Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai, 2012

►Chết cười với Báo Công An Nhân Dân: Năm 1971, sân bay dã chiến Khe Gát…Bộ đội không quân đã ém máy bay MiG21 ở đây và xuất kích, tiêu diệt được 2 hàng không mẫu hạm của Mỹ tại biển Lý Hòa và Đồng Hới!

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2012

Đúng là “tự sướng” về những chuyện không hề có. Tác giả Hồ Ngọc Diệp viết bừa thế, còn tổng biên tập tờ báo này là thiếu tướng công an Nguyễn Hữu Ước vẫn cứ thế mà “tương” lên. Bài viết này đã tồn tại 3 năm qua trên báo Công An Nhân Dân.  Có thể một số đọc giả của tờ báo biết là “nói dóc”, nhưng họ quen nghe những chuyện dối trá như thế này rồi chăng nên không ai buồn cải lại, hay cũng có thể rằng đa số tin rằng chuyện này có thật!

Những tuyến đường ra trận trên đất Quảng Bình

An Ninh Thế Giới, CAND

Hồ Ngọc Diệp

20/04/2009
Tiến tới kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Binh đoàn Trường Sơn và mở đường Trường Sơn 19/5/1959 – 19/5/2009

Hồ Ngọc Diệp

Quảng Bình là tỉnh đầu cầu giới tuyến, có một vị trí đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đó là hậu phương của chiến trường Trị Thiên nói riêng và của miền Nam nói chung. Do vậy, những tuyến đường Hồ Chí Minh trên đất Quảng Bình có một vị trí vô cùng quan trọng. Nó đã đi vào lịch sử oanh liệt của dân tộc với bao huyền thoại hào hùng.

Tháng 1/1959, Đảng ta đã cho ra đời một văn kiện lịch sử, đó là văn kiện 15, chỉ rõ phương pháp chiến lược mới của cách mạng miền Nam nước ta: “Đấu tranh vũ trang kết hợp đấu tranh chính trị, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà”.

Thực hiện chủ trương chiến lược nói trên, ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định thành lập Đoàn 559 với nhiệm vụ “Mở đường giao liên, mở đường vận tải quân sự, để chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam”.

Nguồn ảnh: DCVOnline


Những cán bộ, chiến sĩ (CBCS) tiên phong của Đoàn 559 đã lấy Khe Hó thuộc huyện Vĩnh Linh làm căn cứ đầu tiên. Nhưng chỉ ít lâu sau, họ đã chuyển sang địa điểm mới. Đó là làng Ho, thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Từ làng Ho, Quảng Bình, những chuyến gùi, thồ đầu tiên mang gạo, muối, súng đạn của bộ đội đã tiếp tế cho Trị Thiên và Khu V vất vả nhưng hiệu quả. Những cán bộ, bộ đội vào Nam ra Bắc cũng đi theo con đường này.

Từ tháng 2/1959, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chuyến vào Quảng Bình công tác đã làm việc với Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tư Thoan và Trưởng ty Giao thông vận tải (GTVT) Quảng Bình Võ Văn Ấp, nêu phương án định hướng một con đường vào Nam đi qua Quảng Bình.

Tháng 5/1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại vào Quảng Bình một lần nữa. Đại tướng đã cùng 2 đồng chí trên đi thám thính bằng trực thăng từ Đồng Hới đến làng Ho, trở ra Tuyên Hóa rồi quay trở về nơi xuất phát. Đại tướng đã gợi ý, để Quảng Bình bắt tay xây dựng một con đường xuyên Trường Sơn để vận chuyển bằng cơ giới hàng hóa, người, vũ khí vào chiến trường miền Nam.

Giữa năm 1961, đồng chí Lê Hồng Tâm và Phan Hữu Trợ là hai cán bộ kỹ thuật khảo sát của Ty GTVT Quảng Bình cùng cán bộ Ty Công an Quảng Bình đặc trách việc khảo sát này.

Đến giữa tháng 8/1962, đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ khảo sát toàn tuyến đường Trường Sơn đi qua địa phận Quảng Bình. Đề án đã được Bộ GTVT chấp nhận. Việc đầu tiên của tuyến Trường Sơn đi qua Quảng Bình là tiếp tục khai thông, mở rộng tuyến Quốc lộ 15A dài 214 km từ Tân Đức – Tuyên Hóa đến Vĩnh Khê – Vĩnh Linh.

Công tác thi công khẩn trương từ năm 1961 đến 1965. Quảng Bình đã huy động 7 nghìn dân công và cùng công nhân ngành GTVT tập trung thi công tổng lực. 8 công trường được khẩn trương thành lập và hoạt động rầm rộ trên khắp các tuyến đường. Đến cuối năm 1965, tuyến đường 15A cơ bản đã thông xe.

Trước sự lớn mạnh của miền Bắc XHCN và sự phát triển của cao trào cách mạng miền Nam, mạch giao thông của Quảng Bình phải mở rộng nhiều tuyến đường, để đưa hàng hóa, sức người vào chiến trường nhanh, mạnh hơn nữa.

Sau tuyến đường 15A, tuyến đường 12A ở Tuyên Hóa chạy từ Khe Ve đến đèo Mụ Dạ được tiến hành khẩn trương. Đây là đoạn đường dài 75 km. Lực lượng Thanh niên xung phong (TNXP) ban đầu là 500 người của N73, N75 đã tiến hành thi công trong bom rơi đạn nổ. Công trường 12A tiến hành từ năm 1962 đến 1964 đã đổ biết bao xương máu, mồ hôi của bao TNXP Quảng Bình, trong đó có C759 được tuyên dương Anh hùng. Chị Nguyễn Thị Kim Huế, một công nhân trong đơn vị đó cũng được Quốc hội tuyên dương Anh hùng ngành GTVT.

Sau đường 12A là đường 20. Đường chạy từ Phong Nha đến ngã ba Lùm Bùm tiếp giáp đường 9 của Quảng Trị. Đường này gọi là đường 20 vì đã có 8 nghìn TNXP các tỉnh phía Bắc, chủ yếu là nữ thanh niên cùng bộ đội Trường Sơn tuổi dưới 20 đảm trách xây dựng. Tuyến đường dài 84km được hoàn thành trong 6 tháng. Ngày 5/5/1966 là mốc lịch sử quan trọng vì tuyến đường được thông xe.

Đường 20 đi qua động Phong Nha. Cửa động ngày ấy không những là một thắng cảnh mà còn là nơi cất giấu hàng hóa, xăng dầu, vũ khí của Đơn vị 559 khi tiến hành thi công.

Tại đây có hang “Tám Cô”, nơi 8 TNXP quê ở miền Bắc đã hy sinh trong một lần máy bay ném bom làm sập một triền núi, lấp kín cửa hang. 20 năm sau chiến tranh, hài cốt họ mới được tìm thấy nhờ quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình trong chiến dịch tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trên tuyến đường 20 lịch sử.

Sau tuyến đường 20 là đường 10, đường nối từ đường 15A ở ngã ba Áng Sơn vào tận đường 9, phía tây Quảng Trị. Con đường này còn có một tên khác là đường “20-7”.

Mở tuyến đường 10, Bộ GTVT và Trung ương Đoàn đã huy động 6 nghìn TNXP của các tỉnh phía Bắc vào tham gia làm đường. Tiếng mìn nổ suốt ngày, đá bay, cây đổ. Tốc độ thi công cứ mỗi ngày là 1 cây số xuyên thấu giữa rừng Trường Sơn. Những cô gái, chàng trai tuổi trẻ lạc quan yêu đời, tinh thần cách mạng cao độ đã không nề hà gian khổ, hy sinh.

Giữa tháng 4/1968, địch đã phát hiện ra tuyến đường và bọn chúng ném bom hủy diệt nhằm ngăn cản sự tiến sâu vào phía Nam của con đường. Xe chở gạo bị máy bay chặn đánh khiến lương thực thiếu hụt. Đói, thiếu thốn, các chiến sĩ, TNXP phải ăn rau rừng, măng rừng để đảm bảo công việc hàng ngày. Những chị em phụ nữ trong điều kiện ăn ở thiếu thốn không hợp vệ sinh đã phát sinh nhiều bệnh tật.

Đường càng vào sâu càng lên cao, nước càng độc. Có chỗ nước nhiễm phèn vàng như gạch, có chỗ váng xanh đỏ nổi lên mặt nước. Có trung đội, nhiều chị em đau bụng hàng loạt mà không rõ lý do. Về sau mới biết do chị em tắm suối, nước độc ngấm vào sinh ra đau bụng. Trong những ngày mưa kéo dài, các cô mặc cả áo quần ướt để làm việc, lâu ngày sinh ra nấm, da dẻ lở loét. Vậy mà chỉ có thuốc đỏ là thứ thuốc duy nhất chị em dùng để chữa bệnh cho mình. Trên 200 người đã ngã xuống một cách oanh liệt vì tuyến đường 10 này.

Sau đường 10 là đường 16. Đây là tuyến đường dài 32 km nối giữa đường 10 rẽ về phía đông, xuyên vào Quảng Trị tại ngã ba Dân Chủ ở Km72. Tuyến đường này được tiến hành từ năm 1971 với 3 nghìn TNXP của các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Thái Bình cùng 3 nghìn dân công hỏa tuyến của Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Đây là tuyến đường được đổi bằng máu nhiều nhất bởi vì B52 của Mỹ luôn luôn rải thảm dọc tuyến đường mà công trường đi qua.

Khi đường 16 được thông tuyến, Trung ương huy động 4 nghìn xe đạp thồ của tỉnh Thanh Hóa tham gia vận tải, đưa hàng hóa, vũ khí từ Đồng Hới vào thẳng chiến trường Trị Thiên. Do vậy tuyến đường này còn gọi là đường “20-7”, tức tuyến đường vì miền Nam.

Ngoài đường bộ, Quảng Bình còn “Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Tuyến đường này bắt đầu có từ năm 1961. Một phân đội thuyền cảm tử chở vũ khí mang tên “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” đã khởi hành tại cửa Gianh vào đêm 30 tết để vào Nam Bộ. Tiếc thay đi giữa đường gặp sóng to gió lớn, nhiều thuyền chìm, nhiều chiến sĩ hy sinh, nhưng dù sao đã để lại bài học kinh nghiệm cho những chuyến đi tiếp.

Đáng nói nữa về tuyến đường “Hồ Chí Minh trên biển” là chuyến đi của bà con xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch chở hàng và vũ khí vào Quảng Trị. 12 thuyền đã ra đi trong một đêm mưa gió cuối năm 1968. Chỉ một nửa số thuyền đã đến đích còn một nửa thì bị giặc bắt hoặc bị máy bay và pháo, tàu địch bắn chìm dọc đường.

Ngoài đường bộ, đường thủy, Quảng Bình còn có một tuyến đường đặc biệt đó là đường ống xăng dầu. Đường ống xăng dầu chạy từ bắc Quảng Bình vào tận Sông Bé dài 2.600 km. Hơn 10 nghìn TNXP và bộ đội 559 đã thi công, vận chuyển tuyến đường xăng dầu vô cùng quan trọng này. Nhờ con đường xăng dầu thông thương nên mạch giao thông xăng dầu vẫn chảy mãi dọc Trường Sơn cho đến ngày toàn thắng 1975.

Đáng kể nữa là tuyến đường không, trên địa phận Quảng Bình trong những năm tháng chống Mỹ. Năm 1971, sân bay dã chiến Khe Gát (Tuyên Hóa) được hình thành. Bộ đội không quân đã ém máy bay MiG21 ở đây và xuất kích, tiêu diệt được 2 hàng không mẫu hạm của Mỹ tại biển Lý Hòa và Đồng Hới. Đó là chiến công có một không hai trong lịch sử chiến tranh nhân dân ở Quảng Bình.

Máy bay MiG 21 trên hàng không mẫu hạm Mỹ (USS Intrepid) tại New York
Nguồn ảnh: H. Warren


Hơn 20 năm trong chiến tranh chống Mỹ, mảnh đất Quảng Bình chịu nhiều bom đạn giặc nhưng lại là mảnh đất có nhiều tuyến đường nhất để đưa hàng, vũ khí, con người đến với chiến trường miền Nam. Đó là một kỳ công, một di sản văn hóa và lịch sử oai hùng của nhân dân Quảng Bình và của dân tộc, một niềm tự hào sáng chói của hôm qua, hôm nay và mai sau.

Con đường Trường Sơn 50 năm trước ấy trên đất Quảng Bình ngày nay không ngừng đổi mới. Đường rải thảm nhựa phẳng lì, suốt từ Bắc chí Nam, cả hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn. Nó vừa là công trình giao thông, nối liền hai miền Nam – Bắc, vừa là công trình tránh lũ lụt của tất cả các phương tiện giao thông cơ giới đi qua miền Trung, nếu ở đây ngập chìm trong nước .

Ngày 19/5 tới đây, Quảng Bình sẽ tưng bừng tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Binh đoàn Trường Sơn và mở đường Hồ Chí Minh huyền thoại. 50 năm, đâu chỉ có một con đường Trường Sơn mà còn có nhiều con đường mang tên Bác hướng ra tiền tuyến, vì thống nhất Tổ quốc Việt Nam quang vinh, đi qua mảnh đất này. Nó đã đi vào lịch sử, vào văn hóa nghệ thuật vào tiềm thức con người như một dấu ấn không thể phai mờ


Nguồn: Những tuyến đường ra trận trên đất Quảng Bình. Hồ Ngọc Diệp, An Ninh Thế Giới, CAND 20/04/2009. Minh họa của DCVOnline.


 Đọc những bài khác trong mục Thành tích của ĐCSVN

danchimviet.info

Advertisements

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Công an bắt Lê Quốc Quân để đạt chỉ tiêu cuối năm!

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2012

 

Lại bị bắt rồi

 Theo blog Người Buôn Gió

Tí Hớn ngồi xem ti vi, nó loáng thoáng nghe mẹ điện thoại gì với ai dưới nhà. Lúc mẹ lên, Tí Hớn hỏi:

– Mẹ ơi! Bố lại bị bắt rồi à?

Mỗi lần bố bị thế, nhà toàn không cho Tí Hớn biết, nhưng Tí Hớn nhạy cảm, nó cứ kết nối chuyện bố không về, rồi nét mặt mọi người âu lo nhắc đến bố, là nó đoán được việc gì xảy ra. Những lần như thế nó không nghịch ầm ĩ nữa. Nó lấy đồ chơi xếp hình cặm cụi ghép hình, cắm cúi để không ai biết mặt nó đang thế nào.

Lê Quốc Quân có ba đứa con, Quân bị chính quyền bắt đi, bắt lại nhiều. Không biết hôm nay những đứa con của Quân thế nào?

Hôm bị bắt ở phiên toà xử sơ thẩm Cù Huy Hà Vũ,  đứng vỉa hè bên này đường. Khi an ninh mặc thường phục ra đuổi, Quân không chịu đi, còn đứng lại cãi lý, thế là bị xốc nách, túm cổ lôi về công an quận Hoàn Kiếm vì tội gây rối trật tự công cộng, công an khám nhà ngay tức thì. Lạ thật, mình thấy khối vụ gấy rối TTCC nhưng chưa thấy vụ nào bị bắt mà khám nhà, bọn đua xe máy bị bắt đầy vì tội ấy, có bao giờ bị khám nhà đâu. Dường như công an thích khám nhà những người như Lê Quốc Quân lắm thì phải.

Ngày 27/11/ năm ngoái, mình bị tóm về Lộc Hà. Lát sau thấy Quân cũng được công an chở đến. Nhưng Quân không vào chỗ mình đang bị giữ như mọi người, nó bị đưa vào phòng nào khuất mắt mọi người luôn. Ngay sau đó mình cũng bị một chiếc xe con chở về số 6 Quang Trung làm việc với an ninh điều tra. Hoá ra nó cũng bị về đấy nốt. Hè năm nay cơ quan an ninh điều tra Hà Nội đưa giấy triệu tập mình lên làm việc vào một ngày chủ nhật, Quân cũng bị thế. Mình không đi, chủ nhật mình về quê, Quân ở nhà thì an ninh đến mời, cũng không đi. Thực ra thì giấy triệu tập đấy để mình không lượn ở phố phường, chứ làm việc gì đâu. Mình biết thế nên về quê, an ninh gọi điện bảo lên làm việc, mình nói – tôi đã về quê rồi ông còn gọi làm gì, tôi ra gặp ông làm việc thì thế nào trên đường về cũng đi qua phố phường Hà Nội đấy. Anh an ninh nghe thế cũng xuôi – ừ ông ở quê thì thôi. Lát sau Quân gọi, thì ra cái anh an ninh lúc điện thoại cho mình là anh ta đang ở nhà Quân.

Mình bỗng chợt nghĩ, sao mà mình cả nó lại hay được một cơ quan chiếu cố cùng một lúc.

Từ đó mình quan sát và phát hiện thêm một điều, những thanh niên theo dõi Quân cũng chính là những thanh niên theo dõi mình. Họ có khoảng 6 người, được một người trung niên đi xe ga chỉ huy. Cứ 3 người này theo mình, 3 người kia theo Quân suốt cả mùa hè đến mùa thu, thậm chí từ hè năm ngoái đến hè năm nay.

Đến khi Quản em trai của Quân bị bắt, thì tốp theo dõi Quân lại là tốp mới. Còn mình thì không thấy bị theo gì nữa. Hôm thứ bảy vừa rồi Quân tìm mình tâm sự, kể rằng hôm nay không ai đi theo tôi hay sao, hoặc tôi mắt kém chả nhìn thấy gì. Mình làm chút quan sát không thấy ai bám Quân chặt, hoặc có thể họ chỉ bám từ xa. Mình bảo.

– Thôi thế ông sắp vào rọ rồi. Giờ không bị theo bám nữa, tức là hồ sơ đã kết thúc, chỉ còn chờ ngày bắt thôi. Ông liệu cách tính đi. Về dẹp sổ sách, làm đơn bỏ công ty, xin quyết toán thuế rồi vào nhà thờ mà tĩnh tâm một năm.

Quân kể nhiều lý do, về gia đình, công việc, con cái, Quân không thể đi ẩn lì một chỗ. Quân nói.

– Chúng nó truy thu về thuế, tôi trả tiền cho nhiều người để lấy ý kiến, những việc chi trả như thế thì có lấy được hoá đơn của họ đâu. Giờ bọn nó cứ tìm người ta uy hiếp, có người nhận tiền mình trả công nhưng không phải biên nhận gì cả, bị ép bởi bọn nó giờ họ nói là không nhận tiền công xá gì cả. Công ty tôi gây dựng bao nhiêu năm, có bao nhiêu dữ liệu về các doanh nghiệp, nó là trí tuệ và công sức thu thập hợp pháp của tôi từ bao năm nay, anh biết không, nếu vào tay người khác họ lấy dữ liệu đó mà lập công ty khác thì họ hoạt động ok. Dữ liệu đó chính là vốn của công ty tôi, vì là công ty làm việc bằng trí óc, nếu quy ra tiền thì không biết là bao nhiêu nữa.

Mình bảo.

– Ông xem vụ Đông Dược Bảo Long, vụ Nguyễn Đức Chi…thì ông rõ, vụ đó hàng triệu đô la cơ. Thôi tôi góp ý thế ông làm thế nào tuỳ ông.

Lúc chia tay, mình thấy Quân có hai bao thuốc lá của hai loại khác nhau. Quân thường không hút thuốc lá, hay thỉnh thoảng vui mới hút một điếu. Mình hiểu Quân đang thế nào, mới quyết định nói thêm.

– Tôi biết ông không sợ tù, nhưng thế này. Ông cũng biết chuyện thuế má này là nhằm vào đâu, đm cái xã hội này sờ ra thì đầy rẫy những công ty có vấn đề về thuế. Nên ông nghe tôi, khi con thú lớn đi mất rồi, những tay thợ săn chả giết hại bọn thỏ, chồn làm gì đâu. Vì sợ động rừng, trong khi mục tiêu của họ là con thú lớn. Họ sẽ chờ đợi con thú lớn quay trở lại, lúc đó có thể họ phải thả những con thú nhỏ để khu rừng lấy lại vẻ yên tĩnh. Chứ họ không bắt được con thú lớn, mang mấy con tép riu về làng mở hội trình công thì người ta cũng cười cho vào mặt. Cố mà qua năm nay, giờ là lúc họ đang nỗ lực hoàn thành mục tiêu, kế hoạch.

Quân ngậm ngùi.

– Tôi sẽ để ý đến ý kiến của ông.

Mình hiểu nó sẽ không nghe lời mình, chấp nhận đương đầu với cuộc chiến không hề sòng phẳng chút nào. Cũng chả trách, mỗi người có một lựa chọn.

J.B: Nguyễn Hữu Vinh: Quả này, thằng nào mà trốn thuế hoặc tham nhũng, thất thoát cỡ 1 tỷ thì tử hình là cái chắc. Luật pháp ta nghiêm minh thế này cơ mà!

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Lê Quốc Quân những ngày trước khi bị bắt

Posted by hoangtran204 trên 28/12/2012

Nguyễn Tường Thụy

Việc Lê Quốc Quân bị bắt sáng nay không có ai lạ. Hình như Quân cũng cũng linh cảm được điều đó. Không phải vì Lê Quốc Quân mắc tội gì mà nghĩ tới chuyện sẽ bị bắt mà người ta đều thống nhất một điều: Họ bắt Lê Quốc Quân vì thấy cần phải bắt.

Tuy vậy, tin Quân bị bắt vẫn làm tôi bàng hoàng. Gia đình tôi quí Quân, coi Quân như em vì Quân nhiệt tình, chân thành, hồn nhiên, có gương mặt rất dễ mến. Những lúc anh em gặp nhau, chúng tôi chẳng bao giờ tò mò về công việc của nhau. Nghe nói Quân hoạt động đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, tôi chỉ biết vậy chứ chẳng thấy Quân “vận động” bày đặt cho tôi cái gì bao giờ.

Chiều nay vào mạng, biết họ bắt Lê Quốc Quân vì “có hành vi phạm tội trốn thuế”. Kịch bản Điếu Cày đã lặp lại.

Trưa nay, mấy anh em rủ tôi đến nhà chơi vì không khí noel vẫn còn. Tôi mệt không đi được nên mọi người kéo nhau đến thăm. Chúng tôi nhận được tin Lê Quốc Quân bị bắt do người nhà Quân thông báo vào lúc đó. Một người bạn nhận định, tin này họ sẽ đưa lên báo chí để tạo dư luận trước, chiều tối nay sẽ là báo điện tử và ngày mai sẽ là báo giấy. Ngày mai chưa đến nhưng việc báo điện tử đăng tin ngay cũng chứng minh được một nửa nhận định của anh bạn tôi.Một nửa kia còn phải chờ tới ngày mai.

Mấy hôm nay, tôi hay gặp Lê Quốc Quân. Chúng tôi gặp nhau mừng noel. Người mời vì quí cả tôi và Lê Quốc Quân và mời đến nhà, còn Lê Quốc Quân quí tôi và mọi người mà mời.

Tối 25/12, Lê Quốc Quân cho biết liên tiếp nhận được giấy mời của công an. Khi chúng tôi đang ngồi với nhau, Quân nghe điện thoại của một công an nào đó. Chỉ thấy Quân trả lời: em nói trước là không đến đâu. Quân kể ra một loạt những việc làm của công an nhằm triệt hạ anh và gia đình như vụ bắt Lê Đình Quản em trai Quân, giám đốc công ty TNHH Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng Doanh nghiệp, với cáo buộc trốn thuế vào ngày 30/10/2012; bắt Nguyễn Thị Oanh là em họ của Quân ngày 5/12/2012 khi đang mang thai, vi phạm qui định của pháp luật.

Cũng tối hôm đó, Lê Quốc Quân đưa cho chúng tôi xem bản thảo lá thư kêu gọi, nhờ tôi đăng lên blog. Tôi bảo vậy gửi file word vào hòm thư để tôi đăng cho tiện, Quân bảo để em lấy chữ ký đã. Chiều hôm qua thì Quân đưa tôi xem bản đã ký nhưng khi về tôi quên không lấy. Giờ chỉ có bản Quân gửi cho tôi tối hôm 25/12 nên tôi chụp và đăng lên.


 

27/12/2012

Nguyễn Tường Thụy

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

► Luật sư Lê Quốc Quân bị bắt giữ, cáo buộc “tội danh trốn thuế”, nhưng bên hỏi cung không phải là công an kinh tế mà là an ninh!

Posted by hoangtran204 trên 28/12/2012

 

LS Lê Quốc Quân bị bắt giữ

Tác giả:

Vào hồi 08 giờ sáng nay (27/12/2012), cơ quan cảnh sát điều tra công an TP Hà nội đã thực hiện khám xét nhà, ô-tô, sau đó là văn phòng công ty của Ls Lê Quốc Quân và bắt giữ ông Quân.

Trang TTX Việt Nam vài giờ sau khi bắt gữ ông Quân đã chạy bản tin ngắn cho biết tội danh là “trốn thuế”. Bản tin nói: “Công an thành phố Hà Nội cho biết, đến nay đã có đủ chứng cứ kết luận Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam do Lê Quốc Quân làm giám đốc đã trốn thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền là 437,5 triệu đồng”.

Luật sư quan hiện đang bị giữ để thẩm vấn. Nguồn tin thân cận với gia đình cho biết, liên quan tới tội danh “trốn thuế” nhưng bên hỏi cung không phải là công an kinh tế mà là an ninh!

Một người bạn của ông Quân cho biết, công ty “Giải pháp Việt Nam” của ông Quân trong nhiều năm qua đã thu thập rất nhiều thông tin, trong đó có những thông tin mật liên quan tới hoạt động tài chính của nhiều công ty Việt Nam để thực hiện cho công việc xếp hạng doanh nghiệp. Những thông tin này, nếu được công bố, có thể sẽ gây những rắc rối lớn.

Vài tháng trước, công ty của Lê Quốc Quyết, em trai luật sư Quân cũng bị lục soát để kiểm tra thuế, nhưng nguồn tin ngoài lề cho biết cơ quan điều tra tìm tung tích Quan Làm Báo. Gia đình ông Quân phủ nhận chuyện liên quan này.

Luật sư Quân từng bị giam 100 ngày không án ngay sau khóa tu nghiệp tại Mỹ. Ông chỉ được thả ra sau những áp lực quốc tế.

Ông Quân được biết đến như nhà hoạt động nhân quyền, tôn giáo và là cây bút của nhiều trang lề trái và hãng tin quốc tế BBC. Ông cũng uy tín lớn trong cộng đồng công giáo Việt Nam.

Hiện chưa rõ LS Quân bị tạm giam bao lâu để điều tra. Trước ông Quân, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, người sáng lập câu lạc bộ Nhà báo tự do cũng bị tù về tội danh “trốn thuế” và Ngải Vị Vị (Trung Quốc) cũng bị về tội danh này.

© Đàn Chim Việt

Tác giả:

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Tớ- khán giả của 12 ngày đêm đánh nhau với B52- xin có ý kiến

Posted by hoangtran204 trên 28/12/2012

Tớ- khán giả của 12 ngày đêm đánh nhau với B52- xin có ý kiến

Tác giả:

to-hai.blogspot.com

Hai cô dân quân bên xác B52. Tháng 12/ 1972. Ảnh Google

Mấy hôm nay, các phương tiện truyền thông lề đảng liên tục đăng bài, đưa hình ảnh, tổ chức cho các nhân chứng lịch sử phát biểu về cái «chiến dịch Điện Biên Phủ Trên Không» cách đây 40 năm!

Thôi thì đủ thứ tài tình của Đảng ta về chiến lược, chiến thuật, nào là về nghệ thuật quân sự, nào là 4 mũi giáp công để đánh thắng trận Điện Biên Phủ Trên không, nào là buộc Đế Quốc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn hội nghị ký kết «Hiệp định Lập Laị Hòa Bình và Chấm dứt chiến Tranh ở Việt Nam», buộc quân Mỹ phải «rút lui nhục nhã», tạo điều kiện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn…

Chao ôi! Toàn những lời lẽ đã được viết trên sách vở báo chí của họ cả 40 năm qua! Một chứ mười thằng Mỹ mà gặp phải cái sự tài tình vô biên của «Bộ Chính Trị Đảng ta» thì cũng đi tiêu luôn!

Cho nên, hôm nay Đảng được quyền làm vua, muốn gì được nấy,bất khả xâm phạm là cái lẽ thường tình! Thằng nào phủ nhận cứ là chộp đi tù hết!

NHƯNG KHÔNG! Không phải như thế!

Tớ, nhân danh một người có cái đầu biết nghĩ, có cái tim biết rung động, và có cái «gan» dám nói ra những điều mà khối người nghĩ như tớ mà chẳng dám hé môi, xin tuyên bố:

Theo tớ:

CHIẾN DỊCH 12 NGÀY B52 DỘI BOM MIỀN BẮC VIỆT NAM KHÔNG HỀ CÓ MỘT MỤC ĐÍCH QUÂN SỰ NÀO!

Mỹ cũng chẳng muốn tiếp tục tham chiến, mà ta cũng chẳng mong tiêu hao bớt không lực Hoa Kỳ để đọ tài nghệ thuật quân sự làm gì!

Tất cả chỉ nhằm mục đích là kéo phái đoàn Lê Đức Thọ trở lại Paris để ký kết cho xong cái Hiệp Nghị đã hoàn chỉnh và ký tắt, trừ một điều khoản chưa thống nhất mà quan trọng bậc nhất là «phía Mỹ phải bồi thường chiến tranh với số tiền là…tỷ ??? đô-la….».

Chính cái sự bế tắc tạm thời này mà hai bên đều tạm nghỉ, để chuẩn bị một «ván cờ chính trị bằng …bom đạn» cuối cùng, mà nguời Mỹ đang nóng lòng chấm dứt ngay cái cuộc dính líu “tốn kém tiền bạc và mạng người nhất trong lịch sử của nước Mỹ”

Trong cái tháng 12/1972 đó, chẳng phải chỉ có những cán bộ tuyên huấn như tớ, không ai là cán bộ nhà nước ở miền Bắc mà không phải học qua chiến lược, chiến thuật «Bốn mũi giáp công» của Đảng ta!

Nghĩa là: Trên chiến trường càng đánh mạnh thì trên bàn hội nghị càng dễ cho “ta”… mặc cả. Cú 4 mũi giáp công lần này không ngờ lại được chính người Mỹ mang áp dụng ngay vào những ngày cuối tháng 12 năm 1972!

Chiến trường miền Nam chưa dọa được nổi ai thì ở miền Bắc, Nixon đã ký lệnh tiến hành ngay chiến dịch “Linebacker 2″ đe dọa “đưa miền Bắc VN trở lại thời kỳ đồ đá” như H. Kissinger đã công khai báo trước!(«push the Viet Nam to the Stone age»)! bằng cuộc tấn công từ trên trời suốt 12 ngày đêm bằng đủ loại máy bay gồm cả B52 rải thảm ở trên 140 địa điểm của 5 thành phố! Chỉ riêng Hà Nội, 67 xã ngoại thành (nặng nhất là Yên Viên),19 trận địa tên lửa, 14 trận địa phòng không, 8 sân bay đã bị dội 36.000 tấn bom.
Làm chết (theo “ta”) là 4025 người và (theo Mỹ) là 2200 trên 5 tỉnh bị bom B52, mà chỉ riêng Hà Nọi là…1.318 người!

Thiệt thòi về vật chất, cầu đường, kho tàng quả là to lớn nhưng so với khối lượng hơn 36.000 ngàn tấn bom đổ xuống (bằng tất cả số bom Mỹ đã đổ xuống hai miền VN từ 1961 đến 72) thì sao cái số người chết lại quá ít thế nhảy? “Thằng Mỹ có mắt như mù”, “B 52 là bê quăng sai” (*) thật sao? Trường quân sự Mỹ đào tạo ra toàn thứ vô tích sự thua cả một anh nông dân chính cống Thái Bình lái máy bay sao?

“Hiện đại thế này mà chỉ rải thảm ở…ngoại thành bởi vì…Sợ dân nội thành quá hay sao?

Là người chứng kiến từ đầu đến cuối không sót một trận nào trên một sân thượng đường Quan Thánh của nhà đạo diễn điện ảnh Đỗ Ngọc: tớ xin nói thẳng một điều mà người ta sợ chạm đến nhất, ĐÓ LÀ:

TRƯỚC SAU NHƯ MỘT KHÔNG QUÂN MỸ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐÁNH VÀO KHU DÂN SỰ!

Điều này giải thích tại sao dân Hà Nội trong đó có tớ thì.., «dù ai đi đâu thì đi, Quyết tâm ở lại một ly không rời!».

Trong những ngày mà người ta hô hoán lên, tưởng như Hà Nội sắp bị san thành bình địa ấy, tớ và bạn bè, đặc biệt những anh em trong dàn nhạc của xưởng phim truyện (ngày ấy còn trẻ hơn tớ nhiều nên nay chắc khối người còn sống) chắc không thể nào quên!

Tất cả chúng ta đều ra ngồi ngắm cái «trò chơi nắn gân chết người» bên bờ hồ Tây ngay cạnh studio của xưởng, đúng vào những ngày thu thanh âm nhạc cho phim “Bài ca ra trận” của tớ (Đạo diễn Trần Đắc)

Chẳng anh nào có lấy một cái hầm cá nhân! Anh nào cũng yên chí «Mỹ nó đánh có mục tiêu cả đấy!» hoặc “Nếu bị tên bay đạn lạc thì có đi sơ tán hay xuống hầm cũng chết vì…có số cả thôi”!

Như ông Đại sứ Santini và cô nhân tình nào đó đã bị Thần chết điểm danh nên mắc phải «tên bay đạn lạc»! Chứ Sức mấy mà Mỹ nó dám làm cỏ cả gần trăm cái sứ quán! Có mà chính trị…Rồ!

Cho nên: Cách tránh máy bay Mỹ tốt nhất chính là…ở lại Hà Nội! Thậm chí có nhiều gia đình cơm nắm, muối vừng lên cạnh hai sứ quán Liên Xô và Trung Quốc trải chiếu nằm la liệt suốt đêm ngày!

Nói trắng ra rằng, Không lực Mỹ đã có lệnh nên cố tránh hết sức các mục tiêu phi quân sự.

Một vài nơi như mặt sau phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai đều do cảnh tên bay, đạn lạc, né tránh tên lửa, pháo cao xạ mà xảy ra. Chưa kể có đêm, khán giả đã chứng kiến cảnh lạnh người tên lửa ta vừa phóng lên bỗng vì sao chẳng biết không bay lên tới đích mà lại bay vòng cầu, rớt trúng một khu dân cư nào đó ở ngoại thành! Trừ bọn tớ, ai nghe nổ đùng trên đầu chẳng cho là… bom địch!

Còn chuyện sơ tán ư? Có những bài phơi-ơ-tông viết cứ như thật của mấy anh ký giả «nghe kể lại rồi tán láo»…thì…đúng là không mấy ai biết được rằng:

a-/Hà Nội đã bắt buộc phải đi sơ tán từ lâu! Ngay gia đình tớ cũng có 3 nơi sơ tán vì 3 con phải đi theo 3 trường!

Dân số Hà Nội lúc ấy chẳng còn được nửa triệu người. Đặc biệt qua bao năm sống dưới chế độ bao cấp sau “cải tạo XHCN”, mất tất tần tật rồi, có ai còn gì đâu để mà thương tiếc! Có cái xe đạp là quý nhất với một cuốn sổ gạo và một nắm tem dầu, mỡ, đậu phụ, là…hấp lên đường!

Chính cái không khí «hòa bình đến nơi rồi» đã làm nhiều người «hồi cư» sớm tí chút nên mới có chuyện một đêm 18/12/1971 di tản được 50 vạn người! Nhưng Trở lại nơi sơ tán mới đúng là tính chất của cái đêm đáng nhớ ấy!

Chẳng cần lệnh liếc, chẳng cần phải tổ chức đội đoàn…, chẳng cần ai “lãnh đạo”, mạnh ai thì cứ «vô tư» trở về nơi sơ tán! Ai có xe dùng xe! Ai chạy bộ thì chạy bộ!…

Cho nên, các con đường dẫn ra khỏi thủ đô, tối hôm đó đều…«vui như trẩy hội»!

Con nít vừa đi vừa chạy trên đường sáng trăng, đuổi nhau la hét om sòm. Tớ cũng cảm thấy rất vui khi trực tiếp chứng kiến cái cảnh này do cũng phải đưa đứa con út về nơi sơ tán vì nó cũng như nhiều học sinh khác cứ tưởng hòa bình đến nơi, nên nhân ngày nghỉ lễ, mò về Hà Nội thăm nhà! Nào ngờ! Nói phỉ phui, nếu Đế Quốc Mỹ chủ trương giết người thì chỉ đêm đầu tiên, nó có thể tiêu diệt cả ngàn người trên những con đường dẫn ra khỏi Hà Nội như chơi!

Nhưng may thay, cho đến gần sáng, khi xuất hiện những chiếc ô-tô đủ loại đuổi theo đoàn người đi sơ tán tự động, mới các cháu “ưu tiên lên xe”, tất cả không hề xảy ra một chuyện đáng tiếc nào!

Vậy mà người ta cứ nói «phóng» lên sự thần kỳ của cuộc di tản trong một đêm của nhân dân Hà Nội dưới dự lãnh đạo và tổ chức tài tình cuả Đảng đã đập tan âm mưu của «Đế Quốc Mỹ»!

Ôi! tuyên truyền nhồi sọ láo toét cho ba cái anh nông dân i-tờ-rít cách đây 40 năm nay mang ra diễn lại với dân Việt thời @ này! Đúng là họ …liều thật !

Tóm lại VỤ 12 NGÀY ĐÊM, chính phía Mỹ đã dùng chiến thuật ĐÁNH ĐỂ ĐÀM của Việt Cộng một cách hiệu quả hơn «ta» chứ chẳng nhằm mục đích quân sự nào cụ thể! Và họ đã ép «ta» phải trở lại Hội Nghị Paris bằng cái giá tiền, của, và sinh mạng của cả 2 bên không rẻ chút nào!

Bản hiệp ước Paris vẫn được ký mà vẫn không có được sự đòi hỏi của phía Việt Nam là Bồi Thường Chiến Tranh! Chẳng thêm cũng như bớt được điều gì so với bản ký tắt do ông Sáu Thọ mang từ Paris về mà bọn mình đã phải học để mà…”quán triệt” để mà viết baì ca ngợi sự tài tình của Đảng-Bác (dù bác đã chết cả 3 năm rồi)!

Không những thế, nó đã đánh dấu một thời kỳ lịch sử đau thương mới của dân tộc Việt: Đó là sự rút lui khỏi một cuộc chiến bị khoác cho là «xâm lược» của người Mỹ, để lại cho mảnh đất hình chứ S một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn thêm hơn ba năm nữa mang tên «Chiến tranh giải phóng» nhưng thực chất là cuộc chiến để cộng sản hóa khắp vùng Đông Nam Á này!!!  

Chính cái thắng lợi 1975 của những người cộng sản miền Bắc đã đưa cả dân tộc Việt này vào chỗ «không thể hòa hợp» cho đến hôm nay và…cho đến…«bao giờ…cho đến bao giờ!» bắt đầu từ cuộc «nắn gân nhau» bằng xương máu của hàng vạn con người…là như vậy đấy!

Là nhân chứng lịch sử còn sót lại («eyes and ears witness»), mình càng thấy «đau» hơn khi người ta đã liều lĩnh bóp méo sự thật, để lừa gạt những thế hệ hôm nay và mai sau!
Và mình quyết phải nói lên, dù mới chỉ nói ra được mới có 1/10 sự thật!

Ai còn sống sót đến ngày hôm nay hãy bổ xung cho lớp trẻ hôm nay được rõ thêm kẻo cứ phải nghe mấy ông già, dù ít tuổi hơn mình, nhưng hầu hết đã lẩm cẩm hết hơi, đang lên Tivi nói ra những điều mà tớ bỗng dưng thấy cần phải viết ngay entry này.

Theo Blog Tô Hải
————————————-

(*) Tất cả những con số tớ đều tra cứu nghiêm túc từ Google (cả ta lẫn Mỹ)! Sức mấy mà tớ nhớ được! Tuy nhiên không tin thì các bạn cứ tra cứu mà xem. Còn nhiều chuyện hay vô cùng!

http://tohai01.multiply.com/journal/item/156/156

http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php?t=23294

http://www.danchimviet.info/15/12/20…xin-co-y-kien/

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

► Ý nghĩa Chính trị của Trận oanh tạc Linerbacker II cuối năm 1972

Posted by hoangtran204 trên 27/12/2012

Trận oanh tạc Linerbacker II cuối năm 1972

LTG: Hai năm trước tôi đã viết về đề tài này trong bài Trận Mưa Bom Giáng Sinh, nghiêng về mặt quân sử. Nay ở đây tôi chỉ đề cập tới ý nghĩa chính trị của Linerbacker II, trận oanh tạc lớn nhất từ sau Thế chiến thứ hai. 

B52

B-52

Hòa đàm khai thông và bế tắc

Sau mấy năm bế tắc, tháng 10/1972 cuộc hòa đàm Ba Lê có biến chuyển thuận lợi khi phía Hà Nội chịu nhượng bộ những đòi hỏi tiên quyết của họ như: Lật đổ TT Thiệu, lập chính phủ liên hiệp, Mỹ đơn phương rút quân và cắt viện trợ VNCH… Cộng Sản Bắc Việt đã thừa cơ nước đục thả câu, thấy Hành pháp bị phản chiến chống đối, Quốc hội thúc dục ký Hiệp định ngưng bắn nên họ ép Kissinger phải nhượng bộ những khoản như trên.

Cả Nixon và Kissinger đã thỏa thuận không lật đổ chính phủ Thiệu.

(“He agreed with Nixon that it should not involve abandoning the Thieu regime” – Walter Isaacson, Kissinger A Biography p.485)
Trước lập trường cứng rắn của Nixon và Kissinger, BV thấy không có hy vọng gì loại bỏ Thiệu nên phải nhượng bộ, sau này người Mỹ mới biết đòi hỏi này là do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (tức Việt Cộng) đưa ra. BV đã hết ngoan cố phải nhượng bộ tháng 10/72 vì đã bị trận oanh tạc Linerbacker (cũng gọi là trận Linerbacker I) bằng B-52 từ tháng 5 tới tháng 10/1972 của Nixon khi ông yểm trợ tích cực cho VNCH để đè bẹp quân địch trong trận Tổng tấn công mùa hè đỏ lửa 1972. Theo nhận xét của Nixon, Hà nội tin chắc ông sẽ đắc cử nhiệm kỳ hai trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 7/11/1972 vì theo thăm dò ông vượt quá xa đối thủ McGovern tới 30%, họ muốn ký Hiệp định trước bầu cử vì nghĩ rằng sau khi đắc cử ông sẽ cứng rắn hơn.

(“They also probably believed that they might get better terms from me before the election than after it, No More Vietnams ”, p. 151)

Tại phiên họp lịch sử ngày 8/10/1972, Lê đức Thọ đã nhượng bộ Kissinger như trên và hai bên họp bàn ngày hôm sau về việc ký kết Hiệp định vào khoảng 25 hoặc 26/10. Kissinger mừng rú, sau bao năm vất vả mới có ngày này, hôm 12 ông về Mỹ báo tin cho Tổng thống, Nixon mở rượu uống cùng Ban tham mưu tại tòa Bạch ốc. Ngày 18/10/72 Kissinger sang Sài Gòn để thuyết trình với chính phủ VNCH về Dự thảo Hiệp định sắp ký, tin là ông Thiệu sẽ đồng ý vì ông vẫn được làm Tổng thống. Trái ngược với sự mong đợi của Kissinger VNCH cực lực phản đối bản Dự thảo, đòi BV phải rút về Bắc, mấy hôm sau Kissinger tại Sài Gòn đánh điện về Mỹ cho Tổng thống đề nghị ký riêng với BV nhưng bị từ chối, Nixon không cần ký trước bầu cử vì biết chắc sẽ tái đắc cử.

Mặc dù thất bại trong việc ký kết, ngày 26/10/1972 Kissinger họp báo tại Tòa Bạch Ốc tuyên bố hòa bình trong tầm tay (peace is at hand) khiến cả nước Mỹ vui mừng. Sang tháng 11, ông Thiệu mở chiến dịch chống bản Dự thảo Hiệp định, chống Kissinger dữ dội, khi ấy Hà Nội cũng đả đảo Kissinger cho là ông này thất hứa, xảo trá. Bị cả hai miền nam bắc VN lên án, chống đối, Kissinger chán nản không muốn tiếp tục cuộc hòa đàm vì tưởng là ký được Hiệp định nay lại hụt, Tổng thống Nixon khuyến khích ông ta tiếp tục tìm hòa bình.

Theo Walter Isaacson, (Kissinger A Biography trang 464) ngày 5 và 6/12/1972 Kissinger đánh nhiều điện tín bi quan về Mỹ cho Nixon, ông đề nghị đưa yêu cầu của Thiệu đòi BV rút quân để họ bác bỏ, ta sẽ lấy cớ bỏ họp, trong một điện tín khác ông đề nghị ném bom 6 tháng. Nixon bình thản có khuynh hướng giải quyết ngoại giao hơn Kissinger, ông nói thà chấm dứt nhiệm vu Kissinger hơn bỏ hòa đàm và ném bom.

Nixon trả lời Kissinger trách sự khó khăn do câu “hòa bình trong tầm tay” đem lại
Hy vọng lên cao trước bầu cử.. (tức cuối tháng 10)…thế mà nay tiếp tục chiến tranh không thấy hy vọng kết thúc, ta sẽ thất bại”
Walter Isaacson, Kissinger A Biography trang 464.

Phá vỡ đàm phán, tái oanh tạc sẽ đưa tới tranh cãi. Kissinger nài nỉ đề nghị Nixon lên TV kêu gọi sự ủng hộ của dân để tái oanh tạc, ca ngợi Nixon là người xứng đáng nhất.

“Tôi tin ngài có thể khích động, thuyết phục họ quay quần lại như đã làm trước đây”
(Trang 464)

Lời nịnh bợ của Kissinger không làm Nixon thay đổi, ông vẫn chán nản việc Kissinger họp báo về dự thảo tháng 10 đã khoe “Peace is at hand”, phụ tá Haldeman cũng như Nixon đều muốn Kissinger lên truyền hình thông báo hòa đàm tan vỡ, bắt đầu ném bom. Kissinger đau đầu khi nghĩ tới việc phải thông báo cho người dân biết hòa bình chưa tới khi mà tháng trước ông đã lỡ nói hòa bình trong tầm tay
Tháng 12/1972 Lê đức Thọ đòi hỏi nhiều khoản mới, đắt nhiều điều kiện mới, Kissinger đánh điện cho Nixon nói BV ngoan cố hơn bao giờ hết. Mặt Trận Giải Phóng đặt vấn đề thả tù binh Mỹ liên quan với thả tù chính trị VC.,

“Nguyễn thị Bình nói trong một cuộc họp báo ngày 8 tháng 12:
-Không lý do gì mà chúng ta phóng thích tù binh Mỹ trong khi các đồng chí của ta vẫn bị địch (VNCH) giam giữ.
Sự kiện này khiến cho nội bộ đảng Lao động bị căng thẳng. Theo Brigham (Giáo Sư), một ủy viến nói:
-Mặt trận (VC) ngoan cố đã làm hỏng hết mọi cơ hội tìm hòa bình, chúng ta đã gần đạt thỏa hiệp nhưng các đồng chí Nam bộ đã phá hoại toàn bộ kế hoạch của ta.
Larry Berman, No Peace, No Honor trang 208,209.

Không riêng gì Mỹ và VNCH bất đồng ý kiến mà ngay nội bộ BV và VC cũng không ổn thỏa. Kissinger sau này kể lại: tháng 12 họp nhau cả chục ngày không đi tới đâu, việc ký Hiệp định ngày càng xa vời.

Ngày 12/12 tại Sài Gòn TT Thiệu chủ tọa phiên họp khoáng đại, ông tuyên bố giữ vững lập trường về Hiệp định ngưng bắn, đòi BV phải rút khỏi miền nam VN. Ông Thiệu cho biết Hội đồng hòa giải dân tộc chỉ là Liên hiệp trá hình, đòi Hà Nội phải công nhận Đông Dương có bốn nước, họ không được gây hấn, tấn công ba nước kia, VNCH không chấp nhận tổng tuyển cử.

Ông tuyên bố sẽ không ký Hiệp định như trên dù Quốc hội Mỹ cắt hết viện trợ, dù VNCH chết ngay, ông cho biết không tin vào lời hứa của Mỹ.

Ngày 13 Kissinger điện tín cho Nixon nói thái độ của Lê Đức Thọ hôm qua cũng y như ba ngày liên tiếp trước đó.

“Nói về bề ngoài hỗn hào trông cũng buồn cười, Hà Nội lên mặt với chúng ta vì biết ta nay yếu thế không còn ảnh hưởng, trong khi Sài Gòn với cái nhìn thiển cận chỉ phá hòa đàm khiến ta suy yếu thêm. Chẳng bao lâu ta sẽ suy yếu không còn đủ sức khi áp lực trong nước sẽ gia tăng nếu ta không ký được Hiệp định và cũng chẳng bảo vệ được miền nam VN. Nay chúng ta chỉ còn hai sách lược. Trước hết cứng rắn với Hà Nội và tăng cường oanh kích cùng những biện pháp khác. Cũng có thể gồm những biện pháp như gài mìn hải cảng , oanh kích ồ ạt hai ngày các nhà máy phát điện cuối tuần này, sử dụng thêm B-52. Ta muốn cho họ biết họ trả giá cho mười ngày ngoan cố vừa qua. Đồng thời ta cố chấn chỉnh Sài Gòn và ít nhất ngăn cản Thiệu đừng để ông ta đơn phương đề nghị thêm nữa. Rất cần áp lực với Sài Gòn để Thiệu đừng nghĩ có thể lung lạc được ta, và chúng ta có thể chứng tỏ rằng ta không chịu nổi sự ương ngạnh của đồng minh (tức Sài Gòn) cũng như sự ngoan cố của kẻ địch (tức Hà Nội)”
(No Peace No Honor trang 213, 214)

Hòa đàm tháng 12/1972 lâm vào tình trạng bế tắc, miền Bắc ngoan cố phá hòa đàm, miền Nam cứng rắn đòi BV phải rút hết, đòi sửa lại nhiều điều khoản. Trong khi ấy người dân Mỹ, phong trào phản chiến cũng như Quốc hội sốt ruột vì muốn có hòa bình sớm hơn. Nếu không ký được Hiệp định Quốc hội có thể ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước, cắt viện trợ VNCH để đổi lấy tù binh, khi ấy mọi nỗ lực của Nixon, Kissinger để cứu miền nam sẽ tiêu tan.

Tổng thống Nixon căm ghét miền Bắc, giận dữ miền Nam, ông tức giận Kissinger vì đã vội vã tuyên bố “hòa bình trong tầm tay” hôm 26/10 khiến cho cả nước hân hoan vui mừng, nay hòa đàm tan vỡ đã đưa ông vào tình trạng khó xử.

Lá bài chót.

Hòa đàm tan vỡ ngày 13/12/1972, Thọ bỏ phiên họp, Kissinger về Mỹ, Haig nói nay chỉ có việc ném bom Hà nội bằng B-52 là cần, tại tòa Bạch ốc chỉ có Nixon, Kissinger và Tướng Haig đưa tới quyết định oanh tạc toàn bộ BV, vấn đề là cuộc oanh tạc sẽ tàn khốc thế nào. Lần đầu tiên trong chiến tranh, Nixon có thể ra lệnh ném bom Hà Nội, Hải phòng bằng B-52. Pháo đài bay khổng lồ này đã được dùng oanh tạc những đường xâm nhập ngoài thành phố, đối với những mục tiêu có dân cư người ta thường xử dụng oanh tạc cơ chiến đấu như F-111 hay F4.

Ngày 14/12 Kissinger điện tín cho Đại sứ Bunker ở Sài Gòn đến gặp ông Thiệu ngay và đừng để ông ta lung lạc, ám chỉ cho ông ta biết TT Nixon sẽ có biện pháp mạnh với BV vì trở ngại hòa đàm. Kissinger cũng nhắc Bunker nói rõ cho TT Thiệu biết TT Nixon rât khó chịu vì lập trường của ông ta về đàm phán. Nếu ông ta vẫn như cũ, nó sẽ đe dọa quan hệ hai nước.

Phái đoàn BV bỏ hội nghị không hẹn bao giờ sẽ trở lại, họ chờ phiên họp của Quốc hội Mỹ đầu tháng 1/1973 sắp tới, hy vọng tình hình có thể thay đổi: Lập pháp sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh rút quân về nước, cắt viện trợ VNCH để đổi 580 người tù binh còn bị giam tại Hà Nội. Như đã nói trên, đầu tháng 12, Nixon không muốn xử dụng vũ lực như đề nghị của Kissinger, nhưng nay BV đã lộ cho thấy sự gian ngoan xảo trá, nếu không nhanh tay trừng trị bọn này đại cuộc có nguy cơ sụp đổ. Quốc hội sốt ruột khi hòa đàm bế tắc có thể sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh khi ấy mọi nỗ lực của Nixon từ bốn năm qua sẽ tiêu tan như mây khói.

Đây là quyết định khó nhất của Nixon về VN trong nhiệm kỳ, nó cũng là canh bạc táo bạo cuối cùng của ông.

Trong No More Vietnams trang 157, Nixon nói:

“Ngày 14 tháng 12 tôi ra lệnh gài mìn cảng Hải phòng, cho máy bay thám sát trên không phận BV, và cho oanh tạc vùng phụ cận Hà Nội, Hải Phòng bằng B-52. Đó là một quyết định khó khăn nhất về VN của tôi trong suốt nhiệm kỳ. Nhưng tôi không còn cách nào khác. Tôi tin chắc nếu ta không ép buộc BV theo đòi hỏi của ta Quốc hội có thể bắt ép chúng ta chấp nhận thua cuộc bằng thỏa thuận rút quân để đánh đổi lấy tù binh Mỹ.”

Nixon lệnh cho Đô đốc Moorer, Tham mưu trưởng liên quân phải đánh trúng mục tiêu đề thắng địch nếu không ông ta sẽ chịu trách nhiệm. Moorer bèn ra lệnh oanh tạc tối đa các mục tiêu quanh Hà nội-Hải phòng, các B-52 mang bom tối đa,
Trận oanh tạc này gọi Linerbacker II cố tránh thiệt hại cho nhân dân nhưng trấn áp tinh thần họ. Moorer nói tôi muốn người dân Hà nội phải nghe thấy tiếng bom. Nixon muốn trận này tiêu diệt timh thần chiến đấu của BV và chứng tỏ cho miền nam VN biết ông là con người thép. Pháo đài bay B-52 chứa một khối lượng bom lớn có thể tấn công mọi thời tiết là khí giới áp đảo tinh thần địch.

Ngày 17/12 bắt đầu tiến hành gài mìn, và trong 24 tiếng đồng hồ Hoa kỳ đã xử dụng 129 B-52 để oanh tạc BV. Trong 12 ngày từ 18/12 cho tới 29/12 Không quân Mỹ đã thực hiện 729 phi vụ B-52 và khoảng 1,000 phi vụ máy bay oanh tạc chiến đấu, đã ném hơn 20 ngàn tấn bom. Mục tiêu oanh tạc gồm hệ thống giao thông, đường rầy xe lửa, nhà máy phát điện, phi trường, kho nhiên liệu… những mục tiêu này đều có ý nghĩa về quân sự.

Đây là trận oanh tạc lớn nhất từ sau Thế chiến thứ hai, một trong những phương châm của Nixon là nếu đã xử dụng vũ lực thì phải mạnh hết cỡ không giới hạn, một khi đã áp dụng sức mạnh quân sự, tôt nhất là phải đánh xả láng.

(“once a decision had been made to apply military muscle, it was best to go all out -Walter Isaacson”, Kissinger A Biography trang 468)

Trong một quyết định táo bạo và liều lĩnh, Nixon đã đánh nước cờ cao để cho BV thấy họ đừng hy vọng dựa vào Quốc hội và bọn Phản chiến, ông đã nhanh chóng ra tay trước.

Ngày 19/12, khi Linerbacker II băt đầu được thi hành, Tướng Haig được cử tới dinh Độc lập cùng Đại sứ Bunker, ông mang thư của Tổng thống Nixon cho TT Thiệu, chỉ có ba người biết nội dung thư là Nixon, Kissinger và Haig. Tướng Haig cho biết TT Nixon lượng giá lại tình hình Đông nam Á, bức thư cho ông Thiệu biết Mỹ sẽ oanh tạc và BV sẽ trở lại bàn hội nghị, Nixon nhắc nhở ông Thiệu cũng phải thay đổi.

“Trận oanh tạc này là một loại bảo hiểm cho ông Thiệu, nếu sinh mạng miền Nam bị đe dọa thì bảo hiểm sẽ giải quyết “
(The bombing was a sort of insurance policy for Thieu. If South Vietnam‘s life was threatened, the policy would be executed, No Peace No Honor, p.217)

Tướng Haig thuyết trình về trận Linerbacker II cho TT Thiệu, ông nói

“TT Nixon quyết định oanh tạc tối đa trận này .. nó được tái diễn để nói cho Hà Nội biết một lần nữa họ đừng rỡn mặt với TT Nixon” ,
(President Nixon was determined to continue these strikes at a maximum intensity…It was designed to again convey to Hanoi that they could not trifle with President Nixon, Larry Berman -No Peace No Honor, p.217)

Larry Berman và nhiều người Mỹ cho rằng Nixon chứng tỏ cho Hà Nội thấy sau này nếu họ vi phạm Hiệp định sẽ bị trả đũa dữ dội cũng như ông cứng rắn trong việc cưỡng bách thi hành Hiệp định. Thực tế cho thấy nhận định trên không đúng vì ngay sau khi ký Hiệp định CS đã vi phạm liên tục và nhất là năm 1975 họ công khai đem đại binh xâm lược miền Nam trước mắt cả thế giới.

Sau 7 ngày oanh tạc, Nixon ngưng ném bom ngày Giáng sinh, ngày 26 lại đánh tiêp, hầu như ngay sau đó Hà nội muốn trở lại bàn hội nghị. Những trận tấn công sau ngày 26 nói chung ồ ạt, 10 mục tiêu từ 15 hương bị đánh mạnh. Trận oanh tạc ngưng ngày 29, Hà nội chịu trở lại hòa đàm..

Mục đích trận oanh tạc này để kéo BV trở lại bàn hội nghị
(This time, he had only one goal: to bring Hanoi back to the negotiating table, No Peace No Honor trang 215)

Nhờ đó Quốc hội Mỹ sẽ không có cớ để ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước đổi lấy tù binh, có nghĩa là Nixon đã giữ được VNCH không bị mất về tay CS ít ra là trong lúc này.

Thiệt hại về vật chất hạ tầng cơ sở của BV rất nặng (nguồn Wikipedia: Operation Linebacker II): Không quân ước lượng 500 đường xe lửa bị đình chỉ hoạt động, 372 toa xe lửa và ba triệu gallons săng dầu bị phá hủy, 80% điện năng của BV bị hư hỏng. Nhập lượng tiếp liệu vào BV được tình báo Mỹ đánh giá là 160,000 tấn hàng tháng khi mới tiến hành chiến dịch. Đến tháng 1/1973, nhập lượng này đã tụt xuống còn 30,000 tấn, vào khoảng năm lần.

Theo Nixon (No More Vietnams trang 158) , dư luận báo chí trong nước Mỹ lên án chính phủ trải thảm các khu cư dân BV, nhưng theo các số thống kê chỉ vào khoảng 1,300 cho tới 1,600 người, đó là điều đáng tiếc nhưng số tử vong này không thấm gì so với hồi Thế chiến thứ hai, hơn 35,000 người bị giết tại Dresden, Đức quốc trong ba cuộc oanh tạc và hơn 42,000 người bị giết trong 6 đêm oanh tạc tại Hamburb, một thành phố lớn của Đức và hơn 83,000 người Nhật bị giết chỉ trong hai ngày khi chúng ta ném bom lửa tại Tokyo năm 1945. Nếu chúng ta nhắm mục tiêu dân sự thì số người thiệt mạng sẽ tăng lên gấp hàng trăm lần như thế.

Stanley Karnow, trong Vietnam , A History trang 668 xác nhận số tử vong do BVchính thức thông báo là 1,318 người tại Hà Nội và 305 người Hải phòng thua xa trận ném bom lửa tại Tokyo năm 1945 có tới 84,000 người chết trong một đêm. Karnow cho biết sự phản đối của người dân tương đối thầm lặng vì quân đội Mỹ đã rút gần hết về nước, chiến tranh không còn gây phân hóa mạnh, trái lại báo chí lên án dữ dội, Đức Giáo Hoàng Paul Đệ Lục nói ngài rất đau buồn vì trận oanh tạc trong một buổi tiếp kiến tại Vatican.

“Một ký giả Pháp duy nhất ở tại chỗ truyền đi một bản tin để rồi báo chí đài phát thanh, truyền hình Mỹ dựa theo đó nói đây là ‘oanh tạc trải thảm’ Hà nội Hải phòng. Nhưng ngay sau đó ký giả Malcolm Browne của tờ New York times truyền đi từ Hà Nội nói sự thiệt hại đã được phóng đại nhiều lần và những ký giả ngoại quốc khác cũng nhìn nhận như thế. Cả Trần Duy Hùng, Chủ tịch uy ban nhân dân thành phố Hà Nội cũng xác nhận thế. Các nhà phản chiến Mỹ viếng thăm thành phố trong trận oanh tạc đã xúi ông Chủ tịch ủy ban cứ “hê” lên có mười ngàn người bị giết vì bom đạn nhưng ông này từ chối, sợ làm mất uy tín cho chính phủ của ông”
Vietnam, A History trang 667, 668

Thế mới biết nhóm phản chiến gian trá, CSBV còn phải thua. Theo Karnow sau chiên tranh ông viếng Hà nội thấy đa số các tòa nhà của hai thành phố không bị tàn phá cũng như không được xây dựng lại. Thật ra B-52 đã được thảo chương chình điện tử tránh khu dân sự và nhắm mục tiêu rất chính xác, chỉ có một số ít trường hợp bom lạc như khu Khâm Thiên có hơn hai trăm người bị giết, nhà thương Bạch Mai trúng bom có có 18 người chết trong số khoảng một trăm bệnh nhân và nhân viên y tế.
Thiệt hại phía Mỹ không phải là ít: 15 B-52, mỗi chiếc trị giá 8 triệu dollars thời đó và và 12 máy bay oanh tạc chiến đấu, mất 93 phi công và phi hành đoàn trong đó có 31 người bị bắt.

Bàn luận về trận Linerbacker II

Việc sử dụng B-52 trong trận này có nhiều ý kiến khác nhau, những người tán thành cho rằng đó là một đòn nặng để đưa BV trở lại bàn Hội nghị trước khi Quốc hội tái họp và ngăn chận toàn bộ chiến dịch nếu bom không khuất phục được họ.

Những ý kiến chống đối cho rằng kế hoạch táo bạo này sẽ không có kết quả, chết chóc nhiều và tốn kém cho Hoa kỳ vì B-52 rất đắt tiền. Kế hoạch sẽ làm cho Mỹ bị mang tiếng, không được người dân ủng hộ, những người tin việc ném bom khu kỹ nghệ để làm suy yếu BV không dễ dàng lắm.

“Ngoài ra Sài Gòn cần phải bị gây áp lực chứ không phải Hà Nội. Thật là bất công khi khi oanh tạc BV tàn bạo vì hòa đàm tan vỡ do TT Thiệu gây ra từ trước”
(Walter Isaacson trong Kissinger A Biography trang 468)

Trận Linerbacker II bị trong nước kết án nặng nề: Tờ Washington post ngày 28 nói cuối tháng 10/1872 Kissinger tuyên bố hòa bình trong tầm tay nay lại diễn ra trận oanh tạc vô nhân đạo. Tờ New York Times diễn tả trận này là điều ô nhục trên trái đất, Thượng nghị sĩ Mansfield nói đây là chiến thuật thời kỳ đồ đá…Chính TT Nixon cũng cũng ghi nhận về những dư luận chống đối ông như:

Một tờ báo viết dân tộc văn minh sẽ ghê sợ hình ảnh không quân mạnh nhất thế giới tấn công tàn bạo một nước Á châu bé nhỏ không kể gì tới nguyên tắc nhân đạo. Có tờ chỉ trích ông là một bạo chúa điên, một trận tàn sát mang danh người Mỹ.

Nói về nguyên do đưa tới trận Linerbacker II, có nhiều ý kiến như: Nixon và một số nhà nghiên cứu nói BV bỏ Hội nghị ngày 13/12/1972 để chờ phiên họp Quốc hội đầu tháng 1/1973, họ hy vọng Lập pháp sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh có lợi cho họ. Vì nhận định sai lầm như thế nên họ đã phải trả giá cao.

Theo Walter Isaacson trong sách kể trên trang 470, tại BV đòi hỏi quá đáng và lý do chính Hà Nội bị oanh tạc vì Kissinger và Nixon tin rằng cần phải có chút nhượng bộ cho Sài Gòn đỡ mất mặt. TT Thiệu đã thách đố Kissinger và cố chấp.

Sau này Kissinger viết
“Lỗi lầm chính mà Bắc Việt đã phạm phải trong cuộc đàm phán với Nixon là họ đã dồn ông vào chân tường “
(No Peace No Honor trang 215)

Larry Berman cho rằng B-52 là lá bài chót của Nixon (The B-52s were his last roll of the dice, trang 215)

Ngoài ra Larry Berman (No Peace No Honor trang 176-177) cho biết nay cuộc nghiên cứu mới dựa vào tài liệu của văn khố Hà nội cho biết sự nhượng bộ của Lê Đức Thọ đã khiến giới lãnh đạo Mặt Trận Giải Phóng (tức VC) ngạc nhiên và bất mãn. Từ 1968 VC đòi Thiệu phải bị loại bỏ. Giáo sư Brigham cho biết MTGP đòi thả tù chính trị tại miền nam VN và Thiệu phải ra đi. MTGP chính thức phản đối Bộ Chính trị, Nguyễn Thị Bình họp với Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Hà Nội cam đoan với Thị Bình việc thả tù Mỹ có liên hệ thả tù chính trị VC và Thiệu chỉ là bù nhìn cho tới khi bầu cử xong ở miền nam.

Nhưng giai đoạn này Hà nội lại không quan tâm tới tù chính trị VC còn bị VNCH giam giữ. Ngày 16/10/1972 Thọ thỏa thuận việc thả tù binh Mỹ không liên hệ với thả tù VC. Khi Kissinger tuyên bố hòa bình trong tầm tay ngày 26/10/1972, MTGP (VC) chính thức than phiền Hà Nội đi quá xa chỉ quan tâm tới kẻ địch, tù binh Mỹ hơn là lo cho các đồng chí còn bị giam ở miền nam VN. Việt cộng không vội ký Hiệp định trong khi BV muốn ký gấp.

Giáo sư Bragham nhận xét

“Những người ở trong nam dù CS hay không CS (tức VC và VNCH) không hiểu sao BV vội vã ký Hiệp định trong chính sách của họ về miền nam
(Many southerners, communists and non-commmunists alike, simply could not understand Lao Dong’s haste to reach an agreement on its policies towards the south”)
No Peace No Honor trang 176-177

Và Larry Berman giải thích thêm

Điều này có ý nghĩa về hậu quả tháng 12 (tức trận bom) khi Hà nội chịu thêm trận Linerbacker II chỉ vì MTGP đã áp lực (BV) để đòi thêm nhượng bộ (từ phía Mỹ). Nhiều người miền Bắc oán hận muôn đời các đồng chí CS anh em ở miền nam, vì CS miền Nam mà miền Bắc phải bị ăn trận đòn chí tử.”
(This would have significant consequences in December, when Hanoi endured the next wave of Linerbacker bombings because the NFL had exerted such pressure for new concessions in Paris . Many Northerners never forgave their Southern commmunits brothers for making them endure such punishment)
Sách đã dẫn trang 176-177

Giữa VNCH và Mỹ có sự chia rẽ, MTGP (VC) cũng không đồng ý với BV, họ đòi BV phải bỏ những nhượng bộ tháng 10/1972 vì nếu không loại bỏ Thiệu thì MTGP sẽ chẳng được tí gì, bao nhiêu hy sinh chỉ là công dã tràng. Chính vì MTGP yêu cầu BV phải đòi hỏi Mỹ nhượng bộ thêm (như loại bỏ Thiệu) mà hòa đàm tan vỡ dồn Nixon vào chân tường để rồi đưa tới trận đòn ác liệt như trên.

Kissinger A Biography trang 470, tác giả Walter Isaacson nhận xét xin tóm lược như sau: BV căm giận trận bom tháng 12 có lẽ vì họ đòi hỏi quá, lý do chính Hà nội bị trận đòn vì Kissinger và Nixon tin rằng cần phải có chút nhượng bộ cho Sài Gòn đỡ mất mặt. TT Thiệu đã thách đố, lên án Kissinger và ngang bướng. Sự thiệt hại thể diện của Mỹ và tiếng tăm của Kissinger rất lớn, ông ta cho đây là thất bại lớn nhất trong đời ngoại giao cùa mình.

Đa số các nhà chính trị, quân sự, các ký giả, các nhà học giả nghiên cứu chiến tranh VN đã nhận định trận oanh tạc cuối tháng 12/1972 không mang lại kết quả mong muốn có nghĩa là Hiệp định ký ngày 27/1/1973 không đòi hỏi được gì thêm so với bản Dự thảo trước đó 3 tháng (tháng 10/1972).

Walter Isaacson cho rằng Hà nội bị ném bom để thay đổi một hiệp ước mà Mỹ đã chấp nhận. Sự thay đổi mà nhiều người phải thiệt mạng nhỏ đến nỗi Nixon, Kissinger có thể nghĩ nó thế nào.

Sau này Kissinger nói.
Thật ra tôi không dám chắc rằng Nixon có thực sự hiểu những thay đổi ấy như thế nào không.
(In fact, I’m not sure that Nixon ever really understood what those change were)
Kissinger A Biography trang 470.

Riêng về điểm này, người ta thường chê Kissinger lươn lẹo, chính ông ta đã nhiều lần đề nghị Nixon oanh tạc BV để tạo thế mạnh tại bàn hội nghị, nay lại đổ trách nhiệm cho Tổng thống.

Trong Vietnam, A History trang 669, Stanley Karnow cho biết.

“Nixon nói chúng ta đã thực hiện hòa bình trong danh dự, nhưng Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 không khác sơ thảo Hiệp định tháng 10 (1972) là mấy. Cuộc oanh tạc của Nixon là thừa- ít nhất như một khí cụ ngoại giao. Tuy nhiên mục đích của ông không phải là ngoại giao, ông cố trấn an ông Thiệu và cảnh cáo CS là sẽ sẵn sàng tái oanh tạc BV nếu Hiệp định bị vi phạm”

Marvin Kalb, Bernard Kalb trong cuốn Kissinger trang 412 cũng nói về khuyết điểm của việc ký kết, Hiệp định ký kết 23/1/1973 (Kissinger ký tắt với Thọ ngày 23) xem ra không hơn gì bản Dự thảo hai bên định ký ngày 26/10/1972 trước đó đúng ba tháng mặc dù đã oanh tạc BV ồ ạt tháng 12. Điều này có nghĩa là trận oanh tạc Linerbacker II dữ dội nhưng không đòi BV nhượng bộ thêm tại bàn hội nghị mà chỉ để nâng cao tinh thần của Sài Gòn và hủy hoại tiềm lực chiến tranh của Hà Nội.

Theo Walter Isaacson (Kissinger A Biography, trang 483) Negroponte, phụ tá Kissinger nói

“Chúng ta oanh tạc BV để buộc họ chấp nhận nhượng bộ của ta” (We bombed the North Vietnamese into accepting our concessions).

Negroponte và Tướng Haig tưởng rằng trận Linerbacker II để ký một Hiệp định thuận lợi như đòi BV phải rút khỏi miền nam mà chẳng đòi được gì cả.
Nhưng mục đích của trận oanh tạc không phải chỉ để đòi thêm những khoản tốt hơn nhưng để đưa BV trở lại bàn hội nghị

“Lần này ông (Nixon) chỉ có một mục đích đưa Hà Nội trở lại bàn hội nghị”
(This time, he had only one goal: to bring Hanoi back to the negotiating table, No Peace No Honor trang 215)

Thật vậy, như đã nói ở trên, phái đoàn Hà Nội phá vỡ hòa đàm, không chịu trở lại Hội nghị mà ngồi chờ Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh nên Nixon phải nhanh tay xử dụng tối đa sức mạnh để khuất phục kẻ địch. Ngoài ra như Nixon đã nói trong No More Vietnams, việc đòi BV rút quân không thể thực hiện được vì đối với CS thà không ký còn hơn. Vả lại trước áp lực của Quốc hội Nixon phải ký gấp không thể chần chờ thêm được nữa.

Nhận xét

Nhiều giới chức quân sự, chính trị, nhà nghiên cứu… sau này tiếc Mỹ đã không làm mạnh những năm trước như từ 1967, 69….Họ cho rằng nếu đã oanh tạc CSBVdữ dội như trận Linerbacker II thì họ đã chịu chấp nhận từ bỏ mộng xâm lăng miền nam VN.
Tướng Haig, phụ tá Kissinger nói.

“Tôi xin quả quyết, tin chắc một cách tuyệt đối rằng nếu chúng ta làm mạnh từ 1969 như đã làm cuối 1972 thì cuộc chiến đã được giải quyết từ lâu và ta đã lấy được tù binh, đạt được mục đích …. Đúng ra ta phải quyết định dứt khoát hơn trong việc xử dụng sức mạnh để giải quyết tận gốc vấn đề .. . Tôi nghĩ năm 1969, khi tân Tổng thống nhậm chức (tức Nixon), ông phải oanh tạc Hà Nội ngay, động viên lực lượng của ta trong nước, cảnh báo Sô Viết… và làm tất cả những việc đáng lý phải làm từ thời chính phủ Johnson, như thế chắc chắn cuộc chiến sẽ không kéo dài thêm ba năm, chắc đã có thỏa ước ký kết và quân xâm lược BV phải rút hết khỏi miền nam VN”
No Peace No Honor trang 57

Theo Larry Berman cuộn băng của tòa Bạch Ốc tháng 6/1971 mới được bạch hóa cho thấy niềm tiếc nuối của Nixon.

Haldeman nói: Cuộc chiến này thất đức hơn hết thẩy những cuộc chiến mà chúng ta đã tham dự vì một lý do là ta đã không muốn tận dụng tiềm lực để chiến thắng.
Nixon đáp: . . ..Khoảng tháng 11 năm nay (1971), tôi sẽ chơi canh bạc táo bạo. Chừng nào ta còn không lực – ta sẽ không bận tâm tới chuyện ngưng ném bom, ta sẽ ném bom đê điều, nhà máy điện (BV), ta sẽ ném bom Hải phòng, (ông đập bàn nói) ta sẽ san bằng cái đất nước khốn nạn đó (tức BV).

Kissinger: Thưa Tổng Thống, tôi nghĩ người dân Mỹ hiểu thế.
Nixon: . . ..Ủng hộ việc ấy, ta sẽ coi họ là ai. Vấn đề là ta sẽ không khóc than, và ta sẽ không thua cuộc.. Đó là…
Kissinger: Thưa Tổng thống, tôi nhiệt liệt ủng hộ kế hoạch ấy, tôi nghĩ ta phải làm thế”.
No Peace No Honor trang 58.

Nixon thường chỉ trích Johnson không chịu làm mạnh những năm giữa thập niên 60, ngay chính ông, nhậm chức 1969 mặc dầu cứng rắn hơn trước nhiều nhưng cũng không dám làm mạnh như oanh tạc BV ồ ạt từ 1969, 1970.. để giải quyết tận gốc cuộc chiến tranh sa lầy. Trước hết người ta sợ vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người dân trong nước cũng như sợ Tây phương lên án và nhất là Xô Viết, Trung Cộng có thể can thiệp mạnh hơn đưa tới những hậu quả khôn lường.

Trong Kissinger A Biography trang 470, tác giả Walter Isaacson cho rằng quyết định ném bom tháng 12/1972 mục tiêu thành phố BV là một hành động ám ảnh nước Mỹ và Kissinger cho tới ngày nay.

“Sự thiệt hại cho uy tín của Hoa Kỳ và tiếng tăm của Kissinger phải nói là rất lớn”

Thực ra Lê Đức Thọ đã cố tình phá vỡ hòa đàm, bỏ họp từ ngày 13/12/1972 và không hẹn ngày trở lại, đó không phải chỉ là sự thách đố, sỉ nhục Kissinger, Nixon mà cho cả Hoa Kỳ. Trận oanh tạc này chẳng qua là để cứu vãn danh dự cho người Mỹ, đã lôi cổ BV trở lại bàn hội nghị thay vì phải đầu hàng CS một cách hèn hạ nhất. Nhờ Nixon nhanh tay sử dụng sức mạnh của B-52 mà Hà nội phải trở lại bàn hội nghị nếu không có thể thảm kịch sẽ sẩy ra: Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân, cắt viện trợ VNCH để đổi 580 tù binh Mỹ. Hà nội đã chịu thua trong canh bạc táo bạo này, trận oanh tạc long trời lở đất đã cứu được Đông Dương sụp đổ ít ra là trong lúc này.
Ngoài ra TT Nixon có nói.

“Trận ném bom đã đạt mục đích quân sự, chúng ta đã đánh phá tan nát bộ máy chiến tranh của Bắc Việt”
No More Vietnams, trang 158.

Bắc Việt bị suy yếu nhiều, nhưng VNCH chỉ tồn tại thêm được hơn hai năm vì hậu quả của vụ Watergate và vì bị Quốc hội phản chiến cắt hết viện trợ, Nixon và Kissinger chỉ có thể làm được đến thế trong khả năng hữu hạn của hai người.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

(trích trong Nixon và Kissinger Bán Đứng Đồng Minh, xuất bản 2012)

—————————————————-
Tài Liệu Tham Khảo

Richard Nixon: No More Vietnams , Arbor House, New York 1985
Marvin Kalb and Bernard Kalb: Kissinger; Little, Brown and company 1974
Walter Isaacson: Kissinger A Biography Simon & Schuster 1992.
Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam -The Free press 2001
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Robert Dallek: Partners In Power, Nixon and Kissinger – Harper Collins publishers 2007
Rebecca Larsen: Richard Nixon, Rise and Fall of a President, Franklin Watts 1991.
Elizabeth Drew: Richard M. Nixon, Times Books 2007.
Jonathan Aitken: Nixon a Life, Regnery Publishing, inc 1993
The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985
Stanley Karnow: Vietnam , A History, A Penguin Books 1991
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
* * *
Wikipedia: Operation Linebacker II
The Hauenstein Center for Presidential: Nixon and the Christmas bombing.
AirSpacemag.com, Military Aviation: The Christmas bombing.
Commondreams.org: The Christmas bombings, by James Carrell.
Namvets.com: Vietnamese remember Christmas from hell.
U.S Centenial of flight commission: Linebacker II bombing raid.
History.com, History made every day: Nixon announces start of Christmas bombing of North Vietnam .
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war

  1. Tài Liệu: Trích Biên bản cuộc họp tại Bắc Kinh giữa Chu Ân Lai và H. Kissinger về vấn đề Việt Nam, 1972
  2. Cuộc chiến bốn mươi năm trước: Mùa hè đỏ lửa (1972)
  3. Lược lại 39 năm Hiệp định Hòa Bình Paris dưới mắt người Mỹ
  4. Nixon và hòa bình trong danh dự
  5. Trận mưa bom Giáng sinh
  6. 1972: Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Đức Thọ

Tags:

nguồn: danchimviet.info

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Tagged: | Leave a Comment »

►Trận Mưa Bom Giáng Sinh 1972 kéo dài 11 ngày

Posted by hoangtran204 trên 27/12/2012

Trận Mưa Bom Giáng Sinh

Trọng Đạt

22-12-2011

Hòa đàm bế tắc

Sau trận tổng công kích Tết Mậu Thân Tổng thống Johnson quá mệt mỏi vì cuộc chiến tranh Việt Nam, ngày 31-3-68, ông tuyên bố không tái tranh cử và tạm thời cho ngưng oanh tạc một phần lớn lãnh thổ Bắc Việt từ vĩ tuyến thứ 20 trở lên, ông kêu gọi Hà Nội hãy tỏ thiện chí hòa đàm nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh. Một tháng sau Cộng Sản Bắc Việt nhận lời đàm phán.

Hội nghị được tổ chức tại khách sạn Majestic, thủ đô Ba Lê nước Pháp khai mạc ngày 10-5-1968 ông W. Averell Harriman đại diện phía Mỹ, Xuân Thủy phía Hà Nội. Đây là một hội nghị được quốc tế chú ý nhất từ trước tới nay có hơn 3,000 phóng viên các nước tới theo dõi lấy tin.
Hà nội khăng khăng đòi Mỹ phải ngưng oanh tạc toàn diện miền Bắc. Ngày 31-10-1968 Johnson nhượng bộ cho ngưng dội bom trên toàn miền Bắc.

Hòa đàm thực sự bắt đầu dưới nhiệm kỳ chính phủ Cộng Hòa Nixon, nhậm chức đầu năm 1969. Hà Nội ngoan cố đòi hai điều kiện tiên quyết: Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, lật đổ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu để thay thế bằng chính phủ lâm thời ba thành phần. Hoa Kỳ rút quân dần dần mỗi năm, từ 530 ngàn người Mỹ đóng ở miền Nam 1968 cho tới 1972 chỉ còn vài chục nghìn người, Bắc Việt vẫn ngoan cố đói phải lật đổ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.

Sở dĩ BV ngoan cố không chịu đàm phán nghiêm chỉnh vì họ đã được phong trào phản chiến và Quốc hội Mỹ gian tiếp hoặc trực tiếp yểm trợ. Theo Nixon (trong No More Vietnams trang 127) hành động của đám sinh viên bạo động đã khuyến khích CSBV gây chiến không chịu đàm phán nghiêm chỉnh. Bọn biểu tình vô tình kéo dài chiến tranh làm lợi cho CS. Tại cuộc hòa đàm đại diện BV đã nhiều lần hỗn hào chửi bới phái đoàn Mỹ, họ nắm được cái tẩy của hành pháp Mỹ đang gặp khó khăn vì bị Quốc hội và phản chiến chống đối.

Cuối tháng 3-1972, BV đem đại binh tấn công qui mô trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa tổng cộng 10 sư đoàn chính qui có xe tăng, đại bác phòng không yểm trợ đánh ba tỉnh lớn Bình Long, Kontum, Quảng Trị cho tới giữa tháng 9-1972 quân đội VNCH tái chiếm cổ thành Quảng Trị và cuộc chiến được gọi Mùa hè đỏ lửa chấm dứt. BV bị thiệt hại nặng khoảng từ 70 cho tới 100 ngàn cán binh, phía VNCH vào khoảng 30 ngàn người tử trận. Không quân và Hải quân Mỹ yểm trợ tối đa, Hoa Kỳ muốn VNCH phải thắng để lấy ưu thế tại bàn hội nghị. Người Mỹ đã mở lại các cuộc oanh kích miền Bắc để trả đũa BV, họ gọi là Operation Linebacker bombing, chiến dịch oanh tạc Linebacker I này bắt đầu từ 10-5 đến 23-10-1972.

Cuối năm 1972 Hoa Kỳ mở chiến dịch Linebacker II (Linebacker thứ hai) đây là chiến dịch oanh tạc của không quân nhằm vào BV trong giai đoạn chót của Mỹ trong chiến tranh VN từ 18-12 tới 29-12-1972, cũng được gọi vui là Christmas bombing, Cuộc oanh tạc vào dịp Giáng sinh. Đây là cuộc oanh tạc lớn nhất của không quân Mỹ từ sau Thế chiến thứ hai, nó là sự tiếp tục của Chiến dịch Linebacker I kể trên, điều khác biệt là Linebacker II oanh tạc bằng B-52 chứ không bằng máy bay chiến thuật như Linebacker.

Trước Giáng Sinh 1972 gần 3 tháng, vào ngày 8-10-1972 Kissinger và Lê đức Thọ gặp nhau ở Ba Lê để thảo luận về những đề nghị mới của hai phía tìm kiếm hòa bình. Lê Đức Thọ đề nghị kế hoạch mới của BV: Ngưng bắn tại chỗ, Mỹ rút quân, trao đổi tù binh BV, VNCH, Chính phủ lâm thời của Mặt trận giải phóng, giữ nguyên, BV không đòi Thiệu từ chức, Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ cho VNCH, cả Hà Nội và Mỹ đều được tiếp tục viện trợ cho đồng minh trên căn bản đồng đều nhau, BV sẽ không xâm nhập, Mỹ sẽ tái thiết BV, thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải dân tộc, thực hiện bầu cử tại miền Nam VN, sẽ có ba quyền lực: Chính phủ Sài Gòn, Mặt Trận giải phóng, Thành phần thứ ba gồm đại diện cả hai bên. Cả ba phải có sự nhất trí, mọi hành động của hội đồng mới phải có sự đồng ý của TT Thiệu.

