Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956’ Category

►Công an, những đứa trẻ con trong hình hài người lớn: hể hả giựt điện thoại, bắt người, đánh đập, cắt cổ, đóng phim diễn tuồng… biện hộ hành động

Posted by hoangtran204 trên 06/05/2017

À quên! Công an còn bị coi khinh đến độ được chủ điều động đi  đánh đập người dân giúp bọn cướp đi tước đoạt  đất đai của dân… cái này ở miền Bắc vào 1953-1956 gọi là chuyên chính vô sản đấu tố, cắt cổ, chặt đầu… ở miền Nam vào 1975-1980 được gọi là chiến dịch X1 và X2.  Giờ đây, 1990-2017 được gọi là chuyên chính của bọn hữu sản. (Trần Hoàng)

Hai chuyện nhỏ về công an

Phạm Đoan Trang 

6-5-2017

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền | Leave a Comment »

►Chính sách hợp tác xã nông nghiệp và nạn đói dưới thời Stalin và Mao Trạch Đông

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2016

Hợp tác xã nông nghiệp là chính sách của đảng cộng sản, tịch thu ruộng đất của nông dân để thành lập nông trại lớn, và đẩy nông dân vào làm trong hợp tác xã nông nghiệp. Người nông dân được chia sản phẩm đủ ăn, còn hợp tác xã lấy hết phần còn lại (để nộp cho huyện, huyện chuyển lên tỉnh, và giao cho trung ương) sau khi chia lúa gạo cho nông dân và gia đình theo chế độ khẩu phần, 13-15 kg/ 1 người/ một tháng. Tất cả nông dân trở thành người làm thuê cho đảng (đểu).

Sau khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, từ 1953-1956, nhà nước  (giả vờ) chia ruộng đất vừa mới tịch thu của nông dân giàu (hay địa chủ) chia cho các nông dân VN nghèo. Nhưng sau khi cho họ làm ruộng được 3 năm, thì nhà nước phát động phong trào thi đua vào hợp tác xã, lấy đất lại, và bắt buộc tất cả nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp kể từ 1959. Vậy là quyền làm chủ đất đai lọt vào tay đảng CSVN (đểu). Nhưng bọn chúng tìm cách lừa đảo người dân bằng cách các thuật ngữ: đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Hầu hết, mọi người sẽ nghĩ là: ôi, cộng sản tốt quá, đất đai thuộc về toàn dân, mọi người đều sẽ có đất đai, để làm ruộng, để xây nhà… nên người dân từ trí thức như luật sư, kỹ sư, thầy giáo, nông dân nghèo, học sinh… đều muốn đi theo “bác Hồ”.  Về sau, khi chiếm được miền Bắc 1954, chúng mới giải thích rõ ràng như sau: sở hữu toàn dân tức là sở hữu tập thể, tức thuộc sở hữu nhà nước, và đất đai là do đảng quản lý! Cán bộ cao cấp của đảng cộng sản VN được cấp hơn 600 biệt thự do Pháp để lại, và các biệt thự của những gia đình di cư vào miền Nam năm 1954 trốn tránh cộng sản. Những cán bộ nhỏ, công chức, nhà văn theo đảng, nhà báo, thầy cô giáo với gia đinh được ở tập thể, họ chia nhau 4-5 gia đình ở chung 1 nhà; rất là chật chội.

Dân chúng miền Bắc VN bị đói triền miên kể từ khi có hợp tác xã nông nghiệp 1960 cho đến 1987. Kiểm soát lúa gạo là kiểm soát được người dân.

Ông HCM và Lê Duẩn biết rõ miền Bắc không thể tự túc lương thực, và cũng không đủ khả năng để xây dựng nền công nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp vì theo tiểu sử, ông Hồ chưa học xong lớp 7, và Lê Duẩn chỉ học tới lớp 4. Họ chiếm được miền Bắc nhờ Trung Cộng và Liên Xô giúp đỡ, nên phải nghe lệnh Liên Xô và Trung Cộng gây chiến tranh giải phóng miền Nam đổi lấy cái ăn. Cả hai ông xin TQ và Liên Xô viện trợ vũ khí và chính thức phát động chiến tranh giải phóng miền năm 1960 để có cái ăn do hai nước đàn anh cung cấp, và cả hai dự định rằng sau khi cướp được miền Nam, thì các hợp tác xã ở miền Nam sẽ cung cấp lúa gạo nuôi miền Bắc, và không còn lo đói nữa.

Nhưng sau khi cộng sản chiếm được miền nam 1975, người nông dân miền Nam không chịu vào hợp tác xã, ở nhiều vùng, họ giao đất đai cho chính quyền xã muốn làm gì thì làm. Thế là cả nước đói từ 1975-1987 cho đến khi Lê Duẩn chết. Vì lo sợ nông dân đang đói sẽ nổi loạn, nên đảng CSVN không còn nhắc nhở gì đến hợp tác xã nông nghiệp, và nông dân tự do làm ruộng, nạn đói ở VN biến mất kể từ sau 1990.

Sau khi Lê Duẩn chết 7/1986, bọn cộng sản cao cấp ở Hà Nội và các tỉnh thành phố đã nhanh tay chiếm làm của riêng tất cả đất đai đắc địa trong các thành phố, các tỉnh, và vùng bờ biển, chiếm rừng cao su, chiếm các đất hoang chưa có ai làm chủ… Vì trong tay có quá nhiều đất đai và nhà cửa, chúng muốn hợp pháp hóa tài sản của chúng nên đặt ra việc cấp sổ đỏ vào năm 1993. Nhà đất phải có sổ đỏ để xác nhận mình là chủ nhà hay chủ đất. (Trần Hoàng ghi chú)

Hợp tác hóa và nạn đói dưới thời Stalin

Nghiên cứu Quốc tế

Biên dịch: Ngô Việt

Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

16-11-2010

Bài báo

Bài báo viết về 6 triệu người chết trong nạn đói ở Liên Xô. Ảnh: Project Syndicate

 

 

 

 

 

Nông dân của hợp tác xã nông nghiệp đang làm việc trên nông trường (Trần Hoàng chú thích) – Ảnh nepalitimes.com

Tám mươi năm trước, vào mùa thu năm 1930, Joseph Stalin đã áp đặt một chính sách làm thay đổi tiến trình lịch sử và đã gây nên cái chết của hàng chục triệu người trong nhiều thập niên và ở khắp thế giới.

Trong chiến dịch “Hợp tác hóa” nông nghiệp đại quy mô và đầy bạo lực, Stalin đã đặt quyền kiểm soát nền nông nghiệp Liên Xô vào tay nhà nước.

Stalin theo đuổi chính sách hợp tác hóa nông nghiệp mặc cho những đợt chống đối quy mô lớn sau nỗ lực áp dụng chính sách lần đầu tiên của nhà chức trách Liên Xô vào mùa xuân trước đó (1929). Giới lãnh đạo Liên Xô đã dựa vào việc bắn giết và trục xuất tới các trại gulag (lao động khổ sai) nhằm ngăn chặn những sự chống đối. Nhưng người dân Liên Xô vẫn chống cự với số lượng lớn; những người du mục Kazakh trốn qua Trung Quốc, còn những người nông dân Ukraine thì trốn qua Ba Lan.

Vào mùa thu, những vụ bắn giết và trục xuất vẫn tiếp diễn, cùng với những cưỡng bức về kinh tế. Nông dân bị đánh thuế cho đến khi họ tham gia hợp tác xã, và các nông trường hợp tác được quyền tịch thu hạt giống của các nông dân làm ăn cá thể, được dùng để trồng cho mùa vụ năm tới.

Khi nền nông nghiệp Liên Xô đã hoàn toàn bị hợp tác hóa thì nạn đói cũng bắt đầu. Bằng cách tước đoạt ruộng đất của nông dân và biến họ trên thực tế trở thành nhân viên nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp cho phép Moskva quản lý cả con người lẫn những sản phẩm của họ.

Nhưng sự kiểm soát không phải là sự sản suất ra vật chất. Nó chứng tỏ sự bất khả thi trong việc biến những người du mục Trung Á thành những người nông dân làm việc hiệu quả chỉ trong thời gian một mùa vụ. Bắt đầu từ năm 1930, khoảng 1,3 triệu người ở Kazakhstan đã chết đói khi lượng thu hoạch ít ỏi của họ bị trưng thu theo lệnh của trung ương.

Ở Ukraine, mất mùa vào năm 1931. Có nhiều lý do dẫn đến mất mùa: thời tiết xấu, côn trùng gây hại, những thiếu hụt về sức kéo cày của động vật sau khi những người nông dân giết hết gia súc để tránh bị mất vào tay hợp tác xã, thiếu máy cày, những đợt bắn giết và trục xuất những nông dân giỏi nhất, và những gián đoạn về gieo hạt và thu hoạch bởi quá trình hợp tác hóa nông nghiệp.

“Làm sao mà người ta trông cậy vào chúng ta để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,” một người nông dân Ukraine hỏi, “khi mà tất cả chúng ta đều bị  đói?”

Bây giờ chúng ta biết, sau 20 năm tìm hiểu các tài liệu của Liên Xô, rằng vào năm 1932 Stalin đã cố tình chuyển đổi (đổ thừa nguyên nhân) nạn đói do vào hợp tác xã ở Ukrane là do động cơ chính trị. Stalin đọc diễn văn nói rằng sự mất mùa là dấu hiệu phản kháng của người Ukraine, và đòi hỏi phải cứng rắn chứ không được nhân nhượng.

Khi nạn đói bắt đầu lan rộng vào mùa hè năm đó, Stalin giải thích một cách rõ ràng hơn, rằng nạn đói là do phá hoại, các nhà hoạt động cộng sản địa phương là những kẻ phá hoại, được bảo vệ bởi giới chức cấp cao hơn ở khu vực, và tất cả đều ăn tiền của những điệp viên nước ngoài. Vào mùa thu năm 1932, điện Kremlin ra một loạt những nghị định với hậu quả đảm bảo khiến nhiều người chết. Một trong những nghị định trên là cắt đứt toàn bộ hàng tiếp tế cho những cộng đồng không đạt được mức thu hoạch ngũ cốc tối thiểu.

Cùng lúc đó, những người cộng sản chiếm đoạt tất cả những thực phẩm họ có thể tìm được, “đến từng hạt lúa nhỏ bé cuối cùng,” và vào đầu năm 1933 biên giới Ukraine bị đóng lại, để ngăn cản những người đang dần chết đói tìm kiếm sự trợ giúp. Những nông dân chết dần chết mòn phải thu hoạch vụ xuân dưới họng súng của các tháp canh.

Hơn 5 triệu người chết đói hoặc chết vì những căn bệnh có liên quan đến đói khát ở Liên Xô vào đầu thập niên 1930, trong đó 3,3 triệu người chết ở Ukraine, và trong con số đó 3 triệu người có thể đã sống sót nếu Stalin đơn thuần chỉ tạm ngưng thu mua và xuất khẩu trong vài tháng và cho phép người dân được tiếp cận các nguồn cung cấp lúa mì.

Những sự kiện này vẫn là trọng tâm của chính trị Đông Âu cho đến ngày hôm nay. Mỗi tháng 11, người Ukraine tưởng niệm những nạn nhân của năm 1933. Nhưng Viktor Yanukovych, tổng thống đương nhiệm (vào thời điểm của bài viết – ND), không công nhận sự thống khổ đặc biệt của người Ukraine, như một cách đồng ý theo quan điểm lịch sử của Nga, vốn tìm cách để làm lu mờ những tác hại cụ thể của chính sách hợp tác xã nông nghiệp thành một thảm kịch mơ hồ đến mức không có nạn nhân và những thủ phạm rõ rệt.

Rafal Lemkin, luật sư người Ba Lan gốc Do Thái, người đã lập nên khái niệm “genocide” (diệt chủng) và nghĩ ra thuật ngữ này, sẽ phản đối điều đó: ông gọi nạn đói ở Ukraine là một ví dụ điển hình về diệt chủng dưới ở Liên Xô. Như Lemkin nhận định, khủng bố diễn ra sau nạn đói: những người sống sót qua nạn đói và trại cải tạo trở thành những nạn nhân tiếp theo của Stalin. Cuộc đại thanh trừng vào thời kỳ 1937-1938 bắt đầu bằng một chiến dịch bắn giết nhắm phần lớn vào nông dân, cướp đi mạng sống của 386.798 người khắp Liên Xô, đa số nạn nhân ở Ukraine.

Hợp tác xã nông nghiệp có tác động lâu dài. Khi Đức Quốc xã xâm lược phía Tây Liên Xô, người Đức giữ nguyên những nông trường hợp tác xã, vì họ coi nó như là một công cụ cho phép họ điều động thực phẩm Ukraine cho những mục đích riêng của họ, và bỏ đói những ai mà họ muốn.

Sau khi Mao khởi động cuộc cách mạng năm 1949, những người cộng sản Trung Quốc bắt chước kiểu mẫu phát triển hợp tác xã theo kiểu Stalin. Sự kiện này làm cho 30 triệu người Trung Quốc đã chết đói trong giai đoạn 1958-1961, trong một nạn đói rất giống như ở Liên Xô. Hợp tác xã nông nghiệp kiểu Mao cũng được thi hành bằng những chiến dịch bắn giết trên quy mô lớn.

Thậm chí bây giờ, hợp tác xã nông nghiệp là nền tảng của bạo quyền ở Triều Tiên, nơi mà hàng trăm ngàn người chết đói vào thập niên 1990.

Và ở Belarus, nền độc tài duy nhất còn sót lại ở châu Âu, hợp tác xã nông nghiệp không bao giờ chấm dứt, và một cựu giám đốc hợp tác xã nông nghiệp, Aleksandr Lukashenko, đang đứng đầu đất nước.

Lukashenko đang tranh cử tổng thống tiếp tục nhiệm kỳ lần thứ tư vào tháng 12/2010. Bằng cách kiểm soát đất đai, ông ta cũng kiểm soát phiếu bầu. Tám mươi năm sau phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, thế giới của Stalin hiện nay vẫn còn tồn tại với  chúng ta.

Timothy Snyder là giáo sư lịch sử tại Đại học Yale. Cuốn sách mới nhất của ông là Bloodlands: Europe Between Hitler and Stalin.

Nguồn: Timothy Snyder, “Stalin, our contemporary”, Project Syndicate, 16/11/2010

Các bạn có thể xem bài báo “Stalin, Our Contemporary” ở đây, nepalitimes.com 

_______

Phim 8 tâp

_______

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc, Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Đằng sau những lá bài (Đỗ Trường, Xuân Vũ)

Posted by hoangtran204 trên 16/06/2016

Đằng sau những lá bài

Tác giả:

14-6-2016

Tôi biết, và đọc hồi ký Đường Đi Không Đến của nhà văn Xuân Vũ vào khoảng đầu năm 1990, do Trung tá, bác sỹ Đặng Huy Lưu cựu Liên đoàn trưởng quân y vùng 4 quân đội VNCH, cư ngụm tại Houston gửi tặng. Và cũng từ bác sỹ Đặng Huy Lưu, tôi có được số điện thoại của Xuân Vũ, một nhà văn tài năng, có số phận khá đặc biệt, mà tôi ngưỡng mộ. Khi chùm truyện ngắn Phượng Ơi! Đừng nở nữa, Lầm Lỡ và Ngã Ba Cuộc Đời của tôi được đăng trên nguyệt san Hương Quê (Houston), ông đã có lời ngợi khen, khích lệ…

duong_di_khong_den_bia-medium

Tưởng mới đây thôi, thế mà Xuân Vũ đã rời bỏ chúng ta, rời bỏ cõi tạm này tròn một con giáp.

Thời gian gần đây, tôi đọc, và ngẫm nghĩ muốn viết về thơ văn cũng như chân dung ông. Nhưng không hiểu sao, những câu chuyện xã hội không đầu, không đuôi trước đây ông đã kể, như những thước phim chợt hiện về. Chuyện xảy ra, khi tôi chưa được sinh ra làm kiếp con người. Có những chuyện là thực và có cả chuyện chỉ là những giai thoại…

Biết là thế, và để tuyệt đối tôn trọng nhà văn đã khuất, kẻ hậu bối xin phép ráp lại những câu chuyện trên một cách trung thực nhất (có thể), với hơi hướng của truyện ngắn. Tuy nhiên, dù công lao, tội lỗi, hay đúng sai thế nào đi chăng nữa, người viết vẫn phải dùng những đại từ nhân xưng đúng với lễ giáo cho các nhân vật trong truyện, bởi họ đều thuộc thế hệ cha ông và đã ra người thiên cổ từ lâu…

********
Chưa đến giờ giới nghiêm, nhưng dường như thành phố đã chìm vào trong giấc ngủ. Chợt có những cơn gió bấc luồn qua ngõ nhỏ, bật ra âm thanh như tiếng hú gọi. Lơ lửng dưới khung cửa lá cờ đỏ ướt sũng, rũ xuống loang như vệt máu tươi hằn lên nền trời. Mưa mỏng dần, bay như những dải khăn trắng vắt qua con phố vắng.

Với không gian, tiết trời này, lẽ nào Hà Nội có thể lập xuân? Vũ phân vân tự hỏi, rồi ngước nhìn những chiếc xe cam nhông phủ bạt kín mít đang lao nhanh về phía cầu Paul Doumer (Long Biên). Có thể, đây là những chuyến hàng cuối được đưa xuống Hải Phòng, rồi chở về miền Nam quê hương. Nơi vài tháng trước đây Vũ đã từ bỏ nó.

Từ khi cầm tờ giấy trưng dụng đi cải cách ruộng đất ở vùng duyên hải Nam Định, Thái Bình, cho mãi đến sau này, ngẫm nghĩ, Vũ càng ngấm và thấm, cũng như mến phục chí khí, tài năng ông bạn văn Trần Dần: “Tôi bước đi/ Không thấy phố/ Không thấy nhà/ Chỉ thấy mưa sa/ Trên màu cờ đỏ“

Dừng bước chân, lòng anh dường như gợn lên một cảm giác thất vọng, cô đơn trong cái không gian nặng nề, và trống vắng này. Đứng giữa thành phố, mà anh cứ nghĩ, đây không phải Hà Nội. Bởi nơi đây, dường như đã rụng mất “hồn người“ và vắng cả tiếng rao đêm của những Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng… Vậy là không chỉ thực tại, mà cả những trang sách của họ đã bị xé bỏ ngay trên mảnh đất đã sinh ra nó. Như một nhát dao cắt đứt cơn mộng du, Vũ đưa tay vuốt lại khuôn mặt nhòe trong mưa, loạng choạng bước tiếp…

Đọc xong báo cáo của Đại sứ Hoàng Văn Hoan từ Peking gửi về, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngước nhìn Tổng bí thư Trường Chinh, và hỏi:

– Ý kiến và kế hoạch của anh như thế nào?

– Như tôi cũng đã trình bày với các đồng chí cố vấn, đây là cuộc cải cách ruộng đất đợt cuối và quyết liệt nhất. Chương trình có thể thực thi, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ gặp phải sự chống đối của dân chúng, nhất là giới trí thức và báo chí trong và ngoài nước. Theo kế hoạch, chúng tôi chỉ thị cho các cơ quan từ trung ương đến địa phương, chọn lựa người bổ xung cho công tác cải cách đợt này và đã đưa học tập, chỉnh huấn. Chương trình cụ thể, chúng ta sẽ bàn và thống nhất ở cuộc họp tới đây.

Dụi điếu thuốc đang cháy dở, Hồ Chí Minh bảo:

-Cái chính, chúng ta chọn người trong đội cải cách phải là thành phần bần cố, ít học, tuyệt đối trung thành. Đây là cuộc cải tạo đại qui mô, triệt bọn phú nông, tư sản tận gốc. Do vậy, chúng ta chỉ thị cho Bộ ngoại giao không được cấp chiếu khán cho bất kỳ nhà báo, hay tổ chức xã hội nào. Các đoàn ngoại giao trong thời kỳ này cũng ngừng đón tiếp. Một số nhà báo nước ngoài còn ở trong nước, cố gắng tạo ra một lý do nào đấy để trục xuất. Tất cả đều phải bất ngờ, không để bọn địa chủ, tư sản tẩu tán tài sản. Chúng ta phải cho đội cải cách học tập kinh nghiệm khuấy động quần chúng, gây cho họ lòng thù hận, nhất là thành phần vô học. Bởi họ là lực lượng nòng cốt đấu tố. Điều quan trọng nữa, cần ly gián tình cảm cha con, ông cháu địa chủ, tư sản, tạo ra mâu thuẫn gia đình. Nó rất có lợi cho ta khi đối phó với những tên ngoan cố cất giấu tài sản. Đây là ý kiến cũng như áp lực từ phía Trung Quốc.

Thấy Trường Chinh còn băn khoăn về sự phản kháng của dân chúng, truyền thông và nhân sỹ trí thức. Hồ Chí Minh rất tự tin và trấn an:

-Chúng ta cứ yên tâm triển khai công việc. Vấn đề này, thuộc trách nhiệm của chú Văn (Võ Nguyên Giáp) và chú Hoàn (Trần Quốc Hoàn).

Sau tết nguyên đán, dưới sự chủ tọa của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, hội nghị đã hoàn toàn nhất trí về kế hoạch, phương thức cải cách, đấu tố, cũng như nhân sự chỉ đạo. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến đề nghị Hồ Chủ Tịch làm Trưởng ban cho xứng với tầm vóc, mang ý nghĩa lớn lao này. Nhưng ông từ chối một cách khiêm nhường, với những lý do khó có thể nài ép.

Bước ra khỏi phòng họp, Tổng bí thư Trường Chinh quay lại dặn Vũ Tuân: Cuối tuần tới thằng Kỳ (Đặng Xuân Kỳ sau này là viện trưởng Mác- Lê nin) từ đơn vị về. Cậu và nó về quê đón ông cụ nhà mình lên đây nhé. Nếu cần, có thể mang theo đội bảo vệ, đề phòng bất chắc…

(Gia đình của Trường Chinh thuộc thành phần tư sản giàu có ở quê. Ông mang bố mẹ của ông về Hà Nội để tránh bị đấu tố trong cải cách ruộng đất. )

Tuy không mưa, nhưng nền trời xám ngoét. Đường đất vẫn nhẽo nhoẹt, bám vào bánh, cuốn chặt chắn bùn xe…nặng nề, ngúc ngắc làm cho Vũ gò lưng đạp. Thỉnh thoảng, anh phải xuống xe, bẻ cành tre bên đường để cạy đất. Gần trưa Vũ cũng tới được Xuân Trường. Đang loay hoay tìm đường vào làng Hành Thiện, anh chợt nghe tiếng động cơ với tiếng còi xe hơi cấp tập phía sau lưng. Vũ nhảy vội xuống xe, đứng nép vào mép đường. Chiếc xe hơi chòng chành, chồm lên thụt xuống những ổ trâu trên mặt đường. Vũ quay mặt, co người lại, nhưng đất bùn từ bánh xe vẫn văng đầy lên đầu và lưng áo. Chưa kịp văng ra một câu chửi tục, chiếc xe đã vọt lên, phả vào mặt anh mùi xăng dầu cháy khét lẹt…

Khi vào tới đầu làng, Vũ gặp lại chiếc xe hơi từ trong làng chạy ngược trở ra. Tìm gặp được người đội trưởng đội cải cách, Vũ thấy mặt hắn xanh như đít nhái, đang bần thần đứng tựa lưng trước cổng nhà. Sau nghe kể, Vũ mới biết đó là nhà của gia đình Tổng bí thư Trường Chinh. Vũ đưa cho cho hắn công văn của Ban cải cách. Hắn cầm, rồi đưa lại cho Vũ:
-Tôi mới qua lớp bình dân học vụ, có đọc cũng không hiểu hết. Ông đọc và giải thích giùm tôi.

Đọc và giải thích xong cho người đội trưởng, thấy cảnh bắt bớ đấu tố một cách dã man, Vũ chán nản, định quay ngay về Nam Định. Lên xe, đạp được mấy vòng, nghe tiếng gọi giật giọng làm Vũ giật mình. Định thần một lúc anh nhận ra Đông quê Phủ Lý, bộ đội thời Nam Tiến, đóng ở Quân khu 9, tập kết cùng ngày. Gặp Vũ, hắn mừng lắm, rỉ tai bảo, rất hối hận đã ra Bắc tập kết, dù đó là quê hương bản quán. Ngán đến tận cổ cái công việc chó chết này.

Vũ hỏi hắn, chiếc xe hơi vừa vào làng của ai, và làm gì? Hắn bảo: Trên xe chở Vũ Tuân và con trai của Tổng bí thư Trường Chinh… chuyện dài dòng lắm…Sáng nay vừa thủ được chai rượu gạo, gặp ông đúng người, đúng rượu, kiếm chỗ ngồi lai rai, tôi kể ông nghe….

Xe lao thẳng …và dừng trước cổng nhà họ Đặng. Ngôi nhà đang bị du kích và bà con bần cố nông vây chiếm. Nhảy xuống xe, Vũ Tuân la lớn:

-Cụ Bốn Đễ đâu? (tên cụ thân sinh ra ông Trường Chinh)

Một người trong đội cải cách lăm lăm tay súng, hất hàm hỏi lại:

-Ông là ai? Đến đây làm gì? Ông ta là địa chủ cường hào đại gian, đại ác đã bị đội và bà con bần cố bắt giam. Sẽ mang ra đấu tố, trừng trị trong nay mai.

Vũ Tuân hỏi:

-Ai là đội trưởng ở đây?

Một người, từ trong đám đông bước ra, vỗ ngực:

-Tôi, ông cần gì, và từ đâu đến?

Vũ Tuân đưa cho người đội trưởng tờ giấy và bảo:

-Đây là chỉ thị của đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, chúng tôi có nhiệm vụ đưa cụ Bốn Đễ thân sinh ra đồng chí Tổng bí thư về Hà Nội.

Người đội trưởng cầm tờ giấy không thèm đọc:

-Lệnh liếc gì! Ở đây chỉ có lệnh của địa phương lệnh của đội cải cách. Chỉ biết rằng, ông ta là địa chỉ cường hào, có nợ máu với nhân dân, trước sau cũng phải đền tội.

Nóng mặt, không chịu được, Đặng Xuân Kỳ nhảy xuống xe quát:

-Các ông giam ông tôi ở đâu? Các người chống lệnh hả?

Có mấy bần cố nông nhận ra Kỳ, hét to:

-À, nó là cháu đích tôn của địa chủ, bắt nhốt lại.

Đội cải cách ập đến định bắt Kỳ. Thấy không ổn, đội bảo vệ lãnh tụ nhảy xuống xe, rút súng, kéo chốt an toàn, quát lớn:
-Các người bỏ súng xuống!

Rất nhanh chóng, các ông đội, mấy bà dân quân du kích đã bị đội bảo vệ lãnh tụ tước đoạt vũ khí. Một họng súng đen ngòm dí thẳng vào đầu người đội trưởng, bắt dẫn đến nơi giam cụ Bốn Đễ.

Nơi ông bị giam là cái chuồng lợn thấp lè tè, thối hoắc. Ông bị trói chẳng khác nào con lợn chuẩn bị mang ra cân móc hàm, để chọc tiết. Cả đêm ông không hề chợp mắt. Nghĩ uất ức lên tận cổ, người ông xọp hẳn đi. Khi nghe tiếng chân người, tiếng súng đạn lạch cạch, ông sợ mặt cắt không ra giọt máu. Nhận ra Kỳ, ông thở phào, nhưng tay chân vẫn còn run rẩy.

Sau khi đưa cụ Bốn Đễ lên xe, Vũ Tuân còn dặn người đội trưởng:

-Nhà của Tổng bí thư, không ai được phép vào xâm chiếm, và sử dụng. Các anh phải có nhiệm vụ trông coi.

Người đội trưởng run lên bần bật, vâng dạ, chẳng khác gì hình ảnh địa chủ, phú nông, vừa bị hắn mang ra đấu tố, xử bắn …Cuộc cải cách ruộng đất đến đỉnh điểm khốc liệt, Vũ lăn quay ra ốm. Nằm mãi bệnh tình không thuyên giảm, buộc ban cải cách phải trả Vũ về Hà Nội. Với triệu chứng nóng lạnh bất thường, cũng như khi tỉnh lúc mê, anh được nhiều bác sỹ đầu ngành thăm khám. Điều kỳ lạ, họ không thể tìm ra nguyên nhân chính của căn bệnh để có phương án điều trị. Người của Ủy ban thống nhất nhiều lần đến thăm dò, hỏi han. Có kẻ độc mồm còn cho rằng, Vũ bị bệnh tâm lý, diễn biến tư tưởng. Nhưng có người lại bảo, hắn là nhà văn, nếu như diễn biến thì nó phải thể hiện trên trang viết. Chứ có bằng chứng quái nào đâu!

Chủ nhật, Vũ nằm đọc sách, chợt có bước chân đi lại gần cửa phòng. Định kéo chăn trùm đầu, nhưng Vũ nghe tiếng vọng vào: Ốm đau thế nào, tôi đến thăm ông đây. Nghe như tiếng Nguyễn Tuân, Vũ bật dậy. Cửa mở, Nguyễn Tuân vồn vã, ốm đau nằm mãi cũng nhược người, đi ra ngoài một chút cho thoáng. Bất chợt, Nguyễn Tuân ghé tai Vũ, bảo: Ông “diễn“ giỏi lắm.

Với Vũ, Nguyễn Tuân không chỉ là người thày, người anh lớn mà còn là người bạn tri kỷ, nhất là những năm tháng đầu sống trên đất Bắc.

Thấy Vũ lưỡng lự, Nguyễn Tuân giục, khoác áo ấm vào, ở Nhà Hát Lớn đang mittinh, nghe nói, hôm nay các bố ấy công khai nhận lỗi trong cải cách ruộng đất.

Vũ và Nguyễn Tuân tới nơi, trên sân khấu Đại tướng Võ Nguyên Giáp quần áo một màu trắng toát, vẫn cái khí thế của người đang say chiến thắng Điện Biên năm nào. Tuy thay mặt chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lỗi, nhưng ông vẫn cười đùa, cợt nhả trước nỗi oan và cái chết của mấy trăm ngàn người. Thái độ, bộ điệu đó làm cho Vũ cảm thấy khó chịu. Nguyễn Tuân nhịn không nổi, chửi một câu thật tục, rồi kéo Vũ ra về.

Đêm đã về khuya, Nguyễn Tuân và Vũ quay lại khu vực Hồ Bảy Mẫu, chui vào quán rượu nằm lắt léo trong một con ngõ nhỏ, thuộc phố Nguyễn Đình Chiểu. Nơi đây, có khá nhiều đoàn người đến từ các tỉnh. Họ nằm la liệt nơi hè phố, yêu cầu được gặp đích danh Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ của ông để kiện cáo, phản đối cải cách ruộng đất. Vũ ngồi lặng im nhìn những người nông dân chất phác hiền lành đã bị đẩy đến đường cùng. Và họ là hình ảnh của những người nông dân quê Vũ sau này chăng? Nếu Việt Nam thống nhất, như lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ý nghĩ liên tưởng bất chợt ấy, làm cho Vũ không khỏi rùng mình, kinh hãi.

Nhìn khuôn mặt bất thần của Vũ, Nguyễn Tuân bảo, sắp tới chắc có nhiều biến động. Tổng tuyển cử không thành. Sẽ có một cuộc chiến. Con đường về Nam sẽ mở ra cho ông. Từ bây giờ ông hãy ngừng “diễn“, viết lách trở lại, để có chân trong hội nhà văn…và chờ thời…

Ngọn đèn hoa kỳ trước mặt phập phù dường như dầu đã cạn. Người đánh cá đêm đã tu cạn cút rượu, vác dậm đi ra phía hồ. Vũ và Nguyễn Tuân cũng đứng dậy với những bước chân loạng choạng trong đêm.

Có chân trong hội nhà văn, là bước đầu Vũ đã lấy lại được lòng tin của Đảng, của Ủy ban thống nhất. Có lẽ, chưa khi nào Vũ theo dõi sát thời sự chính trị, nhất là tình hình miền Nam như lúc này. Tuy nhân sự đại hội Đảng lao động lần thứ 3 đúng như dự đoán của giới vỉa hè, nhưng Lê Duẩn được chọn làm Bí thư thứ nhất vẫn làm Vũ bất ngờ. Bởi hình ảnh, bí thư xứ ủy Ba Duẩn vạch chim đứng đái, rồi vảy phành phành dưới gốc dừa, ngay trước mặt chị em, trong đại hội phụ nữ Nam Bộ, in hằn trong tâm trí non nớt ngày đầu đến với Cộng sản của Vũ. Và với nhân cách, học thức ấy, bây giờ không dừng lại riêng cho một bí thư xứ ủy Lê Duẩn, mà cho toàn Đảng lao động.

Cũng từ đây Vũ hiểu rõ hơn câu tục ngữ: “ Thả con săn sắt, bắt con cá rô“ với ý đồ thâm nho của chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc Trường Chinh không làm Tổng bí thư là sự mất mát lớn cho Hồ Chí Minh và đảng của ông. Bởi Trường Chinh là người có học nhất và cũng là một lý thuyết gia số một của Đảng CS. Và với quyết tâm, dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải thống nhất đất nước, đưa Lê Duẩn lên Bí thư là một sách lược của ông. Bởi tiếng nói của Lê Duẩn với đảng viên và dân chúng miền Nam có giá trị hơn ai hết trong cái Bộ chính trị của đảng ở giai đoạn đó.

Lúc đầu, không riêng Vũ, mà chắc chắn còn có nhiều người vẫn không hiểu, vì sao Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ chối (không) làm Trưởng ban cải cách ruộng đất. Một cuộc cách mạng long trời lở đất, công bình và tốt đẹp đến như vậy. Khi trực tiếp tham gia cải cách, và sau đó gặp phải sự chống đối, dưới mọi hình thức của đủ các tầng lớp trong xã hội, anh mới nhận ra. Cuộc cách mạng ấy chỉ đến khi đạt được mục đích, thì đảng mới dừng lại và nhận ra sai lầm. Điều tất nhiên, lỗi lầm phải có người gánh chịu. Mà sai lầm, hạ bệ đó chắc chắn thuộc về những Trưởng ban Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng. Chứ trách nhiệm ấy, làm sao lại quàng vào cổ Chủ tịch Hồ Chí Minh được? Tuy nhiên, Cụ Chủ Tịch cũng nhờ Võ Đại Tướng xin lỗi tới con dân của mình, với những giọt nước mắt khó có ai biết, đó là nước mắt cảm thông, ân hận hay những gì trong đó. Vậy mà kỳ lạ, chỉ với động tác ấy, con dân đất Việt lại vẫn yêu Cụ như xưa. Nước mắt đa năng, nhiều dạng, người xưa nói, quả thật chẳng sai tẹo nào. Lưu bị khóc được Khổng Minh, chiếm và giữ được cả đất Kinh Châu. Tào Tháo giả mê đâm chết kẻ hầu rồi khóc. Cụ Hồ khóc không chỉ đảng hóa, nhà nước hóa được đất đai, mà còn làm cho dân chúng quên đi bao cái chết đắng cay, vô tội trong cải cách. Càng ngẫm nghĩ, Vũ càng thấy cụ tài, tài hơn cả Lưu Bị và Tào Tháo cộng lại.

Về đến nhà, chưa kịp cới áo khoác, Vũ thấy người của Ban thống nhất tất tưởi đạp xe đến, bảo, các đồng chí lãnh đạo Ban mời anh ra gấp. Vũ hơi chột dạ, bởi Ban này, ngoài công việc chuyên môn, hoặc đón tiếp cán bộ, học sinh miền Nam, còn có nhiều tai mắt trong lãnh vực văn hóa tư tưởng như cơ quan an ninh vậy. Đến nơi, Vũ được biết: Có đoàn cán bộ cao cấp của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam ra Bắc, ngày mốt sẽ được bác Hồ đón tiếp tại phủ chủ tịch. Ban cần một nhà văn, nhà báo người Nam Bộ đi cùng đoàn để viết một bài cho ra tấm ra miếng.

Ủy Ban đã chọn nhà văn Xuân Vũ, đây là một vinh dự lớn, ý anh thế nào? Ông phó bí thư Đảng ủy hỏi Vũ như vậy.
Đây là một tin vui, bởi anh có cơ hội được tiếp xúc cán bộ mặt trận. Biết đâu họ sẽ xin đích danh, thời gian và con đường trở về Nam của anh sẽ được rút ngắn lại.

Quả thực, sau khi cùng đoàn thăm phủ chủ tịch và khu nhà sàn nơi ở của Hồ Chủ Tịch, Vũ đã viết một ký sự gây tiếng vang khá mạnh. Kỹ tính như Nguyễn Tuân phải khen về mặt nghệ thuật sử dụng con chữ. Khó tính như an ninh văn hóa tư tưởng cũng phải hài lòng về nội dung. Và đúng như dự đoán, bài ký này đã góp phần không nhỏ đến quyết định cho Vũ trở về Nam.
Bữa rượu chay hôm tiễn Vũ về Nam, ông bạn nhạc sỹ già véo tai bảo: Ở giữa Thủ đô đất chật người đông, mọc lên một nhà sàn gỗ với những vườn cây ao cá, rộng đến mấy ngàn mét vuông, bao nhiêu người phục vụ chăm sóc, thế mà mày nịnh đầm ca ngợi đơn sơ, giản dị. Mày có biết, đó là thú chơi thâm nho của kẻ làm chính trị hay không? Với tao, bài ký của mày chẳng có giá trị con mẹ gì cả. Vào tới đó rồi tìm cách bẻ bút đi nhé.

Vũ lặng người, nốc cạn ly rượu nóng rát họng:

-Nhưng đó là cách duy nhất để cho em về lại quê hương, về với Quốc Gia Dân Tộc.

Đức quốc ngày 14-6-2016

© Đỗ Trường

© Đàn Chim Việt 

http://www.danchimviet.info/archives/103408/dang-sau-nhung-la-bai/2016/06

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►So sánh Bob Kerrey và Tôn Nữ Thị Ninh (Thạch Đạt Lang)

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

  • Thạch Đạt Lang

7-6-2016

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, ông Bob Kerrey và bản tin thảm sát Tết Mậu Thân.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, ông Bob Kerrey và bản tin thảm sát Tết Mậu Thân.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hơn một tuần lễ qua, lang thang ở California, Hoa Kỳ, tôi ít có dịp ngồi vào bàn với cái laptop, chỉ theo dõi tin tức ở Việt Nam qua cái smartphone cũ, thế hệ thứ 3 của cô con gái cho (mượn).

Đọc những bài báo nói về việc bổ nhiệm ông Bob Kerrey làm chủ tịch Hội Đồng Tín Thác (Board of Trustees – BOT) trường đại học Fulbright vừa được cấp giấy phép thành lập tại Việt Nam, gây ra nhiều tranh cãi, tôi đã muốn viết ra những điều suy nghĩ của mình, nhất là sau khi đọc lá thư ngỏ của bà Tôn Nữ Thị Ninh, nhưng không quen sử dụng bàn phím quá nhỏ như đám trẻ khi viết message, tôi đành chịu chết. Mãi tới hôm nay mới có dịp ngồi lại với cái laptop của mình, tôi viết vội vài dòng, nói lên nhận định của mình, so sánh 2 nhân vật nổi tiếng của Mỹ và Việt Nam trong cùng một vấn đề: Lương Tâm và Lòng Tự Trọng.

Bài viết sẽ không nói đến lịch sử thành lập, nguồn tài chánh hoạt động hay những chuyên khoa đào tạo của trường đại học Fullbright.

Xin được nói về Bob Kerrey trước.

Bob Kerrey là một sĩ quan của đơn vị SEAL (See Air Land – Đơn vị tác chiến đặc nhiệm Mỹ), sinh năm 1943. Ngày 25.02.1969, ông chỉ huy một toán quân, đột nhập vào làng Thạnh Phong, nơi theo tin tình báo có một số chỉ huy cao cấp của Việt Cộng đang có mặt trong làng Thạnh Phong, quận Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Làng Thạnh Phong là một địa điểm được đánh giá là vùng khai hỏa tự do (Free-Fire Zone).

Theo báo cáo của Kerrey, khi tiến vào làng, toán đặc nhiệm của Kerry bị du kíck núp trong nhà dân bắn ra nên họ khai hỏa xối xả vào làng. Sau khi ngưng tiếng súng, lục soát khắp làng, Kerry và toán quân chỉ thấy khoảng 14 xác của những thiếu niên trẻ chừng 18 tuổi và phụ nữ nằm rải rác trong làng.

Năm 1998 Kerrey đã nói: Thay vì thấy Việt Cộng với vũ khí, tôi chỉ thấy phụ nữ và trẻ em.

Một thành viên trong toán của Kerry, Gerhard Klann đã nói khác với những gì Kerry tuyên bố. Klann cho biết, toán của ông đã tập trung phụ nữ, trẻ em lại từ những căn nhà tranh rồi quyết định xả súng bắn họ, sau đó rời khỏi làng. Lời nói của Klann được xác nhận bởi một nhân chứng sống sót trong vụ tàn sát – bà Phạm Thị Lành.

Sau vụ Thạnh Phong, Kerrey được thưởng huy chương đồng vì đã tiêu diệt được một đơn vị VC, bắn hạ 21 địch quân, thu hai súng cá nhân.

Kerrey cũng bị thương, phải cắt mất một bàn chân trong một trận giao tranh ở gần Nha Trang năm 1969. Sau chiến tranh Việt Nam, năm 1982 Kerrey trở thành thống đốc tiểu bang Nebraska từ 1983 đến 1987.

Từ năm 1989 đến 2001 Bob Kerrey là thượng nghị sĩ của Nebraska trong quốc hội liên bang.

Bob Kerrey đã bày tỏ sự ân hận, sự đau đớn, dằn vặt của lương tâm về lỗi lầm của mình gây ra ở làng Thạnh Phong năm 1969. Ông đã nỗ lực tối đa trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh do mình gây ra bằng những hành động thúc đẩy, xây dựng quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt, xóa bỏ lệnh cấm vận…

Ông nói: “Bạn không bao giờ có thể quên được nó, nó sẽ ám ảnh bạn suốt đời cho đến khi chết. Tôi nghĩ rằng, đó là những ngày đen tối nhất của tối, chết cho đất nước của bạn là điều uổng phí vô cùng và điều đó có thể xẩy ra nhưng giết người cho đất nước của bạn còn tồi tệ hơn”.

Nhân vật thứ hai: Tôn Nữ Thị Ninh

Tôn Nữ Thị Ninh, sinh năm 1947, sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam, dòng họ hoàng tộc Huế. Du học ở Pháp và Anh. Tóm lại là một trí thức của miền Nam. Bà theo cộng sản, tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với vai trò chạy cờ cho hòa đàm Paris từ năm 1968 đến 1973 cũng như thông dịch tiếng Anh cho bà Nguyễn Thị Bình (đại diện MTGPMN) trong những cuộc gặp gỡ không chính thức với phái đoàn Mỹ.

Về nước năm 1972, làm phó khoa Anh Ngữ của Đại học Sư phạm Sàigòn (25 tuổi). Không hiểu vì chính sách chiêu hồi, vì tình báo VNCH làm ăn hạch đụi, hay chủ trương tôn trọng dân chủ và tự do mà chính phủ VNCH lại chấp thuận cho bà Ninh ở vào vị trí này.

Sau năm 1975, tình cờ gặp ông Xuân Thủy – Trưởng ban Đối ngoại của trung ương đảng CSVN, là người đã biết bà qua hòa đàm Paris – đưa bà về làm việc tại ban đối ngoại trung ương. Cuộc đời của bà Ninh lên hương từ đó.

Gạt bỏ qua một bên chính kiến của bà.

Khi phê phán, chỉ trích sự bổ nhiệm Bob Kerrey vào chức vụ chủ tịch Hội Đồng Tín Thác của đại học Fullbright, bà Ninh đã không thấy được sự thành tâm ăn năn, hối lỗi, dằn vặt, đau đớn của Bob Kerrey về cuộc thảm sát ở Thạnh Phong.

Kerrey và toán đặc nhiệm của ông đã giết 21 người dân Thạnh Phong, nhưng đó là thời điểm chiến tranh. Trong cơn hoảng loạn giết hoặc bị giết, để có một sự chọn lựa, dễ có những quyết định sai lầm.

Vấn đề chính là sau đó, hồi tưởng lại, người ta phải làm gì, hành động, cư xử ra sao với lỗi lầm của mình?

Cá nhân người viết tin rằng, Bob Kerrey thật sự thành tâm hối lỗi với hành động sát hại người dân Thạnh Phong. Những lời nói đầy cảm xúc khi hồi tưởng biến cố, những hành động thiết thực, vận động với cương vị của mình để nối lại quan hệ Việt-Mỹ, xóa bỏ cấm vận đã chứng tỏ điều này.

Còn bà Tôn Nữ Thị Ninh, sinh ra ở Huế, nơi có cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 của Việt Cộng với hơn 4.000 người dân vô tội, từ trẻ em đến phụ nữ ở thôn Vĩ Dạ, Khe Đá Mài… với những chứng tích bị trói, cột vào nhau bằng dây kẽm gai. Nhưng từ 1968 cho đến nay, bà Ninh đã có lời nói nào lên án những kẻ chủ trương cuộc thảm sát này? Hoàn toàn không.

Cuộc thảm sát đó, đến ngày hôm nay vẫn được bà Ninh và chế độ bà phục vụ tìm cách lấp liếm, chạy tội, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Từ anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan đến Nguyễn Đắc Xuân, Cao Thị Quế Hương… vẫn tảng lờ, chối bay biến hay vô liêm sỉ hơn là đổ qua cho quân đội VNCH và Mỹ là thủ phạm.

Thú thật tôi phải bái phục sự trơ trẽn, gian dối, lì lợm của người CS mà điển hình là bà Tôn Nữ Thị Ninh.

Kerrey và toán đặc nhiệm giết 21 người Việt Nam, những người bị giết không phải là đồng bào của họ, tuy nhiên ông vẫn ân hận, hối lỗi bằng lời nói và bằng hành động thiết thực.

Chế độ cộng sản VN, những người đồng chí của bà Ninh, chế độ bà phục vụ không những chỉ giết hơn 4.000 người dân vô tội trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 mà còn hơn hàng trăm ngàn người (172.000 người) trong Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 ở miền Bắc, trong số đó có cả những người cùng chung chiến tuyến nhưng không cùng giai cấp với người cộng sản.

Những lãnh đạo, đồng chí của bà Tôn Nữ Thị Ninh, đứng đầu là Hồ Chí Minh, giết người một cách tỉnh táo, thản nhiên, không vì lòng căm thù, không phải vì hoảng loạn.

Ngày hôm nay, những kẻ gây ra tội ác với dân tộc, đất nước đó vẫn chưa có một lời ăn năn, hối hận. Đi xa hơn nữa, họ còn định tổ chức triển lãm thành tích tội ác của mình với viện bảo tàng Cải Cách Ruộng Đất (năm 2014), cũng may là người dân đã phản đối dữ dội nên họ phải dẹp tiệm sau vài ngày khai trương. Không thấy bà Ninh lên tiếng chỉ trích, phê bình việc CCRĐ này.

Một người trí thức thật sự, phải dùng sự hiểu biết, kiến thức, sở học của mình phục vụ dân tộc, đất nước, xã hội. Bà Tôn Nữ Thị Ninh đã làm ngược lại, bà chỉ phục vụ cho tội ác, cho tham vọng cá nhân. Con người trí thức, cái học, sự hiểu biết của bà thật đáng tởm, phỉ nhổ.

Viết đến đây, thú thật tôi thấy lợm giọng khi nhìn khuôn mặt kiêu ngạo, vô cảm của bà Tôn Nữ Thị Ninh trong những tấm hình trên tờ báo Infonet, trên các trang mạng đăng lá thư ngỏ của bà.

Xóa bỏ hận thù nhưng không được quyền xóa bỏ lịch sử. Đúng thế! Bob Kerrey đã thành tâm muốn xóa bỏ hận thù, ông không hề muốn xóa bỏ lịch sử.

Bẩy mươi mốt năm qua kể từ khi ĐCS VN cướp chính quyền đã chứng minh điều đó. Chỉ có bà Ninh, những người đồng chí của bà, đảng CSVN là không hề muốn xóa bỏ hận thù, chỉ muốn xóa bỏ lịch sử. Không xóa bỏ được lịch sử, bà Ninh, đảng và chế độ CSVN luôn luôn tìm cách bóp méo, xuyên tạc sự thật, biện hộ cho tội ác của mình.

____

Huy Đức

BẢN CHẤT CUỘC CHIẾN

7-6-2016

“Tại sao ra đi từ Huế mà bà chưa từng một lần chất vấn chính quyền về cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế.” Việc nhiều Facebookers đặt câu hỏi này với bà Tôn Nữ Thị Ninh ngay sau khi bà lên tiếng phản đối quyết định bổ nhiệm cựu thượng nghị sỹ Bob Kerrey làm chủ tịch FUV cho thấy cuộc tranh luận vừa qua không còn nhắm vào cá nhân Bob Kerrey hay trường FUV nữa mà trở thành cuộc tranh luận về bản chất cuộc chiến tranh mà Bob Kerrey ở đó.

Không ai nói bà Ninh nói sai người ta chỉ đòi bà, nếu vẫn tự nhận là trí thức, thì cần phải công bằng.

Bà Ninh vốn vẫn từng ung dung nói những điều tương tự và bà vẫn được phần lớn công chúng “sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” thần tượng.

Nhưng người Việt Nam bây giờ không còn chỉ được bú mớm từ bầu sữa của hệ thống tuyên giáo. Không có gì bất ngờ khi vẫn còn có khá nhiều người ủng hộ bà và cũng càng không bất ngờ khi có rất nhiều người phản đối bà.

Cho dù ý kiến bạn thế nào cũng nên cám ơn Nguyen Thanh Tuan vì đã khơi mào cho cuộc tranh luận vô cùng hữu ích này.

PS: Tôi nghĩ là chúng ta không nên đặt vấn đề tha thứ cho những hành vi tội ác như Bob Kerrey đã làm nhưng nên đặt hành vi ấy trong hoàn cảnh chiến tranh. Điều quan trọng là đừng để chiến tranh xảy ra vì nó sẽ nhanh chóng biến những con người thành con thú.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Mậu Thân 1968, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Kỷ niệm CM tháng 8 và 2/9: Hãy chôn “chiếc bẫy” xuống địa ngục

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2015

Blog RFA

Võ Thị Hảo

24-08-2015

“Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?…”

(Theo hồi ký “Đèn cù” của  Trần Đĩnh)

Những oan hồn tạo ra từ 70 năm nay trên con đường cách mạng ấy đã và đang rộn ràng hòa vào những đôi mắt sống của người dân. Những mắt ấy mở chong đêm ngày theo dõi và tính sổ những cuộc bội phản nhân dân, đợi ngày kết thúc cái chính thể phi tự nhiên ấy , tới  một cuộc Đại Giải Oan cho nước Việt.

  •  Giết và giẫm đạp cả thi thể “Mẹ nuôi cách mạng”

Những chứng nhân của thời Cải cách ruộng đất hoặc những người đã đọc, đã nghe kể qua câu chuyện này thì không thể không bị ám ảnh về số phận đau thương của bà và hàng triệu người VN khác bởi chính sự phản trắc, sự tàn ác của chính những người đứng đầu đất nước và cán bộ đội cải cách thời đó. Không một lý do nào có thể biện minh  cho những tội ác ấy.

Người ta vẫn phải nhắc đến người đàn bà ấy, gần 70 năm nay, từ ngày bà bị chính quyền cách mạng xử tử . Không năm nào không nhắc, nhất là mỗi khi đến dịp rầm rộ kỷ niệm cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9. Chuyện không thể cũ đi, vì nỗi oan chưa được giải và nguyên nhân của những cuộc oan mới ngày càng chồng chất trên đầu nhân dân VN.

Oan hồn của người đàn bà ấy, và hàng triệu người VN khác đương nhiên không thể không bay lượn trên bầu trời Ba Đình, chong triệu đôi mắt đợi ngày kết thúc của cái thể chế phản trắc ấy, bởi cái gì dối trá và đi ngược lại quyền lợi đất nước thì sẽ đến ngày tự hoại.

 “Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng…Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”(Qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu quốc trong đội cải cách ruộng đất- Trần Đĩnh ghi)

Ngày ấy Việt Minh cướp chính quyền thành công và có ngày Cách mạng tháng Tám 1945.

Bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ngây ngất hạnh phúc vào ngày ấy. Lý tưởng giải phóng nô lệ, tự do dân chủ bình đẳng bác ái mà bà theo đuổi nay đã được Việt Minh hứa thực thi trên đất nước của bà.

Người đàn bà ấy đã “phóng xe nhà có cắm cờ đỏ sao vàng, từ Hải Phòng lên Thái Nguyên nơi quân Nhật còn chiếm đóng, đến tận Đình Cả Võ Nhai để báo tin cho con trai và đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền”.

Tư liệu cho biết, bà được người Việt Minh tôn xưng là “Mẹ nuôi của cách mạng”, mẹ nuôi của Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ và Trường Chinh. Cái người đàn bà ngây thơ một lòng tin yêu cách mạng ấy đã cứu  giúp rất nhiều đầu lĩnh cao cấp nhất của Việt Minh như , Hoàng Quốc Việt, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị …

Bà  không biết rằng chính bà và nói đúng hơn là hầu hết dân VN, đã sập một cái bẫy lớn nhất, tàn bạo  nhất, chỉ do đã quá ngây thơ tin vào những lừa mỵ. Bà đã đặt quá nhiều ảo tưởng vào một miếng mồi đặt sẵn trong bẫy.

Đó là miếng mồi được phun thứ nước hoa gây áo giác về lý tưởng giải phóng dân tộc và xóa áp bức, nô lệ.

Dù bà có công lớn với Việt Minh bao nhiêu đi nữa, dù bà có là mẹ nuôi cách mạng, thì cửa bẫy cũng đã sập xuống. Thân xác bà không lâu sau sẽ tan nát bởi các con nuôi của chính bà – những người đã qua thời hàn vi, nay chững chạc đứng trong hàng nguyên thủ quốc gia hãm hại. 

Bà Năm vốn là một người lam lũ làm lụng mà có tài kinh doanh. Bắt đầu từ buôn sắt vụn, bà dần tậu ruộng vườn, đồn điền và hiệu buôn.

Theo nhiều tư liệu để lại thì bà Năm đã làm theo lời ngon ngọt của Tổng Thư ký Hội nhà văn VN Nguyễn Đình Thi. Ông Thi cũng có được đức lớn như nhiều người cầm bút VN khác,  là thành danh và lập nghiệp, vinh thân phì gia suốt đời bởi tài năng dẫn dụ kẻ khác bỏ tiền của ra và chết bỏ xác cho cách mạng, còn số phận của những người đã nghe theo ông thì ông phủi tay.

Bà Năm đã bỏ phần lớn tài sản ra để giuisp đỡ nuôi nấng nhiều đoàn quân và và nhiều đầu lĩnh quyền lực nhất của Việt Minh trong đó có Hồ Chí Minh…

Đó là thời Việt Minh còn hàn vi trứng nước, bất cứ lúc nào cũng có thể chết đói hoặc bị bắt giam bởi quân chính phủ Pháp nên họ cần bà và những nhà địa chủ, tư sản, những trí thức nổi tiếng và họ cần xương máu của dân để lập nên ngai vàng cho họ. Thuở ấy, ngay cả việc mua vài khẩu súng thì Việt Minh cũng phải trông vào tài ăn nói để khuyến dụ  dân bỏ vàng ra cho họ thông qua “Tuần lễ vàng”  ….

Bà Năm là một trong những người đóng góp công của  lớn nhất cho Cách mạng Tháng tám. Ngoài nhà cửa, lương thực vải vóc thóc gạo thuốc men vô kể, bà đã đóng góp tương đương 700 lạng vàng. Sau cách mạng 1945, bà cũng theo cách mạng tản cư lên Thái Nguyên, mua lại đồn điền của một ông Tây và tiếp tục dùng đồn điền, tiền bạc  hỗ trợ kháng chiến. Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội đã được che chở và nuôi nấng trong đồn điền của bà.

Khi chính phủ VNDCCH tổ chức Tuần lễ vàng, bà lại đóng góp hơn 100 lạng vàng. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà tự tay san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên để hưởng ứng.

Người VN không lạ gì điển tích bát cơm Xiếu mẫu ngày xưa, Hàn Tín thuở hàn vi đói khát, gặp được bà Xiếu mẫu giặt sợi bên sông mang cho bát cơm ăn. Sau này  hiển đạt, ông đã  mời bà Xiếu mẫu đến để bái tạ, trả ơn cả ngàn lạng vàng.

Các cán bộ Việt Minh và cách mạng tháng 8 cùng quan chức VN sau này thì luôn làm ngược lại ông Hàn Tín và đức cư xử của người Việt. Họ ăn vô số bát cơm của bà Năm, mặc quần áo bà, ở nhà bà. Bà nuôi quân, bà cho tiền mua súng, nhưng họ trả ơn bằng cách chà đạp và giết bà cũng như giết nhiều ân nhân khác của cách mạng.

Vì bà chỉ có công, không có tội nên để giết bà, các con nuôi, bây giờ đã là chủ tich, phó chủ tịch nước và toàn những chức danh thuộc hàng đứng đầu nước VNDCCH đã gán cho Mẹ nuôi tội   “giả dối nhằm chui sâu leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại” và tội “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Nhiều người đưa ra chứng cứ khẳng định rằng Hồ Chí Minh đã viết bài ““Địa chủ ác ghê” ký bút danh là C.B(của Bác) đăng trên báo Nhân dân ngày 21/7/1953. Chính bài báo này là đòn sấm sét, đổ cho bà tội “làm chết 23 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, tra tấn đánh đập hàng chục nông dân…, đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến…”.

Thuở các vị này còn phải sống nhờ vào “bát cơm Siếu mẫu” của bà, họ âu yếm gọi bà là Mẹ Nuôi. Khi cách mạng thành công, vài năm sau, chính quyền đã đủ lông đủ cánh, có Trung quốc tư vấn dạy dỗ và nuôi nấng, lại có cả mấy chục triệu dân đóng sưu thuế cung phụng, thì chính những đầu lĩnh đó đã ký lệnh đem bà ra đấu tố, lăng mạ bà. Bà bị họ phát động cho cả ngàn người đổ tội và chửi rủa, tịch thu hết tài sản.

Rồi bà bị bắn bằng một loạt đạn hèn hạ từ sau lưng.

Nhớ công ơn nuôi nấng của bà, các con nuôi ưu tiên cho Mẹ cho bà được xử chết đầu tiên để làm điểm tựa phát động “cuộc cách mạng long trời lở đất”.

Chưa đủ, họ còn cho đội cải cách ruộng đất nhảy lên giẫm đạp xác bà cho gẫy nát để  lọt vào cỗ áo quan rẻ mạt. Hai con trai của bà, dù cũng đã tham gia cách mạng lập công lớn nhưng cũng bị đấu tố, dù còn sống sót nhưng cả đời cũng bị trù dập và suốt đời sống trong địa ngục vì nỗi oan khuất trút lên đầu cả dòng họ.

* “Người bịt râu”

Con bà Năm đội đơn gần 70 năm đi đòi công lý cho bà và gia đình nhưng tận đến bây giờ, dù  đảng và nhà nước VN biết rõ, những tác giả gây ra tội ác ất chết từ lâu nhưng nhà cầm quyền hiện tại cũng không chịu trả lại công bằng cho gia đinh bà.

Để làm được cách mạng tháng 8 và xây dựng được thể chế cộng sản và vận hành nó, người ta phải có gan đem Mẹ nuôi cách mạng ra hành hạ, giết chết rồi giẫm đạp lên xác. Cũng phải có gan  tráo trở đổ tội và giết hại bao đồng chí mình – những đồng chí đã vì lý tưởng mà đem của nhà, đem tri thức ra để xây dựng những chi bộ đầu tiên cho cách mạng, làm cái nôi nuôi nấng đưa Việt Minh, đưa kháng chiến đến thắng lợi?!

Để làm được cuộc cách mạng và thể chế cộng sản, họ cũng phải có gan đổ tội cho người vô tội, dám chửi bới nhục mạ cha mẹ theo số đông để sống sót hoặc để tiến thân. Họ phải đủ gan để “thà giết nhầm mười người còn hơn bỏ sót một địch” và đào tận gốc trốc tận rễ trí thức cùng những người tài giởi giàu có!

Theo hồi ký “Đèn cù “ của Trần Đĩnh thì lúc đó ông là phóng viên báo Nhân dân được Trường Chinh cử viết bài tường thuật về vụ đấu tố. Hồ Chí Minh đã ngụy trang bằng cách bịt râu, Trường Chinh thì đeo kính râm bí mật tới dự vụ đấu tố.

Đến khi sửa sai cải cách ruộng đất, oan án của bà Năm, dù những người có quyền lực nhất đều biết nhưng cũng không chịu làm chỉ vì họ không thể thừa nhận cái sai và tội ác của chính họ trực tiếp gây ra và tiếp tục che giấu.

Cải cách Ruộng đất đi kèm Chỉnh đốn Đảng là quà tặng mang tính “bom nguyên tử”, “bom chất độc” đầu tiên mà cách mạng đã giáng cho những ân nhân của họ và người  dân VN. Bằng việc vu oan, cướp, tra khảo và giết, họ đã đem ruộng đất cướp được chia cho bần cố nông nhưng để cướp đoạt lại vĩnh viễn vào 3 năm sau đó – 1959 cho đến tận bây giờ dưới mỹ từ “sở hữu toàn dân”.

Từ 1959 đến nay, rồi qua và Hiến pháp 1980, Luật Hợp tác xã 1990, người VN bị tước đoạt quyền sở hữu ruộng đất, sống vật vờ hồn xác trên mảnh đất mình đổ mồ hôi xương máu. Riêng nông dân cũng phải gánh hơn một ngàn loại và lệ phí ngoài sưu cao thuế nặng để nuôi bộ máy tham nhũng một cổ ba tròng. Chưa đủ, họ hoàn toàn có thể bị chính quyền kết hợp với một lực lượng bạo quyền nào đó cướp đi bất cứ lúc nào và khi họ có phản ứng kêu oan thì sẽ bị đàn áp, bắt giam thậm chí đánh chết trong đồn công an và con cháu, anh em gia đình cũng bị trả thù thành không chốn nương thân.

* Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục vì đây là thế giới Người

Đó là thành quả Cách mạng Tháng Tám. Thành quả của một chính thể độc tài cộng sản. Đó chính là chiếc bẫy khổng lồ với bộ răng sắc nhọn trường tồn đã 70 năm trên đầu dân VN. Chiếc bẫy đó đã quy định đường ray vận hành cho nó: bất cứ ai lên cầm quyền cũng phải quay ra phản bội quyền lội nhân dân, đất nước và dân tộc để giữ ghế và quyền lợi riêng cùng phe nhóm.

Lẽ ra người VN đã có thể an lòng lắng dịu với những số phận đau thương do những chính sách và hành vi sai lầm của chính quyền cách mạng gây nên, nếu như những nhà cầm quyền thế hệ ấy và thế hệ sau biết cư xử công bằng, minh oan, đền bù cho họ và vận hành bộ máy cầm quyền theo đúng những điều họ đã hứa ban đầu khi hô hào dân nổi dậy giúp họ giành chính quyền.

 Nhưng không, ngay cả thế hệ sau này không liên quan gì đến tội ác thời các thế hệ tiền bối đã làm nhưng họ cũng không sửa sai, lại tiếp tục lừa mỵ và phản trắc người dân

Người oan đã chết, thân xác họ đã tan hòa vào đất, nhưng nỗi oan và món nợ mà xã hội nợ họ thì tồn tại mãi mãi trong người sống. Nỗi oan đó chỉ lắng dịu đi khi xã hội giải oan cho họ bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói.

Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục, vì đây là thế giới Người.

Và không chỉ dân đâu, chính những người có quyền lực đang hành ác hiện nay cũng cần thoát khỏi chiếc bẫy đó, vì chẳng quyền lực, địa vị, tiền bạc nào tồn tại được mãi mãi. Họ và con cháu họ cũng cần được trở lại làm người, sống trong tự trọng và bình an.

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Thư Hồ Chí Minh gửi Stalin về chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

 

Một người bạn thân của tôi nói rằng hiện nay tư liệu về Hồ Chí Minh rất nhiều nên việc giải thiêng không còn cần thiết nữa. Theo tôi, người bạn này sống chủ yếu ở Mỹ nên mới nói như vậy. Bởi vì, một người bạn khác, là giảng viên đại học ở Việt Nam, cho biết rằng sinh viên đang hào hứng tham gia cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin. Dĩ nhiên là tìm hiểu theo định hướng của đảng. Đồng thời, cá nhân tôi, khi tìm thông tin trên mạng thì thấy phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được thực hiện một cách rầm rộ ở các trường đại học khắp cả nước, từ Bắc chí Nam.

Tư liệu về Hồ Chí Minh nhiều, nhưng ở Việt Nam, sách lịch sử chính thống và báo chí chính thống chỉ cho phép công bố và truyền bá những tư liệu được phép của Ban Tuyên giáo. Hãy hình dung rằng cả thế giới biết việc Marx có con riêng, nhưng báo chính thống Việt Nam không thể đăng thông tin đó. Marx hay Hồ Chí Minh đều bị kiểm duyệt, nếu các thông tin làm ảnh hưởng tới cái gọi là « tư tưởng Marx-Lê nin » và « tư tưởng Hồ Chí Minh » mà đảng đã và đang tuyên truyền. Môn lịch sử, cũng như mọi môn khoa học xã hội khác, được dùng làm công cụ tuyên truyền trong các chế độ toàn trị cộng sản. Thậm chí, cách vận hành của hệ thống toàn trị khiến cho bản thân lịch sử cũng biến mất. Đến mức Václav Havel nói rằng trong chế độ toàn trị « không có lịch sử ».

Sẽ rất nhầm lẫn nếu cho rằng người dân Việt Nam hiện nay đã hiểu rõ chế độ của mình. Đáng tiếc, sự thật là, chỉ có một số rất ít người nhìn thấy bản chất của chế độ.

Đấy là lý do khiến những người đấu tranh cho dân chủ ở trong nước nghĩ rằng cần phải đi con đường khai minh, thông qua giáo dục. Tuy nhiên, bế tắc là ở chỗ, một khi trường học bị biến thành công cụ tuyên truyền của chính quyền, với sự hỗ trợ các tổ chức đảng, của bộ máy an ninh mật, an ninh văn hóa và cảnh sát, thì việc khai minh qua con đường giáo dục trên thực tế sẽ bị cản trở, thậm chí không thể tiến hành được. Hoặc nếu thực hiện được thì cũng chỉ nửa vời, bởi bản thân sự hợp tác, trong xã hội toàn trị, đã bao hàm trong nó sự thỏa hiệp. Nan đề là ở chỗ : sự thỏa hiệp không cho phép thực hiện được mục đích giáo dục khai minh và giáo dục tự do. Liệu có thể giải quyết được nan đề, vừa thỏa hiệp với quyền lực toàn trị vừa thực hiện được một nền giáo dục đích thực ?

Một trong những con đường có thể có hiệu quả hiện nay là truyền thông tự do trên mạng (trong đối lập với truyền thông tuyên truyền chính thống). Đại lộ thông tin internet là không gian mà những người muốn tiến hành các chương trình khai minh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí cần sử dụng. Ngoài ra, mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Câu hỏi có lẽ là: bao giờ những người hiện đang đi trên những con đường khác nhau có thể kết nối lại với nhau?

Những người muốn xây dựng Việt Nam thành một quốc gia độc lập, phát triển về kinh tế, khoa học, văn hóa, muốn xây dựng một xã hội dân chủ tại Việt Nam, cần đối diện với khó khăn to lớn này : việc bưng bít thông tin, truyền thông tuyên truyền một chiều, chính sách ngu dân… được thực hiện nhiều thập kỷ nay đã mang lại hậu quả ghê gớm đối với các thế hệ người Việt. Hậu quả đó chính là những bộ não bị đúc khuôn, bị tẩy trắng, mất khả năng tư duy, sẵn sàng tin vào những gì được tuyên truyền mà không hề hoài nghi, không hề đặt câu hỏi. Và mặt khác của vấn đề là ở chỗ những bộ óc như vậy lại tin rằng mình nắm giữ chân lý, rằng những ai khác mình đều là lạc hậu, phản động…

Trong bối cảnh đó, xin giới thiệu lại cùng quý độc giả hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin vào tháng 10 năm 1952 về vấn đề cải cách ruộng đất. Nội dung của chúng xác nhận rằng Hồ Chí Minh là người thiết kế chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam, dưới áp lực của Liên Xô và Trung Quốc. Hai bức thư này đã được một số người dịch và phân tích trên một số website và blog. Ở đây tôi sử dụng bản dịch tiếng Pháp, được giới thiệu trong công trình khảo cứu lịch sử « Le communiste vietnamien (1919-1991) » của nhà nghiên cứu Céline Marangé, in năm 2012, tại Paris. Đồng thời tôi cũng dịch một đoạn phân tích của Tiến sĩ Khoa học chính trị Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư này, và một đoạn ngắn khác bình luận về tính chất phức tạp của các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử Việt Nam. (Nguyễn Thị Từ Huy)

I. Phân tích của Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư:

Đầu những năm 1950, điện Kremlin vẫn còn rất thận trọng đối với cuộc chiến tranh Đông Dương và nhân vật Hồ Chí Minh. Kremlin chỉ ủng hộ đề nghị gia nhập Liên Hợp Quốc do nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà đệ trình ngày 29/12/1959, khi mà 9 tháng sau, Pháp cũng đưa ra một đề nghị tương tự cho « Nước Việt Nam của Bảo Đại » và cho các vương quốc Lào và Campuchia. Tương tự như vậy, khi mà tất cả các đại diện của các đảng cộng sản nước ngoài đã được mời đến dự đại hội lần thứ XIX của đảng cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh buộc phải viết thư cho Stalin để được mời tham dự. Ngày 30 tháng 9 năm 1952, Hồ Chí Minh gửi cho Stalin một bức điện tín từ Bắc Kinh để xin ông ta cho phép được bí mật tới Moscou. Ngày 2 tháng 10 Stalin cho phép Hồ Chí Minh tới tham dự với hình thức « không chính thức ». Trong thư trả lời Stalin, gửi ngày 17 tháng 10, Hồ Chí Minh đề nghị Stalin cho Liu Shao-qi (Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nuớc CHND Trung Hoa) tham dự vào những thảo luận về Việt Nam. Ba người đó gặp nhau tại Moscou ngày 28 tháng 10 năm 1952. Trước cuộc họp, Liu Shao-qi đã đề nghị Stalin phải nài Hồ Chí Minh để ông ta tiến hành cải cách ruộng đất tại Việt Nam. Hồ Chí Minh lúc đó muốn dừng lại ở việc giảm tiền lĩnh canh. Nhưng khi Stalin yêu cầu ông ta thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chịu thuận theo ý muốn của Stalin. Hai ngày sau, ông viết cho Stalin đề nghị gửi tới Việt Nam hai cố vấn Xô Viết, ưu tiên người nói tiếng Pháp, và đề nghị nhận các sinh viên Việt Nam đến đào tạo tại Moscou, và đặc biệt là cung cấp các vũ khí hiện đại. Hôm sau, ngày 31 tháng 10, Hồ Chí Minh chuẩn y một chương trình cải cách ruộng đất, đã được hiệu chỉnh với sự hỗ trợ của Liu Shao-qi và Wang Jiaxiang, đại sứ đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô (1949-1951). Trước khi rời khỏi Moscou, Hồ Chí Minh viết một lá thư cảm ơn Stalin, trong đó một lần nữa ông hứa với Stalin sẽ dành tâm lực vào cuộc cải cách ruộng đất. Những bức thư này mang lại cảm giác rằng Hồ Chí Minh đã chấp nhận tiến hành cải cách ruộng đất để có được vũ khí với số lượng lớn và để tạ lỗi với Stalin, cho đến lúc đó vẫn tiếp tục dè chừng Hồ Chí Minh. Tháng 12, Stalin tuyên bố với Liu Shao-qi và đại sứ Trung Quốc rằng ông ta « về phần mình, đánh giá Hồ Chí Minh là một người tốt, dù ban đầu thì không tốt ». Khi trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh đề nghị Mao Trạch Đông cung cấp các chuyên gia về cải cách ruộng đất và cung cấp các ý tưởng. Ban bí thư trung ương của đảng cộng sản Trung Quốc gửi sang Wang Li, người đảm nhiệm chức vụ « cố vấn tinh thần và ý thức hệ », đồng thời, về sau, đó là một trong những người chỉ huy Cách mạng văn hóa Trung Quốc, trước khi bị bắt vì tội « khuynh tả cực đoan », vào năm 1967. Để đến phụ giúp cho Việt Nam, Wang Li có thêm Qiao Xiaoguang, một chuyên gia về cải cách ruộng đất, người đã lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc vùng Quảng Tây. Ngày 2 tháng 3 năm 1953, tức là ba ngày trước khi Stalin chết, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua một nghị định về việc phân loại bộ phận dân cư ở nông thôn, nghị định này được dùng làm cơ sở pháp lý cho cải cách ruộng đất và cho « tòa án giai cấp ».

(Trích từ cuốn « Le communiste vietnamien (1919-1991) », Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 193-195)

II. Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin

Thư thứ nhất
Đồng chí I.V. Stalin thân mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam, và sẽ nhanh chóng trình bày với đồng chí.

Tôi gửi tới đồng chí cùng một số yêu cầu sau đây, và hy vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng tại chỗ. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp, họ có thể thể giao tiếp với một tầng lớp rộng rãi. Mất khoảng mười ngày để đi từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi.

2. Chúng tôi muốn gửi 50-100 học sinh sang Liên Xô học tập, họ đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, một vài ngườ trong số họ là đảng viên và những người khác chưa phải là đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí có nhất trí về vấn đề này không?

3. Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc chống sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa là cứ nửa năm nhận 5 tấn.

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau đây :

a) Pháo binh phòng không 37 li cho 4 trung đoàn, tổng số là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tổng số là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

c) Súng máy phòng không 12,7 li cho hai trung đoàn, tổng số là 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moscou vào ngày 8 hoặc ngày 9 tháng 11 [1952].

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và những lời chúc tốt đẹp nhất !

Hồ Chí Minh

30-10-1952

2. Thư thứ hai

Đồng chí I.V. Stalin thân mến

Tôi gửi đồng chí chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Dự án chương trình do tôi soạn thảo, với sự hỗ trợ của đồng chí Liu Shao-qi và [đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô từ 1949-1951 Wang Jiaxang].

Mong đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

Gửi đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh

31/10/1952

(Phụ lục 4, Le communiste vietnamien (1919-1991) , Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 534-535)

III. Bình luận của Céline Marangé về tính phức tạp của các nhân vật lịch sử và các vấn đề lịch sử của Việt Nam:

Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm và tương đối ít được khai thác. Kỷ niệm về cuộc chiến tranh Việt Nam, được khơi dậy bởi sự can thiệp của Mỹ tại Irak năm 2003, và đặc biệt là cái kỷ niệm, được người ta thi nhau lý tưởng hóa, về phong trào sinh viên phản đối chiến tranh, cuộc chiến được nhìn nhận như là « chiến tranh vệ quốc chống đế quốc Mỹ », ở Pháp, kỷ niệm ấy vẫn luôn đảm bảo cho những cảm tình nhất định đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Ở phía ngược lại, trong một bộ phận khác của dân chúng Pháp, ký ức về cuộc chiến tranh Đông Dương, thậm chí hoài niệm về Đông Dương thuộc Pháp, vẫn còn chưa tắt hẳn. Ở Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam tiếp tục kích động những thiên kiến tồn tại rất lâu sau khi xe tăng Bắc Việt tiến vào Sài Gòn và sau khi chế độ Miền Nam Việt Nam thất thủ vào ngày 30/4/1975. Đối với những người Việt lưu vong căm thù chế độ cộng sản, Hồ Chí Minh bị cố tình biến thành quỷ dữ. Người ta gán cho ông tính cách gian xảo, quỷ quyệt, hay thậm chí cả tính cách bá quyền mà chắc hẳn ông không bao giờ có. Tương tự như thế, mặc dù tướng Giáp giành được sự khâm phục ở những vị tướng vốn là kẻ thù của ông, nhưng ông thường xuyên bị miêu tả như một kẻ tính toán lạnh lùng, thờ ơ với số phận của lính tráng, và bị xem như một lãnh đạo có quyền lực tuyệt đối. Tai tiếng của hai người này lớn đến mức che lấp hết những nhân tố hàng đầu khác ở họ. Thế nhưng, trong thực tế, không có gì đơn giản. Không ai đơn giản hết. Cả Hồ Chí Minh, cả tướng Giáp đều không đơn giản, và có thể còn phức tạp hơn đối với những lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô đã cố bẻ cong các sự kiện ở Việt Nam. Từ những năm 1960 trở đi, quyền lực phần lớn đã không còn nằm trong tay họ. Những người khác đã nắm giữ quyền lực.

(Trích từ cuốn Le communiste vietnamien (1919-1991), Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 29

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Đèn Cù và Những Lời Trăng Trối

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2014

Một cuốn phân tích những sai lầm của chủ thuyết từ cơ bản, và một cuốn thì mô tả sự ứng dụng của chủ thuyết đó bởi những con người cuồng tín, đầy ắp những bất cập và khiếm khuyết (của trí tuệ). Hệ quả là đất nước lâm vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài, và cho đến ngày nay vẫn còn nằm dưới đáy của bậc thang phát triển. (Nguyễn Tuấn)

Đèn cù và Những lời trăn trối

22-9-2-14

Nguyễn Tuấn

.

Tôi đọc 2 cuốn “Đèn cù” (của Trần Đĩnh) và ” Những lời trăng trối ” (Trần Đức Thảo) một lúc. Vì đọc chưa xong nên chỉ có thể viết linh tinh vài cảm nhận đầu tiên. Cả hai cuốn sách đều nói về chế độ cộng sản cùng những con người trong chế độ đó, và qua đó chúng ta có thể giải thích tại sao VN bị lệ thuộc vào Tàu suốt mấy mươi năm qua và tại sao VN vẫn còn ở dưới đáy của bậc thang phát triển như hiện nay và có thể cả tương lai.

Nhưng cách tiếp cận hay cấu trúc thì rất khác nhau giữa hai tác phẩm. Đèn cù có vẻ tập trung vào những cá nhân gầy dựng chế độ và những con người yểm trợ chế độ cộng sản ở VN. Tác giả được sống gần các nhân vật đó một thời gian dài và có thể tiếp cận nhiều thông tin có thể nói là thú vị. Chẳng hạn như tác giả được phân công viết một phần tiểu sử ông Hồ và có dịp tiếp cận thông tin về cá nhân ông ở địa phương, và ông cả Khiêm (anh ruột ông Hồ) cho biết ông Hồ sinh năm 1891 (chứ không phải 1890) nhưng tác giả không đào sâu phân tích chi tiết này. Tác giả cũng không viết một cách rạch ròi về gia phả của ông Hồ. Thật ra, hầu như bất cứ nhân vật nào, tác giả chỉ phác hoạ sơ sơ, bề mặt, chứ không hề có đào sâu. Tuy nhiên, cảm nhận của tôi khi đọc những đoạn trong Đèn cù, ông cụ Hồ là một người có vẻ thờ ơ và lạnh lùng với thân nhân, anh em của ông. Ông không hề nhắc đến cha mẹ, anh chị em, và từ ngày ông đạt được quyền lực tột đỉnh, cũng không về thăm và ở lại quê.

Lại có những đoạn mô tả các nhân vật chóp bu trong đảng làm cho độc giả ngạc nhiên về trình độ văn hoá và nhận thức của họ. Chẳng hạn như đoạn tác giả thuật lại chuyện Lê Duẩn hỏi Bs Phạm Ngọc Thạch rằng rau muống luột và rau muống xào cái nào tốt hơn. Một đoạn khác, tác giả cho chúng ta biết về quan điểm của Lê Duẩn liên quan đến in tiền. Chuyện kể rằng ông Duẩn phàn nàn với Thành uỷ Hà Nội sao không bán giường tủ cho công nhân viên và trừ lương hàng tháng, nhưng Thành uỷ nói không có tiền, ông Duẩn bèn phán không có tiền thì in tiền. Ông giảng giải thêm: “Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ?”

Ở một đoạn khác, tác giả thuật lại một chuyện khá bi hài về số phận của ông Trần Đức Thảo (TĐT). Chuyện kể rằng Lê Duẩn mới viết xong một đề cương về con người, và triệu tập TĐT đến để nghe và cho ý kiến. Khi ông Duẩn đọc xong đề cương, ông TĐT im lặng không nói gì, nhưng khi được đốc thúc thì ông Thảo nói ông chẳng hiểu gì cả. Thế là ông Duẩn đùng đùng nổi giận “hai tay quàng ôm lấy ngực triết gia, xốc lên, dội xuống mấy lần, rồi ‘buông thịch’ xuống một cái cho ông giáo sư rơi xuống ghế ngồi.”

Có lẽ điểm làm cho Đèn cù thu hút nhiều độc giả là ở cái tính cá nhân, mà theo đó, tác giả mô tả có vẻ rất thật cá tính của từng người mà ông có dịp tiếp xúc. Thỉnh thoảng trong sách tác giả còn chêm vào những câu chuyện sex hay có màu sắc sex, rất dễ thu hút những người Việt tò mò. Có những chi tiết buồn cười như tác giả chạy theo để dòm ông Hồ Chí Minh … đi tiểu, và khi bị phát hiện, tác giả “liếc nhanh vào chỗ kia của Cụ. Và chỉ thấy vùng ấy hơi tôi tối – nâu nâu hay hồng hồng? Ô, cũng như mọi người?” Đọc đoạn đó chỉ làm cho chúng ta tức cười. Nhưng cũng có vài đoạn làm cho người đọc phẫn nộ về sự dã man của quân du kích khi họ dẫm đạp thi thể bà Nguyễn Thị Năm xuống áo quan vốn quá hẹp so với thân thể của bà. Có lẽ chi tiết quan trọng nhất trong phần “Cải cách ruộng đất” là ông Hồ từng viết bài dưới bút hiệu “CB” tố cáo bà Nguyễn Thị Năm, và ông cũng bịt râu để xem đấu tố bà Năm. Chi tiết này cho thấy ông Hồ hoàn toàn đứng đằng sau vụ đấu tố chứ không phải chỉ làm theo áp lực của cố vấn Tàu như nhiều người nghĩ.

Qua cách mô tả rất sinh động của Trần Đĩnh, độc giả sẽ thấy được những con người trong hệ thống đảng đã và đang được hệ thống tuyên truyền đề cao (hay thậm chí thần thánh hoá) chỉ là những con người rất bình thường và rất tầm thường. Họ không tỏ ra là những người minh triết hay có những phát kiến gì đáng chú ý. Qua ngòi bút của tác giả, ai cũng có thể thấy họ là những người cực kì giáo điều, tin tưởng vào Mao và Stalin gần như tuyệt đối. Họ sẵn sàng chấp nhận “giáo lí” Mao – Stalin, và có vẻ háo hức tình nguyện được làm “tín đồ” của tôn giáo đó. Họ muốn đưa VN thành một thành viên trong cái thế giới đại đồng mà tôn giáo Mao-Stalin vẽ ra. Còn sự tầm thường của họ sẽ làm cho nhiều người hâm mộ cảm thấy thần tượng bị sụp đổ hay khó tin.

Khác với “Đèn cù” có xu hướng tập trung vào nhân vật trong hệ thống, cuốn “Những lời trăng trối” thì tập trung vào phân tích nền móng của chế độ và chủ thuyết cộng sản. Những lời trăng trối cũng có những đoạn mô tả cá nhân, nhưng đó chỉ là một chất liệu để tác giả TĐT phân tích và diễn giải thêm. Chẳng hạn như đoạn mô tả TĐT gặp ông Hồ trong An Toàn Khu (ATK cũng được Trần Đĩnh nhắc đến) đầy kịch tính. Người ta phải đến nói cho ông TĐT biết về qui tắc gặp lãnh tụ ra sao, như phải đứng cách lãnh tụ 3 mét, không được giơ tay bắt tay trước mà phải chờ, không được nói leo, phải xưng là “bác” và “cháu” chứ không được xưng “tôi”, v.v. Đến khi lãnh tụ đến nơi, cuộc diện kiến chỉ có 1-2 phút với chưa đầy 4 câu nói:

– À! Chào chú Thảo! Chú về đây đã được bao lâu rồi?
– Cháu xin kính cháo bác! Cháu về đây được 5 hôm rồi.
– À này chú Thảo! Bác biết ở bên Tây, chú đã đọc nhiều sách vở, nhưng bây giờ về đây, thì chú phải gắng mà học tập nhân dân, nghe không? Thôi bác có hẹn nên phải đi kẻo trễ.

Thế là “bác đi”. Nhưng cái câu “nhưng bây giờ về đây, thì chú phải gắng mà học tập nhân dân, nghe không” được TĐT bỏ ra gần chục trang để phân tích! Ông cảm thấy ông là một đối tượng có vấn đề, và vấn đề là nhiễm tư tưởng phương Tây. Ông cảm thấy mình bị răn đe. Ông phân tích rằng trong cái nhìn của đảng, nhân dân chính là đảng, thành ra học tập nhân dân tức là học tập đảng! Ông TĐT lật đi lật lại cái câu “học tập nhân dân” và lí giải trong bối cảnh của ông. Ông đi đến kết luận rằng ông Hồ là một người rất phức tạp, hành tung bí mật (lúc thì đóng vai tình báo, lúc là sĩ quan mang lon thiếu tá trong Bát bộ quân, lúc vận áo cà sa, v.v.), thái độ khó hiểu, lời nói có khi đầy mâu thuẫn. Ông TĐT kết luận rằng đó là một “con người có tung tích bí ẩn, có tâm thức đa nghi, có phản xạ đa diện, nhạy bén, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội, dù là mâu thuẫn với lí tưởng, với học thuyết, đối nghịch với lương tri, nhưng điều cốt yếu là để đạt tới mục tiêu.”

Trong Những lời trăng trối không có những câu chuyện cá nhân mang tín vụn vặt như Đèn cù. Thay vào đó, Những lời trăng trối có những kiến giải theo tôi là sâu sắc về chế độ và những phân tích tâm lí rất đáng học hỏi. Những kiến giải đó chỉ để tác giả kết luận rằng “Chính ông Marx đã sai”, và “không một ai muốn phấn đấu để trở thành con người vô sản”. Tác giả lặp đi lặp lại 2 khẳng định đó như để nói rằng chủ thuyết cộng sản (mà tác giả từng có thời ủng hộ) là sai, là nguyên do của những thất bại và đau khổ cho một thế giới không nhỏ trong một thời gian dài. Ông giải thích:

“Chính vì lâu đài tư tưởng của Marx, mà từ đó đi ra nhữg lãnh tụ đã thành những ác quỉ tuỳ tiện, lộng hành quyền lực, khiến hàng vạn chiến sĩ cộng sản đã bị hi sinh một cách oan uổng và vô ích … và ở nước ta có hàng triệu người bỏ làng mạc, bỏ mổ mả tổ tiên để di tản vào Nam năm 1954, và rồi đã có hàng triệu người đã liều chết bỏ cửa bỏ nhà chạy ra biển gây thảm cảnh “thuyền nhân” sau 1975 … làm cả thế giới rơi lệ. Thành phần dân chúng khốn khổ ấy, vì đã hiểu, đã nếm mùi lâu đài ‘thế giới đại đồng’ của Marx, nên họ đã liều chết bỏ chạy! Là vì họ muốn đi tìm nơi có công bằng, bác ái, có tự do và hạnh phúc thật sự” (Trang 342).

Một đoạn khác, ông giải thích cái gọi là “quỉ” như sau:

“Quỉ ấy là thứ đầu óc đầy gian sảo, hung bạo của quyền lực. Quỉ ấy là ý thức đấu tranh giai cấp, là thứ cuồng tín bạo lực và hận thù, là những khái niệm sai trái, độc ác ở trong đầu con người, nó thúc đẩy con người lao vào đam mê tìm thắng lợi bằng mọi thủ đoạn của tội ác, bằng đủ thứ quỉ kế, để mưu đồ củng cố cho chế độ độc tài, độc đảng. Những vinh quang độc tài, độc đảng ấy đều là phù phiếm, vì chúng làm khổ con người! Xét như vậy là thấy rõ là quỉ nó vẫn ở với người, vẫn ở trong con người lãnh đạo.”

Còn rất nhiều đoạn như tôi vừa trích để cho thấy TĐT không quan tâm nhiều đến cá nhân, mà chỉ kiến giải hành vi của cá nhân. Một số người cho rằng một điểm yếu của Những lời trăng trối là do người khác ghi lại lời nói của ông TĐT, và nghi ngờ chẳng biết ghi chép có chính xác. Đến nay thì người ghi chép đã công bố cuốn băng có lời nói của ông TĐT:

http://bit.ly/Xe2fTC

Có thể nói rằng Những lời trăng trối có hàm lượng tri thức hơn hẳn cuốn Đèn cù. Nhưng trong thực tế, tôi thấy hai cuốn này bổ sung cho nhau. Một cuốn phân tích những sai lầm của chủ thuyết từ cơ bản, và một cuốn thì mô tả sự ứng dụng của chủ thuyết đó bởi những con người cuồng tín đầy ấp những bất cập và khiếm khuyết. Hệ quả là đất nước lâm vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài, và cho đến ngày nay vẫn còn nằm dưới đáy của bậc thang phát triển.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Tác giả:

dencu-1

 

Phó-mát và Phở

Cùng thời điểm cuối hè 2014, ở Paris, dư luận ồn ào, Điện Elysée chao đảo vì quyển Hồi ký «Cảm ơn cho lúc đó» của bà Valérie Trierweiler, bồ cũ của Ông Tổng thống François Hollande, độc giả Việt Nam hải ngoại và cả ở trong nước cũng một lúc xôn xao không kém vì quyển «Đèn Cù» của Ông Trần Đĩnh. Một thứ tự truyện mà tác giả gọi là «Chuyện của tôi».

Cái khác nhau của 2 quyển sách, thể loại cùng na ná nhau, là «Cảm ơn cho lúc đó» bán ngay trong mấy ngày hết 200 000 quyển. Và đang in thêm 270 000 quyển nữa. Tác giả tạm đút túi không dưới nửa trìệu euros. Còn «Đèn Cù» chắc in nhiều lắm là 4000 quyển ở 2 nhà xuất bản «Người Việt» ở Californie và «Tiếng Quê Hương» ở Virginie. Tác giả Trần Đĩnh nhận được bản quyền là bao nhiêu, không biết. Nhưng chắc không có tác quyền, mà chỉ có «chút ân tình với nhau». Phía tác giả không đòi hỏi. Phía nhà xuất bản cũng không thể làm «hơn» được. Cả hai bên đều vui lòng viết và in sách là chỉ nhằm phục vụ độc giả đồng bào những thông tin hữu ích.

Buồn cho người viết, mà buồn cho độc giả nhiều hơn vì cho tới nay vẫn chưa biết thương người viết! Cũng buồn không ít cho nửa triệu độc giả Pháp là thích tìm đọc chuyện giường chiếu hơn là những sách mở mang trí tuệ. Bởi sách về tư tưởng hay có giá trị thật thường không bán tới 50 000 quyển!

Cả hai quyển đều nhắc tới lãnh tụ. «Cảm ơn cho lúc đó» đã làm cho Tổng thống Phủ phải chới với, Ông Hollande phải công khai lên tiếng đính chánh. Nhưng đính chánh lại làm cho người ta hiều đó là thừa nhận sách nói đúng. «Đèn Cù» đưa thâm cung cộng sản Hà Nội ra ánh sáng. Hà Nội đã lật đật tổ chức triển lãm Cải Cách Ruộng Đất để nói cho dân chúng biết cái hay chỉ cộng sản mới có, đó là cuộc cách mạng long trời lở đất do Hồ Chí Minh vâng lời Staline và Mao-Trạch-Đông ban hành, nhằm tước đoạt bằng bạo lực ruộng đất của người giàu đem chia cho người nghèo để rồi năm sau, đưa người nghèo địa chủ mới vào Hợp tác xã, trở thành công nhơn nông nghiệp . Lao động tùy sức, hưởng thụ tùy khả năng!

«Đèn Cù» phát hành được nửa tháng. Cả trên internet miễn phí. Lời khen nhiều mà lời phê bình cũng có tuy ít. Có độc giả không đồng ý, nêu lên những điểm mà họ cho rằng làm lợi cho cộng sản. Tây có hơn 300 thứ phó-mát nên khó có được sự nhứt trí. Việt nam mình cũng có lắm thứ phở, tái, nạm, gầu, dòn, béo, …nên nếu vấn đề có được sự đồng ý nhưng cách đưa ra không thích hợp hay không bìết cách đưa vấn đề ra thì vẫn khó có được sự đồng thuận.

Vì vậy nhận xét «Đèn Cù» mà làm hài lòng hết mọi người là việc khó làm. Khó hơn việc đánh đổ được cộng sản hà nội hiện nay nữa.

Giờ đây, Cỏ May chỉ dám lướt qua, ghi lại vài nét về con người Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù .

Đèn cù 

Khi nhận được thông tin, vào cuối tháng 8/2014, nhựt báo Người Việt sẽ phát hành quyển sách «Đèn Cù» của Trần Đĩnh. Cỏ May chưa nghe nói tới tên Trần Đĩnh bao giờ nên chưa biết ông này là ai? Làm gì, ở đâu? Còn «Đèn Cù», Cỏ May ngờ ngợ phải chăng Đèn Cù là Đèn Kéo quân của ngày Tết Trung thu người ta treo trước nhà? Còn đèn ông sao, đèn bươm bướm, …mà trẻ con cầm đi vào tối vừa hát « Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi … Đi khắp phố phường …*» có phải là biến thể của Đèn Cù không?

Khi biết chắc Đèn Cù đúng là Đèn Kéo quân, Cỏ May bỗng nhớ tới một giai thoại về Đèn Kéo quân mà ngày nay đọng lại ở chữ Song Hỉ thường thấy trong lễ cưới.

Vào thế kỷ XI đời nhà Tống ở bên Tàu, có một sĩ tử tên Vương An Thạch, 20 tuổi, sau này làm tới Tể tướng, trên đường đi tới Kinh đô dự thi Trạng Nguyên, dừng chơn lại ở một Thị trấn nghỉ qua đêm . Họ Vương trông thấy trước nhà Mã Viên ngoại có treo một lồng đèn, tức Đèn Cù hay Đèn Kéo quân, với một vế câu đối kẻ trên hông đèn « Tẩu mả đăng, đăng tẩu mã, đăng tức, mã đình bộ » (Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi).

Liếc mắt đọc qua, Vương An Thạch buộc miệng «Câu này dể đối mà!». Nói rồi, ông bỏ đi cho kịp trường thi.

Đèn, Đèn Cù hay đèn gì cũng vậy, phải tỏa ánh sáng. Nhưng Đèn Cù hay Đèn Kéo quân chắc chắn không cho ánh sáng mạnh có thể đẩy lùi xa bóng tối hay làm cho người ta trông thầy rỏ ràng, rành mạch người và vật. Dưới ánh sáng của Đèn Cù, người ta chỉ trông thấy lờ mờ mà thôi. Mà Đèn Cù soi rọi vào chuyện củ, chuyện lịch sử, thì người và vật lại chỉ hiện ra mông lung lắm. Ai muốn nhận diện Hồ Chí Minh, có lẽ chỉ thấy được một con người lung linh mà thôi. Nhưng nếu thấy được con người đó, qua Đèn Cù, mặc dầu có mông lung nhưng đúng hắn, con người thật của hắn, thì cũng hay lắm rồi. Người làm nên Đèn Cù như vậy cũng đã đóng góp rất lớn cho vìệc đẩy lui được phần nào cái bóng đêm dày đặc bao trùm lên đất nước Việt Nam từ gần thế kỷ nay.

Hồ chí Minh dưới ánh sáng Đèn Cù 

Một nét mặt thật khá nổi cộm của riêng Hồ Chí Minh và của nhóm lãnh đạo cộng sản Hà Nội được Trần Đĩnh phơi bày ra trong vụ án Bà Nguyễn thị Năm Cát Hanh Long bị Tòa án Cải Cách Ruộng Đất hành quyết. Khi nghe Hoàng Quốc Việt về Hà nội báo cáo vụ xử tử Bà Nguyễn thị Năm, Hồ Chí Minh bảo; «Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức.’ Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này”.

Nhưng trước đó, Hồ Chí Minh viết bài «Địa chủ ác ghê» cổ vũ tiến hành Cải Cách Ruộng Đất phải triệt để đối với địa chủ, dưới tên tác giả ẩn danh CB, tức «Của Bác», đăng trên báo Nhân Dân. Trong đó, Hồ Chí Minh còn bịa chuyện kể ra số nạn nhân của Bà Nguyễn thị Năm để xách động lòng căm thù của nông dân và giải thích lý do tử hình Bà Nguyễn thị Năm là chánh đáng.

Gian ác hơn nữa là cả hai người đầu não Cải Cách Ruộng Đất, Hồ Chí Minh và Trường Chinh, đều tới dự khán phiên xử án Bà Nguyễn thị Năm. Hồ Chí Minh bịt bộ râu cá chốt ngụy trang. Trường Chinh mang kiếng đen che bớt cái mặt.

Khi sửa sai, Hồ Chí Minh khóc và xin lỗi đã phạm những sai lầm. Nhưng theo kế hoạch, Cải Cách Ruộng đất đã hoàn tất.

Về quan hệ mật thiết với Tàu, Trần Đĩnh kể lại rất chi tiết. Lý Ban có mặt sát cánh và trong nội tình cộng sản Việt Nam ngay từ đầu kháng chiến. Tên này là người tàu 100%, có vợ cũng người tàu, làm Hoa kiều vận của đảng cộng sản Hà Nội, vừa là Tỉnh ủy viên Tỉnh Quảng đông của cộng sản tàu. Hắn ta hướng dẫn Hồ Chí Minh qua Tàu lần đầu tiên với tư cách Chủ tịch nước để yết kiến Mao trạch đông sau khi Mao chiếm được lục địa hai tháng. Cùng với Lý Ban có thêm mấy tên tàu nữa, Tắc Vầy, Trương Đức Duy, …với Tàu là vô danh tìểu tốt nhưng sau đó làm Đại sứ Tàu ở Hà nội và « lời lời vào tai Hà Nội đều nặng cân lạng vô cùng».

Hồ Chí Minh qua Tàu là để làm kiểm thảo với Mao trạch-đông, Lưu Thiếu kỳ và Châu Ân lai vì đảng cộng sản Hà Nội được thừa nhận là một Chi bộ của Quốc tế cộng sản. Được làm Chi bộ Quốc tế cộng sản là nhờ Mao giới thiệu Hồ chí Minh cho Staline và Staline phân công cho Mao phụ trách cộng sản Hà Nội. Hệ lụy của sự phân công này đã nằm sâu trong vô thức của đảng viên Việt Nam nên từ đó, Hà Nội luôn luôn ý thức rỏ địa vị của mình là đàn em, kẻ dưới, yên phận đời đời biết ơn Mao Chủ tịch, đã trở thành nền móng văn hóa cộng sản Hà Nội phục tùng Tàu.

Xuân Trường cho biết «bác nhà mình chủ động khẳng định với bác Mao quan hệ giữa hai nước theo phương châm môi hở răng lạnh».

Tôn ti này, chính Hồ Chí Minh tự đặt ra. Và cũng chính Hồ Chí Minh tự nguyện mình chỉ có thể nêu ra được tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao. Hồ Chí Mình đề cao Mao, đem chủ trương phụ thuộc Tàu  làm bài học giáo dục cho đảng viên. Ông thêm vào Bản Điều lệ đảng câu «Lấy tư tưởng Mao trạch-đông làm kim chỉ nam». Còn gởi đìện văn cho đảng cộng sản tàu «Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập đảng cộng sản trung quốc, học tập tư tưởng Mao trạch-đông, tư tưởng lãnh đạo của nhân dân trung quốc».

Từ 1951, trên báo Nhân Dân, tuần nào cũng có vài mẫu chuyện của CB (Của Bác) phổ biến kinh nghiệm mọi mặt của Tàu. Đảng viên hảnh diện làm đàn em của Liên-xô, Anh Cả, và Tàu, Anh Hai. Sau đó, Việt Nam sẽ làm Anh Ba với các nước cộng sản ở Phi châu và Nam Mỹ.

Trần Đĩnh nói ra vài chi tiết rất thú vị. Từ tên Đảng Cộng sản Đông dương, Đảng Lao động, đều do Staline đặt cho. Mới thấy ở con người Hồ chí Minh, không có cái gì thật tình là của hắn ta, do chính hắn sáng tạo cả, ngoại trừ tình thần tuân phục và bản tánh gian ác cùng cực! Có thể nói trong đời, kẻ đánh cha, chém chú, lắt vú chị dâu, cạo đầu bà thím, cũng phải bái Hồ Chí Minh làm sư phụ!

Nhắc lại 2 tên tàu Lý Ban, sau này có lúc làm Chánh án, quyền uy tột bực, thủ tiêu không biết bao nhiêu đảng viên hà nội và Trương Đức Duy là người thu xếp hướng dẩn Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Nguyễn văn Linh, Phạm văn Đồng tham dự Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Hà Nội lệ thuộc Bắc kinh không phải ở ngày nay, mà đã bắt đầu từ ngày Hồ Chí Minh tự tuyên bố Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Và mối quan hệ «sông liền sông, núi lìền núi» đã ngấm sâu vào tiềm thức của cộng sản Hà Nội. Họ không có ý thức phân biệt Việt Nam là một nước riêng biệt, người Việt Nam là một dân tộc khác hơn người tàu. Nên trong suy nghĩ của người cộng sản Hà Nội không có vấn đề mất nước cho Tàu. Chỉ có những người Việt Nam không cộng sản hay không còn cộng sản nữa mới thấy đất nước bị mất.

Đọc Đèn Cù sẽ gặp nhiều chi tiết về ngôn ngữ lạ hoắc mà Cỏ May vì lúc nhỏ ham chơi, không chịu học kỹ, nên đành ngớ ra. Số những chữ lạ này không ít.

Và khó quên giai thoại về câu đối «Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi» . Và vế đối «Cờ bay hổ, hổ bay cờ, cờ cuộn lại, hổ biến mất».

Không biét lúc nào Đèn Cù tắt để quân cộng sản ngừng đi, đi bán nước, đi cướp giựt tài sản của nhân dân. Và ngày nào lá cờ vẽ hình con hổ bị gió cuộn lại, hổ biến mất? Đảng cộng sản ác ôn sẽ biến mất!

Thi đậu Trạng nguyên và đối được câu đối, Vương An Thạch được vợ. Hai cái vui song song. Song Hỉ!

Hết cộng sản, Việt Nam sẽ có cả ngàn cái vui. Vạn cái Vui. Vạn Hỉ!

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

* Địa Chủ Ác Ghê – tác giả C.B,  nguồn   hoangtran204.wordpress.com/cac-van-ban-tai-lieu-lich-su/

* Để tôn trọng tác giả và chứng tỏ sự sòng phẳng, những ai đọc cuốn Đèn Cù của Trần Đỉnh, dù là đọc trên mạng, cũng nên tìm tìm cách trả tiền sách cho tác giả theo giá sách hoặc theo khả năng. 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

► Cuộc triển lãm Cải cách Ruộng đất hôm nay đóng cửa vì thiếu ánh sáng, nhưng rồi có thể sẽ quay lại bằng một ánh sáng khác, một ngày nào đó…

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2014

Vâng, dĩ nhiên chỉ là ánh sáng

.

Tuấn Khanh/ Blog Tuấn Khanh
13-9-2014
.
Bà Nguyễn Thị Năm và các con 
.
Đợt triển lãm “Cải cách Ruộng đất” vừa khai mạc ngày 8 tháng 9/2014 tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Hà Nội, đã đột ngột đóng cửa 2 ngày sau đó, với lời giải thích rằng “trục trặc kỹ thuật về ánh sáng”.
.
Buổi triển lãm ở bảo tàng vào ngày cuối cùng, được mô tả là tràn ngập các nông dân miền Bắc mất đất vào xem, theo một lời mời tinh nghịch và cũng hết sức thông minh từ trang blog Xuân Việt Nam.

 Trong bản video ghi lại, người ta nhìn thấy sự hốt hoảng của các nhân viên bảo tàng khi cố gắng ngăn chận những nông dân này vào xem một cuộc triển lãm công cộng. Rõ là các nhà tổ chức, đang vinh danh cho một chiến dịch về đất đai của Đảng lãnh đạo, đã cảm thấy mắc nghẹn khi bất ngờ gặp phải những hình ảnh đối chiếu sống động và quá sắc cạnh. 
.
Trong lịch sử, Đảng Lao Động Việt Nam dưới quyền chỉ huy của ông Hồ Chí Minh đã tiến hành một cuộc cách mạng điền địa kéo dài 11 năm (từ 1946 đến 1957), tịch thu của cải và vườn tược của hàng trăm ngàn người ở miền Bắc Việt Nam, chuyển qua cho Nhà nước quản lý. Nhưng kể từ cuộc cách mạng đó, người ta chứng kiến đến nhiều thập niên sau, là quan chức và nhiều tầng lớp cán bộ, đảng viên Cộng sản lại giàu có hơn gấp triệu lần những người bị đấu tố trong quá khứ. Họ “địa chủ” hơn, “tư bản” hơn và đáng bị đấu tố hơn bao giờ hết.
.
Vâng, vấn đề chỉ là ánh sáng. Sự có mặt của những nông dân Việt Nam lang thang khắp các cơ quan công quyền, cầm trên tay những xấp đơn rách nát vì mưa gió để cầu xin công lý cho đất đai tổ tiên đã mất vào tay các “nhóm lợi ích” đầy quyền lực từ Đảng, chính là một ánh sáng của sự thật. Ánh sáng đối chiếu đó làm run sợ mọi ngôn luận cực hữu, bao gồm sự thô bỉ mạt hạng như lời phát biểu của ông giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia “không nhất thiết phải phơi bày sai lầm của lịch sử”.
.
Không chỉ sai lầm có tính lịch sử vừa được nhắc tới, mà hiện tại cũng đã đang rầm rộ trình diễn sự tối tăm đang diễn ra trên đất nước Việt Nam. Tháng 5/2012, hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo diễn ra dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các bản báo cáo mở ra một khung cảnh Việt Nam tan nát: trong số hàng triệu các đơn khiếu kiện, kêu oan, tố cáo… Có đến 70% là liên quan về đất đai. Các con số này chưa bao giờ lạc hậu. Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ cho năm 2013, thì trung bình có 120.000 vụ/năm đệ đơn khiếu nại, tố cáo… về đất đai.
.
Chiến dịch Cải cách Ruộng đất đẫm máu trong lịch sử đã được chính quyền miền Bắc tuyên bố nhận sai, sửa sai. Nhưng thông tin minh bạch về một nửa Việt Nam kinh hoàng trong những ngày tháng đó, phần nhiều chỉ tìm thấy trong các bản tin không chính thức. 
.
Việt Nam cũng có một ngày phụ nữ Việt Nam nhưng bao giờ có ai dám nhắc đến tên bà Cát Hạnh Long (Nguyễn Thị Năm) trong ngày Phụ nữ vinh quang ấy – người đã từng nuôi giấu ông Hồ Chí Minh, nhưng cũng là người bị giết đầu tiên trong chiến dịch ghê sợ này. Và cũng nửa thế kỷ trôi qua, người ta chưa bao giờ thấy một Đài tưởng niệm những nạn nhân Cải Cách Ruộng đất được hình thành. So với số lượng những nghĩa trang và đài tưởng niệm lính Trung Quốc ở Việt Nam, những linh hồn đồng bào Việt chắc chắn có quyền hờn tủi. Hãy tự hỏi, phải chăng chúng ta đã có và luôn chấp nhận một đoạn lịch sử tối tăm và thiếu ánh sáng?
.
Trong những ý kiến cực hữu tìm thấy trong các cuộc tranh cãi do cuộc triển lãm này mở ra, có ý cho rằng mọi phản ứng mang tính bất bình về chính sách Cải cách Ruộng đất trong quá khứ chỉ là “phong trào”, và những người lên tiếng không có liên hệ trực tiếp nào đến sự kiện đó cả. Những lập luận này cho thấy thái độ chưa đủ chân thành và thẳng thắn của Nhà nước trong việc nhìn nhận lịch sử, đã tạo cơ hội cho những suy nghĩ giòi bọ vô lương tâm đến đồng bào mình. Loại người mà ngạn ngữ Nga vẫn hay trả lời với đại ý rằng “chỉ có loại heo chết mới không bàn đến nước sôi luộc thịt”.
.
Cuộc triển lãm đóng cửa vì lý do ánh sáng, hay nói một cách khác là vết thương cũ đã hơn nửa thế kỷ lại bộc phát do thiếu minh bạch. 
.
Bóng ma của câu chuyện Cải cách Ruộng đất vẫn còn ám ảnh, một khi cái gọi là sửa sai, nhận sai chưa đủ thuyết phục. Dù đó là giọt nước mắt xin lỗi hay hình thức đền bù theo kiểu chương hồi. Nói ám ảnh là không quá đáng, theo hồ sơ công bố của Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh, hiện tại chỉ trong 4 năm mà miền Nam đã có hơn nửa triệu đơn tố cáo, kêu oan… về đất đai. Có hay không một cuộc Cải cách Ruộng đất với hình thức khác đã chuyển từ Bắc vào Nam?
.
Cuộc triển lãm Cải cách Ruộng đất hôm nay đóng cửa vì thiếu ánh sáng, nhưng rồi có thể sẽ quay lại bằng một ánh sáng khác, một ngày nào đó. Và chúng ta cũng mong những vấn nạn về đất đai hôm qua cũng như hiện tại rồi sẽ được soi chiếu bằng một ánh sáng khác. Vâng, tất cả chỉ là chuyện ánh sáng mà thôi.
.

 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | 1 Comment »

►Cuộc cải cách ruộng đất ở Bình Dương 1997-2000: giúp chủ tịch tỉnh thu nhập 64 tỉ đồng trong 5 năm và sở hữu 100 mẫu cao su

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2014

Thấy gì qua thu nhập 64 tỉ đồng của Chủ tịch tỉnh Bình Dương?

Hưng Long

– Câu chuyện về tài sản của ông Lê Thanh Cung, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương được Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Dương xác nhận. Theo đó, vị lãnh đạo này sở hữu hàng chục hécta cao su gây sửng sốt trong dư luận. Hơn hết, hàng chục hécta đất cao su đã được cấp trái phép.

Hàng chục hécta đất vào tay ông chủ tịch như thế nào?

Ngày 4-9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Dương đã tổ chức họp giao ban báo chí quý III/2014. Ông Nguyễn Minh Giao, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Dương xác nhận, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Thanh Cung hiện đang sở hữu vài chục hécta cao su. Ông Giao đã đưa ra thông tin khiến dư luận như “xóa tan” ngờ vực về việc ông Lê Thanh Cung đang sở hữu lô đất cao su hơn 100ha. Cũng tại buổi giao ban báo chí này, ông Giao còn khẳng định, trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2004, ông Cung có thu nhập 50 triệu đồng/ngày. Đối với người dân Việt Nam, thu nhập của Chủ tịch tỉnh Bình Dương thuộc hàng “khủng”.

Nhưng nếu như vườn cao su ông Cung có được từ thừa kế của người thân hay do lao động bằng năng lực thì chắc hẳn chẳng ai quan tâm. Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó chủ tịch Hội Luật gia TP HCM phân tích: UBND huyện Bến Cát đã có sai phạm khi giao đất nông nghiệp cho Phó chủ tịch nay là Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương sử dụng.


Biệt thự của ông Lê Thanh Cung

Thời điểm từ tháng 1-1997 đến tháng 12-2000, hàng chục hécta cao su bỗng dưng như từ trên trời rơi xuống theo “quyền lực” của lãnh đạo tỉnh. Lô đất của ông Cung lại “nằm gọn” trong 980,137 ha của Công ty Chế biến cây công, nông nghiệp xuất khẩu tỉnh Bình Dương (tên viết tắt: Công ty Sobexco). Hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ cho đến khi công ty này giải thể, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản thu hồi đất của Công ty Sobexco số đất trên. Trong đó, giao cho dân đã nhận khoán trước: 320,24ha; bán thẳng vườn cây cao su cho người sử dụng 306,979 ha; đấu giá vườn cây cao su: 352 ha; đấu giá đất chuyên dùng: 0,918ha.

Ông Cung cũng là “dân” nên được giao phần đất nằm trong diện “giao cho dân đã nhận khoán trước: 320,24 ha” thuộc khu đất lâm trường Long Nguyên tại ấp 8, xã Long Nguyên (huyện Bến Cát). Ngày 9-9-2003, UBND tỉnh có công văn về việc chấp thuận giao 320,7 ha đất trước đây do Công ty Sobexco quản lý cho UBND huyện Bến Cát quản lý và xem xét giao đất sản xuất nông nghiệp cho người dân có nhu cầu theo thẩm quyền.

Căn cứ vào công văn nói trên của UBND tỉnh, UBND huyện Bến Cát đã thực hiện giao đất theo thẩm quyền trên cơ sở sổ xanh đổi sổ đỏ. Không quá ngạc nhiên khi, ông Phó chủ tịch Cung cũng nằm trong danh sách các hộ dân được giao đất. Diện tích đo đạc lại khi cấp sổ đỏ là 320,24ha. Trong đó, cấp sổ đỏ cho 112 hộ dân: 283,53ha; diện tích hành lang đường: 9,61ha; đất khu dân cư ấp 8 Long Nguyên: 24,3ha; đất bãi rác: 2,8 ha.

Trong 112 hộ dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 283,53ha, ông Cung đứng tên hàng chục hécta đất. Một Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương thời bấy giờ từng phải làm giải trình trong việc phân cấp đất của Công ty Sobexco đã để lại bút tích về việc có ít nhất 3 cán bộ được cấp đất trong đợt này. Bản viết tay thể hiện: “Cán bộ: 9 Cung – Phó chủ tịch, Út Đoàn – Phó chủ tịch, Út Tuyền (Ban TC)”. Báo cáo Kết quả Thanh tra của tỉnh Bình Dương có đề cập đến diện tích đất mà ông Cung được giao nhưng không nhắc đến việc thu hồi phần đất của ông Lê Thanh Cung.

Cần làm rõ nguồn gốc đất và thu nhập

Trao đổi với phóng viên Báo Năng lượng Mới, Luật sư Nguyễn Văn Hậu đưa ra dẫn chứng, căn cứ vào thời điểm xảy ra sự việc và các quy định tại Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28-8-1999 của Chính phủ để xác định tính pháp lý của các quyết định giao đất nông nghiệp của UBND huyện Bến Cát đối với ông Lê Thanh Cung. Vị Phó chủ tịch tỉnh được giao hàng chục hécta đất cao su là bất thường, trái với quy định của pháp luật.

Điều 8 Nghị định 85/NĐ-CP quy định: “Đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và bộ đội về hưu hoặc nghỉ mất sức đang hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên, nếu có khả năng sản xuất, có nhu cầu sử dụng đất, thì UBND xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất ở tại địa phương và tùy theo đối tượng cụ thể mà cho họ được thuê có thời hạn một số đất để sản xuất…”.


Vườn cao su của gia đình ông Cung (100 mẫu; 1 mẫu = 10.000 mét vuông)

Căn cứ theo quy định trên, UBND huyện Bến Cát giao đất nông nghiệp cho ông Lê Thanh Cung là vi phạm về đối tượng được giao đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 85/1999/NĐ-CP thì chỉ hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất đó, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận, thì được Nhà nước giao đất trong hạn mức để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và không thu tiền sử dụng đất.

Luật sư Hậu khẳng định: “Khi đó, ông Lê Thanh Cung đang là Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương nên không thể là đối tượng để được giao đất nông nghiệp theo quy định trên”. Quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định 85/1999/NĐ-CP thì các đối tượng là cán bộ, công chức Nhà nước đang sinh sống tại địa phương chỉ được thuê đất từ quỹ đất công ích của UBND xã để sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

Ngoài ra, UBND huyện Bến Cát còn vi phạm về hạn mức giao đất nông nghiệp. Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 85/1999/NĐ-CP thì hạn mức giao đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm là không quá 10ha. Do đó, việc giao 50ha đất nông nghiệp trồng cây lâu năm cho một cá nhân, hộ gia đình là trái quy định pháp luật.

Ngày 26-12-2000, Tổng cục Thuế đã có công văn trả lời về chính sách thu đối với Công ty Sobexco cho Cục Thuế tỉnh Bình Dương. Khi công ty không có nhu cầu sử dụng đất thì diện tích đất nông nghiệp phải được trả lại cho Nhà nước để giao cho các đơn vị khác sử dụng theo hình thức giao đất hoặc cho thuê đất. Công ty chỉ được phép bán giá trị tài sản trên đất như: cây cao su và các cơ sở hạ tầng khác nếu có.

Luật sư Hồ Nguyên Lễ, Trưởng văn phòng Luật sư Luật Tín Nghĩa đưa ra ý kiến về việc thu thuế thu nhập của ông Lê Thanh Cung. Nếu ông Lê Thanh Cung không nộp thuế thu nhập cá nhân là hành vi phạm pháp, cần xử lý!

Luật sư Lễ đánh giá: “Một cá nhân thu nhập trên 64 tỉ đồng trong 5 năm, đây là một khoản thu nhập “khủng” nên theo tôi cơ quan thuế phải kiểm tra chặt chẽ về trách nhiệm nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (trước đây) hoặc nộp thuế thu nhập cá nhân (hiện nay)”. Trách nhiệm của người nộp thuế là kê khai nộp thuế phải rõ ràng, đầy đủ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước và quyết toán thuế đối với mọi khoản thu nhập theo quy định của pháp luật về quản lý thuế (Điều 24 Luật Thuế thu nhập cá nhân).

Nếu cơ quan quản lý thuế phát hiện cá nhân, tổ chức có vi phạm pháp luật về thuế thì có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và kiến nghị cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh tội phạm vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và thông báo tiến độ, kết quả xử lý vụ việc cho cơ quan quản lý thuế. (Điều 9, Điều 13 Luật Quản lý thuế).

—-

Bài liên quan

Chị Hai Tâm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có hộ khẩu ở Kiên Giang. Nhưng đột nhiên chị làm chủ hơn 185 mẫu cao su ở Bình Dương. 

»

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »