Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Du Lich’ Category

Người Việt Nam Ngày nay Đi Du Lịch mang thông hành Việt Nam (Xã Hội Chủ Nghĩa)…Đi tới đâu thì bị nghi ngờ ăn cắp vặt tới đó. Thật là vất vả để cải chính…

Posted by hoangtran204 on 13/08/2015

Nỗi niềm xuất nhập cảnh của người mang thông hành Việt Nam (Xã Hội Chủ Nghĩa)

Người Việt Nam (XHCN) Ngày nay Đi Du Lịch..

Người Buôn Gióho chieu vn

Lần thứ nhất mình đến Mã Lai, xin visa của sứ quán tại đó để đi Châu Âu.

Thời gian xin mất 2 ngày, hôm nay xin thì ngày kia được visa. Lúc làm thủ tục lấy vé, bỗng nhiên hai thằng cảnh sát Mã Lai lại gần đòi xem hộ chiếu mình. Nó dẫn mình đứng tránh quầy thủ tục và ngắm visa mãi. Nó hỏi sao mày đi xa thế mà hành lý của mày không có.

May là ông bạn dịch vẫn còn. Mình bảo tôi sang đó có người đón, không cần mang gì cả.

Thằng cảnh sát nhìn mình từ đầu đến chân, nó bảo xem hành lý của mình. Thật thảm hại, hành lý của mình đúng một cái nilong trong đó có đúng bộ quần áo hè và vài tờ giấy Cảnh sát Mã Lai hỏi tại sao bên đó mùa đông, mày mặc thế này và chỉ mang thế này.

Mình bảo nói rồi, có người đón, họ sẽ mang đủ cho tôi.

Hai thằng xem hành lý, lắc đầu nhìn nhau vẻ nghi ngờ, một thằng moi ra cái kính lúp gắn lên mắt soi visa. Soi đến toét mắt, nó phải gỡ kính ra chớp chớp mắt, xoa mắt rồi soi lại. Lúc sau nó hỏi tại sao mày không xin visa ở nước mày, lại sang đây xin.

Mình bảo tao sang chơi nhà anh bạn này, chỉ anh bạn dịch, tự nhiên nổi hứng muốn đi châu Âu vì có bạn bên đó bảo lãnh mời. Nên xin luôn ở đây. Thằng cảnh sát Mã lại hỏi tại sao mày xin có hai ngày được visa. Mình bảo cái này mày hỏi đại sứ nước cấp visa, chứ tao làm sao biết.

Bọn nó gọi điện đi đi hỏi đâu đó, lúc sau có điện thoại lại, chắc bên kia trả lời.Thấy nét mặt chúng nó giãn ra hết căng thẳng. Nhưng nó không cho mình đi, nó cứ bắt đứng đấy cùng nó.

Đến sát giờ, có một cô tiếp viên đi đến, nó nói gì đó. Anh bạn dịch bảo nó kêu mình đi theo cô ấy. Mình đi theo cô tiếp viên kia , được ưu tiên đi qua chỗ soát hành lý trước, đến thẳng chỗ lên máy bay. Lại gặp hai thằng cảnh sát đó, nó cười rất tươi với mình.

Khi đến Hà Lan, máy báy đỗ người ta đưa cái cầu thang ống ra cửa máy bay. Đang đi trên cái ống đấy gặp cảnh sát Hà Lan đeo tiểu liên, súng ngắn dắt hông , to như hộ pháp. Cứ thằng nào tóc đen nó lùa hết lại một góc xem hộ chiếu, đến khi nhìn thấy hô chiếu mình thằng cảnh sát hô to – Viet Nam.

Lập tức các thằng khác chạy đến ào ào, quây mình riêng ra một góc riêng. Chúng nó xem visa, rồi mang visa đi đâu. Mấy thằng còn lại thì canh giữ mình không rời mắt một giây. Lúc sau thằng mang hộ chiếu của mình lại, chúng nó dẫn mình vào một cái phòng, hỏi mình gì đó nhưng vô ích vì mình chả biết mẹ tí tiếng Anh nào. Mình đưa nó mẩu giấy chỉ có câu anh bạn viết sẵn, tôi không biết tiếng Anh, làm ơn dẫn tôi đến chuyến bay XZ…Một lúc mình lấy mấy tờ giấy mời cho nó xem, bọn nó đọc xong ồ à gật gật rồi mang giấy đi. Lúc quay lại mang cà fe và bánh cho mình bảo ăn đi. Mình ăn và uống xong nó giơ tay mời ra hiệu đi theo nó, dẫn ra chỗ đóng dấu nhập cảnh rồi đưa ra cửa chờ chuyến bay của mình.

Lần thứ hai nhập cảnh ở Thuỵ Sĩ, đi cùng bà Võ Thị Hảo. Đến lượt mình lại bị chặn, bà Hảo đi qua rồi mình gọi. Bọn nó cũng cho bà ấy quay lại dịch. Bà Hảo nói tiếng Anh cũng tàm tạm, giải thích một hồi nó cũng đóng dấu cho mình đi qua. Bà Hảo nói nó nghi em nhập lậu, giấy tờ giả nên nó phải kiểm tra. Trong chuyến đi ấy, mình sang Pháp rồi về Đức. Chưa kịp ra cửa đi, ở đây cùng EU nên không phải nhập cảnh, thế mà có hai thằng cảnh sát Đức nó chặn xem visa, thấy hộ chiếu Việt Nam nó cho mình luôn vào một cái phòng. Một thằng ngồi canh, một thằng cầm visa đi đâu đó, đến hơn nửa tiếng quay về nó cho mình đi. Báo hại cho chị Phạm Thị Hoài đứng chờ đón bên ngoài lo lắng tưởng mình mất tích.

Lần thứ ba nhập cảnh ở Đức trên chuyến bay có nhiều người Việt Nam. Mấy người Việt đến ô nhập cảnh bị gạt lại chờ, mình thì đưa visa đưa luôn cả giấy mời nên qua dễ. Đang ung dung hào hứng đi vì qua nhanh chóng hơn mấy lần, lấy hành lý xong kéo đi thì lại bị một em cảnh sát chặn đường đưa vào một cái phòng để khám đồ lại. Trong phòng có mấy cảnh sát nữa, thấy họ nói gì có loáng thoáng Viet Nam, Viet Nam. Em cảnh sát xỏ găng bắt đầu khám hành lý. Còn cậu cảnh sát thì có cái gậy điện tử rà quanh người. Họ xem giấy mời và gọi điện theo số trên tờ giấy. Xong họ dẫn mình ra tận chỗ người đón bên ngoài. Lúc bị khám ở trong cái phòng có cửa kính, trong lúc chờ mình nhìn lối đi vẫn chưa thấy mấy người Việt đi cùng mình chưa đi qua, chắc họ cũng chưa qua ô nhập cảnh.

Lần thứ tư mình đi Mỹ, bay từ Hà Lan. Sao mà mình ghét bọn Hà Lan thế. Chờ mãi đến ô xuất cảnh, nó nhìn hộ chiếu Viet Nam, nó quay sang thằng đứng bên cạnh quầy giơ hộ chiếu kêu Vietnam. Thằng đứng bên cạnh lập tức nhào lại, cầm hộ chiếu dẫn mình ngược ra, bao người nhìn mình như tội phạm. Đcm bọn chó này, thế là hai lần nó cư xử mình như tội phạm.

Lại được vào phòng riêng cách ly ngồi, may là nó cho hút thuốc, vừa ngồi nó vừa soi mói nhìn thái độ của mình. Soi một lúc nó ra hiệu mình ngồi chờ, còn nó cầm hộ chiếu mình đi. Nửa tiếng sau nó quay lại dẫn mình đi đến một chỗ riêng để cho dấu xuất cảnh đi Mỹ.

Hoá ra bọn Mỹ lại tử tế nhất. mình không biết tiếng, nó đưa tờ giấy mình chả biết khai gì. Thằng nhập cảnh nó đóng quầy nó lại, dẫn mình ra một chỗ trợ giúp, ở đó người ta in cho mình một bản khai tiếng Việt. Xong nó đi đâu dẫn về một ông người Việt làm quét dọn sân bay, ông này già đến gần 70 tuổi người di tản thuyền nhân. Ông già hướng dẫn mình khai xong thì đưa mình ra một quầy riêng, thằng cảnh sát đó hỏi mình ở Mỹ bao lâu. Mình bảo 15 ngày ( tất nhiên là ông già dịch cho ). Nó đóng nhát cho ở 6 tháng , kịch khung du lịch luôn.

Lúc ở lối từ quầy nhập cảnh đi ra, gặp hai thằng cảnh sát Mỹ đứng, nghĩ nó sẽ lại gọi kiểm tra này nọ, không ngờ nó cười tươi, giơ tay như chào đón khách quý, nó chỉ lối mình ra bên ngoài rất tận tình.

Lạ nhất từ Mỹ về Châu Âu lại không qua cửa xuất hay nhập cảnh nào. Cứ như là đi trong châu Âu với nhau vậy.

Còn đi từ Tiệp, Ba Lan bằng tàu hay ô tô thì lần nào cũng bị Đức kiểm tra kỹ giấy tờ. Nhất là hộ chiếu xanh xanh mầu xanh ngát Việt nam thì nó còn dùng máy móc kiểm tra chưa đủ, phải gọi điện hỏi tận đâu chán chê. Soi xét hành lý mang theo đủ thứ rồi mới ok chào với lời cảm ơn.

Ghét nhất vẫn thằng Hà Lan, có lần đi tàu sang Hà Lan. Đang nhiên có hai thằng thường phục ngồi cạnh, thì thầm như là bạn, nó hé lòng bàn tay cho mình nhìn thấy cái thẻ cảnh sát. Mình hiểu ý đưa nó visa, rồi tự đứng dậy lấy hành lý mở ra cho nó xem. Nó xem visa rồi lắc đầu ra hiệu không xem hành lý, chào cái bỏ đi.

Sau này mới biết hoá ra Hà Lan là điểm trung chuyển người sang Anh trồng cỏ. Từ đấy thôi ghét bọn Hà Lan, chung quy cũng tại bộ dạng của mình, đi sang Pháp hay đi đâu gặp bọn bán lẻ ma tuý nó đứng, nhìn thấy mình còn nháy mắt, giơ tay chào thì trách đéo gì bọn cảnh sát.

Từ đấy mình rút ra, chắc tại bộ dạng mình lưu manh, chứ chả phải vì cái hộ chiếu Việt Nam của mình. Nghĩ thế tự dưng lại thấy tự hào cầm hộ chiếu của dân tộc anh hùng, đánh thắng bao nhiêu cường quốc mạnh trên thế giới.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Du Lich | Leave a Comment »

►Bút kí: Vừa đi đường vừa kể chuyện (40 năm sau ngày “giải phóng”)

Posted by hoangtran204 on 02/07/2015

Nguyễn Văn Tuấn Theo Tuan’s Blog

1-7-2015

Bút kí: Vừa đi đường vừa kể chuyện

Xin khấu đầu trước anh linh của Trần tiên sinh cho tôi mượn tựa đề nổi tiếng “vừa đi đường, vừa kể chuyện” của ngài để chia sẻ vài chuyện vui vui trên những nẻo đường quê hương. Tôi mới có một chuyến đi công tác rất thú vị và khó quên. Trong chuyến đi đó, tôi có dịp trải nghiệm nhiều việc mà nghĩ đi nghĩ lại hơi tức cười … (Xin nói trước là tôi đi đến đâu viết đến đó, chứ chẳng có thứ tự gì cả).

Chào mừng đến Hà Nội!
Cứ xem hình này như là cách vừa đi đường vừa … chụp hình. Hình này tôi chụp trong toilet ở nhà ga Nội Bài (nội địa) trong chuyến bay từ Sài Gòn ra đây. Các bạn chú ý cái máy làm khô tay ngả màu vàng. Nhìn kĩ hơn sẽ thấy rất dơ bẩn từ dưới lên trên thành máy. Tường thì loang lỗ, toàn cảnh trông rất nhếch nhác, chẳng ra thể thống của một phi trường thế kỉ 21 chút nào. Khi thấy tôi chụp hình cái máy khô tay, một anh chàng Tây mỉm cười nhìn tôi rồi nhún vai nói: Welcome to Hanoi (chào mừng đến Hà Nội). Tôi định thêm câu “The capital of Vietnam”, nhưng nghĩ lại thì thấy không nên nói thế.
Máy làm khô tay ở Phi trường Nội Bài (Hà Nội)
Hôm nay, tôi có cơ duyên đi chung với vài VIP trong chuyến bay. Ngồi kế bên tôi là ông L, bên kia là một ông xách cập táp có cái tag “VIP” màu cam, mà tôi đoán là ông tổng thanh tra Chính phủ. Ngồi hàng ghế giữa là bà cựu phó chủ tịch Nước, và kế bên bà là một ông mặt mũi bặm trợn như đang suy nghĩ gì ghê gớm lắm, và nhìn qua báo ông đọc và nghe cách nói, tôi đoán ông là cấp tướng. Ui chao, ngồi cạnh sếp lớn cũng khổ tâm lắm, vì mấy người đến chào sếp hoài, họ khúm núm, họ thì thầm, rồi cười lớn, làm tôi rất khổ sở mà đành phải chịu thôi. Có điều sếp rất thân mật và nói chuyện rất Nam bộ, nên chuyến đi cũng hay hay.
Đến nơi, người ta chận khách lại để sếp ra trước. Rồi có ngay phụ tá dẫn sếp đi đường riêng thẳng ra xe Camry màu đen bóng, bỏ lại tôi và hành khách khác bơ vơ lo xếp hàng chờ hành lí.
Ánh sáng văn minh?
Sáng nay thức dậy sớm để lang thang khu chung quanh khách sạn ở Vịnh Hạ Long, tìm báo đọc tin tức. Gặp một chị đội nón lá, hai tay ôm chồng báo, nhìn có vẻ khắc khổ, tôi hỏi có báo Tuổi Trẻ không. Chị ấy đưa ánh mắt nhìn xa xôi về hướng biển, rồi nói như độc thoại: Ôi giời ơi, ánh sáng văn minh chưa về đến đây, bác ơi.
Vịnh Hạ Long đang hứng chịu một cơn bão. Suốt từ hôm qua đến nay, trời cứ âm u, xám xịt, còn mưa thì liên tục nhưng không nặng hạt. Đường phố ướt nhẹp, chẳng đi đâu xa được. Chỉ quanh quẩn trong khu khách sạn.
Khách sạn mang tiếng là 5 sao, nhưng tôi đoán là 5 sao của VN thôi, chứ khó có thể so sánh với 5 sao cỡ Sheraton, Intercon, Caravelle, hay Nikko được. Từ đại sảnh, nhà hàng, đến những chi tiết nhỏ như rèm sáo, thậm chí cách bày trí bàn ghế đều chưa đạt chuẩn. Có vài chỗ trông nhếch nhác. Rèm sáo gì mà giống như ở nhà, cái thì nhếch lên, cái thì xệ xuống (xem hình) trông chả ra làm sao cả. Thuở đời nay người ta lấy mấy bao cát chèn cửa chính khách sạn (vì gió biển mạnh quá). Còn nhìn từ ngoài thì thấy mấy thùng nước được để cạnh cửa kiếng, giống như cái nhà kho!
 
 
Khách sạn 5 sao ở Vịnh Hạ Long 
Có rất nhiều khách Tàu ở đây. Sáng ra, chỉ cần đến nhà hàng và đứng từ xa quan sát sẽ thấy một quang cảnh hỗn độn, nhếch nhác, giống như tranh giành nhau miếng ăn. Chẳng có một cái gì có vẻ thứ tự, và tuyệt đối thiếu cái thanh lịch của khách hàng của khách sạn 5 sao. Dạo qua một vòng, tôi đành ra ngoài ăn sáng cho thoải mái.
Du lịch VN, đặc biệt là miền Bắc, còn phải làm nhiều hơn nữa thì mới thu hút khách high quality. Nếu không làm tốt thì VN chỉ là thị trường du lịch cho khách Tàu ô mà thôi.
Chữ kí của bộ trưởng GTVT
Đoạn đường Vịnh Hạ Long – Hà Nội chỉ khoảng 150 km (hay 180 km?) nhưng đường xá chưa được tốt mấy nên có trạm dừng chân cho khách. Hình dưới đây là “Trạm Dừng Nghỉ Quốc Tế Loại I”, nằm đâu giữa Quảng Ninh và Bắc Ninh. Điều làm tôi chú ý và thấy vui vui là phía dưới cái biển đó có câu “Bộ trưởng Bộ GTVT đã ký”. Tôi ngạc nhiên về cái uy danh của trạm dừng chân này. Đã quốc tế rồi, mà còn loại I nữa thì oách thật. Đã loại I mà còn thêm chữ kí của bộ trưởng, thì còn gì hơn.
 
Tôi tưởng tượng cái “job” của bộ trưởng – bất cứ bộ trưởng nào – chắc phải bận rộn lắm. Họ phải dành thì giờ lo nghĩ chuyện chiến lược phát triển lâu dài. Họ phải tiếp khách trong và ngoài nước. Họ phải lo cái ghế của mình. Họ phải hội ý với thành viên Chính phủ. Họ phải lo điều hành công việc ở Bộ. Vân vân. Ấy thế mà ở đây, tại Việt Nam này, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải lại đi quan tâm đến việc kí tên vào một trạm dừng chân cho khách. Nghĩ đến đó làm tôi cảm động về sự quan tâm của ngài bộ trưởng.
Trạm nghỉ chân coi vậy chứ tương đối nhỏ. Nếu các bạn đã từng ghé qua trạm nghỉ chân của các hãng xe Mai Linh hay Phương Trang ở miền Tây, thì “trạm dừng chân quốc tế loại I” này chỉ bằng 1/5 mà thôi. Nhưng lớn nhỏ không quan trọng, mà quan trọng hơn là chất lượng phục vụ.
Tôi phải nói thẳng là giá cả ở đây rất phải chăng, nhân viên rất nhiệt tình, nhưng chất lượng phục vụ chưa được ổn mấy, mà nó có cái gì đó còn rơi rớt lại từ thời bao cấp. Tôi đến hàng phở kêu một tô phở, thì giật bắn người khi anh chàng phở hỏi tôi “Phiếu ăn đâu“? Ui trời ơi, thời này mà còn phiếu tem gì nữa, tôi tự hỏi. Nhưng tôi cũng bình tĩnh hỏi anh ấy phiếu ăn là cái gì, thì anh giải thích là phải đến đằng kia, gặp cô ấy, mua cái phiếu ăn, rồi anh ấy mới “xuất phần ăn”. Kinh thật, chỉ một tô phở mà cũng khá nhiêu khê. Nhưng “luật giang hồ” ở đây là thế, nên mình cũng phải tuân theo thôi.
Ăn xong, đi một vòng chẳng thấy có gì hay ho hay đáng chú ý. Có hàng bán bánh mì loại “hot dog” nhưng không có mù tạt. Có rất nhiều hàng hoá Tàu ở đây. Tôi cầm trái mận lên thấy đẹp đẹp, hỏi cô bán hàng “Đồ Trung Quốc hả cháu”, thì cô ta nói “Vâng ạ”. Tôi đành phải trả nó về cho gian hàng.
Ở VN muốn biết chất lượng nhà hàng ra sao thì cần phải xem cái cầu tiêu, chứ bề ngoài thì chỉ là hoa lá cành thôi. Do đó, tôi cũng mon men ra cái cầu tiêu của trạm dừng chân, thì … hỡi ơi. Từ xa đã bốc mùi hôi thối, nước nôi tùm lum trên sàn, và dây nước chạy loạn xạ cả. Nhưng ấn tượng nhất là cái cầu tiêu có lẽ thuộc thời thế kỉ 19 (xem hình 2). Tôi ngạc nhiên là một “trạm dừng chân quốc tế loại I” với chữ kí ghi nhận của Bộ trưởng Bộ GTVT mà lại có cái cầu tiêu loại này! Bôi bác quá.
 
Cầu tiêu ở “Trạm dừng chân quốc tế loại I”
Để công bằng, tôi không bao giờ so sánh phục vụ và chất lượng phục vụ ở đây với mấy nước tư bản, mà chỉ so sánh với trạm dừng chân ở miền Tây thôi. Theo tôi thấy, từ tổ chức phục vụ, quang cảnh, đến chất lượng phục vụ ở “trạm dừng chân quốc tế loại I” này thua cả trăm năm ánh sáng so với hai trạm dừng chân trên đường Sài Gòn – miền Tây. Phải có đi xa như thế này mới thấy những hào nhoáng ở thành phố chỉ là bề mặt, chứ bề trong thì vẫn còn nhiều điều phải cải tiến lắm, và sợ nhất là cái “air” (phong cách), cái di sản của thời bao cấp nó vẫn còn tồn tại đó đây ở miền Bắc. Nghĩ đến đó chợt thấy lạnh cả người và thấy thương đồng hương mình ở đây, nhưng cũng thấy mình may mắn vì còn có miền Nam [“đi sau về trước”] để gọi là quê nhà.
Ý kiến anh tài xế taxi
Tôi thích trò chuyện và nghe ý kiến của giới tài xế taxi. Những ý kiến, những trăn trở của họ có thể ví như là một nhiệt kế thời sự. Hôm qua, đón chiếc taxi hiệu TN ở trung tâm Hà Nội về khách sạn, và có dịp nghe những ý kiến của anh tài xế trẻ làm mình có nhiều … tâm tư.
Bước lên xe, nghe giọng Nam kì của tôi, anh ta hỏi một cách dè dặt: bác từ trong Nam ra? Tôi gật đầu, và vui vẻ thêm rằng đáng lí ra người trong ấy nói giọng Bắc, nhưng chắc do đột biến nên giọng nói cứ phai dần từ Hà Lội, chuyển hoá sang trọ trẹ ở Quảng Bình, Huế, nẫu ở Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, và dịu dần cho tuốt đến Cà Mau thì mất luôn âm hưởng Bắc kì. Anh ta cười lớn, thấy tôi có vẻ vui tính, nên nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, làm cho chuyến đi xa trở nên ngắn lại.
Anh ta hỏi tôi nghĩ gì về Hà Nội. Được hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một phút. Tôi nói cảm nhận cá nhân của tôi là (1) Hà Nội hơi chật hẹp, không gian có vẻ ngột ngạt; (2) bất tiện ban đêm vì sau 10 giờ tối thì hàng quán ăn uống đóng cửa; (3) khó tìm chỗ nghe nhạc sống, thậm chí khó tìm giải trí bình dân “hát cho nhau nghe” theo kiểu Sài thành; (4) người dân có vẻ thiếu tính thân thiện, nhìn khách một cách dò xét, và khi họ đội nón cối xanh nữa thì trông rất lạ, nhưng trong thực tế họ lại thân thiện; (5) mấy cô Hà thành hình như có xu hướng mang giầy cao gót với độ cao cao hơn và dốc hơn mấy cô Sài thành, và như thế là nguy hiểm vì khi té là dễ bị gãy xương …
Tôi nói chưa hết những cảm nhận của tôi thì anh ta chen vào nói một mạch như vừa giải thích, vừa giải toả những bức bối nội tâm. Anh nói không chỉ Hà Nội mà những nơi khác ngoài Bắc cũng rất chật hẹp và ngột ngạt, và đó chính là lí do nhiều người ngoài Bắc bỏ quê vào Nam lập nghiệp, rồi khi định cư trong Nam thì họ không về Bắc mà gọi Nam là quê hương luôn. Anh ta chỉ ra một sự thật: Bác có thấy dân Nam ra ngoài này và gọi nơi này quê hương không?
Bằng một giọng nói Bắc kì trầm bổng, bỏ dấu đâu ra đó, và cách lập luận chặt chẽ, tôi chợt nghĩ đến hay là anh chàng này là sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm nên làm nghề lái taxi. Nghĩ thế tôi nhìn anh tài xế cho kĩ hơn. Thấy anh ta còn trẻ, chưa đầy 30, người có vẻ ốm yếu nhưng làn da nâu có lẽ do ngồi taxi tối ngày, mắt sáng, ăn mặc đàng hoàng. Tôi đón xe một cách ngẫu nhiên, chứ không qua ai đó gọi đến, nên tôi nghĩ khả năng cao anh ta không phải là “DLV”. Tôi cảm thấy yên tâm rằng đây là dân thật, chứ không đóng kịch.
Rồi anh ta nói tiếp điểm thứ hai. Anh nói rằng thật ra, Hà Nội cũng có những điểm ăn tối đấy, và họ cũng mở đến 3 giờ sáng, nhưng phải là dân địa phương mới biết. Anh ta thêm rằng nhưng những quán như thế thường không có “đèn sáng” như khu Nguyễn Trãi ở Sài Gòn. Còn nghe nhạc thì anh ấy nói cũng có chỗ luôn, nhưng phải nhờ người sành điệu mới biết. Anh ta cho biết dân Hà thành không có dịch vụ kiểu “hát cho nhau nghe” như trong Sài Gòn. Rồi anh ta khuyên tôi không nên đến mấy chỗ nghe nhạc ban đêm, vì … chẳng có gì hay.
Đến điểm thứ 4, anh ta phản đối tôi. Anh nói rằng người dân ngoài này có thói sống 2 mặt. Ngoài mặt họ thân thiện với bác, đằng sau họ không ưa bác đâu. Này, cháu là dân Hà Tây, Bắc kì 100% nhé, mà cháu cũng cảm thấy không thích cái thói đó. Bác lịch sự quá, cháu làm nghề này và nghe dân Nam ra đây chửi chúng cháu là quân ăn cướp, chặt chém các bác ấy, nhưng cháu cũng phải công nhận các bác ấy nói có phần đúng đấy. Tôi phải vận dụng kĩ năng ngoại giao và nói với anh ấy rằng ở Hà Nội, cũng như ở Sài Gòn, có người thế này thế kia, tôi thì không nghĩ đồng hương ngoài này là “quân ăn cướp”, vì nếu nói ăn cướp thì trong Sài Gòn mới đúng là ăn cướp và còn nguy hiểm nữa. Anh ta không chịu và phản biện: không, ăn cướp trong ấy là manh động và qui mô nhỏ, còn ăn cướp ngoài này là qui mô lớn và êm ái, bác à. Lần đầu tiên tôi nghe khái niệm “ăn cướp êm ái”!
Như để minh hoạ, anh ta đưa tay chỉ về hướng thành phố do một đại gia tỉ phú USD xây, anh ta nói: đấy, đó là ăn cướp đấy bác. À, thì ra, anh chàng này nói ăn cướp theo cái nghĩa rộng hơn. Anh ta nói ngày xưa đất ở đây chỉ là đồng ruộng thôi, rồi cái tay đại gia này vào, dùng uy thế hay quyền thế để xua đuổi người dân, rồi xây dựng lên một thành phố trong thành phố và giàu thêm, còn người dân và mồ mả bao đời ở đây thì bị dạt ra ngoài thành phố. Anh ta nói một mạch, rồi hỏi tôi: bác có biết vụ cướp đất ở Hưng Yên không? Tôi chạy một cái scan trong não và chưa nghĩ ra vụ nào, nên lắc đầu. Anh ta nói rằng ở Hưng Yên có một đại gia là anh của đại gia anh ta vừa nói đến đó mua đất giá rẻ mạt, sau đó một đại gia khác đến mua đất giá đắt hơn chút, và thế là người dân biết mình bị lừa, nhưng biết thì đất đã mất rồi và họ trở thành “dân oan”. Anh ta nói say sưa, như anh ta chính là nạn nhân hay là một dân oan vậy.
Tôi thấy anh ta có vẻ biết nhiều chuyện, nên hỏi anh ta nghĩ gì về chuyện Biển Đông. Anh ta có những phát biểu chứng tỏ rõ ràng anh ta đọc báo lề dân hơi nhiều. Anh ta nói rằng VN chúng ta sẽ có nguy cơ cao bị Bắc thuộc lần nữa. Rồi anh ta tỏ vẻ tiếc nuối thời xa xưa. Anh nói tư tưởng của cụ Hồ là đúng đấy, nhưng các bác sau này chẳng ai làm theo cụ Hồ nên đất nước ra nông nỗi này. Đột nhiên, anh ta nói như so sánh rằng cái chính quyền VNCH ấy nó phản dân hại nước chạy theo Mĩ nên cũng chả ra gì. Tôi tò mò hỏi anh ấy là anh đi đến nhận định cái chính quyền phản dân hại nước và tay sai đó từ đâu, thì anh ta cười nói: dạ, cháu chỉ đọc sách báo thôi ạ. À, câu này giải thích tại sao em ấy là fan của tư tưởng cụ Hồ.
Cuộc trò chuyện càng lúc càng hào hứng, nhưng rồi cũng đến lúc chia tay. Xe trờ đến khách sạn, cuộc trò chuyện phải tạm chấm dứt. Tôi đưa tiền cho anh ấy và dặn làm chẵn, coi như một cách tặng thêm cho anh ta hai chục ngàn để nuôi vợ con (hay bồ bịch). Anh ta thối tiền đàng hoàng, và thấy tôi kín đáo đếm tiền, anh ta nói đùa: bác cẩn thận coi chừng bọn Hà Nội ăn cướp tiền đó nhé. Tôi cười lớn, vỗ vai anh ta, rồi nói lời tạm biệt, chúc anh ta nhiều may mắn trong một cái nghề khác thích hợp hơn với trí thông minh và tính hóm hỉnh của anh.
“Mình về thành phố đây rồi ….”
Tôi cảm thấy mình là người may mắn, vì có cơ hội đi đây đó để đối chiếu so sánh. Trước là mua vui cùng các bạn, sau là ghi chép những kỉ niệm, có thể xem như là những chuyến đi trong đời. Kì này, xin chia sẻ vài cảm nhận về phong cách phục vụ và làm việc giữa miền Nam và Bắc.
Đầu tuần, tôi đáp chuyến bay từ Sài Gòn (SGN) ra Hà Nội (HN) và có vài kỉ niệm đã kể lại cho các bạn nghe. Nhưng có một trải nghiệm tôi chưa nói: đó là … bán hành khách. Phía đối tác của tôi là một cơ quan cấp Bộ. Vì là cấp cao, nên họ không có người ra đón tôi ở sân bay (và tôi cũng không cần vì mình có thể tự đi taxi về khách sạn). Họ cử một người tài xế của một hãng taxi ra đón tôi, và theo email thì người tài xế sẽ cầm tấm biển có tên tôi ở phi trường. Tôi hăm hở gặp anh chàng tài xế, nhưng hỡi ơi, khi ra khỏi khu vực hành lí tôi chẳng tìm thấy anh ta ở đâu cả. Đi tới đi lui cũng độ 10 phút mà chẳng thấy anh ta. Định gọi điện thoại cho đối tác trong HN thì lại không có số điện thoại. Trong khi tôi định gọi taxi riêng về HN cho chắc ăn, thì thấy một anh tài xế xuất hiện dáng dấp hơi “nghi nghi” vì thấy anh ta đang cầm tấm biển tên mà tôi không rõ tên ai vì anh ta chẳng buồn tình giơ lên. Tôi dạo ngang qua và liếc tấm biển thì thấy tên mình, nên quay lại vỗ vai anh ta và tự giới thiệu tôi là người anh đang tìm.
Tay bắt mặt mừng. Nhưng vấn đề lại xảy ra. Xe chưa tới. Đứng chờ trong cái nắng hừng hực ngoài phi trường cả chục phút mà xe vẫn chưa tới, nên tôi đề nghị anh ấy là mình vào trong cho đỡ một chút trong khi chờ xe tới. Anh ấy cứ nói “Xe sắp đến, bác à”. Hoá ra, cái câu “sắp đến” có nghĩa là thêm … 10 phút. Lên xe, anh tài xế kia lái vòng vòng một hồi, làm tôi nghi ngờ nên hỏi: mình đi đâu vậy em, hình như đây không phải là đường đi Hà Nội. Anh chàng tài xế nhìn tôi thân thiện, rồi giải thích rằng hôm nay không phải là ngày trực của anh ta, nhưng vì một đồng nghiệp khác vắng mặt nên anh ta phải phụ trách. Nói xong thì xe cũng đến một bãi đậu xe gồm nhiều taxi khác. Anh ta nói với tôi là chuyển hành lí sang xe kia để về Hà Nội. Đến lúc đó thì tôi mới nghiệm ra là mình đã được bán cho một hãng xe khác.
Đúng là “Welcome to Hanoi”! Lần đầu tiên trong đời tôi mới có trải nghiệm được “bán”. Kể ra cũng hay ra phết! Cuộc mua bán xảy ra rất nhanh, và món hàng được bán không có tiếng nói ở đây.
Trên đường từ Vịnh Hạ Long về Hà Nội tôi lại trải nghiệm thế nào là chuyến xe địa ngục. Chiếc xe bus 16 chỗ của hãng Hyundai (bên Úc, giới sửa xe Việt Nam gọi xe Hyundai là “Ăn Hại”, nên ít ai mua). Trên xe đầy ấp người và hành lí. NGoài ra, còn có một đống đồ chuyên dụng trong hội nghị. Chỉ cần bước lên xe là choáng ngộp vì cái không gian quá hẹp và ngột ngạt. Nhưng tôi tự trấn an mình là chuyến đi chỉ có 3-4 giờ đồng hồ thôi, nên chịu khó một chút thì cũng chẳng sao. Nhưng xe chạy một lúc, tôi thấy hình như tài xế không mở máy lạnh, nên mồ hôi ra như tắm. Tôi hỏi anh tài xế có mở máy lạnh chưa, thì anh ta nói mở rồi à. Nhìn sang thì thấy đúng là có dấu hiệu mở máy lạnh. Lúc đó bà con trên xe ai cũng cảm thấy nóng bức, nên phàn nàn liên tục. Anh tài xế cứ trơ ra, chẳng thèm trả lời hành khách.
Tôi dù sao cũng thường lái xe ở nước ngoài, nên nhìn qua là biết rằng máy lạnh đã hết ga, hay đã hư hỏng, nên có phàn nàn cũng như không. Thôi thì mình chịu chấp nhận một chuyến đi trong tình trạng địa ngục vài tiếng đồng hồ xem sao. Vả lại, ở đây là đất Bắc, là Quảng Ninh, nơi nổi tiếng là hung dữ, mình nên giữ thân trước cái đã, chứ phàn nàn thì anh ta nổi nóng tông vào vách đá kia thì chắc mình sẽ bỏ mạng ở đây. Nghĩ thế nên tôi âm thầm chịu đựng, và thầm nghĩ chắc là chuyến đi lần đầu mà cũng là lần cuối.
Chợt lan man nhớ đến câu hát “Tình đầu hay tình cuối / khi một ngày một người đã ra đi / tình đầu hay tình sau / khi cơn đau không biết đến bao lâu“.
Cơn đau đến bao lâu thì chưa biết, nhưng là câu hỏi hay. Kể ra, phía đối tác đối xử với chúng tôi có phần “đặc biệt”. Đặc biệt ngay từ phi trường về đến Quảng Ninh, và từ Quảng Ninh đi Hà Nội.
Hôm qua, đáp chuyến bay từ Hà Nội về SGN cũng trải qua một vài kinh nghiệm hay hay. Ngay từ lúc xếp hàng lên máy bay (boarding) tôi đã thấy rất nhiều người Tàu và quan chức. May phước là tôi có thẻ ưu tiên của SkyTeam (mà Vietnam Airlines là thành viên của SkyTeam nên tôi được ké … ưu tiên). Nhưng tôi lầm to. Khi ra xếp hàng tôi mới phát hiện khách rất đông, hai hàng dài thượt. Hàng dành cho khách ưu tiên Skyteam cũng dài y chang như hàng kia. Thôi thì mình cũng phải xếp hàng như mọi người. Hoá ra, VNA chẳng có ưu tiên cho ai cả. Quả đúng như vậy, khi tôi đến gần chỗ cô xét vé, thì thấy cô ấy cũng có chận khách không có thẻ Skyteam nhưng không có hiệu quả vì khách không chịu chuyển sang hàng kia, nên cô ta cũng … đầu hàng. Nghĩ ra cũng tức cười về phong cách tổ chức của VNA.
Khi lên máy bay thì hỡi ơi, sự cố lại xảy ra. Cái ghế bị hư hỏng, không chịu đứng thẳng, nên nó làm phiền người khách phía sau. Tôi rất ái ngại cho khách, mà không làm cách gì giúp cho người khách đau khổ kia. Tôi gọi em tiếp viên lại thì em ấy cũng bó tay. Tôi lại tự an ủi là chỉ có vài mươi phút nên thôi thì ráng chịu đựng. Ngoài ra, tất cả khoang khách đó, hình như mấy nút entertainment đều hư nên ai cũng phàn nàn, và mấy nàng VNA cũng … bó tay. Dĩ nhiên, mình cũng chẳng kì vọng gì được từ họ, nên đành phải chấp nhận thực tế.
Nhưng cũng có điều an ủi. Chiều qua khi đáp xuống Sài Gòn thì thấy như mình vừa … thoát nạn. Mới đáp xuống thì có đồng nghiệp từ đại học ra đón (và dĩ nhiên đó là tấm lòng của đối tác trong này, chứ tôi thừa khả năng “giang hồ” đi xe taxi riêng). Lên xe, em ấy đưa tôi một tờ giấy, trong đó nói rõ chương trình làm việc hàng giờ và từng ngày. Tôi sẽ làm gì, ở đâu, gặp ai, số điện thoại là gì, mấy giờ tôi ra sân bay, v.v. tất cả đều đầy đủ và đâu ra đó. Tôi thiết nghĩ đó là một phong cách làm việc chuyên nghiệp mà các nơi có cơ hội làm việc với đối tác nước ngoài nên học. Nhưng nói gì thì nói, tôi thấy vẫn còn một khoảng cách về phục vụ và phong cách làm việc chuyên nghiệp giữa hai miền Nam và Bắc, và chắc phải vài chục năm nữa thì khoảng cách đó mới ngắn lại được.
Tối qua, về đến đây thì rủ lại những anh “bạn già” đi lai rai, kể chuyện những ngày đã qua, và nghe các ca sĩ “hát cho nhau nghe” làm vơi hết những ưu phiền trong những ngày vừa qua. Trên đường lấy taxi từ quán về khách sạn, gặp anh chàng tài xế taxi gốc Đồng Tháp mê nhạc sến, anh ta mở bài “Mình về thành phố đây rồi / chốn ăn, chốn vui lạ mặt người. Cho bỏ gian lao ngần này phép rong chơi, rủ phong sương đầy áo mà lòng nghe ước muốn lên cao.” Tôi nhìn anh tài xế một lần nữa để xem anh này đang đọc được mình, hay chỉ là ngẫu nhiên. Dù là ngẫu nhiên thì bài ca cũng lột tả được tâm trạng của mình, rồi tôi chợt nghiệm ra tại sao nhạc sến có sức thu hút cao như thế, và cảm thấy đây chính là “home country” của mình.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Du Lich | Leave a Comment »

►Hãy trả Bà Nà lại cho người Đà Nẵng chúng tôi

Posted by hoangtran204 on 07/03/2015

Hãy trả Bà Nà lại cho người Đà Nẵng chúng tôi

5-3-2015

 

lang-biet-thu

Thử làm một phép so sánh:

Vé máy bay giá rẻ ở Đà Nẵng đi Sài Gòn là 850.000đ

Vé cáp treo lên và xuống Bà Nà: 500.000 cho người ngoài Đà Nẵng, 350.000 cho người Đà Nẵng (đã bao gồm vào cửa các trò chơi trong khu Fantasy Park).

Từ ngày 1. 4. 2015, giá vé tăng lên thành 550.000đồng/người cho người ngoài Đà Nẵng .

“Bà Nà mây”, ảnh của Vietsuntravel.com

“Bà Nà mây”, ảnh của Vietsuntravel.com

Không nói chuyện tài nguyên của đất nước mà giờ những người dân muốn lên chơi phải mua vé gần bằng nửa chuyến bay từ Đà Nắng đi Sài Gòn, Hà Nội; chỉ nói chuyện bao nhiêu công sức đổ ra mới làm được con đường lên đỉnh để xây dựng trên đó, vậy mà bây giờ, chỉ vì cáp treo mà chính quyền Đà Nẵng đồng ý cho doanh nghiệp cấm đường bộ, thì thật quá bất công.

Nhớ ngày nào, tui và Dương Thanh Tùng từng vác máy quay, máy nổ lội đường rừng, đánh đu dây leo, ngủ 3 đêm trên đường đi mới lên tới đỉnh để về có những hình ảnh đầu tiên lên VTV với phim “Vàng trên núi Chúa”, lên báo Tuổi Trẻ cuối tuần với bài “Bà Nà, nhìn thấy đó mà xa”. Sau đó một năm thì Đà Nẵng huy động quyết liệt lắm mới mở được con đường lên đỉnh. Chúng tôi sung sướng lắm, chiều rủ nhau lên núi nhậu, sáng sướng thì chạy lên uống café nhìn thành phố dưới chân mình, nhìn mây khói kéo đi như ở Sa Pa, Đà Lạt mà chả tốn đồng nào, chỉ 30 phút chạy xe máy.

Được dăm năm thì Đà Nẵng bán đứt cho Sun Group. Giờ thì 400.000 – 500.000 đồng mới được đặt chân lên. Lại bày đặt tri ân 150.000! Đây không phải là “tri ân” mà là tận thu ngày vắng khách. Nếu tri ân sao lại trừ thứ Bảy và Chủ nhật?

Cáp treo lên Bà Nà. Ảnh: Vietnam My Country, từ trang Panaramio

Cáp treo lên Bà Nà. Ảnh: Vietnam My Country, từ trang Panaramio

Không cần biết tập đoàn Sun Group Ba Nà Hills tri ân người dân Quảng Nam Đà Nẵng bao nhiêu mới gọi là đủ. Chỉ cần trả Bà Nà núi Chúa lại cho người dân Đà Nẵng, trả con đường đèo đẹp ngoạn mục nhất Việt Nam lại cho người đi bộ lên đỉnh chơi. Họ có muốn dùng dịch vụ của Bà Nà Hills hay không là quyền của họ. Đừng ép họ mua vé cáp treo bao gồm cả những dịch vụ trong đó.

Nói thêm khỏi mất công cãi: Bà Nà Hills đúng là có công khi biến Bà Nà thành sản phẩm du lịch hút khách cho Đà Nẵng, thế nhưng không thể vì thế mà Bà Nà thành “nhượng địa” độc quyền của họ, không ai được đặt chân vào nếu không có vé.

Ảnh: Hồ Trung Tú

Ảnh: Hồ Trung Tú

Và nói thêm điều nữa, vé cáp treo bao gồm cả vé vào khu vui chơi, được tính là 200.000đ, mà làm thế là không đàng hoàng. Ai cần vào khu vui chơi đó chứ dân Đà Nẵng thì không, chơi một lần là đủ rồi. Người Đà Nẵng chỉ muốn lên Bà Nà mỗi chiều thứ Bảy, như người Huế muốn lên đồi Vọng Cảnh, người Hà Nội phóng xe lên Tam Đảo. Đừng bắt họ mua cái thứ vé này. Hãy trả lại con đường bộ đi-mà-không-mất-xu-nào cho họ, trả lại họ những khu vực công cộng mà một người bán vé số, một người xe ôm Đà Nẵng không cần tốn tiền cũng có thể đưa vợ con lên chơi.

Sun Group không làm ra độ cao 1.500m, không làm ra sương khói se lạnh Bà Nà giữa hè. Vì vậy, Sun Group không có quyền độc quyền khai thác điều đó dựa vào lý do đổ ra nghìn tỉ. Chỗ nào anh xây dựng thì anh xứ việc dựng rào bán vé, còn lại là của người dân.

Hãy trả lại Bà Nà cho người dân. Đừng cướp nước trên chính nước mình.

Theo Facebook Hồ Trung Tú , SoiToday. (Tác giả là một công dân Đà Nẵng)

Posted in Cướp Đất Đai, Du Lich | 1 Comment »

►Nước Mỹ có thể mất bất cứ lúc nào- cảm nghĩ của một người VN vừa đến viếng thăm…

Posted by hoangtran204 on 22/06/2014

NƯỚC MỸ CÓ THỂ MẤT BẤT CỨ LÚC NÀO 

Nguyễn Tường Thụy

Hôm đến thăm tòa soạn báo Người Việt ở California, một chị trong Ban biên tập hỏi mình: “Cảm tưởng của anh từ khi sang Mỹ?”, mình trả lời luôn:

-Tôi có cảm giác như nước Mỹ mất bất cứ lúc nào.

Mọi người hoảng sợ và chờ mình giải thích. Không phải mình rủa cho thằng đế quốc này nó chết đi mà nói có cơ sở hẳn hoi nhé.

Nguy cơ của nước Mỹ bắt đầu ngay từ khâu tuyên truyền. Ai đời một quốc gia to tổ bố mà chỉ nhõn cái tên: Mỹ. Ít ra, phải có chữ mỹ miều nào đó đi kèm như “Nhân Dân” trong quốc hiệu Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, “Dân chủ” trong Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên hoặc “Xã hội chủ nghĩa” trong Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứ.
Không có những chữ ấy đã đành, còn không có cả mục tiêu, kiểu như hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” nữa. Sợ à? Thì cứ hô lên, thiên hạ không tin thì cũng có vài thằng tin. Vài thằng còn hơn không. Cứ nói đại, còn dân không giàu, nước không mạnh, cũng chẳng có độc lập, không có tự do hạnh phúc thì đã chết ai. Hình như Mỹ chẳng thuộc câu: “điều gì không đúng, nói mãi rồi người ta cũng tin”

Ở các đường phố Mỹ, người ta không biết trương lên các biểu ngữ như “Nước Mỹ muôn năm”, “đảng (đảng gì nhỉ, hi hi) quang vinh muôn năm” hay “Tổng thống Washington sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Cờ Mỹ chỉ treo ở công sở, cấm có mang phơi bày ra giữa các dải phân cách trên đường giao thông để nhắc nhở đây là nước Mỹ bao giờ.

Thời gian mình ở Mỹ, cả 3 buổi sáng, chiều, tối, không làm việc thì giao tiếp nên thường xuyên long nhong trên đường. Mặc dù trước khi sang đây mình ra sức hình dung nhưng không tránh khỏi những điều lạ, nó chẳng giống như môi trường quen thuộc mình đã sống. Vì thế, mình càng lo cho nước Mỹ.

Đất nước gì mà ngay cả thủ đô cũng chẳng trông thấy mống cảnh sát nào, cứ như là một vùng đất hoang không có ai quản lý vậy. Lúc anh lái xe chở mình từ sân bay về chỗ ở, chỉ thấy xe hơi là xe hơi. Dân cứ thế lái, chẳng có ai chỉ đường, phân luồng hay giám sát giao thông. Mình căng mắt ra nhìn vào lề đường với hy vọng túm được chú cảnh sát nào đó đang núp lùm. Nhưng hỡi ôi, cây thì nhiều nhưng toàn là cây thưa lá, thì núp ở đâu. Nhưng mãi rồi cũng thấy có một chỗ khuất. Mình nhắc anh lái xe:

-Chầm chậm thôi anh, coi chừng lùm cây, chú ý cảnh sát…

Anh quay sang mình 1 giây như không hiểu gì rồi lại chăm chú vào tay lái.

Mãi rồi quen. Đúng là ở Mỹ, họ không cho cảnh sát đứng đường thật. Mà không cho đứng đường thì làm gì có thu nhập thêm. Không có thu nhập thêm thì làm sao khuyến khích được sự tận tụy của nhân viên cộng lực. Cảnh sát sẽ sinh ra trễ nải với công việc thì bảo vệ chế độ làm sao. Lẽ ra phải có chính sách kích thích họ sao cho ngày nghỉ cũng tranh nhau đi làm nhiệm vụ, lăm le trực thay đồng nghiệp khi đồng nghiệp mới chỉ nhức đầu, sổ mũi. Chiến sĩ không có thu nhập thêm thì lấy chi cống nạp, sếp tiêu bằng cái gì ngoài lương, chỉ đạo cấp dưới phá án làm sao mà sáng suốt được. Ở Việt Nam, ấy chết, nói nhầm, ở nước khác á, điều một cảnh sát ra đứng đường sếp thu ít ra cũng dăm nghìn đô. Tiêu hết, sếp lại “luân chuyển cán bộ”, thu thêm. Mới biết Mỹ to xác nên ngờ nghệch, làm sao nghĩ ra được những cái mẹo ấy.

Cảnh sát đã vậy còn tình hình dân phòng cũng không khá hơn. Vào các khu thương mại và ở cả những chỗ hàng quán quây ra vỉa hè nữa, chẳng thấy dân phòng vung vẩy dùi cui đuổi chợ. Mà lực lượng này cần gì phải trả lương vì nó tự trang trải được. Nó đói thì bắt trứng lộn, trái cây mà ăn, khát thì bắt cô ca, pep si mà uống, no rồi thì chia nhau mang về cho vợ tuồn sang chợ khác. Hôm nào dân sợ quá, không dám bày hàng ra, không thu được gì thì cũng giải quyết được khâu oai, tăng cường nỗi sợ hãi từ dân đối với chính phủ. Không nuôi dưỡng lực lượng này, nếu có biến xảy ra thì huy động sao đây. Cái đám lúc nhúc ấy, nếu sử dụng vào việc dẹp biểu tình, giải tán đám đông, cưỡng chế đất cũng được việc đáo để chứ.

Mình nhập cảnh vào Mỹ cũng chẳng ai thèm để ý. Ít ra, mình cũng từ nước cộng sản sang nước đế quốc. Cộng sản với đế quốc là kẻ thù của nhau, một mất một còn. Mặc dù kiểm tra an ninh rất kỹ, không phát hiện ra vũ khí, vật dụng kim loại nhưng làm sao biết đầu óc mình đang nghĩ gì. Lẽ ra, ngay từ sân bay, họ phải cho người theo dõi xem thằng cha Việt cộng ấy hành tung ra sao, ẩn náu ở đâu, móc nối cấu kết với thế lực thù địch nào chứ.

Hai ngày đầu tiên, mình được bố trí ở một nhà ngoại thành. Chủ nhà giành cho mình một phòng riêng, đầy đủ tiện nghi. Mỗi lần ra khỏi phòng, mình chỉ khư khư tấm hộ chiếu như lá bùa hộ mệnh, lại còn kẹp sẵn hai tờ 20 đô la vào nữa, phòng khi công an hay tổ trưởng dân phố đến hỏi thì nhanh nhảu trình ngay để gây thiện cảm.

Chiều tối, mọi người đến chơi đông lắm. Nhưng mình miệng vẫn nói chuyện còn lòng dạ thì không yên. Nhớ hôm nhà mình tụ tập đông người, nhờ có “tai mắt của nhân dân” mà bọn chúng biết Thúy Nga đang ở đây nên mới mai phục đánh cho mẹ con Nga một trận khi mới ra khỏi nhà mình chừng dăm phút. Nghĩ thế, thỉnh thoảng mình ra ngoài nhìn quanh xem có thấy hàng xóm rình rập gì không. Khách đến chơi, ô tô để đầy phía trước tức là rất bất thường sao lại không có người rình cơ chứ. Phát hiện thấy một phần tử người nước ngoài, lại thuộc quốc gia cộng sản đang ẩn náu ở đây mà trình báo, nếu không được thưởng thì cũng tăng thêm uy tín với chính quyền. Nơi mình sống, nhà nào có người làm cán bộ chính quyền, công an, hay dân phòng thì tự hào và yên tâm lắm, khối người nhờ vả. Nếu không có thì tìm cách quen thân. Nhà mình không thân được ai nên đành chịu.

Cuối cùng, mình lén chốt chặt cửa lại nhưng thỉnh thoảng vẫn đánh mắt ra phía ngoài, chỉ sợ công an đến kiểm tra đột xuất. Nghĩ lại hôm 25/9/2013 công an phá cửa nhà mình xông vào bắt Phương Uyên rồi bắt luôn cả 9 người khác mà kinh hãi đến tận bây giờ. Nhỡ ra công an Mỹ lấy lý do kiểm tra hộ khẩu, xông vào bắt mình nện cho một trận rồi tống lên máy bay áp giải về Việt Nam thì hỏng hết việc, chưa ra trận mà đã thành tù binh.

Khách đã về hết, chỉ còn mình với chủ nhà. Lúc này đã 10 giờ nhưng không thấy anh có vẻ gì lo đến việc khai báo lưu trú. Định nhắc, lại sợ anh cho mình là nhà quê. Đành gợi ý khéo bằng cách tỏ ra rằng mình có thể là đối tượng cảnh sát quan tâm để anh đừng quên việc trình báo, mình bảo:

-Ngày xưa tôi có 5 năm ở chiến trường…

Có vẻ như anh chẳng để ý gì, mình tỏ ra nguy hiểm hơn:

-Tôi ra trận, đánh nhau hăng lắm, cũng được mấy danh hiệu dũng sĩ.

Nhưng anh chỉ bảo:

-Từ chiều đến giờ, mải nói chuyện, anh chưa ăn, tôi làm cái gì cho anh ăn nhé.

Mãi rồi mình cũng biết, ở đây không có qui định khai báo tạm trú lưu trú gì ráo trọi. Tóm lại, hộ chiếu của mình chỉ phải chìa ra mấy lần khi xuất, nhập cảnh, ngoài ra chẳng ma nào thèm hỏi đến. Quản lý lỏng lẻo thế này, làm sao tránh khỏi thế lực thù địch trà trộn vào dân phá hoại cơ chứ.

Tuy vậy cái dở nhất của nước Mỹ là làm cho dân nhờn. Quốc hội gì mà ai ra vào tùy thích, sao tránh khỏi mất thiêng. Lại còn rồng rắn mang theo mỗi người cốc cà phê hay nước uống vào Quốc hội nữa chứ. Đi cũng uống, ngồi cũng uống, mỏi tay thì để cả lên bàn toàn tài liệu, chẳng ra cái vẻ uy nghiêm của cơ quan quyền lực cao nhất nước gì cả. Không có hàng rào cảnh sát gườm gườm, đầy sát khí mỗi khi thấy ai có vẻ dân thường mon men đến gần. Mình ra vào nhà Quốc Hội mấy lần, chỉ họ thấy kiếm tra xem những thứ mang theo có gì có thể gây ra nguy hiểm thôi chứ hoàn toàn không kiểm tra giấy tờ xem là ai, quan hay dân thường, có ai là đối tượng theo dõi không, chủ quan đến thế là cùng.

Hôm đầu, mình cứ nem nép đi theo mấy cháu, thấy chúng nó vào đâu, mình mới dám vào. Sau quen dần, mình xông khắp nơi, vào cả phòng tổng thống cầu nguyện, đứng ở nơi tổng thống tuyên thệ nhậm chức chụp ảnh, chụp chán rồi nằm khèo lên đi văng hóng cái không khí thoáng đãng, chẳng thấy ai thèm nhắc nhở

Buổi điều trần ở quốc hội, khi một ông nghị phát biểu, mình thấy bà Sanchez đứng nép sang một bên vui vẻ chờ đến lượt mình. Nghe nói bà có nhiều người giúp việc, thế mà không có đứa nào chạy đi bê ghế xun xoe đặt vào mông bà. Nếu ở ngoài trời chắc cũng chẳng đứa nào chịu cầm ô che. Hình như đám giúp việc chẳng hãi bà tí nào, chẳng sợ bà đuổi việc hay sao ấy.

À, còn ở Hollywood, dân chúng nặn cả tượng tổng thống đương nhiệm bằng sáp mới táo tợn chứ. Obama đứng, cười nhăn nhở, chìa tay ra cho ai muốn bắt thì bắt. Nhạo báng lãnh tụ đến thế là cùng, hỏi sao dân không nhờn. Mình bắt tay chụp hình xong, xoa đầu gã một cái để thử phản ứng nhưng không thấy cảnh sát nào chạy đến xốc nách dong đi.

Tóm lại, ở Mỹ, hệ thống chuyên chính vô sản, à quên, chuyên chính… tư sản tê liệt, không thấy hoạt động, quan và dân đều như nhau, thậm chí quan còn khổ hơn. Đó là điểm yếu chết người của Mỹ. Nếu không biết làm cho dân sợ thì sao tránh khỏi chuyện biểu tình không theo định hướng, rồi cứ đà này, dần dần dân chúng nó lật nhào chế độ lúc nào không biết ấy chứ.

21/6/2014
NGUYỄN TƯỜNG THỤY
http://www.rfavietnam.com/node/2093

huynhngocchenh.blogspot.de

Nhân bài viết của blogger Việt Cộng Nguyễn Tường Thụy cảnh báo về nguy cơ mất nước của đế quốc Hoa Kỳ, xin chia sẻ một bài cảnh báo tương tự của một blogger Trung Cộng:

HOA KỲ – MỘT QUỐC GIA NGU NGỐC VÀ LẠC HẬU

Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại ! Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách tới được cái xứ sở siêu cường đó.

Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến là rất đáng thất vọng !

1. Công nghiệp

Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển !

Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.

Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói,nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi. Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa ! Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này, tịnh không có một cái ống khói nào ! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí ti để trang trí nhà cửa thôi !

Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông ! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa ! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả !

2. Kinh tế

Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế ! Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào ! Thế là mất toi cả núi vàng!

Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ ! Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ !

Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào !

3. Xây dựng

Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm.Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông ở nước Mỹ. Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu khác.

Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà Thanh xưa kia ấy chứ !

4. Văn hóa

Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.

Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không ? Thế đấy !

Ở nước ta, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi – còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. ( Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức).

Hồi đó người ta chuộng lối sống “ đạo đức giả ”nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa. Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả !

5. Ẩm thực

Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.

Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. Thế mà chính quyền đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy !

Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền ! Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai !

6. Phong cách

Người Mỹ làm như không biết tự trọng !

Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài , họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. Giáo sư D chẳng hạn, là một giáo sư tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm !

Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ PhD. lên danh thiếp của mình. Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây !

Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy ! Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy !

7. Học đường

Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất.

Chúng không hề có ý định đi học để trở thành ông này bà nọ trong chính quyền! Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, ủy viên tương lai, như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ.

Trường học ở Mỹ chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách , sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. Trở thành công dân có đủ tư cách ư ? Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao !

8. Y tế

Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh.

Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. Rồi cầm toa đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng …ôi chao mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc …Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc … mà lẽ ra nên tách rời lợi nhuận với trách nhiệm ! 
Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không biết kiếm tiền mà ! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ ? … chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá cao gấp cả chục lần cơ mà ! Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết khai thác , rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ chết rồi !

9.Báo chí

Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao !

Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ . Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này : Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à ? Nghe mà bực !

Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ . Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám “ chưởi ” cả tổng thống nữa cơ đấy! 
Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ !

10. Tâm linh

Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo.

Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu thánh nghe hết sức khờ khạo : Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ.

Thật là buồn cười quá đi : Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này ? Cầu Chúa có ich lợi gì chứ ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng !

Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ !

11. Lối sống

Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian .

Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi … Còn người Trung Quốc chúng ta – như bạn biết đấy – khôn hơn nhiều !

Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ ! Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa.

Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ !

12. Mua bán

Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức vô lý : bạn có thể trả lại hàng vài tuần sau khi mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ !

13. An toàn

Nước Mỹ không an toàn ! Tôi nói điều này bởi có tới 95 % nhà dân không cần tới lưới chống trộm, và điều kỳ lạ này nữa là : chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ ?

14. Giao thông

Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết !

Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95 % tài xế không dám vượt đèn đỏ !’

Và mặc dầu 99 % dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ : bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, làm sao mà bì được phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ !

15. Tình cảm

Người Mỹ rất là thiếu cảm xúc .

Có tới 95 % nhân viên không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. Ở Trung Quốc liệu có ai điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không? Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không ? Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình thương mến thương với lãnh đạo !

16. Nhạy bén

Người Mỹ không nhạy bén chút nào !

99% người Mỹ đi học, đi làm , thăng quan tiến chức, mà không hề biết sự cần thiết của “ phong bì ” để có thể mở ra một cánh cửa ..sau !

Nguyễn Đại Hoàng chuyển ngữ

 

Posted in Du Lich | Leave a Comment »

►Khách sạn Đức phát tờ rơi cảnh báo về du khách Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 22/07/2013

 

 Thứ Hai, 22/07/2013

(MegaFun) – Phóng viên Stephen Vort của tờ Der Spigel (Đức) đã kể lại câu chuyện “lạ” này trên tờ tạp chí ông làm việc.

>> Du khách Trung Quốc bị coi là ‘quốc nhục’

Trong một lần nghỉ tại khách sạn ở Baravaria (Đức), ông Stephen Vort vô cùng ngạc nhiên khi được lễ tân ở khách sạn này phát cho một tờ rơi in trên tờ giấy A4 cảnh báo về một nhóm du khách Trung Quốc. Nội dung tờ rơi như sau: “Ngày mai, khách sạn chúng tôi sẽ đón một đoàn du khách Trung Quốc. Chúng tôi rất xin lỗi nếu những tiếng gọi nhau ầm ỹ của họ làm phiền tới các bạn. Các bạn cũng đừng ngạc nhiên nếu thấy họ dùng tay không sờ nắn vào bánh mì, bốc thử đồ ăn… hay khạc nhổ bừa bãi cũng như ăn uống tóp tép… Nếu bạn muốn thưởng thức bữa sáng trong yên tĩnh, bạn nên tới nhà ăn sau 8g30 sáng.

Một lần nữa chúng tôi xin lỗi quý khách. Mong quý khách thông cảm vì đoàn du khách Trung Quốc tới từ một nơi có nền văn hóa khác với chúng ta”.

Ông Stephen Vort rất ngạc nhiên và có phần hơi bực mình vì nghĩ người quản lí khách sạn có phần bất lịch sự. Ông quyết định xuống nhà ăn từ 6g sáng và ngồi chờ nhóm du khách Trung Quốc kia.

“Hơn cả ngạc nhiên, tôi đã sững sờ. Họ dùng thìa gõ vào từng ổ bánh mì, rồi dùng tay ấn thử. Một cô gái còn cầm xúc xích lên ngửi rồi nhăn mặt vứt trả lại. Một người đứng đầu phòng gọi bạn ở cuối phòng. Họ vừa đi lại, vừa nhai nhồm nhoàm. Họ hạch sách nhân viên khách sạn bằng những câu chỉ có động từ, tôi cố để ý nhưng không thấy một từ “làm ơn” hay “cảm ơn” nào thốt ra từ miệng họ”, ông Vort kể lại.

Nhân viên phòng của khách sạn tâm sự với ông Vort rằng: “Sau khi họ đi chúng tôi phải giặt lại toàn bộ thảm trải phòng, họ khạc nhổ khắp nơi”.Còn nhân viên nhà ăn thì nói: “Họ rời khỏi đây là tôi thở phào”.

Người quản lí đã giải thích với ông Vort việc mình cho phát tờ rơi: “Tôi biết thế không lịch sự cho lắm, nhưng nếu tôi không làm thế nhiều khách sẽ sốc và cảm thấy giận dữ. Tôi hi vọng mình cảnh báo trước khách sẽ thông cảm với khách sạn hơn”.

Cách cư xử thô lỗ của khách du lịch Trung Quốc ở nước ngoài đã khiến các quan chức cao cấp của nước này phải đau đầu. Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Dương đã lên tiếng chỉ trích các “hành vi thiếu văn minh” của người Trung Quốc như nói to ở nơi công cộng, vượt đèn đỏ, khạc nhổ bừa bãi. Theo ông Uông, chính điều này đã làm tổn hại hình ảnh của quốc gia.

Ngân Giang
The Sun

* Ở VN, chỉ có các đảng viên của đảng CSVN, QĐNDVN và Công An Nhân Dân tôn sùng và yêu thích bọn này. Ai đụng đến TQ, là chúng chơi tới bến.

Posted in Du Lich, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

Sông Bến Hải và Hiệp Định Genève 20-7-1954 chia đôi đất nước là do miền Bắc và nước ngoài quyết định, miền Nam phản đối và không ký vào bản hiệp định ấy

Posted by hoangtran204 on 01/08/2011

Tác giả: Phạm Hữu Trác

Hiệp định Genève 20-7-1954 (*) lấy sông Bến Hải làm ranh giới đình chiến giữa hai miền Nam Bắc, từ đó hai chữ Bến Hải đi vào lịch sử Việt Nam.

Sông Bến Hải còn có tên là Rào Thanh bắt nguồn từ vùng núi Động Chân, tỉnh Quảng Trị, thuộc dãy Trường Sơn, cao hơn mặt biển 500m, chẩy theo hướng từ tây nam sang đông bắc, đổ ra biển ở Cửa Tùng, thuộc quận Vĩnh Linh, Quảng Trị. Sông dài chừng 100km, nơi rộng nhất khoảng 200m, hai đầu sông rất hẹp, ở thượng nguồn nơi có nhà thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, ở Cửa Tùng lòng sông rộng 30m. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông Bến Hói, theo tiếng địa phương hói có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc trại ra là Bến Hải.

Từ đầu nguồn sông Bến Hải chẩy được 80km thì gặp sông Sa Lung từ phía tây bắc đổ vào, hai sông hợp lưu chẩy tiếp ra biển, qua làng Minh Lương ở bờ bắc nên có tên là sông Minh Lương. Do phải kiêng húy tên vua Minh Mạng, nên cả tên làng và tên sông đều đổi thành Hiền Lương, cây cầu gần ngã ba sông cũng mang tên là Hiền Lương.

Sông Bến Hải (Hình 1)
Nguồn: Google Maps

Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ số 1 bắc qua sông Bến Hải, nơi sông rộng hơn 150m, lui một ít về phía nam vĩ tuyến 17, thuộc quản hạt quận Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tính đến nay đã có nhiều lần cấu trúc chiếc cầu bắc qua sông Bến Hải thay đổi, nhưng cây cầu lịch sử vẫn là cây cầu từ 1952 đên 1967. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8 lần.

Cây cầu mà tôi đã đứng trên đó do người Pháp xây dựng năm 1952 bằng bê tông cốt sắt dài 178m, rộng 4m, hai bên có thành chắn cao 1,2m, trọng tải tối đa 18 tấn, gồm 7 nhịp, mặt cầu lát bằng 894 tấm ván gỗ thông, chia ra miền bắc một nửa, miền nam một nửa, mỗi bên 89m. Ở giữa cầu ngăn ra bằng hai vạch song song, trừ cảnh sát hai bên có thể đi qua hết chiều dài của cầu, người khác chỉ được đứng trong phạm vi giới hạn nam bắc của mình. Cây cầu này tồn tại 15 năm từ 1952 cho đến 1967 khi máy bay Mỹ phá sập.

Mỗi đầu cầu có một đồn cảnh sát 16 người (phía bắc gọi là đồn công an) thường xuyên cử hai nhân viên tuần tiễu an ninh trên cầu. Nghe nói ở Cửa Tùng cũng có một đồn cảnh sát ở bờ bắc thuộc xã Vinh Quang và một đồn ở phía nam thuộc xã Cát Sơn. Sau năm 1965, khi chiến tranh leo thang thì hệ thống đồn bót dọc hai bên sông Bến Hải đều ngưng hoạt động.

                                         Câu Hiền Lương cũ và mới (Hình 2)
Nguồn: Google Maps

Phục vụ tại sư đoàn 1 bộ binh từ 1963 đến 1965 (1), tôi đã nhiều lần ra thăm cầu Hiền Lương, mổi lần đối với tôi là một kỷ niệm khó quên. Vì là trong vùng 5 cây số phi quân sự, nên mỗi lần đến cầu đều phải mặc thường phục, nếu đi quân xa thì mang phải mang số ẩn tế, có khi vội thì lấy bùn bôi lấp đi bảng số quân xa.

Lần đầu tiên vào cuối năm 1963, lúc mới đến đơn vị mới là đã muốn đi thăm Bến Hải. Từ Huế theo quốc lộ số 1, qua Quảng Trị rồi Đông Hà, khi vào tới địa hạt Vĩnh Linh là đã thấy lòng nao nao vì nhớ nhà sau 9 năm xa miền Bắc. Dòng sông chẩy chậm, trên cầu gió nhẹ, đứng ở bên này vạch trắng mà nhớ lại những xót xa lúc xuống tầu há mồm rời miền Bắc.

Lần khác theo đoàn sinh viên Sài Gòn ra thăm Huế đi cùng với tướng Nguyễn Chánh Thi. Khi đoàn người tới chân cầu thì hai nhân viên công an miền Bắc sang bên này quan sát, quả nhiên không bao lâu sau thì có tin cộng sản phản đối sự hiện diện của tướng Thi ở vùng phi quân sự. Mấy ông Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nã Đại trong Ủy hội Quốc tế Đình chiến từ đâu bỗng thấy kéo đến, bên ta trả lời là tướng Thi ngoài chức vụ tư lệnh sư đoàn có là đại biểu chính phủ tại khu 11 chiến thuật, một trách vụ hành chính. Thế là xong một hiệp, mà không biết trong vòng 21 năm đã có bao nhiêu vụ khiếu nại qua hai bên cầu.

Cầu Hiền Hương (cũ)
Nguồn: Panoramio (Google)

Khoảng giữa tháng 9-1964 vài đồng nghiệp và tôi rủ nhau ra thăm Bến Hải. Hôm ấy tướng Lâm Văn Phát kéo quân vào Saigon áp lực đảo chính, ở ngoài giới tuyến nghe rõ nhạc hành quân trên đài phát thanh Saigon cùng với tin tức và kêu gọi của hai phe, đảo chính và phản đảo chính. Ở trên cầu Hiền Lương hai anh công an miền Bắc đến chào hỏi “đồng bào”, rồi tỏ ý chê bai, nói với chúng tôi là mấy anh tướng miền Nam thích đánh nhau tranh dành quyền hành, anh bạn Lý Hồng Sen nhanh trí đáp lại:

Bên tôi dân chủ như vậy đó, ai làm việc không được thì bắt xuống, bây giờ để chứng tỏ dân chủ, ở giữa cầu này, tôi hô đả đảo Nguyễn Khánh, đồng chí phải hô đả đảo Hồ Chí Minh.

Nói xong anh giơ tay hô lớn đả đảo Nguyễn Khánh, rồi đòi anh công an trả nợ phần của anh đối với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên anh công an bị ngọng, trách ngược lại người “đồng bào” kỳ cục. Chúng tôi bồi thêm, cật vấn anh ta tại sao chân cầu phía bắc lại có cái cổng lớn trên ghi bốn chữ “Nam Bắc Một Nhà”, giữa nhà sao lại xây cổng?

Khi Không quân Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu oanh tạc bắc vĩ tuyến 17, nhiệm vụ của quân y sư đoàn là bay trên trực thăng phía nam sông Bến Hải để yểm trợ cứu cấp trường hợp phi công bị trúng thương. Tôi nhớ hình như hồi đó quân đội Việt Nam sử dụng trực thăng loại Huey, chở được tám người, hai cáng thương, thường bay hai chiếc để hỗ trợ lẫn nhau. Trường hợp may mắn, chúng tôi đã có hy vọng tiếp cứu đuợc phi công Phạm Phú Quốc, nếu máy bay trúng đạn của anh còn bay được sâu về phía nam. Cuối cùng chúng tôi chẳng cứu được ai mà trớ trêu hơn nữa, chính chúng tôi phải lo cho mình, số là hôm ấy một trong hai chiếc trực thăng hỏng máy, phải đáp xuống đất, tất cả dụng cụ trang bị quân sự và y khoa phải tháo gỡ cùng với phi hành đoàn đưa sang chiếc thứ hai bay về sân bay thành nội Huế.

Ngày 19-3-1965 tôi cũng muốn ra chứng kiến cảnh trục xuất giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và ký giả Cao Minh Chiếm qua cầu Hiền Lương, nhưng vì bận công tác khác nên không thể ra coi được.

Năm 1967 cầu bị phi cơ Mỹ đánh sập, đến 1972 khi đem quân chiếm miền Nam, công binh cộng sản bắc cầu phao qua sông Bến Hải lùi 20m về phía thượng lưu cầu cũ. Năm 2003 công việc phục chế cầu Hiền Lương phỏng theo kiểu cũ hoàn thành, mặt cầu được lát bằng gỗ lim.

Tôi cứ băn khoăn về những yếu tố nào trong cuộc điều đình mặc cả giữa Pháp và Việt Minh trong cuộc đàm phán Genève đã đưa đến thỏa thuận nhận sông Bến Hải làm ranh giới, Cho đến mấy năm gần đây nhờ những tài liệu mới xuất bản (2) mới có thể lần ra manh mối việc chia đôi đất nước. Xin ghi lại ở đây những nét chính yếu.

Vào tuần lễ thứ ba của hội nghị, phương án vạch một giới tuyến nam bắc hầu như đã được công nhận, Phạm Văn Đồng đưa ra ý kiến lấy vĩ tuyến 13 làm ranh giới, các nước phương tây phản đối dữ dội.

Chu Ân Lai thấy cần phải thuyết phục phía Việt Minh, trên đường từ Genève trở về Bắc Kinh qua thăm Ấn Độ và Miến Điện, bèn triệu tập một phiên họp tại Quảng Tây với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, cùng hai cố vấn Trung Quốc bên cạnh Việt Minh là La Qúi Ba và Vi Quốc Thanh, để thông báo cho biết tình hình đàm phán và vấn đề chia vùng.

Cuộc gặp gỡ này diễn ra tại Liễu Châu (thành phố thuộc tỉnh Quảng Tây) trong 8 phiên họp từ ngày, từ 3 đến 5 tháng 7, 1954. Sau khi Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh trình bày tình hình chiến trường, Chu Ân Lai thuyết giảng dài về vấn đề chiến tranh và hòa bình. Ông trình bày rất tỉ mỉ, cho rằng trước mắt có ba khả năng, thượng sách là hòa được, trung sách là đánh rồi hòa, hạ sách là đánh tiếp. Cuối cùng ông cho biết có hy vọng vạch đường phân giới tạm thời tại vĩ tuyến 16. Ông khuyến dụ: từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc là nơi Việt Nam hưng quốc, có 13 triệu dân, có hải cảng, có thể xây dựng. Vì người Pháp đòi chia vùng ở vĩ tuyến 18 và vì vĩ tuyến 16 ở phía nam Đà Nẵng nên muốn trấn an người Pháp, ông bảo cảng Đà Nẵng, Huế và quốc lộ số 9 (từ Đông Hà sang Lào, ở phía bắc thị xã Quảng Trị) có thể đặc biệt lưu lại cho Pháp một hai năm, như thế chúng ta có thể đòi các điều kiện khác.

Hồ Chí Minh nói vào lúc xế chiều ngày 4 tháng 7, ông nói ta phải giúp Mendès-France khỏi đổ, hạ quyết tâm tranh thủ hòa bình. Buổi tối hôm đó Chu Ân Lai báo cáo về trung ương, xin lùi ngày về Bắc Kinh, họp thêm một ngày nữa liên quan đến phương án giải quyết cụ thể.

Trong phiên họp sáng ngày 5 tháng 7, 1954 Võ Nguyên Giáp biểu thị đồng ý chọn vĩ tuyến 16, nhưng nói thêm vì Phạm Văn Đồng đang đề xuất phương án vĩ tuyến 13, nên có thể lùi từng bước, đến vĩ tuyến 16 là giới hạn cuối cùng, khi rút quân miền Nam thì rút từ cấp tỉnh trở lên, nhưng từ cấp huyện trở xuống và đội du kích không rút, đem cất giấu vũ khí.

Vi Quốc Thanh đồng ý với ý kiến chủ hòa của Chu Ân Lai, nếu tiếp tục đánh, có thể đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại đưa vào kể địch mạnh (Mỹ). Đó là tình hình đòi hỏi chúng ta phải tránh né nhất. Chu Ân Lai nói xen vào: đó không phải là giả thiết mà là sự thật.

Khi kết quả hội nghị Liễu Châu đã thực hiện hoàn toàn theo dự kiến của Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh phát biểu có tính cách tổng kết, hiện nay chúng ta đang đứng trước ngã tư đường, có khả năng hòa cũng có khả năng chiến, phương hướng chủ yếu là tranh thủ hòa chuẩn bị chiến. Bởi vì khẩu hiệu trước đây là kháng chiến đến cùng, bây giờ lại muốn hòa, đối với người bình thường thậm chí là cán bộ, rốt cuộc thì cái nào đúng đây. Nên vấn đề hàng đầu là đả thông tư tưởng, nếu chuẩn bị tiếp thu Hà Nội, thì phải chuẩn bị một loạt cán bộ mà hiện nay không đủ, vẫn cần các đồng chí cố vấn giúp đỡ.

Ngay trong ngày kết thúc hội nghị, Hồ Chí Minh đã tự tay thảo chỉ thị 5/7 gửi cho Phạm Văn Đồng, xác định “phương án thấp nhất trong đàm phán” (chấp nhận vĩ tuyến 16), chỉ thị này gửi qua Trung ương đảng Cộng sản Trung quốc trước, nếu không có ý kiến, sẽ chuyển cho đồng chí để tiến hành.

Tối ngày 5 tháng 7, cử hành phiên họp thứ tám, chủ yếu bàn về tình hình sau khi ngưng bắn, tiếp quản thành thị, hội nghị thảo luận và sửa chữa bốn điều trong “Bố cáo yên dân khi vào thành phố” do La Qúi Ba khởi thảo, tiếp theo bàn luận và sửa chữa “Chính sách vùng tiếp quản” cũng do La Qúi Ba khởi thảo. Cuối cùng Chu Ân Lai tuyên bố kết thúc hội nghị.

Một tuần lễ sau khi về Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Genève ngày 12-7-1954, nghe các phụ tá báo cáo tình hình đàm phán. Thứ trưởng Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng đoàn đại biểu Việt Minh lần lữa không chịu theo chỉ thị 5/7 của Hồ Chí Minh là do đã đề cao lực lượng của mình và đặc biệt là đánh giá quá cao chiến thắng Điện Biên Phủ, vì thế đã không nhượng bộ thích ứng, đồng thời còn có tư tưởng Liên bang Đông Dương, không phân biệt nổi cách mạng nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc là hai loại không cùng tính chất.

Khó khăn hiện nay là Pháp chủ trương lấy vĩ tuyến 18 làm giới hạn, trong khi Trung ương Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đồng ý lấy vĩ tuyến 16, nhưng đoàn đại biểu VN vẫn dừng lại ở vĩ tuyến 14-15.

Hoành Sơn Quan ở Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh
Nguồn: Google maps

9 giờ 30 tối hôm đó Chu Ân Lai đến khách sạn của đoàn đại biểu Việt Nam hội đàm với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Trần Công Tường thì được biết ngày 11 và 12-7-1954 Phạm Văn Đồng đã gặp Mendès-France, Phạm Văn Đồng thử thăm dò vĩ tuyến 16, nhưng Mendès-France ngang nhiên từ chối, kiên trì đòi vĩ tuyến 18. Đến nửa đêm, nhận thấy nơi Phạm Văn Đồng trú ngụ không đủ bảo đảm bí mật, Chu Ân Lai đề nghị về nơi ông trú ngụ tại biệt thự Vạn Hoa bàn tiếp, tại đây Chu Ân Lai cho Phạm Văn Đồng biết là nếu tiếp tục đánh nhau, ít ra cũng phải ba năm, thế nhưng Mỹ can thiệp là điều khó tránh khỏi, lúc đó không phải là vấn đề ba năm nữa.

Chu Ân Lai cho rằng nếu VN muốn giữ vùng tập kết tại Liên Khu Năm (Quảng Ngãi, Bình Định) thì phía Pháp cũng đòi giữ vùng tập kết tại đồng bằng sông Hồng. Nếu dứt khoát lấy ranh giới vĩ tuyến 16 thì có thể thành lập một dạng quốc gia ở phía bắc, qua phổ thông bầu cử mà hoàn thành thống nhất.

Chu Ân Lai còn cho biết sau chỉ thị 5/7, Mao Trạch Đông có thương nghị lại với Hồ Chí Minh và hai người đã đồng ý lấy đường số 9 làm giới tuyến, dù điểm này không viết trong văn kiện 5/7.

Ngày hôm sau, 13-7-1954, Chu Ân Lai tiếp Mendès-France lúc 10 giờ 30 sáng tại biệt thự Vạn Hoa. Thủ tướng Pháp trải ra một bản đồ trước mặt Chu Ân Lai và nói: không có đường giới tuyến nào thích hợp hơn vĩ tuyến 18. Nhất định ngài sẽ nói với tôi Việt Minh chiếm nhiều nơi giữa vĩ tuyến 13 đến 16, thế nhưng giữa vĩ tuyến 16 và 18 chúng tôi có vùng chiếm lĩnh.

Không thể lấy diện tích ra để so sánh, trên thực tế những thành phố như Hà nội Hải phòng, Huế, Tourane, đồng bằng sông Hồng, tính quan trọng về dân số, chính trị, kinh tế đều lớn hơn những vùng mà Việt Minh rút khỏi. Lấy dân số ra mà nói, vùng chúng tôi phải rút là 300.000 dân, còn Việt Minh chỉ phải rút có 30.000 người.


cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Nguồn: OntheNet

Vạch đường giới tuyến về địa lý, lịch sử và logique đều nên lấy porte d’Annam (cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang) gần vĩ tuyến 18 là hợp lý nhất. Vì biết Mendès-France chiều hôm ấy sẽ về Paris gặp Foster Dulles, Chu Ân Lai nhấn mạnh muốn để cho hòa bình được củng cố phải có sự bảo đảm của các nước tham dự, ám chỉ không muốn Mỹ đứng ngoài cuộc đàm phán, đồng thời khéo léo cho biết Việt Minh có khả năng nhượng bộ.


Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Nguồn: OntheNet

Đến ngày 19 tháng 7, cuộc đàm phán vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng, vấn đề vạch đường giới tuyến còn giằng co. Hồi 12 giờ 45 ngày hôm đó, Mendès-France và Eden cùng với các phụ tá đến gặp Chu Ân Lai thảo luận một giờ đồng hồ. Khi kết thúc Eden đề nghị phụ tá Caccia của ông sẽ gặp Trương Văn Thiên thảo luận thêm vào buổi chiều. Năm giờ bốn mươi lăm phút chiêù ngày 19-7-1954, thứ trưởng Trương Văn Thiên đến nơi ở của phái đoàn Anh, hội kiến với Caccia, phụ tá Eden. Trương Văn Thiên thông báo nhượng bộ cuối cùng, có thể chấp nhận đường giới tuyến khoảng 10 cây số về phía bắc đường số 9. Thiên nhấn mạnh nếu đối phương không tiếp nhận, chúng tôi chỉ có thể mua vé bay bay về nhà. Caccia nói 10 cây số sợ rằng hẹp quá. Thiên nói có thể bắt chước Triều Tiên, thiết lập khu phi quân sự 5 cây số ở mỗi bên. Caccia đề nghị là giữa đường số 9 và vĩ tuyến 17 có hai con sông, có thể chọn một trong hai con sông đó làm giới tuyến (Bến Hải và Sa Lung?). Tiếp đó hai người bàn đến vấn đề tổng tuyển cử…

Chiều tối ngày 20 tháng 7 năm 1954 vì đại biểu Campuchia, đại biểu Lào và đại biểu Việt Nam Ngô Đình Luyện lại có những đề nghị khác, cuộc thương lượng phải kéo dài thêm, mà hạn chót của Mendès-France đối với quốc hội Pháp là nửa đêm, nên đồng hồ trong phòng họp phải ngưng lại vào lúc 24 giờ. Mãi đến 3 giờ 20 sáng đại biểu quân sự hai bên mới có thể tề tựu tại đại sảnh của Liên Hiệp Quốc, thiếu tướng Delteil đại diện quân đội viễn chinh Pháp, thứ trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu đại diện Việt Minh ký tên trên hiệp định đình chiến. Sau khi ký xong Tạ Quang Bửu tươi cười tới trước mặt Delteil đề nghị bây giờ chúng ta hãy cùng uống một ly sâm banh. Delteil trả lời: chắc ông biết rõ là tôi không thể nhận lời, nói xong ông ta đi thẳng về phía phái đoàn của mình.

Sông Bến Hải đi vào lịch sử từ giờ phút đó.


Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.(1) Hồi đó Sư đoàn 3 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Công Hòa chưa thành lập, Sư đoàn I Bộ binh trách nhiệm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, tức là khu chiến thuật 11.
(2) Phần lớn tài liệu trích từ quyển “Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngoã hội nghị” bản chữ Hán do Tiền Giang (钱江,Qian Jiang) viết xong 24-11-2004, bản dịch sang Việt ngữ “Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954” của Dương Danh Dy.
DCVOnline: (*)The Geneva Agreements of 1954 (còn gọi là “Geneva Accords”)
Nguồn bài báo: dcvonline.net

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Du Lich, Giao Duc | Leave a Comment »