Ngày 11-10-1972 tòa đại sứ Pháp tại Hà Nội bị thiệt hại trong cuộc ném bom của Mỹ, Đại sứ Pháp Pierre Susini bị thương nặng Lê Đức Thọ phản đối với Kissinger, Hoa kỳ ngưng oanh tạc 23-10-1972. Ngày 16-10-1972 Kissinger trở lại Paris họp với Xuân Thủy trong khi Lê Đức Thọ đang về Hà Nội. Hai bên lại họp ngày 17-10-1972, họ bất đồng ý kiến hai điểm: Việc thay thế định kỳ vũ khí của miền nam VN, thả tù binh CS do VNCH giam giữ. BV muốn ký hiệp định trước tháng 11-1972, họ tin rằng Nixon sẽ nhượng bộ trước kỳ bầu cử Tổng thống sắp tới hơn là sau bầu cử. Kissinger đồng ý những điều khoản mới, ông cho Nixon biết và được Nixon chấp thuận.

Sơ thảo Hiệp định sẽ được ký tại Hà Nội ngày 31-10-1972. Kissinger bay đến Sài Gòn ngày 18-10 để gặp TT Thiệu, VNCH không đồng ý với bản hiệp định mới và không hài lòng với Kissinger cho là đã phản bội. TT Thiệu đòi sửa 129 điều khoản trong đó đòi khu phi quân sự phải coi như biên giới quốc gia, không còn là ranh giới quân sự tạm thời, VNCH phải được coi như một quốc gia biệt lập, nếu được như vậy thì BV sẽ không còn lý do gây chiến tranh để thống nhất đất nước như họ đang làm.
Về điểm này sử gia Stanley Karnow trong Vietnam a History trang 665 đã chua chát nói.

“Thật là mỉa mai hết chỗ nói, người Mỹ đã chiến đấu bao nhiêu năm để bảo vệ nền độc lập của miền nam VN bây giờ họ lại phủ nhận tính hợp pháp của nó”.
(That, however, was the supreme irony of the moment. After fighting for years to defend South Vietnam’s independence, The United Stated was now denying its legitimacy)

Ngày 26-10 ông Thiệu tiến thêm một bước, công bố bản dự thảo đã được sửa khi ấy giới lãnh đạo miền Bắc cho rằng Kissinger đã đánh lừa họ, họ bèn công bố một số phần của thỏa ước cho người ta cảm tưởng rằng thỏa ước phù hợp mục đích của Hoa Kỳ và chính phủ Sài Gòn. Kissinger muốn tạo niềm tin cho cả hai miền, ông quả quyết với BV rằng mình thật tình và với Sài Gòn rằng Mỹ đã gây hiểu lầm. Kissinger họp báo tại tòa Bạch ốc lạc quan tuyên bố ta có thể tin hòa bình đang ở trong tầm tay (We believe that peace is at hand).

Ngày 20-11-1972 những điều khoản tu sửa của VNCH và 44 điều khoản thay đổi do Nixon yêu cầu đã được Kissinger trao cho phái đoàn CSVN. Những khoản yêu cầu gồm: Khu phi quân sự được coi như ranh giới quốc tế giữa hai nước, quân đội CSBV rút về Bắc, BV bảo đảm ngưng bắn lâu dài tại Đông Dương, một lực lượng quốc tế giữ gìn hòa bình sẽ được thành lập để quan sát ngưng bắn.

Khi đọc xong, phía BV rút những nhượng bộ và mặc cả thêm khiến Kissinger bèn nói dậm chân tại chỗ rồi. Cuộc nói chuyện dự trù 10 ngày chấm dứt ngày 13-12 với thỏa thuận của hai bên bắt đầu thương thảo, cuộc đối thoại tan vở hôm ấy, phái đoàn Hà Nội từ chối không chịu tiếp tục đàm phán.

Nixon đang định kỳ hạn cho ngày ký Hiệp Định tháng 1-1973, lời tuyên bố của Kissinger khiến dân Mỹ tin tưởng, kỳ vọng ở thỏa hiệp. TT Nixon lo phiên họp Quốc hội thứ 93 sẽ bắt đầu ngày 3-1-1973, ông sợ các nhà lập pháp Dân chủ sẽ ban hành luật chấm dứt chiến tranh trước khi ông thực hiện cam kết hòa bình trong danh dự của mình. Phía BV đánh hơi thấy phiên họp Quốc hội trong tháng 1-1973 có thể ban hành luật chấm dứt chiến tranh Đông Dương đến lúc ấy thì khỏe re, bất chiến tự nhiên thành, khỏi phải họp hành ký kết. Đó là một lỗi lầm tai hại của họ đưa tới trận đòn tàn khốc nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh VN.

Tổng thống Nixon quan tâm trước hết chi phí chiến dịch Linebacker, máy bay, nhân lực gửi tới Đông Nam Á đè nặng lên ngân sách Ngũ giác đài, tổng cộng 4 tỷ vào giữa mùa thu và Bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair đã khẩn khoản đề nghị Nixon xin Quốc hội một ngân khoản để trang trải. Kissinger và Nixon được biết lập pháp sẽ có thể nắm cơ hội để đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến.

Quyết định và thảo kế hoạch.

Kissinger từ Paris về ngày 14-12-1972 ông bàn với Nixon sau đó gửi tối hậu thư cho Hà Nội đe dọa nếu BV không trở lại bàn hội nghị trong 72 giờ đồng hồ (3 ngày) sẽ đưa tới hậu quả nghiêm trọng.

Cũng trong ngày Nixon ra lệnh phong tỏa cảng Hải Phòng bằng máy bay thả mìn và cho Bộ tư lệnh không quân nghiên cứu kế hoạch oanh tạc trong giới hạn 72 giờ. Nixon bác bỏ lời Kissinger khuyên Tổng thống lên truyền hình thông báo chiến dịch, ông lệnh cho Kissinger mở cuộc họp báo ngày 16-12 để nói cho dư luận biết hòa đàm bế tắc vì BV ngoan cố. Kissinger ám chỉ cho biết chính phủ sẽ có biện pháp mạnh.

Một trong những phương châm của Nixon là nếu đã dùng vũ lực thì phải tận dụng sức mạnh vô giới hạn, một khi đã áp dụng sức mạnh quân sự thì tốt nhất là phải đánh xả láng, once a decision had been made to apply military muscle, it was best to go all out (Walter Isaacson – Kisinger A Biography trang 468). Trước ngày mở oanh tạc, Nixon chỉ thị cho Đô đốc Moorer:
“Đây là cơ hội để ông xử dụng hỏa lực quân sự hữu hiệu để thắng địch, nếu không ông sẽ chịu trách nhiệm”.

Nixon lấy Linebacker II để gây thiệt hại tối đa về vật chất cho BV, trong khi Linebacker I tháng 5-1972 để phá hoại bộ máy quân sự BV, Nixon xử dụng Linebacker II để tiêu diệt tinh thần chiến đấu của địch cũng như để chứng tỏ cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy ông là con người thép (Larry Berman – No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam, trang 215)

Thời hạn tối hậu thư đã qua, hai hôm sau vào ngày 18-12, Mỹ mở cuộc oanh tạc Hà Nội. Về sau các sử gia nghiên cứu về cuộc chiến Đông Nam Á đồng ý với quan điểm của Nixon cho rằng BV ngoan cố không chịu trở lại phòng họp. Hai bên đã muốn thương thảo nhưng BV lại từ chối trở lại, họ chờ phiên họp sắp tới của Quốc Hội. Mục đích của TT Nixon không phải để thuyết phục BV mà để thuyết phục ông Thiệu, Nixon cho biết dù điều khoản của hiệp định ngưng bắn như thế nào, VNCH có thể tin vào lời hứa của ông sẵn sàng yểm trợ cho miền Nam khi BV vi phạm hiệp định.

Sau chiến dịch Linebacker I, Hoa Kỳ có 207 B-52 dành cho chiến trường Đông Nam Á, gồm 54 chiếc (mẫu B-52-D) đóng tại phi trường U-Tapao Thailan và 153 chiếc khác tại căn cứ Andersen, đảo Guam (gồm 55 chiếc B-52 D và 98 B-52G).

Chiến dịch coi như xử dụng một nửa tổng số máy bay B-52 của Không đoàn oanh tạc cơ Mỹ, các vị chỉ huy của Bộ chỉ huy chiến thuật không quân miễn cưởng chấp nhận sự xử dụng những máy bay đắt giá và những phi hành đoàn huấn luyện tốn kém. Sự huy động một lực lượng máy bay B-52 lớn chưa từng thấy trong cuộc chiến và dự án tấn công đại qui mô quanh Hà Nội 20 km cho thấy thể hiện sự thay đổi lớn trong việc huy động lực lượng không quân.

Nhiều vị trong Bộ chỉ huy cũng đồng ý với chiến dịch bay vào màng lưới phòng không dầy đặc của BV hy vọng chứng tỏ các oanh tạc cơ có khả năng vượt qua hệ thống hỏa tiễn tinh khôn địa không SAM (surface-to-air missiles) do Nga chế tạo cũng như súng phòng không và máy bay nghênh chiến MIG. Lý do chính phải dùng B-52 cho chiến dịch thay vì phi cơ chiến thuật vì tháng 12 thuộc mùa mưa tại miền Bắc VN, thời tiết xấu gây khó khăn cho các phi cơ chiến thuật vì các máy bay này cần quan sát bằng mắt. B-52 có khả năng tham chiến dù thời tiết xấu cũng như tốt nên đã được chọn giữ vai trò then chốt cho chiến dịch này. B-52 đã được trang bị hệ thống bom vận hành theo radar và các máy bay yểm trợ. Các pháo đài bay này có thể tấn công mục tiêu hoặc với những bom có tia laser hướng dẫn khi thời tiết tốt hoặc dùng hệ thống oanh tạc do radar hướng dẫn.

Chiến dịch này lấy tên Linebacker II được phác họa tại Bộ chỉ huy không quân tại Omaha, Nebraska, vì giới hạn thời gian chỉ có ba ngày và qua kinh nghiệm của chiến dịch trước Linebacker I theo đó máy bay MIG nghênh chiến sẽ là mối đe dọa cho oanh tạc cơ Mỹ. Các vị chỉ huy ban kế hoạch cho máy bay tới Hà Nội làm ba đợt vào ban đêm, mỗi đợt cùng đi một đường, cùng cao độ, các oanh tạc cơ bay theo đội hình ba chiếc (cells) để tăng hiệu quả.
Mỗi khi ném bom xong các máy bay sẽ quay về phía tây mà Bộ tham mưu gọi là chuyển hướng sau mục tiêu (post-target turns, gọi tắt PTT), sự chuyển hướng này sẽ có hai hiệu quả không thuận lợi cho các oanh tạc cơ B-52 có thể hướng vào cơn gió mạnh ngược chiều, nó sẽ làm giảm tốc độ còn 185 km/giờ và sẽ kéo dài thêm thời gian ở tại mục tiêu có thể làm giảm hiệu quả đội hình cũng như trở thành bia cho radar của hỏa tiễn SAM dưới đất.

Trận mở đầu.

Trong ba nhiệm vụ của chiến dịch như Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề ra trong ba đêm liên tiếp bắt đầu từ 18-12-1972, đêm đầu tiên 129 máy bay được tung vào chiến dịch, trong đó 87 chiếc từ Guam, 39 chiếc yểm trợ thuộc Bộ tư lệnh không lực 7 (The seven air force), Lực lượng đặc nhiệm 77 Hải quân và Thủy quân lục chiến yểm trợ các oanh tạc cơ B-52 qua sự cung cấp các máy bay F-4 hộ tống, F-105 Wild Weasel để tiêu diệt hỏa tiễn SAM của BV, máy bay EB-66 thuộc không quân và EA-6 thuộc hải quân, máy bay chaff plane, loại máy bay thả những miếng kim loại dát mỏng (chaff) để gây rối loạn radar đối phương, (chaff = tiny strips of metal foil that are dropped to confused radar), KC-135 tiếp tế nhiên liệu trên không, và các máy bay giải cứu phi hành đoàn.

Mục tiêu của đợt thứ nhất là phi trường Kép, Phúc Yên và Hòa Lạc, một nhà kho tại Yên Viên trong khi đợt thứ hai và thứ ba tấn công các mục tiêu quanh Hà Nội. Ba máy bay bị rớt do khoảng 220 hỏa tiễn SAM của BV, trong số này hai chiếc B-52G từ Guam và một B-52D từ U-Tapao Thái lan, ngoài ra hai B-52 D từ Guam bị thương nặng cố lết về U-Tapao sửa chữa, chỉ có một phi hành đoàn của ba máy bay bị hạ được giải cứu, cũng tối hôm ấy một F-111 của không quân bị bắn hạ trong khi ném bom đài phát thanh Hà Nội.

Đêm thứ hai (19-12) có 97 phi vụ do oanh tạc cơ B-52 tham dự, mục tiêu gồm sở Hỏa xa Kinh Nỗ và kho hàng lân cận, nhà máy nhiệt điện Thái Nguyên cũng như nhà ga Yên Viên. Mặc dù có khoảng 185 hỏa tiễn SAM do BV phóng lên và một số oanh tạc cơ bị hư hại vì trúng đạn nhưng không cái nào bị rớt. Bộ chỉ huy hy vọng đêm thứ ba, tức đêm cuối của chiến dịch cũng sẽ tốt đẹp như lần trước.

Mục tiêu thứ ba ngày 20-12 do 99 oanh tạc cơ thực hiện gồm ga xe lửa Yên Viên, nhà kho Yên Mỗ, nhà máy điện Thái Nguyên, địa điểm bốc rở hàng tại Bắc Giang, nhà ga Kinh Nỗ, kho nhiên liệu săng dầu tại cũng như gần Hà Nội.

Vì thấy đợt hai bị thiệt hại nhẹ, đợt ba được tiến hành y như trước đó là một lỗi lầm tai hại, phía Mỹ ra chiều tự mãn với phương thức trước. Trong đêm thứ ba BV cũng học được kinh nghiệm qua phương thức ấy, pháo đài bay B-52 khi tiến vào Hà Nội thấy MIG ở xa xa nhưng chúng không nghênh chiến mà chỉ để báo cáo cho dưới đất biết cao độ và tốc độ của máy bay Mỹ. Thế là BV cho bắn xả láng hỏa tiễn địa không và đại bác phòng không lên các máy bay Mỹ. Lộ trình tái diễn, ngựa quen đường cũ đã đưa tới thảm bại cho Mỹ, 6 B-52 bị bắn rơi trong đêm thứ ba (gồm hai B-52D và bốn B-52G), sự thiệt hại nặng của những B-52 trị giá 8 triệu đô la khiến Quốc Hội và người dân phẫn nộ, họ yêu cầu chấm dứt oanh tạc.

Vì đợt ba tái diễn như hai lần trước khiến phòng không BV đã có kinh nghiệm và phóng 300 quả lên mục tiêu, sáu B-52G và ba B-52D bị thiệt hại trong đợt tấn công thứ nhất và thứ ba, một B-52D quay về Thái Lan bị rớt ở Lào. Chỉ có hai trong số tám người của phi hành đoàn được cứu thoát. Chiến dịch gây phản ứng dữ dội, Bộ chỉ huy không quân bị áp lực nhiều phía: “Chấm dứt cuộc tắm máu này!” nhiều sĩ quan cao cấp trong Bộ chỉ huy không quân cho rằng ta có thể mất nhiều oanh tạc cơ và thuyết ưu thế của không quân có thể vô nghĩa.
Vấn đề chính ở chỗ chiến thuật của Bộ chỉ huy không ghi nhận sự đe dọa của máy bay MIG trong ba đợt của chiến dịch. Chiến thuật không thay đổi vể đường bay, cao độ, đội hình, thời gian. Các vị chỉ huy giải thích sự không thay đổi ấy sẽ thuận lợi cho các phi hành đoàn B-52 không có kinh nghiệm bay vào một trận địa nguy hiểm. Nhà sử gia về không quân Earl Tilford lại có ý kiến khác:

“Sau nhiền năm oanh tạc những khu rừng không phòng ngự và thói quen phác họa kế hoạch chiến tranh nguyên tử đã nuôi dưởng một định kiến trong tư tưởng các vị chỉ huy suýt đưa tới tai họa… chiến thuật nghèo nàn kết hợp với tính tự tin quá cao đã khiến cho mấy đợt bay tấn công đầu tiên của chiến dịch thành cơn ác mộng cho các phi hành đoàn B-52”
(Wikipedia, Operation Linerbacker II)

Tổng thống Nixon cho lệnh tiếp tục sau ba ngày kể trên. Thay đổi thứ nhất ta thấy được do các vị chỉ huy tại Mỹ phân biệt sự khác biệt giữa các cơ phận radar của các mẫu B-52 (B-52G, B-52D), thiết bị trên mẫu G được xử dụng để ứng phó với các dàn phòng không tinh khôn, tối tân do Nga chế tạo, nó không phải để ứng phó với các hỏa tiễn SAM-2 xưa cũ và hệ thống radar của BV. Các vị chỉ huy không quân tại Omaha nhấn mạnh chỉ có máy bay tại U-Tapao được trang bị các bộ phận tinh khôn mới được đưa vào trận địa tại BV. Do đó các đợt tấn công sau sẽ bị cắt giảm về tầm vóc (số lượng máy bay) mặc dù chiến thuật không thay đổi.

Tối thứ tư 21-12-1972 của chiến dịch, 30 chiếc oanh tạc cơ từ U-Tapao đến thả bom kho hàng thuộc địa phận Hà Nội, Văn Điển, phi trường Quảng Tề. Hai oanh tạc cơ bị hỏa tiễn SAM bắn rớt. Đêm hôm sau 22-12 mục tiêu được chuyển từ Hà Nội xuống Hải Phòng nhắm vào kho săng dầu nhiên liệu. Lần này cũng 30 máy bay tham dự trận đánh, không bị thiệt hại về B-52 nhưng một F-111 bị bắn rớt xuống nhà ga Kinh Nỗ.
Ngày 22-12 một cánh của bệnh viện Bạch Mai ngoại ô Hà Nội bị một chuỗi bom lạc đánh trúng. Sự thiệt hại đã khiến BV và các nhà phản chiến Mỹ la ó lên, bệnh viện này cách đường bay của phi trường Bạch mai 100 mét và một kho quân sự chỉ cách đó chưa tới 200 mét, bệnh nhân đã được di tản nhưng không may 28 bác sĩ, y tá, dược sĩ bị thiệt mạng.

Hai ngày trước Giáng Sinh, các vị chỉ huy không quân đưa các căn cứ SAM và các phi trường vào danh sách mục tiêu, máy bay F-111 của Không quân được đưa tới trước khi oanh tạc cơ đến để giảm mối nguy của máy bay địch lên nghênh chiến. F-111 đã rất thành công trong chiến dịch tiêu diệt các dàn hỏa tiễn địa không của BV.

Đêm thứ sáu 23-12 các oanh tạc cơ cũng tránh Hà Nội và tấn công các vị trí hỏa tiễn địa không tại phía bắc thành phố và ga xe lửa Lạng Đăng. Không bị thiệt hại máy bay nào, đêm hôm sau cuộc hành trình may mắn (cũng tránh Hà Nội) tiếp tục. Ba mươi oanh tạc B-52 cơ được 69 phi cơ chiến thuật yểm trợ tấn công nhà ga Thái Nguyên và Kép, không có máy bay nào của Mỹ bị mất trong chiến dịch này.

Mặc dù B-52 đảm nhiệm vai trò chính nhưng các phi cơ chiến thuật cũng rất tích cực trong việc yểm trợ. Trong khi các pháo đài bay và phi cơ F-111 thực hiện các phi vụ trong ban đêm, trung bình 69 máy bay chiến thuật của Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến tấn công ban ngày, trung bình gần 100 phi xuất một ngày. Sự thiệt hại của những phi cơ này rất nhẹ, chỉ hơn mười chiếc trong toàn bộ chiến dịch, lý do cũng không có gì khó hiểu vì phòng không BV chỉ đợi ban đêm mới chống trả dữ dội các mục tiệu xuất hiện.

Trận cuối.

Sau trận oanh kích ngày 24-12-1972, chiến dịch tạm ngưng 36 giờ nghỉ lễ Giáng Sinh 1972, trong khi đó các nhà kế hoạch gia không quân làm việc, họ duyệt lại chiến thuật cho giai đoạn kế tiếp tức giai đoạn chót. Vì bị thiệt hại ở giai đoạn đầu nên họ dự trù một cuộc tấn công dữ dội vào các phi trường BV khi bắt đầu tấn công trở lại. Giai đoạn này cũng cần thiết, từ ngày Giáng Sinh hầu hết các mục tiêu chiến thuật của BV đã bị ném bom tan nát. Sau đó các vị chỉ huy đã giao kế hoạch chiến thuật cho các giới chức Không quân thuộc cấp tại Không Lực Tám (Eighth Air Force) đóng tại Guam, ở đây cấp chỉ huy nhanh chóng duyệt lại chiến thuật đã có nhiều thiệt hại trước đây.

Nay thay vì tấn công nhiều đợt, các oanh tạc cơ có thể đánh và rút tại mục tiêu trong vòng 20 phút, các pháo đài bay này có thể đến từ nhiều hướng và nhiều cao độ khác nhau. Các oanh tạc cơ có thể tùy nghi muốn rút theo đường nào thì rút, kế hoạch rút về hướng tây (post-target turns) trước đây bị loại bỏ. Các pháo đài bay đến từ bảy địa điểm khác nhau sẽ tấn công mười mục tiêu trong phạm vi Hà Nội, Hải Phòng, trong đó có bốn địa điểm từ vịnh BV.
Ngày 26-12-1972, tổng cộng 120 oanh tạc cơ cất cánh ném bom ga xe lửa Thái Nguyên, Kinh Nỗ, đường xe lửa Đức Nội, Hà Nội, Hải Phòng và khu nhà ga Vân Điển, 78 oanh tạc cơ xuất phát từ Anderson (Guam), đó là trận oanh tạc “trong một lần” lớn nhất trong lịch sử của Bộ chỉ huy chiến dịch, 42 chiếc khác từ Thái Lan. Các oanh tạc cơ được 113 máy bay chiến thuật yểm trợ như thả những miếng lá kim loại dát mỏng phá rối radar BV, hộ tống, phá hủy các dàn hỏa tiễn địa không…

Hệ thống phòng không của BV mặc dù còn hữu hiệu nhưng bị tràn ngập bởi số lượng máy bay lớn cũng như rất khó tìm ra máy bay trong khoảng thời gian ngắn và bị màn dầy đặc của các miếng kim loại dát mỏng do máy bay chiến thuật thả xuống. BV đã bắn lên khoảng 950 hỏa tiễn trước đây, kho tên lửa nay đã gần cạn, họ chỉ bắn lên được 68 quả SAM trong chiến dịch này. Một B-52 bị hạ gần Hà Nội, một cái khác bị hư hại nặng quay đầu về U-Tapao bị hủy hoại, chỉ có hai người trong phi hành đoàn sống sót.
Tối sau 27-12-1972 có 60 oanh tạc cơ tiến hành chiến dịch, một số tấn công các vị trí hỏa tiễn địa không, số còn lại đánh phá đường xe lửa Lạng Đăng, Đức Nội, Trùng Quang và Văn Điển. Một B-52 bị thương nặng khiến phi hành đoàn nhẩy dù xuống Lào được cứu thoát, một chiếc khác không may khi oanh tạc ga xe lửa Trùng Quang bị trúng đạn. Trong chiến dịch ban đêm hai phi cơ F-4 và một máy bay trực thăng cấp cứu HH-53 bị bắn rơi.

Ngày thứ 10 tức 28-12-1972 tổng cộng có 60 B-52 trong đó 15 chiếc loại G và 15 loại D từ Anderson, Guam, và 30 chiếc loại D từ U-Tapao, các máy bay tấn công năm mục tiêu làm sáu đợt, trong đó bốn đợt đánh vào các mục tiêu thuộc địa phận Hà Nội (gồm cơ sở cung cấp hỏa tiễn địa không), trong khi đó đợt năm đánh ga xe lửa Lạng Đăng ở Tây Nam Lạng Sơn, một số lớn các tuyến đường vận tải từ Trung Cộng. Không có máy bay nào bị rớt trong chiến dịch này.

Ngày thứ 11 tức ngày 29-12 là trận oanh tạc chót cùng, chỉ còn một ít mục tiêu chiến lược còn lại tại BV đáng lưu ý, tuy nhiên còn hai kho hỏa tiễn SAM tại Phúc Yên và ga xe lửa Lạng Đăng có thể oanh tạc được. Tổng cộng 60 chiếc máy bay lại tiến về Bắc nhưng thay đổi việc chọn lựa loại mẫu. U-Tapao lại cung cấp 30 mẫu D, lực lượng từ Anderson thay đổi, đưa 12 mẫu G và 18 mẫu D trên không phận BV, cuối cùng 30 B-52D làm nhiệm vụ oanh tạc trên vùng cán chảo BV và phía Nam VN, lần này cũng không có máy bay nào bị phòng không, máy bay MIG của BV hay hỏa tiễn bắn hạ.

Thương lượng và ký kết.

Ngày 22-12-1972 Hoa Kỳ kêu gọi Hà Nội trở lại bàn hội nghị để bàn thảo những khoản đã đề ra từ tháng 10.

Ngày 26-12, Hà Nội báo cho Hoa Thịnh Đốn họ muốn nhấn mạnh cho Nixon biết oanh tạc không phải là lý do để quyết định, Bộ chính trị BV cho biết ngưng oanh tạc không phải là điều kiện tiên quyết cho cuộc đàm phán.

Nixon trả lời ông muốn các cuộc đàm phán về kỹ thuật, thủ tục bắt đầu ngày 2-1-1973 và ông sẽ ngưng oanh tạc nếu BV đồng ý.

Họ thỏa thuận và Nixon ngưng chiến dịch dội bom trên vĩ tuyến 20 từ ngày 29-12. Kế đó ông báo cho Kissinger chấp nhận những điều khoản đã có từ tháng 10 để ký Hiệp Định.

Thượng nghị sĩ Henry Jackson thuộc Dân chủ, tiểu bang Washington khuyên Tổng thống Nixon nói chuyện trên truyền hình cho nhân dân biết chúng ta oanh tạc BV để buộc họ trở lại bàn hội nghị.

Nay vấn đề trở ngại là sự đồng ý của TT Thiệu, Nixon cố gắng trấn an ông bằng lá thư ngày 5-1-1973 rằng:

“Xin cam kết với ông chúng tôi sẽ tiếp tục yểm trợ trong thời gian sau khi ký kết và sẽ trả đũa hết mình nếu BV vi phạm thỏa hiệp”
(Wikipedia, Operation Linebacker II)

Theo Walter Isaacson trong Kisinger, A Biography trang 486, những thư cam kết do Kissinger bí mật soạn cho TT Nixon không hỏi ý kiến Quốc hội, lý do không có gì khó hiểu: Kissinger biết rõ nếu đưa ra công luận bàn bạc sẽ bị Thượng viện đánh chìm ngay.

Tuy nhiên ông Thiệu vẫn không chịu, ngày 14-1-1973, TT Nixon phải hăm dọa:

“Tôi đã nhất quyết tiến hành ký Hiệp Định vào ngày 23-1-1973. Nếu cần tôi sẽ đơn phương ký với họ.”
(Wikipedia, Operation Linebacker II)

Trong No More Vietnams trang 167 Nixon cũng nói:
“Chỉ khi chúng tôi tuyến bố nếu cần chúng tôi sẵn sàng ký Hiệp định dù ông không ký thì lúc ấy ông ấy miễn cưỡng phải ký”.

TT Nixon cũng đã nói cho ông Thiệu biết nếu miền Nam không chịu ký kết Hiệp định, gây trở ngại cho hoà đàm thì Quốc Hội Mỹ sẵn sàng ra luật chấm dứt chiến tranh tháng 1-1973, cắt đứt viện trợ bỏ rơi VNCH để đánh đổi lấy 580 tù binh Mỹ tại Hà Nội. Theo Nixon từ 1969 Quốc hội Mỹ đã nhiều lần định bỏ rơi VNCH để đổi lấy hoà bình.

Một ngày trước thời hạn, TT Thiệu đành phải chấp thuận thỏa ước sự thực cũng không làm gì hơn được.

Ngày 9-1-1973 Kissinger và Lê Đức Thọ trở lại Paris, thỏa thuận giữa Mỹ và BV về cơ bản chính là cái bản sơ thảo hai bên đã đạt được từ hơn ba tháng trước (tức từ tháng 10-1972). Những yêu cầu do Mỹ thêm vào từ tháng 12-1972 đã bị loại bỏ nói khác đi bất lợi cho Mỹ. John Negroponte, một trong những phụ tá của Kissinger đã gay gắt nói trong khi hai bên thương lượng như sau:

“Chúng ta oanh tạc BV để họ phải chấp nhận sự nhượng bộ của chúng ta”.
(We bombed the North Vietnamese into accepting our concessions – Wikipedia, Operation Linebacker II)

Khu phi quân sự do Hiệp định Genève ấn định từ 1954 không được coi là biên giới giữa hai nước. Việc yêu cầu quân đội BV rút khỏi miền Nam VN về Bắc không thấy ghi một tí nào trong Hiệp định, tuy nhiên Lê Đức Thọ có hứa miệng với Kissinger sẽ rút 30,000 quân CSBV về Bắc.
Yêu cầu ngưng bắn cho toàn cõi Đông dương không được ghi trong Hiệp Định, một lần nữa Kissinger lại hài lòng với lời “thỏa thuận miệng” (verbal understanding) rằng ngưng bắn tại Lào sẽ được thực hiện cùng lúc hoặc sau VNCH một chút. Thỏa thuận về Cam bốt không được đặt ra vì tại nơi đây nay BV không có tí ảnh hưởng nào đối với Khmer đỏ.
Hiệp Định Paris được ký tại khách sạn Majestic tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973.

Hậu quả

Trong chiến dịch Linebacker II tổng cộng có 741 phi xuất B-52 để oanh tạc Hà Nội và 729 phi vụ đã thực hiện xong.

Có 15,237 tấn bom đạn đã được ném xuống 18 mục tiêu về kỹ nghệ và 14 mục tiêu quân sự kể cả tám căn cứ hỏa tiễn địa không (SAM), trong khi đó các máy bay chiến thuật cũng đã ném xuống 5,000 tấn bom đạn.

Cùng thời gian này có 212 phi vụ B-52 được thêm vào tại Nam VN để yểm trợ cho các chiến dịch dưới đất, 10 B-52 đã bị bắn rớt ngoài Bắc và năm chiếc khác bị thương rớt ở Lào hoặc Thái lan, 33 quân nhân thuộc các phi hành đoàn B-52 đã bị thiệt mạng hoặc mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ, 33 người khác bị bắt làm tù binh và 26 người khác đã được cứu vớt. Bắc Việt cho biết họ đã bắn hạ 34 chiếc B-52, 4 chiếc F-111 trong suốt chiến dịch.

769 phi vụ phụ thêm do Không Lực và 505 phi vụ do Hải Quân và Thủy quân lục chiến để yểm trợ cho các pháo đài bay B-52, có 12 máy bay bị thiệt hại trong chiến dịch gồm: Hai F-111, ba F-4, hai A-7, hai A-6, một EB-66, một trực thăng cấp cứu HH-53, một thám thính RA-5C, trong chiến dịch này mười (10) phi công bị thiệt mạng, tám (8) bị bắt, mười một (11) được cứu thoát.

Toàn thể thiệt hại của chiến dịch là 27 chiếc gồm 15 B-52 và 12 máy bay chiến thuật: Không quân mất 15 B-52, hai F-4, hai F-111, một EB-66 và một trực thăng cứu nạn HH-53. Hải quân mất hai A-7, hai A-6, một RA-5, và một F-4. Trong số tất cả máy bay bị bắn rơi có mười bẩy (17) chiếc bị bắn rớt vì hỏa tiễn SA-2, ba (3) chiếc bị máy bay MIG của BV bắn rơi ban ngày, ba (3) chiếc do đại bác phòng không, bốn chiếc không rõ nguyên do. Tổng cộng có tám (8) máy bay MIG bị bắn rớt trong đó hai chiếc do đại liên phòng không ở đuôi B-52 hạ.

Thiệt hại về vật chất hạ tầng cơ sở của BV rất nặng nề: Không quân ước lượng 500 đường xe lửa bị đình chỉ hoạt động, 372 toa xe lửa và ba triệu gallons xăng dầu bị phá hủy, 80% điện năng của BV bị hư hỏng. Nhập lượng tiếp liệu vào BV được tình báo Mỹ đánh giá là 160,000 tấn hàng tháng khi mới tiến hành chiến dịch. Đến tháng 1-1973, nhập lượng này đã tụt xuống còn 30,000 tấn, vào khoảng năm lần. Mặc dầu Hà Nội la làng “Mỹ đã trải thảm bom lên nhà thương, trường học, các khu dân cư, phạm vào những tội ác man rợ đối với nhân dân ta”, nhưng chính họ đã cho biết toàn bộ chỉ có 1,624 người thường dân bị thiệt mạng.

Với khoảng 20,000 tấn bom được thả xuống Hà Nội, Hải Phòng, sự thiệt hại dân sự tương đối nhẹ, chỉ có 1,318 người tại Hà Nội và 306 người tại Hải Phòng thiệt mạng, nếu so sánh với chín ngày oanh tạc thành phố Hamburg, nước Đức năm 1944, chỉ có vào khoảng chưa tới 10,000 tấn bom được ném xuống mà có tới 30,000 người bị giết.

Nhiều giới chức trong Không quân cho rằng nếu năm 1965 mà cũng đánh cho BV tan nát như Giáng Sinh năm 1972 thì đã thắng rồi, họ sai lầm ở chỗ năm 1972 chiến tranh đến thời kỳ kết thúc và trận oanh tạc này chỉ là cú đấm cuối cùng. Ngoài ra bang giao của Mỹ với Nga, Trung Cộng đã thay đổi nhiều trong những năm có hòa đàm với BV, oanh tạc mạnh năm 1965 có thể lôi kéo CS quốc tế vào cuộc chiến và có thể leo thang đi tới chiến tranh nguyên tử, nay kỳ hạn hòa bình đã thay đổi và Hoa Kỳ không còn muốn chiến thắng nữa, họ chuyển sang rút bỏ.

Nhận xét.

Như thế trận mưa bom Giáng sinh long trời lở đất năm 1972 có mục đích chính là để đưa BV trở lại bàn hội nghị. Sau ngày 30-4-1975 nhiều người ở miền Bắc vào Nam cho biết nếu Mỹ ném bom thêm một tuần nữa thì BV sẽ phải đầu hàng vì chịu không nổi. Gần đây có nguồn tin một cựu nhân viên FBI tên Ted Gunderson tiết lộ rằng một sĩ quan lãnh sự Mỹ lãnh sự tại VN đã nghe vào đầu xuân năm 1973 từ phòng truyền tin tại Sài Gòn lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt trong trận oanh tạc của Mỹ đầu xuân 1973 (tức trận oanh tạc Giáng sinh 1972), thế nhưng CIA đã thay thế toàn bộ nhân viên của phòng truyền tin và ém nhẹm đi tin này để cho sự điều đình giữa Tổng thống Nixon và Mao được xúc tiến và dâng miền Nam cho CS qua Hòa đàm Paris.

Tin đồn do những người ngoài Bắc đem vào Nam và tin của Ted Gunderson hoàn toàn sai lạc vô căn cứ, trước hết TT Nixon cho oanh tạc BV là để đưa họ trở lại bàn hội nghị như đã nói ở trên, họ chỉ muốn ký hiệp định Paris rồi rút quân về nước (The terms of peace had also changed as the United States went from wanting victory to settling for an easy exit – Wikipedia, Linebacker II bombing raid).

“Nhưng ý định của Hoa Kỳ trong cuộc dội bom phủ đầu năm 1972 không còn ý nghĩa quân sự nữa mà cuộc dội bom chỉ là một thái độ chính trị: Hoa Kỳ chỉ muốn CSVN trở lại hội nghị, kết thúc cuộc chiến trên giấy tờ, để Hoa Kỳ có thể rút khỏi Việt Nam – dù hiệp ước đó có bất lợi cho Hoa Kỳ và VNCH đến đâu. Và Hoa Kỳ đã đạt được ý định sau 11 ngày dội bom”.
(Nguyễn kỳ Phong, Vũng Lầy Của Bạch Ốc, trang 300)

Ngoài ra đối với BV, Mỹ không có tư cách để buộc họ phải đầu hàng như đã buộc Nhật đầu hàng năm 1945. Đối với VN, Mỹ tham chiến chỉ là để trợ giúp VNCH tự vệ chống CS, giữ toàn vẹn lãnh thổ miền Nam chứ không phải để chiếm miền Bắc. Chúng ta cũng cần lưu ý mặc dù BV bị các pháo đài bay B-52 đánh nhừ tử thừa sống thiếu chết, các hạ tầng cơ sở BV bị bắn phá tan tành gần sập tiệm thế mà họ vẫn đòi được Mỹ phải nhượng bộ tại bàn hội nghị như đã nói ở trên.

Hiệp định ký kết vẫn chỉ là những thỏa thuận cũ từ tháng 10-1972. Bắc Việt lỳ lợm như thế thì thử hỏi đến bao giờ họ mới chịu hàng, cho dù cuộc oanh tạc có tiêu diệt hàng trăm nghìn người thường dân vô tội hoặc hơn thế họ cũng chẳng quan tâm. Trong thời gian chiến tranh, Lê Duẫn đã từng nói sẵn sàng nướng thêm một hai triệu người nữa để tiếp tục chiến đấu.

Năm 1989 tác giả bài viết này có dịp nói chuyện với một Trung tá CSBV đã giải ngũ về cuộc oanh tạc Giáng sinh 1972, ông ta bảo:

“Bây giờ hết coi là bí mật thì tôi mới dám nói, ngay hôm máy bay Mỹ ném bom dữ dội, các đường dây diện thoại bị đứt hết, trung ương mất liên lạc với địa phương, sau mười ngày oanh tạc, hai bên cùng đuối và rồi Mỹ phải ngưng cuộc tấn công”.

Trong phim VietNam a Television History (Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình) do các ký giả, sử gia Mỹ, Anh, Pháp thực hiện đã được chiếu ở VN giữa thập niên 80, đoạn nói về Mỹ ngưng ném bom như sau:

“Cuối tháng 12-1972 Hoa Kỳ ngưng ném bom BV, không phải vì bị thế giới lên án, cũng không phải vì người dân Mỹ biểu tình chống đối mà vì sự thiệt hại nặng nề của không quân trong chiến dịch này”.

Ý kiến của cựu Trung tá CS và nhận định của cuốn phim như trên đều không đúng sự thật, như đã nói ở trên phòng không của BV cuối tháng 12 đã hoàn toàn kiệt lực, số tên lửa tồn kho đã cạn sạch khiến họ phải xin chịu ngồi vào bàn hội nghị, vả lại “Chiến thuật Lì” không còn ăn khách, hiệu lực. Mỹ ngưng oanh tạc cũng vì các mục tiêu để đánh phá cũng không còn, hạ tầng cơ sở BV đã bị oanh tạc tan nát hết, không còn gì để triệt hạ nữa.
(The final two days of Linebacker II encountered only one problem: a lack of suitable targets – Wikipedia, Linebacker II bombing raid).

“Người Mỹ ký hiệp định Ba Lê với mục đích rút ra khỏi vũng lầy VN đồng thời trao đổi tù binh Mỹ. Quyền lợi chính của miền Nam không được chú trọng đến. Hiệp định Paris được ký kết để tránh cho nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát.”

Trong trận oanh tạc long trời lở đất mùa Giáng Sinh năm 1972, Nixon đã một công đôi chuyện, vừa bắt BV trở lại bàn hội nghị và vừa đánh phá tan tành hạ tầng cơ sở miền Bắc như đã nói ở trên: phi trường, nhà ga, kho hàng, tiếp liệu bị hủy hoại. Nixon đã đánh BV tan nát để sau khi Mỹ rút đi họ sẽ không có khả năng xâm lược miền Nam, như thế ông ta cũng đã làm hết sức mình để cứu vãn sự sụp đổ của VNCH.
Theo Nixon (trong No more Vietnams), sau khi ký Hiệp định Paris, VNCH mạnh hơn miền Bắc vì CSBV bị tổn thất quá nặng trong trận mùa hè đỏ lửa 1972, khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh bị thiệt mạng, 75% số xe tăng bị bắn cháy. Cộng thêm trận oanh tạc Giáng sinh 1972, BV bị kiệt quệ về vũ khí đạn dược. Nhưng sau Hiệp định, Hà Nội lại được CS quốc tế viện trợ đều đặn và dồi dào trong khi Quốc hội Mỹ đã cắt giảm viện trợ xương tủy VNCH đưa tới sụp đổ tháng 4-1975.

Trong trận oanh tạc Giáng Sinh 1972 kể trên BV đã đủ sức chống trả và gây thiệt hại đáng kể cho không lực của một siêu cường thì ta mới thấy CS quốc tế đã viện trợ cho BV dồi dào như thế nào, có người cho rằng Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã viện trợ quân sự cho BV để đánh nhau với Mỹ chứ không phải để đánh nhau với VNCH.

Theo bản tin BBCVietnamese.com ngày 10-5-2006: Trong buổi hội thảo của Viện Lịch Sử Quân Sự CSVN tổ chức tại Sài Gòn ngày 14 và 15-4-2006, hai “đồng chí” Lê Quang Lạng và Trần Tiến Hoạt đã công bố nguồn viện trợ quân sự của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em cho CSVN trong cuộc chiến tranh 1954-1975. Họ cho biết về tên lửa Liên xô đã viện trợ 10,169 quả, về máy bay chiến đấu Liên Xô viện trợ 316 chiếc, Trung Quốc anh em 142 chiếc. Trong giai đoạn 1969-1972, BV đã nhận được 684,666 tấn hàng viện trợ vũ khí và trang bị kỹ thuật, giai đoạn 1973-1975 BV nhận được 649,246 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật như thế CS quốc tế vẫn viện trợ cho BV dồi dào từ đầu tới cuối cuộc chiến.

Hoa Kỳ không cung cấp cho miền Nam đủ hỏa lực để có thể tự vệ chống lại một đối phương quá hùng mạnh đã được trang bị những vũ khí hiện đại dồi dào cả về phẩm lẫn lượng. Đa số các sách báo Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam (như Walter Isaacson trong Kisinger, A Biography trang 488) nhận định rằng VNCH không thể tự đứng vững mà họ phải dựa vào quân đội Mỹ và khi Mỹ rút đi miền Nam sụp đổ.

Độc giả Mỹ, người dân Mỹ hiểu rằng quân đội miền Nam không đủ sức tự vể. Sự thực có phải quân đội VNCH tác chiến thua kém quân đội BV không? Các Tướng lãnh miền nam thua tài thao lược so với các Tướng miền Bắc? Hoàn toàn không.

Có một sự thực mà hầu như không thấy người Mỹ, tác giả Mỹ nào chịu công nhận: hỏa lực Hoa Kỳ cung cấp cho miền Nam hầu như luôn luôn thua kém hỏa lực hùng hậu mà CS quốc tế cung cấp cho BV, hay nói khác đi Hoa Kỳ đã không chạy đua kịp với CS quốc tế về quân viện cho chiến trường Việt nam, đưa tới hậu quả sụp đổ ngày 30-4-1975.

Trọng Đạt.

Tài Liệu Tham Khảo:
– Wikipedia: Operation Linebacker II
– The Hauenstein Center for Presidential: Nixon and the Christmas bombing.
– AirSpacemag.com, Military Aviation: The Christmas bombing.
– Commondreams.org: The Christmas bombings, by James Carrell.
– Namvets.com: Vietnamese remember Christmas from hell.
– U.S Centenial of flight commission: Linebacker II bombing raid.
– History.com, History made every day: Nixon announces start of Christmas bombing of North Vietnam.
– History.com: Statistic about the Vietnam war.
– Digital History: Nixon and Viet Nam.
– Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war.
– Walter Isaacson: Kisinger, A Biography , Simon & Schuter 1992
– Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam, The Free Press 2001.
– Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985.
– The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985.
– James H.Willbanks: Vietnam war Almanac, Facts on file – 2009
– Stanley Karnow: Vietnam, A History, A Penguin Books 1991.
– Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The Vietnam War, A history in documents, Oxford University Press 2002.
– Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing
– Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh: BBCvietnamese.com, 10-5-2006
– Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006.
– Nguyễn Kỳ Phong: Tự Điển Chiến Tranh Việt Nam, Tự Lực 2009.
– Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
– Đặng Phong: 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trí Thức, Hà Nội 2008
– Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh, 2005.

http://nguoivietboston.com/?p=3218

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Tagged: | Leave a Comment »

►Bí mật quốc gia bị lộ tẩy ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 26/12/2012

Bí mật quốc gia bị lộ tẩy ở Việt Nam

25-12-2012

Tác giả: David Brown (Asian Times)

nguoi dich:

Hình (Đài Chương Mỹ): Đại Tá Trần Đăng Thanh.

Tác giả: David Brown (Asian Times)
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

Vào một buổi chiều của tháng 12, Đại Tá Trần Đăng Thanh trình bầy quan điểm của ông về vấn đề ngoại giao với một cử tọa gồm khoa trưởng và giáo sư thuộc nhiều trường đại học tại Hà Nội.Những nhận xét của Đại Tá Thanh được xem là bí mật quốc gia như tất cả những công việc của Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Tuy nhiên, một người trong cử tọa đã thâu âm buổi nói chuyện này ngoài sự hiểu biết của Đại Tá Thanh, một giảng viên tại một trường quân sự hàng đầu. Chẳng bao lâu, toàn bộ bài thuyết trình này được đưa lên Internet và lan truyền đi khắp nơi.

Những người tham dự buổi họp trên là những cán bộ cao cấp của Đảng, những người phụ trách việc quản trị hoặc giảng dậy tại các trường đại học trong vùng thủ đô và đồng thời đóng vai trò công chức phụ trách tuyên truyền và huấn luyện. Họ được triệu tập để nghe Đại Tá Thanh thuyết giảng về tình hình tại Biển Đông.

Trung Quốc xâm chiếm không thương xót những hòn đảo và lãnh hải mà Việt Nam đòi chủ quyền là một vấn đề khó chữa trị của chế độ. Trong vài năm nay, chánh quyền Việt Nam bị chỉ trích mạnh mẽ vì phản ứng quá yếu ớt đối với những khiêu khích của Trung Quốc theo cái nhìn của những bloggers.

Nhiệm vụ chính của Đại Tá Thanh là giải thích tại sao, theo quan điểm của những nhà lãnh đạo Việt Nam, chính sách kiềm chế là con đường hữu lý duy nhất của quốc gia đối với một nước láng giềng to lớn. Việc thu âm không làm mọi người chú ý nếu Đại Tá Thanh gắn bó với chủ đề này. Tuy nhiên, ông đã thêu dệt buổi nói chuyện hai giờ với những điệp khúc như sự phụ bạc của Hoa Kỳ, chế độ đáng được khâm phục của Bắc Hàn và Ba Tư, sự trở lại hầu như chắc chắn của Nga, và cuộc thảo luận lâu dài và khó hiểu về sự cùng sống còntrên 1.000 năm với người láng giềng khổng lồ ở phương Bắc.

Đối với những người phê phán chế độ Việt Nam, những lời bình luận lung tung của một giáo sư cho đến nay ít được người ta biết đến này tiêu biểu cho những sai lầm về chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc thảo luận về chính sách ngoại giao không làm năng động thế giới bloggers.

Ở trong nước, người ta hết sức chú ý đến một đoạn ngắn ở gần phần đầu của bài nói chuyện.Đại Tá Thanh ghi chú rằng trong nhiệm kỳ đầu Tổng Thống Nga Vladimir Putin đã cấm những hoạt động của Đảng Cộng Sản và hủy bỏ lương hưu của những cựu viên chức Liên Bang Xô Viết. Đại Tá Thanh báo động rằng điều này cũng có thể xẩy ra ở Việt Nam nếu Đảng CSVN sụp đổ.

“Hiện nay các đồng chí đang công tác chưa có sổ hưu nhưng trong một tương lai gần hoặc một tương lai xa chúng ta cũng sẽ có sổ hưu và mong muốn mỗi người chúng ta sau này cũng sẽ được hưởng sổ hưu trọn vẹn. Và tôi đi giảng bài cho tất cả các đối tượng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời XHCN hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó có một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu, ví dụ các đồng chí ngồi tại đây. Cho nên ta phải nói rõ luôn, hiện nay chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam thời XHCN.”

Blogger Dong Phung Viet bầy tỏ một cách khinh bỉ rằng Đại Tá Thanh không đề cập đến chủ đề tuyên truyền quen thuộc của đảng một lần nào cả. Ông không nói gì về cuộc đấu tranh để xây dựng một quốc gia “hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, công bằng và dân chủ, có chủ quyền và an ninh trên toàn lãnh thổ.”

Những nhà ngoại giao ở Việt Nam chắc chắn đang mải mê nghiên cứu chuyến thăm viếng thế giới của Đại Tá Thanh nhìn từ phía Hà Nội. Ông đề cập riêng đến năm nước trong buổi nói chuyện: Hoa Kỳ, Nga, Iran, Bắc Hàn, và Trung Quốc. Một cách tóm tắt, Đại Tá Thanh nói:

Về Hoa Kỳ, “thực ra mà nói, Mỹ đang thực hiện chiến lược hai mặt. Một mặt đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc. Mặt thứ hai đang tìm mọi cách để phá vỡ mối quan hệ đoàn kết lâu đời của Việt Nam, giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc mà người hưởng lợi sẽ là nước Mỹ. … Mỹ cũng đang rất muốn là có được quân cảng Cam Ranh bởi vì quân cảng Cam Ranh là một trong ba cảng tốt nhất thế giới … người Mỹ đang thực hiện diễn biến hòa bình trên lĩnh vực giáo dục đào tạo của chúng ta.

Về Nga, “vươn lên lại với một nền kinh tế được thúc đẩy bởi nguồn dự trữ vô tận về dầu hỏa và khí đốt và những kỹ nghệ quốc phòng hàng đầu. Câu hỏi đặt ra Liên bang Nga cần gì ở Việt Nam? Liên bang Nga đang xác định là quay lại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Trong quá khứ, Nga đã hỗ trợ mạnh mẽ bộ binh và hải quân của chúng ta.Họ cũng đang muốn thông qua Việt Nam để quay lại. Liên bang Nga đánh giá rất cao Việt Nam chúng ta, Việt Nam là một nước thủy chung son sắt … Họ cũng muốn thuê Cam Ranh của chúng ta như người Mỹ tham gia đề nghị. Và chắc chắn chúng ta cũng sẽ không cho bất cứ nước ngoài thuê mướn …”

Về Iran.“Tổng số người dân đạo Hồi trên thế giới chiếm khoảng 1,1 tỷ dân ở giữa Châu Âu và Châu Á. Họ là những dân tộc thiện chiến … Người Hồi giáo muốn làm những điều có nghĩa là nhào nặn lại trái đất này để theo đúng ý định của thánh Ala.Cộng hòa Hồi giáo Iran kiên quyết phát triển năng lượng hạt nhân vì mục tiêu hòa bình. Còn câu chuyện người ta từ năng lượng hạt nhân vì mục tiêu hòa bình, họ sản xuất vũ khí hạt nhân hay không là việc của họ, ta không bàn ở đây … Và họ chắc chắn rằng Cộng hòa Hồi giáo người ta có đủ sức mạnh để bảo vệ quyền lợi của họ.”

Về Bắc Triều Tiên, “dân nghèo về phương diện kinh tế, nhưng họ lại quá thừa về lòng yêu nước. Lòng yêu nước của họ như những năm 60, 70 của thế kỷ 20 ở đất nước chúng ta. Triều Tiên vẫn đang trong trạng thái chiến tranh.Họ phóng hỏa tiễn … và được kính nể.Họ làm bất cứ điều gì họ nói.Họ quyết tâm trở thành một quốc gia nguyên tử. Họ làm những nước lớn mất ăn mất ngủ vì hỏa tiễn của họ. Đó là vài điều chúng ta cần nghiên cứu.”

Về Trung Quốc, (tới đây Đại Tá Thanh chuyển sang đề tài phụ trong khoảng 20 phút về lịch sử văn hóa của Việt Nam vay mượn của Trung Quốc trong khi đó phải chiến đấu để đẩy lui quân xâm lăng khoảng 200 năm một lần. Sau cùng ông nói đến sự phát triển kinh tế lớn mạnh của Trung Quốc dưới thời cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình, ‘Khát vọng cháy bỏng của Ông Đặng,’ là vấn đề Biển Đông).

Đại Tá Thanh nói rằng những suy tính về quốc phòng và những lôi cuốn của nguồn dầu hỏa và hơi đốt ở gần nhà là những yếu tố quy định chính sách của Trung Quốc.Điều này làm cho Trung Quốc trở thành mối đe dọa chính đối với những hòn đảo và lãnh hải mà Việt Nam đòi chủ quyền, nhưng đó không phải là mối đe dọa duy nhất.

Chuyển sang việc thảo luận về những vấn đề Biển Đông. Dù Đại tá Thành không khi nào nói đúng như vậy, ông ấy đã khăng khăng tìm cách đưa ra quan niệm rằng việc chiến đấu với Trung Quốc là chuyện không thể tường tượng được.Trung Quốc có 1.3 tỉ người và chúng ta chỉ có 90 triệu.Như vậy đối với Việt Nam, Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt.“Ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa.”

Đại Tá Thanh coi thường ý niệm rằng Việt Nam có thể dựa vào sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. “Người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả. Phải nói rõ luôn. Nếu có tốt chỗ này, có ca ngợi chúng ta chỗ kia, có ủng hộ chúng ta về Biển Đông chẳng qua vì lợi ích của họ. Họ đang thực hiện ‘thả con săn sắt, bắt con cá rô.’”

Đại Tá Thanh xác nhận rằng điều quan trọng thứ nhất của chiến lược của Việt Nam phải là bảo vệ nền độc lập và quyền tự quyết, ông vay mượn một câu nói thường được nhắc tới của Ông Hồ Chí Minh. Nhưng việc gìn giữ hòa bình cũng phải được ưu tiên, Ông Thanh nói tiếp. Đây không phải là việc dễ dàng, quả thật nó là một việc mâu thuẫn, và chìa khóa để đạt được điều này là duy trì sự đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc.

Ông Thanh tuyên bố rằng bốn điều phải tránh là đối đầu về quân sự, đối đầu về kinh tế, cô lập và dựa vào một nước ngoài. Ông Thanh thừa nhận rằng “lấy lại quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc đã đánh đuổi quân đội miền Nam Việt Nam bảo vệ những đảo này) sẽ rất khó khăn, nhưng chúng ta phải thử một cách khôn khéo, tránh đụng độ trực tiếp.” Ông Thanh nói “chúng ta bảo Trung Quốc rằng việc đòi chủ quyền của chúng ta đối với các đảo tốt hơn là của Trung Quốc. Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý, các đồng chí [Trung Quốc] không nhất trí, chúng tôi với các đồng chí cùng ra tòa quốc tế. Tòa án quốc tế xử lý như thế nào thì chúng tôi chấp nhận như thế.”

Sau cùng, Đại Tá Thanh nhấn mạnh về sựliên hệxác đáng của buổi thuyết trình vớicác nhân vật quan trọng tụ họp để nghe ông nói. Ông tuyên bố rằng những cuộc biểu tình chống xâm lăng của Trung Quốc bất hợp pháp không phục vụ quyền lợi của đất nước. Những kẻ thù của Việt Nam đang dùng vấn đề Biển Đông để kích động sinh viên. Đại Tá Thanh nói rằng quá nhiều cuộc biểu tình đã xẩy ra và cần phải được chấm dứt.

Ông Thanh nói toạc ra rằng “Điều này tùy thuộc tất cả các đồng chí, những người lãnh đạo các trường học. Đảng trông đợi các đồng chí quản lý những người trẻ.Nếu chúng tôi biết sinh viên thuộc trường của các đồng chí tham dự vào những cuộc biểu tình, chắc chắn hồ sơ của các đồng chí sẽ có vết đen.”

Nguồn  © Đàn Chim Việt
———————————

Chú thích của người dịch:

1. Ông David Brown nguyên là nhà ngoại giao Hoa Kỳ. Ông thường xuyên viết về Việt Nam.
2. Ông Trần Đăng Thanh, đại tá, phó giáo sư, nhà giáo ưu tú, giảng viên Học Viện Chính trị, Bộ Quốc Phòng.

———————————–

Các bài được bạn đọc chú ý nhiều nhất trong tuần qua

«

Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF More stats

► 

Posted in Chinh Tri Viet Nam | 1 Comment »

►Những kẻ đi ngược lại lợi ích của Nhân Dân là Ai?

Posted by hoangtran204 trên 26/12/2012

Lẩm cẩm thiên hạ sự: Ai chính là những kẻ đi ngược lại lợi ích của Nhân Dân?

Lẩm Cẩm Lão Gia

Theo blog Người Lót Gạch

“…cương quyết không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân…” (*)

Nếu Lẩm Cẩm Lão Gia tôi không lầm thì hiện nay các tổ chức chính trị đối lập còn chưa ra đời ở Việt Nam. Thế mà ông đương kim Thủ tướng đã cho rằng các tổ chức chính trị đối lập sẽ “chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân…”!   (Phó chủ tịch Hiệp hội Thanh long “chỉ đạo” doanh nghiệp ép giá nông dân TH)

1. Nhiều nước láng giềng có bang giao cũng như đầu tư vào Việt Nam như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, và Singapore đều có các tổ chức đối lập chính trị. Vậy có bao giờ người dân ở những quốc gia này lên án tẩy chay các tổ chức đối lập chính trị bởi vì các tổ chức đối lập chính trị đã “chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân…” hay chưa?

2. Ai chính là những kẻ đang đi ngược lại lợi ích của Nhân Dân hiện nay? Những kẻ nào đã khiến gia đình ông Đoàn Văn Vươn nhà tan cửa nát? Những kẻ nào đã mua đất của bà con ở Văn Giang với giá rẻ mạt để rồi thu lại những món lợi khổng lồ trên sự đau khổ của người dân nghèo ở Văn Giang?

Những kẻ nào đã khiến biết bao người dân trên khắp 3 miền đất nước mất đất canh tác bởi những sân gôn và những công trình hợp tác với các công ty nước ngoài?

Những kẻ nào đã đi ngược lại lợi ích của Đất nước khi cho các công ty nước ngoài mà chủ yếu đến từ Trung Cộng thuê một diện tích rừng bằng cả một tỉnh Tây Ninh?

Những kẻ nào đã bất chấp tất cả để quyết tâm khai thác bauxite ở Tây Nguyên? Bây giờ đã là cuối năm 2012, kết quả của dự án khai thác bauxite Tây Nguyên – “chủ trương lớn của Đảng” – đến nay ra sao? Hãy cho người dân chúng tôi biết đi chứ!

Những kẻ đốn mạt nào đã bòn rút ngân quỹ của quốc gia trong thương vụ “Quả đấm sắt Vinashin” và cả hàng trăm hàng nghìn công trình đụng đâu hỏng đấy? Chắc chắn là không hề có bàn tay lông lá của “thế lực thù địch” cũng như các tổ chức chính trị đối lập trong những vụ ăn bẩn này.

Vậy ai chính là những kẻ đang đi ngược lại “lợi ích của đất nước, của nhân dân”?

Xin đừng đem hai chữ “Nhân Dân” ra để làm cái màn thưa hòng che mắt thế gian bởi chỉ thêm nhục.

L.C.L.G
(*) vnexpress.net 

Nguồn: rfa.org     CHỐNG VÀ CHẶN “ĐỐI LẬP” 

*Đảng luôn mồm nói: “đảng ta là đảng của giai cấp công nông”, nhưng thực tế coi bọn đảng viên cao cấp dùng chính sách bóp cổ,  và đi ngược lại với lợi ích của nông dân để kiếm lợi  nèPhó chủ tịch Hiệp hội Thanh long “chỉ đạo” doanh nghiệp ép giá nông dân)

Phó chủ tịch Hiệp hội Thanh long “chỉ đạo” doanh nghiệp ép giá nông dân

24-12-2012

bao Thanhnien.com.vn

Ông Trần Ngọc Hiệp, Phó chủ tịch phụ trách kinh doanh Hiệp hội Thanh long Bình Thuận vừa nhắn tin cho các thành viên là chủ doanh nghiệp (DN) “chỉ đạo” bắt tay ép giá mua thanh long của nông dân.  Chiều 24.12, trả lời Thanh Niên qua điện thoại, Chủ tịch Hiệp hội Thanh long Bình Thuận Bùi Đăng Hưng đã xác nhận vụ việc này.

Tin nhắn của ông Hiệp có nội dung: “Các anh chị chú ý tình hình là mua bán quá khó khăn, chúng ta không có máy in tiền nên phải đoàn kết thống nhất “mua có bạn bán có phường” giá nhận hàng đẹp nhất chỉ là 10.700 đồng thôi. Nếu mua chưa được thì nghỉ vài ngày sẽ mua được, không khéo sẽ lỗ hết tiền. Đề nghị anh em thực hiện nghiêm mới hạ giá và kiếm lời ”. “Sau khi thống nhất, giá hàng đẹp nhất chỉ nhận tối đa 10.700 đồng/kg nếu mua chưa được thì nghỉ 1-2 ngày rồi hãy mua giá sẽ rẻ. Trường hợp quá cần thiết thì nhận 11.000 đồng. Đề nghị chấp hành nghiêm chỉnh…”. Ông Bùi Đăng Hưng cho biết: “Đây không phải là ý kiến của Hiệp hội mà chỉ là ý kiến riêng của vị phó chủ tịch này. Chúng tôi hiểu các DN thu mua đang gặp khó trong xuất khẩu thanh long. Nhưng không vì thế mà đi ép giá nông dân”.

Ông Lê Văn Ba, một nông dân xã Hàm Mỹ (H. Hàm Thuận Nam) cho biết: “Với giá 10.700 đồng/kg thì nhà vườn không có lãi, vì mùa này thanh long sản xuất được là nhờ điện thắp sáng. Chi phí đầu vào cho thanh long mùa này rất cao. Nếu những DN chuyên mua thanh long bắt tay nhau để ép giá thì nông dân chúng tôi chỉ có lỗ mà thôi”.

Chiều 24.12, Hiệp hội Thanh long Bình Thuận đã có cuộc họp khẩn với Chi hội Thương nhân, có sự tham gia của đại diện Sở NN-PTNT, Sở Công thương Bình Thuận. Hiệp hội đã chỉ rõ đây không phải là chỉ đạo của Hiệp hội và vị phó chủ tịch này phải rút kinh nghiệm. 

Quế Hà

———————-

Gọi điện thoại về Việt Nam không tốn tiền

Nếu bạn ở Mỹ và gia đình ở VN đều dùng smartphone, bạn có thể gọi điện thoại miễn phí về VN mà không cần mua thẻ hay trả tiền cho điện thoại Nguyenngocngan 24/7.

Bạn chỉ cần download VIBER vào phone, hoặc download các phần mềm khác tùy ý thích của bạn, và theo đúng cách chỉ dẫn như trong bài dưới đây…là các bạn có thể gọi điện thoại nói chuyện với người nhà ở VN (hoặc ở Mỹ) với âm thanh rất rõ, khỏi tốn tiền mua thẻ điện thoại nữa.

Vì vậy, tập đoàn Vietel (của quân đội nhân dân VN làm kinh doanh kiếm tiền chia nhau) bị thất thu, nên tập đoàn này đang đề nghị chính phủ CẤM dân chung sử dụng các phần mềm này. Và chụp mũ là: “Các cuộc gọi , nhắn tin miễn phí qua mạng WiFi, 3G đó sẽ rất khó quản lý về mặt an ninh.”

Thay vì “tìm cách cải tiến / thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ” / tiếp tục hạ giá gọi phone mỗi phút về VN xuống 1-2 cents/… sao cho khách hàng tiếp tục dùng mình.

Có nguy cơ mất mối lợi nhiều tỷ đô la mỗi năm, tập đoàn Viettel đang đề nghị chính phủ quản lý và cấm dân chúng sử dụng phần mềm VIBER  để gọi điện thoại và nhắn tin

——

Viettel đề xuất bộ TT&TT ra chính sách quản lý phần mềm gọi điện, nhắn tin miễn phí qua Internet

nguon

24-12-2012

Trước nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh đối với thị trường viễn thông từ các phần mềm nhắn tin, gọi điện miễn phí qua mạng Wifi, 3G như Viber, Whatspp… ông Phạm Hồng Hải, Cục trưởng Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) cho biết, sắp tới, Cục sẽ tổ chức hội thảo để đưa ra chính sách quản lý phù hợp.


Trước các nguy cơ về an nình và cạnh tranh không lành mạnh của phần mềm gọi điện miễn phí qua mạng Internet, Bộ TT&TT sẽ đề ra chính sách quản lý phù hợp.Phát biểu tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ năm 2013 của Bộ TT&TT ngày 24/12, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel cho biết, dịch vụ Over the top content (OTT) giúp nhắn tin, gọi điện miễn phí qua mạng Wifi, 3G như Viber, Whatsapp đang là một nguy cơ với các doanh nghiệp viễn thông nói riêng và các ngành CNTT, truyền thông, truyền hình nói riêng.

Bởi vì, những dịch vụ viễn thông cơ bản như điện thoại, nhắn tin và truyền hình đang chiếm đến 80% doanh thu của các doanh nghiệp viễn thông (khoảng trên 100.000 tỷ đồng). Tuy nhiên, các dịch vụ này lại đang được cung cấp miễn phí trên mạng bởi các công ty nước ngoài, để từ đó kinh doanh những dịch vụ khác ngoài viễn thông. “Các cuộc gọi , nhắn tin miễn phí qua mạng WiFi, 3G đó sẽ rất khó quản lý về mặt an ninh. Vì thế, Bộ TT&TT nên có chính sách quản lý dịch vụ OTT trên cơ sở không kìm hãm sự phát triển nhưng đảm bảo phát triển bền vững của ngành viễn thông, CNTT và truyền hình”, ông Hùng nhấn mạnh.

Về vấn đề này, ông Hải cho rằng, nguy cơ các dịch vụ OTT của doanh nghiệp nội dung nước ngoài như Google, Yahoo… chiếm hết doanh thu từ những dịch vụ viễn thông cơ bản (nhắn tin, gọi điện) và khiến doanh nghiệp viễn thông giống như những “người làm thuê”, không có lãi đang xảy ra không chỉ ở Việt Nam mà còn với tất cả các nước trên thế giới. Từ đó, đòi hỏi các nước phải có chính sách quản lý phù hợp.

Chẳng hạn, một số nước như Ả rập có chính sách rất cực đoan là cấm hoàn toàn việc sử dụng phần mềm Viber… nhưng Mỹ và một số nước Châu Âu lại ủng hộ việc người dùng sử dụng những phần mềm này. “Thời gian tới, Cục Viễn thông sẽ cùng một số chuyên gia tổ chức hội thảo về vấn đề này để tìm ra chính sách quản lý phù hợp”, ông Hải kết luận.

Gần đây, người dùng tại Việt Nam ngày càng sử dụng nhiều hơn những phần mềm gọi điện Internet miễn phí thông qua mạng WiFi hay 3G giữa các smartphone, trong đó tiêu biểu là các phần mềm Whatsapp, Viber, Line… hay các phần mềm “made in Việt Nam” như Zalo (VNG), FPT Chat (FPT)… Người dùng chỉ cần vào Appstore hay Google Play để tải phần mềm về, đăng nhập số điện thoại, máy sẽ tự động gửi mã xác thực và tìm kiếm trong danh bạ những bạn bè đã dùng ứng dụng. Từ đó, người dùng có thể dễ dàng gọi điện, nhắn tin miễn phí với nhau thông qua kết nối Internet.

Nhiều hãng smartphone cũng trang bị các phần mềm nhắn tin miễn phí nhằm tăng thêm tiện ích cho người sử dụng như Blackberry với công cụ Blackberry Messenger, Apple với ứng dụng Facetime đàm thoại video và iMssenger hỗ trợ nhắn tin đa phương tiện giữa các thiết bị chạy iOS với nhau (iPhone, iPad thậm chí cả MacBook) hay gần đây nhất là Samsung với phần mềm ChatOn.

Theo ICTNews

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►An ninh Bộ lén lút gặp luật sư của blogger Điếu Cày trước phiên phúc thẩm

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2012

Chiều 22/12/12

Theo Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

Theo thân nhân của blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), ngày 18/12/2012 luật sư bào chữa cho blogger Điếu Cày, ông Hà Huy Sơn đã bị an ninh Bộ mời làm việc ở Hà Nội, hai ngày trước khi ông vào Sài Gòn thăm anh Điếu Cày ở trại giam Chí Hòa. Những tay an ninh này đề nghị LS Sơn thuyết phục ông Nguyễn Văn Hải nhận tội. Theo họ thì chỉ có trường hợp nhận tội mới được Tòa giảm án!!! Luật sư Hà Huy Sơn không chấp nhận lời đề nghị này vì nó không phù hợp với vai trò của luật sư.

Sáng ngày 20/12, an ninh bộ lại tiếp tục thăm dò Ls Hà Huy Sơn xem đến ngày xét xử phúc thẩm (28/12/2012) gia đình anh Điếu Cày có đến Tòa án không. Luật sư Sơn trả lời rằng: dĩ nhiên họ phải đến, còn đi được hay không là việc khác. Chính quyền không nên cầm chân họ ở đồn CA như lần trước chỉ mang tiếng xấu cho chính quyền mà thôi. Không cho họ vào phòng xử cũng mang tiếng. Cứ để họ vào thì có ảnh hưởng gì đâu mà chính quyền đỡ bị nước ngoài người ta chê cười. Tóm lại, đừng cầm chân người ta như lần trước…”. An ninh im lặng nhưng không biết họ sẽ chỉ đạo nhau như thế nào. 

Sau khi từ Sài Gòn trở về Hà Nội, an ninh lại tiếp tục gặp luật sư Hà Huy Sơn.

Hiện nay chỉ có Luật sư Sơn nhận được Giấy triệu tập chứ không ai nhận được Thông báo chính thức mở phiên tòa phúc thẩm. Người nhà blogger Điếu Cày cho biết: sở dĩ họ làm như thế là để tránh đề cập đến chuyện xử công khai hay xử kín.

Về việc thăm gặp blogger Điếu Cày thì con trai ông là Nguyễn Trí Dũng đã vào gặp hai lần vào ngày 7 tháng 11 và ngày 5 tháng 12. Điều đáng nói là mặc dù Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã chấp thuận cho bà Dương Thị Tân vào thăm gặp nhưng phía trại giam đã 2 lần gạch tên không cho bà vào với lý do “không còn liên quan đến ông Hải”. Công an VN đã nhổ xoẹt vào quyết định của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Giấy phép gặp mặt ký ngày 06/11/2012

Giấy phép gặp mặt ký ngày 28/11/2012

Công an Cao Xuân Tình ngồi xổm trên quyết định của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao
Về phiên tòa phúc thẩm sắp tới, blogger Điếu Cày trước sau luôn khẳng định mình hoàn toàn vô tội. Ông còn tuyên bố “sẵn sàng ở tù suốt đời vì tương lai của tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền con người của người Việt Nam”. Luật sư Hà Huy Sơn cũng đã có hướng kháng cáo mạnh mẽ hơn và chỉ đích xác yếu tố Trung Quốc trong phiên xử phúc thẩm này.

Các luật sư của blogger Tạ Phong Tần là Nguyễn Thanh Lương và Nguyễn Quốc Đạt cho biết tinh thần của chị Tần rất vững vàng.

Công an dặn người nhà của blogger AnhbaSaigon (Phan Thanh Hải) khi ra tòa nhớ mang theo mọi huân chương, bằng khen của gia đình anh.

Trong phiên tòa sơ thẩm ngày 24/9/2012 mỗi khi các blogger hay các luật sư phát biểu thì đều bị điều chỉnh âm thanh rất nhỏ, khó có thể nghe được. Vì thế trong phiên phúc thẩm sắp tới, các blogger và luật sư sẽ nói to, dõng dạc mà không cần đến hệ thống tăng âm, để không bị phá như trong phiên sơ thẩm.

PV. VRNs

Posted in Trại Tù | Leave a Comment »

►Nhìn thấy trước dấu hiệu sẽ sụp đổ: Suy tính để tồn tại

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2012

Tác giả bài báo dưới đây cho rằng: Công an và an ninh đang ngày đêm suy tính làm cách nào

Không còn Đảng, nhưng vẫn còn mình

Thanh Hương

Tác giả gửi đến Dân Luận

Đó là sự thâm độc trong chính sách ngu dân của Đảng. Nhưng thời buổi giờ đã khác nhiều. Một là do internet, hai là do kinh tế bi đát. Thông tin ngoài Đảng phát triển mạnh mẽ trên mạng trong những năm gần đây đã tác động rất khủng khiếp đến nhận thức của lực lượng công an, nhất là bên an ninh. Chỉ có người thiểu năng thì mới không hiểu ra được sự thật và đạo đức.  Còn  họ là những con người bình thường, nhưng vì đặc quyền đặc lợi nên họ cố gắng nhổ răng lương tâm mình mà tiếp tục phục vụ Đảng.  Tuy vậy, nhân chi sơ tính bản thiện, nên dù muốn hay không thì trong lòng họ vẫn cứ biến chuyển dần từng ngày. Đến một lúc nào đó sẽ dậy sóng.
 
selection_002_0.pngNghe mấy ông lãnh đạo phát biểu vừa rồi thì thấy tình thế của Đảng thật là mong manh quá. Giống như đồng hồ đếm ngược rồi vậy. Bác Trọng thì nhắc đi nhắc lại các cựu chiến binh phải ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng và chế độ. Ngài Thủ tướng thì kêu gào các chú công an phải mau chóng tham mưu cho Đảng và Nhà nước biện pháp chống chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và sự hình thành lực lượng đối lập. Ngài phát biểu rất rõ là “một mình ngành công an không thể đảm bảo nhiệm vụ này”. Đó là thừa nhận chính phủ của ngài đã bắt đầu bất lực.

Còn Chủ tịch nước thì mong muốn trong tuyệt vọng: “mãi mãi là sao sáng dẫn đường”.

Nhưng đó chỉ là bề nổi. Bên trong lòng dân và các đảng viên còn xáo động hơn nhiều. Những đợt sóng ngầm này đang trổi dậy và sắp tạo ra sóng thần.

Đảng đang phải cho rất nhiều thuyết trình viên có nhãn mác bằng cấp học vị như cái lão Trần Đăng Thanh đi rao giảng trấn an và níu kéo lòng dân, nhưng thật đáng thương, cái lý tưởng của Đảng giờ chẳng còn ăn khách nữa mà còn bị phản tác dụng cho nên các ông bà này chỉ còn cách dẹp cái lý tưởng đó qua một bên mà dùng cái sổ hưu để dụ dỗ và dọa dẫm.

Càng nói lại càng lộ bản chất côn đồ của Đảng, suy bụng ta ra bụng người. Các cuộc họp chi bộ phường dành cho các cụ hưu trí đang được tăng cường tuyên truyền luận điệu coi chừng bị trả thù nếu để các thế lực thù địch thay đổi chế độ.

Chắc có một số người lo lắng nhưng phần đông chẳng mấy ai tin thời buổi nay  lại còn có thể hành xử giang hồ như Đảng đã từng đối xử với người miền Bắc trong cải cách ruộng đất và miền Nam sau 30/04/75. Điều này chỉ xảy ra khi những kẻ giáo điều, cơ hội của Đảng giành được quyền kiểm soát, hay theo cách nói của ông Chủ tịch nước là “ra tay nghĩa hiệp” trong cơn biến động chính trị kinh hoàng sắp xảy ra. Nói chung là niềm tin đã vỡ vụn rồi, phải thay đổi thôi. Duy có điều là nó thay đổi thế nào.

Hiện nay Đảng chỉ còn hy vọng vào một lực lượng duy nhất để bảo vệ sự cầm quyền của mình là công an, theo như bác Trọng mới đây gọi là lá chắn, thanh kiếm gì đó. Nhưng đội ngũ này cũng đã bắt đầu rệu rã niềm tin và bắt đầu lo sợ rồi.

Là một người từng học ngành an ninh nhưng “may mắn” không được vào ngành công an nên tôi có khá nhiều quan hệ và điều kiện để hiểu rõ tâm tư của lực lượng này. Mấy chục năm nay chính sách của Đảng là tuyển dụng những người có học lực thấp nhưng có lý lịch “tốt” cho vào ngành này.

Thậm chí một số lượng rất đông những người đi nghĩa vụ quân sự, thường là học hành không đàng hoàng nhưng có quan hệ và chạy chọt tốt nên được xung vào lực lượng chiến sĩ công an, thay vì phải vào bộ đội đi đến những vùng xa xôi hẻo lánh. Những bạn trẻ này sau khi hết thời gian nghĩa vụ 18 tháng nếu trở về nhà thì thật tình rất khó kiếm được việc làm. Mà trong thời gian làm chiến sĩ thì được chứng kiến sự sung sướng của những các bộ công an, được hưởng bao nhiêu đặc quyền và còn kiếm chác được rất nhiều từ việc hạch sách dân chúng. Do vậy một cửa rất thơm mà những bạn trẻ này muốn phấn đấu là chạy tiền để được giữ lại biên chế ngành công an. Rồi sau đó được cho học bổ túc, học tại chức để có tấm bằng đại học mà thực chất chẳng có kiến thức gì nhưng cứ thế mà lên lon. Có những trường hợp còn lấy được cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ mới kinh.

Cứ như vậy bao nhiêu năm nên lực lượng này hầu hết là những người không có khả năng làm gì khác ngoài việc vâng lời Đảng làm bất cứ việc gì cho dù rất sai trái và vô đạo đức. Nhưng nói thật là đáng thương cho họ ở chỗ họ chẳng biết đó là sai, là thiếu đạo đức. Họ chỉ có biết cái đúng duy nhất là chỉ thị của Đảng, của cấp trên. Bỏ họ ra ngoài thì thất nghiệp cầm chắc cả đời dù có rất nhiều tiến sĩ, giáo sư. Cũng có vị học hành đàng hoàng và có kiến thức, học vị và đạo đức thật nhưng số lượng rất ít ỏi. Số như các lão Trần Văn Quang, Trần Đăng Thanh là vô số kể. Không khéo còn nhận lương của cả Đại Hán.

Đó là sự thâm độc trong chính sách ngu dân của Đảng. Nhưng thời buổi giờ đã khác nhiều. Một là do internet, hai là do kinh tế bi đát. Thông tin ngoài Đảng phát triển mạnh mẽ trên mạng trong những năm gần đây đã tác động rất khủng khiếp đến nhận thức của lực lượng công an, nhất là bên an ninh. Chỉ có không phải là con người thiểu năng thì người đọc mới không hiểu ra được sự thật và đạo đức. Nhưng vì đặc quyền đặc lợi nên họ cố gắng nhổ răng lương tâm mình mà tiếp tục phục vụ Đảng. Tuy vậy, nhân chi sơ tính bản thiện, nên dù muốn hay không thì trong lòng họ vẫn cứ biến chuyển dần từng ngày. Đến một lúc nào đó sẽ dậy sóng. Hơn nữa cuộc sống đang ngày càng khó khăn và bế tắc. Trước hết nó làm cho niềm tin vào Đảng bốc hơi nhanh chóng, hóa ra Đảng chẳng tài cán gì như Đảng vẫn tự ca ngợi khả năng phát triển kinh tế của mình lâu nay. Chẳng qua là sự vay mượn, chộp giật và tham nhũng. Thứ hai là nó tác động đến thu nhập của họ vì Đảng đã không còn tiền để xông xênh cho họ như trước đây. Dân đến giờ cũng khốn cùng rồi nên khó mà kiếm chác được nhiều. Vậy mà những khoản phải cống nạp (trong ngành thường gọi vui là đóng hụi chết) vẫn không hề giảm nên họ bắt đầu chán ngán và bất mãn. Tâm trạng này ngày càng trầm trọng, mà nhiệm vụ bị giao ngày càng khó khăn là sẽ “tăng cường” đàn áp dân chúng. Từ những dân oan đòi đất, những nông dân phản kháng chống việc tước đoạt đất đai đến công nhân đình công và những người yêu nước biểu tình.

Trước đây họ bị bịt mắt nút tai nên cứ tin là Đảng nói đúng, phải duy trì ổn định chính trị xã hội để phát triển kinh tế nên hăng hái mà làm. Nhưng giờ thì có mù cũng thấy đó là những người dân vô tội bị chà đạp quyền lợi để phục vụ cho những kẻ tham nhũng, bán nước. Kinh tế phát triển chẳng được bao lâu, giờ thì bất ổn suy xụm chưa biết đến bao giờ.

Do vậy bây giờ họ làm cho có làm, vì buộc phải làm theo bắt buộc của Đảng chứ chẳng còn tin là đúng và cần thiết nữa. Nếu trước đây những sĩ quan an ninh lên giọng giáo điều dạy dỗ đúng sai cho những người dân họ bắt về thì giờ đây hầu hết đều tự nhiên phải buộc miệng bảo: “đây là nhiệm vụ chứ chẳng muốn làm thế”. Đây là một sự chuyển biến nhận thức rất ghê gớm, vì một khi nó đã ăn dần vào ý thức họ thì đến lúc họ sẽ biến chuyển, trở cờ rất nhanh thôi.

Hôm rồi thằng bạn là thượng tá an ninh ghé thăm. Nó bảo tâm trạng nó dạo này thật oải, nhất là sau cái vụ biểu tình yêu nước của các lão thành cách mạng chống Trung Quốc vừa rồi. Cấp trên chỉ thị chơi trò không bắt giam, khởi tố nhưng dùng thủ đoạn trấn áp bẩn, ném đá giấu tay để làm nản lòng các vị. Nếu cần thì sẵn sàng đe dọa đến việc làm ăn của người thân của những người này. Nó bảo Thành ủy giờ chẳng dại mà xử lý công khai các vị đó vì như thế dẫn đến loạn chắc. “Mà như vậy tụi tao bị biến thành côn đồ phạm pháp. Sau này sao tránh được tội?” Nó bảo vậy và nói tiếp rằng mấy ông bà ở trên quá hiểu rằng nếu không trấn áp được lực lượng này thì ngày tàn của chế độ sẽ đếm ngược bằng ngày. Nhưng nó cũng không tin rằng có thể trấn áp được. Nó nói hãy nhìn vào sự phát triển báo mạng ngoài Đảng và lực lượng công an mạng thì thấy. Mấy năm trước cả mấy ngàn công an mạng được trả lương suốt ngày lê la viết comment chửi bới dọa dẫm, đọc, phân tích tìm ra những người viết bài và comment để trấn áp. Lúc đầu thì còn làm được một số “thành tích” vì số lượng dân báo lúc đó còn ít, người đọc cũng chưa nhiều. Số lượng công an mạng áp đảo. Trấn áp được như vậy nhưng báo mạng của dân vẫn phát triển nhanh chóng còn hơn nấm mùa mưa, lấn át, áp đảo ngược lại số công an mạng. Cho nên bây giờ mọi người chẳng thấy công an mạng nổi bật lên nữa mà chìm nghỉm. Có viết chửi, dọa cũng chẳng có tác dụng gì.

Thằng bạn thượng tá tiếp tục khẳng định rằng sau thế giới online thì đời thực offline cũng sẽ diễn ra nhanh chóng tình trạng tương tự như vậy. Có trấn áp thế nào đi nữa thì người ta vẫn nổi lên. Trên mạng giờ người ta công khai lên tiếng, chẳng giấu tên giấu tuổi gì nữa. Cả mấy ông lãnh đạo cao to nhất cũng bị chửi bằng những cái tên có địa chỉ hẳn hoi. Ngoài việc sách nhiễu ra thì chẳng làm được gì khác. Mà như thế người ta vẫn chẳng sợ. Nó bảo chắc chẳng bao lâu nữa người dân sẽ ùn ùn xuống đường. Chẳng có lực lượng công an nào mà ngăn cản nổi. “Chạm vào bao tử của dân và danh dự của trí thức rồi, chẳng dễ nữa”. Nó bảo thế. Phong trào dân báo đã bùng phát mạnh mẽ, tới đây là phong trào dân xuống đường. Sẽ chặn không nổi nữa. Rồi nó cũng tỏ ra lo lắng về hậu thay đổi, không biết có bị trả thù không, rồi làm gì để sinh sống.

Đó là tâm tư thật của những người thuộc “lá chắn còn Đảng còn mình” vào lúc này. Chỉ cần những xu thế thay đổi làm cho họ tin được rằng họ sẽ không bị truy cứu, trả thù và vẫn có cơ hội để sống bình thường thì sự thay đổi sẽ diễn ra nhanh chóng.

Tức là làm sao để “Không còn Đảng nhưng vẫn còn mình”. Việc này khó mà dễ.

Thanh Hương

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Huế: Tưởng niệm và thọ tang Hòa thượng Thích Hộ Giác- Công an tung hoành trong chùa

Posted by hoangtran204 trên 22/12/2012

*Đức cố Phó Viện trưởng Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất Thích Hộ Giác vừa viên tịch tai Hoa kỳ.

Tưởng niệm và thọ tang Hòa thượng Hộ Giác

Lễ tưởng niệm và thọ tang Hòa thượng Hộ Giác – Phó tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. 

IMG_0689
Hôm nay đã là ngày cuối của tháng mười âm lịch nhưng trời vẫn trong sáng và không lạnh .Nắng vàng như hổ phách dưới chân đèo Hải vân, và những làn gió nhẹ từ biển thổi vào chỉ đủ làm cho rừng trên đỉnh Hải vân rực rỡ lao xao. Ở đây trời và biển bao la , tôi thầm cám ơn tiền nhân đã để lại cho chúng ta một di sản thiên nhiên hùng vĩ và tráng lệ. Nếu không có viễn kiến và lòng tự tôn dân tộc làm sao cha ông chúng ta đủ dũng lược để tiến về phương Nam mở nước, và làm sao để ngày hôm nay chúng ta có được một giang sơn gấm vóc hiên ngang và đẹp huy hoàng như minh châu trời Đông?

Vậy mà ngày hôm nay nước non hùng vĩ tráng lệ này đang bị đe dọa bởi kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc mà đảng CS cầm quyền lại nhu nhược với hy vọng cúi đầu, nín thở “để qua sông”??.

Với tâm trạng nặng nề đó tôi đi Huế lần này là để dự Lễ tưởng niệm và thọ tang Đức cố Phó Viện trưởng Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất Thích Hộ Giác vừa viên tịch tai Hoa kỳ.

Tôi viết bài này như một nén tâm hương của người Phật tử dâng lên Giác linh Ngài để cảm niệm ân đức của Ngài đã một đời hy hiến cho Dân tộc và Đạo pháp, trong khả năng của một con người, dù đó là một nhân vật lỗi lạc.

Đây có lẽ là lần đầu tiên của hơn hai mươi năm qua mà mùa đông lại không bị gió mưa dai dẳng và lũ lụt hoành hành, những năm trước vào tháng này mưa tầm tả suốt hàng tháng trời và khắp nơi là biển nước mênh mông cộng với không khí lạnh tràn về làm mọi người chán ngán ủ ê, cảnh vật tiêu điều.

Năm nay thời tiết có sự thay đổi bất ngờ vì cả tháng mười trời đẹp, nắng dịu dàng mơn man trên những sắc màu của cỏ cây hoa lá . Ai cũng hân hoan vì một mùa đông dể chịu và ấm áp.

Tôi đến Tổ đình Quốc ân vào lúc 5h chiều, trong cái nắng hoe vàng của xứ Huế thơ mộng làm lòng mình không khỏi bâng khuân một nỗi buồn xa vắng dậy lên trong ký ức từ câu hát của ai đó trên dòng sông Hương thơủ nào khi còn là một thư sinh đất Quảng.

Tổ đình Quốc ân là một kiến trúc cổ hoành tráng, tọa lạc trên một khu đất rộng và cao của một triền đồi, chánh điện nhìn xuống đường Đặng huy Trứ và bên kia đường là một thung lũng hẹp. Phía sau Tổ đình là vườn cây và những ngôi tháp cổ kính rêu phong.

Tôi bước vào chùa cung kính chào một vị sư trẻ, sau một vài câu thăm hỏi về tôi vị sư trẻ dẫn tôi đến đảnh lễ với môt vị Hòa thượng.

Hòa thượng ngạc nhiên không biết tôi là ai, là Phật tử hay là Công an.

Những "người lạ" tới chụp ảnh

Những “người lạ” tới chụp ảnh

Ngài tiếp tôi lịch sự nhưng dè dặt, sau khi xác minh về tôi thì Ngài yên tâm, tôi ngồi đối diện với Ngài để “tâm sự” và một ấn tượng của tôi về Ngài thật mãnh liệt, đó là một vị chân tu với phong thái nhu hòa nhưng đỉnh đạc.

Tôi hỏi Ngài : Thưa, Hòa thượng trụ trì chùa này phải không ạ?

Hòa thượng nhẹ nhàng với một nụ cười hiền

-Tôi cũng là khách thôi.

Sau đó tôi mới biết đó là Đại lão Hòa thượng Thiện Hạnh- chánh thư ký Viện Tăng thống.

Một lát sau khi biết tôi đã có mặt tại chùa Quốc ân, anh Lê công Cầu- Huynh trưởng gia đình Phật tử- đến để tôi khỏi phải “khó xử”.

7h tối Hòa thượng Viên Định- viện trưởng Viện Hóa đạo- và Hòa thương Không Tánh- Tổng vụ trưởng Tổng vụ Từ thiện – Xã hội- và Đại đức Thích Đồng Minh từ Saigon ra cũng đến chùa Quốc ân nghĩ lại.

Tôi và Huynh trưởng Lê công Cầu ra tận sân để cung nghinh nhị vị Hòa thượng, thầy trò chúng tôi lại được gặp nhau trong niềm vui và sự ân cần.

Tối hôm đó tôi ở lại chùa Quốc ân và được sự “chiếu cố” đặc biệt của mấy anh an ninh và công an phường Phước vĩnh thành phố Huế, họ còn đe dọa sẽ kiểm tra chùa vào lúc 11h khuya, tuy chùa đã đến báo có người lưu trú.

Tôi nghĩ thật lạ đời cho cách hành xữ của công an VN, tôi có phải là người “nước lạ” đâu, và đây là đất nước của tôi, tôi được quyền ở bất cứ nơi đâu trên lãnh thổ VN này, hay VN ngày hôm nay đã là “nước lạ” đối với tôi?.

Chư vị Hòa thượng đã “đáp trả” lời đe dọa đó với thái độ ung dung bình thản, các Ngài chỉ nói: Họ có quyền mà, muốn làm gì chẳng được!.

Không ngủ được vì lạ chổ, tôi thầm mong họ cho công an đến kiểm tra chùa để tôi viết bài phóng sự này hay hơn!. Nhưng việc đó đã không xảy ra.

Sáng 12/12 /2012 nhằm ngày 29/10 âm lịch , trời âm u và mưa lất phất, không khí lạnh tràn về, đây cũng lại là một chướng duyên để Phật tử quy tụ đông đủ cho Lễ tưởng niệm và Thọ tang cộng với nhiều chướng duyên khác mà tôi nghe mấy vị Phật tử nói với nhau: nào là khuyên nhủ đừng đi dự lễ, hoặc đe dọa xa gần gì đó.

Đúng 9h Phật tử đến tham dự đông hơn tôi nghĩ, cả chục nhân viên an ninh mặc thường phục với máy chụp ảnh và camera cũng đứng trước Chánh điện và lảng vảng chung quanh.

Thượng tọa Thích Kế Viên điều hợp chương trình buổi Lễ.

Sau khi chư vị tăng ni và Phật tử đã tề tựu trang nghiêm trong chánh điện, vị Thượng tọa dẫn chương trình cung thỉnh chư vị Hòa thượng, Thượng tọa đại diện Hội đồng Lưỡng viện quang lâm trong không khí cung kính và long trọng. Đại diện Hội đồng Lưỡng viện gồm có:

– Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Hạnh – Chánh thư ký viện Tăng thống.
– Hòa thượng Thích Viên Định- Viện trưởng Viện Hóa đạo.
– Đại lão Hòa thượng Thích như Đạt- Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo, Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Tăng sự.
– Hòa thượng Thích Không Tánh -Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Từ thiện Xã hội
– Hòa thượng Thích Thanh Quang- Tổng thư ký Viện Hóa đạo kiêm Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Thanh niên.
– Hòa thượng Thích Chí Thắng- Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Kiến thiết.
– Hòa thượng Thích Chơn Niệm- Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Cư sĩ.
– Hòa thượng Thích Diệu Tánh-Thành viên Hội đồng Trưởng lão- Viện Tăng thống
-Hòa thượng Thích Nguyên Lý- Tổng thủ quỹ Viện Hóa đạo.
– Đại đức Thích Đồng Minh- Phụ tá Chánh văn phòng Viện Hóa đạo.

Quang cảnh buổi lễ

Quang cảnh buổi lễ

Ba hồi chuông trống Bát nhã vang lên làm rúng động lòng người và rúng động cả một góc trời, tôi cảm nhận cái uy lực của thập phương chư Phật bao trùm cả vũ trụ.

Tôi nhận thấy quan điểm của Giáo hội PGVNTN được trình bày trong bản tiểu sử của cố Hòa thượng Thích Hộ Giác do Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Hạnh đọc, trong Điếu văn của Hội đồng Lưỡng viện do Hòa thượng Thích Viên Định đọc hay trong thư tưởng niệm của Hội đồng Lưỡng viện do Hòa thượng Thích Không Tánh trình bày, không hề tránh né hiện tình của đất nước và dân tộc, trong đó sự sống còn của tổ quốc bị đe dọa, vấn nạn nhân quyền bị chà đạp và đạo đức bị suy đồi, lòng dân ly tán. Và khẳng định sứ mệnh của Giáo hội PGVNTN trong trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc và trong tiến trình dân chủ hóa đất nước, giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn.

Không khí trang nghiêm

Không khí trang nghiêm

Trong không khí trang nghiêm và cảm động của buổi Lễ, sự hiện diện và hành tung của mấy nhân viên an ninh mặc thường phục thật là lạc lõng, lạc lỏng đến lố bịch, họ chĩa camera về phía chư tăng và Phật tử để quay phim, chụp ảnh, đi đi, lại lại lăng xăng trước Chánh điện, vẽ mặt ai cũng lạnh lùng như đe dọa mặc cho vị Thượng tọa dẫn chương trình đã nhiều lần nhắc nhở họ phải tôn trọng sự tôn nghiêm và thanh tịnh của buổi Lễ, của Thiền viện.

Ai cũng hiểu đây là việc làm thường xuyên của công an cộng sản để đối phó với những cuộc biểu tình của dân oan, của những người yêu nước chống Tàu xâm lược và với những ngày Lễ của Giáo hội Phật giáo VN thống nhất. Họ cố tình tạo nên một không khí đe dọa để người dân sợ hải. Nhưng tôi thấy ý đồ của họ đã thất bại vì không một vị tăng sĩ hoặc Phật tử nào tỏ ra sợ hải hay nao núng khi công an chĩa camera về phía họ, chư Tăng và Phật tử vẫn an nhiên tự tại hành Lễ.

Nhìn ra tôi thấy Huynh trưởng Lê công Cầu trang nghiêm đứng dưới thềm trước chánh điện rất gần chổ mấy nhân viên an ninh đang quay phim chụp ảnh, trông anh vững vàng như một cây đại thụ trước gió.

Đến nghi thức Thọ tang là cảm động nhất, mọi người hai tay kính cẩn tiếp nhận và cài miếng vải màu vàng lên ngực áo trước cái nhìn xoi mói và tức giận của công an.

Buổi Lễ kết thúc bằng ba hồi chuông trống Bát nhã, tăng ni và Phật tử nghiêm trang cung tiễn chu vị Hòa thượng và Thượng tọa đại diện của Hội đồng Lưỡng viện hồi an.

Tôi bước ra ngoài, đứng trên thềm Chánh điện nhìn ra, trời quang mây tạnh, lòng thấy nhẹ nhàng vì buổi Lễ diễn ra trang trọng và tốt đẹp và mấy nhân viên an ninh cũng biến đâu mất.

Tôi tự hỏi tại sao Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất lại bị đảng CS coi như thù địch và luôn bị đàn áp, khủng bố? Câu trả lời thật đơn giản vì Giáo hội Phật giáo VN thống nhất luôn đồng hành cùng dân tộc, không làm chính trị nhưng có thái độ (và thái độ dứt khoát) về chính trị, Giáo hội là một phần xương thịt của dân tộc và đất nước và từ dân tộc mà ra, Giáo hội không thể tồn tại bên ngoài vận mệnh dân tộc và đất nước được, sinh mệnh của Giáo hội và dân tộc, đất nước này gắn bó sinh tử với nhau.

Nếu Giáo hội từ bỏ hay quay lưng lại với dân tộc và đất nước thì sinh mệnh của Giáo hội cũng sẽ kết thúc. Không chỉ là Giáo hội PGVNTN mà tất cả người dân VN đều sống trong dòng sinh mệnh dân tộc.

Chính vì vậy mà Giáo hội phải dấn thân vì dân tộc và đất nước, phải góp phần bảo vệ Tổ quốc như trước đây ngàn năm Giáo hội đã làm như vậy, phải đấu tranh để thăng tiến nhân quyền và dân chủ, vì Giáo hội là một thực thể của đất nước này nếu đất nước không có dân chủ, người dân không hưởng được nhân quyền thì Giáo hội sẽ tiêu vong vì nhân tâm phân hóa, đạo đức suy đồi, tiến trình này có thể chậm và khó nhìn thấy nhưng là tất yếu.

Giáo hội PGVNTN mãi mãi hy hiến và đồng hành cùng dân tộc, đây chính là lý do mà Giáo hội luôn sống trong tâm thức dân tộc tự ngàn xưa.

14/12/2012

© Huỳnh Ngọc Tuấn

© Đàn Chim Việt

Posted in Tôn Giáo, Uncategorized | Leave a Comment »

►Vài lời gửi Đại tá Trần Đăng Thanh

Posted by hoangtran204 trên 22/12/2012

Đốp Catherine

blog

danluan.org (repost)

Này ông Đại tá Trần Đăng Thanh.

Nhân dịp ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng là ngày thứ  ba sau bài phát biểu bất diệt của ông, tôi có vài lời với ông sau đây. Tôi định viết theo phong cách phát biểu một là, hai là của ông, rồi lại tính viết kiểu tâm thư tha thiết, nhưng tôi nghĩ cái đầu của ông không đủ thông minh để hiểu được sự cợt nhã theo cách thứ nhất, trái tim của ông không đủ rung động để hiểu theo cách thứ hai, thôi thì tôi nói thẳng đi cho nó gọn, nhé.

Tôi thật sự ghê tởm ông khi ông ca ngợi cái trò Chí Phèo ăn vạ, khủng bố của nhà cầm quyền Triều Tiên và cho rằng đó là điều mà chúng ta cần học hỏi. Tôi những tưởng rằng quân đội ta thì phải học theo tinh thần kiên quyết, cứng rắn của quân đội Nhật Bản kia chứ.

13 năm trước, khi đi học quân sự, ngày nào chúng tôi cũng hát: “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh, anh em ơi vì nhân dân quên mình. Đoàn vệ quốc chúng ta từ nhân dân mà ra, được dân mến, được dân yêu muôn phần”. Vậy mà bây giờ, tôi mới thấy tình yêu của nhân dân dành cho các ông thật là phí, bởi các ông chẳng coi tính mạng của nhân dân, sự an nguy của tổ quốc là quan trọng, mà ông chỉ vì cái sổ lương hưu thôi. Vậy nên dù có chết vẫn phải bảo vệ chế độ, bởi chỉ có sống trong chế độ XHCN như  ông nói thì mới có sổ hưu để mà sống.

Là người Việt Nam, ai cũng biết Trung Quốc là kẻ thù muôn đời, là kẻ xâm lược, đô hộ chúng ta cả ngàn năm. Nhưng với ông, dù họ có từng xâm lược nước ta nhưng ông vẫn luôn mang ơn họ. Tôi thấy bực bội vì từ “chúng ta” mà ông đã dùng. Lẽ ra ông nên nói “chúng tôi” thôi, vì chỉ ông và những kẻ hèn hạ ăn lương (và sau này là lương hưu) của nhân dân, lấy tiền của nhân dân mua vũ khí mà lại không đi bảo vệ nhân dân, để ngư dân bị tàu Trung Cộng cướp, giết trên biển. Nhưng ông chỉ hèn mình ông thì đã chớ, đằng này, chúng tôi xuống đường biểu tình chống Trung Cộng thì ông gọi chúng tôi là bọn phản động, kêu gọi lãnh đạo các trường Đại học quản lý sinh viên mình, không cho đi biểu tình, nếu có phải chịu trách nhiệm. Vậy nên tôi đề nghị, nếu có lần sau, ông không được dùng từ “chúng ta” nữa, chỉ “chúng tôi”, hoặc “tôi” thôi, càng rõ ràng. Ông có thể như con bọ hung, sống trong cứt và tự hào trong cứt, chứ đừng vơ chúng tôi vào đấy, thưa ông.

Chúng tôi lớn lên đã được đọc, và học những điều hay ho khác. Ví như thư của Cô Giang gởi cha mẹ chồng:

Ngày 17 tháng 6 năm 1930

Thưa Thầy, Mẹ,

Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con; không báo được thù nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền Hùng, giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con!

Đứa con dâu bất hiếu kính lạy.”

 

Hay câu này của Hoàng đế Tự Đức viết trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục về Hai Bà Trưng:

Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm !

Vậy nên, chúng tôi không thể sống như  những người nô lệ, không thể chấp nhận bọn Tàu cộng xâm lược biển đảo, cướp giết ngư dân mà im lặng, hèn hạ cúi đầu chỉ vì miếng cơm hay cuốn sổ lương hưu được.

Đất nước này sinh ra lắm anh thư, mà buồn thay cũng lắm kẻ hèn như  ông!

(tham khảo bài phát biểu dài 2 tiếng của ông Thanh ở đây:

http://anhbasam.wordpress.com/2012/12/19/1481-dai-ta-tran-dang-thanh-giang-ve-bien-dong-cho-lanh-dao-cac-truong-dai-hoc/)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Dốt nát như thế, giảng bài không xấu hổ sao?

Posted by hoangtran204 trên 22/12/2012

Muốn có Sổ Hưu, phải bảo vệ Đảng!

►Chết cười với lão Đại tá Trần Đăng Thanh: giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học

Đại tá Trần Đăng Thanh đem sổ hưu nhử lợi để kêu gọi các thầy cô giáo hãy bảo vệ đảng và tổ quốc XHCN…cho khỏi sụp đổ

Dốt nát như thế, giảng bài không xấu hổ sao?

Hà Văn Thịnh

Cái sự dốt ngút ngàn, trùng điệp của quan chức ta lâu nay giống như mùa rươi, nhiều đến nỗi chán đến mức không thể đếm và không muốn bàn thêm nữa… Thế nhưng, đọc bài giảng của ông Trần Đăng Thanh(anhbasam.wordpress.com) thì quả là quá sức chịu đựng – thần kinh căng thẳng gần như sắp bị đột quỵ vì không thể nào tưởng tượng nổi một người kém cỏi và u mê đến thế vẫn có thể giảng bài cho những “siêu nhân” của nghệ thuật giảng bài? Mọi giới hạn của lòng tự trọng và tính khiêm tốn, sự đúng mực của hiểu biết đều bị biến thành trò hề chính trị thích bỡn cợt với nỗi đau của 90 triệu con người…

Như đã nói ở trên, những cái sai của TĐT là nhiều như rươi – “Con rươi ‘nở’ giữa bầy rươi/loằng ngoằng kiếm chác trêu ngươi cuộc đời”, nên không thể kể cho hết, chỉ xin nêu ra mấy loại sai không thể dung thứ sau đây.

1. Kiến thức đa phần sai bét sai be

Ông TĐT cho rằng GDP của Mỹ năm 2011 là 14.700 tỷ USD, gấp ta khoảng 150 lần (?) Nói như thế có khác gì ông TĐT cho rằng các số liệu mà Đảng và Nhà nước ta công bố là nói khống, bởi theo thông tin chính thức, GDP VN năm 2011 là 122 (126?) tỷ USD; còn theo ông TĐT chỉ là… 98 tỷ USD (!). Chẳng lẽ ông TĐT nghĩ và tin rằng 30 tỷ USD dư ra đó là sự dối lừa chăng?

Ông TĐT nói rằng Biển Đông lớn thứ hai thế giới “sau Địa Trung Hải”. Chẳng lẽ ông không hề xấu hổ một chút nào khi cái kiến thức sơ đẳng về biển, trẻ lớp 3 nó bấm ‘clốc’ là ra liền: Biển Philippines có diện tích 5,177 triệu km2, Biển Coral 4,791 triệu km2, Biển Ả rập 3,862 triệu km2, Biển Đông 3,537 triệu km2 – còn Địa Trung Hải mà TĐT nói lớn nhất thế giới chỉ có… 2,510 triệu km2 (!) Ông còn nhầm tệ hại khi ghép Vịnh Thái Lan thuộc Biển Đông!

Mang danh là Đại tá mà kiến thức quân sự của ông TĐT chưa bằng một học sinh phổ thông. Căn cứ vào đâu để ông nói rằng 90% tiếp tế hậu cần – kỹ thuật của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ là “qua Biển Đông”? Chẳng lẽ Mỹ lấy đồ tiếp tế từ các nước Đông Nam Á hay Ấn Độ chắc, hay là nó cho tàu bè chở ngược từ Đại Tây Dương để qua châu Âu, vòng qua châu Phi, qua Ấn Độ Dương để băng qua Biển Đông rồi mới đến Guam? Lệnh “cấm” đánh bắt cá quái gở của TQ năm nào cũng từ 16.5 đến 1.8 mà ông không biết sao? Nếu biết sao ông lại nói từ 1.6?

Muốn nịnh TQ bá quyền nhưng ông TĐT toàn sai, ông quên mất rằng khen ai đó mà khen không đúng là mặc nhiên trở thành kẻ thù của người ta đó, thưa ông. Hoàng đế Phổ Nghi thoái vị ngày 12.2.1912, chứ không phải năm 1911; và, cái thời Thương – Ân chẳng có đủ chữ (vì nó còn sơ khai lắm với các văn bản khắc trên xương quạt trâu bò hay mai rùa) nên không thể có cuốn sách nào của Khương Tử Nha viết năm 1776 tr.CN. Thực ra, có một Khương Tử Nha thật, tức Tề Thái Công, nhưng ông ta sống vào vào thế kỷ XI tr.CN (khoảng 1045 – 1015 tr.CN). Như vậy, ông TĐT đã nhầm lẫn rất, rất chi là chân thành (vì nói đi nói lại chắc như đinh) có hơn… 600 năm chơ mấy(!) Hay ông TĐT nghĩ ‘Khương’ với ‘Thương’ là một?… v.v. và v.v…

2. Ấu trĩ đến mức thảm hại

Nói chuyện Tàu từ xưa đến nay mà ông chẳng hiểu dẫu chỉ là một chút về cái thâm hiểm, nguy hiểm khôn cùng của chủ nghĩa Đại Hán. Ông cho rằng Tàu nó vừa bắt tay ta vừa đá lung tung ư? Xin thưa với ông, chỉ có ông mới đá, mới múa may lung tung như một kẻ khùng chứ Tàu nó đã đá thì đá cú nào chắc chắn trúng chỗ hiểm cú đó. Ông nghĩ một nước cờ, nó tính đủ 30 nước mà ông sẽ đi; nó gài bẫy tinh vi, ác độc đến mức muốn giãy không thể nào giãy nổi bởi những sai lầm của ông hôm nay là bắt buộc tiếp tục sai từ cái sai những 20 năm, 30 năm trước ông ạ.

Ông coi thường “nguyên khí quốc gia” (như ông nói) một cách đáng phẫn nộ: Nói chuyện với tinh hoa trí tuệ của Thủ đô Hà Nội mà ông “dọn món” cơm thiu ôi với các hình ảnh lấy từ năm 2009 (!) Đó là chưa nói chuyện ông khinh khi quá quắt khi oang oang hợm hĩnh rằng “báo cáo các đồng chí nước Mỹ đến năm 2011 tên của họ vẫn không có gì thay đổi, vẫn là Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ. Rồi dân số nước Mỹ hiện nay đến năm 2011 là 301 triệu người dân…”. Nói như thế chẳng khác gì nói “báo cáo các đồng chí tình hình tên gọi không có gì thay đổi, bé trai có chim và bé gái thì có bướm”. Xin thưa với ông là CHÚNG chứ không phải ‘chủng’ và dân số Mỹ đến 31.12.2010 là 308,6 triệu người. Số liệu công bố đầy dẫy mà ông không biết chứng tỏ ông có đọc bao giờ đâu!

Ông đã chứng tỏ cái dốt tệ dốt hại của ông về kiến thức trong mọi điều ông nói nhưng có lẽ điển hình nhất là việc ông nói Mỹ thực hiện công thức 10-30-30 (!). Từ thuở biết đọc đến giờ tôi chưa hề biết có cái nước nào trên thế giới chuẩn bị chiến tranh trong vòng… 10 ngày (!)? Đó là cách chuẩn bị của của “tinh hoa quân sự” là ông chăng? Dù là “chiến tranh” để chiếm đất của nhà hàng xóm cũng phải nhiều hơn 10 ngày chuẩn bị, thưa ông Đại tá, PGS.TS.NGƯT rất chi là… Căn cứ vào đâu để ông khẳng định Mỹ đóng quân ở Nhật Bản, Hàn Quốc thì hai nước đó phải nuôi từ A đến Z? Ông cứ nói xằng nói bậy như thế mà dám thay mặt QĐND VN anh hùng để giáo huấn cho tinh hoa trí thức nước nhà ư?

Căn cứ vào đâu để ông nói Yeltsin công bố sắc lệnh không trả lương hưu cho những người đã tham gia chính quyền cũ? Vậy là hàng chục triệu người Nga đã chết đói cả rồi sao? Chính xác là bao nhiêu người chết, chết như thế nào – bởi chắc chắn là họ không có điều kiện tham nhũng như ở ta và cũng không đi ăn cướp của dân đâu ông. V.v và v.v…

3. Lú lẫn về ân nghĩa – bạn – thù

Ông TĐT cho rằng chúng ta không được quên “ƠN” TQ đã “giúp” VN trong chiến tranh, sao ông không hỏi lại TQ mang ơn nhân dân VN những gì? Ví dụ, trong Chiến tranh thế giới Hai, Mỹ viện trợ cho Liên Xô 11 tỷ USD để chống lại phát xít Đức (được cụ thể hóa bằng hàng trăm ngàn máy bay, xe tăng, đại bác, xe vận tải…) không có nghĩa là LX phải mang ơn mà chính ra là ngược lại: Người Nga hy sinh 27 triệu người trong khi Mỹ chỉ mất có 343.000 người (!). Mặt khác, ông TĐT đã lú lẫn tuyệt đối khi không hề đánh giá tội ác của quân xâm lược TQ gây ra với VN năm 1974, 1979, 1988…, mà lại đánh giá tội ác của Mỹ là “trời không dung đất không tha”? Đã là tội ác thì trời không bao giờ dung, đất chẳng bao giờ tha mà chỉ có con người có thể xóa bỏ hận thù hay không mà thôi. Xin hỏi ông TĐT rằng “tiêu chí” để đánh giá tội ác là căn cứ vào mốc thời gian (gần – xa) hay số lượng, hay hành vi, cách thức gây ác? Về thời gian, tội của quân xâm lược TQ gây ra với VN gần hơn Mỹ. Về số lượng thì chỉ riêng tội ác làm chết 57,5 triệu người dân TQ (theo số liệu của chính ông TĐT trong bài giảng này) đã gần bằng toàn bộ số người chết trong cuộc Chiến tranh thế giới Hai rồi – đó là chưa nói chuyện ngưởi TQ giết người TQ. Ông TĐT cho rằng đó là tội của Mao (?) Thưa ông, đó là tội ác của ĐCS TQ chứ một mình Mao sao có thể giết nhiều người thế? Ông cố tình đổi trắng thay đen khi nói về tội ác ấy bằng cách đổ sai cho một người (Mao) nhằm biện minh cho giả thiết “lòng tốt” của “anh bạn vàng” ư? Về hành vi, trên đời này có bao giờ có anh bạn của chúng ta (từ của TĐT) nào nhân khi bạn mình mới thương hàn ốm dậy (sau 30.4.1975) lại tìm đến đánh vùi, đánh lấp cho tàn hại thêm không? Trên thế giới, cách hành xử tàn nhẫn đến tận cùng như thế, chỉ có thiên đường XHCN TQ mới đối xử với CNXH VN kiểu đó thôi, thưa ông. Và, cũng nhấn mạnh thêm rằng, chẳng có chính quyền nào dùng xe tăng để chà lên sinh viên như TQ, năm 1989. Con em họ mà họ còn dã man, táng tận lương tâm đến thế, chẳng lẽ ông và không ít người nữa còn hy vọng vào “lòng tốt” của anh bạn hay “đá lung tung” ư?

4. Ông TĐT chống lại Đảng và Nhà nước

Cả lịch sử dân tộc VN hào hùng, vĩ đại như thế mà ông viết có 39 TRANG thì chẳng khác gì ông sổ toẹt tất cả những cuốn lịch sử khác – chỉ tính riêng lịch sử Đảng CSVN đã dày hàng trăm trang rồi. Ông còn tự hào, huênh hoang là nhiều người đòi ông in thành sách, và ông dám kêu gọi các thầy cô giáo ngồi nghe ông nói, đem 39 trang A4 đó về photo phát cho sinh viên, đừng mất công học những sách sử dài dòng làm gì, chẳng phải là đang chống lại Đảng sao?

Trong khi hàng vạn con ông cháu cha đang theo học ở các trường đại học của Mỹ mà ông nói là Mỹ đang phá hoại chúng ta về giáo dục, chẳng khác gì ông vả vào mặt nhiều lãnh đạo của Đảng đang có con học ở Mỹ, ở thế giới giãy chết. Chẳng hạn, ‘thực dân Anh’ (như ông nói) đã góp phần đào tạo nên Ủy viên Ban Chấp hành TƯ Đoàn TNCS HCM đó thôi. Không thể phủ nhận tài năng, hiệu quả của nền giáo dục “thực dân Anh” khi nó đào tạo một đứa trẻ 14 tuổi, sau 7 năm, thành ra cán bộ đoàn cao cấp của CNXH. Vậy, sao lại còn rủa sả thành công ấy; hay là, ông giương đông kích tây, muốn gài thế cán bộ đó?

Ông cố tình phá hoại khối đoàn kết VN – Cămpuchia khi ông nói rằng “Vùng Tây Nam Bộ thì xin thưa với các đồng chí đây là vùng Tây Nam Bộ, nó rất phức tạp. Báo cáo các đồng chí nó liên quan đến đảo Cổ Tru, đảo Phú Quốc v.v… Đây cái đảo Phú Quốc của chúng ta. Đây là vùng nước lịch sử mà Việt Nam ký với Campuchia năm 1982. Tại sao chúng ta ký được? Sau năm 1978 chúng ta cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi ách diệt chủng cho nên vùng nước lịch sử là như vậy. Thưa các đồng chí, hiện nay họ lại đang đòi, họ lại đang ý kiến và hiện nay chúng ta phải dựa vào cái đường Bre-vơ. Cái đường này mới là cái đường quan trọng. Cái đường này là đường mà người Pháp đã ký có công ước quốc tế từ năm 1939. Ta xem thì đúng là đây cũng gần (CPC) thật nhưng bởi vì người nước Việt Nam, đất có thổ công sông có hà bá, sống ở đây lâu rồi thì họ phải chịu thế chứ. Báo cáo các đồng chí là như vậy, … nó rất phức tạp”. Ông nói như thế trước trí thức – tức là công khai trước công luận, chẳng khác gì nói VN đang ép CPC để lấy đất, lấy biển đảo vì đã “cứu”, vì “đất có thổ công…”(!)?

Ông cũng đặt Bộ Ngoại giao VN vào tình thế hiểm nghèo bởi trong khi cả thế giới lên án Bắc TT về vụ bom nguyên tử thì ông công khai nói “họ làm tất cả các nước lớn mất ăn mất ngủ và rất là lo lắng về quả tên lửa của họ. Cái điều mà chúng ta phải cần học tập”. Vậy là VN sẽ đi theo ngọn cờ Bắc TT – để mặc dân chết đói, chết rét, làm bằng được tên lửa, nguyên tử để cho thế giới chạy nháo nhào sao? Nói thật, nếu lãnh đạo mà nghe ông (hay nghe rồi?) thì đất nước này chỉ có đường xuống hố cả nút, ông ơi! Ông TĐT ca TQ “cả ngày” nhưng ông có biết đâu rằng chỉ cần một câu thôi, ông sổ toẹt tất cả, và dĩ nhiên là TQ sẽ cho ông vào sổ đen, ông có biết câu gì không ông TĐT? Đó là câu “hiện nay nhiều quốc gia đặc biệt là Châu Phi họ đang đánh giá Trung Quốc là một dạng thực dân kiểu mới”. Điều này chứng tỏ ông “giảng” mà chẳng hiểu mình đang nói cái chi. Cũng xin nhắc ông luôn rằng, chỉ cần câu này không thôi, anh ‘bạn vàng’ của ông sẽ hành lãnh đạo của ông lên bờ xuống ruộng đó, ông để yên mà coi!

Cái điều khủng khiếp nhất là ông TĐT đã cho rằng “Và tôi đi giảng bài cho tất cả các đối tượng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thời XHCN hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó có một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu, ví dụ các đồng chí ngồi tại đây. Cho nên ta phải nói rõ luôn, hiện nay chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam thời XHCN”. Kính thưa ông TĐT, tôi tuy không phải là đảng viên, nhưng tôi nguyện suốt đời đi theo Đảng bởi tôi tin vào CNXH, CNCS, đạo đức, tấm gương HCM. Nhưng bây giờ, nghe ông nói thế, tôi hết cả hồn vía bởi ông nói tuy VN thời XHCN có nhiều nội dung nhưng ông LƠ MẶC NHIÊN mọi nội dung khác, chỉ nói cái nội dung SỔ HƯU thì chẳng phải ông đang tầm thường hóa, trần tục hóa, tiền hóa, thực dụng hóa CNXH đó sao? LÝ TƯỞNG SỔ HƯU là “tư tưởng sáng tạo” của “Tổ quốc THỜI XHCN”? Ngay đến Tổ quốc cũng chỉ là món hàng có thời hoặc lỗi thời thì quả thật, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc đã trở thành cái đáy tận cùng của sỉ nhục. Nó là “sản phẩm” của ai đó, thưa ông TĐT?… v.v và v.v…

15.000 m2 Thành Cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm phải chịu 328.000 tấn bom đạn, tức mỗi ngày 4.100 tấn bom đạn – tức phải cần 1.000 chuyến xe chuyên chở đạn dược mỗi ngày, hoặc tức là phải huy động 2.000 lượt máy bay ném bom phản lực mỗi ngày, tức là cứ một vuông đất xấp xỉ 4X4m phải chịu 4 tấn bom đạn/ngày – và liên tục 81 ngày như thế: Chỉ riêng lượm sắt vụn mảnh bom đạn trên mỗi vuông đất ấy đem bán = vài trăm tấn, đủ xây mấy cái nhà lầu (?)! Ôi chao là con số! Trẻ nít nó cũng không thèm tin ông, ông TĐT ơi!…

Đọc bài của TĐT đã nhọc, viết để bàn còn nhọc hơn đi củi ngàn lần. Nói thật, cử những người như ông TĐT đi giảng bài thì đó là cách tốt nhất để phá nát mọi điều tốt đẹp còn sót lại trên thế gian này. Lăng mạ hiểu biết, coi khinh trí thức, tầm thường hóa đạo đức, rác hóa lý tưởng cao đẹp…, là thực chất những gì TĐT muốn chuyển tải đến 90 triệu người dân VN.

Huế, 20.12.2012

H.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

*

nguenha says:

” Kính thưa Ông TDT, tôi không phải là ĐV, nhưng tôi nguyện suốt đời đi theo Đảng,vì tôi tin vào CNXH,CNCS và tấm gương Đạo đức HCM”(Sic)

Thưa Ông HVT,theo chổ tôi được biết Ông là GS dạy Sử tại Đại Học Huế, đả là GS dạy Sử, chẳng lẻ ông không biết những việc làm ‘mất nhân tính “của HCM hay sao?? cụ thể:
_giết cô Xuân,người con gái đả ăn ở với Ô Hồ có con,viết văn ca tụng mình dưới bút hiệu Trần dân Tiên,T-Lan,
_Đạo(chích) thơ văn của người khác Nhật-ký trong tù..v..v Như vậy thì “Tấm -gương Đạo-đức HCM” ở chổ nào?? Thật sự ra tôi không ngạc nhiên lắm, khi Ông cho Đại-Tá TDT”dốt nát”, nhưng tôi rất “ngỡ ngàng”, khi Ông là một GS dạy Dại-Học,mà là dạy Sử nửa ,lại ngây-ngô coi HCM như “một tấm gương Dạo đức”!!
Chẳng lẻ “Sự dốt nát”không những có ở “quan vỏ”(đả đành),lại lan sang cả “quan-văn -chử-nghĩa”!! Thế thì Xả-hội và Đất nước VN còn gì nữa!!!/

*Hà Văn Thịnh says:

Trả lời bác và cũng là cho nhiều người nữa: Có lẽ, phải hiểu đó là LỜI CỦA TRÍ THỨC XHCN chứ đừng nghĩ là tuyên ngôn của tôi. Ở VN, ai không biết CA về tìm tôi, gây áp lực không cho tôi dạy, dọa đủ kiểu… Cách viết ấy đã được Thầy Huệ Chi, BVN biên tập,… Bác thông cảm là thỉnh thoảng phải hài một chút cho nó đỡ đớn đau… Điều này nữa: Bác đừng bắt tôi phải làm như ý bác bởi bác ở bên ấy, muốn nói gì chẳng được. Viết lách ở nước mình cực nhọc lắm bác ơi… Tôi chưa nói không có nghĩa là không biết… Cũng xin lỗi luôn là tôi đánh máy nhầm Sự kiện Thiên An Môn 1989 thành 1979. Kính.

danchimviet.info

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Đại tá Trần Đăng Thanh đem sổ hưu nhử lợi để kêu gọi các thầy cô giáo hãy bảo vệ đảng và tổ quốc XHCN…cho khỏi sụp đổ

Posted by hoangtran204 trên 21/12/2012

Vậy là ngầm chứng tỏ rằng ông đại tá này đang lo sợ mất sổ hưu.

Nhưng xin ông cứ an tâm. Rồi đây, khi chính quyền của đảng CSVN bị thay thế bởi một chính quyền mới theo chế độ dân chủ tự do và do dân bầu ra, chính quyền mới sẽ rất độ lượng, họ sẽ ban hành 1 đạo luật dành cho gia đình các công chức của nhà nước CHXHCNVN được tiếp tục hưởng lương hưu. Bên cạnh đó, chính quyền mới sẽ tiếp tục dùng lực lượng công an nhân dân để bảo vệ trật tự xã hội và dùng bộ đội để bảo vệ lãnh thổ, biển đảo và biên giới. Họ là những người chuyên nghiệp. Chỉ cần họ tuyên thệ không được tham gia các đảng phái, không hoạt động chính trị trong thời gian tại chức là đủ. Và chỉ cần họ tuyên thệ trung thành với tổ quốc, làm đúng trách nhiệm, bảo vệ người dân, tôn trọng hiến pháp và luật pháp, không chỉ biết trung thành bảo vệ chính quyền để đàn áp và bắt bớ người dân vô tội và sinh hoạt trong khuôn khổ hiến pháp và luật pháp. 

…”Bà M. than phiền với tôi là: So với ông đại tá ở phía Tây Đức thì cái tỷ lệ lương hưu để lại cho bà góa có ít hơn.

Tôi không biết điều bà M. nói đúng hay sai, nhưng tôi an ủi bà: Ngày trước ông nhà chỉ lo mỗi việc là tiêu diệt người ta, sau này người ta trả lương hưu hậu như vậy, lúc ổng qua đời, bà còn được lương bà góa của ông nhà thì chắc là sự bất công không bằng đồng bào tôi ở Sài Gòn đã chịu, họ không những không có lương hưu mà còn phải đi cải tạo, có người chết mất cả xác.“…

Sổ hưu

Xuân Thọ

Tác giả gửi đến Dân Luận

Bài thuyết trình của đại tá PGS-TS Trần Đăng Thanh đang là đề tài nóng trên mạng khiến tôi phải vào Ba Sàm để đọc, chứ lâu nay tôi chẳng bao giờ màng đến các bài nói chuyện, các buổi phổ biến nghị quyết kiểu đó. Về tất cả những điều bỉ ổi kiểu: “Tầu xâm lược nước ta, nhưng ta phải nhớ ơn Tầu“, hay Ta phải học tập Triều Tiên, tuy để dân chết đói, nhưng đủ sức làm cho các cường quốc mất ăn mất ngủ thì tôi không cần phải bàn vì chúng không đáng để nói.

Nhưng việc ông Đăng Thanh lấy chuyện sổ hưu của cán bộ ra để hô hào họ phải  “chiến đấu“ để bảo vệ nó, rồi ông lại lôi chuyện Đông Âu ra để dọa họ thì tôi buộc phải nêu vài ví dụ chính tôi chứng kiến để chứng minh là ông đại tá này cố tình bịa đặt, xuyên tạc lịch sử.

Tôi có rất nhiều thầy cô giáo cũ ở CHDC Đức (đều từ 70 đến 80 tuổi), đã về hưu từ ngày nước Đức thống nhất, nhưng vẫn có cuộc sống yên lành. Bà Inge L., hồi đầu là giáo viên tiếng Đức của chúng tôi. Sau năm 1971, chúng tôi về Việt Nam làm việc thì được biết bà đã chuyển sang làm công tác đảng SED (như đảng CSVN bây giờ) ở huyện Königs Wusterhausen, gần Berlin. Tuy không phải viên chức nhà nước, nhưng sau ngày thống nhất, chính quyền mới vẫn cho bà lĩnh lương hưu và bà có một cuộc sống thanh đạm, nhưng không thiếu thốn. Hiện nay bà sống cô đơn nên được xếp vào ở nhà xã hội, được bảo hiểm sức khỏe đàng hoàng. Chúng tôi thường xuyên điện thoại thăm hỏi nhau.

Năm 2006 và năm 2011 tôi có mời một số anh chị em bạn học cũ từ Việt Nam sang Đức chơi, (có thể có người đang đọc bài này). Cả hai lần chúng tôi đều kéo nhau về trường cũ, bỏ tiền ra làm một bữa liên hoan, có cả âm nhạc Việt Nam, mời toàn bộ các thầy cô đến dự. Họ rất mừng và nói: „Các học sinh Đức cũ không ai nhớ đến chúng tôi, nhưng người Việt các anh chị quả là rất ơn nghĩa, 40 năm rồi vẫn nhớ đến chúng tôi“.

Nhờ chúng tôi tổ chức họp mặt họ mới có dịp gặp nhau, vì trường cũ đã giải tán và nội bộ của họ có nhiều vấn đề: mất đoàn kết, thù hận nhau, do chính quá khứ của đảng SED để lại, nên họ không bao giờ chủ động gặp nhau.

Trong số phận của các thầy cô, tôi chỉ xin kể 2 sự việc:

1- Bà Magdalena M. vốn là một bà giáo rất đẹp gái, tóc bạch kim, cao ráo, dáng rất sang, dạy kỹ thuật truyền tin. Sau 40 năm gặp lại bà vẫn như vậy và lái xe BMW mui trần đến dự liên hoan. Trước kia tôi không quan tâm đến cuộc sống của bà, nay thấy bà nổi bật lên giữa các vị giáo già nua thanh đạm. Bà bảo: Lương hưu giáo viên của bà thì tạm đủ, nhưng ông chồng bà là đại tá không quân Quân đội Nhân dân Quốc Gia CHDC Đức. Sau khi thống nhất ông được lương hưu tương đương như ông quan ba Tây Đức nên khá lắm! Bà buồn là ông mới mất và nay bà chỉ còn sống bằng lương hưu của bà và 1 phần lương hưu bà góa của ông (Witwenrente).

Bà M. than phiền với tôi là: So với ông đại tá ở phía Tây Đức thì cái tỷ lệ lương hưu để lại cho bà góa có ít hơn.

Tôi không biết điều bà M. nói đúng hay sai, nhưng tôi an ủi bà: Ngày trước ông nhà chỉ lo mỗi việc là tiêu diệt người ta, sau này người ta trả lương hưu hậu như vậy, lúc ổng qua đời, bà còn được lương bà góa của ông nhà thì chắc là sự bất công không bằng đồng bào tôi ở Sài Gòn đã chịu, họ không những không có lương hưu mà còn phải đi cải tạo, có người chết mất cả xác.

Bà M. không phản đối điều tôi nói và trầm ngâm hẳn. Từ đó đến nay, bà vẫn hay gửi email trao đổi chuyện chính trị với tôi.

2- Ông bà Joseph và Gundela GL. là hai người tôi coi như bố mẹ nuôi. Bọn con trai, mấy thằng Erwin, Peter, Michael vẫn chơi bóng đá với đám thanh niên Việt Nam chúng tôi, con bé Martina suốt ngày quấn quít với các bạn gái Việt. Suốt mấy chục năm xa cách tôi vẫn thư từ cho bà. Đùng một cái, từ năm 1990, sau thống nhất đất nước Đức, tôi mất liên lạc với bà. Tôi dò hỏi các thầy cô cũ thì biết cả hai ông bà từng là mật vụ chìm cho STASI (An Ninh CHDC Đức) nên khi chế độ sụp đổ, mọi việc vỡ lở, ông bà xấu hổ quá, đưa cả gia đình đi xa.

Từ khi sang Đức, tôi đã cất công tìm tung tích của ông bà, vì tôi vẫn nhớ đến tình cảm của họ đối với đám thanh niên Việt chúng tôi khi xưa. Là người Việt Nam, tôi thừa hiểu cái bi kich “cá chìm” mà hàng triệu người Đông Đức hồi đó phải gánh chịu, dù là nạn nhân hay là thủ phạm. Đối với tôi tình cảm con người là trên hết.

Nhờ có Internet và hệ thống sổ điện thoại điện tử, tôi đã tìm được gia đình ông bà GL. Ông bà có một căn nhà nhỏ trên đảo Usedom, nằm trên biển Baltic, gần Ba-lan. Ông bà rút vào cuộc sống ẩn dật để tránh mọi quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp cũ. Câu con cả Erwin làm giám đốc trung tâm điều dưỡng trên đảo và vẫn chăm nom ông bà. Ông bà cảm động lắm và nói là họ đã mất hết bạn bè người Đức, nhưng may mà tôi đã đến với họ.

Điều làm ông bà ân hận nhất là cái „sổ hưu“. Vì là nhân viên mật vụ STASI nên ông bà có quyền cao chức trọng hơn các đồng nghiệp khác trong trường, mặc dù họ có trình độ hơn ông bà. Nhờ vậy ngày nay ông bà lĩnh lương hưu cao hơn họ, những nạn nhân của ông bà.

Đó là ở nước Đức, nơi mà một nhà nước pháp quyền phương tây tiếp quản chính quyền từ tay những người cộng sản. Nhưng ở nuớc Tiệp, nơi người dân tự chuyển đổi xã hội của mình từ độc tài sang dân chủ, vấn đề „sổ hưu“ cũng không khác gì.

Cô tôi là một kiều nữ Hà Nội đầu những năm 60, lại nói tiếng Pháp giỏi nên đuợc tuyển đi làm phiên dịch cho đoàn chuyên gia địa chất Tiệp Khắc. Ông Tây Tiệp Vladimir phải lòng cô tôi và họ yêu nhau, như ở mọi nơi trên đời này. Nhưng chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa không cho phép một phụ nữ Việt Nam yêu một đồng chí Tiệp. Cuối năm 1961, Tổng cục Địa chất buộc chú tôi phải chấm dứt công tác, quay về Tiệp, để lại cô tôi bụng mang dạ chửa.

Chú Vladimir về Praha, nhờ bạn bè trong trung ương đảng CS Tiệp Khắc, nhờ cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng can thiệp, để rồi năm 1963 cô tôi được ôm con gái xuất ngoại. Chỉ riêng nhưng đau khổ quanh câu chuyện tình này cũng có đủ chất liệu cho một cuốn tiểu thuyết.

Khi sang Tiệp, cô chú tôi đều đi làm cho nhà nuớc Tiệp, chú là kỹ sư địa chất, cô là kế toán. Sau cuộc cách mạng nhung, cô chú tôi đều đuợc chính quyền mới trả lương hưu trí đầy đủ, nghe đâu hơn 20.000 Kcs/tháng.

Mùa hè vừa qua, sang thăm cô chú tôi tại Praha, tôi đem chuyện các thầy cô Đông Đức ra kể. Chú Vladimir bảo, các nhân viên STB cũ (Mật vụ An ninh Tiệp Khắc) nếu không vướng tội hình sự (tra tấn, giết người v.v) thì cũng được lãnh lương hưu. Rồi ông kết luận một câu hiền khô:

– Phải thế chứ, không thì họ sống bằng gì!

Một suy nghĩ cực kỳ nhân bản của một con người bình thường.

Xuân Thọ
20.12.2012 Cologne

http://wp.me/po94e-2X7

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

►…Sắp bị đào thải, vấn đề chỉ còn là thời gian

Posted by hoangtran204 trên 20/12/2012

Các đảng viên cao cấp của đảng CSVN chỉ vì muốn bám chặt quyền lãnh đạo đất nước để đục khoét tiền bạc, cướp đất đai, chia chác tài nguyên dầu hỏa, và nắm giữ tất cả các ngành nghề kinh doanh có lợi nhuận cao nhất, nắm độc quyền xuất nhập khẩu hàng hóa, ngân hàng, và dịch vụ viễn thông,…nên các đảng viên cao cấp có lập trường của đảng viên cao cấp, họ không có quyết định sáng suốt, cứ cải chày, cải cối, giữ những cái cũ đã lỗi thời, kềm hãm sự phát triển của đất nước về mọi mặt miễn là có lợi cho bản thân và đảng của họ. Kết quả là giáo dục suy đồi, văn hóa đang bị hủy diệt, và giá trị đạo đức trong con người suy giảm, trong xã hội nạn trộm cướp nổi lên như rươi…  Đảng CSVN sắp bị đào thải, vấn đề chỉ còn là thời gian.

Đăng Thanh, Thế Kỷ và Simson Star

Hiệu Minh

Simson Star

Hồi mình đi tây, có lần về phép thăm nhà (1973). Bạn bè hỏi, sao đi nước ngoài mà chả mua được cái xe máy nào. Ba Lan có xe con muỗi (Komar), trông đúng là con muỗi, chán chả thèm mua.

Cánh đi Cộng hòa DC Đức mang về loại xe Simson Star mầu mận chín, đèn vuông, có quạt gió cho động cơ, bán đi có thể mua được cả cái villa trong nội thành. Chạy xăng pha dầu, lại có quạt mát máy, nên rất bền.

Chả hiểu trời run rủi thế nào mà 15 năm sau (1988) mình được anh bạn ở viện bán cho một chiếc y chang với 4 chỉ vàng (hồi đó to lắm, đủ mua căn hộ 13m2 ở Đồng Xa). Xe đã dùng 14 năm, cũ rích, nhưng anh bảo, cậu cứ để thế mà đi, đừng động vào hệ thống máy móc.

Quả thật, xe trông ghẻ lở, nhưng đạp phát là nổ phè phè. Mình đi khắp nơi, Hà Nội, Ninh Bình, lên cả Hà Bắc ăn cưới bạn. Dù phải lau bugi, sửa liên tục, tậm tịt nhưng không phải gò lưng đạp xe là may lắm rồi.

Hồi đó thế là oách. Nhưng các nàng trẻ tránh xa, nói đây là cụ già lụ khụ, ngồi lên cho bẩn mông. Người đẹp phải ngồi mô kích cơ.

Mình dạy trường Thăng Long, cô học sinh chân dài Quỳnh Anh bảo, sao thầy không mua cái xe mới mà đi, xe cũ thế này thì sao lấy được vợ. Mình cười, úi, cái xe này tốt lắm, chả bao giờ chết máy, bạn đi 50km dùng xe xịn tư bản mất 1 tiếng, mình mất ba tiếng, có sao đâu, đằng nào chả tiến đến CNXH. Tư bản hay cộng sản, đường thẳng, đường vòng, đều tiến đến thành Roma.

Xe Star buồn cười nhất là cái đèn vuông. Các xe máy hầu hết là đèn gắn với ghi đông (tay lái), tay lái quặt đâu, đèn theo đó. Riêng xe này đèn gắn vào khung. Khi đến chỗ rẽ, xe rẽ rồi mà đèn vẫn như là…đi thẳng.

Đại tá Trần Đăng Thanh

Mấy lần suýt gây ra tai nạn ban đêm vì xe đi ngược chiều cứ tưởng mình đi thẳng do đèn chiếu thẳng. Nhảy xuống cãi nhau thì tay đi đối diện tỏ vẻ thông cảm. Y lầm bầm, mẹ kiếp, nhìn xe biết ngay Cộng hòa Dân chủ Đức thế nào cũng mất nước. Đèn chiếu một hướng, xe đi một hướng thì làm sao dân tiến lên CNXH được.

Mấy hôm nay dân blog bàn chuyện Đại tá-PGS-TS-NGƯT Trần Đăng Thanh, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng giảng về Biển Đông “Đối với Trung Quốc hai điều không được quên: họ đã từng xâm lược chúng ta, nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa”.

Nghe mãi không hiểu ông khuyên mình theo Trung Quốc hay ghét Trung Quốc. Trong bài nói dài tràng giang đại hải, cùng kiểu tư duy đó, nói một đằng, nghĩ một nẻo. Chả hiểu bác đại tá nói gì về Liên Xô, về Nga, về Bắc Triều Tiên, Iran. Thông điệp “cãi nhau chan chát”.

Mấy hôm trước có bác Thế Kỷ bên Tuyên giáo TW cũng vậy. Bác ấy chỉ đạo báo chí mà thông điệp không rõ ràng, lại còn mắng cánh nhà báo dốt và định kỷ luật đảng. Tầu Trung Quốc không phải cắt cáp mà làm đứt cáp, theo bác ý.

Không may làm đứt cáp thì sao anh Phạm Bình Minh (bộ Ngoại Giao) phải gửi công hàm phản đối. Chả lẽ ban Tuyên giáo TW không hiểu bên Bộ Ngoại giao làm gì. Hay là hai cơ quan này thuộc về hai phe đối lập nhau.

Nghe các bác ở tầm cao này nói chuyện, khuyên nhủ, định hướng cho chế độ, mình chả biết nói gì.

Anh Nguyễn Thế Kỷ

Chợt nhớ cái xe Simson cũ rích, cũng bền bền, vẫn rè rè đi được, vẫn đến đích. Chỉ tội người ta đi một tiếng, mình đi mất 3 tiếng vừa đi vừa sửa, dù cùng đoạn đường.

Em Quỳnh Anh (cháu bác Tạ Quang Bửu nhé) bảo thay cái mới thì bảo thủ, con đường của mình đi vẫn ok mà. Rồi đèn pha chiếu một hướng, xe chạy một hướng khác.

Suy cho cùng, cũng chả phải do cái Simson với cái đèn chết tiệt mà sau vài chục năm tồn tại, CHDC Đức sụp đổ trong một đêm. Nhưng của đáng tội, cái tư duy phi logic đã giúp cho nước Đức thống nhất nhanh hơn.

Ở nước mình cũng vậy, quan chức cấp cao nói năng không nhất quán khi định hướng chế độ, phi logic như cái đèn pha của Star, hậu họa ở tầm quốc gia thật khôn lường.

HM. 19-12-2012

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►5 người Việt Nam được vinh danh vì nhân quyền

Posted by hoangtran204 trên 20/12/2012

5 người Việt Nam được vinh danh vì nhân quyền

Hình ghép của Dân Làm Báo

(New York, ngày 20 tháng Mười Hai năm 2012) – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền công bố có năm blogger người Việt trong số 41 cá nhân xuất sắc từ 19 quốc gia vừa được trao giải thưởng uy tín Hellman/Hammett để ghi nhận lòng dũng cảm và kiên định trước sức ép đàn áp chính trị. Đó là Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hữu Vinh, Phạm Minh Hoàng và Vũ Quốc Tú (xin xem tiểu sử tóm tắt của từng người ở cuối bài).

“Cũng như những người Việt khác đang thực thi quyền tự do ngôn luận, nhiều người trong giới blogger ngày càng phát triển của đất nước này đang phải chịu sức ép gia tăng từ các hành động đe dọa, tấn công, thậm chí bị bỏ tù chỉ vì bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa,” ông Brad Adams, Giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, là tổ chức quản lý giải thưởng thường niên Hellman/Hammett nói. “Qua việc vinh danh năm cá nhân dũng cảm này, những người đã phải chịu đựng nhiều và đang tiếp tục đối mặt với những nguy cơ đe dọa các quyền cơ bản của mình, chúng tôi có vinh dự được tiếp thêm sức mạnh cho những tiếng nói mà Đảng Cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam muốn ngăn cản họ không được tham gia công luận về nhiều vấn đề chính trị và xã hội của Việt Nam.”

Những người Việt mà tiếng nói phê bình và cảnh tỉnh bị chính quyền muốn dập tắt được trao giải năm nay thể hiện sự đa dạng của nhiều thành phần trong xã hội, gồm: nhà vận động tự do tôn giáo Nguyễn Hữu Vinh (J.B Nguyễn Hữu Vinh); nhà bảo vệ nhân quyền Phạm Minh Hoàng (bút danh Phan Kiến Quốc); nhà báo tự do Vũ Quốc Tú (bút danh Uyên Vũ), nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn và nhà bình luận chính trị, xã hội trẻ tuổi Huỳnh Thục Vy. Cả năm người đều bị chính quyền đàn áp vì những bài viết của họ.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng chính quyền Việt Nam cản trở một cách có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa, và đàn áp những người lên tiếng chất vấn chính sách nhà nước, vạch trần quan chức tham nhũng, hay kêu gọi các giải pháp dân chủ thay thế cho chế độ cai trị độc đảng. Những người cầm bút thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị các “tòa án nhân dân” kết án tù nhiều năm, bị công an tạm giữ và thẩm vấn liên miên, bị nhiều cơ quan chính quyền theo dõi gắt gao, hạn chế đi lại trong nước và cấm xuất cảnh, bị nhân viên an ninh và côn đồ lạ mặt đánh đập, bị phạt hành chính, và bị cản trở các cơ hội tìm việc làm để sinh sống.

Vào ngày 16 tháng Mười Hai, tại sân bay Tân Sơn Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, công an cấm blogger Huỳnh Trọng Hiếu rời Việt Nam đi Mỹ để nhận giải thưởng Hellman/Hammett năm 2012 thay cho cha Huỳnh Ngọc Tuấn và chị gái Huỳnh Thục Vy, đồng thời tịch thu hộ chiếu của anh. Theo công an, họ làm như vậy theo yêu cầu của công an tỉnh Quảng Nam, nơi gia đình họ Huỳnh sinh sống. Hai người được nhận giải Hellman/Hammett 2012 khác là blogger Nguyễn Hữu Vinh và Vũ Quốc Tú cũng từng bị cấm rời khỏi Việt Nam (Nguyễn Hữu Vinh trong tháng Tám năm 2012 và Vũ Quốc Tú vào tháng Năm năm 2010). Blogger Phạm Minh Hoàng đang thi hành án 3 năm quản chế, và không được ra khỏi địa phận phường đang cư trú.

Trong một vụ việc gần đây, ba thành viên sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, từng được nhận giải thưởng Hellman/Hammett, Nguyễn Văn Hải (viết blog với bút danh Điếu Cày), Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải (viết blog với bút danh Anhbasg) bị xử án tù giam vào ngày 24 tháng Chín năm 2012 với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước.” Cũng trong tháng đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đang chịu sức ép đấu đá chính trị, đã lệnh cho Bộ Công an tấn công các blog và trang mạng không vừa ý chính phủ, trừng phạt những người sáng lập ra các blog và trang mạng đó, và cấm công chức, viên chức nhà nước đọc và/hoặc phát tán thông tin từ các trang nói trên.

“Trong khi chính quyền Việt Nam gia tăng đàn áp các cộng đồng liên mạng đang cất lên tiếng nói trực ngôn ngày càng mạnh bạo, hơn bao giờ hết, thế giới cần hưởng ứng việc làm của năm người Việt Nam được nhận giải thưởng Hellman/Hammett năm nay,” ông Adams phát biểu. “Các quốc gia dân chủ trên thế giới không nên lẳng lặng tiếp tục làm ăn với Việt Nam như không có chuyện gì xảy ra. Ngược lại, họ nên đặt yêu cầu thả hết các tù nhân chính trị và những người cầm bút làm một điều kiện cho quan hệ hữu hảo.”

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cũng tưởng niệm cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, người nhận giải thưởng Hellman/Hammett năm 1994 mới qua đời tại nơi lưu vong vào ngày mồng 2 tháng Mười năm 2012. Từng được suy tôn là một trong những nhà thơ chính trị lớn nhất của Việt Nam, Nguyễn Chí Thiện là biểu tượng của ý chí và lòng dũng cảm cá nhân, bất chấp mọi nỗ lực của chính quyền Việt Nam nhằm dập tắt tiếng nói của ông trong suốt mấy thập kỷ. Lần đầu Nguyễn Chí Thiện bị bắt là năm 1960 vì ông dám bắt bẻ phiên bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử. Vào năm 1979, trong khoảng thời gian được tự do ngắn ngủi giữa các đợt tù đày, ông tới sứ quán Anh ở Hà Nội để tìm cách công bố với thế giới hàng trăm bài thơ do ông thầm lặng sáng tác và thuộc lòng trong những lần ở tù trước đó, dù biết mình sẽ bị bắt lại. Các bài thơ đó được xuất bản trong tập thơ có tựa đề “Hoa Địa ngục,” trở thành hiện tượng văn học trên khắp thế giới trong khi chính tác giả đang mòn mỏi sau song sắt của hàng loạt nhà tù ở Việt Nam.

Về Giải thưởng Hellman/Hammett

Giải thưởng thường niên Hellman/Hammett được trao cho các nhà văn trên khắp thế giới là nạn nhân của đàn áp chính trị hoặc lạm dụng về nhân quyền. Một ban tuyển chọn uy tín sẽ trao giải thưởng bằng tiền mặt nhằm vinh danh và trợ giúp những cây bút mà công việc sáng tác và hoạt động của họ bị đàn áp do chính sách hà khắc của chính quyền.

Giải thưởng này mang tên nhà biên kịch người Mỹ Lillian Hellman và bạn đồng hành lâu năm của bà, tiểu thuyết gia Dashiell Hammett. Cả hai đều từng bị truy vấn trước các ủy ban quốc hội Mỹ về niềm tin chính trị và liên hệ với các nhóm phái của họ trong thời kỳ điều tra chống cộng ngặt nghèo do Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy dấy lên vào thập niên 1950. Hellman chịu thiệt thòi về nghề nghiệp và gặp khó khăn khi kiếm việc làm. Hammet phải vào tù một thời gian.

Năm 1989, những người chịu trách nhiệm điều hành di chúc của Hellman đề nghị Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thiết lập một chương trình nhằm giúp đỡ các cây bút bị đàn áp vì bày tỏ những quan điểm ngược với chính phủ của họ, vì chỉ trích các quan chức hoặc các hành động của chính phủ, hoặc vì viết về những đề tài mà chính phủ của họ không muốn phơi bày ra ánh sáng.

Trong 23 năm qua, hơn 750 cây bút từ 92 nước đã nhận giải Hellman/Hammett với phần thưởng lên tới 10.000 đô la Mỹ một người, tổng giá trị lên tới hơn 3 triệu đô la Mỹ. Chương trình này cũng trao những khoản tài trợ khẩn cấp nhỏ cho những người cầm bút đang cần cấp tốc rời khỏi đất nước của họ, hoặc những người cần được điều trị y tế ngay sau khi ra tù hoặc bị tra tấn.

“Giải Hellman/Hammett nhằm mục đích giúp đỡ những nhà văn đã chịu thiệt thòi vì bày tỏ những ý kiến hoặc thông tin chỉ trích các chính sách hay phê phán nhà cầm quyền,
” Lawrence Moss, điều phối viên của giải thưởng, phát biểu. “Nhiều nhà văn được vinh danh qua giải thưởng này cùng chia sẻ mục đích chung với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: Bảo vệ nhân quyền cho những người dễ bị tổn thương bằng cách đưa ra trước ánh sáng những vụ lạm dụng và xây dựng áp lực công luận để thúc đẩy những thay đổi tích cực.”

Lý lịch và trích dẫn bài viết của những người ở Việt Nam được trao giải Hellman -Hammett 2012

Huỳnh Ngọc Tuấn

Huỳnh Ngọc Tuấn là một cây bút có nhiều ảnh hưởng với hàng chục bài báo, xã luận và một tập truyện phơi bày những bất công xã hội và bạo quyền của chính phủ. Các bài viết của ông đề cao nhân quyền, dân chủ và niềm tin cá nhân về tính ưu việt của một hệ thống đa đảng. Ông bị bắt vào tháng Mười năm 1992 vì muốn chuyển ra nước ngoài tập truyện phê phán chính sách nhà nước, khiến ông bị khởi tố về tội tuyên truyền chống nhà nước Xã hội chủ nghĩa. Vào tháng Tư năm 1993, ông bị xử 10 năm tù kèm theo 4 năm quản chế. Mặc dù vậy, sau đó ông vẫn tiếp tục duy trì thái độ bất đồng chính kiến, và viết một cuốn hồi ký ghi lại quãng thời gian mười năm trải qua các nhà tù khác nhau. Năm 2007, ông gia nhập Khối 8406, một nhóm cổ vũ cho dân chủ.

Năm 2011, công an khám nhà Huỳnh Ngọc Tuấn và tịch thu một máy tính, các phụ kiện máy tính và nhiều sổ tay, vở viết. Ông bị phạt 100 triệu đồng Việt Nam (khoảng 5.000 đô la Mỹ) về tội dùng công nghệ thông tin hoạt động tuyên truyền chống nhà nước. Công an gây sức ép khiến Huỳnh Ngọc Tuấn không thể tìm được việc làm. Hai người con ông Huỳnh Ngọc Tuấn là Huỳnh Thục Vy và Huỳnh Trọng Hiếu cũng là những người viết blog nổi tiếng. Họ cũng phải chịu sự theo dõi, đe dọa, thẩm vấn và các hình thức sách nhiễu khác của công an, như bị thu máy chụp hình và điện thoại di động.

“Ở VN chi phối mọi mối quan hệ xã hội không phải là Luật pháp mà là ý chí của Đảng CS. Đảng CS có toàn quyền tuyệt đối trong mọi quyết định, từ những việc có liên quan đến vận mệnh quốc gia, tương lai dân tộc cho đến kinh tế, văn hóa và đời sống của nhân dân. Đảng CS vừa có trong tay sức mạnh “cứng” như nhà tù, công an hùng hậu, quân đội đông đảo và cả hệ thống “Pháp luật” để phục vụ cho quyền uy đó. Và họ có cả “quyền lực mềm” như: nguồn tài nguyên quốc gia, hệ thống báo chí, đài phát thanh, truyền hình, giáo hội quốc doanh… cho nên họ có thể kiểm soát và chi phối xã hội bằng sức mạnh của quyền lực “cứng” hoặc sử dụng quyền lực “mềm” như chiếc đũa thần chỉ đạo từ trên cao, và dân chúng bị biến thành một bầy cừu, một thứ con rối mà không hề hay biết hoặc hay biết nhưng bất lực hoặc đồng lõa.” – Huỳnh Ngọc Tuấn, 2012

Huỳnh Thục Vy

Con gái ông Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy là một người viết blog chính trị trẻ tuổi có nhiều bài viết được phổ biến rộng rãi trên mạng. Vì có cha là tù nhân chính trị, Huỳnh Thục Vy sớm phải chịu sự kỳ thị từ thời thơ ấu. Đến cuối năm 2008, cô bắt đầu đăng một số bài viết trên trang web Đàn Chim Việt ở nước ngoài. Các bài viết của Huỳnh Thục Vy đề cập đến nhiều vấn đề chính trị, xã hội và đề cao một hệ thống chính trị đa đảng, tự do và dân chủ, và kêu gọi những người trẻ tuổi quan tâm hơn đến chính trị và xã hội. Dù chỉ tự học về luật, nhưng Huỳnh Thục Vy nổi lên như một nhân vật vận động cho một xã hội pháp quyền, và viết nhiều bài ủng hộ những nhà hoạt động pháp lý bị bỏ tù vì các tham gia các hoạt động ôn hòa.

Sau khi tư gia của gia đình họ Huỳnh bị khám xét, sách vở và máy tính bị tịch thu (như đã kể ở phần trên), Huỳnh Thục Vy bị phạt hành chính 85 triệu đồng Việt Nam (khoảng 4,250 đô la Mỹ). Cũng giống như cha mình, sức ép của công an khiến Huỳnh Thục Vy gặp nhiều trở ngại khi đi tìm việc làm để sinh sống.

“Ở Việt Nam, đi bầu cử là một chuyện không thể không làm – dù có muốn hay không. Đơn giản vì chuyện bầu bán ở đây không có gì quan trọng bởi nó hoàn toàn không thay đổi hay ảnh hưởng gì đến bất cứ vấn đề lớn nhỏ nào liên quan đến quốc gia ở tầm vĩ mô, nó cũng chẳng liên quan gì đến đời sống của từng cộng đồng dân cư cụ thể nào…

“Im lặng trước nghịch lý chính là đồng ý với sự nghịch lý đang diễn ra và điều ấy là thiếu trách nhiệm với bản thân mình, cũng như thiếu tinh thần xã hội với đất nước. Chúng ta phải lựa chọn cho chính mình một xã hội tiến bộ, trong đó quyền bầu cử, ứng cử phải được diễn ra trong công bằng, dân chủ và tự do đúng nghĩa.” – Huỳnh Thục Vy, 2011

Nguyễn Hữu Vinh

Nguyễn Hữu Vinh (Jean Baptiste Nguyễn Hữu Vinh hoặc J.B Nguyễn Hữu Vinh) là một blogger Công giáo nổi tiếng, vận động cho tự do tôn giáo và các quyền cơ bản của con người. Ông viết về các vấn đề được công luận quan tâm nhiều, ví dụ như nạn cưỡng chế đất đai, nạn bạo hành của công an, chính sách hà khắc của chính quyền, và các hành động đàn áp tôn giáo và tự do tôn giáo. Ông cũng nổi tiếng với loạt phóng sự năm phần tả chi tiết phiên xử phúc thẩm nhà hoạt động pháp lý nổi tiếng, Ts. Cù Huy Hà Vũ. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Vinh còn sáng tác thơ và truyện ngắn bình về các vấn đề chính trị và xã hội. Trong số các bài viết năm 2012 trên blog của ông có truyện trào phúng bốn kỳ nhan đề “Gặp Tổng thống Obama” với nhân vật chính là tác giả, gặp được Obama trong mơ và hai người trao đổi về các vấn đề như tự do ngôn luận và tự do báo chí.

Nguyễn Hữu Vinh bị theo dõi gắt gao, đe dọa, thẩm vấn và tạm giữ. Ông từng hai lần bị côn đồ lạ mặt tấn công: lần thứ nhất vào tháng Giêng năm 2010, khi đưa tin công an ngược đãi giáo dân trong vụ tranh chấp đất đai giữa giáo xứ Đồng Chiêm và chính quyền địa phương; lần sau, vào tháng Bảy năm 2012, sau khi đưa tin trên blog về các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hồ Hoàn kiếm, Hà Nội. Hồi tháng Tám năm 2012, chính quyền cấm Nguyễn Hữu Vinh rời Việt Nam để đưa mẹ đi chữa bệnh tại Singapore.

Con đường hàng tỉnh tôi đi
Sáu mươi năm ấy có gì đổi thay?
Bên đường, biệt thự đang xây
Ống tiêm, kim chích vứt đầy lối xưa
Mấy đứa nghiện hút vật vờ
Cháu con các cụ ngày xưa đi cày
Mấy đứa nghiện hút vật vờ.
Là con các cụ ngày xưa đi cày
Hỏi sao ra nông nỗi này
Thưa rằng, dự án đổi thay từng giờ
Bờ xôi ruộng mật khi xưa
Đã thành dự án cho vừa lòng quan
Nửa mơ, nửa tỉnh bàng hoàng
Nông thôn đổi mới, tan hoang từng nhà
Nông dân, người chủ khi xưa
Thành dân lưu lạc, vật vờ hôm nay
Dân oan tăng trưởng từng ngày
Trước làm nông nghiệp, ngày nay… thị thành
– Nguyễn Hữu Vinh, 2012

Phạm Minh Hoàng

Phạm Minh Hoàng (bút danh Phan Kiến Quốc) từng giảng dạy khoa học ứng dụng tại Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Trên blog, ông viết về các vấn đề chính trị và xã hội, như quyền của người lao động, nạn hủy hoại các di tích văn hóa trên khắp đất nước và nạn ô nhiễm môi trường. Ông mở các khóa dạy kỹ năng “mềm” cho thanh niên, dạy họ cách xây dựng lòng tự tin và hình thành thế giới quan khoa học để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai. Theo báo chí nhà nước, Phạm Minh Hoàng bị quy là đã dạy thanh niên về bất phục tùng dân sự trong các khóa học này.

Phạm Minh Hoàng bị bắt ngày 13 tháng Tám năm 2010 vì bị quy cho là có quan hệ với một đảng bị chính quyền Việt Nam cấm đoán là Việt Tân, tổ chức từng âm mưu nổi dậy chống cộng sản nhưng sau này đã chuyển hướng sang đấu tranh ôn hòa. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền không thấy chứng cứ nào cho thấy Phạm Minh Hoàng đã ủng hộ hay tham gia bạo động chống chính phủ. Ngược lại, theo chính báo chí nhà nước, “tội” của Phạm Minh Hoàng là đã viết “33 bài xuyên tạc chính sách và đường lối của Đảng và Nhà nước.” Ông bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử ngày mồng 10 tháng Tám năm 2011 về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.” Ông bị kết án theo điều 79 của bộ luật hình sự Việt Nam với mức án ba năm tù giam, kèm theo ba năm quản chế. Trong phiên xử phúc thẩm ngày 29 tháng Mười Một năm 2011, Tòa án Nhân dân Tối cao giảm mức án dành cho ông xuống còn 17 tháng, nhờ đó Phạm Minh Hoàng được thả ngày 13 tháng Giêng năm 2012. Tuy nhiên, ông hiện đang trong thời gian quản chế ba năm, và không được rời khỏi địa bàn phường đang cư trú.

“Trong một thời gian dài, VN là nơi có giá nhân công thuộc hàng rẻ nhất thế giới. Điều này đã hấp dẫn các nhà đầu tư, chủ yếu là các ngành thâm dụng lao động. Đến nay, VN đã trở thành nơi gia công lớn trong khu vực. Hệ quả của giá nhân công rẻ là đời sống công nhân ngày càng tồi tệ. Từ đó làm nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp, ngừng việc tập thể…

“Nếu nhà nước không có những cơ chế bảo vệ người lao động mà mãi chạy theo con số tăng trưởng thì những xung đột này sẽ chẳng bao giờ chấm dứt và VN sẽ mãi mãi chẳng bao giờ thoát khỏi kiếp gia công với những rủi ro, những bất trắc, những lệ thuộc mà chúng ta vẫn thường thấy.

“Để trả giá cho việc ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế, nông dân và công nhân là nạn nhân đã đành, nhưng còn một tác hại vô cùng quan trọng là vấn đề ô nhiễm môi trường đã đang và sẽ hủy hoại sức khỏe của hàng triệu người trong những năm tháng tới.” – Phạm Minh Hoàng, 2009

Vũ Quốc Tú

Vũ Quốc Tú (bút danh Uyên Vũ) là một nhà báo tự do và blogger. Ông viết cho báo chí của nhà nước trong thập niên 1990 và bắt đầu viết blog từ giữa những năm 2000. Vũ Quốc Tú là thành viên sáng lập của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, được thành lập vào tháng Chín năm 2007 với mục đích vận động cho tự do ngôn luận và báo chí độc lập. Sau khi ra đời, trong mấy tháng đầu tiên, các thành viên của câu lạc bộ liên tiếp đưa tin về những chuyện hoặc sự kiện bị chính quyền và báo chí nhà nước ỉm đi hoặc lờ đi. Ví dụ như, họ đưa tin về những cuộc đình công tự phát của công nhân khu công nghiệp Bình Dương, về vụ xử các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài, các vụ biểu tình ngoài đường phố phản đối Thế Vận Hội Bắc Kinh năm 2008, các vụ tranh chấp đất đai giữa nhà thờ Công giáo và chính quyền địa phương, và các vụ biểu tình của sư sãi Miến Điện năm 2007. Ba thành viên khác của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do cũng đã từng được nhận giải thưởng Hellman/Hammett, là các blogger: Nguyễn Văn Hải (bút danh Điếu Cày), Phan Thanh Hải (bút danh Anh Ba Sài Gòn hay Anhbasg) và Tạ Phong Tần, cả ba người đều đang phải ngồi tù vì đã thực thi quyền tự do ngôn luận.

Vũ Quốc Tú viết về các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị. Ông là người điểm sách cuốn “Trại Súc vật” của Orwell, và các tập thơ bất đồng chính kiến của Trần Vàng Sao và Bùi Chát. Ông cũng lên tiếng bênh vực cho cây bút đồng nghiệp Nguyễn Văn Hải đang bị tù đày.

Vũ Quốc Tú sống cùng vợ là Lê Ngọc Hồ Điệp, người viết blog với bút danh Trăng Đêm. Hai vợ chồng họ đã bị công an sách nhiễu trắng trợn, từ theo dõi gắt gao đến thẩm vấn và đánh đập. Vào ngày mồng 1 tháng Năm năm 2010, công an tạm giữ Vũ Quốc Tú và Lê Ngọc Hồ Điệp ở sân bay Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh khi họ chuẩn bị lên máy bay đi Băng Cốc nghỉ tuần trăng mật. Công an câu lưu và thẩm vấn họ trong suốt mấy tiếng đồng hồ và cấm họ xuất cảnh, viện dẫn lý do cần bảo vệ an ninh quốc gia. Công an cũng gây sức ép ngăn không cho Vũ Quốc Tú tìm được việc làm.

“…chúng tôi tham gia biểu tình cũng là một cách bày tỏ thái độ một cách ôn hòa. Nhưng nhiệt tình của thanh niên Việt Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn đã bị từ chối, các cuộc biểu tình ôn hòa tắt ngấm. Tôi mất việc đến hôm nay, nhiều người khác mất chỗ ở, mất việc làm kiếm sống. Những người hăng say nhất lại bị gặp khó khăn nhiều nhất. Có người bỏ nước ra đi… Những tấm lòng yêu nước nhìn nhau e dè. Nhưng tôi vẫn tin, dù chỉ là những cánh én nhỏ nhoi, những người thanh niên đầy sức sống ấy đã báo hiệu là Mùa Xuân của tổ quốc Việt Nam đang về.
” – Vũ Quốc Tú, 2009.

Để xem tiểu sử của tất cả các nhà văn được công khai trao giải thưởng Hellman-Hammett năm 2012, xin truy cập: http://www.hrw.org/node/112138

Hạn nộp hồ sơ đề cử giải thưởng Hellman/Hammett 2013 là ngày 15 tháng Hai năm 2013.

Thông tin thêm về chương trình Hellman/Hammett và mẫu đề cử giải 2013 có tại trang http://www.hrw.org/hhgrants/nominations

Muốn xem thêm các báo cáo về Việt Nam của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, xin truy cập: https://www.hrw.org/languages?lang=vi

Muốn có thêm thông tin, xin liên hệ:

Ở Washington, DC, John Sifton (tiếng Anh): +1-646-479-2499 (di động); hoặc siftonj@hrw.org. Đăng ký cập nhật trên twitter @johnsifton

Ở New York, Lawrence Moss (tiếng Anh), +1-212-216-1810; +1-212-228-4272 (di động); hoặc mossl@hrw.org

Ở Boston, Phil Robertson (tiếng Anh, tiếng Thái): + 1-917-378-4097 (di động); hoặc robertp@hrw.org. Đăng ký cập nhật trên twitter @Reaproy

Ở San Francisco, Brad Adams (tiếng Anh): +1-510-926-8443 (di động); hoặc adamsb@hrw.org. Đăng ký cập nhật trên twitter @BradAdamsHRW

HRW gửi đăng

danchimviet.info  (repost)

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Chết cười với lão Đại tá Trần Đăng Thanh: giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học

Posted by hoangtran204 trên 20/12/2012

Với mớ kiến thức hổ lốn không chịu bổ sung và cập nhật các số liệu và các sự kiện trong 3 năm qua của viên đại tá Trần Đăng Thanh mà đem so sánh với 1 blogger có chú ý đến hiện tình đất nước, thì ông đại tá này chắc đang uống thuốc lú.

Quả là đảng CSVN đã thành công vì dùng những cán bộ như vị đại tá này để đi lừa bịp 3 triệu đảng viên. Chính sách mà đảng CSVN đã và đang thành công là nhờ  dùng việc cấp phát nhà cửa cho cán bộ, ban chức vụ cho các đảng viên để đổi lấy lòng trung thành của họ.   Sau khi nhận được các đặc ân về tài chánh, chức vụ, quyền lực, các cán bộ  đi nói dối, bất chấp các sự thật, kể cả đánh đập, bỏ tù những ai bất đồng chính kiến và phản kháng…

Khốn khổ nhất là lão đại tá này đem sổ lương hưu ra hù dọa và nhắc nhở các thầy cô phải trung thành với đảng, và bảo vệ chế độ CS chính là bảo vệ sổ hưu!

Hiện nay các đồng chí đang công tác chưa có sổ hưu nhưng trong một tương lai gần hoặc một tương lai xa chúng ta cũng sẽ có sổ hưu và mong muốn mỗi người chúng ta sau này cũng sẽ được hưởng sổ hưu trọn vẹn. Và tôi đi giảng bài cho tất cả các đối tượng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời XHCN hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu, ví dụ các đồng chí ngồi tại đây. Cho nên ta phải nói rõ luôn, hiện nay chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam thời XHCN.   (ha ha ha)

Đại tá Trần Đăng Thanh giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học

Bản ghi âm: Cộng tác viên T.L.
Bản gỡ băng: Blog Ba Sàm
Trích:

Đại tá Trần Đăng Thanh:

– “Đồng chí kia cất cái báo đi nhé, cất kính đi! Tôi nói như vậy mà vẫn đọc báo, không nên như vậy”.

– “Đối với Trung Quốc hai điều không được quên”: “họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa” .

– “… các đồng chí nhớ người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả… Nếu có tốt chỗ này, có ca ngợi chúng ta chỗ kia, có ủng hộ chúng ta về Biển Đông chẳng qua vì lợi ích của họ. Họ đang thực hiện “thả con săn sắt, bắt con cá rô”. Họ chưa bao giờ tốt thật sự với chúng ta, tội ác của họ trời không dung, đất không tha.”

“… không được mất chủ quyền và quyền chủ quyền nhưng phải ưu tiên tối thượng là giữ được môi trường hòa bình“.

– “Trước mắt là chúng ta phải tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng chúng ta, sự điều hành của Chính phủ …”

– “… nếu trường đại học nào còn để sinh viên tham gia biểu tình bất hợp pháp trước hết khuyết điểm thuộc về các đồng chí Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu trường đó, trước hết thuộc về Bí thư Đảng ủy – phòng quản lý sinh viên của trường Đại học đó.”

Đại tá-PGS-TS-NGƯT Trần Đăng Thanh, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng giảng về Biển Đông

Cho các lãnh đạo Đảng ủy khối, lãnh đạo Đảng, Tuyên giáo, Công tác chính trị, Quản lý sinh viên, Đoàn, Hội thanh niên các trường Đại học-Cao đẳng Hà Nội

Tham dự và là Báo cáo viên của Hội nghị hôm nay xin trân trọng giới thiệu đồng chí Đại tá, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh – Học viện Chính trị Bộ quốc phòng.

Tham dự và chỉ đạo Hội nghị hôm nay, tôi xin trân trọng giới thiệu có đồng chí Nguyễn Thị Hường – Bí thư Đảng ủy khối các trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội.

Xin giới thiệu đồng chí Vũ Tuấn Dũng – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy khối.

Xin giới thiệu đồng chí Nguyễn Thanh Sơn – Phó Bí thư Đảng ủy khối.

Dự hội nghị hôm nay tôi xin trân trọng giới thiệu còn có các đồng chí là ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy khối, các đồng chí là ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ khối, trưởng, phó các Ban Đảng ủy khối. Các đồng chí là Bí thư, Phó Bí thư, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, ủy viên thường vụ. Các đồng chí là đảng ủy viên phụ trách công tác tuyên giáo hoặc Trưởng ban Tuyên giáo ở các Đảng bộ, chi bộ trực thuộc. Các đồng chí là trưởng phòng công tác chính trị, quản lý sinh viên. Các đồng chí Bí thư đoàn thanh niên và chủ tịch Hội sinh viên trong toàn khối. Đề nghị Hội nghị chúng ta nhiệt liệt chào mừng! (Vỗ tay)

Kính thưa các đồng chí, thưa toàn thể hội nghị. Hội nghị của chúng ta hôm nay sẽ diễn ra dự kiến khoảng hai tiếng đồng hồ, chúng ta sẽ không có nghỉ giải lao và dự kiến khoảng 16 giờ 15 phút hội nghị của chúng ta sẽ kết thúc. Và sau đây tôi xin giới thiệu và kính mời đồng chí Báo cáo viên Trần Đăng Thanh sẽ truyền đạt tới Hội nghị của chúng ta về tình hình Biển Đông. Xin trân trọng kính mời đồng chí!

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Ban lãnh đạo Đảng ủy khối các trường Đại học. Kính thưa các thầy Hiệu trưởng, Hiệu phó, các đồng chí trong lãnh đạo các trường Đại học hay nói một cách nôm na nhất, gia đình nhất tức là các đồng chí làm công tác giáo dục đào tạo. Trước hết là tôi rất cảm ơn Ban lãnh đạo và Đảng ủy khối đã cho tôi một điều kiện, một cơ hội để tiếp xúc, để trao đổi với tất cả các đồng chí một số vấn đề về tình hình Biển Đông. Đây là một vấn đề rất nóng và ngay trong lòng thủ đô Hà Nội của chúng ta cũng rất nóng. Trước hết xin cảm ơn các đồng chí và kính chúc các đồng chí sức khỏe, làm tốt cái nhiệm vụ sự nghiệp giáo dục đào tạo của chúng ta đó là thực hiện ba chức năng. Chức năng đầu tiên và là quan trọng nhất đó là dạy người. Và chức năng thứ hai là dạy chữ và thứ ba là dạy nghề. Xin trân trọng cám ơn các đồng chí! (Vỗ tay).

Theo đề nghị của các đồng chí thì chiều hôm nay tôi đặt vấn đề nói về tình hình Biển Đông và chủ trương của nhà nước chúng ta về chủ quyền trên biển của chúng ta hiện nay. Thế thì nội dung sẽ gồm hai phần:

Phần thứ nhất là một, mời các đồng chí xem một đoạn video clip khoảng độ 20 phút hoặc 18 phút về 5 sự kiện của thế giới 2009. Nói 2009, bây giờ là 2012 chúng ta mới xem thì có vẻ là lạc hậu nhưng thực ra mà nói là mãi ngày 2010 chúng ta mới tổng hợp được. Và 5 sự kiện đó đến nay chúng ta vẫn còn giữ nguyên giá trị và phát triển thêm. Sau khi xem xong thì tôi sẽ nói thêm 5 nước tình hình gọi là dạng tổng quan, gọi là tổng quan tình hình thế giới một chút về nước Mỹ, nước Nga, về Trung Quốc, về Cộng hòa dân chủ hồi giáo Iran và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên.

Sau đó chúng ta sẽ nói về tình hình Biển Đông của chúng ta. Bởi vì báo cáo các đồng chí là theo đề nghị của các đồng chí tôi sẽ nói thêm một số vấn đề về các thế lực thù địch mà đang chống phá chúng ta trong tình hình hiện nay, đặc biệt là đối với các khối trường Đại học, Cao đẳng hiện nay. Trước hết là như vậy! Và trong quá trình trao đổi thì có gì tôi xin tiếp thu ý kiến của các đồng chí để làm sao chúng ta làm tốt công tác tuyên truyền bởi vì chúng ta phải thừa nhận một điều là so với Trung Quốc thì công tác tuyên truyền của chúng ta còn kém hơn họ. Họ tuyên truyền có bài bản hơn chúng ta, chúng ta còn nhiều điều phải phấn đấu. Báo cáo các đồng chí là như vậy! Trước hết là mời các đồng chí xem một đoạn video clip đã:

(Tổng hợp các vấn đề quân sự, chính trị quốc tế của Bộ Quốc phòng)

Kính thưa các đồng chí, chúng ta vừa xem 5 sự kiện của 2009, nhưng 5 sự kiện này đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và tôi xin nói thêm gọi là dạng tổng quan để các đồng chí hình dung thêm.

Trước hết là tôi xin nói về nước Mỹ, sau đó đến nước Nga, đến nước Cộng hòa Hồi giáo Iran, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, và cuối cùng là anh bạn là sơn thủy thì tương liên, lý tưởng thì tương thông, văn hóa thì tương đồng, vận mệnh thì tương quan. Anh bạn đấy là cuối cùng và nói nhiều nhất với các đồng chí.

Trước hết là cảm nhận của tôi về ngày hôm nay là đời người có rất nhiều điều hạnh phúc nhưng hôm nay có lẽ là một trong những hạnh phúc của tôi là được đi nói, có giảng bài tới bốn Hội nghị phật giáo Đại Cửu viện và hôm nay được nói với đội ngũ trí tuệ nhất của đất nước chúng ta đó là các thầy các cô Hiệu trưởng, Hiệu phó rồi các Bí thư Đảng ủy, các Trưởng phòng sinh viên. Đương nhiên là trong số này có một số đồng chí đã qua Học viện chính trị học bồi dưỡng quốc phòng an ninh đối tượng 2 (?) và các đồng chí đều là những học viên giỏi thậm chí là có những đồng chí là học viên xuất sắc như là thầy Hiệu trưởng trường Đại học Y chẳng hạn là vừa luận văn giỏi này, bắn súng giỏi này. Rồi đồng chí Phó giám đốc …trường … Học viện Tuệ Tĩnh này, cô Yến chẳng hạn, rồi thầy Phó Hiệu trưởng Đại học Lâm nghiệp chẳng hạn, đều là những học viên giỏi cả. Tôi rất tự hào về đội ngũ trí thức của chúng ta bởi vì vừa có tâm, vừa có tầm và hôm nay là được báo cáo trước các thầy. Trước hết là phần nào cũng tâm lý nhưng thôi cũng xin phép là lượng thứ cho chuyện đó.

Trước hết là tôi nói về tình hình nước Mỹ, báo cáo các đồng chí nước Mỹ đến năm 2011 tên của họ vẫn không có gì thay đổi, vẫn là Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ. Rồi dân số nước Mỹ hiện nay đến năm 2011 là 301 triệu người dân (!!) mà theo tin báo là đến năm 2030, 2040, 2050 thì chưa có một cường quốc nào vượt qua nước Mỹ. Và nói như cựu Tổng thống Mỹ George Bush nước Mỹ phải có trách nhiệm định hình thế giới, không để cho thế giới định hình nước Mỹ. Và tại sao ông Bush nói câu đó bởi vì ông Bush dựa vào cơ sở thực tế của nước Mỹ. Nước Mỹ nói được điều đó bởi vì nước Mỹ có một số vấn đề cụ thể như sau.

Trước hết về sức mạnh kinh tế. Hiện nay nước Mỹ vẫn là đầu tầu số 1 thế giới về kinh tế, tổng thu nhập GDP của nước Mỹ là một năm 14.700 tỷ đô la, gấp chúng ta khoảng 150 lần. Thứ hai về sức mạnh quốc phòng của Mỹ thì hiện nay một năm nước Mỹ, tính đến năm 2011 nước Mỹ chi mỗi năm khoảng 680 tỷ đô la đến 700 tỷ đô la cho quốc phòng. Và hiện nay nước Mỹ vẫn đang thực hiện chiến lược quốc phòng tiến công chặn trước, đánh đòn phủ đầu, và nước Mỹ vẫn thực hiện công thức 10-30-30. 10-30-30 nghĩa là gì? Chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh 10 ngày, tiến hành một cuộc chiến tranh 30 ngày và kết thúc một cuộc chiến tranh 30 ngày. Có nghĩa một năm nước Mỹ có thể tổ chức 5 cuộc chiến tranh, mỗi cuộc chiến tranh 70 ngày. Nước Mỹ hiện nay có hơn 80 căn cứ quân sự ở nước ngoài và ngay khu vực Đông Bắc Á, báo cáo các đồng chí riêng Đông Bắc Á là nước Mỹ đang đóng quân đồn trú tại Nhật Bản là 70.000 quân, Hàn Quốc là 28.000 quân. Và các nước này, Nhật Bản và Hàn Quốc phải nuôi toàn bộ từ A tới Z cho nước Mỹ để bảo vệ an ninh cho Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nước Mỹ đang có hai liên minh quân sự ở Đông Nam Á là liên minh quân sự Mỹ – Philippines, liên minh quân sự Mỹ – Thái Lan v.v… Và hiện nay báo cáo các đồng chí là nước Mỹ vẫn là cường quốc số 1 và có lẽ là đối trọng về mặt quân sự có lẽ chỉ là Nga hoặc Trung Quốc. Về khoa học công nghệ, thì các đồng chí đây là các nhà khoa học tôi cũng xin thông báo với các đồng chí cứ 100 cái phát minh trên thế giới thì nước Mỹ có 51 cái phát minh trên thế giới. Như vậy nước Mỹ là chiếm tỷ trọng 51% phát minh thế giới.

Tất nhiên họ không dùng sức mạnh quân sự như trước kia mà họ dùng phương pháp khác. Lát nữa tôi sẽ nói thủ đoạn chống phá của phương Tây đối với Việt Nam chúng ta ở phần cuối. Và hiện nay, nước Mỹ đang tìm mọi cách kể cả vấn đề là đề nghị, ca ngợi đưa Trung Quốc ra vấn đề luật pháp quốc tế, rồi ủng hộ Việt Nam giải quyết vấn đề đa phương, vấn đề song phương v.v…

Thực ra mà nói, Mỹ đang thực hiện chiến lược hai mặt. Một mặt đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc. Mặt thứ hai đang tìm mọi cách để phá vỡ mối quan hệ đoàn kết lâu đời của Việt Nam, giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc mà người hưởng lợi sẽ là nước Mỹ.

Về mặt quốc phòng an ninh, người Mỹ đang muốn quay lại Biển Đông bởi vì 70% đến 90% thiết kế cho lực lượng hạm đội 7 ở Thái Bình Dương là phải qua Biển Đông. Cái thứ hai, các công ty dầu khí của Mỹ cũng đang muốn có vị trí ở Biển Đông. Và vấn đề thứ ba, vấn đề nữa là Mỹ đang tìm mọi cách để kiềm chế bởi vì Mỹ xác định Trung Quốc hiện nay là kẻ thù giả định trong hai thập niên vừa qua.

Hiện nay Trung Quốc mới là đối trọng tương đương với Mỹ, mặc dù thương mại hai bên là …(không nghe rõ) một năm. Về mặt thương mại là khoảng 500 tỷ đô la. Nhưng Mỹ và Trung Quốc hiện nay đang xác định nhau là kẻ thù ổn định do đó Mỹ đang tìm mọi cách để có mặt tại vị trí Đông Nam Á qua Philippines, qua Thái Lan và đặc biệt là Mỹ đánh giá rất đúng vai trò của Việt Nam. Về mặt quốc phòng nói riêng thì Mỹ cũng đang rất muốn là có được quân cảng Cam Ranh bởi vì quân cảng Cam Ranh là một trong ba cảng tốt nhất thế giới. Một cái cảng của Canada, một cái cảng ở nước Mỹ và một cái cảng ở Cam Ranh của chúng ta. Nó tốt nhất thế giới bởi vì sao, đường dẫn tức là luồng dẫn rộng 50 cây số mà từ rất xa và sát bờ là độ sâu đến tận bờ là 50m. Tàu ngầm có thể cập bến cập bờ không cần phải cầu cảng. Xin thưa với các đồng chí về mặt quân sự là như vậy. Trước hết nói về nước Mỹ.

Thứ hai nói với Liên bang Nga. Thưa các đồng chí, năm 1989, ông cựu tổng thống Mỹ Nixon viết cuốn sách “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh” có nghĩa là nước Mỹ dự báo rằng mười năm nữa Liên Xô mới sụp đổ. Nhưng sau hai năm, 1991 Liên Xô sụp đổ. Hôm nào có điều kiện tôi sẽ nói về diễn biến hòa bình, nói sâu hơn về tại sao Liên Xô sụp đổ sau hai năm? Đấy là tôi xin hẹn các đồng chí ở dịp khác nếu có điều kiện. Và nếu các đồng chí mời và mời người khác thì thôi. Và xin thưa với các đồng chí là sau năm 1991 Liên Xô sụp đổ, năm 1992 Liên bang Nga ra đời với một tư cách là một quốc gia độc lập trong một cộng đồng các quốc gia SNG và Liên bang Nga được thừa hưởng mọi quyền lợi của Liên Xô cũ.

Và 8 năm cầm quyền từ năm 1992 đến năm 2000 người đứng đầu nhà nước Liên bang Nga đó là Boris Yeltsin. Sau khi mà đứng ở cương vị cao nhất thì Boris Yeltsin ra hai quyết định. Một là cấm Đảng cộng sản hoạt động, hai là không trả lương cho những người đã từng tham gia chính quyền Sô Viết.

Hiện nay các đồng chí đang công tác chưa có sổ hưu nhưng trong một tương lai gần hoặc một tương lai xa chúng ta cũng sẽ có sổ hưu và mong muốn mỗi người chúng ta sau này cũng sẽ được hưởng sổ hưu trọn vẹn. Và tôi đi giảng bài cho tất cả các đối tượng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời XHCN hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu, ví dụ các đồng chí ngồi tại đây. Cho nên ta phải nói rõ luôn, hiện nay chúng ta phải làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam thời XHCN.   (ha ha ha)

Sắc lệnh thứ nhất là cấm Đảng cộng sản hoạt động, sắc lệnh thứ hai là không trả lương cho những người đã từng tham gia chính quyền Sô Viết. Có lẽ một cách công bằng nhất, tám năm làm Tổng thống, Boris Yeltsin đã đưa nước Nga thụt lùi nhiều bước bởi vì thừa hưởng mọi quyền lợi của Liên Xô cũ, từ một cường quốc về mặt kinh tế trở thành con nợ, từ một siêu cường quốc phòng trở thành một người phản ứng về quốc phòng an ninh rất lúng túng đặc biệt là sau sự kiện Kosovo 1999. Và có lẽ công lao duy nhất của Boris Yeltsin là phát hiện ra Putin và đưa Putin ra bầu cử để đề cử làm Tổng thống.

Và sau khi Putin được bầu làm Tổng thống, 8 năm làm tổng thống, trong hai nhiệm kỳ 2000-2004, 2004-2008 và làm Thủ tướng 2008 đến ngày 9-5-2012 và từ ngày 9-5-2012 đến nay là Tổng thống. Putin cùng với người bạn song hành của mình là Medvedev đã chèo lái con thuyền nước Nga và cùng với nhân dân Nga vượt qua mọi thác ghềnh. Từ là một con nợ, Liên bang Nga đã trả nợ xong và trở thành những người có tích lũy. Và về mặt kinh tế, thành tựu đáng kể nhất Liên bang Nga đã tích lũy được một vốn đáng kể và trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới thứ 156 sau 18 năm đàm phán rất là căng thẳng.

Báo cáo các đồng chí, năm 2006 thì Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới và Liên bang Nga sau 18 năm đàm phán rất là gian khổ thì mới đạt được là thành viên thứ 156. Về mặt kinh tế, ngoài sức mạnh kinh tế của Liên bang Nga ra chúng ta phải thừa nhận Liên bang Nga được một tài sản thiên nhiên ưu đãi đó là toàn bộ sa mạc Siberia rộng lớn, lúc nãy các đồng chí xem đoạn video clip. Toàn bộ sa mạc Siberia ấy là nguồn năng lượng khí đốt và dầu mỏ vô cùng phong phú. Và hiện nay 70% các loại năng lượng, khí đốt và dầu mỏ của các nước Tây Âu là tùy thuộc vào nước Nga. Cho nên các nước Tây Âu rất sợ va chạm với Liên bang Nga bởi vì va chạm, nếu chọc tức Matxcova, Liên bang Nga chỉ cần, chưa cần nói sử dụng sức mạnh quân sự, người ta chỉ cần đóng van khí đốt một cái thì lập tức nhân dân của Tây Âu đã khốn khó. Về sức mạnh quốc phòng của Liên bang Nga, nếu năm 1999 sự tiến công của khối quân sự Bắc Đại Tây Dương tiến công vào Kosovo năm 54 Liên bang Nga phản ứng rất chậm nhưng xin thưa các đồng chí sau sự kiện năm 2008 câu chuyện của Gruzia, … (không nghe rõ) v.v… thì Liên bang Nga đã phản ứng rất nhanh. Và hiện nay Liên bang Nga đã sản xuất được những loại vũ khí có thể chọc thủng mọi mạng lưới phòng thủ tên lửa. Hiện nay, Mỹ và Nato đang bỏ ra 170 tỷ đô la để xây một hệ thống phòng thủ tên lửa ta gọi tắt là NND. Nhưng Liên bang Nga đã chế tạo ra loại tên lửa Skender tầm bắn 11 nghìn … (không nghe rõ), 11.700 cây số có thể xuyên thủng mọi lá chắn phòng thủ tên lửa. Và cách đây khoảng hơn hai tháng, ông Tổng thống Putin và Bộ trưởng Bộ quốc phòng Liên bang Nga tuyên bố trước 50 nguyên thủ quốc gia và Bộ trưởng Bộ quốc phòng của Châu Âu, Châu Á rằng: Liên bang Nga sẽ sẵn sàng tiến công chặn trước, đánh đòn phủ đầu với tất cả các cơ sở hạt nhân, các cơ sở tên lửa gồm những quốc gia nào đe dọa an ninh nước Nga. Và người Nga họ nói, họ sẽ làm được. Xin thưa các đồng chí đấy là sức mạnh quân sự của Liên bang Nga. Và báo cáo các đồng chí mỗi một năm Liên bang Nga họ làm kinh tế kết hợp với quốc phòng, tôi xin thưa với các thầy ở đây là một năm họ làm được khoảng độ… (Đồng chí kia cất cái báo đi nhé, cất kính đi! Tôi nói như vậy mà vẫn đọc báo, không nên như vậy).

… Tôi xin thưa các đồng chí, Liên bang Nga người ta vẫn làm kinh tế kết hợp với quốc phòng là gì? Mỗi một năm họ bán vũ khí được 10 tỷ đô la, 10 tỷ đô la. Phải nói là họ làm rất tốt. Như vậy ta phải nói Việt Nam chúng ta là một trong mười quốc gia mua và nhập vũ khí nhiều của Liên bang Nga. Và Liên bang Nga hiện nay họ đang dần dần quay lại như một cường quốc như thời Liên Xô, như họ vốn có. Câu hỏi đặt ra Liên bang Nga cần gì ở Việt Nam? Thưa các đồng chí, Liên bang Nga đang xác định là quay lại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Và ngay câu chuyện tổ chức Hội nghị APEC vừa rồi người ta lựa chọn một nước ở Đông Bắc Á để mà tổ chức…(không nghe rõ) để mà tổ chức hội nghị APEC vừa rồi. Và Chủ tịch nước của chúng ta thăm một nước ở khu vực đó đã thấy rằng Liên bang Nga đang rất cần quay lại khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á và đặc biệt là Việt Nam của chúng ta. Nếu cách đây hơn hai thập niên thì Liên bang Nga, Liên Xô cũ người ta đã từng cố vấn quân sự tới cấp sư đoàn của chúng ta. Họ đã từng cung cấp cho mọi vấn đề về mặt quân sự cho chúng ta. Do đó họ cũng đang muốn thông qua Việt Nam để quay lại. Và đối với Việt Nam, Liên bang Nga đánh giá rất cao Việt Nam chúng ta, Việt Nam là một nước thủy chung son sắt. Thủy chung, son sắt có lẽ trong hội trường của chúng ta nhiều đồng chí đã từng công tác tại Liên bang Nga, Liên Xô hoặc là đào tạo tại nước Nga, Liên Xô cũ. Cho nên ta thấy, chúng ta đào tạo gì đó, chúng ta về Việt Nam công tác, chúng ta đã mang hình ảnh Liên Xô cũ, đất nước của bạch dương, của những cây bạch dương về đất nước chúng ta. Do đó, họ cũng đang muốn quay lại đất nước chúng ta. Và một trong những điều họ rất mong muốn, cũng muốn thuê cả Cam Ranh của chúng ta như người Mỹ tham gia đề nghị. Và chắc chắn chúng ta cũng sẽ không cho bất cứ nước ngoài thuê mướn, bất cứ một quốc gia nào bởi vì chúng ta cũng đã ký với một số quốc gia, không cho bất cứ một quốc gia nào thuê mượn hoặc đóng đồn trú trên địa bàn của chúng ta để uy hiếp an ninh quốc phòng đối với những quốc gia khác. Đấy là Liên bang Nga!

Nước thứ ba tôi muốn nói với các đồng chí là Cộng hòa Hồi giáo Iran. Thưa với các đồng chí, nếu nói Đạo Hồi thế giới, tổng số người dân đạo Hồi trên thế giới nay chiếm khoảng 1,1 tỷ dân. Và Đạo Hồi tập trung ở khu vực Trung Á là chủ yếu. Và Trung Á là khu vực tiếp giáp giữa Châu Âu và Châu Á. Và nơi đó, người đạo Hồi, xin thưa các đồng chí, là họ trải qua chinh chiến trận mạc qua nhiều thế kỷ, phải nói là chinh chiến trận mạc qua nhiều thế kỷ. Và khả năng thiện chiến trên bình địa trước kia và trên sa mạc hiện nay của họ phải nói là rất giỏi. Tôi dùng chữ thiện chiến, tôi tránh chữ hiếu chiến bởi vì có người nói là người Hồi giáo rất hiếu chiến nhưng tôi không muốn dùng từ đó. Tôi dùng chữ thiện, thiện chiến. Và ở khu vực Đông Nam Á chúng ta có một quốc gia đó là Indonesia. Indonesia là một đất nước khoảng 250 triệu dân nhưng xin thưa các đồng chí là khoảng 85% người Indonesia là Hồi giáo. Và người Hồi giáo ở khu vực Đông Nam Á thì họ ôn hòa hơn. Tôi nói chữ “họ ôn hòa hơn” người Trung Á. Và khi nói tới Đạo Hồi thì người ta nói đến là thánh Ala và đường tượng của Hồi Giáo đó là Bộ Indurain, Indurain hơn 3000 người. Người Hồi giáo quan niệm rằng thánh Ala có sức mạnh toàn năng, sinh ra bởi tầng trời, bởi tầng đất, bởi …(không nghe rõ). Và người Hồi giáo muốn làm những điều có nghĩa là nhào nặn lại trái đất này để theo đúng ý định của thánh Ala. Và khu vực Trung Á có một nước Cộng hòa Hồi giáo đó là Iran và đặc biệt là sau cuộc bầu cử lúc nãy các đồng chí xem năm 2009, ông Tổng thống Ahmadinejad đã thắng cử và ông ta tuyên bố chương trình hạt nhân của Iran là một con tàu không có phanh, không có số, chỉ có số tiến, không có số lùi. Bởi vì trong luật pháp quốc tế là cho phép nghiên cứu năng lượng hạt nhân nhưng các nước phương Tây nghi ngờ và sợ rằng Cộng hòa Hồi giáo Iran là không thông qua nghiên cứu năng lượng hạt nhân để phát triển hạt nhân. Thưa với các đồng chí, hiện nay trên thế giới có 8 quốc gia có vũ khí hạt nhân. Thế giới đang kêu gọi là thế giới không có vũ khí hạt nhân nhưng thế giới không công bằng ở chỗ 8 nước có vũ khí hạt nhân không hủy bỏ các vũ khí hạt nhân đã có nhưng lại cấm các nước khác không phát triển. Bất bình đẳng ở chỗ đó! Do đó, Cộng hòa Hồi giáo Iran kiên quyết phát triển năng lượng hạt nhân vì mục tiêu hòa bình. Còn câu chuyện người ta từ năng lượng hạt nhân vì mục tiêu hòa bình, họ sản xuất vũ khí hạt nhân hay không là việc của họ, ta không bàn ở đây. Nhưng về mặt quốc phòng mà nói, Cộng hòa Hồi giáo Iran tuyên bố rằng hiện nay đang hình thành một trung lưu mới. Và người ta sẵn sàng xóa bỏ, xóa sổ một quốc gia đó là Israel bởi vì Israel là một đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Trung Đông, là một quốc gia mà có sở hữu vũ khí hạt nhân. Ông Tổng thống Ahmadinejad đang quyết tâm làm điều đó. Mặc dù hơn 30 năm nay Cộng hòa Hồi giáo Iran chịu rất nhiều lệnh trừng phạt, cấm vận của các nước của Tổ chức quân sự Bắc Đại Tây Dương và danh nghĩa là Liên hợp quốc nhưng họ vẫn đứng vững. Và họ chắc chắn rằng Cộng hòa Hồi giáo người ta có đủ sức mạnh để bảo vệ quyền lợi của họ kể cả họ làm những điều mà chúng ta không mong muốn đó là xóa sổ nhà nước Israel.

Nước thứ tư tôi muốn nói với các đồng chí đó là Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Kính thưa các thầy, một số thầy là học viên Học viện chính trị, có thầy học khóa 7, có thầy học khóa 9, có thầy khóa 23. Và đến nay Học viện chính trị đang bồi dưỡng kiến thức quốc phòng khóa 34. Khóa 33 vừa rồi có một số đồng chí là Cục trưởng Cục tuyên truyền của Ban Tuyên giáo trung ương, tôi giảng bài tôi nói. Các đồng chí xem, CHDCND Triều Tiên, một quốc gia có 23 triệu sinh ra và lớn lên ở khu vực Đông Bắc Á, không được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu vô cùng khắc nghiệt, nóng thì đến cháy đất, mưa thì đến thối đất. Báo cáo các đồng chí cơn bão số 5 vừa qua đất nước chúng ta ảnh hưởng, CHDCND Triều Tiên cũng hơn 200 người chết và hơn 20.000 người dân mất nhà cửa. Đất nước của họ vô cùng nghèo, nghèo về kinh tế, nghèo đến nỗi, không biết trong đây đã có đồng chí nào đi công tác CHDCND Triều Tiên nhưng các đồng chí học Học viện Quốc phòng an ninh Đối diện 2 đã đi rồi thông tin lại thì tôi có thể nói rằng nghèo đến nỗi cán bộ cấp Cục, cấp Trung ương đi nước ngoài phải đến Cục đối ngoại mượn giày, mượn cà vạt, mượn comple, mượn vali đi công tác nước ngoài xong về lại trả lại cái Cục đối ngoại đấy. Nghèo đến mức độ như thế! Và mỗi một năm 2/3 người dân CHDCND Triều Tiên phải nhận viện trợ về mặt lương thực, về mặt lương thực thôi của nhà nước. Và vừa rồi Chính phủ của chúng ta viện trợ cho CHDCND Triều Tiên 5000 tấn lương thực. Họ nghèo về kinh tế nhưng họ lại quá thừa về lòng yêu nước. Lòng yêu nước của họ như những năm 60, 70 của thế kỷ 20 ở đất nước chúng ta. Về mặt lý thuyết mà nói thì CHDCND Triều Tiên vẫn đang trong trạng thái chiến tranh. Cuộc chiến tranh 1951 – 1953 mới gọi là hiệp ước tạm đình chiến, lấy lũy tiến 38 mở rộng áp lực … (không nghe rõ). Các đồng chí biết, như đã xem trên video clip ta thấy là 2009 họ phóng một quả tên lửa, mới đây nhất năm 2012, ngày 12-4-2012 họ phóng một quả tên lửa nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố chủ tịch Kim Nhật Thành. Mà trước khi phóng quả tên lửa ấy họ báo cáo với cơ quan quản lý vũ trụ của Liên hợp quốc trước 60 ngày. Họ mời 70 nhà báo của các hãng thông tấn báo chí lớn nhất thế giới đến tận bệ quả tên lửa để quay phim, ghi hình, chụp ảnh đưa tin. Và quả tên lửa ấy chỉ bay trong khoảng không vũ trụ có 1 phút 28 giây sau đó rơi xuống biển nhưng cái điều họ đạt được ngoài sự mong đợi của họ. Thưa với các đồng chí, khi thấy CHDCND Triều Tiên chuẩn bị phóng quả tên lửa thì từ ông Obama – Tổng thống của Mỹ, Lee Myung-bak – Tổng thống Hàn Quốc, Thủ tướng Nhật Bản, Chủ tịch nước rồi Tổng Bí thư của Đảng cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào rồi đến Tổng thống Nga Putin v..v… và nhiều Bộ trưởng Bộ ngoại giao chạy đi chạy lại, chạy đôn chạy đáo. Riêng thủ đô Seoul Hàn Quốc phải dừng mọi hoạt động để tập báo động xuống hầm 3 lần. Đất nước Nhật Bản phải triển khai rất nhiều tên lửa Patriot đánh chặn để sợ rằng tên lửa của họ bay qua khoảng không của Nhật Bản. Quả tên lửa ấy chỉ bay trong khoảng không vũ trụ 1 phút 28 giây có thể diễn ra trong 2 khả năng. Khả năng thứ nhất họ chưa đủ khả năng về khoa học công nghệ để đưa quả tên lửa đấy vào quỹ đạo mong muốn của họ. Khả năng thứ hai họ cố tình làm như vậy dù diễn ra trong khả năng nào thì cái họ đạt được là họ đánh lừa được tất cả các ông lớn, họ làm tất cả các nước lớn mất ăn mất ngủ và rất là lo lắng về quả tên lửa của họ. Cái điều mà chúng ta phải cần học tập. Thứ hai, tôi nói với các đồng chí, Việt Nam vừa qua đi Olympic London một loạt vận động viên hoành tráng nhất từ trước đến nay, 18 vận động viên. Nhưng đi thế nào thì về như thế đấy, và vẫn nói một câu là đi nghiên cứu, đi tiếp xúc là chính thôi chứ còn chưa giành được huy chương. Trong khi đó CHDCND Triều Tiên, một đất nước nghèo như vậy, nhưng lần nào từ Olympic Bắc Kinh họ vẫn có huy chương, Olympic London 2012 vừa rồi 3 huy chương vàng và một số huy chương bạc, đồng. Xin thưa các đồng chí, ta hỏi một vận động viên của họ động cơ nào để anh đạt được huy chương? Một vận động viên hạng cử tạ 56kg của họ trả lời rằng: Tôi phấn đấu để đạt huy chương vì tôi phấn đấu để trả ơn, trả công của cố chủ tịch Kim Chang In và thực hiện đúng lời dặn của Chủ tịch Kim Chang In. Như vậy là ta phải nói công tác tuyên truyền của họ vô cùng giỏi, vô cùng là nhạy bén. Họ tôn thờ lãnh tụ đến mức độ như vậy. Như vậy, bán đảo Triều Tiên nay báo cáo các đồng chí đặc biệt là quan điểm của Trung Quốc và một số nước khác sẽ có ba cái không. Một là không có chiến tranh, chiến tranh không ai muốn cả. Nếu tính 5000 năm trở lại đây thì thế giới đã trải qua 15.000 cuộc chiến tranh lớn nhỏ và làm chết nhiều tỉ người. Và trong tháng 7 vừa qua có lẽ nhiều đồng chí đã từng tri ân Nghĩa trang đồng chí, Nghĩa trang Trường Sơn và đặc biệt là Nghĩa trang thành cổ Quảng Trị. Tháng 7 vừa rồi, tôi có quay lại thành cổ Quảng Trị, 40 năm về trước tôi từng chiến đấu ở đó. Thành cổ Quảng Trị nay chúng ta vẫn chưa biết rằng cả Thành cổ Quảng Trị 15.000 m2 ấy có bao nhiêu liệt sĩ hy sinh, chúng ta mới giám định lại có khoảng hơn 10.000 liệt sĩ. Bây giờ ta không biết chính xác là bao nhiêu cả. Một mảnh đất 15.000 m2 đất, tôi xin nói với các đồng chí các nhà khoa học ở đây, 15.000 m2 đất mà trong 81 ngày đêm phải chịu đựng 328 nghìn tấn bom đạn, có lẽ sắt thép cũng chảy ra hết. Nhưng chỉ có con người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam và lớp lớp sinh viên Việt Nam của rất nhiều trường Đại học thời đó là tòng quân trên đó. Cho nên tôi phải nói với các đồng chí toàn bộ Thành cổ Quảng Trị không có một nấm mồ riêng, không có một tấm bia riêng mà cả Thành cổ Quảng Trị, 15.000 m2 ấy là một tấm mồ chung của hơn 10.000 cán bộ chiến sĩ ta. Một cựu chiến binh Lê Tỉnh Dương từ Nha Trang ra thả hoa cho đồng đội của mình xúc động phải viết 4 câu thơ:

“Đỏ lên Thạch Hãn ơi sầu nhé

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm,

Góp tuổi hai mươi thành sóng biếc

Mộ yên bờ bãi mãi ngàn năm”

Chiến tranh không ai muốn cả. Và CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc cũng không muốn có chiến tranh. Bởi vì có chiến tranh, CHDCND Triều Tiên tuyên bố tên lửa CHDCND Triều Tiên bắn có thể chưa tới bán đảo Alaska của Mỹ nhưng không bao giờ đánh nhầm, không bao giờ đánh trượt, không bao giờ bỏ sót mục tiêu của Mỹ, của Nhật Bản, của Hàn Quốc trên đất Nhật Bản, Hàn Quốc. Đấy là cái điều họ nói, họ làm được. Các nước khác họ nói ít, họ làm nhiều chứ không giống như ta một bộ phận, một số địa phương, một số cơ quan nói rõ nhiều nhưng làm không được bao nhiêu. Thứ hai, về CHDCND Triều Tiên, bán đảo Triều Tiên này ý định của nước không mong muốn có thống nhất vì nếu thống nhất Hàn Quốc sẽ áp sát biên giới Trung Quốc. Và hiện nay CHDCND Triều Tiên đang là vùng đệm chiến lược của Trung Quốc. Hôm nay tôi phải nói với các đồng chí biết là một cái thông tin, năm nay tháng 12 chúng ta sẽ kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Tại sao Nixon ra một sắc lệnh là thực hiện chiến dịch Linebacker II đánh hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng. Đánh cho Hà Nội, Hải Phòng quay về thời kỳ đồ đá bởi vì đầu năm 1972 ông Nixon đã ngoại giao bóng bàn qua Hàn Quốc và đến Điếu Ngư Đài gặp ông Mao Trạch Đông. Hai bên đàm đạo trong Điếu Ngư Đài những nội dung gì thì không biết nhưng khi chia tay ra đến cửa ông Mao nói với Nixon một câu rằng: Người Trung Quốc có một câu ngạn ngữ rằng “Ngươi không đụng đến ta thì ta không đụng đến ngươi”. Có nghĩa là đánh ở đâu thì đánh trừ biên giới Việt Nam – Trung Quốc ra. Đấy tôi nói điều đó để tí nữa tôi nói về Trung Quốc cho các đồng chí biết. Như vậy ta phải nói CHDCND Triều Tiên có cái không thứ hai, cái không thứ nhất là không chiến tranh, cái thứ hai là không thống nhất và cái không thứ ba là không có vũ khí hạt nhân. Nhưng cái không vũ khí hạt nhân là Trung Quốc mong muốn nhất chứ còn CHDCND Triều Tiên họ kiên quyết phát triển để trở thành một cường quốc hạt nhân. Tôi phải nói với các đồng chí biết, bởi vì quốc gia nào có vũ khí hạt nhân coi như có một quả đấm mà có thể knockout đối phương. Đấy, tôi phải nói rõ với các đồng chí thế đấy. Như vậy là nước thứ tư tôi muốn nói với các đồng chí!

Và nước thứ năm tôi muốn nói với các đồng chí là anh bạn núi liền núi, sông liền sông, chung một Biển Đông, chung tình hữu nghị. Hoặc là nói như ông Hồ Cẩm Đào: sơn thủy thì tương liên, lý tưởng thì tương thông, văn hóa thì tương đồng, vận mệnh thì tương quan, tay vẫn bắt nhưng chân đá lung tung (có tiếng cười ở dưới). Tôi phải nói rõ như thế. Hôm nay tôi phải nói với các thầy ở đây vì các thầy là trí tuệ của đất nước và thông qua các thầy là liên quan đến hàng vạn sinh viên cho nên hôm nay tôi phải nhắc đến. Hôm qua, chiều thứ tư và chiều thứ hai tôi nói với trường ĐH Thể dục thể thao và hôm nay cũng có một thầy của trường ĐH Thể dục thể thao. Tôi phải nói rõ như thế. Thưa các thầy ở đây, tôi gọi là các thầy cho nó dân dã bởi vì chúng ta làm nghề sư phạm, cái nghề khó nhất trong muôn nghề, muốn nói là nghề cao quý nhất trong muôn nghề nhưng cũng là nghề khó nhất trong muôn nghề. Xin thưa với các thầy, anh bạn này nếu nói hiểu lịch sử văn hóa của Trung Quốc thì trước hết Việt Nam và Trung Quốc là núi liền núi, sông liền sông, không biết nước nào hình thành trước nước nào? Cái đó còn chờ các nhà khảo cổ học, các nhà lịch sử. Nhưng về mặt ghi chép lịch sử thì Trung Quốc ghi chép nhiều hơn chúng ta. Tôi nói ghi chép nhiều hơn chúng ta 15 thế kỷ. Họ ghi được từ thế kỷ 18 TCN thời nhà Thương. Và hôm nay tôi xin phép nói 6 nhân vật. Và thông qua 6 nhân vật này để mỗi đồng chí tự hiểu là tại sao người Trung Quốc lại có văn hóa như vậy, cốt cách như vậy. Tay có bắt mà chân cứ đá.

Trước hết là vào năm 1776 TCN, cách chúng ta gần 40 thế kỷ. Nhà nước Thương đầu tiên là nhà nước phong kiến mà có một nhân vật đó là ông Khương Tử Nha. Và cách đây gần 4000 năm, năm 1776 ông Khương Tử Nha đã viết được một cuốn sách, đó là “Vũ kim thất thư”. Cuốn sách ấy nôm na gọi là trị nước dùng người. Cuốn sách ấy xin thưa các đồng chí có thể gồm 6 phần: văn thao là cách trị nước dùng người, vũ thao là cách dùng binh, long thao bàn về tổ chức quân sự, hổ thao bày binh bố trận, báo thao bàn về chiến thuật và khuyển thao bàn về quân sự, đấy là ông Khương Tử Nha. Phải nói cách đây gần 4000 năm nhưng họ đã có những nhân vật xuất chúng như vậy. Đến thế kỷ thứ 7 TCN và sau này là thế kỷ thứ 5 TCN, xin thưa với các đồng chí có một nhân vật thứ hai đó là ông Tôn Vũ mà sau này ông viết binh pháp gọi là binh pháp Tôn Tử. Tôn Vũ viết binh pháp Tôn Tử sau này binh pháp Tôn Tử được thế giới thừa nhận. Ông Tôn Vũ là người nước Sở, trong một lần phân chia quyền lực của nước Sở thì dòng họ Tôn của ông ta gần như bị diệt vong. Và ông ta rất may mắn là trốn chạy được trong rừng. Và trong 8 năm ẩn dật ở trong rừng ông ta nghĩ những điều ông ta đã làm, nghĩ những điều ông ta đã học, nghĩ những điều ông ta đã thực hiện trên chiến trận và ông ta viết binh pháp. Sau này ông ta móc nối với Vũ Tử Tư là Đại tướng quân của nước Ngô và lên chức Đại tướng quân của nước Ngô ông ta viết binh pháp. Toàn bộ bộ binh pháp chỉ có 6000 chữ thôi tương đương với 15 trang giấy A4 của chúng ta nhưng đầy đủ cả về mưu kế đánh trận và tư tưởng không cần đánh mà thắng. Toàn bộ bộ binh pháp của Tôn Tử có 13 thiên gọi là chương, 13 chương. Chương 1 đến chương 12 nói về mưu kế dùng binh, ta xem phim Trung Quốc ta thấy “đánh rắn động cỏ” là mưu kế, “ve sầu lột xác” là mưu kế, “rút củi đáy nồi” là mưu kế, “rung cây dọa khỉ” là mưu kế mà hiện nay trên Biển Đông người Trung Quốc đang thực hiện một số mưu kế “rút củi đáy nồi”, “rung cây dọa khỉ”, nó rung lung tung cả. Xin thưa với các đồng chí là vậy. Và đấy là mưu kế dùng binh! Còn chương thứ 13 của ông ta, ông ta không nói về mưu kế dùng binh, nếu nói về diễn biến hòa bình nếu có dịp tôi cũng sẽ nói với các đồng chí. Tôi vừa mới nói với các Tổng Biên tập của các báo là trong toàn bộ toàn quốc chúng ta ngày 26 đến ngày 28 tháng 8 vừa qua ở Đà Nẵng nói về mưu kế tư tưởng không cần đánh mà thắng, đó là chiến lược diễn biến hòa bình. Ông Tôn Tử từ thế kỷ thứ 5 TCN đã định ra một mưu kế là trong chiến tranh đánh mà thắng đã là giỏi nhưng chưa phải giỏi nhất, không cần đánh mà thắng mới là người giỏi nhất trong chiến tranh. Và cái tư tưởng không cần đánh mà thắng ấy người xưa đã dùng, người nay đang dùng, trong tương lai cũng sẽ dùng. Bốn con đường: một là tiền, hai là hàng, ba là vàng, bốn là gái. Tiền-hàng-vàng-gái, tiền-hàng-vàng-trai là có thể đánh sập một thể chế chính trị, hạ gục từng đấng quân vương và xem thảm trạng gục ngã của một số cán bộ chúng ta thì xin thưa với các đồng chí quanh đi quẩn lại có mỗi cái vòng kim cô tiền-hàng-vàng-gái, tiền-hàng-vàng-trai, chấm hết (có tiếng cười ở dưới). Đấy là nhân vật thứ hai.

Nhân vật thứ ba xin thưa với các đồng chí, ông Tào Tháo. Người Việt Nam chúng ta không thích ông Tào Tháo, đúng không? Nói với nhau là “đa nghi như Tào Tháo” nhưng người Trung Quốc lại rất ca ngợi ông Tào Tháo, vì sao? Ông Tào Tháo nói một câu: Thà ta mang tiếng hại người chứ đừng bao giờ để người hại ta. Và ông ta còn nói: người phụ ta một thì ta phụ ngươi mười, người phụ ta mười thì ta phụ ngươi một trăm. Và hôm qua xin báo cáo với các đồng chí, trong một cuộc hội thảo rất hẹp, các đồng chí ở cơ quan chuyên môn Tổng cục tình báo, Tổng cục an ninh, Bộ tư lệnh biên phòng, Bộ tư lệnh hải quân v.v.. thì không tin. Họ đủ mọi chuyện và đúng như hôm qua tôi viết luận gộp tất cả các thông tin đều như nhau hết, đều quay lại một câu đúng như ông Tào Tháo: Thà ta mang tiếng hại người chứ đừng bao giờ để người hại ta. Trong khi đó ta đối phó bị động. Tôi phải nói với các thầy biết, kể cả các trường Đại học, Lãnh đạo sinh viên ở đây cũng vẫn bị động với công tác tuyên truyền của đối phương. Ở đây phải xin nói với các đồng chí.

Nhân vật thứ tư tôi muốn nói với các đồng chí đó là ông Tôn Trung Sơn. Trong lịch sử các thầy đã dạy cho sinh viên chúng ta, ông vua cuối cùng rời khỏi Tử Cấm Thành năm 1911, vương triều cuối cùng của Hoàng đế Đại Thanh. Từ năm 1912 đến năm 1927 đến cách mạng Tân Hợi, trong khoảng 15 năm đó đất nước Trung Quốc hỗn quân, hỗn quan rất nhiều phe phái. Và trong thời đại đó thì có một nhân vật nổi lên đó là Tôn Trung Sơn. Tôn Trung Sơn lúc đó là lãnh đạo cách mạng tư sản dân quyền. Và thời đó, đất nước Trung Quốc có 400 triệu dân. Ông Tôn Trung Sơn đã mơ ước xây dựng được một quân đội 40 triệu người và ông ta nói tới hai phạm trù: quân mạnh thì nước giàu, nước giàu thì quân mạnh. Hai phạm trù quân và nước, quân là trong nước, đúng không? Quân là một phần của nước thôi nhưng ông ta lại đặt là quân mạnh thì nước giàu, nước giàu thì quân mạnh. Tôi muốn nói như vậy để các thầy lưu ý cho.

Nhân vật thứ năm mà tôi muốn nói với các đồng chí đó chính là ông Mao Trạch Đông. Trong cuốn sách “Mao Trạch Đông – nghìn năm công tội” nếu các thầy nếu muốn hiểu lịch sử Trung Quốc xin kính đề nghị các thầy các cô ở đây đọc hai cuốn sách: một “Giấc mộng kim hoa”, hai “Mao Trạch Đông – nghìn năm công tội”. Hai cuốn sách đó người Trung Quốc viết về Trung Quốc và Thông tấn xã chúng ta lược dịch lại. Xin thưa với các đồng chí, trong cuốn sách “Mao Trạch Đông – nghìn năm công tội” do một Đại tá Học viện quốc phòng của Trung Quốc – nguyên là thư ký trực tiếp về mặt quân sự của ông Mao Trạch Đông, theo lời dặn của Đặng Tiểu Bình thì thế kỷ 21 này viết về ông Mao có bao nhiêu câu, bao nhiêu câu. Và cuốn sách đó khẳng định ông Mao Trạch Đông công ba tội bảy, ba phần công, bảy phần tội. Công của ông ta là có công trong lãnh đạo cách mạng giải phóng đất nước. Ông ta cùng với Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh đuổi quân Nhật, đánh đuổi quân Tưởng để giành được cách mạng tư sản dân quyền. Nhưng ông ta có bảy phần tội. Tội của ông ta được thể hiện trong 27 năm ở cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước ông ta làm chết 57,5 triệu người dân. Riêng cách mạng văn hóa làm chết 21,5 triệu người dân và để cho chết đói chết rét 36 triệu người dân nữa. Và trong quãng đời làm cách mạng của ông ta, ông ta nói một câu rất nổi tiếng: Chính quyền treo trên đầu ngọn súng. Xin thưa với các đồng chí: chính quyền treo trên đầu ngọn súng. Súng là gì? Các thầy phải hiểu, súng là chuyên chính. Chế độ nào cũng chuyên chính, chiếm hữu nô lệ cũng có chuyên chính của chiếm hữu nô lệ, phong kiến có chuyên chính của phong kiến, tư sản có chuyên chính của tư sản, vô sản có chuyên chính vô sản. Nhưng ông Mao quá lạm dụng chuyên chính, quá lạm dụng cây súng. Ông ta giải thích súng đẻ ra chính quyền, súng đẻ ra niềm tin, súng đẻ ra chiến thắng, súng đẻ ra tất cả. Cho nên tất cả là ở súng. Cho nên ông ta làm chết 57,5 triệu người dân. Và về mặt kinh tế thông qua đại nhảy vọt toàn dân làm gang thép, ông ta đã làm thiệt hại nền kinh tế Trung Quốc nhiều tỷ nhân dân tệ. Thì xin thưa với các đồng chí, ông Mao có ba phần công, bảy phần tội.

Nhân vật cuối cùng, xin thưa với các đồng chí, hôm qua tôi cũng có nói với hội thảo ông Đặng Tiểu Bình. Ngoại hình của ông Đặng Tiểu Bình rất nhỏ nhoi, rất nhỏ. Nghĩa là nếu mà nhìn ngoại hình không thôi, nếu mà ông thầy bói nào mà gọi là không biết bói thì bảo là ông này không có dáng làm quan. Nhưng mà quan lộ của ông ta vô cùng vất vả, vào rồi lại ra, vào rồi lại ra, ba lần mới vào được Trung Nam Hải sau khi ông Mao chết. Và ông Đặng Tiểu Bình đứng vững ở trên Trung Nam Hải, ông ta bắt đầu phát động bốn công cuộc hiện đại hóa, cải cách, cải tổ, đổi mới của Trung Quốc. Ông ta phát động bốn hiện đại hóa: Hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp, khoa học công nghệ và quân đội. Và thời ông Đặng, ông ta đã đưa ra khẩu hiệu mà chúng ta phải hết sức nghiên cứu.

Thưa với các đồng chí, về mục tiêu chiến lược của ông Đặng đưa ra: Một – xây dựng một nước Đại Trung Hoa dân giàu nước mạnh, thu hồi Đài Loan. Đường lối đó 100 năm không thay đổi. Phương pháp công tác ông Đặng đưa ra 24 chữ: lặng lẽ quan sát, giấu mình chờ thời, giữ vững trận địa, quyết không đi đầu, nắm vững thời cơ, lẳng đi không tích. Và ông Đặng nói phương pháp công tác của những người cán bộ Trung Quốc: một hòn đá, hai con mèo, ba con gà, bốn con cá. Các đồng chí nghe có thấy buồn cười không! Một hòn đá, hai con mèo, ba con gà, bốn con cá. “Một hòn đá” là gì? Hôm nay tôi nói để các đồng chí để liên hệ. Một hòn đá, mỗi người cán bộ phải có nền tảng tư tưởng là một hòn đá. Mà nền tảng tư tưởng của họ là họ kết Mác, tư tưởng Mao. Thứ hai, làm cán bộ, làm cách mạng là phải thận trọng như người qua sông dò đá. Nghe chữ “một hòn đá” có vẻ đấy nhưng mà sâu xa của họ. “Hai con mèo” một thời ta phản đối, nhưng người ta giải thích rõ ràng mèo trắng hay mèo đen, cứ mèo nào bắt được chuột đều là mèo quý. “Ba con gà”, cái gì có lợi cho nhân dân Trung Quốc là bắt lấy, bắt gà, cái gì có lợi cho Đảng cộng sản Trung Quốc bắt lấy, cái gì có lợi cho quân đội Trung Quốc là bắt lấy, nắm bắt thời cơ. “Bốn con cá” thì chỉ bốn nguyên tắc. Và xin thưa với các đồng chí, ông Đặng là người chủ trì một phiên họp Ban Chấp hành Đảng cộng sản Trung Quốc, cái này tôi đã nói Đối tượng hai rồi ở Học viện Chính trị. Chủ trì phiên họp Ban Chấp hành Đảng cộng sản Trung Quốc ra một nghị quyết dạy cho Việt Nam một bài học từ 17-2 đến 17-3 năm 1979. Ông Đặng đã đưa ra một số khái niệm mới trong đó tôi xin nhấn mạnh hai khái niệm. Một là ông Đặng đưa ra sức mạnh của Trung Quốc tới đâu, xin lỗi, hàng hóa của Trung Quốc tới đâu thì biên giới của Trung Quốc tới đó. Hàng hóa của Trung Quốc tới đâu thì biên giới của Trung Quốc tới đó! Khái niệm biên giới này. Khái niệm thứ hai, sức mạnh hải quân Trung Quốc tới đâu thì biển của Trung Quốc tới đó. Như vậy, ông ta nói biển của Trung Quốc rất rộng tùy theo kế hoạch khả năng của hải quân. Và ông Đặng năm 1997 ông ta qua đời. Trước khi ông chết, ông ta dặn các thuộc hạ ông ta rằng: Khi ông ta chết xác của ông ta mang hỏa táng chia làm 3 phần, một phần để lại thờ, một phần rải xuống sông Trường Giang, dòng sông Trường Giang là dòng sông lớn nhất của Trung Quốc, phần thứ ba rải xuống Biển Đông.

Và ta phải nói từ những vấn đề đó ta thấy ông Đặng là người khởi xướng và khát vọng cháy bỏng của ông Đặng là biểu tượng của Trung Quốc, là vấn đề Biển Đông. Và xin thưa với các đồng chí, hiện nay, đến năm 2011 dân số Trung Quốc là 1 tỷ 354 triệu người dân. Trung Quốc hiện nay là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc đang sống trong thời kỳ trỗi dậy hòa bình, các đồng chí nhớ trong thời kỳ trỗi dậy hòa bình, không phải giấu mình chờ thời nữa, lúc nãy các đồng chí xem cuộc diễu binh kỷ niệm 60 năm của họ là năm 2009. Nhưng bây giờ Trung Quốc không thể giấu mình nữa, Trung Quốc đang tự khẳng định mình với thế giới và họ làm trỗi dậy hòa bình. Trung Quốc hiện nay đang là một đại công xưởng thế giới và câu chuyện của Libya năm 2011, Syria năm 2012 ở đây, ngành khai thác dầu mỏ của Trung Quốc thua thiệt. Riêng Libya, ông Gaddafi bị tiêu diệt thì báo cáo các đồng chí 77 cơ sở dầu mỏ Trung Quốc là bị thất thu do đó Trung Quốc đang thực hiện quay lại với ý đồ họ đã nung nấu từ rất xa xưa đó là phải độc chiếm Biển Đông trong thời gian ngắn nhất. Tôi dẫn gợi gọi là tổng quan tình hình thế giới chút để các đồng chí hình dung. Thế giới ngày nay ta phải nói là thế giới của tất cả các cuộc chạy đua và thế giới của tất cả mọi quốc gia, họ thuộc làu một câu, tôi phải nói, họ thuộc làu một câu mà tôi nhắc các đồng chí đang ngủ rất say khi đập dậy mà hỏi thì các đồng chí phải trả lời được rằng đúng với câu: Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là vĩnh viễn. Thế giới ngày nay, tất cả các quốc gia họ đều thuộc một câu là: không có kẻ thù vĩnh viễn, họ sẵn sàng bắt tay với kẻ thù nhưng đạt được mục đích quốc gia của họ. Hôm qua là đối tượng, hôm nay họ có thể là đối tác, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là vĩnh viễn. Chính vì điều đó mà tôi quay sang vấn đề Biển Đông với các đồng chí.

Xin thưa với các đồng chí, nói về biển thì tôi xin vài nét nói về biển với các đồng chí như sau. Khi tiếp xúc về biển thì xã hội loài người chúng ta tiếp cận về biển có thể chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là từ thế kỷ 15 trở về trước, giai đoạn thế kỷ 15 trở về trước lúc đó khoa học công nghệ loài người chưa phát triển, do đó con người là sử dụng biển quanh bờ, ven bờ ở đâu thì sử dụng đó, người ta chưa thấy vai trò, tác dụng của biển do đó biển chưa đặt vấn đề tranh chấp. Phải nói từ thế kỷ 15 trở về trước. Từ thế kỷ 16 đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 do khoa học công nghệ phát triển do đó một số vấn đề về biển đã được đặt ra. Và trên thế giới đã hình thành một số cường quốc về biển: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, nước Anh rồi nước Nga, nước Mỹ v.v… Và xin thưa với các đồng chí nếu tính tổng cộng bề mặt trái đất của chúng ta thì là 510 triệu km2 thì biển chiếm 361 triệu km2, có nghĩa là diện tích biển và đại dương gấp gần 2 lần diện tích nổi của trái đất chúng ta. Những châu, những khu vực đất liền mà chúng ta ở đây chẳng qua chỉ là hòn đảo trôi nổi chiếm khoảng 1/3 diện tích của biển của bề mặt trái đất. Và xin thưa với các đồng chí, biển mang lại nhiều nguồn tài nguyên sinh vật rất phong phú và đa dạng. Rồi hầu hết các loại khoáng sản trên đất liền thì trong biển, trong lòng đất đều có với trữ lượng rất lớn. Và các nhà khoa học thế giới, xin thưa với các đồng chí, biển mang lại năng lượng sạch có thể cung cấp gần 12,6 đến 13,6 tỷ KW điện. Và với hơn 270 tỷ tấn nước mặn, khi giải phóng năng lượng này sẽ tương đương với 180 nghìn tỷ tấn than. Phải nói biển mang lại nguồn lợi nhuận rất lớn cho con người chúng ta. Chính vì điều đó mà xin thưa với các đồng chí, từ thế kỷ 20, đầu thế kỷ 20 các quốc gia bắt đầu đấu tranh đòi ưu sách của biển. Tôi phải nói là thế kỷ 15 trở về trước người ta chưa quan tâm đến biển nhưng từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 20 thì thấy nguồn lợi biển rất lớn. Xin thưa với các đồng chí nếu nói thuần túy về mặt giao thông, giao thông trên bộ hết 20 đồng thì giao thông trên biển chỉ mất 1 đồng, có nghĩa là giao thông trên biển rẻ bằng 1 phần 20. Như vậy ta nhìn những số liệu này ta thấy biển mang lại nguồn lợi rất lớn. Và chính vì điều đó mà xin thưa với các đồng chí các quốc gia bắt đầu đấu tranh đòi ưu sách về biển. Và từ đó trên thế giới cũng bắt đầu xuất hiện những vụ tranh chấp về chủ quyền biển đảo.

Trước hết ta quay lại, năm 1982 các cuộc tranh chấp quần đảo Malvinas của Argentina, thực dân Anh đã vượt hàng nghìn cây số qua Đại Tây Dương để tiến công vào quần đảo Malvinas của Argentina. Rồi trên đà tranh chấp khu vực đảo Sip, rồi tranh chấp khu vực đảo Hanish, bán đảo thôi, Hanish là bán đảo thôi chứ không phải đảo và khu vực sừng Châu Phi. Rồi Kuril, báo cáo các đồng chí, sau Đại chiến thế giới lần thứ 2 thì Liên Xô giữ toàn bộ bán đảo Kuril bởi vì trước đó là thuộc về Nhật trước Đại chiến giới lần thứ hai. Nhưng sau khi tiêu diệt được 1 triệu 2 vạn quân Quan Đông thì Kuril là do Liên Xô cũ và bây giờ là Nga quản lý. Rồi Điếu Ngư, báo cáo các đồng chí, Điếu Ngư đấy là tên gọi của Trung Quốc nhưng mà Nhật Bản gọi là Senkaku. Rồi Dokdo viết tắt hai chữ thôi, Nhật Bản gọi là Takeshima nhưng Hàn Quốc gọi là Dokdo. Rồi Hoàng Sa của chúng ta và Trường Sa v.v… Và đặc biệt là khu vực tranh chấp Bắc Cực hiện nay. Báo cáo các đồng chí, Nga, Nauy, Đan Mạch, Mỹ, Canada đang tranh chấp chủ quyền Bắc Cực. Tháng 8 năm 2007, Nga đã thả bia chủ quyền xuống biển Bắc Cực để tuyên bố chủ quyền của Nga là có diện tích 400 nghìn km2. Như vậy ta phải nói là vấn đề tranh chấp trên biển hiện nay không phải là một khu vực, là một quốc gia mà diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Vì sao lại như vậy? Tôi lại nhắc lại câu: không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là vĩnh viễn. Cứ chỗ nào có lợi ích là họ tranh chấp. Phải nói rõ như vậy chứ không có là chưa hợp lý. Đấy, báo cáo các đồng chí là như vậy.

Bây giờ quay về vấn đề Biển Đông. Thưa các đồng chí, Biển Đông của chúng ta, ta phải nói Biển Đông là một trong một số biển ở toàn bộ khu vực Châu Á Thái Bình Dương nói riêng và toàn bộ châu lục nói chung. Mà Biển Đông, xin thưa với các đồng chí, nếu nói về nguồn lợi của Biển Đông thì có một số vấn đề như sau. Biển Đông có diện tích chính xác là 3 triệu 4 trăm 47 nghìn km2­, ta gọi nôm na là 3,5 triệu km2, gọi dễ tắt là 3,5 triệu km2. Và Biển Đông, xin thưa với các đồng chí, có liên quan đến 9 quốc gia ven biển: Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Bruney, Philippines v.v… là 9 quốc gia. Và có 2 vùng lớn và rất quan trọng đó là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Đấy, phải nói Biển Đông là như vậy. Và xin thưa với các đồng chí, có nhiều khoáng sản quý hiếm, thủy sản phong phú v..v… và có đường hàng hải quốc tế. Tôi phải nói với các đồng chí biết, tôi phải dùng cái hình ảnh tổng quan cho nó dễ. Biển Đông này có vị trí đặc biệt quan trọng …(nói nhỏ với ai đó, không nghe rõ).

Thưa với các đồng chí, Biển Đông này có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, nếu nói về nguồn lợi thì Biển Đông có thể xét về 3 lĩnh vực. Một là giao thông, hai là kinh tế và ba là quốc phòng an ninh. Thưa các đồng chí ta nhìn trên sơ đồ ta thấy Biển Đông là biển lớn thứ hai trên thế giới sau Địa Trung Hải. Về giao thông là biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới sau Địa Trung Hải. Mỗi một ngày có khoảng 200 đến 300 lượt tàu khoảng 5000 tấn trở lên hoạt động. Và nếu nói về giao thông thì 90% hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương đều phải tiếp tế hậu cần kỹ thuật qua Biển Đông, 70% các loại hàng hóa của Nhật Bản hoạt động đều phải qua Biển Đông. 70% đến 80% hàng hóa của Trung Quốc đều phải qua Biển Đông. Do đó, ta phải nói Biển Đông có giá trị về mặt kinh tế rất lớn, về mặt giao thông rất lớn. Do đó, báo cáo các đồng chí, Biển Đông có vị trí quan trọng như vậy. Báo cáo các đồng chí, như vậy là ta thấy Biển Đông về mặt giao thông mà nói là vô cùng quan trọng, về mặt kinh tế thì toàn bộ Biển Đông chúng ta thấy, theo đánh giá của Mỹ là toàn bộ Biển Đông có trữ lượng dầu mở 50 tỷ tấn, chiếm 19% trữ lượng dầu mỏ của thế giới. Như vậy Biển Đông rất lớn. Đấy là về kinh tế. Về quốc phòng an ninh thì xin thưa với các đồng chí thì hiện nay toàn bộ hoạt động của khu vực của Mỹ ở Thái Bình Dương này là phải tùy thuộc vào Biển Đông. Đặc biệt đối với Trung Quốc thì xin thưa với các đồng chí, Biển Đông nằm trong chiến lược một trục hai cánh cửa, trục là Bắc Nam tức là Bắc đến Nam, và cánh cửa đông là Thái Bình Dương, và tây là Ấn Độ Dương của Trung Quốc. Trung Quốc hiện nay chưa có chiến lược toàn cầu nhưng Trung Quốc đang có chiến lược một trục hai cánh cửa. Như vậy là về quốc phòng an ninh với Trung Quốc rất quan trọng. Thứ hai về quốc phòng an ninh là khu vực Biển Đông có Philippines ở đây nằm trong liên minh quân sự của Mỹ – Philippines. Và Thái Lan là liên minh quân sự Mỹ – Thái Lan. Và phải nói Biển Đông là nơi tranh chấp rất quyết liệt của rất nhiều lực lượng ảnh hưởng đến khu vực này. Như vậy là ta phải nói Biển Đông là có giá trị về mặt giao thông, về mặt kinh tế và về mặt quốc phòng an ninh.

Trong Biển Đông thì có 9 quốc gia liên quan nhưng đặc biệt đối với Việt Nam chúng ta, dải đất hình chữ S này mà các đồng chí biết. Mà trong Biển Đông nữa đặc biệt là có hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa như thể là cái trục, như thể là cái tim, như thể là cái cốt lõi của Biển Đông. Cho nên nó đặc biệt quan trọng. Hôm nay tôi mời các đồng chí xem như thế này để các đồng chí hình dung Biển Đông đối với chúng ta quan trọng như thế nào! Và xin thưa với các đồng chí khi nói tới Biển Đông, tôi nói 3 nước, ý kiến 3 nước. Một là Mỹ, Mỹ nói, các chuyên gia quốc tế quốc phòng an ninh của Mỹ nói: Biển Đông có vị trí số 1 ở khu vực Đông Nam Á, ai chiếm được Biển Đông thì người ấy có vị trí số 1. Ông Nhật Bản nói: Biển Đông là yết hầu kinh tế của khu vực…(không nghe rõ) Yết hầu. Trung Quốc thì không nói số 1, không nói yết hầu nữa, ông Trung Quốc ông nói: Biển Đông là cửa ngõ phía nam, là không gian sinh tồn nuôi sống con cháu nhiều ngàn đời của họ. Các đồng chí thấy, cửa ngõ phía nam, không gian sinh tồn nuôi sống con cháu nhiều ngàn đời của Trung Quốc. Như vậy ta phải nói Biển Đông cực kỳ quan trọng. Thưa với các đồng chí, nói về Biển Đông, đất nước chúng ta ta thấy là đất nước chúng ta chiều dài như vậy là toàn bộ đất nước chúng ta 63 tỉnh thành phố thì hiện nay có 23 tỉnh thành phố là liên quan đến khu vực Biển Đông. Trước hết tôi nói về Biển Đông chỗ này một chút để các đồng chí hình dung. Về mặt lịch sử thì quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nếu các thầy cần tài liệu tuyên truyền cho sinh viên thì tôi sẽ cung cấp. Nhưng mà hôm nay tôi nói rất vắn tắt, ngắn gọn thôi. Trước thế kỷ 17, Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo vô chủ, không có chủ. Đầu thế kỷ 17 thì chúa Nguyễn cử một đội ra quần đảo Hoàng Sa đánh bắt hải sản và đi tìm hải sản ở trong các tàu biển bị đánh chìm mang về dâng nộp triều đình. Giữa thế kỷ 17 đưa một đội ra Trường Sa tiếp. Như vậy là ta khẳng định trước thế kỷ 17 là vô chủ nhưng từ đầu thế kỷ 17 đến về sau này là coi các triều đại phong kiến đình nhà Nguyễn của Việt Nam chúng ta quản lý. Và sau này người Pháp xâm lược chúng ta năm 1858 thì người Pháp ra tiếp nhận quần đảo Hoàng Sa và Hoàng Sa cũng từ tay triều đại nhà Nguyễn. Đấy phải nói rõ để các đồng chí hình dung là như vậy. Và nếu nói về lịch sử thì tôi phải nói rõ thêm với các đồng chí địa danh như thế này.

Trước thế kỷ 17, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cái đảo vô chủ. Vào giữa nửa đầu thế kỷ 17, chúa Nguyễn đã tổ chức ra đội Hoàng Sa, lấy người ở thôn An Vĩnh, huyện Bỉnh Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thu lượm hàng hóa, đánh bắt ở các tàu đắm để mang về cống nộp triều đình. Khi đó địa danh quần đảo Hoàng Sa liền một dải bao gồm cả Hoàng Sa và hạ lý Trường Sa. Nửa đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn tổ chức thêm một đội Bắc Hải lấy người thôn Tứ Chính, xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận cấp phép ra làm nhiệm vụ như quần đảo Hoàng Sa. Các hoạt động nhà Nguyễn ở tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ lưu trong tài liệu của nhà Nguyễn mà hiện nay đã lưu ở trong tài liệu Viện bảo tàng Hoàng Gia của nước Anh. Và xin thưa với các đồng chí, thời đó tất cả các vua chúa, các tàu thuyền của nhà nước đại Thanh đi qua quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã từng phải đóng thuế cho triều đại nhà Nguyễn. Và khi chúng ta, ngày 25 tháng 7 năm 2012 tiến sĩ Mai Ngọc Hồng đã trao cho Bảo tàng lịch sử Quốc gia tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” thì càng khẳng định điều đó. Tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” là do nhà nước Đại Thanh xuất bản năm 1004 tại Bắc Kinh và tái bản tại Thượng Hải năm 1910 và khẳng định rằng đảo Hải Nam là cực nam cuối cùng của nhà nước Đại Thanh. Đấy, để nói với các đồng chí. Hiện nay không những lưu giữ tại Việt Nam mà lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia nước Anh thì phải khẳng định với các đồng chí như vậy.

Và nhân đây tôi cũng phải nói luôn, là vừa rồi một số anh bạn của tôi và tất cả các nhà khoa học đã tham gia Hội thảo rất lớn và chúng ta dịch từ nguyên bản tiếng Trung, một số nhà khoa học của Trung Quốc cũng đã phản đối cái việc làm của cái gọi là Trung Quốc. Hôm nay thì đây, cũng rất nhiều nhà khoa học ở đây, tôi xin đọc một số ý kiến của các nhà khoa học. Thứ nhất là một nhà khoa học là giáo sư Trương Kỷ Phạm – Học viện pháp luật Đại học Bắc Kinh nói: Chúng ta vẽ đường 9 đoạn mà không có một kinh độ, vĩ độ cụ thể nào, không có căn cứ pháp luật, đường 9 đoạn là chiếm hơn 80% Biển Đông là do Trung Quốc tự đặt ra. Tí nữa tôi sẽ mời các đồng chí xem đường 9 đoạn. Lý Lệnh Hoa – nhà Nghiên cứu của Trung Quốc, trung tâm tin tức Hải dương học Trung Quốc viết trong cuộc hội thảo vừa qua: Là con người phải biết giữ nhân tình, chúng ta đều là người, không phải là dã thú sống trong rừng rậm. Trong quan hệ giữa người với người không chỉ biết yêu bản thân mình mà nhất định phải tính cả những lợi ích của người khác”. Nếu ý nghĩa của cái đường 9 đoạn là biên giới quốc gia vẽ sát vào biển Việt Nam – Philippines – Malaysia – Bruney… như thế tôi tin các quốc gia đó không thể chấp nhận nếu Nam Hải, Trung Quốc luôn luôn gọi Biển Đông là Nam Hải và xin đề nghị các thầy Việt Nam chúng ta không ai được dùng chữ Nam Hải. Nếu trong trường hợp nào phải dùng chữ Nam Hải, phải lý giải như tôi. Trung Quốc gọi là Nam Hải chứ chúng ta phải luôn luôn gọi là Biển Đông. Nếu Nam Hải được vẽ thành biển nhà của Trung Quốc như vậy, các nước khác có nhu cầu vận tải trên biển chắc chắn sẽ không chấp nhận và như thế chúng ta sẽ trở thành tranh chấp mãi mãi. Chúng ta đang sống trong thế giới mà mọi người phải dựa vào nhau để tồn tại. Chúng ta muốn sống cũng phải để cho người khác sống chứ. Giáo sư Hà Quang Hộ – Học viện Triết học thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc viết: Quyền lợi của anh (Trung Quốc) cần được người khác thừa nhận, người khác không thừa nhận thì anh không có quyền. Giáo sư Trương Tự Quang – Đại học Tứ Xuyên viết: Tôi không đồng tình với kiểu hành xử chính trị quốc tế theo luật rừng, cần phải giải quyết theo luật quốc tế và Luật biển năm 1982. Như vậy ta phải nói, ta dùng tất cả các thông tin này thuộc cả nước ngoài và nước trong để chúng ta hình dung.

Như vậy biển Việt Nam chúng ta như tôi nói là rất dài. Và chính vì rất dài đó cho nên biển của Việt Nam chúng ta phải tính theo cơ sở pháp lý quốc tế là ba phần. Một là khu vực Vịnh Bắc Bộ và hai là vùng Nam Trung Bộ và thứ ba là vùng Tây Nam Bộ. Thì xin thưa với các đồng chí là tôi trước hết tôi nói về đường cơ sở. Thưa với các đồng chí khi nói về Luật biển thì đầu tiên là những năm đầu của thế kỷ 20 các quốc gia bắt đầu đấu tranh đòi quyền lợi biển và trên thế giới hình thành hai ý kiến. Ý kiến thứ nhất biển chung của mọi quốc gia. Ý kiến thứ hai nhất trí biển chung của mọi quốc gia nhưng những quốc gia có biển ở ven biển phải có vùng biển của mình cho nên Luật biển đầu tiên được ra đời năm 1958. Và Luật biển năm 1958 qui định tính từ đường cơ sở, đây các đồng chí nhìn theo đường đỏ đây là đường cơ sở. Đường cơ sở là đường gì? Đường cơ sở là đường nối liền các đảo gần bờ ở ven biển và mực nước thủy triều xuống thấp nhất, gọi là đường cơ sở. Và Luật biển năm 1958 quy định tính từ đường cơ sở về phía biển chỉ có một vùng biển gồm đảo lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải có 12 hải lý. Tức là tôi nhắc lại, tính từ đường cơ sở về phía biển theo Luật biển năm 1958 mỗi quốc gia có bờ biển, có ven biển chỉ có một vùng biển đó là 12 hải lý, bao gồm lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải. Nhưng lúc đó các nước XHCN ta còn rất mạnh cả một hệ thống đấu tranh cho nên năm 1982, 159 quốc gia họp tại Jamaica có cả Trung Quốc và Mỹ thì bắt đầu ra cái luật thứ hai đó là Luật biển năm 1982. Đấy, phải nói lịch sử ra đời vậy. Luật biển năm 1982 quy định mỗi quốc gia có biển, có bờ biển như kiểu Việt Nam có 5 vùng biển như sau. Tôi ví dụ đây là đường cơ sở, lấy ví dụ tỉnh Khánh Hòa, đây là đường cơ sở. Từ đường cơ sở về phía đất liền gọi là vùng nội thủy. Vùng nội thủy quốc gia có quyền như sử dụng trên đất liền.

Nói tóm lại ta nói nôm na vùng nội thủy như ao trong vườn của chúng ta. Vùng thứ hai là vùng lãnh hải, vùng lãnh hải tính từ đường cơ sở về phía biển 12 hải lý. Mỗi một hải lý là 1856 mét. Vùng thứ ba là vùng tiếp giáp lãnh hải, tính từ đường mép ngoài của vùng lãnh hải về phía biển 12 hải lý gọi là tiếp giáp lãnh hải. Vùng thứ tư là vùng đặc quyền kinh tế tính từ đường cơ sở về phía biển 200 hải lý gọi là vùng đặc quyền kinh tế. Đấy, phải nói rõ luôn đấy là 4 vùng. Và vùng thứ năm đó là thềm lục địa. Thưa với các đồng chí, thềm lục địa được tính từ mép nước cho đến hết vùng đặc quyền kinh tế và đặc quyền kinh tế kéo dài. Chỗ này phải giải thích với các đồng chí một chút. Đây là vùng thềm lục địa, thềm lục địa tính từ mép nước ở đây theo đáy đại dương đến hết chỗ này gọi là thềm lục địa pháp lý và đoạn này gọi là thềm lục địa pháp lý kéo dài. Và kéo dài được tính từ chỗ này đến đây 350 hải lý. Đây là luật pháp quốc tế. Trong trường hợp các quốc gia có những vùng biển chồng lấn lên nhau thì hai bên đàm phán song phương ta gọi là vùng chồng lấn. Vùng chồng lấn này hai bên cùng đàm phán, ví dụ Việt Nam có vùng chồng lấn với Trung Quốc, với Malaysia, với Philippines, với Bruney, với Campuchia, với Thái Lan, hai bên đàm phán song phương để ký những vấn đề có thể chấp nhận được. Thì đấy, tôi xin thưa với các đồng chí luật pháp quốc tế quy định như vậy. Và tôi cũng phải nói thêm với các đồng chí là trong luật pháp quốc tế tính từ đường cơ sở hay tính pháp lý là chỉ tính những đảo nổi còn không tính những bãi cạn, hoặc là bãi san hô, hoặc là những bãi mà ta dựng quyền chủ quyền. Đấy phải nói rõ như vậy.

Vậy thì biển của Việt Nam được phân chia như sau. Thứ nhất là vùng Vịnh Bắc Bộ, báo cáo các đồng chí, Vịnh Bắc Bộ được chia từ đảo Cồn Cỏ đến mũi Rinh Cơ của đảo Hải Nam và được chia cụ thể tính từ sông Ca Long theo một cái đường như vậy là về cái đường giới tuyến. Và nếu tính phân chia như thế này thì Việt Nam 53%, Trung Quốc 47% bởi vì biển của Trung Quốc ít hơn. Và trong phân chia này có một vùng gọi là vùng dùng chung, vùng dùng chung. Đấy phải nói rõ như vậy. Và báo cáo các đồng chí, vùng dùng chung đến mãi 25 tháng 10 năm 2012, à xin lỗi, ngày 25 tháng 12 năm 2010, chúng ta mới ký với Trung Quốc xong. Báo cáo các đồng chí là bắt đầu trong 10 năm vừa rồi: 2000 đến 2010. Như vậy là vùng phân chia Vịnh Bắc Bộ.

Hôm qua đồng chí Phó chỉ huy trưởng tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân nói rõ luôn từ khi chúng ta đã ký với Trung Quốc như thế nào, thì xin thưa với các đồng chí, hoạt động của tàu thuyền Trung Quốc xâm nhập vùng lãnh hải của chúng ta ở Vịnh Bắc Bộ giảm hẳn. Tất nhiên là anh bạn của chúng ta lắm trò lắm, phải nói là lắm trò. Ví dụ họ đi khai thác, khoan thăm dò của họ như thế này: một cái tàu kéo của họ kéo theo các giàn khoan thì cái tàu kéo của họ kéo cái giàn khoan thì đường cáp của họ kéo dài 10 cây số. Mà 10 cây số đến lúc họ vòng họ cua thì ta thấy cái xe container nó cua thì vòng phải lớn, thì đến lúc nó cua thì nó vào vùng biển của chúng ta. Cái kiểu là kiểu như thế. Thì hôm qua các đồng chí, tôi phải nói là đồng chí Tư lệnh Phó tham mưu trưởng dùng cũng dùng hình ảnh này, phải giải thích rõ là như vậy. Họ khai thác đây chẳng hạn nhưng họ cứ cua cua vào vùng biển của chúng ta thì báo cáo rõ là như thế, kiểu “rung cây dọa khỉ”.

Vùng Tây Nam Bộ thì xin thưa với các đồng chí đây là vùng Tây Nam Bộ, nó rất phức tạp. Báo cáo các đồng chí nó liên quan đến đảo Cổ Tru, đảo Phú Quốc v.v… Đây cái đảo Phú Quốc của chúng ta. Đây là vùng nước lịch sử mà Việt Nam ký với Campuchia năm 1982. Tại sao chúng ta ký được? Sau năm 1978 chúng ta cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi ách diệt chủng cho nên vùng nước lịch sử là như vậy. Thưa các đồng chí, hiện nay họ lại đang đòi, họ lại đang ý kiến và hiện nay chúng ta phải dựa vào cái đường Bre-vơ. Cái đường này mới là cái đường quan trọng. Cái đường này là đường mà người Pháp đã ký có công ước quốc tế từ năm 1939. Ta xem thì đúng là đây cũng gần thật nhưng bởi vì người nước Việt Nam, đất có thổ công sông có hà bá, sống ở đây lâu rồi thì họ phải chịu thế chứ. Báo cáo các đồng chí là như vậy, … nó rất phức tạp.

Bây giờ những hành động xâm lấn của nước ngoài, thì xin thưa với các đồng chí, đây là tôi tổng kết lại thống nhất với Bộ Tư lệnh Hải quân và thống nhất với lại các cơ quan hữu quan thì hôm nay tôi nói với các thầy ở đây gọi là nguyên khí của quốc gia rồi đấy, tôi phải nói là nguyên khí của quốc gia cho nên tôi nói hết, tôi không giấu cái gì cả. Hiện nay hành động xâm lấn của nước ngoài, nước ngoài thì là chung nhưng mà nhiều hơn (cả) là Trung Quốc, tôi nói là nhiều hơn đấy nhé, chứ không phải là nhiều nhất. Nhiều hơn vì hơn và nhất là khác nhau đấy nhé.

Nhiều hơn (cả) là Trung Quốc. Một là họ đẩy mạnh tuyên truyền Biển Đông là của Trung Quốc tạo dựng hành lang pháp lý với quốc tế, đấy là việc làm đầu tiên của họ. Thứ hai là đẩy mạnh đầu tư nâng cấp vùng chiếm đóng đặc biệt là Hoàng Sa, tí nữa mời các đồng chí sẽ xem hình ảnh. Thứ ba là ngăn cản phá hoại các hoạt động kinh tế trên Biển Đông của ta. Thứ tư là đẩy mạnh đánh bắt thủy sản tạo ra vùng đánh bắt truyền thống. Thứ năm, thăm dò, khảo sát, mời thầu vùng tài nguyên trên biển của chúng ta. Thứ sáu, tìm mọi cách để hạ đặt giàn khoan trên biển của ta nếu ta không ngăn chặn kịp thời. Thứ bảy là chiếm bãi cạn của ta trong trường hợp ta không có người chốt giữ, nếu mà ta sơ xểnh cái là nó cướp luôn. Và đích cuối cùng là độc chiếm Biển Đông. Đấy, phải nói rõ luôn. Tất cả những hành động này tôi phải nói là hành động của nhiều quốc gia nhưng mà Trung Quốc là nhiều hơn. Thì báo cáo các đồng chí đây hành động của họ xâm lấn biển của chúng ta được minh họa bằng hình ảnh như sau: Họ đưa ra cái gọi là đường 9 đoạn rất vô lý này, nhân chỗ này. Ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2011, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng của chúng ta sang thăm Trung Quốc theo lời mời của ông Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào. Ông Hồ Cẩm Đào nói đường 9 đoạn là do Quốc dân đảng để lại, Đảng cộng sản Trung Quốc có thực hiện thì nhân dân Trung Quốc mới theo. Thì đồng chí Hồ Cẩm Đào … à … đồng chí Nguyễn Phú Trọng của chúng ta nói lại luôn. Ông Hồ Cẩm Đào vừa dứt thì đồng chí Nguyễn Phú Trọng nói lại luôn: Các đồng chí nói chưa đúng. Quốc dân đảng để là 11 đoạn, các đồng chí xóa đi 2 đoạn, đấy là một. Quốc dân đảng để lại Đài Loan độc lập, các đồng chí đang xóa Đài Loan rồi.

Ta phải nói rõ luôn là như vậy. Và toàn bộ cái đường chín khúc của họ được minh họa cụ thể như sau. Nếu diện tích Biển Đông 3,5 triệu km2 thì đường lưỡi bò của họ 3,2 triệu km2. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của chúng ta xin thưa với các đồng chí nói chính xác là quần đảo Hoàng Sa cách Đà Nẵng 390km, báo cáo các đồng chí nếu nói vẫn nằm trong thềm lục địa của chúng ta. Năm 2007, tôi hội thảo đầu tiên với Tổng công ty khai thác khoan thăm dò thì chính xác là quần đảo Hoàng Sa bị Quốc dân đảng đánh chiếm một số đảo từ năm 1947 kia. Nhưng hiện nay các tài liệu của chúng ta không nói nhiều lắm thì tôi cứ nói theo thông tin là năm 1956 Trung Quốc đánh chiếm bán đảo phía đông. Tại sao năm 1956 đánh chiếm bán đảo phía đông bởi vì sao, lúc đó Pháp vừa mới thua trận, quân Ngụy Sài Gòn chưa ra tiếp quản hết cho nên đảo phía đông bị trống, Trung Quốc ra chiếm. Năm 1974, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris năm 1973, Mỹ rút nên hải quân rất non kém và Trung Quốc nhanh chóng chiếm thời cơ đó đánh chiếm toàn bộ nhóm đảo phía Tây. Đấy, báo cáo các đồng chí, đấy toàn bộ là quần đảo Hoàng Sa. Nói chính xác là đến tháng 2 năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm xong quần đảo Hoàng Sa từ tay ngụy quân Sài Gòn. Họ đặt sở chỉ huy hải quân trên đảo Phú Lâm, báo cáo các đồng chí bởi vì trong quần đảo Hoàng Sa thì đảo Phú Lâm là cái đảo lớn nhất của họ. Đấy, cái đảo Phú Lâm đấy, thì hiện nay họ đã xây dựng một sở chỉ huy trên đảo Phú Lâm như vậy, rất hiện đại.

Cái này hôm nói Đại học Thể dục thể thao chưa nói thì hôm nay nói thêm vì đây là các nguyên khí quốc gia nên nói thêm. Toàn cảnh đảo Phú Lâm họ có một đường băng, báo cáo các đồng chí là dài 2700m và rộng là 120m. Toàn bộ cảng Phú Lâm báo cáo các đồng chí rất nhộn nhịp là bãi đá Chữ Thập, trước kia nếu các đồng chí nhìn màn hình bên tay trái và bên tay phải hiện nay họ xây nhà nổi trên đấy. Nhà nổi trên bãi đá Châu Viên, rồi trên bãi đá Gạc Ma, báo cáo các đồng chí, bãi đá Gạc Ma tí nữa tôi sẽ nói. Riêng bãi đá Gạc Ma là 64 chiến sĩ hải quân của chúng ta trên một chuyến tàu vận tải đã hy sinh anh dũng trên bãi đá Gạc Ma. Trên nhà Lâu Bền trên bãi đá Caven Rồi hành động cắt cáp, báo cáo các đồng chí, hôm qua đồng chí Tham mưu phó hải quân, à, Phó chỉ huy tham mưu trưởng hải quân cũng nói tại sao lại dẫn cắt cáp này bởi vì Quốc hội cũng chất vấn hải quân đi đâu mà để cho cắt cáp? Bởi vì xin thưa với các đồng chí cũng là do tính toán kinh tế cả thưa các đồng chí. Tôi đây là tôi chỉ nói lại thôi các ý kiến của các đồng chí, các đồng chí nói là lúc đó Tập đoàn Dầu khí quốc gia nói rằng, ta khai thác thăm dò cách mũi Đại Lãnh 120 hải lý giữa vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta cho nên không cần bảo vệ cho nên nó mới cắt cáp. Chỗ nào cứ lơi ra bảo vệ là nó đến ngay. Vụ thứ hai là cắt cáp tàu Vicking của chúng ta. Việc đầu với hải quân là ngày mùng 10 nhưng ngày mùng 9 là Tập đoàn dầu khí đã tiến hành rồi cho nên nó tiến hành khi mà cáp thăm dò của chúng ta ở độ sâu 10m khi phát hiện đến thì đã hạ sâu xuống 30m nhưng nó vẫn cắt cáp được. Và báo cáo với các đồng chí, mặc dù gọi là tàu ngư chính hay tàu đánh cá của họ nhưng tốc độ của họ đều lớn hơn tàu hải quân của chúng ta. Rồi Trung Quốc đơn phương vô lý ra lệnh vùng cấm đánh bắt cá từ ngày mùng 1 tháng 6 đến mùng 1 tháng 8 hàng năm, thì xin thưa với các đồng chí là như vậy.

Quy hoạch bản đồ thăm dò dầu khí của Trung Quốc này tại Biển Đông. Các đồng chí thấy chỗ nào cũng thấy của Trung Quốc hết. Và mới đây nhất là họ đưa ra mời thầu 9 lô dầu khí, báo cáo các đồng chí, 9 lô đấy. Toàn bộ 9 lô này chúng ta đang nghiên cứu và 9 lô này đều nằm trong thềm lục địa của chúng ta, đặc quyền kinh tế của chúng ta. Toàn bộ trên Biển Đông đặc biệt là quần đảo Trường Sa của chúng ta thì hiện nay, báo cáo các đồng chí, là Hoàng Sa thì nhà nước Trung Quốc đã đánh chiếm xong năm 1974. Và toàn bộ quần đảo Trường Sa của chúng ta hiện nay là có 5 nước … à xin lỗi … 4 nước 5 bên đang có điểm có thể đóng quân: Việt Nam, Philippines, Malaysia và Trung Quốc, thêm một bên nữa là Đài Loan (đây là cờ Đài Loan). Báo cáo các đồng chí, Việt Nam chúng ta hiện nay đang duy trì 33 điểm đóng quân, 33 điểm có quân, là lớn nhất, còn Trung Quốc này … Trung Quốc này (chỉ lên bản đồ). Như vậy là ta nhìn trên sơ đồ này ta thấy không phải là chúng ta một bên và đối phương một bên mà là rất nhiều xôi đỗ, cài răng lược với nhau, cho nên giải quyết rất khó khăn, không phải là một nước mà rất nhiều nước. Đấy, xin thưa với các đồng chí là như vậy. Như vậy, tôi đã cung cấp với tất cả các đồng chí tình hình như vậy. Như vậy là bây giờ về mặt đường lối quan điểm của chúng ta ra sao. Đây cái này mới là cốt lõi nhất để định hướng cho các thầy và các thầy lại truyền lửa cho sinh viên đấy.

Xin thưa với các đồng chí về mặt nhận thức mà nói khi giải quyết vấn đề về Hoàng Sa, Trường Sa hay đến tình hình Biển Đông, chúng ta không được phép là chĩa mũi dùi vào một phía nào đó mà hiện nay thiên hướng là cứ tập trung vào mỗi ông Trung Quốc. Xin thưa với các đồng chí nếu chúng ta chỉ tập trung vào mỗi một mình ông Trung Quốc là hoàn toàn chưa đúng, chưa chính xác mà phải đặt trong mối quan hệ tổng thể Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Mỹ, và Việt Nam với các nước ASEAN.

Kính thưa các thầy, các cô, các nhà sư phạm, các nhà quản lý, hôm nay tôi nói rõ về quan điểm chúng ta phải nói, trước hết với Trung Quốc chúng ta có hai điều không được quên. Điều thứ nhất không được quên, trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, trên dưới hai chục lần các triều đại phong kiến Trung Quốc đã từng xâm lược Việt Nam. Từ nhà Tùy, nhà Đường, từ đại Tống, đại Minh, đại Nguyên, đại Thanh, đại đại gì đi chăng nữa thì đều bị Đại Việt “đánh cho nó chích luân bất phản, cho phiến giáp bất hoàn” … đánh cho phải chui ống đồng trốn chạy về nước. Đó là điều rõ ràng chúng ta có quyền tự hào dân tộc của chúng ta. Hơi buồn cái là sinh viên thanh niên chúng ta hiện nay không biết lịch sử. Đồng chí nào mà phòng quản lý sinh viên nếu mà tổng kết lịch sử nó hơi dài hơi ngại thì liên hệ với tôi, tôi xin kính biếu các đồng chí. Lịch sử dân tộc Việt Nam rất gọn, có 39 trang giấy A4 mời cho học sinh, sinh viên học, nhớ lấy, có 39 trang thôi. Có rất nhiều đồng chí bảo tôi in sách nhưng mà thôi. Đấy là một. Cái điều thứ hai chúng ta không được quên đó là tháng 12 năm 1950 chúng ta giành thắng lợi chiến dịch biên giới, khai thông biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Và trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên.

Thứ hai, với Mỹ. Xin thưa với các đồng chí trong giáo dục đặc biệt là phòng sinh viên và đoàn thanh niên các đồng chí nhớ người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả. Phải nói rõ luôn. Nếu có tốt chỗ này, có ca ngợi chúng ta chỗ kia, có ủng hộ chúng ta về Biển Đông chẳng qua vì lợi ích của họ. Họ đang thực hiện “thả con săn sắt, bắt con cá rô”. Họ chưa bao giờ tốt thật sự với chúng ta, tội ác của họ trời không dung, đất không tha. Tôi xin thưa với các đồng chí biết, trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ngày nay tôi xin nói rõ luôn, tôi nói câu này, tôi định tí nữa nói nhưng mà tôi xin nói luôn, báo cáo với các đồng chí các chuyên gia quân sự, và các chuyên gia kinh tế của họ đang nói với chúng ta, xin thưa với các đồng chí đối với giáo dục đào tạo của chúng ta, họ nói một câu như thế này các đồng chí suy nghĩ: Để thay đổi Việt Nam, Mỹ cần phải dựa vào kinh tế và chất xám của thế hệ trẻ Việt Nam được học tập và đào tạo tại Mỹ và phương Tây. Và họ khẳng định hợp tác giáo dục là con đường ngắn nhất để cải thiện hình ảnh con người Mỹ trong con mắt người Việt Nam ở thế hệ tương lai. Thông qua giáo dục đào tạo là con đường ngắn nhất, con đường hiệu quả nhất để cải thiện hình ảnh người Mỹ trong con mắt thế hệ trẻ người Việt Nam. Cho nên một trong 9 mũi tiến công là người Mỹ đang thực hiện diễn biến hòa bình trên lĩnh vực giáo dục đào tạo của chúng ta. Đấy, tôi phải nói rõ là như vậy. Như vậy, với Trung Quốc, với Mỹ.

Với cái thứ ba là với cộng đồng ASEAN. Chúng ta không bao giờ bỏ được liên kết khối. Việt Nam là thành viên một trong mười quốc gia ASEAN, chúng ta phải dựa vào 3 trụ cột: một là kinh tế, hai là văn hóa xã hội và ba là quốc phòng an ninh. Thì đấy là 3 trụ cột để chúng ta gắn kết khối. Đấy là quan điểm chung. Thưa với các đồng chí, đối với người Mỹ, đối với Biển Đông, đối với Trung Quốc từ 3 quan điểm trên chúng ta thực hiện tốt 3 cái điều không được mất. Cái không được mất thứ nhất là cái chủ quyền và quyền chủ quyền. Chủ quyền và quyền chủ quyền là thiêng liêng, là bất khả xâm phạm.

Xin thưa với các đồng chí năm 1077, trên sông Cầu đã vang lên: Sông núi nước Nam vua Nam ở, sách trời đã phân định rõ ràng, có sao chúng bay đến xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. Đây là khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền đầu tiên của đất nước chúng ta. Thế kỷ 13 có ông vua Trần Nhân Tông là một trong những ông vua anh minh của thời nhà Trần đã khuyên cáo và xin thưa với các đồng chí là ông ta nhắc lại tất cả các thần dân đất Việt và hôm nay tất cả các nguyên khí của quốc gia nước ta, xin thưa với các đồng chí, hiền tài là nguyên khí của một quốc gia, khí mệnh thì nước vượng cho nên hôm nay khí đang mạnh, nước đang vượng thì tôi xin đọc tuyên chiếu của ông Trần Nhân Tông để cho các nguyên khí quốc gia, mời các đồng chí nghe. Ông nói: “Các ngươi chớ quên, chính các nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo cho nên cái họa lâu đời của chúng ta là họa Tầu hán”. Thế kỷ 13 vua Trần Nhân Tông đã nhắc chúng ta cái họa lâu đời của ta là họa Tầu hán. “Vậy nên các ngươi phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lại lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời cho con cháu mai sau”. Đấy là thế kỷ 13. Thế kỷ 15, sau khi thắng quân Minh, Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết “Bình ngô đại cáo”: “Như nước đại Việt ta từ đó, vốn xưng nền văn minh đã lâu, sơn hà cư vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần xây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều hùng cứ một phương. Dẫu cường nghiệp có lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào cũng có”. Do đó, đây cũng là chủ quyền và quyền chủ quyền. Mùa xuân Kỷ Dậu năm 1789, vua Quang Trung cũng nhắc: “Đánh cho tóc để dài, đánh cho răng để đen, đánh cho chúng chích luân bất phản, đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ, đánh cho thừa nhận nước Nam anh hùng đã có chủ”. Ngày 2-9-1945, Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập cũng khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác cũng khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền. Trong cái việc tổng mưu chính hải giám của Trung Quốc cắt cáp của tàu Bình Minh 2 và Vicking 2 của chúng ta thì Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại đảo Cô Tô của Quảng Ninh và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Nha Trang cũng khẳng định nhân dân Việt Nam rất ưa chuộng hòa bình nhưng quyết tâm mang toàn bộ sức mạnh của dân tộc mình để bảo vệ toàn bộ chủ quyền của biển đảo chúng ta.

Như vậy điều thứ nhất không được mất là chủ quyền và quyền chủ quyền. Điều thứ hai không được mất đó là môi trường hòa bình, thứ hai và thứ nhất lại mâu thuẫn với nhau cho nên xin thưa với các đồng chí không được mất chủ quyền và quyền chủ quyền nhưng phải ưu tiên tối thượng là giữ được môi trường hòa bình. Trong tình hình hiện nay phải giữ được môi trường hòa bình. Để xảy ra chiến tranh, xin thưa với các đồng chí vất vả lắm. Đây các thầy biết rồi đất nước chúng ta đang bộn bề công việc, nào là Nghị quyết trung ương 3 tổ chức lại nền kinh tế, Nghị quyết Trung ương 4 một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, Nghị quyết Trung ương 5, 4 kết luận và một nghị quyết, đang rất nhiều vấn đề, đang phải chống một loại giặc, mà là giặc vô hình nhưng rất tác hại đó là giặc nội xâm. Bây giờ báo cáo các đồng chí, rất nhiều người hỏi tìm được người bệnh rồi, bốc được thuốc rồi nhưng mà ai uống thuốc đầu tiên? Tìm được người bệnh rồi, bốc đúng thuốc rồi, bảo người bệnh uống nhưng người bệnh lại không uống. Khó thế! Báo cáo các đồng chí như vậy. Nên xin thưa với các đồng chí, nội trong đất nước chúng ta, kinh tế vĩ mô thì vậy, kinh tế vi mô thì vậy, đối nội thì vậy, đối ngoại thì vậy cho nên bây giờ ưu tiên tối thượng phải giữ được môi trường hòa bình.

Tôi xin báo cáo với các đồng chí, không biết các thầy thế nào chứ tôi nhận được nhiều cuộc điện thoại lắm, anh em đi Trung Quốc được không, anh em có đánh nhau hay không v.v… Tôi bảo cứ đi chứ, sang đấy có sâm tốt thì cứ mua về chứ, việc gì mà không đi. Việc nào ra việc ấy. Tôi xin thưa với các đồng chí mặc dù chân họ đá nhưng ta phải biết ta tránh. Cho nên cái không được mất thứ hai là môi trường hòa bình. Cái không được mất thứ ba đó là mối tình đoàn kết nhân dân hai nước. Nói điều này thì có người bĩu môi, có người chưa đồng tình. Nhưng thôi xin thưa với các đồng chí, lịch sử giao cho dân tộc chúng ta phải sống bên cạnh cái nước ta bảo họ tư tưởng nước lớn, không phải tư tưởng, họ là nước lớn thật sự. Nói tư tưởng thế nào được, họ là nước lớn thật sự. Dân số của họ là 1 tỷ 354 triệu người dân, ta có 87 triệu, họ là nước lớn thật sự, cứ bảo tư tưởng nước lớn, họ nước lớn ,không phải tư tưởng, thật sự! Trong chiều dài lịch sử trên dưới 20 lần họ xâm lược chúng ta cơ mà. Các đồng chí học [lớp] “Đối tượng 2″, tôi còn mời các đồng chí xem chiến tranh tháng 2 năm 79 thế nào. Các thầy còn được xem cụ thể hình ảnh, diễn biến ra sao vì hồi tôi còn trong Viện còn nhiều thông tin, mà được cung cấp đầy đủ, cho nên tôi phải nói rõ với các thầy như vậy. Cho nên ta không phải như con thuyền, ta không phải là một căn hộ, không thích ở Mỹ Đình thì sang Linh Đàm, không thích Linh Đàm thì về Trung Hòa Nhân Chính, không phải thích ở sông Hồng thì ra sông Mã mà ở. Xin thưa, lịch sử giao chúng ta như vậy, nhớ lời dặn của các cụ ngày xưa: “Thứ nhất cận thân, thứ nhì cận lân”, “Vắng anh em xa mua láng giềng gần”, rồi “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Vắng anh em xa có láng giềng gần”. Ta phải chấp nhận.

Cho nên ta phải học tập cha ông chúng ta. Báo cáo các đồng chí, một câu chuyện mà lịch sử mà đã dạy cho chúng ta nhắc nhở thời nhà Lê chém tên Liễu Thăng, tên Liễu Thăng là một tướng mang 10 vạn quân để viện trợ cho quân Thông. Nhà Lê chém chết nhưng sau đó nhà Lê hàng năm vẫn đúc một cái tượng bằng vàng bằng cái đầu Liễu Thăng sang cống nạp để làm sao hòa hiếu giữ cho muôn đời không phải chiến tranh. Tất nhiên bây giờ ta không phải cống nộp như vậy, ta bình đẳng nhưng ta phải khẳng định rất rõ ràng như 3 cái không như vậy. Bốn cái tránh. Tránh đối đầu quân sự vì đối đầu quân sự dẫn đến chiến tranh, tránh thứ hai là đối đầu toàn diện. Báo cáo các đồng chí hiện nay Bộ Giáo dục đào tạo, ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2011 vừa qua, Tổng Bí thư ta sang thăm Trung Quốc theo lời mời của ông Hồ Cẩm Đào – Tổng Bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc. Ta vẫn ký hợp tác giáo dục đào tạo với Trung Quốc cơ mà. Cho nên ta phải nói là ta tránh đối đầu quân sự, tránh đối đầu toàn diện. Cái tránh thứ ba đó là tránh bị bao vây cô lập. Người Trung Quốc họ ngoại giao khác chúng ta, báo cáo các đồng chí tôi nói một câu chuyện. Khi ông Hồ Cẩm Đào đi sự Hội nghị APEC năm 2011 qua 10 nước Châu Phi, mời 10 nguyên thủ Châu Phi sang thăm Bắc Kinh, thăm viếng chơi bời xong xuôi, ông Hồ Cẩm Đào ký một cái quyết định viện trợ cho không 10 nước này 16 tỷ đô cơ mà. Họ nói nhưng họ làm. Họ nói nhưng họ cho luôn. Bây giờ ta có người em: em em em làm cho anh cái này, đứa em nó cũng ngoan: vâng, em làm. Nhưng mà giả sử chúng ta cho nó một ít tiền và em làm cho anh cái này và ta cho luôn thì nó hăng hái hơn. Ta phải thấy rõ như vậy. Cho nên họ ngoại giao bây giờ, ngoại giao bằng sức mạnh. Và tôi xin thưa, nếu chúng ta đọc một số tạp chí trên mạng, An ninh thế giới, thì hiện nay nhiều quốc gia đặc biệt là Châu Phi họ đang đánh giá Trung Quốc là một dạng thực dân kiểu mới, đang tàn phá đất nước Châu Phi rất lớn. Và đất nước chúng ta xin thưa các đồng chí …(không nghe rõ) không được bị bao vây cô lập.

Và cái không thứ tư đó là không được lệ thuộc vào nước ngoài. Tránh thứ nhất là đối đầu quân sự , tránh thứ hai là đối đầu toàn diện, tránh thứ ba bị bao vây cô lập, và tránh thứ tư lệ thuộc nước ngoài, 3 không 4 tránh. Hành động đấu tranh kiên quyết, kiên quyết đỉnh cao là báo cáo các đồng chí, đồng chí Tổng Bí thư của chúng ta sang tận bên kia nói rõ, và nói rõ với Hồ Cẩm Đào rằng: Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý, các đồng chí không nhất trí, tôi với các đồng chí cùng ra tòa quốc tế. Tòa án quốc tế xử lý như thế nào thì tôi chấp nhận như thế. Tổng Bí thư ta đã khẳng định như vậy đấy. Như vậy là rất kiên quyết rồi, không có úp mở gì cả, ta không có né không có tránh gì cả. Và vừa rồi cuộc đấu tranh mới nhất là Bộ Quốc phòng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó tổng tham mưu trưởng Trung Quốc đã trả lời rất rõ: vấn đề đó là của Việt Nam. Kiên quyết nhưng phải kiên trì. Báo cáo các đồng chí bảo bây giờ ta đòi lại Hoàng Sa là rất khó, bây giờ nó đã chiếm nó đã xây như trên bảo đòi là rất khó nhưng ta vẫn phải đòi. Báo cáo các thầy, bây giờ tôi đi giảng các nơi tôi bảo các cụ cao tuổi gần về với tổ tiên dặn sổ đỏ để đâu, tiền để đâu, vàng để đâu nhưng phải dặn thêm rằng là con cháu dòng họ chúng ta phải cùng với nhân dân cả nước góp phần để đòi được Hoàng Sa, đòi một phần của Trường Sa nữa, phải đòi chứ. Kiên quyết, kiên trì, khôn khéo. Khôn khéo nghĩa là đừng để xảy ra chiến tranh, đừng để va chạm, cứ tránh đã. Cha ông ta đã dạy: Tránh voi không xấu mặt nào. Cứ tránh đi đã, còn khi nào không tránh được thì ta phải khẳng địng: dù rằng đời ta thích hoa hồng, khi nào kẻ thù buộc ta ôm cây súng. Phải nói rõ là như vậy chứ, đúng không? Phải tránh. Kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích và phải kiên định, đấu tranh bằng biện pháp hòa bình. Tôi cũng xin thưa với các đồng chí nhân chỗ này, nhân buổi thông tin hôm nay tôi cũng phải nhắc nhở.

Xin thưa với các đồng chí từ năm 2007 đến nay trên địa bàn Hà Nội, đây là thông tin của đồng chí Đại tá Tiến sĩ Bạch Thành Định – phó Giám đốc công an Hà Nội vừa mới hội thảo hôm qua với chúng tôi. Tôi cũng xin thông tin cho các đồng chí biết. Năm 2007 chúng ta có 4 đợt, 4 cuộc biểu tình diễn ra chống Trung Quốc. Năm 2007 có 2-3 cuộc biểu tình diễn ra vào ngày 9-12, 16-12, và ngày 23-12, thành phần chủ yếu là các trường, một số sinh viên của một số trường đại học, thành phần chủ yếu là một số sinh viên của một số trường đại học, xin phép không nêu tên cụ thể ra. Không tôi nêu tên các đồng chí lại bảo em có đâu, trường tôi có đâu, phức tạp lắm. Tôi cứ nói rõ là như thế còn trường nào có thì xin thưa với các đồng chí phòng sinh viên phải quản lý. Thì hiện nay sinh viên của chúng ta là các trường đại học, các đồng chí cứ bảo anh nói là thế nọ thế kia, quản lý hiện nay khác với những năm các thầy học, các thầy là sinh viên, khác với thế hệ tôi năm 69-70 là sinh viên. Thời đó, chúng ta ở ký túc xá phòng sinh viên quản lý 100%, bây giờ phòng sinh viên chỉ quản lý một phần thôi còn chủ yếu các cháu ở là tự túc. Báo cáo các đồng chí khẩu hiệu của họ là gì: Bảo vệ tổ quốc, Hoàng Sa – Việt Nam, Trường Sa – Việt Nam, Hoàng Sa – Trường Sa là máu thịt của Việt Nam v.v… Rồi họ hát những bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng ”, “Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi” v.v…

Đặc biệt năm 2011 có 11 cuộc biểu tình bất hợp pháp, bắt đầu là hoạt động tự phát của học sinh, sinh viên một số trường đại học, cao đẳng. Báo cáo các đồng chí đây nguyên nhân đều là từ học sinh, sinh viên cả, từ các trường đại học cả. Đây là các thầy, các “lãnh tụ”, các thầy ở đây phải nắm được cho, phát tán lời kêu gọi xuống đường biểu tình trước Đại sứ quán, trên Internet. Báo cáo các đồng chí họ nói ra là ưu tiên yêu nước, phản đối Trung Quốc đặc biệt là có một số những người đã từng, tôi xin thưa với các đồng chí, có thể đang công tác, có thể là đã về hưu thì tôi không nắm rõ, có lẽ các thầy nắm rõ hơn. Ví dụ như là Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Giáo sư Nguyễn Đông Yên, Giáo sư Phạm Duy Hiển, Nhà văn Nguyễn [Phạm] Xuân Nguyên, Giáo sư Huệ Chi v.v… đấy, cũng tham gia. Tôi xin nêu ở đây để các thầy nghiên cứu. Báo cáo các đồng chí, tình hình rất phức tạp ở chỗ ví dụ ngày 18 tháng 9 năm 2011 nhằm thử phản ứng của Chính quyền Hà Nội có khoảng 20 người chia thành từng nhóm tại khu vực Tượng đài Lý Thái Tổ, khu vực Bờ Hồ Hoàn Kiếm để thăm dò trực tiếp, duy trì phản động tụ tập. Đáng chú ý là ngày mùng 9, 9h sáng ngày 16 tháng 10 năm 2011 đối tượng là Bùi Thị Minh Hằng ở Bà Rịa – Vũng Tàu cùng 17 người tụ tập ở Đền Ngọc Sơn có hành vi la hét, chửi bới, lăn ra đường vu cáo bị ăn cướp lắc vàng rồi v.v…, cắt máu tự tử v.v… làm hành động rất phức tạp.

Năm 2012, từ ngày mùng 1 tháng 7 đến nay có 4 cuộc biểu tình bất hợp pháp. Tôi phải nói rõ luôn, lời kêu gọi biểu tình, nội dung là kêu gọi tuần hành chống Trung Quốc, ủng hộ Luật biển Việt Nam v.v… và v.v… Xin thưa với các đồng chí có người còn ngang nhiên trên trang facebook …(không nghe rõ) lời kêu gọi biểu tình để đòi kiến nghị cách chức ông nọ, kỷ luật ông kia v.v… Xin thưa với các đồng chí, đây là việc làm của một bộ phận ít sinh viên thôi, chứ đại bộ phận học sinh, sinh viên của chúng ta là tốt. Và số này rất ít thôi nhưng nó đang lợi dụng vấn đề này để mà gây rối, yêu nước nhưng mà phải đúng lúc. Tôi bảo với các đồng chí, mấy vị biểu tình ấy viết đơn tình nguyện ra Hoàng Sa, Trường Sa đi xem có đi không hay lúc đó lại kêu em đau khớp, kêu em đau dạ dày. Báo cáo các đồng chí chỉ cần ngồi tàu từ đây ra đảo gần nhất của Trường Sa thôi mất 3 đêm 4 ngày rồi, không cần phải…(không nghe rõ). Nhưng nó cho mấy chục nghìn để thế nọ thế kia.

Xin thưa với các đồng chí, đây là vấn đề hết sức lưu ý. Và hiện nay bất cứ một quốc gia nào cũng thế, lực lượng thanh niên, lực lượng sinh viên là đội ngũ trí thức, là rường cột của quốc gia. Và các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề này để kích động vấn đề này, để …(không nghe rõ) vấn đề này để làm sao gây rối được tình hình. Thông qua những buổi như này để kính mong các thầy, các đồng chí làm công tác quản lý sinh viên làm cho tốt. Còn xin thưa với các đồng chí sức mạnh quốc phòng của Việt Nam cũng có, ngoài ý chí của dân tộc chúng ta cũng tích cực mua sắm vũ khí. Hải quân hiện nay có 5 binh chủng, đấy tôi mời các đồng chí xem một số lực lượng hải quân của chúng ta, lực lượng sức mạnh của chúng ta. Sức mạnh quốc phòng của Việt nam xin thưa ta cũng có tên lửa S300… mà một số các đồng chí đã từng học ở Quốc phòng an ninh Đối tượng 2, Học viện Chính trị đến tận trung đoàn xem S300 rồi, qua 23 đến S300 rồi. Khóa của tôi nhớ là khóa thầy Hinh, thầy Hinh – Hiệu trưởng trường ĐH Y đã đến xem S300 rồi. Rồi chúng ta là cũng có SU27, rồi SU30, rồi SU30, MK2 đủ cả. Chúng ta có đủ các loại xe tăng, xe thiết giáp, đủ. Chúng ta có đủ các loại tên lửa, các tàu, mua cả tàu tên lửa hộ tống. Rồi chúng ta có cả tàu ngầm, sắp tới sẽ có tàu ngầm, đầy đủ, 2014 (tiếng hội trường cười cười ồn ào). Nhưng mà xin thưa với các đồng chí những cái đó để bảo vệ tổ quốc thôi chứ không phải những cái đó để mà đi làm việc nọ việc kia. Tốt nhất là có để mà xin thưa với các đồng chí để thực hiện quyền tự vệ mà tốt nhất là không phải dùng. Mà tôi phải nói, mua những cái đó nhưng không phải dùng là tốt nhất. Còn dùng thì xin thưa với các đồng chí là vạn bất đăc dĩ. Như vậy là tôi phải nói với các đồng chí biết là tình hình đất nước của chúng ta hiện nay chúng ta đang triển khai rất nhiều vùng biển. Tình hình Biển Đông, nói là Biển Đông nhưng xin thưa với các đồng chí chưa hề lúc nào yên ổn cả bởi vì tất cả đều là từ lợi nhuận quốc gia dân tộc, từ vấn đề nọ vấn đề kia. Cho nên xin thưa với cả các đồng chí, trong tất cả những vấn đề đó tôi muốn nói với các đồng chí là đây là một vấn đề mà chúng ta phải đặc biệt lưu ý cho để làm sao trong công tác quản lý tổ chức của chúng ta, để làm sao chúng ta quản lý được con người, chúng ta quản lý được tất cả người của chúng ta. Và hy vọng rằng thông qua buổi học tập này, không phải gọi là học tập, mà là buổi thông tin này để chúng ta nắm vững hơn những thông tin cơ bản của Đảng để chúng ta lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ học sinh, sinh viên trong quyền hạn của mình. Tôi báo cáo các đồng chí, một số khóa mời tôi, một số trường đại học, tỉnh nọ tỉnh kia mời tôi đi thì tôi cũng phải đi chứ. Các đồng chí là tôi nghe thầy nói thế tôi mời thầy đi là tôi phải đi thôi. Cho nên xin thưa với các đồng chí là chúng ta nắm được tình hình như vậy để làm gì, với các đồng chí với nhãn quang chính trị, với tư duy sâu sắc, với am hiểu về mặt tri thức chắc chắn chúng ta sẽ có lòng tin và củng cố lòng tin. Và thông qua lòng tin của các đồng chí thì sẽ góp phần, một là sẽ lãnh đạo, hai là chỉ đạo những cán bộ học sinh, sinh viên chủ quyền của mình để chúng ta làm tốt những vấn đề mà thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.

Trước mắt là chúng ta phải tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng chúng ta, sự điều hành của Chính phủ, cố gắng làm sao đừng để cho những vấn đề gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Và hôm nay các đồng chí nào tự ái thì tôi cũng mạnh dạn, nếu trường đại học nào còn để sinh viên tham gia biểu tình bất hợp pháp trước hết khuyết điểm thuộc về các đồng chí Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu trường đó, trước hết thuộc về Bí thư Đảng ủy – phòng quản lý sinh viên của trường Đại học đó. Nếu để cho công an thành phố Hà Nội hoặc v..v… người ta giữ sinh viên của mình, người ta điện mời thầy nọ mời thầy kia, ở trường nọ ở trường kia đến nhận sinh viên của mình thì đấy là khuyết điểm của chúng ta. Và tôi hy vọng rằng tất cả các thầy với trách nhiệm và với lòng tin của chúng ta, chúng ta sẽ không để những trường hợp đó xảy ra. Kính thưa các đồng chí là trong khuôn khổ buổi chiều 2 tiếng đồng hồ như vậy, tôi thông tin, trước hết là rất cảm ơn các đồng chí và cuối cùng xin đề nghị các đồng chí một chữ thôi, đó là: đồng tâm, đồng chí, đồng ý, đồng lòng và đồng làm, phải làm thôi không có cách nào khác. Đồng tâm, đồng chí, đồng ý, đồng lòng, phải làm, làm nhiều hơn nói chứ đâu đó ta nói nhiều hơn làm, cái đó thưa các đồng chí đừng để nhân dân bảo chúng ta…(không nghe rõ) đừng có làm như vậy. Xin thưa với các đồng chí, nếu trong quá trình trình bày của tôi có gì chưa đáp ứng được thì trước hết xin cảm ơn các đồng chí, các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo và các đồng chí lượng thứ cho bởi vì sư phạm của tôi có mức độ nếu có gì sơ suất mong các đồng chí thông cảm. Xin cảm ơn! (vỗ tay)

_____________________________

Mời xem thêm tin liên quan, và ảnh trên: + Tổ chức cho HSSV nghe thời sự về biển, đảo (Trường CĐ Điện tử & Điện lạnh); + Hội nghị thông tin tình hình thời sự trong nước và quốc tế (Trường CĐCĐHT); + Chủ động đấu tranh chống âm mưu “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá (Quận Ba Đình, HN); + http://www.cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=12472#ixzz2FTL9cuEP ” href=”http://www.cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=12472″ target=”_blank”>Uỷ ban Dân tộc: Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho cán bộ công chức (Ủy ban DT)

———————————————————–

Đồng minh chiến lược Mỹ / Việt ?

                              Hoa Kỳ Đồng Minh Việt Nam

Nguyễn Quang Duy

Ảo tưởng của nhà cầm quyền Hà Nội là xây dựng một Khối ASEAN vững mạnh và thống nhất để Hà Nội lấy đó làm “trục xoay” cho ba nước Mỹ Nga và Tàu.

Giữa tháng 7-2012 cũng chỉ vì xung đột quyền lợi Hội Nghị của Khối ASEAN kết thúc bằng những lời công kích lẫn nhau. Từ đó cho thấy các quốc gia Đông Nam Á còn quá nhiều khác biệt để có thể dung hòa các tranh chấp và có thể thấy Hà Nội không mấy ảnh hưởng đến chiến lược của Hoa Kỳ.

Tuần lễ sau đó, trong chuyến Trương Tấn Sang công du nước Nga, Bộ Quốc Phòng nước này công khai tuyên bố họ không có nhu cầu và cũng không có kinh phí để sử dụng căn cứ Cam Ranh. Nước Nga ưu tiên bảo vệ lãnh hải, lãnh thổ và biên giới của chính mình, họ không muốn trực tiếp dính lứu đến các tranh chấp ở biển Đông.

Còn Trung cộng thì tham vọng xâm chiếm biển Đông càng ngày càng rõ hơn. Riêng tháng 7-2012, họ cho đấu thầu các khu vực khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam. Rồi chính thức thành lập thành phố “Tam Sa”, ra mắt lực lượng đồn trú trên Biển Đông, gia tăng bắt bớ ngư dân Việt, đâm chìm tàu đánh cá Việt Nam, cho máy bay, tàu chiến, tàu đánh cá họat động ngay trong lãnh hải Việt Nam. Mới đây họ cho mở một cuộc tấn công biển người với hằng chục ngàn tàu đánh cá ào ạt xâm chiếm biển Đông.

Trước tình trạng gây chiến kể trên, nhà cầm quyền Hà Nội chỉ còn hai cách để giải quyết. Hoặc tiếp tục làm tay sai cho giặc. Hoặc quay về với dân tộc, tôn trọng tự do dân chủ, hội nhập vào thế giới tự do và trở thành một đồng minh của Hoa Kỳ.

Một nước nhỏ như Việt Nam ở cạnh một nước lớn lại luôn mang tham vọng bành trướng như Tàu thế mà nhà cầm quyền Hà Nội lại muốn làm trục quay cho các cường quốc thì “trí tuệ” của họ quả thật thiếu bình thường. Nhật Bản một cường quốc Á châu cũng xây dựng quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ. Đại Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Nam Dương, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Thái Lan, Tân Tây Lan, Úc đại Lợi… đều tìm thế đồng minh quân sự với Hoa Kỳ.

Các quốc gia nói trên làm vậy vì chính phủ các quốc gia này đặt quyền lợi đất nước quyền lợi dân tộc họ là tối thượng. Trong khi ấy giới chức cộng sản Việt Nam chỉ lo vinh thân, phì gia và làm đẹp bộ mã của đảng cộng sản một đảng đang bị nhân lọai đào thải.

Gần đây khi Hoa Kỳ thay đổi chiến lược hướng về biểnĐông bao vây Trung cộng thì một thành phần trong giới cầm quyền cộng sản công khai bộc lộ khuynh hướng bám theo người Mỹ. Những người này cố tình không hiểu chiến lựơc và chiến thuật Hoa Kỳ luôn thay đổi theo nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Hoa Kỳ. Khi Việt Nam chưa trở thành một đồng minh chiến lược và có uy tín với Hoa Kỳ thì mọi nỗ lực cũng chỉ giải quyết những việc trước mắt thay vì có tầm nhìn chiến lược lâu dài.

Bài viết này xin chia sẻ với bạn đọc về sức mạnh và nguồn gốc sức mạnh của Hoa Kỳ để chúng ta có thể hiểu và tôn trọng một cường quốc chưa bao giờ có ý định xâm lấn nước ta. Biết người biết ta để xây dựng thiện chí nhằm giao hảo có lợi cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam.

Cường Quốc Quân Sự

Hoa Kỳ là cường quốc quân sự số một trên thế giới. Thực lực của quân đội Hoa Kỳ tương đương với tổng lực của tất cả các quốc gia trên thế giới. Chiến lược quân sự của Hoa Kỳ là tự do hàng hải, vì thế nước này đã xây dựng một lực lượng hải quân có khả năng họat động bao trùm khắp các đại dương.

Hoa Kỳ ký nhiều hiệp ước đồng minh quân sự với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hoa Kỳ không chiến đấu vì lợi ích riêng của Hoa Kỳmà luôn chiến đấu vì lợi ích chung của nhiều quốc gia. Vì vậy khi Hoa Kỳ tham chiến họ luôn được nhiều quốc gia góp sức. Khi đánh giá về tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ cũng cần đánh giá sự đóng góp của các quốc gia đồng minh với nước này.

Hoa Kỳ sử dụng ngoại giao và quân sự là để bảo vệ quyền lợi thiết thực của Hoa Kỳ. Vì thế trước tình trạng xâm lấn biển Đông của Trung cộng ngày 3 tháng 8 vừa qua, Thượng viện Hoa Kỳ đã chính thức thông qua Nghịquyết mang số 524 về tình hình Biển Đông. Nghị quyết khẳng định, Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia về tự do hàng hải, mong muốn hoà bình và ổn định trong khu vực biển Đông.

Tự do hàng hải không phải là lợi ích của riêng của Hoa Kỳmà là lợi ích của chung nhân lọai. Trung cộng chưa đánh giá đúng về hành vi xâm lấn biển Đông. Hành vi này đe dọa đến tự do hàng hải và chỉ cần lý do này Hoa Kỳcó thể chính danh khai chiến với sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong chiến tranh chính danh là yếu tố quan trọng nhất để giành ủng hộ và chiến thắng.

Để quyết định chiến tranh Hoa kỳ luôn đánh giá rủi ro và tai hại trước khi nghĩ đến lợi ích ngắn hạn và lâu dài. Chiến tranh thường là biện pháp cuối cùng và cũng là phương cách tiến hành giải thể những chế độ chống lại tự do. Bằng những đánh giá thực tế, Hoa Kỳ không quyết giành chiến thắng bằng mọi giá như Khối cộng sản đã làm trong Chiến tranh Việt Nam.

Rút bài học từ chiến tranh Việt Nam, sau này Hoa kỳ tiến hành chiến tranh bằng cách sửa sọan dư luận, xây dựng đồng minh, đánh tập trung, đánh đúng lúc, đánh nhanh, đánh mạnh, đánh bình định và rút quân đúng lúc.

Chiến lược “Không-Hải Chiến”

Ngày 1 tháng 8 vừa qua tờ Washington Post tiết lộ Chiến Lược “Không Hải Chiến ” (“Air-Sea Battle”) được đề xuất bởi chiến lược gia quân sự Hoa Kỳ Andrew Marshall. Bài báo nêu rõ mục tiêu của chiến lược là để đánh đổtham vọng bành trướng của Trung Hoa cộng sản và đã được đệ trình Ngũ Giác Đài 20 năm về trước.

Theo chiến lược này mở đầu trận đánh các phi cơ và tiềm thủy đỉnh tàng hình của Hoa Kỳ sẽ đánh sập hệ thống radar và phi đạn nằm sâu trong lãnh thổ Trung Hoa Lục Địa. Tiếp theo không quân và hải quân mới tấn công và cuối cùng mới tới bộ binh để bình định.

Để bảođảm chiến lược thành công, Hoa Kỳ cần xây dựng nhiều phi trường, phi đạo và hầm trú ẩn cho máy bay trên các đảo ngoài khơi Thái Bình Dương. Ngày 31 tháng 7 vừa qua, Hoa Kỳ loan báo đang nghiên cứu để đặt một phi đội thường trực gồm 12 máy bay ném bom B-52 ởGuam.

Ngày 24 tháng 7, Thượng viện Phi Luật Tân đã phê chuẩn một hiệp định cho phép phía Úc Đại Lợi quy chế quân đội khách mời để giúp Phi Luật Tân củng cố năng lực quốc phòng trong bối cảnh gia tăng căng thẳng trên Biển Đông. Nước này cũng đã ký một Hiệp định tương tự với Hoa Kỳ. Hoa kỳ vừa bán các phi cơ hiện đại nhất cho Đài Loan, Nam Hàn và Nhậtđể họ tự phòng thủ và chiến đấu. Hoa Kỳ cho thăm dò việc sử dụng căn cứ Cam Ranh Việt Nam và Utapao Thái Lan.

Một số chiến thuật đánh Không Hải chiến đã được thử nghiệm trên chiến trường Trung Đông và Bắc Phi. Các cuộc chiến tại nơi đây cho thấy Hạm Đội Hoa Kỳ có khả năng phong tỏa bất cứ nơi trên lãnh thổ Trung Hoa kể cả thủ đô Bắc Kinh.

Việc tiết lộ chiến lược Không Hải Chiến cho thấy Hoa Kỳ đang sửa sọan dư lụân để đánh Trung cộng và đang tập trung quân lực chung quanh Biển Đông để tấn công 4 quốc gia còn đang bị cộng sản chiếm đóng.

Cường Quốc Kinh Tế

Hoa Kỳ là cường quốc kinh tế số một và có tiềm lực kinh tế lớn nhất thế giới. Tổng thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ tùy cách tính lớn gấp đôi hay gấp ba lần Trung cộng. Thu nhập được phân phối khá đồng đều nhờ thế xã hội luôn ổn định. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn còn dồi dào và không bị lạm dụng khai thác. Kỹ nghệ Hoa Kỳ được phát triển đa dạng, đa năng và nếu cần thiết Hoa Kỳ có khả năng tự lực để phục vụ chiến tranh.

Theo quy luật tự do kinh doanh, Hoa Kỳ luôn phải trải qua những thời kỳ thịnh rồi suy. Kinh tế suy thóai là dấu hiệu để mỗi công dân, mỗi doanh nghiệp và chính phủ nhận ra những sai sót điều chỉnh và hướng đến một thời kỳ thịnh vượng khác. Đây chính là sức mạnh kinh tế Hoa Kỳ. Ngược lại các nước lớn không theo quy luật tự do, chính phủ can thiệp quá đáng vào thị trường đều dẫn đến sụp đổ, Liên Xô trong thế kỷ trước và Trung cộng hiện đang lâm vào tình trạng này.

Để cổ vũ kinh tế tự do Hoa Kỳ đã ký kết nhiều hiệp định song phương hay đa phương về tự do kinh doanh và họ đều tôn trọng các hiệp định này. Nhà cầm quyền Bắc Kinh ngược lại tìm mọi cách mạnh mẽ can thiệp vào thị trường quốc nội và quốc tế gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc tế trong đó có cả Hoa Kỳ.

Về kinh tế Hoa Kỳ đã chính thức khai chiến với nhà cầm quyền Bắc Kinh. Cuộc chiến kinh tế đang đến hồi khốc liệt và ngày một bộc lộ những yếu kém của cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội Trung Hoa. Cuộc chiến này là dấu hiệu Hoa kỳ đang công tâm và công lương trước khi chuyển sang thế công đồn, tấn công giải phóng Trung Hoa, theo đúng Binh pháp Tôn Tử để lại.

Cường Quốc Số Một

Hoa Kỳ cũng xứng đáng tự hào là quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến nhất thế giới, một nền giáo dục hiện đại, một kỹ nghệ điện ảnh không quốc gia nào bắt kịp, khai sinh một không gian mạng tòan cầu gắn bó con người và thế giới chung quanh. Nói tóm lại ảnh hưởng của Hoa Kỳ đang càng ngày càng lan rộng. Mọi người, mọi quốc gia trên thế giới luôn hưởng lợi ích từ cácđóng góp và luôn hướng về Hoa Kỳ như một biểu mẫu để vươn lên theo kịp. Xây dựng quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ là con đường đúng đắn đưa đất nước đi lên.

Sức Mạnh của hai chữ Tự Do

Sức mạnh của Hoa Kỳ thì dễ thấy nhưng điều gì đã tạo ra sức mạnh cho đất nước Hoa Kỳ ? Con người tự do đã tạo ra sức mạnh này.

Từ những người di dân đầu tiên cho đến những người vừa đặt chân lên Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đều có chung một lý do: Hoa Kỳ là đất nước của tự do. Trong số những người mới định cư tại Hoa Kỳ có hằng triệu người Việt Nam vượt sóng đại dương hay băng rừng vượt suối chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm, chấp nhận chết để đổi lấy hai chữ tự do.

Đến được Hoa Kỳhọ được tự do hội nhập và hưởng thụ những giá trị tinh thần và vật chất đã được tích lũy từ những thế hệ di dân đến trước. Họ được tự do hấp thu tư tưởng mới, được tìm hiểu những giá trị tinh thần và và ý thức hệ mới, được khuyến khích thụ hưởng nền giáo dục, được cổ vũ tham gia vào chính trị và quản trị xã hội, …

Tại Hoa Kỳ mọi người đều được xã hội khuyến khích thu nhận, truyền đạt, trao đổi những suy nghĩ, tư tưởng một cách tự do. Mỗi cá nhân trở nên tích cực trên mọi lãnh vực để tìm ra sự thực hay phát hiện những điều mới mẻ.Kiến thức của họ truyền đạt, chuyển hóa, tích lũy và biến thành kiến thức của Hoa Kỳ nói riêng và của nhân lọai nói chung. Rõ ràng sức mạnh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ xuất phát từ trí tuệ công dân và được vun bồi trong một môi trường chính trị tự do.

Nói tóm lại chính nền văn hóa yêu chuộng tự do của người Mỹ đã đưa Hoa Kỳ lên hàng cường quốc số một và vai trò này sẽ còn tiếp tục tồn tại. Nói rõ hơn sức mạnh của Hoa Kỳ xuất phát từ hai chữ Tự Do. Xin xem bài “Người Trí Thức Đưa Đất Nước Đi Lên” và“Viễn Tượng Việt Nam: Tự Do, Tri Thức Và Phát Triển” người viết đã mở rộng đề tài này.

ThếGiới Tự Do

Từ phương cách suy nghĩ nêu trên, các chiến lược gia Hoa Kỳ bằng mọi cách luôn khuyến khích, cổ vũ, thiết lập và xây dựng một Thế Giới Tự Do. Thêm một quốc gia tự do là bớt đi những rủi ro do nghèo đói, chiến tranh, bạo lọan, khủng bố, … Thêm một quốc gia tự do là thêm lợi ích về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … không phải chỉ riêng cho quốc gia này, mà cho cả Hoa Kỳ và Thế Giới.

Trứơc khi tham dự Hội Nghị ASEAN tại Pnom Penh, Ngoại trưởng Hoa Kỳ bà Hillary Clinton đi một vòng các quốc gia Á Châu: Mông Cổ, Nhật, Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Tại Mông Cổ bà cho biết: “Dân chủ và nhân quyền không phải chỉ là giá trị của quốc gia chúng tôi, mà còn là quyền lợi đương nhiên của mỗi người sinh ra trên thế giới này”.Bà giải thích chiến lựơc cốt lõi của Hoa Kỳ là hỗ trợ cho dân chủ và nhân quyền. Bà cho biết đây không phải là giá trị của Hoa Kỳ mà là giá trị chung của nhân lọai.

Bà gởi một tín hiệu đến nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh và Hà Nội, rằng họ chỉ là thiểu số và chiến lược của Hoa Kỳ là bằng mọi cách giải phóng các quốc gia còn đang bị cộng sản chiếm đóng. Mang lại tự do cho thế giới là chiến lược mục tiêu thực hiện lý tưởng và lợi ích của Nhân dân Hoa Kỳ.

Tại Việt Nam bà Clinton đã thu xếp để gặp giới chức cầm quyền cộng sản trong ấy có cả Nguyễn Phú Trọng. Bà kêu gọi họ hãy tôn trọng dân chủ và nhân quyền, đừng đeo đuổi các cường quốc vì họ chỉ vì quyền lợi quốc gia họ. Hãy tôn trọng dân tộc, quay về với dân tộc, sức mạnh của Việt Nam thể hiện từ sự đồng thuận dân tộc Việt Nam. Phương cách để tìm đồng thuận dân tộc chính là tôn trọng nhân quyền và thực thi dân chủ. Phương cách này là căn bản tạo nên sức mạnh của Hoa Kỳ và nhân danh chính phủ Hoa Kỳ bà sẵn sàng giúp nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng nhân quyền và thực thi dân chủ.

Tiếc thay lời nói của bà Clinton không lọt vào những tai những kẻ vốn bản chất độc tài. Ngày 14 tháng 7, Hà Nội huy động thiết giáp đe dọa giáo dân Giáo điểm Con Cuông. Ngày 30 tháng 7, thân mẫu của blogger Tạ Phong Tần lấy thân mình làm ngọn đuốc sống đánh tiếng cùng thế giới tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Ngày 5 tháng 8, Hà Nội lại cho an ninh bắt những người biểu tình yêu nước và tệ hại hơn đã sử dụng truyền hình truyền thanh để bịa đặt vu khống cho những người biểu tình yêu nước.

Mặc cho thế giới lên án vi phạm nhân quyền, ngày 7 tháng 8 vừa qua, nhà cầm quyền Hà Nội dự định mở phiên tòa xử ba thành viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Điếu Cày Nguyễn văn Hải, Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần. Cách hành xử của giới cầm quyền cộng sản làm xa cách thêm với quần chúng Việt Nam, xa cách thêm cả với Hoa Kỳ và thế giới tự do.

Tình hình Biển Đông mỗi ngày một nóng hơn, các giải pháp ngoại giao xem ra không còn hiệu quả, giải pháp chiến tranh mỗi lúc một rõ hơn, một cuộc chiến có thể xảy ra bất cứ lúc nào, một cuộc chiến mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không còn khả năng chủ động kiểm sóat và sẽ là một cuộc chiến thuận lợi cho dân tộc Việt Nam đứng lên giành lại tự do.

Dân Chủ hay Cộng Hòa

Các chiến lược của Hoa Kỳ thường xây dựng trường kỳ và chiến thuật có thể thay đổi tùy theo theo kết quả của các cuộc bầu cử. Mang lại tự do cho các quốc gia đang bị cộng sản chiếm đóng là chiến lược. Còn phương cách hành xử với các giới chức cầm quyền cộng sản chỉ là chiến thuật.

Vì vậy vào tháng 11 sắp tới nếu đảng Dân chủ tiếp tục cầm quyền thì chiến thuật vẫn sẽ tiếp tục được khai triển. Riêng với giới chức cầm quyền Việt Nam bà Hillary Clinton sẽ tiếp tục sử dụng bàn tay sắt bọc nhung, bà cho đảng Cộng sản nhiều cơ hội để bày tỏ lập trường theo Tàu hay quay về với dân tộc và hội nhập thế giới tự do.

Còn nếu đảng Cộng Hòa thắng cử thì chiến lược của Hoa Kỳvẫn không thay đổi. Những kinh nghiệm trước đây cho thấy phương cách hành xử của họ với bạo quyền cộng sản sẽ cứng rắn hơn.

Đồng Minh của Dân Tộc Việt Nam

Chính phủ Hoa Kỳ luôn phân biệt rõ ràng tập đòan cầm quyền cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Họhiểu rõ Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng tự do, một dân tộc với hằng triệu ngườiđã hy sinh để bảo vệ tự do cho nhân lọai, một dân tộc luôn đấu tranh để giành lại tự do, một dân tộc luôn xem Hoa Kỳ như một đồng minh chiến lược.

Hoa Kỳ cũng hiểu rõ cũng như các dân tộc từng bị cộng sản chiếm đóng, người Việt sẽ đứng lên giành lại tự do, xây dựng một thể chế dân chủ và Việt Nam sẽ là một đồng minh xứng đáng của Hoa Kỳ trong Thế Giới Tự Do.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

Thoibao Online

—————————————————————-

Vấn đề nhân quyền cản trở mối bang giao Việt-Mỹ

Nguyễn Quốc Khải gửi RFA
2012-12-17

Hoa Kỳ và Việt-Nam là cựu thù và cùng lo ngại về sự vươn lên của Trung Quốc. Vấn đề nhân quyền đang làm cho hai nước không trở thành thân thiện hơn.

Từ đàn áp bloggers…

Sự căng thẳng giữa hai nước rõ rệt làm trì hoãn phiên họp hàng năm về vấn đề nhân quyền. Những phiên họp tham khảo như vậy được tổ chức mỗi năm kể từ 2006, nhưng những lần họp cuối cùng vào tháng 11, 2011 đạt được ít kết quả, và một viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rằng hai bên còn đang tìm những “thông số” để cho phiên họp sắp đến có thể thành công.

Hoa Kỳ thất vọng về những vụ đàn áp gần đây tại Việt Nam chống lại những bloggers, những nhà hoạt động và những đoàn thể tôn giáo mà Việt Nam cho rằng có thể đe dọa đến việc duy trì quyền lực của họ và việc giam giữ một công dân Hoa Kỳ về tội lật đổ chánh phủ mà hình phạt có thể là tử hình.

Một viên chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói với điều kiện giấu tên vì không được phép tuyên bố công khai, rằng “Chúng tôi không thấy những tiến bộ mà chúng tôi mong muốn. Chúng tôi rất mong thấy những hành động cụ thể.”

Phiên họp sẽ được tổ chức tại Hà Nội có thể bị trì hoãn vài tuần lễ. Nhưng điều này nhấn mạnh một sự kiện là việc đối xử ngày càng tồi tệ đối với những nhà bất đồng chính kiến trong hơn hai năm qua đã làm cho những cố gắng của Việt Nam nhắm cải thiện mối quan hệ với Hoa Kỳ trở nên phức tạp.

Ông Lương Thanh Nghị, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói rằng những cuộc đối thoại về nhân quyền đã đóng góp vào việc tăng cường sự tin cậy giữa hai nước và hai bên hiện đang thảo luận về thời điểm cho vòng họp sắp đến. Phát ngôn nhân của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ cũng nói rằng hai quốc gia đang thảo luận khi nào sẽ họp.

Giống như Hoa Kỳ, Việt Nam muốn tăng cường những liên hệ thương mại và an ninh, nhưng Hoa Kỳ muốn điều này phải đi đôi với những cải tiến về nhân quyền. Một số nhà lập pháp Hoa Kỳ đang áp lực chính phủ Obama phải cứng rắn hơn về việc Hà Nội đàn áp những người bất đồng chính kiến và tự do tôn giáo.

Bang giao của Việt Nam với Hoa Kỳ đã cải tiến rất nhiều trong những năm qua, phần lớn vì hai nước cùng quan tâm về hành động gây gỗ và xâm lược của Trung Quốc trong vùng Đông Nam Á. Hai nước cùng chia sẻ quyền lợi chiến lược rõ rệt nhất trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ tại Biển Đông (South China Sea), nơi mà đòi hỏi về lãnh thổ của Bắc Kinh va chạm với đòi hỏi của Việt Nam và bốn quốc gia khác trong vùng.

Kể từ khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, Việt Nam mở rộng kinh tế nhưng không sẵn sàng ban hành tự do tôn giáo và chính trị cho 89 triệu dân. Hoa Kỳ và Việt Nam đã tái lập ngoại giao vào 1995, 20 năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt và hai nước đã tiến gần đến với nhau nhanh hơn kể từ khi Tổng Thống Barack Obama đặt ưu tiên về quan hệ với Đông Nam Á.

Việt Nam đàn áp những nhà bất đồng chính kiến sau khi nền kinh tế, một thời mạnh mẽ, trở nên suy thoái. Những nhà phân tách nói rằng giới lãnh đạo Hà Nội ở vào thế thủ đối với những chỉ trích ở trong nước về chính sách kinh tế, tham nhũng và tranh chấp nội bộ. Phần lớn những sự kiện này được phổ biến rộng rãi trên Internet mà chính quyền không thể kiểm soát được.

Trong năm vừa qua, Việt Nam bắt giam trên 30 nhà hoạt động bất bạo động, bloggers, và những người bất đồng chính kiến theo Human Rights Watch. Trong năm nay, 12 nhà hoạt động bị kết án trong những phiên tòa ngắn, thông thường là một ngày, và lãnh án tù nhiều năm một cách bất thường. Bẩy người khác chờ đợi ra tòa. Việt Nam cũng đang chuẩn bị luật để đàn áp thẳng tay tự do Internet.

Ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại Học New South Wales nói rằng “Những cuộc ẩu đả trong nội bộ đảng đã làm đảo lộn mọi thứ. Họ rối loạn tinh thần một cách hoang tưởng vì những chỉ trích và không quan tâm gì đến Hoa Kỳ.”

Việc bắt giữ và phiên tòa sắp đến của một nhà hoạt động dân chủ Mỹ Nguyễn Quốc Quân là một thí dụ rõ rệt nhất về việc Hà Nội không sẵn sàng đáp ứng đến những quan tâm của Hoa Kỳ về nhân quyền.

TS Quân, 59 tuổi, bị bắt giữ tại phi trường thành phố Hồ Chí Minh ngay khi mới đến bằng một chuyến bay từ Hoa Kỳ, nơi ông sanh sống kể từ khi ông trốn thoát ra khỏi Việt Nam bằng thuyền khi còn là một thanh niên. Gia đình và bạn bè của Ông Quân nói rằng ông là một thành viên lãnh đạo của Việt Tân, một đoàn thể vận động dân chủ bất bạo động mà chính quyền Việt Nam gán cho nhãn hiệu khủng bố. Ông đã bị tù sáu tháng tại Việt Nam vào 2007.

Chính quyền Việt Nam lúc đầu tố cáo Ông Quân là khủng bố, nhưng bây giờ ông bị buộc tội lật đổ nhà nước, với một hình phạt từ 12 năm tù đến tử hình. Với cuộc điều tra đã kết thúc, phiên xử sẽ sớm xẩy ra. Ngày ra tòa thường chỉ được thông báo vài ngày trước.

… đến kết tội một công dân Hoa Kỳ

Theo bản cáo trạng mà hãng tin Associated Press (AP) thu thập được, Ông Quân họp với những nhà hoạt động Việt Nam tại Thái Lan và Mã Lai trong khoảng thời gian 2009-2010 để bàn về an ninh Internet và chống đối bất bạo động. Bản cáo trạng nói ông tới Việt Nam với giấy thông hành mang tên Richard Nguyen vào năm 2011, khi ông tuyển mộ bốn thành viên cho Việt Tân.

Vợ ông Quân không phủ nhận rằng ông Quân muốn thay đổi hệ thống chính trị tại Việt Nam. Bà Hương Mai Ngô nói trong cuộc phỏng vấn của AP tại Sacramento bằng điện thoại: “Chồng tôi muốn nói chuyện với những người trẻ và đề cập đến ý kiến dân chủ tại Việt Nam. Chồng tôi sống tại Hoa Kỳ, ở đây chồng tôi có tự do và chồng tôi muốn họ cũng có tự do như vậy.”

Thành viên quốc hội của những vùng đông cử tri Mỹ gốc Việt đang gây áp lực với chính quyền Obama.

Dân biểu Frank Wolf, một người chỉ trích hàng đầu, bảo vệ ý kiến của ông rằng chính phủ Obama xem ra đã xao lãng vấn đề nhân quyền để tăng cường quan hệ kinh tế và an ninh. Với ba đồng nghiệp Cộng Hòa, vị dân biểu của tiểu bang Virginia đã đòi cách chức Đại Sứ David Shear, buộc tội ông đã không mời những nhà hoạt động cho dân chủ và nhân quyền tham sự buổi tiếp tân ăn mừng Ngày Độc Lập 4 tháng 7 tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội sau khi ông đã cam kết sẽ làm như vậy.

DB Wolf, người đã nhắm vào Đại Sứ Shear vì Ông Đại Sứ đã không viếng thăm TS Quân tại nhà giam, nói rằng “Đường lối của chánh quyền là một thảm họa. Tất cả những gì họ lo lắng là vấn đề kinh tế và quốc phòng. Nhân quyền và tự do tôn giáo cần phải là ưu tiên một.”

Viên chức Hoa Kỳ đã thăm viếng TS Quân năm lần, hầu hết gần đây trong cuối tháng 9.

Phát ngôn viên của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ Christopher Hodges nói: “Chúng tôi tin rằng không ai nên bị giam cầm vì bày tỏ lập trường chính trị của mình một cách hòa bình hay ước vọng của họ về một tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng hơn. Chúng tôi tiếp tục kêu gọi chánh phủ Việt Nam sẽ giải quyết trường hợp này một cách nhanh chóng và minh bạch.”

DB Wolf và những nhà lập pháp khác chú trọng về Việt Nam không có nhiều ảnh hưởng vào việc thiết lập chính sách. Nhưng những vị dân biểu này có thể làm gây trở ngại cho chánh quyền Obama. Ông Wolf ám chỉ rằng ông có thể đề nghị những tu chánh án về luật ngân sách để tạo áp lực với chánh quyền về chánh sách Việt Nam. DB Wolf là một thành viên cao cấp của Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, một ủy ban nhiều quyền lực trong coi về ngân sách liên bang.

Hoa Kỳ có một vài ảnh hưởng nếu muốn thử dùng để thúc đẩy Việt Nam cải tiến tình trạng nhân quyền: Việt Nam là một trong những nước nhận viện trợ của Hoa Kỳ nhiều nhất tại Á châu và hiện đang thương lượng về hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ và bẩy nước khác.

Chánh phủ Việt Nam từ chối không phê bình về việc kết tội Ông Quân, nhưng Hà Nội biết rõ về sự nhạy cảm của Hoa Kỳ trong trường hợp này. Nhiều nhà quan sát nói rằng TS Quân sẽ bị tuyên bố có tội, và sẽ bị tuyên án tù một thời gian đã thi hành và sẽ bị trục xuất nhanh chóng, nhưng như thế cũng đủ cho Quốc Hội tăng cường áp lực vào Tòa Nhà Trắng để liên kết vấn đề thương mại và viện trợ vào sự cải thiện nhân quyền.

Bà Linda Malone, giáo sư tại trường luật William and Mary, cố vấn cho luật sư bào chữa tại địa phương của Ông Quân, nói rằng: “Việt Nam sẽ gặp tai họa nếu họ kết án nặng nề một công dân Hoa Kỳ vì bênh vực nhân quyền một cách hòa bình. Họ sẽ thoái lui về những gì họ tìm cách tự thăng tiến.”

Source: Delay in US-Vietnam meeting a sign relationship is cooling as Hanoi cracks down on activists

Matthew Pennington

Washington Post, December 11, 2012

Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

Mỹ-Việt muốn tăng cường hợp tác quân sự

20.11.2012
Quân đội Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ bày tỏ ý muốn tăng cường hợp tác trong các lãnh vực cứu hộ, cứu nạn; quân y, khắc phục hậu quả chiến tranh; hợp tác an ninh hàng hải; sữa chữa tàu thuyền…

Bản tin hôm thứ ba của Tân Hoa Xã trích thuật tin tức báo chí Việt Nam cho biết ý muốn vừa kể được bày tỏ trong một thông cáo chung sau cuộc gặp gỡ tại Hà Nội giữa Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam và Trung tướng Thomas Conant, Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương.

Hai viên chức này cũng đồng ý với nhau là quân đội hai nước cần tăng cường trao đổi đoàn và chia sẻ kinh nghiệm để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác.

Chuyến viếng thăm Việt Nam của Trung tướng Conant được thực hiện vài ngày sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta tuyên bố Washington sẽ tăng cường hợp tác quân sự với các quốc gia Đông Nam Á.

Phát biểu tại Siem Reap hôm thứ sáu tuần trước, ông Panetta nói rằng sự tăng cường hợp tác này được thực hiện trong khuôn khổ của điều mà ông gọi là một sự chuyển đổi dài hạn của sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong vùng Á Châu Thái Bình Dương.

Các nhà phân tích cho rằng chiến lược “Trục xoáy Á Châu” của Washington mang lại một sự đối trọng chiến lược đối với ảnh hưởng kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong khu vực.

Nguồn: Xinhua, VnExpress

#9

alamit is offline Member

Join Date
20-04-2011
Posts
3,879

Vấn đề nhân quyền cản trở mối bang giao Việt-Mỹ
Nguyễn Quốc Khải gửi RFA
2012-12-17

Hoa Kỳ và Việt-Nam là cựu thù và cùng lo ngại về sự vươn lên của Trung Quốc. Vấn đề nhân quyền đang làm cho hai nước không trở thành thân thiện hơn.

Từ đàn áp bloggers…

Sự căng thẳng giữa hai nước rõ rệt làm trì hoãn phiên họp hàng năm về vấn đề nhân quyền. Những phiên họp tham khảo như vậy được tổ chức mỗi năm kể từ 2006, nhưng những lần họp cuối cùng vào tháng 11, 2011 đạt được ít kết quả, và một viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rằng hai bên còn đang tìm những “thông số” để cho phiên họp sắp đến có thể thành công.

Hoa Kỳ thất vọng về những vụ đàn áp gần đây tại Việt Nam chống lại những bloggers, những nhà hoạt động và những đoàn thể tôn giáo mà Việt Nam cho rằng có thể đe dọa đến việc duy trì quyền lực của họ và việc giam giữ một công dân Hoa Kỳ về tội lật đổ chánh phủ mà hình phạt có thể là tử hình.

Một viên chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói với điều kiện giấu tên vì không được phép tuyên bố công khai, rằng “Chúng tôi không thấy những tiến bộ mà chúng tôi mong muốn. Chúng tôi rất mong thấy những hành động cụ thể.”

Phiên họp sẽ được tổ chức tại Hà Nội có thể bị trì hoãn vài tuần lễ. Nhưng điều này nhấn mạnh một sự kiện là việc đối xử ngày càng tồi tệ đối với những nhà bất đồng chính kiến trong hơn hai năm qua đã làm cho những cố gắng của Việt Nam nhắm cải thiện mối quan hệ với Hoa Kỳ trở nên phức tạp.

Ông Lương Thanh Nghị, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói rằng những cuộc đối thoại về nhân quyền đã đóng góp vào việc tăng cường sự tin cậy giữa hai nước và hai bên hiện đang thảo luận về thời điểm cho vòng họp sắp đến. Phát ngôn nhân của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ cũng nói rằng hai quốc gia đang thảo luận khi nào sẽ họp.

Giống như Hoa Kỳ, Việt Nam muốn tăng cường những liên hệ thương mại và an ninh, nhưng Hoa Kỳ muốn điều này phải đi đôi với những cải tiến về nhân quyền. Một số nhà lập pháp Hoa Kỳ đang áp lực chính phủ Obama phải cứng rắn hơn về việc Hà Nội đàn áp những người bất đồng chính kiến và tự do tôn giáo.

Bang giao của Việt Nam với Hoa Kỳ đã cải tiến rất nhiều trong những năm qua, phần lớn vì hai nước cùng quan tâm về hành động gây gỗ và xâm lược của Trung Quốc trong vùng Đông Nam Á. Hai nước cùng chia sẻ quyền lợi chiến lược rõ rệt nhất trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ tại Biển Đông (South China Sea), nơi mà đòi hỏi về lãnh thổ của Bắc Kinh va chạm với đòi hỏi của Việt Nam và bốn quốc gia khác trong vùng.

Kể từ khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, Việt Nam mở rộng kinh tế nhưng không sẵn sàng ban hành tự do tôn giáo và chính trị cho 89 triệu dân. Hoa Kỳ và Việt Nam đã tái lập ngoại giao vào 1995, 20 năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt và hai nước đã tiến gần đến với nhau nhanh hơn kể từ khi Tổng Thống Barack Obama đặt ưu tiên về quan hệ với Đông Nam Á.

Việt Nam đàn áp những nhà bất đồng chính kiến sau khi nền kinh tế, một thời mạnh mẽ, trở nên suy thoái. Những nhà phân tách nói rằng giới lãnh đạo Hà Nội ở vào thế thủ đối với những chỉ trích ở trong nước về chính sách kinh tế, tham nhũng và tranh chấp nội bộ. Phần lớn những sự kiện này được phổ biến rộng rãi trên Internet mà chính quyền không thể kiểm soát được.

Trong năm vừa qua, Việt Nam bắt giam trên 30 nhà hoạt động bất bạo động, bloggers, và những người bất đồng chính kiến theo Human Rights Watch. Trong năm nay, 12 nhà hoạt động bị kết án trong những phiên tòa ngắn, thông thường là một ngày, và lãnh án tù nhiều năm một cách bất thường. Bẩy người khác chờ đợi ra tòa. Việt Nam cũng đang chuẩn bị luật để đàn áp thẳng tay tự do Internet.

Ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại Học New South Wales nói rằng “Những cuộc ẩu đả trong nội bộ đảng đã làm đảo lộn mọi thứ. Họ rối loạn tinh thần một cách hoang tưởng vì những chỉ trích và không quan tâm gì đến Hoa Kỳ.”

Việc bắt giữ và phiên tòa sắp đến của một nhà hoạt động dân chủ Mỹ Nguyễn Quốc Quân là một thí dụ rõ rệt nhất về việc Hà Nội không sẵn sàng đáp ứng đến những quan tâm của Hoa Kỳ về nhân quyền.

TS Quân, 59 tuổi, bị bắt giữ tại phi trường thành phố Hồ Chí Minh ngay khi mới đến bằng một chuyến bay từ Hoa Kỳ, nơi ông sanh sống kể từ khi ông trốn thoát ra khỏi Việt Nam bằng thuyền khi còn là một thanh niên. Gia đình và bạn bè của Ông Quân nói rằng ông là một thành viên lãnh đạo của Việt Tân, một đoàn thể vận động dân chủ bất bạo động mà chính quyền Việt Nam gán cho nhãn hiệu khủng bố. Ông đã bị tù sáu tháng tại Việt Nam vào 2007.

Chính quyền Việt Nam lúc đầu tố cáo Ông Quân là khủng bố, nhưng bây giờ ông bị buộc tội lật đổ nhà nước, với một hình phạt từ 12 năm tù đến tử hình. Với cuộc điều tra đã kết thúc, phiên xử sẽ sớm xẩy ra. Ngày ra tòa thường chỉ được thông báo vài ngày trước.

… đến kết tội một công dân Hoa Kỳ

Theo bản cáo trạng mà hãng tin Associated Press (AP) thu thập được, Ông Quân họp với những nhà hoạt động Việt Nam tại Thái Lan và Mã Lai trong khoảng thời gian 2009-2010 để bàn về an ninh Internet và chống đối bất bạo động. Bản cáo trạng nói ông tới Việt Nam với giấy thông hành mang tên Richard Nguyen vào năm 2011, khi ông tuyển mộ bốn thành viên cho Việt Tân.

Vợ ông Quân không phủ nhận rằng ông Quân muốn thay đổi hệ thống chính trị tại Việt Nam. Bà Hương Mai Ngô nói trong cuộc phỏng vấn của AP tại Sacramento bằng điện thoại: “Chồng tôi muốn nói chuyện với những người trẻ và đề cập đến ý kiến dân chủ tại Việt Nam. Chồng tôi sống tại Hoa Kỳ, ở đây chồng tôi có tự do và chồng tôi muốn họ cũng có tự do như vậy.”

Thành viên quốc hội của những vùng đông cử tri Mỹ gốc Việt đang gây áp lực với chính quyền Obama.

Dân biểu Frank Wolf, một người chỉ trích hàng đầu, bảo vệ ý kiến của ông rằng chính phủ Obama xem ra đã xao lãng vấn đề nhân quyền để tăng cường quan hệ kinh tế và an ninh. Với ba đồng nghiệp Cộng Hòa, vị dân biểu của tiểu bang Virginia đã đòi cách chức Đại Sứ David Shear, buộc tội ông đã không mời những nhà hoạt động cho dân chủ và nhân quyền tham sự buổi tiếp tân ăn mừng Ngày Độc Lập 4 tháng 7 tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội sau khi ông đã cam kết sẽ làm như vậy.

DB Wolf, người đã nhắm vào Đại Sứ Shear vì Ông Đại Sứ đã không viếng thăm TS Quân tại nhà giam, nói rằng “Đường lối của chánh quyền là một thảm họa. Tất cả những gì họ lo lắng là vấn đề kinh tế và quốc phòng. Nhân quyền và tự do tôn giáo cần phải là ưu tiên một.”

Viên chức Hoa Kỳ đã thăm viếng TS Quân năm lần, hầu hết gần đây trong cuối tháng 9.

Phát ngôn viên của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ Christopher Hodges nói: “Chúng tôi tin rằng không ai nên bị giam cầm vì bày tỏ lập trường chính trị của mình một cách hòa bình hay ước vọng của họ về một tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng hơn. Chúng tôi tiếp tục kêu gọi chánh phủ Việt Nam sẽ giải quyết trường hợp này một cách nhanh chóng và minh bạch.”

DB Wolf và những nhà lập pháp khác chú trọng về Việt Nam không có nhiều ảnh hưởng vào việc thiết lập chính sách. Nhưng những vị dân biểu này có thể làm gây trở ngại cho chánh quyền Obama. Ông Wolf ám chỉ rằng ông có thể đề nghị những tu chánh án về luật ngân sách để tạo áp lực với chánh quyền về chánh sách Việt Nam. DB Wolf là một thành viên cao cấp của Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, một ủy ban nhiều quyền lực trong coi về ngân sách liên bang.

Hoa Kỳ có một vài ảnh hưởng nếu muốn thử dùng để thúc đẩy Việt Nam cải tiến tình trạng nhân quyền: Việt Nam là một trong những nước nhận viện trợ của Hoa Kỳ nhiều nhất tại Á châu và hiện đang thương lượng về hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ và bẩy nước khác.

Chánh phủ Việt Nam từ chối không phê bình về việc kết tội Ông Quân, nhưng Hà Nội biết rõ về sự nhạy cảm của Hoa Kỳ trong trường hợp này. Nhiều nhà quan sát nói rằng TS Quân sẽ bị tuyên bố có tội, và sẽ bị tuyên án tù một thời gian đã thi hành và sẽ bị trục xuất nhanh chóng, nhưng như thế cũng đủ cho Quốc Hội tăng cường áp lực vào Tòa Nhà Trắng để liên kết vấn đề thương mại và viện trợ vào sự cải thiện nhân quyền.

Bà Linda Malone, giáo sư tại trường luật William and Mary, cố vấn cho luật sư bào chữa tại địa phương của Ông Quân, nói rằng: “Việt Nam sẽ gặp tai họa nếu họ kết án nặng nề một công dân Hoa Kỳ vì bênh vực nhân quyền một cách hòa bình. Họ sẽ thoái lui về những gì họ tìm cách tự thăng tiến.”

Source: Delay in US-Vietnam meeting a sign relationship is cooling as Hanoi cracks down on activists

Matthew Pennington

Washington Post, December 11, 2012

Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

►”Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý kiến của đọc giả về tác phẩm này…Do

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2012

Vì sao tôi viết?

Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm.

Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.

Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “20 năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: Phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.

Nhưng, hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ.

Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; Cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; Con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh… được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày[1], Thép Đã Tôi Thế Đấy[2]… Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.

Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kinh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam… Chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới.

Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong[3], một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc.

Cho dù, đã kiệt quệ sau 8 năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô, vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy…

Mùa Hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ như Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Huỳnh Thanh Diệu, Nguyễn Tuấn Khanh, Huy Đức… Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Cam Ly, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức Tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích.

Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Gần như không mấy ai để ý đến câu nói đó của Tuấn Khanh nhưng tôi thì cứ bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách.

Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975, cũng trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980s, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”[4], như “Z 30”[5] cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ chính trị cũng không được biết.

Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.

Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975. Ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế chính trị học và các nhà xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này.

Cuốn sách của tôi, đơn giản chỉ bắt đầu kể những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo; đánh tư sản; đổi tiền…

Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970s, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc.

Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, nói về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.

Tư liệu cho cuốn sách được thu thập trong hơn hai mươi năm và trong vòng ba năm (từ tháng 8-2009 đến tháng 8-2012) tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để viết. Bản thảo cuốn sách đã được gửi tới một số thân hữu và một số nhà sử học, trong đó có 5 nhà sử học hàng đầu của Mỹ chuyên nghiên cứu về Việt Nam. Sau khi sửa chữa, bổ sung, tháng 11-2012, bản thảo hoàn chỉnh đã được gửi đến một số nhà xuất bản trong nước, tuy nhiên, nó đã bị từ chối. Cho dù một số nhà xuất bản tiếng Việt có uy tín tại Mỹ và Pháp đồng ý in, như để lãnh trách nhiệm cá nhân và giữ cho cuốn sách một vị trí khách quan, tác giả quyết định tự mình đưa cuốn sách này đến tay bạn đọc.

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, chắc chắn sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng, bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc.

Sài Gòn – Boston (2009-2012)

Theo Osin Facebook

danchimviet.info (repost)

———————————————————————————

Trong cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, có đoạn nói về phóng viên Huỳnh Ngọc Chênh, tức Hồ Ly Tiênphỏng vấn: 

” Tại kỳ họp thứ tư của Quốc hội khoá IX, tháng 7/1994, phóng viên Huỳnh Ngọc Chênh của báo Thanh Niên phỏng vấn:

_ Thưa Chủ tịch có phải con của Bác Hồ?”.

Ông Nông Đức Mạnh lúng túng mấy giây rồi trả lời:

_ Người Việt Nam ta ai cũng là con cháu Bác Hồ cả.

Cho dù sau đó ông Mạnh rất tức giận nhưng đấy là câu trả lời thông minh nhất trong suốt cuộc đời làm chính trị của ông..”

———————————————————————————

Nghĩ từ bìa sách “Bên Thắng Cuộc”

Nguyễn Ngọc Già

Tác giả gửi tới Dân Luận

Tôi chưa được đọc “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức, nhưng bìa sách tạo cho tôi một cảm giác thật ấn tượng. Dù không biết đó là ý tưởng của Huy Đức hay của nhà thiết kế, phải công nhận đó là chi tiết đắt giá cho nội dung câu chuyện gồm 2 phần:Phần I: GIẢI PHÓNGPHẦN II: QUYỀN BÍNH.Hình ảnh bìa có vẻ khô khan nhưng đầy ý nhị của cái mà tôi cho rằng rất nhiều người đồng thuận: một trong những chiêu bài góp phần cho “Bên Thắng Cuộc” thành công đó là “tuyên truyền” như Paul Joseph Göbbels – Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã [1] đã thành công và được nhiều người đúc kết dành cho loại tuyên truyền được nâng lên đến tầm “nghệ thuật”: Sự thật là sự dối trá được lặp đi lặp lại nhiều lần.Bìa trước, nổi bật trên cái cột cũ kỹ cùng mấy sợi dây điện mắc ngang dọc là 2 cái loa chĩa về 2 hướng, cùng một chóa đèn…tối thui, không chút ánh sáng. Tất cả những công cụ đó đen đặc, tương phản với màu trắng sáng trang bìa. Sự tương phản, đối nghịch này làm tôi đặc biệt thích thú với ý tưởng trình bày, mà một số người đã đọc gọi là khá đầy đủ, trung thực về lịch sử Việt Nam kể từ 30/4/1975. Hình ảnh này gợi cho tôi về khái niệm “tuyên truyền mù lòa” như người có miệng, có tai nhưng bị bịt mắt không nhìn thấy bất kỳ sự việc lớn nhỏ nào, cùng các biến cố lịch sử của một thời điêu linh. Không những thế, nó làm cho tôi cảm nhận ngay cái dĩ vãng “trời tối đen như mực” đã ám ảnh hàng chục năm đối với người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung: “BÓNG TỐI VÀ NẠN ĐÓI”, phủ trùm trong thành phố “Hòn Ngọc Viễn Đông” của những năm đầu sau thành công của “Bên Thắng Cuộc”.Đối lại với bìa trước, bìa sau là gam màu đen thẫm với những dòng nhận xét, đánh giá bằng chữ trắng của những người nổi tiếng như: GS. Trần Hữu Dũng, Nhà văn Nguyên Ngọc, GS. Chu Hảo, Nhà báo Đinh Quang Anh Thái v.v… kéo người đọc về xem một bức tranh bằng 2 gam màu chủ đạo đại diện cho Thiện – Ác: TRẮNG – ĐEN.Bìa trước như tượng trưng cho hiện tại, bìa sau như tượng trưng cho quá khứ, đã tạo cho cuốn sách một mạch lịch sử trôi chảy, không đứt gãy, nhờ vào kinh nghiệm dày dạn cùng vị trí xã hội mà ít nhà báo nào có được, đã giúp tác giả trình bày, bóc tách và phơi ra những sự thật suốt gần 40 năm qua bị bẻ cong phần lớn.Gáy sách, tựa như chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, đã được chọn gam màu “Xanh Rêu” – một màu sắc đại diện cho những chủ đề thường được gọi là “phủ màu thời gian”, tạo cảm giác buồn hiu, ẩm ướt và trơn trợt. Tác giả như leo trên những vách đá gai góc với rêu phong phủ đầy bằng những sự kiện, những tư liệu hiếm để đưa người đọc tìm về lịch sử chân thật, nếu không cẩn thận có thể dẫn đến tai nạn bất ngờ được báo trước. Phải chăng là một ẩn ý chấp nhận những rủi ro, khi đứng ra tự chịu trách nhiệm đưa đến tay bạn đọc, sau khi nhà xuất bản trong nước từ chối???Điều thú vị không kém, tựa đề “Bên Thắng Cuộc” cũng được sử dụng gam màu “Xanh Rêu” ấy. Một “chiến thắng” dựa trên nền tảng ẩm ướt và trơn trợt như “bẫy rập”, liệu có là một thắng lợi bền vững trường tồn dựa trên một sự thật bị bưng bít và bóp méo lâu nay? Kỷ niệm như rêu, Huy Đức đang níu vào và cố tránh trượt ngã bằng tấm lòng của một nhà báo thuộc về nhân dân?Ngay đây, nảy ra trong óc tôi khẩu hiệu “Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm”, nó bỗng trở nên thật khôi hài trong tình hình nguy khốn Việt Nam hiện nay!Chỉ từ cái bìa trước, bìa sau, gáy sách và dòng chữ “BÊN THẮNG CUỘC” với sự chọn lọc màu sắc tinh tế cùng hình tượng 2 cái loa và chóa đèn tối thui, người thiết kế đã chạm đến chân lý “Chân – Thiện – Mỹ”. Bên cạnh đó, thông qua bìa sách, người đọc cảm được tính trách nhiệm rất cao và cả lòng trìu mến, chăm chút cho đứa con tinh thần đầu tay qua hàng ngàn trang viết.Với 3 gam màu: trắng, đen, xanh rêu, tác giả đã ngay lập tức tạo được dấu ấn cho người đọc về một giai đoạn lịch sử đầy tranh cãi, tao loạn thời hậu chiến với việc tranh đoạt quyền bính trong nội bộ người CSVN, trong khi người dân Việt trở thành “chuột thí nghiệm” liên miên hết từ chính sách này đến ý tưởng nọ, suốt gần 40 năm qua.Một bìa sách cho nội dung lịch sử & chính trị – xã hội vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ cao về nghệ thuật thiết kế!Nhiều người cũng thắc mắc, tại sao tác giả không đặt tựa là “Bên Thắng Trận”, “Bên Chiến Thắng”(?) Có lẽ mỗi người tự tìm trong tác phẩm thì… tốt hơn?! Bởi như Huy Đức trần tình, viết không chỉ cho “bên thắng cuộc” mà anh “mong mỏi đi tìm sự thật” [2].Chỉ từ tóm tắt qua trang anhbasam [3], những cụm từ: “đổi tiền”, “vượt biên”, “kinh tế mới”, “đánh tư sản”, “nạn kiều”, “xé rào”, “ngăn sông cấm chợ”, “tem phiếu”, “sổ gạo”, “chầu chực”, “xếp hàng cả ngày” v.v… ngỡ đã chìm vào quên lãng bỗng chốc ùa về tràn ngập lòng tôi như nó mới vừa diễn ra.Tôi rùng mình nhớ lại… ngày xưa!Ngoài “Bên Thắng Cuộc”, nhất định phải có “Bên Thua Cuộc”. “Cuộc” nào đây? “Cuộc cờ người” hay “cuộc đời”, “cuộc chiến”? Quả nhiều ý nghĩa miên man và lan man trong óc những ai quan tâm về lịch sử Việt Nam! Dù là “cuộc” nào đi nữa, khi chiến cuộc đi qua, trên những vùng đất khô cằn sỏi đá, lật xác quân thù, người ta chỉ thấy: NGƯỜI VIỆT NAM, dù dưới sắc áo “lính cải tạo” hay chiếc áo thường dân! Và…Máu!!! Và… Nước Mắt!!! Của đồng bào Việt Nam!Cần lắm, những tiếng nói khách quan, duy lý khác từ “Bên Thắng Cuộc” cho đến “Bên Thua Cuộc”, đặc biệt từ những người đã sống và chịu đọa đày như Nhà văn Phan Nhật Nam [4] – một trong những người thuộc “Bên Thua Cuộc” nổi tiếng với tác phẩm “Mùa Hè Đỏ Lửa”, không những thế, điều quan trọng hơn, ông đã “tồn tại” 18 năm (1975 – 1993) như nhân chứng sống, trước khi tị nạn tại Mỹ. Sự lên tiếng ở đây, không phải để khơi gợi hận thù mà cần làm rõ lịch sử như là trách nhiệm cá nhân ông, như Huy Đức viết:“Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm” [2]Hy vọng, “Bên Thắng Cuộc” sẽ trở thành “best seller” nhanh chóng trên thế giới.Chúc mừng nhà báo Huy Đức và cám ơn anh với tác phẩm đầu tay này.Nguyễn Ngọc Già
_______________p/s: xin đừng hỏi tôi thuộc “bên nào”, bởi thật sự tôi cũng chẳng biết tôi là “bên nào”, ngoài định nghĩa của cá nhân tôi – bên Năm [5]

http://vi.wikipedia.org/wiki/Paul_Joseph_G%C3%B6bbels#V.C3.A0i_v.E1.BB.A5_vi.E1.BB.87c_tuy.C3.AAn_truy.E1.BB.81n_n.E1.BB.95i_b.E1.BA.ADt_kh.C3.A1c [1]

http://danluan.org/tin-tuc/20121206/osin-huy-duc-vi-sao-toi-viet [2]

https://anhbasam.wordpress.com/2012/12/10/tom-tat-noi-dung-sach-ben-thang-cuoc/#more-84960 [3]

http://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Nh%E1%BA%ADt_Nam [4]

http://danluan.org/tin-tuc/20100421/nguyen-ngoc-viet-ve-ngay-30-thang-4 [5]

“…Xin giới thiệu luôn người thiết kế bìa và trình bày quyển sách:Phùng Văn Vinh và Trần Minh Triết.”  (Đỗ Chí Việt)

nguon: danluan.org

—————————————————–

Bên Thắng Cuộc

Mặc Lâm/RFA

“Bên thắng cuộc” là cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nuớc. Quyển sách được viết bởi nhà báo Huy Đức, người nổi tiếng với trang blog Osin với những bài chính luận độc đáo có số người đọc rất cao.

Amazon phát hành chính thức

Sau ba năm mài miệt, “Bên thắng cuộc” chính thức ra đời vào ngày 12 tháng 12 vừa qua với hai cách: sách in do chính tác giả xuất bản và sách điện tử do Amazon phát hành dưới hình thức Kindle.

Có lẽ đây là lần đầu tiên một nhà văn Việt Nam có lượng sách bán trên hệ thống Amazon qua hình thức sách điện tử. Sự đột phá này có ý nghĩa quan trọng cho những ngòi viết đang bị cho là có vấn đề tại Việt Nam, từ nay họ có thể lập ra kế hoạch cho cuốn sách sắp tới phát hành một cách rộng khắp nhưng lại không hề bị lưỡi kéo kiểm duyệt gây rắc rối. Huy Đức là nguời đầu tiên và chắc chắn không phải là cuối cùng tận dụng lợi thế khoa học kỹ thuật này.

“Bên thắng cuộc” vừa ra đời một ngày đã tạo tiếng vang lớn khi nhiều tiếng nói uy tín giới thiệu nó một cách trân trọng, trong đó có bài viết của Giáo sư Trần Hữu Dũng, hiện giảng dạy tại đại học Wright thuộc tiểu bang Ohio Hoa Kỳ. GS Dũng cũng là chủ website Viet-Studies có luợng người vào xem rất lớn. Chia sẻ với chúng tôi về cuốn sách ông cho biết:

“Tôi thấy cuốn sách có rất nhiều chi tiết và thông tin nào cũng hay cả! Nhưng nếu đưa cho người khác đọc thì có thể họ lại cho rằng cuốn sách này không phân tích tổng quan nên những học giả hàn lâm họ sẽ chê cuốn sách chỗ đó. Đối với tôi thì chuyện ấy sau này Huy Đức có thể làm được, viết một cuốn sách riêng để phân tích những sự kiện nào đáng nhất.

Có nhiều anh em cũng cho rằng Huy Đức nên viết lại, chia các chi tiết ra thì cuốn sách sẽ hay hơn. Nhưng muốn làm như vậy thì phải nhiều năm nữa mà Huy Đức không có thời gian. Cuốn sách phải ra liền không thể trễ hơn nữa. Hãy xem cuốn sách này như một nguồn tài liệu vì vậy nó rất tốt chứ không phải một cuốn viết về sử theo như cách hàn lâm.

Có một điều rất hay, đó là tôi hỏi Huy Đức, khi Huy Đức phỏng vấn những người trong cuốn sách này thì họ có biết rằng Huy Đức viết sách hay không? Huy Đức nói là biết! Thành ra tôi không hiểu tại sao mà họ tin cẩn Huy Đức để mà nói những điều như vậy trong khi biết rằng Huy Đức dùng những lời nói của họ để viết sách? Huy Đức rất cẩn thận và đức tính này rất hay.”

Ba muơi tháng tư
“Bên thắng cuộc” có thể nói là một cẩm nang cho những ai muốn biết về các sự kiện xảy ra tại Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 tới nay. Tác giả đã bỏ công hàng chục năm để phỏng vấn hàng trăm người trong cuộc. Tác giả cũng sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn trong đó chủ yếu là các hồi ký của những người có dính đến cuộc chiến tranh Việt Nam hay tham gia vào guồng máy chính trị của chế độ hiện nay.

Điều quan trọng nhất mà Huy Đức có được nhưng nhiều nhà báo khác không có đó là vào năm 2005-2006 anh được sang Mỹ du học tại tiểu bang Maryland và phỏng vấn hàng trăm người khác để kết nối với những điều anh đã thu thập từ trong nước.

Lượng thông tin kếch xù này được Huy Đức xử lý một cách khôn ngoan qua bút pháp chừng mực, dẫn người đọc tới cánh cửa bí ẩn mà người ta tin rằng trong thế giới cộng sản khó có người thứ hai làm được như anh.

Huy Đức không phải là một nhà viết sử vì vậy “Bên thắng cuộc” không thể là một cuốn sách lịch sử theo lối hàn lâm. Mặc dù vậy nó vẫn có thể dùng vào việc tra cứu sự kiện lịch sử xảy ra trong nhiều năm nhất là giai đoạn sau ngày 30 tháng 4. Mức độ chính xác và khả tín của “Bên thắng cuộc” có thể làm người sử dụng nó yên tâm vì nhân chứng hầu hết đều còn sống và họ sẵn sàng chịu trách nhiệm những gì họ cung cấp.

Bắt đầu bằng chương 30 tháng 4, Huy Đức lần luợt mang ra ánh sáng những câu trả lời về trại cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền, rồi vượt biên, nạn kiều cũng như các cuộc chiến tranh khác sau năm 1975. Những góc cạnh Huy Đức đưa ra so với kinh nghiệm của hàng triệu người từng sống và chịu sự dày xéo, sai lầm của chế độ vẫn còn nguyên những yếu tố hấp dẫn bởi anh đào sâu chi tiết từng mảng đời, hoàn cảnh như một tác phẩm văn chương để từ đó người đọc cảm thấy như đọc lại chính mình.

Bên cạnh các vấn đề kinh tế chính trị, Huy Đức khéo léo lồng vào những mối tình có thật, bị chà đạp, ngăn trở do ý thức hệ hay lý lịch khiến “Bên thắng cuộc” trở nên đa dạng và sống động hơn rất nhiều so với loại sách khô khan chỉ viết và bình về các biến cố lịch sử.

Quen biết nhiều quan chức cao cấp của chính phủ qua những lần tác nghiệp cộng với mối xã giao rất rộng khiến Huy Đức có cái nhìn bao quát xã hội và anh mang hơi thở đậm đặc mồ hôi ấy vào tác phẩm khiến những biến cố lớn đều có chất người, chất thời sự báo chí qua từng trang viết của anh.

Tự sát hay Tuẫn tiết?

Huy Đức tập hợp dữ kiện và phân phối chúng một cách thông minh khiến người đọc không có thời gian bỏ cuốn sách xuống để làm việc gì khác. Bên cạnh đó, điểm Huy Đức thuyết phục người đọc nhất là tâm thức nhân bản của anh.

Người ta không lạ gì các bài viết mang tính “lịch sử” lại chỉ kể về những thất bại của đối phương và xem những người lính phía bên kia là kẻ thù, kể cả khi họ đã buông vũ khí để trở về với làng mạc, đồng lúa Việt Nam. Sự quen thuộc ấy không được lập lại trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức nhìn người lính cả hai bên trước nhất là những con người, mọi dị biệt về tính tình hay cách ứng xử đều thuộc về cá nhân để từ đó anh thật sự sống cùng và nghiền ngẫm từng trường hợp xảy ra để viết.

Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết.

Những người chấp nhận kết liễu đời mình như thế chỉ có thể dùng hai chữ “tuẫn tiết” chứ không thể có từ nào hay hơn.

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: “Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó”.

Trong “Bên thắng cuộc” người đọc tại Việt Nam, nhất là những bạn trẻ sẽ phát hiện ra nhiều nhân vật đang sống chung quanh mình đã và đang đi vào lịch sử, mặc dù không chắc hình ảnh của họ là sáng hay tối.

Ông Hồ Ngọc Nhuận là một trong những người như thế.

Những khuôn mặt lịch sử

Huy Đức kề lại cuộc trao đổi giữa dân biểu Hồ Ngọc Nhuận và Đại tướng Dương Văn Minh trước giờ Sài Gòn thất thủ. Câu chuyện có thể do chính ông Nhuận kể lại bởi ông thuộc thành phần thứ ba, vẫn sống và mới đây xuất hiện tại Sài gòn lên tiếng trong việc biểu tình chống Trung Quốc.

Hình ảnh ông Hồ Ngọc Nhuận sống động trên các trang mạng khiến câu chuyện của Huy Đức kể đậm đặc thêm tính thời sự. Nó rất khác với những trang sử cố vẽ lại sự kiện nhưng thiếu người ngồi mẫu. Câu chuyện của Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Đặng Đình Đầu, Huỳnh Bá Thành cùng hàng trăm người khác đã làm cho cuốn sách có lực hút của một hành tinh.
Một nhân vật khác nổi bật lên trong Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng bí thư Lê Duẩn. Huy Đức đã lặn lội không biết bao nhiêu cây số để theo dõi từng bước chân của ông từ Nam ra Bắc cũng như các nước cộng sản anh em. Mỗi một sự kiện, Huy Đức tìm đến một nguồn khả tín để mang ra công luận những gì chưa biết hay chưa trọn vẹn về nhân vật này.

Theo Huy Đức thì Lê Duẩn rất ghét Trung Quốc. Các vụ đi đêm với Mỹ đã khiến ông này nổi giận và trở nên gay gắt thẳng thừng với Chu Ân Lai, trách móc họ Chu đã phản bội Việt Nam. Lê Duẩn cũng là người có đôi tai tình báo thính như tai thợ săn trong đêm tối. Ông từng nói với vợ là Hoa Kỳ hứa với Trung Quốc sẽ không động tĩnh gì nếu Bắc Kinh tấn công Hoàng Sa, khi ấy còn trong sự kiểm soát của chính phủ Sài Gòn.

Vậy mà Lê Duẩn vẫn không thoát nỗi cái bẫy mềm mại của Trung Quốc, đó là những đồng tiền viện trợ đánh Mỹ nhiều đến nỗi sau khi chiến thắng vẫn còn lại 50 triệu Mỹ kim trong két của B29 và 51 triệu Mỹ kim khác của chiến trường B2 và Khu 5 vẫn chưa xài tới.

Nếu câu chuyện của Tổng bí thư Lê Duẩn là thâm cung bí sử thì Công hàm ngoại giao năm 1958 do Phạm Văn Đồng ký phải thuộc trách nhiệm của nhiều người, trong đó có ông Hồ Chí Minh và Ban Bí thư Trung ương Đảng. Trách nhiệm này không thể quy cho một mình Thủ tướng Đồng khi bên cạnh ông còn quá nhiều người có khả năng lũng đoạn một người hay một nhóm.

Phương án II

Trong chương Nạn kiều, Huy Đức góp phần bạch hóa câu chuyện tổ chức cho Hoa kiều vượt biên để gom vàng của nhà nước. Dẫn lời ông Nguyễn Đăng Trừng, phó Phòng chống phản động bành trướng bá quyền, Phương án II là tên gọi của tổ chức cho Hoa Kiều Vượt biên nhằm đưa “đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng là người Hoa, điểm nóng là cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc gần kề. Biết bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra trong cái gọi là Phương án II này. Huy Đức ghi lại hoàn cảnh của các nạn nhân Hoa lẫn Việt qua các câu chuyện có thực của người kể.

“Bên thắng cuộc” ghi lại: “Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”.

Gấp cuốn sách lại là một chương khác mở ra trong lòng người đọc: một thời kỳ biến động của đất nước đã khuấy động sự trầm lắng mà nhiều người muốn quên sau hơn bốn muơi năm nhọc nhằn, thao thức cùng dân tộc. Huy Đức đã đốt lên ngọn lửa trong đêm dài để soi rọi những mất mát thực sự của đất nước, con người. Đọc “Bên thắng cuộc” để biết rằng từng có những mảnh đời như thế. Họ bị bạc đãi, bị vùi dập và tâm hồn họ rách rưới tả tơi ngay cả khi được sống và định cư ở nước ngoài.

Trong lời nói đầu, Huy Đức chia sẻ:

“Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ kể lại những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, và về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật.”

Vì khao khát tìm kiếm sự thật nên “Bên thắng cuộc” không thể xuất hiện công khai tại Việt Nam. Thực tế cho thấy nó đang lưu lạc trên khắp thế giới tới nơi nào có người anh em của nó. “Bên thắng cuộc” sẽ mãi mãi đứng ngoài mảnh đất mà nó yêu thương để mỗi đêm thủ thỉ bên tai người đọc những câu chuyện đắng lòng về một đất nuớc liên tục gặp bi kịch trong các cuộc chiến mà căn cước kẻ chiến thắng vẫn rất mù mờ.

Có một điều chắc chắn rằng mặc dù Việt Nam có rất nhiều giải thưởng được cho là cao quý để trao tặng những cuốn sách độc đáo, thế nhưng không giải thuởng nào đủ giá trị để trao cho “Bên thắng cuộc”.

Vì nó quá lớn.

Và chứa đầy máu cũng như nước mắt của toàn dân tộc.

Nguồn: RFA

_____________________________________________

Trich

    “Ở Sài Gòn, 443.360 người ra trình diện, trong đó có hai mươi tám viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sỹ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát, 1.932 nhân viên tình báo các loại, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9.306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4.162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sỹ quan cấp tá.”
—————————————————
“Cũng trong ngày hôm ấy, lệnh học tập cải tạo được thông báo đến các sỹ quan theo đó, “sỹ quan quân đội Nguỵ, cảnh sát, tình báo biệt phái từ thiếu uý đến đại uý” được hướng dẫn: “Phải mang giấy bút, quần áo, mùng màn, các vật dụng cá nhân, lương thực, thực phẩm [bằng tiền hoặc hiện vật] đủ dùng trong mười ngày kể từ ngày đến tập trung”. “Sỹ quan cấp tướng, tá”, được hướng dẫn mang theo “thực phẩm, lương thực đủ dùng trong một tháng”.”
—————————————————
“Không ai biết rằng, từ ngày 18-4-1975, Chỉ thị 218/CT-TW của Ban Bí thư đã quy định: “Đối với sỹ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau này tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sỹ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau này tuỳ theo yêu cầu của ta và tuỳ theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo an ninh quân đội, sỹ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sỹ quan hay sỹ quan đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ”51.”
—————————————————
“Việc đưa vào tù hàng trăm nghìn con người đã buông súng hoặc không hề cầm súng, không bằng một bản án của tòa, sau ngày 30-4-1975, và đặc biệt, câu chuyện đưa 1.652 con người trên tàu Việt Nam Thương Tín vào tù được kể lại sau đây, thật khó để nói là may mắn.”
—————————————————
“Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7.000 con gà, thu hoạch 4.000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức. Một nhà tư sản đang nằm viện bị yêu cầu kiểm tra xem ốm thật hay cáo bệnh, trong khi đó con trai ông ta bị bắt để buộc phải khai ra nơi cất giấu tiền, vàng. Do tin tức bị lọt ra, một số nhà tư sản đã kịp cao chạy xa bay, có người bị bắt khi đang chuẩn bị trốn.”
“Ông Mai Chí Thọ tuyên bố: “Một tên tư sản Hoa có thể có từ 500 đến 1 ngàn lượng vàng. Qua chiếm lĩnh và khai thác ta mới hỏi sơ chứ chưa lục xét, chưa truy sâu nên có thu được vàng và ngoại tệ, nhưng so với số chúng đã có thì chưa bao nhiêu. Vì vậy, các đoàn cần đi sâu lục soát hơn nữa trong nhà chúng để truy vàng bạc và ngoại tệ. Phải dựa vào quần chúng, người làm công ở mướn phát động họ để phát hiện nơi giấu cất”. Một tuần trước khi Chiến dịch X-2 diễn ra, do vật giá tăng quá cao, chính quyền đã “đánh” một số đối tượng bị quy là lũng đoạn thị trường, nhất là thị trường bột ngọt121.”
—————————————————
“Trước Chiến dịch X-2, chính quyền đã “bắt chín mươi hai tên tư sản mại bản đầu sỏ, đã mời ra làm việc bốn mươi bảy người. Đã có ba bỏ trốn và một tự sát”140. Những gì mà Cách mạng lấy được của “nhà giàu” trên toàn miền Nam được liệt kê: “Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hoá chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt”141.”
—————————————————
“Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị “đánh” ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ “tư sản thương nghiệp”, 13.923 hộ “trung thương”. Những tháng sau đó có thêm 835 “con phe”, 3.300 “tiểu thương ba ngành hàng”, 4.600 “tiểu thương và trung thương chợ trời” bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.”
—————————————————
Cải cách ruộng đất II xảy ra ở miền Nam:
Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Lúc đầu, tôi cũng cứ tưởng cải tạo tư sản sẽ khác với cải cách ruộng đất, một sai lầm mà những người ở miền Nam chúng tôi nhắc nhau phải tránh. Nhưng, tiến hành rồi mới thấy, cách cải tạo tư sản thương nghiệp mà anh Đỗ Mười làm, cũng không khác gì đánh tư sản mại bản nhưng tràn lan hơn. Anh Đỗ Mười làm cải tạo cũng thành thật lắm. Giữa thập niên 1980, khi tôi ra Hà Nội vẫn thấy anh Đỗ Mười kêu những người buôn bán là bọn con buôn”.  (danluan.org)

Trần Hoàng sưu tập và ghi chú ...

DMC Building:  Tòa nhà có tên là DMC (Đỗ Mười Center) mới xây dựng ở Hà Nội, nằm ở Phố Kim Mã, cạnh công viên hồ Thủy Lệ và hồ Ngọc Khánh, do con rễ của Đỗ Mười đứng tên. ĐM đã cướp được miếng đất này để xây dựng DMC. Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn, Văn Tiến Dũng,… cũng được chia phần chiếm các biệt thự đẹp nhất ở Hà Nội vào năm 1954 trong số hơn 1200 các biệt thự của tư nhân hoặc là công thự. Tố Hữu cũng được cấp 1 căn và đã bán lại với giá hơn 10 triệu đô la năm 2007.)

Đỗ Mười  đã từng làm trưởng ban đánh tư sản khi “tiếp thu” Hà Nội năm 1954, nên khi chiếm được miền Nam, Đỗ Mười được đảng giao nhiệm vụ đánh tư sản vì là người có “kinh nghiệm” ăn cướp của của các nhà tư sản Hà Nội thời 1954-1955.

 

DMC building = DM Center=  Đỗ Mười Center.  (Con rễ đứng tên)

“Tọa lạc trên phố Kim Mã, tuyến phố thương mại lớn quận Ba Đình- trung tâm mới của thủ đô, DMC lake view building đứng duyên dáng soi mình bên công viên hồ Thủy Lệ và hồ Ngọc Khánh. Cách sân bay quốc tế Nội Bài 25 phút đi xe; 15 phút đến Hồ Gươm, quảng trường Ba Đình và sát kề chỉ với 3-5 phút đi bộ tới khách sạn Daewoo, trường học quốc tế, các đại sứ quán, DMC lake view building được đánh giá là nơi  “địa lợi” xét về cả yếu tố kinh tế, thương mại, chính trị lẫn yếu tố về phong thủy học.

Đến với tòa nhà tráng lệ 18 tầng DMC Lake View building, quý khách không những được hưởng không gian sống, không gian làm việc lý tưởng mà còn được hưởng dịch vụ hoàn hảo tiêu chuẩn quốc tế của một tòa nhà sang trọng nhất : khu văn phòng hiện đại và khu căn hộ cao cấp.

DMC Lake View building có 48 căn hộ các loại, bố trí bắt đầu từ tầng 9 đến tầng 16 mang lại nhiều sự lựa chọn cho một không gian sống hiện đại : từ căn hộ 1 phòng ngủ ( 66 m2); căn hộ 2 phòng ngủ (99-120 m2); căn hộ 3 phòng ngủ ( 134-240 m2) . Đứng duyên dáng bên công viên hồ Thủy Lệ và hồ Ngọc Khánh, tất cả các căn hộ của DMC Lake View building đếu có tầm nhìn ra hồ công viên và hưởng luồng sinh khí trong lành.

Khu văn phòng hiện đại với tổng diện tích 6200 m2 phân bổ trên năm tầng ( từ tầng 1 đến tầng 8) được trang hoàng với kiến trúc tinh tế tới từng chi tiết đi đôi cùng hạ tầng viễn thông hiện đại đảm bảo cho sự vận hành linh hoạt, hiệu quả và cơ hội tiếp cận toàn cầu cho các doanh nghiệp.

Sảnh tiếp đón và hành lang riêng biệt giữa khối căn hộ và khối văn phòng với hệ thống bảo vệ 24/24, đảm bảo  sự an toàn tối đa cho công việc và cuộc sống của quý khách. Hệ thống viễn thông, internet băng thông rộng, truyền hình cáp hoặc vệ tinh đảm bảo sự tiện dụng, sang trọng.

 

Hệ thống điều hòa Hệ thống điều hòa trung tâm sử dụng công nghệ biến tần (VRV) tối tân được thiết kế chi tiết tới từng văn phòng, căn hộ phù hợp với mật độ 8m2/người, được tính toán kỹ lưỡng tới khả năng làm lạnh và tính kinh tế sao cho tối đa hóa hiệu quả, tối thiểu hóa chi phí sử dụng điện.

Hệ thống thang máy 3 thang máy tốc độ cao 2m/s bao gồm 02 tháng máy Mitsubishi 800 kg với sức chứa 15 -20 người (cửa đôi) và 01 thang máy 1050 kg (có thể trở được băng ca) đáp ứng nhu cầu di chuyển nhanh và thuận tiện nhất cho cư dân.

Kỹ thuật

– Hệ thống cửa nhựa cao cấp 2 lớp kính Eurowindow có khả
năng  cách âm tuyệt đối.
– Hệ thống tường, trần chịu lửa đi đôi với hệ thống PCCC tối tân; lớp vật liệu cách âm, cách nhiệt  đảm bảo không gian làm việc và không gian sống hoàn toàn độc lập, yên tĩnh.
-Toàn bộ thiết bị vệ sinh được lắp đặt bằng với sản phẩm American Standard đem lại sự sang trọng và tiện dụng từ những nhu cầu nhỏ nhất.

Hệ thống điện

– Điện được cung cấp từ lưới điện quốc gia. Trạm biến áp công suất 1600 KVA.
– Điện dự phòng:

Trong trường hợp bị mất điện lưới quốc gia, hệ thống điện dự phòng (2 máy phát điện dự phòng công suất 1500 KVA) sẽ hoạt động ngay lập tức, đảm bảo hệ thống an ninh và các tiện ích thiết yếu không bị ảnh hưởng.

Hệ thống nước

Sử dụng hệ thống cấp, thoát nước của thành phố. Toà nhà luôn đảm bảo việc sử dụng nước được đầy đủ thông qua hệ thống bể nước ngầm 150 m3 và bể nước trên mái 100m3

Hệ thống bảo vệ

– Làm việc tại toà nhà, khách hàng sẽ hoàn toàn yên tâm bởi dịch vụ an ninh bảo vê 24/24. Bên cạnh đội ngũ nhân viên nghiệp vụ cao và nhiệt tình được quản lý bởi công ty bảo vệ chuyên nghiệp, toà nhà còn được tăng thêm khả năng an toàn bởi các thiết bị camera quan sát được lắp đặt tại mỗi hành lang, sảnh, thang máy …trên các tầng.
– Các thiết bị báo cháy, báo khói và chữa cháy được lắp đặt chi tiết tới từng văn phòng.

Bãi đậu xe

Bãi đậu xe rộng  có sức chứa 60 xe ôtô và 800 xe máy sẽ tạo sức hút đáng kể về dịch vụ hỗ trợ cao cấp cho các khách hàng, cư dân và nhân viên công sở tại tòa nhà

Hệ thống dịch vụ

Ngoài hệ thống dịch vụ tiêu chuẩn như: dịch vụ quản lý toà nhà được cung cấp bởi công ty quản lý chuyên nghiệp, bảo vệ, lễ tân … toà nhà còn cung cấp các dịch vụ gia tăng với chi phí hợp lý như sau:

– Fax/photocopying
– Dịch vụ đổi vé máy bay/tầu hoả/xe bus( nếu có yêu cầu)
– Dịch vụ đổi tiền
– Dịch vụ thư ký
– Dịch vụ thuê xe
– Dịch vụ phiên dịch
– Dịch vụ cung cấp tạp chí, báo
– Dịch vụ bưu điện
– Dịch vụ internet tốc độ cao

Đặc biệt đối với khách hàng thuê căn hộ cao cấp với thời hạn trên 12 thang thì sẽ được tặng

– Thể dục thẩm mỹ
– Tắm xông hơi
– Mát xa truyền thống
– Chơi quần vợt

**********

Công Ty Cổ Phần Bất Động Sản Quý Hạnh

Địa chỉ: 165 Bà Triệu – Hai Bà Trưng – Hà Nội

Điện thoại: 043.974.7165 – Fax: 043.974.7163

Email: info@quyhanh.vn

http://www.quyhanh.vn/du-an/cao-oc-van-phong/318-dmc-lake-view-building

—————————————————-

“Trong cuốn BTC , khúc đầu ( không rõ là trang mấy vì đọc trên Kindle không có số trang ) có kể về 1 vị Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lôi Hổ phụ trách phòng thủ Bộ Tổng tham mưu , điên, thoại cho Dương Văn Minh hỏi về lời kêu gọi buông súng đầu hàng . Tác giả không nêu tên nhưng đó là Thiếu tá Phạm Châu Tài.”

Bộ Tổng Tham Mưu QL.VNCH, những giờ cuối cùng

Trong khi các đơn vị VNCH đang nỗ lực đẩy lùi Cộng quân ra khỏi Bộ Tổng Tham mưu, thì vào 10 giờ 15 phút (theo ghi nhận của cựu đại tá Phạm Bá Hoa, nguyên Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp Vận, có mặt tại Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô sáng 30/4/1975 và nghe đài Sài Gòn vào giờ phút đó), Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngưng chiến. Trước đó vài phút, chiến đoàn Biệt Cách Nhảy Dù đang tung các đợt phản công để đánh bật địch quanh vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.

Khi nhận được lệnh ngưng bắn, Thiếu tá Phạm Châu Tài, chiến đoàn trưởng Biệt Cách Nhảy Dù đã lấy xe jeep vào Bộ Tổng Tham Mưu, ông được anh em binh sĩ gác cổng cho biết là Trung tướng Vĩnh Lộc, Tân Tổng Tham mưu trưởng, đã ra đi lúc 6 giờ sáng, tất cả tướng lãnh và các đại tá đã họp với Thiếu tá Tài về kế hoạch phòng thủ Tổng hành dinh Bộ Tổng Tham mưu trong đêm 29/4/1975, cũng không còn ai.

Trước tình hình đó, Thiếu tá Tài đã bốc điện thoại quay số gọi về văn phòng Tổng Tổng phủ, gặp Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh ở đầu giây. Ông Hạnh hỏi Thiếu tá Tài là ai? Vị chiến đoàn trưởng đã trả lời:
– “Tôi là chiến đoàn trưởng Biệt cách Nhảy Dù đang trách nhiệm bảo vệ bộ Tổng tham mưu, tôi xin được gặp Tổng thống”.

Vài giây sau, thiếu tá Tài nghe tiến ông Dương Văn Minh nói ở đầu máy:
– “Đại tướng Dương Văn Minh nghe đây, có chuyện gì đó?”

Thiếu tá Tài trình bày:
– “Tôi đang chỉ huy cánh quân tử chiến với Cộng quân ở Bộ Tổng Tham mưu thì có lệnh ngưng bắn, nhưng Cộng quân vẫn tiến vào, tôi đã liên lạc với bộ Tổng Tham mưu nhưng không có ai, nên muốn nói chuyện với Tổng thống là Tổng Tư lệnh Tối cao của Quân đội để xin quyết định.

Tướng Minh trả lời:
– “Các em chuẩn bị bàn giao đi!”,

Thiếu tá Tài ngạc nhiên hỏi lại:
– “Bàn giao là như thế nào thưa đại tướng, có phải là đầu hàng không?”

Tướng Minh đáp:
– “Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập”.

Nghe Tướng Minh cho biết như vậy, Thiếu tá Tài nói ngay:
– “Nếu xe tăng Việt Cộng tiến vào dinh Độc Lập, chúng tôi sẽ đến cứu Tổng thống”.

Tướng Minh suy nghĩ, Thiếu tá Tài nói tiếp:
– “Tổng thống phải chịu trách nhiệm trước 2 ngàn cảm tử quân đang tử chiến với Cộng quân ở Bộ Tổng Tham mưu.”

Tướng Minh trả lời:
– “Tùy các anh em”.

Theo lời Thiếu tài Tài, sau này, khi bị CQ giam trong trại tù, ông đã gặp Trung tá Võ Ngọc Lan, Liên đoàn trưởng Liên đoàn phòng vệ Tổng thống phủ. Trung tá Lan nói với Thiếu tá Tài:
– Lúc đó, moa đứng cạnh Tướng Minh, moa nghe toa nói vào cứu Tổng thống.

Thiếu tá Tài giải thích:
– Tổng thống là vị lãnh đạo tối cao của Quân lực, phải cứu ông ra để có người chỉ huy quân đội.

VƯƠNG HỒNG ANH

http://ongvove.wordpress.com/2010/04…ung/#more-3243

Trich

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=22200&page=2

————————————————————-

Lê Kiên Thành – Lê Duẫn –

http://nhavantphcm.com.vn/hoat-dong-hoi/tu-lieu-van-hoc/ts-le-kien-thanh-tran-tro-van-menh-dan-toc.html

Lê Kiên Thành nói về bố Lê Duẫn như một người chí công vô tư, không bòn rút tài sản tiền bạc và hưởng các chế độ của các lãnh tụ đảng…(nhưng Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn, Văn Tiến Dũng,… đã chiếm các nhà biệt thự đẹp nhất ở Hà Nội vào năm 1954. Các biệt thự này của tư nhân hoặc công thự hồi trước khi cộng sản chiếm được miền Bắc 1954 bằng các thủ đoạn của Trung Cộng trong Hiệp định Geneve 1954.). 

Hồi ký Làm Người Là Khó của nguyên Phó Thủ Tướng Đoàn Duy Thành cho biết: các lãnh đạo đảng CSVN được cấp phát các tiêu chuẩn lương thực cao  hơn dân thường, trong nhà có truyền hình để xem…

Lê Kiên Trung, em ruột của LKT, hiện nay là giám đốc Hải Quan Tp. HCM

———————————————-

TÁC GIẢ SÁCH ” BÊN THẮNG -CUỘC ” XIN LỖI MŨ XANH LÊ-QUANG-LIỄN

Thưa tác giả Huy Đức,

Được nghe,đọc nhiều quảng cáo trên internet về tác phẩm Bên Thắng Cuộc của ông . Cho nên tôi cũng tò mò tìm đọc cho biết.

Trong ChươngII,tiểu mục Ngụy Quân trang 52,tình cờ tôi đọc những điều người vợ cũ của tôi (theo sách là gia đình “Cách mạng”) và được Phan Xuân Huy phỏng vấn(?), viết về chuyến đi thăm tôi ở trại tù tháng 9 năm 1975 và được đăng tải trên báo Tia Sáng năm 1975.Tôi rất ngạc nhiên và ghê tởm,sau gần 40 năm mới hay, về những điều mà nhà báo PXHuy đã viết ra và gán ghép cho kẻ vắng mặt vì những lý lẽ sau đây:

***trại tù như một trại Hè

***ca tụng về cuộc sống lành mạnh ở Trại tù

***..” đã bị tên tướng ngụy Bùi Thế Lân bỏ kẹt tại cửa Thuận An và đã cùng toàn bộ binh lính trong Tiểu đoàn 7 đầu hàng quân đội giải phóng…”

Thật ra toàn bộ anh em TQLC đã bị bắt,nếu anh em chúng tôi ra hàng thì đã được hưởng qui chế đãi ngộ hàng binh như Phạm Văn Đính và một số đồng bọn thuộc Trung Đoàn 56 .Vả lại, đơn vị chúng tôi lúc đó thuộc quyền của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương Quân Đoàn I.Ở đây ,vị Tư lịnhTQLC không có trách nhiệm nào hết.Người chịu trách nhiệm là Trung Tướng Lâm Quang Thi mới đúng nghĩa hơn.Khi viết toàn bộ ra hàng làđiều cố tình hạ nhụcanh em chúng tôi khi thất thế!!

Nếu ông Huy Đức biết rõ thêm về tôi là người tù cuối cùng của Lữ Đoàn 147 TQLC ra khỏi trại tù ngày 12 tháng 2 năm 1988 sau gần 13 năm tù ngục với 4 năm 7 tháng 24 ngày bị “kiên giam” còng tay,chân,bị đánh gảy xương sườn vì những chống đối tập thể trong Trại tù Bình Điền ,Thừa Thiên.Thì phần trích dẫn từ bài viếtcủa tên nhà báo PXHuy là thiếu trách nhiệm.

Tôi biết PXHuy là thành phần đối lập cơ hội với chế độ VNCH trước năm 1975 mà tôi tận trung phục vụ.Có lẽ trong những ngày tháng đầu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,Phan Xuân Huy-cũng như một số người nhẹ dạ – vì muốn tìm chỗ đứng an toàn trong lòng chế độ mới bằng những bài viết,những câu nói ,với những nhận thức “sâu sắc của mình” về cái hay ,cái đẹp của chế độ XHCN.

Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật,vì lương tâm thì đừng bao giờ gán ,chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân,phe nhóm. Tôi gửi đến tác giả Huy Đức những nhận xét của tôi về phần trích dẫn trong sách và mong được hoàn chỉnh sự chính xác cũng như trách nhiệm của người viết.

Trân trọng,

Lê Quang Liễn

——————————————-

Thieu Ta Le Quang Lien phan doi sach “Ben Thang Cuoc “

From: Tien Pham <traudienk20@yahoo.com>

Kính thưa quý diễn đàn.

Gần đây dư luận xôn xao về một quyển sách của tác giả Huy Đức, người từ chế độ cộng sản viết về tài liệu lịch sử của cuộc chiến vừa qua. Qua quyển sách có tên là ” Bên thắng cuộc”, nhìn toàn diện tác giả dường như muốn diễn đạt và dẫn chứng những điều thật sự xảy ra sau cuộc chiến, nhưng sự thật đó lại là những điều không thật. Kẻ bại trận bị đi tù nhưng với mỹ từ là học tập cải tạo. Những đoạn high light màu đỏ dưới đây để chúng ta có thể nhận định được giá trị của quyển sách nầy. Những dẫn chứng bịa đặt mặc dầu với những tên khác nhau, nhưng tác giả Huy Đức phải hoàn toàn trách nhiệm những điều không có thật trong quyển sách của mình. Phan Xuân Huy cựu dân biểu phản chiến QLVNCH, cùng các tên Ngô công Đức chủ báo Tin Sáng, đã tiếp tay cho cộng sản để làm suy yếu chế độ miền Nam.

Trường hợp cá nhân Lê quang Liễn là một điển hình. Là bạn cùng khóa, cùng trường, cùng chiến đấu và cùng ở tù chung trại tù Ái Tử, Bình Điền. Bạn Liễn không bao giờ nói lên câu nói như trong bài viết dù là với vợ con mình.

Chúng tôi, những đơn vị chiến đấu cuối cùng trong cuộc lui binh từ bỏ vùng địa đầu giới tuyến từ lệnh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cả Lữ đoàn 147TQLC của chúng tôi đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Lâm Quang Thi Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1. Chúng tôi đã chiến đấu trong tình trạng bị cô thế, chúng tôi bị bắt làm tù binh vào ngày 27-3-1975.

Chúng tôi không đầu hàng như trong đoạn dẫn chứng của tác giả Huy Đức. Sư đoàn TQLC chúng tôi, cũng như bất cứ ai ở cùng trại tù với Lê Quang Liễn đều cảm mến và kính phục tinh thần chiến đấu cao độ và bất khuất của anh trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Vào những ngày cuối tháng Ba gãy súng, Liễn đã đích thân đưa xác người em ruột mình lên chuyến tàu đầu tiên và cũng là cuối cùng, duy nhất cùng với BCH Lữ Đoàn vào Đà Nẳng. Sau đó đã quay lại cùng chiến đấu thề sống chết với đơn vị mình.

Thiếu Tá Lê Quang Liễn TDP/ TD7 không bao giờ bỏ cuộc, thề sống chết với đơn vị mình. Chuyện bại trận của chúng tôi, không phải là trách nhiệm của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân mà là của Trung Tướng Lâm Quang Thi vị Tư Lệnh Tiền Phương , người chỉ huy chúng tôi

Liễn không bao giờ ca tụng chế độ cộng sản, như trong dẫn chứng những điều bịa đặt làm tổn thương đến danh dự của người lính QLVNCH. Liễn ra tù sau cùng trong số sĩ quan của Lữ Đoàn 147 bị bắt tại bãi biển Thuận An vào ngày 12-2-1988 . Trong giấy ra trại chỉ để là cải tạo trung bình, không giống bất cứ giấy ra trại nào của mọi người khác. Rất anh hùng trong chiến đấu, bất khuất trong trại tù,sống chết với thuộc cấp trong những giờ phút hiểm nguy nhất của cuộc chiến.

Một cuốn sách có giá trị lịch sử, phải là một cuốn sách được viết bởi những người không thuộc phe phía nào. Những dẫn chứng vu vơ hoặc của vài tên hèn hạ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” như Phan Xuân Huy hay vài người nào đó đã phát biểu trong hoàn cảnh chẳng ai dám nói những gì khác hơn, ngoài những giáo điều cộng sản đều hoàn toàn không giá trị.

Xin tất cả chúng ta, những nhân chứng còn sống lại trong thế hệ hôm nay, không chấp nhận những điều sai sự thật dù bất cứ hình thức nào.

Qua quyển sách “Bên thắng cuộc” của tác giả Huy Đức là những viên thuốc đắng có bọc đường. Người đọc sẽ cảm nhận những tuyên truyền cho một chế độ gian ác, bên cạnh những quả bóng mù mờ, hư hư thực thực dễ dẫn dắt những người non nớt cả tin đi vào những điều không thật để rồi quên đi một quá khứ gian ác, đày đọa Quân, Dân, Cán, Chính QLVNCH qua mỹ từ “Học tập cải tạo”.

Ai thắng ai trong cuộc chiến vừa qua. Nay sự thật lịch sử đã được minh chứng rõ ràng!!

Hãy cẩn thận khi đọc quyển sách ” Bên Thắng Cuộc” của tác giả Huy Đức.

MX Phạm văn Tiền

ĐĐ F Khóa 20 Đà Lạt

( Nguyễn Đắc Song Phương )

————————————————-

Tôi cũng là một tù binh bị bắt tại Thuận An ,Huế ngày 25/03/1975 ,các anh Th/tá Lê quang Liễn cũng như Th/tá MX Phạm văn Tiền là những đàn anh rất hào hùng ,và tư cách ,vẫn giữ được sự kính trọng trong lòng của những anh em trong trại tù Lao Bảo ,Cồn Tiên ,Ái Tử ,Bình Điền.

Thật sự là chúng tôi đã bị bắt làm tù binh tại bãi biển Thuận An Huế ,chớ không phải là hàng binh như tác giả Huy Đức gán ghép ,chính nhà văn Cao xuân Huy trong tác phẩm ” Tháng ba gãy súng ” ,cũng có vài nhận xét phiến diện ,không đúng hoàn cảnh thực tế.

Cuộc lui binh nghiệt ngã tháng ba 75 đã đưa đến thãm cảnh thất trận của chúng tôi ,khi bị nhốt tù trên trại tù Lao Bảo-Tà Cơn ,đám cán bộ VC có phân loại rỏ ràng đại đa số anh em chúng tôi là TÙ BINH ,chỉ có 9 người là HÀNG BINH.!!! ,và khi trại di chuyễn về Cồn Tiên tháng 09/75 thì số này được thả về.

Như vậy đã rỏ ràng chứng minh anh L.Q.Liễn cũng như anh em chúng tôi bị bắt tù binh ,chính bản thân tôi khi phân loại cũng nói là : bắt được tôi thì bắt chớ tôi không có hàng ai hết. Kết quả là 6 năm tù !!! Cũng xin nói thêm là tôi thuộc Quân y Sư đoàn 1 Bộ binh chớ không phải TQLC

Hồ minh Đức

————————————-

From: Lien Le lienql@yahoo.com

Sent: Wednesday, December 19, 2012 7:25 PM

Subject: [diendanmuxanh] Tác giả Huy Đức xin lỗi

Kính gửi các NT, các bạn,

Sau khi gửi thư phản đối cho Huy Đức tác giả “Bên Thắng Cuộc” về những ngụy tạo có liên quan đến tôi. Do phần trích từ bài viết về Phan Xuân Huy, con rể của Dương Văn Minh, (cựu dân biểu PX Huy là thành phần đối lập VNCH thuộc Ấn Quang) được đăng tải trên báo Tin Sáng gần 40 năm trước về “ngụy quân”.
Nay tôi đọc được phần xin lỗi của tác giả Huy Đức gửi cho tôi trên facebook.

Lê Quang Liễn

————————————

https://www.facebook.com/BenThangCuocBook

http://www.facebook.com/Osinhuyduc?ref=ts&fref=ts

Osin HuyDuc

Wednesday

Ước chi tôi có thể gặp được ông Lê Quang Liễn trước khi viết cuốn sách này. Như tôi đã nói trong cuốn sách, phần lớn những bài báo viết về tù cải tạo hồi tháng 9-1975 đều là sản phẩm tuyên truyền. Việc Bên Thắng Cuộc trích đăng những bài viết mà báo chí lúc đó viết về quân đội Việt Nam Cộng hoà là để cho thấy họ không chỉ bị giam cầm mà còn bị tra tấn bởi cả công luận. Ông Lê Quang Liễn đúng là hiểu lầm, nhưng nhờ thế tôi mới có thể tìm thấy nhân vật của mình. Xin lỗi và xin cám ơn ông. Hy vọng việc xuất bản sách sẽ giúp tác giả gặp them những nhân chứng như ông Liễn để phỏng vấn thêm và để bổ sung tư liệu cho lần xuất bản tới.

—————

Osin HuyDuc Thực ra thì những thông tin mới này không làm thay đổi sự thật mà tôi nói: có một chiến dịch báo chí tuyên truyền tốt cho các trại cải tạo trong khi thực tế không như vậy. Nhưng chi tiết ông Liễn nói rất thú vị. Có lẽ người vợ chỉ vì muốn chồng được ra sớm đã nói những điều chính quyền cần chứ không phải nói sự thật.
—————
Nguyễn Lân Thắng

Mình vẫn chưa có sách Bên Thắng Cuộc và cũng không vội vã bấm vào những link có chứa bản copy đã bẻ khóa… vì biết rằng cuốn sách này chỉ cụ thể hóa những điều mình đã biết về bên thắng cuộc…

Chẳng cần Bên Thắng Cuộc người ta cũng có thể tìm hiểu sự thật về cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn… Nhưng phải nói rằng Bên Thắng Cuộc đã đập vỡ tan những ảo tưởng ngạo mạn cuối cùng của những “người chiến thắng”…

—————————–

Tác phẩm đã xuất bản

Những Người Thua Trận

Tác giả: Huy Phương

Kính thưa Các Bạn,

Câu chuyện do Huy Đức viết về ngày 30/4/75 tại Dinh Dộc Lập Saigon trong “Bên Thắng Cuộc” quá đơn giản, quá lịch sự cho những người thắng trận vào dinh Độc Lập.

Đây mới là sự thật do những nhân chứng có mặt hôm đó trong dinh trình bày, viết thành bản văn, (Đại tá Dương Hiếu Nghĩa, Cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Binh ) tỏ những người lính “tiếp thu” rất hung hản, mọi rợ, thiếu giáo dục, kể cả một ôngTrung Tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ Đoàn Xe Tăng 203.

Tác giả Huy Đức có biết chuyện này không, hay chỉ viết theo văn bản tường thuật của báo chí Hà Nội. Xin quý Vị bình tâm đọc kỹ. Nếu cần vào “Hồi Ký Dang Dở” của Dương Hiếu Nghĩa). Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi đọc xong tập I: “Giải Phóng” của ” Bên Thắng Cuộc”

Xin thành thật cám ơn.

Huy Phương

(TRÍCH)

“Trước hết chúng ta nhìn lại cuộc đầu hàng miền Nam ngày 30 tháng 4, 1975 tại Dinh Ðộc Lập, Sài Gòn. Theo David Butler, tác giả cuốn The Fall of Saigon (1984), ghi lại tường thuật của phóng viên Neil Davis, một người Úc biết tiếng Việt làm việc cho đài truyền hình NBC của Mỹ, có mặt trong dinh lúc bấy giờ, thì khi xe tăng đã vào sân cỏ, hai bộ đội trẻ là Pham Huy Do và Pham Huy Nghe (ghi tên không có dấu tiếng Việt theo như trong sách), tay ôm súng, chạy vào trong dinh, sau khi kéo cờ Mặt Trận trên nóc, Nghe đi tìm Tổng Thống Dương Văn Minh, vừa chạy vừa quát to: “Ai là Dương Văn Minh? Dương Văn Minh hãy bước ra và quì xuống.” Vừa lúc thì Do dẫn vào bốn chính ủy, một người tự giới thiệu là Trung Tá Bùi Văn Tùng, chỉ huy đoàn chiến xa vào Dinh Ðộc Lập.

Sau này tài liệu của Cộng Sản ghi chép thì Bùi Văn Tùng có nói với Tổng Thống Dương Văn Minh là: “Ông không còn gì để bàn giao…” Nhưng sự thật, theo “Hồi Ký Dang Dở..” của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa ghi lại lời kể của Cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Binh (nguyên Quận trưởng Gò Vấp) có mặt trong Dinh Ðộc Lập vào giờ ấy, thì:

“Thấy vị sĩ quan nầy đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội Miền Bắc, nên ông Minh tưởng rằng mình đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp:
“Thưa quan sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông.”

Sĩ quan nầy dùng danh từ “mầy tao” xẵng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:
“Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có ‘quyền’ nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng nầy đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!”

Cũng với thái độ ấy, y nói với ông Nguyễn Văn Hảo, khi ông này ngỏ ý muốn trao “món quà” 16 tấn vàng cho Bắc Việt:
“Ðó không phải là quà mà là chiến lợi phẩm của chúng tao, tao phải tịch thu, mầy hãy trao ngay cho tao đi!”

Ðọc đến đây, thấy vừa buồn vừa nhục!

Ngày nay chúng ta đã rõ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa và thân phận của người lính miền Nam đã bị đối xử như thế nào. Về người chết thì ngay khi Cộng Sản vào Saigon, ngày 3 tháng 5, Nghĩa Trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp đã bị bọn Cộng Sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày hôm đó. Về người sống thua trận, thì cũng trong “Hồi Ký Dang Dở,” Ông Dương Hiếu Nghĩa cho biết: “Ngay tại tỉnh Vĩnh Long, các ông cai tổng Nguyễn Văn Dần, Nguyễn Văn Xôm, Nguyễn văn Thêm đều bị họ kết án là ‘có tội với nhân dân’ mà không thông qua một tòa án nào, và bị hành quyết ngay khi bị bắt, bằng vũ khí thô sơ như búa, mã tấu… Riêng ngôi mộ của Trung Úy Dù Nguyễn Văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chợ Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn.”

Ở Củ Chi, Hậu Nghĩa, chỉ trong ngày 30 tháng 4-1975, sau ngày Việt Cộng vào, để trả thù chúng bắt anh Nguyễn Văn Chấp, Cảnh sát Đặc biệt xã Phước Hiệp, đánh bằng cây tầm vong, xong nấu nước sôi dội từ trên đầu xuống cho đến chết. Vợ con xin xác đem về chôn nhưng không được. Đại úy Trần Thắng Toàn, Phân Chi khu Trung Lập, sau khi bị bắt, bị nhổ sống hết hàm râu, tùng xẻo từng miếng thịt và cuối cùng bị bắn chết. Anh Tạ Văn Phúc, quân nhân biệt phái cảnh sát tại Xã Tân An Hội, bị những kẻ thắng trận bắt tự đào hố chôn mình, sau đó chúng chặt anh ra làm ba khúc và lùa xuống hố.

Vài ngày sau khi ông Dương Văn Minh đầu hàng, một toán 81 Biệt Cách Dù ra đầu hàng tại Long Thành, bị bắn và chôn dưới một cái giếng cạn. Nhân chứng còn sống nhưng không dám lên tiếng.

Ở đây chúng ta không nói đến nguyên nhân của chiến tranh Việt Nam và cuộc nội chiến tại Mỹ, cũng không thể so sánh nếp sống và tư cách của tướng lãnh Mỹ với tác phong “rừng rú” của “bộ đội cụ Hồ” trong hai câu chuyện kể trên. Chỉ xin mượn lời nhà văn Dương Thu Hương để kết luận cho bài này:
“…Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ!”
Ðọc lịch sử, nhiều khi muốn khóc.

(Trích Những Người Thua Trận, tạp ghi của Huy Phương
đã xuất bản. )

Hồi Ký Dang Dở” của Dương Hiếu NghĩaOngvove.wordpress.com

———————–

Người VN có nhiều từ rất hay: thơ nô, văn nô, bút nô, ca nô,…để chỉ những người dùng biệt tài của mình bênh vực đảng CSVN để được vinh thân phì da, hưởng chút lợi lộc, tiền bạc, chức vụ…họ bất chấp tất cả chỉ cam tâm phục vụ để đổi lấy chữ nô. Thơ nô có Tố Hữu, văn nô có rất nhiều, nhà báo biến thành nô bộc thì gọi là báo nô, hay bút nô. 

Góp ý với nhà báo Nguyễn Đức Hiển

Trương Đình Trung

2-1-2013

Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi

Theo tôi, quyển Bên Thắng Cuộc (BTC) không phải là môt quyển sách lịch sử. Huy Đức đã không có chủ ý tự biến mình thành một sử gia. Quyển sách, tuy nói về một giai đoạn lịch sử, được viết theo phong cách một phóng sự trường thiên của một nhà báo. Tác giả đã viết với tư cách đó về một giai đoạn lịch sử, nhưng theo góc độ nhận định của bản thân, không chịu gò bó trong lối nhìn chính thức của chế độ hiện thời.

Tôi không đồng ý với một số điểm của Nguyễn Đức Hiển nêu ra trong bài báo trên Pháp Luật TP Hồ Chí Minh:

 “Cuốn sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử”.

1. Nỗ lực chống Pháp không chỉ là của riêng của đảng CSVN, mà là của chung của mọi người Việt Nam thuộc nhiều khuynh hướng chính trị. Trong cuộc đấu tranh ấy, đảng CSVN đã luôn cố giành độc quyền lãnh đạo, tìm cách thủ tiêu, loại trừ những chính đảng khác, những chính khách khác, không cùng chính kiến với mình. Vì lý do đó, những chính đảng và những người Việt Nam không chấp nhận chủ trương CS đã phải tìm cách củng cố một Miền Nam riêng cho những người-Việt-Nam-không-CS. Chính điều này, đến lượt nó, nêu rõ sự khác biệt giữa hai cuộc chiến tranh: Cuộc Kháng Chiến chống Pháp từ 1946-1954, và Cuộc Nội Chiến Nam-Bắc từ 1960-1975. Khi cố gắng xoá mờ sự khác biệt giữa hai cuộc chiến đó, Hiển đã chỉ lặp lại luận điệu xuyên tạc lịch sử đã có từ lâu của đảng CSVN mà thôi; luận điệu đó cố tình đồng nhất giữa đảng CSVN và toàn dân tộc VN, phủ nhận một sự thật lịch sử là đã từ lâu có hàng triệu triệu người VN, khi đã biết rõ bản chất của CS, đã không chấp nhận chủ nghĩa ấy và muốn xây dựng VN theo chế độ nhân bản và dân tộc hơn. Và sự sụp đổ của hệ thống các nước CS từ năm 1991 cho đến nay chứng tỏ hùng hồn rằng những người VN không CS, tức những người quốc gia, đã có lựa chọn đúng đắn về chế độ chính trị. Việc “Đổi Mới” và thực chất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay lại càng là bằng chứng khác, hùng hồn hơn, về sự lưạ chọn đúng đắn đó.

2. Đề cập đến vấn đề tù cải tạo trong sách BTC, Nguyễn Đức Hiển đem sự ngược đãi của nhà tù VNCH đối với các tù chính trị VC ra bào chữa cho chính sách tập trung “cải tạo” vô nhân đạo của nhà cầm quyền CS,sau 1975. Làm như vậy, Hiển đã phạm hai sai lầm:

– Lấy cớ người kia làm điều xấu, rôi mình làm xấu theo là nguỵ biện. Cứ cho rằng chế độ tù của VNCH đối với VC là độc ác và tàn bạo đi. Nhưng không lẽ điều đó đủ biện minh cho sự hành xử vô nhân đạo của nhà cầm quyền CS, sau 1975, đối với sĩ quan và viên chức Miền Nam?

– Nhà tù của VNCH đối với các cán bộ VC nằm trong bối cảnh khi cuộc chiến đang diễn ra, hai bên đang đánh nhau chí tử. Trong lúc đó, các trại “cải tạo” của nhà cầm quyền CS đối với sĩ quan MN nằm trong khung cảnh khi chiến tranh đã kết thúc, quân đội miền Nam đã đầu hàng hoàn toàn, không còn kháng cự nữa. Như vậy việc đem hai điều đó ra so sánh là sai, không những về lý luận mà cả về đạo đức.

Đã gần 40 năm qua rồi kể từ khi kết thúc chiến tranh, người VN ở khắp nơi nên nỗ lực thoát ra khỏi các định kiến, tạo ra do sự tuyên truyền xuyên tạc, thành tâm nhìn vào những sai lầm đã qua, nỗ lực đến với nhau trong tinh thần hoà giải, đoàn kết toàn dân tộc, rủ bỏ những gì ngoại lai đã gây ra vô số tổn hại vật chất-tinh thần cho Đất Nước, đoàn kết nhau lại để đối đầu với hiểm hoạ ngàn đời phương Bắc đang sừng sững trước mắt.

Có thể không đồng ý với Huy Đức, nhưng nên để cho tiếng nói của Huy Đức được cất lên tự do, mà không nên cấm đoán. Nếu muốn những tiếng nói như của Huy Đức không rơi vào phiến diện, không chính xác thì hay nhất là những ai không đồng ý với anh ta, như Nguyễn Đức Hiển chẳng hạn, cũng cần phải tỏ ra khách quan và công minh trong nhận định về lịch sử của mình một cách tương xứng.

————————————————–

Lời bình của Linh Hoang Vũ:

Cái logic trong bài báo của NĐH trên Pháp luật TP HCM hơi bị funny. Ví dụ như sau:

Huy Đức: 1975 là kết thúc 20 năm “huynh đệ tương tàn”.
Đức Hiển: Thiên kiến vậy cha! Cuộc kháng chiến ấy bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước.

Huy Đức: Khi thất trận vào tháng 4/1975 đã có những tướng lĩnh Sài Gòn tuẫn tiết.
Đức Hiển: Thiên kiến quá! Sao không kể chuyện lính Cộng sản hy sinh trong chiến tranh???

Huy Đức: Sau khi thống nhất đất nước, hàng vạn sỹ quan, viên chức của VNCH đã bị lừa đưa đi cải tạo.
Đức Hiển: Ơ kìa, còn chuyện VNCH đối xử tệ hại với tù binh của miền Bắc trong khi chiến tranh thì sao không kể? Thiên kiến vậy sao cha?

Túm lại, mình vẫn chưa rõ ý của Đức Hiển có phải là muốn đề nghị Huy Đức viết 1 cuốn tổng tập lịch sử Việt Nam từ 1858 tới nay, ghi nhận quan điểm và các sự kiện xảy ra của tất cả các bên từ bên thắng cuộc, bên thua cuộc cho tới bên trùm chăn, bên tắt đèn… cho nó thực sự là khách quan, đa chiều?

Nếu tóm gọn lại thì cái thông điệp mà NĐH (tỏ ra) muốn chuyển tải trong bài viết của mình là câu này: “Nếu lịch sử được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến thì nó không còn là lịch sử nữa”. Mình đang hình dung ra cảnh anh đang hùng hồn phát biểu câu này với cố GS. Trần Huy Liệu, với GS. Phan Huy Lê, những người viết SGK Lịch sử ở Việt Nam, với thầy giáo dạy Lịch sử cho con trai của anh ở trường, hay với Trưởng ban Tuyên giáo TW. Không biết các vị ấy có cười nửa miệng hay sẽ chột dạ, nghĩ thằng này phản động, định mỉa mai gì đối với lịch sử của “chúng ta”?

Dù sao đi nữa thì mình cũng mơ tới 1 ngày kia, những thứ lịch sử và không chỉ lịch sử mà cả chúng ta lẫn con cái chúng ta đang bị nhồi nhét hàng ngày đến mức phát nôn sẽ không phải là một thứ lịch sử “được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến”. Bên Thắng Cuộc chính là 1 cố gắng để đạt được điều đó, bằng cách đưa ra một góc nhìn khác, kể về những thân phận khác, những người bị vùi dập, bị làm ô nhục, đục tên và xé bỏ các câu chuyện trong SGK Lịch sử chính thống, báo chí chính thống, tác phẩm được xuất bản chính thống. Đó là gì, nếu không phải là một cố gắng làm giảm sự thiên kiến trong ghi chép lịch sử, và quan trọng hơn nữa, là làm giảm sự thiên kiến trong cách nhìn nhận, cách tư duy và sự thấu cảm của con người?

Theo FB

—————————————————–

Nguyễn quang Lập, một nhà văn ở trong nước, đã có nhận xét sau đây về bài báo của Đức Hiển:

http://quechoa.vn/2013/01/02/ve-mot-cai-nhin-thien-kien/#more-30348

Về một cái nhìn thiên kiến

NQL: Mình đã đọc bài của nhà báo Đức Hiển ( tại đây) và thấy rằng thực sự Đức Hiển đã có cái nhìn rất chi là thiên kiến về cuốn Bên thắng cuộc. Chỉ riêng việc Đức Hiển nói đoạn này: “Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước. Không nhắc đến một thực tế là đã không có người tù cải tạo nào bị tra tấn bằng vôi bột, bị đóng đinh, gí điện, bị đánh đến tàn phế… như những gì mà nhiều người trong số họ từng đối xử với đối phương của mình ở Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Chuồng cọp Sở thú và hàng trăm nhà tù khác khắp miền Nam.” … đủ cho thấy hoặc Đức Hiển không phân biệt được thế nào là đối xử với hàng binh sau chiến tranh và thế nào là đấu tranh để khai thác thông tin từ các tù binh trong cuộc chiến; hoặc đó là lối tư duy qui chụp mà Đức Hiển luôn luôn phản đối nhưng chính anh lại không sao thoát ra được. Rất buồn. Đáng lẽ phải viết một bài, nhưng thôi, vì mình biết chính Đức Hiển cũng thừa sức viết lại bài đập lại bài của Đức Hiển và chỉ ra được tính bút nô của bài báo này.

 

Cuốn sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử

phapluattp.vn

NGUYỄN ĐỨC HIỂN

TP.HCM ngày 31-12-2012

(PL)- Chưa bàn đến những chi tiết cụ thể của cuốn sách này, góc tiếp cận của tác giả đã khó vươn tới điều mình muốn: Hiểu đúng về bản chất của cuộc chiến tranh.

Bên thắng cuộc là cuốn sách gồm hai tập của Huy Đức. Phần I với tựa đề Giải phóng đã phát hành trên mạng Internet từ trung tuần tháng 12-2012. Nội dung xoay quanh những diễn biến tại Việt Nam từ sau ngày thống nhất 30-4-1975. Lời đầu sách, tác giả viết “không ai có thể bước tới tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ. Nhất là một quá khứ chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm”.

Ngày thống nhất

30-4-1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn 20 năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”.

Ngay những dòng đầu tiên của chương đầu tiên, tác giả đã gói cuộc chiến chống ngoại xâm vỏn vẹn vào 20 năm. Song cuộc kháng chiến ấy thật sự bắt đầu từ hơn một thế kỷ trước đó, khi người lính đầu tiên của quân xâm lược Pháp đặt chân lên đất nước Việt Nam. Từ đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, người Mỹ đã bộc lộ âm mưu can thiệp vào Việt Nam từ trận Điện Biên Phủ. Cuộc kháng chiến giành độc lập vì vậy đã trải qua thêm một chương bi tráng và khốc liệt: chống Mỹ.

Sự thật không thể phủ nhận là người Pháp đã khởi đầu chiến tranh, người Mỹ thay vai chuyển nó sang một giai đoạn khác và cả dân tộc này đã đổ máu xương để kết thúc nó. Không phải chỉ có 20 năm và càng không thể là cuộc chiến“da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”như Huy Đức đã viết.

Lịch sử diễn ra liên tục nhưng trong Bên thắng cuộc, nó bị cắt khúc ra, nhìn nhận như là cuộc chiến ý thức hệ, cuộc nội chiến Nam-Bắc của nội bộ người Việt từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975. Cách lập luận này, người Mỹ đã nói từ mấy chục năm trước đó khi muốn có cớ can thiệp vào đất nước ta. Dù vậy, người Mỹ không thể phủ nhận sự thật là người Việt đang chiến đấu vì Tổ quốc mình.

Cuộc chiến giành độc lập của người Việt Nam thực sự đã nổ ra từ trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930 với rất nhiều cuộc khởi nghĩa và những phong trào đấu tranh, dù bị đàn áp, thất bại nhưng chưa bao giờ quy phục. Những người cộng sản chỉ nối tiếp sứ mệnh mà lịch sử giao phó. [Lịch sử giao phó? Đây là một cụm từ vô nghĩa. Chỉ có người này giao phó cho người kia làm chuyện gì, chứ không có lịch sử giao phó.  Giao phó cho ai? giao phó cái gì? Khi con người tham gia vào một biến cố nào đó, và người khác  ghi chép lại sự kiện ấy một cách khách quan,  theo phương pháp sử quan, mà hình thành nên lịch sử.  Vì thế không có chuyện lịch sử giao phó, chỉ có con người  cố tình tham gia vào chuyện này hay chuyện kia mà  gây ra  chuyện và người khác ghi chép lại   theo phương pháp sử quan mà viết ra lịch sử-chữ màu đen là của TH ]

Vì thế, nó là cuộc chiến không của một chính thể mà của cả dân tộc. [Đây là sự đánh đồng tầm bậy tầm bạ và nhằm lừa bịp những người mù chữ]  Càng không là cuộc chiến của miền Bắc XHCN với nửa nước còn lại. Vì thế, 30-4-1975 là ngày đất nước thống nhất sau hơn một thế kỷ bị xâm lược, đô hộ và chia cắt, không phải “Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc”. Đó không phải là chiến thắng của một “bên thắng cuộc” hạn hẹp mà là chiến thắng của mọi người Việt Nam, trong đó cả những người từng ở phía bên kia.

Một nhân vật trong cuốn Bên thắng cuộc sau khi đọc sách đã nói rằng nếu không vì lòng yêu nước và tinh thần dân tộc mà chỉ là cuộc chiến Bắc-Nam thì sẽ không có những người ở Lạng Sơn, Thái Bình xung phong lên đường ra trận và chết ở Cà Mau. Và đâu phải chỉ có bộ đội miền Bắc vào Nam đánh Mỹ, chính nhân dân cả miền Nam đã làm nên Nam Bộ kháng chiến thời kháng Pháp rồi cùng nổi dậy Đồng khởi từ khi chính quyền Ngô Đình Diệm phá hủy hiệp định đình chiến và truy sát những người kháng chiến. Người Việt ở cả hai miền đã cùng cầm súng chống ngoại xâm.

Viết về chiến tranh không thể không nói đến mục đích, ý nghĩa, đối tượng, quy mô, thời gian và các bên tham chiến. Khi mục đích chống xâm lược giành độc lập và thống nhất nước nhà bị bỏ qua, sẽ không thể lý giải thỏa đáng nguyên nhân và ý nghĩa của chiến thắng, còn bóp méo sự thật lịch sử dù với bất cứ lý do gì thì đều là tệ hại.

Ngày cuối chiến tranh và “tù cải tạo”

Huy Đức viết: “Cuốn sách này bắt đầu từ những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé 13, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”.

Tác giả đòi hỏi “hiểu trung thực về quá khứ” nhưng lại nói về “bên thắng cuộc” bằng cách ghi nhận chỉ một phần những gì diễn ra với một số ít người ở phía bên kia. Nhiều trang sách đề cập những tướng lĩnh quân đội Sài Gòn tự sát trong ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, mà tác giả gọi là “tuẫn tiết”. Sự tuyệt vọng dẫn đến cái chết ấy ở đây xin không bình luận. Nhưng tác giả từng là lính, không thể không biết những đồng đội thế hệ trước mình đã làm gì trong những ngày ấy. Hình ảnh ngày cuối chiến tranh không đơn giản chỉ là những chiến xa bánh xích hiền lành với những anh bộ đội miền Bắc lạ lẫm ở Dinh Độc lập sáng 30-4-1975.

Hơn 10 năm trước, một đoàn làm phim của hãng BBC qua Việt Nam, họ muốn làm một bộ phim về ngày cuối chiến tranh từ trận đánh cầu Rạch Chiếc. Nơi đó, trong ba ngày cuối cùng, một đơn vị bộ đội biệt động đã quần nhau với hai tiểu đoàn Trâu Điên giữ cầu và nhà máy điện Thủ Đức cùng với lực lượng chi viện hùng hậu. Nhiều người lính đã hy sinh trên cầu để chiếc cầu, nhà máy điện được giữ nguyên, cửa ngõ ấy mở ra cho những đoàn tăng T.54 vào giải phóng và góp phần giữ nguyên vẹn Sài Gòn cho hôm nay. Và trong những ngày ấy, có rất nhiều sự hy sinh như thế của những người lính giải phóng.

Bên thắng cuộc hướng suy nghĩ của người đọc rằng chế độ mới thiếu nhân văn khi nói về điều kiện sống của những sĩ quan chế độ Sài Gòn bị đưa đi học tập. Thật ra cái khó khăn mà những sĩ quan cao cấp đó gánh chịu chỉ bằng một phần rất nhỏ những gì mà quân và dân Việt Nam chịu đựng suốt trong hai cuộc kháng chiến, không lẽ tác giả không biết? Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước. Không nhắc đến một thực tế là đã không có người tù cải tạo nào bị tra tấn bằng vôi bột, bị đóng đinh, gí điện, bị đánh đến tàn phế… như những gì mà nhiều người trong số họ từng đối xử với đối phương của mình ở Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Chuồng cọp Sở thú và hàng trăm nhà tù khác khắp miền Nam. Cuốn sách cũng đã không nói rằng sau khi tiếp quản, không hề có việc lê máy chém đi khắp miền Nam như chế độ cũ đã làm với cán bộ cách mạng và thân nhân trong Luật 10-1959.

Cần phải đặt trong sự tương quan khi nhận định về sự nhân văn nhưng tác giả cuốn Bên thắng cuộc đã không làm hoặc không muốn làm điều đó.

Để có bản tin giải phóng trên loa phóng thanh mà cậu bé 13 tuổi nghe khi đang vật nhau với bạn ven đồi, phải trả giá bằng trăm ngàn mất mát, đau thương chứ không đơn giản chỉ là việc húc đổ cổng Dinh Độc lập và cắm cờ trên nóc.

Nếu lịch sử được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến thì nó không còn là lịch sử nữa.

Trên đây chỉ là một số nhận xét về cuốn sách. Người viết không có ý định đi sâu vào tính chính xác của từng sự việc, từng chi tiết bởi nó không mới và không hẳn cần thiết. Tuy nhiên, đã có phản hồi bất bình của những nhân vật trong sách, từ cả hai phía, về tính chính xác của các sự kiện và cách trích dẫn cắt cúp, tách bối cảnh ra khỏi sự kiện để gián tiếp giải thích nguyên nhân theo chủ kiến của tác giả.

Công bằng mà nói, lao động và khả năng của Huy Đức đối với việc sưu tập tư liệu cho cuốn sách là điều cần được nhìn nhận. Với ưu thế là phóng viên của nhiều tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị, anh có cơ hội tiếp cận với nhiều thông tin. Rất tiếc những thông tin ấy được cố ý sắp đặt để phục vụ chủ kiến của tác giả, vì vậy nó hoàn toàn không chân thật.

NGUYỄN ĐỨC HIỂN

TP.HCM ngày 31-12-2012

*Bài viết của Nguyễn Đức Hiển cho thấy tác giả không hiểu hết ý nghĩa của các chữ. Lập luận của một người nói ngang, lập lại lối lập luận của đảng, đảng nói sao thì phải nghe vậy nên thiếu tính hợp lý. Bởi vậy, các lý lẻ tác giả NGUYỄN ĐỨC HIỂN đưa ra không đứng vững khi có bạn đọc phê bình.
TH chỉ viết tóm gọn: bài của Nguyễn Đức Hiển có đầy lỗi. Hầu như câu nào cũng có vấn đề, nên sẽ mất rất nhiều thì giờ nếu phản biện bài báo của Nguyễn Đức HiểnChắc chắn có nhiều người viết phản hồi phê bình bài báo của Nguyễn Đức Hiển, nhưng tác giả  không cho đăng lên. (Nguyễn Đức Hiển viết nhiều blog lấy tên là Bố Cu Hưng(?)) 

blog của Nguyễn Đức Hiển đã từng có nhiều bạn đọc viết phê bình trong những năm 2007-2008, nhưng dần dần, sau khi được đảng cân nhắc lên chức tổng biên tập cho báo Pháp Luật TP, tác giả đã thay đổi cách viết và lập luận, và nay thì tác giả khóa hết phản hồi dưới các bài viết trên blog của tác giả. Tác giả Nguyễn Đức Hiển nhắc cho các blogger nhớ đến  BEO BLOG của HỒ THỊ THU HỒNG. Người vừa bị cách chức tổng biên tập, tờ báo Thể thao – Văn hóa,   11-2012.

*Hồi còn yahoo 360! khoảng 2006-2009, Bố Cu Hưng tức nhà báo Nguyễn Đức Hiển và Hồ Thu Hồng (Beo Blog) là một cặp “song kiếm hợp bích, bênh vực nhau kín đáo, tìm cách tố cáo Huy Đức như sau: 

Nhà báo Hồ Thu Hồng viết về Osin Huy Đức   (13-9-2009)

nguon: ttngbt.blogspot.com

Chủ nhân của blog Beo, nhà báo Hồ Thu Hồng, cựu phó Tổng biên tập báo Thể thao – Văn hóa, vừa có một bài viết về Osin Huy Đức, với những cáo buộc như “nói dối và nói nửa sự thật”, “dùng ngòi bút làm kinh tế cá thể”, “làm Osin cho triều đình”, “chơi trò hai mang”… Tác giả của bài viết này cũng thông báo rằng trong bài sau “sẽ chỉ rõ từng bài Osin phụng sự các ông chủ thay vì phụng sự xã hội ra sao” và thông báo sẽ “viết riêng một entry về minh chủ và các đầy tớ”, liên quan đến “một chủ nữa của Osin kiêm minh chủ của các bạn Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức…”

Trong mục giới thiệu bài viết và thông tin trên mạng này, chúng tôi cũng đã giới thiệu ý kiến của nhà báo Hồ Thu Hồng về trang Bauxite Việt Nam.

 Nhà báo Đức Hiển lên tiếng về vụ Hồ Thu Hồng – Osin Huy Đức   talawas blog

Về bàiOsin Huy Đứccủa nhà báo Hồ Thu Hồngngười “cầm trịch” tờ Thể thao TPHCM từ ngày 08/12/2008 thay thế Tổng Biên tập Thái Phong Sương đã nghỉ hưu, đồng thời là chủ nhân của blog Beonhà báo Đức Hiển, quyền Tổng Thư ký báo Pháp luật TPHCM, tức blogger Bố Cu Hưng, vừa cóđôi lời với chị Thu Hồng“, liên quan đến vụ gặp ông Đại sứ Hoa Kỳ Michalak:

Thứ nhất, Đại sứ Mỹ Michael W. Michalak có mời bốn nhà báo gồm Huy Đức, hai đồng nghiệp ở Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Sài Gòn và tôi đi uống cà phê. Ông Đại sứ không mời trực tiếp tôi mà thông qua Phòng Thông tin lãnh sự quán Hoa Kỳ, nơi này lại thông qua Tổng Biên Tập báo Pháp Luật TPHCM. Tôi xem đó là việc tiếp xúc bình thường của nhà báo và nhận lời . Vì thế, đây không phải là việc “t tp mt nhóm nhng người iêu nước M. Các đồng nghiệp Tuổi Trẻ, TBKTSG chắc cũng đồng ý điều đó.

Thứ hai, tại cuộc gặp, tôi chỉ nói chuyện và tìm hiểu về những điều bạn đọc của Báo quan tâm như thủ tục cấp visa cho du học sinh Việt Nam. Nếu Osin trình báo cho A.25 nội dung này, chắc cũng không sao. Hơn nữa, vì là công việc nên sau đó tôi báo cáo với Ban Biên Tập- bằng văn bản- nội dung cuộc tiếp xúc. Nếu A.25 hỏi, chắc chắn BBT của Báo cũng sẽ cung cấp.

Chị Hồng có thể có thông tin và xem tôi như nạn nhân bị Huy Đức chơi xấu. Tuy nhiên, về phía mình, tôi cũng muốn nói lại như trên.   (2009)

—————————

Phần II, Chương XI:

…”Hội nghị Thành Đô”…

…Ngày 7-10-1989, khi tiếp Tổng Bí thư Lào, ông Kayson Phomvihan, Đặng Tiểu Bình đã dùng sáu mươi phút trong toàn bộ bảy mươi phút nói chuyện để nói về Việt Nam. Trong khi phê phán nặng nề Lê Duẩn, Đặng đã ca ngợi Nguyễn Văn Linh là “người sáng suốt”. Một thông điệp bình thường hóa giữa Đặng Tiểu Bình và Nguyễn Văn Linh đã được truyền đi. Tuy nhiên, theo ông Trần Quang Cơ, Bắc Kinh vẫn tiếp tục lạnh lùng sau khi Nguyễn Văn Linh phản hồi tích cực.Con đường đến với Bắc Kinh còn qua một kênh khác mà cả Tướng Lê Đức Anh lẫn Bộ Ngoại giao đều hoàn toàn không biết. Tháng 9-1989, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Phan Văn Khải sang Nhật gặp chủ tịch Đảng Tự do Dân chủ, ông Michio Watanabe [594]. Cuộc gặp tại trụ sở đảng của ông Watanabe diễn ra thân mật,đôi bên bàn một số vấn đề chiến lược về hợp tác kinh tế, bàn những công việc có thể bắt đầu ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Theo ông Phan Văn Khải, cuối cuộc gặp, ông Watanabe gợi ý: “Tôi có nhiều bạn bè quốc tế, liệu tôi có thể giúp được gì không?”. Được lời, ông Khải nói: “Việt Nam muốn bình thường hóa với các nước, đặc biệt là với Trung Quốc và Mỹ”…

Tiếp theo, tại trang 404, Huy Đức viết:

…Ngày 29-8-1990, Đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, chuyển thông điệp của Bắc Kinh mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô – thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc – vào ngày 3-9-1990 để “hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước”. Chuyến đi Thành Đô vào ngày 2-9-1990 gồm Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng, được tháp tùng bởi Hồng Hà, chánh Văn phòng Trung ương, Hoàng Bích Sơn, trưởng Ban Đối ngoại và Thứ trưởng Ngoại Giao Đinh Nho Liêm. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch không có trong thành phần cuộc gặp…

Nội bộ người CS lúc đó phân hóa và dấu diếm, lén lút nhau, được Huy Đức viết tiếp:

…Ngày 5-6-1990, trong cuộc gặp Đại sứ Trương Đức Duy, tổng bí thư Việt Nam đã sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Văn Linh nói với Trương Đức Duy: “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin”598. Thay vì bắt đầu một kỷ nguyên Việt Nam thiết lập quan hệ với Trung Quốc bằng tư thế độc lập của một quốc gia và chỉ vì quyền lợi quốc gia, Trung Quốc vẫn được coi là đàn anh trong mối tương quan của hai quốc gia cộng sản. Điều này còn ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Hà Nội và Phnom Penh…

Thật khó để không nghĩ, nhiều độc giả sẽ không sôi sục với phần in đậm (như trên), nhất là từ Nguyễn Văn Linh – một người những tưởng là… “đổi mới” trong mắt những “con cừu” của thập niên 90 (!!!)

Sau khi sốt sắng đến như thế, thì:

…Theo ông Trần Quang Cơ, trong bảy điểm về Campuchia thống nhất ở Hội nghị Thành Đô, có hai điểm có tính chất chung, năm điểm còn lại hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc, không có điểm nào theo yêu cầu của Việt Nam601…

Huy Đức đã không thể nói thêm chi tiết về “năm điểm” mà có vẻ vô cùng quan trọng???  [Nguyễn Ngọc Già Tác giả gửi đến Dân Luận  5-1-2013]

Để hiểu rõ rằng: bất cứ người VN nào sống trong nước mà nói động đến Trung Quốc, thì đảng CSVN và Nhà Nước sẽ xử đẹp đến cùng. Nguồn gốc từ

Phần II, Chương XI:…”Hội nghị Thành Đô”…  và bằng chứng vật chứng ở đây nè

“Trốn Thuế” – Quỳ gối – Đầu Hàng

———————————————

Ngay 5-1-2013

‘Bên thắng cuộc mới nói được 1/3 sự thực’

Quốc Phương
Trần Hoàng trích dẫn:

Phải là các bạn trẻ hơn nữa viết ra, có những người có quan điểm tiến bộ hơn nữa, tôn trọng lịch sử và có ý thức dân chủ thì mới có thể viết nổi,” ông Bùi Tín nói với BBC. 

Cựu đại tá nhà báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bùi Tín cho rằng cuốn sách chưa nói được hết những sự thực về đảng cộng sản Việt Nam, về cá nhân lãnh tụ Hồ Chí Minh, cùng nhiều sự thực khác.

Về mặt được cho là các sai sót hay hạn chế của cuốn sách, nhà báo Bùi Tín nhận xét:

“Tất nhiên, tôi đọc rải rác chỗ này chỗ khác thì nhiều cái sai lắm. Nhưng tôi cũng không trách gì, bởi vì hàng nghìn người, ghi chép hàng sáu trăm trang như thế thì chỗ nào cũng có chi tiết sai cả.”

cựu Tổng Biên Tập tờ Nhân Dân Chủ Nhật nói:

“Nhược điểm của anh Huy Đức là anh ấy là người đến sau, là người không chứng kiến được trực tiếp, nghe ngóng sau khi các sự kiện đó đã xảy ra… Anh ấy là người lượm lặt, thu góp, mà không phải là quan sát trực tiếp. Cho nên cái gián tiếp sai nhiều lắm.

“Tôi nói riêng ngày 30/4, anh ấy lấy được nhiều tài liệu hay, nhưng cũng có kha khá các điểm là dở, là không đúng. Nhưng cái này tôi không trách anh ấy, mà tôi trách là trách những người đã gặp anh ấy, có nhiều người nói không đúng sự thật.”

“… Nếu mà gọi là cán bộ cao cấp đầu tiên cũng như cán bộ cao cấp duy nhất mà gặp họ trong ngày 30/4 thì chính là tôi… Chứ ông Nam Long cũng không hề gặp và cũng không có ông tướng nào gặp họ trong những ngày đó cả.”

“Những thiếu sót gốc phải gia công hơn nữa, ví dụ như là ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’ nói như thế có đúng hay không, theo tôi là không đúng. Thế còn nói ‘ngày toàn thắng,’ ‘ngày giải phóng,’ thì ngay cái tít ‘giải phóng’ cũng đã là mỉa mai rồi.

“Mà tôi nói là cái chiếm đóng của Miền Bắc đối với Miền Nam, cái này không phải là cái công để phục vụ nhân dân, mà Đảng cộng sản lấy danh nghĩa là chiến tranh giải phóng để cướp quyền lãnh đạo và từ đó nhằm lợi ích riêng của Đảng, không có phục vụ lợi ích của toàn dân.

Những điều này, theo ông Bùi Tín,  cần được “đánh giá lại một cách sâu sắc.”

nguon:  Theo BBC Tiếng Việt

————————————–

Sức khỏe lãnh đạo Việt Nam qua “Bên Thắng Cuộc”

Nguyễn Văn Tuấn

Theo blog Nguyễn Văn Tuấn

Thứ Hai, 21/01/2013

Mấy hôm nay đọc cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức rất thú vị, nhất là tập II (Quyền bính). Đọc chưa xong, nhưng tôi chú ý đến đoạn tác giả viết về tình trạng sức khỏe của các lãnh đạo Đảng CSVN. Đọc đoạn này mới biết một thông tin quan trọng: người Tàu nắm giữ thông tin về sức khỏe của lãnh tụ cao cấp VN còn hơn cả các bác sĩ Việt Nam. Thật là khó hiểu!

Thông thường các thông tin về sức khỏe lãnh tụ thường được giữ kín, không tiết lộ ra ngoài. Ở Mĩ, mãi đến năm 1955, người ta mới cho giới báo chí tiếp cận vài thông tin về sức khỏe của các tổng thống và lãnh đạo. Sau này thì chúng ta biết rằng những thông tin đó không còn là bí mật nữa (hay bí mật mà chúng ta không biết). Nhưng trong thế giới xã hội chủ nghĩa thì những thông tin về bệnh tật của lãnh tụ được giữ kín. Tuy nhiên, Huy Đức đã tiết lộ qua Chương 19 (Đại hội VIII) trong cuốn Bên thắng cuộc vài thông tin rất thú vị.

Chương 19 có đoạn nói cái chết của ông Lê Mai và Nguyễn Đình Tứ (những chữ nghiêng là trích từ sách, và chữ thường là ghi chú của tôi):

Trước Đại hội VIII, ứng cử viên sáng giá cho chức Bộ trưởng Ngoại giao, ông Lê Mai, bị mất đột ngột; ngay sau bầu cử, một tân ủy viên Bộ Chính trị, ông Nguyễn Đình Tứ, cũng đột tử trước khi nhận chức [473]. Cái chết của ông Tứ đã làm thay đổi chút ít phương thức tiến hành đại hội. Cho dù quy trình nhân sự vẫn được làm kỹ trong thời gian trù bị, nhưng từ Đại hội IX, chỉ khi đại hội chính thức khai mạc việc bỏ phiếu mới được tiến hành. Ngoài hai trường hợp chết bất ngờ này, chuyện sức khỏe Trung ương trước và sau Đại hội VIII cũng diễn ra đầy kịch tính.

Còn tướng Lê Đức Anh thì bị đột quị:

Chỉ mấy tháng sau Đại hội, Tướng Lê Đức Anh bị đột quỵ. Ông bị xuất huyết não khá nặng. Thông tin về bệnh tình của Tướng Anh được giữ kín tuyệt đối. Hơn ba tháng sau, khi bắt đầu hồi phục, bằng một ý chí tại vị sắt đá, Tướng Lê Đức Anh quyết định vẫn xuất hiện trên truyền hình và đài phát thanh đọc lời chúc mừng năm mới.
Giám đốc Quân y viện 108, Bác sỹ Vũ Bằng Đình, nói: “Chúng tôi phải hộ tống ông từ bệnh viện ra phòng thu. Ống kính chỉ quay nửa người nên dân chúng không biết ông vẫn ngồi trên giường bệnh. Các bác sỹ nấp phía sau sẵn sàng cấp cứu”.

Đọc đoạn này làm tôi nhớ đến năm 1919, sau khi tổng thống Woodrow Wilson bị tai biến mạch máu não, ông được các quan chức Nhà trắng khuyên phải để râu để che lấp phía trái của mặt bị teo lại vì cơn bệnh. Chẳng những thế, văn phòng ông làm việc mỗi khi khách đến thăm được điều chỉnh ánh sáng sao cho mờ mờ để che dấu khuyết tật của ông. Tương tự, bệnh bại liệt (polio) của tổng thống Roosevelt và bệnh Addison của tổng thống Kennedy cũng được các quan chức Nhà trắng dấu kín, không tiết lộ cho công chúng biết.

Nhưng điều khó hiểu là bác sĩ VN không nắm được phác đồ điều trị của bác sĩ Tàu:
Theo Bác sỹ Vũ Bằng Đình, sau khi đọc xong lời chúc năm mới, ông Lê Đức Anh về nhà, từ đây, ông được một ê-kip bác sỹ người Trung Quốc trực tiếp chăm sóc trong giai đoạn hồi phục. Các bác sỹ Việt Nam hoàn toàn không biết phác đồ điều trị mà các bác sỹ Trung Quốc dùng cho Tướng Lê Đức Anh.

Ông Đỗ Mười thì có lúc mắc bệnh tâm thần và phải đi China đề điều trị:

Người Trung Quốc còn nắm giữ không ít bí mật về sức khỏe của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Giữa thập niên 1990, thỉnh thoảng, bị cánh nhà báo chặn lại khi vừa bước từ toilet ra, Tổng Bí thư Đỗ Mười, với quần quên kéo khóa, leo lên chiếc bàn nước nhỏ đặt phía sau Hội trường Ba Đình, ngồi xếp bằng vui vẻ chuyện trò với dân báo chí. Nhiều khi cao hứng, ông nói: “Tôi đã từng bị thần kinh đấy”. Không phải ông nói đùa, theo ông Nguyễn Văn Trân, Bí thư Trung ương Đảng khóa III, người từng hoạt động với ông, có thời gian ông Đỗ Mười bị bệnh thần kinh, gần như không thể làm việc, có lúc lên cơn, ông phải dùng một cây gậy múa cho hạ nhiệt, có lúc người ta thấy ông Đỗ Mười một mình leo lên cây… Năm 1963, ông đã phải đi Trung Quốc chữa bệnh tới mấy năm mới về Việt Nam làm việc [474].

Qua chương này tôi mới biết vài lãnh đạo VN thời đó giấu bệnh hoặc không chịu nhận mình mắc bệnh:

Từ trước Đại hội VIII, khi công việc cơ cấu nhân sự bắt đầu, theo ông Nguyễn Văn An, người có trách nhiệm nắm hồ sơ các nhà lãnh đạo, kể cả các hồ sơ về sức khỏe, trong Bộ Chính trị xuất hiện một số “ông giấu bệnh”. Ông Lê Xuân Tùng, sau khi bị tai biến, một chân gần như bị liệt vẫn khẳng định là đang rất khỏe. Ông Lê Minh Hương giấu bệnh tiểu đường nặng. Ông Đoàn Khuê giấu bị ung thư hạch. Ông Đào Duy Tùng bị ung thư nhưng vẫn bám giữ chức Trưởng Ban Văn kiện của Đại hội cho đến khi bị tế bào ung thư lan lên não.

Tổ trưởng Tổ Biên tập Văn kiện Hà Đăng kể: “Trong nhiều cuộc họp, cả trong một vài cuộc tiếp xúc, thấy anh (Đào Duy Tùng) có những lúc lim dim, chừng như lơ đãng… Sau Hội nghị Trung ương 10, Tổ Biên tập Văn kiện chúng tôi họp lại trên cơ sở tiếp thu những ý kiến của Trung ương, sửa chữa lần cuối bản Dự thảo Báo cáo chính trị. Tôi thay mặt Tổ trình bày nội dung và cách sửa. Anh vẫn lim dim. Và khi tôi trình bày xong, anh đặt một vài câu hỏi, lại chính là những điều tôi vừa nói” [475]. Tháng 5-1996, “ứng cử viên tổng bí thư” Đào Duy Tùng xuống Hải Phòng dự đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố, đang phát biểu thì bị đột quỵ rồi từ đó, như đã nói, ở trong tình trạng hôn mê sâu cho đến khi qua đời [476].

Tin vào thuốc Bắc:

Ông Nguyễn Văn An kể: “Khi chuẩn bị nhân sự chủ chốt, ông Lê Đức Anh vẫn giới thiệu Đoàn Khuê làm chủ tịch nước và Thường vụ không có ai phản đối. Tôi gặp anh Đỗ Mười nói Đoàn Khuê bị ung thư đấy, anh Mười nói: Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ”.

Dứt khoát không chịu điều trị:

Theo Giáo sư Vũ Bằng Đình, viện trưởng Quân y 108 kiêm phó chủ tịch Hội đồng Bảo vệ sức khỏe Trung ương: “Chúng tôi phát hiện Đoàn Khuê bị ung thư hạch rất sớm. Sau khi bí mật hội chẩn trên cơ sở các mẫu xét nghiệm mà không cho biết là của ai, tất cả các chuyên gia trong nước đều khẳng định đấy là ung thư hạch. Tôi đích thân trên dưới mười lần đến năn nỉ ông vào bệnh viện. Biết khi ấy ông Lê Đức Anh đang giới thiệu Đoàn Khuê kế vị, tôi trấn an ông: nếu anh đồng ý để chúng tôi chữa trị kịp thời thì anh không những có thể sống thêm một thời gian dài mà còn có sức khỏe để đảm đương những nhiệm vụ quan trọng hơn. Nhưng ông Đoàn Khuê vẫn phủ nhận kết quả hội chẩn và chỉ thị cho tôi phải báo cáo Hội đồng Bảo vệ sức khỏe Trung ương là ông chỉ bị viêm hạch”.

Nhưng bác sĩ nhất định báo cáo bệnh án:

Trước khi Quốc hội khóa IX nhóm họp để chuẩn bị nhân sự cao cấp, theo Đại tá Vũ Bằng Đình, Tướng Lê Khả Phiêu, với tư cách là ủy viên thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, cùng với Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Văn An yêu cầu Viện 108 báo cáo sức khỏe của cả hai vị tướng Lê Đức Anh và Đoàn Khuê. Ông Đình nói: “Tôi và bác sỹ Nguyễn Thế Khánh cùng ký vào bệnh án, bí mật báo cáo lên Bộ Chính trị”.

và bác sĩ bị mất chức chỉ vì dám báo cáo bệnh của lãnh đạo:

Theo ông Nguyễn Văn An: “Sau khi anh em đưa cho tôi bệnh án của Đoàn Khuê: ung thư gan giai đoạn ba, chỉ có thể kéo dài cuộc sống không quá một năm, họp Thường vụ Bộ Chính trị, tôi đưa vấn đề sức khỏe ra, ông Đoàn Khuê vẫn cãi. Tôi phải công bố bệnh án”. Đoàn Khuê đập bàn tuyên bố: “Tôi là người khỏe mạnh, chúng nó phá. Tôi sẽ cho hai thằng đó nghỉ”. Đại tá Vũ Bằng Đình nhớ lại: “Cả tôi và anh Lê Thi, bí thư Đảng ủy Viện 108, nhận được quyết định nghỉ ngay lập tức”. Không chỉ “lỡ cơ hội” trở thành nguyên thủ quốc gia, bệnh tình Đoàn Khuê tiến triển xấu từng ngày. Cuộc sống của ông chỉ còn sáu tháng thay vì một năm như dự đoán. Ngày 16-1-1998, Tướng Đoàn Khuê chết.

Đọc qua những trích dẫn trên đây, dễ dàng thấy Đảng CSVN rất coi trọng vấn đề sức khỏe của lãnh đạo. Điều này thì chắc chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì có sức khỏe tốt mới làm lãnh đạo được. Nhưng ngạc nhiên là Đảng có hẳn một ban bảo vệ sức khỏe cho lãnh đạo. Tôi không rõ các nước như Mĩ, Canada, và Âu châu có ban này hay không, nhưng ở Úc thì không có. Thủ tướng Úc khi mắc bệnh vẫn đi chữa bệnh ở các bệnh viện như mọi người, và họ cũng không giấu diếm bệnh trạng với công chúng. Tại sao để cho Tàu nắm thông tin về tình hình sức khỏe của lãnh đạo Việt Nam?

Đoạn trích dẫn trên còn cho thấy làm bác sĩ cho mấy lãnh đạo xem ra là một nguy cơ. Đến nỗi chỉ đơn giản báo cáo bệnh của các vị lãnh đạo mà bị mất chức. Ở các nước phương Tây, bác sĩ ra y lệnh và bệnh nhân, dù là thủ tướng, phải tuân thủ; còn ở VN, bệnh nhân lãnh đạo ra lệnh ngược lại cho bác sĩ! Chẳng biết các bệnh nhân này có hành xử như thế với các bác sĩ Tàu hay không?

Chú thích:
[473] Ngày 27-6-1996, trong phiên trù bị, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã bầu Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, một nhà vật lý tên tuổi, vào Trung ương và ngay sau đó, được Trung ương đưa vào Bộ Chính trị. Sẽ không có gì để thường dân xầm xì nếu như ông Nguyễn Đình Tứ không bị tai biến và đột ngột chết vào lúc 20 giờ ngày hôm sau, 28-6-1996, ngày mà về công khai, Đại hội VIII mới bắt đầu khai mạc. Và theo chương trình làm việc được công bố cho người dân thì mãi tới ngày 30-6-1996, đại hội mới bắt đầu bầu cử. Thế nhưng, Cáo phó do Ban Chấp hành Trung ương đưa ra vẫn phải công bố ông Nguyễn Đình Tứ là ủyy viên Bộ Chính trị. Những người trong hệ thống thì không có gì bất ngờ, nhưng thường dân ngay tình thì không hiểu tại sao một người chết vẫn được Đảng bầu vào hàng ngũ mười chín người quyền lực nhất.
[474] Ông Đặng Quốc Bảo xác nhận, ông đã từng đi Trung Quốc chữa bệnh cùng ông Đỗ Mười mấy năm trời. Trong tiểu sử tóm tắt của ông Đỗ Mười, có một khoảng trống từ năm 1961 đến 1967 không nêu chi tiết chức vụ và công việc.
[475] Tuyển tập Đào Duy Tùng II, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2008, trang 634.
[476] Đào Duy Tùng mất vào tháng 6-1998.

Nguyễn Văn Tuấn

NguồnTheo blog Nguyễn Văn Tuấn

repost : https://danluan.org/tin-tuc/20130121…ben-thang-cuoc

——————————————————————————————–

Huy Đức, một nhà báo dấn thân

24-1-2013
Lương Lão Kháu

Là một trong những người sống gần trọn đời trong chế độ cộng sản, tôi chỉ đọc, chỉ biết những gì báo chí của Đảng viết ra. Một thời tôi đã từng say mê những bài viết của Thép Mới, Nguyễn Thành Lê, Nguyễn Hữu Chỉnh, Hữu Thọ, Hoàng Tùng, và cả Bùi Tín nữa khi anh ta còn làm Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân phụ trách tờ Nhân dân chủ nhật. Có lúc chợt nghĩ nếu Olimpic có môn viết xã luận thì chắc chắn Việt Nam sẽ có huy chương vàng!

Sau năm 1975, một thế hệ các nhà báo trẻ xuất hiện. Họ trưởng thành ở một thành phố gặp muôn trùng khó khăn nhưng cũng mạnh mẽ trỗi dậy và đi đầu trong công cuộc đổi mới. Đó là Đỗ Trung Quân, Nguyễn Ngọc Châu, Lê Thọ Bình, Bùi Thanh, Thủy Cúc, Lưu Đình Triều, Tâm Chánh, Đà Trang… ở tờ Tuổi trẻ, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Văn Thịnh, Danh Đức… ở tờ Thanh Niên; Trong số đó người nổi tiếng nhất là Huy Đức. Tôi đã có nhiều lần cộng tác với số nhà báo trẻ sớm thành danh nói trên nhưng với Huy Đức thì chưa một lần gặp mặt. Chỉ “gặp” anh trên các bài viết nóng hổi tính thời sự và nhân văn. Sau khi buộc phải rời các tờ báo khá mạnh bạo ở Sài Gòn, Huy Đức nổi tiếng với blog “lề trái” Osin, nhưng tôi cũng ít đọc cho tới khi Bên thắng cuộc ra đời thì nó như một quả bom nổ giữa sự nhàm chán của dư luận làm rúng động cả “quân ta” lẫn “quân địch”.

Huy Đức tung ra ánh sáng biết bao chuyện được gọi là “thâm cung bí sử” mà cả hai bên chiến tuyến, hai bên cựu thù đều dấu kín. Huy Đức viết những điều mà nhiều người đương thời còn “sống nhăn răng” ra đó nên người khen kẻ chê, người phản ứng gay gắt khi chạm nọc là điều không tránh khỏi.

Với một số bà con định cư ở Quận Cam và nhiều thành phố bên nước Mỹ xa xôi, những cay đắng họ phải gánh chịu từ chuyện cải tạo tư sản, cải tạo ngụy quân ngụy quyền, từ chuyện đổi tiền, chuyện vượt biên với biết bao rủi ro và mất mát… sẽ không bao giờ nguôi ngoai sự uất hận trong lòng họ cho dù hòa bình đã hơn ba chục năm rồi và nhiều người đã lần lượt trở về quê hương đoàn tụ gia đình tìm cơ hội làm ăn, thậm chí nhiều người già trong đó có những người nổi tiếng là tướng lĩnh là nhà chính trị trong quân đội Việt Nam cộng hòa, là văn nghệ sĩ nổi danh đã xin được về chết trên mảnh đất quê hương bởi vì như Đỗ Trung Quân đã viết khi còn là phóng viên Tuổi trẻ “Quê hương là chùm khế ngọt”. Ấy là lúc Trung Quân còn trai trẻ và tương lai của dân tộc cũng như tình yêu quê hương đất nước còn đang cháy bỏng trong trái tim anh chứ không phải của Đỗ Trung Quân chín chắn và trưởng thành như bây giờ.

Cho nên một số bà con Việt kiều dù chưa đọc một dòng Bên thắng cuộc nhưng nghe lời xúi dục của các phần tử quá khích đã đi biểu tình chống Bên thắng cuộc là một điều đáng tiếc. Nếu họ đọc, đọc thật kĩ và suy ngẫm về những điều Huy Đức nói về những “người thua cuộc” thì họ sẽ từ chối đi “biểu tình “ như vậy . Quả thật, nhờ những thông tin mà Huy Đức cung cấp trong kho sử thi đồ xộ của đất nước trong hơn ba chục năm qua, chúng ta bây giờ mới có thể biết được vì sao Cộng sản giải phóng được Sài Gòn và toàn Miền Nam. Không chỉ là chuyện hai miền “nội chiến”” nồi da xáo thịt” mà có sự can dự và hưởng lợi của các nước lớn mang danh đồng minh với cả hai phía của cuộc chiến dai dẳng ba chục năm

Tất cả các câu chuyện về thành phố Sài Gòn sau giải phóng đã được Huy Đức giải mã một cách đầy đủ và chân thực. Tại sao những người chịu đau thương và mất mát trong các sự kiện kể trên lại có thể phản đối tác giả khi anh đã giúp họ nói lên một phần sự thật để phần nào nguôi ngoai nỗi đau thương dấu kín bấy lâu. Có lẽ chỉ vì chuyện Huy Đức đã mô tả rất chi tiết việc quân đội Việt Nam cộng hòa tan rã nhanh chóng trước sức tấn công như vũ bão của quân đội miền Bắc chăng? Lúc đó ở Hà Nội, tôi thắc mắc tại sao Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là một vị tướng lại ra lệnh “tùy nghi di tản” dẫn đến cuộc tháo chạy ồ ạt từ Ban Mê Thuột, đến Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng… cho đến tận Sài Gòn. Nếu chỉ bằng những thông tin trên báo chí Miền Bắc thì ta có thể suy ra rằng quân đội cộng hòa Sài Gòn là đội quân bạc nhược sau khi bị Mỹ bỏ rơi. Nhưng Huy Đức đã chỉ ra rằng có rất nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã “tử vì đạo”. Có người đã bắn chết cả gia đình sau đó tự sát như các võ sĩ Nhật Bản. Đáng lẽ người Việt phải rời quê hương ra đi phải biết ơn Huy Đức đã cho tòan thế giới biết bên cạnh những tướng lĩnh bạc nhược vẫn có những người “anh hùng” như vậy chứ. Vậy thì cớ gì phản đối Bên thắng cuộc?

Năm 1995, trên tờ Tuổi trẻ chủ nhật nhân kỉ niệm 20 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước tôi đã viết bài “Sài Gòn 1975-1995 dưới con mắt một người Hà Nội”. Bài viết kể chuyện về ông chú vì đói thông tin đã bán hết hàng hóa ôm một đống tiền, khi chính quyền quân quản đổi tiền ông mất trắng. Trong khi người cháu là sĩ quan quân đội, là đảng viên cộng sản ngày 30-4 vào tiếp quản thành phố đã không dám đến gặp người chú vì sợ bị liên lụy. Chuyện của người anh trai của tôi với ông chú không chỉ là chuyện cá biệt trong trận chiến ba mươi năm giữa những người cùng dòng máu đỏ da vàng, cho nên chuyện cha con Lưu Quý Kỳ và Lưu Đình Triều cũng chẳng có gì là khó hiểu và anh Triều không nên có phản ứng với người đồng nghiệp một thời cùng chung lưng đấu cật làm nên thương hiệu của tờ Tuổi trẻ. Cuộc chiến Nam Bắc không chỉ hy sinh hàng triệu nhân mạng những người con ưu tú của dân tộc mà còn là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa một bên là cộng sản một bên là cộng hòa mà cuộc chiến về ý thức hệ này còn dai dẳng đến tận bây giờ. Nếu nó không chấm dứt với một bên thắng một bên thua hoàn toàn thì sẽ không bao giờ có hòa hợp dân tộc một cách đúng nghĩa.

Nếu như phần I của Bên thắng cuộc với tiêu đề “ Giải phóng” làm cho ai đó bên thua cuộc phản ứng là điều có thể hiểu được thì phần II có tiêu đề “ Quyền bính” đã và sẽ làm cho nhà cầm quyền Hà Nội, bên thắng cuộc phát điên. Bao nhiêu chuyện thâm cung bí sử dấu lẹm đã bị Huy Đức phơi bày. Huy Đức “khôn “ lắm, anh chỉ cung cấp thông tin có dẫn chứng người nói, dẫn chứng từ các văn bản “mật” chứ không bình luận. Tự thân các sự kiện nói lên tất cả tùy nhận thức của người đọc. Cũng không ai có thì giờ và tâm huyết đi kiểm chứng xem những thông tin Huy Đức tung ra là đúng hay sai, đúng bao nhiêu phần trăm, sai bao nhiêu phần trăm. Cho nên nói như Bùi Tín rằng Huy Đức mới chỉ nói 30% sự thật là nói đại. Còn 70% nữa Bùi Tín có giỏi thì nói nốt đi. Cần biết rằng để viết Bên thắng cuộc, Huy Đức không chỉ dành 3 năm để viết và chỉnh sửa, anh đã dành gần cả trọn cuộc đời làm báo của mình để tích lũy sử liệu, để thẩm tra các dữ kiện, để phỏng vấn các nhân vật và nhờ có internet, anh đã lưu trữ được nó trong một chiếc laptop nhỏ bé để mang theo nó sang nước Mỹ rồi tung nó ra toàn cầu bằng giải pháp kĩ thuật số, điều mà ở trong nước anh không thể làm được.

Sau một thời gian im ắng, các báo trong nước chủ yếu là các tờ báo công an bắt đầu phản công Bên thắng cuộc và tác giả Huy Đức. Đọc qua một vài bài tôi thấy hình như họ viết theo sự chỉ đạo của cấp trên nên gò ép và thiếu sự thuyết phục. Những “dư luận viên” mà ông Trưởng ban tuyên huấn thành ủy Hà Nội nói theo sự chỉ đạo của cấp trên không đủ tâm và đủ tài để chọi với các bài phản biện của các tay bút bên lề trái. Nó tương tự như bài của ông nghị Hoàng Hữu Phước viết trên blog của mình đại ý rằng một thằng nhóc mới 13 tuổi khi Sài gòn giải phóng thì biết gì mà viết nhăng viết cuội. Cái ông nghị rởm này như có bạn viết trên Facebook là đã bị ung thư dây thần kinh giai đọan cuối này làm sao có đủ trình độ và tư cách phê phán Bên thắng cuộc.

Chúng ta phải cám ơn Bên Thắng cuộc và tác giả Huy Đức đã dũng cảm giải mã biết bao sự thật ở Ba Đình. Ví dụ người có công tiến hành đổi mới đất nước là ông Trường Chinh về lí luận và ông Võ Văn Kiệt về hành động chứ không phải ông Nguyễn Văn Linh với mấy bài “Những việc cần làm ngay”. Ví dụ vì sao các lãnh đạo Việt nam từ thời ông Lê Duẩn, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười, ông Lê Khả Phiêu, ông Nông Đức Mạnh, đến ông Nguyễn Phú Trọng hôm nay đều “kiên trì” định hướng xã hôi chủ nghĩa cho dù mang tiếng là giáo điều. Bởi vì tuy Huy Đức không nói ra nhưng nếu không bám vào cái lí thuyết không tưởng đó thì không có lí do gì tồn tại Đảng Cộng sản mà nếu không còn Đảng thì còn đâu mảnh đất tham nhũng như ngày hôm nay. Cho nên nói chống tham nhũng mà vẫn khư khư theo đuổi định hướng XHCN một cái rất mơ hồ thì chỉ là nói chống cho vui vậy thôi. Bây giờ bên Đảng có Ban nội chính chống tham nhũng, bên chính quyền lại mới đẻ thêm Ban chỉ đạo gì đó tương tự thì chỉ là cuộc chiến giữa Đảng và Chính quyền chứ bè lũ tham nhũng vẫn phè phỡn ngoài vòng pháp luật vì các ông đang kềm chế nhau chứ có đánh gì tham nhũng đâu

Trong hai thứ những người cộng sản sợ nhất là chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Xét lại hiểu theo một cách nào đó là một sự đổi mới chủ nghĩa Marx đã lỗi thời còn giáo điều là cố níu kéo cái đã lỗi thời đó để thể hiện mình là người trung thành tuyệt đối với lí tưởng mà thời trai trẻ mình đã mù quáng tuyên thệ. Tất cả những gì làm trái quy luật dù cố níu kéo bằng lý thuyết ma giáo hay bằng chuyên chính vô sản tàn bạo, mà tàn bạo nhất là chiến tranh đều không thoát khỏi sự phán xét và trừng phạt của lịch sử mà lịch sử thì rất công bằng.

Nhiều thế hệ người Việt nam phải biết ơn “sử gia” Huy Đức bằng những thông tin mà anh cung cấp. Những đời tư của các nhân vật quyền thế từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Văn Tiến Dũng, Đoàn Khuê, Võ Nguyên Giáp, Đinh Đức Thiện, Mai Chí Thọ, Nguyễn Hà Phan, Trần Xuân Bách, Nông Đức Mạnh… Tất cả những sự kiện hư hư thực thực kể cả chuyện Hồ Chí Minh có vợ đăng trên tờ Tuổi trẻ – lí do mà Tổng biên tập Kim Hạnh mất chức và suốt đời không được làm báo, những chuyện Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng có bố có mẹ chứ không phải là con ông nọ bà kia đều đã được Huy Đức công khai danh tính và có thể đó là lí do mà các “dư luận viên” viết theo Lề Đảng sẽ vin vào đó để kết tội Huy Đức làm lộ bí mật quốc gia và bí mật đời tư chiểu theo nghị định này nghị định nọ để có thể bỏ tù khi Huy Đức về tới sân bay Tân Sơn Nhất.

Huy Đức đã không thể từ trong nước phát hành Bên Thắng cuộc, anh cũng chưa thể in thành sách. Anh lựa chọn phát hành trên mạng. Cách phát hành này có thể không mang lại cho anh nhiều tiền bạc tương xứng với công sức anh bỏ ra và giá trị của quyển sách mà anh mang đến cho độc giả nhưng bằng cách này sẽ có nhiều người trên thế giới tìm đọc quyển sách đang rất hot này. Càng có nhiều người khen kẻ chê càng có nhiều người tìm đọc. Đó là quy luật mà những người làm công tác tuyên giáo của Đảng Cộng sản rất biết nhưng họ vẫn cứ phải lên án nếu như không muốn bị cấp trên khiển trách, mắng mỏ. Và tôi nghĩ như ai đó đã từng viết rằng các lãnh đạo Việt nam, các Trung ương ủy viên, các ủy viên Bộ Chính trị càng nên đọc sách này để biết một phần sự thật mà họ chưa được biết. Biết để mà phòng thân và tránh các sai lầm khuyết điểm mà tư tưởng giáo điều đã ám ảnh họ, Trên hết ông Nguyễn Phú Trọng cần đọc quyển sách này. Và nếu là người thực sự cầu thị, thì ông phải khuyến khích các đảng viên của ông cùng đọc mới đúng. Và tôi tin lịch sử sẽ rất công bằng với Huy Đức, một nhà báo dấn thân.

Lương Kháu Lão

———————————————————————-

Mù quáng giả, mù quáng thật

Mù quáng được từ điển Tiếng Việt định nghiã như sau: “Thiếu trí sáng suốt tới mức không biết phân biệt phải trái, hay dở…”

Chính vì vậy tôi không tin, một ông nghị có ăn có học đàng hoàng từ thời VNCH như ông Hoàng Hữu Phước (TP Hồ Chí Minh) lại phê phán nặng nề cuốn sách Bên thắng cuộc (BTC) của Huy Đức khi “không thèm” đọc tác phẩm. Phải chăng đây là tuýp tiêu biểu của hạng người “mù quáng giả” chăng?

Ta thử coi ý kiến của ông Phước, viết trên blog cá nhân xem sao:

Ông Nghị Hoàng Hữu Phước

Tôi đã không thèm đọc bất kỳ trang nào của cái “tác phẩm” mà Huy Đức từ Mỹ mới tung ra trên mạng. Song, những âm thanh ồn ào của phía hồ hởi hân hoan tận dụng và bên nghiêm chỉnh phán phê đã khiến tôi, người học trò của bậc kỳ tài, đang tu theo cái thần và cái dũng của thánh nhân không thể không yêu cầu nhân viên kể tóm lược nội dung và tôi đã nhận ra ngay chân tướng sự việc khiến phải viết ra đây sự thật trụi trần” (*)

Cũng giống như y chang Nghị Phước, hàng trăm công dân cũ của VNCH đang tỵ nạn cộng sản ở Mỹ đã tụ họp biểu tình vào chiều ngày 19.01.2013 tại Westminster, California, trước cửa trụ sở Nhật báo Người Việt. Trong đó đa phần chưa coi (hay “không thèm đọc”) với lý do tác giả có xuất xứ Việt Cộng và Nhật báo Người Việt là thân cộng, là sản phẩm của Nghị quyết 36 của Việt Cộng…

Những lời của họ bày tỏ trước phóng viên Nhật báo Người Việt thế này:

– “không có nhu cầu đọc quyển sách đó nhưng biết cuốn sách đó viết cái gì”; “Ðối với tôi, khi mình đọc một quyển sách thì mình phải nhận định nó một cách rõ ràng. Nghĩa là nhìn tựa là thấy nó chỉ có một phía thôi, không thể nói lên toàn diện được. Nó có nói những chuyện nhiều người biết, nhưng có những chuyện nhiều người cần biết thì nó chưa bao giờ nói, vì nó không biết để nói. Vì vậy đối với tôi quyển sách đó không có giá trị gì hết”; “Tôi có mặt trong đoàn biểu tình là để làm bổn phận của một công dân, một người tị nạn sinh sống ở đây, để chứng minh rằng cuốn sách đó không cần thiết. Chỉ vậy thôi.” (ông Lê Ba, cư dân thành phố Garden Grove, có mặt trong số những người biểu tình)

– “chưa đọc Bên Thắng Cuộc”; “nghe trên đài nói thì tôi cũng hiểu một phần nào… Chỉ cần đọc mấy chữ ‘Bên Thắng Cuộc’ là đã biết những người viết trong cuốn sách không hiểu gì hết, không hiểu gì về VNCH, chứ không cần phải đọc hay đi sâu vào đọc”. (Bà Thương Trương, cư dân thành phố Garden Grove)

– “Cái đồ này tôi đọc làm cái gì! Nhưng mà tôi biết là nó xuyên tạc, nó bênh vực Việt Cộng mà thứ Việt Cộng là tôi không chơi, vậy thôi.” (một biểu tình viên không xưng danh)

– “Tôi không đọc quyển sách và tôi muốn nói rằng cuộc biểu tình hôm nay không phải là vì cuốn sách.” (Ông Phan Kỳ Nhơn, đại diện Ban Tổ Chức) (**)

Như vậy, cả những người chống cộng hăng hái ở Hải ngoại và các tờ báo VC thứ thiệt ở trong nước như: Pháp Luật Thành Phố (PLTP); Dân Việt (DV); Sài Gòn Giải Phóng (SGGP); Công An Thành Phố (CATP)… và những tác giả rất tiếng tăm như Nghị Phước; Nguyễn Đức Hiển; Đông La; Song Huy – Ngọc Điệp; Lưu Đình Triều… cùng có chung quan điểm lập trường nhằm chống lại sự xuất hiện của BTC? Có khác chăng những người ở bên này (phe Việt Cộng) thì nguỵ biện, chối bỏ lịch sử, tiếp tục bưng bít sự thật để ngu dân. Nhóm này là đám mù quáng giả?

Ông Ngô Kỷ, thành viên tích cực tại bất kỳ cuộc biểu tình chống cộng nào tại địa phương. (Hình: Dân Huỳnh/NV)Còn phía đối diện (phe chống cộng) thì do còn nặng lòng thù hận, định kiến đã không còn tỉnh táo và sáng suốt để phân biệt đâu chính đâu tà. Do không còn kiểm soát được hành vi của mình, họ trở thành đám người mù quáng thật?

Khi mình ở trong một xứ dân chủ thì phải đánh giá cuốn sách qua nội dung của nó chứ chưa đọc cuốn sách mà nói là cuốn sách này thân cộng, làm lợi cho cộng sản… trong khi báo Công An Thành phố đang chửi và đánh ông tác giả này thì tôi nghĩ đây là một chuyện không hay.
Bao giờ cũng vậy, dân chủ phải đi song song với trách nhiệm. Thành ra muốn chỉ trích hay muốn khen thì phải dựa trên những chứng cớ rõ ràng. Vì vậy chúng ta phải thoát khỏi cái cùm, khi nghe tới cộng sản thì thấy sợ rồi.

Nhiều người hiện nay cũng đã về Việt Nam lấy vợ rồi cộng sản hết hay sao? Đối với tôi bao giờ cũng vậy tự do phải đi song song với trách nhiệm và khi mình muốn khen hay chê, chỉ trích gì thì phải dựa trên nội dung mà mình làm”.

Đó là ý kiến rất công tâm của tiến sỹ Đinh Xuân Quân, một kinh tế gia về phát triển và tổ chức cơ chế. Ông từng bị tù cải tạo, vượt biển tìm tự do tại Hoa Kỳ để rồi sau đó có dịp về làm việc tại Việt Nam trong chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP). (***)

Còn ý kiến của một cư dân mạng trên Dân luận thì cho rằng:

đám biểu tình và Hoàng Hữu Phước có cùng điểm tương đồng: Không đọc nhưng mà cứ chống. Giống như chuyện 2 thằng mù cùng phê phán người đẹp, thằng nào cũng cóc thấy, thậm chí chưa sờ tới nhưng cứ lu loa!

“Người VN mình nó thế!”

Thật ấu trĩ nhảm nhí…” (**)

Cá nhân tôi, mới đọc xong quyển I (Giải Phóng), đã thấy cuốn sách rất có giá trị. Mặc dù nhiều sự kiện tôi đã biết qua các cuốn hồi ký của Đoàn Duy Thành; Trần Độ và Trần Quang Cơ. Nhưng qua sự tổng hợp rất khoa học và nghiêm cẩn của Huy Đức, độc giả đã được ngắm lại bức tranh toàn cảnh đa sắc màu. Dưới một cái nhìn điềm tĩnh, vô tư của một nhà báo đầy tâm huyết.

Có ý kiến chưa thật thoả mãn. Cho rằng cuốn sách mới khắc hoạ được 1/3 sự thật của lịch sử. Nhưng khắc hoạ lịch sử của một dân tộc, không chỉ bởi một cuốn sách, dù của bất kỳ ai mà thành được. Nó cần nhiều sự đóng góp (cả chính thống và phi chính thống) cùng bắt tay vào thực hiện. Với một tiêu chí bất di bất dịch: tôn trọng sự thật khách quan. Chứ không phải thứ lịch sử mang tính tuyên truyền cho mục tiêu chính trị của bất kỳ phe nhóm nào. Như sử quan xưa, trong khi đang chép sử, ngay cả đấng quân vương cũng không được phép can gián hay bóp méo theo chủ kiến riêng của mình. Từ đó ta có thể hiểu sản phẩm lịch sử mà các sử gia Mác-xít ở xứ ta làm ra trong hàng chục năm qua là như thế nào?!

Người không biết lịch sử dân tộc mình như con trâu đi cày ruộng, cày với ai cũng được mà cày ruộng nào cũng được (lời nhà văn Nguyễn Huy Tưởng)

Việc ru ngủ cả một thế hệ và lường gạt một dân tộc bằng những thứ lịch sử nguỵ tạo (theo định hướng của kẻ cai trị) thì có khác gì cái sự cày với ai cũng được và cày ruộng nào cũng được kia chứ?

Trở lại với những chống báng xung quanh Bên thắng cuộc của Huy Đức, tôi hoàn toàn không giận (chỉ trách) những người do nhận tức còn hạn chế mà trở thành mù quáng thứ thiệt. Nhưng tôi không thể chấp nhận được những kẻ có học trí trá dối trên lừa dưới, giả ngô giả ngọng… giả mù giả quáng nhằm bôi bác và hãm hại người ngay để vinh thân phì gia và bắt cả dân tộc khốn khổ này mãi lầm than trong kiếp trâu cày!

Gocomay

(*) Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đứchttp://hhphuoc.blog.com/?p=121

(**) Biểu tình chống sách Bên Thắng Cuộc và chống báo tại Người Việthttp://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=160682&zoneid=3#.UP04fidfCIk

(***) “Bên Thắng Cuộc” dưới cái nhìn của một nhà kinh tếhttp://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/benthangcuoc-dxquan-ml-01192013130421.html

————————————-

►Bình Dương: ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ “CHINA TOWN” do Công Ty của Bộ Quốc Phòng Việt Nam xây dựng tại Thành Phố Mới BÌNH DƯƠNG
►Liên Xô đã làm gì trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 17-2-1979
►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF
►Nhà cầm quyền VN đã từ chối nhận khoản viện trợ 1 triệu đô la từ Hoa Kỳ để tìm kiếm hài cốt các bộ đội Miền Bắc đã mất tích trong chiến tranh Việt Nam vì trong đó có điều khoản: tìm kiếm hài cốt của các quân nhân phía VNCH!
►Tranh chấp quyền lực trong nội bộ đảng CSVN
Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi, nhưng tung tin đổ thừa cho Tổng Thống Thiệu lấy
►Hèn nhát, nhưng vẫn đòi lãnh đạo…
►Những tiếng nói bị bưng bít tại Việt Nam
► Những người vượt biên từ miền Bắc cũng ra đi sau ngày 30-4-1975 để trốn thoát khỏi chế độ cộng sản
►Việt Hưng (Vihajico), chủ đầu tư Ecopark, là đối tác chiến lược của VietCapital Bank, do Nguyễn Thanh Phượng-con gái của Thủ tướng Ng T. Dũng- làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị
►Ngay cả lúc sắp chết, Các đảng viên đảng CSVN vẫn rất tham quyền lực vì giữ chức vụ càng cao thì càng có nhiều lợi lộc đi kèm
►”Đồng chí X” …
►Cái giá của Tự Do
►Đảng chỉ đạo: Kể từ năm 2007, chính TT Nguyễn Tấn Dũng, và phó TT Hoàng Trung Hải 2008, chỉ đạo Tập đoàn Điện lực VN (EVN) vác tiền đi mua điện của Trung Quốc với giá cao gấp 2 đến 3 lần so với giá điện của các công ty thủy điện VN trong nước bán cho EVN
Ngân Hàng đốt tài liệu vào ngày chủ nhật, dân phát hiện tri hô, Giám đốc Ngân Hàng tuyên bố tài liệu cũ 1999, Dân nói: Nhìn thấy nhiều bộ hồ sơ liên quan vay vốn trong những năm gần đây! Phóng Viên loan tin: chi nhánh Ngân Hàng mới được thành lập…2006!
Đàng sau công an và xã hội đen là…
►Hậu trường chính trị đầy bí hiểm
►Hai tù nhân kiên định sắp về – Trong khi thầy giáo Đinh Đăng Định vừa mới bước vào tù
Công an đã bắt Lê Anh Hùng và giam ở trại bệnh tâm thần vì blogger này đã tố cáo (lần thứ 67) với chứng cớ: Các lãnh đạo chính phủ chỉ đạo Điện Lực Việt Nam phải mua điện của Trung Quốc với giá cao gấp 2,3 lần so với giá thủy điện của các công ty tư nhân của VN đang bán ra…
►Bí mật quốc gia bị lộ tẩy ở Việt Nam
Việt Khang đang ở tù, nhưng anh không cô đơn vì đã có hơn 100 ngàn người Việt ở Mỹ ký thỉnh nguyện thư gởi tòa Bạch Ốc
►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ

——————————————-

“Bên thắng cuộc” lột trần hậu trường chính trị VN

BS Ngọc

28-1-2013

Theo blog BS Ngọc

Phải nói cho rõ là “hậu trường chính trị của chế độ Việt Nam theo chủ nghĩa xã hội, hay cộng sản”. Đã có nhiều người viết bài điểm sách, tôi không có gì để viết thêm. Tôi chỉ muốn rút ra vài điểm chính sau khi đã đọc xong bộ sách.

Theo tôi nghĩ những câu chuyện Huy Đức thuật lại trong sách có thể giải thích tại sao nước ta nghèo hèn như hiện nay. Tôi cũng nghĩ các lãnh đạo thuộc phe XHCN của miền Bắc phải chịu trách nhiệm lớn trước lịch sử về những sai lầm của họ.

Một nhà văn hoá Âu châu từng nói rằng lịch sử chỉ là một chuỗi câu chuyện về gia đình và thế giới. Bởi thế, kể chuyện là một phương tiện có hiệu lực cao để giải thích những gì đã và đang xảy ra. Có thể khẳng định ngay rằng bộ sách Bên thắng cuộc của Huy Đức không phải là sách lịch sử. Huy Đức cũng nói rằng anh không viết sử.

Tôi xem Bên thắng cuộc là một chuỗi câu chuyện hậu trường chính trị Việt Nam. Tất cả chúng ta cần phải biết những câu chuyện mà Huy Đức kể lại, bởi vì những câu chuyện đó sẽ thấp lên một que diêm trong cái lịch sử mờ ảo của Việt Nam vào những năm giữa thế kỷ 20 cho đến ngày hôm nay.

Đọc phần I của tập sách tôi như xem một cuốn phim quay chậm. Những kẻ một sớm chiều biến thành “Cách mạng 30/4”. Đốt sách. Cạo râu, cắt ống quần. Cải tạo. Kinh tế mới. Đánh “tư sản mại bản”. Đổi tiền. Vượt biên. Tất cả những biến cố đó là sự thật. Là người ở lại trong khi các đồng nghiệp tìm được vượt biên tôi có thể nói rằng tất cả những gì Huy Đức ghi chép đều đúng. Huy Đức không phải là người đầu tiên ghi lại những biến cố đau thương sau 1975. Trước Huy Đức đã có cụ Nguyễn Hiến Lê viết lại cẩn thận những sự kiện và biến cố làm cho miền Nam suy sụp sau ngày “giải phóng” trong tập Hồi Ký nổi tiếng nhưng bị nhà xuất bản cắt xén khá nhiều. Chúng ta thử đọc vài trích đoạn trong Hồi Ký của cụ Nguyễn Hiến Lê trước khi đọc sách của Huy Đức.

Kẻ “thắng trận” muốn biến miền Nam nghèo như miền Bắc:

“Sự thất bại hiển nhiên của chế độ là sự suy sụp của kinh tế như tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Nhưng một người Balan trong Ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quầ áo… về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi”.

Trong cùng lúc ra tay hành hạ dân miền Nam:

“Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ… để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá”.

Trong khi đó bản thân những kẻ “thắng cuộc” thì ăn hối lộ và tham nhũng:

“Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn thời trước”.

Họ tạo nên một xã hội trong đó con người mất nhân phẩm:

“Một cán bộ tài chánh xã mà không biết chia 72 cho 24. Trong một buổi hội họp của Hội trí thức thành phố Hồ Chí Minh, một kĩ sư già bực mình vì tình trạng cán bộ đa số dốt nát, bảo: “Tôi chấp nhận vô sản chuyên chính, mà không chấp nhận vô học chuyên chính”. Ngay chiều hôm đó ông ta bị bắt giam; sau cũng được thả ra”.

“Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó”.

Tình trạng phân chia Nam Bắc càng nặng:

Thất bại lớn nhất, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Ðào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc
”.

bởi vì một trong những nguyên nhân là:

Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật -điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học- thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẫy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…”.

Trong khi cụ Nguyễn Hiến Lê ghi chép thời cuộc, tình hình chung, còn Huy Đức thì cung cấp cho chúng ta những câu chuyện hậu trường, những suy nghĩ cá nhân của những người nặn ra những chính sách ác ôn dẫn đến tình hình mà cụ Nguyễn Hiến Lê nhận xét. Có thể nói rằng cuốn sách của Huy Đức là một bổ sung quý báu cho hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ chúng ta thử đọc xem Huy Đức đã cho chúng ta chứng từ để giải thích cho những nhận xét của cụ Nguyễn Hiến Lê. Đọc xong bộ sách tôi thấy những thông điệp sau đây lắng đọng trong tôi:

1.- Đó là một chế độ độc tài và toàn trị. Người cộng sản nói rằng chế độ do họ dựng lên là dân chủ tập trung. Nhưng trong thực tế chúng ta thấy rằng chẳng có gì là dân chủ trong chế độ cộng sản. Tất cả các chính sách đều do một nhóm người trong Bộ chính trị quyết định. Nhưng qua Bên thắng cuộc, chúng ta còn biết rằng rất nhiều chính sách có ảnh hưởng đến hàng triệu người chỉ do một người quyết định, bất chấp những lời khuyên của người khác. Điển hình cho tính độc tài là quyết định mở cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Rõ ràng, đó là một chế độ độc tài, sao gọi là dân chủ tập trung được.

Điều mỉa mai nhất là họ cáo buộc rằng chế độ VNCH là do Mỹ dựng lên và tay sai của Mỹ, nhưng chính người lãnh đạo cao cấp nhất trong chế độ CS là Lê Duẩn khẳng định rằng họ đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Cộng. Hình như chưa một lãnh đạo miền Nam chưa ai trơ tráo nói rằng họ là tay sai của Mỹ. Nói cách khác, chế độ CS ngoài Bắc thời đó là một chế độ toàn trị, tay sai của ngoại bang.

Tính toàn trị còn thể hiện qua việc Bộ chính trị kiểm soát cả hành vi xã giao của các đồng chí họ. Đọc đoạn Huy Đức tả cái bắt tay hờ hững của cựu thủ tướng Phan Văn Khải với ông Bill Clinton mà buồn cười về sự trẻ con và thiếu văn hoá của lãnh đạo CS. Ông Khải không mở miệng cười với Bill Clinton. Khi được hỏi tại sao lại có hành vi kém xã giao như vậy, ông Khải thú nhận: “Không được đâu mày ơi, Bộ chính trị đã thống nhất là không được cười”. Đoạn viết về một ông tướng công an “làm việc” với ban giám hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội để chỉ đạo lúc nào nên cười, lúc nào nên vỗ tay, thậm chí những hành vi xem thường ông Bill Clinton như để cho sinh viên đọc báo trong lúc ông nói. Tất cả những hành động và sự giật dây đó là những minh chứng hùng hồn cho thấy chế độ toàn trị kiểm soát tất cả hành vi sống của người dân.

2.- Nội bộ thiếu đoàn kết. Thoạt đầu, ấn tượng của tôi về các vị lãnh đạo phe CSVN là họ rất đoàn kết với nhau. Nhưng đọc qua Bên thắng cuộc và kinh nghiệm cá nhân, tôi mới thấy ấn tượng đó rất sai lầm. Người CSVN, đặc biệt là trong giới lãnh đạo thượng tần, rất ganh ghét và đố kỵ lẫn nhau. Huy Đức qua những câu chuyện cá nhân phác hoạ một bức tranh rất xấu về Lê Đức Thọ và Lê Duẩn, hai người không ưa tướng Võ Nguyên Giáp. Từ một tướng vang danh thế giới bị hạ xuống người đi đặt vòng ngừa thai cho phụ nữ! Những ganh ghét và đố kỵ rất con người cũng giống như các lãnh đạo thuộc phe VNCH. Nhưng có cái khác biệt căn bản là các lãnh đạo VNCH hành xử có văn hoá hơn và có phần tế nhị hơn so với các lãnh đạo phe CS.

Họ sẵn sàng dựng nên những câu chuyện để bôi xấu lẫn nhau. Vụ án “Năm Châu – Sáu Sứ” được Huy Đức mô tả khá rõ và cho thấy các đồng chí thượng tầng CS có thể lập mưu mô để hạ bệ những ai họ không ưa thích. Họ còn dám dùng cả những thủ đoạn thấp như photoshop để nguỵ tạo hình ảnh trai gái để tố cáo ông Lê Khả Phiêu lúc đó là tổng bí thư đảng.

3.- Tàn nhẫn. Sự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

4.- Lừa gạt và dối trá. Người dân đã bị bộ máy tuyên truyền của chế độ định hướng suy nghĩ và cảm nhận. Những trẻ em mới lớn lên đã bị bộ máy tuyên truyền nhồi nhét rằng các vị lãnh đạo đáng kính suốt đời hy sinh hạnh phúc cá nhân để đấu tranh cho bình đẳng xã hội. Họ còn bị nhồi nhét rằng chế độ VNCH là chế độ ác ôn, với những con người ăn trên ngồi trốc, trong khi phần lớn người lao động phải sống khổ cực. Nhưng Bên thắng cuộc lột trần “huyền thoại” cao cả của các lãnh đạo CS. Sự thật nói lên rằng họ chính là những người ăn trên ngồi trốc. Trong khi người dân không đủ cơm ăn thì họ phè phỡn với bơ sữa từ Đông Âu. Họ có những vườn rau riêng. Họ có một đội quân bác sĩ chăm sóc sức khoẻ dưới danh xưng “Ban bảo vệ sức khoẻ trung ương”. Người dân không có thuốc điều trị nhưng lãnh đạo CS thì có thừa. Nếu lấy cái nền lãnh đạo VNCH có đặc quyền đặc lợi là 1 thì những người lãnh đạo CS có đặc quyền đặc lợi phải lên đến 100. Do đó, tất cả những gì người CS phỉ báng giới lãnh đạo VNCH thì cũng chính là những gì họ phỉ báng chính họ với cường độ cao hơn 100 lần. Một cách ngửa mặt lên trời phun nước bọt.

5.- Đạo đức giả. Báo chí miền Bắc thường ra rả tuyên truyền rằng lãnh đạo VNCH là những kẻ ăn chơi, đa thê đa thiếp, chỉ biết suốt ngày nhảy đầm chứ chẳng có kiến thức chính trị gì cả. Họ còn viết hẳn một cuốn sách về các tướng lãnh VNCH. Đọc cuốn này cũng là một phương thức giải trí tốt vì các tác giả có khả năng tưởng tượng khá tốt. Nhưng còn các lãnh đạo CS thì sao? Họ là những kẻ nhiều vợ. Lê Duẩn. Nguyễn Văn Linh. Lê Đức Thọ. Võ Văn Kiệt. Có thể cả ông Hồ. Tất cả đều có hơn 1 vợ. Tất cả đều sẵn sàng bỏ vợ lại sau lưng để “theo đuổi sự nghiệp cách mạng”. Nhưng cũng có thể họ xem phụ nữ như là những người để họ giải quyết vấn đề tình cảm sinh lý. Không phải ai trong giới lãnh đạo CS đều sống vô đạo đức, nhưng nhìn qua những nhân vật cao cấp chúng ta thấy nói rằng thói đạo đức giả rất phổ biến trong giới thượng tầng của chế độ.

6.- Dốt nát. Chúng ta biết rằng những người cộng sản thế hệ thứ nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (không tính đến những người như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ) là những người có trình độ học vấn khá và có bản lãnh. Nhưng Bên thắng cuộc tiết lộ rằng những người thuộc thế hệ đàn em của những người tiền phong toàn là một nhóm người ít học. Những lãnh đạo như ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh … đều xuất thân từ thành phần không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn. Sự dốt của lãnh tụ có khi đến mức hài hước. Trong phần viết về sức khoẻ lãnh đạo, chúng ta được biết ông Đỗ Mười nói về bệnh trạng của tướng Đoàn Khuê, qua lời thuật của ông Nguyễn Văn An, như sau: “Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ”. Thật kinh hoàng khi những con người như thể được đặt ở vị trí chót vót lãnh đạo một đất nước 90 triệu dân!

Qua Bên thắng cuộc chúng ta biết rằng các lãnh đạo CS có tầm nhìn rất hạn hẹp. Có thể do bị nhào nặn bởi tuyên truyền cộng với kém học thức nên các lãnh đạo CS có kiến thức rất nghèo nàn về thế giới ngoài các nước XHCN và Trung Cộng. Từ đó dẫn đến những nhận định sai lầm và những lựa chọn bất lợi cho đất nước. Điển hình là câu chuyện đằng sau việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Câu chuyện cho thấy giới lãnh đạo CS thiển cận và làng xã trong những nhận xét của họ về một đối thủ rất quan trọng.

Chúng ta thử đọc một đoạn “Cứu chủ nghĩa xã hội” để thấy ông Nguyễn Văn Linh có tầm nhìn và hành xử đầy kịch tính ra sao. Đọc cũng để thấy Gorbachev chẳng những mỉa mai mà còn khinh Nguyễn Văn Linh như thế nào:

Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh:

Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Quyết địng đi dự 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức là quyết định trực tiếp của cá nhân anh Linh. Anh Linh đã bàn với Bộ Chính trị về việc phải triệu tập một Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế để cứu phong trào cộng sản, chống chủ nghĩa cơ hội. Anh sang Berlin là để gặp các đồng chí để bàn về việc ấy và gặp Gorbachev. Trong một cuộc họp, anh Linh nhận xét: Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Bị đối xử như thương gia tầm thường:

Ngày 4-10-1989, từ Hà Nội, hãng Interflug của Cộng hòa Dân chủ Đức dành cho ông Linh một ghế hạng thương gia, các thành viên cao cấp khác – Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Xuân Tùng, Phó Ban Đối ngoại Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Tạ Hữu Canh và thư ký Lê Đăng Doanh – chỉ ngồi khoang hành khách thường.

Bị xem thường:

Một lễ đón đơn giản được tổ chức tại sân bay Berlin-Schronefeld rồi sau đó đoàn về khách sạn. …. Trong suốt chuyến thăm chính thức ấy, phía CHDC Đức không thu xếp cho ông Linh một buổi gặp chính thức nào với Honecker hay một nhà lãnh đạo khác. Thế nhưng, điều đó đã không làm ông Nguyễn Văn Linh từ bỏ ý đồ đóng vai trò trung tâm cứu nguy chủ nghĩa xã hội.

Đến nơi ở của các nhà lãnh đạo khác mới thấy cách đối xử của Erich Honecker với ông Nguyễn Văn Linh. … Trong khi ông Linh chỉ được xếp một phòng đôi lớn hơn phòng các thành viên khác trong đoàn một chút thì chỗ ở của Ceausesscu là một khu vực gồm nhiều phòng. Ông Linh và tùy tùng phải đi qua một sảnh lớn nơi có một đội cận vệ 12 người bồng tiểu liên AK báng gập đứng chào. Ceaucesscu đã để ông Linh phải ngồi chờ rất lâu. Ông Linh nói: “Mày liên hệ thế nào mà giờ không thấy nó”. Tôi bảo: “Tính thằng này nó hình thức thế”. Một lúc sau thì Ceausesscu ra, chính ông ta lại là người tỏ ra hăng hái ủng hộ sáng kiến của ông Nguyễn Văn Linh nhất. Ceausesscu thậm chí còn đòi để Rumani đăng cai. Tuy nhiên, cả Ceausesscu và các nhà lãnh đạo cộng sản khác đều nói với ông Linh: “Vấn đề là ông kia, nếu ông ấy không đồng ý thì rất khó”. “Ông kia” đề cập ở đây là Gorbachev.

Dù ông Linh rất nhiệt tình cứu XHCN nhưng người ta làm ngơ:

Trong ngày 6-10-1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến mà ông đưa ra: triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Ông Linh nói: “Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết”.

Đa số các đảng cộng sản làm ngơ đề nghị của ông Linh, chỉ có Batmunkho Tổng Bí thư Mông Cổ, Phó Thủ Tướng Hernandez của Cuba, Tổng Bí thư Ceaucescu của Rumania, Tổng Bí thư Đảng vừa thất cử của Ba Lan Jaruzelski, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Đức (DKP) Herbert Mies là chấp nhận gặp. Chỉ có Helbert Mies, lãnh tụ của một đảng không cầm quyền và Phó thủ tướng Cuba Hernandez là tự tới nơi ông Linh ở. Theo ông Lê Đăng Doanh, những người khác chỉ tiếp ông Nguyễn Văn Linh tại phòng riêng của họ.

Sau nhiều cuộc trì hoản thì ông Linh cũng được Gorbachev cho một cuộc gặp mặt. Nhưng đó là một cuộc gặp mặt để Gorbachev khinh miệt ông Linh. Chúng ta hãy đọc tiếp:

Từ 19 đến 21 giờ tối 6-10-1989, sau phần đọc diễn văn, cuộc mit-tin được chuyển từ trong một lâu đài ra một lễ đài ngoài trời duyệt quần chúng, thanh niên rước đuốc. Ông Lê Đăng Doanh kể: Đám thanh niên tuần hành sôi lên sùng sục kêu tên Gorbachev, “Gorby! Gorby!”. Anh Linh chỉ mặc bộ complet, tối nhiệt độ xuống khoảng 8 C, cận vệ quên mang áo lạnh, ông Nguyễn Văn Linh đứng run bần bật, kêu tôi: “Tao lạnh quá”. Tôi phải nói với một viên tướng Đức đứng cạnh đấy: “Tổng Bí thư của tôi quên mang áo ấm”. Viên tướng cho mượn tạm tấm áo choàng của ông ta.

Sáng hôm sau, 7-10-1989, theo lịch trình, mười giờ sẽ có duyệt binh, nhưng tám giờ, ông Nguyễn Văn Linh triệu tập họp Chi bộ Đảng thông báo tình hình sức khỏe: “Mình thấy có gì đó không bình thường, không nhắm được mắt, miệng cứng, không ăn được”. Về sau bác sỹ xác định đó là triệu chứng liệt dây thần kinh số 7. Mọi người đề nghị ông Linh không ra lễ đài, ông Nguyễn Khánh thay ông Linh dự duyệt binh rồi báo với “bạn”. Phía CHDC Đức mời ông Linh ở lại khám chữa bệnh và khuyên ông không nên về trong lúc này. Tuy bệnh tình càng ngày càng nặng, nước mắt chảy ra nhiều, miệng có biểu hiện bị méo và nói bắt đầu khó khăn, ông Nguyễn Văn Linh vẫn hy vọng rất nhiều vào cuộc gặp với Gorbachev.

Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi đó, sáng ngủ dậy, bệnh ông Linh càng nặng thêm. Khi ăn cơm, ông kêu tôi ra ngoài vì không muốn tôi chứng kiến cảnh ông ăn rất chật vật. Hàm bên trái của ông Linh cứng lại. Ông phải nhai ở phía bên phải sau đó dùng hai ngón tay đẩy thức ăn vào họng, chiêu một ngụm nước mới nuốt được.

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: “Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh”.

Dù đang bệnh, ông Nguyễn Văn Linh vẫn trình bày rất nhiệt tình, nhưng theo ông Lê Đăng Doanh: Sáng kiến nào của ông Linh cũng được Gorbachev khen là “rất tốt” nhưng chỉ là những lời khen xã giao. Ông Linh nói: “Tôi đã gặp một số đảng cộng sản anh em. Trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn đồng chí đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế”. Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: “Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!”. Ông Linh trân trọng mời Gorbachev đến thăm Việt Nam. Gorbachev lại kêu lên: “Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước”.

Cuối cùng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề cập đến truyền thống viện trợ của Liên xô và khi ông đề nghị Liên Xô tiếp tục giúp đỡ cho Kế Hoạch 5 năm 1990-1995 của Việt Nam thì Gorbachev xua tay. Không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: “Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi”. Theo ông Lê Đăng Doanh: Thế nhưng, ngày hôm sau, báo Nhân Dân và Pravda đều đưa tin về cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Đọc những đoạn trích dẫn rất sống động này tôi phải nói là rất nhục. Là lãnh tụ một đất nước 90 triệu dân mà không nắm được tình hình thế giới để bị các lãnh đạo của chính thế giới XHCN xem thường như thế. Ông Nguyễn Mạnh Cầm có lẽ là người ngoại giao nên còn biết được tình hình thế giới. Ông đưa ra nhận xét rằng “Nhận thức của một số đồng chí trong Bộ chính trị lúc bấy giờ không theo kịp những thay đổi của tình hình thế giới”. Không theo kịp tình hình thế giới có nghĩa là sống trong cái ao làng. Chẳng biết ông Linh có hiểu những câu nói của Gorbachev hay không. Thật là nhục nhã. Tất cả cũng vì cái dốt.

Cái dốt của lãnh đạo CS còn thể hiện qua lần tiếp kiến giữa ông Lê Khả Phiêu và Bill Clinton. Trong buổi tiếp kiến, trong khi Bill Clinton nói về tương lai hợp tác, ông Lê Khả Phiêu lại tận dụng chuyện Bill Clinton “trốn lính” làm cho ông Bill Clinton rất giận và chắc chắc cũng rất khinh thường người đối diện mình:

Bill Clinton nhớ lại: “Lê Khả Phiêu cố gắng sử dụng hành động phản đối chiến tranh Việt Nam của tôi để cáo buộc những gì Mỹ đã làm là hành vi đế quốc. Tôi đã rất giận dữ nhất là khi ông ta nói vậy trước sự có mặt của Đại sứ Pete Peterson, một người đã từng là tù binh chiến tranh. Tôi nói với nhà lãnh đạo Việt Nam rằng khi tôi không tán thành các chính sách đối với Việt Nam, những người theo đuổi nó cũng không phải là đế quốc hay thực dân, mà là những người tốt chiến đấu chống cộng sản. Tôi chỉ Pete và nói, ông đại sứ không ngồi sáu năm rưỡi trong nhà tù ‘Hà Nội Hilton’ vì muốn thực dân hóa Việt Nam”.

Ông Phan Văn Khải nhớ lại: “Ông Phiêu nói như thời chiến tranh làm cho họ rất khó chịu. Ông ấy muốn tỏ rõ thái độ của một chính quyền cộng sản. Nhưng, ông Phiêu không hiểu tình hình thế giới giờ đây đã khác. Phe xã hội chủ nghĩa đã tan rã. Vấn đề là mối quan hệ giữa hai quốc gia, chúng ta cần Mỹ. Nếu người Mỹ không vào thì những công ty lớn trên thế giới không có ai vào cả”. …

Clinton nhận xét, dường như những người mà ông gặp ở Việt Nam, chức vụ càng cao hơn thì ngôn ngữ càng “sặc mùi” cộng sản theo kiểu cũ hơn”.

Sự dốt nát chính là một nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc bỏ lỡ cơ hội để phát triển đất nước. Câu chuyện xung quanh ký hiệp định thương mại song phương BTA cho thấy giới lãnh đạo thượng tầng CS rất sợ Trung Cộng. Ông Nguyễn Mạnh Cầm nói “Tôi tiếc đứt ruột. Năm 1999, Bill Clinton muốn ký trước mặt các nhà lãnh đạo đủ cả phương Tây lẫn phương Đông. Khi ấy các tập đoàn sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ chỉ chờ có hiệp định là nhảy vào Việt Nam. Mình quyết định không ký, mất biết bao nhiêu cơ hội”. Không chỉ BTA, ngay cả những chần chừ để trở thành thành viên của ASEAN cũng phản ảnh sự kém hiểu biết của những người lãnh đạo CS chóp bu.

Sự dốt nát và kém hiểu biết của người CS không phải chỉ biểu hiện trong giới lãnh đạo mà còn ở những người trong giới học thuật và chuyên môn. Sau 1975 tôi đã có nhiều “tiếp cận” với những đồng nghiệp y khoa từ Bắc vào. Tôi có thể nói một cách không ngần ngại rằng trình độ của họ quá kém. Có lần một anh bác sĩ nghe nói là cấp cao ngoài đó mà viết tên thuốc trụ sinh còn sai. Không phải sai một lần mà nhiều lần. Chỉ nhìn nét chữ cũng có thể biết được anh chàng này thuộc thành phần bác sĩ gì. Ngay cả những người được “chi viện” để tiếp thu trường y Sài Gòn cũng là những người rất kém cỏi về kiến thức và kỹ năng lâm sàng. Họ bị các thầy trong Nam khinh ra mặt. Do đó tôi không hề ngạc nhiên khi đọc những dòng chữ viết về phản ứng của giới trí thức trong Nam trước những chính sách quái đản được áp dụng sau 1975. Họ vận hành theo tư duy rặt mùi cộng sản.

Cứ đến ngày kỷ niệm nào đó họ hỏi có thành tích khoa học gì để chào mừng và nhận được câu trả lời của thầy Phạm Biểu Tâm: “Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả”. Sau này trong một lần họp bàn về cách giải quyết hệ thống nước bị đục, giáo sư Phạm Biểu Tâm không phát biểu gì cả. Đến khi bị ông Võ Văn Kiệt gặn hỏi, giáo sư Tâm vốn rất quý ông Kiệt, chỉ nói đơn giản “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khoẻ, vì cái gì cũng đã có các anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.  [đảng vốn hay khoe khoang: cái gì đảng cũng biết tuốt, cũng chỉ đạo hết…Gs Phạm Biểu Tâm mỉa mai đảng qua câu trả lời này- TH] Đối với giới trí thức miền Nam ngày ra mắt đầu tiên của chính quyền không hề thuyết phục được họ. (Và) Cho đến bây giờ tình hình vẫn thế.

Bên thắng cuộc đã trở thành một tác phẩm bán chạy. Nếu được công bố ở trong nước tôi nghĩ chắc chắn bộ sách sẽ qua mặt bất cứ cuốn sách nào đang có trên thị trường. Đọc xong bộ sách tôi hiểu được tại sao nó nổi tiếng.

Theo tôi, Bên thắng cuộc được nhiều người quan tâm vì trong đó có rất nhiều những câu chuyện hậu trường chính trị. Đặc biệt hơn là tất cả những câu chuyện hậu trường đều nói lên những hình ảnh tiêu cực của giới lãnh đạo CSVN. Khó tìm một câu chuyện nào mang tính tích cực trong sách. Trong đó có những con người ít học nhưng ngạo mạn. Đó là những con người đạo đức giả. Đó là những con người sẵn sàng chấp nhận đớn hèn để sống trong môi trường tàn ác. Đó là những con người tàn nhẫn và xảo trá. Những cá tính lãnh đạo như thế là tác giả của những quyết sách đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Họ dẫn đất nước bỏ mất cơ hội hết năm này sang năm khác. Những câu chuyện như thế giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ hơn cái tâm kém và cái trí thấp của một số đông lãnh đạo chóp bu và giải thích tại sao đất nước và dân tộc chúng ta đã quá bất hạnh trong suốt 70 năm qua. Họ là nguyên nhân gần và tác nhân trực tiếp đã đưa đất nước nghèo hèn như hiện nay. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 7 Comments »

►‘Không để nhen nhóm hình thành tổ chức đối lập chống phá’

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2012

 

‘Không để nhen nhóm hình thành tổ chức đối lập chống phá’

17-1-2012

Thủ tướng cho rằng, những thách thức mới đòi hỏi ngành công an phải nghiêm túc nhìn nhận để tham mưu và có biện pháp ứng phó. Ảnh: Chinhphu.vn.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu công an ngăn chặn âm mưu gây bạo loạn, không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, nhân dân.

Dự Hội nghị công an toàn quốc chiều 17/12, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu dương nỗ lực và những thành tích, chiến công mà lực lượng Công an nhân dân đã đạt được trong năm 2012. Tuy nhiên, Thủ tướng cũng chỉ rõ những thách thức, trong đó nổi lên là việc các thế lực chống phá qua diễn biến hòa bình, chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý; sự gia tăng về tội phạm hình sự, khủng bố… Những thách thức này đòi hỏi ngành công an phải nghiêm túc nhìn nhận để tham mưu và có biện pháp ứng phó hiệu quả.

Đề cập tới nhiệm vụ năm 2013, Thủ tướng nhấn mạnh, lực lượng công an phải tổ chức tốt công tác nắm, phân tích và dự báo tình hình, tham mưu và đề xuất với Đảng, Nhà nước chỉ đạo có hiệu quả những vấn đề cơ bản, chiến lược về an ninh trật tự, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Đồng thời, lực lượng công an cần tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ an ninh, trật tự xã hội trên mọi lĩnh vực và địa bàn; đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, ý đồ kích động, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, cương quyết không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân.

Thủ tướng cũng yêu cầu công an kiềm chế sự gia tăng tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm công nghệ cao, tội phạm ma túy, tội phạm buôn lậu, làm hàng giả, tội phạm môi trường…

Theo báo cáo, trong năm 2012, trong công tác phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, lực lượng công an đã điều tra, khám phá được trên 37.000 vụ phạm pháp hình sự; triệt phá 2.700 băng nhóm tội phạm; trong đó có nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng; giải cứu thành công 100% các vụ tống tiền, bắt cóc trẻ em.

Công tác phòng chống tội phạm kinh tế, tội phạm công nghệ cao được chú trọng cả về biện pháp phòng ngừa và điều tra xử lý; đã phát hiện 11.600 vụ phạm tội kinh tế; 320 vụ tham nhũng… Công tác phòng, chống ma túy đã phát hiện xử lý hơn 17.800 vụ, bắt giữ 26.100 người vi phạm, thu giữ 690 kg heroin, hàng trăm nghìn viên ma túy tổng hợp…

———————–

giải pháp tháo gỡ khó khăn đối với thị trường bất động sản và xử lý nợ xấu

Thủ tướng chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản

 

2:17 PM, 18/12/2012

(Chinhphu.vn) – Sáng 18/12, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu đoàn công tác của Chính phủ làm việc với lãnh đạo TP Hồ Chí Minh về giải pháp tháo gỡ khó khăn đối với thị trường bất động sản và xử lý nợ xấu.

Đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ

Theo Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí  Minh Nguyễn Hữu Tín, đến nay thị trường bất động sản trên địa bàn thành phố vẫn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ và hiệu quả để tháo gỡ từng bước, “làm ấm” từng phần thị trường, tiến tới sự lành mạnh hóa hoạt động và phát triển bền vững trong những năm tới.

Qua khảo sát bước đầu cho thấy, có nhiều dự án tạm dừng, chậm triển khai; nhiều dự án có sản phẩm hoàn chỉnh nhưng không bán được, hàng tồn kho tăng dẫn đến nợ xấu tăng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP Hồ Chí Minh, dư nợ cho vay bất động sản trên địa bàn thành phố khoảng 85.000 tỷ đồng, chiếm 10,6% trong tổng dư nợ trên địa bàn, trong đó cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản là 66.084 tỷ đồng, cho vay khác (vay mua nhà để ở, mua nhà cho công nhân thuê, xây nhà ở cho người thu nhập thấp…) là 18.916 tỷ đồng. Nợ xấu cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản khoảng 4.145 tỷ đồng, chiếm 6,27% tổng dư nợ kinh doanh bất động sản.

Khó khăn của thị trường bất động sản có cả nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp tác động. Về trực tiếp, trên địa bàn thành phố đang tồn kho khoảng 14.490 căn hộ chung cư với giá trị khoảng 24.500 tỷ đồng, đa số căn hộ tồn kho có diện tích lớn (10.039 căn hộ có diện tích 60-90 m2, chiếm tỷ lệ 69,3%; 3.406 căn hộ có diện tích trên 90 m2, chiếm tỷ lệ 23,5%), không phù hợp với nhu cầu và khả năng thanh toán hiện tại của người dân. Giá nhà ở hiện nay ở mức quá cao so với thu nhập bình quân của đại đa số các tầng lớp dân cư; tình trạng đầu cơ đẩy giá nhà, đất tăng trong những năm trước đây; lãi suất quá cao do phần lớn chủ đầu tư phải vay ngân hàng khoảng 70% tổng mức đầu tư với lãi suất trên 20%/năm trong một thời gian dài từ 2-3 năm;…

Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp phát triển nhà ở còn thiếu chuyên nghiệp, giao nhà chậm tiến độ; chất lượng nhà  bàn giao kém, chưa đúng với cam kết ban đầu; dịch vụ quản lý nhà chung cư chưa chuyên nghiệp; phí quản lý chung cư và phí giữ xe khá cao;… từ đó ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với loại hình nhà chung cư.

Về nguyên nhân gián tiếp, việc bồi thường giải phóng mặt bằng theo phương thức chủ đầu tư tự thỏa thuận bồi thường, nhận chuyển nhượng với người sử dụng đất dẫn đến tình trạng: doanh nghiệp không bồi thường được; dự án manh mún, nhỏ lẻ, không kết nối hạ tầng; các doanh nghiệp cạnh tranh, đẩy giá bồi thường lên cao làm cho thị trường bất động sản phát triển không ổn định; công tác dự báo còn hạn chế dẫn đến thừa bất động sản cao cấp, thiếu bất động sản phù hợp với nhu cầu thực tế; nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tham gia thị trường nhưng quy mô nhỏ, hoạt động thiếu chuyên nghiệp, đầu tư dàn trải, thiếu định hướng phát triển và chiến lược kinh doanh;… từ đó làm thị trường mất cân đối và phát triển không ổn định.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, TP Hồ Chí Minh nói riêng và các địa phương nói chung trước hết phải xem xét lại công tác quy hoạch. – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Chính phủ sẽ ban hành Nghị quyết về tháo gỡ khó khăn thị trường bất động sản

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, sau cuộc làm việc với TP Hồ Chí Minh hôm nay và ngày mai (19/12) với thành phố Hà Nội, Chính phủ sẽ thảo luận nội dung này trong phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2012 và sẽ ban hành một Nghị quyết chuyên đề của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản.

http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Thu-tuong-chi-dao-thao-go-kho-khan-cho-thi-truong-bat-dong-san/201212/156995.vgp

 

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

►Đảng họp: Kêu gọi đảng viên và cán bộ phải đề kháng với các trang mạng ‘nói xấu cán bộ’

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2012

Bí thư Thành ủy TP.HCM: 

‘Phải đề kháng các trang mạng nói xấu cán bộ’ 

17-12-2012

Các trang mạng không chính thống hiện nay là vấn đề lớn, không chỉ nói xấu cán bộ mà còn ảnh hưởng đến nhận thức thanh thiếu niên – Bí thư TP.HCM Lê Thanh Hải đề nghị cán bộ, đảng viên phải “đề kháng” trước việc này.

Chiều 17/12, Thành ủy TP.HCM đã tổ chức hội nghị sơ kết thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết TƯ 4 về xây dựng Đảng tại các cơ quan và đơn vị trên địa bàn TP.

Báo cáo sơ kết kiểm điểm tự phê bình và phê bình, Phó bí thư TP.HCM Nguyễn Văn Đua cho biết, TP đã triển khai trên 200 hội nghị học tập, quán triệt nghị quyết với sự tham dự của các cán bộ chủ chốt và gần 159.000 đảng viên. Đã có 127/136 (93,4%) đơn vị tổ chức kiểm điểm phê bình, tự phê bình.

Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải: Đảng viên phải 
tự trang bị sức đề kháng về nhận thức và bản lĩnh chính trị

Kết quả, Ban thường vụ Thành ủy đã thi hành kỷ luật 4 trường hợp. Trong đó, cảnh cáo một người thuộc đảng bộ Tổng công ty Thủy sản Việt Nam, cách chức 2 người thuộc Đài tiếng nói nhân dân thành phố, khai trừ Đảng một người thuộc đảng bộ Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn.

Ban Thường vụ Thành ủy đã kiểm tra, phát hiện nhiều sai phạm, đồng thời đã tiến hành kỷ luật một tổ chức Đảng (bằng hình thức cảnh cáo) là Ban Thường vụ đảng ủy Công ty TNHH MTV Dược Sài Gòn, kỷ luật 3 đảng viên (bằng hình thức kiểm trách, cảnh cáo) thuộc đảng bộ khối cơ sở Bộ Tài nguyên – Môi trường và đảng bộ Công ty TNHH Dược Sài Gòn.

Ban Thường vụ cũng kiên quyết xử lý một huyện ủy, trong đó đã tiến hành quy trình xử lý kỷ luật đối với một cá nhân ủy viên Ban Thường vụ huyện ủy.

Với việc chỉ ra nhiều khuyết điểm, Ban Thường vụ Thành ủy TP đánh giá, công tác phê bình và tự phê bình đã đi vào thực chất, trong đó đã xác định rõ được khuyết điểm thuộc trách nhiệm tập thể, cũng như trách nhiệm của cá nhân, khuyết điểm do nhận thức không đúng hoặc giải pháp chưa đạt do thiếu kiểm tra, giám sát.

Tuy nhiên, ông Đua cảnh báo, nhiều cán bộ, đảng viên thể hiện tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Đã có hiện tượng cơ sở đảng, hoặc đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, nhất là đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, có thái độ an phận, e dè, nể nang, ngại đụng chạm, thờ ơ, ít phát biểu trong sinh hoạt chi bộ nhưng ngoài chi bộ thì lại phát biểu trái với nghị quyết của chi bộ”, ông nhìn nhận.

Ngoài ra, ông Đua còn nêu, có trường hợp đảng viên sống xa hoa, hưởng lạc. “Một số cán bộ, đảng viên dễ bị dao động, nhận thức lệch lạc và biểu hiện cụ thể là phát ngôn thiếu thận trọng, sử dụng thông tin trên mạng để bình luận, phân tích, trao đổi, không theo thông tin chính thống, mà theo suy nghĩ cảm tính của cá nhân”.

Bà Đổng Thị Kim Vui – Bí thư Quận ủy quận 8 đã nêu ra các khó khăn của tổ chức đảng ở cơ sở khi rất khó phân biệt rạch ròi được các biểu hiện phản động, không chính thống trên nhiều trang mạng để phổ biến, quán triệt trong các sinh hoạt đảng. “Thông tin trên mạng bây giờ, trong tất cả các văn bản của Đảng cho rằng, kẻ xấu lợi dụng mạng để chúng ta hoang mang, dao động? Nhưng đối với cấp cơ sở muốn làm rõ được các thông tin đâu là đúng, đâu là sai thì rất khó”, bà Vui chia sẻ.

Trước vấn đề này, Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải cho rằng, các trang mạng không chính thống hiện nay như “Quan làm báo”, “Dân làm báo” là vấn đề lớn, không chỉ riêng những tin nói xấu cán bộ mà còn ảnh hưởng đến nhận thức thanh thiếu niên… “Vừa qua, Thường vụ Thành ủy cũng đánh giá, có nhận xét là công tác tư tưởng thiếu tính sắc bén và thuyết phục”, ông Hải nói.

Theo ông, để giải quyết vấn đề này, một mặt Ban Thường vụ Thành ủy cũng như lãnh đạo thành phố phải tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém của mình. Mặt khác, phải tập trung chỉ đạo các cơ quan báo chí định hướng tư tưởng cho đúng. “Đây là những cơ quan mà tính chất thông tin lan tỏa rất mạnh, định hướng rất đông người. Mà ngay bây giờ cán bộ, đảng viên phải tự trang bị sức đề kháng về nhận thức và bản lĩnh chính trị”, ông Hải đề nghị.

Về công tác kiểm điểm phê bình, tự phê bình theo Nghị quyết TƯ 4, ông Lê Thanh Hải cho biết, tới đây sẽ tiếp tục tập trung phân tích những tồn tại, yếu kém để loại trừ các biểu hiện xấu, nhất là loại biểu hiện “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.

 

Tá Lâm

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/101469/-phai-de-khang-cac-trang-mang-noi-xau-can-bo-.html

danlambao.blogspot.com

————————————

Bí thư Lê Thanh Hải kêu gọi cán bộ ‘đề kháng’ với Dân Làm Báo

Theo Dân Làm Báo

DanlambaoTại hội nghị ‘phê và tự phê’ của thành ủy TP.HCM tổ chức chiều 17/12, Bí thư Lê Thanh Hải vu cáo Dân Làm Báo và ‘các trang mạng không chính thống’ đã ‘nói xấu cán bộ’, ‘ảnh hưởng đến nhận thức thanh thiếu niên’. Đồng thời, nhân vật đầy quyền lực tại TP.HCM còn kêu gọi cán bộ, đảng viên phải ‘đề kháng’ trước các thông tin trên mạng. 

 Phát biểu của ông Lê Thanh Hải được đưa ra 1 tuần sau khi Dân Làm Báo cho đăng tải bài viết “Bí thư Lê Thanh Hải chỉ đạo ‘tiêu diệt’ nhóm biểu tình?” của tác giả Phan Nguyễn Việt Đăng. Nội dung bài viết dẫn nguồn tin từ một sĩ quan công an cáo buộc ông Lê Thanh Hải chính là kẻ chỉ đạo đàn áp cuộc biểu tình yêu nước tại Sài Gòn hôm 9/12.

 
Trước đó, theo VietNamNet, Phó bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Đua cũng cảnh báo về việc nhiều Đảng viên, cán bộ thể hiện tư tưởng ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’. 
 
Ông Đua nhìn nhận về việc cán bộ, đảng viên “phát ngôn thiếu thận trọng, sử dụng thông tin trên mạng để bình luận, phân tích, trao đổi, không theo thông tin chính thống, mà theo suy nghĩ cảm tính của cá nhân”. 
 
Về diễn biến tại hội nghị sơ kết ‘phê và tự phê’ theo Nghị quyết TW4 tại TP.HCM, báo điện tử VietNamNet tường thuật: Bà Đổng Thị Kim Vui – Bí thư Quận ủy quận 8 đã nêu ra các khó khăn của tổ chức đảng ở cơ sở khi rất khó phân biệt rạch ròi được các biểu hiện phản động, không chính thống trên nhiều trang mạng để phổ biến, quán triệt trong các sinh hoạt đảng. 
 
“Thông tin trên mạng bây giờ, trong tất cả các văn bản của Đảng cho rằng, kẻ xấu lợi dụng mạng để chúng ta hoang mang, dao động? Nhưng đối với cấp cơ sở muốn làm rõ được các thông tin đâu là đúng, đâu là sai thì rất khó”, bà Vui chia sẻ. 
 
Theo chân đồng chí X với công văn 7169, Bí thư Lê Thanh Hải nêu đích danh hai trang mạng Dân Làm Báo, và Quan Làm Báo… mà ông cho đây là ‘vấn đề lớn’: 
 
“Các trang mạng không chính thống hiện nay như “Quan làm báo”, “Dân làm báo” là vấn đề lớn, không chỉ riêng những tin nói xấu cán bộ mà còn ảnh hưởng đến nhận thức thanh thiếu niên…” 
 
Lời cáo buộc vô căn cứ của ông Bí thư Lê Thanh Hải cũng nhằm che đậy những thông tin vạch trần sự tham nhũng của gia đình ông đã được đăng tải trên Dân Làm Báo qua các bài viết:

Khác với công văn 7169 của TT Nguyễn Tấn Dũng cấm cán bộ đọc Danlambao, ông Lê Thanh Hải cũng chỉ dám kêu gọi “cán bộ, đảng viên phải tự trang bị sức đề kháng về nhận thức và bản lĩnh chính trị”.

Các bài viết liên quan đến ông Lê Thanh Hải trên Dân Làm Báo đều có lượng truy cập rất cao, trong đó hàng trăm phản hồi được đăng tải đã tố cáo mạnh mẽ sự tham nhũng của nhân vật này. 

Là 1 trong 14 Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí thư Lê Thanh Hải còn được biết như một nhân vật tham nhũng số 1 tại Sài Gòn. Nhóm lợi ích dưới tay ông Hải đã gây ra bao thảm cảnh đau thương cho nhân dân Thành phố thông qua các vụ cướp đất, cướp nhà… Điển hình gần đây nhất là vụ cướp đất của nhân dân Quận 2.

 ———————

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Đảng cần chỉ đạo như thế này để thanh niên quan tâm đến tình hình đất nước

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2012

 

Làm sao để thanh niên quan tâm đến tình hình đất nước?

Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

Lâu nay có nhiều người góp ý rằng tôi chỉ viết toàn bài đả kích, trách móc hoặc châm biếm, chế diễu thiếu xây dựng. Chia sẻ với những góp ý ấy, hôm nay tôi viết một bài mang tính xây dựng.

Vừa rồi cụ Tổng Trọng tỏ ra phiền trách có một bộ phận thanh niên ít quan tâm đến tình hình đất nước trong bài phát biểu tại đại hội đoàn TNCSHCM. Cụ phiền trách như vậy nhưng cụ lại không nói cụ thể quan tâm đến tình hình đất nước là quan tâm đến những vấn đề gì. Cụ không nói cụ thể ra thì làm sao thanh niên mà nhất là thanh niên đoàn viên chỉ quen làm theo chỉ thị cụ thể từng việc từ cấp trên, biết mình phải quan tâm đến đất nước như thế nào để khỏi bị phiền trách.

Do sự thiếu sót đó của cụ Tổng, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã nhanh nhẩu viết bài chỉ ra cụ thể hai vấn đề về tình hình đất nước đang nổi cộm mà thanh niên cần quan tâm là: Chủ quyền biển Đông và nạn tham nhũng. Rồi nhà văn trách cứ cụ Tổng rằng ai tỏ ra quan tâm đến hai vấn đề đó là bị gây khó dễ hoặc bị đàn áp ngay thì làm sao thanh niên dám quan tâm được. Trên blog Quê Choa của mình, nhà văn NQL đã đưa những hình ảnh cụ thể những thanh niên quan tâm đến chủ quyền biển đảo bị đàn áp dã man ra sao và cả những hình ảnh đe nẹt bất cứ ai quan tâm đến việc chống lại quốc nạn tham nhũng. Nhưng mà thôi, chúng ta không còn thời gian để mà ngồi trách móc nhau nữa. Hãy cùng nhau ngồi lại góp phần với đảng và nhà nước đưa ra giải pháp làm sao lôi cuốn thanh niên quan tâm đến tình hình đất nước.

Theo tôi thì tình hình đất nước hiện nay nổi cộm lên ba vấn đề bức thiết như sau:

– Quốc nạn tham nhũng

– Quốc nạn ngoại xâm

– Quốc nạn khủng hoảng đường lối phát triển

Quan tâm đến tình hình đất nước là trước hết phải quan tâm đến ba vấn đề bức thiết đó.

Nạn tham nhũng đã phát triển lên quy mô rộng lớn đang gây ra những thiệt hại to lớn cho đất nước, làm xã hội đảo điên. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, nếu không ngăn chận hiệu quả thì đưa đến nguy cơ tiêu vong đất nước.

Trung cộng càng ngày càng lấn tới, liên tục vừa uy hiếp vừa vút ve nhà nước và nhân dân ta để cưỡng đoạt biển Đông trong nay mai bằng biện pháp hòa bình. Mất chủ quyền biển Đông thì nguy cơ mất nước rất cận kề.

Con đường phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng XHCN qua thời gian đã đi vào bế tắc trên thực tiễn. Đất nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng chưa từng có, không có lối thoát ra, nợ nần ngập đầu. Hiện nay nợ công lên gần 130 tỷ USD, nghĩa là mỗi công dân Việt Nam vừa chào đời, còn khóc oe oe, chưa biết gì hết, đã gánh trên vai món nợ 1.500 đô la. Không tìm ra con đường phát triển nào khác tốt hơn để thay cho con đường sai lầm vừa qua thì khủng hoảng kéo dài không lối thoát, đưa đến sụp đổ kinh tế kéo theo sự sụp đổ của đất nước.

Để thanh niên quan tâm đến tình hình đất nước thì phải hướng thanh niên quan tâm đến ba vấn đề bức thiết trên. Cụ Tổng đã nhắc nhở, gợi ý mở đường rồi thì đoàn TNCSHCM nên mạnh dạn đẩy mạnh các hoạt động thu hút sự quan tâm của thanh niên vào các vấn đề đó.

Hoạt động thu hút thanh niên hữu hiệu và đông đảo nhất là tổ chức các cuộc mit tinh, hội thảo về ba chủ đề trên. Tổ chức tại sân trường phổ thông, tại giảng đường đại học, tại các nhà văn hóa thanh niên, tại các nhà hát trung tâm, tại các quảng trường, tại các công viên…. Nếu đoàn TNCS không dám làm hoặc không biết cách làm thì hãy để cho thanh niên quần chúng tự làm. Tại các buổi hội thảo hoặc mit tinh, cần khuyến khích thanh niên lên phát biểu suy nghĩ của mình về các vấn đề bức thiết của đất nước. Hãy cho phép các diễn giả, các học giả, các chuyên gia tự do tổ chức các buổi nói chuyện, các buổi diễn thuyết về ba chủ đề trên tại bất cứ nơi đâu thuận tiện để lôi cuốn thanh niên đến nghe.

Khi thanh niên tham gia vào các hoạt động lành mạnh ấy thì công an không được lập hồ sơ đen, theo dõi, đàn áp, bắt bớ. Tương tự cũng không được làm như vậy đối với các diễn giả, học giả và các chuyên gia.

Bên cạnh đó, báo chí, truyền hình nên bớt đi những trang mục về ăn chơi, nhảy múa, cướp hiếp, khoe hàng, khoe giàu của các sao… để mở các diễn đàn cho thanh niên và cho mọi giới tham gia bàn luận về các chủ đề bức thiết của đất nước…

Ủa, tại sao những việc cần thiết và đứng đắn như vậy mà bất cứ nhà nước chính nghĩa nào trên thế giới cũng khuyến khích làm và đã làm từ hàng mấy trăm năm qua thì bây giờ, tôi lại đưa ra thành giải pháp mới mẻ nhỉ?
Quả là tôi lẩm cẩm mất rồi. Xin lỗi đảng, nhà nước và mọi người.

Cố viết bài có tính xây dựng mà cũng đ. xây dựng được.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Ra khỏi đảng

Posted by hoangtran204 trên 17/12/2012

 

Nguyễn Chí Đức chờ nghị quyết của chi bộ

Nguyễn Chí Đức- Bùi Minh Hằng. Ảnh Nguoibuongio
Anh Nguyễn Chí Đức là một trường hợp được bàn tán khá rôm rả trên các mạng và blogger tự do, trong giới viên chức trẻ, sinh viên, học sinh, thanh niên và trí thức. Bức ảnh anh bị tên đại úy công an Minh đạp giày vào giữa mặt ngày 17/7/2011 đã đi vòng quanh thế giới, tố cáo chế độ cảnh sát trị tàn ác lộng hành ở nước ta.

