Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2016

►Võ Thị Hảo – Dưới chế độ độc tài toàn trị : Bầu cử là một trò hề lừa bịp

Posted by hoangtran204 trên 29/02/2016

Trần Quang Thành phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo

BTV VanNews   27-2-2016

 

“…Quốc hội chưa bầu, nhưng nhóm quyền lức cao nhất trong đảng đã ấn chỉ người sẽ đảm nhận chức danh chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch quốc hội…”

Ngày Chủ nhật 22/5/2016 sắp tới, giới cầm quyền cộng sản Việt Nam lại tung hứng trò hề dân chủ. Đó là cuộc bàu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp. khoá mới

Đã là một chế độ độc tài toàn trị, dân chủ chỉ là một trò hề lừa bịp, gian dối. Trò hề đó nó cứ lặp đi lặp lại nhưng mỗi ngày một tinh vi, xảo trá hơn, lộ liễu hơn. Chẳng hạn như trước đây mấy nhân vật nhà nước cao cấp nhất họ không công khai lộ liễu danh tính một cách trơ trẽn như kỳ này. Quốc hội chưa bầu, nhưng nhóm quyền lức cao nhất trong đảng đã ấn chỉ người sẽ đảm nhận chức danh chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch quốc hội.

Nói lên những suy tư của mình, nhà văn Võ Thị Hảo khẳng đinh dưới chế độ độc tài toàn trị không bao giờ có bầu cử theo đúng nghĩa của nó. Đây chỉ là một trò hề lừa bịp gian dối.

Cuộc phỏng vấn do nhà báo Trần Quang Thành thực hiện – Mời quí vị cùng nghe:

 

Advertisements

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Hai nhiệm kỳ Thủ tướng: Việt Nam tiến hay lùi?

Posted by hoangtran204 trên 29/02/2016

“Ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ rời cương vị Thủ tướng trong vài tháng nữa, hai nhiệm kỳ kéo dài 10 năm của ông để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình trạng thâm hụt ngân sách triền miên, một núi nợ công khó trả, những nhóm quyền lợi xâu xé nền kinh tế, bất công và tham nhũng tràn lan. Bên cạnh sự phân hóa giàu nghèo đến mức độ khó tưởng tượng, còn là thực tế Việt Nam đã tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực vài chục năm. Ông Nguyễn Tấn Dũng tất nhiên có trách nhiệm của người đứng đầu chính phủ, nhưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương lấy quốc doanh làm chủ đạo không phải là của riêng ông, mà là của Đảng Cộng sản và ông là người đứng ra thực hiện.” (RFA)

 

Hai nhiệm kỳ Thủ tướng: Việt Nam tiến hay lùi?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
26-2-2016

Nhóm quyền lợi xâu xé nền kinh tế

Ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ rời cương vị Thủ tướng trong vài tháng nữa, hai nhiệm kỳ kéo dài 10 năm của ông để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình trạng thâm hụt ngân sách triền miên, một núi nợ công khó trả, những nhóm quyền lợi xâu xé nền kinh tế, bất công và tham nhũng tràn lan. Bên cạnh sự phân hóa giàu nghèo đến mức độ khó tưởng tượng, còn là thực tế Việt Nam đã tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực vài chục năm. Ông Nguyễn Tấn Dũng tất nhiên có trách nhiệm của người đứng đầu chính phủ, nhưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương lấy quốc doanh làm chủ đạo không phải là của riêng ông, mà là của Đảng Cộng sản và ông là người đứng ra thực hiện.

Trên báo chí Việt Nam, không ít lần Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tự hào là đã đưa Việt Nam vào danh mục các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Thu nhập đầu người ở Việt Nam khi ông Nguyễn Tấn Dũng khởi sự nhiệm kỳ vào năm 2006 là 715 USD đã leo lên 2.109 USD vào cuối năm 2015. Tuy vậy nợ công của Việt Nam trong 10 năm qua cũng tăng chóng mặt, năm 2006 là 22,7% GDP (GDP của VN năm 2006 là 60 tỷ USD) và đến cuối năm 2016, lúc ông Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị từ giã sự nghiệp chính trị, nợ công được dự báo là 64,9% GDP (GDP của VN năm 2014 là 185 tỷ USD ). Điều này được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác định với Quốc hội ngay từ những tháng đầu năm 2015 và được báo Dân Trí đưa lên mạng ngày 12/2/2015.

Việt Nam đang trả lãi bao nhiêu tỷ USD/năm cho nợ công …

Trả lời Nam Nguyên tối 25/2/2016,  Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nhận định:

Năng suất lao động của Việt Nam so với các nước lân cận như Thái Lan, Singapore thì Việt Nam rất kém cỏi. Nếu có tăng về xuất khẩu hay bề nổi sự phát triển công nghiệp nói chung, tôi cho rằng phần lớn là nhập khẩu chứ chưa có một cái gì gọi là tự lực cánh sinh cả.
-GS Vũ Văn Hóa

“Thu nhập tăng lên thì thực ra không đúng thực tế, đấy chỉ là con số báo cáo chứ rất ít người tin rằng chuyện đó là có thật. Nợ công nói rằng sáu mươi mấy phần trăm thì tôi không tin, nó phải hơn số đó rất nhiều. Thống kê còn chênh lệch nhau quá mức, thậm chí nói kinh tế của các tình thành phố tăng lên vuợt bực nhưng kinh tế cả nước thì chậm lại. Thực tế mà nói thì cũng chỉ được cái bề mặt, chứ thực sự nền kinh tế vẫn còn đang tụt hậu so với thế giới, tôi cho là không phải vài ba chục năm mà còn nhiều hơn nữa.”

Như vậy nền kinh tế Việt Nam trong 10 năm qua đã có những tiến bộ gì đáng kể. Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa tiếp lời:

“Năng suất lao động của Việt Nam so với các nước lân cận như Thái Lan, Singapore thì Việt Nam rất kém cỏi. Nếu có tăng về xuất khẩu hay bề nổi sự phát triển công nghiệp nói chung, tôi cho rằng phần lớn là nhập khẩu chứ chưa có một cái gì gọi là tự lực cánh sinh cả. Nếu thẳng thắn nhận xét thì nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế chậm phát triển và tụt hậu so với mức phát triển của thế giới.”

Ngày 20/2/2016 Saigon Times online đưa lên mạng bài viết ‘Nhìn lại chủ trương lấy quốc doanh làm chủ đạo’ của TS Vũ Quang Việt nguyên chuyên viên kinh tế của Liên Hiệp Quốc. Bài viết không nêu tên người đứng đầu chính phủ nhưng thực tế đánh giá 10 năm 2006-2015 Việt Nam hai lần thất bại trong chính sách lấy quốc doanh làm chủ đạo để nhắm tốc độ tăng GDP cao.

Trong bài TS Vũ Quang Việt chỉ ra những chính sách đã tạo ra bất ổn trong nền kinh tế từ năm 2006 đến nay. Chúng tôi xin phép trích thuật: Sự bất ổn này có thể kể ra gồm lạm phát cao, nợ cao khó trả, ngân sách thiếu hụt lớn, chênh lệch giàu nghèo. Tất cả là kết quả của chủ trương xây dựng doanh nghiệp lấy quốc doanh làm chủ đạo – không hẳn là theo đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và trước đó. Và đi cùng với chủ trương này là việc cho phép lập hàng loạt công ty con, kể cả ngân hàng chứng khoán, xây dựng và buôn bán địa ốc, nửa công nửa tư ăn theo – chủ yếu là các loại doanh nghiệp dịch vụ đầu cơ, rồi tập trung vốn cho chúng.”

000_Hkg10249304-622.jpg
TT Nguyễn Tấn Dũng (đứng) tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 hôm 25/1/2016.

TS Vũ Quang Việt phân tích sự khác biệt về vai trò quan trọng của nhà nước đối với nền kinh tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ và các nước kinh tế thị trường. Một phía nhà nước nắm toàn bộ nền kinh tế, vai trò tư nhân không đáng kể. Phía kia, nhà nước có vai trò xây dựng và thi hành luật pháp nhằm bảo đảm các thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng và chính quyền chỉ can thiệp vào chính sách vĩ mô nhằm ổn định thị trường. đồng thời thực hiện các đầu tư công mà khu vực tư nhân không muốn hay không có khả năng đáp ứng. Kinh tế  tăng trưởng mạnh hay yếu là tùy thuộc vào sự cạnh tranh vì lợi nhuận của tư nhân.

Vẫn theo TS Vũ Quang Việt và SaigonTimes Online : “Việt Nam cổ võ cho tư duy lấy quốc doanh làm chủ đạo, công hữu hóa đất đai mà thực tế là giao cho chính phủ quyền làm chủ đất đai và phân phối cho ai tùy ý, dùng tiền ngân sách và tín dụng mà mình kiểm soát lập ra các doanh nghiệp quốc doanh, từ đó giới có quyền thế tạo ra các công ty con nửa nhà nước nửa tư nhân, trong một hệ thống gọi là tập đoàn để lợi dụng ưu đãi về tín dụng và thu dụng đất công làm của tư.”

Việt Nam đã tụt hậu hàng chục năm

Chúng tôi xin nhắc lại, các Tập đoàn quốc doanh được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ví von là những quả đấm thép của nền kinh tế đã không mang lại hiệu quả như mong muốn. Sự sụp đổ của Tập đoàn Vinashin làm thất thoát 86.000 tỷ đồng năm 2010, hay các vụ bê bối và thất thoát tiền nhà nước ở Vinalines là những ví dụ điển hình. Ngoài ra chính sách lấy quốc doanh làm chủ đạo mà sau này đổi là khu vực kinh tế Nhà nước chủ đạo nền kinh tế.

Sau hai nhiệm kỳ tổng cộng 10 năm áp dụng chính sách lấy quốc doanh làm chủ đạo, Việt Nam hiện nay vẫn theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự cải cách thể chế không có tiến bộ thực sự. Việt Nam đã tụt hậu hàng chục năm so với láng giềng Malaysia hay Thái Lan chứ không dám nói tới Singapore.

Ngày 23/2 tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam công bố lộ trình phát triển tới năm 2035. Theo đó nếu Việt Nam nghiêm túc cải cách thể chế kinh tế và chính trị theo các khuyến cáo, thì cũng phải 20 năm nữa người Việt Nam mới có mức thu nhập tương đương các nước láng giềng như Malaysia thời điểm 2010. Nói cho rõ nếu cải cách thành công thì 20 năm nữa thu nhập đầu người của Việt Nam mới bằng nước bạn Malaysia của 25 năm trước, lúc đó không biết nước bạn thực tế đã tiến xa hơn đến đâu nữa. Câu chuyện vừa nghiêm túc vừa xót xa.

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã thắng thắn đề cập là Việt Nam cần phải mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao sự sáng tạo hiệu quả và phải phát triển mạnh mẽ năng lực cạnh tranh. Muốn như vậy thì Việt Nam phải cải cách về mặt thể chế.
-TS Lê Đăng Doanh

Trong cuộc phỏng vấn tối ngày 23/2/2016, TS Lê Đăng Doanh thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc đã nhận định về thách thức phải cải cách. Ông nói:

“Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã thắng thắn đề cập là Việt Nam cần phải mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao sự sáng tạo hiệu quả và phải phát triển mạnh mẽ năng lực cạnh tranh. Muốn như vậy thì Việt Nam phải cải cách về mặt thể chế và nếu như những điều đó được giới lãnh đạo được Đại hội 12 đã bầu ra thực hiện, thì Việt Nam với tiềm năng của mình hoàn toàn có thể đạt được những tiến bộ như đã đề ra. Nếu như công cuộc cải cách không vượt qua được sự cản trở của nhóm lợi ích và không tự mình vượt qua được những ràng buộc mà mình tự buộc mình vào, tự hạn chế mình thì Việt Nam sẽ ngày càng bị tụt hậu xa hơn.”

Ngày 24/2/2016 Báo mạng VnExpress trích lời Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước cảnh báo trước quốc hội về nguy cơ bất ổn xã hội do khoảng cách giàu nghèo. Ông Ksor Phước đã góp ý về báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Chính phủ và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trước đó tại Đại hội Đảng 12, ông Nguyễn Quốc Cường Chủ tịch hội Nông dân Việt Nam báo động là khoảng cách giàu nghèo đang cách biệt hơn 10 lần.

Trao đổi với chúng tôi, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa cho rằng hiện rất khó để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam. Ông nói:

“Bây giờ đất đai tập trung vào những người có quyền thế, những người có tài chính. Những chỗ đất đai đẹp nhất ở các thành phố hay ở vùng nông thôn thì lại rơi vào tay những người có tiền, còn người ta có tiền từ nguồn gốc nào thì mình cũng không biết được. Rõ ràng là họ có những tài sản rất lớn, tôi lấy ví dụ ở Hà Nội những nơi đẹp nhất thuộc về những người có nguồn tài chính rất lớn, những cái đó tạo ra thu nhập rất lớn cho họ, bên cạnh họ lại có một bộ máy giúp việc rất đắc lực và như vậy những người khác trở thành những người làm thuê thôi. Xã hội nào cũng có việc đó. Nhưng ở Việt Nam tôi cho rằng mấy năm gần đây sự cách biệt rất nhanh và rất lớn. Cần có nghiên cứu và trả lời cho dân chúng, chứ cứ nói cách biệt giàu nghèo thể hiện rõ ràng, nhưng chưa ai dám phát biểu công khai là nguyên nhân tại đâu mà ra, chưa có cái đó.”

Nguyên nhân cách biệt giàu nghèo ở Việt Nam có lẽ chỉ có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chính phủ của ông mới có lời giải đáp, vì ông đã lãnh đạo Chínhnh phủ 10 năm liên tiếp. Tiếc rằng trong 7 điểm hạn chế và yếu kém trong nhiệm kỳ Thủ tướng, được Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình bày trước Quốc hội chiều 24/2/2016, đã không có nội dung nào liên quan tới vấn đề này.

Posted in Kinh Te, Nợ của Việt Nam, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Tư bản đỏ, Lưu manh đỏ, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Hàng chục ngàn công nhân công ty Pouchen đã đình công và biểu tình làm tắc nghẽn quốc lộ 1- Biên Hòa

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2016

Ngoc Nhi Nguyen

27-2-2016

Nguyễn Thanh Hải : Tên công an Đồng Nai chém 4 công nhân Pouchen bị thương

Liên tiếp nhiều ngày qua, ngày 25, 26 và 27/02, hàng chục ngàn công nhân công ty Pouchen đã đình công biểu tình, làm tắc nghẽn quốc lộ 1, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Pouchen là công ty Đài Loan chuyên sản xuất giày. Công nhân đình công nhằm phản đối chính sách đánh giá hiệu quả công việc, xếp loại lao động A-B-C để tính ra mức lương, mức thưởng mà theo công nhân là quá khắt khe và không hợp lý .

Công an Đồng Nai được điều động đến hiện trường rất đông, bao gồm công an chìm và công an mặc sắc phục. Ngày 26/02, công an viên Nguyễn Thanh Hải, mặc thường phục áo màu nâu đỏ, mà công nhân nhận dạng là 1 cảnh sát hình sự, đã xông vào định bắt đi 1 công nhân .

Có lẽ đây là chiêu trò ” đánh rắn trên đầu ” mà công an thường dùng. Sau 1-2 ngày quan sát, theo dõi, công an đã  xác định công nhân nào có tầm ảnh hưởng, đang lên tiếng điều động, khuyến cáo công nhân, thì sẽ cho công an chìm vào bắt cóc đi để công nhân không còn ai đứng mũi chịu sào, không còn ai hướng dẫn và sẽ dễ dàng bị giải tán.

Riêng những người bị bắt đó sẽ bị trù dập 1 cách âm thầm nhưng tàn khốc hơn, sẽ bị giam giữ không xét xử, bị tù, bị đuổi việc, bị đánh đập hăm dọa để sau này không còn ai lãnh đạo công nhân .

Khi tên Nguyễn Thanh Hải nhảy vào đám đông tính bắt giữ một công nhân, thì hắn đã bị 3-4 công nhân khác cản trở không cho bắt người. Tên Hải đã ra tay chém các công nhân này khiến cho 4 người bị thương, đổ máu khá nhiều. Một công nhân máu đẫm ướt cả bàn tay và trên cánh tay có mấy vét chém .

Đám công an thường phục vội vàng xông vào bảo vệ cho tên Thanh Hải được an toàn và đưa hắn ra xe. Trong video quay hình có thể thấy hắn bám vào tay đồng đội tỏ vẻ sợ hãi trước thái độ quyết liệt của những người công nhân  lúc đó đang hò reo ” Công an gì kỳ vậy, chém chết mẹ nó đi!”

Sợ công nhân nổi giận bùng nổ gây bạo loạn, tên Thượng tá công an Trần Tiến Đạt , trưởng công an thành phố Biên Hòa,  đang có mặt tại hiện trường, đã phải vội vàng xuống nước, nói rằng tên Hải sẽ bị ” làm việc”  và hứa hẹn bồi thường tiền thuốc men và tiền  bệnh viện cho những công nhân bị thương .

Đến chiều ngày 27/02 , phía công ty Pouchen phải chịu đồng ý xóa bỏ không áp dụng chính sách đánh giá hiệu quả trên, và trả lương cho 1 ngày đình công là ngày 25/02 , khi đó công nhân mới chịu giải tán .

Được biết suốt 3 ngày đình công, công nhân đã đòi trực tiếp đấu tranh với ban lãnh đạo công ty chứ nhất định từ chối không thỏa thuận gì hết thông qua Liên đoàn Lao động hay UBND thành phố Biên Hòa, mặc dù nhừng người này đã cố gắng thuyết phục công nhân trở lại làm việc bình thường .

Phía Đài Loan đã nhượng bộ và chiều theo yêu cầu của công nhân Việt Nam. Nay chúng ta chờ xem phía công an của đảng CS sẽ xử lý như thế nào với tên Nguyễn Thanh Hải  “hèn với giặc, ác với dân ” này, và xem tên Thượng tá Trần Tiến Đạt sẽ nói gì, vì lệnh bắt người và cho phép chém người này phải là do chính hắn đưa ra!

Xem video tại đây >> https://www.youtube.com/watch?v=zre_kbNNYrI

 
Ngoc Nhi Nguyen's photo.
Ngoc Nhi Nguyen's photo.

Để giải cứu tên công an dùng dao chém 4 công nhân ra khỏi sự bao vây của hàng ngàn công nhân, Thượng tá Trần Tiến Đạt đã xác nhận Nguyễn Thanh Hải là công an của Tỉnh Đồng Nai. 

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Công An, Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

►Sàn Art thông báo ngưng hoạt động- Bài hát Ly Rượu Mừng đã được trả tự do sau 40 năm bị cấm

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2016

Năm nay, bài hát Ly Rượu Mừng đã được trả tự do sau 40 năm bị cấm, thì lại có tin:

Sàn Art ở Quận Bình Thạnh buộc phải ngừng hoạt động do Công An Văn Hóa biết được có người nước ngoài đến ghé thăm Sàn Art. Vì thế, chính quyền đã không cấp giấy phép cho các cuộc triển lảm nghệ thuật gần đây. Điều này buộc Sàn Art đành phải ngừng hoạt động giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật.

Sàn Art Thông Báo Ngưng Hoạt Động

22-2-2016
Hiện nay, do chính quyền thắt chặt chính sách quản lý trên các chương trình của Sàn Art

3 triển lãm đã không được cấp phép và 1 buổi nghệ sĩ nói chuyện gần đây được Công An Văn Hoá cảnh báo không được tổ chức do khán giả có người nước ngoài.

– ‘Phòng thí nghiệm Sàn Art’ sẽ tạm thời ngừng hoạt động. Phiên 8 đang diễn ra sẽ là ‘phiên thí nghiệm’ cuối cùng của chương trình (kết thúc vào tháng 5/2016)

Chúng tôi muốn gửi lời xin lỗi chân thành nhất đến những nghệ sĩ đã nộp hồ sơ cho chương trình Phòng thí nghiệm Phiên 9. Hồ sơ của bạn sẽ được bảo đảm tuyệt mật, và chúng tôi hy vọng sẽ được cộng tác với bạn trong tương lai khi có cơ hội phù hợp.

Sàn Art đang dành thời gian suy nghĩ về cách phục vụ cộng đồng phù hợp nhất trong hoàn cảnh ngặt nghèo hiện nay.

Phòng Đọc của Sàn Art vẫn mở cửa bình thường từ thứ Ba đến thứ Bảy, 10g30 đến 18g30.

Các bạn hãy đón chờ những hoạt động sắp tới được đăng tải trên website và Facebook của Sàn Art nhé!

Chúc bạn một năm 2016 tốt lành và một năm Bính Thân tràn đầy năng lượng!

Thân,
Sàn Art

Sàn Art
48/7 Me Linh, Binh Thanh
Ho Chi Minh city, Vietnam
hello@san-art.org
www.san-art.org

Phone 84 8 6294 7059

 Dan Nguyen Ôi đỉnh cao trí tuệ

Khanh Tuan Nguyen Ôi. Thật à. Tội nghiệp cho bọn độc tài ngu si

Hong Nguyen Buồn .

Thanh Chung vo liem si

Phan Ba Tho Em chửi thằng độc tài Ngô Lực hả,  Chung Thanh 

Hung NguyenBọn sản muốn biến tất cả thành công cụ của chúng. Lũ việt cộng thật khốn kiếp.
——–
Tháng 2/2016 có 30 ngày! Chao ôi. “Đảng CSVN, các đỉnh cao trí tuệ của loài người.”
Bộ công an của Việt Nam chính thức  đổi lịch cho toàn nhân loại? Bản tin thời tiết của ANTV cho biết tháng 02/2016 có 30 ngày.Và đây sẽ là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà tháng 02 có tới 30 ngày. Đây gọi là lịch cộng sản
Thậm chí, tháng 2 có 31 ngày cũng là bình thường.

Huy Kiều Nguyễn XHCN VN có cả ngày thứ 31 trong tháng hai lâu rồi. Bây giờ mới biết hay sao ?

 ——-
Ly Rượu Mừng đã được trả tự do sau 40 năm. Sau 40  năm cấm hát, năm 2016 nhà cầm quyền VN cho phép hát lại bài hát Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.
CẤM CẢ NHỮNG ƯỚC AO  BÌNH THƯỜNG NHẤT
Bùi Bảo Trúc (Thư Gởi Bạn Ta)
6-2-2016

Mới đây, tin từ trong nước cho biết một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của Phạm Đình Chương, bài Ly Rượu Mừng, ca khúc không thể thiếu trong dịp xuân về, từng được hát lên từ hơn một nửa thế kỷ nay ở trong nước cũng như ở ngoài nước, cuối cùng đã được “cho phép” cất lên ở trong nước.

Tức là trong 40 năm qua, bài hát này chỉ được hát một cách lén lút ở Việt Nam.

Phạm Đình Chương sáng tác bản nhạc này năm 1955 chứ không phải năm 1952 như một số chi tiết trong nước đã cho biết về ca khúc này. Người ta không muốn cho ca khúc này được viết ra dưới chế độ miền Nam. Nhưng phần ca từ của bản nhạc cho thấy nó không thể ra đời trước năm 1954.

Chuyện cấm không cho một tác phẩm nghệ thuật được phổ biến là chuyện không hiếm trên thế giới. Lý do có thể là vì nó không phù hợp hay đi ngược lại đường lối, lập trường chính trị của một chế độ hay một chính phủ nào đó. Hay cũng có thể tác giả là người phía “bên kia”. Trong trường hợp này, phải nói là miền Nam cởi mở hơn miền Bắc rất nhiều. Các ca khúc của các tác giả ở lại miền Bắc đều được trình bầy tự do ở miền Nam. Các tác phẩm của Đoàn Chuẩn, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý, Phan Huỳnh Điểu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Văn Cao… đều được phổ biến ở miền Nam trong khi chúng lại bị cấm ở miền Bắc. Trong khi đó, ngay cả những tác giả thiên về phía bên kia tác phẩm của họ cũng không hề bị ngăn cấm. Trịnh Công Sơn là một. Phạm Trọng Cầu, Miên Đức Thắng… là những trường hợp khác.

Một lý do khác để cấm phổ biến những tác phẩm nghệ thuật là nội dung, ca từ không phù hợp với khung cảnh, tình hình, cục diện. Miền Nam, về phương diện này cũng cởi mở và dễ dàng hơn miền Bắc.

Bài Ly Rượu Mừng bị cấm hát lên từ 40 năm nay ở trong nước vì nó rơi vào cả hai trường hợp để phải cấm. Nhưng chuyện cấm nó, tuy không có ghi trong một văn bản rõ ràng nào, là một quyết định thậm vô lý.

Tạm bỏ qua chuyện chính trị như Phạm Đình Chương viết bản nhạc này ở Sài Gòn, không ở Hà Nội. Hay Phạm Đình Chương đã cùng gia đình vượt biên đi tìm tự do. Nghe lại các tác phẩm của ông, người ta bao giờ cũng thấy những ao ước, những cơn mơ tốt đẹp, những hy vọng tươi đẹp cho một ngày mai, cho một tương lai hạnh phúc chan hòa, cho con người. Cho dù đó là Hò Leo Núi, Nhạc Tuổi Xanh, Xóm Đêm…

Trở lại với phần ca từ của Ly Rượu Mừng.

Bản nhạc được viết với nhịp 3/4, nhịp valse vui tươi trẻ trung đã trở thành một ca khúc được cất lên trong suốt nhiều năm ở miền Nam. Nó là những ngợi ca cho một đời sống tươi đẹp, những ao ước cho một tương lai ngời sáng.

Nhưng đó lại là những điều nhà cầm quyền không muốn.

Hãy nghe lại những ước muốn ấy!

Chỉ là những lời chúc cho anh nông phu, người thương gia lợi tức, người công dân ấm no. Có gì sai quấy trong ước vọng ấy?

Hay lời chúc gửi tới người mẹ già mắt vương lệ nhòa trông chờ người con đi chiến đấu xa nhà? Chỉ là lời chúc cho bà mẹ sớm gặp lại người con yêu quí.

Hay lời chúc người nghệ sĩ làm đẹp cho đời sống của chúng ta?

Hay lời chúc tốt đẹp nhất cho một quê hương hòa bình?

Toàn những lời chúc tốt đẹp, những giấc mơ, những ao ước rất bình thường nhưng đều bị coi là những đe dọa cho chế độ nên cần phải cấm tiệt.

Cấm cả những giấc mơ thì khốn nạn hết sức, Mà cũng không cách gì cấm nổi! Bài hát của Phạm Đình Chương chỉ đưa ra những mơ ước hiền lành giản dị cho một đất nước thanh bình tốt đẹp đầm ấm, nó vẫn được cất lên cho một dân tộc hạnh phúc, thương yêu nhau. Vậy mà những hát vọng ấy cũng không được hát lên. Vì lẽ những ước ao khát vọng ấy không nhắc đến cái đảng tàn độc vẫn còn đầy đọa đất nước và một người mà bàn tay của nó đẫm máu của người Việt chúng ta, bóp chết tất cả những mơ ước hiền lành và tội nghiệp nhưng lại vô cùng tươi đẹp của dân tộc trong gần một thế kỷ nay.

Ly Rượu Mừng sẽ sống mãi trong lòng và trên môi của người Việt.

Bùi Bảo Trúc

——

Lời nhạc như thế này mà đảng cộng sản VN cũng cấm vì đây là bản nhạc được sáng tác năm 1955, dưới thời TT Ngô Đình Diệm. Các nhà văn, nhà thơ, nhất là các nhạc sĩ thường phản ảnh lại trong tác phẩm của họ về những gì mà đời sống thực tế của thời ấy đang diễn ra. Hẳn là đời sống ở Miền Nam, thời VNCH, lúc  TT Ngô Đình Diệm quá tuyệt vời, làm cho nhạc sĩ Phạm Đình Chương mới từ Bắc di cư vào Nam năm 1954, đã quá cảm khái và viết lên bản Ly Rượu Mừng với lời nhạc đẹp:

Ly Rượu Mừng – nhạc sĩ Phạm Đình Chương

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó

á a a a
Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui
á a a a
Muôn lòng xao xuyến duyên đời

Rót thêm tràn đầy chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đàng
Chiến đấu công thành
Sáng cuộc đời lành
Mừng người vì Nước quên thân mình

Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương

á a a a
Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính
á a a a
Chúc mẹ hiền dứt u tình

Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương
Xây tổ ấm trên cành yêu đương
Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ
Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới

Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông hoà bình, hoà bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi

Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà

Ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình dâng phơi phới

 

Nghe bài hát:

http://lyric.tkaraoke.com/13643/ly_ruou_mung.html#playMp3

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An | Leave a Comment »

►Chém người đình công, một công an tỉnh Đồng Nai bị công nhân Pouchen vây kín “hỏi tội”

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2016

Công nhân hãng Pouchen đã phản đối bọn chủ Đài Loan muốn cắt giảm tiền công ít ỏi của người công nhân VN. 17 ngàn công nhân đã đình công biểu tình trong khu vực của công ty. Đảng CSVN thông qua công đoàn đã bênh vực bọn chủ Đài Loan bằng cách đàn áp chém các công nhân VN.

Chém người đình công, công an bị công nhân “hỏi tội”

25-2-2016

Danlambao

Hàng vạn công nhân Pouchen vẫn tiếp tục đình công sang ngày thứ 3 liên tiếp, bất chấp các nỗ lực nhằm xoa dịu tình hình của của liên đoàn lao động cùng các ban ngành, đoàn thể tỉnh Đồng Nai.

Căng thẳng nổ ra vào chiều ngày 26/2/2016, các công nhân khi đang đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng thì bất ngờ bị một viên CA thường phục cầm dao xông vào đâm chém tán loạn.

Ít nhất 4 công nhân đã bị đâm, chém đến mức đổ máu và gây nhiều thương tích trên người.

Trước sự phản ứng dữ dội của công nhân, nhiều CA sắc phục đã lập tức xông đến để giải vây cho viên CA thường phục này.

Video do các công nhân ghi lại cho thấy, một công nhân bị chém khiến máu tuôn ướt đẫm cả bàn tay. Trong khi đó, kẻ thủ ác đã được đưa vào một chiếc xe và được nhiều CA sắc phục bảo vệ.

Ngay lập tức, hàng trăm công nhân kéo đến bao vây chiếc xe để “hỏi tội” tên CA thường phục, đồng thời ngăn chặn không cho hắn tẩu thoát.

Dù đã được đồng bọn bao che, nhưng video cũng cho thấy rõ khuôn mặt hoảng sợ của kẻ thủ ác trước các công nhân đang đầy phẫn uất và giận dữ.

Sau hơn 3 tiếng đồng hồ, lúc 18 giờ tối cùng ngày, chiếc xe chở viên CA thường phục mới được đưa đi khỏi hiện trường.

Theo trang web của cổng thông tin điện tử Đồng Nai, viên CA chém người này được xác nhân tên là Nguyễn Thanh Hải, hiện đang là cán bộ CA Đồng Nai.

Đến sáng ngày 27/2/2016, cuộc đình công nhanh chóng bùng phát thành cuộc biểu tình, các công nhân Pouchen tiếp tục tràn cả xuống đường khiến quốc lộ 1K, đoạn đi qua xã Hoá An, Biên Hoà, Đồng Nai trở nên tê liệt.

Một lần nữa, các công nhân tiếp tục khước từ vai trò “đại diện thương lượng” của liên đoàn lao động và giới chức Đồng Nai.

Trước áp lực mạnh mẽ, đến chiều ngày 27/2/2016, ban giám đốc công ty đã buộc phải ra thông báo ngưng áp dụng các chính sách xếp loại lao động bất hợp lý.

Đây là một chiến thắng lớn đối với hai vạn công nhân công ty Pouchen, đồng thời cũng là một thất bại thảm hại đối với liên đoàn lao động và giới chức tỉnh Đồng Nai.

CTV Danlambao

 

Trang Le

FB Trang Le  

 

——————-

Pouchen là hãng của Đài Loan

Khi công nhân Pouchen đình công phản đối chủ hãng Pouchen muốn giảm tiền lương của công nhân, Đảng CSVN đứng về phe công ty và gởi công an Tỉnh Đồng Nai đến đàn áp công nhân. Một công an đã dùng dao chém 4 công nhân đổ máu. Khi công nhân vây bắt tên này, thì công an Đồng Nai giải cứu đưa tên Nguyễn Thanh Hải lên xe và chở ra khỏi hiện trường.

Đảng CSVN luôn mồm nói: giai cấp công nhân là lực lượng tiền phong, là đội hậu bị của đảng…nhưng nhà nước cộng sản VN lại bênh giới chủ để đàn áp công nhân VN đang làm việc tại công ty Pouchen. 

——————-

 

——————-

Đồng Nai: 17.000 công nhân Cty Pouchen Việt Nam ngừng …làm việc

25-2-2016

Báo Lao Động

Ngày 25.2, tại Cty Pouchen Việt Nam (xã Hóa An, TP.Biên Hòa, Đồng Nai), khoảng 17.000/21.600 công nhân (CN) ngừng việc tập thể để phản đối Cty tiến hành đánh giá xếp loại A-B-C nhằm đưa ra quy chế thưởng, phạt của Cty. Theo CN, cách đánh giá mới này quá khắt khe khiến CN bức xúc, dẫn tới ngừng việc.

CN bức xúc vì bị trừ điểm quá nặng

Theo nguồn tin của Báo Lao Động, số lượng CN tham gia ngừng việc tập thể lên tới khoảng 17.000/21.600 CN của Cty Pouchen Việt Nam. Nguyên nhân được các công nhân đưa ra là Cty áp dụng cách tính trừ lương, thưởng quá khắt khe. Trong đó, việc chấm trừ điểm nghỉ phép để xếp loại lao động A-B-C là quá thiệt thòi cho họ. Một CN chia sẻ: “Khi chúng tôi nghỉ không phép sẽ bị Cty trừ tới 13 điểm, nghỉ có phép cũng bị trừ 3 điểm. Nếu CN nào bị trừ 13 điểm thì bắt buộc phải xếp loại C. Khi bị xếp loại C thì cuối tháng hay cuối năm công nhân đều bị cắt hết các khoản trợ cấp và tiền thưởng dẫn đến thu nhập của người lao động quá thấp. Điều này khiến chúng tôi rất bức xúc!”

Bà Nguyễn Thị Ngọc Ẩn – Chủ tịch LĐLĐ TP.Biên Hòa – cho biết: Sự việc xảy ra vào thời gian khoảng 10h30 sáng cùng ngày, khi đó một số CN tới các xưởng làm và lôi kéo các CN khác cùng phản đối các chính sách của Cty mà các CN cho rằng chưa hợp lý và thiệt thòi cho CN. Sau đó, vụ việc nhanh chóng lan rộng ra khắp Cty và gây ra tình trạng mất trật tự trong Cty. Ngay sau khi sự việc xảy ra, LĐLĐ TP.Biên Hòa kịp thời có mặt cùng CĐCS của Cty giải quyết vụ việc. Sau khi tham vấn ý kiến từ LĐLĐ TP.Biên Hòa, để giảm áp lực, phía Cty quyết định cho toàn bộ CN nghỉ việc ngày 25.2 để ổn định tình hình. Tuy nhiên, nhiều CN vẫn tiếp tục ở lại Cty để phản đối.
Chưa đi đến thống nhất
“Việc tiến hành đánh giá xếp loại A-B-C là một chính sách của các Cty lớn ở địa bàn tỉnh Đồng Nai đã thực hiện, đây là chính sách lớn của Cty Pouchen Việt Nam, tuy nhiên đang gặp sự phản đối của CN, do đó chúng tôi đang tìm mọi cách thương lượng với ban giám đốc Cty để CN được hưởng những quyền lợi cao nhất. Nguyên nhân dẫn tới vụ việc là do các CN cho rằng, từ nay đến tháng 6, Cty sẽ thí điểm cách tính ngày nghỉ mới để đánh giá xếp loại A-B-C, từ đó đưa ra quy chế lương, thưởng. Do đó, nhiều CN cho rằng quy định mới này sẽ gây ảnh hưởng lớn tới quyền lợi của họ nên ngừng việc phản đối. Sau khi sự việc xảy ra, Cty cũng cho toàn bộ công nhân nghỉ việc trong ngày 25.2 nhưng nhiều công nhân vẫn nán lại để phản đối. Cơ quan chức năng thương lượng với Cty và quyết định tạm ngừng thí điểm đánh giá xếp loại mới này nhưng CN vẫn chưa chấp nhận” – bà Ẩn cho biết thêm.

Chiều cùng ngày, đoàn liên ngành của LĐLĐ tỉnh Đồng Nai do ông Đoàn Văn Đây – Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh – chủ trì cùng LĐLĐ TP.Biên Hòa và các cơ quan chức năng đang tiếp tục làm việc, thương lượng với Ban giám đốc Cty để ổn định quan hệ lao động, phía Cty cũng cho tạm ngừng đánh giá xếp loại nhưng CN chưa đồng ý. Ông Đoàn Văn Đây cho biết: “Chúng tôi đang tích cực thương lượng với Ban giám đốc Cty, đồng thời đối thoại với CN, nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất”.

 

———-

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Việt Nam thuê người Philippines đi biểu tình phản đối Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2016

khoảng gần chục sinh viên Việt Nam và tầm 5 sinh viên của các nước Lào, Đông Timor, Miến Điện, Hàn Quốc tham gia biểu tình ở Manila, Philippines. Những tấm hình của đoàn biểu tình cho thấy, những người mặc áo quốc kỳ nước CHXHCH Việt Nam có đến 90 % là người Phi nghèo khó, được hai người phụ nữ Việt Nam huy động từ các vùng quê đến để biểu tình. Những người Phi mặc áo cờ đỏ sao vàng này chỉ biết hô một vài câu Chi Na Gét Ao. Thật bi hài có lúc họ ngắn gọn câu khẩu hiệu Trung Quốc ra khỏi biển Việt Nam thành Chi Na Việt Nam.

Bi hài kịch phản đối Trung Quốc

Người Buôn Gió – Bùi Thanh Hiếu 

FRIDAY, FEBRUARY 26, 2016

Sau hội nghị cấp cao Asean và Hoa Kỳ tại Sunnylands vào hồi tháng 1 năm 2016. Trung Quốc tiếp tục tên lửa và máy bay đến những hòn đảo ngoài biển Đông mà họ xâm chiếm được của Việt Nam. Biến nơi đây ngày càng trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Đe doạ uy hiếp đến an ninh trên biển Đông.

Hành động của Trung Quốc thể hiện ý chí coi thường những vấn đề an ninh biển mà hội nghị Sunnylands lo ngại.

Việt Nam và Phi Luật Tân là hai nước nạn nhân lớn nhất bởi hành động xâm lược của Trung Quốc.

Trước hành động của Trung Quốc gần đây nhất, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Việt Nam ông Lê Hải Bình đã lên tiếng phản ứng như thường lệ. Nhưng trong âm điệu có phần gay gắt hơn, phát ngôn của ông Bình vào ngày 25 tháng 2 năm 2016 có những từ trước đó không có, khi đề cập đến hành vi của Trung Quốc trên biển Đông là xâm phạm chủ quyền, đe doạ an ninh hàng hải, hàng không và hoà bình khu vực.

Cũng vào ngày 25 tháng 2 năm 2016 một cuộc biểu tình phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc đã diễn ra tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân. Báo Dân Trí đưa tin nói rằng sinh viên Việt Nam và sinh viên quốc tế tại Phi biểu tình phản đối Trung Quốc quân sự hoá ở biển Đông. http://dantri.com.vn/the-gioi/sinh-…

Hãng truyền thông BBC đưa tin với tiêu đề Sinh Viên Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc.  http://www.bbc.com/vietnamese/vietn…

Theo CNN cuộc biểu tình có khoảng 100 người. 

Cuộc biểu tình thu hút rất nhiều hãng truyền thông quốc tế có mặt đưa tin. Nhưng một điều đáng buồn mà BBC và Dân Trí đều không nói rõ. Chỉ có khoảng gần chục sinh viên Việt Nam và tầm 5 sinh viên của các nước Lào, Đông Timor, Miến Điện, Hàn Quốc tham gia. Những sinh viên này là bạn bè của mấy sinh viên người Việt Nam đang học tại Phi.

Trên những tấm hình diễn tả về đoàn biểu tình cho thấy, những người mặc áo quốc kỳ nước CHXHCH Việt Nam có đến 90 % là người Phi nghèo khó, được hai người phụ nữ Việt Nam huy động từ các vùng quê đến để biểu tình. Những người Phi mặc áo cờ đỏ sao vàng này chỉ biết hô một vài câu Chi Na Gét Ao. Thật bi hài có lúc họ ngắn gọn câu khẩu hiệu Trung Quốc ra khỏi biển Việt Nam thành Chi Na Việt Nam.

Hãy nhìn những khuôn mặt của người biểu tình mặc áo quốc kỳ CHXHCN Việt Nam để rõ hơn.

Cả đám này đều là người Phi hết, nhưng họ mặc áo cờ đỏ sao vàng!

Thật bi hài, trước tình hình Trung Quốc gia tăng ở biển Đông. Dư luận quốc tế đổ dồn ánh mắt theo dõi động thái của các nước có liên quan, đặt biệt là Việt Nam và Phi Luật Tân. Thiết nghĩ việc nhà nước Việt Nam cho vài sinh viên Việt Nam ở Phi tổ chức biểu tình cũng phù hợp. Ngay cả chuyện không đủ người, phải thuê người dân Phi đóng giả cũng thông cảm. Vì hoàn cảnh ở Phi không lấy đâu ra nhiều sinh viên hay người Việt đến thế.
Nhưng để tạo được sự quan tâm của dư luận ủng hộ, bênh vực cho mình trên phương diện đối thoại, ngoại giao thì lúc này nhà nước Việt Nam cần phải có một thái độ nghiêm túc. Đất nước Việt Nam không hề thiếu những người nhiệt huyết sẵn sàng đi biểu tình phản đối Trung Quốc để ủng hộ tiếng nói nhà nước, gây sự chú ý của dư luận mà nhà nước không phải bỏ tiền thuê, tiền mua áo, cờ, khẩu hiệu. Việc thuê người bản xứ đóng giả sinh viên Việt Nam biểu tình không thể nào qua mắt được các phóng viên quốc tế lão luyện. Họ chán đến nỗi không buồn phỏng vấn những người mặc áo đỏ sao vàng. Mặc dù họ rất cần tin tức để lên án Trung Quốc. Thái độ của đông đảo phóng viên quốc tế có mặt tại cuộc biểu tình hôm đó cho thấy sự thất vọng tràn ngập của họ với tinh thần đấu tranh giữ chủ quyền của dân tộc Việt Nam.
Tại sao dân chúng Việt Nam sục sôi sẵn sàng biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ, nhà nước Việt Nam không cho phép, trái lại còn đàn áp bắt bớ đe doạ. Trái lại bên ngoài lại làm trò lố bịch đi thuê người lộ liễu đóng giả biểu tình thay cho mình. Như thế chẳng phải là bôi bác dân tộc mình hay sao.? Người ngoài họ sẽ nghĩ gì về việc nhà nước Việt Nam thuê những người Phi nghèo khó đi biểu tình hộ cho Việt Nam.?
Niềm tự hào lại thành nỗi nhục, vì nó được giàn dựng giả tạo một cách trắng trợn.
Khi quốc ca Việt Nam cất lên thì đoàn người biểu tình áo đỏ sao vàng cười nói vô tư, đến khi quốc ca Phi cất lên một số theo bản năng đặt tay lên tim cất tiếng hát quốc ca Phi.
Gần như hầu hết những người Phi mặc áo đỏ sao vàng đi biểu tình chống Trung Quốc tại Manila hôm 25 tháng 2 vừa qua đều do một bà già gầy gò người Việt Nam đội nón lá đưa đến.
Bà đội nón làm việc một bà Việt Nam khác béo tốt, trắng trẻo đeo túi xách tay cầm tờ chương trình biểu tình. Bà gầy gò đòi hỏi về việc thêm tiền cho vấn đề nào đó, hai bà đôi co một lúc rồi cũng đi đến thoả thuận.
Cuối cùng đến đoạn quốc ca Việt Nam cất lên trên loa, đoàn người biểu tình áo đỏ sao vàng vẫn cười nói vô tư. Khi quốc ca Phi cất lên một số theo bản năng đặt tay lên tim cất tiếng hát quốc ca Phi.
Thật ê chề cho dân tộc Việt Nam. Lẽ ra nhà nước Việt Nam không cần phải làm cuộc biểu tình như thế tại Phi, có hàng ngàn hàng triệu người Việt ở khắp nơi có thể tổ chức biểu tình quy mô và đủ kiến thức để trả lời rành rọt về tình hình biển Đông với phóng viên quốc tế. Lẽ ra phải để người dân Việt trong nước tự tổ chức biểu tình chứ không phải mượn đất Phi thuê người diễn hộ.
Làm thế này, chỉ chuốc thêm nhục nhã cho đất nước mà thôi.

 

 

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tham dự biểu tình chống Trung Quốc tại Philippines

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2016

* “cuộc biểu tình quái gở do đảng CSVN tổ chức biểu tình ở Phillipines…Tại sao những người trẻ tuổi này có thái độ trịch thượng và hống hạch hoạch hoẹ tên tuổi và ngăn cản tôi. Họ nghĩ rằng cứ người Việt nào ở đâu cũng phải sợ họ vì họ là người của chế độ cộng sản. Họ khoác được trên mình cái áo của Đảng là có thể khiến người khác phải sợ họ.”

Dự biểu tình chống Trung Quốc tại Phi Lip Pin

25-2-2016

Người Buôn Gió 

Có lẽ sau hội nghị cấp cao Mỹ và Asean, chỉ có người Phi là thực lòng với những gì đã bàn ở hội nghị. Là một quốc đảo nhỏ bé và nghèo, chúng ta có thể thấy trên đường phố Manila đầy nhan nhản những trẻ ăn xin, người lang thang vô gia cư, bán hàng rong mà khó nơi nào ở Đông Nam Á này có nhiều như thế. Phi nghèo hơn Việt Nam rất nhiều, đó là điều mà bất cứ người Việt nào đến đây đều có thể thấy việc đó trên mọi đường phố. Quốc đảo có vô số hòn đảo nhỏ, đủ các loại sắc dân, thiên tai mưa bão liên miên. Nhiều người dân ở nông thông phải bỏ quê hương đến thành phố làm đủ mọi nghề mưu sinh. Chưa kể những xung đột sắc tộc ở vùng miền đến mức phải dùng vũ lực.
Người Phi lành hơn người Việt rất nhiều, mặc dù đói khổ lang thang làm bán hàng rong, tẩm quất dạo, làm gái …nhưng những người Phi không vì thế mà trộm cướp tràn lan hay hung hăng gây gổ trên đường.
Người Phi nghèo và lành. Nhưng không phải vì thế mà họ không thể hiện tinh thần chống xâm lược. Cuộc biểu tình diễn ra ngày hôm nay được tổ chức bởi một thượng nghị sĩ Phi, một số người Việt Nam ở đây cũng hăng hái tham gia, đó là những sinh viên từ Việt Nam sang đây học. Một cuộc biểu tình có hai sắc áo, một là màu cờ đỏ sao vàng của Việt Nam, hai là sắc áo màu tím của người Phi. Nơi biểu tình diễn ra ở đại sứ quán Trung Quốc.
Tôi và anh bạn Nguyễn Tiến Đạt, cựu hội trưởng sinh viên Công Giáo miền Bắc và mấy Xơ đang học ở đây cùng đến biểu tình. Chúng tôi đọc kỹ thông báo để làm những tấm băng rôn phù hợp với tinh thần của cuộc biểu tình.
Chúng tôi ngồi một góc riêng, trong khi chờ đợi đến giờ biểu tình thì nhóm phóng viên của CNN đến chỗ chúng tôi hỏi. Không hiểu vì sao cô phóng viên CNN trưởng nhóm lại chọn tôi là người để cô phỏng vấn. Có thể cô nhìn thâý tôi là người nhiều tuổi nhất trong nhóm.
Tôi đang lên án về việc Trung Quốc dùng vũ lực, bắn phá và giết hại những người lính Việt Nam đóng trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào những năm 1974, 1988. Tôi lập luận rằng chưa cần nói đến lịch sử xa xưa hai quần đảo này thuộc nước nào. Nhưng hàng trăm năm trước không có tranh chấp nào của Trung Quốc với Việt Nam. Và đất nước tôi sở hữu hoà bình hai quần đảo đó, đến ngày bất ngờ quân đội Trung Quốc mang tàu chiến đến nã đạn bắn giết người dân, người lính chúng tôi để chiếm đóng đảo và từ đó càng ngày họ càng ra tăng quân sự để tiếp tục chiếm ra xung quanh.
Mới đến đó thì bỗng nhiên có hai cô cậu người Việt Nam mặc áo cờ đỏ sao vàng nhảy xen vào cản cuộc phỏng vấn. Thái độ họ rất dữ dội, lý do họ đưa ra chỉ có hai người được phép trả lời phỏng vấn là ông thượng nghĩ si Phi và một người trẻ là cảm tình đảng CSVN đang học ở đây. Tôi giải thích rằng việc họ phỏng vấn tôi, tôi có quyền trả lời. Tôi không hề phá hoại hay làm gì cản trở cuộc biểu tình.
Cậu trẻ này nhaỷ vào nói với phóng viên CNN là chỉ có họ mới đại diện cho Việt Nam trả lời phỏng vấn. Nhưng bên CNN họ không nghe, họ rất ngạc nhiên khi có một dân tộc mà chuyện chống ngoại xâm lại chỉ có nhóm này tự cho mình được phép lên tiếng.
Còn cô gái này quắc mắt hỏi tôi tên là gì, cô bảo tôi không được phép trả lời. Tôi nói rằng cô không có quyền gì ngăn tôi, nếu thích cô ngăn bên CNN. Còn tôi đi qua đây thấy biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam, là người Việt tôi ủng hộ. Không có khẩu hiệu hay lời nói, hành động quá khích nào đi quá nội dung cuộc biểu tình. Nếu cô cảm thấy tôi làm sai thì cảnh sát Phi đứng đầy kia mời cô gọi. Cô gái đi gọi cảnh sát, nhưng những người cảnh sát Phi họ lắc đầu từ chối. Cô tức giận quay lại quát tôi tên là gì, phải cho cô biết. Tôi nói cô không có quyền gì với tôi cả. Cô gái trẻ có hành động bất nhã là dí điện thoại vào mặt tôi chụp, như kiểu đe doạ tôi sẽ bị xử lý bởi một thế lực nào đó.
Thật buồn cho suy nghĩ của các cô, các cậu này. Có lẽ họ nghĩ tôi là người Việt thì phải e sợ họ vì họ là người của Đảng CSVN tổ chức biểu tình ở đây. Gọi cảnh sát không được, mấy người Việt mặc áo cờ đỏ, sao vàng bèn quay lại nhảy chen vào khiến cuộc phỏng vấn không thể thực hiện tiếp tục. Họ quây quanh cô phóng viên CNN mặc áo xanh để ngăn cản và cãi vã.
Cuối cùng tôi và nhóm phóng viên CNN không muốn sự cãi vã kéo dài, bèn trao đổi E Mail để hẹn ngày khác tiếp tục phỏng vấn.
Ông thượng nghị sĩ tổ chức biểu tình.
Khẩu hiệu của nhóm chúng tôi, hãy nhìn xem nó có gì không phải với chế độ cộng sản Việt Nam mà đến nỗi ở tận nước dân chủ, những người trẻ tuổi của Đảng phải ngăn cản.?
Một chút ấm lòng khi thấy tấm băng rôn này xuất hiện.
Người Phi biểu tình chống Trung Quốc bành trướng ở biển Đông.
Tấm hình người Phi miêu tả dã tâm của Trung Quốc.
Gần cuối cuộc biểu tình , cô gái ngăn cản phỏng vấn xin lỗi tôi rất dịu dàng. Cô nói vì sợ có người phá hoại nên ngăn cản. Tôi hiểu đó là lý do cô ấy nói khi việc xong rồi hoặc tấm hình cô ấy chụp tôi đã được gửi về đâu đó xác nhận tôi chưa hề phá cuộc biểu tình của người Việt nào chống Trung Quố ở quê hương tôi và nhiều nơi trên thế giới, dù bất cứ là màu cờ nào của người Việt chống Trung Quốc tôi đều ủng hộ.
Nhưng tôi lại vẩn vơ nỗi buồn khác. Tại sao những người trẻ tuổi này có thái độ trịch thượng và hống hạch hoạch hoẹ tên tuổi và ngăn cản tôi. Họ nghĩ rằng cứ người Việt nào ở đâu cũng phải sợ họ vì họ là người của chế độ cộng sản. Họ khoác được trên mình cái áo của Đảng là có thể khiến người khác phải sợ họ. Hôm nay chắc họ ngạc nhiên khi thấy tôi chìa trước ống kính CNN tấm hộ chiếu Việt Nam mà tôi không hề ngại gì họ. Nhưng tôi còn ngạc nhiên hơn họ gấp bội lần, vì tôi chưa bao giờ chứng kiến cuộc biểu tình quái gở thế này. Những điều quái gở ấy tôi sẽ nói ở phần sau.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Chuyện bầu cử ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 25/02/2016

Lê Văn

24-2-2016

Giới hoạt động dân chủ trong nước cùng vài cá nhân ở ngoài nước đang làm rộ lên phong trào tự ứng cử vào quốc hội nhân dịp Việt Nam sắp tổ chức bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp vào tháng 5/2016, một hiện tượng chính trị mới đang gây nên nhiều ý kiến thuận lẫn ngược. 

Tự ứng cử là những khao khát muốn thay đổi, muốn được thực hiện quyền làm chủ của mình cho đất nước mình, để đánh thức người dân về quyền bầu cử và ứng cử của họ? 

Theo Hiến pháp VN năm 2013, Điều 69: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 6: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước?

Phong trào dân chủ nay đông hơn, mạng xã hội liên kết nhiều người hơn, thông tin nhanh hơn, sự thật dễ phơi bầy hơn, đang tạo thế thuận lợi để đưa cương lĩnh ứng cử vào quần chúng, tranh thủ sự ủng hộ của cử tri để nhằm so sánh với các “đại biểu QH hiện giờ không bị bắt buộc phải hiểu biết về chính trị hay lập pháp, luật lệ, phần lớn là nghiệp dư, cứ mỗi năm tới gặp nhau chờ chính phủ đưa ra những dự án luật này luật kia rồi họp nhóm rồi cho ý kiến và cuối cùng thì bấm nút thế là xong!”, theo lời chuyên gia Kinh tế Bùi Kiến Thành.

Qua cao trào tự ứng cử nầy thì đây là “Trò chơi” hay “Cuộc chiến”? Hay có thể biến quyền hão thành quyền thực?

Tự ứng cử có phải là cò mồi cho CS? Hoặc Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền là “bên thắng cuộc”, nhưng thắng cuộc không có nghĩa là thắng cử? 

Có thêm đề nghị nên ra ứng cử ngay tại địa bàn của các ủy viên bộ chính trị đảng cộng sản, đặc biệt là của “tứ trụ triều đình” để cho người dân nghe kế hoạch hành động, cương lĩnh cụ thể của “tứ trụ” để so sánh với những ứng cử viên khác và nếu không đắc cử thì có mất gì? Khi dân lại được nghe cương lĩnh của cả hai bên rồi sau đó người dân nhận ra về quyền bầu cử và ứng cử của họ hoặc nghiệm ra được các quyền khác mà mình chưa biết?

Nhưng toàn cảnh thực tiễn cần chú ý: 

Giữa tháng 1/2016, đại hội đảng cs “thể hiện dân chủ đến thế là cùng” đã chọn ra 1 ông tổng bí thư, 1 vị là chủ tịch nước, 1 thủ tướng và nhứt là 1 bà chủ tịch quốc hội mới khi quốc hội này còn 4 tháng nữa mới bầu, chưa có đại biểu, Mặt trận Tổ quốc chưa “hiệp thương” giới thiệu, dân chưa nghe chưa thấy bà giới thiệu “cương lĩnh ứng cử”, dân chưa được đi bầu, phiếu chưa đếm …

Thứ Ba ngày 2/2/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) trình bày tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử do Bộ Chính trị tổ chức cho biết “dự kiến” 80 ủy viên trung ương tham gia Quốc hội, đại diện khối doanh nghiệp là 7 người, đại biểu ngoài đảng cộng sản từ 25 đến 50 người, (lấy trung bình là 33 – ghi thêm) 380 đại biểu còn lại đa số là đảng viên cộng sản. Như vậy theo kế hoạch trên QH tới sẽ có 33 trên tổng số 500 đại biểu ngoài đảng.

UBTVQH cũng yêu cầu “việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử và tự ứng cử phải bảo đảm theo đúng quy trình, trong đó phải bảo đảm việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội theo đúng quy định của pháp luật…”, “tuyệt đối không để hình thành các cá nhân đối lập” hoặc “các tổ chức xã hội dân sự đối lập”, “tuyệt đối không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập” hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” , đương nhiên hễ ai lập hội lập đảng là sẽ bị dập tắt ngay từ trong trứng nước.

Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội quy định một ĐBQH phải có những tiêu chuẩn sau đây:

  1. Trung thành với Tổ quốc và hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
  2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh, chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật

Có 4 hành vi bị cấm trong vận động bầu cử, gồm:

  1. Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.
  2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.
  3. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.
  4. Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử trị

Rõ ràng việc đề cử chỉ là “độc quyền của Đảng”, ngoài “vài” người được Đảng lựa chọn “ngầm”, hầu hết những người tự ứng cử sẽ bị loại bỏ một cách không thương tiếc.

Nhìn sang Miến Ðiện

Cuộc tổng tuyển cử được tổ chức tại Miến Ðiện (Myanmar) vào ngày 7 tháng 11 năm 2010, đã được công bố bởi Hội đồng Hòa bình và Phát triển (SPDC) vào ngày 13 tháng 8 năm 2010 theo hiến pháp mới được thông qua trong một cuộc trưng cầu tổ chức vào tháng 5 năm 2008.

Cuộc bầu cử nhằm thực hiện bước thứ 5 trong 7 bước “lộ trình dân chủ” do Hội đồng Hòa bình và Phát triển – SPDC (quân phiệt – ghi thêm) vào năm 2003 ,các bước thứ 6 và thứ 7 là việc triệu tập các đại biểu dân cử và xây dựng một quốc gia dân chủ hiện đại . Tuy nhiên, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ đã tẩy chay cuộc bầu cử kết quả là một chiến thắng tuyệt đối cho SPDC, trong đó giành gần 80% số ghế tranh trên Thượng viện và Hạ viện. LHQ bày tỏ quan ngại về sự công bằng của cuộc bầu cử và các nước phương Tây đã coi như bầu cử lừa đảo.

H1

Nguồn:https://en.wikipedia.org/wiki/Myanmar_general_election,_2010

Nhưng cuộc bầu cử Quốc hội Myanmar 8 tháng 11 năm 2015 đã đưa đến một kết quả rất ngạc nhiên.

Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ở Myanmar kể từ khi một chính phủ dân sự được thành lập trên danh nghĩa vào năm 2011, chấm dứt sự cai trị của quân đội kéo dài gần 50 năm. Cuộc bầu cử diễn ra ở tất cả các khu vực, trừ các ghế do quân đội bổ nhiệm, để lựa chọn các nghị sĩ trong Thượng viện – House of Nationalities và Hạ viện Myanmar – House of Representatives (Pyithu Hluttaw) , và Hội đồng nhân dân các bang và vùng State and Regional Hluttaws, or Local Assemblies 

Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NDL) đã chiến thắng vẽ vang, chiếm được 86 phần trăm số ghế trong Hội đồng Liên hiệp (235 ở Hạ viện và 135 trong Thượng viện Myanmar và sẽ thành lập một chính phủ với đa số ghế. Đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển (USDP) của Ông Thein Sein đã thừa nhận thất bại.

H1

 

Nguồn:https://en.wikipedia.org/wiki/Myanmar_general_election,_2015

Tóm lại

Giới quan sát cho rằng, do sự  tẩy chay của NLD (Liên minh Quốc gia vì Dân chủ ) trong kỳ bầu cử năm 2010, sự sắc bén can trường của Bà Aung San Suu Kyi (ASSK), áp lực của quốc tế từ Tổng thống Obama, Thủ tướng Anh, các nhà lảnh đạo Liên Âu cùng Cộng đồng thế giới và nhứt là vì tính không chính đáng cầm quyền, bế tắc kinh tế và sự ức hiếp quá độ của TQ đã đưa tới việc các Tướng lảnh quân phiệt phải chấp nhận mở ra cuộc bầu cử tự do, công bằng dưới sự giám sát của quốc tế trong đó yếu tố “thỏa thuận ngầm” cùng “đặc tính tôn giáo” ở cả hai bên có vai trò quan trọng. 

Chính vì bị cáo buộc về gian lận có hệ thống của USDP ( Đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển ) đã làm cho NDL (Liên minh Quốc gia vì Dân chủ) quyết định tẩy chay toàn bộ cuộc bầu cử năm 2010 cho dù lực lượng của NDL rất mạnh và có cơ sở khắp toàn quốc, đã đẩy USDP vào thế mất chính nghĩa, nó góp phần rất lớn vào chiến thắng tuyệt đối cho NDL trong kỳ bầu cử 5 năm sau (2015).

Bối cảnh của Miến điện vào 2010 rất tương đồng với VN hiện naỵ. Cho đến hôm nay tại VN chỉ có một mình đảng CS chọn ra TBT, Chủ tịch nước , Thủ tướng còn Quốc hội thì “đảng cử dân bầu”, tương quan lực lượng giữa 2 bên cũng rất khác biệt, chưa có tổ chức mạnh như NDL đương đầu với đảng CS.

Vài cá nhân tuyên bố đứng ra tự ứng cử đaị biểu QH được hổ trợ của nhiều tổ chức xã hội dân sự đó là chỉ dấu phản kháng tích cực nhưng về ý chí chấp nhận bầu cử tự do công bằng giữa Quân phiệt Miến và CS Việt nam rất khác nhau do đó kết quả cũng sẽ khác.

Tại sao csVN mớm hơi đề nghị ông Luật sư ở Canada về ứng cử QH, nhưng lại ngăn cản Mục sư Nguyễn Trung Tôn ở Thanh Hóa?

Người ta cũng vẫn chưa quên là đã có đảng Xã hội và đảng  Dân chủ từng hiện diện và hoạt động song song với đảng CS trước đây ở miền bắc và chúng ta đã biết hai đảng đó đã làm được gì ?

Ai sẽ là ứng viên đại biểu QH ngoài đảng được tham gia bầu cử, về thực tế nó thuộc về quyền quyết định của Công an và MTTQ chứ không phải của dân (“tuyệt đối không để hình thành các cá nhân đối lập”), cá nhân đó phải “Trung thành với Tổ quốc và hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, gương mẫu chấp hành pháp luật …” cùng nhiều khó khăn khác như MTTQ có đề cử không , có phương tiện báo chí thông tin riêng để vận động, chưa kể bọn côn đồ đỏ sẽ gây khó khăn…  Nhưng sẽ là điều ngạc nhiên khi ông NPT làm ngơ để cho màn tự ứng cử được diễn ra trong vòng kiểm soát vì vừa “làm một công nhưng được hai việc” vừa có màn trình diễn “rất dân chủ trong bầu cử tại VN” nhưng “dân chủ sẽ thua và cộng sản vẫn thắng.”

Bầu cử Quốc hội CHXHCN Việt Nam quả thực “dân chủ đến thế là cùng” !!!

anhbasam

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►41 năm sau ngày “giải phóng”, dù đang sống trong thời đại HCM rực rỡ tươi đẹp nhất, VN xem ra vẫn còn túng bấn: Chủ tịch Ngân hàng Thế giới cam kết cho Việt Nam vay thêm tiền

Posted by hoangtran204 trên 25/02/2016

Và cũng như thường lệ, đảng csvn và nhà nước lại có dịp nhắc lại bài: Vn vừa ra khỏi chiến tranh…đặc biệt năm nay BCT có chen thêm một nguyên nhân mới: “Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn lớn, bao gồm những hậu quả chiến tranh, các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao,”…chủ tịch World Bank mặt buồn rười rượi trong hình họp báo.

A ha. Bây giờ mới rõ nguyên nhân vì sao TT Obama cứ khăng khăng gọi 3X cho bằng được là phải qua California họp ASEAN- Mỹ, 5/2/2016. Mục đích là để cho hai bên gặp mặt nhau một cách nửa công khai, nửa kín đáo. Ở California, đại diên WB giao giấy nợ để TT Ng Tấn Dũng đem về VN điền và đọc trước các điều khoản cam kết về việc vay thêm nợ mới, tiếp tục trả nợ cũ. Và hôm nay, Chủ tịch Kim viếng Hà Nội để hai bên cùng ký giấy tờ cam kết. VOA lấy tin từ hãng Xinhua, của TQ, để đăng tin này. Đểu thật.

Chủ tịch World Bank Jim Yong Kim trả lời họp báo bên cạnh Phó Chủ tịch Axel van Trotsenburg và Cố vấn truyền thông John Michael Donnelly tại Hà Nội, ngày 23//2/2016.

Trong chuyến viếng thăm Việt Nam hôm thứ Ba, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam thêm các khoản vay.

Theo thông cáo báo chí của Ngân hàng Thế giới, ông Jim Yong Kim đến thăm Việt Nam để khởi động báo cáo mang tên “Việt Nam 2035: Hướng tới sự thịnh vượng, sáng tạo, công bằng, và dân chủ”.

Ông Kim đã gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội. Ông nói, Việt Nam đã đạt được những thành tích khác nhau trong khu vực bao gồm phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển và cải thiện mức sống của người dân địa phương.

Thông tấn xã Việt Nam dẫn lời ông Kim cho biết, Ngân hàng Thế giới sẽ chú ý hỗ trợ Việt Nam trong việc tiếp cận các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, giáo dục, y tế của đất nước.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong cuộc họp, sau 30 năm “đổi mới”, mặc dù có những thành tựu nhưng Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn lớn, bao gồm những hậu quả chiến tranh, các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao, cũng như những thách thức từ hệ thống cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực cũng như nhiều vấn đề khác.

Ông Dũng nói, Việt Nam mong muốn nhận được sự hợp tác của Ngân hàng Thế giới, đặc biệt trong phát triển nguồn nhân lực, tư vấn chính sách và hỗ trợ kỹ thuật khi đất nước đang trên con đường thực hiện mục tiêu phát triển của mình.

Thông cáo báo chí của Ngân hàng Thế giới viết, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim cũng đã gặp gỡ Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trương Tấn Sang để thảo luận về cách Ngân hàng Thế giới có thể  tăng cường hỗ trợ giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu của mình.

23//2/2016.

Theo Xinhua, VNA

 ————————

CÓ LẼ CẦN MỘT CUỘC BIỂU TÌNH RỘNG RÃI CHỐNG SƯU CAO THUẾ NẶNG?
Không thể chấp nhận chuyện độc tài muốn đưa bao nhiêu thuế thì đưa như hiện nay.
Thuế bảo vệ môi trường tại sao chỉ đánh vào xăng dầu? Mà giá thuế bằng luôn giá xăng?
Ngoài các loại thuế khác đánh vào xăng dầu đã đội giá lên khủng khiếp, đám dân Việt Nam như lũ cừu tiếp tục bị áp cái tròng Thuế môi trường vào xăng dầu lại cúi đầu chấp nhận?
Theo bạn, một cuộc biểu tình biểu thị ý chí của người dân về việc này có nên không?
Nếu bạn đồng ý, hãy chia sẻ điều này rộng rãi hơn để có ý kiến mọi người. Đó cũng là Trưng cầu ý dân vậy.

Giá xăng có thể phải cõng 4.000 đồng/lít tiền thuế bảo vệ môi trường thay vì 3.000 đồng/lít như hiện nay, tăng 33%. Bộ Tài chính đang nghiên cứu về khả năng sẽ…
VIETNAMNET.VN|BY VIETNAMNET NEWS

O8

Posted in Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

►Chỉ có dân chủ và kỷ cương mới đẩy lùi được nạn chênh lệch thu nhập

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2016

Bùi Tín

VOA Tiếng Việt

Ảnh baodatviet.vn

Ảnh baodatviet.vn

Ở Việt Nam, vấn đề chênh lệch thu nhập chưa được nghiên cứu, dù là nghiên cứu sơ sài, khởi đầu.

Trong cuốn sách nổi tiếng  Capital au XXIème siècle  (Tư bản trong thế kỷ XXI) (xin xem bài trước), kinh tế gia người Pháp Thomas Piketty cho rằng có ba nan đề lớn nhất mà thế giới cần chung sức giải quyết là: nạn khủng bố quốc tế, bầu khí quyển nóng dần và nạn chênh lệch thu nhập gây nên đói nghèo bất công. Cũng theo tác giả, tình trạng chênh lệch thu nhập ngày càng doãng rộng hiện nay là mối đe dọa cực kỳ nghiêm trọng đối với cuộc sống ổn định, hòa hợp và phồn vinh của cả loài người trên trái đất này.

Ở Việt Nam, vấn đề chênh lệch thu nhập chưa được nghiên cứu, dù là nghiên cứu sơ sài, khởi đầu. Tuy Đảng Cộng sản Việt Nam có cả một Học viện Chính trị/Hành chính cao cấp, có trường Đại học Xã hội và Nhân văn nhưng chưa có ai nghiên cứu để có một luận án, một cuốn sách về chủ đề quan trọng này.

Tại Việt Nam, sau cuộc đổi mới kinh tế và trong 40 năm qua, đã xuất hiện một số triệu phú, rồi tỷ phú đôla, như Phạm Nhật Vượng, chủ tịch Vingroup; Đoàn Nguyên Đức, chủ tịch Công ty Cổ phần Hoàng Anh – Gia Lai; Trương Gia Bình, chủ tịch hãng truyền thông FPT; Đặng Văn Thành, chủ tịch Tập đoàn Thành Thành Công… Riêng trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, ở trong nước hiện nay đã có gần 200 nhà triệu phú đôla.

Nếu như các nhà kinh doanh tự do làm ăn một cách lương thiện, đúng theo luật pháp và trở thành triệu phú, tỷ phú ngày càng nhiều thì đó là điều rất tự nhiên và đáng mừng. Nhưng ở Việt Nam chưa có được điều ấy. Trong một nước dân chủ bình thường, khi kinh tế phát triển, giai cấp trung lưu làm các nghề tự do như tiểu thương tiểu chủ ngày càng nâng cao thu nhập chính đáng, mở rộng đầu tư, cạnh tranh hợp pháp là điều  có lợi cho toàn xã hội và rất đáng khuyến khích.

Ở Việt Nam, chế độ kinh tế chỉ huy và ‘’kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa’’ đã thủ tiêu gần như triệt để nền kinh tế tư nhân. Tại đây các phe nhóm cầm quyền nắm độc quyền kinh doanh, vừa kinh doanh vừa lãnh đạo việc thi hành luật pháp, hình thành đội ngũ ‘’tư bản đỏ’’ lũng đoạn. Do đó một nét rất đặc thù ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc là xuất hiện ngày càng nhiều triệu phú và tỷ phú hoàn toàn không do tài kinh doanh mà dựa vào quyền lực. Theo nguyên tắc, chênh lệch tiền lương trong ngành hành chính là 1/7, đến 1/12 – nghĩa là viên chức cao cấp nhất có tiền lương gấp 7 đến 12 lần người thấp nhất. Nhưng thực tế lại hoàn toàn khác, các viên chức cao cấp ngoài lương còn có bổng, lộc, hối lộ, tiền hoa hồng, tiền thưởng, quà cáp, biếu tặng, tiền mừng đón và sau dự án, tiền đưa dưới mặt bàn…

Theo Trung tâm thông tin – tư liệu của Viện quản lý kinh tế Trung ương Việt Nam, lương tối thiểu ở nước ta hiện nay là 2,5 – 3,5 triệu đồng/   người, tùy theo ngành. Việt Nam hiện vẫn là nước có thu nhập “mức trung bình thấp’’ là 996 US$/người/năm, chưa đạt ‘’mức trung bình’’ của thế giới là 12.195 US$. Hiện còn đến 20% dân số thu nhập mỗi tháng dưới 400 ngàn đồng (bằng 20 US$) ở nông thôn, và dưới 500 ngàn đồng (bằng 25$) ở thành thị.

Ở Việt Nam, số triệu phú cũng chỉ có nhiều trong hàng ngũ quan chức cộng sản và phe nhóm như các vụ án tham nhũng lớn nhất đã cho thấy. Bị can trong các vụ tham ô lên đến hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng, đều là quan chức đảng viên cộng sản và gia đình.

Còn biết bao vướng mắc của công luận về những nguồn thu nhập bất chính, như nhà cửa biệt thự của Tổng Thanh tra Chính phủ, các vụ hối lộ để mua chức, mua ghế trong ngành Tổ chức đảng và Bộ Nội vụ, những bê bối liên quan đến Chủ tịch Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và gia đình, rồi cả lời tố cáo Bộ trưởng Công an nhận 1 triệu US$ hối lộ (theo lời khai của bị can Dương Chí Dũng trước khi bị án tử hình).

Trong  Capital au XXIème siècle,  Thomas Piketty đề xuất hai biện pháp cơ bản để giải quyết nạn chênh lệch thu nhập quá lớn, đó là:

1/ – Một nền dân chủ thuần thục. Trước hết là sớm chấm dứt mọi chế độ độc tài – từ độc tài cá nhân đến độc tài đảng trị. Có ba quyền phân lập kiểm soát lẫn nhau. Viên chức trong sạch, lương đủ sống, có đạo đức để không cần, không dám, không nỡ ăn cắp của công. Pháp luật thật chặt chẽ, tòa án thật nghiêm minh. Xã hội có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do truyền thông để phát hiện tố cáo tham nhũng, nhũng lạm, hối lộ.

2/ –  Như trên vẫn chưa đủ. Về mặt tài chính, tiền nong, thu và chi ngân sách ở mọi cấp, mọi ngành phải hết sức chặt chẽ, bịt chặt mọi kẽ hở, sơ xuất. Đây gọi là kỷ cương trong thu chi tiền bạc. Phải rất cặn kẽ, chi ly. Mua bán phải có hóa đơn, thu chi lớn nhỏ phải có biên lai. Ngành thuế, hải quan, tổ chức, quản lý nhân sự phải kén chọn người liêm khiết, không tham lam, tư lợi. Thuế các loại phải vừa phòng chống lạm thu – thu quá nhiều thuế và các loại phí, làm khổ dân, vừa phòng chống thất thu, dễ dãi buông lỏng làm thiệt công quỹ . Hệ thống kế toán phải rất chặt chẽ, tỷ mỷ, có tính chuyên nghiệp cao. Báo cáo ngân sách thu bao nhiêu cấp mình, nộp bao nhiêu lên cấp trên phải rành mạch. Cấm và nghiêm trị thêm bớt, sửa chữa các con số thu chi, nộp ngân sách. Chi phí công phải có tòa án công chuyên  kiểm tra quyết toán.

Những kinh nghiệm và bài học trên đây rất cần cho nền kinh tế – tài chính Việt Nam. Các nhà kinh tế thống kê Việt Nam chưa quan tâm nghiên cứu về thu nhập của các nhóm dân cư, chênh lệch ra sao, không hợp lý những chỗ nào, những sơ hở trong chi thu ngân sách ra sao, có lạm thu hay thất thu bao nhiêu, ba ngành thuế, hải quan và ngoại thương có được kiểm soát, thanh tra kỹ không, chi tiêu công có chặt chẽ không, và đặc biệt là việc chống tham nhũng có mạnh mẽ như xã hội chờ đợi hay không.

Có nhà kinh tế, thống kê có kinh nghiệm quốc tế cho rằng Việt Nam   có quá nhiều sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế tài chính, lạm thu thuế khá nhiều, thất thu cũng không ít, chống tham nhũng còn quá yếu , thu hồi tài sản mất không đáng kể, chi phí công rất lỏng lẻo – như cho viên chức sắp nghỉ hưu, cả anh lái xe… đi tham quan nước ngoài.

Ngày 12/2 vừa qua, bản tin của International Budget Partnership (Tổ chức Hợp tác quốc tế về Ngân sách) cho biết Việt Nam chỉ đạt 12 điểm trên 100 điểm về minh bạch quốc tế, gần đứng chót so với các nước khác. Điều này cho thấy ngân sách các cấp ở nước ta bị rỏ rỉ, xà xẻo, luộm thuộm, bất minh đến mức nào.

Chỉ cần chấn chỉnh việc thu chi, triệt để chống tham nhũng mạnh, thu hồi tiền mất mát cho đủ, bớt đi những lãng phí, phô trương là có thể dôi ra hàng trăm tỷ đôla để cải cách giáo dục và y tế, xây dựng trường học và cầu đường bền vững   Việc tăng lương sẽ không còn bị hoãn mãi.

Trong hội trường Đại hội XII có mấy khẩu hiệu rất gọn: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đổi mới”. Nhưng thật ra đây là một thứ “Dân chủ” rất huyễn hoặc khi không có ứng cử, bầu cử tự do, không có tự do báo chí, nên khẩu hiệu trở nên rỗng tuếch. Chữ “Kỷ cương” cũng hoàn toàn thiếu thực chất vì nói “Kỷ cương” mà không quản lý chặt chẽ về ngân sách, thu chi kế toán, quyết toán, không chống tham nhũng lãng phí thật sự triệt để, không thực hiện minh bạch tài chính ở mọi cấp, khiến cho chênh lệch thu nhập tuy ước định 7,8 lần hoặc 12 đến 15 lần, nhưng thật ra có trường hợp chênh lệch đến 2 nghìn lần, khi so sánh một “triệu phú đỏ” có thu nhập 1 tỷ US$/năm với một nông dân vùng sâu vùng xa chỉ có 500 US$/năm.

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ chính trị, kinh tế – tài chính Việt Nam rất nên đọc cuốn  Capital au XXIème siècle  của Thomas Piketty để vận dụng vào thực tế nước ta, thực hiện theo hai điểm cốt lõi là: xây dựng nền dân chủ của dân, do dân, vì dân và xây dựng kỷ cương thật nghiêm minh trong quản lý, điều hành đất nước.

Blog Bùi Tín (VOA)

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, nhóm lợi ích, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Tư bản đỏ, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »

►LS Hà Huy Sơn gởi kiến nghị đòi Tòa Án Hà Nội và VKS trả tự do cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2016

22-2-2016

Đơn kiến nghị của LS Hà Huy Sơn, gửi Chánh an Tòa án nhân dân TP Hà Nội và Viện trưởng VKS nhân dân TP Hà Nội, đòi trả tự do cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy.

H1

H2

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Khẩn cấp gởi Võ Văn Thưởng, tân trưởng ban Tuyên Giáo: Nhà xuất bản tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2016

Nhà xuất bản của đảng CSVN lại tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”, tái bản 2016
Theo một bạn đọc cho biết, cuốn sách này đã từng được xuất bản năm 2003, dày 600 trang. Nay được tái bản 2016, dày 800 trang, giá 100.000 đồng. Được tái bản ngay sau khi Đại hội đảng CSVN lần thứ XII, họp từ ngày 20 đến 28/ 1/2016

KHẨN CẤP GỬI ÔNG VÕ VĂN THƯỞNG, TÂN TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO

22-2-2016

 

Văn Giá Ngô
(PGS.TS Nhà văn Ngô Văn Giá) 
22-2-2016

ĐỒNG BÀO CHÚ Ý!!!

Tôi xin đăng lại thông tin trên trang FB của một facebooker mà vì lý do nào đó chỉ ít phút sau, facebooker này lại xóa đi.
Ý kiến của tôi: Phản đối kịch liệt lối xuất bản nhắm mắt làm liều (hoặc chạy theo đồng tiền bằng mọi giá, hoặc một chiêu PR muốn được ném đá để nổi tiếng…) này, bất chấp lòng tự trọng (quốc sỉ) dân tộc. 
Phản đối! Phản đối! Phản đối! (VG)
                    ***********

ĐẶNG TIỂU BÌNH LÀ KẺ CÓ NỢ MÁU VỚI VIỆT NAM. QUYẾT ĐỊNH ĐÁNH VIỆT NAM, GIẾT HẠI HÀNG CHỤC NGHÌN NGƯỜI, BÊNH VỰC CHẾ ĐỘ ĐỒ TỂ POL POT PHẢI CHĂNG LÀ “TRÍ TUỆ SIÊU VIỆT”?

SỬNG SỐT VÀ BUỒN NÔN KHI THẤY CUỐN SÁCH NÀY

Thời công nghệ thông tin, dễ dàng tìm thấy trên mạng đầy ắp thông tin, tư liệu, tác phẩm văn học, tác phẩm nghiên cứu… Vậy mà đến bây giờ tôi vẫn còn giữ thói quen hàng tháng dành một buổi cuối tuần ghé vào nhà sách chọn mua vài cuốn để làm bộ sưu tập cho tủ sách của mình. Lần này, vào nhà sách, tôi đã phải sửng sốt không tin ở mắt mình khi thấy một cuốn sách dày gần 800 trang, như cuốn tự điển, với tựa “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt”, trên bìa in trang trọng ảnh chân dung Đặng Tiểu Bình.
Không sửng sốt sao được, vì người được suy tôn có trí tuệ siêu việt và được Nhà xuất bản Lao động trân trọng in sách phát hành rộng rãi cho độc giả Việt Nam ngưỡng mộ, tôn sùng đó chính là một lãnh tụ của Trung Quốc trực tiếp có nợ máu với đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhà xuất bản Lao động và người duyệt cho lưu hành cuốn sách này chắc đã quên lời phát biểu ngông cuồng của kẻ có “trí tuệ siêu việt” này hồi tháng 12-1978 trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á, chửi bới, đe dọa, xúc phạm nặng nề đất nước và con người Việt Nam, được Trung Quốc truyền hình trực tiếp cho cả thế giới: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học!”.
Và rồi chỉ 2 tháng sau đó, ngày 17-2-1979, chính kẻ này đã ra lệnh xua hơn 600.000 quân Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, thực hiện kế hoạch chiếm 5 tỉnh – thành lớn của Việt Nam sau một tuần. Để rồi quân xâm lược Trung Quốc buộc phải rút lui một cách thảm hại. Thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, thì Đặng Tiểu Bình đã nhận được bài học đắt giá cho chính mình, hơn 62.000 quân xâm lược Trung Quốc bỏ mạng sau 3 tuần động binh.
Chẳng làm sao kể xiết mưu đồ và tội ác của Đặng Tiểu Bình đối với nước ta, vậy mà trong cuốn sách này, Đặng Tiểu Bình được tán dương bằng những ngôn từ có cánh: “nhãn quan thế giới”, “người mác xít chân chính”, “thống soái đại quân”, “nhà chiến lược lớn”, “cầm cương chỉnh đốn bằng bàn tay sắt”, “bậc thầy lớn trong nghệ thuật lãnh đạo”…
Cũng không lạ, bởi đây là sách dịch của Trung Quốc. Nhưng vấn đề là trong bối cảnh nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng lộ rõ bộ mặt trâng tráo, lòng dạ hung ác, hành động ngang ngược với Việt Nam, có cần và có nên dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này cho người Việt Nam hay không?
Việc dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này ở Việt Nam nhằm mục đích gì và để cho ai?
Biết là sách dịch, nhưng việc trong sách liên tục dùng các cụm từ “Đảng ta”, “quân đội ta” để nói về đảng và quân đội của Trung Quốc, làm độc giả Việt Nam phải buồn nôn, vì tưởng như đất nước Việt Nam đã về tay Trung Quốc.
Sách ghi tên Nhà xuất bản Lao động, nhưng lại kèm theo tên Công ty Sách Panda, và bìa trong có ghi rõ “Bản quyền tiếng Việt thuộc Công ty TNHH Sách Panda”.
Cuốn sách gần 800 trang, giá chỉ 100.000 đồng, thật đáng ngờ. Có “nhà tài trợ lạ” nào không cho việc dịch và xuất bản, tái bản cuốn sách này?
(Facebooker)
*  Ý kiến bạn đọc: 

Tôi cũng có một cuốn, dùng làm tư liệu về TQ “Đặng Tiểu Bình một trí tuệ siêu việt”, nhà xuất bản Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, 2003, khổ 14,5×20,5cm, dày ngót 600 trang, của tác giả Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, dịch giả Tạ Ngọc Ái và Nguyễn Viết Chi. Bìa 4 có viết: “… Trí tuệ siêu việt của Đặng Tuểu Bình là một khoa học rất sâu sắc, là một nghệ thuật rất phức tạp, chúng ta phải đào sâu nghiền ngẫm mới lĩnh hội được phần nào và vận dụng nó vào công tác thực tế của mình, bất cứ ai cũng có thể thu được lợi ích không nhỏ”.

Posted in Biên Giới, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Chinh Tri Xa Hoi, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Lọc dầu Dung Quất đầu năm đã đòi nghĩ hè sớm và kêu than: có nguy cơ ngừng sản xuất

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2016

Mới tháng trước làm tổng kết năm 2015, thì huênh hoang: Vượt kế hoạch sản xuất lẫn doanh thu, và “về đích sớm hơn so với kế hoạch tới 50 ngày”; (xem link trong bài báo có nói rõ chuyện này). Nhưng bây giờ mới đầu năm 2016, thì kêu than sẽ lỗ vì thuế cao, sẽ có nguy cơ đóng cửa ngừng sản xuất!

Lọc dầu Dung Quất có nguy cơ ngừng sản xuất

kinhdoanhvnexpress

Bạch Dương

22-2-2016

 

Các sản phẩm diesel và nhiên liệu bay không cạnh tranh được với hàng ngoại nhập do chịu thuế cao là lý do được Tập đoàn Dầu khí đưa ra khi báo cáo về tình hình khó khăn tại nhà máy lọc dầu quy mô 5 tỷ USD.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) vừa có văn bản gửi Bộ Tài Chính, Bộ Công Thương, Văn phòng Chính phủ về việc tồn kho lớn của Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Ngoài ra, việc ký kết các hợp đồng dài hạn tiêu thụ sản phẩm xăng dầu năm 2016 của Công ty TNHH Lọc hóa dầu Bình Sơn (đơn vị trực tiếp quản lý Nhà máy lọc dầu Dung Quất) cũng đang gặp nhiều khó khăn.

Trước đó, theo lộ trình của Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), từ đầu năm 2016 thuế nhập khẩu diesel, xăng cho máy bay (Jet A1) từ các nước trong khu vực đã giảm từ 20% về 10%. Trong khi đó, các mức thuế đối với các sản phẩm của Dung Quất vẫn giữ nguyên 20%, dẫn đến khó cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu.

loc-dau-dung-quat-co-nguy-co-ngung-san-xuat

Theo PetroVietnam, chênh lệch thuế nhập khẩu đẩy Nhà máy lọc dầu Dung Quất trước nguy cơ tạm dừng sản xuất. Ảnh: T.T

“Giá bán đối với dầu diesel, Jet A1 của Dung Quất vẫn không thể cạnh tranh so với nguồn hàng nhập khẩu”, PetroVietnam khẳng định.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh giá dầu thế giới lao dốc, thuế nhập khẩu giảm, nhiều đầu mối xăng dầu trong nước chỉ ký kết hợp đồng ngắn hạn 2-3 tháng, giảm khối lượng mua. Ngay như Tập đoàn Xăng dầu (Petrolimex), khách hàng lớn nhất của PetroVietnam cũng chỉ đồng ký ký hợp đồng 2 tháng đầu năm và giảm khối lượng mua dầu diesel từ 120.000 m3 xuống còn 80.000 m3 một tháng, nhằm chờ đợi các động thái tiếp theo.

Việc khách hàng giảm khối lượng tiêu thụ và chỉ giao dịch trong ngắn hạn gây nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến kế hoạch mua dầu thô, phương án tiêu thụ sản phẩm cũng như mục tiêu đảm bảo an toàn vận hành của nhà máy.

Không chỉ vậy, ông lớn dầu khí này còn cho rằng theo Thông tư 20 của Bộ Tài Chính ban hành ngày 16/12/2015 về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo FTA Việt Nam – Hàn Quốc, thuế nhập khẩu với sản phẩm xăng từ Hàn Quốc sẽ cũng được áp dụng là 10%, trong khi thuế với các sản phẩm mua từ Dung Quất vẫn là 20%.

Theo văn bản được Phó tổng giám đốc PetroVietnam – Nguyễn Sinh Khang ký, trong cơ cấu sản phẩm của Nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện nay, xăng dầu chiếm hơn 90% (trong đó 50% là diesel và Jet A1) nên việc thuế suất cao hơn thuế nhập khẩu xăng dầu từ các nước sẽ khiến Lọc hóa dầu Bình Sơn gặp khó.

“Nếu mặt hàng diesel không tiêu thụ được thì Nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ không thể duy trì công suất ổn định, bắt buộc phải giảm công suất hoặc tạm dừng nhà máy trong thời gian tới”, lãnh đạo PetroVietnam cảnh báo.

Do vậy, tập đoàn này đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Văn phòng Chính phủ sớm điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu với dầu diesel, Jet A1 nhằm đảm bảo sản phẩm của Nhà máy lọc dầu Dung Quất cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, giúp ổn định sản xuất, vận hành liên tục của nhà máy.

Trước đó trong năm 2015, Nhà máy lọc dầu Dung Quất cũng từng “dọa” đóng cửa khi áp dụng biểu thuế ưu đãi ATIGA. Sau đó, Bộ Tài Chính đã quyết định giảm thuế đối với các sản phẩm xăng dầu từ Dung Quất xuống 20% ngang với các nước ASEAN. 

Mặc dù nhiều lần kêu khó song trong năm 2015, Lọc hóa dầu Bình Sơn vẫn có kết quả kinh doanh khả quan với doanh thu 95.000 tỷ đồng, lợi nhuận đạt gần 6.000 tỷ đồng.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất có tổng vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD bắt đầu vận hành từ năm 2009. Giữa năm 2015, dự án được đầu tư mở rộng thêm 1,82 tỷ USD nhằm nâng công suất lên 8,5 triệu tấn một năm, dự kiến hoàn thành năm 2021. Như vậy, tổng đầu tư của dự án lên tới gần 5 tỷ USD.

———

Ý kiến bạn đọc

  • Không thể tin nổi, hút dâu lên lọc bán ngay tại chỗ mà còn kêu lỗ!
  • Lúc nhà máy này ra đời, nhân dân cả nước vui mừng vì nghĩ rằng giá xăng sẽ bằng các nước phát triển. Nhưng thực tế thì trái ngược hoàn toàn.
  • đầu năm kêu khó, cuối năm kêu vượt kế hoạch kinh doanh
  • Nếu cần thiết thì cho tạm dừng nhà máy lọc dầu Dung Quốc trong một khoảng thời gian nhất định. Hiện nay giá xăng dầu thế giới đang giảm mạnh thì chúng ta nên nhập thật nhiều xăng dầu về để tiêu thụ và dự trữ. Còn nguồn tài nguyên dầu mỏ dưới lòng biển chúng ta để dành cho con cháu mai sau.
  • Giá xăng dầu thay đổi theo từng ngày, nên ký hợp đồng ngắn hạn sau đó có thể thay đổi theo giá thị trường là hợp lý, làm sao cứ bắt phải ký hợp đồng dài hạn. Các đơn vị kinh doanh và sản xuất xăng dầu luôn kêu khó khăn nhưng lương và thưởng luôn đứng đầu các ngành.
    P/s nếu muốn dừng sản xuất thì dừng luôn đi, bao năm dùng xăng nhập khẩu rồi có sao đâu.
  • Bó tay luôn thật là vô lý, hàng nhập về thuế còn rẻ hơn thuế của hàng sản xuất trong nước, nên  không bán được hàng là phải. Nếu hàng nhập về rẻ hơn hàng trong nước, thì đầu tư xây nhà máy làm gì cho tốn tiền?
  • Lỗ là vì cũng nhà máy này, nước ngoài họ đầu tư chỉ 1.5 tỷ. Nhưng ở ta là 5 tỷ. Người ta xây dựng nhà máy 2-3 năm là xong và vận hành, còn ta xây dựng 9 năm bị trễ. Trong thời gian trễ mình đã khai thác và bán không biết bao nhiêu dầu thô. Khi hoàn thành đi vào sản xuất thì là lúc công nghệ đã lạc hậu.

Đọc xong bài dưới đây mới thấy chủ trương lớn của đảng, của nhà nước là rất ngu, cố chấp, và đi ngược lại với lời khuyên của nhiều công ty và tổ chức nước ngoài. Sự thất bại và thua lỗ là không tránh khỏi. Tiền lời và tiền mượn để  xây nhà máy có lẻ đã lên trên 8 tỷ đô. Mỗi năm lỗ 120 triệu đô la. 

Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất

 

Posted in Kinh Te, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Suy ngẫm sau ngày 17-2 và trước ngày 18-3-2016

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2016

Nguyễn Nguyên Bình – (Hà Nội)

(con gái của tướng Nguyễn Trọng Vĩnh)

21-2-2016

Bà Nguyễn Nguyên Bình. Ảnh của tác giả gửi tới.

Bà Nguyễn Nguyên Bình chụp tại cổng nghĩa trang Tây Tựu, có dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh đã xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước”. Ảnh của tác giả gửi tới.

Mọi người đã biết tin buổi lễ tưởng niệm các liệt sĩ hi sinh trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc tổ chức tại chân tượng Lý Thái Tổ ở Hà Nội vào ngày 17-2 năm nay tiến hành được suôn sẻ. Không còn bị phá đám bởi bọn cưa đá, bọn múa hát ‘con bướm xinh’ theo điệu Tàu, bọn trai gái du côn dùng cờ búa liềm che hạ bộ v.v… như mọi năm nữa. Người dân yêu nước năm nay được ‘tự do’ thắp hương, đặt hoa, đọc lời tri ân liệt sĩ… thậm chí hô vang khẩu hiệu bảo vệ Tổ quốc, đả đảo bọn xâm lược Trung Quốc.

Việc dâng hương còn được làm ở cả Đài liệt sĩ đường Bắc Sơn và ở nghĩa trang thành phố (ở xã Tây Tựu), cũng không bị lực lượng nào phá đám. Bất ngờ là còn thấy trên cổng nghĩa trang Tây Tựu có treo sẵn một băng khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng kiểu chính thống với dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh đã xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước”. Không biết băng khẩu hiệu này do cấp xã huyện hay thành phố cho phép treo? Nhưng ai cho treo thì cũng là tốt, cũng là tiến bộ hơn những năm trước và hơn hẳn tình hình trong thành phố Hồ Chi Minh trong cùng ngày.

Về thái độ chuyển biến có vẻ tử tế hơn trước của lãnh đạo và công an thành phố Hà Nội, trên mạng lề dân đã có nhiều người phát biểu cảm tưởng, khen khao, có người thậm chí đã trịnh trọng ngỏ lời “xin gửi đến ông Hoàng Trung Hải, ông Nguyễn Đức Chung lời cảm ơn chân thành…” Thế nhưng, theo tinh thần dân chủ và đứng về góc độ lợi ích dân tộc, có thể phải nói khác chứ? Các ông Hoàng Trung Hải, Nguyễn Đức Chung là ai thế nhỉ? Theo lời Cụ Hồ đã nói thì họ cũng đều là đầy tớ của Nhân dân, vậy các ông ấy đương nhiên phải làm theo ý chí của Nhân dân, người chủ đích thực của đất nước. Các ông ấy có thừa nhận truyền thống yêu nước, và đạo lý ‘uống nước nhớ nguồn’ là tài sản chung quý báu của toàn dân Việt Nam hay không?

Đáng ra, đến những ngày kỉ niệm trọng đại như thế này, các ông ấy phải tự động tổ chức kỉ niệm, phải cử người xứng đáng đi dâng hương dâng hoa tưởng niệm liệt sĩ mới là những người đầy tớ xứng chức chứ? Đành rằng năm nay, những đầy tớ này tiến bộ hơn một chút so với cái hạng đầy tớ mất nết đáng bị trách phạt mấy năm trước đây. Nhưng chỉ mới có động thái ‘ngó lơ’ cho Nhân dân được ‘tự ý’ kỉ niệm, hoặc mới cho treo cái băng khẩu hiệu nhắc đến anh hùng liệt sĩ, thương binh chung chung (chưa phải là đích danh liệt sỹ hi sinh trong chiến tranh chống bọn xâm lược phía bắc trong cuộc chiến 17-2) là còn chưa xứng tầm.

Còn nhân dân, với vị trí một người chủ công bằng và độ lượng, lần này chỉ nên ghi nhận sự tiến bộ nho nhỏ đó của họ là đúng mức. (Và với tinh thần cố gắng khách quan, chưa đi sâu xem xét sự tiến bộ đó là thực lòng hay chưa). Không cần phải “chân thành cảm ơn” Nguyễn Đức Chung, Hoàng Trung Hải. Nhất là đối với Hoàng Trung Hải, từ khi nhậm chức bí thư Thành ủy Hà Nội, đã có lời nói việc làm nào tỏ sự quan tâm đến việc kỉ niệm các ngày trọng đại của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc đâu? Nhân dân hãy chờ đợi một tháng nữa, ngày 18-3 sắp tới là ngày chiến thắng quân xâm lược Trung Quốc, xem những đầy tớ sẽ làm gì? Có tiến bộ thật sự, để xứng tầm với chiến thắng vẻ vang của dân tộc hay không?

Cũng trong dịp này, trong nước còn có những tin đáng buồn, đó là ở TP Hồ Chí Minh, trong ngày 17-2, các đầy tớ đã tỏ ra láo xược, trâng tráo ngăn cản, phá phách cuộc tưởng niệm liệt sĩ. Ở thành phố Đà Lạt thì người ta lại hành xử kiểu dở hơi tâm thần, bắt một người chủ hiệu photocopy cam đoan phải báo công an khi có người đến in tài liệu liên quan đến biển Đông, liên quan đến Trung Quốc. Còn ở Vũng Tàu thì người ta bỏ công đi tìm kiếm để bóc bỏ hết những logo có vẽ hoa sim với dòng chữ 17-2 nhân dân không bao giờ quên…

Sâu xa đằng sau những việc làm của các đầy tớ mất nết ấy là gì? Đầy tớ cấp thấp chỉ biết nói họ làm theo lệnh ‘trên’, mà thậm chí không biết ‘trên’ là ai, ở đâu! Cái đó lâu nay đã thành một căn bệnh mãn tính của đầy tớ, cái bệnh mãn tính ấy có lẽ đã ngấm quá sâu vào trong phủ tạng của các loại đầy tớ mất rồi. Nguyên nhân chắc chắn là do loài virut Hiệp định Thành Đô, xuất hiện từ 26 năm trước hoặc lâu hơn nữa. Nhưng hãy tạm xem xét trong giai đoạn gần nhất cho dễ xử lý đã.

Cái gọi là Hiệp định Thành Đô, cho đến nay, nó vẫn chập chờn như bóng ma trơi trong đời sống chính trị ở nước ta. Đã có một số tài liệu xác định, nó được sinh ra trong một buổi chiều âm u đầu tháng 9 năm 1990, tại thành phố Thành Đô, Trung Quốc. Có văn bản hẳn hoi, nhưng theo ý TQ, phía VN cũng đồng ý dấu nhẹm không bao giờ công bố (chắc là vì trong đó chứa quá nhiều nội dung ý đồ nham hiểm của Trung Quốc). Ngay trong cuốn sách nổi tiếng, lưu hành ‘không chính thức’ nhưng rất rộng rãi trong dân gian của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ, cũng không thể tìm thấy văn bản bí mật đó.Và cũng chỉ biết các nhân vật chính tham dự hội nghị: về phía Việt Nam có ông Phạm Văn Đồng, ông Đỗ Mười, ông Nguyễn Văn Linh; về phía Trung Quốc có Giang Trạch Dân, Lý Bằng.

Có điều, tuy không thể nói rõ nội dung văn bản đã kí kết, chỉ được gọi chung chung, đó là thỏa thuận về bình thường hóa quan hệ Việt Trung, nhưng Thứ trưởng Trần quang Cơ cũng đã cho biết: Chính ông cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói trong hội nghị Bộ chính trị ĐCSVN (tháng 5-1991): “Sau chuyến đi Thành Đô, tôi vẫn ân hận về thái độ của mình”, ông PVĐ còn nói: “ Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết… Tôi không nghĩ người lãnh đạo nên làm như vậy”.

Hơn thế nữa, bản thân tác giả Trần Quang Cơ đã nhận xét: “Hội đàm Thành Đô tháng 9 – 1990 hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của ta, trái lại, nó là một sai lầm hết sưc đáng tiếc về đối ngoại. Vì quá nôn nóng cải thiên quan hệ với Trung Quốc, đoàn ta đã hành động một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng thỏa thuận như thế sẽ được lòng Bắc Kinh, nhưng trái lại, thỏa thuận Thành Đô đã làm chậm việc giải quyết vấn đề CPC và do đó chậm việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, uy tín quốc tế của ta (VN) bị hoen ố”. Ông Trần Quang Cơ cũng nhấn thêm: “Vấn đề không phải chỉ là bình thường hóa quan hệ, mà là phụ thuộc hóa quan hệ!”

Thực tế mấy chục năm qua, cái sự “phụ thuộc hóa quan hệ” đã diễn ra như thế nào, liệu có cần phải nêu dẫn chứng nào khác ngoài vô vàn những sự việc trái khoáy đã diễn ra trước mắt bàn dân thiên hạ, ngay giữa thanh thiên bạch nhật trên khắp cả nước, thậm chí ngay ở trung tâm thủ đô Hà Nội, trước mắt cả bạn bè quốc tế nữa hay không? Đó có phải là sự thể hiện “phong phú và sinh động” tinh thần Thỏa thuận Thành Đô hay không?

Câu hỏi đặt ra là: Đến nay, các “đầy tớ của Nhân dân” đã hiểu hết nỗi đau nỗi nhục của sự phụ thuộc hóa quan hệ và cái dại, cái hớ của Thỏa thuận Thành Đô chưa? Các vị đầy tớ đã muốn tìm cách rũ bỏ cái dại cái hớ của nó chưa? Các vị đã nghĩ ra cách nào để thoát ra khỏi quan hệ phụ thuộc do “thỏa thuận” đó nó tròng vào cổ, vào đầu chưa? Tại sao các vị không hiểu rằng, nếu các vị muốn thì bây giờ chính là thời cơ tốt nhất để tuyên hủy cái Thỏa thuận Thành Đô vừa dại vừa hớ vừa phụ thuộc kia đi.

Chưa kể đến bối cảnh rộng lớn của thế giới ngày nay đang rất bất lợi cho thế lực cầm quyền Đại Hán, cái mặt nạ “trỗi dậy hòa bình” của họ đã bị bóc tuột ra rồi, bọn cầm quyền Đại Hán đang là mục tiêu công kích của dư luận từ Á sang Âu… Chỉ cần nói một việc cụ thể sát sườn, đó là tình trạng thảm hại của nhân vật Giang Trạch Dân: Ai không biết gần đây, cộng đồng quốc tế đã đưa ra được rất nhiều bằng chứng vạch rõ tội ác chống loài người rất ghê tởm của y, đó là việc Giang Trạch Dân và đồng bọn đã mổ cướp nội tạng sống của hai triệu học viên Pháp luân công. Còn đối với ngay chính giới cầm quyền Trung Quốc, Giang Trạch Dân ngày nay cũng chỉ còn là một tên Hán gian, phạm tội “phản nghịch, phản cách mạng, chống đảng, chống nhà nước”mà thôi.

Vậy Giang Trạch Dân, người đã thông qua mánh lới lọc lừa lãnh đạo VN để đạt được thỏa thuận Thành Đô tai hại kia, giờ đây có còn một chút giá trị nào không? Và như vậy, cái hiệp ước kí với hắn giờ đây có phải chỉ còn là một mớ giấy lộn hay không? Vậy còn tiếc gì mà không vo viên vứt vào sọt rác?

Lúc này nếu VN tuyên hủy thỏa thuận Thành Đô thì liệu phe cánh Tập Cận Bình còn có lý do gì để gây gổ? Hãy tỉnh táo và dũng cảm lên để Nhân dân Việt Nam có dịp ghi nhận sự khôn ngoan và tử tế của những đầy tớ Nhân dân.

Tuyên hủy được thỏa thuân Thành Đô thì chắc chắn những ngày kỉ niệm thiêng liêng trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, bảo vệ chủ quyền biển đảo sẽ được tiến hành trọng thể, xứng với tầm vóc trong lịch sử dân tộc.

Ngày 21-02- 2016

Nguyễn Nguyên Bình

anhbasam

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Nguyễn Tấn Dũng không nói được tiếng Anh, bị lạc lỏng và cô đơn khi đi dự hội nghị Asean- Mỹ tại California 2016

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2016

Trong khi các vị tổng thống và thủ tướng của các nước Indonesia, Mã Lai, Thái Lan, Philippines, Singapore… nói tiếng Anh thành thạo,  nên họ tự tin đi cùng nhau trò chuyện thân mật, còn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không nói được tiếng Anh nên phải đi tuốt ở phía sau, lẻ loi, và không có người nào muốn trò chuyện.

Ông này thiệt là kém cỏi. Suốt 21 năm được đảng CSVN đưa lên làm lãnh đạo, trong đó có 10 năm làm phó thủ tướng (1995-2006) và 10 năm làm thủ tướng (2006-2016), nhưng ông đã không có đủ khả năng học tiếng Anh để có thể trò chuyện xã giao, phát biểu trong các hội nghị, khi ra nước ngoài họp với các chính khách của thế giới. Ông Dũng tham dự hội nghị nào cũng như một người câm và điếc. Khi ông muốn nói với ai, hoặc khi vị nào muốn tiếp xúc với ông Dũng, đều phải có thông dịch viên. 

Hãy xem hình ảnh của 3X trong Hội Nghị Asean tại California tháng 2/2016 thì thấy rõ ông Dũng bị “lạc lõng, xa rời” thế nào.

  • Ảnh Thu Nhỏ

 

 

Tập cân Bình(tại Hội Nghị APEC ở Manila 18/11/2015) cũng lẻ loi không kém. Không ai muốn nói chuyện với hắn vì Tập Cận Bình không nói được tiếng Anh. Tập Cận Bình bước đi như một người vô hồn và rõ ràng bị lạc lỏng. 

Tổng thống Philippines Aquino cho biết, rào cản ngôn ngữ đã khiến ông ta và các lãnh đạo Trung Quốc khó nói chuyện với nhau ở các sự kiện APEC. Tất cả các nhà lãnh đạo TQ, kể cả Thủ tướng Lý Khắc Cường, cũng không nói được tiếng Anh. 

TT Aquino nói: “Khi tôi chào ông Tập bằng câu “Good morning” (chào buổi sáng), thì ông ấy đáp lại tôi bằng tiếng Trung Quốc. Khi ấy, chúng tôi cùng đi bộ đến nơi tổ chức hội nghị thượng đỉnh APEC, ở bên cạnh tôi và ông ấy đều không có một người thông dịch nào”.

  • Ảnh Thu Nhỏ

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Tẩy chay hay ra ứng cử vào Quốc hội 20/5/2016

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2016

“Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn luôn rêu rao với cả thế giới rằng “Việt Nam luôn đảm bảo quyền con người”, Việt Nam “dân chủ đến thế là cùng”. Vậy thì hãy để cả thế giới nhìn thấy cộng sản Việt Nam đang tước đoạt quyền con người của bạn; đừng bao giờ tự tước đoạt quyền con người của chính mình.”

TẨY CHAY HAY ỨNG CỬ?

Tạ Phong Tần – hr4vn.wordpress.com

13-2-2016

 

Năm 2007, khi tôi còn công tác tại cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam tổ chức bầu cử đại biểu Quốc Hội nhiệm kỳ X (1997-2002). Buổi chiều trước bầu cử một ngày, sếp tôi kêu cả đơn vị lại “họp khẩn cấp” (nguyên văn từ của sếp) rồi sếp nói: “Cái này thông báo nội bộ, nói nhỏ chớ không có nói lớn. Ở trên (chẳng biết là trên cỡ nào) mới thông báo ngày mai bầu đại biểu Quốc Hội thì bầu cho con Hoa Ry, gạch tên bà Sang đi”.

Cả đơn vị trố mắt nhìn sếp ngạc nhiên, hổng hiểu bữa nay sếp có “bị gì hong” mà sếp ăn nói trái luật dữ vậy cà. Sếp nói tiếp: “Ở trển nói con Hoa Ry là nữ, người dân tộc, hạt giống đỏ đủ tiêu chuẩn cơ cấu. Bà Sang là để cho có mà gạch thôi. Lịnh ở trên, mình là cấp dưới thì mình phải chấp hành. Vậy thôi hén!”. Nói xong, sếp giải tán “cuộc họp khẩn cấp”. Tôi ra ngoài coi kỹ lại danh sách thì thấy “con Hoa Ry” trình độ mới có phổ thông trung học (tức học hết lớp 12, tốt nghiệp hay không chưa biết), nghề nghiệp dưới trình độ, không biết ngoại ngữ, so với bà Sang thì kém xa. Hôm sau đi bầu cử, tôi không gạch tên bà Huỳnh Thu Sang như “chỉ đạo” mà gạch tên “con Hoa Ry”, tôi để ý thấy những người khác thì “thi hành ý kiến cấp trên” răm rắp.

Mấy ngày sau, một ông cán bộ Viện Kiểm sát tỉnh Bạc Liêu (chức vụ thường thường bậc trung, tôi đánh giá ông này cũng có năng lực) sang cơ quan tôi làm việc, tôi bèn hỏi dò ông bầu cử gạch tên ai. Ông bèn xổ ra một tràng: “Tao gạch tên con Hoa Ry, để tên bà Sang. Vô duyên! Bầu ai là quyền của tao, ai có năng lực thì bao bầu. Tự dưng kêu phải gạch người này, để người kia, thiệt lãng nhách”. Tôi hỏi thêm: “Theo ý anh thì ai đậu?” Ổng nói: “Con Hoa Ry sẽ đậu, làm cái kiểu đó thì nó đậu là cái chắc. Ðể rồi coi, tao nói sai cho mày đánh lên đầu tao nè”. Kết quả y chang như ổng nói. Nhiệm kỳ sau, rồi sau nữa tôi không đi bầu cử. Ðến nay, “con Hoa Ry” (giờ đã thành bà Hoa Ry) đã “đắc cử” liên tiếp 3 nhiệm kỳ X, XI, XII của Quốc Hội.

Nếu như chục năm về trước, số người tự ứng cử đều xuất thân từ cơ quan chính phủ như cựu Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường Đặng Hùng Võ hay ông đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Đặng Văn Khoa, sau này có thêm trường hợp Luật sư Lê Công Định (Sài Gòn) và Luật sư Lê Quốc Quân (Hà Nội); thì đều có chung một mẫu số là “rớt từ vòng gởi xe”. Ông Đặng Hùng Võ phải “chấp hành sự chỉ đạo của đảng không được ứng cử” bởi vì “đảng không cử”, tâm sự với báo chí, ông Hội đồng Khoa nói rút đơn xin ứng cử mà rơi nước mắt vì ông còn có gia đình vợ con, Luật sư Định và Luật sư Quân thì bị cái gọi là “hiệp thương” của Mặt trận tổ quốc “đấu tố”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải (tự ứng cử ĐBQH cùng thời gian với Luật sư Lê Quốc Quân) nói về việc “lấy ý kiến”: “Căng thẳng lắm. Người ta cứ việc lên tố tôi những điều không có. Tôi thì không được phép trả lời”.

Thế nhưng, kỳ bầu cử mới đại biểu quốc hội năm 2016 này, tại thời điểm hiện nay, đã có hơn mười ứng viên tự do chính thức nộp đơn ứng cử theo đúng trình tự pháp luật quy định, mà khởi xướng đầu tiên là Tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Có hai luồng ý kiến trái chiều về việc ủng hộ ứng viên tự ứng cử và tẩy chay ứng cử, bầu cử quốc hội cộng sản kỳ này.

Phe tẩy chay có ý kiến rằng: Người nào tự ứng cử là “dân chủ cuội”, “Tay nào nhào vô thì tay đó một là không có đầu óc, hai là quyết tâm nhập bọn với bọn chó đẻ Việt cộng để tàn hại nhân dân chứ không có chống lại chúng gì hết”, tự ứng cử “để được làm quan lớn”, để “ấm thế, phì gia”, “công nhận tính chính danh của Việt cộng”, “xác nhận hệ thống đó có tính hợp pháp”, “giúp Việt cộng báo cáo với Hoa Kỳ khi vào TPP để tránh bị phản đối bởi dân Hoa Kỳ, chỉ có ngu mới đâm vào”, v.v…

Ngược lại, phe ủng hộ thì cho rằng: Thời nay không phải là thời của Thánh Mahatma Gandh và Việt Nam hiện nay không phải là Ấn Độ những năm đầu thế ký 20. Cụ thể “người trong cuộc” là TS Nguyễn Quang A bày tỏ quan điểm rằng dĩ nhiên ông “hiểu rất rõ cách mà Mặt trận tổ quốc sử dụng để buộc ứng viên bỏ cuộc nhưng theo ông, lời kêu gọi tập trung 5.000 chữ ký của người dân khắp nơi ủng hộ cho ông ứng cử sẽ là chiếc đòn bẫy hất tung những mưu mô từ trước tới nay mà MTTQ dùng để đẩy ứng viên độc lập ra khỏi mọi cuộc bầu cử trước đây” bằng các hình thức “đấu tố”.

Thủ đoạn “đấu tố” là tổ chức các cuộc họp với tên gọi là “hiệp thương” chỉ giới hạn trong khoảng từ 50 đến 100 người mà chính ứng viên cũng không biết những người ấy là ai, có thật sự là cử tri khu vực mình ứng cử hay không, rồi kết luận rằng “không được tín nhiệm” rồi loại ứng viên ấy ra, coi như 50 đến 100 người này có quyền phủ quyết cho tất cả cử tri dù không cử tri nào cử họ đại diện cho mình.

Các trang “lề phải” chính danh của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam im lặng, nhưng có không ít trang “lề phải không chính danh” xuất hiện hàng loạt và rầm rộ chửi bới những kẻ dám tự ứng cử bằng những ngôn từ hết sức lưu manh, chợ búa và vu cáo bôi nhọ danh dự, nhân phẩm người tự ứng cử một cách rất lố bịch, gọi người tự ứng cử là “gái làng chơi”, “bồi bút”, “phản động”, “thảo khấu giang hồ” dù không đưa ra được bằng chứng gì chứng minh các ứng viên đã từng thực hiện các hành vi ấy, và liên tục khẳng định “Thật ra, tự ứng cử là văn minh, nhưng nó lại bị lũ zận lợi dụng để phá hoại đất nước. Nguyễn Quang A đã lợi dụng điều này để PR cho chính mình. Nhưng chiêu trò không mấy thông minh đã ngay lập tức bị bóc mẽ”. Việc tung ra hàng loạt “công cụ” chửi mắng lu loa chứng tỏ đảng cộng sản VN đang rất lo sợ, chật vật đối phó với phong trào tự ứng cử. Cho vào thì nguy hiểm cho đảng, mà không cho càng nguy hiểm hơn.

Chẳng hiểu người thực hiện quyền công dân mà pháp luật cho phép thì “phá hoại đất nước” ở chổ nào? Nếu “chiêu trò không mấy thông minh đã ngay lập tức bị bóc mẽ” thì làm gì phải lo lắng nhảy dựng lên như thế nhỉ? Cứ im lặng để cho thiên hạ “bóc mẽ” bọn họ đi.

Nếu thật sự người của “đảng cử” mà dân ủng hộ nhiệt tình (như lần nào cũng công bố kết quả kiểm phiếu đạt từ 90% trở lên) thì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam  hãy để cho người dân Việt Nam “dạy cho những kẻ khoái tự ứng cử một bài học” bằng lá phiếu của họ, ứng cử mà không ai thèm bầu thì hắn ta tự quê độ hết dám ứng cử lần nữa, mất công tổ chức hội nghị hiệp thương, lấy ý kiến dân phố chi cho hao người tốn của mà còn mang tiếng bóp nghẹt nhân quyền!

Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 85/2015/QH13 ngày 25/06/2015 có hiệu lực hiện hành tại Việt Nam quy định các Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều 35, Điều 36, Điều 37 về quyền bầu cử, ứng cử của công dân Việt Nam, và các ứng viên tự ứng cử đang thực hiện điều này.

Cũng có ý kiến cho rằng đảng cộng sản Việt Nam xảo quyệt, bày trò dân chủ giả hiệu để đánh lừa bọn “tư bổn giãy chết” thôi. Cứ cho là đảng cộng sản Việt Nam sẽ nhường cho ứng cử viên tự do 10% số ghế trong quốc hội thì cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì về dân chủ. nhân quyền, quốc kế dân sinh, bởi lẽ quyền quyết định thuộc về đa số. Cá nhân tôi nghĩ rằng, cứ cho là như vậy đi, thì đại biểu tự do ít nhất cũng có được cái quyền tiếp cận thông tin (của đại biểu quốc hội) là những đề sinh tử quốc gia từ trước đến nay ngoài các cấp chóp bu ra không ai được biết. Ví dụ rõ ràng nhất là tình hình vay nợ, chi xài tiền đi vay và trả nợ nước ngoài như thế nào. Người dân cần được công khai minh bạch chuyện này.

Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn luôn rêu rao với cả thế giới rằng “Việt Nam luôn đảm bảo quyền con người”, Việt Nam “dân chủ đến thế là cùng”. Vậy thì hãy để cả thế giới nhìn thấy cộng sản Việt Nam đang tước đoạt quyền con người của bạn, đừng bao giờ tự tước đoạt quyền con người của chính mình.

—————–

Ngành xã hội học và nhân quyền

Trần Hoàng (đang viết dỡ dang)

Muốn nhân quyền được tôn trọng thì phải có ngân sách chăm sóc hay trợ cấp cho những người có nhu cầu cần được giúp đỡ. Hình thức trợ cấp là tiền bạc, thức ăn, giới thiệu và chuyển các cá nhân gia đình đến các nơi chốn để giúp đỡ. Đối tượng của các trợ cấp,  là những người có mức lợi tức thấp, là các cá nhân hoặc các gia đình có con cái còn trong độ tuổi đi học tiểu học, trung học, lẫn đại học; các công nhân bị thất nghiệp tạm thời; các người già; những người bị bệnh còn nằm trong bệnh viện và sắp xuất viện…

Cách hay nhất để phổ biến các quyền của con người là thông qua sự trợ giúp (một, hai, hay cả ba nguồn) tài chánh, thực phẩm, dịch vụ cho các cá nhân hay gia đình đang gặp nguy khó và cần được giúp đỡ.

Ngành xã hội học phải được giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng. Ngân sách của chính phủ phải được dành cho ngành xã hội. Ngành xã hội phải được độc lập và không dính dáng gì đến bộ lao động và thương binh. Ngành xã hội có thể là một nhánh nằm trong ngành y tế của tỉnh và thành phố, quận, huyện để giảm thiểu ban bộ và phục vụ có hiệu quả. Các nhân viên ngành XH phải được tuyển chọn vào làm việc trong các chính quyền địa phương quận huyện và tỉnh thành và các bệnh viện.

Nghành xã hội học rất được chú trọng ở các nước phương Âu Mỹ và chính quyền địa phương các quận, huyện thường có một cơ quan chuyên phục vụ cho những người cần được giúp đỡ.

Mời các bạn đọc thêm về các đề tài xã hội học rất đáng chú ý ở blog này.

http://www.phantichkinhte123.com/2016/01/phu-thuy-va-o-e-tap-viec-cac-nganh-khoa.html#more

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Về trào lưu ứng cử đại biểu quốc hội hiện nay

Posted by hoangtran204 trên 21/02/2016

VỀ TRÀO LƯU TỰ ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI HIỆN NAY

Nguyễn Vũ Bình

18 THÁNG 2 2016

Thời gian vừa qua ở Việt Nam xuất hiện một trào lưu tự ứng cử đại biểu quốc hội nhân kỳ bầu cử Quốc hội tháng 5/2016. Đã có rất nhiều người tham gia tự ứng cử, với tư cách ứng cử viên độc lập. Một số khá đông người thuộc phong trào dân chủ cũng tham gia tự ứng cử. Sự tham gia tự ứng cử của những người thuộc phong trào dân chủ đã tạo nên một sự trao đổi, tranh luận, thậm chí tranh cãi trên diễn đàn mạng xã hội. Một số người cho rằng, việc tham gia là đúng, là tốt và cần thiết nhưng một số người ngược lại cho rằng không nên tham gia, hoặc tham gia không được gì, chỉ tạo tính chính danh cho quốc hội cộng sản…

Một trong những nguyên nhân gây ra sự tranh luận đó là việc nhiều người quá kỳ vọng vào kết quả cũng như hiệu ứng của việc tự ứng cử của các ứng viên độc lập. Trong môi trường nhà nước độc tài toàn trị cộng sản, chúng ta cần hiểu rằng, đó là một hệ thống các cơ chế, định chế và phương thức vận hành khép kín để thực thi độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.Tất cả những ứng cử viên độc lập, hoặc những người không phải đảng viên cộng sản ứng cử và trúng cử trước đây chỉ là số rất ít mà đảng cộng sản cho vào để làm ví dụ (để làm hàng, trưng bày và rằng số người đó cũng phải trải qua sự kiểm duyệt rất gắt gao làm vì, để tuyên truyền, đánh lạc hướng và trưng bày với quốc tế một cách thô thiển rằng: bầu cử quốc hội VN rất dân chủ và số người đó cũng phải trải qua sự kiểm duyệt rất gắt gao!) Thực tế là trong môi trường như vậy, việc kỳ vọng vào các ứng viên độc lập tự ứng cử là không có cơ sở.

Tuy nhiên, vẫn cần phải trả lời câu hỏi: nên hay không nên, cần hay không cần những người thuộc phong trào dân chủ tham gia tự ứng cử? Câu trả lời là rất nên, rất cần và cá nhân tôi ủng hộ trào lưu tự ứng cử này. Chúng ta cần căn cứ vào mục tiêu của phong trào dân chủ để xác định sự cần thiết và ý nghĩa của trào lưu này.

Một trong số các mục tiêu của phong trào dân chủ là nâng cao nhận thức của người dân nói chung, trong đó có cả những người đang tham gia vào phong trào dân chủ. Trước hết và trên hết, những người tự ứng cử đại biểu quốc hội đã thực thi quyền công dân của chính mình. Việc này được công khai và nó có tác dụng khuyến khích các công dân khác làm như vậy. Thực thi quyền công dân trong việc tự ứng cử không mới, nhưng lần đầu tiên trở thành trào lưu. Chính vì vậy, việc tự ứng cử của những người trong phong trào dân chủ là một hoạt động có hiệu ứng truyền thông lớn, tạo ra sự chú ý trong xã hội. Những người thuộc phong trào dân chủ, và những người dân quan tâm tình hình chính trị – xã hội sẽ theo dõi các diễn biến, xem và đọc các trao đổi, tranh luận xung quanh việc tự ứng cử. Sự phân tích thiệt hơn, phản biện và ủng hộ sẽ mở rộng sự hiểu biết của người dân. Đồng thời, bản thân những người tham gia tự ứng cử cũng cần tìm hiểu các thủ tục, quy trình, và các chương trình tranh cử. Có những điều mà dù là người đấu tranh dân chủ lâu năm, nếu không có cơ hội tìm hiểu cũng sẽ không biết được. Chính vì vậy, việc tự ứng cử thành một trào lưu là cơ hội để mọi người nâng cao nhận thức của mình trên nhiều khía cạnh.

Một mục tiêu lớn nữa của phong trào dân chủ đó là lên án, tố cáo chế độ cũng sẽ được thực hiện trong toàn bộ quá trình hoạt động tự ứng cử đại biểu quốc hội kỳ này. Chúng ta biết rằng, đảng cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam chắc chắn không để cho những người tự ứng cử có cơ hội lọt vào danh sách bầu cử. Vì vậy, họ sẽ thực hiện tất cả các cách thức, bước đi và thủ đoạn để gây khó khăn, cản trở nhằm loại các ứng cử viên độc lập ra khỏi danh sách bầu cử. Khi làm những việc này, họ hầu như không tuân theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật mà sẽ lợi dụng, bóp méo và vi phạm các nguyên tắc pháp luật và quy định bầu cử. Chính vì sẽ xảy ra những sự việc ngăn trở một cách phi pháp và vô văn hóa đối với những ứng cử viên độc lập, nên những người tự ứng cử sẽ có cơ hội lên án, tố cáo nhà cầm quyền Việt Nam bằng những bằng chứng cụ thể, hùng hồn. Trong trường hợp không xảy ra việc dùng thủ đoạn loại bỏ các ứng cử viên độc lập, thì nhiều người tự ứng cử sẽ có khả năng thắng cử và cất cao tiếng nói tự do trong quốc hội cộng sản.
Tóm lại, không quá kỳ vọng vào thành công và hiệu ứng của việc tự ứng cử đại biểu quốc hội nhưng trào lưu tự ứng cử hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của phong trào dân chủ. Chính vì vậy, trào lưu tự ứng cử là hoạt động rất đáng hoan nghênh và cần ủng hộ nhiệt thành./.
Hà Nội, ngày 18/02/2016
N.V.B
Theo RFA nguyenvubinh’s blog

——-

Cuộc vận động để đại diện đảng ra ứng cử chức vụ tổng thống ở Mỹ của hơn 10 ứng cử viên đang diễn ra hàng ngày rất sôi động. Với thời gian, và qua quyết định của các cử tri là những người dân thường thuộc hai đảng cộng hòa và dân chủ, hôm nay, chỉ còn lại 7 ứng cử viên. Và từ đây cho đến vài tháng nữa, những lá phiếu của người dân sẽ quyết định và lựa chọn để sẽ còn lại 2 ứng cử viên đại diện cho hai đảng đối đầu nhau và có thể có thêm ứng cử viên độc lập không thuộc hai đảng kia. Các bạn có thể vào đây (bất cứ lúc nào, ngày hay đêm) để theo dõi các video tường thuật tại chỗ của các ứng cử viên này trong hơn 8 tháng qua.

c-span.org

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền | Leave a Comment »

►Tiếng khóc của người văn công 37 năm sau khi Trung Quốc tấn công VN 1979

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2016

RFA

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

20-2-2016

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Ngày 17-2 mỗi năm gần đây Hà Nội, Sài Gòn đều tổ chức lễ tưởng niệm thắp nhang cho liệt sĩ đã hy sinh trong trận chiến chống Trung Quốc xâm lược ở các tỉnh phía bắc.

Trong khi tại Hà Nội buổi tưởng niệm diễn ra suôn sẻ mặc dù cơ quan an ninh cho người ra tượng đài Lý Thái Tổ để quan sát nhưng không có bất cứ cuộc phá hoại nào như từng xảy ra trước đây. Ngược lại tại Sài Gòn, từ mờ sáng công an canh giữ tại nhà một số lớn người, không cho họ ra khỏi nhà tham dự buổi thắp hương tưởng niệm liệt sĩ dưới chân tượng Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng. Tuy nhiên người dân vẫn tập trung gần trăm người để làm lễ. Ngay lập tức một nhóm an ninh đội lốt côn đồ, có cả những đoàn viên thanh niên cộng sản rất trẻ nhảy vào cướp phá, giật vòng hoa, chà đạp lên và khiêu khích người dân với những từ ngữ khó nghe nhất.

Trong buổi lễ này có mặt một phụ nữ đặc biệt có nghệ danh là Ánh Hồng, bà là một nữ văn công múa trong đoàn Hải Phòng có mặt và chứng kiến sự hy sinh vô cùng cảm động của bộ đội khi chống lại các đợt tấn công của kẻ thù vào tháng Hai năm 1979.

Qua lời kể của bà chúng ta hy vọng sẽ thức tỉnh những người còn mê muội đưa ra những quyết định phản bội lịch sử và nhất là phản bội lại máu xương của gần 60 ngàn đồng bào liệt sĩ đã ngã xuống vì gìn giữ bờ cõi cho họ có chỗ đứng ngày nay trong chính quyền.

“Quân Trung Quốc nó ác lắm”

Nghệ sĩ Ánh Hồng kể lại buổi sáng bà có mặt tại tượng đài Trần Hưng Đạo cùng với nhiều người khác:

Nghệ sĩ Ánh Hồng: “Lúc ấy nói thật với anh là tôi bỡ ngỡ, tôi khóc. Tôi đứng lặng yên, tôi khóc. Tôi nghĩ tới cảnh tượng trước đây bao nhiêu chiến sĩ ngã xuống lúc ấy họ còn trẻ như mấy cô cậu này đây, cũng trẻ như các cô bây giờ chỉ 17 – 18, 20 trẻ lắm… thế mà chết cho tới ngày hôm nay khi thấp hương cho họ thì những người trẻ như thế này lại đi dập nát vòng hoa thì tôi chỉ biết đứng khóc anh ạ, tôi không cầm được nước mắt nữa tôi nghĩ tôi căm thù bọn nó quá.

Khi nhìn cảnh tượng như vậy tôi có nói với họ không nên làm như thế nữa bởi vì mọi người không biết đâu lúc ấy quân Trung Quốc nó ác lắm. Nó giết, nó hãm hiếp đồng bào mình, nó giết bao nhiêu chiến sĩ của mình, khổ lắm đừng làm như thế nữa. Nhưng tôi càng nói thì những con người này cứ lao vào giật vòng hoa, lao vào…cuối cùng tôi sợ ngã nên phải chạy ra đứng bên ngoài tôi không dám đứng ở đấy nữa.

Sau đó tôi về Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng tôi ngồi nói chuyện với các anh ấy tôi mới khóc. Tôi khóc khi nghĩ tới cảnh tượng hôm qua tôi không cầm được nước mắt nữa. Tôi nghĩ bao nhiêu chiến sĩ đã chết mà ngày hôm nay người ta để cho thế hệ trẻ này làm như vậy thì không hiểu thế nào nữa.”

Mặc Lâm: Tình cờ được biết bà từng ra chiến trường biên giới vào thời gian xảy ra cuộc chiến xin bà cho biết lúc ấy diễn tiến cuộc chiến như thế nào ạ?

Nghệ sĩ Ánh Hồng: “Tôi ở trong đoàn văn công anh ạ, thuộc đoàn ca múa Hải Phòng tôi là diễn viên múa. Lúc bấy giờ tôi còn trẻ mà. Đoàn văn công này hay đi phục vụ chiến đấu các đơn vị trong quân đội như trọng pháo hay bộ đội ở đâu có chiến tranh hay có cái gì đó thì đoàn văn công được gửi tới phục vụ. Mang tinh thần lời ca tiếng hát điệu múa làm vũ khí cổ vũ bộ đội ta đánh giặc.

Lúc đó vào tháng hai năm 79, tôi nhớ chắc chắn là năm 79 lúc ấy anh Hà Đức Hậu làm trưởng đoàn, anh nhận được lệnh đòan phải đi biểu diễn ngoài biên giới lúc ấy là Tiên Yên, Hà Cối, Quảng Ninh để phục vụ các chiến sĩ.

Đêm hôm ấy đoàn biểu diễn rất là đông bộ đội xem. Gần một tiếng sau đang khi trình diễn thì đột nhiên bộ đội cứ rút dần, rút dần đi… mình mới hỏi sao lại vằng chỉ còn vài chục người thế này thì các anh mới nói là họ phải đi bổ xung cho các chốt vì giặc nó tràn lên đông quá, nó giết nhiều quá bây giờ phải đi tải thương binh với liệt sĩ về cho nên tư tưởng như thế không thể ngồi xem được.

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Đến khi biểu diễn xong chúng tôi về mình mới thấy có câu thương binh rên rỉ, cậu ấy kêu “mẹ ơi, mẹ ơi” trong đêm hôm thanh vắng nghe tiếng kêu như thế. Tới sáng mai hỏi lại thì cậu ấy đã chết đêm qua rồi vì máu ra nhiều quá không kịp chuyển về tuyến sau nữa.

Hôm sau chúng tôi lại vào biểu diển ngay cho các thương binh ở trong trại. Họ chuyển về chỗ không phải là cái trại đâu mà nó là một khu nhà của Pháp ngày xưa người ta xây kiểu như doanh trại của Pháp hồi xưa, bị bỏ hoang lâu rồi. Cửa cung không có bây giờ mình che chắn để cho thương binh nằm thôi.

Lúc mình đi vào từng gường của thương binh tôi nói thật với anh là không thể cầm được nước mắt, tôi thương mà không dám nhìn chạy ra ngoài không dám nhìn. Lúc ấy thì không múa nữa chỉ hát với đàn thôi. Thương binh cụt chân cụt tay nằm la liệt mà không có thuốc men gì vì lúc ấy khó khăn lắm. Lúc đến bữa ăn mình chạy ra ngoài thì nhìn thấy một anh bộ đội trẻ lắm khoảng 19 -20 bị đạn nó vạt hết cả cái mông máu chảy ra nhiều mà cậu thương binh cứ cầm miếng vải kéo ra cho khỏi dính vào vết thương mà trên tay cậu ấy bê một bát cơm có mấy miếng đậu, một tí rau muống luộc và canh lỏng bỏng…tôi nhìn thấy mới hỏi, trời ơi ăn uống thế này thì làm sao chịu nỗi? lúc ấy người ta mới nói hoàn cảnh như thế này thì làm sao khác được.

Biểu diễn xong thì đoàn văn công rút về vì cuộc chiến ngày càng ác liệt quá.”

Mặc Lâm: Chứng kiến sự việc như vậy rồi hôm nay lại trực tiếp thấy những kẻ hậu thế lại đập phá vòng hoa tưởng niệm, sỉ nhục người tới thắp hương và có những hành vi khác nữa, bà cảm thấy như thế nào?

Nghệ sĩ Ánh Hồng: “Không biết như thế nào nhưng tôi cứ nghĩ bộ đội mình chết nhiều quá, chết thảm quá, chết đau khổ quá… đã chết trận rồi mà về vật chất thuốc men lại càng khổ nữa thế mà bây giờ trong cái ngày thuộc về kỷ niệm mấy năm gần đây tôi biết là có làm lễ kỷ niệm thì tôi có tham gia thắp hương bởi vì nhìn cái cảnh người ta chết nên thắp hương cho người ta. Nhưng mình thấy những bọn trẻ thanh niên bây giờ nó ra nó tàn phá, nó đánh đập người ta, nó dằn xé tôi không thể tưởng tượng được tại sao như thế. Nòi thật với anh đã có lúc tôi nghĩ tôi có súng tôi bắn chết mẹ chúng mày! Nói thật với anh như thế. Tôi thấy chúng nó kinh khủng như một loại gì chứ không còn con người nữa mà nó hành động như thế?

Tôi nói anh nghe cái lúc mà ra chiến trận những lớp trẻ ra trận người ta vui lắm anh ạ. Người ta đi trên những đoàn xe ở dưới cứ vẫy tay: “Ở đâu đấy? Ở đâu đấy…”người bảo ở Nam Định, người bảo ở Thái Bình. Người ta vỗ tay “chào nha, đi chiến đấu nhé”… mọi người rất là vui vẻ tuy biết đi là chết mà mọi người vẫn vui vẻ khi ra chiến trường. Tại sao lúc ấy khí thế chiển đấu của người ta lại cao như thế hả anh? Tôi cũng nghĩ mãi những khuôn mặt rất trẻ ngồi trên ô tô để ra mặt trận như thế. Cho tới lúc mình chứng kiến đang biểu diễn mà bộ đội phải rút dần đi ra các chốt và hy sinh không về nữa, thế rồi chứng kiến cảnh thương binh máu me tay chân bị mất, chứng kiến bữa cơm của bộ đội người ta ăn sao mà đau lòng thế.

Đến hôm vừa rồi trong buổi lễ tưởng niệm lại bị chúng ra dập nát vòng hoa, tôi không thể tưởng tượng được tại làm sao lại như thế. Xã hội, chế độ này giáo dục cái loại người không còn ra người ra ngợm nữa. Tôi không bao giờ quên những kỷ niệm của thời chiến tranh đấy, chính mắt mình thấy chính mình tham gia phục vụ chiến trường đấy, tôi chỉ biết ngồi khóc không biết nói thế nào hơn vì thật sự mình quá xúc động.

Mình thấy như thế và rất căm thù, tự nhiên nó nhói tim của mình vì nó đau cho những người bị chết quá. Họ hy sinh hôm trước mà hôm nay nó như thế này tự nhiên mình nhói trong tim quá.”

Hy vọng lời kể của người trực tiếp chứng kiến nỗi đau của các anh bộ đội trẻ trung năm xưa có thể lay động tới lớp người trẻ hôm nay vì họ không hề được biết có cuộc chiến tàn khốc như vậy trong sách giáo khoa. Họ cũng không biết rằng bia căm thù giặc Trung Quốc xâm lược tại cầu Khánh Khê Lạng Sơn đã bị đục bỏ hai chữ Trung Quốc, và họ cũng không biết nốt ngày 17 tháng Hai hằng năm là ngày gì.

Không ai nghĩ là những người phá hoại cuộc tưởng niệm tại Sài Gòn sẽ hồi tâm chuyển ý vì trước khi cầm vòng hoa đạp nát dưới chân, họ đã được định hướng rằng tới tượng đài ngày hôm ấy là những kẻ phản động, kể cả những người như nữ nghệ sĩ Ánh Hồng.

anhbasam

——-

Nguyễn Thúy Hạnh

Đoàn xe hùng hậu “vô tình” (?) đậu dọc đường Lê Thạch giáp vườn hoa Lý Thái Tổ sáng 17/2 khi đông đảo nhân dân đến thắp nhang tưởng niệm đồng bào và chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược 2/1979. Dùng xe che chắn lòng yêu nước, khác nào lấy tay che bầu trời?

Che chắn để nhân viên Tòa Đại sứ Trung Quốc đi ngang qua sẽ không nhìn thấy mà không quở trách và bắt đảng CSVN và Nhà Nước làm kiểm điểm.

Nguyễn Thúy Hạnh's photo.
Nguyễn Thúy Hạnh's photo.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Công An, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Bản Cam Kết của các chủ tiệm Photocopy gửi Công anTp Đà Lạt về việc không được photo các tài liệu, văn bản liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc!

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2016

Con Đường Việt Nam Like Page

CÔNG AN TP ĐÀ LẠT KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH ĐƯỢC !

Ngay sau khi xuất hiện Bản Cam Kết của các chủ tiệm Photocopy gửi CATP Đà Lạt về việc không được photo các tài liệu, văn bản liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc & phải báo về cho số 01676 251548 (An – CATPĐL), anh Đỗ Đức Hợp đã gọi điện cho An ninh để hỏi về chuyện lạ lùng này.

An Ninh và – Công An Tp Đà Lạt đã không thể trả lời được vì sao, và nói chỉ làm theo chỉ thị mà không cho biết là chỉ thị từ đâu.

Sự việc bắt đầu từ đây:

CÔNG AN TP ĐÀ LẠT BẮT CHỦ TIỆM PHOTO CAM KẾT KHÔNG PHOTO TÀI LIỆU CHÍNH TRỊ LIÊN QUAN TỚI TRUNG QUỐC?

Một BẢN CAM KẾT theo mẫu ghi ngày 21/1/2016 ký tên là chủ tiệm Photocopy tại Tp Đà Lạt gửi cho CATP Đà Lạt ghi rõ:

“Nay tôi xin cam kết, cam đoan khi có trường hợp tới photo, in ấn các tài liệu có liên quan tới các vấn đề nhạy cảm chính trị, các tài liệu, văn bản có nội dung phản ánh tới Biển Đông, các vấn đề chính trị liên quan tới Trung Quốc, tôi sẽ ngay lập tức thông báo cho cơ quan Công an để có biện pháp xử lý kịp thời. Đồng thời tôi sẽ không tiếp nhận bất kỳ trường hợp nào khi yêu cầu photo hay in ấn các tài liệu trên. Nếu không tuân thủ thực hiện, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.”

Số điện thoại của CA Đà Lạt: 01676 251548 (An – CATPĐL)

Ảnh: Tony Pham

 

Con Đường Việt Nam: Vì đâu mà CATP Đà Lạt lại sợ Biển Đông & Trung Quốc đến thế?

Update: Đã có video phỏng vấn CA Đà Lạt. Mời quý vị:

https://www.facebook.com/quyenconnguoi/photos/a.390279137693775.88572.386595591395463/918042961584054
Link chia sẻ Youtube: https://youtu.be/o_yl2UinJsY

———

Bắt dân cam kết không được in tài liệu liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc: Phải truy tố về tội phản bội Tổ quốc

Theo Fb Nguyễn Tường Thụy

Trên mạng xã hội facebook xuất hiện một bản cam kết gây phẫn nộ trong dư luận. Người cam kết là ông Bùi Trường Cầm chủ một cơ sở fotocopy. Bản cam kết gửi cho Công an Thành phố Đà Lạt có nội dung như sau:
“Nay tôi xin cam kết, cam đoan khi có trường hợp tới photo in ấn các tài liệu có liên quan tới các vấn đề nhạy cảm chính trị, các tài liệu, văn bản có nội dung phản ánh tới Biển Đông, các vấn đề chính trị liên quan tới Trung Quốc, tôi sẽ ngay lập tức thông báo cho cơ quan công an để có biện pháp xử lý kịp thời. Đồng thời tôi sẽ không tiếp nhận bất kỳ trường hợp nào khi yêu cầu photo hay in ấn ác tài liệu trên. Nếu không tuân thủ thực hiện, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật“.
Chưa đủ để khẳng định tính xác thực của bản cam kết này nhưng nó có độ khả tín khá cao vì người ký cam kết có tên và địa chỉ cụ thể là số nhà 20A Nguyễn Chí Thanh, phường 1 Thành phố Đà Lạt.
Về hình thức cho thấy đây là bản cam kết in sẵn, cả dòng chữ “Kính gửi công an Thành phố Đà Lạt” và chữ “phường 1” cũng in sẵn, người cam kết chỉ việc điền họ tên, địa chỉ vào rồi ký chứ không phải là tự viết. Tức là một cam kết ép chứ không phải là tự nguyện. Điều này nói lên tất cả các cơ sở fopocopy của phường 1 đều phải ký cam kết này và có thể các phường khác của Thành phố Đà Lạt cũng cũng làm tương tự.
Tôi đã gọi điện vào số điện thoại ghi trong bản cam kết để hỏi rõ thực hư nhiều lần nhưng không có người bắt máy.
Việc bắt chủ cơ sở photocopy cam kết không photo in ấn các tài liệu liên quan tới Biển Đông và các vấn đề chính trị liên quan tới Trung Cộng không những vi phạm pháp luật mà còn làm hại cho chủ quyền của Việt Nam.
Trong những năm vừa qua, đã có nhiều sự cấm đoán nhằm ngăn cản việc tuyên truyền về chủ quyền, biển đảo, vạch ra dã tâm xâm lược của Trung Cộng đối với Việt Nam như đàn áp biểu tình, phá các buổi tưởng niệm tử sĩ chống Trung Cộng, cấm dán biểu ngữ có nội dung chống Trung Cộng hay khẳng định chủ quyền của Việt Nam (Hoàng Sa – Trường Sa – Việt nam). Nhưng trường hợp bắt dân cam kết trên đây là rất trắng trợn, thể hiện công khai bằng văn bản.
Điều 78 Bộ luật hình sự: Tội phản bội Tổ quốc:
1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Bàn tay của Trung Hoa cộng sản đã len lỏi khắp nơi trên lãnh thổ Đất nước. Bọn việt gian bán nước trà trộn trong chính quyền đã công khai hoạt động. Rõ ràng đây là hành vi tiếp tay, che đậy cho Trung Quốc, xâm hại đến chủ quyền của Việt Nam. Không thể yêu cầu Công an Đà Lạt vì dân phải cam kết với họ. Yêu cầu Bộ Công an điều tra gấp, tìm ra kẻ chủ mưu để xử lý theo pháp luật. Nếu đây cũng lại là chỉ thị của Bộ Công an thì Quốc hội phải vào cuộc, thành lập đoàn công tác điều tra vụ này.
20/2/2016
Nguyễn Tường Thụy

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Công An | Leave a Comment »

►Sao lại làm ngơ cuộc chiến 1979 trong sách giáo khoa?

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2016

17-2-2016

Tuấn Khanh

Trong một chuyến du ký ở Việt Nam để tìm hiểu về dư âm của cuộc chiến 1979, nhà báo Michael Sullivan có tìm đến một nghĩa trang ở Lạng Sơn. Khi chứng kiến một phụ nữ thắp nhang cho người thân của mình, một binh sĩ đã hy sinh để chống lại quân xâm lược Trung Quốc, Micheal Sullivan đã an ủi bà rằng thôi thì chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng rất dứt khoát, bà Phạm Thị Kỳ – tên của người phụ nữ – đã nói rằng “Không, sẽ không bao giờ chấm dứt. Với Trung Quốc, làm sao mà chấm dứt được?”.

Khu nghĩa trang nhỏ nơi bà Phạm Thị Kỳ đang viếng người thân, sẽ không bao giờ nói lên đủ nỗi đau của một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng khốc liệt đó. Theo ước tính chủ quan của các sử gia nước ngoài, ước tính có 50.000 người Việt đã thiệt mạng, bao gồm binh sĩ cùng người già và trẻ con bị quân Trung Quốc tàn sát man rợ trên đường rút chạy, để trả thù cho cuộc xâm lăng thất bại, với gần 100.000 lính bị thương và chết.

Ở Việt Nam ngày nay, người ta không dễ tìm thấy một cách trọn vẹn những dữ liệu mang tính chính thống cho cuộc chiến kỳ quặc và đau thương này. Hiếm có bộ phim nào ra rạp với kịch bản về cuộc chiến biên giới phía Bắc – dù đó là nguồn đề tài sử thi dồi dào. Rất ít sách nghiên cứu về hậu quả của cuộc chiến này, đối với đất nước và con người Việt Nam. Thậm chí, không có dòng nào trong sách giáo khoa lịch sử – so với hàng núi sách về cuộc chiến với người Pháp, người Mỹ và miền Nam Cộng hòa được phổ biến rộng rãi – mà những đứa trẻ như con cháu bà Phạm Thị Kỳ vốn vẫn thắc mắc khi đến viếng mộ người thân của chúng.

Đã đến lúc Bộ giáo dục Việt Nam đưa câu chuyện chiến tranh này vào sách giáo khoa chưa? Chí ít đó là một chương rất nhỏ và mờ nhạt về cuộc chiến này, để không làm đau tủi hàng chục ngàn người Việt đã ngã xuống, đổ máu trong các cuộc đụng độ biên giới, để chúng ta có thể ngồi yên ở đây, hôm nay?

Không khác mấy ở Việt Nam. Cuộc chiến biên giới 1979 Việt – Trung cũng được nhắc đến rất mờ nhạt ở Trung Quốc. Ngay trong sách giáo khoa của học sinh trung học đại lục, chỉ có vài dòng ít ỏi mô tả để thế hệ sau không lãng quên quá khứ nhưng lại không quên ghi rằng đó là một cuộc chiến tự vệ và đánh trả để chứng minh “sức mạnh và chính nghĩa” của Trung Quốc. Giải thích về chuyện vì sao quân đội Việt Nam không hề tiến qua biên giới, mà chính quân đội chính quy Trung Quốc lại thọc sâu vào đất Việt Nam, các sử gia nhà nước đã ghi rằng bởi PLA (Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa) chấp nhận đáp trả thách thức của nước Nga, lúc đó đang hậu thuẫn cho Việt Nam, khi đưa ra lời cảnh cáo nếu vượt biên giới thì Nga sẽ pháo kích đánh trả.

Dù ít, nhưng người Trung Quốc cũng được dạy rằng họ mang “chính nghĩa” đi khắp thế giới, và Hoàng Sa và Trường Sa là của đất mẹ đại lục hiện vẫn chưa thu hồi được. Cuộc chiến 1979 được Trung Quốc mô tả với hơn một tỷ dân của họ rằng Việt Nam “kiêu ngạo và càn quấy” nên cần được dạy dỗ. Ký ức về cuộc “dạy dỗ” đầy man rợ đó vẫn lưu truyền trong dân chúng, và những nấm mồ người dân Việt vô tội im lặng nằm rải rác, dọc khắp biên giới Bắc là bằng chứng không thể chối cãi.

Vì sao chúng ta cần những sự thật lịch sử? Vì sao phải cần ghi vào sách giáo khoa cho con cháu về sau? Câu hỏi nghe chừng có vẻ ngớ ngẩn – nhưng không phải là không cần đặt ra lúc này. Vì bởi lịch sử làm nên nhân cách và dân tộc tính của mỗi quốc gia. Lịch sử tạo nên những con người có ý thức rằng dân tộc mình đã tồn tại với thất bại và vinh quang như thế nào. Lịch sử dặn dò rằng con người nhỏ nhoi nhất có thể trở nên vĩ đại nhất, nếu vượt qua và sống sót. Tựa lưng vào lịch sử đầy đủ và trung thực, con người có thể tìm thấy cho mình cái nhìn sâu sắc, giá trị giúp cho từng thế hệ đi tới.

Lịch sử không để dùng nuôi giữ hận thù hay phục vụ cho mục đích nào đó, ngoài việc dâng tặng cho tri thức tử tế và sinh tồn. Lịch sử là kho kinh nghiệm vô giá để loài người soi lại chính mình. Cố tình lãng quên sự thật và lịch sử mới chính là cách dùng súng bắn vào quá khứ một cách đê tiện.

Ở Trung Quốc lúc này, việc đòi hỏi minh bạch cuộc chiến 1979, đưa vào sách vở chính thống cũng đang rộ lên trên các diễn đàn tiếng Hoa. Trên tờ New York Times, khi ký giả Howard. W. French hỏi vài cựu chiến binh Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến 1979 rằng họ có biết ý nghĩa của cuộc chiến đó là gì không, họ đã lắc đầu nói “tôi không biết”. Long Chaogang, tên của người cựu binh này, nói rằng khi con cháu hỏi về cuộc chiến này, và vì sao, ông chỉ còn biết gạt phắt đi và nói “không phải việc của tụi mày”.

Xu Ke, tác giả một cuốn sách tự phát hành mang tên The Last War, từng là một cựu pháo binh 1979, thì có những lý giải khác. Ông nói với ký giả Howard rằng cuộc chiến đó là phần ký ức buộc phải xóa đi trong trí nhớ của người Trung Quốc, bởi lý do của cuộc chiến đó không rõ ràng. Thậm chí, còn có lý thuyết rằng Đặng Tiểu Bình dấy lên vụ xung đột biên giới để rảnh tay sắp xếp lại quyền lực của mình trong bộ chính trị, vốn đang bị ám ảnh khuôn mẫu từ triều đại của Mao và đầy bất lợi với họ Đặng.

Trung Quốc làm ngơ và xóa ký ức của người dân Trung Quốc về cuộc chiến 17 tháng 2/1979 bởi họ không có chính nghĩa. Cả thế giới nhìn thấy đó là cuộc xâm lăng điên cuồng. Nhưng người Việt thì không thể làm ngơ với lịch sử của mình, đặc biệt khi đó là phần lịch sử bảo vệ tổ quốc, kiêu hãnh và lưu danh trong ký ức nhân loại. Lịch sử phải được ghi lại, được giáo dục trong sách giáo khoa để ghi rõ những quân đoàn Trung Quốc trên đường tháo chạy vẫn được tướng Hứa Thế Hữu (*) truyền lệnh “sát cách vô luận” – tức thấy là giết, không cần lý lẽ. Đàn bà bị hãm hiếp rồi giết, trẻ con bị đập chết, người già bị chôn sống… “chính nghĩa” của đạo quân phương Bắc là vậy. Lịch sử phải được nhìn thấy đủ, để dấy động mọi tâm can, cho những cuộc thắp hương tưởng niệm hàng năm phải được là lễ trọng, không bị ngăn trở và vô vàn những bia, chữ tưởng niệm không bị vô-chủ tâm nhổ bỏ, hoặc làm ngơ với phong sương.

17.2.1979 không phải là cuộc chiến riêng của vài tỉnh miền Bắc Việt Nam, cuộc chiến đó là cuộc chiến của lòng ái quốc và lòng tự trọng của một dân tộc trước thách thức để sinh tồn và độc lập. 17.2 cũng cần được kính trọng không khác ngày 2.9 trên đất nước này. Vậy thì, khi nào sách giáo khoa Việt Nam sẽ ghi vào đó phần máu thịt và đau thương của người Việt đã bị làm ngơ?

Khi nào?

Kết thúc bài viết của mình tại Trung Quốc, ký giả Howard hỏi ông Xu Ke rằng ông sẽ làm gì với cuốn sách của mình. Người cựu chiến binh Trung Quốc đó im lặng chốc lát, và trả lời rằng ông muốn nhân dân mình được biết, tường tận về những gì đã xảy ra. “Bọn đạo đức giả và phản bội đã che giấu sự thật”, ông Xu Ke nói.

(Nhạc Sĩ Tuấn Khanh).
——————————
(*) Tháng 9/2008, Tướng Trung Quốc Hứa Thế Hữu từng được nhiều báo Việt Nam chia nhau đăng bài ca ngợi là tài năng xuất chúng, mà “quên” bẳng ông ta chính là người cầm cánh quân tiến công vào Cao Bằng – Lạng Sơn năm 1979, với chủ trương tàn phá mọi nhân lực và vật chất của Việt Nam.

(* Link Nguồn: https://nhacsituankhanh.wordpress.com/…/sao-lai-lam-ngo-cu…/)

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Hà Nội thì được tưởng niệm ngày 17-2, nhưng Saigon thì bị phá rối. Các bạn biết tại sao không?

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2016

Ngoc Nhi Nguyen

17-2-2016

Hai cuộc tưởng niệm các tử sĩ VNCH và liệt sĩ CS hy sinh chống Trung Quốc xâm lược đã được các hội , nhóm đấu tranh dân chủ tổ chức tại Hà Nội và Saigon , ở tượng đài Lý Thái Tổ và ở tượng đài Trần Hưng Đạo , vào ngày 19-01 và ngày 17-02 .

Ở Hà Nội thì không bị chặn phá , mặc dù vẫn bị theo dõi rất gắt gao , nhưng ở Saigon thì không những bị theo dõi , bị chặn từ nhà mà còn bị phá hoại , cản trở tại địa điểm tưởng niệm .

Ở Saigon , công an chìm mặc thường phục và giả làm nhân viên vệ sinh đã giật đi các băng rôn và vòng hoa , cũng như đã xông vào dùng dù để che khuất đi không cho người đi đường nhìn thấy .

Tại sao vậy ?

Rất đơn giản , vì miền Nam , nhất là Saigon , là cái ổ của phản động và đối kháng . Mầm mống chống cộng vẫn âm ỉ trong lòng người dân VNCH cũ , chỉ chờ cơ hội là bùng lên khắp miền Nam .

Trong suốt 30 năm từ 1945 đến 1975 , người dân miền Bắc hoàn toàn bị thuần phục , bị lừa gạt 1 cách ngoạn mục . Không có ai có ý tưởng muốn lật đổ đảng CS hay dẹp bỏ chế độ độc tài . Cho dù có vài cá nhân bất mãn chống đối , nhưng họ vẫn chấp nhận đảng CS lãnh đạo , chỉ là chống đối để ” xây dựng đảng tốt hơn ” theo ý họ mà thôi .

Chỉ sau 1975 , thì lãnh đạo CSVN mới thực sự được nếm mùi thế nào là phản động , thế nào là chống đối , thế nào là lòng dân muốn giựt sập cả chế độ .

Ngày nay ở miền Bắc , cho dù có sự bất mãn , thì đại đa số vẫn tin đảng CS là tốt , vẫn cho rằng chủ thuyết Mác Lenin là đúng , chẳng qua 1 số quan chức đi sai đường . Rất nhiều người miền Bắc đấu tranh là để cho đảng CS ” đi đúng đường lại ” . Họ vẫn kính trọng Hồ Chí Minh , vẫn tôn thờ Võ Nguyên Giáp , vẫn cho cờ đỏ sao vàng là cờ Tổ quốc và vẫn gọi ngươì VNCH là Ngụy .

Vì vậy nếu 1 nhóm nhỏ đi tưởng niệm thì cũng chẳng tạo ra được phong trào gì đáng kể , khó mà nhân rộng ra được . Càng đàn áp lại càng gây chú ý và khiến cho người dân tò mò tìm hiểu . Tốt hơn là cứ thả cho làm , nhưng theo dõi kỹ , chừng nào quá mức thì bắt cũng chả muộn .

Còn trong Saigon thì lại khác . Con cháu VNCH nhan nhản . Bình thường họ không nói gì , nhưng bất cứ nơi đâu cũng có thể là đống than hồng âm ỉ , chỉ cần 1 mồi lửa là cháy bùng lên và sẽ lan ra rất mau .

Vì vậy mà đảng CSVN không dám để cho phía miền Nam được tự do hoạt động , mà phải tìm mọi cách ngăn cản và ếm nhẹm . Nhưng phải làm sao cho khéo để không bị quốc tế lên án , vì cái đám miền Nam con cháu VNCH này chúng lại có mối liên hệ mật thiết với các quốc gia tự do dân chủ . Làm quá chúng đi méc các chính khách Âu Mỹ và các tổ chức nhân quyền thì khi đó đảng lại bị 1 phen điêu đứng !

Đó là lý do vì sao đảng CSVN thả cho Hà Nội làm nhưng quyết phá cho bằng được ở Saigon .

 
Ngoc Nhi Nguyen's photo.
Ngoc Nhi Nguyen's photo.

 

Đã có bạo lực, côn an hồ chí minh đã chỉ đạo phá rối buổi tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến tranh biên giới 17/02/1979
Bình Hoàng

https://www.facebook.com/hoang.binh.3114/posts/565290086962027?fref=nf

——-

ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG LÀ NGƯỜI YÊU NƯỚC VÀ KHÔNG HÀNG TÀU CỘNG?
Sáng nay rất nhiều công dân tại Sài Gòn bị ngăn chặn, không cho ra khỏi nhà để đến tượng đài Trần Hưng Đạo dự lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong trận chiến chống Tàu cộng xâm lược năm 1979.
Buổi lễ do người dân tự giác cùng nhau tập trung tổ chức hằng năm trong ôn hoà và nghiêm trang vào các ngày 19/1, 17/2, và ngày 14/3.
Bắt đầu từ năm nay, nhà cầm quyền của đảng CS tại Sài Gòn đã ra lệnh ngăn chặn và phá rối buổi lễ tưởng niệm liệt sĩ Hoàng Sa vào ngày 19/1 vừa qua.
Và Hôm nay lễ tưởng niệm liệt sĩ biên giới phía Bắc cũng bị ngăn chặn. Từ sáng sớm ngày hôm qua, 16/2, nhà cầm quyền đã cho lực lượng an ninh đến canh cửa nhiều công dân có dự định đi dự lễ tưởng niệm.
Sáng nay khi tôi bước ra khỏi nhà để đi dự lễ liền bị nhiều nhân viên an ninh ập đến ngăn chặn. Họ dùng mọi biện pháp sai trái để quyết liệt không cho tôi đi. Nhiều công dân khác cũng ở trong tình trạng tương tự.
Ai ra lệnh nầy, nếu không phải là ông Nguyễn Phú Trọng. Tôi không khỏi không đặt ra câu hỏi tại sao ông lại hèn với giặc Tàu như vậy?

Huynh Ngoc Chenh's photo.
Huynh Ngoc Chenh's photo.
Huynh Ngoc Chenh's photo.
To Hai Tính chất lễ tưởng niệm này ngoài tưởng nhớ những người đã hy sinh vì Tổ Quốc còn mang một ý nghĩa mà Trọng sợ nhất :ĐÓ LÀ CHỐNG TẦU CỘNG HÁN ĐẾ! Mà chống Tầu cộng là chống vua cha chúng nó, những thăng vua con được giao cho cai trị mảnh đất Lạc Việt này! Chúng phải phá bằng được dù không dám bắt bớ như trước nữa….

Ngoc Mai
Ngoc Mai Ngoài bắc nới lõng để vu họa trong nam .Lão trọng lú này ghê gớm cái lú quá colonthree emoticon

Tâm Nhu Lê
Tâm Nhu Lê Chị có biết tại sao không? Đối với CS Bắc Việt, chúng vẫn coi dân mien Nam là dân nguỵ, cứng đầu và phản động. mà chúng không bao giờ tin. Không thế mà sau khi chiếm được mien Nam là CSBV nhanh chóng giải thể Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và loại dần nhưữg người mien Nam trong MT này; dù họ đã tiếp tay dành thăng lợi cho đảng CSVN và ngay lâp tức cho can bộ mien Bắc vào nắm các cơ quan, cơ sở quan trọng, chỉ còn 1sô ít can bô tâp kêt

Like · Reply · 14 · 21 hrs
Nguyễn Truyện
Nguyễn Truyện Không lẻ chúng ngăn cản bắt bớ hết 90 triệu người ,mọi người dân bảy cùng đồng lòng giải cứu que hương !

Like · Reply · 3 · 20 hrs
Việt Hy Nhân
Việt Hy Nhân Minh Nguyet Le Nói cách khác, loài Bắc Cộng mọi rợ suốt gần nửa thế kỷ nay LUÔN LUÔN coi miền Nam là thuộc địa và dân chúng miền Nam là những người BỊ TRỊ, BỊ BÓC LỘT ,BỊ HÚT MÁU để bồi bổ cho chúng ,nên đương nhiên lũ Bắc cộng phải lo sợ, đề phòng, trấn áp .v.v bằng mọi cách !!

Like · Reply · 4 · 14 hrs
Việt Hy Nhân
Việt Hy Nhân Nhứt là trong thời đại của thông tin này, tụi nó SỢ dân miền Nam ngày càng tỉnh ra, ngày càng thấy rõ bộ mặt ăn cướp đã hèn hạ lại dã man của tụi nó thì dân miền Nam sẽ nổi dậy ! Do đó tụi nó không từ bất cứ thủ đoạn nào, dù dơ bẩn và hèn hạ tới đâu, để hết sức ngăn cản !!

Like · Reply · 4 · 14 hrs
Ngoc Mai
Ngoc Mai Cs bắc Việt cũng chỉ là t”thằng bé hỉ mũi chưa sạch” của tụi hán (g) kinh thôi.Có điều sức mạnh từ nòng súng+ binh lực+ khối ngu dân phò chúng .Khổ cho người dân Việt Nam hiểu biết sống trong xiềng xích lũ mọi rợ!!

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Vì sợ Trung Quốc và muốn hạ bệ 3-X, đảng CSVN ra lệnh báo chí đưa tin sơ sài về Nguyễn Tấn Dũng tới Mỹ dự hội nghị cấp cao giữa Asean và Hoa Kỳ

Posted by hoangtran204 trên 17/02/2016

Thủ tướng đi Mỹ

16-2-2016

Người Buôn Gió

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt chân đến Hoa Kỳ để dự hội nghị cấp cao đặc biệt giữa Asean và Hoa Kỳ được tổ chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2016.

Trước chuyến đi này của ông Dũng, nhiều nguồn tin đã loan báo ông Dũng sẽ không đi, thay thế vào đó là ông Phạm Bình Minh bộ trưởng ngoại giao.

Hãng thông tấn BBC loan một bản tin tương như vậy, vài giờ sau trang tin này đưa một bản tin tiêu đề khá ngộ nghĩnh.

Thủ tướng Dũng đổi ý giờ chót gặp Obama.

Mọi lý giải đều cho rằng ĐCSVN không muốn ông Dũng đi, nhưng vì đòi hỏi của Hoa Kỳ nên bắt buộc phải để ông Dũng đi trên tư cách đứng đầu phái đoàn Việt Nam.

Với chế độ như cộng sản Việt Nam, việc ông Dũng đi hay không đi đều có thể xảy ra. Dự một hội nghị quan trọng như vậy tại Hoa Kỳ, các uỷ viên BCT nào của Việt Nam cũng thèm muốn được ra mắt trong vai trò đứng đầu. Trong khi ông Dũng đã không còn giữ chức gì trong đảng CS sau đại hội 12 vừa qua. Nhưng thông lệ của hội nghị, các phái đoàn đến phải là nguyên thủ quốc gia như tổng thống, thủ tướng mới tương xứng với tầm quan trọng của hội nghị. Thế nên việc ông Dũng đi sang Mỹ dự hội nghị này là phù hợp với thông lệ.

Nhân dịp Tết Nguyên Đán vừa qua, các bộ phận ngoại giao Việt Nam tại Hoa Kỳ đi chúc Tết một số kiều bào, các cán bộ ngoại giao ở đây đã nhắc nhở một số kiều bào không nên tiếp xúc với thủ tướng khi ông Dũng đến Hoa Kỳ dự hội nghị này.

Như vậy, việc ông Dũng đi đến Hoa Kỳ lần này đã có trong một kế hoạch dự phòng định trước. Việc không công bố và tung những tin hoả mù của chế độ để nhằm mục đích là, nếu buộc phải để Dũng đi, thì tin như vậy sẽ ngăn cản những kiều bào vốn thường xuyên có quan hệ tốt với chế độ CS không tiếp xúc với thủ tướng, qua đó khiến cho uy tín của thủ tướng giảm đi trong mắt dư luận. Việc này càng rõ hơn khi đến chiều ngày 15 tháng 2 khi mà Nguyễn Tấn Dũng đã đến Hoa Kỳ một ngày. Nhiều tờ báo lớn trong nước không đưa tin hoặc đưa tin rất sơ sài ở mục nhỏ. Duy nhất có tờ Dân Trí đưa tin lấy lại từ Thông Tấn Xã Việt Nam, những tấm hình cho thấy chỉ hai người Việt ra đón thủ tướng trong đó một người là phiên dịch và một phụ nữ ôm bó hoa như đi chợ. Một cảnh đón tiếp nhạt nhẽo nhất từ trước đến nay của của kiều bào Hoa Kỳ với thủ tướng Dũng.

Điều khác lạ hơn là những người an ninh bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến đi này đều từ Việt Nam sang cùng. Thông thường khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ sẽ có đội an ninh lấy từ đại sứ quán, lãnh sự quán đến phối hợp để bảo vệ an ninh. Bởi mỗi khi ông Dũng đến Hoa Kỳ làm việc với chính phủ sở tại hay các tổ chức thương mại, quốc tế đóng tại đây, ông đều có những cuộc gặp gỡ bên ngoài với các cộng đồng người Việt. Việc tham gia của đội ngũ an ninh Việt Nam ở Hoà Kỳ sẽ giúp thủ tướng lựa chọn được những địa điểm, những con người người phù hợp để ông tiếp xúc, nói chuyện. Nhưng có thể lần này không cần thiết đến các an ninh Việt Nam tại Hoà Kỳ, bởi ông Dũng không được phép tiếp xúc tự do bên ngoài hội nghị như mọi lần trước nữa.

Ảnh TTX VN

Ảnh TTX VN

Ở hội nghị cấp cao này, Hoa Kỳ muốn tác động thắt chặt quan hệ với các nước Asean để ngăn cản sự bành trướng của Trung Quốc. Bởi vậy trước hội nghị này, ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã phải trực tiếp vận động những nước trong khối Asean có lập trường nghiêng về phía Trung Quốc như Lào, Cam Pố thay đổi thái độ bấy lâu. Qua những động thái như vậy của Hoa Kỳ , dễ nhận thấy Hoa Kỳ rất coi trọng tầm vóc của hội nghị này và sốt sắng muốn nhanh chóng đạt được những thoả thuận đồng nhất giữa các nước Asean với Hoa Kỳ về kinh tế và an ninh hàng hải, an ninh khu vực.

Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tìm kiếm tiếng nói ủng hộ mình trong vấn đề biển Đông cũng như tìm kiếm sự hỗ trợ phát triển kinh tế. Lẽ ra với những mục tiêu hứa hẹn tốt đẹp như vậy, báo chí Việt Nam phải hăng hái đưa tin cổ vũ, ca ngợi.

Thế nhưng sự lạnh nhạt của truyền thông Việt Nam cho thấy, phải chăng chế độ Việt Nam không mặn mà gì với hội nghị này. Nguyên nhân đó chỉ là muốn giảm uy tín của cá nhân Nguyễn Tấn Dũng.? Nếu thế thật tai hại, không thể vì muốn giảm uy tín một cá nhân mà không thông tin cung cấp cho người dân biết về những cơ hội phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền của đất nước.

Hay còn có nguyên nhân khác, là Việt Nam e ngại Trung Quốc nên không muốn nhắc nhở nhiều đến chuyến đi này. Nếu thế là quá nguy hại, chứng tỏ Việt Nam chưa thể thoát được sự điều khiển của Trung Quốc. Như vậy thì kết quả mà đoàn Việt Nam đến Hoa Kỳ lần này sẽ chẳng có tiến triển gì trong cái gọi là tăng cường đấu tranh ngoại giao để bảo vệ chủ quyền như họ vẫn nói.

Dù ông Dũng không còn là gì đi nữa trong Đảng CSVN. Nhưng hôm nay ông đến Hoa Kỳ trong vai trò là một nguyên thủ Việt Nam, để làm về những việc quan trong gắn với sự phát triển và bảo vệ tổ quốc. Hình ảnh, thông tin mà Thông Tấn Xã Việt Nam cung cấp cho bạn đọc về cuộc đón tiếp ông Dũng tại Hoa Kỳ thật sơ sài, thiếu lửa nếu như không nói là tệ hại. Đến lúc này thì hình ảnh của ông Dũng có mặt tại hội nghị cấp cao Asean – Hoa Kỳ là hình ảnh đất nước. Không nên vì những hẹp hòi cá nhân mà chỉ đạo báo chí đưa tin, ảnh thiếu sinh khí như vậy về chuyến đi của ông Dũng.

Còn nếu như vì sợ Trung Quốc mà đưa tin như vậy, thật chẳng còn gì để nói về cái đảng cộng sản Việt Nam.

Facebook Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu)

danchimviet.info

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tô Huy Rứa: “con đường của Đảng CSVN đang đi, được chứng minh bằng sự thành công của Trung Cộng”

Posted by hoangtran204 trên 17/02/2016

Hóa ra, anh Rứa cũng chỉ có rứa mà thôi!

Trần Xuân Thái (Tác giả gửi BVB)

14-2-2016

Thứ sáu tuần rồi, tui đi thông dịch cho anh Tô Huy Rứa ở Nhật khi anh ta hội kiến với ông tỉnh trưởng tỉnh Nara.

Nói thật, tui đi dịch cũng nhiều cho quan chức cao cấp của Việt Nam sang đây, nhưng chưa thấy ai dốt như anh Rứa này.

Hội kiến, mà ông tỉnh trưởng của Nhật là người nói; còn anh Rứa thì trả lời bằng cách cầm tờ giấy do ai đó viết sẵn để anh ta đọc.

Ông tỉnh trưởng Nhật nói: “Tôi nghe tiếng tiên sinh là Trưởng Ban Lý luận Trung ương Đảng CSVN, rất hân hạnh được tiên sinh ghé thăm tỉnh của tôi và diện kiến. Tôi là người thích triết học Mác, hân hạnh được nghe tiên sinh chỉ giáo.”

Anh Rứa nghe mình dịch xong, cầm tờ giấy viết sẵn lên, đọc, tự giới thiệu một hơi nào là Trưởng Ban Lý luận Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tiến sĩ Triết học, chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống tư tưởng lý luận cho Đảng CSVN v.v..

Anh ta đọc khoảng 15 phút, dài quá nhớ sao hết! Mình chỉ còn thuộc lòng cái đoạn này:

“Chúng tôi kiên định lập trường xây dựng xã hội chủ nghĩa với giai cấp công nhân làm nòng cốt… ”

Tóm lại, mình cũng chẳng biết anh ta đang nói, chào hỏi xã giao với quan chức ngoại quốc ở Nara hay là đọc diễn văn báo cáo chính trị tại Hội trường Ba Đình.

Đang nhắm mắt, nhắm mũi dịch cái bài diễn văn của anh Rứa thì đột nhiên tỉnh trưởng Nara lên tiếng ngắt lời: “Tiên sinh nói rằng Đảng CSVN kiên định lập trường xây dựng chủ nghĩa xã hội với giai cấp công nhân làm tiên phong nòng cốt thì tôi còn hiểu; nhưng mà cái câu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì vậy? Theo tôi, kinh tế thị trường tức là theo nền kinh tế tự do của Tư bản chủ nghĩa; mà theo nền kinh tế thị trường, tức là phủ nhận toàn bộ các giá trị học thuyết của Mác, khi đã chấp nhận cho dân làm giàu thì đồng nghĩa chấp nhận sự bóc lột sức lao động theo cách nói của Mác. Mà đã chấp nhận sự bóc lột giai cấp công nhân thì tức là đã cho toàn bộ lý luận đầy tính nhân văn của Mác vào sọt rác rồi. Mà đã cho lý luận Mác vào sọt rác thì còn kiên định trên con đường theo Mác là nghĩa làm sao? Tiên sinh nói mâu thuẫn quá, tôi thật sự không thể lý giải được.”

Tới đây thì anh Rứa bí đường, nên nói đại là con đường của Đảng CSVN đang đi, được chứng minh bằng sự thành công của Trung Cộng.

Nghe tới đó Tỉnh Trưởng Nara cũng ngán tới cổ rồi.

Mình ngồi bên, nói thêm cho ông ta bằng tiếng Nhật: “Ông không biết đó thôi, dân VN tui nói thằng cha này ngu nhất nước Việt. Cả 90 triệu người Việt đều biết con đường XHCN là con đường thê thảm. Chỉ có “vị giáo sư Triết” này nó không biết mà thôi. Ông làm ơn đừng có nói chuyện Triết học làm quái gì với hắn. Tiến sĩ giấy đó ông ơi. Ông hỏi một hơi nữa, nó mắc cỡ vì bị lộ tẩy cái dốt và xạo đó thì khó nói chuyện tiếp.”

Ông tỉnh trưởng nghe xong, cười tủm tỉm và nói không biết cho mình hay cho anh Rứa: “Tiếc rằng Nhật Bản không có Hội đồng Lý luận Trung ương vạch ra đường đi cho dân chúng. Hy vọng lần sau có cơ hội gặp tiên sinh nhờ chỉ giáo thêm”.

Nghe tới đây, mình nói với anh Rứa: “Tui ở Nhật lâu. Nhật Bổn mà nghe kiểu vuốt lưng như vầy là họ hết muốn nói chuyện với mình rồi đó. Nói gì lẹ lẹ, rồi đi cho rồi.”

Anh Rứa hơi quê, kể cũng tội nghiệp. Ở VN, anh quen nói chuyện với dân theo kiểu học thuộc lòng, đâu có ai dám ngắt ngang lời anh.

Không ngờ bị Nhật Bổn phang ngang một phát, còn bị họ tỏ ý khinh rẻ nữa, làm anh hết đường đỡ.

Nhật đang ghét Trung Cộng tới cổ, anh lại đem Trung Cộng ra mà khen thì chẳng biết anh có được ai dạy cho học về ngoại giao để anh ra nước ngoài hay không!!!

Mình về khách sạn, nằm ngủ, nghĩ tới “cuộc họp” đó mà mắc cười. Biết vậy, từ chối từ đầu, đừng đi cho khỏi nhức đầu. Nay mới có cớ để khẳng định rõ hơn: “Hóa ra, Rứa cũng chỉ có rứa mà thôi. Rứa là người Bắc, được coi là “nhà lý luận” đúng ‘tiêu chuẩn mà Tổng Trọng đặt ra’. May mà Tổng Trọng không ‘chấm’ (hoặc do quá tuổi) Tổng bí thư khóa 12, nếu cái ghế ấy mà vào ‘đít’ lão Rứa, chắc Việt Nam cứ kéo dài tình trạng nghèo và lạc hậu ‘như rứa’  mãi”!

Trần Xuân Thái (Tác giả gửi BVB)

————————

Mỹ đổi tên đường, Trung Cộng nổi điên

Con đường này là nơi Trung Cộng đặt tòa đại sứ. Như vậy, tòa đại sứ Trung Cộng tại Hoa Kỳ đặt tai 3505 International Place, từ nay sẽ có địa chỉ mới  Liu Xiaobo Plaza.

Cali Today News – Trung Cộng phản ứng mạnh mẽ khi Thượng Viện Hoa Kỳ đồng loạt thông qua việc đổi tên đường từ International Place ở Hoa Thịnh Đốn thành đường mang tên Lưu Hiểu Ba, một nhà văn bị bắt sau vụ thảm sát Thiên An Môn, một nhà đối kháng lừng danh của Trung Cộng từ vụ ThiênAn Môn đến nay, một khôi nguyên Nobel Hòa Bình (2010) bị nhốt tù từ năm 2008 đến nay qua bản án 11 năm tù vì tội soạn thảo tuyên ngôn 08 nhằm bảo vệ cải tổ chính trị hòa bình tại Trung Quốc.

Con đường này là nơi Trung Cộng đặt tòa đại sứ. Như vậy, tòa đại sứ Trung Cộng tại Hoa Kỳ đặt tai 3505 International Place, sẽ có tên mới 1 Liu Xiaobo Plaza.

Như vậy, mọi thư tín và công văn của tòa đại sứ Trung Cộng tại Mỹ sẽ phải ghi tên nhà đối kháng Lưu Hiểu Ba.

Báo chí Trung Cộng tấn công sự thay đổi này, xem là một hành động chơi dơ, trước đà vươn lên của Trung Cộng.

Luật đổi tên đường nói trên do thượng nghị sĩ Ted Cruz đề ra, và được thượng nghị sĩ Marco Rubio, cũng như thượng nghị sĩ Pat Toomey đồng bảo trợ.

Trần Thị Sông Dinh

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

► Nhóm lợi ích mới lộ mặt, nhóm lợi ích 3X bị thất thế

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2016

Thành công của đại hội đảng cộng sản 12 vừa qua là hạ được một nhóm lợi ích này và đưa một nhóm lợi ích khác lên ngôi. Chẳng có chống tham nhũng hay dẹp bỏ nhóm lợi ích nào cả. Chỉ có thay thế tham nhũng và nhóm lợi ích này bằng tham nhũng và nhóm lợi ích khác mà thôi.

Nhóm lợi ích mới lộ mặt

Người Buôn Gió

15-2-2016

Kết thúc đại hội 12, Nguyễn Tấn Dũng không còn trong trung ương Đảng CSVN. Theo cơ cấu của ĐCS thì việc đó đồng nghĩa ông Dũng không còn quyền lực nào nữa, ông chỉ còn thời gian mấy tháng để bàn giao công việc cho người kế nhiệm.
Lúc này nhiều tin đồn rất xấu về hậu vận của ông và những người được cho là thân thiết với ông. Cái này dân gian nôm na gọi là ” đi cả dây ”. Chưa biết điều đó có diễn ra hay không và bao giờ diễn ra, nhưng chuyện ” cả dây ” khác đi lên là có thật.
Gia đình Đặng Thành Tâm, Đặng Hoàng Yến trước kia bị sóng gió đến nỗi chị em nhà họ Đặng phải mất hút biệt tăm, sau đại hội 12 đã thấy trở lại trên mặt báo. Tờ báo vietnamnet đưa tiêu đề Lật Cờ Thắng Thế hàm ý chỉ anh em nhà họ Đặng đã trở lại ngày vinh hoa, phú quý.
Bài báo có đoạn viết.
Sau thời vận hạn, ông Đặng Thành Tâm âm thầm hồi phục, bung tiền lấy lại vị thế. Cái thời âu lo đã qua đi, chủ tịch Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC) giờ đây sốt sắng trở lại với công việc kinh doanh và DN từng làm nên danh tiếng của doanh nhân này.
Bà Đặng Hoàng Yến sau khi bị quốc hội tước quyền đại biểu vì tội khai man lý lịch gần như mất tích trên mặt báo. Sau đại hội 12 người ta thấy bà Yến hân hoan trở lại truyền thông với những lời lẽ ca ngợi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Bà Yến nói với BBC.
Nữ doanh nhân, cựu dân biểu Đặng Thị Hoàng Yến nói bà tin Tổng Bí thư Trọng không còn “bị cản đường” như nhiệm kỳ trước và có thể làm nên “một bước ngoặt” cho lịch sử dân tộc.
Đây là những phát biểu mang tính đắc chí về ” vật cản đường ” của Nguyễn Phú Trọng bị loại bỏ, hơn là những nhận định tương lai dân tộc có bước ngoặt. TBT Nguyễn Phú Trọng theo đuổi mục tiêu xây dưng Đảng, củng cố vững chắc chế độ XHCN …với những gì mà ông Trọng nêu mục tiêu như thế, sẽ chẳng có tương lại ngoặt nào cho dân tộc này. Nếu có chỉ là những ” bước ngoặt ” của những tập đoàn sân sau phe ông Trọng như chị em nhà họ Đặng này.
Và thực tế thì đã có ” bước ngoặt lật cờ thắng thế ” của gia đình chị em nhà họ Đặng khi đại hội 12 kết thúc chưa đầy 1 tháng. Sở hữu khu công nghiệp đồ sộ phía Nam, đó là điểm thuận lợi cho chị em nhà họ Đặng phất khi mà TPP được hoàn thành. Dưới cái bóng che chở của Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng và Trần Đại Quang, chắc hẳn từ đây trở đi sẽ là bước ngoặt vĩ đại, thắng thế vĩ đại của chị em nhà họ Đặng khi lọt được vào mắt xanh làm sân sau cho những vị trên.
Trái ngược lại với chị em nhà họ Đặng, đại gia Trầm Bê lúc này mất tích trên báo chí, tin đồn đang loan tải rằng ông Trầm Bê đang trong vòng ngắm của lao lý. Những thông tin trước đó về Trầm Bê là những tin xấu như ông phải bán dự án số 10 Âu Cơ với giá 800 tỷ đồng, ông phải buộc rời khỏi chức vụ phó chủ tịch thường trực ngân hàng Sacombank. Và việc hàng loạt nhà đầu tư thoái vốn khỏi công ty đầu tư xây dựng Bình Chánh ( BCI).
Trầm Bê được nhà báo Huy Đức nhắc đến trong bài viết Ai Bảo Kê Ông Trầm Bê, trong bài viết này Huy Đức đưa ra chi tiết Trầm Bê đã cho em vợ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là Trần Minh Chí vay đến 1.245 tỷ ( một ngàn hai trăm bốn nhăm tỷ đồng )
Có một kịch bản thế này, người thường sẽ cho là hoang đường và bịa đặt, nhưng với người am hiểu thì thấy nó là sự thật hiển nhiên. Dưới dự đồng ý của Nguyễn Phú Trọng, ông Trương Tấn Sang đã nhận những tin tức từ Trần Đại Quang. Sau đó ông Sang chuyển cho Đặng Hoàng Yến những thông tin về Nguyễn Tấn Dũng. Yến có nhiệm vụ tìm thêm người bên ngoài để tạo đưa lên mạng những thông tin đánh Nguyễn Tấn Dũng, cũng như cung cấp tài trợ tiền bạc, thông tin cho những đệ tử của Sang trong nước viết bài đánh Nguyễn Tấn Dũng. Vì thế chuyện tin đồn Đặng Thị Hoàng Yến đứng sau Quan Làm Báo không phải không có cơ sở, nhưng nói chính xác hơn thì có thể Yến chỉ cung cấp tin tức cho những người lâp ra trang mạng này, chứ bản thân những người làm trang mạng này không phải là người của Yến.
Nếu Nguyễn Tấn Dũng còn trụ được thì BCI của Trầm Bê sẽ là đối thủ cạnh tranh với khu công nghiệp Tân Tạo đón luồng gió mới từ TPP.
Vì vậy chuyện Đặng Hoàng Yến hân hoan đắc chí trước ” vật cản đường ” của Nguyễn Phú Trọng bị gỡ bỏ là cái hân hoan của bản thân gia đình chị em nhà họ Đặng này trước việc loại bỏ được đối thủ Trầm Bê. Niềm hân hoan của môt ” nhóm lợi ích ” khi thấy ” một nhóm lợi ích ” khác cạnh tranh với nhóm mình đã bị loại khỏi cuộc dua.
Phát biểu của Đặng Hoàng Yến với BBC về thắng lợi của Nguyễn Phú Trọng là bước ngoặt cho dân tộc, đấy sự ngông cuồng của kẻ thắng thế. Của những kẻ đang say men chiến thắng phe nhóm mình, tự nhận mình là dân tộc, thành công của nhóm lợi ích của mình là của chung dân tộc.
Thành công của đại hội đảng cộng sản 12 vừa qua là hạ được một nhóm lợi ích này và đưa một nhóm lợi ích khác lên ngôi.
Chẳng có chống tham nhũng hay dẹp bỏ nhóm lợi ích nào cả. Chỉ có thay thế tham nhũng và nhóm lợi ích này bằng tham nhũng và nhóm lợi ích khác mà thôi.
—————

Đầu năm 2015, thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Hồng Trường bị tố nhận tiền của doanh nghiệp liên quan đến một dự án thầu. Một nữ doanh nhân nhắn tin đòi lại phong bì lót tay sau khi chạy dự án không được. Tổng số tiền lên tới khoảng 20,000 USD.

Sau đó vài tháng, vụ việc bị chìm xuồng, mặc dù đích thân Đinh La Thăng đòi Bộ Công an vào cuộc làm cho ra lẽ.

Một năm sau, khi Thăng bay vào Sài Gòn nhận nhiệm vụ chính trị mới thì cũng là lúc Trường bay lên vị trí tạm quyền Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải – theo sự chỉ định của Bộ chính trị.

Luật pháp, Quốc hội, Chính phủ, Nhà nước… ở Việt nam là cái cc gì so với Bộ chính trị?

Đọc thêm: http://nguyentandung.org/thu-truong-bo-giao-thong-van-tai-n…

http://www.bbc.com/…/20…/01/150123_vice_minister_allegations

http://vnexpress.net/…/ong-nguyen-hong-truong-dieu-hanh-bo-…

Chúc mừng anh Trường nhé.

Hoàng Dũng's photo.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Quan hệ Xô -Trung từ 1950-1978 và cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung tháng2/1979

Posted by hoangtran204 trên 15/02/2016

Những điều chưa biết về cuộc chiến biên giới VN-TQ năm 1979

BBC 

17-2-2006

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Quân%20đội%20Việt%20Nam%20ở%20Campuchia
Tư liệu mới đặt giả thiết Trung Quốc ra quyết định trước khi Việt Nam tấn công Campuchia

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm ngoái, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

———-

Sự xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam – tháng Hai 1979

Bruce Elleman

Các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu xấu đi nghiêm trọng vào giữa thập niên 1970. Sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ Kinh tế (Comecon) do Liên-xô chi phối và ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô năm 1978, Trung Quốc đính cho Việt Nam cái danh “Cuba phương Đông” và gọi Hiệp ước nầy là một liên minh quân sự. Các biến cố dọc theo biên giới Trung-Việt Nam tăng lên thường xuyên và dữ dội hơn. Tháng mười hai 1978 Việt Nam xâm lược Campuchia, nhanh chóng lật đổ chế độ Pol Pot do Bắc Kinh ủng hộ, và chiếm đóng nước nầy.

Cuộc tấn công bất ngờ 29 ngày của Trung Quốc vào Việt Nam trong tháng Hai 1979 là một phản ứng lại với cái mà Trung Quốc coi là một loạt hành động và chính sách khiêu khích của phía Hà Nội.  Những điều nầy bao gồm sự thân mật của Việt Nam với Liên Xô, sự kỳ thị Hoa kiều sống tại Việt Nam, “giấc mơ đế quốc ” có tính bá quyền tại khu vực Đông Nam Á và khước từ nổ lực của Bắc Kinh trong việc hồi hương Hoa kiều ở Việt Nam về Trung Quốc.

Vào tháng Hai 1979 Trung Quốc tấn công hầu như toàn tuyến biên giới Việt -Trung trong một chiến dịch ngắn ngày và giới hạn với lực lượng trên bộ. Trung Quốc tấn công vào rạng sáng ngày 17/02/1979 với bộ binh, xe tăng và pháo binh. Không lực đã không tham gia lúc đó cũng như trong suốt cuộc chiến. Trong vòng một ngày, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tiến sâu vào Việt Nam khoảng 8 km trên toàn mặt trận.  Sau đó bước tiến chậm lại và hầu như sa lầy bởi sự kháng cự mạnh mẽ của Việt Nam và do những khó khăn trong hệ thống hậu cần của Trung Quốc.

Vào ngày 21/02/1979, có một bước tiến ở Cao Bằng vùng cực bắc và ở các nơi khác, đặc biệt là khu vực trung tâm Lạng Sơn.  Quân Trung Quốc đã tiến vào Cao Bằng ngày 27/02, nhưng thành phố này chưa thất thủ cho đến ngày 02/03. Lạng Sơn thất thủ hai ngày sau đó.  Ngày 05/03, Trung Quốc nói rằng Việt Nam đã bị trừng trị đích đáng, và họ thông báo rằng chiến dịch đã hoàn tất. Bắc Kinh tuyên bố “bài học” đã kết thúc và QGPNDTQ rút hoàn toàn vào ngày 16/03.

sau cuộc tấn công biên giới bất ngờ, Hà Nội miêu tả là Bắc Kinh đã thất bại về quân sự nếu không nói là thất bại hoàn toàn. Hầu hết các nhà quan sát hoài nghi rằng Trung Quốc sẽ mở một cuộc chiến khác với Việt Nam trong tương lai gần. Gerald Segal, trong cuốn sách Trung Quốc xuất bản 1985 đã kết luận rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc đã thảm bại: “Trung Quốc không ép được Việt Nam rút quân [từ Campuchia về], không thành công trong việc kết thúc xung đột biên giới, không loại được mối nghi ngờ về sức mạnh của cường quốc Xô-viết, không xóa được hình ảnh Trung Quốc chỉ là con hổ giấy, và không lôi kéo được Hoa Kỳ vào một liên minh anti-Xô-viết. Tuy nhiên, Bruce Elleman cải lại rằng, “một trong những điểm cơ bản về ngọại giao đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là đã phô ra cho thấy: những lời bảo đảm của Xô viết về quân sự cho Việt Nam chỉ là dối trá. Theo lăng kính nầy, chính sách của Bắc Kinh đã thực sự thành công về ngoại giao, một khi Moscow không can thiệp tích cực, và như vậy nó cho thấy cái hạn chế thực tế của Hiệp ước Xô-Việt 1978. Trung Quốc đã đạt được một thắng lợi có tính chiến lược trong tương lai bằng cách giảm thiểu khả năng về một cuộc chiến hai mặt trận với Liên-xô và Việt Nam. “

Sau chiến tranh, cả hai phía Trung Quốc và Việt Nam tái tổ chức  bảo vệ biên giới của mình. Năm 1986 Trung Quốc triển khai 25 đến 28 sư đoàn  và Việt Nam có 32 sư đoàn đóng dọc theo đường biên giới chung.

Cuộc tấn công 1979 đã xác nhận sự sáng suốt của Hà Nội khi cho rằng Trung Quốc là một mối đe dọa. QĐNDVN kể từ đó có một yêu cầu cao, dự trù kế hoạch, mà theo đó Trung Quốc có thể tấn công lần nữa và lần nầy không phải hành quân bộ mà là có thể lái xe vào đến Hà Nội. Các cuộc chiến tranh biên giới đã làm tăng cường các quan hệ Việt-Xô. Vai trò quân sự của Liên-Xô tại Việt Nam trong năm 1980 tăng lên, như họ cung cấp vũ khí cho Việt Nam; hơn nữa, tàu Xô viết hay cập các cảng Đà Nẵng và vịnh Cam Ranh, và máy bay trinh sát Liên-xô hoạt động bên ngoài không phận Việt Nam. Việt Nam đáp trả chiến dịch của Trung Quốc bằng cách biến các huyện dọc theo biên giới Trung Quốc thành “pháo đài thép” do các đội quân trú đóng có trang bị đầy đủ và huấn luyện tốt. Tổng cộng, ước lượng có khoảng 600.000 quân đã được bố trí để đối phó với các hoạt động của Trung Quốc và sẵn sàng chặn đứng một cuộc xâm lược khác Trung Quốc. Khó xác định chính xác qui mô hoạt động ở biên giới, nhưng các chi phí của Việt Nam là khá lớn.

Cho đến trước năm 1987 Trung Quốc đã bố trí chín quân đoàn (khoảng 400.000 quân) trên khu vực biên giới Việt-Trung, kể cả dọc theo bờ biển. Họ cũng tăng cường hạm đội và định kỳ diễn tập đổ bộ ở đảo Hải Nam đối diện với Việt Nam, do đó cho thấy một cuộc tấn công trong tương lai có thể là từ biển.

Sự xung đột ở mức độ thấp tiếp tục dọc theo biên giới Trung-Việt như hai bên tiến hành pháo kích và do thám cao điểm trong khu vực núi non biên giới.  Các vụ chạm súng ở biên giới gia tăng dữ dội trong suốt mùa mưa khi Bắc Kinh nổ lực giảm thiểu áp lực của Việt Nam đối với quân kháng chiến Campuchia.

Từ đầu năm 1980, Trung Quốc theo đuổi những điều mà một số nhà quan sát mô tả như là một chiến dịch nửa bí mật chống lại Việt Nam, đó là mức gia tăng cao hơn trong một loạt các cuộc quấy rối ở biên giới nhưng ở mức dưới quy mô một chiến tranh có giới hạn. Việt Nam gọi nó là “chiến tranh phá hoại nhiều mặt.” Các quan chức Hà Nội đã mô tả các cuộc tấn công bao gồm quấy rối thường xuyến bằng cách pháo kích, cho các phân đội bộ binh nhỏ xâm nhập vào nội địa, xâm nhập hải phận, gài mình và thả thủy lội trên đất liền và dưới biển. Hoạt động bí mật của Trung Quốc (về mặt “phá hoại”) đa phần hướng đến các dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới. Theo báo chí Hà Nội, các nhóm thám báo Trung Quốc phá hoại có hệ thống những nơi sản xuất nông nghiệp tập trung miền núi cũng như các cảng đường sông, giao thông vận tải, phương tiện thông tin liên lạc. Các hoạt động tâm lý chiến là một phần tất yếu của chiến dịch. Việt Nam gọi là “phá hoại kinh tế” bao gồm – khuyến khích dân làng Việt Nam ở dọc biên giới đi buôn lậu, đầu cơ tiền tệ, và tích trữ hàng tiêu dùng.

————-

Quan hệ Xô Trung và cuộc xung đột Trung-Việt tháng 2/1979

Bruce Elleman

20/4/1996

Ngưòi dịch: Đỗ Thúy

 

Trong cuốn Defending China (Bảo vệ Trung Quốc) phát hành năm 1985, Gerald Segal kết luận rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của Trung Quốc năm 1979 là một thất bại hoàn toàn: “Trung Quốc đã không thể buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia, không chấm dứt được các cuộc đụng độ ở biên giới, không tạo được sự nghi ngờ về sức mạnh của Liên Xô, không xua đi được hình ảnh về Trung Quốc là một con hổ giấy, và không kéo được Mỹ vào một liên minh chống Liên Xô.

Với mục đích phản bác quan điểm nêu trên rằng chính sách của Bắc Kinh là một sai lầm, bài viết này sẽ đánh giá lại vai trò trung tâm của mối quan hệ Trung-Nga đối với quyết định tấn công Việt Nam của Trung Quốc. Quan trọng nhất, bài viết sẽ chỉ ra việc chọn thời điểm 17/2 của Trung Quốc để tấn công Việt Nam là có liên hệ với dấu mốc 29 năm ký Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950.

Cần nhớ lại rằng ngày 14/2/1950, Bắc Kinh và Mátxcơva ký một hiệp ước 30 năm trong đó có những điều khoản bí mật ủng hộ Liên Xô đóng vai trò lãnh đạo của phong trào cộng sản thế giới. Khi Mátxcơva sau đó từ chối đàm phán trở lại các tranh chấp lãnh thổ Xô-Trung, việc này đã dẫn tới các vụ đụng độ ở biên giới hai nước, mà quan trọng nhất là thời kỳ cuối thập kỷ 1960.

Các học giả phương Tây thường không thấy được rằng kể cả trong thời kỳ diễn ra những căng thẳng này trong quan hệ Xô-Trung, Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ năm 1950 vẫn có đầy đủ hiệu lực trong suốt toàn bộ thời kỳ bất ổn này. Ít nhất từ quan điểm của Bắc Kinh, Hiệp ước Xô-Trung 1950 vẫn là một công cụ chính để cho Mátxcơva tìm cách áp đặt bá quyền đối với Trung Quốc.

Mátxcơva rõ ràng quan ngại điều gì sẽ xảy ra khi hiệp ước Xô-Trung không còn hiệu lực sau 30 năm. Bắt đầu từ năm 1969, Liên Xô thường xuyên hối thúc Trung Quốc thay thế hiệp ước năm 1950 bằng một hiệp ước mới. Năm 1978, các lực lượng Liên Xô được tăng cường dọc theo biên giới Xô-Trung và Trung Quốc-Mông Cổ. Mátxcơva cũng tìm cách buộc Bắc Kinh phải chấp nhận các điều kiện do mình đặt ra bằng cách tăng cường quan hệ ngoại giao với Hà Nội, ký hiệp ước phòng thủ có giá trị 25 năm với Việt Nam vào ngày 3/11/1978.

Tuy nhiên, thay vì xuống nước, Trung Quốc tuyên bố ý định tấn công Việt Nam vào ngày 15/2/1979, ngày đầu tiên mà Trung Quốc có thể kết thúc một cách hợp pháp Hiệp ước Xô-Trung 1950 và tấn công Việt Nam ba ngày sau đó. Khi Mátxcơva không can thiệp, Bắc Kinh tuyên bố công khai rằng Liên Xô đã không thực hiện nhiều lời hứa trợ giúp Việt Nam. Việc Liên Xô không trợ giúp Việt Nam đã khiến Trung Quốc mạnh dạn tuyên bố vào ngày 3/4/1979 ý định chấm dứt Hiệp định Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950.

Thay vì chấp nhận ý kiến rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc là một thất bại hoàn toàn, bài viết này sẽ chỉ ra rằng một trong các mục tiêu ngoại giao chính đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là để người ta thấy rằng việc đảm bảo trợ giúp quân sự của Liên Xô đối với Việt Nam chỉ là dối trá. Dưới góc độ này thì chính sách của Bắc Kinh là một thành công thực sự, do Mátxcơva đã không tích cực can thiệp, và do đó thể hiện những hạn chế trên thực tế của hiệp ước quân sự Xô-Việt. Kết quả là, bài viết này sẽ chỉ ra rằng Trung Quốc đã đạt được một chiến thắng chiến lược bằng việc giảm thiểu khả năng trong tương lai của một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, và cũng là một thằng lợi ngoại giao bằng việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950.

Bài viết này cũng sẽ đánh giá lại tuyên bố của Bắc Kinh rằng việc Liên Xô đã không can thiệp chống Trung Quốc đã cho thấy Liên Xô thực chất chỉ là “một con gấu giấy.” Các tư liệu được giải mật gần đây của Liên Xô có xu hướng phù hợp với tuyên bố của Trung Quốc, nó đưa đến một câu hỏi quan trọng là liệu BắcKinh đã xác định được chính xác những dấu hiệu ở Viễn Đông về sự suy yếu trong nội bộ của Mátxcơva – chính sự suy yếu cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 – hay chưa vào năm 1979 – nhiều năm trước khi bằng chứng về sự suy yếu này trở nên rõ ràng trên vũ đài châu Âu. Nếu như vậy thì tồn tại khả năng rằng “sự bắt đầu kết thúc” của Chiến tranh Lạnh thực sự diễn ra ở châu Á.

Sơ lược lịch sử quan hệ Xô-Trung cuối những năm 1960

Quan hệ Xô-Trung cuối những năm 1960 xấu đi không chỉ bởi sự bất đồng sâu sắc về quy chế của vùng Ngoại Mông (Outer Mongolia), mà còn bởi rất nhiều tranh chấp chủ quyền dọc theo biên giới Xô-Trung. Thực tế, những xung đột này đã mang mầm mống ung nhọt bên dưới bề mặt của mối quan hệ Xô-Trung trong hơn một thế kỷ, kể từ khi Đế chế Nga buộc Trung Quốc phải ký một loạt các hiệp ước nhượng lại nhiều phần lãnh thổ rộng lớn của mình. Theo tác giả S. C. M Paine trong cuốn Imperial Rivals (Các đế quốc đối thủ) sắp phát hành: “Đối với Trung Quốc, những phần lãnh thổ bị mất là rất lớn: một vùng rộng hơn cả phần phía đông sông Mississipi của nước Mỹ đã trở thành lãnh thổ của Nga, hoặc, như trong trường hợp Ngoại Mông, đặt dưới sự bảo hộ của Nga.”

Trên thực tế, các bản được công bố của hiệp ước Xô-Trung đã không đưa vào các nghị định thư bí mật. Ấn bản Mùa đông 1995 của Bản tin Dự án Nghiên cứu Lịch sử Quốc tế thời Chiến tranh Lạnh (Cold War International History Project Bulletin) có trích một đoạn lời của Mao Trạch Đông nói về các cuộc đàm phán bí mật Xô-Trung:

Trong các cuộc đàm phán, theo sáng kiến của Stalin, Liên Xô đã tìm cách chiếm quyền sở hữu chính đối với Railway Changchun (tức Harbin). Tuy nhiên, sau đó một quyết định được đưa ra về việc khai thác chung … Railway, bên cạnh đó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trao cho Liên Xô căn cứ hải quân ở Cảng Arthur, và bốn công ty cổ phần được mở ở Trung Quốc. Theo sáng kiến của Stalin, … Manchuria và Xinjiang trên thực tế được đưa vào phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô.

Do đó, mặc dù phần công khai của Hiệp ước Xô-Trung 1950 đã được biết đến từ lâu, nhưng cũng không rõ có bao nhiêu nghị định thư bí mật đã được ký kết. Cho đến nay, các nghị định thư này chưa bao giờ được công bố. (Bruce Elleman, “Sự kết thúc của Đặc quyền Ngoại giao ở Trung Quốc: Trường hợp của Liên Xô, 1917-1960,” Nước Trung Hoa Cộng hòa (sắp phát hành, Spring 1996).

Ngày15/2/1950, Mao miễn cưỡng đồng ý công nhận “quy chế độc lập” của Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Tuy nhiên, việc này không hề có nghĩa là công nhận sự độc lập hoàn toàn của Mông Cổ đối với Trung Quốc, vì Mao tin chắc rằng chính phủ Liên Xô trước đó đã hứa trả Mông Cổ về cho Trung Quốc. Dựa trên những phàn nàn sau này của Mao, có thể thấy hẳn Mao đã nhận được sự đảm bảo từ Stalin rằng tình trạng của Mông Cổ, cũng như vị trí đích xác của các đường biên giới Trung Quốc-Mông Cổ và Trung Quốc-Liên Xô, sẽ được bàn thảo trong các cuộc gặp trong tương lai. Do đó, chính việc Mátxcơva từ chối mở các cuộc đàm phán với Bắc Kinh cuối cùng đã dẫn đến những cuộc đụng độ trong các thập kỷ 1950 và 1960. Dù vấn đề biên giới Trung Quốc-Mông Cổ đã được giải quyết năm 1962, Mao vẫn công khai lên án những hành động xâm lấn của Liên Xô vào lãnh thổ Trung Quốc và phản đối việc Liên Xô kiểm soát Mông Cổ rằng: “Liên Xô, với lý do đảm bảo sự độc lập của Mông Cổ, trên thực tế đã đặt đất nước này dưới sự thống trị của mình.”

Cuối những năm 1960, trong một loạt các sự cố ở biên giới dọc theo các con sông Ussuri và Amur, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã thể hiện sự kiên cường đáng ngạc nhiên trước Hồng Quân Liên Xô. Các cuộc xung đột này tuy nhỏ về phạm vi và không có kết cục rõ ràng, nhưng đã dẫn đến các cuộc xung đột lãnh thổ sau này ở Xinjiang dọc biên giới Trung Quốc với Liên Xô.

Mặc dù căng thẳng trong quan hệ Xô-Trung lớn đến mức nhiều học giả phương Tây gọi đó là “chia rẽ”, nhưng Hiệp ước Xô-Trung 1950 vẫn tiếp tục có hiệu lực. Trên thực tế, hiệp ước này, gồm cả các nội dung được công bố công khai lẫn các phần bí mật, vẫn là nền móng làm cơ sở cho quan hệ Xô-Trung. Tuy nhiên, nền móng này không vững chắc ngay từ ban đầu, do Liên Xô đã từ chối trả lại các phần lãnh thổ mà Sa Hoàng đoạt được trước đây về cho Trung Quốc. Có thể cho rằng chính vấn đề này chứ không phải điều gì khác đã kiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc lên án “bá quyền” của Liên Xô ở vùng Viễn Đông. Và cũng chính vấn đề này đã gây ra căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trong những năm 1970.

Quan hệ Xô-Trung trong những năm 1970

Những tranh chấp biên giới Xô-Trung cuối những năm 1960 làm Mátxcơva và Bắc Kinh lo lắng, vì cả Liên Xô và Trung Quốc đều là các cường quốc hạt nhân; dường như có một sự đồng thuận không chính thức là không bên nào dùng đến sức mạnh không quân. (Christian F. Ostermann, “New Evidence on The Sino-Soviet Border Dispute,” Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (Spring 1995), 186-193.)

Tuy nhiên, các xung đột biên giới Xô-Trung này đã để lại những hậu quả rất lớn về xã hội, khiến cả hai quốc gia phải sử dụng những nguồn lực hiếm hoi để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra hoặc cho sự leo thang quân sự trong tương lai dọc theo các đường biên giới chung. Sự vững tin mới có được của PLA về khả năng có thể chống chọi được Hồng Quân Liên Xô cũng cho phép Bắc Kinh có cơ hội trong năm 1971 thực hiện chính sách đối ngoại mới thúc đẩy quan hệ thân thiện với Mỹ.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng nỗ lực để cải thiện quan hệ với Nhật Bản, ký kết một hiệp ước vào tháng 8/1978 với nội dung dường như có tính chất chỉ trích chính sách đối ngoại của Liên Xô ở châu Á bằng việc lên án đích danh “chủ nghĩa bá quyền”. Cuối cùng, những căng thẳng Xô-Trung cũng đưa đến một số cuộc chiến tranh qua tay người khác ở Đông Nam Á, chẳng hạn như cuộc xung đột cuối những năm 1970 giữa Việt Nam và Campuchia, cũng như khiến Trung Quốc phải chấp nhận vai trò cường quốc khu vực của mình, trong đó thể hiện rõ nhất bằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 nhằm cản trở ảnh hưởng đang tăng lên của Liên Xô.

Trong suốt những năm 1970, những căng thẳng Xô-Trung vẫn ở mức cao. Trong thời kỳ này, Mátxcơva cố gắng thuyết phục Bắc kinh đàm phán một hiệp ước mới hỗ trợ, hoặc thay thế, Hiệp ước Xô-Trung năm 1950. Bắt đầu từ năm 1969 và 1970, Mátxcơva đề xuất rằng hai bên cam kết không tấn công lẫn nhau, và đặc biệt là không dùng đến vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, khi Bắc Kinh không thể hiện bất cứ sự quan tâm nào đến thỏa thuận này, năm 1971 Mátxcơva đề xuất việc hai nước kí một hiệp ước mới cùng nhau từ bỏ việc sử dụng vũ lực. Sau đó, năm 1973 Mátxcơva thể hiện sự quan tâm bằng đề xuất cụ thể rằng hai nước ký một hiệp ước không tấn công lẫn nhau; Bắc Kinh tiếp tục phớt lờ các bước đi của Mátxcơva.

Khi thời hạn 30 năm của Hiệp ước Xô-Trung sắp kết thúc, các nỗ lực của Liên Xô nhằm thay thế hiệp ước này tăng lên đáng kể. Thí dụ, ngày 24/2/1978, Mátxcơva công khai đè xuất hai chính phủ ra một tuyên bố về các nguyên tắc cho quan hệ Xô-Trung. Các nguyên tắc này bao gồm: 1) bình đẳng; 2) tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; 3) không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; 4) không sử dụng vũ lực. Mátxcơva rõ ràng hy vọng rằng một tuyên bố như vậy có thể được sử dụng để thay thế cho Hiệp ước Xô-Trung 1950 nhằm điều chỉnh các quan hệ Xô-Trung. Tuy nhiên, mục tiêu cao nhất trong các đề xuất của Liên Xô rõ ràng là nhằm hạn chế, hoặc thậm chí là làm giàm, ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc ở châu Á. (Theo Chang Pao-min, khía cạnh này trong chính sách của Liên Xô đối với Trung Quốc là điều hấp dẫn nhất đối với Việt Nam, thậm chí còn trích lời một quan chức Việt Nam nói rằng: “Rõ ràng lợi ích của Liên Xô có sự song trùng rất lợi với lợi ích của Việt Nam – giảm ảnh hưởng của Trung Quốc trong phần này của thế giới.” Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 46-47.)

Tuy nhiên, Bắc Kinh từ chối mọi lời đề nghị của Mátxcơva và trong suốt những năm 1970 Trung Quốc lên án Liên Xô bằng những lời lẽ mạnh bạo hơn. Thí dụ, tháng 2/1974, Mao Trạch Đông công khai kêu gọi thành lập một liên minh “thế giới thứ ba” chống lại cái gọi là “thế giới thứ nhất”, trong trường hợp này bao giồm cả Liên Xô và Mỹ. Tuy nhiên, sau khi Mao chết, tờ Nhân dân Nhật báo ra ngày 1/11/1977 có bài viết coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc trong khi Mỹ được coi là một đồng minh. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa – trong đó đặc biệt là Việt Nam (“Sự đổ vỡ trong quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc sau năm 1975 và liên minh hiện tại của Việt Nam với Liên Xô có thể xuất phát từ sự phản kháng của Việt Nam trước sức ép của Trung Quốc đòi Việt Nam phải chọn một trong hai bên.” Ramesh Thaku and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin’s Press, 1992), 287) – cũng được coi là các đồng minh tiềm năng trong một “mặt trận thống nhất” chống Liên Xô. Cuối cùng, ngày 26/3/1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Mátxcơva, ben cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của “các khu vực tranh chấp” dọc đường biên giới Xô-Trung, phải rút hoàn toàn quân đội của mình khỏi Cộng hòa Nhan dân Mông Cổ, cũng như rút khỏi đường biên giới Xô-Trung.

Đáp lại trước những đòi hỏi của Trung Quốc, đầu tháng 4/1978 Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev đi thăm Siberia và thông báo rằng các thiết bị mới, tân tiến hơn đã được cung cấp cho các đơn bị tên lửa đóng dọc theo biên giới Xô-Trung. Theo Brezhnev, các vũ khí mới sẽ là phương tiện để “tự bảo vệ chúng tôi và những người bạn xã hội chủ nghĩa chống lại sự xâm lược có thể xảy ra từ bất cứ quốc gia nào.” Ngay sau đó, ngày 12/4/1978, Ulan Bator cũng công khai phản đối những đòi hỏi của Bắc Kinh, tuyên bố rằng Liên Xô đã bổ sung quân đội tới các bị trí dọc theo đường biên giới Mông Cổ-Ấn Độ theo đề nghị của Mông Cổ nhằm đối phó với việc Trung Quốc tăng quân ở vùng phía nam biên giới.

Đúng như những gì mà các sự kiện này cho thấy một cách khá rõ ràng, đến năm 1978 những căng thẳng biên giới Xô-Trung đã tăng lên đáng kể, chủ yếu là do việc Liên Xô tăng cường điều quân đóng dọc theo biên giới Xô-Trung và tại Mông Cổ. Ở phạm vi lớn hơn, tình trạng này có thể được giải thích bằng những nỗ lực không ngừng của Mátxcơva nhằm ép Bắc Kinh không chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung 1950, điều đã diễn ra trong năm 1979, hoặc tốt hơn là đàm phán một hiệp ước mới với những nguyên tắc làm cơ sở cho quan hệ Xô-Trung trong tương lai. Tuyên bố của Brezhnev rằng ông có ý định sử dụng các lực lượng Xô Viết chống lại Trung Quốc vì “những người bạn xã hội chủ nghĩa” của Mátxcơva cũng là một lời cảnh báo tới Bắc Kinh để họ phải buông Mông Cổ cũng như các đồng minh của Mátxcơva ở Đông Nam Á.

Trung Quốc không những không khuất phục dưới sức ép ngoại giao và quân sự của Liên Xô mà còn tìm cách gây áp lực ngoại giao lại với Mátxcơva bằng việc củng cố quan hệ với cả Mỹ và Nhật Bản. Có thể nói rằng chính sách của Bắc Kinh đã thành công hơn và kết quả là việc Bắc Kinh ký các thỏa thuận quan trọng với cả Oasinhtơn và Tôkiô. Đối với Mátxcơva, rõ ràng các thỏa thuận mới này của Trung Quốc là nhằm chống Liên Xô, do – ít nhất trong trường hợp hiệp ước Trung-Nhật – cả hai bên trực tiếp lên án “chủ nghĩa bá quyền”, thuật ngữ mà Trung Quốc thường dùng để chỉ sự bành trướng của Liên Xô. Đối sách của Liên Xô là tăng cường quan hệ ngoại giao với tất cả các nước Đông Nam Á có biên giới chung với Trung Quốc, trong đó quan trọng nhất là Việt Nam.

Quan hệ Xô-Trung và Việt Nam tháng 2/1979

Mặc dù Trung Quốc có thể không phải là một bên tham gia trong cuộc xung đột Việt Nam những năm 1960 và 1970, nhưng sự giúp đỡ về kinh tế và vật chất của Trung Quốc cho Việt Nam đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trung Quốc không chỉ cử binh lính sang giúp Việt Nam duy trì các đường tiếp tế, mà ước tính sự giúp đỡ về vật chất của Bắc Kinh cho Hà Nội từ năm 1950 đến 1978 đã vượt quá 20 tỉ USD (King C. Chen, China’s War with Vietnam, 1979 (Stanford, CA, Hoover Institution Press, 1987), 27). Do vậy, không mấy khó hiểu tại sao Bắc Kinh cảm thấy phật ý trước quan hệ ngày càng gần gũi giữa Mátxcơva và Hà Nội cuối những năm 1970.

Điều này đặc biệt đúng sau khi hai nước ký một hiệp ước phòng thủ chung vào ngày 3/11/1978 mà rõ ràng nhằm vào Trung Quốc. Theo một học giả, liên minh Xô-Việt đã khiến Việt Nam trở thành chiếc “trục” trong “cỗ xe kiềm chế Trung Quốc” của Liên Xô. (Robert A. Scalapino, “The Political Influence of the USSR in Asia,” in Donald S. Zagoria, ed., Soviet Policy in East Asia (New Haven, Yale University Press, 1982), 71) Do đó, dưới cách nhìn của Trung Quốc, nỗ lực của Mátxcơva nhằm bao vây Trung Quốc về mặt ngoại giao dường như đã sắp thành công. Nhận thức này đã dẫn đến việc Trung Quốc tấn công Việt Nam tháng 2/1979.

Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Hà Nội trong những năm 1960 và đầu 1970 nhìn chung là tốt, nhưng những khác biệt về chính sách giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên lớn hơn sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ tháng 4/1975. Tháng 9 năm đó, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn đi Bắc Kinh và trong một loại các cuộc gặp trong chuyến đi đó, rõ ràng rằng Trung Quốc rất lo ngại về quan hệ gần gũi giữa Việt Nam với Liên Xô. Mặc dù quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm tiếp theo, nhưng bất đồng giữa Trung Quốc với Việt Nam chỉ trở nên rõ ràng khi hàng nghìn người Hoa bắt đầu rời Việt Nam vào mùa xuân và mùa hè năm 1978. Ngoài ra, những tranh chấp lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa, cũng như việc Việt Nam đánh Campuchia, cũng làm gia tăng căng thẳng Việt-Trung.

Trong khi đó, những dấu hiệu gia tăng về quan hệ hợp tác Xô-Việt cũng xuất hiện vào mùa hè năm 1978, khi Việt Nam tỏ ý muốn trở thành thành viên của khối COMECON. Bên cạnh đó, các nguồn tin của chính phủ Mỹ nói rằng đến tháng 8/1978 đã có tới 4,000 chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam. Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu tăng cường các chuyến hàng chở vũ khí tới Việt Nam, cả bằng đường biển và đường không, bao gồm “máy bay, tên lửa, xe tăng và đạn dược.” Cuối cùng, tất cả các dấu hiệu của việc tăng cường quan hệ Việt-Xô lên đến đỉnh điểm ngày 3/11/1978 với việc Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác. Rõ ràng hiệp ước này là nhằm vào Trung Quốc, bởi tại điều 6 nên rằng Việt Nam và Liên Xô sẽ “tham vấn nhau ngay lập tức” nếu một trong hai nước “bị tấn công hoặc đe dọa tấn công … nhằm loại bỏ mối đe dọa đó.” Có tin rằng hiệp ước này còn bao gồm một thỏa thuận bí mật cho phép lực lượng quân đội Liên Xô tiếp cận với các “sân bay và bến cảng” của Việt Nam (Ramesh Thaku and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin’s Press, 1992), 61).

Mặc dù Việt Nam tuyên bố rằng việc ký hiệp ước này với Nga là nhằm ngăn chặn những hành động “phiêu lưu” của Trung Quốc, nhưng các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh rõ ràng coi đây là một phần trong các nỗ lực của Mátxcơva nhằm gây áp lực buộc Trung Quốc xuống nước và gia hạn các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp ước Xô-Trung 1950. Nếu Liên Xô tạo được một chỗ đứng vững chắc ở Đông Nam Á thì có thể đe dọa Trung Quốc từ cả hai bên sườn phía bắc và phía nam. Nếu thành công, chính sách này sẽ tạo cho Mátxcơva sức mạnh đủ để buộc Bắc Kinh gia hạn, hoặc ít nhất là đàm phán lại, Hiệp ước Xô-Trung 1950 theo cách có lợi cho Mátxcơva. Một biểu hiện sớm của mối quan ngại từ Bắc Kinh về Hiệp ước Việt-Xô đã được Nhân dân Nhật báo lên tiếng, trong đó cảnh báo rằng Mátxcơva đang sử dụng Việt Nam để chống Trung Quốc như đã từng làm trước đây, và thất bại, là sử dụng Trung Quốc để gây áp lực với Mỹ. Bắc Kinh cũng cảnh báo rằng mục tiêu cuối cùng của Mátxcơva là “kiểm soát toàn bộ Đông Dương.”

Với việc ký hiệp ước phòng thù Việt-Xô ngày 3/11/1978, Liên Xô hy vọng sẽ sử dụng mối quan hệ với Việt Nam để giành ưu thế chiến thuật và thọc sườn Trung Quốc. Mối lo ngại chính của Trung Quốc là nếu các chính sách của Liên Xô ở Việt Nam thành công thì chính quyền Xô Viết có thể đạt được sự kiểm soát chặt chẽ về chiến lược và quân sự đối với Trung Quốc. Từ khi diễn ra sự bất hòa giữa Trung Quốc và Liên Xô, đặc biệt là khi xảy ra những xung đột biên giới Xô-Trung cuối những năm 1960, mục tiêu chính của Bắc Kinh là xây dựng tiềm lực quân sự nhằm đối phó với Hồng Quân Liên Xô, điều mà Bắc Kinh đã hầu như đạt được trong khoảng giữa đến cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, khi Trung Quốc có trong tay 3,6 triệu quân theo như báo cáo. Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh tiếp tục tìm cách gây sức ép với Mátxcơva bằng việc chính thức bình thường hóa quan hệ với Oasinhtơn ngày 1/1/1979. Ramser Amer kết luận rằng các liên minh mới của Liên Xô và Trung Quốc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: “Vậy là hai liên minh chiến lược đã được thành lập vào những tháng cuối của năm 1978, một liên minh Việt-Xô và một liên minh Trung-Mỹ, và các liên minh này duy trì trong khoảng một thập kỷ.”

Do việc nối lại quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đầu năm 1979, Liên Xô ngày càng lo ngại về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với các lực lượng NATO do Mỹ đứng đầu ở phía tây và các lực lượng Trung Quốc ở phía đông. Điều này có thể đã thuyết phục Mátxcơva tăng cường sự ủng hộ đối với cuộc tấn công Campuchia của Việt nam đang diễn ra, một sự kiện mà Robert Ross đã liên hệ chặt chẽ với cuộc tấn công Việt Nam sau đó của Trung Quốc khi ông lập luận rằng việc lật đổ đồng minh thân cận của Trung Quốc ở Campuchia làm Bắc Kinh đặc biệt lo ngại. Trong khi Bắc Kinh không muốn can thiệp trực tiếp vào Campuchia để chặn đứng cuộc tấn công của Việt Nam, cuộc tấn công bằng quân sự của Trung Quốc vào vùng lãnh thổ tranh chấp Việt-Trung có một “mối liên hệ hữu cơ”, khi mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảnh bảo Việt Nam không nên nghĩ sai lầm rằng Trung Quốc đang “yếu và dễ bị bắt nạt.”

Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng, Việt Nam là một quốc gia khá nhỏ kể cả về dân số và sức mạnh quân sự, và có lẽ sự gia tăng đột ngột số lượng chuyên gia Liên Xô đến Việt Nam – khoảng 5,000 đến 8,000 vào giữa năm 1979 –  và việc cung cấp số lượng lớn các phương tiện quân sự là một cảnh báo nguy hiểm đối với an ninh chiến lược trực tiếp của Trung Quốc. Vì vậy, theo King C. Chen: “Nếu không có liên minh Việt-Xô, cuộc chiến tranh mười sáu ngày giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể đã không xảy ra.” Trong một lần thừa nhận rõ ràng rằng hợp tác quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đã làm Trung Quốc lo ngại sâu sắc, Đặng Tiểu Bình công khai thừa nhận rằng “liên minh quân sự” mới giữa Liên Xô và Việt Nam thực chất là một phần trong mục tiêu lâu dài của Liên Xô muốn “bao vây Trung Quốc”.

Sau khi ký Hiệp ước Việt-Xô ngày 3/11/1978, Bắc Kinh phải tìm ra phương sách để phá vỡ âm mưu bao vây Trung Quốc này của Liên Xô. Do vậy, chính nỗi lo bị Mátxcơva đánh thọc sườn đã đẩy Trung Quốc vào thế phải hành động. Rõ ràng, bước đi đầu tiên của Trung Quốc là thử thách mức độ quyết tâm của Liên Xô xem nước này sẽ đứng bên Việt Nam theo đúng tinh thần hiệp ước hay sẽ xuống nước và chấp nhận thất bại. Thậm chí còn có tin nói rằng Đặng Tiểu Bình nói với Tổng thống Mỹ Carter vào tháng 1/1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ “phá vỡ những tính toán chiến lược của Liên Xô…” Do đó, thậm chí Ross còn kết luận rằng trong bối cảnh Việt Nam đã đánh chiếm thành công Campuchia, chính “việc Liên Xô bao vây Trung Quốc như một hệ quả” dẫn tới sự cần thiết phải có một cuộc tấn công hạn chế nhằm vào Việt Nam.”

Chiến tranh Trung-Việt 1979

Các lực lượng Trung Quốc tấn công Việt Nam ngày 17/2/1979. Mặc dù các động cơ chính xác phía sau cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn còn bỏ ngỏ cho mọi sự diễn giải, nhưng mối lo ngại của Bắc Kinh rằng hiệp ước phòng thủ có giá trị 25 năm của Mátxcơva với Hà Nội có thể dẫn đến việc quân sự hóa của Liên Xô đối với đường biên giới Việt-Trung hiển nhiên là một nhân tố chính. Mátxcơva cũng có thể đã hy vọng rằng hiệp ước ký với Hà Nội sẽ khiến Trung Quốc phải điều bớt quân khỏi phía bắc, do đó làm yếu sự phòng thủ quân sự của Trung Quốc dọc theo biên giới Xô-Trung.

Tuy nhiên, những hy vọng của Mátxcơva đã đổ vỡ khi Trung Quốc quyết định tấn công Việt Nam. Chỉ sau ba tuần đánh nhau, Trung Quốc rút quân và những tranh chấp biên giới Việt-Trung vẫn chưa được giải quyết. Đối với hầu hết những người quan sát từ bên ngoài, hành động quân sự của Bắc Kinh có vẻ như là một thất bại. Nhưng nếu mục tiêu thực sự đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là nhằm để cho mọi người thấy việc đảm bảo giúp đỡ về quân sự của Liên Xô đối với Việt Nam chỉ là dối trá, thì việc Liên Xô từ chối can thiệp đã chấm dứt trên thực tế hiệp ước phòng thủ Việt-Xô. Do vậy, Bắc Kinh đã đạt được một chiến thắng chiến lược rõ ràng với việc phá vỡ vòng vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Liên Xô về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận.

Vào ngày 15/2/1979, không chỉ là ngày đánh dấu 29 năm thỏa thuận giữa Mao và Stalin về Mông Cổ mà còn là ngày đầu tiên Trung Quốc có thể chính thức tuyên bố chấm dứt Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương Trợ Xô-Trung, Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng Trung Quốc có kế hoạch thực hiện một cuộc tấn công hạn chế vào Việt Nam. Nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Liên Xô hòng giúp Việt Nam, Đặng cảnh báo Mátxcơva ngày hôm sau rằng Trung Quốc đã chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tổng lực với Liên Xô. Để chuẩn bị cho cuộc xung đột này, Trung Quốc đã đặt tất cả quân đội dọc theo biên giới Xô-Trung trong tình trạng báo động khẩn cấp, thiết lập một bộ chỉ huy quân sự mới ở Tân Cương, và thậm chí còn sơ tán khoảng 300,000 dân thường khỏi vùng biên giới Xô-Trung. (Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 88-89.)

Ngoài ra, phần lớn các lực lượng chiến đấu của Trung Quốc (lên tới khoảng một triệu rưỡi quân) được triển khai dọc theo các đường biên giới với Nga. (Robert A. Scalapino “Asia in a Global Context: Strategic Issue for the Soviet Union,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA. , Auburn House Publishing Company, 1986), 28)

Như đã báo trước, cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam bắt đầu ngày 17/2/1979, chỉ trong vòng ba ngày sau dấu mốc 29 năm Hiệp ước Xô-Trung 1950. Đúng như Đặng tuyên bố ngay từ đầu, Trung Quốc thực hiện một hành động hạn chế đối với Việt Nam. Không chỉ các lực lượng tinh nhuệ nhất của Trung Quốc được triển khai dọc theo biên giới Trung-Việt, Bắc kinh còn quyết định không sử dụng khoảng 500 máy bay tiêm kích và ném bom đã đóng tại khu vực này trước đó. Phản ứng trước cuộc tấn công của Trung Quốc, Liên Xô đưa nhiều tàu hải quân và thiết lập một cầu không vận chuyển vũ khí cho Việt Nam. Ngày 22/2/1979, đại tá N. A. Trarkov, tùy viên quân sự Liên Xô tại Hà Nội, thậm chí còn đe dọa Liên Xô sẽ “thực hiện nghĩa vụ theo hiệp ước Việt-Xô”; tuy nhiên các nhà ngoại giao Xô Viết ở những nơi khác lại thể hiện rõ rằng Liên Xô sẽ không can thiệp chừng nào cuộc xung đột vẫn còn hạn chế. (John Blodgett, “Vietnam: Soviet Pawn or Regional Power?” in Rodney W. Jones and Steven A. Hildreth, eds., Emerging Powers Defense and Security in the Third World (New York, Praeger Publishers, 1986), 98). Liên Xô rõ ràng không có ý định mạo hiểm với một cuộc chiến tổng lực với Trung Quốc vì Việt Nam.

Sau ba tuần giao tranh căng thẳng, Trung Quốc có thể tuyên bố đã chiếm được ba trong số sáu thủ phủ cấp tỉnh của Việt Nam – Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cai – có biên giới chung với Trung Quốc. Mặc dù các lực lượng Trung Quốc có hơn 250 nghìn quân, phía Việt Nam vẫn sử dụng chiến thuật đánh du kích để Trung Quốc không có được một chiến thắng nhanh chóng. Do vậy, khi Bắc Kinh thông báo ý định rút quân vào ngày 5/3/1979, có vẻ như các mục tiêu cơ bản của cuộc tấn công này vẫn chưa đạt được; cụ thể là tiềm lực quân sự của Việt Nam vẫn chưa bị tổn hại nghiêm trọng bởi Trung Quốc. Sau đó, biên giới Việt-Trung tiếp tục căng thẳng khi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam sau ba tuần giao tranh.

Đối với nhiều nhà quan sát bên ngoài, cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam là một thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, như Banning Garrett nhận xét chính xác, “người Trung Quốc chứng tỏ rằng họ có thể tấn công một đồng minh của Liên Xô mà không bị trả đũa từ ‘con gấu giấy’. (Banning Garrett, “The Strategic Triangle and the Indochina Crisis,” in David W. P. Elliott, ed., The Third Indochina Conflict, (Boulder, CO, Westview Press, 1981), 212.)

Trên thực tế, với việc chứng tỏ rằng Liên Xô sẽ không can thiệp tích cực vì Việt Nam, Trung Quốc tin rằng việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung 1950 cũng sẽ không dẫn đến chiến tranh. Kết quả là ngày 3/4/1979, Bắc Kinh thông báo ý định chấm dứt Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950. Sau đó, mặc dù các cuộc đàm phán Xô-Trung được mở chính thức vào tháng 10/1979, việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan đã tạo cho Trung Quốc lý do để dừng lại các cuộc gặp trong tương lai, và do đó xóa đi bất cứ sự cần thiết nào cho việc đàm phán một hiệp ước ngoại giao mới giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Do các động cơ thực sự phía sau cuộc tấn công năm 1979 của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam vẫn còn chưa rõ ràng, các học giả nghiên cứu về cuộc xung đột này đã đưa ra nhiều giả thuyết ấn tượng. Có lẽ giả thuyết thường thấy nhất là Trung Quốc muốn “trừng phạt” Việt Nam vì đưa quân vào Campuchia, nơi trước đó được coi là một quốc gia chư hầu của đế chế Trung Hoa. Các vấn đề khác trong quan hệ Việt-Trung, như tranh chấp lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa hay việc di tản ồ ạt người Hoa khỏi Việt Nam, cũng được coi là đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, thuyết phục nhất là một số nhỏ học giả cho rằng quyết định của Việt Nam đi gần hơn với Liên Xô mới là lý do chính đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc.

Trong số các học giả có quan điểm cho rằng những hành động của Trung Quốc là để đối phó với hiệp ước phòng thủ Xô-Việt ngày 3/11/1979, có nhiều cách diễn giải xung quanh việc chính sách của Trung Quốc là thành công hay thất bại. Thí dụ, theo Gerald Segal, chính sách của Trung Quốc đã thất bại vì không đặt được hiệp ước phòng thủ Xô-Việt tới “thử thách cao nhất.” Robert Ross cũng kết luận rằng chính sách của Trung Quốc là một thất bại, mặc dù ông tích cực hơn Segal ở chỗ cho rằng cuộc chiến tranh Trung-Việt là lần đầu tiên kể từ năm 1949 Trung Quốc sử dụng vũ lực khi lãnh thổ không trực tiếp bị đe dọa, và do đó chứng tỏ Trung Quốc nay có khả năng “hành động như một cường quốc khu vực với những quyền lợi khu vực.” Cuối cùng, Banning Garrett và Nayan Chanda tích cực hơn, ít nhất cũng thừa nhận tuyên bố của Trung Quốc rằng cuộc chiến tranh hạn chế Trung-Việt là một thành công vì đã chứng tỏ rằng Liên Xô là một “con gấu giấy” bởi Mátxcơva đã từ chối thực hiện nghĩa vụ theo hiệp ước phải can thiệp vì Hà Nội.

Có lẽ quan điểm tích cực nhất về cuộc xung đột Trung-Việt là của Chang Pao-min. Theo Chang, nếu nhìn nhận cuộc xung đột từ quan điểm của Bắc Kinh thì hiệp ước phòng thủ Việt-Xô năm 1978 là một mối đe dọa rõ ràng đối với an ninh của Trung Quốc. Không chỉ Liên Xô hy vọng sử dụng hiệp ước này để thiết lập một “Hệ thống An ninh Tập thể Châu Á” nhằm vào Trung Quốc, mà quan hệ quân sự của Liên Xô với Việt Nam còn được coi là một nỗ lực nhằm “đe dọa và âm mưu bóp nghẹt Trung Quốc từ phía nam.” Dưới góc độ này, Việt Nam sau này được tả trong các tuyên bố của Trung Quốc là “con dao của Liên bang Xô Viết đặt sau lưng Trung Quốc.” Do đó, đúng như Chang nhận xét, cuộc xung đột Trung-Việt phải được coi là một phản ứng trước nỗ lực của Liên Xô nhằm sử dụng Việt Nam để “kiềm chế và bao vây Trung Quốc ở Đông Nam Á … [do đó tạo ra] một mối đe dọa nghiêm trọng ở sườn phía nam của Trung Quốc.”

Các lập luận đưa ra trong bài viết này có xu hướng ủng hộ quan điểm rằng cuộc chiến tranh Trung-Việt tháng 2/1979 là một thành công. Một khi Bắc Kinh tin rằng Mátxcơva sẽ không can thiệp vì Hà Nội, việc này sẽ khuyến khích Bắc Kinh dứt hẳn với Mátxcơva. Việc này thể hiện rõ nhất trong tuyên bố ngày 3/4/1979 của Bắc Kinh rằng họ muốn chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950. Nêu ra bằng chứng cuối cùng rằng các chính sách của Trung Quốc ở Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với Liên Xô, Amers đã nhận xét chính xác rằng quyết định năm 1988 của Trung Quốc không gắn quan hệ biên giới với Việt Nam với vấn đề Campuchia đã tương hợp gần như chính xác với các nỗ lực của Gorbachev nhằm bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và cải thiện quan hệ của Liên Xô với các quốc gia ASEAN. Do vậy, bằng việc phá vỡ vòng vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Mátxcơva về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận, Trung Quốc đã đạt được một chiến thắng chiến lược quan trọng trước Liên Xô.

Liên Xô phải chăng là “gấu giấy”?

Hầu hết các học giả phương Tây đều có một kết luận chung rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc là một thất bại. Thí dụ, theo Gerald Segal, “cuộc chiến Trung-Việt năm 1979 là thất bại quan trọng nhất về chính sách đối ngoại của Trung Quốc kể từ năm 1949.” Ở một phạm vi rộng, Robert Ross đồng tình và cho rằng: “Thất bại trong chính sách của Trung Quốc cho thấy rõ vai trò không rõ ràng của cường quốc khu vực này trong chính trị quốc tế đương đại.” Gần đây nhất, Ellis Joffe, một chuyên gia về PLA tại đại học Hebrew University of Jerusalem, kết luận rằng: “Trung Quốc đã chuốc vạ bởi các biện pháp hạn chế chống Việt Nam năm 1979. Trung Quốc định dạy cho Việt Nam một bài học, nhưng Việt Nam đã dạy cho Trung Quốc một bài học.” (“Strait of Uncertainty Taiwan braves increased pressure from China,” Far Eastern Economic Review, 8 February 1996, 20-21.)

Các đánh giá tiêu cực này của phương Tây ngược lại hoàn toàn với tuyên bố của Bắc Kinh rằng cuộc chiến chống Việt Nam năm 1979 là một thành công, do quyết định không can thiệp của Mátxcơva đã chứng tỏ rằng Liên Xô chỉ là một “con gấu giấy”. Bắc Kinh có lẽ sẵn sàng chứng tỏ tuyên bố này bằng hành động, khi họ không chỉ công bố việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950 mà sau đó còn đặt ra cho Mátxcơva ba điều kiện để cải thiện quan hệ Xô-Trung. Ba điều kiện này bao gồm: 1) rút quân đội Liên Xô khỏi biên giới Xô-Trung và Mông Cổ; 2) rút quân đội Liên Xô khỏi Afghanistan; 3) chấm dứt sự ủng hộ của Liên Xô đối với việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia. (Yao Wengin, “Soviet Military Deployments in the Asia-Pacific Region: Implications for China’s Security,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 103.)

Do đó, bên cạnh việc thể hiện một tư thế cứng rắn hơn trong quan hệ với Liên Xô, các nước láng giềng ở phía nam cũng phải cư xử với Trung Quốc một cách tôn trọng hơn. Theo một báo cáo năm 1986, do Hà Nội đã thua trong ván bạc năm 1979 khi cho rằng Bắc Kinh sẽ không bao giờ tấn công, Việt Nam, “với kinh nghiệm của năm 1979, đã triển khai 700,000 quân ở phía bắc.” (Karl D. Jackson, “Indochina, 1982-1985: Peace Yields to War,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 206.)

Vai trò có tính chất khẳng định hơn của Trung Quốc ở châu Á trong những năm 1980 cho thây Bắc Kinh thực sự tin rằng họ đã giành chiến thắng trong cuộc chiến Trung-Việt năm 1979. Vì thế, mặc dù Nayan Chanda và những người khác đã cnảh báo rằng những tuyên bố của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “con gấu giấy” có thể chỉ là luận điệu tuyên truyền, nhưng những hành động của chính Bắc Kinh cho thấy rằng họ tin chắc vào quan điểm này. Chính vì lý do này mà các cuộc tranh luận gần đây xung quanh thời điểm Chiến tranh Lạnh thực sự kết thúc có vẻ như liên quan trực tiếp tới tuyên bố của Trung Quốc năm 1979 rằng Liên Xô đã quá yếu và không thể tham chiến. Thực tế, theo quan điểm của Trung Quốc, việc Liên Xô không can thiệp để giúp Việt Nam năm 1979 là bằng chứng chứng tỏ Mátxcơva không còn ý định tham gia một cuộc chiến tranh lớn. Nói cách khác, thời kỳ nguy hiểm nhất của Chiến tranh Lạnh đã qua đi.

Cho tới nay, cuộc tranh luận thường thấy về việc liệu Chiến tranh Lạnh có kết thúc trên thực tế trước khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 hay không đã diễn ra xung quanh những tuyên bố của tướng bốn sao về hưu của Liên Xô là Anatoly Gribkov, nguyên tham mưu trưởng của khối Hiệp ước Warsaw trong đầu những năm 1980. Gribkov lập luận dựa trên việc đến tháng 12/1981, Bộ Chính trị Liên Xô rõ ràng đã mất ý chí chính trị sử dụng vũ lực để duy trì đế chế mở rộng của họ trong vòng kiểm soát. Đánh giá này dựa trên việc Bộ Chính trị từ chối gửi quân tới Ba Lan để ngăn chặn một cuộc thay đổi dân chủ, một dấu hiệu của sự suy yếu mà Gribkov coi là bằng chứng cho thấy Liên Xô thực sự đã “thua” trong cuộc Chiến tranh Lạnh ngay từ năm 1981.(“The Two Trillion Dollar Mistake,” Worth, (February 1996), 78-83/128-129. )

Các biên bản được giải mật gần đây của một cuộc họp Bộ Chính trị Xô Viết ngày 10/12/1981 có xu hướng chứng tỏ cho các luận điểm của Gribkov, vì chúng cho thấy rằng lựa chọn gửi quân chống lại đảng “Đoàn kết” của Ba Lan đã bị Mátxcơva bác bỏ với sự đồng thuận rằng rủi ro là quá lớn. (Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (Spring 1995), 135-137) Ngoài ra, các biên bản này còn cho thấy Bộ Chính trị Liên Xô đã cân nhắc một cách nghiêm túc việc nhượng bộ ở Viễn Đông bằng việc ra lệnh rút quân khỏi Mông Cổ; nếu Mátxcơva thực hiện kế hoạch này trên thực tế thì coi như đã chấp nhận một trong ba điều kiện tiên quyết của Bắc Kinh cho việc cải thiện quan hệ Xô-Trung.

Các tài liệu này của Liên Xô, cũng như các tài liệu khác giống như thế, dường như chứng tỏ cho luận điểm của Gribkov rằng đến năm 1981, giới lãnh đạo Liên Xô đã mất khả năng sử dụng vũ lực nhằm củng cố lại đế chế Liên Xô đang lung lay. Cách suy luận này cũng có thể áp dụng cho cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979, do việc Trung Quốc tấn công Việt Nam rõ ràng tạo ra một mối đe dọa thực tế đối với an ninh và ổn định cho không gian ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á. Chính việc Bộ Chính trị Liên Xô từ chối thực hiện các nghĩa vụ theo hiệp ước đối với Việt Nam và không can thiệp chống Trung Quốc cho thấy lập luận của Gribkov rằng Bộ Chính trị Liên Xô đã mất ý chí chính trị để củng cố đế chế của mình bằng vũ lực có thể được áp dụng tương đương – nếu không tốt hơn – cho kết quả của cuộc chiến Trung-Việt năm 1979.

Sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989 và sự sụp đổ bất ngờ của Liên Xô năm 1991 đòi hỏi phải có một đánh giá khác về tác động của mối quan hệ Xô-Trung đối với cuộc xung đột Trung-Việt tháng 2/1979. Một khía cạnh cần có trong đánh giá này là xem xét liệu tuyên bố năm 1979 của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “gấu giấy” là có căn cứ hơn hay không nếu xét việc Liên Xô tan rã sau đó. Mặc dù khẳng định của Gribkov rằng Chiến tranh Lạnh đã kết thúc từ năm 1981 có thể sớm hơn rất nhiều so với thời điểm mà hầu hết các học giả phương Tây có thể chấp nhận, nhưng vẫn còn muộn hơn mấy năm so với quan điểm của Trung Quốc. Do đó, khẳng định về thời điểm của Trung Quốc không những có vẻ hợp lý, mà đối với các học giả sau này thì năm 1979 một ngày nào đó sẽ chứng tỏ còn chính xác hơn năm 1981. Nếu như vậy, Bắc Kinh phải được đánh giá đúng vì đã xác định chính xác những dấu hiệu ở Viễn Đông về sự yếu kém trong nội bộ Mátxcơva từ hơn hai năm trước khi những dấu hiệu tương tự trở nên rõ ràng ở phương Tây. Điều này sẽ lại làm xuất hiện câu hỏi liệu “sự bắt đầu kết thúc” của Chiến tranh Lạnh có phải đã thực sự diễn ra vào năm 1979 hay không, do việc Mátxcơva đã không đương đầu với thách thức rắn mặt của Bắc Kinh đối với sự thống trị quân sự của Liên Xô ở Viễn Đông.

Kết luận

Các nghiên cứu trước đây về cuộc xung đột Trung-Việt ngày 17/2/1979 nhìn chung đều coi những hành động của Trung Quốc là một thất bại hoàn toàn. Ngược lại, bài viết này đã cố gắng đánh giá lại cuộc chiến Trung-Việt từ góc độ quan hệ Xô-Trung bằng việc liên hệ cuộc xung đột này với dấu mốc 29 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ 14/2/1950. Như một kết quả trực tiếp từ quyết định của Liên Xô không can thiệp giúp Việt Nam, Trung Quốc tin rằng Liên Xô không có đủ ý chí chính trị để dùng chiến tranh nhằm duy trì không gian ảnh hưởng của mình ở châu Á. Kết luận này đã khiến Bắc Kinh thông báo cho Mátxcơva ngày 3/4/1979 rằng Trung Quốc muốn chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950 khi hết thời hạn 30 năm vào năm 1980.

Từ 1950 đến 1979, Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ là nền móng cho quan hệ Xô-Trung. Mặc dù phần được phổ biến của hiệp ước này đã được công khai từ lâu, nhưng nội dung chính xác của các thỏa thuận bí mật đi cùng với hiệp ước này vẫn hầu như chưa được biết đến. Tuy nhiên, một điều khá rõ là các thỏa thuận bí mật này có liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ Xô-Trung và trong những năm 1950, 1960, các cuộc tranh chấp biên giới thường xuyên giữa Liên Xô và Trung Quốc phản ánh mức độ căng thẳng mà các thỏa thuận bí mật này đưa đến. Mặc dù các xung đột biên giới Xô-Trung đều không được phép leo thang thành chiến tranh tổng lực, nhưng Bắc Kinh đã liên tục thử thách quyết tâm của Liên Xô xem có sẵn sàng sử dụng vũ lực để duy trì Hiệp ước Xô-Trung 1950 hay không. Do vậy, từ quan điểm của Bắc Kinh, Hiệp ước Xô-Trung 1950 là một công cụ chính cho Mátxcơva áp đặt “bá quyền” đối với Trung Quốc và phần còn lại của châu Á.

Ngược lại, Mátxcơva rõ ràng lo ngại điều gì có thể xảy ra khi Hiệp ước Xô-Trung kết thúc thời hạn 30 năm. Bắt đầu từ năm 1969, Liên Xô thường xuyên thúc giục Trung Quốc thay thế hiệp ước này bằng một thỏa ước mới. Để buộc Bắc Kinh phải xuống nước, Mátxcơva không những củng cố các đường biên giới Liên Xô-Trung Quốc và Mông Cổ-Trung Quốc, mà còn gây áp lực đối với Trung Quốc từ phía nam, bằng việc ký một hiệp ước liên minh với Việt Nam. Do vậy, việc cải thiện mối quan hệ Việt-Xô, đỉnh điểm là việc ký hiệp ước phòng thủ Việt-Xô ngày 3/11/1978, có thể được liên hệ trực tiếp tới mối quan hệ đang xấu đi giữa Trung Quốc với Liên Xô vào cuối những năm 1970. Tuy nhiên, thay vì xuống nước, Trung Quốc đã tấn công Việt Nam ngày 17/2/1979, chỉ ba ngày sau dấu mốc 29 năm ngày ký Hiệp ước Xô-Trung 1950. Khi Mátxcơva từ chối can thiệp giúp Hà Nội, Bắc Kinh quyết định rằng Bộ Chính trị Liên Xô sẽ không sử dụng chiến tranh để buộc Trung Quốc tiếp tục Hiệp ước Xô-Trung 1950 và củng cố quyết tâm để thông báo ngày 3/4/1979 ý định chấm dứt hiệp định này.

Một trong những mục tiêu chính của Bắc Kinh khi tấn công Việt Nam là để đảm bảo rằng Trung Quốc không bị bao vây cả ở phía bắc và phía nam bởi các lực lượng Liên Xô. Cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc, với tất cả những khiếm khuyết rõ ràng của nó, đã thực sự đạt được mục tiêu chiến lược này do việc Liên Xô từ chối can thiệp giúp Việt Nam đã làm mất đi mối đe dọa về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với Liên Xô và Việt Nam. Về mặt ngoại giao, Trung Quốc cũng giành được một chiến thắng rõ ràng trước các nỗ lực của Liên Xô muốn gây sức ép buộc Trung Quốc ký một hiệp ước mới thay thế hoặc củng cố Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung ngày 14/2/1950. Cuối cùng, nhìn lại, khẳng định của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “gấu giấy” có vẻ như khác chính xác, và do đó cho thấy có lẽ là dấu hiệu đầu tiên từ bên ngoài rằng đế chế Liên Xô đang bị đe dọa bởi sự sụp đổ từ bên trong, một sự sụp đổ phải mười năm sau mới diễn ra với sự kiện bức tường Berlin năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô năm 1991.

Nguồn Lên trang viet-studies ngày 4-5-09

———-
Quan hệ Trung-Xô và Việt Nam từ 1950 cho đến tháng hai 1979

Mặc dù Trung Quốc có thể không phải là người tham gia cuộc xung đột tại Việt Nam trong những năm 1960 và năm 1970, sự hỗ trợ kinh tế và các vật chất của Trung Quốc cho Việt Nam phát một vai trò rất quan trọng.  Trung Quốc không chỉ đã gửi quân đến Việt Nam để giúp duy trì hệ thống tiếp vận, mà Bắc Kinh ước tính các khoảng hỗ trợ cho Hà Nội những năm 1950-1978 là hơn 20 tỷ USD.  (King C. Chen, Cuộc chiến của TQ với Việt Nam, 1979 (Stanford, CA, nxb Hoover Institution, 1987, tr 27). Do đó không gì khó hiểu, vì sao Bắc King có thể phật lòng trước sự cải thiện các mối quan hệ giữa Moscow và Hà Nội hồi cuối thập niên

Điều này đặc biệt đúng sau khi hai nước Việt- Xô đã ký kết một hiệp ước tương trợ tháng 11 năm 1978 mà cụ thể là nhằm vào Trung Quốc.  Theo nhận định của một nhà nghiên cứu, khối liên minh Xô-Việt nầy biến Việt Nam thành “cái chốt” trong “nổ lực kiềm chế Trung Quốc” của Liên bang Xô-viết  (Robert A. Scalapino, “Các ảnh hưởng chính trị của Liên bang Xô-viết ở Châu Á”, Donald S. Zagoria, Chính sách Xô viết ở Đông Á (New Haven, nxb Yale University, 1982), 71.) Từ nhãn quan nầy của Bắc Kinh, do đó , việc cố gắng bao vây Trung Quốc của Moscow về mặt ngoại giao là khá thành công. Thực tế nầy làm bùng phát cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc trong tháng hai 1979.

Mặc dù các mối quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Hà Nội trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 nói chung là tốt, sự khác nhau giữa chính sách của Trung Quốc và Việt Nam tăng lên tháng tư 1975 sau khi Sài Gòn sụp đổ. 

Tháng Chín của năm 1975, Lê Duẩn, TBT Đảng Cộng sản Việt Nam, đã công du Bắc Kinh và trong một loạt các cuộc họp sau khi Lê Duẩn đến, sự việc trở nên rõ ràng là Trung Quốc đã rất quan tâm về các quan hệ chặc chẻ của Việt Nam với Liên bang Xô-viết.  Mặc dù quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm tiếp theo, sự rạn nứt giữa Trung Quốc và Việt Nam đầu tiên đã trở nên rõ ràng khi hàng ngàn Hoa kiều thiểu số bắt đầu chạy trốn khỏi Việt Nam trong mùa xuân và mùa hè năm 1978. 

Ngoài ra, các tranh chấp lãnh thổ về quần đảo Hoàng Sa, cũng như sự xâm lược Cam-pu-chia của Việt Nam ngay trước đó cũng tác động đến sự căng thẳng Trung-Việt.

Trong khi đó, mùa hè năm 1978 đã xuất hiện thêm nhiều dấu hiệu về sự hợp tác Xô-Việt Nam, như  Việt Nam đề nghị trở thành một thành viên của Comecon.

Ngoài ra, các nguồn chính phủ Hoa Kỳ báo cáo rằng tháng tám 1978 độ hơn 4000 cố vấn Liên-xô đã có mặt tại Việt Nam.  Trong tháng 9 năm 1978, Liên bang Xô-viết bắt đầu xúc tiến vận chuyển vũ khí sang Việt Nam, cả bằng đường không và đường biển, bao gồm “máy bay, tên lửa, xe tăng, và đạn dược”. 

Cuối cùng, tất cả các dấu hiệu cải thiện quan hệ Xô-Việt đưa đến kết quả vào 3 tháng 11 năm 1978, khi Việt Nam và Liên bang Xô-viết ký kết một Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác.  Không nghi ngờ gì nữa hiệp ước này là nhắm tới Trung Quốc, khi điều sáu của hiệp định nêu rằng Việt Nam và Liên bang Xô-viết sẽ “ngay lập tức có sự tham khảo ý kiến với nhau”, nếu một trong hai bên bị “tấn công hay bị đe dọa tấn công … nhầm loại bỏ mối đe dọa đó.”  Được biết, hiệp ước cũng bao gồm một mật ước chính thức cho phép lực lượng vũ tranh Xô-viết sử dụng các phi trường và hải cảng quân sự của Việt Nam”  (Ramesh Thaku và Carlyle Thayer, Quan hệ của Liên-xô  với Ấn Độ và Việt Nam (New York, nxb St Martin’s, 1992, tr 61.)

Mặc dù Việt Nam cho rằng họ ký hiệp ước này với Liên-xô nhầm chặn đứng chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ở Bắc Kinh rỏ ràng thấy hiệp ước này như là một phần nỗ lực của Moscow tạo áp lực Trung Quốc xuống nước và khôi phục các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp ước Trung-Xô 1950.  Nếu Liên-xô có thể tạo một thế đứng ở ĐNÁ, họ có thể đe doạ Trung Quốc cả hai phía bắc và phía nam biên giới.  Nếu thành công, chính sách này có thể cung cấp cho Moscow một đòn bẩy đủ mạnh để Bắc Kinh phục hồi, hoặc ít nhất tái thương thuyết Hiệp ước Trung-Xô 1950 theo những điều kiện của Moscow.  Một chỉ báo sớm về mối lo của Bắc Kinh đối với Hiệp ước Xô-Việt đã được Nhân Dân Nhật báo (Renmin Ribao) lên tiếng cảnh báo rằng Moscow đang dùng Việt Nam chống lại Trung Quốc như trước đây  (và không thành công)  từng làm với  Cuba để tạo áp lực ngoại giao đối với Hoa Kỳ.  Bắc Kinh cũng cảnh báo mục tiêu tối hậu của Moscow là “đặt toàn bộ Đông Dương dưới sự kiểm soát của họ.”

Bằng cách ký hiệp ước phòng thủ Xô-Việt ngày 3 tháng 11 năm 1978, Liên-xô hy vọng sử dụng các quan hệ của họ với Việt Nam để tạo thế vượt trội và lấn ép Trung Quốc. Sự quan tâm chính của Trung Quốc là, nếu các chính sách của Liên-xô ở Việt Nam thành công, thì chính phủ Xô viết có thể tạo một cái thòng lọng về chiến lược và quân sự đối với Trung Quốc.  Kể từ khi có sự rạn nứt Trung-Xô, và đặc biệt là từ khi có các xung đột biên giới Trung-Xô viết cuối thập niên 1960, là mục tiêu cơ bản của Bắc Kinh là xây dựng tiềm năng quân sự riêng của mình để đối mặt với the Hồng quân Liên Xô, mục tiêu mà họ gặt hái được nhiều từ giữa đến cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, khi quân số TQ theo báo cáo tăng mạnh đến 3,6 triệu người.  Về ngoại giao, Bắc Kinh, tiếp tục cố gắng lấn Moscow bằng cách chính thức bình thường hóa quan hệ của họ với Washington vào ngày 1 tháng giêng 1979.  Ramses Amer đã kết luận rằng các đồng minh mới của Liên-xô và Trung Quốc đã được liên kết chặt chẽ: “Vì vậy, liên minh chiến lược này đã hình thành trong những tháng cuối cùng của năm 1978, một liên minh Xô-Việt, và một liên minh Trung-Mỹ, và họ sẽ thành công trong khoảng một thập kỷ”.

Do mối quan hệ Trung-Mỹ vào đầu năm 1979, mối quan tâm của Moscow về một cuộc chiến tranh hai mặt trận với Mỹ -nước lãnh đạo  lực lượng NATO ở phía tây và lực lượng Trung Quốc ở phía đông đã được tăng cường.  Điều này có thể đã thuyết phục Moscow để tăng các hỗ trợ cho Việt Nam tiếp tục xâm lược Cam-pu-chia, một sự kiện mà Robert Ross đã liên kết chặt chẽ với việc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam, khi ông tranh luận rằng sự bất ổn của đồng minh thân cận của Trung Quốc ở Cam-pu-chia liên quan mật thiết tới Bắc Kinh. Trong khi Bắc Kinh không sẳn lòng can thiệp trực tiếp vào Cam-pu-chia để chặn đứng sự xâm lặng của Việt Nam, sự xâm lược quân sự của Trung Quốc, cộng với tranh chấp lãnh thổ Trung-Việt Nam trong thực tế hòan tòan “trùng khớp” với việc Việt Nam xâm lược ở Cam-pu-chia.  Ross kết luận thêm rằng việc tiếp tục tranh chấp đối với Cam-pu-chia và biên giới Trung-Việt Nam có một “liên quan hữu cơ,” như các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảnh báo Việt Nam: đừng suy nghĩ sai lầm rằng Trung Quốc là “yếu và dễ bắt nạt.”

Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng,  Việt Nam là một quốc gia tương đối nhỏ về cả hai mặt dân số và sức mạnh quân sự, rồi hầu như chắc chắn việc các cố vấn Xô-viết đột ngột đến Việt Nam với số lượng lớn – một ước tính giữa 5000-8000 người vào năm 1979 – và một số lượng rất lớn hàng quân sự đã báo điềm gở ngay lập tức cho chiến lược an ninh của Trung Quốc; như vậy, theo King C. Chen: “Không có được liên minh Xô-Việt, không thể có chiến tranh mười sáu ngày giữa Trung Quốc và Việt Nam”. Trong lời thú nhận rằng của hợp tác quân sự của Liên-xô với Việt Nam can hệ chặc chẻ đếnTrung Quốc, Đặng Tiểu Bình công bố công khai công nhận rằng việc “liên minh quân sự” mới Xô-Việt này thực sự là một phần của mục tiêu dài hạn của Liên-Xô nhằm “bao vây Trung Quốc.”

Sau sự việc ký kết Hiệp ước Xô-Việt ngày 3 tháng 11, 1978, Bắc Kinh đã tìm cách bẻ gãy cố gắng này của Xô viết nhằm bao vây Trung Quốc. Vì vậy, nỗi sợ hãi bị Moscow đánh thọc sường  là cú hích đưa Bắc Kinh đến hành động.  Rõ ràng, bước đầu tiên của Trung Quốc là nhằm thử thách để quyết tâm của Liên-xô để xem họ có giữ vững lập trường của hiệp ước với Việt Nam hay cho xuống nước và chấp nhận thất bại.  Đặng Tiểu Bình thậm chí đã báo Tổng thống Carter hồi tháng một 1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ “phá vỡ các tính toán chiến lược của Xô viết…” Từ đó, thậm chí Ross còn kết luận rằng trong sự phấn khích xâm lược thành công của Việt Nam ở Campuchia, nó là hệ quả phá vòng vây Liên-xô của Trung Quốc [điều nầy] đã giới hạn sự xâm lược của Việt Nam. “

—————-

*Quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Ba năm sau đó, 1975, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.

*1979: China invades Vietnam

http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/dates/stories/february/17/newsid_2547000/2547811.stm

 

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Trong Bị Vong lục 14/2/1979, Bộ Ngoại giao VN đã biết trước và tố cáo TQ chuẩn bị tấn công VN ngày 17-2-1979

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2016

Đảng CSVN và Nhà Nước VN đã biết trước chuyện TQ sắp tấn công tràn qua biên giới VN vào ngày 17-2-1979, do đó, Bộ Ngoại Giao VN đã chuẩn bị trước tài liệu trước đó rất lâu, và ngày 14 tháng 2 năm 1979, họ đã họp báo tại Hà Nội đưa ra Bị Vong lục sau đây, báo Quân Đội Nhân Dân đã đăng tin ngày 15-2-1979. Và 3 ngày sau, 17-2-1979, quân TQ chính thức tấn công bằng cách xua mấy trăm ngàn quan tràn qua biên giới VN.

Bộ Ngoại giao Việt Nam tố cáo nhà cầm quyền Trung Quốc 37 năm trước

Ngọc Thu

anhbasam

14-2-2016

Bài báo Quân Đội Nhân Dân, số 6345, ngày 15 tháng 2 năm 1979 có tựa đề:

“Bị vong lục của Bộ Ngoại giao ta về việc nhà cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hoạt động vũ trang ở biên giới Việt Nam và ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam“.

Trong văn bản này, Bộ Ngoại giao CSVN, mãi tới năm 1979,  mới  lên án Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. 

  • Sau khi đọc Bị Vong lục, Trần Hoàng nhận xét rằng: Khi ông Hồ Chí Minh đang ở đỉnh cao quyền lực trong thập niên 1950s và 1960s, và khi Lê Duẫn đang cầm quyền ở Miền Bắc 1960s và 1970s, cả hai đều đã im lặng và không công khai lên tiếng phản đối Trung Quốc đã lấn chiếm biên giới VN. Trích Từ năm 1957 đến năm 1977, bằng nhiều thủ đoạn xấu xa, họ đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở hơn 50 điểm trên toàn tuyến biên giới gồm 6 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên và Lai Châu. Đó là chưa kể những vùng đất mà từ trước 1957 họ đã quản lý vượt quá đường biên giới lịch sử.

Ngọc Thu đánh máy và chụp lại toàn bộ nội dung văn bản ngoại giao này để độc giả có thêm thông tin về những gì đã diễn ra trên đất nước ta 37 năm trước:

***

Ngày 14-2, Bộ Ngoại Giao ta đã tổ chức họp báo công bố “Bị vong lục của Bộ Ngoại giao ta về việc nhà cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hoạt động vũ trang ở biên giới Việt Nam và ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam“

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Bích Sơn đã giới thiệu nội dung vơ bản Bị vong lục đó trước đông đảo phóng viên các báo thông tấn xã, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình trong nước và nước ngoài.

Toàn văn như sau:  

“Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định trong các Công ước ký kết giữa Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh (Trung Quốc) trong những năm 1887, 1895 và đã được chính thức cắm mốc.

Xuất phát từ tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, trong những năm 1957-1958, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã thỏa thuận với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, coi việt giải quyết mọi vấn đề về biên giới và lãnh thổ là thuộc thẩm quyền của Chính phủ hai nước, và chủ trương giải quyết mọi tranh chấp có thể xảy ra bằng thương lượng.

Theo tinh thần của sự thỏa thuận đó, đại diện chính quyền các cấp ở vùng biên giới hai bên Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành nhiều cuộc hội đàm về các vấn đề liên quan đến biên giới trong phạm vi quyền hạn của địa phương. Đại diện Chính phủ hai nước cũng đã tiến hành nhiều cuộc tiếp xúc và đàm phán về vấn đề biên giới giữa hai nước.

Từ trước đến nay, phía Việt Nam luôn luôn giữ đúng sự thỏa thuận giữa Trung ương hai Đảng, cố gắng hết sức mình góp phần làm cho đường biên giới Việt- Trung trở thành một đường biên giới hữu nghị.

Song, do những ý đồ đen tối, từ lâu nhà cầm quyền Trung Quốc đã vi phạm sự thỏa thuận năm 1957-1958 giữa Trung ương hai Đảng, từng bước gây ra những sự kiện biên giới ngày càng phức tạp và nghiêm trọng.

Từ năm 1957 đến năm 1977, bằng nhiều thủ đoạn xấu xa, họ đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở hơn 50 điểm trên toàn tuyến biên giới gồm 6 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên và Lai Châu. Đó là chưa kể những vùng đất mà từ trước 1957 họ đã quản lý vượt quá đường biên giới lịch sử.

Những hoạt động của họ vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, quấy rối, khiêu khích ở vùng biên giới trên bộ, cho đến năm 1973, đã diễn ra ở một số nơi, và từ năm 1974 trở đi, đã tăng lên nhiều và mỗi năm lại tăng nhanh:

Năm 1974: 179 vụ

Năm 1975: 294 vụ

Năm 1976: 812 vụ

Năm 1977: 873 vụ

Trong tổng số 2.158 vụ nói trên, có 568 vụ xâm canh, 1.355 vụ tuần tra vũ trang, 61 vụ đánh và bắt cóc người Việt Nam trên đất Việt Nam.

Cần lưu ý là từ năm 1955, phía Trung quốc đã lợi dụng việc giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ Hữu nghị quan đến Yên Viên, đã đặt điểm nối ray đường sắt giữa hai nước sâu vào đất Việt Nam hơn 300 m và coi đó là đường quốc giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Cũng trong thời gian từ năm 1975 đến năm 1977, tàu thuyền Trung Quốc đã xâm phạm vùng biển Việt Nam trên 1.500 lần chiếc, có vụ vào sâu chỉ cách các đảo của Việt Nam từ 2-5 km. Sự kiện nghiêm trọng là ngày 20 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã dùng quân đội đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Họ còn đưa ra những đòi vô lý về những hòn đảo khác của Việt Nam ở biển Đông.

Từ năm 1978 đến nay, đẩy mạnh chính sách thù địch đối với Việt Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc đã tăng cường những hoạt động quấy rối, những hành động vũ trang ở biên giới Việt Nam và ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam.

a) HỌ KÍCH ĐỘNG NGƯỜI HOA GÂY RỐI Ở VÙNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM

Đầu năm 1978, phía Trung Quốc thi hành một kế hoạch có tổ chức, rất thâm độc, đã dụ dỗ và cưỡng ép đi Trung Quốc hàng chục vạn người Hoa, hòng gây cho Việt Nam những rối loạn về chính trị, xã hội và kinh tế. Lợi dụng những đặc trưng về địa lý và dân cư vùng biên giới, bằng nhiều thủ đoạn chiến tranh tâm lý, họ bắt đầu tác động trực tiếp đến số người Hoa ở vùng biên giới phía bắc Việt Nam, rồi lan dần ra các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam có người Hoa làm ăn sinh sống. Trong tổng số 17 vạn người Hoa đã chạy đi Trung Quốc, thì riêng tỉnh Quảng Ninh giáp giới với khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc đã có gần 10 vạn người.

Độc ác hơn nữa, sau khi dụ dỗ, cưỡng ép được người Hoa từ các tỉnh kéo lên vùng biên giới, nhà cầm quyền Trung Quốc đã cho đóng các cửa khẩu, để mặc cho người Hoa bị nghẽn lại phải sống cảnh màn trời chiếu đất, rồi họ cho bọn tay sai từ bên kia biên giới lẻn sang trà trộn với bọn côn đồ trong người Hoa, quấy phá, hành hung cán bộ, nhân dân Việt Nam ở địa phương, làm rối loạn an ninh chính trị và trật tự xã hội Việt Nam ở vùng biên giới. Nghiêm trọng là sự kiện ở cửa khẩu Hữu nghị ngày 25 tháng 8 năm 1978: trong khi cán bộ Việt Nam đang giải thích, vận động người Hoa bị nghẽn lại ở đây trở về nơi ở cũ làm ăn, thì phía Trung Quốc đã dùng loa chỉ huy bọn côn đồ trong người Hoa và cho hàng trăm lính và công an mặc quần áo dân thường tràn san lãnh thổ Việt Nam, dùng thanh sắt, gậy gộc, dao quắm… đánh chém cán bộ, nhân viên và công an biên phòng Việt Nam, làm hai người chết tại chỗ và 25 người khác bị thương, trong đó có 7 người bị thương nặng.

b) NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC NGÀY CÀNG TĂNG CƯỜNG NHỮNG HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG XÂM PHẠM LÃNH THỔ VIỆT NAM

– Số vụ xâm phạm vũ trang của phía Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam ngày càng tăng. Năm 1978: 583 vụ. Sang năm 1979, mới trong tháng 1 và tuần lễ đầu của tháng 2, đã có tới 230 vụ.

– Quy mô các vụ xâm phạm ngày càng mở rộng trên toàn tuyến biên giới của Việt Nam từ Quảng Ninh đến Lai Châu. Tính chất của nó ngày càng nghiêm trọng: từ những hoạt động quấy nhiễu việc làm ăn bình thường của nhân dân vùng biên giới, bao vây khiêu khích lực lượng công an vũ trang và dân quân Việt Nam đang làm nhiệm vụ trên lãnh thổ của mình, đến những hoạt động phục kích bắn giết, bắt cóc người của Việt Nam đưa về Trung Quốc, tập kích vào các trạm gác của dân quân và các đồn biên phòng của Việt Nam.

– Các lực lượng vũ trang Trung Quốc ngày càng vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, có nơi cách đường biên giới đến 5.000 mét, như vụ tập kích vào trạm gác của dân quân Việt Nam ở Bản Lầu, tỉnh Hoàng Liên Sơn ngày 14 tháng 1 năm 1979.

– Lực lượng xâm nhập trong từng vụ ngày càng đông hơn. Có nơi, họ đã dùng cả nghìn người, gồm có lính chính quy, công an và dân binh, như vụ đánh chiếm đồi Chông Mu, tỉnh Cao Bằng ngày 1 tháng 11 năm 1978; hoặc có nơi họ dùng hàng tiểu đoàn lính chính quy tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 2.000 mét, đánh chiếm các trạm gác của dân quân Việt Nam ở khu vực phía sau mốc 25 xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ngày 10 tháng 2 năm 1979.

– Họ sử dụng ngày càng nhiều loại vũ khí, từ súng bộ binh đến đại liên và súng cối. Trong vụ tập kích vào trạm gác Xá Hồ của công an nhân dân vũ trang Việt Nam ở xã Ma L Chải, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ngày 6 tháng 2 năm 1979, lính Trung Quốc đã sử dụng súng cối 82 và súng 12 ly 7 trong vụ tập kích vào trạm biên phòng Hồ Pả và các vùng lân cận thuộc khu vực Bản Máy, tỉnh Hà Tuyên ngày 8 tháng 2 năm 1979, họ đã sử dụng súng DKZ 75 và 85.

– Lực lượng vũ trang Trung Quốc cũng đã nhiều lần dùng súng lớn từ bên kia biên giới bắn bừa bãi vào xe cộ, dân cư đi lại trên các đường giao thông ở vùng biên giới bên phía Việt Nam, vào các trạm gác, làng bản, thị xã, công trường, lâm trường… của Việt Nam. Như vụ bắn đại liên vào thôn Phai Lầu, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh ngày 14 tháng 1 năm 1979; vụ bắn súng lớn vào thị xã Lao Cai, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng ngày đó; vụ bắn súng 12 ly 7 vào đồn biên phòng Tà Lùng, nhà máy đường Phục Hòa và xóm Hưng Long, xã Quy Thuận, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng ngày 2 tháng 2 năm 1979. Thậm chí, có lúc việc bắn phá này kéo dài nhiều ngày liên tục ở một địa điểm như vụ dùng cối 82 và các loại súng bộ binh khác bắn vào trạm biên phòng Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và các thôn xóm xung quanh từ 10-1 đến cuối tháng 1 năm 1979. 

– Họ gây cho nhân dân Việt Nam thiệt hại về người và của ngày càng nhiều. Riêng tháng 1 và những ngày đầu tháng 2 năm 1979, lực lượng vũ trang Trung Quốc đã giết hại hơn 40 dân thường, dân quân và chiến sĩ công an vũ trang Việt Nam, làm bị thương hàng trăm người khác và bắt đưa về Trung Quốc hơn 20 người. Nhiều nhà cửa của nhân dân bị thiệt hại. Ở nhiều nơi trên vùng biên giới, việc làm ăn bình thường của nhân dân Việt Nam bị cản trở nghiêm trọng.

– Cùng với những hoạt động vũ trang trên vùng biên giới đất liền với quy mô ngày càng lớn, nhịp độ ngày càng tăng, nhà cầm quyền Trung Quốc còn cho máy bay chiến đấu xâm phạm vùng trời, cho tàu thuyền xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Trong năm 1978, họ đã cho trên 100 lượt chiếc máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam.

c) NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC TẬP TRUNG QUÂN ĐỘI VỚI QUY MÔ LỚN Ở VÙNG SÁT BIÊN GIỚI TRUNG QUỐC – VIỆT NAM, RÁO RIẾT CHUẨN BỊ CHIẾN TRANH CHỐNG VIỆT NAM

Sau khi đơn phương đình chỉ cuộc đàm phán về vấn đề người Hoa (tháng 9 năm 1978), nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh các hoạt động chuẩn bị chiến tranh ở vùng biên giới hai nước. Họ đã điều một lực lượng lớn quân đội, gồm hàng chục sư đoàn bộ binh và nhiều sư đoàn gồm không quân, bộ đội cao xạ, pháo binh, bộ đội đánh ở rừng núi; đưa nhiều vũ khí, dụng cụ chiến tranh, kể cả máy bay chiến đấu, xe tăng, đại bác tới vùng biên giới Trung – Việt.

Theo tin AFP từ Bắc Kinh ngày 21 tháng 1 năm 1979 thì “đã có các cuộc chuyển quân quan trọng tại các khu vực biên giới mà theo các nguồn tin quân sự phương Tây ở Bắc Kinh, có khoảng 15 đến 17 sư đoàn quân Trung Quốc, tức 150.000 người”.

Tạp chí Kinh tế Viễn Đông ngày 9 tháng 2 năm 1979 cho biết “dọc biên giới Trung – Việt, Trung Quốc đã triển khai khoảng 160.000 quân, 700 máy bay chiến đấu, trong đó có cả máy bay ném bom F9 do Trung Quốc chế tạo”.

Đồng thơi Trung Quốc đã điều tới biên giới Trung – Việt nhiều viên chỉ huy quân sự cao cấp, mà tờ Ngôi sao Oa-sinh-ton nhận xét: “Tướng Dương Đắc Chi được cử làm tư lệnh các lực lượng Trung Quốc dọc biên giới với Việt Nam vốn là một viên tướng có kinh nghiệm nhất của Trung Quốc và được Bắc Kinh tín nhiệm về chính trị”.

Áp sát biên giới Việt Nam, có nơi lấn vào lãnh thổ Việt Nam, lực lượng vũ trang Trung Quốc đào hầm hào, xây công sự; đồng thời họ tăng cường diễn tập quân sự với quy mô lớn, bắt dân Trung Quốc ở vùng biên giới sơ tán vào sâu trong nội địa, họ gây không khí bất cứ lúc nào cũng có thể bùng nổ chiến sự ở vùng biên giới hai nước.

Cùng với những hành động chuẩn bị chiến tranh, nhà cầm quyền Trung Quốc đã huy động bộ máy tuyên truyền đồ sộ của mình từ trung ương đến địa phương, hàng ngày tiến hành xuyên tạc, vu cáo thô bạo đối với Việt Nam.

Trong những ngày gần đây, một số người lãnh đạo Trung Quốc đã trắng trợn đe dọa chiến tranh chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những lời lẽ hết sức ngang ngược.

Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa qua đã ngang nhiên xác nhận những tin tức về việc Trung Quốc tập trung quân với quy mô lớn ở sát biên giới Việt Nam và không ngớt tung ra những lời ngạo mạn nước lớn và rất hiếu chiến.

Ngày 31 tháng 1 năm 1979, trả lời các phóng viên Mỹ, ông ta nói: “Cần phải cho Việt Nam một bài học cần thiết”.

Ngày 7 tháng 2 năm 1979, tại Tô-ky-ô, ông ta tuyên bố “cần phải trừng phạt Việt Nam”.

Việc tập trung quân đội và vũ khí, dụng cụ chiến tranh với quy mô lớn đi đôi với những hành động vũ trang xâm nhập lãnh thổ Việt Nma và những lời đe dọa chiến ranh của nhà cầm quyền Trung Quốc đang làm cho tình hình trên toàn tuyến biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam hết sức nguy hiểm.

Theo tin hãng ANSA từ Niu Y-oác, ngày 23 tháng 1 năm 1979, “các chuyên gia Viễn Đông của chính quyền Mỹ cho rằng, có khả năng các lực lượng lớn của Trung Quốc có kế hoạch mở một cuộc xâm lăng vào Việt Nam”.

Tạp chí Tuần tin tức Mỹ số ra ngày 28 tháng 1 năm 1979 dẫn một nguồn tn từ bộ ngoại giao Mỹ nói rằng: “Việc tăng cường bố trí quân sự của Trung Quốc ở biên giới với Việt Nam có thể làm người ta dự đoán một cuộc can thiệp quan trọng hơn là một cuộc biểu dương lực lượng đơn thuần”.

Mọi người đều thất rõ tính chất cực kỳ nghiêm trọng của những hành động vũ trang và những lời đe dọa ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Việt Nam. Những người lãnh đạo Bắc Kinh công khai đe dọa chiến tranh chống một nước độc lập, có chủ quyền, tự cho mình có quyền dùng vũ lực chống nước Cộng  hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ đã phơi bày dã tâm thù địch Việt Nam và tham vọng của chủ nghĩa bành trướng dân tộc lớn của họ ở Đông Nam châu Á.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cực lực tố cáo và nghiêm khắc lên án những hành động đe dọa chiến tranh của nhà cầm quyền Trung Quốc. Những hành động phiêu lưu đó chứa đựng những hậu quả nguy hiểm không thể lường hết được đối với hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á và trên thế giới. Những hành động đó trái với Hiến chương Liên hợp quốc, vi phạm các nguyên tắc sơ đẳng của luật pháp quốc tế, và là sự thách thức nghiêm trọng đối với nhân dân và các nước yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tin chắc rằng nhân dân và Chính phủ các nước bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, tăng cường đoàn kết và ủng hộ nhân dân Việt Nam, sẽ kịp thời ngăn chặn âm mưu và hành động chiến tranh của nhà cầm quyền Bắc Kinh, không để họ đụng đến Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam luôn luôn coi trọng tình hữu nghị lâu đời giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc và kiên trì chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng, nhưng quyết bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và thành quả lao động hòa bình của mình.

Nhà cầm quyền Trung Quốc thi hành chính sách thù địch với Việt Nam, gây ra tình hình căng thẳng trên biên giới hai nước, họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành động phiêu lưu nguy hiểm do họ gây ra.

Hà Nội, ngày 14 háng 2 năm 1979

Ngọc Thu sưu tầm, đánh máy và chụp ảnh từ Thư viện Quốc gia Việt Nam

anh ba sàm

H1

H1

H1

H1

H1

H1

Posted in Biên Giới, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Tôi đã từng ứng cử vào QH và kết quả như thế nào? – Tự ứng cử vào Quốc Hội – sân chơi không dành cho người nhát gan

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2016

TỰ ỨNG CỬ – SÂN CHƠI KHÔNG DÀNH CHO NGƯỜI NHÁT GAN

Võ An Đôn

12-2-2016

Hiến pháp qui định công dân từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng thực tế nếu công dân nào ra ứng cử Quốc hội sẽ bị chính quyền tìm cách hăm dọa, gây khó khăn đủ điều.

Sau khi nộp đơn tự ứng cứ, người tự ứng cử sẽ bị chính quyền để ý theo dõi sát sao và cho người từ các đoàn thể đến vận động gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, họ hàng buộc người tự ứng cử phải tự nguyện rút đơn.

Nếu người tự ứng cử cứng rắn không chịu rút đơn, thì họ sẽ tìm cách gây khó khăn trong công việc làm ăn hàng ngày và kinh tế gia đình.

Đến khi lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú và nơi làm việc thì họ sẽ tìm cách cho người đấu tố, bêu xấu, nhục mạ người tự ứng cử trước cộng đồng dân cư và nơi làm việc.

Nếu vượt qua các bước trên, đến giai đoạn hiệp thương do Mặt trận tổ quốc chủ trì thì người tự ứng cử sẽ bị loại, vì thành phần tham dự Hội nghị hiệp thương đa số là lãnh đạo các cơ quan đảng, đoàn thể và chính quyền, trong khi người tự ứng cử thì không được mời tham dự cuộc họp này.

Riêng giới luật sư thì những luật sư đã từng ra ứng cử đại biểu Quốc hội trước đây đều bị nhà nước cho vào tù, như luật sư Lê Công Định, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Quốc Quân. Riêng luật sư Nguyễn Đăng Trừng và tôi đến nay chưa bị ngồi tù nhưng bị trù dập không ngóc đầu lên được.

Lần bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2011, tỉnh Phú Yên có hai người tự ứng cử là tôi và thầy giáo Đào Tấn Phần. Kết quả là cả hai không ai lọt vào vòng Hiệp thương của Mặt trận tổ quốc, nhưng sau đó thầy giáo Đào Tấn Phần là giáo viên cấp 3, dạy môn sử hơn 30 năm chuyển qua làm thư viện của trường, với công việc hàng ngày là uống nước trà, đọc báo và trông coi thư viện. Riêng tôi thì thuộc diện “Trên răng dưới bình xăng” làm ruộng, chăn bò nên chẳng còn gì để mà trù dập.

Tóm lại, nếu ai đó muốn ra tự ứng cử đại biểu Quốc hội với tham vọng làm một đại biểu Quốc hội để được ban phát bổng lộc, chức quyền, danh vọng thì không nên. Nếu tự ứng cử vì mục đích muốn thực hiện quyền ứng cử của một công dân theo hiến định và muốn mọi người dân nhận thức được rằng quyền ứng cử là quyền căn bản của mỗi người dân thì hãy ra ứng cử.

Võ An Đôn

 

Đôn An Võ's photo.

  ——

TÔI TIẾP TỤC ỨNG CỬ QUỐC HỘI

Võ An Đôn

11-2-2016

Theo qui định của pháp luật thì công dân từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng thực tế bầu cử Quốc hội ở Việt Nam chỉ là trò diễn kịch của giới cầm quyền, người dân khó mà lọt vào sân chơi độc quyền này.

Tôi là người tự ứng cử đại biểu Quốc hội đầu tiên ở tỉnh Phú Yên. Năm 2011, tôi nộp đơn xin tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 13, sau khi tôi nộp đơn tự ứng cử được 10 ngày, thì có thầy giáo Đào Tấn Phần, giáo viên dạy sử, Trường cấp ba Trần Quốc Tuấn cũng nộp đơn tự ứng cử cùng tôi.

Theo qui định thì người muốn ứng cử đại biểu Quốc hội phải trải qua năm bước: thứ nhất là nộp đơn xin tự ứng cử, thứ hai là lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú, thứ ba là lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc, thứ tư là hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh (bước này được xem là cửa ải khó vượt qua của người tự ứng cử), thứ năm là được vào danh sách bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội.

Năm 2011, khi lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú, tôi được 100% người dân địa phương ủng hộ, sau đó lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc là Đoàn luật sư, tôi cũng được 100% tín nhiệm.

Đến khi hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi bị loại, không được lọt vào danh sách bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội (Khi tổ chức lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú và tại Đoàn luật sư thì tôi được mời tham dự, nhưng khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tố và nói xấu tôi dữ lắm).

Mục đích tôi tự ứng cử đại biểu Quốc hội lần trước và lần này không phải là tôi muốn làm đại biểu Quốc hội để được hưởng nhiều bổng lộc ban phát, mà tôi muốn thực hiện quyền ứng cử của một công dân theo hiến định và muốn mọi người dân nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch với vở kịch vụng vờ, lộ liễu, lâu năm đã lỗi thời.

Dù biết trước rằng 99,99% người tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị loại, nhưng tôi vẫn tiếp tục nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới.  Mong tất cả mọi người hãy ủng hộ tôi !

———————————-

TÔI ĐÃ TỪNG ỨNG CỬ QUỐC HỘI NHƯ THẾ NÀO ?

Võ Đắc Danh

11-2-2016

Cách nay 16 năm, tôi phanh phui hai vụ tham nhũng lớn xảy ra tại công ty dược và công ty dịch vụ thương mại Cà Mau. Kết quả là hàng loạt đương sự ra tòa, trong đó hai vị giám đốc lãnh án tù chung thân, ông Lê Công Nghiệp, chủ tịch tỉnh và một số ủy viên thường vụ tỉnh ủy Cà Mau mất chức. Bộ chính trị điều anh Chín Nhỏ, bí thư tỉnh Trà Vinh về làm bí thư tỉnh Cà Mau.

Lúc bấy giờ, tôi từ báo ảnh Đất Mũi chuyển về làm đại diện cho báo Người Lao Động tại miền tây. Trong mối quan hệ với tôi, anh Chín Nhỏ cũng như nhiều quan chức khác ở Cà Mau vừa tỏ ra dè chừng, vừa tỏ ra thân thiện, họ xem tôi như một tên sát thủ. Riêng với đồng bào Cà Mau, tên tuổi tôi nổi như cồn, ai có việc gì oan ức cũng tìm đến tôi nhờ can thiệp.
Ở Cần Thơ, tôi quan hệ thân thiết với anh em văn phòng đại diện của các báo. Một hôm đang ngồi nhậu với nhau, bỗng dưng một đồng nghiệp đề nghị tôi ra ứng cử quốc hội, rồi cả bàn nhậu ủng hộ theo. Trong lúc ngà ngà say, tôi bấm điện thoại gọi cho anh Chín Nhỏ, nói kỳ nầy em ra ứng cử quốc hội nghen anh Chín. Anh Chín cười nói tao ủng hộ mầy hai tay. Khoản mười phút sau, ảnh gọi điện bảo tôi sáng mai đến ban bầu cử ký vài thủ tục, ảnh đã nói chuyện với bên đó rồi.
Sáng hôm sau tĩnh rượu, tôi thấy mình vô duyên, định rút lại ý kiến với anh Chín. Nhưng mấy người bạn đồng nghiệp nói không được, đây là câu chuyện nghiêm túc, làm vậy anh Chín nói mầy đùa với ảnh.
Thôi thì lỡ rồi, chơi luôn.
Tuần sau, họ xếp tôi chung liên danh với anh Nguyễn Đức Triều và anh Bùi Công Bữu. Anh Triều là ủy viên trung ương đảng, chủ tịch hội nông dân Việt Nam, anh Bửu là phó bí thư tỉnh ủy Cà Mau, còn tôi ngoài đảng lại là người tự ứng cử, làm kẻ lót đường cho hai anh kia là cái chắc rồi.
Thế nhưng ván bài lật ngược, đi ra mắt cử tri tới đâu bà con bày tỏ sự ủng hộ tôi tới đó, họ nói trong ba vị ứng cử viên, vị nào cũng xứng đáng, đặc biệt là nhà báo Võ Đắc Danh đã dũng cảm chống tham nhũng, chống lại bất công và luôn luôn đứng về phía dân nghèo, họ phô tô hàng chục bài báo của tôi rồi chuyền tay nhau đọc. Trong bài phát biểu ra mắt cử tri, anh Triều và anh Bửu hứa hẹn lung tung, rằng nếu tôi đắc cử tôi sẽ làm thế nầy thế nọ. Riêng tôi, tôi nói với bà con rằng tôi không dám hứa gì cả, bởi cơ chế của nhà nước ta là cơ chế dân chủ tập trung, mọi quyết sách liên quan đến quốc kế dân sinh đều do tập thể quyết định, cá nhân một đại biểu quốc hội chẳng quyết định được gì nên tôi không dám hứa. Chỉ có điều, nếu tôi trở thành đại biểu quốc hội thì những bức xúc của bà con, nếu không chuyển tải được trên diễn đàn báo chí thì tôi có thể chuyển đến diễn đàn quốc hội. Còn nếu tôi không đắc cử thì tôi vẫn là nhà báo như tôi đã từng làm báo.
Đi đến đâu, sau phát biểu của tôi, bà con vỗ tay dồn dập.
Mấy ngày sau, một cán bộ văn phòng tỉnh ủy cho tôi biết, anh Triều đến than với anh Chín Nhỏ rằng chúng ta đã sai nước cờ, lợi thế thuộc về NÓ hết rồi.
Đêm trước bầu cử, tôi nhận được nhiều cú điện thoại của mấy anh bí thư chi bộ khóm ấp, họ than căng quá anh ơi, tôi vừa nhận được chỉ thị mật rằng tổ bầu cử nào để cho anh trúng cử thì bí thư chi bộ trên địa đó phải chịu kỷ luật đảng. Tôi gọi điện thoại cho anh Chín Nhỏ nói vui rằng anh sửa nước cờ nầy coi bộ khó quá hả anh Chín, mấy anh bí thư chi bộ khóm ấp giờ đang run như cua nướng trước chỉ thị khẩn cấp và tối mật của anh. Bị lộ tẩy, anh Chín ấp úng nói, coi chừng chúng nó tuyên truyền đó mầy ơi.
Mười giờ đêm ấy, sau kết quả kiểm phiếu, tôi gọi điện cho anh Chín Nhỏ nói em chúc mừng anh, ảnh hỏi chúc mừng gì mậy, tôi nói chúc mừng anh đã đạt được mục đích dù phải đối phó hơi cực với sự sai lầm của một ván cờ. Anh Chín cười gượng nói, mọi chuyện mầy đã biết hết rồi, chiều mai năm giờ mầy chạy qua tao.
Chiều hôm sau đúng giờ tôi sang nhà công vụ của anh, thấy anh bày sẵn một dĩa thịt chó nướng và một cái lẩu chó nấu măng. Chỉ có hai anh em. Vừa ngồi xuống bàn, anh vừa rót chivas vừa nói, mầy thông cảm cho tao, anh Triều là ủy viên trung ương đảng do ở ngoải gởi vô, nếu để ảnh rớt thì tao biết ăn nói sao với BCT, còn thằng Bửu là phó bí thư tỉnh ủy, nếu để nó rớt thì còn uy tín đâu để nó lãnh đạo cái đảng bộ nầy, còn mầy, nếu không vào được quốc hội thì mầy vẫn là nhà báo như mầy đã tuyên bố khi ra mắt cử tri.
Tôi nói thôi chuyện đó cho qua, giờ nhậu đi anh, chỉ cần anh chịu thiệt như vậy là đủ rồi.
*
Đêm qua nhậu ở bờ kè, lại có mấy người bạn gợi ý tôi ra ứng cử quốc hội. Xin thôi, để tôi bình yên mà nuôi chim yến.

————————

Đôn An Võ's photo.
Đôn An Võ's photo.

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri Xa Hoi, Luật Pháp, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »

►Những chiếc bánh vẽ ma mị

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2016

pobrane (1)

Năm mới mọi người đều muốn đổi mới theo sự xoay vần của Đất Trời. Nên đổi mới là mong được tốt đẹp hơn chứ không phải xấu hơn. Như Đông tàn thì Xuân đến. Đảng CSVN cũng vậy, đặc biệt là sau Đại hội 12 được tổ chức trong những ngày áp Tết vừa qua. Nhưng họ đổi mới, đổi cũ hay ma mị?

Trước kia, ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt thấy đường lối kinh tế “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH” đang thực hiện bị bế tắt, cả nước rơi vào cùng khốn, nên vội vã xé rào, chạy theo Kinh tế Tư bản để cứu chế độ, đánh tráo tên gọi thành Kinh tế Thị trường mà vẫn chưa yên tâm, sau đó phải thêm cái đuôi “theo định hướng XHCN” để tự ca ngợi thành quả. Cái gọi là Đổi mới!

Với người miền Bắc lúc đó thì đúng là Đổi mới. Vì từ nghèo đói, lạc hậu, mơ ước đơn giản chỉ là 3 Đ (đổng, đài, đạp) bỗng dưng có của ăn của để, đó là chưa nói đến việc cướp đoạt trắng trợn tài sản trong Nam ồ ạt chở ra Bắc. Nhờ đó đảng CSVN tự ca ngợi mình. Người miền Bắc cũng hùa theo “biết ơn đảng” vì “đảng là quang vinh, tài tình và sáng tạo, là đỉnh cao trí tuệ”!

Với người miền Nam thì từ trước đã sung túc và Tự do cho dù bị chiến tranh tàn phá khốc liệt vì có nền tảng là Kinh tế Tư bản. Nhưng sau ngày 30/4/1975 từ sung túc bỗng bị tán gia bại sản nhanh chóng chỉ vì đường lối Kinh tế XHCN. Rồi từ tán gia bại sản lại gượng đứng dậy nhờ “cởi trói”! Do đó Đổi mới với người miền Nam là Đổi cũ (quay trở lại thời Kinh tế Tư bản)

Nhìn tổng thể tiến trình từ lúc đảng CSVN khởi động chiến tranh tàn phá miền Nam với chiêu bài “chống Đế quốc Mỹ xâm lược”, “chống Mỹ Ngụy và bọn Tư Bản Bóc lột” vì “Kinh tế Tư bản là con đỉa 2 vòi, một vòi hút máu nhân dân lao động trong nước, một vòi hút máu nhân dân lao động nước ngoài” mà cái giá phải trả là từ 3, 4 hay 5 triệu người Việt Nam chết thảm, đặc biệt là thế hệ trẻ của cả 2 miền Nam Bắc (!) thì rõ ràng đây chỉ là một vòng tròn khép kín đầy oan nghiệt!

Từ khởi điểm của chiếc vòng kim cô nầy cho đến khi kết thúc là xương máu vung vãi mà mãi 46 năm sau, thân nhân của những người sinh Bắc tử Nam vẫn mong ngóng kiếm tìm hài cốt trong vô vọng!

Ngày đó con em họ vô Nam để tiêu diệt bọn “Tư bản Bóc lột” thì ngày nay bọn “Tư bản Bóc lột” đó đang là Độc quyền Tư bản Đỏ Bóc lột!

Và vì Độc quyền nên mức độ bóc lột còn tàn nhẫn hơn những gì mà lý thuyết cộng sản đã tuyên truyền suốt thế kỷ 20.

Tại sao phải hy sinh sinh mạng của người Việt Nam vô lý và nghiệt ngã đến như thế?

Đại hội 12 mới vừa kết thúc đang là khởi điểm mới mà vận mạng đất nước và dân tộc có thể sẽ phải đối diện càng cay nghiệt hơn trước!

Vì phe cánh cộng sản miền Nam đang bị tước bỏ quyền lực một cách thâm hiểm, khác với cách loại bỏ Mặt trận Giải phóng miền Nam ngay sau khi “Thống nhất”, với một câu ngắn gọn: “Mặt trận giải phóng miền Nam đã hoàn thành sứ mạng lịch sử”, cho dù suốt trong thời chiến cộng sản miền Bắc không bao giờ dám xác nhận MTGPMN chỉ là tay chân của họ.

Bây giờ, ngay trước khi tiến hành Đại hội 12, chính ông Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận là chức vị Tổng Bí thư phải thuộc về người miền Bắc, dù thực tế xảy ra đã được hiểu ngầm như thế từ lâu! Nhưng giữa hiểu ngầm và công khai xác nhận rất khác nhau, nếu không muốn nói là khác nhau xa.

Sự xác nhận của ông Tổng Bí thư đã cho biết là dù đã trãi qua 40 năm “thống nhất” nhưng người miền Bắc luôn luôn nghi kỵ người miền Nam. Vì thế người miền Bắc phải là bộ não, sử dụng người miền Nam là tay chân. Như đã sử dụng Mặt trận Giải phóng miền Nam! Nói câu đó xuất phát ngay trước thềm Đại hội 12 chính là một Thông điệp: Đảng viên gốc miền Bắc phải biết sử dụng lá phiếu của mình để bầu cho người miền Bắc!

Vì thế chuyện người Bắc thống trị đất nước không còn là “tuyên truyền của bọn diễn biến hòa bình”, không còn là “chủ trương gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của thế lực thù địch” mà chính là chủ truơng của đảng CSVN hiện tại!

Đồng thời, theo tin tức chưa được kiểm chứng trên Facebook cho biết, là các giới chức Trưởng công an các thành phố, quận, huyện đến xã ấp từ Khánh Hòa trở vô Nam đều do người miền Bắc nắm giữ! Trong khi đó không hề có bất cứ Trưởng công an nào là người miền Nam được giao nhiệm vụ ở phía Bắc!

Tất cả những con số trần trụi đó tự nó không biết tuyên truyền. Chỉ nói lên sự thật.

Như vậy thì hy vọng gì từ sau Đại hội 12?

Và tại sao người Việt Nam cứ mãi sống trong hy vọng?

Đảng CSVN hy vọng thì đúng. Vì họ thiện nghệ việc dùng chiêu bài. Như chiêu bài chống tham nhũng là cách ma mị tốt nhất để xoa dịu sự căm phẫn với hy vọng kéo dài được tuổi thọ của chế độ. Do đó các lãnh đạo và báo chí cùng nhau đề cập việc chống tham nhũng, như là ưu tiên số một, nhưng thực chất chỉ sáo rỗng. Vì cội nguồn của tham nhũng vẫn còn trơ trơ đó.

Đó là vì đảng độc quyền lãnh đạo.

Còn với người dân, là nạn nhân bị bóc lột, thì chống tham nhũng được coi như một nhúm cỏ treo trước đầu ngựa để họ hy vọng. Vì chỉ có hy vọng mới giúp họ có sức chịu đựng.

Gắng sức chịu đựng để tồn tại!

Người tù hy vọng sẽ được minh oan. Người nông dân bị cướp đất hy vọng sẽ tìm được công lý. Người công nhân bị bóc lột hy vọng rồi sẽ vươn lên. Người dấn thân tranh đấu cho Tự do Dân chủ, bị tù ngục, hy vọng chính sự giam cầm phi pháp họ một ngày nào đó sẽ biến thành lửa cách mạng bùng lên…

Như vậy người Việt Nam đã được đảng cho “ăn” bao nhiều miếng bánh vẽ có tên là Hy Vọng?

Ông Võ Văn Kiệt muốn cứu đảng khỏi bị sụp đổ nên phải Đổi mới theo Tư bản. Theo Tư bản là vứt bỏ đi xương máu của 3, 4 triệu người bị hy sinh oan uổng trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn. “Chống Đế quốc xâm lược, chống Tư Bản bóc lột”!

Ông Nguyễn Văn Linh “cởi trói”! Dùng 2 chữ “cởi trói” là tự xác nhân người dân đã bị trói. Đã bị gông cùm. Nên được cởi trói thì hí hửng! Vì cởi trói là tự do. Nhưng dây nhợ cởi trói chưa kịp quăng vào thùng rác lịch sử đã vội vã trói trở lại. Tranh thủ được thời cơ cởi trói ngắn ngủi, giới văn bút có ngay được vài tác phẩm dám đào sâu vào thực trạng phân hóa cùng cực trong xã hội sau chiến tranh. Bây giờ những tác phẩm đó được ca ngợi như là “thành quả”, trong khi nếu sống dưới chế độ Tự do thì đó chỉ là chuyện rất bình thường, chẳng có gì mà ầm ĩ.

Nhưng hiện tại đã khác. Nhờ vào tiến bộ kỹ thuật vượt bậc của nhân loại, tự nó luồn lách được vào Việt Nam, như nước luồn vào khe hở. Internet đã là cơn bão dữ làm sụp đổ mọi bức tường bưng bít kiên cố nhất mà các chế độ độc tài vô phương chống đỡ. Do đó khi không thể bưng bít được nữa thì phải nương theo chiều gió để thổi vào dư luận.

Đó là đảng đang có tư duy mới (!) để người dân hy vọng.

Vì thế những ngày vừa qua đã có vài phát biểu của vài chức sắc lớn chế độ mang hơi hướm thời đại. Và những phát biểu đó tức khắc được ca ngợi. Ca ngợi đồng nghĩa là chờ đợi với hy vọng mới!

Như thế, cho dù chỉ là chiếc bánh vẽ nhưng vẫn còn có tác dụng!

Vì thế câu hỏi cần đặt ra là tại sao cứ mãi chờ đợi trong hy vọng?

Vì Tự do không thể tự nhiên mà có. Vì Hạnh phúc không thể tự nhiên mà có. Tự do, Hạnh phúc có được phải do nỗ lực thực hiện chứ không phải ngồi chờ được ban phát!

Vì, đó không phải là một món quà!

Ví dụ như những chiếc bánh vẽ to lớn thời ông Nguyễn Tấn Dũng còn đình đám trong vai trò Thủ tướng. Như Thông điệp đầu năm 2 năm về trước, nói về tính đa nguyên đa đảng là “xu thế thời đại”! Rồi những phát biểu chống Tàu cộng nẩy lửa tại diễn đàn quốc tế như “không có thứ hữu nghị viển vông”… tất cả vẫn còn vang vọng đó ấy thế mà Quốc Hội Việt Nam lại mời và tiếp đón long trọng Tập Cận Bình (kẻ chủ trương nuốt trọn biển Đông, bắn giết ngư dân Việt và công khai đưa giàn khoan HD 981 vào trong hải phận Việt Nam bất chấp công luận) đến trụ sở Quốc Hội đọc diễn văn!

Mùa Xuân là mùa của Hy Vọng nhưng liệu người Việt Nam có còn mê hoang với những chiếc bánh vẽ mang tên Hy Vọng? Những chiếc bánh mà đảng CSVN đã liên tiếp “mời ăn” suốt từ hơn 2/3 thế kỷ cho đến tận bây giờ!

(Feb 11th, 2016)

© Kông Kông

© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Nhìn tuyết nhớ Ba Sàm

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2016

11-2-2016

Một nền báo chí mà không có tiếng nói phản biện và những phân tích độc lập, thì phải nói là một nền báo chí buồn chán, nếu không muốn nói là một nền báo chí chết lâm sàng.

Nguyễn Văn Tuấn

Mới đầu năm/đầu tháng mà blogger Nguyễn Văn Tuấn đã nói chuyện chết chóc (nghe) thấy ghê chết mẹ:

Theo dõi báo chí chung quanh sự kiện Đại hội đảng CSVN, tôi thấy nền báo chí bên nhà (hình như gọi là “báo chí cách mạng”) thật là u ám. Thuở đời nay một sự kiện tương đối quan trọng và có ảnh hưởng đến tương lai đất nước, mà báo chí không hề có một bài bình luận chung quanh sự kiện. Không hề có một bài phân tích các ứng viên. Không có tranh luận công khai. — đành rồi. Nhưng cũng chẳng có một diễn thuyết nào của bất cứ một ứng viên nào về viễn kiến và tương lai của đất nước.

Thay vào đó là những cái tít mang tính thông cáo hơn là phân tích, như “Hôm nay bầu Bộ Chính trị, Tổng bí thư khoá mới”, “Nhiều ủy viên Bộ Chính trị được giới thiệu tái cử”, rồi giả bộ “Trung ương giới thiệu ông Nguyễn Xuân Phúc làm Thủ tướng” hay “Trung ương giới thiệu ông Nguyễn Phú Trọng ở lại làm Tổng Bí thư” trong khi báo lề trái ai cũng đã tỏ tường!

Một nền báo chí mà không có tiếng nói phản biện và những phân tích độc lập, thì phải nói là một nền báo chí buồn chán, nếu không muốn nói là một nền báo chí chết lâm sàng.

Làm gì có chuyện “phản biện” và “phân tích độc lập” tại Việt Nam, hả Trời? Ở xứ sở này, tuyết mà còn phải rơi đúng lề và đúng hướng luôn đó nha – theo như tin loan của TTXVN:

Sáng 24/1 tại Sa Pa, băng tuyết đã phủ trắng thị trấn kéo dài từ khu vực Trạm tôn đến địa phận xã Trung Chải dài khoảng 25km, độ dày tuyết phủ có nơi lên tới 10cm.

Du khách thích thú ngắm tuyết rơi tại Sa Pa. Chùm ảnh: Lê Phú.

Theo quan sát của phóng viên, hiện tuyến đường 4D từ thành phố Lào Cai đi Lai Châu, giao thông đi lại khó khăn một phần do tuyết trơn, một phần do lượng người và các phương tiện đổ xô lên Sa Pa ngắm tuyết rơi quá đông, gây tắc nghẽn cục bộ nhiều đoạn. Đặc biệt lưu ý đối với những du khách di chuyển bằng phương tiện xe hơi cá nhân nên di chuyển chậm tránh những đoạn đường xấu bị băng tuyết đóng dày khá nguy hiểm.

Hiện chính quyền địa phương đã huy động tối đa lực lượng cảnh sát giao thông, công an xã tham gia giữ trật tự an toàn giao thông để hướng dẫn các phương tiện, nhất là những du khách đến từ các tỉnh xa.

Ai ai cũng muốn lưu lại cho mình một tấm ảnh đẹp giữa trời tuyết trắng. Chùm ảnh: Lê Phú.

Bên lề kia, lề trái – còn gọi là lề dân, hay Thông Tấn Xã Vỉa Hè – cảnh tuyết rơi (hơi) khác.

JB Nguyễn Hữu Vinh:

Những ngày cuối đông này, khi thời tiết Tây Bắc giá lạnh đến mức đổ tuyết, đóng băng với nhiều hình ảnh thương tâm, chúng tôi đã đến thăm một xóm nhỏ người H’Mông tại Tây Bắc.

Câu chuyện được kể qua hình ảnh.

– Nông Đức Giỏi:

Thời tiết khắc nghiệt, nhiều nơi khí hậu xuống dưới 0 độ, tuyết rơi dầy đặc khiến cho trâu bò lợn gà chết hàng loạt, hoa màu tan nát, trẻ em ko có đủ tấm áo ấm để mặc đến trường, tấm chăn ấm để đắp… Cuộc sống của người dân vốn vất vả, thiếu thốn trăm bề nay năm hết tết đến rồi lại trở nên cơ hàn hơn.

Ấy vậy mà ở đâu đó cs tốt đẹp hơn, một bộ phận giới trẻ lại tỏ ra rất hào hứng, phấn khích với hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt đó và hò reo nhau bỏ tiền bỏ của, bỏ công bỏ việc, bỏ học hành đi để…ngắm, để cười đùa thỏa thích bên cạnh những gương mặt khắc khổ cơ hàn.

Thiết nghĩ nếu các bạn ấy thấu hiểu được nỗi đau của đồng loại, cũng với chuyến đi đó, cũng với tinh thần đó nhưng là đi để hỗ trợ, giúp đỡ cho đồng bào mình dù chỉ là manh áo cũ, tấm chăn mỏng hay vài đôi dép cho con đường đến trường của các em nhỏ bớt lạnh hơn,…chắc hẳn chuyến đi của các bạn sẽ ý nghĩa hơn và tình người cũng sẽ ko bị rơi theo những bông tuyết lạnh giá ấy!

Cảnh “thương tâm” ở Tây Bắc (“trâu bò lợn gà chết hàng loạt, hoa màu tan nát, trẻ em ko có đủ tấm áo ấm để mặc đến trường, tấm chăn ấm để đắp”) có thể làm mờ nét “ưu việt” của XHCN nên không thể lọt vô ống kính của nhà báo thuộc Thông Tấn Xã Việt Nam. Họ tác nghiệp có định hướng mà.

Cũng vì cái “hướng” này nên, đôi lúc, “các nhà báo cách mạng” của ta đã đi quá xa sự thực. Cách đây chưa lâu, TTXVN đi tin tỉnh rụi:

Việt Nam đối thoại thành công về chống phân biệt chủng tộc.

Trong các ngày 21 – 22.2, tại Ủy ban Công ước chống phân biệt chủng tộc (CERD) ở thành phố Geneva (Thụy Sĩ), đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và Ủy ban Công ước chống phân biệt chủng tộc đã có hai phiên đối thoại rất bổ ích, cởi mở và thẳng thắn về báo cáo của Việt Nam thực hiện Công ước quốc tế xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc giai đoạn 2000-2009.

Ông Hà Hùng, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam cho biết, đoàn Việt Nam đã trả lời hơn 40 câu hỏi của các thành viên Ủy ban Công ước chống phân biệt chủng tộc, xoay quanh vấn đề đảm bảo các quyền của người dân tộc thiểu số do công ước quy định. Nhiều câu hỏi đề cập đến các biện pháp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội cho người dân tộc thiểu số trong thời gian tới, những khó khăn thách thức khi thực hiện các chương trình, chính sách cho họ, việc bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số trong hội nhập kinh tế và hiện đại hóa, giáo dục…

Cùng sự kiện trên nhưng BBC và VOA loan tin khác hẳn.

BBC: VN bị chất vấn về chính sách dân tộc.

VOA: Việt Nam bị chỉ trích tại phiên họp của Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Vụ này khiến blogger Thiên Lý phải vò đầu, bứt tóc:

“Đọc những tin như thế, người đọc dù IQ thấp cở nào cũng có thể phán đoán tin nào là tin chính xác. Hậu quả là hiện nay báo lề Đảng ngày càng giảm số lượng người đọc, từ dạng báo in cho đến báo mạng…

Nhà báo Nguyễn Công Khế cũng than phiền tương tự: “Tôi thấy chính sách thông tin như hiện nay, ta chỉ từ thua đến thua.”

Thua me gỡ bài cào!

Ta (bèn) bắt giam “đối thủ cạnh tranh” của mình cho… đỡ tức. Một trong những nạn nhân của vụ “gỡ gạc” này là ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy, theo tin của báo Pháp Luật – số ra ngày 10 tháng 5 năm 2014:

Như đã đưa tin, ngày 5/5, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) đã thực hiện lệnh bắt, khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy về hành vi ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân’.

Khoảng năm 2009, trên mạng Internet lần đầu tiên xuất hiện một trang blog có tên ‘anhbasam’ mà ngay khi vừa xuất hiện, trang blog này đã thu hút sự chú ý của nhiều người thường xuyên truy cập Internet, thậm chí có ngày đã đạt lượng truy cập hàng trăm nghìn lượt…”

Chính vì trang “anhbasam” có “hàng trăm nghìn lượt truy cập” hàng ngày, nên những người điều hành Thông Tấn Xã Vỉa Hè mới bị bắt giam vô thời hạn, không có ngày xét xử. Hôm 13 tháng 1 vừa qua, BBC vừa (buồn bã) cho hay:

Blogger Nguyễn Hữu Vinh bị bắt ngày 5/5/2014 với cáo buộc từ trang thông tin của Bộ Công An là “đã có hành vi đăng tải các bài viết trên mạng Internet nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân, quy định tại Điều 258 – Bộ Luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Tòa án Nhân dân TP Hà Nội thông báo hoãn phiên xử ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy trong tuần tới “sang một ngày khác”.

Trước đó cũng tòa này thông báo sẽ xét xử blogger Anh Ba Sàm, tức ông Vinh, và bà Thúy vào sáng 19/1, một ngày trước Đại hội Đảng XII. Thời điểm thông báo đã gây ra nhiều đồn đoán về các phe cánh trong Đảng dùng phiên tòa được dư luận chú ý để sát phạt lẫn nhau.

Đại Hội Đảng XII đã qua nhưng phiên toà “xét xử Anh Ba Sàm, tức ông Vinh, và bà Thúy” vẫn tiếp tục bị trì hoãn. Chắc tòa án Nhân dân TP Hà Nội vẫn chưa “nghĩ ra” được tội danh cho hai nhân vật này. Thôi, tôi đề nghị cứ mang họ ra xử (đại) đi. Làm mất hết độc giả của TTXVN cũng là một trọng tội chớ bộ, đúng không?

Tưởng Năng Tiến

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi tố cáo: Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2016

Đảng CSVN, khi nói hay viết về biến cố lịch sử năm 1945, luôn luôn công khai thừa nhận là họ cướp chính quyền.

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi trả lời phỏng vấn nhà báo Trần Quang Thành

7-2-2016

Lời giới thiệu :

Từ tháng 8/1945 khi cướp được chính quyền, Đảng Cộng sản Viêt Nam đã thực hiện cai trị đất nước bằng nền chuyên chính vô sản – một chế độ độc tài toàn trị khắc nghiệt – Các quyền làm người bị cướp đoat ; các nguồn tài nguyên của đất nước, tài sản của nhân dân bị cướp đoạt. Việt Nam ngày càng lún sâu vào con đường tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đời sống người dân lao động ngày càng khó khăn, cơ cực.

Từ thành phố Huế, Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi đã tố cáo những thủ đoạn cướp đoạt thô bạo của đảng cộng sản và khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp. Cuộc phỏng vấn do nhà báo Trần Quang Thành thực hiện. Nội dung như sau – Mời quí vị cùng nghe:

Nhà báo Trần Quang Thành: Thưa linh mục Phan Văn Lợi. Việt Nam ta suốt 70 năm qua đã chịu sự thống trị của đảng CSVN. Ở miền Bắc là 70 năm, ở miền Nam là 40 năm. Người CSVN khi lên cầm quyền ở VN, họ rất tự hào về chuyện họ đã cướp được chính quyền. Chữ “cướp” của họ, họ rất tự hào. Linh mục nghĩ sao về việc “cướp” của đảng CS? Khác thế nào với những việc cướp khác?

Linh mục Phan Văn Lợi: Kính thưa Quý vị, về việc đảng CS tự hào đã “cướp”, chúng ta có nhiều điều để nói. Tôi xin được trình bày qua hai điểm chính. Thứ nhất là nhận xét chung về việc cướp của đảng CS, và thứ hai là đối tượng cướp, tức là đảng CS đã cướp những gì của Dân tộc VN.

I- Nhận xét chung    

– Phạm vi cướp: Thông thường, một đảng cướp có phạm vi hoạt động trong một khu vực nhỏ: một ngôi nhà, một cơ sở, hoặc cùng lắm là một vùng nào đó. Và tức khắc bị nhà cầm quyền trấn áp tiêu diệt. Đảng CS thì khác, nó cướp bóc cả một quốc gia, nó khống chế cả một dân tộc. Tiếng nước ngoài gọi là banditisme international: Hệ thống cướp bóc quốc tế.

– Mức độ cướp: Vì đã cướp được chính quyền và chủ trương toàn trị trong tư cách một nhà cầm quyền, nên đảng CS cướp toàn diện từ vật chất đến tinh thần, từ cá nhân đến tập thể, như ta sẽ thấy dưới đây

– Phương cách cướp: Có 2 phương cách: bạo lực và dối trá, đúng như bản chất của đảng CS.

– Bạo lực hành chánh và bạo lực vũ khí. Bạo lực hành chánh này gồm có những bộ luật tước đoạt các nhân quyền và dân quyền, bộ máy hành chánh địa phương gây khó dễ hay đòi hối lộ, từ khước hay chấp thuận cách tùy tiện. Bạo lực vũ khí có thể là lực lượng trấn áp đông đảo gồm công an, quân đội, dân phòng, côn đồ, với dùi cui, hơi cay, còng sắt, vũ khí, nhà tù.

– Nhồi nhét dối trá và cưỡng bức dối trá. Nhồi nhét dối trá là bịa ra những điều không có thật về lãnh tụ (ví dụ cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ, của tác giả Trần Dân Tiên vốn là chính ông Hồ), về thành tích của đảng, về đối phương, bịa ra các anh hùng cách mạng (như Lê Văn Tám) để buộc người dân (nhất là giới trẻ) tin theo. Khẩu hiệu “Nghe theo đảng, nói theo đài” là cái mà chúng ta thường nghe nhắc tới. Cưỡng bức dối trá là buộc người dân phải sống trong dối trá, không được nói lên điều mình cảm thấy, điều mình suy nghĩ, sống hai lòng, kẻo phải thiệt hại vào bản thân, vào gia đình.

– Tác giả thiết kế việc cướp: Nhìn cho sâu, sẽ thấy đó là người đã thiết lập chế độ và đảng CS ở Liên Xô, tức Vladimir Illich Lenine, tiếp đó Staline đã khai triển phương cách, thủ đoạn cướp chính quyền, rồi các lãnh tụ Cộng sản tại mỗi quốc gia mà họ nắm quyền.

Đó là những nhận xét chung về việc cướp của đảng CS.

II- Các đối tượng cướp

TQT: Đảng CS đã bộc lộ sự cướp đó từ năm 1945. Linh mục có thể nói rõ hơn về việc đi cướp của đảng CS với chính quyền mà họ nắm ở Việt Nam được không?

PVL: Trong hơn 70 năm ở miền Bắc và 40 năm khắp cả nước, chúng ta thấy đảng CS đã cướp được 7 thứ. Chúng tôi gọi là 7 đối tượng cướp của nhà cầm quyền CS. Số 7 thường chỉ sự trọn vẹn.

1- Cướp quyền lực chính trị bằng quân đội và bằng quốc hội

– Trước tiên là cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim năm 1945. Điều này, ngày nay ai cũng rõ. Việt Minh cướp chính quyền, buộc chính phủ Trần Trọng Kim phải từ chức và vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường chỗ cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và đảng CS. Sau đó, đảng CS còn thanh toán các đảng phải quốc gia như Việt Nam Quốc dân đảng, đảng Đại Việt (vụ án phố Ôn Như Hầu năm 1946),

– Tiếp đó, cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp VNCH mà cuối cùng là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu. Bịa ra danh nghĩa “Chống Mỹ cứu nước” để dốc toàn lực miền Bắc xâm lăng chế độ Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam. Trong công cuộc ăn cướp này, có sự trợ giúp của Nga, Tàu và nhiều nước Cộng sản Đông Âu.

– Sau khi cướp toàn bộ đất nước, CS quay sang cướp chủ quyền từ tay nhân dân bằng thể chế tam quyền phân công thay vì tam quyền phân lập. Hành pháp, lập pháp, tư pháp đều là công cụ trong tay đảng. Đảng phân công cho mỗi ngành. Mới đây, đảng họp đại hội lần thứ 12, lại tự tiện chọn trước thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội là những con người mà nhân dân nhìn vào đã thất vọng ngay, thậm chí lo sợ.

– Thiết lập một Quốc hội mà tuyệt đại đa số là đảng viên, qua một cuộc bầu cử độc diễn, giả tạo và cưỡng bức. Quốc hội trở thành đảng hội. Dân biểu trở thành đảng biểu.

2- Cướp sự thật bằng độc quyền thông tin.

– Con người sống, xã hội vận hành nhờ tôn trọng sự thật, nhưng đảng CS lại đoạt hết sự thật. Ngay khi vừa cướp chính quyền ở Hà Nội, thì Việt Minh đã nắm ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu tiên ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng. Đảng cũng hoàn toàn cấm mọi báo chí khác không phải của đảng (dù của tư nhân hay của tôn giáo). Sau khi xâm chiếm VNCH, đảng cũng làm y như vậy. Ngoài ra đảng còn mở chiến dịch tịch thu thiêu hủy những sách báo của chế độ cũ mà đảng gọi là “văn hóa phản động Mỹ ngụy”, mở chiến dịch tấn công, bắt bớ, bỏ tù những nhà báo, nhà văn mà đảng gọi là “lực lượng biệt kích văn hóa chống chế độ”

– Hiện giờ thì đảng nắm trong tay mọi tờ báo đủ loại (báo in, báo tiếng, báo hình, báo điện tử), quản lý hết mọi tổng biên tập, biên tập viên, phóng viên dưới quyền Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Mỗi tuần đều họp các tổng biên tập để ra chỉ thị nói gì, viết gì, không ai được chệch ra ngoài.

– Đảng cướp sự thật bẳng cách trấn áp mọi ai dám tìm hiểu, công bố hay bênh vực sự thật. Bằng nhiều bộ luật và khoản luật về thông tin, về báo chí, về internet, bằng lực lượng công an mạng, bằng dư luận viên cấp cao và cấp thấp vốn nằm trong Hội đồng Lý luận trung ương, Học viện chính trị Hồ Chí Minh hoặc là đám dư luận viên mà mỗi ngày dùng lời lẽ vu khống, tục tằn để tấn công các nhà dân báo trên mạng. Rồi với biện pháp tịch thu sách báo, dựng tường lửa, đánh sập trang mạng, vu không thóa mạ, bắt bỏ tù. Ông Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), ông Nguyễn Ngọc Già là vài ví dụ tiêu biểu.

– Đảng cũng cướp sự thật bằng cách tước đoạt máy ảnh, máy quay, máy vi tính của công dân, để phi tang mọi dấu vết. Thông tư của Bộ Công an do đích thân Bộ trưởng Trần Đại Quang, người mới được đề cử làm Chủ tịch, ký tháng trước, quy định các nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông. Theo thông tư đó thì cảnh sát giao thông từ ngày 15/2 “có quyền kiểm tra giấy tờ của người ngồi trên phương tiện đang bị kiểm soát”, và “được trưng dụng các loại phương tiện”. Một điểm gây tranh cãi nhất trong thông tư là đoạn nói cảnh sát giao thông “được trưng dụng các loại phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc; các phương tiện, thiết bị kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người điều khiển; sử dụng các phương tiện, thiết bị đó theo quy định của pháp luật”. Công luận cho rằng các cảnh sát từ đây sẽ “thủ tiêu” một cách hợp pháp các bằng chứng về hành vi ăn hối lộ mà người dân quay lén bằng cách “trưng dụng” điện thoại của họ. Từ “trưng dụng” này chất chứa rất nhiều ý nghĩa.

Trên đây là nói về những thông tin thời sự, sự thật thường ngày. Nhưng đảng CS cũng cướp sự thật lịch sử bằng cách bóp méo, xuyên tạc những sự kiện lịch sử mà đảng thấy không có lợi cho mình hoặc bịa đặt những điều mà đảng thấy hữu ích cho quyền cai trị của đảng. Việc này được thực hiện trong các sách nghiên cứu sử hay giáo khoa sử. Thế nhưng nó đã gây phản tác dụng là chẳng nhà nghiên cứu nghiêm túc nào sử dụng tài liệu của đảng và hầu hết học sinh, sinh viên, thầy giáo đều khinh môn học sử, chê giáo khoa sử.  

3- Cướp tinh thần (tâm hồn) giới trẻ bằng độc quyền giáo dục

Đảng chủ trương giáo dục giới trẻ không thành những công dân ý thức, tự do, độc lập và trưởng thành nhưng thành những thần dân ngoan ngoãn, mù quáng và nô lệ. Ngoan ngoãn nghe lời đảng và mù quáng đi theo đảng, Đảng chủ trương hồng hơn chuyên, nặng về chính trị hơn văn hóa. Ngay từ nhỏ, trẻ đã được dạy thói quen gian dối và lừa đảo, kỹ năng theo dõi và báo cáo, khuynh hướng báo thù và bạo lực. Điều này ai cũng thấy rõ.

Việc cướp tinh thần giới trẻ còn thể hiện qua việc đoàn thể hóa giới trẻ bằng đội thiếu nhi Tiền phong, đoàn thanh niên Cộng sản, để vừa nhồi sọ, vừa cưỡng tâm những tâm hồn trẻ trung đó.

Rồi qua việc đảng viên hóa những nhà quản lý giáo dục và những lãnh đạo giáo dục (tức các hiệu trưởng) để họ luôn chấp hành đường lối giáo dục của đảng. Ngoài ra đảng còn làm băng hoại lương tâm và đức hạnh của các cô thầy. Bệnh thành tích, nạn đổi tình hay đổi tiền lấy điểm, não trạng cấm cản học sinh sinh viên biểu tình yêu ước, phê phán chế độ, đòi hỏi dân chủ… là những ví dụ.

Cướp tinh thần giới trẻ bằng cách hính trị hóa sách giáo khoa, nhất là các môn sử, văn và công dân, để giới trẻ chỉ thấy đảng là đạo đức văn minh, là thiên tài kiệt xuất, đỉnh cao trí tuệ, “bác Hồ” là nhân vật xuất chúng, tâm gương thập toàn, vĩ nhân số một của lịch sử Việt Nam.

Đảng còn xuyên tạc Việt sử là một lịch sử chống Tàu, và có âm mưu xóa dần môn sử để làm cho giới trẻ không còn lòng yêu nước thương nòi, lòng tự hào dân tộc, lòng quý chuộng các tổ tiên anh hùng, nhất là để dễ dàng chấp nhận việc Việt Nam lệ thuộc Tàu, sát nhập vào Tàu.

4- Cướp lương tâm con người và đạo đức xã hội bằng cách tạo ra một văn hóa mới và một bầu khí vô thần.

– Đảng đẻ ra một thứ văn hóa riêng của chế độ gọi là văn hóa xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Khoa Điềm, từng đứng đầu ban Văn hóa Tư tưởng trung ương, có đưa ra khái niệm “văn hóa đảng” (từ đó đẻ ra thêm “làng văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “gia đình văn hóa”. Từ nhiều năm nay, đảng phát động chủ trương tôn thờ lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đặt tượng ông ta trong nhiều đình chùa, bên cạnh các thành hoàng, các anh hùng dân tộc. Thậm chí còn gọi vong linh của ông, chiêm bái thờ lạy ông như một vị Phật (đạo bác Hồ!).

– Đảng tạo ra một thứ đạo đức riêng của chế độ, gọi là đạo đức cách mạng (từ ngữ này phát xuất từ chính ông Hồ). Thứ đạo đức có có hai nguyên tắc chủ yếu: (1) mọi cái gì có lợi cho cách mạng, cho đảng đều là chân, thiện, mỹ, dù trong thực chất có thể là dối trá, ác tà, xấu xa, đê tiện; (2) cứu cánh biện minh cho phương tiện, nên có thể dùng những cách thức vô đạo đức nhất để tiến đến mục tiêu.

– Đảng tìm cách tiêu diệt các tôn giáo bằng bạo lực hành chánh hay bạo lực vũ khí, làm cho tôn giáo biến mất sự hiện hữu hay biến mất bản chất của mình, biến các lãnh đạo tinh thần hoặc thành những công cụ tuyên truyền, hoặc thành những tác nhân thỏa hiệp, hoặc thành những chậu kiểng trang trí, hoặc thành những con chó câm (nói theo kiểu Công giáo, tức là có nhiệm vụ sủa lên để báo động, nhưng lại không sủa). Đảng tìm cách tạo ra những khu vực hoàn toàn vắng bóng tôn giáo, đặc biệt tại những vùng sâu vùng xa, nơi các bản làng dân tộc thiểu số, hoặc tại khu đô thị mới Thủ Thiêm chẳng hạn. Xóa hết, không cho có chùa nào, nhà thờ nào, dòng tu nào hiện diện. Để những nơi đó chỉ còn ý của đảng, luật của đảng điều khiển lương tâm và xã hội.

5- Cướp tài nguyên quốc gia bằng độc quyền sở hữu đất đai và ưu đãi kinh tế nhà nước.

– Đảng đặt ra nguyên tắc hết sức bất công và man rợ: “Tài nguyên đất đai thuộc sở hữu của nhà nước”, nhân dân chỉ có quyền sử dụng. Cán bộ địa phương, đảng viên sở tại dùng chiêu bài quy hoạch để tước đoạt đất đai mà nông dân giữ từ bao đời, để chia chác cho nhau hoặc bán đứt hay cho người ngoại quốc thuê mướn. Cưỡng chế bằng bạo lực, bồi thường kiểu giết dần mòn, tức là dùng công an, côn đồ để cướp lấy, đánh đập, áp chế người đang giữ đất đai; sau đó thí cho một số tiền bồi thường không đủ để họ tiếp tục sống, thậm chí không đủ để mua một mảnh đất mới, một ngôi nhà mới.

Cướp tài sản còn bằng cách bóc lột công nhân với mức lương rẻ mạt (lương công nhân VN vào hạng rẻ nhất thế giới), rồi với những điều kiện sinh hoạt tồi tệ, với việc cấm đoán thành lập công đoàn riêng của mình.

Bằng việc xuất khẩu công nhân ra nước ngoài để trước hết lấy tiền đăng ký/ký quỹ của họ (cả trăm triệu) từ những con người rất nghèo khổ, rồi bỏ mặc họ cho sự bóc lột của các ông chủ ngoại quốc mà không mấy khi can thiệp.

– Đảng còn cướp tài nguyên quốc gia bằng cách đem lãnh hải (đảo, vùng biển), lãnh thổ (rừng, đất, cảng) nhượng, bán cho nước ngoài hoặc cho người ngoại quốc (đặc biệt Trung Quốc) thuê mướn 50 năm, thậm chí 70 năm, như tại Vũng Áng. Nhất là những vị trí mang tính cách chiến lược, có tầm quan trọng quốc phòng. Quý vị thấy phi trường quân sự Nước Mặn ở Đà Nẵng, bây giờ bị vây chung quanh bởi những ngôi nhà, những khu đất của người Tàu. Tại sao lại để như vậy?

– Rồi với chủ trương kinh tế quốc doanh chủ đạo, ưu đãi các công ty và tập đoàn nhà nước, đó là cướp cơ hội kinh doanh bình đẳng của các doanh nghiệp tư nhân. Cho nên từ mấy năm nay đã có hàng trăm ngàn doanh nghiêp tư nhân phải phá sản vì không có đủ điều kiện để tồn tại trong nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa này.

– Cần phải nói thêm việc ăn cắp tài sản của công dân tại phi trường, bưu điện; ăn cướp tài sản của công dân bởi lực lượng công an. Công an bây giờ không phải chỉ chận đánh những nhà đấu tranh, dân oan, mà kèm theo đó là cướp máy móc, thậm chí cướp tiền, đôi khi còn lột sạch quần áo của họ.

6- Cướp công lý bằng cách công cụ hóa bộ máy tư pháp

Chúng ta thấy từ cảnh sát điều tra, kiểm sát công tố đến quan tòa xét xử hầu như luôn toa rập với nhau. Bản kết luận điều tra của cảnh sát cũng được công tố duyệt xét ngay tắp lự rồi quan tòa cứ theo đó mà tuyên án, nhất là trong các vụ án chính trị. Trong nhiều vụ án kinh tế, nhiều khi cũng có sự toa rập như vậy. Xin lấy ví dụ vụ án “Con ruồi Tân Hiệp Phát”.

Trong giai đoạn điều tra, không cho bị can có sự trợ giúp của luật sư, trái lại còn dùng nhiều biện pháp để bức cung bị can, ngõ hầu sớm có kết luận điều tra mà trong đó thế nào bị can cũng có tội, không nhiều thì ít.

Công an điều tra, kiểm sát công tố, quan tòa xét xử còn thản nhiên nhận hối lộ của bên nguyên hay bên bị để làm lệch cán cân công lý

Ngoài ra, không mời thân nhân, không triệu tập nhân chứng, không cho luật sư trình bày đầy đủ. Ví dụ mới nhất là vụ sơ thẩm và phúc thẩm của em Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Ngăn chặn công dân tham dự các phiên tòa để công dân chứng kiến được đâu là công lý. Ngăn chặn để có thể cướp công lý mà không sợ người ta dò xét.

Một hình cướp công lý khác là mới đây còn đánh cả luật sư. Trong vụ “bụi đường Chương Mỹ”, hai luật sư đã bị đánh khi muốn đi tìm công lý cho em Đỗ Đăng Dư. Nhiều luật sư khác còn bị đe dọa, như luật sư Võ An Đôn chẳng hạn.

7- Cướp ý chí của công dân bằng một bộ máy trấn áp

Trấn áp qua một hệ thống theo dõi, kiểm soát, trấn áp rộng rãi: công an, quân đội và Mặt trận Tổ quốc (trong đó có các xã hội dân sự quốc doanh; các tổ chức này đều khống chế các thành viên để cướp ý chí của họ).

Cướp ý chí đó vì mục đích gì?

– để làm cho người dân dửng dưng trước những những tệ trạng và thảm nạn trong xã hội,

– để làm cho người dân bất quan tâm trước an nguy của đất nước, trước việc đảng và nhà cầm quyền quỵ luy kẻ thù phương Bắc. Bằng chứng là đảng đã trấn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc

– để làm cho người dân không dám bàn chuyện chính trị và tham gia hoạt động chính trị (bằng khẩu hiêu “Để đảng và nhà nước lo!”)

– để làm cho người dân sợ hãi không dám phản kháng đòi lại các quyền con người, quyền công dân và quyền đất nước.

Ngoài ra và cụ thể hơn, đó là cướp ý chí của các đảng viên đến nỗi họ không dám rời bỏ đảng dù cuối cùng biết đảng chỉ là một tổ chức tội ác; rồi cướp ý chí các nhà tu hành là những người có phận sự trước hết và trên hết là công bố và bênh vực sự thật, đòi hỏi và bảo vệ công lý. Nhưng có rất nhiều nhà tu hành hoàn toàn im lặng trong khi bổn phận của họ là phải lên tiếng vì công lý và sự thật. Điều ấy chứng tỏ đảng đã cướp ý chí của họ rồi. Và đây là mối nguy cho đạo.

Trên đây là 7 đối tượng cướp mà chúng tôi thiết nghĩ có thể cho thấy phạm vi, tầm mức ăn cướp của đảng CSVN.

Kết luận:

TQT: Thưa Lm PVL, 70 năm dưới nền chuyên chính vô sản của cả nước, đặc biệt 40 năm qua sau khi miền Nam rơi vào tay CS, chế độ công an trị ngày càng xuất hiện. Họ dùng hai gọng kìm, một là bạo lực trên thể xác, hai là bạo lực trên tinh thần để khép cổ nhân dân ta. Nhưng phải chăng nhân dân ta đã chịu khuất phục họ hay đang dần dần phá tan hai gọng kìm đó?

PVL: Phải nói thật rằng 70 năm ăn cướp của đảng CS đã làm cho đất nước tan hoang, văn hóa suy đồi, đạo đức tiêu biến, kéo theo nhiều hậu quả khác là nền giáo dục xuống cấp, kinh tế lụn bại, môi trường ô nhiễm, nhất là quốc phòng ngày càng bấp bênh. Nhưng chính thái độ, hành vi ăn cướp bằng bạo lực và dối trá đó đã gây một dị ứng nơi con người. Con người tự nhiên dị ứng với bạo lực và dối trá, chỉ chấp nhận công lý, sự thật và tình thương. Nên chúng ta thấy chính sách ăn cướp mọi mặt của nhà cầm quyền làm cho người dân ngày càng công phẫn. Những việc lên tiếng của cá nhân, của tập thể, của các tổ chức xã hội, của các tổ chức tôn giáo ngày càng mạnh để đòi lại sự thật: sự thật về các vụ việc, sự thật về lịch sử, sự thật về bộ mặt xã hội, sự thật về đảng CS. Người ta còn lên tiếng đòi lại công lý: công lý cho mình, công lý cho toàn dân, công lý cho đất nước. Người dân cũng lên tiếng để đòi lại tất cả những gì nằm trong quyền con người, quyền công dân như tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do lập đảng mà đã bị đảng CS tước đoạt. Đó là những dấu hiệu cho thấy người dân ngày càng muốn thoát khỏi ách của cái tổ chức ăn cướp “hợp pháp” này, để giành lại mọi quyền cho mình, cho toàn dân, để toàn dân có thể sống trong tự do, no ấm, phát triển.

TQT: Thưa linh mục, thời buổi nào đất nước ta cũng rất coi trọng vai trò của trí thức. Trí thức góp phần rất tích cực để khai sángdân trí. Thời phong kiến cũng vậy, thời thực dân xâm lược cũng vậy. Ngày nay, trong thời buổi đất nước đang bị đe dọa bởi họa phương Bắc và họa cộng sản cũng vậy. Nhưng khi so sánh thì nhiều người thấy rằng việc khai sáng dân trí trong thời có nguy cơ tái Bắc thuộc và nguy cơ CS này có lẽ yếu hơn trong thời gian trước. Linh mục nghĩ sao về vấn đề này?

PVL: Như chúng tôi trình bày ở trên, CS triệt tiêu ý chí, triệt tiêu ý thức của người dân, nhất là giới sĩ phu, giới trí thức, giới lãnh đạo tinh thần (dân sự và tôn giáo) để làm cho người dân không còn được sự hướng dẫn của những trí tuệ. Ngay từ đầu, chúng ta đã thấy CS bách hại, đàn áp giới trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm, sau đó qua các cuộc trấn áp các nhà trí thức sau khi chiếm được miền Nam, như tịch thu sách vở, bắt bớ các nhà văn nhà báo, các nhà tu hành. Việc đó vẫn còn tiếp tục, để làm cho việc khai dân trí không thể nào đạt được mức độ cần thiết. Mà khi đã không khai dân trí được, thì không thể chấn dân khí và càng không thể hậu dân sinh theo kiểu nói của cụ Phan Chu Trinh. Thời bây giờ, đảng đã làm cho nhiều trí thức (đại đa số) im lặng, trùm chăn. Xin lấy ví dụ rất cụ thể: mới đây Hội Giáo chức Chu Văn An được thành lập, nhưng cho tới bây giờ, số các thành viên có lẽ vỏn vẹn đếm trên đầu ngón tay. Đáng lẽ các nhà trí thức phải vào hội này ồ ạt để chấn hưng văn hóa, chấn hưng giáo dục rồi từ đó chấn hưng tinh thần dân tộc VN

TQT: Linh mục vừa đặt vấn đề trí thức phải ngày càng tỉnh ngộ, đừng trùm chăn nữa, góp phần với nhân dân để đấu tranh thoát khỏi họa CS. Vậy để toàn dân chặn đứng được đảng cướp này để họ không tiếp tục hoành hành cướp tinh thần, cướp của cải của đất nước ta, thì chúng ta phải làm gì thưa linh mục?

PVL: Thưa Quý vị, chỉ có một điều quan trọng duy nhất là phải tống cổ đảng cướp này, không cho nó nắm quyền lực toàn trị, không cho nó tiếp tục cướp của người dân về vật chất lẫn tinh thần. Phải làm sao để cho đất nước chỉ còn có những con người hoạt động dưới sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và vì ích lợi của nhân dân mà thôi, chứ không vì ích lợi của nhóm, của đảng mình. Mong rằng tất cả mọi người VN trong lẫn ngoài nước đứng dậy để trước hết tiêu diệt chủ nghĩa CS tàn hại tâm trí, giải thể chế độ CS tàn hại xã hội, và đuổi đảng CS ra khỏi ghế quyền lực, vì họ đã chỉ làm những điều tai hại cho đất nước từ 70 năm qua mà thôi.

TQT: Xin chân thành cảm ơn Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Leave a Comment »