Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Yahoo 360’ Category

Loạt Bài Dưới Đây được Copy từ Yahoo 360 và đem về đây (Entry for April 28, 2009)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2009

Chiến lược của  Trung Quốc:

A./ ở Lào:

_xâm nhập và lấn chiếm biên giới Lào ở phía Bắc (dẵ thành công)

_di dân Trung Quốc vào thủ đô Vạn  Tượng và các tỉnh dọc biên giới Lào Việt (đã thành công)

_dùng tiền bạc viện trợ làm đường sá cầu cống để mua chuộc tình cảm

_Phát học bổng  cho sinh viên  Lào vàsĩ quan trẻ trong quân đội  Lào đi du học ở Trung Quốc. Các sĩ quan trẻ hiện nay đã theo TQ.

B./ Ở Kampuchea:

_làm y như ở Lào.  Năm 2008, đã có hơn 3000 doanh nghiệp của người  TQ đang hoạt động ở Kampuchea (AP, AFP)

_đầu tư 500 triệu U.S. đô la năm 2005, và nắm quyền kiểm soát ở hải cảng Shihanookville (cách  Hà Tiên 4 giờ xe buýt).

Hiện nay, người Trung Quốc đã xâm nhập Lào, Kampuchea và xuống tận cảng Shihanookville, nếu có chiến tranh xảy ra, sườn phía  Tây của  VN là các mũi tấn công của TQ.

China Town lớn nhất thế giới đang được xây ở Lào 2008

Khi nào Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn có dự án mở rộng, có dự án thành phố mới….hãy nghĩ đến bài viết nầy

1. Trung Quốc đang xâm lấn đất đai và di cư những người Hán vào biên giới phía bắc của Miến điện trong hơn 20 năm qua. TQ hậu thuẩn chính phủ độc tài Miến điện từ 1962. Vì vậy, chính phủ Miến Điện để yên cho dân TQ di dân vào Miến Điện, lập ra các khu buôn bán của người Hoa, nói tiếng  Hoa và mở trường học dành cho người Hoa.

2. Trung Quốc di dân Trung quốc vào Kamphuchea và hổ trợ tiền bạc đầu tư vào tất cả dự án kinh tế, xây dựng đường sá, cầu cống, điện lực, văn hóa, hải cảng, doanh nghiệp thương mại và xuất khẩu …của Kamphuchea từ 1992 đến nay. Vào năm 2008, đã có hơn 3000 doanh nghiệp của người  Hoa đóng tại thủ đô Nam Vang và các tỉnh. Đặc biệt TQ đã đầu tư 500 triệu đô la vào cảng Shihanoukville, ở cách thị xã Hà Tiên 4 giờ xe buýt (tỉnh Kiên Giang).

3./ Trung quốc chiếm ải Nam Quan, chiếm Thác  Bản  Giốc như một món hàng trao đổi viện trợ súng đạn cho miền Bắc với sự thỏa thuận của chính phủ Hà Nội; TQ đã chiếm một phần của quần đảo Trường Sa 1988, chiếm núi Lão Qua ở phía Bắc Việt Nam năm 1991.

Và chiếm dần quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam từ 1974, 1988, 1992, 2007, và 2008.

Từ 2008 cho đến nay, TQ chiếm vùng biển Đông của Việt Nam và cấm ngư phủ VN không còn được quyền đánh bắt cá ở vùng nầy và vịnh Bắc bộ nữa.

4./ và bây giờ 2008 đang xâm nhập Lào bằng cách xây dựng thành phố China Town giữa thủ đô Lào. Nhưng được gọi tên là Dự án Phát triển Thành phố Mới. Dự án nầy cho 50,000 ngàn người Trung quốc di dân đến làm việc trong thị trấn China Town nầy. Nguồn tin cho biết là 50 ngàn nhân viên người Trung quốc sẽ đem theo vợ chồng con cái..nên tổng số dân Trung quốc trong thành phổ mới nầy là 130,000 người

Chừng nao chính phủ VN và đảng ta MỞ MẮT ?

Lào Lo Sợ Vết Chân của Trung Quốc


Chủ Nhật 6 tháng 4, 2008

Vạn Tượng, Lào – Một thành phố Trung quốc hiện đại đang nổi lên kế bên thủ đô uể oải của nước Lào đang bùng lên những nổi lo sợ rằng nước láng giềng vỉ đại phía bắc của Lào đang nuốt dần dần quốc gia nhỏ bé nầy.

Những người Lào hoảng hốt quá đến nổi chính quyền của đảng cộng sản Lào (một chính quyền hiếm khi nào cắt nghĩa việc làm của họ với dân chúng) buộc lòng phải lên tiếng giải thích hành động của họ với công luận; Chiến dịch cắt nghĩa cho quần chúng về hành động của chính phủ là một chuyện chưa từng xẩy ra từ trước.

“Thị trấn của người Trung quốc” (ở giữa thủ đô nước Lào) là một đề tài nóng hổi trong các câu chuyện kèm theo những lời đồn đại, phần lớn những câu chuyện nầy đã xen lẫn với những lo ngại và giận dữ mà chế độ cộng sản Lào đã bưng bít, che dấu, giữ bí mật không cho dân chúng biết một thỏa thuận thuộc vào hàng quan trọng nhất.

Nhiều viên chức của chính phủ Lào và những tổ chức của các quốc gia đang hoạt dộng ở Lào đang bàn tán ầm ỉ về chuyện nầy thì được chính phủ Lào nhắc nhở cho họ biết đây là một ” Dự án Phát triển Thành phố Mới” chứ không phải là “thị trấn của người Trung quốc”

Phó thủ tướng Lào Somsavat Lengsavad nhấn mạnh cuộc hợp tác với Trung quốc không để lại những đe dọa. ” Điều này là bình thường. Hầu hết nước nào trên thế giới cũng có một thi trấn của người Trung quốc, thế thì tại sao Lào lại không nên có một thị trấn như thế?” Ông ta nói với những phóng viên người Lào.

Theo hình ảnh được ghi nhận từ một nghệ sĩ làm việc trong báo của chính phủ, dự án thành phố mới nầy sẽ có cao ốc cao chọc trời giống như khu Manhattan ở New York. Vẫn chưa có văn kiện nào nói rằng có bao nhiêu người Trung quốc sẽ sống ở trong thành phố nầy. Con số 50 ngàn gia đình người Trung Quốc sẽ đến sinh sống trong thành phố mới được mọi người suy đoán rộng rãi, nhưng phó thủ tướng Lào Somsavat phủ nhận không có chuyện đồng ý trước là sẽ có bao nhiêu người Hoa kiều sẽ đến đây sinh sống.

Ý tưởng về 50 ngàn người Trung quốc đến sống trong một thành phố có 460 ngàn người Lào là một yếu tố làm người Lào không an tâm và thoải mái. Thêm vào đấy là yếu tố vị trí: thành phố mới sẽ được xây dựng trên đầm lầy That Luang, đầm lầy nầy nằm kế bên một vùng di tích lịch sử (Parliament monument có từ thế kỷ 15) tượng trưng cho chủ quyền của quốc gia và vùng đầm lầy nầy cũng là một vùng sinh thái quan trọng (cho động vật và thực vật trong tự nhiên.)

Hiện nay là lúc mà Trung quốc đang nhanh chóng trở thành quốc gia có quyền lực về chính trị và kinh tế hàng đầu ở Lào. Khi những di dân người Hoa, với túi tiền đầy ắp, và phong tục tập quán của họ vượt tràn qua miền biên giới (giữa Lào và Trung quốc), thì những miền đất phía Bắc của Lào hiện nay đang bắt đầu trở thành giống như một tỉnh lỵ của Trung quốc.

Theo phó Thủ tướng Lào Somsavat (một người Lào gốc Trung quốc), một công ty Trung quốc đã có được hợp đồng mướn đất dài hạn 50 năm (có thể tái ký kết) để biến 4000 mẫu tây “ruộng lúa thành một thành phố hiện đại”, mục đích là kích thích bầu không khí đầu tư và doanh nghiệp của một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới
(4000 acres = 16 triệu 200 ngàn mét vuông = 16 km vuông =1 miếng đất chiều dài 8 cây số và chiều rộng 2 km- lời người dịch TH)

Somsavat, một người Lào gốc Trung quốc với nhiều liên hệ gần gủi với nhà cầm quyền Bắc kinh đã cắt nghĩa chuyện làm ăn nầy như sau, khi Lào thiếu những món tiền để xây dựng một sân vận động cho Đông Nam Á vận hội mà quốc gia này sẽ đăng cai tổ chức vào năm 2009, Lào đã liên lạc với Ngân hàng Phát triển Trung quốc. Ngân hàng này đề nghị cho một công ty Trung quốc, tên là Suzhou Industrial Park Overseas Investment Co, mượn tiền để xây dựng sân vận động, và đổi lại, chính quyền Lào phải cho ngân hàng phát triển Trung quốc thuê mướn miếng đất nói trên.

Hợp đồng nầy đã được ký kết vào tháng 9 – 2007, theo như nguồn tin hành chánh, mà dân chúng Lào không hề hay biết trước gì hết. Khi báo chí liên lạc với công ty này ở Suzhou, công ty này từ chối không trả lời các câu hỏi.

Tại một cuộc họp báo, Thị trưởng thủ đô Vạn tượng Sinlavong Khoutpahythoune nói rằng có 3 công ty người Trung quốc làm việc trong dự án nầy.

Ngay cả những cán bộ cách mạng lão thành của Lào cũng lên tiếng chỉ trích, họ nói rằng họ đã chiến đấu để không cho Mỹ và các quốc gia khác vào đóng quân ở Lào suốt chiến tranh Việt nam (1954-1975) và bây giờ họ đang nhìn thấy chính quyền Lào mở rộng cửa cho những quốc gia ngoại quốc đến đây (ám chỉ Trung quốc và Việt nam).


“Người Lào không có cá tính mạnh mẻ , vì thế họ sợ rằng những người Trung quốc sẽ đến ở và rồi sẽ và gia tăng dân số và biến quốc gia của chúng tôi thành nước Trung quốc,” ông Sithong Khamvong nói thế, ông là một người dân thuộc giới trung lưu của thủ đô Vạn tượng và cũng là cựu đảng viên đảng cộng sản Lào.

Chưa có văn bản hành chánh nào nói rõ là những người Trung Quốc phải hội đủ điều kiện nào mới được cho phép để định cư trong vùng ngoại ô của phố Tàu. Theo một đánh giá không chính thức, hơn 300,000 người Trung quốc đang sống ở Lào, nhưng con số thật sự thì không thể nào biết được vì nhiều người Tàu đã làm giấy tờ giả giống như họ đang dùng các loại giấy giả nầy để sống trong các nước láng giềng vùng Đông nam Á châu, Miến điện. Vùng đất phía bắc của quốc qia Miến điện nay đầy rẫy những biểu tượng về văn hóa, kiến trúc, và ngôn ngữ của Trung quốc (và thực tế đã trở thành một vùng đất của người Trung quốc.)

Cũng làm chướng tai gai mắt nhiều người Lào là vùng đất mà thành phố nầy được lên kế hoạch nằm gần một dinh thự họp hành của nhà Vua Lào và các quan lại trong quá khứ và một tháp vàng, vương triều That Luang của thế kỷ 16, một biểu tượng quan trọng nhất của chủ quyền quốc gia và cũng là nơi thánh địa của phật tử.

Theo một nghiên cứu thực hiện bởi Quỹ Tài Nguyên Thiên nhiên của thế giới đặt căn cứ ở Tân Tây Lan cho biết vùng đầm lầy này là nơi nước lụt trong thành phố rút ra đây, “một cái cống lớn ” cho một thành phố không có hệ thống đào thoát nước thải, và một nguồn cung cấp cá và cây cối cho người dân nghèo.

“Điều quan tâm chính của tôi là dự án thành phố mới này sẽ phá vỡ cả ba yếu tố ấy,” Pauline Gerrard, tác giả của cuộc nghiên cứu vùng đất nầy, nói

Thị trưởng Vạn Tượng (bệnh vực cho dự án ấy) đã phản đối rằng thì là: cánh đầm lầy nầy đã bị ô nhiễm và sự phát triển đúng đắn sẽ cải thiện môi trường. Một số báo cáo tường thuật rằng khu vực nầy đang được thiết kế để khuyến dụ những người giàu có và sẽ được làm kiểu mẫu dựa trên thành phố Suzhou, nổi tiếng về hệ thống kênh rạch và cây xanh.

Nhưng những người ngoại quốc sống lâu năm ở Vạn tượng không thể nhớ được là có lần nào trong quá khứ mà giai cấp trung lưu Lào lại tỏ ra giận dữ như hiện nay.

“Nhiều ký giả Lào đã rất thích viết về những phẩn uất này, nhưng họ không thể nào làm được. Không có những cuộc biểu tình ngoài đường phố ngoại trừ là những phản đối trong những quán cafe– trong những cuộc bàn bạc của chúng tôi,” ông Sithong nói.

Martin Stuart – Fox, một tác giả của nhiều cuốn sách về người lào, nói rằng thế hệ của người Lào lớn tuổi đã biết cách làm thế nào để quân bình ảnh hưởng của người Trung quốc và Việt nam, và tránh bị đè bẹp giữa những nước láng giềng hùng mạnh nầy. Nhưng thế hệ lớn tuổi này đang chết dần dần, và hiện nay ” dường như sự thăng bằng ấy đang bị mất đi.” Stuart đã phát biểu trong cuộc phỏng vấn từ Úc.

*******************************************************

Asia Finest Discussion Forum _

Lao Chat _ Laos fears China’s footprint

Posted by: hygrozyme Apr 7 2008, 11:25 AM

Sun Apr 6, 2008

By DENIS D. GRAY, Associated Press Writer
VIENTIANE, Laos – A high-rise Chinatown that is to go up by Laos’ laid-back capital has ignited fears that this nation’s giant northern neighbor is moving to engulf this nation.

So alarmed are Laotians that the communist government, which rarely explains its actions to the population, is being forced to do just that, with what passes for an unprecedented public relations campaign.

The “Chinese City” is a hot topic of talk and wild rumor, much of it laced with anxiety as well as anger that the regime sealed such a momentous deal in virtual secrecy.

The rumblings are being heard even among some government officials, and foreign organizations operating in Laos are being told to refer to the venture as a “New City Development Project” rather than a “Chinese city.”

Deputy Prime Minister Somsavat Lengsavad insists the deal poses no threat.”This is not unusual. Almost every country in the world has a Chinatown, so why shouldn’t Laos have one?” he told Laotian reporters.

According to an artist’s impression in state-run media, it will have a Manhattan-like skyline. There is no word on how many Chinese will live there. The figure of 50,000 families is widely speculated but Somsavat denied any such number had been agreed upon.

The idea of 50,000 newcomers to a city of 460,000 is one factor causing unease. Another is location: The complex is to go up on the That Luang marsh, an area pregnant with nationalist symbolism and also ecologically important.

It comes at a time when China is rapidly becoming the No. 1 foreign economic and political power in Laos. As migrants, money and influence roll across the frontier, northern areas of the country are beginning to look like a Chinese province.

According to Somsavat, a Chinese company last fall was granted a renewable, 50-year lease to transform 4,000 acres of “rice fields into a modern city,” thus stimulating the business and investment climate of one of the world’s poorest nations.

Somsavat, an ethnic Chinese-Laotian with close ties to Beijing, explained that when Laos fell short of funds to build a stadium for the Southeast Asian Games it will host next year, it turned to the China Development Bank. The bank offered a Chinese company, Suzhou Industrial Park Overseas Investment Co., a loan to build the stadium in exchange for the lease.


The deal was signed last September, according to official media, with no known prior notice to the public. The company, contacted in Suzhou, declined to answer questions.

At a news conference, Vientiane Mayor Sinlavong Khoutphaythoune said three Chinese companies were involved in the project.

Even some aging revolutionaries are critical, saying they fought to keep out the United States and others during the Vietnam War and now are seeing their own government opening the floodgates to foreigners.

“The Lao people are not strong, so they are afraid the Chinese will come in and expand their numbers and turn our country into China. We will lose our own culture,” said Sithong Khamvong, a middle-class Vientiane resident and former Communist Party member.

There has been no official word on the conditions under which the Chinese might be allowed to settle in the new suburb.

By unofficial estimate, some 300,000 Chinese live in Laos but true figures are impossible to obtain since many have acquired false documentation much as they have done in another of China’s Southeast Asian neighbors, Myanmar. The north of that country is taking on a Chinese character.

Also irking many is the site of the planned city — near both the Parliament and the golden-spired, 16th century That Luang monastery, the most important symbol of national sovereignty and a sacred Buddhist site.

The area is now a mix of marshes, rice fields and creeping urbanization despite substantial international aid to preserve it as a wetland.

A 2003 study by the Switzerland-based World Wide Fund for Nature said the marsh is the main runoff for flash floods, a “sewage tank” for a city with no central waste water system, and a source of edible fish and plants for the poor.

“My major concern is that the new city will have an impact on these three factors,” says the study’s author, Pauline Gerrard.

The mayor counters that the marsh is already polluted and that proper development will improve the environment. Some reports say the area is designed to attract upmarket buyers and will be modeled on the Chinese city of Suzhou, famed for its canals and greenery.

But longtime foreigners in Vientiane can’t recall the middle class ever being so angry.

“Lao journalists would like to write about this but they cannot. There is no protest except in coffee shops — in our ‘coffee parliaments,'” Sithong said.

Martin Stuart-Fox, an Australian author of books on Laos, says the old generation knew how to balance China’s influence and Vietnam’s and avoid being crushed between its powerful neighbors. But this generation has passed, he said in an interview from Australia, and now “it seems to me that the balance is being lost.”

source:
http://www.asiafinest.com/forum/index.php?act=Print&client=printer&f=46&t=154527

—————————————-

Người Trung Quốc: Những ông chủ của đám người nô lệ mới

Chống đối xã hội dâng cao tại TQ

Phùng Nguyễn

tóm lược

Người lao động chờ việc ở Trung Quốc
Hình ảnh những người Trung Quốc ở Bắc Kinh 2009.
Họ nằm chơi ở ngoài đường cho mát? Họ quá nghèo không có có nhà ở? Họ đang khiếu kiện đất đai bị chính phủ TQ lấy?

Trong một cuộc phỏng vấn những doanh gia TQ đang làm ăn ở Phi Châu, những người nầy cho biết: Chính phủ TQ khuyến khích những doanh gia TQ mượn tiền, mua đất đai và mỏ ở Phi Châu để khai thác. Đổi lại, họ phải bán sản phẩm ròng, nguyên vật liệu (cobalt, đồng, than…) bán lại cho các doanh nghiệp quốc doanh TQ hoặc chở về TQ bán cho các doanh nghiệp TQ. Một số khác mươn tiền mua đất đai trồng trọt và thuê người Phi Châu làm việc trong các trang trại của họ. Một doanh gia TQ cho biết, ông mượn được 1 triệu đô để mua 1000 mẫu đất ở Phi Châu và đang khai thác. (nguồn ở báo Daily Mail, sẽ được dịch và post ở blog nầy)

Daily Mail

Làm Thế Nào mà Trung Quốc đã và đang Tạo Ra một

Đế Chế Nô Lệ Mới ở Châu Phi

By PETER HITCHENS

Last updated at 12:00 PM on 28th September 2008

Tôi nghĩ rằng chắc có lẻ tôi sẽ chết trong ít phút nữa thôi. Một đám đông vào khoảng 50 người đàn ông bị lừa dối và bị khích động mạnh đang vây quanh chiếc xe của tôi, một số người đang cố lật ngược chiếc xe, những người khác đang đập vào xe bằng những viên đá lớn, tất cả đang la hét gào lên những lời lăng mạ và nguyền rủa chúng tôi.

Họ đã bắt đầu đánh bể những cửa xe. Tôi đang nghĩ bước kế đó là họ sẽ kéo chúng tôi ra và, nhưng thôi…, chúng ta hãy đừng nghĩ về chuyện ấy nữa…

Tôi cố gắng không nhìn vào mắt của họ, nhưng họ đang trợn trừng mắt vào tôi và các bạn đồng hành của tôi với sự cuồng nộ và ghét bỏ mà trước đó tôi chưa từng nhìn thấy ở bất cứ gương mặt của người nào như thế. Những người bạn đồng hành của tôi, cô Barbara Jones và anh chàng Richard van Ryneveld đang ngồi ở các băng ghế phía sau xe thì cũng giống như tôi chẳng giúp được gì hết.

Nếu chúng tôi bước ra, chắc chắn chúng tôi sẽ bị đánh tới chết. Nếu chúng tôi ngồi yên trong xe, chắc chắn chúng tôi cũng bị đánh tới chết.

Hai người bạn đồng hành người Phi Châu của chúng tôi – một cách rất điên khùng theo quan điểm của chúng tôi – đã bước ra khỏi xe để cố giải thích với đám đông. Đối với chúng tôi, rõ ràng rằng hai anh bạn người Phi Châu đang giảng đạo về sự không dùng sự bạo động trước (mặt một đám người đang lên cơn tức giận như) một cơn gió lốc hung bạo đang tàn phá mọi vật trên đường mà nó di chuyển.[1]

Cuối cùng, sau khi những chuyện đập phá xe kéo dài vào khoảng chừng 40 giây, nhưng tôi có cảm tưởng như là 30 phút, một trong hai anh bạn Phi Châu của tôi nghĩ ra một chuyện hợp lý, anh ta chuồi ngược vào trong xe và liều mạng lùi xe lại rất nhanh xuống con đường đá đầy bụi – để lại người bạn của anh ta đàng sau với đám đông.

Nhờ ơn chúa, chúng tôi đã không bị trượt vào một con kênh dẫn nước, mà cũng không bị lật xe, hay không nổ lốp xe. Xuyên qua đám bụi mà chúng tôi đã làm ra vì quá vội vã khi chúng tôi tẩu thoát, chúng tôi đã có thể nhìn thấy những kẻ muốn sát hại chúng tôi đang chạy đuổi theo với tốc độ nhanh kinh hoàng để theo kịp chiếc xe. Nhưng chúng tôi đã vừa vặn có đủ thời gian để làm một cú quẹo rất nhanh trở về hướng xuất phát, cú quẹo nầy cho phép chúng tôi đi về phía trước và vượt đám đông một khoảng rất xa.

Thế là chúng tôi đã gần như bỏ lại một người hướng dẫn đường cho chúng tôi mà không biết vận mạng của anh ta ra sao (Điều đó là dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên để tự bào chữa cho tôi vào lúc ấy) khi ấy, đột nhiên chúng tôi nhìn thấy anh bạn người Phi Châu kia tách rời khỏi đám đông và đang chạy với sự nhanh nhẹn như ở Olympic, chạy trước những người đuổi theo bị che khuất bởi đám bụi mù.

Chúng tôi vội vã đẩy cho cánh cửa sau xe mở ra để cho anh chàng nầy có thể nhảy vào cho nhanh, động cơ nghiến ken két, và chúng tôi đã đột ngột chuyển hướng, xe nhồi lên rồi thụt xuống đau ê ẩm người trên con đường mòn đầy đá.

Chúng tôi đã lo sợ rằng sẽ có một nút chặn đường khác để ngăn chặn cuộc trốn thoát của chúng tôi, và tất cả mọi chuyện sẽ bắt đầu lại lần nữa. Nhưng đã không có (ai chận đường nữa), và sau cùng chúng tôi đã nhận ra rằng chúng tôi đã thoát, ngay cả anh chàng người Phi Châu mà sự ngu ngốc của anh ta gần như làm cho chúng tôi bị giết (cũng đã thoát).

Anh chàng nầy nói với chúng tôi rằng cái đám đông người Phi Châu chận đường ấy muốn giêt chúng tôi chứ không muốn giết anh ta, vì nếu không thì anh ta sẽ chẳng bao giờ trốn thoát được. Chúng tôi cần phải bị giết chết. Chúng tôi không chết. Đó là một cảm giác thú vị, không phải là không vui sướng một cách hoàn toàn.

Tại sao những người Phi Châu ấy đã muốn giết chúng tôi? Lý do gì đã làm nên sự tức giận của họ? Họ đã nghĩ rằng nếu tôi tường thuật cách sống và làm việc của họ, họ có thể mất công ăn việc làm để sinh sống.

Vậy mà gọi là sinh sống ư? Đang chết dần chết mòn thì đúng hơn.

Những người nghèo, người mất hết niềm hy vọng, những người giận dữ (với chúng tôi như đã viết ở trên) sống bằng cách đào những mãnh quặng cobalt và quặng đồng trong đất bẩn bị ô nhiễm và bụi của các mỏ đồng bị bỏ hoang ở Congo.

Họ rữa những thứ mà họ tìm thấy trong các giòng nước nhiễm bệnh dịch tả chứa đầy cứt người, sau đó đẩy lên đồi những túi đồ to lớn nặng chừng 100 kg trên những chiếc xe đạp cũ kỷ để tới một thị trấn Lakasi gần đó, nơi mà những người trung gian mua lại các món ấy để bán cho những nhà doanh nghiệp mà chủ yếu là bán cho những doanh nghiệp người Trung Quốc đang cần những thứ kim loại quan trọng nầy.

Thấy họ đi chậm chạp một cách đáng thương làm tôi nhớ lại các hình ảnh của các người thợ mỏ thất nghiệp ở Anh trong những năm 1930s, đang đi chệnh choạng về nhà dưới trời mưa lất phất với những túi xách chứa những mảnh than vụn gom lại từ những đống chiến lợi phẩm đánh cắp.

Ngoại trừ rằng ở đây cái nóng quá mức làm cho việc lao động 5 lần khó khăn hơn, và điều kiện làm việc và cuộc sống ở đây thì cực kỳ gian khổ hơn bất cứ thời gian nào từng được biết ở Anh kể từ thế kỷ thứ 18 (1601-1799).

Nhiều người chết vì những mỏ có từ lâu đời sụp đổ xuống trên bọn họ, hay bị thương một cách đáng sợ mà không có hy vọng được điều trị thuốc men. Nhiều người nhỏ bé còn hơn những trẻ em. Vào một ngày gặp hên, họ có thể kiếm được 3 đô, chỉ đủ hổ trợ cho sự hiện hữu mong manh trong những khu vực nghèo nàn sốt rét và bệnh tật.

Chúng tôi đã từng có mặt trước đây ở vùng mỏ bị đào xuống sâu trông rất xấu xí nầy, vùng nầy giống như là nơi ở của một đám tội nhân bị bắt từ một nước khác đem về đây và sống trong một đế chế nô lệ thời cổ.

Những con người bị bại trận, gục đầu xuống làm việc không bao giờ dứt trong mấy chục hố đất đào sâu xuống bằng tay. Gương mặt của họ, khi nhìn thấy, thì trống không và chẳng còn niềm hy vọng.

Trước đó chúng tôi đã từng bị đuổi đi khỏi đây bởi một cảnh sát viên mập mạp ăn hối lộ, ông ta giả vờ nói rằng giấy tờ của chúng tôi là không hợp pháp, nhưng ông ta thật sự nhận những lời chỉ thị từ một tên anh chị có cặp mắt của người chết và hắn chỉ còn có một tai, tên này ngồi sát bên viên cảnh sát.

Khi chúng tôi quay trở lại với nhiều giấy phép của chính quyền, tay anh chị nầy đã chuẩn bị xong cuộc phục kich (bằng cách cho nhiều người Phi Châu chận đường chúng tôi như đã viết ở trên).

Những người đào mỏ khoáng sản đã lo sợ – và những ông chủ xấu xa gây tội ác của họ nắm ngay được nổi sợ ấy – rằng nếu những người giống như tôi (nhà báo) nói ra công khai cuộc sống bị ô nhiễm của họ thì rồi sau đó cái mỏ khoáng sản nầy có thể bị đóng cửa và công việc với đồng lương một ngày 3 đô la có thể bị tước mất hết. (giống VN quá, ta hãy nhìn xem những người ngoài miền Bắc họ có thái độ bảo vệ y hệt vậy…)

Tôi không thể nào đưa ra cho bạn một lời cắt nghĩa nào rõ ràng hơn về mức độ thu nhỏ lại của những gì độc ác, đồi bại và tội lỗi nhất mà tôi tin là hiện đang xẩy ra ở Phi Châu.

Quá tuyệt vọng, vì thế hầu hết các nước ở Châu Phi đang tự bán mình vào trong một kỷ nguyên mới của tham nhũng và tình cảnh nô lệ thực sự khi Trung Quốc tìm kiếm để mua hết tất cả các kim loại, các mỏ khoáng sản và mỏ dầu mà Trung Quốc có thể chạm tay vào: mua đồng dành để chế dây điện và dây điện thoại, kim loại cobalt dành cho việc chế tạo điện thoại di động và các động cơ phản lực – đấy là những vật liệu ròng của đời sống thời hiện đại.

(còn tiếp)

Người dịch: Trần Hoàng

Tại một mỏ do người TQ làm chủ, người thợ mỏ ở Zambia, với cặp mắt lạc thần và trống rỗng…

https://i1.wp.com/www.rfi.fr/actuen/images/110/160209congomining432.jpg

Những người Zambia đang nhặt những mãnh quặng đồng và cobalt

https://i0.wp.com/content.edgar-online.com/edgar_conv_img/2008/03/14/0001204459-08-000516_DSTECH12.JPG

Hình các mỏ đồng và cobalt trong hang sâu thẳm, nơi đây những người dân Phi Châu làm việc kiếm 3 đô mỗi ngày.

———————————————————-

Kinh tế Rối loạn ở Việt Nam

Bài của MARTHA ANN OVERLAND tại HÀ NỘI

Thứ Hai, ngày 9-6-2008

Trong một năm trước, Việt Nam còn đang đầm mình trong không khí ngợi ca như là một phép mầu tiếp theo của châu Á, một câu chuyện thành công đáng được ví với sự trỗi dậy của những con hổ Á châu thập kỷ 1990 và gần đây hơn là sự tăng trưởng đầy ngoạn mục của Trung Quốc và Ấn Độ.

[Xin cám ơn thật nhiều về những cải cách kinh tế], đất nước cộng sản này đang thu hút những số lượng kỷ [lục] vốn đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế phát triển 8,5% vào năm ngoái – nằm trong những nước có nhịp độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực – và [Giá nhà cửa đã tăng lên gấp đôi và gấp ba], bị lôi kéo phần nào bởi những [người mua tranh nhau đứng sắp hàng để vồ chụp lấy những căn nhà xây dính liền nhau (condos = condominium) ngay cả trước khi chúng được xây dựng lên]. Thị trường chứng khoán mới nhú mầm của nước này đúc ra những nhà triệu phú. [Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, những chiếc xe hơi mới cực kỳ bóng loáng của họ đã làm kẹt cứng những con đường chỉ thích hợp với những chiếc xe hai bánh]

Thế nhưng một chuyện nực cười đã xảy ra trên con đường đi tới sự phồn vinh. Qua nửa năm 2008, chính phủ độc tài của Việt Nam đã [tự khám phá ra là mình phải ] đánh vật với cơn bùng phát giá cả, sụp đổ thị trường chứng khoán và một lực lượng lao động ngày càng cứng đầu cứng cổ hơn. Lạm phát giờ đây đang lao lên tới một tỉ lệ 25% hàng năm, và nó đang ngốn ngấu đáng kể những lợi ích mà dân chúng đã làm ra trong mấy năm qua. Thị trường chứng khoán Việt Nam, suy sụp 58,5% vào tháng Một, hiện đang giữ danh hiệu là nơi hoạt động tồi tệ nhất thế giới trong suốt 30 ngày qua. *Dẫn ra những khó khăn của chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát, hãng chuyên đánh giá mức độ khả tín Moody’s vào tuần trước đã hạ thấp cái nhìn triển vọng của mình đối với Việt Nam từ bền vững xuống tiêu cực. Những đánh giá về mức nghèo khổ báo hiệu rằng các ngân hàng có thể gặp phải rắc rối đối mặt với những nghĩa vụ tài chính của họ, làm xói mòn sự tin cậy của các nhà đầu tư tại nước này. Trong một bản đánh giá tóm tắt, kinh tế gia trưởng của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam Jonathan Pincus đã cho thấy nền kinh tế đã phát triển quá nóng và chính phủ đã phản ứng quá chậm chạp. “Đó là lý do khiến chúng ta lâm vào tình cảnh này,” ông nói.

Đương nhiên lạm phát đang gây nên tình trạng bất an trên toàn cầu, song nó lại đặc biệt nguy kịch ở Việt Nam, nơi mà giá cả hầu như mọi thứ, từ lương thực thực phẩm, xăng dầu cho đến thuê nhà cửa [đều đang lên tới đỉnh cao] phá hỏng mọi chuyện.

Phần lớn mức tăng trưởng gần đây của Việt Nam đã được lôi cuốn bởi khu vực sản xuất phát triển mạnh của nước này, song giờ đây mức lương công nhân sản xuất trong dây chuyền lắp ráp đang không theo kịp phí tổn sinh hoạt cơ bản. Kết quả là một sự xuất hiện đột ngột những cuộc đình công lan rộng – chuyện vốn hiếm hoi tại nước Việt Nam cộng sản – và nó đang làm tổn thương hình ảnh của một quốc gia như là một thiên đường của các công ty đa quốc gia đang tìm kiếm sự lựa chọn khác cho phát triển sản xuất thay thế Trung Quốc.

Suốt sáu tháng qua, đã có hơn 300 cuộc đình công trên khắp đất nước. Đa số chỉ kéo dài vài ngày bằng sự chấp nhận của giới chủ tăng lương thêm chút ít. Vào tháng Tư, một công ty chuyên sản xuất giày quần vợt cho hãng Nike đã đồng ý tăng lương cho công nhân thêm 10%, tức khoảng 6,3 đô la một tháng. Thế nhưng mức độ đó là không đủ để thay đổi cuộc sống người công nhân.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng báo cáo trước Quốc hội nước này vào hôm 31 tháng Năm rằng số các hộ gia đình lâm vào tình trạng đói kém đã tăng gấp đôi trong một năm qua. “Chính phủ hiểu và chia sẻ với nhân dân,” ông Dũng nói. “Và hiểu được trách nhiệm của mọi người cố gắng tham gia kiềm chế một cách tốt nhất tình trạng lạm phát.”

Cho tới lúc này, Hà Nội đã có những động thái hạ nhiệt đà tăng trưởng kinh tế bằng cách yêu cầu các ngân hàng tăng mức dự trữ bắt buộc của họ; ngân hàng trung ương cũng đã tăng tỉ lệ lãi suất lên 12%.

Thế nhưng mức lạm phát đang xấu thêm do đồng nội tệ của Việt Nam đang bị mất giá. Việt Nam đồng đã giảm giá dữ dội tới 1.5% so với đồng đô la trong vòng sáu tháng qua. Song những tin tức kinh tế buồn thảm gần đây vẫn đang đe doạ làm yếu đồng tiền này thêm nữa.

Trong tuần qua, tiền đồng đã nhảy vọt từ 16.120 đồng lên 18.500 đồng ăn một đô la tại chợ đen khi những người giao dịch lao vào chuyển đổi đồng tiền này sang cầm giữ đô la và vàng. Đồng nội tệ bất thần lịm đi đã làm cho nhập khẩu, từ lương thực thực phẩm cho tới hàng hoá tiêu dùng, càng đắt đỏ thêm.

Jocelyn Trần, một người có công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh ký hợp đồng với các nhà máy địa phương cung cấp sản phẩm may mặc cho các siêu thị ở Mỹ cho hay giá sợi của Trung Quốc đã vọt lên 15% trong năm nay. “Các nhà máy của chúng tôi đang [lãnh đủ chuyện ấy ]phải lưu tâm tới chuyện này bằng cách cắt giảm mức lợi nhuận,” bàTrần nói. Mặc dù một số nhà máy đã tăng lương, nhưng bà phàn nàn rằng công nhân vẫn sẽ tiếp tục bãi công.

Việc chính phủ ở Hà Nội đã chậm chạp xử lý một số vấn đề một phần là bởi những chiến tuyến nay không còn được vạch ra rõ ràng như trước giữa những người vẫn kiên định lập trường của Đảng Cộng sản và những người trong đảng muốn cải cách kinh tế theo chiều hướng tự do hơn.

Việc đưa ra quyết định đã bị phân khúc dẫn đến tình trạng tê liệt, Pincus nhận xét. Ví dụ như việc kiểm soát chính sách tiền tệ đã không có sự tập trung về một mối. [Trong một hệ thống mà sự vận hành dựa trên sự đồng ý của tập thể] – không chỉ nằm trong đảng mà cả trong các ủy ban, bộ và các tỉnh – thì sẽ rất khó khăn cho những người lãnh đạo đưa ra được những quyết định cứng rắn. [“Để chia sớt niềm đau thì luôn luôn là khó khăn hơn,”] theo Pincus. “Nhưng phân phát kẹo bánh thì dễ hơn nhiều.”

[Để chận đứng nạn lạm phát], chính phủ hiểu rằng họ cần tăng mức lãi suất lên và kiểm soát chi tiêu ngân sách, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước từng sử dụng các định chế tài chính của quốc gia như là những con heo đất của bản thân họ. Thế nhưng bất cứ động thái bất ngờ nào cũng có thể đe doạ bóp nghẹt các nhà kinh doanh và xua đuổi các nhà đầu tư mới, những người mà Việt Nam phải tránh gây ảnh hưởng xấu nếu như VN còn muốn đạt cho được mức tăng trưởng vừa mới ấn định lại là 7%.

Tuy nhiên, trong khi [những chỉ số về kinh tế trông rất xấu] và nhiều tín hiệu xấu đang hiện hữu, triển vọng kinh tế trong dài hạn của Việt Nam là tốt đẹp, theo Tom Nguyễn, giám đốc thị trường toàn cầu của ngân hàng Đức Deutsch Bank tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Một số người cho rằng cái khả năng của chính phủ để đối phó những sự bất đồng xã hội một cách nhanh chóng và thô bạo đang làm giảm đi mối đe dọa là những cuộc đình công ( sắp đến ) sẽ biến thành cuộc phản đối có tính chất bạo lực hoặc sẽ khuyến khích những đòi hỏi sự thay đổi thể chế chính trị.

Việt Nam vẫn là một quốc gia ổn định có 85 triệu dân với một lực lượng lao động trẻ và có học. “Thật vô lý để các nhà đầu tư chúng ta lại mong chờ rằng tiến trình phát triển này không có những thách thức,” Nguyễn nói. “Thế nhưng một số nỗi khổ sẽ đến với những người không tìm thấy niềm hy vọng.” Tiếc thay, hầu hết những nỗi khổ sẽ lại rơi vào những con người Việt Nam nghèo khó khi họ phải vật vã kiếm từng miếng ăn.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

——————-

Vietnam’s Troubled Economy

By MARTHA ANN OVERLAND/HANOI

Monday, Jun. 09, 2008

A year ago, Vietnam was being hailed as the next Asian miracle, a success story to match the rise of the Asian tigers of the 1990s and more recently the stunning growth of China and India.

Thanks to economic reforms, the communist country was attracting record amounts of foreign investment. The economy expanded by 8.5% last year—among the fastest rates in the region—and housing prices doubled and tripled, driven up in part by frantic buyers who stood in line to snap up condos before they had even been built. The country’s nascent stock market was minting millionaires. In Hanoi and Ho Chi Minh City, their flashy new cars clogged roads better suited for bicycles.

But a funny thing happened on the way to prosperity. Halfway through 2008, Vietnam’s authoritarian government finds itself grappling with soaring prices, collapsing markets and an increasingly restive work force. Inflation, now running at an annual rate of 25%, is eating up much of the gains made by citizens over the last several years. Vietnam’s stock market, which has fallen 58.5% since January, currently holds the unhappy title of being the worst performing in the world in the last 30 days. Citing the government’s difficulty in reining in inflation, Moody’s, which grades credit-worthiness, lowered Vietnam’s ratings outlook last week to negative from positive. Poor ratings signal that banks may have trouble meeting their financial obligations, undermining investors’ confidence in the country. In a nutshell, the economy overheated and the government was too slow to respond, says Jonathan Pincus, chief economist for the United Nations Development Program in Vietnam. “It’s how we got into this problem,” he says.

Inflation is causing trouble worldwide, of course, but it’s particularly acute in Vietnam, where prices for virtually everything, from food to fuel to housing, have been spiking. Much of Vietnam’s recent growth has been driven by its expanding manufacturing sector, but now assembly line workers’ salaries are being outpaced by basic living costs. The result has been a rash of strikes— unusual in communist Vietnam—that are hurting the country’s image as a haven for multinational companies looking for alternatives to China for manufacturing sites. Over the last six months, there have been more than 300 strikes throughout the country. Most last only a few days, with management usually agreeing to small pay increases. In April, a company that manufacturers sneakers for Nike agreed to give workers a 10% increase, or about an additional $6.30 a month. But that amount is not enough to make much of a difference when workers go to the grocery store.

Prime Minister Nguyen Tan Dung told the country’s National Assembly on May 31 that the number of households going hungry has doubled in one year. “The government understands and shares with the people,” Dung said. “And sees it is their responsibility to try to best curb inflation.” So far, Hanoi has moved to cool the economy by requiring banks to increase their reserves; the central bank has also raised interest rates to 12%. But inflation is being made worse by Vietnam’s weakening national currency. The Vietnamese dong has fallen roughly 1.5% against the dollar in the past six months. But the recent dismal economic news is threatening to weaken it further. This past week the dong jumped from 16,120 to the dollar to 18,500 on the black market as traders rushed to put their dong into dollars and gold. The currency swoon makes imports, from food to commodities, more expensive. Jocelyn Tran, whose Ho Chi Minh City company contracts with local factories to supply apparel to U.S. stores, says the price of Chinese-made yarn has jumped 15% this year. “Our factories are absorbing it by cutting out the profit margin,” says Tran. Even though some factories have raised wages, she complains that workers are still going on strike.

The government in Hanoi has been slow to tackle some of the problems in part because battle lines are no longer neatly drawn between Communist Party hard liners and the party’s more liberal economic reformers. Decision-making has been fragmented to the point of paralysis, says Pincus. For example, no single entity is in control of monetary policy. In a system that works on consensus — not just among the party but committees, ministries and provinces—it has been difficult to get leaders to make tough decisions. “It’s always harder to distribute the pain,” says Pincus. “It’s much easier to distribute the goodies.”

To tackle inflation, the government knows it needs to raise interest rates and rein in spending, particularly by state-owned enterprises that have used state financial institutions as their own piggy banks. But any sudden moves can also threaten to strangle businesses and scare away new investors, which Vietnam must avoid if it is to meet its revised 7% growth rate. Still, while the numbers look bad now, Vietnam’s long-term economic outlook is good, says Tom Nguyen, head of global markets at Deutsche Bank in Ho Chi Minh City.

Some think the government’s ability to deal with public dissent swiftly and harshly lessens the threat that strikes will turn into violent protest or will encourage calls for political change. Vietnam remains a stable country of 85 million people with a young and educated workforce. “It is unreasonable for any of us investors to expect this development process not to have challenges,” says Nguyen. “But some of the heartache has to fall in the lap of the people who had unrealistic expectations.” Unfortunately, most of the heartache will be felt by Vietnam’s poor as they struggle to put food on the table.

———————————

THE WALL STREET JOURNAL

————————————————————————————————————

Việt Nam Đánh giá thấp

Những mối Lo ngại về Tiền tệ

Bài của JAMES HOOKWAY

Ngày 8-6-2008

Vào tuần trước, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố rằng ông tin chắc nước ông sẽ không phải phá giá đồng nội tệ của mình.

Những người Việt Nam bình thường không tin chắc như vậy khi họ đẩy tỉ giá đồng đô la ngoài chợ đen lên những mức cao hơn hẳn trước mối lo đang loang rộng đối với nền kinh tế đổ nát vì lạm phát, đặc biệt vào lúc giá dầu đang tăng lên.

Quốc gia này đang bị tổn thương bởi một làn sóng đình công trong khi nó phải vật lộn với ảnh hưởng của mức lạm phát hai con số liền trong 7 tháng, đạt tới một tỉ lệ lạm phát thường niên là 25,2% vào tháng Năm. Thị trường chứng khoán đã sụp đổ trong khi các nhà đầu tư quay ra mua vàng. Vào hôm thứ Sáu, tỉ giá ngoại tệ là 18,500 đồng Việt Nam ăn một đô la trên thị trường không chính thức, so với mức chính thức là 16,124 được ngân hàng trung ương đưa ra cùng ngày. Thị trường tiền tệ trong tương lai đang được xác định một mức phá giá hơn nữa, là 40% trong 12 tháng tới.

Tuy nhiên, ông Dũng đang nhanh chóng đưa ra chính sách của chính phủ mình nhằm đảm bảo cho một đồng tiền ổn định.

Tuần trước, trong cuộc gặp mặt với các kinh tế gia từ hãng JP Morgan và các quan chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV, ông nói rằng nền tài chính của nước ông vẫn còn vững mạnh. Trong một bản thông báo được đưa ra hôm thứ Sáu, BIDV đã trích dẫn lời của ông Dũng khi nói rằng “Việt Nam đã nghiên cứu và phân tích ảnh hưởng của vấn đề phá giá trong tình hình hiện tại, và đi tới kết luận rằng việc làm đó là vô ích.”

Các đại diện của JP Morgan là những người rất chú tâm vào cuộc họp này nhưng đã không có được lời bình luận nào. (không thể liên lạc được để nghe lời bình luận của họ )

Kết cục là bất chấp những lời lẽ để làm yên lòng từ ông Dũng, nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ rơi vào một tuần thử thách khác, với giá dầu đang đạt tới những mức cao mới vào hôm thứ Sáu – trong khi nó lại là một cỗ máy cái của nền kinh tế Việt Nam, nơi phải nhập khẩu toàn bộ thành phẩm dầu cần thiết. $139/ barrel

Các tổ chức chuyên đánh giá độ khả tín như Fitch Rating và Moody’s Investors Service đều đã hạ thấp cái nhìn triển vọng của họ đối với tỉ suất nợ quốc gia của Việt Nam xuống mức tiêu cực khi mà ông Dũng và chính sách kinh tế của ông phải gắng sức để kìm hãm đà tăng giá hiện tại.

“Lạm phát lên cao đang chứng tỏ rằng việc kiểm soát nó là rất khó khăn, và những sức ép đã gia tăng nhanh chóng trong việc cân bằng cán cân thanh toán,” theo lời Thomas Byrne, phó giám đốc cao cấp của Moody’s vào tuần trước. “Đối với các giới chức, tình thế tiến thoái lưỡng nan hiện nay là bằng cách nào để làm dịu đà tăng trưởng mà không xô đẩy nền kinh tế vào cơn khủng hoảng hoặc huỷ hoại môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài.”

Là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở châu Á với mức trung bình hàng năm là 7,5 năm kể từ năm 2000, Việt Nam đã phải vùng vẫy để kiểm soát tình trạng lạm phát sau khi giá dầu và lương thực lên cao bắt đầu lôi kéo giá cả tiêu dùng lên theo vào năm ngoái.

Các kinh tế gia thân cận với chính quyền Cộng sản Việt Nam cho biết là các nhà lãnh đạo nước này đã tỏ ra miễn cưỡng khi phải đẩy mức lãi suất lên cao để đảm bảo ổn định nguồn tín dụng từng có lãi suất thấp nên đã tiếp sức cho việc bành trướng các doanh nghiệp nhà nước và cũng trợ giúp cho thị trường chứng khoán đang sụt giảm mất 57% giá trị kể từ đầu năm.

Hôm thứ Sáu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã bắt đầu giám sát việc thi hành những quy định từ lâu bị lờ đi là cấm các tổ chức thu đổi ngoại tệ bán đô la cho người Việt Nam nào lao vào cuộc tìm kiếm giải pháp cứu những đồng tiền giành dụm được của họ khỏi tình trạng mất giá.

Trong khi đó, Benedic Bingham, trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF tại nước này đã phát biểu tại một cuộc họp các nhà tài trợ với chính phủ vào hôm thứ Sáu là Việt Nam cần làm tốt khá hơn việc tăng mức lãi suất lên một mức độ có thể khôi phục sự tin cậy về hệ thống tài chính và ngân hàng – ngay cả nếu như điều đó sẽ gây ra tình trạng suy giảm các hoạt động chu cấp cho các hoanh nghiệp nhà nước.

Theo ông Bingham, được Hãng thông tấn AFP trích dẫn, thì “Việc nâng lãi suất cần phải được bổ sung bằng tăng cường giám sát hệ thống ngân hàng để kiềm chế những thông lệ cho vay một cách khinh suất và giải quyết ngay bất cứ những nhược điểm nào hiện ra trong hệ thống ngân hàng

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng 204

————–

Vietnam Minimizes Currency Fears

(Vietnamese Skeptical of Currency Assurances)

By JAMES HOOKWAY

June 8, 2008 8:44 a.m.

Vietnam’s Prime Minister Nguyen Tan Dung said last week he is confident the country won’t have to devalue its currency.

Ordinary Vietnamese aren’t so sure, pushing black-market rates for the U.S. dollar to fresh highs as concerns spread about Vietnam’s inflation-wracked economy, especially as oil prices rise.

The country has been hit by a wave of strikes as it grapples with the impact of seven months of double-digit inflation, which hit an annualized rate of 25.2% in May. The stock market has collapsed as investors switch to gold. On Friday, it cost 18,500 Vietnamese dong to buy $1 on Vietnam’s informal market, compared with the official rate of 16,124 dong set by Vietnam’s central bank the same day. Forward currency markets are pricing a further devaluation of 40% for the dong in the next 12 months.

Still, Mr. Dung is hold ing fast to his government’s policy of maintaining a firm currency.

Last week, he told economists from JP Morgan and officials from state-owned Bank for Investment and Development of Vietnam, or BIDV, that the country remains financially strong. In a statement released Friday, BIDV quoted Mr. Dung as saying “Vietnam has analyzed and studied the impact of devaluation in the current situation, and come to the conclusion that this is useless.”

Representatives from JP Morgan who attended the meeting in Hanoi couldn’t be reached for comment.

The upshot is that despite Mr. Dung’s reassurances, Vietnam’s economy could be in for another testing week, with oil prices reaching new record highs on Friday – a key economic driver in Vietnam, which imports all of its refined oil needs.

Ratings agencies Fitch Ratings and Moody’s Investors Service have both downgraded their outlook for Vietnam’s sovereign ratings to negative as Mr. Dung and his economic policy struggle to get a grip on rising prices.

“Rising inflation is proving very difficult to control, and pressures have rapidly built up on the balance of payments,” said Thomas Byrne, Moody’s senior vice president, last week. “For the authorities, the dilemma now is how to dampen growth without throwing the economy into recession or damaging the environment for foreign direct investment.”

One of Asia’s fastest growing economies – it has grown by an average of 7.5% a year since 2000 – Vietnam has struggled to get inflation under control after high oil and food costs began to drive up consumer prices last year.

Economists familiar with Vietnam’s Communist government say its leaders have been reluctant to push up interest rates in order to ensure a steady supply of cheap money to fuel the expansion of state-owned companies and also to support Vietnam’s sagging stock market, which has lost 57% of its value since the beginning of the year.

On Friday, the central bank, the State Bank of Vietnam began enforcing long-ignored rules prohibiting foreign exchange agents selling dollars to Vietnamese who are scrambling to find a way to protect their savings.

Meanwhile, Benedict Bingham, International Monetary Fund country chief, said at a donor meeting with the government on Friday that Vietnam would be better off raising interest rates to a level which might restore confidence in the currency and banking system – even if that slows down the movement of funds to state-run companies.

“The increase in interest rates should be complemented by strengthened oversight of the banking system to curb imprudent lending practices and address any emerging vulnerabilities in the banking system,” Mr. Bingham said, according to AFP.

Write to James Hookway at james.hookway@awsj.com

Tags: 299:việtnamđánhgiáthấpnhữngmốilo

Monday June 9, 2008 – 12:42pm (ICT)

————-

Entry for June 08, 2008

Việt Nam Cố kiết Đến cùng cho Kế hoạch Mở rộng Thủ đô lên Ngoại cỡ

Những người chỉ trích đã phê phán gay gắt, cho rằng động thái này là không đúng lúc, được đưa ra trong khi đang có những chuyện tai ương cho nền kinh tế đất nước

Bài của Roger Mitton, Thông tín viên tại Việt Nam

Thứ Bảy, ngày 7-6-2008
HÀ NỘI – Việt Nam đang dấn bước vào một kế hoạch đầy tham vọng nhằm mở rộng gần như gấp bốn lần thủ đô của mình bất chấp những nghi ngại, thậm chí trong cả những thành viên trong Đảng Cộng sản cầm quyền về động thái này.
Kế hoạch để mở rộng diện tích của Hà nội đang bị chỉ trích là không cần thiết, sai lầm, và làm xao lãng ra khỏi tình cảnh khẩn cấp hiện nay là chận đứng sự đi xuống quá nghiêm trọng về kinh tế của đất nước này.
VN đang quằn quại trong nổi đau của sự suy sụp kinh tế tồi tệ nhất trong mấy chục năm qua với thị trường chứng khoáng của nước nầy đang rớt xuống nhanh, cuộc khủng hoảng tiền tệ và ngân hàng, nạn lạm phát lên cao tới 25%, và những cuộc biểu tình của công nhân gia tăng khắp nước.

Theo luật sư Nguyễn Trần Bạt, chủ tịch Investconsult, một trong những tổ hợp lớn chuyên tư vấn cho doanh nghiệp của Việt Nam, thì:

“Dự án mở rộng hà nội được xem là không hợp lý, thiếu sót, và sai lầm. Đó là một quyết định tệ hại vào một thời điểm quá xấu.”

‘Dự án mở rộng Hà Nội là không logic, được trù liệu sơ sài và sai lầm. Đó đúng là một quyết định nguy hiểm vào một thời điểm không thích hợp.’

Có thêm cả ý kiến của ông Nguyễn Thanh Hà, một nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng ở Hà Nội: ‘Tôi không thể hiểu vì sao chính phủ lại tốn cả thời gian và công sức để tranh cãi về quy mô của Hà Nội khi mà nó cần phải giải quyết những vấn đề kinh tế của chúng ta.’

Theo kế hoạch này, địa giới của thủ đô sẽ tăng lên 3,6 lần và dân số của nó sẽ nhiều gấp đôi tới 6,2 triệu, làm cho nó lớn hơn cả Singapore và Kuala Lumpur.

Thế nhưng nó đã thu hút sự chống đối mạnh mẻ đến nổi không ít hơn 6 vị bộ trưởng được phái đến quốc hội để cố gắng tranh luận về sự cần thiết của dự án mở rộng – với ít khả năng thành công

‘Anh nói vậy có nghĩa là Hà Nội đã sử dụng hết cả 920 cây số vuông rồi sao?’ Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Tuyển hỏi một cách mỉa mai.

Đại biểu Ngô Văn Hưng nghi ngờ liệu Hà Nội có thể quá dễ để biến thành một trung tâm văn hóa và quốc tế, khi ông nói: ‘Tôi e rằng chúng ta sẽ không có được một Hà Nội như những điều trông đợi này từ giờ cho tới thế kỷ sau.’

Khi cuộc phỉnh phờ ở cấp bộ trưởng thất bại, một lịch trình bỏ phiếu vào ngày 23 tháng Năm cho giải pháp đã phải hủy bỏ. Như là một sự thỏa hiệp, hệ thống cai trị đã đồng ý trì hoãn thi hành kế hoạch từ ngày 1 tháng Bảy sang ngày 1 tháng Tám và tập trung chú ý hơn vào cuộc chiến đấu với nạn lạm phát.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đứng trước cơ quan lập pháp để trả lời về những than phiền rằng chính phủ của ông đã không giải thích một cách thích đáng cơ sở hợp lý của kế hoạch, chi phí tài chính, cũng như tác động xã hội và văn hóa của nó.

Ông thừa nhận rằng một bản tường trình trước đó đã không được hoàn chỉnh, song ông lại lập luận rằng mở rộng Hà Nội sẽ làm cho nó trở thành một ‘trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế’ ngang tầm với các thành phố lớn khác trong khu vực – và thậm chí ông còn vận dụng đến cả thuật phong thủy.

Ông Dũng nói: “Hà Nội sẽ tựa vào Núi Ba Vì và hướng ra Sông Hồng. Nó sẽ ổn định trong vị thế của rồng-uốn-hổ-chầu.’

Mặc dầu sự chỉ trích vẫn tiếp tục, tuy nhiên, chẳng ai nghi ngờ gì kế hoạch của nhà cầm quyền đã được chấp thuận trước rồi. Khi cuộc tranh luận kết thúc, một đa số đại biểu – tất cả đều hoặc là đảng viên hoặc có liên hệ với đảng – cố nuốt nổi lo ngại của họ và đã bỏ phiếu chấp thuận cho lời đề nghị.

Thế nhưng những mối quan ngại về cái mưu đồ và cách chọn thời điểm của nó vẫn còn đó.

TS Trương Gia Sơn, một giám đốc của Công Ty Bất động sản Hoàng Quân tại Thành phố Hồ Chí Minh nói: ‘Phải, Quốc hội cuối cùng đã phê chuẩn kế hoạch này, song tôi vẫn lo ngại về cái cách mà chính phủ có thể kiểm soát những món tiền bạc để thực hiện nó.’

Sự phản đối kéo dài và cách bày tỏ sự phản đối thì mạnh mẻ cũng đã (làm cho ta) gia tăng sự nhận thức rằng phe của ông Dũng đã bị yếu đi vì cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra.

Tình hình đã trở nên quá khốc liệt tới mức những định chế tài chính tiếng tăm được tôn trọng như Goldman Sachs, Morgan Stanlay và Deutsche Bank đã lên tiếng quan ngại rằng một gói các giải pháp ứng cứu theo kiểu của IMF (cho mượn tiền) có thể phải được tính đến.
———————-

Bài phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn

Đài RFA (Radio Free Asia) Washington 31/10/2007

RFA: Theo kế hoạch của cơ quan chức năng Việt Nam thì đến 2020 nhà máy Điện Hạt Nhân (ĐHN) đầu tiên của Việt Nam được xây dựng ở Ninh Thuận có thể đưa vào vận hành.

Lâu nay có một chuyên gia trong lĩnh vực Điện Hạt Nhân, gốc Việt Nam, có ý kiến không đồng thuận với kế hoạch Việt Nam. Vị chuyên gia này cho rằng chưa nên triển khai một nhà máy ĐHN như thế. Đó là TS Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên Cố vấn nha kinh tế, dự báo chiến lược EDF Paris, Giáo sư viện kinh tế chính sách năng lượng và trường Đại học Bách khoa Grenoble ở Pháp.

Trong chương mục khoa học và môi trường kỳ này TS Nguyễn Khắc Nhẫn nêu ra những ý kiến của ông về vấn đề liên quan.

Có thể nói bản thân ông Nguyễn Khắc Nhẫn là người lên tiếng mạnh mẽ nhất trong thời gian qua, cho rằng chưa nên triển khai ĐHN ở Việt Nam. Ông đã có nhiều bài viết phổ biến lập luận cho ý kiến đó.

Sau đây Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn lặp lại một số nguyên nhân chính vì sao chưa thể xây dựng nhà máy ĐHN tại Việt Nam.

NKN: Từ mấy năm nay, tôi đã lên tiếng khá nhiều không ủng hộ việc xây cất nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam. Có rất nhiều lý do chính đáng, xin phép tóm tắt như sau:

1- Điện hạt nhân không kinh tế như người ta hiểu lầm vì trong giá thành kWh phải tính các chi phí về xử lý nhiên liệu, lưu giữ chất thải phóng xạ, tháo gỡ nhà máy sau này, an toàn, bảo hiểm…

2- ĐHN không tăng trưởng tiềm lực khoa học công nghiệp và hiện đại hoá đất nước như có người mơ tưởng. Trái lại nó hạn chế tiến bộ vì nguồn tài chính khổng lồ bị ĐHN thu hút, không cho phép ta đầu tư vào những lĩnh vực then chốt, có nhiều triển vọng hơn.

3- Với lò PWR thế hệ II, nước ta sẽ bị ràng buộc với một công nghệ lỗi thời – lò thế hệ III thế giới còn thiếu kinh nghiệm.

4- Chúng ta sẽ mất độc lập, tiếp tục lệ thuộc lâu dài với ngoại quốc về thiết bị, nhiên liệu nhất là Uranium làm giàu 3,5% .

5- Viện cớ lý do thay đổi khí hậu, nhiều nước muốn xây cất trở lại các nhà máy Điện Hạt Nhân nên giá Uranium đã tăng lên gấp 2, gấp 3 lần trong hai năm nay. Trữ lượng Uranium trên thế giới hiện nay chỉ đủ để cung cấp cho 440 lò đang vận hành trong vòng vài chục năm mà thôi. Nếu nhiều nước muốn làm Điện Hạt Nhân thì giá Uranium sẽ tăng vọt rất nhanh và cơn khủng hoảng Uranium sẽ trầm trọng hơn các cơn khủng hoảng dầu mỏ. Như thế có nghĩa là Điện Hạt Nhân không kinh tế.

6- Điểm quan trọng khác là nước ta chưa có đủ nhân tài, chưa có đủ chuyên viên có kinh nghiệm nhiều về ĐHN và cơ cấu công nghiệp, hệ thống pháp lý của ta có thể nói là còn thô sơ.

7- Phát triển năng lượng bền vững sẽ gặp bế tắc vì ĐHN không phải là một năng lượng sạch, không thể giải quyết vấn đề môi trường. Đổi chất thải phóng xạ với CO2 chẳng khác gì như đổi Sida với dịch tả hay dịch hạch.

8- Xây 1 lò ĐHN sẽ làm đất nước kẹt 1 thế kỷ. Sau 50 năm vận hành phải đợi 25-50 năm trước khi tháo gỡ nhà máy.

9- Một lý do khác mà tôi không đồng ý là vì bên nhà đã thổi phồng nhu cầu điện lực năm 2020 (294 tỷ kWh) tức là 3 lần lớn hơn con số đã đưa ra vào năm 2010 không thiết thực chút nào cả. Không có nước nào có một tốc độ quá mạnh như thế. Tăng trưởng luỹ thừa 17% mỗi năm có nghĩa là cứ 3-4 năm ta phải nhân gấp đôi tất cả các nhà máy và hệ thống điện. Ta có đủ khả năng tài chính không? Sức người cũng có hạn. Chính sách năng lượng của ta còn nhiều nhược điểm, thiếu khách quan, khó thuyết phục, không có độ tin cậy về khả năng huy động vốn đầu tư trong khung cảnh toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

10- Lấy lý do cân bằng năng lượng một cách thô sơ để làm ĐHN là phi lý vì tài nguyên thiên nhiên của ta còn dồi dào. Tại sao ta không đợi các lò thế hệ IV sẽ xuất hiện vào 2030/2035 mà phải hấp tấp.

RFA: Hẳn nhiên khi đưa ra ý kiến chưa thể triển khai dự án ĐHN, TS Nguyễn Khắc Nhẫn cũng chỉ ra những cách thức nhằm giải quyết bài toán năng lượng cho Việt Nam.

NKN: Trong lĩnh vực năng lượng, tôi có cảm tưởng như chiến lược dài hạn của nước ta không hợp lý và thiếu khách quan trước những thách đố toàn cầu. Tôi xin phép liệt kê sau đây vài biện pháp cần thiết cho việc phát triển năng lượng bền vững của đất nước.

1 – Quyết tâm khai thác cấp tốc và tuyệt đối (tôi xin nhấn mạnh tuyệt đối) tất cả các nguồn năng lượng tái tạo như thuỷ điện, sinh khối, gió, mặt trời, địa nhiệt, sóng biển…bằng cách đầu tư mạnh mẽ vào việc nghiên cứu và ứng dụng năng lượng tái tạo. Muốn thành công, nhà nước cần ban hành luật năng lượng tái tạo như ở Mỹ, Trung Quốc, Pháp…Ví dụ: ở Pháp cũng như ở một số nước khác, người dân vừa có quyền sử dụng điện gió mình làm ra vừa có thể bán điện lại cho lưới điện quốc gia với giá rất cao. Nhà nước cũng có bổn phận khuyến khích việc chế tạo thiết bị cho nhu cầu trong nước và để xuất khẩu. Ví dụ: nước Đức và Đan Mạch đã chiếm phần quan trọng nhất nhì trên thị trường thế giới về tua-bin gió.

Những nguồn năng lượng tái tạo (gọi là nguồn thông lượng – énergie de flux) tràn ngập trên vũ trụ, được tạo hoá gieo rải khắp mọi nơi cho nhân loại sử dụng, khỏi phải tốn tiền nhiên liệu.

Thế mà trong hai thế kỷ qua, nhân loại đã đi ngược dòng, đầu tư và tiêu thụ một cách phung phí năng lượng hoá thạch (than, dầu, khí) mà tạo hoá đã cặm cụi gầy dựng qua hàng trăm triệu năm, tập trung và dự trữ ở một số mỏ (énergie de stock) trên thế giới. Dầu, khí và Uranium trong vài chục năm và than đá trong một hai thế kỷ nữa lần lượt cũng sẽ kiệt cạn.

Chỉ có năng lượng tái tạo vô tận, mới đủ điều kiện giúp nhân loại phát triển bền vững, đồng thời chống lại hiệu ứng nhà kính.

Năng lượng tái tạo cho phép ta sản xuất và tiêu thụ ngay tại chỗ, ở mỗi thành phố, mỗi làng xã, mỗi căn nhà! Với chính sách năng lượng phân cấp (énergie décentralisée) ngày nay, không nhất thiết lúc nào cũng phải xây dựng những nhà máy đồ sộ rồi mới sản xuất, truyền tải, phân phối, qua nhiều trạm biến thế, gây nhiều tổn thất trên hệ thống dây.

2 – Biện pháp thứ hai, theo tôi, là tiết kiệm năng lượng mà nước ta cũng ít quan tâm đến. Đó là điều rất đáng tiếc. Năng lượng quý báu nhất là năng lượng mà chúng ta không sử dụng. Tiết kiệm năng lượng phải được nhà nước xem như là một nguồn năng lượng dồi dào, hết sức quan trọng. Nếu chúng ta có một chính sách tiết kiệm dài hạn, sử dụng tối ưu năng lượng, nâng cao hiệu suất sản xuất và tiêu thụ trên toàn lãnh thổ thì mức tổn thất theo tôi có thể nhẹ bớt khoảng 20% – 35% là ít.

Lấy ví dụ: năm 2006, một khách sạn lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, sau khi áp dụng chương trình tiết kiệm điện, đã nhìn nhận có sự thất thoát lên đến 30%. Muốn đạt kết quả tốt, nhà nước phải quyết tâm khuyến khích dân chúng ở các thành phố lớn thay đổi thái độ trong việc tiêu thụ hàng hoá, nước và nhất là năng lượng. Tất cả những cơ sở quốc gia và xí nghiệp công hay tư phải xung phong làm gương cho toàn dân. Đó là một thử thách rất lớn, cần ý thức giáo dục và tinh thần kỷ luật. Tôi được biết bộ Công nghiệp cuối năm 2006 đã ban hành thông tư hướng dẫn thủ tục dán nhãn tiết kiệm năng lượng đối với một số sản phẩm. Điều này đáng mừng cũng như việc thành lập những cơ quan địa phương để quản ly chương trình tiết kiệm năng lượng.

Như thế mới có thể hạ thấp hệ số đàn hồi của Việt Nam quá cao. Hệ số này hiện nay là 2 vì tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện lực của ta mỗi năm lên đến 16% – 17% và tốc độ GDP là 8%-8,5%. Ở đây, cho phép tôi nhấn mạnh một điều. Với tốc độ tăng trưởng luỹ thừa như trên, nếu chúng ta quá chú trọng về số lượng hơn là chất lượng thì rất tai hại cho môi trường và nền kinh tế quốc gia. Ví dụ: trường hợp Trung Quốc đang gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại lớn cũng vì tốc độ tăng trưởng luỹ thừa quá nhanh.

Trước những thách đố của sự thay đổi khí hậu, những nước giàu mạnh phải thay đổi lối sống. Cần có sự giản dị và tiết độ (sobriété).

Những nước đang phát triển như ta không thể nhắm mắt chạy theo những con đường bế tắc của các cường quốc.

Trong lúc nước ta mở rộng đường và xây cất xa lộ cho xe hơi thì các nước giàu mạnh như Pháp thu hẹp đường sá cho xe đạp và người đi bộ. Sự kiện này và sự bất lực của ta để giảm ùn tắc kẹt xe ở trung tâm Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh là một cơ hội để ta phân tích kỹ và đặt câu hỏi: đâu là tiến bộ đâu là bước lùi. Rác thải trong nhà chồng chất ra ngoài đường chúng ta chưa có đủ điều kiện, chưa có đủ tài chính để giải quyết vấn đề ô nhiễm, tại sao phải ôm thêm chất thải phóng xạ hạt nhân nguy hiểm cho đất nước.

3 – Biện pháp thứ ba mà tôi muốn nêu lên đã được các đồng nghiệp bên nhà nghiên cứu từ mấy năm nay. Đó là kế hoạch nhập khẩu điện qua lưới điện liên kết các nước trong vùng, nhất là đối với Lào có tiềm năng thuỷ điện rất lớn.

Ngoài ba biện pháp trên, nếu muốn tránh làm ĐHN, chúng ta có thể tiếp tục xây cất những nhà máy thuỷ điện lớn nhỏ, những nhà máy điện chạy than và khí. Chúng ta đừng quên rằng tỷ lệ điện than ở Mỹ và Trung quốc vẫn rất cao!

Chúng ta không thể viện lý do thay đổi khí hậu, làm ĐHN thay vì làm điện với nhiên liệu than, trong lúc đó cứ mười ngày Trung quốc xây dựng thêm một nhà máy vài trăm MW chạy than.

Theo cơ quan đánh giá môi trường Hà Lan, trong năm 2006, Trung quốc đã trở thành quốc gia phát thải CO2 nhiều nhất thế giới, hơn cả Mỹ, châu Âu, Nga, Ấn Độ và Nhật Bản.

Ô nhiễm môi trường vì CO2 trên thế giới cũng như ở nước ta do lĩnh vực vận tải (transport) trầm trọng hơn cả chứ không phải chỉ do các nhà máy chạy than, khí hay dầu.

RFA: Đánh giá về các nguồn năng lượng tái tạo đang có ở Việt Nam.

NKN: Việt Nam là một trong những nước được tạo hoá ưu đãi về những nguồn năng lượng hoá thạch (than, dầu, khí) cũng như năng lượng tái tạo (thuỷ điện, mặt trời, gió, sinh khối, địa nhiệt, sóng biển…)

Tài nguyên thiên nhiên của chúng ta thừa đủ để cung cấp nhu cầu trong vài chục năm nữa. Chúng ta có đủ thì giờ chờ đợi xem xét mức an toàn và việc xử lý chất thải phóng xạ của những lò thế hệ IV sẽ xuất hiện vào năm 2030-2035.

Về thuỷ điện, chúng ta chỉ mới khai thác được hơn 20% tiềm năng kinh tế khá lớn 85 tỷ kWh.

Việt Nam được đánh giá có tiềm năng phát triển điện gió cao nhờ địa lý dọc theo bờ biển dài cũng như tốc độ gió cao đáng kể.

Vài con số sau đây để ta thấy tầm quan trọng:

Hải đảo xa bờ: 2700 – 4500 kWh/m2. năm

Hải đảo gần bờ: 1700 – 4200 kWh/m2. năm

Trong đất liền: 400 – 3000 kWh/m2. năm

Con số 200 – 500 MW do công ty Điện lực Việt Nam đưa ra quá thấp so với tiềm năng điện gió thật sự của ta.

Trong lĩnh vực điện gió chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm quý báu của các nước như Đức, Tây Ban Nha, Mỹ, Đan Mạch.

Nếu tôi không lầm thì dự án nhà máy điện gió lớn nhất của ta được xây dựng ở gần thành phố Quy Nhơn – Bình Định. Tôi rất mừng vì đó là nơi tôi sinh trưởng.

Về năng lượng mặt trời (cũng như năng lượng gió và địa nhiệt) chúng ta chưa nghiên cứu kỹ tiềm năng.

Các con số bình quân sau đây do cơ quan trách nhiệm của ta đưa ra có vẻ phủ nhận triển vọng lớn của năng lượng mặt trời trên lãnh thổ: 150 kcal/cm2. năm với 2000 – 2500 g/năm

Bài học của Nhật và Úc trong lĩnh vực này sẽ giúp ích ta rất nhiều.

Con số đưa ra về tiềm năng địa nhiệt của ta tương đối còn thấp, chỉ vài trăm MW, tuy nước ta có trên 300 suối nước nóng từ 30° đến 105°C.

Cũng như phần lớn các nước đang phát triển năng lượng sinh khối (biomasse) được khai thác lâu năm ở Việt Nam, đáng tiếc là nhiều nơi khai thác quá mức độ. Vẫn còn nạn cây củi rừng bị phá huỷ hỗn độn tai hại cho môi trường. Nước ta có nhiều kinh nghiệm về sản xuất năng lượng từ chất thải chăn nuôi. Theo tờ Et news của Enerteam thành phố Hồ Chí Minh, muốn có 1m3 gaz/ ngày phải cần 20 kg phân heo / ngày, ứng với thời gian ủ là 40 ngày.

Như các bạn thính giả biết, biogaz có thể phát điện hoặc cung cấp năng lượng nhiệt. Ví dụ: mỗi m3 biogaz cho phép nấu 3 buổi cơm cho 1 gia đình 4 người. Mỗi m3 biogaz cũng có thể sản xuất 1,7 – 2 kWh điện với một động cơ có hiệu suất 30%.

Về việc chế tạo nhiên liệu sinh khí (biocarburant) cho xe hơi chúng ta phải cân nhắc kỹ. Một giải thưởng Nobel về hoá học vừa cho biết nhiên liệu sinh khí không đóng góp trong việc giải quyết vấn đề thay đổi khí hậu.

RFA: Trong trường hợp Việt Nam vẫn triển khai xây dựng nhà máy ĐHN tại Ninh Thuận thì cách gì để giảm thiểu các hạn chế mà giáo sư nêu ra?

NKN: Câu hỏi này của anh khó trả lời. Nếu vì vấn đề chính trị và uy tín mà nước ta phải có ĐHN thì tôi vô cùng thất vọng và rất lo sợ cho quê hương, cho những thế hệ con cháu sau này vì ĐHN không kinh tế và vô cùng nguy hiểm.

Trong 4 năm nay tôi đã bỏ nhiều thì giờ, tham dự các hội nghị năng lượng, nghiên cứu kỹ hồ sơ ĐHN, viết hàng loạt bài để trình bày quan điểm của tôi, dựa trên hiểu biết của mấy chục năm hành nghề ở EDF và Đại học Grenoble.

Lẽ cố nhiên vì nhiệt tình đối với đất nước, tôi sẽ không từ chối tiếp tục lưu ý các đồng nghiệp bên nhà về khâu an toàn và khâu đào tạo. Theo tôi, tập đoàn Areva và tập đoàn EDF giàu kinh nghiệm nhất thế giới có đủ khả năng để hợp tác chặt chẽ với ta trong hai lĩnh vực then chốt nêu trên.

Chúng ta phải thẩn trọng trong việc thương lượng mua lò và máy móc, ký kết hợp đồng với các công ty quốc tế, đừng để họ lợi dụng thế yếu của chúng ta (thiếu chuyên gia) ru ngủ và tấn công vô lễ.

Trở lại vấn đề an toàn, trong nước giáo sư Phạm Duy Hiển cũng đã nhiều lần tỏ ý lo ngại về sự thiếu kỷ luật, pháp lý, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức quản lý của ta. Giáo sư đã nói một công trình như cầu nếu có lãng phí tham nhũng bị sập đổ, có thể xây mới lại. Nhưng đối với nhà máy ĐHN thì vô cùng nguy hiểm!

RFA: Đóng góp của Giáo sư lâu nay cho đất nước và mức độ lắng nghe từ phía các cơ quan chức năng.

NKN: Đóng góp của tôi về tâm trí, nhiệt tình thì nhiều nhưng đó chỉ là một hạt cát trên bể rộng mênh mông của đất nước.

Tôi đã có dịp trao tặng tận tay cái CD gồm 17 bài tôi viết và được phỏng vấn về ĐHN từ 2003, cho các vị lãnh đạo cao cấp nhất sang thăm viếng châu Âu hoặc Pháp. Nhưng các vị ấy có thì giờ để đọc, nghe hay suy ngẫm về những thắc mắc khách quan của tôi hay không thì chỉ có Trời Phật biết. Tôi xin cám ơn anh đã dùng chữ mức độ lắng nghe, quá nhã nhặn và lễ phép đối với tôi. Xin anh hỏi thẳng các cơ quan chức năng bên nhà thì biết có ai chịu khó đọc các bài của tôi không?

Điều quan trọng là tôi làm tròn bổn phận đối với xứ sở. Tôi vẫn tin tưởng rằng với thời gian bên nhà sẽ cho tôi có lý.

Từ nay đến hết 2020, bao nhiêu biến chuyển có thể làm lung lay độ tin cậy của chính phủ Việt Nam đối với công nghiệp hạt nhân, một công nghiệp càng đồ sộ, càng hết sức mỏng manh.

Đối với tôi làm ĐHN, nước ta đi lùi 50 năm chứ không phải đi tới như có người hiểu lầm.

Tại sao chúng ta không suy ngẫm về bài học của nước Đức. Với một nền khoa học và công nghệ hàng đầu thế giới, lý do gì mà nước Đức đột ngột hy sinh hàng trăm tỷ đôla mạnh dạn chuyển hướng, sẽ chấm dứt sản xuất ĐHN năm 2020?

Chiến lược khai thác triệt để năng lượng tái tạo của Đức đã thành công mỹ mãn. Chỉ trong vòng 10 năm, Đức đã có 20 000 MW điện gió (tương đương với công suất 20 lò ĐHN, tuy không chạy liên tục được) và rồi đây Đức cũng sẽ dẫn đầu trong lĩnh vực năng lượng mặt trời.

Tôi rất tiếc là sau cuộc thăm viếng ở nước ta của TS Hermann Scheer, nghị sĩ quốc hội Đức và Chủ tịch uỷ ban quốc tế về năng lượng tái tạo, và sau buổi giao lưu trực tuyến ngày 15/06/2006 của TS với GS Phạm Duy Hiển, chủ tịch Hội đồng Khoa học cục kiểm soát và an toàn bức xạ hạt nhân, các cơ quan chức năng của ta vẫn không thay đổi lập trường đối với khả năng và sự ích lợi của năng lượng tái tạo mà tiếp tục đề cao vai trò của ĐHN.

Một giải Nobel mở rộng về năng lượng, có nhiều uy tín như TS Hermann Scheer, mà không thuyết phục được chính phủ Việt Nam thì tôi cũng không biết làm gì hơn?

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn trả lời những câu hỏi của thính giả

Grenoble, 7-11-2007

1 – Giải thưởng Nobel về Hoá học năm 1995 là giáo sư Paul Crutzen thuộc viện Hoá học Max-Planck của Đức. Trong tạp chí Atmospheric Chemistry and Physics Discussions, GS Crutzen và các cộng tác viên vừa cho biết là việc sản xuất từ nông nghiệp 1 lít nhiên liệu có thể phát thải 2 lần nhiều hơn khí hiệu ứng nhà kính so với sự đốt cháy 1 lít nhiên liệu hoá thạch. N2O do nông nghiệp cấp tốc có tác động 296 lần lớn hơn CO2 về khí nhà kính. Riêng cây mía thì có ích cho việc de phòng chống thay đổi khí hậu. GS cho rằng vấn đề thiếu lương thực có thể làm cản trở các chương trình phát triển sinh khí.

2 – Tôi được biết Công ty Petro Setco có lập dự án xây cất một nhà máy sản xuất Ethanol quy mô lớn tại Bình Định. Petro Setco hy vọng rằng với lợi thế vị trí, nơi đây sẽ là trung tâm nhiên liệu xanh Việt Namutzen thuoc v. Trong gian đoạn đầu, hình như tập đoàn nước Anh Bronzeoak có ý định đầu tư 100 triệu đôla để xây dựng một nhà máy có thể sản xuất mỗi năm 100 triệu lít Ethanol.

3 – TS Nguyễn Thanh Sơn, Giám đốc dự án khí sinh học vừa qua đã nhận giải Oscar về môi trường cho Việt Nam. Với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Hà Lan, dự án bắt đầu triển khai tại 12 tỉnh từ 2003 do Cục chăn nuôi thực hiện. Chương trình cung cấp năng lượng cho 27000 hộ nông dân đã làm giảm lượng phân hoá học và ô nhiễm môi trường. Đó là một thành tích cần được khuyến khích.

4 – Sau đây là cơ cấu tiêu thụ điện năng ở nước ta trong năm 2005:

Công nghiệp và xây dựng: 45,8%

Hộ tiêu dùng: 44,2%

Thương mại: 4,4%

Nông lâm ngư nghiệp: 1,4%

Trung bình mỗi người dân Việt Nam tiêu thụ trong năm 2005: 550 kWh.

Trong tương lai, tỷ lệ công nghiệp sẽ vút cao (tăng trưởng kinh tế) và tỷ lệ hộ tiêu dùng sẽ hạ thấp (hiện tượng bão hoà). Cần có chương trình tiết kiệm năng lượng dài hạn cho 2 lĩnh vực này.

5 – Số tấn (tonne) CO2 gây ra hằng năm qua sự tiêu thụ năng lượng:

Pháp: 6,3

Âu châu: 8,5

Đức: 10

Mỹ: 19,7

6 – Tỷ lệ trách nhiệm về khí nhà kính ở Pháp:

Nông nghiệp – rừng: 28%

Vận tải: 21%

Nhà cửa: 20%

Công nghiệp: 19%

Năng lượng: 10%

Các ngành khác: 2%

7 – Tỷ lệ nhiên liệu đốt sưởi (chauffage) ở Pháp:

Khí: 38%

Điện: 28%

Dầu: 20%

Phần còn lại là than và các nhiên liệu khác.

8 – Nhà máy Điện hạt nhân lớn nhất của Nhật và cả thế giới (7 lò với công suất tổng cộng là 8212 MW) Kashiwazaki-Kariwa của tập đoàn Tepco bị chính phủ cấm vận hành trong vòng 1 năm trời sau cuộc động đất lớn (6,8 thang độ Richter) ngày 16 tháng 7 vừa qua. Hình như tâm động đất (epicentre) ở khá gần nhà máy! Nhà máy này ở cách Tokyo 250 km về phía nam, cũng đã bị đóng cửa trong 40 ngày năm 2003 để được kiểm tra về kỹ thuật. Có 438 thùng có chất nguy hiểm bị đổ trục và 1200 lít nước có phóng xạ bị thải ra. Theo chuyên gia Katsuhiko Ishibashi của đại học Kobe, một nhà máy ĐHN phải có khả năng chống lại một cuộc động đất (7,3 thang độ Richter) với mức tăng tốc độ (acceleration) là 1000 gal (1gal = 1cm2/s2). Mức tăng tốc độ trong biến cố vừa qua lên đến 993 gal. Sau khi các lò tự động ngưng vận hành, lẽ cố nhiên nhà máy vẫn còn cần hệ thống nước làm lạnh (circuit de refroidissement) vì công suất sót lại (puissance résiduelle). Ví dụ nhà máy ĐHN Civaux của Pháp với công suất nhiệt 4250 MW nếu bị ngưng vận hành cấp tốc (arrêt d’urgence) vẫn còn công suất sót lại là 116 MW trong vòng 5 phút và 24 MW qua ngày sau!

9 – Nhà máy mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa thăm viếng ở Pháp cuối tháng 9 vừa qua là nhà máy Nogent sur Seine cách Paris 80 km về phía Nam. Trong thời gian phục vụ ở EDF tôi có dịp làm bài toán kinh tế tính giá thành kWh của nhà máy này gồm 2 lò 1300 MW. Giá đầu tư mỗi kW lúc bấy giờ tương đối còn rẻ: 8225 MF (F 1989) trong đó chỉ 1% dành cho chi phí tháo gỡ, con số quá lạc quan!

10 – Vâng, trong một bài viết tôi nhìn nhận có nói là rồi đây Việt Nam sẽ thừa điện lúc nào mà không biết! Điều ấy có thể xảy ra vì chúng ta hấp tấp xây cất nhà máy điện để các xí nghiệp ngoại quốc đầu tư, lợi dụng nhân công giỏi và rẻ tiền của đất nước. Nếu có cuộc khủng hoảng kinh tế hay xí nghiệp bị phá sản họ bỏ ra đi thì nhà máy điện sẽ nằm nghỉ dưỡng lão! Tại sao chúng ta phải làm ĐHN cho họ? Việt Nam đâu có phải là một thùng rác (poubelle) thải phóng xạ quốc tế?

Nếu cứ chạy theo nhu cầu điện lực để thoả mãn xí nghiệp ngoại quốc với tốc độ tăng trưởng luỹ thừa 17% hay 20% mỗi năm thì chỉ trong vòng 20 năm nữa (2027) tổng sản lượng điện của nước ta sẽ vượt qua con số của Pháp hiện nay (500 tỷ kWh) .

Về những câu hỏi khác, tôi xin mời các bạn thính giả chịu khó xem trên mạng: http://tailieu.tapchithoidai. org hay http://www.caodangdienhoc. org

———————————–

Entry for June 19, 2008

Những Thủ pháp

của Đảng ở Hà Nội

Bài của CARLYLE A. THAYER *

Từ tờ TODAY’S WALL STREET JOURNAL ASIA

Ngày 19-6-2008

Việt Nam đã giành được danh tiếng như là một xã hội đang đi tới theo xu hướng cấp tiến, một quốc gia có khuynh hướng cải cách đang rũ bỏ nhanh chóng những gốc gác Cộng sản của mình. Đầu tư nước ngoài đang đổ vào như thác lũ, và mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bỏ xa các láng giềng của nó. Phần lớn trong những bước tiến triển này có thể được cho là thuộc về vị thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năng nổ của nó, người đã thực hiện cuộc cải cách và những nỗ lực chống tham nhũng là một vấn đề được ưu tiên kể từ khi ông nhậm chức năm 2007. Song bất chấp hình ảnh mang màu sắc cấp tiến của mình, ông Dũng đang phải chiến đấu trên một trận chiến gian nguy – và thường gặp phải nhiều thất bại.

Nắm lấy trước tiên mặt trận chính giữa những nhân vật bảo thủ và những người cấp tiến: đó là báo chí. Phái cấp tiến không ngả theo bất cứ biện pháp ủng hộ nào cho một nền báo chí hoàn toàn độc lập. Thế nhưng họ coi một hệ thống truyền thông phần nào đó được tự do như là một công cụ [có tiềm lực] hữu ích cho việc khống chế vấn nạn tham nhũng và như vậy sẽ tối giản được những nguồn gốc bất mãn tiềm tàng trong dân chúng đối lập với quyền lực của đảng. Phái bảo thủ thậm chí còn coi báo chí tựa như một mối thách thức không thể chấp nhận đối với đảng, và giờ đây những người bảo thủ có vẻ đang chiến thắng.

Tháng trước, hai nhà báo – Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên, và Nguyễn Văn Hải của Tuổi Trẻ – đã bị bắt và cáo buộc đã lạm dụng chức vụ quyền hạn. Cả hai nhà báo này đã điều tra về một vụ bê bối tham nhũng tại Bộ Giao thông liên quan tới việc tham ô 7 triệu Mỹ kim được đem đi cá độ những trận bóng đá Âu châu. Chiếu theo luật pháp Việt Nam thì các nhà báo này có thể bị giam giữ trong bốn tháng trước khi các cáo trạng được tống đạt và nếu bị kết án thì họ sẽ phải chịu một mức án tối thiểu là một năm tù giam.

Những vụ bắt giữ này báo hiệu nhiều điều hơn là chỉ như một cuộc đàn áp báo chí. Chúng nhấn mạnh tới tình trạng thiếu kiểm soát của Thủ tướng Dũng đối với các cơ quan quyền lực thực sự quan trọng nằm bên trong bộ máy [thư lại] của Đảng. Ví dụ như phe bảo thủ kiểm soát bộ Thông tin và Truyền thông, nơi cũng giám sát cả hệ thống kiểm duyệt báo chí. Năm 2007, họ đã hạn chế những toan tính của ông Dũng đưa những nhân vật thân tín trẻ tuổi hơn vào Nội các. Họ còn ngăn chặn việc bổ nhiệm viên thư ký của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt vào vị trí bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông mới được thành lập. Thay vào đó, Lê Doãn Hợp, một nhân vật kỳ cựu trong giới bảo thủ của đảng xuất thân từ tỉnh Nghệ An quê hương của Hồ Chí Minh đã được chọn lựa.

Được lãnh đạo bởi Tổng Bí thư Đảng Nông Đức Mạnh, những người bảo thủ ở Việt Nam có một căn cứ địa chính trị chắc chắn. Họ tạo nên một khối có ảnh hưởng lớn trong Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương, nơi mà lực lượng công an có những đại diện có thế lực. Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh đã nhận được số phiếu bầu cao thứ hai sau ông Mạnh từ Ban chấp hành Trung ương mới được bầu tại Đại hội đảng toàn quốc gần đây nhất vào năm 2006. Trong tám thứ trưởng mới được bầu vào Ban chấp hành Trung ương thì có tới ba người là thuộc Bộ Công an. Họ đánh giá cao vấn đề ổn định chính trị và sự tiếp tục cương vị của mình lên trên tất cả yêu cầu khác, và lo lắng tới tình trạng bất lực của Thủ tướng Dũng trong việc xử lý có hiệu quả đối với tình trạng lạm phát gia tăng và những rủi ro khác trong xã hội.

Ông Dũng cũng đang nhanh chóng mất đi sự ủng hộ [rộng rải ]trong dân chúng. Nhiều người Việt Nam sống tại các đô thị đã trở nên [thất vọng không hài lòng ] trước nỗi bất lực của ông Dũng khi ứng phó với vấn nạn ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông hay tham nhũng. Mới đây nhất, nạn lạm phát đã giáng cú đòn nặng nề vào túi tiền của họ. Đương nhiên, tình trạng này không hoàn toàn do lỗi của ông Dũng. Kể từ khi nhậm chức vào năm ngoái, ông đã [bổ nhiệm] một ban chỉ đạo cấp cao để [chặn đứng] tình trạng tham nhũng và công khai nhấn mạnh rằng Bộ Công an phải tăng cường hoạt động điều tra của mình trong [những vụ tham nhũng có liên quan tới các giới chức chính quyền cao cấp]. Song những nỗ lực này đã sớm [bị chận đứng lại bởi sự chống đối từ những người bảo thủ (theo đường lối cứng rắn).]

Có nhiều mối đe dọa trong cuộc chiến tranh giành quyền lực này. Những người bảo thủ trong đảng đã [giới hạn] Việt Nam mở cửa với bên ngoài bằng việc quả quyết rằng những vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo là một phần trong âm mưu diễn biến hòa bình. Nói cách khác, họ đã cố gắng gây kinh hãi với phạm vi rộng lớn hơn cho ban lãnh đạo đảng bằng ý niệm rằng nền kinh tế cởi mở, đặc biệt trong quan hệ với Hoa Kỳ, chắc hẳn sẽ dẫn tới việc cởi mở về chính trị. Theo luận điểm này, các thế lực thù địch ở bên ngoài đã móc nối với những nhà bất đồng chính kiến trong nước nhằm lật đổ hệ thống chính trị độc đảng của Việt Nam. Chung cuộc nó đã trở thành một tiến trình cải cách theo kiểu khởi động, rồi lại dừng.

Cánh bảo thủ trong đảng còn nắm được một [vai trò vững chắc trong việc thành lập] các mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Vào cuối năm ngoái những cuộc biểu tình chưa từng thấy của các sinh viên chống Trung Quốc đã nổ ra tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh qua những vấn đề trên Biển Nam Trung Hoa. Khi ông Mạnh viếng thăm Bắc Kinh để có những cuộc hội kiến ở cấp cao, giới bảo thủ trong đảng đã lợi dụng cơ hội để nâng cao các mối quan hệ giữa hai đảng trong đó có các quan hệ trên lĩnh vực ý thức hệ tư tưởng.

Trong mấy tháng nay có những tin đồn rằng những rạn nứt bên trong nội bộ của đảng đã trở nên quá ư khốc liệt đến nổi một đại hội đảng giữa nhiệm kỳ có thể sẽ được tổ chức để hóa giải chúng. Trong lịch sử đảng này, chỉ duy nhất một đại hội thuộc loại đó đã được triệu tập vào năm 1994. Nếu như cuộc họp này được tổ chức thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng [sẽ nhận ra rằng vai trò lãnh đạo và những chính sách của ông] sẽ phải chịu nhiều chỉ trích. Điều đó cũng là biểu trưng cho một thất bại đối với những [nổ lực lâu dài] của Việt Nam nhằm nới lỏng sự kiểm soát của đảng trên cả nước và phát triển một hệ thống tự chịu trách nhiệm ở cấp bộ.

Đối với Việt Nam, để có thể [thành công] trên con đường hiện tại, vấn đề sống còn phải thuộc về tay của các đại biểu Quốc hội, chứ không phải từ [ những người theo đường lối bảo thủ của đảng đứng ở hậu trường,] quốc hội phải khẳng định quyền lực của họ trong việc [xem xét các chính sách của chính phủ và nhiệm vụ ] của thủ tướng. Nếu [các đại biểu quốc hội ] không làm được điều đó thì những thành công gần đây của Việt Nam có thể sớm bị chấm dứt.

Ông Thayer là giáo sư chính trị học của trường đại học University of New South Wale và Học viện Quốc phòng của Úc tại Canbera.

* Giáo sư Carlale Thayer là một chuyên gia về chính trị Việt Nam, từ tháng 1-2008, ông còn đảm nhiệm thêm vị trí giáo sư thỉnh giảng của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, trường Đại học Ohio, Hoa Kỳ. Ông có rất nhiều bài viết phân tích sâu về tình hình Việt Nam trong nhiều năm qua, thường đăng trên trang BBC Việt ngữ (hiện vào trang BBC nầy search chữ “carlyle thayer” sẽ được 44 bài). Bài gần đây nhất là “Việt Nam và chiến lược ngoại giao quốc phòng” ra ngày 18-6-2008.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

—————————————————————–

Hanoi Party Tricks

By CARLYLE A. THAYER
FROM TODAY’S WALL STREET JOURNAL ASIA

June 19, 2008

Vietnam has earned a reputation as a progressive, reform-minded nation that is fast shedding its Communist roots. Foreign investment is pouring in, and Vietnam’s economic growth outstrips that of its neighbors. Much of this progress can be attributed to its dynamic prime minister, Nguyen Tan Dung, who has made reform and anticorruption efforts a priority since taking office in 2007. But despite Mr. Dung’s progressive image, he is fighting an uphill battle — and often losing.

Take, first, the key battleground between conservatives and progressives: the media. Progressives don’t by any means favor a fully independent media. But they do view a somewhat free media as a potentially useful tool for policing corruption and thus minimizing potential sources of popular discontent with party rule. Conservatives view even that as an unacceptable challenge to the party, and for now conservatives seem to be winning.

Last month, two journalists — Nguyen Viet Chien of Thanh Nien (Young People), and Nguyen Van Hai of Tuoi Tre (Youth) newspapers — were arrested and charged with abuse of power. Both had been investigating a corruption scandal in the Ministry of Transport which involved misappropriating $7 million that was bet on European football games. Under Vietnamese law the journalist may be held for four months before charges are brought and if convicted face a minimum of one year imprisonment.

These arrests signal much more than just a media crackdown. They underline Prime Minister Dung’s loose control over the institutions of power that really matter within the Party bureaucracy. Conservative factions, for instance, control the Ministry of Information and Communication, which also oversees press censorship. In 2007, they blocked Mr. Dung’s attempts to promote younger protégés to the Cabinet. They also blocked the appointment of former prime minister Vo Van Kiet’s secretary as minister of the newly created Ministry of Information and Communications. A conservative party veteran from Ho Chi Minh’s home province of Nghe An, Le Doan Hop, was appointed instead.

Led by Party Secretary-General Nong Duc Manh, Vietnam’s conservatives have a solid political base. They form a dominant bloc on the Politburo and party Central Committee, where the public security sector has strong representation. Public Security Minister Le Hong Anh received the second highest number of votes after Mr. Manh from the newly elected Central Committee at the last national party Congress in 2006. Of eight new deputy ministers elected to the Central Committee three were from the Ministry of Public Security. They value political stability and their continuation in office above all else, and are worried about the inability of Prime Minister Dung to deal effectively with rising inflation and other social ills.

Mr. Dung is also rapidly losing popular support. Many urban Vietnamese have become disenchanted with Mr. Dung’s inability to deal with pollution, traffic gridlock or corruption. Most recently, inflation has hit their pocketbooks hard. This, of course, isn’t entirely Mr. Dung’s fault. Since taking office last year, he has appointed a high-level steering committee to tackle corruption and publicly insisted that the Ministry of Public Security step up its investigation into so-called high-profile cases. But these efforts soon stalled, due to opposition from hard liners.

There is a lot at stake in this power struggle. Party conservatives have constrained Vietnam’s opening up by asserting that human rights and religious freedom issues are part of the plot of peaceful evolution. In other words, they have tried to scare the broader party leadership with the idea that economic opening, especially toward the U.S., will inevitably lead to political opening. According to this proposition, hostile overseas forces have linked up with domestic dissidents to overthrow Vietnam’s one-party system. The net effect has been a start-stop reform process.

Party conservatives also have taken a strong role in shaping Vietnam’s relations with China. Late last year unprecedented anti-China student demonstrations took place in Hanoi and Ho Chi Minh city over South China Sea issues. When Mr. Manh visited Beijing for high-level discussions, party conservatives used the opportunity to intensify party-to-party relations including ideological relations.

For several months now there have been rumors that internal party rifts have become so intense that a mid-term party conference might be convened to resolve them. Only one such conference has been held in the party’s history, in 1994. If this meeting were held Prime Minister Dung would find his leadership and policies under attack. It would also represent a setback to Vietnam’s long-standing attempts to loosen party control over the state and develop a system of ministerial responsibility.

For Vietnam to succeed in its present course, it is vital for National Assembly deputies, not back room party conservatives, to assert their authority to review government policy and the stewardship of the prime minister. If they don’t, Vietnam’s recent successes could soon be curtailed.

Mr. Thayer is professor of politics at the University of New South Wales’s Australian Defence Force Academy in Canberra.

————–

Save All Your Kisses for Me

——-

Một Không khí Tạm bợ

Bài của Sarah Murray

Ngày 14-6-2008

Ban nhạc trong phòng tiếp tân đang chơi bản nhạc vui vẻ “”Hãy Để Dành Hết Những Nụ Hôn của Bạn cho Tôi “ trong khi tôi đang làm thủ tục nhận phòng khách sạn. Điều này quả không quá kỳ dị trừ khi tôi đang ở Sài Gòn – hay, như cái tên hành chánh được biết đến của nó, Thành phố Hồ Chí Minh – và “ban nhạc” này gồm có hai tay vĩ cầm đang uốn éo và một người chơi dương cầm. Cái màn chào đón không ai dám mơ ước nầy là cuộc chạm trán đầu tiên của tôi với thủ đô thương mại của Việt Nam sau 15 năm xa cách. Nó làm cho tôi phải mỉm cười. Những kiểu cách khác thường ấy là những gì mà tôi yêu mến nhất về thành phố nầy.

Tôi cũng thấy tức cười khi, ở nơi cửa khẩu nhập cảnh của quốc gia tại phi trường Tân Sơn Nhất, tôi được thông báo phải đưa các túi xách của mình qua một chiếc máy soi X-quang. Mặc dù là tới một nhà ga quốc tế mới không chê vào đâu được – đầy đủ hệ thống Internet không dây và một nhà hàng Nhật Bản – nhưng nó đã gợi cho tôi nhớ lại rằng những thiết bị tương tự đã được sử dụng vào những năm 1990, khi tôi đang làm việc tại Hà Nội, và đã có một thói quen về chuyện đĩa cứng máy tính bị xoá sạch dữ liệu và phim ảnh bị huỷ hoại.

Ngoại trừ mấy cái máy X-quang, nhiều thứ đã có sự biến chuyển. Những khách sạn cao ngất vươn lên phủ bóng khắp nền trời, và con Sông Sài Gòn, có thể ngó thấy từ căn phòng của tôi trên tầng 17 đã được vẽ nên bằng hàng dẫy khổng lồ bóng đèn neon của những VIB Bank, Mercedes-Benz, Siemens và Kymdan (loại “Nệm 100% Cao su” như [bảng hiệu] do Kymdan công bố). Thật vui mừng khi những chuyến phà già khọm vẫn còn chạy được. Các hành khách cùng những chiếc xe gắn máy trên sàn phà tràn xuống bến tàu với một rừng đèn pha trông như bầy đom đóm lập loè giữa mịt mờ ánh chiều tà.

Ở Sài Gòn, cái cũ và cái mới cặp kè vẫn cứ làm cho ta phải giật mình. Những cửa hàng thời trang gắn máy lạnh của Louis Vuitton và Gucci thì chỉ cách những quán bún phở một khu phố nơi đây lũ ruồi nhặng đậu đầy vách tường, nước súp sôi liên tu bất tận trong nồi súp lớn màu đen kịt với đám thực khách ăn đêm ngồi chồm hỗm trên những chiếc ghế đẩu nhựa nhỏ xíu.

Khi tôi còn làm việc ở Hà Nội, Sài Gòn là ngày cuối tuần đầy nắng gió cho chúng tôi, một nơi nghĩ ngơi để rời xa cái không khí ẩm ướt phủ kín thành phố thủ đô phía bắc của Việt Nam. Sài gòn thuộc miền nam là một dịp để tha hồ ăn những món ăn cay, để bơi lội trong hồ bơi trên sân thượng của khách sạn REX và thưởng thức một ly nước cocktail và một giọng cười khúc khích phát ra từ những bụi cây được xén tỉa theo hình dạng của những con nai

Buồn thay, Rex đã để mất đi nhiều cái vẻ ghê gớm của quá khứ, mà theo tôi, lại chiếm tới nửa phần cho vẻ duyên dáng của nó. Trong khi bức tường nhà kỳ dị chất đầy vữa trát stucco ngớ ngẩn đắp nên thứ trông như hai con voi thạch cao khổng lồ đang chồm lên trên trần cái quầy rượu, thì hầu hết tường nhà giờ đây được phủ bằng những cây tre được sơn dầu một màu vàng èo uột. Trên thực tế tre ở khắp mọi nơi – đan kết để ốp vào tường, viền quanh những chiếc gương, uốn cong trong các chao đèn và tạo dáng tựa những chiếc vỏ hộp đựng khăn giấy. Rex là một trong những khách sạn lắm mánh bài trí nội thất mà tôi cầu trời cho có một ai đó, vào một ngày nào ấy, sẽ khôi phục lại cái danh tiếng lẫy lừng ngày xưa của nó. May thay, quán Paradise Coffee Lounge của nó vẫn giữ được phong cách của một nơi gặp gỡ, với những cánh cửa bằng kính khi ra vào phải đẩy theo kiểu năm 1970 của nó, và quầy thu tiền vẫn còn nguyên. Tuy vậy tốt hơn ngày xưa một tí, cái biểu tượng của Rex hình vương miện có ở khắp mọi nơi.

Dạo quanh trung tâm thành phố, tôi đang bắt đầu bới tìm những hồi ức có được qua chuyến viếng thăm đầu tiên của mình. Vào năm 1989, tại công ty của một phụ nữ Việt Nam có tiếng về tổ chức du lịch, tôi không nghe thấy gì ngoài những câu chuyện của những người dân đã phải rời bỏ đất nước ra đi. Trên chiếc xe gắn máy của bà, chúng tôi chạy lòng vòng viếng thăm nhà những người bạn, nhưng rồi chỉ thấy căn chung cư ấy đã trống trơn, và người hàng xóm giải thích trong lo lắng rằng cả gia đình đó gần đây đã lên thuyền trốn qua Hong Kong rồi.

Tất cả những điều này đã thay đổi. Sài Gòn đang râm ran niềm lạc quan. Khắp Chợ Bến Thành, lượng hàng hóa bày bán thật ngoạn mục. Được bố trí trong một tòa nhà rộng lớn có kiến trúc kiểu Pháp thời thuộc địa, chợ Bến Thành bày bán tất cả mọi thứ từ giày nhựa và yếm nylon cho tới tôm sấy khô và những trái sầu riêng nặng mùi có những vỏ có gai tua tủa màu xanh nhạt. Khu chợ là một trong những nơi mà bạn hằng ao ước để mua hết cả mọi thứ nhưng hiểu rằng mình sẽ không bao giờ chất hết tất cả (hàng hóa ấy ) vào trong va ly.

Sài Gòn vẫn là một thành phố tuyệt diệu cho những người thích ra ngoài ăn uống. Tôi chỉ tản bộ vòng quanh trong có vài phút mà đã ngang qua tới vài cái nhà hàng trông thật quyến rũ – với biệt lệ là quán Pizza Hut thuộc loại tầm cỡ. Trong chốc lát, tôi đã ngồi ngay trước một chiếc bàn chất đầy tôm và đậu hũ chiên giòn, cũng như hàng tá những dĩa bé tí xíu đựng các món gia vị như tiêu hòa với chanh và món nước mắm cay đến xé lưỡi.

Mặc dù có nhiều quán với kiểu cách mới mẻ vừa mới khai trương, tôi sung sướng nhận ra rằng cái quán ăn ưa chuộng kiểu Pháp ngày xưa La Camargue vẫn còn tấp nập. Ngồi bên hàng hiên tuyệt đẹp bên dưới những cánh quạt trần và mấy ngọn đèn lồng kiểu Trung Hoa với một miếng thăn cá hồi được chế biến điêu luyện và một ly rượu trắng là một trong những điều vui thú vô bờ của Sài Gòn.

[Nhưng lại một lần nữa tôi tự nhắc nhở mình rằng] thành phố này không có được đức tính nhẫn nại trường cửu. Người quản lý ở đây đã nói với tôi vào năm ngoái, rằng La Camargue sẽ sớm phải chuyển đi, trong khi ngôi nhà kiểu Pháp khiến ta mê đắm này, cũng như nhiều ngôi nhà tương tự khác, đã trở thành nạn nhân cho trò nhăng nhít của kẻ phá hoại. Những chiếc máy trộn bê tông đã được đưa tới từ mấy tháng trước và lúc này một tòa nhà cao tầng khác sẽ gia nhập vào hàng ngũ các tòa tháp đang mọc lên nhanh chóng trên nền trời Sài Gòn.

Sarah Murray là tác giả cuốn ‘Những Buổi Yến Tiệc Thay Đổi Theo Thời Gian: Từ Thời La Mã cổ đại tới Thế Kỷ thứ 21, Những Chuyến Viễn Du Lạ Lùng Luận về Thực Phẩm Chúng ta Ăn,

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

An Air of Impermanence

By Sarah Murray

Published: June 14 2008 01:18

The band in the lobby is playing a cheerful rendition of “Save All Your Kisses for Me” as I check in to my hotel. This would not be quite so odd except that I’m in Saigon – or, as it is officially known, Ho Chi Minh City – and “the band” consists of two wobbling violins and a pianist. This unlikely welcome is my first encounter with Vietnam’s commercial capital after 15 years. It makes me smile. These little eccentricities are what I love most about this place.

I also smiled when, on entering the country at Tan Son Nhat airport, I was told to put my bags through an X-ray machine. In spite of the advent of a spanking new international terminal – complete with wireless internet and a chic Japanese restaurant – I recalled that the same equipment was used in the 1990s, when I was working in Hanoi, and had a habit of erasing computer hard-discs and destroying camera film.

X-ray machines aside, things have moved on. Towering hotels have risen across the skyline and the Saigon River, visible from my room on the 17th floor, is lined with huge neon signs for VIB Bank, Mercedes-Benz, Siemens and Kymdan (“100 per cent Latex Mattresses”, Kymdan’s sign declares). Happily the old ferries are still running. Passengers on mopeds pour out from their decks on to the quay, a mass of headlights like a swarm of fireflies in the early evening obscurity.

In Saigon, the pairing of old and new continues to startle. Frostily air-conditioned Louis Vuitton and Gucci boutiques are only a block away from noodle stores where flies stick to the walls, broth boils endlessly in blackened vats and diners squat on small plastic stools.

When I worked in Hanoi, Saigon was our weekend of sunshine, a break from the humidity that smothered Vietnam’s capital city in the north. Here in the south was a chance to gorge on spicy foods, to swim in the Rex Hotel’s rooftop pool and enjoy a cocktail and a giggle at the hotel’s collection of topiary bushes in the shape of deer.

Sadly, the Rex has lost much of the retro hideousness that, for me, was half its charm. While the odd wall laden with preposterously heavy stucco survives, as do the two vast, plaster rearing elephants on the roof bar, most of the walls are now covered with sickly yellow varnished bamboo. In fact bamboo is everywhere – woven into wall coverings, curved round mirrors, bent into lamp shades and shaped as tissue box covers. The Rex is one of those hotels whose quirky decor I pray someone will one day restore to its former glory. Fortunately, the hotel’s Paradise Coffee Lounge remains an atmospheric venue, with its 1970s-style sliding glass doors and cashier’s booth still in place. Even better, the crown motif that is the Rex’s signature is everywhere.

Strolling round the centre of town, I’m starting to unearth recollections of the first trip I made to Saigon. In 1989, in the company of a well-travelled Vietnamese woman, I heard nothing but tales of people leaving the country. We would zip round on her moped to visit friends only to find an empty apartment and a neighbour nervously explaining that the family had recently left for Hong Kong by boat.

All this has changed. Saigon is buzzing with optimism. Over at Ben Thanh Market, the sheer quantity of stuff on sale is breathtaking. Housed beneath a vast French colonial building, the market offers everything from plastic shoes and nylon bras to dried shrimp and smelly jackfruits with bright green spiked skins. The market is one of those places where you long to buy everything but know you’ll never get it in the suitcase.

Saigon remains a great city for eating out. I’ve only been walking around for a few minutes and already I’ve passed several restaurants that – with the exception of the large Pizza Hut – look highly appealing. Soon, I’m sitting in front of a table laden with shrimps and crispy tofu, as well as dozens of tiny dishes containing delights such as pepper mixed with lime juice and pungent fish sauce.

Despite many stylish new venues opening up, I’m happy to see that an old French favourite, La Camargue, is still going strong. Sitting on a lovely terrace beneath ceiling fans and Chinese lanterns with a delicately cooked salmon filet and a glass of white wine is one of Saigon’s great pleasures.

But again I am reminded that this city has no patience for permanence. La Camargue, the manager told me last year, would soon have to move, as this charming French townhouse, like so many others, fell victim to the wrecker’s ball. The cement mixers moved in some months ago and yet another high-rise is to join the ranks of tower blocks on Saigon’s swiftly rising skyline.

Sarah Murray is the author of ‘Moveable Feasts: From Ancient Rome to the 21st Century, the Incredible Journeys of the Food We Eat’

Copyright The Financial Times Limited 2008

—————————

GDP 2007 của Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Nam hàn
Hãy Nhìn Thấy Sự Nghèo Nàn của VN để Chúng Ta Không Bao Giờ Bị Ru Ngũ và Ảo Tưởng

*Nhìn biểu đồ dưới đây để nhìn thấy sự thật nghèo nàn và kém cỏi của Việt Nam mà cố gắng thay đổi đường lối kinh tế và chính trị, để chúng ta không bao giờ bị ru ngũ và ảo tưởng bởi các lời khen mà ta cần phải xét lại. Thí dụ như: Việt Nam là con hổ của châu á. Việt Nam có nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, có chỉ số phát triển 7% hay 8% trong suốt muời 8 năm liền, và chỉ thua có Trung quốc…

*Việt Nam không nên bắt chước con đường phát triển của Trung quốc, mà phải đi theo con đường do chính mình vạch ra,. Nên tránh những khuyết điểm mà Trung Quốc đang mắc phải. Việt Nam phải có kế hoạch làm sao cho:

*Phát triển đất nước nhưng không làm ô nhiễm môi trường, không làm thay đổi nền văn hóa của dân tộc, không làm cho dân chúng trở nên mất đạo đức.
Phải cố gắng giữ nguyên các kiến trúc đặc thù của miền quê, vùng cao nguyên và thành thị của Việt Nam.

*Phát triển đất nước phải tiến hành cùng 1 lúc với cải thiện giáo dục, nâng cao dân trí, dân chúng được có quyền tự do báo chí, tự do ứng cử và bầu cử mà không phải thông qua sự giới thiệu của 1 tổ chức, đoàn thể hay đảng phái ,và chính phủ phải tôn trọng nhân quyền của người dân.

Theo tài liệu năm 2007 của IMF (quỹ tiền tệ quốc tế), GDP của Việt Nam so sánh với TQ và Mỹ vẫn còn quá thấp.

*GDP = tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà dân chúng trong nước ấy làm ra trong 1 năm.
*GDP của Việt Nam là 70 tỉ dollars, dân số VN=86 million

* GDP của Mỹ là 13, 844 tỉ dollars, dân số 301=3,5 dân số VN. Nhưng GDP của Mỹ = 198 lần của VN (13,844/70 = 198). Như vậy số hàng hóa và dịch vụ mà một người dân ở Mỹ làm ra hơn 1 người dân VN là khoảng 57 lần (198/3,5)


*GDP của Trung quốc 3251 tỉ dollars , dân số 1,3 tỉ =15,5 dân số VN. Nhưng GDP của TQ = 46.5 lần của VN (3251/70 = 46).
Như vậy,
một người dân ở TQ làm ra số hàng hóa và dịch vụ trong một năm tính ra hơn 1 người dân VN là khoảng 3 lần (46.5/15.5 = 3 lần): hoặc có thể dùng GDP của 1 người TQ làm ra trong 1 năm là 2451 chia cho GDP của trung bình của 1 người VN là 801: 2451/801 = 3

Thứ hạng tính theo GDP

Tên quốc gia

GDP

Tính theo đơn vị là (TỈ dollars)

Dân số (triệu)

GDP/dân số

Mỗi 1 người làm ra sản phẩm hay dịch vụ (đô la)

Thứ hạng tính theo mỗi đầu người làm ra sản phẩm

1

Mỹ

13,844

304,214,000

$45507

2

2

Nhật

4,384

127,690,000

$34331

8

3

Đức

3,322

82,244,000

$40394

5

4

China

3,251

1,326,145,000

$2451

16

5

Anh

2,773

60,587,300

$45762

1

6

Pháp

2,560

64,473,140

$39710

6

9

Canada

1,432

33,279,700

$43033

3

11

Nga

1,290

141,927,900

$9086

12

12

Ấn độ

1,099

1,133,585,000

$969

13

Nam Hàn

957

48,224,000

$19846

10

14

Úc

909

21,305,000

$42658

4

15

Mễ tây cơ

893

106,535,000

$8386

13

20

Indonesia

433

231,627,000

$1869

24

Đài loan

383

22,990,000

$16673

11

33

Thái lan

246

63,038,247

$3897

15

Hồng Kong

207

6,963,100

$29686

9

38

Mã lai Á

186

27,452,091

$6793

14

45

Singapore

161

4,588,600

$35163

7

46

Philippines

144

88,574,614

$1627

57

Ma rốc

73

31,224,000

$2352

17

58

Bangladesh

72

158,665,000

$456

59

VIET NAM

70

87,375,000

$ 801

118

Kampuchea

8,604

14,444,000

$596

138

Laos

8

5,859,000

$687

156

Bắc Hàn

20

23,790,000

$93

Algeria

316
33,858,000
3886

(Sẽ bổ sung thêm)

© tranhoang204

—————————————————-

Trung Quốc:

*Dưới chế độ ưu việt của chủ nghĩa xã hội do Mao Trạch Đông hướng dẫn từ 1949-1976, Trung quốc rất nghèo. Các con số dưới đây do chính TQ đưa ra cho ta thấy rất rõ ràng điều ấy.

*Trung Quốc bắt đầu gia tăng GDP sau khi được Mỹ, Đức, Nhật, Pháp, Anh đầu tư tiền bạc vào từ 1979 để xây dựng nhà máy sản xuất bộ phận của xe hơi, ti vi, điện tử, máy tinh, đồ chơi, áo quần, giày dép, …..

*từ 1952-1979 là 27 năm, dưới nền kinh tế Xã Hội chủ nghĩa, GDP của TQ chỉ gia tăng 407 tỉ Mỹ kim (507 tỉ -100 tỉ )


*Từ 1979-2007 là 28 năm,
dưới nền kinh tế thị trường, GDP của TQ gia tăng 2774 tỉ Mỹ kim (3251 tỉ – 507 tỉ ).

Mức tăng trưởng GDP của TQ tăng gấp 7 lần trong 28 năm thực thi nền kinh tế thị trường so sánh với mức tăng trưởng GDP trong 27 năm chạy theo nền kinh tế XHCN.

*Năm 1979, 3 năm sau khi Mao Trạch Đông chết, Đặng Tiểu Bình đồng ý mời Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Pháp vào đầu tư 500 tỉ Mỹ kim trong 12 năm tiếp sau đó để phát triển đất nước, và nền kinh tế XHCH của TQ chuyển hướng chạy theo nền Kinh tế của Tư Bản chủ nghĩa từ năm 1980. Đảng Cộng Sản TQ dùng mọi cách để duy trì quyền lực và độc tài.

China GDP from 1952 – 2007

Năm GDP tổng sản lượng làm được trong một năm (tỉ US dollars)
1952 100 tỉ
1958-1962 187 tỉ -140 tỉ : thời đại nhảy vọt (lùi)
1966-1976 237 tỉ – 472 tỉ : cách mạng văn hóa
1979- 507 bắt đầu làm kinh tế thị trường
1989 1280 tỉ
1999 3169 tỉ
2007** 3251 tỉ

+ từ 1952-1999 source: http://www.chinability.com/GDP.htm

**Số liệu 2007 của quỉ tiền tệ quốc tế IMF)

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_GDP_%28nominal%29

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_population


———————————-

Dữ liệu Của khách

Tham dự Olympic bị Đe doạ

Bài của Peter Eisler, USA TODAY

Ngày 11-6-2008

WASHINGTON – Các cơ quan an ninh quốc gia đang cảnh báo các thương gia và quan chức liên bang rằng những máy tính xách tay và thiết bị gửi-nhận thư điện tử được đem tới Olympic Bắc Kinh có khả năng bị xâm nhập bởi các nhân viên mật vụ Trung Hoa để ăn cắp các bí mật hoặc cấy rệp vào nhằm thâm nhập các hệ thống mạng máy tính của Hoa Kỳ.

Chính phủ cùng với công nghệ của Trung Quốc đã sử dụng hoạt động gián điệp điện tử để “thâm nhập một cách dễ dàng máy tính của viên chức và cá nhân,” theo một bản báo cáo mới đây của Hội đồng Tư vấn An ninh Hải ngoại, một tổ chức có thẩm quyền cấp liên bang bao gồm những chuyên gia về an ninh từ các hãng và các bộ Ngoại giao, Thương mại và Tài chính.

Các thiết bị khi rời tầm kiểm soát của chủ nhân chỉ trong vài phút tại một khách sạn hoặc thậm chí trong khi một nhân viên an ninh đang đưa vào máy soi tại phi trường là cũng có thể bị đột nhập, khai thác thông tin và cấy rệp, đó là thông tin thêm của Larry Wortzel, chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế và An ninh Hoa Kỳ-Trung Quốc, một tổ chức liên bang giúp Quốc hội giám sát các vấn đề về an ninh có liên quan tới Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc cũng kiểm soát những nhà cung cấp dịch vụ Internet và các mạng không dây, ông cho hay, cho nên máy tính và PDA có thể cũng bị giám sát và cấy rệp từ xa.

“Có một khả năng gần như là 100% trong trường hợp một cá nhân thuộc các cơ quan an ninh, chính trị hay thương mại có dính dáng tới dịch vụ an ninh của Trung Quốc hay các ngành công nghiệp công nghệ cao, thì những thiết bị điện tử của họ có thể và sẽ bị can thiệp lục lọi bằng cách thâm nhập vào hoặc soi từ ngoài,” Wortzel cho hay.

Tòa đại sứ Trung Quốc đã không có phản ứng gì trước các bình luận này song thông thường họ phủ nhận những lời cáo buộc hoạt động gián điệp.

“Những cáo buộc về cái gọi là hoạt động gián điệp quân sự của Trung Quốc chống lại Hoa Kỳ là [không có căn cứ và là sự thêu dệt với những động cơ lệch lạc] sự tạo dựng và không có căn cứ với những động cơ được che đậy,” Tần Cương, người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã tuyên bố trong một cuộc họp báo vào tháng trước.

Tuy nhiên, hoạt động theo đuổi những bí mật từ chính phủ và doanh nghiệp Mỹ của Trung Quốc đã được ghi nhận nhiều lần trong các đánh giá về an ninh của liên bang.

Năm ngoái, văn phòng Giám đốc cơ quan Tình báo Quốc gia đã báo cáo rằng các hoạt động gián điệp của Trung Quốc là “thuộc loại năng nổ nhất trong việc thu lượm tin tức tình báo chống lại các mục tiêu nhạy cảm và được bảo vệ của Hoa Kỳ.”

Hàng nghìn người Mỹ được dự đoán là sẽ tham dự Olympic, bao gồm cả Tổng thống Bush và một lượng lớn tùy tùng là các viên chức liên bang. Tuy nhiên, chính phủ đang không thực hiện đầy đủ việc đưa ra công khai những nguy cơ tiềm tàng từ những hoạt động gián điệp này, đó là lời nhận xét của Nghị sĩ đảng Cộng hòa tiểu bang Michigan Mike Rogers, một cựu mật vụ FBI từng tham gia trong Uỷ ban Tình báo Thượng viện đã được tóm lược về các mối đe doạ gián điệp của Trung Quốc.

Thái độ dè dặt phần nầy một phần là [xuất phát ] từ những ái ngại của chính quyền Mỹ không muốn chọc giận Trung Quốc, đối tác thương mại then chốt của Hoa Kỳ, Rogers nói. “Tôi cảm thông với vị thế của họ,” ông bổ sung, song với [báo cáo hạ thấp] mối đe dọa, các viên chức an ninh quốc gia đã để cho những người có khả năng trở thành mục tiêu ” bị ru ngủ với ý niệm là họ sẽ không phải lo lắng gì về vấn đề này.”

Người Trung Quốc [sẽ lợi dụng bất cứ cơ hội nào không chỉ là nhìn trộm vào những tài liệu chứa đựng bêntrong những thiết bị điện tử, mà còn gắn những con bọ vào các dụng cụ nầy để chúng có thể giúp cho sự xâm nhậpvào nhữngmạng lưới máy tính của Hoa kỳ, Rogers cho hay.

Rogers và một số người khác đã tóm tắt về mối đe doạ để từ đó đề nghị các khách tham dự Olympic cần loại bỏ những thông tin nhạy cảm trong máy tính cá nhân và thiết bị gửi, nhận thư điện tử của mình, hoặc để các thiết bị đó của họ ở nhà và chỉ đem theo thiết bị thay thế đã được “làm sạch.”

[Những du khách trở về sau khi tham dự thế vận hội cũng cần được (cơ quan nơi họ làm việc) kiểm tra lại thiết bị của mình xem có rệp hay các virus hay không] trước khi tái kết nối chúng vào các mạng máy tính của Hoa Kỳ, đó là khuyến cáo của Ray Mey, người từng điều hành công tác an ninh của FBI tại Olympic trước khi tham gia vào hãng GardaWorld như là một cố vấn hợp tác an ninh.

Người phát ngôn của FBI Richard Kolko đã từ chối trao đổi về những chỉ dẫn được đưa ra cho các quan chức và doanh gia liên bang. Bất cứ lúc nào các thành viên của cơ quan nhà nước tới một quốc gia có khả năng về “khai thác thông tin điện tử,” ông nói, [thì FBI sẽ cố gắng “thông báo với họ về những hiểm hoạ này và … những sự phòng ngừa thích đáng.”]

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

————

Olympic visitors’ data is at risk

Updated document.write(niceDate(‘6/11/2008 10:39 PM’)); 21m ago

By Peter Eisler, USA TODAY

WASHINGTON — National security agencies are warning businesses and federal officials that laptops and e-mail devices taken to the Beijing Olympics are likely to be penetrated by Chinese agents aiming to steal secrets or plant bugs to infiltrate U.S. computer networks.

Chinese government and industry use electronic espionage to “easily access official and personal computers,” says one recent report by the Overseas Security Advisory Council, a federally chartered panel comprising security experts from corporations and the State, Commerce and Treasury departments.

Equipment left unsupervised for just minutes in a hotel or even during a security screening can be hacked, mined and bugged, adds Larry Wortzel, who chairs the U.S.-China Economic and Security Review Commission, a federal panel that monitors China-related security issues for Congress. China’s government also controls Internet service providers and wireless networks, he says, so computers and PDAs can be monitored and planted with bugs remotely, too.

“There is a high likelihood — virtually 100% — that if an individual is of security, political, or business interest to Chinese … security services or high technology industries, their electronics can and will be tampered with or penetrated,” Wortzel says.

China’s embassy did not respond to requests for comment but usually dismisses espionage charges.

“The so-called accusation of the Chinese military espionage against the U.S. is groundless and fabrication with ulterior motives,” Foreign Ministry spokesman Qin Gang said at a press conference last month.

Yet China’s pursuit of American government and business secrets has been noted repeatedly in federal threat assessments.

Last year, the office of the Director of National Intelligence reported that China’s espionage services are “among the most aggressive in collecting against sensitive and protected U.S. targets.”

Thousands of Americans are expected to attend the Olympics, including President Bush and a large entourage of federal officials. Even so, the government isn’t doing enough to publicize the potential espionage risks, says Rep. Mike Rogers, R-Mich., a former FBI agent who sits on the House Intelligence Committee, which has been briefed on Chinese espionage threats.

The reticence stems partly from the administration’s reluctance to anger China, a key U.S. trading partner, Rogers says. “I appreciate their position,” he adds, but by “underreporting” the threat, national security officials let potential targets get “lulled into this notion that they don’t have to worry about it.”

Lull = to cause to sleep, sooth

to report to be less than is actually the case, underreport his income:

The Chinese “will take full advantage of any opportunity to not only take a peek at what’s on electronic devices but also to implant them” with bugs that could provide access to U.S. computer networks, Rogers says.

Access =permission, liberty, or ability to enter, approach, or pass t

Rogers and others briefed on the threat suggest that Olympic visitors purge sensitive information on laptops and e-mail devices, or leave their regular equipment at home and carry “clean” surrogates.

Travelers returning from the games also should have their equipment checked for bugs or viruses before reconnecting to U.S. computer networks, says Ray Mey, who ran Olympics security at the FBI before joining GardaWorld as a corporate security consultant.

FBI spokesman Richard Kolko declined to discuss briefings given to federal officials and businesses. Any time executives are in a country capable of “exploiting electronic media,” he says, the FBI strives “to notify them of these risks and … appropriate precautions.”

————————

Nhìn thấy sự nghèo nàn để chúng ta không bao giờ bị ru ngũ

*Nhìn biểu đồ dưới đây để nhìn thấy sự thật nghèo nàn và kém cỏi của Việt Nam mà cố gắng thay đổi đường lối kinh tế và chính trị, để chúng ta không bao giờ bị ru ngũ và ảo tưởng bởi các lời khen mà ta cần phải xét lại. Thí dụ như: Việt Nam là con hổ của châu á. Việt Nam có nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, có chỉ số phát triển 7% hay 8% trong suốt muời 8 năm liền, và chỉ thua có Trung quốc…

*Việt Nam không nên bắt chước con đường phát triển của Trung quốc, mà phải đi theo con đường do chính mình vạch ra,. Nên tránh những khuyết điểm mà Trung Quốc đang mắc phải. Việt Nam phải có kế hoạch làm sao cho:

*Phát triển đất nước nhưng không làm ô nhiễm môi trường, không làm thay đổi nền văn hóa của dân tộc, không làm cho dân chúng trở nên mất đạo đức.
Phải cố gắng giữ nguyên các kiến trúc đặc thù của miền quê, vùng cao nguyên và thành thị của Việt Nam.

*Phát triển đất nước phải tiến hành cùng 1 lúc với cải thiện giáo dục, nâng cao dân trí, dân chúng được có quyền tự do báo chí, tự do ứng cử và bầu cử mà không phải thông qua sự giới thiệu của 1 tổ chức, đoàn thể hay đảng phái ,và chính phủ phải tôn trọng nhân quyền của người dân.

Theo tài liệu năm 2007 của IMF (quỹ tiền tệ quốc tế), GDP của Việt Nam so sánh với TQ và Mỹ vẫn còn quá thấp.

*GDP = tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà dân chúng trong nước ây làm ra trong 1 năm.

* GDP của Mỹ là 13, 844 tỉ dollarsdân số 301=3,5 dân số VN

*GDP của Trung quốc 3251 tỉ dollars dân số 1 tỉ 3 =15,5 dân số VN

*GDP của Việt Nam là 70 tỉ dollarsdân số VN=86 million

Thứ hạng tính theo GDP

Tên quốc gia

GDP

Tính theo đơn vị là (TỈ dollars)

Dân số (triệu)

GDP/dân số

Mỗi 1 người làm ra sản phẩm hay dịch vụ (đô la)

Thứ hạng tính theo mỗi đầu người làm ra sản phẩm

1

Mỹ

13,844

304,214,000

$45507

2

2

Nhật

4,384

127,690,000

$34331

8

3

Đức

3,322

82,244,000

$40394

5

4

China

3,251

1,326,145,000

$2451

16

5

Anh

2,773

60,587,300

$45762

1

6

Pháp

2,560

64,473,140

$39710

6

9

Canada

1,432

33,279,700

$43033

3

11

Nga

1,290

141,927,900

$9086

12

12

Ấn độ

1,099

1,133,585,000

$969

13

Nam Hàn

957

48,224,000

$19846

10

14

Úc

909

21,305,000

$42658

4

15

Mễ tây cơ

893

106,535,000

$8386

13

20

Indonesia

433

231,627,000

$1869

24

Đài loan

383

22,990,000

$16673

11

33

Thái lan

246

63,038,247

$3897

15

Hồng Kong

207

6,963,100

$29686

9

38

Mã lai Á

186

27,452,091

$6793

14

45

Singapore

161

4,588,600

$35163

7

46

Philippines

144

88,574,614

$1627

57

Ma rốc

73

31,224,000

$2352

17

58

Bangladesh

72

158,665,000

$456

59

VIET NAM

70

87,375,000

$ 801

118

Kampuchea

8,604

14,444,000

$596

138

Laos

4,028

5,859,000

$687

156

Bắc Hàn

2,220

23,790,000

$93

Cu Ba

11,268,000

(Sẽ bổ sung thêm)

© tranhoang204

—————————————————-

Trung Quốc:

*Dưới chế độ ưu việt của chủ nghĩa xã hội do Mao Trạch Đông hướng dẫn từ 1949-1976, Trung quốc rất nghèo. Các con số dưới đây do chính TQ đưa ra cho ta thấy rất rõ ràng điều ấy.

*Trung Quốc bắt đầu gia tăng GDP sau khi được Mỹ, Đức, Nhật, Pháp, Anh đầu tư tiền bạc vào từ 1979 để xây dựng nhà máy sản xuất bộ phận của xe hơi, ti vi, điện tử, máy tinh, đồ chơi, áo quần, giày dép, …..

*từ 1952-1979 là 27 năm, GDP của TQ chỉ gia tăng507-100 = 407 tỉ Mỹ kim

*Từ 1979-2007 là 28 năm, GDP của TQ gia tăng 1280-507 =2774 tỉ Mỹ kim

*Năm 1979, sau khi Mao Trạch Đông chết, Đặng Tiểu Bình để Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Pháp vào đầu tư tiền bạc để phát triển đất nước.

China GDP from 1952 – 2007

Năm GDP tổng sản lượng làm được trong một năm (tỉ US dollars)
1952 100 tỉ
1958-1962 187 tỉ -140 tỉ : thời đại nhảy vọt (lùi)
1966-1976 237 tỉ – 472 tỉ : cách mạng văn hóa
1979- 507 bắt đầu làm kinh tế thị trường
1989 1280 tỉ
1999 3169 tỉ
2007** 3251 tỉ

+ từ 1952-1999 source: http://www.chinability.com/GDP.htm

**Số liệu 2007 của quỉ tiền tệ quốc tế IMF)

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_GDP_%28nominal%29

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_population

===========================

Nông Dân Việt Nam 2008 Sống Ra Sao ?
Ruộng Mảnh Chắn Tầm Xa

Cơn mưa chiều ập xuống đột ngột, cánh đồng xa bỗng chốc mịt mờ. Những người nông dân xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, An Giang kéo chúng tôi vào bàn. Rượu và đờn: “Nhà của cô sau trước vắng tanh/gió lạnh chiều hôm bỗng có ai dạo lên tiếng nguyệt cầm/như gieo vào lòng tôi nỗi buồn thê thảm”. Ở miền Tây này, những tiếng nỉ non trong các cuộc đờn ca như thế đã lặp đi lặp lại ngàn đời, như cuộc sống của người nông dân, quẩn quanh trong từng vuông ruộng nhỏ.

Nghèo

Một chủ đất có 120 công (12 hecta) ở xã Vọng Đông, ông Ba Hoe nói đùa: “Chỉ có mấy ông nghèo là sướng, lai rai tối ngày”. Trưởng ấp Xuân Lập, Phạm Văn Rảnh giải thích: “Làm ruộng đâu mất mấy thời gian. Nhà tôi 2 lao động, có 6 công ruộng. Xuống giống mất 8 công, làm 4 ngày là xong. Tới mùa, thuê thêm 2 lao động, cắt một ngày, 4 công nữa là hết việc”.

Nhưng, cũng xấp xỉ chừng ấy ruộng, ông Nguyễn Văn Lợi ở xã An Cư, huyện Cái Bè, Tiền Giang, làm 3 vụ/năm nhưng không nuôi nổi 2 con và một vợ. Ông Lợi nói: “Năm công ruộng, một năm giỏi lắm chỉ thu hoạch được 450 giạ lúa (9 tấn), trừ mọi chi phí giống má, phân bón, thuốc trừ sâu, công cán thu hoạch, nợ vay ngân hàng… còn lại khoảng 14 triệu đồng. 14 triệu đồng chia cho 4 miệng ăn ( 3,5 triệu đồng/người/năm, một người chỉ có 291.000 đồng/tháng)”. Nhưng, nào chỉ có nuôi con ăn học, ông Lợi nói: “Còn bao nhiêu giỗ quảy và hàng trăm thứ chi phí không tên”. Căn nhà của ông Lợi rách nát, nền đất lồi lõm mà không đủ tiền sửa sang. Ông than: “Quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà vẫn nghèo hoài”. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có hàng triệu nông dân hoàn cảnh giống như gia đình ông Lợi.

Trưởng ấp Phạm Văn Rảnh nói rằng, những người chỉ có vài hecta mà coi nông nghiệp là nghề chính thì đói dài dài. Trong ấp Xuân Lập của ông Rảnh có 520 hộ, chỉ có 4 hộ “tích tụ” được trên 10 hecta; 30% số hộ không có ruộng. Ấp có 1961 nhân khẩu, 6 hộ có con gái lấy chồng Đài Loan, gần 600 lao động phải ly hương. “Đa số họ làm việc ở khu công nghiệp Bình Dương. Nhưng, cũng không có gì ngạc nhiên nếu trong số họ, có những cô gái làm massage hay bia ôm”, ông Rảnh nói.

Những Nhà Nông Trở Lại

Một trong 4 hộ có hơn 10 hecta ruộng ở ấp Xuân Lập là ông Trần Văn Hoe. Ba cha con ông Hoe canh tác 120 công ruộng. Tuy nhiên số ruộng bây giờ của ông vẫn ít hơn ruộng của cha ông ngày trước. Gia đình ông vốn có 160 công, những năm 1977, 1978, phải “nhường cơm sẻ áo” cho các hộ khác, chỉ còn được giữ lại 21 công. Theo chính sách thời đó, ai cũng phải có ruộng đất, “Kể cả anh cắt tóc”, ông Hoe nói.

Làm nông, tưởng dễ nhưng cũng có thể mất vốn như chơi. Không phải ai được chia ruộng cũng có thể sống được nhờ làm ruộng. Lần hồi, nhiều người phải bán hoặc hoán đổi ruộng cho ông, ông Hoe “tích tụ” được 120 công, phần lớn vốn là ruộng của cha ông ông tạo lập. Ông Hoe cho rằng, ông bắt đầu có thể làm giàu được nhờ 120 công ruộng của mình, tuy nhiên, nếu có chừng 200 công thì gia đình 3 cha con ông sẽ làm ăn “khỏe” hơn.

Chị Thủy, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Thoại Sơn, nói rằng: “Những gia đình có 3 hecta ruộng thì có thể sống tạm, còn chỉ có 2 hecta thì chỉ có thể sống khắc khoải mà thôi”. Thế nhưng ở Thoại Sơn, các hộ dân chủ yếu có dưới 2 hecta. Toàn tỉnh An Giang chỉ có 0,13% số hộ có trên 5 hecta; 1, 49% số hộ có từ 3 hecta trở lên; trong khi, có 93,99% số hộ có dưới 2 hecta ruộng, trong đó có 5,98% hộ chỉ có diện tích ruộng dưới 1000 m2.

Trường Hợp Ông Sáu Đức

Một trong những người nắm giữ khá nhiều ruộng đất ở An Giang hiện nay là ông Nguyễn Lợi Đức, xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn. Ông Đức, thường gọi là Sáu Đức vốn chỉ là một người nuôi cá bè. Năm 1997, ông bán bè, về Tri Tôn, lần hồi mua được 70 hecta ruộng từ những người dân Kinh Tế Mới. Sáu Đức kể: “Khi mới về, tôi không phân biệt nổi giữa cỏ và lúa ở đây. Nhưng chỉ làm ruộng tới năm thứ ba, tôi được chọn là nông dân giỏi cấp tỉnh”.

Do canh tác trên một diện tích rộng, lại có điều kiện đầu tư cơ giới hóa, ông Đức cho biết: “Chi phí sản xuất một hecta hiện nay vào khoảng 20 triệu trong khi tôi làm chỉ mất có 15 triệu”. Sáu Đức cũng là nông dân đầu tiên ở miền Tây áp dụng máy san ruộng điều khiển bằng tia la-ze (lazer) nhập từ Mỹ. Ông dẫn chúng tôi ra thửa ruộng rộng 30 hecta của ông và giảng giải: “Hồi trước, cũng cánh đồng này, tôi phải sử dụng tới 3 máy bơm vì san ruộng theo kiểu cũ không có cách gì bằng phẳng được. Nay, mặt bằng ruộng ở đầu này với đầu kia là như nhau, tôi chỉ cần đặt một máy bơm ở đây là cung cấp nước đủ cho cả 30 hecta”. Ruộng được san bằng máy điều khiển bằng la-ze còn khiến cho mặt ruộng không có “chỗ gò, chỗ lung”, chỉ riêng phân bón thôi cũng tiết kiệm được hơn 30%.

Trong kho nhà Sáu Đức hiện vẫn còn trữ hơn 100 tấn lúa. Làm ăn lớn, vừa có khả năng đầu tư kho tàng, vừa nắm vững diễn biến thị trường, “trung gian” không dễ gì ép giá. Từ trường hợp Sáu Đức, Trưởng phòng Nông nghiệp Tri Tôn, Trần Văn Mì nói oang oang rằng: “Tích tụ ruộng đất là xu thế tất yếu”. Trong số báo sau, chúng tôi sẽ phân tích tiếp những yếu tố có thể khiến cho những trường hợp như Sáu Đức có thể trở thành hạt nhân “cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn”. Chỉ muốn nói thêm rằng, những người như Sáu Đức hiện vẫn chưa thể làm ăn lớn hơn vì bị chính sách hạn điền ràng buộc. Sáu Đức đang phải nhờ hàng chục người đứng tên trong các “sổ đỏ” của ông. Ở An Giang, nhiều người sở hữu diện tích ruộng đất lớn hơn Sáu Đức nhưng họ không dám đầu tư như ông vì sợ rủi ro do đất đai của họ đang phải đứng tên người khác.

Huy Đức- Hùng Anh- Trọng Tín

——————————————————————————————————————

Tích Tụ Ruộng Đất

Cựu Chủ tịch tỉnh An Giang, ông Nguyễn Minh Nhị, cho rằng, giới hạn tích tụ ruộng đất ở mức không quá 6 hecta là một chính sách: “Sợ dân nghèo bằng cách giữ cho mọi người đều nghèo”. “Hạn điền” đang là một là một trong những yếu tố quan trọng quy định tình trạng “sản xuất nhỏ” của nền nông nghiệp. Và, Sài Gòn Tiếp Thị xin tiếp tục câu chuyện này qua cuộc tọa đàm với sự tham gia của ông Nguyễn Minh Nhị, ông Lê Minh Tùng và ông Đoàn Ngọc Phả, ba nhân vật đã gắn bó sự nghiệp đời mình với Tứ Giác Long Xuyên, vựa lúa số một của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).

“Hai Lúa” Lại Sinh Ra “Hai Lúa”

Thoạt nhìn, những nông dân ít ruộng tối ngày “lai rai” trong khi “địa chủ, phú nông” thì vất vả, tưởng rằng họ… sướng. Nhưng, ông Nguyễn Minh Nhị phân tích: “Nếu như lối thoát duy nhất của người dân miền Trung là học thì ở miền Tây, dù không học cũng không chết đói bao giờ”. Trời đất miền Tây hết sức bao dung, chỉ cần 5 công ruộng là một gia đình đủ sống. Cha mẹ cũng bao dung, con cái không học, không làm gì được thì “về đây, tao nuôi”. Nhưng, cũng chính vì “ôm” 5 công đất ấy mà, theo ông Nhị, “Hai Lúa lại chỉ sanh ra Hai Lúa”.

Sự đời cũng đầy éo le như những câu vọng cổ. Chỉ cần ốm đau, chạy lo tiền viện là hết cảnh “lai rai”, chỉ cần vợ phải chuyển viện lên tuyến trên sanh mổ là nảy sinh một khoản chi buộc lòng phải bán ruộng. Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Lê Minh Tùng nói: “Đừng tưởng cứ giao đất cho những người nghèo là hết nghèo. Nhiều người nhận đất mà không biết quản lý, chỉ cày cấy một hai mùa là ngập đầu nợ nần”.

Trong khi, những chủ trang trại như Sáu Đức có thể tích trữ lúa cho tới khi được giá nhất mới bán thì những nông dân có dăm ba côngchỉ có một giải pháp duy nhất là bán lúa cho tư thương ngay tại ruộng. Họ không có kho để cất giữ lúa và không có lực để chờ. Họ cần phải bán lúa ngay khi thu hoạch để trang trải nợ vật tư nông nghiệp cho các đại lý phân bón, trả nợ vay ngân hàng, xoay xở cuộc sống và tái đầu tư cho mùa vụ mới. Lẽ dĩ nhiên, khi nhà nông cần tiền thì thương lái là người có toàn quyền định đoạt giá cả. Vừa qua, khi giá lúa lên đến 6.000 đồng- 7.000 đồng/kg mà nông dân vẫn không vui. Đó là giá các thương lái bán lại cho các doanh nghiệp cung ứng gạo xuất khẩu, còn nhà nông thì từ lâu đã hết lúa.

Những Bài Học Quá Khứ

Kỹ sư Đoàn Ngọc Phả hiện giờ là Phó Giám đốc sở Nông Nghiệp An Giang. Hơn hai mươi năm trước, khi các “pháo đài cấp huyện” bị “rã đám”, ông Phả, đang là một chuyên viên “xây dựng pháo đài” được đưa về làm Bí thư xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành. Ông nhớ lại, ruộng đất được cấp phát cho cả những người lêu lổng, thậm chí có cả những kẻ lưu manh, họ sẵn sàng nhận tiền, nhận phân bón rồi… đem bán, còn ruộng đất thì bỏ hoang. Nhiều cán bộ xã cắt xén ruộng đất, “phát canh” trở lại cho các chủ cũ. Sản xuất bị đình trệ trong khi mâu thuẫn giữa các chủ đất cũ và những người “kinh tế mới” hết sức căng thẳng, nguy cơ đâm chém nhau luôn đe dọa nổ ra. Ngay cả tập đoàn cũng phải có lực lượng dân quân tự vệ.

Phương sách mà ông Phả áp dụng ở xã Vĩnh Nhuận vào thời điểm ấy là dùng cơ chế kinh tế để chỉ giao đất cho những người thực sự có khả năng làm ruộng. Thực chất của tiến trình ấy là đưa ruộng, từng bước trở về tay chủ cũ. Ông Nguyễn Minh Nhị khi đó đang làm Phó giám đốc sở Nông nghiệp, đi “thực tế” xã Vĩnh Nhuận và khi trở về, ông thấy “được giải tỏa”. Kinh nghiệm của Vĩnh Nhuận là một trong những cơ sở để An Giang, ngay từ những năm 1987, 1988 có được quyết định 303, đưa máy móc và đất đai về lại cho các chủ cũ.

Ông Đoàn Ngọc Phả nhớ lại: Lúc đầu, quyết định 303 chỉ nhằm giải quyết tranh chấp, sau, không ngờ nó lại khuyến khích được nhiều chủ đất bỏ công sức và vốn liếng ra canh tác. Cùng với sự trở lại của các chủ đất là sự tan rã của các tập đoàn. Và, chính điều đó đã mở đầu cho An Giang một thời kỳ khai hoang phục hóa mới. Trong vòng 5 năm đã có 90 nghìn hecta ruộng được khai phá. Có lẽ, nếu không có tầng lớp trung nông đựơc khôi phục và mới xuất hiện thì Tứ Giác Long Xuyên đã không thể trở thành một vựa lúa lên tới 450.000 hecta như ngày nay.

“Địa Chủ” Bây Giờ Rất Khác

Phó Chủ tịch Lê Minh Tùng nói, từ lâu, An Giang đã xác định vai trò quan trọng của tầng lớp trung nông trong phát triển nông nghiệp. Trước đây, Tứ Giác Long Xuyên là một xứ nghèo và tỉnh nhận ra, chỉ có trung nông mới có năng lực để khai thác đất đai có hiệu quả. Ông Tùng cho rằng, tích tụ ruộng đất là một xu thế tất yếu. Cho dù Luật ghi “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì nhà nước cũng không bao giờ có thể lấy lại ruộng đất mà những người dân đang nắm giữ. Trong một chừng mực nào đó, những quy định hiện hành chỉ cản trở những người tôn trọng tuyệt đối các chuẩn mực pháp lý, khi họ muốn đầu tư vào lĩnh vực này.

Mặt khác, theo ông Đoàn Ngọc Phả, thời Tây, địa chủ chỉ cần thế lực, thôn tính đất đai trên bản đồ rồi giao cho tá điền khai khẩn. Ngày nay, đất ruộng giá đã rất cao, không ai có thể kinh doanh bằng cách mua ruộng rồi “phát canh thu tô” được nữa. Những chủ đất lớn nhất ở An Giang như ông Châu Thành Phú, Đặng Văn Hiện, Nguyễn Lợi Đức… đều là những người “trực canh”. Họ không những, phải là nông dân giỏi mà còn phải là những nhà doanh nghiệp giỏi.

Ông Nguyễn Minh Nhị cho rằng, sở dĩ chất lượng và giá gạo của ta kém hơn các nước trong khu vực là có nguyên nhân sâu xa từ chính sách hạn điền. Ruộng đất manh mún chỉ có thể sản sinh ra các tá điền chứ không thể nào sản sinh ra được những doanh nhân trong nông nghiệp. Không có những doanh nhân lớn, biết tổ chức sản xuất, có đầu óc quản lý, am hiểu thị trường, nền nông nghiệp của nước ta sẽ muôn đời lệ thuộc. Ông Nguyễn Lợi Đức kể, đã có không ít doanh nhân nước ngoài muốn làm ăn với mình nhưng không thành vì ta chỉ có những nhà nông làm ăn nhỏ, gieo cấy những giống quen chứ không thể canh tác trên diện rộng những giống lúa mà thị trừơng bên ngoài ưa chuộng. Tuy là nước xuất khẩu đứng hàng thứ 2, vì thế, hạt gạo Việt Nam vẫn “vô danh” trên thị trường Thế giới.

Quá trình tích tụ ruộng đất ở nông thôn chắc chắn sẽ làm xuất hiện những nông dân không còn ruộng. Tuy nhiên, sẽ không có xung đột vì chính những nông dân có dăm ba công ruộng ấy tự nguyện bán lại ruộng đất. Một khi, ruộng đất được tích tụ hàng chục, hàng trăm hecta thì những dịch vụ như kho tàng, cắt sấy, chế biến… sẽ có nhu cầu xuất hiện. Công nghiệp hóa sẽ từ đấy mà hình thành trên nền tảng nông nghiệp, nông thôn chứ không chỉ hình thành nhờ hàng ngàn hecta đất trồng lúa được giao cho các nhà kinh doanh khu công nghiệp.

Tất nhiên, quá trình “ly hương” của một bộ phận nông dân cũng là không thể tránh khỏi. Tiến sỹ Lê Minh Tùng cho rằng, cơ cấu lao động chắc chắn sẽ thay đổi khi Việt Nam trở thành một nước công nghiệp. Ở những quốc gia phát triển, lượng dân số lao động trong khu vực nông nghiệp sẽ giảm dần xuống còn từ 2-4%. Ông Tùng nói tiếp: “Nếu không cho tích tụ, thì nền nông nghiệp của chúng ta sẽ chỉ đủ ăn chứ không bao giờ có thể làm giàu”. Mặt khác, cũng sẽ có những nông dân tương tự phải “ly nông” khi ruộng đất được chuyển qua các mục đích sử dụng khác. Vậy thì tại sao có thể giao hàng ngàn hecta đất ruộng cho các nhà đầu tư làm sân gôn mà không thể để cho các nhà nông tự làm thay đổi bộ mặt nông thôn từ tích tụ ruộng đất.

Huy Đức- Trọng Tín- Hùng Anh

Nguồn: báo SGTT và blog của Osin http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?l=6&u=10&mx=115&lmt=5

Tuesday June 24, 2008 – 07:57pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Bush Nói Gì Đây với Dũng Trong chuyến viếng thăm 23/6/08

Bush Đang Đối Diện với Việc Phải Khéo léo Cân bằng trong Hành động với Chuyến Thăm của Thủ tướng Việt Nam

Bài của Henry J. Pulizzi từ White House.

Ngày 24-6-2008

Khi ông ngồi bên Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong ngày hôm nay, Tổng thống Bush đứng trước một hành động làm sao cho cân xứng: củng cố một mối giao thương đang đâm chồi nẩy lộc trong khi lại khích động nhẹ nhàng Hà Nội để định danh ra những mối quan ngại về nhân quyền.

Cuộc gặp gỡ, một phần trong chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của ông Dũng trong vai trò thủ tướng, được diễn ra trong lúc Việt Nam phải vật lộn với cơn lạm phát nhảy vọt, một thị trường chứng khoán chìm nghỉm, một mức thâm hụt thương mại phình lên [như bong bóng]và những xáo trộn trong thị trường lao động đang gia tăng. Trong khi đó, vụ bắt giữ hai nhà báo đã châm ngòi cho những mối lo ngại về một chính sách ngăn chặn khẩn cấp bao quát hơn đối với những người bất đồng chính kiến.

Ông Bush sẽ nêu bật vấn đề nhân quyền và tự do ngôn luận, tôn giáo và hội họp trong cuộc gặp của ông với ông Dũng, theo tin Tòa Bạch Ốc cho hay. Song hơn cả việc lên lớp cho đối tác Việt Nam, các nhà phân tích trông đợi ông Bush đề cao mối quan ngại của mình bằng cách liên kết những tiến bộ kinh tế với một xã hội dân sự cởi mở.

Micheal Auslin, một học giả thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ đã cho rằng Hoa Kỳ đang chuyên chú vào việc [duy trì] mối quan hệ của mình với Việt Nam vào thời điểm khi mà Trung Quốc đang tăng cường mối quan hệ sâu đậm của riêng nó với Đông Nam Á. Trong khi Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, giao thương hai chiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã tăng từ 1,5 tỉ Mỹ kim lên 9,7 tỉ kể từ khi hai nước ký kết một hiệp định thương mại song phương vào năm 2001.

“Nhìn chung, mối quan hệ hiện tốt đẹp và đang được đẩy mạnh [hơn],” Austin nhận xét. [“Mối quan tâm trước mắt cho cả hai bên là nền kinh tế đang yếu đi ở Việt Nam và điều gì mà việc nầy sẽ ảnh hưởng đến lĩnh vực thương mại và tiến trình mở rộng hơn nữa cho sự tự do hóa ở VN.”]

Lạm phát [đã ]tăng lên 25% năm tại Việt Nam vào tháng trước, thúc đẩy [lãi suất ngân hàng] tăng lên đột ngột và sự mất giá của [đồng bạc Việt Nam]. Giá cả tăng cao cũng đã châm ngòi cho những rối loạn trong hàng ngũ công nhân đòi tăng lương, và có thể sẽ nhen nhóm những căng thẳng chính trị. Vào tháng trước, hai nhà báo từng phơi bày hành động tham nhũng trong chính quyền đã bị bắt giam do đưa những [“thông] tin sai lạc” trong bài báo của mình.

Những người chỉ trích Hà Nội tại Quốc hội Hoa Kỳ đang kêu gọi ông Bush hãy đặt vấn đề nhân quyền thành một tiêu điểm trong cuộc hội kiến với ông Dũng. Một dự luật đã được thông qua tại Hạ viện vào năm ngoái đã ngăn cấm những trợ giúp không thuộc phạm vi nhân đạo đối với Việt Nam cho tới khi nước này thể hiện được những thay đổi trên các vấn đề nhân quyền.(Nhưng Dự luật đã bị chặn lại tại Thượng viện do có ít nhất một nghị sĩ phản đối. Ba Sàm).

“Chính quyền Bush phải nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân quyền, chứ không phải [chỉ là thương mại mà thôi]. Họ phải đưa ra vấn đề nhân quyền,” đó là khuyến nghị của [dân biểu quốc hội] tiểu bang California Loretta Sanchez vào tuần trước.

Ông Dũng sẽ nhắm tới việc gia tăng thêm các nguồn đầu tư trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ trong bốn ngày của mình. Vị thủ tướng sẽ tham dự một diễn đàn đầu tư tại New York, và đang trông đợi sẽ gặp ứng cử viên tổng thống John McCain và Barack Obama.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008
——————

THE WALL STREET JOURNAL

Bush Faces Tricky Balancing Act With Vietnamese PM Visit

Henry J. Pulizzi reports on the White House.

June 24, 2008, 8:44 am

When he sits down today with Vietnamese Prime Minister Nguyen Tan Dung, President Bush faces a balancing act: strengthening a burgeoning trade relationship while gently prodding Hanoi to address human rights concerns.

The meeting, part of Dung’s first U.S. trip as prime minister, comes as Vietnam grapples with soaring inflation, a sinking stock market, a ballooning trade deficit and growing labor unrest. The recent arrest of two journalists, meanwhile, has triggered worries of a broader clampdown on dissent.

Bush will highlight human rights and freedom of speech, religion and assembly in his meeting with Dung, according to the White House. But rather than lecturing his Vietnamese counterpart, analysts expect Bush to raise his concern in a way that ties economic advances to an open civil society.

Michael Auslin, a scholar at the American Enterprise Institute, said the U.S. is looking to maintain its relationship with Vietnam at a time when China is deepening its own relations in Southeast Asia. While China is still Vietnam’s top trading partner, two-way trade between the U.S. and Vietnam has grown to $9.7 billion from $1.5 billion since the two countries signed a bilateral trade agreement in 2001.

“ Overall, the relationship is good and has been getting stronger,” Auslin said. “The short-term concern for both sides is the economic weakening in Vietnam and what that will do to trade and the broader process of liberalization.”

Inflation rose at a 25% annual rate in Vietnam last month, prompting big interest-rate hikes and a devaluation of the country’s currency, the dong. High prices also have triggered unrest among workers looking for raises, and could spark further political tension. Last month, two reporters who exposed government corruption were arrested for publishing “false information.”

Hanoi’s critics in the U.S. Congress are calling for Bush to make human rights a focal point of his meeting with Dung. A bill passed by the House of Representatives last year would prohibit non-humanitarian assistance to Vietnam until the country addresses a slew of human rights issues.

“The Bush administration must stress the importance of human rights, not just trade. They must address human rights,” California Rep. Loretta Sanchez said last week.

Dung will be looking to pump up investment during his four-day U.S. visit. The prime minister will attend an investment forum in New York, and is expected to meet presidential candidates John McCain and Barack Obama

Tuesday June 24, 2008 – 05:42pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Entry for June 24, 2008

Thủ tướng Việt Nam Cải tổ

Các doanh nghiệp Nhà nước

Những chuyện mượn tiền của các công ty bị cho là phần nào gây ra những tai họa cho nền kinh tế

Bài của JAMES HOOKWAY

Ngày 23-6-2008

HÀ NỘI – Thủ tướng Việt Nam cho hay ông đã đặt kế hoạch cho việc cải tổ các doanh nghiệp [có nhiều thế lực của nhà nước, những doanh nghiệp nầy là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự đảo lộn nhanh chóng cho sự thành công của nước ông, một nền kinh tế từng phát triển nhanh nhất của Đông Nam Á giờ đây lại phải vật lộn để đẩy lui cơn khủng hoảng bị lôi cuốn bởi nạn lạm phát.]

Khi ông đến Hoa Kỳ vào thứ Hai này cho một chuyến viếng thăm theo lịch trình tới Washington, Nguyễn Tấn Dũng đã phải chịu sức ép cho việc ngăn ngừa những rối loạn của Việt Nam lây lan sang các quốc gia khác, đang trong môi trường kinh tế ổn định suốt mấy năm qua, và chuyển động nhanh chóng từ ngoại biên vào tới cơ cấu chính yếu của chủ nghĩa tư bản và đang thu hút những lượng đầu tư nước ngoài to lớn.

Nhiều trong các quốc gia đó – được biết đến như là các quốc gia ‘tiền tiêu’ theo lối nói của các nhà đầu tư – đang cố gắng đương đầu với tình trạng suy trầm kinh tế toàn cầu.

Một phần trong nan đề của Việt Nam là ở các doanh nghiệp nhà nước đồ sộ của nó và làn sóng vay mượn mà họ đã [tự mình nhận lãnh]cam kết mở rộng ở khắp mọi nơi và khoảng tối trong hoạt động doanh nghiệp ở đất nước này.

Những dòng vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ đã đổ vào nhiều tiền hơn cho nền kinh tế, [mà theo một số nhà kinh tế bàn luận cho rằng nền kinh tế Việt Nam đã không có sự linh hoạt uyển chuyển để hấp thu số tiền ấy đủ nhanh ] “Trong mấy tháng qua, Việt Nam đã phải đối mặt với một số khó khăn từ lạm phát do nền kinh tế của chúng tôi còn non kém và cũng có một số vấn đề về nhập khẩu nước ngoài,” ông Dũng đã cho biết trong một cuộc trả lời những câu hỏi được viết ra giấy. “Sắp xếp lại và cải cách các doanh nghiệp nhà nước … là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc củng cố nền kinh tế Việt Nam,” ông nói.

Vào tháng Năm, lạm phát thường niên đã giữ vững ở mức hơn 25%. Thị trường chứng khoán Việt Nam – sau giai đoạn tăng cao gấp ba lần giữa khoảng đầu năm 2006 và cuối năm 2007 – đã rớt xuống 62% vào năm nay.

Chính phủ đã cắt giảm mức tăng trưởng GDP ước lượng cho năm nay từ mức trước đó là 8,5 đến 9% xuống khoảng 7%. Tiền đồng, nội tệ của Việt Nam, đã yếu đi nhanh chóng làm trầm trọng thêm tình trạng lạm phát, và được ước đoán vẫn sẽ giảm nhanh hơn nữa so với đồng đô la.

Trong thời gian chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của mình, ông Dũng sẽ gặp gỡ cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Alan Greenspan để thảo luận về những cách thức cứu vãn tình trạng bong bóng bất động sản do nạn lạm phát gây ra, cũng như sẽ thương nghị với Tổng thống George W. Bush và các nhà đầu tư.

Những nan đề của Việt Nam đã và đang làm các nhà đầu tư phải lo ngại cho các quốc gia [có nền kinh tế đang phát triển nhanh khac].

Một số quốc gia có trao đổi thương mại dồi dào đã phát triển mau chóng, đặc biệt ở Trung Đông, nơi mà Lebanon, Oman và Qata đều đã chứng kiến chỉ số chứng khoán của mình tăng lên tới hơn 20%.

Thế nhưng tại các nền kinh tế dựa trên sản xuất hàng hóa [đang chứng kiến thị trường của họ ]đã sụt giảm trong khi các nhà đầu tư rút vốn của họ ra, phần vì nhu cầu tiêu dùng của Hoa Kỳ và Âu châu suy giảm, và phần vì những nỗi lo ngại về tình trạng lạm phát đang gia tăng mà bối cảnh của Việt Nam hiện đang như lửa đổ thêm dầu. Chỉ số chứng khoán chính của Bulgaria cũng đã rớt 24% kể từ đầu năm, Romania giảm 16% và Ukraine sụt tới 25%.

“Có một chút ác cảm nào đó đối với toàn bộ khối này, phần vì những gì đang xảy ra tại Việt Nam,” đó là nhận xét của Spencer White, một cựu chuyên gia phân tích của Merrill Lynch đã rời hãng này để trở thành một người môi giới chứng khoán Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Cho tới lúc này, đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đã không bị ảnh hưởng nhiều.

Sau khi lôi cuốn được những đề nghị đầu tư trực tiếp nước ngoài trị giá 20 tỉ Mỹ kim vào năm ngoái, ông Dũng cho hay Việt Nam sẽ nhận được ít nhất là 22 tỉ từ những đề nghị thuộc loại đó vào sáu tháng đầu năm 2008 và vẫn còn là một triển vọng hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

“Tôi tin rằng nền kinh tế của Việt Nam sẽ mau chóng hồi phục và trở lại một mức tăng trưởng mau lẹ và vững vàng,” ông nói.

Thế nhưng các cuộc đình công của giới lao động đang lan rộng khi mà hàng chục ngàn người từ vùng thôn quê lên làm việc tại các nhà máy điện tử và may mặc của Việt Nam phải chịu đựng lần đầu tiên tình trạng suy sụp của nền kinh tế.

[Thật là chính xác để nói rằng tất cả chúng ta họp nhau ở đây đều biết rõ ràng về những vật giá đang gia tăng dần dần và những hiệu quả tiêu cực mà nạn lạm phát đang gây ra trên môi trường kinh doanh tại Việt Nam,” ] đó là nhận định của Micheal Pease, chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ và là tổng giám đốc Ford Motor Co. tại Việt Nam trong một hội nghị các nhà kinh doanh họp tại Hà Nội vào đầu tháng này.

Ông Dũng, 58 tuổi, là vị thủ tướng trẻ nhất của Việt Nam khi nhậm chức vào năm 2006, một năm sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới *. Việt Nam như là một thành viên tương đối muộn màng bước vào tiến trình mở cửa kinh tế khi đã có sẵn những hình mẫu tiêu biểu tại Á châu, rõ ràng tựa như một mô hình với lao động giá rẻ, tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ rất thích hợp cho các quốc gia láng giềng.

Các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam [đã hổ trợ mạnh mẻ] các doanh nghiệp nhà nước bằng những khoản đầu tư vay mượn ưu đãi đến mức họ có thể cạnh tranh được với các công ty nước ngoài là những đối tượng mà chính phủ cũng đang cố gắng ve vãn, thậm chí dường như có những nhà lãnh đạo đã o bế cả những doanh nghiệp tư nhân.

Ông Dũng nói rằng một trong những chính sách phát triển cốt yếu của việt Nam là xây dựng những tập đoàn doanh nghiệp nhà nước mạnh “để chúng có thể trở thành trụ cột cho nền kinh tế.”

Những người từng đưa ra những lời khuyên cho ông Dũng thì cho rằng chính sách này chịu ảnh hưởng của Nam Triều Tiên khi họ phát triển các công ty được biết đến như là các chaebol và bành trướng khắp nơi trong nền kinh tế nước này. Các kinh tế gia cho rằng chính sách này đã triệt tiêu các công ty tư nhân nhỏ có hoạt động hiệu quả hơn, ít tốn kém cho nhà nước hơn và với ít có những mối liên hệ trực tiếp với chính phủ hơn.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Vietnam Oil&Gas Corp., hay còn gọi là PetroVietnam đã tiến vào lĩnh vực ngân hàng và giờ đây đang xây dựng một khách sạn năm sao tại khu thương mại mới ven đô của Hà Nội, mặc dù Việt Nam đã và đang phải chờ đợi cả thập kỷ để công ty này hoàn thiện nhà máy lọc dầu đầu tiên của mình. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đầu tư mạnh mẽ vào viễn thông và mới đây đã giao phó 250 triệu mỹ kim vào việc phát triển một khu nghỉ dưỡng cao cấp ven biển, chọc giận những người Việt Nam bình thường đang phải chịu sống triền miên trong cảnh tranh tối tranh sáng.

Tại Vinashin, còn gọi là Vietnam Shipping Industry Group, Tổng giám đốc Phạm Thanh Bình đã vay 3 tỉ Mỹ kim để cấp vốn cho việc mở rộng công ty sang lĩnh vực vận tải đường biển và những doanh nghiệp sản xuất hàng hóa phụ trợ cho các hoạt động đóng tàu sơ cấp của mình. Vinashin cũng đã bành trướng sang lĩnh vực tài chính, [buôn bán cổ phiếu]và thậm chí cả chưng cất bia.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Wall Street Journal
——————————————————————————————————————————————————————

Vietnam‘s Premier to Shake Up State Companies

Firms’ Borrowings Partially Blamed For Economic Woes
By JAMES HOOKWAY
June 23, 2008; Page A11

HANOI — Vietnam’s prime minister said he plans to shake up the powerful state companies that have been a leading cause of his nation’s sharp reversal of fortune as the once-hot Southeast Asian economy now struggles to avert an inflation-driven crisis.

As he arrives in the U.S. Monday for a scheduled visit to Washington, Nguyen Tan Dung is under pressure to prevent Vietnam’s troubles from casting a cloud over other countries that, in the benign economic environment of the past few years, were moving swiftly from the fringes into capitalism ‘s mainstream and attracting vast amounts of foreign investment.

Many of those nations — known as “frontier” countries in investor parlance — are already trying to cope with the global economic slowdown.

Part of Vietnam’s problem is its massive, state-owned companies and the wave of borrowing they undertook to expand into every nook and cranny of the country’s business life.

Strong foreign-investment inflows put yet more money into the economy, which some economists argue didn’t have the flexibility to absorb it quickly enough. “Over the last few months, Vietnam has been facing some difficulties with inflation because of our immature economy and also problems imported from overseas,” Mr. Dung said in answer to written questions. “Restructuring and reforming the state-owned enterprises…is one of the key tasks in strengthening Vietnam’s economy,” he said.

In May, annual inflation stood at more than 25%. Vietnam’s stock market — after more than tripling between the beginning of 2006 and the end of 2007 — has dropped 62% so far this year.

The government has cut its GDP-growth estimate for this year to around 7% from a previous 8.5% to 9%. The Vietnamese currency, the dong, has weakened sharply, exacerbating inflation, and is expected to fall still further against the dollar.

During his U.S. visit, Mr. Dung will meet with former Federal Reserve Board Chairman Alan Greenspan to discuss ways to recover from an inflationary asset bubble, as well as talk with President George W. Bush and investors.

Vietnam‘s problems already are making investors wary about other frontier nations.

Some commodity-rich nations have thrived, particularly in the Middle East, where Lebanon, Oman and Qatar have all seen their stock indexes rise by more than 20%.

But other manufacturing-based economies have seen their markets slump as investors pull out their cash, partly because of slowing demand in the U.S. and Europe, and partly because of fears about rising inflation that Vietnam’s situation is stoking. Bulgaria has seen its main share index fall 24% since the beginning of the year, Romania has fallen 16% and Ukraine has dropped 25%.

“There is a bit of a thematic aversion to this whole segment, partly because of what’s been happening in Vietnam,” said Spencer White, a former Merrill Lynch analyst who left the company to join a Vietnamese brokerage in Ho Chi Minh City.

So far, foreign direct investment in Vietnam hasn’t been much affected.

After attracting $20 billion in foreign-direct-investment applications last year, Mr. Dung said Vietnam will receive at least $22 billion in such applications in the first six months of 2008 and remains an attractive prospect for investors.

“I believe Vietnam’s economy will quickly recover and return to a rapid and sustainable growth rate,” he said.

But labor strikes are spreading as tens of thousands of people who moved from the countryside to work in Vietnam’s electronics and textiles factories experience their first serious economic downturn.

“It is safe to say that all of us gathered here are only too aware of spiraling costs and the negative effect that inflation is having on the business environment in Vietnam,” Michael Pease, chairman of the American Chamber of Commerce and general director of Ford Motor Co. in Vietnam, told a business conference in Hanoi earlier this month.

Mr. Dung, 58 years old, was Vietnam’s youngest prime minister when he took office in 2006, a year after the country joined the World Trade Organization. Vietnam, as a relative latecomer to economic opening, had strong role models in Asia and explicitly mimicked the cheap-labor, strong exports growth model that worked so well for its neighbors.

Vietnam‘s Communist leaders bolstered state-owned companies with cheap money so they could compete with the foreigners the government was also trying to woo, even as leaders fostered private enterprise.

Mr. Dung said one of Vietnam’s core development policies was to build strong, state-owned conglomerates “so they can become pillars of the economy.”

People who advise Mr. Dung said the policy was influenced by the way South Korean companies, known as chaebols, expanded across that country’s economy. Economists said the policy came at the cost of crowding out smaller, more efficient private-sector businesses with less direct links to the government.

Vietnam Oil & Gas Corp., or PetroVietnam, moved into banking and is now building a five-star hotel in Hanoi’s new business district on the edge of town, even though Vietnam has been waiting for a decade for the company to complete its first oil refinery. Power generator Vietnam Electricity Corp. has invested heavily in telecommunications and recently committed $250 million to a beach-resort development, angering many ordinary Vietnamese who are dealing with intermittent black-outs.

At Vinashin, or Vietnam Shipping Industry Group, Chief Executive Pham Thanh Binh borrowed $3 billion to finance the company’s expansion into shipping lines and manufacturing businesses to support its primary shipbuilding operations. Vinashin also expanded into finance, stock-trading and even brewing beer.


————————————————-

Với việc Ngọn đuốc Olympic (ghé vội) qua Tây Tạng, Trung Quốc Dồn dập Tấn công Đức Dalai Lama

Bài của Jim Yardley ngày 22-6-2008

BẮC KINH: Chuyến thăm viếng của ngọn đuốc Olympic tới thủ phủ Lhasa của Tây Tạng đã diễn ra trong hai tiếng đồng hồ vào hôm thứ Bảy. Những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản đương quyền [có lẻ đã thở phào nhẹ nhõm] khi ngọn đuốc Olympic đã được đẩy lên một chuyến phi cơ mà không có biến cố gì xảy ra] và bay khỏi một thành phố mà chỉ mới cách đó ba tháng [đã bùng nổ ra những cuộc phản kháng rất bạo động chống đối người Trung quốc.]

Song nếu như những nhà lãnh đạo Trung Quốc lo lắng để tránh những hành động phản kháng, họ đã không tránh sử dụng cuộc rước đuốc như là một vũ đài để một lần nữa lại bất ngờ tấn công Đức Dalai Lama, nhà lãnh đạo tinh thần của những người Tây Tạng lưu vong.

Zhang Qingli, bí thư Đảng Cộng sản của Tây Tạng, đã đứng dưới tòa Lâu đài Potala, trung tâm lịch sử của Đức Dalai Lama, và xướng lên lời chào tạm biệt ngọn lửa với một bài diễn văn [có nhiều đoạn rất dữ dằn hung tợn]. “Bầu trời Tây Tạng sẽ không bao giờ thay đổi, và ngọn cờ đỏ với năm ngôi sao sẽ mãi mãi phấp phới bay cao trên đó,” Zhang nói, theo tin Reuters đưa. “Chúng ta tất nhiên sẽ có thể đập tan hoàn toàn những mưu đồ chia rẽ của bè lũ Dalai Lama.”

[Một cuộc công kích bằng lời lẽ mạnh mẻ chống lại Đức Dalai Lama đã gián đoạn nhiều lần cuộc rước đuốc ngắn gọn tại Lhasa đã được phát đi từng phần] trên hệ thống truyền hình quốc gia và đã nhanh chóng nhận được những lời chỉ trích từ các nhóm ủng hộ Tây Tạng bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Trong nhiều tháng qua, họ đã đòi hỏi Trung Quốc không đưa ngọn đuốc qua Lhasa mà không mang lại kết quả.

“Cuộc rước đuốc tại Lhasa là màn diễn cuối cùng ở Trung Quốc trong hàng loạt hành động phản bội trước mọi điều mà Olympic là biểu trưng,” Kate Woznow, giám đốc chiến dịch tranh đấu của Sinh viên Cho một Tây Tạng Tự do đã nói trong một bản tuyên bố.

“Phô diễn ngọn đuốc qua Lhasa trong khi những người Tây Tạng vẫn đang sống thực sự dưới chế độ quân luật là một hành động lợi dụng quá đáng nhất của Trung Quốc đối với Thế vận hội cho đến lúc này.”

Khu Tự trị Tây tạng và các khu vực có người dân Tây tạng sinh sống khác sống ở miền tây Trung Quốc đã bị đặt dưới sự trấn áp an ninh kể từ tháng Ba, khi các cuộc phản kháng bạo lực nổ ra ở Lhasa và loang rộng ra. Trung Quốc đã cáo buộc Đức Dalai Lama lên kế hoạch cho cuộc náo loạn, nhưng ông đã phủ nhận. [Tuần trước, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi người dân Tây Tạng đừng biểu tình khi ngọn đuốc Olympic được rước ngang qua Lhasa.]

Chỉ cách đây vài tháng, cuộc tranh cãi về Tây Tạng [đã dường như che phủ và làm lu mờ Thế vận hội Mùa Hè ở Bắc Kinh]. Trung Quốc đã thiết kế rất lâu trước đó cho cuộc rước đuốc toàn cầu lớn nhất và trên chặng đường dài nhất từ xưa tới nay. Song nó đã trở thành một dịp cho những cuộc phản kháng quy mô ở London, Paris, San Francisco và những nơi khác, khi những người bênh vực cho việc ủng hộ Tây Tạng đụng độ với những người ủng hộ Trung Quốc.

Thảo luận về việc tẩy chay lễ khai mạc Thế vận hội đã loang rộng qua các thủ đô Âu châu.

Thế nhưng thời tiết chính trị đã biến chuyển sau cuộc động đất ở tỉnh Tứ Xuyên hôm 12 tháng Năm mang theo một sự đồng cảm quốc tế dạt dào và cũng xoa dịu bớt nỗi tức giận của những người theo tinh thần dân tộc đã dấy lên ở Trung Quốc qua sự kiện Tây Tạng. Như một vấn đề chính trị, chuyện Tây Tạng hầu như không được nhắc tới.

Các đại diện của Đức Dalai Lama và các quan chức Trung Quốc gặp nhau, với chút ít dấu hiệu tiến bộ. Tranh cãi quanh chuyện rước đuốc đã lắng xuống khi ngọn lửa vào tới lãnh thổ Trung Quốc, nơi nó được chào đón bởi những đám đông nhiệt tình và nơi mà các nhà chức trách có thể ngăn cấm bất cứ cuộc phản kháng nào.

Các nhà tổ chức cũng đã quyết định giảm bớt hoạt động rước đuốc sau vụ động đất và thu gọn chặng rước đuốc qua Tây Tạng từ ba ngày xuống một ngày.

Các nhà chức trách rõ ràng lo ngại về an ninh và ổn định trước các cuộc biểu tình. Trước khi ngọn lửa được đưa tới Lhasa, các nhà tổ chức đã đặt lộ trình cho nó qua Tân Giang, khu vực bất ổn có người Hồi giáo chiếm số lượng áp đảo tại miền cực tây bắc nước này. Cảnh sát đã thông báo cho các cư dân ở Tân Giang hãy ở nhà và theo dõi cuộc rước đuốc qua truyền hình.

Các nhà chức trách cũng đã siết chặt điều kiện tiếp xúc của các phương tiện truyền thông nước ngoài để đưa tin về cuộc rước đuốc. Các nhà tổ chức ở Bắc Kinh chỉ cho phép vài nhóm nhà báo có chọn lọc được có mặt tại các cuộc rước ở Tân Giang và Tây Tạng, mặc dù có những lời hứa trước đó là cho phép đưa tin mà không bị giới hạn gì hết. Tờ The New York Times đã đề nghị được đưa tin về chặng rước ở Tây Tạng song đã không nhận được lời mời.

Chris Buckley, một thông tín viên [tại hiện trường] của hãng tin Anh Reuters, đã cho hay là các nhà báo được đưa tới Tây Tạng đã được phép theo dõi từ đầu chương trình rước đuốc lúc 9 giờ sáng, thế rồi họ được đưa tới Lâu đài Potala để chờ đợi chặng kết thúc. Theo ông kể có 150 người rước đuốc được sắp xếp mang ngọn lửa chạy trên một chặng đường vào khoảng tám cây số, tức năm dặm.

Các nhân viên bán vũ trang cùng Công an Nhân dân Vũ trang cũng như cảnh sát địa phương đã được cắm chốt từng 3 mét một trên chặng đường rước đuốc, Buckley kể. [Những đám đông khán giả dường như cũng đã được lựa chọn trước]; nhiều người từ các cơ quan nhà nước, trường trung học hay trường đại học. Các cửa hàng dọc theo tuyến đường rước đuốc bị đóng cửa cho một cuộc diễu hành được chờ đợi sẽ diễn ra trong vòng 3 giờ đồng hồ.

“Thậm chí không tới ba giờ,” Buckley thuật lại qua điện đàm. “Chỉ hơn hai giờ chút xíu.”

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


*To cast a pall = ném một bức màng che phủ lên= che phủ và làm lu mờ

—————

With Olympic torch (briefly) in Tibet, China assails Dalai Lama

By Jim Yardley

Published: June 22, 2008

BEIJING: The visit of the Olympic torch to the Tibetan capital of Lhasa came and went in about two hours on Saturday. Leaders of the ruling Communist Party probably exhaled once the flame was trundled onto an airplane without incident and flown out of a city that only three months ago had erupted in violent anti-Chinese protests.

But if Chinese leaders were anxious to avoid protests, they did not avoid using the torch relay as a stage to again lash out at the Dalai Lama, the exiled Tibetan spiritual leader.

Zhang Qingli, the Communist Party secretary of Tibet, stood beneath the Potala Palace, the historic seat of the Dalai Lama, and bade farewell to the flame with a speech that at times was itself fiery. “Tibet’s sky will never change, and the red flag with five stars will forever flutter high above it,” Zhang said, according to Reuters. “We will certainly be able to totally smash the splittist schemes of the Dalai Lama clique.”

The broadside against the Dalai Lama punctuated an abbreviated torch relay in Lhasa that was partially broadcast on state television and that quickly brought criticism from pro-Tibetan groups outside China. For months, they have demanded in vain that China not take the torch through Lhasa.

“The torch relay in Lhasa is China’s latest episode in a series of betrayals of everything the Olympics represent,” Kate Woznow, campaign director of Students for a Free Tibet, said in a statement.

“Parading the torch through Lhasa while Tibetans live under virtual martial law is China’s most egregious exploitation of the Games yet.”

The Tibet Autonomous Region and other Tibetan areas of western China have been under a security crack down since March, when violent protests broke out in Lhasa and spread. China has accused the Dalai Lama of masterminding the uprising, a charge he denies. Last week, he called on Tibetans not to protest when the torch passed through Lhasa.

Only a few months ago, the controversy in Tibet appeared likely to cast a pall over the Summer Olympics in Beijing. China had designed the global torch relay as the longest and grandest ever. But it had become the occasion for large protests in London, Paris, San Francisco and elsewhere, as pro-Tibet advocates clashed with China supporters.

Talk of boycotting the opening ceremony of the Games spread through European capitals.

But the political climate shifted after the earthquake in Sichuan Province on May 12 brought an outpouring of international sympathy and also softened the nationalist anger that had swelled in China over Tibet. As a political issue, Tibet largely disappeared.

Representatives of the Dalai Lama and Chinese officials met, with little sign of progress. The controversy over the torch relay quieted when the flame entered the Chinese mainland, where it was greeted by enthusiastic crowds and where the authorities could prevent any protests.

Organizers also decided to scale down the relay after the earthquake and trimmed its route through Tibet from three days to one.

The authorities were clearly worried about security and the possibility of demonstrations. Before the flame was brought to Lhasa, organizers had routed it through Xinjiang, the restive Muslim-dominated region in the country’s far northwest. The police told residents in Xinjiang to stay indoors and watch the torch relay on television.

The authorities also tightened access by the foreign news media to the relay. Beijing organizers allowed only groups of selected journalists to attend the relays in Xinjiang and Tibet, despite earlier promises to permit uninhibited coverage. The New York Times applied to cover the Tibet portion of the relay but was not invited.

Chris Buckley, a correspondent at the scene for Reuters, said the journalists taken to Tibet were allowed to watch the start of the relay at 9 a.m., then were taken to the Potala Palace to await its end. He said more than 150 torchbearers were set to carry the flame on a route of about eight kilometers, or five miles.

Paramilitary officers with the People’s Armed Police as well as the local police were stationed every 10 feet on the relay route, Buckley said. Crowds also appeared to be screened; many people were from government agencies, universities or schools. Shops on the route were closed for a procession expected to last three hours.

“It didn’t even muster three hours,” Buckley said by phone. “It was a little over two.”

Tags: 310:vớiviệcngọnđuốcolympic

—————————————————————————–

Những Thủ Pháp của Đảng Ta ở Hà Nội
Những Thủ pháp của Đảng ở Hà NộiBài của CARLYLE A. THAYER *Từ tờ TODAY’S WALL STREET JOURNAL ASIANgày 19-6-2008Việt Nam đã giành được danh tiếng như là một xã hội đang đi tới theo xu hướng cấp tiến, một quốc gia có khuynh hướng cải cách đang rũ bỏ nhanh chóng những gốc gác Cộng sản của mình. Đầu tư nước ngoài đang đổ vào như thác lũ, và mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bỏ xa các láng giềng của nó. Phần lớn trong những bước tiến triển này có thể được cho là thuộc về vị thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năng nổ của nó, người đã thực hiện cuộc cải cách và những nỗ lực chống tham nhũng là một vấn đề được ưu tiên kể từ khi ông nhậm chức năm 2007. Song bất chấp hình ảnh mang màu sắc cấp tiến của mình, ông Dũng đang phải chiến đấu trên một trận chiến gian nguy – và thường gặp phải nhiều thất bại.[Trước hết, ta hãy nhìn vào trận chiến chính mà giữa hai phe, những nhà lãnh đạo theo đường lối bảo thủ và những người theo đường lối cấp tiến, đang tranh chấp: đó là mặt trận báo chí]. Phái cấp tiến không ngả theo bất cứ biện pháp ủng hộ nào cho một nền báo chí hoàn toàn độc lập. Thế nhưng họ coi một hệ thống truyền thông phần nào đó được tự do như là một công cụ [có tiềm lực] hữu ích cho việc khống chế vấn nạn tham nhũng và như vậy sẽ tối giản được những nguồn gốc bất mãn tiềm tàng trong dân chúng đối lập với quyền lực của đảng. Phái bảo thủ thậm chí còn coi báo chí tựa như một mối thách thức không thể chấp nhận đối với đảng, và giờ đây những người bảo thủ có vẻ đang chiến thắng. Tháng trước, hai nhà báo – Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên, và Nguyễn Văn Hải của Tuổi Trẻ – đã bị bắt và cáo buộc đã lạm dụng chức vụ quyền hạn. Cả hai nhà báo này đã điều tra về một vụ bê bối tham nhũng tại Bộ Giao thông liên quan tới việc tham ô 7 triệu Mỹ kim được đem đi cá độ những trận bóng đá Âu châu. Chiếu theo luật pháp Việt Nam thì các nhà báo này có thể bị giam giữ trong bốn tháng trước khi các cáo trạng được tống đạt và nếu bị kết án thì họ sẽ phải chịu một mức án tối thiểu là một năm tù giam.

Những vụ bắt giữ này báo hiệu nhiều điều hơn là chỉ như một cuộc đàn áp báo chí. Chúng nhấn mạnh tới tình trạng thiếu kiểm soát của Thủ tướng Dũng đối với các cơ quan quyền lực thực sự quan trọng nằm bên trong bộ máy [thư lại] của Đảng. Ví dụ như phe bảo thủ kiểm soát bộ Thông tin và Truyền thông, nơi cũng giám sát cả hệ thống kiểm duyệt báo chí. Năm 2007, họ đã hạn chế những toan tính của ông Dũng đưa những nhân vật thân tín trẻ tuổi hơn vào Nội các. Họ còn ngăn chặn việc bổ nhiệm viên thư ký của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt vào vị trí bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông mới được thành lập. Thay vào đó, Lê Doãn Hợp, một nhân vật kỳ cựu trong giới bảo thủ của đảng xuất thân từ tỉnh Nghệ An quê hương của Hồ Chí Minh đã được chọn lựa.

Được lãnh đạo bởi Tổng Bí thư Đảng Nông Đức Mạnh, những người bảo thủ ở Việt Nam có một căn cứ địa chính trị chắc chắn. Họ tạo nên một khối có ảnh hưởng lớn trong Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương, nơi mà lực lượng công an có những đại diện có thế lực. Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh đã nhận được số phiếu bầu cao thứ hai sau ông Mạnh từ Ban chấp hành Trung ương mới được bầu tại Đại hội đảng toàn quốc gần đây nhất vào năm 2006. Trong tám thứ trưởng mới được bầu vào Ban chấp hành Trung ương thì có tới ba người là thuộc Bộ Công an. Họ đánh giá cao vấn đề ổn định chính trị và sự tiếp tục cương vị của mình lên trên tất cả yêu cầu khác, và lo lắng tới tình trạng bất lực của Thủ tướng Dũng trong việc xử lý có hiệu quả đối với tình trạng lạm phát gia tăng và những rủi ro khác trong xã hội.

Ông Dũng cũng đang nhanh chóng mất đi sự ủng hộ [rộng rải ]trong dân chúng. Nhiều người Việt Nam sống tại các đô thị đã trở nên [thất vọng không hài lòng ] trước nỗi bất lực của ông Dũng khi ứng phó với vấn nạn ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông hay tham nhũng. Mới đây nhất, nạn lạm phát đã giáng cú đòn nặng nề vào túi tiền của họ. Đương nhiên, tình trạng này không hoàn toàn do lỗi của ông Dũng. Kể từ khi nhậm chức vào năm ngoái, ông đã [bổ nhiệm] một ban chỉ đạo cấp cao để [chặn đứng] tình trạng tham nhũng và công khai nhấn mạnh rằng Bộ Công an phải tăng cường hoạt động điều tra của mình trong [những vụ tham nhũng có liên quan tới các giới chức chính quyền cao cấp]. Song những nỗ lực này đã sớm [bị chận đứng lại bởi sự chống đối từ những người bảo thủ (theo đường lối cứng rắn).]

Có nhiều mối đe dọa trong cuộc chiến tranh giành quyền lực này. Những người bảo thủ trong đảng đã [giới hạn] Việt Nam mở cửa với bên ngoài bằng việc quả quyết rằng những vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo là một phần trong âm mưu diễn biến hòa bình. Nói cách khác, họ đã cố gắng gây kinh hãi với phạm vi rộng lớn hơn cho ban lãnh đạo đảng bằng ý niệm rằng nền kinh tế cởi mở, đặc biệt trong quan hệ với Hoa Kỳ, chắc hẳn sẽ dẫn tới việc cởi mở về chính trị. Theo luận điểm này, các thế lực thù địch ở bên ngoài đã móc nối với những nhà bất đồng chính kiến trong nước nhằm lật đổ hệ thống chính trị độc đảng của Việt Nam. Chung cuộc nó đã trở thành một tiến trình cải cách theo kiểu khởi động, rồi lại dừng.

Cánh bảo thủ trong đảng còn nắm được một [vai trò vững chắc trong việc thành lập] các mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Vào cuối năm ngoái những cuộc biểu tình chưa từng thấy của các sinh viên chống Trung Quốc đã nổ ra tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh qua những vấn đề trên Biển Nam Trung Hoa. Khi ông Mạnh viếng thăm Bắc Kinh để có những cuộc hội kiến ở cấp cao, giới bảo thủ trong đảng đã lợi dụng cơ hội để nâng cao các mối quan hệ giữa hai đảng trong đó có các quan hệ trên lĩnh vực ý thức hệ tư tưởng.

Trong mấy tháng nay có những tin đồn rằng những rạn nứt bên trong nội bộ của đảng đã trở nên quá ư khốc liệt đến nổi một đại hội đảng giữa nhiệm kỳ có thể sẽ được tổ chức để hóa giải chúng. Trong lịch sử đảng này, chỉ duy nhất một đại hội thuộc loại đó đã được triệu tập vào năm 1994. Nếu như cuộc họp này được tổ chức thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng [sẽ nhận ra rằng vai trò lãnh đạo và những chính sách của ông] sẽ phải chịu nhiều chỉ trích. Điều đó cũng là biểu trưng cho một thất bại đối với những [nổ lực lâu dài] của Việt Nam nhằm nới lỏng sự kiểm soát của đảng trên cả nước và phát triển một hệ thống tự chịu trách nhiệm ở cấp bộ.

Đối với Việt Nam, để có thể [thành công] trên con đường hiện tại, vấn đề sống còn phải thuộc về tay của các đại biểu Quốc hội, chứ không phải từ [ những người theo đường lối bảo thủ của đảng đứng ở hậu trường,] quốc hội phải khẳng định quyền lực của họ trong việc [xem xét các chính sách của chính phủ và nhiệm vụ ] của thủ tướng. Nếu [các đại biểu quốc hội ] không làm được điều đó thì những thành công gần đây của Việt Nam có thể sớm bị chấm dứt. (hạ màn)

Ông Thayer là giáo sư chính trị học của trường đại học University of New South Wale và Học viện Quốc phòng của Úc tại Canbera.

* Giáo sư Carlale Thayer là một chuyên gia về chính trị Việt Nam, từ tháng 1-2008, ông còn đảm nhiệm thêm vị trí giáo sư thỉnh giảng của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, trường Đại học Ohio, Hoa Kỳ. Ông có rất nhiều bài viết phân tích sâu về tình hình Việt Nam trong nhiều năm qua, thường đăng trên trang BBC Việt ngữ (hiện vào trang BBC nầy search chữ “carlyle thayer” sẽ được 44 bài). Bài gần đây nhất là “Việt Nam và chiến lược ngoại giao quốc phòng” ra ngày 18-6-2008.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

———

THE WALL STREET JOURNAL

Thursday June 19, 2008 –

———————————-

Việt Nam Đưa ra những Giải pháp Làm yếu Đồng nội tệ, Kiểm Soát Nạn Lạm phát

THE WALL STREET JOURNAL

Việt Nam Đưa ra những Giải pháp Làm yếu Đồng nội tệ, Kiểm Soát Nạn Lạm phát

Bài của JAMES HOOKWAYNgày 26-6-2008

Việt Nam đã đưa ra những giải pháp mới [cho thấy] đồng tiền Việt Nam [đã được làm yếu đi] so với đồng đô la trong khi chính phủ đẩy nhanh những [nổ] lực của mình nhằm ngăn chặn một cơn khủng hoảng bộc phát bởi tình trạng lạm phát gia tăng, sẽ chạm mức 27% vào tháng Sáu.

Khó khăn hiện thời của quốc gia này – gây ra bởi một cơn lũ đầu tư nước ngoài và những khoản vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước – là thách thức kinh tế hóc búa nhất cho chính quyền Cộng sản kể từ khi nó mở cửa đất nước cho đầu tư tư nhân và nước ngoài vào cuối những năm 1980. Sau nhiều tháng khi họ bị chỉ trích về việc đã không có những hành động dứt khoát đủ để giảm đà tăng của giá cả, đã có những dấu hiệu cho thấy các giới chức chính phủ đang bắt đầu hiểu được tính chất nghiêm trọng của tình hình, theo như đánh giá của các chuyên gia phân tích.

Vào đầu tuần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã [tìm lời khuyên của] Alan Greenspan, cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ, trong một chuyến công du Hoa Kỳ. Theo lời của một người có liên hệ gần gũi với cuộc thảo luận của họ thì ông Greenspan đã cho ông Dũng hay rằng sai lầm lớn nhất của Việt Nam chính là sự thất bại của nó trong việc đã [xóa sạch sự gia tăng trong các món nợ nần]. Ông còn khuyên ông Dũng cần đi xa hơn nữa trong việc hạn chế chi tiêu từ các doanh nghiệp nhà nước.

Chính phủ đã tạm ngưng nhập vàng trong một nỗ lực nhằm giảm thiểu mức gia tăng thâm hụt thương mại. Và hôm thứ Năm, ngân hàng trung ương đã nới rộng biên độ cho phép đồng tiền Việt Nam trao đổi với đồng đô la, bắt đầu vào thứ Sáu. Giờ đây đồng tiền Việt Nam được phép thay đổi tỉ giá lên xuống 2% so với đồng đô la mỗi ngày, so với mức trước đó là 1%. Vào đầu tháng này, chính phủ cũng đã đưa ra một mức phá giá đồng nội tệ so với trước đây là khoảng 2%.

Các nhà phân tích cho rằng biên độ trao đổi rộng hơn sẽ dành cho một mức trượt giá theo từng bước trong tỉ giá chính thức gần với tỉ giá trên thị trường tự do vẫn được thông báo tại các tiệm vàng và các quầy thu đổi ngoại tệ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ở đó, một đô la mua được 19.000 đồng – cao hơn tỉ giá chính thức 16.451 đồng là 15%.

“Chúng tôi giữ tỉ giá hối đoái của mình cố định với đồng đô la để trợ giúp cho xuất khẩu, thế nhưng điều này đúng là đã để cho lạm phát ngự trị,” đó là nhận định trong một cuộc phỏng vấn của Lê Xuân Nghĩa, vụ trưởng phụ trách giám sát hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và là một cố vấn cho thủ tướng.

Vào hôm thứ Năm, chính phủ đánh giá lạm phát đã lên tới mức 27% năm trong tháng Sáu, tăng so với mức 25% vào tháng Năm.

Cũng có những dấu hiệu cho thấy các tập đoàn nhà nước với bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả đang nhận được những thông điệp rằng họ cần phải siết chặt chi tiêu. Vào hôm thứ Hai, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam cho biết nó đang rút 1 tỉ Mỹ kim cổ phần trong dự án thép trị giá 5 tỉ được hãng Posco của Nam Triều Tiên triển khai. Posco hiện đang tiếp tục một mình thực hiện dự án này. Vinashin là một tập đoàn đóng tàu biển của Việt Nam, giờ đang cho tạm dừng 40 dự án khác với trị giá tổng cộng 395 triệu Mỹ kim.

Những diễn tiến này đã tiếp thêm chút sức sống cho thị trường chứng khoán đang hấp hối, khi mà nó đã mất đi khoảng 60% giá trị kể từ đầu năm nay. Chỉ số chuẩn của Việt Nam đã tăng lên liên tiếp trong bốn phiên giao dịch vào tuần này, với mức 0,7% đạt 386,48 điểm vào lúc đóng cửa hôm thứ Năm.

“Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã vượt qua được giai đoạn phủ nhận và giờ là ở giai đoạn chấp nhận,” theo nhận xét của Spencer White, một chiến lược gia của Công ty chứng khoán Thân Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Các giới chức Việt Nam vẫn phải chiến đấu với một cơn lạm phát trong đầu tư từ các nhà sản xuất nước ngoài, đặc biệt bởi hiện tượng đào thoát khỏi thị trường Trung Quốc do giá cả đang tăng lên. Các thương hiệu nổi tiếng toàn cầu như Canon Inc. và Intel Corp. là các nhà đầu tư lớn ngay từ đầu ở Việt Nam, cùng với các nhà sản xuất thép Đài Loan và đóng tàu Nam Triều Tiên. Các giới chức chính phủ cho biết Việt Nam sẽ có được 33 tỉ Mỹ kim từ các đề nghị đầu tư nước ngoài trong sáu tháng đầu năm – tăng hơn 50% so với mức 20 tỉ của cả năm 2007.

Giới chức Việt Nam còn cho biết họ đang phải để mắt tới mức độ cho vay ở những đối tượng không được chắc chắn trong khu vực ngân hàng như những dự án phát triển kinh doanh bất động sản đang phải oằn lưng chống chọi với tình trạng giá cả nguyên vật liệu tăng cao.

Công ty đầu tư Roth Capital Partners LLC có trụ sở tại Los Angeles cho hay rằng phải mất từ ba tới sáu tháng trước khi thấy rõ một bức tranh sáng sủa về việc liệu Việt Nam có thể [chặn đứng] được vấn đề lạm phát của mình hay không. Song, công ty này đã cho biết trong một lời chú giải cho khách hàng vào hôm thứ Tư rằng: “Khi nền kinh tế Việt Nam được điều chỉnh lại từ những nan đề về tiền tệ của nó, chúng tôi cho rằng các nhà đầu tư toàn cầu sẽ lại được khích lệ về những viễn cảnh chắc chắn, dài lâu ở đây.”

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* Cám ơn GS Trần Hữu Dũng đã đưa bài này lên trang Viet-Studies

Friday June 27, 2008 – 04:48am (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Sắp Xếp Việc Làm Cho Những Người Đang Rời Bỏ Thị Trường Chứng Khoán

Các công ty của Việt Nam Chào đón Những kẻ Lánh nạn Tài chính

Bài của Amy Kazmin

Ngày 26-6-2008

Trong mấy tháng trước, thị trường chứng khoán Việt Nam đã được nếm trải một cơn tan chảy nghiêm trọng.

Nó đã rớt xuống gần 60% cho tới năm nay, và đã chạm đến những vị trí cuối cùng được nhận thấy vào đầu năm 2006.

Sự tuột dốc kinh hoàng đã gây bại hoại cho nhiều nhà đầu tư, và làm dấy lên những mối quan ngại rằng liệu cái thị trường cổ phiếu của đất nước này sẽ có khả năng khôi phục lại sự tin cậy hay không.

Nhưng đối với những ngành công nghiệp dịch vụ đòi hỏi tính chuyên môn cao của Việt Nam, thị trường cổ phiếu sụp đổ và những lo ngại về cơn bùng phát sắp xảy ra từ trái bóng bất động sản đã có một diện mạo bất ngờ – chúng đảo ngược dòng làm cho các chuyên gia có năng lực phải đào thoát khỏi hai lĩnh vực kinh doanh này.

Các cựu luật sư và các nhân viên kế toán giờ đây đang trở lại với vị trí ban đầu của mình, sau thời kỳ sôi sục lên vì những cuộc đột phá thảm hại vào trò đầu cơ bất động sản và buôn bán cổ phiếu.

“Nhiều người từ khu vực dịch vụ mang tính chuyên môn cao – ví như ngân hàng và luật sư kế toán – đã bỏ việc để lao vào hoạt động kinh doanh đầu cơ tích trữ và mua bán chứng khoán do những món lợi quá lớn ở đó,” theo Fred Burke, một thành viên của Baker & McKenzie, một hãng chuyên cấp vốn đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

“Giờ thì tình hình đó đã giảm dần và nhiều người đang trở lại với công việc thường lệ của mình,” ông nói.

Nhiều trong số quay trở lại với các ngành dịch vụ chuyên nghiệp này cũng có được một “nhận thức thực tế” về những khoản tiền lương tiềm tàng của mình hơn là trở thành những ứng viên hay những tay làm công lão luyện nơi đỉnh cao của cơn bùng nổ trên thị trường.

“Những khoản lương bổng giờ đây không thể đem so sánh với một thị trường đầu cơ bất động sản nổi lên như bong bóng, nơi mà bạn có thể [kiếm được gấp nhiều ngàn lần số tiền lương hiện nay chỉ cần trải qua một đêm], bằng cách đặt một khoản tiền cọc vào một căn hộ rồi bán nó đi ngay ngày hôm sau,” ông Burke nhận xét.

Trên đỉnh cao của cơn sốt chứng khoán điên cuồng tại Việt Nam – đặc biệt vào nửa cuối 2006 và đầu 2007 – và trong cơn bùng nổ kinh doanh bất động sản gần đây hơn, nhiều nhà chuyên môn có kinh nghiệm đã bỏ việc ở các công ty của mình để gia nhập các công ty chứng khoán và các công ty quản lý quỹ, hoặc để điều khiển các danh mục cổ phiếu và bất động sản của riêng mình. Họ hy vọng chỉ qua một đêm là giàu lên.

Làn sóng ra đi – gồm hàng trăm người từ bốn hãng kế toán lớn – đã làm [gia tăng] trầm trọng thêm tình trạng khan hiếm nhân công vẫn hiện hữu trong các ngành này, gia tăng áp lực thêm cho những người vẫn ở lại.

Nhưng theo Warrick Cleine, giám đốc đối tác của KPMG Việt Nam, sự suy sụp của một thị trường chứng khoán hoang dã đã đem tới cho những người đang tìm kiếm việc làm “một tấm vé cho chuyến bay thượng hạng” để họ nhận ra sự cần thiết biết cân bằng hơn giữa những mối lợi trước mắt với lợi ích dài lâu.

“Nhiều người đang [tích trử được kinh nghiệm về những gì họ đã làm, về những công ty họ đã từng làm qua, và những công ty nơi mà họ đang làm,”] ông nói. “Họ đang hiểu rằng một nghề nghiệp [với phẩm chất cao có ý nghĩa thế nào]. Nó có thể không mang ý nghĩa từ một mức lương cao hơn, song lại có thể bao hàm những cơ hội được đào luyện và một công việc kinh doanh có thể giúp mình qua được một cơn bấn loạn kinh tế trước mắt.

[“Đó] là sự khởi đầu cho một bước trưởng thành mới. Thị trường lao động hiểu được cái chu trình kinh doanh hơn – và sự khác nhau giữa những viễn cảnh sự nghiệp trước mắt và lâu dài … Những nghề đòi hỏi sự cẩn trọng hơn đang bắt đầu có sức hấp dẫn lớn hơn.”

Luật lao động của Việt Nam gây khó cho người sử dụng lao động khi muốn buộc người lao động thôi việc – một vấn đề hắc búa có tính tiềm tàng đối với các công ty chứng khoán từng mở rộng hoạt động quá nhanh và giờ đây lại đang trong cuộc vật vã với khó khăn.

Tuy nhiên kể từ khi [những món tiền và các khoản phúc lợi trong hợp đồng] của các công ty chứng khoán được xây dựng căn cứ vào những khoản tiền thưởng lớn đặt cơ sở từ tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, nhiều người lao động đã đơn giản chọn cách rời bỏ [việc làm] của họ để tìm kiếm những nơi có mức lương béo bở hơn.

May thay cho những kẻ được gọi là “lánh nạn ngành kinh doanh tài chính”, hầu hết các hãng dịch vụ đòi hỏi tính chuyên môn cao – bao gồm các hãng luật, công ty [tài chính kế toán], và khối ngân hàng – hiện vẫn tuyển dụng nhân sự cho việc phát triển hoạt động trong tương lai, [việc tuyển dụng nầy làm dễ dàng cho họ để kiếm được một việc làm].

Bất chấp tình trạng lạm phát tăng vọt như hỏa tiễn đạt tới mức 25% vào tháng Năm, đất nước do những người Cộng sản cầm quyền, với dân số trẻ trung và nhiều tham vọng, vẫn được xem như là một xứ sở[ rất hấp dẫn cho việc xây dựng các hãng sản xuất.]

*Đầu tư trực tiếp nước ngoài – khâu then chốt giúp có được mức tăng trưởng mạnh mẽ của Việt Nam trong những năm gần đây – vẫn sôi động. Trong năm tháng đầu năm nay, mức cam kết đầu tư nước ngoài đạt 15 tỉ Mỹ kim, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái.

Để đáp ứng với những mức độ tăng trưởng này, văn phòng của Baker & McKenzie đang [gia tăng] số lượng nhân viên tại Thành phố Hồ Chí Minh lên khoảng 40%, trong khi KPMG cũng vừa thuê thêm 300 nhân viên có bằng cấp, cũng như một số thành phần ‘lánh nạn nghề tài chính’ vào đội ngũ của mình. Các hãng khác cũng đều có hình thức mở rộng đội ngũ.

Căn cứ vào tình trạng khan hiếm những chuyên gia có kinh nghiệm, nhiều hãng đã vui vẻ tạo cơ hội nhận lại những nhân viên cũ có năng lực của mình. Song theo ông Cleine thì những giám đốc khôn ngoan sẽ không chỉ ngồi một chỗ để chờ đợi những cú điện thoại gọi tới hay một tiếng gõ cửa xin việc.

Những quan niệm trong văn hóa Việt Nam truyền thống về sự “mất mặt” làm cho nó bớt đi cái khả năng cho một người lao động từng bỏ việc để theo đuổi những triển vọng khác có vẻ sáng sủa hơn mấy khi lại chịu thừa nhận rằng họ muốn quay về làm việc, thậm chí nếu như họ đang tìm đường trở lại nghề nghiệp cũ.

Như một hệ quả, các giám đốc buộc phải có thêm những nỗ lực tuyển dụng những nhân viên cũ và đảm bảo rằng họ sẽ có một vị trí ở trong công ty.

“Các bạn phải làm cho bằng được chuyện ấy,” ông Cleine nói. ” Các bạn phải có một vài câu chuyện thành công mà bạn có thể chỉ cho (người đi xin việc) biết đâu là chỗ những người quay trở lại làm việc một cách thành công sau khi được phục chức. ”


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


source: http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe

Thursday June 26, 2008 – 06:43am (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Báo chí Nước Ngoài Bị Hạn Chế Đưa Tin Olympic ở Tây Tạng
Truyền thông Nước ngoài bị Hạn chế khi Ngọn lửa Olympic Đi qua Tân Giang và Tây TạngNgày 24-6-2008Tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF hôm nay đã cáo buộc Trung Quốc vi phạm lời hứa của họ với Ủy ban Olympic Quốc tế IOC khi ngăn cản các ký giả ngoại quốc được đưa tin một cách tự do về hành trình của ngọn đuốc Olympic đi qua Tân Giang và Tây Tạng. Chỉ có rất ít ký giả được phép tới Kashgar, Urumqi và Lhasa, và họ đã bị ngăn cấm không cho chuyện trò với người dân địa phương. Giới hữu trách còn lợi dụng cuộc rước đuốc qua những vùng có yếu tố nhạy cảm để khơi dậy một chiến dịch tuyên truyền mới bất chấp việc chính phủ đã tuyên bố, cũng như IOC, rằng Thế vận hội không thể bị chính trị hóa. “Cuộc rước ngọn lửa Olympic chưa bao giờ bị biến thành một trò lừa bịp đến như vậy khi mà người dân địa phương đã được lệnh phải ở trong nhà do họ bị coi như một mối đe doạ,” đó là đánh giá của tổ chức tự do báo chí toàn cầu.” Và chưa từng có chuyện các ký giả ngoại quốc đã bị hạn chế đến như thế trong việc đưa tin về một sự kiện đã bị chính phủ Trung Quốc chính trị hóa một cách kỳ quặc.“Tuy nhiên IOC vẫn giữ im lặng trong tình trạng phải đối mặt với hành động xâm phạm mới này của các quan chức Trung Quốc đối với Hiến chương Olympic khi họ sử dụng ngọn lửa Olympic để bào chữa cho các hành động đàn áp chính trị,” RSF đánh giá. Chỉ có khoảng 50 ký giả nước ngoài được phép đưa tin về chặng rước đuốc qua Lhasa vào hôm 21 tháng Sáu và gần một nửa trong số họ là từ các văn phòng báo chí đặt tại Hong Kong, Macao và Đài Loan là những người đã được chính phủ Trung Quốc lựa chọn cẩn thận. Các hãng thông tấn quốc tế và một vài đài truyền hình có quyền được truyền hình ảnh và âm thanh của Thế vận hội Bắc Kinh được phép tới Lhasa hai ngày. Những khu vực khác của Tây Tạng đã bị đóng cửa với người nước ngoài trong hơn ba tháng. Không có tờ báo nào của Hoa Kỳ hay của Anh quốc được phép tới đây.

Khi tới Lhasa, các ký giả ngoại quốc đã bị ngăn cản không cho tới ngôi đền Jokhang trong khu phố cổ của thành phố và thay vào đó họ được hướng dẫn tới Potala và tu viện Sera. “Một lực lượng đông đảo cảnh sát sắc phục và thường phục đã quay phim mọi động thái của chúng tôi và chỉ có rất ít các nhà sư để chúng tôi có thể trò chuyện và hỏi han được,” một ký giả đã thuật lại với RSF.

Các ký giả đã bị giữ trong một công viên đối diện với ngôi dinh thự mùa hè cổ kính của Đức Dala Lama, cũng là nơi mà ngọn đuốc bắt đầu với lễ rước. Họ không được phép đi theo ngọn đuốc trên chặng rước, vào trong thành cổ hay trò chuyện với dân chúng địa phương. Các hướng dẫn viên của nhà nước còn cố tình đánh lừa các ký giả về tình hình ở Lhasa. Một ký giả Canada đã hỏi là tại sao các cửa hàng đều đóng cửa khi ngọn đuốc được rước qua thành phố, thì được trả lời rằng các cửa hàng ở Tây Tạng thường đóng cửa vào một ngày Thứ bảy (tức ngày 21 tháng Sáu). Rõ là sai sự thật.

“Lộ trình ngọn lửa đi qua là cả một vấn đề đáng buồn,” một ký giả khác nhận xét. [“Những người đi xem rước đuốc đó] đã được chọn lựa bởi các nhà chức trách, cảnh sát đứng thành hàng trên toàn tuyến và có những điểm kiểm soát quân sự khắp nơi trong thành phố.”

Đường truy cập vào các website từ Trung Quốc tới một số bài báo do các ký giả ngoại quốc viết, ví dụ như ký giả của tờ Globe&Mail của Canada, sau đó đã bị các nhà chức trách khóa lại.

Các giới chức ở Tân Giang đã giám sát tuyệt đối các hoạt động của các ký giả ngoại quốc được phép đưa tin về chặng rước đuốc qua Kashgar và Urumqi. Bất chấp những lời hứa đã được đưa ra với các phương tiện truyền thông ngoại quốc, các ký giả đã bị cấm chuyện trò với dân chúng địa phương ở Uighur hai bên đường.

“Đừng lo, chúng tôi vẫn cho phép các bạn tự do đưa tin,” một viên chức đã nói với một ký giả hãng thông tấn Reuters tại Kashgar hôm 18 tháng Sáu như vậy. Một vài ký giả tại đó đã bị vây bọc bởi cảnh sát khi họ bị yêu cầu rời khỏi khu vực an ninh. Những nhà chức trách Tân Giang thậm chí còn in ra một bản hướng dẫn cho các ký giả ngoại quốc với nội dung rằng nếu có một sự kiện bất ngờ xảy ra, hàm ý là những cuộc biểu tình, thì họ sẽ được yêu cầu rời đi ngay tức khắc.

Lúc ở Lhasa, số được phép cho quan sát ngọn đuốc đi qua là những người Hán và người Uighur được các giới chức chọn lựa, và [nhà chức trách] yêu cầu hầu hết mọi người tránh xa khỏi đường phố và xem cuộc rước đuốc qua màn ảnh TV.

Hệ thống truyền thông do chính phủ kiểm soát đã đưa tin tức với những lời bình luận nghe chối tai, ví dụ như đòn tấn công của bí thư Đảng Cộng sản ở Tây Tạng vào “bè lũ Dalai Lama” mà ông cho là phải bị tiêu diệt. “Ngọn cờ đỏ với năm ngôi sao luôn tung bay trên bầu trời Tây Tạng,” ông ta nói.

Một quan chức Tây Tạng cho hay hầu hết trong số 1.300 người bị bắt giữ sau các cuộc phản kháng tháng Ba đã được trả tự do, song không có cách gì xác minh điều này. Các nhà chức trách nhận xét rằng một bản báo cáo của tổ chức Ân xá Quốc tế về hình phạt tù đối với hơn 1.000 người Tây Tạng là không có “một xu giá trị tin cậy gì.”

Truyền thông nhà nước Trung Quốc nói rằng tuyến đường rước đuốc qua Lhasa là một thành công về mặt an ninh và cơ quan thông tấn [Xinhua] loan tin là dân chúng vui mừng và bình yên. Sohu, hãng phần mềm về công cụ tìm kiếm trên mạng của nhà nước đánh giá cuộc rước đuốc là một thắng lợi lớn tại Lhasa sau khi trở về từ Đỉnh Everest. Truyền hình nhà nước đã truyền đi những chương trình đặc biệt khoe khoang về sự phát triển kinh tế của Trung Quốc ở Tây Tạng song lại không đưa hình ảnh có sự hiện diện của công an vũ trang trong khi ngọn đuốc đi qua Lhasa và Kashgar.

Một số ký giả ngoại quốc tại Bắc Kinh đã nói với Tổ Chức RSF rằng lời khẳng định gần đây trên tờ báo nhà nước China Daily của tác giả Liu Qi, người đứng đầu trang website chính thức của Olympic 2008 BOCOG, rằng không có yêu cầu phỏng vấn nào bị từ chối, [là không đúng sự thật]. Liu nói chính phủ sẽ thành lập cơ quan tuyên truyền của mình trước Thế vận hội để “tạo sự thuận tiện cho công luận.” Một ký giả Pháp nhận xét rằng đã có nhiều các cuộc họp báo song các cuộc phỏng vấn dưới dạng mặt đối mặt với các quan chức thì đã trở nên khó thực hiện trong những tháng gần đây.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

source: http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?p=1114#comments
—————————————————————————————————–
Reporters Without Borders

————————————————————————————————————

Foreign media curbed as Olympic flame passes through Xinjiang and Tibet

24 June 2008

Reporters Without Borders today accused China of breaking its promises to the International Olympic Committee (IOC) by preventing foreign journalists from freely covering the journey of the Olympic flame through Xinjiang and Tibet.

Only a few were allowed to go to Kashgar, Urumqi and Lhasa, and they were forbidden to talk to local people. The authorities also used the passage of the flame through these sensitive regions to mount a new propaganda campaign despite the government saying, like the IOC, that the Games must not be politicised.

”The Olympic flame relay journey has never been such a trumped-up operation where local people have been told to stay indoors because they are seen as a threat,” the worldwide press freedom organisation said. “And never have foreign journalists been so restricted in reporting on an event that has been outrageously politicised by the Chinese government.

“Yet the IOC remains silent in the face of this new violation of the Olympic Charter by Chinese officials using the Olympic flame to justify political repression,” it said.

Only about 50 foreign journalists were allowed to report on the passage of the flame through Lhasa on 21 June and nearly half of them were from media outlets in Hong Kong, Macao and Taiwan who were handpicked by the Chinese government. International news agencies and some TV stations with rights to broadcast the Beijing Games were allowed two days in Lhasa. Other parts of Tibet have been closed to foreigners for more than three months. No US or British daily paper was allowed in.

When they got to Lhasa, foreign reporters were barred from going to the Jokhang temple in the old part of the city and instead guided to Potala and the Sera monastery. “A large number of uniformed and plainclothes police filmed our every move and there were very few monks we could talk to and question,” one journalist told Reporters Without Borders.

Journalists were kept in a park opposite the old summer residence of the Dalai Lama where the flame set out from. They were not allowed to follow the flame, go into the old city or talk to local people. Official guides also tried to deceive journalists about the situation in Lhasa. One Canadian reporter who asked why all shops were shut as the flame passed through the city was told that shops in Tibet were always closed on a Saturday (21 June). What is not true.

“The passage of the flame was a sad affair,” said another journalist. “Those watching were chosen by the authorities, police lined the whole route and there were military checkpoints throughout the city.”

Website access in China to some of the reports filed by foreign journalists, such as the reporter of Canada’s Globe and Mail, was later blocked by the authorities.

Officials in Xinjiang strictly supervised the activities of foreign journalists allowed to report on the passage of the flame through Kashgar and Urumqi. Despite promises made to foreign media, reporters were banned from speaking to the local Uighur population at the roadside.

“Don’t worry, we’re still giving you freedom to report,” one official told a Reuters news agency journalist in Kashgar on 18 June. The few reporters present were surrounded by police who stopped them leaving the security area. The Xinjiang authorities even printed a guide for foreign journalists saying that if there was a sudden event, meaning demonstrations, they would be asked to leave at once.

As in Lhasa, those allowed to see the flame pass were Han and Uighur people chosen by the authorities, who had asked most people to keep off the streets and to watch the passage of the flame on TV.

Government-controlled media coverage included harsh comments, such as the Tibetan Communist Party chief’s attack on “the Dalai Lama clique” that he said had to be destroyed. “The red flag with its five stars will always fly above Tibet,” he said.

One Tibetan official said most of the 1,300 people arrested after the demonstrations in March had been released, but there was no way to verify this. The authorities said an Amnesty International report on the imprisonment of more than 1,000 Tibetans did not have“an ounce of credibility.

The Chinese official media said the passage of the flame through Lhasa was a success from the security point of view and the Xinhua news agency said people were joyous and peaceful. The official search-engine Sohu said the flame’s journey had been a big success in Lhasa after arriving from Mount Everest. Government TV broadcast special programmes boasting about China’s economic development of Tibet but showed no film of military police present as the flame passed through Lhasa and Kashgar.

Several foreign journalists in Beijing told Reporters Without Borders that the recent claim in the official paper China Daily by Liu Qi, head of the official 2008 Olympics website BOCOG, that no request for interviews would be refused was false. Liu said the government would step up its propaganda before the Games so as to “create favourable public opinion.” One French journalist said there were more press conferences but face-to-face interviews with officials had become hard to obtain in recent months.


Wednesday June 25, 2008 – 08:06pm (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ và Trung Quốc 2008
Mối quan hệ tay 3 giữa Việt Nam với Mỹ và với Trung Quốc(đang tìm thí dụ mối quan hệ tay ba này mà chưa nghĩ ra! ) Bóng Trung Quốc trong quan hệ Việt – Mỹ

Trong mối quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ, điều thường được nhắc tới là bên thứ ba tức Trung Quốc.

Kể từ khi Hà Nội và Washington bình thường hóa quan hệ hơn một thập niên trước, có luồng ý kiến cho rằng tăng cường bang giao Việt – Mỹ có thể là một cách tạo đối trọng với Bắc Kinh.

Thượng nghị sĩ John McCain, ứng viên tổng thống của đảng Cộng hoà năm nay, đã cổ vũ cho luận điểm này khi ông vận động để bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Tuy nhiên tiến sĩ Thịnh Lập Quân, học giả gốc Trung Quốc ở Singapore, cho rằng trong mắt Trung Quốc, Việt Nam lưu tâm làm sao bảo đảm sự ổn định trong quan hệ ngoại giao.

Trả lời BBC Tiếng Việt hôm 24/06/2008, trong ngày Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có cuộc hội kiến với Tổng thống Bush tại Tòa Bạch Ốc, tiến sĩ Thịnh Lập Quân nói:

TS Thịnh Lập Quân: Trung Quốc biết rõ Việt Nam, tức là Việt Nam thấy quyền lợi của họ là làm sao giữ được thế cân bằng. Trung Quốc sẽ không lo lắng về bất kỳ chuyến thăm nào của Thủ tướng hay Chủ tịch nước Việt Nam tới Hoa Kỳ. Chúng tôi hiểu giới truyền thông nhấn mạnh vào một chuyến thăm như thế này, nhưng tôi bảo đảm là Trung Quốc không lo ngại.

BBC: Nhưng trong mắt Trung Quốc, Việt Nam quan trọng tới mức nào?

TS Thịnh Lập Quân: Quan trọng thì có, nhưng cũng không quá quan trọng. Nếu có ai đó nghĩ rằng chuyến thăm Mỹ có thế giúp Việt Nam ở vào vị thế cạnh tranh nào đó với Trung Quốc, thì theo tôi, họ đã sai lầm. Trung Quốc tin rằng Việt Nam cảm thấy giữ thế cân bằng là có lợi cho chính họ.

“Họ phải dựa vào Trung Quốc và không hề ngây thơ khi tiếp cận Hoa Kỳ”

Tiến sĩ Thịnh Lập Quân

Tại Việt Nam, nếu anh nói chuyện với các viên chức cấp thấp hay cấp trung, nhiều người trong số họ lo lắng, thậm chí nghi ngờ Trung Quốc. Nhưng nếu anh nói chuyện với lãnh đạo cấp cao thì hoàn toàn khác. Vì quyền lợi căn bản của họ, thậm chí quyền lợi cá nhân, để giữ quyền lực, giữ cho chính thể được sống còn nên điều họ lo hơn là “Cách mạng màu” của Hoa Kỳ.

Họ phải dựa vào Trung Quốc. Họ không hề ngây thơ khi tiếp cận Hoa Kỳ và biết đây chỉ là chuyện làm ăn. Điều họ lo ngại là người Mỹ sẽ không bao giờ để chế độ cộng sản tồn tại. Trái lại về phía mình Trung Quốc có thể cung cấp những thứ mà Mỹ không thể cung cấp, trong đó có kinh nghiệm đối phó với các vấn đề kinh tế, chính trị, bởi hệ thống của Mỹ lại khác với Việt Nam.

BBC: Ông có nhận thấy trong chính trị Việt Nam, có hai phái bảo thủ và đổi mới. Và những người được cho là đổi mới sẽ xem Hoa Kỳ như một đồng minh tiềm năng?

TS Thịnh Lập Quân: Trong chính trị, tôi rất miễn cưỡng khi phải phân chia con người thành hai loại như vậy. Không thể rạch ròi tách họ ra thành phe đổi mới và phe bảo thủ. Hồi thập niên 1980, chúng tôi cũng dùng cách gọi này để phân loại chính trị Trung Hoa. Nhưng rồi người ta thấy cách tiếp cận đó sai lầm. Đôi khi người bảo thủ lại rất cải cách. Chính trị có sự trộn lẫn, không có hai màu đen trắng dễ dàng.

Tiến sĩ Thịnh Lập Quân là một chuyên gia về quan hệ Đông Nam Á, chính trị Trung Quốc và Đài Loan ở Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore.

nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080624_uschinavietnam.shtml

Wednesday June 25, 2008 – 10:19am (PDT) Permanent Link | 0 Comments
Từ 1986 cho đến 2008, VN vẫn Không có khả năng vạch ra kế hoạch kinh tế

Định hướng XHCN chính là = các doanh nghiệp Nhà nước.

Phe ta tính ra từ 1986 đến nay là 22 năm, vẫn không tự mình vạch ra 1 kế hoạch kinh tế, hay 1 con đường nào cho riêng mình để phát triển kinh tế. Có thể nhìn thấy rõ ràng là trong 22 năm qua, phe ta chạy theo 2 mô hình:

_ Từ 1990-2002 phe ta chạy theo mô hình kinh tế của Singapore

_ Từ 2003 đến nay, phe ta chạy theo mô hình Kinh tế của Nam Hàn.

Trong những năm 1990-2001, phe cấp tiến thuộc miền Nam (VVK) cầm quyền kinh tế, lấy Singapore, (và Mã Lai Á) làm kiểu mẫu. Nhưng rồi vài năm sau họ nhận ra thực lực, bản chất, nhân lực nền Singapore khác xa với VN, nên phe ta không thể theo kịp, và thôi không nói tới Singapore nữa kể từ 5 năm nay.

Từ 2003- cho đến nay, khuynh hướng của phe cấp tiến (NV Khải và NT Dũng) là chạy theo Nam Hàn. Phe cấp tiến nhận ra là cần bám víu 1 mô hình kinh tế nào đó để chống lại với phe bảo thủ. (Sở dĩ, từ 1991 đến nay, phe cấp tiến miền Nam luôn luôn là thủ tướng vì nền kinh tế của Saigon hàng năm chỉ giữ lại ngân sách thặng dư 17% để phát triển, 83% số tiền còn lại nộp để nuôi miền Bắc. Chuyện nầy thì các bác đã rõ, tui nhắc lại mà thôi)

Nhưng phe cấp tiếnquên một điểm mấu chốt quyết định cho sự thành công của Nam Hàn là quốc gia nầy có nền dân chủ khá tốt, chính quyền được tổ chức thành 3 nhánh độc lập và có quyền hạn trong lãnh vực của mỗi ngành rất rõ ràng: Lập Pháp, Hành Pháp, và Tư Pháp. Luật pháp của Nam Hàn nghiêm minh hơn VN 1000 lần; tất cả các cấp chính quyền tỉnh, quận, huyện, phường xã đều phải thông qua bầu cử và mọi người dân đều có quyền ứng cử mà không cần thông qua sự giới thiệu của các tổ chức, đảng phái chính trị. Nam hàn không phải là quốc gia độc đảng cai trị. Họ có nhiều đảng phái chính trị hoạt động độc lập với đường lối khác nhau.

Về yếu tố nhân lực, các viên chức Nam Hàn có ăn hối lộ, nhưng ít hơn các viên chức Việt Nam. Điểm nổi bật là các viên chức hành chánh đầu ngành của Nam Hàn (kinh tế, Giáo dục, Y học, tài chánh, quân sự ..) và các thuộc cấp trực tiếp của họ đều tốt nghiệp đại học ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức hoặc trong nước. Họ là các matriculated students, là các học sinh học xong lớp 12, rồi lên đại học học tiếp tục. Họ không phải là các non- matriculated student, là các người lớn học xong lớp 12 ra làm việc 5-20 năm, rồi trở lại học đại học tại chức. Bởi vậy, Đại đa số các nhân viên hành chánh cao cấp đều có lòng tự tin và có lòng tự trọng cao, họ sẵn sàng từ chức khi có lời chỉ trích đúng, hoặc tự biết mình không đủ năng lực để điều hành và làm công việc bị thất bại. Họ có tài năng chuyên môn trong lãnh vực làm việc, họ dám nhận lãnh trách nhiệm, và có khả năng ra kiếm 1 việc ngoài khu vực của nhà nước để sống.

Tất cả các điều nói trên khác hẳn với các giới chức của phe ta trongtất cả các cấp bậc hành chánh, ngành nghề, và chuyên môn. Nhưng phe ta vẫn cứ tiếp tục chạy theo và kết quả là đời sống dân chúng quá khổ.

Nền kinh tế Nam Hàn cũng từng bị khủng hoảng vào năm 1997 vì ngân hàng của họ cho mượn tiền bừa bãi cho các chaebol và dân chúng để đầu tư mua bất động sản và chứng khoáng.

Như vậy, xem ra giới chức cầm quyền VN đã không học được khuyết điểm nầy của Nam Hàn đã mắc phải vào 1990-1997, thành ra bây giờ (2008 ) lại đi đúng vào bước đường suy thoái kinh tế của Nam Hàn.

Tóm lại, nếu ngày nào VN còn có các xí nghiệp quốc doanh, chính phủ càng đổ tiền nhiều vào để cứu, thì kinh tế VN càng gặp nhiều khó khăn.

Chỉ có doanh nghiệp tư nhân mới thành công vì họ quản lý tốt điều hành hiệu quả các xí nghiệp của họ. Và chỉ có luật pháp nghiêm minh mới ngăn chặn và xử phạt được tất cả các tiêu cực trong vấn đề kinh tế, tài chánh, giáo dục, …của xã hội. Nhưng muốn có luật pháp nghiêm minh thì phải có tự do báo chí và có tự do dân chủ. Nhưng đây là những điều mà phe ta hiểu nhưng không chịu thực hiên vì quyền lợi của đảng của bè nhóm, của cá nhân.

Mối mâu thuân ấy giữa cải cách và mất quyền lợi (nói trên) càng ngày càng rõ ràng hơn. Người ta đã từng hy vọng ở mộtngười trong cải cách đổi mới để chỉ rồi thất vọng vì cái tính không triệt và cầu toàn.

Ngày nào phe ta không thừa nhận những điều nầy, thì ngày ấy đất nước càng kém phát triển, dân chúng càng khổ, các trẻ em bỏ học càng nhiều, tham nhũng càng nhiều, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn, dân chúng không được chăm sóc tốt về mặt y tế và giáo dục, và ngày ấy dân chúng VN càng nghèo khổ, và Trung Quốc rồi ra sẽ lấn ép VN nhiều hơn trong 3 năm hay 10 năm sắp đến.

Phụ lục:

1./ Dân quê hiện nay đang ăn cháo vì không có tiền mua gạo vì nuôi tôm lỗ quá trời. Đất nuôi tôm là đất ruộng, muốn nuôi tôm, nông dân thuê xáng (xe đào lỗ) vào đào đất ruộng thành hồ. Nay nuôi tôm thất bại, nông dân không có tiền mua đất và thuê xe lấp hồ nuôi tôm, nên lấy đâu ra đất để quay trở về trồng lúa. Đa số nông dân còn lại đi làm thuê cho các địa chủ có nhiều ruộng đất. Nếu muốn sống tự lực, mỗi gia đình nông dân 6 người phải làm chủ tối thiểu 3 mẫu ruộng.

2./ Chuyện lúa trúng, gạo xuất khẩu bao nhiêu năm qua và thựct tế ra sao thì qua blog của tui xem. (Mới post lên bài Nông Dân Việt Nam 2008 Giờ nầy Sống Ra Sao, tiếp vận từ đài của Osin:) Nói trước là 2 bài của Osin đã có đang trên tờ SGTT hợp pháp và đi theo lề phải 🙂

Tuesday June 24, 2008 – 08:44pm

==============================================

Báo Trung quốc viết về tình hình kinh tế Việt Nam
TTXVN (Bắc Kinh 14/6)
Báo Trung quốc viết về tình hình kinh tế Việt Nam
Trong mấy ngày qua, một số tờ báo về kinh tế-thương mại và có tính tham khảo của Trung Quốc đã ra nhiều bài, tiếp tục thông tin về tình hình khó khăn của kinh tế Việt Nam, đề cập đến diễn biến, nguyên nhân, xu hướng và ảnh hưởng của tình hình này.Tờ “Thương báo Quốc tế” ngày 11/6 có bài của phóng viên bản báo Lương Ý Nhàn (Liang Yixian) với nhan đề “Mây mù bao phủ bầu trời Việt Nam” và “Các doanh nghiệp Trung Quốc bị liên lụy”, viết: “Những ngày gần đây, một nước Việt Nam nhỏ bé ở châu Á với GDP chỉ 70 tỷ USD đã trở thành tiêu điểm chú ý của toàn thế giới. Thị trường hối đoái, thị trường cổ phiếu đều treo đèn đỏ, thậm chí có nhà kinh tế học đã dùng cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt nguồn từ Thái Lan năm 1997 để so sánh. Trong thời buổi hội nhập kinh tế toàn cầu ngày nay, là láng giềng có giao lưu kinh tế tương đối mật thiết với Việt Nam, Trung Quốc đã sớm nhận thấy “sự đập cánh” của biến động kinh tế ở quốc gia bên bờ Vịnh Hạ Long”.Bài báo viết về phản ứng của các doanh nghiệp Trung Quốc đối với tình hình kinh tế Việt Nam như sau: Hiện nay, tuyệt đại bộ phận doanh nghiệp vốn Trung Quốc đều ở trong trạng thái chờ xem tình hình đại thể, sách lược họ áp dụng là bằng mọi cách khống chế giá thành, kể cả giảm bớt nhân viên và doanh số. Một công ty Trung Quốc ở Hà Nội đã sa thải 70% nhân viên, 30% là người Trung Quốc, họ đã cơ bản về nước; 40% còn lại là người Việt Nam. Nhung các nhân viên Việt Nam cũng không có phản ứng gay gắt có tính tập thể đối với việc sa thải này, bởi vì họ cũng hiểu đây là do tình thế bắt buộc, doanh nghiệp không thể cưỡng lại được. Sa thải nhân viên cũng là việc bất đắc dĩ của doanh nghiệp.Giám đốc công ty nói: “Công ty hiện nay chỉ có thể duy trì những hạng mục kinh doanh nhỏ nhất, ví dụ cung cấp một số dịch vụ cho các khách hàng quen. Nhu cầu thị trường hiện nay chỉ bằng 30% của cùng kỳ năm ngoái, mà thị trường còn đang thu hẹp thêm. Ngoài thực phẩm và nhu yếu phẩm đời sống, người ta đều rất ít mua những thứ khác, người có tiền thì càng có xu hướng đổi lấy USD hoặc Nhân dân tệ. Trái ngược với thị trường co hẹp là giá nguyên vật liệu phi mã, doanh nghiệp nếu tiến hành kinh doanh thì rất khó kiểm soát được giá thành”.Mà cho dù có cơ hội kinh doanh thì cũng rất nhiều doanh nghiệp không muốn làm. Bởi lẽ bán hàng ra thì thu về lại là tiền đồng Việt Nam, đổi không được, doanh nghiệp cứ như nắm trong tay một mớ giấy lộn. Bởi vậy, một số doanh nghiệp vốn Trung Quốc hiện nay đang ở trong tình trạng “chẳng làm ăn gì.”Về sách lược tương lai, vị giám đốc này dự đoán cuộc “chao đảo” tài chính tiền tệ ở Việt Nam này e rằng sẽ kéo dài từ 2 đến 3 năm mới có thể dịu đi. Nếu tình hình này cứ tiếp diễn, kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu hẹp hơn nữa, nhân viên cũng sẽ giảm bớt thêm. Nếu thị trường tiêu điều lâu dài, thì chỉ có thể giữ lại rất ít nhân viên ngồi “trông coi” ở Việt Nam mà thôi.

Tuy nhiên, hiện nay khả năng các doanh nghiệp vốn Trung Quốc hoàn toàn rút vốn (khỏi Việt Nam) là tương đối nhỏ. Bởi vì trong giai đoạn Việt Nam tăng trưởng nhanh 2 năm trước, rất nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã đua nhau đến Việt Nam và đã mua nhà xưởng và thiết bị ở đây, chỉ riêng ngành dệt đã có khoảng 200 doanh nghiệp. Nhưng hiện nay giá nhà đất ở Thành phố Hồ Chí Minh đã sụt 50%, Hà Nội thì đỡ hơn, mà cũng sụt 20% doanh nghiệp rất khó rút đi toàn bộ trong tình thế này. Điều mà những doanh nghiệp vốn Trung Quốc lựa chọn lối đầu tư lâu dài cần làm trong lúc này là suy tính biện pháp ứng phó với khó khăn trước mắt.

– Tờ “Bắc Kinh Nhật Báo” ngày 14/6 có bài của phóng viên Thẩm Diễn Kỳ (Shen Yanqi) nêu ra hiện tượng ngày 13/6 thị trường chứng khoán Việt Nam đã lên điểm trở lại lần đầu tiên sau 25 ngày liên tiếp sụt điểm. Bài báo viết: Công ty Kim Sơn (một công ty vốn Trung Quốc) phân tích rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Việt Nam này, ảnh hưởng chủ yếu đối với các công ty vốn Trung Quốc là ở chỗ khó vay vốn, giá nguyên vật liệu lên cao và giá thành nhân công tăng. Chủ tịch Công ty Phần mềm Kim Sơn Cầu Bá Quân (Qui Bojun) nói: “Nghiệp vụ phần mềm của chúng tôi ở Việt Nam vừa mới bắt đầu, mọi cái đều bắt đầu từ con số không, bởi vậy mà khủng hoảng tiền tệ không gây ra ảnh hưởng thật lớn đối với chúng tôi”. Cách nghĩ của công ty Kim Sơn thường ít thấy trong các công ty Trong Quốc đầu tư ở Việt Nam. Một số chuyên gia mậu dịch cũng cho rằng đối với những công ty vốn Trung Quốc đã phát triển ở Việt Nam và có được thực lực tương đối lớn thì không cần thiết phải vội vàng “rút lui”. “Chúng ta cần phải đặc biệt chú ý đến các công ty đã tới Việt Nam đầu tư và lấy thị trường trong nước Việt Nam làm mục tiêu tiêu thụ sản phẩm, ủng hộ họ vượt qua cơn sóng gió này. Bởi vì sau khi cơn sóng gió qua đi, địa vị của những công ty còn trụ lại được ở đây sẽ được nâng lên rất mạnh, những doanh nghiệp nước ngoài lúc gian nan không vội rút đi sẽ nâng cao được rất lớn hình ảnh trong xã hội Việt Nam”. Chuyên gia Viện Nghiên cứu Kinh tế Mậu dịch Đối ngoại Bộ Thương mại Trung Quốc Mai Tân Dục (Mei Xinyu) khẳng định như vậy.

– Tờ “Báo Tham khảo Kinh tế” của Tân Hoa xã ngày 13/6 đăng bài của phóng viên bản báo Lưu Chấn Đông (Liu Zhendong) với nhan đề “Lấy láng giềng làm gương, cảnh giác tiền nóng lại tràn vào Trung Quốc”. Bài báo viết: Phần đông các nhà kinh tế học chú chốt cho rằng khả năng tình trạng “chao đảo tài chính tiền tệ” ở Việt Nam lan sang các nước xung quanh là không lớn, nhưng điều không thể phủ nhận là các nền kinh tế đang phát triển xung quanh cũng đang gặp phải tình hình tương tự ở Việt Nam, như là sức ép lạm phát lớn và có xu thế tăng lên, tiền nóng đổ vào quá nhiều, sức ép về tài sản cố định tăng lên, kiểm soát vĩ mô gặp khó khăn. Nếu những mâu thuẫn này không được xử lý có hiệu quả, thì cũng không loại trừ khả năng lớn rộng tình trạng “chao đảo tài chính tiền tệ” Việt Nam.

Về nguyên nhân tình trạng khó khăn tài chính tiền tệ ở Việt Nam, bài báo dẫn lời nhà phân tích thị trường chứng khoán Tiêu Ngạn Minh (Xiao Yanming) nói: Tình trạng này ở chừng mực rất lớn là hậu quả của chính sách kinh tế quá khích. Trước hết, trong điều kiện hệ thống ngân hàng tiền tệ không kiện toàn, dự trữ ngoại tệ ít, Việt Nam đã lại thu hút quá nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tổng lượng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hơi thấp, không bằng một nửa tổng mức nợ nước ngoài. Những chính sách gấp gáp thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho vốn nước ngoài ào ạt đổ vào Việt Nam đã gây tác động thúc đẩy lạm phát. Mà một khi vốn nước ngoài ồ ạt rút ra thì tình trạng chao đảo về tiền tệ là không thể tránh khỏi. Thứ hai là mở cửa thị trường vốn quá sớm. Sau khi gia nhập WTO năm 2006, Việt Nam đã mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thị trường vốn, tư bản nước ngoài được nắm tới 49% cổ phiếu của công ty tham gia thị trường chứng khoán. Vốn nước ngoài đã vào với khối lượng lớn đã trực tiếp đẩy cao giá tài sản của Việt Nam, và hình thành bong bóng thị trường. Sự sụt mạnh thị trường chứng khoán và thị trường nhà đất hiện nay chính là sự nổ vỡ của những bong bóng đó. Vậy nhưng, sự lan tràn của vốn trôi nổi cũng là nguyên nhân chủ yếu của sự “chao đảo tài chính tiền tệ” Việt Nam. Đầu tư của Chính phủ Việt Nam quá nhiều, các khoản vay thời kỳ trước nhiều quá mức khiến cho vốn trôi nổi tràn lan trong nước, lại cộng thêm với giá lương thực quốc tế lên cao; giá xăng dầu lên mạnh và nhập khẩu quá mức, đã tạo thành lạm phát có tính nhập khẩu, hai hiệu ứng này dồn làm một đã tạo nên tình trạng hiện nay.

Nhà kinh tế học hàng đầu của Công ty Trung Kim Trung Quốc Cáp Kế Minh (Ha Jiming) cho rằng tuy không ít người trên thế giới tỏ ra lo lắng về sự phát triển của “khủng hoảng Việt Nam”, nhưng tình hình cơ bản kinh tế châu Á vẫn ổn định, khả năng phát sinh khủng hoảng quy mô lớn tương đối thấp. Đa số nước châu Á có sổ dư tồn khoản thường xuyên lớn và dự trữ ngoại tệ lớn, có thể giảm bót ảnh hưởng của sự chạy vốn ra bên ngoài. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp qua kinh nghiệm cuộc khủng hoảng năm 1997 đã giảm mạnh mức nợ, hệ thống ngân hàng cũng lành mạnh hơn, nguy cơ khủng hoảng thứ cấp cũng không gây ảnh hưởng lớn đến các nền kinh tế mới nổi lên châu Á.. Bởi vậy, nếu có cá biệt nền kinh tế nào gặp sóng gió về tài chính tiền tệ thì năng lực chống trả của các nền kinh tế khác cũng mạnh hơn hồi năm 1997.

Cáp Kế Minh cho rằng kinh tế Trung Quốc và kinh tế Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn. Từ năm 2004 bắt đầu điều chỉnh đến nay, kinh tế Trung Quốc đã phát triển chậm hơn. Ngoài ra, do độ mở cửa nhận vốn nước ngoài không lớn, tỷ lệ vốn nước ngoài tại thị trường chứng khoán Trung Quốc không lớn, mà đã được điều chỉnh. Thị trường nhà đất cũng đang từng bước được điều chỉnh. So với năm 1997, lĩnh vực tài chính ngân hàng tiền tệ Trung Quốc đã được mở cửa hơn nhiều, điều này sẽ giảm thấp nguy cơ đối với Trung Quốc. Ví dụ, ngân hàng đã đổi cơ chế và gia nhập thị trường chứng khoán, khiến cho năng lực kiểm soát nguy cơ của ngân hàng tăng mạnh; sự cải cách về chính sách ngoại hối khiến cho tỷ giá hối đoái đồng Nhân dân tệ gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Nhà phân tích thị trường chứng khoán Trung Quốc Tào Tuyết Phong (Cao Xuefeng) cho rằng gần đây thị trường lo ngại một số nước như Thái Lan, Ấn Độ xuất hiện tình hình như Việt Nam, dự kiến sẽ hoặc đã có khối lượng lớn tiền nóng chạy từ những nước này ra, và có thể chảy vào Trung Quốc; việc dự trữ ngoại tệ Trung Quốc tăng mạnh gần đây có thể liên quan đến việc này, hướng chảy nữa là vào các nước phát triển Âu-Mỹ, vào các thị trường hàng hóa chủ yếu.

Giáo sư Đại học Tài chính-kinh tế Trung ương Trung Quốc Quách Điền Dũng (Guo Tianyong) cho rằng tuy về thực lực kinh tế và kiểm soát vĩ mô, Việt Nam không thể bì được với Trung Quốc, nên nguy cơ khủng hoảng đối với Trung Quốc nhỏ hơn nhiều, nhưng Trung Quốc cũng phải rút ra bài học từ tình hình kinh tế tài chính ở Việt Nam, phải cảnh giác về việc đồng Nhân dân tệ lên giá quá nhanh sẽ thu hút nhiều tiền nóng đổ vào Trung Quốc, công phá an ninh của hệ thống tài chính tiền tệ Trung Quốc. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cao đang gia tăng sức ép lạm phát đối với Trung Quốc, trong tình hình này cần đề phòng nguy cơ do sự lên giá quá nhanh của đồng Nhân dân tệ gây ra.

Tờ “Thương báo Quốc tế” Trung Quốc ngày 13/6 đăng bài của phóng viên Trần Tiểu Tam (Chen Xiaosan) nhan đề: “Vì sao Kinh tế Việt Nam bệnh nặng như vậy” dẫn ý kiến của Phó Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Lý luận và Chính sách tiền tệ Viện Tài chính Tiền tệ thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Dương Đào (Yang Tao) cho rằng có 4 căn nguyên dẫn đến bệnh trạng của kinh tế Việt Nam:

Nguyên nhân thứ nhất là mức độ dựa vào bên ngoài về kinh tế quá cao. Nhà hoạch định chính sách kinh tế Việt Nam tiếp thu quá mức “nhận thức chung Oasinhtơn”, dẫn đến tính dựa dẫm vào bên ngoài của kinh tế Việt Nam quá nặng. Một quan điểm cốt lõi của “nhận thức chung Oasinhtơn” là cổ vũ các nền kinh tế mới nổi lên xây dựng chiến lược phát triển loại hình hướng ra xuất khẩu, mà không cần xây dựng hệ thống kinh tế toàn diện. Lâu nay, cán cân thanh toán quốc tế mất cân bằng đã làm khó cho Việt Nam, đổi mới mở cửa năm 1986 đã một dạo làm giảm thấp thâm hụt mậu dịch của Việt Nam, nhưng từ sau năm 1993 lại tiếp tục xấu đi. Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, “nhận thức chung Oasinhtơn” bị đa số các nước mới nổi lên cự tuyệt; song lại được Việt Nam tiếp nhận ở mức độ nhất định, đã xác lập thêm một bước chiến lược kiểu hướng ra xuất khẩu. Tuy điều này khiến cho kinh tế Việt Nam phát triển rất nhanh, nhưng trong hoàn cảnh quốc tế mới hiện nay, đã lại một lần nữa diễn biến thành nhân tố bất lợi.

Do việc công nghiệp hóa trong nước Việt Nam không đủ sức cạnh tranh của doanh nghiệp tương đối yếu, những sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao rất ít, chủ yếu dựa vào xuất khẩu dầu thô, gạo, hàng thủy sản, cà phê, than. Đồng thời, việc xây dựng trong nước đòi hỏi nhiều máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, phần lớn chỉ dựa vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu. Trong quá trình này, giá trị xuất khẩu thấp hơn nhiều so với giá trị nhập khẩu, trên chừng mực nhất định đã chứng tỏ thất bại của chiến lược hướng ra xuất khẩu. Năm 2007, thâm hụt mậu dịch Việt Nam là 12,4 tỷ USD, chiếm 17% GDP, 5 tháng đầu nắm 2008 thâm hụt mậu dịch của Việt Nam đã lên tới 14,4 tỷ USD.

Nguyên nhân thứ hai là chính sách tài chính khó bền vững. Một mặt, những năm gần đây mục tiêu cải cách “chính phủ tinh gọn” của Việt Nam rõ ràng hơn, không những coi trọng sự tinh giản cơ cấu Đảng và Chính phủ, mà còn tăng tốc cải tạo chế độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, giống như Trung Quốc hồi thập kỷ 1980, sự “trao quyền nhường lợi” này đã khiến cho tỷ trọng thu nhập tài chính trong GDP giảm xuống. Mặt khác, tài chính trung ương dùng để xóa đói giảm nghèo không ngừng tăng lên, và thông qua chiến lược phát triển hàng thay thế nhập khẩu để bù đắp sự bất cập của sự hướng ra xuất khẩu, Chính phủ còn cần phải đầu tư lớn về xây dựng công cộng để tăng thêm sức hấp dẫn đối với vốn nước ngoài. Như vậy, lâu dần, tài chính Chính phủ sẽ khó kham nổi, chỉ có thể dựa vào vay nợ để đảm bảo. Năm 2007, thâm hụt tài chính Việt Nam đạt 5 tỷ USD, tổng quy mô nợ chính phủ chiếm 36,5% GDP.

Nguyên nhân thứ ba là thị trường tài chính tiền tệ hời hợt. Bước đi mở cửa tài chính tiền tệ tăng nhanh trở thành con dao hai lưỡi cho sự phát triển của Việt Nam. Từ khi gia nhập WTO đầu năm 2007, mức độ phát triển tài chính tiền tệ Việt Nam không ngừng nâng cao, ngành ngân hàng và thị trường vốn đều gấp gáp “chào mời” bên ngoài. Trên thực tế, để bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, Việt Nam luôn dựa vào tăng nhanh tự do hóa hạng mục vốn và mở cửa về tài chính ngân hàng để thu hút vốn nước ngoài. Như vậy, trong tình hình cơ sở kinh tế còn mỏng yếu, năng lực giám sát quản lý tài chính ngân hàng tiền tệ còn chưa đủ, đã làm tăng thêm những nhân tố không ổn định trong nền kinh tế.

Có một điều là như các nền kinh tế mới nổi lên khác, Việt Nam cũng một thời chìm đắm trong “ảo giác về giá cả tài sản”, thị trường cổ phiếu và thị trường nhà đất tăng vọt, dường như có nghĩa là sự ra đời của một cường quốc mới về tiền tệ và tài sản, song rút cục thì lại chỉ là một giấc mộng ảo. Điều nữa là “tiền nóng” càng dễ gây nên sóng gió, ngoài những vốn đầu cơ từ Âu-Mỹ, e rằng phần nhiều hơn là luồng vốn ngắn hạn đến từ các nước châu Á, từ đó trợ giúp cho sự xuất hiện hiện tượng hời hợt “xe qua núi” của thị trường tiền tệ Việt Nam.

Nguyên nhân thứ tư là thiếu sự hợp tác tài chính tiền tệ với bên ngoài. Việt Nam tuy luôn mưu cầu nhanh chóng hội nhập hệ thống kinh tế thế giới, nhưng lại có phần trì trệ về mặt tham gia sự hợp nhất tài chính tiền tệ khu vực, điều này có lẽ là do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 còn chưa đem lại nỗi đau thấm thía cho Việt Nam. Việt Nam tuy đã tham gia “Sáng kiến Chiengmai” năm 2000 nhưng lại chưa ký kết bất kỳ hiệp định trao đổi tiền tệ song phương nào nhằm đề phòng khủng hoảng tiền tệ, chỉ năm nay mới đạt được ý đồ hợp tác với Nhật Bản. Từ đó xem ra, điều khác biệt với các nước châu Á khác là thiếu sự hợp tác tài chính tiền tệ với bên ngoài, khiến cho Việt Nam mất đi “mạng lưới an toàn” để duy trì niềm tin thị trường, năng lực ứng phó với sự công phá của tiền tệ ngắn hạn bị thấp kém.

Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Thế giới thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc gần đây đưa ra báo cáo nghiên cứu trong đó kiến nghị rằng do Việt Nam đến nay chưa hề ký kết bất cứ hiệp định trao đổi tiền tệ song phương với nước nào, nên cần thiết phải có biện pháp đặc biệt giúp đỡ, kiến nghị 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN hiệp thương riêng rẽ sắp xếp các khoản cho vay ngắn hạn đối với Việt Nam.

Báo cáo này chỉ ra rằng cái mà Việt Nam đang gặp phải hiện nay chỉ là “khủng hoảng tiền trôi nổi” có tính tạm thời, chứ không phải “khủng hoảng vốn không trả nổi nợ” có tính lâu dài. Cộng thêm với việc đại bộ phận các nền kinh tế châu Á vẫn giữ được thặng dư mậu dịch và có dự trữ ngoại tệ dồi dào (đến tháng 4/2008 có 4.310 tỷ USD), nên cuộc khủng hoảng Việt Nam lần này chính là cơ hội tốt để thúc đẩy hợp tác tiền tệ châu Á. Theo số liệu thị trường Việt Nam cần có sự hỗ trợ cho vay từ 30 đến 50 tỷ USD, cho Việt Nam vay khoản tiền này đối với các nước Đông Nam Á khác nào “góp một thùng nước để loại trừ một cuộc hỏa hoạn tiềm tàng, vừa có lợi cho sự phồn vinh ổn định của châu Á, vừa có thê làm tăng tình đoàn kết của châu Á”.

Tờ “Thương báo Quốc tế” ngày 14/6 đăng bài của của Bình luận viên Thanh Vân (Quing Yun) với đầu đề “Khủng hoảng Việt Nam không thể xem thường”, viết: Việt Nam trong những năm gần đây quy mô chi tài chính tương đối lớn, bởi vậy, Việt Nam đã đi vào con đường của chính sách tiền tệ mở rộng. Mà căn nguyên của sự dễ đổ vỡ về tài chính của Chính phủ là ở chỗ quy mô đầu tư quá lớn, cũng là ở chỗ bù trợ không xác đáng, trong đó có sự bù trợ về giá năng lượng, nhất là bù trợ về giá dầu thành phẩm đặc biệt nổi bật, sự bù trợ này không chỉ khiến cho tài chính phải trả giá lớn, mà còn vi phạm nguyên tắc về hiệu quả kinh tế và công bằng, làm tăng nguy cơ tiềm tàng về khủng hoảng tiền tệ. Không chỉ Việt Nam, mà cả Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia cũng đều tồn tại vấn đề này, thậm chí còn nghiệm trọng hơn Việt Nam. Ấn Độ, Inđônêxia sở dĩ bị không ít người, trong đó có tác giả, đưa vào trong danh sách khủng hoảng tiềm tàng, một phần nguyên nhân chính là ở đó.

Tờ “Nhân Dân Nhật Báo – Hải ngoại” Trung Quốc ngày 14/6 có bài của phóng viên bản báo Dương Tử Nham (Yang Ziyan) nhan đề “Thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam chao đảo”, viết: “Mùa hè năm 1997, vốn trôi nổi quốc tế tiến công ồ ạt vào đồng Bạt Thái Lan, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lan rộng nhanh chóng ở châu Á. Giờ đây 11 năm sau đó, cảnh tượng tương tự ở Việt Nam hiện nay lại khiến người ta sửng sốt”.

Về nguyên nhân tình cảnh ở Việt Nam, với tiêu đề “Sai lầm về chính sách và đầu cơ quốc tế”, bài báo viết: “Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lần này, Chính phủ Việt Nam khó thoát khỏi liên lụy. Để kích thích kinh tế phát triển, Chính phủ Việt Nam ra sức thu hút lớn đầu tư nước ngoài, nhưng lại không muốn tài sản bị mất mát lớn, cho nên ra sức nâng đỡ các doanh nghiệp nhà nước làm lớn làm mạnh, đảm bảo cho họ có được các khoản vay lãi thấp, kết quả là dẫn đến chính sách cho vay tiền tệ lỏng lẻo quá mức, đầu tư quá lớn, kinh tế quá nóng khó bề kiềm chế”.

Thực ra ngay từ đầu tháng 3/2007, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã cảnh báo với Việt Nam về về nguy cơ của thị trường chứng khoán, nhưng Việt Nam đã không áp dụng biện pháp gì cả. Cuối năm ngoái, giá năng lượng và lương thực đều tăng cao, lúc đó Chính phủ Việt Nam đã muốn khống chế quy mô đầu tư, kiềm chế kinh tế quá nóng, tránh lạm phát và khủng hoảng tài chính tiền tệ, kinh tế, nhưng để giữ được “thành quả cải cách” của mình, họ đã thiếu quyết đoán về vấn đề này, bỏ lỡ cơ hội tốt, dẫn đến không kiểm soát nổi lạm phát.

Ngoài ra, những hành vi đầu cơ quốc tế cũng làm tăng cuộc khủng hoảng này. Những năm gần đây Chính phủ Việt Nam mở cửa quá nhanh tài khoản vốn nước này, trần vốn bên ngoài cho công ty tham gia thị trường chứng khoán được nâng lên tới 49%, do tích lũy vốn quốc dân Việt Nam có hạn, nên nhân tố chủ yếu thúc đẩy giá tài sản tăng lên là vốn trôi nổi đến từ bên ngoài. Dưới sức ép lạm phát ngày càng nghiêm trọng, vốn trôi nổi bên ngoài lợi dụng cục diện lạm phát đã thực hiện “chiến thuật máy rút tiền” ở thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán: Nếu Chính phủ Việt Nam bỏ mặc đồng tiền Việt Nam mất giá, thì tiền nóng quốc tế có thể có được lợi nhuận trên thị trường ngoại hối. Nếu Chính phủ Việt Nam giữ vững chính sách tỷ giá hối đoái và lãi suất, thì lạm phát sẽ tiêu hao lớn doanh lợi doanh nghiệp, thì rút cổ phiếu cũng có thể kiếm lời.

Có một số người cho rằng Việt Nam sẽ sa vào vết xe đổ của cuộc khủng hoảng đồng Bạt Thái Lan năm 1997. Nhưng cũng có người có quan điểm ngược lại, cho rằng do mức độ mở cửa của Việt Nam còn tương đối thấp, cho nên sự mất giá của đồng tiền Việt Nam không phải do sự rút vốn khối lượng lớn dẫn đến, mà là do lạm phát, mọi người đều đem đồng tiền Việt Nam đi đổi lấy USD hoặc những đồng tiền khác để giữ lấy giá trị, tất nhiên sẽ gây ra sự mất giá lớn của đồng tiền nước này. Cho nên vấn đề chủ yếu của Việt Nam là lạm phát, chứ không phải khủng hoảng tài chính tiền tệ.

Người sáng lập Quỹ Lượng tử (Quantum Funds), nhà thương nghiệp lớn Soros cho rằng hầu như có rất ít người Việt Nam đầu tư ở bên ngoài, cho nên thị trường chứng khoán Việt Nam ảnh hưởng đến bên ngoài rất ít. Ngoài ra, cũng có nhà phân tích cho rằng các nước châu Á sau khi trải qua cuộc khủng hoảng năm 1997 đã tăng cường năng lực phòng ngừa khủng hoảng. Mà đa số nước và khu vực đều có số dư tài khoản thông thường lớn và dự trữ ngoại tệ phong phú, hệ thống ngân hàng cũng từng bước được hoàn thiện, có thể giảm thấp ảnh hưởng của sự chảy máu tư bản. Cho dù Việt Nam thúc sự xuất hiện khủng hoảng, các nước châu Á khác cũng có thể ứng phó được với ảnh hưởng của nó.

– Tờ “Tin điện Tân Hoa hàng ngày” của Tân Hoa xã, và tờ “Tin tức Tham khảo” cũng của Tân Hoa xã ngày 14/6 đã đăng bài của phóng viên Tân Hoa xã tại Hà Nội Hoàng Hải Mẫn (Huang Haimin) trong đó nhận xét dân chúng Việt Nam vẫn tương đối bình tĩnh trước tình hình khó khăn hiện nay, “thị trường hiện vẫn phồn vinh, hàng hóa cung ứng đầy đủ, vẫn chưa thấy làn sóng tranh mua hàng hóa nào; người dân địa phương phổ biến cho rằng lạm phát gây cho họ nhiều khó khăn bất lợi, song khó khăn này chỉ là tạm thời. Bài báo đã nêu ra 12 biện pháp của Chính phủ Việt Nam nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm dân sinh và tăng trưởng bền vững; dẫn lơi Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận định rằng khả năng xảy ra khùng hoảng tiền tệ ở Việt Nam hết sức nhỏ bé, và phê phán dư luận bên ngoài chỉ nhìn vào hiện tượng bề mặt để đưa ra những nhận định sai về kinh tế Việt Nam./.


Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn Xã Việt Nam ngày 19/6/2008.


source: http://www.viet-studies.info/kinhte/TinBao_TrungQuoc.htm

Tags: baóchinaviếtvềkinhtế việtnam Monday June 30, 2008 – 07:39pm (PDT) Permanent Link | 2 Comments
Microsoft: Thành công và thất bại Trung Quốc Và Olympic
30 Tháng 6 2008 – Cập nhật 08h15 GMTMark Ward
Phóng viên công nghệ, BBC News

Microsoft: Thành công và thất bại

Cuối cùng Bill Gates cũng rời bỏ cương vị người điều hành Microsoft để theo đuổi các hoạt động từ thiện, xin điểm lại những điểm được và chưa được của công ty mà tỷ phú này sáng lập.

THẤT BẠI

Không còn thư rác

Đầu năm 2004, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, ông Gates dự đoán rằng vấn đề spam, hay thư rác, sẽ được giải quyết trong vòng hai năm.

Một loạt các sáng kiến kỹ thuật, biện pháp tài chính và bộ lọc sẽ khiến làm nhụt chí bất kỳ ai có ý định gửi thư rác.

Bốn năm sau, rõ ràng tình hình không như những gì ông Gates phán đoán. Thậm chí tình trạng gửi thư rác dường như còn tệ hơn trước.

Hiện giờ thư rác, tính cả spam và các loại thư báo lỗi, chiếm tới hơn 80% lưu lượng email trên toàn cầu.

Trong khi các cải tiến kỹ thuật giúp giảm thiểu các loại thư rác lọt vào inbox, hàng tỷ email không được người dùng mong chờ này vẫn được gửi đi hàng ngày, và các spammer vẫn sống khỏe.

Internet

Sự tăng trưởng và thành công của mạng internet đã khiến nhiều người, ngay cả Bill Gates, ngạc nhiên.

Năm 1995, ông Gates đồng chấp bút một cuốn sách có tự đề ‘Con đường phía trước’, trong đó không đề cập nhiều tới quan tâm ngày càng lớn đối với mạng internet cũng như tầm ảnh hưởng của nó.

Tới các lần tái bản sau của cuốn sách, những phần bị bỏ sót đã được viết thêm, nhưng rõ ràng Microsoft là kẻ đến sau trong cuộc bùng nổ các công ty dotcom.

Cuối năm 1995, tiếp sau biên bản ghi nhớ nổi tiếng có tựa đề “Làn sóng thần ở bên trong”, ông Gates đã tái cơ cấu Microsoft để lấy mạng internet làm trung tâm điểm trong mọi hoạt động của công ty này.

Cho dù có bước chuyển mạnh mẽ, khi nói đến các dịch vụ trực tuyến, Microsoft vẫn luôn bị coi là kẻ đến sau.

Google, công ty mà các sáng lập viên gặp nhau khi còn ngồi ghế đại học năm 1995, đã khiến Microsoft chật vật theo đuổi.

An ninh của hệ điều hành

Hồi tháng 1/2002, Bill Gates công bố một trong những bản ghi nhớ thường kỳ của mình, trong đó nhấn mạnh tới các ưu tiên của Microsoft trong tương lai.

Bản ghi nhớ có tựa đề “Dịch vụ máy tính đáng tin cậy” tuyên bố sẽ đặt vấn đề an ninh và sự toàn vẹn dữ liệu của khách hàng lên hàng đầu trong mọi hoạt động của Microsoft.

Về chính sách nội bộ, điều đó cũng đồng nghĩa với việc các nhân viên lập trình phải tham gia các khóa đào tạo tăng cường và các sản phẩm Windows được cập nhật thương xuyên nhằm thực hiện cam kết này.

Windows Vista được coi là là thành tựu mới nhất của sự thay đổi chiến lược đó, với nhiều cải tiến kỹ thuật nhằm ngăn chặn tối đa tội phạm công nghệ cao.

Bất chấp nỗ lực của Microsoft, tội phạm công nghệ cao vẫn nở rộ, và hoạt động của họ hướng vào các máy tính cá nhân sử dụng hệ điều hành Windows.

Các công ty chuyên về phòng chống virus thông báo có hơn một triệu phần mềm độc hại đang tồn tại, và máy tính cá nhân chạy hệ điều hành Windows luôn nằm trong tầm ngắm của tội phạm công nghệ.

Hoạt động sáng tạo

Người ta vẫn thường huyễn hoặc về chuyện Microsoft là trung tâm sáng tạo, thường xuyên công bố các sản phẩm ảnh hưởng trên thế giới.

Thực tế Microsoft là nơi đại chúng hóa các ý tưởng, nhưng rất ít trong số đó xuất phát từ đại bản doanh của Microsoft hay tại các cơ sở nghiên cứu mà công ty này lập trên khắp thế giới.

Mọi sáng kiến mà nhờ đó Microsoft thành công, như giao diện đồ họa người dùng, chuột máy tính, bảng tính spreadsheet, mạng web và công cụ trình duyệt web, đều xuất phát từ những nơi khác.

Hiện giờ công ty này vẫn thường xuyên phải trả các khoản tiền lớn để tận dụng sáng tạo của các công ty khác như Hotmail, vốn có các chuyên gia ở những lĩnh vực mà Microsoft còn thiếu.

Dẫu có ngân khoản nghiên cứu lên tới hàng tỷ đôla mỗi năm, Microsoft cũng hiếm khi tung ra các sản phẩm mới khiến cả thế giới phải choáng ngợp.

Không chịu chia sẻ thông tin

Rõ ràng có một sự khác biệt quan điểm sâu sắc giữa Microsoft, tức Bill Gates, và cộng đồng chia sẻ thông tin trên mạng internet.

Quan điểm kinh doanh của Microsoft được khẳng định năm 1976 khi ông Gates gửi một bức thư tới câu lạc bộ máy tính huyền thoại có tên Homebrew ở San Francisco, trong đó ông phản bác việc sử dụng bừa bãi phần mềm ‘Basic for the Altair’ của Microsoft.

Nhiều người tham gia Homebrew hồi đó tiếp tục trở thành những người sáng lập và phát triển mạng internet với tinh thần chia sẻ thông tin và năng lực vì mục tiêu tốt đẹp hơn.

Ngược lại, Microsoft lại bảo vệ gắt gao các sản phẩm của mình.

Việc ngần ngại chia sẻ đó thoạt tiên đã mang lại lợi ích cho Microsoft, nhưng cũng chính nó sau này đã ngăn cản sự phát triển của công ty vì nay thế giới hi-tech chính là ở trên mạng internet.

Tệ hơn, việc tập trung chính sách làm việc xưa cũ đã gây trở ngại cho Microsoft có những bước phát triển dài hơi, đặc biệt là cách thức tiếp thị và xây dựng phần mềm cho phù hợp với thời đại internet.

THÀNH CÔNG

Rời Harvard

Bill Gates nhập học tại Harvard năm 1973 lúc 18 tuổi, nhưng chưa hoàn thành bậc đại học.

Những khám phá sớm về điện toán và sự xuất hiện của vi mạch điện tử báo hiệu sự bùng nổ máy tính cá nhân đã khiến Gates quyết định bỏ học và thành lập công ty phần mềm.

Có thể nói rằng quyết định đó đã mang lại thành công cho Gates.

Microsoft được thành lập từ năm 1975, và sự thành công của công ty để lại nhiều dấu ấn trong thế giới công nghệ cao suốt thời kỳ tỷ phú Gates điều hành.

Xét về mặt tài chính, Bill Gates cũng đã thành công, khi liên tục được vinh danh là người đàn ông giàu nhất thế giới hàng chục năm liền.

Năm 2007, ông được trao học vị danh dự của đại học Havard. Khi nhận bằng, ông nói vui: “Năm sau tôi sẽ đổi việc. Thật vui vì cuối cùng tôi cũng có chút học vị trong sơ yếu lý lịch của mình”.

Thỏa thuận với IBM

Phần lớn thời kỳ đầu làm ăn phát đạt của Microsoft gắn liền với sự thành công của máy tính cá nhân IBM.

Năm 1981, Microsoft ký một thỏa thuận độc quyền với IBM, nhằm lắp đặt hệ điều hành DOS trên mỗi máy tính mới.

Khi các nhà sản xuất máy tính cá nhân lũ lượt ra đời, Microsoft đã nhanh chóng bán hệ điều hành của mìnnh cho họ, và khẳng định thế thượng phong trên thị trường.

Chính bởi vì phần lớn các nhà sản xuất PC đều phải cài hệ điều hành vào sản phẩm của mình, cho nên mỗi khi một chiếc máy tính cá nhân được tiêu thụ, cũng là lúc Microsoft kiếm tiền.

Hệ điều hành Microsoft giờ không còn làm bá vương như ngày xưa, vì nhiều nhà sản xuất máy tính cá nhân nay gài các hệ điều hành giản lược khác, nhưng thỏa thuận đầu tiên của Microsoft đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho công ty trong một thời gian dài.

XBOX và XBOX LIVE

Khi Xbox của Microsoft ra đời, có nhiều người hoài nghi sản phẩm này, cho rằng nó sẽ không có chỗ đứng trên thị trường game.

Khi sản phẩm game này ra mắt, PlayStation của Sony chiếm ưu thế và dường như khó mà đánh bại.

Nhưng có một phẩm chất dẫn tới thành công của Microsoft đó là sự bền bỉ.

Cùng với nó là một trữ lượng tiền khổng lồ nhằm theo đuổi cuộc đua tranh giành thị phần game.

Và kết quả là sự ra đời của Xbox 360 – trò chơi đầu tiên của thế hệ mới và cũng là máy chơi game trên mạng hàng đầu.

Một trong các bước tiến tiếp theo trong chiến lược của mình, là sự ra mắt của Halo 3, mà theo Microsoft đã lập kỷ lục đối với một sản phẩm giải trí.

Với Xbox 360 được phát triển thành một trung tâm dịch vụ đa phương tiện với hàng triệu người thường xuyên chơi trên mạng, Microsoft đã chủ động trong cuộc đua mà các công ty khác, đặc biệt là Sony, phải chạy theo.

Máy tính cho mỗi hộ gia đình

Cụm từ này đã trở thành tuyên ngôn của Microsoft kể từ khi công ty được thành lập giữa những năm 70.

Trong khi hãng IBM tụ hợp các công ty phần cứng để đưa ra máy tính cá nhân, người sử dụng máy dường như lại chỉ nhớ tới Microsoft vì hệ điều hành của công ty này đã trở thành phần dễ nhận biết nhất của các máy tính.

Không thể phủ nhận rằng Microsoft có công trong việc thúc đẩy việc sử dụng máy tính.

Ngày nay, khoảng 90% số máy tính cá nhân chạy hệ điều hành Windows – một chỉ dấu rõ ràng cho thành công của Microsoft.

————————

Note: Microsoft hôm qua cho biết đã ngưng sản xuất Window XP.

========================================

Posted in Yahoo 360 | 4 Comments »