Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba, 2014

►Kỳ án Nhã Thuyên – và Chân Dung các bên…

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2014

 

Kỳ án Nhã Thuyên – Thư Hiên

by 

http://hocthenao.vn/2014/03/31/ky-an-nha-thuyen-thu-hien/

http://hayhayblog.com/r/hoc-the-nao/ky-an-nha-thuyen–thu-hien

Mấy tuần qua, dư luận cộng đồng mạng rúng động bởi “kỳ án” Nhã Thuyên. Diễn biến gần đây nhất là sự kiện ngày 27/3, cô Đỗ Thị Đoan bị Trường ĐH Sư phạm Hà Nội mời đến để nhận các quyết định thu hồi bằng và hủy luận văn thạc sĩ nhưng cô từ chối không nhận các quyết định này. Trước đó thì PGS TS Nguyễn Thị Bình, người hướng dẫn Nhã Thuyên làm luận văn này không được kéo dài thời gian làm việc dù luật định cho phép.

Câu chuyện được bắt đầu từ mùa hè năm 2013 và khá rùm beng trên nhiều báo chính thống vào thời điểm đó. Nhưnghiện nay, ngay cả những báo chính thống đã từng “đánh” Nhã Thuyên cũng không đăng tải dòng nào về các quyết định trên. “Bí mật” được tiết lộ qua một tờ báo vẫn bị dư luận xem là “lá cải”, Kinh doanh và Pháp luật. Tờ này đăng tải đơn kêu cứu của PGS TS Nguyễn Thị Bình về việc bà Bình bị Trường ĐH Sư phạm Hà Nội cho nghỉ hưu sớm 5 năm mà không có lý do xác đáng. Tuy nhiên, gần như ngay lập tức bài viết đã bị gỡ xuống, nhưng sự hiện hữu ngắn ngủi của nó vẫn kịp để nhiều trang mạng và báo “lề trái” chộp được.

Mất việc

Cô Đỗ Thị Thoan (vẫn được gọi bằng bút danh là Nhã Thuyên) vốn là sinh viên K53 Khoa Ngữ Văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp ĐH, cô tiếp tục theo học khóa cao học K18 tại trường này (năm học 2009 – 2010). Luận văn thạc sĩ “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở miệng từ góc nhìn văn hóa” của cô được hội đồng thẩm định của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội đánh giá xuất sắc. Đây là một trong những lý do giúp cô được ký hợp đồng ngắn hạn làm giảng viên giảng dạy môn Văn học Việt Nam hiện đại tại khoa Ngữ Văn trường ĐH Sư phạm Hà Nội từ tháng 9/2012.

Theo sự phân công của lãnh đạo khoa Ngữ văn và tổ trưởng tổ bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, cô Nhã Thuyên (từ giờ chúng tôi xin phép được gọi cô Đỗ Thị Thoan bằng cái tên này bởi nó quen thuộc với giới nghiên cứu văn học và dư luận) dạy chuyên đề Văn học người Việt ở hải ngoại cho sinh viên năm thứ 3. Đây là một học phần tự chọn, tuy mới nhưng nhanh chóng tạo được sự hấp dẫn đối với sinh viên. Trước Nhã Thuyên, ở khoa Ngữ văn có TS Nguyễn Phượng đã (và đang) thành công trong việc dạy chuyên đề này. Mỗi học phần Văn học người Việt ở hải ngoại do TS Nguyễn Phượng hoặc Nhã Thuyên dạy có khoảng trên dưới một trăm sinh viên tham gia. Trong khoa còn có một giảng viên nữa cũng dạy chuyên đề Văn học người Việt ở hải ngoại.

Nhưng những rắc rối với Nhã Thuyên lại bắt đầu từ chính chuyên đề cô được lãnh đạo khoa phân công giảng dạy. Trao đổi với chúng tôi, Nhã Thuyên cho biết: “Khoảng tháng 4/2013 trong khoa bắt đầu có thông tin cơ quan an ninh đến kiểm tra việc giảng dạy của tôi. Lúc đó tôi đã làm một văn bản giải trình nội dung từng buổi dạy theo yêu cầu của khoa… Sau đó tưởng như mọi việc được giải quyết êm thấm theo nghĩa mình cũng chẳng có vấn đề gì về tư tưởng. Tôi vẫn được tiếp tục dạy cho đến khi kết thúc học phần cho sinh viên cũng như vẫn được chấm bài bình thường. Nhưng cuối tháng 5/2013 thì khoa có một buổi nói chuyện với tôi. Họ nói rằng mong tôi hiểu cho họ về việc họ phải chịu một sức ép từ cơ quan an ninh và họ không thể ký tiếp hợp đồng để tôi có thể tiếp tục giảng dạy tại khoa nữa”.

Tuy nhiên Nhã Thuyên cũng cho biết cô thật sự không biết “an ninh” là những ai. Cô chỉ nghe nói đến họ. Còn mọi trao đổi về những việc liên quan tới công việc giảng dạy của cô từ trước đến nay, cô chỉ được thực hiện với lãnh đạo khoa Ngữ văn.

“Tổng tấn công”

Dẫu hết tháng 5/2013 Nhã Thuyên không còn là giảng viên của khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội nữa nhưng cô vẫn tiếp tục bị “truy đuổi” bằng một loạt bài báo xuất hiện trên các tờ Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Nhân dân, Quân đội Nhân dân… Căn cứ để “họ” truy đuổi cô là luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ xuất sắc từ năm 2010. “Đầu tiên là một bài báo của Chu Giang trên tờ Văn nghệ TP Hồ Chí Minh vào khoảng 26, 27/5 (bài Có giải thiêng lịch sử được không? của tác giả Chu Giang, Tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, trang 16, số 256 – HTN). Tôi nghe đồn sẽ có 5 kỳ, nhưng thực tế họ đăng 4 kỳ. Nhưng loạt bài này chưa tạo được sự ầm ĩ nào với truyền thông, cho đến khi xuất hiện hai bài trên Nhân Dân và Quân đội Nhân dân vào khoảng tháng 7/2013”, Nhã Thuyên nhớ lại.

“Đánh” trên truyền thông chưa đủ. Trong hội nghị lý luận phê bình lần thứ 3 của Hội nhà văn Việt Nam tại Tam Đảo (4, 5/6/2013), nhà phê bình Chu Giang (tức nhà văn Nguyễn Văn Lưu) còn đăng đàn để cảnh báo hiện tượng kích động phản loạn của luận văn thạc sĩ “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của tác giả Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên). Quan điểm này được GS Phong Lê hưởng ứng bằng cách “hai lần lên diễn đàn đề nghị các cơ quan chức năng phải làm việc nghiêm khắc và xử lý thích đáng đối với tác giả bản luận văn cũng như hội đồng chấm luận văn” (nguồn: http://119.15.167.94/qdndsite/vi-vn/61/43/chong-dien-bien-hoa-binh/mot-goc-nhin-phan-van-hoa-va-phi-chinh-tri/250927.html).

Nhận xét về chiến dịch “đánh” Nhã Thuyên, trên blog của mình, GS Trần Đình Sử, nguyên Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội viết: “Cuộc phê phán luận văn thạc sĩ năm 2010 của giảng viên đai học Đỗ Thị Thoan hiện đang rầm rộ khắp cả nước, trên các báo lớn, báo nhỏ với đủ các từ quy kết nặng nề như “phản văn hóa”, “phản động”, “mượn danh khoa học để làm chính trị”, “ngụy khoa học”, “sự lệch chuẩn”, “sự nổi dậy của rác thối”, “tham vọng soán ngôi của rác thối”… Một đám cháy đang bùng lên dữ dội trên văn dàn. (…) Đồng thời với sự phê phán là các đề nghị cách chức, xử lí những người hữu quan, và thực tế đã không tiếp tục kí hợp đồng giảng dạy với cô giáo Nhã Thuyên một cách vội vàng, chưa đủ thủ tục pháp lí. Thông thường người ta chỉ xử lí sau khi đã nghị án rõ ràng, có người bào chữa, có ý kiến của đương sự. Đằng này tất cả đều làm rất nhanh, bên trên, sau lưng đương sự, thiếu các thủ tục dân chủ tối thiểu trong một xã hội được coi là đề cao dân chủ thì thật tiếc là thiếu sự đàng hoàng”.

Trước sự tấn công ồ ạt của “phe đánh” Nhã Thuyên, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên là người đầu tiên có bài viết phản biện được đăng trên báo chính thống, bài “Từ một bản luận văn”. Bài được đăng trên báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh (báo giấy) số ra ngày chủ nhật 28/7/2013. Sau khi bài được đẩy lên bản điện tử của báo này thì Vietnamnet cũng đăng lại. Tuy nhiên, ngay sau đó cả hai báo điện tử đã gỡ bài xuống (nhưng hiện bài vẫn còn trên trang Báo mới với chú giải nguồn dẫn từ báo Pháp luật TP HCM). Nhiều nhà phê bình, nhiều học giả cho biết những bài viết được xem là có chiều hướng “bênh” Nhã Thuyên của họ đều bị các báo chính thống từ chối đăng tải.

Trong diễn biến đó, lãnh đạo Khoa Ngữ văn đã họp với PGS TS Nguyễn Văn Long, chủ tịch hội đồng chấm luận văn của Nhã Thuyên hồi năm 2010. Không hài lòng với kết quả cuộc họp với PGS Nguyễn Văn Long, ngày 27/7/2013, Khoa Ngữ văn trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã tổ chức một hội thảo khoa học mở rộng lấy ý kiến các nhà khoa học về luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên. Hội thảo được tổ chức với chiêu bài mổ xẻ các vấn đề có tính học thuật trong một luận văn thạc sĩ đã được thẩm định nhưng không hề có mặt toàn bộ hội đồng chấm cũng như tác giả của luận văn.

Theo một học giả được mời, hội thảo gần giống như một cuộc “họp kín”. Các đại biểu tham gia hội thảo được yêu cầu không sử dụng máy ghi âm cũng như không được tiết lộ nội dung hội thảo ra ngoài. Tuy nhiên, kết quả cuộc họp có thể không đạt mục tiêu “đánh” Nhã Thuyên khi mà nhiều học giả bày tỏ quan điểm đòi hỏi phải có một ứng xử khoa học với một công trình khoa học. Một nguồn tin khác thì kể lại với chúng tôi: “Trong số các ý kiến có đòi hỏi cần phải ứng xử khoa học với luận văn có GS Đặng Anh Đào và GS Phùng Văn Tửu. Cả hai giáo sư này đều khẳng định, việc họ đến bắt tay ông Chu Giang rồi khen phát biểu của ông ấy hay như tường thuật trong một bài báo là không chính xác”. Bài báo mà nguồn tin này nhắc đến là bài cuối trong loạt bài “Luận văn thạc sĩ “Vị trí của kẻ bên lề…” được đăng trên báo Thanh tra (http://thanhtra.com.vn/ky-cuoi-khong-the-xam-pham-gia-tri-thieng-lieng_t221c8n57577tn.aspx).

Tận diệt?

Sau sự kiện trên, sự việc tạm thời im ắng. Nhã Thuyên đã bị mất việc làm, PGS TS Nguyễn Thị Bình bị hao tổn tâm trí, dư luận ngỡ rằng có thể “họ” đã để cho vụ việc trôi vào dĩ vãng.

Đột nhiên, đầu tháng 3, giới chuyên gia trong và ngoài nước được một phen bổ chửng khi được biết, PGS TS Nguyễn Thị Bình, người hướng dẫn Nhã Thuyên làm luận văn thạc sĩ, buộc phải về hưu trong một bối cảnh hết sức bất bình thường.

Theo thông báo của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội mà PGS TS Nguyễn Thị Bình cung cấp cho báo Kinh doanh và Pháp luật, bà Bình sinh tháng 9/1956. Đến tháng 9 tới, bà Bình tròn 58 tuổi. Theo nghị định 141 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ĐH, nữ giảng viên ĐH có chức danh phó giáo sư được kéo dài thời gian làm việc so với tuổi nghỉ hưu mà pháp luật hiện hành quy định không quá 7 năm. Như vậy, về lý, bà Bình có thể được giảng dạy tại Khoa Ngữ văn đến tháng 9/2018, nếu thoả mãn hai điều kiện: (1) bà Bình có đủ sức khoẻ, tự nguyện kéo dài thời gian làm việc; (2) cơ sở GD ĐH có nhu cầu và chấp thuận. Điều kiện (1), theo diễn đạt của bà Bình gửi cho báo Kinh doanh và Pháp luật thì bà có đủ sức khoẻ và tự nguyện kéo dài công việc. Vấn đề còn lại ở điều kiện (2). Theo thông báo của trường, quả là có chuyện Đảng uỷ Trường ĐH Sư phạm Hà Nội “không đồng ý kéo dài thời gian làm việc với PGS TS Nguyễn Thị Bình”. Nhưng tại sao “không đồng ý” thì đến nay Đảng uỷ cũng như Ban giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội chưa có bất kỳ lời giải thích nào mặc dù bà Bình đã bốn lần đề nghị bằng văn bản.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, rất khó xảy ra khả năng PGS TS Nguyễn Thị Bình buộc phải về hưu là do khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội không còn cần đến sự đóng góp của bà. Được biết, đến thời điểm nhận thông báo trên, PGS TS Nguyễn Thị Bình là tổ trưởng Tổ Văn học Việt Nam hiện đại của Khoa Ngữ văn. Hiện tại Tổ Văn học Việt Nam hiện đại của Khoa Ngữ Văn vẫn chưa có tổ trưởng. Ban đầu, Khoa Ngữ văn đề xuất bổ nhiệm TS Chu Văn Sơn bởi ông đang là tổ phó, nhưng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội không chấp nhận (dư luận nghi ngờ có thể vì TS Chu Văn Sơn là thành viên của hội đồng chấm luận văn Nhã Thuyên hồi 2010 và ông đã từng cho luận văn này điểm 10). Về sau nhà trường định bổ nhiệm PGS TS Vũ Thanh (lúc đó đang là Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn) trong khi ông Thanh không nghiên cứu văn học Việt nam hiện đại. Nhưng ông Thanh từ chối nên đến giờ TS Chu Văn Sơn vẫn tạm thời phụ trách Tổ Văn học Việt Nam hiện đại.

Đã vậy, trong số 7 giảng viên của nhóm Văn học Việt Nam sau 1945, bà Bình là người duy nhất có học hàm Phó Giáo sư, đồng thời cũng là người duy nhất trong nhóm đến nay được nhà nước phong học hàm. Việc PGS TS Nguyễn Thị Bình nghỉ hưu đột ngột để lại một mảng trống khá lớn không chỉ cho cho chuyên đề mà bà được phân công giảng dạy mà cho cả nhóm Văn học Việt Nam sau 1945. “PGS Bình nghỉ, hiện chúng tôi có 6 người, nhưng thực tế tham gia hoạt động giảng dạy tại khoa chỉ 3 người do 3 người kia hiện đang đi học hoặc đi làm việc ở nước ngoài. Vì thế chắc chắn chúng tôi phải trằn ra mà gánh thêm việc trước kia vốn là của PGS Bình. Hiện chúng tôi dạy bình quân 750 tiết/ năm, như vậy là đã nhiều. Tình hình này có thể sắp tới chúng tôi phải dạy trên 1.000 tiết/ năm mà như thế thì thực sự quá tải trong khi chúng tôi cần có thời gian để làm nghiên cứu”, một giảng viên khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội cho biết.

Quả là một khó khăn lớn cho những người ở lại nếu như họ phải “gánh” thêm việc của PGS TS Nguyễn Thị Bình khi mà hiện nay bà là chuyên gia duy nhất về văn học Việt Nam sau 1975 của khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. “Để có thể bắt tay vào dạy một chuyên đề, giảng viên cần phải có thời gian chuyên tâm nghiên cứu ít nhất 6 tháng. Tôi cho rằng đây là điều không đơn giản, bởi tất cả chúng tôi cũng đang phải trằn lưng nghiên cứu những vấn đề trong mảng mà mình phụ trách”, cũng vị giảng viên trên cho biết.

Như vậy, việc dư luận suy diễn lý do Đảng uỷ Trường ĐH Sư phạm Hà Nội “không đồng ý” cho PGS TS Nguyễn Thị Bình kéo dài thời gian công tác do bà là người hướng dẫn Nhã Thuyên làm luận văn năm 2010 là có cơ sở.

Suy diễn này càng có cơ sở hơn khi mà ngày 27/3/2014, trên blog của mình, Nhã Thuyên thông báo về việc cô bị Phòng Sau ĐH của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội mời đến để nhận các quyết định các quyết định thu hồi bằng và hủy luận văn thạc sĩ. “Tôi không đồng ý nhận các quyết định này vì tôi cho rằng hai quyết định này hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý và minh bạch về các thông tin: như hội đồng chấm, các biên bản nhận xét của hội đồng, v.v”, Nhã Thuyên viết. Cô đề nghị được cung cấp thông tin về các giấy tờ và hồ sơ có thể kèm theo như biên bản thành lập hội đồng thẩm định, các nhận xét của từng thành viên hội đồng, v.v… nhưng không được đáp ứng. Hiện Nhã Thuyên đang chờ giải thích mới nhất từ Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội liên quan tới các quyết định thu hồi bằng thạc sĩ và thu hồi luận văn của cô.

Thư Hiên

Sau “bí mật” Đảng uỷ Trường ĐH Sư phạm Hà Nội không đồng ý kéo dài thời gian làm việc với PGS TS Nguyễn Thị Bình được tiết lộ với truyền thông, trên các trang mạng cũng dấy lên đồn đoán về việc Trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã tổ chức thành lập một hội đồng chấm lại luận văn của Nhã Thuyên. Hội đồng này cũng được tổ chức theo một cách thức bí mật, nghĩa là cho đến nay không một ai được biết thật sự có hay không một hội đồng như thế, ngay cả Nhã Thuyên – tác giả luận văn, và các thành viên chấm thẩm định luận văn năm 2010. Cũng theo đồn đoán, trong số các thành viên của hội đồng chấm lại, không một ai có công trình nghiên cứu về văn học Việt nam hiện đại, đương đại.

Nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi của Khoa Ngữ Văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội cho biết họ đặc biệt phẫn nộ trước hành xử thiếu khoa học trong một môi trường khoa học có uy tín bậc nhất quốc gia như Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. “Chúng tôi liên tục đề nghị được gặp lãnh đạo nhà trường để bày tỏ sự bất bình trong quan điểm xử lý vụ vụ việc nhưng họ đều lảng tránh”, một vị cho biết.

 

————————————————————————–

 

 Bài liên quan 

1/ ►Nhã Thuyên: Không nhận quyết định thu hồi bằng và quyết định huỷ luận văn thạc sĩ của trường ĐHSP Hà Nội vì “thiếu cơ sở pháp lý và minh bạch”

2/ ►Ai đã đem luận văn của Nhã Thuyên ra ngoài cho ban Tuyên Giáo và báo chí đánh phá, ra lệnh cho ĐHSP Hà Nội tước học vị thạc sĩ Nhã Thuyên, và buộc một Trưởng Khoa về hưu non?

3/ Bùi Chát được trao giải ‘Quyền Tự Do Xuất Bản’ của IPA « T

 

Ai ra lệnh  báo chí và các bút nô  đánh Nhã Thuyên? 

Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương 

18-3-2014

Nguồn: boxitvn.net

Dưới đây là trích đoạn từ một công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương. Sau này, nếu ai có hứng thú nghiên cứu, xin mách một đề tài hay, xứng đáng tầm luận án tiến sĩ: Tự do ngôn luận nhìn từ công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Quả là Ban Tuyên giáo Trung ương có “con mắt nhìn sáu cõi”, quán xuyến từ nhỏ đến to, từ trong nước đến quốc tế.

Chuyện luận văn của Đỗ Thị Thoan ba năm sau khi bảo vệ với đánh giá xuất sắc, bị “phê bình tập thể” và nay bị “hội đồng thẩm định” ra quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm [sic!] thạc sĩ, Ban Tuyên giáo chỉ thị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều”, nghĩa là bịt miệng dân.

Nhân tiện, xin hỏi: Có công khai được danh sách các nhà “khoa học” tham gia cái “hội đồng thẩm định” đó không ạ? Ý kiến cụ thể của từng vị ra sao ạ? (Và cũng xin nhắc để mọi người nhớ rằng, PGS TS Nguyễn Thị Bình vì ‘tội” hướng dẫn cho cô Đỗ Thị Thoan, đã bị cho về hưu sớm đấy – xin xem ở đây).

Chuyện nhỏ mà, chứ có to như chuyện máy bay trở [sic!] khách MH370 của Malaysia bị mất tích đâu, xin cứ công khai để bàn dân thiên hạ biết “hội đồng” đã làm việc một cách đầy lương tâm chức nghiệp như thế nào.

Chuyện Ucraina cách Việt Nam mấy ngàn cây số cũng được Ban Tuyên giáo quan tâm sâu sát. Không phải vì Việt Nam có quyền lợi gì ở xứ Ucraina xa xôi, như EU hay Mỹ, mà hẳn là vì Ban lo xa, sợ dân Việt liên hệ với tình hình trong nước, thì bất lợi cho việc “trị an”. Chứ không sao?!

Báo chí Việt Nam bị “cầm tay chỉ việc” như thế, mà Việt Nam vẫn tự hào là đảm bảo quyền tự do ngôn luận, vẫn đường đường là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cơ đấy!

Hình như một nhân vật của Nam Cao, để tán thưởng, thường hay vỗ đùi kêu lên: “Tài thật! Tài thật! […]”.

Bauxite Việt Nam

clip_image002_thumb1.jpg

Nguồn ảnh: FB Nhị Linh  

 

 

Nhóm Mở Miệng

Để biết thêm điều gì đã làm cho nhóm Mở Miệng bị xem là phản động và lấy văn chương kích động người đọc ra sao, mời quý vị nghe bài thơ mang tên “chúng nói: sông có thể cạn, núi có thể mòn” của Lý Đợi qua giọng đọc của chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, ông Hữu Thỉnh:“

Chúng nó nói
Chúng nói
Sông có thể cạn
Núi có thể mòn

Chúng nói
Sông có thể cạn Núi có thề mòn

Và tôi thấy chúng làm:

Chúng đuổi người đi đường
Chúng không cho người dân cất tiếng nói
Chúng bao vây và trấn áp người biểu tình chống xâm lăng
Chúng cho người trà trộn vào đám đông biểu tình để phá thối, gây chia rẽ

Chúng bảo chúng ta bị xúi giục
Chúng coi thường sự hiểu biết của nhân dân
Chúng bảo mất Hoàng Sa – Trường Sa không phải lo.
Hãy về nhà ngủ và tin vào Cộng sản và nhà nước.
(Tin chúng mày để hôm nay thấy Sài Gòn & Hà Nội đầy một lũ tay sai Bắc Kinh à?)

Chúng vu khống những người yêu nước là phản động
Chúng muốn chúng ta vĩnh viễn là nô lệ
Chúng đã lăng mạ lòng tự trọng dân tộc
Chúng đã phỉ nhổ vào lịch sử
Chúng đã đập bàn thờ tổ quốc
Chúng đã ném cứt vào xương máu những người đã chết cho quê hương

Chúng tóm cổ các nhà báo tự do
Chúng đe doạ, đánh đập văn nghệ sĩ
Chúng khủng bố các nhà trí thức
Chúng theo dõi điện thoại, email
Chúng hiếp dâm nhân quyền…

Và chúng nói tiếp, sau khi làm:
“song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

 

 

Thơ của Bùi Chát,  “Nhóm Mở Miệng”

Ai?

Tôi gặp gỡ những người cộng sản
Những người anh em của chúng tôi
Những người làm chúng tôi mất đi ký ức
Mất đi tiếng nói bản thân
Mất đi những cái thuộc về giá trị
Chúng tôi còn sở hữu duy nhất một điều
Nỗi sợ

Tôi trò chuyện với những người cộng sản
Những người anh em
Những người muốn chăn dắt chúng tôi
Luôn biến chúng tôi thành đồ hộp
Hy vọng chúng tôi đời đời biết ơn

Những người cộng sản
Anh em chúng tôi

Chưa bao giờ thấy họ tự hỏi
Trong ngồi nhà đen đủi này
Ai muốn thừa kế di sản của họ?

Cũng như em, tôi không hát một mình

Dưới lớp da nạm vàng
Có thể gãi thứ mình muốn ngứa?

Tôi đâu biết đêm dài quá vậy
Chẳng còn nhiều người thức đợi ngày mai
Ai đó thì thoảng thắp lên ngọn đèn
để xua đuổi tai ương

Đáp lại những câu thời dài tuyệt vọng
Em đã đến cạnh tôi nguyện ước
Vòm đêm không chút dấu hiệu thay đổi
Chúng ta bay đến lúc hết hơi

Sống

Chọn một niềm đau. Mỗi ngày
Để sẻ chia với thế giới
Dân tộc này

Chọn một niềm tin. Mỗi ngày
Để có mặt trên trái đất
Lãnh thổ này

Chọn một cái chết. Mỗi ngày
Trong con mắt chế độ

Để được tự do

Không thế khác

Những người anh em

Đã phản bội chúng tôi

Đã nén chúng tôi vào ngục

Đã nhuộm đỏ màu da chúng tôi

Đã hy sinh mạng sống chúng tôi

Cho những giấc mơ ngột hứng của họ

Những người anh em

Vẫn lừa lọc chúng tôi

Vẫn tước đoạt ánh sáng, giọng nói chúng tôi

Vẫn dọa chúng tôi

Bằng súng và thực phẩm

Ngoài sức tưởng tượng của họ

Chúng tôi

Dưới bầu trời đen thẳm

Từng ngày từng ngày

Không lúc nào ngơi nghỉ

Việc nghĩ đến họ

Cầu

Nguyện

*

 

 

 

Chân dung các ông Trùm  ra lệnh đánh Nhã Thuyên- 

 

Ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương- Hình 14-1-2014- (Ảnh: TTXVN)

 
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90inh_Th%E1%BA%BF_Huynh
 
 

Nguyễn Thế Kỷ – Phó ban Tuyên giáo Trung Ương

 

Ông Hồ Quang Lợi – Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Vietnamnet

 
 
 
———————————————————–
 

Nhóm Mở Miệng

Nhóm “Mở Miệng”- Từ trái sang: Bùi Chát, Khúc Duy, Lý Đợi, Nguyễn Quán, ảnh chụp năm 2006. Courtesy PhanNguyenBlog

 
——————————————————-
 

Nhã Thuyên

 

Nhã Thuyên- Đỗ Thị Thoan

 

—————————————————-

 

 Luận văn Vị Trí Của Kẻ Bên Lề: Thực Hành Thơ Của Nhóm Mở Miệng Từ Góc Nhìn Văn Hóa

Nguồn: Tạp chí Da Màu   http://damau.org/archives/31300

[Trích]  Trong quan điểm của Kệ Sách eBook (http://kesach.org), bản luận văn Vị Trí Của Kẻ Bên Lề: Thực Hành Thơ Của Nhóm Mở Miệng Từ Góc Nhìn Văn Hóa đã thuộc về công chúng (public domain) từ lâu. Trước khi cái thế lực đen tối sau lưng biến cố Luận Văn Nhã Thuyên chỉa mũi dùi vào tác giả, thạc sĩ Đỗ Thị Thoan – tức Nhã Thuyên, bản in luận văn này đã được phổ biến trong một hay nhiều hệ thống thư viện trong nước như trong hình dưới đây. Sau khi nổ ra sự kiện luận văn, hầu như không ai còn có thể tìm được luận văn này, và điều hợp lý nhất để giải thích hiện tượng này là văn bản đã bị tịch thu và cấm lưu hành công khai.

Kệ Sách eBook quyết định công bố toàn bộ bản in điện tử luận văn Vị Trí Của Kẻ Bên Lề: Thực Hành Thơ Của Nhóm Mở Miệng Từ Góc Nhìn Văn Hóa bởi vì sự cần thiết của văn bản cho tất cả những ai quan tâm đến sự cố “Luận Văn Nhã Thuyên” và những nội hàm vô cùng quan trọng của nó không những cho ngành giáo dục trong nước mà còn, ở một bình diện cao/rộng hơn, phát triển tư tưởng và văn hóa của nhân dân cả nước.

Xin mời vào trang Kệ Sách eBook để đọc toàn bộ luận văn  Vị Trí Của Kẻ Bên Lề: Thực Hành Thơ Của Nhóm Mở Miệng Từ Góc Nhìn Văn Hóa của thạc sĩ Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên).

Ngoài ra, Kệ Sách xin giới thiệu toàn bộ đường dẫn đến tiểu luận “Những Tiếng Nói Ngầm” của Nhã Thuyên trên mạng Da Màu để bạn đọc có thêm cơ hội tham khảo các tư liệu có liên hệ mật thiết đến bản luận văn đầy sóng gió của thạc sĩ Đỗ Thị Thoan:

 

 

Advertisements

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Phỏng vấn cựu Đại úy Nguyễn Hữu Cầu, người tù 38 năm đã được trả tự do

Posted by hoangtran204 trên 30/03/2014

Cựu Đại úy Nguyễn Hữu Cầu, người đã ở trong nhà tù Cộng Sản 38 năm đã được thả về vào tháng 21-3-2014. Lần đầu ông ở tù tử 1975-1980, lần thứ nhì là từ 1982-2014. Ông bị bắt lại hồi năm 1982 vì lên tiếng tố cáo 2 cán bộ cao cấp của tỉnh tham nhũng và hiếp dâm. 

“Ông Nguyễn Hữu Cầu sinh năm 1945, quê quán Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ông từng là một nhà thơ, soạn giả bài hát và là một cựu sĩ quan quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước đây. Ông bị bắt làm tù binh hồi năm 1975 cho đến năm 1980.

Năm 1981, ông viết đơn tố cáo và làm thơ lên án Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân và phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang về những hành vi tội ác như tham nhũng và hiếp dâm…Đơn của ông gởi ra cho báo Nhân Dân ngoài Hà Nội, nhưng sau đó “cái đơn đó nó lộn về tỉnh, nó dùng quyền lực, nó bức chế tôi”. Hà Nội gởi đơn này vào cho viện trưởng Viện Kiểm Sát Tỉnh Kiên Giang, là người mà ông đã tố cáo.  Ông bị bắt hồi tháng 10 năm 1982. Khi công an xét nhà thì họ tịch thu được mấy bản nhạc và thơ do ông sáng tác, thế là ông bị kết tội phản động chống lại nhà nước. Đến tháng 5 năm 1983, ông bị tòa sơ thẩm kết án tội phá hoại với mức tử hình. Mẹ ông kháng án, tại phiên xử phúc thẩm 2 năm sau đó án giảm xuống còn chung thân.

Khi vào tù ông Nguyễn Hữu Cầu thường bị biệt giam và đối xử hết sức khắc nghiệt. Thế nhưng ông vẫn cho rằng bản thân không hề có tội gì.” (RFA)

Lệnh đặc xá ông Nguyễn Hữu Cầu được ban hành dựa trên Điều 21 Luật Đặc Xá:để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước”:

Điều 21. Người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đang chấp hành hình phạt tù, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà không phụ thuộc vào các điều kiện quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.

Dưới đây là 2 cuộc phỏng vấn của phong trào CĐVN và của đài Á Châu Tự Do và 2 bài viết về tù nhân lương tâm nay. 

 

https://www.youtube.com/watch?v=jTzqwdzms2c

 

Tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu được trả tự do

RFA-22-03-2014
2014-03-22

http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/pris-ng-h-cau-get-amne-03222014090742.html

Ông Nguyễn Hữu Cầu, người được mệnh danh là tù nhân lương tâm thế kỷ, vừa được đặc xá về đến nhà vào 9 giờ tối ngày hôm qua.

Tuy nhiên trong ngày hôm nay ông phải nhập viện vì sức khỏe quá yếu. Vào lúc 17 giờ chiều hôm nay, người con trai của ông là anh Trần Ngọc Bích khi đang làm thủ tục nhập viện cho ông này tại bệnh viện tỉnh Kiên Giang cho Đài Á châu Tự do biết thông tin liên quan như sau:

Trần Ngọc Bích: Ba em về nhà hồi 9 giờ tối, trên trại giam đưa về. Sáng nay cũng khoảng 9 giờ thì Ba em kêu mệt, nên em có chở ba em ra ngoài bệnh viện huyện ở đó họ bảo phải chuyển lên bệnh viện tỉnh liền vì máu không lên não, thiếu máu tim trầm trọng. Hiện nay em đang làm thủ tục cho ba em nhập viện liền vào bệnh viện tỉnh Kiên Giang

Tình hình ông ra sao ông có nhận biết được mọi người không ạ?

Trần Ngọc Bích: Dạ nhận biết, nhưng tình trạng sức khỏe rất yếu ngồi không được chỉ nằm, hiên đang chờ truyền máu.

-Thưa, khi đưa về thì ai đưa về và nhà có được báo trước không?

Trần Ngọc Bích: Dạ thưa ngày hôm qua thì có ông phó giám thị trại giam, một ông ở trại giam trên và một ông bác sĩ của trại giam cùng hai ông công an dưới tỉnh đưa từ 7 giờ sáng dưới Đồng Nai đến 9 giờ tối thì về đến nhà em.

-Sau khi họ đưa về nhà thì họ trao cho cái lịnh phải không ạ?

Trần Ngọc Bích: Dạ đưa lệnh đặc xá cho em giữ

Anh có thể cho biết lệnh đặc xá do ai ký và ký ngày nào?

Trần Ngọc Bích: Thưa …Ủy quyền của Chủ tịch nước và ký ngày 21 để đặc xá cho ba em..

Xin phép được nhắc lại, ông Nguyễn Hữu Cầu là một cựu sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc đại úy. Sau năm 1975 ông phải đi cải tạo 5 năm.

Ông bị bắt lại hồi năm 1982 vì sáng tác nhạc chống chính quyền Hà Nội, cũng như việc lên tiếng tố cáo cán bộ tỉnh tham nhũng và hiếp dâm. Tòa án sơ thẩm kết án tử hình ông, và sau đó giảm xuống thành án chung thân.

Ông bị giam tại trại giam Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai. Dù bị bệnh tật và mù một mắt, thế nhưng thân nhân ông cho biết ông không bao giờ chịu ký vào giấy xin ân xá theo đề nghị của trại giam.

Cháu gái của ông đã nhiều lần viết đơn gửi đến các cấp lãnh đạo cao nhất nước đề nghị trả tự do cho ông. Ngoài ra những tổ chức theo dõi nhân quyền như Văn bút Quốc tế cũng đề nghị Việt Nam trả tự do cho ông Nguyễn Hữu Cầu.

 

Thông tin mới về ông Nguyễn Hữu Cầu

Gia Minh, PGĐ RFA
2014-03-24

Tù nhân chính trị Nguyễn Hữu Cầu, người phải thi hành án tù chung thân hơn 30 năm mới được đưa về nhà hồi thứ sáu tuần rồi. Thế nhưng cũng như một tù nhân được ‘đặc xá’ trước ông là nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định, ông Nguyễn Hữu Cầu hiện phải nằm viện để trị bệnh.

Sức khỏe kém

Anh Trần Ngọc Bích, con trai ông Nguyễn Hữu Cầu cho RFA biết:

Bây giờ ba em đang nằm ở bệnh viện Bình An của tỉnh Kiên Giang. Ngày hôm qua ba vô 4 bịch máu nên thấy ba khỏe rồi anh. Bữa nay bác sĩ hội chẩn lại thì không vô máu nữa để ba nghỉ một ngày  cho khỏe cái tay bên kia. Bữa nay chỉ chuyền hai chai nước thôi. Giờ này ba phải nghỉ ăn để ngày mai bác sĩ nội soi dạ dày để xem ba có bị gì không mà cứ than đau dạ dày.

Gia Minh: Sau những lần truyền máu cũng như truyền nước để hồi phục lại thì ông đã có những trao đổi gì với gia đình ngay sau được đặc xá đưa về nhà như thế?

Anh Trần Ngọc Bích: Thưa anh, xe trại giam đưa ba em về lúc 9 giờ tối ngày 21-3 . Lúc đó vòng vòng ở xóm cũng lại mừng ba. Gia đình em và đặc biệt con nhỏ con gái của em, nó với ông nó nói chuyện đến khoảng 1 giờ mới đi ngủ. Ba em cũng chưa tâm sự được chuyện gì riêng tư, thầm kín hết. Ba chỉ mới hỏi hoàn cảnh sống thôi. Tới sáng lại ba ăn được nửa chén cháo với 2 trái chuối thì ba mệt. Em đưa ba ra bệnh viện của làng để vô hai chai nước biển; Xong rồi chuyển lên bệnh viện huyện. Ở đó thì biết ba bị thiếu màu trầm trọng nên phải chuyển đi gấp lên bệnh viện tỉnh. Ba về đến nhà em chỉ được một đêm đó thôi. Sáng hôm sau hai chị em em phải đưa ba đi lên bệnh viện tỉnh Kiên Giang cho tới giờ phút này anh.

Ba về đến nhà em chỉ được một đêm đó thôi. Sáng hôm sau hai chị em em phải đưa ba đi lên bệnh viện tỉnh Kiên Giang cho tới giờ phút này anh.
– Anh Trần Ngọc Bích

Gia Minh: Ông phải chữa bệnh nên chưa nói chuyện được gì với gia đình đó nhưng rồi những người hàng xóm đến gặp thì ông có nói chuyện được với họ không ?

Anh Trần Ngọc Bích: Dạ khi ba về thì cũng có mấy người hàng xóm lại. Họ cũng hỏi ba em năm nay bao nhiêu tuổi. Ba em cũng trả lời là 68 tuổi Tây, 69 tuổi Ta ; Nói chuyện cũng rôm rả,vui vẻ. Bà con lối xóm ai cũng khen bác Cầu hài hước. Với gia đình em thì tâm sự cũng không được bao lâu, chỉ được có mấy tiếng thôi.

Gia Minh: Trước khi bị bắt thì ông ở tại địa phương đó hay là ở chỗ khác?

Anh Trần Ngọc Bích: Thưa anh, trước khi ba bị bắt thì ba ở trên Rạch Giá với người mẹ ruột tức là bà nội của em. Bà em đã mất năm 92 rồi. Bà nội ở với ông nội sau. Khi ba về thì ở Rạch Gía, nhà cửa thuộc về con của ông nội sau hết. Vì vậy ba không về trên đó. Ba về ở với em ở ấp An Hòa, xã An Minh Bắc.

Gia Minh: Là địa phương hiện nay phải không ạ? Hay là chỗ khác nữa?

Anh Trần Ngọc Bích: Dạ địa phương chỗ em ở là từ năm 93 đến năm 2004 thì em mới tìm biết được ba đó, mới biết là ba đang ở tù. Em ở đây từ đó đến giờ.

Gia Minh: Như vậy những người biết ông trước khi ông bị bắt vào năm 1982 thì còn có ai không?

Anh Trần Ngọc Bích: Theo như em được biết thì chỉ có một người duy nhất thôi mà người đó hiện nay đã chết rồi anh. Ông đó là người cho em biết tin về ba. Khi em làm lý lịch năm 99  thì ông đó nói : “Con không phải là con của ông Trần Văn Phụng đâu mà con là con của ông Nguyễn Hữu Cầu; Người đang bị kêu án tử hình ở rạp hát Châu Văn nhưng rồi xuống còn án chung thân.” Bác đó nói là ba em đang ở tù ở miền Trung . Em nghe bác và đã đi tìm ba em. Em tìm được ba em vào năm 2004. Theo như em được biết, hiện nay, chắc cũng còn một, hai người biết thôi nhưng mà những người biết chắc cũng lớn tuổi rồi anh.

Gia Minh: Sau khi đã có những thông tin như vậy và anh đã khai như vậy thì nó có ảnh hưởng gì đến công việc làm của anh không ạ?

Anh Trần Ngọc Bích: Thưa anh là không. Trong đời em, buồn nhất là em bị mất họ. Em có họ Nguyễn nhưng mẹ em lấy chồng khác và em phải mang họ Trần của ba sau. Bây giờ ba em đã về với em rồi, đối diện với em rồi, em đã kêu bằng ba, tình phụ tử có rồi nhưng buồn vì em lại phải khác họ và cả con gái em cũng như thế.

Gia Minh: Khi ông nằm trên bệnh viện như vậy thì có ai đến thăm không?

Anh Trần Ngọc Bích: Dạ thưa anh, cũng có mấy chú ngày xưa là bạn của ba đến thăm. Ngày hôm qua có chú Hoàng Long với thêm một chú và một cô nữa đến. Lúc đó em không có ở đó nên em nghe ba nói lại là có chiến hữu của ba ngày xưa cùng với hai, ba người đến thăm; đồng thời họ có cho ba 4 triệu đồng để ba trị bệnh.

Gia Minh: Như vậy từ hôm th Sáu đến hôm nay, địa phương đã làm việc gì với gia đình về việc đăng ký cho ông tại địa phương không?

Anh Trần Ngọc Bích: Thưa anh, trong cái giấy đặc xá của ba em có dòng ở dưới ghi là phải trình cho chính quyền địa phương ngay ngày hôm nay. Ba phải đang nằm bệnh viện nên em có tranh thủ về mang một ít vật dụng cá nhân cho em và cho ba. Em có đến chính quyền địa phương và trình bày với họ như thế và xin họ khi nào ba em hết bệnh sẽ chở ba em đến trình diện chính quyền địa phương. Họ cũng không có nói gì anh.

Gia Minh: Thay mặt cho quí thính giả, xin cảm ơn anh những thông tin mới nhất về trường hợp của ba anh, ông Nguyễn Hữu Cầu.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/update-released-nhcau-gm-03242014112556.html

 

Người tù bất khuất Nguyễn Hữu Cầu

 

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-03-28

Người ở tù nhất Việt Nam Nguyễn Hữu Cầu cuối cùng cũng đã được trở về với tự do. Tuy già yếu và gia đình vẫn rất khó khăn nhưng hình như ý chí đấu tranh của ông vẫn không hề giảm sút sau 37 năm bị giam giữ. Mời quý vị theo dõi câu chuyện của ông qua cuộc trao đổi với Mặc Lâm sau đây.

Mặc Lâm: Thưa anh đầu tiên là xin chúc mừng anh tuy muộn màng nhưng cuối cùng cũng đã về sum họp với con cháu nhất là đứa cháu nội rất dễ thương đã nhiều lần viết thư kêu cứu cho anh. Hiện nay anh đang nằm trong bệnh viện để kiểm tra lại sức khỏe của mình anh có thể cho biết cái cảm giác sau bao nhiêu năm mà anh không có được nó như thế nào?

Ô. Nguyễn Hữu Cầu: Ngắn gọn là như giấc mơ! mình không ngờ là cuộc đời mình phủi hết, không còn gì hết, nhưng khi về còn được hai giọt máu, rồi thêm được hai, ba đứa cháu mà nó cũng có cái gene di truyền. Sao nó mới 13, 14 tuổi mà nó làm kinh động võ lâm, rồi nhờ chú bác ở ngòai cũng tiếp sức nữa nó mới mạnh để về!

Hoàn cảnh gia đình thì cũng ấm áp nhưng mỏng lắm. Thằng cháu dưới này đi dạy học một tháng bốn, năm triệu. Trên kia đứa con gái có cái tiệm giặt ủi rồi gom cho ba được 12 triệu năm trăm ngàn. Mình vô mới có ba ngày máu nó tính 14, 15 triệu, quỷnh quá tính dọt về chùa nằm, kệ mẹ nó chết sống gì cũng được, chứ không bây giờ về 32 năm không có lo cho các con, về báo cô, nó làm hết trơn tháng lương, lấy đâu mà lo cho mấy đứa nhỏ?

Rồi nhiều lần, hai lần định tự tử nhưng mà tới giờ đó tự nhiên tâm linh gì khiến mình mạnh mẽ lại. Có nhiều lần nghĩ đến ông Tổng thống Nelson Mandela ổng đáng tuổi cha mình vẫn ráng phấn đấu ở đến 27 năm. Lúc 18, 19 năm mình cũng thần tượng ổng lắm

Ô. Nguyễn Hữu Cầu

Rồi sau này có mấy ông bạn ở Sài Gòn gởi lai rai xuống cho cũng được bốn, năm trăm đô gì nữa, vậy cũng đủ rồi, mừng quá đủ trả tiền viện, rồi trả máu, rồi trả đại khái tiền thuốc của sáu ngày. Tính là chừng hai, ba bữa nữa xin xuất viện rồi đi Sài Gòn, nhiều anh em khuyên lên đó để họ sắp xếp.

Mặc Lâm: Nghe cái cách anh diễn ta thì coi bộ vẫn còn lạc quan lắm có thể vì được sống chung quanh bởi tình yêu thương của con cái, bạn bè cũng như là dư luận đã làm cho anh lạc quan hay là sự lạc quan này anh đã có trong trại từ lâu rồi thưa anh?

Ô. Nguyễn Hữu Cầu: Thứ nhất cha tôi theo đạo Công Giáo mà mẹ tôi là Phật Giáo do đó Đức Jesus, Đức Thích Ca ngự trị trong tim mình, đức tin nó hướng dẫn cho mình sống. Rồi thêm những hoàn cảnh tù đày của bạn bè, những vấn đề đấu tranh của mình liên tục. Bởi vì mình chính nghĩa, thành ra mình cố gắng, nhờ như vậy nhiều lúc nó cũng mệt mõi lắm.

 

Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu đã được trở về với gia đình
Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu đã được trở về với gia đình

 

Rồi nhiều lần, hai lần định tự tử nhưng mà tới giờ đó tự nhiên tâm linh gì khiến mình mạnh mẽ lại. Có nhiều lần nghĩ đến ông Tổng thống Nelson Mandela ổng đáng tuổi cha mình vẫn ráng phấn đấu ở đến 27 năm. Lúc 18, 19 năm mình cũng thần tượng ổng lắm, mình tự hỏi tại sao mà con người chịu đựng được, rồi mình cầu nguyện luôn thông qua Thiên Chúa để có cái tâm linh kết nối với ổng.

Thành ra bây giờ có nhiều người bạn ở đây, khi về nó giỡn nó nói ông là Nelson Mandela. Tôi nói trời ơi, không có đâu! ông kia người ta vĩ đại còn mình, tại gặp cái đám này nó nhốt hoài thành ra là 32 năm. Chứ làm sao dám so sánh với thần tượng của mình là ông Nelson Mandela được.

Mặc Lâm: Dạ, những ngày cuối cùng trong trại khi anh được kêu lên xe để ra khỏi trại thì anh có tin đó là sự thật hay không? Anh có nghĩ tới điều đó trước khi được ra trại?

 

Ô. Nguyễn Hữu Cầu: Giống như năm 2012, nó đem tôi ra, rồi Quốc hội có tới trại hỏi qua. Họ kêu tôi ra để lên xe, lúc đó tôi ở trại K3 lên xe rồi lên một chiếc xe nhỏ, đại khái xe du lịch. Trong trại mấy em chạy ra mừng, mừng anh về, mừng bác về! Đến chừng ra 200 thước, mở cửa xe bít bùng đặt xuống đút vô trại K3 lại!

Nó nhiều lần như vậy thành ra mình cầm tờ giấy đặc xá, tờ giấy nó cũng kỳ nữa, ở trên là Lệnh Đặc Xá của Chủ tịch nước, ở dưới là ký chứng nhận đặc xá của chủ tịch nước sao nó lòng thòng mà nó không hợp gì hết trơn.

 

Nó cũng hồi hộp, rốt cuộc lần này nó về thật. Rồi về mấy ngày, con cái nói thông tin này kia thì mình biết. À, coi như thế lực thập phương cũng như là khắp thế giới người này, người kia giúp đỡ tác động, đúng là bốn phương tám hướng. Chứ lúc đó mình đa nghi quá vì bị nhiều lần rồi, giống như con chim mà nó gặp cảnh kính cung chi điểu!

Mặc Lâm: Khi còn trong trại có bao giờ anh nghe được những quan tâm của xã hội bên ngoài nhất là ở hải ngoại về trường hợp của anh hay không? Có ai nói cho anh biết là truyền thông của thế giới, rồi người này người khác chẳng hạn như Hạ Viện hay Thượng Viện Mỹ đã tranh đấu cho trường hợp của anh?

Ô. Nguyễn Hữu Cầu: Thông tin nó rất hạn chế. Mỗi lần có một người bạn tù thăm gặp thì luôn luôn trại nó bố trí hai ba cán bộ nó ngồi, nó kèm. Nhưng mà vẫn có rò rỉ nên tôi cũng biết được một số thông tin. Vừa rồi thằng cháu Võ Minh Trí nó tên Việt Khang có làm nhạc bên Asia, rồi một số mới vô sau này, mình biết thêm những gì nữa. Mình đói tin lắm, gom chút chút rồi xâu thành chuỗi và thấy được. Cũng từ cái đó là động lực khiến cho mình vươn lên chứ không thôi nhiều lúc nó mệt quá rồi, tới năm thứ 32 nó quá là mệt rồi, nhờ mấy cái đó giống như liều thuốc bổ nó làm dịu tâm hồn mình lại.

Mặc Lâm: Chúng tôi được biết có một thời gian rất dài anh không liên lạc với gia đình được, con cái thì không biết. Trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy làm sao anh vượt qua khi nguồn lực tài chánh cũng như thức ăn, thuốc men không có thì làm sao anh sống?

Ô. Nguyễn Hữu Cầu: Dạ, suốt thời gian đó, nói ví dụ như thuốc hút hết, mình thì lại ghiền, sáng sáng mò mấy cái đống rác gom lại được vài trăm cái đuôi rồi sả ra, tối lấy tờ báo cũng phì phà. Cơm thì trại lúc đó một tháng nó phát cũng đựợc hai chén muối mình phân ra. Tôi là chuyên gia ở biệt giam, ban đêm cóc nhái nó nỗi lên thì tự nói: thôi để tao nghe lời Phật, mày giúp tao sống, tao cũng làm được chuyện gì đó! Rồi bắt một, hai con rồi cũng làm. Thỉnh thoảng lắm năm, bảy ngày có rau tàu bay, rau sam gì cứ làm, lúc đó sao bao tử nó mạnh khỏe kỳ cục, ngày làm hai chén.  Kẹt lắm, có mấy em nó nuôi heo, nó quăng cho mấy miếng cơm cháy, mình đem mình hấp ăn thêm.

Mặc Lâm: Đó là những thiếu thốn về vật chất còn tinh thần thì sao anh? Anh thấy tình người giữa bạn tù với nhau hay sự đối xử của cán bộ quản lý trại giam họ có tình người hay không khi sống chung với anh một thời gian lâu như vậy?

Ô. Nguyễn Hữu Cầu: Các anh em bạn bè xung quanh kể cả hình sự, chính trị mình không phân biệt. Mấy em thỉnh thoảng nó lên chú chú, anh anh thảy cho mình mấy cục đường, năm ba trái ớt. Rồi cán bộ mà thứ cao thì không có, thứ đại úy, thượng úy họ sợ liên hệ với mình. Nhưng ban đêm đi gác, họ nhá nhá, họ để cho hai gói thuốc, có khi để nửa ký đường cho mình.

Thậm chí có thời gian ở nhà gởi kinh Phật, thánh Kinh vô bị biên bản đốt, thì số cán bộ họ ra họ đọc họ nói: Trời ơi! Cái lời ông Jesus gì đó, ông Thích Ca gì đó hay quá mà sao đốt? Thôi tôi cất lại cho anh, rồi tôi lấy báo ngụy trang đốt phừng phừng lập biên bản có đốt rồi, mai mốt anh mà được đặc xá hay mà được thả về anh ghé nhà tôi.

Hiện nay tôi có gần mấy chục cuốn Thánh Kinh và mấy Kinh Phật đó là do ba bốn ông cán bộ giữ dùm mình đó. Nói tóm lại trong cái âm có cái dương và trong cái dương có cái âm. Mình nghĩ vậy đó, nhưng mà điểm lại kẻ xấu, người tốt thì cứ nói là trời ơi, ngó xuống mà coi Thạch Sanh thì ít Lý Thông thì nhiều! Hoàn cảnh nó vậy đó, chứ không phải tất cả đều xấu.

Mặc Lâm: Quay lại với Lệnh đặc xá của Chủ tịch nước, trong hoàn cảnh kéo dài ba mươi mấy năm trong tù của anh như vậy thì cái lệnh này nó có muộn màng lắm hay không? Anh cảm thấy xúc động hay biết ơn vể cái lệnh này ra sao?

 

Ô. Nguyễn Hữu Cầu: Dạ, xin thông qua cái đài này, cám ơn Chủ Tịch nước đã ký cho tôi cái lệnh về, nhưng mà tôi là rất bất đồng. Bởi vì trong bao nhiêu năm tôi gởi năm trăm lá đơn về cái vụ án, khởi điểm là tôi vì tố giác ông Viện trưởng Viện kiểm sát. Bây giờ nói thẳng phải gọi nó là cái thằng! Nó làm những chuyện hiếp dâm, cướp của. Nó đập đầu người vượt biên tới chết. Tôi gởi đơn ra tận báo Nhân Dân rồi sau cái đơn đó nó lộn về tỉnh, nó dùng quyền lực, nó bức chế tôi.

Tôi đầy đủ chứng cớ chứng minh là tôi không có tội. Rồi tiếp theo đó là vô tù, những cảnh mà cán bộ bán xì ke, ma túy, làm bia giả rượu giả, thực phẩm giả bán ra ngoài cho dân chúng ăn. Rồi lấy công xa chở gỗ từ Xuân Lộc về miền Tây bán, chở gạo về bán tại đất Xuân Lộc này chia hàng trăm triệu như vậy. Trong khi một người ở ngoài người ta lam lũ kẹt quá ăn cắp chiếc xe đạp hay là cái gì đó chỉ có năm ba chục ngàn là ở tù bảy tám năm, còn tụi nó đi một tuần về là vài trăm triệu!

Những cái đó tôi đã viết đơn tố cáo nó. Tố cáo trại K1, nó tôi đưa vô K2, tố cáo trại K2 nó đưa tôi vô K3, rốt cuộc rồi vì lý do đó mà nó không dám đưa cái đơn khiếu nại của tôi lên trung ương đảng và nhà nước. Bởi vì nó biết khi lên trung ương đảng và nhà nước này xét vụ án của tôi thì cái bọn tội phạm, cái bọn giám thị và cán bộ tội phạm nó sợ tôi xì hàng chục vụ án mà hồ sơ chứng từ, chứng nhân, chứng cứ, chứng lý và nhân chứng tôi đã nắm đầy đủ.

Hôm bữa tôi về nó không cho tôi ôm cái xấp hồ sơ đó về. Tôi nói nếu mấy ông không cho mang nó về thì tôi sẵn sàng xé cái giấy Chủ tịch nước cho tôi về! cuối cùng nó cũng phải cho tôi về. Thành ra để chữa bệnh xong tôi cũng tiếp tục làm cái công việc này, công việc đấu tranh cho hòa bình công lý rõ ràng chứ không thể xập xí xập ngầu!

Mặc Lâm: Trong hoàn cảnh bệnh hoạn của anh cộng với sự già yếu và mọi sự đã quá muộn màng rồi mà anh còn tiếp tục tranh đấu nữa thì có quá khổ cho thân anh quá hay không?

Ô Nguyễn Hữu Cầu: Dạ, nói thật với anh là người lính xông xáo như bốn năm chục năm về trước, một tháng ba mươi ngày thì tôi có thể lội rừng, nhưng lần lần thì tôi ngồi tham mưu cầm cái máy, cây viết, rồi bây giờ mà nói già quá thì cái sức cái lực của mình nó già nhưng mà nó phải tòng cái tâm của mình chứ không thể là bất tòng tâm được. Mình dùng chất xám của mình, dùng lời nói của mình để mà tiếp tục những công việc đó.

Bởi vì cả miền Bắc, miền Nam từ hồi xưa tôi quan niệm là cùng con cháu Hùng Vương cùng một trăm trứng sanh ra. Đất nước mình vô tình lọt vô hai cái thế lực như vậy. Nhưng những người miền Nam hiểu rõ, còn những người bị bịt mắt như con ngựa già của Chúa Trịnh nó khăng khăng nó đi. Bởi vậy phải từ từ cải tạo, phải làm lại chứ không phải một sớm một chiều mà được.  Quan niệm của tôi là như vậy, thành ra bây giờ có yếu thì tôi cũng dùng hết tất cả tâm huyết của mình bằng lời nói việc làm, bằng những ca khúc, bằng những vần thơ.  Nó không đến nỗi chạy lên núi xung phong như cách đây ba, bốn mươi năm, rồi B40, M72, mìn Claymore thiết giáp…vậy đó anh!

Mặc Lâm: Xin cảm ơn anh chúc anh sớm bình phục và hạnh phúc với con cháu.

—————————————–

 (24-3-2014)

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | 2 Comments »

►10-1989, TBT Nguyễn Văn Linh xin Liên Xô viện trợ lần cuối, nhưng đã bị Gorbachev xua tay bị từ chối

Posted by hoangtran204 trên 28/03/2014

Nguyễn Văn Linh trong cuốn Bên Thắng Cuộc II: Quyền Bính

27-3-2014

FB Drtuannguyen

Thấy báo chí dạo này bắt đầu nhắc đến ông NVL – Nguyễn Văn Linh. Căn cứ vào cách làm việc của mấy bác trong ban tuyên giáo và Bộ 4T tôi nghĩ chắc là những bài về bác NVL là nằm trong kế hoạch tuyên truyền cả.

Nói đến bác này, tôi nghĩ đại đa số người dân đều nghĩ đến bác ấy như là người khởi xướng “Đổi mới”, người cởi trói cho văn nghệ.

Nhưng đọc Bên Thắng Cuộc thì thấy bác này là người rất bảo thủ và hình như chẳng nắm rõ tình hình thế giới nên khi ra ngoài có những động thái cười ra nước mắt.

 

Trong Chương 14 (Quyển II – Quyền bính) kể rằng bác NVL này không ưa bác Võ Văn Kiệt:

[trích] Ông Bùi Văn Giao kể: “Vừa nghe ông Linh nói chọn ông Mười, tôi thắc mắc ngay ‘Sao không chọn ông Kiệt?’. Ông Linh kể một loạt cái xấu của ông Kiệt rồi nói: ‘Khi tôi mất (ghế)Bộ Chính trị, về Sài Gòn, Sáu Dân không bao giờ gặp tôi’. Anh Linh tốt nhưng thành kiến ai thì chết người đó”. [hết trích]

Đoạn viết về ông NVL đi thăm Đông Đức mới là sống động.

Đọc đoạn này mới thấy mấy người trong khối XHCN họ cư xử với nhau không đẹp mấy.

Đoạn này còn cho thấy vai trò nhỏ bé của VN và những ý kiến của phía VN (thật ra là của ông NVL) làm cho mấy tay trùm như Gorbachev và Honecker xem thường bác ấy lắm.

Họ thậm chí nói móc, nói xỏ lá nữa chứ (chú ý câu chào của Gorbachev). Tôi nghĩ nếu tôi là ông NVL tôi sẽ đáp trả một vài câu thích đáng, nhưng không thấy Huy Đức cho biết ông NVL có nói gì trước lời chào “xỏ lá” của Gorbachev.

[Trích] Tháng 10-1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hoà Dân chủ Đức.

Theo ông Lê Đăng Doanh: “Quyết định đi dự 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức là quyết định trực tiếp của cá nhân anh Linh. Anh Linh đã bàn với Bộ Chính trị về việc phải triệu tập một Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế để cứu phong trào cộng sản, chống chủ nghĩa cơ hội. Anh sang Berlin là để gặp các đồng chí để bàn về việc ấy và gặp Gorbachev.

Trong một cuộc họp, anh Linh nhận xét: Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Ngày 4-10-1989, từ Hà Nội, hãng Interflug của Cộng hoà Dân chủ Đức dành cho ông Linh một ghế hạng thương gia, các thành viên cao cấp khác – Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Trợ lý Tổng bí thư Lê Xuân Tùng, Phó Ban Đối ngoại Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Tạ Hữu Canh và thư ký Lê Đăng Doanh – chỉ ngồi khoang hành khách thường.

Một lễ đón đơn giản được tổ chức tại sân bay Berlin-Schronefeld rồi sau đó đoàn về khách sạn.

Năm giờ chiều ngày 6-10-1989, cuộc mit-tin lớn bắt đầu, trên lễ đài: Honecker ngồi giữa, một bên là Gorbachev, một bên là một phó thủ tướng, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc – Honecker muốn thể hiện chính sách đề cao Trung Quốc làm đối trọng với Gorbachev; Ông Nguyễn Văn Linh được ngồi hàng đầu nhưng ghế thứ hai từ ngoài vào, bên cạnh ghế hàng đầu cuối cùng của Phó Thủ tướng Lào.

Trong suốt chuyến thăm chính thức ấy, phía CHDC Đức không thu xếp cho ông Linh một buổi gặp chính thức nào với Honecker hay một nhà lãnh đạo khác. Thế nhưng, điều đó đã không làm ông Nguyễn Văn Linh từ bỏ ý đồ đóng vai trò trung tâm cứu nguy chủ nghĩa xã hội.

Trong ngày 6-10-1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến mà ông đưa ra: triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Ông Linh nói: “Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết”.

Đa số các đảng cộng sản làm ngơ đề nghị của ông Linh, chỉ có Batmunkho Tổng bí thư Mông Cổ, Phó Thủ tướng Hernandez của Cuba, Tổng bí thư Ceaucescu của Rumania, Tổng bí thư Đảng vừa thất cử của Ba Lan Jaruzelski, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Đức (DKP) Herbert Mies là chấp nhận gặp. Chỉ có Helbert Mies, lãnh tụ của một đảng không cầm quyền và Phó thủ tướng Cuba Hernandez là tự tới nơi ông Linh ở. Theo ông Lê Đăng Doanh, những người khác chỉ tiếp ông Nguyễn Văn Linh tại phòng riêng của họ.

Đến nơi ở của các nhà lãnh đạo khác mới thấy cách đối xử của Erich Honecker với ông Nguyễn Văn Linh. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi ông Linh chỉ được xếp một phòng đôi lớn hơn phòng các thành viên khác trong đoàn một chút thì chỗ ở của Ceausesscu là một khu vực gồm nhiều phòng. Ông Linh và tuỳ tùng phải đi qua một sảnh lớn nơi có một đội cận vệ 12 người bồng tiểu liên AK báng gập đứng chào. Ceaucesscu đã để ông Linh phải ngồi chờ rất lâu. Ông Linh nói: “Mày liên hệ thế nào mà giờ không thấy nó”. Tôi bảo: “Tính thằng này nó hình thức thế”. Một lúc sau thì Ceausesscu ra, chính ông ta lại là người tỏ ra hăng hái ủng hộ sáng kiến của ông Nguyễn Văn Linh nhất. Ceausesscu thậm chí còn đòi để Rumani đăng cai. Tuy nhiên, cả Ceausesscu và các nhà lãnh đạo cộng sản khác đều nói với ông Linh: “Vấn đề là ông kia, nếu ông ấy không đồng ý thì rất khó”. “Ông kia” đề cập ở đây là Gorbachev.

Trước khi ông Nguyễn Văn Linh rời Hà Nội, Ban Đối Ngoại đã liên lạc với phái viên Liên Xô và được Gorbachev đồng ý sẽ có cuộc gặp vào ngày 8-10-1989, hai bên đều mang theo phiên dịch Nga-Việt và Việt-Nga cho cuộc gặp. Hôm đó, ông Linh đang đau rất nặng.

Từ 19 đến 21 giờ tối 6-10-1989, sau phần đọc diễn văn, cuộc mit-tin được chuyển từ trong một lâu đài ra một lễ đài ngoài trời duyệt quần chúng, thanh niên rước đuốc. Ông Lê Đăng Doanh kể: Đám thanh niên tuần hành sôi lên sùng sục kêu tên Gorbachev, “Gorby! Gorby!”. Anh Linh chỉ mặc bộ complet, tối nhiệt độ xuống khoảng 8 C, cận vệ quên mang áo lạnh, ông Nguyễn Văn Linh đứng run bần bật, kêu tôi: “Tao lạnh quá”. Tôi phải nói với một viên tướng Đức đứng cạnh đấy: “Tổng bí thư của tôi quên mang áo ấm”. Viên tướng cho mượn tạm tấm áo choàng của ông ta.

Sáng hôm sau, 7-10-1989, theo lịch trình, 10 giờ sẽ có duyệt binh, nhưng 8 giờ, ông Nguyễn Văn Linh triệu tập họp Chi bộ Đảng thông báo tình hình sức khỏe: “Mình thấy có gì đó không bình thường, không nhắm được mắt, miệng cứng, không ăn được”. Về sau bác sỹ xác định đó là triệu chứng liệt dây thần kinh số 7. Mọi người đề nghị ông Linh không ra lễ đài, ông Nguyễn Khánh thay ông Linh dự duyệt binh rồi báo với “bạn”. Phía CHDC Đức mời ông Linh ở lại khám chữa bệnh và khuyên ông không nên về trong lúc này. Tuy bệnh tình càng ngày càng nặng, nước mắt chảy ra nhiều, miệng có biểu hiện bị méo và nói bắt đầu khó khăn, ông Nguyễn Văn Linh vẫn hy vọng rất nhiều vào cuộc gặp với Gorbachev.

Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến 11 giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi đó, sáng ngủ dậy, bệnh ông Linh càng nặng thêm. Khi ăn cơm, ông kêu tôi ra ngoài vì không muốn tôi chứng kiến cảnh ông ăn rất chật vật. Hàm bên trái của ông Linh cứng lại. Ông phải nhai ở phía bên phải sau đó dùng hai ngón tay đẩy thức ăn vào họng, chiêu một ngụm nước mới nuốt được.

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một toà lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp Tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: “Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh”.

Dù đang bệnh, ông Nguyễn Văn Linh vẫn trình bày rất nhiệt tình, nhưng theo ông Lê Đăng Doanh: Sáng kiến nào của ông Linh cũng được Gorbachev khen là “Rất tốt! Rất tốt”, nhưng chỉ là những lời khen xã giao.

Ông Linh nói: “Tôi đã gặp một số đảng cộng sản anh em. Trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn đồng chí đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế”. Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: “Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!”. Ông Linh trân trọng mời Gorbachev đến thăm Việt Nam. Gorbachev lại kêu lên: “Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước”.

Cuối cùng, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đề cập đến truyền thống viện trợ của Liên xô và khi ông đề nghị Liên Xô tiếp tục giúp đỡ cho Kế hoạch 5 năm 1990-1995 của Việt Nam thì Gorbachev xua tay. Không còn xã giao, lịch sự như phần đã nói trên nữa, Gorbachev nói: “Khó khăn lắm! khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi”.

Theo ông Lê Đăng Doanh: Thế nhưng, ngày hôm sau, báo Nhân Dân và Pravda đều đưa tin về cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Tối 8-10-1989, từ lâu đài của Gorbachev trở về, ông Nguyễn Văn Linh không dự chiêu đãi của Honecker mà đi thẳng vào bệnh viện Chính phủ ở Berlin-Buch. Ông được điều trị tại “Station 7” – nơi dành riêng cho Bộ Chính trị của CHDC Đức – mỗi khu cho một bệnh nhân có nhiều phòng cạnh nhau cho tuỳ tùng đi theo cùng ở. Trong “Station 7” được trang bị truyền hình có thể bắt được các kênh phát đi từ Tây Đức. Thời gian đó, hàng trăm nghìn người dân Đông Đức đã đổ xuống đường phố Leipzig và Đông Berlin đòi phế truất Honecker.

Sau lễ mừng Quốc khánh, Honecker cũng phải vào “Station 7”, nơi ông ta có một biệt thự riêng ở đó. Honecker cầu cứu Gorbachev nhưng cũng như với Nguyễn Văn Linh, Gorbachev lại lịch sự từ chối. Ông Lê Đăng Doanh kể: “Tôi dịch cho ông Linh những thông tin trên truyền hình: Cảnh sát và người biểu tình đụng độ nhau ở khắp nơi. Cộng hoà Dân chủ Đức nói đã có 160 cảnh sát bị thương”.

Nhưng cảnh sát không thể ngăn chặn những cuộc biểu tình của người dân Đức. Ngày 18-10-1989, Eric Honecker từ chức, Egon Krenz, một uỷ viên Bộ Chính trị trẻ tuổi, thay ông giữ chức bí thư thứ nhất. Ông Lê Đăng Doanh kể: “Tình hình cũng không vì thế mà có cải thiện. Chúng tôi lo lắng, nhỡ có chuyện gì xảy ra khi đang còn ở đây thì nguy, trong túi thầy trò không hề có một đồng đô-la lận lưng nào cả. Tôi bảo bác sỹ có thuốc gì tốt thì cấp cho xếp tao để ông đủ sức khỏe bay về”.

Vào lúc mười một giờ ngày 23-10-1989, trước khi rời Berlin, ông Nguyễn Văn Linh đã đến chúc mừng Egon Krenz vừa lên nhận cương vị mới. Cuộc gặp vừa để chúc mừng Egon Krenz, vừa để đưa tin công khai về sự vắng mặt dài ngày của ông Linh. Ông Linh là vị nguyên thủ duy nhất kịp bắt tay Krenz. [Nên dùng chữ “lãnh đạo đảng”; TBT không phải là nguyên thủ]

Ngày 24-10-1989, toàn thể Bộ Chính trị (VN) và Đại sứ CHDC Đức ra tận cầu thang sân bay Gia Lâm đón Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Lễ đón rất trọng thị, mọi người thăm hỏi sức khỏe và khuyên ông Linh nghỉ một thời gian để chữa bệnh tiếp.

Không chỉ có Erich Honecker và người kế nhiệm, ông Egon Krenz, theo Gorbachev thì chính phương Tây cũng có nhiều nỗ lực để ngăn chặn quá trình thống nhất nước Đức. Từ Thatcher (Anh), Mitterrand (Pháp) cho đến Andreotti (Ý) đều “muốn ngăn chặn người Đức thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh trở lại và họ chờ đợi Liên Xô đưa xe tăng vào Đức cùng với quân lính của Gorbachev”.

Nhưng, theo Gorbachev: “Sự sụp đổ của bức tường Berlin chỉ là hồi chót của một quá trình đã diễn ra từ rất lâu. Khi Liên Xô bắt đầu tiến hành một loạt thay đổi mang tính bước ngoặt, như tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên… Khi tiến trình giải trừ quân bị bắt đầu giữa Nga và Mỹ để chấm dứt Chiến tranh Lạnh”(115).

Ngày 9-11-1989, biên giới giữa Đông và Tây Đức được mở ra.

Ngày 10-11-1989, người dân bắt đầu phá bỏ bức tường Berlin. Vài tháng sau, chế độ cộng sản ở Đông Đức sụp đổ.

Cũng trong ngày 10-11-1989, Todor Zhivkov cũng bị phế truất sau ba mươi năm trị vì ở Bulgaria.

Tại Praha, người dân đổ ra đường yêu cầu Husak từ chức. Alexander Dubcek, người bị Liên Xô bắt giữ hồi “Mùa xuân 1968” bắt đầu xuất hiện cùng với đoàn người biểu tình. Một tháng sau đó Husak từ chức. Ngày 29-12-1989, Vaclav Havel, được bầu làm tổng thống đầu tiên của Tiệp khắc.

Ở Rumani, chế độ của nhà độc tài Ceausescu đã phải sụp đổ trong một cuộc biểu tình đẫm máu. Lực lượng an ninh Rumani tấn công những người biểu tình trong khi quân đội ủng hộ dân chúng. Hàng trăm người dân bị giết chết.

Chỉ hơn một tháng rưỡi sau khi tán đồng với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tổ chức một hội nghị quốc tế cứu vãn phe xã hội chủ nghĩa, ngày 25-12-1989, Tổng bí thư Nicole Ceausescu và vợ ông đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn. [Hết trích]

 

—————————-

 Bác sĩ Ngọc cũng có viết về chuyến đi 1989 của Nguyễn Văn Linh gặp Gorbachev và đưa ra các nhận xét rất sâu sắc:

 

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Nhã Thuyên: Không nhận quyết định thu hồi bằng và quyết định huỷ luận văn thạc sĩ của trường ĐHSP Hà Nội vì “thiếu cơ sở pháp lý và minh bạch”

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2014

Nhã Thuyên cho biết vì trường ĐHSP đưa ra các văn bản (thu hồi bằng Thạc sĩ và hủy luận văn tốt nghiệp 2010)  thiếu cơ sở pháp lý nên cô đã không nhận các quyết định của trường.

Phải lắm. Thế giới ngầm (ban Tuyên Giáo của Đinh Thế Huynh Nguyễn Thế Kỷ- Phó ban Tuyên giáo Trung ương, Hồ Quang Lợi- Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, ) từ trong bóng tối đã ra lệnh thu hồi luận văn, không công nhận bằng thạc sĩ của Nhã Thuyên- Đỗ Thị Thoan. Đuôi chồn đỏ của nó ló ở đây (mời xem ở cuối bài này). 

 

Giấy mời và buổi làm việc sáng 27 Mar 2014

Đi vắng hơn tuần, không thể checkmail và internet thường xuyên. Về nhà, đã nhận được giấy mời. Mai là ngày cuối để gặp theo cái giấy mời mơ hồ này.IMG_3562    Kết quả buổi làm việc sáng nay 27 Mar 2014 với bà Nguyễn Thị Thu Hằng, trưởng phòng sau đại học.

– Tôi tới gặp bà Nguyễn Thị Thu Hằng theo giấy mời.

– Tôi được thông báo về việc có hai quyết định: Quyết định thu hồi bằng và quyết định huỷ luận văn thạc sĩ. Ngoài ra không có bất cứ giấy tờ nào khác.

– Tôi được xem các quyết định.

– Tôi không đồng ý nhận các quyết định này vì tôi cho rằng hai quyết định này hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý và minh bạch về các thông tin: như hội đồng chấm, các biên bản nhận xét của hội đồng, v.v Theo như trí nhớ của tôi, hai quyết định chỉ gồm những câu như: Căn cứ vào abc, căn cứ vào kết luận của ban thanh tra, căn cứ vào kết luận của hội đồng thẩm định luận văn, căn cứ vào đề nghị của trưởng phòng sau đại học… trường Đại học Sư phạm hà nội ra quyết định abc. Kí tên hiệu trưởng Nguyễn Văn Minh.

 

-Tôi đề nghị được chụp lại nhưng không được phép nếu tôi không nhận.

– Tôi đề nghị được cung cấp thông tin về các giấy tờ và hồ sơ có thể kèm theo: như biên bản thành lập hội đồng thẩm định, các nhận xét của từng thành viên hội đồng, v.v và bà Hằng cho biết bà không giữ những giấy tờ đó. Bà có đề nghị tôi chờ để bà đi gặp hiệu trưởng hỏi thêm nhưng hiệu trưởng đang họp.

– Tôi đề nghị viết giấy xác nhận tôi đến làm việc và không nhận quyết định. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng nói sẽ thông báo buổi làm việc và những đề nghị của tôi tới hiệu trưởng.

– Tôi ra về với tờ giấy xác nhận như sau.  Giấy xác nhận được viết làm hai bản, mỗi bên giữ một bản. B

???????????????????????????????

 

http://junglepoetry.wordpress.com/2014/03/26/thu-moi-tu-truong-sp/

 

Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương

18-3-2014

Nguồn: boxitvn.net

Dưới đây là trích đoạn từ một công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương. Sau này, nếu ai có hứng thú nghiên cứu, xin mách một đề tài hay, xứng đáng tầm luận án tiến sĩ: Tự do ngôn luận nhìn từ công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Quả là Ban Tuyên giáo Trung ương có “con mắt nhìn sáu cõi”, quán xuyến từ nhỏ đến to, từ trong nước đến quốc tế.

Chuyện luận văn của Đỗ Thị Thoan ba năm sau khi bảo vệ với đánh giá xuất sắc, bị “phê bình tập thể” và nay bị “hội đồng thẩm định” ra quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm [sic!] thạc sĩ, Ban Tuyên giáo chỉ thị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều”,nghĩa là bịt miệng dân.

Nhân tiện, xin hỏi: Có công khai được danh sách các nhà “khoa học” tham gia cái “hội đồng thẩm định” đó không ạ? Ý kiến cụ thể của từng vị ra sao ạ? (Và cũng xin nhắc để mọi người nhớ rằng, PGS TS Nguyễn Thị Bình vì ‘tội” hướng dẫn cho cô Đỗ Thị Thoan, đã bị cho về hưu sớm đấy – xin xem ở đây).

Chuyện nhỏ mà, chứ có to như chuyện máy bay trở [sic!] khách MH370 của Malaysia bị mất tích đâu, xin cứ công khai để bàn dân thiên hạ biết “hội đồng” đã làm việc một cách đầy lương tâm chức nghiệp như thế nào.

Chuyện Ucraina cách Việt Nam mấy ngàn cây số cũng được Ban Tuyên giáo quan tâm sâu sát. Không phải vì Việt Nam có quyền lợi gì ở xứ Ucraina xa xôi, như EU hay Mỹ, mà hẳn là vì Ban lo xa, sợ dân Việt liên hệ với tình hình trong nước, thì bất lợi cho việc “trị an”. Chứ không sao?!

Báo chí Việt Nam bị “cầm tay chỉ việc” như thế, mà Việt Nam vẫn tự hào là đảm bảo quyền tự do ngôn luận, vẫn đường đường là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cơ đấy!

Hình như một nhân vật của Nam Cao, để tán thưởng, thường hay vỗ đùi kêu lên: “Tài thật! Tài thật! […]”.

Bauxite Việt Nam

clip_image002_thumb1.jpg

Nguồn ảnh: FB Nhị Linh  (dịch giả Cao Việt Dũng)
 
Chân dung các ông Trùm  ra lệnh đánh Nhã Thuyên- 
 

Ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương- Hình 14-1-2014- (Ảnh: TTXVN)

 
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90inh_Th%E1%BA%BF_Huynh
 
 

Nguyễn Thế Kỷ – Phó ban Tuyên giáo Trung Ương

 

Ông Hồ Quang Lợi – Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Vietnamnet

 
 
 
——–

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | 1 Comment »

►MƯU ĐỒ giết người CƯỚP ĐẤT hay còn gọi là Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 (các văn bản cướp đất)

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2014

27-4-2014

Trần Hoàng

Cuộc CCRĐ, 1953-1956, thực chất là đảng kích động và mượn tay nông dân nghèo (không có ruộng, người đi làm thuê) đấu tố để lấy ruộng đất của các nông dân bị quy là địa chủ. 

—–>Kế đó, Đảng tạm cho những nông dân nghèo này làm chủ ruộng trong vòng 2-3 năm. (1954-1957)

—–>Sau cùng,  đến năm 1958-1960,  đảng và nhà nước “vận động” (thực chất là bắt buộc) những nông dân nghèo vừa mới làm chủ ruộng đất (nói trên) phải vào Hợp Tác Xã nông nghiệp. Bắt họ giao nộp ruộng đất cho hợp tác xã. Trâu bò  1958 -1960

—–> Đảng hoàn thành việc cướp đất.

Năm 1958-1960, đảng và nhà nước cướp đất bằng cách Cải tạo kinh tế tại VN và Cải tạo XHCN

1./Ở nông thôn:  nhà nước tước đoạt tất cả ruộng đất và buộc nông dân vào Hợp Tác Xã Nông Nghiệp (1958-1960);

cho nông dân giữ lại phần đất 5% để lại cho xã viên khi vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp“. (chương 5)

—-> Coi như đảng và nhà nước cướp trắng 95% đất đai lấy trong CCRĐ (1953-1956). (chương 5)

http://www.na.gov.vn/Sach_QH/VKQHtoantapIII/1969/UBTVQH1969_6.htm

*Sau đó, nhà nước  ra luật không cho bất cứ ai đòi lại đất đai :

“- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong các trường hợp sau: 
+ Đất bị tịch thu, trưng thu, trưng mua khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc; chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam; 
+ Đất đã hiến tặng cho Nhà nước, cho hợp tác xã và tổ chức khác, cho hộ gia đình, cá nhân; 
+ Đất đã góp vào hợp tác xã nông nghiệp theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao; 
+ Đất thổ cư mà Nhà nước đã giao cho người khác để làm đất ở; đất ở và đất vườn đã giao lại cho hợp tác xã để đi khai hoang; ruộng đất đã bị thu hồi để giao cho người khác hoặc điều chỉnh cho người khác khi giải quyết tranh chấp ruộng đất;”

Nguồn: http://www.moj.gov.vn/hoidappl/Lists/DanhSachCauHoi/View_Detail.aspx?ItemID=2311

2./ Ở thành thị:  Đảng và Nhà nước ban hành thông tư Cướp đất đai bất động sản của tư nhân có nhà cho thuê, cướp đất đai bất động sản của nhà thờ, chùa, các tổ chức tư nhân…qua 

THÔNG TƯ: CỦA PHỦ THỦ TƯỚNG SỐ 73/TTG NGÀY 7 THÁNG 7 NĂM 1962, VỀ VIỆC QUẢN LÝ ĐẤT CỦA TƯ NHÂN CHO THUÊ, ĐẤT VẮNG CHỦ, ĐẤT BỎ HOANG Ở NỘI THÀNH, NỘI THỊ

Mưu đồ giết người cướp đất hay Cuộc Cải Cách ruộng đất.

>>>“Theo tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam thì các công việc này cũng được Đảng và Chính phủ tiếp tục từng bước giải quyết trong kháng chiến chống Pháp, nhưng đến 1953 thì mới được phát triển rộng (khởi sự tại Thái Nguyên).[4] 

Tại kì họp thứ ba của Quốc hội 1953, để phát động chiến dịch, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ”.[5]    

Tuy “Luật CCRĐ của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình”, nhưng HCM và đảng của ông đã xơi gọn 172.000 mạng người (số này do đảng CSVN đưa ra). Nhưng theo các nguồn tin ngoại quốc và Bùi Tín nói rằng có 500.000 người bị chết trong cải cách ruộng đất. Theo Hoàng Văn Chí thì đã có 675.000 chết.

Theo tính toán của Trần Hoàng, “qui trình” là mỗi xã phải đấu tố 5% số nông dân; (nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho biết, rất nhiều nơi đấu tố 15%). Dân số Miền Bắc năm 1954 là 15 triệu. Vào thời điểm ấy, ở miền Bắc, 90% dân số sống ở nông thôn và làm ruộng, tính ra vào khoảng 13,5 triệu người. 5% của 13,5 triệu người bị đấu tố sẽ là 675.000 người.  Vì vậy, con số người bị giết hại trong 3 năm đấu tố là 500.000 – 675.000 người có thể là hợp lý. Mưu đồ giết người cướp đất của đảng đã lấy đi từng ấy mạng người. 

Trần Hoàng

1. Cải tạo kinh tế tại VN và Cải tạo XHCN

http://vi.wikipedia.org/wiki/cai-tao-kinh-te-tai-vietnam-va-cai-tao-xhxn

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?

2. Quốc hội: Văn bản hợp thức hóa: nông dân được giữ 5%, đảng và nhà nước lâý 95% đất đai lấy trong CCRĐ (1953-1956) 

http://www.na.gov.vn/Sach_QH/VKQHtoantapIII/1969/UBTVQH1969_6.htm

3. Điều 10 Luật Đất đai năm 2003- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất

http://www.moj.gov.vn/hoidappl/Lists/DanhSachCauHoi/

4. Nhà nước hợp thức hóa việc tịch thu đất đai nhà cửa của tư nhân, các tôn giáo, và lấy đất công, đất vắng chủ: THÔNG TƯ: CỦA PHỦ THỦ TƯỚNG SỐ 73/TTG NGÀY 7 THÁNG 7 NĂM 1962   (Phạm Văn Đồng)  http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists

1954-1957: đảng và nhà nước chia nhau chiến lợi phẩm sau khi nhờ TQ mà cướp được 1/2 nước thông qua  Hiệp Định Geneve 20-7-1954.  Tịch thu 1369 công thự và biệt thự. Phát nhà đất công thự, villa cho mỗi 1 gia đình các ủy viên trung ương đảng, ban bí thư, thường vụ ban bí thư. Các cán bộ cấp thấp hơn thì cứ 3-20 gia đình chia nhau ở 1 nhà vắng chủ do di cư vào miền Nam, hoặc nhà tịch thu của tư sản. 

Nguồn: Báo Hà Nội Mới Di Dản Biệt Thự Hà Nội

Bài liên quan: 

►Chuyện Bà Cát Hanh Long, cuộc cải cách ruộng đất và đường lối chiến lược nhất quán của đảng CSVN đối với Trung Quốc từ 1950s đến nay

*Hình “Một định nghĩa ngắn gọn,đủ và xúc tích”  13 hours ago

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Viếng thăm thầy Đinh Đăng Định- (Ký sự của Hồng Trung)

Posted by hoangtran204 trên 26/03/2014

Tác giả gửi đến Dân Luận

24-3-2014

 

►Kinh khủng! Công an đầu độc thầy Đinh Đăng Định bằng “hóa chất dành cho bón cây được trộn vào nước uống của ông”,

 

Xuống xe tại thị trấn Kiến Đức (tỉnh Đăk Nông) tôi nhìn đồng hồ là 2h30. Ngã ba trung tâm thị trấn chỉ còn lại vài quán bán ăn khuya bên vỉa hè dành cho khách vãng lai. Tôi chọn một quán vắng khách hơn, ngồi ăn khuya và nghĩ cách tìm vào nhà thầy Định một cách an toàn thuận lợi nhất. Qua video-clip trên mạng danlambao.com, trong đầu tôi còn ghi lại địa chỉ 214 Nơ Trang Long – khối phố 4. Ở giữa cái thị trấn mênh mông, khuya vắng, tôi không phán đoán được vị trí nhà thầy Định ở hướng nào để tôi bắt đầu đi tìm, vả lại xe hon đa ôm cũng không còn hoạt động.

Tôi biết, những thông tin liên quan tới thầy Định là rất nhạy cảm ở những tụ điểm trung tâm này, nên chỉ hỏi nhỏ cô chủ quán về tên con đường và khu phố 4. Sau khi trả lời, cô chủ quán còn hỏi lại tò mò muốn biết là tôi đi tìm nhà ai giữa lúc đêm tối khuya. Vì cần kiểm chứng địa chỉ nên tôi trả lời: “Nhà thầy giáo Định”. Đang rửa bát, nhưng cô vẫn quay lên nhìn tôi như nhìn những người khách khác biệt gì và nói “Thầy Định à!”. Cô nói tiếp: “Thầy Định làm chính trị, chống đối nhà nước làm bô – xít nên bị công an bắt xử tù. Nghe nói là vào tù công an đánh nhiều lắm nên bị bịnh nặng nên nhà nước cho về nhà rồi và anh là gì của thầy Định?”. Tôi giả vờ không nghe để khỏi bị trả lời những câu hỏi bất lợi giữa chốn tai mắt của công an mật vụ và đúng lúc này bàn nhậu bên kia cũng bắt đầu im lặng lắng nghe cuộc chuyện bên này.

Tôi tìm cách thoát ra khỏi sự chú ý của mọi người vì ngại những trắc trở có thể xãy đến cho tôi – người khách lạ độc hành giữa đêm khuya vắng. Tôi bước đi nhưng trong lòng vẫn có chút niềm vui, vì có lẽ người dân ở nơi đây vẫn còn những bậc phụ học sinh xưng gọi thầy giáo Định bằng chữ“Thầy” bằng thái độ biết “tôn sư trọng đạo”.

Dưới ngọn đèn cao áp, tôi cứ đi bộ chậm rãi mon men theo đường Nơ Trang Long để chống lại cái lạnh rét, lần dò theo số nhà bên chẳn theo thứ tự tăng dần và mong chờ trời sáng. Khoảng 4h, sự hoạt động của con người bắt đầu trở cho ngày mới. Người tập thể dục đi bộ, kẻ đi chợ lấy hàng về bán lẻ qua lại, lại qua, lòng tôi cũng giảm dần sự bất an vì bóng tối.

Cuối cùng tôi đến trước cổng một căn nhà gỗ, có diện mạo giống như căn nhà tôi xem trong video-clip, nhìn trông vào bên trong số nhà vẫn chưa thấy rõ vì tầm nhìn trên 10m, nhưng tôi vẫn đoán chắc là nhà của thầy Định. Căn nhà gỗ nhỏ, lụp xụp ở cuối con đường ngoài khu vực đông dân cư trông rất thôn dã. Ngồi chờ đến 5h giờ sáng, tôi mới gọi cửa. Bé Thảo (con của thầy) mới mở cửa để tôi vào nhà (vì đã được anh Trương Minh Đức báo trước là sẽ có tôi lên thăm).

Đưa tôi vào nhà, trong sự rón rén nhẹ nhàng để không ảnh hưởng đến giấc ngủ của cô thầy và những người khác. Tôi vào thẳng bên trong chỗ thầy nằm. Căn bệnh quái ác đã hành hạ thầy đau đớn, nên thầy không ngủ được nằm trăn trở và rên rỉ suốt đêm.

 

 

 

Thăm Thầy Đinh Đăng Định (Ảnh: Hồng Trung) 

Khi biết tôi đến thăm, thầy cố gắng gượng ngồi dậy nhìn tôi chưa nói được gì thì đã ra hiệu lấy bô cho thầy nôn mửa. Khoảng hơn một lít bệnh phẩm thầy ói ra, tôi thấy hoàn toàn là nước dịch dạ dày và máu hãy còn đỏ tươi. Thầy thốc ruột ói mửa từng cơn đau đớn. Thảo và cô Dinh ôm thầy mà khóc mà khiến tôi cũng não ruột. Sau khi được bé Thảo làm vệ sinh thân thể, thầy cầm tay tôi, nhìn tôi như muốn nói nhiều nhưng không nói được nhiều ngoài mấy lời mà tôi nhớ như in những giọng nói trong sự nấc quản: “….Cảm ơn anh em đến thăm, nhưng… nhưng…an ninh không tốt đâu, hãy cẩn thận”… rồi thầy nằm xuống trở lại mà còn mang theo nỗi lo lắng an ninh cho tôi khi đến thăm thầy.

Tôi ngồi cạnh thầy, vừa xoa nắn tay thầy vừa quan sát bên trong căn nhà vừa ngẫm nghĩ. Căn nhà gỗ lợp tôn, vừa nhỏ vừa thấp như thế này thì sức nóng từ mái tôn tỏa nhiệt xuống thì làm sao thầy có thể nằm để an dưỡng bịnh. Cũng may, là ai đó trong gia đình sáng kiến nghĩ ra cách giảm nhiệt bằng những tấm xốp, cạc-tông chèn áp trên mái tôn. Gia tài, hiện vật trong nhà cũng chẳng có gì đáng giá hơn là kệ sách trong phòng thầy nằm. Chiếc ti vi, đời thượng cổ, chiếc xe máy hỏng hóc như cục sắt nằm choáng diện tích cả một góc nhà cũng chẳng đáng giá là bao. Vì tất cả vật dụng trong nhà đều cũ kỹ, nên cũng dễ dàng nhận ra chiếc tủ lạnh và chiếc quạt còn mới tinh chưa tróc tem, tôi cũng đoán biết là anh em, người thân hay ai đó đã hảo tâm quyên góp tặng thầy sử dụng những ngày còn lại cuối cùng trong đời.

Dù thầy không nói chuyện được gì nhiều, nhưng qua ánh mắt, biểu cử của thầy cùng với tâm sự của cô Dinh và bé Thảo, tôi biết là thầy gia đình không hề hối tiếc ân hận những gì thầy đã làm cho sự nghiệp đấu tranh dân chủ hóa đất nước, nhất là đồng thanh lên tiếng phản đối chính sách chủ trương cho Tàu khai thác Bô- xít Tây Nguyên; và bây giờ là bằng chứng thiệt hại kinh tế, môi trường và đe dọa an ninh quốc gia trước hiểm họa xâm lược Trung Quốc. Vợ và các con của thầy cũng đồng cảm với thầy mà không hề than vãn trách móc mà chỉ thấy xót thương khi nhìn thấy bố bị cơn đau hành hạ thể xác. Thầy chỉ mong sao, cuộc đấu tranh dân chủ sớm thành công để thế hệ con em mai sau được sớm hưởng được chính sách an sinh xã hội trong một nhà nước thật sự có nền dân chủ – tự do.

Ra khỏi cổng nhà, tôi nhìn lại căn nhà thầy và nhìn cả dãy nhà lân cận nơi cuối phố để làm phép so sánh mà lòng miên man nhưng suy nghĩ đến cuộc sống thanh bần của người nhà giáo đạo đức chân chính của thời xưa, và người nhà giáo của ngành giáo dục hôm nay mà báo chí vẫn thường phê phán. Thầy tuy nghèo nhưng thật giàu lòng nhân ái.

Viết từ Gia Lai (VN) ngày 24-3-2014

Hồng Trung (ĐVDVN)

 

 Khung cảnh nhà của Thầy Đinh Đăng Định. Tháng 3/2014 (Ảnh VRNs)

                                                                                                                ***

THÔNG BÁO CỦA CÂU LẠC BỘ HOA-MAI

v/v: Gây Quỹ Giúp hai TNLT Nguyễn Hữu Cầu và Đinh Đăng Định (Houston, TX) Theo thông tin các hãng truyền thông: Giáo viên Đinh Đăng Định và cựu Đại úy QL/VNCH Nguyễn Hữu Cầu vừa được nhà cầm quyền CSVN phóng thích sau một thời gian dài giam cầm.

Ông Nguyễn Hữu cầu bị tù tổng cộng 37 năm (bao gồm 5 năm “tù cải tạo” và 31 năm 9 tháng tù với tội danh “phản cách mạng”) hiện bị nhiều bệnh ngặt nghèo, gia cảnh rất khốn khó.

Thầy Định Đăng Định, bị án 6 năm tù sau các bài viết kêu gọi đa đảng-dân chủ và phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Ông lâm bệnh đau dạ dày trong thời gian ở tù và hiện bị bệnh ung thư giai đoạn cuối. Bác sĩ cho biết thời gian còn lại của Thầy chỉ còn tính từng ngày.

Nhằm thể hiện sự trân trọng ngưỡng mộ tinh thần đấu tranh bất khuất của hai vị tù nhân lương tâm vừa được phóng thích, CLB Hoa-Mai sẽ tổ chức một buổi gây quỹ để có điều kiện chia sẻ phần nào hiện cảnh thương tâm của Thầy Đinh Đăng Định, và các khó khăn to lớn của ông Nguyễn Hữu Cầu.

Thời gian: Từ 11 giờ sáng đến 2 giờ chiều Thứ Bảy, ngày 05/04/2014

Địa điểm: Nhà hàng HOUSTON BY NITE (620 Wilcrest Dr., Houston, TX 77072)

Vé vào cửa: Miễn phí. (Xin vui lòng gọi Ban Tổ Chức để đặt chỗ trước).

Ẩm thực: BTC khoản đãi buổi ăn trưa, bắt đầu đúng 11:30 đến 12:00 giờ trưa.

Toàn bộ ngân khoản thu nhận (sau khi trừ chi phí tổ chức) sẽ được công bố tại chỗ và gửi về đồng đều cho gia đình ông Nguyễn Hữu Cầu ở Kiên Giang và thầy Đinh Đăng Định ở Đăk-Nông, qua sự trợ giúp trung chuyển của Văn phòng Công Lý và Hòa Bình của Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài-gòn. Thông tin về việc chuyển ngân sẽ được công bố trên các cơ quan truyền thông Việt ngữ.

Buổi gây quỹ sẽ có trình chiếu bản nhạc “Oan Khúc Người Tù Kiên Giang” do TNLT Nguyễn Hữu Cầu sáng tác, đặc biệt là chi tiết về vụ án “phản cách mạng” khiến ông bị kết án tử hình vào năm 1983. Cùng lúc, Ban Tổ Chức sẽ chiếu một số Video Clips nói về tình trạng bi đát của Thầy Đinh Đăng Định sau ngày được phóng thích.

Chúng tôi trân trọng kính mời quý vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo, đại diện Hội đồng Đại diện Cộng đồng Houston, các đoàn thể đấu tranh, hội đoàn quân đội, ái hữu và đồng hương có quan tâm đến hiện cảnh hai vị tù nhân lương tâm đầy khí phách này cùng đến tham dự để góp phần chia sẻ một cách thiết thực với những người đã đóng góp một phần lớn cuộc đời cho công cuộc đấu tranh chống độc tài, tham ô và bất công.

Quý đồng hương bận công việc hay đang đi xa song muốn được đóng góp, xin vui lòng gửi chi phiếu đóng góp đến:

HOA-MAI CLUB: P.O. Box 842064, Houston, TX 77284

* Xin ghi rõ trong Memo là: Giúp TNLT Nguyễn Hữu Cầu hoặc Đinh Đăng Định

Cuộc gây quỹ xin được chính thức kết thúc vào ngày 30/4/2014. Những phần đóng góp nhận được sau ngày 30/03/2014 sẽ được kết toán và gửi về vào ngày 05/05/2014.

Do tình trạng sức khỏe của Thầy Đinh Đăng Định đang được tính từng ngày, và gia đình ông Nguyễn Hữu Cầu cũng cần thêm tài chánh để trị liệu ngay cho ông một số bệnh hiểm nghèo, Câu lạc bộ Hoa-Mai đã gửi tạm ứng $1.000 Mỹ kim cho mỗi gia đình. Phần còn lại sẽ chuyển về Việt Nam ngay sau khi tổng kết cuộc gây quỹ.

Chúng tôi rất mong nhận được sự tham gia ủng hộ nhiệt tình của quý Đồng hương hảo tâm Houston (Texas). Mọi thắc mắc hay ý kiến xin vui lòng liên lạc:

Anh Trinh ở số điện thoại (713) 391-9843 hoặc qua địa chỉ email: anhtrinh@hoamai.us

Trân trọng kính thông báo.

Đại diện Câu lạc bộ Hoa-Mai

Anh Trinh

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Tự Do ngôn Luận | 1 Comment »

►Chuyện Bà Cát Hanh Long, cuộc cải cách ruộng đất và đường lối chiến lược nhất quán của đảng CSVN đối với Trung Quốc từ 1950s đến nay

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2014

Tựa đề này có 3 bài: Chuyện Bà Cát Hanh Long, HCM và Cải Cách Ruộng Đất, và Những Bài Học còn Nóng Hổi về CCRĐ.

HCM chính là người vạch kế hoạch CCRĐ. Ông cũng là người phát động CCRĐ. 

Trong tập tài liệu “Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất” đăng trên báo Nhân dân ngày 21/7/1953, tác giả C.B đã có bài viết: (bấm vào đây để đọc bài)  “Địa chủ ác ghê“.

Theo bài này thì “Mụ địa chủ Cát-hanh-Long (tức Cát Thanh Long hay Nguyễn Thị Năm) cùng 2 đứa con và mấy tên lâu la đã trực tiếp và gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!”  Cát Hanh Long là tên ghép của hai người con trai của bà, tên là Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát (Trung đoàn trưởng thuộc Sư đoàn 308); chữ Long không biết  có ý nghĩa gì (?). 

Điều đáng kinh ngạc là ông HCM viết bài Đia Chủ Ác Ghê để phát động phong trào CCRĐ để giết một người đàn bà 46 tuổi, có hai con đang là cán bộ đang kháng chiến chống Pháp, bà lại là người từng nuôi dưỡng cả sư đoàn bộ đội, và nuôi dưỡng  tất cả Ban Thường Vụ  (sau này đổi tên là Bộ Chính Trị) của Đảng CSVN, bà đã cung cấp tiền bạc lương thực và nuôi dưỡng HCM, Phạm Văn Đồng, “Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt cùng nhiều yếu nhân của Đảng và của Mặt trận Việt Minh đã từng qua lại và được chở che ở ngôi biệt thự bề thế của bà Cát Hanh Long ở ven hồ Thiền Quang”.

Điều đáng kinh ngạc nữa là về sau, khi nói về vụ cải cách RĐ, người ta thấy hình ông HCM đang quẹt nước mắt! Bà Cát Hanh Long bị bắt giam mấy tháng trời, không ai dám giết, và mọi người mong đợi ông HCM ra quyết định tha cho bà. Nhưng không, ông đã không làm gì hết, và bà đã bị bắn 1953.  Và ông HCM giả vờ khóc 1956.

1956 HCM khóc lóc trước toàn dân nhận lỗi lầm về cải cách ruộng đất

Nhưng chủ trương của Đảng và Bác không thể nào sai được, chỉ có cán bộ cấp dưới làm sai mà thôi!

Bọn cán bộ đàn em nghĩ kế chạy tội cho “Bác và Đảng”, bọn này đã đổ thừa là do bọn Trung Quốc buộc ông HCM phải giết.

Đứa khác thì đổ tội cho Trường Chinh, Hồ Viết Thắng, Hoàng Quốc Việt .

Sự thật là cuộc CCRĐ đã được tiến hành từ năm 1946 – 1953 nhưng trên một quy mô nhỏ, vì lúc đó CS chưa mạnh;

CCRĐ được ghi nhận trong hàng mấy chục tài liệu của đảng từ 1946-1953Nguyễn Vĩnh Châu – Vũ Ngự Chiêu).

Theo cựu Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng Biên Tập nhật báo Nhân Dân, thì C.B là bút hiệu của ông Hồ Chí Minh.

Trong tập 6 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn Tập, từ tháng 1/1951 đến tháng 7/1954, do NXB Sự Thật Hà Nội in năm 1989, đã đếm được 15 bài viết của ông Hồ Chí Minh ký bút hiệu là C.B.

CB là bút danh của HCM, đã sử dụng trong 147 tài liệu viết từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 3 tháng 1957 (trên báo Nhân Dân) ( Bút danh C.B , trên báo Nhân Dân 1951-57) nguồn: Bút Hiệu của  HCM).

Khi chưa có internet, mà ông HCM sử dụng 174 tên và bút hiệu. Bút danh CB và DX nằm dưới mục Bút Hiệu Khác trong HCM

Bài Địa Chủ Ác Ghê- bút hiệu D.X.  được ghi ở đây Bảo Tàng HCM (đã xóa phần nào chứng cớ, nhưng cái đuôi vẫn còn)

Bài Địa Chủ Ác Ghê- Bút hiệu CB.  có bản in giấy ở đây (Trần Hoàng)

Tại kỳ họp thứ ba của Quốc hội (1953), để phát động chiến dịch, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ

Cuộc CCRĐ khởi phát ở Thái Nguyên 1953, và dần dần lan ra khắp Miền Bắc. 

Ghi chú: đường lối chiến lược nhất quán của đảng CSVN đối với Trung Quốc từ 1950s đến nay là

“Thái độ cam chịu làm chư hầu của Trung quốc là đường lối chiến lược nhất quán xưa nay của đảng CS VN, được khẳng định trong điều lệ của đảng kể từ năm 1960 (Đại hội III) ghi rõ lấy tư tưởng Mao làm nền tảng lý luận.

 

Đường lối ấy chỉ tạm ngưng một thời gian ngắn khi bùng nổ mâu thuẫn Xô – Trung và chiến tranh biên giới Việt – Trung (1979), nhưng ngay sau khi đảng CS Liên xô tan vỡ (tháng 8-1991), đường lối ấy lại được khôi phục, còn mặn mà chặt chẽ hơn trước, suốt từ sau đại hội VII (1991) đến đại hội X, được Đỗ Mười và Lê Đức Anh bảo kê, còn kéo dài chưa biết đến bao giờ mới hết ! ” (hiện ĐANG CẬP NHẬT theo thời gian khi có nhiều tài liệu mới phát hiện, một số tài liệu đã được đưa lên đâu đó trong blog này, phần cập nhật và tổng hợp các bạn đón đọc sau; sẽ được viết tiếp dưới bài này.).

Theo tài liệu của đảng CSVN tổng kết có 172.000 người Việt Nam đã bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956. 

Theo các nhân chứng cao cấp nhất của đảng CSVN và các nhà nghiên cứu, đã có trên 560.000 người VN đã chết trong CCRĐ 1953-1956.

Cập nhật: Khi xử bà Nguyễn Thị Năm ” Đồng Bẩm cách Hà Nội có vài chục cây số đường chim bay… Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.,” Chương 5, Đèn Cù, của Trần Đỉnh http://www.vinadia.org/den-cu-tran-dinh/den-cu-chuong-5/

—————–

Chuyện Bà Cát Hanh Long

14-3-2014

Tác giả: Nguyễn Thông 

Bà Cát Hanh Long tức bà Nguyễn Thị Năm, bị cách mạng vô sản quy là địa chủ cường hào gian ác, lôi ra xử bắn năm 1953. Hôm nay 13.3, tôi may mắn được đọc trên tờ báo An ninh thế giới số mới nhất (12.3) bài viết về bà Năm của nhà báo Xuân Ba bạn tôi. Chỉ mong sao cái chính quyền này biết cúi đầu thừa nhận những sai phạm tày trời của họ để chiêu tuyết cho những nạn nhân mà họ đã đày ải oan ức khốn cùng. Nhưng tôi (và có lẽ cả bạn tôi nữa) đều hiểu rằng điều ấy rất khó.

Giờ thì anh Xuân Ba mới lên tiếng chứ tôi và em gái tôi, cô Người Làng Trà,  đã viết về bà Năm từ năm 2007 cơ, trong lần đi tìm mộ người chú ruột hy sinh và được chôn cất tại đồn điền của bà Năm ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên. Chính chú tôi là một trong hàng nghìn người được bà Năm cưu mang thời kháng chiến, vì vậy gia đình tôi rất biết ơn bà.

Xin biên lại đây một phần liên quan đến bà Năm trong những ghi chép ngày ấy:

Chiều 6.8, nhớ câu nói của bà cụ Vãn “những người chết tại đồn điền trong khoảng những năm 1950 – 1953 đều chôn ở khu vực ao sen” nên chúng tôi dò hỏi và tập trung tìm kiếm tại nơi này.

Trên thực địa mênh mông, nhà cửa chen lẫn rừng cây, chỗ nào chẳng giống chỗ nào. Ao sen ở đâu, liệu có còn? Theo lối mòn cạnh tường rào UBND huyện Đồng Hỷ, đến nơi cách đường lớn khoảng ba bốn trăm mét chúng tôi chỉ thấy một bờ cây gai góc rậm rạp. Gặp bà cụ ngoài 70 đang chăn trâu, cụ hỏi ngay “chắc cô chú đi tìm mộ?”. Chúng tôi lại một phen kinh ngạc liền hỏi thăm bà cụ ao sen chỗ nào. Cụ chỉ tay “ngay cạnh chỗ cô chú đứng chứ đâu”. Nhìn kỹ thấy đúng là có cái ao thực, hình bầu dục, vẫn còn những bậc đá lên xuống. Phía bên phải ao, nhà cửa cây cối sầm uất, rậm rạp. Vạch cây rẽ lá, chúng tôi dò tìm quanh quẩn một lúc thì phát hiện đằng góc ao có đống đá nhỏ, trong đó một hòn to hơn và có vẻ trắng hơn. Chả biết có phải cô đồng Hà nói vậy mà mình cảm thấy vậy chăng? Nửa phân vân, nửa hy vọng, chúng tôi lại gần đống đá và thắp hương khấn mong chú Liễn về phù hộ.

Đi thêm một đoạn chợt thấy ngôi nhà xây tường gạch bao quanh, chúng tôi gõ cửa. Một phụ nữ ngoài 40 đẹp hiền hậu ra mở cửa đưa chúng tôi vào nhà mặc dù chưa biết khách là ai. Nhìn những huân huy chương treo trên tường, tôi biết đây là nhà đại tá Mai Trung Lâm, nguyên tư lệnh trưởng Quân khu 2, đã mất. Sau khi con dâu (người phụ nữa ấy) vào báo tin, bà Lâm ra tiếp. Kha thưa với bà mục đích chuyến đi, bà tỏ vẻ rất xúc động khi nghe chuyện về ông Liễn bởi bà từng là cán bộ kháng chiến hoạt động tại vùng này. Hỏi về khu đồn điền, bà Lâm bùi ngùi kể cho chúng tôi về bà Cát Hanh Long – Nguyễn Thị Năm và những đóng góp to lớn của bà Năm với cách mạng; bà khuyên chúng tôi kiên nhẫn tìm kiếm, đừng bỏ dở chừng. Bà lại giới thiệu sang gặp bà cụ Quỳ, người thân thiết với gia đình bà Năm, nhà cũng gần đó.

Sang gặp cụ Quỳ. Chuyện trò một hồi, khi chúng tôi khoe đã gặp bà Vãn, cụ Quỳ thoáng nhíu mày, im lặng không nói gì chỉ khuyên chúng tôi nên tìm gặp ông Hanh, con trai cụ Nguyễn Thị Năm, lại cho cả địa chỉ và số điện thoại nhà ông Hanh ở Hà Nội.

Biết có ở lại Thái Nguyên cũng chưa thể tìm được mộ vì thông tin còn quá ít ỏi, hôm sau 8.8.2003 chúng tôi quay trở về Hà Nội. Đến nhà số 117 Hàng Bạc, bé tí chỉ khoảng hai chục mét vuông, may mắn gặp bà Hanh, con dâu trưởng cụ Năm. Ấn tượng đầu tiên về bà là sự gần gũi cởi mở nhưng vẫn toát lên vẻ lịch lãm sang trọng. Chúng tôi xin phép thắp hương cho cụ Năm, chạnh buồn nghĩ đến người phụ nữ mà cuộc đời gắn liền với một giai đoạn cực kỳ hào hùng nhưng cũng đầy đau thương của dân tộc.

Cụ Năm là người đầu tiên bị xử bắn khi cuộc cải cách ruộng đất “long trời lở đất” năm 1953 mở màn, cái chết của “bà địa chủ” này đã thành tấn bi kịch không chỉ của một con người, một gia đình mà của cả một thời kỳ lịch sử. Mặc dù ngay sau đó Nhà nước đã tiến hành “sửa sai”, nhìn nhận lại những ấu trĩ, sai lầm của “cải cách ruộng đất” nhưng có những nỗi đau vẫn cứ dai dẳng. Trò chuyện, bà Hanh bảo: Gia đình tôi rất buồn vì đến giờ cụ (cụ Năm) vẫn chưa được công nhận là người có công với kháng chiến. Mẹ tôi nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, hiện rất nhiều người còn sống biết chuyện nhưng đều đã cao tuổi, mai sau họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng.

Bà kể thêm, giọng đượm buồn: “Cô chú biết không, cô Đăng (tức bà Vãn mà chúng tôi đã gặp trên Thái Nguyên) là người giúp việc cho cụ Năm, cụ rất thương yêu, tin cậy. Vậy mà chả hiểu làm sao tự dưng cô ấy lại chính là người đấu tố cụ nhà tôi hăng nhất”. Tôi chợt nhớ sự im lặng, trầm ngâm của bà Quỳ lúc trên Thái Nguyên và thưa lại những điều tốt đẹp mà bà Vãn nói về cụ Năm trong cuộc gặp vừa qua, bà Hanh nghe nhưng vẫn buồn.

Sau cuộc gặp này, việc liên lạc với gia đình cụ Năm được giao lại cho Nguyễn Ngọc Trai (con anh Trác), sĩ quan đang công tác tại Cục Bản đồ (Bộ Quốc phòng). Trước đó ông Hanh có kể cho tôi nghe về chuyện tìm mộ mẹ mình. Sau khi xử bắn, người ta đã đem xác “địa chủ” Nguyễn Thị Năm đi chôn giấu nơi nào đó mà thân nhân không hề biết.

Kể từ hòa bình lập lại 1954, gia đình rất nhiều lần tổ chức tìm mộ cụ nhưng không thành, thất vọng đến mức đành phải lấy tạm một ít đất ở khu vực đồn điền, nơi bà bị bắn cho vào cái tiểu sành đem về, thay cho hài cốt.

Năm 1993, nghe người ta kể về nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên ở xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ (tỉnh Hải Dương), ông Hanh tìm đến. Lúc ấy mặc dù rất bận nhưng ông Liên vẫn sốt sắng giúp; có lẽ với một người, một số phận như cụ Nguyễn Thị Năm chả ai nỡ từ chối.

Lúc tiến hành tìm kiếm, ông Liên vẫn ở Hải Dương, chỉ hướng dẫn qua điện thoại. Cả đoàn nhất nhất làm theo lời nhà ngoại cảm, ông Liên bảo hãy đến khu vực sân bay cũ bỏ hoang, thấy cây nào có lá nhỏ nhất thì đào. Mọi người chia nhau tìm trên cả vùng rộng lớn, cây cối um tùm và thật lạ cả khu vực mấy cây số vuông chỉ duy nhất một cây phượng lá nhỏ. Chưa kịp gọi điện báo về thì nhà ngoại cảm chủ động gọi, nói chính nơi đó, ngay gốc cây, hãy đào đi.

Đào xuống sâu hơn một mét quả nhiên thấy có bộ hài cốt chôn sơ sài đã nát vụn, duy chỉ còn mấy chiếc cúc áo của chiếc áo mà cụ Năm mặc khi bị bắn là con cháu nhận ra ngay. Mọi người òa khóc. Và may làm sao, không thể nào nhầm được khi lẫn trong đám xương vụn đó chiếc vòng tay ngọc thạch cụ Năm thường đeo. Cả nhà bùi ngùi xót thương đưa cụ về. Ông Hanh cùng con cháu đắp thêm đất vào gốc cây phượng. Suốt 40 năm trên nấm mồ hoang không hương khói, cây phượng vĩ vẫn nở những chùm hoa đỏ rực viếng hương hồn người đàn bà chịu nhiều oan khiên.

Tháng 8.2007
——————————————-
Cuộc Cải Cách ruộng đất.

>>>“Theo tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam thì các công việc này cũng được Đảng và Chính phủ tiếp tục từng bước giải quyết trong kháng chiến chống Pháp, nhưng đến 1953 thì mới được phát triển rộng (khởi sự tại Thái Nguyên).[4] 

Tại kì họp thứ ba của Quốc hội, để phát động chiến dịch, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ”.[5]    

Tuy “Luật CCRĐ của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình”, nhưng HCM và đảng của cụ đã xơi gọn 172.000 mạng người (số này do đảng của cụ đưa ra). Nhưng theo các nguồn tin ngoại quốc và Bùi Tín nói rằng có 500.000 người bị chết trong cải cách ruộng đất. Theo Hoàng Văn Chí thì đã có 675.000 chết.

Theo tính toán của Trần Hoàng như sau. Theo đúng “qui trình”, thì mỗi xã phải đấu tố 5% số nông dân; nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho biết, rất nhiều nơi đấu tố 15%. Dân số Miền Bắc năm 1954 là 15 triệu. Vào thời điểm ấy, 90% dân số ở nông thôn làm ruộng; tính ra vào khoảng 13,5 triệu người. 5% của 13,5 triệu người bị đấu tố sẽ là 670.000 người.  Vì vậy, con số người bị giết hại trong 3 năm đấu tố là 500.000 – 675.000 người có thể là hợp lý.  (Trần Hoàng)

 

Hồ chí Minh và Cải cách ruộng đất

28-5-2011

Tác giả: 

danchimviet.info

Cải cách ruộng đấtmột chiến dịch diệt chủng của người cộng sản cách đây hơn nửa thế kỷ mà khi nhắc lại tưởng chừng như mới hôm nào. Chắc chắn trong lòng người dân Việt, nhứt là người Việt ở miền Bắc đã phải gánh chịu cái tai ách ấy trong suốt 3 năm trời vẫn còn bàng hoàng khi nhắc đến CCRĐ. Ngày nay đảng cộng sản còn đây thì tất cả những hành động diệt chủng của họ còn được che đậy, nhưng mai kia khi đảng cộng sản bị tiêu diệt rồi thì mọi người dân sẽ thắp nén nhang, lập đàn tràng giải oan cho bao nhiêu vong hồn uổng tử đã bị giết oan và bắt kẻ gây án phải đền tội dù họ còn sống hay đã chết.

1 – Cải cách ruộng đất:

Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân(1954-1982) kể lại trong chuyện“ Bí mật HCM” cho chúng ta thấy được sự nô lệ của ông Hồ và đảng Lao Động Việt Nam (tiền thân của đảng CSVN) như thế nào.

“Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông  Stalin gọi bác sang, nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ… [ Tác giả viết hơi mâu thuẩnxin mời coi lại đoạn đầu >>> ]

“Mùa hè năm 1952, sau khi đi Trung quốc và Liên xô về, bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định CCRĐ. Đoàn cố vấn CCRĐ do Kiều Hiếu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây. Họ muốn qua CCRĐ để chỉnh đốn lại đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành CCRĐ đến lúc dừng là 3 năm”. (Đàn chim Việt online ngày 4-7-2010)

Ông Nguyễn Minh Cần, người được thành ủy Hà nội giao cho trách nhiệm sửa sai trong việc CCRĐ ở ngoại thành Hà Nội đã kể lại qua bài “Xin đừng quên bài học CCRĐ nửa thế kỷ truớc”.  (Xem phim  phỏng vấn Nguyễn Minh Cần và Vũ Thư Hiên ở cuối bài này)

“Ngày 4-12-1953, Quốc hội nhất trí thông qua luật CCRĐ. Sau đó, chủ tịch HCM đã ra sắc lệnh ban hành luật CCRĐ. Từ đó, bắt đầu các đợt CCRĐ, mà đợt đầu tiến hành ở 47 xã tỉnh Thái Nguyên và 6 xã tỉnh Thanh Hoá, sau đó tràn lan trên khắp cả miền Bắc, trừ các vùng miền núi…

“Do sự phẫn nộ của quần chúng đã bùng lên dữ dội, nhiều cuộc nổi dậy ở Bùi Chu, Phát Diệm, nên về sau, trung ương đảng Lao Động VN chỉ tiến hành cái gọi là “Cải cách Dân chủ” ở miền núi, nghĩa là dẹp bỏ phong kiến địa phương mà không dùng bạo lực quá mạnh vì sợ dân chúng chạy sang Trung quốc, Lào…”

(Người Việt ngày 4 đến 11-2-2006)

Nguyễn Minh Cần trong bài “Xin đừng quên bài học CCRĐ nửa thế kỷ trước” nói về cái tỷ lệ giết người như sau:

“Cái tỷ lệ quái gở 5% đó kèm thêm những “kết luận” quái đản khác…Cái phương châm “thà sai hơn bỏ sót,cộng thêm với việc “thi đua lập thành tích đánh phong kiến”…

“Tóm lại, những con số về người thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác nhận được. Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại”. (Người Việt ngày 6-2-2006)

Trong chiến dịch CCRĐ giết người có chỉ tiêu rõ ràng, cái chỉ tiêu ác độc ấy phải giết địa chủ ở mỗi xã cho đủ 5% dân số hoặc nhiều hơn càng tốt, càng được khen thưởng. Theo nhà văn Tô Hoài:

“Thế mà vượt hết, thắng lợi lớn, toàn đoàn truy được hơn năm trăm địa chủ lọt lưới, đến bước ba đưa tỷ lệ 5% lên 7,24% đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ về chính trị cũng như về kinh tế”. (Ba người khác- trang 206)

Nhà văn Trần Mạnh hảo, rất bức xúc với cái tỷ lệ giết người trong chiến dịch CCRĐ ở làng của ông cao hơn các nơi khác:

“Làng tôi là làng công giáo Bùi Chu Phát Diệm, là làng tề, làng bị gọi là ác ôn, nên chỉ tiêu địa chủ trên giao nặng nhất: phải bắt cho được 15% địa chủ là Bình Hải Đoài. Nghĩa là cứ 100 người dân thì phải nộp cho bác và đảng 15 tên địa chủ”. (Thời Luận ngày 1-4-2006)

Chính vì các đội cải cách thi đua lập thành tích cho nên con số người dân vô tội đã bị giết một cách dã man đưa con số lên đến hàng trăm ngàn:

“Ông Bùi Tín, một người bất đồng quan điểm với chính phủ Việt nam cũng nêu lên con số nạn nhân là 500.000 người do Michel Tauriac, nhà văn người Pháp đưa ra. Bùi Tín cho rằng con số nầy cũng hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử” (Wikipedia tiếng Việt online ngày 19-5-2006)

“Một ý kiến cực đoan là của Hoàng văn Chí, người tin rằng 5% dân số miền Bắc ( 675.000 người đã chết). Cuốn sách From Colonialism to Communism của ông nầy đã có tác động mạnh đến cuộc tranh luận về vấn đề con số” (BBC online ngày 28-12-2006)

Trong bài “Cuộc CCRĐ 50 năm trước đây” của phóng viên Nguyễn văn An, đài RFA thì:

“Thống kê của nhà nước được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế tập 2 cho biết đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kể thu của nhân dân, bị“ đào tận gốc, trốc tận rễ”, nghĩa là không bị bắn tại chỗ thì cũng bị án tù rồi chết trong nhà giam. Con số nầy có thể không chính xác, nhưng số nạn nhân không thể thấp hơn thế được…

“Bản thống kê chính thức cho biết là trong 172.008 người bị quy là địa chủ và phú nông trong CCRĐ thì 123.266 người bị quy sai, tức là bị oan. Tính theo tỷ lệ là 76,66%. Có lẽ chưa bao giờ và ở đâu tỷ lệ giữa số bị oan và nạn nhân lại cao đến như thế”. (RFA online ngày 15-5-2006)

Chiến dịch CCRĐ đã tàn sát người dân vô tội, máu đã chảy tràn lan khắp nơi, tiếng oán than ngút trời, lúc bấy giờ ông HCM mới chịu cho dừng tay bắn giết và ông Nguyễn Minh Cần, người được thành ủy Hà nội đề cử làm nhiệm vụ sửa sai tại Hà Nội kể:

“Trung ương đảng buộc phải thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ và chủ trương sửa sai. Tại hội nghị, Trung ương đã thi hành kỷ luật như sau: Trường Chinh, mất chức tổng bí thư, chỉ còn làm Ủy viên BCT, còn Hoàng Quốc Việt và Lê văn Lương mất chức Ủy viên BCT, Hồ Viết Thắng, bị đưa ra khỏi TƯ/đảng LĐVN…

“Hồi đó chúng tôi được giải thích: “Bác đến không tiện”, nhưng chúng tôi đều hiểu là ông Hồ muốn đưa ông Giáp ra chịu trận” thay mình, nên không hề có việc ông Hồ khóc trước dân chúng”. (Người Việt ngày 4-2-2006)

2 – Hành động diệt chủng:

Trong khi thi hành CCRĐ đảng Lao Động Việt Nam đã đưa ra một phương châm hành động thật là sắt máu, họ chỉ có biết giết và giết.

“Cái phương châm “Thà sai hơn bỏ sót”, cộng thêm với việc “Thi đua lập thành tích chống phong kiến” đã gây tình trạng “kích thành phần”,“ nống thành tích”, cố tìm ra nhiều địa chủ, phản động, xử tử nhiều ác bá… để có được bằng khen, huân chương, để ngoi lên địa vị cao hơn…

“Các đội CCRĐ không từ một cách nào hết để “tìm ra địa chủ”, “tìm ra phản động”,“tìm ra của chìm”, ép buộc con cái đấu tố cha mẹ, con dâu đấu tố bố mẹ chồng, con rể đấu tố bố mẹ vợ, vợ đấu tố chồng, anh em đấu tố lẫn nhau, trò đấu tố thầy, kẻ hàm ơn đấu tố kẻ ban ơn, láng giềng hàng xóm đấu tố lẫn nhau (cũng có trường hợp cha mẹ bấm bụng khuyên con cái “đấu tố” mình để mong cứu mạng cho con cái)…

“Những người bị quy là địa chủ ngay lập tức bị tước mọi quyền làm người, bị hạ nhục, bị chà đạp, ngay lập tức phải thay đổi cách xưng hô trước nông dân, phải cúi đầu lễ phép “thưa các ông, các bà nông dân”, phải xưng “con” trước mặt nông dân, dù đó chỉ là một đứa trẻ con…

“Còn khi hành quyết người bị án tử hình thì những người thân thích, ruột thịt của người ấy, từ gìa cả cho đến trẻ con, đều bắt buộc phải có mặt để chứng kiến tận mắt cảnh tượng đó! Đúng là sự khủng bố tinh thần cực kỳ vô nhân đạo”.

(Người Việt ngày 4 đến 11-2-2006)

Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo Quê Mẹ khi du lịch sang Pháp sau năm 1975 (1989), ông nói:

“Trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc đến nay chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp tàn bạo như cuộc CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của cố vấn Trung cộng. Điều đó cho thấy chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào”. (Người Việt ngày 7-9-2004)

Hòa thượng Thích Quảng Độ, Xử lý thường vụ Viện Tăng thống,Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN trong cuốn “Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với Dân tộc và Phật giáo Việt Nam”, đoạn nói về CCRĐ, ngài viết như sau:

“Những kẻ thù bên trong ấy là ai. Đó là “Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo, Lưu manh” và phải “đào tận gốc trố tận rễ”có nghĩa là phải tiêu diệt cho bằng hết. Và cuộc căm thù đấu tranh giai cấp ấy đã diễn ra năm 1956, dưới hình thức CCRĐ và “ôn nghèo giợi khổ” kéo dài suốt sáu tháng trời…

“Khẩu hiệu của đội cải cách là “Nhất đội nhì trời”. Cũng như trong miền Nam năm 1975, cộng sản đang trong khí thế “thừa thắng xông lên”, tại các công trường làm thuỷ lợi, cộng sản trương khẩu hiệu “thằng trời đứng qua một bên, để cho thuỷ lợi đứng lên thay trời” và “vắt đất ra nước thay trời làm mưa”, còn gì ngông cuồng hơn…

“Có nhiều trường hợp con tố cha, vợ tố chồng, trò tố thầy, anh em họ hàng tố lẫn nhau vì những nguyên nhân bất hòa trong gia đình trước kia. Tố xong, tòa án nhân dân luận tội và kết án tử hình, tất cả đám đông ở dưới phải hô to ba lần “tử hình; tử hình; tử hình” vừa hô vừa đấm lên hư không ba cái. Thế rồi khổ chủ bị bịt mắt lại đưa đến trói vào cây cột đã được dựng sẳn và đội hành quyết gồm 5 người đứng nhắm bắn, khổ chủ gục đầu xuống và kết liểu một cuộc đời”.

(ĐốiThoại online ngày 21-9-2007)

Để cổ vỏ cho phong trào diệt chủng, hai nhà “ đại thi nô” miền Bắc lúc bấy giờ thi nhau làm thơ cổ động chiến dịch một cách hiếu sát như sau:

1. Tố Hữu:

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghĩ

Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin…bất diệt”

(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 37)

2. Xuân Diệu:

“Anh em ơi! quyết chung lòng

Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tư thù

Địa hào đối lập ra tro

Lưng chừng, phản động đến giờ tan xương

Thắp đuốc cho sáng khắp đường

Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay

Lôi cổ bọn nó ra đây

Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi”.

(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 38)

3. Những vụ án thời CCRĐ:

Vụ án đầu tiên trong chiến dịch CCRĐ là thí điểm ở đồng bằng và chọn đồn điền bà Nguyễn thị Năm tứcCát Thành Long được ông Hoàng Tùng viết trong “Bí mật Hồ chí Minh” (để chạy tội cho HCM) như sau:

Nguyễn thị Năm tức Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn Tiến Dũng. Gia đình bà trong dịp Tuần lễ Vàng có hiến 100 lượng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đình Nguyễn thị Năm cũng giống như các gia đình Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung quốc. Họp bộ chính trị bác nói:“ Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, bác nói:“Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp thời dừng lại…

“Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng một phần nào, còn là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách, cải cách lúc đó là như thế”. (Đàn chim Việt online ngày 4-7-2010)

Nhà văn Vũ Thư Hiên, con của cụ Vũ Đình Huỳnh, bí thư của ông HCM. Cả hai cha con ông Vũ Thư Hiên đã từng ở tù về tội “Xét lại chống đảng”. Trong quyễn“ Đêm giữa ban ngày” ông Hiên viết về CCRĐ như sau:

“Từ tinh mơ đoàn người rầm rập trên các nẻo đường làng còn tối đất, khản tiếng hô vang những khẩu hiệu có mùi máu. Dân chúng ùn ùn đổ về những sân đình, những bãi rộng, nơi sẽ diễn ra những cuộc đấu tố bọn địa chủ cường hào gian ác…

“Đấu tố diễn ra liên miên, ngày một khốc liệt. Người dân cày dung dị hôm trước, được đảng phóng tay phát động, vụt trở thành hung tợn, mặt bừng bừng khoái trá trong niềm vui hành hạ đồng loại. Tôi kinh hoàng nhìn cảnh tượng không hiểu nổi: nườm nượp lướt qua mắt tôi từng bày đàn người bị kích thích bởi mùi máu, hăm hở đi dưới lá cờ đỏ sao vàng không biết để chiến đấu với quân xâm lược mà với chính đồng bào mình…

“Chúng tôi nghe tiếng kêu khóc chạy tới thì hấy mấy anh du kích quen đang xềnh xệch kéo bà đi. Hai tay bị trói giơ lên trời, bà xiêu vẹo bước sau họ, kêu gào thảm thiết:“ Ơi cụ Hồ ơi, cụ trông xuống mà xem người ta đối xử với con dân cụ thế này đây!”

“Ở một xã khác, một người đàn bà bị trói vào hai cây nứa bắt chéo, bên dưới là một đống lửa. Con mẹ ni là phú nông phản động, ngoan cố lắm, những người bâu quanh nhao nhao nói thế. Người đàn bà quằn quại mãi, tới khi ngất đi mới được người ta hạ xuống.

“Cha bạn tôi, hoạt động cách mạng từ trước năm 1945, bị tống giam vì bị vu là đảng viên Quốc Dân đảng, thắt cổ tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh: “Oan cho tôi lắm, cụ Hồ ơi. Tôi trung thành với cụ, với đảng. Tôi không phản bội. HCM muôn năm!”

Người ta lấy gai bưởi cắm vào đầu ngón tay một cô gái, có trời biết cô ta tội gì, có thể cô ta là con địa chủ, cứ mỗi câu hỏi lại nhấn những cái gai sâu thêm một chút làm cho cô gái rú lên vì đau, quằn quại trong dây trói”. (ĐGBN- trang 30-31)

Ông Nguyễn văn Thủ, quê ở tỉnh Hưng Yên khi trả lời phỏng vấn của đài RFA thì đang ở Hà Nội kể lại chuyện gia đình ông bị đấu tố hồi CCRĐ như sau:

“Gia đình tôi, cụ(ông nội) công tác tốt, đến lúc ấy tự nhiên quy cho cụ tôi là thành phần đối kháng, bắt cụ đi đấu tố, gia sản bị tịch thu hết. Tôi bị coi là con nhà địa chủ, khổ lắm, đi ra ngoài đường là phải chào ông bà nông dân. Dù nó là con là cháu mình, cũng phải gọi nó là“ Ông” là “ Bà”…của cải mất hết, chả còn gì cả…

“Lúc ấy, tự nhiên nó như ma quỉ cám dỗ, người ta nhìn thấy nhà tôi, người ta như muốn ăn thịt luôn, họ muốn làm gì thì làm. Lúc ấy, người nào càng hăng hái, càng tốt, càng đấu tố, càng đánh đập, thì càng tốt. Có những người bị tử hình, ông cụ tôi bị kết án tử hình, bắn chết ngay, bắn ngay trước mặt mọi người, con cháu”. (RFA online ngày 19-5-2006)

Nhạc sĩ Trịnh Hưng, hiện đang ở bên Pháp, là người bạn thân vừa về thăm thi sĩ Hữu Loan và kể lại câu chuyện có liên quan đến tác gỉa bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim như sau:

“Ông ấy kể tôi nghe là: Lúc ấy, ông ấy là trưởng Ban Tuyên huấn của Đoàn 304, do tướng Nguyễn Sơn phụ trách, quân đội thì đói khổ lắm, chỉ có ăn khoai, ăn sắn, không có gạo mà ăn…Ông địa chủ đó thì giàu, tháng nào cũng đem gạo đến, để nuôi quân cho…Chính tướng Nguyễn Sơn tháng nào cũng làm lễ vinh danh cho ông ta, ban thưởng huân chương.

“Năm 1953, bị đấu tố, lan đến Thanh Hoá, ông bà địa chủ ấy bị giết chết. Nhà thì chỉ có một cô con gái thôi. Nó cấm tất cả mọi người, con trai, hay con gái, không được kết hôn với con nhà địa chủ, không được nuôi con nhà địa chủ.

“Ông ấy( nhà thơ Hữu Loan) thấy bực quá, mới bỏ về làng, đi qua làng ấy, ông ghé vào thăm, ông biết rằng ông bà cụ bị giết rồi, cô con gái không ai nuôi cả, cô ấy phải đi mót sắn, mót khoai ở ngoài đồng, ăn sống, để sống thôi, quần áo rách rưới bẩn thỉu lắm, ngủ ở đường, ở đình làng, ông thấy thế, thương hại và đem về nhà nuôi…và bây giờ là vợ ông ấy!” (RFA online ngày 19-5-2006)

Nhà văn Trần Mạnh Hảo, người bị đuổi ra khỏi đảng CSVN năm 1989 và đuổi khỏi biên chế nhà nước viết cuốn“ Ly thân” có bài“ Độc quyền chân lý là thủ tiêu chân lý”, đoạn ông viết về CCRĐ:

“Ông đội (tên gọi cán bộ CCRĐ từ trung ương phái về) từ trên bàn xử án xông tới sát ông Luân bị trói, bị chôn chân tới đầu gối trong chiếc hố đấu tố”, đoạn hét:“ mày có hô CCRĐ muôn năm không?” Ông Luân trợn mắt, đôi mắt sưng tấy, lòi cả con ngươi ra…

“Sau đó, ông đội lên bàn xử án, tuyên bố thay mặt đảng và bác vĩ đại, tuyên án xử tử hình gián điệp Quốc Dân đảng Luân, lệnh du kích xã lên đạn rốp rốp thị uy; đoạn trói nghiến ông Luân vào cọc bắn trên ruộng cạn mùa đông đang rét…

Ông Luân bị bắn bằng bốn cây súng trường. Bốn phát đạn cùng lúc đều trúng vào ngực ông Luân phụt máu, khiến ông gục xuống liền, cái giẻ nhét miệng ông bị máu trào ra, rơi bịch xuống như một cục máu đông, hay một mảnh phổi vở tràn ra ngoài”. (Thời Luận ngày 1-4-2006)

Dưới đây là chuyện của cựu trung tá QĐND Trần Anh Kim, hiện đang ngồi tù 5 năm rưởi về tội “ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đã trả lời phỏng vấn của Việt Hùng, phóng viên đài RFA kể về hoàn cảnh của gia đình ông bị xử một cách dã man trong chiến dịch CCRĐ như sau:

“Đến CCRĐ, sau năm 1954 giải phóng, sau đó giảm tô, đến CCRĐ thì người ta quy cho ông tôi là địa chủ, và quy cho bố tôi là QD đảng. Bố tôi là Phó bí thư QD đảng và bác tôi là Bí thư QD đảng. Bác tôi bị bắn luôn, ông ấy nhận thì bị bắn luôn. Còn bố tôi thì kiên quyết không nhận. Không nhận thì người ta tra tấn, người ta thắt hai dây thừng vào hai ngón chân cái rồi người ta kéo lên sàn nhà, bố tôi đau quá, kêu khóc xin thả xuống. Kêu khóc quá to thì người ta, lấy rơm, lấy rạ nhét vào mồm

“Địa chủ ngày đó là địa chủ “phân” anh ạ. Thí dụ mỗi thôn là mấy địa chủ thì cứ thế mà người ta đưa lên thôi. Cuối cùng cũng bị tù không án hai năm. Mà khốn nạn hơn thời tôi đi tù nhiều. Tức là tay thì trói cánh khuỷu ra đàng sau, chân thì cùm, quần áo thì chẳng có mặc, cứ nằm như thế ở dưới sàn chuồng trâu thôi”.

(RFA online ngày 19-5-2006)

4. Dư luận về CCRĐ:

Học giả  Hoàng Xuân Hãn nói lên cái nhận định của mình về chiến dịch CCRĐ khi trả lời phỏng vấn của Thuỵ Khuê trên đài RFA:

“Cái mất mát lớn bởi sai lầm trong CCRĐ là nó phá vỡ mất cái nông thôn Việt Nam và phá vỡ mất lòng tin. Cái nguy hại của CCRĐ là ở chỗ nó phá vỡ một tế bào quan trọng vào bậc nhất của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là làng quê”.

(Người Việt ngày 7-9-2004)

Cố thủ tướng CSVN Võ văn Kiệt, người có nhiều trăn trở trong việc làm của mình đã qua, ông cũng nói lên quan điểm của mình về chiến dịch CCRĐ sau khi đã không còn chức vụ gì trong chính phủ:

“Năm 2005, ông Võ văn Kiệt, nguyên thủ tướngViệt Nam, nhìn nhận“ Trong các chiến dịch CCRĐ và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế” nhằm khẳng định đại đoàn kết dân tộc là cội nguồn sức mạnh của đất nước”. (Wikipedia tiếng Việt online ngày 19-5-2006)

Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân, trả lời phỏng vấn của BBC, ông nói còn nhiều vấn đề trong lịch sử Việt Nam nữa thế kỷ trước tiếp tục là kiêng kị, chưa được bàn thảo sòng phẳng:

“Trong xã hội Việt Nam lâu nay, xung quanh đề tài CCRĐ, dư luận buộc phải im lặng. Sự kiện CCRĐ, khi xảy ra, đã làm đảo lộn đời sống nông thôn miền Bắc; nó đi vào lịch sử như một vết thương. Có thể nói đó là vết đen lớn đầu tiên mà phong trào của những người cộng sản khi lên cầm quyền đã để lại trong xã hội Việt Nam”. (BBC online ngày 14-1- 2007) 

Ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó thủ tướng chính phủ, người đã từng kể về mật lệnh Z 30 tịch thu nhà hai tầng trở lên hồi sau năm 1975 viết về CCRĐ trong cuốn“ Lý luận HCM” ông nói lên cái nhận định của mình về cái chiến dịch này:

“Những sai lầm của CCRĐ đã để lại hậu quả lâu dài cho dân tộc, cho đất nước, là sự hận thù, sự lừa dối, xảo trá, vu khống như: tố điêu, ép cung, bịa chuyện…gây tai họa cho bao gia đình, làm mất đi những truyền thống tốt đẹp về gia đình, họ hàng, làng xóm, mà cha ông ta đã dày công xây dựng hàng nghìn năm…

“Những sai lầm trong việc đấu tố không chỉ có trong CCRĐ, mà cũng phổ biến trong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, nhưng cải tạo công thương chỉ làm ở một số thành phố và tiến hành sau CCRĐ nên phần nào giảm bớt sai lầm, khuyết điểm, tác hại của nó cũng chỉ thu hẹp trong một số thành phố”.

(Bauxite Việt Nam online ngày 16-11-2010)

Cụ Nguyễn văn Trấn, một lão thành cách mạng nổi tiếng của miền Nam trong quyễn “Viết cho Mẹ và Quốc hội” cho chúng ta thấy được rõ ràng sự nô lệ của chính phủ Hồ chí Minh trước đế quốc Trung cộng là như thế nào. Họ ngữa tay nhận viện trợ của Trung cộng để đánh Pháp, Mỹ giải phóng dân tộc (?), nhưng lại tròng vào cổ dân tộc một ách thống trị nguy hiểm hơn, tàn bạo hơn và lâu dài hơn.

“Ác hết sức là cố vấn Trung quốc hiến cho cái kế Phóng tay. Phóng tay! Nói nôm na (theo Nam bộ) là “cứ việc làm mạnh thả cửa”. Và họ dẫn lời vàng ngọc nguỵ biện,“à la” Mao Trạch Đông.

“Kiểu uông tất tu quá chỉnh”. Có nghĩa là: muốn uốn khúc cây cong, ắt phải kéo nó quá chiều.

Trời ơi! đảng của tôi đã nghe lời người ngoài, kéo khúc cây cong quá trớn. Nó trở lại giết chết bao vạn sanh linh

“Có lần anh chị em Nam bộ“ Đại biểu tôi đến gặp ông gìa Tôn mà hỏi, tại sao ổng để cho CCRĐ giết người như vậy?”

“Bác Tôn đang ngồi, nghe tôi hỏi, liền đứng dậy bước ra khỏi ghế, vừa đi và nói: “Đụ mẹ, tao cũng sợ nó, mầy biểu tao còn dám nói cái gì?

“Quả thật, lúc CCRĐ còn nghe theo Chệt mà phóng tay phát động ai mà có ý kiến với nó thì sẽ bị quy là có tư tưởng địa chủ”. (Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội- trang 266-267)

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà trí thức trẻ lớp hậu sinh góp lời nhận định về công cuộc CCRĐ của HCM khi trả lời phỏng vấn của Duy Ái đài VOA:

“Theo tôi cột mốc rõ nhất cho sự phi dân chủ hóa để trở thành độc tài toàn trị của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòamột cái tên rất dân chủ, là việc đảng Lao Động VN phát động CCRĐ, được cụ Hồ gọi là “cách mạng long trời lỡ đất”, vào năm 1953. Bao trùm toàn bộ “cách mạng” này là sự tuỳ tiện của chính phủ cụ Hồ trong việc bắt giữ, hành hạ, bắn giết, tịch thu gia sản đối với hàng trăm nghìn người Việt Nam. Các thủ tục tư pháp thông thường đã có từ thời thực dân Pháp hay các quy định phải tôn trọng pháp luật và quyền con người được ghi trong Hiến pháp 1946 đều không được đếm xỉa trong CCRĐ”. (VOA online ngày 15-9-2010)

Để kết luận bài viết này, tôi xin mượn lời của cố giáo sư Nguyễn Mạnh Tường trích trong bài diễn văn “Qua những sai lầm trong CCRĐ” đọc trong phiên họp của MTTQ tại Hà nội ngày 30-10-1956 với tư cách là một thành viên của MTTQ. Và cũng chính vì bài diễn văn này mà ông đã bị tước hết chức vụ và danh vị nghề nghiệp và sống một cuộc đời bị bạc đải cho đến chết.

“…tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc CCRĐ. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội bị chết oan, không phải vì bàn tay của kẻ địch mà chính của ta…

“Trong CCRĐ chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết một cách thê thảm”. (Người Việt ngày 9-5-2005)

 

© Đại Nghĩa

(sưu tầm)

© Đàn Chim Việt

Nguồn: danchimviet.info

——————————————————

Những bài học còn nóng hổi

Paris, 10-2006

Bùi Tín (cựu Đại tá QĐNDVN, cựu phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, sĩ quan cao cấp nhất hiện diện trong ngày 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập, hiện tị nạn chính trị tại Paris)
 

Cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện trên miền Bắc nước ta đã hơn một nửa thế kỷ. Sau 3 năm thực hiện, do sai lầm nặng nề và phổ biến, đảng CS buộc phải nhìn nhận sai lầm (tháng 10-1956) và sửa sai. Họ không thành tâm và cũng không thể sáng suốt để nhìn thật rõ và thật đủ những sai lầm, do đó họ không sửa được sai lầm. 

Bi kịch CCRĐ kéo dài trong không gian và thời gian, chồng chất ngày càng nhiều những đau khổ và tàn phá cho đất nước và dân tô.c. Lúc này, những người dân chủ và yêu nước nhìn lại bi kịch ấy và phân tích cho sâu sắc hơn là một việc làm cần thiết, có ích. 

Nhân dịp này, những bài viết của anh Nguyễn Minh Cần, anh Trần Gia Phụng và những buổi phát thanh chuyên đề của đài Châu Á Tự do RFA rất có giá trị

Có người bảo CCRĐ đã diễn ra hơn nửa thế kỷ, đi sâu vào dĩ vãng rồi, hay ho gì mà bới móc ra. Đảng CS đã sửa sai, đã đổi mới hơn 20 năm rồi, nhắc lại chuyện xưa cũ làm gì !Không ! Vẫn cần nhắc lại và rút ra những bài học sâu sắc hơn, giúp ích cho con đường đi lên và hòa nhập của đất nước, để chia tay dứt khoát với những sai lầm trong quá khứ, để mạnh bước trên con đường đổi mới thật sự. Cần nhìn lại cuộc CCRĐ với con mắt thực tiễn, tôn trọng sự thật lịch sử, trên tinh thần nghiên cứu khoa học cũng như trên lập trường đấu tranh cho dân chủ, tự do. 

Từ đó cũng nên nhìn rộng ra vấn đề chiến lược : quan hệ giữa đảng CS với nông dân VN. 

Sau khi có thời gian nửa thế kỷ để nhìn lại và suy nghĩ, chúng ta nên tập trung chú ý đến những vấn đề và bài học dưới đây: 

1°/  Cục diện mới dẫn đến Cải cách ruộng đất :. Những ai từng sống những năm giữa thế kỷ 20 ở Việt nam có thể nhớ lại không khí lãng mạn nhẹ nhàng trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, với những bài hát sôi nổi ‘’ Bao chiến sỹ anh hùng…’’, ‘’ Nào ta đi hùng binh …’’, ‘’ Diệt phát xít…’’ . Đảng CS rút vào bí mật, các cuộc thanh trừng diễn ra kín đáo, tuổi trẻ sẵn sàng xông ra trận để bảo vệ nền độc lâ.p. 

Từ cuối năm 1949, năm 1950 và 1951 một cục diện mới mở ra. Đảng CS Trung quốc thắng to và rất nhanh, chiếm cả lục địa Trung hoa, lập nên nước Cộng hòa nhân dân, Quân giải phóng Trung quốc đến biên giới Trung – Việt; Việt nam chấm dứt thời kỳ bị cô lập, quan hệ Việt – Trung về mọi mặt mở ra rất rộng rãi về ngoại giao, kinh tế, quân sự, văn hóa… Ảnh hưởng của Trung quốc tràn vào Việt nam như nước lũ, từng đoàn cố vấn Trung hoa nhập Việt, cùng với viện trợ quân sự đủ trang bị mới hoàn toàn cho 6 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn pháo binh; rồi gạo, vải, đường, thuốc men, xe Giải phóng…; hàng ngàn cán bộ quân sự, kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá sang Trung quốc học tập ; mọi người nô nức học tiếng tàu và tiếng Nga. Khắp nơi nhảy ương ca, ‘’đồ đồ đồ sol đồ, đồ đồ đồ sol rê, rê rê rê mí xì rê, rê rê mí rê đô là…’’; những đoàn văn công Trung quốc sang biểu diễn… ; sách đỏ ‘’ Mao tuyển ‘’ và huy hiệu hình Mao tràn ngâ.p. 

Cuối năm 1949, ông HCM***** đi Bắc kinh, Mátxcơva, gặp Mao Trạch Đông và Stalin. Tháng 2–1950 La Quý Ba đại sứ Trung quốc cùng đoàn chuyên gia đến Việt Bắc.

Tháng 9–1950 chiến dịch Biên giới, được đoàn chuyên gia quân sự cầm đầu bởi tướng Trần Canh làm quân sư, mở rộng biên giới Viê.t-Trung từ Cao bằng, Lạng sơn đến Tiên yên, Móng cái. Có thể nói lý luận Trung quốc, kinh nghiệm TQ, hàng hóa TQ, vũ khí TQ, phim ảnh TQ, sách báo TQ…trở thành cuộc sống bao trùm các  “vùng giải phóng’’, còn gọi là “vùng tự do”. 

Vì vùng giải phóng là vùng ‘’tự túc’’, khép kín, cách biệt với vùng ‘’tạm chiếm‘’ nên cũng là cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài; hàng phương tây đều gọi là hàng địch, hàng lậu, hàng cấm. 

Chính trong không khí ấy, trong những điều kiện ấy mà cuộc Cải cách Ruộng đất là một sản phẩm Trung quốc, mang nhãn hiệu thuần Trung quốc, từ mục tiêu đến cách tiến hành theo các bước cụ thể; có thể khẳng định đây là một đặc sản Trung quốc.  

2°/ – Đặc sản Trung Quốc : từ chủ trương đến phương châm và biện pháp : tháng giêng năm 1950, khi ông H*** gặp Mao Trạch Đông ở Bắc kinh và Stalin ở Mátscơva, cả 2 ông Mao và Xít đều thúc dục ông H*** phải về làm ngay cải cách ruộng đất để còn đi đến xóa bỏ tư hữu ở thành thị và nông thôn. Ông Xít còn phân công cho đảng CS của Mao việc ‘’giúp đỡ‘’ cho cách mạng vô sản ở châu Á, trước hết là Việt nam. 

Ông HCM*** luôn sùng bái đến mức tuyệt đối Xít và Mao, coi đó là 2 bậc thày của mình, –  không bao giờ phạm sai lầm – , nên khi về nước là răm rắp thực hiê.n. 

Cũng theo thúc dục của Xít và Mao, đầu năm 1951 Đại hội II của ĐCS họp ở Tuyên Quang, ra công khai trở lại dưới tên mới ‘’ Đảng Lao động Việt nam ‘’ và ra nghị quyết về Cải cách Ruộng đất. 

Từ Á – Phi sang Âu – Mỹ, xưa nay đã có biết bao nhiêu cuộc cải cách ruộng đất. Các cuộc cách mạng tư sản dân quyền đều đặt vấn đề chia lại ruộng đất cho nông dân. Thế nhưng khi đảng CS Liên xô và Trung quốc đặt ra vấn đề CCRĐ thì mục đích không phải là chia ruộng cho nông dân. Mục đích của họ rõ ràng là một mục đích khác, đó là thiết lập và củng cố sự thống trị còn mới mẻ của đảng CS lên toàn xã hội, điều mà họ công khai tuyên bố: thiết lập nền chuyên chính vô sản, một nền chuyên chính đầy máu và nước mắt. 

Ở Trung quốc, sau cuộc Vạn lý trường chinh (từ tháng 10-1934 đến tháng 10-1935) đảng CS TQ bị mất đến 9/10 lực lươ.ng. Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch phát triển mạnh; sau khi phát xít Nhật thua trận, Quốc Dân Đảng củng cố chính quyền trên toàn quốc theo hướng quân phiê.t. Cuối năm 1945, được Stalin chuyển cho toàn bộ số vũ khí tước được của đội quân Quan Đông Nhật  ở quân khu Mãn Châu, Quân Giải phóng Nhân dân TQ lớn rất nhanh và chỉ trong 2 năm, từ 1948 đến 1949 đã Nam hạ chiếm toàn lục địa TQ. Họ đột nhiên chiếm được một vùng đất lạ mênh mông lâu năm dưới sự cai trị của Quốc dân đảng, nên họ cần làm gấp cuộc CCRĐ để quét sạch tàn dư còn khá nặng nề và nguy hiểm ấy. Điạ chủ quốc dân đảng bị bắn, giết, chôn sống như rạ. 

Cần chỉ rõ các cố vấn TQ về CCRĐ sang VN đều dự ‘’ thổ địa cải cách’’  ở TQ, có khá nhiều kinh nghiệm thực tế ở vùng Hoa Nam; nhưng họ có trình độ văn hóa rất hạn chế, hầu hết từ thành phần cơ bản bần cố nông nghèo khổ thất học, lần đầu tiên đi ra nước ngoài, lại mang nặng tư tưởng nước lớn Đại Hán tộc, nên luôn có thái độ trịch thượng, tự coi mình là giỏi giang, cái gì cũng biết để dạy bảo người khác. Về phía Việt nam, các cấp đoàn ủy (chỉ đạo một vùng) và đội (chỉ đạo một xã) cũng đều tuyển lựa trong lớp bần cố nông – 3 đời nghèo khổ, nên thường là dân mù chữ, đi làm thuê, mới được học bình dân học vụ và bổ túc văn hóa, không có khả năng lãnh đạo, càng không có tư duy độc lập, nên chỉ còn biết vâng dạ các đồng chí cố vấn, ‘’ phái viên quý báu’’ của Mao chủ tịch vĩ đại (!), dù cho các vị – từ tổng cố vấn Kiều Hiểu Quang trở xuống – chuyên mang thực tế TQ thay cho thực tế VN. Máu đổ rùng rợn từ đó. 

Vậy mà năm 1956, khi nhìn ra sai lầm, thú nhận sai lầm và đề ra sửa sai ở Hội nghị trung ương 10, những người lãnh đạo đảng CS VN không một ai dám nói gì đụng đến Trung quốc.. 

Tất nhiên trách nhiệm trước hết là ở thái độ chủ quan, giáo điều, xa rời thực tế của đảng CS VN, nhưng không thể bỏ qua cội nguồn của những sai lầm ấy là thái độ sùng bái TQ, sùng bái Mao, sùng bái ĐCS TQ, sùng bái đoàn cố vấn CCRĐ, sùng bái kinh nghiệm TQ. Những người lãnh đạo đảng CS VN đã từ nhiệm vai trò ‘’chủ nhân ông’’ đất nước mình, từ nhiệm vai trò làm chủ trong lãnh đạo đất nước, tự biến mình thành kẻ tay sai ngay trên đất nước mình. 

Chính do thái độ mù quáng, sùng ngoại, tê liệt trong tư duy và suy luận, thiếu bản lĩnh tự hào dân tộc mà bộ chính trị ĐCS VN suốt trong năm 1954 và đến cuối 1955 vẫn tin và truyền bá công khai rằng : ‘’ điạ chủ VN ta rất ma quái, phần lớn dấu thành phần giai cấp để chỉ là phú nông và trung nông ‘’, ‘’ rất nhiều địa chủ giả bộ, đóng kịch làm địa chủ kháng chiến ‘’, ‘’ rất nhiều tên địa chủ giả vờ hăng hái ủng hộ cách mạng, góp vàng bạc, tiền, hiến nhà chỉ để che dấu tội ác‘’,‘’ nhiều tên chui vào đảng CS, không ít tên còn chui sâu, leo cao…’’;‘’ phần lớn đảng bộ và chi bộ đảng vùng đồng bằng Bắc bộ  là do  Đơ Bê – deuxième bureau, Phòng nhì quân viễn chinh Pháp –  tổ chức ‘’ . 

Theo thôi thúc cố vấn Tàu, các tôn giáo bị diệt thẳng tay, sư sãi cha cố bị đày đi làm khổ sai, tiêng chuông chùa im bặt, tượng Phật, ảnh Chúa bị liệng xuống ao. 

Tôi nhớ lại, giữa năm 1955, khi ‘’địa chủ cường hào ác bá kiêm Việt gian’’ bị bắn la liệt  và bừa bãi – suốt từ Thái nguyên về Hưng yên, Thái bình, Kiến an, từ Hà đông, Ninh bình vào Nghệ an, Hà tĩnh- gây xôn xao dữ dội, các tờ thông tin và đặc san về CCRĐ vẫn đưa tin về chỉ thị của Bộ chính trị là ‘’ tỷ lệ 5% dân số là địa chủ là tỷ lệ chính xác (!) trên thực tế ‘’, và ‘’mỗi xã phải có ít nhất 2 đến 3 địa chủ ác bá để chịu tội tử hình là đúng đắn ‘’.  Nơi nào không đạt những tỷ lệ ấy là đã bị nhiễm căn bệnh hữu khuynh, phải làm lại; phải luôn nhớ đây là ‘’cuộc cách mạng long trời lở đất’’, phải nắm vững phương châm‘’ phóng tay phát động quần chúng, nghĩa là làm mạnh, dù có tả khuynh đôi chút cũng không sao, còn hơn là hữu khuynh ‘’;‘’ đừng e ngại các biện pháp mạnh, như đấu tố, dùng đông đảo quần chúng áp đảo địch và kẻ lừng chừng, dùng tòa án và các cuộc xử tử tại chỗ để gây khí thế ‘’. Chính lãnh đạo đảng CS đã thôi thúc cuộc tàn sát,  đến tận giữa năm 1956 khi xã hội đã phản ứng mạnh mẽ. 

Rõ ràng tình hình Trung quốc và Việt nam khác hẳn nhau về chính trị, kinh tế, về chiếm hữu ruộng đất, về các giai cấp và tầng lớp ở nông thôn, về các đảng phái chính trị. Áp dụng máy móc kinh nghiệm Trung quốc vào Việt nam rõ ràng là sai lầm cơ bản nhất, là nguyên nhân của những nguyên nhân sai lầm kéo dài dai dẳng hơn 2 năm trời qua cả 5 đợt cải cách, đến năm 1956, sau khi Đại hội 20 của đảng CS Liên xô (tháng 2-1956) công khai công nhận sai lầm về sùng bái cá nhân Stalin, cuộc họp Trung ương lần thứ 10 đảng Lao động Việt nam (tháng 9-1956) mới dám làm theo để công khai công nhận sai lầm của mình. 

Cần chỉ ra thật rõ rằng cuộc kiểm điểm sai lầm này vẫn còn rất hời hợt, không sâu sắc triệt để, sửa sai do đó vẫn chỉ sơ sài hình thức, vin cớ là trong thời kỳ chiến tranh, ‘’phải tránh không cho địch lợi dụng’’, ‘’phải chiếu cố miền Nam, tránh làm cho bà con trong Nam giảm niềm tin, kẻ địch trong Nam lợi dụng…’’. 

Do thái độ sùng bái TQ, e sợ đảng CS TQ, kiểm điểm sai lầm không dám đụng đến TQ nên từ đó họ vẫn kéo dài căn bệnh ‘’cúi đầu‘’ trong ứng xử với TQ, với những hệ quả tai hại lâu dài cho đất nước và dân tộc, kéo dài cho đến tận ngày nay mà vẫn chưa biết bao giờ mới chấm dứt. 

3°/ Bàn tay của Trung Quốc trong chia đôi Việt nam : Chuyện này không trực tiếp dính đến cuộc CCRĐ, nhưng không thể bỏ qua khi nói đến CCRĐ vì nó xảy ra ngay khi CCRĐ đang ở cao điểm ở Việt nam và nó cũng bắt nguồn từ thái độ sùng bái TQ, ở thái độ từ nhiệm quyền tự chủ, quyền độc lập của Việt nam. 

Chuyện này khá dài. Chỉ xin nói rất gọn để rõ do đâu mà nước ta bị chia đôi ;  nước ta liền một giải, bỗng nhiên bị chia làm hai, hai chế độ, hai nhà nước, hai chính phủ, hai phe… ; vết thương chia cắt đến nay vẫn chưa thành sẹo, sự chia cắt đã tác động sâu sắc đến cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi con người Việt nam trong hơn nửa thế kỷ qua. 

Nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa được thành lập từ ngày 1-10-1949, đến những năm 1953, 1954, vị trí quốc tế còn rất thấp (mãi đến năm 1971 Bắc Kinh mới được vào Liên Hợp Quốc). Mao và Chu Ân Lai lợi dụng cuộc chiến tranh Pháp – Việt để tìm kiếm một tư thế ngoại giao trên trường quốc tế.

Liên xô đã tiếp tay cho Bắc kinh, đề xướng cuộc họp quốc tế ở Genève (Thụy sỹ) đầu năm 1954 nhằm tìm giải pháp cho hai cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và ở Việt nam. Mỹ, Anh và Pháp đều tán thành. Đây là cuộc ra mắt quốc tế đầu tiên của nước Trung hoa Cộng sản. Đoàn đại biểu Trung quốc do Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Chu Ân Lai dẫn đầu. Qua kể lại, văn kiện hội nghị và hồi ký của những nhân vật tham dự như Molotov (ngoại trưởng Liên Xô), Chu Ân Lai, HCM **** (ngoại trưởng VN Dân chủ Cộng hòa), Tạ Quang Bửu (thứ trưởng Quốc phòng miền Bắc VN)…thì thoạt đầu đoàn miền Bắc chỉ có một dự kiến là ngừng bắn tại chỗ, trong khi chờ thời hạn cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn quốc. Đó là ngừng bắn theo ‘’kiểu da báo’’, theo từng vùng xen kẽ với nhau, không chia đôi, không cắt ngang đất nước qua một vĩ tuyến nào đó… 

Trong tư tưởng quân sự của các tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà… hồi ấy, lập trường ‘’ngừng bắn tại chỗ’’ dựa trên thế trận đang thuận lợi trên toàn quốc, và nhìn rộng hơn, là thế trận trên toàn chiến trường Đông Dương. Trên chiến trường chính là miền Bắc, chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ đã được sự phối hợp và hỗ trợ khá mạnh của các chiến trường Tri.-Thiên, Tây Nguyên (nơi cả GM 100 bị tiêu diệt trên đường 13 và 14), Đông Nam bộ và đồng bằng sông Mékông, cũng như ở gần Luang Prabang, Phong Saly, Paksé-Sénô ở Lào. Vùng giải phóng rộng lớn ở đồng bằng Liên khu 5 là nguồn nhân lực và vật lực quan trọng cho cuộc chiến. 

Người đề ra việc chia cắt Việt nam làm 2 miền chính là Chu Ân Lai nhằm làm cho cuộc họp kết thúc nhanh, được phía chính phủ Pháp tán thành ngay giữa thái độ sửng sốt, ngỡ ngàng của trưởng đoàn HCM**** và tất cả đoàn VN dân chủ cộng hòa.

Đầu tháng 7-1954, Chu Ân Lai từ Genève trở về Bắc kinh báo cáo với Mao rồi ghé qua Liễu Châu ở Quảng Tây, gần biên giới Trung – Việt, triệu tập ông HCM**** và tướng Giáp sang gặp tại đó, ép buộc chấp nhận gỉai pháp chia cắt. Chu ép rằng ‘’Mao chủ tịch đã tán thành ý kiến này; chia cắt chỉ tạm thời thôi, trong khi chờ tổng tuyển cử toàn quốc; phải giải quyết sớm không thì Mỹ sẽ can thiệp …’’. Ông Hồ băn khoăn đành cúi đầu, tướng Giáp cay đắng vẫn phải vâng lời. Chu còn ngỏ ý việc chia cắt sẽ ở vào quãng vĩ tuyến 16, nơi hồi 1945 các nước Đồng minh quy định ranh giới cho việc giải giới quân phát xít Nhật (quân Anh ở phía Nam, quân Trung hoa Tưởng ở phía Bắc). 

Ngày 20/7/1954, ngay trước ngày ký Hiệp định Genève, chính cũng lại Chu Ân Lai ép HCM**** chấp nhận việc chia cắt ở vĩ tuyến 17, dọc theo sông Bến Hải, viện cớ rằng Thừa thiên – Huế là Cố đô, có nhiếu lăng tẩm nhà Nguyễn nên Pháp và ông Bảo Đại không chịu nhượng bộ. Lại một quả đắng phải nuốt vì trước đó HCM ****, Tạ Quang Bửu nhận điện của tướng Giáp từ Hànội… đã cò kè với phía Pháp đường chia cắt phải ở vĩ tuyến 13 (qua đèo Cả) rồi  lùi về vĩ tuyến 14, 15, rồi cố giữ ở vĩ tuyến 16 (phía Nam đèo Hải Vân) như Chu Ân Lai từng hứa hẹn, mà cũng không đươ.c. Chỉ thị trước đó của HCM**** cho Tạ Quang Bửu  khi mặc cả với phía Pháp :’’ không được để mất vùng Nam Ngãi Bình Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên)’’ chỉ là ý muốn hão huyền. 

Chính con dao Bắc kinh trong bàn tay của Mao và Chu Ân Lai đã cắt đôi đất nước ta với sự đồng thuận của nhóm lãnh đạo CS ở Hà Nội. Sự chia cắt độc ác ấy nằm trong ‘’chiến lược chia để trị’’ truyền thống của bọn bành trưởng cũng như của bọn thực dân, để lại những di hại lâu dài. Bắc kinh là kẻ hưởng lợi lớn nhất tại Genève năm 1954, được nâng cao vị trí quốc tế, được tiếng là  “đóng góp nổi bật cho hòa bình ở châu Á’’, được đóng vai cường quốc thế giới. 

Thái độ cam chịu làm chư hầu của Trung quốc là đường lối chiến lược nhất quán xưa nay của đảng CS VN, được khẳng định trong điều lệ của đảng kể từ năm 1960 (Đại hội III) ghi rõ lấy tư tưởng Mao làm nền tảng lý luận.

Đường lối ấy chỉ tạm ngưng một thời gian ngắn khi bùng nổ mâu thuẫn Xô – Trung và chiến tranh biên giới Việt – Trung (1979), nhưng ngay sau khi đảng CS Liên xô tan vỡ (tháng 8-1991), đường lối ấy lại được khôi phục, còn mặn mà chặt chẽ hơn trước, suốt từ sau đại hội VII (1991) đến đại hội X, được Đỗ Mười và Lê Đức Anh bảo kê, còn kéo dài chưa biết đến bao giờ mới hết ! 

Chính 2 nhân vật tệ hại này đã một mặt làm tay trong cho Bắc kinh để lấn đất, lấn biển nước ta qua 2 hiệp định Việt – Trung 1999 và 2000, mặt khác trì hoãn việc ký hiệp định Việt – Mỹ, cản bước VN sớm gia nhập WTO theo thâm ý của các ông chủ ở Bắc kinh. (Khi TT Clinton còn tại chức, ông đã nhiều lần gợi ý mời VN vô WTO 1995-2000, nhưng đã không thành vì phía VN lừng khừng, lập trường không dứt khoát. Thì ra, có bàn tay của điệp viên TQ nằm trong BCT của đảng CSVN đã cố tình làm vậy để cản trở, tạo cơ hội cho TQ vào WTO (11-12-2001) trước VN (2006)-Trần Hoàng). 

Nhắc đến thái độ bạc nhược của nhóm lãnh đạo CS ở Hànội trước thế lực bành trướng TQ, xin nhớ ông cha ta vẫn căn dặn là phải cứng cỏi về nguyên tắc, dựa vào ý chí độc lập của toàn khối dân tộc, không thể chia rẽ, yếu đuối để họ lấn lướt ‘’được đằng chân lân đằng đầu’’, đồng thời không khiêu khích chúng, khôn khéo giữ hòa khí để duy trì quan hệ láng giềng bình thường và bình đẳng. 

Nhiều nhà trí thức dởm bênh che cho thái độ quỵ lụy dai dẳng của bộ chính trị đảng CS VN thường viện vị trí địa lý Việt nam ở sát nước khổng lồ nên phải có thái độ biết thân phận mình, theo học thuyết địa lý – chính trị; họ lý giải: người ta không thể chọn láng giềng, đây là định mệnh (!), phải biết sống để tồn tại, cứ phải chờ, TQ đổi mới đến đâu ta đổi theo đến đấy!

(Thực tế, có 14 nước có chung đường biên giới với TQ, trong số ấy, có 6 nước mà  đường biên giới chung của họ với TQ dài hơn là đường biên giới chung giữa VN và TQ.  Đường biên giới của TQ dài 22.800 km. Trung Quốc, quốc gia có diện tích lớn thứ ba thế giới (nguồn,  nguồn), có dân số đông nhất thế giới, chung đường biên giới với 14 quốc gia sau: Afghanistan, Bhutan, Ấn Độ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, Bắc Triều Tiên, Pakistan, Nga, Tajikistan và Việt Nam. **

 6 nước mà  đường biên giới chung của họ với TQ dài hơn là đường biên giới chung giữa VN và TQ: Mông Cổ 4,677 km,  Nga 3,645 km,  Ấn Độ 3,380 km,  Myanmar 2,185 km, Kazakhstan 1,533 km, Bắc Triều 1,416 km,  Việt Nam 1,281 km,  Nepal 1,236 km,  Kyrgyzstan 858 km, Pakistan 523 km,  Bhutan 470 km,  Lào 423 km,  Tajikistan 414 km, Afghanistan 76 km). (Trần Hoàng)

Các nhà thông thái nửa mùa ấy có biết hay không, một loạt nước sống cạnh TQ, có biên giới chung với TQ, vẫn giữ vững độc lập tự chủ đó sao ?  Ấn độ, Sri lanca, Miến điện, Thái lan, Mông cổ… đều nhỏ bé hơn TQ sao vẫn giữ được nền độc lập và tự chủ. Họ đâu có thúc thủ chịu đựng cái bất hạnh địa lý – chính trị có một nước lớn là láng giềng. Các nhà thông thái trên đây có biết chăng : dân tộc Hán lớn đến vậy, luôn tự hào là Đại Hán tộc, sống từ ngàn xưa trên đất Trung quốc, thế mà từng bị dân tộc nhỏ bé ở Mông cổ và Mãn châu tràn sang thống trị thời Nguyên Mông và Mãn Thanh. 

Các nhà chính trị thời hiện tại cần hiểu rằng : ngày nay, với khoa học kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng phát triển cao, không gian và thời gian bị thu lại rất hẹp, quan hệ quốc tế trên cơ sở những giá trị của thời đại được toàn cầu hóa với tổ chức Liên Hợp Quốc, không phải dễ gì mà một nước lớn lấn áp, thống trị được một nước láng giềng, trừ phi nhóm lãnh đạo của chính nước đó dại dột tự nguyện làm chư hầu cho nước lớn. 

Thật đại phúc cho dân tộc Việt nam ta, gần đây đã có những thanh niên thông minh tuấn tú như Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Đỗ Nam Hải, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân…cùng nhiều chiến sỹ dân chủ đã cảnh báo về nguy cơ đến từ phương Bắc và chỉ ra con đường độc lập tự chủ chân chính của nước ta là gắn bó với những giá trị tự do dân chủ của thời đại, tỏ rõ bản lĩnh chính trị cao hơn hẳn bộ chính trị hiện tại, cao hơn hẳn những Nông đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng… một cái đầu.  

4°/ Món nợ lưu cữu của đảng CS đối với nông dân VN : 

Trong CCRĐ bà con nông dân ta đã chịu bao nhiêu tổn thất ? Theo thống kê nội bộ của đảng CS (chưa được công khai hóa), ở những vùng đã làm CCRĐ : 

– số “địa chủ thường’’ :        82.777 , số quy sai là   51.480 , tỷ lệ sai là  62% ; 

– số địa chủ kháng chiến :       586 ,  số quy sai là      290  , tỷ lệ sai là  49% ; -số địa chủ cừơng hào ác bá:26.453,  số quy sai:     20.493, tỷ lệ sai là 77%40. 

Như vậy là đã có hơn 80 ngàn gia đình địa chủ đã bị bắt bớ, đấu tố, hành hạ; mỗi gia đình có trung bình 4 đến 5 người, bị liên quan, nên số bị nạn lên đến 400 ngàn người. Họ mất nhà, mất tiền của, một số tự sát, còn sống cũng đói khổ, ốm đau, suy kiệt; khá đông gia đình bị tan vỡ, con cái thất học, bơ vơ… 

Số “cường hào ác bá” (bị coi là oan hay không oan) bị tù đầy, đánh đập, tra tấn rồi bị bắn lên đến hơn 26 ngàn, cả gia đình bị điêu đứng theo, thì con số bị nạn có thể lên đến hơn 100 ngàn. Vậy là tính sơ sơ số nạn nhân trực tiếp nói chung lên đến nửa triệu con người. 

Chưa hết, theo thống kê nội bộ, trong Chỉnh đốn tổ chức được tiến hành ở 2.876 chi bộ đảng CS gồm có 15 vạn đảng viên, đã có đến 84.000 đảng viên bị xử trí (bị tù, tra tấn, xỉ vả, bị giết) chiếm 47%. Con số khủng khiếp này – nhiều hơn số địa chủ bị đấu tố – đã được giữ rất kín. Tôi có những bạn thân, đồng đội cấp trung đoàn (hồi ấy chưa có quân hàm) là trung đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng… bị đánh rụng hết răng, mù mắt, gẫy chân; một số khi sửa sai thì đã bị lao phổi nặng do phải nằm đất ẩm, chỉ có manh chiếu rách. Số đảng viên bị tra tấn còn tàn khốc hơn dân thường vì bị coi là phần tử thù địch chui vào đảng để phá từ bên trong. Hầu hết là đảng viên trí thức, có trình độ học vấn khá. 

Những biện pháp sửa sai đều hời hợt qua loa vì phần lớn của cải đã bị chia chác rơi vãi tan nát hết, còn người chết, tật bệnh hiểm nghèo, đau khổ không thể khôi phục nổi. Cần chỉ rõ thái độ vô trách nhiệm, đạo đức giả của lãnh đạo khi ba hoa về sửa sai ‘’kịp thời’’, ‘’thành khẩn‘’,’’hoàn thành sửa sai ‘’. 

Với thời gian nửa thế kỷ, nhìn lại cho sâu sắc, thế là cả một lớp nông dân thuộc tầng lớp trên ở nông thôn, có văn hóa và kiến thức, am hiểu sâu nghề làm ruộng truyền thống đã bị tiêu diệt nhân danh cách mạng vô sản. 

Món nợ của đảng CS vẫn chưa hết. Ngay sau CCRĐ, chưa kịp sửa sai xong , đảng CS đã ép nông dân đi vào con đường tập thể hóa nông nghiệp, theo chỉ thị của Stalin và Mao. Hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao, từ hợp tác xã từng xóm thôn đến hợp tác xã toàn xã theo kiểu Công xã nhân dân Trung quốc và nông trường xô viết ở Nga. Máu không tuôn chảy nhưng đó là con đường nghèo đói rã họng, chết dần chết mòn, suốt 25 năm từ 1960 đến 1985, nông dân chỉ sống cầm hơi nhờ mảnh đất 5% để lại cho từng hộ, trong khi 95% diện tích đưa vào tập thể không sản xuất nổi sản phẩm ngang bằng 5% kia. Mặc cho nông dân nghèo đói đến cùng cực, mặc cho vô vàn đảng viên kêu trời lên về sự phi lý ngu muội, như bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc bị vùi dập không thương tiếc; nông dân nhiều nơi bị dồn đến thế khốn cùng đã xé rào, tự cứu lấy mình, lúc ấy đảng mới ‘’ sáng suốt ‘’ , chịu ty hý mở mắt theo. 

Ngay sau khi nông dân thoát khỏi chiếc gông cùm tập thể hóa của đảng CS, được tự do sản xuất trên đồng ruộng mình sau năm 1986, lập tức sản lượng gạo nhảy vọt để VN trở thành nước sản xuất gạo hàng đầu; điều này càng chứng tỏ đảng CS đã ‘’ tận tình ‘’ tàn phá và bần cùng hóa nông nghiệp đến mức nào trong suốt gần 30 năm trời mụ mẫm và mù quáng. 

Cùng với tai họa khủng khiếp tập thể hóa nông ngiệp, đảng CS huy động hàng triệu thanh niên nông thôn vào Quân đội nhân dân, không ít tuổi trẻ đã phải ‘’sinh Bắc tử Nam‘’, và ngay sau đó hơn 50 vạn lính nông dân đã bỏ mạng trên đất Cambốt (với 20 vạn bị thương). Và hiện nay đảng đang đền ơn đáp nghĩa nông dân ra sao ? Biết bao mẹ anh hùng, mẹ liệt sỹ nối đuôi nhau trước các nhà ‘’tiếp dân’’ vì ruộng đất, nhà cửa đã bị quan chức đảng, bọn cường hào cộng sản cướp đoa.t. 

Vậy thì câu hỏi đảng CS đã trả hết nợ với nông dân hay chưa vẫn còn nguyên tính chất nóng bỏng. Đồng ruộng đất đai là sinh mạng của nông dân. Hiến pháp vẫn khẳng định ruộng đất thuộc quyền sở hữu của toàn dân. Nhà nước do đảng CS dựng lên thay mặt toàn dân nắm quyền sở hữu ấy. Cuối cùng là đảng CS lộng quyền, tự tung tự tác, chia chác ruộng đất tùy tiện, để đến nay quan chức đảng các cấp phần lớn trở thành những địa chủ tư sản mới, chủ nhà đất mới, phú nông mới, làm chủ đất, ruộng, rừng, hồ ao…ở khắp nơi. 

Nông dân, người dân Việt ngày nay gọi các quan chức đảng là lũ ‘’địa tặc‘’, lũ giặc cướp đất của dân, những kiện cáo, khiếu kiện về ruộng đất, nhà cửa ở khắp mọi nơi ngày càng chồng chất, một vụ chưa giải quyết đã lại nổ ra trăm ngàn vụ khác, oan khiên oán giận ngút trời, không có cách gì giải quyết nổi. Nhìn chung nông dân nước ta như con bò cái khỏe mạnh đã bị đảng cộng sản ‘’chiếu cố’’, vắt kiệt sữa, bỏ đói dài dài, nay trơ xương, cay đắng nhìn về thành phố ra vẻ sung túc phồn vinh, ngậm ngùi về sự lạc hậu bất công, về sự phản bội lời hứa xây dựng một nông thôn xã hội chủ nghĩa tiên tiến giàu sang của đảng CS. Đây là món nợ cực lớn.

Kết luận : 

Nhìn lại cuộc CCRĐ và mối quan hệ giữa nông dân VN và đảng CS trong hơn nửa thế kỷ qua, có thể kết luận đó là mối quan hệ tuyệt hảo, tốt đẹp hay chỉ là một bi kịch kéo dài. Câu hỏi nóng bỏng rút ra từ thực tế lịch sử là : 

       – đến bao giờ đảng CS mới trả lại quyền tư hữu ruộng đất đầy đủ cho nông dân, những ngừơi đã và đang khai khẩn, lao động làm ra nông sản cho xã hội, và trả lại cho mọi tầng lớp xã hội quyền tự do đầy đủ về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, như trong một xã hội dân chủ văn minh ? 

       – đến bao giờ đảng CS VN trở về với nền độc lập tự chủ của dân tộc, từ bỏ thái độ thần phục nước lớn, khôi phục các vùng đất và vùng biển đã mất, để cùng nhân dân mình theo con đường phát triển đúng đắn gắn bó với thời đại dân chủ văn minh ? 

Trên đây là hồi tưởng và suy nghĩ của một người từng ở trong lòng cuộc CCRĐ để quan sát và thuật lại, nhân dịp nửa thế kỷ cuộc sửa sai (tháng 10-1956). 

Xin chớ vội cho là tôi đã cố tình thổi phồng sự kiện, phóng đại tình hình vì cay cú không còn ở trong đảng CS. 

Tôi đã cố giữ tinh thần trung thực của một chiến sỹ dân chủ, lấy sự thật và chỉ có sự thật làm mục tiêu và động lực tinh thần, nhằm làm cho bà con nông dân ta, tuổi trẻ và cả những người cộng sản nhìn lại một cách tỉnh táo và lương thiện về những vấn đề chiến lược : nền độc lập dân tộc và quan hệ giữa nông dân VN và đảng CS VN. 

Người viết mong được nhiều ý kiến nhận xét, đối thoại và tranh luận từ mọi hướng, từ các nhà nghiên cứu ở trong nước, các viện sỹ, giáo sư, sinh viên ngành chính trị, lịch sử, triết học, kinh tế, văn hóa của Học viện chính trị quốc gia và Viện Khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là từ tuổi trẻ trong và ngoài nước và bà con nông dân quý mến. 

Bùi Tín 

(Paris tháng 10-2006)

Nguồn  Trần Hoàng

 

——————————————————-

*Thư Đặng Thái Mai gởi Trường Chinh 19-6-1953. (cha vợ gởi con rễ)

**Nguồn: – “Sổ tay các nước trên thế giới”, tác giả : TS ngữ văn Nguyễn Văn Dương, “http://unstats.un.org”,  “The World Factbook”, – “http://wikipedia.org”

***Các nhân chứng thuật lại Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 do Đảng CSVN lên kế hoạch, chỉ đạo và thi hành

*Đảng CSVN chuẩn bị công tác cải cách ruộng đất ra sao (Phần 4) Nguyễn Minh Cần – Vũ Thư Hiên
*Đội Cải Cách xuống xã hoạt động như thế nào  (Phần 5)
———————————-

Những ai đã từng tài trợ cho Đảng CSVN trong tuần lễ vàng, về sau, đều bị chúng CƯỚP đoạt tài sản sau khi đã chiếm được miền Bắc 1954.

Phải 49 năm sau, Bà Trịnh Văn Bô mới đòi lại được nhà năm 2003. Căn nhà của bà rộng 3000 mét vuông, trị giá 30 triệu USD.
————————————

**

Phản đối những thông tin sai sự thật mà Dmitry Kosyrev viết cho hãng tin (trước đây ta quen gọi là) Novosti cũng cần thiết. Nhưng điều cần thiết hơn với những người đã từng gắn bó với Liên Xô là, hãy giữ tình yêu nước Nga và những người Nga dễ thương thời Liên Xô nhưng không cần phải giữ cảm giác chịu ơn họ.
Những khoản tiền mà Liên Xô viện trợ là rất lớn nhưng hàng triệu thanh niên khác đã trả bằng máu, miền Bắc đã trả giá bằng việc bị bắt buộc phải áp dụng mô hình kinh tế, chính trị của Liên Xô, mô hình làm cho nửa nước lầm than. Cũng vì chính sách đối ngoại “một ông anh” mà đầu thập niên 1980, chúng ta chỉ có thể liên doanh khai thác dầu khí với Liên Xô với mức ăn chia lợi nhuận 50:50. Nước Nga đã thu lãi ròng từ Vietsovpetro một khoản tiền khổng lồ: 10,24 tỷ USD. Putin nhiều lần nói với các đời Thủ tướng Việt Nam, người Nga chưa từng làm ăn với nước nào mà kiếm được nhiều tiền như thế (Viết stt này khi nhớ lại những bản tin của VTV thời Crimea được đưa theo cách cứ như họ là Novosti)

 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | 6 Comments »

►Hugo Chavez đã dẫn Venezuela vào trong ngõ cụt xã hội chủ nghĩa

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2014

Bên blog của Thụy My có nhiều bài rất hay các bạn ghé qua đọc nha. Dưới đây là một trong các bài ấy.

Venezuela trong ngõ cụt xã hội chủ nghĩa (1)

Thụy My

Theo blog Thụy My

24-3-2014

Biểu tình chống chính phủ tại Caracas, 19/03/2014. Dòng chữ trên biểu ngữ: “Khi Trung Quốc bước vào năm con ngựa, Venezuela ở vào kỷ nguyên con lừa. Hãy ra khỏi chủ nghĩa cộng sản Castro!” 

Lời người dịch: Mới đây hôm 22/03/2014, hàng chục ngàn người Venezuela lại xuống đường bất chấp đàn áp, đòi tự do dân chủ, phản đối cách cai trị « độc tài theo kiểu Cuba ». Quốc gia Mỹ la tinh này tuy xa xôi nhưng lại ít nhiều gần gũi với Việt Nam với khuynh hướng « xã hội chủ nghĩa », thường xuyên đả kích các « thế lực thù địch ».

Thụy My xin giới thiệu hai bài viết trên Le Monde ngày 12/03/2014 nói về « chủ nghĩa xã hội kiểu Chavez » đã đẩy quốc gia có trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới đến tình cảnh phải phân phối theo chế độ tem phiếu.

Về tiềm năng, Venezuela, đất nước sản xuất dầu lửa, là một nước giàu. Nhưng mười lăm năm đi theo chủ nghĩa xã hội kiểu Chavez đã làm đo ván quốc gia này cả về kinh tế lẫn xã hội. Từ đầu tháng Hai, người dân Venezuela đã xuống đường hàng ngày để phản đối một chế độ đã làm nên ba thành tựu: lãng phí do quản lý tồi tệ, tham nhũng và độc tài chính trị.

Chủ nghĩa xã hội theo kiểu Chavez – cố Tổng thống nắm quyền từ năm 1999 cho đến lúc qua đời vào năm 2013 là một thứ cốc-tai xã hội – độc lập dân tộc theo mô hình Cuba, và phong trào đấu tranh chống đế quốc đã lỗi thời của châu Mỹ la tinh.

Mười bốn năm ngự trị của Hugo Chavez đã giúp ích cho một bộ phận dân chúng: những người nghèo nhất trong số 30 triệu dân Venezuela đã được tái phân phối lợi tức từ dầu lửa. Còn lại, Chavez đã đưa quốc gia này xuống đến đất đen: nền kinh tế ì ạch dưới ách của Nhà nước, các nhà đầu tư trong và ngoài nước nản lòng; kiểm soát từ giá cả, ngoại hối cho đến ngoại thương…

Được bầu lên vào tháng 4/2013, người kế nhiệm ông Chavez là Nicolas Maduro lại còn làm « tốt » hơn. Chỉ trong vòng một năm, ông ta đã làm đóng băng hoạt động kinh tế của đất nước. Tuần này ông loan báo buộc lòng phải thiết lập chế độ tem phiếu, theo cách Cuba đã làm cách đây nửa thế kỷ…

Ngoài dầu lửa với trữ lượng lớn nhất thế giới, Venezuela sản xuất ngày càng ít đi, và nhập khẩu hầu như tất cả mọi thứ. Trước đây là quốc gia trồng trọt và chăn nuôi, ngày nay Venezuela phải đi mua hơn một phần ba hàng tiêu dùng thông dụng.

Nhà nước hầu như không còn tiền mặt – thật không còn gì để bình luận đối với một quốc gia xuất khẩu dầu lửa hàng đầu ! Các bệnh viện thiếu thốn đủ thứ. Việc cúp điện ngày càng trở nên thường xuyên. Tỉ lệ lạm phát hàng năm vượt mức 56%, khiến những người nghèo lại càng khốn khổ hơn.

 

Rừng người biểu tình chống chính phủ Maduro tại Caracas ngày 22/03/2014. 

Những người biểu tình đối đầu với các dân quân. Lực lượng trung thành của chế độ lên án những ai xuống đường là « tư sản ». Họ đã lầm. Đằng sau các sinh viên, lực lượng chủ công của phong trào phản kháng, là chiếc bóng của toàn xã hội Venezuela biểu lộ nỗi lo lắng của họ cho tương lai.

Với việc cá nhân hóa quyền lực tột độ của Chavez, quân đội không ngừng tăng cường dấu ấn lên đời sống chính trị. « Mô hình Cuba » sản sinh tại đây tất cả những hệ quả thiếu lành mạnh nhất. Một nền kinh tế không chính thức ra đời, một thị trường chợ đen cả nội thương lẫn ngoại thương trong đó những kẻ tai to mặt lớn ung dung hưởng lợi.

Bên cạnh sự sụp đổ của nền kinh tế, còn phải kể đến tình trạng mất an ninh tăng vọt: 25.000 vụ giết người một năm, không kể đến các vụ trộm cướp, tấn công, bắt cóc đủ loại. Caracas là thủ đô nguy hiểm nhất hành tinh.

Cần phải huy động mọi sự thu hút của tính ngoại lai Mỹ la tinh mới có thể khiến một số nhà trí thức Pháp tìm thấy vài điều thú vị nơi chủ nghĩa xã hội kiểu Chavez. Dưới thời Maduro cũng như Chavez, tự do của công chúng bị chế nhạo, một bộ phận báo chí bị bịt miệng và tất cả các phe đối lập đều bị trấn áp. Trong thực tế, chủ nghĩa xã hội Venezuela đã biến thành cơn ác mộng.

Thụy My

http://thuymyrfi.blogspot.dk/2014/03/venezuela-trong-ngo-cut-xa-hoi-chu.html

Venezuela trong ngõ cụt xã hội chủ nghĩa (2)

 
 
Dòng người xếp hàng chờ mua thực phẩm tại một siêu thị ở San Cristobal, 27/02/2014.
Nạn khan hiếm hàng và buôn lậu ở Venezuela
 
Tại Caracas, Elsy Marino phải xếp hàng từ sáu đến mười tiếng đồng hồ mỗi tuần. Bà thở dài : « Tất cả mọi thứ luôn thiếu thốn : trứng, dầu ăn, bột bắp. Chắc chắn là mọi người đều chán ngán ». Nhưng đối với người nhân viên luôn ủng hộ chủ nghĩa Chavez, không có chuyện đi biểu tình « với bọn tư sản đối lập ». Lý do của khủng hoảng, theo bà : « Do ông Hugo Chavez không còn nữa ».
 
Người kế nhiệm, Nicolas Maduro đã quyết định đấu tranh chống lại « bọn đầu cơ tích trữ », mà theo ông là những kẻ phải chịu trách nhiệm về khủng hoảng. Hôm 08/03/2014, ông loan báo thiết lập « một hệ thống cung ứng cấp cao » dự kiến phân phát các thẻ « tem phiếu điện tử ». Biện pháp này không thể trấn an được phe đối lập, vốn chỉ trích chính quyền đã lấy Cuba làm kiểu mẫu, và từ một tháng qua đã xuống đường tố cáo « sự phá sản của chế độ ».
 
Gần một phần ba (28,3% vào cuối 2013) hàng tiêu dùng vắng bóng trong các cửa hàng, theo « chỉ số khan hàng » của Ngân hàng Trung ương. Lạm phát đạt mức 56,2% trong năm 2013, phá mọi kỷ lục. Trên thị trường chợ đen, đồng đô la được bán với giá cao gấp 12 lần giá chính thức. Trữ lượng ngoại hối giảm mất 30% trong năm 2013.
 
Catalina, y tá làm đêm, đi chợ tại siêu thị Excelsior Gama, ở cạnh các rào cản. Bà tìm thấy dầu ô liu nhưng không có dầu ăn bình thường, sữa đậu nành thay vì sữa bò, thịt bò nhưng không có thịt gà, giấy lau dùng cho nhà bếp nhưng tìm được giấy vệ sinh. Bà cho biết : « Có thể mua được từ những người bán hàng lưu động ở khu Petare, nhưng đắt lắm ».Tại đất nước có trữ lượng dầu hỏa lớn nhất thế giới, giấy vệ sinh đã trở thành một món hàng buôn lậu.
 
Làm việc tại một bệnh viện phụ sản, Catalina kể : « Các bệnh viện thiếu thốn đủ mọi thứ… » Nếu phong trào phản kháng bùng nổ ở các tỉnh, đó là vì nạn khan hiếm hàng hóa, thiếu thốn thuốc chữa bệnh và nạn cúp điện còn trầm trọng hơn tại Caracas rất nhiều. Catalina kết luận : « Chính phủ biết rằng nếu Caracas bùng nổ, thì sẽ là dấu chấm hết đối với họ ».

Làm thế nào Venezuela lại ra nông nỗi này ?

Từ mười lăm năm qua, việc tái phân phối lợi tức từ dầu lửa cho người nghèo đã làm tăng vọt nhu cầu nội địa. Nhưng việc sản xuất hàng tiêu dùng lại không theo kịp, và quốc gia này phải đi nhập khẩu đủ loại hàng.
Theo các nhà kinh tế đối lập, việc kiểm soát ngoại hối, được thiết lập từ năm 2003 cũng như kiểm soát giá cả đã góp phần vào việc bóp nghẹt dần nền kinh tế. Giáo sư Pedro Palma so sánh với « chiếc ga-rô buộc chặt lâu ngày rốt cuộc đã làm hoại thư toàn bộ cơ thể ».
 
Nhà nước hiện nay đang thiếu tiền mặt. Venezuela, quốc gia sản xuất dầu thô thứ 11 thế giới, mỗi ngày đưa ra thị trường 2,7 triệu thùng dầu, theo BP Statistical Review of World Energy.
Ông Palma nhắc nhở : « Tuy nhiên một phần trong số dầu xuất khẩu là cho không – chủ yếu cho Cuba, hoặc là cho các nước nhỏ ở vùng Caribê vay, hoặc trả nợ cho Trung Quốc ».
 
Các cuộc bầu cử năm 2013 đã gây áp lực lên két tiền của PDVSA, tập đoàn dầu khí quốc doanh, và lên tài chính công.
Sau chiến thắng ngắn ngủi của ông Maduro vào tháng Tư, chính quyền không ngần ngại đổ tiền ra để đảm bảo chiến thắng cho các ứng cử viên phe mình trong cuộc bầu cử địa phương tháng 12. Nhà nước trút đến những đồng tiền cuối cùng trong hầu bao và cho các máy in tiền hoạt động. Trong vòng một năm, số tiền đưa vào lưu hành tăng lên 74%.
 
Đất nước tràn ngập những đồng bolivar. Nhưng chính phủ phân phối một cách dè sẻn tiền mặt với tỉ giá 6,3 bolivar đổi được một đô la.
Trên thị trường chợ đen, một đồng đô la có giá đến 82 bolivar. Sự cách biệt tỉ giá lớn lao này mang lại hạnh phúc cho những người giỏi xoay sở và bọn buôn lậu.
 
Những người bán lẻ ở khu Petare chỉ là cò con trong một hệ thống mà từ trên thượng nguồn đã nuôi dưỡng tham nhũng với những món lợi khổng lồ.
 
Theo chính quyền, 40% số thực phẩm nhập khẩu theo tỉ giá chính thức được tái xuất khẩu sang những nước láng giềng trong đó có Colombia. Một ký gạo với giá quy định, sang bên kia biên giới tăng gấp mười lần. Bọn mafia đầy quyền lực kiểm soát việc buôn lậu xăng dầu, mặt hàng gần như miễn phí ở Venezuela.
 
Do không thể nhập khẩu được những nguyên liệu cần thiết, các doanh nghiệp sản xuất suy sụp.
Do không thể chuyển lợi nhuận về nước, các công ty đa quốc gia ngần ngại không muốn đầu tư thêm.
Tập đoàn cuối cùng còn cho lắp ráp xe hơi tại Venezuela là Toyota vào cuối tháng Giêng đã thông báo tạm ngưng hoạt động. Tổng cộng, Nhà nước Venezuela còn nợ các công ty tư nhân 13 tỉ đô la.
 
Theo báo cáo Doing Business 2013 của Ngân hàng Thế giới, Venezuela đứng thứ 181/189 về không khí kinh doanh. Nhà kinh tế Angel Garcia Banchs nhấn mạnh : « Tuy nhiên thị trường Venezuela sinh lợi cao và đầy hứa hẹn khiến các tập đoàn đa quốc gia thường làm ngơ ».
 
Ông Palma thở dài : « Trừ phi giá dầu lại tăng lên, không gì có thể gây hy vọng có một sự cải thiện quan trọng tình hình trước mắt ». 
Theo các nhà kinh tế đối lập, nạn khan hiếm thực phẩm thiết yếu có thể còn trầm trọng hơn trong những tháng tới. Và tình hình chính trị đối với ông Maduro sẽ còn phức tạp hơn.

>>>>>>Thụy My

 

 

Posted in Trung Quoc Venezuela VietNam | Leave a Comment »

►Họa sĩ Trần Duy hay ông Nguyễn Hữu Đang đã phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường (năm 1956)?

Posted by hoangtran204 trên 23/03/2014

Sau khi đọc tin dưới đây về bài điếu văn Họa sĩ Trần Duy và đọc bài của Ls Nguyễn Văn Hoàn  Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường, tháng 10/2009, Trần Hoàng có thắc mắc nhỏ như sau: Họa sĩ Trần Duy hay ông Nguyễn Hữu Đang đã phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường (năm 1956) và đăng lên tờ Nhân Văn?

– ĐIẾU VĂN ĐỌC TẠI LỄ TANG HỌA SĨ LÃO THÀNH TRẦN DUY (Nguyễn Trọng Tạo). “Chỉ còn một điều khiến ông ân hận suốt đời, là 60 năm trước, với tư cách phóng viên báo Nhân văn, ông đã mời các nhà trí thức đáng kính Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Văn Ngữ cho ý kiến về tự do, dân chủ, đưa ra kiến nghị, mong muốn lãnh đạo tạo thuận lợi cho trí thức và văn nghệ sĩ trong hoạt động nghề nghiệp; các ý kiến đó đăng báo Nhân văn khiến các vị bị vạ lây, suốt nhiều chục năm bị coi là những phần tử xấu…  (basam.info)

Nhưng theo Ls. Nguyễn Văn Hoàn, viết trong bài   Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường, tháng 10/2009. Ls Hoàn có chuyện cần giải đáp thắc mắc, ông đã ghé nhà gặp thầy học cũ (Ts Nguyễn Mạnh Tường) ở Hà Nội 18/9/1991, và được nghe thầy Tường kể như sau: “Ở Hội nghị của Mặt trận Tổ Quốc, họp ở Hà Nội ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi ông Trường Chinh, thay mặt Đảng Lao động Việt Nam, tự phê bình về các sai lầm đã phạm trong Cải cách ruộng đất, tôi đọc bản tham luận Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo. Từ góc độ một người hoạt động trong lĩnh vực luật pháp, tôi nói đến một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự. Đi Hội nghị về, Nguyễn Hữu Đang đến phỏng vấn, rồi viết bài đăng lên báo Nhân văn. Tôi như thành một người “phạm pháp quả tang”, bị sa thải khỏi Đại học và không được hành nghề Luật sư nữa. Từ 1957 là thời kỳ đen tối của cuộc đời tôi. Tuy vậy, tôi đã lợi dụng thời gian rảnh rỗi này để viết sách, trong đó có cuốn Lý luận giáo dục châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tôi cố ý viết bằng tiếng Việt để lãnh đạo có thể đọc được.”

Vậy, ai là người đã phỏng vấn Ts Nguyễn Mạnh Tường năm 1956 và đăng lên báo Nhân Văn?

Ghi chú của Trần Hoàng:

Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) Tiến sĩ Văn Chương Pháp và Tiến sĩ Luật Khoa năm 22 tuối. 

Cuộc gặp gỡ giữa ông và HCM năm 1946 là một bước nhầm lẫn mặc dù ông đã từ chối vào Đảng và luôn giữ khoảng cách với chính quyền. “Tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền”. Nguyễn Mạnh Tường.

Cuộc đời của ông đi vào địa ngục khi ông đã không di cư vào Nam 1954. 

TS Nguyễn Mạnh Tường và cả gia đình đã bị HCM và Đảng CSVN cô lập về kinh tế đến nổi thành một kẻ bần cùng sống bên lề xã hội trong 33 năm trường, Công an và đảng đã theo dõi và đàn áp gia đình ông kể từ 1956, không một ai dám nói chuyện với ông trong khoảng thời gian 1956-1989. Để có tiền mua thức ăn, ông đã cân ký bán tất cả sách quý của ông cho ve chai.  

Mời các bạn đọc Kẻ Bị Khai Trừ hay Kẻ Bị Rút Phép Thông Công của tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường >>>> ở đây

Và Thụy Khuê viết hai bài nói về TS Nguyễn Mạnh Tường ở đây

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110715-phan-xvii-nguyen-manh-tuong-1909-1997

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110719-phan-xvii-nguyen-manh-tuong-1909-1997-bai-2-tu-1954-den-1997

Có nhiều bạn vừa gởi  comment cho biết không vào được viet.rfi.fr., vậy các bạn đọc tạm ở đây xem sao: 

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm – Chương 16: Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

sangtao.org Posted: 07/11/2011 in  Biên Khảo / Phê BìnhThụy Khuê

Ngày 30/10/1956, Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết 6 tiếng trước Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội (3 giờ buổi sáng, 3 giờ buổi chiều) về những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trường Chinh, Xuân Thủy và Dương Bạch Mai yêu cầu ông viết lại nội dung cuộc nói chuyện ứng khẩu thành văn bản. Ông viết lại với tựa đề: “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, đánh máy làm hai bản, trao cho Trường Chinh và Xuân Thuỷ, chỉ giữ lại bản nháp viết tay.

Bài chính luận sâu sắc, chủ đích phân tích những sai lầm của chế độ, từ cải cách ruộng đất ở thôn quê, sang cải tạo tư sản, quản lý mậu dịch ở thị thành, chỉ ra nguồn cội của sai lầm: vì chế độ chính trị không dân chủ. Và trình bày phương pháp sửa chữa: thực hiện những nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền, trong một chế độ dân chủ.

Bài tham luận được gửi sang Rangoon (thủ đô Miến Điện) rồi đến Pháp (theo Hoàng Văn Chí). Vậy Trường Chinh và Xuân Thuỷ, ai là người chuyển băn bản của Nguyễn Mạnh Tường ra ngoại quốc, và để làm gì? Để cho quốc tế biết tình hình miền Bắc Việt Nam hay để buộc tội tác giả?

Nguyễn Mạnh Tường bị kiểm điểm rồi bị đuổi khỏi đại học, sống trong hơn 30 năm sa mạc. 40 năm sau, ông viết tiểu thuyết Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm) về ba chính sách nòng cốt trong thời kỳ xây dựng chế độ Cộng sản ở miền Bắc: Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, và Thanh lọc trí thức. Ông gửi bản thảo sang Paris. Đây là một trong 7 tác phẩm được hoàn tất trong giai đoạn cuối đời, tất cả viết bằng tiếng Pháp, về hơn 60 năm ông sống dưới chế độ cộng sản. Ngoại trừ cuốn Un excommunié (Kẻ bị khai trừ), được Quê Mẹ in năm 1992 tại Paris, các tác phẩm khác, chưa in.

Tại Paris trong bốn tháng (4/1989-1/1990), ông trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, được ghi âm, viết lại, in trên báo, và riêng chúng tôi cũng có dịp gặp ông, nhờ đó, nhiều vấn đề được sáng tỏ hơn.

Ngày 27/7/2003, bác sĩ nha khoa Nguyễn Văn Lung (1916-2009) (em ruột bà Hoàng Xuân Hãn) người tích cực hoạt động cho tổ chức Francophonie (Khối Pháp ngữ) gửi đến chúng tôi một tập tài liệu quan trọng về giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, với lời ghi: “Tôi xin gửi tới chị một số tài liệu về anh Tường để chị sẽ làm hương hồn anh trở lại với chúng ta”. Và ông Lungđề nghị cùng chúng tôi làm một chương trình về luật sư Nguyễn Mạnh Tường trên đài RFI, dưới dạng phỏng vấn, bởi ông biết rõ con người và đã được đọc nhiều tác phẩm chưa in của Nguyễn Mạnh Tường. Đang chuẩn bị, thì ông được thư của bà Nguyễn Mạnh Tường ngỏ ý lo ngại, ông đành phải hoãn cuộc phỏng vấn, đợi khi nào thuận tiện hơn. Tuy nhiên ông căn dặn chúng tôi có toàn quyền sử dụng tập tài liệu này trong khuôn khổ văn hoá. Cũng xin nói thêm, Nguyễn Văn Lung và Joël Fouilloux, là hai người có giấy ủy quyền của Nguyễn Mạnh Tường về việc in các tác phẩm của ông ở ngoại quốc. Chúng tôi đang chờ đợi một dịp thuận tiện để công bố những tư liệu này, thì ông Nguyễn Văn Lung đột ngột qua đời tại Paris ngày 8/10/2009.

Trong tập tài liệu này, ngoài hình ảnh, thư từ viết bằng tiếng Pháp, trao đổi giữa Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Văn Lung cùng một số người Pháp, về vấn đề Francophonie, về việc in sách của luật sư tại Pháp, còn có bản chụp hai cuốnContruction de l’orient- Apprentissage de la Méditerranée (Xây dựng Đông phương- Kinh nghiệm Địa Trung Hải) và Le voyage et le sentiment (Du hành và cảm xúc), kịch. Ngoài ra, có một bản đánh máy, kê khai gần đủ các tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường, phần lớn chưa in, và nhất là bản thảo (đánh máy) cuốn Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm) do Nguyễn Mạnh Tường sửa lỗi.

Qua những tư liệu này, chúng tôi thử dựng lại chân dung Nguyễn Mạnh Tường, chủ yếu, dẫn trích từ các tác phẩm và từ lời nói của ông trong các buổi gặp gỡ, trả lời phỏng vấn Phạm Trần, Hoà Khánh, ở Paris, và giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, học trò ông ở Hà Nội.

Phần thứ hai, chúng tôi sẽ giới thiệu tác phẩm Une voix dans la nuit, cho tới nay, là cuốn sách duy nhất do một trí thức tự do viết về những bi kịch đau thương còn khép kín. Như tất cả các tác phẩm khác của Nguyễn Mạnh Tường, Une voix dans la nuit, có bút pháp mạnh mẽ, đầy hấp lực và hình ảnh, mỉa mai và châm biếm, chặt chẽ trong lập luận pháp lý, là sự đồng quy của văn chương và luật pháp trong một ngòi bút nhà văn.

Tập tài liệu của nha sĩ Nguyễn Văn Lung trao cho chúng tôi năm 2003, với những bút tích quý giá này, sẽ được gửi về Viện bảo tàng văn học hoặc lịch sử, khi điều kiện cho phép.

*

Ở trong nước, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh (16/9/1909 – 16/9/2009), Nguyễn Mạnh Tường được thần tượng hoá trở lại, với những mỹ từ “thông minh siêu việt” “lưỡng khoa tiến sĩ” “kỷ lục chấn động học đường nước Pháp”, “nhà sư phạm lỗi lạc”… Những điều đó ít nhiều có thật, tiếc rằng còn một sự thật đáng nói hơn là cuộc đời và tác phẩm của ông, hiện vẫn bị chôn vùi trong bóng tối.

Duy chỉ có giáo sư Nguyễn Văn Hoàn là trung thành với lời nói của thày Tường.

Còn phần lớn những học trò cũ, nay đã thành các nhà giáo nhân dân, không ngần ngại xoá bỏ quãng đời sa mạc hơn 30 năm của thầy Tường, để thay thế bằng một sự nghiệp liên tục tốt đẹp, không vết phong trần: “Chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại, toàn gia đình giáo sư Nguyễn Mạnh Tường mới trở về Hà Nội. Giáo sư tiếp tục giảng dạy tại trường Đại học tổng hợp Hà Nội và làm việc tại Viện Nghiên cứu Giáo dục từ 1954 đến 1970. Từ khi nghỉ hưu, giáo sư dạy Pháp ngữ tại nhà theo yêu cầu, và theo đuổi những công trình khoa học cứu của mình.” (Trần Văn Hà, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, tự học và quyết tâm là bí quyết thành công, Xưa và Nay, số 11, 1996).

Sự đánh bóng và ngoa ngôn, cũng là một cách chôn thày thêm lần nữa, đáng ngại là nó xẩy ra ở những ngòi bút của các giáo sư đại học, mà sự chính xác phải là châm ngôn giảng dạy:

Ví dụ, về việc Nguyễn Mạnh Tường gặp chủ tịch Hồ Chí Minh trong đại hội “Liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc” năm 1952 ở Việt Bắc, nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú cam đoan rằng: “Riêng đối với giáo sư [NMT] đây là những giây phút (…) gắn bó thiêng liêng máu thịt giữa giáo sư với cách mạng, với lãnh tụ, đến mức cực độ“.

Hoặc để chứng minh những “vinh quang chói lọi” của thày Tường, ông Nguyễn Đình Chú không ngần ngại xác định: “thân phụ là một công nhân”, “Nguyễn Mạnh Tường đã liên tiếp tốt nghiệp cao đẳng văn chương, cử nhân văn chương, cử nhân luật khoa, làm luật sư toà thượng thẩm Montpellier, cao đẳng ngôn ngữ, và văn tự cổ“; và luận án tiến sĩ được phê “siêu ưu” (ông dịch chữ très bien) (trong bài Thầy tôi, Hồ sơ Nguyễn Mạnh Tường, mạng Vietstudies). Chẳng hiểu Pháp có các bằng cao đẳng văn chương, cao đẳng ngôn ngữ, và văn tự cổ từ thủa nào? Và Nguyễn Mạnh Tường chỉ mới tập sự luật sư, khi ở Pháp.

Ông Phong Lê, giáo sư, Viện trưởng Viện văn học, viết: “Năm 1928, đỗ cao đẳng văn chương, năm 1929, đỗ cử nhân văn chương, cũng năm 1929, đỗ cử nhân Luật- Năm 1931, đỗ cao đẳng ngôn ngữ văn tự cổ (tức chữ La Tinh và Hy Lạp cổ”.Rồi một chỗ khác, ông giải thích thêm: “Mà cử nhân thì còn lâu mới đến Tiến sĩ, sau khi vượt được cái ngưỡng cửa Thạc sĩ. (Lúc này tất cả các thầy Pháp ở Đại học Đông Dương đều mới chỉ có bằng Thạc sĩ)”. (Hồ sơ Nguyễn Mạnh Tường, mạng Vietstudies)

Thì ra các giáo sư Nguyễn Đình Chú và Phong Lê chẳng hiểu gì về văn bằng ở Pháp.

Riêng ông Phong Lê còn nhầm Thạc sĩ (Agrégé) của Pháp, một kỳ thi tuyển rất khó, với văn bằng hiện nay ở Việt Nam gọi là Thạc sĩ, tương đương với Maîtrise của Pháp, hay Master của Mỹ. Khi dịch Maîtrise hay Master thành Thạc sĩ, Bộ Giáo Dục, vì không hiểu lịch sử của hai chữ Thạc sĩ, nên đã dịch bậy, gây lầm lộn như thế.

Thạc sĩ là một kỳ thi tuyển (concours) chọn các giáo sư của Pháp để dạy các trường trung học (thạc sĩ văn chương, khoa học), hay đại học (thạc sĩ luật hay y khoa -nay đã bỏ-). Để dự thi thạc sĩ văn chương hay khoa học, thí sinh cần phải có bằng cử nhân (licence ngày trước, maîtrise hiện nay), riêng thạc sĩ luật (và y khoa) thí sinh cần phải có bằng tiến sĩ.

Việt Nam có Nguyễn Mạnh Tường đỗ 2 bằng Tiến sĩ quốc gia (1933) và Phạm Duy Khiêm đỗ Thạc sĩ (1935), sau này về y khoa có Thạc sĩ Trần Đình Đệ… đều là những người học giỏi nổi tiếng.

Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường

Trong lá thư đề ngày 16/8/1994 gửi Nguyễn Văn Lung, Nguyễn Mạnh Tường viết:

“Tôi vẫn tiếp tục làm việc, dậy học và hoàn tất cuốn tiểu thuyết mới nhất Palinodies [Phủ nhận] cuốn sách thứ 18 của tôi”. Như vậy tạm coi Palinodies là tác phẩm cuối cùng, và là cuốn sách thứ 18 của ông.

Với những tư liệu hiện hành, xin tạm kê khai những tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường như sau:

Thời kỳ 1932, các luận án, Pháp văn:

1/ L’Individu dans la vieille cité annamite- Essai de synthèse sur le Code de Lê (Cá nhân trong xã hội cổ Việt Nam – Tổng luận Luật Hồng Đức): Luận án tiến sĩ Luật.

2/ Essai sur la valeur dramatique du théâtre d’Alfred de Musset (Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset) luận án chính (thèse principale), tiến sĩ văn chương.

3/ L’Annam dans la littérature française, Jules Boissières (Việt Nam trong văn chương Pháp, tác phẩm của Jules Boissières), luận án phụ (thèse complémentaire), tiến sĩ văn chương.

Thập niên 1940, tác phẩm Pháp văn:

4/ Sourires et larmes d’une jeunesse (Nụ cười và nước mắt tuổi trẻ), Revue Indochinoise, Hà Nội, 1937.

5/Construction de l’Orient-Pierres de France (Xây dựng Đông phương-Nền tảng Pháp), Revue Indochinoise, 1937.

6/ Construction de l’Orient – Apprentissage de la Méditerranée (Xây dựng Đông phương – Kinh nghiệm Địa Trung Hải), Collection Tendances, Hà Nội, 1939.

7/ Le voyage et le sentiment (Du hành và cảm xúc), kịch ba màn, Collection Tendances, Hà Nội, 1943.

1950, Việt văn:

8/ Một cuộc hành trình (Minh Đức, Hà Nội, 1954) (nửa hồi ký, nửa nghị luận. Hành trình một người trí thức tham gia kháng chiến)

Sau 1958, Việt văn:

9/ Lý luận giáo dục Âu châu thế kỷ XVI, XVII, XVIII, từ Erasme tới Rousseau (tên Pháp: Doctrines pédagogiques de l’Europe du XVI au XVIIIe siècle, d’Erasme à Rousseau), nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1994.

10/ Eschyle và bi kịch cổ đại Hy Lạp (Eschyle et la tragédie grecque), nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1996.

11/ Orestia (dịch và chú giải bi kịch của Eschyle sang tiếng Việt). Chưa in

12/ Virgile, nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La Mã cổ đại [tên gốc:Virgile và anh hùng ca La tinh- Virgile et l’épopée latine], nxb Khoa Học Xã Hội, 1996.

Bắt đầu viết tự truyện, tiếng Pháp: Larmes et sourires d’une vieillesse.

Sau khi đi Pháp về (1990-1994), hoàn tất cá tác phẩm, Pháp văn:

13/ Larmes et sourires d’une vieillesse (Nụ cười và nước mắt tuổi già), tự truyện, ba cuốn, chưa in.

14/ Triptyque (tạm dịch: Bức họa ba tấm), chưa in.

15/ Un excommunié (Kẻ bị khai trừ), Quê Mẹ, Paris, 1992.

16/ Malgré lui, malgré elle (Mặc hắn, mặc nàng) (l’amour conjugal sous le régime communiste) (tình yêu vợ chồng dưới chế độ cộng sản). Chưa in.

17/ Partir, est ce mourir? (Đi là chết?) (Tragédie de l’émigration) (Bi kịch di dân). Chưa in.

18/ Une voix dans la nuit– Roman sur le Việt Nam 1950-1990 (Tiếng vọng trong đêm-Tiểu thuyết về Việt Nam từ 1950 đến 1990). Chưa in.

19/ Palinodies (Phủ nhận). Chưa in.

Trừ bản dịch Orestia, thì đúng Nguyễn Mạnh Tường đã viết 18 cuốn sách (kể cả các luận án tiến sĩ).

Trừ bốn cuốn tiếng Việt, phần còn lại, để bảo tồn tự do của ngòi bút, để thế giới có thể đọc được, để giữ an ninh cho gia đình, và bảo toàn bản thảo, Nguyễn Mạnh Tường đã chọn tiếng Pháp. Vì vậy, muốn đọc và hiểu ông, cần phải biết tiếng Pháp, hoặc phải có bản dịch. Văn chương điêu luyện của ông không dễ dịch, bản dịch Un excommunié (Kẻ bị mất phép thông công) của Nguyễn Quốc Vĩ (trên các mạng Thông Luận, Vietstudies) mới chỉ là bản đầu tiên, chưa diễn đạt được văn phong uy vũ của Nguyễn Mạnh Tường. Ngay trong cái tựa Un excommunié, tác giả đã có ý so sánh chế độ cộng sản như một giáo hội cuồng tín, loại trừ kẻ ngoại đạo (những người không cộng sản), vì vậy, nên dịch theo nghiã bóng Kẻ bị khai trừ, hơn là dịch theo nghiã đen, Kẻ bị mất phép thông công, yếu và khó hiểu.

Con đường hoà hợp văn hoá Đông Tây

Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16/9/1909 tại phố Hàng Đào; nguyên quán: xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Mất ngày 13/6/1997 tại nhà riêng, 34 Tăng Bạt Hổ, Hà Nội.

Cha: Nguyễn Căn Cát, công chức. Năm 1937, kết hôn với cô Tống Lệ Dung, có ba con: Nguyễn Tường Hưng, Nguyễn Dung Nghi và Nguyễn Dung Trang.

Học tiếng Pháp từ nhỏ. Collège Paul Bert, rồi lycée Albert Sarraut, Hà Nội.

1925, đậu Tú tài triết học (16 tuổi), hạng ưu. Được học bổng sang Pháp học Luật và Văn chương tại đại học Montpellier.

1927, đậu cử nhân văn chương với 4 chứng chỉ: văn chương Pháp, văn chương Hy Lạp, văn chương La Tinh và Bác ngữ học (Philologie).

1930, đậu cử nhân Luật. Dự định thi tuyển Thạc sĩ (concours d’Agrégé) để dậy học, nhưng vì quốc tịch Việt nên không được thi. Sửa soạn luận án tiến sĩ quốc gia (doctorat d’état). Trong thời gian làm luận án, ông thực tập luật sư tại toà Phúc thẩm Montpellier.

Tháng 5/1932, ông bảo vệ luận án tiến sĩ Luật, đề tài: L’Individu dans la vieille cité annamite- Essai de synthèse sur le Code de Lê (Cá nhân trong xã hội Việt Nam cổ – Tổng luận Luật Hồng Đức). Tháng 6/1932, bảo vệ luận án tiến sĩ văn chương với luận án chính: Essai sur la valeur dramatique du théâtre d’Alfred de Musset (Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset) và luận án bổ túc: L’Annam dans la littérature française, Jules Boissières (Việt Nam trong các tác phẩm của Jules Boissières).

Trả lời phỏng vấn của Phạm Trần, Nguyễn Mạnh Tường giải thích:

“Chính sách đàn áp của thực dân (đặc biệt sau vụ nổi dậy của Việt Nam quốc dân đảng), chương trình học, cũng như mặc cảm lạc hậu về đất nước khiến người trí thức hồi đó dễ xa lìa mạch sống dân tộc. Thế nên, cái vấn nạn lớn nhất của chúng tôi thời đó là làm cách nào để dung hợp hai nền văn hoá Đông Tây đối chọi nhau. (…) Để hoà hợp, căn bản đầu tiên là phải hiểu nhau. Hai nền văn hoá phải cho nhau biết bản sắc, lề lối suy nghĩ (mentalité) của mình. Từ đó, gạn đục khơi trong để tổng hợp. Và căn bản nghiên cứu của tôi phát xuất từ nhận định đó. Tôi khảo sát nét hay của văn minh Âu. Tôi mơ ước đem văn minh vật chất Âu kết vào vũ trụ tình cảm Đông”.

“Ngay từ khi viết luận án, tôi đã mang ý hướng ấy. Luận án Luật tôi dành cho Việt Nam. Tôi khảo sát cái chủ nghiã cá nhân (một sản phẩm đặc thù Âu Tây), đã thể hiện ra sao trong văn hoá Việt, cụ thể qua Luật Hồng Đức (thế kỷ XV), một bộ luật còn mang nhiều dân tộc tính. Đề tài chính của luận án văn, tôi dành cho văn hoá Pháp; đề tài phụ tôi dùng J. Boissières để kết nối Đông Tây. Boissières đã vẽ lại bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đã đặt chính sách thực dân trước những vấn nạn lương tâm khó xử”. (Hạnh ngộ cụ Nguyễn Mạnh Tường, Hai thế hệ, một tâm tình, Phạm Trần ghi, Paris, 16/11/1989, tài liệu đánh máy).

Chú thích: Jules Boissières, thuộc ngành hành chính dân sự, 1886 đến Bắc Kỳ cùng với Paul Bert và làm phụ tá cho Paul Bert. Paul Bert, bác học và chính trị gia, học trò của Claude Bernard, là vị Tổng trú sứ (Résident général) Bắc và Trung kỳ có đầu óc tự do, ôn hoà, chủ trương hợp tác Pháp Việt, ông mở các trường Pháp-Việt đầu tiên ở Bắc và Trung (ở Nam Kỳ có từ 1867). Năm 1886, Paul Bert mất tại Hà Nội. Boissières mất tại Hà Nội năm 1897, ở tuổi 34, nổi tiếng với tập truyện ngắn Fumeurs d’opium (Những kẻ hút thuốc phiện) in năm 1919.

Đậu hai bằng tiến sĩ ở tuổi 22

Một trường hợp hiếm có ở đại học. Nguyễn Mạnh Tường thành công vì làm việc cật lực:

“Từ lớp sáu cho tới tú tài, mỗi tuần tôi có thói quen đọc 2 cuốn tiểu thuyết Tây. (…) và nhất là do cật lực làm việc: suốt 5 năm dài, mỗi sáng tôi thức dậy từ 4 giờ, học và viết tới 8 giờ thì đi lớp; chiều lại học tới khuya.” (Phạm Trần, bđd).

Tháng 9/1932, ông về nước, ở 3 tháng, rồi lại sang Pháp.

Việc này, trong các bài trả lời phỏng vấn ở Paris, không thấy ông nói đến. Một số người đưa ra thuyết: “chính quyền thực dân Pháp không muốn dùng ông. Không tìm được việc làm xứng đáng với học vị của mình, ông lại sang Pháp” (Trần Văn Hà, bđd)

Nhưng theo Nguyễn Văn Hoàn, thì Nguyễn Mạnh Tường kể lại rằng: “Về nước có hai viên mật thám, trong đó có Louis Marty, gặp và gợi ý tôi vào làm việc với Bảo Đại, cấp bậc Thượng thư. Tôi từ chối, sau đó họ gây khó khăn, ở nhà ba tháng, tôi trở lại Pháp” (Nguyễn Văn Hoàn, Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường, tháng 10/2009, báo Hồn Việt, mạng Vietstudies).

Chứng này có thể tin được vì Nguyễn Mạnh Tường và Bảo Đại cùng về nước tháng 9/1932, và bản thân ông muốn đứng về phía dân, không tham chính.

Tháng 12/1932, ông trở lại Paris.

Từ 1933-1936: du lịch nhiều nước Âu Châu.

Thành thật nói, tôi đã trở thành một hiện tượng. Các báo ở Paris và Montpellier dành cả số nói về tôi. Có tờ coi sự thành công của tôi là một “sai lầm” của Pháp [ông muốn nói đến bài của Clément Vautel]. Song hầu hết đều nói tốt. Cũng nhờ vậy mà nhiều đại học Âu Châu biết và mời tôi tới thăm. Tôi đã có dịp Âu du một vòng không mất tiền từ London sang La Haye xuống Bruxelles, Berlin, Athènes, Rome, Istanbul, Vienne, Madrid… Tôi còn nhớ trên đường từ Berlin về Vienne thời đó (1933) tôi ngang qua Munchen và tham gia cuộc biểu tình lớn của Hitler tổ chức.” (Phạm Trần, bđd).

Theo cuốn Apprentissage de la Méditérannée (Kinh nghiệm Địa Trung Hải) ông đến Madrid tháng 4/1933, đi thăm các tỉnh Tây Ban Nha và đi Ý; năm 1934 sang Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Vậy ông đã nhớ lầm trật tự các chuyến đi, khi trả lời Phạm Trần 60 năm sau.

Ở đây, chúng ta cũng nên đọc qua bài báo của Clément Vautel, tiêu biểu cho khuynh hướng thực dân ngạo mạn và kỳ thị. Bài ngắn, chúng tôi dịch cả để độc giả thấy giọng điệu xỏ xiên này:

“Một tay An-nam-mít 22 tuổi, tên Nguyễn Mạnh Tường, vừa giật dễ dàng hai bằng tiến sĩ luật và văn chương ở đại học Montpellier. Hắn chỉ học có năm năm đã đoạt hai phẩm hàm cao nhất của phương Tây.

Tay trí thức “da vàng” này, đặc biệt nổi trội khi trình luận án văn chương với đề tài tuồng Alfred de Musset, có thể dạy cho bọn bỉnh bút của ta một bài học đích đáng. Ban giám khảo đã có lời khen rồi, tôi chả có tư cách gì mà chêm vào nữa.

Thực đếm không xuể số trẻ Đông Dương đoạt đủ loại bằng cấp tại Pháp: chúng đạt những thành quả ở đại học mà bọn “rợ trắng” không khá bằng, thèm muốn.

Rất chăm chỉ, thông minh, lại đầy tham vọng, những tay Á châu này tháo gỡ như bỡn những bí quyết trong đỉnh cao học thuật của chúng ta, rồi về xứ rêu rao:

– Cái văn minh nức tiếng kia rút cục chỉ có thế ư? Xa trông, tưởng ghê gớm, chứ đến gần, nào có ra gì!

Vì vậy, tôi tự hỏi, chúng ta chẳng đã phạm những nhầm lẫn sơ đẳng nhất, khi dạy cho các tướng này những bí quyết “văn hoá” của chúng ta, để khi về nước, chúng không còn tin vào tính ưu việt của giống nòi da trắng đang bảo hộ chúng.

Việc mở cửa cho bọn bản xứ vào các đại học của ta, và tưới xả láng chúng những bằng tiến sĩ này nọ, xem thì cũng ngộ đấy; nhưng chớ có ảo tưởng, coi đó là phương tiện xoá dấu vết xâm lăng để từ thời đại đô hộ nhẹ bước sang thời đại cộng tác.

Không phải tất cả những tên da vàng được ta bôi trát thứ trí thức trắng này, sẽ xoay sang đỏ choé khi chúng về tới bờ sông Hồng, nhưng nhiều đứa trong bọn sẽ trở thành cán bộ của cái đảng cộng sản, mà ở Âu Châu, thì tuyên bố vô tổ quốc, nhưng về đến nền thuộc địa, lại rao giảng chủ nghiã quốc gia trăm phần trăm.

Thử hỏi làm sao mà khác cho được? Cái làm tôi ngạc nhiên, là một cô gái Đông dương -bởi có cả bọn sinh viên con gái da vàng nữa- về nước với bằng giáo sư sử học, tuyên bố: Chừ tôi mới chính là Jeanne d’Arc đây! Vậy mà ả vẫn chưa thành “Nữ Thánh đồng trinh đỏ” của cuộc cách mạng giải phóng.

Theo tôi, khôn ngoan ra, thì ta nên khai hoá dân bản xứ bằng chính cái văn miêng của chúng. Thử hỏi cái luận án của một tay An-nam-mít về tuồng hát của Musset, là cái giống gì? Dù tuồng đó có đậm đà, tinh tế, cao nhã, gì gì đi nữa, thì nó cũng chẳng làm cho kẻ bị đô hộ có cảm tưởng tốt đẹp về đạo đức của người đô hộ.

Đừng quên Gandhi cũng đã đỗ đạt ở bên kia bờ biển Manche, và, với cái guồng sợi của mình, hắn đã làm cho nước Anh rối loạn… Cứ từ từ, rồi một ngày, chúng ta cũng sẽ như vậy.” [Mon film (Ống kính của tôi) của Clément Vautel, báo Le Journal ngày 17/7/1932].

Bài báo nói lên lòng căm thù chủng tộc và ganh tỵ nhân tài.

Về nước, những sáng tác đầu tiên

Chuyến đi thăm miền Địa Trung Hải đã giúp Nguyễn Mạnh Tường viết 4 tác phẩm:

Sourires et larmes d’une jeunesse, Construction de l’Orient-Pierres de France, Construction de l’Orient-Apprentissage de la Méditéranée và Le voyage et le sentiment.

Ông giải thích ý nghiã hai tác phẩm đầu:

“Tây cho Đông kỹ thuật, quan niệm về nhân quyền, về cái chừng mực và đa dạng của con người, về phương pháp suy tư và về một quan điểm đời sống. Và tôi đã viết hai cuốn: “Pierres de France (Nguyên liệu từ Pháp), “Apprentissage de la Méditérranée” (Học hỏi văn minh Địa Trung Hải) để diễn tả những điểm trên” (Phạm Trần, bđd).

Hai cuốn sách còn lại, viết về sự xung đột giữa hai nền văn minh Đông Tây:

“Sourires et larmes d’une jeunesse” (Nụ cười và nước mắt tuổi thanh xuân) diễn tả cái xung đột giá trị nơi một thanh niên Việt thấm nhiễm văn hóa Tây. Chàng thanh niên được ví như đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, đã quen với nếp sống tự do, nay trở về bị truyền thống gia đình ràng buộc. Và chàng đã phải tự đấu tranh tìm một giải pháp dung hòa cho cuộc sống. Vở kịch “Le voyage et le sentiment” (Du hành và tình cảm) nói lên hai khía cạnh khác nhau giữa Đông (nặng tình cảm, thuỷ chung) và Tây (như một tay du lịch luôn đi tìm của lạ). Các sách đó tôi viết từ năm 1930-1940, chỉ xuất bản vài trăm cuốn mỗi thứ và đã hết hơn nửa thế kỷ nay. Giờ muốn in lại một ít mà đành chịu vì thiếu phương tiện”.(Phạm Trần, bđd).

Khác hẳn những người lớp trước như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Văn Trường, Phạm Quỳnh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh… hoặc cùng thời với ông như Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng (cả ba đều sinh năm 1909), Nguyễn Mạnh Tường sùng bái cái học Tây phương, trong khi những người kia, dù phục Tây phương, nhưng vẫn cho Đông phương là nguồn cội của tư tưởng.

Tóm lại, theo người thanh niên Nguyễn Mạnh Tường, để xây dựng một Đông Phương mới, chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm Địa Trung Hải, tức là học sự giao lưu văn hoá Ả Rập- Hy La ở vùng Địa Trung Hải. Giả sử hồi đó, ông đi Ấn Độ, thì tư tưởng của ông có thể thay đổi: bởi Ấn Độ mới là nơi loài người thực hiện sự giao lưu văn hoá sớm nhất và thành công nhất. Mặc dù triết học Ấn độ là cha đẻ của triết học nhân loại và các đền đài ở Ấn Độ là những kỳ công kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ Á Âu; nhưng Ấn Độ hiện hành, cũng như Ai Cập, Trung Hoa, vẫn còn là những nước “thứ ba”. Vậy, văn minh văn hoá và văn minh khoa học; văn minh văn hoá và dân chủ tự do, có những tương quan như thế nào? Đó là những câu hỏi phức tạp khác.

*

Năm 1936, về nước, ông dạy văn chương Pháp ở trường Bảo hộ (Lycée du Prétectorat, tức là Chu Văn An sau này) và trường Cao đẳng Công Chánh ((Ecole Supérieure des Travaux Publics).

“Sau 5 năm đi du lịch, năm 1936 tôi về nước được vào dạy ở Trường Bảo Hộ (Trường Bưởi). Nhà ở số 1 Mai Xuân Thưởng, trông ra Hồ Tây, chỉ cách trường 200 mét. Đây là một quãng thời gian hạnh phúc của đời tôi. Đồng nghiệp thì có Hoàng Xuân Hãn dạy Toán, Nguyễn Văn Huyên dạy Sử, Kontum dạy Vật lý” (Nguyễn Văn Hoàn, bđd).

Ngoài ra, ông còn học thêm chữ nho và văn chương cổ điển Việt, tham gia phác họa cuốn Việt Nam Văn Phạm với nhóm Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, hợp tác làm Việt Nam tự điển với nhóm Khai Trí Tiến Đức:

“Bỗng nhiên tôi nhớ năm 1936, sau chuyến về nước ở luôn, tôi bắt đầu học chữ nho và góp phần làm cuốn Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, và cộng tác biên soạn tự điển Khai Trí Tiến Đức” (Un Excommunié, trang 286).

Trong thời kỳ này, ông làm phụ tá cho Thị trưởng Hà Nội.

Georges Boudarel, trong bài nghiên cứu tựa đề Le tort de parler trop tôt (Sai lầm vì nói sớm quá) chủ đích giới thiệu bài tham luận Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo với độc giả Pháp, đã phân tích khá rõ tâm trạng của Nguyễn Mạnh Tường và thành phần ưu tú của đất nước theo Việt Minh năm 1945, như sau:

“Trở về Bắc kỳ, năm 1936, ông dạy văn chương Pháp tại trường Bảo Hộ và trường Cao đẳng Công chánh (Ecole Supérieure des Travaux Publics). Vì cứ in hoài những tập tiểu luận ngẫu hứng từ những ngày sống ở Pháp, đã để lại trong ông những cảm tưởng không phai mờ (…) cuối cùng, ông trở thành đệ nhị phụ tá cho Thị Trưởng thuộc địa Hà Nội.

Dù hết sức ngưỡng mộ Paris và nước Pháp (khó có thể làm hơn), nhưng tới giờ phút quyết định, Nguyễn Mạnh Tường trong sâu thẳm của tâm hồn, vẫn là người Việt. Dường như ông nghĩ, mình chỉ trung thành với những lý tưởng hun đúc ở Paris: độc lập, tự do, nhân quyền và dân quyền. Năm 1945, cùng toàn bộ thành phần ưu tú của dân tộc (kể cả các vị giám mục thời ấy), ông đi theo chính phủ Hồ Chí Minh”. [Trích dịch Le tort de parler trop tôt (Sai lầm vì nói sớm quá), in trong Sudestasie số 52, tháng 5/1988, việc NMT làm phụ tá Thị trưởng, Boudarel dựa theo tài liệu trong cuốn Souverains et notabilités d’Indochine, Éditions du Gouvernement général de l’Indochine, 1943, trang 99)].

Nghỉ dạy học, mở văn phòng luật sư

Tới năm 1940, ông nghỉ dậy học, mở văn phòng luật sư:

“Năm 1940, Pháp thua trận, Nhật đưa quân vào Đông Dương, lập ra một Hội đồng, do Phạm Lê Bổng đứng đầu, vận động nông dân bán lúa, gạo cho Nhật. Họ muốn tôi tham gia nhưng tôi từ chối. Họ lại gây khó khăn, tôi nộp đơn xin từ chức, ra mở văn phòng luật sư ở phố Trần Hưng Đạo [trước là Gambetta], đây là nghề tôi đã tập sự bên Pháp”. (Nguyễn Văn Hoàn, bđd).

Theo Nguyễn Đình Nhân, “Từ năm 1942 đến 1945: ông mở phòng luật sư chung với hai đồng nghiệp Trần Văn Chương[cha bà Ngô Đình Nhu] và Vũ Văn Hiền” (Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường từ trần tại Việt Nam, Tin Tức, 7-8/1997, Paris).

Tháng 10/1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh lập thêm Đại học văn khoa, Nguyễn Mạnh Tường được cử dạy văn chương Tây phương:

Hội nghị Đà Lạt (17/4/1946- 12/5/1946)

Hội nghị Đà Lạt họp từ 17/4/1946 đến 12/5/1946. Bàn về các vấn đề đã dự trù trong hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Phiá Việt Nam, Nguyễn Tường Tam làm trưởng phái đoàn, Võ Nguyên Giáp, phó. Phía Pháp: Max André (nghị sĩ), trưởng phái đoàn.

Chủ tịch các ủy ban: Hoàng Xuân Hãn, chính trị. Võ Nguyên Giáp, quân sự. Nguyễn Mạnh Tường, văn hoá. Trịnh Văn Bính, kinh tế và tài chính.

Về hội nghị này, trả lời Hoà Khánh ở Paris, Nguyễn Mạnh Tường cho biết:

“Năm 1946, một hôm, ông Nguyễn Hữu Đang, người sau này tham gia Nhân Văn Giai Phẩm và bị cộng sản kết án 15 năm tù, đến văn phòng luật sư của tôi nói là cụ Hồ mời tôi đến gặp Cụ có việc cần. Nguyễn Hữu Đang chở tôi đến cái chỗ sau này gọi là Phủ Chủ tịch. Ở đó Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng vụ Lễ tân, ra tiếp và đưa vào gặp Cụ Hồ. Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói: “Như Ngài đã biết, chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn dùm cho một bản lập trường của chính phủ (thèse gouvernementale) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp: “Công việc này quan trọng quá, xin cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”. Cụ Hồ nói: “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi”. Cuối cùng, tôi nhận lời, về nhà, đóng cửa văn phòng luật sư, vận dụng tất cả kiến thức về luật pháp quốc tế cũng như những điều khoản căn bản của tạm ước để soạn bản lập trường. Đến khi đem trình, được Cụ Hồ chấp thuận và do đó, buộc tôi phải tham dự Hội Nghị Đà Lạt. (…)

Chỉ có một điều ít ai biết là, kết thúc cuộc hội nghị, hai bên đã tổ chức một bữa tiệc chung. Trong bữa tiệc ấy, tên tùy viên của thủy đô đốc D’Argenlieu đến cạnh tôi, nói là thuỷ đô đốc muốn gặp tôi để nói chuyện. Tôi bảo là tôi không phải trưởng đoàn do đó không có tư cách gì để gặp gỡ thủy đô đốc cả. Tên tùy viên lại bảo đây là sự gặp gỡ thân mật có tính cách cá nhân thôi chứ không phải để bàn bạc chuyện gì quan trọng cả. Nghe thế, tôi rời bàn tiệc ra ngoài hành lang gặp D’Argenlieu. Lúc ấy trong bàn tiệc ai cũng thấy cả. Và cuộc nói chuyện cũng rất vu vơ, thăm hỏi xã giao về công ăn việc làm thôi. Thế nhưng, về Hà Nội bỗng dưng lại có tin đồn là Nguyễn Mạnh Tường thông đồng với giặc, là Nguyễn Mạnh Tường bán nước.

Hỏi: Luật sư có biết tin đồn đó phát xuất từ đâu không?

NMT: Thì cũng phải có người phát thì nó mới động chứ. Tin đồn đó là cả một chiến dịch được tổ chức hẳn hoi. Anh Hoàng Xuân Hãn lúc ấy phải đến gặp hình như là Võ Nguyên Giáp thì phải, bảo Tường làm cái gì mà người ta lại tung tin đồn là nó bán nước, theo giặc ghê quá vậy. Nguy cho nó lắm. Mà nguy thật. Chỉ cần một phát súng, một mũi dao là xong đời chứ gì. Từ khi anh Hãn can thiệp, tin đồn ấy mới lắng xuống rồi biến mất”. (Hoà Khánh, Ba giờ với luật sư Nguyễn Mạnh Tường, phỏng vấn ghi âm, viết lại, đăng trên Giai phẩm xuân Quê Mẹ, số 105-106, tháng 1/1990).

Nguyễn Văn Hoàn, ghi:

“Lúc tiễn đoàn lên đường, cụ Hồ nói to: “Xin chúc anh em đi thành công, đặc biệt tôi có lời khuyên: Nội bộ đoàn kết, phải đấu tranh găng nhưng không được gãy”. Hoàng Xuân Hãn có viết hồi ức về Hội nghị nhưng không nhắc lại chi tiết quan trọng này, tôi hỏi thì anh bảo quên!” (…)

Kết thúc hội nghị, D’Argenlieu có tổ chức tiệc trà tiễn Đoàn. Một sĩ quan hầu cận Pháp đến nói: Thủy Sư Đô đốc muốn gặp riêng Ngài. Tôi nói: Tôi chưa hân hạnh được quen biết Ngài Thủy Sư Đô đốc. Có anh em nói: Nó mời thì anh cứ đi, tôi đi xuyên qua phòng họp, đông khoảng một trăm người, đến gặp nó, chỉ toàn nói chuyện xã giao vớ vẩn. Thế mà khi về Hà Nội, có dư luận nói: “Tường là tay trong của Pháp, Tường phản quốc”, Hãn tức, đến gặp Võ Nguyên Giáp, dư luận mới được dập tắt.” (Nguyễn Văn Hoàn, bđd)

Boudarel viết:

“Sau khi ở hội nghị về, Tường không được trao cho nhiệm vụ gì nữa, cũng như nhiều người yêu nước không cộng sản khác. Tuy vậy khi cuộc chiến bùng nổ ngày 19/12/1946, ông vẫn đi theo kháng chiến.” (Boudarel, bài đã dẫn)

Đi kháng chiến, nhưng không tham gia mặt trận Việt Minh

Ngày 19/12/1946 Toàn quốc kháng chiến.

Nguyễn Mạnh Tường đang biện hộ ở toà án Hải Phòng. Ông vòng xuống Nam Định để về Hà Nội, chuẩn bị gia đình tản cư. Trước khi đi, ông dâng toàn bộ tài sản cho cách mạng. Gia đình ông về Hà Nam (Ngô Khê). Pháp đánh Hà Nam, chạy sang Thái Bình.

Thái Bình (Liên khu Ba) là một địa điểm tụ họp đông đảo trí thức văn nghệ sĩ. Tháng 10/1948, hội văn nghệ Liên khu Ba được thành lập, Theo Bùi Huy Phồn (bài Đường về Liên khu Ba, Cách mạng Kháng chiến và đời sống văn học, tập 1, trang 155-163) và Phạm Duy (Hồi ký Cách mạng kháng chiến, trang 180-183), đây là thời kỳ đẹp nhất của kháng chiến: các trí thức, văn nghệ sĩ khuynh hướng khác nhau cùng hoạt động chung.

Nhưng cuối năm 1951, Pháp đánh chiếm Thái Bình. Chi hội văn nghệ phải chuyển về Vĩnh Lộc (Thanh Hoá). Văn nghệ sĩ, người về thành, người vào Khu Bốn (Thanh Hoá), vùng tướng Nguyễn Sơn.

Trả lời câu hỏi của Hoà Khánh ở Paris: Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó, tham gia kháng chiến như thế nào?

Nguyễn Mạnh Tường nói: “Thật ra, tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó, tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thức chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique spéculative), nghiên cứu, thúc đẩy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám làm tôi rất vui mừng. Tôi muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong hai lãnh vực sở trường của mình: luật học và nghiên cứu văn học.” (Hoà Khánh, bđd).

Nguyễn Văn Hoàn ghi:

“Năm 1946, tôi đang cãi ở Hải Phòng thì tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Tôi phải đi đường Nam Định để về Hà Nội, rồi tản cư đi Hà Nam, ở Ngô Khê. Nó đánh Hà Nam, chạy sang Thái Bình, ở Hưng Nhân. Nó đánh Thái Bình, chạy vào Thanh Hóa. Hồi dạy Dự bị Đại học, tôi ở dốc Đu, Thiệu Hóa, bên cạnh là nhà Hồ Đắc Liên, gần nhà Nguyễn Khánh Đàm, anh ruột nhà văn Nguyễn Tuân”. (Nguyễn Văn Hoàn, bđd)

Làm luật sư trong kháng chiến

Trong kháng chiến, ông cãi ở Toà Án nào? Và cãi cho ai? Một điều chắc chắn: ông cãi trong các toà án Kháng chiến (tức là toàn án của Việt Minh). Vậy loại toà án nào? Vì ở thời cải cách ruộng đất, ông cho biết các Toà án Nhân dân không cần chánh án, không cần luật sư.

Chắt lọc một số thông tin đáng tin cậy, chúng ta có thể xác định: ông cãi ở những toá án quân sự, đại hình, và được chính phủ kháng chiến cử làm luật sư chỉ định (avocat d’office), biện hộ cho những người quốc gia bị Việt Minh bắt và xử tội.

1- Boudarel viết:

“Trong những năm đầu chiến tranh, hình như luật sư Tường đã nhận cãi cho những trường hợp vô vọng, ông nhận biện hộ cho những người quốc gia bị kết tội phản quốc mà không có chứng cớ gì minh bạch. Lần vận động (hay lần cãi) cuối cùng hình như ở Đức Thọ, năm 1951″ (Boudarel, bài đã dẫn).

2- Trần Văn Hà kể lại lời thầy Tường:

“Gia đình tôi [Nguyễn Mạnh Tường] chuyển dịch từ Phủ Lý về Thái Bình, rồi về Thanh Hoá. Tôi tiếp tục giảng dậy cho lớp Dự bị đại học ở Thanh Hoá, được cử làm luật sư của chính phủ đi bào chữa cho tội nhân tại toà án quân sự, đại hình. Cứ mỗi tháng là phải tới một tỉnh, với chiếc xe đạp tòng tọc. Nhiều đoạn đường, cái chết kề bên. Anh “ba lô viên” của tôi bị trúng đạn địch, đã bỏ mạng tại bờ sông Hồng” (Trần Văn Hà, bđd).

3- Trong bài Kiều Mai Sơn kể lại lời Vũ Đình Hoè, có một đoạn đáng chú ý:

“Tôi [Vũ Đình Hoè] lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Tư pháp nên cũng được họp trong phiên Chính phủ họp bàn về xử vụ ông Vĩnh Thụy đào nhiệm. Đó là vào hồi năm 1950 – 1951. Cụ Hồ không muốn truy tố.

Để hợp thủ tục dân chủ, Hồ Chủ tịch đề nghị giơ tay biểu quyết. Tất cả thành viên Chính phủ đều giơ tay lên, trừ cụ Bùi Bằng Đoàn [Cha ông Bùi Tín] – Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Cụ nói đồng ý là ông Vĩnh Thụy phạm tội nặng đối với Tổ quốc, nhưng cụ không nỡ giơ tay biểu quyết. Mọi người nhớ xưa cụ đã một thời giữ chức Thượng thư trong triều đình Bảo Đại. Cuối cùng Chính phủ quyết định giao cho Tòa án xét xử theo đúng pháp luật, phải làm đàng hoàng đầy đủ thủ tục, có luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt.

Mấy tháng sau, Toà án quân khu III được thành lập do ông Lê Văn Chất làm Chánh án, ông Bùi Lâm làm Công cáo uỷ viên, một Hội thẩm chính trị là đại biểu quân đội, một Hội thẩm chuyên môn là ông Trần Đình Trúc – Thẩm phán do Giám đốc Tư pháp khu III phái sang. Hai luật sư cùng bênh vực cho bị cáo Vĩnh Thụy là ông Đỗ Xuân Sảng và ông Nguyễn Mạnh Tường.

Bản cáo trạng buộc tội ông Vĩnh Thuỵ rất đanh thép. Sau khi đã thực thi đủ thủ tục pháp lý và bàn luận kỹ càng, Hội đồng xét xử đã ra phán quyết vắng mặt bị cáo: Tử hình. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đề nghị ghi vào bản án xử theo điều luật của nhiều nước trên thế giới là: Tử hình vắng mặt, khi nào bắt lại được can phạm thì sẽ mở lại phiên toà chứ không được thi hành cái án đã tuyên trước đó.” (Kiều Mai Sơn, Nguyễn Mạnh Tường, Luật sư huyền thoại, An Ninh thế giới 10/10/2009, mạng Bee.net, mạng Vietstudies)

Vẫn trong bài này, Kiều Mai Sơn kể thêm mấy vụ khác:

– Vụ xử Quản Dưỡng, tức Trần Văn Dưỡng, ở Hà Đông, trước làm lính khố xanh, bị xử tội đã ra lệnh cho lính Bảo An bắn vào người biểu tình.

– Xử vợ một lãnh tụ Quốc Dân Đảng, ở Vĩnh Yên.

– Một nông dân giết kẻ ngoại tình với vợ, là một anh bộ đội (Đại Đội Trưởng), ở làng Xuân Thọ, Thái Bình.

– Hè 1951, một anh bộ đội đánh chết người đang “hủ hoá” với mẹ mình, tại Đức Thọ, Hà Tĩnh (lúc đó Nguyễn Mạnh Tường đã vào Thanh Hoá).

4- Hoàng Văn Chí viết:

“Từ 1947 đến 1950 ông làm trạng sư ở khu III. Trong khi bênh vực cho các bị cáo trước toà, ông hay dùng lời lẽ văn hoa để “nói mát” chế độ, nên ông bị chuyển sang ngành giáo dục.

Ông bị coi là một phần tử “ngoan cố”, không chịu “lột xác”, nên thường bị đả kích. Có lần cán bộ đã đặt ra một vở kịch nhan đề là “Phải hấp lại” để lăng mạ ông, nhưng ông không thèm trả lời.” (Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 293)

Điều Hoàng Văn Chí viết “ông hay dùng lời lẽ văn hoa để “nói mát” chế độ” đượcphản ảnh trong lời kể của giáo sư Hoàng Như Mai:

“Vụ thầy Tường cãi đó là: cô con dâu cầm dao đâm bố chồng. Tôi không dự cái cuộc ấy nhưng được nghe người ta kể lại. Thầy Tường bào chữa: Xưa nay chuyện bố chồng con dâu, nhất là mẹ chồng nàng dâu xung đột với nhau là chuyện rất điển hình ở xã hội Việt Nam xảy ra coi như cơm bữa. Nhưng vì sao cô này lại đâm bố chồng? Vì khẩu hiệu của kháng chiến: Mỗi người sẵn sàng cầm vũ khí trong tay để giết giặc. Cho nên lỗi tại có vũ khí kia chứ không thì chị ấy không phạm tội giết bố chồng”. (Kiều Mai Sơn, bđd)

Những chứng trên đây phù hợp với nhau. Tóm lại, có thể nói: lần cuối cùng Nguyễn Mạnh Tường cãi ở Đức Thọ, Hà Tĩnh (theo Boudarel) và sau đó ông bị chuyển sang ngành giáo dục (Hoàng Văn Chí).

Một mặt khác, chính Nguyễn Mạnh Tường cũng viết về lý do đổ vỡ của ngành tư pháp và y tế ở Khu Ba và Khu Tư:

“Chính trị chèn ép chuyên môn như thế nào; xua đuổi người trí thức ra ngoài con đường cách mạng ra sao, lịch sử kháng chiến đã cho ta kinh nghiệm đau đớn. Năm 1949, phong trào tư pháp liên khu III tan vỡ vì chính quyền quan niệm tư pháp phải thuộc sự điều khiển của mình. Năm 1951, phong trào quân y, dân y liên khu IV sụp đổ vì các chính trị viên đưa vào các bệnh viện, đã đán áp chuyên môn, thúc đẩy các bác sĩ có công với cách mạng, với kháng chiến, phải gạt nước mắt mà rời bỏ kháng chiến”. (Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 305)

Từ chối vào Đảng

Năm 1951, được đề nghị vào đảng, nhưng ông từ chối, rồi cuối cùng ông phải chấp nhận vào đảng Xã Hội, Nguyễn Mạnh Tường giải thích tại sao:

“Năm 1951, trong chiến khu [Khu Ba], Đặng Châu Tuệ, một đảng viên Cộng sản [Bí thư Đảng đoàn] đến bảo tôi và bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên nộp đơn xin vào Đảng. “Trên” đã chứng nhận hạnh kiểm và hoạt động của chúng tôi trong kháng chiến. Những người cộng sản thường say mê hình thức và mắc bệnh kiểm kê con người giống như tài sản, theo tuổi tác, phái tính, hoạt động nghề nghiệp để trộn họ vào những tổ chức quần chúng, để giáo dục và điều khiển họ một cách hữu hiệu hơn. Một mặt khác, vì Đảng không dung tha bọn trí thức ham hưởng thụ tự do và cá nhân chủ nghiã, nếu tập trung họ lại trong Đảng, thì cái địa vị tối cao và vai trò lãnh đạo sẽ làm họ phởn chí. Thật vậy, trong thời điểm đó, những kẻ có tham vọng, những kẻ cơ hội, mơ tưởng được vào hàng ngũ cộng sản đã làm không ít việc hạ tiện để đẹp lòng người chiêu nạp. Cũng cùng thời ấy, đã có khá nhiều trí thức, không chịu được đầu óc hẹp hòi và tính ngoan cố của những người cầm đầu, đã bỏ hàng ngũ cách mạng để về Hà Nội, rồi từ đó bay đi những chân trời tốt đẹp hơn. Vì thế, bác sĩ Nguyên và tôi xét “vinh dự” mà họ ban cho, chẳng qua chỉ là một thủ đoạn ngờ vực: họ muốn khoá trái chúng tôi trong các tổ Đảng được canh gác chặt chẽ để ngăn chặn không cho chuồn, nếu có kẻ manh tâm. Cả hai chúng tôi từ chối lời mời vào Đảng. Nhưng những người cầm đầu không cho đứng ngoài tất cả các tổ chức, họ đề nghị chúng tôi vào đảng Xã Hội. Cầm cự mãi cũng chán, chúng tôi bắt buộc phải chấp nhận. Bởi chẳng nên khăng khăng cương quyết từ chối mãi ý nguyện của Đảng, nhất là trong chiến khu, có những con mắt vô hình kiểm soát nhất cử nhất động. Khá là nguy hiểm.”(Trích dịch Un Excommunié, trang 205-206).

Tóm lại, Nguyễn Mạnh Tường rời Khu Ba khoảng mùa xuân năm 1951, sau khi từ chối vào Đảng. Tới tháng 5/1951, ở Khu Tư (Thanh Hoá) ông cãi lần cuối cùng tại Đức Thọ, Hà Tĩnh. “Tháng 2/1952, Trường Dự bị Đại học mới mở ở khu Tư, Thanh Hoá và Nghệ An, do nhà phê bình mác xít Đặng Thai Mai điều khiển, Nguyễn Mạnh Tường được gọi về dạy văn chương”. (Boudarel, bđd)

Hoàng Trung Thông cho biết:

“Các lớp học viết văn thì tổ chức ở Quần Tín [Thanh Hoá], Đặng Thai Mai là hiệu trưởng, Nguyễn Xuân Sanh phụ trách các công việc, tương đương với giáo vụ bây giờ. Khoá dự bị đại học đầu tiên có 5 học sinh. Các lớp sau đông hơn (…) Học sinh tới học do địa phương giới thiệu nhưng kinh phí hầu như phải tự túc hoàn toàn” (“Trên địa bàn văn nghệ khu Bốn và Việt BắcCách mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập 1, Tác phẩm mới, 1985, trang 184).

Ở Khu Tư, Nguyễn Mạnh Tường vẫn tiếp tục đấu tranh tư tưởng với cách mạng. :

“Cuộc tranh đấu tư tưởng duy nhất ở Liên khu Bốn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp là cuộc đấu tranh với một số quan điểm của Nguyễn Mạnh Tường. Trong một cuộc nói chuyện Nguyễn Mạnh Tường cho rằng văn nghệ ta như một cái chuồng nhốt các văn nghệ sĩ trong đó. Ý kiến này lập tức đã làm nổi lên một làn sóng bất bình trong giới văn nghệ. Có hai bài phê phán ý kiến đó một cách nghiêm khắc trên tạp chí Thép Mới của Nguyễn Văn Tỵ và Chế Lan Viên. Khi đồng chí Lưu Trọng Lư, Chi hội trưởng văn nghê Liên khu Bốn, phụ trách tờ tạp chí Thép Mới, đến gặp đồng chí Trường Chinh thuật lại các bài đấu tranh tư tưởng thì đồng chí Trường Chinh có nhắc nhở về mấy bài phê phán đó, đại ý như sau: các đồng chí phê bình cũng là phải thôi; nhưng cũng như một cây tre, vin xuống vừa phải thì sức bật của nó sẽ lớn, nhưng vin mạnh quá thì nó gẫy. Tôi hiểu ý đồng chí Trường Chinh nói là cần phải đấu tranh tư tưởng nhưng đừng nặng lời quá vì lúc bấy giờ chúng ta đang cần đoàn kết để kháng chiến chống Pháp, mặc dầu đoàn kết không có nghiã là thủ tiêu đấu tranh.” (Hoàng Trung Thông, bđd, trang 187).

Cuộc đấu tranh tư tưởng ở Khu Tư, sau Nguyễn Mạnh Tường, đến Trương Tửu, càng mãnh liệt hơn.

© Copyright Thụy Khuê [http://thuykhue.free.fr]
Nguồn: Tác giả gửi


Mời đọc:

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | 6 Comments »

►CA điều tra tỉnh Lâm đồng mời làm việc – Ts Hà Sĩ Phu viết thư KHƯỚC TỪ “làm việc” với cơ quan an ninh

Posted by hoangtran204 trên 23/03/2014

Trên mạng đang xôn xao bình luận rằng, Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tuyên Giáo, lại chỉ đạo cho đàn em nhúng tay vào vụ này.

Ngày 20-3-2014, Ts. Hà Sĩ Phu, thành viên nhóm cố vấn của Diễn đàn Xã Hội Dân Sự, bị Công An điều tra tỉnh Lâm đồng gởi giấy mời làm việc lần thứ 2.

Click (nhấp chuột) vào hình

CA moi 3-2014

Thư của TS Hà Sỹ Phu khước từ “làm việc” với cơ quan an ninh 

22-3-2014

Hà Sĩ Phu

Ngày 20-3-2014 tôi lại nhận được “Giấy mời” của cơ quan An ninh điều tra, “mời” nhưng YÊU CẦU phải có mặt đúng giờ (mời đến lần thứ 3 chắc chuyển sang Triệu tập?) (hình 1). Trong hơn 20 năm nay tôi không thể nhớ được đây là “Giấy mời” lần thứ bao nhiêu nữa? 

Tôi vốn không muốn kể những tai họa mà cá nhân mình phải chịu đựng, dù rất vô lý, nhưng nay tôi đã già yếu, 75 tuổi với đủ thứ bệnh tật, tôi buộc phải có thái độ dứt khoát để yêu cầu chấm dứt những phiền toái vô lý kéo dài hết năm này đến năm khác như vậy. Chỉ xin tạm đề cập đến hai lĩnh vực: lĩnh vực vi phạm quyền tự do đi lại và lĩnh vực hình sự hóa những vấn đề dân sự. dẫn đến điều tra xét hỏi liên miên, Những vi phạm khác khi cần sẽ xin nói sau. 

1/ Bị cản trở quyền Tự do đi lại

– Năm 1998, tôi được ông Thị trưởng thành phố Genève mời sang du lịch tham quan (hình 2), nhưng phía Việt Nam không cho phép đi, công an lâm Đồng trả lời như vậy, đồng thời Sứ quán Thụy Sĩ cho biết đã can thiệp nhưng thẩm quyền cho phép là thuộc phía Việt Nam ! (hình 3). 

– 15 năm sau tình hình vẫn không có gì khá hơn. Năm 2012 tôi và vợ tôi làm hồ sơ xin cấp Hộ chiếu phổ thông (passport), họ chỉ cấp cho vợ tôi, còn tôi được yêu cầu phải tự viết một tờ cam đoan (cam đoan không liên hệ với các tổ chức chính trị, không viết bài và trả lời phỏng vấn có hại cho chính phủ Việt Nam, khi về tường trình chuyến đi với công an), tôi không viết vì không có văn bản nào quy định như vậy nên tôi không được cấp. Công an Lâm Đồng bảo tôi phải về gặp cục xuất nhập cảnh ở 254 Nguyễn Trãi t/p HCM. Tôi về đó hỏi thì ông đại tá Phan văn Răng trả lời: Ở đây sau khi làm các Hộ chiếu đã trả hết về Lâm Đồng, nếu có trường hợp không cấp thì cũng có công văn nói rõ lý do cho công an Lâm Đồng biết rồi, Lâm Đồng phải trả lời cụ thể cho công dân chứ sao phải về đây? Chị đại úy Nguyễn Thanh Nga còn nói rõ hơn: Nếu bác bị tạm cấm xuất cảnh thì công an Lâm đồng cũng phải cho bác biết vì lý do gì và thời hạn bao lâu chứ? Việc cấp Hộ chiếu cho tôi cứ thế bị đưa đẩy, pháp luật sao cứ mập mờ tùy tiện ?

– Mỗi khi tôi ra Bắc, về Hà nội hay Bắc Ninh lập tức có tin báo để công an hộ khẩu ngoài ấy tiếp cận và gây phiền. Thậm chí vợ tôi đưa tôi ra Hà nội chữa bệnh, khi đi đã cẩn thận báo tổ trưởng dân phố, khi về vẫn bị công an hoạnh họe phạt tiền cả hai vợ chồng (quả thực lúc ấy tôi chỉ mong được tự do đi lại bằng thời Pháp thuộc).

2/ Bị điều tra xét hỏi liên miên từ những sinh hoạt dân sự chính đáng: 

– Năm 1990 tôi ra Hà nội, khi đến thăm bà mẹ chị Dương Thu Hương liền bị câu lưu hỏi cung 10 ngày. 

– Tôi photocopy một lá thư của ông Võ Văn Kiệt, một tài liệu đã đăng trên các trang Web và được doanh nhân Trình Quang Phú giới thiệu, tức là chẳng còn gì bí mật, mà bị quy tội “cố ý làm lộ bí mật nhà nước”, hỏi cung liền mấy tháng và đi tù một năm.

– Viết thư trao đổi với các ông Lê Hồng Hà và Hoàng Minh Chính mà bị quy tội “vi phạm luật xuất bản”, hỏi cung liền một tháng và tịch thu một dàn vi tính.

– Viết thư trao đổi với các ông Đỗ Mạnh Tri và Nguyễn Gia Kiểng để từ chối, không ký vào cái “kết ước năm 2000” và giải thích vì saoViệt Nam chậm đổi mới so với Đông Âu mà bị quản chế tại gia, hỏi cung suốt 8 tháng ròng rã và khởi tố tới tội “phản quốc” (cùng với ông Mai Thái Lĩnh), khám nhà tịch thu một dàn vi tính nữa! Vụ án bị hủy bỏ nhưng quản chế 2 năm, hàng tháng phải lên phường làm việc với công an!

Ngoài ra còn ba lần đấu tố tại phường và khu dân cư, những lần “mời làm việc” rải rác nhiều năm, tôi tính lại đã có trên 400 buổi bị hỏi cung và làm việc với công an, hỏi như vậy còn chi là đời một con người? 

Gần đây, cùng với việc Việt Nam được bầu vào hội đồng phát triển và giám sát nhân quyền, trong nước có sự hình thành những tổ chức dân sự. Nhận thấy đó là sự phát triển của xã hội bình thường, giúp cho xã hội cân bằng, và được mời, nên tôi đã tham gia các hội đoàn như “diễn đàn xã hội dân sự”, “văn đoàn độc lập Việt Nam” … , đó là những hội có tính nghề nghiệp hoặc ái hữu, không phải những tổ chức chính trị, và ở đâu tôi cũng là một thành viên tích cực, ôn hòa, có lý có tình, không bao giờ quá khích. 

Trở lại việc Cơ quan An ninh điều tra “mời” chúng tôi đến cơ quan công an để điều tra: theo quy định chung của luật thì chúng tôi có quyền mời luật sư ngay từ đầu và chỉ làm việc khi có luật sư, nhưng quyền tối thiểu ấy chưa bao giờ được thực hiện. Trong vụ quy kết tôi và ông Mai Thái Lĩnh tội “phản quốc” năm 2000, tôi đến Viện Kiểm sát Lâm Đồng đòi quyền có luật sư thì được trả lời: luật quy định thế nhưng mời luật sư cũng chẳng hơn gì vì luật sư trong nước thì cũng phải cãi theo luật Việt Nam nên cũng phải nói như công an và Viện kiểm sát thôi ông ạ (!). Thật hết biết.

Nếu tạm gác quyền ấy, tạm chấp nhận cơ quan điều tra có quyền mời một người lên để điều tra về một việc gì đó khi không có luật sư, nhưng giấy mời vẫn phải ghi rõ điều tra về vụ việc gì, vì mời làm việc phải có lý do ngay lúc đặt vấn đề. Lại nhớ năm 2000 công an đến đọc lệnh khám nhà, tôi hỏi lý do gì mà khám nhà vì khám nhà là việc rất hệ trọng, công an bảo “cứ khám nhà, sau 10 phút sẽ biết lý do, ông định chống người thi hành công vụ hả?” Đúng là luật pháp lộn ngược! 

Lại cứ rộng lượng, tạm cho phép cứ viết giấy mời làm việc mà chưa cần nói lý do, công an có thể viện cớ này cớ khác để giải thích với một người mới một lần, hay một vài lần bị mời. Nhưng, với một người đã bị làm việc và hỏi cung trên 400 buổi, đã bị quy đến tội “phản quốc” mà cuối cùng vụ án phải hủy vì sự quy kết chỉ là tầm bậy thì mọi lý sự quen dùng như vậy cũng đã thành vô nghĩa, mất thiêng, không thể chấp nhận. Vậy, với tư cách một người đã bị “điều tra” trải dài trên 20 năm, lại đang trong thời gian chữa bệnh, là bệnh nhân đang điều trị ngoại trú (bệnh mắt, bệnh tim, tiểu đường và u xơ tiền liệt), tôi xin giữ quyền của một con người có ý thức, khước từ lời “mời” buộc phải đến làm việc như giấy mời trên.

Chúng ta có cách giải quyết tốt hơn nhiều, đừng cố biến chuyện dân sự thành hình sự. Nếu có điều gì cần trao đổi cho rõ, xin mời đến nhà, mặc dù không thích thú gì nhưng tôi sẵn sàng trao đổi trong sự tôn trọng, vì lợi ích chung, mọi việc tôi làm đều công khai minh bạch, không có gì phải dấu giếm. Cư xử với nhau như vậy hẳn là có lý có tình hơn, nếu chúng ta còn muốn có lý có tình. Xin trân trọng trao đổi hết nhẽ như vậy.

Đà Lạt ngày 22-3-2014

H.S.P 

(Thư này gửi cơ quan An ninh điều tra đồng thời gửi công luận)

Nguồn basam.info

——————————————————–

Bài đang được bạn đọc quan tâm: 

>>Luật cho cá nhân, tổ chức nước ngoài thuê đất thời hạn từ 50-70 năm của chính phủ có từ năm 1992, nghị định 1999 chương 1, điều 5

>>Nghị định CHÍNH PHỦ SỐ 163/1999/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 11 NĂM 1999  quy định về việc Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đinh …. cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất lâm nghiệp để sử dụng

***Để ý, các nghị định chính phủ 1992 và 1999 có liên quan tới hai biến cố lớn. Vụ họp bí mật ở Thành Đô 1990, và Hiệp định Biên giới ký kết giữa VN và TQ ngày 31-12-1999

18 tỉnh Việt Nam đã cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê 400.000 hecta đất trong thời hạn 50 năm – 99 năm; những công ty ở Đài Loan và Hồng Kong thực chất là các công ty quốc doanh của Trung Quốc. 

 VN Cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 mẫu đất chỉ bằng 10 tô phở (9 đô la/ 1 mẫu đất)/1 năm

Bí thư Thành ủy Quảng Ninh đề xuất cho đối tượng nước ngoài thuê đất 120 năm khi trả tiền một lần!

► VN Cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 mẫu đất chỉ bằng 10 tô phở (9 đô la/ 1 mẫu đất)

Quảng Nam cho 1 công ty Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50 năm, giá thuê 1 mét vuông là 2 đồng 75 xu/ 1 năm.

►Sau 5 năm phí tiền của, nay chính thức: đình chỉ khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên và ngưng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà – Bình Thuận

►Kinh khủng! Công an đầu độc thầy Đinh Đăng Định bằng “hóa chất dành cho bón cây được trộn vào nước uống của ông”,

►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.

►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI 185 hecta ĐẤT VƯỜN CAO SU

►Cướp được mồi ngon thế thì làm sao mà từ bỏ được- Thủ tướng: “Đảng không bao giờ bỏ chức năng lãnh đạo kinh tế”

, Nhà tiếp khách 30.000 mét vuông của Ủy viên Trung Ương Đảng Bí thư tỉnh ủy Bến Tre- Nhà khủng của Ủy viên TU Đảng, bí thư tỉnh ủy Hải Dương, 

►Tướng Giáp trong “Bên Thắng Cuộc”- Vụ án Năm Châu -Sáu Sứ 1991

►Điều gì đã khiến TBT Nguyễn Văn Linh tìm cách trả thù ông Võ Văn Kiệt cho đến cuối đời?

►Cuộc triển lãm Thương Thuyết tại xứ Cộng Hòa Phi Lý…dẫn đến chuyện Cấm

►Bộ Chính Trị, và Thành Uỷ Hà Nội đang lo sợ bị lật đổ, công an và bộ đội diễn tập chống bạo động, bỏ mặc cho nền kinh tế èo uột và lũ lụt xảy ra ở Miền Trung ra sao thì ra

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►CA đột nhập giữa khuya, Nhà Thờ Thái Hà rung chuông báo động, giáo dân kéo đến bao vây và khóa cổng nhà thờ, hoảng sợ Giám đốc CA Hà Nội đã gọi điện nói: sẽ rút quân bên ngoài nhà thờ, và xin Linh mục mở cửa cho đoàn công tác ra về

Posted by hoangtran204 trên 23/03/2014

Báo động: CA Hà Nội vây hãm Thái Hà, con gái Bùi Hằng bị bắt cóc

CTV Danlambao

22-3-2014

Khoảng 30 công an, dân phòng mặc sắc phục đột nhật vào khuôn viên nhà thờ Thái Hà ( Ảnh: Facebook Lê Thị Phương Anh) 

Cập nhật: 

– Thái Hà rung chuông báo động, CA kéo đến vây hãm nhà thờ mỗi lúc một đông

– 23h15, công an mang thang đến nhà thờ, bắc loa đe dọa: “Nếu ông Phượng không mở cổng cho đoàn công tác ra, chúng tôi sẽ dùng biện pháp cưỡng chế”

_Lúc 23g30: VRNs tại Hà Nội cho biết, trước tình hình căng thẳng, ông Giám đốc công an thành phố Hà Nội đã gọi điện cho linh mục Phượng nói họ sẽ rút quân bên ngoài nhà thờ và xin Linh mục cho đoàn công tác ra về.

Theo tin khẩn báo gửi đến Danlambao, tối ngày 22/3/2014, một thánh lễ cầu nguyện cho Công lý Hòa Bình và cho 3 người bị bắt tại Lấp Vò (Đồng Tháp) đã được diễn ra tại nhà thờ Thái Hà. Sau khi thánh lễ vừa kết thúc, hàng chục công an sắc phục và dân phòng đủ loại đã lập tức kéo đến bao vây nhà thờ Thái Hà. Hiện tại, Lúc 21h tối, khoảng 30 công an đã đột nhập vào bên trong khuôn viên nhà thờ để quấy phá.

Chị Đặng Thị Quỳnh Anh (con gái Bùi Hằng) đã bị CA Hà Nội chặn đường bắt cóc sau khi tham dự thánh lễ. Được biết, cùng bị bắt với Quỳnh Anh còn có chồng và con nhỏ 7 tháng tuổi.

Cùng ngày, nhà riêng của anh Bạch Hồng Quyền cũng bị CA kéo đến bao vây, khám xét. AnhTrương Văn Dũng thì bị 4 tên công an bịt mặt chặn đường, dùng tuýp sắt đánh gãy chân, vỡ mặt… Trước đó, blogger Trịnh Anh Tuấn (Facebook Gió Lang Thang) cũng đã bị 3 viên công an thường phục chặn đường đánh đổ máu sau khi tham gia buổi cà-phê nhân quyền diễn ra hôm 20/3/2014.

Toàn bộ các cuộc đàn áp khốc liệt diễn ra trước thời điểm gia đình Bùi Hằng kêu gọi tham gia biểu tình đòi trả tự do cho mẹ. Cuộc biểu dự kiến sẽ diễn ra tại Bờ Hồ, vào lúc 09 giờ sáng chủ nhật, ngày 23/3/3014.

 

Chị Đặng Thị Quỳnh Anh (trái) và Trần Bùi Trung (phải) cầm biểu ngữ đòi trả từ do cho mẹ. 

Lúc 08h45 phút, chị Đặng Thị Quỳnh Anh đã gọi điện thoại cho em trai mình là Trần Bùi Trung, thông báo rằng vợ chồng chị cùng con gái 7 tháng tuổi đang bị giam giữ tại trụ sở CA phường Tràng Tiền (Số 2, Cổ Tân, Phường Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Số điện thoại: (84-4) 38 255 538 – 39 341 569 (84-4) 38 255 538 – 39 341 569).

Facebook Ngọc Nhi Nguyễn cho biết: “Trần Bùi Trung đã gọi cho công an trực ban nhưng người này chối là không bắt giữ ai nên em đã lên đường đến tận nơi để đòi thả chị gái cùng cháu của em ra. Trung cho biết nếu công an không chịu thả người thì em sẽ đứng giăng biểu ngữ ngoài cổng cho đến khi nào pháp lý được thực thi. Trung nhắn lại trên FB của mình “Bây giờ tôi sẽ giăng băng rôn biểu tình trước cổng công an phường Tràng Tiền đòi người. Nếu tôi mất tích hay chết, nhờ bạn bè người quen chia sẽ rằng gia đình tôi chết bởi công an Việt Nam.

…Chúng ta hãy cùng nhau lên tiếng chất vấn công an phường Tràng Tiền sao có thể làm ăn tắc trách, coi thường luật pháp như vậy và yêu cầu phải thả chị Quỳnh Anh cùng cháu bé ra lập tức. Cháu bé vô tội và trẻ em cần được yên tĩnh nghỉ ngơi và tối thế này thì cần phải ngủ. Làm cho bé sợ hãi gây tổn thương tinh thần và tâm lý không những là trái pháp luật mà còn là vô nhân đạo!”

 

Khuôn mặt những viên công an quấy phá nhà thờ Thái Hà (Ảnh: Facebook Thúy Nga) 

Cập nhật: Nhà thờ Thái Hà rung chuông báo động, giáo dân kéo đến đóng cổng

Trước hành vi quấy phá của công an giữa đêm khuya, nhà thờ Thái Hà đã rung chuông báo động khẩn cấp. Giáo dân sau đó đã lập tức kéo đến bao vây, đóng cổng nhà thờ.

Hiện tại, một nhóm công an sắc phục và côn đồ bên trong đang bị mọi người lập biên bản về hành vi xâm phạm và quấy phá nơi linh thiêng.

Bên ngoài, khoảng 50 công an sắc phục tiếp tục vây hãm nhà thờ Thái Hà.

Theo Facebook linh mục Đinh Hữu Thoại, vào lúc 23g00, công an đang gọi loa yêu cầu nhà thờ mở cổng để công an vào ‘làm việc’.

Hiện tại đang có 2 xe công an đứng trước cổng nhà thờ, công an được tăng cường. Máy quay, máy chụp hình của công an đang tăng cường.

Pháp luật nào cho phép công an giữa đêm kéo quân ô hợp xuống uy hiếp linh mục và giáo dân?

Lúc 23h15, công an mang thang đến, bắc loa đe dọa: “Nếu ông Phượng không mở cổng cho đoàn công tác ra, chúng tôi sẽ dùng biện pháp cưỡng chế” (Theo Facebook linh mục Đinh Hữu Thoại)

Lúc 23g30: VRNs tại Hà Nội cho biết, trước tình hình căng thẳng, ông giám đốc công an thành phố Hà Nội đã gọi điện cho linh mục Phượng nói họ sẽ rút quân bên ngoài nhà thờ và xin Linh mục cho đoàn công tác ra về. Phía ngoài nhà thờ công an đã tạm rút lui ra công viên và đưa thang và 2 chiếc xe ra công viên. Bên trong công an nhất định không kí biên bản.

Trước lời đề nghị của ông giám đốc công an thành phố Hà Nội, linh mục và giáo dân đã thả cho 3 công an và 2 dân phòng ra về.

Giáo dân cho biết ngoài công viên xe cảnh sát 113 tới rất đông.

*Theo tin từ Facebook anh Nguyễn Bắc TruyểnVừa nói chuyện với Quỳnh Anh, Quỳnh Anh bị “làm việc” về chuyện đưa đơn tại bộ Công an (?). Em bé gái 7 tháng tuổi đang khóc vì khát sữa. Cha Mẹ chồng của Quỳnh Anh cũng đã có mặt tại đồn công an cùng với cháu bé trai 5 tuổi.

Quỳnh Anh không biết khi nào được thả.

23:59 ngày 22/3

 

Các giáo dân thắp nến cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình (Ảnh Thúy Nga)

Lực lượng công an đã rút ra khỏi nhà thờ (ảnh Thúy Nga)
* Tin đang cập nhật

** Theo tin FB Nguyễn Lân Thắng: anh Trương Văn Dũng bị côn đồ hành hung rất dã man, chúng dùng tuýt sắt vụt vào chân, lấy giày đạp vào mặt… Đang cấp cứu ở khoa Ngoại BV Bạch Mai, vào từ phía cổng Lê Duẩn rẽ trái 100m

Hình ở đây https://www.facebook.com/nkmh2011/posts/10152238325898808

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

►Cướp được mồi ngon thế thì làm sao mà từ bỏ được- Thủ tướng: “Đảng không bao giờ bỏ chức năng lãnh đạo kinh tế”

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2014

Ha ha. Cướp được mồi ngon thế thì làm sao mà từ bỏ được.

Thủ tướng: ‘Đảng không bao giờ bỏ lãnh đạo nền kinh tế’

20-3-2014

“Quyết định tái lập Ban Kinh tế là cần thiết. Đảng không bao giờ bỏ chức năng lãnh đạo kinh tế”, Thủ tướng phát biểu tại cuộc làm việc với Ban Kinh tế Trung ương ngày 19/3.

Hơn một năm sau khi được tái lập, sáng 19/3, lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có cuộc làm việc tại trụ sở Ban Kinh tế Trung ương. Từng có thời gian lãnh đạo cơ quan này, Thủ tướng khẳng định việc tái lập là cần thiết vì Đảng lãnh đạo kinh tế, lãnh đạo toàn xã hội, nhà nước.

“Đảng không bao giờ bỏ chức năng lãnh đạo kinh tế. Mấy năm vừa rồi không có Ban Kinh tế song chức năng tham mưu, đề xuất, giám sát kinh tế vẫn giao cho Văn phòng Trung ương Đảng. Khi đó, nhận thức muốn gọn bộ máy mới giao cho Văn phòng chứ không phải bỏ”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Thực tế, điều này thể hiện qua tính liên tục của đội ngũ cán bộ khi có khoảng 40 người từ Văn phòng trung ương Đảng trong tổng số hơn 100 nhân sự của Ban Kinh tế Trung ương.

Đánh giá cao kết quả hoạt động sau một năm, theo Thủ tướng, để làm tốt hơn chức năng của mình, Ban Kinh tế cần chủ trì huy động các cơ quan, nhà khoa học tâm huyết hiến kế; từ đó tổng hợp ý kiến, kiến nghị với Bộ Chính trị. Về phần mình, Chính phủ luôn hết sức ủng hộ và chủ động phối hợp. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu phải có quy chế phối hợp giữa Ban với các cơ quan của Đảng, mặt trận đoàn thể, đặc biệt là cơ quan của Chính phủ.

 

Ông Vương Đình Huệ tặng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bức ảnh chân dung thời kỳ Thủ tướng làm Trưởng Ban Kinh tế Trung ương (1997-1998). Ảnh: Ban Kinh tế trung ương.

 

Trước đó, phát biểu tại cuộc làm việc, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ đã đề nghị Thủ tướng chỉ đạo các bộ ngành, địa phương để Ban Kinh tế tham gia vào các đề án, chương trình ngay từ đầu. Những lần phối hợp vừa qua theo đánh giá của Ban Kinh tế là đã cho kết quả tốt.

Ông Huệ cũng mong được Thủ tướng dành thời gian làm việc với Ban để chỉ đạo công tác những vấn đề lớn trong việc hoạch định chính sách kinh tế – xã hội.

Buổi làm việc cũng ghi nhận nhiều ý kiến liên quan đến nội dung sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Văn Trung cho biết, hiện đã có báo cáo sơ kết 5 năm và lấy ý kiến 45 bộ ngành địa phương.

Ông Trung cho hay, về cách tiếp cận, đánh giá còn chưa đủ sâu mà cần phải lội ngược lại cả quá trình, bởi tất cả các mô hình mới đều có trong đời sống thực tế trước. Cách tổng kết theo ông vì thế cũng phải bắt đầu từ thực tế.

Lấy dẫn chứng từ việc quản lý giá xăng dầu, giá điện, ông Trung cho là cực kỳ gian nan, có tác động lớn đến đời sống, nhưng phải làm và chọn thời điểm, cách làm. Tương tự đó là vấn đề về đất đai…

“Chúng ta đã lo cho lợi ích số đông, lợi ích người lao động, lo cho nhiều mảng xã hội thì phải làm rõ tính chất xã hội chủ nghĩa ở chỗ nào, nhiều nước cũng làm như vậy, không riêng gì Việt Nam”, ông Trung chia sẻ.

Còn theo Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Nguyễn Xuân Thắng, lúc này là thời điểm để có nhìn nhận đánh giá tổng kết lại 30 năm đổi mới, thay đổi tư duy trong nhận thức phát triển. “Đây là cơ hội chứ không phải là lo ngại. Về địa phương có nhiều ý kiến chói tai thì phải có lập luận khoa học, thực tiễn để giải thích”, ông Thắng nói.

Theo Thủ tướng, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là con đường mới, chưa có ai vạch sẵn mà phải vừa thiết kế, thi công… Vì vậy, sơ kết phải làm rõ, làm sâu sắc.

Chia sẻ băn khoăn với Thứ trưởng Nguyễn Văn Trung, Thủ tướng khẳng định, kinh tế thị trường mà giá xăng dầu vẫn bao cấp thì không thể được. Còn người nghèo thì còn chính sách hỗ trợ. Chính phủ cách đây ít ngày cũng vừa bàn giá bán lẻ điện.

“Đây không phải là bao cấp mà là chính sách xã hội. Nhưng EVN phải công khai minh bạch đầy đủ giá thành. Chúng ta tạm thời chấp nhận độc quyền tự nhiên thì phải công khai minh bạch”, Thủ tướng nêu và đặt câu hỏi thêm với các giá dịch vụ thiết yếu khác như y tế, giáo dục liệu có nên tiếp tục giữ giá thấp rồi cùng thiếu thốn, khó khăn. Trong khi đó, nhiều gia đình vẫn cho con em đi học nước ngoài dù học phí cao.

“Tổng kết phải làm rõ mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chứ nay muốn tăng giá theo giá thành là khó lắm. Nhiều nơi thiếu người giỏi vì mức lương thấp, cần có cải cách không, hay mãi duy trì sự cào bằng”, Thủ tướng chốt lại.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Tới đây, Nhà nước, bộ ngành có tiếp tục làm chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước không? Chắc chắn rồi, không lẽ giao cho nước ngoài? Nhưng giao cho các bộ thì việc ra chính sách lại không công bằng, còn lập ra một bộ thì không thể quản nổi. Vì thế, phải chọn ra giải pháp là đẩy nhanh cổ phần hoá hệ thống doanh nghiệp nhà nước, giảm bớt vốn Nhà nước để làm nhẹ dần vai trò các bộ rồi tính tiếp để thiết kế cơ quan phù hợp”.

Nguyễn Hưng

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

►Điều 258 đặt trong một thể chế luôn vỗ ngực xưng tụng tự do, dân chủ thì các giá trị đó thực chất chỉ là những chiếc bánh vẽ!

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2014

Điều 258

19-3-2014

Lê Nguyễn Hương Trà (Cô Gái Đồ Long)

Một buổi sáng, tui nhận được giấy của phòng A.25 mời lên B.34 của Bộ Công An (237Nguyễn Văn Cừ, Quận1). Tới đây, ngoài hai an ninh chuyên trách báo chí – xuất bản – thông tin còn có thêm hai anh bên phòng điều tra hình sự C45B. Làm việc và cãi cọ một chặp, rồi một người lôi trong cặp ra quyển sách dày cộm, lật lật chỉ tay vô nói tui vi phạm điều này và kêu đọc đi! 

“Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân: Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnhcáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. 

Không khí lúc đó rất căng thẳng, nhưng tự dưng bị…vzô duyên, tui cười hì hì nói: “Ui anh ơi…điều này có thể bắt tù dễ dàng hàng trăm người!”. Ai dè làm việc tới tối thì bị giữ hổng được về thiệt. Ở lại tới 3 tháng, biệt giam. Đó là thời điểm gần cuối 2010, đến nay đã thêm nhiều blogger bị bắt vì điều 258.

 

+ Khu tạm giam B.34 nhìn từ ngoài đường Nguyễn Văn Cừ. 

Sáng nay 19.3, tòa án Nhân dân TP. Hà Nội vừa tuyên án nhà văn, blogger Phạm Viết Đào 15 tháng tù.

Cách đây vài tuần, tòa án Nhân dân TP. Đà Nẵng cũng tuyên án nhà báo Trương Duy Nhất 2 năm tù giam trong một phiên xử ngắn ngủi.

Mới tuần trước, tòa án Nhân dân Tuyên Quang tuyên án Hoàng Văn Sang – người H’Mông, 18 tháng tù. Ông bị bắt với một số người khác sau khi cùng một đoàn người H’ Mông các tỉnh biên giới Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng xuống Hà Nội kêu cứu vì bị chính quyền địa phương đàn áp việc thay đổi tập tục, thói quen sinh hoạt cũ.

Ba trường hợp xét xử mới nhất này, đều phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ”.

Sau khi nghe kết quả phiên xử nhà văn Phạm Viết Đào xong, tui gọi cho một bạn luật sư: “Nè, anh là người hành nghề luật, thử phân tích nghe về 258 coi!”

Ảnh kêu đang bận trong tòa, rồi tối mail cho vầy:

“258 rất rõ ràng, cụ thể nhưng khó hiểu thậm chí là không thể hiểu. Bởi để xác định được như thế nào là lợi dụng, là xâm phạm thì chỉ có thể định tính mà không thể định lượng. Mà định tính chắc chắn ảnh hưởng bởi cảm tính. Vì lẽ đó, khá nhiều trường hợp thời gian qua, khi không áp được vào tội danh nào thì sẽ 258 tất tật. 

Tội phạm này muốn cấu thành phải có 2 hành vi là “Lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng….” và sử dụng để “xâm phạm lợi ích Nhà nước, nhà nước, công dân…” thì mới được xem là đủ. Chính vì sự định tính nêu trên mà khi truy cứu trách nhiệm hình sự, các cơ quan tố tụng chỉ căn cứ vào nhận định, đánh giá riêng của mình cùng với một số nghiệp vụ để quy buộc, áp đặt và định hướng để đối tượng bị xử lý phải chấp nhận đã có hành vi như quy định của điều luật. Từ đó xét xử và tuyên phạt. 

Cho đến nay, giới làm luật cũng chưa hề có bất kỳ hướng dẫn dưới Luật nào từ các cơ quan có thẩm quyền về xác định, giải thích hay cụ thể hóa hành vi của tội danh này.” 

Điều 258 quả ám ảnh cho bất kỳ một công dân Việt Nam nào, nhất là những blogger phản biện chính trị – xã hội, và những người đang có những hoạt động đòi công bằng, nhân quyền trên lãnh thổ đã gần 40 năm hòa bình, thống nhất.

Điều 258 đặt trong một thể chế luôn vỗ ngực tụng xưng tự do, dân chủ thì các giá trị đó thực chất chỉ là những chiếc bánh vẽ!

Lê Nguyễn Hương Trà

 ———–

Điều 258 được dùng để đàn áp người dân tộc thiểu số H’Mông

Hơn 1000 người Dân tộc H’Mông nhịn ăn, đi tham dự phiên tòa của ông Lý Văn Dinh và ông Dương Văn Tu

VRNs (20.03.2014) – Tuyên Quang – Sáng nay, diễn ra phiên tòa sơ thẩm của 2 người Dân tộc H’Mông là ông Lý Văn Dinh và ông Dương Văn Tu. Hai ông bị quy kết vào Điều 258 BLHS với tội danh “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Vào lúc 15 giờ 30, qua điện thoại, anh Lý Văn Anh, một trong những người đang có mặt trước cổng tòa án hốt hoảng: “Bà con đi tham dự phiên tòa rất ôn hòa. Tự nhiên, công an xịt hơi cay vào 2 cô gái, đánh và bóp cổ em của tôi bị tím hết. Công an dùng gậy kích điện và gậy để đánh đập người dân. Công an đã bắt 4 – 5 người đi rồi.”

Anh Lý Văn Súa, con trai ông Lý Văn Dinh tham dự và được ủy quyền dịch từ tiếng Việt qua tiếng H’Mông trong phiên xử sáng nay. Anh Lý Văn Súa kể lại diễn biến bên trong phiên tòa: “Thẩm phán [xoay chung quanh hai vấn đề chính. Thứ nhất] thẩm phán hỏi các bị can, hai bị can có [xây cất] ngôi nhà bảo quản đồ tang lễ cho bà con hay không? Hai bị cáo nói trước tòa án, trong thời gian điều tra, những lời khai hoàn toàn do cán bộ trại giam đọc cho hai ông viết và bắt buộc hai ông phải ký vào các biên bản đó. Họ ép buộc hai ông ký và là người đứng đầu tổ chức xây dựng ngôi nhà tang lễ cho bà con.

Sáng nay có hai Luật sư tham gia bào chữa cho hai ông Lý Văn Dinh và ông Dương Văn Tu. Anh Lý Văn Súa cho biết: “Có Luật sư Trần Thu Nam, Trưởng Văn phòng luật sư Tín Việt và cộng sự, và Luật sư Đỗ Đình Huy, thuộc Trung tâm Trợ lý Pháp lý huyện Hàm yên, tỉnh Tuyên Quang.”

Anh Lý Văn Súa cho biết có hơn 1000 người Dân tộc H’Mông đi tham dự phiên tòa: “Theo thông tin tôi nắm được, nhiều bà con Dân tộc H’Mông đã bị chặn trên đường đi nên họ phải quay về làng.”

Sáng nay vào lúc 6 giờ 30, hơn 1000 người xuất phát từ Thôn Ngòi Sen, huyện Hàm Yên, Tuyên Quang và biểu tình đòi trả tự do cho hai ông. Khi đoàn đến địa điểm Km 64 thuộc huyện Hàm Yên có cảnh sát cơ động, các ban ngành… chặn, giựt tất cả các khẩu hiệu của bà con nhưng bà con tiếp tục đi, hô khẩu hiệu trả tự do cho hai ông… Nhà cầm quyền rất sợ những khẩu hiệu của bà con, cấm bà con không được hô, nhưng bà con vẫn hô. Tại trước cổng tòa án họ cấm bà con không được hô hào, không được quay phim, chụp hình. Hiện tại, có 2 người dân tộc H’Mông bị bắt nhưng tôi chưa nắm rõ thông tin của hai người này thế nào.”

Anh Súa cho hay tất cả bà con Dân tộc H’Mông nhịn ăn đi tham dự phiên tòa và biểu tình đòi buộc nhà cầm quyền trả tự do cho ông Lý Văn Dinh và Dương Văn Tu: “Bà con H’Mông biết rất rõ hai ông này không có tội. Vì phong tục đổi mới của bà con Dân tộc H’Mông trên 4 tỉnh phía Bắc đổi mới theo đúng chính sách của Đảng là đổi mới, sống văn minh, bỏ những phong tục lạc hậu. Nên bà con cho rằng, những người này bị oan ức nên họ quyết định xuống đường đòi trả tự do cho hai ông rất đông, nhiệt tình và đoàn kết. Bà con đã nhịn đói một ngày để đi tham dự phiên tòa và đi biểu tình.”

Trước khi đi tham dự phiên tòa, bà con đã có buổi cầu nguyện cho phiên tòa cầu và cho những người đi tham dự phiên tòa được bình an. Anh Dũng, một trong những người đi tham dự phiên tòa nói: “Cầu nguyện cho nhà cầm quyền thả tự do cho những người Dân tộc H’Mông bị bắt cũng như cho các tù nhân lương tâm khác. Cầu nguyện cho những người đi tham dự phiên tòa đi đến nơi về đến chốn.”

Được biết, ông Dương Văn Tu bị bắt cóc vào ngày 10.10.2013, sau đó 3 ngày công an mới thông báo cho gia đình biết ông bị tạm giam. Trường hợp của ông Lý Văn Dinh bị bắt cóc tương tự như vậy nhưng vào ngày 19.11.2013.

Như VRNs chúng tôi loan tin, đã có tất cả 8 người Dân tộc H’Mông sống tại hai tỉnh Cao Bằng và Tuyên Quang bị bắt giam và bị quy kết vào Điều 258 BLHS.

Cách đây mấy ngày, ngày 14.03, ông Hoàng Văn Sang, Dân tộc H’Mông tỉnh Tuyên Quang bị kết án 18 tháng tù giam.

Hồi ngày 18.03, phiên tòa sơ thẩm xử ông Thào Quán Mua bị hoãn lại do nguyên đơn dân sự, bà Triệu Thị Bình, Chủ tịch xã Minh Hương bị ốm. Được biết, phiên tòa sẽ tái tục vào ngày 27.03.2014 tới.

Những năm gần đây, bà con Dân tộc H’Mông luôn bị nhà cầm quyền đàn áp, ép bà con đập ngôi nhà tang lễ nhưng bà con kiên quyết bảo vệ ngôi nhà tang lễ cho đến cùng.

Ngôi nhà tang lễ là nơi cử hành các nghi thức tiễn đưa người vừa mới qua đời do ông Dương Văn Mình khởi xướng và thay thế cho phong tục cổ truyền.

HT.VRNs

http://www.chuacuuthe.com/2014/03/hon-1000-nguoi-dan-toc-hmong-nhin-an-di-tham-du-phien-toa-cua-ong-ly-van-dinh-va-ong-duong-van-tu/

 

Photo: Hơn 1000 người Dân tộc H’Mông nhịn ăn, đi tham dự phiên tòa của ông Lý Văn Dinh và ông Dương Văn Tu</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p> “Bà con đi tham dự phiên tòa rất ôn hòa. Tự nhiên, công an xịt hơi cay vào 2 cô gái, đánh và bóp cổ em của tôi bị tím hết. Công an dùng gậy kích điện và gậy để đánh đập người dân. Công an đã bắt 4 – 5 người đi rồi.”</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>VRNs (20.03.2014) – Tuyên Quang – Sáng nay, diễn ra phiên tòa sơ thẩm của 2 người Dân tộc H’Mông là ông Lý Văn Dinh và ông Dương Văn Tu. Hai ông bị quy kết vào Điều 258 BLHS với tội danh “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Vào lúc 15 giờ 30, qua điện thoại, anh Lý Văn Anh, một trong những người đang có mặt trước cổng tòa án hốt hoảng: “Bà con đi tham dự phiên tòa rất ôn hòa. Tự nhiên, công an xịt hơi cay vào 2 cô gái, đánh và bóp cổ em của tôi bị tím hết. Công an dùng gậy kích điện và gậy để đánh đập người dân. Công an đã bắt 4 – 5 người đi rồi.”</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Anh Lý Văn Súa, con trai ông Lý Văn Dinh tham dự và được ủy quyền dịch từ tiếng Việt qua tiếng H’Mông trong phiên xử sáng nay. Anh Lý Văn Súa kể lại diễn biến bên trong phiên tòa: “Thẩm phán [xoay chung quanh hai vấn đề chính. Thứ nhất] thẩm phán hỏi các bị can, hai bị can có [xây cất] ngôi nhà bảo quản đồ tang lễ cho bà con hay không? Hai bị cáo nói trước tòa án, trong thời gian điều tra, những lời khai hoàn toàn do cán bộ trại giam đọc cho hai ông viết và bắt buộc hai ông phải ký vào các biên bản đó. Họ ép buộc hai ông ký và là người đứng đầu tổ chức xây dựng ngôi nhà tang lễ cho bà con.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Sáng nay có hai Luật sư tham gia bào chữa cho hai ông Lý Văn Dinh và ông Dương Văn Tu. Anh Lý Văn Súa cho biết: “Có Luật sư Trần Thu Nam, Trưởng Văn phòng luật sư Tín Việt và cộng sự, và Luật sư Đỗ Đình Huy, thuộc Trung tâm Trợ lý Pháp lý huyện Hàm yên, tỉnh Tuyên Quang.”</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Anh Lý Văn Súa cho biết có hơn 1000 người Dân tộc H’Mông đi tham dự phiên tòa: “Theo thông tin tôi nắm được, nhiều bà con Dân tộc H’Mông đã bị chặn trên đường đi nên họ phải quay về làng.”</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Sáng nay vào lúc 6 giờ 30, hơn 1000 người xuất phát từ Thôn Ngòi Sen, huyện Hàm Yên, Tuyên Quang và biểu tình đòi trả tự do cho hai ông. Khi đoàn đến địa điểm Km 64 thuộc huyện Hàm Yên có cảnh sát cơ động, các ban ngành… chặn, giựt tất cả các khẩu hiệu của bà con nhưng bà con tiếp tục đi, hô khẩu hiệu trả tự do cho hai ông… Nhà cầm quyền rất sợ những khẩu hiệu của bà con, cấm bà con không được hô, nhưng bà con vẫn hô. Tại trước cổng tòa án họ cấm bà con không được hô hào, không được quay phim, chụp hình. Hiện tại, có 2 người dân tộc H’Mông bị bắt nhưng tôi chưa nắm rõ thông tin của hai người này thế nào.”</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Anh Súa cho hay tất cả bà con Dân tộc H’Mông nhịn ăn đi tham dự phiên tòa và biểu tình đòi buộc nhà cầm quyền trả tự do cho ông Lý Văn Dinh và Dương Văn Tu: “Bà con H’Mông biết rất rõ hai ông này không có tội. Vì phong tục đổi mới của bà con Dân tộc H’Mông trên 4 tỉnh phía Bắc đổi mới theo đúng chính sách của Đảng là đổi mới, sống văn minh, bỏ những phong tục lạc hậu. Nên bà con cho rằng, những người này bị oan ức nên họ quyết định xuống đường đòi trả tự do cho hai ông rất đông, nhiệt tình và đoàn kết. Bà con đã nhịn đói một ngày để đi tham dự phiên tòa và đi biểu tình.”</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Trước khi đi tham dự phiên tòa, bà con đã có buổi cầu nguyện cho phiên tòa cầu và cho những người đi tham dự phiên tòa được bình an. Anh Dũng, một trong những người đi tham dự phiên tòa nói: “Cầu nguyện cho nhà cầm quyền thả tự do cho những người Dân tộc H’Mông bị bắt cũng như cho các tù nhân lương tâm khác. Cầu nguyện cho những người đi tham dự phiên tòa đi đến nơi về đến chốn.”</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Được biết, ông Dương Văn Tu bị bắt cóc vào ngày 10.10.2013, sau đó 3 ngày công an mới thông báo cho gia đình biết ông bị tạm giam. Trường hợp của ông Lý Văn Dinh bị bắt cóc tương tự như vậy nhưng vào ngày 19.11.2013.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Như VRNs chúng tôi loan tin, đã có tất cả 8 người Dân tộc H’Mông sống tại hai tỉnh Cao Bằng và Tuyên Quang bị bắt giam và bị quy kết vào Điều 258 BLHS.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Cách đây mấy ngày, ngày 14.03, ông Hoàng Văn Sang, Dân tộc H’Mông tỉnh Tuyên Quang bị kết án 18 tháng tù giam.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Hồi ngày 18.03, phiên tòa sơ thẩm xử ông Thào Quán Mua bị hoãn lại do nguyên đơn dân sự, bà Triệu Thị Bình, Chủ tịch xã Minh Hương bị ốm. Được biết, phiên tòa sẽ tái tục vào ngày 27.03.2014 tới.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Những năm gần đây, bà con Dân tộc H’Mông luôn bị nhà cầm quyền đàn áp, ép bà con đập ngôi nhà tang lễ nhưng bà con kiên quyết bảo vệ ngôi nhà tang lễ cho đến cùng.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Ngôi nhà tang lễ là nơi cử hành các nghi thức tiễn đưa người vừa mới qua đời do ông Dương Văn Mình khởi xướng và thay thế cho phong tục cổ truyền.</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>HT.VRNs</p><br /><br /><br /><br /><br />
<p>http://www.chuacuuthe.com/2014/03/hon-1000-nguoi-dan-toc-hmong-nhin-an-di-tham-du-phien-toa-cua-ong-ly-van-dinh-va-ong-duong-van-tu/

Hai người H’Mông vẫn bị tù, dù tòa không chứng cớ 
Thursday, March 20, 2014 6:17:02 PM

TUYÊN QUANG (NV) .- Thêm hai người sắc tộc H’mông bị kết án tù ở tỉnh Tuyên Quang chỉ vì theo đạo ‘Dương Văn Mình’ nhưng bị kết tội là “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ”.

Ngày 20/3/2014 hàng ngàn người H’mông từ 4 tỉnh miền núi phía bắc đã đổ về huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang với biểu ngữ đòi trả tự do cho hai ông Dương Văn Tu và Lý Văn Dinh bị lôi ra tòa. Tuy họ bị  chận từ xa nhưng cuối cùng cũng có một số tiến đến gần được tòa án, chấp nhận bị đánh đập, hành hung cả bằng dùi cui, hơi cay.

Theo luật sư Trần Thu Nam biện hộ cho họ, dù tòa án không trưng ra được các chứng cớ nhưng vẫn ngang nhiên kết án ông Lý Văn Dinh, 51 tuổi, 15 tháng tù giam và ông Dương Văn Tu, 47 tuổi, 21 tháng tù giam theo điều 258 Bộ Luật Hình Sự cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm hại lợi ích nhà nước…”

Ông Lý Văn Dinh bị bắt ngày 19 tháng 11 năm 2013 và ông Dương Văn Tu bị bắt ngày 10 tháng 10 năm 2013, đều là người dân tộc H’Mong, trở về nhà sau khi cùng hàng trăm người H’mông khác về Hà Nội khiếu nại với nhà cầm quyền trung ương rằng họ bị nhà cầm quyền các tỉnh đàn áp, đi ngược chính sách của nhà nước.

Hai ông vừa kể là một số khoảng 8 người Hmông bị bắt sau khi từ Hà Nội trở về. Trong số đó, ông Hoàng Văn Sang, 50 tuổi, đã bị tòa án tỉnh Tuyên Quang kết án 18 tháng tù giam ngày 14/3/2014 vừa qua, cùng một tội danh theo điều 258 Luật Hình Sự. Một số người nữa có thể bị lôi ra xử án những ngày sắp tới như các ông Thào Quán Mua, Lý Văn Hầu, Hoàng Văn Páo.

“Quan điểm bào chữa của Luật sư cho hai ông là vô tội, yêu cầu [Hội đồng xét xử] đưa ra bằng chứng để chứng minh hai ông này có tội nhưng [Hội đồng xét xử] hoàn toàn không có [bằng chứng]. Theo bản thân tôi, thực sự, nếu tòa án nhân dân này thực hiện đúng trình tự của pháp luật thì hai ông hoàn toàn không có tội. Theo các nhân chứng có nghĩa vụ và liên quan thì họ chứng minh hai ông không có tội. Nếu có, hai ông chỉ vi phạm hành chính về việc không có giấy phép xây dựng ngôi nhà bảo quản đồ tang lễ. Nhưng [Hội đồng xét xử] cho rằng, hai ông xúi giục bà con xây dựng ngôi nhà tang lễ nên họ quyết định bắt giam.” Anh Lý Văn Súa, con trai ông Lý Văn Dinh tường thuật về phiên tòa trên trang mạng Chúa Cứu Thế.

Theo các nguồn tin khác nhau, Công an đã hành hung bằng gậy gộc, roi điện, xịt hơi cay và bắt đi nhiều người biểu tình đòi trả tự do cho hai ông Lý Văn Dinh và Dương Văn Tu. Một video clip phổ biến trên trang mạng Dân Làm Báo cảnh Công an đàn áp, đánh người biểu tình mà một số người bị xỉu, một số người bị trọng thương.

Nguyên ủy của vấn đề là người sắc tộc H’mông ở các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên và Cao Bằng đã theo một hình thức tôn giáo mới gọi là “đạo Dương Văn Mình” dựa vào tín lý đạo Thiên Chúa suốt từ nhiều chục năm qua. Ông Dương Văn Mình là người khởi xướng hình thức tôn giáo đó khoảng 25 năm trước, hiện đang bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ.

Theo đạo mới, người H’mông từ bỏ nhiều hủ tục như lấy vợ lấy chống quá sớm, giản dị hóa nghi thức và chôn cất người chết một ngày sau trong hòm ván chứ không để xác chết treo trong nhà 7 ngày 7 đêm, bón cơm cho người chết, giết bò giết trâu làm tiệc ăn uống linh đình tốn kém rồi mới vác xác chết đi chôn không có quan tài.

Theo đạo mới, người H’mong ở xã Hùng Lợi đã xin phép nhà cầm quyền để họ lập một nhà tang lễ nhỏ, “chỉ có mấy mét vuông” làm nơi để quàng xác của người quá cố và một số đồ thờ cúng. Nhà cầm quyền địa phương không cấp phép, nhưng dân Hmông vẫn cứ làm. (coi phim dưới bài này)

Tuy nhiên, theo luật sư Nam, ông Hoàng Văn Sang đã bị kết án cũng như hai ông Lý Văn Dinh và Dương Văn Tu, cũng chỉ là một trong những người theo “đạo Dương Văn Mình” và việc góp tiền làm nhà tang nhỏ bé đó là một người tự nguyện đóng góp, không phải do ba ông xúi bẩy. Riêng ông Sang chỉ là người mua vật liệu và xây dựng “không có người nào khiếu kiện hay yêu cầu ông Hoàng Văn Sang phải trả lại số tiền đó cả”, có nghĩa không có ai là “bị hại”.

Nếu có sai, tội của họ chỉ là vi phạm thủ tục hành chính về xây cất mà nhiều lắm là nộp một ít tiền phạt vạ. Ngay tại thủ đô Hà Nội và cả Sài Gòn, hàng trăm ngàn ngôi nhà xây dựng không phép hay xây không đúng thiết kế khai báo thêm nhiều tầng, không thấy ai bị kết án tù. Một cái “nhà hòm” nhỏ bé giữa rừng mà lại coi là chuyện lớn rồi bắt người ta bỏ tù.

Trong một chỉ thị của tỉnh Yên Bái trước đây gửi cho các địa phương “vận động đồng bào dân tộc H’Mông thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang, việc cưới giai đoạn 2013-2015, chỉ trích “các tập tục không phù hợp với nếp sống văn minh như không đưa người chết vào quan tài, tổ chức đám tang rườm rà, lộn xộn, tốn kém”nhờ vậy đã khiến người H‘Mông “rút ngắn thời gian tổ chức đám tang (từ 6 – 7 ngày xuống còn 3 – 4 ngày), đưa thi hài vào hòm trong vòng 12 tiếng, chôn cất trong vòng 24 tiếng và giảm việc giết mổ nhiều trâu bò.”

Việc kết án tù ba ông Hoàng Văn Sang, Dương Văn Tu và Lý Văn Dinh cũng như giam giữ người sáng lập “đạo Dương Văn Mình” cho người ta thấy nhà cầm quyền CSVN nói và làm ngược nhau, vi phạm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng mà hiến pháp chế độ công nhận. Trong đơn thư của người sắc tộc Hmông gửi nhà cầm quyền trung ương CSVN hồi năm ngoái, họ tố cáo nhà cầm quyền các tỉnh ép buộc họ quay lại với các hủ tục bị coi là không văn minh tiến bộ. (TN)

*Theo Trần Hoàng, thực chất là đảng CSVN đã ghen ghét bất cứ ai có khả năng chinh phục và thu hút cảm tình của dân chúng. Ông Dương Văn Mình là người đã thuyết phục được đa số người H’Mông xây nhà tang lễ để quàng xác người chết, bỏ hủ tục để xác chết trong nhà và bón cơm cho xác chết cả tuần lễ (theo phong tục của người H’Mông). Ông Dương Văn Mình thuyết giảng cho người H’Mông theo tập tục chôn cất theo kiểu mới (lập 1 nhà tang lễ nhỏ, và quàng xác người chết tại đó, sau đó đem chôn cất trong vòng 1-2 ngày), hợp vệ sinh, tránh bệnh tật, và làm cho gia đình người chết không phải mang nợ vì phải giết trâu bò cúng tế người chết đãi ăn dân làng cả tuần…Bọn chính quyền địa phương và trung ương rất tức tối, ghen tức việc làm của ông Dương Văn Mình, nên đã bắt ông ta đi tù. Nay, công an và tòa án xử tù  Hoàng Văn Sang, Dương Văn Tu và Lý Văn Dinh, là những người đã làm nhà tang lễ theo lời giảng của ông Dương Văn Mình. 

Chuyện này tương tự như có nhóm Việt kiều ở Âu châu đã thực hiện xây hơn 250 cây cầu nhỏ ở Miền Tây từ 1993- đến nay. Họ hùn nhau góp tiền mua vật liệu xây dựng, vẽ kiểu mẫu, thuê thợ xây hơn 250 cây cầu nhỏ bắt qua các kênh lạch cho dân chúng miền Tây tiện đi lại. Sau khi xây cầu xong, thì đảng ủy và chính quyền huyện, xã, xuống đọc diễn văn khai mạc cây cầu làm như bọn chúng bỏ tiền ra xây, để dân chúng mang ơn đảng và nhà nước! Biết thế là không đúng, nhưng nhóm Việt Kiều phải vui cười, vỗ tay, nhẫn nhịn, miễn sao dân chúng có được cây cầu để bớt khổ, còn bọn khả ố muốn đọc diễn văn kể công trạng của chúng về việc xây cầu ra sao thì mặc xác.

Cũng như có nhiều công ty làm ăn khấm khá, mua vài chục computer biếu tặng nhiều trường trung học cơ sở (lớp 6-lớp 9) ở Miền Tây, nhưng mỗi lần đem computer đến bàn giao cho nhà trường, thì bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND Xã đến dự, đọc diễn văn dài dằng dặc và làm cho học sinh tưởng rằng các computer này do huyện ủy, nhà nước biếu cho học sinh, cho trường…Do đó, học sinh phải mang ơn đảng và nhà nước!

Hoặc khi đi cứu trợ, những cá nhân, tổ chức, nhóm người hảo tâm…phải đến xin phép địa phương và thông báo cho (huyện), xã có mặt để bọn này tận tay phát đồ cứu trợ cho đồng bào. Dân chúng nhận đồ cứu trợ ở UBND xã, nên cứ tưởng là do nhà nước giúp đỡ! (Thật ra, bọn chính quyền địa phương sẽ rút rỉa đồ cứu trợ, gọi người nhà của chúng đến lãnh trước, còn dư lại mới đến tay nạn nhân hay người cần được giúp đỡ.)

Công An đập phá nhà tang lễ của người H’Mông 

4-11-2013

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►Kinh khủng! Công an đầu độc thầy Đinh Đăng Định bằng “hóa chất dành cho bón cây được trộn vào nước uống của ông”,

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2014

Nay thầy Định đang sống những ngày cuối cùng với gia đình, lão Trương Tấn Sang viết giấy trả tự do. Nhưng theo Truyền Thông Dòng Chúa Cứu Thế, lệnh đặc xá của ông Đinh Đăng Định được ban hành dựa trên Điều 21 Luật Đặc Xá:”để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước”. Nhiều người tưởng lầm bon này già rồi đổi chứng, nhưng xem Điều 21 thì chả có nhân đạo nước mẹ gì sất!

Nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định chính thức được trả tự do

21-3-2014

Sáng nay cán bộ Tòa án tỉnh Đăk Nông đã đến tư gia nhà giáo Đinh Đăng Định để trao cho ông Giấy chứng nhận đặc xá số 20/CV-TA đề ngày 21/03/2014 của Tòa án tỉnh Đăk Nông, cùng với Quyết định đặc xá số 604/QĐ-CTN của chủ tịch nước Trương Tấn Sang đề ngày 10/3/2014.

Giấy chứng nhận đặc xá ghi: “Ông Đinh Đăng Định… được hưởng các quyền, nghĩa vụ khác như người đã chấp hành xong hình phạt tù”.

Ông Đinh Đăng Định từng là một sỹ quan quân đội Việt Nam trước khi trở thành giáo viên dạy hóa tại trường phổ thông trung học Lê Quý Đôn ở Đăk Nông. Ông bị bắt hồi tháng 10 năm 2011 và bị đưa ra xét xử sơ thẩm ngày 9/8/2012 với bản án 6 năm bị quy kết vào Điều 88 Bộ luật hình sự.

Ngày 21/11/2012 tòa án tỉnh Đăk Nông xử y án và tống ông vào trại giam An Phước, tỉnh Bình Dương.

Mới đây ông cho biết có nhiều khả năng bị đầu độc trong nhà tù khi bị biệt giam và vì ông là một giáo viên môn Hóa học nên nhận diện được mùi của hóa chất dành cho bón cây được đưa vào nước uống của ông.

Ông bị bệnh nặng trong thời gian bị giam tại nhà tù An Phước, nhưng không được đưa đi chữa trị, bất chấp nhiều sự kêu cứu từ bản thân ông và gia đình.

Ngày 15/2/2014 ông được hoãn thi hành án vì bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối.

Ngày 15/3/2014 gia đình ông, dù không phải là Kitô hữu, đã đến Đền Đức Mẹ Hằng Cứu giúp Sài Gòn nằm trên đường Kỳ Đồng tham dự một giờ Hành hương Đức Mẹ và một thánh lễ để cầu nguyện đặc biệt cho ông. Sau đó một ngày gia đình đưa ông bằng xe cấp cứu trở về quê nhà ở Đăk Nông.

Thầy giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định là người đã công khai lên tiếng phản đối dự án bauxite ở Tây Nguyên cũng như kêu gọi đa nguyên- đa đảng cho Việt Nam.

latest_image.jpg

Hình ảnh mới nhất của nhà giáo Đinh Đăng Định

quyetdinhdacxa.jpg


Quyết định đặc xá của chủ tịch nước

giaychungnhandacxa.jpg

Giấy chứng nhận đặc xá của Tòa án tỉnh Đăk Nông

——-

Theo Truyền Thông Dòng Chúa Cứu Thế, lệnh đặc xá của ông Đinh Đăng Định được ban hành dựa trên Điều 21 Luật Đặc Xá: “để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước”:

Điều 21. Người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đang chấp hành hình phạt tù, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà không phụ thuộc vào các điều kiện quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.

Ông Đinh Đăng Định: ‘Lệnh đặc xá không giá trị gì nữa’

Trà Mi-VOA

Việt Nam hôm nay (21/3) trao quyết định trả tự do cho một nhà bất đồng chính kiến đang kiệt sức vì căn bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Quyết định đặc xá do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký ngày 10/3 được Tòa án Đak Nông giao cho ông Đinh Đăng Định, người bị tuyên án 6 năm tù về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ hồi tháng 8/2012 sau các bài viết kêu gọi đa đảng-dân chủ và phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên do Trung Quốc trúng thầu.

Con gái ông Định, cô Đinh Phương Thảo, xác nhận tin này với VOA Việt ngữ:

“Sáng nay lúc 9 giờ, họ đến đọc lệnh đặc xá của Chủ tịch nước cho bố em.” 

Kể từ giữa tháng 2, ông Định được tạm hoãn thi hành án 1 năm vì căn bệnh ung thư dạ dày bước sang giai đoạn 4 sau khi hàng chục đại sứ nước ngoài tại Việt Nam gửi thư cho giới lãnh đạo Hà Nội yêu cầu phóng thích ông trên cơ sở nhân đạo.

Gia đình ông Định cho biết tình hình sức khỏe của ông hết sức kiệt quệ, không còn hy vọng kéo dài sự sống. Ông được đưa về quê hôm 16/03 theo nguyện vọng được nhắm mắt trong vòng tay người thân.

Bấm vào để nghe bài tường trình

Trao đổi với chúng tôi tối ngày 21/3 sau khi nhận tin được trả tự do, ông Định chia sẻ:

“Cảm tưởng của tôi, tôi thấy với cá nhân tôi được hoàn toàn tự do. Còn về ý nghĩa thực, cái lệnh này cũng không mang lại giá trị gì nữa cả bởi vì tôi cũng đã sắp sửa kiệt hết sức rồi.”

Nhà đấu tranh dân chủ Đinh Đăng Định nhất mực phản đối bản án mà ông gọi là bất công. Nói chuyện với VOA Việt ngữ sau khi rời trại giam hôm 17/2, ông khẳng định tội của ông, nếu có, là ‘tội với chế độ độc tài, với chế độ cộng sản cực đoan và rằng việc phóng thích ông không phải là ‘nhân đạo’ hay ‘khoan hồng’ như nhà nước Việt Nam tuyên bố.

Với quyết định trả tự do hôm nay, ông Định một lần nữa lặp lại quan điểm này. Ông nói nếu còn chút hy vọng sống sót, chắc chắn ông sẽ không bao giờ nhận được lệnh đặc xá của Chủ tịch nước:

“Không khoan hồng, không chút nhân đạo gì. Những người quan tâm, xin hãy quan tâm đến phương diện chung đó là cuộc đấu tranh chống độc tài của chế độ cộng sản. Còn cá nhân tôi thì cũng không còn gì để quan tâm nữa.” 

Trong cuộc trao đổi trước với chúng tôi, ông Định cho biết phát hiện bệnh ung thư rất sớm vào tháng 3/2013, nhưng trại kiên quyết không cho đi khám chữa cho tới nửa năm sau khi ung thư bước qua giai đoạn 3.

Qua buổi tiếp xúc hôm 17/2, ông Định kêu gọi quốc tế và các cơ quan giám sát nhân quyền Liên hiệp quốc đến thăm các trại tù Việt Nam để đánh giá thực trạng hồ sơ nhân quyền của Hà Nội, thành viên của Công ước Chống tra tấn Liên hiệp quốc và Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc.

Chính phủ Việt Nam chưa lên tiếng bình luận chính thức về trường hợp của ông Định và những quan ngại từ quốc tế liên quan đến vụ việc của nhà giáo bất đồng chính kiến này, nhưng Hà Nội lâu nay khẳng định không giam cầm tù nhân lương tâm.

http://www.voatiengviet.com/content/ong-dinh-dang-dinh-lenh-dac-xa-khong-con-gia-tri-gi-nua/1876276.html

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Bảo vệ quyền lợi làm ăn và có trách nhiệm với khách hàng

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2014

Một xã hội tốt, một xã hội xấu

nguồn: FB Nguyễn Văn Thạnh

Hôm dự phiên tòa xét xử blogger Trương Duy Nhất xong, chúng tôi thuê một taxi 7 chỗ cho 5 người đi về Lăng Cô. Có một số kẻ lạ mặt, đeo khẩu trang, chạy xe máy bám theo xe quyết liệt. 

Tôi sợ có rắc rối nên có nói cho tài xế taxi biết hiện tình. Tôi nghĩ có thể anh ta sẽ dừng xe, đuổi chúng tôi xuống, từ chối để tránh rắc rối. Thật bất ngờ, anh tài xế nói: “Các anh yên tâm, các anh lên xe em là khách của em. Muốn đụng vô xe, bắt các anh là phải có lệnh, các anh vi phạm pháp luật thì phải chấp nhận. Không không (vô cớ) nhào vô đánh khách em là không được, em sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ các anh. Em phải có trách nhiệm với khách chứ. Em còn giữ tiếng để làm ăn….”

Tôi nghe mà lòng rất vui. Đến nơi chúng tôi trả cho anh 450.000 đồng, nhưng rất hài lòng.

Đất nước này, nếu ai cũng có tinh thần thượng tôn pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ uy tín làm ăn thì xã hội này đâu đến nỗi nát bét như thế này.

Tôi chợt nghĩ đến những vị chủ nhà xua đuổi tôi như đuổi tà, những vị chủ quán đuổi khách như đuổi hủi, thậm chí những thương hiệu lớn như FPT, Viettel,… cũng cuối đầu trước cường quyền.

Dù là lý do gì đi nữa thì chính họ đã góp phần tạo ra một xã hội tồi tệ: luật pháp lỏng lẻo, công lý cong vênh.

Lẽ tự nhiên, chúng ta, ai cũng muốn sống trong một xã hội tốt.

Muốn vậy, mọi người dân đều phải có trách nhiệm sống cho ngay thẳng, bảo vệ công lý, bảo vệ uy tín của mình. Không thể khom lưng trước cường quyền rồi nại lý do này nọ.

Suy cho cùng, một xã hội xấu hay tốt là do chính con người quyết định và cũng chính họ thụ hưởng

nguồn: FB Nguyễn Văn Thạnh

Posted in Cách Ứng Xử của người Việt Nam, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Ai đã đem luận văn của Nhã Thuyên ra ngoài cho ban Tuyên Giáo và báo chí đánh phá, ra lệnh cho ĐHSP Hà Nội tước học vị thạc sĩ Nhã Thuyên, và buộc một Trưởng Khoa về hưu non?

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2014

Cô Đỗ Thị Thoan đã viết luận văn tốt nghiệp thạc sĩ (năm 2010) nói về Nhóm Mở Miệng.

Luận văn của cô được điểm tuyệt đối 10/10 của trường ĐHSP Hà Nội.

Nhưng, mấy tháng gần đây cô đã bị tước mất bằng thạc sĩ, bị mất việc, còn vị giáo sư hướng dẫn luận văn thạc sĩ cho cô thì bị rời khỏi chức trưởng bộ môn, và bị buộc về hưu non. 

Ai đã đào bới chuyện nầy ra? 

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/637716599596858?stream_ref=10

Trên FB, một nhà báo viết: “Ai là người đã ‘tuồn’ luận văn của Nhã Thuyên ra cho NVL (Nguyễn Văn Lưu) ‘đánh’ sau mấy năm đã nằm yên lành trong thư viện?

Câu hỏi này làm nhà cháu băn khoăn bấy lâu và hôm qua, tình cờ được biết là do một ‘nhà văn nhớn’ họ Trần”.

“Nhà văn lớn họ Trần” này sau đó được xác định là Trần Đăng Suyền, nguyên Phó hiệu trưởng trường ĐHSP. Khi Nhã Thuyên bảo vệ luận văn, ông Suyền đang trong Hội đồng khoa học của trường.

Nếu đúng là ông Suyền thì… không lẽ ở trường Sư phạm các thầy lại đối xử với nhau như thế.”

(Coi phần dưới cùng danh sách Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan và “Hội đồng thẩm định” đã quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học vị thạc sĩ của cô ấy.)

Luận văn của cô Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan bị rò rỉ ra ngoài, thế là  Ban Tuyên Giáo Trung ương tìm đọc “Nhóm Mở Miệng”: 

Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Ban Tuyên Giáo trung ương và Lê Thế Kỷ, Trưởng ban Tuyên Giáo Tp Hà Nội.  Hai lão này có lẻ trực tiếp hay gián tiếp ra tay như sau:

-ra lệnh cho Văn Nghệ Tp HCM, Báo Văn Nghệ Hội Nhà Văn, báo Nhân Dân, QĐNH,  và Báo Thanh Tra mở màn đánh phá luận văn của cô Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan (nguồn) (Nhóm “Mở Miệng”: lịch sử văn học đẫm máu sắp lập lại?) (Nhã Thuyên, nạn nhân của nền chính trị hướng dẫn văn học)

-ra lệnh cho Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Hà Nội buộc  PGS TS Nguyễn thị Bình phải thôi việc, và  về hưu non trước thời hạn 5 năm. (Đây là một việc làm trái ngược lại với chuyện cách đó vài tháng:  vào ngày 11- 7- 2012  TS Nguyễn Thị Bình cùng 19 Nhà giáo Trường ĐHSP Hà Nội có tên trong danh sách của Hội đồng xét tặng danh hiệu Nhà Giáo Ưu Tú.)

-Kế đó, ra lệnh cho Trường ĐHSP Hà Nội lập hội đồng đánh giá lại luận văn tốt nghiệp thạc sĩ và rồi tước học vị thạc sĩ của cô Đỗ Thị Thoan. 

Tưởng làm chuyện vụng trộm trong bóng tối thì không ai biết, nhưng Ban Tuyên Giáo đã lầm, tang chứng chỉ đạo sờ sờ ở đây  “Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương“. (xem phiá dưới bài này). 

Ban Tuyên Giáo đã lập kế hoạch khá chu đáo để đánh phá luận văn và tước bằng thạc sĩ của một cô sinh viên độ tuổi 20s viết về các bài thơ của Nhóm Mở Miệng.

Cũng cần nhắc lại rằng Nhóm Mở Miệng do 4 sinh viên miền Nam thành lập năm 2001. Nội dung thơ của họ khá vui nhộn, nhưng làm mếch lòng đảng khá nhiều.  (1) (2)

Không dừng lại ở đó, bọn họ thành lập  nhà Xuất Bản Giấy Vụn, họ chọn giấy in thượng hạng để in sách khiến nhiều tác giả phát ghen, hình bìa sách rất trang nhã, họ in sách bằng photocopy, phát hành từ 2001 cho đến nay, và đếch thèm coi bọn kiểm duyệt của đảng ra gì hết. Cứ thế, mấy chục tác phẩm đều đặn ra đời trong hơn 13 năm qua.

( Đây là tác phẩm mới nhất của họ: TIỂU LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA VÁCLAV HAVEL ĐÃ ĐƯỢC XUẤT BẢN BẰNG TIẾNG VIỆT – Nhà Xuất Bản Giấy Vụn xuất bản  8-1- 2014   (nguồn vanlang.eu) (Nhẻ, vì cuốn sách này ra đời mà bọn đỏ bới ra chuyệncũ để đánh phá Nhã Thuyên? Hay có ai thèm chức khoa trưởng nên xới lại chuyện cũ 2010?)

Dĩ nhiên thơ và việc tự xuất bản không qua kiểm duyệt của Nhóm Mở Miệng hay và hấp dẫn thế kia thì ai mà không mê.

Luận văn thạc sĩ của co Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan ra đời trong hoàn cảnh đó (2010), và ban Tuyên Giáo của đảng CSVN quyết tâm đánh những người phụ nữ VN có đầu óc phóng khoáng trong việc nghiên cứu văn học VN. Cô gặp nạn và giáo sư của cô cũng gặp nạn. 

Nhưng rất nhiều nhà giáo dục phẫn nộ việc làm hèn hạ của ban Tuyên Giáo, bọn báo nô, thơ nô, giáo nô, và bọn nha lại. Họ phản ứng như sau:  

————————-

 

Nói thêm về “Vụ Nhã Thuyên”

3-4-2014

 

Sau khi Học Thế Nào đăng bài Kỳ án Nhã Thuyên, một số bạn đọc mà họ là những nhân vật chứng kiến ít nhiều một số sự kiện liên quan gửi thư tới nhóm biên tập với mong muốn nói lại, nói thêm hoặc bổ sung một số chi tiết mà bài viết đề cập. Học Thế Nào tổng hợp các ý kiến này thành bài viết ngắn dưới đây:

Về sự kiện ngày 27/7/2013

Sau loạt bài phê phán trên báo chính thống, lãnh đạo trường chỉ đạo Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn triệu tập họp hội đồng khoa học khoa (mở rộng) chứ không phải hội thảo khoa học như được gọi tên trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”. Học Thế Nào xin đính chính lại chi tiết này.

Thành phần mở rộng là các giáo sư đã nghỉ hưu, thêm PGS TS Lê Quang Hưng, Chủ nhiệm Khoa Việt Nam học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, tham gia với tư cách phản biện. Không ai ở hội đồng chấm luận văn Nhã Thuyên năm 2010 được mời. PGS TS Nguyễn Thị Bình được mời với tư cách là thành viên hội đồng khoa học của khoa. Tất cả bốn vị Ban Giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội có mặt.

Tại cuộc họp, PGS TS Nguyễn Thị Bình giải trình ngắn gọn một số nội dung, cụ thể:

1/ Nghiên cứu những hiện tượng của đời sống văn học đương đại là nhiệm vụ của Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại.

2/ Luận văn được thực hiện đúng quy trình theo những quy định ở thời điểm đó.

3/ Người hướng dẫn làm việc với học viên theo tinh thần đối thoại chứ không áp đặt.

Sau trình bày của PGS TS Nguyễn Thị Bình là phần nêu ý kiến của ba phản biện (tại cuộc này gọi là ¨đọc sâu¨): GS TS Trần Đăng Xuyền, PGS TS Lê Lưu Oanh, PGS TS Lê Quang Hưng.

Sau phần “đọc sâu”, rất nhiều người đã phát biểu sau đó. Có những va chạm được cho là khá gay gắt xung quanh các tiêu chí thẩm mĩ, và cuối cùng vẫn nhất trí ghi vào biên bản kết luận là: đề tài có thể nghiên cứu được, luận văn không có sai phạm về động cơ chính trị…

Khoảng một tuần sau lại có cuộc họp của hội đồng khoa học cấp trường, gồm các giáo sư đương nhiệm và các trưởng đơn vị. Đại diện Khoa Ngữ Văn chỉ có Chủ nhiệm khoa PGS TS Đỗ Hải Phong. GS TS Trần Đăng Xuyền và PGS TS Lê Quang Hưng vẫn là  hai trong số ba vị tham gia với vai trò phản biện. Trong cuộc họp này đã có sự tranh luận gay gắt. Sau khi PGS TS Đỗ Hải Phong đọc kết luận của Hội đồng Khoa học Khoa Ngữ Văn thì có hai luồng ý kiến trái chiều. Một số vị cho rằng chỉ hội đồng chuyên môn mới đủ thẩm quyền phán xét và đề nghị hội đồng khoa học cấp trường tôn trọng các kết luận đã có. Một số vị khác cho rằng luận văn nghiên cứu một đối tượng không xứng đáng và có cái nhìn cực đoan.

Về việc bổ nhiệm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại

Trong cuộc thăm dò ý kiến do Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn thực hiện, TS Chu Văn Sơn đạt 8/9 phiếu đồng thuận. Nhưng trường lại ra quyết định bổ nhiệm PGS TS Vũ Thanh (chuyên gia phần Văn học Việt Nam Trung đại, lúc đó là Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn) phụ trách bộ môn dù gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các cán bộ giảng dạy. Về sau, PGS TS Vũ Thanh cũng từ chối nhiệm vụ này và ngay lập tức xin chuyển cơ quan. Hiện nay PGS TS Vũ Thanh là Phó Viện trưởng Viện Văn học.

Về việc dạy chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại

Xung quanh việc dạy chuyên đề VHVN ở nước ngoài, có những diễn biến khá phức tạp, không hoàn toàn đơn giản như một đôi câu tóm tắt trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”.

Cách đây khoảng 5 năm, khi mà GS TS Trần Đăng Xuyền còn là Phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và thầy Lã Nhâm Thìn còn là trưởng Khoa Ngữ Văn, nhà trường tổ chức xây dựng lại chương trình khung theo học chế tín chỉ. Với sự tham vấn của một số giáo sư, chương trình của Khoa Ngữ Văn có thêm  một số chuyên đề, trong đó có chuyên đề Văn học Việt Nam ở nước ngoài. Đến nhiệm kỳ PGS TS Đỗ Việt Hùng làm Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn thì chương trình được đưa ra thẩm định ở hội đồng khoa học khoa và hội đồng đã chấp nhận đề xuất này và trình lên Ban Giám hiệu nhà trường. Khoa Ngữ văn giao cho Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại phụ trách chuyên đề này và năm 2010 là năm đầu tiên thực hiện. Vì thuộc hệ thống chuyên đề tự chọn nên nó được quay vòng 2 năm/lần. Vì thế đến 2012, nó tiếp tục được giảng dạy cho sinh viên. Trưởng Bộ môn là PGS TS Nguyễn Thị Bình đã phân công 3 cán bộ, giảng viên dạy đồng thời ba lớp: TS Nguyễn Phượng, TS Đặng Thu Thuỷ, Th.s Đỗ Thị Thoan. Nội dung và cách thức lên lớp chuyên đề này được thống nhất thực hiện trong nhóm 3 cán bộ, giảng viên này. GS TS Trần Đăng Xuyền tuy là Phó Hiệu trưởng nhưng có thể vì bận công tác lãnh đạo, GS không có điều kiện quan tâm tới hoạt động chuyên môn tại khoa nên không hề biết có việc này.

Sau khi đến tuổi nghỉ quản lý, GS TS Trần Đăng Xuyền tiếp tục giảng dạy tại Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Khoa Ngữ Văn. Khoảng đầu tháng 4/2013, Bộ môn Văn học Việt Nam tổ chức xêmina về chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại. Sau khi TS Nguyễn Phượng đại diện cho nhóm trình bày báo cáo (có sự bổ sung của TS Đặng Thu Thuỷ và Th.s Đỗ Thị Thoan, GS TS Trần Đăng Xuyền bày tỏ sự ngỡ ngàng. GS Trần Đăng Xuyền phản đối, cho rằng không nên quan tâm mảng này. Các cán bộ, giảng viên trong bộ môn giải thích cho GS Trần Đăng Xuyền rằng, học phần này nằm trong chương trình khung do chính Trường ĐH Sư phạm Hà Nội ban hành, nhiệm vụ của Khoa Ngữ Văn hiện giờ là nghiên cứu, giảng dạy tốt học phần đó chứ không còn là lúc bàn bạc chuyện nên hay không nên.

GS Trần Đăng Xuyền cho rằng cho dù chương trình khung là của trường ban hành nhưng việc đề xuất chắc phải là của Bộ môn. Sau đó GS Trần Đăng Xuyền còn chất vấn ai là người đầu tiên nêu ý tưởng? PGS TS Nguyễn Thị Bình khẳng định bản thân bà chưa bao giờ đưa ra đề xuất này, tuy nhiên bà bỏ phiếu ủng hộ khi nó được thảo luận ở hội đồng khoa học của khoa. Và khi được Ban Chủ nhiệm khoa giao nhiệm vụ, bộ môn đã tiến hành tổ chức nghiên cứu và giảng dạy.

Theo lý lẽ của GS Trần Đăng Xuyền, nhiệm vụ cơ bản của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là trường đào tạo nghề nghiệp, theo đó phạm vi nội dung kiến thức được đưa vào giảng dạy ở Khoa Ngữ Văn chỉ nên bó hẹp ở những kiến thức được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông. Tuy nhiên, lý lẽ này không thuyết phục được các cán bộ, giảng viên của bộ môn. Có cán bộ còn dẫn nội dung Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và cho rằng, việc đưa học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại vào giảng dạy tại Khoa Ngữ Văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là phù hợp chủ trương của Đảng. Do chỉ là một buổi sinh hoạt chuyên môn nên không có kết luận. Nhiều cán bộ, giảng viên chỉ nghĩ rằng những trao đổi trong buổi sinh hoạt chỉ là những va chạm quan điểm có tính học thuật thông thường nên vẫn tiếp tục tổ chức và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại cho sinh viên.

Các ghi chép phía trên của chúng tôi có thể có những sai sót nhỏ ở chi tiết, nhưng đại thể sự việc được chúng tôi ghi lại trung thực theo các thông tin tin cậy có được.

Về các dư luận ngoài lề khác, theo chúng tôi là hơi nặng “thuyết âm mưu”, nhưng cũng xin ghi lại dưới đây.

Theo dư luận ở Khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, những cán bộ phản đối việc dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại nghi ngờ PGS TS Nguyễn Thị Bình chính là người đầu tiên đề xuất đưa học phần này vào chương trình khung; và động cơ của đề xuất nhằm “kéo” Nhã Thuyên về giảng dạy tại khoa. Thậm chí, một số đồn đoán thỉnh thoảng còn được “tung” ra trong dư luận ở khoa, rằng rằng PGS TS Nguyễn Thị Bình và Nhã Thuyên có “quan hệ mờ ám” với người nước ngoài.

 Đường link dẫn tới Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài:

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=279&leader_topic=&id=BT1970640667

 Học Thế Nào.

 

 

—————————

Tám câu hỏi về vụ luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên

Vũ Thị Phương Anh

Blog Giáo Dục Việt Nam

Qua thông tin trên mạng, tôi được biết luận văn thạc sĩ của cô Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan (từ đây sẽ gọi là Nhã Thuyên) đã được trường ĐHSP Hà Nội đánh giá lại. Và, trên cơ sở kết quả đánh giá, Nhã Thuyên đã bị tước bằng thạc sĩ.

Vụ luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên không phải là việc mới. Cách đây hơn nửa năm, vụ này đã gây xôn xao dư luận, mà khởi đầu của nó là một loạt bài phê phán nặng nề nội dung cuốn luận văn đã hoàn tất trước đó 3 năm (và đạt điểm tuyệt đối 10/10) được đăng trên báo Văn Nghệ TP HCM. Dựa vào kinh nghiệm về những gì đã xảy ra từ trước tới nay, người ta lập tức đoán ngay rằng loạt bài ấy có lẽ nhằm mục đích chuẩn bị dư luận và là tiếng chuông báo hiệu một kết cuộc không lấy gì làm tốt đẹp cho tác giả của cuốn luận văn cũng như người hướng dẫn nó.

Thật may (?), loạt bài ấy bộc lộ quá nhiều sơ hở trong lập luận nên hoàn toàn không thể thuyết phục được công chúng. Đã có những bài đáp trả lại những lập luận yếu kém của loạt bài tấn công, khiến cho công tác chuẩn bị dư luận của bài báo kia bị vô hiệu hóa. Theo những nguồn tin bên trong mà tôi được biết, ngay từ lúc ấy người ta đã có ý định thành lập lại hội đồng thẩm định lại luận văn và tước bằng thạc sĩ của Nhã Thuyên rồi. Nhưng có lẽ do hoàn cảnh bên ngoài không thuận lợi, nên người ta chỉ tố chức một buổi trao đổi về nội dung luận văn và sau đó Nhã Thuyên vẫn được (tạm thời) tiếp tục giữ tấm bằng thạc sĩ mà cô đã từng bảo vệ với số điểm tuyệt đối.

Tôi là người cũng đã lên tiếng trong cuộc tranh luận lần trước, và theo dõi khá kỹ những gì đã xảy ra, dù việc của Nhã Thuyên không mấy liên quan đến tôi: Tôi không cùng ngành (văn hóa/văn học), không cùng trường (ĐH Sư phạm Hà Nội), cũng chẳng quen biết bất kỳ ai có liên quan đến luận văn này. Nhưng tôi quan tâm vì nó là một việc xảy ra trong giới đại học, và những ứng xử vô lý nếu có của giới có trách nhiệm cần phải được đem ra trao đổi và tranh luận để trước hết đem lại công bằng cho những người trong cuộc; sau nữa – và quan trọng hơn – là để tránh những trường hợp tương tự về sau. Vì vậy, tôi rất vui khi nghe tin Nhã Thuyên không bị tước bằng như những lời đồn đoán lúc ấy, và trong bụng mừng thầm vì như thế có nghĩa là những người có trách nhiệm đã cởi mở hơn, đã biết lắng nghe và tiếp thu những ý kiến hợp lý và hợp với thông lệ quốc tế.

Câu chuyện tưởng dừng lại ở đó, nhưng giờ đây – nếu những thông tin mà tôi đọc được trên mạng là đúng – thì mọi điều đồn đoán trước đây vẫn cứ xảy ra, chỉ là lùi thời gian thực hiện lại thôi. Một kiểu hoãn binh. Vì sau một thời gian chờ cho dư luận lắng đọng, thì một hội đồng mới lại được lập ra để đánh giá lại luận văn của Nhã Thuyên, và trên cơ sở kết quả đánh giá lại này, cô thạc sĩ trẻ ấy đã bị tước bằng. Người hướng dẫn Nhã Thuyên thực hiện luận văn này là PGS TS Nguyễn Thị Bình thì bị chấm dứt hợp đồng ở tuổi 55, mặc dù với chức danh PGS, lẽ ra bà có thể tiếp tục được làm việc cho đến khi 60 tuổi.

Thực sự cho đến bây giờ tôi vẫn không rõ những gì tôi đã viết ở trên – dựa vào những gì đọc được trên mạng – có chính xác hay không. Vì, không giống như lần trước khi báo chí lề phải khua chiêng gõ trống ầm ĩ về luận văn của Nhã Thuyên, lần này tuyệt nhiên không có một lời nào trên báo. Nhưng dù đúng dù không, tôi nghĩ bây giờ là lúc những người có trách nhiệm lên tiếng chính thức. Nếu những gì tôi nghe được là sai (và tôi chỉ mong là nó sai) thì chỉ cần trường ĐHSP lên tiếng đính chính trên báo chí là đủ. Còn nếu những điều tôi đã nghe là đúng, tôi xin gửi đến những người có trách nhiệm trong việc này một số thắc mắc, mong sớm nhận được câu trả lời.

Đúng ra, tôi muốn gọi những thắc mắc của tôi là những lời chất vấn, vì ĐHSP Hà Nội là một trường đại học công, có sử dụng tiền thuế của người dân (trong đó có tôi), và cũng là nơi có trách nhiệm đào tạo ra những thầy cô giáo để phục vụ trong nền giáo dục quốc dân mà con cái tôi sẽ được hưởng nếu nó tốt, hoặc phải chịu nếu nó không tốt.

Những thắc mắc (đúng hơn là chất vấn) của tôi như sau:

1. Dựa trên những căn cứ nào mà trường ĐHSP HN lại thành lập hội đồng chấm lại luận văn của Nhã Thuyên? Có phải là những bài báo phê phán đầy sơ hở (vd: bài viết của “nhà nghiên cứu” Nguyễn Văn Lưu, của GS Phong Lê …) mà dư luận đã chỉ ra cách đây hơn nửa năm chăng? Hay còn những căn cứ nào khác?

2. Dựa trên những căn cứ nào mà hội đồng chấm lại luận văn lại đưa ra những kết luận trái ngược lại với hai hội đồng trước đó (hội đồng chấm luận văn và hội đồng tư vấn, cả hai đều bao gồm những chuyên gia hàng đầu)? Xin nhắc lại, kết quả luận văn của Nhã Thuyên trước đây đã đạt điểm tuyệt đối.

3. Nếu cho rằng kết quả chấm lại mới chính xác và vì thế Nhã Thuyên đáng bị tước bằng, vậy có thể kết luận rằng hội đồng chấm lần trước, và cả người hướng dẫn, đã sai?

4. Những sai lầm của luận văn Nhã Thuyên là sai lầm về khoa học, hay đó là những sai lầm về tư tưởng, đường lối? Trường ĐH Sư phạm HN có thể công khai thông báo tóm tắt kết luận của hội đồng cho mọi người cùng biết được không? Nếu đó là vấn đề tư tưởng, vậy những điều nào, hoặc những hiện tượng nào, là cấm kỵ không được nghiên cứu hoặc ủng hộ, liệu đã có quy định chưa? Nếu chưa có, thì Nhã Thuyên không thể sai và không thể xử lý, mà chỉ có thể rút kinh nghiệm. Nếu đã có, xin được nêu công khai rộng rãi, để những người sau không mắc phải những sai lầm tương tự.

5. Nếu luận văn của Nhã Thuyên sai (nên Nhã Thuyên đã bị tước bằng), vậy những người đã hướng dẫn và thẩm định luận văn cũng phải có trách nhiệm, thậm chí là trách nhiệm chính. Tại sao trường ĐHSP Hà Nội lại chỉ “xử” một mình cô học trò là Nhã Thuyên, dù sao cũng chỉ là một sản phẩm đào tạo của trường? Hay ĐHSP Hà Nội sẽ có quyết định về “số phận” của những người này sau, và nếu vậy, thì bao giờ?

6. Những người đã hướng dẫn và thẩm định luận văn Nhã Thuyên trước đây là những người có học hàm, học vị, và cả chức vụ quan trọng trong hệ thống. Nếu như họ sai, và sai nghiêm trọng đến như vậy, thì những người đã đào tạo, bổ nhiệm, và sử dụng những người ấy có phải truy cứu trách nhiệm không? Và sẽ xử lý ra sao?

7. Từ những chất vấn phía trên, có thể thấy suy cho cùng, nếu luận văn Nhã Thuyên là sai, thì đó là lỗi hệ thống chứ không phải là lỗi của riêng cá nhân nào. Như thế, các sản phẩm đào tạo của hệ thống ấy hẳn đã sai hàng loạt. Vậy chúng ta có cần thành lập hội đồng để xem xét lại tất cả các luận văn, luận án trước đây của hệ thống này hay không, hay chỉ khoanh vùng một trường hợp này thôi? Tại sao?

8. Cuối cùng, trước khi bị lôi ra đả phá trên báo chí chính thống thì luận văn của Nhã Thuyên (cũng như nhiều luận văn, luận án khác) vẫn được xem là làm đúng quy trình, quy định và đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học. Thậm chí, với điểm đạt tuyệt đối, nó còn là một ví dụ mẫu mực của một luận văn của trường ĐHSP Hà Nội. Thế mà chỉ vì có ai đó tình cờ đọc và đem ra phê phán thì kết quả thẩm định trước đó đã bị đảo ngược, trong khi những trường hợp tương tự có thể có nhưng không bị ai moi ra thì vẫn an toàn. Như thế, có công bằng với Nhã Thuyên hay không? Và có thể nghi ngờ rằng đây chỉ là một việc mạo danh khoa học mà tấn công cá nhân – cá nhân Nhã Thuyên, và cá nhân người hướng dẫn của Nhã Thuyên mà giờ đây đang bị đối xử bất công mà không có lý do chính thức nào – hay không?

Dù ai đúng, ai sai thì điều này cũng làm cho uy tín khoa học của trường ĐHSP Hà Nội bị giảm sút nghiêm trọng, nếu không có những lý giải hợp lý về việc đã xảy ra, và quan trọng hơn, sự phân tích nguyên nhân và đề xuất các biện pháp để ngăn ngừa những trường hợp tương tự trong tương lai. Một trường đại học sư phạm lớn với bề dày truyền thống như ĐHSP Hà Nội mà để xảy ra tình trạng như vậy rõ ràng là không thể chấp nhận được.

Rất mong những thắc mắc (chất vấn?) của tôi được những người có trách nhiệm hiện nay của trường ĐHSP Hà Nội quan tâm trả lời. Vì nếu không, tôi bắt buộc phải kết luận rằng trường ĐHSP Hà Nội đã ứng xử tùy tiện, thiếu khoa học, thiếu trách nhiệm với các sinh viên và cán bộ, giảng viên của mình, và hơn hết, là thiếu trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn đầu tư của nhà nước mà vốn là tiền thuế của người dân, trong đó có tôi. Ngoài ra, tôi cũng mong báo chí, đặc biệt là những tờ báo đã moi ra vụ này, tiếp tục vào cuộc để làm rõ vấn đề, để thuyết phục người đọc rằng những gì đang diễn ra là minh bạch, công tâm, và khoa học, chứ không phải là những việc làm lén lút, ném đá giấu tay, mượn những tấm bình phong to tát như khoa học hoặc tư tưởng để trả thù cá nhân, vì hiện nay đang có những dư luận không tốt như vậy.

Trân trọng.

——————————————————————————–

Thơ của Bùi Chát,  “Nhóm Mở Miệng”

Ai?

Tôi gặp gỡ những người cộng sản
Những người anh em của chúng tôi
Những người làm chúng tôi mất đi ký ức
Mất đi tiếng nói bản thân
Mất đi những cái thuộc về giá trị
Chúng tôi còn sở hữu duy nhất một điều
Nỗi sợ

Tôi trò chuyện với những người cộng sản
Những người anh em
Những người muốn chăn dắt chúng tôi
Luôn biến chúng tôi thành đồ hộp
Hy vọng chúng tôi đời đời biết ơn

Những người cộng sản
Anh em chúng tôi

Chưa bao giờ thấy họ tự hỏi
Trong ngồi nhà đen đủi này
Ai muốn thừa kế di sản của họ?

Cũng như em, tôi không hát một mình

Dưới lớp da nạm vàng
Có thể gãi thứ mình muốn ngứa?

Tôi đâu biết đêm dài quá vậy
Chẳng còn nhiều người thức đợi ngày mai
Ai đó thì thoảng thắp lên ngọn đèn
để xua đuổi tai ương

Đáp lại những câu thời dài tuyệt vọng
Em đã đến cạnh tôi nguyện ước
Vòm đêm không chút dấu hiệu thay đổi
Chúng ta bay đến lúc hết hơi

Sống

Chọn một niềm đau. Mỗi ngày
Để sẻ chia với thế giới
Dân tộc này

Chọn một niềm tin. Mỗi ngày
Để có mặt trên trái đất
Lãnh thổ này

Chọn một cái chết. Mỗi ngày
Trong con mắt chế độ

Để được tự do

Không thế khác

Những người anh em

Đã phản bội chúng tôi

Đã nén chúng tôi vào ngục

Đã nhuộm đỏ màu da chúng tôi

Đã hy sinh mạng sống chúng tôi

Cho những giấc mơ ngột hứng của họ

Những người anh em

Vẫn lừa lọc chúng tôi

Vẫn tước đoạt ánh sáng, giọng nói chúng tôi

Vẫn dọa chúng tôi

Bằng súng và thực phẩm

Ngoài sức tưởng tượng của họ

Chúng tôi

Dưới bầu trời đen thẳm

Từng ngày từng ngày

Không lúc nào ngơi nghỉ

Việc nghĩ đến họ

Cầu

Nguyện

*

—————————————————-

 

Thư gửi cộng đồng đại học và cộng đồng nghiên cứu Việt Nam

19-3-2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Theo Bauxite Việt Nam

Sáng nay, 18/3/2014, tôi đọc được trên trang Bauxite Việt Nam bàiTư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương”, và biết được rằng Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã ra quyết định thành lập Hội đồng Khoa học thẩm định lại luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan. Hội đồng Khoa học này (không rõ gồm những ai) đã ra quyết định thu hồi luận văn, không công nhận học vị thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan.

Đồng thời qua đơn kêu cứu của người hướng dẫn khoa học của luận văn này, đăng trên báo Kinh doanh và Pháp luật, tôi được biết PGS Nguyễn Thị Bình bị buộc về hưu trước thời hạn 5 năm không có lý do, và bà đã viết đơn thư hỏi Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhiều lần nhưng không được hồi âm.

Tôi viết thư này đề nghị tất cả những người Việt Nam đã và đang làm việc trong hệ thống đại học và nghiên cứu, ở Việt Nam hay ở nước ngoài, lên tiếng về vụ việc này và có các hoạt động để bảo vệ hai đồng nghiệp của chúng ta là Đỗ Thị Thoan và Nguyễn Thị Bình. Đừng để họ vì có sự can đảm trong hoạt động nghiên cứu mà phải chịu bất công. Các anh chị bảo vệ họ, cũng là bảo vệ chính các anh chị, bảo vệ phẩm giá và danh dự của những người làm giáo dục và nghiên cứu, bảo vệ nền giáo dục và học thuật của nước nhà, bảo vệ các sinh viên đang học tập ở các trường đại học, và bảo vệ các thế hệ tương lai của chúng ta.

Trân trọng cảm ơn!

Sài Gòn, 18/3/2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

nguồn: boxitvn.blogspot.com

* * *

Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương

18-3-2014

Nguồn: boxitvn.net

Dưới đây là trích đoạn từ một công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương. Sau này, nếu ai có hứng thú nghiên cứu, xin mách một đề tài hay, xứng đáng tầm luận án tiến sĩ: Tự do ngôn luận nhìn từ công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Quả là Ban Tuyên giáo Trung ương có “con mắt nhìn sáu cõi”, quán xuyến từ nhỏ đến to, từ trong nước đến quốc tế.

Chuyện luận văn của Đỗ Thị Thoan ba năm sau khi bảo vệ với đánh giá xuất sắc, bị “phê bình tập thể” và nay bị “hội đồng thẩm định” ra quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm [sic!] thạc sĩ, Ban Tuyên giáo chỉ thị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều”, nghĩa là bịt miệng dân.

Nhân tiện, xin hỏi: Có công khai được danh sách các nhà “khoa học” tham gia cái “hội đồng thẩm định” đó không ạ? Ý kiến cụ thể của từng vị ra sao ạ? (Và cũng xin nhắc để mọi người nhớ rằng, PGS TS Nguyễn Thị Bình vì ‘tội” hướng dẫn cho cô Đỗ Thị Thoan, đã bị cho về hưu sớm đấy – xin xem ở đây).

Chuyện nhỏ mà, chứ có to như chuyện máy bay trở [sic!] khách MH370 của Malaysia bị mất tích đâu, xin cứ công khai để bàn dân thiên hạ biết “hội đồng” đã làm việc một cách đầy lương tâm chức nghiệp như thế nào.

Chuyện Ucraina cách Việt Nam mấy ngàn cây số cũng được Ban Tuyên giáo quan tâm sâu sát. Không phải vì Việt Nam có quyền lợi gì ở xứ Ucraina xa xôi, như EU hay Mỹ, mà hẳn là vì Ban lo xa, sợ dân Việt liên hệ với tình hình trong nước, thì bất lợi cho việc “trị an”. Chứ không sao?!

Báo chí Việt Nam bị “cầm tay chỉ việc” như thế, mà Việt Nam vẫn tự hào là đảm bảo quyền tự do ngôn luận, vẫn đường đường là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cơ đấy!

Hình như một nhân vật của Nam Cao, để tán thưởng, thường hay vỗ đùi kêu lên: “Tài thật! Tài thật! […]”.

Bauxite Việt Nam

clip_image002_thumb1.jpg

Nguồn ảnh: FB Nhị Linh  (dịch giả Cao Việt Dũng)
 
—————————————————-
 

”Khi Hữu Thỉnh đọc thơ Lý Đợi

Để biết thêm điều gì đã làm cho nhóm Mở Miệng bị xem là phản động và lấy văn chương kích động người đọc ra sao, mời quý vị nghe bài thơ mang tên “chúng nói: sông có thể cạn, núi có thể mòn” của Lý Đợi qua giọng đọc của chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, ông Hữu Thỉnh:“

Chúng nó nói
Chúng nói
Sông có thể cạn
Núi có thể mòn

Chúng nói
Sông có thể cạn Núi có thề mòn

Và tôi thấy chúng làm:

Chúng đuổi người đi đường
Chúng không cho người dân cất tiếng nói
Chúng bao vây và trấn áp người biểu tình chống xâm lăng
Chúng cho người trà trộn vào đám đông biểu tình để phá thối, gây chia rẽ

Chúng bảo chúng ta bị xúi giục
Chúng coi thường sự hiểu biết của nhân dân
Chúng bảo mất Hoàng Sa – Trường Sa không phải lo.
Hãy về nhà ngủ và tin vào Cộng sản và nhà nước.
(Tin chúng mày để hôm nay thấy Sài Gòn & Hà Nội đầy một lũ tay sai Bắc Kinh à?)

Chúng vu khống những người yêu nước là phản động
Chúng muốn chúng ta vĩnh viễn là nô lệ
Chúng đã lăng mạ lòng tự trọng dân tộc
Chúng đã phỉ nhổ vào lịch sử
Chúng đã đập bàn thờ tổ quốc
Chúng đã ném cứt vào xương máu những người đã chết cho quê hương

Chúng tóm cổ các nhà báo tự do
Chúng đe doạ, đánh đập văn nghệ sĩ
Chúng khủng bố các nhà trí thức
Chúng theo dõi điện thoại, email
Chúng hiếp dâm nhân quyền…

Và chúng nói tiếp, sau khi làm:
“song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

Quý vị vừa nghe ông Hữu Thỉnh đọc bài thơ của Lý Đợi. Dĩ nhiên ông đọc lên để phê phán và kết án bài thơ này trong hội nghị của Hội Nhà Văn Việt Nam nhưng có một điều nghịch lý là khi nghe bài thơ qua giọng đọc hùng hồn của ông, người ta có cảm giác ông đang khen bài thơ, khen một cách chân thành vì ngôn ngữ bài thơ sống động bất ngờ đã lái cảm xúc của ông qua một hướng khác, hướng “Mở Miệng” ra để nói những lời chân thật?”

 https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=Tx5n6NpUikE
 
—————————————————–

Viết nhanh nhân vụ luận văn của Đỗ Thị Thoan, hay “Chúa đã bỏ loài người…”

19-3-2014

Vũ Thị Phương Anh

Blog Giáo Dục Việt Nam

Bài viết này của tôi không liên quan trực tiếp đến các vấn đề lý luận của giáo dục học, nhưng liên quan đến những hiện tượng đang diễn ra trong ngành giáo dục, mà theo tôi là đáng được lưu ý và cần được diễn giải trên cơ sở khoa học. Tất nhiên để lý giải nó thì cần có đầy đủ dữ kiện từ những người bên trong, là điều mà hiện nay tôi chưa thể (không thể?) có. Nên entry này tôi chỉ viết nhanh những cảm nhận đầu tiên của mình liên quan đến sự việc ấy mà thôi, hoàn toàn không có ý định đưa ra những kết luận gì cả.

Số là gần đây báo chí có nhắc đến vụ một luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn học VN của một thạc sỹ trẻ tên là Đỗ Thị Thoan (ĐTT), được thực hiện ở ĐH Sư phạm Hà Nội năm 2010 với điểm chấm tuyệt đối là 10/10.

Để thực hiện luận văn, ĐTT đã chọn phân tích thơ của nhóm Mở miệng, một nhóm thơ trẻ “ngoài luồng” mà tôi có đọc qua một vài bài thơ nhưng không quan tâm lắm. Thực sự nếu vụ này không được làm ầm lên trên báo thì tôi sẽ chẳng bao giờ biết đến luận văn này hoặc tác giả của nó.

Khi vụ việc được đưa ra lần đầu trên báo Văn nghệ TP HCM cách đây ít lâu thì tôi hoàn toàn không quan tâm và cũng không hiểu tại sao việc đã xong từ 2010 (và đã được các vị lão sư, những người thầy của thầy, đánh giá là rất tốt – điểm số đạt được của luận văn (LV) đã khẳng định như thế) – mà mãi đến 3 năm sau mới được tác giả của bài báo lôi ra phân tích với những lời kết án hết sức nặng nề như vậy. Ban đầu tôi nghĩ có lẽ vụ này cũng chỉ là việc các nhà phê bình văn học đem ra nói cho có chuyện mà nói, vì đời sống văn hóa nghệ thuật của ta không có gì để tranh cãi thì… buồn lắm.

Nhưng không ngờ sau đó vụ này lại được đưa lên những tờ báo đại diện quan trọng cho quan điểm chính trị tư tưởng chính thống và có thể gọi là “chuyên chính” của Đảng và Nhà nước.

Ví dụ như Quân đội nhân dân (có đến mấy bài, và đây là bài gần nhất http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/6/66/66/252973/Default.aspx),

Báo Thanh Tra (thử đọc bài cuối này của loạt 3 bài liên quan đến luận văn http://thanhtra.com.vn/ky-cuoi-khong-the-xam-pham-gia-tri-thieng-lieng_t221c8n57577tn.aspx),

chứ không chỉ là những tờ báo, trang blog của các văn nghệ sĩ và nhà báo (lề phải) khác.

Rồi gần đây nhất, theo thông tin của báo chí nước ngoài, cụ thể là một bài viết mới đây của đài RFA, thì tôi được biết là chính vì những bài viết phê bình này mà cô thạc sỹ trẻ ĐTT đã bị cắt hợp đồng và không còn được đứng lớp (cô đang dạy theo hợp đồng ở Khoa Văn của ĐHSP nơi cô làm luận văn), còn người giáo sư hướng dẫn cô làm luận văn thì bị cách chức trưởng khoa. Quả là những hệ quả không ai ngờ được cho những người làm nghề giáo và làm khoa học.

Những thông tin này khiến tôi nhớ lại một buổi nói chuyện gần đây với một số bạn bè thuộc khối ngành nhân văn (ngôn ngữ, văn học, ngoại ngữ vv), gồm một vài giảng viên, dăm ba nghiên cứu viên làm việc trong các viện nghiên cứu, và mấy người học viên cao học.

Hôm ấy, những bài báo đầu tiên về luận văn này mới được đưa ra, khiến cho mọi người trong giới ai ai cũng xôn xao bàn luận. Nhưng sự xôn xao đó không phải là về nhóm Mở miệng hoặc cuốn LV của ĐTT, mà là vì những bài viết trên báo chí chính thống đó nặng về lên án dựa trên cảm tính, ném đá hơn là một sự trao đổi, phê bình dựa trên cơ sở lập luận khoa học. Đa số mọi người đều cho rằng cách viết như thế khiến cho loạt bài hầu như rất ít giá trị khoa học, chưa bàn đến là kết luận của những bài báo này có đúng hay không.

Điều làm cho tôi nhớ nhất về buổi nói chuyện hôm ấy là sự băn khoăn của một cậu học viên cao học còn khá trẻ, đã hỏi đích danh tôi hai câu hỏi như sau:

(1) Mục đích của khoa học phải chăng là đi tìm và lý giải các hiện tượng mới (như trường hợp của ĐTT và nhóm Mở miệng), dù cách lý giải đó có thể là chưa hoàn toàn đúng, hay là cứ quanh quẩn mãi với những hiện tượng cũ kỹ đã được nhiều người nghiên cứu và có sẵn những kết luận mà ai cũng biết, để được an toàn và làm vừa lòng những quan điểm thủ cựu?

(2) Một luận văn thạc sỹ là một công trình khoa học và tác giả của nó là một nhà khoa học, vậy điều quan trọng trong việc thực hiện một công trình phải chăng là có một cơ sở lý thuyết và phương pháp thực hiện phù hợp, hay là gạt qua hết những vấn đề lý luận và phương pháp mà chỉ xem xét những kết luận để xem nó có giống với những gì mình đã nghĩ sẵn trong đầu hay không, và lên án nó nếu nó không làm mình vừa lòng?

Tôi đã lặng im không trả lời, vì tôi biết tất nhiên cậu học viên nọ không cần đến nó. Hai câu hỏi ấy chỉ là hai câu hỏi tu từ, khi đặt ra câu hỏi cũng là đã tự trả lời. Nhưng cũng chính vì hai câu hỏi ấy mà hôm nay tôi phải tìm đọc lại các tài liệu về lý luận phê bình văn học để có cơ sở xem Đỗ Thị Thoan có thực sự đáng bị phê phán nặng nề như trên báo chí hay không.

Và để cho bài bản, tôi đã đọc lại một tài liệu nhập môn rất căn bản về Lý luận phê bình văn học, cuốn Introduction to Literature, Criticism and Theory (3rd edition, Pearson 2004). Nhân tiện, các bạn có thể vào đây mà lấy về đọc hoặc lưu, vì đây thực sự là một tài liệu quý mà không hiểu ai đó đã đưa lên mạng để mọi người có thể sử dụng miễn phí: 

http://site.iugaza.edu.ps/ahabeeb/files/2012/02/An_Introduction_to_Literature__Criticism_and_Theory.pdf)

Toàn bộ cuốn sách đều đáng đọc, tuy nhiên, do vụ Đỗ Thị Thoan nên tôi chỉ đọc lại chương về Hậu hiện đại Postmodernism (chương 29), vì qua những gì tôi đọc được trên báo chí thì tôi tin rằng ĐTT đã dựa trên quan điểm hậu hiện đại để phân tích và đưa ra những kết luận trong luận văn của mình về nhóm Mở miệng. Và càng đọc, tôi càng có cơ sở để tin rằng nếu xét theo hai tiêu chí về chất lượng của một nghiên cứu khoa học như đã được cậu học viên cao học của tôi nêu ra ở trên, thì kết quả 10/10 cho Đỗ Thị Thoan có lẽ là xứng đáng, vì:

– LV đã chọn một đề tài mới mẻ (tiêu chí 1),

– LV đã chọn một khung lý thuyết phù hợp để thực hiện phân tích, ở đây là lý thuyết hậu hiện đại (tiêu chí 2).

Tất nhiên, vì chưa đọc LV nên tôi không thể bàn thêm được là những phân tích của ĐTT có thực sự logic theo chính khung lý thuyết mà tác giả đã chọn hay không.

Như vậy, theo tôi thì vấn đề cần bàn về LV của ĐTT nên xét theo những tiêu chí khoa học rõ ràng, và kết luận trên cơ sở những tiêu chí đó. Còn việc sử dụng kết quả nghiên cứu đó, ví dụ có cho phép phổ biến rộng rãi nội dung của LV hay không, có nên đem áp dụng những quan điểm của tác giả trong việc quản lý văn hóa, nghệ thuật hay chưa thì đó lại là vấn đề khác, vấn đề của các nhà quản lý và các nhà chính trị, không phải là chuyện khoa học.

Tôi nghĩ, hiện nay chúng ta đã mở cửa và hội nhập sâu rộng về nhiều mặt với thế giới, và các nhà khoa học của ta cần phải tiếp cận cũng như có khả năng sử dụng các lý thuyết mới trong các ngành khoa học, trong đó có ngành lý luận văn học. Vì không có lý gì mà chúng ta lại buộc các nhà khoa học chỉ được áp dụng duy nhất một quan điểm, ví dụ quan điểm Mác-xít, để phân tích mọi hiện tượng, khi thế giới đã phát triển nhiều lý thuyết mới để lý giải các hiện tượng đa dạng và phức tạp trong xã hội.

Nếu vì lý do gì đó mà phải buộc mọi người chỉ được theo một quan điểm duy nhất thì có lẽ chúng ta phải xem xét lại rất nhiều chính sách khác nữa: có nên cho phép mọi người đi du học không, có nên thu hút các nhà khoa học trên thế giới đến làm việc với chúng ta hay không, có nên kiểm duyệt mọi thứ sách báo gửi vào VN hay không, có nên cho mọi người tiếp cận Internet và đài phát thanh, truyền hình nước ngoài hay không, và có lẽ, quả thật thế, có nên mở trường đại học để mọi người đi học hay không, hay nên đóng cửa hết các trường đại học và mở ra các công trường, nông trường để mọi người vào đó lao động, như TQ thời cách mạng văn hóa, hoặc Bắc Triều Tiên hiện nay.

Cuối cùng, để mọi người cùng có chung một số thông tin về lý luận hậu hiện đại, xin trích dịch (dịch ý, không dịch từng từ) và tóm tắt ở đây một số điểm quan trọng trong chương sách mà tôi đã đề cập ở trên (hậu hiện đại):

[T]he postmodern appears to welcome and embrace a thinking of itself in terms of multiplicity. It resists the totalizing gesture of a metalanguage, the attempt to describe it as a set of coherent explanatory theories. Rather than trying to explain it in terms of a fixed philosophical position or as a kind of knowledge, we shall instead present a ‘postmodern vocabulary’ in order to suggest its mobile, fragmented and paradoxical nature. (p. 261)

Đặc điểm cốt lõi của trường phái hậu hiện đại là tính “đa diện”; nó không chấp nhận một hệ thống siêu ngôn ngữ để mô tả nó theo bất kỳ một hệ thống lý luận cụ thể nào. Những thuật ngữ được dùng để mô tả nó cho thấy nó là một hệ thống động (mobile), rời rạc (fragmented), và đầy nghịch lý (paradoxical).

Little and grand narratives

One of the best-known distinctions in the postmodern is that made by Jean- François Lyotard concerning what he calls ‘grand’ narratives and ‘little’ narratives. ‘Grand narratives’ such as Christianity, Marxism, the Enlightenment attempt to provide a framework for everything. Such narratives follow a ‘teleological’ movement towards a time of equality and justice: after the last judgement, the revolution, or the scientific conquest of nature, injustice, unreason and evil will end.

Lyotard argues that the contemporary ‘worldview’, by contrast, is characterized by ‘little narratives’. Contemporary Western discourse is characteristically unstable, fragmented, dispersed – not a world-view at all. ‘Little narratives’ present local explanations of individual events or phenomena but do not claim to explain everything. Little narratives are fragmentary, non-totalizing and non-teleological. Lyotard claims that, in the West, grand narratives have all but lost their efficacy, that their legitimacy and their powers of legitimation have been dispersed. Legitimation is now plural, local and contingent. No supreme authority – Marx, Hegel or God – can sit in judgement.

Theo Jean-Francois Lyotard, trường phái hậu hiện đại phân biệt rạch ròi giữa “những kế hoạch lớn” và “những câu chuyện vặt”. Những kế hoạch lớn như của Đạo Thiên Chúa, hay của Chủ nghĩa Mác, hoặc của Thời Khai sáng nhắm đến việc đưa ra một khung giải thích cho toàn bộ thế giới. “Những kế hoạch lớn” như vậy tin rằng thế giới này vận động theo một hướng sao cho cuối cùng chúng ta sẽ đạt được sự bình đẳng và công lý: sau cuộc phán xét cuối cùng, hay sau một cuộc cách mạng, hoặc sau sự thành công của khoa học trong việc khám phá thiên nhiên, thì những bất công, sự phi lý và các ác sẽ phải chấm dứt.

Lyotard lập luận rằng quan điểm đương đại về thế giới thì ngược lại với quan điểm trên, và đặc điểm của nó là “những câu chuyện vặt”. Câu chuyện của thế giới phương tây hiện đại ngày nay thì bất ổn, rời rạc, đứt khúc – hoàn toàn không có một thế giới quan nào cả. “Những câu chuyện vặt” thì vụn vặt, không thể khái quát hóa và không có mục đích. Lyotard khẳng định rằng ở phương Tây giờ đây “những kế hoạch lớn” không còn hiệu nghiệm, và sức mạnh cũng như tính chính danh/hợp pháp của nó hầu như đã mất. Tính hợp pháp/chính danh hiện nay có các đặc điểm là đa dạng, đậm màu sắc địa phương, và chỉ có giá trị tạm thời. Không còn Đấng tối cao nào – Marx, hay Hegel, hay Thượng đế – có thể ngồi trên tòa cao mà phán xử được nữa.

(Ghi chú: Nhà văn Vũ Hạnh gọi “Grand narratives” (mà tôi dịch là “những kế hoạch lớn”) là “đại tự sự”. Một cách xử lý ngôn ngữ theo tôi là gọn gàng và đạt cả tín và nhã; cách dịch của tôi thì chưa đạt lắm và chỉ có thể gọi là “diễn dịch” mà thôi.)

Vâng, “không còn Đấng tối cao”. Từ trước năm 1975 nhạc sĩ TCS (hình như thế) cũng đã thốt lên: Chúa đã bỏ loài người… Chẳng lẽ nền lý luận của chúng ta, những người Mác-xít và vô thần, những người tin vào biện chứng pháp, lại muốn biến Marx hay ai đó thành đấng tối cao mới để ngồi trên tòa cao phán xử hay sao?

 

————————————————————-

 

“…Tôi vừa trôi vừa nhìn tôi trôi. Tôi nhắc mình phải tin vào ngôn ngữ, thơ ca, tình yêu, tình bạn, kí ức, sự tồn tại của ý nghĩa, cái có thực của niềm vui, của say mê, tôi phải tin vào những giấc mơ và tiếng gọi của người chết…”

Nghĩ vụn về những gã đàn ông và một cô gái nhỏ

 

nhathuyen01
Nhã Thuyên – Đỗ Thị Thoan

Nhã Thuyên:

Tôi không nói những lời này để kết thúc một sự việc, chỉ là để khép lại một đoạn đường. Và dù tôi đã làm bạn thất vọng lẫn lo âu, tôi chỉ muốn nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn… Cảm ơn vì đã gặp, đã biết, đã nghe, đã va chạm, đã hiểu, đã yêu nhau, dù chỉ trong những khoảnh khắc.

Lúc này, tôi chỉ muốn nói yêu.

———–

Tôi chưa bao giờ nặng lời về đàn ông Việt Nam. Vì tôi nghĩ như thế là vơ đũa cả nắm, và bất công. Vì tôi kính trọng cha tôi, yêu người đàn ông duy nhất của đời tôi, cũng như quý mến những người đàn ông khác là thầy, là bạn, là đồng nghiệp mà tôi biết.

Nhưng đọc xong những dòng “Thư cuối năm”, cũng là entry gần đây nhất (dù đã cách đây hơn 3 tháng) trên blog của Nhã Thuyên, cô gái vừa bị tước bằng thạc sĩ ở ĐH SP Hà Nội (ai chưa biết có thể google để biết) rồi nhớ lại những gì người ta đã viết và đã làm với cô gái nhỏ ấy (trong độ tuổi 20, vừa bằng tuổi con tôi), thì tôi bỗng thấy vừa phẫn nộ vừa ghê sợ những gã đàn ông có liên quan đến “vụ Nhân văn Giai phẩm hiện đại” này. Và ghê sợ đàn ông Việt Nam nói chung, vì quả thật những gã đàn ông như vậy ở Việt Nam sao nhiều quá.

Thử nghĩ xem: Một bên là rất đông những kẻ có tuổi bằng cha cô ấy, có bằng cấp, có chức vụ, có quyền lực, có cả truyền thông và đám đông sẵn sàng hùa theo tung hô đả đảo.

Một bên là một cô gái trẻ, yêu văn học, liều lĩnh tìm cho mình một con đường mới, chọn một góc nhìn mới, và nói lên những điều mình tin với một sự can đảm không ngờ. Cô ấy chỉ có một mình – hoặc đúng hơn, là còn một phụ nữ khác đồng cảnh ngộ, người hướng dẫn của cô ấy, Giáo sư Nguyễn Thị Bình, giờ đã bị buộc nghỉ hưu trong khi lẽ ra bà còn có thể làm việc thêm 7 năm nữa. Hai người phụ nữ chân yếu tay mềm, một thầy một trò, bị một bọn (xin lỗi về từ này) đàn ông xúm vào đánh hội đồng. Thật không thể tưởng tượng được.

Tôi nặng lời quá phải không ? Không đâu, hãy đọc những lời lẽ của Nguyễn Văn Lưu, Vũ Hạnh, Đông La… khi viết về Nhã Thuyên (có thể tìm trên mạng), rồi đọc lời lẽ trong bài viết của cô gái trẻ ấy, để đánh giá xem sự phẫn nộ và ghê sợ của tôi như trong những dòng chữ này đã đủ nặng nề chưa.

Vâng, cô gái ấy chân yếu tay mềm và không có một tấc sắt trong tay làm vũ khí. Họ, những gã đàn ông ấy, đã không hề run tay hoặc có chút mủi lòng khi triệt hạ cô, đã ra sức sử dụng những ngôn ngữ thô bỉ và lý lẽ khốn nạn nhất để đạt được mục đích. Họ đã xúm nhau vào, những gã đàn ông sức dài vai rộng, trổ hết những ngón nghề lừa lọc xảo trá của mình để tước đi của cô ấy nghề nghiệp, bằng cấp, niềm tin vào cuộc đời, vào lòng tốt của con người, vào sự tồn tại của lẽ công bằng và điều thiện. Giờ đây, chắc họ đã rất hài lòng, bởi họ đã tước đi của cô ấy gần như không còn gì cả. Chỉ còn mỗi một điều họ không làm được, đó là tước đi của cô ấy sự lương thiện và lòng tự trọng. Mà những cái ấy thì họ cho là không có giá trị, không đáng quan tâm, vì bản thân họ không thấy cần đến chúng bao giờ !

Còn cô gái ấy thì chỉ nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn. Và bây giờ, cô chỉ muốn nói yêu…

nhathuyen02

(*) Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan đã cho hạng xuất sắc (điểm 10), gồm các vị:

Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Long, Tiến sĩ Chu Văn Sơn, Tiến sĩ Văn Giá, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Điệp, Tiến sĩ Nguyễn Phượng và Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình (người hướng dẫn).

Còn “Hội đồng thẩm định” đã quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học vị thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan, gồm:

Chủ tịch Hội đồng: Phó giáo sư Tiến sĩ Đoàn Đức Phương, Chủ nhiệm khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, thành viên Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương ; Phản biện: GS Đặng Thanh Lê, chuyên gia về văn học trung đại ; Phó giáo sư Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng,nguyên Viện trưởng Viện Văn học,thành viên Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương ; Phó giáo sư Tiến sĩ Lê Quang Hưng, Chủ nhiệm khoa Việt Nam học, Đại học Sư phạm Hà Nội ; và Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Đức, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tất cả thành viên của Hội đồng thẩm định chẳng ai có công trình gì đáng kể về Văn học đương đại. Hội đồng cũ không được đối thoại, trao đổi gì với “Hội đồng thẩm định”.

———-

Phạm Xuân Nguyên (Nhà lý luận phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên)

…Khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội là một cơ sở đào tạo sau ĐH có pháp quy. Các học viên cao học, nghiên cứu sinh muốn được đào tạo tại đây đã phải trải qua các kỳ thi tuyển. Đề tài của họ đã được thẩm định. Người hướng dẫn được phân công và hội đồng chấm luận văn được thành lập đều phải theo đúng quy trình của Bộ GD&ĐT ban hành và phải được cấp trên quyết định. Cuộc chấm luận văn được tiến hành theo đúng các thủ tục quy định. Biên bản cuộc chấm cũng như các phát biểu của thành viên hội đồng, các điểm số đều được lưu lại hồ sơ khoa học của khoa. Nghĩa là quá trình làm luận văn và chấm luận văn, bậc thạc sĩ cũng như bậc tiến sĩ đều được tiến hành và giám sát bằng một quy trình đã được chuẩn hóa về pháp quy của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Do đó, khi có yêu cầu xét lại bản luận văn thì đòi hỏi đầu tiên là phải tuân thủ đúng quy trình đã có. Bộ hoặc trường, hoặc khoa phải có quyết định thành lập một hội đồng chấm lại luận văn, hoặc giả là hội đồng phúc tra luận văn. Hai hội đồng cũ và mới phải được đối thoại, tranh luận với nhau trên cơ sở khoa học. Kết luận của hội đồng cũ và mới phải được coi trọng ngang nhau trên bàn của cấp ra quyết định cuối cùng. Bản thân người làm luận văn là chủ thể chính của văn bản bị đưa ra mổ xẻ, phê phán, phải được quyền có tiếng nói trình bày, bảo vệ và phản biện công trình khoa học dưới dạng luận văn của mình.
Các ý kiến trên dư luận chỉ là thông tin bên ngoài, không thể coi là chứng cứ khoa học, càng không thể coi là áp lực số đông làm ảnh hưởng, thậm chí xuyên tạc bản chất khoa học của vấn đề. Trong khoa học, tiếng nói của nhà khoa học phải được coi trọng và đề cao. Hiện tại, việc “xử lý” Nhã Thuyên và giáo viên hướng dẫn cô là đã sai quy trình pháp luật, quy trình khoa học. Hội đồng thẩm định lại luận văn chưa có, cuộc họp xét lại luận văn chưa diễn ra, bản luận văn chưa được xem xét lại, người làm và người chấm luận văn chưa được tranh luận lại, thế thì lý do nào để cắt hợp đồng giảng dạy của Nhã Thuyên và cắt chức của người hướng dẫn khoa học bản luận văn đó?
Không ai có tội trước khi bị tòa kết tội. Nguyên lý cơ bản đó áp dụng trong trường hợp này là: bản luận văn Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa và tác giả của nó, người hướng dẫn làm nó và hội đồng chấm nó chưa thể bị quy kết tội phạm gì khi chưa có một đánh giá khách quan, khoa học từ một hội đồng thẩm định bao gồm các chuyên gia của ngành. Bởi vì đây là một đề tài khoa học, một luận văn khoa học nên chỉ chịu sự giám định về mặt khoa học. Nhất là khoa học văn học đòi hỏi rất lớn sự tinh tường và tử tế.

http://www.banvannghe.com/D_1-2_2-57_3-57_4-3536/

***

Thư cuối năm (Nhã Thuyên)

Hà Nội, 14/12/2013

Gửi những người bạn tôi
đây, đó, này, kia, ấy, nọ

Những ngày soi gương, bỗng nhiên hốt hoảng, tôi nhận thấy mình không thoát khỏi sự khắc nghiệt của ngày tháng và sự khắc nghiệt của chính tôi khi thử thách độ dẻo dai của cơ thể và tim óc mình: ngày ăn dần tôi từng chút một, tôi ăn dần tôi từng chút một. Tôi muốn viết một thư dài lời. Tôi muốn nói với bạn thật nhiều như một kẻ yếu đuối đòi được thở than.

Tôi muốn, theo đề nghị của bạn, “minh bạch hóa” cái gọi là “Vụ Nhã Thuyên”. Giờ đây, tôi cảm thấy nó như một giai thoại thê thảm, bi lẫn hài mà không ít nguy hiểm lẩn quất. Nó có thể cũng chỉ đủ dùng cho một cuộc nhậu suông nhân cách nơi vỉa hè… Nó thế nào, vì sao, kết luận của “họ” là gì, hình thức kỉ luật, hậu quả hữu hình và vô hình, những người trong cuộc khác ra sao, tôi phản ứng thế nào từ đầu tới cuối, tại sao tôi chỉ có một trả lời trên blog cá nhân “như thể viết văn” ? Tôi đã, đang, sẽ ra sao ?

Bạn đừng giận khi tôi nói trời ơi, tôi là kẻ trong cuộc mà cũng là kẻ đứng ngoài, vừa bất an vừa mỏi mệt lơ đãng. Tôi không từ chối trả lời những câu hỏi cụ thể, nhưng cho phép tôi giữ sự bất tín của mình với những khái quát. Tôi không tin việc cố gạch vài đầu dòng rõ ràng về nguyên nhân, diễn biến, hậu quả có thể thoả mãn chút nào sự tò mò và mối quan tâm của bạn dành cho tôi, và nhất là có thể làm tôi thấy những câu trả lời đó là đáng tin. Làm sao tôi có thể minh bạch hóa một chuyện, trong vô vàn những câu chuyện về sự bất công thiếu minh bạch và những điều tồi tệ hơn thế, đã xảy ra ở đây từ quá khứ tới hiện tại mà rút cục, nó chỉ giúp tôi nhìn rõ hơn những hỗn loạn, những mù tối, những khuất lấp, những điều chán nản, mệt mỏi, những uể oải sống trong từng người cụ thể, trong từng nhóm người, sự xấu xí của các hệ thống cưỡng chế tồn tại cá nhân… Nhưng tôi sẽ gắng để bạn có một chút hình dung tôi đã làm gì từ đó, bởi hình như, đó là điều mà bạn đã băn khoăn nhiều hơn cả về tôi, đã lo lắng nhiều hơn cả cho tôi, và sự ân cần trìu mến lẫn trông đợi của bạn làm tôi muốn mở lời.

Tôi ngoài cuộc đấu đá, đâm chém, đổi chác. Tôi ngoài cuộc với chính tôi. Nếu tôi coi tôi là quan trọng, hẳn tôi sẽ ngồi săm soi từng bài viết tấn công tôi hoặc dùng tôi làm điểm tấn công, tôi sẽ huy động hết sức sự minh mẫn để phản bác, chất vấn một chiều, gạch đỏ bôi đen những từ ác độc, tố sự vu khống, đòi hỏi minh bạch, tôi sẽ chép lại trong sổ tay những kẻ ném đá và hả hê nhổ nước bọt lên mình ; rồi sau đó, tôi cũng nên tận dụng cơ hội được biết đến, để góp tiếng nói phản biện về học thuật và văn chương, bày tỏ thái độ với báo chí hội đoàn trong nước, mong mọi người ủng hộ mình,…

Tôi phải dành nhiều thời gian hơn nữa cho thất vọng, giận dữ, uất ức, tố cáo, kêu đòi. Tôi đã không đủ cuồng nộ để tham gia vào cuộc đấu tranh xã hội văn chương mà nhiều người đã khởi xướng. Tôi là kẻ trong cuộc, kẻ bị/được sử dụng. Tôi coi tôi, một cá nhân, là quan trọng.

Khi không hồi đáp nhiệt tình những đòi hỏi lên tiếng của bạn, trước hết, tôi đòi hỏi tôi bình tĩnh và kiên nhẫn cho sự hiểu. Tôi chủ động tìm đến những người bạn có thể giúp tôi nhìn ra sự việc và lắng nghe lời khuyên, sự chia sẻ của họ. Tôi lắng nghe những tiếng nói phân tích, hướng dẫn, chất vấn, bảo vệ mình, ở trong hay ngoài nước. Tôi đón nhận những emails, điện thoại, tin nhắn, những chia sẻ từ những người bạn hay những người mà sau đó tôi may mắn được làm bạn… Tôi biết việc lắng nghe những tiếng nói đó là quan trọng, không phải chỉ bởi đó là những tiếng nói cho tôi hiểu về sự tồn tại của mình, mà còn bởi, nó bảo vệ niềm tin của tôi về một cộng đồng chia sẻ và phản biện. Câu chuyện một (vài) cá nhân luôn (cần) là một câu chuyện chung. Nếu không có sự cưu mang của cộng đồng những người tự tìm đến với nhau để chia sẻ tiếng nói nhiều phía ấy, có lẽ tôi đã ngã quỵ vì cái xấu, cái thảm bại. Tôi muốn gọi tên từng người bạn đã ở bên tôi, tôi muốn kể tên những người tôi chưa từng được dịp biết mặt, tôi muốn cảm ơn những người đã lên tiếng chỉ vì cảm giác của họ về “lẽ phải”, nhưng tôi biết sẽ là không đủ với một lời cảm ơn.

Thế rồi tôi đã, đang làm gì ? Tôi biết bạn đã có lúc rất thất vọng.

Tôi, thoáng mỉa mai, tôi phải cảm ơn cuộc đời đã quyết định giùm tôi một số việc mà nếu để tự thân, tôi chưa hẳn dám bỏ đi thẳng băng sớm như thế: nó ném giùm tôi bằng đại học lẫn cao học để tôi khỏi phải sử dụng thêm, chặt đứt giùm tôi sự lưỡng lự và rút chân tôi ra khỏi một kết nối nhân duyên nặng nghĩa, nhiều xung đột và ít đam mê với công việc nghiên cứu. Tôi không còn mảy may bận tâm về các hội đoàn. Sự nồng nhiệt và thói hiếu động của tôi với đời sống văn chương tiếng Việt giảm đi nhưng tôi nghĩ điều đó không gây hại. Bây giờ, tôi không tưởng tượng thêm nữa về sự trung lập, độc lập của giáo dục, tôi không vẽ vời về sự thuần tuý của nghệ thuật. Rất nhiều điều lúc này lúc khác có vẻ cần thiết, tôi đã có thể đơn giản là bỏ qua chúng.

Tôi đã, đang, sẽ làm gì sau “tai hoạ” ?

Tôi có thể trả lời thành thật mà không xấu hổ: tôi hầu như chẳng làm gì.

Tôi chưa cuống quýt tìm cách dùng mình vào việc gì đó. Tôi mất việc, và chẳng đi tìm việc.

Tôi làm những thứ linh tinh vô hại. Tôi cắt giảm”đời sống xã hội” của mình. Tôi cũng không ngồi phòng tu kín mà viết lách hay đọc sách.

Nếu tôi đã từng có tham vọng viết lách, giờ là lúc tôi muốn viết không tham vọng, nếu tôi đã từng thích thú ẩn dụ, giờ tôi sẽ viết những lời không ngụ ý, sẽ chụp những bức ảnh phi-ý niệm ghi lại những khoảnh khắc thoáng qua, sẽ làm những video thơ không nội dung không kết quả. Nếu tôi đã từng muốn đọc hết những tên tuổi, giờ tôi chỉ đọc bạn bè. Nếu tôi đã từng nghĩ mình muốn là một người viết “chuyên nghiệp”, giờ tôi kháng cự lại ý định đó.

Tôi sẽ xuất bản mà không cần bận tâm về sự xuất hiện hay lượng người đọc. Tôi yêu những tình yêu không lề thói, không đòi hỏi, những tình bạn vô cầu. Tôi nuôi nấng vài ý tưởng riêng với vài bạn bè thân thiết về giáo dục và nghệ thuật. Tôi là cái gì đó, đang trở thành, đang chuyển hóa thành cái gì đó, và tôi không thấy mình cần phải thành một cái gì đó.

Tôi đã hầu như trần trụi, và sự trần trụi đó vẫn chưa đủ thành thực. Tận cùng của sự thành thực trong một cách sống thơ ca là gì ?

Vài hôm trước, lần đầu tiên trong vô số các giấc mơ của tôi về người cha đã mất, ông (tôi nhắc tôi phải trở lại với cuộc đời ông, một con người bình thường đã đi trước và để lại cho tôi kinh nghiệm về sự bất công, đấu tranh và thất bại) xuất hiện tra khảo tôi về “vụ scandal”, lần đầu tiên trong mơ, tôi thấy ông thật xa lạ ; và khi tỉnh dậy, thay vì buồn nhớ, tôi thấy mệt mỏi và trống rỗng.

Ông hỏi: “Tại sao con không thực hiện điều công bằng với mình ?” Tôi trả lời: “Làm thế nào con thực hiện điều công bằng khi con chưa thấy ý nghĩa của những việc đó ?” Tôi đem giấc mơ kể với bạn, bạn tôi nói: “Ông ấy hích cậu”. Và bạn hỏi, sự công bằng với tôi là thế nào. Tôi trả lời bạn bằng một suy nghĩ dài, quyết định chọn lấy ba từ mà tôi cảm giác chúng giúp nắm bắt sáng rõ hơn ý tưởng của tôi, như một quả dọi cho quan niệm đạo đức cá nhân mà tôi lựa chọn có nó, nhưng không sống theo nó: thành thực (honesty), cảm thông (compassion), trân trọng (respect). Tôi gắng kiên nhẫn để cảm thông, hiểu và trân trọng những dạng ngôn ngữ khác nhau và thành thực trong những quyết định cá nhân. Còn lại, có lẽ tôi xa lạ với việc thực hiện lẽ công bằng theo lẽ phải quy ước nào đó.

Nhưng cả “lẽ công bằng cá nhân” này, tôi cũng không nhất định theo nó. Vì có thể, nó xung đột với tiếng nói bản năng của tôi, vì cơ thể tôi muốn nằm không nghĩ ngợi, muốn chìm đắm tự tại, muốn hoang dã, muốn kháng cự những đòi hỏi về trách nhiệm xã hội và lí tưởng công bằng, cơ thể tôi muốn đòi sự công bằng và tự do cho cảm giác của nó. Một lúc nào đó, có thể, tôi sẽ nghĩ lại và nghĩ khác. Lúc này, tôi chỉ còn muốn nghe được tiếng nhạc của cơ thể, của hơi thở mình. Tâm hồn tôi không ích kỉ một cách ích kỉ.

Bây giờ, tôi nghĩ nhiều hơn về những điều tôi yêu, những điều tôi cần làm, những điều tôi có thể làm. Bây giờ, tôi chỉ thán phục những kẻ sống cho tình yêu. Bây giờ, tôi chỉ muốn dịch mọi ngôn ngữ sang ngôn ngữ của tình yêu. Tôi sẽ không còn đủ sức kháng cự nỗi tuyệt vọng trước cái xấu nếu cả tôi cũng bị đồng bộ hóa vào cỗ máy nặng nề của những thiết chế. Những giấc mơ của tôi sẽ bị nghiền nát. Và đó là điều tôi phải lựa chọn.

Tôi biết mọi sự vẫn mới (chỉ là) bắt đầu, thời gian coi ta là hạt bụi, thời gian sẽ chẳng đưa câu trả lời nào, nếu tôi không làm gì nữa cả. Thật may, tôi đủ kiêu ngạo để những lời độc địa không làm mình tủi giận, đủ khiêm nhường để không phàn nàn cuộc đời và đổ riệt cho “số phận”, đủ dẻo dai để không đay đả chuyện cũ, tôi yêu thương và không đóng cửa trái tim để nhận ra những tiếng nói yêu thương. Những lúc rệu rã, những lúc tôi thấy mình vô dụng nhất, tôi lại thấy những tên người, những khoảnh khắc ấm áp say mê của tình bạn, những ngây ngất của tình yêu, những cuộc trò chuyện, những gặp gỡ, những trái tim lạ lùng, những kẻ mở đường, những cuốn sách cũ, những người chết, những người đang sống…

Nếu có lúc tôi từ chối lời ân cần, không thấy sự trông đợi của bạn, không nhìn ra gương mặt tình yêu, không cảm nhận được cơ thể tôi… thì bây giờ, tôi đang, lặng lẽ, nghe lại, cảm lại, hiểu lại, đang yêu, đang yêu lại, đang học cách yêu và làm đầy hành trình của mình, một lần nữa, một lần nữa, một lần nữa,… Tôi vừa trôi vừa nhìn tôi trôi. Tôi nhắc mình phải tin vào ngôn ngữ, thơ ca, tình yêu, tình bạn, kí ức, sự tồn tại của ý nghĩa, cái có thực của niềm vui, của say mê, tôi phải tin vào những giấc mơ và tiếng gọi của người chết. Tôi phải ôm mang cộng đồng của mình, cái cộng đồng nào đó tôi vẽ ra bằng tim óc, nhưng có hình hài trong những gặp gỡ may rủi. Và tôi muốn tiếp tục sống không hiệu quả, không năng suất, lười nhác, sống mỗi lúc một trần trụi, hân hưởng niềm vui, bảo vệ trái tim dễ tổn thương, giữ gìn sự im lặng và nuôi dưỡng nỗi cô độc, hào phóng tiêu thời gian vào những điều không lề luật, tôi muốn mở tim và buông tay, tôi muốn sống một cuộc đời yếu đuối, vô quyền lực, nhưng hướng về tự do, cái đẹp, và yêu thương. Tôi vẫn chưa cạn. Tôi chỉ để dành sự trống rỗng cho những thứ mới mẻ tràn vào.

Tôi không nói những lời này để kết thúc một sự việc, chỉ là để khép lại một đoạn đường. Và dù tôi đã làm bạn thất vọng lẫn lo âu, tôi chỉ muốn nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn… Cảm ơn vì đã gặp, đã biết, đã nghe, đã va chạm, đã hiểu, đã yêu nhau, dù chỉ trong những khoảnh khắc.

Lúc này, tôi chỉ muốn nói yêu.

Nhã Thuyên

——————————————————-

VỤ ÁN NHÃ THUYÊN (Nguyễn Hưng Quốc)

http://bon-phuong.blogspot.com/2013/07/vu-nha-thuyen-nguyen-hung-quoc.html

*Nhà văn Vũ Hnh, tác gi ca “Bút máu” và “Con chó hào hùng” khng đnh trên báo Văn Ngh s 29 phát hành ngày 20-7-2013:
“Tôi cũng đã đc qua, ri b, không quan tâm nhng bài thơ – nếu gi đó là “thơ” – ca nhóm M Ming. Báo chí đã gi rt đúng đó là dòng kênh đen, là thơ đen, thơ rác; mượn màn hu hin đi, xóa b các “đi t s” (trong đó h gi c con c… cũng là “đi t s”!) đ nguyn ra c chế đ, c ch nghĩa Cng sn, ph báng c lãnh t ca chúng ta, mà c nhân loi kính yêu vì cuc đi chiến đu trong như ánh sáng ca Người! H văng tc, dùng nhng th tc tĩu nht đ văng tc vào cuc đi, vàoth chế. H ni longôn t, dùng ngôn t đ ni lon. H được c các trang mng ngoài nước ca các cây bút chng Cng mi ni khen ngi, c vũ và tài tr đ ph biến rng rãi trên Internet.  trong nước cũng có mt vài người bày t cái nhìn c vũ cho s đi mi thơ, cho hhin đi theo kiu “M Ming”.
*

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Hàng ngàn người H’Mông biểu tình khiến thẩm phán “đau bụng” đột xuất, tòa tạm hủy phiên xét xử ông Thào Quán Mua bị bắt theo điều 258 BLHS

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2014

Dân biểu tình, tòa hủy phiên xét xử ông Thào Quán Mua theo điều 258 BLHS vào phút cuối

Theo FB Con Đường Việt Nam

Hôm nay, 18/03/2014, tòa án huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang dự định xét xử ông Thào Quán Mua (dân tộc H’Mong) theo điều 258 Bộ Luật Hình sự.

Được biết, trước đó, ngày 14/03, ông Hoàng Văn Sang đã bị tòa án này kết án 18 tháng tù, cũng theo điều 258 BLHS.

Theo lịch ngày 20 tháng 3 sẽ xét xử ông Lý văn DinhDương Văn Tu.

Tuy nhiên, vào hồi 07h sáng nay, từ 4 tỉnh phía Bắc, hàng trăm đồng bào dân tộc H’Mong đã kéo về tòa án huyện Yên Sơn, Tuyên Quang để phản đối phiên tòa phi pháp này. Đồng bào đã đi thành một đoàn người dài, căng biểu ngữ đòi trả tự do cho ông Thào Quán Mua.

Ngay sau đó, vì lý do “đau bụng” đột xuất của Thẩm phán phiên tòa, phiên tòa đã được hoãn lại. Dự kiến lịch xét xử mới sẽ là ngày 27/03/2014.

Đây là một số hình ảnh của bà con H’Mong được lấy từ fb Sinh Ma Van. Chúng ta có thể nhìn thấy được sức mạnh của tập thể, sự đồng lòng vì đồng bào mình ở trong đó.

 

524532_612597225461964_1381642133_n.jpg 

 

1017153_612597228795297_241351793_n.jpg 

 

1465383_612597258795294_1234695897_n.jpg 

 

1511457_612597318795288_1940322348_n.jpg 

 

1911096_240938536112322_1428425468_o_0.jpg 

 

1972254_612597178795302_1491323034_n.jpg 

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Thư gửi cộng đồng đại học và cộng đồng nghiên cứu Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2014

Đinh Viết Huynh Trưởng ban Tuyên GiáoTrung ương

Lê Thế Kỷ là Trưởng ban Tuyên Giáo Thành ủy Hà Nội

—————

Thư gửi cộng đồng đại học và cộng đồng nghiên cứu Việt Nam

19-3-2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Theo Bauxite Việt Nam

Sáng nay, 18/3/2014, tôi đọc được trên trang Bauxite Việt Nam bài “Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương”, và biết được rằng Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã ra quyết định thành lập Hội đồng Khoa học thẩm định lại luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan. Hội đồng Khoa học này (không rõ gồm những ai) đã ra quyết định thu hồi luận văn, không công nhận học vị thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan.

Đồng thời qua đơn kêu cứu của người hướng dẫn khoa học của luận văn này, đăng trên báo Kinh doanh và Pháp luật, tôi được biết PGS Nguyễn Thị Bình bị buộc về hưu trước thời hạn 5 năm không có lý do, và bà đã viết đơn thư hỏi Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhiều lần nhưng không được hồi âm.

Tôi viết thư này đề nghị tất cả những người Việt Nam đã và đang làm việc trong hệ thống đại học và nghiên cứu, ở Việt Nam hay ở nước ngoài, lên tiếng về vụ việc này và có các hoạt động để bảo vệ hai đồng nghiệp của chúng ta là Đỗ Thị Thoan và Nguyễn Thị Bình. Đừng để họ vì có sự can đảm trong hoạt động nghiên cứu mà phải chịu bất công. Các anh chị bảo vệ họ, cũng là bảo vệ chính các anh chị, bảo vệ phẩm giá và danh dự của những người làm giáo dục và nghiên cứu, bảo vệ nền giáo dục và học thuật của nước nhà, bảo vệ các sinh viên đang học tập ở các trường đại học, và bảo vệ các thế hệ tương lai của chúng ta.

Trân trọng cảm ơn!

Sài Gòn, 18/3/2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

 nguồn: boxitvn.blogspot.com

* * * 

Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương

Dưới đây là trích đoạn từ một công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương. Sau này, nếu ai có hứng thú nghiên cứu, xin mách một đề tài hay, xứng đáng tầm luận án tiến sĩ: Tự do ngôn luận nhìn từ công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Quả là Ban Tuyên giáo Trung ương có “con mắt nhìn sáu cõi”, quán xuyến từ nhỏ đến to, từ trong nước đến quốc tế.

Chuyện luận văn của Đỗ Thị Thoan ba năm sau khi bảo vệ với đánh giá xuất sắc, bị “phê bình tập thể” và nay bị “hội đồng thẩm định” ra quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm [sic!] thạc sĩ, Ban Tuyên giáo chỉ thị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều”, nghĩa là bịt miệng dân. Nhân tiện, xin hỏi: Có công khai được danh sách các nhà “khoa học” tham gia cái “hội đồng thẩm định” đó không ạ? Ý kiến cụ thể của từng vị ra sao ạ? (Và cũng xin nhắc để mọi người nhớ rằng, PGS TS Nguyễn Thị Bình vì ‘tội” hướng dẫn cho cô Đỗ Thị Thoan, đã bị cho về hưu sớm đấy – xin xem ở đây). Chuyện nhỏ mà, chứ có to như chuyện máy bay trở [sic!] khách MH370 của Malaysia bị mất tích đâu, xin cứ công khai để bàn dân thiên hạ biết “hội đồng” đã làm việc một cách đầy lương tâm chức nghiệp như thế nào.

Chuyện Ucraina cách Việt Nam mấy ngàn cây số cũng được Ban Tuyên giáo quan tâm sâu sát. Không phải vì Việt Nam có quyền lợi gì ở xứ Ucraina xa xôi, như EU hay Mỹ, mà hẳn là vì Ban lo xa, sợ dân Việt liên hệ với tình hình trong nước, thì bất lợi cho việc “trị an”. Chứ không sao?!

Báo chí Việt Nam bị “cầm tay chỉ việc” như thế, mà Việt Nam vẫn tự hào là đảm bảo quyền tự do ngôn luận, vẫn đường đường là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cơ đấy!

Hình như một nhân vật của Nam Cao, để tán thưởng, thường hay vỗ đùi kêu lên: “Tài thật! Tài thật! […]”.

Bauxite Việt Nam

 

clip_image002_thumb1.jpg 

Nguồn ảnh: FB Nhị Linh

 

Posted in Kiểm Soát Thông Tin- Internet, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Định hướng theo kiểu “tuyên giáo”

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2014

Định hướng theo kiểu “tuyên giáo”

17-3-2014

Nhớ mấy tuần trước, một quan chức tuyên giáo trung ương, trong một lần trả lời phỏng vấn của đài BBC, khẳng định rằng không có chuyện ban tuyên giáo chỉ đạo báo chí, cũng không có chuyện tác động báo chí rút bài “tế nhị”. Nhưng cái hình chụp văn thư dưới đây (lấy từ boxitvn.blogspot.com) cho thấy hoàn toàn ngược lại những gì vị này tuyên bố trên báo chí quốc tế.

Tôi chú ý đến đoạn văn thư này hướng dẫn báo chí viết về vụ Nhã Thuyên rất… xâm phạm. Văn bản viết “Đề nghị báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều”. Liên quan đến tình hình Ukraina, văn thư này chỉ dẫn: “Trong những ngày tới, tình hình Ucraina có thể tiếp tục diễn biến phức tạp, đề nghị báo chí thông tin những vấn đề liên quan theo định hướng tại Giao ban báo chí ngày 11/3/2014”. Rất cụ thể. Rất thẳng thắn.

Tôi nghĩ giới báo chí VN chắc là đau khổ lắm. Họ (giới phóng viên) là những người có học, và ở mức độ nào đó, là nhóm người giàu chữ nghĩa. Có học đàng hoàng cho họ tư duy độc lập. Giàu chữ nghĩa cho họ cái lịch thiệp trong dùng chữ. Vậy mà họ phải chịu sự chỉ dạy của một nhóm người nào đó từ rất xa (hay gần?) là phải viết như thế này, đưa tin như thế kia, định hướng như thế nọ. Cách họ chỉ dạy y như là cầm tay chỉ việc cho trẻ em. Tôi đoán rằng giới báo chí đàng hoàng cảm thấy bị xúc phạm lắm.

Nhưng cái văn thư đó cũng chỉ dạy công chúng. Nó dạy công chúng là nên dè dặt với những thông tin từ báo chính thống. Có lẽ mỗi bản tin trên báo chính thống đều đã qua một quá trình chọn không tự nhiên. Không tự nhiên ở đây hiểu theo nghĩa có định hướng. Định hướng dư luận là cách xem công chúng như bầy cừu, và do đó, nó là một từ xúc phạm đến công chúng.

Noam Chomsky, một học giả lừng danh với tư tưởng tả phái, từng nói rằng tuyên truyền trong thể chế dân chủ cũng giống như là cái dùi cui của thể chế toàn trị. Ấy thế mà trong ủy ban về cải cách giáo dục, ban tuyên giáo đóng vai trò phó chủ tịch! Thế mới biết nền giáo dục đừng kì vọng gì từ cải cách, và tị nạn giáo dục sẽ còn tiếp diễn.

 

 

N. V. T.

 https://www.facebook.com/drtuannguyen

Yesterday

Posted in Kiểm Soát Thông Tin- Internet, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | 4 Comments »

►Tập Đoàn và Tổng công ty quốc doanh VN ra làm ăn ở nước ngoài thua lỗ cả tỷ đô la

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2014

Đại gia xuất ngoại, những cú trắng tay đau đớn

Tác giả: PHẠM HUYỀN

Bài đã được xuất bản.: 17/02/2014 05:00 GMT+7

Không ít đại gia Việt gặp khốn khó khi đầu tư ra nước ngoài. Có những dự án đã phải tạm ngừng hoạt động và thậm chí là phá sản, trong khi nhà đầu tư đã chi cả tỷ USD.   

Họa vô đơn chí, chết vì lạm phát

Tại cuộc họp báo cuối năm vừa qua, ông Phùng Đình Thực, Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), đã thừa nhận “thất bại” bất đắc dĩ ở Venezuela. Sau 3 năm ký kết hợp đồng, mọi kỳ vọng gửi gắm ở dự án 8 tỷ USD, liên doanh khai thác dầu nặng Junin 2 tại quốc gia dầu mỏ này đã phải tạm dừng.

Ông Thực chia sẻ, năm 2013, Venezuela có mức lạm phát lên tới hơn 57%. Tỷ giá chính thức và tỷ giá “chợ đen” chênh lệch nhau tới 10 lần.

“Với tình hình kinh tế như vậy thì không có nhà đầu tư nào chịu nổi khi chuyển tiền vào đây thuê các đơn vị dịch vụ của Venezuela triển khai dự án”, ông Thực nói.

Đây có lẽ là quyết định đầy tiếc nuối của PVN. Không dễ gì từ bỏ giấc mơ lợi nhuận ở quốc gia dầu mỏ này khi mà tình hình chung là ra nước ngoài, 10 dự án thăm dò, nếu có 2 dự án thành công thì coi như là thắng lợi. Lô Junin 2 nằm ở vành đai dầu Orinoco, khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, cho phép khai thác công suất 1.400 tỷ thùng.

Hơn nữa, vụ hợp tác trên là dự án đầu tư ra nước ngoài lớn nhất của Việt Nam tính đến nay. Theo tỷ lệ vốn góp 40%, PVN có thể thu về 4 triệu tấn dầu/năm, dự kiến hoàn vốn sau 7 năm. Con số này sẽ bằng 70% sản lượng dầu của Vietsovpetro, liên doanh dầu khí đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam.

Hiện, tập đoàn này đang đàm phán với đối tác để điều chỉnh lại hợp đồng và sẽ tiếp tục khi nền kinh tế nước này ổn định hơn.

Trước đây, PVN cũng đã phải đặt dấu chấm hết cho 6 dự án dầu khí ở nước ngoài mà không thu được lợi nhuận nào từ các dự án này. Số tiền chi cho 6 dự án đó là khoảng 29,02 triệu USD.

Không chỉ PVN, nhiều đại gia khác cũng gặp khó ở những lĩnh vực đòi hỏi thời gian thu hồi vốn dài, khó lượng hóa ngay tính hiệu quả như khai khoáng, dầu khí, cao su, điện.

Chẳng hạn như Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) trước đây có 5 dự án đầu tư ở Lào và Campuchia, nhưng sau khi nghiên cứu khảo sát thì Vinacomin đã buộc phải kết thúc một dự án tại Lào. “Ông lớn” này mất trắng khoảng 1,56 triệu USD ở đây. Cùng đó, 3 dự án sau khi khảo sát lại cho thấy, khả năng phát triển mỏ là thấp vì trữ lượng không đủ lớn để đầu tư khai thác, chế biến quy mô lớn.

Không dễ kiếm đô la ở nước ngoài

Tuy nhiên, cạnh tranh khốc liệt ở xứ ngoại, phụ thuộc chính sách kinh tế, nguồn nhân lực và tình hình chính trị nước sở tại nên các bài toán kinh doanh của các đại gia Việt dù hoàn hảo đến mấy cũng luôn tiềm ẩn đầy rủi ro.

Ngay như Viettel, đại gia đã gặt hái thành công ở 7 quốc gia đầu tư thì năm qua phải ngậm ngùi chấp nhận thất bại trong cuộc đua xâm nhập thị trường viễn thông Myanmar. Quyền đầu tư mạng di động cho đất nước 60 triệu dân nhưng mới chỉ có 10% người dân sử dụng dịch vụ này đã thuộc về 2 tập đoàn viễn thông của Qatar và Nauy.

Sau cú trượt thầu trên, vị phó Tổng giám đốc Viettel chỉ tiết lộ tập đoàn đã cố gắng hết sức, cả về giá thầu, đưa ra các cam kết hấp dẫn với Chính phủ Myanmar nhưng không thắng được với giá bỏ thầu rất cao của hai đối thủ trên.

Tại hội nghị tham tán thương mại tháng 12 năm ngoái, ông Hoàng Quốc Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã chia sẻ, không ít doanh nghiệp tại tỉnh đã trắng tay sau khi cầm cố tài sản vay tiền sang Campuchia trồng cao su.

Cây cao su được coi là vàng trắng. Theo ước tính của một đại gia trong lĩnh vực này, một ha cao su có thể cho ra 2 triệu tấn mủ/năm. Còn nếu bán cây với giá 350.000 đồng/cây thì 1 ha cao su cho thu hoạch 180 triệu đồng/ha. Với suất đầu tư thấp ở Lào và Campuchia, lợi nhuận sẽ càng lớn gấp vạn lần nếu như các đại gia  được cấp phép diện tích lớn.

Song theo các chuyên gia kinh tế, lợi nhuận đó còn phải gắn với giá thị trường cao su tại thời điểm kinh doanh nên rủi ro thua lỗ vẫn luôn rình rập. Do đó, dù nắm trong tay 120.000 ha cao su ở Lào và Campuchia, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cũng phải đợi 3-4 năm nữa, mới có thể cầm chắc được lợi nhuận mang về hay không.

Đôi khi, dự án tưởng đã đến ngày “hái quả” rồi thì có khi, doanh nghiệp vẫn bị “sao quả tạ” rơi trúng đầu vì những rủi ro nằm ngoài tiên đoán.

Chẳng hạn như câu chuyện của bầu Đức (ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai) với vụ nhập 30.000 tấn đường từ Lào về Việt Nam tinh chế để xuất sang Trung Quốc. Kế hoạch kinh doanh này bị ách tắc cả năm trời mới giải quyết được vì gặp phải làn sóng phản ứng dữ dội từ phía Hiệp hội mía đường Việt Nam.

Tuy nhiên, theo một chuyên gia kinh tế trong lĩnh vực đầu tư này, thất bại là mẹ thành công. Những vấp váp trên chỉ là chuyện thường ngày của bất cứ nhà đầu tư nào ra nước ngoài. Có bước ra thế giới thì thương hiệu Việt mới phát triển được, tầm vóc doanh nghiệp mới lớn được. Và cũng như việc kinh doanh trong nước, nước lên thì thuyền lên, nước xuống thì thuyền xuống.

Song, cách tốt nhất để tránh mọi rủi ro là các nhà đầu tư Việt Nam nên phối hợp với cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để có sự hỗ trợ lớn nhất về thông tin, chính sách

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Thầy giáo Đinh Đăng Định đã về lại Đak Nông nhìn lại mái nhà xưa, bà con họ hàng và lối xóm quen thuộc với ông

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2014

Bệnh ung thư của thầy giáo Đinh Đăng Định đã vào giai đoạn nguy kịch!!!

 Trương Minh Đức

16-3-2014

Kính Gởi BBT DÂN LUẬN,

unnamed_7.jpg

Lúc 7 giờ sáng nay Chúa Nhật 16/03/2014 chiếc xe cấp cứu của bệnh viện Columbia Asia đã chở thầy Định về quê ĐăK Nông theo yêu cầu của gia đình, đây là giải pháp cuối cùng sau khi có kết quả từ Bác sĩ của bệnh viện, tình hình bệnh tình ngày càng trầm trọng về giai đoạn cuối của chứng bệnh ung thư dạ dày. Bao tử bị cắt đi 3/4, nhưng các hạch đã chiếm hết chổ còn lại nên ăn vào thì bị ói ra, thận bị suy ở độ 4, ruột cũng bị hạch di căn phát triển mạnh.

Bà Đặng thị Dinh cũng cho biết là sẽ chở ông Định về quê theo yêu cầu của ông là để có điều kiện và thời gian còn nhìn lại mái nhà xưa… bà con họ hàng và lối xóm đã từng quen thuộc với ông.

Nhiều ngày nay ông Định ăn, ngủ không được, chỉ truyền dịch cầm chừng… nhưng thường bị nôn ói…

Hiện nay ông định không ngồi dậy nổi do sức đã kiệt, tôi có dịp vào thăm ông ngày 14 – 03 – 2014 tại bệnh viện Columbia Asia, nhìn thấy ông gầy đi rất nhiều kể từ ngày 15/2/2014 khi ông được hoãn thi hành án.

Khi thấy có anh em vào thăm, trong đôi mắt ông trở nên ấm lại và cố gượng để kể chuyện trong tù… ông bị đánh như thế nào trong lúc ông bị bệnh…. mà chính ông khi mới phát hiện đi cầu ra máu!! rồi ông xin đi bệnh viện khám… nhưng Ban giám thị trại giam không cho đi mà trái lại còn đánh ông (theo lời ông kể).

Nếu trong điều kiện được trại giam quan tâm cho đi khám và điều trị kịp thời thì căn bệnh của ông có thể bị chặn đứng trước đó hơn 01 năm và cũng không có kết cục của ngày hôm nay.

Tôi từng là một tù nhân lương tâm cũng hiểu và biết được những gì mà ông Định kể lại là có thật, việc khám và điều trị bệnh trong các trại giam dành cho tù nhân hiện nay là tắc trách… . nhưng họ đối xử với tù nhân bất đồng chính kiến lại còn tồi tệ, khắc nghiệt và phân biệt đối xử hơn.

Xin tất cả mọi người yêu chuộng Tự Do Dân Chủ và các chí hữu hãy cầu nguyện cho thầy giáo Đinh Đăng Định một người yêu nước được kéo dài thêm sự sống cho những ngày còn lại… dù đó là những này ngắn ngủi!!!

Posted in Công An, Trại Tù | Leave a Comment »

►Phạm Viết Đào không có tội…đã đến lúc VN cần có “tự do ngôn luân”, “tự do báo chí”…

Posted by hoangtran204 trên 15/03/2014

 

Phạm Viết Đào không có tội

Nguyễn Mộng Hoài

Theo blog Quê Choa

Blogger Phạm Viết Đào (nhà văn)

Gần đây, nhiều blogger đã bị ghép vào một số điều mơ hồ của luật và bị bắt, bị đem ra xử. Tòa xử các blogger nói là công khai, nhưng thực ra là làm vội và không công khai. Dường như, những vị quan tòa xử các vụ này đều “miễn cưỡng” làm nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc xử theo kiểu nào thì cũng chứng tỏ “chúng ta” đang ở thế yếu và theo một nền “nhân trị” chứ không hoàn toàn là “pháp trị”, và nếu có “pháp trị” thì cũng là do “chỉ đạo” mà soạn ra các điều luật có lợi cho nhà cầm quyền. Chỉ người dân bị trị là thiệt thòi.

Trong thời đại “bùng nổ thông tin” và phương tiện thông tin ngày càng hiện đại này, người ta khó và không thể “bịt mồm” bất kỳ một phương tiện nào. Người ta nghe thông tin một chiều quá nhiều rồi, nhận thức quá méo mó rồi, nên đòi hỏi phải nhiều chiều. Vì vậy, tôi có cảm giác là các báo, đài “quốc doanh” của ta bây giờ ít hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem lắm rồi thì phải. Ớn cái “một chiều” ấy, người ta tìm đến cái đa chiều, mà đáp ứng cái đa chiều ấy chính là hệ thông báo mạng và những người làm báo mạng, trong đó có đội ngũ những blogger. Theo dõi thường xuyên trên mạng, chúng tôi thấy “nhà báo mạng” thật đa dạng, thật nhiều trình độ, từ một vị tướng đã 99 tuổi, đã từng có 25 năm làm đại sứ ở nước “bốn tốt” hiểu khá rõ ông bạn vàng. Nhưng bài viết của Cụ thật đáng để ghi nhớ. Tiến sĩ, thạc sĩ, tướng về hưu, nhà văn, nhà báo, thậm chí cháu học sinh đều có thể viết bài, đưa clip, ảnh lên mạng. Phạm Viết Đào là một ví dụ.

Khi Phạm Viết Đào lập trang mạng của mình và tôi vào đọc tác phẩm của nhà văn cảm thấy nhiều cái rất đúng và rất tâm đắc. Phạm Viết Đào hầu như chỉ nói về những vấn đề mà mọi người quan tâm, nói về những bức xúc của dân và những vấn đề cần làm cho đúng trong điều hành đất nước. Một thời gian dài, mặc dù cái tuổi đã “sau hưu”, Phạm Viết Đào vẫn xông xáo lên các tỉnh biên giới phía Bắc, nơi đã từng có chục năm tiến hành cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc, đã từng có những chiến thắng đè bẹp quân xâm lược, nhưng cũng đã từng có một vài cuộc thảm sát ghê rợn của kẻ thù.

Theo con số trên mạng, có đến 60.000 người lính là người dân Việt Nam bị chết trong các trận chiến đấu kéo dài gần 10 năm ấy. Những người hi sinh cả tính mạng, tài sản của mình cho sự nghiệp bảo vệ biên giới tổ quốc rất cần được tôn vinh, tôn vinh không thể kém những người đã hi sinh trong 31 năm kháng chiến đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Nhưng từ sau tháng Hai năm 1979 đầy đau thương và mất mát ấy, cuối cùng cứ bị đẩy vào quên lãng. Các cơ quan truyền thông quốc doanh dưới sự chỉ đạo “dân chủ tập trung” nào đó cứ im thin thít, chắc là sợ động chạm đên ông bạn vàng hay là sợ bạn mất lòng, bạn cắt phần kinh phí tài trợ chăng !

Giá như vào các thập kỷ 50, 60 thế kỷ trước, khi mà phương tiện thông tin nước ta chỉ có báo đảng, đài đảng và TTX đảng thì nói một chiều cũng chẳng ai biết là một chiều. Bây giờ, trong thế kỷ 21, thời đại phát triển như vũ bão công nghệ thông tin, nếu muốn, nếu có người chỉ đạo chặt chẽ và thậm chí dùng điều này điều nọ để bỏ tù những ai dám viết khác đi thì cũng không thể làm được nữa. Ai có thể lấy bàn tay che mặt trời, và ai có thể chặn được sóng điện tử đang bao phủ toàn thế giới, thậm chí cả vũ trụ rộng lớn?

Nếu nói là lợi dụng thì nên lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, của mạng In-tơ-nét toàn cầu để thông tin đa chiều, thông tin nhanh nhất và kịp thời nhất, dành quyền phán quyết, tiếp thu cho người nghe. Tuyên truyền báo chí một chiều là coi thường dân trí, coi thường người dân. Một khi các nhà mạng thi nhau mở rộng và nâng cấp mạng của mình, ngoài việc thu lợi nhuận còn có tác dụng phổ biến thông tin. Ngăn chặn thông tin và thông tin một chiều là một việc làm uổng công, không kém phần tốn tiền mà không mang lại tích sự gì. Thông thường, quyển sách nào cấm, tờ báo nào cấm, thì lại hút nhiều người đọc.

Phạm Viết Đào cũng như nhiều blogger khác đã ngày đêm mệt mài thu thập tư liệu, phân tích tư liệu, trăn trở viết bài về những sự thật mà không thể giấu, phơi bày công khai lên mạng cho rất nhiều người thấy. Người dân hưởng thụ thông tin không phải mỗi lúc bị “mê hoặc” bởi những thông tin trái chiều đâu. Họ cũng sáng suốt lắm đấy. Phạm Viết Đào là một nhà văn, đã từng làm Phó Thanh tra của Bộ Văn hóa, thông tin, nay là Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch, há chẳng lẽ không biết gì mà cứ nhắm mắt làm liều ư ?

Không, Phạm Viêt Đào đã làm đúng lương tâm của người cấm bút, đã dũng cảm bằng phương tiện thông tin hiện đại, nói lên nhiều sự thật mà không thể chối cãi, không thể che giấu. Loạt tư liệu, loạt bài nói lại về cuộc chiến tranh biên giới kéo dài 10 năm, cũng như một số blogger ngày nay nói lại các trận chiến đấu ở Gacma, chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa chính là để thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta bảo vệ từng mét đất, biên giới, từng hải lý biển thuộc chủ quyền. Làm việc đó là góp phần bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng chứ có phải làm phản động, phản bội đâu.

Nếu so với những kẻ tham nhũng lớn nhỏ hàng ngày hàng giờ đục khoét, vơ vét ngân sách, làm nghèo đất nước, làm khổ người dân vô tội, chính những kẻ đó mới là những đối tượng bị trị tội thật nghiêm. Còn những người như Phạm Viêt Đào, như Trương Duy Nhất, như Cù Huy Hà Vũ, như cháu sinh viên Phương Uyên…là những người có công chứ không phải là người có tội, khép tội cho họ vừa không đúng với lương tâm vừa không phải là đạo đức Hồ Chí Minh.

Ngày 19-3-2014 này sẽ có phiên tòa xử nhà văn Phạm Viết Đào. Tôi biết, khi đã quyết, người ta lợi dụng sức mạnh trong tay (dù ngày nay sức mạnh ấy cũng không còn mạnh nữa), xử án và định tội cho một con người chân chính như Phạm Viết Đào. Tất nhiên Phạm Viết Đào mặc dù có cái đúng của mình, nhưng cũng không thể cưỡng lại được, khi mà cường quyền vẫn đánh bạt lương tâm và lẽ phải. Tuy nhiên, là một người dân, trót theo dõi thông tin trên mạng và trên các ấn phẩm quốc doanh, tôi tha thiết đề nghị Tòa xử Phạm Viết Đào phải hết sức công tâm, phải công khai, phải nghe lời nói phải. Phạm Viết Đào phải được tha bổng và không chỉ là tha bổng mà phải được minh oan, Phạm Viết Đào không có tội. Phạm Việt Đào phải được tự do !

Qua đây, thấy cần thiết hơn bao giờ hết, cấn có một xã hội dân sự, cần triệt để tôn trọng những điều nói về nhân quyền, dân quyền, về tự do ngôn luận trong Hiến Pháp của nước ta. Đặc biệt là đã đến lúc cần có “tự do ngôn luân”, “tự do báo chí”...

Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
————————————-

Việt Nam điều chỉnh nỗ lực tìm kiếm máy bay Malaysia mất tích

Trà Mi-VOA

14.03.2014

Việt Nam loan báo điều chỉnh các hoạt động tìm kiếm chiếc phi cơ bị mất tích của hãng hàng không Malaysia Airlines sau gần 1 tuần nỗ lực vô vọng.

Trả lời VOA Việt ngữ tối ngày 14/3, phát ngôn viên báo chí của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn, nhấn mạnh Việt Nam điều chỉnh kế hoạch, chứ không giảm bớt, hoạt động tìm kiếm như báo chí nước ngoài đưa tin. Trước đó, tờ Time dẫn lời ông Sơn nói rằng các cuộc tìm kiếm của Việt Nam đã chuyển từ ‘khẩn trương’ sang ‘thường xuyên’.

Tin cho hay nhà chức trách Malaysia đã đề nghị Việt Nam gửi tàu và máy bay tới eo biển Malacca giữa lúc tâm điểm cuộc tìm kiếm từ Biển Đông đang quay sang khu vực Tây Malaysia và sâu dần về phía Tây hướng tới Ấn Độ Dương.

Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, người phát ngôn của  Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn Việt Nam đã phủ nhận thông tin này và khẳng định Việt Nam chưa hề nhận được yêu cầu chính thức nào từ phía Malaysia. Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn cũng bác bỏ nhận xét cho rằng phía Việt Nam tỏ ra mệt mỏi và thất vọng trước cách đáp ứng của Malaysia.

Bấm vào để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn với người phát ngôn của Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn Việt Nam

VOA: Xin phép cho tôi gặp ông Ngọc Sơn.

Trung tá Nguyễn Ngọc SơnTôi nghe đây, có gì chị nói đi.

VOA: Được biết Việt Nam loan báo giảm hoạt động tìm kiếm chiếc máy bay mất tích. Thông tin này đúng không thưa ông?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Hiện nay Việt Nam chúng tôi tổ chức điều chỉnh kế hoạch và vẫn tổ chức tìm kiếm tích cực.

VOA: Có thông báo rằng hoạt động tìm kiếm của Việt Nam chuyển từ trạng thái ‘khẩn trương’ sang ‘thường xuyên’, thưa ông?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Tôi nói rồi. Hiện nay chúng tôi đã điều chỉnh kế hoạch và tổ chức tìm kiếm một cách tích cực.

VOA: Tin nói Malaysia có đề nghị Việt Nam gửi máy bay và tàu đến eo biển Malacca hỗ trợ. Phía Việt Nam có nhận lời không?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Hiện nay phía Việt Nam chúng tôi chưa nhận được một văn bản chính thức nào của phía Malaysia yêu cầu đưa phương tiện về phía biển Malacca để tìm kiếm.

VOA: Công cuộc tìm kiếm đang mở rộng sang vùng Ấn Độ Dương. Sự tham gia của Việt Nam như thế nào trong khu vực tìm kiếm này?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Khu vực Ấn Độ Dương thì phía Việt Nam chúng tôi không quan tâm đến thông tin này.

VOA: Hôm nay Việt Nam loan báo phát hiện một vệt màu vàng gần mũi Cà Mau. Xin ông cho biết về việc này?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Phát hiện một vết màu vàng ở phía Cà Mau, chúng tôi đang đưa các cơ quan chức năng đến để xác minh.

VOA: Ông có thể cho biết vị trí cụ thể cũng như phạm vi của vệt vàng đó?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Tôi trả lời với bạn rằng chúng tôi đang điều các cơ quan và lực lượng chức năng đến để xác minh vệt vàng này.

VOA: Việt Nam cũng mở rộng vùng tìm kiếm ra 2 khu vực mới ở bờ biển phía Nam. Xin cho biết cụ thể đó là những khu vực nào? Có dấu hiệu gì cho quyết định mở rộng này không?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Trong những ngày qua, Việt Nam chúng tôi đã rất tích cực để tìm kiếm chiếc máy bay bị mất tích, phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ với các nước tham gia tìm kiếm. Việt Nam đã quyết định chuyển vị trí tìm kiếm mở rộng sang bên phải của đường bay.

VOA: Sự hỗ trợ, hợp tác của phía Malaysia trong công tác tìm kiếm thế nào?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Tôi xin được không nhận xét về vấn đề này.

VOA: Tin cho hay giới chức Việt Nam tỏ ra mệt mỏi và hơi thất vọng trước cách đáp ứng của Malaysia. Thông tin này chính xác không?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn:  Phía Việt Nam chúng tôi chưa lúc nào mệt mỏi về nhiệm vụ chúng tôi đang thực hiện.

VOA: Xin cho biết kế hoạch sắp tới như thế nào sau 1 tuần tìm kiếm tại Biển Đông?

Trung tá Nguyễn Ngọc Sơn: Kế hoạch sắp tới thì chúng tôi vẫn đang triển khai và xây dựng kế hoạch

Tân Hoa xã ngày 14/3 dẫn lời giới chức Việt Nam không muốn nêu tên cho hay Việt Nam đã điều động 5 máy bay và 8 tàu tới 2 khu vực tìm kiếm mới ngoài khơi bờ biển phía Nam Việt Nam. Ngoài ra cũng có 4 trực thăng đang chuẩn bị sẵn sàng hỗ trợ khi cần thiết.

Ngoài Việt Nam, Singapore và Malaysia cũng đang cử các máy bay tìm kiếm đến các khu vực này, nơi vệ tinh Trung Quốc ngày 13/3 phát hiện các vật thể nghi ngờ có thể là của chiếc Boeing 777 lâm nạn.

Trong khi đó, giới chức Hoa Kỳ tỏ dấu hiệu cho thấy máy bay MH370 của Malaysia có thể đã rơi tại vùng Ấn Độ Dương.

Mỹ đang đưa tàu khu trục USS Kidd tới giúp tìm kiếm. Tàu sẽ hiện diện tại đây trong vòng  24 giờ tới.

Ngũ Giác Đài cho hay tàu khu trục cùng các trực thăng cứu hộ Mỹ được điều động theo yêu cầu của Malaysia đang tiến tới vùng giao điểm giữa Ấn Độ Dương với Biển Andaman.

Sau khi nhà chức trách Malaysia loan báo mở rộng vùng tìm kiếm đến biển Andaman, Ấn Độ ngày 14/3 cho biết đang hướng các cuộc tìm kiếm tới các vùng biển phía Tây của chuỗi đảo Andaman và Nicobar.

AP dẫn lời giám sát lực lượng tuần duyên Ấn, V.S.R Murty cho biết công tác của 6 tàu tuần tra và tàu hải quân Ấn cùng với các máy bay đang chuyển sang hướng Tây sau 3 ngày tìm kiếm các vùng phía Đông của biển Andaman mà chưa phát hiện manh mối gì về số phận 239 người trên chiếc phi cơ mất tích hôm 8/3 khi đang trên đường từ Malaysia đi Bắc Kinh.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Đường Việt Nam đắt gấp 3 Mỹ vì nhiều đơn vị tư vấn bắt tay với chủ đầu tư, nâng đơn giá lên gấp 2-3 lần so với giá trị thực tế và ban quản lý gây thất thoát vốn

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2014

 

Bộ trưởng chỉ thẳng lý do ‘đường Việt Nam đắt gấp 3 Mỹ’

13-3-2014

vtc.vn

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh vừa tiết lộ lý do đường cao tốc Việt Nam đắt gấp 3 lần Mỹ tại Hội nghị thảo luận hoàn thiện các nội dung dự án Luật đầu tư công.

Nhiều đơn vị tư vấn không còn giữ được quan điểm độc lập, mà bắt tay với chủ đầu tư, ban quản lý gây thất thoát vốn.

Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh đã tiết lộ điều này tại Hội nghị thảo luận hoàn thiện các nội dung dự án Luật đầu tư công.

Theo đó phản ánh có những công trình chủ đầu tư và công ty tư vấn bắt tay nhau, nâng đơn giá lên gấp 2-3 lần so với giá trị thực tế.

“Dự thảo Luật Đầu tư công sẽ phải làm rõ trách nhiệm của đơn vị tư vấn, cùng với chủ đầu tư và ban quản lý để răn đe, truy cứu trách nhiệm và phòng ngừa sai phạm”, Bộ trưởng Vinh nói.

Điều này không phải lần đầu tiên được đề cập, bởi trước đó đại biểu Quốc hội Trịnh Ngọc Thạch, ĐBQH đoàn Hà Nội đã từng chỉ thẳng ví dụ cụ thể đối với việc làm đường cao tốc ở Việt Nam.

 

 

Làm đường cao tốc ở Việt Nam đắt hơn cả Mỹ nhưng vẫn bị lún, sụt 

Đại biểu Thạch dẫn ví dụ làm 1km đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đoạn đi qua thành phố Đà Nẵng sẽ mất khoảng 267 tỷ đồng, tương đương 12,7 triệu USD (Trong khi Trung Quốc làm chỉ có 5 triệu USD/km, còn Mỹ thì chỉ mất 4,5 triệu USD/km.

“Làm đường cao tốc Việt Nam đã vượt kỷ lục đắt hơn gấp 3 lần Mỹ, và 2,6 lần Trung Quốc. Đầu tư công ở Việt Nam lãng phí và thất thoát như thế nhưng lại chưa quy định rõ cấp nào sẽ chịu trách nhiệm”, đại biểu Thạch nói.

Thực tế tiêu cực trong các dự án xây dựng cũng từng được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề cập thẳng rằng: “Có công trình xây dựng, giao thông nào mà không đội giá, các đồng chí thử tìm xem, đội lên hàng nghìn tỉ đồng nhưng rồi lại đâu vào đấy”.

Vấn đề này, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng nhận định, các cơ quan quản lý thấy rõ nhưng cuối cùng vẫn phải chạy theo chủ đầu tư để điều chỉnh giá khiến giá xây dựng của Việt Nam đắt nhất khu vực, thế giới. Đặc biệt các công trình giao thông, công trình xây dựng, công trình nào cũng dây dưa kéo dài để đòi điều chỉnh giá.

“Đút lót, tiêu cực nhưng không bắt, không xử được, có bắt có xử được mấy đâu. Mà đã nói đấu tranh phòng chống tham nhũng là đây, luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí là đây”, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng bức xúc nói.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►6 Hạt Giống Đỏ: Cha truyền con nối

Posted by hoangtran204 trên 13/03/2014

Nguyễn Tấn Dũng đang dự tính làm gì đây nên sai con lớn về  thủ thành, trong khi con rễ đang chuẩn bị biến những món tiền tham nhũng thành các món tiền có chứng từ (do làm doanh nghiệp Mc HenryNALD mà có tiền). Vậy là tình hình sắp chuyển biến… nên phải gởi tiền cho con rễ đem qua Mỹ. 2014, Henry Hoàng Nguyễn mua đội bóng đá MSL Chivas ở California giá 100 triệu USD; nhóm của Henry đã hứa xây riêng một sân bóng đá cho đội Chivas luyện tập.

Đừng quên: bộ trưởng Phạm Bình Minh là con của bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch;

Nguyễn Chí Vịnh (là con của Nguyễn Chí Thanh) sẽ là BT Quốc Phòng 2016…

Hoàng Trung Hải sẽ là Thủ Tướng 2016

Phạm Quang Nghị sẽ là Tổng Bí Thư 2016 (Chuyến đi Mỹ 7/2014 của PQN)

Nguyễn Tấn Dũng trở thành thái thượng hoàng.

 

Cập nhật 23-6-2-14

Con trai út thủ tướng làm phó bí thư Tỉnh đoàn Bình Định

Sáng 23-6, tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã công bố quyết định về việc cử cán bộ đi đào tạo thực tế tại cơ sở. Theo đó, Nguyễn Minh Triết được cử về làm Phó Bí thư Tỉnh đoàn Bình Định, nhiệm kỳ 2013 – 2017.

Nguyễn Minh Triết là Ủy viên Ban chấp hành, Phó Trưởng ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ và phát triển sinh viên Việt Nam.

Anh Nguyễn Minh Triết sinh năm 1990, tốt nghiệp thạc sĩ tại Anh và là con trai út của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Các con cái của ông Dũng đều giữ những vị trí cao trong hệ thống quyền lực hoặc trong ngành tài chính.

Anh Nguyễn Minh Triết (bên trái) làm Phó Bí thư Tỉnh đoàn Bình Định nhiệm kỳ 2013 - 2017

Biên tập theo báo NLD: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/anh-nguyen-minh-triet-lam-pho-bi-thu-tinh-doan-binh-dinh-20140623155117767.htm

———–

Con trai thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đề bạt làm Phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang

12-3-2014

Con trai thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng – thứ trưởng Nguyễn Thanh Nghị (38 tuổi, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng) mới được đề bạt làm Phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang vào ngày hôm qua, 11/03/2014.

Kiên Giang là “căn cứ địa” của cậu bé liên lạc Nguyễn Tấn Dũng 12 tuổi năm xưa, là “cơ sở cách mạng”, là bàn đạp chiến lược cho đường công danh – vinh hoa phú quý tột bậc của ngài thủ tướng đương nhiệm, việc cơ cấu về làm lãnh đạo tỉnh ủy Kiên Giang của cậu ấm thủ tướng cho thấy đường danh vọng thênh thang đang được mở ra trước mắt cho “hạt giống đỏ” gia đình tài phiệt khét tiếng họ Nguyễn, người liên tục được bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo quan trọng trong thời gian ngắn vừa qua nhưng chưa hề tạo được dấu ấn đặc biệt nào ngoài dấu ấn COCC với dư luận.

Năm 2008, hai năm sau khi du học nước ngoài trở về, cậu ấm sinh năm 1976 này được đề bạt làm Phó hiệu trưởng trường Đại học Kiến Trúc thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 1 năm 2011, tại Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XI, tuy không được đại hội đảng cơ sở đề cử lên, song cậu trai cả Nguyễn Thanh Nghị vẫn được bầu làm Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương.

Ngày 11 tháng 11 năm 2011, bằng quyết định số 2011/QĐ-TTg, do phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký, ông bố Thủ tướng đã bổ nhiệm ông con làm Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.

Nguyễn Thanh Nghị còn có cậu em trai tên là Nguyễn Minh Triết, sinh năm 1990 sau khi du học ở Anh Quốc về hiện đang trong vai Ủy viên Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh để làm bệ phóng tương lai. 

nguồn: danluan.org

——————————————

Con thủ tướng chuyển về Kiên Giang

12-3-2014

BBC

Ông Nguyễn Thanh Nghị, con trai đầu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vừa được Bộ Chính trị luân chuyển về tỉnh Kiên Giang làm phó bí thư Tỉnh ủy.

Trước khi nhận nhiệm sở mới, ông Nghị đang là thứ trưởng Bộ Xây dựng và là ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng. Con Thủ tướng Dũng vào ghế thứ trưởng (11.11.11)

“Nhận chức ngay’

Ông Nghị sẽ về Kiên Giang nhận nhiệm vụ mới ngay trong tháng Ba này, theo tờ Tuổi Trẻ.

Ông Nghị sinh năm 1977, là con trai cả trong số ba người con của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông từng theo học tại Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó đi du học tại Mỹ.

Ông được cho là đã có bằng tiến sỹ tại Đại học George Washington.

Sau khi về nước, ông được đề bạt làm phó hiệu trưởng Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh trước khi ra Bộ Xây dựng.

Tại Đại hội Đảng lần thứ 11 hồi đầu năm 2011, ông Nghị được vào Ban chấp hành Trung ương Đảng với tư cách ủy viên dự khuyết.

Một số nhà quan sát cho rằng tỉnh Kiên Giang là cái nôi quyền lực của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thân phụ ông Nghị. Đây là nơi ông Dũng từng đi lên trên các nấc thang quyền lực trước khi ra Hà Nội rồi cuối cùng trở thành Thủ tướng.

Ông Nghị có chuyên ngành về kiến trúc

Tại Kiên Giang, ông Dũng từng làm bí thư Huyện Hà Tiên, sau thăng chức làm phó bí thư rồi bí thư Tỉnh ủy. Ông cũng từng là chủ tịch tỉnh Kiên Giang.

Nơi đây được cho là có nhiều thành phần ủng hộ ông Dũng. Bản thân ông Dũng cũng từng cất nhắc nhiều các bộ từ Kiên Giang ra trung ương.

Ông Nghị nằm trong số 19 thứ trưởng được luân chuyển từ trung ương về địa phương trong đợt này, theo một quyết định của Bộ Chính trị hồi cuối tháng Hai.

Việc luân chuyển này nhằm ‘chuẩn bị một bước về nhân sự lãnh đạo cấp ủy địa phương’ và ‘đào tạo, rèn luyện cán bộ trẻ’, theo công văn của Bộ Chính trị hôm 28/2.

‘Tăng thêm chỗ’

Truyền thông trong nước nói toàn bộ cán bộ luân chuyển đợt này, tổng cộng 44 người, nằm trong ‘quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt của các cơ quan, đơn vị ở Trung ương’.

Như vậy, nhiều khả năng tại Đại hội Đảng 12 vào năm 2016, ông Nghị sẽ chính thức được bầu vào Ban chấp hành trung ương Đảng.

44 người luân chuyển lần này, trong đó có 19 thứ trưởng và 25 cục trưởng, vụ trưởng các bộ, sẽ về các tỉnh, thành làm phó bí thư hoặc phó chủ tịch.

Trong lần tập huấn số cán bộ luân chuyển trong hai hôm 6 và 7/3, ông Tô Huy Rứa, trưởng Ban Tổ chức Trung ương, được Thông tấn xã Việt Nam dẫn lời nói rằng các vị được luân chuyển ‘đều đảm bảo tiêu chí, tiêu chuẩn, được tín nhiệm đề cử, được các cơ quan tham mưu, các địa phương đồng thuận cao’.

Ông Lê Trương Hải Hiếu, con đương kim Bí thư Thành ủy TP. HCM, được bổ nhiệm làm phó bí thư quận 1

Ông Rứa cũng cho biết là để có chỗ đưa cán bộ trung ương về địa phương, Bộ Chính trị đã phải tăng thêm chức danh lãnh đạo cấp ủy cũng như chính quyền các tỉnh thành.

Một người đồng cấp khác của ông Nghị tại Bộ Xây dựng là ông Trần Văn Sơn cũng nằm trong đợt luân chuyển này. Tuy nhiên, ông Sơn đã lớn tuổi hơn ông Nghị nhiều (53 tuổi) và được điều động về tỉnh Điện Biên cũng làm phó Bí thư như ông Nghị.

Theo các nhà quan sát, ông Nguyễn Thanh Nghị thuộc thành phần ‘thái tử Đảng’ hiện nay trong Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là con các lãnh đạo cao cấp được quy hoạch các chức vị lãnh đạo trong tương lai.

Một ủy viên Trung ương dự khuyết giống như ông Nghị là Nguyễn Xuân Anh, con trai của cựu ủy viên Bộ chính trị, trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Nguyễn Văn Chi, cũng đã được đề bạt là phó chủ tịch Đà Nẵng cách nay không lâu.

Còn con trai lớn của ông Lê Thanh Hải, bí thư Thành phố Hồ Chí Minh, là Lê Trương Hải Hiếu cũng đã được bổ nhiệm là phó bí thư Quận 1, quận trung tâm của thành phố lớn nhất nước này.

———————————————-

Con trai út Thủ tướng làm cán bộ Đoàn

chủ nhật, 29 tháng 1, 2012

BBC

Nguyễn Minh Triết (thứ hai, từ trái sang) về làm cán bộ Đoàn từ tháng 11/2011

Tin cho hay con trai út Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thạc sỹ Nguyễn Minh Triết, đã từ Anh trở về Việt Nam để làm cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản ở cơ sở.

Báo Tiền Phong của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong bài ‘Góp sức trên quê nhà’ đăng ngày 28/1 đưa tin anh Triết, người từng giữ chức Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam tại Anh, đã “được cấp học bổng học tiếp Tiến sỹ, làm giảng viên cùng những cơ hội công việc hấp dẫn khác, nhưng anh chọn trở về”.

Bài này sau cũng được báo Dân Trí đăng lại hôm 29/1.

Thạc sỹ Nguyễn Minh Triết, 23 tuổi, là con trai út của thủ tướng đương nhiệm. Anh có anh trai là Nguyễn Thanh Nghị, 35 tuổi, Thứ trưởng bộ Xây dựng; và chị gái là Nguyễn Thanh Phượng, 32 tuổi, thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng Bản Việt.

Anh Triết về Việt Nam sau khi du học bảy năm, chủ yếu tại Đại học Queen Mary, London, chuyên ngành Kỹ thuật Hàng không và Chế tạo máy.

Anh nhận bằng thạc sỹ với đề tài Kỹ thuật động cơ siêu thanh; và đã có sáu tháng thực tập tại công ty danh tiếng Rolls Royce.

Từ tháng 11/2011, Nguyễn Minh Triết đã tham gia phong trào đưa cán bộ trẻ về xã trong vị trí cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản cấp cơ sở.

Có lẽ anh là cán bộ Đoàn cơ sở có học vị cao nhất hiện nay.

Bài báo trên Tiền Phong không nói rõ công việc của anh Triết là gì, nhưng viết vừa nhận việc anh đã “xách ba lô cùng các cán bộ Đoàn rong ruổi Bắc Nam để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của học sinh-sinh viên và bạn trẻ”.

Trước khi về nước, Nguyễn Minh Triết cũng đã có sáng kiến thành lập Trung tâm Phát triển Tri thức với mục tiêu kết nối du học sinh Việt Nam ở các nước ngoài.

Báo Tiền Phong viết: “Từ lâu Minh Triết đã mang dáng dấp của một cán bộ Đoàn năng động, nhiều sáng kiến”.

Bài nói về anh Nguyễn Minh Triết còn tiết lộ cán bộ Đoàn trẻ tuổi này “chưa vội chuyện tình yêu”.

Cán bộ cơ sở

Ông Nông Quốc Tuấn

Ông Nông Quốc Tuấn (bên phải) từ cán bộ Đoàn lên Ủy viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang

Đoàn Thanh niên Cộng sản là tổ chức thanh niên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện cả nước có khoảng sáu triệu Đoàn viên, những người được cho là ‘phấn đấu cho lý tưởng của Đảng Cộng sản’.

Đoàn Thanh niên cũng được cho là tổ chức hậu bị của Đảng, với nhiều lãnh đạo trong bộ máy chính trị hiện thời xuất thân từ hàng ngũ Đoàn.

Trong đó có các nhân vật như ông Hồ Đức Việt, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN; ông Vũ Mão, cựu Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban Về các Vấn đề Xã hội của Quốc hội…

Gần đây, ông Võ Văn Thưởng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn trở thành Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi và ông Nông Quốc Tuấn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên trở thành Phó Bí thư, rồi Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang.

Con đường làm cán bộ Đoàn ở cấp cơ sở như phường, xã, được cho là giúp các lãnh đạo tương lai thâm nhập cuộc sống và hiểu biết tường tận hơn về cuộc sống xã hội và nguyện vọng của người dân.

Ba người con của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều được giới quan sát nước ngoài đánh giá cao về học vấn và điều kiện lập thân.

Anh Nguyễn Minh Triết sang Anh từ năm 2004 và học A-level (dự bị đại học) ở Michael College. Năm 2006, anh bắt đầu học tập tại Đại học Queen Mary cho tới 2009.

Công điện của Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh Seth Winnick đánh đi ngày 26/12/2006, sau bị rò rỉ trên Wikileaks, đã tóm lược tin tức thu thập được về con cái Thủ tướng Dũng và viết rằng “các cánh cửa đang rộng mở” chào đón họ.

Ông Winnick cũng nhận xét đây là “bằng chứng cho thấy cách thức mà tầng lớp lãnh đạo (Việt Nam) bảo đảm cho con cái họ những vị trí đầy lợi thế về giáo dục, chính trị và cả kinh tế”.

————————————————–

 

 

Con gái Thủ tướng Dũng thêm vai trò mới

thứ năm, 3 tháng 11, 2011

Chủ tịch Hội đồng Quản trị (HĐQT) của cả ba công ty kinh doanh vốn, chứng khoán và bất động sản Nguyễn Thanh Phượng nắm thêm vai trò trong khu vực ngân hàng.

Bà Phượng, sinh năm 1980, là con gái của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tin đăng trên trang web của chính Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt cho hay bà Phượng, chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty quản lý quỹ Bản Việt, chủ tịch HĐQT công ty chứng khoán Bản Việt và chủ tịch HĐQT công ty bất động sản Bản Việt được bầu làm thành viên HĐQT Ngân hàng Bản Việt.

BấmBản tin ngày 3/11 nói Ngân hàng Gia Định đã thông qua việc đổi tên thành Ngân hàng Bản Việt.

“Đại hội cổ đông bất thường sáng ngày 3/11 của ngân hàng TMCP Gia Định (GiaDinhBank) đã thông qua sửa đổi điều lệ đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank) và tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ đồng (95 triệu đôla) lên 3.000 tỷ đồng (142 triệu đôla)”.

BấmĐại hội này cũng thông qua việc bầu bổ sung bà Nguyễn Thanh Phượng làm thành viên HĐQT ngân hàng nhiệm kỳ 2010-2014.

Công ty chứng khoán Bản Việt chính là công ty tư vấn cho GiaDinhBank để chào bán 100 triệu cổ phần nhằm tăng vốn hồi cuối tháng Bảy năm nay.

Bản tin trích điều họ gọi là nguồn tin của Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online nói một nhóm cổ đông đã mua với tỷ lệ tối thiểu 30% vốn điều lệ của GiaDinhBank.

“Cổ đông lớn nhất của GiaDinhBank là Vietcombank cũng đã cơ bản hoàn tất thương vụ bán hết 30% vốn cho một số cổ đông”.

Thông tin trên website của Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt nói bà Phượng từng làm Giám đốc đầu tư của quỹ Vietnam Holding, một quỹ đầu tư niêm yết trên thị trường chứng khoán London.

“Ngoài ra, bà Phượng từng giữ vị trí Phó Giám đốc tài chính của Công ty Liên doanh Holcim (Việt Nam), một tập đoàn đa quốc gia Thụy Sĩ”.

Chồng bà Nguyễn Thanh Phượng là ông Nguyễn Bảo Hoàng (Henry), thành viên HĐQT Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt.

Ông Hoàng, người Mỹ gốc Việt, hiện là Tổng Giám đốc của Quỹ đầu tư IDG Ventures tại Việt Nam (IDGVV), chuyên đầu tư vào các công ty thuộc lĩnh vực tiêu dùng, truyền thông và công nghệ kể từ năm 2004.

Trong cuộc Bấmphỏng vấn dành cho báo Tuổi Trẻ cách đây 5 năm, Nguyễn Thanh Phượng nói “Tôi yêu nghề đầu tư tài chính vì theo quan điểm cá nhân, tôi cho nó là đỉnh cao của rất nhiều nghề”.

“Tôi nghĩ có vài điều mà người ta cũng có thể học được từ một cô gái tuổi đôi mươi như tôi….là nên làm nhiều và nói ít thôi”, Phượng nói thêm.

Người năng động’

Trong các điện tín ngoại giao Sứ quán Hoa Kỳ gửi về nước bị trang web Wikileaks tiết lộ mới đây, cũng có bức điện liên quan tới con cái của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Tp HCM, ông Seth Winnick trong BấmCông điện ngày 26/12/2006 đã tóm lược tin tức thu thập được về các người con của ông Nguyễn Tấn Dũng trong đó có Nguyễn Thanh Phượng.

Báo Người Việt gần đây trích lời ông Winnick viết: “Phượng giống cha như đúc, và dường như trong ba người con ông thủ tướng, Phượng là người năng động nhất. Trong câu chuyện với chúng tôi, cô tỏ ra cởi mở, tò mò, và chăm chú. Rõ ràng cô là một người có tài.”

“Tuy thế, việc thăng tiến vượt trội của Phượng, và những cánh cửa rộng mở đón chào Phượng và anh em của cô,” là “bằng chứng cho thấy cách thức mà tầng lớp lãnh đạo (Việt Nam) bảo đảm cho con cái họ những vị trí đầy lợi thế về giáo dục, chính trị và cả kinh tế.”

Công điện đơn cử một vài ví dụ, “Tháng 1/2006, lúc mới hơn 25 tuổi, Phượng đã là giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị vốn đầu tư 112 triệu đôla của các nhà đầu tư Thụy Sĩ.

Ðến tháng 11 cùng năm, Phượng lên làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Quản Lý Quỹ Ðầu Tư Chứng Khoán Bản Việt với nhiều trăm tỷ đồng Việt Nam đến từ các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.”

Tại sao người ta có thể tin tưởng để giao một số vốn không lồ như thế cho một người trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm như Phượng?

Tổng Lãnh Sự Seth Winnick trả lời câu hỏi này thay cho lời kết của công điện: “Tất nhiên, về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản lý, là một điều khôn ngoan, nhất là khi quỹ này tập trung vào việc đầu tư trong những ngành mà nhà nước kiểm soát, như dầu khí, ngân hàng và công nghệ thông tin.”

Bức điện này cũng nói về việc Tổng Thống Bush làm Thủ tướng Dũng hơi ngỡ ngàng khi ông Bush đột nhiên đề cập đến mối quan hệ giữa các con ông Dũng với phía Hoa Kỳ trong chuyến thăm Việt Nam của ông Bush hồi năm 2006 để dự hội nghị thượng đỉnh APEC tại Hà Nội.

Bức điện có đoạn mô tả rằng “Theo một nguồn tin đáng tin cậy ở thành phố Hồ Chí Minh, Thủ Tướng Dũng giật mình khi Tổng Thống Bush hỏi han về việc học hành cũng như những liên hệ khác của các con ông tại Hoa Kỳ”.


Ông Nguyễn Bảo Hoàng góp vốn mua đội bóng Mỹ

2014

Một nhóm nhà đầu tư, trong đó có doanh nhân Nguyễn Bảo Hoàng, được cho là sẽ chi ít nhất 100 triệu đôla để mua lại quyền sở hữu CLB Chivas USA.

Thông tin được đưa trên trang thể thao uy tín hàng đầu nước Mỹ, Sports Illustrated hôm qua 30/9.

Theo đó, ban điều hành giải bóng đá nhà nghề Mỹ MLS sẽ công bố danh tính nhóm chủ đầu tư mới của Chivas USA chậm nhất trong tuần tới, sau cuộc họp toàn thể ban điều hành trong tuần này. Nhóm nhà đầu tư này bao gồm Henry Nguyễn (tức Nguyễn Bảo Hoàng), Peter Guber, Vincent Tan và Tom Penn.

henry-7122-1412153607.png
Henry Nguyễn. Ảnh: IDG.

Henry Nguyễn là người đứng đầu Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG và đã đưa thương hiệu McDonald về Việt Nam. Doanh nhân gốc Việt này, theo Sports Illustrated, là người góp vốn nhiều nhất trong nhóm nhà đầu tư mua lại Chivas USA. Henry Nguyễn cũng sẽ chuyển đến sống tại Los Angeles để thỏa mãn điều khoản mua bán của MLS rằng cổ đông chính của hội đồng quản trị CLB phải sống tại đây.

Peter Guber, một nhà sản xuất ở Hollywood, là nhà đồng sở hữu CLB bóng rổ Golden State Warriors đang chơi tại giải nhà nghề NBA và đội bóng chày nhà nghề LA Dodgers. Vincent Tan là tỷ phú Malaysia, chủ sở hữu CLB bóng đá từng thi đấu ở Ngoại hạng Anh mùa trước Cardiff City. Còn Tom Penn là cựu CEO của giải NBA và đang làm việc cho kênh truyền hình  ESPN trong vai trò một chuyên gia phân tích.

Khoản tiền cụ thể để nhóm nhà đầu tư trên mua lại quyền sở hữu Chivas USA chưa được tiết lộ. Nhưng theo Sports Illustrated, con số tối thiểu phải là 100 triệu đôla – mức kỷ lục mà CLB mới thành lập New York City nộp để được tranh tài tại MLS từ tháng 3/2015.

Nhóm nhà đầu tư của Henry Nguyễn cam kết sẽ xây một sân bóng đá mới cho Chivas USA tại Los Angeles. Họ được cho là đã ngắm nghía hai địa điểm để xây sân mới, hoặc ở khu trung tâm Los Angeles – gần sân khu liên hợp thể thao Staples Center hoặc gần khu trường đua Hollywood Park – cách sân bay Los Angeles năm kilomet.

Chivas USA ra đời và dự giải MLS từ mùa 2004. Cầu thủ nổi tiếng nhất từng khoác áo CLB này là chân sút Colombia, Juan Pablo Angel (mùa 2011-12). Tên tuổi lớn nhất của họ hiện tại là hậu vệ kỳ cựu Carlos Bocanegra (từng 110 lần khoác áo tuyển Mỹ).

chivas-1857-1412153607.jpg
Chivas USA chưa từng vô địch MLS sau 11 mùa tranh tài ở sân chơi này.

Ở mùa giải MLS 2014 vừa qua, Chivas USA thi đấu không thành công, xếp chót bảng giải miền Tây – với chỉ sáu chiến thắng và sáu trận hòa, thua tới 18 trận – và không được dự vòng play-off tranh ngôi vô địch. Từ tháng 2 năm nay, CLB này thuộc quyền sở hữu của MLS sau khi các ông chủ Jorge Vergara và Angelica Fuentes dừng đầu tư.

Cũng theo Sport Illustrated, sau khi hoàn tất việc mua lại Chivas USA, các ông chủ mới sẽ rút CLB khỏi giải MLS, đóng cửa trong tối thiểu hai năm để tái thiết, xây sân bóng mới, đổi tên và thương hiệu của đội bóng.

Linh Linh
Theo VNEXPRESS

 

 

______________

Chỉ định ông Nguyễn Bá Cảnh vào Thành ủy Đà Nẵng

Ông Nguyễn Bá Cảnh – Ảnh: CTV

(TNO) Ban chấp hành T.Ư Đảng vừa ban hành Quyết định số 1281-QĐNS/TW về việc chỉ định Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2010-2015 đối với 4 cán bộ ở TP.Đà Nẵng.

Theo đó, danh sách gồm các ông Nguyễn Bá Cảnh, Bí thư Thành đoàn TP.Đà Nẵng; Đào Tấn Bằng, Bí thư Quận ủy Ngũ Hành Sơn; Lê Quang Nam, Giám đốc Sở KH-CN và Ngô Xuân Thắng, Ủy viên thường trực HĐND TP.Đà Nẵng.

Trong 4 cán bộ nêu trên, ông Nguyễn Bá Cảnh là người trẻ nhất (31 tuổi, quê Hòa Tiến, huyện Hòa Vang) trình độ thạc sĩ quản lý công, cao cấp chính trị, và là con trai của Trưởng ban Nội chính T.Ư Nguyễn Bá Thanh.

Vào tháng 2.2013, ông Nguyễn Bá Cảnh được bầu làm Bí thư Thành Đoàn TP.Đà Nẵng.

 

 

————————————

Từ phóng viên thành Ủy viên Trung ương

BBC

thứ tư, 26 tháng 1, 2011

 Ông Nguyễn Xuân Anh cùng vợ, cô Bùi Thị Diễm

Vợ chồng ông Nguyễn Xuân Anh

Thông tin trên blog cá nhân của một nhà báo cho biết thêm chi tiết về quá trình công tác của tân ủy viên TW dự khuyết Nguyễn Xuân Anh.

Theo nội dung trong một entry mới trên blog của nhà báo Mạnh Quân, người từng công tác tại báo Thanh Niên cùng ông Xuân Anh, chỉ trong chừng 5 năm, ông đã có các bước tiến vượt bậc để được bầu chọn làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI vào tuần trước.

Được biết tới năm 2006, theo blog trên, ông Nguyễn Xuân Anh (sinh năm 1976) vẫn còn là phóng viên ban quốc tế của báo Thanh Niên và chưa vào Đảng Cộng sản.

Nhưng chỉ trong thời gian ngắn, ông đã lên chức trưởng ban, rồi chuyển công tác, trở thành Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư thuộc Sở Kế hoạch – Đầu tư Đà Nẵng, sau đó là Phó Chủ tịch, Phó Bí thư rồi Bí thư Quận ủy Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Vào tháng 10/2010 ông Nguyễn Xuân Anh, người từng du học ở Canada, được bầu vào Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng.

Tháng 1/2011, tại Đại hội Đảng XI ông trở thành ủy viên TW dự khuyết trẻ nhất Việt Nam cùng với một người đồng niên, ông Nguyễn Thanh Nghị.

Trong một phỏng vấn mới đây với báo Tuổi Trẻ, ông nói rất hạnh phúc khi được đại hội lựa chọn vì danh sách ứng cử viên có số dư tới 144%.

Ông Nguyễn Xuân Anh là người được Ban Chấp hành TW khóa X giới thiệu.

Nỗ lực của bản thân

Ông cũng nói trong phỏng vấn đăng hôm 24/01 trên báo Tuổi Trẻ, rằng tuy “không phủ nhận truyền thống gia đình góp một phần hết sức quan trọng”, thành công của ông chủ yếu là do “nỗ lực rất lớn của bản thân tôi”.

Ông Nguyễn Xuân Anh là con trai cả của ông Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW Đảng, ủy viên Bộ Chính trị khóa X.

Bản thân ông Chi năm 41 tuổi đã là ủy viên TW Đảng và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng.

Ông Xuân Anh nói: “Tôi chưa bao giờ giới thiệu tôi là con ông này, ông kia”.

Theo nhà báo Mạnh Quân, người nay đã chuyển sang công tác tại báo Sài Gòn Tiếp thị, ông cũng chỉ được biết ông Xuân Anh là con ủy viên bộ chính trị khi chính ông Nguyễn Văn Chi “vui miệng” nói ra.

Ông Chi lúc đó (thời điểm 2006 hoặc 2007 – thông tin trên blog) còn thắc mắc về việc con ông “làm việc ở báo Thanh Niên đã lâu mà chưa thấy vào Đảng”.

Nhà báo Mạnh Quân cho hay trên trang blog: “Rồi một thời gian sau thì Xuân Anh vào Đảng.”

Hiện nay, ông Nguyễn Xuân Anh đang sống và công tác tại Đà Nẵng trong vai trò Bí thư Quận ủy Liên Chiểu.

Ông tâm sự trên Tuổi Trẻ rằng thời gian rảnh rỗi ông “đọc sách về công tác xây dựng Đảng, sách về chính trị, về khả năng lãnh đạo, kinh tế và những gì liên quan tới tình hình thế giới”.

“Tôi không thuốc lá, bia rượu, cà phê, chỉ có chơi một môn thể thao là quần vợt. Thời gian rảnh rỗi còn dành cho vợ con.”

Vợ ông là cô Bùi Thị Diễm, 27 tuổi, người Cần Thơ, là Hoa hậu Phụ nữ Việt Nam qua ảnh năm 2004.

Hai người thành hôn tháng 3/2008 và có con trai đầu lòng năm 2009.

Sau khi BBC đăng bài trích dẫn thông tin từ blog của nhà báo Mạnh Quân, đã có nhiều ý kiến phản hồi về thời điểm ông Nguyễn Xuân Anh vào Đảng. Bản thân nhà báo Mạnh Quân đã sửa trong entry của mình từ 2006-2007 sang thành 2003-2004 với chú thích “chẳng nhớ chính xác”. Còn nhà báo Đỗ Hùng, hiện công tác tại Báo Thanh Niên, viết trên trang Facebook của mình với tư cách “nhân chứng” rằng: “Xuân Anh được kết nạp đảng ở báo Thanh Niên trước năm 2006 (cụ thể là năm 2004) và rời báo Thanh Niên vào giữa năm 2006”.

———————————————-

Ông Nguyễn Xuân Anh làm PCT Đà Nẵng

thứ sáu, 15 tháng 7, 2011

Ông Nguyễn Xuân Anh

Ông Nguyễn Xuân Anh là con trai cựu Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Văn Chi

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa phê chuẩn việc bổ nhiệm Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh, người trẻ nhất nhận vị trí này.

Ông Xuân Anh sinh năm 1976, tức năm nay mới 35 tuổi.

Ông được bầu chọn làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng XI hồi tháng 1/2011, cũng là ủy viên trẻ nhất từ trước tới nay.

Báo điện tử Chính phủ Việt Nam cho hay hôm 12/07, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê chuẩn việc bầu thành viên UBND thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2011-2016 dựa theo kết quả bầu chọn của Hội đồng Nhân dân thành phố ngày 20/06.

Theo đó, ông Nguyễn Xuân Anh, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Quận ủy Liên Chiểu, được nêu tên đứng đầu trong danh sách bốn phó chủ tịch Đà Nẵng.

Chủ tịch UBND là ông Trần Văn Minh, người đã làm chủ tịch UBND thành phố nhiệm kỳ trước.

Việc bổ nhiệm ông Xuân Anh vào chức phó chủ tịch dẫn đến đồn đoán, rằng đây là bước dọn đường cho ông lên chức chủ tịch trong tương lai.

Được biết ông Nguyễn Xuân Anh từng có thời gian du học ở Canada. Sau khi về nước, ông công tác tại ban quốc tế của báo Thanh Niên.

Năm 2006 ông chuyển công tác, nhanh chóng được trao các chức vụ quan trọng như Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư thuộc Sở Kế hoạch – Đầu tư Đà Nẵng, sau đó là Phó Chủ tịch, Phó Bí thư rồi Bí thư Quận ủy Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Vào tháng 10/2010 ông Nguyễn Xuân Anh được bầu vào Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng.

Tiến nhanh

Tháng 1/2011, tại Đại hội Đảng XI ông trở thành ủy viên Trung ương dự khuyết trẻ nhất Việt Nam cùng với một người đồng niên, ông Nguyễn Thanh Nghị.

Trong một phỏng vấn với báo Tuổi Trẻ sau Đại hội Đảng XI, ông nói rất hạnh phúc khi được đại hội lựa chọn vì danh sách ứng cử viên có số dư tới 144%.

Ông cũng nói trong phỏng vấn đăng hôm 24/01 trên báo Tuổi Trẻ, rằng tuy “không phủ nhận truyền thống gia đình góp một phần hết sức quan trọng”, thành công của ông chủ yếu là do “nỗ lực rất lớn của bản thân tôi”.

Ông Nguyễn Xuân Anh là con trai cả của ông Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW Đảng, ủy viên Bộ Chính trị khóa X.

Bản thân ông Chi năm 41 tuổi đã là ủy viên TW Đảng và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng.

Ông Xuân Anh nói: “Tôi chưa bao giờ giới thiệu tôi là con ông này, ông kia”.

Ông tâm sự trên Tuổi Trẻ rằng thời gian rảnh rỗi ông “đọc sách về công tác xây dựng Đảng, sách về chính trị, về khả năng lãnh đạo, kinh tế và những gì liên quan tới tình hình thế giới”.

“Tôi không thuốc lá, bia rượu, cà phê, chỉ có chơi một môn thể thao là quần vợt. Thời gian rảnh rỗi còn dành cho vợ con.”

Vợ ông là cô Bùi Thị Diễm, 27 tuổi, người Cần Thơ, là Hoa hậu Phụ nữ Việt Nam qua ảnh năm 2004.

Hai người thành hôn tháng 3/2008 và có con trai đầu lòng năm 2009.

———————————————–

Con trai Bí thư Lê Thanh Hải lên chức

 chủ nhật, 29 tháng 12, 2013

Ông Hiếu cũng là một đại biểu của hội đồng nhân dân thành phố, cơ quan giám sát chính quyền

Lê Trương Hải Hiếu, con trai lớn của ông Lê Thanh Hải, bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, vừa lên chức phó chủ tịch một quận trung tâm tại thành phố mà cha ông đang là lãnh đạo cao nhất, báo chí trong nước đưa tin.

Theo đó, chiều thứ Năm ngày 26/12, Ủy ban nhân dân thành phố này đã công bố quyết định bổ nhiệm ông Hiếu làm phó chủ tịch Quận 1. Ông Hiếu được giao phụ trách mảng kinh tế, theo báo mạng Vietnamnet.

Trang mạng báo Thanh niên cũng có Bấmđăng tin này nhưng có vẻ sau đó đã được gỡ bỏ mà không rõ lý do.

Xuất thân cao cấp

Ông Hiếu được thăng chức lên làm phó chủ tịch Quận 1 từ vị trí bí thư phường Bến Thành.

Sinh năm 1981, hiện nay ông Hiếu chỉ mới 32 tuổi và xuất thân trong một gia đình quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cha ông là một trong 16 ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khi mẹ ông, bà Trương Thị Hiền, là hiệu trưởng Trường Cán bộ Thành phố.

Dì ruột của ông là bà Trương Mỹ Hoa, cựu phó chủ tịch nước.

Việc ông này trở thành phó bí thư Quận 1, một quận quan trọng hàng đầu của Thành phố Hồ Chí Minh, ở độ tuổi còn khá trẻ như thế có thể là bước chuẩn bị để cho ông thăng tiến về sau.

Người em trai kế tiếp của ông Hiếu là ông Lê Trương Hiền Hòa hiện là giám đốc một công ty kinh doanh bất động sản, trong khi người em út Lê Tấn Hùng hiện là chỉ huy trưởng Lực lượng Thanh niên xung phong.

Ngoài ông Lê Trương Hải Hiếu ra, con trai của một số đương kim và cựu ủy viên Bộ Chính trị khác đều có vị trí khá vững vàng trong bộ máy chính quyền khi tuổi đời còn rất trẻ.

Hồi năm 2011, ông Nguyễn Xuân Anh, con trai cả của ông Nguyễn Văn Chi, cựu trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Đảng, trở thành phó chủ tịch Đà Nẵng khi chỉ mới 35 tuổi.

Trong khi đó, ông Nguyễn Thanh Nghị, con trai đầu của đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Xây dựng cũng khi mới 35 tuổi.

Ngoài ra, người em út của ông Nghị là Nguyễn Minh Triết hiện đang là cán bộ Đoàn thanh niên.

Tuy nhiên, trong khi các ông Nghị và Anh đều đã là ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng từ năm 2011 thì ông Hải Hiếu vẫn còn là Quận ủy viên.

Du học nước ngoài

Một điểm giống nhau giữa các ông Hải Hiếu, Thanh Nghị, Xuân Anh và Minh Triết là đều từng đi du học ở các nước phương Tây về.

Ông Hiếu từng được Thành phố Hồ Chí Minh tuyển chọn để cử đi học cao học Quản trị kinh doanh ở Mỹ theo chương trình đào tạo 300 thạc sỹ, tiến sỹ của Thành ủy bằng ngân sách Nhà nước, theo Vietnamnet.

Trước đó, ông Hiếu là sinh viên Trường Luật với chuyên môn là Luật Thương mại.

Ông đã có quá trình thăng tiến nhanh chóng kể từ khi đi học ở Mỹ về. Từ công tác đoàn ông trở thành bí thư phường Bến Thành, một phường trung tâm của Quận 1, rồi bây giờ là phó bí thư quận.

Theo Vietnamnet thì ông từng tham gia chiến dịch Mùa hè xanh, tức chiến dịch sinh viên tình nguyện về nông thôn giúp dân, ‘bốn năm liền với vai trò thủ lĩnh’.

Gần đây nhất, trên cương vị là đại biểu Hội đồng nhân dân, tức cơ quan lập pháp và giám sát của thành phố, ông Hiếu được cho là đã đề nghị cơ quan chức năng làm rõ việc lực lượng trật tự đô thị Quận Bình Thạnh có hành động bạo lực đối với một người bán hàng rong.

Vietnamnet nhận xét ông Hiếu là ‘cán bộ trẻ năng động với nhiều sáng kiến về cải cách thủ tục hành chính’.

Việc bổ nhiệm ông Hiếu làm phó bí thư Quận 1 đã nhận được rất nhiều ý kiến khác nhau trên trang Facebook của BBC Việt ngữ.

“Quan trọng là cái tài cái đức, con ai không quan trọng, làm gì và đất nước được gì mới là điều đáng quan tâm. Tôi đang trông chờ vào những lãnh đạo trẻ, có tâm có tầm có học thức,” một người có tên là Nguyễn Đức Thịnh viết.

Trong khi đó, Huy Nguyen viết: “Cho dù anh ta có năng lực thực sự thì vẫn sẽ bị cái mác con ông cháu cha.”

Một người khác có tên là Tri Huynh thì phản bác: “Vấn đề là nếu một người tài năng bằng hoặc hơn nhưng không phải là con ông cháu cha thì có leo được đến vị trí đó không? Và chắc chắn là người tài hơn ngoài xã hội đầy.”

BBC

 

———–

Lê Nam Thắng: là con trai của Lê Đức Thọ  (nguồn: 2 hours ago)

. Chức vụ: Ủy viên Ban Cán sự Đảng,Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (2007)

. Sinh ngày: 19/8/1955. Quê quán: Thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

>>> …Lê Đức Thọ, Thiếu tướng Lê Quang Hòa…Trung tướng Ngô Du…tại Tân Sơn Nhất 

 

———-

Đại Tướng Phùng Quanh Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, có: 

Con trai là Đại tá Phùng Quang Hải (sinh 1974), Bí thư Đảng ủy –

Chủ tịch HĐTV Tổng công ty 319 – Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Em gái là bà Phùng Thuỳ Liên, Phó Tổng Biên Tập báo Công An Nhân Dân.

———–

Thứ trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh: Có chuyện này thú vị nè:

Nguyễn Thi Mai, con gái tướng Nguyễn Chí Vịnh đang du học tại Trung Quốc  (11 hours ago)

———

>>>Nợ doanh nghiệp nhà nước đe dọa nợ công
TS Phạm Thế Anh liệt kê tới 30 DNNN đang có hệ số nợ phải trả vượt xa mức ba lần vốn chủ sở hữu, trong đó có nhiều cái tên lớn như Tổng công ty Xây dựng Thăng Long, Tổng công ty 319 Bộ Quốc phòng, Tổng công ty Viglacera, Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Giấy

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B9ng_Quang_Thanh

 

———–

 

Thi công chức ở Bộ Công Thương, con cháu lãnh đạo trúng tuyển

Đăng Bởi – 17:15 10-08-2014
Trong 10 thí sinh trúng tuyển có cháu của ông Đỗ Thanh Lam, Phó cục trưởng QLTT và ông Đào Minh Hải, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ Công Thương. Ảnh: Phong Cầm

Trong 10 thí sinh trúng tuyển có cháu của ông Đỗ Thanh Lam, Phó cục trưởng QLTT và ông Đào Minh Hải, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ Công Thương. Ảnh: Phong Cầm

Liên quan vụ gian lận thi công chức tại Cục Quản lý thị trường (QLTT), Bộ Công Thương, sau nhiều ngày xác minh, phát hiện những thí sinh trúng tuyển có con, cháu của lãnh đạo ngành Công Thương.
>> Mất tiền tỉ, Giám đốc sở Đào Anh Kiệt nói gì?

Có “người trong nhà”
Theo bản danh sách thí sinh trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức Cục QLTT (Bộ Công Thương) công bố kèm theo công văn số 21 của Cục QLTT ngày 24/12/2013 có 10 người trúng tuyển. Cụ thể gồm: Nguyễn Ngọc Hà, Chung Phương Anh, Hà Thị Doánh, Nguyễn Ngọc Tâm, Trương Thị Thu Phương, Đào Ngọc Thắng, Lưu Bách Trường, Phạm Mai Phương, Đỗ Mạnh Quân, Mai Thị Thuấn.

Sau khi bản danh sách những thí sinh trúng tuyển được Cục QLTT công bố, lập tức, nhiều đơn thư gửi tới Bộ Công Thương tố cáo việc lộ đề thi. Thực tế, qua điều tra, phát hiện trong 10 thí sinh trúng tuyển (có tên ở trên), không ít là con, cháu của lãnh đạo ngành Công Thương.

Cụ thể, thí sinh Đỗ Mạnh Quân, sinh ngày 30/4/1989, có số điểm 351 (vị trí trúng tuyển: Phòng Tuyên truyền và Quan hệ đối ngoại) là cháu của ông Đỗ Thanh Lam, Phó bí thư Đảng ủy, Phó cục trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Cục QLTT.

Thí sinh Đào Ngọc Thắng, sinh ngày 7/10/1989, có số điểm 310 (vị trí trúng tuyển: Phòng Chống buôn lậu) là cháu của ông Đào Minh Hải, nguyên Cục phó QLTT, nguyên Chánh văn phòng Bộ Công Thương, hiện là Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ Công Thương.

Thí sinh Lưu Bách Trường, sinh ngày 26/5/1990, có số điểm 327 (vị trí trúng tuyển: Phòng Chống hàng giả) là con của ông Lưu Bách Chiến, Đội trưởng Đội QLTT số 2 (Chi cục QLTT Hà Nội).

Ngoài ra, trong danh sách trúng tuyển còn có hai người trước khi dự thi là nhân viên hợp đồng tại Cục QLTT.

Cụ thể, Nguyễn Ngọc Tâm, sinh ngày 12/11/1989, có số điểm 318 (vị trí trúng tuyển: Phòng Tổ chức-Xây dựng lực lượng) là nhân viên của chính phòng này; thí sinh Chung Phương Anh, sinh ngày 28/10/1989, có số điểm 376 (ví trí trúng tuyển: Phòng Pháp chế) là nhân viên trực tiếp của ông Nguyễn Đăng Khoa, Trưởng phòng Pháp chế Cục QLTT và ông Nguyễn Đức Lê, Phó trưởng phòng (cả hai ông này hiện đã nhận hình thức kỷ luật do sai phạm trong kỳ thi tuyển – PV).
Nhiều người mang tài liệu, chép bài thoải mái

Đó là khẳng định của thí sinh Trần Hưng Thái. Anh Thái là một trong số 289 thí sinh bị trượt tại kỳ thi tuyển công chức của Cục QLTT (Bộ Công Thương).

Anh Thái sinh năm 1984, lấy bằng thạc sỹ tại Singapore, đăng ký thi vào Phòng Tuyên truyền và quan hệ đối ngoại (phòng này chỉ lấy 2 chỉ tiêu – PV). Trong 5 môn thi, anh Thái được miễn thi môn ngoại ngữ và tin học. Kết quả, anh Thái có tổng điểm 297, xếp thứ ba.

Trao đổi với PV, anh Thái cho biết: “Tôi thấy người ta mang tài liệu vào phòng thi, mặc sức chép. Tất nhiên, lúc đó tôi vẫn cứ làm bài thi của mình. Nhưng sau này, khi biết thí sinh chép bài trúng tuyển (tên Đỗ Mạnh Quân), tôi rất bức xúc. Tôi biết rõ trong thời gian nửa đầu làm bài thi, cậu ấy không làm được gì, vì ngồi bên cạnh tôi. Sau đó giám thị đi qua, rồi cậu ấy chép tài liệu”. 

“Sau khi công bố kết quả thi, tôi đứng thứ ba nhưng vẫn trượt vì chỉ lấy hai chỉ tiêu. Một trong hai người trúng tuyển là Đỗ Mạnh Quân. Tôi thấy chán nản và bức xúc. Một kỳ thi quan trọng như vậy mà có người bằng quan hệ này nọ, chép bài, trúng tuyển. Chính vì vậy, tôi đã làm đơn khiếu nại. Sau này, đọc báo mới biết đó là kỳ thi được dàn xếp. Vậy Cục QLTT tổ chức thi làm gì khi biết trước người đỗ”, anh Thái nói.

Cũng theo anh Thái, tại phòng thi của anh, sau khi bóc đề thi, đã có thí sinh đứng dậy bỏ về ngay và tuyên bố “thi thế này thì gọi là kỳ thi công bằng hay không, khi có người đã biết trước mình đỗ”. Sau đó, thí sinh đó bỏ về mà không ai ngăn cản. Thậm chí ở phòng thi bên cạnh, có thí sinh dọa đánh giám thị, to tiếng rồi bỏ về.

Kỳ thi tuyển công chức của Cục QLTT có 299 thí sinh tham dự. Điều dư luận thắc mắc là vì sao trong số 10 người trúng tuyển, đã có 5 người là con, cháu, nhân viên trong ngành Công Thương?

Với một kỳ thi tuyển công chức có nhiều sai phạm và thiếu minh bạch như ở Cục QLTT, vì sao lãnh đạo Bộ Công Thương chưa hủy kết quả thi và xử lý những lãnh đạo Cục QLTT vi phạm

 

 

———

Đức Tồ's photo.

>>

Nguyễn Hưng Quốc

4-6-2014

NHỊN = THUA

Trước, Trung Quốc chiếm hòn đảo Gạc Ma trong thuộc Trường Sa, Việt Nam nhịn; Trung Quốc công bố con đường lưỡi bò bao gồm cả vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, Việt Nam nhịn; Trung Quốc đưa tàu hải giám cắt đứt dây cáp ngầm của công ty dầu khí Việt Nam, Việt Nam nhịn; Trung Quốc cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ngay trên hải phận Việt Nam, hơn nữa, còn bắt bớ, thậm chí, đánh chìm nhiều tàu đánh cá của Việt Nam, Việt Nam nhịn. Bây giờ, Trung Quốc mang giàn khoan khổng lồ HD-981 đến thăm dò dầu khí ngay trên thềm lục địa Việt Nam, Việt Nam tuy đưa một số tàu ngư cảnh ra bắn súng nước chơi với Trung Quốc nhưng trong ngôn ngữ cũng như sách lược, nói chung, họ vẫn tiếp tục nhịn.

Vấn đề là: Việt Nam sẽ nhịn đến bao giờ?

Đến giữa tháng 8 này, Trung Quốc rút giàn khoan về nước, họ sẽ tuyên bố thắng lợi, Việt Nam sẽ làm gì? Vài tháng sau đó, giả dụ Trung Quốc lại mang giàn khoan đến vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam để thăm dò tiếp, Việt Nam sẽ làm gì? Sau đó nữa, họ lại mang giàn khoan trở lại. Cứ thế, vài lần, không gặp sự kháng cự cụ thể nào từ Việt Nam, cả thế giới sẽ mặc nhiên xem Biển Đông là của Trung Quốc.

Trong trường hợp ấy, nhịn cũng đồng nghĩa với chịu thua.

—–

*Terry Pham Nhịn để giữ đảng. Con đảng còn mình. Bài phát biểu của tướng Thanh tại hội nghi Shangrila, mà nghe nói bộ chính trị duyệt từng câu chữ, đã nói rõ ý đồ. Mỹ và Nhật Bản tưng hửng vì đây chỉ là chuyện trong gia đình việt trung.

CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH

3-6-2014

Nguyễn Hưng Quốc

 

 

Câu khẩu hiệu “còn Đảng còn mình”, cho đến nay, chỉ xuất hiện trước các đồn công an và, từ đó, trở thành một đối tượng để phê phán của những người ngoài đảng và có tinh thần dân chủ và độc lập.
 
Kể cũng dễ hiểu.
 
Câu khẩu hiệu ấy sai đến dại dột và lố bịch. Trên thế giới, có lẽ không ở đâu người ta dại dột và lố bịch đến như vậy. Bởi, trên thế giới, từ lâu, người ta đã biết và đã thực thi nguyên tắc: Công an phải độc lập với đảng cầm quyền. Nhiệm vụ của công an không phải là để phục vụ và kiếm lợi từ cái đảng ấy. Nhiệm vụ của công an là bảo đảm an toàn và an ninh cho xã hội và chỉ tuân theo luật pháp.

Giới lãnh đạo Việt Nam, ngay trong ngành công an, có lẽ cũng hiểu điều ấy. Nhưng họ vẫn nói, hơn nữa, nói một cách công khai, đàng hoàng và dõng dạc, thành khẩu hiệu. Để làm gì? Như một lời hứa, một sự cam kết đối với công an.
 
Bởi vậy, câu khẩu hiệu trên phản ánh không những tình trạng đảng trị và phi dân chủ mà còn cả sự mua chuộc của đảng Cộng sản đối với lực lượng công an. Điều này, thật ra, đã được nhiều người nêu lên: Hiện nay, đảng Cộng sản bảo vệ thế đứng độc tôn của mình trên chiếc kiềng ba chân: một là quân đội, hai là công an; và ba là nền kinh tế quốc doanh, qua đó, đảng có thể vơ vét tài sản quốc gia và phân phối lợi nhuận cho những người trung thành, kể cả hai lực lượng nòng cốt vừa nêu: công an và quân đội.
 
Tuy nhiên, theo tôi, câu khẩu hiệu “còn đảng còn mình” không chỉ giới hạn trong lực lượng công an. Nó còn là nếp tư duy chung của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong giới lãnh đạo, nhất là trong quan hệ với những thử thách họ đang đối đầu.
 
Nói một cách vắn tắt, ít nhất cho đến thời gian gần đây, trước khi vụ giàn khoan HD-981 bùng nổ, tất cả những toan tính chiến lược của nhà cầm quyền Việt Nam không phải là bảo vệ đất nước mà, trước hết, bảo vệ quyền lực và quyền lợi của chính họ; và vì những quyền lực và quyền lợi ấy gắn bó với sự tồn tại, hơn nữa, tồn tại một cách độc tôn của đảng Cộng sản, do đó, hệ quả là, mọi người cứ lo chăm chắm bảo vệ đảng dù cái giá phải trả có khi là mất đi một phần lãnh thổ hay lãnh hải.
 
Có lẽ sự chọn lựa ấy được định hình thành chính sách sau cuộc hội nghị ở Thành Đô giữa giới lãnh đạo Việt Nam và giới lãnh đạo của Trung Quốc, ở đó, Việt Nam công nhận Trung Quốc là lãnh tụ độc nhất của khối xã hội chủ nghĩa, thay thế vị trí của Liên Xô trước đó; và Việt Nam thề thốt trung thành với con đường xã hội chủ nghĩa; điều đó cũng có nghĩa là trung thành với Trung Quốc.
 
Không phải chỉ trong lời nói. Việt Nam thành thực tuân theo các thỏa thuận ấy, xem Trung Quốc như một đồng chí tốt, hơn nữa, một thứ đàn anh tốt. Sự thành thực ấy không chỉ phản ánh trong lời nói, ở các diễn văn cũng như các khẩu hiệu tuyên truyền. Nó còn thể hiện qua việc làm: lúc nào cũng đề cao và nhường nhịn Trung Quốc. Hơn nữa, họ còn hết lòng tin tưởng Trung Quốc. Theo dõi ngân sách của Việt Nam cho lãnh vực quốc phòng, giới quan sát chính trị thế giới nhận ra một điểm đặc biệt: Việt Nam chỉ bắt đầu hiện đại hóa quân đội Việt Nam chỉ từ năm 2004, tức là 14 năm sau hội nghị Thành Đô, khi âm mưu xâm lấn của Trung Quốc đã quá rõ rệt và khi dân chúng đã quá bức xúc trước những âm mưu xâm lấn đó.
 
Ngoài ngân sách, sự tin cậy và lệ thuộc vào Trung Quốc cũng thể hiện rất rõ qua vô số cách hành xử của giới lãnh đạo Việt Nam, ví dụ, trong việc thả lỏng cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm, từ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên đến việc thuê dài hạn rừng núi, ngay cả ở những khu vực có vị trí chiến lược về quân sự, việc nhắm mắt để công nhân Trung Quốc ào ạt sang làm việc một cách trái phép, việc để cho người Trung Quốc di trú và hoạt động bất hợp pháp ở những nơi được xem là hiểm yếu của Việt Nam như hải cảng quân sự Cam Ranh, việc để cho các công ty Trung Quốc thành công trong phần lớn các cuộc đấu thầu liên quan đến các dự án có tầm vóc quốc gia, việc lơ đễnh để báo chí, bản đồ, thậm chí, cả sách giáo khoa, thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của… Trung Quốc, v.v…
 
Không ai bày tỏ quan điểm bảo vệ đảng bằng mọi giá như Trần Đăng Thanh, đại tá, giáo sư tiến sĩ, thuộc Học viện chính trị Bộ quốc phòng. Phát biểu trước các cán bộ lãnh đạo trong ngành giáo dục vào tháng 12 năm 2012, ông Thanh thể hiện tư tưởng ghét Mỹ và bài Mỹ qua nhận định “Người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả”.  Ngược lại, với Trung Quốc, ông nhấn mạnh: “Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc”.  Cuối cùng, ông kêu gọi mọi người hãy trung thành với Đảng với lý do thiết thực: “Hiện nay các đồng chí đang công tác chưa có sổ hưu nhưng trong một tương lai gần hoặc một tương lai xa chúng ta cũng sẽ có sổ hưu và mong muốn mỗi người chúng ta sau này cũng sẽ được hưởng sổ hưu trọn vẹn”.  Nói một cách đơn giản: Nếu đảng còn thì sổ hưu của các “đồng chí” còn!
 
Những người chủ trương trang Bauxite Việt Nam phải thốt lên một lời nhận định đầy cay đắng: “Chưa bao giờ những lời rao giảng về lý tưởng xã hội chủ nghĩa lại ‘thực dụng’ đến như thế và cũng..thảm thiết đến như thế!”

Chính cách tư duy “còn đảng còn mình” và “còn đảng còn sổ hưu” ấy chi phối thái độ và chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam đối với Trung Quốc: Cho dù lấn hiếp Việt Nam đến mấy thì Trung Quốc cũng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa; Việt Nam chỉ cần nhường nhịn Trung Quốc là có thể bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, nghĩa là bảo vệ vị thế lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản. Chúng cũng chi phối thái độ và chính sách của Việt Nam đối với Mỹ và Tây phương nói chung: Các quốc gia ấy lúc nào cũng đòi hỏi dân chủ và nhân quyền tức là lúc nào cũng âm mưu “diễn tiến hòa bình” để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.  Mà tất cả những kẻ nào có ý định lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa đều bị xem là “lực lượng thù nghịch”.
 
Nói cách khác, dưới mắt giới lãnh đạo Việt Nam, những kẻ bị xem là “thù nghịch” không phải là những kẻ mưu toan lấn chiếm vùng biển và hải đảo Việt Nam mà chính là những kẻ muốn Việt Nam được dân chủ hóa. Nói cách khác nữa, với họ, việc bảo vệ đảng quan trọng hơn việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải.
 
Dân chúng hiểu rõ điều đó cho nên lâu nay vẫn truyền tụng một câu nói thật thông minh và sắc sảo, thể hiện thế lưỡng nan của nhà cầm quyền Việt Nam: “Đi với Trung Quốc thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng.” Mà hình như không phải là “lưỡng nan”. Bởi không chừng nhà cầm quyền Việt Nam đã có chọn lựa rõ ràng: “Thà mất nước hơn là mất đảng”, cũng theo cách nói của dân chúng.
 
Hy vọng sau biến cố giàn khoan HD-981, giới lãnh đạo Việt Nam sẽ thức tỉnh.
 
Chỉ hy vọng vu vơ vậy thôi chứ cho đến nay cũng chưa thấy có dấu hiệu nào về sự thức tỉnh ấy cả. Buồn.

 

***

 

NGUỒN: NGUYỄN HƯNG QUỐC BLOG TRÊN ĐÀI VOA:

http://www.voatiengviet.com/content/con-dang-con-minh/1927868.html

 

 

——–

*Xem bài này xong, các bạn đọc thử bài này xem sao

 

Posted in Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | 3 Comments »

►Công an Lấp Vò ép cung nhân chứng như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 12/03/2014

Công an Lấp Vò ép cung nhân chứng như thế nào?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Theo RFA

Công an huyện Lấp Vò đã có biểu hiện ép cung một cách thô bạo để khởi tố bà Bùi Minh Hằng sau khi giam giữ một cách trái phép ba người gồm bà Hằng, anh Nguyễn Văn Minh và blogger Thúy Quỳnh gần một tháng mà không có lệnh của Viện Kiểm Sát. Năm nhân chúng bị ép cung cùng lúc lên tiếng về hành vi này với Mặc Lâm như sau.

Ngày 10 tháng 3 năm 2014, 28 ngày sau khi công an huyện Lấp Vò giam giữ trái pháp luật ba người là Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Bùi Thị Minh Hằng khi họ đến gia đình anh Nguyễn Bắc Truyển để thăm hỏi tình trạng của anh bị công an Lấp Vò đối xử thô bạo.

Phương cách điều tra mới của công an Lấp Vò

Trong ba người thì bà Bùi thị Minh Hằng được công an xem là đối tượng gây rối và cáo buộc bà tội gây mất trật tự giao thông. Để lấy lời khai của những nhân chứng trong cùng chuyến về Lấp Vò với bà Hằng công an đã triệu tập 5 người đến công an huyện. Năm người ấy gồm: anh Phan Đức Phước, anh Nguyễn Vũ Tâm, ông Tô Văn Mãnh, chị Bùi Thị Diễm Thúy và Đỗ Thị Thùy Trang.

Cả năm người đều tố cáo với chúng tôi rằng nhân viên điều tra có hành động mớm cung và ép cung, tự tiện ghi thêm trên biên bản những điểu mà nhân chứng hoàn toàn không nói tới. Thêm nữa những điều họ chứng kiến, khai ra thì nhân viên điều tra không ghi vào biên bản.

Chúng tôi ghi nhận lời tố cáo của tất cả năm người này để rộng đường dư luận. Thứ nhất là anh Phan Đức Phước, anh cho biết:

-Vào sáng ngày hôm nay tôi đến công an Huyện Lấp Vò như giấy triệu tập. Tôi gặp thiếu tá Nguyễn Hùng Dũng hỏi tôi việc xảy ra vào ngày 11 tháng 2 năm 2014. Tôi có trả lời là khi chạy về Lấp Vò thì chúng tôi chạy theo hàng dọc cách nhau an toàn. Lúc đó có lực lượng công an giao thông và công an xã và khoảng 5-600 người mặc thường phục cầm cây chặn lại đòi xét hành lý. Họ mặc đồ thường phục và không mang bảng tên. Chị Hằng không cho kiểm tra, có một anh tự xưng là công an, mặc đồ thường phục nói rằng nếu không cho thì đè xuống giật, đập bỏ máy và đánh nó.

Khi họ xúm lại giựt đồ thì chị Hằng la lên: chúng mày là bọn ăn cướp chứ công an gì mà ăn cướp của dân?

Khi em trình bày như thế thì anh công an ảnh suy nghĩ nhưng không ghi như lời em trình bày mà ghi theo cái ý của ảnh. Ảnh ghi là chị Hằng là người gây rối trật tự công cộng, ảnh ghi trong biên bản đó như vậy. Còn ghi là lời khai của em hoàn toàn sự thật và em không khai gì thêm và em trách nhiệm lời khai của mình trước pháp luật. Em ghi là đây không phải là lời khai của em nên em không chịu ký.

Người thứ hai là ông Tô Văn Mãnh, ông cho biết:

-Tui nói là công an hình sự nó ra lệnh nó đánh Bùi Thị Minh Hằng tới tấp luôn. Bà Hằng mới la các anh ăn cướp hay là công an vừa đánh mà vừa giật đồ, tôi khai như vậy đó.

Nó kêu tui ký giấy tui nói muốn tui ký thì phải cho tui hai cái biên bản tui một cái và một cái cho cán bộ. Nhưng tôi phải đem ra cho cháu tui coi hai cái biên bản đó giống hay không rồi tôi mới ký. Họ ép tôi phải ký, tôi nói “không”.

Người thứ ba là chị Đỗ Thị Thùy Trang:

-Có những người ở trong lùm cây hai bên đường ẩn nấp ở đâu sẵn rồi ùa ra đánh những người đi đường túi bụi luôn. Còn giựt chìa khóa xe tôi nữa. Trong khi đó thì công an mặc thường phục chỉ huy những người cũng mặc thường phục đánh người đi đường. Con nói vậy thì cái ông điều tra viên ổng không chịu ghi theo ổng mà lại ghi theo ý ổng không à.

Mục đích ổng hỏi là có tụ tập đi chung với nhau không, cái quảng đường đó có bị ách tắc giao thông hay không? Con nói là con không biết. Họ ghi là tập trung đông người, có một số người tập trung trên đường la ó rồi có hành vi muốn đánh công an, con nói là con không thấy. Điều tra viên không ghi lời khai của con nên con không ký.

Người thứ tư là anh Nguyễn Vũ Tâm:

-Cái chỗ nó chận đường nó đánh mình thì nó không ghi chỗ đó mà nó chỉ biểu ghi chỗ chị Hằng không à. Em mới nói công an chận đường đánh đập như vậy thì nó hỏi công an nào đánh? Anh có thấy mấy người này đánh công an hay không? Em mới hỏi nó có khi nào mà người dân đánh công an không? Họ kêu em ký em không ký tại vì trong biên bản không đúng với lời mình khai, họ ghi theo ý họ không. Họ ghi theo ý buộc tội cô Hằng chứ không phải cái ý mình khai là trên đường đi bị công an chận đánh đập như vậy.

Người thứ năm là chị Bùi Thị Kim Phượng, vợ của anh Nguyễn Văn Minh hiện đang bị giam chung với bà Bùi Thị Minh Hằng, chị Phượng kể:

-Lúc đầu nó ghi lời khai thì giống như lời con nói nhưng đến lúc cuối nó ghi là ùn tắt giao thông nên con không ký vì lời khai này không đúng của tôi nên tôi không ký. Tôi không nói ùn tắc giao thông gì hết. Nó nói đây là quyển lợi của chị thì chị ký hay không ký tùy chị. Nói chung là nó muốn ép cung cho cô Hằng chứ thật sự không có gì hết.

Trước những biểu hiện sai phạm pháp luật rõ ràng này chúng tôi xin ý kiến của luật sư Trần Thu Nam người được gia đình bà Bùi Thị Minh Hằng ủy nhiệm để bảo vệ quyến lợi của bà, luật sư Trần Thu Nam cho biết:

-Tôi nghĩ rằng làm như vậy là vi phạm pháp luật. Bộ luật hình sự Việt Nam cấm mớm cung, ép cung và ngoài việc vi phạm pháp luật ra nó còn thể hiện cái âm mưu gì đó không tốt cho những bị can bị cáo.

Chúng tôi cũng đã lường trước những sự việc này rồi và may mắn là họ không ký vào biên bản lấy lời khai đó. Đây là khó khăn cho quá trình bào chữa cho bà Bùi Thị Minh Hằng. Nếu không ký tên thì không có chứng cứ trong hồ sơ nhưng nếu ký thì sẽ bất lợi. Đây là khó khăn mà chúng tôi đang nghĩ để tìm cách giải quyết nó. Đây là một thử thách rất lớn.

Phải nói rằng pháp luật Việt Nam nó có một số hạn chế cho nên nếu có sự ép cung, mớm cung đó thì sẽ tiến hành việc tố cáo người điều tra trong vụ án này trước pháp luật. Sẽ làm đơn tố cáo các điều tra viên lên các cơ quan cao hơn để giải quyết.

Khi chúng tôi tỏ ra quan ngại cho sức khỏe của cả ba người đã bị giam giữ đến ngày thứ 29 nhưng họ vẫn tiếp tục tuyện thực, làm cách nào can thiệp kịp thời để không đi đến chuyện đáng tiếc xảy ra, luật sư Nam cho biết:

-Tôi chưa được cấp giấy bào chữa cho bà Hằng nên chưa thể biết được tình trạng của bà Hằng như thế nào được.

Viện Kiểm sát Tối cao không thể bỏ qua những lời khai cùng một lúc của cả năm nhân chứng về sự xem thường pháp luật của nhân viên điều tra huyện Lấp Vò. Người dân huyện Lấp Vò nói riêng và cả nước cũng như quốc tế nói chung đều rất chú tâm đến vần đề nghiêm trọng này nhất là khi Việt Nam đã là một thành viên của Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Chị Dương Thị Tân, Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc Truyển, Phạm Chí Dũng trao quà cho Đặng Thị Quỳnh Anh, là con gái của Bùi Hằng.

Chi Bùi thị Minh Hằng (áo sọc, ngồi giữa) và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt. binhtrung.org

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt Nội Các với quốc dân đồng bào ngày 17-4-1945

Posted by hoangtran204 trên 11/03/2014

Các bạn nhấp chuột vào link dưới đây để đọc tiếp:

►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945

HCM và ĐCS tức giận điên lên vì Thủ Tướng Trần Trọng Kim đã trở thành chính phủ đầu tiên của một quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất từ Bắc chí Nam.

Chính phủ  của TT Trần Trọng Kim đã thực hiện nhiều kế hoạch to lớn và để lại dấu ấn thật là đồ sộ mà không một chính phủ nào kể từ 1945 đến nay có thể làm được.  Về giáo dục, về thành lập Nghiệp đoàn độc lập cho giới công nhân, về y tế, xã hội, hành chánh, dùng tiếng Việt trong các văn bản hành chánh thay cho tiếng Pháp, bầu cử hội đồng xã ấp,…

Trong lúc việc cải cách và đặt nền móng cho một quốc gia còn son trẻ đang tiếp diễn tốt đẹp như thế, thì HCM và ĐCS ghen tức lồng lộn và nhảy vào phá hoại bằng cách: (1) cướp chính quyền, làm áp lực buộc chính phủ Trần Trọng Kim phải từ chức, và tự lập chính phủ mới, nhưng không được ai phục và ủng hộ nên chính phủ ngày 2-9-1945 phải âm thầm biến mất (2) CS ám sát những người quốc gia và các đảng phái nào không theo chúng. (3) HCM rước Pháp trở lại đô hộ Việt Nam qua Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 (4) Chỉ điểm và mượn tay Pháp tiêu diệt các đảng phái quốc gia…(5) Vờ phát động và ép buộc dân chúng tiêu thổ kháng chiến để hủy hoại hầu hết chùa chiền đình miếu, gia phả các dòng họ, các công trình cổ ở ngoài miền Bắc để chuẩn bị đem chế độ cộng sản  tam vô (vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo) áp đặt ở miền Bắc ;(6) HCM qua TQ và LX cầu viện năm 1950. 

Điều duy nhất mà chính phủ Trần Trọng Kim đã làm trong thời gian này và để lại hậu quả tai hại cho đến ngày hôm nay ấy là thả tất cả tù nhân cộng sản ngoài Côn Đảo và các traị tù trên toàn cõi Việt Nam. Một trong những con ác quỷ của nhân loại được Chính phủ Trần Trọng Kim thả về trong dịp này là Lê Duẫn,…

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | 3 Comments »

►Chao ôi! Bốc phét đến cở này mà cả nước đều tin thì nước ta trường tồn dưới thời nhà Sản 60 năm qua vẫn còn là quá ít.

Posted by hoangtran204 trên 10/03/2014

Như các bạn đều biết, Tổng xuất khẩu của VN trong năm 2013 là 132,2 tỷ đô la.

Trong đó, chỉ riêng công ty Sam Sung Việt Nam (SEV), còn có tên là Sam Sung Electronics Việt Nam đã xuất khẩu 23,7 tỷ đô la.

Nếu không có Sam Sung, tổng xuất khẩu của VN chỉ vào khoảng 108 tỷ đô la.  (Toàn cảnh bức tranh xuất nhập khẩu năm 2013).

Và nếu không có bọn tư bản giẫy chết bỏ tiền vào chung vốn (công ty trong nước hợp doanh với nước ngoài gọi là FDI), hoặc bỏn làm ăn riêng một mình (công ty có vốn 100% đầu tư nước ngoài cũng gọi là FDI), thì hãy xem đây: ” Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 43,8 tỷ USD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô 7,3 tỷ USD) đạt 88,4 tỷ USD, tăng 22,4%.”

Kim ngạch XK kinh tế trong nước 43,8 tỷ USD  là do đảng ta chỉ đạo; tạm cho là thế.  Xin các bạn nới tay chút, đôi khi vì lý do nhân đạo, ta cần phải chừa 1 lổ cho đảng chui qua đó để bốc phét.  Chứ phân tích rành rọt như dưới đây thì đảng chỉ còn mặc váy, chui ống cống trốn đi cho đỡ nhục vì chỉ có các học sinh còn đeo khăn quàng đỏ mới tin đảng lãnh đạo được 5 ngành XK sau đây.

Trong 43,8 tỷ đô la, 5 ngành xuất khẩu số liệu cụ thể như sau:  

1./ Nông sản (gaọ 3 tỷ, cà phê 2,75 tỷ, rau quả trái cây 1 tỷ, tiêu (gần) 1 tỷ,  hạt điều 1,63 tỷ…) Kim ngạch xuất khẩu của nhóm mặt hàng nông nghiệp trong năm 2013 đạt 19,8 tỷ USD, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước  (Nguồn)

2./ Lâm Sản (gỗ và sản phẩm từ gỗ) đạt gần 5,6 tỷ USD (coi mục Tham Khảo ở dưới)

3./ Thủy Sản (hàng thủy sản đạt 6,7 tỷ USD

4./ Giày dép các loại đạt 8,4 tỷ USD

5./ Cao su, 2,52 USD

6./ Than đá 1 tỷ USD

Cộng 6 nhóm trên lại được 44 Tỷ USD, cũng gần khít khao với 43,8 tỷ USD của khu vực kinh tế XK trong nước.

Người có chút suy nghĩ, chẳng ai tin các mặt hàng từ 1-5 là do đảng chỉ đạo mới xuất khẩu được. 

Điều đáng nói là trong 108 tỷ đô la xuất khẩu ấy, khu vực FDI (vốn nước ngoài) đóng góp đến 65% giá trị xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế, tạo ra hơn 2 triệu việc làm ( nguồn Báo quân đội Nhân Dân), và phần còn lại 35% là do công ty có nguồn vốn trong nước VN xuất khẩu (37,8 tỷ đô la, theo cách tính ở trên là 43,8 tỷ đô la).

Aha Kết quả đây rồi:  công ty có nguồn vốn trong nước VN (sản suất, xuất khẩu, làm dịch vụ) làm ra được 43,8 tỷ đô la! Đây là thành tích chỉ đạo (nếu có) của Đảng và Nhà nước. Qui ra tiền đô thì 35%, hay (108 tỷ/3), là 37,8 tỷ đô la.

Thế là đã rõ, sau 60 năm vận dụng học thuyết Mác-Lê, tư tưởng Mao và tư tưởng của HCM chỉ đạo, 14 Ủy viên Bộ Chính Trị, 164 Ủy viên Trung Uơng Đảng, 100 cố vấn trong Ban Kinh tế Trung Ương (►Cướp được mồi ngon thế thì làm sao mà từ bỏ được- Thủ tướng: “Đảng không bao giờ bỏ chức năng lãnh đạo kinh tế”), 1000 cố vấn cho 22 bộ truỏng, và 128 thứ trưởng…chỉ sản sinh ra được 37,8 tỷ đô la, hoặc 43,8 tỷ đô la, (sự khác biệt này có thể là do một số công ty xk nói trên, trong 1./ – 5./, có vốn hợp doanh với công ty nước ngoài). 

[Kim ngạch xuất khẩu của các công ty hợp doanh có vốn FDI tuy lớn, song giá trị gia tăng của khu vực doanh nghiệp FDI chỉ ở khoảng 10% đến 20% vì chủ yếu FDI ở Việt Nam chỉ tập trung trong lĩnh vực lắp ráp, gia công. VN không chế tạo được các mặt hàng đơn giản của ngành công nghiệp nhẹ để cung ứng cho khâu lắp ráp. 

Ông Doanh cho rằng, lượng linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu để phục vụ sản xuất cho khu vực FDI cũng rất cao, ông lấy thí dụ, Samsung Electronics Việt Nam (SEV) nhập khẩu toàn bộ linh kiện điện thoại từ Samsung China khiến tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc tăng lên rất mạnh. Vì lý do đó, năm 2013, giá trị gia tăng của SEV chỉ khoảng 3 tỷ đô la, vì xuất khẩu lên tới hơn 23,7 tỷ đô la trong khi nhập khẩu đã là 20 tỷ đô la.

“Vậy nguyên do nào khiến giá trị gia tăng của hàng hóa trong khu vực doanh nghiệp FDI thấp, chúng tôi trao đổi với T.S Trần Văn Hải, một cựu giáo viên kinh tế tại trường Đại học ở HN và ông giải thích rằng do ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển nên đã dẫn đến hiện tượng trên.”]

Thế là đã rõ, đảng chỉ đạo (nếu có) cũng chỉ sản suất ra được 43,8 tỷ đô la. Tuy vậy, đảng xưa nay bốc phét rất kinh:  

Đại hội lần thứ IV của Đảng (12-1976) có phương hướng: “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ…”  (trang 89, ). Thật ra, câu này đã có từ thời 1960, rồi được Lê Duẩn xào nấu, và cả đảng gào thét lập lại như vẹt trong giai đoạn 1975-1985. Thấm thoát đến nay hơn 50 năm trôi qua, nền công nghiệp nhẹ của VN do đảng chỉ đạo, vạch kế hoạch vẫn không ra gì, con ốc vẫn chưa làm được cho đúng tiêu chuẩn.  (nguồn: 1.2. Chủ trương phát triển công nghiệp, Giai đoạn 1975 – 1985).  

Chỉ một công ty Sam Sung VietNam mới đến VN đầu tư chưa được 6 năm, mà nay đã xuất khẩu hơn 17% của mức tổng xuất khẩu của cả nước VN năm 2013, trong khi đó, đảng quang vinh và sáng suốt chỉ đạo 60 năm qua mà “chỉ đạo” XK các mặt hàng trong nước như tôm, cá, gạo, cao su, tiêu, rau trái,…chỉ có 43,8 tỷ đô la, còn ngành công nghiệp nhẹ là gia công, đến nổi không thể chế tạo được 1 con ốc đúng tiêu chuẩn, vặn không tuộc răng, và chịu được lực xoắn để không gãy ốc.

Than ôi! Xuất thân “cướp chính quyền 1945”, mà chừng ấy năm trôi qua cho đến nay cũng vẫn còn hành nghề “cướp đất đai” của dân chúng; không thể bỏ được chữ cướp. Đúng như ông cha ta đã nói: cây nào, quả ấy. 

Dầu thế, Ủy Viên Bộ Chính Trị  của đảng vẫn bốc phét: 

“Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm sức mạnh quốc gia tăng lên rõ rệt”

(LĐO) TRƯỜNG SƠN – 11:12 PM, 08/03/2014

ồng chí Nguyễn Xuân Phúc – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ phát biểu đề dẫn tại hội thảo. 8-3-2014

Đó là nhận định của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận – thực tiễn cốt yếu về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, được tổ chức vào sáng ngày 8.3 tại TPHCM, do Ban Chỉ đạo trung ương tổng kết 30 năm đổi mới và Thành ủy TPHCM phối hợp tổ chức.

Tham dự và chủ trì hội thảo có các đồng chí: Nguyễn Xuân Phúc – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ; Lê Thanh Hải – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM; Vương Đình Huệ – Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Phát biểu đề dẫn tại hội thảo, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: “Sau gần 30 năm đổi mới, các yếu tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được tạo lập và đi vào hoạt động, từng bước hoàn thiện.

Những thành tựu đổi mới về kinh tế cùng với đổi mới về chính trị đã tạo nên bầu không khí dân chủ mới trong xã hội; tạo nên động lực mới, đưa đất nước không chỉ thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội mà còn vươn lên nhóm nước có mức thu nhập trung bình, làm thay đổi căn bản diện mạo kinh tế – xã hội của đất nước.

Chúng ta đã đạt được những thành tựu nổi bật về xoá đói giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia tăng lên rõ rệt so với thời kỳ trước đổi mới.

Trên thế giới, kinh tế thị trường đã có lịch sử mấy trăm năm, nhưng ở Việt Nam, kinh tế thị trường là mô hình kinh tế hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử và thời gian phát triển chưa đầy 30 năm (được khởi xướng, thực hiện từ Đại hội VI – năm 1986). Vì vậy, trong quá trình phát triển, Việt Nam gặp không ít trở ngại, khó khăn và cả thiếu sót. Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường của Việt Nam chưa hoàn tất, những thách thức, rào cản còn rất lớn trong cả tư tưởng, nhận thức, cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện”.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, những hạn chế, thiếu sót, bất cập và những vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta phải tập trung cao độ trí tuệ để làm rõ những căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và phù hợp với nguyên tắc chung của kinh tế thị trường trên thế giới ngày nay.

Phương hướng cơ bản là phải dựa trên cơ sở nền tảng khoa học và bắt kịp những xu thế phát triển khách quan của thời đại ngày nay để giải quyết những bức xúc trước mắt cũng như định ra đường hướng phát triển kinh tế dài hạn cho đất nước.

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị các đại biểu tham dự hội thảo tập trung thảo luận, làm rõ những nội dung chính như: Mô hình tổng quát phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay của Việt Nam cần phải làm sâu sắc và mới ở những luận điểm nào, dựa trên cơ sở luận cứ và luận chứng nào, nhất là khi chúng ta sẽ hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thị trường toàn cầu vào năm 2018?;

Thế giới hiện nay có nhiều mô hình kinh tế thị trường với nhiều đặc điểm đa dạng khác nhau, Việt Nam đã có thể học được gì ở những mô hình này và sẽ vận dụng được gì cho tương lai phát triển của đất nước?

Theo chương trình, hội thảo diễn ra trong 1 ngày với hơn 70 đại biểu, diễn giả đến từ các địa phương có nền kinh tế phát triển như TP.Hà Nội, TPHCM, TP.Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh… và các chuyên gia kinh tế hàng đầu trong nước.

————————————-

Các bài liên quan:

*Thuế doanh nghiệp mà Sam Sung VN đóng năm 2012 là 850 triệu đô la. Năm 2011 có ít hơn một chút. 

Nhưng qua năm 2013, Nhà nước và Quốc Hội VN đã phù phép thế nào mà Sam Sung Việt Nam được giảm thuế 99%, chỉ còn đóng một mức thuế tượng trưng rất thấp để bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Ninh và Thái Nguyên.   

Nhờ đó, TT Nguyễn Tấn Dũng được mời qua Nam Hàn, được trao tặng bằng tiến sĩ danh dự, và chắc chắn số tiền lại quả nhờ giúp công ty Sam Sung tiết kiệm tiền thuế 99% sẽ bí mật vào tài khoản ngân hàng của đồng chí X.

Samsung VN xuất khẩu 20 tỷ USD, nộp thuế 150.000 USD

“Thống kê của cơ quan hải quan, nơi đảm nhiệm thu các loại thuế liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, gồm thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng (VAT) hay bảo vệ môi trường cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2012, SEV nộp được 80,4 tỷ đồng tiền thuếNhưng bước sang 2 tháng đầu năm 2013, số thu ngân sách thông qua các loại thuế trên đã giảm mạnh, chỉ còn 429 triệu đồng tiền thuế bảo vệ môi trường.

Với công ty TNHH Samsung SDI Việt Nam, tình hình cũng tương tự. Trong 2 tháng đầu năm 2012, số thu thuế của doanh nghiệp này là 80 tỷ đồng, nhưng trong 2 tháng đầu năm nay (2013) chỉ còn là 3,2 tỷ đồng, tức chỉ bằng 4% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên do của việc giảm nguồn thu lớn từ các doanh nghiệp họ Samsung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là bởi các doanh nghiệp này đã chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp chế xuất (doanh nghiệp chế xuất) kể từ tháng 9/2012.

Bài viết: http://news.zing.vn/Samsung-VN-xuat-khau-20-ty-USD-nop-thue-150000-USD-post314748.html

———————–

Tham khảo:  

http://www.baodatviet.vn/kinh-te/doanh-nghiep/samsung-dong-thue-tien-le-muon-xay-san-bay-o-viet-nam-2356315/

http://vnreview.vn/tin-tuc-kinh-doanh/-/view_content/content/841337/samsung-dong-thue-bao-nhieu-sau-khi-xuat-khau-23-ty-usd

Năm 2013, xuất khẩu của Việt Nam có 22 nhóm hàng và nhập khẩu có 26 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD

Nông, lâm, thủy sản xuất siêu gần 9 tỷ USD năm 2013

Xuất khẩu nhóm hàng nông sản của Việt Nam trong 11 tháng năm 2013 (Rau, quả 1 tỷ usd)

11 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của VN

Xuất khẩu và nhập khẩu của VN: dựa vào các thị trường nào? (27 thị trường xuất khẩu và 17 thị trường nhập khẩu của Việt Nam đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD trong năm 2013)

————————————

Sự yếu kém của nền công nghiệp nhẹ của VN:

*Làm sao để FDI vẫn là điểm sáng của năm 2014

*Báo Quân Đội Nhân Dân thú nhậnVai trò áp đảo của doanh nghiệp FDI

Theo các chuyên gia kinh tế, trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu tăng cao chủ yếu dựa vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong khi xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước giảm sút. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh phân tích, khu vực doanh nghiệp FDI đóng góp đến 65% giá trị xuất khẩu của cả nền kinh tế, tạo hơn 2 triệu việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa…Nhập siêu giảm nhưng chưa vội mừng)

——————————

(Ghi chép riêng: Nhiều số liệu (estimate and data from WB and the authors) trong bài dưới đây có nhiều lầm lỗi cơ bản quá lớn. Chỉ cần đặt một vài câu hỏi thì nhiều phần trong bài ấy cần phải viết lại, nếu không thì bài viết của các tác giả gần như vô giá trị. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là bài viết của họ được xuất bản, được nhiều người đọc, và tin.

http://xinloiong.jonathanlondon.net/wp-content/uploads/2014/02/Proofs-Malesky-London-2014-ue.pdf

Posted in Thời Sự | 9 Comments »

►Dầu ai nói ngã nói nghiêng, Việt Nam vẫn hướng về Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 09/03/2014

Việt Nam: Định hướng Bắc Kinh, Nhân quyền và TPP?

Phan Châu Thành

Tác giả gửi đến Dân Luận

08-03-2014

Trong một số bài viết của mình gần đây, cụ thể như loạt bà“Chính phủ hay tà phủ”, tôi đã đưa ra đánh giá sơ lược của cá nhân về tình hình tổng quan mọi mặt chính (đối nội, nhân quyền, đối ngoại, kinh tế, xã hội…) của Việt Nam hiện nay – đầu 2014, và về tương lai Việt Nam trong vài ba năm trước mắt 2014-1016.

So sánh các đánh giá và dự báo của tôi (PCT) với các đánh giá của nhà phân tích và bình luận chính trị xã hội Phạm Chí Dũng (PCD) trong bài “Tình hình nhân quyền VN năm 2014 sẽ yên ả hơn”, như sau:

Lĩnh vực Quan điểm của PCT Quan điểm của nhà bình luậnChính trị -xã hội PCD
Nội bộ/ Ch./trị – Đánh nhau khốc liệt hồi ĐH XII– Tăng tốc vơ vét và đàn áp – Tranh giành chính trị/nhân sự ĐH XII– Ảnh hưởng của tình hình Campuchia
Nhân quyền – Sẽ bị xiết chặt hơn– Các biện pháp trấn áp tinh vi hơn, “mới” và hạ đẳng hơn – Sẽ được nới lỏng, yên ả hơn– “lề trái” và diễn đàn dân sự sẽ được chấp nhận
Đối ngoại – Đảng tiếp tục “đi hai hàng”– Tiếp tục nhu nhược với TQ hơn nữa– Theo phương Tây không trung thực – Phái “ngả về phương Tây” sẽ thắng thế
Kinh tế  Sẽ không được vào TPP– Tiếp tục bị ảnh hưởng nặng từ TQ– Đồng tiền Việt Nam sẽ bị mất giá– BĐS vỡ trận hoàn toàn

– Việt Nam đi vào khủng hoảng nặng từ 2016

– Được vào TPP ngay đầu năm 2014– Chuyển hường nhập khẩu nguyên liệu sang các nước TPP (bỏ TQ)– BĐS rơi vào đại khủng hoảng và tan vỡ– Nợ xấu tăng và không xử lý được

– Bắt đầu khủng hoảng từ cuối 2014

Xã hội Phân hóa đối kháng sâu sắc thành 4 nhóm theo tỷ lệ từ 90/10 chuyển sang 80/20:– Đảng và các loại “còn đảng còn mình”: 16,2%=>12,8%– Sợ hãi và “yên phận”: 72%=>64%– Không yên và chờ đợi: 9%=>20%

– Lực lượng Dân chủ: 1,8%=>3,2%

– Bất ổn và phản kháng tăng
Tổng quanCho 2014-2016 1/ Không vào TPP, từ 2014 kinh tế khủng hoảng2/ Xã hội bất an, CP gia tăng đàn áp3/ Cuộc chiến tàn khốc chiếm ghế ĐH 124/ Vẫn theo Tàu cộng

5/ Dân chủ phát triển về lượng và chất

1/ Vào TPP, từ 2014 kinh tế khủng hoảng2/ Xã hội bất an, phản kháng tăng3/ Cuộc đua chính trị chiếm ghế trong ĐH 124/ Phe theo phương Tây thắng thế

5/ Hoạt động dân chủ gia tăng

Như vậy, về cơ bản, nhận định của tôi và PCD khá trùng nhau, nhưng vẫn khác nhau về ba vấn đề chính: chính trị, kinh tế (hay TPP) và nội bộ/nhân quyền.

Với bài này, tôi muốn trình bày, tại sao tôi không đồng quan điểm với anh PCD – người mà tôi rất tôn trọng do những thể hiện công khai vì dân chủ mấy năm dần đây, về các vấn đề trên.

 

ĐH XII sẽ vẫn kiên quyết định hướng… Bắc Kinh

 

 

Từ nay đến 2016 sẽ là cuộc chiến cho ĐH XII của trên ba triệu đảng viên đảng CSVN. Nhưng đây sẽ không phải cuộc chiến để đưa ra đường lối phát triển đất nước, hay điều chỉnh quan điểm chính trị của đảng để làm cơ sở cho sự phát triển đất nước trong tình hình mới (như mục đích của mọi đại hội vốn là thế), mà chỉ là cuộc chiến giành ghế của các cá nhân, phe nhóm trong đảng mà thôi. Tại sao? Là vì cái đường lối ấy đã được xác định và không thể thay đổi tại Bắc Kinh từ trước rồi.

Tại sao ở Bắc Kinh và tại sao không thể thay đổi? Là vì mọi chiến lược phát triển của đảng CSVN đưa ra trong các ĐH toàn đảng của nó đã qua (11 đại hội) đều được ấn định ở và bởi Moscow (2 đại hội đầu sau đại hội Thành lập đảng và ĐH VI) hoặc Bắc Kinh (với cả 8 ĐH còn lại). Lần này, cộng sản “bố” ở Moscow đã toi từ lâu, và bốn ĐH gần đây nhất suốt 25 năm qua (từ Thành Đô 1990) đều lại do đảng “Mẹ” – CSTQ điều khiển hoàn toàn, thì có cơ sở nào để nói ĐH XII sắp tới sẽ không là như thế? Không có!

Không, và còn hơn thế, vì hơn bao giờ hết Bắc Kinh đang khùng lên bành trướng muốn nuốt trọn VN. Và họ đang làm việc đó không phải qua mua chuộc hay khuất phục dân Việt, mà qua “chỉ đạo” đàn con hoang của họ – đảng CSVN làm, mà chỉ đạo quan trọng nhất chính là thông qua cái gọi là ĐH của đảng CSVN – bè lũ vốn đã cam tâm bán nước Việt và lệ thuộc Tàu để được tại vị.

Còn về phía các đảng viên CSVN, điều đó cũng là không thể tránh. Bởi vì nếu không theo “định hướng Bắc Kinh (tức là bám chặt vào Bắc Kinh, vào đảng CSTQ bằng mọi giá) thì đảng CSVN hôm nay sẽ nhanh chóng tan rã, và họ những quan cộng sản dự ĐH XII sắp tới và hầu như toàn bộ đảng viên đảng CSVN này sẽ mất quyền lợi từ các chức vụ nhà nước của họ do đảng phân chia, thay vào đó là họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những gì tồi tệ họ đã làm với đất nước, dân tộc suốt hơn 80 năm qua? Trong khi cái họ cần chỉ là được yên vị để kiếm chác (dù hại dân) thêm một nhiệm kỳ nữa thôi…

Anh Phạm Chí Dũng nói phe “thân phương Tây” sẽ thắng thế, vì thế là điều không hề có cơ sở, và có thể chỉ vì nói theo mong muốn cá nhân. Bởi vì, dù bề ngoài họ thể hiện là “thân phương Tây” thì bản chất mọi đảng viên CSVN vẫn phải bám chặt vào địa vị và quyền lợi của mình trong đảng (chứ không phải quyền lợi của dân tộc, đất nước), nên nếu “thân phương Tây” để làm cái đảng đó tan rã thì họ cũng mất hết (địa vị và quyền lợi). Họ chỉ “thân phương Tây” trên đầu lưỡi, nếu có.

Tóm lại, một số người “cấp tiến” cũng chỉ là những kẻ giả vờ thân phương tây như một cách để chiếm quyền lợi và địa vị trong đảng mà thôi. Còn khi vào ĐH, phải lựa chọn đường lối của đảng, họ không có lựa chọn nào khác là theo “định hướng” Bắc Kinh, như các thế hệ cha ông họ – kể từ HCM, mà thôi. Mọi tuyên bố hay mong muốn về cải cách hay thay đổi thể chế của các đảng viên CSVN đều chỉ là ngây thơ (như ông Nguyễn Trung) hay lừa bịp (như TTg NTD).

Chỉ có khi nào đảng CSTQ không tồn tại nữa thì đảng CSVN mới thực sự phải đưa ra đường lối của mình, nhưng nó sẽ không kịp làm điều đó thì đã tự tan rã. Lịch sử sinh ra và tồn tại của đảng CSVN trên 80 năm qua đã và sẽ chứng minh điều đó.

 

Tại sao tôi nói Việt Nam sẽ không vào được TPP? (nhắc lại)

 

 

TPP thực chất là gì? Đó là cái lồng (hay cái cũi) địa kinh tế mà Mỹ và một số nước đang xây dựng để nhốt con thú dữ Trung Quốc, đan xen với những cái lồng địa-văn hóa, địa-chính trị và địa-quân sự khác mà Mỹ và các nước đã có để bủa vây, bao quanh và nhốt con thú TQ, hòng kiềm chế sự nguy hại của nó nói chung đối với Mỹ và toàn thế giới. Như vậy dù là lồng hay cũi kinh tế hay văn hóa thì mục đích vẫn là chính trị: bao vây để kìm hãm và giảm nguy hại của con thú dữ TQ. Đây vẫn là trò chơi chính trị.

Trong hai yếu tố để tạo thành và tham gia cái lồng địa kinh tế nhốt TQ là địa lý và kinh tế thì Việt Nam chỉ đáp ứng một, đó là địa lý. Còn yếu tố thứ hai là thể chế kinh tế thì Việt Nam không đáp ứng, không phù hợp, thậm chí nguy hiểm đối với chính mục đích của TPP, vì thể chế kinh tế VN lại giống của con thú dữ kinh tế sẽ bị nhốt là TQ, vì Việt Nam có cái đuôi định hướng XHCN có “màu sắc” giống như TQ vậy.

Ngay cả mục đích chính trị của cái lồng địa kinh tế TPP (là bao vây kinh tế TQ) thì Việt Nam có thực sự chia sẻ không vẫn còn là câu hỏi lớn. Người Việt chúng ta biết đảng CSVN sẽ không bao giờ dám làm việc “phản cha mẹ mình” đó! Tham gia cùng Mỹ và thế giới làm cái lồng địa kinh tế nhốt hay bao vây TQ trong “mưu đồ chính trị” ư? Không dám đâu! Cả ba đời CSVN đội mồ sống dậy cũng không dám!

Thế thì tại sao Việt Nam vẫn tham gia đàm phán “rất tích cực” và tỏ ra rất cố gắng để được vào TPP? Có ba lý do chính.

Một là, chính phủ Việt Nam muốn và hy vọng sẽ cứu nguy nền kinh tế sắp chìm của mình, nếu không được thì vẫn chứng tỏ được với dân (lừa được dân) là đảng đã/đang cố làm điều tốt nhất cho đất nước.

Hai là, nếu lừa được Mỹ và các đối tác TPP khác và được vào TPP, cộng sản Việt Nam sẽ vẫn đi hai hàng: vừa là tay trong của TQ trong TPP để phá bĩnh, và dùng điều đó để mặc cả với TQ chút đỉnh, và vừa ôm với mục đích cuối cùng là lấy le với dân (vẫn là lừa bịp) rằng tôi không theo TQ đâu nhé…

Ba là, đo lường và thử thái độ của Mỹ, giả vờ thân Mỹ để đu dây với TQ, hòng mặc cả chút đỉnh với TQ (như việc mua tàu ngầm của Nga vậy thôi), và cũng lại lấy le với (tức là lừa bịp) dân Việt rằng “đảng ta” độc lập không theo Tàu.

Đó là thái độ rất “điếm”, rất “tanh” của một ứng cử viên cho vai trò đồng minh trong TPP tương lai mà Mỹ và các nước khác không ngu gì mà không nhìn nhận ra.

Nhưng điều sẽ khiến Việt Nam sẽ không được vào TPP, không thể vào TPP, là thái độ gian dối bất trung, bất minh của CSVN ngay từ khi đàm phán và chuẩn bị để tham gia TPP hiện nay. Đó là, Việt Nam đã và đang mở cửa tất cả các ngành kinh tế mà Việt Nam đang nhập khẩu nguyên liệu đầu vào từ TQ cho các “nhà đầu tư” TQ và TQ Đảo (Đài loan) vào Việt Nam để sản xuất các nguyên vật liệu đầu vào đó tại Việt Nam, để “biến” nó thành nguồn gốc VN (nội TPP) thay vì gốc TQ (ngoại TPP), để đáp ứng và khai thác lợi ích từ TPP. Ví dụ: 80% nguyên liệu ngành vải sợi, dệt may, và nhựa, hóa chất, thép… của VN hiện nay là nhập từ TQ thì đang được VN mở cửa cho TQ vào chuyển các nhà máy và công nhân của họ sang VN, để biến chúng thành nguồn gốc VN! Chuyện đó đang xảy ra ở hàng loạt các KCN từ bắc chí nam: Đình Vũ (HP), Vũng Áng (TH), Nhơn Trạch (ĐN)…

Cuối cùng thì Mỹ và các dối tác TPP khác, ngoài cái thể chế kinh tế “định hướng” XHCN không thể chấp nhận được của Việt Nam, cũng sẽ phải cân nhắc độ tin cậy và trung thực của đối tác này, vì Việt Nam là đối tác tiềm năng duy nhất của TPP mà không tham gia bất kỳ cái nào trong ba cái lồng nhốt con thú dữ TQ kia, là địa-văn hóa, địa-chính trị và liên minh địa-quân sự xung quanh TQ.

Nếu có Việt Nam trong TPP thì có vẻ cái lồng địa kinh tế nhốt TQ siết khá “chặt” sát hông TQ, nhưng Việt Nam lại có vẻ như sẽ là lỗ hổng của cái lồng TPP đó thay vì là lưới chắn, và con thú TQ sẽ qua đó thoát ra. TPP thất bại.

Nếu không có VN thì cái lồng địa kinh tế TPP nhốt con thú TQ có vẻ lỏng lẻo hơn, không siết chặt và TQ, nhưng nó lại sẽ bền chắc và đáng tin cậy hơn, vì sẽ không có đối tác nào “đi hai hàng” như VN trong TPP.

Cuối cùng thì các vòng đàm phán TTP cũng sẽ qua, các đòn gió nhử TQ và VN của Mỹ cũng không cần thiết nữa, và TPP sẽ được ký kết mà sẽ không có VN để đảm bảo mục đích TPP, độ tin cậy và tính hiệu quả của nó sau này.

 

Tình hình nhân quyền Việt Nam sẽ không yên ả

 

 

Dù Việt Nam đã có ghế thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ, dù sức ép ngày càng lớn của cả thế giới đứng đầu là Mỹ lên Việt Nam vì hồ sơ nhân quyền xấu xa của Việt Nam, thì vấn đề nhân quyền ở Việt Nam từ 2014 vẫn sẽ không được cải thiện và nó sẽ ngày càng xấu đi, tệ hại hơn. Nó sẽ chỉ được che dấu tinh vi và thể hiện theo những cách “mới sáng tạo của đảng” một cách ngày càng đáng ghê tởm hơn mà thôi. Tại sao vậy?

Đó không phải vì CSVN không muốn cải thiện hồ sơ nhân quyền để lấy lòng thế giới và Mỹ, mà vì CSVN không thể dừng hay giảm đàn áp phong trào dân chủ trong nước, và vì thế càng vi phạm nhân quyền của dân và làm hồ sơ nhân quyền của đảng càng đen tối và hôi tanh.

Tại sao đảng CSVN không thể dừng hay giảm đàn áp phong trào dân chủ trong nước? Là vì phong trào dân chủ trong nước ngày càng lan rộng. Và lý do của sự lan tỏa đó là do đảng và chính quyền tham nhũng (nhất là ăn cướp đất của dân) ngày càng tàn bạo hơn, đưa kinh tế đi sâu vào khủng hoảng, và vì đảng ngày càng nhu nhược hèn hạ hơn với “định hướng” và chủ Bắc Kinh của họ (sẽ được tái củng cố và khẳng định lần nữa tại ĐH XII… như tôi đã chỉ ra trên), làm dân ta ngày càng phẫn nộ hơn, phải đứng lên đòi quyền và tự làm cải cách dân chủ ngày càng đông đảo hơn.

Đó là cái vòng luẩn quẩn mà đảng tự tạo ra và không thể thoát ra, đó là cái “vòng kim cô Bắc Kinh” mà đảng đã tự nguyện đội trên đầu và không thể tự tháo ra được nữa.

Vì thế tôi nói, tình hình nhân quyền Việt Nam thời gian tới sẽ không hề yên ả như anh PCD nói, mà nó sẽ đi vào những vòng xoáy mới căng thẳng hơn ở mức độ rộng lớn hơn, bất ngờ hơn.

Tóm lại, đảng CSVN muốn và chỉ muốn xây dựng Thịnh vượng (cho họ) dựa trên ba chân: định hướng Bắc Kinh, che dấu hồ sơ nhân quyền đen tối, và tham gia trò chơi chính trị TPP để làm kinh tế. Vấn đề là, trong ba yếu tố trên: Định hướng Bắc Kinh – Nhân quyền – và TPP, khác với Ngũ Hành, yếu tố ”định hướng Bắc Kinh ” chỉ có tương khắc và diệt mà không có tương sinh nào với hai yếu tố kia, nên ba thứ đó về logic không thể cùng tồn tại. Nếu cố tình trộn chúng với nhau thì chỉ tạo nên xã hội quái thai tạm thời, sẽ tự hủy hoại và tan vỡ.

Phan Châu Thành

   (Hầu hết các chuyến đi của cán bộ VN là qua Trung Quốc. Nêú ai đã từng vào các trang website của Bộ Ngoại giao và Đảng CSVN vào năm 2008 trở về trước, sẽ thấy lịch viếng thăm TQ cuả đoàn cán bộ VN là hơn 3-4 chuyến mỗi ngày. Kể từ năm 2009, lịch viếng thăm TQ đã không còn niêm yết tại hai website này nữa. )

►VN và Mỹ chỉ là đối tác toàn diện, chứ không phải đối tác chiến lược và thân thiết như giữa VN và Trung Quốc

Posted in Chinh Tri Viet Nam | 2 Comments »

►Sau 5 năm phí tiền của, nay chính thức: đình chỉ khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên và ngưng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà – Bình Thuận

Posted by hoangtran204 trên 09/03/2014

Nhớ lại năm 2008, đảng bốc phét nào là:

-“Khai thác Bô Xit ở Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng ta và Bộ Chính Trị…”

– Khai thác bô xít ở Tây Nguyên là chủ trương của Đảng

– BBCVietnamese.com | Việt Nam | ‘Khai thác bauxite là chủ 

– “Từ năm 2001, trong Ðại hội IX, dự án này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua:[4] “Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bauxite là chủ trương nhất quán từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay”.[5]

Ngày 1 tháng 11 năm 2007Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 167 phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít từ giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025″. (Nguồn)

*Tháng 4/2008: Sở Kế hoạch – đầu tư tỉnh Bình Thuận thông báo chủ trương xây dựng cảng Kê Gà. Hai nhà đầu tư ban đầu là Vinacomin và Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tân (Bita’s) nhưng sau đó Bita’s rút lui. Mục đích xây dựng cảng Kê Gà nhằm vận chuyển bôxit từ Tây nguyên xuống. Kinh phí đầu tư xây dựng cảng ban đầu là 550 triệu USD, sau đó được điều chỉnh lên 1 tỷ USD. Dự án cảng Kê Gà có độ dài 2,3km bờ biển với tổng diện tích 366ha. (Nguồn)

« 

Đồng bào ở trong và ngoài nước biết rõ chuyện chúng tính toán quyết định là hoàn toàn sai, đã ngỏ lời khuyên răn chúng đừng làm, phí tiền của, nhưng bọn chúng có chịu nghe lời đâu, thậm chí đã hung hăng dùng bạo lực, sai bọn Công An Nhân Dân đánh đập và bỏ tù…những người có lòng nhiệt thành khuyên răn chúng: (Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần…) 

14 đứa trong Bộ Chính Trị thay phiên nhau lên nắm quyền kể từ thời Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng…là bọn cá bè một lứa, đặc tính chung nhất của bọn này là chẳng có đứa nào học quá lớp 7, nhưng đứa nào cũng luôn ưa thích quyền lực, thích nắm quyền quyết định, bốc phét tởi bến, dầu bản thân bọn chúng chẳng ra gì.

Nào là lên kế hoạch đi mượn 1 tỷ đô để 4.000 tỉ đồng xây đê chắn sóng cảng nước sâu Kê Gà

 

 

Sau 5 năm phí tiền của vay mượn của nước ngoài, bọn quan chức Hà Nội ăn được một mớ tiền thủ tục giấy tờ để đút túi, nay chắc tạm no nê, chuyển hướng qua ăn dự án xây dựng sòng bài (casino) ở Phú Quốc,  nên đã tuyên bố chính thức: đình chỉ khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên và ngưng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà – Bình Thuận.

Nhưng cũng có thể nhà Sản đi vay mượn 25 tỷ đô để khai thác bô xít từ đây đến năm 2025, nhưng bọn có tiền ngu gì đầu tư vào một món khó nhai này, lại thêm phải chi trả 20-30% dịch vụ bôi trơn cho cổ máy tham nhũng cả nhà Sản vốn thuộc loại trứ danh địa cầu, nên bọn này quay lưng, thế là nhà Sản rút lui không kèn không trống; hoặc có thể là do Hoàng Trung Hải bày ra vụ này, nên nay phải là tuyên bố kết thúc. « 

Dân nói không nghe bây giờ  đã trắng mắt ra chưa.

Chính thức cho dừng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà

NGUYỄN THANH (TTXVN)

LÚC : 06/03/14 19:33

Nguồn: vietnamplus.vn

Chiều 6/3, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận cho biết Văn phòng Chính phủ đã có công văn thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đối với dự án cảng Kê Gà (Bình Thuận).

Phó Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý dừng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà.

Sớm cấp giấy phép khai thác mỏ bô xít (24/12)  )

Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Giao thông vận tải tiếp tục nghiên cứu, lập dự án đầu tư cảng tổng hợp cho các dự án bauxite, titan và hàng hóa tổng hợp khác cho giai đoạn sau năm 2020, phục vụ phát triển kinh tế xã hội khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.

Tỉnh Bình Thuận chủ trì, phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam và các bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện việc đánh giá bồi thường thiệt hại cho các dự án bị thu hồi đất phục vụ xây dựng cảng Kê Gà và chi trả việc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Như vậy, sau hơn năm năm triển khai và một năm tạm dựng đầu tư xây dựng, cảng Kê Gà đã chính thức dừng đầu tư xây dựng.

Việc dừng đầu tư cảng Kê Gà và thực hiện bồi thường thiệt hại sẽ tạo điều kiện cho chủ đầu tư 12 dự án du lịch và người dân vùng dự án đã từng bị thu hồi đất trước đây tiếp tục thực hiện các dự án của mình, để khai thác tốt tiềm năng du lịch nơi đây.

Dự án cảng Kê Gà được lập nhằm phục vụ rút ngắn cung đường, giảm chi phí vận chuyển hàng hóa của các dự án bauxite Tây Nguyên, cũng như tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế cho cả vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.

Dự án cảng biển Kê Gà có tổng mức đầu tư trên 20.000 tỷ đồng. Tuy nhiên quá trình triển khai xây dựng cảng, đã phát sinh nhiều vấn đề không khả thi.

Qua nhiều lần dự kiến khởi công xây dựng nhưng vẫn không triển khai được, đến đầu năm 2013, cảng Kê Gà chính thức tạm dừng lại theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ./.

———————————————-

Trước đó, ngày 25-3-2010,

4.000 tỉ đồng xây đê chắn sóng cảng nước sâu Kê Gà

Văn Nam

(TBKTSG Online) – Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) dự kiến sẽ bỏ ra khoảng 4.000 tỉ đồng để xây đê chắn sóng dài 3 km hướng ra biển, nằm cách ngọn hải đăng Kê Gà khoảng 2,3 km về phía biển Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online sáng 23-3, ông Dương Văn Hòa, Phó tổng giám đốc TKV cho biết, đê chắn sóng là một hạng mục quan trọng của dự án cảng nước sâu Kê Gà, do vậy TKV sẽ ưu tiên xây dựng đoạn đê này trước, dự kiến sẽ khởi công vào tháng 8-2010.
Ông Hòa cho hay, hiện TKV đã lập xong thiết kế cơ sở toàn bộ dự án, Bộ Giao thông vận tải đang thẩm định lần cuối. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đang hoàn tất thẩm định đánh giá các tác động môi trường như ô nhiễm nguồn nước, tiếng ồn, bụi và những tác động của đê chắn sóng đến dòng hải lưu khu vực Mũi Kê Gà.

Sau nhiều lần điều chỉnh, ông Hòa cho hay tổng vốn đầu tư của dự án này hiện nay đã lên đến gần 1 tỉ đô la Mỹ, được thu xếp vốn theo hình thức phát hành trái phiếu của TKV và vay thương mại từ nguồn trong và ngoài nước.
Dự án cảng Kê Gà được chia thành 4 giai đoạn. Công suất bốc dỡ giai đoạn 1 sau 2 năm xây dựng sẽ đạt 3,5 triệu tấn/năm, đến năm 2020 sẽ hoàn tất cả 4 giai đoạn xây dựng với tổng công suất bốc dỡ được nâng lên khoảng 35 triệu tấn/năm.
Về mặt pháp lý, ông Hòa cho rằng cảng nước sâu Kê Gà là dự án vừa được bổ sung vào cụm cảng khu vực Nam Trung bộ (còn gọi là cụm cảng nhóm 4) trong quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam vừa được Chính phủ phê duyệt tháng 12-2009 vừa qua.
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng cũng đã có ý kiến đồng ý cho TKV triển khai dự án xây dựng cảng nước sâu tại khu vực Mũi Kê Gà với chức năng là cảng tổng hợp phục vụ xuất khẩu alumin được sản xuất, vận chuyển từ Tây Nguyên xuống và xuất nhập hàng hóa cho Bình Thuận và các tỉnh Nam Trung bộ.
TKV dự kiến, khi dự án khai thác alumin ở Tây Nguyên có sản phẩm vào cuối năm nay với tổng công suất 650.000 tấn/năm, trong khi cảng nước sâu Kê Gà chưa xong thì TKV sẽ vận chuyển một phần alumin khai thác về cảng Gò Dầu, tỉnh Đồng Nai, một phần vận chuyển về cảng Ba Ngòi ở Cam Ranh để xuất khẩu.
Ông Hòa cho hay tiến độ dự án cảng nước sâu Kê Gà chậm hơn dự kiến ban đầu khoảng 1 năm rưỡi. Để triển khai dự án cảng nước sâu Kê Gà, UBND tỉnh Bình Thuận đã quyết định thu hồi, ngưng triển khai đối với 12 dự án du lịch nằm bên trong ranh giới cảng. Dự kiến TKV sẽ chi khoảng 400 tỉ đồng tiền bồi thường cho các dự án du lịch bị giải tỏa.
Nguồn: http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/www.thesaigontimes.vn/4000-ti-dong-xay-de-chan-song-Cang-nuoc-sau-Ke-Ga/4023926.epi

*

Kế hoạch xây dựng cảng Kê Gà nằm trong các đại dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, điều này quá rõ ràng. Chỉ riêng xây dựng phần đê chắn sóng thôi, dự tính đã phải chi tới 4000 tỉ đồng VN, còn tổng vốn đầu tư của dự án này hiện nay được cho là khoảng 1 tỉ đô la Mỹ.

Chắc bà con không thể quên được lời ông Chủ tich QH Nguyễn Phú Trọng cho rằng, những dự án dưới 600 triệu đô la thì không phải thông qua Quốc hội. Thế thì dự án này đã được trình qua QH chưa? (Ấy là chưa nói đến chuyện dự án bauxite Nhân Cơ mà Chính phủ xin khất để báo cáo lại QH kỳ sau rồi im luôn và “lẳng lặng” tiến hành).

Bauxite Việt Nam nhờ bạn đọc nào có kiến thức về vấn đề này, xin đóng góp phản biện cho việc xây dựng đê chắn sóng tại cảng Kê Gà.

Bauxite Việt Nam

—————-

*Bọn ngốc lớp hai và bọn cố vấn cho chúng không hiểu vấn đêf cơ bản về thềm lục địa ở vùng Nha Trang rất khác những vùng khác. Đây là vùng bị xâm thực bởi năng lượng của sóng biển, dù có làm đê che chắn  cở nào cũng không thể chống lại với lưu lượng dòng chảy của biển từ phía Bắc đổ dồn về sẽ bào mòn bất cứ loại đê chắn sóng cở nào. 

Tuy nhiên, vấn đề là bọn này muốn mượn cớ xây đập chắn sóng để đi mượn tiền nước ngoài, và chúng có thể bòn rút 20-30% món tiền mượn như thông lệ. 

Điều mà bọn này không nghĩ ra là chẳng có tổ chức tín dụng nào ngu dại cho chúng mượn tiền để xây dự án đê chắn sóng phản lại voiứ luận chứng khoa học về trái đất và cũng chẳng có công ty nào dám nhảy vào xây dựng công trình này. 

Thế là màn vay nóng tiền bạc thất bại, chúng hủy bỏ luôn vụ khai thác bô xít. 

Trong tập thơ Xem Đêm, xuất bản 1995, của Phùng Cung có bài “Vay Nóng” như sau: 

Ðất nước tôi
Triền miên bất hạnh
Tụi mặt dày – tay bẩn
Tim rắn – lời cừu
Văn hóa lớp hai
Ðiều hành cuộc sống
Tránh làm sao
Khỏi nát ngọc nhân quyền
Nhân danh một nạn nhân
Ðứng giữa mênh mông
Cùm lim – rào kẽm
Khản cổ – chìa tay
Khấn xin những quốc gia
Văn minh – từ thiện
Cho dân Việt Nam tôi
Vay nóng chút dân quyền 
  ( Phùng Cung, nguời tù bị biệt giam mười một năm.)

Kể từ ngày CS cai trị Miền Bắc 1954, hơn 60 năm sau, người VN cho mãi đến hôm nay vẫn còn phải đi qua trời Tây, nhờ vả họ nói hộ với những “Văn hóa lớp hai Điều hành cuộc sống”: để xin vay nóng hai chữ NHÂN QUYỀN

———————————————–

Vụ đình chỉ Bô xít cũng tương tự như vụ đình chỉ xây dựng nhà máy điện hạt nhân xảy ra hồi tháng trước. Trong 5 năm qua, các nhà khoa học trong và ngoài nước khuyên răn: không nên xây dựng điện hạt nhân, vì trình độ khoa học kỹ thuật của VN còn thấp kém, chưa từng có kinh nghiệm về hạt nhân, lở có tai nạn rò rĩ xảy ra sẽ là một đại họa không đỡ nổi…

 

Nhưng nói gì thì nói, Bộ Chính Trị và Đảng quỷ có nghe đâu, mở miệng ra là nói: xây dựng điện hạt nhân là chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta…thế là cứ xăm xăm làm gọi thầu, nào là Nga, Nhật, Trung Quốc, Nam Hàn…họp hành làm dự án từ năm 2009…Đến nay thì ngưng.

 

Chắc bọn nước ngoài biết tỏng vụ các quan chức của đảng quỷ chuyên vòi tiền dịch vụ phí 20-30%, nhắm không cung ứng nổi để đút lót ổ quỷ, nên bọn này tháo chạy, không cung cấp tiền tài trợ, thế nên nhà nước đành ngưng.

Thêm vào đó Tập đoan Than Khoáng Sản đang mắc nợ tiền điện, không trả cho EVN, thì lấy tiền 4000 tỷ đồng ở đâu ra để đầu tư bước đầu vào cảng Kê Gà?

——

Việt Nam ‘hoãn xây nhà máy điện hạt nhân’ – VOA Tiếng Việt

►Ở nước ta, không cần hiến pháp cũng được, chỉ cần đảng chỉ đạo

►Nỗi oan của “bánh bèo” trước sự ruồng rẩy của Đảng

►Năm 2012 và 2013, có 7000 đoàn cán bộ đi công tác nước ngoài, có đoàn lên đến 60 người bằng ngân sách Nhà nước!

►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI 185 hecta ĐẤT VƯỜN CAO SU

►Tướng Giáp trong “Bên Thắng Cuộc”- Vụ án Năm Châu -Sáu Sứ 1991

►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.

►Vụ án xét lại chống đảng (phần 3 và 4) – Đừng kêu oan cho người khác-Những người che mắt lịch sử

►Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim – Những thành quả của Chính phủ Trần Trọng Kim

►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

►Bình Dương: ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ “CHINA TOWN” do Công Ty của Bộ Quốc Phòng Việt Nam xây dựng tại Thành Phố Mới BÌNH DƯƠNG

►Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng- Đông đô đại phố ở Bình Dương do Quân Đội Nhân Dân VN xây dựng cho Trung Quốc…Nhân ngày kỷ niệm thành lập QĐNDVN 22-12-2013

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974 ( một trong các bài được nhiều bạn đọc nhất)

Trích: “Triển lãm đã được khai mạc theo đúng dự định với nội dung tác phẩm là 7 khối nước đá có tổng khối lượng là 21m3 nước thải sông Tô Lịch được đóng băng cùng với những rác thải được thu lượm bên hai bờ sông Tô Lịch. Nước đá tan vào ngày thứ 3 thì lòi ra: các loại rác rến mà nghệ sĩ đã thu nhặt hai bên bờ sông Tô Lịch, trong đó có cả báo Nhân DânTạp chí Cộng sản và sách về Marx và Lenin!

Không thể chịu đựng nổi sự “xúc phạm”  quá quắt này, bên an ninh văn hoá của Hà Nội đã “ra lệnh dừng cuộc triển lãm mà không cho biết lý do cụ thể bằng văn bản.”

Nhưng đảng Cộng sản VN vốn thù dai, hể thù ai là ghi tên người đó vào sổ đen. Và “dịp may” đã đến với họ một lần nữa khi nghệ sĩ Trần Trọng Linh nhập cảnh vào Việt Nam… “Ông Trần Trọng Linh, năm nay 34 tuổi, nói ông bị chặn không cho vào Việt Nam ở cửa khẩu Tân Sơn Nhất hồi tháng 2/2013 khi bay từ Pháp về Việt Nam cùng hai con nhỏ, một dưới hai tuổi, một hơn bốn tuổi.”

—–

Vinacomin tái khẳng định bauxite Tân Rai lỗ theo kế hoạch!

Lỗ vẫn khai thác!

17-8-2014

Sau 1 năm đầu hoạt động, dự kiến trong 3 năm tới hoạt động sản xuất tại Công ty Nhôm Lâm dồng sẽ còn tiếp tục lỗ.

Thông tin trên Tuổi trẻ, đại diện Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) thừa nhận kết quả tính toán mới nhất cho thấy dự án có thời gian thua lỗ trong bốn năm, nhưng sau 11 năm hoạt động thì thu hồi được vốn.

Như vậy, sau một năm bắt đầu có hoạt động kinh doanh thì dự kiến trong ba năm tới hoạt động sản xuất tại Công ty Nhôm Lâm Đồng sẽ còn tiếp tục lỗ.

Trước đó, dự án này đã được xác định sẽ lỗ trong 5 năm và hoàn vốn trong 12 năm, còn dự án Nhân Cơ có kế hoạch lỗ là 7 năm, hoàn lỗ trong 13 năm. (ha ha ha)

Và tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Công thương diễn ra vào tháng 4/2014, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải đã lạc quan khẳng định 2 dự án bauxite này có tính khả thi.

Lỗ vẫn khai thác, vì…?

Trước báo cáo cho thấy dự án bauxite sau khi đi vào hoạt động có kế hoạch thua lỗ trong vòng 4-5 năm đầu tiên trong khi vẫn xin nhận nhiều ưu đãi về các loại thuế phí, nhiều ý kiến phản biện của các chuyên gia cho biết, nên dừng dự án bauxite Tây Nguyên thậm chí đặt ra nghi ngờ về việc tồn tại lợi ích nhóm.

Cụ thể, TS Hồ Uy Liêm – nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam từng cho biết, dù không thể túm tận tay, day tận mặt nhưng cá nhân ông nghi ngờ về tính lợi ích nhóm rất lớn trong dự án này.

 

Tiền đầu tư cho hai dự án bauxite Nhân Cơ, Tân Rai hầu hết là vốn vay

“Nhà nước đã đầu tư vốn vào dự án này rất nhiều rồi sau lại điều chỉnh tăng hơn 8.208 tỉ đồng (giá trị trước thuế) so với dự toán ban đầu. Trong đó, dự án alumin Tân Rai tăng 3.890 tỉ đồng, dự án Nhân Cơ tăng 4.318 tỉ đồng. Trong khi đó Bộ lại xin hạ tiêu chuẩn thì thực sự nguy hiểm”, TS Hồ Uy Liêm nói

Cũng theo TS Hồ Uy Liêm, nếu cứ làm kiểu thế này tốt nhất là cho doanh nghiệp vào tự đào rồi bán đi, hay với doanh nghiệp nước ngoài thì cho không đi để nhà nước đỡ phải mất thêm tiền. Làm không có lãi rồi lại hứa đến năm 2020 mới có lãi thì đã rõ tính hiệu quả của nó rồi.

Trước đó cũng có nhiều ý kiến của các Đại biểu Quốc hội đánh giá, rủi ro tài chính của dự án bauxite là rất cao. Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM Trần Du lý giải về nhận định đó của mình bằng cách đưa ra con số 600 triệu USD của TKV vay nước ngoài phục vụ đầu tư dự án do Chính phủ bảo lãnh, số tiền này đã thuộc nợ công chứ không chỉ thuộc phạm vi của dự án hay của TKV.

Bộ Công Thương khẳng định TKV đã có kế hoạch trả nợ khoản vay này, nhưng như băn khoăn của Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Thanh Hóa, ông Lê Nam, việc trả nợ có thể bảo đảm theo kế hoạch không khi mà doanh nghiệp hiện vẫn đang bị lỗ và dự kiến sẽ còn bị lỗ trong 5 – 7 năm nữa?

Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Mai Xuân Hùng cũng đề nghị, cần phải xem xét, đánh giá thật cẩn trọng hệ lụy nợ đối với hai dự án này.

Trước kỳ họp Quốc hội tháng 5/2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa ra Nghị quyết về nội dung giám sát “hiệu quả tổng thể về kinh tế, xã hội gắn với đảm bảo an ninh – quốc phòng của hai dự án bauxite Tân Rai và Nhân Cơ do Tập đoàn Than – khoáng sản VN làm chủ đầu tư”. Nêu những mặt được chưa được của dự án, chỉ ra nguyên nhân và đề ra yêu cầu đối với Chính phủ, các bộ ngành, địa phương trong việc tiếp tục triển khai hai dự án bauxite ở Tây Nguyên.

Hà Anh (17-8-2014)

 

Posted in Bauxite | 11 Comments »

►Những tội danh kỳ lạ sau khi có lòng cảm mến Phật Giáo Hòa Hảo

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2014

Những tội danh kỳ lạ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

Theo RFA

Chị Bùi thị Minh Hằng và bà con Phật Giáo Hoà Hảo trước khi bị công an đánh và bắt giam 24 ngày qua…

Hôm nay đúng 24 ngày công an Đồng Tháp vẫn giam giữ ba công dân một cách bất hợp pháp tại trại tạm giam tỉnh Đồng Tháp. Ba người đó là bà Bùi Thị Minh Hằng, ông Nguyễn Văn Minh và cô Thúy Quỳnh. Mặc Lâm tìm hiểu câu chuyện qua lời kể của người trong cuộc.

Câu chuyện xảy ra vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 11 tháng Hai khi một nhóm bạn hữu và đồng đạo Phật Giáo Hòa Hảo của tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn về ấp Hưng Nhơn, xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để thăm gia đình anh thì bị công an bao vây tại cầu Nông Trại và bắt giữ đem về trụ sở công an huyện.

Những người ngồi trên xe đã bị công an và an ninh lên xe tấn công bằng gậy gộc, một số bị thương trong đó có bà Bùi Hằng và nhiều đạo hữu Phật Giáo Hòa Hảo.

Chị Bùi Thị Kim Phượng là vợ của anh Nguyễn Bắc Truyển xác nhận việc bà Bùi Thị Minh Hằng bị đánh khi trên đường tới thăm gia đình chị tại Lấp Vò:

“Tôi được nghe các anh chị ở Sài Gòn kéo xuống trong đó có chị Bùi Thị Minh Hằng và một số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo cùng với phái đoàn trên Sài Gòn xuống để thăm nhà tôi ở Lấp Vò, Đồng Tháp. Trên đoạn đường đi thì họ bị công an Lấp Vò bắt đánh rất dữ dội trong đó có thầy trụ trì chùa Quang Minh Tự là thầy Võ Văn Thanh Liêm bị đánh và chị Bùi Thị Minh Hằng cũng bị đánh rất dữ dội, có người bị ngất xỉu. Họ bị áp giải về đồn công an Lấp Vò.”

Anh Phạm Nhật Thịnh, một người ngồi chung xe chứng kiến những việc xảy ra và cũng bị bắt về công an huyện Lấp Vò sau đó, anh kể lại:

“Em mến chị Hằng chứ không phải là Phật Giáo Hòa Hảo hay Công giáo. Em là cộng tác viên của Văn phòng Công lý và Hòa bình. Mục đích của em thứ nhất là đi chơi thứ hai là thăm nhà của bà Bắc Truyển. Chị Hằng không có một biểu hiện gì chống lại chính quyền hết. Chị ấy chỉ phản đối lại việc làm của những người công an mặc thường phục đánh đập và giựt đồ của chúng tôi khi phản đối những việc làm đó. Em nhìn thấy chị bị đánh mấy cái vô gáy rồi khi người ta còng tay chị ấy rồi đưa chỉ lên xe người ta cũng còn đánh nữa.”

Có 22 người đã bị bắt trong ngày hôm ấy nhưng 19 người đã được thả chỉ còn lại bà Bùi Minh Hằng, blogger Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh vẫn còn bị giam giữ cho tới hôm nay.

Giam giữ bí mật, tại sao?

Trong 24 ngày bị giam cả ba người đều phản đối việc bắt giữ mình trái phép bằng cách cùng tuyệt thực và tới hôm nay thân nhân của bà Hằng và anh Minh đã cố gằng nhiều lần nhưng đều bị trại tạm giam từ chối không cho gặp mặt.

Chị Bùi Thị Diễm Thúy vợ của anh Nguyễn Văn Minh cũng bị bắt chung với chồng nhưng đã được thả ra cho biết:

“Tôi hỏi nguyên nhân tại sao mà bắt giữ chồng tôi hoài mà không thả, tại sao bắt chung mà thả tôi ra còn chồng tôi thì không thả thì nó nói là trong vòng điều tra bây giờ chưa biết để từ từ người ta điều tra rồi mới cho hay. Nó không cho gặp mặt gì hết trơn.”

Chị Quỳnh Anh con ruột của bà Bùi Thị Minh Hằng cho biết trường hợp của mẹ:

“Chưa ai được gặp có nghĩa là bây giờ công an huyện Lấp Vò nó một mực nó bảo là đang trong quá trình điều tra nên chưa cho gặp. Sau chín ngày đầu tiên Trung nhà con có xuống yêu cầu nó cấp giấy thì nó cấp cho tờ giấy là thông báo tạm giữ, hôm 25 tháng Hai vừa rồi Trung nhà con lại yêu cầu nó tại sao bây giờ giam giữ quá 9 ngày rồi mà vẫn không có bất cứ một cái gì hết. Thế là nó đưa cho Trung một giấy thông báo tạm giam mà cũng chỉ là thông báo chứ hoàn toàn không có quyết định hay là gì cả.

Sau khi nó đưa chắc nó cũng muốn làm cho kín kẽ nó gửi về cho con một cái thông báo tạm giam. Cả hai lần chỉ là thông báo chứ không có quyết định hay lệnh gì cả.”

Quỳnh Anh kể lại chi tiết những lần thăm mẹ rất khó khăn của gia đình chị:

“Từ hôm mẹ con bị bắt lần đầu tiên con xuống là tuần vừa rồi khi vào đến trại giam thì người ta bảo con là ở đây người ta chỉ có trách nhiệm giam giữ còn muốn thăm thì phải sang công an tỉnh xin giấy vì bên tỉnh người ta thụ lý. Con chạy sang công an tỉnh thì họ bảo là họ chỉ hỗ trợ cho huyện chứ người ta không điều tra vụ này. Thế là bọn con lại xuống huyện Lấp Vò chỗ bắt mẹ con thì người ta cũng không cho vào. Chiều hôm ấy khi con xuống đến nơi thì anh công an trực ban chận con lại từ cửa và có vẻ như đồng chí điều tra viên không muốn gặp con thế là hai vợ chồng con lại về.

May mắn hôm nay con đi thì mặc dù không gặp được mẹ đâu tại vì nó vẫn trả lời là trong quá trình điều tra nên không cho gặp nhưng được cái là con mua đồ gửi vào cho mẹ và tấm hình của con bé và được đồng chí giám thị trại giam cho biết mẹ vẫn còn tuyệt thực chỉ uống nước chứ không ăn uống gì.”

Tội “cản trở giao thông”?

Đối với bà Bùi Minh Hằng có tin công an khép bà vào điều 203 tội gây cản trở giao thông và tội danh này có mức án từ ba tháng đến ba năm tù giam. Anh Phạm Nhật Thịnh làm chứng cho sự gán ghép này, anh nói:

“Nếu mà nói “cản trở giao thông” thì chính họ mới là người cản trở giao thông chứ không phải tụi em. Tại vì tụi em đi với tốc độ bình thường và đi hàng một. Khi đến cầu Nông Trại thì họ chặn xe chúng em và cầm gậy gộc đánh chúng em nữa. Họ chặn hai đầu không cho đi và không cho về đó là những điều em nhìn và nghe thấy như vậy chứ hoàn toàn chị Hằng không chống đối mà cũng không cản trở giao thông.”

Riêng anh Nguyễn Văn Minh thì bị quy tội “chống người thi hành công vụ”, chị Bùi Thị Diễm Thúy vợ của anh Minh cho biết:

“Nó thấy chồng con buôn bán được lo cho gia đình và lo thăm nuôi cha và em con trong tù thành ra bây giờ nó bắt. Nó muốn làm cho gia đình con không còn ai lo nữa đặng cho khổ sở không có đồng tiền thì sẽ bỏ đạo, họ đàn áp mình vậy đó chú.”

Chống người thi hành công vụ?

Chị Thúy kể lại chuyện cha ruột của chị là ông Bùi Văn Trung và em ruột là Bùi Văn Thanh cả hai cũng bị cáo buộc tội chống người thi hành công vụ và hiện đang thụ những án tù bất công mà nguyên nhân sâu xa chỉ vỉ họ theo Phật giáo Hòa Hảo:

“Em con thì nó bắt năm 2012 cha con thì nó bắt năm 2013. Nó bắt em con trước, khi nó đang đi bỏ giá. Gia đình con thì có em con nó làm ra tiền nhờ đi bỏ giá mà sống. Mấy tháng sau nó bắt cha con luôn tới hôm nay nó bắt chồng con nữa. Trong gia đình con nó đã bắt như vậy là ba người rồi.

Nó ghép cha con vô tội chống người thi hành công vụ. Thật sự thì cha con đang đi trên đường bị bắt cóc rồi ghép tội chớ cha con hỏng chống gì hết trơn. Em con nó cũng ghép chống người thi hành công vụ luôn. Bây giờ tới chồng con con nghe nói nó cũng ghép chống người thi hành công vụ.

Đã ra tòa rối, cha con thì 4 năm còn em con thì 2 năm rưỡi. Chống cái gì bây giờ mình có gì đâu mà chống? Mình chỉ có A di đà Phật thôi chứ chống gì bây giờ, chú thử nghĩ đi. Tại vì mình là người tu, người Hòa Hảo nó chỉ bắt vì đàn áp tôn giáo mình thôi chứ thật sự không có chuyện gì xảy ra hết.

Trong lần tìm mẹ mới nhất Quỳnh Anh kể lại việc công an trại giam đã khuyến khích chị động viên mẹ khi bà đã tuyệt thực đến ngày thứ 24 chị kể:

“Khi nghe con bảo con muốn viết cho mẹ mấy chữ thì người ta đồng ý ngay và còn bảo là viết thư động viên tinh thần của mẹ. Thế là con gửi tấm hình của cháu mà bà thương nó nhất và mấy chữ mong bà ăn uống gì để giữ sức khỏe đã hai mấy ngày rồi nếu không khi có chuyện gì thì nó lại bảo do mình tuyệt thực.”

Cho tới nay vẫn không ai biết được tình trạng của Nguyễn Thúy Quỳnh người cùng bị bắt với bà Bùi Minh Hằng và Nguyễn Văn Minh. Blogger Thúy Quỳnh thường trú tại Q. 8 và là người gửi hình ảnh bà Bùi Minh Hằng ca bài Việt Nam tôi đâu của Việt Khang trong nhà giam khi cô bị giam chung với bà. Có lẽ vì thế nên công an đã giam giữ cô gái này mà không cần cho biết cô phạm tội gì.

Posted in Tôn Giáo | Leave a Comment »