Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy, 2015

►“The Economist”: Tranh chấp hiện nay trên Biển Ðông và biển Nhật bản

Posted by hoangtran204 on 30/07/2015

“The Economist”: Tranh chấp hiện nay trên Biển đông và biển Nhật bản

 

Tuần báo “The Economist” số ngày 25-31 /7/ 2015 Về cuộc tranh chấp hiện nay trên Biển đông và biển Nhật bản

pobrane

Hiện nay trên biển Nhật bản, các hải ðội tuần duyên (coast guards) của Trung quốc và Nhật bản vờn nhau như chơi trò cút bắt. Cứ ðều ðặn10 ngày hay một tuần một lần, sáng sớm một hải ðội tuần duyên nhỏ của Trung quốc ðến chờn vờn chạy lấn vào 12 hải lý của ðảo Senkaku (Trung quốc gọi là ðảo Diaoyu) rồi ðến khoảng trưa bộ ngoại giao Nhật bản ra thông cáo phản ðối Trung quốc vi phạm hải phận. Mỗi lần tàu tuần duyên Trung quốc xuất hiện, tàu tuần duyên Nhật bám sát cảnh cáo Trung quốc, và tàu tuần duyên Trung quốc chạy một hồi cho ðã rồi rút lui.

Trò chơi cút bắt này so với cường ðộ ðụng chạm tưởng chừng như Trung quốc và Nhật bản sắp ðánh nhau tại ðó nãm 2012 là một dấu hiệu hai bên ðều muốn tránh cãng thẳng.

Trung quốc xuống thang vì Nhật bản không phải là nước dễ bị bắt nạt. Sau lưng tàu tuần duyên trang bị vũ khí nhẹ hải quân Nhật lúc nào cũng sẵn sàng ðể yểm trợ. Hơn nữa Hoa Kỳ cho biết nếu có ðụng ðộ giữa Trung quốc và Nhật bản Hoa Kỳ sẽ ðứng về phía Nhật bản.

Tại biển Nhật bản thì vậy, nhưng tại Biển ðông trong vùng quần ðảo Trường Sa ðang tranh chấp với Việt Nam và Phi luật tânTrung quốc không hiền lành như vậy. Việt Nam và Phi luật tân yếu hơn Nhật và Hoa Kỳ không có một cam kết bảo vệ nào dứt khoát như ðối với Nhật bản.Từ khi Hoa Kỳ rút khỏiViệt Nam, nhất là từ nãm 1992 rút khỏi cãn cứ Subic Bay của Phi luật tân, Biển ðông là một khoảng trống quyền lực .Trong nãm qua Trung quốc ðã ngang nhiên kéo dàn khoang dầu vào vùng Ðặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone – EEZ) của Việt Nam. Và trong nhiều nãm qua ðã âm thầm ðắp các ðảo tí hon hay các mỏm ðá nhỏ trong vùng Trường Sa thành những cãn cứ.

Sự phát triển hải quân nước sâu (TBN: hải quân có khả nãng hoạt ðộng trên ðại dương xa cãn cứ ðất liền) của Trung quốc làm cho Việt Nam và Phi luật tân lo âu, nhất là khi ông Tập Cận Bình luôn nhắc ðến chiến lược của Trung quốc là “lớn mạnh trong hòa bình” và “cân bằng quyền lực giữa các nước lớn” xem như ðối với Việt Nam và Phi luật tân là chuyện nước nhỏ không ðáng kể.

Tại Bắc Kinh cũng như tại Hoa Thịnh Ðốn, các nhà chiến lược không ngừng bàn tán về “cái bẫy Thucydides” là câu chuyện ðánh nhau giữa hai nước Athens và Sparta vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên do sử gia Thucydides ghi lại. Sparta là thế lực ðương thời, trong khi Athens là thế lực ðang lên. Sparta lo lắng và ðánh phủ ðầu Athens. Người ta lo rằng một nước ðang ở thế siêu cường (như Hoa Kỳ hiện nay) sẽ ðụng ðộ với một siêu cường ðang lên (như Trung quốc). Các chiến lược gia Nhật bản lại dùng một hình ảnh so sánh khác. Nhật bản nói sự phát trển hải quân nước sâu của Trung quốc và sự nóng vội lấn biển của Trung quốc hiện nay sẽ sinh ra chiến tranh không khác gì sự phát triển bộ binh và sự nóng vội chiếm ðất của Nhật bản trong thập niên 1930, 1940 ðã sinh ra cuộc ðụng ðộ Thái bình dương giữa Hoa Kỳ và Nhật bản .

Hiện nay Trung quốc dấu kỹ vũ khí, và ðẩy mạnh sự tranh chấp trên mặt trận ngoại giao, vận ðộng sử gia bênh vực, vẽ họa ðồ ðáy biển, ðắp ðảo xây dựng cơ sở vật chất mà Trung quốc nói là ðể phục vụ sinh hoạt của ngư dân như ðèn pha, cảng tránh bão, phương tiện cứu hộ … Nhưng mới ðây Hoa Kỳ ðã hé cho thế giới thấy các xây dựng, ðặc biệt trên hòn ðá Chữ thập (Fiery Cross Reef) gồm một phi ðạo dài 3km cho máy bay quân sự ðáp, nhiều kho có mái che cho máy bay phản lực ðậu và những dàn súng phòng không. Các sĩ quan hải quân Hoa Kỳ cho rằng các cơ sở quân sự này chỉ là “những mẫu hạm không chạy ðược” trong trường hơp chiến tranh sẽ bị hải quân Hoa Kỳ ðánh chìm trong nháy mắt. Nhưng nếu chưa bị ðánh chìm (vì chưa có chiến tranh) thì các cơ sở vật chất này vẫn giúp Trung quốc biểu dương sức mạnh trên Biển ðông .

Ðường 9 ðoạn bao gồm hầu hết Biển ðông do Trung quốc ðơn phương vẽ là ðầu mối tranh chấp với các nước chung quanh. Bên trong ðường 9 ðoạn có nhiều ðảo nhỏ và nhiều cụm ðá ngầm của Việt Nam và Phi luật tân. Hoa Kỳ không ðứng về phía nào trong cuộc tranh chấp ai làm chủ mỏm ðá nào chừng nào không ai ðụng chạm ðến quyền lưu thông trong vùng biển và trên vùng trời Biển ðông của Hoa Kỳ và của thế giới nói chung. Thỉnh thoảng Hoa Kỳ cho máy bay thám thính quân sự bay gần các ðảo mới ðắp của Trung quốc ðể nhắc cho Trung quốc biết lập trường của Hoa Kỳ.
Trung quốc không phải là nước ðầu tiên xây dựng cơ sở vật chất tại Trường Sa nhưng sự xây cất quy mô của Trung quốc làm cho cuộc tranh chấp càng ngày càng khó giải quyết. Lời hứa của Trung quốc sẽ cùng với các quốc gia chung quanh Biển ðông soạn thảo một “Quy tắc ứng xử” sẽ chẳng bao giờ thực hiện ðược. Và các nước Ðông nam á không có sự lựa chọn nào khác hơn là tìm thế ðối trọng nơi Hoa Kỳ và trang bị thêm vũ khí .

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe ðang trình quốc hội thông qua một bộ luật cho phép quân ðội Nhật rộng tay hành ðộng hơn như hợp tác với hải quân Hoa Kỳ tuần hành trên Biển ðông và bán rẻ 10 tàu tuần duyên cho Phi và 6 tàu cho Việt Nam. Theo ông Narushige Michishita thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách (National Graduate Institute for Policy Studies) ở Tokyo thì ðây là hành ðộng chống sự ðe dọa của Trung quốc .

Trong khi ðó quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ càng lúc càng cải thiện, và Việt Nam ðang mua thêm nhiều vũ khí của Liên bang Nga. Phi luật tân thì ký thỏa ước cho phép Hoa Kỳ trở lại cãn cứ Subic Bay và vài cãn cứ khác và ðang chuẩn bị ngân sách cải thiện quân ðội.

Hiện nay, tòa án quốc tế ở Le Havre ðang xem xét vụ Phi luật tân kiện Trung quốc ðể xem – theo vãn bản của Luật Biển UNCLOS – Trung quốc có quyền ðòi chủ quyền 12 hải lý và rộng hơn nữa là 200 hải lý ðặc quyền kinh tế chung quanh các hòn ðảo mới ðắp không. Tòa Le Havre không có thẩm quyền phán quyết ai làm chủ cụm ðá nào, nhưng một phán quyết bất lợi cho Trung quốc ðối với quyền xử dụng mặt biển và ðáy biển chung quanh cũng làm cho Trung quốc bớt hung hãng. Trung quốc nói không chấp nhận phán quyết của tòa Le Havre, nhưng gián tiếp theo dõi vụ kiện bằng cách gởi ðến tòa các biện minh trạng cần thiết.

Còn chuyện Ðài Loan. Ðài Loan nằm giữa biển Nhật bản và Biển ðông. Tình hình eo biển Ðài Loan trong nhiều nãm qua êm êm nhờ chính sách hòa hoãn của tổng thống Mã Anh Cửu (Ma Ying-jeou) thuộc ðảng Trung Hoa Dân Quốc (KMT). Nhưng nếu qua cuộc bầu cử tổng thống ðầu nãm 2016 tới, bà Thái Anh Vãn (Tsai Ingwen) thuộc ðảng Dân Chủ Tiến bộ (Democratic Progressive Party) ðắc cử tình hình có thể ðổi khác. Ðể Hoa Kỳ yên tâm bà Thái Anh Vãn cho biết bà vẫn sẽ giữ lập trường ôn hòa với lục ðịa, nhưng Bắc Kinh không tin bà .

Về hướng Biển ðông Trung quốc và Ðài Loan có chung lập trường là các hải ðảo ở ðó thuộc về nước Trung quốc. Nãm 1945 khi Nhật ðầu hàng, chính quyền Quốc Dân Ðảng ðã tiếp thu các hòn ðảo Nhật chiếm ðóng. Nhưng ðối với ðường 9 ðọan, Ðài Loan không dứt khoát ðòi hỏi như Bắc kinh ðang làm, mặc dù ðường này do chính quyền KMT vẽ nãm 1946 trước khi bị Mao ðẩy ra Ðài Loan. Hoa Kỳ từng thúc ðẩy tổng thống Mạc Anh Cửu công khai lập trường ðối với ðường 9 ðoạn ðể làm suy yếu ðòi hỏi ðơn phương của Trung quốc. Và mới ðây tổng thống Mã Anh Cửu tuyên bố Ðài Loan chỉ ðòi chủ quyền 12 hải lý chung quanh các ðảo hay cụm ðá mình ðang làm chủ nhưng không ðòi hỏi vùng biển nằm bên trong ðường 9 ðoạn.

Nhưng ngoại giao và các lời tuyên bố tế nhị của nó không làm thay ðổi thực tế của sức mạnh quân sự tại chỗ. Các chuyên viên quân sự nghĩ rằng: Ðài Loan ðã mất khả nãng tự bảo vệ trong nhiều nãm qua trước sự lớn mạnh của Trung quốc; và Nhật bản hiện còn khả nãng bảo vệ các hòn ðảo ðất nhà ở phía nam nhưng sẽ không quá 10 hay 15 nãm nữa. Cho nên câu hỏi thiết thực là quốc gia nào có khả nãng gây thiệt hại nặng nề cho Trung quốc ðể Trung quốc không dám ðánh Ðài Loan hay Nhật bản? Ai cũng hiểu câu hỏi này dành cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ còn có khả nãng và ý chí thay ðổi cán cân quân sự trong vùng Tây Thái bình dương không?

20 nãm trước khi Trung quốc bắn hỏa tiễn ðe dọa sát bờ Ðài Loan Hoa Kỳ ðã gởi tới eo biển Ðài Loan hai hải ðội mẫu hạm ðặc nhiệm ðể cảnh cáo Trung quốc. Lần này Hoa Kỳ còn hành ðộng như vậy không? Không một nhà chiến lược nào trả lời dứt khóat là “Có”.

Bàn cờ quân sự tại Tây Thái bình dương luôn luôn thay ðổi. Hiện nay Trung quốc ðang phát triển một hệ thống “chống xâm nhập” (Hoa Kỳ ðặt tên là hệ thống A2/AD – Anti-Access/Area Denial) ngãn không cho các mẫu hạm của Hoa Kỳ ðến sát rào phòng thủ thứ nhất của Trung quốc (chạy dọc từ Nhật bản, ðến Ðài Loan, qua Phi luật tân ðến Indonesia). Và Hoa Kỳ ðang nghiên cứu vũ khí ðể chọc thủng hàng rào chống xâm nhập này. Và lúc này là lúc các quốc gia lân cận Trung quốc nghĩ ðến hàng rào phòng thủ của riêng mình chống sự xâm nhập của hải quân Trung quốc .

Giáo sư Toshi Yoshihara thuộc Ðại học hải chiến Hoa Kỳ (US Naval War College) nghĩ rằng Nhật bản cần chú trọng ðến hỏa tiễn ðặt trên ðất liền chống chiến hạm, tàu ngầm, mìn, chiến thuật ðánh “du kích biển” bằng tàu nhỏ vận tốc cao có trang bị hỏa tiễn. Hoa Kỳ cũng ðang khuyến khích Ðài Loan trang bị như vậy. Nhật bản nghĩ rằng sự bảo vệ Ðài Loan liên hệ chặt chẽ với an ninh của Nhật và chuyên viên Andrew Krepinevich thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Ngân sách ở Hoa Thịnh Ðốn (Centre for Strategic and Budgetary) cũng ðang khuyến cáo Hoa Kỳ giúp Phi luật tân phương tiện tự bảo vệ các hải ðảo ðất nhà.

Ðây là chiến lược “Nếu không thể ðánh gục ðược kẻ ðịch thì hãy chận ðường ðừng cho kẻ ðịch ði xa”. Nhưng nếu áp dụng chiến lược này trong cuộc ðối ðầu giữa Hoa Kỳ và Trung quốc trong vùng Tây Thái bình dương thì chẳng khác gì nhìn nhận trước sau biển Nhật bản và Biển ðông cũng sẽ là ao nhà của Trung quốc và Hoa Kỳ cùng các ðồng minh chỉ ðang lo sao chận không cho Trung quốc ra khỏi ao nhà. Chiến lược này hạ sách vì chỉ gây ra cãng thẳng trong vùng Tây Thái bình dương. Thượng sách là thuyết phục Trung quốc hợp tác với Nhật bản và các nước Ðông nam á ðể cùng khai thác tài nguyên thiên nhiên, cùng phát triển và cùng hưởng lợi, nhưng luôn luôn cứng rắn nếu Trung quốc hành ðộng ngang ngược.

Trung quốc cũng có những khó khăn nội bộ và cũng phải nhìn trước nhìn sau ðối với áp lực và dư luận quốc tế, và gần ðây một số chiến lược gia của Trung quốc cũng nghĩ rằng thời gian qua Trung quốc ðã quá nóng vội trong việc gồng mình ra biển nên Trung quốc có vẻ ðang kìm lại. Trung quốc nói ðã ngưng chương trình nới rộng các mỏm ðá Trường Sa. Nhưng có thể ðây chỉ ðể làm nguội tình hình trước chuyến công du Hoa Kỳ của ông Tập Cận Bình vào tháng Chín tới. Vào lúc này, không có chỉ dẫn nào cho thấy sẽ có ðụng ðộ vũ trang trên biển Nhật bản hay Biển ðông. Ðiều ðáng lo là các các hải ðội tuần duyên của hai bên nghênh nhau hằng ngày trên biển ðặc biệt giữa Trung quốc và Nhật bản chung quanh ðảo Senkahu trong một hoàn cảnh nào ðó không kìm ðược tay súng .

July 28, 2015

Trần Bình Nam (phóng dịch)

Nguon:   http://www.danchimviet.info/archives/97305/the-economist-tranh-chap-hien-nay-tren-bien-dong-va-bien-nhat-ban/2015/07

http://www.thanhnien.com.vn/kinh-te/chung-khoan-trung-quoc-tiep-tuc-lao-doc-590553.html

Luật an ninh mới của Nhật Bản đã cho phep quân đội Nhật Bản có thể tác chiến bất cứ nơi đâu khi an ninh của Nhật Bản va của đồng minh bị tấn công va đe dọa…

Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.

Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.

Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc vô tình thúc đẩy việc cởi trói Nhật Bản. Ảnh: Kyodo News.

Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc vô tình thúc đẩy việc “cởi trói” Nhật Bản. Ảnh: Kyodo News.

Hạ viện Nhật thông qua dự luật an ninh mới là một thành công lớn của Nội các Thủ tướng Abe (giữa). (Ảnh: AP)

Hạ viện Nhật thông qua dự luật an ninh mới là một thành công lớn của Nội các Thủ tướng Abe (giữa). (Ảnh: AP)

Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ? (Ảnh minh họa)

Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ? (Ảnh minh họa)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► NGÀY MAI XỬ VỤ ÁN: CÔ GIÁO KIỆN HIỆU TRƯỞNG VÌ BỊ TRÙ DẬP

Posted by hoangtran204 on 30/07/2015

GÀY MAI XỬ VỤ ÁN: CÔ GIÁO KIỆN HIỆU TRƯỞNG VÌ BỊ TRÙ DẬP

Đúng 08 giờ sáng ngày mai 30/7/2015, tại Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án cô giáo kiện hiệu trưởng vì bị trù dập. Vụ án này đã kéo dài hơn hai năm và trải qua nhiều lần mở phiên tòa nhưng đều bị tạm hoãn vì thiếu nhân chứng quan trọng của vụ án là ông Giám đốc Sở GD & ĐT tỉnh Phú Yên. Không hiểu tại sao cứ trước ngày mở phiên tòa thì ông Giám đốc Sở giáo dục báo bệnh và nhập viện. Nghe nói hôm qua ông Giám đốc sở giáo dục đã nhập viện, không biết ngày mai Tòa án có xét xử vụ án này hay không.

Nội dung vụ án như sau: Cô giáo Nguyễn Thị Minh Đệ tốt nghiệp khoa hóa Trường đại học sư phạm Sài Gòn năm 1980, cô Đệ là một giáo viên có trình độ chuyên môn cao nên được phân bổ về giảng dạy môn hóa học tại Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh, tỉnh Phú Yên.

Năm học 2006 – 2007, cô Đệ phát hiện nhiều giáo viên Tổ hóa thường xuyên ra đề sai, có nhiều việc làm khuất tất, gây áp lực đối với học sinh để dạy thêm, cô Đệ có ý kiến với bà Đinh Thị Tuyết – Tổ trưởng Tổ hóa và ông Nguyễn Tấn Hào – Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh nhưng không được giải quyết.

Sau đó, cô Đệ viết đơn tố cáo chống tiêu cực gửi đến ông Nguyễn Văn Tá – Giám đốc Sở GD & ĐT tỉnh Phú Yên, yêu cầu giải quyết và xử lý tiêu cực nhưng không được giải quyết, mà ngược lại ông Tá còn chỉ đạo ông Hào và bà Tuyết xử lý kỷ luật cô Đệ với nhiều hình thức khác nhau và cuối cùng là đuổi cô Đệ ra khỏi trường không cho dạy học.

Từ tháng 4/2011 đến tháng 8/2012, ông Hào đã chỉ đạo kế toán cắt toàn bộ các khoản lương, phụ cấp đứng lớp, bảo hiểm y tế của cô Đệ suốt 17 tháng liền, trong khi hoàn cảnh cô Đệ rất khó khăn túng thiếu, chồng chết sớm, một mình phải bươn chải nuôi hai con nhỏ còn đang lứa tuổi đến trường.

Dù bị đuổi không cho dạy học nhưng vì yêu nghề, yêu trường, yêu học trò mỗi ngày hai buổi cô Đệ đều đến trường đều đặn, nhưng không được ông Hào bố trí đứng lớp, cũng không cho cô Đệ tham dự các hoạt động của trường. Hàng ngày cô Đệ chỉ ngồi ở ngoài hành lang một mình, chờ khi nào có lớp vắng thầy cô thì vào dạy thế nhưng vẫn bị ông Hào chỉ đạo cấp dưới xua đuổi cô Đệ ra khỏi trường.

Hơn thế nữa, trong một thời gian dài ông Hào nhiều lần ra lệnh cho nhân viên bảo vệ, tạp vụ có nhiều hành vi xúc phạm nhân phẩm, xâm phạm thân thể của cô Đệ trước đông người ngay tại trường. Bà Tuyết thường xuyên cho người đóng cửa phòng họp tổ Hóa không cho cô Đệ vào họp; ông Hào thường xuyên cho người cấm cản cô Đệ vào trường.
Trước toàn thể Hội đồng sư phạm, ông Hào ra lệnh cấm các đồng nghiệp giao tiếp với cô Đệ, một lần cô Đệ vào dự họp thì ông Hào chỉ đạo nhân viên tạp vụ bế cô Đệ ném ra ngoài đường khiến cô Đệ hết sức đau đớn, tủi nhục…

Sau khi bị đuổi dạy và cắt lương cuộc sống cô Đệ bế tắc, không biết nương tựa vào đâu, cô Đệ gửi đơn khiếu nại nhiều nơi nhưng không được giải quyết, đến các Văn phòng luật sư nhờ khởi kiện thì không luật sư nào dám nhận vì sợ đụng chạm đến cơ quan công quyền sẽ mất đường làm ăn.
Tình cờ vào một buổi sáng chủ nhật, tôi đang ngồi uống cà phê với một người bạn thì nghe cô Đệ kể về trường hợp của Cô, tôi đã nhận giúp đỡ Cô ngay và miễn phí hoàn toàn.

Cô Đệ là người theo đạo Tin Lành, tính tình rất thẳng thắn, trong sáng và sẳn sàng đấu tranh chống tiêu cực đến cùng nên bây giờ bản thân cô và gia đình mới bị trù dập điêu đứng như hiện nay. Cô là người cô thân yếu thế, một mình dám đứng lên chống lại một đám người tiêu cực vừa có quyền lại vừa có tiền, không biết kết cục sẽ ra sao ?

Dưới đây là hai tấm hình chụp cô Nguyễn Thị Minh Đệ trước khi bị trù dập là một cô giáo xinh đẹp, sau khi bị trù dập tàn tạ và ngơ ngác như một người mất hồn.

Theo FB Luật sư Võ An Đôn

Posted in Giao Duc, Luật Pháp | Leave a Comment »

► TỔNG TUYỆT THỰC

Posted by hoangtran204 on 29/07/2015

Phạm Đình Trọng

28-07-2015

1. HÀI HƯỚC HAY VÔ LIÊM SỈ

Tổng tuyệt thực chỉ là cách người dân nặng lòng yêu nước thương nòi ôn hòa bộc lộ chính kiến, bộc lộ mong muốn chính đáng bằng cách bảo nhau cùng nhịn ăn để được dư luận và những người có trách nhiệm quan tâm đến mong muốn chính đáng của họ.

Tổng tuyệt thực cũng là quyền tự do ngôn luận của người dân, một thứ ngôn luận vô thanh, một hành vi mang triết lí khổ hạnh của nhà Phật, mang đức hi sinh âm thầm khổ nạn của đấng cứu thế.

Âm thầm bộc lộ mong muốn chính đáng và khẩn thiết bằng nhịn ăn khổ nạn trong lặng lẽ hiền hòa, trong không gian riêng tư khép kín, chẳng động chạm đến ai, chẳng gây hại gì cho chính quyền, thể chế. Theo dự định, thứ bảy ngày 25 tháng bảy, 2015, tổng tuyệt thực mới diễn ra. Vậy mà ở Sài Gòn, từ ngày 23. 7. 2015 công an đã huy động tổng lực lượng đến tận nhà nhiều người đã đăng kí tham gia tổng tuyệt thực bủa vây, ngăn chặn không cho họ ra khỏi nhà. Ngôi chùa khuất nẻo cô quạnh rìa thành phố được chọn là nơi những người tham gia tổng tuyệt thực đến đó cùng nhịn ăn cũng bị phong tỏa tầng tầng, lớp lớp.

Vậy mà mới mấy ngày trước có người Việt Nam đến nước Mĩ, mảnh đất của tự do dân chủ, hùng hồn trên diễn đàn: Chưa bao giờ người dân Việt Nam được sống trong không khí dân chủ như hiện nay. Nhơn nhơn nói như vậy là người có tính hài hước hay là người vô liêm sỉ?

2. NHÌN LẠI TỒNG TUYỆT THỰC 25.7.2015

Cuộc tổng tuyệt thực 24 giờ của người Việt Nam trên toàn cầu đã kết thúc. Nếu nhìn nhận theo tư duy và ngôn từ của tuyên truyền nhà nước cộng sản thì có thể viết: Cuộc tổng tuyệt thực ngày 25.7.2015 của người Việt trên toàn thế giới đòi nhà nước cộng sản Việt Nam trả tự do cho những người tù chính trị đã kết thúc thắng lợi, thành công rực rỡ. Người trung thực và lương thiện không cần thứ thắng lợi AQ như vậy nhưng cũng có thể nói rằng cuộc tổng tuyệt thực đã kết thúc đẹp, trọn vẹn và đạt yêu cầu.

Tuy tiêu chí đưa ra là đòi nhà nước cộng sản Việt Nam trả tư do vô điều kiện cho những người tù chính trị, những người sử dụng quyền tư do ngôn luận được Hiến pháp bảo đảm, đấu tranh ôn hòa cho đời sống đất nước có tự do, dân chủ đã bị những bản án phi pháp cầm tù, nhưng những người khởi xướng cuộc tổng tuyệt thực không ngây thơ đến mức tin rằng cuộc tổng tuyệt thực sẽ lay động được lòng trắc ẩn của nhà nước ra đời từ bạo lực, tồn tại bằng bạo lực, quen xài bạo lực đến thành nghiền như con bệnh nghiền ma túy.

 

Một nhà nước đã chà đạp lên Hiến pháp do chính họ soạn thảo để bỏ tù những tiếng nói tự do dân chủ thì cuộc tổng tuyệt thực của đám dân thường dù có đến vài triệu người Việt trên khắp thế giới cũng chẳng có ý nghĩa gì với nhà nước đó. Trong thời đại văn minh, con người được giải phóng, quyền con người được nhìn nhận, những con sóng dân chủ đang dồn dập và mạnh mẽ xô tới, buộc nhà nước cộng sản Việt Nam phải xác nhận quyền tự do ngôn luận của người dân trong Hiến pháp. Cực chẳng đã phải run rảy xác nhận vài quyền cơ bản, thông thường của người dân trong Hiến pháp rồi nhà nước đó liền đưa ngay vào bộ luật Tố tụng hình sự điều 79; 88; 258 buộc tội người dân sử dụng quyền tư do ngôn luận mà Hiến pháp đã ghi nhận. Chà đạp lên Hiến pháp bằng những điều luật vi Hiến. Chà đạp lên Hiến pháp bằng cả bộ máy công cụ bạo lực khổng lồ không biết đến Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước đó nào có coi ra gì tiếng nói của người dân!

Nhưng không thể không ghi nhận tác động xã hội tích cực của tổng tuyệt thực.

Cuộc tổng tuyệt thực đã đánh thức, lay động, nhắc nhở cả xã hội về hiện thực ngục tù ngột ngạt, tăm tối của đất nước, của nhân dân trong chế độ độc tài cộng sản.

Từ ngàn xưa dân gian đã có câu “Được ăn, được nói, được gói, được mở” Được ăn là quyền được sống. Được nói là quyền được bộc lộ chính kiến, được biểu đạt tư tưởng, tình cảm. Được gói là quyền được giữ bí mật riêng tư. Được mở là quyền được giao lưu, tiếp nhận thông tin, quyền được xê dịch, di chuyển, đi lại ở trong nước và ra thế giới. Tất cả những quyền cơ bản, đương nhiên này của con người đã được Hiến pháp của nhà nước cộng sản Việt Nam, từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 ghi nhận, bảo hộ. Tự do ngôn luận, tự do bộc lộ chính kiến là quyền cơ bản, đương nhiên của con người. Nhưng với những điều luật vi Hiến 79; 88; 258, mọi người dân Việt Nam đều có thể bị bắt, bị kết án tù bất cứ lúc nào vì bộc lộ tư tưởng chính kiến khác biệt với nhà nước độc tài.

Thực tế trong suốt lịch sử cầm quyền của đảng cộng sản, hàng triệu người dân Việt Nam, phần lớn là trí thức ưu tú, tinh hoa của dân tộc Việt Nam vì biểu đạt chính kiến, tư tưởng đúng đắn, khác biệt với lí tưởng xã hội chủ nghĩa sai lầm tệ hại của đảng cộng sản cầm quyền mà bị bắt bớ, tù đày, đàn áp, thủ tiêu. Với ý chí của nhà nước cộng sản Việt Nam quyết dùng sức mạnh bạo lực đàn áp những tiếng nói đòi tự do dân chủ, đòi đa nguyên đa đảng, giữ độc quyền thống trị xã hội của đảng cộng sản Việt Nam, những người tù vì tự do ngôn luận, vì ôn hòa đòi tự do dân chủ là một con số khá lớn. Đó là nỗi đau của dân tộc Việt Nam, nỗi nhục của lịch sử Việt Nam.

Tạo ra cuộc sống ngột ngạt, khốn cùng, không có tự do, dân chủ, nhà nước cộng sản Việt Nam đã tạo ra dòng người bỏ nước ra đi, liều chết vượt hàng ngàn cây số biển thẳm trên những con thuyền mỏng manh, giao mạng sống cho sóng dữ và cướp biển. Dòng người Việt Nam khốn khổ tị nạn nối dài trong thời gian cuối thế kỉ 20 đã tạo cho ngôn ngữ loài người một từ ngữ mới: boat people, thuyền người. Và dòng người tù vì những điều luật vi Hiến nối dài trong các nhà tù trên khắp đất nước Việt Nam lại bổ xung, làm phong phú thêm khái niệm về một từ ngữ mới của loài người: Prisoner of conscience, tù nhân lương tâm. Tù nhân lương tâm là những người bị nhà nước độc tài kết án tù vì ôn hòa bộc lộ niềm tin theo khát vọng, lương tâm của họ. Thành ngữ “tù nhân lương tâm” xuất hiện từ giữa thế kỉ 20, thời độc tại hiện đại, trên đất nước độc tài, nhà tù mọc lên như nấm. Tôi không muốn dùng từ “tù nhân lương tâm” vì nó vừa loảng xoảng âm Hán Việt, vừa chung chung, trừu tượng, không cụ thể, rõ ràng. Ở Việt Nam, những người tù bởi những điều luật 79; 88; 258 phải được gọi đúng tên là người tù chính trị.

Số người tù chính trị trong nhà nước cộng sản Việt Nam, từ những người đầu tiên như ông Tôn Thất Tần đến những người bị bắt gần đây nhất như ông Nguyễn Hữu Vinh, bà Nguyễn Thị Minh Thúy là một con số không nhỏ với những số phận vô cùng oan khiên, bi tráng nhưng nhà nước cộng sản Việt Nam tìm mọi cách bưng bít, xóa dấu vết cuộc đời của họ, coi như họ không có mặt trên cõi đời, coi như không có tù chính trị và xã hội cứ vô tư, thờ ơ, vô cảm chấp nhận. Tổng tuyệt thực đòi tự do cho những người tù chính trị đã đánh thức dư luận xã hội về những trái tim yêu nước, về những khí phách hiên ngang đang bị lãng quên trong ngục tối của nhà nước cộng sản Việt Nam, đưa những số phận oan khiên bi tráng đó trở về với đời sống chính trị đất nước, trở về có mặt trong xã hội, có mặt trong đội ngũ những người đấu tranh cho tự do dân chủ.

Tổng tuyệt thực thực sự là cuộc tập dượt tập hợp nhân dân. Người dân Việt Nam đang bị áp bức nặng nề. Quyền con người, quyền công dân bị tước đoạt. Quyền công dân quan trọng nhất là quyền tự do ứng cử, bầu cử, người dân không có. Quyền tư hữu quan trọng nhất, cơ bản nhất là quyền tư hữu đất đai, người dân cũng không có. Không có quyền tự do ứng cử, bầu cử, người dân thực chất chỉ là nô lệ, là công cụ của lực lượng thống trị xã hội. Không có quyền tư hữu đất đai, người dân như sống tạm, sống nhờ trong chính căn nhà của mình và có thể bị cưỡng chế đuổi ra khỏi nhà bất cứ lúc nào. Khắp đất nước Việt Nam hôm nay nơi nào cũng có những đám đông người dân mất đất, mất nhà đi khiếu kiện vật vờ trước cửa quan như những hồn ma. Người dân Việt Nam đang bị áp bức cả đời sống vật chất, cả đời sống tinh thần.

Có áp bức, có đấu tranh. Đấu tranh dù ôn hòa, bất bạo động cũng là một hoạt động chính trị. Tổ chức, tập hợp nhân dân thành đội ngũ, thành sức mạnh là một quá trình từ nhỏ đến lớn cần được thực tế cuộc sống thử thách, rèn luyện để phát triển. Không có thực tế thử thách, tập dượt, không thể có sự lớn mạnh.

Cuộc tổng tuyệt thực ngày 25.7.2015 đã diễn ra rộng khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam và người trẻ tham gia có tỉ lệ khá cao. Đây là nét rất tích cực của tổng tuyệt thực 25.7.2015. Tổng tuyệt thực là bài học vỡ lòng về đấu tranh chính trị của những người trẻ, giúp họ vượt qua tuyên truyền lừa dối của hệ thống giáo dục và truyền thông nhà nước cộng sản để nhận ra hiện trạng đau buồn của đất nước, thân phận ai oán của dân tộc và giúp họ nhận ra trách nhiệm lịch sử của thế hệ trẻ hôm nay.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

► Xoay trục sang Châu Á: Tầm nhìn và Hành động

Posted by hoangtran204 on 29/07/2015

Nguyễn Quang Dy

Theo Viet-Studies

“Tương lai chính trị sẽ được quyết định tại Châu Á, chứ không phải tại Afghanistan hay Iraq, và Mỹ sẽ ở ngay tại tâm điểm của hành động đó” (Hillary Clinton)

TỪ “XOAY TRỤC” ĐẾN “TÁI CÂN BẰNG” ĐẾN “XOAY TRỤC 2.0”: TIẾNG KÈN NGẬP NGỪNG

Quan điểm của Hillary Clinton về Châu Á có tầm nhìn chiến lược và được các nước Châu Á hoan nghênh (trừ Trung Quốc). Nếu bà Clinton được bầu làm Tổng thống thì sẽ là tin mừng đối với Châu Á (nhưng sẽ là tin buồn đối với Trung Quốc). Tuy nhiên, giữa tầm nhìn và hành động có một khoảng cách. Làm thế nào để thu hẹp khoảng cách này?

Gần đây người ta thường nói đến “Xoay trục sang Châu Á” như một cụm từ thông dụng và là tâm điểm chính sách Châu Á của chính quyền Obama. Vậy nó được hình thành như thế nào, thực chất là gì, và triển vọng ra sao? Thực ra ngay từ đầu, nó không phải là kết quả nghiên cứu sâu sắc của một think tank nào cả, mà là hệ quả do phản ứng linh hoạt và nhạy bén của các nhà ngoại giao Mỹ, đứng đầu là ngoại trưởng Hillary Clinton.

Chính Hillary Clinton là người đầu tiên đã tuyên bố tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (2009) rằng Mỹ có lợi ích chiến lược tại khu vực này (làm Trung Quốc tức giận). Các nhà quan sát coi đó là khởi đầu chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng”. Nhưng cả Trung Quốc lẫn các nước đồng minh của Mỹ tại khu vực vẫn chưa thực sự tin vào chủ trương này của Mỹ. Washington phải có tầm nhìn rõ ràng và hành động mạnh mẽ hơn.

Tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (Hà Nội, 22/7/2011), ngoại trưởng Hillary Clinton đã chuẩn bị kỹ hơn và đọc một bài diễn văn khẳng định lập trường của Mỹ tại Châu Á (làm ngoại trưởng Dương Khiết Trì tức giận bỏ ra ngoài). Hội nghị đó là một bước ngoặt, khi Mỹ khẳng định lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của mình, xóa được phần nào nghi ngờ của đồng minh, và làm Trung Quốc lo ngại. Trong một lần đối thoại với bà Clinton, ông Đới Bỉnh Quốc đã hỏi, “Tại sao các vị không xoay trục đi chỗ nào khác ngoài khu vực này?”

Vào tháng 11/2011, trong một bài dài đăng trên tạp chí “Foreign Policy”, ngoại trưởng Hillary Clinton đã lý giải chính sách “xoay trục” bằng một quan điểm mới là Mỹ chủ động chứ không phải bị động: Mỹ quyết định rút quân khỏi Iraq và Afghanistan là nhằm “xoay trục” sang Châu Á, chứ không phải là Mỹ bị động “thoái lui” trong thế yếu. Hillary Clinton đã đề xuất 6 hành động chủ chốt để “xoay trục” (trong đó có 4 điểm được “mượn” trong nội dung một báo cáo của CSIS). Nhưng tầm nhìn phải có hành đông kèm theo.

Trước khi Tổng thống Obama đến dự Hội nghị Thượng đỉnh Châu Á tại Bali (11/2011), ông đã quyết định đến thăm Australia để tuyên bố điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, như một hành động cụ thể để “xoay trục” sang Châu Á, nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh. Tuy nhiên, quyết định mang tính tượng trưng đó lại gây ấn tượng là chính sách “xoay trục” của Mỹ chủ yếu là điều động binh lực, nên không lâu bền. Vì vậy, 6 tháng sau, Washington đã điều chỉnh thuật ngữ “xoay trục” thành “tái cân bằng”.

Dù sao, đó là khởi đầu tốt đẹp mà bà Hillary Clinton đã có công đề xướng nhằm khẳng định lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của Mỹ tại khu vực, làm các nước đồng minh tạm yên tâm trước đe dọa ngày càng tăng của Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc sau đó, Washing ton đã không có hành động tiếp theo để biến nó thành một chiến lược nhất quán. Hơn nữa, Tổng thống Obama còn hoãn chuyến thăm 4 nước Châu Á và không dự Hội nghị Thượng đỉnh Châu Á tại Indonesia và Brunei (10/2013) vì chính phủ Mỹ “đóng cửa” (do hết kinh phí).

Quyết định không đúng lúc này đã làm cho Tổng thống “mất mặt”, gây hoang mang, nghi ngờ về chính sách “xoay trục” của Mỹ, đánh đi một tín hiệu xấu. Điều này làm người ta nhớ lại “Tiếng kèn Ngập ngừng” (Uncertain Trumpet, Maxwell Taylor, 1960). Tất nhiên Trung Quốc mừng ra mặt, tranh thủ phân hóa ASEAN, tuyên truyền là đừng tin vào Mỹ. Một khi đã mất lòng tin thì rất khó lấy lại. Tại sao một số nước ASEAN ngả theo Trung Quốc? Không phải họ chỉ sợ cái gậy của Trung Quốc, mà họ còn cần củ cà rốt của Trung Quốc.

Tháng 5/2014, Trung Quốc đột ngột đưa dàn khoan HD981 vào Biển Đông, và ráo riết xây dựng các căn cư quân sự và đảo nhân tạo tại các đảo ngầm mà họ chiếm tại Trường Sa và Hoàng Sa. Hành động ngang ngược này đã làm lãnh đạo Hà Nội bị sốc và bừng tỉnh khỏi cơn mê ngủ, và làm Washington giật mình. Trung Quốc đã bộc lộ bộ mặt thật là kẻ cướp muốn chiếm cả Biển Đông, không những đe dọa chủ quyền các nước khu vực mà còn đe dọa tự do hàng hải quốc tế, thách thức lợi ích chiến lược và vai trò cầm đầu của Mỹ.

Đây là bước ngoặt quan trọng làm người Mỹ phải điều chỉnh tư duy chiến lược, nhất là trong giới nghiên cứu và Quốc hội, buộc chính quyền Obama phải có thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Mỹ đã đưa máy bay trinh sát và tàu chiến đến biển Đông để tuần tiễu, bất chấp Trung Quốc phản đối, đồng thời tăng cường quan hệ với Việt Nam, không chỉ về kinh tế chính trị mà còn cả về an ninh quốc phòng. Vừa rồi, Tổng thống Obama đã đón tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Phòng Bầu dục, bất chấp nhiều ý kiến phản đối. Tổng thống Obama cũng quyết tâm đẩy nhanh quá trình đàm phán TPP, và bỏ dần cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam. Các nhà quan sát cho đây là bước ngoặt dẫn đến “Xoay trục 2.0”.

Bản chất chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng” là nhằm “ngăn chặn” Trung Quốc trỗi dậy hung hãn như quái vật “Frankenstein” (Richard Nixon, 1994), đe dọa lợi ích chiến lược của Mỹ và thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ. Vì vậy, từ chỗ ban đầu tìm cách lý giải cho việc rút quân Mỹ khỏi Afghanistan và Iraq, nay Washington đã có lý do chính đáng để chuyển hướng ưu tiên chiến lược từ Trung Đông sang Châu Á-Thái Bình Dương. Có lẽ Mỹ nên cảm ơn Trung Quốc vì họ đã bộc lộ bản chất quái vật Frankenstein quá sớm.

Nhưng tầm nhìn mới đòi hỏi Washington cần phải có hành động mới quyết liệt và đồng bộ hơn. Nhiều người tại khu vực vẫn lo ngại “tiếng kèn ngập ngừng” của Mỹ. Họ cho rằng bà Susan Rice (Cố vấn An ninh Quốc gia) không hiểu biết mấy về khu vực này và cũng chẳng thực sự quan tâm, trong khi đó ông John Kerry (ngoại trưởng) tuy có kinh nghiệm, nhưng lại bị lôi cuốn vào bàn cờ Trung Đông và Châu Âu, nên không còn thơi gian cho Châu Á. Có lẽ vì vậy mà Tổng thống Obama đã hủy bỏ chuyến thăm Châu Á (2013). Hy vọng chuyến thăm Châu Á và Việt Nam dự kiến vào cuối năm nay không bị ông hủy bỏ như vậy.

Trước sưc ép kinh tế và quân sự của Trung Quốc hiện nay, các nước Châu Á rất cần Mỹ. Nhưng họ cần nhất một lập trường nhất quán (không phải là “tiếng kèn ngập ngừng”). Người Châu Á cần Mỹ không phải chỉ để đối phó với nguy cơ Trung Quốc trước măt, mà còn nhằm hợp tác lâu dài, giúp các nước khu vực phát triển và dân chủ hóa. Họ cần có những người hiểu biết và đồng cảm với khu vực, để lắng nghe những mối quan tâm lo lắng của họ. Đấy mới là ý nghĩa thực sự của chủ trương “Tham dự Tích cực” và “xoay trục”.

Nội dung “xoay trục” không phải chỉ có điều động binh lực Mỹ (như điều lính thủy đánh bộ đến Darwin) mà còn phải tăng cường sức mạnh quân sự cho các đồng minh tại khu vực (như bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam). “Xoay trục” không phải chỉ tăng cường hợp tác kinh tế khu vực để tránh lệ thuộc vào Trung Quốc (qua TPP) mà còn thúc đẩy hợp tác văn hóa giáo dục (như dự án Đại học Fulbright). Tuy nhiên, muốn biến tầm nhìn thành hiện thực, cần phải hành động kịp thời và quyết liệt hơn, vì nếu hành động quá ít và quá chậm (too little too late) thì sẽ mất cơ hội hoặc phải trả giá đắt. Nên nhớ là dự án Đại học Fulbright đã bị chậm lại gần hai thập kỷ, và chương trình đào tạo Fulbright (FETP) đã suýt nữa bị xóa sổ.

TẦM NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA MỸ Ở KHU VỰC: DUY TRÌ NGUYÊN TRẠNG

Lich sử tham dự của Mỹ tại Châu Á-Thái bình Dương có thể tóm tắt như sau. Trước và trong đại chiến thứ 2, đối thủ chính của Mỹ ở khu vực này là Nhật, đã canh tân giàu mạnh và quân sự hóa trở thành phát xít. Bắt đầu cuộc chiến, vì chủ quan khinh địch nên Mỹ đã bị Nhật bất ngờ nện cho một trận thua nhục nhã tại Trân Châu Cảng. Đừng tưởng Nhật bắt chước Phương Tây để hiện đại hóa thì sẽ giống phương tây, không đánh Mỹ. Lúc kết thúc cuộc chiến, để ra oai Mỹ đã nện cho Nhật 2 quả bom nguyên tử (tuy không cần thiết).

Sau chiến tranh, trong khi Nhật trở thành đồng minh chính của Mỹ thì Trung Quốc lại trở thành đối thủ chính của Mỹ tại khu vực này. Nhất là sau 1949, Trung Quốc đã trở thành cơn ác mộng mới, làm Mỹ phải đau đầu “ngăn chặn”, dẫn đến 2 cuộc chiến tranh đẫm máu tại Triều Tiên và Việt Nam, làm Mỹ hao tổn bao xương máu, tiền của và thời gian. Nhưng chống Trung Quốc mãi không ổn, Mỹ đã “xoay trục” bắt tay với Trung Quốc để rút khỏi Việt Nam, tập trung chống Liên Xô, và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc tại khu vực. Đó là “sáng kiến vĩ đại” của tiến sĩ Henry Kissinger, dẫn đến Shanghai Communique (1972). Đừng tưởng Mỹ bắt tay với Trung Quốc thì Trung Quốc sẽ giống Nhật Bản, không chống Mỹ.

Không phải ông Kissinger không giỏi, và mưu kế của ông ấy không cao. Nhưng tầm nhìn của ông ấy khác với tầm nhìn của người Trung Quốc, và tư duy của người Mỹ khác với tư duy của người Trung Quốc. Ông Kissinger có thể chơi cờ vua giỏi, nhưng chắc không giỏi cờ tướng hay cờ vây. Ông ấy có thể thạo binh pháp Clausewitz, nhưng chắc không thạo binh pháp Tôn Tử. Không biết ông ấy có thực sự tin rằng “Constructive Engagement” là diệu kế có thể thuyết phục người Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình” không, nhưng thực tế là ông ấy đã giúp Trung Quốc trở thành con quái vật Frankenstein. Chính sếp của ông ấy là cố Tổng thống Nixon đã nghĩ như vậy, và chính đệ tử của ông ấy là Robert Blackwill cũng nghĩ như vậy.

Trong khi Mỹ rút quân chiến đấu khỏi Việt Nam (theo Hiệp định Paris, 1973) và Bỏ rơi Nam Việt Nam (30/4/1975) thì Trung Quốc đã lợi dụng thời cơ “đục nước béo cò” chiếm mấy đảo của Việt Nam ở Biển Đông (1974). Mỹ biết nhưng đã lờ đi, không giúp hải quân VNCH chiếm lại. Chính sách Trung Quốc của Mỹ lúc đó đã “xoay trục” từ “ngăn chặn” thành “tham dự tích cực” (Constructive Engagement). Khi các “đại ca” đã bắt tay nhau, thì các “đàn em” sẽ bị hy sinh hoặc bị bỏ rơi, dù Việt Cộng hay Chống Cộng cũng vậy.

Sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút quân khỏi Thailand (Utapao, Udon, Korat) và Philippines (Clark, Subic), chỉ giữ lại mấy căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Hàn Quốc. Sự có mặt của Mỹ tại khu vực này giảm xuống tới mức thấp nhất, tạo ra một khoảng trống quyền lực, nhất là tại Đông Nam Á nơi các nước ASEAN yếu và dễ phân hóa. Biển Đông hầu như bị bỏ ngỏ, là cơ hội vàng đối với Trung Quốc. Nhưng lúc đó Trung Quốc còn yếu nên chưa dám liều, phải nghe theo Đặng Tiểu Bình “lặng lẽ chờ thời” để “ngư ông đắc lợi”.

Nay Tập Cận Bình lên ngôi đã củng cố xong quyền lực, thấy thời cơ tốt (hoặc vì nội bộ bất ổn) nên đã quyết định đẩy nhanh lấn chiếm và kiểm soát Biển Đông (là nơi vừa xung yếu, vừa nhiều tài nguyên). Chính Tập Cận Bình đã buộc người Mỹ phải mở mắt, tạm biệt chủ thuyết “Tham dự Tích cực” (Constructive Engagement) của tiến sĩ Kissinger, để trở về tương lai với chủ thuyết “Ngăn chặn” (Containment). Nhưng “ngăn chặn” thế nào?

TẦM NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC: THAY ĐỔI NGUYÊN TRẠNG

Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đều có tham vọng bành trướng bá quyền, muốn nhòm ngó và thôn tính các nước láng giềng. Vấn đề chỉ là chờ thời gian và cơ hội. Không làm gì có chuyện Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình” như người Mỹ tưởng. Dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã đủ mạnh, không những là cường quốc hạt nhân và quân sự, mà còn vượt qua Nhật Bản trở thành cường Quốc kinh tế thứ hai thế giới. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng thời cơ đã đến, có thể thách thức vai trò cầm đầu của Mỹ, nhân lúc Mỹ đang lúng túng đối phó với khủng hoảng kéo dài tại Trung Đông và khủng hoảng mới tại Châu Âu.

Về phía Tây, Trung Quốc muốn bành trướng ra khu vực Trung Á giàu tài nguyên và khu vực Nam Á-Ấn Độ Dương có vị trí chiến lược quan trọng. Trong một thời gian dài, Trung Quốc đã thao túng được chính quyền quân sự Myanmar làm con bài để phân hóa ASEAN, và bành trướng Xuống Nam Á. Nhưng từ khi tình hình chính trị Myanmar thay đổi bất lợi cho Trung Quốc và có lợi cho Mỹ, thì hướng bành trướng này bị ngăn chặn. Không phải ngẫu nhiên Trung Quốc gần đây đã thỏa thuận tài trợ cho Pakistan 46 tỷ USD.

Về phía Bắc, Trung Quốc từ lâu đã nhòm ngó và thèm muốn nguồn tài nguyên (dầu hỏa) tại khu vực Siberia rộng lớn, nhưng Nga không phải là đối thủ dễ chơi. Gần đây Trung Quốc lợi dụng cơ hội Nga bị Mỹ và Phương Tây cấm vận vì khủng hoảng Ukraine, để xich lại gần Nga như một “lá bài răn đe” Mỹ và để tranh thủ mua rẻ dầu hỏa của Nga. Nhưng Nga khó trở thành đồng minh chiến lược của Trung Quốc, vì Nga biết rõ tham vọng của Trung Quốc, và không quên Trung Quốc đã từng liên kết với Mỹ để chống Liên Xô.

Về phía Đông, sau khi “bình định” xong Hong Kong và Ma Cao, Trung Quốc muốn thôn tính nốt Đài Loan (là “lợi ích cốt lõi”) và các hải đảo tại Biển Hoa Đông. Việc Trung Quốc tuyên bố “khu vực nhận diện phòng không” tại Biển Hoa Đông và tranh chấp đảo “Điếu Ngư” (Senkaku) với Nhật Bản đã làm khu vực này nóng lên, và làm quan hệ Trung-Nhật căng thẳng. Tuy nhiên, lãnh đạo Trung Quốc thừa hiểu Nhật Bản và Hàn Quốc không phải là những đối thủ dễ chơi vì tiềm lực họ mạnh, và là đồng minh chiến lược của Mỹ.

Về phía Nam, khu vực Đông Nam Á, nhất là bán đảo Đông Dương và Biển Đông là khâu yếu nhất, dễ thôn tính nhất. Trong khi Việt Nam bị Trung Quốc thao túng, thì ASEAN cũng yếu và dễ bị phân hóa. Vai trò Việt Nam trong ASEAN quan trọng không phải vì tiềm lực kinh tế, mà vì địa chính trị đối với Trung Quốc. Trong lịch sử, Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc là sau thỏa thuận dại dột tại Thành Đô (9/1990) vị trí địa chính trị của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa vì bị mắc kẹt trong cái bẫy ý thức hệ với Trung Quốc, bị Trung Quốc khống chế mọi mặt, cả kinh tế lẫn chính trị.

Không phải ngẫu nhiên Trung Quốc ngang ngược tuyên bố chủ quyền “đường chin đoạn”, đem dàn khoan HD 981 đến Biển Đông xâm phạm chủ quyền Việt Nam (5/2014), ráo riết xây dựng các căn cứ quân sự và đảo nhân tạo tại các đảo đá ngầm mà họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một bước ngoặt mới trong tầm nhìn của lãnh đạo Bắc Kinh, làm lãnh đạo Hà Nội bị sốc và bừng tỉnh khỏi cơn mê ngủ, và làm cho lãnh đạo Washington cũng phải giật mình lo ngại, buộc phải tỏ thái độ cứng rắn với Trung Quốc. Chính nước cờ thế (gambit) này của Trung Quốc đang xô đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ.

Ông Tập Cận Bình đã từ bỏ lời khuyên của ông Đăng Tiểu Bình, và làm ngược lại các lãnh đạo trước đó. Bắc Kinh đã triển khai một chính sách đối ngoại đầy tham vọng với “Giấc mộng Trung Hoa” (China Dream), “Giấc mộng Châu Á-Thái Bình Dương” (Asia-Pacific Dream), “Con đường Tơ lụa Trên biển” (Maritime Silk Road), với những quyết sách kinh tế táo bạo như lập “Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á” (Asian Infrastructure Investment Bank) làm đối trọng với IMF. Trung Quốc không chỉ võ mồm, mà đầu tư rất lớn. Theo giáo sư David Shambaugh nếu cộng tất cả các khoản đầu tư của Trung Quốc vào các dự án lớn này, con số lên đến 1.41 ngàn tỷ USD. (Trong khi kế hoạch Marshal trước đây chỉ có 103 tỷ USD).

Như một quy luật, Trung Quốc càng giàu mạnh thì lại càng hung hăng, càng muốn thách thức và thay đổi trật tự thế giới cũ do Mỹ cầm đầu. Việc Trung Quốc gấp rút xây dựng các căn cứ quân sự và đảo nhân tạo tại Biển Đông nhằm kiểm soát toàn bộ vùng biển này là hành động tất yếu, chỉ là vấn đề thời gian. Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông bằng cách lấn dần từng mảng, như chuyện đã rồi, dù thiên hạ có phản đối nhưng chẳng ai làm gì được.

Nhiều người cho rằng Trung Quốc có tiềm lực kinh tế và quốc phòng rất mạnh (chỉ đứng sau Mỹ) nên có thể làm gì cũng được. Nhưng nếu xét kỹ thì “Gót chân Asin” của Trung Quốc không phải chỉ là vùng xa xôi hẻo lánh khó quản lý như Tây Tạng, Tân Cương, mà ở ngay tại các trung tâm lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến. Thứ nhất, đó là khoảng cách giàu nghèo và sự bất bình ngày càng tăng của dân chúng, ở thành phố cũng như nông thôn. Số lượng các cuộc biểu tình và bạo động ngày càng tăng, cả về số lượng và quy mô. Bóng ma Thiên An Môn vẫn còn lảng vảng đâu đây, để một ngày nào đó có thể nổi lên bóp cổ chế độ.

Thứ hai, Trung Quốc tuy giàu, nhưng thị trường tài chính/chứng khoán rất dễ bị tổn thương vì nó liên thông toàn cầu. Chỉ trong 3 tuần tháng 6/2015, Trung Quốc đã mất 3.400 tỷ USD (bằng 44% GDP quốc gia). Không biết sự kiện bán tháo chứng khoán gây náo loạn gần đây có “bàn tay thù địch” nào không, nhưng đó là một lời cảnh báo, chắc còn tiếp diễn. Chiến tranh mạng là con dao hai lưỡi đối với trung Quốc. Đó là cuộc chiến không có tiếng súng, không cần tuyên bố, xảy ra chớp nhoáng, nhưng hậu quả khôn lường. Thị trường chứng khoán có thể là mục tiêu đầu tiên của một cuộc chiến tranh mạng giữa các cường quốc.

Thứ ba, chưa biết đấu tranh quyền lực tại Trung Quốc do tập Cận Bình phát động dưới danh nghĩa chống tham nhũng (“đả hổ diệt ruồi”) sẽ dẫn tới đâu, nhưng người ta bắt đầu liên tưởng đến hệ quả “cách mạng văn hóa mới” như “quả bom nổ chậm”. Theo các giới nghiên cứu, 64% dân giàu Trung Quốc (vốn trên 1.6 triệu USD) đã và đang di cư ra nước ngoài. Nếu có biến động về chính trị hay tài chính thì cuộc di cư ồ ạt này (như “bỏ phiếu bằng chân”) sẽ làm nền kinh tế Trung Quốc kiệt quệ nhanh chóng. Có lẽ những lý do nội bộ này là động cơ chính thúc đẩy Bắc Kinh triển khai một chính sách đối ngoại hung hăng hơn, mặc dù tự làm cô lập mình, ngược lại với chiến dịch lấy lòng thiên hạ (“Charm Offensive”).

Trung Quốc sẽ tiếp tục chơi nưóc cờ thế (gambit). Những dấu hiệu gần đây cho thấy, nếu Việt Nam xích lại gần Mỹ, họ sẽ dùng cái gậy để tiếp tục dọa. Nếu biết ta yếu bóng vía, họ sẽ đe dọa bằng kế sách “bên miệng hố chiến tranh”, gây sức ép từ phía Bắc, phía Đông, hay phía Tây Nam. Nếu biết ta tham, họ sẽ dùng củ cà rốt để tiếp tục mua. Cái gậy hay củ cà rốt đều là “sức mạnh cứng” mà họ có thừa. Nhưng cái họ thiếu là “sức mạnh mềm”.

TẦM NHÌN MỚI Ở KHU VỰC: VƯỢT RA KHỎI ASEAN

ASEAN là một ý tưởng hay. Nhưng ASEAN 10 không phải là ASEAN 5. Đó là một bức tranh Mosaic, lắp ghép bằng các mảng miếng đa dạng có màu sắc khác nhau, rất dễ bị Trung Quốc phân hóa và thao túng. Đoàn kết ASEAN đến nay vẫn là khẩu hiệu suông. Muốn có một ASEAN mạnh, có tiếng nói chung, ép được Trung Quốc phải theo luật chơi (như “COC” và đàm phán đa phương), thì các nước ASEAN phải ra khỏi “cái hộp thể chế”. Nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ nước khác là một điểm yếu hiện nay, khi đối phó với Trung Quốc.

“ARF” (Asian Regional Forum), East Asia Summit, APEC, v.v. là những ý tưởng tốt. Nhưng đến nay, nó chỉ là câu lạc bộ để thảo luận, chứ chưa phải để hành đông, trong khi đó cái bóng đen của con rồng Trung Quốc đã phủ khắp Biển Đông. Những gì mà ARF làm được còn quá ít và quá muộn không đủ đối phó với mối đe dọa của Trung Quốc. Phải có một khuân khổ mới hiệu quả hơn, làm nòng cốt cho an ninh tập thể khu vực.

ASEAN + 1 là một ý tưởng đúng, nhưng đến nay chưa hiệu quả, vì còn thiếu một khuân khổ thích hợp, để gắn kết với TPP. Trong số các đối tác của ASEAN, Nhật Bản có vai trò quan trọng nhất khu vực Đông Á, nhưng trước đây còn rụt rè. Gần đây, trước sự đe dọa của Trung Quốc, chính phủ của thủ tướng Abe cứng rắn hơn, cuối cùng đã vượt ra khỏi được “cái hộp hiến pháp” để có vai trò an ninh khu vực. Tại Đối thoại Shangri-La, Singapore (29-31/5/2015) Bộ trưởng Quốc phòng Gen Nakatani đã đề xuất cùng 10 nước ASEAN tuần tra Biển Đông. Đây là một ý tưởng đúng, nhưng không khả thi (vì khó huy động cả 10 nước ASEAN).

Australia cũng là một đối tác quan trọng, nhưng lâu nay bị coi là “người ngoài” (odd man out), vì lợi ích chưa thực sự gắn bó với khu vực. Gần đây, Australia còn tự nguyện bỏ tiền ra tìm kiếm chuyến bay Malaysia Airlines 370 bị mất tích tại Ấn Độ Dương (nghe nói là để lấy lòng Trung Quốc). Về thương mại và đầu tư, Australia rất cần Trung Quốc. Nhưng sau khi Chính quyền Obama có thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, điều động máy bay trinh sát đến tuần tra Biển Đông, thì Canberra đã thay đổi hẳn thái độ. Ngày 1/6/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Kevin Andrews đã tuyên bố Australia sẽ tiếp tục cho máy bay quân sự bay qua Biển Đông ngay cả khi Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ).

Nhưng để duy trì lập trường và vai trò tích cực của Nhật Bản và Úc, gắn kết hai đối tác có tiềm lực kinh tế và quốc phòng mạnh tại Châu Á-Thái Bình Dương vào an ninh tập thể khu vực này, phải có một cơ chế mới hiệu quả hơn. Sự chuyển hóa tích cực của bức tranh địa chính trị tại khu vực này sẽ phụ thuôc vào ba yếu tố thiết yếu sau đây.

Thứ nhất, “tam giác đều” Mỹ-Trung-Viêt phải chuyển hóa nhanh thành “tam giác lệch”, với chiều Mỹ-Việt xích lại gần nhau hơn như đối tác chiến lược trên thực tế (de facto), đủ để Việt Nam tin tưởng mà bỏ chính sách “ba không” (thrre no’s) đang làm vô hiệu hóa khả năng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam và vai trò Việt Nam trong khu vực. Nhưng muốn thực hiện được yếu tố thứ nhất, phải thực hiện nhanh yếu tố thứ hai.

Thứ hai, phải mau chóng lập “tứ giác chiến lược” (strategic rectangle) gồm Nhật-Việt-Úc-Phi, thành nhóm nước “tiên phong” (frontline) làm nòng cốt cho an ninh tập thể khu vực. “Tứ giác chiến lược” này cần dựa trên “tầm nhìn Đông Á” và thể chế hóa như một “liên minh chiến lược” (strategic alliance). “Tư giác chiến lược” này có 3 lợi thế: (1) Dễ thực hiện vì cả bốn nước đã là đối tác chiến lược/toàn diện, (2) Không sợ “quá nhạy cảm” với Trung Quốc (như đối tác chiến lược Mỹ-Việt). (3) Làm đầu tầu kết nối các nước Đông Á, thực hiện “Tầm nhìn Đông Á” bằng hành động cụ thể (hợp tác quân sự, tập trận và tuần tra chung).

Thứ ba, phải mau chóng chuyển sang “fast track” để sớm biến TPP thành hiện thực, làm cơ sở hỗ trợ những nước yếu như Việt Nam khỏi phụ thuộc vào Trung Quốc, và gắn kết các nước khu vực Đông Á lại với nhau thành đồng minh “cùng hội cùng thuyền”.

TIẾN TỚI “XOAY TRỤC 3.0”: SỨC MẠNH THÔNG MINH

Từ “xoay trục” đến “tái cân bằng” và “xoay trục 2.0” là một quãng đường dài, nhưng vẫn còn “quá ít và quá muộn” (too little too late). Nói theo ngôn ngữ điện ảnh, thì “Chiếc cầu Còn xa” (A Bridge Too Far)” (tên một bộ phim chuyện của Joseph Levine, 1977). Có lẽ đã đến lúc phải nghĩ đến “Xoay trục 3.0”, để đối phó với Trung Quốc, không phải chỉ bằng “sức mạnh cứng” mà còn bằng “sức mạnh mềm” (vì đó chính là điểm yếu của Trung Quốc).

Về thực chất, chính sách “xoay trục” sang Châu Á là nhằm “tái cân bằng” lực lượng để “ngăn chặn” Trung Quốc bành trướng. Việc điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, cho máy bay trinh sát và tàu chiến tuần tra Biển Đông, mới chỉ là bước dạo đầu. Mỹ cam kết bố trí 60% lực lượng hải quân ở Châu Á-Thái Bình Dương (trong khi ở Đại Tây Dương là 40%). Hiện nay tỉ lệ bố trí tại hai nơi này là 50-50. Ngoài ra Mỹ phải giúp các nước đồng minh/bạn bè tại khu vực tăng cường lực lượng. Ví dụ, Mỹ đang bỏ dần cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam và từng bước nâng cấp quan hệ lên “đối tác chiến lược”, để hải quân Mỹ có thể sử dụng căn cứ Cam Ranh, và hải quân Việt Nam có thể tham gia tập trận và tuần tra.

Ngoài “xoay trục” bằng tái cân bằng “sức mạnh cứng” (hard power), Mỹ phải tái cân bằng “sức mạnh mềm” (soft power) để có “sức mạnh thông minh” (smart power). Muốn “xoay trục” nhanh và hiệu quả, thì cả hai phía phải “cùng xoay”. Vừa phải “xoay trục” về kinh tế (như thúc đẩy nhanh triển khai TPP) nhằm cô lập Trung Quốc, vừa phải “xoay trục” về văn hóa giáo dục (như triển khai nhanh dự án Đại học Fulbright) và tăng cường giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các nước, để hỗ trợ quá trình dân chủ hóa (là “sức mạnh mềm”).

Có một bài học lịch sử đáng nhớ. Tuy những người Pháp thực dân đã để lại một di sản thuộc địa đáng buồn tại Việt Nam, nhưng những người Pháp nhân văn cũng đã để lại những di sản văn hóa đáng quý. Đó là “hệ quả không định trước” (unintended consequences) cần trân trọng. Những cái tên như Alexandre De Rhodes, Alexandre Yersin, Louis Pasteur, v.v. đã trở thành những “thánh nhân” trong lòng người Việt. Trường Mỹ thuật Đông Dương đã để lại một thế hệ họa sĩ Việt tài năng mà tác phẩm của họ đã trở thành một hiện tượng bất tử, không thể lặp lại. Dù trải qua bao biến động cách mạng, những biệt thự Pháp tại hà Nội vẫn là dấu son của thành phố, và “văn hóa rượu vang” không thể thiếu trong một bữa tiệc. Người ta hay nói đùa (hay thật) là “ăn cơm tàu, ở nhà tây, lấy vợ nhật” mới sành điệu (high living).

Nhìn lại lịch sử giao lưu văn hóa với các cường quốc, không hiểu tại sao chỉ có người Pháp để lại được một số di sản văn hóa có ý nghĩa sâu đậm như vậy. Có lẽ vì vậy mà người Pháp đáng yêu hơn là đáng ghét. Trong khi người Trung Hoa đáng ghét hơn là đáng yêu (mặc dù ai cũng thích ăn “cơm tàu” và đọc “Tam Quốc”). Người Nga có nền văn hóa vĩ đại, đã từng là đồng minh chiến lược của Việt Nam, nhưng không hấp dẫn được thế hệ trẻ bằng Vodka và Tolstoy. Người Nhật đến Việt Nam rất sớm, nhưng không ở lâu, chỉ để lại vài hình tượng còn sót lại tại Faifo (Hội An) và “văn hóa Honda” thời hậu chiến. Người Mỹ thời chiến tranh Việt Nam và thời hậu chiến chỉ hấp dẫn người Việt bằng “văn hóa Hollywood và McDonald”. Nhưng sau 20 năm, đã có 16.500 sinh viên Việt Nam đi học Mỹ. Đó là một tài sản quý nối kết hai nước, như là “sức mạnh mềm”. Có lẽ đây là lý do Trung Quốc sợ Việt Nam “diễn biến hòa bình” và xui ta chống Mỹ. Vì vậy, Đại học Fulbright càng có ý nghĩa (nhưng đừng quá muộn).

Gần đây, Tổng thống Obama đã nhìn thấy tầm quan trọng của Châu Á-Thái Bình Dương, và quyết tâm “xoay trục”, để bảo vệ lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của Mỹ, đồng thời bảo vệ các nước đồng minh và bạn bè ở khu vực trước mối đe dọa của Trung Quốc. Tầm nhìn mà bà Hillary Clinton đề xướng đang được chính quyền Obama triển khai. Chỉ có điều là hành động như thế nào để tầm nhìn có ý nghĩa và trở thành hiện thực (trước khi quá muộn). Bởi vì, trong khi người Mỹ và người Việt vẫn đang nhảy điệu “slow waltz” theo “tiếng kèn ngập ngừng”, thì người Trung Quốc không ngồi yên, đang nhảy “rock’n roll”.

Có người cho rằng, ông Obama đã có tầm nhìn và hiểu đúng về Trung Quốc, nhưng đáng tiếc điều đó không còn thực sự có ý nghĩa nữa (it doen’t really matter anymore). Bởi vì, những gì Trung Quốc đang làm tại Biển Đông hay Việt Nam có thể làm cho những gì Mỹ đang “xoay trục” trở thành quá ít và quá muộn (too little, too late).

THAM KHẢO

1. “A new era in US-Vietnam Relations”, A Report of the Sumitro Chair, CSIS, June 2014

2. “The South China Sea – The Struggle for Power in Asia”, Bill Hayton, Yale University Press, 2014. Book review, Ben Richardson, October 16, 2014.

3. “Pivot 2.0 : How the Administration and Congress Can Work Together to sustain American Engagement in Asia to 2016”, A Report of the Asia Program, CSIS, January 2015

4. “The time is right for president Obama to visit Vietnam in 2015”, Murray Hiebert & Phuong Nguyen, CSIS, February 19, 2015

5. “Obama got China right but it’s too late”. Andrew Perk, Observer, Fabruary 6, 2015

6. “A new US Grand strategy towards China”, Robert Blackwill & Ashley Tellis, The national Interest, April 13, 2015

7. “From Foe to Frenemy: Why the US is courting Vietnam”, David Brown, Foreign Affairs, June 29, 2015

8. With an absent US, China marches on”, Fareed Zakaria, Washington Post, July 2, 2015

NQD. July 16, 2015

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 18-7-15

 

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh Sach doi ngoai | Leave a Comment »

►Khi báo chí chỉ là công cụ của nhà cầm quyền

Posted by hoangtran204 on 28/07/2015

Song Chi

26-7-2015

Giữa muôn vàn tin tức, sự kiện tiêu cực có, tích cực có (mà phần lớn là tiêu cực) xảy ra trong đời sống xã hội VN thời gian gần đây, thông tin về tinh trạng sức khỏe của ông Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một trong những thông tin khiến người Việt trong và ngoài nước hết sức quan tâm.

Sau hơn một tháng “biến mất” một cách bí ẩn mặc cho mọi lời đồn đoán, đến ngày hôm qua, 25.7, ông Đại tướng được báo chí VN loan tin đã về đến Hà Nội từ Paris sau chuyến đi điều trị bệnh tại Pháp. Dù báo chí đã đưa tin, và báo Tuổi Trẻ còn có được một tấm hình quý hiếm chụp từ xa hình dáng một nhân vật trông hao hao ông Phùng Quang Thanh tại sân bay Nội Bài, nhưng không vì thế mà dư luận bớt nghi ngờ. Bởi nếu thực sự ông Phùng Quang Thanh còn sống và khỏe mạnh, chỉ cần một động tác đơn giản là để báo chí chụp cận mặt ông ấy hoặc để cho ông ấy xuất hiện ít phút trên truyền hình, nhà cầm quyền cũng không làm được.
Nhưng khác với nhiều người cho rằng dư luận đã thắng thế và nhà cầm quyền hoàn toàn bị động, lúng túng, vụng về trong suốt màn kịch về sự “mất tích và xuất hiện cũng như không” của ông Phùng Quang Thanh, người viết bài này lại nghĩ khác.

Đúng là xung quanh sự việc của ông Đại tướng, báo chí “lề dân” và các trang mạng xã hội tha hồ thoải mái, nhanh nhạy đưa tin, bình luận, săm soi trong lúc báo “lề đảng” bị trói tay, đưa thông tin gì, bao giờ đưa, đưa như thế nào…hoàn toàn phụ thuộc vào sự cho phép của đảng và nhà nước. Và đúng là nhà cầm quyền lúng túng trước cơn bão dư luận, cứ phải biện minh, bào chữa, và hễ đưa ra thông tin gì để bào chữa thì bị dư luận cầm kính lúp soi, vạch ra đủ thứ phi lý, mâu thuẫn, sai sót, khiến người dân càng nghi ngờ thêm. Nhưng cuối cùng đảng và nhà nước cộng sản VN vẫn dắt mũi được dư luận và đạt được mục đích của họ, đó là vẫn không ai biết được thực sự chuyện gì đã xảy ra cho ông Phùng Quang Thanh. Ông có thực sự phải vào bệnh viện Georges Pompidou ở Paris để trị bệnh không, và nếu có thì có đúng là bệnh về phổi, ông còn sống hay đã chết, sinh mạng chính trị của ông sắp tới sẽ ra sao cũng như nguyên nhân thực sự đằng sau việc nhà cầm quyền phải ra sức giấu diếm, che chắn này là gì.

Cũng giống như trước kia, với trưởng hợp của ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương, phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Cho dù báo chí “lề dân” có phanh phui được việc ông Nguyễn Bá Thanh đang điều trị ung thư tại một bệnh viện ở Mỹ, có cả hình, thậm chí còn có thông tin ông bị đầu độc phóng xạ, buộc nhà cầm quyền phải lên tiếng, hay các trang mạng biết trước cả thông tin ông sẽ được đưa về VN ngày giờ nào…Nhưng tóm lại, vẫn không ai được nhìn hay nghe thấy hình, tiếng trực tiếp từ ông Nguyễn Bá Thanh kể từ lúc ông bị bệnh, dù ở nước ngoài hay lúc đã về nước, ông có thực sự chết vì bệnh rối loạn sinh tủy như tin chính thức cho hay, và chết vào ngày giờ nào (vì có người còn đặt nghi vấn trên chiếc máy bay từ Mỹ về có một vật rất giống cái hòm)…
Nghĩa là mặc dù nhà cầm quyền bị động, phải vất vả hết phủ nhận, chối cãi đến biện minh, nhưng cuối cùng, kẻ bị dắt mũi vẫn là nhân dân.

Cũng may mà thời bây giờ có internet, có tai mắt của người dân ở khắp nơi trong và ngoài nước mà đảng “ta” còn dắt mũi được dư luận như vậy, huống gì trước kia khi chưa có internet.

Có thể có những người cho rằng chuyện ông Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết, chết vì lý do gì thì có liên can gì đến ai, thêm hay bớt một quan chức, lại là một ông quan có tiếng thân Tàu thì có gì là quan trọng. Khi cả một hệ thống độc đảng độc tài “hèn với giặc ác với dân” vẫn còn tồn tại thì việc sống hay chết, lên hay xuống của một cá nhân cũng chẳng thay đổi được gì. Có thể nhưng lại cũng không hẳn là thế. Bởi trong tình hình hiện nay, mỗi một biến động xảy ra cho một cá nhân thuộc hàng cao cấp trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN không chỉ cho thấy tình hình nội bộ bên trong đảng đang rối ren như tơ vò, mà còn hé lộ những bước đi chập chờn, nghiêng ngả của họ trong sự lựa chọn giữa ngã ba đường quốc tế, sẽ có ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước và dân tộc, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của từng người dân VN.

Quan trọng không kém, người dân cần phải biết rằng mình có quyền được biết sự thật mọi chuyện xảy ra cho đất nước và trong xã hội. Từ nguyên nhân vì sao giá xăng dầu tăng, tiền thuế của nhân dân đóng góp đi đâu, vì sao, cơ chế như thế nào mà chẳng hạn, một tay quan chức vụ không cao như Giang Kim Đạt (nguyên quyền Trưởng phòng Kinh doanh của Công ty TNHH MTV vận tải Viễn Dương Vinashin, thuộc Tập đoàn Vinashin) còn có thể tham nhũng đến gần 19 triệu USD…, cho đến tình trạng sức khỏe của một vị tướng, Bộ trưởng Bộ quốc phòng…tât cả đều phải minh bạch. Bởi vì chính nhân dân chứ không phải cái đảng cộng sản mới là chủ nhân thực sự của đất nước này, chính người dân phải đóng thuế nuôi cái bộ máy cầm quyền này.

Sự việc thứ hai, cũng thu hút sự quan tâm của dư luận, là vụ thảm sát khiến 6 người trong một gia đình chết thảm tại Bình Phước. Hai sự việc chẳng liên quan gì đến nhau, và lý do quan tâm của người dân vì vậy cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng lại cho thấy những điểm chung mà hệ quả là từ một chế độ độc tài, không có một nền báo chí tự do, dân chủ. Đó là báo chí chỉ được đưa tin theo những gì mà nhà nước cho phép. Trong vụ sức khỏe của Đại tướng Phùng Quang Thanh là nguồn tin từ cấp nhà nước, còn trong vụ án mạng tại Bình Phước là tin tức do công an cung cấp.
Ở các nước tự do, dân chủ trong khi đang điều trị bệnh hoặc tệ nhất, sau khi điều trị xong trở về, một nhân vật cỡ Bộ trưởng Bộ quốc phòng như ông Thanh phải có “nghĩa vụ” xuất hiện trước truyền thông bằng cách này cách khác đề thông báo cho nhân dân an tâm rằng mình vẫn còn sống, vẫn minh mẫn, vẫn có thể tiếp tục làm việc. Còn trong những vụ án, đặc biệt án gây chấn động dư luận như vụ án tại Bình Phước, cảnh sát phải có nghĩa vụ họp báo ngay tức khắc để thông tin chính xác cho báo chí và sau đó thường xuyên cập nhật tin tức, chứ không phải đợi mấy ngày sau mới họp báo rồi còn trách báo chí đưa tin không đúng điểm này điểm kia.

Cả hai sự việc đều cho thấy lòng tin của người dân đối với nhà cầm quyền đã sút giảm một cách nghiêm trọng, trừ một thiểu số vẫn cứ nhà nước nói gì là nghe, là tin nấy, bây giờ đối với đa số người VN nhà nước nói gì cũng không tin hoặc chỉ tin một phần nào. Trong câu chuyện về ông Phùng Quang Thanh, người dân hoàn toàn có lý do để nghi ngở bởi mới trước đó không lâu, nhà cầm quyền cũng tìm cách che chắn xung quanh vấn đề sức khỏe của một ông Thanh khác, ông Nguyễn Bá Thanh. Và lần này nhà cầm quyền cũng lại có thái độ loanh quanh dấu đầu hở đuôi, vụng về không khác. Còn trong vụ án Bình Phước, người dân nghi ngờ vì sao phá án quá nhanh, có bị tác động gì từ sức ép của dư luận không, vì sao có quá nhiều điểm còn nghi vấn, vì sao không cho thực nghiệm lại hiện trường… Nhưng lý do trên hết vẫn là vì từ trước tới nay đã có quá nhiều vụ án oan sai, người bị bắt thừa nhận tội ác dù không thực hiện chỉ vì bị nhục hình, bị bức cung.
Sự mất lòng tin này là hậu quả mà nhà cầm quyền xứng đáng nhận lãnh, bởi đã hàng triệu triệu lần dối trá bưng bít, bóp méo sự thật với nhân dân.

Trong một chế độ độc tài, số phận của mọi người dân-từ những thân phận tầm thường như những nghi phạm trong vụ án Bình Phước cho tới một nhân vật chính khách cấp cao như ông Phùng Quang Thanh đều hết sức mong manh. Càng leo cao càng bấp bênh. Đến lúc đảng không cần nữa thì cho sống hay chết, lúc nào mới được chết, cho thân bại danh liệt theo kiểu nào là tùy đảng. Số phận của ông Phùng Quang Thanh và phản ứng thậm chí vui mừng của số đông dân chúng trong suốt thời gian qua may ra có thể khiến cho những nhân vật khác trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN phải suy nghĩ, rằng trung với đảng có ngày cũng bị chính các đồng chí của mình hãm hại, mà dân thì oán ghét. Chi bằng trung với dân với nước, khi còn tại vị cố gắng sống cho tử tế, tìm cách thoát khỏi đảng hoặc ít nhất, tìm cách lái đảng đi theo con đường dân chủ hóa, thoát Trung, gần với các nước dân chủ để cứu nước, thì còn được lòng dân. Có dân bên cạnh lo gì không làm được tất cả.

Không phải đợi đến bây giờ, từ những vụ việc như trên mới cho thấy sự cần thiết phải có một nền báo chí tự do dân chủ. Không có một nền báo chí tự do, độc lập, nhà cầm quyền còn dắt mũi người dân dài dài, đảng còn thao túng đất nước dài dài, từ cái thuở xa xưa xung quanh nhân thân, lý lịch, cái chết của ông Hồ Chí Minh cho tới tận bây giờ. Không có báo chí tự do, một vụ án hình sự như Bình Phước, khó mà biết được liệu có oan sai hay ít nhất, có bỏ lọt tột phạm, nguyên nhân vụ án có thực là vì ghen tuông cộng với tiền bạc hay có ai đứng đẳng sau thuê giết người vì lý do khác…; cho tới sự thật nào phía sau những “nghi án chính trị” như kiểu Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh v.v…

Tất nhiên, có một nền báo chí tự do không đủ, phải có một thể chế chính trị đa đảng, tam quyền phân lập để hạn chế quyền lực trong tay một đảng lãnh đạo duy nhất.

Và cuối cùng về phía người dân, bài học nhỏ cho những ai còn một lòng một dạ tin vào nhà cầm quyền, vào hệ thống báo chí của đảng, đó là khi phải sống trong một chế độ độc tài toàn trị ở đó luật pháp hay báo chí đều nằm trong tay nhà cầm quyền, người ta phải tập cách “đọc giữa hai dòng chữ” từ những gì mà nhà nước nói, báo chí của đảng nói, tập phân tích, phán đoán sự việc bằng cái đầu của mình, thay vì cứ nhất nhất tin theo

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

► TƯỚNG THANH, VÌ SAO SỐNG, VÌ SAO CHẾT?

Posted by hoangtran204 on 27/07/2015

“Thực tế, đến lúc này tướng quân họ Phùng, dù đang ở đâu thì cũng đang trong cảnh: Sống mà như chết; Chết mà như sống? Điều này đã được lãnh đạo tối chóp bu tính toán và đã soạn kịch bản trước khi tướng Thanh ở vào thế: Sống mà như chết; Chết mà như sống. Kịch bản này được lãnh đạo chóp bu soạn trước khi Tổng Lú đi Mỹ”.

Bà Đầm Xòe

26-07-2015

Đến lúc này thật khó có thể biết chính xác đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam: còn sống hay đã chết.

Nguồn tin bảo đã chết, cũng có nhiều dự liệu để tin.

Báo chí lề đảng nhà nước đưa tin khẳng định tướng Thanh vẫn còn sống và đã về Hà Nội cũng rất mập mờ, hoàn toàn không có dữ liệu tin cậy nào để tin rằng tướng Thanh vẫn còn sống.

Tại sao lại như vậy?

H1Thực tế, đến lúc này tướng quân họ Phùng, dù đang ở đâu thì cũng đang trong cảnh: Sống mà như chết; Chết mà như sống? Điều này đã được lãnh đạo tối chóp bu tính toán và đã soạn kịch bản trước khi tướng Thanh ở vào thế: Sống mà như chết; Chết mà như sống. Kịch bản này được lãnh đạo chóp bu soạn trước khi Tổng Lú đi Mỹ.

Tướng Thanh phải chết vì tướng Thanh quá thân Tàu và ngoan ngoãn vâng lệnh Tàu làm bất kỳ những gì Tàu Cộng yêu cầu. Tàu Cộng Thường Vạn Toàn, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng của Tàu Công, đã chỉ thị cho Quang Thanh phải nhanh chóng tào phản, phải tiêu diệt cho kỳ được phe nhóm đang hướng đất nước xoay trục thân phương Tây. Cái bình gồm – China – đựng trong một cái hộp do đích thân Thường Vạn Toàn mò sang Việt Nam tặng Quang Thanh là chỉ lệnh của Tàu Cộng. Tổng Lú cũng biết điều này. Lo sợ trước truyền thống không còn tác dụng thì đập chết của Tàu Cộng nên không chấp nhận cho họ Phùng tào phản và đồng ý với phe xoay trục phải vô hiệu hóa Quang Thanh, Chí Vịnh.

Thế là Quang Thanh mất tích; tướng Vịnh lặn mất tăm;  Chính ủy và Tư lệnh Quân khu Thủ đô phải về vườn.

Việc tào phản của tướng quân họ Phùng đã thất bại.

Đây là lý do để tướng quân họ Phùng phải chết.

1Sau cuộc tào phản không thành, Tàu Cộng sợ phe phái thân Tàu sẽ bị tiêu diệt đến tận gốc rễ nên liền cử phó thủ tướng Tàu Cộng Cao Lệ lập tức có mặt ở Việt Nam để ngăn chặn. Cao Lệ vỗ vào mặt lãnh đạo Việt Nam rằng, nếu Việt Nam diệt tướng Thanh cùng phe nhóm một lòng, một dạ với nước Tàu thì Trung Quốc sẽ động binh trả đũa Việt Nam. Người Campuchia gây rối tại biên giới Việt – Cam ở Long An vừa qua là con tốt thí, là lời cảnh báo, là thể hiện quyết tâm của Tàu Cộng rằng Người Trung Quốc nói là làm và đã làm.

Đây là lý do để tướng Thanh không thể chết.

Nhưng nếu để tướng Thanh sống, tức là có bằng chứng rõ ràng, không ai có thế chối cải được thì chính trị ở trong nước rất có thể sẽ không yên bình. Các tướng lĩnh thuộc tay chân của họ Phùng còn nhản nhản trong quân đội, nếu biết tướng Thanh còn sống, họ sẽ lại tiếp tục nuôi mộng tào phản ở hai hướng: một, sẽ sử dụng lực lượng quân đội phản loạn tức thì; hai: sẽ phản loạn từ từ bằng cách ém được nhiều cá thế tham gia nhân sự Đại hội ĐCSVN lần thứ XII – Một kịch bản tào phản từ từ.

Đây là lý do mà tướng quân Họ Phùng phải chết.

Sự nhập nhèm về sống, chết của tướng Thanh hiện đang lên xuống, gần xa theo trục chính trị này.

Như vậy, cuộc đấu còn, mất của phe phái trên thượng tầng hiện vẫn đang diễn ra quyết liệt. Tất nhiên phe phái thân Tàu Cộng đã bị lộ mặt, kiểu gì cũng bị diệt; phe phái xoay trục thân phươ ng Tây bước đầu thắng thế và sẽ còn thắng tiếp trong tương lai rất gần.

Các bạn hãy chờ xem.

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Mai sau, Mêkông sẽ còn gì

Posted by hoangtran204 on 27/07/2015

27-7-2015

Lê Phát Quới

Trên 90% nguồn nước của vùng ĐBSCL nhận được từ sông Mêkông. Dưới những tác động của các đập thủy điện và nhu cầu dùng nước ngày càng lớn ở các quốc gia thượng nguồn, vùng ĐBSCL của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất.

TBKTSG) – Các chính sách can thiệp còn chưa đồng bộ, mới chỉ hướng đến tác động của biến đổi khí hậu mà chưa đánh giá đúng mức tác động của các hoạt động can thiệp của con người trên dòng Mêkông, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng ĐBSCL.

Sông Mêkông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, với chiều dài gần 5.000 ki lô mét và một lưu vực rộng lớn khoảng 795.000 ki lô mét vuông. Lưu lượng nước của sông Mêkông khá lớn, đứng thứ 10 trên thế giới, hàng năm đạt trung bình khoảng 475 triệu mét khối. Tài nguyên nước sông Mêkông đã và đang giúp phát triển sinh kế cho nhiều cộng đồng trong lưu vực.

Việc gia tăng sử dụng nguồn nước để sản xuất nông nghiệp và xây dựng các đập thủy điện phía thượng nguồn trong thời qua đã làm suy giảm nguồn nước và biến động dòng chảy, đồng thời với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đây là tác động kép gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội của vùng ĐBSCL.
Một số giải pháp đã được đưa ra, tuy nhiên chưa đồng bộ và mới hướng theo tác động do biến đổi khí hậu mà chưa đánh giá đầy đủ những tác động ảnh hưởng từ các hoạt động phía thượng nguồn.
Những tác nhân

Tài nguyên nước sông Mêkông đã và đang có những thay đổi về lưu lượng cũng như động thái của dòng chảy theo mùa. Sự thay đổi này do từ các yếu tố tự nhiên và do tác động từ hoạt động của con người trong lưu vực.

Mở rộng diện tích nông nghiệp.

Diện tích sản xuất nông nghiệp đã và đang được mở rộng ở các quốc gia trong lưu vực sông Mêkông như Myanmar, Lào, Campuchia, do đó nhu cầu sử dụng nước ở phía thượng nguồn ngày càng nhiều. Vì vậy, lượng nước từ thượng nguồn sông Mêkông chuyển về hạ lưu càng lúc càng giảm đi và chắc chắn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế vùng ĐBSCL.

Trên 90% nguồn nước của vùng ĐBSCL nhận được từ sông Mêkông. Dưới những tác động của các đập thủy điện và nhu cầu dùng nước ngày càng lớn ở các quốc gia thượng nguồn, vùng ĐBSCL của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất.

Các đập thủy điện.

Phía thượng nguồn sông Mêkông thuộc tiểu lưu vực phía Trung Quốc với tám đập thủy điện, tiểu lưu vực của Thái Lan, Lào và Campuchia với 17 đập thủy điện đang được quy hoạch và hai thủy điện đang trong quá trình xây dựng là Xayabury và Don Sahong (Lào).

Quá trình xây dựng và vận hành các đập thủy diện đã gây ra thiếu hụt nguồn nước và làm thay đổi dòng chảy của sông, gây ra những khó khăn về sản xuất và thời vụ canh tác nông nghiệp ở vùng ĐBSCL.

Thiếu hụt phù sa.

Nguồn phù sa đóng góp vào quá trình bồi đắp vùng đồng bằng và vùng duyên hải của ĐBSCL. Đây là nguồn chất dinh dưỡng thiên nhiên cho sinh vật và tạo sự phì nhiêu cho đất nông nghiệp vùng hạ lưu. Tuy nhiên, những đập thủy điện trên sông Mêkông đã ngăn chặn và làm giảm lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về phía hạ lưu. Sự thiếu hụt lượng phù sa làm mất cân bằng sông tạo ra hiện tượng sông đói (hungry river) và gây ra xói lở ven bờ để bù đắp lượng phù sa thiếu hụt. Những hiện tượng sạt lở bờ sông Tiền và sông Hậu trong những năm qua đã gây tác hại đến đời sống cư dân ven sông.

Giảm lượng phù sa sông cũng sẽ làm cho đất ngày càng kém màu mỡ, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây suy thoái đất. Để có thể giữ ổn định năng suất lúa thì phải gia tăng lượng phân bón hàng năm khiến cho thu nhập của nông dân bị giảm.

Xói lở đất.

Khai thác cát trên sông là một trong những vấn đề đã được các nhà khoa học cảnh báo vì làm giảm lượng phù sa, ảnh hưởng đến sự vận chuyển chất dinh dưỡng, tính ổn định của ĐBSCL và làm thay đổi dòng chảy tự nhiên dẫn đến gia tăng phạm vi xói lở bờ sông và khu vực ven biển.

Hạn hán và xâm nhập mặn.

Đã có sự thay đổi khá rõ rệt về khí hậu trong vùng ĐBSCL. Nhiệt độ tăng cao cùng với mùa khô kéo dài, thiếu hụt nguồn nước đổ từ sông Mêkông đã gây ra tình trạng hạn hán khá khắc nghiệt và mặn xâm nhập sâu vào đồng bằng đã gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp trong những năm qua.

Suy giảm nguồn thủy sản.

Ngoài ngành nuôi thủy sản nước ngọt, tài nguyên thủy sản tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định sinh kế cho cộng đồng vùng ĐBSCL. Các đập thủy điện sẽ ngăn chặn và làm giảm nguồn cá di chuyển từ thượng nguồn xuống hạ lưu và việc thiếu nước ngọt sẽ ảnh hưởng ngành nuôi và chế biến thủy sản vùng ĐBSCL.

Những tác động đến các hệ sinh thái. Sự thiếu hụt nguồn nước, phù sa từ dòng chính sông Mêkông và xâm nhập mặn sẽ gây nên tình trạng suy thoái đất, và đưa đến sự thay đổi và suy giảm các hệ sinh thái nông nghiệp, đa dạng sinh học ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL.
Tóm lại, với những tác động nêu trên, một viễn cảnh không sáng sủa có thể sẽ xảy ra nếu không có các giải pháp kỹ thuật và những chính sách hợp lý cho vùng ĐBSCL.

Tài nguyên đất sẽ bị suy giảm nghiêm trọng từ những tác động thiếu nguồn nước, phù sa và xâm nhập mặn. Các hệ sinh thái nông nghiệp sẽ bị thay đổi và suy giảm cùng với sự suy giảm đa dạng sinh học, và việc sản xuất lúa, hoa màu và cây ăn trái sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nghề thủy sản đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất của vùng đồng bằng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu hụt cũng như ô nhiễm nguồn nước. Sẽ phải tăng vốn đầu tư để duy trì năng suất, nhưng hiệu quả kinh tế sẽ là vấn đề cần xem lại, và sẽ là bài toán khó cho người dân nghèo ở vùng ĐBSCL.

Yêu cầu khẩn thiết về chính sách

Những vấn đề nêu trên đã được các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đề cập khá nhiều, Chính phủ đã có những chương trình và các ngành liên quan đã đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện điều kiện sản xuất của vùng ĐBSCL.

Các kịch bản về mực nước biển dâng đã được mô hình hóa và chỉ mang tính trình bày diễn thế trong tương lai. Một số giải pháp cho vùng ĐBSCL đưa ra chỉ mang tính cục bộ cho từng ngành mà chưa mang tính tổng hợp để giải quyết vấn đề chung về phát triển kinh tế – xã hội cho cả vùng đồng bằng dưới tác động kép: thiếu hụt nước từ sông Mêkông và xâm nhập mặn, mực nước biển dâng.

Sự cần thiết của việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đã được đề cập, nhưng mô hình sản xuất phù hợp trong điều kiện khó khăn về nguồn nước vẫn chưa cụ thể và điều quan trọng là các chính sách cũng như chuỗi giá trị của nông sản, đặc biệt là nông sản từ chuyển đổi cơ cấu sản xuất vẫn chưa được đề cập.
Trên 90% nguồn nước của vùng ĐBSCL nhận được từ sông Mêkông. Dưới những tác động của các đập thủy điện và nhu cầu dùng nước ngày càng lớn ở các quốc gia thượng nguồn, vùng ĐBSCL của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất do nằm cuối nguồn sông Mêkông. Tuy nhiên, vấn đề nguồn nước và những tác động có liên quan đến phát triển kinh tế – xã hội của vùng ĐBSCL mới chỉ đặt thành vấn đề mà chưa có kế hoạch hành động cụ thể với những chính sách hỗ trợ cho các địa phương trong việc ứng phó với những tác động khắc nghiệt trong tương lai.

Tăng trưởng kinh tế bền vững phải song song với việc duy trì các hệ sinh thái khỏe mạnh và nguồn nước. Do đó cần phải có ngay những can thiệp hiệu quả để tránh những suy thoái môi trường vĩnh viễn, trong đó, sự can thiệp bằng chính sách phải được xem là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, các chính sách phù hợp cho sản xuất nông nghiệp và các ngành có liên quan trong tình hình hiện nay và viễn cảnh tương lai cho vùng ĐBSCL vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và đề xuất thực hiện.

http://www.thesaigontimes.vn/133341/Mai-sau-Mekong-se-con-gi.html

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

► Tổng Tuyệt Thực Toàn Cầu 25/7/2015: Tự do – Dân chủ – Nhân quyền, đồng hành và đấu tranh cho TNLT tại Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 25/07/2015

THÔNG BÁO VỀ HOẠT ĐỘNG HƯỞNG ỨNG NGÀY TỔNG TUYỆT THỰC TOÀN CẦU TẠI SÀI GÒN 25.07.2015

Hưởng ứng bước 2 chiến dịch nhanquyen2015.net, đồng hành và đấu tranh cho TNLT tại Việt Nam, chúng tôi, những công dân sống tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận thông báo về thời gian và địa điểm tuyệt thực công khai tại Sài Gòn:

– Thời gian: 8:00 – 21:00 ngày 25.07.2015.
– Địa điểm: trước hang đá tượng Đức Mẹ, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế 
(Địa chỉ: 38 Kỳ Đồng, Phường 9, Quận 3)

Chúng tôi hoan nghênh tất cả các công dân quan tâm tới tình hình Nhân Quyền Việt Nam tham gia và đồng hành cùng chúng tôi. 

Đồng thời, khuyến cáo những người có tiền sử bệnh về huyết áp, bệnh về đường huyết, bệnh về dạ dày, bệnh về tim mạch, sức khỏe không ổn định, thể trọng dưới 45 kg, dưới 18 tuổi không nên tuyệt thực. Bất cứ thành viên nào trong quá trình tuyệt thực cũng có thể tuyên bố ngưng tuyệt thực vì lí do sức khỏe hoặc lí do khác.

Về trang phục: Quý anh chị em tham gia vui lòng ăn mặc lịch sự, trang nghiêm. Chúng tôi khuyến khích việc mặc áo trắng với biểu tượng của phong trào We Are One: nhanquyen2015.net.

Khi tham gia Tổng Tuyệt Thực, các thành viên nên mang theo nước uống, mũ che nắng, giấy tờ tùy thân, điện thoại để liên lạc khi cần thiết. Các thành viên cần giữ trật tự, tuân thủ nội quy nhà thờ, không xả rác bừa bãi.

Sau 21h, nhà thờ đóng cửa, các Tuyệt Thực Viên sẽ về nghỉ ngơi tại gia và tiếp tục tuyệt thực tới 8h sáng ngày hôm sau.
Tuyệt thực tập thể là một hành động bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa, vì vậy chúng tôi không tán đồng các hành động gây rối, làm mất trật tự công cộng, xâm phạm tới quyền tự do cá nhân hợp pháp của công dân.

Thông báo này đồng thời cũng được gửi tới cho các Uỷ ban bảo vệ nhân quyền Liên Hiệp Quốc, các tòa đại sứ của các nước tại Việt Nam, các cơ quan quốc tế hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, các trang mạng xã hội và nhiều cơ quan truyền thông quốc tế để quan sát.

Mọi thông tin, hình ảnh về ngày Tổng Tuyệt Thực xin được gửi về cho chúng tôi qua địa chỉ:
Email: HRforVN2015@gmail.com
Web: nhanquyen2015.net
Facebook: Tổng Tuyệt Thực Toàn Cầu 25/7/2015
https://www.facebook.com/tongtuyetthuc1?fref=ts
Skype: (bổ sung)
Cám ơn sự quan tâm và đồng hành của quý vị.

We Are One. Chúng ta là Một!

Tập thể những Tuyệt thực viên Ngày Tổng Tuyệt Thực Toàn Cầu tại Sài Gòn.

Tổng Tuyệt Thực Toàn Cầu 25/7/2015

Community

1,462 likes
 https://m.facebook.com/nhanquyen2015.net?_rdr

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Công đoàn là của ai?

Posted by hoangtran204 on 25/07/2015

Tư duy của các nhà lãnh đạo đang dần phải thay đổi; mừng vì một tờ báo Nhà nước có thể đưa vấn đề này lên. Thật nực cười khi, chỉ khi chịu sức ép của “các nước tư bản”, “đảng của giai cấp công nhân” mới (có thể) thừa nhận các quyền căn bản của công nhân. Tôi đã từng nói với một nhân vật quan trọng trong Đoàn đàm phán TPP: “Anh nên nhớ, nếu đàm phán mà anh thua nghĩa là người dân Việt Nam thắng”. (Truong Huy San)

Công đoàn là của ai?

thesaigontimes.vn

Tư Giang

24-7-2015

Trên thế giới, một tổ chức công đoàn hoạt động độc lập để tập trung chủ yếu vào vai trò đại diện cho lợi ích của người lao động luôn được đề cao. Trong ảnh: Công nhân tại một khu công nghiệp ở Bình Dương giời tan ca. Ảnh: TUỆ DOANH

(TBKTSG) – Số lượng các cuộc đình công tăng mạnh vào những năm 2000, đạt con số trên 900 cuộc vào năm 2011, theo Ngân hàng Thế giới. Đây là một biểu hiện của những điểm yếu trong hệ thống quan hệ lao động tại Việt Nam.

Ông Thang Văn Phúc vẫn còn nhớ như in một trải nghiệm khi đi thăm Ý lúc còn làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Lần đó, ông và phái đoàn Việt Nam đến làm việc với một quan chức cao cấp trong Chính phủ Ý. Đang trao đổi, vị quan chức Ý xin dừng cuộc gặp và xin đoàn Việt Nam chờ. Một tiếng sau, ông quay lại, xin lỗi và giải thích là phải gặp đại diện một tổ chức công đoàn ngay lập tức. Kể lại câu chuyện trên, ông nói: “Họ coi tổ chức của người lao động rất quan trọng, chứ không như ta đâu. Tất cả các doanh nghiệp phải có tổ chức công đoàn để thiết lập cơ chế trao đổi tiếng nói giữa ba bên là nhà nước, giới chủ và người lao động”.

Câu chuyện của nguyên thứ trưởng được kể lại trong hoàn cảnh ngày càng có nhiều tiếng nói đề nghị thay đổi hệ thống quan hệ lao động để tương thích với nền kinh tế thị trường mà Việt Nam theo đuổi. Số lượng các cuộc đình công tăng mạnh vào những năm 2000, đạt con số trên 900 cuộc vào năm 2011, theo Ngân hàng Thế giới. Đây là một biểu hiện của những điểm yếu trong hệ thống quan hệ lao động tại Việt Nam.

Trong một báo cáo về chủ đề lao động được công bố hôm thứ Hai đầu tuần, Ngân hàng Thế giới khuyến nghị rằng, về dài hạn, các tổ chức công đoàn sẽ hoạt động độc lập để tập trung chủ yếu vào vai trò đại diện cho lợi ích của người lao động. 

Đề xuất của báo cáo do Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa, đứng đầu được đưa ra ngay sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ cam kết tiến tới khuôn khổ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Bản Thông cáo chung nhân chuyến thăm lịch sử của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Washington gần đây nêu rõ điều này: “Việt Nam và Hoa Kỳ mong đợi phối hợp chặt chẽ với các bên tham gia đàm phán khác để hoàn tất sớm nhất có thể TPP toàn diện, nhiều kỳ vọng và tiến hành những cải cách mà thấy có thể cần thiết nhằm đáp ứng tiêu chuẩn cao của TPP, kể cả khi cần thiết đối với các cam kết liên quan tới tuyên bố của ILO năm 1998 về nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc”.

Đây là một tiến bộ vượt bậc để khỏa lấp dần hai quan điểm khác biệt. Ông Võ Trí Thành, Viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, kể lại: “Tổng thống Hoa Kỳ nói với lãnh đạo Việt Nam về điều này không chỉ một lần. Và chắc chắn chúng ta sẽ phải giải quyết vấn đề này”.

Song, thực tế, những đòi hỏi về điều kiện lao động trong TPP không phải là vấn đề mới. Ông Thành giải thích: “Hoa Kỳ nói rất rõ yêu cầu trong TPP về lao động chính là tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam là một thành viên. Chúng ta phải nỗ lực thực hiện đầy đủ những cam kết, những nguyên tắc về vấn đề công đoàn, cải thiện điều kiện cho người lao động, và về bản chất không phải Hoa Kỳ áp đặt”.

Theo ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại, ILO có hàng loạt tiêu chuẩn về lao động và công đoàn được nhắc lại trong TPP. Trong số đó, đáng chú ý nhất là nhóm công nhân cơ sở có quyền tự do thành lập công đoàn; các công đoàn cơ sở có quyền tự do liên kết hay không liên kết; cán bộ quản lý doanh nghiệp không được quyền tham gia vào ban chấp hành công đoàn; công đoàn cơ sở được độc lập trong hoạt động nội bộ và quản lý tài sản;… Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn, theo ông Tuyển. Tuy nhiên, ông cho rằng, Việt Nam với tư cách là thành viên cần tuân thủ quy chế của ILO.

Theo ông Phúc, những vận động gần đây như đổi tên thành Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam để trở thành tập hợp của các liên đoàn ngành nghề như công đoàn đường sắt, liên đoàn ngành thép,… là “bước tiến tới”. Cách đây ba năm, ông Phúc đã xuất bản một nghiên cứu khoa học của Bộ Nội vụ, trong đó, ông đề xuất rằng, Việt Nam cần đổi mới tổ chức hoạt động công đoàn vì Việt Nam không chỉ có doanh nghiệp nhà nước khi xây dựng kinh tế thị trường, bên cạnh các quyền khác của người dân như tự do lập hội, tự do tham gia hội.

Ông nói: “Chúng tôi từng đề xuất như thế và tôi tin nhận thức của chúng ta dần dần như thế. Chúng ta thực hành kinh tế thị trường, đảm bảo nhà nước pháp quyền thì phải dần dần điều chỉnh, vì không có đường nào khác. Lúc này hay bao giờ còn là câu chuyện, chứ không phải chúng ta không nhận thức được. Công đoàn của chúng ta mới chỉ là mậu dịch quốc doanh thôi, chứ chưa phải là đại diện thật cho người lao động. Phải trả về đúng vị trí cho người lao động”.

Có hàng vạn hội

Theo một nghiên cứu của Bộ Nội vụ, số lượng các tổ chức hội, tổ chức phi chính phủ ngành càng tăng nhanh đặc biệt là sau đổi mới. Hiện nay cả nước có 500 hội cấp trung ương; 4.000 hội cấp tỉnh, thành phố; và 10.000 hội cấp huyện, xã. Hà Nội có hơn 500 hội, TPHCM có gần 600 hội, Đà Nẵng có 445 hội.
Cả nước có 1.800 tổ chức phi chính phủ là các tổ chức nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, bảo vệ môi trường, giáo dục đào tạo, y tế. Riêng Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam có 600 đơn vị. Hiện nay có 150 hiệp hội kinh tế như Vasep, Hiệp hội Lương thực…

Ông Thang Văn Phúc cho biết, bản thân ông đã soạn thảo 10 lần dự thảo về luật hội, và đến nay bản dự thảo đã là thứ 14, song sẽ chỉ được xem xét tại Quốc hội khóa tới.

“Tôi cho là chậm còn hơn không. Nhà nước không ban hành luật cho một mảng xã hội rộng lớn như thế này là một lỗi. Không thể quản lý bằng sắc lệnh, hay nghị định được”, ông nói.

Theo ông Lã Khánh Tùng, giảng viên khoa Luật, Đại học Luật Quốc gia, các văn bản pháp lý về hội của Việt Nam bao gồm Sắc lệnh số 102/SL/L004 ban hành năm 1957, và Nghị định số 45 của Chính phủ ban hành năm 2010. Trong khi đó, dự thảo luật về hội có quá nhiều thủ tục rườm rà, và can thiệp quá sâu vào tổ chức, hoạt động của hội.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Cong Nhan Viet Nam, Quyền tự do lập Hội | 13 Comments »

►Nhiệt điện than và sinh mạng con người

Posted by hoangtran204 on 24/07/2015

Hoàng Sơn

Thứ Ba,  21/7/2015

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận – Ảnh: Minh Thùy.

(TBKTSG Online) – Những xung đột giữa nhiệt điện than và cuộc sống đã từng bước bộc lộ, mà một điểm nhấn là chuyện người dân ở Bình Thuận mới đây kéo ra đường phản đối ô nhiễm gây ra bởi nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2.

Nhưng câu chuyện ô nhiễm ở Vĩnh Tân 2 có lẽ mới chỉ là một “khúc dạo đầu” của một “vũ điệu tử thần” khi mà nhiệt điện than mới chỉ ở trong giai đoạn đầu phát triển tại Việt Nam. Viễn cảnh của 10 hoặc 15 năm tới mới thật sự là “mịt mù tro bụi” nếu không có sự điều chỉnh, đổi thay ngay từ lúc này.

Những người quan tâm hẳn là phải thảng thốt giật mình trước những dữ liệu được nêu ra tại hội thảo “Cơ hội và thách thức phát triển nguồn điện ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)” được tổ chức ngày 17-7 tại Cần Thơ.

Các nhà máy chết chóc

Bà Hoàng Thanh Bình thuộc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh (Green ID) cảnh báo tại hội thảo rằng việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường và đời sống của người dân, và nhấn mạnh rằng “việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than tác động đến hệ sinh thái, sản xuất nông nghiệp, các công trình xây dựng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.”

Số liệu được Green ID công bố cho thấy việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than sẽ thải ra một lượng tro xỉ khồng lồ, ước khoảng 14,8 triệu tấn mỗi năm từ năm 2020 và lên đến 29,1 triệu tấn mỗi năm từ năm 2030. Đó là một vấn nạn môi trường khổng lồ.

Ông Trần Đình Sính, Phó giám đốc Green ID, dẫn báo cáo Công trình nghiên cứu của nhóm mô hình hóa học khí quyển thuộc Trường Đại học Harvard, cho thấy số người chết sớm liên quan đến nhiệt điện than vào năm 2010 trên toàn thế giới là 3,2 triệu người, trong đó ở Việt Nam là 31.000 người và riêng ĐBSCL là 8.000 người.

Nếu con số định lượng này được xác thực, thì số người chết vì nhiệt điện than hàng năm cao gấp hơn ba lần số người chết vì tai nạn giao thông, chưa kể kèm theo đó là chi phí y tế khổng lồ do suy giảm về sức khỏe nơi các nạn nhân.

Nhiệt điện than đang là một vấn đề toàn cầu, và giải pháp ở các nước phát triển là từng bước loại bỏ chúng vì những thiệt hại quá lớn so với lợi ích.

Ngay tại Mỹ, nước có trình độ khoa học – kỹ thuật hàng đầu và các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với tình trạng gây ô nhiễm, nhiệt điện than vẫn đang gây ra khá nhiều hệ lụy.

Một báo cáo của Nhóm Công tác về Khí quyển Hoa Kỳ (Clean Air Task Force) ước tính rằng riêng tại nước này, ô nhiễm không khí do nhiệt điện than trong năm 2010 gây ra 13.000 cái chết sớm, 20.000 người mắc bệnh tim, mất 1,6 triệu ngày công do ốm đau, và tổng thiệt hại tính bằng tiền là hơn 100 tỉ đô-la Mỹ hàng năm. (http://www.rmi.org/RFGraph-health_effects_from_US_power_plant_emissions)

Ở một góc nhìn khác, ông James Hansen, nguyên Giám đốc Viện nghiên cứu Không gian Goddard thuộc Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), cảnh báo rằng nhiệt điện than là một tác nhân lớn gây biến đổi khí hậu, và cần phải sớm đóng cửa các nhà máy chết chóc này. Trong một bài báo đăng trên tờ The Guardian của Anh, nhà khoa học này nhấn mạnh rằng khí hậu đang đi đến điểm mất cân bằng, và các hậu quả do các nhà máy nhiệt điện than gây ra sẽ vượt ngưỡng phục hồi nếu không có giải pháp tức thời. “Than là mối đe dọa đơn lẻ lớn nhất đối với nền văn minh và toàn bộ sự sống trên trái đất,” ông viết trên bài báo của mình nhằm kêu gọi mọi người – trước hết là những nhà chính trị – thay đổi nhận thức để tránh thảm họa đang đến.

Trở lại với cuộc hội thảo tại Cần Thơ nói trên, ông Lâm Thanh Hùng, Phó giám đốc Sở Công Thương Kiên Giang, đặt vấn đề: “Nhiệt điện than tuy có điều kiện phát triển, nhưng qua phân tích của một số nhà chuyên môn, nó là mối đe dọa, thế giới đang bỏ dần. Như vậy, tại sao chúng ta lại đi theo điện than mà không tìm giải pháp phát triển điện khí, điện sinh khối, điện gió hay điện mặt trời?”

Câu trả lời có vẻ là “đã đâm lao phải theo lao.”

Ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm năng lượng thuộc Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), cho rằng sau khi xem xét các vấn đề có liên quan và cả dự báo giá than nhập khẩu thời gian tới, thì nhiệt điện than vẫn là ưu tiên.

Theo Tổng sơ đồ điện VII được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7-2011 thì trong cơ cấu năng lượng của Việt Nam, nhiệt điện than được quy hoạch ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Cụ thể, nhiệt điện than sẽ có tổng công suất là 36.000MW vào năm 2020, chiếm tỷ trọng 46,8%, nhưng sẽ tăng lên 75.000MW vào năm 2030, với tỷ trọng 56,4%.

Viễn cảnh này được ông Trần Đình Sính, Phó giám đốc Green ID, cảnh báo tại hội thảo rằng “số người chết sớm sẽ còn tăng rất nhanh, nếu các nhà máy nhiệt điện than khác nằm trong quy hoạch được xây dựng lên.”

Nhưng viễn cảnh đó có vẻ khó thay đổi khi ông Cường của Bộ Công Thương khẳng định rằng “chúng ta phải phát triển nhiệt điện than bởi không có cách nào khác.”

Có còn lựa chọn nào khác?

Khai thác thủy điện ở Việt Nam, theo nhiều nhà khoa học, đã tới ngưỡng, và khó có thể gia tăng trong những năm tới, và một lựa chọn khác hiện nay là phát triển các nhà máy điện hạt nhân với hai dự án đầu tiên đang được xúc tiến tại Ninh Thuận. Về các nguồn năng lượng tái tạo như điện sinh khối, điện gió, năng lượng mặt trời…, ông Cường cho rằng không khả thi vì chi phí cao.

“Đối với điện mặt trời, lắp đặt 1MW cần khoảng 15-18 héc ta đất, rất tốn kém,” ông dẫn chứng, và nói thêm rằng với điện gió thì hiện mới có ba dự án với công suất 32 MW, cho nên nếu đi theo hướng này sẽ không thể nào đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế được.

     [Theo Tran Hoang,  ông   Cường   dẫn chứng sai.  Hiện  nay,  đối với điện mặt trời, lắp đặt 1MW cần khoảng 1 héc ta đất,  và rất  ít  tốn kém. Gia 4 xu / 1 kwh (USA)

1 hecta = 2,47 acres ( acre = mẫu Anh )

1 Gw = 1000 Mw

1 Gwh = 1000 Mwh

Nguồn:

http://www.energymanagertoday.com/it-takes-2-8-acres-of-land-to-generate-1gwh-of-solar-energy-per-year-says-nrel-094185/  

Căn cứ theo Tổng sơ đồ điện VII nêu trên, điện sinh khối và điện gió đến năm 2020 được quy hoạch với công suất lần lượt là 500MW và 1.000MW và đến năm 2030, các con số tương ứng cũng chỉ dừng ở mức khiêm tốn là 2.000MW và 6.200MW. Rõ ràng, điện gió cộng với điện sinh khối, vốn được xem là có tiềm năng lớn ở Việt Nam, đã gần như bị “loại khỏi cuộc chơi” trong Tổng sơ đồ điện VII, khi chỉ chiếm tỷ trọng chung khiêm tốn là 6% vào năm 2030 do “chi phí cao.”

Tuy nhiên, thực tế ở một số nước phát triển cho thấy điện gió đang ngày càng rẻ và có thể cạnh tranh song phẳng với nhiệt điện, tùy cách làm và cách nhìn.

Chi phí đầu tư ban đầu của điện gió là khá cao do phải đầu tư đồng bộ nhiều loại thiết bị đắt tiền như turbine, cánh quạt gió, trụ điện… nhưng nhìn tổng thể chiều dài dự án trên 20 năm, thì chi phí lại không quá lớn vì không hao tốn nhiên liệu, trong khi chế độ bảo trì cũng ít tốn kém hơn các nhà máy nhiện điện chạy khí hay chạy than.

Ở các nền kinh tế có mức lãi suất ổn định ở mức thấp thì việc tìm kiếm nguồn tín dụng dài hạn đầu tư cho điện gió không phải là vấn đề. Lãi suất thương mại ở Việt Nam cao, nhưng thiết nghĩ vẫn có thể tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nước ngoài thông qua một cơ chế huy động vốn và bảo lãnh phù hợp.

Giá thành điện gió tại New Zealand chẳng hạn dao động từ 6,5 xu Mỹ (US cent) tới 12 xu/kWh tùy vùng nhiều gió hay ít gió, khoảng cách đến khu dân cư…, và được xem là một trong những loại hình phát điện rẻ nhất ở đất nước này, và chi phí này được dự báo sẽ càng xuống thấp do công nghệ điện gió phát triển (http://www.windenergy.org.nz/the-cost-of-wind-energy).

Trong khi đó, tại Mỹ, phát triển điện gió hiện nay đã rẻ hơn so với điện từ khí đốt, từ than hoặc từ năng lượng hạt nhân, theo một báo cáo năm 2014 của tập đoàn đầu tư Mỹ Lazard (http://windfacts.ca/affordable-power). Theo Báo cáo thị trường công nghệ điện gió 2012 của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, giá điện gió căn cứ vào các hợp đồng mua bán điện đã giảm xuống chỉ còn 4 cent/kWh, một mức giá hoàn toàn cạnh tranh đối với thậm chí mặt bằng giá ở Việt Nam (http://www.awea.org/Resources/Content.aspx?ItemNumber=5547).

Báo Newsweek trong một bài ý kiến ngày 21-4-2015 nhận định rằng điện gió là một lĩnh vực công nghệ, và trong lĩnh vực công nghệ, chi phí sẽ ngày càng giảm, trong khi trong những ngành khai thác tài nguyên (như nhiệt điện than), chi phí sẽ ngày càng tăng do tài nguyên ngày càng khan hiếm.

Cần mạnh dạn điều chỉnh quy hoạch

Tiềm năng điện gió ở Việt Nam được các chuyên gia đánh giá là rất cao, trong khi tài nguyên như than thì ngày càng cạn kiệt và sẽ phải lệ thuộc vào nhập khẩu.

Tại một hội thảo vào tháng 5-2015 về năng lượng, các chuyên gia và nhà đầu tư đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều thuận lợi nhất trong khu vực để phát triển nguồn năng lượng tái tạo từ sức gió, năng lượng mặt trời, rác thải… Về gió, Việt Nam có gần 3.400km bờ biển có thuận lợi lớn, trong khi nguồn năng lượng mặt trời với lượng bức xạ nắng trung bình 5 kWh/mét vuông/ngày trên khắp cả nước. Tổng tiềm năng lượng sinh khối của Việt Nam vào khoảng 73 triệu tấn/năm, và nếu tận dụng các nguồn sinh khối này để phát điện thì công suất điện ước tính có thể lên tới 5.000MW.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), tiềm năng năng lượng gió tại Việt Nam cao hơn rất nhiều quốc gia khác tại khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, và Campuchia.

Một cuộc khảo sát, đo đạc, phân tích và xác minh của WB cho biết Việt Nam có năng lực để sản xuất đến hơn 513.000 MW điện gió hàng năm. Thế nhưng, như đã đề cập ở trên, Tổng sơ đồ điện VII chỉ đề ra chỉ tiêu khai thác 6.200MW vào năm 2030, và nếu thế thì Việt Nam đang lãng phí một nguồn tài nguyên tái tạo lớn với chi phí khai thác đang ngày càng rẻ.

Nếu quy hoạch là nhằm vạch ra một lộ trình cho phát triển, thì điều chỉnh quy hoạch là nhằm làm cho quá trình phát triển bám sát với thực tiễn, hạn chế đến mức thấp nhất những xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển. Điều chỉnh lại Tổng sơ đồ điện VII, thiết nghĩ, là một yêu cầu chính đáng, nhằm tìm giải pháp tăng tối đa nguồn điện gió, đồng thời hạn chế các tác hại khủng khiếp sẽ xảy đến từ nhiệt điện than. Không thể vì sự dễ dàng trước mắt của nhiệt điện than mà bỏ qua sự an toàn đối với cuộc sống của con người.

Xem thêm:

Từ vụ nhiệt điện Vĩnh Tân 2: Cảnh báo những quả bom nổ chậm khắp Việt Nam!

Nhiệt điện chạy than, hiểm hoạ bùn xám và giải pháp

1 hecta = 2,47 acres

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »