Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Năm 2014
    C H B T N S B
    « Th4   Th6 »
     123
    45678910
    11121314151617
    18192021222324
    25262728293031
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Năm 3rd, 2014

►Đề nghị dừng hẳn “Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa” để không tốn tiền bạc, thời gian… một cách vô ích

Posted by hoangtran204 trên 03/05/2014

Triết lý giáo dục của đảng là làm sao cho dân ngu dốt để đảng dễ cai trị. 

Đề nghị dừng hẳn “Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa” của Bộ Giáo dục

3-5-2014

Nguyễn Hữu Quý

Vừa rồi, Thứ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo, ông Nguyễn Vinh Hiển, thay mặt Bộ, lần thứ hai trình dự thảo nghị quyết về “đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông” trước UB Thường vụ QH. Qua buổi trình dự thảo này, công luận được biết, để thực hiện đề án, thì: “Về kinh phí, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT cho biết để xây dựng chương trình và sách giáo khoa, dạy thử nghiệm và đại trà… sẽ cần 34.275 tỷ đồng. “Đó là chưa kể tiền xây dựng cơ sở vật chất ở những trường chưa đủ điều kiện trong 1-2 năm như nói ở trên”.

Đó là một đoạn nội dung trong bài đăng trên báo vietnamnet.vn, hôm 14.4.2014, có tựa đề “Bộ Giáo dục xin 34 nghìn tỷ đổi mới chương trình”.(*)

Đánh giá về đề án này, báo Vietnamnet, cho biết các nhận xét của các ông trong UB thường vụ QH:

“… Các thành viên UB Thường vụ QH vẫn thấy dự thảo do Bộ Giáo dục trình thiếu cụ thể, thiếu định hướng, mới chỉ “chép lại nghị quyết Trung ương”.

Chủ tịch HĐ Dân tộc Ksor Phước thấy báo cáo chưa đánh giá tác động một cách đầy đủ: “Từ lần đầu QH ra Nghị quyết về đổi mới giáo dục năm 2000, 14 năm qua ta vẫn tranh cãi, thế thì trong 10 năm tới ta sẽ thay đổi toàn diện như thế nào?”

Chủ nhiệm UB Pháp luật Phan Trung Lý cũng không hài lòng: Đề án nhắc nhiều đến việc “tích hợp” mà không thấy đưa vào những tư duy mới trong Hiến pháp, tham khảo kinh nghiệm làm chương trình và sách giáo khoa tiến bộ của thế giới, cứ ta tự viết của ta.

“Từ năm 2000 đến giờ ta cứ loay hoay đổi mới mãi”, ông Lý nói. “Để tương xứng với gần 2 tỷ USD (hơn 34 nghìn tỷ đồng) thì phải làm cẩn thận, đầy đủ hơn, lấy ý kiến giới khoa học, chuyên gia thậm chí toàn dân”.

Riêng với người viết bài này, thì đề nghị dừng hẳn, không “cố đấm ăn xôi” với ngành Giáo dục đã quá nhiều bết bát, mục nát… nữa! Việc cải cách, có lẽ chỉ có thể thực hiện trong một hoàn cảnh khác sau này, nghĩa là không còn phụ thuộc kiểu “chép lại nghị quyết Trung ương”.

1. Nền giáo dục XHCN là sự thảm bại, thua xa nền giáo dục của Pháp và của Việt Nam cộng hòa.

Bằng quan sát thực tế, có lẽ nhiều người đồng ý với tôi rằng, những người sinh từ năm 1945 trở về sau (sinh ở miền Bắc), được học trong một nền giáo dục gọi là, “nền giáo XHCN”, những người này, tuổi đời nay cũng sắp 70, nhìn chung, không phải là tất cả, nhưng cũng là phần lớn, họ đã thua xa thế hệ trước đó được đào tạo dưới thời thuộc Pháp. Xin lấy hai 2 trường hợp làm ví dụ:

– Nhà văn Nguyên Ngọc (ông sinh năm 1932), qua Bách khoa toàn thư mở Wikipedia nói về nhà văn, “Năm 1950, khi đang học trung học chuyên khoa (nay là trung học phổ thông), ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam”; mặc dù việc học của Nhà văn Nguyên Ngọc bị dở dang, nhưng ngoài những tác phẩm nổi tiếng để lại cho đời, thì “Ông đã dịch một số tác phẩm lý luận văn học như Độ không của lối viết (Rolland Barthes), Nghệ thuật tiểu thuyết (Milan Kundera), tác phẩm của Jean-Paul SartreJacques Dournes…”.

Đoạn trích dẫn trên về nhà văn Nguyên Ngọc cho thấy, dưới chế độ Thực dân Pháp, việc đào tạo ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục thuộc địa của người Pháp đổi với người Việt là rất hiệu quả; một người đang học dở trung học phổ thông mà đã dịch những tác phẩm như vậy quả là phải được đào tạo rất bài bản, dẫu chỉ đang ở cấp “trung học phổ thông”.

– Người thứ hai là Nhạc sĩ Tô Hải, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nói về nhạc sĩ không nhiều, ông sinh năm 1927 tại Hà Nội, ông là người được thiên phú về âm nhạc, và theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ông có 13 ca khúc và 7 hợp xướng. Nhưng mọi người nhớ đến ông với tư cách là một Blogger già nhất hiện nay và viết khỏe, sâu sắc, minh mẫn…; đặc biệt, qua các bài viết của nhạc sĩ, thì được biết, cũng như Nguyên Ngọc, Nhạc sĩ Tô Hải rất giỏi về ngoại ngữ, mặc dù không thấy nói ông học đại học ở đâu, mặc dù vậy, ông có thể nghe Radio phát bằng tiếng Pháp, tiếng Anh từ ngày ông còn trẻ, và đến bây giờ vẫn vậy. Rõ ràng, ông cũng là sản phẩm tuyệt vời của nền đào tạo Pháp. [ Nhạc sĩ Tô Hải còn là dịch giả của hơn chục đầu sách, trong đó có các tác phẩm của những nhà văn lớn như Victor Hugo, Peter Adam…]

Với nền giáo dục của Việt Nam cộng hòa (VNCH) thì sao?

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, giới thiệu, “Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa lànhân bảndân tộc, và khai phóng”; Nền giáo dục VNCH đào tạo ra những con người có duy độc lập, không chịu nô lệ về tư tưởng.

Theo đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia): “Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.“.

Những điều trên cho thấy: Nền giáo dục Pháp và VNCH, tạo cho con người nền tảng cơ bản, rồi từ đó tự học suốt đời để làm phong phú kiến thức và bắt nhịp với cuộc sống.

Ngược lại, những người được đào tạo “dưới mái trường XHCN”, không có mấy ai có tư duy độc lập. Đặc biệt gần như là 100% không có ai nói được một ngoại ngữ nào, nếu không đi học đại học ở nước ngoài (đang nói thế hệ sinh từ 1945 về sau). Thậm chí, cho dù có người học ngoại ngữ (tiếng Nga, tiếng Trung) ngay từ lớp 6, sang đến cấp 3, và tiếp là 4 năm học đại học ngoại ngữ, cũng không thể nói được tiếng mà đã bỏ ra cả hơn 10 năm để học.

Với tất cả thực trạng của nền Giáo dục Việt Nam trong mấy chục năm qua, mà mọi người đã thấy, trải nghiệm…; thì không ngoa để nói rằng, nền giáo dục XHCN đã thật sự thảm bại.

Bằng cấp trong hệ thống giáo dục của Việt Nam đi ra nước ngoài không được công nhận, đó là một sự sỉ nhục đối với người Việt. Chính phủ Việt Nam có nhiều học vị tiến sĩ nhất thế giới, nhưng kinh tế và xã hội Việt Nam thì tỷ lệ nghịch với học vị của các quan chức Chính phủ.

 

Các Bộ trưởng, thành viên nội các Chính phủ Việt Nam có bằng tiến sĩ 

Nguồn: http://freely.vn/freely-choice/viet-nam-dinh-cao-tri-tue-2543.html

Thực tế cũng cho thấy, có rất nhiều người học tập và thành danh ở nước ngoài, khi trở về Việt Nam, họ được bố trí ở cương vị lãnh đạo, đầu ngành…; và theo thời gian, hệ thống chính trị Việt Nam đã biến họ thành con người khác; với những thói: tha hóa, cơ hội, ganh ghét…, cuối cùng là bỏ hẳn chuyên môn và sống bon chen với đồng nghiệp, không thiếu kẻ làm hại cho đất nước ở tầm vĩ mô…

Chính vì vậy, chúng ta không thể thay đổi được nền giáo dục Việt Nam, dựa trên một cái nền giáo dục đã thảm bại như thế. Tất cả những ai đang là công chức làm trong ngành Giáo dục Việt Nam hiện nay, đều là sản phẩm như đã nói trên; vì vậy, không đủ các điều kiện cần thiết… để thực hiện một sự nghiệp cải cách giáo dục theo hướng “nhân bảndân tộc, và khai phóng, như triết lý giáo dục của VNCH trước đây.

2. Đề nghị dừng hẳn để không tốn tiền bạc, thời gian… một cách vô ích.

Trở lại với bài viết trên báo vietnamnet.vn; xin được nhắc lại lời ông Chủ nhiệm UB Pháp luật của Quốc hội: “Từ năm 2000 đến giờ ta cứ loay hoay đổi mới mãi”, ông Lý nói. “Để tương xứng với gần 2 tỷ USD (hơn 34 nghìn tỷ đồng) thì phải làm cẩn thận, đầy đủ hơn, lấy ý kiến giới khoa học, chuyên gia thậm chí toàn dân”.

Với một chương trình, mà 14 năm nay vẫn đang còn “Loay hoay đổi mới”, trong khi để thực hiện lại cần đến vài tỷ USD, liệu nếu tiếp tục có mang lại kết quả? Rõ ràng, ngoài các ý kiến trên từ các vị trong UB thường vụ QH đã nêu, thì những người quan tâm đến nền giáo dục nước nhà, xét thấy dự án trên là không ổn, không khả thi, và nên loại bỏ.

Nếu ai đó có đặt lại câu hỏi: Vậy thì làm gi với nền giáo dục đang xuống cấp hiện nay? Không có lẽ lại bỏ…?

Xin thưa, 70 năm nay nó đã sai rồi, thì thôi, ráng một thời gian ngắn nữa. Và có lẽ nền giáo dục Việt Nam cũng không còn chỗ để xuống hơn được nữa, vì đã chạm đáy rồi.

Chỉ khi mà nền giáo dục không còn bị “định hướng” của bất cứ cá nhân, đảng phái nào, thì lúc ấy mới nên đưa ra bàn trước toàn dân, và chắc chắn sẽ thành công.

(*) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/170368/bo-giao-duc-xin-34-nghin-ty-doi-moi-chuong-trinh.html

N.H.Q

 

Bài liên quan

“Nhưng để chắc ăn, tôi vội tìm trong NQ29 viết gì, thì thấy văn bản dài khoảng 9 trang với nhiều mục chẳng có gì là triết lí cả. Cũng như các văn bản khác của Nhà nước (và đảng), toàn là những ngôn từ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Tuy nhiên, có một câu có vẻ có liên quan đến “triết lí giáo dục”, đó là câu: “Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

—————————————————

TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA VNCH

Gõ lại từ cuốn Sư phạm thực hành do Trần Văn Quế, giáo sư trường Quốc gia Sư phạm biên soạn, in lần thứ nhất năm 1964 do Bộ Văn hóa Giáo dục VNCH xuất bản.

———-
NGUYÊN TẮC CẢI TỔ CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
(rút trong Chương trình tiểu học ban hành ngày 16/7/1959)

I. Nguyên tắc của nền giáo dục Việt Nam

1. Nền giáo dục VN phải là một nền giáo dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy, nhằm phát triển toàn diện con người.
2.Nền giáo dục VN phải là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống mật thiết liên quan với những cảnh huống sinh hoạt như gia đình, nghề nghiệp, đất nước, và bảo đảm hữu hiệu cho sự sinh tồn, phát triển của quốc gia dân tộc.
3. Nền giáo dục VN phải có tính cách khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ và xã hội, thâu thái tinh hoa của nền văn hóa thế giới.

II. Đặc tính của nền tiểu học VN

Căn cứ vào 3 nguyên tắc căn bản của nền giáo dục VN đã được ấn định, nền tiểu học VN cần có những đặc tính sau đây:

A. Tôn trọng nhân cách trẻ em
1. Giúp trẻ phát triển điều hòa và trọn vẹn tùy theo bản chất cá nhân và căn cứ trên định luật nảy nở tự nhiên về thể xác cũng như về tâm lý.
2. Tôn trọng cá tính và sở năng riêng biệt của trẻ.
3. Triệt để áp dụng kỷ luật tự giác.
4. Tránh mọi hình phạt phạm đến nhân vị của trẻ.

B. Phát triển tinh thần quốc gia dân tộc
1. Lấy đời sống nhân dân và thực trạng xã hội VN làm đối tượng.
2. Lấy quốc sử để rèn luyện tinh thần ái quốc, nêu cao ý chí tranh đấu của dân tộc, gây tình thân ái và đoàn kết.
3. Dùng quốc văn làm lợi khí sắc bén để trau giồi tư tưởng quốc gia.
4. Nêu cao vẻ đẹp của non sông VN, những tài nguyên phong phú của đất nước, những đức tính cố hữu của dân tộc.
5. Duy trì đạo lý cổ truyền và những thuần phong mỹ tục của dân tộc.
6. Gây đức tính tự tín, tự lập, tự cường.

C. Rèn luyên tinh thần dân chủ và khoa học
1. Triệt để áp dụng tổ chức “hàng đội tự trị”, phát triển tinh thần tập thể (chơi tập thể, làm việc tập thể) và gây ý thức cộng đồng.
2. Rèn luyện óc phê phán, tinh thần trách nhiệm, tinh thần kỷ luật.
3. Kích thích tính hiếu kỳ của trẻ, phát triển tinh thần khoa học.
4. Bài trừ dị đoan, mê tín.
5. Thâu thái tinh hoa văn hóa nước ngoài song song với việc phát huy tinh thần dân tộc.

(hết phần II; còn tiếp)

Nguồn Vũ Thị Phương Anh

 

———————–

Từ Hà Nội, phóng viên Mạnh Kim có bài như sau:

 

Miền Nam trước khi “được giải phóng” ra sao?

29/04/2014

image

Miền Nam trước 1975 như thế nào? Thử xem lại những gì được miêu tả trong quyển “Khi đồng minh tháo chạy” của ông Nguyễn Tiến Hưng, tiến sĩ kinh tế, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, hiện là giáo sư tại Đại học Howard (Washington DC).
…….

Năm 1973, tỷ lệ biết đọc, biết viết là 70% rất cao so với các nước Á Châu láng giềng hồi đó. Trước năm 1954, miền Nam không có Đại Học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Tới 1973, Đại Học Sài Gòn đã đứng vào hàng quốc tế. Vài thí dụ: Bác Sĩ xuất thân từ Đại Học Y Khoa đủ sức phục vụ cho đoàn quân 1,2 triệu mà không cần đến Bác Sĩ nước ngoài. Sau này họ di tản sang Mỹ, chỉ cần một hai năm đào tạo lại và học thêm tiếng Anh là hành nghề được ngay. Luật Gia tốt nghiệp từ khuôn viên “cây dài bóng mát, con đường Duy Tân’’ đã làm việc cho các hãng Mỹ ngay ở Sài Gòn, và được thán phục. Khi họ đi du học thì thấy luật pháp Mỹ quá rõ ràng, học lại còn dễ nữa. Ngoài Đại Học Sài Gòn còn sáu Đại Học khác: Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Hòa Hảo, Cao Đài, Cần Thơ… Năm 1973, tổng số sinh viên đại học lên tới 98.832 so với chỉ vỏn vẹn có 2.900 vào năm 1955. Số học sinh trung học trong cùng năm ấy là trên một triệu so với 43.000 và học sinh tiểu học, trên ba triệu so với 401.000. Ngoài ra còn các trường cộng đồng, trường huấn nghiệp, các chương trình công nghệ mọc lên như nấm…

Ở Miền Nam, mười năm chiến tranh đã giúp có biết bao nhiêu tay nghề: Xây dựng, máy móc, lắp ráp, sửa chữa, truyền tin, kiến trúc sư. Đội ngũ thợ xây dựng Đà Nẵng được các nhà thầu ngoại quốc khen ngợi. Khối Công Binh tiếp nhận được ngành nghề cao về xây cất đường xá, cầu cống, nhà cửa. Rồi đoàn phi công bay trực thăng, máy bay vận tải, khu trục cơ, phản lực F5, ra chiến trường thì can đảm, đến khi lái máy bay dân sự có chiêu đãi viên lo cà phê, cơm nước thì lại càng vi vút hơn…

Ngoài những phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng, Cần Thơ có thể tiếp nhận phản lực đủ loại còn có những phi trường nhỏ ở Đà Lạt, Huế, Kontum, Phú Quốc. Pleiku, Rạnh Giá, và Qui Nhơn. Cộng thêm vào là khoảng 100 sân bay tý hon, rải rác khắp nơi, rất tiện cho việc liên lạc giữa các địa phương. Về vận chuyển đường thủy thì miền Nam có tới 4.780 cây số sông, rạch (3.000 dặm Anh)…. Hải cảng lớn gồm Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá…. Còn đường xá, các nước hậu tiến trông thấy đường xá miền Nam mà thèm. Tất cả có tới 21.000 cây số đường (khoảng 13.000 dặm), trong đó gần 9.500 cây số đường nhựa, đi được quanh năm. Cầu các loại to, nhỏ bắc qua sông tới gần 4.000 cây rất nhiều cầu đã bị hư hỏng, nhưng sửa chữa lại thì cũng nhanh. Tính ra cũng có tới gần 170.000 xe tải và trên 51.000 xe hành khách lưu thông trên hệ thống đó… Vì tài nguyên và con người như vậy, nên Miền Nam thực sự đã có triển vọng phát triển một nền kinh tế phồn thịnh, hết bị lệ thuộc… Trên con đường tiến tới tự túc tự cường, có hai của quý Trời phú: Túi dầu nằm ở thềm lục địa và Vịnh Cam Ranh…

Hai mươi năm sau khi Nhật rút khỏi Cam Ranh, Quân Đội Mỹ vào xây cất lên một công trình vĩ đại. Với diện tích 260 cây số vuông (100 square miles), bán đảo này giống như hình một cái chai, có chiều dài 12 cây số và chiều ngang bảy cây số ở điểm rộng nhất. Một hệ thống tiếp liệu rất lớn gồm các kho nhiên liệu, kho đạn, xưởng đại tu xe tăng, nhà máy điện, khu nhà ở, giải trí được xây cất. Thêm vào là Phi Cảng Quân Sự thật lớn. Sân bay có hai đường băng 3.200 mét, phi cơ loại nào đáp xuống cũng được. Hệ thống đường bộ chằng chịt, giao thông rất thuận tiện. Là một bán đảo, hai bên là biển mà lại có hồ chứa nước ngọt lớn, với trữ lượng thường xuyên hàng trăm ngàn mét khối… Ngoài hồ, còn một số giếng nước do Quân Đội Mỹ đào, tụ lại thành 10 điểm cung cấp nước ngọt cho 15.000 lính. Hải Cảng Cam Ranh Cảng này là một trong ba cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới, đứng sau Sydney (Úc) và hơn Rio de Janeiro (Brazil). Ngoài bốn bến tầu (trong chín bến lúc đầu) còn tốt, còn có nhiều cầu tầu có thể bỏ neo bốc rỡ hàng hóa, và 14 phao nổi được cột xuống chắc chắn. Khi Mỹ trao lại cho Việt Nam Cộng Hòa vào tháng Sáu thì bán đảo Cam Ranh là một của quý. Đã có sẵn một hải cảng lớn, vừa gần biển, vừa cách biển, lại có một hạ tầng cơ sở nằm sát bên để phát triển kỹ nghệ, du lịch, thủy hải sản, đóng tầu, sửa tàu, vận tải thương thuyền hàng hải. Cam Ranh còn có hệ thống ra đa tối tân, hệ thống thông tin liên lạc qua Thái Lan và Phillippines bằng giây cáp ngầm xuyên biển, hết sức hấp dẫn với các nhà đầu tư quốc tế…

Nhiều nhà kinh tế đã đồng ý rằng Miền Nam hội đủ điều kiện cần thiết để tiến tới chỗ thoát khỏi tình trạng hậu tiến, cũng giống như Đài Loan, Nam Hàn. Và việc phát triển sẽ mất ít thời gian hơn là các quốc gia kia, một phần vì đã có sẵn những xây cất hạ tầng tương đối đầy đủ… Quan sát tại chỗ, Đại Sứ Martin đã phát biểu cho ký giả tuần báo U. S. News and World Report: “Đôi khi ta thấy trong cùng một quốc gia có sự phối hợp giữa tài nguyên phong phú, một hệ thống hành chính có quyết tâm với những chính sách kinh tế hợp lý một dân tộc thông minh, khéo léo, và hết sức dẻo dai, với một khả năng cố gắng bền vững, một quyết lâm mãnh liệt và tha thiết bảo tồn tự do của mình. Khi có một kết hợp như vậy, như hiện đang có ở Miền Nam Việt Nam, thì chỉ cần một nguồn tài chính từ ngoài vào làm vai trò tác động, để nối kết tất cả những yếu tố này lại với nhau thì có thể có những kết quả thật là xuất sắc’’.

Mạnh Kim

 

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »