Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám, 2010

Cựu TT Carter đã cứu được tù nhân Mỹ ở Bắc Hàn Thursday, August 26, 2010

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2010

Trong khi biết bao nhiêu ngư phủ VN đánh cá ngoài Biển  Đông bị quân Trung Quốc bắt giữ, đánh đập, đòi tiền chuộc, phạt tiền,…báo đăng tin khắp thế giới, nhưng chính phủ VN im lặng coi như không có…và cuối cùng, gia đình họ phải tự kiếm tiền lo liệu. Thì ở đây, chỉ một người Mỹ gốc Hàn quốc, đột nhập bất hợp pháp vào Bắc Hàn rồi bị bắt từ 25-1-2010, ở tù, bắt phạt 700.000 đô. Suốt 7 thàng qua, chính phủ Mỹ, báo chí,  vẫn tìm cách đưa tin và các nổ lực ngoại giao chìm và nổi để cứu thầy giáo nầy ra khỏi Bắc Hàn. Và sau cùng họ đã thành công. Trong khi đó có hơn 436 ngư phủ VN đang bị giam giữ ở Trung Quốc, Mã Lai Á từ hơn 4 năm qua.

ATLANTA, Georgia – Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã bay khỏi Bắc Hàn bằng một phản lực cơ tư nhân sáng sớm Thứ Sáu, giờ địa phương, sau khi hoàn tất việc thương lượng thả một công dân Mỹ bị tù tại quốc gia Cộng Sản từ Tháng Giêng năm nay.

Hình chụp qua màn ảnh truyền hình ở thủ đô Seoul Nam Hàn cho thấy cựu TT Jimmy Carter (giữa) đi bên cạnh ông Aijalon Gomes (thứ 3 từ trái sang) khi đến Nam Hàn. (Hình: JUNG YEON-JE/AFP/Getty Images)



Cựu Tổng Thống Carter, theo dự trù, sẽ cùng ông Aijalon Gomes, 31 tuổi, đáp xuống phi trường Boston vào chiều Thứ Sáu, giờ Hoa Kỳ, bà Deanna Congileo, phát ngôn viên trung tâm Carter Center ở Atlanta, nói với báo giới tối Thứ Năm vừa qua.

Hãng thông tấn KCNA của nhà nước Bắc Hàn cũng xác nhận cựu tổng thống Mỹ đã rời Bình Nhưỡng sau khi “nói lời xin lỗi” vì hành động của ông Gomes.

Vụ ân xá và trả tự do “cho một người xâm phạm bất hợp pháp lãnh thổ cho thấy chính sách nhân đạo và yêu chuộng hòa bình của Bắc Hàn,” hãng thông tấn KCNA cho biết.

Chuyến đi hiếm hoi của cựu lãnh đạo Mỹ tới thủ đô Bình Nhưỡng được thực hiện trong lúc có tin cho biết Chủ Tịch Kim Chính Nhật đang ở Trung Quốc.

Không có dấu hiệu nào cho thấy cựu Tổng Thống Jimmy Carter gặp nhà lãnh đạo Bắc Hàn trong chuyến đi kéo dài ba ngày ở Bình Nhưỡng.

Ông Gomes bị bắt hồi Tháng Giêng, sau khi bị tố cáo vượt biên từ Trung Quốc vào lãnh thổ Bắc Hàn. Ông là người Mỹ thứ tư trong vòng một năm bị bắt vì tội vượt biên vào Bắc Hàn, một quốc gia từng giao chiến với Hoa Kỳ trong cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên năm 1950.

Kể từ đó, Hoa Kỳ và Bắc Hàn chưa hề có quan hệ ngoại giao.

Hồi Tháng Tư, Bình Nhưỡng tuyên án ông Gomes tám năm tù khổ sai và phạt ông $700,000 vì tội vượt biên và có “hành động hiếu chiến.”

Theo KCNA, “ông Aijalon Gomes đã nhận tất cả các tội.” (Ð.D.)

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Khi bò ăn rác…

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2010

Khi bò ăn rác…

Xã hội19/08/2010

http://phunu.info/khi-bo-an-rac_85.html

Chuyện có thật nhưng mà khó tin. Ở ngay thành phố Thái Nguyên, nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 80 km, những người dân nghĩ ra một cách tăng gia sản xuất là nuôi bò ở bãi rác của thành phố.

Gần 300 con bò, suốt ngày chỉ ăn rác nhưng mà con nào con nấy đều béo tốt mà không cần phải tốn tiền mua một kg cỏ nào. Một ý tưởng làm giàu mới của những người nông dân hay một câu chuyện về những điều cần luận bàn và suy nghĩ trong cuộc sống của chúng ta.

Bãi rác Khe Đá Mài là nơi tập kết phế thải chính của thành phố Thái Nguyên và các vùng phụ cận. Cỏ ở trên đồi… nhưng bò, thì ăn ở dưới bãi rác.

Có đủ loại rác ở đây: từ rác sinh hoạt, cho đến chất thải công nghiệp, y tế. Hàng ngày hàng giờ, chúng chính là thức ăn vỗ béo cho đàn bò. Theo ông đội trưởng đội quản lý điều hành bãi rác Khe Đá Mài, mỗi ngày có khoảng 250 con bò vào đây ăn rác.

Ông Phạm Xuân Sơn – Đội trưởng đội quản lý điều hành bãi rác Khe Đá Mài, Thái Nguyên – Chủ của 6 con bò tại bãi rác cho biết: “Lúc đầu chỉ có 1 vài con nhưng bò nó xuống bãi rác này ăn và nó cứ béo khỏe lên thế nên người ta lại càng nuôi nhiều. Nhà thì vài ba con, nhà nhiều thì vài ba chục con”.

Ông Sơn cũng cho biết bò khi đã quen ăn rác sẽ không còn muốn ăn cỏ hay các loại thức nào ăn khác. Những người dân Tân Cương đang chăn bò thì hồn nhiên cho rằng, nuôi bò kiểu này ít tốn kém, bò tăng trọng nhanh và theo cách hiểu và lý giải của họ thì có thể là do ở bãi rác người ta phun nhiều thuốc sát trùng, thuốc diệt ruồi muỗi nên bò ăn rác ở đây sẽ ít bị dịch bệnh.

Anh Giang Văn Dương – Lái buôn bò, chợ Tây Bá Nhất, Thành phố Thái Nguyên cho biết: “Từ năm 2004 đến giờ em mua ở đây hơn 200 con bò rồi. Bò ở đây khỏe lắm. Chỗ khác còn hay bị sán lá gan chứ bò ở đây thịt ra gan bóng láng, phổi hồng rực. Khỏe lắm”.

Ông Phạm Xuân Sơn cho biết thêm: “Cái đợt dịch lở mồm long móng vừa rồi, bò ở đây không còn nào bị dịch cả. Cán bộ thú y của xã họ cũng vẫn vào đây kiểm tra, 6 tháng còn tiêm phòng 1 lần nhưng họ cũng bảo là nuôi bò ở đây tốt, không có vấn đề gì. Bò ở đây mà bệnh thì chỉ chủ yếu là do kim tiêm hoặc sắt đâm vào dạ giày thôi”.

Tiến sỹ Võ Văn Sự, một chuyên gia về chăn nuôi thì nghĩ khác. Ông đã đi tham quan mô hình chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới, chẳng đâu có sự việc giống như ở bãi rác Khe Đá Mài: “Độc hại hay không độc hại thì phải theo dõi một quá trình dài chúng ta mới có thể xác định chính xác được nhưng trên nguyên tắc nuôi bò thì phải nuôi bằng thực phẩm sạch thịt mới có thể sạch được. Những con bò, con lợn bị nuôi trong bãi rác như thế này rất có thể sẽ chứa nhiều chất độc hại con người ăn vào sẽ tác hại ra sao thì cũng không biết thế nào mà lần. Có thể có những bệnh mà rất lâu sau chúng ta mới phát hiện được”.

Ở bãi rác Khe Đá Mài, những con bò có đủ thứ để ăn… Ở đâu đó, người ta nói đến tiêu chuẩn VietGap, Global Gap về chất lượng trồng trọt và chăn nuôi, thì ở đây, những con bò đang sống trong thứ chuẩn thức ăn của riêng chúng.

Những người chăn bò có lẽ cũng không có thời gian để quan tâm đến những chương trình phát triển đàn bò lớn lao nào khác bởi trước mắt họ, những con bò vẫn béo lên trông thấy.

Sau nhiều lứa bò xuất bán trót lọt và không thấy chính quyền địa phương nhắc nhở gì có hộ dân khu bãi rác Khe Đá Mài đang làm đề xuất có khi dự án khoa học nuôi bò từ rác. Biết đâu, sau này, đây sẽ là một địa danh nổi tiếng với một mô hình thí điểm. Sáng kiến Made in Khe Đá Mài.

———

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Thực Phẩm và sức khỏe | Leave a Comment »

Vinashin hãng đóng tàu ma – cướp tiền có giấy tờ

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2010

Mổ xẻ “câu chuyện” Vinashin: Vì sao Vinashin hay mua tàu cũ?

Đại Đoàn Kết

Điều khó lý giải: Tại sao trong khi hàng loạt tàu đóng mới không bán được, hoặc chỉ chạy một vài chuyến rồi đắp chiếu, thì Vinashin lại liên tục “cõng” hàng núi tiền ra nước ngoài để mua hàng loạt những con tàu nát, mà lại mua với giá cao vời vợi?

Vinashin mua hay tàu cũ về dùng?

Theo một số chuyên gia sành sỏi về hàng hải và môi giới tàu biển: Với nước ngoài, tàu mới đóng luôn rõ ràng một mức giá nhất định, khi mua không thể nâng giá được. Còn các loại tàu cũ thì giá cả vô chừng, chủ tàu chỉ cần số tiền mình cần bán, người mua muốn nâng lên bao nhiêu thì… tùy! Thông thường, khoản chênh lệch này sau đó người bán và môi giới tàu thanh toán lại cho người mua tại một địa điểm trung gian.

Phải chăng chính vì điều này nên Vinashin chỉ thích mua về toàn những con tàu cũ nát?

Chỉ biết rằng, thực tế ông Trần Văn Liêm khi còn là Tổng giám đốc Công ty vận tải viễn dương Vinashin, đã cùng với Giang Kim Đạt (Trưởng phòng khai thác) liên tục ra nước ngoài mua 10 con tàu biển cũ và 1 phà biển Hoa Sen đầy tai tiếng. Hiện đang có dư luận trong nội bộ Vinashin rằng: Giang Kim Đạt đã lập một công ty tại Singapore. Và dấu hỏi về các khoản chia lợi, mua tàu, thuê tàu… phải chăng đã thông qua điểm trung gian này?

Dấu hiệu khuất tất trong việc mua và sửa chữa, nâng cấp con tàu Hoa Sen đầy tai tiếng mà báo chí nhắc đến nhiều lần là một điển hình. Hoa Sen thực chất chỉ là một chiếc phà chạy biển với thiết kế gần 20 phòng có giường ngủ, không có nhà vệ sinh trong phòng (trừ các phòng thủy thủ đoàn), gần 400 ghế ngồi, 1 căng tin bán thức ăn nhanh và giải khát, 2 sàn chứa tổng cộng 120 chiếc xe tải. Vậy nhưng ngay khi mua về, ông Liêm cho lắp thêm mỗi phòng 2 giường tầng rồi quảng cáo là tàu khách với sức chở 1.000 khách + 500 xe ô tô !

Đáng chú ý hơn: Chiếc phà biển này trước đó được Công ty Caronte & Tourist khai thác ở miền Trung nước Ý. Sau sự cố 2 lần bị nứt đôi đáy tàu (đã được hàn lại), họ đã ngừng khai thác và trả lại cho chủ tàu Lavartina Transporti Bari, với nguyên nhân xác định là do lỗi thiết kế sai. Theo các chuyên gia hàng hải, việc nứt đáy liên tục, có hệ thống thì không đủ tiêu chuẩn an toàn để đưa vào khai thác.

Vậy mà không hiểu sao khi đích thân đi mua con tàu này, ông Liêm và ông Đạt đã gần như bỏ qua tất cả các quy trình thông thường tuyệt đối phải tuân thủ trước khi quyết định mua một con tàu biển: Dự toán kinh tế khai thác con tàu định mua, giá cước thu được trừ đi các chi phí; thuê đơn vị giám định độc lập toàn bộ chất lượng con tàu (hoặc cử nhân viên kỹ thuật cùng giám định), kiểm tra hồ sơ lý lịch sự cố tàu; thuê thợ lặn khảo sát quay camera kiểm tra đáy tàu, chân vịt… Nếu tuân thủ các khâu này, chắc chắn sẽ phát hiện ra những vết nứt đáy tàu được hàn lại.

Về giá mua, ngay tại thời điểm mua (15-10-2007), theo đánh giá của các chuyên gia và một số thuyền trưởng: chiếc phà biển này chỉ nhỉnh hơn giá bán sắt vụn cỡ 20%, tức không quá 10 triệu USD. Thế nhưng rất bất ngờ khi ông Liêm và ông Đạt đã mua nó với giá 60 triệu EURO. Và tổng chi phí cho con tàu này đến nay đã lên tới trên 1.500 tỷ đồng. Nhưng nếu cưa bán sắt vụn thì cũng chỉ thu được không quá 100 tỷ đồng.

Không chỉ có tàu Hoa Sen, 2 con tàu khác là Vinashin Eagle và Vinashin Phonenic cũng được “cõng” về với giá gần 42 triệu USD (629,4 tỷ đồng). Khi bị bắt giữ tại Trung Quốc chỉ vì công ty viễn dương Vinashin nợ 13 triệu USD, nhưng không dám chuộc về, bởi bỏ ra 13 triệu USD kéo tàu về thì bán cả hai con tàu đó cũng không thu được tới 13 triệu USD.

Có lẽ điều này đã lý giải vì sao tổng nguồn vốn nhà nước chuyển công ty viễn dương Vinashin gần nửa tỷ USD bị bốc hơi gần hết.

nguồn  TỔ PHÓNG VIÊN ĐIỀU TRA

———

04/09/2010 – 12:22 AM

Vi phạm của bốn cán bộ Vinashin: Mua tàu cũ, nhập nhà máy điện độc hại
Giả mạo giấy tờ của Bộ Công thương, Tài nguyên và Môi trường để nhập khẩu hai nhà máy nhiệt điện chứa nhiều chất độc hại. Tàu 1.300 tỉ đồng có thể đưa ra bán sắt vụn.

Theo cơ quan công an, trong thời gian làm tổng giám đốc Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu, ông Trần Quang Vũ cùng với Phạm Thanh Bình lập dự án hoán cải tàu Bạch Đằng Giang để thế chấp hơn 106 tỉ đồng. Sau đó con tàu này đã phải phá dỡ, bán sắt vụn đúng như mục đích ban đầu của Vinashin khi mua nó, làm thất thoát tài sản nhà nước.

Ký hợp đồng mua tàu cũ nát trước khi lập dự án

Sau khi lập dự án hoán cải tàu, ông Trần Quang Vũ đã dùng tàu này mang thế chấp ở Công ty Tài chính thuộc Vinashin để vay 106 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu quốc tế của Chính phủ. Khi con tàu không sử dụng được, ông Vũ cho phá dỡ tàu Bạch Đằng Giang để bán sắt vụn. Việc làm trên của ông Vũ chưa được sự đồng ý của lãnh đạo Tập đoàn Vinashin và cũng không thông báo cho Công ty Tài chính là đơn vị nhận thế chấp tàu biết. Toàn bộ số tiền bán sắt vụn từ tàu Bạch Đằng Giang cũng không hoàn trả cho Công ty Tài chính. Hậu quả là tài sản nhà nước thế chấp bị mất. Như vậy hành vi vi phạm của ông Vũ đã gây hậu quả kinh tế đặc biệt nghiêm trọng.

Trong việc mua tàu cao tốc Hoa Sen, công an cũng xác định ông Trần Văn Liêm, nguyên trưởng Ban kiểm soát Tập đoàn Vinashin, khi làm tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên vận tải Viễn Dương Vinashin đã được Phạm Thanh Bình giao làm chủ đầu tư dự án mua tàu cao tốc Hoa Sen. Việc này là trái với ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nêu trong công văn ngày 12-4-2007 và công văn ngày 13-7-2007 của Văn phòng Chính phủ. Mặt khác, trong quá trình mua tàu, ông Liêm đã không tổ chức chào hàng cạnh tranh, ký hợp đồng mua tàu trước khi lập dự án. Không khảo sát kỹ thuật trước khi nhận tàu… Hậu quả là khi nhập về thì bị nứt đáy phải sửa chữa, hoạt động kinh doanh không hiệu quả, gây thiệt hại kinh tế đặc biệt nghiêm trọng.

Nhập nhà máy điện độc hại

Theo Cơ quan an ninh điều tra, dù biết Chính phủ không cho phép thực hiện đầu tư xây dựng dự án Nhà máy nhiệt điện Sông Hồng (Nam Định) nhưng ông Phạm Thanh Bình, ông Nguyễn Văn Tuyên – nguyên tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh và ông Nguyễn Tuấn Dương – nguyên chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Cửu Long, đồng thời là nguyên tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên Thép Cái Lân Vinashin, vẫn quyết định xây dựng nhà máy nói trên.

Ông Nguyễn Tuấn Dương, nguyên chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Cửu Long (trái). Ông Trần Quang Vũ, nguyên tổng giám đốc điều hành Vinashin.

Theo đó, ông Bình giao cho đơn vị của ông Tuyên làm chủ đầu tư, còn đơn vị của ông Dương làm tổng thầu. Căn cứ vào đó, hai cá nhân trên đã quyết định mua hai nhà máy nhiệt điện cũ từ những năm 1960 của Hàn Quốc và đã ngừng hoạt động từ năm 2004. Điều đáng nói là các biến thế của hai nhà máy nhiệt điện trên đều có chứa các chất độc hại, đã bị chính phủ Hàn Quốc cấm xuất, chính phủ Việt Nam cấm nhập. Tuy nhiên, ông Tuyên và Dương đã sử dụng giấy tờ giả mang danh Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương để nhập số thiết bị trên về Việt Nam gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng…

Tàu 1.300 tỉ đồng có thể đưa ra bán sắt vụn

Hiện tàu Hoa Sen đã được Chính phủ giao cho Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam quản lý và công ty này cho rằng con tàu có vốn đầu tư quá lớn, 1.390 tỉ đồng. Chi phí chạy tàu đã mất 1,4-1,5 tỉ đồng/ngày, trong đó tiền dầu đã ngốn 1,2 tỉ đồng nên nếu chạy từ Hải Phòng vào Nam thì cước vận tải thu lại không thể bù nổi. Công ty dự kiến thay vì vận tải hành khách sẽ sử dụng tàu như một tàu phục vụ du lịch biển, hải đảo, chiến lược quốc phòng… Ngoài ra, đơn vị cũng để ngỏ khả năng đưa “khách sạn 3 sao trên biển” ra bán sắt vụn.

NHÓM PHÓNG VIÊN

Posted in Kinh Te, Quản Lý | Leave a Comment »

Ngày Xửa, Ngày Xưa

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2010

21/08/10

Ngày Xửa, Ngày Xưa

Cũng như nhiều người khác có dịp đi làm ở ngoại quốc, thời gian tôi ở Hà Nội cũng là thời gian mà tôi có nhiều bạn bè ngoại quốc đến thăm. Phần vì Việt Nam lúc ấy vừa mới mở cửa nên ai cũng hiếu kỳ muốn ghé qua cho biết. Phần vì tôi thuộc loại người đi đâu cũng có bạn nên tuy ở Hà Nội chưa đến 6 tháng nhưng tôi đã có gần mười đứa bạn ghé thăm, luôn tiện xin ở nhờ để khỏi tốn tiền khách sạn

Thôi thì đủ mọi thành phần, trai gái từ khắp bốn bể đổ về. Khi thì bạn bè luật sư của tôi ở Úc bay qua thăm viếng. Có lúc tôi lại phải đón tiếp những thằng bạn ở xa tít bên Anh vừa… đạp xe đạp vòng quanh thế giới tới Hà Nội để ghé nhà chơi. Tôi còn nhớ chỉ cần nghe tên những quốc gia mà nó vừa đạp xe qua thôi cũng thấy đủ ớn chứ đừng nói gì phải còng lưng đạp xe xa đến từng ấy.

Người cuối cùng đến thăm tôi trong khoảng thời gian đó là bà Barbara gốc người Canada da trắng lúc đó đang định cư ở Hồng Kông. Tôi gọi “bà” vì Barbara chỉ hơn tôi gần… 50 tuổi đời. Tóc bạc phơ nhưng tinh thần lẫn thể xác của bà lúc ấy vẫn còn rất mạnh khỏe. Tôi quen bà trong một dịp chúng tôi cùng vào trại cấm High Island ở Hồng Kông để dắt các em bé tỵ nạn Việt Nam ra ngoài chơi lúc tôi còn làm việc thiện nguyện ở bên ấy.

Sau này một số em và gia đình bị cưỡng bức hồi hương về Việt Nam nên nhân dịp tôi làm việc ở Hà Nội, bà sẳn một công hai chuyện vừa bay sang thăm tôi, vừa có dịp gặp lại một số em nay đã về ở Kiến Sơn, Kiến Thụy gần Đồ Sơn, Hải Phòng.

Thế là vào một ngày đẹp trời cuối tuần, sau một đêm nghỉ lại nhà tôi ở Hà Nội, bà Barbara và tôi đã cùng nhau bắt xe lửa đến Hải Phòng để gặp lại các em sau gần 4 năm mất liên lạc.

Gặp lại nhau ngay tại ga xe vì tôi có điện thoại báo trước, thấy các em chỉ có 3, 4 năm sau mà đã cao lớn hơn nhiều bà Barbara rất vui và bảo phải chi bà đến sớm hơn để có dịp chia sẻ với các em lúc gia đình vừa mới trở về và còn gặp nhiều bỡ ngỡ trong cuộc sống.

Nhưng mà thôi, như thế này là đã tốt lắm rồi, tôi tiếp lời bà.

Liền sau đó đám nhỏ và một số anh chị tôi cũng từng quen biết trong trại cùng tôi và bà Barbara dắt nhau về quê của họ ở Kiến Sơn cách thành phố Hải Phòng khoảng trên một giờ đi xe. Và cũng như bao cuộc họp mặt khác giữa những người bạn lâu năm không có dịp gặp nhau, chúng tôi đã cùng nhau ôn lại những kỷ niệm ngay tại nhà của họ.

Từ những ngày chúng tôi quen nhau trong trại cấm cho đến những thay đổi lớn lao trong cuộc sống của họ từ khi bị cưỡng bức hồi hương về Việt Nam.

Nhưng vui như thế chúng tôi cũng không quên là ở Việt Nam bất kỳ ai muốn nghỉ lại qua đêm ở nhà người quen cũng phải lên phường khai báo đầy đủ. Và thể theo qui định, chúng tôi đã làm y như thế.

Sáng đến sáng hôm sau nhóm chúng tôi khoảng hai, ba mươi người tụ họp ở nhà một người bạn vẫn còn mải mê dông dài nhắc lại chuyện xưa mãi cho đến khi có hai anh công an phường bước vào, lúc đó chúng tôi mới tạm ngừng nói chuyện để mời họ vào nhà uống nước.

Họ bảo họ đến để tìm hiểu xem tôi và bà Barbara đã quen với những người tỵ nạn trong trường hợp nào và làm thế nào chúng tôi biết để liên lạc xuống thăm những người này.

Tình thật, tôi trả lời tôi và bà Barbara đã quen họ nhân lúc chúng tôi làm việc thiện nguyện trong các trại cấm và từ khi tôi về Việt Nam đi làm thì tôi đã chủ động liên lạc lại.

“À, thì ra là thế”, một anh công an vừa gật đầu vừa trả lời tỏ ý anh hiểu.

“Thế nhưng ai cho phép anh vào các trại cấm để làm việc”, anh kia hỏi tiếp.

“Dạ, không có ai cho phép ạ. Em làm việc thiện nguyện cho một tổ chức phi chính phủ và vì vậy em được tự động vào trại cấm dắt các em ra ngoài chơi”, tôi thành thật trả lời.

“Không cần ai cho phép anh vào à? Thế thì ai cho phép anh sang Hồng Kông làm việc?” cũng cùng anh công an đó tiếp tục chất vấn.

“Dạ, cũng không có ai cho phép ạ. Em nghỉ hè tự động mua vé máy bay sang Hồng Kông làm việc, không phải xin ai ạ”. Vừa trả lời tôi vừa nghĩ thầm trong bụng chả lẽ họ đang muốn làm tiền?

“Anh trả lời như thế mà anh nghĩ chúng tôi tin anh à? Đây xem ra là có vấn đề đấy. Xin mời anh về phường để chúng tôi có thể làm rõ hơn”.

Đến lúc này thì cả hai anh cùng đứng dậy mời tôi và bà Barbara về văn phòng làm việc.

Nói thật đến lúc ấy tôi vẫn nghĩ chắc không có chuyện gì đâu. Họ hỏi điều gì mình trả lời thành thật điều đó thì sẽ xong thôi. Chỉ là họ không hiểu cách thức làm việc ở ngoại quốc, đi đâu không ai cần xin phép, thế thôi, tôi đã tự an ủi mình như vậy.

Nhưng không. Tôi đã lầm. Lầm to là khác. Sau hơn một giờ làm việc ở phường hình như họ vẫn không tin những gì tôi khai là sự thật. Đó là tôi đã không làm việc cho bất cứ tổ chức “phản động” nào hoặc nhận tiền của ai để sang Hồng Kông làm việc thiện nguyện. Tôi cũng chẳng có bất kỳ sự liên hệ mật thiết nào ngoài tình đồng hương thương mến, cảm thông nhau lúc những người Việt tỵ nạn còn bị giam trong các trại cấm ở Hồng Kông.

Chẳng ăn thua. Tôi trả lời đến đâu cũng nghe câu hỏi được lập lại: Anh nói thế mà anh nghĩ chúng tôi tin anh à?

Từ công an phường tôi được giải lên công an Huyện Kiến Thụy. Nhưng sau hơn 4 tiếng đồng hồ cùng với 3 anh công an huyện làm việc cật lực, câu nói cuối cùng tôi nghe vẫn là “đây là có vấn đề”, mặc dù tôi cứ thắc mắc: “Ý anh nói ‘vấn đề’ là vấn đề gì vậy anh?”.

Đôi khi nghĩ lại tôi thấy lúc đó mình ngây thơ thật. Ngây thơ đến độ chính mình đang gặp rắc rối mà cũng không biết đó là rắc rối!

Vì sau gần 6 tiếng bị quần, tôi và bà Barbara đã được chuyển từ huyện lên tỉnh. Bằng một chiếc xe thùng trực chỉ đồn công an thành phố Hải Phòng.

Lúc ấy, chúng tôi đã không được cho biết mình sẽ đi đến đâu hay đã phạm tội gì mà lại bị giữ lâu đến thế. Lẽ ra tối hôm đó chúng tôi phải bắt chuyến xe lửa cuối cùng về lại Hà Nội để hôm sau tôi đi làm. Nhưng lại một lần nữa, người tính không bằng trời tính, tối hôm đó chúng tôi đã được sắp xếp cho ở lại ngay tại nhà nghỉ của…Bộ Công An sau khi toàn bộ giấy tờ bị tịch thu và được thông báo phải… trả sòng phẳng tiền ở trọ (hình như là khoảng 20 đô cho mỗi đêm!).

Thế mới gọi là đáng nhớ phải không bạn? Trên đời này đố bạn tìm được ai vừa bị bắt một cách vô lý, đã vậy còn phải tự mình trả tiền phòng giam giữ cho chính mình!

Như bà Barbara đêm hôm ấy trước khi ngủ bảo tôi: it only happens in Haiphong. Đúng là chuyện chỉ có thể xảy ra ở Hải Phòng. Nhưng lúc ấy cả hai chúng tôi vẫn nghĩ chắc chắn ngày mai sẽ xong chuyện vì những gì mình biết mình đã khai báo thành thật hết rồi.

Nhưng không. Lại một lần nữa chúng tôi đã lầm. Và cũng lại là lầm to. Vì chúng tôi không những bị giam và hỏi cung cả ngày kế tiếp, tiếp nữa, và tiếp nữa…cho đến ngày thứ năm mới được thông báo là quá trình điều tra đã hoàn tất mà ngay sau đó chúng tôi đã được thông báo là chúng tôi phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 48 tiếng đồng hồ và mỗi người bị phạt 15 triệu đồng vì – hãy lắng nghe cho kỹ – chúng tôi đã phạm tội…“gặp gỡ người hồi hương không xin phép”!

Trời. Có thiệt không đây trời? Sau 5 ngày làm việc và trả lời thành thật tất cả những gì chúng tôi bị hỏi, từ chuyện công cho đến chuyện tư, từ lý lịch cá nhân cho đến tên và ngày sinh tháng đẻ của ông bà, cha mẹ, anh em, cô dì chú bác lẫn bạn bè … họ vẫn không thấy là họ đã bắt lầm người à? Thế là thế nào?

Tôi nhớ lúc ấy tuy vẫn còn ngây thơ nhưng tôi hăng cãi lắm (cũng có lẽ vì tôi ngây thơ nên mới thích cãi!). Vì vậy sau khi nghe được quyết định chính thức từ một anh công an tên Minh làm việc cho Cục quản lý xuất nhập cảnh đọc xong và hỏi tôi có thắc mắc gì không, tôi đã ngay lập tức có thắc mắc:

“Thưa anh, trong giấy quyết định này anh ghi tội của em là ‘Gặp gỡ người hồi hương không xin phép’ nhưng mà thưa anh trong cả năm vừa qua ở Hà Nội, em đã gặp rất nhiều bạn là người tỵ nạn hồi hương nhưng đâu thấy có vấn đề gì?”

“Ở Hà Nội khác, ở đây khác!” Minh trả lời cụt ngủn.

“Nhưng thưa anh trong giấy quyết định này sau khi ghi là em đã ‘gặp gỡ người hồi hương không xin phép’ sau đó lại mở ngoặc ghi thêm là ‘trực tiếp liên lạc, tổ chức gặp gỡ người hồi hương không xin phép’ thì không đúng như vậy vì tuy là em có trực tiếp liên lạc nhưng tổ chức thì hoàn toàn không”, tôi cố giải thích.

“Thế thì làm cách nào anh hẹn gặp được những người này?” Minh hỏi ngược lại tôi.

“Dạ thì như đã khai em liên lạc bằng điện thoại trước để hẹn nhau gặp ở ga Hải Phòng”. Tôi thành thật trả lời.

“Thì đấy. Đấy là tổ chức đấy!”. Minh bình thản giải thích.

Oh! Thì ra là vậy. Tuy tai tôi nghe nhưng tôi đã không thể nào tin nổi những gì tôi vừa được cho biết.

Trông có vẻ sốt ruột vì quá trình điều tra đã hoàn tất, Minh gặng hỏi tôi lần cuối: Thế anh còn gì thắc mắc nữa không?

Vừa buồn, vừa tức, vừa giận, lúc ấy có lẽ tôi nên can tâm chấp nhận sự thật phủ phàng là mình sẽ bị trục xuất ra khỏi quê hương của mình. Nhưng không, cái máu luật sư trong người nó lại tiếp tục nổi lên muốn tìm ra cho được lẽ phải. Tôi hỏi tiếp và chẳng cần xưng “anh”’, “em” gì nữa:

“Trong quyết định ghi là tôi đã vi phạm hành chính nhưng anh có thể cho tôi biết điều khoản của nghị định nào hay thông tư nào ghi rõ gặp gỡ người hồi hương là vi phạm hành chính không?” Lúc ấy tôi biết chắc là chẳng có điều khoản nào nhắc đến vấn đề này vì chính tôi đã đọc qua đọc lại rất nhiều lần những quy định liên quan đến người nước ngoài qua công việc làm mỗi ngày.

Nhưng một lần nữa tôi lại bị hụt hẫng khi nghe câu trả lời cộc lốc của Minh nay đã gằn xuống: “Nếu anh không còn thắc mắc gì khác thì chúng ta ngưng tại đây. Anh không có quyền chất vấn tôi về những gì đã quyết định”.

Ah! Thì ra là thế.

Đến lúc đó tôi mới hiểu.

Là đối với công an, hỏi vậy nhưng không hẳn là vậy. Ở Việt Nam thấy vậy mà không hẳn là vậy. Nhiều khi nó còn tệ hơn vậy.

Đừng mơ tưởng nếu mình vô tội thì sẽ được xử vô tội. Vì rất có thể không những mình bị xử có tội mà chính mình còn phải trả tiền công giam giữ cho…chính mình!

Vậy mới có chuyện để nói. Về ngày xửa ngày xưa. Cho đến hôm nay vẫn thế.

Không biết các bạn có muốn nghe tiếp chuyện tôi mới bị trục xuất không nhỉ?

© Trịnh Hội

http://www.danchimviet.com/archives/16762

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Wu Zhong – Tướng lãnh và học giả Trung Quốc thăm dò khả năng cải tổ chính trị

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2010

Wu Zhong – Tướng lãnh và học giả Trung Quốc thăm dò khả năng cải tổ chính trị

21/08/2010 | 11:00 sáng | Chưa có phản hồi.

Tác giả: Trần Ngọc Cư

Chuyên mục: Chính trị – Xã hội, Thế giới
Thẻ:

Trần Ngọc Cư dịch

Hồng Kông – Hiện nay, tức khoảng chừng hai năm trước khi chủ tịch Hồ Cẩm Đào và nhiều lãnh tụ chóp bu khác của Trung Quốc nghỉ hưu theo luật định, tại nước này đang vọng lên nhiều tiếng nói công khai kêu đòi họ phải bắt đầu cải tổ chính trị.

Lần này, những đòi hỏi dân chủ hoá và chế độ pháp trị không phải do các nhà bất đồng chính kiến nhưng là do chính những nhân vật nổi bật thân-chính quyền đưa ra. Điều này chứng tỏ rằng những phần tử có đầu óc cởi mở trong giới nắm quyền lực, vì mất kiên nhẫn do tiến độ chậm chạp của việc cải tổ, đang lo lắng rằng nếu Trung Quốc không chịu thực hiện những thay đổi chính trị cho phù hợp với bước tiến của sự chuyển đổi kinh tế, thì quốc gia này sẽ kinh qua những động loạn xã hội có thể hủy hoại tất cả các thành tựu của những thập niên qua.

Trung tướng Lưu Á Châu, chính ủy Đại học Quốc phòng Quân Giải phóng Nhân dân, trường đào tạo các tướng lãnh Quân Giải phóng Nhân dân, đã mạnh dạn tiên đoán rằng Trung Quốc sẽ phải thay hệ thống chính trị độc tài hiện nay bằng một chế độ dân chủ trong vòng 10 năm tới vì không còn “lối thoát” nào khác cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Báo chí đã đưa tin này vào ngày 5 tháng Tám.

Hai ngày sau đó, ông Hồ Sinh Đạo, giáo sư kinh tế tại Học viện Công nghệ Bắc Kinh, một nhà nghiên cứu hàng đầu về các nhóm bị thiệt thòi quyền lợi (disadvantaged groups) tại Trung Quốc, công bố trên trang mạng của ông một kiến nghị gửi chủ tịch Hồ Cẩm Đào, nhan đề “Con đường dẫn đến sự suy sụp của Trung Quốc và Lối ra”. Trong thư ngỏ này, học giả Hồ Sinh Đạo cho rằng chính sự thiếu vắng công bằng xã hội và công lý đang đẩy Trung Quốc vào một con đường bấp bênh nguy hiểm. Phương thuốc duy nhất để cứu nước là phải phát động cải tổ chính trị để trả lại cho người dân những quyền và tự do hiến định của họ.

Lời tiên đoán của trung tướng họ Lưu được gói ghém trong một bài báo đăng trong số mới nhất của Tuần báo Phượng hoàng (the Phoenix Weekly) của hãng Truyền hình Phượng hoàng (Phoenix TV), một cơ quan truyền thông thân-Bắc Kinh có trụ sở ở Hồng Kông. Có lẽ vì tướng Lưu đã phát biểu quá táo bạo về một đề tài rất nhạy cảm, bài báo được đăng với lời ghi chú của biên tập viên là, bài báo dựa vào một cuộc phỏng vấn riêng với tướng Lưu và được xuất bản khi ông ta chưa xem lại phiên bản cuối cùng.

Bài báo bắt đầu bằng những chỉ trích gay gắt của tướng Lưu nhắm vào tệ “sùng bái tiền bạc” đang thịnh hành tại Trung Quốc. Ông nói rằng cả nước Trung Hoa, từ trên xuống dưới, đều tôn thờ sức mạnh của đồng tiền trong khi bỏ quên những yếu tố của quyền lực mềm (soft power) như văn hóa và ý thức hệ. “Có thêm tiền bạc không có nghĩa là gia tăng quyền lực mềm… Một quốc gia sùng bái sức mạnh của đồng tiền là một quốc gia lạc hậu và ngu xuẩn, cả về việc nội trị lẫn về quan hệ quốc tế”, tướng Lưu nói.

Xét về đối nội, ông cho rằng “nạn tham nhũng trở thành thiệt hại kinh tế lớn nhất, tệ nạn xã hội lớn nhất và thử thách chính trị lớn nhất của Trung Quốc”. Còn trên trường quốc tế, tệ sùng bái tiền bạc đã gây tổn thương nặng nề cho hình ảnh của Trung Quốc. Chẳng hạn, tướng Lưu nói rằng phương thức đầu tư của Trung Quốc tại Châu Phi là hối lộ các quan chức địa phương; do đó, lòng tham của quan chức bản xứ trước những món tiền hối lộ ngày càng gia tăng, trong khi người dân châu Phi bình thường ngày càng oán ghét chính phủ và xí nghiệp Trung Quốc.

Nếu thiếu dân chủ, Trung Quốc không thể tiếp tục hướng phát triển đi lên lâu dài được, tướng Lưu nói. “Một chế độ nhất định phải sụp đổ, nếu nó không cho phép người dân hưởng không khí tự do và khuyến khích họ thể hiện đến mức tối đa khả năng sáng tạo của mình, và nếu nó không chịu đưa vào hàng ngũ lãnh đạo những người đại diện xứng đáng nhất cho chế độ và cho nhân dân.”

Lấy chế độ Liên Xô trước đây ra làm ví dụ, tướng Lưu chứng minh rằng nguyên do sụp đổ của Đảng Cộng sản Xô-viết chính là hệ thống chính trị, chứ không phải kinh tế hay quân sự. Trong một cách ám chỉ khá rõ các lề lối cai trị hiện nay tại Trung Quốc, tướng Lưu nói rằng trước đây Liên Xô đã cố duy trì ổn định chính trị như một ưu tiên hàng đầu, “đặt ổn định chính trị cao hơn mọi nhiệm vụ khác và cố gắng dùng tiền bạc để giải quyết mọi vấn đề. Nhưng rốt cuộc, xung đột [xã hội] ngày một căng thẳng và mọi việc đã đi theo một chiều hướng ngược lại.”

Tương phản với Liên Xô, bí quyết thành công của Hoa Kỳ nằm ngay trong chế độ pháp trị bền vững của nước này và hệ thống chính trị đằng sau chế độ pháp trị này, chứ không nằm trong sức mạnh tài chính của Wall Street hay công nghệ cao của Silicon Valley.

Vì thế, theo tướng Lưu, Trung Quốc phải thay đổi hệ thống chính trị. “Tái cấu trúc hệ thống chính trị là một nhiệm vụ mà lịch sử giao phó cho chúng ta. Chúng ta không thể trốn tránh nhiệm vụ này”, tướng Lưu nói. Ông tiên đoán rằng “trong vòng 10 năm nữa, một sự chuyển đổi từ hệ thống chính trị độc tài sang một chế độ dân chủ sẽ tất yếu xảy ra. Người ta sẽ chứng kiến những biến chuyển vĩ đại tại Trung Quốc”.

Vị tướng Quân Giải phóng Nhân dân 57-tuổi, con rể của cố chủ tịch Lý Tiên Niệm và vì thế chính bản thân ông ta là một hoàng tử đảng, hiện được nhiều người coi như một ngôi sao chính trị đang lên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân Giải phóng Nhân dân. Nhưng nhiều người cũng coi ông là kẻ hiếu thắng vì những bài nói và bài viết thẳng thắn của ông thường vi phạm những điều cấm kỵ và đi ra ngoài giới hạn. Tướng Lưu còn có chân trong trong ban Thanh tra kỷ luật thuộc Quân ủy Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, một cơ quan giám sát chống tham nhũng hàng đầu của Trung Quốc.

Với địa vị và lý lịch có tính chính thống của ông, không mấy ai ngạc nhiên khi những phát biểu về cải tổ chính trị của tướng Lưu đã gây sôi nổi trong công chúng. Bài báo trong tuần san Phượng Hoàng (Phoenix Weekly) đã được in ra rộng rãi hoặc được tường thuật và thảo luận trên nhiều website lớn tại Trung Quốc.

Ông Dương Hạng Dũng, một blogger nổi tiếng, nói với hãng truyền thông Deutche Welle của Đức rằng “nếu một vị tướng nào khác của Quân Giải phóng Nhân dân nói ra những điều như thế còn có thể gây sốc. Nhưng tôi không ngạc nhiên khi nghe tướng Lưu Á Châu, một người thẳng tính, phát biểu như thế, vì ông ta đã từng nói ra những điều tương tự trước đây. Tướng Lưu là một người còn lương tâm và có viễn kiến”. Theo quan điểm của ông Dương, tướng Lưu đang nói thay cho nhiều đảng viên khác trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. “Tình hình không thể tiếp diễn mãi như thế này tại Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc không thể tiếp tục cai trị theo đường lối như hiện nay. Nhất định phải có thay đổi, mặc dù người ta có thể có nhiều quan điểm khác nhau về phương cách đổi mới chính trị”.

Theo một số nhà phân tích chính trị tại Bắc Kinh, những bình luận của tướng Lưu gợi ý rằng các hoàng tử đảng và giới tinh anh trẻ trong đảng rất muốn có một tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề chính trị. Họ cũng hi vọng rằng việc phát biểu những quan điểm cởi mở sẽ giúp họ giành thêm nhiều người ủng hộ trên đường tiến tới đại hội đảng lần thứ 18 vào cuối năm 2012.

“Vì nghĩ rằng họ có sứ mệnh bảo vệ những thành quả mà cha ông họ đã ra sức chiến đấu để giành được, những hoàng tử đảng này đang lo lắng Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể mất tính chính đáng nếu không chịu làm gì để cải tổ chính trị. Chắc chắn, họ cũng hi vọng giành thêm nhiều thắng lợi trong cuộc sắp lại ván cờ chính trị trong hai năm tới”, một trong các vị hoàng tử đã phát biểu như thế.

Nhưng một số công dân mạng lại chỉ trích quan điểm của tướng Lưu về sự thành công của Hoa Kỳ. “Ông Lưu đã khá nông cạn khi cho rằng sự thành công của Hoa Kỳ nằm trong chế độ pháp trị và hệ thống chính trị [đằng sau đó]. Nhưng người ta có thể hỏi, Hoa Kỳ đã lấy chế độ pháp trị và hệ thống chính trị ấy từ đâu?”

Cũng như tướng Lưu, ông Hồ Sinh Đạo rất quan tâm về sự thất bại của hệ thống chính trị hiện nay của Trung Quốc. Trong thư ngỏ gửi chủ tịch Hồ Cẩm Đào, ông cho rằng việc điều hành quốc gia tại Trung Quốc chưa tìm ra được “phương hướng đúng đắn”. Để duy trì ổn định và bảo vệ quyền lợi mà đảng trao cho (vested interests), nhiều chính quyền địa phương đã “sử dụng những điều láo khoét, những phương tiện hung bạo, chế độ cải tạo lao động, băng đảng xã hội đen, trại giam trái phép và cả nhà thương điên để giam giữ các ký giả, các người tiết lộ tin tức và những người bất đồng chính kiến”, ông Hồ viết. Do đó, “công bằng xã hội và công lý đã bị triệt tiêu. Đây là thất bại lớn nhất trong việc điều hành chính quyền hiện nay”.

Hồ Sinh Đạo qui kết sự bất công và mất công lý cho hệ thống chính trị hiện nay, một hệ thống với đặc tính là “không tách rời hành pháp, lập pháp, giám sát và tư pháp; không tách rời quan chức và doanh nhân; và không tách rời đảng và nhà nước”. Do đó, ông Hồ nói tiếp, Trung Quốc đang trên đường đi tới sụp đổ.

Lối thoát để ra khỏi nguy cơ này là phải xây dựng điều mà ông ta gọi là “chủ nghĩa xã hội hiến định” (constitutional socialism), lấy công lý xã hội làm nền tảng cho việc điều hành quốc gia. “Tôi ủng hộ một đường lối cải tổ từng bước, phù hợp với điều kiện riêng và bản sắc quốc gia của Trung Quốc. Tôi không cổ vũ một đường lối theo quan niệm tự do thuần phương Tây. Tôi gọi đó là chủ nghĩa xã hội hiến định”.

Trả lời phỏng vấn của giới truyền thông sau khi đăng kiến nghị trên mạng, Hồ Sinh Đạo diễn giải rằng chủ nghĩa xã hội hiến định là sự kết hợp việc cai trị hợp hiến với công lý. Nói tắt một câu, chủ nghĩa xã hội và quyền cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc phải tuân theo hiến pháp. Khi đi vào chi tiết, ông Hồ chủ trương rằng người dân phải được trả lại các quyền và tự do hiến định, như quyền bầu cử và giám sát chính phủ, như tự do ngôn luận và tự do xuất bản.

Hồ Sinh Đạo nói rằng ông đưa ra một đường lối thay đổi từng bước vì nhiều trí thức đồng ý rằng Trung Quốc phải tránh cho bằng được một cuộc cách mạng bạo động thứ hai. Như vậy, chỉ có đường lối chuyển hoá từng bước nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển kinh tế là phù hợp với lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân. Ông Hồ khẳng định rằng đường lối của ông là thân-chính quyền: “Dù sao, chủ nghĩa xã hội vốn đã được đảng cầm quyền chấp nhận. Do đó, đề nghị của tôi là một chủ trương cải tổ ôn hoà”.

Hồ Sinh Đạo nói rằng mặc dù thỉnh nguyện của ông được đề gửi chủ tịch nước, nhưng qua bạn bè ông cũng chuyển các bản sao đến những nhà lãnh đạo khác ở chóp bu. Nhà học giả nói rằng chủ tịch Hồ Cẩm Đào có hồi âm hay không không phải là điều quan trọng; điều quan trọng là phải tìm cách “đánh thức quần chúng và cán bộ trong chính quyền để họ biết sự thực và tìm đường cải thiện đất nước và thúc đẩy tiến bộ xã hội”.

Các nhà phân tích thời cuộc nói rằng chắc có lẽ do tình cờ mà tướng Lưu Á Châu và học giả Hồ Sinh Đạo đưa ra những lời kêu gọi cải tổ chính trị gần như vào cùng một thời điểm. Cũng có thể là, hiện đang có một cuộc tranh luận diễn ra trong hàng lãnh đạo ở chóp bu, và phe cởi mở muốn quảng bá quan điểm của mình để thăm dò phản ứng từ bên trong đảng cũng như bên ngoài quần chúng.

Wu Zhong là biên tập viên của Asia Times phụ trách về các vấn đề Trung Quốc.

Nguồn: “General and scholar test reform waters”, Asia Times Online, 12.8.2010.

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Ngọc Cư

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

http://www.talawas.org/?p=23741

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Intellect not all Ivy Prestigious degrees sometimes overrated

Posted by hoangtran204 trên 20/08/2010

Intellect not all Ivy

Prestigious degrees sometimes overrated

By Kathleen Parker
Monday, August 16, 2010 – Added 5 days ago

It is generally true that you get what you pay for, but not necessarily when it comes to higher education.

A new study scheduled for release today about the value of a college education, at least when it comes to the basics, has found the opposite to be true in most cases. Forget Harvard and think Lamar.

Indeed, the Texas university, where tuition runs about $7,000 per year (compared to Harvard’s $38,000) earns an “A” to Harvard’s “D” based on an analysis of the universities’ commitment to core subjects deemed essential to a well-rounded, competitive education.

In other words, Lamar requires courses that Harvard apparently considers of lesser value. These include six of the seven subject areas used in the study to gauge an institution’s commitment to general education: composition, literature, foreign language at the intermediate level, U.S. government or history, economics, mathematics, and natural or physical science.

Harvard has comprehensive requirements for only two of these subjects – composition and science.

The study was conducted by the nonprofit American Council of Trustees and Alumni (ACTA) to help parents and students determine where they might get the best bang for their buck. It was timed for release to coincide with U.S. News and World Report’s annual evaluation of the “best” colleges and universities, which is based primarily on various statistical data, as well as reputation and prestige.

ACTA focused its efforts on requirements as a measure of what an institution actually delivers.

In other findings, public institutions are doing a relatively better job than private schools of ensuring that students receive basic skills and knowledge – and at a considerably lower price. But both public and private universities are failing to ensure that students cover the important subjects, notably economics and U.S. government or history.

Among the reasons for this void in “the basics” is that many professors prefer research to teaching, and course content often reflects that. There’s no paucity of subjects to choose from, which is part of the problem. More courses equals more expense equals higher tuition. The question is whether the offerings are of any value.

At Emory University, for example, to fulfill a “History, Society and Culture” requirement, students may choose from about 600 courses, including “Gynecology in the Ancient World.”

Students given so many choices aren’t likely to select what’s good for them. Given human nature, they’ll choose what’s fun, easy or cool – and not early in the morning and not on Fridays. It’s up to universities to guide them away from the dessert tray to the vegetable courses they need to develop healthy minds.

At a time when the cost of higher education is increasingly prohibitive – and emphasis tends to focus on status – students and parents can find solace in the possibility that a better education can be found in one’s own back yard.

Talk back at kathleenparker@washpost.com.

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

►Giải thích Bổ đề cơ bản của Ngô Bảo Châu

Posted by hoangtran204 trên 20/08/2010

Thứ Sáu, 20/08/2010 – 08:00

“Thâm nhập” hành trình chứng minh Bổ đề cơ bản của Ngô Bảo Châu

Hãy cùng nghe Joe “văn học hóa” hành trình chứng minh “Bổ đề cơ bản” của giáo sư Ngô Bảo Châu, để hiểu một cách chân phương nhất, đời thường nhất những gì nhà toán học đã làm được để đưa anh đến với giải thưởng Fields danh giá.

Vừa rồi báo chí kể nhiều về giáo sư Ngô Bảo Châu. Bố, mẹ anh làm gì, trước đây anh học ở đâu và được giải thưởng gì. Anh đã nhận giải thưởng Fields ở thành phố nào, được ai trao tặng huy chương. Thậm chí báo chí có nói công trình của anh dày 169 trang (169 trang cơ!), và tên của nhà xuất bản phát hành tạp chí đã công bố công trình đó.

Tuy nhiên, báo chí ít nhắc đến nội dung công việc anh ấy đã làm – công việc khiến anh ấy được chọn là người xứng đáng nhận giải thưởng Fields. “Nói chung anh ấy giỏi toán”, là khái niệm sơ sơ của đa số tác giả viết bài liên quan. Khái niệm đó thường được thể hiện bằng ngôn ngữ rất hoành tráng, nhưng vẫn là khái niệm sơ sơ.

Các tác giả thường dừng lại ở câu “Ngô Bảo Châu đã chứng minh được “Bổ đề cơ bản” (thỉnh thoảng cho chút tiếng Pháp vào cho oách: “Le lemme fondamental pour les algèbres de Lie”). Nhưng “Bổ đề cơ bản”là gì và vì saochứng minh nó?

Tôi không giỏi toán nhưng tôi nghĩ các vấn đề khoa học có thể được thể hiện bằng ngôn ngữ thú vị và dễ hiểu nếu tác giả bỏ chút thời gian nghiên cứu. Tôi đã nghiên cứu và thấy câu chuyện thật thú vị, không kể cho các bạn nghe thì…phí quá!

Câu chuyện bắt đầu như thế này. Cách đây rất lâu các nhà toán học đã công bố hai lý thuyết quan trọng: lý thuyết số học và lý thuyết nhóm (number theory, group theory). Bản chất của hai lý thuyết đó tôi sẽ để cho bác “Wiki” giải thích – điều nên nhớ là (a) hai lý thuyết ấy rất quan trọng trong thế giới toán học và (b) hai lý thuyết ấy từ xa nhìn riêng biệt với nhau, như hai cành của một thân cây.

Cách đây khoảng 30 năm, một nhà toán học Canada tên Robert Langlands đã công bố rằng ông ấy nghĩ hai lý thuyết ấy có sự liên quan rất đa dạng. Quan điểm của Robert (và cách thể hiện quan điểm đó) đã làm cho nhiều nhà toán học thực sự choáng! Robert cũng tự làm choáng mình nữa – ông phát biểu rằng sẽ mất mấy thế hệ để chứng minh sự liên quan đa dạng mà ông ấy cho rằng có tồn tại.

“Nhưng bước đầu tiên sẽ tương đối dễ thực hiện”, ông Robert tự tin nói với đồng nghiệp.

“Bước đầu tiên” đó Robert đặt tên là “fundamental lemma”, và đó chính là “Bổ đề cơ bản” mà các bạn nghe kể nhiều thời gian gần đây.

Ông Robert tựa như đang đứng trên đảo nhỏ. Nhìn về phía Đông là một con tàu lớn. Nhìn về phía Tây cũng là một con tàu lớn. (Hai tàu không có người lái, trôi trên mặt biển.) Robert không nhìn kỹ được nhưng vẫn cho rằng hai con tàu đó có nhiều điểm chung. Có khi sản xuất cùng loại thép. Có khi chân vịt cùng cỡ. Có khi bánh lái của “tàu Đông” hướng về phía tay phải thì bánh lái của “tàu Tây” sẽ tự động hướng về phía tay trái.

Khỏi phải nói hai con tàu đó là lý thuyết số học và lý thuyết nhóm.

Với Robert, việc chứng minh “bổ đề cơ bản” có thể so sánh với việc ném hai sợi dây có móc sang hai tàu. Khi việc đó làm xong, các nhà toán học khỏe mạnh có thể đứng trên đảo cùng Robert, dùng dây kéo hai tàu gần nhau. (Khi đó mới nhìn kỹ được, tìm ra sự liên quan.) Việc kéo hai con tàu gần nhau và so sánh là việc Robert nghĩ sẽ mất mấy thế hệ. Nhưng việc ném hai sợi dây có móc đó ông Robert nghĩ sẽ nhanh thôi.

Nhưng ông Robert đã nhầm. Việc ném dây khó lắm. Robert cùng một số em sinh viên đã ném thử mấy lần nhưng lần nào cũng thất bại. Họ chỉ biết ném gần (không chính xác được) và dùng dây loại mỏng.

Đảo của Robert trở thành đảo nổi tiếng. Suốt 30 năm có rất nhiều nhà toán học sang “ném thử” Ai cũng lau mồ hôi và kêu lên “khó quá!” Nhiều nhà toán học trên đất liền chuẩn bị công cụ dùng để kiểm tra và so sánh hai con tàu lúc được kéo về đảo (kéo gần nhau!). Họ sản xuất máy để kiểm tra loại sơn, lập trình phần mềm để phân tích hai chân vịt. Thậm chí có người tập lái tàu và tập cách đứng trên boong tàu để không bị say sóng. Những công việc và sự tập luyện đó sẽ thành vô nghĩa nếu không có người ném dây chính xác.

Và rồi xuất hiện anh Ngô Bảo Châu. Nghe kể về đảo của Robert, anh bơi sang xin ném thử. “Được chứ!”, các nhà toán học giỏi nhất thế giới động viên. “Anh cứ thử thoải mái đi, thử mấy lần cũng được, thử xong ngồi cùng chúng tôi uống trà đá nhé!”

Anh Châu ném thử một lần, ném rất mạnh, dùng loại dây nặng nhất. Các nhà toán học kia đứng lên ngạc nhiên, nhiều cốc trà đá rơi xuống đất. Cách ném của anh Châu rất lạ; anh dùng kỹ thuật đặc biệt mà chưa ai thấy bao giờ. “Ném thật đi anh ơi!”, các nhà toán học động viên tiếp. “Biết đâu anh sẽ là nhà toán học đầu tiên bắt tàu hai tay!”

Ngô Bảo Châu ném thật. Và chính xác. Hai cái móc dính vào hai con tàu ngay, mọi người vỗ tay ầm ĩ.  Rồi anh Châu bảo các nhà toán học đứng trên đảo Robert cầm dây giúp (và bắt đầu kéo hai tàu gần nhau), để anh ấy có thể đi sang Ấn Độ nhận giải thưởng Fields.

Câu chuyện kết thúc tại đây.

Chứng minh “Bổ đề cơ bản” là một trong những thành công lớn nhất của toán học hiện đại, được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009. Vì Ngô Bảo Châu đã hoàn thành việc này, nên những năm tới đây các nhà khoa học thế giới có thể tự tin nghiên cứu sự liên quan giữa lý thuyết số học và lý thuyết nhóm. Đó thực sự là một thành đạt tuyệt vời – cả Việt Nam nên tự hào về người ném dây có tên Ngô Bảo Châu.

Joe

http://dantri.com.vn/c135/s702-416739/tham-nhap-hanh-trinh-chung-minh-bo-de-co-ban-cua-ngo-bao-chau.htm

*Tạp chí Wired viết: “Ngô Bảo Châu đã dỡ bỏ được một trong những trở ngại lớn nhất của công trình vĩ đại trong nhiều thập niên… Cách tiếp cận của Ngô Bảo Châu cực kỳ mới lạ mà chưa ai từng nghĩ tới, tạo nên sự kết nối mạch lạc, khiến “Bổ đề cơ bản” phức tạp trở nên đơn giản”.

Mr JOE

Tôi là công dân Canada, là cư dân Việt Nam, là du dân quốc tế lang thang giữa đời bao la. Mục Chuyện 26 này là kiếp sau của blog cũ của tôi đã chết oan cùng Yahoo 360. Mỗi buổi sáng thứ Hai và thứ Sáu sẽ có bài mới, mong rằng sẽ mang lại cho các bạn cảm giác nhẹ nhàng, sảng khoái. Để biết thêm về tôi, mời các bạn vào nhà ảo tại địa chỉ joe.vn

———-

http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/thethaovanhoa.vn/GSTSKH-Ngo-Huy-Can-Dieu-quan-trong-la-cai-goc-cua-Chau-duoc-dao-tao-trong-nuoc-tot/4737564.epi

Thứ Sáu, 20/08/2010 14:27     In

GS.TSKH Ngô Huy Cẩn: “Điều quan trọng là cái “gốc” của Châu được đào tạo trong nước tốt”

(TT&VH) – Chúng tôi từng có một số lần đến thăm gia đình GS Ngô Bảo Châu tại phố Đào Tấn, Hà Nội, nên dù rất bận rộn, GS.TSKH Ngô Huy Cẩn, cha GS Ngô Bảo Châu vẫn dành cho PV TT&VH một cuộc trò chuyện ngắn trước khi ông cùng gia đình lên đường sang Ấn Độ tham dự Đại hội Liên đoàn Toán học Thế giới (ICM 2010). Vốn là nhà khoa học cơ học chất lỏng hàng đầu Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Cơ học Việt Nam, GS Ngô Huy Cẩn dự đoán: “Châu có thể đạt giải thưởng Fields”.

Tuy nhiên, với bản chất cẩn trọng, chính xác của một nhà khoa học, ông dặn: “Cần phải đợi đến ngày đó mới thông tin”. Hôm qua 19/8, GS Ngô Bảo Châu chính thức được xướng danh với giải thưởng cao quý này. TT&VH xin giới thiệu cuộc trò chuyện đến độc giả.

May mắn được nhiều thầy giỏi toán truyền thụ

* Là một nhà khoa học được đào tạo bài bản về Toán, sau đó là Vật lý cơ học, GS đã định hướng cho con như thế nào? Cách dạy con học của GS có gì khác lạ không?

– Hồi ấy, 3 năm đầu Châu được sinh ra, tôi là binh nhì làm sao về được, nuôi Châu hoàn toàn bằng tiền lương của mẹ, thỉnh thoảng tôi cũng được anh em ưu tiên con nhỏ nên cho thêm 1 suất sữa Liên Xô viện trợ gửi về cho con.

GS.TSKH Ngô Huy Cẩn và vợ PGS TS Trần Lưu Vân Hiền

Việc học tiểu học ở trường thực nghiệm là rất tốt. Cách dạy của trường thực nghiệm làm cho trẻ con thích đến trường, nó chủ yếu làm phát huy được suy nghĩ tìm tòi của học sinh hơn là bắt các em phải làm những việc bắt buộc. Hồi đó, trường không bắt học sinh học bảng cửu chương. Khi giải toán không cần đáp số mà học sinh chỉ cần trình bày cách giải thôi, không phải cộng trừ nhân chia cụ thể, việc đó thời đại ngày nay có máy tính rồi, như thế nó rút ngắn rất nhiều nội dung bắt cho trẻ học và nó tập trung vào phát triển tư duy sáng tạo nhiều hơn.

Hồi đó, Châu học trường thầy Hồ Ngọc Đại, về nhà mình giao bài tập toán, mới đầu mình chọn những bài khó, mỗi chương chỉ giao vài bài thôi. Châu thường tự tìm cách giải, bài khó mình thường vạch ra hướng thôi chứ không giải cụ thể. Châu làm nhanh quá nên về sau mình bảo con cứ làm tất cả nhưng cả quyển ấy, Châu chỉ làm vài ngày là xong. Lúc đó Châu thường học trước chương trình. Khi học lớp 3 thì Châu làm toán lớp 4, nhưng ngay cả toán lớp 4 Châu cũng chỉ làm vài ngày là xong.

* Các thầy dạy Toán ở Việt Nam đã dạy dỗ Châu ra sao, thưa GS?

– Khi Châu học hết lớp 5, bắt đầu học chuyên toán ở trường Trưng Vương. Mình đã nhờ cậu đồng nghiệp trẻ ở Viện Cơ học là Phạm Ngọc Hùng kèm Châu. Phạm Ngọc Hùng vốn học chuyên toán đã từng sang học toán ở Minsk, cậu ấy kèm Châu 2 năm rồi bảo: “Có khi em cũng hết vốn, để em nhờ bạn em bên Viện Toán”.

Người Hùng nhờ cũng chính là anh Lê Tuấn Hoa, lúc ấy cũng mới tốt nghiệp tổng hợp toán ở Nga về. Sau anh Hoa, có anh Vũ Đình Hòa bây giờ ở viện CNTT, lúc ấy là nghiên cứu sinh toán tại Đức về.

Các anh ấy dạy vô tư, ngay cả bản thân mình cũng không nghĩ phải trả tiền các anh ấy bao nhiêu, hồi ấy chưa có cái khái niệm bồi dưỡng, anh em chơi với nhau thì dạy Châu thôi. Mình nghĩ Châu cũng may mắn được nhiều thầy giỏi toán truyền thụ. Thời ấy nó khác bây giờ, các thầy thấy học sinh giỏi là thích lắm, chia nhau bảo rằng: “Tôi vừa tìm được một đứa rất giỏi, tôi chia cho ông dạy môn này, tôi môn kia”, chứ thời đấy có cần tiền đâu, mà lúc ấy cũng chả có tiền mà đóng.

Trong quá trình Châu học, không bao giờ mình phải hò hét cả, những năm cuối cấp mình phải nhắc Châu đi ngủ sớm. Hồi đó mình được phân căn hộ ở Nam Đồng khu tập thể quân đội, nhà không có tivi để xem chương trình thời sự mà Châu và các học sinh giỏi Quốc tế vinh dự được Tổng Bí thư gặp mặt.

Học toán giỏi khác với làm toán giỏi

* GS Ngô Bảo Châu đã từng đoạt 2 HCV Olympic Toán Quốc tế, sau nhiều năm học tập và nghiên cứu mà chủ yếu ở nước ngoài, GS Châu đã đạt được nhiều giải thưởng cao quý, trong đó có giải thưởng Clay. Theo GS, nước ta có nhiều người đoạt giải cao Olympic toán quốc tế, tại sao sau đó họ không thể đạt tới đỉnh cao?

– Châu thường nói rằng thi Olympic là cuộc thi những người học toán giỏi còn sau này họ sẽ phải làm toán chứ không phải học toán nữa, nên nó khác hẳn.

Không phải anh nào học giỏi cũng đạt đỉnh cao đâu, cũng chỉ có một vài người thôi. Tôi cũng biết, những người đoạt giải thưởng Fields của toán học đến bây giờ Mỹ mới có 12 người, Pháp 9 người, Liên Xô 8 người trong đó có 1 người Ucraina, Nhật 3 người, Trung Quốc có 1 người nhưng lại là quốc tịch Mỹ, sống, học tập và nghiên cứu ở Mỹ.

Những người đạt giải thưởng Fields là những người kiệt xuất rồi. Nhưng cần biết rằng cũng có rất nhiều những người giỏi ở nước ta và các nước khác, họ không thuộc các tiêu chí của giải thưởng, chứ không phải họ “chìm” đi đâu. Như ở Việt Nam, tất nhiên cũng phải nói là điều kiện của các anh ấy (các nhà khoa học – PV) còn khó khăn, hầu hết các nhà khoa học đều hợp tác với nước ngoài, như các anh ở Viện Toán, một năm các anh ra nước ngoài làm việc ít nhất 3, 4 tháng.

* Rất nhiều học sinh giỏi cũng đã được các thầy giỏi đào tạo. Nhưng theo GS, thành công của Ngô Bảo Châu là do đâu?

– Nhiều nhà khoa học đều có ý kiến là Châu cũng có may mắn là ra nước ngoài có dịp để mà tiếp xúc giao lưu với các nhà toán học đầu ngành trên thế giới. Khách quan mà nói, điều kiện để học cách làm toán, (chứ không chỉ là học toán nhé) nó thuận lợi hơn rất nhiều so với ở trong nước. Cho nên mình cũng không nên nói là những thành tựu này nọ chỉ là do kết quả đào tạo trong nước.

Nhưng một điều quan trọng là cái “gốc” Châu được đào tạo trong nước tốt, Châu có tài năng và niềm đam mê khoa học cháy bỏng bởi làm toán nó cũng khắc nghiệt lắm.

Châu là người cha rất yêu con và biết chăm sóc con cái

*  Xin hỏi GS một câu hơi riêng tư, các nhà khoa học hàng đầu do quá đam mê khoa học mà thường khó cân bằng cuộc sống. Với GS Ngô Bảo Châu thì sao?

– Châu lập gia đình năm 1994, năm 22 tuổi khi học xong thạc sĩ bên Pháp rồi. Thời gian ấy, người Việt bên Pháp rất ít, Châu không có nhiều giao lưu, học hành lại căng thẳng.

Châu về đặt vấn đề bố mẹ cho con lập gia đình vì Châu có người yêu cũng học cùng trường Trưng Vương. Mình thì nghĩ Châu vẫn trẻ nhưng chính anh Lê Tuấn Hoa bảo: “Anh không đồng ý cũng gay go vì nhiều trường hợp các cậu giỏi toán nhưng không cân bằng được cuộc sống có thể bị tâm thần. Hồi ấy Châu vừa đủ tuổi theo luật trai 22 tuổi, gái 20 được lập gia đình. Năm 1995 Châu làm thủ tục để vợ Nguyễn Bảo Thanh sang Pháp, năm đấy cũng sinh con gái đầu lòng. Thời gian đó tương đối khó khăn vì học bổng hạn chế. Thanh vốn học ngoại thương ra, hồi ở Pháp có một thời gian Thanh đi làm kiểm toán ở một công ty tư nhân.

Đời thường, Châu là người cha rất yêu con và chăm sóc con cái, ba đứa trẻ xinh xắn ngoan ngoãn cũng giúp Châu giảm bớt những cái căng thẳng.

Châu cũng không phải là người mà tâm hồn “nghèo nàn”, Châu thích nhạc cổ điển, thơ Hàn Mạc Tử, thơ Quang Dũng, trước đây Châu cũng có học và biết chơi đàn violon.

* Xin cảm ơn GS!

Mạnh Cường (Thực hiện)

———–

Thứ Ba, 24/08/2010

Giáo sư Ngô Bảo Châu: Cái ta đang cố gắng luôn có giá trị

TTO – Giáo sư Ngô Bảo Châu dù bận rộn với những hoạt động tại Hội nghị Toán học thế giới ở Ấn Độ vẫn sẵn lòng trả lời các câu hỏi của bạn đọc Tuổi Trẻ.

Gần gũi, sâu sắc, thân thiện, cách giáo sư Ngô Bảo Châu chuyện trò cho ta cảm giác như giáo sư đang nói chuyện với một người thân, một người bạn, một đồng nghiệp.

Tôi cố gắng hoàn thành việc mình phải làm

* Ngoài sự nỗ lực của bản thân, xin GS chia sẻ điều cần và đủ trước khi bắt đầu một nghiên cứu là gì? (Trần Minh Điền, 25 tuổi)

– Rất khó bắt đầu nghiên cứu khoa học nếu không có một môi trường nghiên cứu khoa học. Có nhiều thứ chỉ học được ở thầy, nhưng có nhiều thứ học ở bạn bè thì dễ hơn. Không khí nghiên cứu xung quanh là một sự cổ vũ rất lớn. Nó giữ vững niềm tin của ta, khi thành công chưa đến, rằng cái ta đang cố gắng có giá trị, có ý nghĩa.

* Xin hỏi động lực nào thúc đẩy anh đến với thành công ngày hôm nay (Hồ Hải Đăng, 18 tuổi)

– Cá nhân tôi không thấy mình có động lực gì đặc biệt, ngoài ý thức cố gắng hoàn thành tốt việc mình phải làm.

Sự trong sáng là một nỗ lực rèn luyện* Học sinh A0 giờ khổ lắm anh ạ. Suy nghĩ chả còn được trong trẻo như các anh ngày xưa. Cũng có thời cả lũ mơ thành nhà toán học, nói ngông với nhau rồi sẽ thành Lobachevski, Euler của Việt Nam… Đến bao giờ mới có một nơi để dân toán vẫy vùng hả anh? (a0_k42, 18 tuổi)– Các anh ngày xưa cũng khổ không kém các em bây giờ đâu. Giữ gìn sự trong sáng trong suy nghĩ là kết quả của một quá trình luyện tập đều đặn. Anh nghĩ, các em bây giờ có nhiều hơn cơ hội đi học nước ngoài. Anh hy vọng việc giảng dạy toán ở các trường đại học lớn ở Việt Nam cũng sẽ tốt dần lên. Còn các ngành khác thì quả thật là anh không được biết rõ lắm.

* Xin chúc mừng GS! Cho em được hỏi: Làm thế nào để có một bộ óc tuy duy thật tốt? Những lúc làm việc căng thẳng thì giáo sư thường làm gì để giảm stress? Những lúc nghiên cứu thất bại GS có chán nản không? Đâu là động lực để giáo sư tiếp tục nghiên cứu? Để sống trong môi trường học tập nước ngoài thì cần những hành trang gì? Xin cảm ơn GS. Chúc GS dồi dào sức khỏe và thành công trong cuộc sống. (Lê Phan Thanh Duy, 20 tuổi)- Tôi cho rằng cách giảm stress tốt nhất là trò chuyện với những người thân trong gia đình. Nhưng cũng có nhiều lúc, khi làm toán căng thẳng quá, tôi đóng cửa phòng làm việc, không nói chuyện với ai nữa. May mà vợ con tôi còn thông cảm.

Để có thể hòa nhập nhanh với cuộc sống ở nước ngoài, có lẽ bạn nên chịu khó đọc sách. Có đọc sách bạn mới thấm được cách đùa của người có văn hóa khác. Khi mình chưa biết đùa, chưa hiểu khi người ta nói đùa thì khó tạo nên những mối tương giao thân thiết. Có nhiều chuyện tầm thường hơn nhiều, ví dụ như trong bữa ăn, người ăn xong trước vẫn ở lại bàn ăn để trò chuyện chứ không ra xa lông xỉa răng.

* Chắc chắn với giải thưởng danh giá này anh cũng sẽ chịu rất nhiều áp lực. Vậy anh đã có những kế hoạch gì để mang những kiến thức mà anh đã có được để giúp đỡ ngành toán học Việt Nam và đất nước Việt Nam? (Lê Vương Thịnh, 27 tuổi)

– Với sự hỗ trợ đáng kể của chính phủ thông qua chương trình trọng điểm quốc gia về toán, chúng tôi có một số kế hoạch để trong năm, mười năm nữa, sẽ có nhiều nhà toán học Việt Nam trẻ, sung sức, sẽ có nhiều giảng viên đại học ở mọi miền của đất nước có công trình nghiên cứu khoa học thật sự.

* Xin GS cho biết liệu trong tương lai toán học Việt Nam có thể đạt được nhiều thành công hơn không? (Việt, 18 tuổi)

– Tôi thực sự hy vọng cục diện của toán học Việt Nam sẽ thay đổi với chương trình trọng điểm. Nếu trong hội nghị toán học thế giới năm 2018, tức là trong lần sau nữa, có một, hai nhà toán học Việt Nam làm việc ở Việt Nam được mời làm báo cáo chuyên ngành, thì có thể coi như mảng nghiên cứu của chương trình trọng điểm thành công.

GS Ngô Bảo Châu ký tặng cuốn sách in toàn văn công trình nghiên cứu lời giải “Bổ đề cơ bản” tại hội nghị toán học thế giới – Ảnh: Nguyễn Việt Dũng

Tất nhiên đây là một chỉ tiêu rất phiến diện, nhưng nếu cần một chỉ tiêu để đánh giá một cách nhanh gọn, thì tôi sẽ chọn chỉ tiêu này. Để đạt được mục tiếu đó, các nhà toán học sẽ phải nỗ lực nhiều. Hàn Quốc đầu tư rất mạnh vào toán và khoa học cơ bản từ đầu năm 90,  sau hơn 15 năm, vào hội nghị lần trước (2006), họ đã có hai người Hàn Quốc, làm việc ở Hàn Quốc. Lần này thì họ còn một. Nhưng tôi đánh giá là họ đã khá thành công.

* Nếu có thể thì chú sẽ thay đổi điều gì đầu tiên trong nền giáo dục Việt Nam để nước ta sẽ ngày càng có nhiều “Ngô Bảo Châu” hơn? (Phạm Anh Duy, 17 tuổi)

– Ý thức về sự cần thiết của nghiên cứu khoa học nghiêm túc trong các trường đại học.

* Lời đầu tiên tôi xin chúc mừng Việt Nam chúng ta có một vĩ nhân về toán học, GS Ngô Bảo Châu. GS nghĩ sao về sự phát triển của toán học Việt Nam, hơn thế nữa là sự ứng dụng toán học để phát triển đất nước Việt Nam chúng ta! (Lê Nguyễn Đình Khương, 22 tuổi)

– Bạn có vẻ hơi nghi ngờ về “cái tích sự” của toán học cho cuộc sống xã hội. Ở Mỹ, chỉ có 1/4 số người có bằng PhD về toán, tiếp tục làm việc hàn lâm tức là dạy và nghiên cứu toán. 3/4 còn lại, không những có việc làm, mà thường là việc làm có thu nhập khá cao: trong các nhà băng, quĩ đầu tư, hãng bảo hiểm và cái mà tôi ngạc nhiên nhất là con số khá lớn những người đi làm cho cơ quan an ninh quốc phòng.

Ở Việt Nam hiện nay, kiến thức toán học không cần bằng khả năng giao tiếp xã hội, khả năng “quan hệ”. Nhưng ngay cái này có thể cũng sẽ thay đổi, nếu xã hội dần dần được tổ chức tốt hơn.

* GS cho tôi hỏi, tại sao GS sau khi đạt được danh hiệu cao quý đó lại không trở về Việt Nam làm việc hẳn thay vì chỉ dừng lại là “tham vấn” như GS đã từng nêu? Chúc GS có được sức khỏe dồi dào! (Phan Thị Mỹ Bình, 29 tuổi)

– Đối với tôi, việc tìm hiểu, khám phá khoa học cũng quan trọng không kém việc góp sức xây dựng nền khoa học và giáo dục Việt Nam. Để làm tốt cả hai việc này, đối với tôi, về Việt Nam làm việc hẳn vào thời điểm này không phải là lựa chọn tốt nhất. Như tôi đã có lời tâm sự, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân hiểu rất rõ việc này.

Tôi rất mong muốn các nhà khoa học đang làm việc ở Việt Nam có nhiều điều kiện, cơ hội hơn để phát huy khả năng của mình. Các nhà khoa học cần những chính sách đúng đắn của chính phủ.

Khi ngã, hãy đứng lên đi tiếp* Chú Châu thân mến,  theo chú thế nào là một người thành công và thế nào là một người thất bại? Chú đã bao giờ vấp ngã trong cuộc sống chưa ạ? (Đặng Quốc Trung, 17 tuổi)– Ai cũng từng vấp ngã. Có một người bạn đã cho chú một lời khuyên như thế này trong một thời điểm khủng hoảng: “Thất bại của cậu không có gì là đặc sắc, rất nhiều người đã ở trong hoàn cảnh như cậu và họ đều đứng lên đi tiếp, tại sao cậu không làm như thế?”.

* Ở một vị trí như GS, có lẽ GS có một cái nhìn toàn cảnh về nền khoa học kỹ thuật nước nhà. GS có thể cho biết khó khăn lớn nhất làm trì trệ nền khoa học nước nhà nói chung và nên toán học nói riêng? Và theo GS thì các nhà lãnh đạo (có chất lượng) và giới trẻ Việt Nam nên làm gì để cải thiện điều đó? (Nguyễn Phúc Kỳ Nam, 22 tuổi)- Chỉ cần nhìn vào thống kê công bố khoa học là có thể hiểu tình hình chung của nghiên cứu khoa học trong nước. Theo tôi, những người có trách nhiệm ở các trường đại học, từ trưởng khoa đến hiệu trưởng nên có ý thức đi tìm những các bộ khoa học sung sức, có năng lực về làm cho mình, và tìm cách đãi ngộ họ tốt nhất có thể. Trường đại học quốc tế TP.HCM làm rất tốt việc này.

Ở các nơi khác, tôi vẫn chỉ nghe thấy nói “có ai giỏi về bọn mình nhận ngay”. Có một đội ngũ nhà khoa học trẻ, sung sức, có năng lực là chuyện sống còn của một trường đại học. Chủ động đi tìm không có nghĩa là tự hạ mình. Các trường “to đầu” như Harvard, Princeton thường tự đi tìm người về làm cho mình, chứ họ không ngồi đợi.

* Tôi từng nghe nhắc đến 7 bài toán của thiên niên kỷ (một bài đã được giáo sư Perelman người Nga giải quyết những năm gần đây). Thưa GS, có bao giờ GS quan tâm đến những bài toán đó chưa? GS có còn đam mê và động lực để theo đuổi một trong các bài toán này không? Kiến thức và chuyên ngành của GS có liên quan đến một trong những bài toán đó không?

Việc GS chuyển tới đại học Chicago, như GS nói, là để cùng các đồng nghiệp giải quyết các lĩnh vực liên quan. Tôi muốn hỏi: môi trường và công việc sắp tới ở ĐH Chicago có quá bận khiến GS  không còn thì giờ để nuôi ý tưởng cho một trong những bài toán thiên niên kỷ trên không? (Lê Văn Dũng, 25 tuổi)

– Những bài toán được viện Clay đặt tên là thiên niên kỷ đúng là những vấn đề rất quan trọng. Nhưng những vấn đề tôi chọn để nghiên cứu trong thời gian tới đây không liên quan nhiều đến 7 bài toán của viện Clay.

Giải thưởng Fields mang đến nhiều trách nhiệm và lấy đi nhiều thời gian cho việc nghiên cứu. Nhưng cả ở Chicago và ở Hà Nội, mọi người đều rất cố gắng để tôi có nhiều thời gian nhất cho việc làm toán.

Tôi tiếp tục với những dự định

* Hiện nay, GS đang ở trên đỉnh vinh quang nhất trong sự nghiệp mà các nhà toán học muốn vươn tới. Sau khi nhận được giải thưởng có làm GS mất đi động lực nghiên cứu không? Dự định của GS sắp tới là gì? (Bùi Hữu Nghĩa, 19 tuổi)

– Giải thưởng không làm thay đổi công tác khoa học của tôi. Tôi vẫn tiếp tục những dự định tôi đã có từ trước. Dự định khoa học rất khó giải thích đơn giản cho bạn hiểu. Khi giải thích được mọi thứ đơn giản gãy gọn, thì vấn đề coi như đã giải quyết xong một nửa, không còn là dự định nữa.

* Thưa GS, sau khi đoạt giải, GS có kế hoạch gì để cống hiến cho đất nước không? Và GS có lời khuyên nào dành cho các bạn trẻ không? Xin cảm ơn GS! (dang dinh dong, 28 tuổi)

– Tôi sẽ tham gia công việc của Viện đào tạo nghiên cứu cao cấp về toán. Chúng tôi sẽ cố gắng chắp nối các nhà khoa học trong nước và nước ngoài, để toán học Viêt Nam tiếp cận với nhiều hướng nghiên cứu mới. Viện có trách nhiệm làm vườn ươm cho nòng cốt của toán học Việt Nam tương lai và ủng hộ công tác nghiên khoa học trong các trường đại học. Chúng tôi cũng sẽ rất chú trọng đến những hướng nghiên cứu liên ngành, phối hợp toán học với khoa học máy tính, vật lý, sinh học, kinh tế…

* Thưa GS, trong thời gian tới, ông có dự định sẽ cho dịch các công trình khoa học của mình ra tiếng Việt và xuất bản rộng rãi không? Xin cám ơn. (Lê Anh Tú, 21 tuổi)

– Các công trình khoa học của tôi phần nhiều có tính chuyên sâu, dịch ra tiếng Việt thực ra không có mấy tác dụng. Nhưng tôi rất ủng hộ việc dịch những sách toán, sách khoa học kinh điển ra tiếng Việt. Bản thân tôi cũng sẽ cố gắng viết một số sách phổ biến khoa học dành cho đối tượng là sinh viên đại học.

* Thưa GS, theo ông, phẩm chất nào ở người nghiên cứu khoa học là cần thiết nhất? Có phải là sự can đảm, dám dấn thân không? Xin cám ơn giáo sư! (Lê Anh Tú, 21 tuổi)

– Trung thực, can đảm, tự do trong tư tưởng và học thuật là những phẩm chất không thể thiếu của một nhà khoa học. Dấn thân theo nghĩa xã hội thì phụ thuộc vào cá tính từng người. Nhà khoa học giỏi không nhất thiết phải là người dấn thân vào các công tác xã hội.

* Xin anh cho biết làm thế nào để khoa học Việt Nam thực sự phát triển đột phá trong những năm tới? Liệu chúng ta có cần phải thành lập những trung tâm xuất sắc (Centers of Exellence) như các nước Nhật, Hàn đang làm không? (Đông A, 40 tuổi)

– Những trung tâm nghiên cứu xuất sắc có vai trò rất lớn trong việc kéo mặt bằng chung của giáo dục đại học đi lên. Tất nhiên, muốn được như thế, nó phải có sự gắn bó hữu cơ với các trường đại học.

* Tôi là một luật sư. Khi biết thông tin GS được giải Fields toán học, tôi cảm thấy vô cùng tự hào về những gì GS đã làm. Tôi xin có một câu hỏi: với thành công này, GS có thể cho ý kiến và đóng góp thực tại của Toán học Việt Nam? Và nếu được mời Viện trưởng của Toán học Việt Nam. GS có suy nghĩ như thế nào? (Ngô Minh Thành, 34 tuổi)

– Bạn có thể đọc những câu trả lời của tôi về dự định của Viện nghiên cứu và đào tạo cao cấp về Toán mà chúng tôi rất hy vọng sẽ được nhà nước ủng hộ.

* Xin GS cho biết công trình của GS (chứng minh bổ đề cơ bản Langlands) hoàn thành trong thời gian bao lâu (kể từ lúc bắt đầu bắt tay vào chứng minh cho đến lúc hoàn thành và công bố công trình) và có những trở ngại nào trong quá trình chứng minh? (Nguyễn Anh Lương, 39 tuổi)

– Tôi mất sáu năm để hoàn thành công trình này. Nếu xem thời gian trước đó như một quá trình chuẩn bị, thì chắc sẽ còn nhiều hơn như thế.

* Anh Bảo Châu ơi nếu như về Việt Nam công tác, trong chương trình làm việc, anh có thể giúp cho các em học sinh nghèo ở vùng sâu vùng xa tiếp cận được nguồn tài liệu toán học quí giá ở các quốc gia trên thế giới không? (Nguyễn Toàn Vẹn, 36 tuổi)

– Chương trình trọng điểm quốc gia của ngành toán có một mảng chú trọng đến giáo dục phổ thông chuyên toán. Bản thân tôi không có vai trò chủ đạo trong mảng này. Tài liệu toán thực ra bây giờ khá sẵn ở trên mạng. Cái khó là hướng dẫn học sinh như thế nào để khỏi lạc trong đại dương kiến thức.

Gần gũi cuộc đời

Người vợ* Đằng sau sự thành công của một nguời đàn ông có bóng dáng của một người phụ nữ. GS có thể cho biết đôi điều về người phụ nữ đó không? (le van trinh, 25 tuổi) – Vợ tôi không muốn được thông tin đại chúng nhắc đến. Tôi hoàn toàn hiểu và tôn trọng cô ấy.

* Xin chúc mừng thành công vang dội của GS, xin phép được hỏi: GS có định hướng cho ba cô con gái của mình theo con đường của GS không? Nếu có cháu không theo cha, anh sẽ nghĩ sao? Xin trân trọng cảm ơn GS! (Bùi Thị Thúy, 38 tuổi)- Chúng tôi cố gắng định hướng cho con mình theo khả năng và sở thích của các cháu. Nhưng thực ra chuyện này không dễ chút nào.

* Thưa GS! Theo ông thì một môi trường tốt để học tập và nghiên cứu phải như thế nào? Và làm sao để có thể học trong những môi trường như thế? Một học sinh muốn theo con đường khoa học thì cần phải làm việc gì trước, việc gì sau? (Võ phi long, 17 tuổi)

– Môi trường khoa học là nơi việc tìm hiểu kho tàng tri thức của nhân loại và làm giàu cho nó được coi là nhiệm vụ hàng đầu. Đó là nơi tập hợp những người hết mình trong công tác truyền đạt tri thức đã biết, và tìm tòi những tri thức mới.

* Thưa GS, hiện GS đã trở thành “sao” trong mắt giới trẻ chúng tôi, GS có cảm thấy bị áp lực không khi đời tư, từng thái độ của GS được báo chí đưa tin? (Ngọc Minh)

– Tôi không thích chuyện riêng tư của mình phơi lên mặt báo. Nhưng tôi tin là cơn sốt này sẽ dịu xuống nhanh. Chưa có ai được huy chương Fields hai lần.

* Thưa GS, tôi có một cháu nhỏ đang học lớp 1, cháu rất thích học một toán, tôi muốn hỏi GS làm thế nào để có thể nuôi dưỡng niềm đam mê toán học từ nhỏ cho cháu? (Nguyễn Thị Hồng Linh, 32 tuổi)

– Theo tôi, nên cho trẻ thử sức với những bài toán khó hơn khă năng một chút. Trẻ con, và thực ra cả người lớn, đều có thích thú vượt lên chính mình. Ngoài ra, chị có thể tìm mua một số sách toán học thưởng thức, tiểu sử các nhà toán học lớn… Lúc nào có thời gian, tôi sẽ xây dựng hộ chị một danh sách.

TTO

http://tuoitre.vn/Nhip-song-tre/396806/Giao-su-Ngo-Bao-Chau-Cai-ta-dang-co-gang-luon-co-gia-tri.html

================================

 !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!@@

Vừa về nước, GS Ngô Bảo Châu thăm lăng Bác

 

http://vnn.vietnamnet.vn/tinnhanh/201008/Vua-ve-nuoc-Giao-su-Ngo-Bao-Chau-den-tham-lang-Bac-932562/

==================================

Tác giả ‘Bổ đề Langlands’: Tiến sĩ chả có nghĩa lý gì…

Cập nhật lúc 09:36, Thứ Tư, 01/09/2010 (GMT+7)
,
Robert Langlands (người Canada) là một trong những nhà toán học nổi tiếng thế giới. Giáo sư Ngô Bảo Châu vừa giành được giải thưởng Fields nhờ chứng minh được Bổ đề của Robert Langlands. Dưới đây là câu chuyện về con đường học vấn lý thú và khá hài hước qua chính lời kể của Robert Langlands.

Tôi sinh năm 1936, ở New Westminster, lúc đó là một thành phố nhỏ, và theo trí nhớ của tôi, thì rất dễ thương với những con phố trồng đầy cây dẻ. Đến thời điểm phải đi học, mẹ tôi xin cho tôi vào một trường dòng, Học viện St. Ann. Trường này chủ yếu do các sơ dạy.

Mô tả ảnh.
Robert Langlands (người Canada) là một trong những nhà toán học nổi tiếng thế giới.

Các sơ đều trẻ, và theo tôi là xinh đẹp, và luôn động viên tôi, nên tôi rất thích thú những năm đầu tiên này: học 3 lớp chỉ trong 2 năm, rồi 4 lớp trong 3 năm. Sau đó, tôi phải chuyển sang học tiếp những năm cuối tiểu học ở Học viện St. Peter. Trường này ít thân thiện hơn, với thầy giám thị mặt luôn ù ụ với cây dùi cui trong tay. Và tôi trở nên cứng đầu cứng cổ.

Tôi đã không hề có ý định vào đại học

Khi tôi học lớp 12, chúng tôi có một thầy giáo xuất sắc, là thầy Crawford Vogler, với một cuốn sách giáo khoa được xây dựng kiểu mới, một cách dạy Văn học Anh kiểu mới. Thầy chính là một trong những người mà tôi mắc nợ nhiều nhất. Thầy cho rằng, tôi là một trong số các học sinh có thể làm báo cáo về một cuốn tiểu thuyết. Và thầy giao cho tôi cuốn “Thử thách của Richard Feverel” của Meredith. Thầy đúng là đã đánh giá tôi cao quá mức, vì tôi đọc cuốn đó nhưng chẳng biết có thể nói được gì về nó, hoặc có thể tôi ngại không bộc lộ cảm xúc của mình. Đó là cuốn sách về tình yêu thời trẻ.

Tuy nhiên, đến cuối năm học, thầy dành một tiếng đồng hồ để giải thích cho tôi, trước tất cả các bạn khác, rằng sẽ là một sự phản bội đối với các tài năng thiên bẩm nếu tôi không chịu vào đại học. Từ trước, tôi đã không hề có ý định vào đại học. Có bạn cùng lớp nào của tôi làm thế đâu. Hồi đó, có rất ít học sinh, nhiều nhất chỉ là 1-2 người, vào đại học thôi. Nhưng tôi thấy “phổng mũi” vì lời của thầy, và bỗng tràn đầy khát vọng, nên ngay lúc đó quyết định ngồi viết hồ sơ vào đại học luôn. Tôi học chăm chỉ, cuối cùng thậm chí còn giành một học bổng nhỏ của trường UBC.

Còn có một yếu tố nữa trong sự thay đổi của tôi. Từ hồi còn nhỏ, khoảng 7-8 tuổi, tôi đã quyết định rằng mình sẽ trở thành một linh mục. Thế rồi đến khi tôi đọc Meredith, thì tôi gặp một cô gái, mà sau đó tôi lấy làm vợ, và vẫn là vợ tôi nhiều năm sau đó. Nhìn lại, tôi ngạc nhiên rằng mình quá may, vì trong một thành phố nhỏ như thế, ở tuổi trẻ như thế, chẳng có ai hướng dẫn, mà tôi lại tìm được một người có thể cho tôi rất nhiều điều, theo rất nhiều cách, trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, và trong một thời gian rất dài, mà vẫn không phải hy sinh sự độc lập.

Bố của cô ấy đi học có đúng một năm. Nhưng hồi đó thì chúng tôi quen với việc các bậc phụ huynh ít đến trường. Bố tôi cũng chỉ đi học có 8 năm. Tính toán thì bố tôi giỏi lắm nhưng khả năng đọc của bố tôi chỉ giới hạn trong các trang báo thể thao. Còn bố của vợ tôi thì phải đến năm 30 tuổi, đúng thời Đại Suy Thoái (1929-1933), mới học đọc, rồi viết, ở các lớp học tổ chức cho người thất nghiệp. Nhưng ông lại có một thư viện nhỏ, dù ông không thể thực sự đọc dễ dàng.

Tuy nhiên, điều ông thường làm là trích dẫn – vì đã học thuộc lòng – nhiều đoạn văn mà ông đã học từ lâu. Điều này lúc đầu cuốn hút tôi lắm nhưng tôi cũng nhanh chán. Thế nhưng, nhờ có các cuốn sách trong thư viện của ông, đặc biệt là những cuốn về tiểu sử của những người như Marx, Freud, Hutton, Darwin và nhiều người khác, tôi có được cảm hứng và tham vọng trở thành một nhà bác học. Thật là lạ, nhưng khát vọng này chưa bao giờ mờ đi. Đó chính là khát vọng khiến tôi vào đại học.

Bằng Tiến sĩ chẳng có ý nghĩa gì với tôi

Vào đại học, tôi phải làm các bài kiểm tra năng lực. Toán với Lý thì tôi làm tốt, nhưng các môn khác thì không tốt lắm. Thầy tư vấn của trường lúc đầu gợi ý rằng tôi có thể trở thành một kế toán viên.

Công việc này nghe chẳng hoành tráng gì. Thế là thầy ấy gợi ý tôi đầu tư vào môn Toán và Lý, nhưng nhắc tôi rằng sẽ cần có bằng Master hoặc thậm chí là Tiến sĩ. Từ “Tiến sĩ” chẳng có ý nghĩa gì với tôi, nhưng tôi quyết định ngay rằng tôi sẽ trở thành một nhà Toán học hoặc Vật lý học. Còn “Tiến sĩ”, dù nó có là gì, cũng mặc kệ. Cho đến khi tôi từ trường quay về gặp bố vợ tương lai, thì mới học được từ ông rằng “Tiến sĩ” có nghĩa là gì. (hehe)

Vì đã quyết trở thành một nhà Toán học và một nhà bác học, tôi rất có phương pháp, thậm chí còn mua một cuốn “Euclid in the Everyman” (Ơclit trong mọi người), nhưng tôi cũng chẳng giàu trí tưởng tượng cho lắm để mà chuyên tâm vào môn Hình học. Trong các khóa học đầu tiên, khóa tiếng Anh là giá trị nhất (Composition I, hay còn gọi là lớp học cách viết bài luận văn (360-400 chữ)).

Tôi hóa ra không biết viết, hoặc đúng hơn là viết đúng chính tả nhưng ngữ pháp thì thảm hại, cũng chẳng có ý niệm gì về văn học Anh. Thầy giáo tôi, thầy Morrison, người lúc nào cũng mặc áo khoác quá rộng, rất tuyệt. Thầy biết tôi hơi lúng túng nên sẵn sàng sửa từng câu cho tôi. Nhìn lại, hồi đó đã giúp tôi hình thành thói quen xem từ điển khi đọc sách – một điều rất hữu ích.

Vào thời điểm năm thứ nhất hoặc thứ hai, vì có ý định trở thành nhà Toán học, tôi nói chuyện với thầy S. Jennings, người luôn khiến tôi nhớ đến nhân vật Penguin trong truyện tranh Batman. Thầy đã cho tôi một lời khuyên mà tôi biết ơn đến tận giờ. Hồi đó là khoảng năm 1954, thầy khẳng định với tôi rằng muốn trở thành một nhà toán học thì phải học tiếng Pháp, Đức và Nga. Tôi thấy mỗi ngoại ngữ đều thật đẹp, dù mãi sau này tôi mới nhận ra điều đó.*

Trong môn Đại số, có một cuốn sách giáo khoa xuất sắc của L. E. Dickson và một thầy giáo nhiệt tình, thầy Robert Christian. Tôi chưa từng nhận thấy tầm quan trọng của Đại số cơ bản cho đến khi đọc cuốn này. Thầy Christian giới thiệu cho cả lớp đọc cuốn sách của Halmos về vector. Tôi mua đọc vào mùa Hè nhưng chẳng hiểu hết. Sau đó, tôi đặt hàng qua bưu điện một cuốn “Modern Algebra and Matrix Theory” (Lý thuyết Ma trận và Đại số hiện đại) của Schreier and Sperner. Đó có lẽ là bước tiếp cận thực sự đầu tiên của tôi đối với Đại số.

Sau khi học đại học, tôi muốn hoàn thành bằng Master thật nhanh. Tôi gửi hồ sơ tới 3 trường đại học của Mỹ, tại sao lại chỉ ở Mỹ thì tôi cũng chẳng biết. Lúc đó tôi không hề có ý định đi đâu xa như Anh hoặc châu Âu, mà chẳng ai khuyên nên vào một trường ở Canada cả, mặc dù các trường ở Canada cũng tốt ngang như vậy. Tôi nộp hồ sơ vào ba trường: Harvard, Wisconsin và Yale.

Tôi chọn Yale vì thầy Robert Christian đã hoàn thành bằng Tiến sĩ ở đó và thường kể chuyện với tôi. Tại sao lại chọn Harvard thì tôi cũng chẳng biết. Wisconsin thì đơn giản để đề phòng hai trường kia không nhận tôi. Cuối cùng tôi được cả ba trường nhận, nhưng Wisconsin không có học bổng, mà tôi sẽ đồng thời phải tham gia dạy học ở đó.

Hồi học ở UBC, tôi đã khám phá ra rằng việc giảng dạy rất ảnh hưởng tới việc học Toán. Nên tôi gạch bỏ ngay Wisconsin. Yale thì cho học bổng hỗ trợ được cả tôi và vợ tôi, gần như không cần sự giúp đỡ từ gia đình, mà vợ tôi thì không được phép làm việc ở Mỹ. Harvard không cho tôi sự trợ giúp như thế. Nên sự lựa chọn Yale là hiển nhiên.

Nhìn lại, thì đó đúng là lựa chọn tốt nhất cho đến thời điểm đó. Tôi hoàn thành hai năm học ở Yale rất vui vẻ, tôi có nhiều thời gian để nghĩ về nhiều việc và học thêm nhiều kỹ năng.

Những năm làm sinh viên là quãng thời gian mang tính “chuyển biến” đối với tôi. Tuy nhiên, nếu có ai hỏi tôi nên khuyên các bạn sinh viên chuyên ngành Toán điều gì, thì tôi sẽ nói rằng tôi chẳng có lời khuyên nào cả. Cho đến nay, tất cả những gì có giá trị mà tôi đạt được, thì đều do tôi làm theo thiên hướng riêng của mình. Tôi hy vọng các bạn ấy cũng làm như thế.

  • Theo SVVN

*Chủ nghĩa cộng sản chỉ hoành hành ở các nước nào mà ngôn ngữ chính của người dân hoặc ngôn ngữ trong hành chánh của chính quyền không phải là tiếng Anh; những nước cựu thuộc địa của Anh cũng không theo chủ nghĩa cộng sản. Đất nước nào mà cấu trúc, ngữ pháp của ngôn ngữ đó không chặc chẻ, dân chúng thất học quá nhiều, thì chủ nghĩa cộng sản  hoành hành càng mãnh liệt.

Ngoài ra, nước nào có tôn giáo mạnh như Muslim, có nhiều người dân theo tôn giáo nầy, thì chủ nghĩa cộng sản cũng không bành trướng nổi.

** bản đăng ở blog nầy có sửa vài chỗ, thêm cho rõ nghĩa vài chỗ, so với trên báo…

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại Học DeAnza, Cupertino, California

Posted by hoangtran204 trên 15/08/2010

Bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại Học DeAnza, Cupertino, California

LTS: Quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đang ấm dần lên qua vấn đề Biển Đông, ĐCV đăng tải lại bài phát biểu của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại học DeAnza, trong cố gắng thuyết phục Hoa Kỳ bắt tay với CSVN ngăn chặn Trung Quốc, gây nhiều tranh cãi trước đây.

Lời người dịch: Ngày 13 tháng 6 năm 2003, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ được giáo sư John K. Swensson, Khoa truởng Khoa Ngôn Ngữ của trường Đại Học DeAnza, Cupertino, California mời nói chuyện về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhân cuộc hành trình của Tướng Kỳ gây nhiều sôi nổi trong cộng đồng, tôi phiên dịch bài diễn văn này ra quốc ngữ để cống hiến bạn đọc. Hy vọng các bạn đọc sẽ chia sẻ đuợc tâm ưu của Người Lính Già Nguyễn Cao Kỳ, có cái nhìn xa về thời cuộc mà phải hứng chịu nhiều hiểu nhầm của dư luận ngày hôm nay. Ông ta đã chiến đấu và đã không ngừng mưu cầu cho dân tộc có một tương lại tươi sáng hơn.

Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ

Trước tiên, tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên và quý trường đã cho tôi có dịp để chia sẻ vài cảm nghĩ của tôi. Đặc biệt xin cảm tạ bà Martha Kanter và ông Khoa truởng John Swenson đã có nhã ý mời tôi đến nói chuyện hôm nay.

Vào tháng Tư của 27 năm truớc, sau 20 năm chống trả anh dũng, Miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay kẻ thù. Bao biến đổi từ đó. Nhiều nguời trong số các bạn chưa ra đời; với những người nào còn nhớ lại ngày đen tối đó, những nguời mà sau bao năm tháng, thời gian đã in hằn trên khuôn mặt những nếp nhăn và tóc đã điểm mầu sương khói, đã bảo toàn danh dự trong những giờ phút khó khăn, không làm mất đi lý tưởng mà các bạn theo đuổi. Các bạn đã trưởng thành, sự hy sinh và nhiệt huyết của tuổi trẻ đã mang lại sự thành công và trách nhiệm ở những địa vị xứng đáng trong xã hội Mỹ. Còn đối với tôi, như các bạn thấy, tôi không còn khoác khăn quàng tím, mặc áo bay đen, lưng đeo súng lục. Tôi đã chôn tất cả dưới đáy rương, kỷ vật của một thời quá khứ. Cuộc chiến đã lùi dần vào lịch sử, sự thất bại về dân chủ ở Việt Nam đã để lại những dấu ấn trong lương tâm của hai quốc gia. Những câu hỏi đặt ra từ năm 1975 vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Làm sao với một đồng minh Mỹ vô địch về kinh tế, chính trị và quân sự cộng thêm sự hỗ trợ của các nước đồng minh khác mà Nam Việt Nam lại bị đánh bại bởi một quân đội lạc hậu, nghèo đói của Bắc Việt?  Hôm nay tôi xin đưa ra những câu trả lời về vấn đề này.

Thưa qúy vị,

Sử liệu của Hoa Kỳ thường cho rằng sự thất trận xảy ra vì cuộc chiến thiếu chính danh, vì chính phủ và quân đội Miền Nam tham nhũng, vì lính Nam Việt hèn nhát, vì Mỹ bỏ rơi Nam Việt vv… Tuy nhiên, không một điều kể trên được chấp nhận như một định nghĩa đúng. Tôi muốn nói: “Chúng ta thất trận vì hai lý do. Vì bang giao giữa Mỹ và Nam Việt không đồng nhất, không quân bình, đôi khi trịch thượng. Và cũng bởi vì chiến lược của chúng ta là chiến tranh tự vệ, một chiến thuật tự nó đã đưa đến sự thất bại và sau cùng là sự thất trận”. Làm sao điều này đã thật sự xảy ra? Là một nguời sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến, một nguời đã từng tham dự và chỉ huy, đã chứng kiến và chia sẻ sự khổ đau của dân tộc và nhân dân tôi, tôi sẽ cố trình bày một cách khách quan về những sự kiện và những nhận xét đã đưa tới câu tuyên bố táo bạo này.  Đêm nay, thật là khó khăn khi phải trực diện nó, các bạn sẽ nghe được những sự thật mà các bạn chưa bao giờ nghe và tôi tin là các bạn sẽ đồng ý với lời kết luận của tôi.

Sau hiệp định Genève 1954, Việt Nam bị chia đôi. Trên giấy tờ, Bắc và Nam Việt Nam là hai quốc gia song sinh được sinh ra cùng một thời điểm. So sánh với Miền Bắc qủy quyệt, thì Miền Nam chỉ là một đứa trẻ thơ dại. Có nghĩa là từ nhiều năm, trước khi có sự chia đôi đất nước, Hà Nội đã chứng tỏ là một thực thể chính trị đáng nể sau khi đã tham dự hàng loạt các hội nghị quốc tế và theo đuổi cuộc chiến tranh du kích chống Pháp. Hồ Chí Minh đã có tiếng vang trên chính truờng quốc tế qua sự lãnh đạo cuộc chiến chống thực dân Pháp. Chính quyền Hà Nội nắm quyền lực với một thành tích là đánh đuổi ngoại xâm và tranh đấu cho quốc gia độc lập. Họ tự cho họ là những nguời giải phóng nhân dân. Lúc đầu, họ nhận được sự ngưỡng mộ và thiện cảm của đa số các nuớc “bị trị” thuộc Khối Không Liên Kết của Thế Giới Thứ Ba, dĩ nhiên sẽ đối nghịch với những nước giàu có như Pháp và Hoa Kỳ. Bắc Việt còn được sự yểm trợ tối đa của hai siêu cường cộng sản là Nga Sô và Trung Cộng. Điều này đã làm họ tuyệt đối tin tưởng là cuối cùng họ sẽ thắng. Tôi muốn đào sâu vấn đề hơn.

Ai cũng hiểu là nếu không có sự giúp đỡ vĩ đại của các siêu cường Cộng Sản, Bắc Việt không thể kéo dài cuộc chiến xâm lăng trong nhiều năm được. Nga Sô và Trung Cộng rất kín đáo về sự trợ giúp của họ. Trong suốt cuộc chiến, không một viên chức Nga hay Trung Cộng nào có lời tuyên bố can thiệp lộ liễu vào nội bộ của Bắc Việt. Trái lại, những nhà lãnh đạo Bắc Việt luôn luôn đuợc đẩy ra ngoài ánh sáng quốc tế, đuợc trình diện như những người theo chủ nghĩa Dân Tộc, những nhà ái quốc, những nhà tranh đấu cho chính nghĩa, lật đổ đế quốc thực dân và tư bản hầu giải phóng nhân dân Việt ra khỏi ách thống trị. Chẳng bao lâu bộ mặt Mác-Lê bị lật tẩy, Hà Nội cũng bị mất cảm tình chút ít trên thế giới, nhưng sự ngưỡng mộ vẫn còn. Nếu họ không còn có chính nghĩa là đánh đuổi thực dân nữa, đối tượng để tranh đấu chính trị sẽ không còn, thì họ chẳng còn gì để mà tranh đấu.

Về phía Miền Nam, sự việc khác hẳn. Nam Việt phải xây dựng từ số không, và ngay từ đầu đã lệ thuộc quá nhiều vào các siêu cường Tây Phương. Thí dụ như một người sống nhờ vào tiền an sinh xã hội, càng ngày càng lệ thuộc vào sẽ khó dứt bỏ đuợc. Trong những năm của thập niên 50, những hoạt động chính trị và quân sự ở Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề của Pháp, một ông chủ thực dân, về tất cả những quyết định quan trọng. Nguời Pháp đưa ông Bảo Đại ra làm Quốc Trưởng, vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn dưới thời bảo hộ Pháp. Tất cả nội các của ông Bảo Đại đều là những người có thời liên hệ với Pháp. Họ không được sự ủng hộ của quần chúng trong nuớc. Chỉ khi ông Ngô Đinh Diệm xuất hiện thì Nam Việt mới có một thể chế và lãnh đạo xứng đáng. Rất tiếc là sau vài năm ngắn ngủi, chính quyền Nam Việt Nam bị băng hoại vì sự áp dụng độc tài gia đình trị. Nhưng so với sự độc tài đảng trị của cộng sản Việt Nam thì sự độc tài ở Miền Nam không thể nào sánh bằng. Khi ảnh hưởng của Pháp bắt đầu mờ dần, sự xuất hiện của Mỹ đã trực tiếp ảnh hưởng hàng ngày vào những quyết định của Nam Việt Nam, thì một vị Tổng Thống có tinh thần quốc gia cấp tiến mà cứng đầu như ông Diệm bắt buộc phải bị lật đổ.

Thưa các bạn,Bang giao giữa Mỹ và Nam Việt Nam chưa bao giờ thể hiện được bình đẳng trong sự hợp tác. Cuộc chiến trở thành “cuộc chiến tranh của Johnson” thay vì chúng ta chiến đấu cho tự do và độc lập. Từ quan niệm trên mà Nam Việt Nam chỉ được xem như là một tiền đồn để chống chủ nghĩa cộng sản. Cuộc chiến đấu giành tự do của chúng ta là một việc cao qúy nhưng chúng ta không cho đó là vấn đề chủ yếu để giải thích cho dân chúng Mỹ và Việt Nam hiểu rằng đây không phải là một cuộc nội chiến giữa chính quyền và quân phản loạn ở Nam Việt Nam, mà là một sự xâm lăng trắng trợn một quốc gia Nam Việt Nam bởi một quốc gia khác có tên gọi là Bắc Việt Nam. Vào giữa thập niên 60, Hoa Kỳ đã đổ nửa triệu quân vào Miền Nam. Mười tỷ đô la đã đổ vào để sử dụng cho quân đội và viện trợ kinh tế, và còn nhiều số tiền lớn khác được chi ra. Sự hiện diện của Hoa Kỳ được thấy rõ trong nhiều lãnh vực hoạt động, ở bất cứ một giai tầng nào trong chính phủ. Ngay cả trong giai cấp lãnh đạo, kể cả Tổng Thống, cũng được chỉ định một vị cố vấn đặc biệt. Sự có mặt và ảnh huởng của Mỹ thật là quá rõ rệt. Nhiều đến nỗi một nguời dân Việt ở ngoài phố đã thốt lên rằng “Ông Đại sứ Mỹ là Quan Toàn Quyền giống như dưới thời Pháp thuộc”. Ảnh hưởng của báo chí và chính giới Mỹ còn tệ hại hơn nữa, luôn luôn muốn nhấn mạnh vai trò của người Mỹ tại Việt Nam, họ đã biến chiến tranh Việt Nam thành một sự đối kháng giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, đẩy nhân dân, chính phủ và quân đội của Nam Việt vào vai trò phụ. Điều này càng được khuyếch đại bởi bộ máy tuyên truyền của cộng sản quốc tế. Vì thế chính quyền Nam Việt Nam dưới con mắt nguời dân trong nuớc và cả thế giới đã trở thành một chế độ bù nhìn được dùng cho quyền lợi của tư bản Mỹ. Hậu quả là mặc dù chúng ta có chính nghĩa, nhưng chúng ta không bao giờ có được một chính danh cần thiết để được lòng nhân dân, một yếu tố tối cần thiết cho sự chiến thắng.

Thưa các bạn,

Chúng ta đều hiểu rằng trong chiến tranh, yếu tố chính trị và quân sự phải hỗ tương. Điều này rất đúng tại Việt Nam. Không những chúng ta bị thất lợi về chính trị mà chúng ta còn áp dụng một căn bản sai lầm trong binh pháp khi chúng ta chọn chiến đấu trong một trận chiến giới hạn và tự vệ. Hải Quân và Không Quân hùng mạnh của Hoa Kỳ đã không được dùng để tấn công vũ bão vào lực luợng địch, buộc họ phải qui hàng, như đã xảy ra trong cuộc chiến Vùng Vịnh và Afghanistan. Hoa Kỳ đã không thi triển sự chớp nhoáng của Không Quân chiến luợc hay sự hùng hậu của Đệ Thất Hạm Đội để tiêu diệt những căn cứ địch, để ngăn cản đường tiếp tế trên bộ cũng như trên biển, để phong tỏa những hải cảng của địch.

Vì phải chiến đấu trong một cuộc chiến giới hạn và tự vệ, Hoa Kỳ đã cho phép kẻ thù liên tục tiếp tế cho quân lính họ ở chiến truờng. Những chính trị gia của Hoa Kỳ vì e ngại Trung Cộng sẽ can thiệp và gây ra một cuộc chiến Triều Tiên khác. Nước Mỹ đã và đang có một Hải Quân hùng mạnh nhất thế giới, nhưng vì sợ mích lòng Nga, đã không chịu phong tỏa Hải Phòng. Hàng tấn vũ khí đã đưa qua hải cảng này để chuyển vào đánh Nam Việt và các đồng minh.

Đã từ lâu, trước khi Hoa Kỳ quyết định ngưng chiến, tôi đã nhận thấy sự thất bại là một kết quả không thể tránh được khi mà Hoa Kỳ thiếu quyết tâm chiến thắng. Tôi đã yêu cầu tình nguyện lãnh đạo một cuộc “Bắc Tiến”. Tôi chỉ đòi hỏi Hoa Kỳ một điều kiện duy nhất là họ sẽ yểm trợ về Không Lực vì quân đội Hoa Kỳ cũng đã có mặt ở Miền Nam để bảo vệ những nơi đông dân cư. Mục đích của tôi không phải là để xâm lăng Miền Bắc, mà chỉ để ép buộc Hà Nội phải rút quân từ phía Nam về để chống đỡ và từ đó sẽ đưa đến thương thuyết hòa bình.

Các bạn cũng như tôi có thể không phải là nhà chiến lược giỏi, nhưng chúng ta cũng phải biết là “Tiên hạ thủ vi thượng sách”, ngay cả lúc chúng ta ở thế bị động. Cái được gọi là chiến dịch “truy kích và tiêu diệt” cũng chỉ được dùng trong ranh giới của chúng ta. Căn cứ địa của địch vẫn luôn luôn là hậu cứ an toàn. Địch đã dùng các nước lân bang như Lào và Campuchia để làm trạm giao liên, căn cứ tiếp liệu và trung tâm dưỡng quân của họ.

Những tuớng lãnh của địch đã áp dụng một kế hoạch hành động là luôn luôn chủ động mở cuộc tấn công. Khi quân mạnh thì họ tấn công, khi họ suy yếu hay mệt mỏi thì họ rút lui về hậu cần để nghỉ ngơi, để an dưỡng và tái phối trí.

Bên phía chúng ta, dân chúng Mỹ đã chờ đợi quá lâu mà không thấy ánh sáng cuối đường hầm, họ đã mất kiên nhẫn. Họ đòi hỏi phải có chiến thắng huy hoàng, một điều không thể nào thực hiện được trong tư thế hoàn toàn bị động của chúng ta. Tinh thần quân lính xuống thấp vì họ bị buộc phải chiến đấu với đôi tay bị trói sau lưng. Mặc dù sự thật là địch đã bị đánh bại và tổn thất nặng nề, cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã là một chiến thắng vẻ vang cho phe địch. Dù thua trên trận địa chiến, họ đã thành công trong việc chia rẽ chính quyền và quần chúng Hoa Kỳ, một yếu tố quan trọng trong chiến lược và đem lại khích động tối đa cho các phong trào phản chiến.

Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đã trực tiếp điều khiển cuộc chiến qua hàng ngàn dặm đường, đã chỉ thị những chính sách mâu thuẫn với những quyết định không ngừng đưa đến sự lúng túng của các đơn vị trưởng ngoài mặt trận. Việc ra lệnh trải bom B-52 của Tổng Thống Nixon lúc gần cuối cuộc chiến đã quá trễ và quá ít. Điều này chỉ dùng vào một mục đích duy nhất là ép buộc cộng sản phải ngồi vào bàn hội nghị tại Paris để Hoa Kỳ có thể sửa soạn một cuộc rút quân khỏi Việt Nam trong danh dự. Sau vụ Watergate, Hoa Kỳ như con thuyền không lái. Việt Nam đã bị bỏ rơi, trôi theo dòng định mệnh. Sự rã ngũ của Tháng Tư năm 1975 là một kết thúc không thể tránh đuợc. Điều chúng ta tiếc nuối nhất là nó đã kết thúc trong nhục nhã và bi đát.

Thưa các bạn,

Các sỹ quan QK5, Vùng 3 Hải Quân và Không quân tham quan, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp Mỹ trên tàu USS George Washington. Ảnh: nhận được từ thân hữu ĐCV

Tham nhũng và khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam là một trong những lý do được lý giải đưa đến sự thất trận. Dĩ nhiên là có sự tham nhũng ở Việt Nam. Nhưng xin các bạn hãy nêu lên tên của một quốc gia nào mà không có tham nhũng, kể cả những quốc gia dân chủ và xã hội tân tiến nhất. Vẫn biết rằng vì chiến tranh và nghèo đói, mức độ tham nhũng ở Nam Việt Nam có cao hơn mức độ trung bình của quốc tế, nhưng hãy cho phép tôi mở một dấu ngoặc ở đây để thông báo rằng cũng từ ngày làm chủ lãnh thổ Việt Nam thì cộng sản đã tự biểu lộ cho thấy họ cũng hăng hái trong trò chơi tham nhũng này. Ý chí chiến đấu của quân đội Nam Việt nếu các bạn nhìn vào đời binh nghiệp của tôi như một điển hình, các bạn sẽ thấy rằng những chiến công của tôi cũng không thua gì những quân nhân của các nước khác. Phải nói rằng đa số chiến hữu của tôi đều có một tinh thần chiến đấu cũng cao như tôi. Hãy nhìn vào con số thống kê các quân nhân tử trận, những người lính chiến đấu đã hy sinh trong suốt 25 năm chiến tranh, các bạn phải công nhận họ là những người xuất chúng nhất của chúng ta. Rất tiếc là họ đã không được dùng và được yểm trợ đúng mức, và họ đã bị bỏ rơi một cách nhục nhã.

Một vài nhà trí thức tự do thường chỉ trích chế độ Nam Việt là một chế độ độc tài quân phiệt. Thế kỷ vừa qua là một thế kỷ của quyền lực thực sự cai trị. Tất cả sự khác biệt về chủ thuyết và kinh tế  đều được giải quyết bằng vũ lực. Sức mạnh của quân đội là một điều cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền, tự do, độc lập của một quốc gia. Ngoại trừ những nước tiên tiến đã có một quá trình dân chủ lâu dài, một đời sống hòa bình và thịnh vuợng, tất cả những nước nghèo đói, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá của Thế Giới Thứ Ba đều sống dưới một chế độ ảnh hưởng bởi quân đội cả.

Nam Việt Nam cũng không đi ra ngoài biệt lệ đó. Muốn Việt Nam vừa chống chiến tranh xâm luợc vừa xây dựng Dân Chủ là một điều không thực tế. Xây dựng dân chủ ở Tây phương, Anh quốc và Hoa Kỳ cần phải tranh đấu đến hàng trăm năm. Nhưng người Việt Nam chúng tôi chỉ có thể xây dựng dân chủ sau khi hoàn tất hòa bình và độc lập. Cho dù có hoàn tất đi chăng nữa thì dân chủ cũng không thể có ngay lập tức, mà phải xây dựng từng giai đoạn một để hòa nhịp với nếp sống văn hóa, xã hội và kinh tế của mỗi nguời dân. Chỉ trích Nam Việt Nam đã không xây dựng được một chế độ dân chủ để rồi lấy đó làm cái cớ để bỏ rơi Nam Việt Nam là một sự phản bội phũ phàng đối với một đồng minh đã đặt niềm tin vào lời nói của Hoa Kỳ.

Năm 1968, khi lực lượng cộng sản chọn ngày Tết để tổng tấn công vào những thành phố chính của Miền Nam, khi mà những nguời lính Nam Việt Nam bị bao vây và bị tràn ngập, họ đã kêu gọi các lực lượng đồng minh Hoa Kỳ đến yểm trợ hỏa pháo và phi pháo, thì những người Việt Nam chúng tôi chỉ gặp phải những lời giải thích bí ẩn bảo rằng không có một phi cơ hay trọng pháo nào sẵn sàng, hoặc là đơn vị cần phải chờ lệnh của thượng cấp. Khi đó tôi có thể nhìn ra từ phía nhà tôi, và thấy rằng hàng dãy phi cơ khu trục của Hoa Kỳ nằm án binh bất động. Tại sao đồng minh chúng tôi lại không tiếp cứu chúng tôi tức khắc khi chúng tôi kêu cứu? Chỉ có một điều để giải thích cho sự việc này là, có một nhân vật cao cấp nào đó trong chính phủ của Hoa Kỳ đã can thiệp vào vụ tấn công này, muốn nó sẽ thành công đến một mức độ mà nhà cầm quyền Nam Việt phải nhượng đất cho “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, một cánh tay của quân xâm lăng Bắc Việt.

Trong thời gian Hòa Đàm Paris, ông Đại Sứ Mỹ Averell Harriman đã nhấn mạnh rằng “Mặt Trận Giải Phóng” phải được ngồi ngang hàng với Nam và Bắc Việt Nam. Ông ta đã từ chối không nghe lời phản đối của chính quyền chúng tôi.

Thưa các bạn,

Khuôn mẫu của Hoa Kỳ là tự do, cơ hội học vấn và kinh tế tài chính, là lối sống, là sự giàu sang và hoàn mỹ của một quốc gia và dân tộc đã đưa đến sự ganh tị trong các nước văn minh. Ngày nay, ở Việt Nam, con cháu của những người đã một thời chống Mỹ cách đây hai thập niên, tất cả đều yêu chuộng mọi điều thuộc Mỹ quốc. Cách đây vài năm, hàng ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ đã viếng thăm Việt Nam, đã được quần chúng đón chào và ngưỡng mộ. Khi Tổng thống Bill Clinton viếng thăm Việt Nam cách đây hai năm, mọi nguời dân từ Nam chí Bắc đều chen chúc nhau để được nhìn thấy ông. Bởi vì cho dù những nhà lãnh đạo ở Việt Nam có tuyên bố gì trong quá khứ đi chăng nữa thì đại đa số nguời dân Việt Nam (hiện giờ là 83 triệu) đều theo Mỹ cả. Hoa Kỳ tượng trưng cho một đời sống tốt đẹp hơn, cơ hội và hy vọng. Điều mà tất cả những nguời lính Hoa Kỳ và Nam Việt Nam trước kia đã chiến đấu để mang lại cho đất nước chúng tôi. Sự niềm nở đón tiếp ông Clinton hay những người Mỹ khác cũng vậy, là một bằng chứng cụ thể rằng những người chiến đấu cho dân chủ và tự do đã đứng ở phía chính danh.

Vì thế tôi muốn nói hôm nay với những cựu chiến binh Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan, Thái, Nam Hàn và tất cả những người đã ủng hộ cho cuộc chiến vì tự do của chúng tôi, chúng ta không có gì để mà xấu hổ. Với ba mươi năm dưới sự cai trị tồi tệ của Đảng Cộng Sản đã chứng tỏ là chúng ta chống chế độ cộng sản là đúng. Do đó, chúng ta hãy bỏ qua mặc cảm tội lỗi, cái gọi là “Hội Chứng Chiến Tranh Việt Nam” và tự hãnh diện về chúng ta và những cố gắng của chúng ta. Thế giới đã thay đổi rất nhiều trong thập niên vừa qua. Những nước theo cộng sản ở Đông Âu đã từ bỏ chủ thuyết Mác-Lê và du nhập những nguyên tắc kinh tế thị trường vào kinh tế của quốc gia mình.

Tập đoàn cộng sản lãnh đạo ở Việt Nam đã qui tiên rồi:  “Hồ Chí Minh đã mất, Phạm văn Đồng đã đi, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Chí Công đã mất. Ngay cả những nhà lãnh đạo cuộc chiến chống họ như ông Richard Nixon và ông Lyndon Johnson đều đã mất. Những nhà lãnh đạo Miền Nam như ông Ngô Ðình Diệm đã qua đời. Ông Nguyễn văn Thiệu đã chết. Ông Dương văn Minh cũng đã chết. Riêng chỉ còn mình tôi. Tôi là người cuối cùng. Và tôi muốn nói rằng đây là lúc mà thế hệ của tôi gọi là “nguời Việt chống Cộng” hãy bỏ quên đau buồn và thù hận để nhường buớc cho thế hệ trẻ hơn, những con em của chúng ta, có cơ hội mang người Việt Nam xích lại với nhau. Đây là thời điểm mà thế hệ của tôi nên chấm dứt kêu gọi hận thù.

Giống như hầu hết những người Việt chống Cộng khác, tôi là một chiến sĩ. Tôi chiến đấu hết mình và tôi rất hãnh diện về những điều mà tôi đã hoàn thành trong thời chiến. Tôi rất thương tiếc những đồng đội can đảm của tôi đã chết cho chính nghĩa tự do. Và tôi cũng thấu hiểu những anh chị em đã chịu đựng sự đau khổ dưới chế độ cộng sản. Tôi hiểu rằng họ đã chịu đựng nỗi khổ đau của cái gọi là trại tù cải tạo, rằng họ đã mất đi người thân, mất đi tự do cá nhân, mất đi cả nhà cửa và tài sản.  Điều này thật bất công và đau đớn. Nhưng quá khứ đã qua. Chúng ta giờ đã quá già, tương lai Việt Nam không còn trông cậy vào chúng ta nữa. Hãy để cho thế hệ trẻ tự tìm ra hướng đi về tương lai mà không phải mang gánh nặng tạo ra bởi cha ông chúng. Đây là thời điểm để cho thế hệ chúng ta ngưng rao giảng sự thù hận và cay đắng. Có lợi gì để tranh cãi ai đúng, ai sai?

Do đó hôm nay tôi muốn nói, chúng ta, những người đã già, hãy bỏ qua một bên những sự thù hận. Nếu chúng ta không thể tha thứ thì chúng ta hãy quên đi. Chúng ta hãy để cho một thế hệ mới tự đi tìm con đường của họ, bởi vì Việt Nam sẽ chỉ phát triển khi có sự đoàn kết. Việt Nam đã đến lúc cần phải có những quyết định dứt khoát. Trung Hoa dường như muốn biến đất nước chúng ta thành một thuộc địa về kinh tế, một nguồn cung cấp tài nguyên, một thị truờng cho các hàng tiêu thụ. Việt Nam sẽ phải quay sang Trung Hoa vì đó là nguồn gốc của đa số di sản văn hóa hay là thiết lập một bang giao bền vững với Hoa Kỳ dựa trên mô thức của sự tương kính và hỗ tương quyền lợi kinh tế mà vẫn giữ được độc lập? Điều mà những thường dân mong muốn rất rõ ràng qua sự đón chào thân thiện với du khách Mỹ. Bây giờ mọi nguời đã biết là nguời Cộng Sản Việt Nam đã chết.

Đồng bào chúng tôi muốn bắt chước như Nam Hàn, Singapore, Đài Loan và Hồng kông. Họ muốn biến Việt Nam thành một tiểu long th̗ứ năm. Điều đó không phải dễ. Việt Nam phần lớn vẫn là một quốc gia nông nghiệp, vẫn cần sự giúp đỡ phát triển hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Vấn đề tham nhũng vẫn tồn tại, mặc dầu cuối cùng thì chính quyền Hà Nội cũng đã nhận thức đuợc điều gì phải làm để thanh lọc và giảm thiểu tham nhũng đến mức bình thường được quốc tế chấp nhận. Tôi tin tưởng rằng sự thay đổi của nền kinh tế và cơ chế của Việt Nam đã bắt đầu.

Sự hồi sinh kinh tế Việt Nam đã bắt đầu để có thể khuyến khích những người tị nạn trở về. Hơn ba triệu người trong chúng ta, hai phần ba ở Bắc Mỹ. Nếu so sánh với một người Việt Nam trung bình ở quê nhà thì chúng ta có kiến thức và nhiều khả năng chuyên môn hơn. Có nguời cho rằng giới trẻ sinh ra ở đây hay đã rời xa quê hương lúc còn nhỏ sẽ không muốn từ bỏ nếp sống thoải mái ở Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp hay Úc. Nhưng tôi tin rằng có rất nhiều bạn trẻ mong muốn giúp nuớc nhà phát triển. Bao năm qua, tôi đã đi tới nhiều nơi trên đất Mỹ, gặp gỡ và thăm hỏi nhiều bạn trẻ, đã cho họ biết rằng họ là rường cột của tương lai Việt Nam, rằng đất nuớc cần đến khối óc và bàn tay của họ. Và tôi cũng vui mừng thông báo cùng các bạn là trong số những nguời trẻ mà tôi có dịp nói chuyện, nhiều người cũng có lòng yêu nuớc không kém ước vọng cá nhân, họ sẽ trở về quê nhà khi thấy có cơ hội để áp dụng sở trường của họ.

Những nguời Hoa Kỳ đến Việt Nam để tìm môi trường buôn bán sẽ nhận thấy một tình thế khác hẳn thời gian những quân lính đến vì chiến tranh. Họ sẽ không còn là những “Anh Hai” đến để giúp chiến đấu. Họ sẽ là những cổ phần viên, những nhà thầu. Nhưng để xây dựng cây cầu nối lại những hiểu lầm không thể tránh được giữa Đông và Tây sẽ là những người trẻ Việt Nam sinh trưởng hay theo Đại Học tại Hoa Kỳ. Trong vòng mười, mười lăm năm nữa, hầu hết những công ty thương mại thành công sẽ được quản trị bởi những người có kiến thức và tư duy theo kiểu Mỹ.

Tôi rất lạc quan về thế hệ lãnh đạo Việt Nam kế tiếp. Bây giờ thì Hiệp Uớc Thương Mại đã được phê chuẩn. Sự giao thiệp giữa hai quốc gia đã gia tăng. Những viên chức của Đảng Cộng Sản đã viếng thăm Mỹ quốc, tiếp xúc với nhiều người Mỹ, tôi tin tưởng rằng họ sẽ sớm thay đổi những điều luật kinh tế đã hạn chế Việt Nam mấy chục năm nay. Vì thể chế chính trị được xây dựng trên nền tảng luật lệ kinh tế, thay đổi luật lệ chính trị sẽ theo sau, việc quốc doanh nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản. Hậu quả sẽ lung lay tới mọi giai tầng xã hội, kể cả tư pháp và lập pháp. Hiện giờ đã có những chuyên gia và doanh gia hăng hái tham dự vào những quyết định hàng ngày của chính phủ. Một khi Việt Nam đã theo đường hướng tư bản, thì dân chủ và luật lệ sẽ đi theo. Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam kéo dài chưa đầy năm mươi năm, nhưng khi chúng ta nhìn lại Việt Nam với bốn ngàn năm văn hiến thì sẽ thấy năm mươi năm chỉ là một nháy mắt. Tuy tôi không còn là một thanh niên, nhưng sức khỏe vẫn còn tráng kiện, hy vọng sẽ sống thêm nhiều năm nữa. Tôi muốn sống để nhìn thấy một nước Việt Nam tái sinh. Xin tất cả cá bạn giúp một bàn tay để điều này thành sự thật.

Thưa các bạn,

Để kết luận, cho phép tôi được nói là tôi rất sung sướng được hiện diện ở đây. Tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh. Tôi đã chiến đấu bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ và đã cùng đổ mồ hôi, máu và nuớc mắt với nhau. Tôi lấy làm vinh dự được chia sẻ những nỗi vui, buồn của những nhà lãnh đạo đáng kính của quí quốc. Trong suốt hai mươi bảy năm sống đời tị nạn, tôi đã từng làm việc mười bốn tiếng một ngày trong một tiệm rượu, và tôi cũng đã từng là một ngư phủ sống trên biển hàng tuần để câu tôm cá. Tôi đã thấy các con tôi trưởng thành và tự lập và tôi cũng đã qua bao thăng trầm của cuộc sống. Điều an ủi lớn nhất trong đời tôi là lần đầu tiên ở nơi đất khách, dù trong hoàn cảnh nào, tôi luôn luôn được người Mỹ đón tiếp nồng nàn. Nước Mỹ đã cưu mang tôi và gia đình tôi trong suốt hai mươi bảy năm yên lành trên một đất nước thịnh vượng và hoàn mỹ nhất thế giới. Hoa Kỳ là quê hương thứ hai của tôi. Tuy nhiên, tôi quyết định một ngày không xa, tôi sẽ trở về chôn nhau cắt rốn, được sống và chết nơi quê nhà. Xin cảm ơn lòng tốt và bao dung của các bạn và nhân dân Hoa Kỳ. Thay mặt tất cả những người Việt Nam, tôi xin đa tạ 58 ngàn người Mỹ đã hy sinh bỏ mình cho tự do của dân tộc tôi. Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn hàng triệu người đã quên thân mình cho dân tộc tôi, những người đã gác bỏ ước vọng riêng tư để giúp đỡ những người khốn cùng mà không mong được trả ơn. Cảm ơn lòng can đảm, lòng vị tha và bao hy sinh đau đớn của các bạn.

Năm nay tôi đã 72 tuổi (năm 2003), một người lính già. Và như Douglas McAthur, một trong những danh tuớng của các bạn đã nói: “Người lính già không bao giờ chết, họ sẽ dần dần mờ nhạt đi thôi”. Trong những năm tháng còn lại, người lính già này luôn hướng về Việt Nam, quê cha đất tổ. Tôi xin dâng hiến phần đời còn lại để phụng sự cho quê mẹ và cho dân tộc tôi mà không có một tham vọng nào và không đòi hỏi một sự báo đáp nào. Tôi kêu gọi các bạn, nhất là các chiến hữu Hoa Kỳ của tôi, hãy giúp sức xây dựng một nhịp cầu thân hữu nối lại giữa hai quốc gia. Sự yêu thương hay thù hận hãy quên đi. Thù hận phải được thay thế bằng tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Cám ơn sự theo dõi của các bạn. Và bây giờ tôi xin trả lời các câu hỏi.

Người dịch:  Nguyễn Lệ Hà

Speech by Gen Nguyen Cao Ky, 13 Jun 2003

Students, faculty, administrators and staff, I thank you for this opportunity to share a few thoughts. I am particularly indebted to President Martha Kanter and to Dean John Swensson for your kind invitation to speak today.
Twenty-seven years ago last April, after 20 years of heroic resistance, South Vietnam fell to the enemy. Much has happened since. Many of you were not yet born-but those who still recall that dark day, those to whom over the years time has added lines to your faces and gray to your heads, who served through those difficult times with honor-you have not lost the dedication to liberty inspired by your high ideals. You have matured, and the sacrifices and passions of your youth have given way to the rewards and responsibilities that accompany your positions of esteem in American society. As for me, as you can see, I am no longer wearing my purple scarf, my flight suit, my six-shooter. I have put them all away at the bottom of my trunk, memorabilia of a time past.
If the war has faded into history, democracy’s defeat in Vietnam has left deep marks in the consciousness of both nations. The questions asked since 1975 have yet to bring satisfactory answers. How could an alliance of the 25 million people and armed forces of South Vietnam with the colossal American political, economic and military apparatus, along with the forces of other allied nations, have been defeated by the small, impoverished people and army of North Vietnam?
Today I will offer my own answers to those questions.

LADIES AND GENTLEMEN:

American history books postulate that the war was lost because it lacked legitimacy, because of corruption in the government and armed forces of South Vietnam, because of the cowardliness of South Vietnamese troops, because America abandoned South Vietnam, and so forth. None of these, however, is accepted as definitive.
I say to you now: We lost the war for two reasons: Because of the ill-conceived, unequal, and often condescending relationship between the United States and South Vietnam.
And because our overall strategy was defensive war, a strategy that by itself would have led to failure and eventual defeat.
And how did this happen, exactly? As someone born and raised during that war, one who participated in and led it, who has witnessed and shared in the sufferings of his country and of his people, I will attempt to present as objectively as I can the facts and observations that lead me to such a bold statement. Tonight, as difficult as it may be to face them, you will hear facts that you have not heard before, and I trust you will share my conclusions.
LADIES AND GENTLEMEN:

After the 1954 Geneva international conference, Vietnam was divided into two parts. On paper, North and South Vietnam were twin countries born at the same moment. Compared to the sophisticated North, however, the government of South Vietnam was a very young and innocent sibling. To explain: Many years prior to the partition, through participation in a series of international conferences, and by pursuing a guerrilla war against a European power, the Hanoi leadership had demonstrated that they were a formidable political reality.

Through leadership of the fight against French colonialism, Ho Chi Minh had made a name for himself in the international political arena. The Hanoi government took power with a record of resistance against the colonialists and of struggle for national independence.
Claiming to be the liberators of the people, the North Vietnamese enjoyed from the beginning the admiration and sympathy of the majority of the Third World’s non-aligned nations, which suffers from “oppressed peoples’ complex” and are naturally against such mighty and wealthy countries as France and the United States.

Furthermore, the North Vietnamese had the full support of the two communist superpowers-the Soviet Union and Communist China-and this gave them absolute confidence in their final victory.
I would like to dwell a little on that support. We all know that without the massive assistance of the communist superpowers, North Vietnam could not have prolonged its war of invasion for so many years. But the Soviet Union and Communist China were very quiet about their aid. Indeed, during the entire war, no Soviet or Chinese official made any statement that sounded like instructions or smacked of interference in the internal affairs of North Vietnam. Quite the contrary.  North Vietnamese leaders were always pushed into the international limelight, presented as nationalists, as patriots, as fighters in a noble cause, seeking to overthrow colonialists and imperialists, and to liberate the oppressed people of Vietnam.
When they were later revealed as Marxist-Leninists, the Hanoi regime lost some sympathy around the world, but continued to benefit from lingering admiration. If they no longer had a just cause-the expulsion of a colonial power-they maintained the appearance of legitimacy because they had no significant political opposition. They had none, because they had taken great pains to eliminate it.
In the South, however, things were very different. South Vietnam had to be built from scratch and, from the very beginning, depended far too much on the Western superpowers. As in the case of a person on public welfare, this dependency, which became greater with each day, was quite difficult to shake.
During the Fifties, political and military activities in Vietnam were heavily influenced by the French, who as recent colonial masters, made all-important decisions. The French installed as the first head of state Bao Dai, last emperor of the Nguyen dynasty that ruled  Vietnam when it was under French domination. All the men selected to assist Bao Dai had a past that was closely linked with the French colonial era. They had no support among those they governed.
Only with the advent of Mr. Ngo Dinh Diem did South Vietnam have a worthy regime and a dignified leadership. It is regrettable that within a few short years, as power corrupts, the South Vietnamese regime deteriorated into a family dictatorship. But it was no match for the dictatorship of the communist party in the North. At a time when the French influence was fading and when the American presence was directly affecting even day-to-day decisions in South Vietnam, a stubborn radical nationalist like Mr. Diem was bound to be overthrown.
LADIES AND GENTLEMEN:

The relationship between the US and South Vietnam never appeared to be a partnership between equals. Instead, our struggle for freedom and independence became “Mr. Johnson’s War.”
From its inception, South Vietnam was only considered to be an outpost in the war against communism. Our fight for freedom was a noble undertaking, but we committed a major political blunder because we did not give top priority to explaining to the American and Vietnamese people that this was not a civil war between the government and rebels in South Vietnam, but a blatant invasion of the country of South Vietnam by another country, a country called North Vietnam.
By the mid-sixties, the United States had poured more than half a million troops into South Vietnam.  Tens of billions of dollars had been spent for military expenditures and economic assistance, and even larger sums were earmarked. The American presence was felt in every field activity, at every level of government. Even the top leaders of South Vietnam, including the President, were each assigned a special advisor. The American presence and influence were strikingly blatant. So much so that the Vietnamese man in the street referred to the US Ambassador as the Governor General, as the French had called their top colonial official.

The influence of the American media and politicians was even more devastating. Always emphasizing the role of the Americans in Vietnam, they transformed the Vietnam war into a conflict between the United States and North Vietnam, relegating the people, the government and the armed forces of South Vietnam to a subordinate role. This situation was further misrepresented by the propaganda machine of international communists. The government of South Vietnam thus became, in the eyes of the peoples of Vietnam and of the world, a puppet regime serving the interests of American imperialists.
Consequently, although our cause was just, we never acquired the appearance of legitimacy necessary to win the hearts and minds of the people, an essential ingredient of victory.
LADIES AND GENTLEMEN:

We all know that in war the political and military factors have to complement each other.  This was particularly true in Vietnam. We were not only politically at a disadvantage, but we also committed a basic blunder in military strategy when we chose to fight a limited and defensive war.
The might of the US Air Force and US Navy was not used in lightning attacks to  force the enemy to his knees, as it was in Afghanistan and in the Gulf War. America did not unleash its vaunted Strategic Air Force or its massive Seventh Fleet to destroy enemy bases, to interdict their lines of supply on land and sea, to blockade enemy ports.
By fighting a limited, defensive war, America permitted the enemy to endlessly re-supply their field armies. American politicians were afraid that the Chinese might intervene and create another Korean war.  The US was and is the world’s leading naval power, but, fearing to offend the Soviets, failed to blockade Haiphong.  A river of munitions flowed through that port to be used against South Vietnam and its allies.
Long before America decided to quit the war, I realized that this would be the inevitable result of America’s lack of commitment to victory. I offered to lead a South Vietnamese attack on North Vietnam, which was defended by a single division of regular troops. All I required from the US was air support, and that US troops already in my country would defend population centers. My purpose was not to conquer, but to force Hanoi to withdraw its divisions from the South in order to defend the North, and thus to bring about genuine peace negotiations.
You and I may not be brilliant strategists, but we should all know that the best defense is a good offense. Moreover, even our defense was passive. So-called “Search and Destroy” operations were kept within our borders. Enemy territory was always a safe rear base. The enemy also used neighboring Laos and Cambodia to establish lines of communication, supply bases, recuperation centers for their troops. The enemy general staff had adopted a plan of action calling on them to always take the initiative. When their troops are strong, they would attack, but when they were tired and weak they would withdraw to their rear bases to rest, recuperate and regroup.
On our side, because the American people had waited too long without seeing the light at the end of the tunnel, they became impatient. They demanded glorious military victories, an impossible achievement in view of our totally defensive posture. Troop morale plunged because they were asked to fight with their hands tied behind their backs. In spite of the fact that they were beaten back and suffered great losses, the Tet offensive of 1968 was a major enemy victory.  Even though they lost on the battlefield, they accomplished an essential strategic objective by breaking the resolve of the U.S. government and American people, and giving maximum impetus to the anti-war movements.
The White House and the Pentagon directly conducted the war from thousands of miles away, issuing contradicting policies with ever- changing directives that created confusion in commanders at the front. The B-52 carpet bombings ordered by President Nixon toward the end came too late and were too short-lived. They served only to pressure the Communists to come to the Paris peace talks so that America could prepare for an honorable withdrawal from Vietnam.   After Watergate, America was a ship without a rudder. Vietnam was left to its own devices, drifting along towards its fate. The disintegration of April 1975 was an unavoidable conclusion. Our only regret and sorrow was that that ending was shameful and tragic.

LADIES AND GENTLEMEN:

Among the reasons apologies have advanced to explain the defeat was the corruption and the fighting capability of the troops in South Vietnam. Of course there was corruption in Vietnam. But please name one country, including the most democratic and the most advanced societies, where there is no corruption to take its toll. I recognize, however, that due to the war and poverty, the degree of corruption in South Vietnam was somewhat above the international average.  But allow me to open a parenthesis here and report that, since taking over the control of all Vietnam, the Communists have shown themselves quite adept at the game of corruption.
Concerning the will to fight of the South Vietnamese troops, if you take my military career as typical for most of the fighting men of South Vietnam, you will find that my achievements will compare favorably to those of any other military man in any other country.   I must say that the majority of my comrades-in-arms have the same spirit and the same fighting capability as I do. Look at the number of our soldiers killed in action. Consider the privations and the sacrifices of these South Vietnamese fighting men during 25 years of war, and you will have to recognize that they were our best and brightest. It’s too bad that they were not used and supported adequately, and that they were shamelessly abandoned.
LADIES AND GENTLEMEN:

Some liberal intellectuals used to criticize the South Vietnamese regime as a military dictatorship. The century just past is one in which sheer force always ruled. Every economic or doctrinal difference had to be resolved by force. Military strength is necessary to protect sovereignty, the freedom and independence of a country. With the exception of those advanced countries that had a long democratic tradition and were lucky to live in peace and prosperity, all the poor, backward, war-torn countries of the Third World lived under the direct influence of the army.
South Vietnam was no exception. To insist that Vietnam fight a war while at the same time building democracy was impractical. Building democracy in the West, in England and then in the United States, took centuries of struggle. We Vietnamese could only begin to build democracy after achieving peace and independence. And even then, democracy could not be achieved overnight, but must be built in stages and in harmony with the cultural, social and economic traditions of each people. To accuse South Vietnam of not establishing a democratic regime and to use that as an excuse for abandoning South Vietnam was a blatant betrayal of a trusting ally that had put all his faith in the word of America.
In 1968, when the communist forces chose the Lunar New Year, known as Tet, to launch a coordinated attack against major South Vietnamese cities, beleaguered and outnumbered South Vietnamese defenders called upon neighboring US forces for fire support, for air support, for troop support. We Vietnamese were met with cryptic explanations that no aircraft or artillery were available, or that the unit had to wait for instructions from high headquarters. I could look out of my house at this time and see rows of US fighter-bombers parked in revetments. Why did our allies not come to our aid immediately? There can be only one explanation, and that is that someone, high in the US Government, anticipated this attack, and wanted it to succeed to the degree where South Vietnam would have to cede territory to the NLF, which, as history has shown, was merely an arm of the North Vietnamese invasion force.
Nevertheless, during the Paris Peace Talks US Ambassador Averill Harriman insisted that the NLF be seated at the negotiating table as an equal to South Vietnam and North Vietnam. He refused to listen to my government’s pleas.
LADIES AND GENTLEMEN:

The idea of America – its freedom, its financial and educational opportunities, the lifestyle, wealth and beauty of the country and its people, remains the envy of the civilized world. In Vietnam today the sons and daughters of those who fought against American soldiers for two decades love everything American. Over the last few years, tens of thousands of American veterans have visited Vietnam and encountered a populace that welcomes and admires them.

When President Bill Clinton visited Vietnam two years ago, Vietnamese from Hanoi in the north to Saigon in the south turned out in droves, eager for even a glimpse of him. Because whatever Vietnam’s leadership may have said in the past, the great masses of Vietnamese people, now numbering 83 million, are for America. The US represents a better life, opportunity, hope – everything that American and South Vietnamese soldiers fought to bring to our country so many years ago. The tremendous outpouring of affection for Mr. Clinton, no less than for all Americans, is proof that those who fought for freedom and democracy were on the right side.
Therefore I say today that the veterans of that lost war, Vietnamese and Americans, Australians and New Zealanders, Thais and South Koreans and all the others who supported our fight for freedom – we have no cause for shame. Thirty years of misrule prove conclusively that we who opposed the Communist regime were right!
So, let us each now put aside our feelings of guilt, the so-called “Vietnam War Syndrome,” and be proud of ourselves and our efforts.
The world has changed a lot in the last dozen years. The formerly Communist nations of Eastern Europe have renounced Marxist dogma and adopted free market principles in their national economies.  And the communist cadres who ran Vietnam for decades now sleep with their ancestors.  Ho Chi Minh is gone. Pham Van Dong is gone. Truong Chinh, Le Duan, Vo Chi Cong – all dead.
And so are the American leaders who fought them: Mr. Richard Nixon and Mr. Lyndon Johnson – both gone.   Of the leaders of the South, Ngo Dinh Diem is gone. Nguyen Van Thieu passed from this world. Duong Van Minh is gone.

Only I remain. I am the last.
And I say that it is now time for the so-called anti-Communist Vietnamese, my generation, to let go of our pain and anger, to allow the younger generation, our sons and daughters, to have their chance to bring Vietnam together. It is time for my generation to stop preaching hate and bitterness.
Like most of the old Anti-Communists, I am a fighter. I fought hard, and I take pride in what I was able to accomplish during the war.

I still mourn my brave comrades who died fighting for freedom. And so I understand how my brothers and sisters suffered under Communism. I know that they endured the agonies of the so-called re-education camps, that they lost loved ones, lost their personal liberty, lost their homes and property.  It was unjust. It was humiliating. It was painful.
But our time has passed. We are now too old; the future of Vietnam no longer depends on us. It is only right that the new generation find their path to the future without having to carry the heavy burdens created by their parents. So it is time for my generation to stop preaching hate and bitterness. What is the point in arguing now about who was right and who was wrong?
So I say today, let us older people put aside our own feelings of pain and anger. If we cannot forgive, then let us forget.  Let us allow the new generation to find its own way, because Vietnam will realize its potential only through unity.
Vietnam now approaches a crossroads. China seems to want to turn my country into an economic colony, a source of raw materials, a market for its manufactured goods. Should Vietnam turn toward China, source of much of its cultural heritage, or, by establishing an enduring partnership with America based on a new paradigm of mutual respect and shared interests, remain independent?
What most ordinary Vietnamese want is very clear from the friendly reception given to visiting Americans.
Now everyone knows that Vietnamese Communism is dead. The business of Vietnam is now business. My countrymen want to emulate South Korea and Singapore, Taiwan and Hong Kong. They want to turn Vietnam into the fifth Small Dragon.
This is not an easy task. Vietnam remains a largely agrarian nation that still needs to develop a modern infrastructure. The problem of corruption remains, though it appears that at long last the Hanoi government realizes what must be done to clean its house and reduces corruption to internationally accepted norms. I am confident that the transformation of Vietnam’s economy and institutions have already begun.

Vietnam’s economic rebirth has already begun to encourage many exiles to return. There are more than three million of us, two-thirds in North America, and compared to the average Vietnamese we are better educated and have superior skills.
While some worry that the younger generation, those born in exile or who left Vietnam as small children, may not want to give up comparatively easy lives in the US, Canada, France and Australia, I believe that many will want to help develop the land of their fathers. I have crisscrossed America for years, meeting and spending time with this younger generation, telling them that they are important to the future of Vietnam, that the country needs their brains and their hard work. And I am happy to report that among those with whom I have spoken, many young Vietnamese, motivated by patriotism no less than personal ambition, will return to their homeland when they see ways to employ their skills.

Americans who come to Vietnam to pursue business opportunities will find a much different situation than the soldiers who came during the war. They will not be big brothers come to help fight. They will be partners, contractors. Helping to bridge the inevitable misunderstandings between East and West will be the generation of Vietnamese born or educated in America.  In ten or fifteen years, most successful Vietnamese enterprises will be run by those who have learned American techniques and American thinking.
I am optimistic about the next generation of Vietnamese leaders. Now that the trade agreement is ratified, there has been a sharp increase in contacts between the two countries.  As Communist Party officials see more of America and meet more Americans,  I am confident that they will see the wisdom of moving Vietnam toward the West. I believe that they will soon change the economic rules that have limited Vietnam for decades.
Because political systems are built on a foundation of economic rules, changes in political rule will follow as state ownership gives way to private capitalism. The effects will ripple through every corner of society, including the courts and the legislature. Already, bright technocrats and entrepreneurs have begun to make the day-to-day decisions of government and business. Once Vietnam embraces capitalism, democracy and the rule of law will follow.
Communism in Vietnam lasted less than 50 years. When you consider that Vietnamese culture is thousands of years old, that half-century is really not much more than a temporary pause, the blink of an eye. If I am no longer a young man, my health is good and I expect to live many more years. And so I believe that with the help of America, I will live to see Vietnam reinvent itself.  I invite you to all to find ways to make that possible.

LADIES AND GENTLEMEN:

In conclusion, allow me to say that I am very happy to be here meeting with you. I was born and grew up during war. I have fought alongside American fighting men and women, and together with them I have shed blood, sweat and tears. I have been privileged to share many joys and sorrows with the remarkable men who were the leaders of your country. During my 27 years living in exile, I have worked years of 14-hour days in a liquor store, and I have been a fisherman who spent weeks at a time on the open sea to catch fish and shrimp. I have watched my children grow up and start their own families, and I have experienced enough ups and downs to last a lifetime.
My biggest consolation is that in what were at first alien surroundings, and under any circumstance, I have always been welcomed by Americans. You have accepted me and given me and my family 27 peaceful years in the wealthiest and most beautiful country in the world. Although I am determined to someday return to my homeland, and when my time comes, to return to the soil where my ancestors sleep, I accept America as my second home. I thank each of you for the abundance of kindness and courtesy that you and your countryman have extended.
And, on behalf of all Vietnamese, I thank the 58,000 Americans who so many years ago made the ultimate sacrifice in defense of my country’s liberty. I am equally grateful to the millions of others who risked life and limb for my country, who put aside careers and personal aspirations to come to the aid of desperate people that they did not even know. Thank you for your courage, your compassion, your many painful sacrifices.

I am 72 years old now, an old soldier, and as Douglas MacArthur, one of your most celebrated generals, has said, “Old soldiers never die, they just fade away.” In his fading years, this old soldier still yearns for Vietnam, the land of his ancestors. I offer the remaining years of my life to the service of my motherland and to my people without any ambition and without asking for anything in return. I am appealing to you and especially to my American comrades-in-arms, to try and build this bridge of friendship between our two countries. This love and hate affair has to end. Hate needs to be replaced with a new deep sympathy between our two people.
Thank you for your kind attention, and I will now take a few questions.

THE END

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

Paul Krugman: Nước Mỹ đang đi vào bóng tối

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2010

Cập nhật lúc: 8/11/2010 8:20:09 AM (GMT+7)
Mọi thứ chúng ta biết về kinh tế học đều chỉ ra rằng một dân số được giáo dục tử tế và cơ sở hạ tầng chất lượng cao đều quan trọng trong quá trình phát triển. Các quốc gia đang phát triển đang nỗ lực rất lớn để nâng cấp đường xá, cầu cảng và trường lớp của họ, trọng khí ấy nước Mỹ đang lùi lại phía sau.

Ánh sáng đang tắt dần trên nước Mỹ, quả đúng như vậy theo cả nghĩa đen. Thành phố Colorado Springs đã tạo ra sự chú ý với nỗ lực tuyệt vọng của họ nhằm tiết kiệm tiền bằng cách tắt một phần ba đèn đường. Những điều tương tự cũng đang được các thành phố khác trên toàn đất nước thực hiện hoặc tìm cách áp dụng, từ Philadelphia tới Fresno.

Trong khi đó, quốc gia một thời từng làm thế giới sửng sốt bởi những khoản đầu tư đầy tầm nhìn vào giao thông, từ Kênh Erie tới Hệ thống đường cao tốc liên bang, giờ lại đang trong quá trình tự đóng lại các con đường của họ: trong nhiều bang, các chính quyền địa phương đang phá bỏ những con đường mà họ không còn duy trì được nữa, đành để chúng về với cát sỏi.

Và một quốc gia luôn tự hào về giáo dục, về vị trí luôn dẫn dầu của mình trong việc cung cấp giáo dục cơ bản cho tất cả trẻ em, giờ đây cũng đang phải cắt giảm. Giáo viên bỏ dạy, chương trình bị hủy, ở Hawaii, năm học thậm chí còn bị cắt ngắn đi đáng kể. Tất cả các dấu hiệu đều cho thấy thậm chí còn có nhiều cắt giảm hơn nữa phía trước.

Chúng ta được giải thích rằng nước Mỹ không có cơ hội nào khác, cái chức năng cơ bản nhất của mọi chính phủ là thực hiện những dịch vụ thiết yếu đã từng được cung cấp cho nhiều thế hệ nay lại không còn khả năng thực hiện được nữa. Đúng là cả chính quyền bang lẫn địa phương đều bị ảnh hưởng nặng bởi khủng hoảng nên đang rất kẹt tiền. Nhưng họ sẽ không đến nỗi kẹt như vậy nếu các chính trị gia sẵn sàng xem xét tăng một vài khoản thuế.

Còn chính phủ liên bang thì không thiếu tiền như vậy chút nào hết, họ có thể bán các trái phiếu dài hạn chống lạm phát với mức lãi suất vẻn vẹn 1,04%. Họ có thể và nên trợ giúp các chính quyền địa phương, để đảm bảo tương lai của cơ sở hạ tầng và giáo dục cho con em chúng ta.

Nhưng Washinton đang trợ giúp rất nhỏ giọt, và thậm chí là rất miễn cưỡng. Chúng ta phải ưu tiên giảm thâm hụt, những người Cộng Hoà và Dân chủ ôn hòa nói vậy. Và gần như ngay sau đó, chúng ta tuyên bố rằng nước Mỹ cần bảo vệ chương trình cắt giảm thuế cho những người giàu có với tổng hụt cho ngân sách tới 700 tỷ đôla trong thập kỷ tới.

Kết quả là, phần lớn tầng lớp tinh hoa chính trị của chúng ta đã cho thấy đâu là ưu tiên của họ: khi phải lựa chọn giữa việc yêu cầu lớp người giàu nộp thêm 2% hoặc nước Mỹ phải đi giật lùi, giữa việc người giàu phải đóng thuế suất như dưới thời bùng bổ của Clinton hoặc nền tảng của đất nước này sụp đổ, họ đã luôn chọn điều sau, theo nghĩa đen như đối với đường xá và theo nghĩa bóng đối với giáo dục.

Sự lựa chọn ấy là thảm họa trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn.

Trong ngắn hạn, việc cắt giảm cả ở cấp bang lẫn địa phương thế này là một cú giáng vào nền kinh tế, tiếp tục kéo dài tình trạng thất nghiệp tồi tệ hiện nay.

Chủ nhân Nobel Kinh tế 2008: “Nước Mỹ đang đi giật lùi” (Ảnh: Huffington Post)

Hãy nhớ một điểm rất quan trọng là các chính quyền bang và địa phương rất khác so với liên bang. Bạn đang nghe người ta nói rằng chính quyền liên bang đang chi tiêu khá hào phóng dưới thời Obama. Đúng vậy, chính quyền liên bang đang tiêu nhiều hơn nhưng không như cái cách mà bạn nghĩ. Nhưng chính quyền bang và địa phương thì đang cắt giảm. Nếu gộp tất cả vào thì hóa ra là khoản tăng chi lớn nhất lại dành cho những chương trình an sinh xã hội như bảo hiểm thất nghiệp, khoản bảo hiểm đã tăng vọt nhờ vào tình trạng khốn khó của cuộc suy thoái.

Người ta vẫn cứ nói về những chương trình kích thích kinh tế thất bại, nhưng nếu nhìn vào cách chính quyền chi tiêu hiện nay một cách tổng thể, bạn không hề thấy bất kỳ cái gì gọi là kích thích kinh tế. Chi tiêu ở cấp liên bang đang khép dần trong khi các bang và địa phương tiếp tục cắt giảm rất mạnh, nước Mỹ đang đi giật lùi.

Nhưng tiết kiệm thuế cho lớp người giàu chẳng phải cũng là một dạng kích thích kinh tế hay sao? Nhưng mọi thứ không như thế nếu bạn để ý một chút. Khi chúng ta không để cho một giáo viên mất việc, sự trợ giúp ấy là rõ ràng, nhưng khi chúng ta đưa hàng triệu đôla thêm nữa cho những người giàu, rất dễ chúng sẽ nằm im đâu đó dưới gối của họ.

Vậy tương lai kinh tế của đất nước này ra sao? Mọi thứ chúng ta biết về kinh tế học đều chỉ ra rằng một dân số được giáo dục tử tế và cơ sở hạ tầng chất lượng cao đều quan trọng trong quá trình phát triển. Các quốc gia đang phát triển đang nỗ lực rất lớn để nâng cấp đường xá, cầu cảng và trường lớp của họ, trọng khí ấy nước Mỹ đang lùi lại phía sau.

Chúng ta đã tới nông nỗi này là do đâu? Đó là hệ quả logic của 3 thập kỷ với những luận điệu chống chính phủ, những luận điệu đã thuyết phục rất nhiều cử tri rằng mỗi đồng đôla đóng thuế đều là những đồng đôla lãng phí và khu vực công chẳng làm nên cơm nên cháo việc gì bao giờ.

Phong trào chống chính phủ luôn ở dạng phản bác lại sự lãng phí và sai trái, phản bác những khoản tiền khổng lồ gửi vào tài khoản của các quý bà giàu sang đi Cadillacs, phản bác lại đội quân công chức hùng hậu nhưng vô dụng với hàng núi giấy tờ của họ. Nhưng đó là một ngộ nhận, đương nhiên, không bao giờ hoàn toàn là lãng phí và sai trái như phe hữu tuyên bố.

Và giờ đây chiến dịch chống chính phủ ấy đang đơm hoa kết trái, chúng ta đang chứng kiến cái gì đang thực sự trở thành vật hi sinh: các dịch vụ dân thường trừ tầng lớp siêu giàu cần, các dịch vụ trừ chính phủ ra thì chẳng ai có thể cung cấp cả, đó là những con đường sáng đèn, những cao tốc dễ đi lại và những ngôi trường khang trang.

Kết cục cuối cùng của chiến dịch chống chính quyền này là chúng ta đang đi vào một ngả rẽ sai lầm thảm khốc. Nước Mỹ đang ở trên một con đường tăm tối và bế tắc tới miền vô định.

Trang Thư dịch

TIN LIÊN QUAN: Joseph Stiglitz: Sụp đổ lại đang đến rất gần

Posted in Chinh Tri, Kinh Te | Leave a Comment »

Việt Nam trả nợ Bulgaria

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2010

Việt Nam trả nợ Bulgaria thời còn là nước cộng sản

Việt Nam trả nợ Bulgaria thời còn là nước cộng sản

Sofia (Bulgaria) – Việt Nam đã trả phần nợ còn lại từ thời Bulgaria còn là nước cộng sản, qua một thoả thuận với nước nằm trong vùng Balkan này là được xoá hết một nữa nợ, theo Bộ Tài chánh Bulgaria cho hay hôm qua thứ Năm ngày 12 tháng Tám năm 2010.

Bulgaria và Việt Nam đạt sự đồng thuận hôm tháng Bảy, trong chuyến viếng thăm Sofia của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng.

Ông Zhelyu-Zhelev, tổng thống dân cử đầu tiên của Bulgaria. Nguồn: Wikipedia


Theo sự thỏa thuận này, 600 ngàn đô-la trong số tiền nợ sẽ được xóa, thay vào đó, Bulgaria sẽ nhận phần còn lại 725 ngàn đô-la bằng tiền mặt.

Phần nợ được xóa sẽ được xem như là tiền viện trợ cho nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, theo thông báo của Bộ Tài chánh Bulgaria hôm thứ Năm.

Chính phủ cánh hữu của Thủ tướng Boyko Borisov đã đưa lên hàng ưu tiên để phân loại những món nợ từ thời cộng sản bằng cách cho xóa một số nợ dành cho những con nợ lớn của Bulgaria.

Tưởng cần nhắc lại, ngày 10 tháng Mười Một năm 1989, đảng Cộng sản Bulgaria chính thức chấm dứt độc quyền lãnh đạo đất nước và bị lật đổ. Bulgaria chuyển từ nền chính trị độc đảng sang đa đảng. Tháng Sáu năm 1990, cuộc bầu cử tự do lần đầu tiên xảy ra, nhóm ôn hoà của Đảng Cộng sản thắng cử, và đổi tên đảng lại thành Đảng Xã hội Bulgaria.

Ông Zhelyu-Zhelev là vị tổng thống dân cử đầu tiên của Bulgaria thời hậu cộng sản.

© DCVOnline

——–

http://www.straitstimes.com/BreakingNews/SEAsia/Story/STIStory_565492.html

SE Asia

Home > Breaking News > SE Asia > Story

Aug 12, 2010

Vietnam pays debt to Bulgaria

SOFIA (Bulgaria) – VIETNAM has paid back its remaining communist-era debt to Bulgaria, following a deal with the Balkan country to write off half the money owed, the Finance Ministry said on Thursday.

Bulgaria and Vietnam reached the agreement in July, during a visit to Sofia of Vietnam’s First Deputy Prime Minister Nguyen Sinh Hung.

Under the deal, US$600,00 (S$817,143) of the debt were written off in exchange for Bulgaria receiving the remaining US$725,000 in cash.

The debt write-off will be considered as aid for developing Vietnam’s economy, the Bulgarian Finance Ministry said in a statement on Thursday.

The right-wing government of Prime Minister Boyko Borisov has made it a priority to sort out outstanding communist-era debt issues by offering substantial write-offs to its major debtors. — AFP

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »