bể một lỗ lớn. Trước hành động quyết liệt đó, hai chiếc tầu Trung Cộng đành phải nhượng bộ, rời vùng chạy về phía hai đảo Duy Mộng và Quang Hòa ở hướng Đông Nam.

Sau khi đuổi được hai tầu Trung Cộng đi chỗ khác, TDH Lý Thường Kiệt lập tức đổ bộ một toán nhân viên cơ hữu gồm 15 người lên đảo Vĩnh Lạc để dẹp cờ Trung Cộng và c¡m cờ VNCH. Toán nhân viên này đa số được lựa trong ngành trọng pháo quen tác chiến, mang theo súng ống, đạn được và lương khô đủ dùng trong vòng ba ngày. Trưởng toán đổ bộ là Trung Úy Lâm Trí Liêm xuất thân khóa 10 OCS được đào tạo tại Trường Hải Quân tại Rhodes Island, Hoa Kỳ. Trung uý Liêm trước đây đã từng phục vụ tại các giang đoàn chiến đấu trong các sông rạch miền Nam nên tương đối có nhiều kinh nghiệm tác chiến trên bộ.

Toán đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc không gặp sức kháng cự nào, chỉ tìm thấy mấy ngôi mộ mới và vài lá cờ Trung Cộng. Tất cả những dấu tích ngụy tạo này đều bị binh sĩ VNCH phá hủy. Tiếp đó, theo đúng lệnh hành quân, HQ-4 đổ bộ 13 nhân viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền. Tại đây, Trung Cộng có 3 tầu neo gần đảo và mấy chiếc xuồng nhỏ để liên lạc với những người trên đảo. Khi thấy lực lượng VNCH đổ quân, những chiếc tầu Trung Cộng lặng lẽ thu quân rút lui không chống trả. Toán đổ bộ lục soát tìm thấy một lá cờ Trung Cộng mới c¡m vài ngày trước. Các dấu tích cũ của VNCH vẫn còn trên đảo gồm một tấm bia ghi ngày 5-12-1963 của Thủy Quân Lục Chiến, 2 bể chứa nước mưa bằng xi măng và một ngôi miếu nhỏ có hàng chữ đề ngày 31-11-1963.

Khoảng 6 giờ chiều ngày 17-1, hai chiến hạm của Hải Quân Trung Cộng loại Kronstadt trang bị hải pháo 100 ly và 37 ly mang số 271 và 274 xuất hiện. Có lẽ những chiến hạm này xuất phát từ căn cứ hải quân Yulin ở phía Nam đảo Hải Nam đến tăng cường theo lời cầu cứu của mấy chiếc tầu chở quân. Hai chiếc Kronstadt từ phía đảo Quang Hòa xả hết tốc độ hướng về các HQ-4 và HQ-16 với thái độ khiêu khích thách thức. Tuy nhiên các chiến hạm VNCH vẫn bình tĩnh và ôn hòa dùng đèn hiệu yêu cầu tầu Trung Cộng hãy rời khỏi hải phận Việt Nam. Phía Trung Cộng cũng dùng quang hiệu trả lời, yêu cầu các chiến hạm VNCH rời khỏi hải phận của họ. Đôi bên trao đổi tín hiệu chừng một tiếng đồng hồ không có kết quả, nhưng trước thái độ cương quyết của phía VNCH, hai chiếc Kronstadt đành nhập đoàn với những tầu Trung Cộng khác lui về bố trí tại hai đảo Quang Hòa và Duy Mộng. Dường họ có ý định củng cố lực lượng và bảo vệ toán quân đã được đổ bộ lên đảo.

Trước đó, thấy tình hình càng thêm căng thẳng vì Trung Cộng có ý đồ nhất quyết chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa bằng võ lực, BTL/HQ/V1DH tại Đà Nẵng đã ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 (số 50.356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74).

Nội dung được tóm tắt như sau:

a. Nhiệm vụ: Chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, , Duy Mộng và Vĩnh Lạc.

b. Thi hành: HQ-16 chiếm đảo Vĩnh Lạc bằng nhân viên cơ hữu. HQ-4 nhận 32 nhân viên Biệt Hải tại Đà Nẵng có nhiệm vụ đổ bộ chiếm đảo Cam Tuyền, Duy Mộng và Quang Hòa. HQ-5 chở toán Hải Kích từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa để phối hợp và tăng cường cho toán Biệt Hải. Các đảo sau khi chiếm được sẽ giao cho Trung Đội Địa Phương Quân trấn giữ. Toán đổ bộ phải cố g¡ng dùng biện pháp ôn hòa nhưng cứng r¡n để yêu cầu người và tàu bè xâm nhập bất hợp pháp ra khỏi lãnh hải VNCH.

c. Chỉ huy: TL/HQ/V1ZH chỉ huy tổng quát. HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc là Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển. (Ghi chú của người viết: trong suốt cuộc hành quân, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải (TL/HQ/V1ZH) là Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ở tại bản doanh Đà Nẵng, còn Đại Tá Ngạc mãi tới ngày 18-1 mới ra tới vùng hành quân nên trước đó Trung Tá San được chỉ định làm SQ chỉ huy công tác trên mặt biển như trên đã nói).

3. Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 ra Hoàng Sa

Được tin Hải Quân Trung Cộng gửi thêm nhiều chiến hạm từ căn cứ Yulin thuộc đảo Hải Nam đến Hoàng Sa, Hải Quân VNCH cũng tăng cường thêm chiến hạm. Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 được lệnh tiếp tế khẩn cấp tại Đà Nẵng và rời quân cảng trong thời gian sớm nhất, còn Hộ Tống Hạm Nhật Tảo đang trên đường ra Đà Nẵng tiếp ứng.

Hạm Trưởng HQ-5 là HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, cùng khóa 11 SQ/HQ Nha Trang với Hạm Trưởng HQ-4. Trung Tá Quỳnh là người rất mực thước, đứng đ¡n, ngay từ khi còn thụ huấn tại quân trường đã tỏ ra có nhiều đức tính tốt cần thiết để trở thành một vị Hạm Trưởng thành công. Trung Tá Quỳnh vừa nhận lãnh quyền chỉ huy Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng tại Vũng Tàu khi được lệnh từ BTL Hạm Đội trực chỉ Vùng I ngay vì nhu cầu hành quân. Chiến hạm ra tới Đà Nẵng và cập cầu Tiên Sa tại bán đảo Sơn Chà vào ngày 17-1. Lúc đó, tại Hoàng Sa tình tình đã rất khẩn trương vì HQ-16 và HQ-4 đang phải đương đầu với một lực lượng thủy bộ khá mạnh của Trung Cộng.

Về chiếc Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, Hạm Trưởng là HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, xuất thân khóa 12 SQHQ Nha Trang. Thiếu Tá Thà là một vị Hạm Trưởng trẻ tuổi có nhiều kinh nghiệm hành quân trong sông, xứng đáng là một cấp chỉ huy trong Hải Quân. Hạm Phó của HQ-10 là HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí, xuất thân khóa 17 SQHQ Nha Trang. HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, được TL/HQ/V1DH chỉ định làm Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển, đặt Bộ Chỉ Huy trên HQ-5. Là một sĩ quan nhiều kinh nghiệm hải hành và với chức vụ đương nhiệm Chỉ Huy Trưởng Hải Đội 3 Tuần Dương gồm nhiều chiến hạm chủ lực. Lúc bấy giờ, có lẽ Đại Tá Ngạc là người hợp lý và xứng đánh nhất để được tuyển chọn làm Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (OTC). Ngày 18-1, hồi 11 giờ 30 đêm, từ soái hạm HQ-5, ông gửi đi một công điện hành quân “Thượng Khẩn” tới các chiến hạm HQ-4, HQ-16 và HQ-10 thuộc quyền.

Nội dung được tóm t¡t như sau:

Nhiệm vụ: Hành quân thủy bộ cấp tốc chiếm đảo Quang Hòa.

Thi hành: Hoàn tất nhiệm vụ bằng đường lối ôn hòa. Nếu địch khai hỏa kháng cự, tập trung hỏa lực tiêu diệt địch.

Kế hoạch: Hai chiến hạm HQ-16 và HQ-10 có nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng đổ bộ bằng cách bám sát hai chiến hạm Kronstadt mang số 271 và 274 của Trung Cộng. Nếu địch khai hỏa, HQ-16 và HQ-10 phải lập tức dùng hỏa lực cơ hữu để tiêu diệt. HQ-4 có nhiệm vụ đổ bộ toán Biệt Hải vào mặt Tây đảo Quang Hòa và yểm trợ hải pháo cho lực lượng đổ bộ. Chiến hạm cũng được lệnh canh chừng và sẵn sàng tiêu diệt các tầu đánh cá võ trang và tầu nhỏ của địch.

Ngày N là ngày 19/1/74; giờ H là 6 giờ sáng (0600H).

Qui luật khai hỏa: được căn cứ trên hai trường hợp căn bản sau đây:

Nếu địch khai hỏa trước: Ta phản ứng bằng hỏa lực cơ hữu để tiêu diệt lực lượng địch càng nhiều càng tốt. Ưu tiên hỏa lực nh¡m vào các đơn vị quan trọng như Kronstadt hoặc loại chiến hạm lớn hơn nếu có.

Nếu địch tỏ vẻ ôn hòa: Ta dè dặt và cảnh giác tối đa với sự ôn hòa tương ứng, đồng thời tiếp tục thi hành nhiệm vụ chiếm đảo Quang Hòa bằng cách thương lượng quyết liệt để địch rút lui. Sau đó sẽ trương quốc kỳ Việt Nam và tổ chức phòng thủ trên đảo.

Nếu địch không khai hỏa trước nhưng không chịu rút lui: Đối với lực lương hải quân địch, áp dụng qui luật quốc tế để yêu cầu rời khỏi lãnh hải. Nếu địch ngoan cố, áp dụng những huấn thị căn bản về việc ngăn chận các chiến hạm và chiến thuyền xâm nhập hải phận. Đối với lực lượng địch trên đảo, phản ứng thích nghi tùy thuộc vào kết quả của việc thương lượng.

Với Chỉ Huy Trưởng Hải Đội có mặt trên chiến hạm, HQ-5 ráo riết chuẩn bị cho cuộc hành quân thủy bộ tái chiếm Hoàng Sa. Sau đây là các hoạt động chính của Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, một thành phần của Phân Đoàn Đặc Nhiệm 213.7.1. Những hoạt động này được căn cứ vào phúc trình số 001/HQ.5/PT/K ngày 21 tháng 2 năm 1974 của TDH Trần Bình Trọng:

Ngày 17 tháng 1, HQ-16 tới Đà Nẵng nhận tiếp tế dầu nước và đón Đại Đội Hải Kích gồm có 49 người do Hải Quân Đại Úy Nguyễn Minh Cảnh (khóa 20 SQHQ Nha Trang) chỉ huy. Nửa đêm 17 rạng ngày 18-1, hồi 180012H (sau nửa đêm 12 phút), HQ-16 khởi hành từ Đà Nẵng đi Hoàng Sa. Hồi 3 giờ 15 sáng (180315H), chiến hạm tới điểm hẹn vớI HQ-10 tại vị trí cách hải đăng Tiên Sa 9 hải lý về hướng Đông (ngoài khơi cửa biển Đà Nẵng). Theo báo cáo, tình trạng kỹ thuật của HQ-10 không được khả quan: chỉ còn một máy chánh, máy kia bị hư hỏng chưa kịp sửa chữa nên vận tốc bị giảm trên 50%, radar hải hành cũng bị hư không xử dụng được. Sau khi gặp nhau, hai chiến hạm đổi đường hướng về Hoang Sa, đi hình hàng dọc theo thứ tự HQ-10, HQ-5. Sau khi hải hành được chừng 15 phút, hồi 0327H, vì HQ-5 cần tới Hoàng Sa đúng giờ hẹn như đã dự trù, nhưng vận tốc của HQ-10 quá chậm nên Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (OTC) ra lệnh cho HQ-5 tăng máy, tách khỏi đi hình trực chỉ đảo Cam Tuyền. Theo lời thuật lại của Hạm Trưởng HQ-5, tuy bỏ lại HQ-10 phía sau, nhưng HQ-5 vẫn dùng radar để hướng dẫn tầu bạn trên đường tới Hoàng Sa.

Hồi 3 giờ chiều (1500H) ngày 18-1, HQ-5 tới Hoàng Sa. Lúc đó, lực lượng hải quân đôi bên như sau: ta có 3 chiến hạm là HQ-4, HQ-5 và HQ-16; phía Trung Cộng có hai tầu Kronstadt mang số 271 và 272, hai tầu chở quân võ trang mang số 402 (tên Nam Ngư) và 407, một tầu vận tải và môt ghe buồm. Hai chiến hạm Kronstdat chủ lực của địch di chuyển quanh các đảo Quang Hòa và Duy Mộng để bảo vệ lực lượng bộ binh đã chiếm đóng đảo. Các chiến hạm ta vào nhiệm sở tác chiến toàn diện vào lúc 3 giờ 15 chiều.

Sau khi HQ-5 tới Hoàng Sa, các chiến hạm ta lập tức vận chuyển theo đi hình tác chiến để quan sát và thăm dò phản ứng địch. Hồi 4 giờ chiều, khởi đi từ vị trí nằm về hướng Đông Đông Nam và cách đảo Cam Tuyền chừng 3 hải lý, ba chiến hạm vào đi hình hàng dọc theo thứ tự HQ-16, HQ-5 và HQ-4, trực chỉ phía Tây đảo Quang Hòa là nơi các chiến hạm Trung Cộng đang tập trung. Tới 4 giờ 16 chiều, thấy các chiến hạm VNCH tới gần, lực lượng Trung Cộng cũng phản ứng. Hai chiến hạm Kronstadt vận chuyển về hướng Tây Nam đảo để nghênh cản và chận đường. Hai toán chiến hạm càng tiến gần nhau, tình hình càng căng thẳng. Đôi bên đều vào nhiệm sở tác chiến nhưng các hải pháo vẫn còn ở vị thế nằm ngang, chưa nh¡m thẳng vào nhau. Vì chỉ muốn tham dò phản ứng địch, trước tình trạng gay cấn đó, các chiến hạm VNCH tạm bỏ ý định tiến đến gần đảo Quang Hòa và ngưng máy thả trôi tại vùng giữa đảo Cam Tuyền và Quang Hòa. Lực lượng Trung Cộng cũng không giám gây hấn, trở lại quanh quẩn tại chỗ cũ.

Hồi 5 giờ 15 chiều, theo lệnh của Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật, HQ-5 thả xuồng đưa một số hải kích qua HQ-16 và nhận lại toán thám sát Hoàng Sa thuộc Quân Đoàn I gồm 1 Thiếu Tá, 2 Trung Úy Công Binh, 2 binh sĩ Công Binh, 1 Đại Úy Hải Quân thuộc BTL/V1ZH, 1 nhân viên thuộc Đài Khí Tượng Hoàng Sa và một người Mỹ. Sau đó, chiến hạm tiếp tục tuần tiễu trong vùng trách nhiệm thuộc phía Đông Đông Nam của đảo Cam Tuyền. Khi lên HQ-5, thấy tình hình giữa các chiến hạm Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị đổ bộ tác chiến và tình hình quá căng thẳng, nhân viên dân sự Hoa Kỳ trong nhóm thám sát yêu cầu được rời chiến hạm, trở về đảo Hoàng Sa. Vì vậy, vào lúc 9 giờ tối, SQ/CHCT ra lệnh cho HQ-5 tới gần đảo Hoàng Sa rồi thả xuồng đưa 7 người trong nhóm thám sát lên đảo. Riêng HQ/Đại Úy Trần Kim Diệp thuộc BTL/V1DH ở lại chiến hạm. Có lẽ nhân viên Hoa Kỳ trong nhóm thám sát đã được nguồn tin riêng thông báo sẽ có đụng độ giữa hai lực lượng nên không muốn hiện diện trên chiến hạm Việt Nam, có thể gây r¡c rối về mặt ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Trong đêm 18 rạng ngày 19-1, các chiến hạm HQVNCH thả trôi và tuần tiểu trong vùng biển phía Tây Hoàng Sa, bên ngoài các đảo của nhóm Nguyệt Thiềm để tránh những khu vực đá ngầm nguy hiểm và cũng để tránh sự quan sát của lực lượng Trung Cộng. Lúc này, HQ-10 cũng đã tới khu vực hành quân. Như vậy, lực lượng HQVNCH đã có 4 chiến hạm trong vùng Hoàng Sa.

Sáng sớm ngày 19-1, vào lúc 3 giờ 50 sáng, SQ/CHCT ra lệnh cho các chiến hạm VNCH chia làm cánh cùng di chuyển từ vùng biển bên ngoài vòng sâu về phía Nam đảo Vĩnh Lạc, hướng tới đảo Quang Hòa. Phân đội 1 gồm HQ-5 và HQ-4 có nhiệm vụ đổ bộ toán Biệt Hải và Hải Kích để chiếm lại đảo, trong khi phân đội 2 gồm HQ-16 và HQ-10 lãnh nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cũng như ngăn chận các chiến hạm Trung Cộng. Vì trời còn tối nên đi hình các chiến hạm Việt Nam di chuyển rất thận trọng, dự trù sẽ tới mục tiêu lúc trời vừa rạng sáng.

Tới 5 giờ sáng, các chiếm hạm tới vị trí Tây B¡c, cách đảo Vĩnh Lạc chừng 3 hải lý. Nhiệm sở tác chiến toàn diện được ban hành lúc 5 giờ 25 sáng khi đội hình bằt đầu vào bên trong các hải đảo của nhóm Nguyệt Thiềm.

Lúc 6 giờ sáng, các chiến hạm tới vị trí Đông Nam, cách đảo Vĩnh Lạc chừng 5 hải lý. Lúc này, trời đã rạng sáng. Lúc 6 giờ 40 sáng, hai phân đội đã vào vị trí được ấn định trước như sau: Phân đội 1 (Nam) gồm 2 chiến hạm HQ-5 và HQ-4 ở phía Nam đảo Quang Hòa. Phân đội 2 (B¡c) gồm 2 chiến hạm HQ-16 và HQ-10 ở phía Tây Tây B¡c đảo Quang Hòa.

Lực lượng Trung Cộng lúc này đang tập trung tại phía Đông đảo Quang Hòa và đã được tăng cường thêm 2 trục lôi hạm (tầu vớt mìn) loại T.43 mang số 389 và 396 trong đêm. Trên đảo, địch đã dựng 5 dãy nhà tiền chế sơn màu xanh đậm để trú quân và các công sự phòng thủ đã được bố trí chu đáo để đề phòng các cuộc đổ bộ. Ngoài ra, sát bờ đảo còn có một số ghe nhỏ dùng để tiếp tế.

IV. Lực lượng đôi bên

Tính cho tới ngày 19 tháng 1 là lúc xảy ra trận hải chiến, lực lượng hải quân đôi bên tại Hoàng Sa được ghi nhận như sau. Lực lượng tham chiến Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa gồm 4 chiến hạm: Soái hạm Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4. Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10

Sau đây là đặc tính của mỗi chiến hạm

Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là tầu thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ (USCG – US Coast Guard) mang tên Castle Rock (WHEC 383). Đóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu bang Washington. Hạ thủy ngày 11/5/1944 và b¡t đầu hoạt động kể từ ngày 8/10/1944. Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 21-12-1971. Trọng tải: 1766 tấn tiêu chuẩn, 2800 tấn tối đa. Kích thước: dài 310.75 ft, chiều ngang 41.1 ft, tầm nước 13.5 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6080 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa

: chừng 18 knots. Vũ khí: 1 khẩu 127 ly (5 inch) phía trước mũi, 1 đại bác 40 ly đôi cũng ở sân trước nhưng ở sân thượng phía trên khẩu 127 ly, 2 khẩu 40 ly bên tả và hữu hạm tại sân sau và 2 khẩu đại bác 20 ly đôi ở hai bên hông đài chỉ huy. Thủy thủ đoàn: chừng 200 người. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 —>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ, trước đây mang tên Chicoteague (WHEC 375). Đóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu bang Washington. Hạ thủy ngày 15/4/1942 và b¡t đầu hoạt động kể từ ngày 12/4/1943. Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 21/6/1972. Đặc tính: Tương tự như HQ-5 (xem phần trên). Tuần Dương Hạm là loại chiến hạm lớn nhất của HQVN và có súng cỡ 127 ly cũng lớn nhất. Các loại vũ khí chống tầu ngầm đã bị c¡t bỏ khi chuyển giao cho HQVN.

Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 —>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là USS Foster DER 334 của Hải Quân Hoa Kỳ. Đóng tại thủy xưởng Consolidated Steel Corporation, Orange tiểu bang Texas. Hạ thủy ngày 13/11/1943 và b¡t đầu hoạt động kể từ ngày 25/1/1944. Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 25/9/ 1971. Trọng tải: 1590 tấn tiêu chuẩn, 1850 tấn tối đa. Kích thước: dài 306 ft, ngang 36.6 ft, tầm nước 14 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6,000 mã lực. Vận tốc tối: đa 21 knots. Vũ khí: 2 đại bác 76 ly, một tại sân trước có pháo tháp và một tại sân sau lộ thiên cùng một số đại bác 20 ly. Thủy thủ đoàn: chừng 170 người.

HQ-4 nguyên là một Khu Trục Hạm thuần túy có nhiệm vụ yểm trợ phòng không và chống tầu ngầm, nhưng sau thế chiến thứ hai đã được hoàn toàn tân trang và g¡n loại radar TACAN (Tactical Aircraft Navigation) để trở thành loại chiến hạm chuyên dùng radar để phát hiện hỏa tiễn địch (radar picket). Chiến hạm này đã từng tham dự chiến dịch Market Times ngoài khơi Việt Nam để ngăn chận sự xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển.

Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10 —>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là USS Serene (MSF 300). Đây là loại tầu chuyên được dùng để rà mìn ngoài đại dương (MSF – Mine Sweeper Fleet). Đóng tại thủy xưởng Winslow Marine & SB Co., Winslow, tiểu bang Washington. Được chuyển giao cho HQVN vào tháng 1/1964 cùng với Hộ Tống Hạm Chí Linh. Trọng tải: 650 tấn tiêu chuẩn, 945 tấn tối đa. Kích thước: Dài 184.5 ft, ngang 33 ft, tầm nước 9.75 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn Cooper Bessemer 1710 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 14 knots. Vũ khí: 1 đại bác 76 ly l thiên ở sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn bên tả và hữu hạm ở sân giữa, 4 đại bác 20 ly đôi ở hai bên đài chỉ huy và ở sân sau. Thủy thủ đoàn: Chừng 80 người.

Khi được chuyển giao cho HQVN, chiến hạm được biến cải từ tầu vớt mìn thành tầu hộ tống. Các dụng cụ rà mìn được c¡t bỏ. Các vũ khí chống tầu ngầm được thêm vào gồm 2 giàn thả thủy lựu đạn (depth charge) ở sân sau và một giàn phóng thủy lựu đạn loại Hedgehog ở sân trước.

b. Hải Quân Trung Cộng

Tổng Cộng gồm 11 chiếc tầu đủ loại, trong số này có 2 Hộ Tống Hạm (Submarine Chaser) loại Kronstadt mang số 271 & 274 và 2 chiếc Trục Lôi Hạm (tầu rà mìn) loại T.43 mang số 389 & 396 trực tiếp tham chiến là có hỏa lực đáng kể. Những chiếc khác là tầu chở quân hay ngư thuyền võ trang. Ngoài ra, lực lượng tiếp viện của Trung Cộng còn có các Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Komar và có thể cả loại Osa và Khu Trục hạm loại Kiangnan.

Sau đây là đặc tính của các chiến hạm Trung Cộng

Hộ Tống Hạm Kronstadt—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Sáu chiếc Kronstadts đầu tiên trong HQ Trung Cộng do Nga chế tạo vào khoảng năm 1950-53 và chuyển giao vào năm 1956-1957. Sau này Trung Cộng tự đóng thêm 12 chiếc nữa tại các xưởng đóng tầu Thượng Hải và Quảng Đông, chiếc sau cùng hoàn tất vào năm 1957. Đặc tính của loại Kronstadt là mình hẹp, lườn thấp và có vận tốc cao để săn đuổi tầu ngầm. Trước năm 1974, lại tầu Kronstadt mang chiến số từ 600 trở lên, sau này được đổi lại với chiến số loại 200 sơn ngoài vỏ tầu. Trọng tải: 310 tấn tiêu chuẩn, 380 tấn tối đa. Kích thước: dài 170 ft, ngang 21.5 ft, tầm nước 9 ft (52 m x 6.5 x 2.7) Máy chánh: 2 máy dầu cặn 3,300 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 24 knots. Vũ khí: 1 đại bác 100 ly (3.5 inch) ở sân trưóc và 2 đại bác 37 ly ở sân sau, 2 giàn thủy lựu đạn và 2 giàn thả mìn. Thủy thủ đoàn: chừng 65 người.

Trục Lôi Hạm T.43—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Hai chiếc đầu tiên do Nga chế tạo và chuyển giao vào khoảng năm 1954-55. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm 18 chiếc nữa. Trọng tải: 500 tấn tiêu chuẩn, 610 tấn tối đa. Kích thước: dài 190.2 ft, ngang 28.2 ft, tầm nước 6.9 ft (58 m x 6.1 x 2.6) Máy chánh: 2 máy dầu cặn 2,000 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 17 knots. Thủy thủ đoàn: chừng 40 người.

Lực lượng trừ bị ứng chiến của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa

Gồm 2 chiến hạm: Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ-6. Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ-11. Những chiến hạm này vì được điều động từ xa tới nên không thể có mặt tại Hoàng Sa trước ngày 19 tháng 1. Về Không Quân, tuy có tin các phi đoàn phản lực cơ F-5 và A-37 được lệnh túc trực tại phi trường Đà Nẵng nhưng thật ra những phi cơ này có tầm hoạt động rất ng¡n không thể ra tới Hoàng Sa. Cũng có nguồn tin không chính thức cho biết đã có ý định xử dụng các Dương Vận Hạm (LST – Landing Ship Tank) như mẫu hạm tạm thời để chở các trực thăng võ trang ra Hoàng Sa nhưng kế hoạch này không được thực hiện. Tóm lại, các chiến hạm HQ/VNCH không có phi cơ trợ chiến.

Lực lượng trừ bị ứng chiến của Hải Quân Trung Cộng

Gồm nhiều chiến hạm đủ loại và phi cơ Mig đủ loại: 4 Phi Tiễn Đĩnh loại Komar. Nhiều Khu Trục Hạm mang hỏa tiễn loại Kianjiang. Một hay nhiều tiềm thủy đĩnh. Các phi cơ Mig.

Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Komar—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Chiếc Komar đầu tiên do Nga chuyển giao vào năm 1965, 2 chiếc khác vào năm 1967 và 7 chiếc nữa trong khoảng năm 1968-71. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm chừng 10 chiếc khác và đặt tên là “Hoku”. Loại chiến hạm này tuy nhỏ nhưng rất nguy hiểm vì có vận tốc nhanh, dễ vận chuyển nên là một mục tiêu rất khó bằn trúng. Ngoài ra, loại hỏa tiễn Styx có thể b¡n trúng mục tiêu cách xa vài chục cây số. Chính một quả hỏa tiễn này do Ai Cập b¡n này đánh chìm Khu Trục Hạm Eilath, chiếc tầu lớn nhất của Hải Quân Do Thái trong trận chiến tranh năm 1967. Trọng tải: 70 tấn tiêu chuẩn, 80 tấn tối đa. Kích thước: dài 83.7 ft, ngang 19.8 ft, tầm nước 5 ft (25.5 m x 6 x 1.8) Hỏa tiễn: 2 giàn phóng hỏa tiễn loại Styx dùng để b¡n chiến hạm. Máy chánh: 2 máy dầu cặn 4,800 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 40 knots Vũ khí: 2 đại bác 25 ly (1 giàn đôi g¡n đàng trước mũi). Thủy thủ đoàn: chừng 10 người.

Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiển Osa—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Chiếc Osa đầu tiên do Nga chuyển giao vào tháng 1 năm 1965. Bốn chiếc khác chuyển giao vào năm 1966-67 và 2 chiếc nữa vào năm 1968. Trung Cộng cũng tự đóng lấy một số khác và đặt tên là “Hola”. Trọng tải: 165 tấn tiêu chuẩn, 200 tấn tối đa. Kích thước: Dài 128.7 ft, ngang 25.1 ft, tầm nước 5.9 ft (39.3 m x 7.7 x 1.8). Máy chánh: 3 máy dầu cặn, 13,000 mã lực. Vận tốc tối đa: 32 knots Vũ khí: 4 đại bác 30 ly (2 giàn đôi, 1 trước mũi và 1 sau lái). Thủy thủ đoàn: chừng 25 người.

V. tương quan lực lượng

Nếu chỉ so sánh về vũ khí, phía VNCH có phần trội hơn vì các Tuần Dương Hạm được trang bị hải pháo 127 ly, trong khi các Kronstadt của Trung Cộng chỉ được g¡n súng cỡ 100 ly, nhưng trong một trận hải chiến khi đôi bên gần nhau, cỡ súng lớn chưa ch¡c đã chiếm được lợi thế vì không tận dụng được tầm b¡n xa và nhịp b¡n lại chậm. Phần các chiến hạm Trung Cộng có vận tốc cao lại nhỏ nhẹ dễ vận chuyển nên chiếm được ưu thế trong lúc hải chiến. Hơn nữa, các chiến hạm VNCH không những vừa to, cao lại xoay trở tương đối chậm nên là mục tiêu rất dễ dàng cho địch thủ nh¡m b¡n. Chính Trung Tá San, Hạm Trưởng HQ-4 cho biết vì các chiến hạm Trung Cộng nằm rất thấp gần sát mặt nước nên rất khó b¡n trúng. Trong khi các khẩu hải pháo VNCH vì nằm trên cao nên phải rất khó khăn hạ cao độ xuống dưới đường chân trời mới có thể nh¡m trúng mục tiêu, các chiến hạm Trung Cộng vì thấp hơn nên dễ dàng nâng cao độ của những khẩu đại bác chừng 5-10 độ là đã có thể tác xạ hữu hiệu.

So sánh những sở trường và sở đoản của từng loại chiến hạm, trong trận hải chiến một chọi một tại Hoàng Sa, lực lượng đôi bên có vẻ tương đồng, việc hơn thua phần lớn sẽ do các cấp chỉ huy và tinh thần của thủy thủ đoàn quyết định. Tuy nhiên, kể về lực lượng trừ bị ứng chiến, phía Trung Cộng chiếm ưu thế tuyệt đối, nhất là về mặt không yểm. Có thể nói dù đánh chìm hết các tầu Trung Cộng trong ngày 19/1, các chiến hạm HQ/VNCH cũng không thể ở lại Hoàng Sa vì không thể đương đầu với lực lượng tăng viện của địch.

————————————————————————————

trở về (zurück)

Nguồn   http://rangdongsoc.multiply.com/journal/item/721

————————–

Đọc thêm ở đây http://caulongbachai.multiply.com/journal/item/6091/6091

Tường-Thuật Trận Hải-Chiến Lịch-Sử Hoàng-Sa

Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc

(Trích Nguyệt San Ðoàn Kết, Austin Texas)

Lời Tòa Soạn:
Chúng tôi vừa nhận được hung tin: Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Hải Ðội Trưởng Hải Ðội III Tuần Dương HQVNCH, người chỉ huy trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, đã đột ngột từ trần tại Dallas, Texas vào hồi 10 giờ 30 sáng Thứ Sáu ngày 12 tháng 2 năm 1999, hưởng thọ 64 tuổi.
Trong khoảng 10 năm vừa qua, chúng tôi liên lạc rất thường xuyên với Ðại Tá Ngạc để yêu cầu ông viết về trận hải chiến Hoàng Sa, nhưng vì nhiều lý do, ông vẫn do dự. Mãi tới cuối năm 1998, vào dịp Lễ Giáng Sinh, ông mới gửi tới Tòa Soạn Nguyệt San Ðoàn Kết bài “Tường Thuật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” do chính ông viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm trận đánh lịch sử này. Ngoài ra, ông cũng đã cho phép chúng tôi phỏng vấn và cung cấp nhiều hình ảnh hiếm có cùng những chi tiết qúi báu về vị trí của các chiến hạm tham chiến để Tòa Soạn có thể sửa lại các phóng đồ về trận hải chiến cho thêm chính xác.
Chúng tôi dự định xuất bản số đặc biệt về trận Hải Chiến Hoàng Sa nhân ngày Quân Lực 19 tháng 8 năm nay, nhưng chưa kịp thực hiện thì Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc đã vội vã giã từ các chiến hữu. Xin thành thật phân ưu cùng tang quyến.
Ðúng 25 năm trước, vào mùa Xuân Giáp Dần năm 1974 , Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc đã anh dũng chỉ huy các chiến hạm Hải Quân VNCH chận đánh quân xâm lăng Trung Cộng tại Hoàng Sa. Giờ đây, hương linh chiến hữu Hà Văn Ngạc vừa trở lại với Hoàng Sa để tiếp tục bảo vệ chủ quyền chính đáng của Tổ Quốc Việt Nam tại Biển Ðông.

Trân trọng.

Trần Ðỗ Cẩm
Chủ Nhiệm Nguyệt San Ðoàn Kết, Austin Texas

______________________________________

Ðôi lời trước khi viết

Ðã 25 năm kể từ ngày tôi tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa, tôi chưa từng trình bầy hay viết mô-tả lại về trận đánh này, ngay cả có nhiều lần tôi đã thất hứa với các bậc tiên-sinh yêu-cầu tôi thuật lại chi-tiết của cuộc đụng-độ. Dù thắng hay bại, chỉ có một điều duy-nhứt không thể chối cãi được là các chiến-hữu các cấp của Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa trong trận hải-chiến đã anh-dũng chiến-đấu bằng phương-tiện và kinh-nghiệm có trong tay để chống lại một kẻ xâm-lăng truyền-kiếp của dân-tộc hầu bảo-vệ lãnh-thổ của Tổ-quốc. Trước một thù-địch có sức mạnh gấp bội, dù cuộc-chiến có hạn-chế hay kéo dài hoặc mở rộng, phần cuối là chúng ta vẫn phải tạm lùi bước trước các cuộc cường-tập của đối-phương để tìm-kiếm một cơ-hội thuận-tiện khác hầu khôi-phục lại phần đất đã bị cưỡng-chiếm.
Hôm nay nhân ngày Tết Kỷ-Mão, tôi viết những giòng này để tưởng-niệm anh-linh các liệt-sĩ đã hy-sinh khi cùng tôi chiến-đấu chống kẻ xâm-lăng trên các mảnh đất xa vời của Quốc-Tổ, một số đã vĩnh-viễn nằm lại trong lòng biển Hoàng-Sa như để thêm một chứng-tích lịch-sử của chủ-quyền quốc-gia, một số khác đã bỏ mình trên biển cả khi tìm đường thoát khỏi sự tàn-bạo của người phương bắc.
Có nhiều chiến-hữu Hải-quân đã từng hăng-say viết lại một trang-sử oai-hùng của Hải-quân và toàn Quân-lực Việt-Nam của nền Ðệ-Nhị Cộng-Hòa, nhưng đã thiếu-xót nhiều chi-tiết chính-xác mà vào những năm trước 1975 chưa được phép phổ-biến, và cũng vì phải lưu-lạc khắp thế-giới tự-do nên các chiến-hữu đó đã không thể liên-lạc để tham-khảo cùng tôi.
Nhiều chi-tiết về giờ-giấc và về vị-trí bạn và địch, cũng như tên họ của các cấp có liên-hệ tới biến cố, vì không có tài-liệu truy-lục, nên chỉ có thể viết vào khoảng gần đúng nhất. Tôi chỉ tường-thuật trung-thực những chi-tiết theo khía-cạnh của một người chỉ-huy chiến-thuật được biết và cũng mong-mỏi các chiến-hữu nào còn có thể nhớ chắc-chắn các chi-tiết quan-trọng khác, tôi sẽ sẵn-sàng tiếp-nhận qua tòa-soạn này, để sửa lại tài-liệu này cho đúng.

Hà-Văn-Ngạc

“Tân xuân Giáp-Dần Hoàng-Sa-chiến
Nam-ngư hải-ngoại huyết lưu hồng”

Hai câu thơ với lối hành-văn vận theo sấm Trạng-Trình đã được truyền-khẩu rất nhanh khi Hải-đội Ðặc-nhiệm Hoàng-Sa trở về tới Ðà-nẵng vào sáng sớm ngày 20 tháng 4 năm 1974. Và câu thơ này do chính Hải-quân Ðại-Tá Nguyễn-Viết-Tân (thủ-khoa Khóa 5 của tôi) lúc đó đang giữ chức-vụ Chỉ-huy-trưởng Sở Phòng-Vệ Duyên-hải, đọc cho tôi nghe. Từ ngày đó tới nay đã đúng 25 năm, và do sự khuyến-khích của các bậc thượng-trưởng của Hải-quân Việt-Nam, những chi-tiết về diễn-tiến chưa tùng tiết-lộ của trận hải-chiến cần được ghi lại để làm chứng-liệu lịch-sử.
Sau trận hải-chiến, những ưu và khuyết điểm về chiến-thuật và chiến-lược của Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa đến nay nếu nêu ra thì sẽ không còn một giá-trị thực-tiễn nào để có thể làm những bài học cho những biến-cố kế-tiếp. Vì vậy một vài điều nếu có nêu ra tại đây thì chỉ để ghi lại tình-trạng và khả-năng khi Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa khi đã phải đương đầu với Trung-cộng, là một quốc-gia vào thời-điểm đó, đã sẵn có một lực-lượng hùng-hậu về hải-lục-không-quân gấp bội của Việt-Nam Cộng-Hòa.
Một điểm hãnh-diện cho Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa lúc bấy giờ là đã không những phải sát-cánh với lực-lượng bạn chống lại kẻ nội-thù là cộng-sản miền bắc trong nội-địa, lại vừa phải bảo-vệ những hải-đảo xa-xôi, mà lại còn phải chiến-đấu chống kẻ xâm-lăng, đã từng biết bao lần dầy xéo đất nước trong suốt lịch-sử lập-quốc và dành quyền độc-lập của xứ sở.
So-sánh với các cuộc hành-quân ngoại-biên vào các năm 1970-71 của Quân-lực VNCH sang đất Kampuchia va Hạ-Lào, thì quân-lực ta chỉ chiến đẵu ngang ngửa vơi cộng-sản Việt-Nam ẩn náu trên đất nước láng-giềng mà thôi. Phải thành-khẩn mà nhận rằng Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa ngoài nội-thù còn phải chống ngoại-xâm mà đã rất khó tiên-liệu để chuẩn-bị một cuộc chiến chống lại một lực-lượng hải-quân Trung-cộng tương-đối dồi-đào hơn cả chúng ta về phẩm cũng như lượng. Hải-quân Việt-Nam ta đã có những gánh nặng về hành-quân để yểm-trợ lực-lượng bạn và hành-quân ngăn-chận các vụ chuyển-quân lén-lút của Việt-cộng qua biên-giới Miên-Việt trong vùng sông ngòi cũng như các vụ tiếp-tế quân-dụng của chúng vào vùng duyên-hải.
Trước khi đi vào chi-tiết của trận hải-chiến lịch-sử này, chúng ta thử nhắc sơ-lược lại cấu-trúc nhân-su của thượng-tầng chỉ-huy và của các đơn-vị tham-chiến của Hải-quân vào lúc biến-cố:
– Tư-lệnh Hải-quân: Ðề-Ðốc Trần-văn-Chơn
– Tư-lệnh-phó Hải-quân: Phó Ðề-Ðốc Lâm-ngươn-Tánh
– Tham-mưu-Trưởng Hải-quân: Phó Ðề-Ðốc Diệp-quang-Thủy
– Tư-lệnh Hạm-đội: HQ Ðại-tá Nguyễn-xuân-Sơn
– Tư-lệnh HQ Vùng 1 Duyên-hải: Phó Ðề-Ðốc Hồ-văn Kỳ-Thoại
– Chỉ-huy-trưởng Hải-đội tuần-dương: HQ Ðại-tá Hà-văn-Ngạc, (Hải-đội 3) và là Sĩ-quan chỉ-huy chiến-thuật trận hải-chiến.
– Hạm-trưởng Khu-trục-hạm HQ4: HQ Trung-Tá Vũ-hữu-San
– Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ5: HQ Trung-Tá Phạm -trọng- Quỳnh
– Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ16: HQ Trung-Tá Lê-văn-Thự
– Hạm-trưởng Hộ-tống-hạm HQ10: HQ Thiếu-Tá Ngụy-văn-Thà (truy-thăng HQ Trung-Tá)
– Trưởng toán Hải-kích đổ-bộ: HQ Ðại-Úy Nguyễn-minh-Cảnh.

Lý-do tôi đã có mặt tại Hoàng-Sa
Rất nhiều chiến-hữu trong Hải-quân đã không rõ nguyên-cớ nào mà tôi đã có mặt để đích-thân chỉ-huy tại chỗ trận hải-chiến Hoàng-Sa. Sự có mặt của tôi bắt nguồn từ khi tôi được Hội-đồng Ðô-đốc chỉ-định tôi tăng-phái cho Vùng I duyên-hải khoảng từ cuối năm 72 đầu 1973. Lý do tăng-phái của tôi đến Vùng I duyên-hải tôi không được biết trước cho đến khi tôi tới Quân-Khu 1, tôi mới được biết nhiệm-vụ chính của tôi là chuẩn-bị một trận thư-hùng giữa Hải-quân VNCH và hải-quân Bắc-Việt mà lúc đó, tin tình-báo xác-nhận là cộng-sản đã được viện-trợ các cao-tốc-đĩnh loại Komar của Nga-sô trang-bị hỏa-tiễn hải-hải (surface to surface). Vào thời-gian đó Hải-quân VNCH chỉ có khả-năng chống-đỡ thụ-động loại vũ-khí này. Cuộc hải-chiến tiên-liệu có thể xẩy ra khi lực-lượng hải-quân cộng-sản tràn xuống để hỗ-trợ cho quân-bộ của chúng khi chúng muốn tái-diễn cuộc cường-tập xuất-phát từ phía bắc sông Bến-Hải như vào ngày cuối tháng 3 năm 1972 để khởi phát các cuộc tấn-công suốt mùa hè đỏ lửa 1972.
Tôi lưu lại Vùng I duyên-hải chừng hai tuần lễ hầu nghiên-cứu để thiết-kế. Kế-hoạch chính của cuộc hải-chiến này là xử-dụng nhiều chiến-hạm và chiến-đỉnh (WPB và PCF) để giảm bớt sự thiệt-hại bằng cách trải nhiều mục-tiêu trên mặt biển cùng một lúc. Song-song với việc này là các chiến-hạm và chiến-đĩnh phải xử-dụng đạn chiếu-sáng và hỏa-pháo cầm-tay như là một cách chống hỏa-tiễn thụ-động. Ngoài ra Hải-quân cũng cần đặt ra sự yểm-trợ của pháo-binh của Quân-đoàn I để tác-xạ ngăn-chặn và tiêu-diệt lực-lượng hải-quân cộng-sản tại phía bắc Cửa Việt trước khi họ tràn xuống phía nam để đủ tầm phóng hỏa-tiễn.
Sau khi đã thuyết-trình tại Bộ-Tư-Lệnh Hải-quân Vùng I duyên-hải cùng các Chỉ-huy-trưởng các đơn-vị duyên-phòng và duyên-đoàn, Tư-lệnh HQ Vùng I duyên-hải chấp-thuận kế-hoạch và đưa kế-hoạch lên thuyết-trình tai Bộ-Tư-Lệnh Quân-đoàn I và Quân-Khu I. Buổi thuyết-trình tại BTL/Quân-đoàn I do đích-thân Trung-Tướng Ngô-quang-Trưởng chủ-tọa, ngoài Tư-lệnh HQ Vùng I duyên-hải còn có Ðại-Tá Hà-mai-Việt Trưởng Phòng 3 Quân-đoàn, Ðại-tá Khiêu-hữu-Diêu, Ðại-Tá Nguyễn-văn-Chung Chỉ-huy-trưởng pháo-binh Quân-đoàn và một số rất ít các sĩ-quan phụ-tá. Nhu-cầu yểm-trợ pháo-binh cho cuộc hải-chiến được chấp-thuận ngay và Chỉ-huy-trưởng pháo-binh quân-đoàn hứa sẽ phối-trí pháo-binh, đặc-biệt là pháo-binh 175 ly để thỏa-mãn kế-hoạch của Hải-quân, khi được yêu-cầu.
Kể từ khi được chỉ-định tăng-phái, tôi thường có mặt tai Vùng I duyên-hải mỗi tháng chừng hai tuần tùy theo công-việc của tôi tại Hải-đội, nhưng chưa lần nào Bộ-Tư-lệnh HQ, Bộ-Tư-lệnh Hạm-đội hoặc Vùng I Duyên-hải chỉ-thị tôi phải có mặt trong vùng. Khi có mặt tại vùng tôi thường tìm-hiểu tình-hình tổng-quát tại Quân-Khu I cũng như đi hoặc tháp-tùng Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải thăm-viếng các đơn-vị lục-quân bạn cấp sư-đoàn, lữ-đoàn hay trung-đoàn.
Trở lại trận hải-chiến Hoàng-Sa, vào khoảng ngày 11 tháng giêng năm 1974, chỉ khoảng vài ngày sau khi Ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Kissinger rời Trung-cộng, thì đột-nhiên Ngoại-trưởng Trung-cộng lại một lần nữa tuyên-bố về chủ-quyền của họ trên các quần-đảo Hoàng và Trường-Sa. Tôi rất lưu-ý tin này vì tôi đã chỉ-huy công-cuộc đặt quân trú-phòng đầu tiên trên đảo Nam-Yết vùng Trường-Sa vào cuối mùa hè 1973. Vài ngày sau, vì Ngoại-trưởng VNCH Vương-văn-Bắc còn bận công-cán ngoại-quốc, thì phát-ngôn-viên Bộ Ngoại-giao VNCH bác-bỏ luận-cứ của Trung-cộng và tái xác-nhận một lần nữa chủ-quyền của VNCH trên các quần-đảo đó.
Ngày 16 tháng giêng năm 1974, tôi từ Sàigòn đi Vũng-Tầu để chủ-tọa lễ trao-quyền chỉ-huy Tuần-dương-hạm HQ5 Trần-bình-Trọng đang neo tại chỗ, cho tân-hạm-trưởng là Hải-quân Trung-tá Phạm-trong-Quỳnh (tôi không còn nhớ tên cựu hạm-trưởng). Khi trở về Sàigòn, lúc theo dõi bản tin-tức hàng ngày của đài truyền-hình thì thấy Ngoại-trưởng Vương-văn-Bắc hùng-hồn và nghiêm-trọng khi tuyên-bố chủ-quyền của VNCH trên 2 quần-đảo Hoàng và Trường-Sa. Tôi thấy có chuyện bất-ổn có thể xẩy ra tại Vùng I duyên-hải nhất là Việt-cộng có lẽ được Trung-cộng hỗ-trợ tạo ra tình-thế rắc-rối ngoài hải-đảo để thu-hút lực-lượng của Hải-quân Việt-Nam, và đương nhiên cộng-sản sẽ lợi-dụng để tràn-xuống dưới vĩ-tuyến 17 như đã dự-liệu.
Nên sáng sớm ngày 17, không kịp thông-báo đến Tư-lệnh Hạm-đội; tôi lên phi-trưởng Tân-sơn-Nhứt và đến thẳng ngay Trạm hàng-không quân-sự. Tôi gặp ngay một vị Thượng-sĩ không-quân trưởng-trạm và nói là tôi cần đi gắp ra Ðà-nẵng. Vị Thượng-sĩ trình với tôi là danh-sách hành-khách đã đầy-đủ cho chuyến bay và giới-thiệu tôi gặp vị Trung-úy phi-công-trưởng phi-cơ C130. Sau khi trình-bầy lý-do khẩn-cấp đi Ðà-nẵng của tôi, vị phi-công-trưởng trang-trọng mời tôi lên phi-cơ ngồi vào ghế phụ trong phòng phi-công.
Ðến Ðà-nẵng khoảng 9:00 sáng, tôi mới kêu điện-thoại cho HQ Ðại-tá Nguyễn-hữu-Xuân, Tư-lệnh-phó Vùng cho xe đón tôi tại phi-trường. Ðến BTL/HQ Vùng I duyên-hải tôi mới được biết chi-tiết những gì đang xẩy ra tại Hoàng-Sa, và được biết thêm là chiếc tuần-dương-hạm HQ5, mà tôi vừa chủ-tọa trao quyền chỉ-huy ngày hôm qua tại Vũng-Tàu sẽ có mặt tại quân-cảng vào buổi chiều tối cùng với biệt-đội hải-kích.
Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải cũng cho tôi hay và giơ một tờ giấy nhỏ nói là ông có thủ-bút của Tổng-thống vừa tới thăm bản-doanh trước đây, nhưng tôi không hỏi về chi-tiết cũng như xin xem thủ-bút vì tôi nghĩ đó là chỉ-thị riêng tư giữa Tổng-Thống và một vị Tướng-lãnh. Vị Tư-lệnh này còn cho tôi hai chọn-lựa: một là chỉ-huy các chiến-hạm ngay tại Bộ-Tư-lệnh Vùng, hai là đích-thân trên chiến-hạm. Tôi đáp trình ngay là: Tôi sẽ đi theo các đơn-vị của tôi. Từ ngày được thuyên-chuyển về Hạm-đội, không như các vị tiền-nhiệm, tôi thường xa Bộ-chỉ-huy để đi theo các chiến-hạm trong công-tác tuần-dương. Mỗi chuyến công-tác, sự hiện-diện của tôi đã mang lại cho nhân-viên chiến-hạm niềm phấn-khởi sau nhiều ngày phải xa căn-cứ. Tôi thường lưu ý các vị hạm-trưởng đến việc huấn-huyện nội-bộ hoặc thao-dượt chiến-thuật với chiến-hạm khác khi được phép.
Ðến khoảng buổi chiều thì Tư-lệnh vùng I duyên-hải còn hỏi tôi có cần thêm gì, tôi trình xin thêm một chiến-hạm nữa vì cần hai chiếc khi di-chuyển trong trường-hợp bị tấn-công trên hải-trình, chứ không phải vì số lượng chiến-hạm Trung-cộng đang có mặt tại Hoàng-Sa. Chiếc Hộ-tống-hạm (PCE) HQ10 Nhựt-Tảo đựơc chỉ-định xung vào Hải-đoản đặc-nhiệm, với lý-do chính là chiếc Hộ-tống-hạm này đang tuần-dương ngay khu-vực cửa khẩu Ðà-nẵng nên giảm bớt thời-gian di-chuyển, chiến-hạm chỉ có một máy chánh khiển-dụng mà thôi. Ngoài ra vị Tư-lệnh HQ vùng còn tăng-phái cho tôi HQ Thiếu-Tá Toàn (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ Thiếu Tá Nguyễn Chí Toàn, Khóa 11 SQHQ/Nha Trang), mà tôi chưa biết khả-năng nên trong suốt thời-gian tăng-phái tôi chỉ trao nhiệm-vụ giữ liên-lạc với các Bộ Tư-lệnh cho vị sĩ-quan này. Tôi dùng cơm chiều gia-đình cùng Tư-lệnh HQ Vùng tại tư-thất trong khi chờ đợi Tuần-dương-hạm HQ5 tới. Sau bữa ăn, Tư-lệnh HQ Vùng đích-thân đi bộ tiễn-chân tôi ra cầu quân-cảng. Sau trận-chiến, vị Ðô-đốc này có thổ-lộ cùng tôi là ông đã tưởng đó là bữa cơm cuối cùng của ông với tôi. Như vậy là trận hải-chiến đã dự-liệu là sẽ có thể xẩy ra, và chắc vị Ðô-đốc đã mật-trình về Tư-lệnh Hải-quân thường có mặt tại Bộ-Tư-lệnh.
Tuần-dương-hạm HQ5 rời bến khoảng 09:00 tối và tôi trao nhiệm-vụ đi tới Hoàng-Sa cho Hạm-trưởng HQ5 là vị hạm-trưởng thâm-niên hơn (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ5 và HQ10 cùng đi Hoàng Sa, Hạm Trưởng HQ5 là Trung Tá Quỳnh thuộc khóa 11 SQHQ Nha Trang, thâm niên hơn Hạm Trưởng HQ10 là Thiếu Tá Thà thuộc khóa 12 SQHQ Nha Trang). Sự hiện-diện của tôi trên chiến-hạm này đã làm tân-hạm-trưởng, vừa nhậm-chức 2 ngày trước, được vững-tâm hơn vì chắc tân-hạm-trưởng chưa nắm vững được tình-trạng chiến-hạm cũng như nhân-viên thuộc-hạ. Các chiến-hạm đều giữ im-lặng vô-tuyến ngoại trừ các báo-cáo định-kỳ về vị-trí.

Những diễn-tiến ngày hôm trước trận hải-chiến
Khoảng 8 hay 9:00 giờ sáng ngày 18, hai chiến-hạm HQ5 và HQ10 đã đến gần Hoàng-Sa, và trong tầm âm-thoại bằng máy VRC46 (hậu-thân của máy PRC25 nhưng với công-xuất mạnh hơn) để liên-lạc bằng bạch-văn, vì tầm hữu-hiệu của máy chỉ ở trong vùng Hoàng-Sa mà thôi, tôi nói chuyện với Hạm-trưởng HQ4 HQ Trung-tá Vũ-hữu-San, lúc đó đang là sĩ-quan thâm-niên hiện-diện, để được am-tường thêm tình-hình cũng như thông-báo về sự hiện-diện của tôi, vừa là Chỉ-huy-trưởng Hải-đội vừa là để thay-thế quyền chỉ-huy mọi hoạt-dộng, theo đúng thủ-tục ghi trong Hải-quy. Sau khi được trình bầy chi-tiết các diễn-tiến, tôi có lời khen ngợi Hạm-trưởng này và chia sẻ những khó-khăn mà vị này đã trải qua trong những ngày trước khi tôi có mặt tại vùng.
Vào khoảng xế trưa, thì cả 4 chiến-hạm (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ4, HQ5, HQ10 và HQ16) đều tập-trung trong vùng lòng chảo của quần-đảo Hoàng-Sa và Hải-đoàn đặc-nhiệm được thành hình. Nhóm chiến-binh thuộc Tuần-dương-hạm HQ16 và Khu-trục-hạm HQ4 đã đổ-bộ và trương quốc-kỳ VNCH trên các đảo Cam-Tuyền (Robert), Vĩnh-Lạc (Money) và Duy-mộng (Drummond) từ mấy ngày qua vẫn được giữ nguyên vi-trí phòng-thủ để giữ đảo. Sau khi quan-sát các chiến-hạm Trung-cộng lởn vởn phía bắc đảo Quang-Hòa (Duncan), tôi quyết-định ngay là hải-đoàn sẽ phô-trương lực-lượng bằng một cuộc thao-diễn chiến-thuật tập-đội để tiến về phía đảo Quang-Hòa với hy-vọng là có thể đổ-bộ hải-kích như các chiến-hạm ta đã làm trước đây. Lúc này trời quang-đãng, gió nhẹ và biển êm. Tất cả chiến-hạm đều phải vào nhiệm-sở tác-chiến, nhưng các dàn hải-pháo và vủ-khí đại-liên phải ở trong thế thao-diễn. Khởi hành từ nam đảo Hoàng-Sa để tiến về đảo Quang-Hòa, 4 chiến-hạm vào đội-hình hàng dọc, dẫn đầu là Khu-trục-hạm HQ4, theo sau là tuần-dương-hạm HQ5 làm chuẩn-hạm đã có trương hiệu-kỳ hải-đội, thứ ba là tuần-dương-hạm HQ16 và sau cùng là Hộ-tống-hạm HQ10, tốc-độ chừng 6 gút, khoảng cách giữa các chiến-hạm là hai lần khoảng cách tiêu-chuẩn (tức 1000 yard), phương-tiện truyền-tin là kỳ-hiệu và quang-hiệu, và âm-thoại bằng VRC46 hoặc PRC25 chỉ xử-dụng để tránh hiểu-lầm ám-hiệu vận-chuyển chiến-thuật mà thôi.
Chừng nửa giờ sau khi hải-đoàn vận-chuyển vào đội-hình hướng về phía đảo Quang-Hòa thì hai chiến-hạm Trung-cộng loại Kronstad mang số-hiệu 271 và 274 bắt đầu phản-ứng bằng cách vận-chuyển chặn trước hướng đi của hải-đoàn, nhưng hải-đoàn vẫn giữ nguyên tốc-độ, trong khi đó thì hai chiếc chiến-hạm khác nhỏ hơn mang số 389 và 396 (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là hai trục lôi hạm tức là tầu vớt mìn loại T43) cùng 2 chiếc ngư-thuyền ngụy-trang 402 và 407 (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: ngư thuyền số 402 mang tên Nam Ngư) của họ vẫn nằm nguyên vị-trí sát bờ bắc đảo Quang-Hòa. Tôi đã không chú-tâm đến 2 chiếc chiến-hạm nhỏ của địch vì cho rằng, hai chiếc này chỉ là loại phụ mà thôi (sau này, khi sưu tầm tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa, HQ Thiếu-Tá Trần-Ðỗ-Cẩm truy ra theo số-hiệu là loại trục-lôi-hạm và chắc trang-bị vũ-khí nhẹ hơn) còn hai chiếc tầu tiếp-tế ngụy-trang như ngư-thuyền thì không đáng kể. Hành-động chận đường tiến của chiến-hạm ta đã từng được họ xử-dụng trong mấy ngày trước đây khi các chiến-hạm ta đổ quân lên các đảo Cam-tuyền, Vĩnh-lạc và Duy-mộng để xua quân của Trung-cộng rời đảo. Chiếc Kronstad 271 bắt đầu xin liên-lạc bằng quang-hiệu để xin liên-lạc, Tuần-dương-hạm HQ5 trả lời thuận và nhận công-điện bằng Anh-ngữ: “These islands belong to the People Republic of China (phần này tôi nhớ không chắc-chắn) since Ming dynasty STOP Nobody can deny” (Phần này tôi nhớ rất kỹ vì tôi có phụ nhận quang-hiệu). Tôi cho gởi ngay một công-điện khái-quát như sau: “Please leave our territorial water immediately”
Công-điện của chiến-hạm Trung-cộng được lập đi lập lại ít nhất 3 lần sau khi họ nhận được công-điện của Hải-đoàn đăc-nhiệm VNCH, và chiến-hạm ta cũng tiếp-tục chuyển lại công-điện yêu-cầu họ rời khỏi lãnh-hải của VNCH.
Vì 2 chiến-hạm Kronstad Trung-cộng cố-tình chặn đường tiến của Hải-đoàn đặc-chiệm với tốc-độ khá cao, nếu Hải-đoàn tiếp-tục tiến thêm thì rất có thể gây ra vụ đụng tầu, tôi đưa Hải-đoàn trở về phía nam đảo Hoàng-Sa và vẫn giữ tình-trạng ứng-trực cũng như theo dõi các chiến-hạm Trung-cộng, họ cũng lại tiếp-tục giữ vị-trí như cũ tại phía bắc và tây-bắc đảo Quang-Hòa. Sự xuất-hiện thêm 2 chiến-hạm của Hải-quân Việt-Nam vào trong vùng chắc-chắn đã được chiếc Kronstad 271 của Trung-cộng, được coi như chiến-hạm chỉ-huy, báo cáo về Tổng-hành-dinh của họ, và việc tăng-viện có thể được coi như đã được chuẩn-bị.
Với hành-động quyết-liệt ngăn-chặn ta không tiến được đến đảo Quang-Hòa, tôi cho rằng họ muốn cố-thủ đảo này. Việc đổ-bộ quân để xua đuổi họ ra khỏi đảo, lúc đó tôi hy-vọng, chỉ có thể phải thực-hiện bất-thần để tránh hành-động ngăn-chặn của họ và có lực-lượng hải-kích với trang-phục người nhái, may ra họ có thể phải nhượng-bộ, như Tuần-dương-hạm HQ16 và Khu-trục-hạm HQ4 đã thành-công trong mấy ngày trước đó. Nếu họ tấn-công thay vì nhượng-bộ, Hải-đoàn đặc-nhiệm buộc phải sẵn-sàng chống-trả.
Vào khoảng 8 giờ tối, tôi yêu-cầu Tuần-dương-hạm HQ16 chuyển phái-đoàn công-binh của Quân-đoàn I sang Tuần-dương-hạm HQ 5 bằng xuồng. Phái-đoàn công-binh Quân-đoàn I do Thiếu-tá Hồng hướng-dẫn đã vào gặp tôi tại phòng ăn Sĩ-quan có theo sau Ông Kosh thuộc cơ-quan DAO Hoa-Kỳ tại Ðà-nẵng. Tôi cho cả hai hay là tình-hình sẽ khó tránh khỏi một cuộc đụng-độ nên tôi không muốn các nhân-viên không Hải-quân có mặt trên chiến-hạm và tôi sẽ đưa họ lên đảo. Tôi cũng yêu-cầu Tuần-dương-hạm HQ5 cấp cho tất cả một ít lưong-khô. Riêng ông Kosh thì tôi yêu-cầu Hạm-trưởng HQ5 đưa cho ông 1 bịch thuốc lá 10 bao Capstan. Tôi tiễn chân tất cả phái-đoàn xuống xuồng và vẫy tay chào họ khi xuồng bắt đầu hướng về đảo Hoàng-Sa. Kể từ giờ phút đó tới nay tôi không có dịp nào gặp lại ông Kosh để thăm hỏi ông và yêu-cầu ông cho trả lại Tuần-dương-hạm HQ5 bịch thuốc lá Capstan vì thuốc lá này thuộc quân-tiếp-vụ của chiến-hạm xuất ra ứng trước. Riêng Thiếu-tá Hồng thì tôi đã có dịp thăm hỏi ông tại Los Angeles vào năm 1996, cũng theo lời ông thì ông đã viết xong vào trước năm 1975, một cuốn ký-sự về thời-gian bị bắt làm tù-binh trong lục-dịa Trung-Hoa nhưng không được Tổng Cục Chiến-tranh Chính-trị cho xuất bản vì chưa phải lúc thuận-tiện.
Vào khoảng 10 giờ tối, tôi trực-tiếp nói chuyện bằng vô-tuyến với tất cả hạm-trưởng để cho hay là tình-hình sẽ khó tránh được một cuộc đụng-độ, và yêu-cầu các vị này chuẩn-bị các chiến-hạm và huy-động tinh-thần nhân-viên để sẵn-sàng chiến-đấu. Tôi biết rõ cuộc chiến nếu xẩy ra thì tất cả nhân-viên đều không đủ kinh-nghiệm cho các cuộc hải-chiến, vì từ lâu các chiến-hạm chỉ chú-tâm và đã thuần-thuộc trong công-tác tuần-dương ngăn-chặn hoặc yểm-trợ hải-pháo mà thôi, nếu có những nhân-viên đã phục-vụ trong các giang-đoàn tại các vùng sông ngòi thì họ chỉ có những kinh-nghiệm về chiến-đấu chống các mục-tiêu trên bờ và với vũ-khí tương-đối nhẹ hơn và dễ-dàng trấn-áp đối-phương bằng hỏa-lực hùng-hậu.
Vào khoảng 11:00 giờ tối ngày 18, một lệnh hành-quân, tôi không còn nhớ được xuất-xứ, có thể là của Vùng I duyên-hải, được chuyển mã-hóa trên băng-tần SSB (single side band) (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là công điện Mật/Khẩn chiến dịch mang số 50.356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74 do BTL/HQ/V1ZH gửi với tiêu đề: Lệnh Hành Quân Hoàng Sa 1) . Lệnh hành-quân vừa được nhận vừa mã-dịch ngay nên không bị chậm-trễ, và lệnh này ghi rõ quan-niệm hành-quân như sau: tái-chiếm một cách hòa-bình đảo Quang-Hòa. Lệnh hành-quân cũng không ghi tình-hình địch và lực-lượng trừ-bị nhưng những kinh-nghiệm từ trước tới nay nhất là trong hai năm tôi đảm-nhận trách-vụ Tham-mưu-phó hành-quân tại BTL/HQ, tôi dự-đoán Trung-cộng, vì đã thiết-lập một căn-cứ tiền-phưong tại đảo Phú-lâm thuộc nhóm Tuyên-đức nằm về phía đông-bắc đảo Hoàng-Sa sát vĩ-tuyến 17, nên họ đã có thể đã phối-trí tại đây lực-lượng trừ-bị, và hơn nữa trên đảo Hải-Nam còn có một căn-cứ Hải-quân rất lớn và một không-lực hùng-hậu với các phi-cơ MIG 19 và 21 với khoảng cách gần hơn là từ Ðà-nẵng ra. Việc Trung-cộng lấn-chiếm những đảo không có quân trú-phòng của ta trong vùng Hoàng-Sa, đã phải được họ chuẩn-bị và thiết-kế chu đáo từ lâu trước khi tái tuyên-bố chủ-quyền. Trong khi đó việc Hải-quân VNCH phát-hiện sự hiện-diện của họ chỉ có từ khi Tuần-dương-hạm HQ16 được lệnh đến thăm-viếng định-kỳ và chở theo phái-đoàn công-binh Quân-đoàn I ra thám-sát đảo để dự-kiến việc thiết-lập một phi-đạo ngắn.
Ngay sau khi hoàn-tất nhận lệnh hành-quân, tôi chia Hải-đoàn thành hai phân-đoàn đặc-nhiệm: Phân-đoàn I là nỗ-lực chính gồm Khu-trục-hạm HQ4 và Tuần-dương-hạm HQ5 do Hạm-trưởng Khu-trục-hạm HQ4 chỉ-huy; Phân-đoàn II là nỗ-lực phụ gồm Tuần-dương-hạm HQ16 và Hộ-tống-hạm HQ10 do Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ16 chỉ-huy. Nhiệm-vụ là phân-đoàn II giữ nguyên vị-trí trong lòng chảo Hoàng-Sa để tiến về đảo Quang-Hòa vào buổi sáng. Phân-đoàn I khởi hành vào 12:00 đêm đi bọc về phía tây rồi xuống phía nam sẽ có mặt tại nam đảo Quang-Hòa vào 06:00 sáng ngày hôm sau tức là ngày 19 để đổ-bộ biệt-đội hải-kích. Phân-đoàn I phải đi bọc ra phía tây quần-đảo thay vì đi thẩng từ đảo Hoàng-Sa xuống đảo Quang-Hòa là để tránh việc các chiến-hạm Trung-cộng có thể lại vận-chuyển ngăn-chặn đường tiến của chiến-hạm như họ đã làm vào buổi chiều, vả lại việc hải-hành tập-đội về đêm trong vùng có bãi cạn và đá ngầm có thể gây trở-ngại cho các chiến-hạm, nhất là Khu-trục-hạm còn có bồn SONAR (máy dò tiềm-thủy-đĩnh), hy-vọng hải-trình như vậy sẽ tạo được yếu-tố bất ngờ. Hơn nữa về mùa gió đông-bắc, việc đổ-bộ vào phía tây-nam sẽ tránh được sóng biển cho xuồng-bè. Nên ghi-nhận tại điểm này là kể từ năm 1973, toán cố-vấn HQ Hoa-kỳ tại Hạm-đội mà trưởng toán là HQ Ðại-tá Hamn (tên họ) đã nhiều lần yêu-cầu tháo gỡ máy Sonar trên các khu-trục-hạm. Phó Ðề-đốc Nguyễn-thành-Châu (lúc đó còn mang cấp HQ Ðại-tá) Tư-lệnh Hạm-đội đã trao nhiệm-vụ cho tôi thuyết-phục họ giữ máy lại để dùng vào việc huấn-luyện. Mãi đến khi HQ Ðại-tá Nguyễn-xuân-Sơn nhận chức Tư-lệnh Hạm-đội một thời-gian, tôi vẫn tiếp-tục liên-lạc với toán cố-vấn, và sau cùng họ mới bằng lòng giữ máy lại với tính-cách để huấn-luyện. Thực ra một khu-trục-hạm mà thiếu máy thám-xuất tiềm-thủy-đĩnh thì khả-năng tuần-thám và tấn-công sẽ giảm đi nhiều.

Diễn-tiến trận hải-chiến ngày 19 tháng giêng năm 1974
Ðúng 6:00 sáng ngày 19, trời vừa mờ sáng, Phân-đoàn I đã có mặt tại tây-nam đảo Quang-Hòa, thủy-triều lớn, tầm quan-sát trong vòng 1.50 đến non 2.00 hải-lý, trời có ít mây thấp nhưng không mưa, gió đông-bắc thổi nhẹ, biển tương-đối êm tuy có sóng ngầm. Phân-đoàn I tiến sát đảo khoảng hơn 1 hải-lý, Tuần dương-hạm HQ5 nằm gần bờ hơn một chút để thuận-tiện đổ-bộ hải-kích. Hai chiếc Kronstad 271 và 274 bị bất ngờ rõ-rệt nên thấy họ đã vận-chuyển lúng-túng và không thực-hiện được hành-động ngăn-cản như họ đã từng làm vào chiền hôm trước. Tôi cũng bị bất-ngờ là hai chiếc chủ-lực địch lại có mặt cùng một nơi để sẵng-sàng đối đầu mà tôi không phải tìm-kiếm họ, như tôi đã coi họ như là muc-tiêu chính. Họ đã phải luồn ra khỏi khu lòng chảo vào ban đêm, nhưng không hiểu là họ có theo dõi được đuờng tiến-quân của Phân-đoàn I hay không. Vào giờ này thì họ đã phải biết rõ là Tuần-dương-hạm HQ5 là chiến-hạm chỉ-huy của ta và cũng đã phải biết được hỏa-lực của chiếc khu-trục-hạm.
Biệt-đội hải-kích do HQ Ðại-úy Nguyễn-minh-Cảnh chỉ-huy đã được tôi chỉ-thị là không được nổ súng và lên bờ yên-cầu toán quân của họ rời đảo. Trong biệt-đội này có một chiến-sĩ hải-kích Ðỗ-văn-Long và luôn cả HQ Ðại-Úy Nguyễn-minh-Cảnh là những chiến-sĩ đã tham-dự cuộc hành-quân đầu-tiên Trần-hưng-Ðạo 22 (nếu tôi không lầm) cũng do tôi chỉ-huy để xây-cất doanh-trại và đặt quân trú-phòng đầu-tiên trên đảo Nam-Yết thuộc quần-đảo Trường-Sa vào cuối mùa hè năm 1973.
Một lần nữa, khi biệt-đội hải-kích xuồng xuồng cao-su, tôi đích-thân ra cầu thang căn-dặn và nhấn mạnh về việc đổ-bộ mà không được nổ súng, và khi bắt liên-lạc được với họ thì yêu-cầu họ rời khỏi đảo.
Tôi không chắc là cuộc đổ-bộ sẽ thành-công vì quân Trung-cộng trên đảo đã phải tổ-chức bố-phòng cẩn-mật tiếp theo sự thất-bại của họ trên các đảo khác đã nói ở trên, trong khi đó biệt-đội hải-kích lại không có được hỏa-lực chuẩn-bị bãi đổ-bộ. Một lần nữa tôi lại chỉ-thị cho các hạm-trưởng chuẩn-bị để chiến-đấu. Nếu cuộc đổ-bộ thất-bại thì với hỏa-lực của 2 khẩu 76 ly tự-động trên Khu-trục-hạm HQ4, một chiến-hạm chủ-lực của Hải-đoàn đăc-nhiệm, sẽ có đủ khả-năng loại ít nhất là hai chiến-hạm chủ-lực Trung-cộng ra khỏi vòng chiến không mấy khó-khăn, còn quân-bộ của Trung-cộng trên-đảo thì tôi tin chỉ là một mục-tiêu thanh-toán sau cùng. Tôi còn có ý-định là sẽ điều-động chiếc khu-trục-hạm vượt vùng hơi cạn trực-chỉ hướng bắc vào thẳng vùng lòng chảo để tăng-cường cho Phân-đoàn II nếu cần sau khi đã loại xong 2 chiếc Kronstad mà tôi luôn-luôn cho là mục-tiên chính. Tôi rất vững lòng vào hỏa-lực của chiến-hạm chủ-lực vì tôi đã được tường-trình đầy-đủ về khả-năng của hải-pháo 76 ly tự-động khi Khu-trục-hạm này yểm-trợ hải-pháo tại vùng Sa-hùynh trong nhiệm-kỳ hạm-trưởng của HQ Trung-Tá Nguyễn-quang-Tộ.
Biệt-đội hải-kích tiến vào đảo bằng 2 xuồng cao-su, từ chiến-hạm ta, việc quan-sát sự bố-phòng của Trung-cộng trên đảo không được rõ ràng. Các chiến-hạm Trung-cộng cũng không có phản-ứng gì đối với xuồng của hải-kích. Theo báo-cáo của Biệt-đội-trưởng hải-kích thì chiến-sĩ hải-kích Ðỗ-văn-Long là người đầu-tiên tiến vào đảo và vừa nổ súng vừa tiến vào trong nên đã bị hỏa-lực trong bờ bắn tử-thương ngay tại bãi-biển. HQ Trung-Úy Lê-văn-Ðơn (xuất-thân từ bộ-binh) tiến vào để thâu-hồi tử-thi của liệt-sĩ Long cũng lại bị tử-thương ngay gần xuồng nên tử-thi vị sĩ-quan này được thâu-hồi ngay. Việc thất-bại đổ-bộ được báo-cáo ngay về Bộ-Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải và chừng ít phút sau đó (vào khoảng 09:30 sáng) thì đích thân Tư-lệnh HQ VNCH hay Tư-lệnh Vùng I duyên-hải ra lệnh vắn-tắt có hai chữ: “khai-hỏa” bằng bạch-văn cho Hải-đoàn đặc-nhiệm và không có chi-tiết gì khác hơn. Tôi nhận biết được khẩu-lệnh trên băng siêu-tần-số SSB (single side band) không phải là của nhân-viên vô-tuyến mà phải là của cấp Ðô-đốc, nhưng từ đó đến nay tôi vẫn tin rằng là của Tư-lệnh Hải-quân mà tôi đã quen-thuộc giọng nói, nên tôi đã không kiểm-chứng thêm về sau. Tôi trở nên yên-tâm hơn vì khẩu-lệnh khai hỏa đã giải-tỏa trách-nhiệm của tôi ghi trong phần quan-niệm của lệnh hành-quân là tái-chiếm một cách hòa-bình. Tôi đích-thân vào máy siêu-tần-số trình ngay là chưa có thể khai-hỏa được vì phải chờ triệt-thối Biệt-đội hải-kích về chiến-hạm, họ còn trên mặt biển và ở vào vị-thế rất nguy-hiểm. Riêng tử-thi của liệt-sĩ hải-kích Ðỗ-văn-Long tôi lệnh không cho vào lấy vì có thể gây thêm thương-vong. Tôi tin rằng tử-thi của Liệt-sĩ Long sẽ không khó-khăn để thâu-hồi khi toán quân-bộ Trung-cộng được tiêu-diệt sau đợt các chiến-hạm của họ bị loại hoàn-toàn khỏi vòng chiến.
Vào khoảng gần 10:00 giờ sáng, biệt-đội hải-kích được hoàn-tất thu-hồi về Tuần-dương-hạm HQ5 với HQ Trung-Úy Lê-văn-Ðơn tử-thương. Trong khi đó thì tôi chỉ-thị cho các chiến-hạm chuẩn-bị tấn-công, mỗi chiến-hạm tấn-công một chiến-hạm địch, và bám sát địch trong tầm hải-pháo 40 ly (khoảng 3 cây-số), vì loại hải-pháo này có nhịp tác-xạ cao, dễ điều-chỉnh và xoay hướng nhanh hơn. Tôi không tin-tưởng nhiều vào hải-pháo 127 ly và khả-năng điều-khiển chính-xác của nhân-viên vì hải-pháo chỉ có thể tác-xạ từng phát một, nạp đạn nặng-nề và chậm xoay hướng nên tốt hơn là trực-xạ.
Tất cả các chiến-hạm phải cùng khai-hỏa một lúc theo lệnh khai-hỏa của tôi để tạo sự bất ngờ và sẽ gây thiệt-hại trước cho các chiến-hạm Trung-cộng. Vì tầm quan-sát còn rất hạn-chế, nên từ Tuần-dương-hạm HQ5 không quan-sát được Tuần-dương-hạm HQ16 và Hộ-tống-hạm HQ10 cũng như hai chiến-hạm khác và hai ngư-thuyền ngụy-trang của Trung-cộng nên tôi không rõ các chiến-hạm này bám-sát các chiến-hạm Trung-cộng được bao nhiêu, nhưng tôi đã tin rằng Phân-đoàn II không có bận tâm về việc đổ-bộ nên có nhiều thì-giờ hơn để thi-hành kế-hoạch tấn-công và sẽ dễ-dàng chế-ngự được hai chiến-hạm phụ của địch cùng hai ngư-thuyền. Riêng Tuần-dương-hạm HQ5 và Khu-trục-hạm HQ4 đã nghiêm-chỉnh thi-hành lệnh. Trước khi ban-hành lệnh khai-hỏa tôi lần nữa hỏi các chiến-hạm đã sẵn-sàng chưa và nhấn-mạnh một lần nữa là phải khai-hỏa đồng-loạt để đạt yếu-tố bất-ngờ. Các hạm-trưởng đích-thân trên máy VRC46 lần-lượt báo-cáo sẵn-sàng. Tôi rất phấn-khởi vì giờ tấn-công hoàn-toàn do tôi tự-do quyết-định, không phải lệ-thuộc vào lệnh của thượng-cấp và vào ý-đồ chiến-thuật của địch. Ðịch lúc này đã tỏ ra không có một ý-định gì cản-trở hay tấn-công chiến-hạm ta.
Hải-quân Ðại-Tá Ðỗ-Kiểm, Tham-mưu-phó hành-quân tại Bộ-Tư-lệnh Hải-quân còn đặc-biệt cho tôi hay là có chiến-hạm bạn ở gần, nhưng với sự hiểu-biết của tôi, tôi không có một chút tin-tưởng gì vào đồng-mình này vì kể từ tháng 2 năm 1972 khi Hoa-Kỳ và Trung-cộng đã chấm-dứt sự thù-nghịch nên Hải-quân của họ sẽ không một lý do gì lại tham-dự vào việc hỗ-trợ Hải-quân Việt-Nam trong vụ tranh-chấp về lãnh-thổ. Họa chăng họ có thể cứu-vớt những người sống-sót nếu các chiến-hạm HQVN lâm-nạn. Nhưng thực-tế cho thấy trong suốt cuộc tìm-kiếm những nhân-viên từ Hộ-tống-hạm HQ10 và các toán đã đổ-bộ lên trấn giữ các đảo đã đào-thoát để trở về đất liền, chúng ta không nhận thấy một hành-động nhân-đạo nào từ phía đồng-minh kể cả của phi-cơ không-tuần.
Khoảng 10:24 sáng thì lệnh khai-hỏa tấn-công được ban-hành và tôi vào trung-tâm chiến-báo trực-tiếp báo cáo bằng máy siêu-tần-số SSB, tôi đã cố ý giữ ống nói sau khi tôi chấm-dứt báo-cáo để tiếng nổ của hải-pháo cũng được truyền đi trên hệ-thống này. Cuộc khai-hỏa tấn-công đã đạt được yếu-tố bất ngờ cho các chiến-hạm địch vì tôi cho rằng họ vẫn tin là các hành-động của chiến-hạm cũng tương-tự như trong những vài ngày trước, khi Hải-quân Việt-Nam đổ-quân trên các đảo Cam-tuyền, Vĩnh-lạc và Duy-mộng và nhất là cuộc phô-diễn lực-lượng của hải-đoàn đặc-nhiệm ngày hôm trước Hải-quân Việt-Nam đã không có một hành-dộng khiêu-khích nào, mà còn chấp-thuận giữ liên-lạc bằng quang-hiệu.
Chiếc Kronstad 271 nằm về hướng tây gần đảo Quang-Hòa, hướng mũi về phía tây là mục-tiêu của Tuần-dương-hạm HQ5 đang hướng mũi vào bờ tức là phía đông, đặt mục-tiêu về phía tả-hạm (tức là phía bắc). Chiếc này bị trúng đạn ngay từ phút đầu, vận-chuyển rất chậm-chạp nên đã là mục-tiêu rất tốt cho Tuần-dương-hạm HQ5. Hỏa-lực của chiếc Kronstad 271 này không gây nhiều thiệt-hại cho Tuần-dương-hạm HQ5, nhưng có thể đã gây thiệt-hại nặng cho Hộ-tống-hạm HQ10 nằm về phía bắc. Khu-trục-hạm HQ4 nằm về phía tây-nam của Tuần-dương-hạm HQ5 đặt mục-tiêu là chiếc Kronstad 274 nằm về phía bắc tức là tả-hạm của chiến-hạm. Nhưng chẳng may, HQ4 báo cáo bị trở-ngại tác-xạ ngay từ phút đầu-tiên và phải chờ sửa-chữa. Việc này đã làm đảo lộn các dự-tính của tôi và làm tôi bối-rối. Sau vài phút thì chiến-hạm này xin bắn thử và kết-quả là vẫn bị trở-ngại và cần tiếp-tục sửa chữa thêm, nhưng tôi vẫn còn chút hy-vọng. Khu-trục-hạm HQ4 vài phút sau lại xin tác-xạ thử lần thứ ba nhưng vẫn không có kết-quả, tuy-nhiên chiến-hạm này vẫn phải tiếp-tục bám-sát mục-tiêu của mình trong tầm các loại đại-liên nên đã bị thiệt-hại nhiều bởi hỏa-lực của chiếc Kronstad 274, và đại-liên đã không áp-đảo được hỏa-lực của địch.
Trên Tuần-dương-hạm HQ5, tôi xử-dụng chiếc máy PRC 25 trước ghế hạm-trưởng bên hữu-hạm của đài chỉ-huy để liên-lạc với các chiến-hạm, tôi vừa rời ghế để ra ngoài quan-sát hai phía thì một trái đạn loại nổ mạnh gây một lỗ lủng khoảng nửa thước đường kính và làm nát máy PRC25, nên từ phút này trở đi tôi phải vào tận Trung-tâm chiến-báo để dùng máy VRC46. Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ5 đứng cạnh đài chỉ-huy bên tả-hạm với sĩ-quan hải-pháo để dễ quan-sát mục-tiêu được chỉ-định, nên tôi thường nói trực-tiếp với hạm-trưởng tại nơi này. Trung-tâm chiến-báo của chiến-hạm này chỉ quen-thuộc dùng radar vào việc hải-hành, vả lại trời mù, mây thấp, radar có nhiều nhiễu-xạ nên tôi không được rõ về vị-trí của Phân-đoàn II và các chiến-hạm của địch còn nằm trong khu lòng-chảo Hoàng-Sa.
Sau chừng 15 phút thì Tuần-dương-hạm HQ16 báo-cáo là bị trúng-đạn hầm máy, tầu bị nghiêng nên khả-năng vận-chuyển giảm-sút, buộc phải lui ra ngoài vòng chiến để sửa-chữa và cũng không còn liên-lạc được với Hộ-tống-hạm HQ10, không biết rõ tình-trạng và chỉ thấy nhân-viên đang đào-thoát. Tôi nhận thấy một tuần-dương-hạm đã vận-chuyển nặng-nề mà chỉ còn một máy và bị nghiêng, nếu tiếp-tục chiến-đấu thì sẽ là một mục-tiêu tốt cho địch, nên tôi đã không ra phản-lệnh. Khu-trục-hạm HQ4 đã bị thiệt-hại nhiều sau khi phải bám-sát chiến-hạm địch trong tầm đại-liên, nên tôi ra lệnh cho Khu-trục-hạm HQ4 phải rút ra khỏi vòng-chiến ngay và chỉ-thị cho Tuần-dương-hạm HQ5 yểm-trợ cho chiếc này khi tiến ra xa, vì tất-nhiên Hải-đội đặc-nhiệm không thể để bị thiệt-hại một khu-trục-hạm mà Hải-Quân VNCH chỉ có tổng-cộng 2 chiếc mà thôi.
Khi khu-trục-hạm HQ4 ra khỏi vùng chiến, lại không bị chiếc Kronstad 274 truy-kích hoặc tác-xạ đuổi theo, ngược lại chiếc này của địch có phần rảnh tay hơn để tấn-công Tuần-dương-hạm HQ5 vào phía hữu-hạm hầu giảm-bớt hỏa-lực của chiến-hạm ta như để cứu vãn chiếc 271 đang bị tê-liệt. Vào giờ này thì tin-tức từ Bộ-Tư-lệnh Hải-quân tại Sàigòn do chính Tham-mưu-phó hành-quân cho hay là một phi-đội khu-trục-cơ F5 đã cất-cánh để yểm-trợ cho Hải-đoàn đặc-nhiệm. Do sự liên-lạc từ trước với Bộ-Tư-lệnh Sư-đoàn I Không-quân tại Ðà-nẵng, tôi hiểu là phi-cơ F5 chỉ có thể yểm-trợ trong vòng 5 tới 15 phút mà thôi vì khoảng-cách từ Ðà-nẵng tới Hoàng-Sa quá xa so với nhiên-liệu dự-trữ. Tôi vẫn tin rằng loan tin việc phi-cơ cất-cánh, Bô-Tư-lệnh Hải-quân đã cho rằng tin này có thể làm cho tôi vững-tâm chiến-đấu. Một điều nữa là từ trước tới giờ phút đó tôi chưa được thấy có cuộc thao-dượt hỗn-hợp nào giữa Không-quân và Hải-quân nên tôi rất lo-âu về sự nhận-dạng của phi-công để phân-biệt giũa chiến-hạm của Hải-quân Việt-Nam và chiến-hạm Trung-cộng, nhất là lúc có mây mù thấp, nên phi-cơ có thể gây tác-xạ nhầm mục-tiêu. Máy VRC 46 trong Trung-tâm chiến-báo phải chuyển sang tần-số không-hải và đích thân tôi dùng danh-hiệu để bắt liên-lạc với phi-cơ. Một viên đạn xuyên-nổ trúng ngay Trung-tâm chiến-báo từ hữu-hạm, sát gần ngay nơi tôi đứng, làm trung-tâm bị phát-hỏa. Các nhân-viên trong trung-tâm còn mải núp sau bàn hải-đồ thì tôi nhanh tay với một bình cứu-hỏa gần chỗ tôi đứng dập tắt ngay ngọn lửa. Tôi bị té ngã vì vấp chân vào bàn hải-đồ, bàn chân trái bị đau mất vài ngày. Tôi vẫn vẫn tiếp-tục liên-lạc với phi-cơ nhưng sau chừng 5 tới 10 phút vẫn không thấy đáp-ứng nên tôi phải ngưng và chuyển tần-số về liên-lạc với các chiến-hạm khác vì cuộc giao-tranh đã đến độ khốc-liệt hơn. Sau phút này thì Tuần-dương-hạm HQ5 bị trúng nhiều đạn làm sĩ-quan trưởng-khẩu 127 ly tử-thương và hải-pháo bị bất-khiển-dụng vì phần điện điều-khiển pháo-tháp tê-liệt, và máy siêu-tần-sớ SSB không còn liên-lạc được vì giây trời bị sập rớt xuống sàn tầu, hiệu-kỳ hải-dội bị rách nát phần đuôi. Tôi ra ngoài quan-sát phía tả-hạm và được nghe báo cáo là hầm-đạm phát-hỏa. Tôi nói ngay với hạm-trưởng là cằn phải làm ngập hầm-đạn. Khẩu hải-pháo 40 ly đơn tả-hạm bị bất khiển-dụng vì bị trúng đạn vào khối nạp-đạn và khẩu 40 ly hữu-hạm bị hư-hại nhẹ. Tôi yêu-cầu hạm-trưởng là chỉ nên cho tác-xạ từng viên mà thôi, vì nhu-cầu phòng-không rất có thể xẩy ra trong một thời-gian ngắn.
Bất thần về phía đông vào khoảng 11:25 sáng cách xa chừng 8 đến 10 hải-lý, xuất hiện một chiến-hạm của Trung-cộng loại có trang bị mỗi bên một dàn phóng kép hỏa-tiễn loại hải-hải (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là loại khinh tốc đĩnh Komar) đang tiến vào vùng giao-tranh với một tốc-độ cao, quan-sát được bằng mắt viễn-kính và không một chiến-hạm nào báo-cáo khám-phá được bằng radar từ xa. Tôi dự-đoán loại chiến-hạm này ít khi được điều-động từng chiếc một, và tin là có thể thêm ít nhất một chiếc theo sau. Với tình-trạng của Hải-đội đăc-nhiệm: một hộ-tống-hạm bị loại khỏi vòng-chiến; một tuần-dương-hạm bị thương nơi hầm máy; một khu-trục-hạm và một tuần-dương-hạm chỉ còn hỏa-lực rất hạn-chế; cộng với nguy-cơ bị tấn-công bằng cả hỏa-tiễn hải-hải cũng như bằng phi-cơ rất có thể xẩy ra, nên tôi triệt-thoái phần còn lại của lực-lượng là Khu-trục-hạm HQ4 và Tuần-dương-hạm HQ5 ra khỏi vùng Hoàng-Sa tiến hướng đông-nam về phía Subic Bay (Hải-quân công-xưởng của Hoa-Kỳ tại Phi-luật-tân). Tôi cũng cầu-nguyện Ðức Thánh Trần, Thánh-Tổ của Hải-quân VNCH ban cho tôi một trận mưa để giảm tầm quan-sát và khả-năng tấn-công của phi-cơ địch. Sau khi hai chiến-hạm còn lại rút ra khỏi vùng giao-tranh chừng 10 phút thì một trận mưa nhẹ đã đổ xuống toàn vùng quần-đảo Hoàng-Sa. Các chiến-hạm ta đã không bị truy-kích và phi-cơ địch cũng chưa xuất-hiện. Mục-đích tôi hướng về phía đông-nam là để tránh bị phục-kích của tiềm-thủy-đĩnh Trung-cộng tại hải-trình Hoàng-Sa Ðà-nẵng, và khi ra ngoài xa lãnh-hải thì nếu còn bị tấn-công bằng phi-cơ hoặc tiềm-thủy-đĩnh thì may ra đồng-minh Hải-quân Hoa-Kỳ có thể cấp-cứu chúng tôi dễ-dàng hơn theo tinh-thần cấp-cứu hàng-hải quốc-tế. Nếu chúng tôi không còn bị tấn-công thì việc đến Subic Bay Phi-luật-tân để xin sửa-chữa trước khi hồi-hương là một điều khả-dĩ được thượng-cấp chấp-thuận.
Tuần-dương-hạm HQ5 phải mất gần một giờ mới kéo lên được giây trời khẩn-cấp để tái-lập sự liên-lạc bằng máy siêu-tần-số SSB. Hầm đạn phía mũi của chiến-hạm đã bị làm ngập, mũi bị chúc xuống nên tốc-độ có bị thuyên-giảm. Chính trong thời-gian mất liên-lạc, Bộ Tư-lệnh tại Sàigòn cũng như tại Ðà-nẵng rất bối-rối cho sự an-toàn của hai chiến-hạm và bản-thân tôi. Chính Tư-lệnh Hạm-đội tại Sàigòn cũng đã đưa tin mất liên-lạc đến với gia-đình tôi.
Vào khoảng 01:00 trưa, hai chiến-hạm HQ4 và HQ5 đã cách Hoàng-Sa chừng 10 hải-lý, trời nắng và quang-đãng. Tư-lệnh Hải-quân đích thân ra lệnh cho cả hai chiến-hạm phải trở lại Hoàng-Sa và đánh chìm nếu cần, tôi nhận được giọng nói của Ðô-đốc. Lệnh đã được thi-hành nghiêm-chỉnh ngay tức khắc. Sau khi liên-lạc vô-tuyến siêu-tần-số được điều-hòa trở-lại thì mọi báo-cáo chi-tiết về tổn-thất và tình-trạng lúc bấy giờ của các hai chiến-hạm được chuyển đầy-đủ. Trên Tuần-dương-hạm HQ5 tôi cũng được thông-báo về Tuần-dương-hạm HQ16 sẽ được Tuần-dương-hạm HQ6 tới hộ-tống về Căn-cứ Hải-quân Ðà-nẵng.
Ðến khoảng 02:30 chiều, khi cả hai chiến-hạm đang trở về Hoàng-Sa, quá ngang Hòn Tri-Tôn, nghĩa là còn cách đảo Hoàng-Sa chừng 1 giờ rưỡi hải-hành nữa, thì hai chiến-hạm được phản-lệnh trở về Ðà-nẵng. Lúc này trời đã nắng, mây cao nên rất dễ-dàng cho việc hải-hành. Trong một cuộc đến thăm Tư-lệnh Hải-quân VNCH tại tư-dinh vào khoảng tháng 2 năm 1974, thì vị Ðô-Ðốc này đã tiết-lộ rằng nếu biết được sớm tình-trạng của Hải-đoàn đặc-nhiệm thì Tư-lệnh đã cho lệnh trở về căn-cứ trước sớm hơn. Trên đường về, tôi vẫn ra lệnh cho các chiến-hạm giữ nguyên nhiệm-sở tác-chiến và nhất nhất các nhân viên không ở trong nhiệm-sở phòng máy phải túc-trực trên boong để tránh tổn-thất về nhân-mạng trong trường-hợp bị tiềm-thủy-đĩnh Trung-cộng phục-kích bằng ngư-lôi. Nhưng may-mắn là điều tôi dự-liệu đã không xẩy ra. Các chiến-hạm đã khởi-sự ngay thu-dọn các tổn-thất về vật-liệu và thu-hồi các dư-liệu tác-xạ.
Tôi tò-mò mở đài phát-thanh BBC vào sáng sớm ngày 20, thì họ chỉ vỏn-vẹn loan tin một trận hải-chiến đã xẩy ra trong vùng quần-đảo Hoàng-Sa giữa Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa và Cộng-Hòa Nhân-dân Trung-Hoa, mỗi bên thiệt-hại 1 chiến-hạm và không thêm một chi-tiết nào khác. Tôi tỏ ra khâm-phục đài nay về sự loan-tin nhanh chóng và xác đáng.
Tôi đã không hút thuốc từ nhiều tháng qua, nhưng tôi muốn hút một vài điếu thuốc cho tinh-thần bớt căng-thẳng sau gần 48 tiếng đồng-hồ liên-tục không được nghỉ-ngơi, tôi yêu cầu Hạm-trưởng dùng hệ-thống liên-hợp để loan-báo xem có nhân-viên nào còn thuốc lá cho tôi xin một ít để hút. Tôi không ngờ là các nhân-viên tuần-tự mang đến cho tôi hơn 2 chục bao cả loại trong khẩu-phần C của đồng-minh và các loại thuốc trong thương-trường lúc bấy giờ, tôi lấy làm cảm-động về sự ưu-ái của các nhân-viên trên chiến-hạm này. Vào khoảng 2 giờ đêm tôi soạn-thoản một sơ-đồ hành-quân và các chi-tiết về tổn-thất để chuẩn-bị thuyết-trình khi về tới căn-cứ.
Khoảng 7:00 sáng ngày 20 tháng giêng thì hai chiến-hạm của Phân-đoàn I về tới căn-cứ an-toàn. Tuần-dương-hạm HQ16 cũng đã về bến trước đó ít lâu. Một điều mà các nhân-viên của các chiến-hạm và riêng tôi rất cảm-động là trên cầu Thương-cảng Ðà-nẵng là nơi đã được chỉ-định cho các chiến-hạm cặp bến, đã có sự hiện-diện của các vị Ðô-Ðốc Tư-lệnh và Tư-lệnh-phó HQ VNCH, Ðô-Ðốc Tư-lệnh HQ Vùng I Duyên-hải, một số đông sĩ-quan cùng nhân-viên của các đơn-vị HQ vùng Ðà-nẵng cùng các trại gia-binh đã túc-trực đón đoàn chiến-hạm trở về với rừng biểu-ngữ :
“Hải-quânViệt-Nam quyết-tâm bảo-vệ lãnh-thổ đến giọt máu cuối cùng”.
“Một ý-chí : chống cộng.Một lời thề : bảo-vệ quê-hương”.
“Hoan-hô tinh-thần chiến-đấu anh-dũng của các chiến-sĩ Hải-quân tham-dự Hải-chiến Hoàng-Sa”.
“Hoan-hô tinh-thần bất-khuất của các chiến-sĩ Hải-chiến Hoàng-Sa”.

Sau khi di-tản các chiến-sĩ thương-vong và tử-vong lên căn-cứ thí chỉ có 3 vị Ðô-Ðốc cùng HQ Ðại-tá Nguyễn-viết-Tân Chỉ-Huy-Trưởng Sở Phòng-vệ Duyên-hải lên Tuần-dương-hạm HQ5 và vào phòng-khách của Hạm-trưởng để dự cuộc thuyết-trình về trận đánh. Ba vị Hạm-trưởng đều có mặt để trình bầy chi-tiết về chiến-hạm của mình. Các vị Ðô-đốc cũng không hỏi thêm tôi về những yếu-tố đã đưa đến những quyết-định chiến-thuật của tôi, nhất là quyết-định triệt-thoái phần còn lại của Hải-đoàn đặc-nhiệm ra khỏi vùng Hoàng-Sa. Sau phần thuyết-trình các vị Ðô-Ðốc đã đi quan-sát sự thiệt-hại của các chiến-hạm và úy-lạo nhân-viên các cấp. Tôi cũng được nghe Ðô-đốc Tư-lệnh-phó đề-nghị với Tư-lệnh HQ là sẽ không có thuyết-trình cho Tư-lệnh Quân-đoàn I.
Sau chừng một giờ thì Trung-tướng Tư-lệnh Quân-đoàn I/Quân-Khu I cũng tới thăm-viếng và được hướng-dẫn quan-sát một vòng các chiến-hạm để nhận-định sự thiệt-hại…

Kết-quả của trận-hải-chiến
Một cách tổng-quát thì sự thiệt hại của hai đối-thủ được kể như tương-đương trong trận hải-chiến. Mỗi bên bị tổn-thất một chiến-hạm, như đài BBC loan tin vào sáng sớm ngày 20 tháng giêng, phía VNCH là Hộ-tống-hạm HQ10, phía Trung-cộng là chiếc Kronstad 271(được coi là chiến-hạm chỉ-huy) còn một số khác thì chịu một sự hư-hại trung-bình hoặc trên trung-bình. Hai chiếc nhỏ hơn 389 và 396 cùng hai ngư-thuyền ngụy-trang theo tôi ước-lượng chỉ hư-hỏng hơi nặng mà thôi vì tầm hỏa-lực của ta trội hơn. Riêng chiếc Kronstad 271 có thể bị tổn-thất nhiều nhân-viên hơn vì trúng nhiều hải-pháo của Tuần-dương-hạm HQ5 vào thương-tầng kiến-trúc, trong khi đó chiếc 274 thì tổn-thất được coi là nhẹ hơn cả vì chỉ bị tấn-công nhiều bằng đại-liên và ít hải-pháo về sau này. Tuy-nhiên trong các trận hải-chiến thì người ta thường kể về số chiến-hạm bị loại khỏi vòng chiến hơn là số thương-vong về nhân-mạng. Riêng trên Hộ-tống-ham HQ10, theo các nhân-viên đã đào-thoát về được đất liền, thì vị Hạm-trưởng và Hạm-phó đều bị thương-nặng, nhưng Hạm-trưởng đã từ-chối di-tản và quyết ở lại tuẫn-tiết cùng chiến-hạm của mình theo truyền-thống của một sĩ-quan hải-quân và một nhà hàng-hải. Hạm-phó được nhân-viên dìu đào-thoát được nhưng đã phải bỏ mình trên mặt biển vì vết thương quá nặng. Vụ này làm tôi nhớ lại, theo lời kể của các bậc tiên-sinh, thì khi hải-quân Pháp hành-quân trên sông (nếu không lầm thì là Sông Ðáy) một chiến-hạm loại trợ-chiến-hạm (LSSL) hay Giang-pháo-hạm (LSIL) đã bị trúng đạn đài-chỉ-huy, làm tử-thương cả hai hạm-trưởng và hạm-phó cùng một lúc, sĩ-quan cơ-khí đã phải lên thay thế tiếp-tục chỉ-huy. Sau kinh-nghiệm này, hải-quân Pháp không cho hạm-trưởng và hạm-phó có mặt cùng một nơi khi lâm-trận. Cá-nhân tôi lúc đó đã không có chút thì giờ để nhớ tới kinh-nghiệm mà các bậc tiên-sinh đã truyền lại tôi mà áp-dụng.
Một điều lạ là Trung-cộng có đủ khả-năng tuy khiêm-nhượng, vào lúc cuối trận-chiến, vì có thêm tăng-viện đến kịp thời, nhưng đã bỏ rơi cơ-hội truy-kích khi lực-lượng ta triệt-thoái, hay xử-dụng hỏa-tiễn hải-hải vì lực-lượng ta vẫn còn nằm trong tầm hữu-hiệu của loại vũ-khí này. Tôi cho rằng có thể họ đã bận-tâm vào việc cứu vãn chiếc Kronstad 271 và quân bộ trên đảo Quang-Hòa, hoặc họ đã không nhận được lệnh tấn-công, và chỉ đương-nhiên chống-trả tự-vệ mà thôi. Tôi nhận rằng ước-tính của tôi về phản-ứng của địch đã cao hơn như thực-tế đã xẩy ra. Việc Hải-quân Viêt-Nam khai-hỏa tấn-công sau khi thất-bại đổ-bộ đã tạo cho Trung-cộng có nguyên-cớ vì bị tấn-công mà phải hành-động, nên đã dùng cường-lực cưỡng-chiếm các đảo vào ngày sau.
Theo các quân-nhân trú-phòng trên đảo Hoàng-Sa thì sáng sớm ngày hôm sau tức là ngày 20 tháng giêng, Trung-cộng đã huy-động một lưc-lượng hùng-hậu kết -hợp hải-lục-không-quân đổ-bộ tấn-chiếm đảo Hoàng-Sa và các đảo kế-cận mà các chiến-binh hải-quân đang chiếm-giữ. Theo ký-giả Lê-Vinh, một cựu sĩ-quan hải-quân, đã từng đảm-trách chức-vụ thư-ký cũa ủy-ban nghiên-cứu trận hải-chiến cho biết, thì vào thời-gian trận hải-chiến, Hải-quân Hoa-Kỳ đã chuyển cho Hải-quân Việt-Nam một tin-tức về 42 chiến-hạm Trung-cộng với 2 tiềm-thủy-đĩnh đang tiến xuống Hoàng-Sa. Dù nhiều hay ít thì lực-lượng của họ sễ trội hẳn lực-lượng Hải-quân Việt-Nam có thể điều-động tới. Nếu hai chiến-hạm còn lại của Hải-đoàn đặc-nhiệm phải lưu-lại Hoàng-Sa như lệnh ban ra lúc đầu, với khả-năng chiến-đấu đã bị giảm-sút nhiều thì sự bảo-tồn của hai chiến-hạm này rất mong-manh. Thế cho nên phản-lệnh cho hai chiến-hạm phải trở về căn-cứ được kể như là đúng lúc và sát với thực-tế hơn.
Trung-cộng đã bắt giữ tất cả quân-nhân và dân-chính Việt-Nam trên đảo Hoàng-Sa và toán hải-quân đổ-bộ thuộc Khu-trục-hạm HQ4 trên đảo Vĩnh-Lạc (sát phía nam đảo Hoàng-Sa) mà trưởng toán là HQ Trung-Uý Lê-văn-Dũng (sau được vinh-thăng HQ Ðại-Uý tại mặt-trận), làm tù-binh đưa về giam-giữ đầu tiên tại đảo Hải-nam. Riêng ông Kosh là nhân-viên của cơ-quan DAO Hoa-Kỳ tại Ðà-nẵng thì được trao trả cho Hoa-Kỳ sớm nhất tại Hồng-Kông. Còn các nhân-viên Việt đã bị họ nhồi-sọ về chủ-nghĩa của họ trong suốt thời-gian tại Quảng-Ðông, và trao trả về Việt-Nam tại ranh-giới HồngKông và Trung-cộng. Ðô-đốc Tư-lệnh-phó HQ đã được đề-cử đích-thân đến HồngKông tiếp-nhận. Các chiến-sĩ từ Trung-cộng hồi-hương đều được đưa vào Tổng-Y-viện Cộng-Hòa điều-trị về các bệnh-trạng gây ra do các hành-động ngược-đãi trong khi bị giam-cầm trên lục-địa Trung-Hoa.
Thế là cuối cùng thì Việt-Nam Cộng-Hòa đã mất nốt nhóm đảo Nguyệt-Thiềm phía nam của cả quần-đảo Hoàng-Sa cho tới ngày hôm nay.
Các chiến-sĩ Hải-quân đào-thoát từ Hoàng-Sa, sau nhiều ngày trôi-dạt trên mặt biển, một số đã được chính các tuần-duyên-đĩnh của Hải-quân cứu vớt, một số đã được các thương-thuyền trên hải-trình Singapore HồngKông bắt gặp. Tất cả các chiến-sĩ thoát-hiểm được đưa về diều-trị tại các Tổng-y-viện Duy-Tân (Ðà-nẵng) hay Cộng-Hòa, và còn được Thủ-tướng chính-phủ, các vị Tư-lệnh Quân-đoàn, và các vị Ðô-đốc Hải-quân đến thăm hỏi và úy-lạo.

Công-cuộc chuẩn-bị tái-chiếm Hoàng-Sa
Khi phần thăm-viếng của thượng-cấp kết-thúc, thì tất cả các chiến-hạm bắt tay ngay vào việc sửa-chữa và tái tiếp tế đan-dược đề chuẩn-bị tấn-kích tái-chiếm Hoàng-Sa. Một toán thợ thượng-thặng của Hải-quân công-xưởng cũng đã được điều-động từ Sàigòn ra để phụ-lực với chuyên-viên của Thủy-xưởng Ðà-nẵng. Riêng Tuần-dương-hạm HQ16, tuy không bị hư-hại nhiều trên thượng-tầng kiến-trúc, nhưng các chuyên-viên đã tháo-gỡ được đần viên đạn đã xuyên lủng hầm máy. Viên đạn này là một loại đạn xuyên-phá và không nổ 127 ly của Tuần-dương-hạm HQ5 bị lạc. Kinh-nghiệm cho thấy là loại đầu đạn không nổ nếu trúng nước thì đạn-đạo sẽ thay đổi rất nhiều vì đầu đạn nhọn bị nước làm chuyển hướng đi rất xa. Tin này do đích thân Tư-lệnh phó Hải-quân mang đến cho tôi. Ðó là một điều không may-mắn cho Hải-đoàn đặc-nhiệm Hoàng-Sa, nhưng trong bất cứ một cuộc chiến-tranh nào, sự nhầm-lẫn về mục-tiêu, về bạn và địch, về vị-trí tác-xạ đều đã xẩy ra ít nhất là tại chiến-trường Việt-Nam. Hơn nữa trong cuộc hải-chiến này, Tuần-dương-hạm HQ5 đã tác-xạ cả trăm đại-pháo 127 ly, mà chỉ có một viên bị lạc, nên vẫn còn là điều may-mắn. Việc chiến-hạm bị trúng 1 viên đạn của bạn cộng với việc hai khẩu hải-pháo 76 ly tự-động trên khu-trục-hạm HQ4 đã bị trở-ngại kỹ-thuật ngay từ phút đầu của cuộc chiến, là hai nhược-điểm chiến-thuật mà Hải-quân VNCH chỉ muốn phổ-biến hạn-chế vào đầu năm 1974 là thời điểm, mà nhiều sự phân-tích đáng tin cho rằng Tổng-Thống Nguyễn-văn-Thiệu đã lợi-dụng biến-cố Hoàng-Sa để tránh-né sự chỉ-trích của các phần-tử đối-lập lúc đó đang rất-mạnh.
Sau ít ngày sửa chữa, thì Tuần-dương-hạm HQ16 chỉ đủ khả-năng tự hải-hành về quân-cảng Sàigòn và được đón-tiếp trọng-thể. Khu-trục-hạm HQ4 không sửa chữa tại chỗ được hai khẩu 76 ly tư-động. Tuần-dương-hạm HQ5, sau khi tái tiếp-tế đạn và hàn vá các hư-hại đã cùng HQ6 ra khơi tìm-kiếm các nhân-viên đào-thoát khỏi vùng Hoàng-Sa. Các phi-cơ C130 đã bay lượn trong một vùng duyên-hải hạn-chế để tránh sự hiểu nhầm về hành-động khiêu-khích của Việt-Nam đối với Trung-cộng. Các phi-cơ hướng-dẫn các chiến-hạm xem xét các vật trôi trên mặt biển nhưng vẫn chưa cấp-cứu được nhân-viên nào ngoại trừ vỏ một thùng xăng dự-trữ . Tôi vẫn có mặt trên Tuần-dương-hạm HQ5 để tham-dự cuộc tìm-kiếm. Riêng hộ-tống-hạm HQ10, vì mất liên-lạc nên tôi đã không biết được tình-trạng cuối cùng của chiến-hạm, nhưng chúng tôi vẫn còn một hy-vọng tuy mong-manh là chiến-hạm này chưa chìm hẳn và có thể trôi dạt về phía duyên-hải miền Trung trong mùa gió đông-bắc.
Với Tuần-dương-hạm HQ6 đã có mặt trong vùng và vừa hoàn-tất hộ-tống Tuần-dương-hạm HQ16 từ nửa đường Hoàng-Sa Ðà-nẵng về bến, cộng với HQ17 (Hạm-trưởng HQ Trung-Tá Trần-đình-Trụ) điều-động từ Trường-Sa tới tăng-cường đã kết-hợp với Tuần-dương-hạm HQ5 thành một Hải-đoàn đặc-nhiệm mới với nhiệm-vụ chuẩn-bị tái-chiếm Hoàng-Sa. Mặc dầu nhiều sĩ-quan thâm-niên hơn tôi có mặt tại chỗ, nhưng tôi vẫn được chỉ-định tiếp-tục chỉ-huy. Một cuộc thao-dượt chiến-thuật và thực-tập tác-xạ đã diễn ra trong vòng một ngày tại vùng một đảo nhỏ nằm về phía bắc vùng Cù-lao Chàm phía đông-nam Ðà-nẵng. Sau cuộc thao-dượt, tôi trình bầy kết-quả việc huấn-luyện trong các buổi thuyết trình hành-quân tại Bộ-Tư-lệnh Hải-quân vùng, vẫn được Tư-lệnh-phó Hải-quân chủ-tọa.
Nhưng cuối cùng thì công-cuộc tái-chiếm Hoàng-Sa được hủy-bỏ. Tuy vẫn được tín-nhiệm để chỉ-huy, nhưng tôi tin rằng cuộc phản-kích tái-chiếm sẽ thất-bại ngoại trừ đó là một chiến-thuật thí-quân nằm trong một chiến-lược cao hơn. Với các tuần-dương-hạm cũ-kỹ (WHEC) xử-dụng trong lực-lượng phòng-vệ duyên-hải Hoa-Kỳ (US Coast guard) từ lâu, được trang-bị vào công-tác tuần-tiễu hơn là để chiến-đấu, vừa chạm-chạp và vận-chuyển nặng-nề, nên khó chống trả lại với các chiến-hạm chiến-đấu tối-tân hơn. Loại này chỉ có một hải-pháo 127 ly, còn 2 hải-pháo 40 ly đã được Hải-quân Việt-Nam đặt thêm vào lái tầu là nơi đã được dùng làm sàn đáp trực-thăng.
Trong thời-gian tại căn-cứ, Tư-lệnh-phó HQ ít nhất đã hai lần tập-hợp nhân-viên tất cả các chiến-hạm có mặt tại chỗ để chỉ-thị không được có hành-động kiêu-ngạo về chiến-tích của Hải-quân VNCH. Ðể làm gương cho tất cả nhân-viên thuộc quyền, tôi đã giữ một thái-độ rất khiêm-nhượng và im-lặng. Tôi chưa bao giờ thảo-luận hoặc trình bày chi-tiết với bất cứ một ai hay một tổ chức nào, về những yếu-tố đã đưa đến các quyết-định chiến-thuật của tôi trong trận đánh.
Tôi lưu-lại Vùng I duyên-hải chừng hơn một tuần-lễ, đã được cùng Phó Ðề Ðốc Tư-lệnh HQ vùng I Duyên-hải xuất-hiện trên đài chỉ-huy cũng của Tuần-dương-hạm HQ5 để thực-hiện một phóng-sự cho đài truyền-hình quân-đội. Sau đó tôi trở về nhiệm-sở chính tại Sàigòn. Tôi còn được đến phòng thâu-hình của quân-đội cùng các vị hạm-trưởng và một vài hạ-sĩ-quan trưởng pháo-khẩu để trình bầy các chiến-tích. Tuy nhiên tôi không đề-cập nhiều chi-tiết và nhường lời lại nhiều hơn cho các hạm-trưởng vì tôi nghĩ rằng các vị này đáng được đề-cao vì đã đích-thân huy-động tinh-thần nhân-viên và can-dảm trực-tiếp chiến-đấu. Ít lâu sau tôi phải theo học Khóa Chỉ-huy Tham-mưu đặc-biệt tại Long-Bình, đặc-biệt vì khóa gồm nhiều các sĩ-quan đang đảm-trách những vai-trò then-chốt của quân-lực và các đại-đơn-vị. Khi Phó-Ðề-đốc Phụ-tá hành-quân biển của Tư-lệnh-Hải-quân đến thuyết trình tại trường về tổ-chức của Hải-quân Việt-Nam, thì một câu hỏi đầu-tiên của khóa-sinh là về hải-chiến Hoàng-Sa. Ðô-đốc đã chuyển câu hỏi này cho tôi đang ngồi trong hội-trường, quả thật vị này đã trao cho tôi một trái banh khó đỡ. Tôi đáp lại câu hỏi vỏn-vẹn ngay là: Các quí-vị đã nghiên cứu về trận đánh Ấp-Bắc, thì trận hải-chiến Hoàng-Sa cũng gần tương-tự. Sau câu trả lời của tôi thì không một câu hỏi nào về trận Hoàng-Sa được nêu ra thêm. Xin ghi thêm vào nơi này, trận Ấp-Bắc đã làm cho quân-lực bị bất ngờ về chiến-thuật cửa địch, có sự sai lầm về ước-tính tình-báo và nhầm-lẫn về chiến-thuật điều-quân.
Vào những năm tháng cuối cùng của cuộc-chiến Việt-Nam tôi được biệt-phái giữ chức-vụ Phụ-Tá Hải-quân cho Trung-tướng Chỉ-Huy-trưởng Trường Chỉ-huy Tham-mưu Liên-quân đồn-trú tại Long-Bình

Phần sau trận hải-chiến
Sau trận hải-chiến, Hải-quân được nhiều vinh-danh nhờ trận-chiến đã nêu cao và nối-tiếp được tinh-thần chống bắc-xâm của dân-tộc. Trận hải-chiến được liên-tục ca-ngợi hàng ngày trên các phương-tiện truyền-thông của quân-đội cũng như ngoài dân-sự để thêm vào với: Bình-long anh-dũng, Kontom kiêu-hùng v.v….

Hoàng-Trường-Sa với Việt-Nam là một

Cũng nhờ trận hải-chiến mà phần đông nhân-dân Việt-Nam mới được biết đến phần lãnh-thổ nằm xa vời trong Biển-Ðông mà Hải-quân VNCH từ ngày thành-lập đã âm-thần bảo-vệ và tuần-tiễu.

Nói về trận hải-chiến, dù Hải-quân VNCH giả thử có thắng được trận ngày đầu, thì chúng ta khó lường được sự tổn-thất nếu Hải-quân còn ở lại để cố-thủ Hoàng-Sa. Phó Ðề-Ðốc Chủ-tịch Ủy-Ban nghiên-cứu về trận hải-chiến khi vị này đích thân thăm-viếng Khu-trục-hạm HQ4, khi đang nằm trong ụ lớn sửa chữa đã nói riêng với tôi: thế là vừa đủ, ý của vị này nói là không nên tiếp-tục chiến-đấu thêm ít nhất là vào thời-điểm đó Hải-quân còn phải đảm-nhận nhiều công-tác tiễu-trừ cộng-sản trong đất liền. Ðó là chưa kể việc tấn-chiếm phần còn lại của quần-đảo Hoàng-Sa có thể đã nằm trong các đường lối đi-đêm chiến-lược của các cường-quốc. Tôi nghĩ rằng nếu chiếc khu-trục-hạm HQ4 không bị trở-ngại kỹ-thuật và trận-chiến đã xẩy ra gần như tôi đã dự-liệu và mong-muốn, nghĩa là ta thắng trận đầu, thì cường-lực hải-lục-không quân của chúng huy-động ngày hôm sau không những đủ sức tràn ngập quân trú-phòng và lại còn đủ sức truy-kích Hải-quân VNCH trong một vùng rộng lớn hơn. Tôi đã tin-tưởng rằng Quân-đoàn I/Quân-khu I đã phải đặt trong tình-trạng báo-động đề-phòng sự tấn-công của Trung-cộng ngay sau khi trận hải-chiến diễn ra. Một phi-tuần chiến-đấu-cơ F5 của Sư-đoàn I Không-quân tại Ðà-nẵng đã sẵn-sàng trên phi-đạo nhưng không được lệnh cất cánh từ cấp cao để yểm-trợ cho Hải-quân vì có thể là e-ngại sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến mới, hoặc chỉ hạn-chế trận-chiến tới mức có thể chấp-nhận được trong một thế chính-trị.

Một lần nữa, giả-dụ rằng ta cứ để Trung-cộng có mặt trên đảo Quang-Hòa, trận hải chiến đã không xẩy ra thì chúng ta vẫn có thể tiếp-tục hiện-diện trên đảo Hoàng-Sa, tuy nhiên có thể phải trải thêm quân trên các đảo Cam-Tuyền, Vĩnh-Lạc và Duy-Mộng, để tránh sự lấn-chiếm, cộng thêm là Hải-quân Việt-Nam phải thường-xuyên tuần-tiễu với một hải-đoàn tương-đối mạnh. Nhưng dần dà họ cũng sẽ lấn chiếm theo kế hoạch bành trướng thế lực của họ trong vùng Ðông Nam Á. Có thể Trung-cộng đã trả đũa hay dập theo khuôn-mẫu Việt-Nam Cộng-Hòa khi ta đã đặt quân trú-phòng trên đảo Nam-Yết và Sơn-Ca nằm phía nam và đông cùng trên một vòng-đai san-hô với đảo Thái-Bình, đã bị Trung-Hoa Dân-quốc (Ðài-Loan) chiếm-đóng từ khi Nhật-Bản thua trận đệ-nhị thế-chiến. Người Trung-Hoa dù là lục-địa hay hải-đảo, đã từng nhiều lần tuyên-bố là lãnh-thổ của họ, không những vùng này mà thôi mà cả toàn vùng Hoàng-Sa Trường-Sa. Phải thành-khẩn mà nhận rằng, khi Việt-Nam Cộng-Hòa đặt quân trú-phòng trên các đảo còn bỏ trống trong vùng Trường-Sa như Nam-Yết, Sơn-Ca, Song-Tử-đông, Song-Tử-tây, Trường-Sa v.v.., chúng ta đã không gặp một hành-động đối-kháng về quân-sự nào từ phía Trung-Hoa Dân-quốc hoặc Phi-Luạt-Tân hay Mã-Lai-Á.

Một suy-luận nữa là có thể trận hải-chiến là một cuộc điều-chỉnh sự nhường quyền chiếm-giữ từ một nhược-tiểu đến một cường-quốc theo một chiến-lược hoàn-cầu mà vài cường-quốc đã ngầm thỏa-thuận trước. Chúng ta có thể nhớ lại cuộc tấn-công hùng-hậu của Anh-quốc trong cuộc tranh-chấp đảo Falkland (Nam Mỹ-Châu) vào thập-niên 80, mà Á-căn-đình (Argentina) vẫn luôn coi như lãnh-thổ của họ. Họ đã chiến-đấu mạnh-mẽ trên mặt ngoại-giao và buộc phải chiến-đấu trên mặt quân-sự sau khi ngoại-giao thất-bại. Về mặt quân-sự, họ biết trước là khó chống lại Anh-quốc với lực-lượng khá dồi-dào, nhưng họ đã phải chiến-đấu trong khả-năng của họ, họ biết tự kiềm-chế cường-độ chiến-tranh để giảm-thiểu tổn-thất. Kết-quả là đảo Falkland đã về tay Anh-quốc. Tuy đảo Falkland rộng lớn hơn về diện-tích và nguồn-lợi cũng như dân-số, quân-lực hai đối-thủ đưa vào cuộc đụng-độ hùng-hậu hơn, mức-độ chiến-tranh nặng hơn, nhưng hai trận Falkland và Hoàng-Sa đã gần tương-tự nhau về tính-chất của một cuộc chiến.

Người Pháp, trong chiến-tranh tại Ðông-dương sau 1945, vì chiến-cuộc gia-tăng tại nội-địa, đã phải bỏ-ngỏ hoàn-toàn nhóm đảo Tuyên-đức phía bắc, và bỏ-ngỏ nhóm Nguyệt-thiềm phía nam trong vài năm. Riêng nhóm Tuyên-đức phía bắc đã do Trung-Hoa Dân-quốc cưỡng-chiếm trong ít lâu, nhưng sau đó họ đã phải rút về vì sự thất-trận củu họ trong lục-địa. Về sau, hiệp-định Balê 1954 lại đề ra khu phi-quân-sự dọc theo vĩ-tuyến 17, đã làm cho Việt-Nam Cộng-Hòa đã không thể tích-cực hiện-diện tại nhóm Tuyên-Ðức bắc đảo Hoàng-Sa thuộc nhóm Nguyệt-thiềm.

Xét về sự phòng-thủ, so sánh với đảo Thái-Bình trong vùng Trường-Sa thì thế bố-trí trên đảo Hoàng-Sa của VNCH đã thua kém rất xa, và không thể đủ sức để cố-thủ chống lại một cuộc cường-kích thủy-bộ. Trên đảo không có công-sự nặng, chỉ có khỏang một trung-đội địa-phương-quân với vũ-khí cá-nhân và một vài quan-sát viên khí-tượng. Trong khi đó Ðảo Thái-Bình, khi Nhật chiếm-đóng trong đệ-nhị thế-chiến, họ đã xây-cất nhiều công-sự nặng. Sau này khi Trung-Hoa dân-quốc (Ðài-Loan) chiếm-đóng, chắc-chắn họ đã tăng-cường mọi cơ-cấu phòng-thủ, lại có trang-bị các khẩu đại-pháo chống chiến-hạm, đưa quân-số trú-phòng có thể tới cấp hơn tiểu-đoàn và do một vị Ðại-tá Thủy-quân lục-chiến chỉ-huy.

Ngoài ra việc tuyên-bố chủ-quyền của Trung-cộng trên cả hai quần-đão Hoàng-Sa và Trường-Sa được nhận-xét chỉ diễn ra sau cuộc thăm-viếng Trung-cộng của Ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Kissinger. Ít nhất là Hoa-Kỳ và Trung-cộng đã ngầm có nhiều thỏa-thuận về chiến-lược hay ít nhất cũng đồng-ý là Hoa-kỳ sẽ không can-thiệp vào các hành-động của Trung-cộng trong vùng. Ðối với Việt-Nam Cộng-Hòa, Hoa-Kỳ đã không muốn can-dự vào sự bảo-vệ lãnh-thổ. Trong ngày hải-chiến thì các đối-tác-viên tại Bộ-Tổng-Tham-mưu đã khẳng-định đó là công chuyện riêng của Việt-Nam .

Quan-niệm của Hoa-Kỳ trong việc mở-rộng lưc-lượng Hải-quân chỉ là vừa đủ để hành-quân yểm-trợ hỏa-lực và ngăn-chặn trong vùng sông-ngòi và duyên-hải mà thôi. Cộng-cuộc xây-cất một hệ-thống thám-báo liên-tục từ Bến-Hải đến Vịnh Thái-lan là một công-tác cao, cả về kỹ-thuật lẫn tài-chánh với mục-tiêu duy-nhất là kiểm-soát hữu-hiệu sự xâm-nhập lén-lút bằng đường-biển của cộng-sản Bắc-Việt vào vùng duyên-hải. Việc viện-trợ hai chiếc khu-trục-hạm, vì là loại tấn-công, nên sau 1973 họ đã nhiều lần đòi tháo gỡ máy dò tiềm-thủy-đĩnh như đã trình-bầy, làm như vậy là sẽ giảm khả-năng của loại này một nửa. Vũ-khí tấn-công trên mặt biển và trên không của khu-trục-hạm là hai dàn hải-pháo 76 ly tự-động với nhịp tác-xạ khỏang 60 viên một phút. Với hỏa-lực tấn-công mạnh-mẽ như vậy, Hải-quân Hoa-Kỳ, vào những năm cuối của cuộc chiến, song-song với kế-hoạch rút lui, đã không bỏ sót cơ-hội cắt đứt hay ít nhất cũng trì-hoãn việc tiếp-tế cơ-phận thay-thế cho loại hải-pháo tối-tân này.

Sau trận hải-chiến, để nêu gương hy-sinh của các chiến-sĩ bỏ mình trên đại-dương, Bộ-Tư-lệnh HQ đã có nghiên-cứu một kiến-trúc dự-định xin phép Ðô-thành Saigòn Chợ-lớn xây cất trong khu-vực cột-cờ Thủ-Ngữ bên sông Sàigòn. Riêng Hội-đồng Ðô-thành đã đồng-ý trên nguyên-tắc là sẽ có một đường-phố mang tên Ngụy-văn-Thà. Một buổi lễ kỷ-niệm lần thứ nhất trận hải-chiến Hoàng-Sa đã được tổ-chức vào ngày 19 tháng giêng năm 1975 do Tư-lệnh Hải-quân, Ðề-Ðốc Lâm-ngươn-Tánh chủ-tọa nhưng tôi không được thông-báo để đến tham-dự.

Hàng năm cứ mỗi Tết nguyên-đán đến, dù vào tháng giêng hay không, tôi luôn luôn có ít phút tưởng-niệm dành cho các liệt-sĩ đã hy-sinh và cũng tưởng nhớ tới chiến-sĩ đã anh-dũng cùng tôi chiến-đấu trong trận-hải-chiến Hoàng-Sa, mà số đông đang lưu-lạc trong vùng đất tự-do. Họ là những anh-hùng đã xả-thân để bảo-vệ lãnh-thổ của tiền-nhân xây-dựng từ bao thế-kỷ. Mong rằng tài-liệu này sẽ mang lại niềm hãnh-diện cho toàn-thể các chiến-sĩ Hải-quân đã tham-dự trận đánh mà tôi đã có vinh-dự chỉ-huy.

Dallas, Texas , mùa Xuân Kỷ-Mão

Hà Văn Ngac

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

“Bộ quần áo của hoàng đế” đang xuất hiện ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 19/01/2011

Tác giả viết bài nầy khi mà hội nghị đảng CSVN đang bế mạc và danh sách của các đảng viên nắm quyền trong 5 năm tới đã được sắp xếp và công khai hóa xong. Tựa đề của bài nầy tác giả muốn nói rằng: quyền lực ở Việt Nam được sắp xếp theo kiểu cha truyền con nối. Những người nắm quyền hành cai trị đất nước (khi về hưu hoặc muốn bổ nhiệm ai vào làm việc gì) chỉ trao quyền lực lại cho người trong đảng CS mà thôi. Không cần biết người nầy có đủ khả năng làm việc hay không, họ chỉ cần lòng trung thành là đủ. Nói tóm gọn một câu là: “Hồng tốt hơn Chuyên”

Trong danh sách mới đưa ra sau đại hội đảng,  con trai Nông Đức Mạnh (Nông Quốc Tuấn)  và con trai Nguyễn Tấn Dũng (Nguyển Thanh Nghị) là ủy viên trung ương đảng.

Mời các bạn đọc. The Emperor’s Clothes’ Are Coming into Light in Vietnam ,và coi cuộc họp vừa rồi chỉ là một phim bộ.

tác giả: Roger Mitton

Submitted by TongBienTap on Wed, 01/19/2011 – 02:27

Nguồn: The Phnompenh Post

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

17.01.2011

Thứ Năm tuần trước, một trong những cơ quan xếp hạng dân chủ tín nhiệm nhất trên thế giới là Freedom House đã phát hành báo cáo thường niên của mình.

Kết quả báo cáo không được đề cập nhiều trong khu vực này với lý do rất rõ ràng là Đông nam Á là một trong những khu vực ít tự do nhất trên thế giới.

Trên thực tế, một trong những tiết lộ gây sốc nhất của bản báo cáo là chỉ có một quốc gia trong vùng Đông nam Á có thể được xếp hạng là “tự do”.

Chắc chắn là nếu bạn hỏi hầu hết mọi người, bao gồm cả những chuyên gia đầy kiến thức, rằng đấy là nước nào, câu trả lời của họ sẽ không đúng.

Vì đấy là Indonesia.

Chà! thật tuyệt vời, thật ngạc nhiên, thật phấn khởi. Những thay đổi ở nơi ấy thật vô cùng tích cực.

Lần đầu tiên tôi đến Java là vào năm 1976, khoảng một thập niên sau thời kỳ gọi là “Một năm Sống đầy Nguy hiểm” khi nhà độc tài Kukarno đã bị thay thế trước đó bởi một nhà độc tài khác là Suharto. [*]

Hai người này đã trị vì Indonesia trong hơn nửa thế kỷ, từ khi quốc gia giành độc lập vào năm 1945 cho đến thời điểm có những dấu hiệu dân chủ vào năm 1998.

Điều kỳ diệu là mãi cho đến đêm giao thừa của thiên niên kỷ mới thì dạng thái cơ bản của dân chủ mới xuất hiện dưới chính quyền Tổng thống Abdurrahman Wahid – và mãi cho đến bốn năm sau mới đạt được tự do hoàn toàn với việc bầu cử Tổng thống Susilo Bambamg Yudhyono.

Vì thế đất nước khổng lồ, rải rác, đa chủng tộc, đa tôn giáo này chỉ mới có được dân chủ trong khoảng sáu năm.

Nhưng trong khía cạnh tự do, nó đã vượt qua những quốc gia tương tự như Cambodia, Malaysia, Singapore và Thái Lan, và thậm chí được xếp hạng trên cả Philippines.

Do đó, Freedom House đã cho Indonesia điểm 2 về quyền tự do chính trị và điểm 3 về tự do dân sự. Điểm cao nhất là 1, thấp nhất là 7.

Không công bằng nhưng có thể đoán trước được là Miến Điện với 7 điểm trong cả hai lĩnh vực, tương tự với Bắc Hàn, Lybya và Somalia.

Nhưng không như những quốc gia lạc hậu ấy, Miến Điện đã tổ chức bầu cử và cho phép một loạt những đảng chính trị khác hoạt động, và thậm chí cho phép một số ít – thú thật là vô cùng ít – quyền tự do ngôn luận.

Vì thế, Miến Điện nên thật sự được xếp hạng ở trên Việt Nam và Lào thay vì ở dưới.

Thật thích đáng, Việt Nam được điểm tệ nhất là 7 về tự do chính trị, nhưng lạ lùng là lại được 5 điểm về tự do dân sự – việc nầy, bất cứ nhà báo, luật sư hoặc tín đồ nào cũng sẽ nói với bạn, là một sai lầm.

Điều kỳ lạ hơn, hạng điểm 7-5 của Việt Nam bằng với Tunisia, nơi một thể chế độc tài cổ xưa cuối cùng vừa bị lật đổ vào tuần trước bởi những người dân từng bị ức hiếp quá lâu.

Những kẻ cầm đầu chính quyền trộm cướp Cộng sản chắc hẳn đang liếc ra sau lưng một cách đầy lo âu và tự hỏi rằng liệu những chuyện như thế có thể xảy ra ở đây hay không.

Câu trả lời là: Có, chuyện như thế có khả năng xẩy ra – và chắc chắn sẽ xẩy ra, chắc có lẻ là sớm hơn dự định nếu chế độ nầy cứ tiếp tục gia tăng sự kém cỏi của họ lên tới mức không có đủ khả năng trong việc quản lý sai lầm nền kinh tế. [*]

Trong khi thật là sốc khi chỉ có Indonesia đạt điểm hoàn toàn tự do, cũng thật hài lòng khi thấy Philippines được xếp hạng là có “tự do một phần” và chỉ là quốc gia thứ hai trong vùng được xếp hạng “bầu cử dân chủ”.

Vì cuộc bầu cử tương đối hoà bình và đáng tin vào tháng Năm trước, thành tích của Manila được xem là “tiến triển tích cực nhất” trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Nhưng phong trào tiên tiến ấy đã bị đẩy lùi bởi khuynh hướng đi xuống tại Cambodia và Thái Lan, nơi quyền tự do chính trị và tự do dân sự bị bóp nghẹt.

Ghi nhận rằng chính quyền của Đảng Nhân dân Cambodia đã “củng cố việc kiểm soát mọi khía cạnh của tiến trình bầu cử và  tăng cường đe doạ xã hội dân sự”, Freedom House đã cho Cambodia điểm đen trong hạng mục quốc gia “không tự do”.

Sự thụt lùi này không phải là hiếm thấy vì hầu hết các quốc gia Đông nam Á hiện nay đang xoa dịu những chỉ trích bằng cách tạo dựng những màn hài kịch về quá trình dân chủ.

“Nhiều chính phủ đề cập đến dân chủ và nói: Ít nhất chúng tôi cũng tổ chức bầu cử, đấy là một sự tiến bộ. Trong khi đương nhiên đa số các cuộc bầu cử này đều là những quá trình có tính chất bủn xỉn hẹp hòi, chỉ nhằm để hỗ trợ tình trạng hiện tại,” Dave Mathieson thuộc phân bộ châu Á của tổ chức Giám sát Nhân quyền nói.

Điều đáng buồn là nó gợi lại câu nói của nhà văn Mỹ quá cố John Updike “Thói quen của một bạo chúa, cho dù hắn ta là vua, là cai ngục hoặc kẻ độc tài, là ưa thích lựa chọn những người có lòng trung thành để giúp việc hơn là chọn những người có khả năng.” Đây là những gì mà ta đang thấy trên khắp khu vực này. [*]

http://www.x-cafevn.org/node/1633

[*] các đoạn có đánh dấu đã được dịch khác với bản dịch trên x-ca.

nguồn: http://www.phnompenhpost.com/index.php/2011011746114/World-news/the-emperors-clothes-are-coming-into-light-in-vietnam.html

——-

Hạ màn Đại Tiệc

Đại Tiệc (party) ở Mỹ Đình đã hạ màn sau 10 ngày chí choé rôm rả ra trò. Những buổi tiệc chiêu đãi, những cuộc vận động hành lang đang thưa dần, nhường chỗ cho những người thắng cuộc tổ chức bán đấu giá xe phục vụ Đại Tiệc, quyết toán các khoản chi tiêu, chia chác thị phần, phân phối ghế. Tết đang phả hơi nóng sau lưng, nhưng Chủ tịch cũng ngẫm một chút về Đại Tiệc hầu bạn đọc.

Năm năm trước, hưởng ứng lời kêu gọi góp ý góp iếc này nọ, Chủ tịch đã cắm cổ hơn ngày trời làm hẳn một bài 9 trang A4, gồm 5 điểm, hoành tráng mang tên: “Gỡ nút cổ chai cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh” gửi Ban Văn Kiện của Đại hội Tiệc. Các báo chí nước ngoài thi nhau đưa tin, còn Tiệc ta thì bặt vô âm tín, coi như không thấy, không nghe, không có…
Vì lý do đó, Chủ tịch không mấy quan tâm đến Đại Tiệc lần này. Thế nhưng, mấy ông bạn Chủ tịch lại quá sốt sắng, thường xuyên gọi điện, hỏi thăm thông tin, thảo luận từng điểm nhỏ trong dự thảo, rồi chuyện nhân sự nhân siếc, ông nọ ông kia, ông nào trúng, ông nào trượt, cứ y mấy ông Hai Lúa thảo luận về chuyện giá cá tra ở thị trường Mỹ.
Về chuyện Cương lĩnh, quanh đi quẩn lại cũng chỉ vì cái gọi là Định hướng CNXH mà Tiệc tự nhốt cả dân tộc vào đó trong hơn nửa thế kỷ qua. Đau thương, bạo lực, đổ máu, tụt hậu cũng chỉ vì cái định hướng chết tiệt này. Từ khi buông lỏng cái định hướng đó năm 1986, đó cũng là cơ hội để dân tộc hồi sinh.
Chuyện công hữu về Tư liệu sản xuất, kinh tế quốc doanh chủ đạo cũng là chuyện loay hoay gần nửa thế kỷ qua. Không mới, không thiếu dẫn chứng, không thiếu đau thương, vẫn cố gắng bấu víu, luyến tiếc, mỵ dân. Giải mã hiện tượng này, Chủ tịch đã có chuỗi bài: Nền chính trị ngoại tình”. Nay có nói thêm vài điều cũng không mới.
Chuyện nhân sự thực chất chỉ là sự giàn xếp giữa các phe phái, thế lực. Nhìn rộng hơn một chút, năm 1908, Từ Hy Thái hậu ngắc ngoải, biết không thể kéo dài được lâu, liền lập Phổ Nghi lên ngôi Hoàng đế. Mặc dù, lúc đó ông này mới 2 tuổi rưỡi. Ở một đất nước chiếm 1/5 dân số thế giới mà phải chọn một đứa trẻ lên ngôi Vua thì ở xứ ta, chuyện ông nọ hay ông kia ở ngôi Tổng có gì là lạ!
Mỗi khi còn có sự độc tôn lãnh đạo mà duy trì hệ thống chính trị theo kiểu cung đình, hậu phong kiến thì chuyện chức Tổng hay Vương cũng chỉ là sự sắp đặt, giàn xếp sao cho không xung đột với các nhóm lợi ích.
Nguyễn Trần Bạt nói với Chủ tịch: Đây là Đại hội của các thủ đoạn. Chủ tịch bảo: bác nói thế thẳng như ruột ngựa. Gọi là Festival có phải lịch lãm hơn không. Chiến lược không có gì để bàn, vì có bàn thì cũng chỉ loay hoay trong cái hũ đó thôi. Khi chiến lược bị nhốt trong hũ kín thì đó là lúc mà thủ đoạn được dùng đến.
Những ai có ý tưởng thoát khỏi cái hũ đó, đương nhiên là không có cơ hội tham gia vào cơ cấu. Có một chuẩn mực được ngầm định rằng: Phải vâng lời, phải kiên định, phải trung thành với cái chủ nghĩa mà Tiệc ta trót lựa chọn từ thời còn nông nổi. Cả một dân tộc 86 triệu dân đang sống trong thời đại Internet băng thông rộng và một thế giới phẳng lại phải kiên định với cái gọi là “Luận cương năm 1930” do một thanh niên mới 26 tuổi, nông nổi bốc đồng viết ra một cách vội vàng.
Nguyên Chủ tịch QH An Nguyễn Văn, trước Đại Tiệc, trả lời phỏng vấn VietNamNet, ông nói: “Việt Nam đang mắc lỗi hệ thống. Quyền lực nhà nước được phân làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy Đảng trở thành ông vua tập thể. Như thế không phải dân chủ nữa mà là Đảng chủ. Vậy Đảng là ông vua rồi còn gì.
Đó là cái sai từ gốc của hệ thống gây nên cái lỗi của hệ thống quyền lực theo mô hình cộng hòa Xô Viết. Thông lệ quốc tế không có vậy, và cần phải được khắc phục theo quy luật phổ quát là phân chia ba nhánh quyền lực một cách rạch ròi thống nhất theo hiến pháp và pháp luật tức là thống nhất ở nơi dân”
Trong một nền kinh tế tri thức, khi mà sự sáng tạo được coi là động lực phát triển của xã hội thì Tiệc ta lại tôn thờ sự kiên định, định hướng vào một khái niệm mông lung, để rồi năm năm một lần, hội họp tranh cãi chí choé về những cái mông lung ấy. Một trong những luận điểm mà Tiệc ta hay dùng để mỵ dân là sự minh bạch. Vậy đố ai biết, Đại Tiệc này đã chi hết bao nhiêu tiền?
Nguồn: Blog Phan Thế Hải
———
Coi thêm bài nầy:  (chưa từng làm bí thư, nhưng trở thành ủy viên trung ương đảng)

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010

Posted by hoangtran204 trên 19/01/2011

Trong khi dân chúng than trời như bọng vì vật giá quá đắt đỏ, giá vàng tăng từ 26 triệu vào tháng 11/2009 đến hơn 36 triệu 1 lượng vào cuối năm 2010, thì tác giả của bài báo nầy đưa ra các con số rất đáng ngờ.  Giá đô la cũng tăng từ 18 000 đến 21 500 vào cuối năm 2010. Mức lạm phát thực sự phải cao hơn 11,58%. Chỉ số chứng khoán nằm ở mưc 420-450 suốt năm 2010. Đầu tư của nước ngoài vào VN chiếm một phần trăm quá lớn so với GDP…

Mời bạn đọc để suy xét:

****

Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010

Năm 2010, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức.

Việc đánh giá, nhìn nhận lại kinh tế Việt Nam năm 2010 để rút ra những bài học, chỉ rõ những thách thức và giải pháp cho năm 2011 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam. Có thể tiếp cận và đánh giá một nền kinh tế từ nhiều phương diện. Trong bài viết này, bức tranh kinh tế Việt Nam được nhìn nhận từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến tình hình kinh tế trong năm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản.
1. Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010

Tăng trưởng kinh tế

Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hình 1 cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010.

Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Uớc tính GDP cả năm 2010 có thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%).

Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm  2010 ước đạt 1.160 USD.


Các chỉ số tăng trưởng cho các ngành cũng thể hiện một xu hướng phục hồi rõ rệt. Công nghiệp tiếp tục là đầu tàu của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2009 và năm 2010 ước tăng 14% so với năm 2009.

So với khu vực công nghiệp thì khu vực dịch vụ cũng có sự phục hồi sau khủng hoảng kinh tế thế giới những ở mức độ thấp hơn. Tốc độ tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm là 7,24% và triển vọng tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ cả năm 2010 có thể đạt 7,5%.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, năm 2010 gặp nhiều khó khăn: đầu năm hạn hán nghiêm trọng, giữa năm nắng nóng gay gắt, cuối năm mưa lũ lớn kéo dài ở miền Trung và Tây Nguyên. Những khó khăn này đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất vụ mùa, nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi. Tuy nhiên, do thực hiện nhiều chính sách và giải pháp hỗ trợ hộ nông dân và các doanh nghiệp về vốn, vật tư, tiêu thụ kịp thời, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm đã tăng 2,89% so với cùng kỳ năm 2009, và ước cả năm 2010 tăng khoảng 2,8%.

Đầu tư

Kinh tế phục hồi là một nguyên nhân quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư phát triển. Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2010 đã đạt được những kết quả tích cực. Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2010 đạt 800 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với năm 2009 và bằng 41% GDP.

Trong đó, nguồn vốn đầu tư của tư nhân và của dân cư dẫn đầu bằng 31,2% vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn đầu tư nhà nước (gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu Chính phủ, nguồn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước và nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước) bằng 22,5%, tăng 4,7% so với năm 2009. Những kết quả này cho thấy các nguồn lực trong nước được huy động tích cực hơn.

Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tính đến hết tháng 11, cả nước thu hút được 833 dự án mới với tổng số vốn đăng ký đạt 13,3 tỷ USD, bằng 60% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó vốn thực hiện ước đạt 10 tỷ USD, tăng 9,9%. Mặc dù vốn FDI đăng ký có thấp hơn nhiều so với năm 2009 nhưng tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký lại cao hơn nhiều. Đây có thể được coi là điểm sáng trong thu hút FDI năm 2010. Điều này cũng cho thấy sự cam kết lâu dài các nhà đầu tư nước ngoài ở thị trường Việt Nam.

Tốc độ tăng vốn đầu tư cao và nhanh một mặt thể hiện quan hệ tích lũy – tiêu dùng đã có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, nhưng mặt khác lại cho thấy những hạn chế trong hiệu quả đầu tư.

Nếu như năm 1997, chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,7% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%) chúng ta phải đầu tư tới 43,1% GDP. Đến năm 2010, trong khi tổng mức đầu tư toàn xã hội lên tới 41% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 6,7%.

Chỉ số ICOR đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008. Hệ số ICOR của doanh nghiệp và đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân chỉ có 3-4, trong khi đó ICOR của khu vực kinh tế nhà nước và từ đầu tư của nhà nước tới 9-101 .

Bên cạnh đó còn xảy ra tình trạng chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư. Những đặc điểm này là đáng báo động về cả trước mắt cũng như lâu dài.

Lạm phát và giá cả

Năm 2010 lạm phát có những diễn biến phức tạp. Từ đầu năm đến cuối tháng 8 chỉ số giá tiêu dùng diễn biến theo chiều hướng ổn định ở mức tương đối thấp, trừ hai tháng đầu năm CPI ở mức cao do ảnh hưởng bởi những tháng Tết. Tuy nhiên, lạm phát đã thực sự trở thành mối lo ngại từ tháng 9 khi CPI tăng bắt đầu xu hướng tăng cao. Đến hết tháng 11, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới 9,58% và mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm dưới 8% mà Quốc hội đề ra sẽ không thực hiện được.

[Ngân hàng thế giới cho biết, lạm phát của VN là 11.58%– TH]!

Lạm phát và giá cả của năm 2010 tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân.

_Thứ nhất, sự phục hồi của nền kinh tế làm cho nhu cầu các loại hàng hóa dịch vụ đều tăng cao, cộng với thiên tai, lũ lụt ở các tỉnh miền Trung lại càng làm tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng…

_Thứ hai, giá của một số mặt hàng nhập khẩu của nước ta trên thị trường thế giới tăng lên do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu làm tăng chi phí sản xuất của nhiều doanh nhiệp.

_Thứ ba, việc điều chỉnh tỷ giá làm đồng tiền nội tệ mất giá làm cho chi phí nhập khẩu tăng lên đẩy mặt bằng giá nhiều hàng hóa tăng theo.

Bên cạnh đó những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở Việt Nam những năm trước vẫn còn. Đó là sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tập đoàn lớn. Do vậy, kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng cho các DNNN và tập đoàn cùng với thiếu sự thẩm định và giám sát thận trọng cũng góp phần kích hoạt cho lạm phát trở lại. Sự điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước và sự gia tăng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại ở những tháng cuối năm 2010 sẽ tiếp tục gây sức ép làm tăng lạm phát không chỉ những tháng cuối năm mà có thể cả trong năm 2011.

[tác giả không nhắc nhở gì đến chính phủ hàng năm đều ra lênh cho ngân hàng VN  in tiền ra để tung một số lượng lớn tiền đồng vào thị trường VN hàng năm!]

Tỷ giá

Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2010 là khá phức tạp. Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng hai lần vào tháng 2 và tháng 10, khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do luôn ở mức cao. Tỷ giá chính thức có thời điểm thấp hơn tỷ giá trên thị trường tự do tới 10%. Đến cuối tháng 11 năm 2010, tỷ giá trên thị trường tự do đã đạt mức 21.500 đồng/USD.

Hình 3 cho thấy về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng. Những bất ổn về tỷ giá có nguyên nhân sâu xa từ những bất ổn về kinh tế vĩ mô đó là bội chi cao, nhập siêu lớn và hiệu quả đầu tư công thấp… làm cho cầu ngoại tệ luôn lớn hơn cung ngoại tệ. Bên cạnh đó hiện tượng đầu cơ và tâm lý cũng gây áp lực mạnh mẽ lên tỷ giá. Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát trong nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh. Trong bối cảnh lạm phát có xu hướng gia tăng và tính không ổn định trên thị trường tiền tệ, đòi hỏi cần phải có sự lựa chọn linh hoạt cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ.

Thu chi ngân sách

Năm 2010, tình hình kinh tế trong nước chuyển biến tích cực đã tạo điều kiện để tăng thu ngân sách nhà nước. Thu ngân sách nhà nước năm 2010 ước đạt 520.100 tỷ đồng, vượt 12,7% so với dự toán, tăng 17,6% so với năm 2009, và đạt tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước là 26,7%. Mặc dù tỷ trọng thu nội địa có tăng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn (khoảng 60%).

Việc chấp hành kỷ luật ngân sách không nghiêm, thất thu, gian lận, nợ đọng thuế, kể cả thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu còn lớn. Số nợ thuế chờ xử lý (chiếm hơn 20% tổng số nợ thuế) tăng khá nhiều. Đây là dư địa quan trọng để tăng thu ngân sách và giữ kỷ cương luật pháp về ngân sách nhà nước. Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 637.200 tỷ đồng, tăng 9,4% so với dự toán và tăng 9% so với thực hiện năm 2009.

Bội chi ngân sách năm 2010 ước khoảng 117.100 tỷ đồng, bằng khoảng 5,95% GDP, giảm so với năm 2009 (6,9%) và cũng giảm so với kế hoạch đề ra (6,2%). Đó là những kết quả rất đáng khích lệ trong bối cảnh nền kinh tế vừa trải qua cơn suy giảm. Tuy nhiên, bội chi ngân sách vẫn còn cao (chưa về mức dưới 5% như đã duy trì trong nhiều năm) và là một trong những nhân tố góp phần làm gia tăng lạm phát. Điều này cũng cảnh báo độ an toàn của ngân sách trong các năm tiếp theo nếu như không chủ động có các biện pháp cải cách để tạo nền tảng tăng nguồn thu cũng như tăng cường kỷ luật tài chính cho ngân sách.

Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại

Năm 2010, xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam có nhịp độ tăng trưởng đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế của những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU… vẫn phục hồi chậm chạp.

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước đạt khoảng 70,8 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm 2009. Xuất khẩu tăng là do sự đóng góp lớn của những mặt hàng công nghiệp chế biến cộng với sự phục hồi của kinh tế thế giới làm cho xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản được lợi về giá. Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuất khẩu đã bộc lộ trong nhiều năm qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản, dệt may, da giầy… Hơn nữa, các mặt hàng công nghiệp chế biến vẫn mang tính chất gia công. Như vậy, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.
[Tác giả không đề cập tới chuyện hàng năm  VN xuất khẩu 10 tỉ tiền bán dầu thô, và 30 triệu tấn than đá; 1 tấn than đá giá 60 đô. Không đề cập tới VN bán các tài nguyên khoáng sản khác như nguồn đất hiếm, quặng có giá trị như Titan, wolfram…]

Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2010 ước đạt 82,6 tỷ USD, tăng 19,8% so với năm 2009. Nguyên nhân chính của sự gia tăng nhập khẩu là do kinh tế có sự phục hồi làm gia tăng nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất (chiếm khoảng 80% cơ cấu nhập khẩu). Mặc dù cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều tăng, nhưng do tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu, nên nhập siêu năm 2010 giảm xuống chỉ còn khoảng 11,8 tỷ USD, chiếm 16,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Như vậy, so với những năm gần đây cán cân thương mại đã có sự cải thiện đáng kể, thể hiện quyết tâm của chính phủ trong việc kiềm chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết. Song mức nhập siêu vẫn còn cao cho thấy việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu vẫn còn chậm.

Cán cân thanh toán

Nếu như năm 2009, cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt 8,8 tỷ USD, thì năm 2010 đã có sự cải thiện đáng kể. Phần thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai năm 2010 trên thực tế có thể được bù đắp hoàn toàn bởi thặng dư trong cán cân tài khoản vốn.

Tuy nhiên, dự báo cán cân thanh toán năm 2010 vẫn thâm hụt khoảng trên 2 tỷ USD do phần “lỗi và sai sót” trong cán cân tài khoản vốn gây ra. Thực tế, tình trạng căng thẳng trên thị trường ngoại hối và việc giá vàng liên tục leo thang khiến doanh nghiệp và người dân găm giữ đô la và vàng. Như vậy, việc bố trí lại danh mục đầu tư của doanh nghiệp và người dân sang các loại tài sản bằng ngoại tệ và vàng sẽ tiếp tục gây ra vấn đề “lỗi và sai sót” và thâm hụt trong cán cân thanh toán trong năm 2010.

Bên cạnh đó, mặc dù cán cân thanh toán được cải thiện trong năm 2010, lượng dự trữ ngoại hối vẫn không tăng một mặt do Ngân hàng nhà nước can thiệp vào thị trường để giữ ổn định tỷ giá, mặt khác có một lượng ngoại tệ lớn đang lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng.
[Lượng dự trử ngoại hối của VN vào tháng 11/2010 chỉ còn đủ cho 9 tuần nhập khẩu. Ngân hàng thế giới và các tổ chức tín dụng cho biết là ở mức 12-14 tỉ đô la]

Nợ công

Đến năm 2010, nợ nước ngoài của Việt Nam ước khoảng 42,2% GDP và tổng nợ công đã vượt quá 50% GDP. Theo phân tích của IMF (2010), Việt Nam vẫn ở mức rủi ro thấp của nợ nước ngoài nhưng cần lưu ý rằng khoản nợ này chưa tính đến nợ của các doanh nghiệp nhà nước không được chính phủ bảo lãnh. Hơn nữa, vấn đề ở đây không chỉ là tỷ lệ nợ so với GDP mà cả quy mô và tốc độ của nợ nước ngoài và nợ công của Việt Nam gần đây đều có xu hướng tăng mạnh.

Nếu năm 2001, nợ công đầu người là 144 USD thì đến năm 2010 lên tới 600 USD, tốc độ tăng bình quân hàng năm khoảng 18%. Nợ công tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân sách lớn và hiệu quả đầu tư công thấp đặt ra những lo ngại về tính bền vững của nợ cả trong ngắn hạn và dài hạn. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết của việc cần tăng cường quản lý và giám sát nợ công một cách chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ở Việt Nam.

[nợ công của VN = $600/1 đầu người x 86 triệu người = 52 tỉ đô la; không tính các công ty quốc doanh đang nợ của nước ngoài.]

2. Những thách thức của kinh tế Việt Nam năm 2011 và khuyến nghị chính sách

Những thách thức của kinh tế Việt Nam năm 2011

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2011 phụ thuộc vào ba yếu tố chính: tình hình kinh tế thế giới, sức mạnh nội tại và ổn định kinh tế vĩ mô trong nước và sự điều hành của Chính phủ. Tuy nhiên bên cạnh những thời cơ, thuận lợi thì cũng đặt ra nhiều thách thức cho cả ba yếu tố trên.

Trong ngắn hạn, năm 2011 sẽ tiếp tục chứng kiến sự phục hồi ở những nền kinh tế trên thế giới. Hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế sẽ được hồi phục nhanh hơn sau khi có sự phục hồi chậm trong năm 2010. Hơn nữa, Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những thị trường đầu tư hấp dẫn và nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh trong những năm tới. Những điều này tạo ra những ảnh hưởng tích cực trực tiếp lên nền kinh tế Việt Nam để có thể duy trì tăng trưởng khả quan hơn trong năm 2011.

Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu thách thức lớn hơn, nhất là trong bối cảnh hậu khủng hoảng những rào cản thương mại mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn sẽ dành cho các mặt hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như khoáng sản, nông, lâm, hải sản.

Đối với trong nước, những bất ổn vĩ mô và những yếu kém trong nội tại nền kinh tế sẽ trở thành thách thức lớn cho phát triển kinh tế năm 2011.

_Trước hết, những nhân tố tiềm ẩn lạm phát vẫn tiếp tục trong năm 2011. Đó là giá cả thị trường thế giới sẽ tăng khi kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi, chính sách điều chỉnh tăng lương vào tháng 5/2011 sẽ tạo ra tâm lý và lý do để thị trường tăng giá hàng hóa tiêu dùng, tỷ giá biến động, đầu tư công chưa hiệu quả và bội chi ngân sách tiếp tục gây sức ép lên lạm phát…

_Thứ hai, mặc dù tình trạng nhập siêu đã được cải thiện nhưng chưa tạo được nền tảng vững chắc. Tình trạng này chắc chắn không dễ giải quyết trong ngắn hạn khi cơ cấu kinh tế kém hiệu quả, công nghiệp phụ trợ yếu kém và nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị, phụ tùng còn phụ thuộc khá nặng nề vào nước ngoài.

_Thứ ba, bội chi ngân sách cũng là áp lực cần giải quyết. Với mức bội chi cao và nếu nguồn vốn bù đắp ngân sách chủ yếu từ thị trường vốn trong nước, mặt bằng lãi suất sẽ chịu áp lực của nhu cầu vốn, mà đầu tiên là lãi suất tiền gửi ngân hàng… Bội chi vẫn là thách thức khi chưa có những biện pháp nghiêm khắc và cụ thể để giải quyết thông qua việc nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước và tiết kiệm chi thường xuyên. Trong bối cảnh thâm hụt, cơ cấu chi, hiệu quả chi và khả năng kiểm soát chi thể hiện dấu hiệu thiếu bền vững của ngân sách bởi các khoản chi tiêu của chính phủ không tạo nên nguồn thu trong tương lai và gây sức ép cho bội chi mới.

_Thứ tư, đồng nội tệ sẽ tiếp tục bị áp lực giảm giá trong thời gian tới vì lạm phát của Việt Nam luôn ở mức cao hơn so với khu vực và thế giới và NHNN không thể dùng dự trữ ngoại hối ít ỏi để can thiệp mạnh theo nhu cầu vì cần ngoại tệ để giải quyết các nhu cầu thiết yếu khác.

_Thứ năm, những “nút thắt” của tăng trưởng kinh tế như cơ sở hạ tầng, trình độ nguồn nhân lực và cải cách hành chính vẫn chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước mà còn cản trở lớn đến tăng trưởng kinh tế theo hướng hiệu quả và bền vững trong năm 2011 và các năm tiếp theo.

Về điều hành kinh tế vĩ mô, hiện nay chúng ta dựa trên 3 công cụ chính để tác động đến nền kinh tế, đó là chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và chính sách cán cân thanh toán. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các chính sách đó còn lúng túng và thiếu linh hoạt. Nhiều chính sách mạng nặng tính hành chính và thiếu kết hợp với các giải pháp dựa trên nguyên tắc thị trường. Hơn nữa, các cơ quan quản lý nhà nước còn đưa ra các giải pháp mang tính tình thế, giật cục, thiếu sự minh bạch và nhất quán làm giảm lòng tin của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. Năng lực dự báo kém cộng với dự kiến các biện pháp ứng phó với diễn biến kinh tế thấp kém cũng là những hạn chế quản lý vĩ mô nền kinh tế.

Khuyến nghị chính sách

Năm 2011 có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, bởi đây là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011- 2015 và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011- 2020. Đồng thời cũng là năm tiền đề để Việt Nam chuyển sang thực hiện chương trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Vì thế, cần có các giải pháp chính sách không chỉ cho năm 2011 mà còn cả trong những năm tiếp theo.

_Thứ nhất, đặt ưu tiên vào ổn định kinh tế vĩ mô. Nhiệm vụ điều hành ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới tiếp tục rất phức tạp và khó khăn, đòi hỏi Chính phủ và các cơ quan chức năng phải bám sát tình hình, có những chính sách, giải pháp chỉ đạo điều hành kịp thời và linh hoạt. Các định hướng chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ trong cả năm cần được công bố ngay từ đầu năm để cho người dân và doanh nghiệp được biết. Những dự kiến thay đổi cụ thể về chính sách ở từng thời điểm cụ thể trong năm chỉ nên công bố khi chắc chắn sẽ thực hiện. Cùng với thông tin về quyết định chính sách, các thông tin kinh tế vĩ mô (như nhập siêu, bội chi ngân sách, dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán, nợ quốc gia…) phải được công khai, minh bạch ở mức cần thiết để người dân và doanh nghiệp tránh bị động trong sản xuất kinh doanh. Cần có cơ chế phối hợp đồng bộ, toàn diện hơn nữa giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là sự phối kết hợp chặt chẽ ngay từ khâu hoạch định chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách tỷ giá và các chính sách khác để giải quyết và đạt được các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường ngoại tệ. Chính phủ cũng cần nâng cao năng lực dự báo và tăng cường phối hợp trao đổi thông tin giữa các cơ quan dự báo và cơ quan giám sát để đảm bảo thống nhất khi công bố.

_Thứ hai, đảm bảo ổn định các cân đối vĩ mô. Đối với vấn đề bội chi ngân sách, chính phủ cần xác định rõ lộ trình và giải pháp cho việc giảm bội chi và tiến tới cân đối ngân sách một cách tích cực. Cần cải cách lại cơ chế cấp phát ngân sách và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi nhằm đảm bảo chi ngân sách có hiệu quả. Chi ngân sách cần gắn liền với công khai, minh bạch và dân chủ. Xây dựng và áp dụng cơ chế thưởng phạt cũng như xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong quản lý, điều hành ngân sách nhà nước. Đối với vấn đề kiểm soát nhập siêu, cần đặt trong tổng thể của tất cả các chính sách từ chính sách tài khóa, tiền tệ đến chính sách tỷ giá, từ việc chuyển đổi cơ cấu xuất khẩu đến phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ vì nhập siêu bản chất là vấn đề cơ cấu kinh tế.

_Thứ ba, thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng và hấp thụ vốn đầu tư của nền kinh tế. Để thực hiện điều này, cần tập trung vào tái cơ cấu doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNN, theo hướng rà soát lại hệ thống doanh nghiệp DNNN, kiên quyết cắt bỏ các DNNN làm ăn thua lỗ. Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn đầu tư từ ngân sách. Nghiên cứu lại việc phân bổ và sử dụng nguồn lực theo hướng nguồn lực cần phải được phân bổ đến những ngành có độ lan tỏa lớn, có giá trị gia tăng cao. Ưu tiên hỗ trợ những doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi và những doanh nghiệp có khả năng tiếp cận được với công nghệ hiện đại để giúp họ trang bị lại thiết bị, cải tiến công nghệ nhằm bắt kịp với nền sản xuất của thế giới.

_Thứ tư, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh. Khi cùng chung sống trong một môi trường kinh tế và chính sách kinh tế, các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp nhà nước hay ngoài nhà nước cần có được sự bình đẳng như nhau về cơ hội kinh doanh. Hơn nữa, khi nền kinh tế ngày càng thị trường hóa sâu hơn đòi hỏi phải tách biệt giữa chức năng kinh doanh và chức năng hỗ trợ chính sách kinh tế của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Điều này sẽ vừa nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp này vừa không gây ra những méo mó trong nền kinh tế. Ở khía cạnh khác, để tạo môi trường đầu tư minh bạch có tính cạnh tranh, cần tách biệt vai trò của chính phủ là chủ sở hữu ra khỏi vai trò điều hành chính sách.

_Thứ năm, để đảm bảo tăng trưởng trước mắt cũng như lâu dài cần giải quyết các “nút thắt” của nền kinh tế, đó là cơ sở hạ tầng và công nghiệp phụ trợ yếu kém; chất lượng nguồn nhân lực thấp; hệ thống tài chính còn bất ổn và mang tính đầu cơ; bộ máy hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả.

Thực tế cho thấy, việc thực hiện các chính sách để giải quyết các “nút thắt” này luôn mang lại những tín hiệu tốt cho dài hạn và không làm méo mó toàn bộ nền kinh tế trong ngắn hạn. Do vậy, một khi nền kinh tế đã phục hồi trở lại, cần chuyển sang ưu tiên tập trung giải tỏa các “nút thắt” trên.

———————————————————————————————————————————–

1
Theo tính toán của Uỷ ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội

Tài liệu tham khảo

  1. Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII về tình hình kinh tế – xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011.
  2. Báo Đầu tư, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn năm 2010.
  3. IMF, Vietnam – Joint IMF/World Bank debt sustainability analysis, 2010.
  4. Lương Xuân Quỳ, Mai Ngọc Cường và Lê Quốc Hội, Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2009 và khuyến nghị cho năm 2010, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số tháng 12 năm 2009.
  5. Nguyễn Kế Tuấn và Ngô Thắng Lợi, Kinh tế Việt Nam năm 2009, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân năm 2010.
  6. Số liệu thống kê hàng tháng của Tổng cục Thống kê trên website: http://www.gso.gov.vn
  7. Victoria Kwakwa, Vietnam’s continued success in the post crisis world, the World Bank, 2010.

Nguồn: Tạp chí kinh tế và phát triển

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Nông Dân Việt Nam bán lúa lời lổ ra? Ai ở không, làm trung gian ăn chận người nông dân…

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2011

đọc bài báo dưới đây, ta nhận thấy ngay các điếm sau đây:

1./ Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) đẻ ra—> Tổng Cty Lương thực miền Nam (Vinafood2), tổng công ty nầy đẻ ra —>SAIGON FOOD PTE LTD tại Singapore (nằm chờ tại Singapore, được ưu tiên mua gạo giá rẻ, rồi bán ra nước khác với giá thật mắc )

(SAIGON FOOD PTE LTD tại Singapore được thành lập được sự đồng ý của Bộ KH&ĐT.)

2./ Ai cung biết rõ: Người nông dân VN rất nghèo, họ không có kho để trử lúa gạo. Nên sau khi thu hoạch vụ mùa xong, họ thường muốn bán lúa cho thật nhanh để trả tiền phân bón, tiền dầu, và tiền mượn chi tiêu (trong lúc trồng lúa và chờ lúa chín.).

Biết rõ đường đi nước bước của nông dân, nên các công ty con của VFA (như Saigon Food PLE Ltd.) và các doanh nghiệp xuất khẩu khác (do VFA cấp giấy phép xuất khẩu) ra giá thu mua lúa với giá cực kỳ rẻ, rồi bán xuất khẩu với giá thật cao, luôn luôn giữ mức lời 30%.

Khi biết các công ty thu mua giá lúa rẻ, ban đầu người nông dân từ chối bán ra với giá đó.  Nhưng chỉ vài tuần sau thì nông dân chịu hết nổi, không thể giữ lúa chờ giá lên (vì họ không có kho chứa, bị kẹt tiền, chịu tiền lời quá cao khi mua phân, mua dầu, vay mượn…). Bởi vậy, họ đành chấp nhận bán lúa với giá huề vồn, lỗ, hoặc chỉ lời chút ít (1 kí gạo bán ra chỉ lời 200 đồng- đến 300 đồng VN).

(Một nông dân làm ruộng sau khi trừ đi các chi phí xong, thì đổ đồng mỗi  tháng chỉ làm được 250-400 ngàn đồng / 1 tháng, nếu lúa trúng mùa.  Với lợi tức như thết, chẳng trách sao hầu hết gia đình nông dân nào cũng nghèo).

Nông dân làm ra lúa, nhưng bán ra 1 kí lúa họ chỉ lời chừng 200 đến 300 đồng VN.  Còn các công ty con hay các công ty bà con do VFA cấp giấy phép thu mua lúa để xuất khẩu, thì mua 1 kí lúa, rồi bán ra lời 1.700- 1900 đồng!

Thí dụ điển hình: SAIGON FOOD PTE LTD (công ty con của VFA) mua lúa của nông dân với giá rẻ, rồi bán ra 1 kg lúa lời tối thiểu từ 1700 đồng đến 1900 đồng.

1./ Vụ mùa  Đông Xuân:  “VFA bán gạo xuất khẩu qui ra giá lúa 6.291 đồng/kg,

nhưng mua lúa của nông dân chúng tôi với giá tối đa 4.400 đồng/kg. ” (1 kí lúa lời 1900 đồng)

2./ Vụ mùa Hè Thu: VFA đang bán lúa với giá 5.178 đồng/kg,  

và đưa ra giá mua lúa (của nông dân) chỉ có 3.500 đồng/kg ( 1 kí lúa lời 1700 đồng)

****Luôn luôn chúng ta nghe  NÓI: “Chính quyền nầy là chính quyền của giai cấp công nông…”.  Nhưng bài báo dưới đây cho thấy chính quyền nầy LÀM gì:

_VFA và các công ty con ngồi không quyết định giá gạo, ép giá gạo của nông dân để mua sao cho thật rẻ, rồi bán lại với giá cao để kiếm lời.

_VFA đẻ ra 1 công ty con riêng, và cấp giấy phép xuất khẩu cho các  công ty tư nhân xuất khẩu gạo do con cái của các cán bộ cao cấp làm chủ,…để các công ty xuất nhập khẩu nầy mua lúa của nông dân cho thật thấp, rồi xuất khẩu với giá cực cao.

Mời đọc:

Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ: có cũng như không

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

Cổ phần hóa doanh nghiệp lương thực nhà nước sẽ phần nào tránh được việc lúa gạo “được mùa, rớt giá”. Ảnh: TRUNG HIẾU Cổ phần hóa doanh nghiệp lương thực nhà nước sẽ phần nào tránh được việc lúa gạo “được mùa, rớt giá”. Ảnh: TRUNG HIẾU 

Trong việc mua bán lúa gạo có hai điều quan trọng:

_ấn định giá sàn bán gạo xuất khẩu, và

_ấn định giá thu mua lúa cho nông dân.

Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo đã không hề quan tâm một chút nào đến hai vấn đề quan trọng vừa nêu.

1. Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo không hề quan tâm đến giá bán gạo xuất khẩu

Lẽ ra, Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo phải ấn định giá sàn xuất khẩu gạo, linh động thay đổi giá sàn theo giá gạo trên thị trường thế giới, giám sát việc Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) thực hiện việc bán gạo trên giá sàn, xử phạt các doanh nghiệp bán phá giá gạo.

Thế nhưng, Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ lại giao hết những việc trên cho VFA.

Chúng ta biết rằng: giá sàn được định ra là để chống các doanh nghiệp bán phá giá gạo, nhằm bảo vệ quyền lợi của nông dân, thế mà lại giao cho VFA – những doanh nghiệp bán gạo – ấn định, thì làm sao chống bán phá giá?

Năm 2010 này, kể từ tháng 3/2010, VFA xóa bỏ giá sàn để bán phá giá gạo.

Ngày 27/03/2006, khi gạo Việt Nam bán rẻ hơn gạo Thái Lan cùng loại 60 USD/tấn, Chính ông Phong đã phản đối: “Chúng ta có thể thấy sự chênh lệch giá gạo giữa VN và Thái Lan hiện nay rất bất hợp lý. Cùng một chủng loại gạo 5% tấm nhưng giá gạo Thái Lan cao hơn gạo VN trên 60 USD/tấn, một mức chênh lệch không bình thường. Cũng xin nhấn mạnh rằng hiện nay chỉ có Thái Lan và VN mới có gạo 5% tấm cung cấp cho nhu cầu thị trường, do đó càng khẳng định loại gạo này không thể rớt giá” [1].

Việc bán gạo rẻ một cách bất thường này đã được sửa sai vào năm 2007, cuối năm này, ông Trương Thanh Phong cho biết trên báo Sài Gòn giải phóng Online: “Giá gạo Việt Nam xuất khẩu đã ngang với giá gạo Thái Lan” [2].

Thế nhưng hai năm 2008 và 2009, VFA lại bán gạo của nông dân chúng tôi rẻ hơn giá bán gạo cùng loại của Thái lan từ 100-160 USD/tấn. Năm 2010 này, VFA bán gạo rẻ hơn gạo Thái Lan 120 USD/tấn [3]!

Vậy mà từ năm 2008 đến nay, Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ không hề có ý kiến gì với VFA, không hề có bất cứ động thái nào tìm cách kéo giá gạo của Việt Nam tiệm cận với giá gạo Thái Lan theo đúng thực chất.

Kể từ năm 2008 đến nay, Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo không hề có cuộc họp nào để tìm hiểu tại sao VFA lại bán gạo Việt Nam thấp hơn gạo Thái Lan cùng loại một cách phi lý như vậy.

Chắc có lẽ, Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ muốn đảm bảo an ninh lương thực cho nhân dân thế giới (!?).

2. Tổ Điều hành xuất khẩu gạo không hề quan tâm đến giá VFA mua lúa của nông dân

Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ, lẽ ra, phải là nơi phân chia lợi nhuận từ mua bán lúa gạo một cách hợp lý cho nông dân và VFA, thế nhưng hiện nay, hoạt động của Tổ điều hành xuất khẩu gạo không hề quan tâm một chút nào đến quyền lợi của nông dân, mà chỉ chăm chút cho quyền lợi của VFA.

Tôi lập bảng xuất khẩu gạo năm 2010 theo số liệu thống kê xuất khẩu gạo từng tháng trong năm 2010 của Hải quan Việt Nam như sau [4]:

Thời gian Số lượng (tấn) Trị giá (USD) Đơn giá (USD/tấn)
Tháng 1 380.688 204.963.159 538
Tháng 2 352.527 204.905.826 581
Tháng 3 709.743 382.695.859 539
Tháng 4 725.620 361.359.655 498
Tháng 5 719.131 329.612.442 458
Tháng 6 541.749 233.252.562 430
Tháng 7 853.531 359.408.801 421
Tháng 8 614.548 229.275.138 373
Tháng 9 354.112 150.621.014 425
Tháng 10 505.863 234.357.935 463
Tháng 11 497.344 244.233.830 491
Từ 1- 15 Tháng 12 213.800 108.289.768 506
Tổng cộng 6.486.656 3.042.975.989 Trung bình:  469

Qua bảng xuất khẩu gạo, chúng ta nhận thấy:

từ tháng 1 đến tháng 3, VFA bán gạo xuất khẩu với giá bình quân 549 USD/tấn. Tính thành tiền Việt Nam 10.485.900 đồng/tấn gạo; quy ra giá lúa là 6.291 đồng/ kg.

Thế nhưng khi nông dân bắt đầu thu hoạch lúa đông xuân vào khoảng giữa tháng 2 thì VFA nói không ký được hợp đồng bán gạo nên hạ giá mua lúa của nông dân.

Ngày 25/2, ông Phạm Văn Bảy, trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, tuyên bố mua lúa đông xuân với giá  từ 4.300 – 4.400 đồng/kg.

Như vậy VFA bán gạo xuất khẩu qui ra giá lúa 6.291 đồng/kg,

nhưng mua lúa của nông dân chúng tôi với giá tối đa 4.400 đồng/kg.

Tổ công tác điều hành xuất khẩu gạo đã không hề có ý kiến gì về việc VFA bán gạo giá cao và mua lúa giá thấp này.

Từ tháng 4 đến tháng 7, VFA bán gạo xuất khẩu giá bình quân 451,9 USD/tấn, quy ra giá bán lúa 5.178 đồng/kg.

Vậy mà, khi nông dân thu hoạch lúa hè thu vào giữa tháng 6, VFA tiếp tục luận điệu không có khách hàng và giá bán gạo thấp nên không mua lúa hè thu, để lúa ách tắc trong nông dân rồi mua lúa giá tạm trữ.

Ngày 9/7, ông Trương Thanh Phong – Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lương thực miền Nam kiêm chủ tịch VFA đưa ra sáng kiến: “Chúng ta nên… phớt lờ mức lợi nhuận 30%, phớt lờ luôn giá sàn thu mua, nhưng yêu cầu DN không được mua dưới giá 3.500 đồng/kg, trên cơ sở đó VFA sẽ tính toán ra giá gạo để triển khai thu mua” [5].

Bài báo trên cho biết tiếp: ““Sáng kiến” này được Thứ trưởng Nguyễn Thanh Biên tán thành. Ông Biên nói:“Trong điều kiện thị trường đầu ra khó khăn, giá giảm xuống mức quá thấp thì việc mua 1 triệu tấn gạo hè thu sẽ không đề cập mức lợi nhuận 30% và giá sàn thu mua nữa. Nhưng thống nhất yêu cầu DN mua lúa hàng hóa không dưới 3.500 đồng/kg. Bộ Công thương sẽ kiến nghị Chính phủ giãn nợ quá hạn cho nông dân trong thời gian mua tạm trữ để giảm sức ép bán lúa hàng hóa trả nợ ngân hàng. Đồng thời VFA phải điều hành không để giá gạo xuất khẩu xuống dưới 300 USD/tấn để giữ giá”.

VFA đang bán lúa với giá 5.178 đồng/kg, thế mà lại “phớt lờ” Nghị quyết của Chính phủ cam kết cho nông dân lời trên 30% so với giá thành, và đưa ra giá mua lúa (của nông dân) chỉ có 3.500 đồng/kg; thế mà ông Thứ trưởng Bộ Công thương kiêm Tổ trưởng Tổ điều hành xuất khẩu gạo Nguyễn Thành Biên lại “tán thành”. Không biết là cớ làm sao (!?)

Giá bán gạo bình quân của VFA từ tháng 4 đến tháng 7 là 451,9 USD/tấn. Tháng bán thấp nhất là tháng 8 cũng đã là 373 USD/tấn. Thế mà ông Biên lại phán “VFA phải điều hành không để giá gạo xuất khẩu xuống dưới 300 USD/tấn để giữ giá” (!?).

Thưa ông Biên, “điều hành không để giá gạo xuất khẩu xuống dưới 300 USD/tấn” trong khi giá gạo đang là 451,9 USD/tấn, là cách điều hành phá giá gạo xuất khẩu chớ không phải “để giữ giá”.

3. Tổ điều hành xuất khẩu gạo đang điều hành theo kiểu bất trí và bất nhân

Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ để cho VFA bán gạo Việt Nam với giá rẻ nhất thế giới năm này qua năm khác, thua gạo Thái Lan cùng loại từ 100-160 USD/tấn, không hề có một động thái nâng cao giá gạo, đó là điều hành theo kiểu bất trí.

Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ để cho VFA bán gạo xuất khẩu giá cao, nhưng mua lúa của nông dân với giá thấp – để cho VFA cướp đoạt hết lợi nhuận của nông dân – đó là điều hành theo kiểu bất nhân.

Với cách điều hành “bất trí” của Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ, trong năm 2010 này, VFA đang bán gạo với giá thấp nhất thế giới, thấp hơn gạo Thái Lan cùng loại khoảng 120 USD/tấn.

Với cách điều hành “bất nhân” của Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ, trong năm 2010 này, VFA bán gạo xuất khẩu giá bình quân 469,4 USD/tấn nhưng mua lúa của nông dân với giá quy gạo 350 USD/tấn (quy theo giá lúa VFA bán 5.378 đồng/kg lúa nhưng mua lúa của nông dân chỉ có 4.000 đồng/kg lúa).

Với cách điều hành “bất trí và bất nhân” này thì Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ có cũng như không!

Tại sao Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ lại điều hành theo kiểu “bất trí và bất nhân” như vậy? Đó là điều nông dân chúng tôi muốn biết. Đó là điều mà Chính phủ phải thay đổi.

Một vị Giáo sư đáng kính – người Thầy, người bạn của nông dân – khi đọc bài “mua bán lúa gạo năm 2010: nông dân đang làm tôi mọi cho doanh nghiệp, nông dân đang bị bóc lột thậm tệ” đã chua chát gởi mail cho tôi: “Mình nói mãi mà không thấu thượng đình vì… thượng đình cũng là tòng phạm, cùng ăn chia nhau cả. Chúng ta phải tiếp tục can thiệp cho đến khi nông dân được đem lại công bằng”.

Vâng! Thưa Thầy.

Dù thượng đình có ăn chia, em cũng sẽ tiếp tục đi tìm lương tâm của Chính phủ, để đòi hỏi công bằng cho nông dân.

Ngày 12/1/2010

H.K

(1) Tuổi trẻ Online, bài “ Bất thường trong xuất khẩu gạo: gạo ngon, bán rẻ!” http://tuoitre.vn/Kinh-te/126155/Bat-thuong-trong-xuat-khau-gao-Gao-ngon-ban-re.html

(2) SGGP Online, bài “Gạo xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có giá”  http://www.sggp.org.vn/kinhte/2007/10/123578/

(3) Tầmnhìn.net, bài “ Xuất khẩu gạo “ nhường sân” giá cao cho Thái Lan?”  http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/tamnhin.net/Xuat-khau-gao-nhuong-san-gia-cao-cho-Thai-Lan/5415070.epi

(4) Hải quan Việt Nam Online http://www.customs.gov.vn/DocLib/Forms/AllItems.aspx?RootFolder=%2FDocLib%2FCac%20Bieu%20Thong%20Ke%2FNam2010

(5) Diễn đàn Doanh nghiệp Online, bài “ Mua lúa gạo tạm trữ: DN “ phớt lờ” chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ”

http://dddn.com.vn/2010071310081581cat101/mua-lua-gao-tam-tru-dn-phot-lo-chi-dao-cua-thu-tuong-chinh-phu.htm

HK

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN http://www.boxitvn.net/bai/16098

HO biên tập.

nguồn:  ở đây

————-

Mời đọc thêm:Để hiểu các “Cai đầu dài” thời nay. Trung gian và Cò. Muốn hiểu cai đầu dài, vào google.com hoặc bing.com và gõ chữ cai đầu dài, và click search.

09/10/2009

Uẩn khúc sân sau của VFA:

Trưởng bán gạo cho Phó = xuất khẩu

TP – Tổng Cty Lương thực miền Nam (Vinafood2) thuộc VFA có sân sau làm bao điều bí ẩn ở nước ngoài trong đó có bán phá giá gạo; bán cả tương, cà…, nhiều năm qua ít người biết.

Buôn tương cà, bán phá giá gạoNhư Tiền Phong đã đưa tin, bà Cao Thị Ngọc Hoa – Phó Tổng giám đốc của Vinafood2 thừa nhận với Tiền Phong rằng, bà là giám đốc điều hành SAIGON FOOD PTE LTD tại Singapore. Đây là Cty con của Vinafood2 đầu tư vốn ra nước ngoài được sự đồng ý của Bộ KH&ĐT.

Bà Hoa thừa nhận việc Cty này bán gạo đi nước thứ ba mỗi khi tìm kiếm được khách hàng. Bà Hoa nói: “Vốn pháp định khi thành lập hồi đầu năm 2009 là 10 tỷ đồng, tương đương khoảng 800 ngàn USD Singapore. Ngoài việc kinh doanh mặt hàng gạo, chúng tôi còn kinh doanh thủy sản, hàng đông lạnh, mì ăn liền, mì nui. Tóm lại, mắm, muối, tương, cà gì cũng có…”.

Khi được hỏi: “Vì sao trong một bản khai những thông tin quan trọng về SAIGON FOOD tại Singapore chỉ thể hiện vốn có 1 USD?”, bà Hoa lý giải: “Luật của Singapore quy định là phải chia từng cổ phần. Một USD là một cổ phần. Ví dụ 800.000 USD là 800.000 cổ phần chứ không phải vốn 1 USD. Nhưng mà tôi suy diễn vậy thôi chứ không biết nó như thế nào…”.

Sau khi thông tin về việc Vinafood2 có sân sau ở Singapore đăng trên Tiền phong, một giám đốc doanh nghiệp trong ngành xuất khẩu gạo đặt vấn đề: Tất cả các DN trong nước muốn xuất khẩu gạo đều phải có con dấu của VFA thì hải quan mới cho xuất. Trong trường hợp này, Vinafood2 bán hàng ra nước ngoài cho SAIGON FOOD PTE LTD thì cũng phải qua VFA duyệt, đóng dấu.

Như vậy đã xảy ra một qui trình khá hài hước nhưng có thật: Tổng giám đốc Vinafood2 ký hợp đồng bán gạo cho phó tổng giám đốc Vinafood2 phụ trách xuất khẩu, kiêm giám đốc SAIGON FOOD PTE LTD tại Singapore.

Sau đó để được xuất khẩu, tổng giám đốc SAIGON FOOD PTE LTD lại trình lên chủ tịch VFA ký, đóng dấu.

Vì sao Vinafood2 không bán gạo cho thương nhân ở nước ngoài như các DN trong nước khác mà lại bán cho chính của mình tại sân sau Singapore? Phải chăng cách này khiến Vinafood2 chuyển gạo ra nước ngoài với giá thấp hơn giá sàn theo qui định của VFA.

Và, SAIGON FOOD PTE LTD tiếp tục bán lại cho thương nhân ở nước thứ ba (như thừa nhận của bà Hoa) với giá cao hơn? Lợi nhuận của Cty mang danh nghĩa nước ngoài (SAIGON FOOD PTE LTD) sẽ được chuyển về đâu, chia thế nào còn là điều bí ẩn.

Giá nội bộ làm sao công bố?

Trở lại cuộc họp báo ngày 7/10 do VFA tổ chức tại TPHCM, ông Nguyễn Thọ Trí – Phó Chủ tịch VFA đã lên tiếng xin lỗi vì bộ phận văn phòng của VFA đã không cập nhật giá sàn xuất khẩu gạo kịp thời theo từng thời điểm khác nhau, gây hiểu nhầm Vinafood2 bán phá giá.

Thực tế giá sàn linh hoạt chứ không cố định. Giá gạo đăng tải trên trang web 430 USD/tấn là giá hướng dẫn có tính đối ngoại, còn giá nội bộ do HĐQT thống nhất cho phép xuất khẩu 400 USD/tấn. Mỗi khi điều chỉnh giá thì VFA đều có gửi văn bản tận tay các hội viên.

Ông Trí cũng nói rằng không có “Cty một đôla” ở Singapore. SAIGON FOOD PTE LTD là Cty quốc doanh, có vốn pháp định 625.000 USD, được sự đồng ý của Chính phủ…

Trước phát biểu của ông Trí, một giám đốc doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Đồng Tháp bức xúc: Chưa bao giờ chúng tôi biết, hay thấy được cái văn bản giá nội bộ của VFA, trong qui chế của hiệp hội cũng không hề nêu vấn đề này. Việc thông báo giá sàn cũng tùy tiện, thích thì thông báo không thì thôi. Mà đâu phải lúc nào cũng thông báo bằng văn bản cho các DN, khi thì điện thoại, lúc thì nhắn tin…

Trong khi đó các DN chỉ cần bán thấp hơn giá hướng dẫn thì VFA tuýt còi cho rằng bán phá giá. Cách mà VFA trị DN vượt rào kiểu này là không đóng dấu để làm thủ tục hải quan.

Về “Cty một đôla” của Vinafood2, PV Tiền Phong hiện vẫn giữ văn bản về SAIGON FOOD PTE LTD. Văn bản này cho biết, Cty này có 5 thành viên, 2 người Việt Nam và 3 người Singapore. Trong đó, bà  Cao Thị Ngọc Hoa, địa chỉ tại 200 Nguyễn Thị Minh Khai là giám đốc; vốn đăng ký chỉ 1 USD. Hơn nữa theo pháp luật ở Singapore chỉ cần 1 USD đã có thể thành lập Cty, và dạng Cty phủi như thế rất nhiều.

Phải chăng việc ông Trí phát biểu với báo chí về giá nội bộ 400 USD/tấn là để bao biện cho Cty Lương thực Trà Vinh – nơi ông làm giám đốc, đã bán gạo với giá thấp hơn giá sàn của VFA đưa ra?

Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, nhà nước giao nhiệm vụ cho ông Trương Thanh Phong quá lớn. Cần cải tổ lại hệ thống điều phối xuất khẩu gạo. Để ông Phong vừa đá bóng vừa thổi còi như vậy là không ổn. Việc này công luận lên tiếng nhiều rồi. Trách nhiệm giải quyết là của Thủ tướng và các bộ ngành liên quan.

Hồng Lĩnh
——————————————————

11/11/2009

Xuất khẩu gạo: Vẫn phải ‘lụy’ VFA

>> Uẩn khúc ‘sân sau’ của VFA: Trưởng bán gạo cho phó = xuất khẩu

TP – Tất cả các DN (kể cả DN không phải là hội viên của VFA) muốn xuất khẩu gạo phải có xác nhận của VFA (điều kiện để làm thủ tục xuất khẩu). “Phải tuân thủ luật chơi của chúng tôi”- ông Nguyễn Thọ Trí – Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tuyên bố.

Gạo dự trữ trong nước dồi dào cộng với sự điều hành sát sao của Chính phủ nên khả năng xảy ra những biến động bất thường (khan hiếm, sốt giá…) ở thị trường trong nước vào năm 2010 tới là khó có thể xảy ra. Đó là khẳng định của ông Nguyễn Thọ Trí – Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), hôm qua (10/11) tại TPHCM.

Thả nổi giá gạo

Ông Trí cho biết, cả hai đợt mua lúa gạo vụ hè – thu vừa qua đạt gần 950 nghìn tấn, nâng lượng gạo đang nằm trong kho của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam và sẵn sàng để xuất khẩu 1,8 triệu tấn.

Ngoài ra, hiện hai vụ thu – đông và vụ mùa đang thu hoạch, sản lượng gạo sẽ bổ sung thêm khoảng một triệu tấn nữa. Thêm vào đó, sản lượng gạo vụ đông – xuân 2010 ước khoảng ba triệu tấn, do vậy nguồn cung trong năm tới là dồi dào.

Trong khi đó, theo ông Trí, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nhu cầu gạo của các nước đang tăng rất cao. Tính đến 9/11/2009, các DN Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu gần 6,5 triệu tấn gạo, trong đó đã giao hơn 5,4 triệu tấn.

Trong số gạo đã ký hợp đồng, có trên 2,3 triệu tấn là hợp đồng tập trung (hợp đồng có sự thỏa thuận của chính phủ hai bên mua và bán) và trên 3,1 triệu tấn là hợp đồng thương mại. Giá xuất khẩu bình quân 404,43 USD/tấn.

Tuy nhiên, ông Trí cho rằng giá gạo trên thị trường vẫn đang tiếp tục tăng và nhiều nhà nhập khẩu đã chào mua với giá 460 USD/tấn gạo 5 phần trăm tấm. Mặc dù vậy, nhiều DN trong nước vẫn lừng khừng chưa muốn bán vì đợi giá cao hơn.

“Về nguyên tắc, VFA không điều hành giá khi giá thị trường cao hơn giá quy định”- Ông Trí nói, đồng thời cho biết các DN tự đàm phán và quyết định giá bán theo hướng có lợi cho mình. Chắc chắn sẽ không DN nào lại bán dưới mức giá trung bình của thị trường.Việc thả nổi giá gạo trong điều kiện hiện nay khiến cả DN và nông dân cùng có lợi, bởi khi DN bán được giá cao thì sẽ thu mua gạo của nông dân với giá cao. Chỉ khi giá xuống thấp hoặc bị ép, hoặc ký hợp đồng tập trung VFA mới can thiệp việc điều hành giá.

Ông Trí cũng khẳng định Chính phủ không khống chế lượng gạo xuất khẩu.

Lụy VFA

Cũng theo Phó chủ tịch VFA Nguyễn Thọ Trí, về nguyên tắc, những hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung sẽ được phân chia cho các DN xuất khẩu gạo một cách công bằng, minh bạch và đều nhau.

Ví dụ, một DN nào đó được phân bổ xuất khẩu bao nhiêu lượng gạo giá cao (tính theo phẩm cấp gạo và thời điểm ký hợp đồng xuất khẩu) thì cũng sẽ được phân bổ xuất gạo giá thấp theo một tỷ lệ tương ứng. Nếu DN nào từ chối thu mua khi giá gạo tăng cao, tức từ chối nhận phân bổ của VFA thì sẽ bị cấm xuất khẩu trong một năm tiếp theo kể từ thời điểm được phân bổ.

Sở dĩ VFA thực hiện được chế tài này là bởi theo quy định hiện hành, tất cả các DN (kể cả DN không phải là hội viên của VFA) muốn xuất khẩu gạo phải có xác nhận của VFA (điều kiện để làm thủ tục xuất khẩu). “Phải tuân thủ luật chơi của chúng tôi”- Ông Trí tuyên bố.

Quy định này vấp phải sự phản ứng của nhiều DN không phải thuộc hội viên VFA, bởi cũng theo nguyên tắc, VFA (hoặc bất cứ hiệp hội nào) không có quyền bắt buộc hay điều chỉnh DN không thuộc hội viên của mình và ngược lại.

Ông Trí giải thích rằng, đây là quy định của Chính phủ, cho phép VFA làm việc này (đóng dấu xác nhận vào hợp đồng xuất khẩu gạo của các DN).

Cũng theo quy định hiện hành, những DN được Bộ Công Thương và VFA chỉ định mới được tham gia ký hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung, các DN còn lại không được phép và nếu tự làm cũng sẽ không được VFA xác nhận xuất khẩu. Trong khi đó, ông Trí cho biết, hiện có một số DN tự đàm phán ký hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung.

Trả lời thắc mắc của Tiền Phong, rằng VFA đã có khuyến cáo gì đối với những DN này hay không, vì rất có thể những DN kể trên không biết những quy định này, do họ không phải là hội viên VFA? Ông Trí nói: “Thông tin đã công bố, các DN phải tự tìm hiểu”.

Đại Dương

nguồn ở đây

——————

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »