Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chinh Tri Nga’ Category

►Cuối năm nhìn ông Trump và ngẫm chuyện Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 01/01/2017

Cuối năm nhìn ông Trump và ngẫm chuyện Việt Nam

Bùi Quang Vơm

28-12-2016

Nhìn toàn cảnh thế giới trước những chính sách có triển vọng trở thành sự thật sau ngày 20/01/2017, ngày chính thức nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ của Donald TRUMP, nhiều câu hỏi đặt ra cho đảng cộng sản và chính phủ Việt Nam, cho cá nhân ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Xuân Phúc.

Có thể thấy trọng tâm trong các chính sách toàn cầu của TRUMP tập trung vào hai đối tượng chính là Nga và Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Hoa Ky, Chinh Tri Nga, Chinh Tri Viet Nam | 1 Comment »

► Mỹ lên tiếng đòi lại tàu ngầm sau khi bị Trung Quốc bắt giữ gần Vịnh Subic, Philippines

Posted by hoangtran204 on 17/12/2016

TQ muốn thử xem Donald Trump sẽ phản ứng ra sao bằng cách bắt giữ tàu ngầm không người lái của Mỹ. TQ làm vụ này cũng nhằm trả đũa vụ Trump nhận điện thoại chúc mừng đắc cử của TT Đài Loan.

Mỹ lên tiếng sau khi bị Trung Quốc bắt giữ tàu ngầm ở Biển Đông

Hành động này của Trung Quốc, khiến Mỹ chính thức phản đối qua đường ngoại giao và yêu cầu quân đội Trung Quốc trao trả con tàu ngầm.

“Tàu ngầm hải quân” trên được dùng để kiểm tra độ mặn và nhiệt độ nhằm xây dựng các bản đồ dòng hải lưu dưới nước, theo quan chức Mỹ giấu tên.

Con tàu ngầm bị Trung Quốc bắt giữ khi đang hoạt động trong vùng biển quốc tế, cách Vịnh Subic khoảng 80 km.

Vụ việc xảy ra vào ngày 15.12, khi tàu khảo sát hải dương học USNS Bowditch thả tàu ngầm không người lái trên xuống nước để thực hiện hoạt động nghiên cứu.

Vị trí vụ bắt giữ

Khi hoạt động nghiên cứu thực hiện xong, hai con tàu ngầm không người lái nổi lên mặt biển để chờ được vớt về tàu mẹ. Tuy nhiên, một trong hai tàu ngầm này bị hải quân Trung Quốc vớt trước khi tàu USNS Bowditch tới.

“Người Mỹ đã gửi một thông điệp tới đối tác Trung Quốc, yêu cầu trả lại ngay lập tức tàu ngầm không người lái nhưng không được trả lời. Điều này không phải là bất thường với tàu Trung Quốc thường bám đuôi, theo dõi tàu Mỹ. Hiện chúng tôi sẽ thông qua các kênh ngoại giao để lấy tàu ngầm không người lái về”, nguồn tin cho biết.

Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế khi tuyên bố gần như toàn bộ diện tích Biển Đông, tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới. Vụ bắt giữ tàu này diễn ra giữa lúc căng thẳng trên Biển Đông tăng cao khi Trung Quốc đang xây hàng loạt căn cứ quân sự phi pháp trên Biển Đông.

Thiên Hà (theo Aljazeera)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Cuộc phỏng vấn sau cùng mà Thủ Tướng Do Thái Shimon Peres đã dành cho David Samuels: nói về Putin

Posted by hoangtran204 on 14/10/2016

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Nga | Leave a Comment »

►Chính sách hợp tác xã nông nghiệp và nạn đói dưới thời Stalin và Mao Trạch Đông

Posted by hoangtran204 on 12/08/2016

Hợp tác xã nông nghiệp là chính sách của đảng cộng sản, tịch thu ruộng đất của nông dân để thành lập nông trại lớn, và đẩy nông dân vào làm trong hợp tác xã nông nghiệp. Người nông dân được chia sản phẩm đủ ăn, còn hợp tác xã lấy hết phần còn lại (để nộp cho huyện, huyện chuyển lên tỉnh, và giao cho trung ương) sau khi chia lúa gạo cho nông dân và gia đình theo chế độ khẩu phần, 13-15 kg/ 1 người/ một tháng. Tất cả nông dân trở thành người làm thuê cho đảng (đểu).

Sau khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, từ 1953-1956, nhà nước  (giả vờ) chia ruộng đất vừa mới tịch thu của nông dân giàu (hay địa chủ) chia cho các nông dân VN nghèo. Nhưng sau khi cho họ làm ruộng được 3 năm, thì nhà nước phát động phong trào thi đua vào hợp tác xã, lấy đất lại, và bắt buộc tất cả nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp kể từ 1959. Vậy là quyền làm chủ đất đai lọt vào tay đảng CSVN (đểu). Nhưng bọn chúng tìm cách lừa đảo người dân bằng cách các thuật ngữ: đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Hầu hết, mọi người sẽ nghĩ là: ôi, cộng sản tốt quá, đất đai thuộc về toàn dân, mọi người đều sẽ có đất đai, để làm ruộng, để xây nhà… nên người dân từ trí thức như luật sư, kỹ sư, thầy giáo, nông dân nghèo, học sinh… đều muốn đi theo “bác Hồ”.  Về sau, khi chiếm được miền Bắc 1954, chúng mới giải thích rõ ràng như sau: sở hữu toàn dân tức là sở hữu tập thể, tức thuộc sở hữu nhà nước, và đất đai là do đảng quản lý! Cán bộ cao cấp của đảng cộng sản VN được cấp hơn 600 biệt thự do Pháp để lại, và các biệt thự của những gia đình di cư vào miền Nam năm 1954 trốn tránh cộng sản. Những cán bộ nhỏ, công chức, nhà văn theo đảng, nhà báo, thầy cô giáo với gia đinh được ở tập thể, họ chia nhau 4-5 gia đình ở chung 1 nhà; rất là chật chội.

Dân chúng miền Bắc VN bị đói triền miên kể từ khi có hợp tác xã nông nghiệp 1960 cho đến 1987. Kiểm soát lúa gạo là kiểm soát được người dân.

Ông HCM và Lê Duẩn biết rõ miền Bắc không thể tự túc lương thực, và cũng không đủ khả năng để xây dựng nền công nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp vì theo tiểu sử, ông Hồ chưa học xong lớp 7, và Lê Duẩn chỉ học tới lớp 4. Họ chiếm được miền Bắc nhờ Trung Cộng và Liên Xô giúp đỡ, nên phải nghe lệnh Liên Xô và Trung Cộng gây chiến tranh giải phóng miền Nam đổi lấy cái ăn. Cả hai ông xin TQ và Liên Xô viện trợ vũ khí và chính thức phát động chiến tranh giải phóng miền năm 1960 để có cái ăn do hai nước đàn anh cung cấp, và cả hai dự định rằng sau khi cướp được miền Nam, thì các hợp tác xã ở miền Nam sẽ cung cấp lúa gạo nuôi miền Bắc, và không còn lo đói nữa.

Nhưng sau khi cộng sản chiếm được miền nam 1975, người nông dân miền Nam không chịu vào hợp tác xã, ở nhiều vùng, họ giao đất đai cho chính quyền xã muốn làm gì thì làm. Thế là cả nước đói từ 1975-1987 cho đến khi Lê Duẩn chết. Vì lo sợ nông dân đang đói sẽ nổi loạn, nên đảng CSVN không còn nhắc nhở gì đến hợp tác xã nông nghiệp, và nông dân tự do làm ruộng, nạn đói ở VN biến mất kể từ sau 1990.

Sau khi Lê Duẩn chết 7/1986, bọn cộng sản cao cấp ở Hà Nội và các tỉnh thành phố đã nhanh tay chiếm làm của riêng tất cả đất đai đắc địa trong các thành phố, các tỉnh, và vùng bờ biển, chiếm rừng cao su, chiếm các đất hoang chưa có ai làm chủ… Vì trong tay có quá nhiều đất đai và nhà cửa, chúng muốn hợp pháp hóa tài sản của chúng nên đặt ra việc cấp sổ đỏ vào năm 1993. Nhà đất phải có sổ đỏ để xác nhận mình là chủ nhà hay chủ đất. (Trần Hoàng ghi chú)

Hợp tác hóa và nạn đói dưới thời Stalin

Nghiên cứu Quốc tế

Biên dịch: Ngô Việt

Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

16-11-2010

Bài báo

Bài báo viết về 6 triệu người chết trong nạn đói ở Liên Xô. Ảnh: Project Syndicate

 

 

 

 

 

Nông dân của hợp tác xã nông nghiệp đang làm việc trên nông trường (Trần Hoàng chú thích) – Ảnh nepalitimes.com

Tám mươi năm trước, vào mùa thu năm 1930, Joseph Stalin đã áp đặt một chính sách làm thay đổi tiến trình lịch sử và đã gây nên cái chết của hàng chục triệu người trong nhiều thập niên và ở khắp thế giới.

Trong chiến dịch “Hợp tác hóa” nông nghiệp đại quy mô và đầy bạo lực, Stalin đã đặt quyền kiểm soát nền nông nghiệp Liên Xô vào tay nhà nước.

Stalin theo đuổi chính sách hợp tác hóa nông nghiệp mặc cho những đợt chống đối quy mô lớn sau nỗ lực áp dụng chính sách lần đầu tiên của nhà chức trách Liên Xô vào mùa xuân trước đó (1929). Giới lãnh đạo Liên Xô đã dựa vào việc bắn giết và trục xuất tới các trại gulag (lao động khổ sai) nhằm ngăn chặn những sự chống đối. Nhưng người dân Liên Xô vẫn chống cự với số lượng lớn; những người du mục Kazakh trốn qua Trung Quốc, còn những người nông dân Ukraine thì trốn qua Ba Lan.

Vào mùa thu, những vụ bắn giết và trục xuất vẫn tiếp diễn, cùng với những cưỡng bức về kinh tế. Nông dân bị đánh thuế cho đến khi họ tham gia hợp tác xã, và các nông trường hợp tác được quyền tịch thu hạt giống của các nông dân làm ăn cá thể, được dùng để trồng cho mùa vụ năm tới.

Khi nền nông nghiệp Liên Xô đã hoàn toàn bị hợp tác hóa thì nạn đói cũng bắt đầu. Bằng cách tước đoạt ruộng đất của nông dân và biến họ trên thực tế trở thành nhân viên nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp cho phép Moskva quản lý cả con người lẫn những sản phẩm của họ.

Nhưng sự kiểm soát không phải là sự sản suất ra vật chất. Nó chứng tỏ sự bất khả thi trong việc biến những người du mục Trung Á thành những người nông dân làm việc hiệu quả chỉ trong thời gian một mùa vụ. Bắt đầu từ năm 1930, khoảng 1,3 triệu người ở Kazakhstan đã chết đói khi lượng thu hoạch ít ỏi của họ bị trưng thu theo lệnh của trung ương.

Ở Ukraine, mất mùa vào năm 1931. Có nhiều lý do dẫn đến mất mùa: thời tiết xấu, côn trùng gây hại, những thiếu hụt về sức kéo cày của động vật sau khi những người nông dân giết hết gia súc để tránh bị mất vào tay hợp tác xã, thiếu máy cày, những đợt bắn giết và trục xuất những nông dân giỏi nhất, và những gián đoạn về gieo hạt và thu hoạch bởi quá trình hợp tác hóa nông nghiệp.

“Làm sao mà người ta trông cậy vào chúng ta để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,” một người nông dân Ukraine hỏi, “khi mà tất cả chúng ta đều bị  đói?”

Bây giờ chúng ta biết, sau 20 năm tìm hiểu các tài liệu của Liên Xô, rằng vào năm 1932 Stalin đã cố tình chuyển đổi (đổ thừa nguyên nhân) nạn đói do vào hợp tác xã ở Ukrane là do động cơ chính trị. Stalin đọc diễn văn nói rằng sự mất mùa là dấu hiệu phản kháng của người Ukraine, và đòi hỏi phải cứng rắn chứ không được nhân nhượng.

Khi nạn đói bắt đầu lan rộng vào mùa hè năm đó, Stalin giải thích một cách rõ ràng hơn, rằng nạn đói là do phá hoại, các nhà hoạt động cộng sản địa phương là những kẻ phá hoại, được bảo vệ bởi giới chức cấp cao hơn ở khu vực, và tất cả đều ăn tiền của những điệp viên nước ngoài. Vào mùa thu năm 1932, điện Kremlin ra một loạt những nghị định với hậu quả đảm bảo khiến nhiều người chết. Một trong những nghị định trên là cắt đứt toàn bộ hàng tiếp tế cho những cộng đồng không đạt được mức thu hoạch ngũ cốc tối thiểu.

Cùng lúc đó, những người cộng sản chiếm đoạt tất cả những thực phẩm họ có thể tìm được, “đến từng hạt lúa nhỏ bé cuối cùng,” và vào đầu năm 1933 biên giới Ukraine bị đóng lại, để ngăn cản những người đang dần chết đói tìm kiếm sự trợ giúp. Những nông dân chết dần chết mòn phải thu hoạch vụ xuân dưới họng súng của các tháp canh.

Hơn 5 triệu người chết đói hoặc chết vì những căn bệnh có liên quan đến đói khát ở Liên Xô vào đầu thập niên 1930, trong đó 3,3 triệu người chết ở Ukraine, và trong con số đó 3 triệu người có thể đã sống sót nếu Stalin đơn thuần chỉ tạm ngưng thu mua và xuất khẩu trong vài tháng và cho phép người dân được tiếp cận các nguồn cung cấp lúa mì.

Những sự kiện này vẫn là trọng tâm của chính trị Đông Âu cho đến ngày hôm nay. Mỗi tháng 11, người Ukraine tưởng niệm những nạn nhân của năm 1933. Nhưng Viktor Yanukovych, tổng thống đương nhiệm (vào thời điểm của bài viết – ND), không công nhận sự thống khổ đặc biệt của người Ukraine, như một cách đồng ý theo quan điểm lịch sử của Nga, vốn tìm cách để làm lu mờ những tác hại cụ thể của chính sách hợp tác xã nông nghiệp thành một thảm kịch mơ hồ đến mức không có nạn nhân và những thủ phạm rõ rệt.

Rafal Lemkin, luật sư người Ba Lan gốc Do Thái, người đã lập nên khái niệm “genocide” (diệt chủng) và nghĩ ra thuật ngữ này, sẽ phản đối điều đó: ông gọi nạn đói ở Ukraine là một ví dụ điển hình về diệt chủng dưới ở Liên Xô. Như Lemkin nhận định, khủng bố diễn ra sau nạn đói: những người sống sót qua nạn đói và trại cải tạo trở thành những nạn nhân tiếp theo của Stalin. Cuộc đại thanh trừng vào thời kỳ 1937-1938 bắt đầu bằng một chiến dịch bắn giết nhắm phần lớn vào nông dân, cướp đi mạng sống của 386.798 người khắp Liên Xô, đa số nạn nhân ở Ukraine.

Hợp tác xã nông nghiệp có tác động lâu dài. Khi Đức Quốc xã xâm lược phía Tây Liên Xô, người Đức giữ nguyên những nông trường hợp tác xã, vì họ coi nó như là một công cụ cho phép họ điều động thực phẩm Ukraine cho những mục đích riêng của họ, và bỏ đói những ai mà họ muốn.

Sau khi Mao khởi động cuộc cách mạng năm 1949, những người cộng sản Trung Quốc bắt chước kiểu mẫu phát triển hợp tác xã theo kiểu Stalin. Sự kiện này làm cho 30 triệu người Trung Quốc đã chết đói trong giai đoạn 1958-1961, trong một nạn đói rất giống như ở Liên Xô. Hợp tác xã nông nghiệp kiểu Mao cũng được thi hành bằng những chiến dịch bắn giết trên quy mô lớn.

Thậm chí bây giờ, hợp tác xã nông nghiệp là nền tảng của bạo quyền ở Triều Tiên, nơi mà hàng trăm ngàn người chết đói vào thập niên 1990.

Và ở Belarus, nền độc tài duy nhất còn sót lại ở châu Âu, hợp tác xã nông nghiệp không bao giờ chấm dứt, và một cựu giám đốc hợp tác xã nông nghiệp, Aleksandr Lukashenko, đang đứng đầu đất nước.

Lukashenko đang tranh cử tổng thống tiếp tục nhiệm kỳ lần thứ tư vào tháng 12/2010. Bằng cách kiểm soát đất đai, ông ta cũng kiểm soát phiếu bầu. Tám mươi năm sau phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, thế giới của Stalin hiện nay vẫn còn tồn tại với  chúng ta.

Timothy Snyder là giáo sư lịch sử tại Đại học Yale. Cuốn sách mới nhất của ông là Bloodlands: Europe Between Hitler and Stalin.

Nguồn: Timothy Snyder, “Stalin, our contemporary”, Project Syndicate, 16/11/2010

Các bạn có thể xem bài báo “Stalin, Our Contemporary” ở đây, nepalitimes.com 

_______

Phim 8 tâp

_______

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc, Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►25-12-1991 là ngày cuối cùng của chế độ cộng sản ở Liên Xô

Posted by hoangtran204 on 27/12/2015

Cộng sản Liên Xô đã sụp đổ vào đúng ngày Chúa Giáng sinh *(25.12.1991). Và đây là một đoạn trong diễn văn của TBT cuối cùng – Mikhail Gorbachev cho ngày hoàn toàn sụp đổ:
“Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

Lê Tân's photo.

Posted in Chinh Tri Nga | Leave a Comment »

►25-12-1991, ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô

Posted by hoangtran204 on 22/12/2015

..

8“Merry Christmas !” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hệ thống ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel phản đối  “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải”. Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker chứ nhỉ?”

 

Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah”.

 

Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỉ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Cứu Thế giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor Óclery mà người viết tham khảo.

 

Tối ngày 24-12-1991

 

Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Mỹ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.

 

Sáng sớm ngày 25-12-1991

 

Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZiL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo  sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để  phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.  

 

Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên không biết và cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ bảy từ Lenin và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.

 

Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.

 

9 giờ sáng ngày 25-12-1991

 

Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev  cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tỉnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.

 

10 giờ sáng ngày 25-12-1991

 

Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng v.v. từ nay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.

 

Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại Giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vả đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Mỹ.

 

Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.

 

12 giờ trưa ngày 25-12-1991

 

Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Mỹ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.

 

Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.

 

4 giờ chiều ngày 25 -12-1991

 

Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Sô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.

 

Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Mỹ George H. W. Bush. Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara !” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga”.  Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Mỹ mời Gorbachev viếng thăm Mỹ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.

 

Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính.

 

Trong lúc nhắp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

 

7 giờ tối ngày 25 -12-1991

 

“Kính thưa toàn thể nhân dân”, giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát,  ông lấy lại bình tỉnh và đọc tiếp “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

 

Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần”. Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa “Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp”.

 

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đông ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là (1) những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, (2) sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và (3) các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.

 

Mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS

 

Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố Mỹ. 

 

Bên ngoài hùng mạnh nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rửa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v.. đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.

 

Sự chuyển hóa tri thức xã hội

 

Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vở. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể ngào ngăn chận được.

 

Khi nhận thức con người được mở rộng sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.

 

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội.  Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chận sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến tình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xoi mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.

 

Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương

 

Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Mỹ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác.  Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Mỹ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.

 

Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Sô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong liên bang Sô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây thay vì theo Nga.

 

Không có con đường nào khác dành cho các lãnh đạo CS

 

Chế độ CS, một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận trong diễn văn từ chức “hệ thống toàn trị đã ngăn chận một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam. Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CSVN chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.

Trần Trung Đạo

Posted in Chinh Tri Nga | Leave a Comment »

►Syria, một vị trí chiến lược quan trọng, là nơi đang diễn ra tranh chấp giữa các cường quốc

Posted by hoangtran204 on 06/12/2015

Việt Nam, trong các thập niên 1950s-1970s, là nơi tranh chấp giữa Liên Xô, Trung Cộng và các nước chống lại cộng sản do Mỹ lãnh đạo; Châu âu không tham gia vào cuộc chiến ở Việt Nam vì họ không có quyền lợi gì ở Việt Nam để tham gia vào cuộc tranh chấp; trái lại, nhiều nước âu châu còn ủng hộ Việt Cộng.
 
Chiến tranh ở Syria là do tranh chấp nguồn năng lượng giữa các nước, và địa chính trị.  Liên quan tới Syria, hiện nay có Mỹ, Pháp, Đức,…cùng một phe, và họ ủng hộ các nhóm nổi dậy để quyết lật đổ TT al-Assad. Trong khi đó, Nga hổ trợ TT al-Assad của Syria, và Nga tấn công tiêu diệt nhóm quân nổi dậy chống TT al-Assad. Trung Cộng chọn đứng ngoài tranh chấp vì đang mua dầu ở Iraq, đang gặp khủng hoảng tài chánh, tranh giành quyền lực nội bộ, và đang xâm chiếm các hải đảo vùng Biển Đông
 
Tại sao có sự tranh chấp ở Syria? Các siêu cường không ngừng tranh châp nhau. Mỹ muốn đóng quân ở Vịnh Cam Ranh trong thập niên 1950s-1970s (và kể cả hiện nay) để ngăn chận làn sóng cộng sản đang muốn chiếm cả Đông Nam Á, và yểm trợ  Nhật, Nam Hàn, Đài Loan để bao vây Trung Cộng và Liên Xô. Hiện nay, trong thập niên 2010s, Nga muốn hiện diện ở Syria để ra biển và tránh thế bị bao vây tứ bề do vị trí địa lý và đặc biệt là bảo vệ đường ống dẫn khí đốt chạy qua Syria mà Nga đã tài trợ và bán khí đốt cho cả Châu Âu. (xem hình cuối bài).
 
Mỹ muốn bảo vệ đường ống dẫn ga cũng chạy qua Syria và tới các nước Châu Âu. Đường ống dẫn khí đốt này do Mỹ tài trợ. Các nước châu âu tham gia vào cuộc tranh chấp vì muốn nguồn năng lượng không bị gián đoạn.
 
Nhóm khủng bố ISIS (trong khoảng 4 năm qua) đã  chiếm một phần Syria và Iraq, chiếm các mỏ dầu và bán qua Thổ Nhĩ Kỳ với giá $15-25 một thùng.
 
Các doanh nghiệp Thổ và phe phái thân chính quyền Thổ được lợi về tài chánh trong tình hình hiện nay.
Vì các lý do nói trên mà Mỹ dồn hết thời gian và sự chú ý ở khu vực Trung Đông. Mỹ lo sợ Nga vì nước này là một cường quốc về hạt nhân và hàng năm Nga xuất khẩu bán vũ khí ra các nước khác tương đương với số tiền bán vũ khí mà Mỹ đang bán ra, khoảng 450 tỷ.
 
 

 

 

 

 

 

 


Nguồn hình

 

Nỗi bẽ bàng bị động của Người hùng Putin 

Bùi Tín

VOA Tiếng Việt

1-12-2015

Trên báo Pháp Le Monde hồi đó (ngày 26/8/2015) đã có lời bình rằng Hoa Kỳ và phương Tây bị thua một ván cờ, bị động lúng túng đối phó khi nước cờ cao của Putin đã làm thay đổi cục diện, xáo trộn các lá bài trên mặt trận Syria. Lực lượng quân sự Nga được phô trương tại hải cảng quân sự Latakia nước sâu và căn cứ quân sự Hmeymim gần đó, với lực lượng không quân và hải quân hiện đại, như nhiều phi đoàn Su-24, tên lửa phòng không và tuần dương hạm Moskva. Nước Nga đã trở lại Trung Đông với thế mạnh của một cường quốc.

Thế của Tổng thống Syria al- Assad đang thua to, bỗng nhiên được Putin ứng cứu bằng hàng trăm cuộc oanh kích và hàng trăm tên lửa phóng đi từ biển Caspian tập trung đánh vào các lực lượng nổi dậy chống al-Assad, chỉ một tỷ lệ rất nhỏ nhắm vào các mục tiêu của IS (Nhà nước Hồi giáo) đang bị liên minh các nước phương Tây cùng các nước Ả-rập tấn công.

Nhược điểm của ông Putin là đã đến quá muộn, khi al-Assad – bạn đồng minh hiếm hoi – đã bị mất nhiều vùng đất rộng lớn, bị mất hết uy thế do gây nên nhiều vụ tàn sát dân thường. Ông Putin cũng đã chậm chân vì IS đã chiếm được một vùng lãnh thổ rất rộng – 1/3 diện tích Syria và 1/4 diện tích Iraq – thực hiện chính sách giết người man rợ, chuyên chặt đầu tù binh và con tin, trở thành kẻ thù chính của toàn thế giới.

Nước cờ đã tưởng là cao tay của ông Putin hóa ra là nước cờ quá thấp, trái khoáy. Cho đến khi máy bay hàng không dân dụng của Nga bị IS đặt bom làm chết hơn 200 thường dân Nga, ông Putin mới tỉnh ra đôi chút, buộc phải coi IS thực sự là kẻ thù của mình để tập trung các cuộc không kích vào nhóm cuồng chiến man rợ này, nhưng ông Putin không chịu buông bỏ al-Assad, vẫn chơi trò 2 mang, tỏ ra thiếu viễn kiến, thiếu sự bén nhạy của một sỹ quan tình báo lão luyện. Ông còn tiếp đón al-Assad tại Moscow một cách rất thân tình. Sau khi chuyển sang tập trung đánh vào IS, ông Putin vẫn còn tiếc rẻ, tiếp tục đi theo lối mòn cũ, giả dối cam kết với Hoa Kỳ và Liên Âu sẽ tập trung không kích mạnh hơn các cơ sở của IS, nhưng vẫn dành một tỷ lệ cao các cuộc oanh kích đánh phá các nhóm nổi dậy chống al-Assad, trong đó có các nhóm người gốc Thổ ở phía Tây Bắc Syria, sát biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ.

Và tai nạn không bất ngờ đã xảy ra. Theo loan báo của Thổ Nhĩ Kỳ, một máy bay Sukhoi Su-24 của Nga bay vào không phận Thổ Nhĩ Kỳ và đã bị máy bay F-16 của Thổ bắn hạ. Ông Putin lên án Thổ Nhĩ Kỳ, nói rằng chiếc Su-24 không hề vi phạm không phận Thổ, và tố cáo Thổ cố tình «đâm sau lưng» Nga. Ông Putin rất cay khi Tổng thống Barack Obama khẳng định Thổ Nhĩ Kỳ có quyền chính đáng bảo vệ không phận quốc gia, đồng thời kêu gọi 2 bên tránh leo thang đối đầu. Liên Âu cũng có lập trường tương tự. Mối liên lạc quân sự Nga – Thổ Nhĩ Kỳ bị cắt đứt, nhưng 2 bên đều thấy không thể căng thẳng thêm.

Ông Putin thêm bẽ bàng vì 1 trong 2 phi công từ chiếc Su-24 nhảy dù ra bị thiệt mạng. Hai trực thăng Mi-8 của Nga đến cấp cứu thì một bị bắn rơi, 1 người lái trúng đạn, gây ra một tổn thất kép cho phía Nga trong vụ này. Phía nổi dậy người Syria và Thổ Nhĩ Kỳ nói thẳng ra rằng nếu như ông Putin giữ lời hứa tập trung không kích IS là kẻ thù chung, từ bỏ chủ trương đánh phá các nhóm người Syria và người Thổ Nhĩ Kỳ, xem họ là đồng minh cùng chống al- Assad, thì đã không thể xảy ra những chuyện đáng tiếc như vậy.

Họ đã nói trúng tim đen của người hùng Putin, vì ông vẫn còn giữ ảo vọng duy trì al-Assad bằng mọi giá, vì là bạn hiếm, cánh hẩu mua nhiều vũ khí Nga và còn để Nga sử dụng lâu dài những căn cứ hải quân nước sâu và căn cứ quân sự ở Latakia – là những căn cứ quý hiếm ở Trung Đông. Chính do những tính toán như trên mà ông Putin ở trong tình trạng bất an, và hay bị bất ngờ.

Sau các cuộc khủng bố lớn của nhóm IS ở Paris ngày 13/11, chúng còn dọa sẽ gây sự ngay ở Nga và ở các nước Hồi giáo láng giềng của Nga ; đã có vài trăm người ở các nuớc này sang Syria để được nhồi sọ tôn giáo và huấn luyện khủng bố, ông Putin buộc phải tỏ quyết tâm tham gia mạnh mẽ hành động nhằm tiêu diệt IS – kẻ thù nguy hiểm nhất của nhân loại. Ông khẳng định lập trường này trong cuộc gặp Tổng thống Pháp Francois Hollande ở Moscow ngày 26/11 vừa qua, tuyên bố Nga sẽ đẩy mạnh các cuộc không kích, nhận sự phân công chung là không quân và tên lửa Nga sẽ đánh mạnh hơn vào các mỏ dầu và nhất là các đoàn xe quân sự, xe bồn to chở dầu của bọn IS, giáng mạnh vào nền kinh tế tài chính của chúng, đồng thời thỏa thuận sẽ cùng nhau trao đổi thông tin quân sự và tình báo rộng rãi, kịp thời giữa các nước tham gia trận chiến diệt IS.

Đó là con đường duy nhất để khôi phục uy tín của nước Nga, hòa nhập với thế giới hiện đại. Thực tế đã mở mắt thêm cho người hùng Putin về tình hình thực tiễn ở Trung Đông.

Tìm cách khôi phục tư thế cường quốc hàng đầu bằng những tính toán riêng tư thiển cận theo chủ nghĩa Đại Nga chỉ là lặp lại những ảo tưởng lạc lõng của các Nga hoàng xa xưa và của các hoàng đế CS Stalin và Lenin trước đây.

Lời hứa trên đây của ông Putin còn phải được chứng minh ngay trong hành động trong những ngày sắp tới ở Trung Đông.

* Blog của nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Tác giả: 

Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

 

 

 

 4-12-2013 by JB. Nguyen Huu Vinh

 —-/

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Chinh Tri Nga, Thời Sự | Leave a Comment »

►Quan Hệ Nga Trung có Thực sự Hữu Hảo?

Posted by hoangtran204 on 30/05/2014

Các bạn nhớ đọc 2 bài sau đây của tiến sĩ chính trị học Aaron I. Friedberg, Tạp chí Đối Ngoại, Số tháng 1 và 2 năm 2009, khi TT Obama vừa mới đắc cử, và chuẩn bị tuyên thệ nhậm chức ngày 20-1-2009, nhiệm kỳ 2008-2012. (chú ý, tờ báo này thường phát hành trước 1 tháng so với ngày trên tạp chí). Những gì mà TT Obama thực hiện với TQ và Châu Á từ đó cho đến nay là đi đúng theo kế hoạch của Friedberg. 

Châu Á Đứng Dậy « Trần Hoàng Blog (phần I)

Châu Á Đứng Dậy – Chiến Lược Của Mỹ (Phần II)

Bài dưới đây là về quan hệ Nga Trung.

 

Quan Hệ Nga Trung có Thực sự Hữu Hảo?

29-5-2014

procontra.asia

Trần Hoàng

Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong tháng này, người ta thấy Nga và Trung Quốc có vẻ ngày càng thân thiện hơn, gần gũi hơn. Quan hệ song phương giữa hai nước được chính phủ hai nước này đánh giá là “tốt đẹp chưa từng có”. Quả thật, hai quốc gia lớn này đã không ngừng tăng cường cộng tác trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, an ninh, ngoại giao, quân sự, năng lượng v..v. Trong lúc hải quân hai nước đang có một cuộc tập trận chung trên Biển Hoa Đông những ngày này thì Tổng thống Nga Vladimir Putin có chuyến đi thăm chính thức Trung Quốc nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ tư về phối hợp hành động và các biện pháp củng cố lòng tin ở châu Á (CICA). Hai bên đã dành cho nhau những lời lẽ đặc biệt tốt đẹp, ông Putin nhận xét về Trung Quốc là “người bạn tin cậy của Nga” và thêm rằng hai quốc gia đã đạt tới một giai đoạn mới trong quan hệ song phương và quân sự. Còn ông Tập Cận Bình, người đã tới Moskva trong chuyến đi công du nước ngoài đầu tiên của mình từ khi trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào tháng Ba năm ngoái thì hứa hẹn một hợp tác chiến lược với Nga.

Tuy nhiên, có những nhìn nhận cho thấy thực chất “tình bạn tin cậy” giữa hai cường quốc này không được tốt đẹp, hữu hảo như những biểu hiện bề ngoài. Có một số căng thẳng đáng nói trong mối quan hệ giữa họ.

Trong cuốn Theo dõi an ninh toàn cầu – Trung Quốc (Global Security Watch – China) xuất bản vào tháng 7 năm 2013, một cuốn sách trong bộ Theo dõi an ninh toàn cầu của Nhà xuất bản Praeger, tác giả Richard Weitz đã đặt chú trọng vào việc xem xét các chính sách ngoại giao và quốc phòng có tính nguyên tắc của Trung Quốc.

Nhiều thí dụ được nêu ra trong cuốn sách này khiến cho độc giả phải suy nghĩ về bản chất mối quan hệ Nga-Trung: đó là một liên minh chiến thuật hay cộng tác chiến lược?

Nêu ra ở đây một thí dụ khá điển hình: Ai cũng biết là trong nhiều thập kỷ, Nga đã sẵn lòng bán cho Trung Quốc nhiều hệ thống vũ khí trọn bộ, bao gồm các tàu chiến, tên lửa phòng không tối tân… Nhưng Trung Quốc đã không chỉ còn là người mua công nghệ quân sự mà đang dần dần xâm nhập vào thị trường cung cấp vũ khí hiện đại. Ở Trung Cận Đông, Trung Quốc đã có cạnh tranh trực tiếp với Nga, tìm cách bán vũ khí tối tân cho các nước trong khu vực này. Khi Mỹ và Israel tìm cách phong tỏa Nga trước một hợp đồng tên lửa đất đối không S-300 béo bở với Iran, và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký sắc lệnh ngừng bán mặt hàng này cho Iran tháng 9 năm 2010, Trung Quốc đã nhảy vào cuộc, mời bán cho Iran một phiên bản riêng S-300 của nước này nhưng không thành công. Có nhiều những thí dụ tương tự như vậy. 

Ông Weitz nhắc lại cho người đọc rằng về mặt lịch sử, quan hệ Nga-Trung được đặc trưng bởi những cuộc chiến tranh đẫm máu, các cuộc xâm lấn đế chế và lên án, tố cáo lẫn nhau. Nghi ngờ sâu sắc tiếp tục hiện hình trong thời Xô-viết, đặc biệt là trong thời kỳ Nikita Khrushchev nắm quyền lực ở Nga. Cuộc chia tay Nga-Trung vào năm 1961 được tiếp nối bởi cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước năm 1969. Ngay cả tới những năm 70 và 80 thế kỷ trước, quan hệ giữa hai quốc gia cộng sản cũng không được mấy tốt đẹp.

Tuy nhiên, thời thế thay đổi, cũng tương tự như những bất đối xứng quyền lực. Từ năm 2001, khi Nga và Trung Quốc ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Cộng tác, quan hệ song phương tiến triển và nâng cấp thành cái mà ông Weitz gọi là “tạm ước hài hòa”. Cho tới năm 2008, Trung Quốc và Nga đã cùng vạch định những đoạn cuối cùng trên đường biên giới chung dài nhất thế giới 4300 km của họ.

Điểm tương đồng cơ bản giữa Nga và Trung Quốc là ở chỗ chính sách ngoại giao của họ có chung vấn đề trung tâm: làm thế nào với vai trò bá chủ đơn phương của Mỹ. Vì thế nội dung then chốt trong chính sách đối ngoại của cả hai nước này là mong muốn, tìm cách xây một thế giới đa cực. Chính điều này là yếu tố quyết định, nếu không muốn nói là duy nhất, khiến hai quốc gia này tăng cường cộng tác với nhau trong những năm qua. Nga và Trung Quốc hoàn toàn không có điểm chung xét theo khía cạnh tư tưởng. Người Nga luôn coi mình là dân tộc châu Âu, có định hướng tương lai ở châu Âu, có các câu hỏi, vấn đề sống còn, cốt lõi ở phương Tây. Trung Quốc tự coi mình là cường quốc đang lên không chỉ ở châu Á mà còn trên phạm vi toàn thế giới, dường như họ có nhìn nhận rằng Nga là cường quốc của quá khứ, ngày càng đi xuống, ngày càng mất đi chỗ đứng trên trường quốc tế.

Hệ quả là các mối quan hệ, cộng tác giữa hai cường quốc này có tính chiến thuật hơn là chiến lược, phát triển trong mối tương quan với việc theo đuổi các mối quan tâm, lợi ích ngắn hạn. Chúng có thể nhanh chóng thay đổi hướng diễn biến, các nhân tố làm thay đổi hướng diễn biến chính là các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội tiềm ẩn trong hai quốc gia này, và thêm vào đó nhưng không kém phần quan trọng là các chính sách, chiến lược, suy tính địa chính trị toàn cầu của Mỹ.

Ông Bobo Lo, chuyên gia về quan hệ Nga-Trung, giám đốc phụ trách các chương trình nghiên cứu về Nga và Trung Quốc của Viện Chính sách Trung tâm Cải cách châu Âu (CER) quả thật rất có lý khi gọi bộ đôi Nga, Trung Quốc là “trục của sự tiện lợi” trong một bài phỏng vấn có tựa đề “Nga – Trung: Trục của sự tiện lợi” (Russia-China: Axis of Convenience) đăng trên trang điện tửopenDemocracy ngày 20.5.2008.

Một cách đơn giản, chỉ cần xem xét các thực tế cơ bản – Trung Quốc hiện đang có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, nhưng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng rất cao, có lượng dân số khổng lồ vẫn đang gia tăng, lại có tham vọng đánh bật Mỹ khỏi vị trí bá chủ thế giới; Nga thì có nền kinh tế lớn thứ mười trên thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng đang chững lại một cách đáng lo ngại, dân số chỉ bằng khoảng một phần tám dân số Trung Quốc nhưng lại đang giảm và già đi, tuy vậy lại có quân đội và nền kỹ thuật quân sự trội hơn nhiều so với Trung Quốc, lại cũng không giấu giếm tham vọng khôi phục vị trí cường quốc xứng đáng trên trường quốc tế – thì sẽ thấy trong quan hệ hai nước, khả năng bất hòa là cao hơn so với khả năng hữu hảo.

 


Không có gì đáng ngạc nhiên khi khái niệm “frenemies” (kẻ thù giả bộ bạn bè) càng ngày càng được dùng nhiều hơn để chỉ cặp đôi Nga-Trung Quốc (thí dụ xem bài “Best frenemies” đăng trên The Economist ngày 24.5.2014).

Những điểm căng thẳng nổi bật nhất trong quan hệ Nga – Trung có thể kể đến: Trung Á, Viễn Đông và châu Á-Thái Bình Dương (ngoài Viễn Đông).

1. Trung Á

Trong thời gian gần đây, có thể nhận biết ngày càng rõ là người Nga nói chung, đặc biệt là ông Putin nói riêng, chứa sâu trong tâm tư một hội chứng về sự tan rã của Liên bang Xô-viết. Người Nga coi đó là một sai lầm không dễ tha thứ và không ngừng mong muốn và nuôi hy vọng khôi phục lại một “nước Nga vĩ đại”. Điều này lý giải những nỗ lực không ngừng nghỉ của giới hoạch định đường lối, chiến lược chính trị nước này trong việc tìm cách khôi phục và tăng cường vị thế và ảnh hưởng của Nga ở các quốc gia thuộc Liên bang Xô-viết cũ. Ukraine là một thí dụ gần đây nhất và gây nhiều ngạc nhiên, ấn tượng nhất.

Kể từ khi Liên bang Xô-viết tan rã năm 1991, Nga đã tìm cách thông qua nhiều hiệp ước chính trị, an ninh và kinh tế khác nhau để phục hồi sự kiểm soát của mình với các nước cộng hòa Trung Á. Hiệp ước đầu tiên như thế, đồng thời được biết tới nhiều nhất, là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập gồm 12 nước cộng hòa mới độc lập, được thành lập năm 1991. Tiếp theo là một loạt các hiệp ước thương mại, kinh tế như hiệp ước thành lập Liên minh Thuế quan (1995), Cộng đồng Kinh tế Âu Á (Eurasia) (2000), Liên minh Âu Á (2011). Tháng 10 năm 2002, Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể (SCTO), một liên minh quân sự, đã được Nga cùng 5 nước Trung Á khác ký kết thành lập… Ý tưởng một cộng đồng chung cho khu vực ngày càng phát triển và từ năm 2013, các đợt hội đàm nhằm thành lập và mở rộng Cộng đồng Kinh tế Âu Á và Liên minh Âu Á được tiến hành, cho phép mở rộng cửa cho các quốc gia nằm ngoài biên giới Trung Á.

Các phân tích của hai ông Baktybek Beshimov và Ryskeldi Satke trong bài viết có tựa đề “Cuộc đấu giành Trung Á: Nga vs Trung Quốc” (The struggle for Central Asia: Russia vs China) đăng trên trang Aljazeera ngày 12.3.2014 cho biết:

“Tấn công kinh tế của Điện Kremlin là nhằm mục đích kiềm chế giới lãnh đạo ở Trung Á đang ngày càng trở nên độc lập hơn. Ảnh hưởng của Nga ngày một tăng ở các nước Trung Á nghèo nhất như Kyrgyzstan và Tajikistan, nhưng lại giảm sút ở các nước giàu nhất như Kazakhstan hay Uzbekistan. Dự án địa chính trị của Nga ở Trung Á đang đối mặt với nhiều khó khăn hơn khi những đối thủ từ phía Đông (Trung Quốc) và từ phía Nam (Thổ Nhĩ Kỳ) xuất hiện, thách thức sức mạnh của Nga trong vùng… Có lẽ dự án hội nhập khu vực của ông Putin không ngăn chặn, mà thậm chí còn mở đường cho sự bành trướng kinh tế toàn diện của Trung Quốc. Trong khi Nga cần các nước Trung Á thuộc Liên minh Thuế quan nhằm duy trì sự hiện diện địa chính trị của mình thì Trung Quốc theo đuổi các lợi ích kinh tế. Nga dựa vào sức mạnh quân sự và sức mạnh mềm truyền thống của mình trong vùng, còn Trung Quốc dùng con bài tài chính.”

Vì thế, theo hai tác giả trên, “Bắc Kinh kiềm chế không xung đột lợi ích với Nga (ngược lại với quan điểm diều hâu của nước này ở Đông và Đông Nam Á), các nhà thiết kế chính sách Trung Quốc chắc hẳn muốn lợi dụng những sai lầm và khả năng hạn chế của Kremlin.”

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (STO), tổ chức an ninh chung liên chính phủ do Trung Quốc khởi xướng thành lập năm 1996, đã được Trung Quốc sử dụng triệt để cho các mục đích của họ ở Trung Á. Dưới ô che của tổ chức này, Trung Quốc có thể dễ nói hơn khi tự gọi mình là một thành viên trong khu vực.

Trong lĩnh vực thương mại, Trung Quốc hiện đã bỏ xa Nga, trở thành bạn hàng chủ yếu đối với tất cả các nước Trung Á thuộc Liên bang Xô-viết cũ, chỉ trừ Uzbekistan, nơi Trung Quốc chịu xếp thứ hai. Không những đẩy mạnh thương mại, Trung Quốc còn tăng cường đầu tư trực tiếp vào các láng giềng xa gần của mình ở Trung Á, trở thành một trong những nguồn cung cấp đầu tư nước ngoài chủ yếu của các nước này. Trung Quốc đã và đang thực hiện những dự án kinh tế lớn, điển hình là các dự án khai thác, xây dựng đường ống dẫn dầu và khí đốt, tinh lọc dầu khí, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng… trong khắp khu vực. Chỉ nửa năm sau khi chính thức trở thành chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vào tháng 9 năm 2013, ông Tập Cận Bình đã thực hiện đợt thăm chính thức bốn quốc gia lớn nhất ở Trung Á là Turkmenistan, Kazakhstan, Uzbekistan và Kyrgyzstan. Ông Tập đã đưa ra đề xuất thành lập và xây dựng cái gọi là vành đai kinh tế “Con đường Tơ lụa” với Âu Á nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư của Trung Quốc.

Giới quan sát cho rằng Trung Quốc hiện tại đang nắm thế thượng phong trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng ở Trung Á, đẩy Nga vào thế bí. Đó không chỉ là do tiềm năng kinh tế của họ hơn hẳn Nga mà còn vì cách tiếp cận khôn ngoan của họ – khác với Nga, họ tránh không động chạm tới các công việc chính trị nội bộ và tránh để các quốc gia đối tác có cảm giác bị thiệt thòi về chủ quyền dân tộc – và xu hướng muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Nga trong các quốc gia nằm trong khu vực.

Tuy hiện có nhiều bất lợi, hiển nhiên là Nga sẽ không dễ dàng bỏ cuộc, để Trung Quốc “nẫng” mất Trung Á, để khu vực này rơi sâu vào vòng ảnh hưởng, tạm thời trước mắt là kinh tế của Trung Quốc. Theo như bài viết “Cuộc đấu giành Trung Á: Nga vs Trung Quốc” nói tới ở trên thì Nga đã có những nỗ lực mạnh mẽ phục hồi lại vị thế ở các nước Trung Á yếu nhất như Kyrgzstan, Tajikistan, mở rộng sự có mặt về quân sự tại các quốc gia này (thí dụ như chi 1,5 tỉ USD cho việc tái trang bị vũ khí cho quân đội hai nước). Hiện tại, vị thế của Kremlin ở Kyrgyzstan và Tajikistian được cho là khá vững chắc.

Cũng trong bài phỏng vấn đăng trên openDemocracy đã nhắc tới ở trên, ông Bobo Lo, giám đốc phụ trách các chương trình nghiên cứu về Nga và Trung Quốc thuộc Viện chính sách Trung tâm Cải cách châu Âu CER cho biết: “Người Nga hiểu trò chơi của Trung Quốc, vì thế họ đã trở nên thờ ơ với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải STO. Với Trung Quốc, tổ chức này có vai trò tương tự như Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể SCTO đối với Nga. Tổ chức Hiệp định An ninh tập Thể, do Nga thành lập vào năm 2002 có một đặc tính tối cao theo cách nhìn của Moskva: Trung Quốc không phải là thành viên. Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể giúp Nga tái khẳng định ảnh hưởng ở Trung Á. Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và Tổ chức Hiệp định An ninh Tập thể thực chất là các tổ chức cạnh trạnh với nhau.”

Viễn Đông

Vùng Viễn Đông là một vùng đất rộng lớn nằm ở rìa phía Đông của nước Nga, trải dài từ hồ Baikal ở phía Tây tới tận Thái Bình Dương ở phía Đông. Tên gọi hành chính của vùng này là Vùng Liên bang Viễn Đông, nó tiếp giáp với Vùng Liên bang Siberia không kém phần rộng lớn ở phía Tây. Người Nga đã khai phá vùng đất này từ lâu đời, tới giữa thế kỷ 17 họ tiến sát tới bờ Thái Bình Dương, thành lập thành phố Okhotsk, từ đó, đặc biệt là trong thế kỷ 19, người Nga đã củng cố kiểm soát của họ ở Viễn Đông.

Viễn Đông bao gồm một vùng địa lý đáng lưu ý tới, đó là vùng Priamurye hay theo như cách người Trung Quốc cố tình gọi là Ngoại Mãn Châu. Nga tiếp quản vùng này theo Hiệp ước Aigun (1858) và Hiệp ước Bắc Kinh (1860) từ triều Mãn Thanh. Người Trung Quốc xếp hai hiệp ước này vào nhóm các hiệp ước mà họ gọi là “bất bình đẳng” mà Trung Quốc buộc phải ký kết với các nước phương Tây trong “thế kỷ nhục nhã”. Nên nhớ là Bắc Kinh chưa bao giờ chính thức công nhận hai hiệp ước này.

Mãi đến một vài thập kỷ trước, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố địa lý và tập trung phát triển kinh tế ở các vùng trọng điểm trung tâm, Nga không chú trọng nhiều tới vùng này. Về phía Trung Quốc thì sự quan tâm của họ tới vùng này cũng chỉ bắt đầu trở nên rõ rệt khi nhu cầu mở rộng địa bàn hoạt động kinh tế và nguồn cung cấp tài nguyên khoáng sản trở nên cấp bách hơn.

Trong bài phân tích có tiêu đề “Viễn Đông của Nga đang dần trở thành của người Trung Quốc” (Analysis: Russia’s Far East Turning Chinese) đăng trên trang mạng ABC News ngày 14.7.2013, tác giả Peter Zeihan cảnh báo: “Người Trung Quốc đang xâm nhập nước Nga – không phải với xe tăng, mà với va ly hành lý”. Ông Zeihan cho biết: “Không thể biết được chính xác lượng người Trung Quốc di cư vào vùng Viễn Đông của Nga; Nga không tiến hành kiểm tra dân số trong hơn một thập kỷ gần đây. Nhưng theo các dấu hiệu thì có một dòng người đáng kể đang tràn qua biên giới”. Và tuy có chênh lệch lớn trong số liệu dòng nhập cư từ Trung Quốc từ các nguồn khác nhau, nhưng “Cục Xuất nhập cảnh Liên bang lo ngại một dòng lũ. Cục này đã nhiều lần cảnh báo rằng người Trung Quốc có thể sẽ trở thành dân tộc thiểu số lớn nhất ở Nga trong 20-30 năm tới.” Về phương diện nhân lực cũng như kinh tế và tài chính, người Nga kém thế hơn so với người Trung Quốc trong khả năng khai thác và phát triển vùng Viễn Đông, nếu họ được cho phép làm điều này. Viễn Đông là vùng đất khổng lồ, nhưng có thể nói là hoàn toàn trống trải, chỉ có hơn 7 triệu người Nga sinh sống ở đây. Trong khi đó ở các vùng Đông Bắc Trung Quốc có tới hơn 70 triệu người. Đó lại là một vùng được cho là giàu có về tài nguyên khoáng sản, với các hải cảng giá trị, rất hấp dẫn đối với người Trung Quốc đang không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động và tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu mới phục vụ cho nền kinh tế đang phát triển chóng mặt của họ.

Ông Zeihan lưu ý: “Bất kỳ sự bành trướng nào của người Trung Quốc trong trong khu vực này đều đưa đến câu hỏi: Bắc Kinh có đòi hỏi gì ở đây? Phần lớn vùng biên – một vùng với diện tích tương tự Iran – là nơi sinh sống của người Trung Quốc. Nga tiếp nhận vùng này vào năm 1858 và 1860, sau các Hiệp ước Aigun và Bắc Kinh. Trong số các hiệp ước ‘không công bằng’ mà Trung Quốc dưới triều đại nhà Thanh bị buộc phải ký kết với nước ngoài thì chỉ còn hai hiệp ước này là Trung Quốc chưa xử lý được.”

Theo ông Vasily Kashil, cán bộ nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Công nghệ, Moskva, đồng thời là cán bộ của Viện Nghiên cứu Viễn Đông, Moskva, cho biết trong bài viết có tựa đề “Tổng các mối lo sợ” (The Sum Total of All Fears) đăng trên trang mạng Russia in Global Affairs ngày 15.4.2013 thì người Nga ý thức được rằng những nguy cơ tiềm năng trong vùng Viễn Đông có khả năng phát sinh từ phía Trung Quốc.

Ông Kashil cho biết: “Phân tích số liệu liên quan tới việc cung cấp vũ khí mới cho các lực lượng của Quân lực Nga cho thấy Khu vực Quân sự miền Đông có tốc độ tái trang bị vũ khí thuộc loại cao nhất trong cả liên bang. Điều động quân lực từ phần châu Âu của Nga tới Viễn Đông là một trong những kịch bản then chốt cho các đợt tập trận qui mô lớn của nước này. Phần lớn các tuyên bố báo chí của Cục An ninh Liên bang FSB về hoạt động gián điệp có liên quan tới Trung Quốc. Thêm vào đó, Nga rõ ràng là có hạn chế đầu tư của Trung Quốc trong các khu vực chiến lược của nền kinh tế quốc gia.”

Trong mối liên hệ này, đáng nhắc lại ở đây là vào tháng 7 năm 2013, khi Nga có một cuộc tập trận chung qui mô lớn với Trung Quốc ở vùng bờ biển Thái Bình Dương phía Bắc Trung Quốc thì quân đội nước này cũng có một cuộc tập trận được cho là có qui mô lớn nhất trong kỷ nguyên hậu Xô-viết tại Viễn Đông. Giới quan sát cho rằng đây là một phản ứng của Nga trước nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Quốc, một cử chỉ nhắm vào Trung Quốc lưu ý họ phải “cẩn thận”.

Ông Kashil viết tiếp: “Rõ ràng là mọi biện pháp phòng ngừa của Nga không liên quan tới các mối đe dọa trực tiếp, mà tới các mối đe dọa tiềm năng cho lợi ích, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ có khả năng xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng một đe dọa tiềm năng từ phía Trung Quốc cũng đã là một yếu tố đáng kể trong chính sách ngoại giao và quốc phòng của Nga.”

Ông Kashil cảnh báo người Nga phải tiếp tục tăng cường chú ý tới các “đe dọa tiềm năng” từ phía Trung Quốc:

“Người Nga ung dung ngồi xem cảnh các cửa hàng, công ty của Nhật ở Trung Quốc bị quấy phá trong đợt sóng giận dữ của người Trung Quốc trong vụ xung đột liên quan tới quần đảo Senkaku năm 2012, một đợt vận động chống các siêu thị Carrefour của Pháp do quan điểm của Pháp về Tibet năm 2008, các trừng phạt chống Philippines, các bản tin xuất hiện đây đó về một cuộc chiến sắp tới với Philippines, Việt Nam hay Nhật Bản. Nhưng nếu sự căm ghét của công chúng có thể hướng về một nước nhỏ, vô hại như Philippines, thì bất kể một quốc gia nào cũng có thể trở thành mục tiêu, hoàn toàn phụ thuộc vào chủ ý chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Vấn đề là ở chỗ không ai có thể biết chủ ý chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ hướng về đâu, thậm chí chỉ trong 10 năm tới đây. Cũng như Nga, Trung Quốc là nước có hệ thống chính trị đang chuyển đổi. Tương lai dự tính của nước này được công nhận và ghi trong các tài liệu của Đảng Cộng sản, và một số lớn các tuyên bố về đường lối của giới lãnh đạo Trung Quốc nói tới cải tổ chính trị không thể tránh được.

Những cải tổ như thế làm sao có thể đặt được dưới tầm kiểm soát? Trung Quốc đang trên con đường đô thị hóa và chuyển hóa dân số, tương tự như các nước châu Âu đã trải qua cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tương tự như châu Âu, Trung Quốc đang trải nghiệm sự bất bình đẳng kinh tế, bất công xã hội nghiêm trọng cũng như khoảng cách phân biệt trong giáo dục ngày càng lớn giữa các tầng lớp trung lưu thành thị và các tầng lớp thấp hơn.

Tình hình trên bị làm thêm nghiêm trọng bởi khủng hoảng tư tưởng trong Đảng Cộng sản cầm quyền, họ càng ngày càng sử dụng nhiều nỗ lực tuyên truyền cho các tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và tư tưởng siêu cường quốc.

Đối đầu với Nga hoàn toàn vô nghĩa, nếu xét theo các lợi ích lâu dài của Trung Quốc, nhưng ngay cả trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh cũng chẳng có cớ gì để Trung Quốc đối đầu với Nga. Chính sách đối đầu này xuất phát từ các lợi ích chính trị nội bộ của Mao Trạch Đông và nhóm kề cận ông ta. Nga bắt buộc phải tính đến khả năng này.” (Hết trích dẫn)

Theo ý kiến nhận xét của nhiều chuyên gia phân tích thì cuộc khủng hoảng gần đây ở Crimea đặt Nga vào thế bất lợi mới. Nga rất cần Trung Quốc im lặng, tránh đả động tới hành vi của Nga, nhưng chính sách của Nga trong vụ Crimea – khẳng định chủ quyền lãnh thổ có tính lịch sử – có thể tạo ra một tiền lệ pháp lý cho các quốc gia khác đang có ý định thay đổi biên giới lãnh thổ quốc gia theo hướng có lợi cho họ. Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc đưa ra ý tưởng đòi lại một phần Viễn Đông, vốn nằm trong lãnh thổ của họ trong lịch sử gần đây?

Châu Á-Thái Bình Dương ngoài Viễn Đông

Như đã có nhắc tới ở phần trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, Nga chỉ mới tăng cường chú ý của mình tới vùng Viễn Đông của Nga cũng như toàn bộ châu Á-Thái Bình Dương trong những năm gần đây.

Khoảng từ năm 2010, nhu cầu nhiên liệu năng lượng của vùng châu Á-Thái Bình Dương tăng mạnh, trong khi tiêu thụ nhiên liệu năng lượng cũng như nguyên vật liệu của Mỹ và Liên minh châu Âu lại giảm; thêm vào đó Liên minh châu Âu lại có chính sách bớt phụ thuộc năng lượng vào Nga, vì thế việc Nga có ý định tăng cường định hướng về châu Á-Thái Bình Dương, khu vực năng động kinh tế nhất thế giới, là điều dễ hiểu, hợp lý, nếu không muốn nói là bắt buộc.

Yếu tố địa chính trị cũng không kém phần quyết định cho chiến lược châu Á của Nga. Với hoài bão khôi phục lại vị trí cường quốc xứng đáng trên thế giới, Nga muốn trở thành một trong các thế lực quyết định trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cùng với Mỹ và Trung Quốc. Trong bước đi này, Nga cảm nhận được một thuận lợi rất đáng kể là vai trò suy yếu của Mỹ và thái độ cảnh giác, nghi ngờ của các nước trong khu vực trước một Trung Quốc đang lên.

Điểm mốc quan trọng trong việc phục hồi sự hiện diện của Nga tại châu Á-Thái Bình Dương là Hội nghị thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương tháng 9 năm 2012 tại Vladivostok. Tại hội nghị này ông Putin đã có lời phát biểu nhấn mạnh Nga là một bộ phận của khu vực châu Á-Thái Bình Dương đầy năng động, khu vực này là chìa khóa cho thành công của toàn bộ nước Nga, đặc biệt là cho công cuộc phát triển vùng Viễn Đông. Nga cũng kêu gọi các nước thành viên tăng cường giúp đỡ đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông vận tải ở khắp các vùng rộng lớn của nước Nga. Một năm sau, tháng 6.2013, ông Putin đã gây nhiều chú ý với bài phát biểu của mình tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại thành phố St. Peterburg khi thông báo một kế hoạch đầy hoài bão nhằm thúc đẩy nền kinh tế nước Nga thông qua việc chuyển định hướng về phía châu Á-Thái Bình Dương thay cho các thị trường truyền thống ở châu Âu. Ông cũng đề xuất các dự án khổng lồ trong hệ thống cơ sở hạ tầng, gồm nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Siberia để nối nước Nga tốt hơn với vùng Thái Bình Dương. Bài phát biểu này được giới chuyên gia coi như một tuyên bố chính sách “xoay trục” của Nga về phía châu Á-Thái Bình Dương, nơi Nga có một vị trí đáng kể trong quá khứ gần đây.

Để thực hiện việc này, trước hết Nga thiết lập các quan hệ gần gũi với nhóm các nước ASEAN. Từ năm 2010, Nga có các cuộc gặp gỡ Nga–ASEAN, đầu tiên là ở cấp nguyên thủ quốc gia, sau đó là ở cấp bộ trưởng, có sự tham gia của đại diện giới kinh doanh và văn hóa. Tuy nhiên, dường như người Nga nhận thấy vai trò và vị thế yếu kém của nhóm này nên dần mất đi hào hứng.

Nga đặc biệt đẩy mạnh quan hệ cộng tác với Trung Quốc, coi Trung Quốc là đối tác chính trong toàn bộ khu vực. Tuy nhiên, chính sách coi Trung Quốc là chìa khóa trong quan hệ với khu vực nhanh chóng biểu lộ hạn chế. Người Nga thấy rõ, nếu chỉ dựa vào Trung Quốc thì do kém thế về mọi mặt, họ mãi mãi sẽ chỉ đóng vai trò phụ, ngẫu nhiên giúp sức cho Trung Quốc củng cố thế lực trong khu vực. Vì thế, ông Putin đã mở rộng nỗ lực theo một hướng khác, đầu tiên với hai nước Đông Á là Nhật Bản và Hàn Quốc, những nước có nền kinh tế mạnh nhất ở châu Á, và sau đó là Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế năng động, lại là đồng minh gần gũi cũ của Nga.

Cuối năm 2013 có thể được gọi là thời gian châu Á của ngoại giao Nga. Tháng 11, Nga và Nhật Bản đã có một cuộc đàm phán lịch sử 2+2 giữa các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng hai nước ở Tokyo, được đánh giá là sự kiện “mở ra một trang mới” trong quan hệ giữa hai nước. Tại đây, hai bên đồng ý đẩy mạnh quan hệ an ninh, song song với quan hệ kinh tế và trao đổi chuyên gia. Vài ngày sau, Tổng thống Nga Putin đã có cuộc đi thăm chính thức Hàn Quốc, với mục tiêu thúc đẩy cộng tác thương mại và kỹ thuật, đồng thời cũng trao đổi về các vấn đề an ninh trong khu vực. Tiếp theo, ông Putin đã thăm Việt Nam, một đồng minh cũ mà Nga đang cung cấp trang bị vũ khí quân sự và giúp xây dựng nhà máy điện hạt nhân; hai nước cũng có quan tâm thiết lập quan hệ cộng tác chiến lược.

Nếu để ý, người ta có thể dễ dàng nhận ra một điều là hai trong số ba nước mà Nga đặc biệt quan tâm ở Đông và Đông Nam Á nói trên – Nhật Bản và Việt Nam – đang có những vấn đề nghiêm trọng liên quan tới tranh chấp lãnh thổ chủ quyền với Trung Quốc. Hàn Quốc thì được biết đến như một nước luôn khá “rắn” với Trung Quốc. Người Nga biết rõ là trước hết các nước này, và sau đó là các nước Đông, Đông Nam Á khác, tuy ở mức độ thấp hơn, chắc chắn sẽ có những nhìn nhận tốt đẹp, khuyến khích và ủng hộ hơn cho sự tái hiện diện của Nga trong một khu vực có nhiều căng thẳng, đặc biệt là khi sự can thiệp, hỗ trợ từ phía Mỹ ngày càng suy yếu và thái độ quả quyết, hung hăng từ phía Trung Quốc ngày càng gia tăng. Nga chưa bao giờ chính thức ủng hộ các đòi hỏi lãnh thổ của Trung Quốc cả ở Biển Hoa Đông cũng như ở Biển Đông.

Tóm lại, quan hệ Nga -Trung trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương có thể nói là có tính cạnh tranh, ganh đua nhiều hơn là tính cộng tác.

Thay cho phần kết

Cuộc khủng hoảng Crimea và diễn biến của nó chắc chắn đã tạo nhiều thay đổi trong chính sách, chiến thuật ngoại giao của Kremlin. Trong quan hệ với Trung Quốc, chuyến đi thăm vừa qua của ông Putin hé lộ Nga sẽ dựa vào Trung Quốc nhiều hơn, thay thế cho quan hệ với phương Tây đang xấu đi nghiêm trọng. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng điều này là bắt buộc đối với Nga hơn là sự lựa chọn tự nguyện. Nga tính đến đẩy mạnh xuất khẩu nhiên liệu năng lượng, nguyên vật liệu và công nghệ sang Trung Quốc và lôi kéo các nguồn đầu tư từ Trung Quốc, thay cho các nguồn đầu tư từ phương Tây. Theo bản tin “Nga ký kết với Trung Quốc một hợp đồng khí đốt 30 năm” (Russia signs 30-year gas deal with China) của BBC ngày 21.5.2014 thì sau 10 năm đàm phán kéo dài, cuối cùng Nga và Trung Quốc đã ký kết thỏa thuận với giá trị được cho là khoảng 400 tỉ USD cung cấp khí đốt cho Trung Quốc trong vòng 30 năm; tuy nhiên, có nhiều nhận xét nghi ngờ rằng các điều kiện của thỏa thuận này, đặc biệt là giá cả, khó có thể làm cho phía Nga hoàn toàn hài lòng. Trung Quốc cũng hứa hẹn trước mắt sẽ đầu tư khoảng 5 tỉ USD vào vùng Viễn Đông của Nga.

Trong bài viết có tiêu đề “Ông Putin tìm kiếm các nguồn tài chính Trung Quốc nhằm chèo chống nền kinh tế đang sa sút của Nga” (Putin Going After Chinese Money to Sustain Sagging Russian Economy) đăng trên trang điện tử của Bloomberg ngày 9.5.2014, các tác giả Evgenia Pismennaya, Yuliya Fedorinova and Ilya Arkhipov chỉ ra:

“Nga đã xây dựng các mối quan hệ thương mại với Trung Quốc, bao gồm các thỏa thuận dầu khí với giá trị hàng trăm tỉ đô la, để cung cấp năng lượng cho Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ nhiều nhất ở châu Á, trong hoàn cảnh kinh tế châu Âu đang chững lại. Trung Quốc là bạn hàng thương mại lớn nhất của Nga với tổng giá trị kim ngạch 95.6 tỉ vào năm 2012, theo sau là Đức, theo số liệu của Bloomberg.

Tuy vậy, Trung Quốc chỉ có vài dự án lớn ở Nga, đó là dấu hiệu cho thấy có các hạn chế không chính thức cho đầu tư của nước này, như một quan chức Nga kho biết. Trong tháng 5 này, ít nhất có hai cuộc thảo luận của chính phủ để định ra các nguyên tắc cho phép giới đầu tư Trung Quốc làm việc ở Nga.

Ngoài hạn chế quyền xâm nhập vào các ngành kim loại quí và kim cương, có thể Nga cũng hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào các dự án công nghệ cao. Chính phủ Nga cũng xem xét không cho phép người Trung Quốc thành lập các khu dân cư lớn để tránh gây các căng thẳng sắc tộc.”

Điều này, ngoài các hệ quả khác, củng cố nhận định rằng mặc dù tăng cường quan hệ với Trung Quốc nhưng mãi cho tới gần đây, người Nga vẫn có thái độ nghi ngờ và cảnh giác trước Trung Quốc và việc ngày nay Nga quay sang dùng đến các nguồn tài chính từ phía Đông là có phần miễn cưỡng.

Bài viết “Xoay trục của Nga sang Trung Quốc không làm thay đổi hình dạng kinh tế Nga” (Russia’s Pivot to China Won’t Reshape Russian’s Economy”) của tác giả Alexey Eremenko đăng trên trang điện tử The Moscow Times ngày 21.5.2014 tìm cách phân tích các hiệu quả kinh tế của ý định sử dụng Trung Quốc như là đồng minh kinh tế chính của Kremlin. Bài báo cho biết:

“Giới chuyên gia (Nga) cho rằng Trung Quốc có khả năng thay thế Liên minh châu Âu trong phần lớn các khu vực của nền kinh tế Nga, bao gồm cả xuất khẩu dầu khí, công nghệ và đầu tư. Nhưng liên minh với một nước đang phát triển chỉ làm co cứng hiện trạng của nền kinh tế, các chuyên gia cảnh báo, điều này không giúp Nga tăng cơ hội thoát khỏi vị thế một nền kinh tế cung cấp nguyên liệu.

Thêm vào đó, dựa vào Trung Quốc như là đồng minh kinh tế duy nhất chứa nguy cơ mặc nhiên trao cho Bắc Kinh khả năng kiểm soát nền kinh tế Nga – tuy rằng điều này có thể tránh được nếu Moskva lưu ý đến việc đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế.”

Hơn nữa, giới chuyên gia lưu ý: “Xuất khẩu của Nga sang Liên minh châu Âu trong (năm 2012) đạt 238 tỉ USD, hơn hẳn nhập khẩu với tổng giá trị 134 tỉ, theo số liệu của Tổng cục Thuế quan Nga. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 35 tỉ trong cùng thời kỳ, trong khi nhập khẩu từ nước này đạt 53 tỉ… Về mặt đổi mới công nghệ, sản phẩm Trung Quốc không thể thay thế được châu Âu.”

Các chuyên gia thống nhất quan điểm rằng nguy cơ chủ yếu của Nga là sẽ quá phụ thuộc vào Trung Quốc – Trung Quốc sẽ không từ khai thác triệt để một nước Nga quá phơi bày, một khi có điều kiện.”

Qua bài viết trên, có thể thấy là người Nga ý thức rõ ràng rằng ngoài các lợi ích trong việc cộng tác gần gũi hơn với nền kinh tế thứ hai trên thế giới, cần phải tính đến các mặt hạn chế cũng như các mối nguy cơ tiềm ẩn. Điều này có thể sẽ có nhiều ảnh hưởng tới chiều sâu và tính lâu dài của đường lối Trung Quốc của ông Putin.

Trong một bài viết gây nhiều chú ý trong thời gian vừa qua với tựa đề “Ông Putin tái sáng chế công tác chiến tranh như thế nào” (How Putin Is Reinventing Warfare) đăng trên trang Foreign Policyngày 5.5.2014, tác giả Peter Pomerantsev đưa ra khẳng định: Kremlin đang theo đuổi đường lối chiến lược gọi là “chiến tranh phi tuyến” (non-linear war), khái niệm được sử dụng trong một truyện ngắn của ông Vladislav Surkov, một trong những cố vấn chính trị gần gũi nhất của ông Putin, được đăng tải dưới bút danh của ông này là Nathan Dubovitsky, chỉ vài ngày trước khi Crimea bị sáp nhập vào Liên bang Nga. Surkov là người được cho là tác giả của hệ thống “dân chủ có/được điều hành” thống lãnh tư tưởng ở Nga trong thế kỷ 21 và những định hướng tập trung mới trong đường lối ngoại giao.

Surkov cho rằng “trong các cuộc chiến tranh sơ khai thế kỷ 19 và 20 thường là có hai phía đối chiến. Hai nước, hai khối hay hai liên minh. Nhưng giờ đây bốn liên minh đối kháng nhau. Không phải hai đối hai, hay ba đối một. Tất cả đối đầu với tất cả.” Trong một cuộc chiến tranh như thế, “một vài vùng có thể đứng về phía này, một vài vùng lại đứng về phía khác. Một thành phố hay thế hệ hay phái giới có thể tham gia một phía khác nữa. Rồi sau đó lại đổi bên, đôi khi chính giữa cuộc chiến. Mục đích hoàn toàn khác nhau. Phần lớn coi chiến tranh như một bộ phận của một quá trình. Không nhất thiết phải là bộ phận quan trọng nhất.”

Nếu quả thật Kremlin đang theo đuổi chiến lược “phi tuyến” như thế, hẳn người ta sẽ còn được chứng kiến nhiều thay đổi, diễn biến bất ngờ trong quan hệ Nga-Trung.

© 2014 Trần Hoàng & pro&contra

**** Nga chỉ có hai món hàng để bán cho Âu Châu, TQ, và thế giới đó là kỹ nghệ quốc phòng và dầu khí

*Ngân sách của Nga xây dựng theo giá dầu khí. Khi giá dầu hạ, Nga lao đao, xã hội biến động. Lịch sử cho thấy có 2 lần xảy ra gần đây;

-1980-1991: khi giá dầu hạ còn 12-29 đô 1 thùng dầu, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô 1986-1991.

-1991-1998: Thời kỳ này, giá dầu vẫn còn rất thấp, xã hội Nga biến động và thay đổi tận gốc, dân Nga lưu lạc khắp thế giới, nhiều người đã tiếc thời yên bình của Liên Xô. Tổng Thống Elsin mất uy tín dần dần.

-2000-2014: Giá dầu dần dần gia tăng theo thời gian và cao điểm 2008 (giá dầu lên 145 đô / 1 thùng), Putin được may mắn. Nước Nga hồi phục hơn thập niên 1990s.

-“vụ mua bán hệ thống phòng không S-400 gần đây giữa TQ và Nga. “Việc này đã cho người ta thấy gì về tình hình liên bang Nga khi họ sẵn sàng bán S-400 cho Trung Quốc? Khi mà Putin đã sẵn sàng để bán hạt bắp giống của mình là điều rất đáng chú ý.” Tại sao? Nga đang rất cần tiền nên mới bán một giàn S-400 cho TQ.”

***Trung Quốc: Nhờ sự đầu tư của Mỹ và Âu châu vào TQ kể từ 1980s, 1990s cho đến nay, TQ đã thành cường quốc. Năm 2011, theo Bloomberg đưa tin, 20 công ty của Mỹ muốn đem 1000 tỷ đô la về Mỹ sau một thời gian dài đầu tư ở nước ngoài. Họ đã cố gắng thương lượng với chính phủ Mỹ để xin giảm bớt mức thuế, nhưng đã không nhận được sự đồng ý. Những công ty nầy đã đầu tư ở Trung Quốc.

Theo tạp chí đối ngoại của Mỹ, Foreign Affair, hàng năm, chính quyền TQ in thêm tiền nhân dân tệ (khoảng 15-25% so với số lượng tiền lưu hành) để đổi lấy tiên đô la Mỹ và các dòng tiền ngoại hối khác để làm giảm bớt lạm phát. Sau khi xuất khẩu hàng qua Mỹ, họ đã để lại số tiền lớn ở đây bằng cách mua công khố phiếu của Mỹ. Tiền lời của công khố phiếu Mỹ thì rất thấp, nhưng nhờ đó thì doanh nghiệp Mỹ có thể mượn được tiền để đầu tư mở thêm hãng xưởng ở  Trung Quốc, và chính quyền TQ nhờ đó mà giải quyết việc làm cho 13 đến 26 triệu người hàng năm tham gia vào lực lượng lao động (khi họ đến tuổi đi làm việc. Tỉ lệ sinh đẻ hàng năm ở TQ là 1-1,5%, và dân số là 1,3 tỷ người.) Trung Quốc không dám bán số công khố phiếu nầy, vì sẽ lỗ lớn, và doanh nghiệp Mỹ sẽ không còn đầu tư vào TQ, và điều này sẽ dẫn đến sự biến động của xã hội TQ. Dân chúng đang đi làm, có tiền tiêu, mua nhà trả gops, nếu không có việc làm, họ sẽ nổi loạn. Thêm vào số học sinh và sinh viên TQ ra trường hàng năm, cùng dân chúng ở miền quê đén tuổi lao động CẦN việc làm. và chính quyền TQ biết rằng họ không thể giải quyết được.  

 

 

 

Posted in Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc | 1 Comment »

►Việt Nam sẵn sàng cho Nga mở lại căn cứ hải quân ở Cam Ranh

Posted by hoangtran204 on 29/07/2012

Việt Nam sẵn sàng cho Nga mở lại căn cứ hải quân ở Cam Ranh

27-7-2012

Chủ tịch nước Việt Nam, Trương Tấn Sang, ngày 27/7 tuyên bố Việt Nam sẽ cho phép Nga thành lập một căn cứ bảo trì tàu bè tại cảng Cam Ranh. 
 
Phát biểu với đài phát thanh Tiếng nói nước Nga trước khi hội đàm với Tổng thống Vladimir Putin, ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh rằng điều này không có nghĩa là cảng Cam Ranh sẽ trở thành một căn cứ quân sự của Nga, nhưng sẽ được dùng để phát triển hợp tác quân sự giữa hai nước cựu đồng minh trong thời chiến tranh lạnh.

Ông Sang nói hai nước Việt-Nga có quan hệ hợp tác đối tác chiến lược trong một thời gian dài, và vì thế Nga sẽ có các thuận lợi chiến lược ở Cam Ranh, bao gồm những thuận lợi trong việc phát huy hợp tác quân sự. 
 
Vẫn theo lời Chủ tịch nước Việt Nam, Hà Nội đang có kế hoạch phát huy khả năng cung cấp dịch vụ bảo trì cho bất kỳ tàu nước ngoài nào neo đậu tại Cam Ranh, từng là nơi Nga đóng căn cứ hải quân từ 1979 tới 2001.
 
Ngày 27/7, Tư lệnh Hải quân Nga, Phó Đô đốc Viktor Chirkov, xác nhận Nga đang thương lượng để mở các căn cứ hải quân ở Việt Nam, Cuba, và Seychelles.

Ông Chirkov cho hãng thông tấn Ria Novosti của Nga biết nỗ lực này nhằm mục đích triển khai lực lượng hải quân Nga bên ngoài lãnh thổ Liên Bang Nga.

Vẫn theo lời Tư lệnh Hải quân Chirkov, Nga đang thảo luận các vấn đề liên quan tới việc thành lập những cơ sở cung ứng, bảo trì tàu bè tại Việt Nam, Cuba, và Seychelles. 

Hải quân Nga nhìn thấy nhu cầu cấp thiết cần có các căn cứ ở nước ngoài từ sau năm 2008, khi các tàu chiến của Nga gia nhập các nỗ lực chống hải tặc quốc tế ở Vịnh Aden.

Cảng Cam Ranh trên Vịnh Cam Ranh ở tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam, là cảng nước sâu có vị trí chiến lược quan trọng.

Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ  VOA

Ý Kiến Bạn Đọc

http://www.voatiengviet.com/content/viet-nam-san-sang-cho-nga-mo-can-cu-hai-quan-o-cam-ranh/1447736.html?page=1#relatedInfoContainer

Posted in Chinh Tri Nga, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Hai Tổng Thống Mỹ và Nga trao đổi chuyện gì ở Hán Thành, Nam Triều Tiên

Posted by hoangtran204 on 26/03/2012

TT Mỹ và TT Nga bàn bạc chuyện bí mật gì đây…Sau buổi họp kéo dài 90 phút, và trước khi tổ chức họp báo tại thủ đô Hán Thành, Nam Triều Tiên, TT Obama và TT Medvedev trao đổi to nhỏ với nhau (và không muốn cho ai nghe).

Tin Hán Thành, Nam Triều Tiên, 26-3-2012. Tại cuối cuộc họp 90 phút với TT Nga Dmitri Medvedev vào ngày thứ Hai 26-3-2012, TT Obama nói rằng ông ta sẽ có nhiều uyển chuyển và linh động hơn để đương đầu với các đề tài đang bàn cải như lá chắn hỏa tiển (ở âu châu), nhưng (ông muốn) Tổng thống Nga sắp sửa lên nhậm chức cần cho ông nhiều khoảng thời gian hơn nữa.

Nhưng cuộc trao đổi thì thầm (nửa công khai nửa bí mật) này đã bị rò rỉ  vì  microphone  đã ghi nhận âm thanh bàn bạc, trong khi đám ký giả bước vào phòng họp báo và nghe được các lời trao đổi này.

Đối thoại trao đổi giữa hai TT Mỹ và  TTNga:

President Obama:  Trong tất cả các đề tài, nhưng đặc biệt là kế hoạch lá chắn hỏa tiển này, chuyện này, chuyện này có khả năng được giải quyết, nhưng điều quan trọng là (Putin) hãy cho tôi thêm khoảng thời gian nữa (vào lúc khác).

_Vâng, tôi hiểu. Tôi hiểu ý của bạn là bàn bạc chuyện ấy vào thời gian khác.

_Đây là cuộc tranh cử cuối cùng của tôi. Sau bầu cử tôi  (sẽ) có nhiều uyển chuyển du di thoải mái hơn.

_Tôi hiểu. Tôi sẽ nhắn tin này với Vladimir (Putin).

——

SEOUL, South Korea — At the tail end of his 90 minute meeting with Russian President Dmitri Medvedev Monday, President Obama said that he would have “more flexibility” to deal with controversial issues such as missile defense, but incoming Russian President Vladimir Putin needs to give him “space.”

The exchange was picked up by microphones as reporters were let into the room for remarks by the two leaders.

The exchange:

President Obama: On all these issues, but particularly missile defense, this, this can be solved but it’s important for him to give me space.

President Medvedev: Yeah, I understand. I understand your message about space. Space for you…

President Obama: This is my last election. After my election I have more flexibility.

President Medvedev: I understand. I will transmit this information to Vladimir.

When asked to explain what President Obama meant, deputy national security adviser for strategic communications Ben Rhodes told ABC News that there is room for the U.S. and Russia to reach an accommodation, but “there is a lot of rhetoric around this issue — there always is — in both countries.

A senior administration official tells ABC News: “this is a political year in which the Russians just had an election, we’re about to have a presidential and congressional elections — this is not the kind of year in which we’re going to resolve incredibly complicated issue like this. So there’s an advantage to pulling back and letting the technical experts work on this as the president has been saying.”

-Jake Tapper
ABC 3/26/12

source: http://abcnews.go.com/blogs/politics/2012/03/president-obama-asks-medvedev-fo…

Posted in Chinh Tri Hoa Ky, Chinh Tri Nga | Leave a Comment »