Anh Nguyễn Chí Đức còn có một bí danh là Đông Hải Long Vương – Vua rồng biển Đông – từng lên tiếng tố cáo mạnh mẽ bành trướng Trung Quốc trên blog riêng của anh. Anh cũng lên tiếng mạnh mẽ bênh vực luật sư Cù Huy Hà Vũ và cô Bùi Thị Minh Hằng.

Nguyễn Chí Đức, sinh năm 1976, người gốc Nghệ An, ông nội, ông chú và cha đều là đảng viên cộng sản, có người hy sinh trong chiến tranh. Anh học giỏi, tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2000, cũng vào đảng CS năm này khi anh 24 tuổi. Anh là người đọc nhiều, suy nghĩ sâu, luyện cho mình tư duy khoa học, độc lập, tự tin – điều khá hiếm trong một môi trường giáo dục nặng về giáo điều, học vẹt, nhồi sọ, như anh từng kể.

Anh làm việc tại trung tâm dịch vụ của công ty Viễn thông Việt Nam, có nhiều quan hệ với khách hàng, cũng tiếp thu thường xuyên nhiều thông tin mọi mặt của thế giới. Anh giao du rộng, có nhiều bạn.

Từ cuối năm 2004, nghĩa là 4 năm sau khi trở thành đảng viên, Nguyễn Chí Đức ngày càng băn khoăn, hoài nghi rồi bất đồng với đảng. Lý do không thiếu. Đại Hội X năm 2006 rồi Đại hội XI năm 2011 càng làm anh thất vọng. Sau này anh tâm sự: «Biến động chính trị trên thế giới quán chiếu theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được coi là đuốc soi đường và kim chỉ nam rõ ràng là không ổn». Anh nhận ra đường lối đó là sai từ trên căn bản học thuyết, ý thức hệ, trong khi tệ nạn tham nhũng bất trị, hoành hành ngang nhiên làm anh thất vọng. Lòng yêu nước thúc đẩy hành động, không thể ngồi im, đứng nhìn khi đảng đã «hèn với giặc, ác với dân».

Thế là anh suy nghĩ, cân nhắc, rồi quyết định dứt khoát: xuống đường!

Vốn làm công việc chuyên môn về viễn thông, anh liền lập blog riêng của mình, mang tên Đông Hải Long Vương, vừa nghiêm cách vừa trào lộng, tự nhận là vua rồng biển Đông. Các bài của anh đều tâm tư với giới thanh niên, với đảng viên trẻ về những băn khoăn lo nghĩ của trai thời loạn, khi Tổ quốc lâm nguy, thù trong giặc ngoài, vì đảng cũng gọi nạn tham nhũng là quốc nạn, là giặc nội xâm. Anh tham gia biểu tình đòi tự do cho Ls Cù Huy Hà Vũ, dấn thân hết mình, giương biểu ngữ, hô khẩu hiệu, đi hàng đầu, tranh cãi với nhân viên an ninh ngăn cản, đàn áp nguời yêu nước.

Họ chụp ảnh anh, ghi tên anh, biết địa chỉ anh, thông báo cho gia đình và cơ quan anh làm việc, ghi tên anh vào sổ đen, coi anh là phần tử nguy hiểm thuộc loại đặc biệt. Tất cả chỉ làm anh thêm kiên định, thêm thương dân, thêm yêu nước, gắn bó hơn với các bạn đồng hành cùng tham gia các cuộc biểu tình còn hơn anh chị em ruột thịt.

Tháng 7 năm 2011, một chục cuộc biểu tình chống bành trướng ngày chủ nhật nổ ra, Nguyễn Chí Đức luôn có mặt; anh và cô Bùi Thị Minh Hằng là hai nhân vật trung kiên nòng cốt của phong trào đang lan rộng.

Sự kiện chấn động xảy ra trưa 17-7-2011 khi 4 tên an ninh hung hãn lôi, kéo, nhấc bổng anh quẳng lên xe lớn của công an, trong khi tên đại úy Minh đạp giày vào giữa mặt anh và trên ngực anh, nét mặt hung tợn như muốn làm thịt anh tức khắc.

Chuyện trở tên nghiêm trọng khi ngay chiều 17/7 giám đốc công an Hà Nội Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh tuyên bố không hề có lệnh đàn áp biểu tình. Sáng 18/7 báo Hà Nội Mới, cơ quan chính thức của thành ủy CS, đăng tin là không có biểu hiện gì chứng tỏ cuộc biểu tình bị đàn áp, ngụ ý không có chuyện công an đạp giày vào mặt người biểu tình.

Đến nước này thì anh đảng viên CS Nguyễn Chí Đức không sao chịu nổi. Trả lời phóng viên ở nước ngoài, anh nói «họ đã chơi đồng chí của họ», họ làm nhục anh đến hai lần, đạp giày vào mặt rồi còn rêu rao anh là kẻ dối trá, bịa ra chuyện ấy. Anh cho rằng thái độ hèn hạ của tay trùm công an CS và bài báo của thành ủy CS đã đẩy mối quan hệ giữa đảng CS với anh «từ trạng thái nghi ngờ, dồn nén đến chỗ bùng nổ». Theo anh, cái đảng này đã hư hỏng đến mức không thể sửa chữa, phục hồi, chỉnh đốn được nữa. Anh nói: «Họ đẩy tôi đến đường cùng ».

Thế là anh quyết định xin ra khỏi đảng. Anh viết lá đơn xin ra đảng ngày 12 tháng 9/2011.

Đơn xin ra đảng CS và bài điều trần của anh về việc này rất nên phổ biến rộng cho toàn đảng được rõ. Lời lẽ chân thật, mực thước, đàng hoàng, có nơi dùng từ dân gian rất ngộ. Bài viết đăng đơn xin ra đảng của anh mang tít: «Như lời chia tay buồn, một đi không trở lại».

Anh nói về những bất công, bất cập, nghịch lý của đảng CS mà bất cứ ai có chút lương tri cũng có thể thấy, không cần phải có hiểu biết gì cao siêu. Anh thấy những quan hệ thiếu minh bạch, thiếu tương xứng của đảng CS ngày càng tệ hại. Anh nhấn mạnh rằng «thâm cung bí sử» của đảng CS còn khốn nạn hơn cả chuyện dân gian. Anh không thể chịu nổi cảnh xa hoa khệnh khạng, ăn tục nói phét của cấp trên. Anh cho rằng hai mươi năm «đổi mới» vừa qua thực chất chỉ là hai mươi năm chụp giựt của đảng CS, tước đoạt thành quả phát triển của người dân, viên chức. Anh cho rằng công an là lực lượng phá hoại đảng CS mạnh mẽ nhất.

Anh yêu cầu đảng ủy và chi bộ đảng CS nơi anh sinh hoạt chấp nhận đơn xin ra đảng này và chấm dứt sinh hoạt đảng của anh trong thời gian sớm nhất. Đến nay anh vẫn còn chờ quyết định của chi bộ nơi anh sinh hoạt.

Nhưng đã quá 3 tháng mà anh vẫn chưa nhận được hồi âm. Họ không thể đuổi việc, cũng không dám đưa ra chi bộ đảng như điều lệ đảng quy định, càng không dám khai trừ anh, sợ gây bất ổn ngay trong nội bộ công ty. Anh vẫn đi làm nghiêm chỉnh, có nhiều bạn hơn, cả ở cơ quan và khắp cả nước; blog Đông Hải Long Vương thêm nhiều bạn đọc.

Anh Nguyễn Chí Đức ra đảng CS, từ biệt đảng CS, cũng giống như hơn 40 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô đã nói «Vĩnh biệt Lênin!» là điều tất nhiên phải đến với mọi con người lương thiện, có tư duy lành mạnh. Nghị quyết của Đại hội XI nêu rõ đang có «không ít» đảng viên nhạt đảng, không quan tâm sinh hoạt đảng, bỏ sinh hoạt đảng do khủng hoảng niềm tin, do mất lý tưởng, cần ra sức giáo dục…

Việc câm lặng, chọn cách đối phó giả câm giả điếc chỉ làm nổi bật tình trạng bế tắc của đảng CS Việt Nam.. Chắc chắn đảng bộ CS của công ty Viễn thông Việt Nam có xin ý kiến của Trung ương, của Bộ Chính trị, của Ban Tổ chức Trung ưong Đảng, nhưng các vị này đều bế tắc, chủ trương cứ câm như hến là thượng sách.

Tuy tỏ ra mong đợi quyết định của đảng bộ và chi bộ, trên thực tế Nguyễn Chí Đức càng ngày càng xa đảng CS, anh đã «vĩnh biệt đảng CS», còn nhấn mạnh «một đi không trở lại,» nghĩa là một cuộc ly hôn, một cuộc tuyệt giao nhẹ nhàng, không luyến tiếc.

Anh còn đưa ra sáng kiến lập «Câu lạc bộ Huynh đệ lầm đường lạc lối» để giúp các đảng viên CS, nhất là các đảng viên trẻ, trở về với nhân dân.

Nguyễn Chí Đức đã trở nên một chiến sỹ dân chủ kiên cường, một công dân yêu nước khảng khái, một kẻ sỹ được các anh chị em trí thức quý mến, là người con yêu của nhân dân.

Tác giả ©

 

danchimviet.info

 

Đơn xin ra khỏi Đảng – Như lời chia tay buồn một đi không trở lại

Ý tưởng về CLB Huynh Đệ Lầm Đường Lạc Lối

Vài lời với lãnh đạo công an Sài Gòn trước lời kêu gọi tổng biểu tình ngày 22/7/2012

ĐCSVN rất sợ biểu tình yêu nước. Đó là sự thật!

 

 

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Đảng dùng công an đàn áp, sách nhiễu người dân, nhưng xum xoe biện hộ cho Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 17/12/2012

Thêm một hành động sách nhiễu trắng trợn của Nhà nước Việt Nam nhắm vào gia đình tôi

Huỳnh Thục Vy

Tác giả gửi tới Dân Luận

Từ tháng 9 năm 2012, ba tôi là Huỳnh Ngọc Tuấn và tôi đã nhận được thông báo của Human Rights Watch về kết quả giải thưởng Hellmen-Hemmett năm 2012 của HRW. Theo đó, cả hai cha con tôi đều được nhận giải như hai cá nhân độc lập.

Theo lời mời của Human Rights Watch trong thư ngày 7 tháng 11 năm 2012, Huỳnh Trọng Hiếu – em trai tôi sẽ thay mặt hai cha con tôi đến New York nhận giải thưởng trực tiếp từ đại diện của HRW.

Ngày 3 tháng 12, sau một cuộc phỏng vấn ngắn với nhân viên di trú của Tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn, Hiếu được cấp visa với thời hạn một năm.

Ngày 16 tháng 12, Hiếu đến sân bay Tân Sơn Nhất từ 7h tối. Đúng 10h, Hiếu vào làm thủ tục check-in và tiếp đó làm việc tại Cổng xuất nhập cảnh của Hải quan. Tại quầy check-in, một nữ nhân viên đã giữ vé máy bay cùng với passport của Hiếu, rồi gọi cho một nhân viên hải quan khác. Anh này yêu cầu Hiếu vào phòng làm việc.

Hiếu được đưa đến phòng làm việc của Cục QLXNC. Ở đó có nhiều nhân viên hải quan và công an sân bay trong đó có hai người : Thượng tá Phạm Tất Hưng – phó trưởng đồn và Trung úy Tô Văn Nam – cán bộ đồn CACK-TSN. Họ dùng số đông nhân viên để khống chế Hiếu phải ngồi tại chỗ để chờ làm việc, không được rời khỏi ghế. Một người trong số đó thông báo: Hiếu bị cấm xuất cảnh vì yêu cầu của an ninh tỉnh Quảng Nam. Anh ta nói thêm: “Lý do của việc cấm xuất cảnh thì chắc anh cũng đoán ra rồi, nên chúng tôi sẽ không cần nói nữa”.

Rồi Hiếu được đưa đến một phòng làm việc khác .Trong phòng này, có đầy đủ an ninh sân bay, an ninh của thành phố Sài Gòn và an ninh Quảng Nam. Hiếu nhận ra mặt của hai an ninh Quảng Nam vì họ đã từng làm việc với gia đình tôi rất nhiều lần kể cả những lần khám xét, tịch thu tài sản, ra quyết định xử phạt… cùng nhiều an ninh khác

Hiếu yêu cầu các an ninh công khai danh tính và yêu cầu được lấy bút để ghi lại họ tên. Một tên an ninh chỉ tay vào mặt Hiếu với thái độ hăm dọa kiểu côn đồ: “Bây giờ tau không nói tên mày có làm việc không? Mày ở trong phòng này chứ không phải ở ngoài kia đâu mà thích nói gì thì nói nghe chưa!”.

Hiếu phản đối thái độ côn đồ của anh ta: “Tôi làm việc với mấy anh với tư cách là một công dân với cơ quan nhà nước. Các anh là đại diện của cái Nhà nước này, đến đây để làm việc với tôi. Tôi là một công dân, tôi có quyền và tư cách của một công dân, tôi đề nghị các anh công khai họ tên và cư xử đúng mực, đúng nguyên tắc. Ở đây các anh định chơi luật rừng hay luật hiện hành của nhà nước VN?”. Anh ta đứng dậy, trợn mắt chỉ tay sát vào mặt Hiếu : “Ở đây tau thích sử dụng luật rừng mày làm gì tau. Tau cấm mày bước ra khỏi đây, mày làm gì tau”.

Một tên an ninh xưng tên Quân nói với Hiếu: “Chúng tôi sẽ nói luôn cho anh biết lý do tại sao anh không được xuất cảnh. Bởi vì gia đình anh đang trong thời gian bị xử lý vi phạm hành chính mức phạt là 270 triệu đồng nhưng gia đình anh không chịu nộp phạt. Chính vì vậy, chúng tôi không cho anh xuất cảnh”.

Trước thái độ côn đồ của an ninh, Hiếu không tranh cãi thêm, chỉ yêu cầu 2 việc:

1. Giao Quyết định chính thức của Cục quản lý xuất nhập cảnh, trong đó ghi rõ lý do tại sao Hiếu bị cấm xuất cảnh

2. Trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan cho Hiếu

Họ trả lời: “Chúng tôi chỉ có biên bản về việc cấm xuất cảnh, còn những vấn đề khác thì chúng ta sẽ làm việc vào ngày hôm khác”.

An ninh đã nhân chuyện ngăn giữ Hiếu tại sân bay để tiến hành một buổi “làm việc” với đầy đe dọa và những hạch hỏi, thẩm vấn vô lý về các vấn đề không có liên quan.

Cuối cùng, sau hơn hai giờ đồng hồ “làm việc” với những tên an ninh hung hăng, vô giáo dục, Hiếu được yêu cầu lên “làm việc” vào sáng hôm sau ngày 17 tháng 12 theo giấy hẹn. An ninh đã giao cho Hiếu một Biên bản cấm xuất cảnh. Hiếu được ra về nhưng Hộ chiếu đã bị tịch thu.

Sáng nay, ngày 17 tháng 12, Hiếu đã không lên làm việc với họ theo “giấy hẹn” vì xét thấy không cần thiết.

Tất cả những diễn biến trên thêm một lần nữa là bằng chứng cho bản tính côn đồ của an ninh, chứng tỏ thái độ căm thù và sự sách nhiễu liên tục của an ninh Cộng sản Việt Nam đối với gia đình tôi.

Xin thông báo với cộng đồng mạng những thông tin này để quý vị hiệp thông, chia sẻ với gia đình chúng tôi vì những đàn áp mà chúng tôi đang phải đối mặt.

Huỳnh Thục Vy
Buôn Hồ, ngày 16 tháng 12 năm 2012

bien_ban.jpg

Tác giả gửi tới Dân Luận

*Innova gửi lúc 17:47, 17/12/2012 – mã số 74851

Một tên an ninh xưng tên Quân nói với Hiếu: “Chúng tôi sẽ nói luôn cho anh biết lý do tại sao anh không được xuất cảnh. Bởi vì gia đình anh đang trong thời gian bị xử lý vi phạm hành chính mức phạt là 270 triệu đồng nhưng gia đình anh không chịu nộp phạt. Chính vì vậy, chúng tôi không cho anh xuất cảnh”.

Cứ cho như điều này có lý đi, thì bên công an cũng nên khoanh vùng đối tượng chịu phạt, tôi nghĩ vậy. Thí dụ quy định bố mẹ bị phạt thì con cháu trong phạm vi 3 đời bị dính lây, hay quá lắm là 9 đời như tru di cửu tộc từ thời xưa.

Có rõ ràng vậy thì công dân Huỳnh Thục Vy có thể cử người khác ngoài tầm dính chùm để đặng đi lãnh giải, chứ như vậy thì éo le quá.

Nhân tiện tôi thấy Pháp luật Việt Nam lắm lúc linh động khó lường. Thí dụ kê khai tài sản chống tham nhũng thì không lôi vợ chồng con cháu vào, nhưng xử phạt hành chính thì chi li từng đối tượng. Quả thật chính sách thật nhân đạo, đối với “đày tớ” và “ông chủ” có khác nhau.

*

Innova gửi lúc 17:47, 17/12/2012 – mã số 74851
Một tên an ninh xưng tên Quân nói với Hiếu: “Chúng tôi sẽ nói luôn cho anh biết lý do tại sao anh không được xuất cảnh. Bởi vì gia đình anh đang trong thời gian bị xử lý vi phạm hành chính mức phạt là 270 triệu đồng nhưng gia đình anh không chịu nộp phạt. Chính vì vậy, chúng tôi không cho anh xuất cảnh”.

Cứ cho như điều này có lý đi, thì bên công an cũng nên khoanh vùng đối tượng chịu phạt, tôi nghĩ vậy. Thí dụ quy định bố mẹ bị phạt thì con cháu trong phạm vi 3 đời bị dính lây, hay quá lắm là 9 đời như tru di cửu tộc từ thời xưa.

Có rõ ràng vậy thì công dân Huỳnh Thục Vy có thể cử người khác ngoài tầm dính chùm để đặng đi lãnh giải, chứ như vậy thì éo le quá.

Nhân tiện tôi thấy Pháp luật Việt Nam lắm lúc linh động khó lường. Thí dụ kê khai tài sản chống tham nhũng thì không lôi vợ chồng con cháu vào, nhưng xử phạt hành chính thì chi li từng đối tượng. Quả thật chính sách thật nhân đạo, đối với “đày tớ” và “ông chủ” có khác nhau.

——————————————————————————

Ban Tuyên giáo TW và Bộ Thông tin & Truyền thông họp Giao ban báo chí

(Sáng thứ Ba, 11-12-2012, trích phần liên quan Biển Đông)

2

Nguyễn Thế Kỷ (Phó ban Tuyên giáo TƯ): Cái việc mà cái tàu Bình Minh 02 bị đứt cáp ấy. Thì cái việc này là việc mà hai cái tàu giã cào của Trung Quốc chạy phía sau gây đứt cáp, chứ không phải là cắt cáp. Cái chuyện này chúng ta đã nói với nhau rồi. “Cắt” hay là “đứt” cáp thì hai cái chuyện này bản chất nó khác nhau, bằng hai cái động tác nó khác nhau, và bản chất nó khác nhau. Ở đây không phải là chúng ta sợ chúng ta nói chệch đi, mà thực sự nó là như thế.

Và để các đ/c có đầy đủ thông tin, một cách rất là chính xác, đầy đủ, toàn diện, thì chúng tôi đã mời đại diện Bộ Ngoại giao để nói chuyện với các đ/c. Cùng với anh Lương Thanh Nghị, thì còn có đại diện bên Bộ của bên Bộ Ngoại giao và đ/c Bộ trưởng nữa, đến và nói chuyện …

Và chúng tôi thiết nghĩ là các cơ quan chủ trì báo chí đã dày công như thế, đã mời như thế, đã đến báo cáo với các đ/c, thì các đ/c phải tuân thủ. Đây là nguyên tắc.

 

Thưa các đ/c là chúng tôi xin nhắc lại thế này này, cái Giao ban báo chí, là trước hết, là lãnh đạo Ban, Bộ, Hội giao ban với lãnh đạo cơ quan báo chí, hoặc là đ/c đó được ủy quyền của lãnh đạo, đó là một. Thứ hai, là giao ban với đảng viên, là lãnh đạo cơ quan báo chí. Đây là nguyên tắc, không có gì thay đổi cả. Và do đó, khi đã có sự chỉ đạo rồi, thì chúng ta phải chấp hành. Còn nếu các đ/c có ý kiến báo lưu thì các đ/c có thể đề đạt tại giao ban hoặc bằng văn bản. Còn … khi đã … chấp hành, không có chuyện gì khi chúng tôi hỏi, mà các đ/c đã đồng ý rồi, có nghĩa là các đ/c phải thực hiện nghiêm túc. Đây là yêu cầu bắt buộc. Đây là yêu cầu bắt buộc. Thế thì chúng tôi xin nói thể này:

Cái việc làm đứt cáp và cắt cáp thì đã nói như thế rồi, thế mà trong tuần vẫn có những báo vẫn nói … Tôi xin nói rằng là … trong cái giao ban vừa rồi ấy, thứ Ba vừa rồi ấy, tôi phê bình cái chỗ cái báo PetroTimes của anh Nguyễn Như Phong. Nhưng mà ngoài ra còn có một số cơ quan báo chí khác nữa … như là … khi nãy cái báo cáo có dẫn ra ấy.

Thì thưa các đ/c là … có một cái điểm mà tại sao … ở thời điểm này chúng ta phải đưa hết sức chính xác, kín kẽ là vì sao? Năm nay kỷ niệm tròn 5 năm, Quốc hội Trung Quốc có cái chủ trương thành lập thành phố Tam Sa. Và một số lực lượng ấy, … đương nhiên có cả những người họ rất là yêu nước, cũng có lòng tự hào dân tộc, nhưng mà đương nhiên cái cách thể hiện của họ thì cũng có những cái bức xúc. Mà … mà mà … bằng cái … cái cái … cái gọi là cái tình cảm cá nhân, thì họ tổ chức đi tụ tập, … và đi biểu tình. Và thưa các đ/c là … cái việc mà đi … tụ tập biểu tình này í, thì trên Facebook ấy, có cái trang Nhật ký yêu nước … hô hào nhau để đi biểu tình. Dân làm báo, Dân luận, blog Biệt kích xa xứ, thì tán phát lời kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược vào ngày mùng 9 tháng 12. Như vậy là có điện thoại, nhắn tin cho nhau, và trên Facebook, trên các trang mạng xã hội, trên blog các nhân có lời nhắn như thế. Thế mà đã chỉ đạo như thế rồi, mà lại vẫn còn …

Tôi nói là như Lao động, … thế thì nêu một cái tít là “Trung Quốc ngày càng hiếu chiến”. “Chiến” ở đây là khác, phải không ạ, nó là khác.

Rồi thì là … cái Pháp luật TPHCM thì là “Tàu cá Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02”. Là “cắt cáp”.

Rồi thì VNExpress đưa tin là “Tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp địa chấn” và đưa cả clip “Tàu Trung Quốc ngang ngược vi phạm lãnh hải”, gọi là “Cắt cáp địa chấn của Việt Nam”, năm 2011.

Rồi “Vụ tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp, Trung Quốc vu cáo Việt Nam”, Việt Nam pờ-lớt (Vietnam +). Rồi là báo điện tử Kiến thức Net đưa lại. Cái báo điện tử Kienthucnet.vn này là của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thật VN, hôm nay không biết là có đ/c Phan Trung Mậu, đại diện cho Liên hiệp có đi dự đây không ạ, cơ quan chủ quản? Cái tờ báo này mới được lập năm 20 … 12 này, nhưng mà vừa rồi có một số cái sai phạm, nên việc này mà … sai phạm mấy lần.

Rồi là là … là “Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN phản đối tàu Trung Quốc cắt cáp Mình Minh 02”, lại vẫn Việt Nam pờ-lớt.

Rồi là “Vụ cắt cáp Bình Minh 02: ăn cướp la làng”, TTXVN nêu và báo Đất Việt đưa lại. Và ở đây hôm nay có chị Trang đây chúng tôi xin nói thế này: chị Trang về báo cáo với anh Lợi, chúng tôi sẽ có công văn gởi cho tổng giám đốc TTXVN. Thế thì cái Việt Nam pờ-lớt có phải là đơn vị báo chí của TTXVN hay không, mà lại đưa không theo sự chỉ đạo? Thứ hai là lại ngay TTXVN thì vẫn có một bài viết nói rằng là “Vụ cắt cáp tàu Bình Minh 2, vừa … à ăn cướp la làng”. Mà cái bài này TTXVN đưa, Đất Việt đưa lại.

Rồi thì “Trung Quốc cắt cáp Bình Minh 02 có ý đồ gì?” Kiến thức Nét lấy lại của Đất Việt. “Sau vụ cắt cáp Bình Minh 02, Việt Nam cần có chính sách hỗ trợ đối tác”, Năng Lượng VN, chuyên san của anh Nguyễn Như Phong. (Có tiếng phụ nữ nói xen vào: Không phải đâu ạ, tờ Năng lượng VN khác tờ Năng lượng Mới). À vâng, vâng xin lỗi. Và cái mục Báo chí Toàn cảnh của Đài Truyền hình VN sáng Chủ nhật ngày mùng 9 tháng 12 thì xin thưa các đ/c là … trong cái Chủ nhật trước, thứ Bảy, Chủ nhật trước và cái thứ Bảy, Chủ nhật tuần vừa rồi ấy, thì thưa các đ/c là các lực lượng chức năng, đặc biệt là công an, (bất ngờ hạ giọng thì thào)kể cả quân đội, thì các đ/c biết là căng lực lượng ra, để mà ngăn chặn, ngăn cản tụ tập đông người. Tất nhiên chúng ta cũng thông cảm với bà con bức xúc, nhưng nếu mà số người mà tụ tập quá đông ấy, thì sẽ bất lợi, thậm chí là có thể đảo chiều, cho an ninh chính trị và trật tự xã hội của mình. Cho nên các đ/c đã căng lực lượng ra, thì cái Báo chí Toàn cảnh của Truyền hình VN đưa …đưa … đưa … điểm báo. Anh lại không phải là “điểm”, anh lại nhấn lại, đưa lại các cái báo khác, và cộng dồn lại thì cái thời lượng của nó là mấy phút. Thì thưa các đ/c phải nói là nó cũng làm cho cái … cái người nghe, người xem người ta cảm thấy tự nhiên là bức xúc, mà đúng vào cái buổi sáng mà lực lượng của ta đang còn căng ra ở TPHCM, Hà Nội … và một số đơn vị khác. Thì đây là một cái việc mà chúng tôi thấy là …

Hôm qua thì thưa các đ/c là không biết bên Bộ, bên Hội thế nào, còn bên Ban ấy, thì đ/c Trưởng ban phê bình cái vụ Báo chí Xuất bản và Xuất bản (? … không nghe rõ), là:

 Tại sao lại là … lại là đã chỉ đạo như thế rồi, mà để các báo lại lọt lưới lần này nhiều như thế. Tôi tuần vừa rồi thì tôi có đi công tác ở các địa phương, lịch làm việc rất là căng, cho nên tôi không thể theo dõi hàng ngày được, hàng giờ được, nhưng mà trường hợp của “Báo chí Xuất bản” vừa rồi mà hôm qua tôi đã phê bình thì không thể trách được nhá.    

Mặt khác đấy, là khi đã có sự chỉ đạo như thế, thì các cơ quan báo chí đã không chấp hành, thì … theo chỉ đạo của đ/c Trưởng ban đấy, thì sau (nghe không rõ) … này, Cục Báo chí và Xuất bản sẽ có một cái công văn gửi cho từng cơ quan báo chí đó và cơ quan chủ quản, đề nghị kiểm điểm là tại sao đã cung cấp thông tin, đã có sự chỉ đạo định hướng mà vẫn như thế. Thì thưa các đ/c là thế này này, chúng ta không phải là cái chuyện là không cho biểu tình là chúng ta sợ Trung Quốc … không phải! Nếu suy nghĩ như thế thì thấy hết sức đơn giản, và thậm chí có thể nói là … ngây thơ. Không ai sợ ai cả! Nhưng mà cái sự việc không cần thiết, chưa đến mức phải … phải tụ tập đến mức như thế. Thưa với các đ/c là cái cách của Trung Quốc như thế mà … thì sẽ vẫn còn rất nhiều, đại loại như thế sẽ còn rất nhiều, sẽ còn tiếp tục diễn ra. Tất nhiên là đấu tranh thì bằng ngoại giao vẫn là chủ yếu, chứ còn khi mà dùng các giải pháp khác là bất đắc dĩ. Và thưa với các đ/c là ngay cả đấu tranh về mặt pháp lý thì chúng ta cũng còn phải tích lũy các cái hồ sơ, các cái dữ liệu, các cái cơ sở pháp lý để … thật chắc, chứ không phải bỗng chốc một cái là có thể đưa ra tòa án quốc tế, hay là trọng tài quốc tế, kinh tế quốc tế … Không phải!

Rồi thì … cái giải pháp mà nói là, là gọi là … cuối cùng ấy, gọi là dàn quân ra để mà đánh nhau, thì đấy là cái giải pháp mà thưa các đ/c chí là giải pháp gọi là … gọi là đến mức là không thể có một cái cách nào khác nữa. Không thể có một cái cách nào để cứu vãn. Chứ còn hay ho gì cái chuyện là đánh nhau, để rồi rồi con em hai bên đều đổ máu, rồi thì tiêu … tiêu … tốn sức người sức của, máu xương. Cái điều đó là cái điều … cái giải pháp đó gọi là cái giải pháp gọi là bất đắc dĩ, cuối cùng, chứ không phải là sợ. Sợ thì không sợ! Ông cha ta đã không sợ thì chúng ta cũng không sợ gì cả! Nhưng có điều là chúng ta tìm mọi cách để chúng ta xử lý vấn đề cho nó … nó giảm đi, để mà giảm bức xúc, giảm … đi, giảm đối đầu, giảm căng thẳng. Đó là chiến lược!

Thế thì báo chí chúng ta ấy, trong cái thời điểm mà nước sôi lửa bỏng như thế thì chúng ta phải biết cách … nước sôi thì bớt lửa đi. Thì chúng ta lại cứ … đút củi vào, đun cho lửa bốc lên, thì như vậy là không nên. Thì chúng tôi cho rằng là đây có sự chỉ đạo rồi. Có định hướng rồi, có chỉ đạo rồi, cung cấp thông tin rồi, mà anh không chấp hành thì dứt khoát là xử lý. Thì chúng tôi đề nghị là lần này là xử lý cả về mặt đảng, cả về mặt bên nhà nước. Bên nhà nước thì chúng tôi đề nghị anh Lai, cùng các anh lãnh đạo Bộ, các vụ cục chức năng củng cố hồ sơ, để rồi có thể xử phạt hành chính.

Nhưng mà cái chuyện … dăm ba triệu đồng đó không quan trọng lắm, nên tôi đề nghị xử lý cả về mặt là tư cách đảng viên, của anh, anh không chấp hành, chúng tôi sẽ xử lý. Về phía đảng, chúng tôi sẽ làm như thế. Và chúng tôi sẽ báo cáo với tổ chức đảng, và cái cơ quan chủ quản ở đó biết cái chuyện này.

Thì thưa các đ/c là chúng ta không thể để cái chuyện là đã như thế, cung cấp thông tin (?) như thế rồi. thế mà vẫn không chịu là … chấp hành. Trong giao ban á, thì anh hỏi đủ thứ, chúng tôi mời anh. Nhưng mà đến khi đã kết luận rồi thì phải chấp hành, đây là nguyên tắc. Thì đây là cái việc mà chúng tôi muốn … thực ra thì không muốn là … thực ra căng thẳng với nhau. Nhưng mà đến lúc đã nói với nhau là thống nhất với nhau rồi thì phải thực hiện. Chứ không thể có cái chuyện là ông chẳng bà chuộc, mỗi anh nói một phách. Và một số cơ quan báo chí mà chúng tôi nêu mà có tần suất vi phạm nhiều lần ấy, thì đề nghị lại phải xử lý nghiêm túc và phải có hình thức xử lý kỷ luật …

* Ghi chú: 2 đoạn âm thanh ở trên là trích một phần trong cuộc giao ban.

nguon   anhbasam.wordpress.com

—————————

►Chúng ta cần lên danh sách và nêu chi tiết “công trạng” các quan chức VN “bị lộ” trong cuộc chạy đua tiếp tay cho bọn đế quốc Trung Cộng xâm lăng VN?

NỔI ĐIÊN! 11h15′: Một độc giả thân thiết, là nhà báo, vừa cho biết “những báo nào đưa tin trung quốc ‘cắt cáp’ tàu Bình Minh mà không viết là “vô tình gây đứt cáp” đều bị xử lý về mặt Đảng đối với người có liên quan, trong đó có TTXVN”.

Chúng tôi liền tìm hiểu thông tin này từ 2 nhà báo thân thiết khác, đều có cương vị trong hai tòa báo lớn, thì được khẳng định chính xác, và cho một danh sách kha khá các báo bị xử lý, gồm: Petrotimes, Lao Động, Tuổi trẻ, Pháp luật TP, VNE, Kiến thức, Đất Việt, Vietnam+, …

Có thể phải tìm hiểu thêm mấy chữ “xử lý về mặt đảng” để lần ngược về nơi xuất phát lệnh này, phải chăng đó là Ban Tuyên giáo cùng Đinh Thế Huynh?

Điều này còn liên quan tới thông tin bữa qua chúng tôi đã đưa về việc nghe nói Bộ Ngoại giao có triệu đại sứ đế quốc Trung Cộng tới để trao công hàm phản đối và chủ trương công bố tin này, nhưng Ban Tuyên giáo thì lại chỉ đạo chỉ đưa tin có gửi công hàm thôi.

Có lẽ đã tới lúc chúng ta cần lên danh sách và nêu chi tiết “công trạng” các quan chức VN “bị lộ” trong cuộc chạy đua tiếp tay cho bọn đế quốc Trung Cộng xâm lăng VN?

11h27′ – Độc giả “Binhloanvien” bình: “Nếu Đinh Thế Huynh xử lý các tờ báo đưa tin Trung cộng cắt cáp thì tất cả cộng động mạng hãy kêu gọi xử lý tên bán nước này … ”

14h40′ – Tiếp tục thông tin chi tiết hơn về vụ “kỷ luật” các báo:

Sáng qua, trong cuộc Giao ban báo chí hàng tuần, tại Ban Tuyên giáo TƯ, dưới sự chủ trì của lãnh đạo ban này và bộ 4T (Thông Tin Truyền thông), các báo đã được nghe “lên lớp”, đại ý là tại sao đã có chủ trương chỉ nói là tàu TQ lỡ làm đứt cáp thôi, mà có một số báo lại đưa là nó cố tình cắt cáp, để gây ra kích động nhân dân biểu tình.

Trong số các báo này có mấy báo bị phê nặng là Lao động, Pháp luật TPHCM, Tuổi trẻ …

Họ còn được nghe giảng giải là không khéo rồi chiến tranh nổ ra, con em chúng ta lại hy sinh xương máu không cần thiết như năm 1979 … (không biết có nói: “chúng ta” sẽ mất mát những gì đã kiếm chác được?). 

Bộ 4T sẽ lên danh sách các báo, sẽ có những hình thức kỷ luật, trong đó có cả kỷ luật đảng. Danh sách mà trưa nay đưa một phần có thể là sơ bộ được trích dẫn trong cuộc giao ban sáng qua, cần chờ danh sách chính thức và hình thức kỷ luật, người bị kỷ luật.

Chủ trì các cuộc giao ban này thường là phó ban Nguyễn Thế Kỷ và thứ trưởng Đỗ Quý Doãn; đương nhiên, đứng đằng sau, trước hết là trưởng ban  Tuyên Giáo Trung Ương Đinh Thế Huynh, ủy viên BCT, quyền cao hơn hẳn bộ trưởng 4T Nguyễn Bắc Son ủy viên TƯ, (Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam)

https://anhbasam.wordpress.com

—————

Phụ lục

1. Đinh Thế Huynh,

Nhà văn Phạm Thị Hoài, trong một bài báo năm 2012,  (http://www.procontra.asia/)  từng nêu thắc mắc về sự hiện diện của các website sau đây; theo đó mỗi lãnh tụ trong BCT, đều có một website với tiểu sử, và các tin tức hàng ngày liên quan đến họ!

http://dinhthehuynh.blogspot.com

http://dinhthehuynh.com

2. Nguyễn Bắc Son, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tóm tắt tiểu sử Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son

3.  Đỗ Quý Doãn

4. Nguyễn Thế Kỷ

http://tuyengiao.vn

Lãnh đạo các Vụ chức năng Ban Tuyên giáo Trung ương

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Công an vẫn tiếp tục theo dõi và canh giữ nghiêm ngặt nhà của hầu hết 42 công dân đã ký trong văn bản ngày 27.7

Posted by hoangtran204 trên 17/12/2012

Tôi tiếp tục tố cáo!

Lê Hiếu Đằng

Theo blog Người Lót Gạch

ngày 10.10.2012

Trên thềm nhà hát lớn TPHCM
Ai nhào vào giật xé biểu ngữ?
Kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn bị xô ngãSau cuộc mitting sáng ngày chủ nhật 9.12 trước nhà hát TP tôi được thêm thông tin là chính quyền đã dùng lực lượng thanh niên áo xanh từ trong sảnh nhà hát ùa ra[có lẽ là công an giả dạng và được mai phục từ trước] xô đẩy những người đứng trên bực thềm cao nhất làm cho nhiều người ngã trong đó nặng nhứt là trường hợp kiến trúc sư NGUYỄN TRỌNG HUẤN, một trỉ thức tên tuổi trong ngành kiến trúc, bị ngã sấp sau cú đẩy thô bạo của một thanh niên áo xanh lực lưỡng. Chị THƠ, vợ anh và nhiều người người khác đỡ anh lên. Mặc dầu rất đau nhưng vẫn khôi hài trấn an chị THƠ và mọi người “Không sao tôi té có kỹ thuật mà” [có lẽ anh té như các cầu thủ bóng đá?]. Mọi người lo vì cách đây vài tháng anh mới bị đột quỵ. Vì vậy trước cuộc mitting chị THƠ và bạn bè can ngăn anh nhưng anh vẫn cương quyết tham gia mitting. Thái độ dấn thân của một người trí thức lớn tuổi mới gương dậy sau cơn đôt quỵ làm ai cũng xúc động, còn nhà cầm quyền và lực lượng đàn áp thì không. Tôi quen anh HUÂN trong những buổi sinh hoạt tại CAFÉ THỨ BẢY của nhạc sĩ DƯƠNG THỤ, một địa điểm văn hóa đúng nghĩa hiếm hoi của tp HCM. Thế mà chính quyền TP đã dẹp nó mà không có một lý do nào chính đáng cả.Trường hợp anh HUỲNH TẤN MẪM là một vụ vi phạm gia cư một cách bất hợp pháp: sau khi thoát ra khỏi nhà thì một lực lượng CA hùng hậu ập vào nhà hùng hổ đi thẳng lên lầu quát hỏi “Mẫm đâu, có cửa thoát hiểm không?”. Vợ anh Mẫm thật sự hốt hoảng vì thật tình chị không biết anh đã ra khỏi nhà. Anh đã đi lặng lẽ chẳng ai biết…Đặc biệt chiều tối hôm thứ bảy 15.12 và sáng chủ nhật 16.12, nhà của hầu hết 42 công dân đã ký trong văn bản ngày 27.7 nhà đều bị CA canh giữ nghiêm ngặt. Ai có công việc đi ra khỏi nhà đều bị ít nhất 2 CA hộ tống. Riêng Lê công Giàu, Trần quốc Thuận, và tôi đi trên taxi cũng bị 4 CA ngồi trên 2 xe honda theo dõi suốt. Đến bến xe chợ BếnThành, anh Giàu xuống để đi xe buýt về nhà, hai tay vẫn bám theo, anh Giàu vốn là người rất hiền lành cũng phải nổi nóng la to giữa bến xe “Mấy anh nầy sao theo dõi người biểu tình chống TQ, các anh là người TQ hay VN?”. Thấy không ổn, các “bạn dân” lùi lũi rút êm. Lê công Giàu, một người kiên cường trong ngục tù trước đây nay vẫn kiên cường như ngày nào. Đối với Huỳnh Tấn Mẫm, cũng bị CA theo kỹ, cuối cùng bí thư đảng, CQ, CA , trong đó có CA TP “mời” đi ăn phở, uống café . Vẫn luận điệu cũ rich “chưa phải lúc biểu tình, mitting; coi chừng kẻ xấu lợi dụng v.v…” và cuối cùng họ cũng hỏi anh Mẫm “Anh có còn định đi biểu tình nữa không?”. À ra thế, cuối cùng họ cũng ló đuôi ra: họ sợ biểu tình. Anh Mẫm khẳng khái: “Bao lâu TQ còn gây hấn, lấn chiếm tôi còn đi biểu tình”.

Riêng trường hợp nhà báo Nguyễn Quốc Thái là khá nghiêm trọng: trên đường đi lễ nhà thờ sáng chủ nhật 16.12, bị mấy CA ép và đạp té, tạo ra môt tai nạn giao thông giả tạo để buộc anh Thái về CA Q3, thu hết giấy tờ, một thời gian sau mới để anh Thái về. Còn một thủ đoạn mờ ám nữa là rúng ép, đe dọa vợ con và các thành viên trong gia đình cũng như nơi làm việc, trong đó vô nhân đạo nhất là đến đe dọa trường GIÁO DỤC CHUYÊN BIỆT KHAI TRÍ NƠI NƯƠNG TỰA CỦA HƠN 100 EM TRẺ TỰ KỶ do BS HuỳnhTấn Mẫm sáng lập và phụ trách. Rõ ràng những hành động ngăn chặn, trấn áp nêu trên đối với những người tham gia các cuộc biểu tình, mitting chống bành trướng Bắc kinh là đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của nhân dân TP, là xem thường lợi ích của đất nước, xem thường nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của VN.

Điều cuối cùng tôi xin nói ở đây là dù đứng trước bạo lực, cường quyền nào anh em chúng tôi cũng không nao núng,lùi bước vì một khi đã dấn thân là chấp nhận hy sinh. Một người bạn đã nói với tôi nửa đùa nửa thật “Tòa án vùng 3 chiến thuật của chính quyền Saigon lên án tử hình anh nhưng anh coi chừng người thi hành án lại là chính quyền mà anh, bạn bè anh và biết bao người đã đổ xương máu mới có nó…”. Cả trong trường hợp như vậy tôi vẫn chấp nhận vì sự tồn vong và vận nước của Tổ Quốc VN, vì tương lai con cháu chúng ta sau nầy.

TP HCM ngày chủ nhật 16.12.2012.
LÊ HIẾU ĐẰNG

———————–

Tuyên bố phản đối hành vi trấn áp thô bạo vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng Quyền Công Dân

h111.jpgÔng Huỳnh Tấn Mẫm, đeo kính đứng giữa ảnh, tại cuộc biểu tình hôm Chủ Nhật ngày 9/12/2012Chúng tôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Tương Lai, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu, Lê Hiếu Đằng, những người ký tên vào Thông báo TỔ CHỨC MÍT TINH PHẢN ĐỐI NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC được tổ chức vào ngày 9.12.2012 tại quảng trường Nhà hát Thành phố, cực lực phản đối những hành vi thô bạo vi phạm pháp luật của các lực lượng công an và chính quyền địa phương tại những Phường và Quận nơi chúng tôi cư trú và nơi tổ chức mít tinh.

Việc tổ chức mít tinh phản đối hành động gây hấn ngày càng nghiêm trọng của nhà cầm quyền Bắc Kinh, nhằm biểu thị ý chí bảo vệ chủ quyền quốc gia về lãnh thổ và lãnh hải là một việc hết sức cần thiết, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ trí thức và thế hệ trẻ Thành phố. Đó là hành động yêu nước quang minh, chính đại. Chúng tôi đã công khai nêu rõ mục đích của cuộc mít tinh, khẩu hiệu đấu tranh, ngày giờ và địa điểm trong THÔNG BÁO ngày 7.12.2012. Thông báo này cũng đã gửi đến ông Bí thư Thành ủy, ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chỉ đạo các ngành hữu quan hỗ trợ để cuộc mít tinh phản đối hành động gây hấn và những thủ đoạn nham hiểm của nhà cầm quyền Trung Quốc diễn ra trong trật tự, tạo thành một sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Nhà nước.

Trong buổi tiếp chúng tôi, thay mặt cho lãnh đạo Thành phố, ông Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Lê Minh Trí đã nghe chúng tôi trình bày rõ ràng, minh bạch lý do chúng tôi thực hiện quyền công dân đã được ghi trong Hiến pháp và đã nêu rõ trong Đề nghị của 42 nhân sĩ trí thức gửi đến lãnh đạo Thành phố ngày 27.7.2012 về việc tạo điều kiện để chúng tôi thực hiện quyền công dân, biểu tình biểu tỏ ý chí kiên quyết chống hành động gây hấn, lấn chiếm, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam. Ông Phó Chủ tịch đã hiểu rõ mục đích, nội dung, khẩu hiệu, địa điểm và ngày giờ tổ chức cuộc mít tinh và cũng đã có thái độ chia sẻ với chúng tôi.

Đáng tiếc là, thay vì hỗ trợ chúng tôi thì chính quyền lại ra sức ngăn cản để không cho cuộc mit tinh biểu thị lòng yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược được tiến hành một cách ôn hòa và trật tự. Nhiều thủ đoạn không quang minh chính đại đã được diễn ra theo một kịch bản trấn áp được thực thi một cách thô bạo. Nghĩ rằng, tóm bắt những người đề xướng cuộc mít tinh không cho họ đến quảng trường Nhà hát Thành phố thì cuộc mít tinh sẽ tan. Hoàn toàn không phải vậy.

Diễn biến của tình hình cho thấy, nếu không có năm chúng tôi thì cuộc mít tinh vẫn diễn ra với một khí thế mạnh mẽ, biểu thị sức mạnh của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thành phố, đặc biệt là của thanh niên và giới nhân sĩ, trí thức, không một thế lực đen tối nào ngăn cản được. Điều này cho thấy nếu vẫn cứ trấn áp, bắt bớ, đe dọa và khủng bố thì sẽ chỉ như lửa đổ thêm dầu, làm cho tình hình Thành phố mất ổn định, hình ảnh cả đất nước xấu thêm lên trước con mắt công minh của bạn bè quốc tế.

Theo kịch bản trấn áp để phá bỏ cuộc mít tinh, cả năm chúng tôi đều bị lực lượng công an, dân phòng và chính quyền địa phương nơi chúng tôi cư trú bao vây từ sáng sớm. Chỉ có Huỳnh Tấn Mẫm là thoát khỏi sự vây bắt của công an và chính quyền địa phương đến được quảng trường Nhà hát Thành phố, bốn người còn lại đều bị ngăn chặn, trong đó ba người bị ép buộc không được ra khỏi nhà, một người bị chặn bắt một cách thô bạo trên đường đi, áp tải về trụ sở Phường và đã có Tuyên bố phản đối ngay trong ngày 9.2.2012 với những dẫn chứng cụ thể.

Nhiều người khác ngoài năm chúng tôi cũng đã bị vi phạm quyền tự do công dân như ông Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, ông Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều người khác nữa, bị ép buộc không được ra khỏi nhà hoặc bắt phải quay về nhà khi đang đi trên đường mà không có bất cứ một văn bản pháp luật nào được công bố ngoài việc tùy tiện bắt giữ, ngăn cản, tùy tiện xông vào nhà án ngữ không cho ra khỏi nơi cư trú.

Các hành động trên đã vi phạm trắng trợn quyền công dân được ghi trong Chương V của Hiến pháp, Điều 68: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Điều 71: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Điều 73: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép”.

Chà đạp lên luật pháp, các hành vi thô bạo nói trên cần phải bị trừng trị và cần phải chấm dứt. Chúng tôi yêu cầu ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra và có giải pháp thích đáng đối với những cán bộ phạm pháp, vi phạm quyền công dân đối với chúng tôi.

Chúng tôi kêu gọi công luận trên cả nước hãy lên án hành động trấn áp người biểu tình khi họ thực hiện quyền công dân đã được ghi trong Hiến pháp để biểu tỏ lòng yêu nước, phản đối hành động của nhà cầm quyền Bắc Kinh gây hấn lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải thuộc chủ quyền của ta.

Kiên quyết đấu tranh chống lại hành động gây hấn và mọi thủ đoạn thâm hiểm, lừa mị của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Phát huy truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc, mỗi người Việt Nam hãy đứng lên chống lại bọn xâm lược, cảnh giác trước mưu mô của chúng.

Tổ quốc trên hết và trước hết!

TP Hồ Chí Minh ngày 10.10.2012

Huỳnh Tấn Mẫm
Tương Lai
Hồ Ngọc Nhuận
Lê Công Giàu
Lê Hiếu Đằng

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►28.12.2012 sẽ xử phúc thẩm 3 bloggers Sài Gòn: Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Anh Ba Sài Gòn

Posted by hoangtran204 trên 17/12/2012

28.12.2012 sẽ xử phúc thẩm 3 bloggers Sài Gòn: Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Anh Ba Sài Gòn

 

Theo Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

VRNs (16.12.2012) – Gia Lai – Tòa án nhân dân tối cao, tại Sài Gòn, sẽ xử phúc thẩm 3 bloggers Sài Gòn là Điếu Cày-Nguyễn Văn Hải, Công lý sự thật-Tạ Phong Tần, và Anhbasaigon-Phan Thanh Hải, sáng ngày 28.12.2012 tới đây tại Sài Gòn.

Phóng viên chúng tôi hỏi bà Dương Thị Tân, người nhà của ông Nguyễn Văn Hải và được bà cho biết, đến trưa hôm qua, 15.12.2012, gia đình bà vẫn chưa nhận được thông báo chính thức nào của Tòa án về phiên xử phúc thẩm. Cô Tạ Minh Tú và Tạ Khởi Phụng, hai người em của cô Tạ Phong Tần cũng cho biết chưa nhận được thông báo. Bà Liên, vợ ông Phan Thanh Hải cũng chưa nhận được thông báo.

Chỉ một mình blogger Uyên Vũ là nhận được lệnh triệu tập của tòa án đến dự phiên xử phúc thẩm, ngày 28.12.2012, với tư cách là nhân chứng.

Bà Liên cho biết thêm, chỉ mới được gặp ông Phan Thanh Hải lần đầu tiên, sau phiên xử sơ thẩm, ngày 04.12.2012 vừa qua. Bà Liên cho biết, ông Phan Thanh Hải đang bị giam tại số 4 Phan Đăng Lưu. Ông có gầy đi nhiều, nhưng vẫn khỏe. Ông bị cao huyết áp, nhưng trại giam không cho bà Liên gởi thuốc.

Cách đây ít ngày, cô Tạ Minh Tú cũng cho VRNs biết, cô Tạ Phong Tần bị giam ở Chí Hòa. Hiện rất cần thuốc chuyên trị, nhưng trong nhà tù không có. Gia đình mang thuốc đến thì giám thị không cho nhận, bắt phải làm đơn xin gởi. Khi cô Tú làm đơn xong, nộp, thì giám thị lại bảo phải do cô Tạ Phong Tần làm đơn thì mới chấp nhận, nhưng không được gặp cô Tần, nên cô Tú không thể nhắn tin được.

Đây là cách làm việc không nhằm phục vụ nhân dân. Xin lưu ý, đến giờ phút này, cô Tạ Phong Tần và các bloggers Điếu Cày, Anhbasaigon chưa phải làm phạm nhân, vì bản án chưa có hiệu lực, nên họ còn đầy đủ quyền công dân theo luật định, nên việc gây khó khăn, không cho những người bị tạm giam được nhận thuốc để bảo đảm sức khỏe là cố tình xâm hại đến tính mạng của công dân.

Chúng tôi xin nhắc lại, ngày 24.09.2012 vừa qua, Tòa án nhân dân Sài Gòn, do thẩm phán Vũ Phi Long chủ tọa, đã xét xử 3 bloggers này một cách qua loa, một vụ án giam giữ người hơn một năm, mà chỉ xét xử trong một buổi sáng – từ 08:00 đến 13:17 – với một bản án nặng nề cho bloggers Điếu Cày-Nguyễn Văn Hải: 12 năm tù, Công lý sự thật-Tạ Phong Tần: 10 năm, Anhbasaigon-Phan Thanh Hải: 4 năm tù giam theo khoản 2 điều 88, BLHS, về tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN.

Một phiên tòa xét xử công khai, nhưng cấm tất cả mọi người tham dự, kể cả những người thân của những nạn nhân của vụ án là bà Dương Thị Tân, em Nguyễn Trí Dũng (con blogger Điếu Cày), các cô Tạ Minh Tú, Tạ Khởi Phụng. Nhiều bloggers hâm hộ 3 bloggers này đến dự phiên xử sơ thẩm cũng bị ngăn cản và bị bắt giam hơn 8 tiếng là nhà thơ Bùi Chát, Nguyễn Hoàng Vi, Binh Nhì, Aduku, anh Trực vườn rau Lộc Hưng…

Ngay sau phiên tòa, các tổ chức Quan sát Nhân quyền, Ân xá quốc tế, Nhà báo không biên giới và nhiều tổ chức quốc tế khác đồng loạt lên án bản án bất công. Trước đó Hạ viện Hoa Kỳ đã đưa ra một Nghị quyết lên án các điều luật 79 và 88 của BLHS Việt Nam, vì đã vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.

Mới đây, ngày 10.12.2012, nhân ngày Quốc tế Nhân quyền, Tổ chức Nhân quyền Việt Nam đã trao giải khôi nguyên nhân quyền năm 2012 cho ba phụ nữ Việt Nam, trong đó có cô Tạ Phong Tần.

PV.VRNs

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Cuộc mít tinh ngày 9/12/2012 tại Sài Gòn như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 13/12/2012

Tôi đã tham gia cuộc mít tinh ngày 9/12/2012 tại Sài Gòn như thế nào?

Hồng Minh

Tác giả gửi tới Dân Luận

Sau những ngày đêm trăn trở, tôi quyết định tham gia cuộc mít tinh ngày 9/12/2012.

Là người Việt Nam tôi không thể “thấy nước nhục mà không biết thẹn”.

Là công dân của một nước độc lập, tôi muốn ít nhất một lần trong đời được thực thi quyền hiến định của mình.

Và trên hết, 5 vị nhân sĩ trí thức đứng tên trong THÔNG BÁO VỀ VIỆC TỔ CHỨC MÍT TINH PHẢN ĐỐI NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN NHỮNG NGÀY GẦN ĐÂY CỦA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC là những vị đã cống hiến máu xương, trí tuệ, công sức để xây dựng chính quyền này. Họ dứt khoát không phải là “thế lực thù địch”.

Lý lẽ là như vậy nhưng sâu thẳm trong lòng vẫn là nỗi lo sợ mơ hồ. Nhất là vào trước ngày tổ chức mít tinh, tôi được biết cả 5 vị đã được thành ủy mời lên. Chính vì nỗi lo sợ mơ hồ đó mà khi con tôi ngỏ ý muốn đi theo thì tôi đã ngăn cháu bằng câu nói đùa rằng “cần phải có một người ở lại để nếu có việc gì thì còn có người thăm nuôi”.

Sáng sớm ngày 9/12/2012, tôi lại mở mạng internet để cập nhật thông tin và được biết nhà ông Lê Hiếu Đằng và ông Lê Công Giàu đã bị công an gác. Tuy nhiên, tôi vẫn tin tưởng rằng với kinh nghiệm hoạt động trước đây, chắc hẳn các vị đó đã lường trước và chuẩn bị sẵn phương án dự phòng cho tình huống xấu nhất.

Tám giờ sáng, tôi cùng một người bạn lên xe hướng về Nhà hát thành phố. Đứng từ Thương xá Tax, rất dễ nhận thấy các lực lượng công an, thanh niên tình nguyện qua sắc phục của họ. Khu vực quanh Nhà hát thành phố đã bị chặn mọi hướng ra vào bằng các rào sắt. Dưới lòng đường xe máy vẫn lưu thông, còn taxi buộc phải chạy hướng khác.

Chúng tôi đi vào quảng trường Nhà hát Thành phố. Vì còn rất nhiều thời gian nên tôi cùng bạn dạo một vòng xung quanh nhà hát rồi ngồi xuống bờ hàng rào bao quanh vườn hoa nhà hát để chờ đợi. Dàn quân nhạc chơi những bài mà tôi không thấy quen thuộc. Cho đến khi họ chơi nhạc bài “Cháu lên ba, cháu đi mẫu giáo…” thì không hiểu vì sao, cảm giác bất an trong tôi càng tăng.

Hình như họ đã kết thúc bằng nhạc bài “Như có Bác Hồ….”. Tôi thật sự không nhớ vì lúc đó đã qua 8 giờ 30, giờ chính thức bắt đầu cuộc mít tinh. Tôi nhìn đồng hồ liên tục và cảm thấy từng phút cứ nặng nề trôi qua.

hinh_a1.jpgRồi nghe có tiếng reo hò. Nhìn về phía vườn hoa đối diện Nhà hát Thành phố thì thấy một đoàn người mang cờ và khẩu hiệu tiến vào quảng trường nhà hát. Đoàn người hô các khẩu hiệu và hát. Không có ai phát biểu như những cuộc mít tinh thông thường.

Rồi đoàn người rời quảng trường nhà hát và bắt đầu đi theo đường Lê Lợi hướng ra đường Nguyễn Huệ. Chúng tôi đi theo đoàn người và gặp thêm một người bạn. Người này nói với chúng tôi rằng các vị Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu không thể đến được vì công an đã không cho họ ra khỏi nhà. Khi nghe câu kết của người đó rằng “rắn mất đầu rồi, còn cái đuôi muốn quẫy sao thì quẫy” thì tôi thấy đất dưới chân mình như muốn sụt xuống. Tôi vẫn đi theo đoàn người, nhưng họ không thể ra khỏi khu vực đã bị chặn bằng các rào sắt. Đành quay trở lại.

Những người trẻ tuổi xung quanh tôi vừa đi vừa hào hứng vỗ tay và hát theo một giọng nam nào đó được tăng âm nhờ loa cầm tay nên mọi người đều nghe được. Cho đến khi cái giọng nam đó bắt nhịp cho tất cả hát theo nào là “Cha thương con vì con giống mẹ….”, nào là “Bắc kim thang, cà lang bí rợ…” và thậm chí là “một con vịt xòe ra hai cái cánh…” thì tôi phải tự hỏi: Chống Trung Quốc là thế này đây sao?

Chúng tôi quay trở lại quảng trường nhà hát thành phố. Sự xuất hiện của ông Huỳnh Tấn Mẫm rõ ràng đã mang lại sinh khí cho cuộc mít tinh. Tất cả như trút được gánh nặng. Những lời hô khẩu hiệu, những bài hát trở nên khí thế hơn. Trên bậc thềm cao nhất của Nhà Hát Thành phố, ông Huỳnh Tấn Mẫm phát biểu gì đó. Nhưng không có loa. Tôi đứng ngay dưới mà vẫn không thể nghe ông nói gì. Và tôi lại tự hỏi, phải chăng người cầm loa hát để bắt nhịp cho các bạn trẻ hát “một con vịt… ” lúc nãy cũng là người của chính quyền cài vào?

Rồi các lực lượng thanh niên tình nguyện tràn lên để dồn nhóm người trong đó có ông Huỳnh Tấn Mẫm xuống các bậc thang thấp hơn. Tôi đưa máy ảnh lên để chụp lại cảnh này. Ngay bên cạnh tôi, một giọng nói lạnh lùng cất lên “Cất máy ảnh ngay. Không được quay phim chụp ảnh ở đây”. Tôi quay sang bên cạnh, nhìn thẳng vào mắt gã thanh niên mặc thường phục vừa nói những lời đó và không thể tin được đằng sau vẻ thư sinh kia lại là một gã công an chìm.

hinh_2.jpg

Hình 2 chụp ngay trước khi gã công an chìm đứng cạnh yêu cầu tôi cất máy ảnh nên tôi đã không thể chụp lại cho tốt hơn.Có vẻ như cuộc mít tinh đã kết thúc. Chúng tôi chuẩn bị ra về. Bỗng có tiếng la lớn “Không được bắt người yêu nước”. Tôi quay lại thì thấy bạn thanh niên mang lá cờ đỏ sao vàng đang bị một nhóm mặc thường phục xông vào không biết định bắt người hay định giật cờ. Mọi người bắt đầu nhốn nháo. Rồi đám mặc thường phục đó quay sang giằng co với bạn vừa la. Tôi nhìn thấy bạn cầm cờ quàng lá cờ vào cổ mình. Giờ đây, khi viết những dòng này, tôi vẫn nhìn thấy nét mặt của bạn và lại thấy nghẹn ngào. Cầu mong cho bạn được bình an. Lại có tiếng la “coi chừng móc túi”. Tôi quay lại nhìn kẻ vừa la. Một gương mặt mà nếu đoán tuổi thì tôi nghĩ là còn đang học phổ thông. Nó la như vậy nhưng mặt tỉnh queo, chẳng có ai móc túi ai cả.

Trên đường ra về, chúng tôi lại gặp một người bạn nữa. Chúng tôi nhận ra bạn, nhưng bạn lại không nhận ra chúng tôi. Khi người bạn đi cùng tôi đến gần và hỏi có phải bạn là H. không thì tôi có cảm giác bạn kia hốt hoảng. Chúng tôi phải giải thích để bạn đó nhớ ra và đứng nói chuyện với nhau một lúc trước khi ra về. Trong lúc chúng tôi đang nói chuyện, có khoảng 2, 3 đứa con gái còn trẻ đi ngang và nói trỏng rất to như cố ý để tất cả cùng nghe: “Muộn rồi. Đi về đi.” Với kinh nghiệm thu thập được trong cuộc mít tinh vừa qua, tôi đoán chắc đám này đến đây đâu phải để dự mà để phá cuộc mít tinh.

Tôi trở về nhà. Lòng trĩu nặng. Không có tâm trạng nào ngay cả để trả lời câu hỏi của con tôi về cuộc mít tinh.

Hôm nay, khi tất cả tạm lắng xuống. Tôi bình tĩnh để viết những dòng này.

Cuối cùng, tôi chỉ muốn nói một điều với những người đã kêu gọi chúng tôi xuống đường rằng: trong khi các vị còn bận thanh minh với đảng rằng chúng tôi chỉ chống Trung Quốc chứ không chống đảng thì đảng ta có đủ thời gian  tiếp tục lãnh đạo để xây dựng nước CHXHCNVN, xin đọc lại là nước “Chư Hầu Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Cay đắng thay, chư hầu cho chính “kẻ thù truyền kiếp”.

Hồng Minh

————————-

►Nhìn và rút kinh nghiệm về: Cuộc biểu tình ở Sài Gòn – và Cuộc biểu tình ở Hà Nội 9-12-2012

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Huỳnh Tấn Mẫm, Tương Lai, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu, Lê Hiếu Đằng cực lực phản đối những hành vi thô bạo vi phạm pháp luật của các lực lượng công an và chính quyền địa phương

Posted by hoangtran204 trên 13/12/2012

Tuyên bố phản đối hành vi trấn áp thô bạo vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng Quyền Công Dân

Theo blog Người Lót Gạch

 Chúng tôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Tương Lai, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu, Lê Hiếu Đằng, những người ký tên vào Thông báo TỔ CHỨC MÍT TINH PHẢN ĐỐI NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC được tổ chức vào ngày 9.12.2012 tại quảng trường Nhà hát Thành phố, cực lực phản đối những hành vi thô bạo  vi phạm pháp luật của các lực lượng công an và chính quyền địa phương tại những Phường và Quận nơi chúng tôi cư trú và nơi tổ chức mít tinh.

Việc tổ chức mít tinh phản đối hành động gây hấn ngày càng nghiêm trọng của nhà cầm quyền Bắc Kinh, nhằm biểu thị ý chí bảo vệ chủ quyền quốc gia về lãnh thổ và lãnh hải là một việc hết sức cần thiết, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ trí thức và thế hệ trẻ Thành phố. Đó là hành động yêu nước quang minh, chính đại. Chúng tôi đã công khai nêu rõ mục đích của cuộc mít tinh, khẩu hiệu đấu tranh, ngày giờ và địa điểm trong THÔNG BÁO ngày 7.12.2012. Thông báo này cũng đã gửi đến ông Bí thư Thành ủy, ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chỉ đạo các ngành hữu quan hỗ trợ để cuộc mít tinh phản đối hành động gây hấn và những thủ đoạn nham hiểm của nhà cầm quyền Trung Quốc diễn ra trong trật tự, tạo thành một sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Nhà nước.

Trong buổi tiếp chúng tôi, thay mặt cho lãnh đạo Thành phố, ông Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Lê Minh Trí đã nghe chúng tôi trình bày rõ ràng, minh bạch lý do chúng tôi thực hiện quyền công dân đã được ghi trong Hiến pháp và đã nêu rõ trong Đề nghị của 42 nhân sĩ trí thức gửi đến lãnh đạo Thành phố ngày 27.7.2012 về việc tạo điều kiện để chúng tôi thực hiện quyền công dân, biểu tình biểu tỏ ý chí kiên quyết chống hành động gây hấn, lấn chiếm, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam. Ông Phó Chủ tịch đã hiểu rõ mục đích, nội dung, khẩu hiệu, địa điểm và ngày giờ tổ chức cuộc mít tinh và cũng đã có thái độ chia sẻ với chúng tôi.

Đáng tiếc là, thay vì hỗ trợ chúng tôi thì chính quyền lại ra sức ngăn cản để không cho cuộc mit tinh biểu thị lòng yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược được tiến hành một cách ôn hòa và trật tự. Nhiều thủ đoạn không quang minh chính đại đã được diễn ra theo một kịch bản trấn áp được thực thi một cách thô bạo. Nghĩ rằng, tóm bắt những người đề xướng cuộc mít tinh không cho họ đến quảng trường Nhà hát Thành phố thì cuộc mít tinh sẽ tan. Hoàn toàn không phải vậy.

Diễn biến của tình hình cho thấy, nếu không có năm chúng tôi thì cuộc mít tinh vẫn diễn ra với một khí thế mạnh mẽ, biểu thị sức mạnh của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thành phố, đặc biệt là của thanh niên và giới nhân sĩ, trí thức, không một thế lực đen tối nào ngăn cản được. Điều này cho thấy nếu vẫn cứ trấn áp, bắt bớ, đe dọa và khủng bố thì sẽ chỉ như lửa đổ thêm dầu, làm cho tình hình Thành phố mất ổn định, hình ảnh cả đất nước xấu thêm lên trước con mắt công minh của bạn bè quốc tế.

Theo kịch bản trấn áp để phá bỏ cuộc mít tinh, cả năm chúng tôi đều bị lực lượng công an, dân phòng và chính quyền địa phương nơi chúng tôi cư trú bao vây từ sáng sớm. Chỉ có Huỳnh Tấn Mẫm là thoát khỏi sự vây bắt của công an và chính quyền địa phương đến được quảng trường Nhà hát Thành phố, bốn người còn lại đều bị ngăn chặn, trong đó ba người bị ép buộc không được ra khỏi nhà, một người bị chặn bắt một cách thô bạo trên đường đi, áp tải về trụ sở Phường và đã có Tuyên bố phản đối ngay trong ngày 9.2.2012 với những dẫn chứng cụ thể.

Nhiều người khác ngoài năm chúng tôi cũng đã bị vi phạm quyền tự do công dân như ông Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, ông Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều người khác nữa, bị ép buộc không được ra khỏi nhà hoặc bắt phải quay về nhà khi đang đi trên đường mà không có bất cứ một văn bản pháp luật nào được công bố ngoài việc tùy tiện bắt giữ, ngăn cản, tùy tiện xông vào nhà án ngữ không cho ra khỏi nơi cư trú.

Các hành động trên đã vi phạm trắng trợn quyền công dân được ghi trong Chương V của Hiến pháp, Điều 68: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Điều 71: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Điều 73: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép”.

Chà đạp lên luật pháp, các hành vi thô bạo nói trên cần phải bị trừng trị và cần phải chấm dứt. Chúng tôi yêu cầu ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra và có giải pháp thích đáng đối với những cán bộ phạm pháp, vi phạm quyền công dân đối với chúng tôi.

Chúng tôi kêu gọi công luận trên cả nước hãy lên án hành động trấn áp người biểu tình khi họ thực hiện quyền công dân đã được ghi trong Hiến pháp để biểu tỏ lòng yêu nước, phản đối hành động của nhà cầm quyền Bắc Kinh gây hấn lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải thuộc chủ quyền của ta.

Kiên quyết đấu tranh chống lại hành động gây hấn và mọi thủ đoạn thâm hiểm, lừa mị của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Phát huy truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc, mỗi người Việt Nam hãy đứng lên chống lại bọn xâm lược, cảnh giác trước mưu mô của chúng.

Tổ quốc trên hết và trước hết!

TP Hồ Chí Minh ngày 10.10.2012

Huỳnh Tấn Mẫm
Tương Lai
Hồ Ngọc Nhuận
Lê Công Giàu
Lê Hiếu Đằng

  

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | 2 Comments »

►Mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đang nhạt dần vì Hà Nội đàn áp các nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền

Posted by hoangtran204 trên 12/12/2012

Sự chậm trễ của cuộc họp nhân quyền Mỹ-Việt cho thấy mối quan hệ giữa hai nước đang nhạt dần vì Hà Nội đàn áp các nhà đấu tranh

Chris Bummitt và Matthew Pennington/AP
Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ

HÀ NỘI, Việt Nam – Hoa Kỳ và Việt Nam, hai kẻ cựu thù chia sẻ chung mối quan tâm về sự trỗi dậy của Trung Quốc, cùng nhận ra rằng chỉ một vấn đề – nhân quyền – đang là trở ngại khiến họ không thể trở thành bạn bè gần gũi hơn.

Mối căng thẳng giữa hai nước rõ ràng được nhìn thấy từ sự chậm trễ trong một cuộc họp về nhân quyền hàng năm giữa Washington và Hà Nội. Các cuộc họp tham vấn như vậy đã được tổ chức hàng năm kể từ năm 2006, nhưng những buổi gặp gỡ cuối cùng trong tháng 11 năm 2011 chả đem lại kết quả bao nhiêu, và một quan chức cao cấp hàng bộ trưởng của chính phủ cho biết hai bên vẫn còn tiếp tục làm việc để “thiết lập các thông số” của vòng họp tiếp theo để có thể mang lại sự tiến bộ.

Hoa Kỳ đang cảm thấy thất vọng vì các cuộc đàn áp gần đây của Việt Nam đối với các blogger, nhà hoạt động và các nhóm tôn giáo mà họ cho là một mối đe dọa đến ách kìm kẹp quyền lực của mình, và qua việc giam giữ một công dân Mỹ vì tội lật đổ vốn có thể phải chịu án tử hình.

Chúng tôi đã không nhìn thấy được những tiến bộ mà chúng tôi mong muốn“, tuần trước, một quan chức Bộ Ngoại giao cho biết trong điều kiện giấu tên bởi vì ông đã không được phép bình luận công khai. “Chúng tôi rất muốn nhìn thấy các hành động cụ thể.

Việc chậm trễ trong việc tổ chức cuộc họp, do Hà Nội tổ chức có thể chỉ là vấn đề của vài tuần lễ. Nhưng đã nhấn mạnh cho thấy việc Việt Nam cư xử ngày càng tồi tệ với giới bất đồng chính kiến ​​trong hai năm qua đã làm phức tạp các nỗ lực tăng cường quan hệ với Mỹ như thế nào.

Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị cho biết các cuộc đối thoại nhân quyền đã “góp phần tăng cường lòng tin giữa hai nước và rằng cả hai bên đã thảo luận về thời gian của vòng đối thoại tiếp theo. Một phát ngôn viên của Đại sứ quán Mỹ cũng cho biết là hai nước đang thảo luận về việc khi nào sẽ tổ chức các cuộc đàm phán.

Cũng như phía Washington, Việt Nam mong muốn được kinh doanh và quan hệ an ninh sâu sắc hơn, nhưng Hoa Kỳ nói rằng điều ấy phải đi kèm với việc cải thiện nhân quyền. Một số thành viên có ảnh hưởng của Quốc hội cũng áp lực lên chính quyền Obama phải cứng rắn hơn với việc đàn áp giới bất đồng chính kiến ​​và tự do tôn giáo của Hà Nội.

Những năm gần đây, mối quan hệ với Hoa Kỳ của Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều, phần lớn là từ các quan tâm cùng chia sẻ vì tính quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á. Chia sẻ lợi ích chiến lược của họ được phản ánh rõ nét nhất trong chính sách ngoại giao của Mỹ ở vùng Biển Đông, nơi các tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Bắc Kinh xung khắc với chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam và bốn quốc gia khác trong khu vực.

Kể từ khi Liên Xô xụp đổ, Việt Nam đã mở cửa kinh tế nhưng lại không cho phép tự do tôn giáo và chính trị đến 87 triệu người dân của mình. Mỹ và Việt Nam đã phục hồi quan hệ ngoại giao vào năm 1995, 20 năm sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, và việc lập lại mối quan hệ hữu nghị của họ đã tăng tốc khi Tổng thống Barack Obama đã và đang dành ưu tiên  cho việc phát triển quan hệ mạnh mẽ hơn với khu vực Đông Nam Á.

Việc chính quyền Việt Nam đàn áp giới bất đồng chính kiến ​​đã theo sau sự suy giảm của nền kinh tế từng một thời mạnh mẽ của mình. Các nhà phân tích nói rằng giới lãnh đạo Hà Nội đang chống đỡ với các chỉ trích trong nước về chính sách kinh tế, các vụ bê bối tham nhũng và đấu đá nội bộ, đa phần đã được phát tán trên Internet và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của họ.

Theo Human Rights Watch, năm ngoái, Việt Nam đã bỏ tù hơn 30 nhà hoạt động, các blogger và những người bất đồng chính kiến ​​ôn hòa. Năm nay, 12 nhà hoạt động đã bị kết án nặng nề một cách bất thưòng sau các phiên xử ngắn, thường chỉ trong ngày. Bảy người khác đang chờ bị ra tòa. Đất nước này cũng đang chuẩn bị luật để đàn áp các quyền tự do trên Internet.

Các cuộc cải vả đấu đá nhau trong nội bộ đảng đã lấn át tất cả mọi thứ“, ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam từ Đại học New South Wales cho biết. “Họ điên đầu  về những lời chỉ trích và không còn quan tâm về Hoa Kỳ nữa“.

Việc giam giữ và xét xử mờ ám Nguyễn Quốc Quân, nhà hoạt động dân chủ người Mỹ có thể là ví dụ rõ ràng về sự không sẵn sàng lắng nghe đến những quan tâm của Mỹ về nhân quyền của Hà Nội.

Quân, 59 tuổi, đã bị bắt tại sân bay TP Hồ Chí Minh vào tháng Tư ngay sau khi vừa đến trên một chuyến bay từ Hoa Kỳ, nơi ông đã sống sau khi chạy trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền khi còn trẻ. Gia đình và bạn bè của Quân nói rằng ông là một thành viên lãnh đạo của đảng Việt Tân, một nhóm ủng hộ dân chủ bất bạo động mà chính quyền Việt Nam đã gán nhãn là khủng bố. Trong năm 2007 ông từng bị giam 6 tháng ở Việt Nam.

Thoạt tiên, nhà chức trách cáo buộc Quân tội khủng bố, nhưng hiện nay ông đang bị buộc tội lật đổ chống lại nhà nước, một tội danh có thể bị án từ 12 năm tù đến tử hình.

Với việc điều tra đã hoàn tất, phiên tòa xét xử ông có thể sắp diễn ra. Ngày giờ xét xử thường chi được thông báo trước một vài ngày.

Theo bản sao của bản cáo trạng do AP có được, Quân đã hội họp với các nhà hoạt động đồng hương Việt Nam ở Thái Lan và Malaysia từ năm 2009 và 2010, thảo luận về cách bảo mật Internet và đối kháng bất bạo động. Bản cáo trạng cho biết ông đến Việt Nam theo một hộ chiếu mang tên Richard Nguyễn vào năm 2011, khi ông đã tuyển mộ bốn thành viên khác của Việt Tân.

Vợ ông không phủ nhận việc Quân muốn thay đổi hệ thống chính trị của Việt Nam.

Anh ấy muốn nói chuyện với những người trẻ tuổi và muốn mang những ý tưởng dân chủ đến Việt Nam“, Ngô Hương Mai, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với hãng thông tấn AP qua điện thoại từ Sacramento. “Anh ấy đã sống ở Mỹ, anh đã có tự do ở đây và anh muốn họ cũng hưởng được tự do như thế“.

Các thành viên quốc hội trong những vùng có đông cử tri người Mỹ gốc Việt đang gây sức ép lên chính quyền Obama.

Dân biểu Frank Wolf, một nhà chỉ trích hàng đầu, cho rằng chính phủ  Mỹ đã bỏ qua vấn đề quyền con người khi gây dựng các mối quan hệ kinh tế và an ninh.  Ccng với ba đồng nghiệp của đảng Cộng hòa, dân biểu Frank Wolf,  bang Virginia,  đã yêu cầu sa thải Đại sứ Mỹ David Shear, cáo buộc ông đã không mời các nhà đấu tranh dân chủ VN đến dự lễ ở Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội vào ngày 4 tháng 7, mà trước đó ông ta đã hứa chắc rằng rằng là ông sẽ mời họ.

Phương pháp tiếp cận của chính quyền Mỹ  đã là một thảm họa. Họ chỉ quan tâm đến kinh tế và quốc phòng“, ông Wolf, người cũng chỉ trích việc Đại sứ  Shear không đến thăm Quân trong tù, cho biết. “Nhân quyền và tự do tôn giáo phải được xem  là ưu tiên hàng đầu“.

Các quan chức Mỹ đã đến gặp Quân 5 lần ở trong tù, lần gần đây nhất là vào cuối tháng Chín.

Chúng tôi tin rằng không ai có thể bị bỏ tù vì bày tỏ quan điểm chính trị hoặc khát vọng về một tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng của mình một cách ôn hòa“, Christopher Hodges, phát ngôn viên của Đại sứ quán Mỹ tuyên bố. “Chúng tôi tiếp tục kêu gọi chính phủ Việt Nam giải quyết trường hợp này một cách nhanh chóng và minh bạch“.

Wolf và các nhà lập pháp khác quan tâm đến Việt Nam hiện nay không tuyên bố gì nhiều về việc hoạch định chính sách, nhưng có thể làm cho chính quyền Obama gặp khó khăn. Wolf nói bóng gió rằng ông có thể đề nghị bổ sung, sửa đổi pháp luật về ngân sách để tạo áp lực lên chính quyền Việt Nam bằng chính sách. Wolf là một thành viên cao cấp của Ủy Ban Phân Bổ Ngân sách,  giám sát và kiểm soát chi tiêu của chính quyền liên bang.

Hoa Kỳ có một số thế mạnh nếu muốn dùng đến để khiến Việt Nam phải cải thiện thành tích về nhân quyền: Việt Nam là một trong những nước nhận viện trợ nhiều nhất của Mỹ ở châu Á và hiện đang đàm phán một thỏa thuận tự do thương mại với Washington và bảy quốc gia khác.

Chính phủ Việt Nam từ chối bình luận về các cáo buộc chống lại Quân, nhưng Hà Nội nhận thức được sự nhạy cảm của Hoa Kỳ trong trường hợp này. Nhiều nhà quan sát nói rằng Quân có khả năng bị khép tội nhưng sẽ chỉ bị kết án ngang với thời gian bị giam giữ và nhanh chóng bị trục xuất, ngay cả việc ấy có khả năng làm gia tăng áp lực của Quốc hội lên Nhà Trắng để nối kết các thỏa thuận thương mại và viện trợ với các tiến bộ về nhân quyền.

Sẽ là một thảm họa cho Việt Nam nếu họ dám trừng phạt một công dân Hoa Kỳ bằng một bản án nặng nề chỉ vì ủng hộ nhân quyền trong hòa bình – Linda Malone, một giáo sư tại Trường Luật William và Mary, người tư vấn cho luật sư bảo vệ Quan cho biết. “Họ sẽ chịu một sự mất mát hết sức lớn lao về những gì mà họ đã và đang nổ lực tìm kiếm để vươn lên

Nguồn: The Province

*note: Trần Hoàng có sửa lại vài đoạn trong bản dịch này cho thêm phần chính xác

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Chúng ta cần lên danh sách và nêu chi tiết “công trạng” các quan chức VN “bị lộ” trong cuộc chạy đua tiếp tay cho bọn đế quốc Trung Cộng xâm lăng VN?

Posted by hoangtran204 trên 12/12/2012

NỔI ĐIÊN! 11h15′: Một độc giả thân thiết, là nhà báo, vừa cho biết “những báo nào đưa tin trung quốc ‘cắt cáp’ tàu Bình Minh mà không viết là “vô tình gây đứt cáp” đều bị xử lý về mặt Đảng đối với người có liên quan, trong đó có TTXVN”.

Chúng tôi liền tìm hiểu thông tin này từ 2 nhà báo thân thiết khác, đều có cương vị trong hai tòa báo lớn, thì được khẳng định chính xác, và cho một danh sách kha khá các báo bị xử lý, gồm: Petrotimes, Lao Động, Tuổi trẻ, Pháp luật TP, VNE, Kiến thức, Đất Việt, Vietnam+, …

Có thể phải tìm hiểu thêm mấy chữ “xử lý về mặt đảng” để lần ngược về nơi xuất phát lệnh này, phải chăng đó là Ban Tuyên giáo cùng Đinh Thế Huynh?

Điều này còn liên quan tới thông tin bữa qua chúng tôi đã đưa về việc nghe nói Bộ Ngoại giao có triệu đại sứ đế quốc Trung Cộng tới để trao công hàm phản đối và chủ trương công bố tin này, nhưng Ban Tuyên giáo thì lại chỉ đạo chỉ đưa tin có gửi công hàm thôi.

Có lẽ đã tới lúc chúng ta cần lên danh sách và nêu chi tiết “công trạng” các quan chức VN “bị lộ” trong cuộc chạy đua tiếp tay cho bọn đế quốc Trung Cộng xâm lăng VN?

11h27′ – Độc giả “Binhloanvien” bình: “Nếu Đinh Thế Huynh xử lý các tờ báo đưa tin Trung cộng cắt cáp thì tất cả cộng động mạng hãy kêu gọi xử lý tên bán nước này … ”

14h40′ – Tiếp tục thông tin chi tiết hơn về vụ “kỷ luật” các báo:

Sáng qua, trong cuộc Giao ban báo chí hàng tuần, tại Ban Tuyên giáo TƯ, dưới sự chủ trì của lãnh đạo ban này và bộ 4T (Thông Tin Truyền thông), các báo đã được nghe “lên lớp”, đại ý là tại sao đã có chủ trương chỉ nói là tàu TQ lỡ làm đứt cáp thôi, mà có một số báo lại đưa là nó cố tình cắt cáp, để gây ra kích động nhân dân biểu tình.

Trong số các báo này có mấy báo bị phê nặng là Lao động, Pháp luật TPHCM, Tuổi trẻ …

Họ còn được nghe giảng giải là không khéo rồi chiến tranh nổ ra, con em chúng ta lại hy sinh xương máu không cần thiết như năm 1979 … (không biết có nói: “chúng ta” sẽ mất mát những gì đã kiếm chác được?). 

Bộ 4T sẽ lên danh sách các báo, sẽ có những hình thức kỷ luật, trong đó có cả kỷ luật đảng. Danh sách mà trưa nay đưa một phần có thể là sơ bộ được trích dẫn trong cuộc giao ban sáng qua, cần chờ danh sách chính thức và hình thức kỷ luật, người bị kỷ luật.

Chủ trì các cuộc giao ban này thường là phó ban Nguyễn Thế Kỷ và thứ trưởng Đỗ Quý Doãn; đương nhiên, đứng đằng sau, trước hết là trưởng ban  Tuyên Giáo Trung Ương Đinh Thế Huynh, ủy viên BCT, quyền cao hơn hẳn bộ trưởng 4T Nguyễn Bắc Son ủy viên TƯ, (Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam)

https://anhbasam.wordpress.com

—————

Phụ lục

1. Đinh Thế Huynh,

Nhà văn Phạm Thị Hoài, trong một bài báo năm 2012,  (http://www.procontra.asia/)  từng nêu thắc mắc về sự hiện diện của các website sau đây; theo đó mỗi lãnh tụ trong BCT, đều có một website với tiểu sử, và các tin tức hàng ngày liên quan đến họ!

http://dinhthehuynh.blogspot.com

http://dinhthehuynh.com

2. Nguyễn Bắc Son, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tóm tắt tiểu sử Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son

3.  Đỗ Quý Doãn

4. Nguyễn Thế Kỷ

http://tuyengiao.vn

Lãnh đạo các Vụ chức năng Ban Tuyên giáo Trung ương

————-

Đừng quên Chức năng của báo chí cách mạng là tuyên truyền

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »