Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba, 2015

►Than Khoáng Sản VN (TKV) bị Trung Quốc lừa lỗ 37,4 triệu đô la

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2015

Giới chuyên gia Việt Nam vừa đưa ra kết luận mới nhất là nếu thực hiện đúng kế hoạch sản xuất đủ 660,000 tấn alumin trong năm nay, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ lỗ 37.4 triệu USD.

Bùn đỏ vương vãi, chỉ cần mưa lớn là tràn ra ngoài. (Hình: Tuổi Trẻ)

Những chuyên gia này cho biết, tất cả các dự án bauxite của Việt Nam đều có mức độ rủi ro lớn và rủi ro sẽ tăng theo thời gian.

Thông thường, Việt Nam không đủ khả năng tự soạn thảo hồ sơ mời thầu, thiết kế kỹ thuật, thẩm định hồ sơ dự thầu nên phải thuê tư vấn. Đối với hai dự án bauxite Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông), TKV không thuê tư vấn mà tự làm. Lẽ ra khi tự làm, TKV sẽ tiết kiệm được 5% tổng giá trị gói thầu là 659 tỷ. Tuy nhiên trên thực tế, khi TKV tự làm, chi phí quản lý và tư vấn dự án đã tăng thêm 800 tỷ!

Ông Nguyễn Thành Sơn, cựu giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Than Đồng Bằng Sông Hồng, vốn là người phản đối kịch liệt việc thực hiện các dự án bauxite, nhận định, TKV đã tự sập bẫy của chính mình. Tưởng làm lấy sẽ rẻ nhưng cuối cùng không hề rẻ.

Song chuyện đó chưa đau bằng việc TKV bị nhà thầu Trung Quốc lừa. Ông Nguyễn Văn Ban, cựu trưởng ban Alumin của tổng công ty Khoáng Sản Việt Nam, kể lại, khi tranh thầu, nhà thầu Trung Quốc đã đưa giá rất thấp và thắng thầu vì các nhà thầu khác ở phương Tây theo không nổi. Song khi ký hợp đồng thì giá bỏ thầu và giá trên hợp đồng chênh lệch rất xa. Nhà thầu Trung Quốc giải thích, sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là vì… trong giá bỏ thầu nhà thầu Trung Quốc chưa tính đến các thiết bị dự phòng.

Ông Nguyễn Thành Sơn nói thêm, kinh nghiệm của nhà thầu là điều kiện tiên quyết trong việc lựa chọn nhà thầu. Nhà thầu Trung Quốc cho biết công nghệ sử dụng ở nhà máy Tân Rai là công nghệ Bayer – công nghệ được xem là hiện đại nhất song hiện nay, riêng khâu xử lý alumina đã tổn thất 30% lượng bauxite. Nói cách khác, cứ 3 tỷ hoặc 10 tỷ tấn bauxite thì mất đi khoảng 1 tỷ hoặc 3 tỷ tấn.

Trên thế giới, muốn có một tấn sản phẩm thì cần hai đến năm giờ công cho toàn nhà máy. So với quy mô của nhà máy Tân Rai thì chỉ cần 250 đến 300 công nhân nhưng trên thực tế, nhà máy Tân Rai đang sử dụng hơn 1,000 lao động.

Cũng vì vậy, giá thành của alumin là 403 đến 464 Mỹ kim/tấn, trong khi giá bán mà TKV bán ra chỉ từ 324 đến 346 Mỹ kim/tấn. Năm 2013, tỉ lệ thua lỗ là 20%, năm 2014 tăng lên thành 21%, riêng năm nay, mức thua lỗ theo dự tính là 14% nếu sản xuất đủ 660,000 tấn theo kế hoạch.

Các dự án bauxite không chỉ thua lỗ mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây ra các thảm họa môi trường. Ông Nguyễn Văn Ban, cho biết ngay tại Trung Quốc cũng chưa có nhà máy nào xử lý quặng bauxite tương tự như kiểu đang làm tại Việt Nam. Hai nhà máy bauxite mà nhà thầu Trung Quốc xây dựng tại Việt Nam đều có tính “thử nghiệm.” Thành ra thiết kế, vận hành, quy trình công nghệ đều không có gì bảo đảm.

Ông Ban còn nhấn mạnh, so với các nhà máy bauxite khác trên thế giới, hai nhà máy bauxite vận hành theo kiểu Trung Quốc tại Việt Nam tiêu hao gấp đôi lượng nước, tỉ lệ tiêu hao năng lượng cao hơn 25%, tỉ lệ kiềm cao hơn từ 5 đến 7 ký/tấn alumin nhưng thực thu alumin chỉ đạt 85% trong khi mức bình quân trên thế giới là 87%.

Ông Nguyễn Thành Sơn kết luận, trước kia, bàn đến các dự án bauxite ở Việt Nam, người ta chỉ lo âu về các thảm họa liên quan đến môi trường. Nay khi các nhà máy đã hoạt động, phải lo thêm về hiệu quả kinh tế. (G.Đ)

Advertisements

Posted in Bauxite, Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Viễn Cảnh Việt Nam Trong Cục Diện Chính Trị Thế Giới Đổi

Posted by hoangtran204 trên 28/03/2015

Tác giả Nguyễn Cao Quyền

27-3-2015

Nền móng quyền lực của các quốc gia đang thay đổi nhanh chóng khi con người bước vào thiên niên kỷ thứ ba. Chúng ta đang giáp mặt với một kỹ nguyên hoàn toàn khác lạ trong đó tài nguyên quan trọng nhất cho sự phát triển đất nước lại không thuộc loại tài nguyên có thể cảm nhận bằng thị giác hoặc súc giác.

Thật vậy, đất đai ngày nay không còn quan trọng bằng trí tụê. Tư bản, nhân công hay những kho hàng đầy ắp không quan trọng bằng lưu lượng của những thứ đó qua thời gian. Vào thời điểm chúng ta đang sống , các quốc gia phát triển không tranh nhau ngôi vị bá chủ thế giới nữa mà chỉ phấn đấu làm sao để có được khần chia lớn nhất của tổng sản lượng toàn cầu.

Một loại quốc gia mới đang xuất hiện trên trận đồ thế giới, được mệnh danh là quốc gia thực quyền (virtual state). Loại quốc gia này phát triển trên cơ sở của những dòng chảy càng ngày càng mạnh của tư bản và nhân công trên khắp mặt địa cầu, cũng như trên cơ sở của khả năng thông tin chớp nhoáng mà khoa học kỹ thuật hiện đại đã trang bị cho nhân loại. Họ đã hoàn toàn thoát ly khỏi đất đai và đang thu hẹp đối đa kích thước của các xí nghiệp để có thể tập trung vảo các khâu thiết kế sản phẩm, cải tiến kỹ thuật quản lý, khai thác hướng di chuyển và sự thăng trầm của lưu lượng tư bản quốc tế.

Mẫu hình rõ rệt nhất của loại quốc gia kiểu mới này là tiểu quốc Tân Gia Ba. Xét về phương diện đất đai quốc gia này chỉ là một tỉnh nhỏ không có dầu khí, quặng mỏ hoặc qúy kim, vậy mà trong mấy thập kỳ gần đây Tân Gia Ba đã phát triển lẫy lừng nhờ trí tuệ. Cùng với Hương Cảng và Đài Loan, Tân Gia Ba đã trở thành những tấm gương phát triển sáng chói cho toàn thể thế giới noi theo.

Nghiên cứu hiện tượng này, người ta thấy loại quốc gia lý tưởng nói trên đều là những quốc gia thương mại (trading states). Vào thập niên 1960, khi thương phẩm dễ lưu động hơn tư bản và nhân công thì việc xuất cảng càng hóa được coi là thượng sách cho mục tiêu phát triển, nhưng từ khi người ta thấy rằng tư bản cũng dễ di chuyển chẵng thua kém gì thương phẩm thì vấn đề xuất cảng đã tụt xuống hàng thứ yếu để nhường chỗ cho những vụ đầu tư trực tiếp tại những địa phương có nhân công giá rẻ.

Những đoạn viết sau đây sẽ triển khai quá trình hình thành và thăng tiến của các quốc gia thực quyền để từ đó rút ra những nhận xét hữu ích cho công cuộc đấu tranh dân chủ đang tiến hành.

Từ mục tiêu chiếm cứ đất đai đến mục tiêu thương mại

Theo quan niệm cổ điển, người ta nghĩ rằng đất đai là chìa khóa của phát triển và quyền lực. Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Hoà Lan đã trở thành cường quốc nhờ bành trướng đất đai từ giữa thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Hoa Kỳ, Gia Nã đại, Úc, Tân Tây Lan, một thời cũng đã đi theo con đường phát triển này.

Tuy nhiên, trong lúc phong trào chiếm cứ đất đai còn đang rầm rộ thì Anh quốc là nước đầu tiên đã nhìn thấy ưu thế của tư bản so với những yếu tố sản xuất khác. Khai thác tối đa đặc tính của tư bản, nước Anh, ngay từ ngày đầu của cách mạng công nghiệp đã đầu tư mạnh mẽ vào kỹ nghệ dệt với những máy móc tối tân. Kết quả là dân tộc Anh đã trở thành giàu có nhờ số vải vóc sản xuất nhanh chóng bán ra tràn ngập thị trường thế giới.

Mãi đến cuối thế kỷ 18 các cường quốc khác mới trông thấy sự lợi hại của khả năng lưu động của tư bản so với nhân công và đất đại. Dần dần, với thời gian, đất đai ngày càng mất giá và trở nên khó giữ vì phong trào dân tộc nổi lên khắp nơi đòi lật đổ các chế độ thuộc địa. Bừng mắt tỉnh, các cường quốc tư bản rứt khoát từ bỏ tham vọng đất đai để chỉ còn tập trung vào việc khai thác nhân công và tư bản. Sự chuyển hướng này giải thích hiện tướng mất giá của các sản phẩm thô trục lên từ lòng đất, so với giá của các sản phẩm hoàn chế, vào thời gian trước khi xẩy ra sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.

Ngày nay với những thành tựu mới của khoa học tối tân hiện đại, lại đến lượt các sản phẩm hoàn chế bị mất giá so với các dịch vụ quốc tế. Hiện tượng này làm xuất hiện một hình thức kinh doanh mới được cụ thể hóa qua sinh hoạt của các quốc gia thương mại. Nở rộ vào khoảng thời gian 1870-1980 các quốc gia thương mại không nhằm bành trướng đất đai mà chỉ còn tập trung vào nghiệp vụ thương mại quốc tế mà thôi. Các tiểu quốc ở Âu Châu và Đông Á, nhật Bản và Tây Đức là những quốc gia thương mại đầu tiên của thế giời sau Thế Chiến II.

Sự canh tranh quốc tế ngày càng trở nên ác liệt. Để thi đua hữu hiệu các quốc gia thương mại bắt buộc phải điều chỉnh cung cách làm ăn thế nào để có thể hạ giá thành sản phẩm tới mức thấp nhất. Chiến lược này đòi hỏi phải chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài để tranh thủ nhân công rẻ mạt.

Từ chiến lược nói trên, người ta thấy xuất hiện một lọai công ty mới được mệnh danh là công ty thực quyền (virtual corporation). Quốc gia nơi công ty có trụ sở chính gọi là quốc gia thực quyền (virtual state). Tại đây công ty chỉ tập trung vào nhừng công việc đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao như thiết kế sản phẩm, nghiên cứu tiếp thị, hoạch định phương án tài trợ. Khâu sản xuất được nhường lại cho những phân bộ đầu tư tại những nơi có nhân công hời giá.

Từ công ty thực quyền đến quốc gia thực quyền

Tại Á Châu, Nhật Bản, Nam Hàn, Tân Gia Ba, Đài Loan, Hương Cảng là những quốc gia thực quyền tiên phong. Tại Âu Châu Thụy Điển, Hoa Lan là những quốc gia thực quyền dẫn đạo. Nhưng nghịch lý mà chúng ta cần chú trọng ở đây là Anh quôc, Đức Quốc và cả Hoa Kỳ nữa, vẫn chưa được coi là quốc gia thực quyền vì tại các quốc gia này khâu sản xuất trực tiếp vẫn còn giữ một vai trò đáng kể. Tuy nhiên chiều hướng chung của họ là đang phấn đấu để nhanh chóng tiến dần đến quy chế nói trên.

Với sự xuất hiện của các quốc gia thực quyền, thế giới hiện nay đang tự phân chia thành hai nhóm : nhóm quốc gia đầu não (head nations) và nhóm quốc gia thân thể (body nations). Cũng còn rơi rớt một số quốc gia mang cả hai đặc tính này. Trong khi Úc và Gia Nã Đại đang tiến lên ngôi vị quốc gia đẩu não thì Trung Quốc mới tiến vào vị trí của một quốc gia thân thể. Trước mắt có tể nhìn thấy Nga, Ấn Độ và Trung Quốc như những nước tiêu biểu cho hàng ngũ các quốc gia thân thể này.

Một thế giới không chiến tranh

Với một trận đồ quốc tế mới như được mô tả ở trên có thể nói là thế giới sẽ không có chiến tranh. Không có chiến tranh là vì cách làm ăn giữa các quốc gia đầu não và các quốc gia thân thể là một tương quan bình đẳng và đôi bên cùng có lợi. Nếu biết học hỏi và làm ăn sáng tạo thì các quốc gia thân thể cũng sẽ nhanh chóng chuyển lên vị thế đầu não như ai, chứ không bắt buộc phải ở vị thế tay chân muôn thuở. Trò chơi như vậy là rất công bằng và dân chủ, để ai cũng có phần nấy tùy theo khả năng và trình độ.

Sự hợp tác chân thành trong cung cách làm ăn để cùng phát triển như mô tả ở trên đã trở thành xu thế tất yếu của nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba. Nó đã được đa số chấp nhận vì không còn con đường nào tốt đẹp hơn.

Trước kia khi việc thông tin liên lạc còn khó khăn và cộng đồng thế giới chỉ gồm toàn những quốc gia cô lập về kinh tế thì sự xích mích giữa những thành phần của cộng đồng rất dễ xảy ra vì ai cũng chỉ nhìn thấy quyền lợi dưới nhãn quan chật hẹp của đất nước mình. Ngày nay, đặc biệt là trong mấy thập kỷ gần đây, nhờ sự tiến bộ vũ bão của các phương tiện truyền thông hiện đại, thế giới đã thu hẹp lại rất nhiều. Tất cả nhân loại vào lúc này chỉ có chung một mái nhà. Ý thức này đã được cảm nhận rộng rãi khắp mọi nơi và cắc chắn sẽ trở thành một thái độ tự nhiên của các thế hệ tiếp theo.

Đây là một khúc quanh lớn trong lịch sử loài người. Nhân loại từ nay trở đi sẽ không còn cần tới những ý thức hệ viển vông vì thực tế đã đẩy lùi mọi mơ mộng hão huyền. Viễn tượng một thế giới đại đồng và một thiên đường trong đó của cải tuôn ra như suối từng giờ từng phút như Marx hằng mơ ước, ngày nay đã là sự thật sơ sờ trước mắt. Có điều thiên đường đó không phải là thiên đường cộng sản mà là thiên đường tư bản.

Thực tế phũ phàng này sẽ nhanh chóng chuyển đổi những quan niệm và tập quán lỗi thời cũa những thành phần cổ hủ khư khư ôm giữ thời gian tại vị lâu dài đề thủ lợi riêng tư trên sương máu và nỗi thống khổ triền miên của quần chúng. Chúng ta đã bước sang thiên niên kỷ mới của ý niệm toàn cầu hóa, của tinh thần hợp tác-tương trợ giữa các dân tộc, của sự thượng tôn nhân quyền, của chế độ dân chủ và kinh tế thị trường phổ biến, của tình thương nhân loại, cho nên không còn chỗ đứng cho những tư tưởng và chủ thuyết lỗi thời đi ngược lại với ý hướng và nguyện vọng tự nhiên của con người.

Thoát ly khỏi đất đai là điều kiện cần thiết để cất cánh

Đối với những nước đông dân cư như Việt Nam, con đường phát triển trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện tại là phải đầu tư và quan tâm tối đa vào vấn đề giáo dục và nghiên cứu. Đây là một mục tiêu trường hạn cần được thực hiện với một thái độ quyết tâm và một tinh thần nghiêm túc. Các khu vực nông nghiệp, kỹ nghệ và dịch vụ phải được hỗ trợ bởi một đội ngũ lao động có tay nghề cao và trình độ hiểu biết kỹ thuật khả quan như Ấn Độ đã làm ở Bangalore hoặc Ái Nhĩ Lan đã làm ở Dublin. Đó là nói về những việc phải làm có tính cách thuần túy kinh tế.

Tuy nhiên nếu muốn đất nước có thể cất cánh nhanh chóng thì những biện pháp kinh tế nói trên phải được lồng vào trong khung cảnh một chế độ chính trị dân chủ cởi mở. Đây là thời điểm Việt Nam phải cắt đứt mọi vấn vương với cái chủ nghĩa Marx không tưởng, và cương quyết vứt bỏ cái “kinh tế thị trường với định hướng xã hôi chủ nghiã” nhà quê và ấu trĩ.

Trận đồ quốc tế như trên mô tả, đã sắp xếp và an bài để tạo điều kiện cho mọi quốc gia cùng phát triển và chung sống hòa bình dưới mái nhà toàn cầu duy nhất. Thời Minh Trị Thiên Hoàng, Nhật Bản chỉ cần có 10.000 chuyên gia huấn luyện từ nước ngoài đã có thể canh tân và tiến lên địa vị cường quốc của thế giới hôm nay. Nước Việt Nam giờ đây, với 300.000 chuyên gia hượng thặng đang sinh sống tại nước ngoài, chẳng lẽ lại không chuyển đổi được cảnh nghèo đói triền miên của dân tộc thành tình trạng phú cường như các “con rồng, con hổ” Đông Á hay sao ? Nếu biết nhân lực là vốn qúy thì tại sao lại đặt quyền lợi riêng tư của phe nhóm lên trên quyền lợi quốc gia dân tộc và lơ là với cái kho tàng nhân lực qúy báu đó ?

Tất cả chỉ còn là quyết định. Một quyết định dân chủ sáng suốt và can đảm sẽ nhanh chóng đưa dân tộc vào vùng thịnh vượng chan hòa ánh bình minh ấm áp của thiên niên kỷ mới qua sang. Một quyết định u tối sai lầm trái lại sẽ đưa tới những hậu quả tai hại không thể lường trước được đối với những cá nhân hiện đang có trách nhiệm với lịch sử giống nòi. Dân tộc cũng như nhân loại hiện đã mất hết kiên nhẫn trước thái độ ù lỳ và lạc hậu của những cá nhân lãnh đạo không biết tự điều chỉnh mình với su thế tất yếu của loài người.

Theo Việt Thức

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Ai là kẻ thù của Việt Nam?

Posted by hoangtran204 trên 28/03/2015

Nguyễn Hưng Quốc

Ở Việt Nam lâu nay, giới cầm quyền cũng như giới truyền thông hay nói đến những “thế lực thù địch”. Không ai giải thích rõ, nhưng hầu như mọi người đều biết, với nhóm từ ấy, người ta nhắm đến các quốc gia Tây phương, đặc biệt là Mỹ, trong cái gọi là âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm làm thay đổi chế độ tại Việt Nam.

Tuy nhiên, chỉ cần bình tĩnh và sáng suốt một tí, người ta sẽ thấy ngay là Mỹ không có lý do gì để trở thành “thù địch” với Việt Nam. Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (miền Bắc) đã chấm dứt từ 40 năm trước. Cuộc chiến tranh lạnh, nguyên nhân làm bùng nổ chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ, cũng đã chấm dứt cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu thập niên 1990. Với Mỹ, một trong những nguyên tắc nền tảng của mọi chính sách đối ngoại là không có bạn cũng như không có kẻ thù vĩnh viễn. Bạn hay thù tùy thuộc vào lợi ích quốc gia, nghĩa là tuỳ thuộc vào hoàn cảnh. Hoàn cảnh hiện nay là Mỹ muốn làm bạn với Việt Nam. Có hai lý do chính: Một, Mỹ muốn tăng cường hợp tác kinh tế với Việt Nam để làm ăn; và hai, Mỹ cần Việt Nam để bảo vệ Biển Đông, một trong những con đường hàng hải tấp nập và quan trọng nhất trên thế giới.

Trong quan hệ với Việt Nam, Mỹ hay nhấn mạnh đến yếu tố nhân quyền như một trong những điều kiện để hợp tác. Điều đó khá dễ hiểu. Một, đó là một trong những nguyên tắc căn bản trong các chính sách ngoại giao của Mỹ: để làm bạn, cả hai nước phải chia sẻ với nhau một bảng giá trị chung. Cốt lõi của bảng giá trị ấy là tôn trọng quyền làm người. Hai, riêng với Việt Nam, Mỹ lại càng cần nêu lên nguyên tắc ấy chủ yếu để đáp ứng lại sự đòi hỏi của một bộ phận khá đông dân chúng Mỹ. Ở trên, tôi có nói với Mỹ, không có kẻ thù vĩnh viễn. Đó là về phía chính phủ. Với dân chúng thì khác. Những người từng tham gia vào chiến tranh Việt Nam cũng như thân nhân của những người đã từng bị hy sinh tại Việt Nam không dễ gì quên hẳn được quá khứ. Đó là chưa kể cộng đồng người Việt khá đông đảo tại Mỹ. Tất cả đều yêu sách chính phủ Mỹ cần đặt ra những điều kiện nào đó khi muốn đẩy mạnh quá trình hợp tác với Việt Nam. Tuy nhiên, nên lưu ý: nhân quyền là điều kiện nhưng không phải là điều kiện tiên quyết. Trên thực tế, lâu nay, chính phủ Mỹ vẫn hợp tác với khá nhiều chế độ độc tài nếu họ thấy sự hợp tác ấy là cần thiết và có lợi.

Bởi vậy, có thể nói với Việt Nam, Mỹ sẽ không đẩy yêu sách dân chủ hoá trong chừng mực mối quan hệ giữa hai nước tốt đẹp đủ để bảo vệ những lợi ích chung. Cái gọi là âm mưu “diễn biến hoà bình” của Mỹ, nếu có, chỉ có một ý nghĩa rất tương đối trong cái gọi là chủ nghĩa thực tiễn (realism) của những nhà hoạch định chính sách tại Mỹ. Đó là chưa kể, để bảo vệ các lợi ích của họ, điều Mỹ cần nhất ở Việt Nam là sự ổn định về chính trị. Điều đó lại cũng dễ hiểu. Không ai có thể an tâm làm ăn buôn bán cũng như bàn chuyện hợp tác chiến lược ở những nơi thường xuyên thay đổi chính phủ cả. Ở điểm này, chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam rất gần nhau: mọi người đều muốn ổn định dù cái giá để trả cho sự ổn định, về phía dân chúng, là cái ách độc tài nặng trĩu trên lưng của họ.

Nếu Mỹ không phải là lực lượng thù địch của Việt Nam thì là ai?

Câu trả lời hầu như ai cũng rõ: Trung Quốc. Chỉ có thể là Trung Quốc. Chứ không có bất cứ ai khác.

Nói đến âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, nhiều người nghĩ đến viễn cảnh Trung Quốc tấn công trên đất liền. Tôi nghĩ viễn cảnh ấy sẽ không xảy ra. Trung Quốc không phiêu lưu một cách dại dột như thế. Bởi chọn thế trận như vậy là phải đối diện với cuộc chiến toàn dân của Việt Nam. Có chiếm cũng không giữ được đất. Vả lại, Trung Quốc cũng không cần chiếm Việt Nam khi họ có thể tác động dễ dàng lên guồng máy lãnh đạo Việt Nam để đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị của họ.

Cuộc xâm lấn của Trung Quốc chỉ diễn ra trên biển

Nói đến âm mưu xâm chiếm trên biển của Trung Quốc, phần lớn chỉ để ý đến các sự kiện cụ thể như vụ cắt dây cáp ngầm của Việt Nam, việc đem giàn khoan HD-981 đến thềm lục địa Việt Nam, việc cải tạo bãi đá Gạc-Ma hay việc bắt bớ các ngư dân Việt Nam đang đánh cá gần Hoàng Sa hay Trường Sa. Chỉ chú ý đến các sự kiện ấy nên người Việt Nam dễ thấy thỏa mãn khi một số khó khăn đã được giải quyết: dây cáp ngầm được nối, giàn khoan được rút về nước hay những ngư dân bị bắt được thả. Có lẽ nghĩ như thế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho là Việt Nam đã “thắng lợi” trong cuộc đương đầu với giàn khoan HD-981 hồi đầu năm ngoái. Thật ra, đó chỉ là những sự kiện lặt vặt. Âm mưu thực sự của Trung Quốc lớn hơn nhiều: làm chủ hơn 90% diện tích Biển Đông của Việt Nam.

Mà Trung Quốc không hề giấu giếm điều đó. Bằng hành động cũng như bằng lời nói, lúc nào họ cũng cho Biển Đông là “sân nhà” của họ, là “lợi ích cốt lõi” mà họ không thể từ bỏ hay nhân nhượng. Có thể hình dung chiến lược xâm lấn Biển Đông của Trung Quốc được bao gồm ba giai đoạn: một, tuyên bố con đường lưỡi bò (hoặc con đường gồm chín khúc); hai, tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên trời tương ứng với con đường lưỡi bò dưới biển; và ba, thực hiện việc kiểm soát ngặt nghèo cả trên trời lẫn dưới biển để bất cứ một chiếc thuyền hay một chiếc máy bay nào đi ngang qua con đường lưỡi bò ấy cũng đều phải xin phép Trung Quốc và chịu sự kiểm tra của Trung Quốc. Xong giai đoạn thứ ba, cuộc xâm lấn của Trung Quốc coi như kết thúc.

Khi cuộc xâm lấn ấy kết thúc, nước nào bị thiệt hại nhiều nhất? Câu trả lời rất đơn giản: Việt Nam. Brunei nhiều lần tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa nhưng họ chưa bao giờ thực sự làm chủ bất cứ hòn đảo hay bãi đá nào. Chỉ thực sự làm chủ một số đảo hay bãi đá ở Trường Sa và Hoàng Sa là Philippines, Đài Loan, Malaysia và Việt Nam. Trong số các quốc gia ấy, nước làm chủ nhiều nhất là Việt Nam. Do đó, nếu Biển Đông mất, Việt Nam cũng sẽ là nước bị mất mát nhiều nhất. Hơn nữa, ngoài đảo, còn có vùng biển. Nếu con đường lưỡi bò của Trung Quốc được xác lập chính thức, Việt Nam sẽ mất khoảng 90% chủ quyền trên Biển Đông.

Mất 90% cũng có nghĩa là mất trắng Biển Đông.

Tất cả những sự phân tích đều không có gì mới mẻ. Hầu như ai cũng biết trừ… chính quyền Việt Nam.

—–

Nguyễn Hưng Quốc Tác giả đã quên rằng TQ đã xâm nhập vào Kampuchia và Lào từ 1992. Hiện có ít nhất 1 triệu dân TQ đang sống ở Lào và Kampuchia. TQ cũng đã đầu tư 500 triệu đô la để mở rộng cảng Sihanoukville (ngang với mũi Cà Mau) và xây dựng toàn bộ đường sá và cầu cống cho Kampuchia và hơn 10 năm qua, TQ cũng đã viện trợ hơn 1/2 ngân sách hàng năm cho Kapuchia và Lào.

Thêm vào đó, đảng CSVN và 200 ủy viên trung ương đảng hiện nay đã và đang tìm đủ mọi cách để cho Trung Cộng thuê đất đai ở VN, hợp đồng lên tới 50-99 năm trong 18 tỉnh ở VN.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Hiện trường tai nạn ở Công ty Formosa (Hà Tỉnh): Dưới giàn dáo là đường hầm…chạy ra biển

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2015

Thôi chết rồi. Người VN nuôi ong tay áo; xưa nay hậu thuẩn cho bác và đảng làm cách mạng giải phóng. Nay đảng CSVN tức Hùng, Dũng Sang, Trong cho Trung Cộng thuê cảng Vũng Áng ở Hà Tỉnh, đây là khu vực thuộc Công ty Formosa. Công ty này tuy có văn phòng đóng ở Đài Loan, nhưng chủ của nó là Trung Quốc. Hiện có hơn 13.000 ông nhân Trung Quốc đang làm việc tại đây.

Ngoài ra, từ năm 2006 cho đến nay, Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Chính Trị hiện nay còn cho Tập Đoàn Green của Trung Cộng thuê mướn 283.000 hecta đất trồng rừng ở 18 tỉnh Miền Bắc, với giá thuê là 185.000 đồng VN / 1 mẫu/ 1 năm (chưa bằng giá của 2 kg thịt heo).

Đảng xúi Quốc Hội VN đã làm luật cho nước ngoài thuê đất 50-99 năm, và dựa theo đó để cho TQ thuê đất đai dài hạn. Thật ra là trả nợ cho Trung Cộng chứ thuê mướn kiểu gì mà 10.000 mét vuông giá cho thuê chỉ chưa tới 10 đô la/1 năm.

Từ 1993 đến nay, TQ đã cho dân TQ di cư vào sinh sống ở Lào và Kampuchea (có hơn 3000 doanh nghiệp TQ ở Kampuchia tính đến năm 2008). Vậy là sườn phía Tây của VN đã bị TQ bao vây. Phía Biển Đông cũng bị bao vây. Hà Tỉnh thì có hơn 13.000 công nhân TQ đang đào hầm xây lũy cao hào sâu. Lúc này thì 200 ủy viên trung ương đảng CSVN đang bận giành nhau chức vụ trong kỳ đại hội đảng 2016. TQ tha hồ xúc tiến việc lấn chiếm vào sâu trong các tỉnh của VN. Trung Cộng đã có hàng ngàn dân (quân) ở Đà Nẵng (Cà Ná), Bình Dương (Đông Đô Đại Phố)…Chiến tranh với TQ sẽ không còn xa.

Các bạn ghé vào đây đọc thêm chi tiết các vụ cho Trung Cộng thuê mướn đất đai của đảng CSVN.

 

 

HÀ TĨNH, NGƯỜI DÂN LẠI THÍ MẠNG và NGHI VẤN VỀ MỘT ĐƯỜNG HẦM NGẦM Ở FORMOSA

26-3-2015

Tin dữ từ Hà Tĩnh: Một nguồn tin cho biết đã có 18 người chết và rất nhiều người bị thương tràn ngập bệnh viện Kỳ Anh và Bv Đa Khoa Hà Tĩnh do sự cố giàn giáo đổ sập tối qua 25/3/2015.

Điều cần nói, là hệ thống giàn giáo cao 30m, lại thi công ban đêm mà khi có hiện tượng rung lắc, vẫn buộc công nhân phải làm việc. Vậy thì đây không thể là sự cố vô tình. Ai chịu trách nhiệm này?

– Thông thường, trên bất cứ công trình xây dựng, công ty nào cũng có Ban An toàn Lao động, vậy ở Vũng Áng có hệ thống An Toàn Lao Động hay không mà để sự cố chết hàng loạt người dân như vậy? Ai chịu trách nhiệm trước tính mạng của người dân?

– Số lượng người chết và bị thương hiện là bao nhiêu? Con người không thể đếm như đếm cá, nên đến giờ này một số báo ghi là 13, báo thì ghi 14, thậm chí tờ báo Chính phủ còn đăng tin lãnh đạo Hà Tĩnh phát biểu rất coi rẻ mạng sống người dân là “hơn 10 người chết”? Hơn 10 là bao nhiêu? Là 10 người rưỡi hay 10,7 người? Đó là sự coi rẻ mạng sống của người dân.

Còn nhớ, con số thương vong trong vùng Vũng Áng này đã bị giảm đi gấp 3 lần trong vụ Bạo lực hồi tháng 5 năm ngoái. Hồi đó, số người Trung Quốc chết là 3 người (được tiết lộ khi đưa vụ án phá hoại ra xử), nhưng báo chí chỉnh thức và quan chức Hà Tĩnh chỉ thông báo có 1. Vậy về con số là đáng tin 1/3.

Cuối cùng, là ai chịu trách nhiệm và trách nhiệm đến đâu?
Hay cứ thằng dân nào ngu và đen đủi thì cứ…. chết?

Cũng từ lâu, dân tình đồn đại về một đường hầm bí mật dưới lòng đất ở Formosa, vì vị trí này cách Hải Nam một đoạn ngắn nhất.
Và sau vụ tai nạn này, thì đường hầm đã dần lộ rõ.
Nó là đường gì? Để làm gì?

JB Nguyễn Hữu Vinh

JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.

Những đường hầm nghi vấn!
Trong Khu Vũng Áng, tập đoàn Formosa từ lâu là khu gần như biệt lập với nhiều lời đồn đoán. Xung quanh là hào sâu 10m, rộng 10m, phía trong là hàng rào chắn, xâm nhập là bất khả. Lời đồn rằng có những đường hầm bê tông từ đất liền ra biển.

Trong đó, có đường hầm thải từ lò cao đổ ra biển, và một đường hầm sâu mà thi công phải dùng nhiều máy bơm áp lực lớn để hút nước mới thi công được…
Những thông tin là vậy nhưng chưa có dịp để kiểm chứng.
Tuy nhiên, một số người đã khẳng định là có những đường hầm này.
Nó dùng để làm gì?

Nếu đường hầm thải ra biển, thì biển Việt Nam liệu có tồn tại được với những chất thải đổ xuống biển từ khu CN lớn này không?
Nếu đường hầm bê tông sâu dưới biển còn lại mà không dùng để thải thì nó có mục đích gì?

Với một khu trọng yếu, Vũng Áng gần như đối diện Hải Nam và là vị trí cắt ngang đất nước được cho thuê với thời gian 70 năm (gần 4 đời người). Nhiều vấn đề phải được đặt ra những câu hỏi.
Nhưng, ai có thể trả lời?

JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
JB Nguyễn Hữu Vinh's photo.
—-

Từ 1990 cho đến nay, Trung Quốc đã và đang viện trợ Kamphuchia và Lào. Dân TQ di dân qua sống ở 2 quốc gia này có hơn 300.000 người ở mỗi nước. Đảng CSVN và nhà nước cho Trung Quốc thuê cảng Vũng Áng 50 năm. Trung Quốc xây tường cao 10, hào sâu 10 mét ở khu vực Vũng Áng. 13.

 

26-3-2015

PHÁT HIỆN ĐƯỜNG HẦM BÍ MẬT DÀI 50 MÉT TẠI FORMOSA VŨNG ÁNG, HÀ TĨNH

Tai nạn giàn giáo sập tại khu kinh tế Vũng Áng hôm nay làm tử vong 14 và bị thương 30 Công Nhân Việt Nam.

Chuyện bất ngờ là nhờ sập giàn giáo, làm lộ một đường hầm bí mật! Công Nhân cho biết ĐƯỜNG HẦM BÍ MẬT rộng gần 2 mét chiều ngang, sâu 2 mét và dài 50 mét chạy ra cửa biển. (báo đã xóa phần tin nầy)

Theo Thùy Trang nghĩ thì đây có thể là đường hầm bí mật để Trung Quốc đổ bộ lính và đưa vũ khí qua ngã Vũng Áng để cắt đứt Hã Tĩnh và Hà Nội khi có chiến tranh xảy ra. Hiện nay nhân công Trung Quốc (Có thể là lính) ở Vũng Áng là 13.426 người !

Bạn nghĩ gì? Âm Mưu Hội Nghị Thành Đô? – Chính quyền CSVN sẽ nói gì về điều nầy?

Nguyễn Thùy Trang

'PHÁT HIỆN ĐƯỜNG HẦM BÍ MẬT DÀI 50 MÉT TẠI FORMOSA VŨNG ÁNG, HÀ TĨNH </p><br /><br /><br /><br />
<p>Tai nạn giàn giáo sập tại khu kinh tế Vũng Áng hôm nay làm tử vong 14 và bị thương 30 Công Nhân Việt Nam. </p><br /><br /><br /><br />
<p>Chuyện bất ngờ là nhờ sập giàn giáo, làm lộ một đường hầm bí mật! Công Nhân cho biết ĐƯỜNG HẦM BÍ MẬT rộng gần 2 mét chiều ngang, sâu 2 mét và dài 50 mét chạy ra cửa biển. (báo đã xóa phần tin nầy)</p><br /><br /><br /><br />
<p>Theo Thùy Trang nghĩ thì đây có thể là đường hầm bí mật để Trung Quốc đổ bộ lính và đưa vũ khí qua ngã Vũng Áng để cắt đứt Hã Tĩnh và Hà Nội khi có chiến tranh xảy ra. Hiện nay nhân công Trung Quốc (Có thể là lính) ở Vũng Áng là 13.426 người !</p><br /><br /><br /><br />
<p>Bạn nghĩ gì? Âm Mưu Hội Nghị Thành Đô? - Chính quyền CSVN sẽ nói gì về điều nầy? </p><br /><br /><br /><br />
<p>Nguyễn Thùy Trang'

Campuchia công khai ủng hộ lập trường của Trung Quốc ở Biển Đông

26-3-2015

VOA

Thủ tướng Campuchia (phải) bênh vực lập trường của giới lãnh đạo Campuchia khi đảm nhận vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN trong vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Thủ tướng Campuchia (phải) bênh vực lập trường của giới lãnh đạo Campuchia khi đảm nhận vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN trong vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Nhà lãnh đạo của Campuchia đã công khai ủng hộ lập trường của Trung Quốc cho rằng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông không thể được giải quyết thông qua Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Tại Phnom Penh, Thủ tướng Hun Sen hôm thứ Tư phát biểu rằng những nước có ảnh hưởng trực tiếp nên giải quyết vấn đề này với nhau.

“Xét cho cùng thì đây không phải là vấn đề đối với toàn thể khối ASEAN. Đó là vấn đề song phương giữa các nước có liên quan, họ cần phải nói chuyện với nhau,” ông Hun Sen nói.

Bắc Kinh đã nói họ sẽ chỉ đàm phán tranh chấp lãnh thổ với từng nước một và đã từ chối bất kỳ kênh đa phương nào để giải quyết.

Nhưng Philippines và Việt Nam, hai thành viên của ASEAN, vẫn đang thúc đẩy một phương sách mang tính khu vực và đa phương đối với vấn đề này.

Mặc dù đây là lần đầu tiên lãnh đạo Campuchia tuyên bố một cách rõ ràng lập trường của mình về tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông, Phnom Penh đã bị chỉ trích về cách thức xử lý vấn đề này khi họ giữ chức chủ tịch ASEAN vào năm 2012.

Nhắc tới vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN, Thủ tướng Hun Sen bênh vực lập trường của giới lãnh đạo của Campuchia:

“Sau Campuchia, Brunei cũng không tìm được một giải pháp, Myanmar cũng thất bại. Bây giờ tôi đang đợi xem liệu Malaysia sẽ có thể giải quyết vấn đề này được hay không. Tôi có thể nói là việc này không thể nào làm được. Nhưng họ chỉ đổ lỗi cho Campuchia, chỉ có Campuchia là sai. Tôi sẽ đợi xem hết toàn đợt luân phiên.”

Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2012, các nhà lãnh đạo khu vực đã không thể đưa ra được một tuyên bố chung. Những người chỉ trích nói rằng việc này là do Campuchia bảo vệ lập trường của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.

Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á bao gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, và Việt Nam. Ngoài Việt Nam và Philippines, Malaysia và Brunei cũng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

Indonesia bác bỏ tuyên bố đường lưỡi bò 9 đoạn của Trung Quốc

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=i-XzAwtZrZw

 

——

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam | Leave a Comment »

►40 năm nhìn lại: Kết thúc một quá trình, một cuộc chiến

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2015

Blog VOA

Thiện Ý

26-03-2015

H1Thảm cảnh bắt đầu từ vụ Buôn Mê Thuột thất thủ (10-3-1975), tiếp đến là quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bỏ ngỏ Cao nguyên, di tản chiến thuật. Thế là quân dân các vùng di tản bị rơi vào hỗn loạn. Nhiều quân nhân bỏ ngũ chạy về lo cho gia đình di tản. Những người dân thường cũng rời bỏ cửa nhà, ruộng vườn, tài sản tháo chạy về phía tự do như dòng thác đổ. Người ta ghi nhận có đến nửa triệu quân dân Cao nguyên di tản về Nha Trang, phòng tuyến cuối cùng của Quân Đoàn II, Quân Khu II.

Trong khi đó ở Huế, quân dân rút về Đà Nẵng, rồi tranh nhau tìm đường ra biển. Một số khác theo đường bộ tháo chạy về phía Nam như một “Đại lộ kinh hoàng. Vì trên đại lộ ấy, nhiều cảnh đau lòng đã diễn ra. Người ta đã phải chứng kiến cảnh tranh sống sát hại nhau, nạn thổ phỉ cướp bóc, hãm hiếp công khai giữa thanh thiên bạch nhật. Mọi giá trị nhân bản, đạo đức bị chà đạp; tình huynh đệ chi binh, nghĩa đồng bào trở thành xa lạ trong cuộc “rút lui chiến thuật” đầy hỗn loạn này. Thảm cảnh tương tựcũng diễn ra ở nhiều tuyến “rút lui chiến thuật” khác trên các nẻo đường đất nước. Mọi người tháo chạy về phía tự do, vì lúc ấy có lời đồn đãi rằng “Đã có thương lượng cho CSBV một nửa lãnh thổ VNCH mà không chống cự. . .”

Quả thực đến đầu Tháng 4 năm 1975, một nửa lãnh thổ VNCH đã bõ ngỏ cho Cộng quân đến tiếp quản. Tốc độ rút quân quá nhanh đến độ đối phương không kịp tiếp thu, không đủ người và thực ra cũng không cần đủ người để giữ đất. Trong vòng vài tuần, 150.000 binh sĩ VNCH đã tự hủy và mất khả năng chiến đấu. Thế quân bình chiến lược hoàn toàn bị đảo ngược.

Chế độ VNCH lâm nguy! Mặc dầu thực tế diễn ra đúng với ý muốn của Hoa Kỳ, nhưng Tổng thống Gerald Ford lúc đó vẫn làm ra vẻ quan tâm đến việc cứu vớt số phận đã được an bài của VNCH. Ông Ford đã đề nghị một ngân khoản viện trợ quân sự bổ sung 700 triệu Mỹ kim để trang bị và lập cầu không vận khẩn cấp chuyển đồ tiếp tế cho Quân Lực VNCH. (Thật sự là số viện trợ 700 triệu này là không có, Quốc Hội Mỹ đã chận lại từ đầu năm 1975. Khi VNCH yêu cầu viện trợ quân sự tương đương 300 triệu đô la, thì cũng đã bị Quốc Hội Mỹ bác bỏ vào đầu tháng 3/1975; lúc này, Quân Đội VNCH chỉ còn đủ đạn dược và xăng để chiến đấu trong 2 tuần lễ)

Thực tế lúc đó là, ông Bùi Diễm, Đại sứ VNCH tại Mỹ, đã từ Washington trở về tuyên bố một cách tuyệt vọng, rằng “Không còn hy vọng gì về phía Mỹ nữa, chúng ta phải tính đến các điều kiện thực tế. . .”.

Theo đánh giá của một nhân viên cao cấp CIA có mặt vào những giờ phút hấp hối của chế độ VNCH thì “Lúc này, để bảo vệ Sàigòn quân Nam Việt đang tơi tả, chỉ còn tương đương sáu sư đòan, đương đầu với 18 sư đòan quân Bắc Việt, một đa số áp đảo. Điều mà Nam Việt Nam hy vọng thực hiện là lập một phòng tuyến án ngự cuối cùng chậy từ một phần đất Cao nguyên xuống tới bờ biển Miền Trung, xuyên ngang thị trấn Xuân Lộc. . .”

Thế nhưng tình hình ngày càng nguy kịch. Trong lúc lâm nguy người ta lại nói nhiều đến giải pháp được Mỹ khuyến khích từ lâu, là thương lượng với CS để thành lập một chính phủ liên hiệp ba thành phần. Đây cũng là giải pháp từng được qui định trong Hiệp định Genève 1954, nhưng đã không được các bên thực hiện. Đó cũng là giải pháp bị bác bỏ năm 1965 vì đường lối chiến tranh đã được lựa chọn. Nay một lần nữa giải pháp được chọn lựa trong Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam năm 1973.

Thực ra, đây là một giải pháp chỉ có giá trị pháp lý trên văn bản, thực tế thâm tâm người Mỹ không muốn nó được thực hiện, vì họ không còn muốn dính líu thêm nữa mà chỉ muốn cắt bỏ chế độ VNCH càng sớm càng tốt. Vì rằng, để cho chế độ này tồn tại dưới bất cứ hình thức nào đều làm cản trở tiến trình đi vào thế chiến lược quốc tế mới của Mỹ.

Điều này cũng phù hợp với tham vọng của CSBV, không muốn thương lượng trong điếu kiện hiện lại quá thuận lợi, mà chỉ cần ông Thiệu bị lật đổ bằng chính người của ông ta. Họ muốn chế độ VNCH sụp đổ trước khi họ đến tiếp quản mà không phải tàn phá giết chóc nhiều. Họ muốn một sự sụp đổ từ từ để còn cho họ nguyên vẹn những chiến lợi phẩm, đúng ra là mọi tài sản của chế độ bị sụp đổ không do sức mạnh chiến đấu của họ.

Đúng như Hà Nội mong muốn, ông Thiệu đã phải từ chức (21-4-1975) trước áp lực quần chúng và các phe phái tranh dành quyền lực dưới sự đạo diễn của CIA; bằng một bài diễn văn gay gắt ông Thiệu đã tố cáo muộn màng sự phản bội của Mỹ: “Họ bỏ rơi chúng tôi. Họ bán rẻ chúng tôi. Họ đâm sau lưng chúng tôi. Một nước đồng minh lớn đã không làm tròn lời hứa với với một nước đồng minh nhỏ. . .”.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, nghĩa là năm ngày sau khi Tổng thống Thiệu từ chức, Quốc hội Sài Gòn thông báo người được Tổng Thống Thiệu chỉ định thay thế ông (theo Hiến Pháp VNCH) là Phó Tổng thống Trần Văn Hương, nay được Quốc Hội ủy nhiệm quyền tuyển chọn một người thay thế ông trong chức vụ Tổng thống VNCH.

Trên cơ sở thông báo này, quyền Tổng thống Trần Văn Hương đã chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh làm Tổng thống VNCH (ngòai dự liệu của Hiến pháp VNCH). Ngày 28-4-1975, Tướng Minh nhậm chức, cử Giáo sư Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng, đứng ra thành lập chính phủ hòa giải, thay thế chính phủ chống cộng cuối cùng của ông Nguyễn Bá Cẩn mới được thành lập trước đó một tuần.

Như vậy là Tướng Dương Văn Minh, người hùng của cuộc đảo chánh năm 1963, đưa đến sự cáo chung nền Đệ nhất VNCH, nay lại được tuyển chọn làm nhiệm vụ khai tử nền Đệ Nhị VNCH mà chính ông đã góp phần tạo dựng lúc ban đầu.

Mặc dầu Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đã cố gắng đơn phương giương cao ngọn cờ “Hoà giải và hòa hợp dân tộc”, với một số động tác mời chào giả tạo, như ra thông cáo đuổi hết người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong vòng 48 giờ đồng hồ, quyết định thả hết các tù chính trị (tức tù Việt cộng).

Nhưng tất cả đều đã muộn, CSBV đã cảm thấy đang ở thế thượng phong, chẳng cần “hòa giải hòa hợp” với ai nữa.

Một ngày trước khi Sài Gòn rơi vào tay Hà Nội (29-4-1975), Đại sứ Mỹ cuối cùng Graham Martin đã bình tĩnh ngồi ở bàn làm việc trong Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn đợi Washington trả lời yêu cầu của ông xin gia hạn di tản. Nhưng từ Tòa Bạch Ốc đã ban ra lệnh cuối cùng: Tổng Thống Hoa Kỳ lệnh cho Đại sứ Martin phải rời đi bằng chiếc máy bay này”. Đó là chiếc trực thăng CH-46 mang tên “Lady Ace 09”.được gởi đến đón ông Martin.

Như vậy là cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt với thái độ phủi tay của Hoa Kỳ, người khởi đầu và cũng là người kết thúc sinh mạng một chế độ công cụ của mình. Michael Maclear, một nhà báo Mỹ trong cuốn Việt Nam, cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đã ghi lại cảm tưởng của Đại sứ Martin đối với cuộc chiến kết thúc là “thấy nhẹ cả người”. Đó là cuộc chiến tranh chưa bao giờ được chính thức gọi là chiến tranh, dù nó là cuộc chiến tranh dài nhất (cho đến lúc ấy 1975) của Mỹ đã chấm dứt. Nó là “một cuộc xung đột”, “một sự dính líu”, “một kinh nghiệm” và thất bại của nó sẽ được các sử gia có thể phán xét sau này, không còn là mối bận tâm của nhân dân Hoa Kỳ.

Rất đơn giản, họ nghĩ là họ đã chiến đấu, hoặc người của họ đã chiến đấu, thế là đủ. Từ hai năm về trước (1973), họ đã thực hiện được một nền hòa bình cho họ tại Việt Nam. Hầu hết người Mỹ đã cảm thấy “một nền hòa bình trong danh dự” đã đạt được như người ta bảo. Giờ đây, họ đang nhìn với vẻ bàng quan chán ngắt, có đôi chút sửng sốt, song sự thật không phải hoàn toàn bị bất ngờ. Tám năm chiến đấu của Mỹ (1965-1973), chỉ trong vài tuần đã trở thành vô nghĩa.

Vô nghĩa ư? Thực ra, cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế chỉ có thể là vô nghĩa và vô ích với nhân dân Mỹ, khi mà họ đã phải gánh chịu mọi chi phí cho cuộc chiến, với cái giá máu xương của 58.000 binh sĩ con em của họ phải bỏ mạng tại Việt Nam, mà vẫn không thực hiện được mục đích cao cả là giúp nhân dân Việt Nam bảo vệ được chế độ dân chủ và phần đất tự do ở Miền Nam Việt Nam. Nhưng nó vẫn có ý nghĩa và lợi ích đối với chính quyền Mỹ, khi chiến tranh đã kết thúc vào lúc mà họ đã đạt được các mục tiêu chiến lược trong khu vực, mở ra một thời kỳ đầy triển vọng sau chiến tranh cho công cuộc làm ăn mới của giới tư bản Mỹ ở vùng này, trong khung cảnh một thế chiến lược toàn cầu mới.

Riêng đối với nhân dân Việt Nam, cuộc chiến tranh kéo dài trên 20 năm (1954-1975) kết thúc như thế thì quả là vô nghĩa và tàn hại. Và sự chấm dứt cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn này, vừa là nỗi đau, vừa là niềm vui chung cho cả dân tộc Việt Nam. Là nỗi đau cho nhân dân Miền Bắc vì đã từng phải sống khổ cực, hy sinh xương máu chiến đấu cho một chiêu bài giả hiệu “Độc lập dân tộc, chống đế quốc, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước trong hòa bình, ấm no,tự do, hạnh phúc. . .”. Cũng là nỗi đau của nhân dân yêu chuộng tự do dân chủ ở Miền Nam Việt Nam, vì đã ngay tình và nhiệt thành lao vào một cuộc chiến “bảo vệ chế độ tự do dân chủ”.

Dẫu sao, cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn chấm dứt cũng nên coi là một niềm vui chung của cả dân tộc. Vì đây là cơ may mới cho đất nước vươn lên trong thời kỳ các nước giầu tỏ ra thực tâm muốn giúp các nước nghèo đi vào thế ổn định để phát triển, trong nỗ lực thiết lập một nền trật tự thế giới mới hay là một hệ thống kinh tế quốc tế mới. Đó là chiến lược “Toàn cầu hóa” – Tòan cầu hóa về chính trị bằng một chế độ dân chủ và toàn cầu hóa về kinh tế với một nền kinh tế thị trường tự do. Trong khung cảnh ấy, các quốc gia lớn nhỏ cạnh tranh, cùng tồn tại hòa bình và các bên đều có lợi.

Như thế, chiều hướng mới xem ra có vẻ tốt đẹp. Nhưng chấm dứt cuộc chiến bằng sự triệt tiêu chế độ VNCH mới chỉ là bước thứ nhất của một quá trình đưa đất nước ta vào vận hội mới của một thế chiến lược quốc tế mới. Chúng ta còn phải trải qua bước thứ hai của quá trình này, là triệt tiêu chế độ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) hiện nay. Vì chỉ sau đó, đất nước ta mới đi vào đúng quỹ đạo của một chiến lược quốc tế mới mà các cường quốc đã và đang nỗ lực thực hiện.

 Vậy thì, quá trình triệt tiêu chế độ CHXHCNVN đã và đang diễn ra như thế nào? Thực tế chúng ta đã, đang thấy và hãy tiếp tục chờ xem kết cuộc sẽ ra sao.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Sân bay Tân Sơn Nhất: Sự thật về câu chuyện“Tắc Nghẽn Bầu Trời”, “Chồng Lấn Vùng Trời”, và “Khu vực cấm bay của Tp Hồ Chí Minh…”

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2015

Dưới sự đỡ đầu của đồng chí X và các Soái Nga (đã làm thịt xong Cảng Sài Gòn) nay đang muốn cướp đoạt đất công ở khu vực Sân Tân Nhất và Long Thành để xây dựng khách sạn, các chung cư cao cấp, và cao ốc…cho thuê và bán cho nước ngoài,  Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng và đàn em đang ra sức chê Sân bay Tân Sơn Nhất nhỏ, bất tiện…Nhưng các mưu đồ gian trá của bọn này đã và đang bị nhiều nhà chuyên môn vạch mặt…

Sân bay Tân Sơn Nhất: Sự thật về câu chuyện“Tắc Nghẽn Bầu Trời”, “Chồng Lấn Vùng Trời”, và “Khu vực cấm bay của Tp Hồ Chí Minh”

TS Nguyễn Bách Phúc (*)

26-03-2015

Một lý do “nặng ký” mà Bộ giao thông vận tải đưa ra cho Dự án xây dựng sân bay Long Thành là “lỗi” của sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, việc mở rộng nâng công suất cảng hàng không này để đáp ứng nhu cầu 40-50 triệu hành khách/năm trong giai đoạn 2025-2030 là không khả thi”. Minh chứng điều này, Bộ đã đưa ra 4 cái lỗi.

Bài này xin bình luận lỗi thứ 2.

Về lỗi thứ 2, Bộ nói: “Hạn chế về khai thác vùng trời: Khu vực vùng trời tiếp cận dành cho tàu bay cất hạ cánh của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất hiện tại chồng lấn với vùng trời tiếp cận của căn cứ không quân Biên Hòa ở phía Bắc. Mặt khác, khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh, đặc biệt khi có hoạt động bay quân sự tại khu vực Tân Sơn Nhất và Biên Hòa.

Thứ trưởng GTVT Phạm Quý Tiêu phát biểu tại tọa đàm về dự án đầu tư sân bay Long Thành, do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức ngày 17/10. Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu khẳng định lại việc cần thiết phải đầu tư xây dựng sân bay Long Thành, bởi Tân Sơn Nhất đã quá tải: “Sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn bầu trời, trong nhiều năm không quản lý được tĩnh không sân bay”.

Câu chuyện “TSN bị tắc nghẽn bầu trời”:

Nghe Bộ GTVT nói TSN “tắc nghẽn bầu trời”, chắc mọi người hình dung ra cảnh tượng cả đàn máy bay ùn tắc chen lấn nhau trước lối vào TSN, giống như xe Honda chen chúc trước đèn đỏ, giành nhau từng centimet đường!

Hàng trăm sân bay trên thế giới, số lượng hành khách nhiều hơn TSN, 80-100 triệu HK/năm, tần suất cất hạ cánh lên đến 60 chuyến/giờ hoặc hơn, đều không hề có khái niệm tắc nghẽn bầu trời, tại sao chỉ có bầu trời TSN bị tắc nghẽn khi tăng hơn 20 triệu HK/năm?

Thử tính xem mức độ tắc nghẽn của TSN như thế nào, liệu có bao nhiêu máy bay chen lấn nhau, chúng giành nhau bao nhiêu centimet không gian:

     + Tần suất lớn nhất hiện nay của TSN, theo Cục trưởng Cục Hàng không VN là 29 chuyến/giờ.

Với tần suất này, TSN có thể đưa đón tới 80 triệu hành khách/năm, chứ không phải chỉ hơn 20 triệu. (tham khảo bài “Có thể nâng Tân Sơn Nhất lên 80 triệu hành khách/năm, không cần giải phóng mặt bằng di dời dân cư, với tổng vốn đầu tư chỉ khoảng 3 tỷ USD)

     + Với tần suất 29 chuyến/giờ này thì số chuyến máy bay xếp hàng để cất cánh hoặc hạ cánh trong 1 giờ là: 29/2 = 14,5 chuyến.

     + Thời gian dãn cách giữa hai chuyến máy bay kế tiếp nhau là 1/14,5 = 0,07 giờ

     +Máy bay dân dụng hiện nay khi cất cánh hoặc hạ cánh thường bay với tốc độ 250 Km/giờ.

     + Tính ra cự li xếp hàng dọc giữa hai máy bay kế tiếp nhau là (250 Km/giờ) x (0,07 giờ) = 17,5 Km.

Hóa ra máy bay xếp hàng dọc trước cửa TSN, khi lên xuống cấp tập nhất, 2 chiếc liên tiếp nhau vẫn cách nhau hơn 17 Km, chứ không phải mấy centimet như honda trước đèn đỏ, sao lại gọi là tắc nghẽn bầu trời?

Câu chuyện “chồng lấn vùng trời với sân bay Quân sự Biên Hòa”:

  • TSN và Biên Hòa nằm cạnh nhau hơn nửa thế kỷ nay, chưa nghe ai nói “chồng lấn vùng trời”, kể cả những năm chiến tranh ác liệt, máy bay lên xuống “nhiều như chuồn chuồn”, cớ sao hôm nay lại đẻ ra việc “chồng lấn vùng trời”?
  • TSN cách Biên Hòa 25 Km, trong khi sân bay Changi của Singapore chỉ cách sân bay quân sự Paya Lebar 8 Km, nhưng không ai nói sân bay Changi của Singapore chồng lấn với sân bay quân sự Paya Lebar, cớ sao lại nói TSN chồng lấn với Biên Hòa?
  • Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh, là vùng trời tiếp giáp với đường băng sân bay, với chiều dài 40 dặm (khoảng 72 Km), chiều rộng khoảng 9 Km, chiều cao dưới 3000 mét, là vùng trời được quốc tế quy định giao cho Trạm kiểm soát APP điều khiển không lưu, tức là APP hoàn toàn chịu trách nhiệm điều khiển các máy bay chuẩn bị hạ cánh hoặc sau khi cất cánh. Như vậy “Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh” thực chất chỉ là một vùng quy ước, là vùng được kiểm soát chặt chẽ bởi APP chứ không phải là vùng cấm máy bay qua lại.

Ở Việt Nam có 3 Trạm APP, trong đó Trạm APP ở miền Nam, kiểm soát vùng trời tiếp cận của tất cả sân bay ở miền Nam. Hai sân bay ở gần nhau đều được một Trạm APP kiểm soát, nếu vùng tiếp cận có chồng lấn lên nhau đi nữa thì vẫn do cùng một Trạm APP kiểm soát, nên sẽ không có bất cứ phiền toái nào.

Ngoài ra, vùng trời tiếp cận của TSN nằm giữa 2 vùng trời tiếp cận của sân bay Biên Hòa và của sân bay Long Thành, khoảng cách từ vùng trời tiếp cận của TSN đến vùng trời tiếp cận của Long Thành gần hơn của Biên Hòa, cớ sao Bộ GTVT chỉ nói TSN và Biên Hòa chồng lấn, mà bỏ qua chồng lấn giữa TSN hiện hữu và Long Thành tương lai? Nếu sự chồng lấn này là thực sự nguy hiểm thì cớ sao Bộ lại chấp nhận sự nguy hiểm đó khi quyết định xây dựng sân bay Long Thành.

Câu chuyện “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh”

Khi nghe Bộ GTVT nói như vậy, ai cũng ngỡ ngàng không biết khu vực cấm bay của TP.HCM là khu vực nào, rộng hẹp bao nhiêu, cấp nào ra quyết định cấm bay, cấm bay vì mục đích gì?

Chúng tôi may mắn được Cụ Lê Trọng Sành, Nguyên trưởng phòng Quản lý bay sân bay TSN giải thích cho như sau: Khi hạ cánh, những máy bay cỡ nhỏ với sức tự hãm trên đường băng tương đối kém nên Trạm APP phải “lựa theo chiều gió” để chọn cho những máy bay này hướng hạ cánh sao cho ngược với chiều gió. Chẳng hạn ở TSN máy bay thường xuyên hạ cánh theo chiều từ Đông sang Tây, nhưng đôi khi các máy bay nhỏ phải bay vòng vượt qua sân bay TSN rồi quay ngược lại để hạ cánh theo hướng từ Tây sang Đông. Với những máy bay nhỏ, vòng lượn này thường nhỏ,đoạn song song với đường băng thường cách đường băng 5 đến 7 km, sau khi máy bay vượt quá đường băng chừng 10 km thì sẽ quay vòng lại để hạ cánh. VÙng mặt đất được giới hạn bởi đường quay vòng hạ cánh tạm gọi là Vùng quay vòng hạ cánh.

Thông thường Vùng quay vòng hạ cánh nằm hai phía của sân bay. Với sân bay TSN là vùng phía Bắc và phía Nam, hiện tại vùng đất kế cận đường băng ở phía Nam là khu vực có rất nhiều nguy cơ cháy nổ, như kho chứa xăng máy bay, bãi đậu của hầu hết các loại máy bay, bãi đậu của máy bay trực thăng, đều là vùng nguy hiểm cháy nổ, nếu máy bay khi quay vòng bay trên vùng này có thể xuất hiện nguy cơ cháy nổ khi không may gặp sự cố. Vì vậy cơ quan Quản lý Hàng không VN quy định Vùng quay vòng hạ cánh phía Nam TSN là vùng cấm bay.

Như vậy, Bộ GTVT gọi vùng cấm bay này là “Vùng cấm bay của TP.HCM” là hoàn toàn không đúng, bởi vì TP.HCM không có vùng cấm bay nào cả.

Nhưng điều quan trọng nhất là, vùng cấm bay này không ảnh hưởng gì đến mật độ và lưu lượng lên xuống của máy bay ở sân bay TSN, không ảnh hưởng gì đến công suất của TSN, bởi một lẽ đơn giản rằng TSN vẫn còn vùng quay vòng ở phía Bắc không bị cấm, và giả sử một lúc nào đó, vùng quay vòng ở phía Bắc quá chật chội thì APP vẫn có thể cho phép máy bay quay vòng về phía Nam, chỉ cần nằm ngoài phạm vi cấm bay, tức là cách xa đường băng trên 7 Km.

Thật tình chúng tôi không thể nào hiểu nổi, tại sao Bộ GTVT lại trình Quốc hội rằng “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh”?

____

(*) Tác giả: TS Nguyễn Bách Phúc là Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON và là Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI

Nguồn anhbasam.wordpress.com

Posted in Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu và Phạm Văn Đồng

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2015

Lý Quang Diệu và Phạm Văn Đồng

26-3-2015

 

Thế là ông Lý Quang Diệu đã về cõi vĩnh hằng ở tuổi 91. Đã có rất nhiều bài báo viết về cuộc đời và sự nghiệp to lớn của ông, những gì chúng ta viết có nguy cơ cao bị rơi vào sự thừa thải. Nhưng viết về ông dựa trên cái nhìn của VN thì chắc không thừa. Ông Lý Quang Diệu làm thủ tướng Singapore khoảng 31 năm. Ông Phạm Văn Đồng cũng làm thủ tướng [một phần và sau này toàn phần VN] được 32 năm. Nhưng hai người để lại những di sản rất khác nhau.

Ông Lý đúng là một kiến quốc sư thật sự. Ông “hoán chuyển” một làng chài chỉ độ 100 dân nghèo khó và không có tài nguyên thành một quốc đảo giàu có, một trung tâm thương mại và trung chuyển quốc tế. Ông cầm lái “con thuyền Singapore” đi từ nghèo đói đến thịnh vượng, sang chế độ dân chủ [dù chỉ nửa vời], đến toàn cầu hoá. Ông không bao giờ tự xưng là “cha gia dân tộc”, nhưng người dân Singapore xem ông như là một cha đẻ của Singapore hiện đại. Ông ra đi và để lại một Singapore đầy tự tin, xán lạn. Trên trường quốc tế, ông được hầu như tất cả các lãnh tụ quốc gia xem như là một “statesman” – chính khách. Người ta ca ngợi ông là người có viễn kiến sáng suốt, về tính quyết đoán, về cách nói trực tiếp và trong sáng, về trí thông minh, và tính dí dỏm của một người có học. Ông còn để lại những câu phát ngôn trứ danh, những phát ngôn mà thế giới sẽ còn nghiền ngẫm trong tương lai.

Ông Phạm Văn Đồng sau hơn 30 năm làm thủ tướng và khi ra đi chẳng để lại một di sản gì đáng để xưng tụng. Suốt 30 năm làm thủ tướng hình như ông chẳng có dấu ấn gì đáng nói. Nước VN do ông lãnh đạo từ nghèo đói vẫn hoàn nghèo đói. Ông để lại cái văn bản ngoại giao đầy tai tiếng và có thể nói là sẽ làm nhơ danh ông rất rất lâu. Ông chỉ được tiếng là người trong sạch và giản dị. Nhưng ông chẳng có những phát ngôn gì để có thể xem là “wisdom” (khôn ngoan).

Về qui mô, nói cho cùng, tôi nghĩ ông Lý là người chỉ tương đương với vai trò của một thị trưởng mà thôi. Nên nhớ rằng trong quá khứ, ông Lý Quang Diệu từng bị báo chí Nhà nước Việt Nam chửi như tát nước. Ông được cho đội đủ thứ “nón”: nào là tay sai đế quốc, là chống cộng, là chống nhân dân Việt Nam.

Thế nhưng đùng một cái, Việt Nam “mặn nồng” với ông Lý Quang Diệu. Ông Võ Văn Kiệt từng mời ông Diệu làm cố vấn và cộng tác. Nhưng ông Lý từ chối, và nói rằng nếu không có Mĩ gật đầu thì VN vô phương phát triển. Ông Lý nói rằng Mĩ là chìa khoá, Mĩ là động cơ để phát triển. Ngay cả Tàu cũng phải ôm lấy Mĩ mà phát triển, thì VN không nên xem thường Mĩ.

Mà, ông cho ý kiến rất thành thật. Có thể nói ông Lý là một “fan” của Việt Nam, nhưng không phải là fan của giới lãnh đạo VN. Ông Lý khen người Việt Nam thông minh, học hành giỏi, và khi ra nước ngoài thường thành công. Ông tiếc nuối rằng đáng lẽ VN phải là số 1 của Đông Nam Á, hay thậm chí hàng đầu của Á châu, vì VN có đủ điều kiện từ địa dư, tài nguyên đến con người để trở thành một cường quốc.

Thế nhưng ông tiếc cho VN, và ông chê lãnh đạo VN. Khi được hỏi ý kiến, ông khuyên là cải cách kinh tế cần phải đi đôi với cải cách chính trị, nhưng giới lãnh đạo VN không chịu nghe. Ông nói rằng giới lãnh đạo VN không thể khá lên được vì họ bị “giam tù” bởi vòng kim cô ý thức hệ cộng sản. Theo ông, giới lãnh đạo VN không có khả năng đổi mới bản thân họ, không có khả năng đổi mới tư duy chính trị kịp thời đại, và do đó họ làm trì trệ sự phát triển của đất nước, họ kéo đất nước họ xuống hàng lạc hậu và nghèo đói. Tôi nghĩ nếu tôi là lãnh đạo của VN, tôi cảm thấy nhục khi nghe ý kiến như thế của một ông chỉ xứng tầm thị trưởng. Nhưng vấn đề là ông nói đúng.

Nhưng cũng phải nói thẳng là cái xã hội mà ông Lý kiến tạo chưa hẳn là “tối ưu” đâu. Nên nhớ rằng có thời ông ấy theo đuổi chủ nghĩa ưu sinh, khuyến khích người có bằng đại học lấy nhau. Ông hạn chế tự do báo chí và tự do ngôn luận. Ông tạo ra một “Anh Cả” (big brother) quan sát mọi hành vi của công dân. Ông can thiệp thô bạo vào đời sống riêng tư của người dân. Bởi thế, có lần một nhà báo hỏi tôi là đại học Việt Nam nên học đại học Singapore, tôi trả lời là không, bởi vì theo tôi biết qua vài trường hợp thì các đại học Singapore không có tự do học thuật như ở phương Tây. Nghe nói cái mô hình cai trị của ông Lý được giới lãnh đạo Tàu rất thích, và như thế thì cũng đủ để chúng ta cẩn thận với “mô hình Singapore”.

Nhưng có một điểm sáng của Singapore mà tôi thích, đó là phi ý thức hệ. Nói về ý thức hệ, ông Lý cho biết Singapore là một quốc gia phi ý thức hệ (ideology-free). Nếu có thì ông gọi đó là “Ý thức hệ Singapore”, thấy cái gì tốt và có lợi cho quốc gia dân tộc thì làm, chứ không bị trói buộc vào bất cứ một ý thức hệ nào cả. Ông nói thêm rằng nếu nó [ý thức hệ Singapore] có hiệu quả, thì chúng ta hãy thử nghiệm nó xem sao. Nếu nó tốt thì chúng ta tiếp tục. Nếu nó không có hiệu quả thì chúng ta quẳng nó đi và thử cái khác. Một “triết lí” thực dụng và đơn giản thế mà tại sao những người đang lèo lái con thuyền VN không nhận ra. Tại sao phải bám theo một chủ nghĩa đã lỗi thời và hết sức sống.

figure.jpg

Biểu đồ so sánh thu nhập bình quân giữa Singapore và Việt Nam từ 1960-2011

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Thời Sự | Leave a Comment »

►Vì sao TQ cấm làm đường gần biên giới, còn VN lại mở toang cửa ngõ biên với TQ?

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

VOA

Lê Anh Hùng

25-03-2015

Quân đội Trung Quốc đã yêu cầu ngưng dự án được chính quyền thành phố Phòng Thành Cảng phê duyệt vào ngày thứ hai xây dựng công trình này hồi tháng Hai.

Trung Quốc: dã tâm xâm lược Việt Nam

VOA ngày 22.3 đưa tin: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tháng trước đã ngưng một dự án làm đường của chính quyền một thành phố nằm gần biên giới với Việt Nam vì lo ngại nó có thể được sử dụng cho một “cuộc xâm lược của Việt Nam”. 

Theo bài báo, một bản tin đăng trên trang web của Bộ Quốc phòng Trung Quốc dẫn lời một quan chức phụ trách các vấn đề biên giới ở thành phố Phòng Thành Cảng thuộc Khu Tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây nói rằng, một khi được hoàn thành, tuyến đường nối liền một ngôi làng ở vùng biên giới với thành phố Phòng Thành Cảng cách đấy 100 cây số “thực sự là mối đe dọa cho an ninh và quốc phòng” của Trung Quốc. 

Đây là một bằng chứng nữa cho thấy, Trung Quốc luôn sẵn sàng cho một cuộc xâm lược mới nhằm vào Việt Nam, đặc biệt là cuộc chiến nhằm thôn tính và kiểm soát hoàn toàn quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Theo các chuyên gia quân sự, một khi Trung Quốc tấn công Trường Sa, quân đội Việt Nam có thể vượt biên giới tấn công vào các cơ sở kinh tế hay quân sự của Trung Quốc ở gần khu vực biên giới. Mục đích của cuộc tấn công sang Trung Quốc không chỉ nhằm trả đũa hành động xâm lược của Bắc Kinh, mà còn nhằm mục đích chia sẻ hoả lực và ủng hộ tinh thần cho các lực lượng bảo vệ Trường Sa, buộc Trung Quốc phải rút quân.

Việt Nam: mở toang cửa ngõ đón quân thù

Việc Trung Quốc vẫn nung nấu dã tâm thôn tính Việt Nam thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi dòng máu họ Bành dường như đã chảy trong huyết quản của người Hán ngay từ thuở “khai thiên lập địa”, mà mảnh đất phương Nam thì luôn khiến họ thèm khát từ hàng ngàn năm nay.

Điều đáng ngạc nhiên ở đây là không hiểu sao chính phủ Việt Nam lại cứ như mở toang cửa ngõ biên giới của mình để “mời chào” đội quân xâm lược đến từ phương Bắc.

Tuyến đường cao tốc Lào Cai – Hà Nội đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát lệnh thông xe vào ngày 21/9/2014. Đây là tuyến cao tốc hiện đại dài nhất Việt Nam, với 245km, đi qua 5 tỉnh thành là Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Nhờ tuyến đường mới này mà thời gian đi xe từ Lào Cai về Hà Nội được rút xuống một nửa, chỉ còn 3-4 giờ.

Tháng 11/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã cho phép tỉnh Quảng Ninh làm chủ đầu tư dự án đường cao tốc Móng Cái – Hạ Long và đang được lãnh đạo tỉnh này khẩn trương triển khai, song song với dự án cao tốc Hạ Long – Hải Phỏng.

Tháng 10/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng đã đồng ý triển khai đầu tư cho tuyến đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn (đoạn Bắc Giang – Lạng Sơn). Dự kiến dự án này sẽ được triển khai trong đầu năm 2015.

Ngày 7/9/2014, tại lễ khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc Thái Nguyên – Bắc Kạn, Thủ tướng  Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo sẽ đầu tư xây dựng tuyến cao tốc từ Bắc Kạn lên Cao Bằng.

Cách đây 1 năm, Bộ Giao thông – Vận tải cũng đã thông qua báo cáo phương án xây dựng tuyến đường kết nối đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai với Lai Châu và Hà Giang.

H1

 

Như vậy, các hướng tiến quân chính của Trung Quốc trong cuộc xâm lược Việt Nam từ 17/2 – 16/3/1979 (Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu) đều đã hoặc sắp có đường cao tốc nối từ biên giới Việt -Trung về Hà Nội.

Trước khi diễn ra cuộc xâm lược quân sự, các tuyến đường cao tốc này đã góp phần vô cùng quan trọng giúp Trung Quốc giành chiến thắng ngoạn mục trong cuộc xâm lược Việt Nam về kinh tế.

Kế hoạch xâm lược Việt Nam của Trung Quốc

Tháng 8.2008, một số trang mạng ở Trung Quốc như Sina.com đã đăng bản kế hoạch xâm lược Việt Nam trong 31 ngày dưới tựa đề “Quân Đội Trung Quốc hãy dùng Phương án A để tấn công VN!”, khởi đầu bằng 5 ngày tấn công bằng tên lửa rồi tới cao trào là tiến quân bằng đường bộ với 310.000 lính tràn vào Việt Nam từ Vân Nam, Quảng Tây và Nam Hải.

Trung Quốc hiện đã kiểm soát được một khu vực đất đai và mặt biển rộng tới 3.300ha (bằng 1,2 lần diện tích Macao) ở Vũng Áng, trong đó có cảng nước sâu Sơn Dương, ngay dưới chân đèo Ngang (Hà Tĩnh). Ở đây, “nhà đầu tư” Formosa đã xây dựng những công trình rất đáng ngờ như đường hầm chạy thẳng ra biển, hay toà nhà 9 tầng toàn bằng bê tông cốt thép, không sử dụng lấy 1 viên gạch nào.

Như vậy, thay vì dùng hải quân đánh vào Thanh Hoá như sơ đồ tác chiến trên, từ căn cứ Formosa Hà Tĩnh, Trung Quốc chỉ cần một lực lượng quân sự nhỏ là đủ để chia cắt Việt Nam thành hai phần ở đèo Ngang, một vị trí hết sức hiểm yếu về an ninh – quốc phòng.

Cấu kết?

Các tuyến đường cao tốc giúp Trung Quốc khai thông các hướng tiến quân xâm lược Việt Nam và việc người bạn “4 tốt, 16 vàng” này chiếm lĩnh được những vị trí hiểm yếu về an ninh – quốc phòng như Vũng Áng cùng chia sẻ một điểm chung: chúng đều là “tác phẩm” của cặp bài trùng Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải là người ký Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”.

Tất cả những văn bản do mình ký, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đều ký nhân danh Thủ tướng Chính phủ, nên dĩ nhiên ông Nguyễn Tấn Dũng đều biết, bởi ông ta được báo cáo theo đúng quy định. Mới đây, sau gần 1 năm “ngâm” kết luận thanh tra sai phạm ở Hà Tĩnh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thống nhất với kết luận về sai phạm trong việc cấp phép tới 70 năm cho dự án Formosa, mà chính quyền Hà Tĩnh nói là do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo, nhưng lại đồng ý bảo lưu thời hạn đã cấp phép này.

Ông Hoàng Trung Hải là Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế ngành”, gần như nắm trong tay cả nền kinh tế Việt Nam. Ông Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao phụ trách những bộ quan trọng nhất của nền kinh tế: Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn; Bộ Giao thông – Vận tải; Bộ Xây dựng; và Bộ Tài nguyên – Môi trường.

Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao phó hàng loạt ban bệ trọng yếu khác như Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm; Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông – Vận tải; Ban Chỉ đạo Nhà nước về Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận; Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; Ban Chỉ đạo Quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi; Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v.

Điều đặc biệt đáng quan ngại ở đây là: Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã bị tố cáo từ nhiều năm nay là một người Hán khai man lý lịch hòng “chui sâu, leo cao” trong hàng ngũ lãnh đạo ở Việt Nam. Việc giao cho một người Hán trá hình vô số trọng trách quán xuyến cả nền kinh tế và ảnh hưởng đặc biệt lớn đến nền an ninh – quốc phòng của nước nhà rồi tiếp tay, đồng loã để cho ông ta gây ra bao hậu quả vô cùng nguy hại cho đất nước rõ ràng là hành động phản quốc của người đứng đầu chính phủ Việt Nam.

Sau tất cả những gì đã xảy ra, dư luận có đủ lý do để kết luận rằng: tình trạng nền kinh tế Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc cũng như việc nhiều vị trí hiểm yếu về an ninh – quốc phòng bị Trung Quốc khống chế thông qua các dự án kinh tế trá hình là do sự cấu kết giữa Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.1

Bài liên quan:

  1. Lào Cai: ‘Tử huyệt’ của phòng tuyến biên giới phía bắc? (VOA)
  2. Trục đường cửa ngõ chiến lược Móng Cái – Hạ Long sẽ rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc? (VOA)
  3. PTT Hoàng Trung Hải – hiểm họa đằng sau những trò mị dân (VOA)
  4. Bauxite Việt Nam đã công khai lên tiếng về vụ PTT Tàu Hoàng Trung Hải (Blog Lê Anh Hùng/Bauxite Việt Nam)
  5. Chính phủ Việt Nam đang ‘dâng’ nền kinh tế nước nhà cho Trung Quốc? (VOA)
  6. Trung Nam Hải đang toan tính gì với con bài Nguyễn Tấn Dũng? (VOA)

——————-

Ghi chú:

1. Tác giả bài viết này là người vẫn đang theo đuổi vụ tố cáo ông Nguyễn Tấn Dũng – Hoàng Trung Hải – Nông Đức Mạnh suốt 7 năm qua. Trong câu chuyện tố cáo, tác giả đã nêu rõ, Hoàng Trung Hải đã gài bẫy và khống chế cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lẫn (nguyên) Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh kể từ năm 2006 và biến họ thành tay sai cho ông ta cũng như cho Bắc Kinh. Đây là một vụ tố cáo vô cùng nghiêm trọng, liên quan đến những người đã và đang nắm giữ vận mệnh quốc gia, kéo dài trong nhiều năm mà vẫn chưa được giải quyết đúng pháp luật, trong khi người tố cáo thì thường xuyên phải hứng chịu những hành động khủng bố, trả thù với nhiều hình thức khác nhau. Chừng đó là quá đủ để cho thấy bản chất của vụ việc.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từng nêu vụ Lê Anh Hùng bị công an Hà Nội và Hưng Yên cưỡng chế vào trại tâm thần từ ngày 24.1 ÷ 5.2.2013 như một vụ vi phạm nhân quyền điển hình của nhà cầm quyền Việt Nam trong năm 2013.

——–

 

Tiến sĩ Trần Công Trục nhận định việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở Trường Sa: “Đó là những căn cứ quân sự mang tính chất tấn công”

4-3-2015

 (Tháng 3-2014)                         (Tháng 8-2014)                      (1-2015)
uunwjfgf.jpg

Hình ảnh chụp từ vệ tinh của Công ty vũ trụ châu Âu Airbus Denfense & Space (trước đây có tên là EADS, đổi tên từ đầu năm 2014) vào các thời điểm khác nhau từ tháng 3-2014 đến tháng 1-2015 trên bãi Ga Ven thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam cho thấy sự lấn chiếm xây đảo nhanh chóng của Trung Quốc

Việt Nam cần tăng cường đấu tranh trên các mặt trận ngoại giao và pháp lý, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động thực địa để theo dõi thông tin chủ động hơn nữa.

Ðó là nhận định của tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ, với Tuổi Trẻ.

* Tuổi Trẻ: Ông James Clapper, giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ, vừa tố Trung Quốc có hành động hung hăng trên biển Ðông thông qua việc mở rộng các tiền đồn ở biển Ðông làm sân bay và nơi đồn trú tàu thuyền. Ông có bình luận gì?

– Thông tin, hình ảnh của tình báo Mỹ và quan điểm của Chính phủ Mỹ về các hành động của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Trường Sa rõ ràng là những sự thật không thể chối cãi được.

Trung Quốc đã có những hoạt động hết sức mạnh mẽ, khẩn trương và trên một quy mô rất lớn để xây dựng những công trình quân sự như đường băng sân bay, khu hậu cần, các đồn bốt nhằm phục vụ lực lượng quân sự của Trung Quốc.

“Giữ quan hệ hữu nghị, duy trì đàm phán hòa bình, không tạo ra xung đột là điều chúng ta đang phấn đấu, nhưng không có nghĩa chúng ta không thể hiện lập trường pháp lý của mình”

» Tiến sĩ TRẦN CÔNG TRỤC

Mỹ là một trong những nước có lợi ích gián tiếp ở biển Ðông, đặc biệt về lĩnh vực hàng hải, địa chính trị với tư cách là một nước lớn.

Rõ ràng họ có quan tâm đến vấn đề này. Ðây là sự quan tâm rất thiện chí chứ không thể nói họ có ý định nào đó để gây ra những mâu thuẫn. Chúng ta cần phải nghiên cứu sự quan tâm này.

* Ông từng phát biểu việc Trung Quốc xây dựng đảo chìm thành đảo nổi nguy hiểm hơn giàn khoan Hải Dương 981 rất nhiều? Ông có thể giải thích rõ hơn?

– Giàn khoan Hải Dương 981 là hoạt động thăm dò, thử phản ứng và Trung Quốc có thể cắm và rút nó bất cứ lúc nào. Còn các công trình trái phép của Trung Quốc xây dựng ngay trên lãnh thổ của Việt Nam vốn bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực.

Hơn nữa, xét về mặt địa chính trị và chiến lược quân sự, rõ ràng các công trình trái phép này sát bờ biển của Việt Nam, nằm xen kẽ các vùng Việt Nam có đóng quân và trên tuyến đường hàng hải ở phía nam biển Ðông. Do vậy các công trình trái phép này nguy hiểm hơn rất nhiều.

Trung Quốc đang thiết lập các nhịp cầu để làm bàn đạp tấn công. Có thể sẽ có lúc họ dùng vũ lực để đánh chiếm các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam như các năm 1956, 1974, 1988 và cũng có thể họ sẽ tiến hành “chiến tranh xâm lược mềm” như triển khai tàu đánh cá, hoạt động dầu khí và hàng không trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Ðây chính là một trong những mũi tiến công hết sức nguy hiểm của Trung Quốc.

* Sau phát biểu của ông Clapper, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi ngang nhiên nói các hoạt động trên các bãi cạn và vùng biển xung quanh ở Trường Sa là “hợp lý, chính đáng và hợp pháp” và thái độ của Bắc Kinh là “kiềm chế và có trách nhiệm”? Nên hiểu như thế nào?

– Ðây rõ ràng là những lời lẽ mang tính chất ngụy biện, che đậy những hành động sai trái và hăm dọa của họ.

Hành động của họ là sai nhưng họ tố cáo lại để giành thế chủ động. Họ nói họ chấp hành và có trách nhiệm trong việc bảo vệ hòa bình. Nếu chúng ta không tiếp tục làm rõ thì bạn bè và dư luận sẽ không hiểu vấn đề.

Ngoài ý nghĩa về mặt quân sự, Trung Quốc còn muốn biến những công trình này trở thành các căn cứ hậu cần để phục vụ các hoạt động sắp tới như cắm giàn khoan khai thác dầu, để không cần phải kéo hàng trăm tàu bảo vệ như vụ giàn khoan Hải Dương 981 năm ngoái.

Có thể nói đây là những công trình quân sự mang tính chất tấn công và hoàn toàn phù hợp với chiến lược của Trung Quốc trong việc từng bước đặt các nhịp cầu để có thể vươn ra khống chế và độc chiếm biển Ðông theo yêu sách lưỡi bò của mình.

Bài học Hoàng Sa bị mất vẫn còn đó. Họ từng bước chiếm Hoàng Sa vào năm 1956 và 1974. Ðây là mũi tấn công hết sức nguy hiểm mà chúng ta không thể không cảnh giác.

* Báo chí Trung Quốc cho rằng từ các căn cứ quân sự ở Trường Sa, Trung Quốc có thể tấn công vào Việt Nam trong vòng 24 giờ?

– Dù đây không phải là thông tin chính thức từ các cơ quan quân sự hay ngoại giao của Trung Quốc nhưng hoàn toàn là một suy luận logic. Thông tin này đến từ phía dư luận và các trang mạng từ Trung Quốc.

Thật ra, điều này nằm trong sự bài binh bố trận của Trung Quốc nhằm mang tính răn đe. Cho nên Việt Nam phải cảnh giác.

Một lần nữa tôi muốn nhắc lại đây là những căn cứ quân sự mang tính chất tấn công chứ không phải phòng thủ.

* Phía Việt Nam và những nước có quyền lợi và chủ quyền ở biển Ðông cần phải làm gì, thưa ông?

– Như chúng ta đã biết, Việt Nam là nước có lãnh thổ bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực quân sự. Sau đó, Trung Quốc biến các đảo chìm thành đảo nổi, trở thành căn cứ hùng hậu và kiên cố ở khu vực.

Chúng ta phải đấu tranh mạnh mẽ, chí ít là ở mặt trận thông tin truyền thông cùng với việc tăng cường đấu tranh trên mặt trận pháp lý và ngoại giao.

Về mặt pháp lý, chúng ta phải thể hiện ý chí không bao giờ chấp nhận hành động sai trái của Trung Quốc.

Chúng ta cần phải phản đối mạnh mẽ hơn và có lập trường rõ ràng hơn. Ðồng thời kêu gọi sự ủng hộ quốc tế bằng cách phân tích cho bạn bè quốc tế hiểu rõ chủ quyền của chúng ta và việc Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực là sai như thế nào.

Ngoài ra, chúng ta cũng phải đẩy mạnh các hoạt động thực địa, theo dõi và nắm thông tin tường tận. Nếu Việt Nam nắm rõ thông tin thì phải công bố những thông tin chủ động hơn nữa để người dân có thể hiểu rõ vấn đề. Rõ ràng giá trị của thông tin sẽ mạnh mẽ hơn nhiều.

yextzenr.jpg* Việt Nam có nên áp dụng các biện pháp đấu tranh như vụ giàn khoan Hải Dương 981?

– Theo tôi thì phải nâng đấu tranh ở mức cao hơn nữa, chẳng hạn như tăng cường phản đối lên các tổ chức Liên Hiệp Quốc. Làm rõ các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển của Trung Quốc.

Rõ ràng tất cả biện pháp đấu tranh của chúng ta trong sự kiện giàn khoan có tác động rất lớn và Trung Quốc buộc phải thay đổi chiến thuật của mình.

Ðây là bài học nhãn tiền chúng ta cần phải rút ra. Chúng ta phải phát huy tất cả biện pháp đấu tranh có thể để giúp các bên cùng nhau giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và có hiệu quả nhất.

QUỲNH TRUNG thực hiện

* * *Phụ lục:

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh: ‘Quân đội phải kiểm soát được tình hình trên biển’

Hôm 20.10.2014, bên lề phiên họp khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 13, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã trả lời phỏng vấn báo chí về buổi làm việc của ông với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thường Vạn Toàn ở Bắc Kinh.

* Thưa Bộ trưởng, xin Bộ trưởng cho biết kết quả chuyến thăm và làm việc của đoàn cán bộ do Bộ trưởng dẫn đầu tại Trung Quốc vừa qua?

Bạn đón tiếp ta rất nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị. Mục đích của chuyến đi là 2 bên bàn bạc với nhau để tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa quân đội của 2 nước cũng như Đảng, Nhà nước và nhân dân 2 nước. Chúng tôi thống nhất với nhau là tranh chấp thì phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình còn quân đội thì phải kiểm soát được tình hình trên biển, hết sức tránh việc sử dụng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực và tránh không để xảy ra xung đột, va chạm vũ trang trên biển. Hai bên thống nhất với nhau ký 1 bản ghi nhớ về kỹ thuật để thiết lập đường dây liên lạc thường xuyên trực tiếp giữa 2 Bộ trưởng Quốc phòng để khi có tình huống, va chạm, vụ việc xảy ra trên biển thì 2 bên có thể gọi nhau để trao đổi được với nhau, kiểm soát cho được những diễn biến trên biển, tránh xung đột. Hai bên thống nhất với nhau là phải kiểm soát tốt biên giới để xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển lâu dài, tạo điều kiện tối đa cho nhân dân 2 nước đi lại, giao thương, làm ăn hợp pháp.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh – Ảnh: L.Dũng

Tôi cũng đề nghị phía Trung Quốc sớm dỡ bỏ cảnh báo về du lịch để nhân dân 2 nước đi lại giao lưu. Hoạt động du lịch phát triển thì hoạt động hàng không cũng phát triển, như thế thì tăng cường hữu nghị và mới tăng cường sự tin cậy giữa 2 bên.

* Thưa Bộ trưởng, 2 bên có bàn về việc phía Trung Quốc đốc thúc nhiều hoạt động xây dựng trên khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng như chuyện giàn khoan đã xảy ra ít tháng trước?

Chúng tôi có trao đổi là giờ phải giữ nguyên hiện trạng, trên biển Đông phải thực hiện cho đầy đủ DOC – tinh thần, quan điểm chung là không mở rộng tranh chấp, không cắm mới vào những nơi mà các bên chưa cắm. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam.

* Họ có đưa ra một cam kết, lời hứa nào về việc giữ nguyên hiện trạng như này?

Hứa thì bạn không hứa nhưng nói chung 2 bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Còn hiện nay trên biển, nói thật là các bên đều có xây dựng. Đài Loan cũng xây dựng, Philippines cũng tiến hành xây dựng đường băng, Malaysia có xây dựng. Việt Nam cũng có hoạt động xây dựng, đó là tôn tạo, nâng cấp, mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các lực lượng đóng quân trên đảo để đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão, đảm bảo điều kiện sinh hoạt trên đảo. Tuy nhiên nguồn lực của ta còn có hạn nên việc xây dựng quy mô chưa lớn như Trung Quốc.

* Nhiều chuyên gia nêu ý kiến lo ngại hướng xây dựng của Trung Quốc là để hình thành một căn cứ quân sự tấn công. Điều đó đe doạ mối an ninh hàng hải trong khu vực. Cảnh báo đó có đáng suy nghĩ, lo ngại không, thưa Bộ trưởng?

Đó là các nhà nghiên cứu dự báo thôi chứ còn đương nhiên bên nào mà tiến hành xây dựng thì đó cũng là một căn cứ quân sự cả. Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực.

* Ghi nhận nào quan trọng nhất giữa các Bộ trưởng trong lần gặp này?

Quan trọng nhất là thoả thuận 2 bên phải hợp tác theo tinh thần hữu nghị của lãnh đạo 2 Đảng, Nhà nước, giữ gìn môi trường ổn định, hoà bình và kiểm soát cho được hoạt động của lực lượng vũ trang 2 nước trên biển, không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực và để xảy ra xung đột vũ trang ở trên biển.

Hà Nguyễn (ghi)

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu: “Chỉ có kẻ ngu mới chống Mỹ “

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

Chỉ có kẻ ngu mới chống Mỹ. Đảng CSVN chống Mỹ. Vậy, bọn này chính là những kẻ ngu và giờ này vẫn còn ngu.

Chỉ có kẻ ngu mới chống Mỹ

30-5-2014

LyQuangDieuMỹ đang gặp nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số một

Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin , Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác.

Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam . (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”)

Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một sự dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể.

Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

(Hiện nay, quý 1, 2015, nền kinh tế Mỹ đã phục hồi và đang là đầu tàu của thế giới. Đồng đô la Mỹ tăng giá so với tiền Euro, và hầu hết các nước phương Tây còn đang ngụp lặn vì suy sụp kinh tế và tài chánh kể từ 2008 tới nay, thì tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ giảm xuống còn 5.6% , kinh tế Mỹ phát triển ổn định suốt năm 2014 và đang là đầu tàu kéo theo nền kinh tế của cả thế giới.  Trong khi kinh tế Trung Quốc đang chậm lại và có khả năng suy thoái. Mức phát triển kinh tế của Trung Quốc trong năm ngoái và năm nay chỉ còn giao động từ 6.5-  7%).

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam , là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam . Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.

Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore . Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.

Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.

Tại sao tôi lại tin vào thành công dài hạn của Hoa Kỳ

Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore . Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York . Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge ). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York , bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.

Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

Lý Quang Diệu

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Dịch: Nguyễn Việt Vân Anh
Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

 

*Mời các bạn ghé qua đây đọc các lời bình luận:

danchimviet.info

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Gói đầu tư của đồng chí Trọng mất giá thảm hại

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

24-3-2015

Chỉ đến Hội nghị Trung ương 7 thì mọi người mới rõ, tuy nhiên trước đó, bao nhiêu vốn liếng chính trị đã được Tổng Bí thư xỉa hết vào cửa đồng chí Phạm Quang Nghị, quyết kiếm món hời theo kênh đầu tư lâu dài tại Đại hội 12. Nhìn vào chính trường mấy năm rồi, nhà phân tích đầu tư ít năng lực nhất cũng phải nói rằng đây là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả nhất. Xét riêng việc này, so với các đời Tổng bí thư tiền nhiệm, tầm nhìn của nhà đầu tư Nguyễn Phú Trọng không phải là ngắn hạn.

Có điều, kênh đầu tư này cứ càng ngày càng tối. Chỉ xem riêng cái vụ chặt cây thì rõ.

Quản lý nhà nước ở Thủ đô bộ mặt của cả nước mà làm ăn thì văng mạng, mang nặng dấu ấn của mấy ông cai thầu xây dựng. Đáng tiếc, đây đã và đang là cách làm của ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch phụ trách xây dựng cơ bản của Thủ đô, nơi ngốn một phần rất lớn ngân sách xây dựng cơ bản của cả nước hàng năm. Giới quan sát chính trị Thủ đô cho hay, cách làm xưa nay của ông Hùng vẫn vậy. Hồi ông giành được ghế Giám đốc Sở GTVT từ ông Trần Danh Lợi một cách ngoạn mục (đưa ông Lợi xuống làm Phó dù ông Hùng không phải Thành ủy viên, không có chuyên môn Giao thông còn ông Lợi đang là Thành ủy viên, là Tiến sĩ giao thông – ai cũng biết phải Bí thư Phạm Quang Nghị quyết mới được thế), ông đã nhanh nhảu nhân rộng lối làm ăn cai thầu ra toàn bộ Thủ đô.

Còn nhớ, trước đó, ông Hùng vẫn là cai thầu xây dựng (Giám đốc Ban Quản lý dự án xây dựng Tả ngạn) với dấu ấn lớn nhất về năng lực của ông là xây cây cầu cỏn con bắc qua sông Đuống về làng đồng chí Trọng mà mất gần chục năm, qua vài lần điều chỉnh khiến vốn tăng nhiều lần so với dự toán ban đầu.

Ngồi ghế Giám đốc sở GTVT mấy bữa, được Bí thư (PQN) hậu thuẫn, đánh rụp một cái ông bỏ toàn bộ đèn tín hiệu ở các nút giao thông, ngăn và bịt hết các ngã ba ngã tư rồi bắt hàng triệu người dân Thủ đô cùng hàng triệu người khác qua Thủ đô hàng ngày phải đi kiểu rồng rắn do ông tự vẽ ra (cần nhắc lại là ông Hùng không có chuyên môn giao thông).

Mới trước đó, thành phố còn phải đi vay hàng trăm triệu đô la của Pháp và Ngân hàng Thế giới để nâng cấp hệ thống đèn tín hiệu và chỉnh trang các nút giao. Chính chương trình Táo giao thông cũng phải thốt lên “… loay hoay quanh năm hết gỡ lại ngăn, có anh giao thông tăng cường kiếm ăn …”. Báo chí chất vấn thì ông tỉnh bơ bảo đây là chủ trương của Thành ủy, ý là các anh có dám thách thức cái ông chóp bu kia không. Quanh quẩn hết xây lại đập, đập lại xây, ngốn bao tiền, được vài năm. Vừa qua ông cảm thấy chán, ông từ bỏ lối dị thường và cho dân đi lại theo lối thông thường: bỏ ngăn nút giao, phục dựng lại đèn giao thông, sau khi đã làm lãng phí không biết bao tiền của nhân dân. Có điều, ông mượn cái mồm Ban Tuyên giáo rêu rao rằng hiệu quả lắm, dân Hà Nội nhờ có ông mà nâng cao được ý thức, biết đi lại theo làn đường. Còn Bí thư PQN thì kịp lăng-xê luôn: lãnh đạo Hà nội phải kén đồng chí nào dám nghĩ, dám làm. Kết quả là ông Hùng nhảy tót lên Phó Chủ tịch Hà Nội. Vừa qua, ông này lại còn được cơ cấu vào Trung ương khóa tới với tham vọng sẽ làm Chủ tịch Hà Nội hoặc Bộ trưởng Xây dựng, Giao thông.

Từ sau khi có Luật Thủ đô ra đời, ông Hùng càng mạnh tay tợn vì có thêm quyền và tiền. Cách làm ăn cai thầu bây giờ được che đậy tinh vi hơn dưới mác “chủ trương”. Qua mấy năm làm ăn ở đất Hà Nội, ông có sự trưởng thành và cao thủ hơn tay cai đầu dài ở chỗ biết đưa thêm cái anh Tuyên giáo vào trong tốp thợ cùng làm ăn. Thế nên báo chí đã quá quen với cảnh, phàm việc gì liên quan đến giao thông đô thị là thế nào Ban Tuyên giáo cũng nhảy vào “định hướng dư luận” theo một mô típ nhàm chán: chủ trương lúc nào cũng đúng, việc này được nhân dân đồng thuận, đánh giá cao … Bí quá thì: chúng tôi luôn lắng nghe ý kiến trái chiều (dù đóng góp đúng đến mấy vẫn bị các đồng chí xếp vào loại trái chiều). Tuyên giáo mà tịt thì đã có Bí thư tiếp sức (tuyên bố chủ trương luôn đúng nhưng cách làm còn nóng vội), hoặc dí anh sở chuyên ngành vào nói bậy bạ (đường Trường Chinh cong một cách “mềm mại”). Bí nữa thì chơi kiểu chày cối như anh cựu công an Phan Đăng Long: không cần phải hỏi dân. Đường cùng thì đưa công an ra dọa.

Ngay trong lúc ông Hùng bị báo chí quây tại chính trụ sở UBND Thành phố và phải cuống cuồng tháo chạy thì Bí thư Nghị khôn ngoan ém mình tại quận Nam Từ Liêm chỉ đạo một cuộc họp nhưng vẫn gân cổ ca điệp khúc cũ: đây là chủ trương đúng và thành phố luôn lắng nghe ý kiến trái chiều. Có điều lần này khúc ca của đồng chí không được báo nào đăng tải.

Chặt phá hàng nghìn cây vừa rồi tại thủ đô chỉ là việc làm nhỏ của những ông quan quản lý nhà nước làm ăn theo kiểu cai đầu dài. Nếu công luận không lên tiếng, nay mai tiếp theo sẽ là uốn lại sông Hồng chảy thẳng hướng cho nghiêm túc, thay nước Hồ Tây cho sạch sẽ thơm tho, biến các công viên thành cao ốc cho hiện đại, lấy đất của dân giao cho các tư bản đỏ làm kinh tế cho đỡ lãng phí, đường nào cong thì nắn cho thẳng, đường nào thẳng thì phải biến thành cong cho “mềm mại” kiểu đường Trường Chinh như chính lãnh đạo thành phố từng tuyên bố, vài triệu dân Thủ đô phải ăn mặc nói năng đi lại theo đúng Bộ Quy tắc ứng xử người Hà Nội do Tuyên giáo và Sở Văn hóa ban hành …. “Chủ trương” nào theo các quan lý giải đều đúng hết. Xem ra, nếu trúng Tổng Bí thư, chắc đồng chí Nghị sẽ kiện toàn và nhân rộng mô hình quản lý quốc gia dựa trên thế chân vạc: Cai đầu dài, Tuyên giáo và Công an; thay thế hệ thống pháp luật bằng “Chủ trương” và Nghị quyết.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung – Giám đốc CA Hà Nội – đang trồng cây mà chính quyền gọi là vàng tâm nhưng các nhà chuyên môn gọi là gỗ mỡ (một loại cây rẻ tiền), một phần trong chiến dịch tàn sát và thay thế 6700 cây xanh tại Hà Nội. Cũng trong chiến dịch, nhiều cây gỗ sưa đắt tiền đã bị đốn lấy gỗ bán cho Trung Quốc.

Chỉ riêng vụ chặt hàng nghìn cây rất có thể dẫn tới việc Phó chủ tịch Nguyễn Quốc Hùng bị khởi tố về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ít nhất thì cánh cửa vào Trung ương của ông coi như đã đóng sập.

Kết hợp với công luận ngày càng bức xúc trước nhiều sai phạm trong ê kíp dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nghị, người ta thấy gói đầu tư của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đang mất giá. Vẫn biết đồng chí đang gắng gượng tìm kiếm kênh đầu tư thay thế, đi Tàu, đi Mỹ v.v., nhưng những việc xảy ra vừa qua chắc chắn sẽ đẩy các chiến lược đầu tư của đồng chí lâm vào khủng hoảng khó dự đoán hậu quả, đặc biệt trong bối cảnh thị trường đầu tư tới đây sẽ phát sinh nhiều diễn biến không thể lường trước.

 

*Trong cuộc họp bầu tín nhiệm tháng 1/2015, Phạm Quang Nghị đứng gần chót bảng, hạng 19/20; Phạm Quang Nghị được Nguyễn Phú Trọng đỡ đầu.

Xem thêm ở đây

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2015/01/tin-on-nong-ket-qua-bo-phieu-tin-nhiem.html

 

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Thời Sự | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu viết về những ngày cuối đời

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Personal Life: Choosing when to Go”, in L.K Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 294-301.

Biên dịch: Nguyễn Tiến Chương | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Trình tự công việc hằng ngày của tôi đã được định sẵn. Tôi thức dậy, kiểm tra email, đọc tin tức, tập thể dục và ăn trưa. Sau đó, tôi đến văn phòng tại Instana, kiểm tra các văn bản và viết các bài báo hoặc bài phát biểu. Vào buổi chiều hoặc tối, tôi thỉnh thoảng có lịch phỏng vấn với các nhà báo, sau đó tôi có thể dành một hoặc hai giờ học tiếng Hoa.

Tôi tập thể dục như một thói quen hằng ngày. Ở tuổi 89, tôi có thể đứng lên mà không cần đến gậy đỡ. Khi tôi còn ở độ tuổi 30, tôi thích hút thuốc và uống bia. Tôi bỏ thuốc lá vì nó đã làm tôi mất giọng trong các chiến dịch tranh cử. Việc này xảy ra trước khi có những nghiên cứu y tế về việc hút thuốc có thể dẫn đến ung thư phổi và cổ họng. Kỳ lạ hơn, sau đó tôi trở nên dị ứng với thuốc lá.

Việc uống bia nhiều khiến tôi có “bụng bia” và nó đã được chụp trong những bức ảnh trên báo chí. Tôi đã bắt đầu chơi golf nhiều hơn để giữ thân hình, nhưng sau đó phải chuyển sang việc chạy bộ và đi bơi, những hoạt động này tốn ít thời gian hơn để đạt được cùng khối lượng luyện tập thể dục. Hiện tại, tôi đi bộ trên máy tập 3 lần mỗi ngày: 12 phút buổi sáng, 15 phút sau giờ trưa và 15 phút sau buổi tối. Trước buổi tối, tôi từng bơi 20 đến 25 phút. Nếu không có nó, tôi không thể có được sức khỏe tốt như hiện nay. Đó là một quy tắc.

Tôi tiếp tục có hẹn gặp những người khác. Bạn phải gặp gỡ người khác vì bạn bắt buộc phải có quan hệ xã hội nếu như bạn muốn mở rộng quan điểm của mình. Bên cạnh người Singapore, tôi gặp cả người từ Malaysia, Indonesia và rất nhiều lần, người Trung Quốc, Châu Âu và người Mỹ. Tôi cố gắng không chỉ gặp những bạn cũ và các chính trị gia hàng đầu mà còn những người từ nhiều lĩnh vực khác nhau như các học giả, người kinh doanh, nhà báo và cả những người bình thường.

Tôi hạn chế nhiều những chuyến bay xa bởi vì hiện tượng chênh lệch múi giờ, đặc biệt là khi tôi đến thăm Mỹ. Cho đến năm 2012, tôi vẫn đến Nhật mỗi năm một lần để nói chuyện tại Hội thảo Tương lai Châu Á- hiện tại là lần thứ 19, được tổ chức bởi tập đoàn truyền thông Nhật Bản Nihon Keizai Shimbun (Nikkei). Có khoảng thời gian, tôi đến thăm Trung Quốc gần như mỗi năm một lần, mặc dù hiện tại tôi không thích đến Bắc Kinh vì sự ô nhiễm ở đấy. Nhưng các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) ở đó nên bạn vẫn phải đến đó để gặp họ. Hội đồng Quốc tế JP Morgan, nơi tôi là một thành viên, đã vinh danh tôi khi tổ chức cuộc gặp thường niên năm 2012 tại Singapore, và Hội đồng Cố vấn của hãng Total cũng vậy. Đi Pháp thì không có vấn đề gì. Mất 12 tiếng bay thẳng trên chiếc Airbus 380, tới đó rồi về. Nhưng đến Mỹ thì mệt mỏi hơn rất nhiều, đặc biệt là vì thay đổi múi giờ, từ ngày trở thành đêm và ngược lại. Đi ra nước ngoài giúp tôi mở mang tầm nhìn. Tôi thấy được cách thức những nước khác phát triển. Không một nước hay thành phố nào đứng yên, tôi đã chứng kiến London và Paris thay đổi, hết lần này qua lần khác.

Rời khỏi chính trường tức là tôi không còn được biết rõ như trước về những việc đang diễn ra và những áp lực phải thay đổi. Vì thế nhìn chung tôi đồng thuận theo quyết định của các bộ trưởng. Tôi hiếm khi bày tỏ những quan điểm trái ngược, ít ra là hiếm khi hơn so với khi tôi còn làm việc trong chính phủ và tham dự các cuộc họp nội các, điều giúp tôi có thể tham gia đầy đủ vào các cuộc tranh luận.

Thỉnh thoảng, khi tôi nhất quyết không đồng ý với việc gì đó, tôi bày tỏ quan điểm với Thủ tướng. Một ví dụ là khi chính phủ định giới thiệu lại các chương trình bằng tiếng địa phương Trung Quốc trên các kênh truyền hình miễn phí. Một ý kiến đã được đưa ra: “Hiện tại tiếng Quan thoại đã được thiết lập vững chắc trong người dân rồi, bây giờ chúng ta hãy quay lại tiếng địa phương để những người già có thể thưởng thức các phim truyền hình.” Tôi đã phản đối, chỉ ra rằng khi còn là thủ tướng, tôi đã phải trả một cái giá rất đắt để xóa bỏ các chương trình tiếng địa phương, để khuyến khích mọi người nói tiếng Quan thoại. Vì vậy tại sao giờ phải quay ngược lại? Tôi đã làm cả một thế hệ người gốc Hoa nổi giận, vì các chương trình tiếng địa phương yêu thích của họ đã bị cắt bỏ. Đã từng có một người kể chuyện rất hay tên là Lee Dai Sor trên kênh Rediffusion, và chúng tôi đã phải cắt bỏ chương trình này. Tại sao giờ tôi lại phải đồng ý để tiếng Quảng Đông và Phúc Kiến xâm nhập vào thế hệ tiếp theo? Nếu bạn để chúng quay lại, bạn sẽ thấy nhiều người lớn tuổi bắt đầu nói chuyện với con cháu bằng tiếng địa phương. Điều đó sẽ quay trở lại, chậm rãi nhưng chắc chắn.

Mỗi đất nước cần một thứ ngôn ngữ mà tất cả mọi người đều có thể hiểu được. Việc tích hợp bốn loại ngôn ngữ lại với nhau sau khi người Anh ra đi đã từng là một nhiệm vụ khó khăn của chúng ta. Những trường học của người Hoa, nơi mà phần lớn những học sinh gốc Hoa theo học, tự hào về ngôn ngữ của họ, đặc biệt sau khi có sự trỗi dậy của Trung Quốc Cộng sản năm 1949. Tôi phải đấu tranh rất nhiều để biến Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung cho tất cả các trường học và tiếng mẹ đẻ trở thành ngôn ngữ thứ hai. Những nhà sô-vanh ủng hộ tiếng Hoa đã chống lại chính sách này rất gay gắt. Những nhà báo và trường học của người Hoa muốn tăng số học sinh và độc giả của họ. Vì sự kiểm soát của tôi đối với người Hoa lúc đó chưa đủ, nên bộ trưởng báo chí của tôi lúc đó là Li Vei Chen đã phải kiểm soát khắt khe các tòa báo tiếng Hoa, các trường trung học tiếng Hoa cũng như trường Đại học Nanyang cùng nhân viên của họ để hạn chế và ngăn chặn biểu tình, đình công và lãn công.

Cuối cùng thì chính giá trị thị trường của nền giáo dục bằng tiếng Anh đã giải quyết được vấn đề. Vì thế, chúng ta có Singapore ngày nay, với việc tiếng Anh kết nối chúng ta với thế giới và thu hút những tập đoàn đa quốc gia, và tiếng mẹ đẻ được xem như là ngôn ngữ thứ hai, giúp chúng ta có sự gắn kết với Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Đó từng là một bước đột phá vượt bậc. Nếu người dân chọn con đường khác, Singapore đã bị đẩy lùi lại.

Vì những lý do tình cảm và thực tiễn trong giao thương với Trung Quốc, chúng ta cần tiếng Hoa như là ngôn ngữ thứ hai. Nhưng chúng ta chắc chắn không cần các tiếng địa phương. Việc đảo ngược quá trình gỡ bỏ tiếng địa phương ra khỏi các phương tiện truyền thông đại chúng – điều mà chúng ta đã phải mất rất nhiều thời gian, năng lượng và nguồn vốn chính trị đạt được – sẽ là một điều hết sức ngớ ngẩn.

***

      Cuộc sống tốt hơn là cái chết. Nhưng cái chết cuối cùng cũng đến với tất cả mọi người. Đó là thứ mà ở tuổi thanh xuân con người không nghĩ đến. Nhưng ở tuổi 89, tôi thấy lãng tránh vấn đề này là vô ích. Việc tôi quan tâm đó là: Tôi sẽ ra đi như thế nào? Sự kết thúc có đến nhanh chóng không, bằng một cơn đột quỵ ở một trong số các động mạch vành? Hay sẽ là một cơn đột quỵ trong não khiến tôi nằm liệt trên giường bệnh nhiều tháng, trong trạng thái bán hôn mê? Trong số 2 cách đó, tôi thích cách nhanh chóng hơn.

Một thời gian trước đây, tôi đã cho soạn một bản hướng dẫn điều trị y tế cao cấp. Bản hướng nói rằng nếu tôi phải được cho ăn bằng đường ống và không thể hồi phục và ngồi dậy, bác sỹ của tôi sẽ phải tháo ống tube và cho tôi ra đi sớm. Tôi đã để tờ hướng dẫn được ký bởi một người bạn làm luật sư và một bác sĩ.

Nếu bạn không kí một tờ hướng dẫn như vậy, người ta sẽ làm mọi việc có thể để ngăn chặn điều chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi đã chứng kiến điều này trong nhiều trường hợp khác. Anh rể của vợ tôi, Yong Nyuk Lin, phải đeo ống. Ông ấy ở nhà, và vợ ông ấy cũng nằm liệt giường, trong thân hình tàn tạ. Tâm trí ông ấy đã trở nên vô thức. Hiện tại ông ấy đã chết. Nhưng họ giữ ông ấy như thế trong một vài năm. Làm vậy để làm gì? Thường thì các bác sỹ và người thân của bệnh nhân tin rằng họ nên kéo dài cuộc sống, nhưng tôi thì không đồng ý. Mọi thứ đều đến lúc phải kết thúc và tôi muốn nó xảy ra với tôi càng nhanh và càng ít đau đớn càng tốt, chứ không phải để tôi nằm bất động bán hôn mê trên giường bệnh với một cái ống dịch chuyền thức ăn xuống dạ dày. Trong những trường hợp ấy, người ta chỉ còn là một cái xác mà thôi.

Tôi không thích tự gắn ý nghĩa cho cuộc sống – hoặc nghĩ ra những câu chuyện lớn lao về cuộc đời – mà chỉ tìm cách đo lường nó bằng những gì bạn nghĩ bạn muốn làm trong cuộc sống. Đối với tôi, tôi đã hoàn thành những việc tôi muốn làm, trong khả năng lớn nhất của tôi và tôi hài lòng với việc đó.

Những xã hội khác nhau có những quan điểm triết học khác nhau về cuộc sống hiện tại và kiếp sau. Nếu bạn đến nước Mỹ, bạn sẽ tìm thấy những người theo đạo Thiên chúa nhiệt thành, đặc biệt là trong nhóm người bảo thủ ở vùng Vành đai Kinh Thánh (Bible Belt) chiếm phần lớn miền Nam nước Mỹ. Ở Trung Quốc, mặc dù qua nhiều thập kỷ truyền bá chủ nghĩa Mác và tư tưởng Mao, việc thờ cúng tổ tiên và những phong tục tín ngưỡng khác dựa trên đạo Phật và Đạo Giáo vẫn còn phổ biến. Ở Ấn Độ, niềm tin vào kiếp luân hồi vẫn tồn tại rộng rãi.

Tôi không phải là người theo thuyết vô thần. Tôi không công nhận cũng không phủ nhận việc Chúa tồn tại. Vũ trụ được cho rằng sinh ra từ vụ nổ Big Bang. Nhưng những con người trên thế giới này đã phát triển hơn 20.000 năm qua, trở thành những sinh vật biết suy nghĩ, và có thể có cái nhìn vượt ra ngoài bản thân và khám phá về bản thân. Đó là kết quả của thuyết Tiến hóa Darwin hay đó là do Chúa? Tôi cũng không biết nữa. Do đó tôi không cười nhạo những người tin vào Chúa. Nhưng tôi không nhất thiết phải tin vào Chúa – hay phủ nhận rằng Chúa tồn tại.

Tôi đã có một người bạn rất thân, Hon Sui Sen, một tín đồ Công giáo La mã ngoan đạo. Khi ông ấy gần mất, các linh mục đã ở bên cạnh ông ấy. Ở tuổi 68, ông ấy khá trẻ để ra đi nhưng ông ấy hoàn toàn không tỏ ra sợ hãi. Là người Công giáo La mã, ông ấy tin rằng ông sẽ gặp lại vợ mình vào kiếp sau. Tôi ước rằng tôi cũng có thể gặp lại vợ mình ở kiếp sau nhưng tôi thực sự không tin vào điều đó. Tôi chỉ không còn tồn tại tương tự như bà ấy không còn tồn tại nữa – chứ nếu không thế giới bên kia sẽ bị quá tải dân số. Thiên đường có phải đủ rộng lớn và không có giới hạn để luôn đủ chỗ cho tất cả mọi người trên thế giới trong hàng ngàn năm qua không? Tôi rất nghi ngờ về điều đó. Nhưng Sui Sen đã tin vào điều đó và nó đã mang lại cho ông ấy sự bình yên nhất định trong tư tưởng khi ông ấy vượt qua những thời khắc cuối cùng bên cạnh các linh mục. Vợ ông ấy, người đã mất vào tháng 11 năm 2012, đã tin rằng họ sẽ gặp lại nhau lần nữa.

Những người xung quanh từng khuyên tôi, rằng tôi sớm muộn gì cũng như thế, đã không còn làm như vậy nữa bởi vì họ biết rằng điều đó vô ích. Vợ tôi có một người bạn thời đi học, cô ta rất sùng đạo và đã không ngừng cố gắng truyền đạo cho vợ tôi. Nhưng cuối cùng, vợ tôi đã tránh xa khỏi người bạn đó và nói rằng: “Thật vô lý. Mỗi lần gặp mặt cô ta đều muốn tôi trở thành một người theo đạo Thiên chúa.” Vợ tôi không tin vào kiếp sau, mặc dù đúng là sẽ thoải mái hơn nếu bạn tin vào kiếp sau dù nó không thực sự tồn tại.

Cứ mỗi ngày trôi qua tôi cảm thấy thể xác mình mất thêm năng lượng và ngày càng ít năng động hơn. Nếu bạn muốn tôi ra ngoài khi nắng nóng lúc hai giờ trưa để gặp gỡ người khác, bắt tay và ôm hôn các em bé, tôi sẽ không thể làm được nữa. Tôi có thể làm như vậy 20, 30 năm trước, nhưng giờ thì không thể. Bạn chấp nhận cuộc sống khi nó tới, với sự già đi của thể xác qua thời gian. Thỉnh thoảng người thư ký của tôi nhìn thấy tôi nghỉ ngơi trong phòng làm việc và hỏi tôi có cần hoãn cuộc gặp tiếp theo hay không. Tôi thỉnh thoảng vẫn nói: “Không, hãy để nó tiếp tục”. Tôi cần 15 phút chợp mắt để đầu óc sau đó có thể hoàn toàn tập trung được. Nhưng nếu tôi không thể, tôi sẽ nói rằng: “Được, hoãn lại đi. Để tôi ngủ một lát”. Bạn không thể dự đoán được cơ thể bạn sẽ trở nên như thế nào. Dù tôi có mạnh mẽ và kỉ luật tới đâu, tình trạng của tôi vẫn sẽ tiếp tục xuống dốc.

Cuối cùng, sự hài lòng lớn nhất của tôi đối với cuộc đời đến từ thực tế rằng tôi đã dành nhiều năm tập hợp sự hỗ trợ, ý chí để biến đất nước này thành một nơi nhân tài được trọng dụng, sạch bóng tham nhũng và bình đẳng cho mọi sắc tộc. Điều đó sẽ tiếp tục tồn tại sau khi tôi ra đi. Nó không giống như khi tôi mới nhậm chức. Chính phủ Lim Yew Hock lúc đó đã tham nhũng rồi. Những người Singapore trẻ tuổi có thể sẽ không biết đến cái tên Mak Pak Shee, một thành viên của chính phủ đó. Ông ấy là một người lai Ấn Độ và Quảng Đông với một bộ ria mép, và được gọi người “dàn xếp” – tức giúp hoàn thành các ưu đãi để đổi lấy một khoản phí.

Singapore như hiện tại là một địa chỉ sạch bóng tham nhũng trong một khu vực mà nạn tham nhũng rất phổ biến. Các thể chế đã được lập ra để giữ cho nó như vậy, ví dụ như văn phòng chống tham nhũng. Mọi người thăng tiến dựa trên năng lực của họ chứ không phải sắc tộc, ngôn ngữ hay tín ngưỡng của họ. Nếu chúng ta giữ vững được những thể chế này, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bộ. Đó là hi vọng lớn nhất của tôi.

Đây là phần cuối cùng trong cuốn One Man’s View of the World được Nghiencuuquocte.net biên dịch. Bản dịch các phần khác của cuốn sách có thể xem được tại ĐÂY.

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/03/23/ly-quang-dieu-viet-ve-nhung-ngay-cuoi-doi/#sthash.55vTXV8o.dpuf

Câu nói nổi tiếng nhất của Lý Quang Diệu:
 “Chỉ có những thằng ngu mới chống Mĩ”
(Phạm Nguyên Trường)

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu – nhà kiến thiết sự phú cường của Singapore đã qua đời

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2015

Cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu trong một lần xuất hiện vào tháng 3/2013. Ảnh: AFP

“Tôi không nói rằng mọi điều tôi làm đều đúng, nhưng tất cả đều vì mục đích cao quý”, thủ tướng Singapore đầu tiên Lý Quang Diệu nói về quãng đường hoạt động chính trị với những thành tựu thần kỳ nhưng cũng vấp phải đôi lời chỉ trích của mình.

Người phát biểu câu “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”, ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ Tướng Singapore đã qua đời ngày 23/3/2015, hưởng thọ 91 tuổi.

Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, ông Lý Quang Diệu đã nhìn đến Sài Gòn của Nam Việt Nam như một một thước đo để phát triển đảo quốc nhỏ bé của mình. Từ một vùng đất làng chài ít ai biết đến ông đã biến Singapore trở nên một cường quốc của Châu Á.

Ông Lý sinh năm 1923 và xuất thân từ một gia đình khá giả. Ông từng là học sinh hàng đầu tại Singapore, nhưng quãng thời gian sinh viên của ông bị trì hoãn vì Thế chiến II, khi đế quốc Nhật Bản chiến thắng khối Liên hiệp Anh và chiếm đóng Singapore, khi đó là thuộc địa của Anh, từ năm 1942 đến 1945. Sau chiến tranh, ông theo học trường Kinh tế London trước khi chuyển sang Đại học Cambridge, nơi ông tốt nghiệp với kết quả xuất sắc. Trong thời gian sống tại Anh, ông Lý nhận ra rằng Singapore cần phải được tự trị và về nước năm 1949.

Tháng 11/1954, ông Lý cùng với một nhóm trí thức trung lưu thành lập đảng Hành động Nhân dân (PAP). PAP chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử tổ chức tháng 5/1959 nhờ tranh thủ ủng hộ từ cộng đồng người Hoa chiếm đa số, đặc biệt là những người trong công đoàn và các tổ chức học sinh cấp tiến. Ông Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của Singapore.

Singapore năm 1963 sáp nhập với Malaysia nhưng tách khỏi nước này vào năm 1965, giữa những căng thẳng về chính trị và sắc tộc. Singapore sau đó trở thành cộng hòa độc lập và trở thành thành viên Liên Hợp Quốc. Ông Lý thôi giữ chức thủ tướng năm 1990 nhưng vẫn được coi là người có ảnh hưởng lớn đến chính quyền của Thủ tướng đương nhiệm Lý Hiển Long, con trai cả của ông. Ông Lý Quang Diệu rút khỏi nội các năm 2011, sau khi đảnh Hành động Nhân dân mà ông đồng sáng lập nhận được kết quả bầu cử tệ nhất trong 50 năm.

Kiến thiết Singapore

Thiếu thốn tài nguyên và nguồn cấp nước, khả năng phòng thủ rất hạn chế là những thách thức lớn mà ông Lý phải đối mặt sau khi đất nước giành được độc lập. Trong khi nỗ lực tạo lập và phát triển một quốc gia ổn định và thịnh vượng, chính quyền còn phải cảnh giác trước những xung đột có thể xảy ra trong một quốc gia đa sắc tộc. Dân cư Singapore chủ yếu là người gốc Hoa, Malaysia và Ấn Độ.

“Chúng tôi không có các yếu tố cơ bản làm nên một quốc gia”, ông Lý nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ International Herald Tribune năm 2006, “dân tộc đồng nhất, ngôn ngữ, văn hóa và vận mệnh chung, chúng tôi không có những điều đó”.

Ông Lý Quang Diệu chọn tiếng Anh là ngôn ngữ công sở và ngôn ngữ chung cho các chủng tộc khác nhau, trong khi vẫn công nhận tiếng Malaysia, tiếng Hoa và tiếng Tamil là ngôn ngữ chính thức. Hầu hết trường học sử dụng tiếng Anh, mặc dù tiếng mẹ đẻ vẫn được giảng dạy.

Trong thời gian cầm quyền, ông Lý tiến hành các chính sách đổi mới đô thị và xây dựng nhà ở công cộng mới, giao quyền hạn lớn hơn cho phụ nữ, cải cách giáo dục và công nghiệp hóa. Ông luôn chú trọng vào kinh tế và kết nối lĩnh vực này với các mặt khác của đất nước, bao gồm việc xây dựng hình ảnh quốc tế là một “Thành phố vườn”, điều được duy trì cho đến ngày nay.

Ông biến Singapore thành trung tâm vận tải và dịch vụ tài chính lớn với một trong những bến cảng tấp nập nhất thế giới. Theo Trung tâm Tăng trưởng và Phát triển Groningen, GDP đầu người của Singapore khi ông Lý lên nắm quyền năm 1959 là hơn 2.100 USD, và hơn 2.600 USD vào năm 1965, khi Singapore trở thành quốc gia độc lập. Con số này tăng lên hơn 14.200 USD vào năm 1990, khi ông rời ghế thủ tướng. Năm 2013, Singapore là nước có thu nhập đầu người đứng thứ ba thế giới. “Ông Lý Quang Diệu là người giúp thúc đẩy các phép màu kinh tế châu Á”, Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu tháng 10/2009.

Thông điệp chính của ông về động lực đằng sau sự thành công của Singapore rất đơn giản: “Chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia là yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của nước đó. Sự sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, làm việc theo nhóm, và đạo đức nghề nghiệp mang lại lợi thế lớn mạnh nhất trong cạnh tranh”.

Theo Financial Times, ông Lý rất cứng rắn trong đấu tranh chống tham nhũng. Ông trao quyền lực lớn hơn cho Cục Điều tra Tham nhũng (CPIB) để tiến hành bắt giữ, truy lùng, điều tra tài khoản ngân hàng và việc nộp thuế thu nhập của nghi phạm và gia đình họ. Singapore được đánh giá là một trong những quốc gia có tỷ lệ tham nhũng thấp nhất thế giới với hệ thống dịch vụ công trong sạch và hiệu quả.

Ông Lý Quang Diệu tin vào tính hiệu quả của đòn roi. Khi còn là thuộc địa của Anh, Singapore một vài lần sử dụng đòn roi để xử lý hành vi liên quan đến bạo lực cá nhân. Chính quyền ông Lý sau đó sử dụng biện pháp này để trừng trị một loạt tội danh. Đến năm 1993, Singapore ấn định bắt buộc xử lý 42 tội danh bằng đòn roi như nghiện hút và nhập cư trái phép và có thể sử dụng với 42 vi phạm khác. Singapore là một trong trong số ít các quốc gia trên thế giới dùng hình phạt đánh vào thân thể trong kỷ luật quân đội.

Chỉ trích

Tuy sống trong một quốc gia xanh, sạch, giàu có và ít tham nhũng, sự bất mãn vẫn tồn tại trong dân thường Singapore. Nhiều người không thể mua nổi nhà đất vì giá bất động sản quá cao. Khoảng cách giàu nghèo tại nước này ngày càng lớn.

Theo WSJ, các nhóm nhân quyền chỉ trích ông Lý kiểm soát quá chặt chẽ truyền thông trong nước và hạn chế tự do dân sự, thông qua các quy định nghiêm ngặt về phát ngôn và tụ tập ở nơi công cộng.

“Chúng tôi bị gọi là quốc gia ‘bảo mẫu'”, ông Lý Quang Diệu nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2000, ám chỉ đến việc người Singapore được dạy cách cư xử lịch sự, ít ồn ào, không nhai kẹo cao su và không vẽ tranh trên tường. “Nhưng kết quả là chúng ta cư xử tốt hơn và sống ở một nơi dễ chịu hơn 30 năm trước đây”, ông Lý nói.

Ông Lý cũng bị chỉ trích vì đã áp dụng những biện pháp cứng rắn với phe đối lập và sử dụng các luật lệ về tội phỉ báng để chống lại đối thủ chính trị. Năm 2010, ông cùng con trai, Thủ tướng Lý Hiển Long, kiện New York Times tội phỉ báng vì một bài viết liên quan đến gia đình ông của một nhà báo tự do. Tờ báo và tác giả sau đó phải trả tổng cộng khoảng 11.000 USD cho ông Lý.

Tuy nhiên, di sản ông Lý Quang Diệu để lại là điều không thể chối cãi. Năm 2010, ông được tạp chí Time bình chọn là một trong 100 người ảnh hưởng nhất thế giới. “Điều thể hiện một nhà lãnh đạo vĩ đại là đưa xã hội từ điểm xuất phát đến vị trí nước đó chưa từng thấy”, cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger viết trong lời giới thiệu ông Lý trên một tạp chí. “Không có nhà tư tưởng chiến lược nào giỏi hơn ông trong thế giới ngày nay”, Kissinger viết. Tổng thống Obama gọi là ông Lý là “huyền thoại của châu Á trong thế kỷ 20 và 21”.

Ông Lý Quang Diệu từng nói rằng khi ông qua đời, các bài viết về ông trên báo chí sẽ không thể là thước đó đánh giá những gì ông đã làm. Các học giả trong tương lai mới là những người sẽ nghiên cứu ông trong bối cảnh thời đại của họ.

“Tôi không nói rằng mọi điều tôi làm đều đúng”, ông Lý nói. “Tôi từng phải làm một số điều gây khó chịu như giam giữ người không qua xét xử. Nhưng tất cả mọi thứ tôi làm đều vì mục đích cao quý”.

Chiếc lá đã lìa cành, nhưng những câu chuyện về ông Lý Quang Diệu sẽ còn sống động thật lâu. Ông từng trích dẫn một câu tục ngữ Trung Quốc: đừng đánh giá một người trước khi người đó qua đời.

“Đóng nắp quan tài, sau đó hẵng quyết định”, ông nói.

 

——

Bài liên quan:

Lý Quang Diệu, tên Phản Động mất gốc

minhduc7.blogspot.com

 

Lãnh đạo VN bị ý thức hệ kìm hãm – Trần Hoàng Blog

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu: Nửa thế kỷ gắn bó với vận mạng Singapore

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2015

Lý Quang Diệu, tên đọc theo âm Hán-Việt của Lee Kuan Yew, là chính trị gia có vai trò đưa Singapore từ một tiền đồn chiến lược thuộc Anh ở Viễn Đông trong gần 200 năm, một xứ sở trong hàng các nước thế giới thứ ba, trở thành trung tâm tài chính thương mại quan trọng bậc nhất Á Châu và trên thế giới.

Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu

Trong hơn nửa thế kỷ từ khi Anh trao trả chủ quyền để Singapore trở nên nước cộng hòa độc lập, Lý Quang Diệu trực tiếp hay gián tiếp nắm giữ quyền lực trong suốt 55 năm. Lý Hiển Long, con trai lớn trong ba người con của ông, là cựu chuẩn tướng quân đội Singapore, bộ trưởng tài chính từ 2004 và Thủ Tướng từ 2011 cho đến nay. Mới đây, ở tuổi 92, với sức khỏe đã suy kém, ông Lý Quang Diệu lâm bệnh nặng và chưa biết còn sống được bao lâu nữa.

Thuộc thế hệ thế tư trong một gia đình di dân, ông cố nội từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, đến Singapore năm 1862, Lý Quang Diệu sinh tại Singapore ngày 16 tháng 9 năm 1923, ngôn ngữ chính từ nhỏ là tiếng Anh và hoàn toàn chịu ảnh hưởng văn hóa Anh. Tới năm 20 tuổi ông mới bắt đầu học tiếng Hoa và cùng lúc là tiếng Nhật khi thuộc địa Singapore của Anh bị Nhật chiếm đóng trong Thế Chiến II từ 1942 đến 1945.

Sau chiến tranh, Lý Quang Diệu qua Anh tiếp tục con đường học vấn, với một thời gian ngắn theo học trường Kinh Tế London rồi chuyển sang học luật tại Fitzwilliam College, đại học Cambridge. Năm 1949, ông trở về hành nghề luật sư trong một tổ hợp pháp lý ở Singapore cho tới 1954 cùng một nhóm bạn hữu có giáo dục Anh thành lập Đảng Hành Động Nhân Dân (People’s Action Party – PAP).

PAP là đảng của giai cấp tư sản với những đảng viên thuộc tầng lớp trung lưu, có khuynh hướng xã hội và liên minh với các công đoàn thiên cộng. Liên minh này, theo mô tả của ông Lý, là một cuộc hôn nhân vì lợi. Vào thời kỳ ấy, PAP là đảng của thiểu số 20% dân nói tiếng Anh, trong khi 70% dân chúng Singapore dùng tiếng Hoa và những thổ ngữ khác. PAP cần sự ủng hộ của đại chúng do những người cộng sản chiếm ưu thế và ngược lại đảng cộng sản cần có ban lãnh đạo PAP làm “màn khói” che chở hoạt động vì Đảng Cộng Sản Mã Lai là đảng bất hợp pháp.

Lúc đó Singapore và Malaya vẫn còn là thuộc địa Anh với một số quyền tự trị. Năm 1955, Lý Quang Diệu đắc cử đại biểu đơn vị Tangjong Pagar, và trở thành nhà lãnh đạo phe đối lập với chính phủ liên hiệp thân Anh của Mặt Trận Lao Động. Tanjong Pagar nằm giữa bến cảng và trung tâm thương mại Singapore là khu có nhiều di dân gốc Hoa hoạt động thương mại hay làm công nhân lao động. Qua thời gian biến đổi, ngày nay Tanjong Pagar trở nên khu du lịch quen biết với Koreatown và Little Korea ở Singapore.

Thời gian này, Lý Quang Diệu gặp nhiều khó khăn với các đối thủ bên ngoài và trong. Năm 1957, những phần tử thân cộng giành được các chức vụ lãnh đạo PAP và vị trí của Lý Quang Diệu bị đe dọa nặng nề. Nhưng may mắn cho ông và những phần tử trung dung, chính phủ Singapore do Lim Hew Hock lãnh đạo, cho lệnh bắt giữ tất cả các thành phần cộng sản và Lý Quang Diệu trở lại làm Tổng Thư Ký PAP.

Trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1959, PAP thắng 43 trong 51 ghế hội đồng đại biểu, một hình thức quốc hội của Singapore tự trị trong Liên Hiệp Anh. Lý Quang Diệu trở thành Thủ Tướng Singapore thay thế Lim Hew Hock.

Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 9 năm 1962 dân chúng Singapore và Malaya muốn chọn độc lập hoàn toàn, Anh Quốc trao trả chủ quyền cho hai lãnh thổ tự trị và Singapore gia nhập Liên Bang Malaysia từ 16 tháng 9 năm 1963.

Sự kết hợp này không lâu dài. Dân chúng Singapore, đa số gốc Hoa chống đối ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo Malaya. Những vụ xung đột chủng tộc / tôn giáo bùng nổ và bạo loạn xảy ra trong năm 1964 ở Singapore. Ngược lại chính quyền liên bang ở Kuala Lumpur lo ngại với thành phần đa số người Hoa ở Singapore cũng như những thách thức chính trị của PAP trong Malaya. Không tìm được phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng, Thủ Tướng Tunku Abdul Rahman quyết định trục xuất Singapore khỏi Liên Bang Malaysia.

Ngày 7 tháng 8 năm 1965, Lý Quang Diệu ký thỏa ước ly khai trong đó có phác họa mối quan hệ sau này với Malaysia để duy trì sự hợp tác trong những lãnh vực như thương mại và quốc phòng. Singapore trở thành nước cộng hòa độc lập, một đảo quốc nhỏ bé diện tích 700 km2 và dân số chưa tới 4 triệu khi ấy.

Lý Quang Diệu là người đã nỗ lực vận động gia nhập liên bang, viết trong bản thông báo gởi tới dân chúng: “Suốt cuộc đời tôi từ khi trưởng thành, tôi luôn luôn tin tưởng vào sự kết hợp và thống nhất hai vùng lãnh thổ.” Ông tuyên bố: “Kể từ nay Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia độc lập, dân chủ với đầy đủ chủ quyền, đặt trên nền tảng những nguyên lý của quyền tự do và công bằng, hầu mưu tìm phúc lợi và hạnh phúc cho nhân dân đang sinh sống trong một xã hội tối hảo, công bằng và bình đẳng.”

Thực tế sau này cho thấy ông không thực hiện đúng những cam kết và hứa hẹn ấy. Ông đã đưa nước Cộng Hòa nhỏ bé Singapore, thực tế chỉ là một thành phố, mau chóng trở nên “Con Hổ Châu Á, một trong những trung tâm thương mại lớn nhất, một trong 5 cảng bận rộn nhất và trung tâm tài chính quan trong hàng thứ tư trên thế giới. Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba thế giới, hệ thống giáo dục, y tế công cộng, tính minh bạch của chính quyền và khả năng cạnh tranh kinh tế đều đứng vào hạng cao quốc tế.

Nhưng bản thân Thủ Tướng Lý Quang Diệu, chính thức cầm quyền đến năm 1990, bị chỉ trích là một nhà lãnh đạo độc đoán, khống chế đối lập và không tôn trọng những nguyên tắc dân chủ, hạn chế nhân quyền và tự do ngôn luận. Nói cách khác, có thể coi ông thuộc loại “độc tài sáng suốt,” đem lại kết quả tốt đẹp cho người dân, nhưng không thể gọi là nhà lãnh đạo tiêu biểu trong một chế độ dân chủ tự do.

Quan niệm từ trước của ông Lý Quang Diệu, cho đến khi gia nhập Liên Bang Malaya, vẫn tin rằng Singapore không thể đứng đơn độc và kết hợp là yếu tố căn bản cho sư tồn vong. Singapore không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước, thiếu khả năng phòng thủ và tài nguyên duy nhất là con người cùng nỗ lực cần cù làm việc của dân chúng. Có thể ông đã bị đẩy tới hoàn cảnh ngoài ý muốn, nhưng ông đã dần dần tìm được giải pháp và biết khai thác đúng chỗ đúng lúc những điều kiện trong tầm tay để đi đến kết quả tốt đẹp.

Lý Quang Diệu đã ý thức đúng những nhu cầu của Singapore trong thời kỳ độc lập là an ninh quốc gia, phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội.

Ngay sau khi Singapore được làm hội viên Liên Hiệp Quốc, Lý Quang Diệu tìm cách mở rộng sự công nhận của quốc tế. Ông tuyên bố chính sách trung lập và đường lối không liên kết. Lực lượng vũ trang Singapore được tổ chức trong chừng mực tối thiểu cần thiết với sự vận động các quốc gia khác trợ giúp trong các lãnh vực trang bị, huấn luyện và tư vấn.

Singapore gia nhập Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967 và tìm cách phát triển quan hệ hữu nghị trước hết với Indonesia từng có những đối đầu trước kia, rồi tới các nước trong khu vực từ Malaysia, Việt Nam tới Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Hàn, Nhật Bản…

Tách rời khỏi Liên Bang Malaysia có nghĩa là Singapore mất thị trường chung và thị trường nội địa, đồng thời các căn cứ quân sự của Anh sẽ triệt thoái hoàn toàn và phá hủy năm 1975. Lý Quang Diệu đã vận động Anh để chuyển đổi các căn cứ và công xưởng quân sự dùng vào mục đích dân sự. Việc này giúp Singapore có điều kiện tiến dần vào con đường công nghiệp hóa. Chính phủ lập kế hoạch thu hút đầu tư nước ngoài, huấn luyện cho một lực lượng lao động lương thấp nhưng kỷ luật và tay nghề cao. Hệ thống hạ tầng cơ sở, phi trường, hải cảng, đường lộ, mạng lưới thông tin được phát triển cùng với nhiều kế hoạch kinh tế khác đã làm thay đổi hoàn toàn tình trạng Singapore. Thủ Tướng Lý Quang Diệu cũng có được nhiều phụ tá giỏi và những bộ trưởng tài năng như Goh Keng Swe và Hon Sui Sen, những người giúp nhiều cho việc hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp và những chương trình xã hội khác.

Qua 25 năm lãnh đạo một nước cộng hòa độc lập, ở chức vụ Thủ Tướng, và sau đó 14 năm ở cương vị Bộ Trưởng Cao Cấp, Lý Quang Diệu kiến tạo Singapore thành một đất nước hoàn toàn mới, một xã hội đứng ngang hàng các quốc gia văn minh tiên tiến trên thế giới. Singapore nổi tiếng là thành phố đẹp, sạch, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, hệ thống giao thông hiện đại.

Nhưng vị trí địa dư của Singapore vừa là thuận lợi cho sự phát triển vừa là điều kiện đưa tới nhiều khó khăn phức tạp như buôn lậu, ma túy, hải tặc. Thủ Tướng Lý Quang Diệu cũng nổi tiếng về việc cho áp dụng luật pháp khắt khe và đôi khi vượt nguyên tắc của các chế độ dân chủ như bãi bỏ bồi thẩm đoàn ở tòa án trong một số trường hợp xét xử.

Một số những chỉ trích cho rằng Lý Quang Diệu là người dành đặc quyền lãnh đạo đất nước cho giới thượng lưu ưu tú. Ông cũng bị chỉ trích về thủ đoạn đàn áp đối lập và ngăn chặn tự do ngôn luận theo đó ông dùng con đường khởi kiện đưa đối thủ hay người chống đối ra tòa cho đến khi họ phá sản hay tiêu tan sự nghiệp và như thế chẳng khác gì thủ tiêu các quyền con người được Liên Hiệp Quốc quy định.

Ông cũng bị tố cáo là có chủ trương gia đình trị. Đây là chuyện có thể tranh cãi lâu dài không dứt vì như ông giải thích, những người trong gia đình ông nếu có đạt tới chức vụ cao là do khả năng cá nhân và nỗ lực bản thân. Những tố cáo này căn cứ trên thực tế, con trai trưởng của ông làm Thủ Tướng từ 2011, và từng là Phó chủ tịch ủy ban quản trị đầu tư Singapore (ông là chủ tịch). Người con trái thứ cũng là một cựu chuẩn tướng, hiện làm chủ tịch – tổng giám đốc tập đoàn truyền thông xuyên Á Sing Tel., công ty được liệt kê là lớn nhất trên thị trường chứng khoán Singapore. Bà vợ của ông cũng có liên hệ đến những công ty tài chính quốc doanh nắm quyền kiểm soát nhiều công ty quan trọng như Singapore Airlines và Ngân Hàng DBS.

Dù có những tranh luận như thế, không ai có thể phủ nhận ông Lý Quang Diệu có vai trò của người lập quốc Singapore, đã có công đưa nước cộng hòa nhỏ bé này lên vị trí thượng đẳng trên thế giới, và toàn thể câu chuyện ấy là bài học đáng suy ngẫm cho nhiều nước khác ở Á Châu. (HC)

———

 

Lý Quang Diệu, tên Phản Động mất gốc

minhduc7.blogspot.com

 

Lãnh đạo VN bị ý thức hệ kìm hãm – Trần Hoàng Blog

 

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu qua đời ở tuổi 91

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2015

Lý Quang Diệu qua đời ở tuổi 91

22-3-2015

Trần Gia Hồng Ân

 

Lý Quang Diệu 1958

Lý Quang Diệu, người đã biến Singapore từ một cảng nhỏ thành một quốc gia giàu có trên thế giới. Ông làm thủ tướng Singapore 31 năm liên tục cho đến khi tự rút lui khỏi chính trường năm 1990, nhưng vẫn phục vụ cho chính phủ đến năm 2011, vừa qua đời vào lúc 3:18, thứ Hai, ngày 23 tháng Ba năm 2015, tại Bệnh viện Tổng quát Singapore.

Dân gọi ông là kiến trúc sư của nền thịnh vượng Singapore. Phương Tây gọi ông là một nhà lãnh đạo quốc gia với bàn tay sắt. Những đấu thủ chính trị của ông bị nghiền nát bởi hệ thống tòa án. Tự do ngôn luận dưới triều đại của ông cũng bị giới hạn nghiêm ngặt.

Ông sinh ngày 16 tháng Chín năm 1923, tại Singapore, thế hệ thứ ba trong một gia đình di cư từ Trung Quốc.

Ông tốt nghiệp nghành luật tại Đại học Cambridge, Anh, rồi trở thành luật sư. Năm 1954, ông thành lập Đảng Nhân dân Hành động (People’s Action Party) và lãnh đạo đảng này trong bốn thập kỷ liên tục sau đó.

Năm 1959, đảng của ông giành được quyền lãnh đạo Singapore, tách ra khỏi Malaysia, trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1965. Ông gọi thời gian này là khoảnh khắc của đớn đau, nhiều cuộc xung đột sắc tộc đã xảy ra, nhưng ông thề xây dựng một quốc gia dân chủ, đa sắc tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo.

Singapore chỉ là thành phố cảng không có một nguồn tài nguyên, nằm bên cạnh Malaysia khổng lồ. Ông đã tìm mọi cách đưa thành phố này vượt lên Malaysia về mọi mặt, khoa học, giáo dục, công nghệ, xã hội và quốc phòng.

Ông khôn ngoan chọn tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức khi lập quốc, mặc dù Trung Quốc đã làm mọi cách lôi kéo, mua chuộc để ông chọn tiếng Hoa. Ông thấy tiếng Hoa không thể giúp Singapore hội nhập nhanh vào cộng đồng công nghệ cao của thế giới.

Công việc đầu tiên ông bắt tay khi trở thành thủ tướng là một cuộc đầu tư lớn, toàn diện vào hệ thống giáo dục bằng Anh ngữ, loại bỏ tiếng Hoa ra khỏi hệ thống giáo dục chính.

Công việc tiếp theo là ông hướng tới Hoa Kỳ. Quả thực, trong suốt ba thập kỷ, đầu tư của Mỹ cùng với tiếng Anh, và sự lao động kiên cường của người dân Singapore đã biến thành phố cảng này thành một công xưởng lớn của thế giới. Giờ đây, Singapore là trung tâm lọc dầu, thương mại, và tài chính toàn cầu.

Ông Lý thắng liên tục trong bẩy kỳ bầu cử, và tự rút lui khỏi chính trường vào năm 1990. Singapore hôm nay, Đảng Nhân dân Hành động vẫn kiểm soát toàn bộ quốc hội. Những luật lệ hà khắc vẫn được áp dụng. Đảng đối lập hình như vẫn còn vô cùng yếu ở xứ sở này.

“Bất kỳ ai muốn lãnh đạo Singapore phải có một bàn tay sắt, nếu không thì nên đầu hàng”, “Tôi dành cả cuộc đời xây dựng lên hệ thống này, chừng nào tôi còn lãnh đạo, thì không ai có thể đánh đổ được”. Ông Lý từng pháp biểu như vậy. Xây dựng một quốc gia thành công với bàn tay sắt là di sản mà ông để lại cho Singapore. Giờ đây, con trai ông Lý Hiển Long tiếp bước lãnh đạo đảo quốc này cùng phương pháp.

Năm 2014, Singapore đứng thứ 153/180 quốc gia trong bảng xếp hạng tự do báo chí của Tổ chức Phóng viên không Biên giới. Những quốc gia phương Tây vẫn phàn nàn ông đã áp dụng những hình phạt hà khắc lên đảo quốc này, và không khuyến khích hình thành đối lập.

© Trần Gia Hồng Ân
© Đàn Chim Việt

 

Lý Quang Diệu, tên Phản Động mất gốc

minhduc7.blogspot.com

 

Lãnh đạo VN bị ý thức hệ kìm hãm – Trần Hoàng Blog

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Cơ quan nhà nước viết thư chúc tết doanh nghiệp kèm theo một danh sách đề nghị phải mừng tuổi 35 cán bộ của cơ quan này!

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2015

Doanh nghiệp bị xin cả tiền mừng tuổi

19-3-2015

Vietnamnet

Ngày Tết vừa rồi, có chị giám đốc nhận được thư chúc mừng năm mới của một cơ quan quản lý nhà nước, nhưng kèm trong đó là danh sách 35 cán bộ cần mừng tuổi. Công chức nhũng nhiễu doanh nghiệp như vậy là cản trở cải cách thể chế.

Gọi điện vòi vĩnh

Tại hội thảo “Nâng cao năng lực cạnh tranh: Doanh nghiệp chung tay trong cải cách thể chế” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI cùng USAID tổ chức sáng nay, nhiều chuyên gia kinh tế đã dẫn những câu chuyện về nỗi khổ bị vòi vĩnh của doanh nghiệp.

TS Lê Đăng Doanh kể: “Mới đây, một chị giám đốc chủ 2 khách sạn ở Hà Nội đã cho tôi xem thư chúc mừng năm mới của một cơ quan quản lý nhà nước, mà tôi không tiện nêu tên. Đáng nói ở đây là kèm theo thư, còn có một danh sách đề nghị phải mừng tuổi 35 cán bộ của cơ quan này“.

cải cách thể chế, VCCI,  Lê Đăng Doanh
TS Lê Đăng Doanh. Ảnh: Dân Việt

“Đến mùa hè, công ty chị giám đốc lại nhận được những đề nghị như tài trợ cho cơ quan quản lý nhà nước tổ chức cho cán bộ đi nghỉ mát. Có trường hợp thì nhận được yêu cầu doanh nghiệp đóng góp cho tỉnh tổ chức một đoàn đi khảo sát nước ngoài, ông Doanh kể tiếp.

Và ông nhấn mạnh: “Đó là tham nhũng”.

TS Doanh dẫn chứng thêm: “Tôi đi một tỉnh, chứng kiến cảnh chủ tịch huyện mời khách đi ăn tối. Ăn gần xong, có mấy doanh nghiệp được gọi đến, họ ngơ ngác không hiểu chuyện gì. Ông chủ tịch nói, đến phần này, các cậu giải quyết đi (trả tiền ăn)”.

“Trong cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh thì cần nhấn mạnh vai trò của chính quyền địa phương. Đặc biệt, phải có quy định nghiêm cấm công chức đòi hỏi doanh nghiệp ‘cõng’ chi phí thêm”, ông Doanh nói.

“Giờ đã đến lúc phải nhìn thẳng sự thật đó, trung thực với mình để điều chỉnh. Nếu không, nỗ lực cải cách thể chế của chúng ta sẽ đụng đến các giới hạn, không tiến tới được”, TS Doanh lo ngại.

Nối tiếp nỗi bức xúc của TS Doanh, TS Lưu Bích Hồ nói: “Cũng cần phải thương cả doanh nghiệp nhà nước nữa. Tôi đã nghe tổng giám đốc một doanh nghiệp rất lớn than phiền, có ngày, có thể nhận được hàng chục cuộc điện thoại vòi vĩnh…”.

“Trong cải cách thể chế, sự chung tay giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước rất quan trọng. Kinh nghiệm từ xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cho thấy, tỉnh thành nào nỗ lực, quyết liệt đều có thay đổi về thứ hạng. Chỉ cần buông ra là tụt xuống”, TS Hồ nhận định.

 

Ông là một trong nhiều chuyên gia kinh tế vừa tham dự chuỗi hội thảo 4 ngày liên tiếp tuần qua tại Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ, bàn chi tiết từng chỉ số trong báo cáo cải thiện môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới.

Ông cho biết, những điều tra so sánh của Ngân hàng Thế giới rất hay, nhưng mức độ chính xác rất tương đối. Ở Việt Nam, nhiều yếu tố khi điều tra không thể đưa vào, như chi phí bôi trơn hay những thủ tục lằng nhằng, chạy chọt không tính được mà chỉ có thể dựa vào lời các doanh nghiệp chính thống.

“VCCI nên cử cán bộ tham gia mỗi cuộc điều tra về cải thiện môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới, vì nhiều vấn đề chỉ ta mới hiểu, các chuyên gia nước ngoài không thể hiểu được. Trong khi đó, khi tiến tới ASEAN-6, ASEAN-4, có những con số đo lường cải thiện rất quan trọng”, ông Hồ đề nghị.

Doanh nghiệp quyết định

Nghị quyết 19 ban hành năm 2014 đã đạt được nhiều kết quả lớn, thậm chí là “không tưởng” so với những e ngại ban đầu của chính các cơ quan chuyên ngành.

Xét theo ở lĩnh vực cụ thể, Việt Nam đã giảm được tới gần 400 giờ nộp thuế, giảm thời gian cấp điện cho doanh nghiệp từ 115 ngày còn 18 ngày, thủ tục hải quan đã áp dụng cơ chế thông quan điện tử, một cửa quốc gia, kết nối 3 bộ thành lập cơ sở dữ liệu chung…

Theo ông Trần Hữu Huỳnh, chuyên gia cao cấp của VCCI, sau đợt tổng rà soát lớn nhất ý kiến doanh nghiệp đối với 16 luật liên quan kinh tế, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi hầu hết 16 luật này. Trong đó, 60-70% kiến nghị của doanh nghiệp đã được thực thi.

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI dự kiến sẽ trình Quốc hội 6 tháng có thể trình một luật sửa nhiều luật, tương tự như luật sửa đổi và điều liên quan đến thuế được thông qua năm 2014.

Ông tổng kết, luật Cạnh tranh và các luật chuyên ngành khác cũng phải được rà soát, sửa đổi. “Cục Quản lý cạnh tranh nên là cơ quan độc lập, không thể trực thuộc Bộ Công Thương, vì cộng đồng doanh nghiệp rất lớn, Bộ lại quản lý nhiều doanh nghiệp có quy mô độc quyền. Nếu như vậy, phán xử của một cục thuộc Bộ như vậy sẽ không thể khách quan”, ông Lộc nêu.

Với nghị quyết 19 mới vừa ban hành ngày 12/3, một khối lượng đồ sộ các yêu cầu cải cách thể chế kinh tế được đặt ra là một thách thức lớn, nhằm hướng tới mục tiêu Việt Nam ngang với ASEAN- 4.

Như ông Lê Minh Thông, Phó chủ nhiệm UB Pháp luật của Quốc hội khẳng định, triết lý làm luật của Quốc hội khoá 13 là tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, nhanh nhất để công dân, doanh nghiệp thực hiện được nguyên tắc là tự do kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm. Cải cách thể chế không phải chỉ ở việc xây dựng và ban hành văn bản mà còn ở chỗ thực hiện như thế nào. Trong đó, chính cộng đồng doanh nhân là người quyết định số phận của các thể chế Nhà nước ban hành.

Phạm Huyền

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Nguyễn Tấn Dũng bị Thủ tướng Úc nói vào mặt về sự lãnh đạo kinh tế kém cõi, và tham nhũng mà không dám trả lời đành cười trừ!

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2015

Nguyễn Tấn Dũng bị Thủ tướng Úc nói cho vào mặt không dám trả lời đành cười trừ!

 
Ngoc Nhi Nguyen (Danlambao) – Trong cuộc họp báo với Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 18 tháng 03 tại thủ đô Canberra vừa qua, Thủ tướng Úc là ông Tony Abbott thông báo cho ông Dũng biết rằng trong tương lai, Úc sẽ cắt giảm viện trợ cho các nước trong khu vực Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, và sẽ giảm tới 11 tỷ. Được biết trong quý 2014 – 2015, Úc đã viện trợ cho Việt Nam số tiền là 140 triệu đô la. 
Ông Abbott nói thẳng vào mặt ông Dũng: “Viện trợ là để giúp cho nước ông (và các nước còn nghèo khác) có thêm điều kiện để cải tổ và xây dựng kinh tế vững mạnh, để nước đó có thể phát triển đến mức tự lo cho dân của mình được, chứ không phải để nước đó tạo thành thói quen ăn bám” (Nhục chưa hả ông Dũng?)
Ông Abbott còn nói “Hai nước Úc và Việt Nam đều đã có hòa bình trong suốt 40 năm qua, đó là điều kiện để dễ dàng phát triển kinh tế. Nhất là dưới sự lãnh đạo tài tình của ông Dũng đây thì Việt Nam phải phát triển thật tốt” (Móc họng ông đó ông Dũng, đầu óc y tá rừng của ông có hiểu nổi không? Người ta chửi xéo ông lãnh đạo kiểu gì mà 40 năm hòa bình rồi mà đất nước vẫn đói nghèo phải đi ăn xin hoài vậy?) 
Cuối cùng ông Abbott bồi thêm 1 câu “Đương nhiên điều quan trọng nhất là ông phải lo cải tổ kinh tế trong nước sao cho ổn định, chứ kinh tế trong nước không ổn định được thì ra ngoài thế giới rất khó làm người bạn tốt hay làm láng giềng tốt.” (Hiểu ông Abbott nói gì không hả ông thủ tướng cộng sản? Ông ta nói ông mà để cho tham nhũng hối lộ lan tràn, khiến cho kinh tế VN ngày càng lụn bại và vô tổ chức, thì thế giới không ai thèm chơi với các ông đâu! Phải lo mà bài trừ tệ nạn tham nhũng đi, bao gồm bản thân ông và gia đình ông đầu tiên đó ông Dũng ạ!) 
Sau khi nghe ông Abbott nói thẳng như vậy, và được hỏi có cảm tưởng gì, thì ông Dũng không dám trả lời mà đành cười gượng gạo, rồi lảng qua chuyện khác. 
Tại sao ông Dũng không dám trả lời?
-Thứ nhất là vì tuy nghe qua thông dịch viên, nhưng đầu óc bã đậu của tay y tá rừng xài bằng luật giả này chưa chắc đã hiểu ông Abbott nói gì!
-Thứ 2 quan chức Việt Nam, bao gồm lãnh đạo cao cấp, ra nước ngoài chỉ biết cầm giấy do ban Tuyên Giáo soạn sẵn mà đọc, có tên nào dám mở miệng cho ý kiến riêng?
-Thứ 3 là sợ trả lời lại bị hỏi tiếp, bị moi ra các vấn đề tham nhũng, bị hỏi tài sản của ông có bao nhiêu thì chết! Vì vậy làm thân thủ tướng 1 nước mà bị hỏi 1 câu cũng không dám trả lời! Thật là nhục nhã!!
Tờ báo The Guardian của Úc đã đăng tải các thông tin trên. Ngoài ra phần còn lại bài báo đưa tin và hình ảnh đồng bào Úc châu biểu tình đả đảo Nguyễn Tấn Dũng và chế độ cộng sản, tố cáo những vi phạm nhân quyền và hành vi bán nước cho Trung Cộng của nhà cầm quyền Việt Nam.
Bài báo còn nhắc đến bản tường trình về Nhân Quyền của ông Heiner Bielefeldt, báo cáo viên đặc nhiệm của Liên Hiệp Quốc, sau khi đi thị sát ở Việt Nam đã nhận định rằng tình trạng nhân quyền tại đây hiện nay còn rất tồi tệ! 
Đi ăn xin nước người mà 1 mặt bị đồng hương ở hải ngoại tố cáo, đả đảo, 1 mặt bị người ta nói như mắng thế, có nhục không hả ông thủ tướng CSVN? 
——-
Ý kiến của một số bạn đọc trên mạng:
* Người dân VN tị nạn cộng sản sau 1975 chỉ cần được Úc giúp có mấy trăm đồng 1 tháng, và chỉ trong một năm là họ đã thích ứng với cuộc sống mới, họ tìm kiếm việc làm và tự túc làm ăn sinh sống mà không nhờ cậy sự giúp đỡ của các chương trình xã hội của chính phủ Úc nữa. Sau một thời gian đi làm việc, người VN định cư tại Úc mua nhà và còn dư tiền gởi về VN, giúp 90 tr dân, và nuôi hơn 40 năm nay. Còn nhà cầm quyền Hà Nội và đảng CSVN, suốt 40 nằm nay,  năm nào cũng đi ra thế giới ăn xin, viếng thăm đủ các nước để mượn tiền, xin tiền…
Ông Thủ tướng Úc nói thẳng vào mặt Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh, Đinh La Thanh, và hàng trăm cán bộ đảng CSVN rằng: dân chúng úc chỉ giúp kẻ nghèo, chứ không giúp kẻ ngu dốt cầm quyền tham nhũng lợi dụng nhân dân nước mình, mà đi ăn xin khắp cả thế giới 40 năm nay.
* “Đương nhiên điều quan trọng nhất là ông phải lo cải tổ kinh tế trong nước sao cho ổn định, chứ kinh tế trong nước không ổn định được thì ra ngoài thế giới rất khó làm người bạn tốt hay làm láng giềng tốt.” (“Look, obviously it’s important for all countries to ensure that their own domestic economic house is in order, because if you don’t have your domestic economic house in order, it’s very difficult to be a good friend and neighbour abroad,” Abbott said). Sau đó, 3 Dũng nói với phóng viên Thông Tấn Xã VN : “Rõ ràng là ngài thủ tướng Úc To-ny Áp-Bột khen kinh tế VN rất ổn định nên mới nhận ta làm bạn tốt, láng giềng tốt nên mới mời tôi sang đây đó chớ, dễ gi” (!?)..
* Những tấm ảnh ghi hình đồng bào phản đối thủ tướng Việt cộng, ảnh ông ta chui lòn cửa sau, cổng hậu, có rừng cờ vàng, không thể nào thấy được trên hơn 700 tờ báo các loại và trên truyền hình ở VN, cho thấy “tự do ngôn luận” hay sự “trung thực” của truyền thông ở VN như thế nào! Mọi quan chức, cán bộ, đảng viên cộng sản mặt họ dày hơn mặt thớt.
* Xấu hổ và nhục nhã cho dân VN khi đất nước bị cai trí bởi những tên CS ngu dốt và tham lam như NTD. Làm Thủ tướng hơn 10 năm rồi mà khi đọc diễn văn phải cầm giấy soạn sẵn và đọc như con vẹt. Nhà cầm quyền Hà nội đại diện cho 1 nước qua viếng thăm Úc mà từ trên xuống dưới, không có thằng CS nào nói được một câu tiếng Anh xã giao.

Chúng cứ đưa nhau đi xin xỏ hết nước này đến nước khác, không biết nhục. Lãnh đạo tự xưng là sáng suốt, là đỉnh cao trí tuệ của loài người, mà không soạn thảo kế hoạch làm ăn cho dân chúng trong nước, đến nổi dân chúng nghèo mạt, hơn 800.000 người phải ra “lao động xuất khẩu” tức đi nô lệ lao động, còn đàn bà thì quá nghèo và tuyệt vọng không có lối thoát, họ đành phải hy sinh đời mình và đau đớn chấp nhận lấy chồng nước ngoài dù tàn tật, thiểu năng trí tuệ,…thậm chí còn có nhiều người phụ nữ còn phải cởi truồng cho những thằng Hàn, thằng Tàu lựa làm vợ.

* Đài Truyền hình Pháp chế diễu TT Nguyễn tấn Dũng cho là “Mister Bean” (tên Hề số 1 Anh quốc). Mời xem chi tiết:

http://www.vietcatholic.net/News/Html/116379.htm

*  Đây là thảm cảnh của những người dân sống dưới chế độ cộng sản VN, sống dưới sự lãnh đạo của các đỉnh cao của trí tuệ của loài người, các nhà lãnh đạo sáng suốt cai trị…nay, sau 30-40 năm làm việc, đi làm việc cả đời, và khi về hưu thì như vậy:
1-. Hàng triệu người sẽ không có lương hưu
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-…
2-. Sẽ có hàng triệu lao động về hưu không có lương!
http://dantri.com.vn/xa-hoi/se…
3-. Hàng triệu người nghỉ hưu sẽ không có lương
http://motthegioi.vn/tai-chinh…

 

Posted in Kinh Te, Thời Sự | 1 Comment »

►Chuyện bi hài trong thời gian làm luật sư – (Lê Công Định)

Posted by hoangtran204 trên 20/03/2015

Luật sư Lê Công Định

Từ nay, nhớ lại một vài chuyện bi hài trong thời gian làm luật sư trước đây của mình, tôi sẽ kể lại để quý bạn biết thêm về hệ thống tư pháp và cảnh trần ai của nghề luật sư tại Việt Nam.

Hồi mới hành nghề, còn trong giai đoạn tập sự, có lần tôi được tòa án chỉ định làm luật sư biện hộ trong một vụ án trộm tài sản do Tòa tối cao thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm vì bị cáo kháng án. Thông thường, đối với bị cáo không thuê luật sư riêng, mà theo luật cần phải có sự hiện diện của luật sư trong một số trường hợp cụ thể, tòa sẽ yêu cầu Đoàn luật sư phân công một luật sư tham gia biện hộ.

Ngày xử luôn được lên lịch từ trước, nhưng phần vì biếng nhác, phần vì thói quen xem thường quyền được biện hộ của bị cáo xuất phát từ quan niệm “án tại hồ sơ”, nên thư ký tòa luôn để cận thời gian xét xử độ hai hoặc ba ngày mới gửi thông báo đến Đòan luật sư. Đó là vào khoảng giữa thập niên 90.

Dù thời gian gấp, tôi vẫn đọc hồ sơ và chuẩn bị luận cứ biện hộ cẩn trọng, do thói quen nghề nghiệp, kể cả khi làm luật sư chỉ định không nhận tiền thù lao. Để hiểu rõ các tình tiết vụ án, tôi xin gặp bị cáo, nhưng lần đó bị từ chối khéo bởi lý do buồn cười, rằng bào chữa chỉ định thì gặp bị cáo làm gì, mất công tòa và trại giam làm thủ tục giấy tờ, vả lại thời gian không còn đủ. Tôi đành chờ đến ngày xét xử, định vào sớm hơn giờ dự tính khai mạc phiên tòa để gặp bị cáo trao đổi trước.

Giờ khai mạc vụ án dự định là 8 giờ sáng. Tôi đã có mặt từ lúc 7 giờ tại phòng xử của Tòa tối cao, nhưng ngồi chờ hoài vẫn không thấy bên công an dẫn giải bị cáo đến, mà cũng chẳng thấy tòa thông báo khai mạc phiên xử. Mãi đến gần 10 giờ sáng, viên thư ký tòa mới bước vào, yêu cầu mọi người đứng dậy chào hội đồng xét xử. Sau tiếng chuông vang lên, các vị thẩm phán và hội thẩm trịnh trọng đi vào phòng xử từ cánh cửa phía sau.

Tôi thở phào, vì nghĩ dù sao tòa cũng đã bắt đầu sau nhiều giờ chờ đợi kéo dài. Tôi nhìn ra cửa với hy vọng trông thấy bị cáo, nhưng không thấy ai. Chưa kịp định thần, bà thẩm phán chủ tọa mỉm nụ cười tươi như hoa, phân trần với tôi: “Tòa xin lỗi luật sư, hôm nay không xét xử được, vì bên trại giam thông báo không thể trích xuất bị cáo do tìm không thấy bị cáo từ sáng sớm!” Tôi ngỡ ngàng, không tin vào tai mình, hỏi lại: “Bị cáo còn trong giai đoạn chờ xét xử thì phải ở trại giam chứ ở đâu khác ạ?” Bà thẩm phán cười ngượng, “điều này chúng tôi không rõ, nhưng phía trại giam vừa cho biết như vậy. Mong luật sư thông cảm!”

Miễn cưỡng bước ra khỏi phòng xử, tôi mang theo nỗi bâng khuâng và câu hỏi tận đến hôm nay, rằng người đang bị giam mà không ở trại giam thì ở đâu hả trời (?). Phải chi sự vắng mặt là vì một lý do nào khác, như bị cáo bệnh tật nên được chuyển sang khu bệnh xá hay đã trốn trại chẳng hạn, đằng này chính bà thẩm phán đã nói rất rõ “tìm không thấy bị cáo” (!).

Sau này, có dịp gặp bà thẩm phán ấy bên ngoài tòa, tôi nhắc lại chuyện này và hỏi phải chăng bị cáo đã trốn trại vào sáng hôm đó. Bà mỉm cười ý nhị, lắc đầu, trả lời ngắn: “Tại anh chưa biết thôi, không phải lúc nào tìm người không ra là do trốn trại cả.” Tôi vẫn chưa hiểu nổi và mong đây chỉ là trường hợp hy hữu. Chán mớ đời!

Posted in Luật Pháp | Leave a Comment »

►Giá dầu đang xuống thấp, Nga và Việt Nam chết điếng

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2015

Các bạn ghé qua trang thegioinguoiviet.net đọc thêm tin tức thời sự về kinh tế tài chánh…

Dưới đây là một đoạn trích từ các bình luận ngắn của Dr. Tran…

Dầu chỉ còn $42.63

http://www.marketwatch.com/investing/future/CLJ5Trong tuần này có thể xuống dưới $40.Cũng do USD tăng giá mạnh trên toàn thế giới.

Nga, Việt Cộng, teo giò.

USD tại VN cũng tăng giá theo.

$42.43 Change -1.45 -3.30%
Volume 325,669 Mar 17, 2015, 5:14 p.m.CP Mỹ quyết tâm đánh gục Nga, khối Ả rập, nên bật đèn xanh cho phe shale oil.

Giảm thuế, bớt các tiêu chỉ khắc khe về môi trường, Mỹ oánh đòn này quá hay, quá độc.

(mới có chiếc xe lửa chở shale oil bị cháy bên West Virginia nhưng chẳng thấy báo nào đăng, v.v…)

KT Mỹ nhờ vậy khá lên, do dân chúng có thêm tiền mua hàng.

Các tiệm xăng nay bán bia, thuốc lá, cao hẳn lên vì người ta thay vì đổ đầy bình xăng $80, nay chỉ $45, còn dư $35 mua các thứ khác.

Mọi người đều có lợi, nhưng Nga, VC nay đang khóc tiếng Miên.”

Nga và VC không biết làm kinh tế. Chúng chỉ giỏi bán tài nguyên dầu hỏa kiếm sống. Khi giá dầu lên cao trên $100 / 1 thùng dầu thô,  thì kinh tế của chúng tạm ổn. Nay, giá dầu thô chỉ còn $42 / 1 thùng dầu thô, chúng đang khóc tiếng Miên!
Trong mấy chục năm qua, Tập Đoàn Dầu Khí PVN đóng góp cho ngân sách hàng năm của VN là 40%. 4 tháng qua, giá dầu ngày càng xuống thấp so với các năm trước, PVN khóc ròng vì tiền bán dầu nay chỉ còn 42% so với năm ngoái và các năm trước đây.
Nguyễn Tấn Dũng qua Úc mượn tiền ngày 17 và 18/3/2015, còn Nguyễn Phú Trọng và Trần Đại Quang đang thu xếp qua Mỹ để xin Mỹ bảo kê, nói giùm một tiếng để VN mượn tiền của Ngân Hàng Thế Giới (W.B.) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (I.M.F.).

——

“Tới con TRÂU mà còn nhận ra anh em và không chọi nhau, cớ sao con NGƯỜI mà Bắc giết Nam, rồi sau đó tổ chức ăn mừng hơn 40 năm qua!


http://vitalk.vn/threads/chuyen-hi-h…nh-em.1836636/
http://laodong.com.vn/van-hoa/choi-t…hoi-304717.bld

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

►Đọc dự toán ngân sách 2014: Chi phí cho đảng cao hơn cho 2 đại học quốc gia!

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2015

Nguyễn Văn Tuấn

17-03-2015

Ở VN người đóng thuế (kể cả tôi) phải “cõng” đến 3 hệ thống quan quyền: Nhà nước, Quốc hội, và đảng. Câu hỏi đặt ra là tình hình ngân sách dành cho 3 bộ máy này ra sao. Trên trang nhà của Bộ Tài chính có công bố “Dự toán chi ngân sách trung ương của từng bộ, cơ quan trung ương” cho năm 2014 (1,2).

Báo cáo này có khá nhiều số liệu rất thú vị và có thể trả lời một phần cho câu hỏi trên. Ở đây, tôi chỉ đọc vài số liệu quan trọng để trước là làm tư liệu, sau là chia sẻ thông tin. (Có vài thông tin vì cách dùng chữ mù mờ, nên tôi để dấu hỏi).

Điều ngạc nhiên chi tiêu cho văn phòng trung ương đảng là cao nhất trong 4 văn phòng (Chính phủ, Chủ tịch Nước, Quốc hội, đảng). Số liệu năm 2014 cho thấy văn phòng (VP) trung ương đảng CSVN có dự toán (?) là 1973 tỉ đồng (tương đương 98.6 triệu USD). Con số này cao gấp 10 lần dự toán cho VP Chủ tịch Nước (chỉ 195.9 tỉ đồng). Sau VP đảng, hai cơ quan cũng “ngốn” khá nhiều tiền là VP Chính phủ (1290 tỉ đồng) và VP Quốc hội. Có thể xem Biểu đồ 1 để thấy sự khác biệt giữa các văn phòng.H1Một số bộ / ngành cũng ngốn khá nhiều tiền là:

Viện kiểm sát: 3004 tỉ đồng

Toà án tối cao: 2850.3 tỉ

Bộ Ngoại giao: 2459.4 tỉ

Bộ Giao thông vận tải: 11912.1 tỉ

Bộ Y tế: 7682.6 tỉ

Bộ Giáo dục & đào tạo: 5905 tỉ

Bộ Thương binh xã hội: 34,174.3 tỉ.

Biểu đồ 2 phân tích chi tiết chi tiêu của VP đảng CSVN. Có một số ban tôi không rõ là gì nên viết y như báo cáo. Trong các ban trực thuộc trung ương đảng, có 3 ban ngốn nhiều tiền nhất: Cục quản trị A (186.9 tỉ đồng), Cục QTTV (~112 tỉ đồng), và Ban Tuyên giáo (109.4 tỉ đồng). Ngạc nhiên là nhật báo Nhân Dân thậm chí có ngân sách còn cao hơn cả Ban Nội chính! Hội đồng lí luận (?) cũng ngốn tiền ngân sách gần 31 tỉ đồng năm 2014!

H1

Hai đại học quốc gia HCM và HN cũng có ngân sách từ Chính phủ. Theo báo cáo 2014, ĐHQGHCM có dự toán là 833 tỉ đồng, cao hơn chút so với ĐHQGHN (709 tỉ đồng). Nhưng đó là tổng chi, trong đó chi thường xuyên thì ĐHQGHN (548 tỉ đồng) cao hơn ĐHQGHCM (400 tỉ đồng). Trong khi đó chỉ riêng Viện KHCN mà ngốn 877 tỉ đồng, cao hơn Viện KHXH (397.6 tỉ đồng).

Như vậy, dự toán cho VP trung ương đảng cao hơn cả 2 đại học quốc gia cộng lại!

====

(1) http://datafile.chinhphu.vn/files/dlt/2013/12/07.pdf

(2) http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549?p_folder_id=2201669&p_recurrent_news_id=154659037

Posted in Giao Duc, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Số phận những người trên tàu Thương Tín sau 40 năm–Hạm trưởng bất đắc dĩ trong ngày di tản

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2015

Chúng ta học khôn từ kinh nghiệm hay các câu chuyện được kể lại từ những người đi trước…

Số phận những người trên tàu Thương Tín sau 40 năm

Thứ Ba, ngày 17 tháng 3 năm 2015

RFA

Chiếc tàu mang tên Việt Nam Thương Tín chở hơn 600 người di tản vào ngày 30/4/1975 và đã quay lại VN với số lượng người hơn gấp đôi so với lúc ra đi 6 tháng sau đó. Số phận của những người trở về này ra sao sau 40 năm?
Trong số các chiếc tàu rời cảng Sài Gòn chở người di tản trong những giây phút cuối cùng của cuộc chiến tranh VN thì tàu Việt Nam Thương Tín luôn được nhắc đến trong suốt 40 năm qua bởi vì đây là chiếc tàu độc nhất quay trở về.
Thương thuyền Việt Nam Thương Tín có trọng tải hơn 6 ngàn tấn với hơn 600 người bắt đầu cuộc hành trình vào ngày 30/4/1975. Khi tàu chạy được 7 hải lý trên sông Lòng Tảo đến khu vực rừng Sát thì bị trúng 3 viên đạn pháo B40 gây thiệt mạng cho Nhà văn Chu Tử và 1 cháu bé. Mặc dù con tàu bị hư hại nhưng cuối cùng vẫn cập bến Apra, đảo Guam an toàn.
Trong thời gian con tàu Thương Tín có mặt ở đảo Guam, một số những người Việt tạm cư ở đây lên tiếng muốn trở về VN với lý do gia đình cùng người thân còn ở VN và còn vì các nguyên nhân khác. Nhiều người tuyệt thực biểu tình yêu cầu nguyện vọng của họ được chính phủ Hoa Kỳ đáp ứng. Mặc dù có rất nhiều lời khuyên can ngăn không nên trở về vì sẽ gặp nhiều rủi ro với chính phủ mới do Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền nhưng cuối cùng khoảng 1600 người, trong đó hơn 100 người đã định cư ở vùng Bắc Mỹ đến Guam để hồi hương. Chính phủ Hoa Kỳ chọn chiếc tàu Việt Nam Thương Tín và chỉ định Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ lái chiếc tàu này trở về VN.
Trao đổi qua điện thoại với Hòa Ái, ông Trần Đình Trụ chia sẻ đến đảo Guam một mình vì khi rời VN trong chuyến công vụ trên chiến hạm hải quân nên ông quyết định trở về dù đã tiên liệu được phải trả một cái giá nào đó, có thể là tù đày vài ba năm do ông phục vụ trong Quân lực VNCH nhưng vẫn có cơ hội cho một cuộc sống về sau cùng với những người thân.
Cựu Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ cho biết con tàu Việt Nam Thương Tín được trang bị đầy đủ xăng dầu, thực phẩm không những cho cuộc hải trình trở về VN mà còn đủ cho thời gian con tàu quay đầu trở lại đảo Guam nếu những người trên tàu thay đổi quyết định.
Không gặp trở ngại nào như lúc rời VN vào ngày 30/4, con tàu Việt Nam Thương Tín sau 2 tuần đã về đến Vũng Tàu an toàn. Thế nhưng số phận của khoảng 1600 người trên tàu, kể cả phụ nữ và trẻ em lại không được an toàn như vậy. Tất cả họ bị đưa vào trại giam. Ông Trần Đình Trụ kể lại:
 
“Tâm trạng con người ta khi mất tất cả, đất nước mất; gia đình, vợ con, sự nghiệp, nhà cửa, tất cả mất hết thì tôi không tha thiết gì cuộc sống bên Mỹ. Thành ra tôi quyết định về, dù chết cũng về. Về tới VN thì đương nhiên công an đưa tôi vào trại giam liền. Thực ra tôi về vì gia đình tôi còn ở VN nhưng những người Cộng sản nghi ngờ tôi từ bên Mỹ về thì Mỹ giao cho tôi công tác nào đó. Họ nghi ngờ như vậy cho nên họ điều tra về vấn đề này. Sau đó, họ điều tra rất nhiều, rất lâu, mấy tháng liên tiếp ngày nào cũng gọi tôi lên. Sau cùng họ chẳng tìm ra được nguyên nhân gì cả, chỉ vì lý do gia đình thôi. Sau đó họ đưa tôi vào những trại giam ở miền Trung và miền Bắc. Tôi ở 13 năm. Lúc tôi được về thì tương đối cũng không gặp trở ngại gì cả nhưng mọi hoạt động của tôi vẫn có người theo dõi”.
Trường hợp tiếp mà chúng tôi ghi nhận được cũng từ trên chiếc tàu Thương Tín trở về và bị nói làm việc cho CIA là của ông Trần Đẹt. Ông này người gốc Khmer, hiện ở Sóc Trăng.
Là cận vệ của Chỉ huy trưởng Chi Cảnh sát Quận Mỹ Xuyên, Tỉnh Ba Xuyên, Đại tá Lê Trường Xuân vào thời điểm 30/4/75, Trung sĩ Trần Đẹt được lệnh đi theo người chỉ huy của mình xuống tàu Việt Nam Thương Tín để chuyển vùng chứ không hề biết là đi di tản ra khỏi VN. Quyết định trở về VN với hy vọng gặp lại vợ và 4 người con nhưng ông Trần Đẹt bị bắt giam ngay sau khi con tàu cập cảng ở Nha Trang vào ngày 15/10/75. Ông Trần Đẹt phải chịu gần 5 năm tù ở trại A20 Phú Khánh vì “Họ nói mấy anh chạy đi nước nào thì còn khoan hồng chứ đi Mỹ trở về thì toàn là CIA cài lại”.
Rồi số phận của nhiều người trong số 1600 người trên con tàu Việt Nam Thương Tín cũng lần lượt được trở về đoàn tụ cùng gia đình, ông Trần Đẹt thì khoảng gần 5 năm, ông Trần Đình Trụ mất 13 năm trường. Và một lần nữa, nhiều người trong số họ lại rời VN ra đi đến Hoa Kỳ định cư trong những năm đầu thập niên 90. Ông Trần Đình Trụ cùng gia đình đến Mỹ năm 1991.
Tuy nhiên cũng vẫn có nhiều trường hợp không may mắn như gia đình ông Trần Đình Trụ. Gia đình ông Trần Đẹt bị kẹt lại VN vì tờ khai hộ khẩu có vấn đề. Ngày-tháng-năm ông Trần Đẹt trình diện công an địa phương hồi cuối năm 1980 không được ghi trong tờ khai hộ khẩu của gia đình nên khi đi phỏng vấn thì trong tờ khai hộ khẩu chỉ có năm 1977 khi gia đình của ông được cấp hộ khẩu mới mà thôi nên đối chiếu với thời gian ghi trên giấy ra trại cải tạo không phù hợp. Ông Trần Đẹt nhớ lại:
 
“Bị trục trặc giấy cải tạo với tờ khai hộ khẩu. Hồi tôi nộp hồ sơ thì tờ khai hộ khẩu là C4, không có ghi ngày tháng mình nhập khẩu. Tới khi đổi tờ khai hộ khẩu mới thì tên tôi bị (công an địa phương) ghi nhập khẩu năm 1977 nên khi đi phỏng vấn không kiểm tra được. Như thế này, mời phỏng vấn là 10/10/1995. Giấy phỏng vấn ghi mùng 10 nhưng (bưu điện chuyển) về tới tay tôi là mùng 9 thì thu sếp hồ sơ không kịp. Lên phỏng vấn thì bị sai hồ sơ hộ khẩu với giấy cải tạo. Tôi khiếu nại thì họ kêu bổ túc hồ sơ. Tôi lên Sài Gòn bổ túc hồ sơ mấy lần mà không được. Phái đoàn Mỹ chất vấn giấy cải tạo với tờ khai hộ khẩu không khớp với nhau. Họ căn cứ theo tờ khai hộ khẩu còn giấy cải tạo thì bị nghi là giấy cải tạo giả.”
Gia đình ông Trần Đẹt nhờ 1 người quen cùng xóm biết tiếng Anh giúp làm đơn khiếu nại gửi đến Lãnh Sự quán ở Thái Lan. Sau đó, gia đình nhận được thông báo hồ sơ được lưu trong vòng 5 năm đến năm 2000 ở Lãnh Sự quán TP.HCM cho việc khiếu nại nhưng vì nghèo khó nên gia đình đành phải bỏ cuộc. Và công an địa phương lập biên bản thu hồi hết 6 hộ chiếu của gia đình.
Hiện ông Trần Đẹt, 68 tuổi, với vóc dáng 44 kg, làm công việc bốc vác gạo và chở gạo thuê ở chợ, kiếm được khoảng 50 đến 60 ngàn đồng, tương đương gần 3 đô la cho cuộc sống mưu sinh hàng ngày.
Kể từ ngày đặt chân lên con tàu Việt Nam Thương Tín đến nay đã gần tròn 40 năm, nay ông Trần Đình Trụ hài lòng với cuộc sống ở Hoa Kỳ nhưng vẫn mong một ngày trở về khi VN thật sự có tự do-dân chủ.
Còn ông Trần Đẹt dù phải an phận với cuộc sống gian nan nơi quê nhà nhưng luôn hy vọng có được một cuộc sống mới bên kia bờ Thái Bình Dương. Ở tuổi gần đất xa trời, cả ông Trần Đình Trụ và ông Trần Đẹt đều mong đợi ước vọng của họ thành sự trước khi nhắm mắt xuôi tay.
Nguồn RFA
Bấm vào link dưới đây để nghe cuộc phỏng vấn >>>

————-

Hạm trưởng bất đắc dĩ trong ngày di tản

18-3-2015

Hòa Ái, phóng viên RFA

rong số khoảng ba mươi mấy ngàn người Việt di tản trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975, cựu Đại tá Hải quân Bùi Cửu Viên và gia đình lên tàu trong chiều tối 29/4. Tại tư gia của ông Bùi Cửu Viên ở thành phố Gaithersburg, bang Maryland, Hoa Kỳ, Hòa Ái có cuộc trao đổi với ông về câu chuyện 40 năm trước ông buộc phải trở thành một hạm trưởng bất đắc dĩ.

Hòa Ái: Xin chào cựu Đại tá Hải quân Bùi Cửu Viên. Trong ngày di tản đó, theo Hòa Ái biết là ông cùng với gia đình chỉ đi di tản thôi chứ không phải làm công vụ gì trong ngày hôm đó, nhưng vì sao ông lại trở thành một hạm trưởng bất đắc dĩ?

Ông Bùi Cửu Viên: Tôi rất vui mừng khi hôm nay có dịp được nói chuyện với phóng viên của đài RFA về ngày di tản của gia đình tôi trong ngày 29/4.  Chiều ngày 29/4, tất cả gia đình tôi đã xuống một chiếc chiến hạm trong Hải quân Công xưởng mà chiến hạm đó đang trong tình trạng sửa chữa. Do đó, nó chỉ có một máy có thể chạy được thôi. Chúng tôi bắt đầu khởi hành lúc khoảng 8:30 tối và khi tàu ra tới Nhà Bè thì các cơ khí viên của chiến hạm đã sửa tiếp được cái máy số 2. Do đó, từ lúc đó chúng tôi đã có 2 máy để chạy ra biển.

Khi chiếc tàu của chúng tôi đang đi  tới ngã 4 sông Lòng Tảo (Lòng Tàu) và Soài Rạp thì chiếc Soái hạm Trần Hưng Đạo 01 bị nạn. Nó đánh đèn và gọi vô tuyến điện kêu cứu. Lúc bấy giờ, tôi đang mơ màng vì mệt quá rồi, ngồi trên sân cờ cùng các sĩ quan nữa,  thì tôi thấy ông Hạm trưởng, anh Thiếu tá Nguyễn Phú Bá ở trên đài chỉ huy chạy xuống hỏi tôi “’Commandant’, mình có cứu nó được không?” Tôi bảo “Nếu anh muốn thì quay lại, tôi có thể cứu nó được. Thế bây giờ tàu mình đang ở đâu?” Anh nói với tôi là “Mình đã đi quá nó 1 hải lý rưỡi rồi”.

Trong đầu tôi nghĩ bây giờ mình không có quyền hành gì cả, chỉ là sĩ quan thâm niên quá giang nhưng có lẽ ông đến hỏi mình vì ông nghĩ rằng mình đã lãnh loại tàu giống như tàu mình đang đi ở bên Mỹ rồi và mình sẽ có nhiều kinh nghiệm, may ra mình có thể cứu được nó. Và đúng như vậy, tôi đã lãnh một chiếc tàu HQ 501 cũng cùng một loại như chiếc tàu tôi đang đi, tức chiếc HQ 801 và tôi đã chỉ huy chiếc đó 2 năm ở Việt Nam sau khi tôi lãnh ở bên Mỹ về.

Có một vài người lên tiếng nói với tôi là “Bây giờ đã 12:30 sáng rồi. Nếu quay lại cứu thì buổi sáng mình ra tới Vũng Tàu thì có thể bị địch ở trên núi bắn xuống, rất là nguy hiểm cho mấy ngàn người trên tàu”. Thế tôi mới trả lời là “Bây giờ việc cứu chiến hạm mới quan trọng. Người ta gặp nạn là mình phải cứu”. Do đó, anh Hạm trưởng đồng ý quay tàu lại và anh giao tay lái lại cho tôi và bảo “Thôi, Đại tá lái đi!”

Khi đến đấy tôi thấy mũi tàu cắm ngay vào bờ. Bây giờ làm sao để có thể kéo chiếc tàu này ra được? Nếu bây giờ mình mon men đến gần đó, nước quận, tàu mình có thể bị dạt sang tàu kia thì sẽ làm tàu kia chìm mà nguy hiểm tính mạng mấy ngàn người. Do đó, tôi quyết định ủi bãi. Khi tôi đưa con tàu ra phía sau của chiếc Trần Hưng Đạo 01 đó và tôi đã ủi bãi song song với chiếc Trần Hưng Đạo. Khi đã ủi bãi xong rồi, tôi ra lệnh cho nhân viên ném dây sang bên đó; ném dây mũi, dây lái và các dây giữa vào khoảng độ 7-8 sợi dây.

Sau khi hai bên đã cột chắc rồi thì tôi kéo chiếc tàu ấy ra giữa sông. Khi vừa mới kéo ra được một quãng thì có bao nhiêu người trên chiếc tàu Soái hạm HQ 01 đã nhảy sang bên tàu của tôi. Tôi thấy rất là nguy hiểm, đã có vài trăm người nhảy sang trong vòng 5 phút đồng hồ. Do đó, tôi ra lệnh cho các thủy thủ bắn súng chỉ thiên để cấm nhảy nữa vì khi tàu ra tới giữa sông thì thế nào hai tàu cũng dang ra và người ta sẽ rớt xuống sông.

Khi kéo được chiếc tàu ra rồi, tôi sờ tay lên trán thì thấy mồ hôi đầy trên trán tại vì quá sức gay cấn, vì tôi nghĩ nếu trường hợp đó không thành công và nếu hai tàu va đụng vào nhau trong đêm tối như vậy thì sẽ nguy hiểm tính mạng của bao nhiêu người. Khi tàu Trần Hưng Đạo ra được khoảng giữa sông thì họ bắt đầu chạy theo tàu của tôi cho đến khi ra tới biển và cũng không gặp trở ngại gì, không có bị địch trên núi bắn xuống tuy lúc bấy giờ trời đã sáng.

Khi ra gần tới Phan Thiết,  chiếc chiến hạm tôi đang đi nhận được lệnh của ông Tư lệnh Hải quân, ông ra lệnh cho tất cả các chiến hạm phải tập trung tại Côn Sơn để chuẩn bị đi Subic Bay. Khi Hạm trưởng Nguyễn Phú Bá của chiếc 801 tức là chiếc tàu tôi đang đi quá giang nghe tin như vậy thì gia đình ông hạm trưởng không muốn đi và đòi ông hạm trưởng phải lái tàu trở về Sài Gòn. Tôi có nói với ông Hạm trưởng là “Bây giờ nếu như muốn về Sài Gòn thì có mấy ngàn người ở trên tàu này sẽ mắc kẹt và để tôi can thiệp với ông Tư lệnh Hải quân”.

Family-picture-001-400.jpg
Gia đình ông Bùi Cửu Viên tại Maryland, Hoa Kỳ. Hình do gia đình cung cấp

Sau đó, tôi nói chuyện vô tuyến với vị Tư lệnh Hải quân thì ông nói là đang cho chiếc tàu dầu đến đón những người muốn trở về Sài Gòn vì có gia đình kẹt lại ở đó. Sau đó, ông nói với tôi là “Thôi, ‘Toi’ lái chiếc tàu đó đi, ‘Toi’ làm Hạm trưởng đi!”. Thế là tự nhiên lúc đó tôi bất đắc dĩ lại biến thành một hạm trưởng mà thật sự ra tôi đã rời chiến hạm, loại tàu giống như vậy từ năm 1964,  tức là đã 11 năm tôi không làm hạm trưởng dù tôi vẫn giữ chức vụ chỉ huy ở trên bờ. Và bây giờ sau khi trở lại làm hạm trưởng thì tôi nghĩ đúng là cái duyên của mình đối với Hải quân, cho đến phút chót cũng phải sống với con tàu.

Hòa Ái: Dạ thưa, từ khi nhận được lệnh trở thành hạm trưởng bất đắc dĩ như vậy cho đến khi ông cùng cả gia đình đặt chân đến đảo Guam an toàn thì trong cuộc hải trình đó, kỷ niệm nào mà ông nhớ nhất?

Ông Bùi Cửu Viên: Trong thời gian tôi làm hạm trưởng bất đắc dĩ trong 5 ngày từ lúc đi ở Côn Sơn sang đến Subic Bay thì tôi lan man nghĩ tới tại sao cuộc đời quân ngũ của mình chỉ có đến đây đã chấm dứt mà lúc bấy giờ tôi cũng hiểu là thời thế đã đem đến bất hạnh cho không biết bao nhiêu người. Tôi rất buồn, buồn là vì từ nay trở đi mình không còn là người sĩ quan Hải quân nữa và mình không có cơ hội phục vụ đất nước nữa.

Khi tàu đến bến ở Subic Bay thì chúng tôi được lệnh tất cả phải cởi bỏ hết quân phục và chuẩn bị để trao tàu lại cho Hải quân Mỹ.  Trong lúc đó chúng tôi làm lễ chào cờ thì tôi hạ cờ VNCH và người Mỹ họ kéo cờ Mỹ của họ lên. Lúc đó có rất nhiều người cảm động muốn khóc. Lúc bấy giờ trong lòng tôi rất xúc động. Tôi không biết kể từ nay cuộc đời mình sẽ trôi nổi ra làm sao…Và khi tôi bỏ chiếc nón với cặp lon xuống dưới sàn tàu thì tôi nghĩ là từ nay mình có cuộc đời khác hẳn. Các sĩ quan cũng như các thủy thủ đến bên cạnh tôi, các anh em ôm lấy nhau cũng chỉ muốn khóc.

Hòa Ái: Dạ thưa ông, 40 năm qua rồi, cuộc sống của ông cũng như của gia đình theo Hòa Ái biết thì mọi sự cũng được viên mãn. Đôi khi thỉnh thoảng nhớ về cuộc đời quân ngũ thì có câu chuyện hay cảm xúc nào làm ông nhớ đến hay không?

Ông Bùi Cửu Viên: Tôi có rất nhiều kỷ niệm trong cuộc đời quân ngũ của tôi trong 21 năm trường ở Hải Quân nhưng mà nói tới những kỷ niệm mới nhất gần đây thì tôi có thể nói một cái câu chuyện rất là lạ:

Tôi có một người bạn mới đây về chơi ở VN thì anh có quen một người làm ở trên chiếc tàu tôi đã lãnh ở bên Mỹ về, đó là chiếc HQ 501. Và vì anh quen người đó cũng hoạt động trên chiếc chiến hạm đó cho nên anh yêu cầu người đó cho xuống coi tàu. Khi anh xuống coi tàu thì anh thấy trong phòng hạm trưởng khắc tên của các hạm trưởng từ thời đầu cho đến bây giờ vẫn còn nguyên và anh thấy tên tôi vẫn ở trên cùng vì tôi là người lãnh chiếc tàu đó đầu tiên ở bên Mỹ năm 1962, lúc bấy giờ tôi chỉ là đại úy, và tự nhiên bao nhiêu kỷ niệm hiện về với tôi từ những lúc mà tôi lãnh tàu, trên đường tôi đi, bao nhiêu chặng đường tôi qua. Nếu nói về những kỷ niệm mới nhất thì đấy là kỷ niệm bây giờ chứ không phải của 40 năm về trước nữa.

Hòa Ái: Dạ thưa ông, Hòa Ái được biết ông bây giờ đã ngoài 80 tuổi rồi, trong khoảng thời gian ông phục vụ cho Quân lực VNCH thì việc gì hay điều gì ông cho rằng hài lòng trong thời gian đó?

Ông Bùi Cửu Viên: Trong thời gian phục vụ ở Hải quân VNCH thì tôi nhớ nhất lại là ngày chót mà tôi sẽ rời Hải quân. Đó là ngày tôi di tản trên chiếc HQ 801 và đã kéo được chiếc Soái hạm HQ 01 Trần Hưng Đạo ra khỏi mắc cạn và tôi có cảm tưởng tôi giúp được cho bao nhiêu người không bị kẹt lại và có thể gặp rất nhiều trở ngại, có thể bị tù tội. Tại vì đối với tư cách người sĩ quan Hải quân, chúng tôi vẫn nhớ là khi còn được huấn luyện ở trong quân trường, các vị sĩ quan huấn luyện người Pháp luôn luôn nhắc nhở chúng tôi là “Nếu người sĩ quan Hải quân gặp người bị lâm nạn trên biển cả mà không cứu thì các anh không xứng đáng là người sĩ quan Hải quân”. Tôi nghĩ đó là việc mà tôi rất hài lòng, vui sướng vì đã làm được việc như vậy. Thêm vào đó, tôi nghĩ rằng nếu hôm đó tôi mà không quyết định, tôi không dám làm chuyện đó thì có lẽ tôi sẽ ân hận suốt đời là vì cái chuyện mình có thể làm được mà mình không dám làm.

Hòa Ái: Vừa rồi là câu chuyện kể của cựu Đại tá Hải quân Bùi Cửu Viên về cái duyên ông trở thành hạm trưởng bất đắc dĩ trong ngày ông đi di tản 29/4/1975. Và điều lý  thú mà Hòa Ái phát hiện sau khi nghe câu chuyện kể này, là khi chiếc Dương vận hạm HQ 801 và chiếc Soái hạm Trần Hưng Đạo HQ 01 cập sát với nhau chỉ trong vòng 5 phút đồng hồ thì trong số khoảng 200 người nhảy qua, có ông Nguyễn Văn Khanh. Và nếu như cách đây 40 năm, ông Bùi Cửu Viên không có quyết định quay trở lại để cứu con tàu thì có lẽ bây giờ không có Giám đốc ban Việt ngữ Nguyễn Văn Khanh của đài Á Châu tự do. Hòa Ái xin cám ơn ông Bùi Cửu Viên đã dành thời gian chia sẻ câu chuyện kể của ông và Hòa Ái cũng xin cám ơn thời gian của quý vị theo dõi câu chuyện kể này.

Bấm vào link này để nghe phỏng vấn: RFA

*Danlambaovn là một blog có nhiều tin tức và bình luận rất xuất sắc. Bạn đọc tại Việt Nam bây giờ có thể vào Danlambao mà không bị tường lửa qua đường link: http://dlb1.global.ssl.fastly.net/

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Lệnh trục xuất và 10 giờ làm việc với an ninh

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2015

Lệnh trục xuất và 10 giờ làm việc với an ninh

17-3-2015

Tác giả Đỗ Trường - bên phải

Vậy là 9 năm tôi mới được trở về Việt Nam. Thời gian dài phải ngăn cách với quê hương ấy, nguyên nhân có lẽ bởi bài “ Không Cảm Thấy Tự Hào Khi Là Người Việt…“ của tôi, viết về thực trạng sĩ hão, tự sướng trong cộng đồng người Việt cùng một số nhược điểm của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức. Và từ đó, tôi không nhận được Visum nhập cảnh vào Việt Nam, dù đã có vài lần đệ đơn.

Mãi đến năm 2013, Lãnh sự quán Việt Nam ở Frankfurt/M cấp giấy miễn thị thực có giá trị 5 năm, một cách bất ngờ, khi tôi đặt đơn. Nhưng cảm hứng về nước lúc đó trong tôi không còn nữa. Gần đây do gia đình, bạn bè thúc giục, nên tôi đã đặt vé của hãng hàng không Vietnam Airlines theo lịch trình: Ngày mùng một Tết từ phi trường Frankfurt bay về Hà Nội vào sáng mùng hai Tết Ất Mùi 2015. Ngày 7-3-2015(dương lịch)từ Hà Nội bay vào Sài Gòn. Và ngày 12-3- 2015 từ Sài Gòn về thẳng Đức.

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Nội Bài vào 6 giờ 40 sáng mùng hai tết. Trời Hà Nội hửng nắng, sân bay vừa xây xong còn ngai ngái mùi vôi vữa. Tôi bước ra khỏi máy bay với tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Vui, bởi anh chị em tôi đang đứng chờ ngoài khung cửa kính kia. Buồn, bởi có thể tôi sẽ bị trục xuất ngay về Đức như một số trường hợp khác, dù đã có Visa nhập cảnh hay giấy miễn thị thực…
Và ngày tết, dường như nhân viên an ninh làm việc cũng nhanh gọn hơn. Hộ chiếu của tôi được rọi qua máy…chỉ một phút chờ đợi, người sỹ quan trẻ cộp con dấu nhập cảnh chắc nịch vào trang bên cạnh giấy miễn thị thực. Cầm lại cuốn hộ chiếu, bước chân tôi nhẹ như trên không, bởi đã nhìn thấy những cánh tay đang vẫy của các anh, các em và các cháu tôi đằng sau hàng rào chắn trước mặt.

Đường về nhà rút ngắn lại không hẳn vì ngày tết Hà Nội ít xe cộ và vắng lặng hơn, mà còn bởi nỗi mừng và những câu chuyện không đầu, không cuối nổ như ngô rang trên xe…

Hơn hai tuần trôi đi quá nhanh, những kỷ niệm đẹp với gia đình, bạn bè cũ, mới gieo vào lòng và dính chặt trong tâm khảm tôi. Tuy nhiên, từ sau ngày mùng 6 tết thỉnh thoảng lại có những cú điện thoại tự xưng với những cái tên lạ hoắc nhận là bạn bè tôi ở Đức gửi đến anh và em tôi. Công an hộ tịch nơi em tôi cư ngụ, nhắn tôi ra đăng ký tạm trú. Và lần cuối công an quận và thành phố mời anh tôi ra để trao đổi về tôi. Tôi muốn đi cùng, nhưng anh nói không cần thiết. Khi trở về, tôi hỏi, anh cười không tỏ vẻ bực bội: Không có vấn đề gì. Nhưng nhìn gương mặt anh, tôi nghĩ, anh cố kìm nén cảm xúc.

Thứ bảy ngày 7-3- 2015 gia đình và bạn bè tiễn tôi ra sân bay Nội Bài khá đông. 12 giờ tôi đến quầy Check vé và hành lý cho chuyến bay 13 giờ15 phút vào Sài Gòn. Khi cô nhân viên hãng hàng không kiểm tra đi kiểm tra lại vé và cầm hộ chiếu đi đâu đó một lúc, tôi đã có cảm giác chẳng lành. Nhưng sợ mọi người lo lắng, nên tôi im lặng. Ngay sau đó, tôi từ biệt mọi người để vào phòng chờ cách ly. Lúc này, trong phòng khá đông người chờ đi Huế và Đà Lạt. Loanh quanh một hồi, tôi đứng vào hàng chờ cửa số 9, khi nghe thông báo hành khách đi Sài Gòn ra máy bay từ cửa này. Khoảng chừng 12 giờ 30 phút, hành khách bắt đầu rục rịch lên máy bay. Tôi xốc lại túi đeo trên vai, định bước đi. Từ phía sau, hai công an vọt lên chặn lại và bảo: Mời anh đi theo chúng tôi có chút việc. Tôi hiểu, việc chẳng lành đã đến. Tuy trong lòng rất bực, nhưng tôi vẫn giữ được bình tĩnh:

-Các anh làm thế này, sẽ lỡ chuyến bay của tôi.

-Không mất nhiều thời gian của anh đâu.

Hai người công an dẫn tôi vào căn phòng phía sau cửa hàng ăn và bán đồ lưu niệm. Trong phòng có mấy người an ninh trẻ và một người mặc thường phục khó đoán tuổi. Bởi nhìn rất hom hem, lưng còng còng hình con tôm. Đầu tóc bơ phờ, da sần sùi nổi mụm. Dường như bộ quần áo không hợp với khổ người, làm chiếc đũng quần bò lùng phùng sau đít như con nít đang đeo tã vậy.

Vừa bước chân vào phòng, một trong hai người cảnh sát đề nghị tôi cho kiểm tra hộ chiếu và đưa điện thoại cho anh ta. Đưa cuốn hộ chiếu, còn điện thoại ở trong túi quần, tôi lấy ra, cầm trên tay. Bất ngờ, anh ta thò tay rút mạnh, lấy đi. Tôi giải thích, đây là tài sản và bí mật cá nhân và điện thoại này chỉ có thể sử dụng được ở Đức. Thật vậy, trong thời gian ở Hà Nội, tôi sử dụng điện thoại của anh tôi, trước khi vào phòng chờ, tôi đã đưa lại cho anh ấy. Anh ta bảo, em cũng không muốn như vậy, nhưng vì nhiệm vụ, mong anh “Nguyên“ thông cảm, hợp tác. Tôi hơi bị sững người bởi bị gọi nhầm tên:

-Tôi tên Trường, Đỗ Trường.

Anh ta xin lỗi và cầm cuốn hộ chiếu, điện thoại đưa cho người mặc thường phục.

Tôi nhìn thẳng vào người này, hỏi: Anh là ai? Bởi lúc đó tôi vẫn nghĩ, anh ta là người chỉ điểm, hay người bụi đời lang thang nào đó. Khi anh ta chìa cái thẻ đỏ và tự giới thiệu là Tuấn, tôi mới tin đó là công an. Và sau này, tôi mới biết Tuấn là trưởng ca trực hôm đó. Tôi hỏi Tuấn lý do và nhắc lại câu:

-Các anh làm thế này sẽ lỡ chuyến bay của tôi.

-Chúng tôi sẽ bố trí cho anh đi chuyến tới.

Và Tuấn nhấn mạnh: Chúng tôi giữ anh lại, bởi anh không đăng ký tạm trú. Anh có biết luật pháp Việt Nam, người nước ngoài nhập cảnh phải đăng ký tạm trú không? Tôi bảo không biết, hơn nữa tôi không ở một nơi cố định, khi ở nhà anh chị em, khi ở nhà bè bạn, hoặc về thăm quê. Vâng! Có thể đây là lỗi, nhưng tôi tin, nó không phải lý do chính các anh giữ tôi.
Tuấn không trả lời ngay, mà đưa cuốn hộ chiếu cho người công an đứng cạnh, bảo đi lấy lại hành lý của tôi. Rồi quay lại: Anh “Nguyên“ những bài viết của anh sâu sắc lắm. Anh cứ ở Hà Nội, rồi về thẳng Đức, có lẽ đỡ rắc rối cho chúng tôi và anh.

Lúc này, tôi không nghĩ Tuấn cũng nhầm tên tôi, mà sự nhầm lẫn này dường như có chủ đích. Có thể họ nghi tôi còn một bút danh khác tên Nguyên, hay họ đang đi tìm người tên Nguyên chăng? Tôi nhắc cho Tuấn biết, tên tôi là Đỗ Trường. Và tôi lại nhận được một lời xin lỗi từ Tuấn.

Như vậy, họ cố tình ngăn cản không cho tôi vào Sài Gòn, những truyện, bài viết phê bình của tôi mới là nguyên nhân họ giữ tôi lại. Tuy nhiên tôi vẫn bình tĩnh: Là người dốt về chính trị và cũng không thích chính trị, nên những bài viết của tôi chỉ là tư tưởng cũng như suy nghĩ cá nhân mà thôi.

Tuấn cười, đọc anh, tôi không nghĩ anh là người dốt chính trị. Và chúng tôi cũng biết gia đình dòng họ bên ngoại anh có nhiều người có công với đất nước, chế độ và đã nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và nhà nước. Tuy nhiên anh lại có những suy nghĩ rất khác…

Đang diễn thuyết, chuông điện thoại chợt reo, Tuấn bước ra ngoài nói chuyện. Cùng lúc, người công an trẻ đã đẩy xe hành lý của tôi về. Lúc sau, Tuấn quay lại cùng ba người công an và bảo tôi:

– Chúng ta chuyển sang khu T2 để làm việc.

-Như vậy, buộc tôi phải chuyển, phải không anh Tuấn?

-Mong anh hết sức thông cảm, lệnh của cấp trên, tôi cũng không muốn như vậy.

Theo tôi là bốn nhân viên an ninh đi xuống tầng dưới để ra ô tô chạy sang khu T2. Hành lý của tôi đã được cho lên thùng, tôi ngồi giữa hai người an ninh ở hàng ghế dưới. Tuấn lùi lại, đi xe sau. Xe đến khu T2, khi bước vào thang máy, tôi hỏi người an ninh trẻ đẩy xe hành lý: Tại sao lại đưa tôi lên đây? Anh ta bảo, có lẽ tối nay, anh bị trục xuất về Đức. Rồi anh ta kể: Hôm mùng hai tết, trước giờ máy bay hạ cánh 4 tiếng, bọn em đã biết anh về, từ hãng hàng không. Dù trong diện còn cấm, nhưng xét thấy đã lâu anh không về, hơn nữa là ngày tết, do vậy để cho anh nhập cảnh. Nếu anh đừng đi Sài Gòn, có lẽ điều rắc rối này không xảy ra.

Tôi được đưa vào căn phòng hình như dưới tầng hầm. Phòng khá rộng, trong cùng có một công an mặc thường phục đang ngồi làm việc. Từ giữa phòng có chiếc bàn dài nối liền đến bức tường bên trái. Xung quanh lẩn quất khá nhiều máy móc, đồ đạc. Nhìn vào ta có thể nghĩ ngay, đó là nơi thẩm vấn hay hỏi cung của cơ quan công quyền. Góc đối diện với cửa ra vào, kê một bộ sofa nhỏ. Để hành lý vào phòng, mấy người an ninh bảo tôi nghỉ ngơi, tý nữa quay lại dẫn đi ăn.

Ngồi xuống sofa, mùi sơn tường hôi nồng làm tôi hơi khó thở. Khi tôi hỏi người cảnh sát có thể mở cửa phòng ra không. Lúc này, anh ta mới ngẩng mặt lên. Một thanh niên còn rất trẻ. Anh ta bảo, khu này do Nhật vừa xây xong, do vậy chỗ nào cũng nặng mùi sơn, mùi hóa chất cả. Tuy vậy, anh ta vẫn đứng dậy mở hé cửa ra vào và đưa cho tôi chai nước, bảo: Chú uống đi cho đỡ khô cổ. Trong câu chuyện, tôi biết bố anh ta ít tuổi hơn tôi và đang làm thợ nấu ăn (Chefkoch) cho một nhà hàng ở München(CHLB Đức) cách nhà tôi chừng 400 km. Không biết do tính nghiệp vụ hay do còn trẻ, anh ta nói chuyện và có những câu hỏi khá (hồn nhiên?) ngây ngô về nước Đức cũng như cuộc sống. Khi tôi cho biết mức lương (khoảng chừng) của người thợ nấu ăn (như bố anh ta) ở thành phố München, làm anh ta giật mình: Bố cháu lương cao thế mà chẳng bao giờ nói với cháu. Lần này, dứt khoát cháu phải xin tiền bố để mua ô tô…

Chừng nửa giờ sau, Tuấn cùng mấy người đến bảo tôi đi ăn. Tuy bụng cũng như người còn ấm ách, căng phồng, nhưng muốn thoát ra khỏi căn phòng bí bức này, tôi đi theo họ. Tuấn đưa tôi vào quán ăn trên tầng cao, trước mặt là những tấm kính trong suốt. Ngồi đây, có thể quan sát được những chuyến bay đang cất và hạ cánh. Quán lúc này khá đông khách, nhưng chủ yếu vẫn là sắc màu an ninh cảnh sát. Trong khi chờ đợi đồ ăn, Tuấn thông báo, tôi sẽ phải trở về Đức trong chuyến bay hãng hàng không Vietnam Airlines vào 22h 30 tối nay. Tuy đã lường trước, nhưng tôi vẫn không kìm được cảm xúc của mình:

-Như vậy, các anh cố tình trục xuất, trong khi tôi được phép nhập cảnh của chính phủ Việt Nam. Và chương trình du lịch, quyền con người của tôi đã bị các anh chà đạp… Vậy ai là người ký quyết định trục xuất này và nó đâu?

Mặt Tuấn dường như không có một chút biểu cảm:

-Chúng tôi chỉ là những người chấp hành lệnh (miệng) từ cấp trên và phải làm cái điều không muốn này. Hơn hai tuần, chắc chắn anh đã đủ thời gian thăm thú gia đình và bạn bè. Chúng tôi theo anh cũng mệt mỏi lắm rồi. Rất may, anh không tham gia hội họp, tổ chức nào. Gỉa dụ như anh cố tình đi Sài Gòn, điều đó bất lợi cho anh, cho bạn bè anh và cả chúng tôi nữa.

Biết nói tiếp cũng vô ích, nên tôi lặng im nhìn đĩa cơm rang đang bốc khói, mà nghẹn đắng không thể ăn…
Dấu trục xuất trên hộ chiếu của tác giả

Miễn thị thực của tác giả bị đóng dấu hủy

Tôi buộc phải chấp nhận về Đức, sau đó đề nghị Tuấn thông báo cho bạn tôi ở Sài Gòn và gia đình tôi khỏi lo lắng. Tuấn chấp nhận, nhưng đến tối, tôi hỏi lại. Tuấn bảo, cấp trên chỉ cho phép điện cho bạn tôi ở Sài Gòn, không phải ra đón tôi. Còn không được phép thông báo cho gia đình tôi biết, tôi sẽ bị trục xuất về Đức.

Ăn xong, Tuấn bảo tôi: Bây giờ phải về phòng, người của bộ xuống làm việc với anh. Tôi đứng dậy, định trả tiền, Tuấn đưa tay ngăn lại, tiền ăn trách nhiệm chúng tôi phải trả.

Tôi và hai người công an vừa về phòng, thấy Tuấn cùng ba an ninh trên Bộ vào. Sắp xếp chỗ ngồi, máy móc xong, họ mời tôi ra bàn. Ba nhân viên an ninh ngồi liền nhau, đối diện với tôi qua chiếc bàn dài. Người ngồi trong cùng lớn tuổi nhất và có vẻ là cấp trên. Hai người còn lại còn khá trẻ, khoảng chừng ba lăm, bốn mươi. (Buổi tối, trước khi lên máy bay về Đức, có một an ninh cho tôi biết, cả ba đều trong phòng (tổ) Tây Âu thuộc Cục tình báo, Bộ công an. Người lớn tuổi đang phụ trách an ninh của sứ quán Việt Nam tại Đức.)

Ngồi xuống ghế, tôi nói luôn:

-Nếu đây là cuộc hỏi cung, tôi cần luật sư và người giám định của Đại sứ quán Đức.

Người lớn tuổi nhất trả lời:

-Ở đây không như ở Đức, không có luật sư và người của sứ quán.

– Nếu vậy, tôi coi đây là cuộc nói chuyện bình thường, nếu các anh muốn. Và tôi không trả lời câu hỏi của các anh, nếu tôi không thích.

Cả ba đều im lặng. Người lớn tuổi lên tiếng trước:

-Anh cho biết một chút về bản thân mình?

-Tôi không trả lời anh câu hỏi này.

– Vậy nói về những truyện ngắn và bài viết của anh nói xấu ngành công an, nói xấu lãnh tụ và dùng từ ngữ nặng nề mạt sát đường lối đối ngoại của nhà nước, ở đây là vấn đề biên giới hải đảo.

-Tôi xin nhắc lại, đã nhiều lần tôi nói và viết, là người dốt cũng như không thích chính trị, do vậy những bài viết phê bình của tôi là tư tưởng, suy nghĩ cá nhân có thể đúng, sai cũng là chuyện bình thường.

Người an ninh ngồi ngoài cùng đọc một đoạn về truyện ngắn “Tiếng Khóc Của Xuân“ tôi viết cách nay đã trên một phần tư thế kỷ và cho rằng, nói xấu chủ tịch Hồ Chí Minh. Thật ra, truyện này tôi viết về thân phận của một cô kỹ nữ, xuất thân từ gia đình gia giáo. Ngày còn nhỏ cô nhận được nhiều phiếu bé ngoan Bác Hồ. Lớn lên cô bị chính xã hội này xô đẩy, từ một nữ sinh hiền lành thành kỹ nữ bán dâm. Trong cùng cực không lối thoát (của đêm giao thừa) bị truy bắt vào trại phục hồi nhân phẩm, cô đã hóa điên nhảy lên bàn múa may quay cuồng, xé nát những phiếu bé ngoan và giật ảnh Hồ Chủ Tịch vứt toẹt xuống đất… Hình ảnh này có nhiều cách hiểu. Hiểu như thế nào là cảm nhận hay nhận thức của mỗi người đọc. Tôi đề nghị các anh, không nên hiểu một cách máy móc, rồi đánh giá một cách chủ quan vội vàng.

Viên an ninh ngồi giữa cho rằng, truyện ký “Chuyện Ở Quê“ của tôi nói xấu ngành công an. Truyện này, tôi viết từ câu chuyện có thật của một người sĩ quan công an trẻ quê Hưng Yên, tham gia phá vụ án buôn ma túy ở vùng núi phía Bắc. Do vào vai con buôn ma túy, nên anh đã phải hút, sau đó bị nghiện. Chuyên án kết thúc, anh bị sa thải khỏi ngành bởi chưa cai dứt cơn nghiện. Câu chuyện này, tôi muốn chuyển tải đến người đọc về tình người trong một xã hội đảo điên nói chung, chứ không nhất thiết một con người hay một ngành…

Tôi đang nói, viên an ninh này, bất ngờ đập tay xuống bàn, quát: Anh đừng có ngụy biện nữa…

Quả thật, khi viết có khi tôi nổi nóng hoặc công kích đến tận cùng những vấn đề mình cho là không đúng. Ngược lại, ngoài đời với gia đình, bạn bè, kể cả những người xa lạ, dường như tôi ít khi nổi cáu mà thường hay kìm chế, nín nhịn. Nhưng trước hành động của viên an ninh này, làm tôi nổi nóng đứng dậy chỉ tay:

-Cậu chỉ đáng tuổi em út, con cháu tôi, sao lại vô lễ vậy!

Viên an ninh ngồi trong cùng và mấy công an đứng ngoài đến can ngăn, buộc cậu ta xin lỗi và chống chế một cách lạc lõng: Em vẫn gọi anh là anh đấy chứ!

Tuy nhiên, viên an ninh này vẫn tiếp tục diễn thuyết: Đã trải qua nhiều năm học tập ở Đức và đã đi thăm thú nhiều nơi. Từ thực tế này, nên anh ta nhận thấy, dù chúng tôi đã mang quốc tịch Đức, nhưng chỉ được coi là công dân hạng hai…

– Vâng! Đây là suy nghĩ của cá nhân anh, với chúng tôi không tự ti như vậy. Xã hội Đức đã mở cửa cho tất cả những tài năng và mọi cố gắng của bất kỳ ai đều đem lại kết quả. Như phó thủ tướng Đức gốc Việt, hoặc như hai con gái tôi cựu cầu thủ bóng bàn đội tuyển trẻ quốc gia CHLB Đức, hiện đang chơi cho hạng nhất của Đức (1Bundesliga) như các anh đã biết và còn nhiều gương mặt con em gốc Việt trên nhiều lãnh vực khá. Bản thân chúng tôi gần ba mươi năm sống và làm việc ở Đức chưa khi nào bị hàng xóm kỳ thị. Mà ngược lại, tuy chỉ là một thợ lắc chảo, rót bia, nhưng bằng sự cố gắng của mình, chúng tôi đã có nhà riêng cuộc sống rất ổn định trước sự tôn trọng của xã hội và con người. Cái chính, chúng tôi được nói, được quyền phê phán bất kỳ ai, khi cảm thấy việc làm của họ không đúng…

Viên an ninh lớn tuổi cắt ngang lời tôi và cho rằng bài “Tổ Quốc Tôi Con Tàu Đã Mắc Cạn“ đã có những suy nghĩ sai lệch đường lối lãnh đạo của Đảng về biên giới hải đảo. Trong đó có những câu sắc và nặng nề như yếu hèn, nhu nhược để gán cho các cấp lãnh đạo. Tôi khẳng định, bài viết này phê phán hành động bỉ ổi, đê tiện, vô học của Lê Hồng Cường, một lãnh đạo hội người Việt. Ông này, đã nhảy lên sân khấu giật thơ về biên giới hải đảo của nhà thơ Thế Dũng đang đọc, trong ngày biểu chống giặc Tàu.

Để chứng minh cho tài năng, đường lối lãnh đạo uyển chuyển của Đảng, của Hồ Chủ Tịch, viên an ninh này đã đưa hình ảnh Lê Lợi đã lấy mỡ viết trên lá, để kiến cắn đục thành tên mình, thu phục lòng người, đã làm nên chiến thắng. Vậy có đáng tự hào không?

Vâng! Tôi rất tự hào về Lê Lợi. Tuy nhiên, có thể không đồng ý với sự so sánh cũng như những suy nghĩ của các anh, nhưng tôi vẫn ngồi nghe các anh nói và tôn trọng những suy nghĩ đó.

Cũng vẫn viên an ninh này, cho rằng, bài viết“Không Cảm Thấy Tự Hào Khi Là Người Việt…“ của tôi tuy hay, nhưng với cái tựa đề này không thể chấp nhận được. Đột nhiên, anh ta rút bản Kopy bài “Tùy Anh, Từ Tháng Tư Buồn Đến Nỗi Đau Biệt Xứ“ hỏi tôi:

-Anh quen Tùy Anh từ khi nào?

-Biết tên tuổi nhau từ mấy chục năm trước. Gặp nhau chỉ một lần vào mùa hè năm ngoái, khi cùng nhau đón nhà thơ Trần Trung Đạo, tác giả của bài “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười“ từ Mỹ sang, như tôi đã viết trong bài.

-Anh nghĩ sao về Hòa Thượng Thích Như Điển?

-Là người có kiến thức uyên thâm, viết nhiều, rất đáng kính.

– Anh có biết chùa Viên Giác thuộc Giáo hội VN thống nhất, chứ không vào Giáo hội VN?

-Với tôi thuộc về đâu không quan trọng. Không thích chính trị, nên tôi không để ý điều này. Biết rằng, lúc nào tôi cũng gọi Hòa Thượng Thích Như Điển là thày và xưng con.

-Anh có hay đi chùa không?

– Rất ít, vì không có thời gian.

-Kể cả chùa Linh Thíu?

-Tôi chưa bao giờ đến chùa này.

-Tôi có đọc truyện “Sau Tiếng Chuông Chùa“ anh có nhắc đến chùa này.

– Đó chỉ là một truyện ngắn.

-Anh có quen Người Buôn Gió? .

-Gặp một lần, khi nhà xuất bản Vipen ra mắt tập Thơ Người Việt Ở Đức.

-Anh thấy những bài viết của Người Buôn Gió thế nào?

-Ít đọc, nên tôi không thể nói nhiều.

-Văn của Lê Minh Hà thế nào?

– Tôi chưa đọc, nên không thể nói.

-Còn văn của Nguyễn Văn Thọ?

-Đã đọc một số truyện ngắn, nhưng không phải là thứ văn tôi thích.

– Sa Huỳnh là tên hay bút danh?

-Tôi không biết, bởi chỉ gặp Sa Huỳnh có một lần.

Anh ta lẩm bẩm:

– Có lẽ là tên thật. Ở Đức hình như ít có người dùng bút danh. Anh nhận xét gì về thơ Sa Huỳnh?

-Sa Huỳnh viết nhiều, nhưng nếu anh ấy không đổi cách viết (bút pháp) thì thơ anh ấy chỉ dừng ở dạng nghiệp dư cộng đồng.

– Còn thơ Nguyễn Thế Dũng?

– Nhà thơ Thế Dũng họ Vũ. Tôi thích đọc thơ của anh ấy. Nhất là thơ viết trước đây.

-Ngoài ra, thơ ở Đức phải kể đến ai?

– Thu Hà và An Giang.

-Thu Hà Berlin?

-Không! Thu Hà Cottbus.

-Ở Leipzig, chắc anh biết Thời báo của Nguyễn Sỹ Phương?

-Tôi có nghe nói, nhưng chưa bao giờ đọc.

-Anh thích đọc thơ của nhà thơ nào nhất ở trong nước?

-Trần Mạnh Hảo.

-Còn văn?

-Bảo Ninh, Võ Thị Hảo.

Buổi làm việc kết thúc, chúng tôi đề nghị anh nên tham gia vào hội văn nghệ người Việt ở Đức và hội văn nghệ trong nước. Viên an ninh (Sứ quán VN ở Đức) bảo tôi như vậy.

Tất nhiên, tôi từ chối điều này.

Viên an ninh ngồi ngoài cùng chợt đứng dậy, bảo: Để trình báo với cấp trên, chúng tôi đề nghị anh viết cho mấy chữ đại loại như, sau khi suy nghĩ lại, anh nhận ra những bài viết của mình là không đúng và từ nay không viết những bài như vậy nữa. Tôi không thể giúp các anh việc này, những bài viết là tư tưởng, suy nghĩ cá nhân của tôi, đúng sai tùy thuộc nhận thức mỗi người. Người ngồi trong cùng bảo: Ngay từ đầu anh đã nói mình dốt về chính trị, thì anh cứ viết cho mấy chữ, do không hiểu chính trị, nên anh có những bài viết sai vậy thôi. Tôi goặc lại, tuy dốt và không thích chính trị, nhưng tôi có chính kiến riêng của mình. Viên an ninh trẻ ngồi giữa đưa bút giấy: Nếu anh không viết, bọn em không thể khép hồ sơ, nói thế nào với Chef đây! Tính cả nể của tôi hơi bị dao động nên cầm bút giấy, thấy vậy viên an ninh ngồi trong đọc: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN…Tôi ngắt lời, với tôi không có cụm từ này. Và tôi viết: “ Tên tôi Đỗ Trường địa chỉ CHLB Đức, những bài viết của tôi là suy nghĩ cá nhân có thể đúng, sai. Tôi là người dốt và không thích chính trị, do vậy tôi không tham gia bất cứ đảng phái, tổ chức, hội đoàn nào. Hà Nội ngày 7-3-2015 Đỗ Trường” Đưa tờ giấy cho viên an ninh ngồi giữa, đọc xong anh ta bảo, ngắn quá, anh có thể viết dài hơn chút nữa không? Tôi từ chối. Viên an ninh ngồi trong kẹp tờ giấy vào tập hồ sơ và bảo, đủ rồi.

Tôi trở lại chiếc ghế nửa nằm, nửa ngồi nói chuyện cuộc sống người dân châu Âu với viên an ninh trẻ đang ngồi phía trong căn phòng.

Bảy giờ tối, thiếu tá an ninh tên (Hoàng?) đến đưa tôi đi ăn. Vẫn cái nhà hàng buổi trưa. Hoàng bảo, em đã ăn rồi, anh thích ăn gì thì gọi. Tôi gọi cơm trắng ăn với cá kho và rau muống luộc. Trong bụng đói cồn cào, lúc này trong người cũng có một chút thanh thản hơn, nhưng khi đưa miếng cá, thìa cơm vào miệng, tôi chợt thấy gai gai rờn rợn, bởi nhớ lời anh tôi, một người qúa am hiểu về nghiệp vụ công an, dặn từ mấy hôm trước: Chú bị đeo bám như vậy, vào khách sạn nhà hàng ăn uống nhớ phải cẩn thận, thằng Tàu bây giờ nó sản xuất nhiều thuốc lú lắm đấy.

Tôi và Hoàng về phòng một lúc, Tuấn mang vé máy bay đến và bảo Hoàng đẩy hành lý của tôi ra làm thủ tục. Tuấn nói, cấp trên vẫn chưa cho phép liên lạc với gia đình tôi. Tôi vẫn im lặng, dù có to tiếng phản đối cũng vô ích, bởi chắc chắn sẽ nhận được câu trả lời muôn thuở, chúng tôi không muốn như vậy, đây là lệnh của cấp trên…

Hoàng quay về, đưa cho tôi vé máy bay và giấy gửi hành lý. Tôi hỏi hộ chiếu, Hoàng bảo, tý nữa ra máy bay Tuấn sẽ trả lại. Tôi lại nửa nằm nửa ngồi trên ghế, nghe Hoàng kể chuyện xuyên rừng bắt ma túy ngày còn làm việc ở công an Nghệ An. Kể chán Hoàng hỏi tôi về giá cả xe ô tô và cuộc sống người dân ở Đức…

22 giờ Tuấn đến. Hoàng, Tuấn và người an ninh trẻ đưa tôi ra máy bay. Tôi được đưa ra cửa ưu tiên, không phải kiểm tra người. Đến gần cầu thang máy bay, tôi phải dừng lại, chưa được phép lên. Chờ mọi người đã lên hết, máy bay sắp chuyển bánh, Tuấn đưa hộ chiếu và trả lại điện thoại cho tôi và hỏi: Tâm trạng của anh bây giờ thế nào? Tôi bảo, buồn vì nhục cho đất nước, vui bởi sắp gặp lại vợ con. Nếu bây giờ các anh có để tôi đi sài Gòn, tôi cũng không đi nữa, bởi không còn một chút cảm hứng nào. Tuấn cười, hy vọng lần sau chúng ta gặp nhau, không trong hoàn cảnh như thế này.

Tôi bước đi còn nghe thấy tiếng Tuấn báo cáo trong điện thoại: Chuyên án đã kết thúc.

Vâng! Một kẻ viết văn tép riu, không hội hè, đảng phái như tôi mà công an Việt Nam phải lập đến cả chuyên án, thì thật nực cười và quá lãng phí tiền thuế của dân.

Và tôi ngoảnh đầu lại, vẫn thấy có hai người công an mặc sắc phục, lẽo đẽo theo tôi vào tận buồng máy bay. Tìm được chỗ ngồi và tôi định mở điện thoại, xem có thể gọi hoặc gửi thư về Đức cho vợ con, nhưng đã có tiếng nhắc nhở, để an toàn cho chuyến bay, đề nghị hành khách tắt điện thoại.

Tôi ngồi lật xem lại cuốn hộ chiếu, con dấu công an hủy giấy miễn thị thực của mình do nhà nước Việt Nam cấp, đỏ chót còn chưa ráo mực, làm tôi nghĩ đến quyền lực và công an hóa chính quyền của xã hội đương thời (Việt Nam).

Dấu trục xuất trên hộ chiếu của tác giả

Sáu giờ sáng, máy bay hạ cánh xuống phi trường Frankfurt. Tôi mở máy, gọi điện cho vợ con. Vợ tôi nói trong tiếng nấc, các con đã chờ tôi ở sân bay. Trong lúc chờ lấy hành lý tôi điện thông báo và xin lỗi bạn tôi và anh chị nhà thơ Trần Mạnh Hảo, Giáng Tiên ở Sài Gòn là tôi đã bị trục xuất về tới Đức. Nghe tôi kể sơ sự việc, nhà thơ Trần Mạnh Hảo nổi khùng: Ai cho chúng nó quyền thẩm định văn chương và tước đoạn quyền tự do của con người. Chú lành quá để chúng bắt nạt. Người khác là không để yên như vậy đâu. Vâng! Không hiểu sao, em không thể nổi điên lên trước việc làm ấy của họ. Có lẽ cái tính của em như vậy rồi.

Lên xe, tôi mở FB liên lạc với bạn bè, gặp ngay nhà thơ, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo hỏi:

-Trường ơi! Em đang ở đâu đấy? (Bởi hôm thơ rằm tháng giêng gặp anh rất vội ở Văn Miếu, bắt tay hẹn gặp nhau vào những ngày tới)

-Em đã bị an ninh Việt Nam trục xuất về Đức.

-Sao vậy?

-Mới đầu họ bảo vì em không đăng ký tạm trú nên tạm giữ. Sau đó vì văn thơ của em có vấn đề, nên trục xuất.

-Lại lý do chẳng khác gì mấy bao cao su cũ và ai cho quyền họ thẩm định văn chương? Thật là, không ai làm xấu hổ đất nước bằng họ…

Trên đường về, tôi hỏi các con tôi, sao biết ba về bằng chuyến bay này?

Các cháu kể: Khi các bác ở Việt Nam báo tin sang, ba có thể đã bị an ninh Việt Nam bắt giữ, chúng con đã liên lạc với sứ quán Đức ở Hà Nội. Họ bảo, sau 24 tiếng, nếu ba không được thả, họ sẽ vào cuộc. Tuy nhiên, sau đó họ liên lạc với hàng không Việt Nam, và biết có tên ba trong danh sách bay về Đức vào 22 giờ 30. Tiếp sau đây, họ cần bản tường trình của ba, lý do bị bắt và trục xuất. Trong thời gian đó an ninh Việt Nam đối xử với ba như thế nào…

Bước chân vào nhà, gặp bà vợ mặt mũi xanh mét,(dù đã ba mươi năm sống và mang quốc tịch Đức) miệng nửa khóc nửa cười, rít lên: Ông đã tởn chưa? Thơ với chả văn, từ nay tôi phải kiểm soát ông chặt chẽ hơn nữa.

Vâng ! Vậy là tôi lại phải viết văn trộm trong cái rọ ngày càng bị xiết chặt hơn. Hỡi ông an ninh Việt Nam! Ông là ai, mà cấy vi trùng sợ hãi giỏi đến như vậy.

Đức Quốc ngày 17-3-2015

Đỗ Trường

nguồn © Đàn Chim Việt

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Đằng sau những trò hèn hạ, kệch cỡm và lộ liễu là con đê sắp vỡ

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2015

 

Blog RFA

JB Nguyễn Hữu Vinh

17-03-2015

Khen ai khéo vẽ cho vui thế!

 Nhóm người mặc áo đỏ in chữ "DLV" giăng cờ đỏ búa liềm trước tượng đài, ngăn cản người dân đặt hoa, thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ Gạc Ma.

Vài hôm nay, cộng đồng mạng ồn ào và nổi sóng với vụ việc nhà cầm quyền Hà Nội cho đám cô hồn dư luận viên phá hoại buổi tưởng niệm 64 chiến sĩ đã hy sinh trong trận thảm sát Gạc Ma ngày 14/3/1988-2015 được một nhóm xã hội dân sự kêu gọi tổ chức tại tượng đài vua Lý Thái Tổ – Hà Nội.

Đã 27 năm kể từ ngày bị thảm sát, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, dưới “sự lãnh đạo tuyệt đối và sáng suốt” của cái đảng tự xưng “là đạo đức, là văn minh” đã không hề nhắc đến họ.

Hoạt động này của người dân là một nghĩa cử để an ủi các vong linh những người đã hiến máu xương mình cho đất nước mà không trở về. Thân xác các anh đã và đang chìm nổi đâu đó trên biển, linh hồn các anh vật vờ thê thảm phương nào không hay.

Đây là một hoạt động dân sự hết sức đáng được tôn trọng và quảng bá về lòng biết ơn đối với những người đã ngã xuống vì Tổ Quốc. Nó cũng nhằm giáo dục cho con cháu truyền thống uống nước nhớ nguồn, yêu nước thương nòi, đặc biệt là tinh thần quật cường trong việc bảo vệ lãnh thổ của Tổ Quốc.

Thế nhưng, không rõ cái “đạo đức”, cái “văn minh” của đảng đến đâu, mà những hành động đối với cuộc tưởng niệm đã làm cho cả cộng đồng trong và ngoài nước, từ già đến trẻ, từ trí thức đến người nông dân phải nhăn mặt bịt mũi thậm chí còn uất ức chửi tán loạn. Rằng thì là đó là những hành động lưu manh, là phản quốc, là vô giáo dục, là thiếu đạo đức… Thôi thì đủ cả các loại tính từ được sử dụng dành cho thứ “đạo đức, văn minh” cộng sản.

Ngay từ rất sớm, một đám cô hồn đã được tổ chức từ ra “chiếm lĩnh trận địa: với loa công suất lớn, với hàng loạt cờ đỏ búa liềm được làm “đạo cụ” tập nhảy nhót “Trống cơm” và các bài hát hết sức phản cảm và vô nghĩa trong ngày đại giỗ của dân tộc. Những đám thanh niên nhảy nhót với lá cờ búa liềm đỏ choét, sẵn sàng gây sự với bất cứ ai đến lễ đài vua Lý Thái Tổ. Xung quanh đó là hàng đàn, hàng lũ các đoàn thể, phụ nữ, bảo vệ, tổ dân phố và… an ninh, công an đủ loại.

Không chỉ vậy, đám cô hồn này với hàng loạt cờ búa liềm đã xông đến nơi những người đang cầm hoa tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ mà gào thét, mà gây sự, mà khiêu khích hỗn láo, cướp băng rôn, hình ảnh bỏ chạy thục mạng… rồi hò nhau hét lên: “Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng”.

Hò hét: “Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng – Đảng CSVN quang vinh muôn năm.”

Quả thật, không biết viên an ninh chỉ đạo hôm đó nghĩ gì mà đã cho đám cô hồn lôi ông Hồ Chí Minh tham dự vào một thất bại đau đớn, nhục nhã vì mất biển đảo của Tổ Quốc và phỉ báng các liệt sĩ và hạ nhục đất nước trong ngày đại kỵ đến thế. Họ vốn coi ông Hồ là thần, thánh cơ mà?

Không phải đây là lần thứ nhất họ tỏ rõ sự vô ơn bội nghĩa với những người đã khuất trong các trận chiến với Trung Cộng xâm lược. Mà chính tại nơi này, đã nhiều lần liên tiếp, nhà cầm quyền Hà Nội giở nhiều trò đê tiện và hèn hạ đó.

Mới đây thôi, ngày 19/1/2015, tôi cùng một nhóm người đến tưởng niệm sự kiện Hoàng Sa rơi vào tay giặc với 74 tử sĩ bị giặc giết trong trận hải chiến năm 1974 đã bị một nhóm an ninh, dân phòng, gây sự và phá hoại. Tên đội lốt côn đồ phá hoại cướp vòng hoa, đã bị bắt để đưa về đồn công an, thì công an đã đưa xe giải thoát và đến nay, dù đã có đơn hơn 2 tháng, thì lực lượng công an “giỏi nhất thế giới” vẫn “chưa tìm thấy”. (Sic)

Trước đó năm 2014, một cuộc tưởng niệm tròn 40 năm ngày Hoàng Sa rơi vào tay giặc và các liệt sĩ đã ngã xuống tại tượng đài Lý Thái Tổ với hàng trăm người dân, nhân sĩ, trí thức và các nhà báo nước ngoài có mặt. Nhà cầm quyền Hà Nội giở trò mang ra những mảnh đá và… cắt. Bụi mù mịt cả khu tượng đài vẫn không làm cho người dân nao núng rời đi. Họ giở trò dùng loa công suất lớn hét vào tai người đến tham dự và cả những nữ nhà báo nước ngoài.

Rồi cuộc tưởng niệm đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh trên biên giới phía Bắc ngày 17/2 – Một cuộc chiến đẫm máu với hàng vạn người dân, chiến sĩ đã bị giết hại bởi những trận giết thường dân hàng loạt và tàn bạo của Cộng sản Trung Quốc, Cộng sản Việt Nam đã cố tình xóa đi cuộc chiến này trong các sự kiện – đã bị nhà cầm quyền ngăn chặn bằng nhiều trò bẩn thỉu để như gác đường, theo dõi, vận động không đi… Đặc biệt là nhà cầm quyền Hà Nội đã cho một nhóm đàn bà rửng mỡ nhảy nhót điệu hát của Tàu Cộng “Con bướm xinh” trước tượng đài Vua Lý để ngăn chặn cuộc tưởng niệm.

Không chỉ có thế, những lần bọn xâm lăng đưa quân xâm lược, bắn giết ngư dân, phá hoại sản xuất trên biển, xâm lăng bờ cõi… mà người dân biểu thị tinh thần yêu nước đã bị nhà cầm quyền Hà Nội dùng đủ mọi thủ đoạn đàn áp, bắt bớ ngăn chặn với luận điệu “đã có đảng và nhà nước lo”. Hơn thế, dù trời mưa rét cắt da, họ cũng bắt hàng đoàn thiếu nữ quần đùi , áo hở hang uốn éo trước những nơi công cộng hoặc trước tượng đài nhằm “chiếm trận địa”. Hoặc bằng những người mặc áo mưa tưới cây dưới trời mưa phùn để ngăn không cho dòng người vào tượng đài Cảm tử…

Những trò lố, những trò vui đó đã không thể nào che đậy được bản chất ý đồ của họ và nó chỉ thể hiện bản chất hèn với giặc, ác với dân mà thôi.

Đó là những sự sỉ nhục vong linh của những người đã vị quốc vong thân để giành cho họ cái chỗ ngồi hôm nay trên đầu, trên cổ dân tộc.

Những hành động đó của nhà cầm quyền Hà Nội, không khác chi hành động của những đứa con rượu chè nhảy nhót, hò hát say sưa trong tang lễ, ngày giỗ bố mẹ. Đó cũng là để thể hiện cái ” đạo đức, văn minh” cộng sản thời khi đã nắm vững ghế, cầm chắc cán dao.

Quả là nếu cụ Nguyễn Khuyến có sống lại, lại phải thốt lại câu thơ xưa:

Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu

Vì sao?

Những hành động, lời nói của nhà cầm quyền Hà Nội gần đây với phong trào dân sự, những người yêu nước đã làm nhiều người thắc mắc. Những điều thắc mắc đó một thời gian dài không có lời giải đáp bởi người ta chẳng thể nào hiểu nổi.

Tại sao nhà cầm quyền Hà Nội thừa biết rằng, những luận điệu “Đã có đảng và nhà nước lo” khi đất nước bị xâm lăng chẳng ai tin được. Bởi người dân không mù, không điếc và ở thời đại Internet đến mọi nơi, thì không dễ che lấp điều mà ai cũng thấy là biển đảo, đất đai của Tổ Quốc dần dần bị mất vào tay giặc xâm lăng dưới “sự lãnh đạo tài tình của đảng”. Thế mà họ vẫn cứ lặp đi, lặp lại?

Tại sao nhà cầm quyền Hà Nội thừa biết rằng, những trò con trẻ như chiếm khán đài, quần chúng tự phát, an ninh giả trang làm côn đồ, làm bảo vệ, thợ cắt đá… cũng không thể che giấu được sự hèn hạ bên trong là họ không dám để người dân tập trung tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống vì Tổ Quốc. Và họ biết thừa là họ đang đi ngược lại lòng dân, trong khi lật thuyền cũng là dân mà họ không ngại làm?

Tại sao, khi giặc xâm lăng đến trước ngõ, thay vì động viên những người dân nung nấu thêm lòng yêu nước và chí khí trước ngoại xâm, thì những người cầm quyền đã sắp xếp cho con cháu đi đòi lãnh thổ đã bị mất và sắp mất khi trong tay họ? Thế rồi những hàng ngũ lãnh đạo xuất hiện với những động tác hèn hạ và những câu nói dốt nát đến độ không ngờ. Chẳng lẽ họ không biết họ nói gì?

Với sự kiện hôm 14/3 mới đây, nhà cầm quyền cho đám âm binh cầm cờ búa liềm ngăn chặn những người tưởng niệm và hò hét “Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng”? Vì sao lại chỉ cầm cờ búa liềm?

Câu trả lời: Một con đê sắp vỡ

Đưa những thắc mắc đó nói chuyện một người bạn vốn thường hay nghiền ngẫm sự đời, anh ta trả lời ráo hoảnh:

– Ông thắc mắc làm gì. Ông đã thấy tình trạng của con đê sắp vỡ hay chưa?.

Rồi anh giải thích:

– Thông thường, khi con đê vững chắc, biết là sóng nước không thể làm suy suyển, thì người ta rất cẩn thận, cân nhắc khi sử dụng và bảo vệ nó hoặc tác động vào nó, kể cả đào cái hố, trồng cái cây. Nhưng một khi đã đến mức báo động, nó sắp vỡ hoặc đang vỡ thì vớ được cái gì người ta dùng luôn cái đó. Bình thường, chẳng ai dùng phên để chắn nước vì nó sẽ chảy, nhưng khi đê vỡ, thì không chỉ có phên mà rơm rác, cát bụi hoặc bất cứ cái gì, kể cả bàn ghế cũng đều ném vào mà chặn dòng chảy.

Ở đây, cái hệ thống nhà nước này cũng vậy. Ông đừng nghĩ họ không biết những việc đó là đáng xấu hổ, là hèn hạ, bẩn thỉu trước mắt người dân. Họ biết, nhưng họ bí và họ đang hoảng sợ, bất lực trước lòng dân nên gặp gì làm nấy thôi. Khi họ không thể chính danh ngăn chặn lòng yêu nước của người dân như họ muốn thì họ bịa ra “đã có đảng và nhà nước lo” và dùng mặt trận đi khuyên can, ngăn chặn. Khi họ không thể công khai ra lệnh cấm yêu nước hoặc đàng hoàng mang sắc phục trấn áp, thì họ hóa trang thành côn đồ. Đê đang vỡ mà lại”.

Tôi giật mình, quả là những ví dụ đơn giản, nhưng lật được bản chất sự việc và trả lời bao câu hỏi bấy lâu nay. Tôi đang mông lung suy nghĩ, bỗng anh trầm ngâm:

– Điều tôi không hiểu ở đây, là tại sao đám cô hồn đó, chúng không mang cờ Tàu, không mang cờ đỏ sao vàng mà chỉ toàn mang cờ đảng màu đỏ và búa liềm?

Tôi lại phải làm người giải thích cho anh:

– Đơn giản thôi anh. Nếu chúng mang cờ Tàu thì hẳn nhiên là bằng chọc tức dân chúng. Chúng chỉ có thể mang ở những nơi dân ít và không mấy quan tâm như ở Lai Châu vừa qua chứ chưa dám mang công khai ở Hà Nội. Nếu chúng mang cờ đỏ sao vàng, dù sao cũng gọi là cờ Tổ Quốc lại đi phá đám tưởng niệm những người hy sinh vì Tổ Quốc thì có bằng mà tự nó khai nó là ai.

Trong khi nó mang cờ đảng, hô hét “đảng CSVN quang vinh muôn năm” thì hẳn nhiên về lý thuyết là không sai. Bởi những kẻ giết các chiến sĩ Gạc Ma năm xưa lại là bạn vàng của đảng CSVN, nên nó mang cờ đảng ra để phản đối tưởng niệm nạn nhân của bạn vàng là đúng chứ sao. Và một điều nữa, là những người tham gia vào cái đảng ấy khi đứng giơ tay thề, chỉ thề “Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và làm theo chủ trương, nghị quyết của đảng… Nhưng không hề có một lời nào là trung thành hoặc liên quan gì đến Tổ Quốc, đất nước Việt Nam. Vậy thì với đảng và đảng viên, Tổ Quốc chẳng là cái đinh vít gì ông ạ.

Vừa nói đến đó, ông bạn tôi bật dậy như lò xo:

Trời đất ơi, bao năm rồi mà tôi không mở được mắt ra mà nhìn đến độ sâu đó. Khốn nạn quá, còn gì khốn nạn hơn cho đất nước này không.

Vâng, đúng là một sự khốn nạn, mà có lẽ còn hơn cả sự khốn nạn, ông bạn thân của tôi ạ.

Hà Nội, 17/3/2015

——————————–

 

*Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói: Lê Đức Anh ‘phản quốc’ trong trận Gạc Ma…:

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?..

http://youtu.be/84lNFfQrCVU

 

Lê Duẫn, Lê Đức Thọ về phe với  Trung Cộng  trong vụ Tàu chiếm Hoàng Sa 1974

 

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Công An | Leave a Comment »

►”Dư Luận Viên không bao giờ xuống đường” Công An và Ban Tuyên Giáo Hà Nội họp báo cho biết

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2015

Cán bộ cộng sản công như thiếu tướng Nguyễn Đức Chung và Phó ban Tuyên Giáo Thành ủy Hà Nội Phan Đăng Long đã họp báo và công khai nói láo, dối trá nhưng họ không biết ngượng. 

Dư luận viên ‘không bao giờ xuống đường’

BBC

17-03-2015

 Các thanh niên mặc áo cờ đỏ sao vàng đã dùng giăng cờ búa liềm quanh khu vực tượng đài, ngăn chặn đoàn tưởng niệm, ông Nguyễn Lân Thắng cho biết

Lãnh đạo Công an Thành phố Hà Nội nói một số người ngăn cản tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ chủ quyền đất nước không thuộc quản lý của công an thành phố và Ban tuyên giáo.

Giám đốc công an Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung, được báo điện tử VnExpress dẫn lời nói vào chiều 17/03 rằng vào ngày 14/03, một số người dân đã đặt lẵng hoa tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh tại trung tâm Hà Nội để đánh dấu 27 năm ngày Trung Quốc xả súng sát hại 64 chiến sĩ, cưỡng chiếm Gạc Ma (14/3/1988).

“Công an thành phố được giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự. Chúng tôi luôn tôn trọng hành vi, hoạt động của người dân có lòng yêu nước với tất cả các sự kiện, đặc biệt liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ, những người đã tham gia bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước”, Tướng Chung nói.

“Về nhóm thanh niên mặc áo đỏ in dòng chữ “DLV”, ông Chung cho biết, có thể đó là lực lượng tự phát, công an thành phố đang tổ chức xác minh và khi có kết quả sẽ thông tin tới báo chí.

Tướng Chung cho hay đã yêu cầu giải tán nhóm thanh niên trên và sau khi được thuyết phục họ đã tự động rút đi, VnExpress cho hay.

Báo này cho hay liên quan tới thông tin “Hà Nội có hơn 900 dư luận viên”, Phó ban Tuyên giáo thành phố Hà Nội ông Phan Đăng Long lý giải “dư luận viên là lực lượng đại diện cho các tầng lớp thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh nằm rải khắp từ thành phố đến quận huyện”. “Họ nắm những vấn đề người dân đang bàn luận, quan tâm rồi tập hợp lại báo cáo thành phố. “Lực lượng này không bao giờ xuống đường”, ông Long được báo này dẫn lời.

Đã từng xảy ra việc chính quyền điều người tới cắt đá gây bụi mù ở khu tượng đài với các viên đá cắt nham nhở.

Đây không phải là lần đầu tiên hoạt động tưởng niệm liệt sỹ Việt Nam hy sinh trong xung đột quân sự Việt Nam-Trung Quốc gặp sự cố.

Hôm Chủ nhật ngày 19/1/2014 một số người được mô tả là giả danh công nhân đã được điều tới tượng đài Lý Thái Tổ ở thủ đô Hà Nội để cắt đá gây khói bụi cản trở người dân đến tưởng nhớ 74 chiến sỹ Việt Nam Cộng hòa đã bỏ mình trong trận chiến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa trước Trung Quốc vào năm 1974.

Vào ngày 16/02/2014, những người tìm cách đặt vòng hoa tưởng niệm cuộc chiến Việt – Trung bị cản trở bởi các cụ già và thanh niên nhảy múa trước tượng đài Lý Thái Tổ ở thủ đô Hà Nội.

Sự việc xảy ra một ngày trước hôm 17/2, đánh dấu 35 năm chiến tranh biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Nhiều thanh niên ngăn cản đoàn tưởng niệm mặc áo in dòng chữ 'Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc - Dư luận viên'

Trở lại với sự cố hôm 14/03 vừa qua, blogger Nguyễn Lân Thắng nói với BBC rằng “khoảng 200-300 người đã tập trung về trước khu vực tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội, để “dâng hương tưởng nhớ các chiến sỹ hy sinh trong trận Gạc Ma năm 1988″.

“Tuy nhiên chúng tôi đã bị một nhóm thanh niên tự nhận là lực lượng ‘Dư luận viên’ phá đám. Họ đem cờ búa liềm ra che chắn các hoạt động tưởng niệm. Họ còn la hét, phá rối và thậm chí gây hấn với một số người.

Các hình ảnh trên mạng xã hội cho thấy hàng chục thanh niên trong áo cờ đỏ sao vàng dùng cờ búa liềm che kín tượng đài Lý Thái Tổ, nơi hoạt động thắp hương tưởng niệm đang diễn ra.

Nhiều người trong nhóm này mặc áo thun đỏ với dòng chữ in phía trên: “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc – DLV (Dư luận viên)”.

Một số hình ảnh khác cho thấy các thanh niên trẻ xô đẩy và to tiếng với những người trong đoàn dâng hương tưởng niệm.

“Họ đã có mặt ở đó từ sớm và họ chờ đến lúc mọi người đến đông hơn để xông vào phá đám.

“Mặc dù vậy, những người tham gia tưởng niệm đã có nhiều kinh nghiệm nên tránh được xô xát”, ông Thắng nói.

 Nhiều thanh niên dùng cờ búa liềm che không cho người xung quanh nhìn thấy hoạt động tưởng niệm

H1

————

VnExpress

Võ Hải

17-03-2015

 Giám đốc công an Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết lực lượng công an thành phố luôn tôn trọng các hoạt động của những người dân yêu nước. Ảnh: Bá Đô.

Một nhóm người mặc áo in dòng chữ “DLV” đã ngăn cản người dân đặt hoa tưởng niệm các liệt sĩ tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử (Hà Nội) sáng 14/3.

Chiều 17/3, trả lời câu hỏi về việc ngày 14/3, một nhóm thanh niên mặc áo đỏ in logo giống của công an và dòng chữ “DLV” ngăn cản hoạt động của một số người dân, tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ chủ quyền đất nước, Giám đốc công an Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung khẳng định, nhóm người trên không thuộc quản lý của công an thành phố và Ban tuyên giáo.

Theo ông Chung, dịp 27 năm ngày Trung Quốc xả súng sát hại 64 chiến sĩ, cưỡng chiếm Gạc Ma (14/3/1988), một số người dân yêu nước đã đặt lẵng hoa tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh (bên Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội). “Công an thành phố được giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự. Chúng tôi luôn tôn trọng hành vi, hoạt động của người dân có lòng yêu nước với tất cả các sự kiện, đặc biệt liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ, những người đã tham gia bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước”, ông Chung nói.

Về nhóm thanh niên mặc áo đỏ in dòng chữ “DLV”, ông Chung cho biết, có thể đó là lực lượng tự phát, công an thành phố đang tổ chức xác minh và khi có kết quả sẽ thông tin tới báo chí. Là người trực tiếp chỉ đạo công tác đảm bảo an ninh tại hiện trường, tướng Chung cho hay đã yêu cầu giải tán nhóm thanh niên trên và sau khi được thuyết phục họ đã tự động rút đi.

 Nhóm người mặc áo đỏ in chữ "DLV" giăng cờ đỏ búa liềm trước tượng đài, ngăn cản người dân đặt hoa, thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ Gạc Ma.Nhóm người mặc áo đỏ in chữ “DLV” giăng cờ đỏ búa liềm trước tượng đài, ngăn cản người dân đặt hoa, thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ Gạc Ma.

Liên quan đến phát ngôn của Trưởng ban tuyên giáo Hồ Quang Lợi về việc “Hà Nội có hơn 900 dư luận viên”, Phó ban tuyên giáo Phan Đăng Long lý giải, dư luận viên là lực lượng đại diện cho các tầng lớp thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh nằm rải khắp từ thành phố đến quận huyện. Họ nắm những vấn đề người dân đang bàn luận, quan tâm rồi tập hợp lại báo cáo thành phố. “Lực lượng này không bao giờ xuống đường”, ông Long khẳng định.

____
VietNamNet

Công an HN xác minh nhóm người ngăn tưởng niệm liệt sĩ Gạc Ma

Hồng Phong

17-03-2015

Trong khi chờ Công an Hà Nội xác minh vì đây là nhóm người giả mạo, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy cho biết, “dư luận viên” ở Hà Nội chỉ nắm thông tin dư luận xã hội chứ không bao giờ “xuống đường”.

Phó Trưởng Ban tuyên giáo Thành ủy Phan Đăng Long khẳng định tại buổi thông tin báo chí chiều 17/3 xoay quanh sự việc một nhóm người mặc áo in dòng chữ “DLV” ngăn cản người dân đặt hoa tưởng niệm các liệt sĩ Gạc Ma tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử (Hà Nội) ngày 14/3.

Giám đốc Công an TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung. Ảnh: Vietnam+

Theo ông Phan Đăng Long, trước đây Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hồ Quang Lợi có cho biết, Hà Nội có hơn 900 dư luận viên. Đây là lực lượng đại diện cho các tầng lớp thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh nằm rải khắp từ thành phố đến quận huyện. Dư luận viên thực hiện chủ trương nắm thông tin từ nhân dân, thông tin cho hệ thống tuyên giáo xem dư luận quan tâm tới vấn đề gì. (link dư luận viên)

“Dư luận viên chỉ nắm bắt thông tin dư luận xã hội chứ không bao giờ có chuyện xuống đường” – ông Long khẳng định.

Cùng trao đổi về sự việc này, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung – Giám đốc Công an TP khẳng định “luôn tôn trọng lòng yêu nước của bất kỳ người dân nào”.

“Nhóm người trên không thuộc Công an TP, cũng không thuộc Ban Tuyên giáo, không phải do chỉ đạo của cơ quan nào. Theo tôi, đó là lực lượng tự phát. Chúng tôi đang xác minh, nếu có kết quả sẽ thông tin tới báo chí tại buổi họp sau. Những hành vi nào gây mất an ninh trật tự chúng tôi sẽ xử lý”, ông Chung nói.

____

FB Thành Phạm

17-03-2015

Hôm nay Giám đốc Công an TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung chính thức xác nhận Công an Hà Nội không tổ chức DLV cản trở, phá đám những người đến khu Tượng đài Lý Thái Tổ, cạnh Hồ Hoàn Kiếm, thắp hương tưởng niệm 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam hy sinh trên đảo Gạc Ma năm 1988 bởi quân Tàu Cộng xâm lược. Ông Chung còn cho biết, ông đang cho điều tra. Đây là việc làm tốt của Công an Hà Nội. Bà con ta cần nhanh chóng giúp đỡ Công an Hà Nội vạch mặt, chỉ tên những kẻ đã cản trở, phá đám, xem họ là ai, tự phát hay nhận lệnh từ ai?

Nhưng còn có những kẻ cản trở, phá đám khác, họ không phải là DLV mà là Công an Hà Nội, quân của ông Chung, hẳn hỏi. Họ không đến Khu tưởng niệm mà đến tận nhà ngăn cản không cho người yêu nước đến khu tưởng niệm thì ông Chung tính sao đây?

Đó là ba công an, một công an phường Đồng Tâm, 2 công an quận Hai Bà Trưng vào hẳn nhà Phạm Thành từ chiều ngày 13, rồi canh Phạm Thành suốt cả đêm cho đến 10 giờ sáng hôm sau khi Phạm Thành không đến khu tưởng niệm nữa, họ mới rời bám theo.

Ông Chung có cần điều tra xem họ là ai (Phạm Thành xin cung cấp tên, cấp bạc, nơi làm việc), nhận lệnh từ ai mà lại ngăn cản không cho một công dân như Phạm Thành đi tưởng niệm những liệt sĩ đã hy sinh như vậy?

_____

FB Nguyễn Thúy Hạnh

17-03-2015

CHÓNG MẶT QUÁ với cái lưỡi không xương. Vừa mới hôm qua là “kẻ phá nước”, hôm nay đã là “người yêu nước” rồi!

Chú thích: Cả 2 tấm hình này đều của lề đảng đưa lên.

nguồn: anhbasam

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Công An | Leave a Comment »

►Sức Mạnh Mềm của Trung Quốc [đối thoại]

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2015

Ngô Nhân Dụng

16-3-2015

Cuối năm 2011 tôi được giới thiệu với một người Mỹ cùng tuổi, nghe nói anh thích văn hóa Á Đông, đọc và viết chữ Hán, nói tiếng Quan Thoại trôi chảy từ gần 50 năm. Dick đã có hẹn với mấy người bạn nên lái xe chở tôi đi cùng. Thế là tình cờ tôi được gặp cả một nhóm người Mỹ và người Trung Hoa từ lục địa qua. Họ thuộc một tổ chức nhỏ trong Đại học Wisconsin tại thành phố Platteville mang tên là “Viện Khổng Tử, Confucius Institute,” người Trung Quốc gọi là Khổng Tử Học Viện! Tôi đọc báo đã biết kể từ năm 2004 chính phủ Trung Quốc đã mở ra 400 cái Viện Khổng Tử nho nhỏ khắp thế giới, riêng nước Mỹ có tới 75 viện. Nhưng đâu ngờ thành phố Platteville bé nhỏ này cũng có một Confucius Institute, với mấy thầy cô giáo từ Vũ Hán, Bắc Kinh, Quảng Châu qua dậy tiếng Tầu cho sinh viên Mỹ! Mấy giáo viên này trong lớp tuổi 40, đều nói tiếng Anh thông thạo.

Quả nhiên, Dick nói tiếng Tầu giỏi quá, gặp mấy người Trung Hoa anh như cá gặp nước, anh còn đứng lên hát chung với một cô giáo Tầu, đối đáp từng câu! Hồi 1960 Dick bị động viên, vào không quân. Đồn trú tại Okinawa, trong căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật Bản; anh thấy có chương trình khuyến khích các binh sĩ học thêm một thứ tiếng Á Đông; như tiếng Nhật, tiếng Cao Ly, vân vân, ai tốt nghiệp sẽ được thêm điểm, thêm lương, anh đã tình nguyện và chọn tiếng Tầu. Khi học xong anh còn được gửi sang Đài Loan thực tập nữa. Nhưng sau khi giải ngũ, anh không mấy khi có cơ hội dùng tiếng Tầu. Cho tới lúc về già, anh trở thành một nghị viên trong Hội đồng Thành phố Dubuque, và tự nhiên có dịp đại diện thành phố đi Tầu trong những phái đoàn chính thức. Thế là anh trở thành một chuyên viên về Trung Quốc trong cả vùng này!

Tình cờ đi với Dick, tôi được gặp những người trong Viện Khổng Tử thuộc Đại học UW Platteville! Một bà giáo sư người Mỹ làm chủ tịch; có một cô giáo người Tầu ăn mặc rất chải chuốt, mà tôi đoán cô là “bí thư chi bộ” vì mọi người Tầu khác có vẻ nể nang cô. Một thầy giáo trẻ tuổi đang ở dậy tiếng phổ thông ở Đại học Platteville ngồi kế bên tôi. Anh ta họ Hạ, nhưng yêu cầu gọi tên Jack, cho “hòa hài” với các người bạn Mỹ mới. Lúc đầu Jack nói chuyện với tôi bằng tiếng Tầu, và rất ngạc nhiên khi Dick bảo: Ông này không hiểu tiếng Tầu đâu! Sau mấy câu chuyện xã giao, khi giới thiệu tên họ từng người, thấy họ nghe tên mình có vẻ khó khăn, tôi viết tên tôi bằng chữ Hán cho họ thấy quen thuộc. Từ bé khi thầy tôi dậy tôi chữ Hán, tôi đã biết viết tên mình rồi. Mấy cô giáo Tầu khen chữ tôi viết rất đúng tiêu chuẩn; Jack bèn hỏi: Ông có phải gốc Trung Hoa hay không? Tôi cải chính, giải thích rằng trong gia phả nhà tôi, chép chuyện các cụ tổ từ cuối thế kỷ 15, trong đó không thấy nói ai là người Trung Hoa cả. Nhưng Jack vẫn không tin; trước sau anh cứ cười cười, nói nói: Không, ông đúng là người gốc Hoa rồi! Trong lối nói, mắt cười và dáng điệu của anh, có vẻ như anh muốn nói thế để nâng tôi lên cho “ngang hàng” với anh, như một cách an ủi tôi vậy! Tôi cũng chỉ cười, đưa câu chuyện sang hướng khác.

Rất nhiều người Trung Hoa có thói quen nghĩ rằng nếu các sắc dân Á Đông khác mà trở thành người Tầu thì là một điều may cho họ. Cũng giống như nhiều người Mỹ; họ cũng hay lấy làm tiếc cho dân Canada, tại sao không được làm người Mỹ như họ! Một người Pháp tôi gặp trong một tiệm ăn ở Miến Điện, cũng ngỏ lời khen: Ông nói tiếng Pháp có giọng tốt lắm, không có cái giọng của người Canada, chắc ông đã được sống ở Pháp nhiều năm nhỉ? Khi tôi nói chưa hề sống ở Pháp, ông ta có vẻ tiếc cho cuộc đời tôi vẫn còn thiếu may mắn! Có lẽ đó là tâm lý thông thường của người dân những nước lớn; họ tự hào về quê hương họ, và khi quý mến ai thì muốn người khác cũng được như họ.

Có lúc tôi hỏi Jack: “Nếu anh sang đây dậy thêm được một người Mỹ nói tiếng Tầu thông thạo, chắc anh coi đó là một thắng lợi cho Trung Quốc, phải không?” Jack gật đầu. Tôi nói tiếp: “Người Mỹ cũng nghĩ vậy đấy. Nếu có thêm một người Mỹ nói thông thạo tiếng Tầu, nước Mỹ họ cũng coi là một thắng lợi!” Jack có vẻ không hiểu.

Tôi nêu thí dụ: “Coi anh Dick đây này, nửa thế kỷ trước Dick bị động viên; đi lính không quân đóng ở Okinawa. Chính phủ Mỹ đã cấp học bổng, thuê người vào trại lính dậy anh ta ngoại ngữ, anh ấy chọn tiếng Tầu.” Jack nghe tỏ ý thích, tôi nó thêm: “Khi trả tiền cho Dick đi học, chính phủ Mỹ đã đầu tư vào cuộc đời anh ta. Đa số dân Mỹ lười, ít ai chịu học tiếng ngoại quốc. Thêm một người Mỹ biết một tiếng ngoại quốc, cũng giống có ai đi như học được một nghề, một kỹ thuật mới vậy; trước sau rồi nước này cũng có lợi nhờ việc học hỏi của cá nhân đó, chính phủ Mỹ tính toán như vậy cho nên đầu tư vào anh Dick. Giống như mọi việc đầu tư vào giáo dục; cứ một người dân nào học được, giỏi giang thêm về một nghề nào đó nhờ học hỏi, cuối cùng cả quốc gia sẽ có lợi! Thành ra anh Jack, anh sang đây dậy tiếng Tàu là anh đang giúp nước Mỹ nhiều lắm đó nghe!”

Tôi chắc đến giờ này Jack vẫn thấy điều này khó hiểu: Tại sao trong việc anh đi dậy học ở Platteville, Wisconsin, cả nước Tầu và nước Mỹ cùng thắng lợi! Khi được đưa đi dậy tiếng Tầu cho người ngoại quốc, các giáo viên như anh được tập huấn rằng họ sắp đi truyền bá văn minh Trung Hoa ra thế giới. Anh đóng vai một chiến sĩ văn hóa, cũng giống như các phái bộ truyền giáo tây phương hồi thế kỷ 16 đưa người sang Tầu vậy. Họ đang chinh hục thế giới trên mặt trận văn hóa. Đối với Jack, nếu những giáo sư được chính phủ Bắc Kinh trả lương như anh lại đang làm lợi cho cả nước Mỹ thật là khó hiểu!

Người dân các nước cộng sản vẫn có thói quen suy nghĩ theo lối chơi “zero-sum game” tức là những cuộc chơi “thằng này ăn, thằng kia thua.” Các nước theo chủ nghĩa cộng sản huấn luyện dân theo lối chiến tranh trường kỳ: Thế giới là một chiến trường, giai cấp vô sản và giai cấp tư bản là kẻ thù, bên này thắng tất nhiên bên kia bại. Đó là căn bản của phong trào cộng sản quốc tế, từ thời ông Lenin vẫn suy nghĩ như thế. Người dân quen sống trong không khí tinh thần như vậy mấy thế hệ rồi. Họ khó hiểu được trên đời lại có cuộc chơi nào mà khi mình thắng lợi thằng kia cũng được lợi!

Thế giới Tây phương nghĩ khác hẳn. Lịch sử có cạnh tranh nhưng cũng có hợp tác. Khi trao đổi thì hai bên đều có lợi. Trong một “xã hội mở,” người ta không sợ cho dân chúng tiếp xúc và học hỏi những cái mới lạ, thí dụ, học một ngôn ngữ khác. Người ta cũng sẵn sàng đón nhận những hiểu biết mới, các ý kiến, quan điểm mới. Vì biết rằng khi được trao đổi tự do thì cuối cùng quốc gia sẽ được lợi nhiều hơn là bị thiệt. Kiến thức là một thứ đem cho cũng không mất, có khi đem cho càng nhiều người nhận thì người cho càng có lợi!

Người Trung Quốc vẫn chưa quen với lối suy nghĩ này. Chỉ cần nghe ông Hồ Cẩm Đào nói cũng đủ biết là một người như Jack chưa thể nào quen lối sống của những xã hội mở (open society). Trong tuần lễ đầu năm 2012, tạp chí 求是 Cầu Thị, một cơ quan lý thuyết của đảng Cộng sản Trung Quốc đã đăng một số lời phát biểu của ông Hồ. Một lần ban huấn thị trước các cán bộ cao cấp của đảng, ông Hồ đã cảnh cáo: “Các thế lực thù địch quốc tế đang gia tăng âm mưu chiến lược” với mục đích tấn công, xâm nhập trường kỳ vào “các lãnh vực chủ thuyết cùng văn hóa” của Trung Quốc!

Tại sao ông Hồ phải nói như vậy? Vì Đảng Cộng Sản Trung Quốc sợ. Họ dư biết chủ nghĩa Mác Lenin Mao lạc hậu, chẳng ai thèm tin nữa. Bây giờ mà ai còn đi học chủ nghĩa Marx thì thật là ngớ ngẩn, dở hơi, hay là lập dị! Nhưng họ vẫn muốn kiểm soát chặt chẽ cái gì chứa trong đầu hơn một tỷ người Trung Hoa! Vẫn phải chiếm độc quyền thông tin, độc quyền kiểm soát báo chí, điện ảnh, truyền hình, vân vân. Đảng Cộng sản vẫn còn sợ những hiểu biết mới, ý kiến mới, tư tưởng, quan niệm mới; không dám cho xâm nhập vào đầu óc người dân Trung Hoa, đặc biệt là các thanh niên, trí thức.

Viện Khổng Tử

Trong khi đó, họ lại muốn lợi dụng cái tên ông Khổng Tử để gây ảnh hưởng khắp thế giới. Viện Khổng Tử đặt ra theo lối Goethe Institute của nước Đức, hay Alliance Francaise của Pháp. Các cơ quan truyền bá văn hóa này có nhiệm vụ giúp người ngoại quốc hiểu nước Đức, nước Pháp hơn. Nhưng chính phủ Bắc Kinh muốn dùng Viện Khổng Tử như một khí cụ để gây ảnh hưởng, một thứ ảnh hưởng bây giờ quen gọi là “Sức Mạnh Mềm;” Soft Power, một từ do Giáo sư Joseph Nye, Đại học Havard bầy ra để phân biệt với Sức mạnh Cứng (Hard Power) như quân đội, vũ khí, tài nguyên, vân vân. Một quốc gia có thể ảnh hưởng trên thế giới mà không cần dùng tiền tài hay vũ lực, nếu biết dùng các sức mạnh mềm. Người Trung Hoa dịch Soft Power là “Nhuyễn Thực lực,” nhuyễn nghĩa là mềm. Bắc Kinh hy vọng dùng Viện Khổng Tử làm một “mũi nhọn” tấn công bằng sức mạnh mềm.

Đưa Khổng Tử ra làm một khuôn mặt tiêu biểu cho văn hóa Trung Hoa đời trước, rất xứng đáng. Văn hóa cả vùng Á Đông từ Hàn Quốc, Nhật Bản cho tới Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo. Nhưng Khổng Giáo thực sự có giá trị phổ biến, cả loài người đều theo được vì dựa trên lương tri bình thường. Hồi 1947, đại diện của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) đã vận động bằng được để ghi một câu của Khổng Tử vào lời nói đầu bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền: “Người trong bốn biển đều là anh em.” Đến khi chính quyền cộng sản ở lục địa được ngồi vào ghế ở Liên Hiệp Quốc thay thế Đài Loan, đại biểu của Bắc Kinh đã cực lực phản đối việc đề cao một nhà tư tưởng “lạc hậu và phản động” này! Lúc đó, đầu thập niên 1970, Mao Trạch Đông đang phát động phong trào “Phê Lâm, Phê Khổng” để triệt hạ các đối thủ trong hàng ngũ lãnh đạo đảng! Mãi tới sau biến cố Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình mới cho phép Khổng Tử “sống lại” để dùng vào việc biện minh và củng cố uy quyền tập trung. Năm 1990, một Hội Khổng Học chính thức ra đời, do một ủy viên Trung Ương Đảng đứng đầu. Và Viện Khổng Tử được sinh ra, nằm trong cơ quan “Hán Bạn,” phụ trách việc truyền bá văn minh Trung Hoa trên thế giới.

Nhưng đảng Cộng sản Trung Quốc có thể biến Khổng Tử thành một “chiến sĩ tiền phương” cho cuộc chinh phục thế giới bằng “Sức Mạnh Mềm” hay không? Có một nhà trí thức Trung Hoa đã trả lời là không!

Sức mạnh mềm là gì

Giáo sư Bàng Trung Anh (庞中英 Pang Zhongying), Đại học Nhân Dân ở Bắc Kinh, nghiên cứu vấn đề “Sức Mạnh Mềm” (软实力 Nhuyễn Thực Lực) từ lâu. Ông đã phân tích và phê bình khái niệm này để đặt câu hỏi xem nước ông có thể tạo được Sức Mạnh Mềm bằng cách nào. Ông liệt kê các sức mạnh gọi là mềm theo cách trình bầy của Joseph Nye. Có thể kể ra những sức mạnh căn bản của một xã hội nằm trong các yếu tố như sau: Hệ thống sản xuất kinh tế; hệ thống giáo dục; những kinh nghiệm phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa mà nước khác muốn học; thêm sức hấp dẫn của các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật; số giải Nobel đã nhận được; các ngôi sao thể thao, văn nghệ được thế giới hâm mộ; khả năng ảnh hưởng trong các định chế quốc tế; và nói chung, một uy tín tinh thần khiến người nước khác kính nể; vân vân. Không quốc gia nào thâu đạt được tất cả các sức mạnh mềm kể trên nhưng nước nào càng có được nhiều thì càng mạnh hơn. Các quốc gia đang phát triển có thể chịu ảnh hưởng về sức mạnh mềm của các nước đi trước; thí dụ khi họ tổ chức hệ thống ngân hàng theo lối người Anh, hoặc hệ thống giáo dục theo lối Pháp, Đức hay Mỹ; các nhà kinh doanh sẽ học theo cách tổ chức xig và chiến lược chinh phục thị trường quốc tế của các công ty Nhật, Mỹ, Đức; vân vân. Sinh viên các nước có thể đua nhau đi du học ở Đức hay Nhật Bản; giới trẻ thích phim ảnh Mỹ hoặc phim bộ Hàn Quốc, hâm mộ các cầu thủ Brazil, mặc quần áo do người Ý vẽ kiểu, hay thích coi sách, phim hoạt họa của Nhật, vân vân. Đó là những thí dụ về biểu hiện của “sức mạnh mềm.”

Sau khi liệt kê các tiêu chuẩn của sức mạnh mềm, Giáo sư Bàng Trung Anh nhận xét, nếu kiểm điểm các yếu tố tạo thành Nhuyễn Thực Lực thì Trung Quốc hiện nay còn rất nhiều thua kém, không thể sánh với Mỹ được. Bàng Trung Anh thú nhận trong thế giới bây giờ Trung Quốc chưa có cái gì để làm mẫu cho các nước khác noi theo cả. Nước ông chỉ đóng vai Xưởng Máy của Thế giới (World Plant). Và đóng vai Người Làm Công của thế giới (World Employed Laborer). Muốn tạo được Nhuyễn Thực Lực, Bàng Trung Anh viết, thì một quốc gia phải tin tưởng vào một số giá trị phổ quát (Universal Values, người Trung Hoa gọi là Phổ Thế Giá Trị); và cùng chia sẻ các giá trị đó với các dân tộc khác. Tự do tư tưởng, Quyền con người, đó là những giá trị được loài người chia sẻ. Nhưng hiện nay, giới lãnh đạo Trung Quốc đều phủ nhận những “Phổ thế Giá trị;” trừ ông Ôn Gia Bảo lâu lâu lên tiếng đề cao nhu cẩu cải tổ được coi là thuộc “Phổ thế phái.” Thế giới chưa thấy có Sức Mạnh Mềm nào Made in China cả!

Thử nhìn vào những di sản mà Đế quốc Anh để lại ở các thuộc địa, chúng ta thấy một hình ảnh về sức mạnh mềm của dân tộc họ. Sau Đại chiến Thứ hai, những sức mạnh cứng của họ, về quân sự cũng như về kinh tế, đã tan rã. Nhưng người Anh còn có những quan niệm về quyền tự do cá nhân; hệ thống hành chánh và pháp luật của họ vẫn còn được giữ lại, được sử dụng và phát triển thêm ở nhiều thuộc địa. Các nước Úc, Tân Tây an, Canada, Ấn Độ xây dựng chế độ dân chủ theo kiểu mẫu của nước Anh. Những thuộc địa như Hồng Kông, Singapore dùng các luật lệ về kinh doanh của người Anh giúp cho cơ chế thị trường triển khai được các thành quả tốt nhất nên phát triển kinh tế vượt bực. Một viên chức hành chánh người Anh giải thích tại sao Hồng Kông thu hút đầu tư quốc tế mạnh hơn các nước nhược tiểu khác trong thập niên 1960 – 70: “Đồng tiền sẽ đến, nếu nó biết có thể được tự do đi.” Câu nói này bao hàm những bảo đảm của một hệ thống: Tài sản mọi người được tôn trọng. Nhà nước không tùy tiện thay đổi luật lệ, kiếm cớ để lấy tiền của dân một cách bừa bãi. Nếu ai không đồng ý có thể thưa kiện ra tòa, biết chắc sẽ được xử đúng luật. Những bảo đảm đó đạt được nhờ các giá trị nền tảng của những định chế do người Anh lập ra. Như quan niệm về tự do cạnh tranh, quyền bình đẳng trước pháp luật, hệ thống hành chánh và thẩm phán độc lập với chính trị. Đó là những sức mạnh mềm của dân tộc Anh, người Hồng Kong vẫn còn cố giữ gìn sau khi được trao trả cho Trung Quốc. Các giá trị đó nay vẫn còn gây ảnh hưởng khắp thế giới. Nước Trung Hoa chưa phát triển được một định chế hay quan niệm tổ chức xã hội nào có giá trị phổ quát như vậy, để cho người nước khác học và bắt chước.

Chúng ta không kỳ vọng đa số người Trung Hoa sẽ đồng ý với Giáo sư Bàng Trung Anh, dám nghĩ rằng đất nước họ, đông dân nhất, sản lượng kinh tế cao nhất, mà vẫn còn thua kém các nước khác. Họ chưa tập được thói quen suy nghĩ ngoài những khuôn khổ do các ông Đặng Tiểu Bình, Hồ Cẩm Đào hay Tập Cận Bình vạch ra. Họ vẫn được nhào nặn theo lối nghĩ “zero-sum game,” trò chơi “ăn bù thua,” trong đó họ muốn ăn nhiều hơn thua, cả trong lãnh vực “phần mềm.”

Người Trung Hoa trong lục địa bị ám ảnh về cuộc cạnh tranh với Mỹ, họ nhìn đâu cũng thấy một “đấu trường” xem ai thắng ai bại; mà hễ người này thắng thì người kia phải thua. Công ty Mỹ Disney khởi công xây dựng một khu giải trí ở Thượng Hải trong năm 2011, tính đầu tư khoảng bốn tỷ đô la Mỹ. Tân Hoa Xã loan báo tin này, với lời bình luận nói rằng khu giải trí này sẽ là “một đấu trường về Sức Mạnh Mềm (Nhuyễn Thực Lực) giữa các dân tộc.” Một blog bên Tầu cũng báo động: “Sức mạnh mềm của Mỹ đang tấn công vào nền văn minh rực rỡ 5,000 năm của Trung Quốc!” Đây là dấu hiệu của tình trạng thiếu tự tin: Nhìn đâu cũng sợ hãi.

Trên thế giới bây giờ trẻ em thích các trò chơi của Disney cũng như mê phim hoạt họa Nhật Bản, người lớn mê coi phim bộ Đại Hàn; nam phụ lão ấu đều mê coi đá banh; trẻ con Mỹ cũng hâm mộ Diêu Minh (Yao Ming), cầu thủ bóng rổ người Tầu; giới thẩm âm thích nghe Yo Yo Ma kéo hồ cầm, Lang Lang đàn dương cầm; tại sao không nhìn thấy tất cả những cuộc trao đổi đó là có lợi cho tất cả mọi người? Tại sao nhìn thấy một khu giải trí sắp ra đời không lấy làm mừng cho trẻ em mà lại lo lắng nó thành cái đấu trường, nều người Mỹ ăn tức là người Tàu thua?

Chỉ riêng cách suy nghĩ đó đã chứng tỏ nước Trung Hoa vẫn chưa có Sức Mạnh Mềm. Một quốc gia có Sức Mạnh Mềm thì trước hết họ rất tự tin. Họ không sợ hãi khi phải gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi, thi đua với các sản phẩm văn hóa, giáo dục, các tin tức, các ý kiến, quan điểm; từ những quốc gia các dân tộc khác đem tới. Khi ông Hồ Cẩm Đào còn tưởng tượng ra các “thế lực thù địch” gây ảnh hưởng trên bộ óc biết suy tư của người Trung Hoa, thì nước ông còn chưa đủ mạnh. Không những thế, các ông lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc cứ lo như vậy tức là còn muốn kìm hãm quyền tự do trao đổi và tiếp nhận của người dân, khiến họ sẽ không thể phát triển được sức mạnh mềm cho dân tộc Trung Hoa.

Hơn hai ngàn rưởi năm trước, những thế hệ các ông Khổng Tử, Lão Tử, truyền tới Mạnh Tử, Trang Tử, Hàn Phi, đã dựng nên cơ sở cho Sức Mạnh Mềm của văn minh Trung Hoa, từ thời đại của họ đã gây ảnh hưởng tới các nước Á Đông. Ngày nay thế giới đã thay đổi. Loài người đã khám phá ra những giá trị mới từ ba bốn trăm năm nay. Giờ đây ai cũng thiết tha với giá trị tự do, với các luật chơi dân chủ; ai cũng tin rằng phẩm giá của từng con người phải được tôn trọng chứ không đổ tất cả mọi người vô một cái thúng, gọi là “quần chúng nhân dân.” Trong chữ “quần” có bộ dương, nghĩa là con cừu. Năm 2011 đánh dấu cuộc thức tỉnh của hàng trăm triệu người Á Rập do giới thanh niên, trí thức dẫn đầu. Nếu thanh niên Trung Hoa vẫn bị bịt tai, che mắt, không được biết đến các giá trị đó, không được chia sẻ và thảo luận với nhau, thì còn lâu Trung Quốc mới tiến lên được. Cái thế lực thù địch nguy hiểm làm cho Trung Quốc chậm tiến, chính là cái đầu chật hẹp của giới lãnh đạo Cộng sản Trung Hoa!

Ðến đá bóng cũng thối nát

Ông Bàng Trung Anh nghĩ rằng nước ông bây giờ chẳng có Sức Mạnh Mềm nào cả. Trung Quốc không có cái gì với sức hấp dẫn đủ mạnh mẽ khiến người nước khác muốn bắt chước. Hệ thống chính trị, không. Mô hình kinh tế, không. Hệ thống tư pháp, hệ thống giáo dục, đều không nốt. Ca nhạc, hội họa, điện ảnh, thời trang, không thu hút được người nước ngoài bằng các sản phẩm của Nhật Bản, Nam Hàn. Chỉ có thể thao, họ chiếm nhiều huy chương Olympics nhất thế giới. Nhưng khi nhìn vào các lò huấn luyện lực sĩ của họ, và tình cảnh tiêu điều của các lực sĩ khi không còn việc làm, thì người ta thấy không nên bắt chước.

Ðến thức ăn Tàu nổi tiếng, bây giờ cũng xuống dốc, vì ai cũng sợ mỡ, sợ đường, sợ bột ngọt, nhất là những người thuộc giới trung lưu trở lên. Cứ đến một thành phố lớn ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc, Tân Lây Lan, sẽ thấy các tiệm cơm Tàu bây giờ chỉ dành cho thực khách bình dân. Người ăn sang muốn nếm hương vị phương Ðông sẽ đi tìm tiệm Nhật, tiệm Thái, tiệm Hàn Quốc, và tiệm Việt Nam nữa. Chả giò với phở đều đã thành các món ăn phổ biến quốc tế rồi. Sẽ đến ngày người mình dùng khoa tiếp thị biến mấy chục “món gỏi” hay “món cuốn” của mình thành những món ăn quốc tế vừa sang, vừa đẹp, vừa lành mạnh, lại vừa bán giá đắt!

Trở lại câu chuyện Soft Power, Sức Mạnh Mềm, của Trung Quốc. Phải nhắc nhở, vì ông Bàng Trung Anh đã bỏ qua, không nói đến một thức Sức Mạnh rất Mềm mà nước ông đang sử dụng. Nó đã được đem ra thi triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, gây được ảnh hưởng rất đáng kể, nhiều người phát ghen, muốn làm theo mà không làm được. Ðó là món Hối Lộ!

Cứ nhìn các công ty Trung Quốc đang đi khai thác tài nguyên quặng mỏ, rừng, biển, từ Phi Châu tới Nam Mỹ và các nước Trung Á, Ðông Nam Á Châu thì biết họ đã biết sử dụng sức hấp dẫn của đồng tiền hối lộ một cách có hiệu quả! Làm sao chuyên chở về Tàu được đủ những thứ như đồng và nhôm ở Congo, dầu lửa từ Sudan, Nigeria, gỗ và ngọc thạch từ Miến Ðiện, sắp tới bô xít từ Việt Nam? Trung Quốc quả đang có một thứ Sức Mạnh Mềm rất hiệu quả.

Tại sao Giáo Sư Bàng Trung Anh lại bỏ qua không nói đến thứ sức mạnh mềm hối lộ, tham nhũng này? Chắc vì ông biết, cái đó là một chất độc. Dùng nó để đầu độc người khác thì chính mình cũng bị nhiễm độc! Các nước Âu Châu, Nhật Bản, Úc và Mỹ Châu đã làm luật cấm các xí nghiệp của họ không được hối lộ quan chức các nước khác, chính vì lý do đó.

Sở dĩ người Trung Hoa đến nay vẫn dùng món độc dược này vì nó đã nằm sâu trong cơ thể của cơ cấu xã hội họ, một thứ văn hóa hối mại quyền thế “thâm căn cố đế” chưa biết cách nào tẩy rửa được! Gốc rễ của căn bệnh này nằm trong hệ thống chính trị độc quyền, độc đảng. Báo Economist, số cuối năm 2011 viết một bài về môn Túc Cầu tại Trung Quốc, dẫn lời một viên chức giấu tên trong ngành công an: “Các bạn biết tất cả các vấn đề xã hội mà người ta đổ lỗi cho hệ thống chính trị nước ta chưa? Muốn biết hãy nhìn vào tình trạng môn túc cầu!”

Môn đá banh được người Tàu hâm mộ từ khi tiếp xúc với người Anh. Hội Túc Cầu Toàn Quốc (gọi là CFA) được thành lập từ năm 1924, thời Quốc Dân Ðảng. Năm 1931 họ được gia nhập FIFA, tổng hội đá banh thế giới. Người Trung Hoa vẫn hãnh diện khoe rằng môn đá banh phát xuất từ nước Tề, vùng Sơn Ðông bây giờ, vào đời Chiến Quốc (500 đến 200 năm trước Công nguyên), trong môn chơi gọi là Xúc Cúc (蹴鞠 Cuju), nghĩa là quả banh da, đẩy bằng chân, môn chơi thịnh hành vào các đời Đường, Tống. FIFA công nhận sự kiện lịch sử cổ xưa này. Người Trung Hoa còn cho thế giới coi một bức tranh cổ vẽ cảnh Vua Tuyên Tông nhà Minh (1426-1435) ngồi coi đá banh (hay đánh Golf cũng được).

Nhưng vào năm 2012 đội đá banh quốc gia của Trung Quốc đứng hàng thừ 77 trên thế giới, và mới thua một trận trước đội Iraq, sẽ bị loại không được dự giải Ðá Bóng Thế Giới World Cup năm 2014! Trận thua Iraq này thật là điều nhục nhã, cả nước Trung Hoa muốn khóc. Một nhà báo thể thao viết: “Ví thử chúng ta thua Nhật Bản hay Hàn Quốc thì đáng thua, vì họ đá giỏi thật. Thua Saudi hay Qatar cũng được đi, vì họ bỏ rất nhiều tiền nuôi cầu thủ. Còn thua Iraq? Nước họ vẫn còn chưa hết nội chiến, sân banh trong nước họ còn chưa dùng để đá banh được! Thế mà Iraq vẫn đánh bại Trung Quốc 1-0! Ðội banh Trung Quốc chỉ được vào đấu Giải Thế Giới (World Cup) một lần, năm 2002. Và trong ba trận năm đó thua cả ba, các cầu thủ Trung Quốc không làm được một bàn nào cả!

Có phải người Trung Quốc thể lực yếu, hay không thích thể thao? Không phải. Họ chiếm nhiều huy chương nhất trong Thế Vận Hội 2008 ở Bắc Kinh và 2012 ở London! Khán giả các đài ti vi đều theo dõi những trận đá banh, không khác gì dân Mỹ coi bóng bầu dục. Vậy tại sao ngành bóng đá ở Trung Quốc thảm hại như vậy?

Lý do chính là vì chế độ độc tài, tập trung quyền hành, không có gì minh bạch, công khai; những người nắm quyền thì không chịu trách nhiệm trước công chúng; người dân không ai được bàn chuyện các quan chức làm ăn. Ai hé miệng sẽ bị trừng trị!

Tổ chức đá bóng ở Trung Quốc đầy tham nhũng, nói chung là cái gì cũng mua được, có tiền là đổi trắng thay đen. Mà nạn tham nhũng sinh sôi nẩy nở là vì các quan chức trông coi ngành đá bóng đều phải do đảng chỉ định chứ các cầu thủ, các huấn luyện viên hay những người hâm một đá bóng. Họ không chịu trách nhiệm với các đội banh, không lo báo chí, không lo dân ghiền đá banh soi mói. Do nguồn gốc đó, tất cả các cầu thủ, trọng tài, cho đến chủ nhân các đội banh (trên nguyên tắc đều là của chính quyền) đều có thể đi mua và bị người khác mua chuộc. Ai mua? Những người đánh cá độ. Một trọng tài ra tòa vì tội ăn tiền đã thú nhận rằng chỉ có một lần ông từ chối không nhận tiền để sắp xếp cho một đội thắng, lý do vì đã có quan trên trong Hội Túc Cầu bảo ông hãy thiên vị đội bên kia! Các quan trên Trung Quốc không bao giờ nói thẳng ra như vậy. Nhưng các ám hiệu họ đưa ra đều hiểu được, như một vị trọng tài kể: Khi quan trên điện thoại nói: “Nhớ công bằng nhé;” câu đó nghĩa là: Phải cho đội chủ nhà thua đội khách!

Nghề trọng tài hái ra tiền, vì công “xếp đặt ai thua ai thắng,” tiếng Anh là “fix”. Trọng tài là Trương Kiến Cường (张建强 Zhang Jianqiang) đã khai trước ti vi là ông kiếm được 2 triệu 6 đồng nhân dân tệ, tương đương với 410,000 đô la Mỹ. Một trọng tài họ Dương khai đã kiếm được 12 triệu nguyên (gần 2 triệu Mỹ kim) kể từ khi được bổ nhiệm năm 1995. Một ông họ Lữ kể rằng ông được hối lộ tới 800,000 đô la cho một trận quốc tế. Ông họ Dương kể trước một trận đấu, đội cầu Thượng Hải đã đem bao thư 700,000 nguyên đến tận văn phòng ông. Ông chia cho ông Lữ một nửa!

Tất nhiên các cầu thủ cũng được mua, giám đốc các đội banh cũng biết bán độ! Một cầu thủ muốn được đưa vào hàng ngũ “đội quốc gia” cũng phải hối lộ khoảng 110,000 đồng nguyên (tương đương 15,500 đô la). Cùng trong nền văn hóa tham nhũng đó, chủ nhân đội cầu của Thành Ðô đã đút tiền cho chủ nhân một đội khác để họ đá thua, nhờ thế Thành Ðô được xếp vào “Trung Quốc Túc Cầu Hiệp Hội Siêu Cấp Liên Trại” thường gọi tên là Trung Siêu Liên Trại. Hiện hai đội Quảng Châu và Thành Ðô về sau đã bị đưa ra tòa và đuổi ra khỏi hàng ngũ Trung Siêu!

Có cách nào để ngành đá banh Trung Quốc thoát khỏi nạn tham nhũng, hối lộ hay không? Phải công khai, minh bạch, không nể nang, không nhắm mắt. Không nên chờ người ngoài than thở mới ngó vào. Lần đầu tiên giới túc cầu bị điều tra là năm 2007, do cảnh sát Singapore yêu cầu công an Trung Quốc điều tra, vì họ khám phá có “bán độ” trong một trận cầu ở Singapore! Ðến lượt báo chí bên Anh loan tin các trận đấu “giao hữu” giữa đội banh Thẩm Quyến với Manchester United năm 2007 (Thẩm Quyến thua 6-0) và trận Thượng Hải với Sydney (Thượng Hải thắng) năm 2003 đều bị bán độ. Năm 2010 các cuộc điều tra từ từ bắt đầu. Mãi tới năm 2011 mới có những vụ bắt bớ, rồi đến cuối năm thì xét xử.

Ðứng đầu ngành đá bóng Trung Quốc là Hiệp Hội Túc Cầu, gọi tắt là CFA. Hai ông cựu chủ tịch Nam Dũng (南勇 Nan Yong) và phó chủ tịch và Dương Nhất Dân (杨一民 Yang Yimin) đã bị bắt vào Tháng Ba năm 2011, cùng với ông Tạ Á Long (谢亚龙 Xie Yalong), một phó chủ tịch khác mới bị bắt vào Tháng Mười. Ông này đã mất chức sau khi đội banh Trung Quốc bị loại trong Thế Vận Hội 2008. Vụ xét xử các ông tai to mặt lớn, các trọng tài và cầu thủ diễn ra từ ngày 18 Tháng Mười Hai năm 2011. Nhưng họ lại xử kín, công chúng không được thấy! Giống như xử lý nội bộ vậy! Họ không dám cho công chúng và báo chí tham dự, vì sợ các bị cáo sẽ lôi ra tên họ các quan chức cao cấp hơn trong đảng! Nan Yong Xie Yalong Yang Yimin

Nạn tham nhũng gây tai hại cho nền túc cầu và sức khỏe thể lực của cả nước. Với tình trạng tham nhũng tràn lan, người Trung Hoa hết hy vọng vào tương lai nền túc cầu nước họ. Cha mẹ không muốn cho con chơi đá banh. Từ năm 1990 đến 2000, nước Tàu có khoảng 600,000 trẻ tham dự các đội banh chính thức. Trong 5 năm tiếp theo, con số xuống chỉ còn 180,000 thanh thiếu niên. Và đến năm 2012 các quan chức CFA ước tính chỉ còn độ 100,000.

Một tác giả về thể thao, Declan Hill đã xuất bản cuốn sách về nạn bán độ, tên là The Fix. Ông có đưa ra Mười Ðiều Răn để tránh khỏi nạn này. Thí dụ: Phải bảo đảm lương bổng cho các cầu thủ, cùng sự an toàn trong việc làm, không lo vô cớ bị đuổi. Phải bảo vệ những người tố cáo nạn bán độ. Phải có những biện pháp khích lệ cho các cầu thủ sống ngay thẳng, lương thiện.

Chỉ cần đọc ba điều đó thôi cũng thấy là khó. Vì nếu người ta thực hiện được ba điều đó trong Túc Cầu Siêu Cấp thì họ đã đem áp dụng cho cả guồng máy cai trị nước Trung Hoa rồi! Sở dĩ túc cầu Trung Quốc thối nát là vì đảng Cộng sản nuôi một guồng máy cai trị thối nát!

Tình trạng túc cầu cho chúng ta hình dung được những ngành sinh hoạt khác ở Trung Quốc như thế nào. Liệu một quốc gia sống trong không khí thối nát như vậy có tương lai hay không? Họ có thể dùng hối lộ đi mua chính quyền các nước chậm tiến để khai thác rừng, biển, quặng mỏ của người ta. Nhưng họ làm sao trở thành một quốc gia mẫu mực cho các nước khác noi theo; để tính chuyện dùng Sức Mạnh Mềm gây ảnh hưởng trên thế giới?

Để bù vào chỗ trống đó, họ đem Khổng Tử ra trưng bầy ở Quảng trường Thiên An Môn trong một thời gian, vừa đủ để cả thế giới ngạc nhiên, rồi lại đem cất đi vì nội bộ giới cầm quyền chưa “nhất trí.” Tuy nhiên, Viện Khổng Tử vẫn được cấp tiền để phát triển ở ngoại quốc, đem nhà tư tưởng Trung Hoa địch thực làm kiểu mẫu cho nhân loại.

Việc sử dụng hình ảnh Khổng Tử, Bàng Trung Anh nhận thấy chỉ chứng tỏ một tình cảnh sinh khí trí thức cằn cỗi, nghèo nàn! Tại sao phải đem một nhà tư tưởng sống trước đây 2,500 năm ra làm mẫu mực cho nhân loại vào thế kỷ 21? Vì Trung Hoa bây giờ không tìm được một thần tượng, một khuôn mẫu đương thời nào để nêu cao; cho nên mới phải khiêng một ông thánh cổ ra trưng bầy!

Bàng Trung Anh nói thẳng: Không nên khai thác đem Khổng Tử làm một thứ “Nhuyễn Thực Lực!” Muốn có sức mạnh mềm, Trung Quốc hãy lo phát triển một nền giáo dục phổ cập cho toàn dân; lo bảo vệ đạo đức trong xã hội. Hãy hướng về một thế giới tương lai, đi tìm các giải pháp phù hợp cho thế giới đó. Ông nói thẳng: Sức Mạnh Mềm đáng kể nhất thời nay là chế độ dân chủ.

Năm 2010, một người Mỹ từng là giáo sư dậy đại học ở Nam Kinh và Thiên Tân, sau khi đã đi Trung Quốc hơn một trăm lần từ năm 1967, đã xuất bản một cuốn sách ca ngợi hệ thống xã hội, kinh tế của Trung Quốc. Ông John Naisbitt kể rằng ông đã được Chủ tịch Giang Trạch Dân khuyến khích viết một cuốn sách về Trung Quốc từ năm 1996, sau khi có tời 20 triệu người Trung Hoa đã đọc cuốn Megatrends của Naisbitt viết về nước Mỹ. Chính phủ Trung Quốc cấp tiền cho ông mở một Học Viện Naisbitt, ông dùng 28 nhân viên trong đó để thu thập tài liệu viết thành cuốn sách mới. Trong cuốn China’s Megatrends, Naisbitt nêu ra tám “cột trụ” của hệ thống xã hội Trung Hoa hiện nay. Quan trọng nhất là một mô hình mà Naisbitt đặt tên là “Dân Chủ Theo Chiều Dọc” (Vertical Democracy).

Mô hình Dân Chủ Theo Chiều Dọc, tức là ở trên ban lệnh xuống, nhưng cũng lắng nghe ý kiến ở dưới đưa lên. Nhưng trong 24 năm John Naisbitt đã quan sát nước Trung Hoa, ông chỉ nêu ra được một thí dụ giới lãnh đạo Trung Quốc nghe ý kiến của người dân rồi đem áp dụng khắp nước, nhờ thế đưa tới một quyết định thay đổi số phận nước Trung Hoa. Ngoài ra toàn là những ý kiến vụn vặt, ở cấp huyện, cấp xã. Biến cố lớn xẩy ra năm 1978, khi một nhóm nông dân làng Tiểu Cương, tỉnh An Huy họp nhau lại, quyết định sẽ không theo các chỉ thị của đảng Cộng sản; họ đồng ý mỗi hộ gia đình tự làm thửa ruộng của mình, lời ăn, lỗ chịu. Các cán bộ nắm toàn quyền trong làng cũng ký vào bản hợp đồng đó, chấp nhận là nếu bên trên có hỏi thì họ đứng ra chịu tội. Và sau đó họ thành công. Các cán bộ cấp trên ngạc nhiên trước kết quả này, tới điều tra, và cuối cùng dân phải thú tội đã có đủ thóc gạo ăn nhờ đi hẳn ra ngoài đường lối đảng.

May mắn cho dân làng Tiểu Cương, Mao Trạch Đông đã chết trước đó hai năm. Tứ Nhân Bang cũng đã bị khai trừ. Đặng Tiểu Bình đang loay hoay tìm cách thoát khỏi cảnh kinh tế suy sụp. Ông bí thư tỉnh lúc đó là Vạn Lý lại là người biết suy nghĩ. Ông ta không kết tội dân làng mà còn lấy đó làm mẫu để áp dụng cho các nơi khác. Khi ông trình kết quả lên trên, Đặng Tiểu Bình nhìn thấy ngay đây là con đường thoát cho kinh tế Trung Quốc. Từ đó sinh ra cuộc cải cách áp dụng cho cả nước.

Tại sao giới lãnh đạo Trung Quốc lại chấp nhận cải tổ? Bời vì đó là con đường duy nhất cứu nước họ khỏi cảnh suy sụp kinh tế. Không phải vì họ nghĩ phải theo một mô hình Dân Chủ Theo Chiều Dọc. Những ý kiến giản dị nhất, người nông dân vô học cũng có thể nghĩ ra; nhưng các lãnh tụ phải đợi cho dân gần chết đói mới chấp nhận xóa bỏ các công xã nhân dân. Những sau đó, đảng Cộng sản Trung Quốc lại tiếp tục đàn áp tất cả những người nêu ý kiến khác với đường lối trung ương. Những người tranh đấu chống cướp đất của dân bán cho các nhà thầu xây cất; đòi bãi bỏ nhà máy hóa học để bảo vệ mội trường sống; muốn bảo vệ phụ nữ đang bị cưỡng bách triệt sản; đòi trừng trị tham quan, vân vân, bao nhiêu người đã bị đánh, bị giết, trước khi đảng “lắng nghe.” Mỗi năm ở Trung Quốc có hơn trăm ngàn lần dân chúng biểu tình phản kháng, nhiều lần bạo động. Nhưng tình hình không đến nỗi khổ cùng cực như kinh tế năm 1978. Cho nên các quan trên vẫn chưa thay đổi bao nhiêu.

Chế độ gọi là Dân Chủ Theo Chiều Dọc, có thể gọi là Dân Chủ Nhỏ Giọt, thực ra đã được áp dụng trên trái đất từ lâu rồi. Tiếng ta gọi là “Mềm nắn, rắn buông.” Nó còn tệ hơn chế độ quân chủ đời xưa; vì các ông vua đời xưa không có nhiều công an và cũng không giỏi nghe lén dân nói vụng như bây giờ! Nếu người Trung Hoa tính đem mô hình đó đem biếu các dân tộc khác, như Phi Luật Tân hay Indonesia chẳng hạn, họ sẽ lắc đầu, xin lỗi. Họ sẽ nói: Cảm ơn lắm, nhưng chúng tôi đã ăn thử món này vào thời ông Marcos, ông Suharto rồi! Cái này không thể coi là một món hàng rẻ tiền đem xuất khẩu được!

Người Trung Hoa nên nghe lời Giáo sư Bàng Trung Anh: Sức Mạnh Mềm đáng kể nhất thời nay là chế độ tự do dân chủ. Thể hiện lối sống đó, nhân loại sẽ nhìn vào mà thán phục.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►‘Sao không đặt câu hỏi, vì sao ta hay bị ngoại xâm đe dọa?’

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2015

 

GS-TS, NGƯT Trần Ngọc Vương là giảng viên khoa Văn học ĐHKHXH&NV thuôc ĐH Quốc gia Hà Nội. Ông có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về văn hóa liên quan đến bảo vệ chủ quyền đất nước, trong đó phải kể đến Chủ nghĩa duy tâm của một quan niệm về lãnh thổ; Nguyễn Trãi với việc thể hiện khí phách và bản sắc dân tộc…

Cho rằng sự mạnh hay yếu, đằng sau nó là sự bảo lãnh văn hóa khủng khiếp, Giáo sư Trần Ngọc Vương nói đã bao giờ ta đặt câu hỏi vì sao chúng ta hay bị ngoại xâm đe dọa.

Tiếp nối câu chuyện về suy thoái văn hóa của sử gia Dương Trung Quốc qua bài: “Suy thoái văn hóa chạm ngưỡng, đẩy dân tộc đến thảm họa khôn lường”, nhà nghiên cứu văn hóa – Giáo sư Trần Ngọc Vương có những chia sẻ về sức mạnh văn hóa trong bảo vệ và phát triển đất nước.

– Là người từng có nhiều năm nghiên cứu, gắn chặt với đời sống văn hóa dân tộc, nhìn nhận thẳng thắn, ông có thấy một sự thật đau lòng, rằng thực trạng nền văn hóa của chúng ta đang ‘có vấn đề’ rất lớn?

Hơn 70 năm trước đây, Tản Đà có những câu thơ mà đến giờ vẫn còn nguyên tính thời sự:

Dân 25 triệu ai người lớn
Nước 4000 năm vẫn trẻ con.

Có ai hỏi tại sao một dân tộc có bề dày lịch sử 4000 năm vẫn được bậc thi bá một thời ví như trẻ con? Trong khi chúng ta không phải nước bé, rất nhiều chỉ tiêu về dân số, quy mô nền kinh tế,…của chúng ta đều ở thứ hạng cao trên thế giới. Đó là bởi cái chúng ta thiếu, là một cấu trúc văn hóa ổn định.

Tôi phải khẩn thiết lưu ý rằng, nền văn hóa của chúng ta đang thực sự rơi vào tình trạng nguy hiểm, một sự suy thoái đáng báo động chứ không đơn thuần là có vấn đề nữa.

Ở thời điểm này, câu chuyện văn hóa còn đáng báo động hơn, nặng nề hơn cả vấn đề kinh tế, bởi yếu tố văn hóa – là nền móng đảm bảo cho sự phát triển bền vững và lâu dài.

– Nguyên nhân của tình trạng này đến từ đâu thưa ông?

Đi tìm nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng này, như tôi vừa nói, nằm ở chỗ là chúng ta không có được một cấu trúc vĩ mô của một nền văn hóa cố định, ổn định và duy trì liên tục để trở thành truyền thống.

Đừng nhầm giữa câu chuyện bề dày lịch sử và văn hóa. Lịch sử là câu chuyện khác, văn hóa là câu chuyện khác.

Một nền văn hóa bất kì nào chuyển tải những giá trị đặc trưng, có bản sắc, dấu hiệu nhận biết quan trọng ở người quan sát từ bên ngoài là người ta cảm thấy bị hấp dẫn, cảm thấy yêu mến, mong muốn thưởng thức, chia sẻ, và vận dụng những thành tựu của nền văn hóa ấy trong đời sống.

Ví dụ đơn giản, quần bò là một giá trị văn hóa, người ta biến nó thành một mốt quần áo thông dụng. Từ những chiếc quần bò dành cho anh cao bồi chăn ngựa miền tây nước Mỹ, nó trở thành thời trang đi vào đời sống mọi nơi trên thế giới bởi người ta cảm nhận thấy nét đẹp của nó, sự hấp dẫn của nó. Và nó trở thành một sự chia sẻ, cộng hưởng giá trị.

Thường những giá trị văn hóa khi được đại chúng hóa, nó phải có lý do nào đó, nói như triết gia Hêghen: Tồn tại là hợp lý, hay Ăngghen nói: Cái hợp lý sẽ tồn tại.

Vì thế nên từ xưa đến nay, có một nguyên tắc đi kèm: Người ta không thể chỉ quản lý văn hóa bằng các mệnh lệnh hành chính, mệnh lệnh hành chính không cưỡng bức văn hóa được, đôi khi nó gây hiệu ứng ngược lại.

Truyền hình chính thống không kém cạnh khi tung ra những hình ảnh “văn hóa” thế này

– Thế cái cấu trúc văn hóa ổn định đó cụ thể là gì, thưa Giáo sư?
Trước hết anh phải nhìn lại anh là ai, anh có cái gì, để đứng một cách vững vàng trước thế giới này, và làm nên giá trị của riêng anh.

Thứ hai, không những anh đứng được, mà anh phải dùng nó như một thứ nội lực thúc đẩy sự phát triển của cộng động người, và làm nên những giá trị được thế giới thừa nhận.

Chúng ta thích nói về những giá trị tốt đẹp, mà không biết cần phải nói về mặt trái để thay đổi mặt trái đó theo chiều hướng tích cực.

Cho nên, tôi cho rằng những giá trị lớn mà chúng ta cố công tuyên truyền, mà cứ nhấn mạnh mãi như thế, một ngày nào đó, giống như bộ xương không được nuôi dưỡng bằng các hệ sinh học thiết yếu như hệ hô hấp, tuần hoàn hay cả hệ bài tiết, nó khiến nhiều độc tố văn hóa tồn tại lưu cữu trong cơ thể một cộng đồng, làm ra ung nhọt văn hóa.

Cái gì tốt không hẳn cứ tốt mãi, “vô điều kiện”, cái xấu không vĩnh viễn chỉ có tác dụng xấu, điều này dễ hiểu từ góc độ triết học, nhưng khi vận dụng vào nghiên cứu thực tế thì người ta lại quên.

Chúng ta không chịu nghiên cứu tử tế, cẩn thận, sâu sắc để xem chúng ta có gì, thiếu gì và cần làm gì cho văn hóa.

– Chúng ta vẫn nhắc đến truyền thống chống giặc ngoại xâm. Truyền thống ấy có phải là bản sắc, là giá trị của riêng chúng ta không, thưa ông?

Tại sao không thử một lần đặt ra câu hỏi, anh tồn tại thế nào mà luôn bị ngoại xâm đe dọa?

Người ta nói niềm tự hào của dân tộc ta là truyền thống 4000 năm chống ngoại xâm trong suốt 4000 năm lịch sử. Tại sao không thử một lần đặt ra câu hỏi, anh tồn tại thế nào mà luôn bị ngoại xâm đe dọa?

Ăngghen nói trong các chế độ xã hội có giai cấp, yếu thì bị xâm lược, yếu nữa bị phụ thuộc, yếu nữa bị đồng hóa và giải thể cái tồn tại đó.

Khi sự tồn tại luôn chơi vơi và yếu, anh phải xem lại cách thế tồn tại của anh chứ. Phải nhớ một nguyên tắc căn cốt, rằng sự mạnh hay yếu, đằng sau nó là sự bảo lãnh văn hóa khủng khiếp.

Những di họa của một thế kỷ chiến tranh hay rộng hơn, một lịch sử đầy ắp chiến tranh còn kéo dài cho đến tận bây giờ và lâu nữa. Càng ý thức sớm về nó càng khắc phục mặt trái của nó rõ ràng hơn, rành mạch hơn, có chiều sâu hơn. Trong mọi cuộc chiến tranh, tổn thất lớn nhất của cộng đồng là mất đi những lớp, những thành phần tinh hoa nhất của cộng đồng, của xã hội.

Bất kỳ một cộng đồng nào cũng có những yếu tố hợp thành tạo nên sắc thái văn hóa, trong đó có truyền thống, hiện đại, nội sinh, ngoại nhập, nhưng phải nhắc đi nhắc lại nếu muốn có cốt cách văn hóa, yếu tố nội sinh phải được đặt lên hàng đầu.

Anh nhìn xem nội sinh văn hóa Việt Nam có gì? Chúng ta nói về giá trị truyền thống, nhưng quay qua quay lại, lại về văn hóa làng xã, văn hóa nông thôn.

Văn hóa làng xã về cơ bản, đối với sự phát triển của xã hội hiện đại nó sẽ là sự kìm hãm. Văn hóa có những yếu tố cũ, nhưng càng cần phải có những cái tươi rói, mới tinh.

Có nhà lý luận văn hóa học đã đưa ra một định nghĩa: văn hóa là cái gì còn đọng lại sau khi những cái khác đã qua đi trong đời sống của một cá thể hay một cộng đồng. Trong ý nghĩa đó thì không phải mọi lớp văn hóa đều là “di sản”, đều là đáng quý.

– Thế cho nên, trong quá trình mở cửa và hội nhập, sự tiếp nhận văn hóa đã dẫn đến sự lai căng méo mó?

Có vô số chuyện cần nói trên đường hướng này, chỉ lấy một ví dụ đời thường nhất, muôn thuở nhất. Đó yêu phải có văn hóa, nhưng văn hóa nào cho tình yêu Việt bây giờ, đó có phải là vấn đề không?

Một điều thiếu khủng khiếp ở Việt Nam là văn hóa tình dục, văn hóa sex. Việt Nam làm gì có văn hóa tình dục, tất cả ứng xử về phương diện dục tính con người Việt Nam đều không vượt qua phương diện ứng xử bản năng bao nhiêu.
Chính sự thiếu hụt trong việc giáo dục tình dục đó, khiến cho việc xây dựng những hình ảnh sex trong phim, trong nghệ thuật trở nên lệch lạc, méo mó.

Trước đây, có hội thảo nhằm cấm truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, các vị đưa ra một tiêu chuẩn là cái gì dâm thì cấm. Tôi mới hỏi các vị một câu dâm là gì? Các vị nói dâm là những cái gợi lên hành vi tính giao. Nhưng thật ra hiểu như vậy là nhầm, dâm xét theo nghĩa gốc, dâm nghĩa là “quá mức”, các nhà Trung Quốc học nổi tiếng đều hiểu “dâm” là démesure. Từ những hiểu sai sẽ dẫn đến chỉ đạo sai.

– Nhắc đến câu chuyện văn hóa gần gũi như cái váy, cái áo, như việc khoe thân, ảnh nude…tràn lan, ông nhận xét như thế nào về vấn nạn này?

Đó là loại hành vi vô văn hóa của những người khoác lên mình chiếc áo nghệ sỹ, của những người khoác lên mình chiếc áo người làm văn hóa.

Nhưng cũng phải nói thêm, hành vi vô văn hóa đó chỉ phục vụ, chỉ kêu gọi sự cộng hưởng từ bộ phận công chúng thiếu văn hóa.

– Khoan nói đến việc giáo dục công chúng vì nó sẽ là câu chuyện rất dài và cần lộ trình. Có cách nào để chặn đứng đà suy thoái, trong khi tình trạng đã ở mức báo động khẩn thiết?

Trước hết phải có những nhà văn hóa làm khuôn mẫu, đồng thời trước hết là những người cầm quyền, ứng xử một cách văn hóa đích thực, chắc chắn nền văn hóa sẽ thay đổi. Phải tạo ra cho bằng được những khuôn mẫu văn hóa của thời đại mới qua chính những mẫu người văn hóa.

Xin cảm ơn ông!

 

An Yên

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Danlambao và Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2015

DanlambaoTrong nỗ lực phá vỡ bưng bít thông tin và góp phần giải quyết tình trạng nhiều trang web trên thế giới bị chặn tường lửa, Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới đã thực hiện chiến dịch “Operation Collateral Freedom” để giúp người đọc truy cập tự do vào 9 trang web tiêu biểu đang bị ngăn chặn tại 11 quốc gia. Tại Việt Nam, trang blog được chọn cho chiến dịch này là Danlambao.
Bạn đọc tại Việt Nam bây giờ có thể vào Danlambao mà không bị tường lửa qua đường link: http://dlb1.global.ssl.fastly.net/Xin quý bạn đọc, bằng hữu bloggers, facebooker hỗ trợ Danlambao bằng cách quảng bá đường link
http://dlb1.global.ssl.fastly.net/ 
trên blog, FB hay chuyển đến người thân, bạn bè qua email, skype, lời nhắn điện thoại…

Sau đây là thông báo của RSF – Phóng Viên Không Biên Giới.

*

Để đánh dấu Ngày Thế giới Chống Kiểm duyệt Mạng Internet (ngày 12 tháng 3), Tổ chức Phóng Viên Không Biên giới phát động một chiến dịch mang tên “Operation Collateral Freedom” để mở khóa 9 trang thông tin bị ngăn chận truy cập tại 11 quốc gia đang được xếp vào danh sách “Kẻ thù của Internet”.

Bị chặn ngay từ khi vừa mới thành lập vào năm 2010 tại Việt Nam, trang web Danlambao bây giờ có thể truy cập tự do, không bị tường lửa tại địa chỉ:
Để Danlambao và 8 trang web của 11 quốc gia có thể được truy cập tự do, Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới đã tạo ra một dương bản copy cho mỗi trang web và đặt những dương bản này tại các trung tâm dịch vụ lưu trữ lớn như Amazon và Microsoft.
Với tên gọi #CollateralFreedom, chiến dịch này khai dụng yếu tố là chính phủ của các quốc gia sẽ không muốn chặn các trung tâm dịch vụ lớn này, mặc dù họ có khả năng làm chuyện đó. Chặn Amazon hay Microsoft sẽ làm tổn thương hàng ngàn công ty công nghệ sử dụng mạng Amazon hay Microsoft mỗi ngày. Tổn thất về kinh tế và chính trị khi ngăn chặn truy cập vào Amazon hay Microsoft sẽ quá cao.
Tổ chức Phóng Viên Không Biên giới sẽ duy trì các trang dương bản copy này trong vài tháng.
Các trang web tham gia vào chiến dịch #CollateralFreedom:
1. Grani.ru, bị chặn tại Nga, hiện đang có thể truy cập tự do ở đây:
2. Fergananews.com, bị chặn ở Kazakhstan, Uzbekistan và Turkmenistan, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
3. Tây Tạng Post, bị chặn tại Trung Quốc, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
4. Danlambao, bị chặn ở Việt Nam, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
5. Mingjing News, bị chặn tại Trung Quốc, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
6. Hablemos Press, bị chặn tại Cuba, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
7. Gooya News, bị chặn ở Iran, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
8. Vịnh Trung tâm Nhân quyền, bị chặn ở United Arab Emirates và Saudi Arabia, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
9. Bahrain Mirror, bị chặn tại Bahrain và Saudi Arabia, bây giờ đã có thể truy cập tự do ở đây:
Danh sách này cũng có thể được nhìn thấy ở các trang web hoạt động #CollateralFreedom
Để hỗ trợ cho tự do thông tin đến với người dân tại các quốc gia này, xin mời tất cả các bạn dùng Internet tham gia vào hoạt động này bằng cách đăng danh sách này trên các mạng xã hội với các hashtag #CollateralFreedom.
Benjamin Ismaïl

Head of Asia-Pacific Desk
Reporters Without Borders
47, rue Vivienne – 75002
Paris – France
Twitter:
@RSF_Asia (中文)

Facebook:
Skype:
rsfasia

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nỗi nhục Trường Sa !

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2015

Đối Thoại

15-03-2015

Ngay từ cuối năm 1986, tình hình vùng biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa có nhiều diễn biến phức tạp do các hoạt động do thám, khiêu khích của hải quân Tàu cộng. Cuối tháng 2-1988, lực lượng ngoại bang này tăng thêm 4 tàu hộ vệ trang bị tên lửa và đại pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa. Trước tình hình ấy, bộ tư lệnh hải quân Hà Nội mở chiến dịch bảo vệ chủ quyền các đảo của Việt Nam, lấy tên là chiến dịch CQ (chủ quyền)-88.

Vào sáng ngày 14-3-1988, 73 chiến sĩ hải quân, đúng ra là công binh (không mấy lúc cầm súng) của tàu HQ 604 đến đảo đá nửa chìm nửa nổi Gạc Ma, mang theo vật liệu xi măng, cốt thép và các cột bê tông đúc sẵn để xây dựng công sự trên đó, ngõ hầu xác nhận rõ rệt chủ quyền. Về khí giới, họ chỉ mang theo một số khẩu AK, nhưng lại có quân lệnh là không được nổ súng. Chiến hạm Tàu cộng ùa tới, vây chặt. Sau một hồi trao đổi trên loa mà bên nào cũng cho mình có chủ quyền, rốt cục các chiến sĩ công binh VN không vũ trang đang đứng trên đảo đã trở thành bia hứng đạn đại liên của kẻ thù mà trước đó vẫn ngỡ là bạn. Chỉ chưa đầy nửa giờ, 64 người đã vĩnh viễn nằm xuống trong nỗi tức tưởi và uất hận. Con tàu vận tải HQ-604 rỉ sét đang thả neo giữa biển cũng đành phơi bụng lãnh đủ lửa pháo 100 ly từ mấy chiếc khu trục tối tân, trang bị cả tên lửa đối hạm. Quả như câu đối tưởng niệm đầy chua chát của ai sau đó: “Cướp Gạc Ma, bắn tàu bạn, xưng danh tình đồng chí! Trấn Len Đảo, giết mạng người, kêu tiếng tình anh em!“. Sau khi 64 người bị thảm sát, 9 chiến sĩ còn lại được tàu Trung Quốc vớt lên làm tù binh và đem về tỉnh Quảng Đông giam giữ gần 4 năm trời.

Đúng là một cuộc chiến bi thương, không cân sức, nhưng những người lính đã ngã xuống trong lòng biển quả đã vị quốc vong thân, xứng danh hiệu anh hùng của Dân tộc và đáng được vinh danh ngàn đời. Thế nhưng, lại có lắm điều ô nhục xoay quanh biến cố ấy, kể từ đó đến nay, những ô nhục chỉ có trong cái chế độ vô đồng bào, vô tổ quốc là chế độ Việt cộng.

Ô nhục thứ nhất: không cho chống trả quân thù: Khi tình hình trở nên hết sức căng thẳng đầu năm 1988, Bộ Tư lệnh hải quân đã liên tục báo cáo lên trên xin ý kiến chỉ đạo. Một trong những nội dung đề nghị cấp trên giải đáp ngay là: Trung Quốc là thù hay là bạn? Chúng đánh ta, ta có đánh trả không? Bộ Chính trị và bộ quốc phòng lúc ấy vẫn im lặng hay trả lời không rõ rệt. Ấy là vì chính vào thời điểm đó, trong lúc bọn bành trướng Tàu cộng đã lộ rõ dã tâm xâm lược thì lãnh đạo Hà Nội, dưới sự thao túng của Lê Đức Anh, Ủy viên BCT, Bộ trưởng Quốc phòng, đang tìm cách bắt tay với lãnh đạo Bắc Kinh để âm mưu thực hiện cái gọi là “Giải pháp đỏ” ở Căm-pu-chia nhằm đưa cả bọn Khơ-me đỏ vào chính phủ liên hiệp mặc dù Nhà nước hợp pháp xứ Chùa tháp phản đối quyết liệt. Thành thử các chiến sĩ hải quân đã ra tiền tuyến bảo vệ Tổ quốc mà lại không được quyền nổ súng chống giặc.

Về chuyện này, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc, đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh như sau (theo RFA 12-03-2015): “Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành vi phản động, phản quốc. …Tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.

Ô nhục thứ hai: không dám nhắc đến tên quân thù: Sau nhiều năm im lặng, ngày 9-5-2010, lễ tưởng niệm các tử sĩ Gạc Ma đã được tổ chức trên biển gần quần đảo Trường Sa. Điều đáng lưu ý là trong diễn văn tưởng niệm, Thượng tá Trịnh Lương Vượng, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn M46 vùng D Hải quân đã không dám nói thẳng nói thật là hải quân Tàu giết hại hải quân Việt. Thay vào đó ông đã dùng từ “nước ngoài” và “lực lượng quân sự nước ngoài”: “Lực lượng quân sự nước ngoài đã ngang nhiên chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt NamCác chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của các lực lượng tàu chiến hải quân nước ngoài. Báo Thanh Niên ngày 14-03-2011 cũng cho biết Đại tá hải quân Nguyễn Kiều Kinh đứng trên mảnh đất thuộc chủ quyền VN, đọc diễn văn thay cho 14 Ủy viên Bộ Chính trị, cũng thản nhiên nói : «Với mưu đồ thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông, từ cuối năm 1987, đầu năm 1988, nước ngoài đã ngang nhiên đưa lực lượng quân sự chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của VN…». Đúng là chỉ có bọn khiếp nhược trước kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc mới có giọng điệu như thế.

Ô nhục thứ ba: không cho nhắc tới trận chiến và các tử sĩ: Sau khi trận chiến trên đảo Gạc Ma kết thúc với chỉ một người bị thương về phía Tàu cộng, họ đã vinh danh một đặc nhiệm hải quân tên Du Xiang Hou, kẻ đã xé bỏ lá cờ đỏ sao vàng trên đảo. Họ làm phim giáo dục con cháu về trận chiến mà đối với họ là một chiến thắng vẻ vang kiêu hùng. Và họ xem đó là bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của họ trên đảo Gạc Ma. Vậy mà đã 27 năm nay tại Việt Nam, cuộc chiến này bị né tránh không nói đến, đặc biệt trong các tài liệu chính thức và trong sách giáo khoa sử, như thể đó là một phần lịch sử cần được giấu nhẹm. Có lẽ trận chiến Gạc Ma chẳng phải là một vết son trong Việt sử như những chiến thắng của đội quân Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, tuy nhiên nhân dân vẫn cần một lịch sử thật hơn là một lịch sử đẹp.

Ngoài ra, người Việt ở miền Nam trước đây hay khắp thế giới hiện giờ, ai cũng biết thiếu tá hải quân VNCH Ngụy Văn Thà, nhiều kẻ nhớ cả ngày ông tử trận: 19-01-1974. Tên tuổi vị anh hùng ấy (cùng với các chiến hữu tử sĩ) vang dội ngay sau khi chiến hạm Nhựt Tảo bị Tàu cộng đánh chìm. Nhưng người Việt sống dưới chế độ cai trị cộng sản mấy ai biết tên tuổi 64 chiến sĩ đã ngã xuống và 9 chiến sĩ đã bị bắt tại Trường Sa? Đó là chưa kể những kỷ niệm cuộc chiến năm xưa của họ không được trân trọng. Như vào tháng 9-2011, một cuộc gặp mặt lần nhất 8 chiến sĩ còn sống đã được tổ chức tại nhà nghỉ Suối Lương, Đà Nẵng, song không phải do nhà nước mà do Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa. Nhưng chả hiểu sao đến sáng ngày khai mạc chỉ còn lại ba người, năm anh đã lặng lẽ bỏ về tối hôm trước. Ban tổ chức lại còn quy định là người tham dự không được trực tiếp tiếp xúc hay phỏng vấn các nhân chứng. Thảm hại hơn nữa, tổng số người tham dự, tính luôn ban tổ chức, thành phần khách mời (không có đại diện chính quyền), an ninh và nhà báo …chỉ khoảng 30 mạng. Chưa hết, ngày 14-3-2012, nhà cầm quyền và hải quân dự tính tổ chức một cuộc gặp mặt 34 gia đình liệt sĩ Gạc Ma tại Cam Ranh (Khánh Hòa). Tất cả mọi việc đã hoàn tất, giấy mời đã được đem gởi. Đùng một cái, trước đó 3 hôm (11-3-2012), có “lệnh trên” yêu cầu hủy cuộc gặp mặt. Một nhà báo đã thốt lên cay đắng: “Chẳng lẽ đi lừa phỉnh các mẹ liệt sĩ? Giỗ anh em hy sinh mà không dám tổ chức sao? Khóc anh em hy sinh cũng không được phép à?” (RFA 20-03-2012). Mới hôm qua thôi (14-03-2015), hoạt động tưởng niệm của một số người dân Hà Nội tại tượng đài vua Lý Thái Tổ đã bị quấy rối bởi một đám dư luận viên trẻ, do bị đảng đầu độc và được công an bảo vệ; hoạt động tưởng niệm tại Sài Gòn thì lại bị lực lượng công an giám sát chặt chẽ còn báo chí chính thống im lặng làm lơ.

Ô nhục thứ tư: Không đi tìm xác chiến sĩ tử trận và đãi ngộ các chiến sĩ còn sống: Ngày 22-12-2008, báo Tuổi Trẻ và Tiền Phong điện tử có loan tin rằng trong khi đánh bắt hải sản ở gần đảo Gạc Ma, một số ngư dân phát hiện và vớt được hài cốt của bốn chiến sĩ đã hy sinh tại đó và giao cho hải quân. Hải quân đã đưa bốn bộ hài cốt liệt sĩ nói trên về đất liền, làm lễ tưởng niệm tại đoàn M29. Thế nhưng, ngay trong ngày, cả hai tờ báo đã gỡ tin này xuống. Chả biết thực hư ra sao? Mà mãi cho tới hôm nay, nhà cầm quyền VN vẫn chưa cho tiến hành tìm kiếm, thu gom hài cốt hơn sáu chục binh sỹ bị chìm trên bãi đá ngầm đó. Bộ Quốc phòng chẳng có một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới. Ông Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết chua chát nhận định (RFA 12-03): “Cho đến hôm nay 64 anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải can thiệp với Chữ Thập Đỏ quốc tế để tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im, bởi vì anh sợ Tàu mà. Động chạm đến Tàu thì anh run lên vì anh bị cầm tù rồi”.

Về các chiến sĩ Gạc Ma còn sống, mãi tháng 10-2009, báo VietnamNet mới đăng bài về anh Trương Văn Hiền và cho biết anh sống rất nghèo tại thôn 3 xã Hòa Thắng, Buôn Mê Thuột, bản thân lại có trở ngại về sức khỏe với vết thương ở sườn và cánh tay trái. Phóng viên Quốc Nam, trong bài “Những người lính Gạc Ma bây giờ” (báo Tuổi Trẻ 13-03-2015) cho hay rằng sau trận chiến bảo vệ đảo Gạc Ma, những người lính còn sống trở về như anh Nguyễn Bá Ngọc và anh Mai Xuân Hải tại Quảng Bình vẫn sống trong cùng cực với bệnh tật.

Ô nhục thứ năm: mãi tin quan hệ Việt-Trung tốt đẹp: Tất cả những điểm ô nhục nói trên liên quan tới Gạc Ma, Trường Sa, có lẽ phải nói là xuất phát từ niềm tin mù quáng hay hy vọng hão huyền nơi lãnh đạo Cộng sản Hà Nội rằng quan hệ Việt-Trung sẽ mãi mãi tốt đẹp. Niềm tin mù hay hy vọng hão này dựa trên chuyện Việt cộng đã phải gắn bó với Tàu cộng quá ư lâu dài: từ quá khứ (nơi Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ), đến hiện tại (nơi Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng) và cả tương lai (nơi nhân sự sau đại hội đảng lần thứ 12 vốn được Tàu cộng chọn lựa); qua những sợi dây ngày càng thít vào họng: ân tình giúp cướp miền Nam và món nợ chiến phí khó trả nổi, sự  lệ thuộc vào chính trị, kinh tế, tài chánh, văn hóa, sự cam kết hết sức dại dột tại Thành Đô sau cơn hoảng loạn vì Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và nhất là bàn tay Trung Nam Hải che chở cho Ba Đình tiếp tục thống trị dân Việt. Có thể có lúc, có kẻ trong lãnh đạo Hà Nội nghĩ tới mối nhục đó, nhưng cái khát vọng vô độ về quyền lực và của cải trên đất Việt làm chúng sẵn sàng bán nước và trở thành vô liêm sỉ.

Hỡi tử sĩ Gạc Ma, các vị vẫn mãi là những oan hồn và nỗi nhục Trường Sa vẫn mãi còn đó bao lâu đất Việt còn nòi Cộng sản!

BAN BIÊN TẬP

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 215

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►”Âm mưu của TQ nhằm nuốt trọn Biển Đông”

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2015

Chiến lược “3 bước lấn tới” của Trung Quốc là xông vào vùng chủ quyền lãnh hải của nước láng giềng, nước tiếp cận, gây tranh chấp, rồi đàm phán song phương “gác lại tranh chấp, cùng khai thác”, cuối cùng là độc chiếm luôn.

“Âm mưu của TQ nhằm nuốt trọn Biển Đông”

 BBC

Đại tá Bùi Văn Bồng

14-03-2015

 Hải Quân Trung Quốc liên tục tăng cường sức mạnh và hiện diện ở khu vực

Từ chỗ tự vẽ ra “Đường lưỡi bò”, rồi liên tiếp gây ra tranh chấp các vùng biển có mỏ dầu của các nước láng giềng trên biển Đông, lấy cớ đó kêu gọi các nước “Gác tranh chấp cùng khai thác” trong chiến thuật “Ba bước lấn tới”, mới đây Trung Quốc tuyên bố thẳng thừng: “Biển Đông là sân nhà của Trung Quốc”.

Quả thật, với tiền đề ‘chủ quyền của ta’, Trung Quốc (TQ) chủ động khai thác và tự chủ khai thác hoàn toàn không bài xích hợp tác khai thác hoặc cùng khai thác với các nước khác. Đặc biệt là khu vực giàu dầu khí ở phía giữa và nam Biển Đông, chỉ có hợp tác mới có thể ép đối thủ đến trước bàn đàm phán, cuối cùng thực hiện “cùng khai thác” – thủ đoạn đang làm hiện nay của Trung Quốc.

Đối với những khu vực có tranh chấp lớn (thực tế là TQ cố tình tạo ra tranh chấp để đòi hỏi lợi ích vô lý), độ nhạy cảm cao, có thể có ý thức liên kết với các công ty dầu khí nước ngoài hợp tác khai thác.

Ai cũng nhớ rõ: Tháng 5-2014, Trung Quốc cho giàn khoan 981 xâm phạm vùng lãnh hải gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc đó, đã có nhiều thông tin cảnh báo rằng: Việt Nam phải xem chừng Trường Sa.

Quả nhiên, giàn khoan 981 đã thực hiện mục tiêu “một mũi tên trúng 2 con chim”. Trung Quốc đã kéo dư luận quốc tế và ở Việt Nam chú ý vào giàn khoan HD-981, trong khi họ bơm cát, đắp bồi đảo đá nhân tạo Gạc Ma và bãi đá ngầm Chữ Thập để xây dựng sân bay quân sự trên quần đảo Hoàng Sa. Nhưng khi ấy, Việt Nam đã không hề lên tiếng về hành động có tính toán chiến lược này.

Trong khi đó, với giàn khoan HD-981, Trung Quốc đặt ra hai ý đồ:

1- ‘Ngụy trang, đánh lạc hướng’, ‘Dương đông kích Tây’, tập trung dư luận chú ý về giàn khoan HD-981 để rảnh tay ‘cải tạo đảo Gạc Ma, bãi đá Chữ Thập’; đồng thời thăm dò dầu khí vùng nước sâu Hoàng Sa.

2 – Nếu Việt Nam nổ súng phản công tại giàn khoan HD-981 thì Trung Quốc lấy cớ tấn công đánh chiếm đảo Trường Sa Lớn.

Ngày 12-5-2014, trên nhiều trang mạng đã tiết lộ: Hiện nay nhiều tàu chiến Trung Quốc, 17 tàu hỏa tiễn, 20 tàu đổ bộ đang tập trung phía Bắc quần đảo Hoàng Sa. Hơn 1.000 Lính Trung Quốc đã xuống các tàu đổ bộ.

Tin cho hay, qua một cuộc điện đàm SAT-COM của Trung Quốc mà hệ thống viễn thông và điều hành vệ tinh tại Mỹ biết được, họ (TQ) đã được lệnh tấn công CHIẾM LUÔN ĐẢO TRƯỜNG SA LỚN CỦA VIỆT NAM nếu trường hợp có tiếng súng xảy ra tại giàn khoan. Hải quân và tàu đổ bộ Trung Quốc đang âm mưu, tìm cớ tấn công. Tại giàn khoan, vào ngày (10-5-2014) có khoảng 79 các tàu Tuần Duyên & Kiểm Ngư Trung Quốc, cùng 3 tàu chiến, máy bay trực thăng, máy may tiêm kích từ Hải Nam bay ra KHIÊU KHÍCH các tàu của Cảnh Sát Biển của Việt Nam. Nếu Việt Nam ‘khai hỏa’ thì Trung Quốc sẽ đổ bộ chiếm luôn các đảo Trường Sa của Việt Nam, đặc biệt là đảo Trường Sa Lớn.

Mưu đồ ‘cùng khai thác’?

Sau đó 5 tháng, trên trang mạng tuanvietnam.net có đăng bài “Gác tranh chấp, cùng khai thác kiểu Trung Quốc”, dẫn lại bài của tác giả Dương Danh Huy, đăng trên website Nghiên cứu Biển Đông ngày 21/10/2010.

Phi lộ đầu bài viết, tác giả nêu: “Gần đây, chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” được Trung Quốc nhấn mạnh nhiều lần như một sáng kiến mang tính xây dựng trong bối cảnh tranh chấp trên Biển Đông vẫn đang căng thẳng. Xét đến tính phức tạp và khó tìm lối ra hiện tại đối với tranh chấp Biển Đông, giải pháp này có thể chấp nhận được nếu các bên cùng ‘gác tranh chấp, cùng khai thác’ một cách công bằng”…

Những lời gọi là “phi lộ” trên đây rất cần phải xem lại. Như: “sáng kiến mang tính xây dựng”, rồi thì “có thể chấp nhận được… một cách công bằng”. Với Trung Quốc, nhìn từ trong bản chất âm mưu, động cơ, ý định chiến lược trong các vụ tranh chấp Biển Đông đừng mất công nói đến cái ý thức “xây dựng”, sự “công bằng” với các nước trong khu vực, cả với nhiều nước khác trên thế giới…

Trong bài viết, tác giả đã dẫn liệu, phân tích: Tại hội thảo quốc tế với chủ đề “Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” ở Hà Nội ngày 26-27 tháng 11/2009, GS Ji Guoxing của Đại học Jiaotong, Thượng Hải, nguyên giám đốc bộ môn Châu Á – Thái Bình Dương của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Thượng Hải, nhắc lại chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc. GS Ji Guoxing cụ thể hoá bằng cách đề nghị Việt Nam và Trung Quốc bàn về khả năng cùng khai thác bãi Tư Chính, một khu vực nằm hoàn toàn bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam, không thuộc quần đảo Trường Sa vốn đang trong tình trạng tranh chấp chủ quyền.

Nhìn lại 5 năm trước, tại buổi họp báo ở Hà Nội ngày 6/1/2010, Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường cũng đề nghị chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Rằng: “Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã nêu ra một sáng kiến mang tính xây dựng, đó là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”, và đề nghị rằng Việt Nam và Trung Quốc nên tạm gác lại tranh chấp, đợi điều kiện chín muồi.

Thực ra, chủ trương “Gác tranh chấp, cùng khai thác” được Trung Quốc chính thức đề nghị lần đầu tiên tại chuyến thăm Nhật, ngày 25/10/1978, Thủ Tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nói với Thủ Tướng Nhật Takeo Fukuda trong văn cảnh tranh chấp chủ quyền quần đảo Shenkaku (tên Nhật) /Điếu Ngư Đài (tên Trung Quốc) giữa Nhật và Trung Quốc. Điều đáng lưu ý là Shenkaku/Điếu Ngư Đài và vùng biển lân cận nằm dưới sự kiểm soát của Nhật, và vùng biển này gần Nhật và Đài Loan hơn Trung Quốc, cho nên Nhật có nhiều khả năng để đơn phương khai thác vùng biển này hơn Trung Quốc. Vì vậy, đề nghị của Trung Quốc để khai thác chung vùng biển này là một đề nghị nằm trong chủ đích lấn chiếm Biển Đông, có lợi cho Trung Quốc hơn là có tính xây dựng cho cả Trung Quốc và Nhật. Cho tới nay, Nhật luôn luôn khước từ tất cả các đề nghị của Trung Quốc để khai thác vùng biển lân cận đảo này.

Cũng với con bài “cây gậy và củ cà rốt” này, hồi tháng 6/1986, Đặng Tiểu Bình đề nghị với Phó Tổng Thống Philippines Salvador Laurel rằng Trung Quốc và Philippines nên gác tranh chấp Trường Sa, “không nên để vấn đề này cản trở tình hữu nghị của Trung Quốc với Philippines và các nước khác”.

Tiếp đến, tháng 4/1988, Đặng Tiểu Bình lại đề nghị với Tổng Thống Philippines Corazon Aquino, “Xét quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta, chúng ta có thể tạm gác vấn đề này và tiếp cận theo hướng khai thác chung”.

Thế giới vẫn chưa quên sự kiện cồn sóng Biển Đông, vào đầu năm 1988 Trung Quốc chiếm đóng những bãi cạn Đá Chữ Thập, Châu Viên, Gaven, Huy Gơ và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa và vào tháng 4/1988 máu của các chiến sĩ Việt Nam còn chưa tan hết trên biển Trường Sa sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam để chiếm Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao ngày 14/3/1988 và chiếm được Gạc Ma. Đây là một thí dụ cho thấy rõ sự từng bước lấn sân bằng đánh, đàm, dụ dỗ không có giới hạn của Trung Quốc. Vùng biển-đảo thuộc chủ quyền các nước trong khu vực đang yên lành, Trung Quốc gây ra tranh chấp, rồi đưa ra cái gọi là “gác tranh chấp, cùng khai thác”.

‘Ba bước lấn tới’

Như vậy, cái gọi là sáng kiến “gác tranh chấp, cùng khai thác” của chính phủ Đặng Tiểu Bình cho tranh chấp Trường Sa không phải do “có tính xây dựng” mà là để phục vụ mục đích đối trọng với các nước để từng bước chiếm đoạt hẳn. Chiến lược “3 bước lấn tới” của Trung Quốc là 1/ xông vào vùng chủ quyền lãnh hải của nước láng giềng, nước tiếp cận, gây tranh chấp, 2/ rồi đàm phán song phương “gác lại tranh chấp, cùng khai thác”, 3/ cuối cùng là độc chiếm luôn.

Dựa theo cái ‘đường lưỡi bò” tự vẽ, tự đơn phương công bố chính thức lần đầu tiên ra thế giới ngày 7-5-2009, không có ý kiến chấp nhận nào của bên thứ 2 hoặc thứ 3, Trung Quốc muốn biến vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các nước liên quan từng bước đi từ tranh chấp, đến “gác tranh chấp cùng khai thác” rồi cuối cùng sẽ “ẵm” luôn trọn gói.

Quả nhiên, với chiêu thức thâm độc nhưng khá lộ liễu này của chiến lược “3 bước lấn tới”, Trung Quốc lăm le Khu vực 9 lô dầu khí từ lâu, nhân sự kiện QH Việt Nam thông qua Luật biển, TQ đã kêu gọi mời thầu thăm dò khai thác hòng cố tình gây ra tranh chấp để rồi đi đến bước tiếp theo yêu cầu Việt Nam “gác tranh chấp, cùng khai thác”, làm cái nền, cái cớ để tiến tới dùng “lưỡi bò” liếm hết luôn.

Khu vực này nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam. Bản đồ công bố trên website của Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) cho thấy cả 9 lô mỏ dầu mà Trung Quốc đang mời chào thăm dò, khai thác đều nằm trong vùng biển thuộc “đường lưỡi bò” nằm trong mưu đồ tính toán đầy tham vọng có tính chiến lược của Trung Quốc. Các lô mỏ dầu này nằm ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, trải rộng hơn 160.000 km 2. Rìa phía tây của một số lô mỏ dầu nằm cách bờ biển Việt Nam không đầy 80 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, có nơi chỉ cách đất liền 30-50 hải lý, nằm trong vùng nội thủy và thềm lục địa của Việt Nam.

Việc tuyên bố mời thầu cho thấy một bước đi mới trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố quyền chủ quyền tại vùng biển này. Thâm hiểm, gian dối, phản trắc, dễ nuốt lời, lấy “Hữu hảo để chen ngang hứa hão” vẫn là bản chất có từ trong máu Đại Hán từ xa xưa. “Gác tranh chấp, cùng khai thác” rất phi lý lại là con bài đưa dần các nước vào tròng, bằng hung hăng đe dọa kết hợp với dụ dỗ, lấn dần. Bắc Kinh đang tìm mọi cách lật lọng để đạt cho kỳ được mục đích của tuyên bố: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trong biển Đông và các vùng biển lân cận; có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất của những vùng biển này” (?!).

Ý đồ này của Trung Quốc đã có từ lâu, rõ nhất là sự trắng trợn trong vụ giàn khoan HD-981 và cải tại đảo Gạc Ma thành sân bay quân sự, đưa cả dân ra ở đó, mở ‘Khu du lịch Gạ Ma’. Tháng 7, giàn khoan HD-981 của Trung Quốc ‘hoàn thành kế hoạch’ rút về. Tờ “Thời báo Hoàn Cầu” Trung Quốc ngày 8/8/2014 đăng bài viết nhan đề “Bành Nguyên Chính: Biển Đông là trọng điểm khai khác dầu khí mới của ta (Trung Quốc)” xuyên tạc về chủ quyền Biển Đông, phản ánh lòng tham cả chủ quyền và tài nguyên cũng như thủ đoạn thâm độc của Trung Quốc. Tác giả Bành Nguyên Chính là phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp dầu khí Trung Quốc. Bài viết cho biết: “Hiện nay Trung Quốc đã hoàn thành lựa chọn địa chỉ xây dựng (trái phép) hải đăng ở 5 đảo, đá ngầm vùng biển Tây Sa”. Theo luận điệu của bài viết: “Ở Biển Đông, cạnh tranh dầu khí những năm gần đây ngày càng gay gắt, làm thể nào để bảo vệ quyền thăm dò dầu khí vùng biển Trung Quốc trở thành vấn đề quan trọng không thể tránh khỏi”.

“Tập đoàn dầu khí Trung Quốc (CNPC) và CNOOC khoan thành công ở Hoàng Sa (đây là hành dộng trái phép của Bắc Kinh-PV), cho thấy các công ty dầu khí của Trung Quốc có khả năng tiến hanh thăm dò, khai thác nước sâu độc lập, điều kiện phá vỡ bế tắc khu vực tranh chấp đã có”.

‘Nhà và sân Trung Quốc’

Tờ báo này ‘đề xuất’ rằng: “Nhà nước (Trung Quốc) cần hỗ trợ trên các phương diện chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, như đưa ra chính sách ưu đãi khai thác Biển Đông trên các phương diện như vốn đăng ký, thu thuế, thuế quan và tài chính, thiết lập quỹ khai thác rủi ro Biển Đông có tính chất quỹ giá trị chủ quyền, đưa ra chính sách phát triển ngành nghề hỗ trợ cần thiết, để cho khai thác Biển Đông nhanh chóng tiến triển, tạo được quy mô”.

Rõ ràng, từ việc đẩy vấn đề theo hướng tranh chấp, để làm đà đi đến “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nhưng vẫn nhằm đích cuối cùng là xâm chiếm. Đó chỉ là các nấc thang mà Trung Quốc đang leo dần. Với mưu đồ tham vọng bá quyền từ lâu đời của Trung Quốc, lúc nào cũng lăm le bành trướng xuống phương Nam, lấn chiếm Biển Đông sẽ không bao giờ có “sáng kiến mang tính xây dựng”, và cái gọi là “công bằng” với các nước ASEAN có lãnh hải Biển Đông. Việt Nam và các nước ‘cùng cảnh’ trong khu vực đừng mất cảnh giác mắc mưu Trung Quốc để sau này khỏi phải gánh hậu họa do sự thiếu kiên quyết, do những bước đi, sự nhu nhược nhân nhượng do mềm yếu thiếu bản lĩnh không cứu vãn nổi.

Mới đây, dựa theo câu hỏi của Tân Văn Xã (China News Service) – hãng tin chính thức thứ hai tại Trung Quốc sau Tân Hoa Xã – theo đó phải chăng là hoạt động bồi đắp các bãi đá và rạn san hô của Trung Quốc ở Biển Đông báo hiệu một sự thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông và thậm chí đối với cả các láng giềng, ông Vương Nghị đã tại khẳng định là chính sách Trung Quốc không thay đổi.

Đặc biệt mới đây, thách thức công khai và trắng trợn nhất, tại cuộc họp báo ngày 08/03/2015 tại Bắc Kinh, Ngoại trưởng Vương Nghị đã bác bỏ thẳng thừng những phản đối của nước khác về việc Trung Quốc đang đẩy mạnh các công trình bồi đắp đảo nhân tạo tại vùng quần đảo Trường Sa, nơi có tranh chấp với các láng giềng trong đó có Việt Nam. Ông Vương Nghị đã không ngần ngại khẳng định: Biển Đông là “nhà” và là “sân” của Trung Quốc.

Rõ ràng, cho đến nay, mưu đồ và hành động của Trung Quốc ngày càng lộ rõ. Trung Quốc đang ‘hợp pháp hóa’ và dồn sức xây dựng ‘hiện đại hóa’ cái gọi là “Thành phố Tam Sa”.

Tam Sa là một thành phố được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào ngày 24 tháng 7 năm 2012 để quản lý một khu vực mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền, bao gồm: Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa), Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa), bãi Macclesfield và bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa) cùng vùng biển xung quanh. Theo phân cấp hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tam Sa là một địa cấp thị (thành phố cấp địa khu) thuộc tỉnh Hải Nam và có chính quyền nhân dân đặt tại đảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng).

Theo chính phủ Trung Quốc, việc thành lập thành phố Tam Sa sẽ giúp tăng cường hơn nữa khả năng quản lý, khả năng phát triển và kiến thiết của quốc gia này đối với những hòn đảo và các vùng nước xung quanh các quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Trường Sa, bảo vệ môi trường biển trong vùng biển Đông. Thực chất, Trung Quốc đang nỗ lực để “cái lưỡi bò” liếm hết Biển Đông.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Bình luận cáo trạng vụ anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2015

Người Buôn Gió

14-03-2015

Bản cáo trạng do Viện Kiểm Sát tối cao viết ra, nhưng lại uỷ quyền cho viện kiểm sát Hà Nội giữ quyền công tố trong phiên sơ thẩm. Vậy theo trình tự phúc thẩm thì  đối tượng việc khiếu nai, kêu oan của bị can sẽ chính là Viện Kiểm Sát Tối Cao. Dù phiên toà chưa xử đã thấy bất lợi cho các bị cáo. Vì nếu có sai ở vụ án này sẽ là lỗi của VKSTC, cấp trên của VKSNT thành phố Hà Nội là cơ quan ra cáo trạng.

Nói nôm na theo kiểu dân đen, thằng con đánh người, người ta mách bố nó, liệu có hy vọng gì chính bố nó là người ra lệnh cho thằng con đánh. Như vậy vụ án này đã thể hiện ý chí vùi dập các bị cáo ngay từ ban đầu, không cho các bị cáo hy vọng gì thái độ công bằng của cơ quan pháp luật.
Nguyên nhân của việc VKSTC viết cáo trạng là bắt đầu từ Cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công An khởi tố vụ việc, theo luật thì VKS đồng cấp sẽ thụ lý vụ án theo.

Với tội danh vi phạm khoản 2 điều 258, là tội phạm nghiêm trọng, việc diễn ra trên địa bàn Hà Nội, đối tượng vi phạm chỉ hai người, đều sinh sống làm việc tại Hà Nội. Lẽ ra cơ quan an ninh Công an TPHN thụ lý việc này, nhưng An ninh điều tra BCA đã nhảy vào cuộc ngay từ đầu. Thông thường thì việc Bộ Công An trong quá trình điều tra, thấy vụ án vào mục như trên sẽ trả hồ sơ cho công an thành phố thụ lý điều tra. Nhưng ở vụ án này, ANĐT BCA đã quyết tâm thụ lý bằng được, thậm chí sự cay cú hằn học còn thể hiện ở thời hạn điều tra.

Trong khung hình phạt tù từ 2 đến 7 năm, thời hạn điều tra được quy định trong điều 119 của BLTTHS như sau.

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thuý bị bắt khẩn cấp theo lệnh của Bộ Công An vào ngày 5/5/2014. Bản kết luận điều tra cuối cùng theo quy định được cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an ra ngày 26 tháng 1 năm 2015. Quyết định khởi tố ra ngày 13/5/2014. Tính theo ngày bắt thì bản kết luận điều tra này vi phạm 21 ngày, tính theo quyết định khởi tố vụ án vi phạm 8 ngày.Vậy năng lực của cơ quan an ninh điều tra Bộ Công An kém hay có điều gì khuất tất trong vụ án, mà chỉ một vụ án khung hình phạt từ 2 đến 7 năm thôi, thuộc khoản B điều 119 BLTTHS, cơ quan an ninh điều tra của BCA phải sử dụng tối đa thời hạn điều tra của luật tố tụng hình sự quy định. Đến lúc quá thời hạn quy định rồi dư luân lên án , lúc đó mới ra bản kết luận điều tra cuối cùng.Thực thi pháp luật kiểu ấy liệu có khiến người ta tin tưởng vào năng lực và sự công bằng hay không.? Liệu có phải đây là một vụ án đầy đủ chứng cứ hay là một vụ án khiên cưỡng, gò ép phải đưa ra xét xử bằng được. Nếu chứng cứ đầy đủ, vụ án thế này không cần để ANĐT BCA xài triệt để thời hạn điều tra như vây, thậm chí còn quá hạn quy định của BLTTHS.

Đọc bán cáo trạng cũng như kết luận điều tra, thấy nêu tên ông tướng Hoàng Kông Tư là nạn nhân của các bị cáo. Ông Tư chính là thủ trưởng cơ quan an ninh điều tra Bộ Công An.

Thử hỏi có vụ án nào người bị hại lại là người ra lệnh bắt giữ, khám xét và điều tra bị cáo.?

Phải chăng ông Tư đã lạm dụng quyền hạn của mình, để trả thù các bị cáo. Nên ông đã dùng cơ quan an ninh điều tra BCA mà ông là lãnh đạo để thụ lý vụ án, một vụ án lẽ ra để  công an thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết cũng được vì tính chất như đã nói, bị cáo chỉ có hai người, hành vi , nơi sinh sống diễn ra tại Hà Nội, khung hình phạt trong mức mà các cấp như VKS, CA, Toà Án thành phố thụ lý.

Trong 12 bài viết được gọi là bằng chứng phạm tội mà các bị cáo đăng tải trên trang Dân Quyền, bài xa nhất là bài Tham Nhũng, Chống Tham Nhũng và Thể Chế được đăng ngày 17 tháng 1 năm 2014. Bài cuối cùng là bài đăng ngày 30 tháng 4 năm 2014, bài đó có tên là.

– Ông trời con Hoàng Kông Tư vs BBC Việt Ngữ

Đây là bài đăng cuối cùng trên trong 12 bài viết đăng trên trang Dân Quyền, các bị cáo bị bắt vài ngày sau đó vào ngày 5 tháng 5 năm 2014.

Đến đây thì có thể kết luận, vụ án này do trung tướng Hoàng Kông Tư báo thù cá nhân. Nếu các bị cáo phạm tội thực sự, cơ quan an ninh điều tra BCA làm việc đúng pháp luật. Các bị cáo phải bị bắt từ lâu rồi, chứ không phải đến bài viết về ông Tư mới bắt.

Bản cáo trạng gồm 8 trang. 3 trang đầu miêu tả việc các đối tượng lập blog, lập trang mạng, đây là việc quá bình thường trong một đất nước đang có hàng chục triệu ngươi sử dụng mạng internet. Việc liệt kê quá trình lập blog, bảo mật, đăng ký sử dụng mạng, lập thư điện tử….bất kỳ ai lên mạng đều làm như vậy. Có gì mà phải vẽ ra đến 3 trang như ly kỳ, âm mưu toan tính, hiểm hóc ?

2 trang chỉ liệt kê tên của các bài viết, chỉ liệt kê đúng cái tiêu đề.

2 trang nêu lý lịch bị cáo.

1/2 trang kết luận.

 1/ 4 trang của bản cáo trạng liệt kê lượng người đọc , còm men.

Chỉ có 1/4 trang trong 8 trang cáo trạng có vẻ đúng nghĩa bản cáo trạng, nhưng đó là kết luận giám định của bộ thông tin và truyền thông khẳng định các bài viết mà hai bị cáo đưa lên là xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân, xâm phạm lợi ích cá nhân tổ chức….còn xâm phạm thế nào, thiệt hại ra sao, cá nhân nào bị thiệt hại…không thấy nói đến.

 Cả cái bản cáo trạng lẫn kết luận hồ sơ của Bộ Công An, Viện Kiểm Sát tối cao mà chỉ kể lể dài dòng chuyện lý lịch, việc đăng ký sử dụng mạng, lập hòm thư rồi nêu tên các bài viết. Sau đó ngắn gọn nói rằng giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông nói là có tội, thế là thành có tội mang ra xử. Không thấy phân tích chứng cứ, lập luận khoa học kết tội. Rặt áp đặt chủ quan, cảm tính. Một bản cáo trạng và kết luận hồ sơ như vậy thì cần gì hai cơ quan tố tụng lớn nhất đất nước phải dùng sạch bách thậm chí quá hạn điều tra mới viết ra được.

Và tại sao Bộ Công An có cơ quan an ninh văn hoá không giám định các bài viết mà để cho một cơ quan dân sự, không liên quan gì đến việc tố tụng đứng ra giám định và kết luận việc có tội hay không có tội.

Xét về mạnh cạnh tranh độc giả, thì chính các bị cáo là đối thủ cạnh tranh với bộ Thông Tin Truyền Thông trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin.

Vậy vụ án này thật khôi hài và bỉ ổi. Kẻ được nêu tên là bị hại thì chính là kẻ khởi tố, điều tra vụ án. Đối thủ cạnh tranh thị trường lại được mời làm giám định thiệt hại, kết luận có tội. Một vụ án được những kẻ tham gia tố tụng như vậy trông mong gì minh bạch.

Điều đặc biệt nhất trong bản cáo trạng này là bản cáo trạng vi phạm điều 100 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự.

Điều 100 BLTTHS quy định như sau:
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:
1. Tố giác của công dân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;
3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
5. Người phạm tội tự thú.

Bản cáo trạng chỉ nói ngày 5 tháng 5 năm 2014 cơ quan an ninh điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Minh Thuý, sau đó Bộ Công An phát hiện thấy hai đối tượng đang mở trang website Dân Quyền, Chép Sử Việt.

Chắc sắp tới, điều 100 của Bộ luật TTHS nước CHXHCN Việt Nam phải thêm một khoản 6 nữa trong căn cứ xác định dấu hiệu pham tội, đó là cứ khám xét khẩn cấp nhà riêng, nơi làm việc mà phát hiện có gì thì khởi tố sau. Điều luật này có thể khi chung chung để cơ quan an ninh áp dụng thoải mái, hãy đặt tên điều luật đó là luật Hoàng Kông Tư.

Từ những căn cứ vi phạm các dấu hiệu vi phạm luật TTTHS như căn cứ khởi tố vụ án ở điều 100 bộ luật tố tụng hình sự, điều 119  BLTTHS về thời hạn điều tra, điều 42 BLTTHS về người tham gia tố tụng có thân thích với bị hại ( thân thích với bị hại còn không được, huống chi là bị hại như ông Tư và bị thiệt hại về cạnh tranh bạn đọc như cơ quan giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông ) hay thẩm quyền của cơ quan thụ lý vụ án.

Đề nghị huỷ toàn bộ hồ sơ cáo trang, kết luận điều tra, thay đổi cơ quan điều tra và cơ quan công tố cũng như cơ quan giám định. Giao vụ án này cho công an TP Hà Nội, Viện Kiểm Sát Hà Nội, cơ quan giám định văn hoá của BCA thụ lý ..thực hiện. Đảm bảo công bằng cho bị cáo. Đề nghị triệu tập những cơ quan, tổ chức bị haị , những cá nhân bị hại như ông trung tướng công an, thủ trướng cơ quan an ninh điều tra BCA Hoàng  Kông Tư, ông thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Viẹt Nam Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Thanh Nghị phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, ông Nguyễn Phú Trọng Tổng bí thư ĐCSVN để làm rõ mức độ thiêtj hại cũng như yêu cầu , ý kiến của các ông này đối với vụ án. Đề nghị triệu tập các tác giả trong những bài viết mà các đối tượng đăng tải lại. Triệu tập các nhân chứng liên quan…

Nếu bất chấp các vi phạm luật TTHS trên mà vẫn đem ra xét xử, rõ ràng đây là một vụ án tư thù cá nhân, những kẻ có quyền lực tố tụng đã bẻ cong pháp luật một cách trắng trợn, tuỳ tiện để thoả mãn động cơ cá nhân của mình.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An | Leave a Comment »

►Trung Quốc nói biển Đông là ‘sân nhà’, VN chưa lên tiếng

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2015

VOA

15-03-2015

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị hôm 9/3 nói rằng các hành động bồi đắp của nước này ở biển Đông, vốn gây nhiều quan ngại không chỉ đối với các quốc gia tranh chấp và còn cả cộng đồng quốc tế, là “hợp pháp và chính đáng”.

Chính quyền Hà Nội vẫn im tiếng sau khi Bắc Kinh có những tuyên bố khẳng định biển Đông là ‘sân nhà’ của mình đồng thời lớn tiếng chỉ trích một nhà ngoại giao cấp cao của Việt Nam.

Ông Vương nói rằng Bắc Kinh “không giống với các quốc gia khác là thực hiện việc xây dựng trong nhà của người khác,” đồng thời tuyên bố “không chấp nhận chỉ trích từ bất kỳ ai vì chúng tôi chỉ xây dựng các cơ sở trong sân nhà của mình”.

Đây được coi là lần đầu tiên một quan chức cấp cao của Trung Quốc tuyên bố biển Đông là “sân nhà” của mình.

Nhận định về tuyên bố trên, giáo sư Carl Thayer cho biết ông cảm thấy “bàng hoàng” khi đọc phát biểu của ông Vương, nhất là trước ngày kỷ niệm 27 năm Trung Quốc tấn công các tàu của Việt Nam gần bãi đá Gạc Ma ngày 14 tháng Ba năm 1988.

Chuyên gia người Australia nói thêm rằng bình luận của nhà ngoại giao Trung Quốc “trơ trẽn và ngạo mạn”.

Bộ Ngoại giao Việt Nam dự kiến tổ chức một cuộc họp báo thường kỳ hôm 12/3, 3 ngày sau cuộc họp báo của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, nhưng đã thông báo hoãn mà không đưa ra lý do.

Lời qua, tiếng lại

Mới nhất, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã tỏ ra tức giận về những lời phát biểu phản đối đường lưỡi bò 9 đoạn của ông Lê Lương Minh, hiện giữ chức Tổng thư ký ASEAN.

Trả lời tờ Manila Times tuần trước, nhà ngoại giao kỳ cựu của Việt Nam nói rằng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á phản đối chính sách sử dụng đường đứt đoạn để khẳng định chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc.

Ông Minh cũng nói thêm rằng sự hội nhập kinh tế của ASEAN sẽ bị ảnh hưởng bởi “bất kỳ sự thù nghịch hay xung đột” có thể bùng ra trên vùng biển tranh chấp.

Đáp lại, phát ngôn viên của Trung Quốc nói rằng ông Minh đã có “những phát biểu mang tính bè phái và không phù hợp với vị trí của ông”, đồng thời kêu gọi nhà ngoại giao này “không sử dụng vị trí của mình cho mục đích riêng”.

Từ trước tới nay, Việt Nam khẳng định ‘chủ quyền không tranh cãi của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’.

Sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan dầu gây tranh cãi vào vùng biển mà Việt Nam nói là thềm lục địa của mình hồi giữa năm ngoái, Hà Nội và Bắc Kinh đã nhiều lần ‘lời qua tiếng lại’.

‘Không đánh đổi chủ quyền’

Chính quyền quốc gia đông dân nhất thế giới khi ấy thậm chí còn cáo buộc quốc gia láng giềng ‘xuyên tạc lịch sử, bác bỏ thực tế và nuốt lời’ liên quan tới quần đảo mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, còn Việt Nam gọi là Hoàng Sa, cũng như về công hàm Phạm Văn Đồng.

Nhưng Hà Nội đã ‘kiên quyết bác bỏ những phát biểu sai sự thật của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc’.

Những người bất đồng chính kiến ở hải ngoại bấy lâu nay dùng công hàm này để cáo buộc Hà Nội đã thực hiện điều họ gọi là ‘bán nước’, nhưng phía Việt Nam luôn bác bỏ điều này.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng tuyên bố ‘không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông’ cũng như cho báo giới biết rằng Hà Nội có thể xem xét hành động pháp lý chống lại các hành động của Trung Quốc ở biển Đông.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »