Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2012

Quyết tâm đạt đến cái đích mà cả đảng không ai biết

Posted by hoangtran204 trên 28/05/2012

Lời Tựa: Điều quan trong nhất mà báo chí, tài liệu lý luận, nghị quyết,…của đảng thường nhắc tới là: mục tiêu của cả nước VN là phấn đấu tiến lên xhcn, tiến lên chủ nghĩa cộng sản…

Nhưng khi có người thắc mắc hỏi chủ nghĩa CS nó ra làm sao? dài méo, vuông tròn, mùi vị của “nó” như thế nào? Có ai, có nước nào từng đạt, từng tiến đến và sống trong chủ nghĩa CS chưa…thì các đảng viên cộng sản bắt đầu cà lăm, ú ớ và ngọng miệng. 

Tất cả các đảng viên đều không thể trả lời được câu hỏi đơn giản ấy. Bù lại, họ sẽ lôi ra một loạt các lời mô tả về chủ nghĩa cộng sản một cách rất trừu tượng, trái ngược với bản chất ăn thua cố hữu và tính thực tế của người đảng viên đảng CS.

Blogger  Đinh Tấn Lực đã trích các bài viết của chính các nhà lãnh đạo của đảng, của các tác giả viết về các lãnh tụ của đảng CSVN và đưa ra các phân tích rất hay :

Quyết tâm đạt đến cái đích mà cả đảng không ai biết

Tác giả; Đinh Tấn Lực

danluan_00276_0.jpg
Cách đây 5 năm, trên Yahoo!Việt Nam Hỏi & Đáp có người nêu một câu hỏi cứ tưởng đâu ngô nghê ngờ nghệch:“Tại sao gọi là tranh trừu tượng?”.Lời đáp hay nhất, do chính người đặt câu hỏi bình chọn, như sau:
“Màu sắc là tiếng nói trực tiếp, trào tuôn từ tâm (hồn) người nghệ sĩ, không qua trung gian của lý trí mà tranh trừu tượng là điển hình. Những nét chấm phá đậm lợt là một thứ ngôn ngữ vô thanh, âm hưởng vào lòng người thưởng ngoạn tùy theo mức độ tâm thức, tạo nên những rung cảm khác nhau, do đó cái nhìn cũng khác nhau.
Cùng một bức tranh, mỗi người nhìn và cảm khác nhau, thật là kỳ diệu!Phần đông, khi xem tranh trừu tượng người ta đều không hiểu, bởi cách đặt vấn đề sai, bao giờ cũng nghĩ tranh là phải vẽ một cái gì đấy cụ thể. Họ không biết rằng các họa sĩ thường vẽ bằng cảm giác, vì vậy, mỗi khi xem tranh trừu tượng mọi người đừng quá cầu kỳ, hãy nghĩ giản đơn và trong sáng như một đứa trẻ, khi đó những nét đẹp sẽ toát ra từ các bức tranh trừu tượng”.

Người trả lời có ghi trích nguồn: Theo tạp chí Nghệ Thuật.

Lại có câu trả lời khác, dù không được bình chọn và sắp hạng, nhưng cũng đáng quan tâm:

“…Từ đó nảy sinh nhiều trường phái khác nhau trong tranh trừu tượngTùy thiên hướng của người họa sĩ mà theo 1 trong 2 hướng: + Trọng hình hơn trọng màu: trường phái tả thực, trường phái siêu thực…v..v..+ Trọng màu hơn trọng hình: trường phái dã thú, trường phái lập thể..v..v..”.

À há! Eureka! (Nguyên lý) Đây rồi! (Xin phép các họa sĩ đáng kính,) Thế là rõ:

Chủ Nghĩa Xã Hội của ta là loại bánh ga-tô có đủ cả 5 tính chất nói trên: Trừu tượng, Tả thực, Siêu thực, Lập thể, và, dễ nhận dạng nhất: Dã thú.

Vì sao à?

*Tạp chí Học Tập, số 35, tường thuật bài phát biểu của Hồ Chí Minh trong Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ II tại Việt Bắc, vào tháng 3 năm 1951, có đoạn như sau: Hồ Chí Minh chỉ hình 3 ông trên vách vừa nói.

“Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)(Đại hội vỗ tay vang dậy)
Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tư lệnh là ông kia kìa.(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: STALINE) (Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)(Đồng chí Staline muôn năm!)…”

Té ra, rõ ràng, cái Chủ Nghĩa Xã Hội mà Hồ Chí Minh đánh giá là cách mạng nhất, sáng suốt nhất, chính là một bức tranh trừu tượng của người khác.

Mà ngay cả tác giả của bức tranh trừu tượng đó cũng không hề coi ra gì đám xem tranh, cho dù là họ đang nức lòng chỉ tay hướng mặt về bức hình tác giả:

“Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ, khi hai người cùng công tác ở Liên Xô: Năm 1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí ”. (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh).

Đã vậy,

“…Khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc có đưa ra một văn bản gọi là Chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hóa được).
Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn Ái Quốc đi, thay bằng Luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa, và đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hóa Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam”. (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh). (nguồn) đọc trực tiếp từ trang 1-303; (nguồn download)

Mà, coi nào, trong Chính Cương, Hồ Chí Minh đã viết những gì gọi là cốt lõi?

“Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, (thanh niên, Tân Việt, phái Nguyễn An Ninh v.v…) để kéo họ đi về phe giai cấp vô sản.
Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam thì phải lợi dụng, ít nữa làm cho họ trung lập.
Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến v.v…) thì phải đánh đổ. Trong khi liên lạc tạm thời với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường lối thỏa hiệp”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, trang 297).

Nghị quyết 6 của Trung ương đảng tháng11/1939 đề ra khẩu hiệu “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên”, và cả đảng có sứ mệnh phải “Dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”.

Sắt máu tới vậy mà vẫn chưa vừa bụng Stalin!

Có nghĩa rằng tác giả bức tranh trừu tượng XHCN, kiêm Tổng tư lệnh nói trên, không đánh giá ngược rằng tay thưởng ngoạn như Hồ có đủ tầm xứng đáng để thưởng ngoạn.

Vậy thì, làm sao biết được Chủ Nghĩa Xã Hội đó tròn méo ra sao, và làm sao tin nổi cái mà hắn đã từng cả đời ba hoa mô tả lại rằng nó đẹp lắm, cách mạng nhất, sáng suốt nhất?

Thêm một chi tiết khác:

“Ngày 16-9-1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn được ông giữ cẩn thận. Ngày 14-9-1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt, Trưởng ban Tổ chức Triển lãm Cải cách Ruộng đất tại phố Bích Câu: ‘Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm được thì dùng’. Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bày ở phòng ‘Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông Dương’…”. (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh).

Tức là, đối với giới thưởng ngoạn cấp 2, ngọn đuốc soi đường cho họ không hẳn là bức tranh trừu tượng CNXH của ba ông/bốn bà nào sất, mà (thảm thay,) chỉ là mấy bài thơ trong tù của người xem tranh cấp 1.

Chẳng nghi ngờ gì thêm nữa. Gia tài của Hồ Chí Minh chỉ có thế.

Còn, CNXH của Hồ, với tính thật thà nói trên, hẳn phải là loại ga-tô tả thực?

*Lê Duẩn, người Bích La thôn, Quảng Trị, nổi tiếng trong 3 năm đổi đảng 3 lần: 1928 – Tân Việt Cách Mạng đảng; 1929 – VN Thanh Niên Cách Mạng Đồng Minh hội; 1930 – Đông Dương Cộng Sản đảng.

Đến 1951, Lê Duẩn vào BCH/TW và Bộ chính trị, ngay trong đại hội toàn đảng kỳ II.

Có người bảo uy tín của Lê Duẩn bấy giờ, vượt mặt Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phần lớn là nhờ vào “bằng cấp” ở tù dài hạn và nhiều lần, y hệt như ý tứ ẩn dụ của người bày quyển Nhật kí trong tù vào phòng triển lãm Ngọn đuốc soi đường… vừa kể.

Lại có người khẳng định uy tín đó có được là bởi niềm tin son sắt của Lê Duẩn vào phương thức phát triển Xô viết và các nguyên tắc kiểu Stalin hứa hẹn phù hợp mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa XHCN bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. (đến tận năm nay là 2012, liệu VN có nền công nghiệp nặng chưa? Cái sên xe đạp, con ốc đạt chất lượng là thuộc ngành công nghiệp nhẹ mà còn chưa làm được, thì công nghiệp nặng VN cũng không có. Công nghiệp nặng  như ngành chế tạo xe hơi, xe dùng trong xây dựng, nông nghiệp, ngành xây dựng cao ốc, cầu đường,  sản suất các máy móc dùng trong kỹ nghệ, các hãng chế tạo hóa chất…mà các tập đoàn của Nhật và Nam Hàn là các thí dụ nguốn phần chữ màu nâu là củaTrần Hoàng thêm vào)

Từ đại hội IV (1976), Lê Duẩn giữ chức Tổng bí thư đảng cho tới chết (1986), với dấu ấn đậm màu về cuộc thanh trừng “chủ nghĩa xét lại hiện đại” long trời lở đất, và được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên dương là “ngọn đèn 200 nến”.

“Giống như Mao và Stalin, Lê Duẩn khao khát quyền lực tuyệt đối. Thông qua việc cô lập ông Hồ, ông Giáp và các đồng minh của họ trong đảng, Lê Duẩn đã thiết lập một bộ máy lãnh đạo ở Hà Nội không chỉ trung thành mà còn chung quyết tâm hoàn tất các mục tiêu cách mạng”. (Pierre Asselin).

Tác phẩm “để đời” của Lê Duẩn, ngoài vụ án “xét lại/chống đảng”, chính là bản Đề Cương Cách Mạng Miền Nam (1956 – hợp thức hóa 1959 – một giai đoạn mà Trần Văn Giàu đánh giá là đen tối nhất của CSVN).

“Trong Đề cương, anh Lê Duẩn sớm nêu lên ý tưởng sâu sắc sử dụng bạo lực cách mạng cùng với ý tưởng tập hợp toàn thể các tầng lớp nhân dân, ý tưởng tổng khởi nghĩa giành chính quyền để giải phóng miền Nam. (Hoàng Tùng).

Cụ thể ra, Võ Văn Kiệt phục Lê Duẩn ở 3 công trình trọng điểm: Xua quân dàn trận Mậu Thân, trận Đường 9 Nam Lào, và trận Cổ Thành Quảng Trị.

Hai công trình phụ trội của Lê Duẩn mà Võ Văn Kiệt không dám nhắc là trận đánh chiếm Nam Vang/Siêm Rệp và trận phản công Cao Bằng/Lạng Sơn. Rất tiếc là các công trình đó không đạt yêu cầu, trong lúc toàn dân phải cắn răng đánh đổi bằng nhiều vạn bộ đội con em của họ.

Ngược lại, về mặt tư tưởng, có thể vinh danh là một phiên bản CNXH, họa sĩ Lê Duẩn cũng có tác phẩm để đời:

“Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước ‘chuyên chính vô sản’ khi mà nhân dân đã giành được quyền làm chủ đất nước bằng những hy sinh không sao kể xiết. Không thể ‘vô sản’ lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về ‘Làm Chủ Tập Thể’ mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân”.(Võ Văn Kiệt).

Cốt lõi là vậy, chi tiết thế nào?

“Có thể tóm tắt một số ý để minh chứng những suy nghĩ đó của Anh:

  • Dân chủ đến mức thực sự nhân dân làm chủ, con người làm chủ tập thể.
  • Phát huy dân tộc và phát huy cá nhân từng người.
  • Vận dụng thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội…
  • Quá trình tạo dựng xã hội mới là quá trình nảy sinh chứ không phải chỉ là quá độ.
  • Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế…
  • Cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt…
  • Phải vươn lên văn hóa và tri thức tiên tiến…
  • Bảo vệ Tổ quốc, giữ vững quốc phòng và an ninh bằng lòng dân, sức dân…
  • Đảng lãnh đạo, Đảng không cai trị, Đảng phát huy Nhà nước là công cụ chủ yếu, sắc bén nhất để dân làm chủ.
  • Đảng viên nhất thiết không được quan liêu, sách nhiễu và ăn cắp của dân. Đưa ngay những kẻ như vậy ra khỏi Đảng.
  • Con người Việt Nam là con người của lẽ phải và tình thương, tình thương và lẽ phải”

. (Võ Văn Kiệt).

Trên thực tế, qua nhận xét của một học giả nước ngoài:

“Niềm tin rằng phong trào cách mạng quan trọng hơn mọi quyền lợi cá nhân đã dẫn tới sự coi thường quyền và lợi ích của nhân dân, và thường trở thành lý cớ cho việc lạm dụng quyền lực của những cán bộ, những người coi thường quy tắc pháp trị tư sản, và cho rằng mục tiêu cách mạng có thể biện minh cho phương pháp”. (Pierre Asselin).

Với tư duy Làm Chủ Tập Thể này, được coi là tư tưởng cốt lõi về CNXH của Lê Duẩn, chỉ ¼ thế kỷ sau khi Lê Duẩn đi dự hội nghị với Mác, đảng viên CSVN đã tự động lật ngược điều áp chót vừa nói, để chia đất/giành đất/cướp đất, bằng một tác phẩm mới cáu là “giải phóng mặt bằng”, và tự biến thành những triệu phú, thậm chí cả tỷ phú đỏ đít.

Ai làm chủ tập thể? Chắc chắn không phải dân:

“Tôi vẫn nhớ, có lần trong những năm 60, trong một cuộc họp ở Đồ Sơn, Anh đã nổi nóng với Chính phủ: ‘Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi…’. Anh Tô (Phạm Văn Đồng) không nói một lời”. (Trần Phương – VNeconomy.vn 06/12/2009).

Năm 1976, Lê Duẩn hồ hởi tuyên bố: Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh. (Chao ôi! Đúng là kẻ điên rồ hoang tưởng. Ở miền Nam trước 1975, nhà nhà đã có 3 thứ này, kèm thêm truyền hình, xe Honda, và kể cả xe hơi. Vào google gõ chữ hình ảnh Sài Gòn trước 1975 sẽ thấy. Dân nghèo thường là các đồng bào ở các vùng có Việt Cộng tới phá hoại, lùng bắt dân đi theo chúng, đặt mìn trên các đường lộ,…dân sợ quá, bỏ trốn chạy lên thành phố lớn, ở tạm)

Năm 1986, ngay lúc hấp hối, vào giai đoạn đen tối nhất của kinh tế VN, Lê Duẩn đã thiết tha lệnh cho Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch nhà nước là bằng mọi cách, “nhân dân thủ đô Hà Nội phải có dự trữ gạo đủ 2 tháng ăn”. Nhớ là chỉ riêng nhân dân Hà Nội!

Đã có một vài học giả đồng ý với nhận xét: Những thay đổi ngay sau năm 1986 ở Việt Nam, khi Lê Duẩn chuyển sang từ trần, cũng có thể được xem là tương tự giai đoạn “tan băng” ở Liên Xô sau khi Stalin qua đời. Nghĩa là chấm dứt một thời kỳ thổ tả thượng hạng ngoại hạng.

Còn trong nội bộ đảng?

“Sau khi Lê Duẩn qua đời, những người lãnh đạo đất nước, những người trước đó đã ca ngợi Lê Duẩn (hay) không dám hé răng nói một lời xấu về Lê Duẩn, đã cố ý hay vô tình để cho chiến dịch bôi nhọ và phủ định Lê Duẩn ngày càng qui mô hơn”. (Trần Quỳnh, nguyên thư ký riêng của Lê Duẩn).

Tức là đảng viên chỉ phải khen lúc sống, sau đó quá mừng vì đã cất gánh nặng về một chế độ Stalin ngay trong nội bộ đảng:

“Lê Duẩn có kẻ thù ở hầu khắp mọi nơi”. (Pierre Asselin).

Sau cùng, CNXH của Lê Duẩn, với tính nghi ngờ hết thảy mọi người, chính là cha đẻ của truyền thống chia ghế 3 vị trí lãnh đạo theo công thức cân bằng vùng miền, hầu tránh tái diễn một đảng nhỏ cầm quyền đảng lớn có tên là Duẩn-Thọ-Thanh.

“Triều đại Lê Duẩn – Lê Đức Thọ là triều đại thiết lập và khẳng định chuyên chính vô sản, hay nói cho đúng hơn, chuyên chính vô sản lưu manh – Lumpenproletariat… Áp đặt là phép trị dân mang tính chiến lược. Không áp đặt được thì khủng bố”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Lê Duẩn nắm giữ chức Tổng bí thư lâu nhất lịch sử CSVN: 25 năm và 303 ngày. Vào những ngày cuối, lạm phát VN vượt lên mức kỷ lục: 774% (bảy trăm bảy mươi bốn phần trăm).

Phiên bản CNXH của Lê Duẩn chính là chiếc khẩu trang của Liên Xô có in hình 2 chữ S. Chữ S đầu là Stalin. Chữ S sau là lãnh thổ VN. Khi dân bịt vào thì miễn ăn và hết nói. Còn đảng viên bịt vào thì …vô phương nhận diện.

Đó là loại ga-tô CNXH dã thú.

*Nguyễn Văn Linh, gia nhập đảng cộng sản Đông Dương năm 1936, mãi 40 năm sau, tại Đại hội Đảng lần thứ IV thì được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức Trưởng ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương.

Đến đại hội V, Nguyễn Văn Linh rút khỏi TW, nhường chỗ cho Võ Văn Kiệt. Về sau, đương sự giải thích với Võ Trần Chí rằng: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên mình xin rút…”. Các anh ấy, ở đây, chính là mỗi mình Lê Đức Thọ.

Tháng 7 năm 1983, nhân cơ hội Lê Duẩn đi nghỉ mát ở Liên Xô, còn Trường Chinnh, Phạm Văn Đồng và Võ Chí Công nghỉ mát ở Đà Lạt, Nguyễn Văn Linh đã tổ chức cuộc “Hội Nghị Đà Lạt” kéo dài vừa đúng một tuần lễ, trước khi Lê Duẩn hồi giá.

Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Nguyễn Văn Linh được bầu vào BCH/TW, Ủy viên BCT, giữ chức Tổng Bí thư:

“Đại hội VI kết thúc bằng sự lên ngôi của một nhân vật không mấy tiếng tăm là Nguyễn Văn Linh, bí danh Mười Cúc. Câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về hai anh nông dân và con sò được thiên hạ nhắc tới nhiều trong thời kỳ này”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Chính NVL cũng biết rất rõ trận chiến giành ghế giữa Trường Chinh và Lê Đức Thọ thời bấy giờ:

“Anh Nguyễn Văn Linh đã nói nhiều lần ở Hội nghị Trung ương: ‘Tôi có được chuẩn bị làm Tổng Bí thư đâu’, và lúc cần quá, phải đi tìm người, anh Linh ví: ‘Chẳng khác gì cầm bó đóm đi tìm ếch, tìm không được ếch, lại bắt được nhái’…”. (Đoàn Duy Thành – Hồi Ký)

Và không một ai tin chuyện nhái ễnh bụng thành bò:

“Từ năm 1986 đến 1991 trong nhiệm kỳ làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh đã góp phần có ý nghĩa quyết định làm xoay chuyển tình thế, mở đường cho sự nghiệp đổi mới tiến lên. Nhằm khắc phục những bất cập, lạc hậu của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp của Việt Nam, ông đã đưa ra những ý tưởng mới, quan niệm mới, cách làm mới. Kiên quyết làm gương về chống tác phong quan liêu, xa dân, từ bỏ những đặc quyền đặc lợi, ông đã bỏ chế độ lãnh đạo cấp cao đi máy bay chuyên cơ trong nước, đi công tác bằng xe Lada không có máy điều hoà (tiêu chuẩn dùng cho cấp Thứ trưởng); vào Nam ra Bắc đi máy bay chung với mọi người; cắt giảm chế độ bảo vệ an ninh,… ”. (Phạm Quang Nghị, Hồi Ức, 07/01/2010).

Đó là một phần nội dung “đổi mới hay là chết” được trình bày trong Hội nghị Đà Lạt nói trên.

“Trong cuộc đời mình, tôi chưa từng thấy vị lãnh đạo nào dám lội ngược dòng chính trị, ngược dòng lịch sử – lội ngược mà không chìm như anh Nguyễn Văn Linh… Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, đang nằm trong Bộ Chính trị thì đến cuối nhiệm kỳ, anh Linh đã xin rút rồi được phân công trở về làm Bí thư Thành ủy TPHCM vào đúng thời kỳ cam go nhất. Anh đã vực dậy kinh tế TP, trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư. Mọi biến động, thăng trầm trong cuộc đời làm cách mạng, làm chính trị đi ngang qua anh và anh đón nhận tất cả với một thái độ bình thản đến lạ lùng”. (Võ Trần Chí).

Nguyễn Văn Linh còn nổi tiếng với một số bài báo Những Việc Cần Làm Ngay, ký tên N.V.L. đăng trên tờ Nhân Dân.

Bài báo thứ nhì của N.V.L., ngày 26/5/1987, đề cập thẳng đến khái niệm “Im lặng đáng sợ” đối với việc giải quyết thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Cho thấy tính chất makeno của CNXH không phải chỉ mới xuất hiện gần đây.

“Nhà báo phải có tấm lòng cương trực: yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi; ghét kẻ làm xấu, làm sai, làm ác để lên án”. (N.V.L. – Nhân Dân, 24/6/1987).

Khẩu hiệu nổi tiếng thời bấy giờ là: “đổi mới thì sống, không đổi mới thì chết”. Và được các báo tuyên dương là “Người tìm đường trong mớ bòng bong”, “Chứng Nhân của một thời xé rào lịch sử”, “Người CS mẫu mực, sáng tạo”, “Thuyền trưởng đổi mới”, “Người mài sắc ngòi bút báo chí”, “Người dám nhổ cỏ dại cho lúa mọc lên”…

“Tiếc thay, sau khi phấn khởi thổi bùng lên làn gió đổi mới, chính Nguyễn Văn Linh lại bị cảm lạnh bởi chính làn gió ấy”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Tại buổi lễ kỷ niệm lần thứ 10 Quốc khánh Cộng hòa Nhân dân Campuchia, Nguyễn Văn Linh tuyên bố Việt Nam sẽ rút hết quân khỏi Campuchia vào tháng 9/1989. Đây là điều kiện ắt có để thế giới thu hồi lệnh cấm vận kinh tế VN suốt 10 năm qua.

“Năm 1981, khi đồng chí Nguyễn Văn Linh trở về TPHCM làm Bí thư Thành ủy thì kinh tế TP đã xuống đến tận đáy vì không còn tư liệu để sản xuất. Biết tôi có mối quan hệ với một số nhà tư bản người Hoa, anh Mười Cúc phân công tôi đi liên hệ để tìm cách nhập sợi về cứu ngành dệt TP. Bước đầu, chúng tôi nhờ các thương nhân người Hoa mua một số hàng như sợi thuốc lá, sợi dệt, xăng dầu, sau đó đi thu gom các mặt hàng như mực khô, tôm khô, đậu phộng, đồ thêu, sơn mài… để đổi. Giá cả đều tính ra USD và trao đổi bằng hiện vật. Lúc đó, TPHCM là nơi duy nhất của cả nước có USD. Có thể nói, nếu không có sự bảo trợ mạnh tay của lãnh đạo TP mà đứng mũi chịu sào là anh Mười Cúc thì TPHCM khó có thể tháo gỡ được ‘cơn đói’ nguyên liệu sản xuất”. (Lâm Tư Quang).

CNXH, bấy giờ, rõ ràng là đã dị dạng.

Một chuyện nhỏ được chính người trong cuộc kể lại: Sáu Hoa là “đệ tử” của NVL, mua được chiếc mô tô cũ…

“Bữa nọ, thấy Sáu Hoa đang hì hụi lau chùi chiếc mô tô, anh Sáu (bí số của NVL, còn gọi là Mười Cúc) bước tới và nói: ‘Tôi cũng thích cái xe này quá! Chú để tôi đi thử một đoạn đường được không?’. Sáu Hoa phân vân vì loại xe này chạy ra đường rất dễ bị bọn cảnh sát thổi lại để hỏi bằng lái, giấy tờ, mục đích là muốn ăn tiền. Người như anh Sáu mà dây dưa với cảnh sát là không ổn”. (Đoàn Khắc – ghi theo lời kể của ông Phạm Văn Hoa, nguyên cán bộ Cơ quan T78 thuộc Ban Tài chính – Quản trị Trung ương).

Té ra, CNXH thời sinh tử cũng đã coi là bình thường chuyện huơ gậy thu tiền lẻ ngoài phố.

Nó là cái bánh ga-tô trừu tượng nhồi nhân đường thốt nốt, còn được gọi là ga-tô cứu giá.

*Còn, chuyện bạc chẵn, ở mức triệu đô, thì đã có đồng chí Đỗ Mười.

Nguyễn Văn Linh trao lại ngai vàng và cái di sản CNXH mạ vàng vừa nói trong một bối cảnh thế giới vừa vẽ lại bản đồ mà không đổ máu. Bấy giờ, phi liều mạng bất thành tổng bí là ở chỗ đó.

Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, giữ chức Tổng bí thư BCH/TW đảng CSVN từ tháng 6, 1991 đến tháng 12, 1997 (có thể tham khảo thêm tư tưởng và quá trình hoạt động ở đây).

“Mọi người đều biết ông đang dưỡng bệnh. Mà bệnh của ông là bệnh tâm thần, nói nôm na là điên, không ai dám nói chắc (rằng) ông sẽ khỏi. May, ông không la hét om xòm, không đánh trẻ con hay chọc ghẹo đàn bà, không hoa chân múa tay lảm nhảm, chỉ trèo tường leo cây, lúc tỉnh lúc mê, tha thẩn trước cửa nhà”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Không ai rõ có phải vì công năng leo tường và lảm nhảm đó, hay tiên tri được thành quả 91 tuổi vẫn có con mọn, mà Phạm Tiến Duật đã có bài thơ đểu ca ngợi Đỗ Mười: Một trái tim không thể nào già?

Thế nhưng theo Lê Khả Phiêu, thì trong cao điểm chiến tranh, Đỗ Mười đã từng trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường ống dẫn dầu bí mật từ Lạng Sơn vào chiến trường miền Nam, bất chấp kiến thức.

Một người khác, từng là nạn nhân “tru di” của Lê Duẩn, đánh giá Đỗ Mười, như sau:

“Kiên định cách mạng, không sợ gian khổ, tính nết lại thực thà, tiếc cho ông không được học hành nhiều, do đó không cáng đáng nổi những nhiệm vụ cần đến kiến thức”. (Vũ Đình Huỳnh – theo lời kể của Vũ Thư Hiên).

Phải tầm cỡ đó mới dám giương cao khẩu hiệu: “nhiệm vụ kinh tế là trung tâm và nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt” trước 4 nguy cơ đang nhe răng cười nụ với đảng: 1) Tụt hậu; 2) Chệch hướng XHCN; 3) Tham nhũng; và 4) Diễn biến hòa bình. (Các bạn vào google.com, gõ chữ DMC tower, và search, sẽ thấy cao ốc 18 tầng tráng lệ này. DMC là Đỗ Mười Center, do con rễ của ông ĐM đứng tên. Một blogger có nhà ở trong khu vực này đã cho biết lai lịch của tòa cao ốc.)

Vẫn theo lời khen đểu (lại thêm phản biền ngẫu) của Phiêu, người ta còn nhận ra ở Đỗ Mười các tính chất bỗ bã và ba phải:

“Nhưng càng gần anh, càng hiểu anh, tôi càng thấy ở anh là một người nói to, nói lớn nhưng làm nhiều, là một đồng chí lãnh đạo thực sự cầu thị, có lúc anh nói rất căng nhưng khi được nghe trình bày lại một cách cặn kẽ thì anh sẵn sàng thay đổi quan điểm, thay đổi nhận xét cả trong các công việc, cả trong những con người cụ thể. Anh là một người vì lẽ phải, nghe lẽ phải, chính anh là người đóng góp tích cực cho Nghị quyết của Trung ương về xây dựng cơ chế dân chủ cơ sở”. (Lê Khả Phiêu – Đỗ Mười, con người của hành động).

Chỉ riêng một việc nhất quyết không thể ba phải: Đỗ Mười tuyên bố Đảng không thay đổi nhận định đối với vụ “nhóm xét lại chống Đảng”. Và, vẫn còn ngay đó một điều chắc nịch: Đảng là tao!

Hầu hết các tay trùm CSVN đều học được đặc tính chắc nịch đó từ Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, dựa vào yếu tố “khai quốc công thần”. Đỗ Mười có công gì, ngoài việc đề xuất danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng?

“Là người hiền lành, ít nói, chịu nghe lời bề trên. Ông cũng nổi tiếng kiên quyết, đã nói là làm. Với Đảng, ông có công trạng. Chính ông đã kiên quyết đập tan sự ‘trỗi dậy’ của giai cấp tư sản miền Bắc trong cuộc cải tạo công thương nghiệp những năm 1959-1960. Cũng ông đã phá tan nền công nghiệp nhẹ miền Nam trong cuộc cải tạo tư sản sau chiến thắng 1975”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Một công trạng khác là hợp thức hóa nền tảng Tư Pháp Thả Rông cho thành truyền thống, song song với cái Nghị Định 31/CP 14/4/1997 để đời của Võ Văn Kiệt:

“Cùng với vụ xử Hoàng Minh Chính (bị giam lần thứ ba – 1995) bắt đầu một thời kỳ mới, thời kỳ cuộc đổi mới cài số lùi, thời kỳ ông Đỗ Mười hạ lệnh cho các quan tòa xử lấy được, bất chấp đúng sai. Với cách giải thích luật pháp của Đảng không ai có thể biết cái lằn ranh các quyền tự do dân chủ được Đảng đặt ở đâu, cho nên công dân nào đi loạng quạng đều có cơ may bị các cảnh sát viên mác-xít thổi còi tống vào bót. Lê Đức Thọ chết rồi, nhưng hồn ma của Thọ vẫn lởn vởn trên cung đình”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Bằng cách nào họ được ủng hộ trong đảng? Các tay trùm đảng đã dựng nên những hàng rào gia nô/bảo vệ/hộ lý/đàn em trung thành quanh mình, qua những động thái có mỹ danh là “tác thành”, tức là đề bạt chức quyền. Đỗ Mười còn dồn sức ra tay tác thành cho cả con rể và con nuôi. Từ đó, đám đệ tử kết cỏ ngậm vành này chính là những hàng rào chống lưng ngược cho họ:

“Những Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Trần Trọng Tân mà Đỗ Mười dựa vào, trước kia đã mao-ít, nay còn mao-ít hơn nữa trong sự sáng tạo ra một chủ nghĩa Mác kỳ cục, đầy tính chất ngụy biện, chẳng có gì giống chủ nghĩa Mác kinh điển. Mọi việc làm của họ chỉ nhằm bảo vệ vị trí lãnh đạo độc tôn của Đảng, hay là của họ thì cũng thế. Cái gọi là đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng kinh tế thị trường có điều tiết theo định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời chính là trong thời kỳ này”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Báo Lao Động ngày 21/4/2001 có bài tường thuật một cuộc phỏng vấn của báo nước ngoài. Ký giả hỏi: – Theo ngài thì chủ nghĩa xã hội có tương lai trong thế kỷ XXI không? TBT Đỗ Mười trả lời: – Chủ nghĩa xã hội nhất định có tương lai. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn phải phấn đấu nhiều…

Quả thế. Thứ CNXH của những tác giả thừa tham, thiểu trí và sính tàu (nói chữ là đậm đà màu sắc TQ) này, từng làm nền tảng sửa đổi hiến pháp vào năm 1992, đổi tên gọi Hội đồng Bộ trưởng (theo LX) thành chính phủ với người đứng đầu là thủ tướng, và khởi công đường dây 500kv vĩ đại tải điện ngược… tất cả đã hợp thành một bài đồng ca hát nhép, một bức tranh chép tập thể, dù phấn đấu đến lè lưỡi vẫn nhất quyết bám gót bậc thầy họ Đặng.

Nguy cơ thứ 2 nói trên chắc chắn đã bị vượt qua: CNXH của đảng không hề chệch hướng… Bắc!

Nội dung quyển sách 532 trang ca ngợi “Đồng chí Đỗ Mười – dấu ấn qua những chặng đường lịch sử” dường như chỉ cố tập trung nhấn mạnh vào một cốt lõi: Đổi mới phải có đuôi, để vẫy.

Nó là loại ga-tô lập thể, nhân lạp xường.

*Kế tiếp là loại CNXH vượt bỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bắt đầu từ những chuyến dã ngoại đường bộ sang tậnThành Đô, kéo dài cho tới chuỗi “chứng cứ không thể tranh cãi” đến cà lăm cà lặp.

Một số tài liệu gần đây tiết lộ: Có 2 chuyến khấu kiến bí mật thời Đỗ Mười do Hồ Văn Càn và Từ Đôn Tín sắp xếp: lần đầu là Mười-Anh-Kiệt, lần sau là Mười-Kiệt. Cả hai lần đều vượt mặt mọi thủ tục ngoại giao cổ điển.

Đó chính là lớp hắc ín tráng đường cho hàng hàng lớp lớp những quan điểm hảo hán chủ đạo và công khai hợp thức hóa tinh thần công hàm 1958 hay thái độ im lặng của những năm 1974 và 1988:

“Tuy Trung Quốc nó đánh ta nhưng nó cùng là cộng sản”. (Đỗ Mười – trích từ bài phân tích Các rủi ro của VN trong vấn đề Biển Đông? của GS Nguyễn Tiến Dũng đăng trên trang mạng BBC).

Lê Khả Phiêu từng viết bài ca ngợi Đỗ Mười là con người của hành động, nhưng thực ra, chính Phiêu mới xứng tầm cho tấm danh thiếp đó: Đỗ Mười qua Thành Đô dọn bãi, nhưng chính Phiêu mới là tay đổ bộ và ký mật ước dâng đất cho giặc, từ cuối năm 1999, và mở rộng đường hữu nghị bằng đầu gối cho Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng sau này.

Một số tài liệu chưa qua kiểm chứng nhưng ngập tràn trên mạng cho biết Phiêu từng ân cần gửi gắm một hạt mầm cộng sản nhí bên kia biên giới. Đổi lại là một chuỗi thông tin liên tục về tiến trình cắm mốc biên giới, về 16 chữ vàng, 4 tương, 4 tốt và nghe đâu có cả 2 tỷ USD.

Ít ai nhắc tới Tố Hữu thời này, nhưng vẫn trân trọng nhà thơ từng làm kinh tế đó như một tay tiên tri thần kỳ, qua hai câu thơ ảo diệu: Bên kia biên giới là nhà/Bên này biên giới cũng là quê hương.

Nông Đức Mạnh (2 nhiệm kỳ Tổng bí thư 2001-2011) không có gì gọi là ấn tượng trong thời gian tại chức. Chỉ sau khi phục viên mới nảy sinh một vài vấn đề nhạy cảm liên hệ tới cô bồ nhí của cậu quý tử thích ăn thịt bò tót mà Mạnh đã dày công cất nhắc vào TW và nâng tầm lên thành bí thư tỉnh ủy Bắc Giang.

Trong bối cảnh đó, CNXH trong ba triều đại này có cùng một nền tảng cơ bản (từ thời Đỗ Mười), cho dù những triền miên hứa hẹn làm sạch đảng không sánh nổi với nỗ lực một mình làm sạch vườn rau sân thượng, của Phiêu.

Chỉ riêng GS TS ngành xây dựng đảng Nguyễn Phú Trọng, nắm chức Tổng bí thư kể từ ngày 19/01/2011, là có một số hoạt động đình đám:

1. Dũng cảm tự xác nhận là tác giả cụm từ “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”;

2. Hãnh diện rằng cụm từ đó thâm thúy hơn cả cha đẻ của nó là thứ “Kinh tế thị trường đậm đà màu sắc TQ”;

3. Mạnh dạn trao đổi với các đồng chí Cuba một số ý kiến chung quanh vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội;

4. Long trọng xác định với đảng bạn về một nguyên tắc chiêm bao: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

5. Thực lòng chia sẻ một ước mơ phổ quát đúng quy luật và có lồng tiếng thuyết minh: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

6. Rồi chân thành trần tình ở bè trầm, rằng: “Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm, làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam”.

Nghĩa là, túm lại, mọi thứ vẫn còn mờ mờ trước mặt, bởi cả đảng CSVN, từ Hồ Chí Minh xuyên suốt các triều đại khúc giữa, xuống tới hàng Nguyễn Phú Trọng, đều chưa biết rõ cái CHXH đó là gì, chưa biết nó ở đâu, chưa biết đường nào tới đó, và chưa biết làm sao cướp/chộp/núm được nó.

Chỉ biết chắc chắn mỗi điều: Đã là lãnh đạo thì phải tuyên bố quyết tâm đạt đến cái đích chưa biết đó kỳ được mới thôi.

Cho dù là bằng giá xương máu của hàng nhiều triệu nhân dân qua nhiều thế hệ.

Cho dù phải nhấn chìm đất nước và dân tộc xuống đáy nhân loại, từ thế kỷ 20 nối tiếp qua thiên niên kỷ thứ ba này.

Mục tiêu của lời tuyên bố, tất nhiên, không phải là để đến đó. Mục tiêu chính yếu và lớn nhất là để… vẫn ngồi đây. Theo kiểu Trần Văn Giàu có lần hóm hỉnh: “Cái đít con người ta có trí nhớ. Nó nhớ cái ghế!”.

Rõ ràng, đó là chiếc bánh ga-tô siêu thực. Nó cần và nó cố chở đợi giới thưởng thức quen thói “nghĩ giản đơn và trong sáng như một đứa trẻ”, cứ chong mắt nhìn mớ sắc màu lung linh và tin là nó có thật.

Nhân dân ta cần phải làm gì để chấm dứt cuộc mặc cả giữ ghế đó?

“Muốn cho dân tộc ta không thua kém các dân tộc khác, muốn cho đất nước được thịnh vượng, dân ta không nghèo khổ mãi thì không thể thiếu một điều kiện tiên quyết: Ấy là phải gạt bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đảng đến nay đã hết là đội quân tiên phong của cách mạng giải phóng dân tộc rồi. Bây giờ nó trở thành chướng ngại vật trên đường phát triển của dân tộc. Kẻ nào trong lúc này đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của Tổ quốc là kẻ phản bội Tổ quốc… Một chế độ hạ nhục con người không phải là chế độ nhân dân ta lựa chọn”. (Vũ Đình Huỳnh – qua lời kể của Vũ Thư Hiên).

26-05-2012 – Kỷ niệm 115 năm ngày phát hành quyển Dracula của Bram Stoker.

Blogger Đinh Tấn Lực

Advertisements

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Cướp đất ở huyện Cái Răng, Cần Thơ, hai mẹ con khỏa thân để giữ đất

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2012

Hai mẹ con phụ nữ 52 tuổi và 33 tuổi này cứ tưởng rằng nếu họ cởi truồng như thế này, thì công an và chính quyền địa phương của họ sẽ xấu hổ, mà không dám dùng bạo lực cưỡng chế đất đai ruộng vườn của họ.

Nhưng họ đã lầm, chính quyền của đảng không hề biết xấu hổ, cứu cánh biện minh cho phương tiện, lấy đất của dân là chuyện quan trọng, chuyện phụ nữ cởi truồng phản đối chỉ cần có công an bộ đội giải quyết trong 10 phút là xong. Hai tờ báo, tờ Hà Nội Mới, cơ quan ngôn luận của đảng bộ thành phố Hà Nội, và tờ báo Đời Sống và Pháp Luật, cũng ở Hà Nội đăng tin để các ông chủ cộng sản, các đảng viên cao cấp ở thành phố Hà Nội đọc.

Phần thưởng của các đảng viên cao cấp hoành tráng như thế này (“bài 2, quý tử quần quật làm thêm, bí thư trổ tài ăn nói”nguồn), thì chuyện phụ nữ cởi truồng, phản đối đảng ta cướp đất để giao cho các công ty con của tập đoàn xây cao ốc bán kiếm lời, là chuyện nhỏ.

Hai mẹ con khỏa thân để giữ đất

Báo Hà Nội Mới– (Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ thành phố Hà Nội)

Báo Đời Sống và Pháp Luật

26-5-2012

(Nguoiduatin.vn) – Giữa trưa, đám vệ sĩ lôi mẹ con bà Lài trên cát, trên bãi cỏ và các đống vật tư xây dựng trong tình trạng khỏa thân.

Trưa 22/5, tại lô 49, dự án Khu dân cư Hưng Phú (Q. Cái Răng, Cần Thơ) do Cty CP Xây dựng số 8 – CIC 8 (Bộ Xây dựng) làm chủ đầu tư, nhóm vệ sĩ Cty đã trấn áp hai phụ nữ trong tình trạng khỏa thân ngăn cản máy công trình vào thi công. Bà Phạm Thị Lài (SN 1960, ngụ P.Hưng Thạnh) và con gái là Hồ Nguyên Thủy (SN1979) khẳng định, họ khỏa thân để giữ phần đất đã bị Cty này chiếm đoạt một cách thiếu minh bạch. Hai người này đã bị đám vệ sĩ lôi trên cát, bãi cỏ và các đống vật liệu trong tình trạng khỏa thân dưới cái nắng gay gắt.

Hai phụ nữ không mặc gì đang giằng co với bảo vệ

Trao đổi với PV, bà Lài nghẹn lời: “Đất này gia đình tôi bỏ tiền mua để cất nhà sinh sống mấy chục năm. CIC 8 tự đưa giá rồi ép chúng tôi nhận tiền mà không cho chúng tôi quyền được thỏa thuận mua bán. UBND Q. Cái Răng dùng lực lượng CA cưỡng chế đất giao cho CIC 8. Chồng tôi sức yếu thế cô, uất ức quá nên đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Giờ mẹ con tôi biết làm gì ngoài việc lột đồ, chịu nhục để phản đối?!”..

Theo tìm hiểu của PV, giá bồi hoàn do phía CIC 8 đưa ra bị nhiều người dân trong khu vực phản đối, vì theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, những dự án kêu gọi nhà đầu tư và thuộc dạng dự án kinh doanh sinh lợi, thì phía chủ đầu tư phải tiến hành tự thỏa thuận giá bồi thường thiệt hại với người dân. Hộ bà Lài bị cưỡng chế 3 lần. Hiện giá đất mà CIC 8 đang chào bán ngay tại vị trí đất của hộ bà Lài là hơn 5 triệu đồng/m2. Trong khi theo bà Lài, Cty này chỉ bồi thường cho gia đình bà chỉ 500.000 đồng/m2 và cũng không được bố trí tái định cư.

Chủ đầu tư nôn nóng, tự ý thi công

Chiều 24/5, trả lời PV, ông Mai Hồng Châu, chủ tịch UBND Q. Cái Răng cho biết, phía quận đã chỉ đạo tạm thời ngưng thi công chờ họp bàn, đưa ra giải pháp. Vụ việc chiều 22/5 có thể do phía chủ đầu tư nôn nóng, tự ý cho thi công mới xảy ra sự cố như vậy. Vị chủ tịch này khẳng định, UBND quận đã làm đúng thẩm quyền, giải thích động viên và tổ chức đối thoại trực tiếp 2 lần nhưng hộ dân này không đồng ý. Họ đòi tự thỏa thuận giá đất với chủ đầu tư và so sánh giá thu hồi bốn năm trăm ngàn đồng với giá mấy triệu đồng của công ty bán ra. Việc này là không chấp nhận được!.

Nhóm PV

——————————–
Báo Đời Sống và Pháp Luật đăng tin Hai Mẹ Con Khỏa Thân Để Giữ Đất có kèm theo bài viết hồi 2006,

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | 3 Comments »

Đảng và nhà nước làm giàu nhờ vào các tập đoàn bòn rút và chia lại cho các đảng viên cao cấp

Posted by hoangtran204 trên 26/05/2012

Trích từ

Quả đấm bông thay vì quả đấm thép

24-5-2012

Phỏng vấn

(TBKTSG) – Câu chuyện đổ bể của Vinashin và Vinalines cho thấy chiến lược tạo ra những “quả đấm thép” trong công nghiệp hóa ở Việt Nam không thể không được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc. TBKTSG đã có cuộc trao đổi về vấn đề này với TS. Nguyễn Tú Anh, Phó trưởng ban Nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM).

TBKTSG: Theo ông, với tình hình đã và đang diễn ra với các “quả đấm thép”, liệu chiến lược công nghiệp hóa sẽ đi về đâu? 

Ông Nguyễn Tú Anh: Nếu vẫn tiếp tục như thế mà không thay đổi thì chiến lược công nghiệp hóa chắc chắn sẽ phải thất bại.

TBKTSG: Vấn đề lớn nhất rút ra từ những đổ vỡ này là gì?

– Vấn đề cực kỳ nghiêm trọng ở đây là quản trị. Tức là dòng vốn đổ vào cho các tập đoàn này đã không kiểm soát được. Lỗ mà không ai biết, đến khi vỡ ra rồi, mới hay.

TBKTSG: Như vậy, sự đổ vỡ là do cách thức thực hiện chứ không phải do chọn ngành?

– Tôi không nói là tất cả những ngành được lựa chọn để phát triển đều đúng. Có một thời chúng ta đã chọn rất nhiều ngành mũi nhọn, tương tự như một quả mít vậy, chỗ nào cũng mũi nhọn cả. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thất bại vì việc lựa chọn không dựa trên lợi thế gì cả. Công nghiệp ô tô là một ví dụ cụ thể.

Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch:

Cần tách bạch hai việc

Vấn đề phát triển ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải hàng hải là đúng bởi đó là những ngành kinh tế mang tính chiến lược quốc gia. Xác định ngành gì là mũi nhọn phải dựa trên lợi thế tĩnh và động của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Ví dụ, Việt Nam có chiều dài bờ biển lớn, đây là lợi thế không phải quốc gia nào cũng có trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết Trung ương về kinh tế biển cũng nói rõ, ngành đóng tàu, ngành vận tải biển là những ngành cần thiết cho nền kinh tế. Việc định hình những ngành chiến lược gắn liền với quá trình xây dựng, công nghiệp hóa đất nước, đặc biệt là kinh tế biển, cần có những chính sách phát triển phù hợp. Còn việc xử lý các tập đoàn làm ăn thua lỗ lại là chuyện khác. Cần tách bạch hai việc với nhau.

Tuy nhiên, khi xác định ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải biển là ưu tiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì chúng ta lại thiếu chính sách để các thành phần kinh tế tham gia mà chỉ tập trung cho một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Đây cũng là một nguyên nhân khiến ngành đó không phát triển được.

Sắp tới, tôi cho rằng không nên tập trung nguồn lực đầu tư vào các tập đoàn, công ty nhà nước nữa. Rất tiếc, đề án tái cơ cấu kinh tế mà Chính phủ trình Quốc hội mới chỉ đưa ra cái khung, mới ở dạng ý tưởng chứ chưa hẳn là đề án đầy đủ. Điều quan trọng, không phải chỉ xác định phát triển ngành gì mà còn là làm cách nào, dựa trên nguồn lực nào.

TS. Nguyễn Quang A:

Mềm quá thì tiêu!

Tập đoàn nhà nước ở Việt Nam là một sự tập trung quyền lực hết sức mạnh mẽ. Mà đã tập trung quyền lực, cho nó được ưu ái nhiều hơn thì ắt sẽ dẫn đến một tình trạng mà giới kinh tế học gọi là ràng buộc ngân sách mềm. Tức là ở bên ngoài mang vào cho doanh nghiệp chứ không phải do tự doanh nghiệp làm ra. Điều này dẫn đến hệ quả là làm cho người lãnh đạo doanh nghiệp đó sinh ra tâm lý ỷ lại, chẳng phải lo lắng gì cả. Cần gì phải lo khi mà được ưu ái đến vậy. Thiếu tiền, đã có ngân hàng cho vay hoặc lỗ lã thì được bù theo chỉ đạo.

Ngược lại, ngân sách cứng là doanh nghiệp phải tự lo, tự xoay xở. Ví dụ, muốn có một khoản vay tín dụng, phải bị ngân hàng săm soi tính hiệu quả. Khi ngân hàng làm vậy, họ đã thực hiện một chức năng vô cùng quan trọng, đó là làm cho ràng buộc ngân sách của doanh nghiệp cứng lên. Nếu hai điều kiện cơ bản để một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả là ràng buộc ngân sách cứng và cạnh tranh thì cả hai điều kiện ấy đều thiếu đối với các tập đoàn nhà nước Việt Nam.

TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng CIEM:

Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật!

Trong khi hàng triệu người dân phải tính từng đồng bạc, từng mớ rau, quả trứng thì sự phung phí một cách vô lối ở các tập đoàn như thế rõ ràng là một tội lỗi. Tội lỗi đối với nền kinh tế. Tội lỗi đối với người dân. Đây chính là lúc Nhà nước phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá một cách cầu thị và dẫu có đắng cay, cũng phải làm để có thể gầy dựng lại từ đống đổ nát này. Trước mắt, cần phải xem xét toàn diện khung pháp lý về quản trị đối với các tập đoàn nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan quản lý. Câu hỏi đặt ra là còn những “tên tuổi” nào chưa bị phát hiện

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

Trông chờ gì từ những con nợ này!

Posted by hoangtran204 trên 26/05/2012

Bài 1

Trông chờ gì từ những con nợ này!

Tư Giang
24-5-2012

(TBKTSG) – Không chỉ có Vinashin và Vinalines mà hàng loạt tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang bị thua lỗ nặng nề theo những số liệu từ các cơ quan chức năng. Liệu đề án tái cơ cấu kinh tế nói chung, hay đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước nói riêng có giải quyết được bài toán thua lỗ này?

Cuối cùng, điều gì phải đến đã đến với những người từng cầm lái con tàu Vinalines. Nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Dương Chí Dũng và hai cựu lãnh đạo khác của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đã bị khởi tố bị can với cáo buộc “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Đây là hệ quả của hàng loạt sai phạm của doanh nghiệp nhà nước này trong suốt thời kỳ 2007-2010 mà Thanh tra Chính phủ đã phát hiện gần đây.

Tàu chở hàng rời Vinalines Global trọng tải 73.350 tấn do Vinalines mua về hồi tháng 7-2008. Ảnh: Kinh Luân.

Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, các khoản nợ khó có khả năng thu hồi của Vinalines lên đến 23.063 tỉ đồng. Tổng công ty đã mua 73 tàu biển từ nước ngoài tổng trị giá gần 23.000 tỉ đồng, trong đó 17 tàu đã qua sử dụng trên 15 năm, thậm chí trên 30 năm; và 34 tàu bị lỗ nặng, có tàu phải bán. Bên cạnh đó, rất nhiều dự án đầu tư của Vinalines có sai phạm, chẳng hạn dự án mua ụ nổi No83M đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Tổng giá mua và chi phí sửa chữa của ụ nổi này lên tới gần 490 tỉ đồng, tương đương 70% giá đóng ụ nổi mới…

Báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN), cả nước có 101 tập đoàn, tổng công ty và một ngân hàng thương mại do Nhà nước giữ 100% vốn. Đến cuối năm 2010, tổng vốn của các DNNN trên 700.000 tỉ đồng, trong đó của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 653.000 tỉ đồng.

Tất nhiên, Vinalines dưới thời ông Dũng báo cáo khác về tình hình kinh doanh của mình. Ví dụ, trong năm 2010 Vinalines công bố tổng doanh thu đạt 20.934 tỉ đồng, tăng 16%; tổng lợi nhuận đạt 1.241 tỉ đồng, tăng 40% so với năm 2009. Động thái này của lãnh đạo Vinalines giống hệt như báo cáo làm ăn có lãi của lãnh đạo Vinashin trước khi bị bắt. Với hoàn cảnh hiện tại, Vinalines đã làm tiêu tan hy vọng của Chính phủ trong việc lấy Vinalines để đỡ cho Vinashin.

Nhìn sang Vinashin, từ sau khi “tái cơ cấu”, tình trạng cũng bi đát không kém. Bộ Giao thông Vận tải trong báo cáo gửi thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết trong quí 1 năm nay, doanh thu của tập đoàn đạt 282 tỉ đồng, giảm 81,5% so với ba tháng đầu năm 2011. Báo cáo này cho biết thêm giá trị sản xuất của Vinashin chỉ đạt 960 tỉ đồng, bằng 10,4% kế hoạch năm và giảm 72,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tình hình khó khăn này khiến Vinashin gần đây phải xin Bộ Tài chính miễn phạt chậm nộp thuế. Điều này cho thấy, Vinashin vẫn còn chưa có tiền nộp thuế, dù đã được vay vốn với lãi suất 0% từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam để trả lương cho người lao động, cũng như được hưởng hàng loạt ưu đãi khác.

Tình trạng thua lỗ, nợ nần do đầu tư kém hiệu quả của Vinashin trước đây, và nay là Vinalines, đã tác động xấu đến chiến lược phát triển kinh tế biển của đất nước, vốn rất quan trọng trong bối cảnh khu vực đầy biến động trong thế kỷ này. Thực trạng đó, một lần nữa tiếp tục thách thức sự phát triển tới đây của ngành đóng tàu đã được xác định là ngành công nghiệp trọng điểm trong đề án tái cơ cấu kinh tế đang được Chính phủ trình Quốc hội.

Theo báo cáo “Thực trạng hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2006-2010” của Bộ Tài chính, đến hết năm 2010 tổng tài sản của các tập đoàn, tổng công ty là 1.799.317 tỉ đồng, bằng 238% so với năm 2006.Đến hết năm 2010, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là 1.088.290 tỉ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu (quy định hiện hành được huy động vốn trong phạm vi nợ phải trả không vượt quá ba lần vốn điều lệ).Báo cáo này cho biết, có 30 tập đoàn kinh tế, tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn ba lần, trong đó có bảy tổng công ty trên 10 lần, có chín tổng công ty trên 5-10 lần, có 14 tổng công ty từ 3-5 lần.

Giữ vị trí quán quân về khó khăn hiện tại không ai khác là tập đoàn Điện lực (EVN), mà nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên, ông Đào Văn Hưng, đã bị miễn nhiệm đầy nhẹ nhàng. Báo cáo chính thức của Kiểm toán Nhà nước cho thấy, cho đến cuối năm 2010 nợ phải trả của EVN là 239.761 tỉ đồng, trong đó nợ ngắn hạn là 65.493 tỉ đồng, chiếm 27,31%, và nợ dài hạn là 174.268 tỉ đồng, chiếm 72,69%. Cơ quan này cho thấy, tỷ lệ nợ phải trả/tổng nguồn vốn là hơn 79% và tỷ lệ nợ phải trả lên đến 4,22 lần vốn chủ sở hữu.

Theo báo cáo kiểm toán cuối năm ngoái, EVN lỗ gần 17.000 tỉ đồng trong năm 2011, đưa tổng lỗ lũy kế lên đến 40.400 tỉ đồng. Kiểm toán Nhà nước khẳng định, EVN đã lâm vào tình hình tài chính khó khăn, không đảm bảo độ an toàn.

Tất nhiên, EVN khó mà biện minh cho tình trạng EVN Telecom thua lỗ triền miên, rồi cuối cùng bị chuyển cho Viettel; hay việc chi tiêu hoành tráng cho trụ sở đang xây tại phố Cửu Bắc, Hà Nội – tòa nhà bị hỏa hoạn cuối năm ngoái.

Chi phí như vậy tất nhiên là có những người gánh chịu mà điển hình nhất là tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV). Than do TKV khai thác buộc phải bán cho EVN với giá bằng 60% giá thành sản xuất. Chênh lệch giá chỉ so với giá xuất khẩu đã lên tới 900 triệu đô la Mỹ trong năm 2011, theo Tổng giám đốc TKV Lê Minh Chuẩn công bố tại một hội thảo cuối tuần trước. Như vậy, con số này đã cao hơn nhiều so với con số 8.500 tỉ đồng mà TKV phải chịu để bù chênh lệch giá mà tập đoàn này bán than cho EVN (theo đơn kêu cứu của TKV gửi Thủ tướng vào đầu tháng này). Trong đơn gửi Thủ tướng đề nghị giảm thuế xuất khẩu than từ mức 20% xuống 0%, TKV khẳng định đang đối diện với nguy cơ thua lỗ cao trong năm nay và khó cân đối về tài chính.

Cũng như TKV, một chủ nợ khác của EVN là PVN. Vào trung tuần tháng 1 năm nay, theo Thông tấn xã Việt Nam, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực dầu khí (PV Power) Vũ Quang Huy cho biết EVN nợ tổng công ty này 14.000 tỉ đồng, trong đó có 2.000 tỉ đồng là lãi chậm trả. Số nợ này đã cao hơn nhiều so với 10.000 tỉ đồng mà EVN mua điện nợ của PVN, theo công bố của đại diện PVN tại buổi họp giao ban tháng 10-2011 của Bộ Công Thương. Nhưng, đến lượt mình, PVN cũng rất nhập nhèm về tài chính khi bị Thanh tra Chính phủ báo cáo là có “khuyết điểm” trong chi tiêu tới 18.000 tỉ đồng hồi tháng 4 năm nay.

Cũng trong đợt công bố hồi tháng 4 năm nay, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị Chính phủ chỉ đạo xử lý hơn 10.676 tỉ đồng bị sử dụng sai quy định tại tập đoàn Sông Đà. Tập đoàn này bao gồm sáu tổng công ty nhà nước như Lilama, Licogi, Coma, Sông Hồng, Sông Đà, và Dic Corp trong ngành xây dựng vốn đang gặp khó khăn. Con số này tương đương 500 triệu đô la Mỹ, lớn hơn nhiều so với 124 triệu đô la Mỹ mà tập đoàn này vay của ADB để tái cấu trúc doanh nghiệp.

Những số liệu trên chỉ là một phần nhỏ trong các báo cáo của Kiểm toán Nhà nước hay Thanh tra Chính phủ công bố tiến hành với các tập đoàn, tổng công ty gần đây. Có một điểm chung trong các báo cáo đó, là tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều bị phát hiện có sai phạm về tài chính khi được hai cơ quan này thanh tra. Không phải bàn cãi, số tiền đó là rất lớn nếu so với số tiền 2.100 tỉ đồng mà 40 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp khác đăng ký với Chính phủ hỗ trợ cho các huyện nghèo trong giai đoạn 2009-2020, theo Báo cáo của Chính phủ trình kỳ họp thứ 3 của Quốc hội đang diễn ra.

Mới đây, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh đã chủ trì một cuộc tham vấn với nhiều bộ ngành nhằm xem xét đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước do Bộ Tài chính soạn thảo. Kết thúc buổi tham vấn, theo lời kể của một số người tham dự, Phó thủ tướng đã yêu cầu Bộ Tài chính thay đổi nhiều nội dung trong đề án này theo hướng mạnh mẽ hơn. Như vậy, đề án quan trọng nhất trong chương trình tái cơ cấu kinh tế ba trụ cột sẽ còn phải bổ sung thêm sau hơn nửa năm được bắt đầu chuẩn bị, và chưa biết bao giờ mới được thông qua để tạo hành lang thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này.

Nguồn danluan.org

Ý kiến của người đọc:

*Sợ thật. Một bên các tổng công ty nhà nước đốt tiền như lá tre, một bên hàng Trung Quốc ngập ngụa khắp nơi, bảo sao hàng vạn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không giải thể, nền kinh tế không phá sản mới là chuyện lạ.

*Bọn lãnh đạo CS này ngoài tham nhũng, bao che cho nhau, làm việc vô kỷ luật, còn bất tài trong lãnh vực được giao phó.

Không biết lái mà cứ đòi làm thuyền trưởng.

*Không phải “Không biết lái mà cứ đòi làm thuyền trưởng” như # 59137 nói đâu! Họ biết rất nhiều,rất tường tận nữa là khác. Song,vì lợi ích của họ gắn liền với con thuyền đó nên họ luôn luôn muốn làm thuyền trưởng để lái con tàu đó đến những nơi mà họ muốn đến! Chẳng hạn, trên các diễn đàn Quốc hội, khi phân tích,đánh giá tình hình KT-XH do Chính phủ báo cáo thì thấy lúc nào cũng đặt vấn đề phải tách bạch chức năng quản lí nhà nước với chức năng sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước,nếu không thì sẽ rơi vào tình trạng”vừa đá bóng,vừa thổi còi”!

Nhưng mà CP có chịu tách ra đâu(nói tách là tách một cách thật sự kìa)!Bỡi thế mới có chuyện nhiều TCy,tập đoàn trực thuộc Bộ/Chính Phủ.Và chính những TCty,tập đoàn này của Nhà nước chính là nơi cung phụng/cống nạp nhiều nhất cho các Bộ/CP.

Ở dưới các địa phương cũng tương tự như thế!Vậy thì trông chờ gì từ những tập đòan/TCty nhà nước này vì có bao giờ các “thuyền trưởng”chịu buông tay lái đâu!

————————————————————————————————

Bài 2

Quý tử quần quật làm thêm, Bí thư trổ tài ăn nói

images698148_vuon_thuong_uyen_cua_bi_thu_hai_duong1a.jpg

Cơ ngơi này là của con, chứ không phải là của bố

Cơ ngơi này là của con, chứ không phải là của bố!

Cơ ngơi này là của con, chứ không phải là của bố

Cuối cùng thì sự thật rành rành xung quanh khu vườn thượng uyển lộng lẫy ở Hải Dương cũng được phơi bày, thông qua những lời thật như đếm của những người có trách nhiệm liên quan. Hẳn độc giả cũng không còn lạ, nhưng cứ xin điểm qua đây tiến trình sự thật được phơi bày, hiển hiện giữa ánh mặt trời.

Hôm thứ Hai, 21/5, trả lời báo Giáo dục Việt Nam, ông Bí thư chỉ đính chính một thông tin duy nhất, ấy là không phải gia đình ông xây nhà trên đất nông nghiệp, mà đất đã được chuyển đổi đàng hoàng. Ông tuyệt nhiên không nói đến chuyện nhà báo phản ánh: Đất của ông, tài sản trên đất cũng là của ông.

Hôm sau, 22/5, Chủ tịch UBND huyện Ninh Giang (Hải Dương) Nguyễn Xuân Thuấn mau mắn khẳng định đất này không phải thuộc sở hữu của đồng chí Bùi Thanh Quyến mà của anh Bùi Thanh Tùng, con trai ông Quyến (theo báo Lao Động). Ông Chủ tịch huyện cũng chẳng đả động gì đến chuyện tài sản trên đất là của ai.

Sang ngày 24/5, đến lượt đích thân con trai ông Bí thư lên tiếng hùng hồn nhận toàn bộ dinh cơ đang xây dựng là của mình, đồng thời không quên khẳng định: Tiền xây nhà là mồ hôi, nước mắt, xuất phát từ trí tuệ, vận động cá nhân chứ không phải là dựa dẫm vào bất kỳ ai, vào mối quan hệ nào.

Cứ tạm bỏ qua những mâu thuẫn nho nhỏ trong lời phát ngôn của 3 nhân vật, hẳn người trần mắt thịt chúng ta phải vừa xuýt xoa về tài làm kinh tế, vừa gật gù trước con đường hoạn lộ thênh thang của chàng thanh niên này. Tiếc là không có nguồn thông tin nào cho biết quý tử nhà ông Bí thư đã bao nhiêu tuổi, nhưng bằng chứng về cái sự trí tuệ, vận động cá nhân của anh thì đã rành rành: Hiện đang là Trưởng phòng Việc làm – An toàn lao động của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hải Dương.

images698145_vuon_thuong_uyen_cua_bi_thu_hai_duong8.jpg
Sáng ngày 11/04/2012, thực hiện Quyết định sô 788/QĐ- UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương – Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức hội nghị công bố: Quyết định bổ nhiệm đồng chí Bùi Thanh Tùng, Phó trưởng phòng việc làm An toàn lao động giữ chức vụ Trưởng phòng việc làm An toàn lao động.

Ông Bùi Thanh Tùng là con trai của bí thư Tỉnh ủy Hải Dương Bùi Thanh Quyến, người được cho là chủ sở hữu của khu vườn thượng uyển trị giá trăm tỉ đang xôn xao dư luận.

Thật đúng là tuổi trẻ tài cao, hổ phụ sinh hổ tử và người ta hoàn toàn có quyền hi vọng một ngày kia anh sẽ làm quan to hơn cả bố để xứng với câu nói của người xưa rằng con hơn cha thì nhà có phúc.

Dĩ nhiên, sẽ có một vài kẻ xấu bụng cho rằng thế nào chả có chút ít dây mơ rễ má giữa ông bố đừng đầu tỉnh với địa vị hiện tại của cậu con, nhưng xin thưa là quý vị không nên công tư lẫn lộn như vậy. Ô hay, thế cứ là con quan thì toàn là phường kém năng lực hết cả hay sao, mà cánh hậu sinh bây giờ cũng tài năng đầy mình đấy chứ. Cứ thử nhìn ra nước ngoài thì đủ biết thôi: Trong khi Nga vừa có một bộ trưởng 30 tuổi, thì ở Trung Quốc, theo truyền thông phương Tây, những tập đoàn chủ chốt trong nhiều lĩnh vực đang nằm trong tay con cái giới lãnh đạo cấp cao, đâu phải ai cũng “ăn chơi tàn bạo” như cậu ấm Bạc Qua Qua…

Dĩ nhiên, bố con ông Bí thư cũng nên thể tất cho những ý kiến không thiện ý lắm từ phía dư luận. Khổ, có ai muốn hẹp hòi làm gì đâu, nhưng cứ đọc báo thì người ta lại phải nghĩ ngợi…

Chắc bạn còn nhớ, năm ngoái, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam đã khiến dư luận một phen bổ chửng khi chỉ ra một sự thật bấy lâu nay ai cũng biết mà không ai nói, chả hiểu vì ngần ngại điều gì: Nếu trông chờ vào lương, thì các Bộ trưởng cũng phải mất 40 năm cúc cung tận tụy làm việc mới mua được nhà thu nhập thấp.

Còn liên quan trực tiếp đến cái sự vụ ở Hải Dương, mấy hôm trước, phóng viên báo Giáo dục Việt Nam đã cặm cụi ngồi làm công việc của học sinh cấp I, ấy là cộng trừ nhân chia xem với mức lương hiện tại (khoảng 12 triệu đồng mỗi tháng), một ông Bí thư Tỉnh ủy liệu có thể xây một căn nhà tàm tạm hay không. Dĩ nhiên, độc giả có thể và phải tự trả lời lấy câu hỏi này. Và không biết câu hỏi trên có khó hay không, nhưng nếu áp vào trường hợp của đồng chí Trưởng phòng con trai ông, thì chắc chắn việc đưa ra đáp án dễ dàng hơn nhiều, phải không quý vị nhỉ?


Giờ, chỉ có mấy cô gái là mất nhân phẩm!Và nếu bạn vẫn thấy phân vân, thì xin mời nghe phát biểu của Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng khi ông thảo luận về dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi tại hội trường Quốc hội hôm 23/5. Đọc cái tít của Báo Tuổi Trẻ rằng “Lương không đủ sống mới phải làm thêm”, bà con chúng ta hẳn sẽ phải rơi nước mắt thương cảm với con trai Bí thư Tỉnh ủy, vì không biết anh ta phải quần quật làm thêm như thế nào mới để dành được chút tiền để xây dựng cái cơ ngơi hơn 4.000m2 ở nơi chôn nhau cắt rốn.

Dĩ nhiên, không phải dành hết cảm phục cho cậu quý tử là độc giả vội quên ngay ông Bí thư đâu, người Việt ta không dễ cạn tàu ráo máng đến thế. Ừ thì ông không có tài làm kinh tế, không yêu thiên nhiên hoa cỏ, không thích thú điền viên… như đã từng được tán tụng, nhưng với tư cách đại biểu Quốc hội, ông Bí thư khiến ta phải tấm tắc về tài ăn nói.

Theo báo Dân Việt, đại biểu Quốc hội Bùi Thanh Quyến đã đề nghị các nhà báo cứ tự tìm hiểu! xem những thông tin về cái biệt thự vườn có đúng hay không, vì lời ông nói thì không chắc đã khách quan.

Câu trả lời của ông Bí thư ắt hẳn phải khiến hàng loạt các đại biểu Quốc hội khác phải cảm thấy ngại ngùng, vì có vị thì báo chí không dám hỏi đến, có vị thì dân hỏi không biết trả lời thế nào.

Đây, hãy thử lấy 2 ví dụ còn nóng hổi trong ngày trên mặt các báo. Ở Đồng Nai, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy vừa ra thông cáo báo chí yêu cầu không được đề cập đến bà Đỗ Thị Thu Hằng khi nói đến vụ Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành xả thải ra môi trường. Bà Hằng là người đứng đầu Tổng Công ty Sonadezi, công ty mẹ của cái công ty bị bắt quả tang nói trên.

Phải nói đây là một yêu cầu chuẩn không cần chỉnh, vì mẹ ra mẹ mà con ra con, đừng có lẫn lộn. Dĩ nhiên, bà còn là đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, nhưng như đại biểu Bùi Thanh Quyến đã nói, phát ngôn của bà cũng khó mà khách quan cho được, nên báo chí không nên hỏi. Người ta chỉ băn khoăn một tí xíu là không lẽ bà Hằng đã làm thủ tục “từ” công ty con này từ bao giờ rồi. Vì khổ lắm, nếu nó vẫn là của bà, nếu bà còn lo cho nó, và những lời lãi của nó mà bà vẫn được hưởng chút đỉnh, thì người ta còn có quyền phàn nàn rằng con hư tại mẹ, con dại cái mang chứ nhỉ?

Nghĩ quẩn mới thấy, nếu chẳng may Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương cũng ra một văn bản yêu cầu báo chí không đề cập đến ông bố, vì cái nhà vườn trăm tỷ kia là của ông con, chả liên quan, thì có lẽ báo chí cũng ngọng thôi. May quá, ông Bí thư vẫn trả lời, mà lại còn rất sòng phẳng nữa: Các vị có giỏi thì đi mà điều tra, tôi không nói đâu! Hay là ông cũng chẳng biết, hoặc không tin con mình nó phải làm thêm quần quật để xây nhà…

Đến đây, xin có một lời mách nhỏ cho những đại biểu Quốc hội đã phát biểu rằng họ vô cùng xấu hổ, thấy mặt mình cứ trơ ra vì không biết ăn nói thế nào khi cử tri bức xúc hỏi về hết Vinashin đến Vinalines. Thưa, quý vị hoàn toàn có thể tìm thấy một cái phao cứu sinh hết sức linh nghiệm từ câu trả lời của đại biểu Bùi Thanh Quyến: Xin cử tri cứ tự tìm hiểu cho nó khách quan! Người viết có thể đảm bảo, với bí kíp này, các cử tri sẽ không bao giờ mở miệng hỏi thêm một câu nào nữa.

Cơ mà khổ lắm, có tiền thì sao không âm thầm tiêu vào mấy cái cô diễn viên, người mẫu, sinh viên 1.500 USD như hôm nay các nhà báo loan tin nhỉ. Ai biết đấy là đâu, giờ chỉ có mấy cô gái ấy là bị mất nhân phẩm thôi, dù các cô cũng cày cuốc cả ngày như ai. Thiên hạ cứ kêu giá ấy là đắt, nhưng cũng có bõ bèn gì đâu…

Tam Thái
http://danluan.org/node/12736

Ý kiến của bạn đọc Dân Luận

*Ông bí thư Hà nội Phạm Quang Nghị đoán rằng dân ta tham ô, tham nhũng nên thắc mắc : “dân lấy đâu ra lắm tiền mà mua ô tô ?”
Đúng là dân gian. Toàn ỷ lại vào nhà nước, lấy đâu ra lắm tiền vậy? Ăn cướp à?
Cha con ông bí thư Hải Dương thay mặt người dân trả lời câu hỏi của ông bí thư Hà nội. Vậy là hiểu ngay thôi, cùng là bí thư với nhau nói ngắn gọn , nhanh. Dân cu đen giải thích lăng nhằng mất thời gian.

*

Nguyễn Đăng Mạnh (khách viếng thăm) gửi lúc 17:05, 26/05/2012 – mã số 59133

Cậu con trai bí thư được bổ nhiệm trưởng phòng chuẩn bị cơ cấu PGĐ. Ông con rể tên là Diên sinh năm 1980 đang làm PGĐ Sở Kế hoạch & Đầu tư Hải Dương. Cậu Diên này là con trai ông Phạm Hồng Văn nguyên PCT Hải Dương mới về hưu. Bí thư thông gia với PCT khuynh loát chính quyền.

Posted in Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | 2 Comments »

KHÔNG NÊN ĐẶT CƯỢC TÍNH MẠNG DÂN TỘC vào việc xây dựng nhà máy điện hat nhân

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2012

Các bạn cứ tin đi, mặc ai phản đối thì cứ phản đối, đảng và nhà nước của TT Nguyễn tấn Dũng một khi đã quyết định rồi thì nhà máy điện hạt nhân sẽ phải được thực hiện. Chỉ cần chấm mút 10% của số tiền Nga và Nhật cho mượn, tổng cộng sơ khởi bước đầu là 18 tỷ đô la, là đủ béo.

Đảng là “đỉnh cao trí tuệ của loài người, là bách chiến bách thắng…”.

2 bài dưới đây chỉ là  đọc cho vui để thêm phần hiểu biết.

———-

 KHÔNG NÊN ĐẶT CƯỢC TÍNH MẠNG DÂN TỘC

 Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết:
 
Ngày 5/5/2012 tại buổi đối thoại trực tuyến với nhân dân tại cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ Nguyễn Quân đã giải đáp nhiều thắc mắc của người dân, trong đó có vấn đề xây dựng nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) tại Ninh Thuận.
Thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng đã thông báo năm 2014 chưa thể xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Một ngày sau  tuyên bố của Bộ trưởng, Nhật Bản đã chính thức đóng cửa nhà máy điện hạt nhân cuối cùng. Nhân sự kiện này, VNT (Văn Nghệ Trẻ*) đã phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – người được dư luận đánh giá cao về những phát biểu ở Quốc hội khi ông giữ vai trò Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá,  Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội – xung quanh sự kiện này.
 
Chúng ta sẽ sụn lưng nếu làm ĐHN
 
– Dư luận xã hội đánh giá ông là một trong những đại biểu Quốc hội có những ý kiến rất sâu sắc liên quan đến nhiều vấn kinh tế – xã hội, đặc biệt, ông  từng có ý kiến không đồng thuận về dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên và về vụ nợ nần cả trăm nghìn tỷ ở tập đoàn Vinashin. Nhưng hình như ông rất ít nói đến dự án ĐHN, vì sao vậy?
 
– Dự án xây dựng hai nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận được Chính phủ trình Quốc hội vào tháng 11 năm 2009, tại Kỳ họp thứ 6 QH khoá XII. Khi đó, tôi là một trong những người phát biểu ý kiến phản đối và là một trong 39 người biểu quyết không đồng tình với dự án này. Tôi nhớ là cùng với 39 người không đồng tình, còn có 18 người không biểu quyết (tức là bỏ phiếu trắng).
 
–  Ông có thể nói rõ lý do khiến ông có những ý kiến không đồng thuận?
 
– Một dự án phát triển kinh tế – xã hội phải được đánh giá trên ba phương diện: sự cần thiết, tính khả thi và tác động của dự án.
 
 Về sự cần thiết của dự án, Tờ trình của Chính phủ cho biết với tốc độ phát triển GDP của Việt Nam trung bình 8 – 9 %/năm thì nhu cầu điện năng vào năm 2020 sẽ là 380 tỷ kWh, gấp bốn lần năm 2010. Trong khi đó, Việt Nam không còn khả năng phát triển nhiệt điện do hết than, không còn khả năng phát triển thủy điện vì chỗ nào làm thủy điện được thì đã tận dụng gần hết, làm điện gió, điện mặt trời thì đắt, do đó phải làm ĐHN.
 
Tuy nhiên, trên thực tế, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của nước ta chỉ đạt 6 – 7 %/năm và trong hoàn cảnh khó khăn về tài chính và khủng hoảng kinh tế như hiện nay, khả năng tăng trưởng cao hơn là rất khó. Theo tôi, để giải quyết vấn đề thiếu điện, một mặt, Việt Nam cần tích cực giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng điện; mặt khác nên chủ động giảm tăng trưởng GDP. Trong nhiều năm, để tăng trưởng GDP, chúng ta thu hút đầu tư bằng mọi giá. Nhưng đổi lại, dân ta bị  mất đất, môi trường bị tàn phá, người lao động có việc làm, nhưng mức lương chỉ từ 1,2 – 1,5 triệu/tháng. Vốn bỏ ra nhiều nhưng hiệu quả sản xuất rất thấp. Hiện nay chỉ số ICOR (hiệu quả kinh tế) của Việt Nam là 7 tức bỏ ra 7.000 đ thì chỉ thu về được 1.000 đ. Chỉ số này ở khu vực kinh tế nhà nước còn lên đến 9,1 (tức là bỏ ra 9.100 đ thì chỉ thu về được 1.000 đ.*). Như vậy, nếu không tăng được hiệu quả đầu tư, không chống được tham nhũng, lãng phí  thì càng tăng trưởng mạnh lại càng thất thoát nhiều.
 
Thứ hai là tính khả thi của dự án. Đây là một dự án không có tính khả thi. Xét về mặt nhân lực, chúng ta chưa có bất kỳ một cán bộ kỹ thuật nào về ĐHN chứ chưa nói đến chuyên gia. Hiện nay chúng ta đã cử cán bộ ra nước ngoài để học về ĐHN. Nhưng làm ĐHN khác với đóng gạch. Học đóng gạch chỉ cần một tháng, học làm ĐHN không những đòi hỏi thời gian dài mà còn đòi hỏi tác phong công nghiệp, trước hết là tính kỷ luật, sự cẩn trọng, chính xác. Phải nói thẳng là về tác phong công nghiệp thì người Việt Nam mình hạn chế rõ ràng. Nhiều người tham gia giao thông, cứ thấy vắng bóng cảnh sát là vượt đèn đỏ, đi ngược chiều. Không hiếm trường hợp người ta tháo cả giằng cầu đi bán. Có người còn lấy cắp cả hộp phóng xạ về nhà, bán không ai mua thì đem làm đòn kê chẻ củi. Tính kỷ luật trong xã hội thấp như vậy thì không chắc người được đào tạo về ĐHN sẽ không bị ảnh hưởng hoặc những người phục vụ xung quanh không bị ảnh hưởng.
 
Về nguyên liệu, nếu làm ĐHN, Việt Nam phải nhập từ nước ngoài. Theo số liệu thống kê thì lượng uranium trên toàn cầu chỉ còn khoảng 15 triệu tấn, đủ phục vụ cho 440 lò phản ứng HN đang hoạt động trong vòng vài chục năm nữa. Và như vậy, khi uranium trở nên khan hiếm thì giá của nó vô cùng đắt đỏ; đến lúc ấy, chắc chắn ta không thể chịu đựng được, đành bỏ không nhà máy ĐHN.
 
Thứ ba là tác động của dự án. Tôi xin nói về tác động tài chính trước. Về kinh phí làm 2 nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận, Nghị quyết của Quốc hội đưa ra con số 13,2 tỷ USD, nay tương đương 260.000 tỷ đồng. Song Quốc hội lại yêu cầu làm bằng công nghệ an toàn nhất. Ngay tại phiên thảo luận của Quốc hội, nhiều đại biểu đã khẳng định rằng không thể có giá rẻ như vậy. Và trên thực tế, Việt Nam đã ký Hiệp định liên Chính phủ với Nga trong đó Nga cam kết cho vay khoảng 8 tỷ USD (chưa tính phần vốn đối ứng trong nước) cho việc xây NMĐHN Ninh Thuận 1; còn với Nhật tuy chưa ký Hiệp định, nhưng cũng đã đồng ý cho công ty Nhật triển khai làm nhà máy thứ hai dự báo giá thành cũng không thấp hơn. Đó là chưa kể đến chi phí chôn lấp chất thải HN trên dưới 2 tỷ euro/nhà máy. Chi phí dỡ bỏ nhà máy ĐHN khi hết hạn sử dụng (chừng 40 – 50 năm) cũng khác hẳn chi phí tháo dỡ một nhà máy lắp ráp ô tô. Theo GS.VS Hoàng Xuân Phú, ở CHLB Đức, để dỡ bỏ 2 nhà máy ĐHN, người ta phải chi tới 4,1 tỷ euro. Nói thẳng là nếu làm ĐHN chúng ta sẽ sụm lưng.
 
Tác động đến xã hội cũng là điều cần cân nhắc. Làm ĐHN, chắc chắn chúng ta phải vay tiền; mà khả năng vay từ nguồn ODA (viện trợ trả chậm, không lấy lãi hoặc lãi suất thấp) là không có. Trong khi đó, nợ công của Việt Nam đã xấp xỉ 60%.( con số 60% này có nghĩa là: nếu tổng sản phẩm nội địa của VN là 100 tỷ, thì nợ công hay chính phủ VN đang mắc nợ nước ngoài 60 tỷ*) Gánh nặng nợ nần có thể dẫn đến những bất ổn xã hội. Đó là chưa kể tâm lý lo lắng của người dân, nhất là ở vùng trực tiếp chịu ảnh hưởng của nhà máy ĐHN. Gần đây, tôi có đọc một số ý kiến của nhà thơ dân tộc Chăm Inrasara phản ánh tâm trạng lo lắng về ảnh hưởng của ĐHN đối với quê hương mình. Đó là những ý kiến rất cần được quan tâm.   
 
Tổ tiên run rủi?
 
Thảm họa đến từ thiên nhiên là bất khả kháng, nhưng trên thực tế thảm họa đến từ con người không phải là không thể xảy ra, liệu công nghệ hoàn hảo như chúng ta kỳ vọng sẽ đẩy lùi được thảm họa?
 
– Trận động đất, sóng thần dẫn đến thảm hoạ ĐHN ở Fukushima, Nhật Bản, cho thấy con người không thể tưởng tượng được hết mức độ và hậu quả khủng khiếp của thiên tai. Tốt nhất là hãy từ các thảm hoạ nhỡn tiền rút ra bài học cho mình. Tôi nghĩ tổ tiên đã run rủi cho chúng ta bằng những điểm báo rất rõ ràng: Khi ta chuẩn bị triển khai đại dự án bauxite ở Tây Nguyên thì xảy ra thảm họa bùn đỏ ở Hungary; định làm đường sắt cao tốc thì xảy ra hàng loạt tai nạn tầu cao tốc ở Trung Quốc; định làm ĐHN thì xảy ra thảm họa ĐHN ở Nhật Bản. Chẳng lẽ những cảnh báo dồn dập như vậy chưa đủ hay sao? Nên nhớ công nghệ cao đến đâu cũng có rủi ro. Lấy ví dụ, cầu Cần thơ do chuyên gia Nhật Bản thiết kế và chỉ đạo thi công bị sập cầu dẫn; Nhà máy lọc dầu Dung Quất với công nghệ tiên tiến của Pháp cũng dật dờ lúc đóng lúc mở suốt từ ngày khánh thành đến nay. Chúng ta không nên đặt cược tính mạng dân tộc vào kỹ thuật nước ngoài. Nếu còn thoát ra được thì nên cố gắng thoát ra. Thảm họa  có thể xảy ra từ thiên nhiên hay từ những bất cẩn của con người mà Chernobyn là một ví dụ điển hình về sự bất cẩn ấy.
 
– Nếu không làm ĐHN, Việt Nam sẽ không thể khắc phục được tình trạng thiếu điện đang ngày càng trở nên trầm trọng?
 
– Năng lượng điện của hai nhà máy ĐHN dự kiến chỉ đóng góp được 4% vào tổng năng lượng điện quốc gia, trong khi lãng phí điện ở nước ta rất lớn. Trong sản xuất, 1kwh điện ở Việt Nam chỉ làm ra được 0,8 USD, trong khi đó cũng 1kwh ở Nhật Bản, người ta làm ra 4,6 USD; ở Singapore 3,4 USD; ở Indonesia 2,7 USD và ở và Philippines 2,1 USD. Vì điện được sử dụng hiệu quả hơn nên mức tăng trưởng điện năng trung bình (do phát triển thêm nhà máy điện hoặc mở rộng quy mô các nhà máy điện hiện có) ở Nhật trong những năm qua chỉ là 0,8%/năm; ở Singapore 4,4%; ở Indonesia 6,3% và ở Philippines 4,6%; trong khi ở Việt Nam là 14,4%, cao hơn cả Trung Quốc (13%). Để đạt 380 tỷ kwh vào năm 2020, nước ta sẽ phải nâng mức tăng trưởng năng lượng điện lên 17%/năm. Nhưng nếu không nâng cao được hiệu quả sử dụng điện thì càng tăng trưởng nhiều càng bất lợi.  
Theo GS.VS Hoàng Xuân Phú, nếu tính cả kinh phí chôn lấp chất thải HN và dỡ bỏ nhà máy ĐHN khi hết hạn sử dụng, tổng giá thành làm ĐHN sẽ cao gấp 43 lần nhiệt điện, 41 lần điện từ khí, 27 lần điện từ gió biển. Trong khi đó, với trên 20 tỷ USD dự kiến đầu tư cho hai nhà máy ĐHN, chúng ta hoàn toàn có thể làm một nhà máy nhiệt điện công suất 18.750 MW, gấp 4,6 lần 2 nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận.
 
– Sau hơn 1 năm xảy ra sự cố ĐHN, ngày 6/5 Nhật đã chính thức đóng cửa lò phản ứng hạt nhân cuổi cùng, trong khi đó nước Nhật vẫn là đối tác giúp Việt Nam xây dựng nhà máy ĐHN? Ông suy nghĩ thế nào về sự kiện này?
 
– Việt Nam lựa chọn Nga và Nhật là hai nước có khoa học – công nghệ phát triển và cũng là hai nước có thảm họa hạt nhân lớn nhất làm đối tác giúp xây dựng 2 nhà máy ĐHN đầu tiên. Với những thông tin mà mình có được, tôi không hiểu rõ lý do lựa chọn hai nước này. Nhưng điều quan trọng hơn là không hiểu vì sao nước ta vẫn kiên trì phát triển ĐHN, trong khi hàng loạt quốc gia phát triển như Đức, Bỉ, Thuỵ Điển, Tây Ban Nha, Italia,… và chính nước Nhật đã từ bỏ chính sách phát triển ĐHN. Thủ tướng Nhật Naoto Kan khi còn tại chức đã khẳng định: “Xem xét nguy cơ nghiêm trọng của các tai hoạ hạt nhân, chúng tôi cảm nhận mạnh mẽ rằng chúng ta không thể cứ tiếp tục dựa trên lòng tin là chỉ cần tìm cách bảo đảm an toàn hạt nhân.” Và ngày 6/5 vừa qua, nhà máy điện HN cuối cùng ở Nhật đã phải đóng cửa theo yêu cầu của người dân Nhật. Người dân Nhật cũng rất có thiện chí khi biểu tình đòi Chính phủ không được bán công nghệ ĐHN cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, vừa qua, một số nhà khoa học và các giới khác ở Việt Nam cũng đã gửi thư cho Thủ tướng Nhật Bản với mong muốn nước Nhật không đưa công nghệ ĐHN vào Việt Nam. Còn vì sao Việt Nam vẫn kiên trì thì câu hỏi này chỉ có thể tìm câu trả lời đầy đủ nhất từ Chính phủ.
 
Theo nhìn nhận của ông, vì sao Nhật chấm dứt ĐHN?
 
– Thảm họa HN ở Fukushima đã làm tăng sự tàn phá của trận sóng thần đối với đất nước Nhật, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế cũng như đến đời sống người dân Nhật nói chung và người dân tại Fukushima nói riêng. Nếu ĐHN có góp được phần nào cho sự phát triển của nước Nhật trong giai đoạn vừa qua thì bây giờ nó lại chứng tỏ sức tàn phá quá khủng khiếp. Và ở một nước dân chủ như Nhật thì Chính phủ phải có những quyết định hợp với lòng dân. Chấm dứt ĐHN chính là để đáp ứng nguyện vọng của người dân.
Bộ trưởng Nguyễn Quân khi trả lời trực tuyến báo chí đã chính thức   thông báo ĐHN chưa thể bắt đầu vào năm 2014.  Theo ông, có nên lùi thời hạn xây dựng ĐHN tới năm 2020?
 
– Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, cho rằng nên lùi thời gian ít nhất là 10 năm và chỉ nên làm vài lò phản ứng để có kinh nghiệm đã. Nhưng dự kiến của Việt Nam là đến năm 2025 – 2030 sẽ đứng vào hàng thứ 15 thế giới về ĐHN. Thiết tưởng, chạy theo thành tích trong lĩnh vực này nguy hiểm hơn các lĩnh vực khác nhiều. Mà trên thế giới, cũng không ai người ta khuyến khích mình thi đua như vậy. Ngược lại, chúng ta phải nghiên cứu xem vì sao nhiều nước tiên tiến trên thế giới đang từ bỏ ĐHN.
 
Theo tôi, là một nước nhiệt đới, chúng ta nên đầu tư học hỏi, nghiên cứu làm điện từ năng lượng gió, từ nhiệt của mặt trời, chứ không nên phát triển ĐHN. Giá thành ban đầu có thể đắt nhưng khi cải tiến được công nghệ sẽ rẻ. Năm ngoái, tôi đi châu Âu, thấy những dàn điện gió trải khắp nước Hà Lan và những tấm pin mặt trời trải khắp nước Đức, tôi cứ mong một ngày nào điện gió, điện mặt trời cũng phổ biến trên khắp đất nước ta.
 
– Xin trân trọng cảm ơn ông!
                                                                                          THU HÀ (thực hiện)
 
Nguồn : Văn Nghệ Trẻ số 22 (282), ngày 27/5/2012
Phần có nội dung bằng chữ màu xanh do người được phỏng vấn chỉnh lý.
Ghi chú:
* phần chữ màu nâu trong ngoặc đơn là của TH
Nguồn bài: xuandienhannom, mời các bạn qua bên trang đó đọc các comments.
———————————————-

Người Việt trong và ngoài nước phản đối dự án điện hạt nhân do Nhật tài trợ

Tú Anh

Đài RFI

Một chiến dịch phản đối chính phủ Nhật viện trợ xây nhà máy điện nguyên tử cho Việt Nam vừa được khởi động ngày hôm qua 14/05/2012. Sáng kiến này do Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện tại Việt nam và Kỹ sư Nguyễn Hùng ở Úc đề xuất và ngay tức khắc đã được hơn 100 người Việt trong và ngoài nước hỗ trợ.

Bản kiến nghị dự kiến sẽ gửi đến các cơ quan ngoại giao Nhật và thủ tướng Yoshihiko Noda, vào ngày 21/05, mang nội dung yêu cầu Nhật Bản rút lại quyết định trợ giúp Việt Nam xây nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Ngày 04/05/2012 vừa qua Nhật đã đóng cửa toàn bộ 54 nhà máy điện hạt nhân của Nhật vì thiếu an toàn nhưng lại tiếp tục bán trang thiết bị cho nước ngoài. Những người ký tên xem dự án nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận là một hành động « vô trách nhiệm và vô đạo lý » của chính phủ Nhật đối với dân tộc Việt Nam.

Trong ngày đầu tiên hôm qua, 116 người Việt trong và ngoài nước gồm đủ mọi thành phần từ giáo sư đại học, nhà khoa học, nhà báo, giới bảo vệ môi trường, cho đến các nhà tranh đấu cho dân quyền và người dân bình thường đã ký vào bản kiến nghị gởi thủ tướng Nhật và các cơ quan ngoại giao Nhật.

Trong số những người ký tên có nhà báo Thanh Thảo ở Quảng Ngãi. Ông là một trong những nhà báo Việt Nam đầu tiên viết bài báo động về tai họa sóng thần và thảm họa Fukushima hồi tháng ba năm ngoái. Trả lời câu hỏi của RFI hôm nay 15/05, vì những nguyên nhân sâu xa nào mà ông ký tên phản đối Nhật Bản, nhà báo Thanh Thảo giải thích :

« Tôi là một trong những nhà báo Việt Nam đầu tiên viết bài xã luận trên báo Thanh Niên về vụ tai họa sóng thần mà Nhật Bản gánh chịu hồi năm ngoái. Bài báo của tôi đã gây được nhiều xúc động trong nước Việt Nam. (Nói thế) để biết là tình cảm của tôi đối với dân Nhật và nước Nhật rất tốt đẹp. Nhưng tôi phản đối Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam xây nhà máy hạt nhân. Điều đơn giản là, sau tai nạn Fukushima thì Nhật đã phải quyết định đóng toàn bộ 54 nhà máy điện hạt nhân . Điều đó nói lên cái gì ? Đối với Nhật , phương thức dùng điện hạt nhân dễ gây thảm họa và thực tế đã gây thảm họa. Vì thế nhân dân Nhật và chính phủ Nhật đã đồng thuận bỏ nhà máy điện hạt nhân. Thế thì hà cớ gì mà Nhật lại viện trợ cái mà mình đã bỏ cho Việt Nam, là một một nước mà xưa nay chưa từng biết điện hạt nhân là cái gì cả ? Điều này rất khó hiểu. Cái mà mình không muốn có cho mình thì không nên đưa cho người khác … Phải nói thẳng là chính phủ Việt Nam chưa bao giờ có kinh nghiệm về điều hành nhà máy điện hạt nhân và những tai họa có thể gây ra cho đất nước mình … Tốt nhất là không nên làm cái gì mà người ta từ bỏ. »

 

Trích đoạn thư phản đối chính phủ Nhật viện trợ xây nhà máy điện nguyên tử cho Việt Nam

“(…) Chính phủ Nhật Bản đã quyết định đóng cửa tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử tại Nhật sau thảm họa kinh hoàng vừa xảy ra tại nhà máy phát điện nguyên tử Fukushima, như vậy thì chính phủ Nhật Bản không có lý do gì lại giúp tài chính cùng cho phép các công ty Nhật Bản bán trang thiết bị hay xây dựng nhà máy phát điện nguyên tử cho các nước khác trên thế giới.

Đi ngược với quyết định ngưng hoạt động của toàn bộ những nhà máy điện nguyên tử cùng với quyết định không xây thêm nhà máy mới trong tương lai vì lo ngại tai nạn tại các nhà máy này ảnh hưởng đến sức khỏe và an nguy của dân chúng và những tai hại cho nền kinh tế quốc gia, chính phủ Nhật Bản lại chấp thuận viện trợ Việt Nam xây dựng một nhà máy điện nguyên tử tại Phan Rang tỉnh Ninh Thuận.

Đây là một hành động vô trách nhiệm nếu không nói một hành động vô nhân đạo và không đạo lý của chính quyền Nhật Bản đối với đất nước và dân chúng Việt Nam nếu đem so sánh với việc làm của chính quyền Nhật Bản lo cho an nguy của dân chúng Nhật Bản, nếu không coi đây là một hành động phi pháp và đi ngược lại đạo lý của loài người. Nếu chính quyền Nhật Bản đã quyết định ngưng hoạt động tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử, thì Nhật Bản không được trợ giúp tài chánh và cùng lúc cho phép các công ty của Nhật Bản xây nhà máy điện nguyên tử tại các nước khác (…)”.

(Theo trang http://anhbasam.wordpress.com)

Posted in Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Sự thất thoát và lỗ lả của các tổng công ty và tập đoàn quốc doanh tiếp tục diễn ra

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2012

Đầu năm 2010, báo chí đăng tin 81/91 tập đoàn và tổng công ty đang bị thua lỗ, 10 tập đoàn còn lại chưa báo cáo vì chưa kết toán xong.

Đảng và nhà nước thành lập 91 tập đoàn và tổng công ty, thu gom tất cả những ngành nghề béo bở và ngon lành nhất của cả nước vào trong tay ( các tập đoàn và tổng công ty chiếm 70% nền kinh tế và tài chánh của cả nước). Tập đoàn làm ăn cuối năm có lời thì chia lại cho đảng và nhà nước, và họ lấy số tiền này làm gì, cụ thể ra sao, không một người dân nào được biết.Tập đoàn nào làm ăn thua lỗ, thì chính phủ cấp vốn thêm. (Đọc bài : 100.000 Tỉ Đồng có Cứu Vinalines Khỏi “mắc cạn” ? ở dưới comment hoặc ở đây  nguồn)

Lâu lâu, báo đăng bản tin thế này để ta thấy rõ tài nguyên khoáng sản lọt vào tay của đảng và nhà nước ra sao: “Thay mặt lãnh đạo Petrovietnam, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp Ngân Sách Nhà Nước đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.” (nguồn)

[Nền kinh tế VN có GDP là 100 tỷ, mà chỉ riêng việc bán dầu thô và khí đốt đã lên tới 34 tỷ đô la (mời các bạn đọc bài Tăng Trưởng bằng tài nguyên khoáng sản là sai lầm). Các số liệu sau đây là trích từ bài vừa dẫn. Ngành gia công dệt, may áo quần,  giày, dép xuất khẩu hàng năm là  22 tỷ đô la (2011); các ông chủ cộng sản trở thành thương lái, họ về nông thôn mua ép giá lúa của nông dân và ngồi không hưởng lợi từ độc quyền xuất khẩu giá gạo với giá cao, tiền xuất khẩu gạo mang về 4 tỷ đô la (2011); Thủy sản thu được 7 tỷ và xuất khẩu cafe  thu được 3 tỷ; Việt kiều gởi về 9 tỷ… tổng cộng 79 tỷ đô la. 21 tỷ đô la còn lại là các hoạt động kinh tế của tư nhân trong nước. Hoặc kinh doanh bất động sản bằng cách tham gia vào việc cướp đất đai của dân như thế này đây. Chúng ta thấy ngay là kế hoạch kinh tế của cả nước do đảng vạch ra là con số 0 để đóng góp cho phát triển. ]

Mỗi tập đoàn có 150-400 công ty con. Tổng cộng có 12.000 công ty quốc doanh là các công ty con của 91 tập đoàn. Ban giám đốc của tập đoàn, hội đồng quản trị, giám đốc của các công ty con là tay chân, gia đình, đảng viên, con cái của các cán bộ cao cấp. Các nhân vật giám đốc này “hút tiền” của tập đoàn của công ty và đem về nộp cho đảng, cho các ông lớn trong bộ chính trị và ủy viên trung ương đảng đã bổ nhiệm họ vào chức vụ. Bởi vậy, tây phương gọi nền kinh tế VN được bổ nhiệm và điều hành theo kiểu  cronyism, (để  biết về cronyism, mời các bạn đọc bài báo phỏng vấn này)

Mấy năm trước có tin Vinashin “thất thoát” 4,6 tỷ đô la theo kết toán vào mùa hè năm 2010.

Năm nay, Vinalines “lỗ lả” hơn 1,1 tỷ đô la theo kết toán hồi tháng 4/2012.

80-90% của số tiền thất thoát và lỗ lả của hai tập đoàn này diễn ra bên trong Việt Nam. Số tiền thất thoát và lỗ lả này chắc chắc sẽ chui vào túi của AI đó, chứ người dân thường như chúng ta chắc chắn không ai thu lợi được từ sự lỗ lả của hai tập đoàn này. Nói vậy, chắc các bạn đã biết “ai” thu lợi được từ sự lỗ lả và thất thoát này, phải không? Mà không phải chỉ có hai tập đoàn này thua lỗ mà tất cả 12.000 công ty quốc doanh (con) của 91 tập đoàn này đã và đang thua lỗ hàng năm, kể từ ngày thành lập!

Trong các tháng và năm sắp tới, 2013 hoặc 2014, các bạn sẽ còn chứng kiến các thất thoát và lỗ lả khác của các tổng công ty và tập đoàn quốc doanh. 

Cập nhật ngày 6 tháng 7-2012

Tập đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN) báo cáo thua lỗ 10.000 tỷ đồng VN,  Kỷ luật dàn lãnh đạo EVN: Bộ Nội vụ vào cuộc

Mời các bạn đọc thêm ở đây:

http://www.boxitvietnam.net/2012/06/22/lam-sao-r%E1%BB%ADa-t%E1%BB%99i-cho-th%E1%BB%A7-t%C6%B0%E1%BB%9Bng/

_______

Cập nhật 11/9/ 2018.

12 thg 7, 2017 – … tổng tài sản của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) là trên 692.216 tỷ đồng, tăng trên 51.000 tỷ đồng so với đầu năm. Tuy nhiên, số nợ  phải trả lên tới trên 486.981 đồng. 
21 thg 6, 2017 – TTO – Giữ vị trí quán quân vay nợvới 9,7 tỉ USD Tập đoàn Điện lực Việt Nam … của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN ) tăng thêm 7.230 tỷ đồng so với kế hoạch.

 

_______

Vinashin, Vinalines chứng tỏ tham nhũng nghiêm trọng hơn thời PMU18

24-5-2012

(Dân trí) – “Nhùng nhằng giữa quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh dẫn đến thất thoát, sai phạm tại các tập đoàn. Vì vậy mới có chuyện mua tàu, mua ụ nổi cả nghìn tỷ đồng mà không thể quy trách nhiệm cho ai” – Chủ nhiệm UB Pháp luật Phan Trung Lý phân tích.

Nội dung thảo luận về tình hình kinh tế xã hội tại tổ hôm nay (24/5) ghi nhận nhiều ý kiến của các đại biểu Quốc hội phân tích, mổ xẻ thẳng thắn về chuyện quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước.

Không “mổ xẻ” trách nhiệm, sẽ còn nhiều Vinalines

Đại biểu Nguyễn Xuân Trường (Hải Phòng) đi thẳng vào câu chuyện thời sự – những sai phạm vỡ lở ở TCty Hàng hải Việt Nam Vinalines vừa qua, dẫn tới việc nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp, cơ quan quản lý dính vòng lao lý.

“Vinashin đổ bể, Chính phủ đi đến giải pháp tái cơ cấu tập đoàn bằng cách “chuyển đỡ” nhiều khó khăn sang Vinalines với kỳ vọng Vinalines sẽ làm thay da đổi thịt cho tập đoàn này nhưng hậu quả như đến giờ chúng ta thấy, còn nghiêm trọng hơn” – ông Trường đặt câu hỏi về khoản tiền hàng chục nghìn tỷ đồng tiêu tán ở mỗi doanh nghiệp này.

Đại biểu cũng lo ngại, hiện tượng những Vinashin, Vinalines là dấu hiệu của tham nhũng, lãng phí với mức độ nghiêm trọng hơn so với vụ PMU18 trước đây.

 

Chủ nhiệm UB Pháp luật: “Sai phạm vỡ lỡ, chỉ “tóm” được người đi mua tàu”.

Chủ nhiệm UB Pháp luật Phan Trung Lý phân tích, mấu chốt vấn đề cảu Vinashin, Vinalines đã đặt ra từ nhiều năm trước. Từ năm 2006 đến 2010 Quốc hội đã không dưới 1 lần đưa ra bàn về vấn đề mô hình tập đoàn kinh tế. Ban đầu, chủ trương chỉ là thí điểm nhưng chưa tổng kết, đánh giá thì đồng loạt các tập đoàn kinh tế đã thành lập từ các TCty 90, 91. Hệ quả của việc hoạt động tràn lan, không quản lý được là những sự việc sai phạm liên tục bị phát hiện, lặp đi lặp lại ở nhiều đơn vị như hiện nay.

“Vì không thực hiện triệt để nguyên tắc tách bạch quản lý nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh, sự nhùng nhằng còn kéo dài, thất thoát, sai phạm còn nhiều. Vì vậy mới có chuyện mua tàu, mua ụ nổi giá trị hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, đến lúc truy trách nhiệm thì ai cũng chối không phải do mình quyết định. May ra chỉ “tóm” được mấy ông trực tiếp đi mua” – ông Lý cảnh báo, nếu không mổ xẻ rõ nguyên nhân, trách nhiệm, sẽ không thể khắc phục được tình trạng này và sẽ còn có thêm nhiều Vinashin, Vinalines nữa đi theo vết xe đổ.

Đại biểu Trần Du Lịch (TPHCM) yêu cầu làm rõ việc phân bố ngân sách cho các tập đoàn, TCTy nhà nước. Ông Lịch cũng bức xúc về việc đầu tư ngoài ngành không hiệu quả của các DNNN này đã đề cập nhiều vẫn không được giải trình.

Đại biểu công kích: “Các DNNN với nguồn vốn chủ sở hữu đến 30-40 tỷ USD của nhà nước, không bị lấy thuế, nhưng vẫn kém hiệu quả. Tôi cho rằng, trong những lần đề nghị Quốc hội phân bổ ngân sách tới đây phải giải trình về nguồn tiền này”.

Đại biểu Võ Thị Dung yêu cầu Chính phủ phải giải trình về việc sử dụng nguồn vốn ở các tập đoàn này, làm rõ những lãng phí, thất thoát ở đây do việc đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả. Làm sao để việc sử dụng ngân sách, tiền thuế của người dân phải hiệu quả hơn.

Đại biểu Trương Thị Ánh cho rằng, việc giám sát tài chính khối DNNN này thuộc trách nhiệm Bộ Tài chính.

Nền kinh tế đang “khát vốn nhưng thiếu máu”

Phân tích các nội dung khác về tình hình kinh tế xã hội hiện nay, đại biểu Trần Du Lịch cho rằng cần đánh giá việc lạm phát liên tục được kéo xuống là tín hiệu tốt hay không. Ông Lịch nhận định, dấu hiệu này đáng lo hơn đáng mừng vì nó thể hiện sức mua giảm quá mạnh. Đại biểu đặt câu hỏi, phải chăng giải pháp thắt chặt đầu tư công và thắt chặt tiền tệ khiến nền kinh tế “thiếu máu”, dẫn tới sức mua giảm quá mạnh, DN gặp nhiều khó khăn. Sức mua giảm khiến nhập khẩu giảm. Như vậy, theo ông Lịch, việc giảm nhập siêu là do ngừng nhập chứ không phải là do các giải pháp điều hành. Chắc chắn khi kinh tế phục hồi tìh nhập siêu lại tăng. Điều đó cho thấy các giải pháp áp dụng hiện nay chưa căn cơ.

Đại biểu Trần Du Lịch: “Đã đến lúc nới lỏng chính sách tiền tệ” (ảnh: VNN).

“Năm 2012, dấu hiệu suy giảm kinh tế đã rất rõ, rất đáng lo ngại. Với tình hình sức mua giảm hiện nay, CPI cả năm chắc chắn dưới 10%. Lúc này đã hoàn toàn đủ điều kiện để Chính phủ có thể nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm giải bài toán tăng trưởng. Từ nay đến cuối năm, chắc chắn khó đạt mục tiêu tăng GDP 6-6,5%%, nhưng vẫn có thể đạt mức 5,5-6% nếu nỗ lực thật nhiều” – vị chuyên gia kinh tế có tiếng nhấn mạnh.

Nhận định nền kinh tế hiện nay đang “khát vốn nhưng thiếu máu”, ông Lịch cho rằng Chính phủ cần tăng tín dụng, chấp nhận nợ xấu, “vì nếu ngân hàng thủ thế quá kỹ sẽ càng đẩy DN vào tình trạng khó khăn, đến lúc đó nợ xấu vẫn không giải quyết được mà DN phá sản càng nhiều”.

Đồng quan điểm này, đại biểu Lê Thanh Vân (UB Tài chính ngân sách) lật lại vấn đề, năm 2009, khi kinh tế khó khăn, suy thoái, Chính phủ đề xuất 2 gói kích cầu, tung ra thị trường tổng cộng gần 1 triệu tỷ đồng. Nhưng do năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế yếu, dẫn đến hệ quả lạm phát tăng cao, kéo dài sang năm 2011, 2012.

Chính phủ hiện lại thắt chặt chính sách tiền tệ, tài khóa theo Nghị quyết 11 để kìm lạm phát khiến dòng vốn chảy vào khu vực sản xuất tắc nghẽn, khó khăn cho DN. Việc xây dựng nhiệm vụ chi của các cơ quan TƯ chậm chễ càng làm tiền không kịp thời rót vào lưu thông. Bức tranh kinh tế 4 tháng đầu năm vì vậy nhuốm màu ảm đạm.

Con số tăng trưởng 4% 4 tháng đầu năm theo ông Vân cũng “đáng ngờ” vì mâu thuẫn với chỉ số tăng trưởng tín dụng âm (đáng ra 2 chỉ số này luôn phải tỷ lệ thuận với nhau).

“Chính sách tiền tệ thắt chặt cũng cần phân tích một cách nghiêm cẩn. Nếu tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11, e rằng khó khăn của DN và cả nền kinh tế sẽ tiếp tục “tắc” hướng giải quyết”.

P.Thảo

nguồn báo Dân Trí

Dân luận

*Chính phủ nhận định “tham nhũng ngày càng tinh vi”, nhưng tôi cho rằng tham nhũng không còn tinh vi nữa mà là công khai, trắng trợn. Như vụ Vinalines mua ụ nổi No.83M. Cái ụ đó người ta vứt đi hàng chục năm nhưng Vinalines mua về với giá hàng chục triệu USD rồi bỏ xó không hoạt động. Nó lù lù như thế thì làm sao nói là tinh vi được.

Ông Lê Nam Phó đoàn ĐBQH Thanh Hóa, phát biểu sáng 24-5 tại buổi thảo luận tổ

“Tài sản có được từ mồ hôi, nước mắt”

Đó là khẳng định của ông Bùi Thanh Tùng (con trai Bí thư Hải Dương Bùi Thanh Quyến) với VNN khi trả lời những câu hỏi liên quan đến khu nhà vườn trăm tỉ tại Ninh Giảng, Hải Dương được cho là của ông. Ông Tùng nói số tiền mà ông có được để bỏ ra xây dựng ngôi nhà tọa lạc trên khu đất hơn 4.000 m2 này là tiền mồ hôi, nước mắt, xuất phát từ trí tuệ, vận động cá nhân chứ không phải là dựa dẫm vào bất kỳ ai, vào mối quan hệ nào. Được biết ông Tùng sinh năm 1980, đang công tác tại Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hải Dương.

Ngày 24-5, trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp QH về vụ việc này, ĐBQH Bùi Thanh Quyến – Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương nói: “Thông tin đăng trên báo, các phóng viên xem, tôi cũng xem. Nhưng vấn đề có khách quan hay không, tôi nghĩ chính là các báo phải xem xét việc đó. Tôi nói ra chưa chắc đã khách quan. Vấn đề này phải xem xét một cách cụ thể và sau này tất cả những điều này sẽ được làm sáng tỏ”.

Về ý kiến cho rằng con trai ông là một công chức nhà nước nhưng lại sở hữu một khối tài sản kếch xù như thế liệu có gây dư luận xấu trong xã hội, ông Quyến nói: “Tôi nghĩ là với trách nhiệm của phóng viên, báo chí tự tìm hiểu”.

THÀNH VĂN

nguồn

Chính phủ nhận định “tham nhũng ngày càng tinh vi” nhưng tôi cho rằng tham nhũng không còn tinh vi nữa mà là công khai, trắng trợn. Như vụ Vinalines mua ụ nổi No.83M. Cái ụ đó người ta vứt đi hàng chục năm nhưng Vinalines mua về với giá hàng chục triệu USD rồi bỏ xó không hoạt động. Nó lù lù như thế thì làm sao nói là tinh vi được.

Ông Lê Nam Phó đoàn ĐBQH Thanh Hóa, phát biểu sáng 24-5 tại buổi thảo luận tổ

“Tài sản có được từ mồ hôi, nước mắt”

Đó là khẳng định của ông Bùi Thanh Tùng (con trai Bí thư Hải Dương Bùi Thanh Quyến) với VNN khi trả lời những câu hỏi liên quan đến khu nhà vườn trăm tỉ tại Ninh Giảng, Hải Dương được cho là của ông. Ông Tùng nói số tiền mà ông có được để bỏ ra xây dựng ngôi nhà tọa lạc trên khu đất hơn 4.000 m2 này là tiền mồ hôi, nước mắt, xuất phát từ trí tuệ, vận động cá nhân chứ không phải là dựa dẫm vào bất kỳ ai, vào mối quan hệ nào. Được biết ông Tùng sinh năm 1980, đang công tác tại Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hải Dương.

Ngày 24-5, trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp QH về vụ việc này, ĐBQH Bùi Thanh Quyến – Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương nói: “Thông tin đăng trên báo, các phóng viên xem, tôi cũng xem. Nhưng vấn đề có khách quan hay không, tôi nghĩ chính là các báo phải xem xét việc đó. Tôi nói ra chưa chắc đã khách quan. Vấn đề này phải xem xét một cách cụ thể và sau này tất cả những điều này sẽ được làm sáng tỏ”.

Về ý kiến cho rằng con trai ông là một công chức nhà nước nhưng lại sở hữu một khối tài sản kếch xù như thế liệu có gây dư luận xấu trong xã hội, ông Quyến nói: “Tôi nghĩ là với trách nhiệm của phóng viên, báo chí tự tìm hiểu”.

THÀNH VĂN

Posted in Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, và Châu Á | 8 Comments »

+ Nghĩ về những đất nước không thành

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2012

Lời tựa:

Tựa đề này được tác giả Nguyễn Gia Kiếng, kỹ sư ở Pháp, cắt nghĩa: “Đó là những quốc gia mà nhà nước không còn giữ được độc quyền bạo lực, không đảm bảo được công ích và trật tự an ninh, cũng không còn thẩm quyền để thảo luận và thỏa hiệp với các nước khác nữa. Bởi vì chính quyền không được sự hợp tác của người dân và cũng không kiểm soát được người dân nữa.”

Theo TH, chữ failed state ứng dụng cho Việt Nam thì nên được dịch và hiểu như sau: Đó một nhóm người không có công ăn việc làm và thiếu độc lập về tư tưởng họp lại với nhau thành một đảng, rồi dùng các thủ đoạn chính trị, bạo lực và sự lừa đảo để tạo ra niềm tin trong dân chúng để thành lập nhà cầm quyền về sau. Thỏa hiệp bí mật bán bớt đất đai cho nước ngoài để lấy vũ khi và hậu thuẩn và dùng bạo lực và lừa đảo để cướp chính quyền, dùng công an và nhà tù để làm cho dân chúng sợ hãi;  dùng lối cướp bóc và xúi giục những kẻ cùng đinh chiếm đoạt ruộng đất, và sau đó thu tóm tất cả ruộng đất trong tay của nông dân vào trong tay chúng bằng cáí gọi là “hợp tác xã”. Hậu quả dẫn đến là thiếu gạo ăn, đói…Khi ở bước đường cùng thì tiếp tục cam tâm làm tay sai cho các nước ngoài để đổi lấy vũ khí lương thực gây cuộc nội chiến cướp thêm đất đai tài sản;  rồi bị sa lầy sau khi chiếm thêm đất đai vàng và tài nguyên của các nước lân bang. Khi nông nghiệp, kinh tế hoàn toàn thất bại, thì họ quay ngoắt lại…chạy theo cái chính thể mà họ đã quyết tâm xóa bỏ trước đó…Để làm tất cả các việc ấy, họ dùng lương thực và bạo lực để buộc người dân phải tin và đi theo, dùng nhà tù để đàn áp bất cứ ai có ý kiến khác biệt, bóp nghẹt tất cả quyền tự do của con người. Mục đích cao nhất là nắm quyền và bảo vệ đảng bằng mọi giá để tồn tại, phát nhà cửa bổng lộc cho đảng viên để lôi kéo họ đi theo, tất cả giới chức cao cấp trong chính quyền đều là loại đạo đức giả và tham nhũng, liên tục thất bại trong nhiệm vụ điều hành, đục khoét tài nguyên khoáng sản bán cho nước ngoài, đưa những người trong đảng, con cái, bà con, vào nắm các chức vụ quan trọng nhất, chiếm đoạt đất đai vào trong tay, nắm độc quyền tất cả các ngành nghề kinh doanh, bưu điện, viễn thông, khai mỏ, xuất nhập khẩu, dịch vụ ngân hàng để chia nhau hưởng tất cả lợi lộc. Tự xưng là lãnh đạo dân chúng của cả nước, nhưng làm kinh tế thì thất bại liên tục hết ngũ niên này đến ngũ niên khác vì các đảng viên thì tham lam, bất tài, thiếu khả năng, mù quáng bám theo học thuyết của những kẻ điên khùng đã đẻ ra nền kinh tế XHCN…Đó là những đặc trưng của một failed state mà VN là điển hình.

Nghĩ về những đất nước không thành

Nguyễn Gia Kiểng
“… Mọi quốc gia đều phải đặt nền tảng trên một tư tưởng chính trị đúng đắn nếu không muốn rơi vào bạo quyền và bạo loạn…”

30 tháng 4 – 2012. Tôi đang ở trên Quảng Trường Hiến Pháp, Plaza de la Constitucion, trung tâm thủ đô Mexico của nước Mexico. Người Mexico (phát âm Mê-hi-cô) gọi là Socalo, có nghĩa là “nền tảng”. Mỗi thành phố lớn của nước Mexico đều có một socalo làm trung tâm quyền lực. Chung quanh quảng trường này có tất cả. Dinh tổng thống, tòa thị chính thành phố Mexico, trụ sở quốc hội và dĩ nhiên một nhà thờ lớn rất đồ sộ. Ở góc quảng trường, bên cạnh nhà thờ lớn, qua một song sắt người ta có thể nhìn thấy một vài di tích của kinh thành Tenochtitlan bị tàn phá và san phẳng năm 1521. Tenochtitlan là tên cũ của thành phố Mexico.

Tôi không quen biết ai tại nước Mexico này và cũng không có nhu cầu du lịch. Tôi đến đây vì từ nhiều năm rồi tôi vẫn tự nhủ thế nào cũng phải đi Mexico ít nhất một lần cho biết. Vì hai lý do. Lý do thứ nhất là để được nhìn tận mắt một kỳ quan của sự nghịch lý. Tại sao một thành phố thành lập trên cao độ hơn 2000 mét, không gần bờ biển và cũng không có dòng sông nào chảy qua lại có thể là thành phố lớn nhất, ít nhất đông dân nhất, thế giới từ hơn sáu thế kỷ qua? Lý do thứ hai, quan trọng hơn nhiều, là để tìm câu trả lời cho một câu hỏi tình cờ nẩy ra trong óc tôi và ngày càng gây khó chịu: tại sao nhiều người, nhà báo cũng như nhà chính trị, lại nói Mexico là một failed state?

Cụm từ failed state có lẽ đã xuất hiện vào đầu thập niên 1990 để chỉ nước Somalia, lúc đó rơi vào tình trạng nội chiến vô chính phủ và không giải pháp bởi vì có quá nhiều phe lâm chiến. Đó là kết quả của hai mươi năm phiêu lưu chính trị của những tướng lãnh quá dốt đến nỗi không biết là mình dốt. Họ thử nghiệm một tổng hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồi Giáo, sau đó chuyển sang một chế độ độc tài quân phiệt, làm nước Somalia tan vỡ trong nội chiến. Đến nay Somalia vẫn chưa có chính quyền. Cụm từ failed state có khi được dịch sang tiếng Việt là “quốc gia thất bại”. Cách dịch này không đúng. Một quốc gia có thể thất bại trong một hay nhiều mục tiêu (thí dụ như một giải bóng đá) mà vẫn là một quốc gia, trong khi một failed state là một quốc gia không còn là một quốc gia nữa. Có lẽ nên dịch những failed states là những “đất nước không thành” thì đúng hơn? Đó là những quốc gia mà nhà nước không còn giữ được độc quyền bạo lực, không đảm bảo được công ích và trật tự an ninh, cũng không còn thẩm quyền để thảo luận và thỏa hiệp với các nước khác nữa. Bởi vì chính quyền không được sự hợp tác của người dân và cũng không kiểm soát được người dân nữa. Tổ chức Quỹ Hòa Bình (Fund for Peace) công bố hàng năm một danh sách các quốc gia xếp hạng theo “chỉ số không thành” (failed state index) trong đó Somalia đứng hạng nhất, Việt Nam được xếp vào loại warning, nghĩa là đáng lo ngại. Bảng xếp hạng này chỉ có một giá trị rất tương đối vì nó làm quá nhiều tính toán trên một khái niệm định tính về bản chất.

Lần đầu khi đọc một nghiên cứu nói Mexico là một đất nước không thành tôi ngạc nhiên. Làm sao có thể thế được? Mexico là nước độc lập từ gần hai thế kỷ qua với một hiến pháp dân chủ ổn định từ gần một thế kỷ. Một nước lớn với 110 triệu dân sống trên một diện tích bao la gần hai triệu kilomét vuông mở ra cả Đại Tây Dương lẫn Thái Bình Dương. Hơn nữa Mexico còn có cả một vịnh lớn của riêng mình, vịnh California. Mexico đứng đầu thế giới về mỏ bạc và cũng là nước xuất cảng dầu lửa thứ năm trên thế giới. Thu nhập bình quân trên mỗi đầu người của Mexico là trên 10.000 USD mỗi năm, gấp 10 lần Viêt Nam. Nhưng rồi tôi tiếp tục đọc nhiều tài liệu khác đánh giá Mexico là một đất nước không thành đồng thời phơi bày tình trạng bạo loạn. Mới đây tôi lại được đọc bài phỏng vấn ngoại trưởng Mexico trong đó người ký giả đặt thẳng câu hỏi Mexico có phải là một đất nước không thành không và ông bộ trưởng trả lời một cách lưỡng lự.

Chỉ vài ngày sau khi tới Mexico tôi đã hiểu quả thực có lý do chính đáng để coi Mexico là một đất nước không thành. Vợ tôi, thường hay về Việt Nam, quả quyết rằng theo sinh hoạt hàng ngày thì thu nhập của một người Mễ cùng lắm chỉ gấp đôi Việt Nam chứ không thể gấp mười được. Mexico trên thực tế chỉ là một thuộc địa trá hình. Phần lớn của cải tập trung trong tay một thiểu số. Cụm từ “thu nhập bình quân trên mỗi đầu người” không có nghĩa gì cả. Mexico có rất nhiều tỷ phú, kể cả người giàu nhất thế giới Carlos Slim, nhưng dân chúng thì rất nghèo. Tình trạng bất công này tự nhiên dẫn tới hỗn loạn và trộm cướp. Chiến tranh giữa các băng đảng với nhau và với cảnh sát hàng năm làm từ 5000 đến 10.000 người chết. Cướp bóc và buôn lậu bạch phiến không bị coi là có tội nếu do người trong gia đình hoặc đồng hương làm. Các du khách được khuyên là không nên đi dạo khi chiều tối ngoài trung tâm thành phố. Ngay bên cạnh khách sạn mà tôi ở, khá gần trung tâm thành phố Mexico, có một tiệm tạp hóa nhỏ với một người bảo vệ mang súng; cô hướng dẫn viên du lịch nói như thế là bình thường. Hành động dũng cảm được mọi người thán phục là vượt biên giới qua Mỹ sống ngoài vòng pháp luật và làm những công việc lặt vặt để có tiền gửi về quê hương.

Các tài liệu thống kê cho thấy Mexico có khoảng 75% người lai, số 25% còn lại một nửa là người gốc Espana một nửa là “thổ dân thuần túy”. Nhưng ngay khi tới đây tôi khám phá ra rằng mình lầm to. Người Espana rất ít pha trộn với thổ dân; “người lai” chỉ là những thổ dân có khả năng trả lời bằng tiếng Espana những câu hỏi trong cuộc kiểm tra dân số. Như vậy phải hiểu rằng gần 90% dân Mexico, mà người Việt tại Mỹ gọi là người Mễ, là những người có tổ tiên sinh sống ở Châu Mỹ trước khi người Châu Âu tới. Điều này rất dễ nhận thấy bởi vì người Mễ có đặc tính là họ mang lịch sử dân tộc trên cơ thể. Cho tới khi người Châu Âu tới đây, đầu thế kỷ 16, họ chưa biết sử dụng bánh xe và kim loại, cũng chưa biết thuần hóa súc vật cho việc chuyên chở. Họ chỉ dùng sức người. Dầu vậy họ đã mang hàng triệu tảng đá nặng để xây những kim tự tháp và đền đài. Và họ xây cất rất nhiều, trên những qui mô lớn một cách kinh ngạc. Kinh thành Teotihuacan chẳng hạn, dựng lên cách đây hơn hai ngàn năm, có Kim Tự Tháp Mặt Trời gần bằng kim tự tháp Kheops lớn nhất của Ai Cập và một đường chính rộng mênh mang dài gần 3 Km. Người ta không thể đếm hết những công trình xây cất đồ sộ như vậy và tất cả đều làm bằng sức người. Di sản lịch sử nhọc nhằn một cách kinh hoàng đó còn thấy được trên cơ thể người Mễ. Họ lùn và mập, chân tay to và ngắn. Những hài cốt tìm lại được cho thấy trước đây họ không cao quá 1,45m, ngày nay người Mễ cũng ít khi cao hơn 1,60m. Những người Mễ chính thống này hầu như không có tài sản nào trên đất nước họ. Trước một sự bất công thách đố như vậy bạo lực gần như chính đáng, nhất là khi chính công an nhà nước cũng ám sát, thủ tiêu, cướp bóc.

Khó có quốc gia nào có thể có một lịch sử hung bạo như Mexico. Cả thế giới biết và lên án hành động diệt chủng của những đoàn conquistadors (quân chinh phục người Espana) đối với thổ dân Châu Mỹ, nhưng những tàn sát này không thấm vào đâu so với sự tàn sát lẫn nhau của các sắc tộc thổ dân trước đó. Giết người tế thần là phong tục của mọi sắc dân. Để khánh thành cung điện Tenochtitlan, người Aztec đã giết trong một ngày hai chục ngàn người, và giết theo một nghi thức ghê rợn: mổ sống để móc trái tim còn đập. Khi tấn công Tenochtitlan đoàn quân conquistador của Cortès chỉ có vài trăm người nhưng họ đã huy động được 150.000 người thổ dân cùng chiến đấu với họ để trả thù người Aztec. Đế quốc Aztec bị tiêu diệt sau vài tháng và kinh thành Tenochtitlan bị san phẳng. Kế tiếp là hai thế kỷ thống trị và bóc lột dã man của đám thực dân Espana. Mexico được độc lập năm 1821 chỉ để chịu đựng những chế độ độc tài cướp bóc của các tướng lãnh. Ngoại trừ một giai đoạn bình yên khoảng 20 năm do Lazaro Cardenas mở ra năm 1934, lịch sử Mexico cho tới nay là một chuỗi đàn áp, bóc lột, cách mạng, bạo loạn và ám sát, nhiều khi cùng một lúc. Mexico đúng là một quốc gia không thành.

Từ năm 2000 dân chủ được vãn hồi và ngày càng được củng cố. Những tranh luận chính trị ngày càng tỏ ra nghiêm chỉnh và có phẩm chất. Mexico có nhiều triển vọng ra khỏi danh sách những đất nước không thành, và có một tương lai.

Nhưng tại sao Mexico lại là một đất nước không thành?

Chính trong khi đi thăm viếng các nhà thờ lớn nguy nga, đặc biệt là nhà thờ Đức Mẹ Guadalupe (nơi Đức Mẹ Maria hiện ra với một thổ dân và in hình mình vào áo của người này) mà tôi nghĩ là đã tìm ra câu trả lời. Người Espana sang chinh phục Châu Mỹ tàn nhẫn với thổ dân bao nhiêu thì họ rộng rãi bấy nhiêu trong việc xây dựng những nhà thờ thật nguy nga, có phần hơn cả những nhà thờ lớn tại Châu Âu. Và người thổ dân đã chấp nhận đạo Công Giáo theo cách của họ, nghĩa là lấy các thánh công giáo thay cho các vị thần trước đó. Tại làng Chamula gần Palenque tôi được thăm một giáo đường trong đó rất nhiều người thổ dân Chiapas đang cúng các thánh công giáo như những thần linh, thí dụ như cắt tiết gà mái để xin cho con khỏi bệnh. Có những vị thánh không đáp ứng lời cầu khẩn nên đang bị phạt, không được thắp sáng và cũng không có lễ vật. Sự chắp nối lạ đời này chứng tỏ lý luận không có chỗ đứng đáng kể nào tại Mexico và khiến tôi chợt nhận ra là Mexico hầu như hoàn toàn không có một tác phẩm tư tưởng nào, dù đã có một nhà văn được giải Nobel về văn chương năm 1990. Mexico không có tư tưởng và vì thế đã là một đất nước không thành. Lý do là vì mọi quốc gia đều phải đặt nền tảng trên một tư tưởng chính trị đúng đắn nếu không muốn rơi vào bạo quyền và bạo loạn. Quốc gia là một khái niệm chính trị phức tạp đã gây tranh cãi dữ dội, nhiều khi đẫm máu.

Tư tưởng, kể cả tư tưởng chính trị, là con đường tới sự hiểu biết thấu đáo thay vì những xác quyết chắc nịch của sự nông cạn dẫn thẳng tới xung đột. Nhưng muốn suy nghĩ thì trước hết phải hiểu rõ các từ ngữ và khái niệm. Trong một nước nếu mỗi người hiểu quốc gia, dân tộc, tự do, dân chủ, pháp luật, chính quyền v.v. một cách khác nhau thì không thể có thảo luận và do đó không thể sống chung. Phương pháp duy nhất để hiểu như nhau là cố gắng học hỏi để hiểu đúng, và các khái niệm này phức tạp lắm chứ không đơn giản.

Sau đó cần đầu tư thời gian và cố gắng tìm giải đáp cho một số câu hỏi. Thế nào là một quốc gia lành mạnh? Cứu cánh của nhà nước là gì? Nhà nước có vai trò gì? Nhà nước quan trọng hơn hay cá nhân quan trọng hơn? Quyền hạn của nhà nước phải dừng lại ở chỗ nào để tự do cá nhân có thể bắt đầu? Có thể kiểm soát hoạt động kinh tế tới mức độ nào mà không triệt tiêu những quyền tự do chính trị? Một đại biểu quốc hội có quyền bầu theo lập trường mà mình nghĩ là có lợi cho cử tri hay phải bầu cho điều mà mình nghĩ rằng đa số cử tri muốn? Những mầm mống chia rẽ trong dân tộc xuất hiện như thế nào và phải được giải quyết như thế nào? v.v. Những câu hỏi này nhiều lắm và khó lắm nhưng nếu không trả lời được thì không thể xây dựng được quốc gia. Không có tư tưởng chính trị thì không thể có cảm thông giữa chính quyền và nhân dân, và giữa nhân dân với nhau.

Đó là điều đã xảy ra cho Mexico. Bằng chứng rõ rệt của sự thiếu vắng tư tưởng chính trị là một đảng với danh xưng ngớ ngẩn “Đảng Định Chế Cách Mạng ” đã có thể cầm quyền liên tục trong hơn một nửa thế kỷ và có nhiều triển vọng sẽ trở lại cầm quyền sau cuộc bầu cử tổng thống tháng 7 sắp tới. Các định chế là gì? Cách mạng là gì? Làm sao có thể vừa bảo thủ vừa cấp tiến, vừa bảo vệ các định chế vừa làm cách mạng? Trong suốt lịch sử của nó, có lẽ chỉ trừ một trường hợp Lazaro Cardenas, không có chính khách nào hiểu rằng quốc gia là một tình cảm, một không gian liên đới và một đồng thuận chia sẽ một tương lai chung. Tất cả những người đã thay nhau cầm quyền đều đã chỉ coi dân tộc như một khối người để đàn áp và thống trị. Và họ đã khiến Mexico trở thành một failed state.

30-4 cũng là ngày kỷ niệm sự cáo chung của một nhà nước không thành: Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với chế độ này đã sụp đổ giấc mơ của những người muốn từ đó xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ và anh em. Chế độ này tồi dở nhưng không gian ác. Lý do khiến nó bại vong cũng là vì nó thiếu hẳn một tư tưởng chính trị. Nó không thiếu các bác sĩ, kỹ sư, luật sư, cử nhân, tiến sĩ nhưng nó không có những trí thức chính trị. Đó chỉ là những người học lấy bằng cấp để tiến thân, nghĩa là để vượt lên trên và tách ra khỏi quần chúng và hội nhập vào một thiểu số ưu thế. Và họ cũng chỉ học những ngành chuyên môn. Kiến thức chính trị của họ không hơn quần chúng, sự hiểu biết về thực tại xã hội thì chắc chắn không bằng. Những người cầm quyền như vậy không thể tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng vì họ xa lạ với quần chúng, không biết cách tranh thủ và cũng không muốn phục vụ quần chúng; họ chỉ muốn quần chúng phục vụ họ. Từ Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu không ai thực sự cố gắng tranh thủ hậu thuẫn quần chúng cả, trái lại vì thiếu văn hóa chính trị họ còn có những thái độ, ngôn ngữ và hành động khiêu khích đối với quần chúng. Và dù muốn họ cũng không biết phải làm gì để tranh thủ quần chúng vì họ không hiểu quần chúng. Các bộ thông tin, công dân vụ, dân vận v.v. của họ chỉ có để mà có, vì không lẽ không có. Một chế độ như vậy không thể tồn tại nếu bị tấn công, và họ đã bị tấn công. Trước mặt họ là những người cộng sản tuy động cơ có thể không trong sáng và văn hóa không cao nhưng biết cố gắng vận dụng quần chúng và đã tranh thủ được một phần quần chúng. Như vậy sự thất bại của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là lẽ dĩ nhiên, phe cộng sản dù có thua bao nhiêu trận cũng vẫn còn đó để phục hồi trở lại vì vẫn còn quần chúng.

Việt Nam Cộng Hòa đã là một đất nước không thành vì không đủ thì giờ để hình thành. Nó còn cần thì giờ để có được một tư tưởng chính trị và những người lãnh đạo có bản lĩnh chính trị xuất phát từ quần chúng và vẫn là những đứa con của quần chúng. Nhưng thời gian này nó đã không có bởi vì nước đồng minh nắm vận mệnh của nó đã mất kiên nhẫn.

Đó là quá khứ, chỉ nhắc lại nhân ngày kỷ niệm. Điều đáng quan tâm hơn là Việt Nam hiện nay cũng đang tiến tới rất gần tình trạng của một đất nước không thành. Trong thực tế nước ta cũng chỉ là một thuộc địa trá hình trong đó một thiểu số cường hào chiếm đoạt đất nước làm của riêng, bất chấp quần chúng. Đảng cộng sản cư xử không khác một lực lượng chiếm đóng. Người dân không còn quan tâm tới đất nước vì đất nước không còn là của họ. Tư tưởng chính trị duy nhất được phép truyền bá là chủ nghĩa Mác-Lênin mà ngay cả những người áp đặt cũng biết là bệnh hoạn và nhàm chán. Đặc tính của những đất nước không thành: quan hệ chính quyền – nhân dân bị cắt đứt, thậm chí trở thành thù địch. Đã thế chính quyền còn liên tục nhục mạ người dân bằng những quyết định thách đố như cho Trung Quốc thuê rừng ở thượng nguồn, khai thác bôxit tại Tây Nguyên, chuẩn bị xây 14 lò phản ứng hạt nhân, bao che cho các đại gia cướp đất cướp nhà của dân chúng một cách công khai, trắng trợn, hàng ngày.

Còn lại sinh hoạt kinh tế. Nhưng kinh tế cũng sẽ rất bi đát trong những ngày sắp tới khi sự thực không còn che đậy được nữa. Và đàng nào thì mô hình kinh tế hướng ngoại cũng không thể tiếp tục khi các quốc gia phát triển đã đặt thăng bằng cán cân mậu dịch làm mục tiêu hàng đầu. Thử thách đặt ra cho sự sống còn của đất nước sẽ rất lớn vì chúng ta kiệt quệ, căm hờn và bất lực. Thảm kịch lớn nhất hiện nay của chúng ta là thảm kịch của ý chí và niềm tin.

Cũng như Mexico hiện nay chúng ta rất hụt hẫng về mặt tư tưởng chính trị, nhưng khác với họ chúng ta chưa bắt đầu khắc phục. Trí thức Việt Nam vẫn còn rất kém về kiến thức chính trị và vẫn còn nghĩ rằng chính trị không cần phải học. Một cuộc thảo luận gần đây còn cho thấy họ cũng không biết chính họ là ai vì nhiều người vẫn chưa hiểu thế nào là một trí thức. Đất nước Việt Nam cần tìm ra một lối thoát nhưng đôi mắt của Việt Nam lại chưa chịu mở ra.

Một trong những khái niệm bị xét lại một cách gay gắt nhất trong thế giới toàn cầu hóa này chính là khái niệm quốc gia. Số lượng các đất nước không thành sẽ ngày một gia tăng. Sẽ chỉ còn lại những quốc gia được quan niệm một cách đúng đắn và được bảo vệ một cách thông minh. Không có gì là quá nếu nói rằng đất nước đang lâm nguy. Thiểu số ít ỏi những người hiểu biết và có lòng yêu nước, những trí thức đúng nghĩa, cần hiểu rằng họ không có chọn lựa nào khác hơn là tìm đến với nhau trong một ý chí chung.

Nguyễn Gia Kiểng
(tháng 5/2012)

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Điện Hạt Nhân

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2012

Lời Tựa: Muốn tránh sự thất bại trong làm ăn, người Mỹ thường nói: đừng làm những gì không phải là nghề của mình, đừng làm những nghề mà mình không thật sự hiểu biết và không bỏ ra thời gian đủ lâu để học hỏi và thu thập kinh nghiệm tới nơi, tới chốn. Thời gian và thực tế xảy ra cho thấy họ luôn luôn đúng.

Chỉ tính trong 10 năm qua ở Mỹ, hàng trăm ngân hàng lớn nhỏ sụp đổ, hàng trăm các đại công ty tập đoàn phá sản, và hàng chục ngàn doanh nghiệp khác tan rã mất hết tài sản chỉ vì bước vào làm những việc mà họ mới chập chững bắt tay vào nghiên cứu trong 10-15 năm, thậm chí là mới nhảy vào làm ăn chừng 5-7 năm là đã đối diện với khó khăn chồng chất.

Về vấn đề điện hạt nhân, tình hình hiện nay của VN là không có đủ đội ngũ của các kỹ sư, các khoa học gia về vật lý hạt nhân có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài, không có ngành hóa học hạt nhân, bác sĩ y khoa chuyên ngành hạt nhân (nuclear medicine), các cán sự kỹ thuật và công nhân chuyên về ngành điện hạt nhân… Nhân lực tối thiểu cho ngành này phải chừng 10000-15000 người, họ phải tốt nghiệp ở các đại học kỹ thuật ngành nguyên tử và ngành vật lý hạt nhân lẫn vật lý lý thuyết ở các nước Âu Mỹ.  Sau khi tốt nghiệp ra trường, họ còn phải làm việc ở nước ngoài, làm trong các nhà máy phát điện hạt nhân, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, và ngành an toàn điện hạt nhân… tối thiểu cũng phải mất 10-15 năm để thu tóm kinh nghiệm.

Bên cạnh nhóm chủ lực nói trên, trong nước còn phải có tối thiểu 20-30 trường đại học kỹ thuật (tương tự như Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, quận 10, Sài gòn, nay gọi là trường đại học bách khoa.) để tham mưu và hổ trợ về các mặt xây dựng và khoa học cơ bản.

Ngoài ra, VN  còn ở mức phôi thai hoặc chưa có các ngành cơ khí kỹ thuật tự động, cơ khí chính xác, luyện kim, kiến trúc, xây dựng các công trình có mức bền vững hàng trăm năm, khảo sát môi trường…các hãng xưởng VN cho đến nay chỉ làm gia công, và  không chế được 1 sợi sên xe đạp, một con ốc hay bù loong đạt đủ tiêu chuẩn đòi hỏi trong các ngành kỹ thuật cao…thì làm sao tính đến chuyện kỹ thuật xây dựng, điều hành nhà máy điện hạt nhân.

Ý tưởng điên rồ về xây dựng nhà máy điện hạt nhân là do 2 nhóm sau đây. Nhóm Việt kiều Nhật và nhóm cố vấn cho chính phủ.

Về ngành vật lý hạt nhân, ta có thể dùng tiêu chí ISI  (nguồn) để đánh giá khả năng các khoa học gia và kỹ thuật gia Việt Nam (ngành vật lý hạt nhân) hiện đang ở trong nước, hoặc nhóm Việt kiều Nhật chuyên về vật lý hạt nhân để xem họ đã có viết đề tài nghiên cứu, hay có đề xuất gì về các đề tài điện hạt nhân, được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành của nước ngoài trong vòng 10-20 năm qua hay không? Các bạn có thể tự tìm hiểu khi vào website ISI nói trên để tìm xem thực hư thế nào.

Ai đã từng đọc qua các bài báo so sánh giữa VN, Thái Lan, Singapore, Nam Hàn, Mã Lai…về só lượng các đề tài nghiên cứu, phát minh, các bài báo khoa học, kỹ thuật chuyên ngành được các tạp chí nước ngoài đăng tải …có từng thấy đề tài nào liên quan  nghiên cứu về vật lý hạt nhân, xây dựng nhà máy điện hạt nhân của nhóm Việt kiều Nhật và các nhà vật lý hạt nhân trong nước hay của nhóm kỹ sư xây dựng nhà máy điện hạt nhân VN hay không?

Mấy năm qua, nhóm cố vấn cho chính quyền Hà Nội và nhóm khoa học gia và kỹ thuật gia (Việt kiều Nhật và trong nước) đã xúi dục các cán bộ cao cấp trong nước về việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Cả hai nhóm này quyết tâm làm vậy là vì tiền. Họ đã và đang được các nhóm sản suất nhà máy điện hạt nhân đút lót tiền bạc để có hợp đồng xây dựng. Hiện có 5 quốc gia chuyên sản suất và xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Đứng đầu là các công ty ở Mỹ, Nhật, Liên Xô, Nam Hàn; Trung Quốc mới học lóm xây dựng nhà máy điện HN.

Không một người nào trong 14 ủy viên bộ chính trị, 16 bộ trưởng cùng 64-70 thứ trưởng có đủ kiến thức để hiểu điện hạt nhân, chưa nói là về công nghệ làm nhà máy điện hạt nhân… nên chắc chắn nhóm cầm quyền phải dựa vào nhóm cố vấn khoảng 300 người đứng sau hậu trường giúp điều hành nền kinh tế, tài chánh,năng lượng, giáo dục…của cả nước trong hơn máy chục năm qua.

Các quyết định của các chính trị gia ở Hà Nội chịu ảnh hưởng bởi nhóm 300 người cố vấn khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chánh này. Họ xúi gì thì các nhân vật chính trị nghe và làm theo. Khổ thay cho VN là nhóm cố vấn này đi học từ Nga và Đông Âu về, và họ hoàn toàn không thông thạo anh ngữ, pháp ngữ. Kiến thức của họ về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chánh khiếm khuyết rất lớn, nhưng họ là người được nhóm cầm quyền tin cậy. Các công ty nào muốn làm ăn trót lọt với VN thì cứ tìm cách tiếp xúc và tác động trực tiếp vào nhóm cố vấn này. Muốn cho chính sách nào được thông qua, cứ việc tìm nhóm cố vấn này nói chuyện là mọi chuyện thuận buồm xuôi gió.

Nếu nhóm cố vấn này giỏi, thì hơn 30 năm qua, VN đã thay đổi rất nhiều. Khả năng của nhóm cố vấn này như thế nào thì ta có thể so sánh số tiền đầu tư, thời gian đầu tư, giữa VN và Trung Quốc.

Với 200 tỷ đô la tư bản đầu tư vào VN  từ 1990-2011 (nguồn Foreign Direct Investment) và số tiền hàng chục tỷ đô la hổ trợ phát triển hành chánh official development assistance (ODA) , cùng với các khoản tiền mà ngân hàng thế giới (WB) và Ngân Hàng Phát triển Á Châu (ADB) cho VN mượn, cùng các nước âu châu như Bỉ, Thụy Điển, Úc viện trợ không hoàn lại hàng trăm triệu đô la hàng năm trong suốt hơn 30 năm qua…nhưng cấu trúc cơ sở hạ tầng của VN như đường sá, cầu cống, hải cảng, điện, nước, phi trường,…hiện nay vẫn còn rất tồi tệ.

Số tiền mà các nguồn trên viện trợ lẫn đầu tư vào VN bằng 1/3 hoặc 1/5 số tiền tư bản đầu tư vào Trung Quốc (654 tỷ đô la tính từ 1980-2006), nhưng xem ra VN không có cơ sở hạ tầng bằng 1/10 của Trung Quốc. Chỉ bao nhiêu đó thì đủ hiểu nhóm cố vấn này có khả năng ra làm sao. Nay nhóm cố vấn này đang đứng đàng sau lưng các nhân vật trong bộ chính trị và xúi họ làm điện hạt nhân, triển vọng VN tươi sáng sẽ càng xa dần. 

Tám lý do Việt Nam sẽ có lợi nếu chính phủ hoãn xây nhà máy điện hạt nhân

Phùng Liên Đoàn

22-05-2012

Chuyên viên an toàn, môi trường và kinh tế Điện hạt nhân đã làm việc tại Mỹ 40 năm

Nước Việt Nam đang đi ngược lại xu hướng trên thế giới là phải hết sức thận trọng trong việc xây nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) vì hai lý do chính: ĐHN có rủi ro gây tai nạn phóng xạ, và ĐHN rất đắt tiền. Việc đi ngược lại xu hướng này không phải vì ViệtNamcó một nền kinh tế mạnh hoặc một đội ngũ chuyên viên ĐHN chuyên nghiệp như Nga, Nhật, Đức, Mỹ, Pháp… mà vì lãnh đạo ta có một quyết tâm chính trị rất cao và có quyền không cần tham khảo ý dân. Quí vị lãnh đạo ta biết hết, lại tin vào lời báo cáo của cấp dưới là trong tương lai ta rất thiếu điện và ĐHN thế hệ lò thứ ba rất an toàn. Ngay sau biến cố Fukushima lãnh đạo ta vẫn khẳng định mạnh mẽ hơn thủ tướng Đức và thủ tướng Nhật là Việt Nam vẫn tiến tới việc xây nhà máy ĐHN.

 

Tôi mong mỏi quí vị lãnh đạo tìm hiểu kỹ càng thêm về kỹ thuật và kinh tế ĐHN cũng như quí vị đã để ý rất nhiều về thể diện quốc gia và vai trò chính trị của ĐHN.

Kinh nghiệm của nhiều nước tiên tiến cho biết việc xây nhà máy ĐHN Ninh Thuận và một chuỗi 6 lò ĐHN khác như dự tính không những sẽ không thành công, mà còn làm nước ta phụ thuộc vào nước ngoài nhiều hơn, con cháu ta sẽ còn phải đi làm lao công triền miên cho thiên hạ, và người trong nước thì vẫn thiếu điện để làm ăn. Khi việc này xảy ra vào những năm 2021 – 2030 thì quí vị lãnh đạo ngày nay không còn sống nữa hoặc không còn quyền hành gì nữa. Trách nhiệm về lỗi lầm ai sẽ gánh chịu? Mới 40-70 năm trước, lãnh đạo ta đã hi sinh nhiều triệu con dân Lạc Hồng để thực hiện một niềm tin tuyệt đối là Việt Nam đi đầu đem chủ nghĩa Marx-Lenin tạo hạnh phúc cho nhân loại. Hậu quả của niềm tin đó khiến nước ta tụt hậu, dân ta nghèo hèn, và còn đang gánh chịu đau thương nhiều thế kỷ. Nay ta đã biết gì về ĐHN? Và ta còn thì giờ không để sửa sai một quyết định chính trị rất phi kinh tế phi dân chủ này?

Tôi xin liệt kê dưới đây 8 lý do lãnh đạo Việt Nam nên hoãn xây ĐHN Ninh Thuận để có thì giờ nhìn vào tình hình ĐHN trên thế giới và lắng nghe lời can gián của người dân Việt không những trong nước mà còn rải rác khắp năm châu:

(1)  ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam;

(2)  Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện;

(3)  Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi;

(4)  Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước;

(5)  Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm;

(6)  Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ Tướng tuyên bố;

(7)  Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta;

(8)  Bỏ Ninh Thuân, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù.

Tôi có tư cách gì bàn chuyện quốc gia đại sự này?

Tôi có cơ may tham gia vào các hoạt động hạt nhân của Mỹ trên 40 năm, từ những năm 1960s tới nay, kể cả việc tháo gỡ vũ khí nguyên tử, tẩy uế phóng xạ hậu quả của 50 năm chạy đua vũ khí hạt nhân, và thiết kế nhiều nhà máy ĐHN. Trong thời gian này tôi đã có mặt tại hầu hết các trung tâm nguyên tử của Mỹ, tham dự thiết kế xây dựng 6 nhà máy ĐHN và khảo sát hơn 50 nhà máy khác. Tôi đã tiếp xúc với các kỹ sư Nhật năm 1967 khi họ bắt đầu xây Fukushima Daiichi. Tôi đã học tập cùng với các kỹ sư Hàn Quốc, Đài Loan, Pakistan, Iran… khi những nước này chưa có một nhà máy ĐHN nào. Tôi đã làm việc tại United Engineers & Constructors năm 1967 khi công ty này xây dựng nhà máy Three Mile Island (TMI) tạiPennsylvania, rồi đến năm 1980 thì tôi lại khảo sát tai nạn nóng chảy TMI-2. Tôi đã từng khảo cứu hiện tượng China Syndrome (huyền thoại lò ĐHN nóng chảy tại Mỹ, chìm xuống đất và chui sang tận Tàu). Luận án tiến sĩ của tôi khảo cứu hiện tượng bình thép nặng 600 tấn của lò PWR 1000 MW bị bể, gây tai nạn nóng chảy “ghê gớm nhất”. Tôi là đồng tác giả khảo cứu WASH-1400 năm 1972-1975 là khảo cứu quan trọng nhất của Mỹ về các sự cố ghê gớm của ĐHN, dùng phương pháp rủi ro (probabilistic risk assessment) để làm luật Price Anderson bảo hiểm nhiễm xạ cho người dân. Ông Harold Denton, người được Tổng thống Jimmy Carter bổ nhiệm cứu nguy lò Three Mile Island trong cơn nguy biến tháng 3 năm 1979 là bạn của tôi tại cơ quan Định Chế ĐHN (U.S. Nuclear Regulatory Commission-USNRC) và đến năm 1995 lại là tư vấn trong công ty của tôi tại Oak Ridge, Tennessee. Tôi đã đánh cược 1 USD với ông Robert Bernero, người chuyên khảo cứu sự cố lò BWR (loại Fukushima) tại USNRC, là nhờ bài học TMI-2 Mỹ không thể có một tai nạn nóng chảy nữa tại một nhà máy nước nhẹ trước năm 2000. Tôi đã thắng cuộc; nhưng nếu tính cả tai nạnChernobylnăm 1986 (không phải loại lò nước nhẹ) và tai nạnFukushima(sau năm 2000) thì tuy không thua cuộc nhưng tôi cũng coi là thua, bởi vì tôi đã chủ quan quá lố. Tôi đã đặt giải thưởng lấy tên là Weinberg để phát 2 năm một lần tại American Nuclear Society cho một khoa học gia có tâm dùng năng lượng hạt nhân phụng sự xã hội.

Trong suốt 30 năm làm tư vấn nguyên tử tại Mỹ để sinh sống, tôi lại chuyên khá nhiều về kinh tế ĐHN so với các nguồn năng lượng khác.  Bài viết của tôi về ĐHN trình bày tại Việt Nam năm 1999 được USNRC lặp lại và kỹ sư Việt Nam tưởng là lý luận của Mỹ nên đã dùng để cổ võ cho việc xây ĐHN tại Việt Nam!

Với các kinh nghiệm thực tế trên, tôi có đôi chút hiểu biết về ĐHN và phải là người rất hăng hái trong việc xây dựng nhà máy ĐHN tại quê hương Việt Nam của tôi giống như một đồng nghiệp, ông Đinh Đức Hữu (nay đã qua đời), để ta có thể “ngang hàng” với các nước Á Châu tiên tiến như Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc,Trung Quốc.

(Xin xem phụ bản 1 phác họa quá trình làm việc của TS Phùng Liên Đoàn)

Nhưng không, với tất cả tâm tư ở tuổi 72 không vụ lợi, không tự ái, và đã nguyện đem hết tài sản của mình giúp trẻ em và người nghèo Việt Nam, tôi xin trình bày 8 lý do tại sao lãnh đạo Việt Nam nên nghĩ tới tương lai của con cháu mà hoãn việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận cho tới khi quí vị tổ chức cho người dân Việt Nam bàn bạc công khai về các lợi hại của chương trình ĐHN. Nếu người dân không có quyền được tham khảo, thì tôi nghĩ họ có quyền để di chúc cho con cháu không trả nợ cho các nước bán ĐHN cho Việt Nam khi mà các lãnh đạo ngày nay không còn sống mà nhận trách nhiệm đó.

Tám lý do đó như sau.

Lý do 1: ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam

Nhiều người Việt cho rằng tai nạn Fukushima năm 2011 thật là khủng khiếp, cùng với tai nạn Chernobyl năm 1986 và TMI-2 năm 1979 chứng tỏ rằng ĐHN là một quái thai khoa học kỹ thuật có hại cho loài người, cần phải dẹp bỏ. Tôi không đồng ý với lý luận dựa trên cảm tính sợ hãi nhưng không thực tế này. Tuy ĐHN thoát thai từ vũ khí hạt nhân, Fukushima và Chernobyl đã làm cả ngàn người nhiễm xạ và gây thiệt hại đất đai trên cả trăm cây số, năng lượng hạt nhân cũng đã đem lại phúc lợi cho nhiều trăm triệu người qua y học, nông nghiệp, ngư nghiệp, cùng là đóng góp 14% điện trên thế giới (1660 tỉ kWh/ năm, đáng giá 100 tỉ USD mỗi năm, và đã như vậy trên 30 năm rồi). Nó cũng giảm thiểu hơn 6 tỉ tấn khí CO2 và cả triệu tấn chất độc hại như thủy ngân, arsenic, nhôm, lưu huỳnh… mỗi năm các nhà máy đốt than đốt dầu thải ra khí quyển, một sự kiện gây đau ốm cho nhiều triệu người, khí quyển hâm nóng, bão tố to hơn, nước biển dâng cao và do đó gây đói kém cho cả tỉ người. Ta không thể đem hiểu biết và kỹ thuật nguyên tử đóng vào chai để cất đi, cũng như ta không thể dẹp bỏ kỹ thuật xe hơi hằng năm giết hơn 300.000 người và làm bị thương nhiều triệu người.

Nhưng ĐHN khó làm, khó điều hành, chỉ khả thi tại các nước giàu dùng rất nhiều năng lượng, có hạ tầng cơ sở tốt, có nhân công với văn hóa kỹ thuật và an toàn ở trình độ cao, kinh tế mạnh. Nước ViệtNamta hoàn toàn khác. Ta có chiến tranh liên miên từ nhiều thế kỷ, mới hòa bình tương đối vài chục năm, hạ tầng cơ sở còn rất yếu kém, kinh nghiệm an dân tế thế còn rất mỏng manh. Dân ta nghèo, sức thu nhập thua dân các nước tiên tiến cả chục lần (3300 USD/ capita [tính trên đầu người] so với 32.000 -37.000 USD/capita tại Hàn Quốc và Đài Loan). “Rừng vàng biển bạc” của ta chưa được khai thác khoa học đúng mức. Ta còn phải xuất khẩu lao động (thực sự là nô lệ) kiếm ngoại tệ cho ta nhập khẩu các thiết bị cần thiết. Ta nên dùng ngân sách nhỏ bé của ta nâng cao dân trí và cơm no áo ấm cho người dân trước khi phiêu lưu vào ĐHN khó làm và rất đắt mà chỉ các nước có kinh tế mạnh và người dân đã no ấm mới có thể làm nổi. Các lý luận cường điệu “tại sao không?” phần lớn dựa trên những quyết đoán nông cạn và duy ý chí.

Lý do 2: Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện

Ngày 27 tháng 7/2011, Thủ tướng ViệtNamký quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét tới 2030. Theo quy hoạch này, Điện lực Việt Nam (EVN) phỏng tính rằng tới năm 1920 thì Việt Nam cần 330 tỉ kWh và 1930 thì cần 693 tỉ KWh. Như vậy là chỉ 8 năm nữa, năm 2020, ta dùng một số điện ngang với Anh Quốc ngày nay (345 tỉ kWh); và năm 2030, ta dùng một số điện ngang với Đài Loan và Hàn Quốc cộng lại (229 tỉ kWh + 460 tỉ kWh = 689 tỉ kWh). Trong khi đó, GDP ngày nay của Việt Nam là 299 tỉ USD – chỉ bằng 13% GDP của Anh hoặc Hàn Quốc cộng Đài Loan (xem bảng A).

Bảng A: Vài con số GDP và điện (tài liệu CIA WorldFactbook, circa 2011)

 

ViệtNam

Thái Lan

Mã Lai

Đài Loan

Hàn Quốc

Anh Quốc

Đức

Nhật

GDP (tỉ USD)

299

601

447

885

1549

2.250

3.085

4.389

USD/capita

3.300

9.700

15.600

37.900

31.700

35.900

37.900

34.300

E (tỉ kWh)

109,3

139,2

117,9

229,0

460,0

344,7

545,0

860,0

E/GDP (kWh/USD)

0,366

0,232

0,264

0,259

0,297

0,153

0,177

0,196

                 
Tỉ số dùng điện

1

0,63

0,72

0,71

0,81

0,42

0,48

0,54

.

Mặc dầu các con số trên có nhiều thành tố, ta vẫn có thể kết luận ta dùng điện rất phí phạm, tốn nhiều hơn 20-50% để sản xuất một đơn vị GDP khi so với các nước láng giềng và các nước tiên tiến. Số điện cần thiết cho năm 2020 và 2030 sẽ ít hơn khi ta học hỏi được cách dùng điện nhạy bén hơn. Rõ ràng đây là nhiệm vụ của giáo dục, của việc nâng cao dân trí, của trình độ kỹ thuật. Có người cường điệu cho rằng nhờ ĐHN ta sẽ có trình độ kỹ thuật cao hơn. Họ nên nhìn vào việc ta dùng xe Lexus, điện thoại di động, máy ảnh số… tràn lan trên khắp nẻo đường ViệtNamtrong khi ông đại sứ Nhật than phiền không công ty nào trong nước làm được chai thủy tinh theo chuẩn của rượu sake của Nhật sản xuất tại Huế! Kinh tế của ViệtNamsẽ không học hỏi được gì, hoặc chỉ học hỏi tí teo, nơi kỹ thuật ĐHN.

Chính phủ nên hoãn xây nhà máy ĐHN cho tới khi EVN và các nhà kinh tế xác định lại một cách công khai tại sao ta cần nhiều điện như trong quyết định Thủ tướng ký năm 2011.

Lý do 3: Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi

 Kinh nghiệm của thế giới là không có nhà máy ĐHN nào xây cất theo đúng giá dự kiến,thường sẽ đắt hơn 50% – 300%. Tôi đã theo dõi giá thành của hơn 30 nhà máy ĐHN tại Mỹ và thấy nhà máy nào cũng đắt hơn dự kiến ban đầu. Có nhiều lý do: (a) mỗi nhà máy là một sản phẩm đặc thù, phụ thuộc vào người xây, thời biểu xây, và các hãng cung cấp thiết bị và nhân sự; (b) luật lệ an toàn ngày một tăng và rắc rối, khiến cho việc xây cất phải sửa đổi, chờ đợi, tăng thêm thiết bị; (c) các hãng bán thiết bị ít khi cam đoan giá cả để còn phòng cơ hội tăng giá; (d) kiện tụng thường xảy ra trong bất cứ chương trình ĐHN nào; và (e) người cổ võ ĐHN thường dấu các cơ nguy tăng giá.

Tại Việt Nam, rủi ro giá thành tăng gấp 200%-300% hơn dự kiến là chắc chắn xảy ra, vì ta mắc phải hầu hết 5 nguyên nhân trên, mà còn mắc thêm hai nguyên nhân nữa; đó là (f) hạ tầng cơ sở của ta rất yếu (đường xá, cầu cống, cảng, vật liệu xây cất), và (g) nhân sự của ta chưa thấm nhuần văn hóa của công nghệ cao.Ta có nhiều ví dụ nhãn tiền các công trình lớn của ta đều đắt hơn dự tính mà lại không bền: nhà máy lọc dầu Dung Quất, đường dây 500 KV, đường Trường Sơn, thủy điện Lai Châu – Sơn La, xa lộ 1000 năm Thăng Long, đường hầm Thủ Thiêm…

Tiền nào của đó. Nếu rẻ thì ít tốt, ít an toàn hơn. Dù Nga có bán rẻ hơn Pháp, dù Nhật có viện trợ cho nhiều, thì nhà máy ĐHN Ninh Thuận cũng sẽ đắt hơn và xây lâu hơn dự tính, vì “đó là Việt Nam”! Ngân sách quốc gia sẽ bị vỡ nợ, không còn đủ tiền lo các vấn đề cấp bách hơn như giáo dục, y tế, quốc phòng, và cứu trợ trong trường hợp thiên tai. Chính phủ cần nhờ những nguồn độc lập đáng tin cậy tính lại cho thật kỹ và công khai giá thành và nguồn vốn xây ĐHN. Các kết quả có tính cách khoa học và thực tế sẽ giúp lãnh đạo quyết định sáng suốt hơn, thay vì “tới đâu hay nấy” theo cách hành xử thông thường tại ViệtNam.

Hầu hết các khảo sát trên thế giới đều kết luận giá thành nhà máy ĐHN là đắt hơn nhà máy đốt than, đốt khí thiên nhiên, và đập thủy điện. Nếu tính tổng thể cả nhiên liệu và điều hành thì điện từ nhà máy ĐHN chỉ kinh tế so với các dạng điện kia tại các nước tiên tiến như Nhật, Hàn, Mỹ, Pháp… Nhưng tại Việt Nam, tôi đã tính là ĐHN sẽ đắt gấp ba giá điện năm 2009, và vào năm 2020, sẽ vẫn đắt hơn điện từ đập nước, từ nhà máy đốt than và nhà máy đốt khí thiên nhiên.

Điện nào chẳng là điện. Lãnh đạo cần tìm đường dễ làm và rẻ tiền thay vì ĐHN để phục vụ người dân ViệtNamvốn đã rất nghèo và bị cúp điện kinh niên. Ta đã tuyên bố không làm bom nguyên tử, vậy thì ta càng nên tránh ĐHN rắc rối, đắt tiền, và có cơ nguy xảy ra tai nạn phóng xạ.

Lý do 4: Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước

Tại Mỹ, hãng máy bay Southwest Airline lớn mạnh và nổi tiếng làm ăn giỏi và an toàn là nhờ họ chỉ dùng một loại máy bay – Boeing 737; do đó huấn luyện phi công và nhân viên bảo trì một cách đồng nhất và có thể xoay sở dễ dàng khi có nhu cầu thay đổi chuyến bay. Các công ty lớn hơn như American Airlines, Delta Airline, United Airline… đều bị phá sản, vì nhiều lý do trong đó việc dùng nhiều loại máy bay cũng là một yếu tố quan trọng.

Vào những năm 1970-1980, các hãng điện lớn tại Mỹ như Commonwealth Edison, Duke, Tennessee Valley Authority… gặp rất nhiều khó khăn khi dùng nhiều loại nhà máy khác nhau như BWR của General Electric, PWR của Westinghouse, PWR của Babcock and Wilcox, và PWR của Combustion Engineering. Việc dùng nhiều loại lò và nhiều kiểu lớn nhỏ khác nhau khiến nhân viên phải được đào tạo đặc thù, giấy tờ kỹ thuật khác nhau giữa các nhà máy, và hệ thống an toàn khác nhau. Việc này phân tán và làm rối bời lực lượng nhân sự, khiến các nhà máy ĐHN chỉ sản xuất được 50 – 60% điện dự tính, và công ty bị thua lỗ. Ngoài ra, rủi ro có sự cố cũng rất cao. ViệtNamta đang mắc cái bệnh này, tự cho ta là “khôn” dùng nhiều kỹ thuật “hạng nhất” nhưng ta không biết là đã tự gieo cái mầm có nhiều sự cố trong tương lai. Với vài ngàn nhân viên ĐHN của ta dùng một ngoại ngữ cũng chưa thông, làm sao ta có thể đương đầu với tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Nhật, tiếng Hàn và các tập huấn và luật lệ của họ cùng một lúc? Nếu họ đưa tài liệu và tập huấn ta bằng tiếng Anh thì các huấn luyện viên người Nhật, người Nga, người Hàn có thực thông mấy ngàn dữ kiện bằng tiếng Anh không? Làm sao ta có thể luân chuyển nhân viên từ nhà máy này sang nhà máy khác khi cần thiết? Khi các thiết bị từ con ốc, từ cái máy đo lường đều phải nhập khẩu, thì nhà máy ĐHN không sản xuất điện khi chờ đợi thiết bị được bay tới. Ta đã có kinh nghiệm với Dung Quất rồi, với các xe Lexus, Peugeot, Mercedes rồi, với các máy fax và điện thoại di động rồi. Ta không nên lệ thuộc nước ngoài quá nhiều về các vấn đề sinh tử như điện.

Trong chiến tranh ta có thể sử dụng tinh nhuệ mọi thứ khí giới, nhưng trong hòa bình ta không thể sử dụng tinh nhuệ nhiều loại nhà máy ĐHN. Ta không thể cường điệu “tại sao không?” cho tới khi ta học hỏi thêm về các nhu cầu 100% an toàn và 100% đáng tin cậy của nhà máy ĐHN.

Hoãn xây nhà máy ĐHN trong lúc này khi ta mới tốn vài chục triệu USD là giúp ta không tốn kém nhiều trăm triệu USD vào năm 2013-2015 và nhiều tỷ USD vào những năm 2015-2020.

Lý do 5:  Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm

Theo chương trình, Việt Nam dự định đào tạo 2400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ từ 2010 tới 2020 để phục vụ nhà máy ĐHN. Đồng thời cũng đào tạo 650 kỹ sư, 250 thạc sĩ và tiến sĩ để phục vụ các ngành liên hệ. Khoảng 10% kỹ sư và 40% thạc sĩ/tiến sĩ là được đào tạo tại ngoại quốc. Ngân sách đào tạo đã được chuẩn y năm 2010 là khoảng 150 triệu USD.

Điện nào chẳng là điện, tại sao ta lại đặc biệt ưu ái đào tạo chuyên viên ĐHN? Tại sao họ lại được học bổng và được đi nước ngoài? Tại sao lương họ lại cao hơn lương kỹ sư tại nhà máy than, nhà máy đập nước? Trong lịch sử của ta gửi người đi du học tại các nước tự do, bao nhiêu người đã trở về làm việc tại ViệtNam? Trong số người trở về ViệtNam, bao nhiêu người còn giữ nghề nghiệp được đào tạo và bao nhiêu người đổi sang nghề khác hoặc lại đi ra nước ngoài làm việc? Nếu kinh tế ViệtNamkhông phát triển mạnh thì làm sao ta giữ được người tài? Nếu ngành nghề không được tự do thì đến khi nào chính phủ không còn thất bại vì đầu tư nhân sự mà không đạt được mục đích?

Kinh nghiệm tại các nước Âu châu và Mỹ là bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ hoàn toàn không cần thiết cho việc điều hành ĐHN và các luật lệ dịch vụ phóng xạ. Thật ra, người ta rất e ngại các người ỷ mình có bằng cấp to mà không tuân thủ luật lệ hoặc làm sái đi vì cho rằng mình biết. Vì thế, ngân sách sẽ tiết kiệm được một số tiền lớn nếu có chính sách rõ ràng là đào tạo thực tập và tinh thần tuân thủ luật lệ chứ không đào tạo thạc sĩ tiến sĩ khảo cứu.

Nhưng với một ngân sách đào tạo như vậy trong một quốc gia mà rất nhiều trường mẫu giáo và tiểu học chưa có những phương tiện học hỏi tối thiểu, chưa có nước sạch và phương tiện vệ sinh tốt, thì ta tự hỏi có nên không? Tại sao ta không đào tạo như vậy đối với các nhân tài điều hành các nhà máy thủy điện, nhiệt điện để họ nâng năng suất và tạo thêm điện ở các dạng rẻ tiền và dễ dàng hơn ĐHN? Nếu ta cũng ưu ái các nhân viên tại các nhà máy sản xuất điện khác thì việc sản xuất thêm số điện 4-10% là rất khả thi thay cho chương trình ĐHN của EVN.

Lý do 6: Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ tướng tuyên bố

Quyết định của Thủ tướng năm 2011 nói rõ chính phủ chỉ giữ độc quyền đường dây chuyển tải điện. Vậy mà chính phủ làm ngược lại chính sách này bằng cách chấp thuận cho EVN, một công ty quốc doanh, dùng quyền thế nhà nước đi vay một số tiền rất lớn để làm ĐHN chưa chắc thành công nhưng chắc chắn toàn thể con cháu ta phải trả nợ. Nếu EVN là công ty tư thì họ có dám phiêu lưu như vậy không? Nếu chính phủ dùng số tiền đào tạo nhân viên ĐHN mà giúp cho tư nhân sản xuất điện tự do thì họ có thể dùng phương pháp dễ hơn để sản xuất 4000 MW điện vào năm 2020-2022 thay cho bốn lò ĐHN không?

Ai cũng biết không tư nhân nào, kể cả các ông tỉ phú ngoại quốc, sẽ bỏ tiền ra xây lò ĐHN cho Việt Nam vì rủi ro rất lớn về đầu tư, kỹ thuật, an toàn, và luật lệ. Ngay các hăng điện lớn của Mỹ còn phải xin chính phủ bảo đảm giùm khi họ đi vay tiền để xây ĐHN. Nếu chính phủ bỏ ra một phần số tiền dành cho ĐHN để khuyến khích tư nhân sản xuất, thì chắc chắn họ sẽ làm điện nhanh hơn và rẻ hơn ĐHN Ninh Thuận. Tôi xin đề nghị một vài phương pháp làm điện rẻ tiền hơn ĐHN:

  • Bán rẻ các bóng đèn fluorescent [huỳnh quang] để thay cho các bóng đèn nóng đỏ (incandescent). Các nước tại Úc, Mỹ, Âu đã áp dụng chương trình này từ nhiều năm. Ta chỉ tốn khoảng 500 triệu USD để thay 500 triệu bóng đèn và giúp giảm số điện dùng thắp sáng 60%, không phải xây thêm 6000 MW hay 6 lò ĐHN. Tính ra thì tiền đầu tư “không cần xây thêm” chỉ khoảng 100 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN. Mà việc này có thể làm ngay, kết thúc trong 5 năm, chứ không phải chờ đợi 10-12 năm như xây nhà máy ĐHN.
  • Đào tạo nhiều thợ điện chuyên nghiệp để thay các dây điện nhỏ bằng các dây lớn hơn, giảm bớt phí phạm truyền tải trong thành phố từ khoảng 5-7% xuống khoảng 2-4%. Tiền đầu tư này tương đương với khoảng 2000 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN, và còn tạo được cả ngàn công nhân điện có tay nghề và tránh trước rất nhiều nạn cháy nhà cháy chợ.
  • Tăng giá điện khi dùng quá một mức tối thiểu. Ví dụ, một gia đình chỉ cần khoảng 100 kWh mỗi tháng để thắp đèn và chạy máy móc, nhưng nếu họ đun bếp bằng điện hoặc có máy làm không khí mát, thì họ có thể phải dùng tới 400-600 kWh mỗi tháng. Nếu giá điện trên 100 kWh mỗi tháng tăng gấp đôi, trên 500 kWh mỗi tháng tăng gấp ba, thì người tiêu thụ sẽ dùng điện ít đi, và người bán điện vẫn có thu nhập khá. Chính sách này có thể tương đương với xây nhà máy điện giá 1000-2000 USD/kW. Ta lại đào tạo được một đội ngũ công nhân làm máy lạnh hiệu quả hơn, bịt kín các phòng có máy lạnh một cách khoa học để không mất khí lạnh, và lắp ráp cửa kính cách nhiệt tốt hơn (hai lớp kính thay vì một).
  • Tăng giá thu mua thủy điện lên gần giá sản xuất của nhiệt điện (ví dụ, từ 200 VND/kwh lên 1000 VND/kWh) sẽ giúp bảo trì các đập thủy điện và môi trường rừng tốt hơn, cùng là xúc tác cho người dân làm thủy điện ngay tại các sông ngòi (gọi là thủy điện với thế nước thấp). Việc này có thể tương đương với giá 500-1000 USD/kW thay vì 5000 USD của ĐHN. Ta bảo vệ môi trường, nâng cao an toàn thủy điện, và tạo được việc làm trong nước thay vì cùng tiền đó nhập khẩu điện và nhiên liệu từ nước ngoài.
  • Khuyến khích tương tự với điện gió, nhưng không trợ giá cao hơn, vì ta không nên theo xu hướng chính trị của các nước giàu “khuyến khích” dùng năng lượng tái tạo khi giá điện gió không có sức cạnh tranh. Ngay ông Obama của Mỹ đã thực tế hơn, không cổ võ cho “năng lượng tái tạo” mạnh miệng như một sinh viên nữa, mà thực tế hơn về việc dùng khí đốt thiên nhiên có được nhờ kỹ thuật mới tôi sẽ bàn dưới đây.
  • Trong mọi cơ hội trên, và các cơ hội tương tự, chính phủ nên chỉ đạo và áp dụng luật một cách nghiêm khắc nhưng công bằng, chứ không nên bắt tay làm, ngay cả qua các công ty quốc doanh là nơi dùng tiền không biết tiếc. Nhất là chính phủ nên áp dụng triệt để các luật an toàn đồng nhất cho người dân và cho môi trường, để ta không còn tệ nạn “nói bẻm mép” về việc “bảo vệ” nhưng khi thực hành thì rất luộm thuộm. Các cơ hội trên có kinh tế không thì thị trường sẽ tự giải quyết một cách tối ưu. Chính phủ sẽ tùy cơ hiệu đính chính sách một cách khôn khéo với sự đóng góp công khai của người dân.

Hoãn xây nhà máy ĐHN và thực hiện các công tác dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn như trên sẽ có lợi cho việc xử dụng ngân sách một cách hữu hiệu, tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, tránh không nhập khẩu những gì không cần thiết, do đó kinh tế có hiệu quả hơn và người dân hạnh phúc hơn. Làm ĐHN là phiêu lưu kinh tế và chính trị. Nó làm kinh tế ta kiệt quệ, người dân không có việc làm, xã hội không ổn định và ta luôn luôn lệ thuộc nước ngoài.

Lý do 7: Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta

Trong 5-10 năm qua một hiện tượng khoa học kỹ thuật mới tại Mỹ đã làm đảo lộn chính sách năng lượng của Mỹ. Người ta dùng phương pháp khoan ngang (horizontal drilling) và phương pháp ép vỡ (fracking) đá thủy tra tại dưới sâu 500-3000 m, để khai thác dầu hỏa và hơi khí. Nước Mỹ nay sản xuất thêm được 500.000 tấn dầu mỗi ngày quanh những giếng dầu trước kia tưởng đã cạn. Quan trọng hơn, nước Mỹ dùng cách này tìm được dự trữ khí thiên nhiên có thể dùng suốt 100 năm tới. Việc này khiến cho giá khí thiên nhiên, vốn là một nhiên liệu quí hơn dầu vì dùng dễ hơn và ít ô nhiễm hơn, lại rẻ bằng 20% giá dầu tính theo đơn vị USD/kC hay USD/kWh(nhiệt). Mỹ đang có phong trào dùng khí thiên nhiên chạy 20 triệu xe vận tải lớn, và tạo điện thay cho than và dầu. Xây mới ĐHN tại Mỹ gặp rất nhiều khó khăn vì người ta có thể làm điện bằng khí đốt nhanh hơn và rẻ bằng nửa ĐHN.

Xu hướng khoan ngang và ép vỡ đá cũng đang được xử dụng tại Âu Châu và Trung Quốc. ViệtNamcần thăm dò kỹ thuật này cấp tốc, vì nó có quyết định sống còn với chính sách năng lượng của ta trong vòng 10 năm. Tốn kém chỉ ngang với việc sửa soạn xây nhà máy ĐHN (khoảng 50-100 triệu USD) và cơ may là rất lớn tìm được nhiều khí đốt; ví dụ, tại “vựa than sông Hồng” và các vùng có đá thủy tra. Việc này lại tận dụng được trí tuệ ViệtNamvốn từ xưa tới nay không được trọng bằng trí tuệ nhập khẩu.

Có người cường điệu cho rằng ĐHN dùng rất ít nhiên liệu, ta có thể khai thác mỏ uranium và tự chế các thanh uranium, hoặc ta có thể mua dự trữ các thanh uranium cho các nhà máy ĐHN của ta. Những người này chưa thấu hiểu quá trình tốn kém và khó khăn sản xuất uranium có U-235 giàu hơn thiên nhiên (3-4% thay vì 0,7%). Sau khi có uranium giàu U-235 rồi, việc chế tạo các thanh nhiên liệu cho nhà máy ĐHN lại còn cần một công trình kỹ nghệ tinh vi chỉ vài nước trên thế giới có thể làm (nếu thanh nhiên liệu làm ẩu thì phóng xạ tuôn ra sẽ rất cao, ta không điều hành được nhà máy). Giá nhiên liệu ĐHN khoảng 0,02 USD/kWh, nghĩa là khoảng 140 triệu USD mỗi năm cho một nhà máy 1000 MW. Làm sao ta có tiền mua các nhiên liệu đó dự trữ 5-10 năm?

Nếu Việt Nam có tiền bây giờ để “cam đoan” mua khí thiên nhiên của Mỹ trong 30 năm tới, thì giá khí thiên nhiên ngày nay rất rẻ và xây nhà máy đốt khí thiên nhiên chỉ mất 3 năm. Ta có thể sản xuất điện rẻ bằng 50% điện từ nhà máy ĐHN Ninh Thuận. Tôi đề nghị ta theo chiều hướng này, nhưng tìm khí thiên nhiên ngay trong nước ta thay vì “cam đoan” mua của Mỹ.

(Xin xem phụ bản 2 phác họa kỹ thuật khoan ngang và ép bể đá thủy tra)

Lý do 8: Bỏ Ninh Thuận, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù

Sau khi lắng nghe các ý kiến công khai về ĐHN, nếu ViệtNamvẫn còn muốn có kỹ nghệ ĐHN cho 30-100 năm tới, thì ta nên tìm phương pháp đặc thù có lợi cho kinh tế Việt Nam.

Một trong các phương pháp đặc thù là xây các nhà máy ĐHN nhỏ trên bè, có thể làm tại một cảng như Cam Ranh rồi kéo tới nơi có nhu cầu điện. Kỹ thuật làm ĐHN trên mặt nước hoặc dưới nước đã chín muồi vì đã thực hiện an toàn tại các tàu ngầm nguyên tử, hàng không mẫu hạm nguyên tử, tàu chở hàng Savannah, và tàu xẻ băng Lenin, và 5-6 nhà máy ĐHN nổi loại Lomonosov đang xây tại Nga. Xây lò ĐHN trên bè thì không sợ động đất. Sóng thần cũng không làm hại được lò vì sóng thần chưa hề phá vỡ các công trình to lớn có tường xi măng cốt sắt bảo vệ.  Các lò nhỏ từ 100 tới 300 MW lại rất cần thiết cho các xứ đang mở mang có nhiều bờ biển, như Nhật, Phi Luật Tân, Nam Dương, các nước Phi Châu, các nước Nam Mỹ. Việt Nam có thể điều đình với Nga xây 10 nhà máy ĐHN nổi 200 MW thay vì 2 nhà máy Ninh Thuận. Ta làm dịch vụ đóng bè, tạo công ăn việc làm cho cả chục ngàn người. Nga làm các lò từng loạt trong công xưởng, như vậy giá sẽ rẻ tính theo USD/kW. Các lò này lại có thể thiết kế chỉ thay nhiên liệu 4-5 năm một lần, thay vì 1-2 năm như các lò lớn. Khi ta neo hai nhà máy này gần các nơi cần điện như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ… thì độ tin cậy luôn luôn có điện (reliability) cao hơn, sự mất điện do truyền tải đi xa cũng ít hơn.

Cơ hội này giúp Việt Nam hội nhập thế giới ĐHN một cách đặc thù, và lại có một kỹ nghệ xuất khẩu ra thế giới thay vì hoàn toàn lệ thuộc vào nhập khẩu. Nhiều chục ngàn người sẽ có công ăn việc làm từ việc xây bè và các phụ sản của lò ĐHN. Nếu lãnh đạo Việt Nam thấy cơ hội này là có lý hơn ĐHN Ninh Thuận, tôi xin xung phong làm việc không lương (dùng lương tương xứng làm học bổng cho sinh viên Việt Nam), trong 3 năm để khởi đầu kỹ nghệ tương lai này cho Việt Nam trước khi chuyển giao cho một đội ngũ lành nghề tiếp tục. Nếu Việt Nam và Nhật bỏ 30 triệu USD để khảo sát địa điểm xây nhà máy Ninh Thuận 2, thì với một số tiền tương tự tôi có thể làm việc với Nhật, với Nga gây dựng kỹ nghệ ĐHN nổi rất an toàn và có triển vọng bán ra khắp thế giới. Tôi có thể hướng dẫn giới trẻ tuổi ViệtNamhọc hỏi các kinh nghiệm và luật lệ hạt nhân để trở thành tay nghề hàng đầu về ĐHN nổi. Như vậy thì ViệtNammới có thể tự hào là tiên tiến và có khả năng cạnh tranh kinh tế với kỹ thuật đặc thù.

(Xin xem phụ bản 3, hình TS Phùng Liên Đoàn bàn luận với các khoa học gia Mỹ và Nga năm 2010 về ĐHN nổi.)

Kết luận

Trong thời buổi khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế và ngân sách hiện tại của đất nước, lãnh đạo có cơ hội chuyển đổi tình hình và lòng ưu ái của người dân bằng một quyết định ngoạn mục là hoãn xây nhà máy ĐHN, trưng cầu dân ý theo những ý kiến tôi đề nghị (và nhiều ý kiến khác của trí thức Việt Nam và quốc tế), để hoạch định tương lai ĐHN tại Việt Nam nói riêng, kinh tế Việt Nam nói chung, và xa hơn là tương lai 100 năm của nước Việt Nam. Sự đóng góp của quí vị là ngay bây giờ. Quí vị anh minh thì con cháu ta sau này sẽ nở mày nở mặt. Còn như tiếp tục thiển cận, chậm chạp và độc tài thì quí vị sẽ làm người dân Việt Nam luôn luôn thua kém người dân các nước khác. Quí vị đâu có muốn như thế.

 P.L.Đ.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Nguồn: Boxitvn

nguồn anhbasam.wordpress.com

Phụ bản 1: Quá trình làm việc của TS Phùng Liên Đoàn

Phụ bản 2: Minh họa kỹ thuật khoan ngang và ép đá dưới sâu cho nứt để lấy dầu, lấy khí thiên nhiên

Phụ bản 3: Hình TS Phùng Liên Đoàn bàn luận với các khoa học gia Mỹ và Nga năm 2010 về ĐHN nổi

Chú thích ảnh: Chụp ngày 10/11/ 2010 tại cuộc họp quốc tế của Hội American Nuclear Society 

Ngồi, từ trái qua:

Chú thích ảnh: Chụp ngày 10/11/ 2010 tại cuộc họp quốc tế của Hội American Nuclear Society 

Ngồi, từ trái qua:

TS Charles Newstead, viên chức cao cấp về nguyên tử của Bộ Ngoại giao Mỹ.

TS Phùng Liên Đoàn, Chủ tịch công ty nguyên tử và môi trường Professional Analysis, Inc.

Đứng, từ trái qua:

TS Alvin Trivelpiece, nguyên Thứ trưởng Bộ Năng lượng Mỹ về khoa học kỹ thuật, nguyên Tổng giám đốc Trung tâm Nguyên tử 5000 người Oak Ridge National Laboratory, Tennessee.

Viện sĩ Evgeniy Velikhov, TGĐ Viện Nghiên Cứu Kurchatov, Moskva. Ông Velikhov chúc Việt Nam và Nga có thể xây 1000 nhà máy ĐHN trên bè (công suất khoảng 300 MWe mỗi bè) tại bờ bể các nước đang mở mang, với sự bảo đảm an toàn và nhiên liệu bởi các cường quốc.

TS Andrew Kadak, nguyên Hội Trưởng Hội Nguyên Tử Mỹ (20.000 hội viên), bạn học của PLĐ.

Posted in Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

Đảng chống tham nhũng ra sao từ 2001 đến 2012

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2012

Tham nhũng là quốc nạn, và ta thử coi đảng chống tham nhũng như thế nào nha.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI

Vấn đề tham nhũng trong giới đảng viên được chính thức đề cập trong giai đoạn 1996-2001, khóa VIII

*Ban Chấp hành Trung Ương đảng Khóa 8, nhiệm kỳ 1996-2001, đã họp và ra:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

Trích:

    “5. Tập trung chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu có hiệu quả.
– Các cấp uỷ đảng và người đứng đầu các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở nơi mình phụ trách. Bộ Chính trị phân công một số Uỷ viên Bộ Chính trị, các cấp uỷ phân công uỷ viên ban thường vụ trực tiếp chỉ đạo chống tham nhũng, lãng phí quan liêu.
Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở địa phương, ngành cơ quan, đơn vị mình phụ trách thì tuỳ theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức kỷ luật đối với cấp uỷ và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm.
– Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp cùng với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm sát, toà án phải nắm chắc tình hình và khẩn trương kiểm tra, kết luận, xử lý kịp thời đúng pháp luật những đơn tố cáo về đạo đức, lối sống tiêu cực của cấp uỷ viên và người đứng đầu các cơ quan, trước hết đối với Uỷ viên Trung ương, trưởng ban, bộ trưởng, bí thư cấp uỷ, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, trực thuộc Trung ương và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị. (nguồn)

Chắc hẳn khi phát hiện ra có sự kiện tham nhũng bên trong hàng ngũ đảng viên đảng cộng sản vào năm 2001, thì vấn nạn này đã nghiêm trọng lâu lắm rồi. Bởi vậy, cứ mỗi 2 năm một lần, vấn đề này lại được BCH Trung Ương đảng  nhắc đi nhắc lại từ khóa 8 đến khóa 11 (mỗi khóa là 5 năm). Sau mỗi lần nhắc nhỡ, là có nghị quyết đề ra, và cứ thế mà đảng viên học tập liên tục, liên tục.

Học chẵn chòi 11 năm qua, nhưng xem ra các đảng viên không hề thông! Việc phòng chống tham nhũng chẳng những không có gì giảm sút, mà lại còn gia tăng với mức độ “khủng”

Trên báo đảng, dấu tích rành rành về chống tham nhũng:

_Ngày 7 tháng 6 năm 2001, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 03-CT/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII. (nguồn)

_2003 Sợ đảng viên sao nhãng, nên 2 năm sau, báo của đảng nhắc lại: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay (nguồn)

_2005, Chắc tham nhũng ngày càng tăng, nên Đại hội IX Ban Chấp hành Trung Ương Đảng lại ra nghị quyết: Chỉ thị của Bộ Chính trị Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII (nguồn).

_2006

Chắc tình trạng tham nhũng gia tăng cực độ, nên  Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X  đã nêu ra các vấn đề cụ thể như sau:

        Hướng dẫn số 04-HD/TTVH, ngày 25-9-2006, của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương về Tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”

        Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã ra Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21 tháng 8 năm 2006 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

Đây là một nghị quyết rất quan trọng, cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đại hội X, thể hiện vai trò và quyết tâm chính trị của Đảng trong việc lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Thực hiện Công văn số 35 ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương thống nhất với Ban Nội chính Trung ương hướng dẫn việc phổ biến, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết trong Đảng và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân như sau:

I. Yêu cầu

– Tổ chức phổ biến, quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết trong các tổ chức đảng, đoàn thể, cơ quan quản lý hành chính nhà nước và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân.

– Gắn việc phổ biến, quán triệt nghị quyết với việc kiểm điểm, đánh giá tình hình, chỉ ra những biểu hiện của tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, địa phương, đơn vị. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết một cách cụ thể, thiết thực, trong đó xác định những công việc trọng tâm, những vấn đề bức xúc mà dư luận ở địa phương, cơ quan, đơn vị đang quan tâm, để chung sức giải quyết kịp thời, hiệu quả.

– Gắn việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết với việc triển khai chương trình hành động của tổ chức đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội X, coi đây là một nội dung quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội X ngành, địa phương, cơ sở.

– Trong nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí cần quán triệt quan điểm kết hợp xây và chống. Gắn việc triển khai thực hiện Nghị quyết với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” sẽ được phát động vào đầu năm 2007.

II. Nội dung và các bước tiến hành

1. Nội dung

– Các cấp uỷ đảng tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến tất cả cán bộ, đảng viên, công chức thuộc các cơ quan nhà nước, chú trọng các cán bộ chủ chốt, các cơ quan, đơn vị quản lý kính tế, những nơi đang có vấn đề bức xúc mà cán bộ, nhân dân và dư luận đang quan tâm, để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết một cách cụ thể.

– Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết gắn với chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội X đã được thông qua, thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gắn với việc chuẩn bị và triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

– Phổ biến Nghị quyết đến tất cả các đoàn thể chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, vận động quần chúng nhân dân, lãnh đạo và phát huy vai trò của nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

– Lãnh đạo và thực hiện việc tuyên truyền liên tục, sâu rộng trong xã hội về nội dung, chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng và qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên.

2. Các bước tiến hành

– Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và hướng dẫn triển khai Nghị quyết tại các ngành, địa phương, cơ sở.

– Thời gian: 1,5 ngày, từ 12 đến 13- 10 – 2006

– Thành phần:

+ Ở các tỉnh, thành phố: Đồng chí Phó Bí thư thường trực; Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Trưởng Ban Tuyên giáo; Trưởng Ban Tổ chức; Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra.

+ Ở các bộ, ngành Trung ương: Đồng chí Thứ trưởng thường trực; Bí thư Đảng ủy cơ quan; Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ khối các cơ quan Trung ương.

+ Ở các tổng công ty: Chủ tịch Hội đồng quản trị, hoặc Tổng Giám đốc.

– Các tỉnh, thành uỷ, đảng uỷ khối cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt phổ biến, quán triệt Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và thông qua chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết trên phạm vi ngành, địa phương; hướng dẫn việc phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết ở các địa phương, cơ sở.

Thời gian: 1,5 ngày, hoàn thành trong tháng 11-2006.

– Cấp uỷ các cấp quận, huyện, thị xã, tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và thông qua chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết trên phạm vi quận, huyện, thị xã; hướng dẫn triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết tại xã, phường, thị trấn.

Thời gian: 1 ngày, hoàn thành trong tháng 12 năm 2006

– Đảng uỷ cấp cơ sở tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, các đoàn thể chính trị.

Thời gian: 1 ngày, hoàn thành trong tháng 12 năm 2006.

– Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị phổ biến nội dung Nghị quyết đến từng hội viên, đoàn viên.

Thời gian: hoàn thành trong tháng 12- 2006.

III. Tổ chức thực hiện

– Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương phối hợp với các cơ quan liên quan xuất bản Tài liệu học tập Nghị quyết, bao gồm toàn văn Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các nghị định thực hiện luật của Chính phủ. Biên soạn và phát hành tài liệu tham khảo dành cho việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

– Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Văn phòng Trung ương giúp Ban Bí thư chủ trì Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt Nghị quyết và Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và hướng dẫn triển khai Nghị quyết ở địa phương và cơ sở.

– Ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống tham nhũng xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo các ngành, địa phương sớm hoàn thiện tổ chức và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết tại ngành, địa phương. Ban Cán sự đảng, Đảng đoàn các cơ quan Trung ương xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết và giúp các ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết ở ngành, địa phương.

– Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương phối hợp với Ban Cán sự đảng Bộ Văn hoá – Thông tin chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng, đội ngũ báo cáo viên đẩy mạnh tuyên truyền về Nghị quyết và phản ánh kịp thời khí thế thực hiện Nghị quyết các ngành, địa phương và cơ sở.

Tổ chức nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền Nghị quyết “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” là một nội dung quan trọng hiện nay. Do vậy, cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp cần chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng chương trình kế hoạch, tổ chức thực hiện nghiêm túc các bước theo Hướng dẫn, tăng cường kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm, kịp thời báo cáo cấp uỷ cấp trên.

Báo cáo gửi về Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương để tổng hợp báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo tiến độ.

TRƯỞNG BAN
Đã ký
Tô Huy Rứa

(nguồn)

Sau khi có nghị quyết trên, có các động tác giả nai như sau: ai là trưởng ban phòng chống tham nhũng (PCTN)? Có ý kiến nói là nên giao cho quốc hội, có ý kiến đề ra là giao cho bộ chính trị, lại có ý kiến là thủ tướng làm trưởng ban chỉ đạo PCTN. Sau cùng, thì thủ tướng Ng Tấn Dũng làm trưởng ban.

2007

Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc

Có luật phòng chống tham nhũng của quốc hội, do Nguyễn Phú Trọng ký (nguồn)

Trong thời gian này, Vinashin thua lỗ hơn 4,6 tỷ đô la 2010, kế đó có tin tất cả 81/91 tập đoàn và tổng công ty đều thua lỗ (10 tập đoàn còn lại chưa báo cáo); và chỉ cách đây 3 tuần, Vinalines thua lỗ 1 tỷ đô la.

2012

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị.

Vào tháng 4 năm nay, theo sơ kết 5 năm phòng chống tham nhũng do TT Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo:

Cụ thể là, năm năm qua, công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các hành vi tham nhũng có tiến bộ. Các vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý với số lượng lớn. Ðã khởi tố 1.458 vụ án tham nhũng với 3.151 bị can; truy tố 1.603 vụ, 3.889 bị can; xét xử 1.455 vụ, 3.387 bị cáo.

Ðối với tám vụ án tham nhũng trọng điểm xảy ra từ 2006 trở về trước mà Ban Chỉ đạo T.Ư lựa chọn để chỉ đạo ngay sau khi thành lập đều đã được đưa ra xét xử dứt điểm.

Ðối với 21 vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp khác mà Ban Chỉ đạo T.Ư lựa chọn để chỉ đạo đã xét xử năm vụ, Tòa án đang thụ lý hai vụ, Viện Kiểm sát thụ lý ba vụ, đình chỉ và tạm đình chỉ điều tra bốn vụ, đang điều tra bảy vụ.

Ðối với 20 vụ án mà Ban Chỉ đạo T.Ư giao Văn phòng Ban Chỉ đạo T.Ư theo dõi, đôn đốc đã xét xử 12 vụ, Tòa án đang thụ lý hai vụ, Viện Kiểm sát đang thụ lý hai vụ, đình chỉ điều tra hai vụ, đang điều tra hai vụ.

Công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các tội phạm tham nhũng trong năm năm qua có tiến bộ so với trước.” (hết trích)

Tuy nói thế, nhưng thực tế tham nhũng trong đảng có mòi trầm trọng lắm, và coi bộ không hiệu quả, nên kỳ này Bộ Chính Trị phải ra tay. Báo viết như sau: 

Ngày 15-5-2012

“Ban Chấp hành Trung ương thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.” (nguồn)

————-

Phần trên, là NÓI về tham nhũng, mất hết 11 năm.

Phần tiếp theo là THỰC TẾ…

Chỉ một tuần sau khi Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng trực thuộc Bộ Chính trị hội họp phòng chống tham nhũng, thì có tin:

…Cách nơi họp phòng chống tham nhũng không xa, ở tỉnh Hải Dương, bí thư tỉnh ủy (lương chỉ có 12 triệu/ tháng), đang xây nhà.

Quần chúng ở đấy đang vô cùng ngưỡng mộ, bàn tán xôn xao về căn nhà đang xây, họ ngợi khen lẫn thích thú về sự hoành tráng của căn nhà 4000 mét vuông, kèm theo đó là các lời bàn về đức tính chí công vô tư cần kiệm liêm chính của ông chủ tỉnh nhỏ. Lời bàn đến tai Báo Giáo Dục. 

3 phóng viên của báo Giáo Dục được cử xuống hiện trường xem thực hư thế nào và họ hiện nay họ đang tá hỏa… 

Lần tận mắt khối tài sản kếch xù trên đất của Bí thư tỉnh Hải Dương

(GDVN) – Thời gian gần đây người dân ở xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang – Hải Dương đang đồn thổi nhau và không tiếc lời khen ngợi, ngưỡng mộ đối với độ hoành tráng và kiến trúc tuyệt đẹp của khu nhà vườn trên diện tích đất hơn 5.000 m2 được người dân địa phương xác định là của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư tỉnh Hải Dương.

Khu nhà vườn này tọa lạc ở một vùng quê nghèo của huyện Ninh Giang – Hải Dương nhưng không vì thế mà nó thiếu đi những nét đặc trưng của một khu nhà vườn hiện đại, ngược lại khu nhà này đã được thiết kế thành một quần thể nhà vườn hoành tráng với những kiến trúc lạ mắt những sẽ khiến cho những ai lần đầu đến đây phải ngỡ ngàng và “choáng ngợp”…

Khu nhà đang xây dựng của ông Bùi Thanh Quyến ở thôn Đông Tân – xã Ninh Thành – Ninh Giang – Hải Dương

Từ thông tin phản ánh qua đường dây nóng của người dân xã Ninh Thành (huyện Ninh Giang – tỉnh Hải Dương) có nội dung: Công trình nhà vườn có diện tích khoảng hơn 5.000 m2 ở thôn Đông Tân (xã Ninh Thành) đang tiến hành xây dựng trên đất nông nghiệp trái phép (đất chưa được chuyển đổi)? Và cũng theo phản ánh của người dân thì khu nhà vườn đang xây dựng trên diện tích đất thuộc sở hữu của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương?

Phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam đã về thôn Đông Tân, xã Ninh Thành (Ninh Giang – Hải Dương) để xác minh thông tin này.

Khối “tài sản kếch xù” trong khu nhà vườn

Khi chúng tôi có mặt tại đây, điều dễ dàng nhận thấy đó là những tiếng nổ của các loại máy cẩu, máy xây dựng công trình nơi được coi như một “đại công trường” đang thi công.

Đi từ con đường trải bê tông dẫn vào làng hiện ra một “tư dinh” rất hoành tráng bởi hệ thống tường rào được xây kiên cố cao chừng 3m cùng một hàng cây xanh nhấp nhô chạy song song sát bên tường.

Vào bên trong khu nhà vườn đang xây dựng này thực sự khiến chúng tôi bị “choáng ngợp” trước những gì được “mắt thấy tai nghe”. Và chính xác hơn, nó giống như một khu nghỉ dưỡng sinh thái lý tưởng ở những khu du lịch nổi tiếng.

Theo điều tra của phóng viên và thông tin của một số người dân địa phương, công nhân xây dựng ở đây cho biết, toàn bộ khuôn viên khu nhà vườn này có tổng diện tích khoảng trên 5.000 m2 bao gồm một ngôi nhà 3 tầng (1 tầng hầm và 2 tầng nổi – PV) được thiết kế theo phong cách hiện đại và khác lạ (tức là, ngoài tầng hầm và tầng 1 được xây bình thường thì tầng 2 của ngôi nhà sẽ được làm hoàn toàn bằng gỗ, mái cong hình mái chùa); hệ thống dẫn nước đến 2 hòn non bộ “khổng lồ” bằng đá xanh được thiết kế công phu, đẹp mắt để điều hòa sinh thái cho khu nhà; một “rừng” cây cảnh thuộc dạng quý hiếm cũng khiến mọi người phải ao ước được sở hữu…

Theo chỉ dẫn của những người thợ xây dựng ở đây, tầng hầm nằm sâu dưới lòng đất khoảng 3m. Theo sơ đồ thiết kế hệ thống phòng sẽ có 4 phòng nhỏ và 1 phòng lớn, trong đó, có 3 phòng ngủ, 1 phòng khách và 1 phòng hát?

Cũng theo những người công nhân xây dựng ở đây cho biết, từ khởi công đến khi hoàn thành, chủ nhà phải bỏ ra khoảng nhiều tỷ đồng cho phần chi phí xây dựng. Chưa hết, để trang trí cho ngôi nhà này, trong bản thiết kế xây dựng còn được ốp lát bằng các loại gỗ quý và ước tính cũng phải “ngốn” hết khoảng nhiều tỷ đồng nữa. Như vậy, nếu các thông tin mà những người công nhân này cận kề với giá trị thực và chỉ nhẩm tính thì chi phí xây dựng ngôi nhà sẽ là một con số không hề nhỏ chút nào…?

 

Tầng 1 của ngôi nhà Sự kỳ công, đắt đỏ của khu nhà vườn này còn phải kể đến một hệ thống đường dẫn nước từ bên ngoài vào rồi cung cấp cho các hòn non bộ “khổng lồ” ở trước và sau khu nhà, góp phần tô điểm cho khuôn viên của khu nhà vườn thêm lộng lẫy. Theo những người thợ tại đây, những loại đá xanh, đá đỏ quý được đưa từ vùng đất Ninh Bình, Thanh Hóa và một số nơi khác về.

Theo tìm hiểu của PV, và thông tin của những công nhân xây dựng ở đây cho biết: toàn bộ các loại đá được đưa về đây lên đến hàng chục tỷ đồng, trong đó, riêng tổ hợp hòn non bộ ở phía sau nhà ước khoảng vài trăm triệu đồng. “Tất cả tiền đá mua về cũng hết nhiều tỷ đồng, nhưng đắt nhất là loại đá đỏ được đặt ở cổng chính vào và một hòn khác ở trên đồi” – ông K, một công nhân xây dựng ở đây cho biết.

Và “rừng” cây, gỗ quý…

Tất cả những con số trên là những điều có thể đánh giá được bằng phép tính đơn giản, nhưng những cây xanh quý hiếm được coi là “tài sản” vô giá trong khu vườn này. Đó là một “rừng” cây, gỗ quý được trồng ngay hàng, thẳng lối để “trang điểm” cho khu nhà vườn này như: cây sưa hàng trăm năm tuổi, tùng la hán, gốc thị lâu năm… và một số cây quý có nguồn gốc từ nước ngoài. Đặc biệt là sự có mặt của gốc cây sưa hơn 1 vòng tay người ôm và cây tùng la hán ước tính khoảng vài trăm năm tuổi. Theo như đánh giá của những nghệ nhân, những chuyên gia về cây thì có thể những loại cây kể trên có giá trị một vài trăm triệu cho đến vài tỷ, thậm chí có những cây đặc biệt quý có thể có giá vài chục tỷ…

 

Cây sưa và đá ở trong khu nhà vườn “Nói chung cây cảnh là vô giá và nó phụ thuộc vào sở thích của mỗi người nên đắt hay rẻ cũng khó nói lắm. Nhưng ở đây có hai cây có giá vài tỷ đồng là cây tùng la hán ở phía trước nhà và cây sưa. Vào thời điểm đắt nhất, năm 2010, thì cây tùng la hán có giá hơn nhiều tỷ đồng, cây sưa ở trên đồi kia đâu như cũng có giá cả triệu đô (USD). Còn lại những cây khác từ vài triệu đến vài trăm triệu đồng…” – ông K chỉ tay về hướng cây sưa ở trên đồi (đồi nhân tạo trong khu nhà vườn – PV) nói.

“Khu nhà vườn của bác Quyến Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương đấy. Đẹp lắm, muốn xem thì cứ vào trong sẽ biết” – bà T. T. N, trầm trồ khi phóng viên GDVN hỏi về khu nhà vườn đang xây tại thôn Đông Tân là của gia đình nào?

Cán bộ UBND đi nghỉ mát vào ngày làm việc?

Khi PV đến UBND xã Ninh Thành (ngày 16/5) để liên hệ công tác báo chí và xác minh nguồn gốc đất như theo phản ánh của người dân thì ông Vũ Thành Lượng Chủ tịch UBND xã Ninh Thành từ chối không hợp tác: “Chủ tịch đi vắng không tiếp được”.

Trong khi đó, ông chủ tịch xã vẫn ngồi chễm chệ trong phòng kế toán? Thậm chí, ông chủ tịch xã còn tuôn ra những ngôn ngữ hơi khiếm nhã và “lệnh” cho CA xã “mời” PV ra khỏi ủy ban(!?).

Trước đó, thứ 2, ngày 14/5, phóng viên đã điện thoại để đặt lịch làm việc với UBND xã nhưng điện thoại bàn Văn phòng ủy ban chỉ có chuông và không ai nhấc máy. Sau đó, PV tiếp tục điện thoại cho ông Vũ Thành Lượng Chủ tịch xã nhưng đầu dây bên kia chỉ tiếng thuê bao hiện giờ không liên lạc được?

Theo ông Nguyễn Văn Kiệt Chánh Văn phòng UBND xã Ninh Thành cho biết: “Hôm đó (14/5), chúng tôi đang đi du lịch ở Huế?”.

Qua nhiều lần liên lạc bằng điện thoại, phóng viên đã gặp được ông Bùi Thanh Quyến. Trao đổi với phóng viên báo điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Bùi Thanh Quyến, Bí thư tỉnh ủy Hải Dương đã khẳng định:

Thông tin về việc ông xây nhà trên đất nông nghiệp (đất chưa chuyển đổi) là không chính xác. “Khu đất này đã được mua của các hộ dân ở địa phương và cách đây gần chục năm, đây là đất đã được chuyển đổi, hợp pháp…” Ông Quyến xác nhận.

Báo Giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin này đến bạn đọc…

Nguồn: Báo Giáo dục Việt Nam

—————————————-

Cận cảnh khối tài sản ‘kếch xù’ trên khu đất của Bí thư tỉnh Hải Dương

21-5-2012

(GDVN) – Đó là những tài sản đắt tiền, cực kì đắt tiền bên trong khu đất rộng đến 5000m2 mà người dân ở đây xác định là của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư tỉnh ủy Hải Dương.

Theo như thiết kế, tổng thể một khu nhà vườn đã được quy hoạch và đang được xây dựng trên khu đất với tổng diện tích lên đến hơn 5000m2 của gia đình ông Bùi Thanh Quyến (Bí thư tỉnh ủy Hải Dương), hiện đang được gấp rút thi công tại xã Ninh Thành – Ninh Giang – Hải Dương. Theo ước tính của những công nhân xây dựng ở công trình này thì tổng giá trị tài sản của toàn bộ diện tích đất và khối tài sản trên khu nhà vườn này có giá trị lên đến cả gần trăm tỷ đồng?

Mặc dù hiện nay công trình này vẫn đang được thi công, nhiều hạng mục vẫn còn dang dở nhưng nếu một lần bạn được đặt chân đến đây, bạn không chỉ cảm nhận được sự sang trọng, quyền quý bởi những gì đập vào mắt mình ở trong khu nhà vườn này mà bạn còn có thể nhìn tận mắt và cầm nắm được những khối tài sàn bạc tỷ ở đây.

Qua đoạn video dưới đây, bạn đọc có thể mường tượng ra phần nào sự hoành tráng trong khu nhà vườn rất “hút mắt” này:

 

http://www.youtube.com/watch?v=MJpmwuDvNzw

“Giá trị thực của khu nhà vườn này sẽ còn là dấu chấm hỏi cần có một cuộc kỳ công để tính toán, và theo ước tính nó sẽ là những con số ‘ấn tượng’ không hề nhỏ. Nhưng chỉ cần ‘chiêm ngưỡng’ những cây gỗ quý hàng trăm năm tuổi có giá trị rất ‘khủng’ la và những khối đá quý có kích thước cũng ‘khủng’ không kém và quý hiếm cũng đủ để mọi người bị… lóa mắt”. Đó là những khẳng định và lời đánh giá về khối tài sản của toàn bộ khu nhà vườn mà những công nhân xây dựng ở đây và người dân địa phương cho biết.

bt1.jpg

Vào bên trong khu nhà vườn đang xây dựng được người dân địa phương xác nhận là của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương tại thôn Đông Tân, xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thực sự sẽ khiến bạn phải.. hoa mắt.

bt6.jpg

Để làm nên các hòn non bộ phải cần đến sự trợ giúp của máy cẩu (phía xa)

bt9.jpg

Công nhân vẫn hối hả thi côngbt10.jpg

Hòn non bộ này khi hoàn thành có giá cũng khá đắt.bt11.jpg

Hệ thống cây xanh được trồng quanh khu nhàbt12.jpg

phía trước cổng vàobt14.jpgCây Tùng La hán hàng trăm năm tuổi cũng có giá trị thành tiền cao ngất ngưởngbt15.jpgTheo lời kể của các công nhân xây dựng ở đây cho biết thì cây Thị này khó mà ước lượng được giá trị thành tiền của nó.

bt16.jpg

Cùng nhiều cây gỗ quý khác

Hải Sơn

danluan_00268.jpgÔng Bùi Thanh Quyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hải Dương

danluan_00266.jpgdanluan_00267.jpg

bt17.jpg

nguồn hình: danluan.org

Điều cần nói thêm là trong tổng số 175  ủy viên trung ương đảng, thì bí thư tỉnh ủy là thuộc hàng cao cấp nhất. Sau thời gian 5-7 năm, họ sẽ được bầu vào bộ chính trị. Theo website này, ông Bùi Thanh Quyến là UV Trung Ương Đảng, (số 119)

Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng thành lập vào 2007, và đang báo cáo sơ kết 5 năm phòng chống tham nhũng trước 170 ủy viên trung ương đảng, trong đó có ông Bùi Thanh Quyến bí thư tỉnh ủy Hải Dương đang ngồi dự:

ngày 15-5-2012, “Các đồng chí chủ trì Hội nghị Sơ kết Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X)” (nguồn)

http://cema.gov.vn/modules.php?mid=4668&name=Content&op=details

Trong khi ông đảng viên Ủy viên Trung ương đảng, đại diện cho lực lượng tiền phong của giai cấp công nhân, đang xây nhà 5000 mét vuông với chi phí xây nhà và vườn hàng trăm tỷ như thế, thì nhan nhản công nhân VN thâm niên 10-15 năm có đời sống thực sự ra sao?

Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 21-5-2012 có phóng sự trả lời câu hỏi trên qua bài sau: 

Phóng sự: Tạm bợ đời thợ

LTS: Dù nhan nhản người đã 10, 15 lăm năm làm công nhân, chỉ phải mất thêm chừng nửa số thời gian đã tích luỹ bảo hiểm là có thể hưởng lương hưu.

Cũng không ít người đưa cả đại gia đình dài đến bốn thế hệ với hàng chục con người, từ bỏ ruộng vườn, mồ mả tổ tiên lên sống tại những đô thị, cha mẹ, con cái cùng sóng bước vào cổng xí nghiệp.

Có kẻ đã tha hương đến quá nửa tuổi đời, bỏ phần nhiều sức khoẻ, tuổi xuân ở các khu công nghiệp, thành vợ – chồng, sinh con đẻ cái. Nhưng hình như với họ, đời công nhân vẫn chỉ là tạm bợ. Tạm bợ từ miếng ăn, chỗ ở, công việc đến tình yêu, lẽ sống và kiếp người. Đặc biệt, trong thời điểm kinh tế khó khăn này, sự tạm bợ đó càng trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Sau đây là ghi nhận của phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị sau những ngày làm công nhân cùng với hơn 1.000 con người khác tại doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ tên L. ở một khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương.

Bài 1: Những bữa ăn cầm hơi

21-5-2012

SGTT.VN – Đúng 11 giờ 30, tiếng còi hơi réo lên inh tai như còi tàu thuỷ báo hiệu đến giờ nghỉ trưa, gần 200 con người đổ xô ra cổng, họ chen vai nhau, bước tất bật, vội vàng. Bốn tiếng rưỡi lao động buổi sáng đã xong, công nhân được nghỉ một tiếng ăn trưa.

 

Tôm rim – bữa ăn trưa sang và hiếm hoi của công nhân.

Ăn dưới 10.000 đồng

Trong xưởng giờ chỉ còn lại gần chục người, hầu hết là phụ nữ. Uể oải, bà Thành ngồi bệt xuống nền, bật nắp hộp cơm bằng nhựa mang theo, bên trong, chừng hai lưng cơm và miếng cá khô chiên cháy bằng ba ngón tay. Ít nhất, đã ba ngày nay, phần ăn của bà không thay đổi. Cạnh đó, phần ăn của bà Ba sang hơn, hai trái trứng vịt luộc, thêm chén canh suông. Hảo, người dân tộc thiểu số, chạy đi múc miếng nước đổ vào ấm điện (xưởng dùng để nấu nước sôi tẩy rửa) và bóc mì gói làm canh. Trong gần chục gô cơm trưa hôm đó, chỉ duy nhất một phần có thịt, bốn miếng nhỏ cỡ ngón tay cái. Một người biết đi chợ cũng tính ngay được không phần ăn nào quá 10.000 đồng, cho dù, công ty trả tiền ăn 13.000 đồng/bữa.

Chỉ chừng năm phút, tất cả đã nuốt xong cơm. Bà Thành bước ra bình nước, cầm ca, ngửa cổ uống đến “ực” một cái. Trước cái nhìn tò mò của một công nhân mới, bà cười ngượng: “Hôm nay lại cá khô”. Bốn tiếng rưỡi toàn đứng và đi, bước thêm vài ba trăm mét về phòng trọ dưới trời nắng như đổ lửa cũng trở nên nặng nhọc với người đã ngoài 40 tuổi.

Cách đó ngoài trăm bước chân, quán cơm bụi cũng tấp nập, nhưng toàn là dân phụ hồ. Dù xưởng có gần 200 công nhân, chỉ có hai người ghé ăn, một đang bệnh nặng, một bị hỏng xe. 15.000 đồng một phần, cơm thêm, trà đá thoải mái. Người bệnh tên Diễm An xuýt xoa: “Mắc hơn nấu nhưng em đi không nổi”. Cuối năm ngoái, cô bị tai nạn, tưởng chết, một mảng hộp sọ còn đang gửi ở bệnh viện chờ khi có đủ tiền mới lắp vô. Trưa nay không thấy cô “tự bồi dưỡng” bằng một hộp sữa tươi Vinamilk như mấy ngày trước vì buổi sáng, cô đã uống nó thay ăn.

Bữa sang

Thường lệ, cứ gần 6 giờ sáng, Tráng đi chợ mua đồ ăn cho cả ngày. Mang tiếng là “đi chợ” nhưng chỉ là bước ra cái quán tạp hoá gần đó. Rau: bữa thì bó muống già, khi lại cây cải thảo bằng bắp tay, hoặc mấy trái cà chua, dưa leo… Tất cả đều chia đôi, bữa trưa nhiều hơn chút. Mặn: vài ba quả trứng vịt, đậu hũ hoặc cá khô. Ngày hôm trước, sau khi cho tôi, người mới ở cùng phòng được nếm bữa trưa bằng hai quả trứng chiên mặn chát cộng nửa lon cá hộp và bữa tối bằng tô mì gói một trứng vào 9 giờ đêm (sau khi tăng ca về), nên hôm nay Tráng đãi tôi món tôm rim. Hành trình đi mua tôm sáng hôm đó lại phức tạp, cửa hàng tạp hoá không bán đồ tươi sống (thịt, cá) nên Tráng phải gửi 40.000 đồng để chủ quán mua giúp, trưa ghé lấy. Vừa đảo 15 con tôm sú nhỉnh hơn đầu đũa trong cái chảo đã cụt cán, người thanh niên 25 tuổi này chặc lưỡi: “Tôm to ghê!” “Hôm nay ăn sang thế?”, tôi hỏi. “Đãi anh đấy! Lâu lâu mà”, Tráng nói. Vào bữa, cả chủ và khách cùng để ý nhau “gắp đi anh”, mỗi chén cơm một con, khách ăn ba, chủ ăn hai. Số tôm còn lại ăn đến tối hôm sau mới hết.

Đã bảy năm bám trụ ở công ty, Tráng đã có tiền trách nhiệm, tháng nào thấp nhất cũng lãnh được 3,5 triệu đồng, khi nào có tăng ca, tiền lương tăng thêm khoảng 1 triệu đồng nữa. Kế hoạch chi tiêu của chàng thanh niên chỉ nặng 45kg này gói khá gọn: ăn một ngày (hai bữa) tối đa 20.000 đồng, kể cả mắm muối. Mỗi tháng, tiền phòng trọ cộng tiền điện nước: 400.000 đồng, ăn sáng: 250.000 đồng, mọi thứ lặt vặt khác: 100.000 – 200.000 đồng nữa. Không càphê, quán xá, một ngày hút ba điếu thuốc loại rẻ nhất, thỉnh thoảng nhậu tại phòng với mấy bạn trong khu trọ, tiền rượu là chính, 12.000 đồng/lít. Chấm hết. Nhẩm tính, mỗi tháng một công nhân chỉ xài hết 1/3 thu nhập của mình.

Tuy đi chợ từ sáng sớm, nhưng không ai nấu ăn sáng, họ chỉ cắm nồi cơm, rửa rau, ướp đồ ăn để trưa về nấu cho nhanh. Như hầu hết công nhân ở đây, cả hai anh em chúng tôi ghé vào xe bánh mì ngay cổng xưởng mua hai ổ, loại lớn 8.000 đồng, nhỏ 7.000 đồng. Đồ ăn sáng có năm loại: xôi (rẻ nhất), bánh mì, bún, mì – hủ tíu gõ, phở. Giá cao nhất 10.000 đồng/tô. Tráng chậm rãi gặm, vừa đến nửa ổ, cậu ta gói lại “để dành đến nửa buổi ăn tiếp” vì lúc đó ai cũng đói. Tráng hay ăn bánh mì vì vừa đỡ 3.000 đồng, vừa để dành được.

Bồi dưỡng mì gói

Tối nay tăng ca, công nhân được nghỉ nửa tiếng đi ăn, từ 6 – 6 giờ 30 phút. Chẳng ai về nhà ăn cơm kịp vì thời gian ngắn quá, mọi người ra quán hoặc nhịn. Lại những món buổi sáng, có thêm cháo vịt. Ngoài Tráng, tôi rủ thêm hai vợ chồng công nhân, bốn tô cháo dọn ra, rau trộn sẵn, kèm ba miếng thịt vịt mỏng và miếng tiết heo. Bàn bên cạnh, mấy cô cậu công nhân trẻ, vừa ăn vừa tán tỉnh nhau, nhưng khi tính tiền cũng phần ai nấy trả. Góc bên kia, Hảo đang đứng một mình, cô nhịn. Bà Thành ngồi lại trong xưởng, sáng nay bà mang thêm hai củ khoai lang luộc.

8 giờ 30 tối, ngày làm việc đã cạn. Sau 12 tiếng đồng hồ chỉ đứng và đi, đôi chân bây giờ như muốn rụng ra. Cả hai ghé vô quán mua ba gói mì, hai quả trứng gà công nghiệp (một gói mua giùm cho một công nhân đang có bầu ở cùng dãy trọ) và hai bịch dầu gội. “Sao không mua luôn cả thùng mì, vừa rẻ hơn vừa đỡ mất công”, tôi hỏi. “Mua nhiều sẽ ăn nhiều, nhanh hết”, Tráng nói. Khát nước quá, tôi lấy thêm hai chai nước Trà xanh không độ trước sự can ngăn của Tráng. Tu được nửa chai, cậu ta dừng lại, vặn nắp “để dành buổi tối”. Ở phòng, bình nước 20 lít giá 7.000 đồng sau ba tháng uống đã cạn trơ từ hai hôm trước, nhưng phải đợi chủ nhật, Tráng mới đi mua vì “giờ chưa đến tháng”.

Tôi cầm gói mì mua giùm sang phòng trọ kế đó cho bà bầu, tên Hoa Định, vừa để làm quen. Năm nay cô 38 tuổi, người ngoài Bắc, đã làm cho công ty 11 năm. Vừa vác bụng bầu bảy tháng, vừa pha mì, Hoa Định kể: “Bây giờ có thai em còn ăn, ngày trước em nhịn luôn”. Tô mì gói và vài lát dưa leo nghi ngút khói, cô ăn uể oải, hết một nửa thì dừng lại, có lẽ vì ngán. 12 tiếng đứng máy khoan đã vắt kiệt sức của người sắp làm mẹ này, nhưng trong ánh mắt cô, luôn đau đáu một nỗi giày vò “chẳng có ai bên cạnh khi em chuyển dạ…”

bài và ảnh: Vĩnh Hoà

————————————————————————————————

Báo Giáo dục đăng bài

Bí thư tỉnh ủy nhận bao nhiêu lương/ 1 tháng?

Thứ ba 22/05/2012

Trả lời nhanh là 12 triệu đồng/ 1 tháng.

Tính trong một năm số tiền mà cán bộ này có thể nhận được là 12.012.000 x 12 tháng = 144.144.000 đồng.

Và nếu với mức lương này được giữ nguyên trong vòng 1 nhiệm kỳ được bầu là 5 năm thì tổng số lương được nhận ở đây sẽ là 720.720.000 đồng và nếu tái cử tiếp thì con số này là gấp đôi.

Chi tiết đọc ở đây:

http://giaoduc.net.vn/Ban-doc/Bi-thu-tinh-uy-nhan-bao-nhieu-luong-1-thang/167191.gd

Các bạn vào google.com.vn, viết câu: Cán bộ đi trước, làng nước theo sau, và search sẽ thấy :

Bác Hồ dạy chúng ta “Cán bộ là người đày tớ trung thành của nhân dân”.  “ Khó trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”…

Không có một suy nghĩ ,phương châm ,hành động nào vượt lên được những lời căn dặn ân cần của Bác, đại ý là : Đảng viên ,cán bộ đi trước, làng nước đi sau…

Cán bộ phải nêu cao sự hy sinh những quyền lợi ích kỷ, nhỏ nhen của đời thường, gác lại những tư tưởng hẹp hòi, lạc hậu, xoá bỏ những ranh giới  làng , xã để tận tâm, tận lực với những con người đã ngưỡng mộ,tôn vinh mình làm bậc cha, bậc mẹ…”

Hai bài báo trên làm ta gợi nhớ đến lời nói của cố TT Nguyễn Văn Thiệu: Đừng nghe những gì cs nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cs làm. Hơn 40 năm trôi qua lời nói của cố TT Nguyễn Văn Thiệu vẫn chính xác, và xem ra không ai có thể phủ nhận được điều này.

Chưa từng có đảng viên nào khai và tự khai họ đã tham nhũng. Bởi vậy Đừng tố giác tham nhũng. Gương của các nhà báo chống tham nhũng bị ngồi tù là rất nhiều. Bởi vậy, đảng kêu gọi chống tham nhũng thì cứ để đảng làm một mình.

Tiền đâu mà đảng tham nhũng?

Hóa ra, trong thời gian 1990-2010, các nước ngoại quốc đầu tư vào VN gần 200 tỷ đô la USD, chính xác là 192 tỷ 920 triệu đô la, theo chương trình FDI (Foreign Direct Investment)

FDI in Vietnam from 1990 – 2010

FDI Vietnam 1990-2010

https://i2.wp.com/www.vietpartners.com/images/Vietnam-FDI-H1-2010.jpg

(http://www.vietpartners.com/images/Vietnam-FDI-H1-2010.jpg)

Chỉ tính riêng năm 2010, FDI đầu tư vào Việt Nam là gần 8 tỷ đô la. Hòa Lan (Netherland) đầu tư vào VN nhiều nhất trong năm 2010. Bởi vậy, gần đây có vụ Hòa Lan tố cáo đảng viên tham nhũng, nhưng nay thì mọi việc êm xuôi. Vì họ không muốn mất quyền lợi ở VN. Vụ PMU làm rùm beng ở Nhật, nhưng Nhật không bao giờ đưa bằng chứng đảng viên nào nhận hối lộ, hối lộ bao nhiêu cho phía tòa án VN, vì Nhật là nước đứng hàng đầu trong việc đầu tư vào VN. Nhật mua hết dầu ngọt ở giếng dầu Bạch Hổ trong mấy chục năm qua.

*Ở Việt Nam, trong thời gian từ 1990-2010, các nước ngoại quốc đã đầu tư vào Việt Nam gần 200 tỷ đô la (chính xác là 192,8 tỷ đô la) Số giải ngân thật sự là chưa biết bao nhiêu.

*Bên Trung Quốc, trong thời gian từ 1980-2006, các nước ngoại quốc đã đầu tư vào TQ 622,4 tỷ đô la. (nguồn). 

*Đường dây tham nhũng ở Bộ Thương Mại 2004


Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN | 1 Comment »

►“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 1/9

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2012

Lời tựa:  Khi hợp tác làm ăn theo kiểu: bên có của, bên có công, hai bên thường có hợp đồng rõ ràng. Hợp đồng ăn chia theo kiểu  4/6 hoặc 3/7 hoặc 5/5. Nhưng đối với các mỏ khoáng sản, như  dầu hỏa, quặng…thường thì bên có của được 51%, bên có công khai thác là 49%.

Cụ thể khi Petrovietnam hợp tác với nước ngoài từ 1980s, tập đoàn này được hưởng 51%, còn các đối tác nước ngoài được 49%.

Bất cứ  ai từng làm ăn theo kiểu hợp tác đều phải biết qui luật ăn chia nói trên. Vậy tại sao có chuyện hợp đồng than giữa công ty quốc doanh VN và công ty Indonesia mà trong đó VN chỉ được hưởng 10%, còn Indonesia được hưởng 90%? 

Chuyện này ắt có khuất tất. Báo chí cần điều tra để làm sáng tỏ thêm một bước nữa: ai, người nào đã chỉ đạo việc ký hợp đồng? Tài sản của người nầy từ 1980s đến nay có thay đổi ra sao? Viện kiểm sát và tòa án VN có quyền nhờ chính phủ Indonesia coi tài chánh và thuế của công ty Indonesia, xem có khoản chi nào đáng bị nghi ngờ là money laudering (back salaries) không?

Hay đây là một kịch bản, trong đó hợp đồng này là một cách của các giới chức cao cấp trong đảng và nhà nước ăn chia với công ty Indonesia để chuyển tiền ra nước ngoài? Công ty Indonesia chia sẻ lợi nhuận theo % với một nhóm đảng viên cao cấp, và một phần của số tiền bán than  thu được đã và đang được gởi vào một tài khoản đứng tên ai đó, trong một ngân hàng nước ngoài nào đó ở Indonesia? 

Thời giá 1 triệu tấn than đá xuất khẩu là 91 triệu đô la (nguồn). Vậy Indonesia mỗi năm xuất khẩu được 800.000 tấn than thì được bao nhiêu tiền? 72,8 triệu đô la! Trong đó, Việt Nam được chia 10%, là 7,28 triệu đô la. 

” Quy định của hợp đồng hợp tác khống chế mỗi năm VMD chỉ được phép khai thác 500.000 tấn than thương phẩm, tương đương khoảng 750.000 tấn than nguyên khai. Trên thực tế, nhiều năm qua VMD luôn khai thác vượt con số nói trên. Đơn cử năm 2010, VMD đã khai thác khoảng 750.000 tấn than thương phẩm, năm 2011 là trên 800.000 tấn.”

Biết rõ ràng công ty Indonesia ngang nhiên chở quá 300.000 tấn than vào năm 2011, nhưng đảng và nhà nước đã làm lơ…lý do nào họ làm ngơ? Các bạn tự đoán ra.

Cần ghi lại ở đây: báo Hà Nội Mới là cơ quan ngôn luận của đảng bộ thành phố Hà Nội. Đừng nói là đảng không biết.

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất

Báo Hà Nội Mới

21/05/2012 4:34

Một mỏ than lộ thiên với chất lượng than tốt nhất ở Việt Nam đang là “lãnh địa riêng” của một công ty Indonesia. Mỗi năm, công ty này hưởng 90% lợi nhuận trong khi phía Việt Nam chỉ được hưởng 10%.

Nghịch lý

Ngày 19.4.1991, Công ty than Uông Bí (TUB), đơn vị thành viên của Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty Pt.Vietmindo Energitama, 100% vốn Indonesia (VMD). Theo đó, VMD sẽ đầu tư toàn bộ máy móc, công nghệ để khai thác trong 30 năm mỏ than Uông Thượng, Đồng Vông. Lợi nhuận được chia theo tỷ lệ 90% cho VMD và 10% còn lại là của TUB. Đây là mỏ than lộ thiên có diện tích trên 1.000 ha, nằm trên địa bàn P.Vàng Danh, TP.Uông Bí và cũng là nơi có vỉa than tốt hạng nhất ở Quảng Ninh.

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất
Các bãi chứa than của Vietmindo – Ảnh: Thái Uyên

VMD chỉ việc khai thác trên mặt đất là đã dễ dàng thu được than cám 4, cám 5, là những loại than có chất lượng tốt nhất hiện nay. Trong khi đó, các doanh nghiệp (DN) thành viên Vinacomin như Công ty than Mạo Khê, than Núi Béo, thậm chí cả TUB phải đầu tư hàng ngàn tỉ đồng vào công nghệ khai thác hầm lò và dùng sức người đào sâu vào lòng đất cả trăm mét mới lấy lên được than.

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, hợp đồng hợp tác và luận chứng kinh tế kỹ thuật quy định VMD chỉ được phép khai thác than nhằm mục đích duy nhất là xuất khẩu. Quy định của hợp đồng hợp tác khống chế mỗi năm VMD chỉ được phép khai thác 500.000 tấn than thương phẩm, tương đương khoảng 750.000 tấn than nguyên khai. Trên thực tế, nhiều năm qua VMD luôn khai thác vượt con số nói trên. Đơn cử năm 2010, VMD đã khai thác khoảng 750.000 tấn than thương phẩm, năm 2011 là trên 800.000 tấn.

 

Có thể Việt nam đang phải nhập khẩu than của chính mìnhTheo Vinacomin, ước tính vào năm 2014, 2015 Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 1-6 triệu tấn than. Lượng than nhập khẩu sẽ tăng lên hằng năm. Dự kiến đến năm 2025, lượng than nhập khẩu lên tới 40 triệu tấn. Than nhập khẩu chủ yếu sẽ được cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện. Giữa năm 2011, lần đầu tiên Việt Nam đã nhập khẩu thí điểm 9.500 tấn than từ chính Indonesia với giá 100,6 USD/tấn than (tính cả cước vận tải). Lãnh đạo Vinacomin khẳng định việc nhập khẩu là để thăm dò thị trường, làm quen với phương thức nhập khẩu, vận chuyển. Rất có thể, Việt Nam đang phải nhập khẩu than của chính mình. Vinacomin chọn Indonesia để “thí điểm” bởi đây là một trong những nguồn cung phù hợp nhất với Việt Nam hiện nay, cả về quãng đường vận chuyển, loại than lẫn giá thành. (Thái Uyên)
 

Cũng theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, toàn bộ các công đoạn sản xuất, khai thác và kinh doanh than được VMD thực hiện theo dây chuyền khép kín. Khai trường cũng như nơi sàng tuyển than của VMD luôn đặt trong tình trạng “nội bất xuất ngoại bất nhập”. VMD còn có cả một cảng riêng để xuất khẩu than mà muốn xuất hiện tại đây để kiểm tra hay thực hiện công tác về chuyên môn, các cơ quan chức năng Việt Nam cũng như đối tác TUB phải được sự cho phép của VMD (?!).

Còn chịu thiệt dài dài

Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Phạm Văn Tứ, Phó tổng giám đốc TUB, thừa nhận tình trạng trên là có thật, nhưng “nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do lịch sử để lại” và “bản thân chúng tôi là những người đi sau, thừa kế”. Theo ông Tứ, bản hợp đồng liên doanh trên danh nghĩa là do TUB ký kết với VMD nhưng thực tế TUB không được quyết định mà do Bộ Công nghiệp thời đó trực tiếp phê duyệt.

“Có thể nói, VMD là DN nước ngoài đầu tiên và cũng là duy nhất hợp tác kinh doanh với ngành than cho đến nay. Trong quá trình hợp tác chúng tôi thấy rằng việc ký kết hợp đồng thời điểm đó chưa tính toán hết những vấn đề phát sinh hay nói đúng hơn là có nhiều kẽ hở khiến mình phải chịu thiệt thòi”, ông Tứ nói.

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, hợp đồng ký kết giữa hai bên không hề có một điều khoản nào tạm dừng hoạt động của VMD kể cả trong trường hợp DN này vi phạm hợp đồng. Mặt khác, toàn bộ hoạt động khai thác, sản xuất kinh doanh đều ghi rõ VMD là người điều hành. TUB không được phép kiểm tra, thậm chí việc rót than xuống cảng đưa lên tàu nước ngoài cũng do VMD trực tiếp thực hiện và TUB không được phép can thiệp.

Đối với việc kiểm soát số lượng than do VMD sản xuất hằng năm, ông Phạm Văn Tứ cũng cho rằng chỉ được biết qua khâu hậu kiểm, bởi than từ mỏ lấy lên, sàng tuyển cho đến khâu vận chuyển ra cảng bán đều do VMD thực hiện, TUB không được phép kiểm tra trực tiếp. Mặc dù pháp luật Việt Nam bắt buộc việc khai thác khoáng sản hiện nay phải có giấy phép quy định về sản lượng theo hằng năm nhưng tại các mỏ của VMD, giấy phép khai khoáng không có hiệu lực, bởi hợp đồng liên doanh được ký trước thời điểm quy định về giấy phép khai thác khoáng sản.

Đánh giá về vai trò đối tác của TUB, ông Tứ cay đắng: “Chúng tôi chỉ biết đi vào đi ra và nghiên cứu khoa học mà thôi. Trước tình trạng này, chúng tôi đã nhiều lần đề nghị VMD đàm phán lại hợp đồng với các điều khoản công bằng hơn cho đối tác nhưng đến nay họ chưa đồng ý. Điều này cũng đồng nghĩa với những thiệt thòi của chúng ta sẽ tiếp tục kéo dài cho đến khi hết hạn hợp đồng (tức năm 2021 – PV)”.

Trong khi đó, theo nhiều thông tin PV Thanh Niên có được, trong quá trình khai thác, VMD đã nhiều lần có văn bản đề nghị các cơ quan chức năng cho phép nâng sản lượng khai thác; đồng thời xin gia hạn kéo dài hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ông Phạm Văn Tứ cho biết thêm: “Than ở Uông Bí ngày càng cạn kiệt, chúng tôi cũng muốn giữ một phần tài nguyên để cho công ty mình khai thác nhưng bây giờ họ đang tiếp tục lập các dự án mới khai thác 1-2 triệu tấn. Việc này TUB không thể can thiệp được mà phải do các cơ quan khác cao hơn”.

 

Thất thoát, lãng phí rất lớnNhìn từ bên ngoài, khai trường mênh mông của VMD là một khu vực biệt lập được bảo vệ bởi hệ thống barie có gắn các thiết bị giám sát điện tử cực kỳ hiện đại. Thế nhưng, đi sâu vào bên trong là cảnh tượng hàng trăm người dân thường trực mót than rất lộn xộn, nguy hiểm. Tại khu vực chứa bãi thải của VMD rộng tương đương một sân bóng đá nằm trên một triền núi, mỗi khi một chiếc xe tải vừa nghiêng thùng đổ đất đá, xít (bã thải sau khi sàng tuyển than) xuống thì từng đoàn người xông vào tranh cướp mót than. Mỗi người cầm theo một bao tải dứa và cào sắt nhẫn nại nhặt từng cục than cho vào bao. Chị Lê, một người mót than cho biết: “Nếu chăm chỉ thì mỗi ngày cũng được vài ba tạ than, bán được cỡ dăm trăm ngàn đồng, hơn hẳn làm nông ở nhà”. 


Than tạp bị bóc tách rất lãng phí, người dân vào “mót” thoải mái – Ảnh: T.U

Thượng tá Nguyễn Quang Thành, Trưởng công an TX.Uông Bí, cho biết khai trường của VMD là khu vực cực kỳ phức tạp về tình hình an ninh trật tự. Tại đây luôn có khoảng 500 – 600 người dân túc trực mót than, không ít đối tượng lợi dụng vào việc này để ăn cắp than. Căn cứ theo các điều khoản hợp đồng ký với Công ty than Uông Bí, VMD đã thuê một số DN bên ngoài vào tham gia bóc tách lớp đất đá bên trên để họ lấy than phía bên dưới. Tuy nhiên, phía VMD lại không quản lý được mà để cho một số đơn vị này tự tung tự tác, múc cả đất đá lẫn than lên để ăn cắp, hoặc bật đèn xanh cho người dân vào lấy than còn họ thu tiền “tô”. Thượng tá Thành còn cho biết: “Theo hợp đồng, mỗi năm VMD chỉ được khai thác một số lượng than nhất định, do đó họ sẵn sàng bóc tách lớp than tạp để khai thác vỉa than đẹp nhất. Điều này gây lãng phí cực lớn về tài nguyên quốc gia, gây bất ổn về an ninh trật tự, an toàn lao động”.

Đáng lưu ý, vào tháng 5.2010, khi kiểm tra tại khu vực các DN khai thác, cơ quan công an đã phát hiện, thu giữ 19 khẩu súng các loại, 6 áo giáp chống đạn, 109 viên đạn cùng nhiều dao kiếm. Đầu năm 2011, lực lượng chức năng qua kiểm tra tiếp tục phát hiện, thu giữ được 7 khẩu súng, 30 viên đạn, cùng nhiều dao kiếm các loại.

Thái Sơn – Káp Long

http://www.baomoi.com/Home/ThiTruong/www.thanhnien.com.vn/Bieu-khong-nuoc-ngoai-mo-than-tot-nhat/8508513.epi

Báo Hà Nội Mới là tiếng nói của đảng bộ Hà Nội. Các viên chức cao cấp và trung cấp của đảng và nhà nước đọc báo này hàng ngày. 

Mời các bạn đọc bài dưới đây  để hiểu rõ vấn đề than khoáng sản, dầu hỏa và các bí ẩn của lịch sử ra sao từ 1976-1991 và cho đến nay:

Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | 5 Comments »

Khi nhà nước và đảng trả Thù…

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2012

Nếu bạn bị xếp hạng “phản động”

Người Buôn Gió

Đây là câu chuyện được viết bằng ngôn ngữ Việt Nam, hình ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Không nhất thiết bạn đọc đủ cơ sở để đánh giá rằng nó xảy ra ở nước CHXHCNVN.

Nếu bạn bị liệt vào hạng phản động của nhà cầm quyền thì cuộc đời của bạn sẽ ra sao?

Trước hết tiêu chí để xếp loại phản động là vô cùng phong phú. Ví dụ bạn chỉ trích một chính sách nào đó của nhà cầm quyền về giao thông, thuế, giáo dục….

Hay bạn phản đối nước láng giềng xâm lược, bắn giết đồng bào của bạn.

Hoặc bạn bày tỏ sự thông cảm với những người “phản động” khác bị xét xử, tù đày.

Như thế bạn sẽ là phản động với một cụm từ đầy ngôn ngữ luật như “xâm hại an ninh quốc gia”.

Tuy nhiên nếu bạn nợ hàng nghìn người nông dân hàng chục nghìn tỉ và trốn biệt ra nước ngoài bạn chỉ cùng lắm mang tội với nông dân như tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”.

Nếu bạn làm thiệt hại cho ngân sách hàng chục nghìn tỷ đồng, ngân sách của một đất nước khốn khổ mà học sinh đến trường bằng cách bơi qua sông, đu dây qua vách đá thì bạn chỉ bị kết tội “thiếu tinh thần trách nhiệm”.

Còn chức bạn to hơn nữa, gây thiệt hại hơn nữa thì sẽ bị kiểm điểm nội bộ.

Nếu bạn đánh chết người bằng dùi cui, dây điện, gậy, giầy đinh, bắn chết trẻ em bằng súng nhưng bạn là người nhà nước. Bạn nếu không may mắn sẽ bị kết tội là “làm chết người khi thi công vụ”.

Làm chết người, nghĩa là không phải bạn giết người. Làm chết người có thể là bạn sơ ý, cẩu thả để súng cướp cò, dui cui rơi vào sọ người khác khiến họ chết.

Nhưng nếu bạn phản đối một chính sách, bạn sẽ là kẻ trọng tội với đất nước, nhân dân. Bạn sẽ bị kết vào loại phản động, hại dân, hại nước. Sẽ có hàng loạt nhân dân đóng vai nhân chứng lên phản đối bạn ầm ĩ ở phường, ở trên báo chí, họ sẽ (khóc lóc) thảm thiết, giận giữ như chính bạn đã quỵt tiền họ trốn ra nước ngoài, giết chết người thân của họ, làm thất thoát ngân sách hàng ngìn tỉ đồng, và bạn chính là kẻ đã đẩy trẻ em phải đi học bằng đò qua sông dẫn đến chết đuối. Họ sẽ đòi hỏi phải nghiêm trị, trừng trị thích đáng…và họ hả hê khi thấy bạn bị kết án nhiều năm tù.

Và bạn là loại tội phạm “xâm hại an ninh quốc gia”.

Bạn có thể là trí thức, công nhân, cán bộ về hưu, cựu chiến binh.

Đôi khi bạn là kẻ vô học, tiền án, tiền sự và cuộc đời đầy những năm tháng đen tối trong vũng bùn của giới hạ lưu. Một ngày nào đó bạn được làm bố, bạn say sưa với sinh linh bé bỏng ấy quên cả tháng ngày, bỗng nhiên ngày nào đó gió mưa bạn ngồi ở nhà ngắm thấy nụ cười trên miệng con trai vừa đầy tháng, bởi óc tưởng tượng phong phú bạn hình dung con trai bạn hai mươi năm sau sẽ sống trong một xã hội thế nào. Bạn bắt đầu tìm hiểu xã hội.

Và con đường thành phản động của bạn bắt đầu được cơ quan an ninh ghi nhận, theo dõi và đưa ra cách xử lý.

Ngày nào đó công ty bạn đang làm bị công an đến hỏi về thuế, về nhân lực, về bảo hiểm, tiền lương, phòng cháy chữa cháy, về đăng ky kinh doanh…giám đốc của bạn nơm nớp lo sợ không biết chuyện gì. Vì người ta cứ đến từng tốp và lạnh lùng sát khí gườm gườm chất vấn. Đến lúc giám đốc bạn hoảng lắm rồi, người ta mới hỏi về bạn làm gì ở công ty, bạn được nhận vào thế nào, ngày nọ ngày kia bạn làm gì, công ty có bố trí đi đâu ….

Bạn sẽ làm tiếp để công ty hàng ngày có công an đến làm việc như thế chứ?

Tất nhiên là không rồi. Bạn sẽ đi tìm việc khác.

Lần này bạn làm cho một nơi khác, ở đây tài chính sạch sẽ lắm. Nhưng giám đốc bạn vẫn có người tìm đến giới thiệu là an ninh cấp cao hỏi về bạn. Giám đốc bạn lần này là người mạnh mẽ, anh ta có thể thoái thác không hợp tác trả lời. Nhưng anh ta có thể mạnh mẽ, còn bố mẹ anh ta ở quê thì không sao mà yên tâm khi có người của nhà chức trách đến nhà tìm và thông báo con họ đang dung túng, tiếp tay cho một đối tượng “phản động”. Rồi bố mẹ anh ta hoang mang, lo lắng liên tục hỏi anh ta, thậm chí họ thay phiên nhau từ quê lên thành phố để xem thằng phản động đang làm gì ảnh hưởng đến con mình.

Bạn lại thất nghiệp, giờ bạn hiểu đi tìm công việc ở nơi khác nữa là điều vô ích.

Bạn chọn công việc gì làm trong vài ngày, nhanh chóng, tiền trao cháo múc như việc đóng một cái tủ nhôm kính, hàn một cái chuồng cọp phơi quần áo, làm một tấm biển quảng cáo cho cửa hiệu mới mở hoặc viết một bài cho một cá nhân, công ty nào đó muốn quảng cáo. Kiếm chút tiền không nhiều, nhưng nhanh chóng vào túi khi những điều khác chưa đến.

Nhưng cuộc đời không hẳn đã đen tối với bạn. Có những người hiểu bạn, họ lặng lẽ gửi bạn chút quà nuôi con. Những giúp đỡ đó làm bạn cầm cự được với cuộc sống khó khăn. Đôi khi bạn chẳng biết là ai giúp bạn nữa, vì họ sợ liên luỵ, sợ nhà chức trách nên không muốn ra mặt.

Các nhà chức trách thêm bạn tội nữa “nhận tiền của các thế lực thù địch làm phương tiện hoạt động chống phá nhà nước nhân dân”.

Những món tiền nhỏ này thật sự bạn không bao giờ biết nó đến với bạn lúc nào, không bao giờ bạn biết nó còn đến nữa hay không. Bởi sự giúp đỡ là tự nguyện, bột phát. Không phải là trả lương, thế nên có người gửi bạn 1 triệu từ năm này, đến 3 năm sau họ gửi lần nữa, tuỳ theo khả năng của họ.

Nếu bạn muốn sắm một cái điều hoà, bạn không thể yêu cầu người ta cho bạn tiền để sắm một cái điều hoà. Vì họ không có trách nhiệm ràng buộc nào phải giúp bạn cả.

Một ngày nào đó, cuộc sống mở cho bạn một thay đổi, chẳng hạn một chính phủ nào đó vô tình biết được bạn có khả năng về văn hoá, nghệ thuật nào đó. Họ cho bạn một suất học bổng, khi học xong họ sẽ có việc làm cho bạn. Cuộc đời bạn bỗng nhiên tươi tắn như loài cây trên sa mạc gặp mưa. Bạn có kiến thức, có việc làm, một việc làm tốt như dịch sách, đồng lương đủ cho gia đình bạn sống tươm tất. Và hơn nữa bạn từ một thằng lưu manh ở đường phố trở thành một người làm văn hoá. Đó là ước mơ và đích đến là một cuộc mưu cầu hạnh phúc mà bất kỳ ai cũng muốn.

Nhưng nhà chức trách sẽ ngăn ước mơ của bạn lại. Bởi trong quan điểm của họ thì ước mơ của một kẻ có vấn đề về an ninh quốc gia thì kiểu gì cũng có vấn đề về an ninh quốc gia.

Bạn sẽ gào lên ư, đừng! Hãy chấp nhận vui vẻ, điều quan trọng là đừng bao giờ buồn, lo, sợ vì những việc mà họ gây ra cho bạn. Bởi mục đích chính của họ là làm bạn đau khổ  những thứ như nhà tù, công việc, cấm đi lại, hàng xóm hậm hực dòm ngó, bạn bè cũ xa lánh…tất cả những điều đó họ làm cốt để bạn phải đau khổ. Để họ chứng minh họ có quyền tước đoạt ước mơ, cuộc sống, huỷ hoại hay ban phát cho ai đó.

Đừng nghĩ họ nhân đạo không bỏ tù bạn. Chẳng qua vì cuộc sống của bạn bây giờ và nhà tù không khác nhau là mấy về vật chất cũng như tinh thần. Nếu bạn là tiến sĩ, có nhà to, xe hơi, nhà cho thuê họ sẵn sàng quẳng những thứ rác rưởi để làm cớ bắt bạn, hay bạn đang có bệnh trong người họ mới giam cầm bạn. Còn khi bạn chả còn gì để mất, người ta làm mọi cách để tước đoạt tinh thần bạn, khiến bạn khiếp sợ, hãi hùng và ngày nào đó bạn lê lết đến van xin họ, cam đoan, cam kết, lạy lục thề thốt, khai báo lập công…lúc đó chưa chắc họ đã buông tha cho bạn.

Hãy gắng tìm những niềm vui ngay cả trong những lúc tồi tệ nhất. Hãy gắng đọc khi có thể những tác phẩm như Quần Đảo Ngục Tù, Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù, Một Ngày Trong Đời Của I Van, Bá Tước Mông Tơ Crit To, Pa Pi Lon, Đêm Giữa Ban Ngày, Chuyện Kể Năm 2000.

Hãy tìm lối thoát trong cuộc sống trắc trở ở ngay trái tim mình.

nbg1.jpg
nbg2.jpg
nbg3.jpg
ngb4.jpg

nbg5.jpg

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ngày 19-5 do một người phịa ra, nhưng lại được hàng triệu người tin theo

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2012

Nhân sinh nhật Cụ Hồ Chí Minh 19.05

Lỗ Trí Thâm, thành viên Dân Luận

Viết về lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ hai mươi mà không nói tới một nhân vật sáng chói, Hồ Chí Minh, thì không phải nói về lịch sử.

Cụ Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như tất cả các ánh hào quang vinh của dân tộc như Lê Lợi, Quang Trung, do đó có nói thêm hay nói xấu cũng bằng thừa.

Nhưng vì phần lớn người Việt sống cùng hoặc cận kề với thời của Cụ, nên những nhận xét vẫn mang đầy cảm tính cá nhân, do sự chao đảo của thời cuộc mà vì số phận cá nhân vô tình hay bắt buộc, mà có những nhận xét nghiêng về chiều này và chiều kia.

Bài nói sơ qua sau đây, trong mục chung viết về Đông Nam Á, sẽ cố gắng tóm tắt một cách trung thực nhất về nhân vật lịch sử này, trên quan điểm khoa học xã hội, đứng ngoài các tranh chấp lợi ích về chính trị.

Trước hết, Cụ Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình dòng họ sĩ phu. Thân sinh ra Cụ là bạn bè đồng tâm đồng cốt với các bậc tiền bối nhà nho yêu nước của Xứ Nghệ như Phan Châu Trinh hay Phan Bội Châu. Ông tổ của dòng họ là Hồ Dưng Dật. Dòng họ này trước đã từng hai lần làm Đế Vương nước Nam: Hồ Quí Ly và Hồ Thơm (Nguyễn Huệ). Nên khi thành danh Cụ lấy lại tên là Hồ Chí Minh, họ cũ của ông nội Hồ Sĩ Tạo.

Ở Cụ Hồ Chí Minh, theo nhân tướng học Á Đông, là người có hội tụ tất cả những ưu điểm của người Á Đông, lanh lẹn, tinh tường, thông minh với đôi mắt sáng long lanh, tai dơi, mặt thuôn hình chuột và đặc biệt có giọng nói rất ấm áp, ai cũng có thiện cảm, kể cả đối thủ, khi gặp mặt nói chuyện.

Nhưng cũng vì là tiêu biểu cho người Việt Nam thì Cụ cũng có cái hạn chế tiêu biểu nhất của người Việt Nam: Không có tư duy sâu sắc và cho nên thiếu tầm nhìn chiến lược, đưa ra những lựa chọn gây thảm cảnh rất ghê gớm trong những bước ngoặt của lịch sử đất nước, sẽ nói rõ ở sau trong từng trường hợp cụ thể.

Ngược lại, cách giải quyết tình thế rất nhanh trí, khôn khéo giúp cho đạt được rất nhiều thành công. Và đặc biệt, trong lúc đàm phán tranh chấp hay công việc bình thường, Cụ thường tấn công theo ngả tình cảm cá nhân, lấy lòng đối phương. Ví dụ khi đi Pháp đàm phán về Hiệp Định sơ bộ 06-03, Cụ cho Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đàm phán còn mình đi vận động vòng ngoài. Lúc đàm phán bế tắc, có nguy cơ bị tan vỡ, Cụ phải hai lần một mình lúc 02 giờ đêm đến nhà Bộ Trưởng thuộc địa, trưởng đoàn đàm phán Pháp, nói chuyện “tình cảm”. Sau này, vị bộ trưởng người Pháp đó trở thành bạn thân của Việt Nam, hết lòng ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh với Mỹ và là chính khách phương Tây duy nhất có mặt tại đám tang Cụ.

Vào năm 1946 ở Hà Nội, khi tiếp chuyện viên sĩ quan phái bộ Đồng Minh, sau khi làm việc, Cụ đã mời dùng cơm, căn dặn gia đình tư sản giúp làm bữa cơm thân mật ấy phải tìm cho bằng được loại rượu mà viên sĩ quan này thích uống. Lúc đó Nguyễn Tường Tam dựa vào Quốc Dân Đảng chống phá chính phủ lâm thời, Cụ phải vận động dân góp vàng và thuốc phiện đút lót Tướng Quốc Dân Đảng, và Cụ thân chinh bất ngờ đến nhà riêng thăm Nguyễn Tường Tam. Cụ cho cận vệ vào nói “Cụ Hồ đến thăm anh đó.” Nguyễn Tường Tam đang mặc pijama nằm trên võng, vừa chuẩn bị đứng dậy Cụ đã vào đến nơi, khiến chủ nhà hoàn toàn ở thế bị động. Hay trong lúc ốm đau được các y tá bác sĩ Trung Quốc chăm sóc Cụ thích nghe bài hát Trung Hoa, chả phải vì mê nhạc Trung Hoa mà vì tính mạng mình nằm trong tay người ta, phải lấy lòng một chút. Hay Cụ thích ăn món sườn chua Quảng Châu, mặc dù các đầu bếp của phủ đã được học, nhưng cứ nhất thiết đại sứ Tàu tự nấu mới khen ngon…

Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu có, là tư tưởng ưa dùng bạo lực. Ngay từ thời thanh niên khi sinh hoạt trong nhóm người Việt yêu nước ở Paris, Nguyễn Tất Thành luôn luôn đưa ra và bảo vệ lý lẽ đến cùng là phải dùng bạo lực ngay tức thì đánh đuổi thực dân Pháp. Các sĩ phu đã nói ngay: “Anh nói dùng sức đuổi Pháp ngay bây giờ thì lấy gì mà đánh, chẳng khác chi nướng mạng dân đen cho giặc. Anh có muốn đánh Pháp hãy về nước ngay để đánh, ở lại đây làm chi”. Nguyễn Tất Thành vẫn quả quyết: “Thế còn đợi Pháp đè đầu cưỡi cổ đến bao giờ nữa?”. Một sĩ phu cao tuổi từ Mác-xây (Marseille)lên Pari họp, đang định phát biểu, Nguyễn Tất Thành đã sẵng giọng: “Còn bác này, lại muốn nói gì nữa đây?” Thái độ của Nguyễn Tất Thành khiến vị chí sĩ này định phát biểu lại thôi.

Trước khi về nước, có bậc đại sĩ phu gửi bức thư ngỏ cho anh Nguyễn, nói việc nước có gì cứ hỏi anh Nguyễn nhưng Cụ cũng lưu ý là anh Nguyễn chưa lường hết được hậu quả của việc anh sẽ làm. Cụ đã lo ngại cách làm đó mang mâu thuẫn của thế giới về cho dân Việt, thành đại hoạ. Và Cụ đã có lý.

Trong thời đất nước tạm thời chia cắt, đắn đo trước sự nên thống nhất đất nước bằng hoà bình hay bằng bạo lực, Cụ Hồ Chí Minh gọi ngay Lê Duẩn, một con người cương quyết dùng bạo lực trong Nam, và là người hoàn toàn xa lạ tại Trung Ương ra ngoài Hà Nội, trao cho chức Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động, nay là đảng Cộng Sản Việt nam. Bằng cách đó, Cụ đã quyết thống nhất đất nước bằng con đường bạo lực, nhưng bên trong các cuộc phỏng vấn phát biểu vẫn nói yêu hoà bình ghét chiến tranh. Câu nói “Ta có chính quyền trong tay các chú sợ gì” hay “Cái đũa cong muốn uốn thẳng thì phải bẻ quá sang phía bên kia” đã bật đèn xanh cho chính quyền của Cụ đàn áp không thương tiếc những người trái chiều. Khi đội cải cách kết án tử hình bà Nguyễn Thị Năm, Cụ nói không muốn tử hình người đầu tiên là đàn bà, không đánh đàn bà dù chỉ bằng cành hoa nhưng dưới bút danh khác, cụ viết trên tờ Chiến Sĩ, tiền thân của báo Quân đội Nhân dân, bài “Địa chủ ác ghê” kể rằng địa chủ Năm đã giết tới hai trăm nông dân. Còn tại sao lại có cải cách ruộng thì ta đi ngoài lề nói thêm một chút.

Cho đến thời điểm này, chưa ai nói đúng nguyên nhân chính của cải cách ruộng đất. Đúng? Sai? Hay thực hiện sai? Đi quá đà?

Cải cách ruộng đất đối với nạn nhân và xã hội miền Bắc là thảm khốc, nhưng đối với đảng Cộng Sản Việt Nam là bước đi đúng đắn hoàn toàn cần thiết. Vì sao?

Trước khi giành được chính quyền, Đảng Cộng Sản là tổ chức ngoài vòng pháp luật, hoạt động bí mật. Cơ sở của đảng hoàn toàn không có gì, chỗ ăn ở còn phải nhờ người dân. Nhưng (sau) khi giành được chính quyền, ngoài lực lượng chính trị cần phải có rất nhiều nhu cầu khác để hình thành một chính quyền, một bộ máy hành chính có thể hoạt động được. Từ trụ sở làm việc, cái ghế cái bàn để cán bộ ngồi hay những chi phí cho hoạt động của chính quyền cũng phải nhờ các nhà tư sản. Và chính quyền phải có giấy tờ, có người biết chữ làm sổ sách. Hồi đó dân ta hầu hết mù chữ, tức là tầng lớp vô sản.Và để chính quyền hoạt động được tất phải có sự trợ giúp của những tầng lớp đã từng bám đít tây, tiểu tư sản, nhà văn, bác sĩ, nghệ sĩ, địa chủ…Như vậy chính quyền vô hình chung, được xây dựng bằng vật chất cuả giai cấp tư sản và kỹ năng hoạt động được nhờ vào tầng lớp tri thức khác. Và mặc định, những người của hai tầng lớp đó, vì có công có khả năng nên đã nắm nhiều chức vụ trong chính quyền kháng chiến. Đảng Cộng Sản biết điều đó, nhưng không thể làm khác được vì bản thân không dựng nổi một chính thể hành chính có thể hoạt động được, nhất là về kỹ năng và vật chất. Và cách mạng “vô sản” Việt Nam có lẽ sẽ chuyển dịch sang hướng khác nếu như Mao Trạch Đông không thắng Tưởng Giới Thạch. (Đoạn này giải thích lý do tại sao khi ông HCM thành lập chính phủ 1946, trong thành phần có nhiều người không phải đảng viên CS)

Sau khi đảng Cộng Sản Việt Nam đã tìm được người đỡ đầu là đảng Cộng Sản Trung Quốc, thì Trung Quốc hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả mọi mặt, hành chính chính sách tổ chức cán bộ và tất nhiên cả về vật chất. Nên đảng Cộng Sản Việt Nam bắt đầu có đủ sức, đã nắm lấy cơ hội gạt những phần tử trên ra khỏi chính thể của mình. Cải cách ruộng đất, người cầy có ruộng, chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài của chiến dịch đó. Nhiều sĩ phu trí thức lúc sắp bị bắn mà vẫn kêu oan, vì họ nghĩ rằng đảng chỉ làm cải cách RUỘNG ĐẤT nên nếu bắt họ là oan. “OAN CHO TÔI LẮM CỤ HỒ ƠI” là câu nói cuối cùng của nhiều nhà tư sản, trí thức ngay từ đầu mang tài sức tiền bạc theo Cụ Hồ đánh Pháp, trước khi bị đội cải cách xử tử.

Có một sự lầm lẫn lớn, nhất là phía hải ngoại, nói Cụ Hồ là người mang chủ nghĩa Mác Lê vào Việt Nam. Khi đảng Cộng Sản đang hoạt động mạnh mẽ nhất tại ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thì Cụ hầu như vẫn đang đứng bên lề cuộc đấu tranh, đang làm cái chân nghiên cứu sinh vô bổ tại đại học Phương Đông Matxcơva (Moscow).

Chỉ khi Cụ làm liên lạc viên, phụ trách chuyển giao thư từ Đông Dương đến Quốc Tế Cộng Sản và ngược lại, lúc đó Cụ mới bắt đầu bám rễ vào đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong văn khố của Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên xô vẫn còn lưu tài liệu của tổng bí thư Hà Huy Tập, phàn nàn chuỵện Nguyễn Ái Quốc tự động sửa đổi thư từ Đông Dương gửi cho Quốc Tế Cộng Sản.

Cụ Hồ là con người thực dụng, hiểu theo nghĩa tích cực, Pragmatisch, biến hóa khôn lường nhưng đối với tiêu chuẩn của người Cộng sản là vô nguyên tắc. Chính Stalin đã công khai nhận xét như vậy.

Cái vô nguyên tắc trầm trọng nhất là liên hệ với Lâm Đức Thụ. Mặc dù Quốc Tế Cộng Sản đã chính thức thông báo Lâm Đức Thụ là mật thám Pháp, cụ vẫn dùng cơ sở của họ Lâm ở Quảng Châu làm địa điểm học tập cách mạnh cho các đảng viên từ Việt Nam qua. Trong cuốn hồi ký có viết, sau khi khoá học kết thúc, có chụp ảnh. Hồi đó chưa có phim mà chụp bằng miếng kính tráng nitrat bạc, Cụ Hồ giả vờ xem miếng kính rồi “lỡ tay” đánh rơi miếng kính chụp hình Cụ. Hà Huy Tập viết thư lên Quốc Tế Cộng Sản, đòi khai trừ ra khỏi Đảng và đề nghị tử hình Nguyễn Ái Quốc.

Sai lầm về chiến lược lớn nhất là vào năm 1945. Khi Nhật đảo chính Pháp, sau đó phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, giai đoạn này ở Việt Nam đang có khoảng trống quyền lực, thời cơ chín mùi để cướp chính quyền. Nhân cuộc tuần hành biểu tình của công chức Hà Nội ủng hộ chính quyền thân Nhật của Trần Trọng Kim ngày 19 tháng Tám năm 1945, Việt Minh lên khán đài giật micro, kêu gọi lật đổ chính quyền, thành lập chính thể mới. Và đến ngày 02-09 tuyên bố độc lập. Và điều tai hại Cụ đã lựa chọn nhầm chiến lược. Cụ đã không nhìn ra xu thế chung của khu vực là sự thắng thế đang đi lên của phe Xã Hội Chủ Nghĩa, và Việt Nam không thể tách rời ra khỏi xu thế này. Nhất là khi lực lượng nòng cốt của cách mạnh Việt Nam lúc đó là Việt Minh, có đến 90% là lực lượng cộng sản (tác giả Lỗ Trí Thâm nhầm lẫn), hoàn toàn có khả năng lập được một nhà nước chuyên chính lúc đó.

Nhưng Cụ đã chọn cho Việt Nam là một nhà nước Cộng Hòa, theo xu hướng – xin nhắc lại- chỉ theo xu hướng phương Tây, nhằm bật đèn xanh cho phe đồng minh, phe thắng trận. Nhưng Anh Mỹ biết Cụ là người Cộng Sản, còn Stalin từ trước đã biết Cụ là người theo hướng dân tộc chủ nghĩa, do đó không bên nào công nhận chính quyền của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Nếu Việt Nam lúc đó tuyên bố theo Chủ Nghĩa Xã Hội thì có khả năng Stalin sẽ đứng ra bảo trợ. Hậu quả tai hại là phe thắng trận coi Việt Nam là nước vô chủ. Phía Nam thì quân Anh, phía Bắc thì quân Tưởng Giới Thạch vào tiếp quản. Sau đó quân Pháp vào thay thế quân Anh, mở đầu cho cuộc xâm lăng lần thứ hai của thực dân Pháp.

Không thể phủ nhận ý và tâm của Cụ, dù với mục đích gì chăng nữa, muốn nước Việt Nam thành một nước Cộng Hoà và Dân Chủ. Nhưng ý và tâm muốn mà không nhận ra trào lưu lịch sử lúc đó, khi phe Xã Hội Chủ Nghĩa đang thành một cơn giông bão kéo dài từ nước Đức qua Đông Âu, sang Liên xô, Trung Quốc, và tới Việt Nam, thì chỉ gây thảm hoạ cho dân tộc.

Sai lầm tiếp theo là ký Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 06 tháng 03 (1946) với Pháp. Mục đích chính là muốn đuổi quân Tưởng giới Thạch về nước, nhưng phải trả giá rất đắt và sự thành công lại trông mong vào “thiện chí” của người Pháp. Thực tế đã xảy ra cuộc chiến đẫm máu không cần thiết và chính quyền Việt Nam càng lệ thuộc vào người khác, vào ông hàng xóm (TQ) nhiều hơn.

Đành rằng quân Tưởng vào giải giáp phát xít Nhật là đội quân ô hợp, mang theo cả gồng gánh vợ con sang. Tướng lãnh nghiện hút, quân lính nhõng nhẽo làm tiền, thậm chí khi đi ăn phở còn xin thêm hai ba lần nước dùng; nhưng nguy hiểm hơn cả là Quốc Dân Đảng Việt Nam dựa hơi quân Tưởng định tiếm quyền. Nhưng để đuổi được quân Tưởng về, qua Hiệp Ước Sơ Bộ phải nhường toàn quyền quản lý 06 tỉnh Nam Bộ cho Pháp, đồng thời quân Pháp được thay thế quân Tưởng kéo ra miền Bắc. Làm như vậy chả khác nào đuổi cáo cửa trước, rước báo cửa sau, và là một tính toán rất sai lầm về chiến lược.

Thứ nhất, Pháp quay trở lại Việt Nam đã không giấu giếm là muốn lập lại thời thuộc địa huy hoàng trước kia, như tên tướng Charles de Gaulle đã hống hách tuyên bố, và làm như vậy chả khác nào giúp Pháp chiếm được miền Bắc không tốn một viên đạn. Cụ đã phải luôn thanh minh “Hồ Chí Minh này không bán nước”. Nhưng tính toán của Cụ quả là ngây thơ về chính trị, khi mà muốn nước nhà độc lập lại mời kẻ cướp trông nhà hộ. (Nhiều người nói rằng qua hiệp định sơ bộ 6-3-1946, HCM đã rước Pháp vào để dùng quân Pháp tiêu diệt lực lượng các đảng phái quốc gia rất đông đảo ở trong phong trào Việt Minh và họ mạnh hơn phe cộng sản. HCM chỉ điểm cho quân Pháp các vị trí đóng quân của các đảng phái quốc gia, và mượn tay Pháp tiêu diệt họ) Thực tế sau đó đã xảy ra điều hiển nhiên: Pháp đòi tước vũ khí của Vệ Quốc Quân Việt Nam, và chính phủ phải bỏ chạy khỏi Hà Nội, bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.

Thứ hai, về quân Tưởng Giới Thạch. Quân Tưởng sẽ tự phải tan rã không cần dùng con bài Pháp, vì lúc đó bên Trung Quốc lực lượng của đảng Cộng Sản Trung Quốc đang trên đà thu được lợi thế. Về phần này, Cụ Hồ Chí Minh đã đánh giá thấp tài năng của Mao Trạch Đông, khi luôn tin vào khả năng của Tưởng Giới Thạch. Thời gian này, Cụ đã cử riêng đặc phái viên của mình là Hoàng Văn Hoan, luôn túc trực tại đại bản doanh của Tưởng Giới Thạch. Nếu có tầm nhìn chiến lược cộng với những thời gian dài hoạt động trong phong trào Quốc Tế Cộng Sản, thì Cụ phải biết lúc đó Liên Xô vừa thắng trận, kết thúc chiến tranh, sẽ có điều kiện dồn vũ khí cho phe Mao Trạch Đông tạo thế áp đảo đối với phe Tưởng. Và giả sử lúc đó phe Tưởng Giới Thạch thắng trận tại Trung Hoa, thì chính phủ kháng chiến của Cụ Hồ Chí Minh khó mà chống cự nổi với quân Pháp, khi mà không có người chống lưng ở Việt Bắc. Về sau khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, chính phủ kháng chiến Việt Nam được Trung Quốc giúp đỡ từ khâu tổ chức, hành chính, vật chất đường lối chính trị và điều quan trọng hơn cả, là có hậu phương an toàn phía sau khi bị Pháp dồn và o ép.

Tóm lại, bước ngoặt của dân tộc vào năm 1945, nếu Cụ Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nhà nước theo Liên Xô thì chắc chắn Stalin, với tư cách ở phe đồng minh thắng trận, sẽ đồng ý cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà quyền giải giáp phát xít Nhật tại Đông Dương. Giai đoạn này sẽ không có cơ hội cho thực dân Pháp và quân Tưởng quay trở lại Việt Nam, đất nước tránh khỏi chiến tranh và bị chia cắt.Lúc đó hoàn toàn có thể làm được điều này, vì lực lượng cướp chính quyền hơn 90% là cộng sản. Nên nhớ rằng hồi đó chưa có khái niệm “Quốc Gia” và “Cộng Sản” (Nhận định này của Lỗ Trí Thâm là sai hoàn toàn, như đã cắt nghĩa ở trên về đảng phái quốc gia…trong phong trào Việt Minh). Khái niệm đó chỉ có sau này, khi Pháp nhận ra là không thể tiêu diệt được chính phủ kháng chiến Vệt Nam nên bày trò trao trả độc lập cho Việt Nam, thành lập ra nhà nước quốc gia Việt Nam, và sau đó nhà nước này chuyển vào Nam dưới sự bảo trợ của Mỹ.

Thứ ba, nếu không có Hiệp Định Sơ Bộ 06-03, sẽ không có cuộc chiến tranh với Pháp mà vẫn giữ được một nửa đất nước.

Hiệp định Giơnevơ (Genevo 1954) được ký kết tạm thời lấy Vĩ Tuyến 17 làm ranh giới, và sẽ tổng tuyển cứ để thống nhất đất nước. Thật là nực cười cho đến bây giờ vẫn có người Việt còn ngây thơ nghĩ rằng: Không có tổng tuyển cử, không có thống nhất đất nước là do phía Cụ Diệm hay do phía miền Bắc phá hoại. Sự chia cắt đất nước đã được quyết định bởi những thế lực bên ngoài. Do hệ quả của Chiến Tranh Lạnh, nên vòng quanh hệ thống xã hội chủ nghĩa được bao vây bởi những khu đệm để tránh xung đột giữa hai khối. Phía Tây có Đông và Tây Đức. Phiá Đông có Nam và Bắc Triều Tiên và phía Nam có Bắc và Nam Việt Nam.

(Việc chia cắt đất nước qua hiệp định Geneve 1954 là do chủ ý của Trung Cộng. Trung Cộng muốn dùng Bắc Việt và Bắc Triều Tiên là 2 trái độn để bảo vệ Trung Cộng. Miền Nam không ký vào hiệp định 20-7-1954 vì không muốn chia cắt đất nước, vì các điều khoản trong bản hiệp định ấy quá bất lợi cho miền Nam, nhưng phản đối mạnh mẻ cũng không được vì chính phủ ông Diệm mới được thành lập 1954, còn rất yếu, làm gì mà đương cự được với ý muốn của Trung Cộng và Pháp, là hai nước đã có quyết tâm muốn chia VN làm hai.

Trước đó và cho đến vào ngày tháng 7 năm 1954, miền Bắc vẫn còn nằm dưới quyền cai trị của Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm, vài tháng trước khi có hiệp định geneve, TT Ngô Đình Diệm vẫn còn đáp máy bay ra Hà Nội kinh lý. HCM và đảng Lao Động VN được hưởng lợi rất nhiều sau hiệp định 20-7-1954, vì trước đó, Đảng Cộng Sản là tổ chức ngoài vòng pháp luật, hoạt động bí mật, và lúc đó phải lấy tên là đảng Lao Động Việt Nam (vào 1951). Cơ sở vật chất của đảng hoàn toàn không có gì, không có văn phòng, trụ sở, ở bất cứ tỉnh nào, và họ phải dựa dẫm vào hai chữ Việt Minh để kiếm miếng ăn và chỗ ở trong dân chúng.

Mao Trạch Đông giúp ông HCM  và đảng CSVN từ 1951 và suốt cuộc chiến tranh VN cho đến 1975 là có điều kiện hẳn hoi. Bản điều kiện này để trong ngăn kéo của Đảng CSTQ và Đảng CSVN. Theo đó,  đảng CSVN phải nhường chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vùng biên giới phía Bắc, và một phần vịnh Bắc Bộ cho Trung Quốc. Trung Quốc sẽ đòi quyền lợi của họ từng phần. Nên khi ông HCM “tiếp thu” Hà Nội và miền Bắc 1954, ngay lập tức Trung Cộng đòi trả công lao giúp đỡ, và Công Hàm do TT Phạm văn Đồng ký vào 1958 ra đời, ông Hồ Chí Minh biết rõ việc này và chính ông ta chỉ đạo phải ký công hàm. Vào 19-1-1974, khi biết Miền Nam sắp mất, trong lúc giao thời, Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa và sau đó đảng CSVN chiếm được miền Nam 1975, Trung Cộng lập tức chiếm Hoàng Sa mà Đảng CSVN đã không phản đối chính vì điều kiện thỏa thuận từ hồi 1951. Lê Duẫn biết rõ chuyện này, nhưng cũng hề phản đối vụ TQ chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.

Vào năm 1991, Trung Cộng kêu Đỗ Mười, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu qua họp ở Thành Đô để thúc dục đảng CSVN phải thi hành các điều kiện mà ông HCM và đảng đã thỏa thuận từ hồi 1951. Theo đó, VN phải từ bỏ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, một số đất đai biên giới phía bắc và một phần vịnh Bắc Bộ. Hiệp định biên giới 1999 và 31-12-2000 chỉ là hoàn tất thủ tục giấy tờ “đòi nợ”, nhường thêm đất ở vùng biên giới phía Bắc và vùng biển vịnh Bắc Bộ. Trần Hoàng).

Do đó Miền Nam Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chuỗi dây an toàn của “Thế Giới Tự Do” do Mỹ đứng đầu. Trong thế đối đầu của Chiến Tranh Lạnh, Mỹ phải bằng mọi giá bảo vệ Miền Nam, tức là phải giữ thế cân bằng về chiến lược cũng như Liên Xô giữ bằng được các mắt xích của mình, sẵn sàng can thiệp đẫm máu vào Tiệp Khắc và Hung Ga Ri vì quyền lợi an ninh của chính mình. Việc Cụ Hồ Chí Minh tiến hành ngay Giải Phóng Miền Nam bằng bạo lực, ngay tại thời cao điểm của Chiến Tranh Lạnh(Cold War) chẳng khác gì thách thức Mỹ, thách thức cả thế giới trước nguy cơ phá vỡ thế cân bằng đối đầu giữa hai phe khổng lồ. Và việc Mỹ phản ứng điên cuồng là đương nhiên. Hàng triệu thanh niên miền Bắc chỉ có AK và B40 làm mồi cho cỗ máy quân sự khổng lồ hiện đại của bom đạn Mỹ. Cứ 100 thanh niên miền Bắc vào Nam chiến đấu thì chỉ có 20 người vào tới chiến trường, còn 80 người bị bom Mỹ sát hại.

Việc Tổng Bí Thư Lê Duẩn đưa ra đề cương cách mạng vũ trang miền Nam là hoàn toàn đúng, cả việc Nguyễn Chí Thanh vào tận Sài Gòn thị sát tình hình rồi quả quyết có thể đánh được là đúng. Nhưng cả hai người đều chỉ đánh giá thực tại Miền Nam riêng biệt, tách rời với bối cảnh quốc tế. Nhưng Cụ Hồ Chí Minh phải biết vị trí của Miền Nam ở thế đối đầu trong hoàn cảnh Chiến Tranh Lạnh cực kì căng thẳng, nếu dùng bạo lực tất sẽ mang xung đột của hai phe về diễn ra trên đất nước mình, thảm khốc khôn lường. Nhưng Cụ vẫn làm. Đây là sự Nhẫn Tâm hay Không Có Tư Duy Chiến Lược?

Theo tôi, nó nằm ở trong day dứt cá nhân. Hoàng Tùng có viết về 10 điều day dứt của chủ tịch Hồ Chí Minh, chẳng có điều nào là day dứt cả. Ở Cụ, điều day dứt duy nhất là đất nước bị chia cắt. Không có ai muốn đi vào lịch sử như một vĩ nhân mà trước khi đi cứu nước, Đất Nước Còn Nguyên Vẹn, khi thành danh vương, đất nước lại chia cắt, hổ thẹn muôn đời.

Cuộc chiến Miền Nam ngày càng khốc liệt, không phân thắng bại, hao người tốn của và thực tế chỉ có người Việt Nam đánh nhau từ khi Mỹ áp dụng học thuyết “Việt Nam hóa chiến tranh” (bắt đầu từ 1968). Mỹ chỉ dùng hoả lực tối đa bằng pháo và máy bay ném bom, lính Mỹ không ra trận nữa.

Dịp may cho dân Việt, Kissinger, cố vấn an ninh của Tổng Thống Mỹ đã có bước đột phá ngoạn mục. Mỹ đi đường tắt, bắt tay với Trung Quốc chống lại Liên Xô, tạo ra một bước ngoặt trong thế toàn cầu, phá vỡ thế đối đầu Chiến Tranh Lạnh, bỗng chốc Miền Nam Việt Nam không còn là vị trí chiến lược của Mỹ nữa. Và tất nhiên Mỹ tìm cách rút lui trong danh dự, bằng cách ký hiệp định Paris, mặc dù thừa biết, sau đó phía Bắc Việt sẽ thôn tính Nam Việt Nam.

Mặc dù Trung Quốc bắt tay với Mỹ là vì quyền lợi của riêng của Trung Quốc, nhưng qua đó Mỹ đã bỏ ngỏ Miền Nam Việt Nam và miền Bắc có cơ hội kết thúc chiến tranh, giành phần thắng về mình. Do đó, lẽ ra ban lãnh đạo miền Bắc phải thầm cảm ơn Bắc Kinh, nhưng thực tế lại quay ra đối đầu vì Trung Quốc “phản bội”, gây ra hậu quả tai hại về sau này.

Ban lãnh đạo miền Bắc còn phạm nhiều sai lầm về chiến lược, ngây thơ và tự cao tự đạo khi cho rằng: Chiến thắng toàn vẹn cuối cùng là do sức mạnh của hệ thống cùng chế độ cùng ý thức hệ, mà không biết rằng do đối đầu Chiến Tranh Lạnh đã kết thúc. Ban lãnh đạo miền Bắc không nhìn ra thế chiến lược toàn cầu mới, nên không còn đối đầu với các hệ thống chính trị khác nhau nữa mà đối đầu về quyền lợi quốc gia lãnh thổ; do đó vẫn coi Mỹ là kẻ thù và Trung Quốc thuộc phe ta. Ngay cả khi Trung Quốc tấn công xâm lược Việt Nam, mà vị lãnh đạo cao nhất Việt Nam vẫn chỉ đạo là “dù sao Trung Quốc vẫn là nước Xã Hội Chủ Nghĩa cùng với ta”.

Trong hồi ký của Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ có viết rằng: Việt Nam và Mỹ cũng có những cuộc tiếp xúc để bình thường hoá quan hệ sau khi chiến tranh kết thúc, nhưng vướng mắc về phía Việt Nam đòi Mỹ phải bồi thường 06 tỷ đô la là điều kiện tiên quyết nhưng phía Mỹ không chịu, lý do Quốc Hội Mỹ sẽ không chấp nhận??? Điều khoản bồi thường chiến tranh 06 tỷ đô la nằm trong Hiệp Định Paris trong đó nêu rõ: Miền Nam Việt Nam có hai chính phủ, hai quân đội, là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với cờ vàng sọc đỏ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam với cờ đỏ và xanh có ngôi sao vàng ở giữa, nhưng miền Bắc đã san phẳng Nam Việt Nam. Bản thân mình thì xé toạc hiệp định, song bắt người khác phải thực hiện hiệp định thì mới thấy nó trơ cùn tới mức nào, mà ông thứ trưởng không nhìn ra??

Tưởng cũng nên biết, trong thời kỳ căng thẳng của Chiến Tranh Lạnh, Mỹ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Mỹ đã kiềm chế được các bên cho khỏi đụng độ giữa hai phe khổng lồ với kho vũ khí hạt nhân. Nếu Mỹ không can thiệp vào Nam Việt Nam thì lúc đó những người Cộng Sản sẽ tràn xuống và tạo ra hiệu ứng domino, gây bất ổn vùng Đông Nam Á vì lúc đó Mao Trạch Đông đang chủ trương xuất khẩu “cách mạng”, nước nào cũng có nhóm Mao ít có vũ trang. Chưa kể đến, vào thời đó, Chủ Nghĩa Xã Hội vẫn đang là Euphorie trên toàn thế giới, sẽ tạo ra một loạt các “Bắc Triều Tiên” chứ không chỉ một Bắc Triều Tiên như bây giờ.

Nói sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là xâm lược thật bất công, khi mà họ bỏ ra hàng trăm tỉ đô la và sinh mạng của 80 nghìn (số chính xác 58.272) con em họ ở một đất nước xa lạ, vì sự ổn định chung của thế giới.

Điều đó cũng giống như bảo bộ đội Việt Nam xâm lược Campuchia, khi mà người Việt Nam phải mất đi hàng trăm nghìn người thân của mình, để cứu dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng mà không được một lời cám ơn, thậm chí tượng đài bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Phnom Penh thỉnh thoảng còn bị làm nhục.

Nhân đây cũng nói tại sao các chính trị gia phương Tây thừa biết chế độ diệt chủng Campuchia tàn bạo man rợ, thừa biết chủ mưu là Trung Quốc, thừa biết bộ đội Việt Nam sang can thiệp là cần thiết mà vẫn lên án là Việt Nam xâm lược, thậm chí ra nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Việt Nam? Là vì họ có tầm nhìn chiến lược, bằng động thái đó, có thể phải thí mạng cả hai dân tộc Việt và Campuchia, họ tỏ thái độ đứng hẳn về phía Trung Quốc để lùa hẳn Trung Quốc ra khỏi thế đối đầu trong Chiến Tranh Lạnh.

Và nguyên nhân thật của cuộc chiến tranh gây hấn với Việt Nam năm 79 của Trung Quốc, không phải để dạy một bài học cho Việt Nam như Đặng Tiểu Bình tuyên bố, mà Trung Quốc muốn đưa ra một tín hiệu dứt khoát, rõ ràng với phương Tây là: Không còn hệ thống cùng ý thức hệ, xã hội chủ nghĩa, không còn Chiến Tranh Lạnh nữa và Chiến Lược của họ Đặng đã rất đúng: Từ đó, Tây Phương bỏ cấm vận, hợp tác làm ăn với Trung Quốc và bây giờ họ đang vươn lên nhất nhì thế giới.

Nói tóm lại, sự nghiệp của Cụ Hồ Chí Minh hiện đã thành công mỹ mãn. Đất nước đã thống nhất, chính quyền nằm trong tay đảng của Cụ. Hồ Chí Minh, cũng như các bậc tiền nhân khác của dân tộc, đã lèo lái con thuyền dân tộc trong những bước hiểm nghèo của lịch sử.

Nhưng những bậc tiền nhân khác chỉ có mỗi một nỗi lo đánh ngoại xâm giành độc lập, sau đó sẽ lập lại chế độ như lúc trước đã có sẵn. Riêng Hồ Chí Minh muốn đi xa hơn nữa, một lúc làm hai việc: Vừa giành độc lập vừa xây dựng chế độ khác tốt đẹp hơn, như Cụ nói. Nhưng Cụ đã thất bại ở việc thứ hai. Hiện tình đất nước hiện nay là bằng chứng hiển nhiên. Việc thứ hai đã thất bại thì việc thứ nhất cũng không gọi là thành công, mặc dù tốn xương máu của hàng triệu người, như Cụ đã nói “Độc lập tự do mà không có hạnh phúc ấm no thì chẳng có ý nghĩa gì”.

Ở Việt Nam hiện nay thì Hồ Chí Minh được tôn thờ nhiều nhất, bởi vì Cụ là người thành công trong lịch sử, mặc dù mắc nhiều sai lầm hay đi đường vòng tốn xương máu không cần thiết. Nhưng ít ai để ý, vì quyết lược giải phóng miền Nam bằng mọi giá, mọi xương máu không chùn tay không nản của Cụ và các đồng đảng trong thời kỳ căng thẳng của Chiến Tranh Lạnh buộc Mỹ mệt mỏi, dân Mỹ chán ghét chiến tranh làm cho chính quyền Nixon phải tìm liệu kế khác. Họ đã tìm và thấy cái mắt xích quan trọng là Trung Quốc, và chặt phăng nó ra khỏi hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở đầu cho thời kỳ kết thúc Chiến Tranh Lạnh, bắt đầu cho sự khủng hoảng và tan rã dần của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, mở lối thoát cho các nước Đông Âu tự giải thoát mình khỏi cái lồng Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhân dân Đông Âu phải biết ơn Bác Hồ hơn dân Việt Nam mới phải, tôi nghĩ vậy.

PS: Bài viết này nhân dịp ngày 19-05 ngày sinh của Hồ Chí Minh. Nhưng ngày này Cụ cũng phịa ra để nhân dân Hà Nội treo cờ đỏ sao vàng, sau đó nói với phái bộ Đồng Minh là người dân treo cờ chào đón họ.

Lỗ Trí Thâm

———————————————————————————————–

Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới mắt TS Cù Huy Hà Vũ

Đài VOA phỏng vấn

29-4-2010

http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam-war-a-perspective-from-hanoi-4-29-10-92469969.html

Posted in Nhan Vat Chinh tri | 1 Comment »

Nhạc

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2012

Mời các bạn nghe bản nhạc của năm 1970

Tình Đời của Lê Minh Bằng (Lê Dinh + Minh Kỳ+ Anh Bằng)- Ca sĩ Thiên Kim, Lâm Nhật Tiến và Minh Thông

Đêm Nguyện Cầu- Nhạc của Lê-Minh-Bằng- ca sĩ Elvis Phương

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=-8wnnoW2II

Bây Giờ Còn Nhớ Hay Không- nhạc sĩ Anh Bằng phổ thơ Nhất Tuấn

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »

►Nhà máy lọc dầu Dung Quất “Nghĩ Hè”: Tạm dừng hoạt động để xử lý lỗi ở “trái tim”

Posted by hoangtran204 trên 19/05/2012

Lời Tựa: Hàng năm, cứ vào mùa này là nhà máy Dung Quất công bố đi nghĩ hè. Năm 2010, nhà máy đi nghĩ tới 2 lần. Theo đúng lịch trình, năm nay nhà máy lọc dầu đi nghĩ hè từ 16-5-2012. Mỗi khi đi nghĩ hè, là có báo chí phỏng vấn, đăng tin rất nhanh. Các câu và các chữ trong bài báo dưới đây rất tù mù và bí ẩn như chính bản thân của nhà máy này đã được xây dựng kéo dài hơn 15 năm mới hoàn thành (1993-2009).

Chi phí xây dựng Dung Quấtlà 3 tỷ đô la, và mỗi tháng lỗ 120-150 triệu đô la kể từ khi vận hành vào năm 2009 cho đến nay, và sự thua lỗ kéo dài vô hạn định. Tiền lỗ hàng tháng được Petrovietnam che đậy nhờ  khai thác dầu thô mỗi ngày 370.000 thùng đem bán cho nước ngoài để chi trả. Tổng doanh thu cuối năm 2011 của Petrovietnam là 675.000 tỷ đồng hay 34 tỷ đô la nhờ tiền bán dầu và ga (và các sản phẩm khác). (nguồn)

Điều đáng chú ý là các nước ngoài xây nhà máy lọc dầu công suất tương đương với Dung Quất chỉ có giá là 1,2 tỷ đô la.

Sắp tới, sau khi thời gian bảo trì hết hạn, nhà máy Dung Quất sẽ chạy mình “ên”, sự hư hại sẽ xảy ra liên tục, chỉ còn chờ dịp  bán sắt vụn. Rồi đây, nhà máy sẽ yêu cầu chính phủ vào cuộc để xin 3 tỷ đô la nữa để tái cơ cấu và xây dựng nhà máy mới. Các bạn chờ đọc nha. 

Vinashin lỗ 4,6 tỷ đô la năm 2010,  có tin Vinalines lỗ hơn 1 tỷ đô la năm 2012 (xem dưới comment hoặc coi ở đâynguồn), nhà máy Dung Quất đang ngắc ngoải, chỉ còn nước cân ký bán sắt vụn cho ve chai, coi như mất trắng 3 tỷ đô la vào năm…2013.

Các chi tiết nổi bật của nhà máy Dung Quất được xây dựng và vận hành ra sao bởi Petrovietnam và triều đình nhà sản được viết trong loạt 6 bài báo post ở cuối bài này.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Tạm dừng hoạt động để xử lý lỗi ở “trái tim”

18-5-2012

Báo Saigontiepthi

SGTT.VN – Từ ngày 16.5, nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) phải tạm dừng hoạt động để xử lý các lỗi kỹ thuật. Ông Nguyễn Hoài Giang, tổng giám đốc công ty TNHH lọc hoá dầu Bình Sơn – công ty quản lý, vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất – cho biết, đây là thời điểm quan trọng để tổ hợp nhà thầu Technip kết thúc thời gian bảo hành, bàn giao cho phía Việt Nam quản lý, vận hành.

Thưa ông, vì sao năm ngoái nhà máy đã phải tạm dừng hai tháng để bảo dưỡng tổng thể (khắc phục 75 điểm tồn tại kỹ thuật, với tổng chi phí cho bảo dưỡng hơn 40 triệu USD), nay lại tiếp tục dừng?

Lần này nhà máy tiếp tục phải dừng hoạt động khoảng từ ba tuần đến một tháng là để tổng kiểm tra, thảo luận cùng tổ hợp nhà thầu Technip xử lý triệt để những tồn tại kỹ thuật phát sinh trong quá trình vận hành trước khi nghiệm thu lần cuối.

Hiện nay còn bao nhiêu lỗi kỹ thuật cần được xử lý dứt điểm?

Hiện vẫn còn bốn lỗi kỹ thuật lớn và vài chục lỗi kỹ thuật nhỏ cần xử lý dứt điểm do đợt bảo dưỡng lần đầu, Technip chưa chuẩn bị kịp vật tư, thiết bị. Lỗi kỹ thuật cần được xử lý trong đợt này chủ yếu tập trung ở phân xưởng công nghệ cracking xúc tác (RFCC) – nơi được xem là “trái tim” nhà máy lọc dầu. Do còn trong thời gian bảo hành nên tổ hợp nhà thầu Technip phải chịu chi phí sửa chữa hoặc có thể thay thế thiết bị hỏng hóc.

Thưa ông, nhà máy tạm dừng hoạt động trong thời gian dài liệu có tác động đến thị trường xăng, dầu?

Năm 2011, theo báo cáo kiểm toán, công ty TNHH lọc hoá dầu Bình Sơn đạt mức doanh thu thuần 111.123 tỉ đồng, bằng 144% kế hoạch; lợi nhuận sau thuế: lỗ 2.959 tỉ đồng trong đó lỗ từ chênh lệch tỷ giá là 2.423 tỉ đồng. Lỗ thực từ sản xuất, kinh doanh là 2.373 tỉ đồng. Trong quý 1/2012, công ty trên đạt tổng sản lượng 1,75 triệu tấn các loại, lãi trên 230 tỉ đồng.M.Q

Hiện nhà máy còn trong kho chứa khoảng 200.000 tấn xăng, dầu đảm bảo cung ứng thị trường trong nước thêm hai tuần nữa. Do nhà máy tạm dừng hoạt động theo kế hoạch nên chúng tôi cũng đã làm việc với các đầu mối tiêu thụ xăng dầu trong nước chủ động cân đối nguồn nhập khẩu hợp lý. Vả lại, thời gian này không nằm trong giai đoạn căng thẳng xăng dầu nên việc nhà máy tạm dừng hoạt động ít ảnh hưởng đến thị trường xăng dầu.

Việc cổ phần hoá nhà máy lọc dầu Dung Quất đã tiến hành đến đâu?

Hiện tại nhà thầu JGC (Nhật Bản) đã hoàn thành nghiên cứu khả thi chi tiết phương án nâng công suất nhà máy lên đến 10 triệu tấn/năm. Theo tính toán ban đầu, tổng vốn đầu tư nâng công suất nhà máy dao động từ 2,1 – 3 tỉ USD (tuỳ vào nguồn dầu thô đầu vào và cấu hình công nghệ của nhà máy). Dự kiến, sau khi lựa chọn được nhà đầu tư uy tín, giàu kinh nghiệm về lĩnh vực lọc hoá dầu trên thế giới, chúng tôi sẽ mời nhà thầu nước ngoài định giá tài sản của nhà máy, sau đó bán khoảng 49% cổ phần để tái đầu tư nâng cấp, mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Đến đầu tháng 7 tới, sau khi nghiệm thu, bàn giao, 170 chuyên gia phía tổ hợp nhà thầu Technip giúp Việt Nam vận hành, bảo hành nhà máy trong thời gian đầu sẽ rút về nước. Tuy nhiên, chúng tôi đã quyết định mời ở lại khoảng 30 chuyên gia cao cấp để giúp Việt Nam tối ưu hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu suất của nhà máy để sớm thu hồi vốn đầu tư.

Ông bình luận gì về ý kiến cho rằng nhà máy lọc dầu Dung Quất đang lỗ nặng?

Năm 2011 nhà máy có lỗ là do cơ chế, chính sách chứ không phải do bản thân dự án. Cụ thể do chênh lệch về tỷ giá giữa đồng USD và tiền đồng Việt Nam.

Minh Đức

nguồn saigontiepthi

————————————–

Ngày 15 Tháng 3, 2009 Trần Hoàng có viết bài phân tích về sự thua lỗ của Dung Quất ở đây:

Đầu Tư ở Dung Quất : Lỗ 120 triệu đô mỗi năm

—————————————

Các bài viết phân tích lý do thua lỗ của nhà máy lọc dầu Dung Quất từ 2009-2012

Sai lầm lớn của Petrovietnam trong công trình lọc hóa dầu Dung Quất

—————————————

Sau khi bị tin tặc đột nhập trang anhbasam.wordpress.com để xóa bài, các bài cũ từ 2007 đã được phục hồi ở đây (và ở trên phần MỤC LỤC 1 và 2, dưới chữ  Cơ quan ngôn luận của TTX Vĩa Hè):

http://anhbasam.wordpress.com/category/bai-của-trần-hoang

————————————–

Posted in Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | 1 Comment »

TIN NÓNG: Xã hội đen núp bóng “thương binh” muốn có nhà máy điện hạt nhân!

Posted by hoangtran204 trên 19/05/2012

TIN NÓNG! 9h15′ – Có khoảng 7-8 tên xã hội đen núp bóng “thương binh” bao vây Viện Hán Nôm, xông vào tận Thư viện đe dọa TS Nguyễn Xuân Diện và CBCNV ở đây. Dưới đây là hình ảnh bên ngoài Viện do cụ Hiền Đức vừa gửi tới:

.

10h – Tin từ CTV và cán bộ Viện Hán Nôm: đã gọi công an phường, Cảnh sát 113 từ hơn 1 giờ đồng hồ trước, nhưng vẫn chưa đến (có lý do là đi họp). Hiện các bạn bè TS Diện tập trung ở ngoài, chưa được vào. Đám côn đồ vào phòng TS Diện, yêu cầu ông đóng trang blog, giao nộp máy tính, … Chúng còn làm trò tụt quần ăn vạ ngay trong Viện.

11h25’ – Đã liên lạc được với TS Nguyễn Xuân Diện, ông cho biết: đám côn đồ yêu cầu gỡ bỏ nội dung bức Thư gửi Thủ tướng Nhật về điện hạt nhân (lạ há?). TS Diện đã chấp nhận. Cho tới khi đám này ra về vẫn chưa có công an tới.

*Các bạn chạy qua đọc comments dưới blog  anhbasam.wordpress.com

để biết tụi xã hội đen núp bóng “thương binh” này là ai?

*kế đó chạy qua blog của ts Nguyễn Xuân Diện xuandienhannom đọc các comments phía dưới.

——————————————————————————————–

Dưới đây là miếng đất của Trần Hoàng 888 :)

“Thương binh” xã hội đen, do đảng và công an bảo kê, đến gây rối tại thư viện nơi tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện làm việc. Họ cho rằng ts Diện phá hoại chính sách của chính phủ!

(Hóa ra nhà nước được bảo vệ bởi “thương binh” xã hội đen.)

Lý do của bọn này là: Ts Nguyễn Xuân Diện và các giới chức đại học và chuyên nghiệp viết thư và kiến nghị gởi thủ tướng Nhật  để phán đối chính quyền Nhật cho VN mượn tiền 10 tỷ đô la xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở tỉnh Ninh Thuận.

Trong thư dự tính gởi cho chính phủ Nhật, Ts Diện và phe của ông đã có nhắc lại chuyện, cách đây 4 tuần, chính phủ và quốc hội Nhật đã tuân theo ý muốn của người dân, và đã công bố ngừng chạy 54 nhà máy điện nguyên tử trên toàn nước Nhật vì lo sợ tai nạn hạt nhân có khả năng xảy ra. Quyết định này bất chấp sự kiện rằng Nhật sẽ thiếu điện trầm trọng vì 54 nhà máy điện nguyên tử này đang cung cấp 25% của tổng số công suất điện cho toàn nước Nhật.

Vấn đề mà phe ts Diện đặt ra là Nhật đã biết sự nguy hiểm của nhà máy điện nguyên tử, họ đã tự nguyện đóng cửa 54 nhà máy này, vậy tại sao họ cho VN mượn tiền để họ thiết kế xây dựng và mua các nhà máy điện nguyên tử của họ? Ts Diện và các bạn bè của ông chỉ viết thư kêu gọi sự hiểu biết của chính phủ Nhật và đừng giúp đỡ xây dựng nhà máy điện ở  tỉnh Ninh Thuận. 

Riêng đảng và chính phủ VN muốn Nhật cho mượn số tiền 10 tỷ này để các đảng viên cao cấp và nhà nước có cơ hội ăn chận 20-30% tiền cò, tiền ký hợp đồng, tiền giấy phép, tiền khảo sát thiết kế, tiền xây dựng…Sợ Nhật từ chối kế hoạch cho mượn tiền, chính phủ VN giựt dây cho công an, và công an nói xấu ts Diện và xúi dục các “thương binh” xã hội đen đến “quậy” tại nơi làm việc của tiến sĩ Diện.

Mục đích sau cùng của đảng và nhà nước là chia phần cái bánh hạt nhân cho “cha”: Trung Quốc sẽ xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân sang Việt Nam

http://www.voanews.com/vietnamese/ne…122147289.html

http://www.thuongmai.vn/thi-truong-t…-viet-nam.html

Các bạn bè của ts Diện hay tin, đã vội vàng đến Viện Hán Nôm để chia sẻ tinh thần tương trợ  tiến sĩ Diện.

Các bạn của TS Nguyễn Xuân Diện tới chia sẻ. 

—————————————————————————————————

TS Nguyễn Xuân Diện bị “thương binh” bao vây

Sáng 18/5 vào lúc 8 giờ 30, một nhóm thương binh côn đồ đã tới Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm bao vây trụ sở này và xông vào hành hung nhân viên trong thư viện với mục đích tìm kiếm TS Nguyễn Xuân Diện.

Xe của nhóm thương binh côn đồ đậu trước cổng Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm – Hà Nội sáng 18/5/2012.

Đánh người vô cớ

Một nhân viên trong thư viện cho chúng tôi biết:

“Khoảng 8 giờ rưỡi hay 9 giờ kém 15, xe chở thương binh tới đỗ ngổn ngang trước cổng Thư viện của Viện Hán Nôm. Thương binh đã xông vào đánh một cô bé đang làm việc trong Viện vì cô này bảo rằng đây là thư viện, không được vào… thế nọ thế kia… Cô ấy chỉ nói thế thôi chứ không có vấn đề gì cả thế là họ bảo cô ấy là láo, xông vào đánh cô ấy.

Lúc ấy em đi xuống nhà có người hỏi là TS Diện ở đâu. Em xuống nhà và thấy có mấy người nữa là thương binh xông thẳng vào, họ chửi ỏm tỏi lên là “phản đảng, phản đảng” Em có cảm giác là không bình thường thì em chạy lên. Lúc ấy thương binh họ xông thẳng lên tầng ba em nghe thấy trên ấy vẫn ầm ĩ tiếng bàn ghế. Em không dám lên vì lúc nãy bọn ấy còn xông vào đánh bọn em mà. Khoảng bảy tám người gì đấy hoặc hơn nữa, em không rõ lắm nhưng toàn là những người trông hùng hổ, sợ lắm, bọn em còn run mà.

Bọn em đã báo công an rồi nhưng không biết công an tới chưa, hình như là có rồi em không biết rõ lắm, em không dám ra vì lúc nãy họ đe tao trông thấy mặt mày thì lần sau tao tới tận nhà chúng mày.”

Chúng tôi liên lạc với ông Nguyễn Đăng Quang nguyên đại tá công an đã về hưu hiện là một trong những người quen với TS Nguyễn Xuân Diện, ông Quang cho biết:

“Xin lỗi anh tôi cũng đang ngồi trên xe để đi đến chỗ hiện trường, lúc nào có điều kiện thì mình trao đổi thêm. Tôi với một luật sư đang ngồi trên xe đây.”

Lúc 10 giờ sáng hơn ba mươi người bạn và blogger đã tập trung tại Viện Hán Nôm để theo dõi tình hình và bảo vệ cho sinh mạng của TS Diện. Một người trong nhóm cho chúng tôi biết:

“Tình hình bây giờ vẫn đang căng thẳng trong phòng anh ạ. Họ yêu cầu TS Diện chấm dứt kêu gọi tẩy chay điện hạt nhân, yêu cầu tịch thu máy tính, yêu cầu hãm blog. Họ là thành phần thương binh có sáu người tất cả. Họ là thành phần rất là nhạy cảm cho nên chúng tôi đứng ngoài và quan sát. Hiện tại họ cũng chưa dám có những hành động mạnh họ chỉ tranh luận dữ dội và gào thét ở trong phòng thôi chứ hiện tại họ chưa xâm phạm gì tới thân thể anh Diện cả, vẫn nói chuyện bình thường.”

Cho tới 11 giờ sáng chúng tôi vẫn không liên lạc được với TS Nguyễn Xuân Diện để hỏi thăm ông về những diễn biến bên trong thư viện của Viện Hán Nôm nơi ông làm việc.

TS Nguyễn Xuân Diện trong vài năm gần đây rất nổi tiếng do trang blog của ông luôn theo dõi những diễn biến thời sự, xã hội nóng bức để thông tin đến dư luận. Ông đưa tin những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, các vụ cưỡng chế từ Tiên Lãng tới Văn Giang, Vụ Bản. Hồi gần đây trang blog này đã tập trung chữ ký của nhiều người kiến nghị lên chính phủ yêu cầu chấm dứt dự án nhà máy điện hạt nhân sau khi Nhật Bản lên tiếng trợ giúp VN trong việc xây dựng và triển khai nhà máy, trong khi Tokyo đã bãi bỏ hoàn toàn các nhà máy điện hạt nhân sau sự cố Fukushima.

Tin thêm về vụ tấn công tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện tại viện Hán Nôm

Sáng nay, khoảng 10 h 20 ngày 18/5/2012, tôi đã có mặt tại Viện Hán nôm để tìm hiểu về vụ tấn công này; Đến cổng viện vẫn còn thấy 3 xe thương binh án ngự. Tôi xin phép vào trong Viện và tìm đến tầng 3 của Viện nơi Ts Nguyễn Xuân Diện làm việc. Khoảng 20 người, những bạn bè của Nguyễn Xuân Diện đã có mặt tại hàng lang…Thấy có mặt cụ bà Lê Hiền Đức, Ls Trần Vũ Hải và nhiều người quen trong các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc…

Khi đến, được biết lãnh đạo Viện Hán nôm và Trung tâm Khoa học Xã hội nhân văn quốc gia đang làm việc trong phòng với đại diện của một số thương binh và TS Nguyễn Xuân Diện…

Khoảng 11 h 15 cuộc làm việc giữa lãnh đạo Viện và đại diện các vị thương binh kết thúc, các thương binh ra về với vẻ mặt không thấy gì toát ra vẻ thù hằn, căng thẳng…

Thấy cửa mở anh em bạn bè ùa vào; ông Mạnh Viện trưởng Viện Hán nôm; Ông Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Ông chủ tịch Công đoàn Viện đã tiếp và làm việc với các thương binh, không có đại diện của cơ quan công an.

Theo ông Mạnh thông báo sơ bộ: Sáng nay một số thương binh đã tự ý xông vào Viện, lên tận phòng TS Nguyễn Xuân Diện để phản đối những bài viết trên blog Nguyễn Xuân Diện trong đó có Thư gửi Thủ tướng Nhật về dự án điện hạt nhân…, những thương binh này đã yêu cầu Ts Nguyễn Xuân Diện gỡ các bài này xuống…

Theo ông Mạnh, thay mặt lãnh đạo Viện ông đã yêu cầu lập biên bản ghi lại ý kiến của các bên, sẽ xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên xem xét để giải quyết vụ xung đột này…

Chứng kiến vụ việc, chủ Blog và một vài người tỏ ra băn khoăn: Không nhẽ các nhà đầu tư Nhật lo sợ các bài viết trên blog của Nguyễn Xuân Diện gây áp lực sẽ làm mất cơ hội làm ăn của họ xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam, do vậy nên họ đã nhờ mấy vị thương bình này dằn mặt hộ; Hay các vị thương binh này hy vọng: Có dự án điện hạt nhân này họ sẽ có cơ hội kiếm việc làm, nếu hỏng thì ảnh hưởng đến họ và gia đình họ; hay đây chẳng qua chỉ là cái cớ “giết gà dọa khỉ”;

chắc vừa qua do việc blog Nguyễn Xuân Diện lên tiếng quyết liệt về vụ Văn Giang nên có thể có thế lực nào đó muốn sử dụng thương binh để gây sức ép với Ts Nguyễn Xuân Diện… Sự việc hạ hồi sẽ tìm hiểu và cập nhật thông tin tiếp; nhất là chờ ý kiến của TS Nguyễn Xuân Diện bộc bạch ý kiến của mình trên blog…

Theo Mặc Lâm (RFA) và Blog Phạm Viết Đào.

danchimviet.info

Các bạn chạy qua blog của nhà văn Phạm Viết Đào coi bài và đọc comments.

————————————————————————————————–

 

Cập nhật 26-5-2012

Thư ngỏ gửi Ban biên tập báo Cựu chiến binh

Phùng Hoài Ngọc

Kính gửi Ban biên tập báo Cựu chiến binh,

Tôi là một bạn đọc lần đầu tiên biết tới tờ báo Cựu chiến binh khi nghe dư luận phản đối tờ báo của quý vị đăng bài bênh vực 5 “thương binh nặng” “bị cán bộ Viện Hán Nôm đánh đập” mà không xác minh tìm hiểu vụ việc…

Thiên hạ chắc chắn không tin một tin “giật gân” như thế (nếu có chăng chỉ có báo Quân đội Nhân dân tin cậy và viết luôn bài hưởng ứng, nhưng sau 120 phút chợt thấy “bé cái nhầm” nên vội rút bài). Ai có thể tin những nhà trí thức say mê với vốn cổ Hán Nôm của dân tộc, một phần quan trọng của văn hóa Việt Nam, lại nỡ đánh ngất xỉu một thương binh to khỏe như hộ pháp đang chủ động hăng máu gây hấn tại một nơi thanh cao, tôn quý như Viện Hán Nôm?

Thưa quý Ban biên tập,

Đất nước ta ra ngõ gặp thương binh, về nhà gặp liệt sĩ (trên bàn thờ). Ba mươi năm chiến tranh dài thê thảm với ba, bốn cuộc chiến tàn khốc, thương binh liệt sĩ nhiều lắm, mặc dù nhà nước chưa bao giờ dám công bố số liệu.

Thưa quý vị báo Cựu chiến binh, xin đừng tưởng rằng chỉ có thương binh mới đóng góp xương máu cho Tổ quốc. Có nhiều thương binh đã nói rằng họ thương những người vợ (vọng phu) chịu cực khổ hơn họ nhiều, những ông cha bà mẹ còng lưng làm lụng vất vả còn khổ hơn họ nhiều. Sau những cuộc “tống biệt hành đầy nước mắt” gia đình đưa tiễn các anh đi chiến trường, người hậu phương ở lại cũng phải đánh trận thực sự (chống máy bay Mỹ oanh tạc ngày đêm trên quê hương), lại vừa phải vắt sức sản xuất để đóng góp lương thực gửi ra tiền tuyến nuôi dưỡng các anh… Mỗi hộ nông dân phải nhận chỉ tiêu góp gà, góp lợn từng vụ gửi ra chiến trường, “thóc không thiếu một cân…”. Ngày xưa chuyện cổ dân gian chỉ kể những chuyện đau khổ của người vợ, con và cha mẹ của người lính ở quê nhà, chứ không kể chuyện nỗi khổ của người lính ở chiến trường. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ cách đánh giá rất nhân bản về những hy sinh mất mát của mọi lớp người trong xã hội một khi đối diện với chiến tranh, chứ không phải là do văn chương của các dân tộc đó phiến diện.

Bao nhiêu nữ chiến sĩ, thanh niên xung phong sau chiến tranh đã quá lứa lỡ thì, nhan sắc tàn tạ đành chịu phận hẩm hiu. Họ không được hưởng chế độ thương binh vì họ không mang thương tích. Thực ra thương tích cắm sâu trong tâm hồn họ không gì chữa khỏi…

Cuộc chiến tranh Việt Nam là chiến tranh nhân dân. Điều đó có nghĩa là cuộc chiến của mọi người, không phải chỉ riêng các anh. Các anh không nên nghĩ rằng chỉ mình các anh hy sinh cho Tổ quốc mà coi khinh những người “không bị thương”…

Nạn kiêu binh có từ thời chúa Trịnh vua Lê, và lịch sử đã lên án hiện tượng đó.

Năm anh “thương binh nặng” hùng hổ kéo đến Viện Hán Nôm gây sự với TS Nguyễn Xuân Diện với những ngôn ngữ hành vi đáng khinh bỉ. Hóa ra các anh còn bị một vết thương rất nặng. Vết thương trong tâm hồn. Chính những kẻ xúi giục các anh đi quậy phá đã đánh các anh thêm một đòn (đòn sau lưng, đòn thâm hiểm), một đòn “mềm” khiến các anh bị thương một lần nữa. Nỗi đau và nỗi nhục này, có thể cả nỗi hối hận dày vò, trước hết các anh phải gánh, lịch sử sẽ ghi lại. Báo Cựu chiến binh, báo QĐND chắc chắn sẽ không thưởng thêm huy chương cho các anh về vết thương mới này.

Rất mong báo Cựu chiến binh đừng gây thêm thương tích cho các anh nữa, ít nhất vì tình đồng chí.

P.H.N.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

+ Nông dân và nông thôn là đối tượng bị đánh tàn bạo nhất trong cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam (nên đọc)

Posted by hoangtran204 trên 18/05/2012

Lời tựa: đây là một bài nhận định rất xuất sắc. Để viết ra những bài này tác giả đã bỏ ra rất nhiều thời gian nghiền ngẫm lịch sử, tìm hiểu nhận định các biến cố kinh tế chính trị xã hội đã diễn ra trong lịch sử VN có liên quan tới triều đình nhà sản. Rất hiếm khi chúng ta có thể đọc được các bài viết ngắn gọn mà  sâu sắc như thế này.

Nông dân và nông thôn là đối tượng bị đánh tàn bạo nhất trong cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam

Xích Tử

Lời phát biểu bế mạc của Tổng bí thư cùng với Thông báo của BCH TƯ về Hội nghị lần thứ 5 hoàn toàn thống nhất với lời phát biểu khai mạc của người đứng đầu Đảng CSVN định hướng cho kết quả của một chương trình nghị sự được dự báo: Thận trọng trong việc sửa đổi Hiến pháp vì đây là chuyện “nhạy cảm”, không bỏ Điều 4 vì như vậy là “tự sát”, duy trì khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không tam quyền phân lập do đảng cộng sản lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, không phục hồi chế độ tư hữu về đất đai và không có việc đòi lại đất đã bị cưỡng đoạt, xử lý trong lịch sử pháp luật ở lĩnh vực này.

Phản ứng chính sách này của đảng là tất nhiên trong chuỗi động thái phòng vệ, tự bảo vệ, chống sự rối loạn dẫn đến mất quyền lãnh đạo đất nước và các đặc quyền thực tế khác được tạo nên do quyền lãnh đạo đó. Sự khẳng định đó không chứng minh thêm gì về đổi mới tư duy, về tầm trí tuệ, về sự phát triển của văn minh chính trị, chân lý chính trị, mà chỉ là biểu hiện của sự đuối lý, của thế thua, của sự bảo thủ.

Bằng mọi giá, đảng phải níu giữ quyền lãnh đạo thông qua các công cụ trấn áp bạo lực và một hệ thống luật pháp ngày càng có tính cai trị chuyên chế, ngày càng tạo ra và được tạo ra trong quan hệ bất bình đẳng giữa chính đảng nắm quyền lực, nhà nước do chính đảng đó lập nên với quảng đại nhân dân đến mức mâu thuẫn chín muồi cho một tình thế cách mạng theo tiêu chuẩn cổ điển. Cũng bằng mọi giá, đảng cố duy trì hiện trạng chính trị, có điều chỉnh ngoại vi để hoãn binh chi kế và đẩy những mâu thuẫn tiềm ẩn đó cho các thế hệ sau, trong đó con cháu của các vị chóp bu vẫn là người cầm quyền.

Biểu hiện ngoan cố chính trị đó là kết quả của một chuỗi diến biến lịch sử nắm quyền lãnh đạo không quang minh chính đại, không chính thống của đảng. Trong giai đoạn 1930 – 1945, đảng đã dùng chiêu bài đấu tranh giai cấp, chống bóc lột, bất công, vẽ ra một thiên đường hạ giới với người cày có ruộng, công nhân không bị tư bản bóc lột, mọi người tự do, xã hội dân chủ…kết hợp với chống thực dân giành độc lập để thu hút, tập hợp,tổ chức lực lượng (cách nói hoa mỹ của sự lừa phỉnh) tiến đến việc sử dụng bạo lực với sự hỗ trợ của nước ngoài để cướp chính quyền tháng 8/1945.

Từ 1945 đến 1976, suy cho cùng, đảng đã sử dụng, lợi dụng, vận dụng cuộc chiến tranh giải phóng, giành độc lập như một công cụ bạo lực để áp đặt mô hình chính trị xã hội chủ nghĩa lên một nửa, rồi cả đất nước, để xây dựng và củng cố nền chuyên chính “vô sản” với toàn bộ thiết chế quyền lực, chính quyền, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, tôn giáo…, điều chỉnh cả đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, điều chỉnh cả lịch sử và cưỡng chế niềm tin cũng như sự hình dung của nhân dân về mô hình đất nước trong tương lai. Tất cả sự thiết lập ấy đều được tạo ra từ mũi súng.

Chỉ riêng chuyện đất đai, nông dân, và nông thôn, qua toàn bộ tiến trình đó, đã cho thấy sự thất bại của cuộc cách mạng, nếu hiểu cuộc cách mạng đó là thành tâm, hoặc có thể là một sự phản bội, nếu nhìn cuộc cách mạng như một thứ vận động chính trị cơ hội chủ nghĩa, một kiểu lừa đảo lịch sử. Người nông dân, nông nghiệp, nông thôn là đối tượng bị đối xử tàn bạo nhất trong cách mạng. Đến thời điểm này, khi phải điều chỉnh bằng chính sách đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, người nông dân xem như mất sạch, và nông thôn trở thành gánh nợ bị phân biệt đối xử.

Từ năm 1930, khi khởi mào cho những câu hát ru cách mạng, có những ông lão “ngồi mơ nước Nga” (ý thơ Tố Hữu) với sự hứa hẹn của đảng về ruộng đất cho dân cày, về người cày có ruộng. Những nông dân là canh điền, tá điền, lãnh canh nộp tô cho địa chủ thời ấy mơ mộng sẽ có lúc triệt hạ hết địa chủ và giành ruộng đất trở thành sở hữu của mình.

Lời hứa đó được duy trì và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu thu hút các lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ bí mật bằng cách làm mềm đi đối tượng địa chủ thông qua việc phân loại dựa trên diện tích sở hữu của họ và mức độ câu kết của họ với chính quyền thực dân, phong kiến. Nhờ đó, lời hiệu triệu về đất đai vẫn hấp dẫn với tuyệt đại đa số nông dân nghèo, không có hoặc có ít ruộng đất, đồng thời trấn an số “địa chủ” lớp dưới với hứa hẹn về chính sách tịch thu, trưng thu, trưng mua mềm dẻo tuỳ từng đối tượng.

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tình trạng đó vẫn án binh bất động. Đến giai đoạn cuối, do sự phát triển về lực của chính quyền kháng chiến, cục diện chiến trường, và đặc biệt là sự chỉ đạo của Trung Quốc, Chính phủ Việt Minh trở lại chính sách đất đai với mức độ từ thấp đến cao để đạt mục tiêu cưỡng đoạt và cưỡng chiếm quyền sở hữu loại tài sản đặc biệt này của nhân dân. Bắt đầu là phong trào vận động giảm tô trong vùng kháng chiến với Sắc lệnh 14/7/1949; đến 12/4/1953, Chính phủ Việt Minh lại ra Sắc lệnh phát động quần chúng triệt để giảm tô để thêm một bước tiến công vào các tầng lớp địa chủ, động viên nông dân.

Ngày 19/12/1953, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Sắc lệnh ban bố Luật Cải cách ruộng đất đã được Quốc hội khoá I thông qua trong kỳ họp thứ 3 (1-4/12/1953). Nội dung chủ yếu của Luật, được thực hiện ngay sau đó ở những vùng thuộc chính quyền kháng chiến kiểm soát thuộc khu vực đồng bằng là xử lý địa chủ; tổ chức đấu tố; tịch thu, trưng thu đất của đối tượng này và huy động nguồn công điền, nguồn đất hoang để chia cho nông dân. Phong trào này được tuyên truyền mạnh mẽ, có chụp ảnh đăng báo cảnh nông dân đi nhận đất, cắm cờ hả hê và nhờ đó, cùng với các đợt chỉnh huấn, chỉnh quân, kiểm thảo, nó có tác dụng động viên sức chiến đấu của những người lính gốc nông dân trong trận quyết đấu Điện Biên Phủ.

Trong chiêu bài phản phong, cuộc cải cách ruộng đất theo Luật 1953 thực chất là tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất ở nông thôn, theo quan điểm marxist, trong đó trước hết là quan hệ trong chiếm hữu tư liệu sản xuất. Ở một khía cạnh khác, đây là cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ nhân dân theo kịch bản dàn dựng để đủ bộ lệ cho các nước làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Á châu bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Mao. Cuộc đấu tranh đó tiếp tục diễn ra một cách khốc liệt sau 1954 ở miền bắc với nhiều sai lầm, tội ác nghiêm trọng để đảng tạm phải dừng lại, sửa sai vào năm 1956; song kết quả của cách làm sai lầm, gần như là tội ác chống lại nhân dân đó lại là cơ sở thuận lợi cho công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp bị áp đặt bởi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua nghị quyết về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp ngày 27/5/1959 – một động thái mà Quốc hội xem như “cuộc cách mạng hoà bình”, chuẩn bị cho những qui định về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai trong Hiến pháp 1959 và đặc biệt là từ Điều 19 của Hiến pháp 1980.

Bằng những bước đi này, những hình ảnh người nông dân được chia ruộng đất để làm chứng cho chính sách người cày có ruộng đã được rêu rao từ những năm 30 chỉ kéo dài được không quá 6 năm (1953 – 1959); những mảnh ruộng được chia đó chưa ấm tay người nông dân thì đã bị sung vào hợp tác xã, thuộc sở hữu tập thể, bước thứ nhất của sở hữu toàn dân.

Điều đáng ghi nhận là tất cả cách xử lý có tính lịch sử của nhà nước cộng sản Việt Nam vế đất đai từ những năm 50 của thế kỷ trước đến nay đều kế tục quan điểm xem đây là tư liệu sản xuất hoặc đối tượng lao động; nó không phải là tài sản chiếm hữu hoặc sở hữu để chế tài như các thông lệ về quyền tư hữu tài sản đã ghi trong Hiến pháp 1946.

Dựa vào lý thuyết Marxist về quan hệ sản xuất, nhà nước cộng sản Việt Nam xem đất đai như một hiện tượng bất bình đẳng trong chiếm hữu tư liệu sản xuất do chế độ phong kiến tạo ra; vì vậy, để làm cách mạng xây dựng chế độ mới, phải từng bước xoá bỏ triệt để hiện tượng này. Đây không phải là quá trình pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản, mà là chuyện chính trị của quá trình cách mạng; nó không thuộc phạm trù kế thừa luật pháp hình sự, dân sự; không phải là nhân quyền hay dân quyền, mà là một hiện tượng phản động của lịch sử, cách mạng có quyền xoá bỏ.

Điều này khác hẳn và tạo ra phân biệt xử lý giữa đất đai và các tài sản khác của người dân nói chung và người nông dân nói riêng. Vì vốn là tài sản lịch sử nên đất đai của người dân, kể cả địa chủ và các tầng lớp nông dân, đều được hình thành do sự đầu tư riêng (mua bán, kế thừa, chuyển nhượng; cả của tập thể họ tộc, chùa chiền, nhà thờ và cá nhân), song khi đi vào hợp tác hoá, trong khi đất đai bị quốc hữu hoá hoàn toàn , bị cải biến hoàn toàn về hình thức tồn tại thì các tài sản khác vẫn được bảo lưu trong nguồn vốn tập thể, trong hình thức liên doanh, công tư hợp doanh. Sự bất công này kéo dài cho đến khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bị phá sản vào những năm 80, 90; khi đó, các doanh nghiệp nhà nước, vốn là tài sản của dân, bị bán tống tháo đi với nhiều cách làm rất tiêu cực qua quá trình cổ phần hoá biến đảng viên cộng sản công, thương nghiệp thành người chủ cổ phần, tức tư nhân hoá, tư bản hoá tài sản xã hội chủ nghĩa, người nông dân vốn đã bỏ những tài sản rất thật của mình vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục bị tước đoạt. Lúc họ bỏ ra đất đai để làm cách mạng, họ đã chấp hành một chính sách cưỡng đoạt, để mua lấy sự an toàn và niềm tin về một xã hội mới. Khi mô hình xã hội mới đó phá sản, những người cộng sản tìm cách hưởng lợi khác thì người nông dân bị bỏ rơi với cách nói chẳng nghĩa tình gì: đất đai là sở hữu toàn dân, không có bất kỳ sự cứu xét nào về lịch sử chính sách đất đai, về đối tượng đất đai đã bị cách mạng xử lý. Cũng vào lúc ban đầu ấy, không có ai nói với họ về sự hài hoà lợi ích giữa nhà nước, người dân và nhà đầu tư như kiểu giải thích ngụy biện và cơ hội chủ nghĩa như bây giờ; chỉ có một lợi ích duy nhất là chủ nghĩa xã hội. Làm gì có cái gọi là nhà đầu tư vào những năm 50 ở miền bắc và những năm 70, 80 ở miền nam và cũng làm gì cần phải đặt ra sự hài hoà lợi ích về đất đai giữa nhà nước và người dân nếu nhà nước là của dân, do dân, vì dân!

Suy cho cùng, khi đã lộ cái đuôi lợi ích ra vì kinh tế thị trường, vì những tiêu cực nảy sinh tất yếu và cố tình do chính sách đất đai; khi tư liệu sản xuất của chủ nghĩa xã hội trở thành tài sản của tư bản nước ngoài, tư bản đỏ trong nước với sự hỗ trợ, chia chác của nhà nước cộng sản, mới có cách giải thích như vậy. Còn từ khởi thuỷ của cách mạng, khi quốc hữu hoá đất đai, những người cộng sản chỉ đơn giản tước đoạt toàn bộ hạ tầng kinh tế của hộ gia đình nông dân và các tầng lớp dân cư nông thôn khác, tước đoạt công cụ sinh nhai tự túc – kẻ thù của công hữu cộng sản- của dòng họ, tôn giáo, học hữu; qua đó, họ muốn triệt hạ toàn bộ thiết chế vật chất và tinh thần của xã hội cũ, xã hội phong kiến, để cho sản phẩm của xã hội mới thay thế; nhờ vậy ơn đảng, ơn nhà nước mới có gía trị.

Chuyện quốc hữu hoá đất đai nói riêng, các tư liệu, phương tiện sản xuất khác nói chung của mô hình xã hội chủ nghĩa ấy không phải chỉ là vì mục tiêu kinh tế và nếu chỉ vì mục tiêu ấy thì cộng sản quả là không trí tuệ; mục đích chính là chính trị, là cải tạo xã hội. Hợp tác xã là một thiết chế quản lý con người về phương diện dạ dày, và qua dạ dày để quản lý trái tim và khối óc; ông chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp có quyền quyết định một thanh niên có được đi học đại học hay không thông qua thủ tục cắt chuyển tiêu chuẩn lương thực từ địa phương cấp xã đến trường đại học. Chủ nghĩa xã hội khi tịch thu đất đai của nông dân chính là vì vậy; cho nên sau này, khi đánh giá những sai lầm của nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá, đảng vẫn móc vào đó một ý khen là nhờ đó mà huy động được lương thực cho chiến trường, động viên được quân lực (vì không nhập ngũ thì lấy đâu ra gạo ăn) và hạt gạo chia tư cho cả “nghĩa vụ quốc tế”.

Cái mất của người nông dân là bị tước đoạt của cải để phục vụ mục tiêu phấn đấu cho công bằng, bình đẳng, tự do, dân chủ, giống như một sự góp vốn làm ăn, song khi mục tiêu của công cuộc làm ăn thất bại, cái vốn ấy không được trả lại và biến thành lợi ích của các nhóm khác, bao gồm chủ yếu nhóm cai trị. Qua cái bị mất hữu hình đó, họ đồng thời cũng bị tước đoạt những giá trị vô hình liên quan đến quyền sở hữu tư nhân tài sản, vốn rất thiêng liêng, được hình thành qua hàng nghìn năm phát triển của lịch sử dân tộc, của nhân loại.

Với mỗi người nông dân Việt Nam, đất đai là núm ruột, là tình cảm của ông cha để lại, là kết quả sự cố gắng tằn tiện, “ăn mắm mút giòi” suốt đời của đôi vợ chồng nghèo dành cho con cháu, là ngôi mộ của tổ tiên, ông bà ở đó, là mối liên kết, chia sẻ trách nhiệm của các thành viên dòng họ, xứ đạo, bổn hữu của ngôi chùa, là tuổi thơ, bến nước, con đò… Khi họ mất tài sản đất đai, những cái ấy cũng sẽ mất đi. Không thể có cách nói nguỵ biện đương đại về mục tiêu kinh tế hướng đến nền sản xuất lớn trong nông nghiệp, một nền “nông nghiệp hợp lý hoá” khi quốc hữu hoá đất đai trước đây và rục rịch toa rập tích tụ đất đai hiện nay với những trích dẫn marxist cũ rích như kiểu của tác giả Đỗ Thế Tùng trên Tạp chí cộng sản . Trong khi nhiều nước có nền nông nghiệp cực kỳ hiện đại, là cường quốc của nhiều ngành nông sản nhưng vẫn duy trì chế độ tư hữu về đất đai thì không thể cả vú lấp miệng nông dân bằng luận điểm “Việc qui định ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là phù hợp với qui luật tiến hoá và xu hướng phát triển của nông nghiệp hiện đại”, rằng “vai trò đại diện và quản lý của Nhà nước là tất yếu”.

Cùng với nông dân, nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng, cũng bị đánh phá đến kiệt quệ, trở thành một không gian u ám, căng thẳng. Những cuộc đấu tố và xử lý địa chủ, phá phách chùa chiền đền miếu mồ mả, cuộc vận động áp đặt nông dân vào hợp tác xã, thu thuế phí, động viên thanh niên nhập ngũ, việc chia tách các thành viên gia đình và chế độ, thời gian sinh hoạt gia đình theo mô hình sản xuất hợp tác xã, thậm chí có lúc có nơi đã là công xã, mức thu nhập tối đa 1kg lúa/một ngày công, cảnh nhận giấy báo tử từ chiến trường …kéo dài suốt những năm 60, 70. Nông thôn chịu vô số thiệt thòi khác do tỉ lệ thất học, mù chữ, do trình độ dân trí bị cố tình làm chậm phát triển; cơ cấu thanh niên được vào đại học, cao đẳng thấp, không bình đẳng với đô thị; thiếu thốn, nghèo nàn trong thông tin, sinh hoạt tinh thần; chất lượng hiểu biết thấp và thói cửa quyền, cường quyền của đám cán bộ hợp tác xã, chính quyền địa phương. Tình trạng đó vẫn không khắc phục được, hoặc không được khắc phục cho đến cả thời kỳ “đổi mới”. Các chính sách với nông dân, nông thôn không đủ để khỏi phải huy động sự đóng góp của người dân với hàng vài ba chục thứ phí thu hàng năm dẫn đến đỉnh điểm mâu thuẫn ở sự kiện Thái Bình 1997.

Người dân nông thôn vẫn phải cam chịu với hạ tầng kém hơn nhiều đô thị; họ phải bỏ tiền ra để tự mắc điện rồi trả tiền điện với giá cao hơn; họ cũng phải bỏ ra số tiền bằng thu nhập của gia đình trong cả năm, tương đương với hàng nghìn cổ phiếu của công ty để làm đường nông thôn nhưng không sở hữu được gì cả. Để tiếp cận với đô thị gần nhất (đi học, mua bán, giải trí…), họ cũng phải chịu hao mòn phương tiện và tiêu tốn nhiên liệu nhiều hơn.

Đối lập với vùng u ám chiếm tỉ lệ lớn diện tích đất nước đó, đô thị, trong thời gian chiến tranh cũng như hoà bình, đổi mới, luôn luôn được ưu ái, có nhiều ưu thế hơn: hạ tầng đô thị, tiện nghi đô thị, thu nhập đô thị, các điều kiện thuận lợi về học hành, đào tạo để được tuyển dụng vào tầng lớp cai trị, các điều kiện thoả mãn sự phát triển tinh thần và tiếp cận với thế giới văn minh, kể cả tiếp xúc với người, thông tin của nước ngoài. Trong khi người nông dân trực tiếp sản xuất ra lương thực, thu nhập của họ cũng chỉ 30kg lúa mỗi tháng, tương đương 15 kg gạo, người dân đô thị, với nguồn thu nhập bằng lương và các hình thức tiền mặt khác dồi dào hơn, cũng được phân phối 13 kg gạo với giá 4,1 hào/kg.

Một bà già với hàng nước chè nóng ở đầu một ngõ phố Hà Nội suốt mấy chục năm, khi đổi mới, cũng công khai của tích luỹ đến mấy chục lạng vàng. Sau 1975, nhiều người hồi kết về miền nam đã khuyên con cháu rằng bất cứ giá nào cũng phải chuyển vào sống trong đô thị. Cố gắng tạo nên bình đẳng của chủ nghĩa xã hội là như vậy.

Chính sách đất đai và các chính sách kinh tế khác đã tạo ra sự đối lập, mâu thuẫn có thật, kéo dài và ngày càng gay gắt giữa nông thôn và thành thị, giữa nông dân với nhà nước, đồng thời cũng làm cho cái gọi là liên minh công nông trở thành bánh vẽ.

Chỉ đơn cử, một người bạn học của người viết bài này, đang là đảng viên cộng sản, giám đốc của một công ty chế biến nông sản ở miền trung vốn là doanh nghiệp nhà nước, tức công sản; khi công ty chưa cổ phần hoá, lương tháng của anh ta tương đương giá trị nguyên liệu nông sản ấy trên 2 hecta/1 năm, trong khi bình quân diện tích/người nông dân trồng nông sản chỉ là 0,1 hecta. So sánh tiền lãi của nông dân trong 1 năm với tiền lương 1 năm của vị giám đốc, ta có tỉ lệ 1:2000. Hiện nay, công ty đã cổ phần hoá, anh ta thành chủ của 1/5 tài sản công ty; thu nhập bằng lương tháng cộng cổ tức sẽ cao hơn nhiều.

Sự thật đã và đang là như vậy. Nhưng ai cho phép nó như vậy? Đảng cộng sản đã tạo ra tất cả bằng mũi súng, thông qua cái công cụ được hợp hiến hoá là Quốc hội. Tổ chức ấy do đảng lập ra và phần lớn đại biểu là đảng viên. Khi Quốc hội biểu quyết thông qua chính sách hợp tác xã, thông qua luật đất đai, thông qua các Hiến pháp với điều khoản công nhận quyền lãnh đạo của đảng, họ không phải đại diện cho dân và thể hiện ý kiến của dân, mà là chấp hành đảng, không phải toàn bộ đảng viên, mà chỉ một nhóm nhỏ có quyền đưa đất nước và dân tộc vào cuộc thí nghiệm xã hội chủ nghĩa.

Đến bây giờ, mọi việc đã lỡ rồi, các cơ cấu đã được thiết lập và vận hành sức mạnh của nó, để chia chác quyền lực và quyền lợi, không một ai, trong bối cảnh văn hoá chính trị Việt Nam, có khả năng và sự dũng cảm thay đổi. Thay vì thừa nhận tình trạng ấy, đảng vẫn nói như đinh đóng cột rằng đất đai là sở hữu toàn dân, với một thái độ trâng tráo, ngạo mạn đến vô ơn, vô sỉ.

Hãy cứ đưa điều đó ra trưng cầu dân ý, chắc sẽ có câu trả lời chung cho việc khẳng định chủ nghĩa xã hội là con đường lựa chọn của toàn dân, về chế độ công hữu, về tính nhân dân của nhà nước Việt Nam hiện nay.

Xích Tử

Các bài liên quan:

*+Ðiều Tra Đời Sống Cư Dân Đô Thị Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975 ( nên đọc)

Posted in Nong Dan Viet Nam, Đảng CSVN | 4 Comments »

+Ðiều Tra Đời Sống Cư Dân Đô Thị Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975 ( nên đọc)

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2012

Lời tựa của Trần Hoàng: Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 có nhiều nguyên nhân. Thực tế nghèo khó trong xã hội miền Bắc do đảng và nhà nước cai trị là một trong những nguyên nhân then chốt của cuộc chiến ấy.  Chính sách kinh tế của đảng CSVN do ông HCM lãnh đạo  trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1954-1959) đã hoàn toàn thất bại. Cụ thể là đảng CSVN và ông HCM đã làm cuộc cải cách ruộng đất nói trắng ra là mượn tay nông dân nghèo hay bần cố nông để  tịch thu ruộng đất của nông dân khá giả hơn từ  (1951-1956), sau đó, đảng CSVN cướp đoạt những ruộng đất khỏi tay những bần cố nông mới làm chủ ruộng đất chưa đầy 5 năm, và quyết liệt đưa 95% nông dân và đất đai vào hợp tác xã nông nghiệp, công hữu hóa các hãng xưởng, tịch thu tư liệu sản suất và giết hại các nhà tư sản và tiểu tư sản, làm cho các nhà tư sản miền Bắc chạy trốn vào miền Nam 1954-1955.

Năm 1960, vì quá đói,  nên đảng CSVN và ông HCM phải phát động cuộc chiến tranh VN để được LX và Trung Cộng viện trợ lương thực, xăng dầu, và hàng nhu yếu phẩm, và phải tuân theo hướng chỉ đạo của TQ và Liên Xô.  Bởi vậy, Lê Duẫn nói: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc”! Các từ như giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, đánh quân xâm lược Mỹ…chỉ là các lời tuyên truyền láo khoét.

Ðiều Tra Đời Sống Cư Dân Đô

Thị Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-

1975

Vũ Ngọc Tiến

Lời Nói Đầu

Năm 1998, tôi được mời tham gia đề tài nghiên cứu “Lịch sử 50 năm kinh tế Việt Nam 1945- 1975” của Viện Kinh tế học, có sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB).

Nhiệm vụ của một nhà văn-nhà báo, một kẻ ngoại đạo như tôi trong đề tài khoa học là tìm đọc tài liệu, sách báo cũ, tác phẩm văn học, kết hợp với điều tra, phỏng vấn nhân chứng để tái hiện lại đời sống nhân dân Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 mà số liệu thống kê vốn ít và kém chính xác. Ðây là sáng kiến độc đáo của bà Tiến sĩ Nguyễn Anh Tú, người Mỹ gốc Việt, đại diện WB ở Hà Nội.

Qua gần 2 năm tham gia, tôi đã viết và gửi cho họ 173 trang viết tay khổ A4, nhưng sau đó, vì nhiều lý do cá nhân, tôi không tiếp tục làm việc và liên lạc với ông GS chủ nhiệm đề tài. Không rõ họ có sử dụng, hoặc sử dụng đến đâu, như thế nào? Nay đọc lại bản thảo, tôi thấy nó có thể có ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà văn trẻ. Nó lột tả chân thực đời sống khốn khó một thời trong mô hình kinh tế Stalin, đồng thời lý giải sự thắng thua trong cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa 2 miền Nam-Bắc, từ góc nhìn thuần túy kinh tế học và xã hội học.

Cần lưu ý, phần viết về nông thôn trong bản thảo khá nhiều sự kiện, nhân chứng, song vấn đề lại tương đối đơn giản. Vì vậy, để không làm mất thời gian nhiều của bạn đọc, tôi chỉ lọc ra phần viết về đời sống đô thị, lược bớt các biểu đồ, biểu bảng và bổ sung, chỉnh lý nội dung cho phù hợp.

Bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu thêm về phần nông thôn có thể liên hệ với tôi qua BBT talawas.

Tháng 6 năm 2005

——————————————————————————————————————————————————-

I. Giai đoạn 1954-1960: Hàn gắn vết thương chiến tranh

1. Tâm thế người dân

Người Hà Nội sẽ không bao giờ quên được giây phút tuyệt vời ngày 10/10/1954, khi đoàn quân chiến thắng từ năm cánh cửa ô kéo về trong bài ca của nhạc sĩ Văn Cao: “Trùng trùng quân đi như  sóng, lớp lớp đoàn quân tiến về…” Nhạc phẩm viết từ năm 1949, đã từng bị phê bình là lạc quan tếu. Khi cụ Hồ tiếp chuyện GS. Trần Hữu Tước, nghệ sĩ Nguyễn Thị Kim và nhà văn Nguyễn Ðình Thi, nghe họ ca ngợi bài hát đó là khát vọng chiến thắng, dự báo thiên tài của Văn Cao thì nhạc phẩm đó mới được phổ biến.

Trong đoàn người ra đón quân cách mạng chỉ còn là những người dân Hà Nội đặt trọn niềm tin ở chế độ mới, bởi những ai không ưa cộng sản đều đã di cư vào Nam. Họ bảo nhau, hòa bình rồi, ăn đói mặc rét mà hưởng độc lập tự do vẫn sướng. Hòa bình, tự do, dân chủ là nguyện ước sâu xa trong lòng họ. Chuẩn giá trị trong đời sống xã hội lúc này là lao động hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đời sống mới, xã hội mới, không hề đòi hỏi sự đãi ngộ.

Người Hà Nội nô nức đi lao động ở các công trường xa thành phố, đi đắp đê Mai Lâm (Hà Nội) trong trận lụt năm 1958 hay đi lao động công ích ở đường Cổ Ngư, hồ Bảy Mẫu với niềm tin trong sáng đến lạ kỳ. Học sinh phổ thông các trường nội thành ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh đi về nông thôn giúp dân nhổ mạ, bón ruộng hay gặt lúa cũng tưng bừng như đi dự trại hè.

Bộ phim Cô gái công trường, một trong những tác phẩm điện ảnh đầu tiên của Việt Nam đã phản ánh chân thực tâm thế người dân lúc đó. Quan niệm về hạnh phúc của họ vừa trong sáng vừa có phần lãng mạn. Bà NTT ở phố Hàng Bè kể rằng, hồi ấy bà là hoa khôi nổi tiếng, nhiều đám sang trọng, giàu có dạm hỏi, nhưng bà chỉ mê mệt anh trung đội trưởng đội mũ nan, đeo huy hiệu chiến sĩ Ðiện Biên nhưng không viết thạo một lá thư, đóng quân ở gần nhà. Tâm thế người Hà Nội thời đó đều như bà NTT, thiên về lĩnh vực tinh thần, coi nhẹ vật chất. Khát vọng sống của họ là được cống hiến, được chia sẻ.

2. Mức sống và chất lượng sống

Trước hết, cần điểm qua kết cấu xã hội ở Hà Nội và các đô thị sau 1954. Ða số các nhà giàu, trí thức cao cấp hoặc các gia đình có liên quan đến chính quyền cũ đều đã di cư vào Nam. Số còn lại thuộc diện tư sản dân tộc chỉ có 861 người, kỹ sư và bác sĩ 150 người, giáo chức cấp tiểu học và trung học hơn 500 người, còn lại chủ yếu là các hộ tiểu thương, tiểu chủ. Tính trung bình ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh cứ 2 hộ dân có một hộ tiểu thương.

Trong khi đó số công nhân mất việc làm do chủ cũ di cư vào Nam ở Hà Nội 10 vạn và ở Hải Phòng là 3 vạn người. Bộ phận công nhân viên chức ở vùng kháng chiến về Hà Nội cỡ khoảng 6 vạn người. Số này giữ cương vị chủ chốt ở các công sở, nhà máy và chỗ ở thường là nhà của người di cư, mỗi ngôi nhà có khoảng 3-5 hộ, cá biệt có nơi hàng chục hộ.

Ở khu vực thành thị còn xuất hiện thêm một tầng lớp dân cư là người miền Nam ra tập kết. Từ tháng 7/1954 đến 5/1955 có 175.000 cán bộ, chiến sĩ và 15.000 học sinh miền Nam ra sống ở các đô thị miền Bắc.

Nhìn chung, bức tranh xã hội đô thị thời đó khá phức tạp. Mô hình xã hội mới lại buộc Nhà nước phải lo giải quyết cùng một lúc các vấn đề việc làm, ăn, mặc, ở, điện, nước… cho khối cán bộ, công nhân, viên chức. Ngoài những nỗ lực tự thân của nền kinh tế đang còn ốm yếu, giải pháp trưng thu hàng hóa của các hộ tiểu thương, tiểu chủ, tư sản và tước đoạt một phần diện tích nhà ở của nhiều hộ dân trung lưu chia cho cán bộ, công nhân, viên chức là không loại trừ.

Qua hơn 2 năm, những vấn đề nêu trên đã giải quyết tạm ổn, chính phủ đề ra kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh và đã thu được một số thành tựu tương đối khả quan. Số liệu thống kê chính thống của Nhà nước tuy còn sơ lược và kém chính xác, nhưng có thể khái quát về mức sống đô thị như sau:

Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng là: năm 1957 – 18,61 đồng; 1959 – 20,39 đồng; 1960 – 21,42 đồng.

Có sự nhích dần của lương và phụ cấp trong cơ cấu thu nhập của các hộ công nhân, viên chức: năm 1957 thu nhập từ lương và phụ cấp 81,7%, từ ngoài lương (làm thêm) là 18,3%; Tương ứng cho các năm sau: 1959 là 85,8% và 14,2%; 1960 là 86,5% và 13,5%.

Cơ cấu tiêu dùng: năm 1957 chi về ăn 70,5%, chi về sinh hoạt vật chất khác 19,4%, chi về sinh hoạt văn hóa tinh thần 10,1%; Tương ứng cho các năm sau: 1959 là 69,5% – 21,9% – 8,6%; 1960 là 75,5% – 14,6% – 9,9%.

Các số liệu thống kê vừa nêu chỉ phản ánh phần nào đời sống của khối công nhân, viên chức Nhà nước. Ðể thấy rõ hơn bức tranh đời sống xã hội đô thị, ta có thể tham khảo một số cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở độ tuổi 50 trở lên.

Dưới đây là những lời kể:

Cụ VÐC, sinh năm 1916, làm nghề bưu tá, về hưu năm 1976, quê ở làng Yên Thái nay là phường Bưởi quận Tây Hồ – Hà Nội:

“Tháng 9/1954, tôi được một cán bộ hoạt động bí mật trong nội thành đưa ra ngoại ô huấn luyện nghiệp vụ bưu điện và phát hành báo chí, chuẩn bị tiếp quản Thủ đô. Sau đó, tôi làm chân chạy thư, báo, công văn cho UBND xã Thái Ðô (gồm thị xã Nghĩa Ðô và phường Bưởi bây giờ). Lương lúc ấy hưởng bằng tiền “cụ Hồ kháng chiến” là 2 vạn đồng, tương đương 50 kg gạo. Từ năm 1958, tôi được biên chế vào ngành bưu điện, phụ trách chuyển thư, báo cho 11 khối dân cư thuộc khu Ba Ðình. Lương khởi điểm là 33,6 đồng, phụ cấp con cái từ đứa thứ 3 được mỗi đứa 5 đồng. Ngoài ra nghề bưu tá mỗi tháng được 5 đồng uống nước, tiền hao mòn xe đạp cứ 10km được 5 xu, mỗi ngày đi khoảng 50 km được 2 hào rưỡi. Vợ tôi làm nghề xeo giấy trong tổ hợp tác mới thành lập (1958), mức thu nhập khoảng 36-38 đồng/tháng. Cộng các khoản thu nhập của gia đình cỡ 115-120 đồng/tháng. Nhà tôi 10 miệng ăn cũng tạm đủ sống. Lúc này, Nhà nước vừa đổi tiền, mỗi công dân từ 18 tuổi trở lên chỉ được đổi 200 đồng tiền ngân hàng mới. Nghe nói ở trong phố, có người nhiều tiền, uất quá ném ra đường vì không đổi được, rồi tự tử mà chết. Ðấy là một cách để Chính phủ cào bằng mức sống mọi tầng lớp cư dân đô thị. Ngoài vàng bạc, kim cương ai đó còn giấu được, không đăng ký với Nhà nước ra, tiền mặt của mọi nhà là xấp xỉ như nhau. Nhờ vậy giá trị đồng tiền rất cao, có lợi cho cánh công nhân, viên chức chúng tôi. Với mức thu nhập như đã nói, vợ chồng tôi đủ nuôi 8 đứa con, thỉnh thoảng đi xem hát chèo, cải lương diễn lưu động ở chợ Bưởi, giá vé người lớn 4 hào, trẻ em 2 hào.”

Ông NÐT, Phó tiến sĩ, Viện trưởng một Viện nghiên cứu lớn ở Hà Nội, sinh năm 1946, sống tại khu Thành Công, quận Ba Ðình:

“Quê tôi ở một xã ngoại thành, cách Hà Nội chừng 12 km. Bố mẹ tôi dọn vào nội thành ở từ năm 1949. Ông nội tôi có chút học vấn và uy tín với dân làng nên được cách mạng bố trí ra làm lý trưởng để thuận lợi che chở, giúp đỡ cán bộ kháng chiến. Bố tôi mở một xưởng xẻ gỗ nhỏ. Mẹ tôi buôn thúng bán bưng ở chợ. Khi giải phóng, gia đình tôi có 9 anh em (6 trai, 3 gái), tôi là thứ tư. Nhìn chung, từ năm 1954-1956 gia đình tôi sống tạm ổn vì Nhà nước chưa có động thái gì lớn trong chính sách kinh tế mới. Cuối năm 1956, ông nội tôi ở quê bị quy vào thành phần địa chủ cường hào ác bá, bị vu khống đủ thứ tội mà thoạt nghe như chuyện cười của Azit Nêxin. Cuối cùng cụ bị kết án và bị treo cổ ngay tại phiên tòa diễn ra ở sân vận động, nay là nhà máy ngói xi măng… May mà năm 1958 cụ được minh oan, nếu không thì đời tôi ra tóp, chẳng bao giờ ngóc đầu lên được. Năm 1958, cải tạo công thương nghiệp ở nội thành, bố tôi cũng may mắn được xếp vào diện tiểu chủ nên xưởng xẻ gỗ không bị hợp doanh. Những năm ấy giá cả bán lẻ như sau: Về gạo, gạo tám thơm hay dự hương 0,80 – 0,85% đồng/1 kg, gạo mùa 0,60 đồng/1kg, gạo chiêm 0,40 – 0,45 đồng/1 kg; Trứng gà 0,80 – 1,20 đồng/1 chục; Thịt lợn 2,5 đồng/1 kg; Cá chép tươi, cá quả, cá chày 1,80 đồng/1 kg… Tôi còn nhớ được giá cả vì hồi đó mới 12 tuổi đã phải đi chợ, nấu ăn cho các anh lớn giúp việc bố tôi ở xưởng xẻ gỗ. Mẹ tôi buôn bán ở chợ, tối về ngồi đếm tiền, tính ra mỗi ngày lãi được 2 – 3 đồng. Bố và các anh tôi ở xưởng xẻ gỗ làm cật lực, kiếm được 5-7 đồng/ngày. Với mức thu nhập ấy, gia đình tôi chỉ đủ sống ở mức ăn no, thỉnh thoảng có miếng thịt kho mặn. Tôi có một người bạn rất thân, bây giờ là một nhà văn. Gia đình anh ấy cũng thuộc diện tiểu thương, tiểu chủ, nhưng năm đổi tiền (1958) có lẽ vẫn giấu được ít vàng nên sống khá hơn. Mỗi lần đến nhà bạn học tổ, thấy nhà có lọ đường kính đầy, ai muốn uống thì lấy nước mưa trong bể pha và vắt quả chanh vào, chỉ ngần ấy thôi cũng đủ để tôi thèm muốn, đêm nằm mơ thấy lọ đường…”

Cụ NQÐ, sinh năm 1917, sống ở Nam Ðịnh, thành phần tư sản công nghiệp, vợ (cụ bà BTH) buôn bán vải, tơ lụa:

“Tôi sinh ra ở thành phố dệt, tốt nghiệp trường Thành Chung Nam Ðịnh, có học qua trường kỹ nghệ thực hành Ðông Dương trên Hà Nội. Chiến tranh xảy ra, tôi tản cư về đình làng Ngò (Thanh Hóa). Năm 1949, tôi hồi cư và mở xưởng dệt kim, có 5 máy cổ lỗ của Pháp, bé hơn rất nhiều so với xưởng của cụ Cự Doanh trên Hà Nội (80 máy). Vợ tôi mở tiệm
buôn bán vải đen để bán ra vùng tự do trong Thanh – Nghệ. Gia đình có 5 con, sống ở ngôi nhà 2 tầng khá đẹp gần vườn hoa Con Cóc. Sau giải phóng, xưởng dệt kim của tôi vẫn hoạt động bình thường, còn vợ tôi dẹp tiệm, ra bán hàng tại sạp vải ở chợ Rồng. Ðời sống gia đình 3 năm đầu khá tốt, các con đi học bằng xe đạp Sterling của Anh, Marina của Pháp. Gạo ăn thường là tám xoan hay tám làn ở Giao Thủy đưa lên thành phố. Bữa ăn thường ngày đều có 4 món, do vú em quê Nghĩa Hưng nấu. Cuộc sống gia đình bắt đầu đảo lộn từ cuối năm 1957 đầu 1958, khi vợ chồng tôi bị tập trung đi học tập cải tạo công thương nghiệp. Theo quy định, những hộ sản xuất kinh doanh như sau thì bị liệt vào diện tư sản: thuê mướn từ 5 công nhân trở lên, có máy phát lực hoặc máy công cụ tiêu thụ 5 KW/giờ, vốn trên 7.000 đồng, lãi ròng trên 3.600 đồng/năm.” [Cụ bà BTH bổ sung: “Tư sản thương nghiệp thì vốn lưu động và hàng hóa hiện hữu tại thời điểm kê khai đạt 10.000 đồng trở lên. Quy định như vậy đã là thậm vô lý, nhưng ở Nam Ðịnh hồi đó, hễ ai có chút máu mặt là bị tìm cách đưa vào diện cải tạo, cửa hiệu, hàng hóa dễ bề mất không.”]

Cụ NQÐ kể tiếp:

“Tôi giống hệt tính cách của ông nội là đồ Nho, đậu cử nhân trường thi Nho học Trấn Sơn Nam [1] năm 1898, nên rất ương ngạnh, không dễ chịu khuất phục. Ði học cải tạo, tôi hay thắc mắc, đấu lý với cán bộ: ‘Cơ sở của tôi có 5 máy, dệt 2 ca mà chỉ thuê có 8 thợ, nghĩa là còn 1 máy do tôi và 2 thằng con trai làm việc như trâu, còn hơn cả thợ và phải lo đủ thứ ngoài sợi dệt, hà cớ gì quy tôi là tư sản bóc lột, ăn trên ngồi trốc? Thuế cao, nguyên liệu khan hiếm, lãi ròng 800 đồng/năm còn chưa được, lấy lý nào tính toán tôi lãi 3.600 đồng/năm?’ Tôi tuyên bố sẽ ‘dẹp tiệm’, không hợp doanh gì sất, máy sẽ hiến cho Nhà nước đem lên Hà Nội nhập vào xưởng của cụ Cự Doanh, không làm chủ dệt thì tôi mở cửa hiệu chữa ô tô, xe đạp vì tôi có bằng kỹ nghệ thực hành Ðông Dương, không sợ chết đói, chỉ thương 8 thợ dệt của tôi sẽ thất nghiệp, về quê đi cày… Ðến bây giờ sắp kề miệng lỗ, tôi mới biết mình ngu. Chuyên chính vô sản ở Nam Ðịnh là thứ “chuyên chính vô học”, tôi cãi lý với họ sao được. Họ soi lý lịch 3 đời, ông tôi là đại địa chủ phong kiến, anh tôi trước làm đại lý cho hãng hàng không Pháp ở Nam Ðịnh, lại di cư vào Nam… Tôi bị tập trung đi lao động cải tạo 6 tháng. Ở nhà, toàn bộ xưởng dệt và cả hàng hóa của vợ tôi bị trưng thu. Mấy đứa con, vì thế, học giỏi mà không được thi vào đại học, phải tình nguyện đi lao động ở các công – nông – lâm trường, sống khổ cực, hàng tháng vợ tôi phải đi xe đạp vượt trăm cây số để đem cho chúng, mỗi nhà liễn mỡ lợn và vài cân cá khô ăn dè.”

Ông TBN, sinh năm 1944, kỹ sư cơ khí giao thông, hiện là phó vụ trưởng ở một bộ quan trọng, sống ở Thanh Xuân – Hà Nội:

“Cha tôi là TVK, trước năm 1954 làm thư ký tòa án đại hình ở Hà Nội. Cụ là viên chức mẫu mực do Pháp đào tạo cả về năng lực làm việc và phong cách sống. Sau giải phóng, theo Hiệp định Giơ–ne–vơ (Geneva), cụ là viên chức lưu dung ngành tòa án, mức lương 240 đồng/tháng (tiền ngân hàng mới năm 1958). Mức lương ấy so với giá cả sinh hoạt là rất cao. Mẹ tôi chỉ ở nhà lo việc nội trợ. Nhà tôi có 6 anh em, tôi là con cả, sống rất no đủ những năm 50. Sáng nào cũng vậy, khoảng 8 giờ có chị hàng hoa ở Ngọc Hà đem hoa đến cho gia đình. Bố tôi sống và làm việc như một chiếc đồng hồ báo thức: 5 giờ 30 đi tập thể dục ở vườn hoa Hàng Ðậu, sau đó về ăn sáng, uống cà phê, đi làm. Hết giờ làm việc ông về nhà tắm rửa rồi lững thững dạo phố, đọc báo ở cửa tòa báo Quân đội nhân dân trên đường Phan Ðình Phùng và ăn tối vào 19 giờ. Chủ nhật, bố tôi thường về quê ngoại ở làng Ðại Mỗ bắn chim hay câu cá. Có lẽ ông là người có công lớn, góp phần giúp Chính phủ hình thành hệ thống tổ chức ngành tòa án và quy trình tố tụng từ sơ thẩm, phúc thẩm đến giám đốc thẩm. Cuối năm 1959 đầu 1960, bố tôi được học tập và vận động viết đơn tình nguyện không nhận lương công chức lưu dung nữa, chỉ xin nhận lương 64 đồng. Bắt đầu từ đây, gia đình sống khá gieo neo. Mẹ tôi phải đi làm công nhật, nắm than tiết kiệm từ tro của nhà máy điện Yên Phụ trộn với than cám và bùn lấy ở hồ Trúc Bạch, được 1,4 – 1,6 đồng/ngày. Tuy nhiên, bố tôi chỉ cho phép cắt giảm khẩu phần ăn, còn mọi sinh hoạt gia đình, nếp sống cá nhân không thay đổi. Ðiển hình là quần áo, ở nhà vá chằng vá đụp, nhưng ra đường ai cũng phải có bộ tươm tất. Nó khác hẳn với nhiều gia đình công chức, ở nhà mới dám mặc quần áo đẹp, ra đường lại vá chằng vá đụp. Bạn bè thường khuyên cha tôi bán vàng và đồ đạc quý trong nhà con: ‘Thời thế, thế thời phải thế. Ðạo làm người trong thiên hạ lấy việc phụng sự quốc gia làm đầu’. Thế nhưng, có nhiều đêm vì thương vợ con, cụ đã khóc thầm. Sau này, khi bị thuyên chuyển từ tóa án tối cao về cấp thành phố, rồi về cấp khu làm anh ‘mõ tòa’, cụ vẫn chuyên cần làm việc như một cái máy, chủ nhật vẫn về quê ngoại bắn chim, câu cá. Có lẽ nhờ cha tôi tỉnh táo, nhẫn chịu nên tôi mới được vào đại học để có vị thế xã hội như bây giờ.”

Ông VÐH, sinh năm 1930, cán bộ kháng chiến nay đã về hưu, hiện sống ở quận Lê Chân – Hải Phòng:

“Từ năm 1955-1960, chưa được Nhà nước phân nhà, tôi sống tại nhà riêng của bố mẹ vợ ở phố Phan Bội Châu – Hải Phòng. Khác với Hà Nội, Hải Phòng có 300 ngày tập kết (tính từ 10/10/1954) cho những người có ý định di cư vào Nam. Ðó là 300 ngày giao thời, xã hội khá nhộn nhạo, giá cả sinh hoạt vô cùng đắt đỏ. Thời chống Pháp, tôi ở chiến khu chỉ là cậu bé chạy công văn, giấy tờ. Về Hải Phòng (1955), tôi đã thành anh cán bộ 25 tuổi, nhưng văn hóa chỉ qua lớp 3 hệ phổ thông 10 năm, kiếm được bà vợ khá xinh, lại giàu, có bằng tú tài toàn phần. Năm 1958, xếp lương công chức, cộng các khoản phụ cấp được 80 đồng/tháng đã là khá cao trong xã hội. Tiền hồi ấy tiêu bằng đơn vị xu là nhỏ nhất. Tiền xu có ba loại: 1 xu, 2 xu và 5 xu, bằng nhôm, có đục lỗ ở giữa. Ði ra chợ Sắt, nhìn thấy các bà hàng rau xâu một chuỗi tiền xu vào dải rút quần cũng thấy hay mắt. Ðồng 1 xu lúc đó có thể mua mớ hành hay rau thơm, 5 xu mua được mớ rau muống cỡ 1kg, cả nhà ăn không hết. Vợ tôi phụ giúp mẹ bán hàng xén ngoài chợ Sắt, thu nhập cũng đủ ăn. Lương của tôi nộp cho bà ấy 45 đồng, giữ lại 35 tiêu vặt và đãi đằng bạn bè, vậy mà vợ cũng mua trữ được mỗi tháng 1 chỉ vàng (50-55 đồng/1chỉ). Các gia đình công nhân viên chức khác không chân trong chân ngoài như tôi chỉ tiết kiệm được 2,5 – 3,0 đồng/tháng. Tôi đi làm, mỗi sáng uống cà phê 2 hào, ăn chiếc bánh bao nhân thịt 2 hào, vị chi 4 hào, là sang trọng ở đất Hải Phòng. Nhưng tôi thường phải ăn giấu ở nhà, không dám ra hiệu phở ăn 2,5 hào/1 bát. Tôi hút thuốc thơm loại Thăng Long, Hoàn Kiếm cũng phải bóc ra, nhét vào vỏ bao Bông Lúa hạng bét. Thời ấy, sống phô ra sự nghèo, giấu kín sự giàu là hành vi ứng xử chung của toàn xã hội. Nói chung, giai đoạn 1955-1960 là thời kỳ sung sướng, no nhàn nhất của gia đình tôi, nếu tính từ 1975 trở về trước.”

Nói đến chất lượng sống của cư dân, ta không thể bỏ qua lĩnh vực y tế – giáo dục. Ở lĩnh vực này, chính phủ đã thành công khá ngoạn mục. Uy tín của chính phủ trong dân chúng và trước cộng đồng quốc tế nhờ đó được củng cố. Nhiều học giả nước ngoài đã đánh giá cao trong công trình nghiên cứu của họ về thành quả y tế – giáo dục của miền Bắc trong giai đoạn 1954-1960 nên ở đây không cần nhắc lại (Le Vietnam au XXe Siècle – Paris 1979 – Feray P.).

Những năm 1954-1960, phương tiện sinh hoạt văn hóa bằng radio ở thành thị vẫn còn là của hiếm, chỉ có ở các gia đình trí thức trung lưu, văn nghệ sĩ và cán bộ trung cao cấp. Bù vào đó, hệ thống loa truyền thanh công cộng được lắp đặt rộng rãi.
Cuối năm 1960, các thành phố, thị xã, khu mỏ Quảng Ninh có khoảng 13.900 cái loa.

Phó Tiến sĩ NÐT (đã dẫn trong mục phỏng vấn) kể rằng, năm 1958, loa truyền thanh công cộng phát buổi tường thuật trận đá bóng giữa đội Bát Nhất (Trung Quốc) và đội Thể Công (Việt Nam), số người tụ tập ở gần nhà ông lên đến 200 người. Nhạc sĩ THB cũng kể rằng, quanh nhà ông ở dốc Nghĩa Ðô gần chợ Bưởi không ai có máy quay đĩa hát, mỗi khi nhà ông mở đĩa nhạc có rất nhiều thanh niên, học sinh tụ tập ở cửa để nghe nhạc cổ điển. Quanh chiếc loa truyền thanh công cộng treo ở đầu chợ Bưởi, mỗi tối thứ bảy có khoảng vài chục đến cả trăm người già, trẻ em ngồi nghe hát cải lương.

Ngành điện ảnh thời ấy chủ yếu sản xuất phim thời sự, đến năm 1960 mới có 4 bộ phim truyện do xưởng phim Hà Nội sản xuất. Số phim truyện được trình chiếu chủ yếu là về đề tài chiến tranh và hợp tác hóa nông thôn nhập từ Liên Xô, Trung Quốc: 462 bộ năm 1955, 329 bộ năm 1957 và 120 bộ năm 1960.

Hà Nội có 7 rạp chiếu bóng, Hải Phòng có 2 rạp, suất chiếu nào cũng đông kín người, giá vé có 3 loại: 2 hào, 3 hào và 5 hào. Vùng ven đô có các đội chiếu bóng lưu động mỗi tháng chiếu 2 đợt, mỗi đợt 2-3 đêm. Số người xem ước chừng 1.000-2.000 người/1 suất chiếu. Giá vé người lớn 2 hào, trẻ em 1 hào. Thị hiếu thẩm mỹ của đa số dân thành thị hồi đó là xem cải lương, chèo, tuồng. Kịch nói và ca nhạc tạp kỹ, giao hưởng chỉ có ở nội thành. Giữa các màn cải lương thường xen kẽ biểu diễn ca khúc thời tiền chiến hoặc các bài hát cách mạng.

Nghệ sĩ cải lương Tuấn Sửu cho biết, Hà Nội có 2 rạp cải lương “Chuông vàng Thủ đô” và “Kim Phụng”, 1 rạp chèo, tuồng “Lạc Việt”, suất diễn nào cũng kín chỗ. Mỗi lần họ đi ngoại thành biểu diễn có đến vài nghìn người xem, giá vé người lớn 4 hào, trẻ em 2 hào. Theo tài liệu thống kê chính thống về sân khấu nghệ thuật, năm 1955 số đơn vị nghệ thuật là 24, số buổi biểu diễn là 300, số lượt người xem là 1.600.000; Tương tự các năm 1957 là 40 – 630 – 2.151.000, 1960 là 54 – 1.414 – 3.511.000.

Thị trường sách văn học thời kỳ này có rất ít đầu sách được xuất bản và kiểm duyệt rất kỹ, nhưng lượng ấn bản cho mỗi đầu sách – sau khi được kiểm duyệt – lại khá lớn, thường là 2-3 vạn bản, cá biệt có đầu sách “nội dung tốt” được in 5 vạn bản. Năm 1955 có 207 đầu sách, 1.712.000 bản. Tương tự các năm 1957 là 264 – 1.496.000 và 1960 là 346 – 4.682.000.

Các nhà văn được biên chế vào các nhà xuất bản, tòa báo, Hội nhà văn và các sở, ty văn hóa. Họ được hưởng lương cấp bậc theo đơn vị biên chế, ngoài ra, hưởng nhuận bút 8-10% giá bìa và số lượng bản in. Vì vậy nhà văn nào có sách được in theo kế hoạch thì nhận được khoản thù lao khá lớn. Một nhà văn lão thành cho biết mỗi cuốn sách của ông được in năm 1958-1960 nhuận bút 4.000-6.000 đồng, trong khi lương và phụ cấp ở cơ quan chỉ có 80-100 đồng/tháng. Cách đãi ngộ này khuyến khích nhà văn sáng tác phục vụ công – nông – binh. Ðương nhiên nếu ai sáng tác khác đi chẳng những không được in còn có thể mất biên chế ở cơ quan hoặc đi “lao động thực tế” ở công – nông – lâm trường.

Lại nói, các nhà văn có sách được in, tiền nhiều, thường hay đãi đằng bạn bè ở các quán bia, quán phở. Ngôi nhà số 2 đường Cổ Tân trở nên nổi tiếng vì là nơi ở của các nhà văn Nam Bộ uống bia như uống nước lã (Ðoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Ðức…). Lâu dần quán bia đường Cổ Tân thành nơi tụ họp của các cây bia rượu văn nghệ sĩ: các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài… hay các họa sĩ Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái… Một vại bia lúc đó giá 1,5 hào, nhưng các văn nghệ sĩ vốn hào phóng với bạn bè nên bạc trăm, bạc nghìn chẳng mấy chốc cũng “bay vèo”. Cha tôi chơi thân với một nhà văn thời tiền chiến, hồi đó ông này không có sách được in vì sở trường của ông là tiểu thuyết lãng mạn. Ông thường hay đến vay tiền, nhưng chưa một lần trả nợ. Lần ấy, bà vợ đẻ đứa con thứ 5, bị sài mòn, ông đến vay cha tôi 100 đồng, bẽn lẽn hỏi mẹ tôi xem cộng sổ nợ là bao nhiêu, rồi ông thở dài nói: “Có lẽ tôi phải đành viết quấy quá cuốn sách nào đó để trả anh chị”. Cha tôi đang hút thuốc lào, buông chiếc xe điếu, chân tình nói: “Là nhà văn mà anh định viết quấy quá cho xong một tác phẩm như nhiều đứa quen biết khác của chúng mình ư? Từ trước đến nay, bà nhà tôi có bao giờ ghi sổ nợ cho anh đâu. 100 đồng này là tôi biếu chị để mua thuốc cho cháu gái. Hết tiền anh hoặc chị cứ lên đây, tôi hết thì anh mới hết…” Về già, ông ngồi bán vé số ở góc phố Châu Long và Phó Ðức Chính. Cha tôi về già cũng ra hè phố mở một quán nước chè. Hai người gặp nhau tóc bạc phơ, nói nghề mới của các cụ hóa ra đều “hóng hớt” được ối chuyện, đáng viết cả trường thiên hý kịch. Bản thân người viết những dòng này, năm 16 tuổi cũng tập tọng học đòi viết văn, bị cha cấm đoán. Thậm chí, cha tôi còn sai các em canh chừng, hễ thấy anh ngồi viết văn thì mách lại, để cha đốt đi trong ánh mắt giận dữ, còn đứa con trai ngồi khóc nấc!…

Nói đến đời sống văn nghệ sĩ, không thể không nhắc đến cuộc đấu tranh tư tưởng với “luồng gió độc” của nhóm Nhân văn-Giai phẩm do Nguyễn Hữu Ðang, Phan Khôi, Thụy An khởi xướng. Sự kiện này đã được nhà văn Tô Hoài kể lại chi tiết trong cuốn Cát bụi chân ai (NXB Hội nhà văn, 1990).

Ở đây chỉ nhắc thêm câu chuyện về nhà văn Ðoàn Phú Tứ để thấy hệ lụy của nó ảnh hưởng lâu dài đến đời sống một nhà văn ủng hộ nhóm Nhân văn-Giai phẩm. Câu chuyện xảy ra ở thời điểm cách sau vụ Nhân văn-Giai phẩm 7 năm (1964):

“Hà Nội đã lên đèn. Xe Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đi qua chợ Hàng Da, thấy một người lom khom nhặt gì ở chợ. Thủ tướng hỏi thư ký:
– Ai trông giống anh Ðoàn Phú Tứ thế?
Thư ký của Thủ tướng xuống xe chạy lại thì đúng là Ðoàn Phú Tứ.
Ông nói thản nhiên:
– Các con tôi có nuôi một con lợn. Tiền mua rau không đủ, chiều chiều tôi ra đây nhặt ít vỏ chuối, thêm vào rau cho chúng nấu cám lợn.
Nghe thư ký thưa lại, Thủ tướng xuống xe đến tận nơi mời Ðoàn Phú Tứ chiều mai đến nhà riêng ăn cơm.
Sau bữa cơm Thủ tướng bảo:
Tôi biết anh rất giỏi tiếng Pháp. Tôi có đọc một ít tiểu thuyết cổ điển Pháp dịch ra tiếng Việt. Người dịch chỉ dịch được ý mà không giữ được văn. Sao anh không dịch cho các nhà xuất bản?
– Hoàn cảnh của tôi… dịch ai in?
– Tôi sẽ đảm bảo cho anh chuyện đó.
Sau bữa ấy, Thủ tướng trực tiếp trao đổi ý kiến với giám đốc NXB Văn hóa. Ít lâu sau, bạn đọc nước ta được đọc tiểu thuyết Ðỏ và đen do Tuấn Ðô, tức nhà văn Ðoàn Phú Tứ dịch.”
(Nguồn: Nguyễn Bùi Vợi – 101 truyện vui các nhà văn hiện đại Việt Nam – Nxb Thông tin, 1996)

Bức tranh đời sống cư dân đô thị một giai đoạn lịch sử 1954-1960 đã khép lại với những mảnh màu tối sáng đan xen. Dẫu sao chính phủ hồi đó còn nương nhẹ, có những giải pháp linh hoạt, có mềm có cứng, nên đã khá thành công trong việc khôi phục nền kinh tế sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, bắt đầu có tiềm lực để bước vào giai đoạn quyết liệt xây dựng mô hình kinh tế Stalin trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

[1]“Trấn Sơn Nam” là tên của trường thi tại Nam Ðịnh.

II. Giai đoạn 1961-1965: Khúc dạo đầu cho một mô hình kinh tế

1. Bãi cỏ xén bằng và những chuẩn giá trị

“Bãi cỏ xén bằng” là hình tượng do một người bạn Pháp của nhà văn Nga I. Ehrenburg đưa ra tại một quán cà phê nghèo ở ngoại ô Paris khi nhận xét về mô hình kinh tế Stalin. Nó thoạt trông thì gọn mắt nhưng lại trái quy luật. Một bãi cỏ ở nước Nga chỉ đẹp khi trên đó mọc lên một cây sồi, vài bụi cây phúc bồn tử.

Ở vào thời điểm xuân Tân Sửu (1961), một số thành công về kinh tế ở giai đoạn 1954-1960 đã khiến không chỉ các nhà lãnh đạo mà đại bộ phận dân cư miền Bắc, nhất là ở nông thôn, cũng ngây thơ đặt cược số phận dân tộc cho mô hình này.

Câu thơ “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” của Tố Hữu có lẽ phản ánh tâm trạng ông thật lòng tin theo, hy vọng ở mô hình kinh tế Stalin. Ðể hiểu rõ tâm thế người dân đô thị và những thay đổi về chuẩn giá trị, thứ bậc trong xã hội giai đoạn 1961-1965, cần xét qua tình hình chung của cả miền Bắc.

Năm 1959 chỉ có 45% hộ nông nghiệp vào hợp tác xã. Ðến năm 1960 đã có 2.404.800 (85,83% hộ nông dân) làm việc trong 40.200 hợp tác xã cấp xóm, cấp thôn.

Bước sang năm 1961, các hợp tác xã trên nhanh chóng sáp nhập lại để thành hợp tác xã quy mô cấp xã. Nhiều nơi như ở Ða Tốn, huyện Gia Lâm – Hà Nội, có 5 làng cổ, tên làng và cảnh sắc rất đẹp (Ðào Xuyên, Khoan Tế, Thuận Tốn, Ngọc Ðộng, Lê Xá) đều bị xóa mờ, thay bằng 18 xóm, cũng là 18 đội sản xuất… Khí thế hừng hực này đã tràn về các đô thị.

Cuối năm 1960 đầu 1961, ở các thành phố, thị xã, thị trấn đã có 263.600 hộ thủ công (81%) vào hợp tác xã thủ công, 102.000 hộ tiểu thương (45,1%) vào hợp tác xã mua bán.

Cả miền Bắc có 1.014 xí nghiệp quốc doanh và 889 xí nghiệp công tư hợp doanh. Như vậy, kể từ tết Tân Sửu (1961), kết cấu xã hội trong cộng đồng dân cư đã thay đổi tận gốc. Một xã hội đa tầng được thu gọn trong kết cấu đóng, hai mặt, hoặc là quốc doanh hoặc tập thể.

Những hộ làm ăn cá thể ở đô thị chỉ còn ước độ 17%. Chuẩn giá trị trong xã hội đô thị lúc này cao nhất là người trong biên chế nhà nước, thứ đến xã viên hợp tác xã. Người làm ăn cá thể chẳng có vị thế gì, con cái lấy vợ, gả chồng hay học lên cao rất khó. Ngay cả người nhà quê, khát vọng lớn nhất cũng là được “thoát ly” thành người biên chế nhà nước, cho dù chỉ là đi làm công nhân ăn đói, mặc rách ở các công-nông-lâm trường. Có khách đến chơi nhà, họ không còn khoe vườn rau, ao cá mà khoe điều hãnh diện nhất là có người “thoát ly”.

Ở thành thị, thân phận người làm ăn cá thể sao giống như trong bài thơ “Khúc hát người da đen” của Chế Lan Viên: “Bánh mì hạng ba, nhân phẩm hạng ba, thiên đường hạng bét và nghĩa trang hạng bét”. Bức tranh xã hội đô thị thoạt nhìn ngỡ như là bãi cỏ xén bằng, nhưng thực ra vẫn có tảng băng ngầm phân chia thứ hạng, đẳng cấp. Ngay cả những người trong biên chế nhà nước, sự phân hóa giàu nghèo đôi khi không phải do chức vụ, học vấn, tay nghề…

2. Mức sống và chất lượng sống 

(Mời các bạn đọc phần ghi chú ở cuối bài để so sáng thu nhập thời 1954-1963 của dân Miền Nam và Nam HànSau khi chiếm được Hà Nội và toàn miền Bắc được 5 năm, đảng nhận ra rằng: mức sống và chất lượng sống của miền Bắc quá thấp, thiếu gạo quanh năm, dân chúng đói kém, còn đảng  thì bất tài trong lãnh vực làm kinh tế để nâng cao đời sống người dân. Đây là các động lực chính để đảng CSVN chính thức gây chiến tranh vào 1960 (trước mắt là có cái ăn do TQ và LX viện trợ). Muốn tồn tại, phải quyết “giải phóng” miền Nam, là vựa lúa đủ sức nuôi sống miền Bắc và xuất khẩu. Trung quốc và Liên Xô chỉ là bọn xúi dục và hăm dọa rằng nếu không đánh miền Nam, chúng sẽ cắt viện trợ.TH)

Ở giai đoạn này, ngành thống kê của Nhà nước đã hình thành đội ngũ khá đông các cán bộ có trình độ nghiệp vụ. Mặt khác, kết cấu xã hội sau tết Tân Sửu đã trở nên đơn giản, chỉ có hai khối người: cán bộ công nhân viên chức trong biên chế nhà nước và các xã viên hợp tác xã, nên bài toán thống kê về mức sống cá nhân cũng không mấy phức tạp. Vì vậy, kể từ giai đoạn này, chúng tôi sẽ tận dụng khai thác tối đa những chỉ báo thống kê, trước khi đi vào mô tả hay phỏng vấn.

Thu nhập bình quân đầu người trong khối cán bộ công nhân viên năm 1961: 22,13 đồng; 1963: 21,95 đồng; 1965: 21,70 đồng.

Trong cơ cấu thu nhập năm 1961, thu từ lương và phụ cấp: 18,85 đồng, thu từ nguồn khác ngoài lương: 3,28 đồng. Tương ứng, năm 1963 là 18,48 và 3,47 đồng, năm 1965 là 18,79 và 2,91 đồng.

Như vậy thu nhập của họ còn thấp hơn giai đoạn 1954-1960 vì có thể do con cái đông lên. Theo cơ cấu thu nhập, họ chủ yếu sống bằng lương và phụ cấp. Họ không có cơ hội kiếm thêm nhiều vì định kiến xã hội lúc đó coi mọi biểu hiện làm thêm hoặc chạy chợ là phục hồi chủ nghĩa tư bản, là cá nhân chủ nghĩa… Lấy trường hợp một công chức bậc trung ở Hà Nội, thu nhập bình quân đầu người/ tháng là 22,18 đồng. Tổng các khoản chi 21,46 đồng (ăn 15,24 đồng, mua sắm 2,67 đồng, chi khác 1,74 đồng) thì tích lũy chỉ có 0,72 đồng/người-tháng, gần như bằng không.

Tiếp tục đi sâu vào phân tích khẩu phần ăn của khối cán bộ, công nhân, viên chức, tài liệu thống kê qua các văn liệu chính thống cho biết như sau (tính theo tháng):

Năm 1961: Lương thực quy ra gạo là 10,20 kg, các thực phẩm chính: thịt: 0,55 kg, cá: 0,54 kg, trứng: 1,70 quả, đường: 0,19 kg, nước chấm: 0,50 lít.

Năm 1963: Lương thực quy ra gạo là 11,39 kg, các thực phẩm chính: thịt: 0,55 kg, cá: 0,70 kg, trứng: 1,28 quả, đường: 0,18 kg, nước chấm: 0,45 lít.

Năm 1965: Lương thực quy ra gạo 11,40 kg, các thực phẩm chính: thịt: 0,54 kg, cá: 0,71 kg, trứng: 1,00 quả, đường: 0,24 kg, nước chấm: 0,50 lít.

Lại một lần nữa ta thấy được mô hình kinh tế của Stalin vận dụng vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đem lại khẩu phần ăn đạm bạc, hầu như không tăng lên, thậm chí có cái suy giảm do nguồn cung cấp từ nông thôn cũng suy giảm theo mô hình hợp tác xã cấp cao.

Ông LVT, sinh năm 1923, viên chức sở tài chính, sống ở phố Bà Triệu – Hà Nội kể lại:

“Gia đình tôi, cả 2 vợ chồng đều đi theo kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc, nên từ năm 1954 đều đã có biên chế nhà nước. Giai đoạn 1954-1960 còn thị trường tự do nên sống dễ thở hơn. Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước có khẩu hiệu “thắt lưng buộc bụng xây dựng CNXH”, vật phẩm khan hiểm, lương tăng ít không đủ bù giá, con cái đông thêm nên khá vất vả. Cả nhà 8 miệng ăn (hai vợ chồng, mẹ già và 5 đứa con), lương tôi 85 đồng/tháng, lương vợ 45 đồng/tháng cộng thêm phụ cấp của 2 vợ chồng cỡ 30 đồng/tháng. Tổng thu nhập từ lương là 160 đồng/tháng, bình quân đầu người 20 đồng/tháng. Muốn làm thêm để có thu nhập phải theo tổ chức, nếu để vợ chạy chợ sẽ là việc động trời, tôi không dám. Cơ quan tôi nhận thêm lạc vỏ về cho mọi người bóc, mỗi tháng tôi nhận thêm 1,5-2,0 tạ lạc. Cả nhà, từ già đến trẻ ngồi bóc cũng kiếm thêm được 22-25 đồng/tháng. Vợ tôi liên hệ với bà Q, tổ trưởng đan len ở phố Hàng Gai để nhận len về đan áo xuất khẩu sang Liên Xô, mỗi tháng cũng kiếm thêm được 10 đồng. Hai khoản thu nhập thêm này đủ để đong thêm gạo tự do 0,80 đồng/1kg của người nhà quê có ruộng 5% mang ra bán “chui” cho các bà buôn ở chợ Hàng Bè. Mỗi tháng nhà tôi đong thêm 20 kg gạo hết 16 đồng. Còn lại khoảng 20 đồng làm thêm dùng để mua sách vở cho trẻ con đi học và thỉnh thoảng đi xem phim ở rạp là hết nhẵn.”

Cụ bà THT, sinh năm 1920, ở phố Hàng Thiếc – Hà Nội, thành phần tư sản vì có cổ phần ở nhà máy da Thụy Khuê, khi hợp doanh với Nhà nước, cụ ông thành công nhân kỹ thuật, đã kể lại:

“Vợ chồng tôi thuộc diện tư sản cải tạo, đang làm chủ mà khi hợp doanh biến thành người làm công. Chồng làm việc ở phân xưởng thuộc da, vợ làm nhân viên quèn ở phòng kế hoạch. Tổng thu nhập các khoản của 2 vợ chồng được 174 đồng/tháng, nuôi 9 đứa con và 1 mẹ chồng nên cũng eo hẹp lắm. Lẽ ra vàng, bạc, kim cương đều bị Nhà nước trưng thu từ năm 1959, song tôi còn chôn giấu được vài chục cây, đem ra ăn dè, mỗi tháng bán đi 1-2 chỉ cỡ 55 đồng/chỉ, đủ phụ thêm vào miếng ăn thường nhật. Mẹ chồng tôi hay đi thăm con cháu, dâu rể, tối về thường ngồi nước mắt lưng tròng. Cụ than thở: ‘Ðến chơi nhà nào cũng thấy bữa cơm đầy một rổ rau cải bắp hay rau muống luộc. Ăn thế khác nào độn rau, đến xanh ruột mất thôi. Nhà nào khá hơn thì có thêm vài bữa đậu kho với thịt mỡ mỏng tang, nổi lều bều, nuốt sao được’. Tôi biết ý cụ nhắc khéo mình bớt vài cây vàng chia cho họ, nhưng nghĩ cho cùng miệng ăn núi lở, chẳng bõ bèn gì, tôi lại nhắm mắt làm ngơ.”

Khu vực hợp tác xã thủ công và hộ làm ăn cá thể, rất tiếc, các văn liệu chính thống đều không có các chỉ báo thống kê, nhưng thiết nghĩ, mô hình hợp tác xã thủ công cũng na ná như mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Vì vậy, ta có thể tham khảo các chỉ báo thống kê ở nông thôn.

Thu nhập bình quân đầu người ở các hộ xã viên hợp tác xã nông nghiệp có sự bất bình thường về cơ cấu. Trong tổng thu nhập của họ thì khoản thu nhập trong hợp tác xã nhỏ hơn thu nhập ngoài hợp tác xã, trong khi 95% ruộng đất và toàn bộ công cụ sản xuất (trâu, bò, cày, bừa…) đều nhập vào tập thể. Phần 5% ruộng đất chia về các hộ chỉ nhằm tạo thêm thu nhập phụ, mà thường là những thửa ruộng đầu thừa đuôi thẹo. Cụ thể:

Năm 1961: Tổng thu nhập bình quân đầu người là 11,50 đồng/tháng, trong đó thu nhập trong hợp tác xã là 4,5 đồng, còn thu nhập ngoài hợp tác xã là 7,0 đồng.  *(Mời các bạn đọc phần ghi chú ở cuối bài để so sáng thu nhập thời 1957-1963 của dân Miền Nam và Nam Hàn)

Tương ứng các năm sau cũng như vậy. Năm 1963 là 12,56 đồng – 4,8 đồng – 7,76 đồng/tháng.

Nguyên nhân của sự bất hợp lý trên được ông Nguyễn Văn Cược, 72 tuổi, sống ở thôn Ðình Tổ, xã Ðình Tổ, huyện Thuận Thành – Bắc Ninh giải thích:

“Thôn Ðình Tổ nằm dọc bờ đê sông Ðuống. Dân số vào năm Tân Sửu (1961) khoảng 2.500 suất đinh. Thôn tôi có 456 mẫu ruộng canh tác, sức kéo có 200 con trâu, bò, thuộc loại giàu của huyện. Năm 1959 lập quy mô hợp tác xã cấp xóm nên có 4 hợp tác xã (xóm Sông, xóm Nghè, xóm Ðình, xóm Chùa). Năm 1960 lập hợp tác xã cấp thôn, sáp nhập 4 hợp tác xã cấp xóm. Cuối năm 1961 lập hợp tác xã cấp cao quy mô toàn xã thì thôn tôi chỉ có 2 đội sản xuất (1 đội xóm Nghè và 1 đội gồm 3 xóm còn lại). Thực tế cho thấy hợp tác xã cấp xóm (1959) là đủ tầm quản lý của ban chủ nhiệm. Lên đến cấp thôn, nhất là cấp xã thì bộ máy quản lý cứ phình to ra, năng suất và sản lượng teo dần. Bản tính nông dân là tư hữu và vụ lợi từ cái rất nhỏ nên thu nhập ở ruộng 5% lại cao hơn ở hợp tác xã (95% ruộng!) là điều dễ hiểu, không hiểu sao các vị lãnh đạo không sớm nhận ra điều tất yếu này. Mặt khác thôn tôi có 456 mẫu thì 280 mẫu đất bãi trồng mía và đay. Các ông cán bộ thu mua lợi dụng chính sách ’thắt lưng buộc bụng’, đặt giá mua thấp như đi ăn cướp về cho nhà máy, hỏi làm sao người nông dân chịu làm việc cho hợp tác xã.” (Nông dân miền Nam hiện nay cũng đang bị tụi cán bộ thu mua làm đúng chính sách này để mua lúa.  Được lệnh cấp trên, cứ đầu mùa gặt là cán bộ thu mua lúa gạo đi một vòng tung tin giá  lúa thu mua đợt trước vẫn còn trong kho rất nhiều, chưa xuất khẩu bán được, rồi chúng hạ giá lúa, nhưng không mua. 2-3 tuần sau, chúng quay trở lại, mua một ít, và giả vờ như không mặn mà chuyện mua lúa. Người nông dân càng lo hơn vì họ cần phải bán lúa gấp để trả tiền phân bón, tiền dầu mà họ đang mắc nợ các chủ tiệm bán phân, bán dầu, và phải trả tiền lời cao cho các món nợ mua chịu, lấy hàng trước, trả tiền sau. Sau khi kèn cựa thêm 1,2 tuần nữa, cuối cùng, người nông dân đành bán lúa theo giá của tụi thương lái ép giá đưa ra. Bởi vậy, giá gạo trong  10 năm qua chỉ di chuyển trong vòng 200 đô/ 1 tấn – 450 đô/ 1 tấn trong khi các món hàng nhu yếu khác đã tăng gấp 10 lần. Các cán bộ cao cấp thì rất đểu cán, chúng nói: làm lúa lời lắm, lời tới 30% bởi vậy, mức xuất khẩu gạo của VN tăng hàng năm. Bằng chứng là Gạo xuất khẩu năm sau tăng hơn năm trước. Trong những năm qua, mức lúa gạo xuất khẩu tăng từ 2 triệu đến 7 triệu tấn mỗi năm kể từ 2000 (?). Thực tế  là vì nông dân làm lúa có lời rất ít, có năm chỉ bán giá huề vốn. Không làm thì đói, nên họ cố tăng vụ, làm 2-3 vụ mỗi năm, mới tạm sống. Nếu làm ruộng có lới tại sao con cái của họ phải bỏ ruộng vườn lên các thành phố lớn để làm công nhân? Lên thành phố làm công nhân cho các hãng xưởng cũng sẽ không thoát tay của đảng và nhà nước.  Nơi đây, đảng và nhà nước cấu kết với tư bản ngoại quốc, ép giá lương công nhân xuống thấp dưới 100 đô mỗi tháng. Công nhân nào sống không nổi và kêu gọi đình công tăng lương sẽ có công đoàn (là các cán bộ cộng sản trá hình nằm tại mỗi hãng xưởng) phát hiện, báo cho chú đuổi việc hoặc báo cho công an bắt. Luật sư Lê thị Công Nhân (mãn hạn tù), Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (nguồn)…đã và đang ở tù vì họ đã nhận ra sự ăn chia của nhà nước và các chủ hãng xương ở VN; họ đã nhìn thấy rõ mối liên hệ giữa mức lương thấp của công nhân là do sự cấu kết giữa công đoàn, nhà nước, và chủ hảng nước ngoài.  TH) 

Tình hình diễn ra ở các hợp tác xã thủ công nghiệp ngoài đô thị cũng giống như những gì ông Cược đã nói. Ta hãy nghe trả lời phỏng vấn của một vài nhân chứng.

Ông NTL sinh năm 1942, cựu chiến binh thành cổ Quảng Trị, hiện sống ở phường Cống Vị, quận Ba Ðình Hà Nội, có cha là ông NTH, chủ nhiệm hợp tác xã mây tre 1960-1970:

“Hợp tác xã của cha tôi thuộc loại lớn, có khoảng 300 lao động, chuyên sản xuất mành tre mỹ nghệ và bàn ghế bằng mây. Trước năm 1960 nó gồm nhiều tổ sản xuất thủ công độc lập nên quản lý tốt, nguyên liệu sẵn, thu nhập khá. Từ khi lên hợp tác xã cấp cao quản lý cồng kềnh, đặc biệt là khâu thu mua nguyên liệu thất thoát nhiều, đẩy giá đầu vào lên cao. Trong khi đó, đầu ra thời tổ hợp tác rất phong phú thì nay chỉ có một đầu ra độc quyền là Tổng Công ty Tocotap của Nhà nước trên đường Bà Triệu thu mua để đổi hàng cho Liên Xô nên họ định giá mua thấp, nhất là khi nào không ký được hợp đồng xuất khẩu thì họ bỏ mặc cho hợp tác xã tồn kho hàng đống để rồi bị mối mọt xông hoặc bị mốc. Lương của xã viên hồi ấy rất thấp, chỉ khoảng 40-50 đồng/người-tháng. Cha tôi và ban chủ nhiệm khá hơn cũng chỉ 60-65 đồng/tháng.

Tổng thu nhập của gia đình tôi, gồm 3 lao động xã viên (cha, mẹ và chị gái) đạt khoảng 150 đồng/tháng, chia cho 11 miệng ăn là rất thấp. Các gia đình xã viên còn thấp hơn nữa. Ðó là chưa kể có những đợt 3-4 tháng liền không có lương. Ðói thì đầu gối phải bò, xã viên tìm thu nhập thêm; nhà nào có đất rộng thì nuôi gà, lợn; nhà chật thì chạy chợ, thực chất là đi buôn bán tem phiếu hoặc các đồ nhu yếu phẩm do mậu dịch viên tuồn hàng ra ngoài. Thu nhập thêm thường gấp đôi, có khi gấp ba lương hợp tác xã.”

Cụ THB, sinh năm 1917, ở phố Lò Rèn – Hà Nội, xã viên hợp tác xã cơ khí, có trụ sở ở phố Mã Mây:

“Năm 1961, theo chủ trương của Ðảng và Chính phủ, tôi vào hợp tác xã cơ khí, đóng góp hết công cụ sản xuất và nguyên liệu cho tập thể. Hai vợ chồng lao động cật lực, nhưng bộ máy quản lý thì cồng kềnh, nhiêu khê nên năng suất kém lắm. Tổng thu nhập của 2 vợ chồng chỉ cỡ trên dưới 100 đồng/tháng, trong khi lãnh đạo thì suốt ngày tiệc tùng mà lương lại cao hơn người lao động nên chẳng ai muốn làm, bây giờ ta gọi là lãn công. Gia đình tôi có 9 miệng ăn, nghề cơ khí vất vả mà gạo bông của Nhà nước bán cho chỉ đủ ăn khoảng 10-12 ngày. Bí quá, tôi đành mua sắm công cụ để làm thêm ở nhà. Mặt hàng chủ yếu là đinh các loại làm từ dây thép gai cũ của quân đội Pháp còn sót lại, do các bà đồng nát thu gom về, bán lại cho tôi và nhiều hộ xã viên khác. Mặt hàng thứ 2 là các loại thép lá tiết kiệm từ các “đề-xê” do nhà máy thải ra, dùng để gia công thành bản lề cửa các loại. Nơi tiêu thụ là phố Thuốc Bắc chuyên bán đồ kim khí và các sạp hàng ở chợ quanh Hà Nội. Tính ra mỗi ngày vợ chồng con cái làm thêm cũng kiếm được 12-15 đồng. Trung bình mỗi tháng thu nhập ngoài hợp tác xã được 340 đồng, gấp hơn 3 lần lương của 2 vợ chồng. Nhờ khoản thu nhập thêm này, cả nhà ăn đủ no, thỉnh thoảng có thịt làm nem hay bún chả để cải thiện, có tháng tích lũy đuợc 5-10 đồng.”

Ông VTÐ, kỹ sư cơ khí chế tạo máy, sĩ quan thuộc Tổng cục chính trị quân đội, hiện sống ở Tây Hồ – Hà Nội:

“Gia đình tôi năm 1961 có 8 anh em, hơn kém nhau 1 hoặc 2 tuổi, tôi là con cả 17 tuổi, cô em gái út 8 tuổi. Cha tôi làm thợ nhuộm ở hợp tác xã nhuộm tận đường Trần Nhật Duật, cách nhà gần chục cây số. Mẹ tôi làm nhân viên thu mua giấy phế liệu cho Liên hiệp thủ công ngành giấy, thường là vỏ bao xi măng ở các công trường hay giấy vụn ở các cơ sở xén kẻ giấy làm vở học trò. Mẹ tôi thường vắng nhà, còn cha tôi vốn dòng dõi thế gia, phải đi làm thợ nhuộm đã là nỗi khổ tâm lắm rồi, đâu có nghĩ đến việc làm thêm. Thu nhập của 2 cụ mỗi tháng khoảng 100-120 đồng, mỗi tháng chỉ dám bán đi 1 chỉ vàng cỡ khoảng 50-55 đồng để phụ thêm vào bữa ăn cho cả nhà. Bữa cơm nào anh em tôi cũng cạo cháy cành cạch, vét đến hạt cơm cuối cùng. Thức ăn mùa hè là rau muống luộc, đựng đầy 4 đĩa tây (đường kính 20 cm), mùa đông là một nồi cải bắp ninh nhừ với loại khoai tây chạy nước, bé bằng hòn bi ve, không thể gọt vỏ mà chỉ rửa qua cho sạch đất. Thức ăn kiểu ấy thực chất là ăn độn với cơm cho đầy bụng. Họa hoằn lắm, mẹ tôi cho anh em cải thiện bữa bún chả thì cả nhà chỉ có 8 lạng thịt, nhưng đem gạo đổi lấy 10 kg bún (1 kg gạo đổi 2,5 kg bún), giờ nghĩ lại thì bữa cải thiện ấy cũng chỉ là bún chan nước mắm là chính. Nhà đông con, lại đang tuổi ăn tuổi ngủ nên bữa nào tráng trứng thì chỉ có 3 quả, trộn ít bột mì rồi đánh đều lên, láng qua chảo gang cho to và mỏng như chiếc bánh đa, để cắt làm 8 phần đều nhau. Tôi và thằng em thứ 2 lúc đó 15 tuổi, đã biết nghĩ, thường giấu phần của mình dưới đáy bát, rồi lén gắp cho 2 đứa bé nhất vào cuối bữa.”

Mức sống cư dân đô thị chỉ có 80% là được cào bằng như nhau, qua các nhân chứng được phỏng vấn. Thật ra sự phân tầng, phân cực giàu nghèo ở khu vực đô thị vẫn diễn ra âm thầm, đa dạng và rõ nét ngay trong chế độ tem phiếu. Nhìn vào thang lương người gác cổng ở Bộ Công nghiệp so với ông Bộ trưởng, người ta có cảm giác sự đãi ngộ là không có chênh lệch bao nhiêu. Nhưng ngoài chế độ về nhà ở, xe ô tô, phương tiện sinh hoạt và làm việc ra, thì ngay trong miếng ăn thường nhật cũng có sự phân cấp công khai, trên phạm vi toàn xã hội:

Bìa A cho cấp Bộ trưởng trở lên;

Bìa B cho cấp Thứ trưởng và chánh phó chủ tịch tỉnh;

Bìa C cho cấp vụ – viện, chuyên viên cao cấp, kỹ sư bậc 3/7 trở lên;

Bìa D cho cấp cán bộ trung, sơ cấp; Bìa E cho công nhân, viên chức hành chính, sinh viên…

Người ngoài biên chế nhà nước (xã viên hợp tác xã, hộ làm ăn cá thể ở thành thị) chỉ được cấp một số mặt hàng trong bìa mua hàng nhân dân. Ngay trong đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức, một số mặt hàng phân phối ngoài định lượng (tem phiếu), dưới hình thức “căng tin” cũng được phân ra các chế độ ưu tiên khác nhau. Dân gian thời đó có bài vè truyền khẩu về sự phân chia đẳng cấp này: “Hai trăm ngồi phán – Trăm tám ngồi nghe – Tranh nhà, tranh xe là anh trăm rưởi – Tất ta tất tưởi là chị chín mươi – Dở khóc dở cười là anh sáu chục – Tối ngày lục đục là chị bốn lăm – Khóc đứng khóc nằm là anh ba sáu”. (Hai trăm đồng là lương Bộ trưởng, ba sáu đồng là lương tổi thiểu năm 1964). Tréo ngoe còn ở chỗ, chính chế độ tem phiếu đã tạo thành trong xã hội một nhóm người giàu không phải do cấp bậc, học vấn, tay nghề. Họ khá đông đảo, hiện diện ở khắp nơi, làm việc ở những chỗ nắm hàng nhu yếu phẩm và phương tiện vận chuyển hàng hóa. Lớp người này có thể điều khiển cả cán bộ trung cao cấp thông qua vợ con họ. Lớp người này cũng là đầu mối cung cấp cho một thứ thị trường ngầm tự do, còn gọi là “chợ đen”. Quá trình hình thành, vận động và phát triển các chợ đen đã tạo nên một nhóm cư dân đô thị (10-15%) sống no nhàn, thừa tiền nhiều của gồm: nhân viên các cửa hàng bách hóa, lương thực, thực phẩm, chất đốt; cán bộ cấp tem phiếu, phụ trách “căng tin” cơ quan; các lái xe và các thương nhân hoạt động trong chợ đen mà hồi ấy gọi là “con phe”. Bề ngoài các “con phe” bị dư luận xã hội khinh rẻ, lên án, nhưng chính họ lại là tác nhân điều hòa nhu yếu phẩm từ người thừa sang người thiếu, thậm chí từ địa phương này sang địa phương khác. Ðội ngũ “con phe” đã làm hư hỏng một số lớn nhân viên ngành thương nghiệp vốn được khoác cho mỹ từ “người nội trợ của xã hội”. Ðôi khi các “con phe” còn móc ngoặc với vợ con các cán bộ cao cấp để tuồn nhu yếu phẩm từ các cửa hàng đặc biệt (Tôn Ðản, Nhà Thờ, Quốc Tế ở Hà Nội) ra chợ đen.

Trong quá trình điều tra, tiếp xúc với nhiều loại “con phe” thời đó, tôi đã có nhiều tư liệu và đã viết thành truyện vừa Mỹ Linh của tôi. Ðó là nguyên mẫu cuộc đời của nữ tướng cướp Thu trọc hay Thu bít ở ngõ Mai Hương, phố Bạch Mai, Hà Nội.

Ðoạn trích dưới đây là 100% lời kể của Thu trọc dưới cái tên Mỹ Linh về tuổi thơ của chị ta:

“Thấm thoát đã 10 năm trôi đi. Bố mẹ tôi đã quen dần với cảnh sống đạm bạc. Bố tôi xin dịch tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp cho một cơ quan nghiên cứu, lấy tiền uống cà phê và hút thuốc Bông Lúa hạng bét. Mẹ tôi muốn có tiền nuôi tôi ăn học phải ra chợ Bắc Qua, Ðồng Xuân buôn bán trao tay các loại tem phiếu và nhu yếu phẩm. Hồi đó mẹ tôi bị liệt vào hạng “con phe”, tức thành phần bất hảo. Nghề này khá phức tạp, vốn dĩ hiền lành nên mẹ tôi hay bị chèn ép. Tôi thỉnh thoảng phải ra chợ giúp mẹ nên sớm thành con bé đanh đá, chua ngoa, nhất là lúc tôi bênh vực mẹ, chửi nhau với người khác. Ðiều này bố tôi cấm kỵ, nhưng thương mẹ, tôi vẫn lén lút làm. Vì học ca chiều, sáng tôi dậy từ 3-4 giờ, cắp rổ ra chợ. Quầy thịt, cá, đậu phụ, nước mắm nào cũng có vài hòn gạch của tôi dấm chỗ. Tôi len lỏi giữa đám người hôi hám xếp hàng rồng rắn, chen lấn, chửi bới nhau để mua được thực phẩm. Tính ra mỗi sáng, lúc chợ Ðồng Xuân, khi chợ Hàng Bè, con bé 10 tuổi cũng kiểm được 1 đồng rưỡi đến 2 đồng, hơn cả tiền dịch sách của bố một đêm. Ðó là chưa kể có người không dùng đến phiếu đậu phụ, cá biển hay nước mắm thối, tôi có thể mua hoặc xin lại để mua hàng giá cung cấp, bán giá cao ăn chênh lệch. Thiếu gì những “mẹ mướp” đi chợ mà cá biển đồng tiền tanh lòm hay nước mắm thối vẫn là của quý với họ. Nếu gặp mấy ông bà thợ móc cống có phiếu thịt loại nghề độc hại, mua được cân rưỡi một tháng, đem bán để mua quần áo, sách vở cho con, thậm chí để đánh bạc là tôi hôm ấy trúng to…”.

Trong cuộc điều tra, tôi còn gặp một loại người buôn bán trên lưng các “con phe”, sạch sẽ, nhẹ nhàng, không mất một xu thuế, giàu nhanh đến chóng mặt. [Họ cho tôi tư liệu viết tác phẩm ký “Câu lạc bộ các tỷ phú”, dự cuộc thi do báo Văn nghệ và Hội Nhà văn tổ chức (1996-1997), nhận được giải thưởng.] Loại người này, vào đầu những năm 90, họ sẵn có vốn tích lũy và mánh lới làm ăn nên đều phất lên thành tỷ phú.

Dưới đây trích đoạn sử dụng 100% lời kể của nhân chứng:

“Ở cửa chợ Ðồng Xuân có một chị bán bánh giò, bánh dày, chả quế. Hành trang chỉ có một chiếc thúng đại và dăm cái ghế thấp như ngồi bệt. Ai cũng gọi chị là Vân Tây Thi vì chị đẹp, có duyên, nói lời ngọt như mía lùi. 6 giờ sáng, Vân chỉ cần ngồi vỉa hè cửa chợ, đợi chừng 15 phút sẽ có người chở hàng từ Tôn Ðản đến giao theo lời dặn trước và chiều tối anh ta lại đến chở hàng còn thừa ế về nơi nó xuất phát, để sớm hôm sau lại giao hàng mới, nóng hổi. Chỉ có Vân Tây Thi mới biết rõ các ông lớn bìa A, bìa B có thể sẽ ăn hàng thừa ế của mình. Thời ấy, ai cắn giò chả ngập răng đều là dân phe có máu mặt ngoài chợ. Giò chả ăn vào thì lời ra. Họ tâm sự với Vân độ này hàng gì lên, hàng gì xuống hay bán chậm. Ai hôm đó “trúng quả đậm” muốn mua vài chỉ vàng cất giấu, ai gặp xui xẻo cần bán đều qua tay Vân vì thời đó mua bán vàng là việc quốc cấm. Mỗi ngày Vân kiếm hơn trăm đồng nhẹ như phẩy tay, bằng cả tháng lương ông Vụ trưởng.”

Một khi sự phân hóa giàu-nghèo, sang-hèn nảy sinh từ chế độ tem phiếu, chợ đen thì xã hội cũng có một thứ chuẩn giá trị mới, rất dị mọ. Một cô bán hàng ở cửa hàng thịt có thể dễ lấy đuợc chồng có học vị tiến sĩ hơn cô sinh viên y khoa hay sư phạm. Một anh lái xe chinh phục người đẹp qua bà mẹ thực dụng lại dễ hơn anh giảng viên một trường đại học. Ðó là sự thật hiển nhiên, đã được cô đúc trong bộ phim hài Kén rể do Xưởng phim Hà Nội sản xuất năm 1964. Dẫu sao chế độ tem phiếu vẫn có những mặt ưu việt nhất định, rõ nhất là sự bình ổn giá cả sinh hoạt.
Biểu đồ biến động giá cả sinh hoạt 1961-1965 cho thấy rõ điều này:

Giá sinh hoạt của năm 1961, 1963, 1965 so với năm 1957 là 119,2% – 131,5% và 133,0%; so với năm 1960 là 111,9% – 123,5% và 125,2% . Nó đảm bảo cho những gia đình công nhân viên chức bậc lương thấp nhất có thể tồn tại bằng gạo và nhu yếu phẩm tối thiểu. Nó giúp cho dân cư đô thị ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Ðịnh dù ở khu vực kinh tế tập thể hay lao động tự do, nhưng có hộ khẩu thường trú sẽ có gạo ăn và cái mặc ở mức cầm chừng.

Ðiều không thể phủ nhận, cuốn sổ gạo của mỗi gia đình ở đô thị là cái bảo bối cho nhà hành pháp giữ gìn an ninh, trật tự và hạn chế gia tăng dân số cơ học (vì vậy hồi đó trong dân gian có câu ví von “trông như mất sổ gạo” chỉ người có bộ mặt đau khổ, thiểu não). Các mô hình kinh tế khác khó có thể làm việc này tốt hơn chế độ tem phiếu!…

Giai đoạn 1961-1965 có lẽ là thời kỳ thành công ngoạn mục nhất của miền Bắc về y tế, giáo dục và phúc lợi công cộng. Ðành rằng chính sách “thắt lưng buộc bụng” xây dựng chủ nghĩa xã hội có sự chia đều mức sống nghèo khó trong đại bộ phận dân cư, nhưng nó cũng giúp cho nguồn thu ngân sách tăng nhanh,nhờ đó, chính phủ có điều kiện đầu tư vào giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội nhiều hơn so với giai đoạn 1954-1960.

Trong lĩnh vực y tế, các số liệu thống kê cho thấy rõ sự tăng trưởng mạnh mẽ. Năm 1960 chỉ có 65 bệnh viện và 180 bệnh xá, đến năm 1965 có 252 bệnh viện và 350 bệnh xá. Chất lượng phục vụ, độ chuẩn xác của các phác đồ điều trị là rất cao, thuốc men khá đầy đủ. Năm 1960 toàn miền Bắc có 600 bác sĩ, 2.446 y sĩ, 231 dược sĩ cao cấp, 293 dược sĩ trung cấp. Năm 1961 những con số tương ứng là 1.525 – 8.043 – 428 và 703. Nhà nước thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho cán bộ, công nhân, viên chức.

Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dưới sự chỉ đạo của 2 vị Bộ trưởng cũng là hai trí thức tài năng và tâm huyết (ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và ông Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Ðại học và Trung học chuyên nghiệp), từng bước đi của ngành đều đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, bám sát nhu cầu và hiện trạng của nền kinh tế đất nước. Lấy số liệu thống kê niên học 1955-1956 làm điểm xuất phát để so sánh, ta sẽ thấy rõ sự tăng trưởng có tính đột biến cả về lượng và chất.

Niên học 1955-1956: 716.100 học sinh phổ thông, 2.800 học sinh trung học chuyên nghiệp, 1.200 sinh viên đại học. Số liệu tương ứng của các niên học sau là 1960-1961: 1.794.700 – 30.700 và 16.700; 1964-1965: 2.673.900 – 42.600 và 29.300.

Ðứng ở thời điểm lịch sử 1961-1965 mà xét, thành công trong lĩnh vực y tế – giáo dục đã đưa miền Bắc xếp vào hàng các quốc gia tiên tiến ở khu vực châu Á và ASEAN về lĩnh vực này.

Ðời sống văn hóa nghệ thuật của cư dân đô thị những năm 1961-1965 có bước cải thiện khá rõ rệt. Sách ngoại văn năm 1957 chỉ có 15 cuốn với 39.000 bản, tăng lên 39 cuốn và 210.000 bản (1960); 74 cuốn và 494.000 bản (1965). Ðặc biệt số lượng tác phẩm văn học nghệ thuật trong 2 năm 1960-1961 đạt con số kỷ lục: 736 đầu sách với hơn 8 triệu bản in. Rất nhiều tác phẩm ưu tú của văn học thế giới đã được dịch ra tiếng Việt, in với số lượng lớn và về mặt dịch thuật đã đạt tới trình độ cao nhất so với bất cứ giai đoạn nào suốt 50 năm qua (1945-1995). Nếu so với sách dịch ở miền Nam, có thể nó không phong phú, đa dạng về các trường phái nghệ thuật, khuynh hướng sáng tác của văn học thế giới cận – hiện đại, nhưng với 1 tác phẩm cổ điển cụ thể thì sách dịch của miền Bắc đạt trình độ cao hơn. Nhiều cuốn sách dịch đáng làm mẫu mực cho các thế hệ dịch giả sau này. Có thể nêu một số dịch giả nổi tiếng: Phan Ðăng Tài, Ðào Anh Kha, Ðoàn Phú Tứ (tiếng Anh, tiếng Pháp); Ðặng Thai Mai, Trương Chính (tiếng Trung); Vũ Thư Hiên, Cao Xuân Hạo (tiếng Nga). Về thư viện, năm 1957 có 33 thư viện, 208.300 lượt người đọc; năm 1965 có 105 thư viện, 410.800 lượt người đọc. Nghệ thuật điện ảnh khá phát triển, do các nghệ sĩ quay phim, đạo diễn, diễn viên được đào tạo ở nước ngoài về khá đông. Từ năm 1961-1965 đã sản xuất được 13 bộ phim truyện nhựa (đen trắng) và hàng trăm bộ phim tài liệu có giá trị nghệ thuật khá cao. Ở lĩnh vực nghệ thuật sân khấu, trình độ thẩm mỹ của công chúng đô thị đã phát triển ở mức khá cao, đa dạng. Số lượng khán giả xem kịch nói, ca nhạc tạp kỹ, opera, ba lê và nhạc giao hưởng ngày một đông lên. Hai năm 1961-1962 có lẽ là thời hoàng kim của nghệ thuật opera với các nghệ sĩ nổi tiếng Quý Dương, Trần Hiếu, Quang Hưng, Mỹ Bình, Bích Liên, Bích Thủy… Các bản giao hưởng 4 chương của các nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, Hoàng Việt, Ðỗ Nhuận… đã đánh dấu mốc phát triển huy hoàng của âm nhạc hàn lâm Việt Nam.

Nói đến đời sống văn hóa của cư dân đô thị, có lẽ nên điểm qua “mốt thời trang” của giai đoạn này, vì nó không phản ánh trình độ hay cá tính thẩm mỹ của người dân, mà bị chi phối bởi các yếu tố ngoài văn hóa. Hà Nội, Hải Phòng mất hẳn những tà áo dài của thiếu nữ và các bà nội trợ trên đường phố vào những ngày thường. Áo dài chỉ thấy trong các ngày lễ tết, nhưng cũng ít dần. Trang phục mùa hè ra đường của các bà nội trợ là quần lụa đen, áo cánh trắng khuy bấm, còn của các cô gái là quần lụa đen, áo sơ mi trắng cổ bẻ hoặc áo vải phin hoa cổ lá sen tròn. Mùa đông họ mặc áo bông màu tối, một số mặc áo vét kiểu “cán bộ”, bên trong là áo len màu tím than hoặc màu đỏ. Nam giới đơn giản hơn, mùa hè quần kaki, áo sơ mi trắng, còn mùa đông họ mặc áo bông kiểu Trung Quốc, một số mặc áo đại cán kiểu Tôn Trung Sơn. Nhưng đó là những mốt lịch sự, còn đa số dân, nhất là người trong biên chế nhà nước thường có cách ăn mặc cố ý tuyềnh toàng, vì như vậy mới đúng là “thắt lưng buộc bụng” xây dựng chủ nghĩa xã hội: ra đường thường mặc quần áo cũ hoặc cọc cạch quần mới áo cũ và ngược lại. Cán bộ lãnh đạo trong cơ quan thường nhìn cách ăn mặc của nhân viên để đánh giá lập trường chính trị!

Ông MTT là GS.TSKH, dạy ở một trường đại học ở Hà Nội, sinh năm 1944, quê Hà Tĩnh, theo cha mẹ ra Hà Nội từ nhỏ, kể lại:

“Năm 1962, tôi tốt nghiệp cấp 3 ở Hà Nội, đang chờ giấy gọi vào đại học. Nhóm bạn chúng tôi thảy đều rất mơ mộng, thích phiêu lưu mạo hiểm. Bọn tôi đọc các tiểu thuyết trong bộ Tấn trò đời của Balzac, bàn nhau tìm cách thâm nhập vào tận “hậu cung” các nhà danh giá, nghĩa là cái bếp, để xem họ sống ra sao. Cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra một phương án tối ưu. Học sinh đi lao động hè để tu dưỡng lập trường cách mạng thì ai nỡ từ chối. Thế là chúng tôi, mấy đứa rủ nhau đi kéo xe bò than quả bàng. Thời ấy, dân Hà Nội chưa có tập quán đun nấu bằng bếp dầu hay bếp điện, mỗi nhà đều dùng lò đun bằng than quả bàng. Ðó là loại than cám 6 ở Quảng Ninh trộn với bùn, rồi đem vào bàn ép có khuôn lỗ hình quả bàng. Nhóm bạn của tôi đã thuyết phục được bác Ðính là tổ trưởng, phụ trách hơn chục chiếc xe kéo chở than quả bàng đựng vào mỗi thùng gỗ thông chừng 20 kg than, để bác cho vào làm. Nơi giao than, chúng tôi chọn các phố Quán Thánh, Phan Ðình Phùng, Bà Triệu… là những phố có nhiều gia đình danh giá ở. Nhóm tôi gồm 3 đứa con trai, một người kéo, 2 người đẩy và một đứa bạn gái chạy lên trước quan sát, hễ thấy bố mẹ hoặc người quen đi ngược chiều thì báo động cho lũ con trai đi trốn. Cứ thế, trong 2 tuần kéo xe và đội than vào tận bếp các nhà danh giá, bọn trẻ chúng tôi phát hiện ra một sự thật: Nhà công chức lưu dung, học giả hay kỹ sư thời Pháp, tuy sống ở những ngôi nhà đẹp, ra đường ăn mặc lịch sự, nhưng về nhà họ mặc áo vá chằng vá đụp, bếp ăn toàn thấy rau với muối, chai nước mắm chẳng nhà nào đầy. Họ cư xử với chúng tôi rất nhã nhặn, chân tình chứ không cau có, chỏng lỏn. Vào đến các nhà cán bộ cỡ kha khá, bọn tôi lại thấy khi ra đường họ ăn mặc lôi thôi, nhếch nhác nhưng về nhà đóng bộ pijama bằng lụa màu mỡ gà, mâm cơm khá thịnh soạn, thỉnh thoảng còn ăn cơm Tây đổi bữa. Chỉ có điều cách bài trí trong nhà luộm thuộm, kém văn hóa. Thường thì một biệt thự có hai hoặc ba hộ cán bộ nên khu vực sân và công trình phụ rất bẩn, khác với nhà ở của công chức lưu dung, chỗ nào cũng thơm tho, gọn mắt. Sau này, người bạn gái trong nhóm chúng tôi thành nhà thơ khá nổi tiếng, luôn bị ám ảnh bởi câu chuyện kéo xe than thời xa xưa ấy.”

3. Các sự kiện chính trị ảnh hưởng đến đời sống đô thị

Cuối năm 1960 đầu 1961, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phát động chiến tranh du kích. Ở ngoài Bắc, Nhà nước có chủ trương đưa khoảng 6.000 người đã đi lính cho Pháp (ngụy quân) hay làm ở các cấp chính quyền (ngụy quyền) đang sống ở thành thị đi tập trung lao động cải tạo. Họ đi không có thời hạn và gia đình cũng không được biết địa điểm tập trung cải tạo. Chính sách đặt ra là chỉ tập trung những người có nợ máu với cách mạng, nhưng các cấp chính quyền ở cơ sở lại lợi dụng để đe dọa, chèn ép những người có nhà cửa rộng hoặc có tiền, vàng cất giấu được. Tình hình trở nên căng thẳng ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh, không kém gì ở nông thôn thời cải cách ruộng đất.

Cụ VDH, sinh năm 1921, ở phố Hàng Buồm, Hà Nội, là xã viên hợp tác xã nhuộm Hợp Tiến trên đường Trần Nhật Duật:

“Năm 1950, tôi bị bắt lính, nhưng mẹ và vợ tôi chạy tiền lo lót nhiều nên tôi chỉ mất 3 tháng thổi kèn Tây ở vườn hoa Canh Nông cho lính lê dương. Ngôi nhà 2 tầng ở Hàng Buồm là do mẹ tôi mua của người Tàu, rất rộng, cỡ 200 m2, nhưng tầng 1 cấu trúc theo kiểu nhà kho, thông thống từ ngoài vào trong, tầng 2 mới là chỗ ở và nơi thờ tự. Sau ngày giải phóng thủ đô (10/10/1954), tôi cho một người em họ xa từ chiến khu về, làm phóng viên báo Thời Mới (nay là Hà Nội mới) ở nhờ một nửa tầng 1, phía ngoài. Người ta chuyển chú ấy đi nơi khác, không hỏi ý kiến tôi, giành diện tích 100 m2 này cho hợp tác xã đóng giày sử dụng. Cuối năm 1960, Nhà nước có chính sách cải tạo ngụy quân, ngụy quyền, tôi không thuộc diện đó, nhưng mấy ông cán bộ tiểu khu Hàng Buồm – Mã Mây vẫn đến đe dọa tôi, sau đó buộc tôi giao nốt nửa tầng 1 phía trong, chia cho 5 hộ là bà con của họ dưới quê lên ở. Vì là cấu trúc nhà kho, nên năm hộ này chỉ ngăn vách bằng gỗ hoặc cót, chừa lại một lối đi lên cầu thang cho gia đình tôi và một lối đi ra khu nhà xí. Thật lòng tôi ái ngại thay cho họ vì nơi họ ở tối như hũ nút, ẩm thấp, hôi hám lắm! Nhưng quỹ nhà ở Hà Nội rất hiếm hoi, người bà con cán bộ ở quê, nhất là vùng Thanh-Nghệ ra rất đông, họ phải chịu thôi. Ðến năm 1962, có đợt tập trung cải tạo thứ 2, chính quyền lại đến đe dọa tôi một lần nữa. Sau đó họ chiếm luôn nửa tầng 2, có giếng trời đẹp nhất để phân cho ông bí thư Ðảng ủy bệnh viện Bạch Mai, là cán bộ miền Nam tập kết đến ở. Cả nhà tôi gần hai chục người, gồm 5 thế hệ phải chui rúc trong không gian chật hẹp còn lại vẫn đành ngậm bồ hòn làm ngọt, chứ biết kêu ai!”

Cuộc vận động đi khai hoang lập nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới ở miền núi thuộc Tây Bắc, Việt Bắc, Quảng Ninh diễn ra rầm rộ tại các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh những năm 1962-1964. Ðối tượng thứ nhất được vận động đi khai hoang là các gia đình có thành phần “bất hảo” về lý lịch. Loại này đi cả gia đình để Nhà nước giãn dân đô thị, thay vào đó là các gia đình họ mạc của cán bộ cách mạng từ các miền quê về, đông nhất là vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh. Người Hà Nội gốc thời đó bảo nhau rằng, Nhà nước tìm cách nhuộm đỏ các cụm dân cư đất Thăng Long ngàn năm văn hiến. (Sau này, vào thập kỷ 80-90, các nhà Hà Nội học đặt ra tiêu chuẩn người Hà Nội gốc phải có 3 đời sinh sống ở Thủ đô trước năm 1954 thì khi thống kê chỉ còn 17-21% dân số, còn người Thanh–Nghệ-Tĩnh đến sau 1954 chiếm 40%.) Ðối tượng thứ hai là các thanh niên học sinh được học tập chính trị, khuyến khích viết đơn tình nguyện đi khai hoang ở các nông – lâm trường. Số này có khoảng 1 vạn người, trong đó có 2/3 là những con em gia đình trí thức cũ, bị ám ảnh bởi lý lịch dòng dõi quan lại, địa chủ phong kiến, không có khả năng thi đỗ vào đại học. Họ tình nguyện tham gia phong trào “Thanh niên tháng Tám” đi khai hoang lập nghiệp ở quê hương mới, hy vọng sau vài năm sẽ được tiếp tục theo học lên đại học. Họ ra đi trống dong cờ mở, tiễn đưa náo nức, nhưng khi đến nơi ở mới liền bị phân tán ra các đội sản xuất và bị đối xử như kẻ đi lao động cải tạo. Ai muốn trốn về cũng không được nữa vì không còn tên trong sổ gạo của gia đình. Thân phận của gần 1 vạn con người này được lột tả khá chân thực trong tiểu thuyết Ngoại tình của Nguyễn Mạnh Tuấn (NXB Văn học, 1993).

Một sự kiện khác, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại năm 1963 cũng tác động mạnh đến đời sống tinh thần các tầng lớp cư dân đô thị. Lúc đầu, nó đơn thuần mang màu sắc chính trị, sau lan dần sang địa hạt kinh tế, văn hóa, nghệ thuật. Ở Viện Kinh tế, ông Bùi Công Trừng và một số người khác bị coi là phần tử xét lại. Giới văn nghệ sĩ có một số người bị dính đòn nặng như Hà Minh Tuân với tiểu thuyết Vào đời, nhạc sĩ Hoàng Vân với ca khúc “Tâm tình người thủy thủ”. Có lẽ căng thẳng nhất là giới nghiên cứu ở Viện Triết học và giới báo chí ở tòa soạn báo Quân đội nhân dân.

Ông Trần Thư, sinh năm 1923, hồi đó là thiếu tá, trưởng phòng biên tập báo Quân đội Nhân dân, hiện sống tại khu tập thể văn công Mai Dịch, Hà Nội:

“Lúc ấy, Hoàng Linh là tổng biên tập thay Văn Doãn. Anh gần như trở thành cái bóng thầm lặng. Một lần gặp anh ở hành lang tòa soạn, tôi giữ anh lại và nói với anh một vài suy nghĩ về tình hình. Anh lẳng lặng nghe, mỉm cười buồn rầu, rồi lảng đi không đáp một câu. …
Ít lâu sau, tôi nhận được tin sét đánh ngang tai: anh Hoàng Thế Dũng, phó tổng biên tập cũ của báo Quân Ðội Nhân Dân; anh Phạm Viết, phó tổng biên tập báo Thời Mới; anh Trần Châu biên tập viên báo Nhân Dân; anh Hoàng Minh Chính, Viện trưởng Viện Triết học đã bị bắt.”
(Nguồn: Trần Thư – Hồi ký- Chuyện một tên tù nội bộ)

Ông Trần Thư sau đó cũng bị bắt cùng đợt với nhà báo Kiên Giang và 15 người khác. Năm 1970 ông được tha về, nhưng vẫn bị quản thúc ở quê nhà Hưng Yên. Khi tôi gặp và phỏng vấn tại nhà riêng (7/1998), ông trao cuốn hồi ký dày 107 trang giấy đánh máy vi tính khổ A4 và nói: “Vụ việc của tôi với Kiên Giang và 15 anh em khác ngỡ không dính gì đến mô hình kinh tế mà hóa ra có đấy. Hãy thử hình dung, nếu không có chiến tranh, mô hình kinh tế Stalin sẽ rất nhanh bộc lộ các ung nhọt, sưng tấy lên như các năm 1978-1980 sau chiến tranh, thì không biết khủng hoảng kinh tế và mâu thuẫn nội bộ sẽ dẫn đất nước đi đến đâu!”.
Lời ông Trần Thư thay cho câu kết, khép lại một giai đoạn đời sống cư dân đô thị 1961-1965.

III. Giai đoạn 1966-1975: Chiến tranh và hai mặt của mô hình Stalin

1. Chiến tranh san lấp các hố bờ ngăn cách

Ngày 5/8/1954, khi chiếc tuần dương hạm Cơ Ðốc của Mỹ cố tình đụng độ với hải quân Bắc Việt Nam, gây ra “sự kiện vịnh Bắc Bộ” thì trên thực tế, các tầng lớp cư dân đã bắt đầu cuộc sống thời chiến. Tuy nhiên, ở góc nhìn lịch sử kinh tế, ta vẫn có thể xem giai đoạn này bắt đầu từ năm 1966, khi miền Bắc kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và cuộc chiến tranh đất đối không đã lan rộng khắp các tỉnh, thành phố. Lịch sử đã chứng minh người Mỹ đã sai lầm khi áp đặt tư duy của nền kinh tế mở và tiên tiến vào một nước có mô hình kinh tế đóng, lạc hậu, tự cung tự cấp. Vì vậy, mục tiêu của người Mỹ muốn dùng máy bay phá nát hệ thống giao thông, đánh sập các cơ sở kinh tế, quốc phòng của miền Bắc để ngăn chặn chi viện cho Việt cộng ở miền Nam và kích động dân chúng đô thị miền Bắc nổi loạn đã phá sản ngay từ đầu cuộc chiến. Từ góc độ kinh tế, ta có thể lý giải như sau:

Thứ nhất, miền Bắc bước vào cuộc chiến tranh vẫn là nước nông nghiệp (chiếm hơn 70% GDP), các cơ sở kinh tế về công nghiệp và quốc phòng đều nhỏ, dễ dàng sơ tán vào rừng núi để tiếp tục sản xuất như các công binh xưởng thời chống Pháp mà không ảnh hưởng gì lớn đến năng suất, sản lượng.

Thứ hai, đời sống cư dân miền Bắc, nhất là đô thị, sau tết Tân Sửu (1961) đã bị cào bằng ở mức nghèo khổ tới độ không còn nghèo khổ hơn, nên tác động của chiến tranh là không lớn đối với họ. Người Việt từ bao đời sống trong nền văn minh lúa nước, chịu đựng được mọi điều kiện khắc nghiệt của thiên tai nên rất giỏi chịu đựng và cũng rất giỏi biến hóa trong những hoàn cảnh khó khăn. Người Mỹ đã từng biết đến trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ, từng đoàn dân công đi tiếp tế cho bộ đội chỉ bằng đôi vai trần và những chiếc xe đạp thồ. Ngay tại thời điểm người Mỹ ném bom ra miền Bắc, nếu họ chứng kiến hình ảnh những người đàn bà ở bến phà Tân Ðệ (Nam Ðịnh) có thể đội 3 thúng gạo chồng lên nhau, nặng chừng 70 kg mà vẫn vung vẩy đôi tay, đi nhanh thoăn thoắt, thì họ phải hiểu rằng bom đạn phá hủy mạng lưới giao thông sẽ không ngăn nổi miền Bắc chi viện cho Việt cộng ở miền Nam.

Thứ ba, mô hình kinh tế Stalin ở miền Bắc, như đã chứng minh trong phần 2, chứa đựng những ung nhọt kìm hãm sức sản xuất của nền kinh tế, nhưng nó lại có mặt tích cực trong quản lý an ninh, trật tự xã hội đô thị và dễ dàng huy động nhân tài vật lực cho chiến tranh. Người Mỹ chủ động đưa chiến tranh lan ra miền Bắc đã vô tình thúc đẩy mặt tích cực của mô hình kinh tế này phát huy đến mức tuyệt vời.

Cuối cùng, điều đặc biệt quan trọng mà người Mỹ không tính đến là họ không thể biện minh cho hành động đem máy bay bắn phá, dội hàng triệu tấn bom đạn lên miền Bắc, trước cộng đồng quốc tế và nhân dân Mỹ. Người Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử, có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm oanh liệt từ hàng nghìn năm. Bất cứ đảng phái hay tổ chức chính trị nào biết khơi dậy lòng yêu nước của dân tộc này đều có sức mạnh diệu kỳ, bất khả chiến bại. Người Mỹ gây cuộc chiến tranh đất đối không ở miền Bắc đã làm tác nhân tự nguyện, giúp chính phủ miền Bắc san lấp mọi hố bờ ngăn cách trong nội bộ lãnh đạo và toàn cộng đồng dân cư vừa nhen nhóm, âm ỉ bùng phát quanh việc triển khai mô hình kinh tế Stalin đã nêu ở cuối phần II. Dưới đây là một vài dẫn chứng:

Lá thư của ông Trần Hữu Nghĩa, làm việc ở nông trường Sao Vàng, gửi con trai đang tại ngũ, bị một đơn vị quân đội Mỹ (Recon – Co. 7th ARVNIV Corpo) lấy được 20/6/1967. Ông Nghĩa vốn là một trí thức ở Hà Nội chịu nhiều ấm ức khi phải đưa gia đình đi khai hoang, lập nghiệp ở miền núi:

“Trừng, con yêu quý của cậu!

Chiều hôm nay, 26/3/1967, cậu nhận được thư con viết hôm 15/2/1966 cho cậu và anh Hai, trong lúc con sắp ra sông Bến Hải. Gian khổ lắm, con ạ, cậu vẫn biết trước rồi. Có câu ‘lửa thử vàng, gian nan thử sức’, đường dài mới biết sức ngựa. Cao quý hay thấp hèn là ở chỗ ấy, con ạ! Cậu thương con, cũng vì quyết tâm đi B của con và cũng vì Tổ quốc mà cha con ta, tình cảm của con và anh Hai phải tạm chia cắt.

… Ngày 16/1/1967 Hai đã về nước, lại viết một lá thư nữa, nhờ Ban thống nhất trung ương chuyển hộ, con đã nhận được chưa? Hai có xin đi B, nhưng nghề của Hai có thích ứng với yêu cầu của tiền tuyến không? Không rõ. Có thể Hai sang Bộ Quốc phòng, kể cả đi B, còn sang Ðại học Ttổng hợp Hà Nội chỉ là phụ, trên còn đang nghiên cứu…”
(Hai là con trai ông Nghĩa, anh ruột liệt sĩ Trừng. Vậy là ông Nghĩa sẵn lòng dứt ruột để hai đứa con trai đều tình nguyện đi B – VNT chú giải).

Ông ÐVX, sinh năm 1932, một nông dân ở xã Cao Mại, huyện Kiến Xương, Thái Bình:

“Ở xã tôi, người giáo (Thiên chúa giáo) có mối thâm thù với người lương trong kháng chiến vì họ cho rằng du kích đã giết cha At Khang và mấy trăm giáo dân trong kháng chiến 9 năm chống Pháp. Nhưng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, người dân hai bên lương và giáo đều có chung nỗi mong ngóng, chờ đợi con cái đi B, nhiều đứa cùng đơn vị nên cha mẹ ở nhà đều đọc thư chung của những đứa con. Lâu dần, oán thù cởi nới, họ trở nên thân thiết với nhau, cùng làm việc trong hợp tác xã, cùng chia sẻ mọi nỗi niềm.”

Ông NDL, sinh năm 1947, cán bộ ngành thủy sản, hiện sống ở khu tập thể Thành Công, quận Ba Ðình, Hà Nội:

“Quê tôi ở Nghĩa Hưng, Nam Ðịnh, là nơi đất mới quai đê lấn biển nên nghèo lắm. Mẹ tôi không chịu vào hợp tác xã, buôn bán thêm ngoài chợ huyện nên gia đình có chút của ăn, của để. Chính quyền xã và Ban chủ nhiệm hợp tác luôn nhòm ngó, ganh ghét, trù dập, phê vào lý lịch mấy anh em tôi như là con em của phần tử phản cách mạng. Cha tôi bị bạo bệnh chết từ năm 1952 mà họ phê mập mờ vào lý lịch là mất tích, không rõ theo địch hay theo ta. Tôi và ông anh cả đều học giỏi nhưng chúng tôi bảo nhau, lý lịch xấu thì đi thi đại học làm gì cho phí công, đi bộ đội phấn đấu tốt, ra khỏi làng, chẳng đứa nào chặn đường tiến thân của mình nữa. Anh tôi hy sinh ở chiến trường Khe Sanh năm 1968. Ðến lượt tôi vào bộ đội phấn đấu tốt, là em liệt sĩ, lại có văn hóa cao nên được cử đi học kỹ thuật tên lửa ở Nga. Trước ngày giải phóng miền Nam (1975), tôi là thiếu tá, tiểu đoàn trưởng tên lửa ở đất thép Vĩnh Linh. Giải ngũ, tôi được chuyển sang ngành thủy sản, được đi Nga lần thứ 2 để học về quản lý.”

2. Khái quát về thu nhập quốc dân miền Bắc trong chiến tranh

Nhiều học giả phương Tây tỏ ý nghi ngờ và phủ nhận các chỉ báo thống kê kinh tế của miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1966-1975. Họ sẵn có định kiến với mô hình kinh tế Stalin đã làm Liên Xô và Ðông Âu sụp đổ, nhưng lại quên rằng, chính mô hình đó đã góp phần giúp Liên Xô đánh thắng phát xít Ðức trong thế chiến thứ 2. Bằng những phân tích ở phần II, ta có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để yên tâm sử dụng các số liệu thống kê ở miền Bắc trong thời chiến. Cho dù nó có đôi chút sai lệch do chủ nghĩa thành tích, dẫn đến gian dối ở cấp cơ sở, song về cơ bản nó vẫn cho ta một bức tranh thu nhập quốc dân khá hoàn chỉnh và có thể tin được (Niên giám thống kê nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 1975).

Mức tăng thu nhập quốc dân (GDP) trong chiến tranh: So với GDP năm 1961: Năm 1965 là 130%, năm 1968 là 109%, năm 1971 là 133% và năm 1974 là 167%. So với GDP năm 1965: Năm 1968 là 84%, năm 1971 là 103% và năm 1974 là 129%.

Mức tăng thu nhập bình quân đầu người (GNP) trong chiến tranh: So với năm 1961: năm 1965 là 116%, năm 1968 là 92%, năm 1971 là 103%, năm 1972 là 97% và năm 1974 là 120%. So với năm 1965: Năm 1968 là 76%, năm 1971 là 90%, năm 1972 là 84% và năm 1974 là 103%.

Như vậy, ngay cả năm 1968 là thời điểm chiến tranh ác liệt nhất thì GDP giảm 16% so với năm 1965, nhưng vẫn tăng 9% so với năm 1961. Về mặt đời sống nhân dân, thu nhập bình quân đầu người năm 1968 giảm 24% so với năm 1965, nhưng nó vẫn xấp xỉ năm 1961 (92%) và đến năm 1974 đã tăng 3% so với năm 1965.

Ðây có thể nói là thành công tuyệt vời trong lịch sử các cuộc chiến tranh hiện đại. Một vài nhà Việt Nam học trên thế giới có phần võ đoán cho rằng người Trung Quốc đã nuôi sống dân Bắc Việt Nam trong chiến tranh. Thật ra, ở thời điểm trước khi bước vào cuộc chiến (1965), do chính sách “thắt lưng buộc bụng”, người dân miền Bắc, nhất là khu vực đô thị đã bị bần cùng hóa tới mức không thể nghèo khổ hơn được nữa. Do vậy, nền kinh tế trong suốt cuộc chiến tranh vẫn đủ nuôi sống các tầng lớp dân cư ở mức nghèo khổ như trước chiến tranh cũng là dễ hiểu.

Viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và Ðông Âu cả về vũ khí và lương thực đều dồn cho chiến trường miền Nam. Một phần rất nhỏ viện trợ của Trung Quốc và cộng đồng quốc tế mang tính phục vụ dân sinh, chủ yếu nhằm cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên trong biên chế và cư dân đô thị.

Ðể thấy rõ hơn, ta có thể phân tích cơ cấu sử dụng GDP trước và trong chiến tranh.

Giai đoạn 1961-1965, cơ cấu sử dụng GDP chủ yếu là quỹ tiêu dùng: 75,1%-77,4% (trong quỹ tiêu dùng đó 87,74% cho tiêu dùng cá nhân của dân cư, 4,1% dùng cho y tế-giáo dục- văn hóa, 8,16% dùng cho hành chính và an ninh quốc phòng). Phần tích lũy trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, dù Chính phủ đã rất cố gắng, nhưng vẫn rất ít (24,7-25,1%) và nằm trong tài sản cố định (nhà máy, đường xá, công trình thủy nông…), không có tích lũy ngoại tệ, chỉ có rất ít tích lũy về nguyên liệu sản xuất. Bước vào chiến tranh, nền kinh tế nhỏ bé và khép kín này vẫn sử dụng GDP vào tiêu dùng từ 72,7% (1967) đến 83,5% (1973). Cái hay và độc đáo của mô hình kinh tế tập trung, bao cấp là ở chỗ dù trong hoàn cảnh chiến tranh, Nhà nước vẫn có thể tích lũy dưới dạng tài sản cố định 19,2% (1968) đến 24,0% (1974), cá biệt năm 1972 chỉ có 3,5% vì chịu thiên tai lũ lụt lớn năm 1971 và cuộc tập kích bằng B52 của Mỹ (12/1972).

Những chỉ báo thống kê vừa nêu cho phép ta có bức tranh tổng thể về kinh tế thời chiến, trước khi đi vào điều tra, mô tả đời sống cư dân đô thị.

3. Mức sống và chất lượng sống qua số liệu thống kê

Nhìn chung, bước vào cuộc chiến tranh khốc liệt, cái mô hình “bãi cỏ xén bằng” được tiếp tục kiện toàn, phát huy tác động cả hai mặt tích cực và tiêu cực trong đời sống cư dân đô thị. Trước hết, ta xét qua các chỉ báo thống kê về thu nhập của khối cán bộ công nhân viên trong biên chế.

Thu nhập đầu người/tháng bằng tiền: năm 1966 là 22,15 đồng, 1968 – 22,90 đồng, 1970 – 23,51 đồng, 1972 – 23,35 đồng và 1974 – 26,67 đồng.

Có sự khác biệt nếu tính thu nhập đầu người/tháng theo giá cả (giá gạo) so với năm 1959: năm 1966 là 15,5 đồng, 1968 – 14,6 đồng, 1970 – 15,6 đồng, 1972 – 15,7 đồng và 1974 – 16,3 đồng.

Như vậy, trong hoàn cảnh thời chiến, hàng hóa khan hiếm, giá cả sinh hoạt tăng lên, đồng tiền mất giá (24%-31%), Nhà nước đã liên tục tăng lương cho khối cán bộ công nhân viên bằng việc lạm phát tiền. Cách làm này có tác động ổn định đời sống cho khối cán bộ công nhân viên trong biên chế nhà nước, đẩy khó khăn về mức sống sang khối xã viên nông nghiệp ở nông thôn và xã viên thủ công nghiệp, hộ làm ăn cá thể ở đô thị. Ðây là ưu thế tuyệt đối của mô hình kinh tế Stalin trong chiến tranh mà không một mô hình kinh tế nào khác có thể làm được tốt hơn. Thế mạnh của mô hình Stalin còn ở chỗ mức độ tăng giá cả trên thị trường cũng không quá lớn so với các đô thị miền Nam ở giai đoạn này (thường là vài chục phần trăm/năm), nhưng ở miền Bắc:

Chỉ số giá so với 1959: Năm 1966 là 142%, 1968 là 156,4%, 1971 là 145,83% và 1974 là 163,96%.
Chỉ số giá so với 1965: Năm 1966 là 107,5%, 1968 là 116,97%, 1971 là 109,08% và 1974 là 122,64%.

Xét về cơ cấu thu nhập, người trong biên chế do điều kiện chiến tranh sơ tán về nông thôn không có cơ hội làm thêm để tăng thu nhập. Họ chỉ có thể trồng rau và chăn nuôi thêm để cải thiện bữa ăn, song không đáng kể, chủ yếu dựa vào lương và tiêu chuẩn cấp phát. Ðối với cán bộ xã viên thủ công nghiệp, vì không có số liệu thống kê nên tạm sử dụng số liệu thống kê cho các hộ xã viên ở nông thôn để tham khảo. Nếu trước chiến tranh (1961-1965), cơ cấu thu nhập của họ là thu nhập trong hợp tác xã 40,39%, còn ngoài hợp tác xã là 59,61%, thì các giai đoạn sau con số tương ứng sẽ là: 1966-1970 là 34,53% và 65,47%, 1971-1975 là 35,48% và 64,52%. Tình hình cơ cấu thu nhập của xã viên hợp tác xã thủ công ngoài đô thị cũng na ná như vậy. Họ phải bươn bả kiếm sống ngoài hợp tác xã là chính. Phương thức kiếm sống vẫn giống như đã điều tra, phỏng vấn ở giai đoạn 1961-1965. Chỉ có điều thời gian đầu tư vào việc kiếm thêm và cường độ lao động của họ cao hơn gấp 2-3 lần trước chiến tranh mới đủ sống.

Nghiên cứu các số liệu thống kê, ta còn thấy các mặt y tế, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật đã được phát triển và chuyển hướng để phục vụ đời sống tinh thần dân cư đô thị thời chiến khá ấn tượng và hiệu quả.

Về y tế, mạng lưới bệnh viện, bệnh xá phát triển rất nhanh, phân tán về các vùng có người đô thị về sơ tán. Năm 1965 cả miền Bắc có 252 bệnh viện và 390 bệnh xá. Ðến năm 1967 tăng lên 434 bệnh viện, 390 bệnh xá. Năm 1974 có 441 bệnh viện, 518 bệnh xá.

Trong 3 năm chiến tranh ác liệt nhất (1967-1969) số lượng các cơ quan, xí nghiệp và dân cư đô thị sơ tán về nông thôn, rừng núi rất đông nên số trạm y tế – hộ sinh cấp xã tăng lên 6.000 trạm. Số lượng thầy thuốc năm 1966 có 1.998 bác sĩ, 8.806 y sĩ, 40.461 y tá và 15.983 nữ hộ sinh. Các con số tương ứng của những năm sau: 1968 có 2.838 – 12.056 – 46.779 – 15.713; năm 1970 có 3.806 – 18.087 – 48.077 – 12.190; năm 1972 có 4.989 – 20.102 – 45.499 – 11.266 và năm 1974 có 5.513 – 21.035 – 43.499 – 9.552. Cán bộ, công nhân, viên chức, sinh viên, học sinh trung học chuyên nghiệp được khám chữa bệnh miễn phí, ngoài ra còn được bồi dưỡng bằng tiền hoặc đường, sữa. Các bà mẹ khi sinh con được trợ cấp tiền và được cấp từ 4-8 hộp sữa/tháng. Các xã viên hợp tác xã và người lao động tự do nếu phải cấp cứu do tai nạn chiến tranh cũng được chữa chạy miễn phí toàn bộ.

Về giáo dục – đào tạo, trong chiến tranh, các trường phổ thông và đại học, trung học chuyên nghiệp phải sơ tán từ thành thị về nông thôn đã tạo nên sự giao thoa về giáo dục giữa hai cộng đồng dân cư nông thôn – thành thị, làm cho chất lượng giữa 2 vùng không có chênh lệch đáng kể. Nó cũng góp phần kích thích nông dân cho con đi học để đạt mơ ước “thoát ly” thành người trong biên chế mà họ ấp ủ từ trước chiến tranh (1961-1965). Số liệu thống kê các cấp học giai đoạn này như sau:

Niên học 1966-1967 có 3.325.800 học sinh phổ thông, 101.90 học sinh trung học chuyên nghiệp, 48.400 sinh viên đại học. Các số liệu tương ứng những niên khóa sau:
Niên học 1968-1969 có 4.100.000 – 138.400 – 71.400
Niên học 1970-1971 có 4.568.700 – 85.800 – 69.900
Niên học 1972-1973 có 4.680.500 – 57.600 – 53.800
Niên học 1974-1975 có 5.151.300 – 69.800 – 55.500.

Qua các số liệu trên, ta thấy đã bắt đầu có dấu hiệu bất hợp lý về cơ cấu đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp (một phần do chế độ cử tuyển (không thi) trong một số năm). Ðây là một sai lầm trong chiến lược đào tạo so với giai đoạn 1961-1965 và nó còn tiếp tục sang các niên khóa sau chiến tranh như GS Tạ Quang Bửu đã cảnh báo.

Từ niên học 1965-1966, Nhà nước ồ ạt cử người đi học ở Liên Xô, Trung Quốc, Ðông Âu. Những người này gửi về nước nhiều loại hàng hóa tiêu dùng (xe đạp, xe máy, radio, quạt điện, vải, len, dạ…) cũng góp phần nào cải thiện mức sống cho cư dân đô thị.
Về văn hóa – nghệ thuật, số đầu sách văn học có ít đi, nhưng lượng in tăng mạnh. Năm 1965 có 303 đầu sách với 1.372.000 bản in; năm 1973 có 114 đầu sách với 1.813.000 bản in. Ngành điện ảnh trong chiến tranh đặc biệt phát triển loại phim tài liệu, và phim truyện ngoại nhập chủ yếu là về đề tài chiến tranh. Các đội chiếu bóng lưu động phát triển rất nhanh vể số lượng và xuất chiếu. Suốt thời gian chiến tranh, mỗi năm có 70-100 triệu lượt người xem phim trên dân số 20 triệu, là con số mơ ước của bất cứ nhà kinh doanh điện ảnh nào trên thế giới. Âm nhạc phát triển song hành cả 2 thể loại ca khúc cách mạng và âm nhạc hàn lâm. Ðáng trân trọng là các bản giao hưởng của Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Văn Thương, Cao Việt Bách…

4. Bức tranh đời sống đô thị qua điều tra, phỏng vấn

Có thể nói đây là thời kỳ nông thôn hóa thành thị do yếu tố chiến tranh. Tiêu chí khác biệt giữa nông thôn với thành thị rõ nhất là điện, nước, y phục và tiện nghi sinh hoạt. Tất cả đã được người thành thị và các khu công nghiệp chủ động nông nghiệp hóa. Người đi sơ tán hay ở lại thành phố đều ăn mặc một loại quần áo sẫm màu (đen, nâu, xanh rêu, xanh lá cây). Áo dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam chỉ dùng cho các nhân viên khách sạn hoặc cửa hàng giao tế, thậm chí có nhiều đám cưới cô dâu cũng không mặc áo dài. Mùa hè, mốt độc đáo của những cô gái Hà Nội, Hải Phòng xinh đẹp, có nước da trắng, cổ cao ba ngấn là loại áo cánh nâu hoặc áo bà ba đen (Nam Bộ) may bằng vải lanh hoặc phin nõn đã nhuộm. Mùa đông, những cô gái này thường mặc áo kiểu nữ quân nhân có hai túi, thắt ở eo lưng, bên trong mặc áo mút hoặc len cổ lọ màu đen, đỏ hoặc màu lòng trứng. Nam giới ở thành phố diện nhất vào mùa hè là quần simili Tiệp màu ghi đá, màu lá cây, còn sơ mi là pôpơlin Tiệp hoặc Trung Quốc, cũng màu ghi đá, màu xanh lá cây. Vào mùa đông, trang phục phổ biến là áo bông xanh Trung Quốc, áo đại cán may theo kiểu Tôn Trung Sơn bằng vải kaki hoặc bông dạ Mông Cổ. Chỉ trong đám cưới mới thấy xuất hiện vài bộ complet, nhưng cũng là loại hàng len màu sẫm. Tóm lại trang phục của người thành phố không có gì khác lắm so với người có trình độ văn hóa hoặc có vị thế ở nông thôn.

Do bị đánh phá ác liệt nên điện và nước sinh hoạt trở nên thiếu, chỉ tập trung ưu tiên cho sản xuất. Người dân trong thành phố luôn phải dự phòng đèn dầu để dùng những lúc bị cắt điện. Trong số đồ dùng thiết yếu trong mỗi gia đình ở thành phố lúc này không thể thiếu những vật như: bao vải để đi đong gạo, can đựng dầu, thông phong, bấc đèn, bấc bếp dầu, can nhựa mua nước mắm, dấm v.v… Nước máy không đủ công suất và áp lực, nhiều nhà phải đào một hố ở vỉa hè, hạ thấp ống nước để hứng nước máy, hoặc đào giếng ngay trong khu phố trung tâm. Năm 1972 đã có hiện tượng dân đào giếng gặp khí độc C02, mêtan bị chết ở phố Hàng Bồ (khu Hoàn Kiếm). Các máy nước công cộng thường đông nghịt những người xếp hàng chờ lấy nước. Nhiều hộ dân, các thành viên trong gia đình đi sơ tán mỗi người một nơi nên cửa luôn khóa và mặt cửa đầy những dòng chữ viết bằng phấn để nhắn tin cho nhau mua dầu, gạo, thực phẩm hoặc chỉ số điện đã tiêu thụ… Ðịnh suất lương thực cho mỗi người vẫn được Nhà nước cung cấp đủ, nhưng gạo để dành tập trung cho bộ đội ngoài mặt trận nên dân phải ăn độn như ở nông thôn. Thông thường tỷ lệ độn là 60% gạo và 40% bột mì, sắn, ngô. Ðể giải quyết việc chế biến chất độn, đã xuất hiện một đội ngũ các hộ tư nhân làm mỳ sợi, làm bánh qui gai xốp hoặc đổi bột mỳ lấy gạo với tỷ lệ chỉ còn một nửa. Lại một lần nữa ta thấy kinh tế thị trường vẫn tồn tại, góp phần đáp ứng nhu cầu cấp bách của nhân dân. Từ năm 1969, Nhà nước bán mỳ sợi cho nhân dân ăn độn thì các cơ sở làm bánh qui gai xốp thu hẹp sản xuất theo thời vụ chỉ để phục vụ Tết, cưới hỏi hoặc liên hoan. Lúc này trên thị trường “chợ đen” lại xuất hiện nghề buôn bán nguyên liệu làm bánh qui gai như bột mỳ, đường, sữa, trứng gà…

Ngành thương nghiệp được mệnh danh là “người nội trợ” của toàn xã hội, ngoài việc phân phối cho toàn bộ khối cư dân thành thị cái ăn, cái mặc, chất đốt… theo định lượng tem phiếu, còn phải lo cung cấp cả những mặt hàng thiết yếu trong những ngày lễ, tết, cưới hỏi, ma chay… Người ta chia ra các loại bìa mua hàng: hộ độc thân, hộ bốn người và hộ trên bốn người… Ngày Quốc Khánh (2/9) hàng năm mỗi bìa mua hàng được mua bánh kẹo, thuốc lá Tam Ðảo, chè gói Ba Ðình. Ngày tết Trung thu mỗi bìa được mua bánh dẻo, bánh nướng. Ngày tết Nguyên Ðán thường mỗi bìa được mua một túi hàng tết gồm: bóng, miến, mỳ chính, hạt tiêu, chè Ba Ðình, thuốc lá Ðiện Biên, rượu chanh hoặc cam và một hộp mứt, vài gói kẹo… Người kết hôn được mua một chiếc giường đôi giá 80 đồng loại tốt hoặc 60 đồng loại thường, một chiếc màn đôi 5, 6 đồng và một ít thuốc lá, bánh kẹo dùng trong hôn lễ. Người chết, có giấy báo tử sẽ được mua một chiếc quan tài bằng gỗ giá 50 đồng. Các bà mẹ sinh con, nếu mất sữa toàn phần được mua 8 hộp sữa/tháng, còn nếu mất sữa một nửa được mua 4 hộp sữa/tháng…

Chủ nghĩa bình quân thời chiến thực chất là chia đều sự nghèo khổ, vất vả trong đại bộ phận dân cư. Có lẽ vì thế đã nảy sinh trong tâm lý ứng xử của người dân thành thị một sự  suy bì, nhòm ngó từng bữa ăn của người khác.

Bà ÐTH ở phố Mã Mây kể:

“Ngôi nhà của tôi có 8 hộ cùng ở, 5 hộ tầng dưới, 3 hồ tầng trên. Gia đình tôi ở tầng trên đun nấu bằng bếp dầu, nhưng ngại nhất là cái sàn gỗ ọp ẹp. Hễ băm chặt thức ăn gì là kinh động các hộ bên dưới. Tôi làm nghề “phe phẩy” ở phố Ngõ Gạch cũng kiếm được. Mỗi lần đi chợ về có con cá hay miếng thịt mua chui là phải dấu tít tận đáy làn, phủ mớ rau muống lên trên để các hộ khác không nhìn thấy. Nếu bữa nào mổ con gà, con vịt thì đến khổ… Lúc ăn không dám dùng dao chặt mà phải cắt từng miếng bằng kéo…”

Ông N.S kể lại:

“Vợ chồng tôi sống tập thể cơ quan trong dãy nhà cấp 4 ở Thanh Xuân. Tôi đi Tây về bán cái xe máy, đài Rigonda được ít tiền nên chủ nhật thường hay cải thiện. Nói chung mỗi lần như vậy, sáng thứ hai đi làm việc như thấy mình là đứa vừa ăn vụng bị bắt quả tang. Mọi người nhìn tôi nhấm nháy, còn sau lưng thì họ kháo nhau rành mạch hôm trước tôi ăn gì. Có lẽ vì thế mà năm ấy đại hội Ðảng bộ cơ quan, tôi ít phiếu nhất vì ‘không hòa mình với quần chúng.’”
Về “mốt” ăn uống, sinh hoạt thời đó có thể điểm qua vài hiện tượng:

Quán trà

Trước chiến tranh, ở Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố, thị xã lác đác có vài quán trà ở cửa chợ, nhà ga, bến xe hoặc ngã tư lớn. Quán trà lúc đó chủ yếu phục vụ dân kéo xe ba gác, đạp xích lô hoặc khách đi tàu xe. Bắt đầu từ năm 1966 quán trà mở ra la liệt khắp mọi nơi và hình thức sinh hoạt quán trà đã trở thành mốt của cán bộ, công nhân, học sinh, sinh viên.

Khắp các đường phố Hà Nội, đi đâu cũng gặp quán trà, thường tập trung đông nhất ở cửa cơ quan, xí nghiệp và bến xe điện, bến ô tô, ga tàu hỏa. Ở các vùng nông thôn, hễ đâu có cơ quan, xí nghiệp, trường học sơ tán về là ở đó mọc lên nhan nhản các quán trà. Hình thức quán trà rất đơn sơ, chỉ là túp lều lợp giấy dầu nếu ở thành phố; lợp rơm nếu ở nơi sơ tán. Ðồ nghề trong quán vẻn vẹn một bếp dầu, 2 hoặc 3 cái phích Trung Quốc, 2 chiếc ấm sành loại 1 lít ủ trong cái thùng gỗ lèn chặt đủ loại giẻ rách hoặc rơm. Hàng hóa trong quán gồm mấy lọ kẹo (kẹo vừng hoặc kẹo bột 5 xu/1cái, kẹo lạc hoặc kẹo vừng thanh, kẹo nhồi 2 hào/1cái), 1 hộp thuốc lá (Tam Ðảo: 1 hào hai điếu, Ðiện Biên: 1 hào rưỡi đôi, Trường Sơn: 1 hào 3 điếu, thuốc lá cuốn: 1 hào 5 điếu). Nước trà bán theo chén, giá 5 xu một chén. Nhiều quán bán thêm rượu “quốc lủi” tức rượu của tư nhân nấu lậu, giá 2 hào/1 chén, có thể nhắm với lạc rang đong bằng chén con (50ml) với giá 1 hào. Ở một số quán còn bán thêm quà sáng như bánh chưng 2 hào/1chiếc, bánh giò 1 hào/1 chiếc. Tất cả bày trên chiếc bàn gỗ thấp chừng 60 cm và mấy chiếc ghế băng thấp khoảng 25-30 cm. Khách vào quán thường không phải vì nhu cầu giải khát. Cán bộ, học sinh, sinh viên đi sơ tán xa nhà rủ nhau đến quán chuyện phiếm. Những người ở lại thành phố, thị xã rủ nhau ra quán tâm sự và bàn chuyện công tác, chuyện vặt vãnh xảy ra trong cơ quan, chuyện chiến sự trong nước và thời sự quốc tế. Vì vậy không thiếu một thứ tin tức gì từ nội bộ cơ quan đến việc quốc gia đại sự được lan truyền từ quán trà. Khái niệm “thông tấn xã quán trà” hình thành từ thực tế này. Thống kê của ngành an ninh năm 1971 cho biết Hà Nội có 7.000 quán trà loại này (theo lời cụ NVK cán bộ về hưu, nguyên là chuyên viên phòng tổng hợp Sở Công an Hà Nội).

Ðối tượng kinh doanh quán nước lúc đầu là những người cao niên (ngoài 50 tuổi). Qua vài năm thấy nghề này kiếm được nên có nhiều phụ nữ trẻ đã bỏ việc cơ quan hoặc hợp tác xã thủ công nghiệp về mở quán trà kiếm sống, thậm chí làm giàu từ những quán trà lụp xụp.

Bà NTT nguyên là công nhân cơ khí nhà máy Trần Hưng Ðạo, bỏ việc về bán quán trà kể:

“Lúc đầu tôi mở quán ở chợ Ðuổi (cuối đường Bà Triệu), sau khi tôi sơ tán với các con về chợ Dâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) quán cũng khá đắt hàng, lại chẳng thuế má gì. Kẹo, bánh có người làm sẵn mang đến giao cho tôi, chuyến sau lấy tiền chuyến trước.

Thuốc lá thì có hai nguồn: Thứ nhất, các cán bộ, công nhân, bộ đội được phân phối căng tin nhưng không dùng đem bán lại. Thứ hai, nhân viên cửa hàng bách hóa tuồn hàng ra ngoài kiếm lời. Chè là thứ nhà nước cấm bán trên thị trường, ưu tiên cho xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chè. Dọc các tuyến đường ô tô, tàu hỏa từ Phú Thọ, Yên Bái hay Bắc Thái về Hà Nội, Nhà nước kiểm soát rất kỹ, ai mang quá 0,2 kg chè là bị thu giữ. Tuy nhiên, các lái xe, cán bộ đi công tác, sinh viên đi sơ tán ai cũng tìm cách mang về trót lọt vài kg, có khi cả yến để kiếm lời.

Tôi nghiệm thấy cái gì là nhu yếu phẩm cần thiết của dân mà Nhà nước cấm đoán thì chênh lệch giữa giá Nhà nước và giá thị trường tự do càng cao, càng khuyến khích cán bộ, nhân dân đi buôn lậu. Chè ngon ở Ðại Từ, Núi Pháo giá 5 đồng/1kg, lái xe hoặc sinh viên mua về bán cho chúng tôi 10 đồng/1kg. Ðến lượt chúng tôi bán cân, bán lạng là 15 đồng/1 kg, còn xé lẻ ra từng gói đủ pha 1 ấm là 5 hào/1gói (20 đồng/1kg).

Tính ra từ năm 1967-1974 tôi bán quán trà tuyềnh toàng là thế mà mỗi ngày lãi 12-15 đồng, hàng tháng trung bình cũng thu được 400 đồng, đủ nuôi 5 đứa con và để dành hàng chỉ vàng mỗi tháng (vàng trên dưới 100 đồng 1 chỉ lúc này). Mặt hàng lãi nhất là thuốc lá, sau đến chè gói từng ấm, từng lạng. Chè chén bán giá 5 xu/1 chén thường là hòa vốn.”

Bia vại – Cà phê chui:

Ðây là hai hình thức sinh hoạt rất phổ biến trong cộng đồng dân cư đô thị.

Bia hơi còn gọi là “bia vại” vì nó được đong vào loại cốc lớn có hình vại nước, dung tích 0,5 lít, giá bán 1 hào 5 xu/1 cốc. Trước chiến tranh nó chưa là nhu cầu phổ biến của người tiêu dùng đô thị. Nhiều người uống bia lúc đó chưa quen còn phải pha với si-rô ga. Trong quán bia mậu dịch thường có bình C02 và bình si-rô cam màu đỏ đi kèm. Giá một cốc si-rô ga là 2 hào. Người bán bia thường hay hỏi khách có pha si-rô không, nếu khách đồng ý thì họ rót vào cốc bia 10ml nước si-rô cam đặc và tính gộp tiền là 2 hào 5 xu/1 cốc bia pha si-rô. Hồi đó khách uống bia hơi chỉ là trí thức, văn nghệ sĩ hoặc số ít người đã từng đi Ðông Âu về nước quen với bia Tiệp, bia Ðức.

Chiến tranh làm cho hệ thống quản lý các mặt hàng tiêu dùng theo tem phiếu cấp phát có nhiều lỗ hổng rò rỉ ra thị trường tự do. Xã hội nảy sinh một đội ngũ đông đảo các loại “con phe” giàu có, đặc biệt là giới phe xe đạp, xe máy. Ngoài ra, nhiều người trong đội ngũ lái xe chở hàng hóa, vật tư của Nhà nước đã đánh cắp hàng nên cũng nhiều tiền và có nhu cầu hưởng thụ. Những đối tượng trên trở thành khách hàng thường xuyên của quán bia. Công suất nhà máy bia không đủ đáp ứng nhu cầu nên ở các quán bia có hiện tượng chen lấn, xô đẩy, ồn ã. Quán bia càng lộn xộn khi xuất hiện một số người làm thuê “phe bia”.

Hồi ấy mới xuất bản cuốn hồi ký Bất khuất của ông Nguyễn Ðức Thuận, cựu tù nhân Côn Ðảo, có viết về chuồng cọp ở nhà tù Côn Ðảo. Dân “bia vại” ở các quán liền lấy “chuồng cọp” đặt cho các quán bia như “chuồng cọp Cổ Tân”, “chuồng cọp Phùng Hưng”… Lý do đơn giản vì ở các quán bia này, Nhà nước làm một hệ thống hàng rào kiên cố để ngăn ngừa hiện tượng chen ngang, xô đẩy nhau. Giá bia Nhà nước vẫn giữ giá 1 hào 5 xu/1 cốc nhưng giá ngoài lên tới 3 hào, có khi 5 hào. Người có tiền uống bia ngoài đương nhiên là “dân phe” xe máy hoặc lái xe ăn cắp hàng Nhà nước.

“Cà phê chui” là hình thức có phần tương phản với “bia vại” ở hai điểm: Thứ nhất, không khí trong các quán cà phê tư nhân thường rất tĩnh lặng và ở nơi khuất vắng. Thứ hai, đối tượng đến uống cà phê thường là các nhân sĩ nghèo, công chức lưu dung thất thế, các văn nghệ sĩ gặp nhau đàm đạo về nhân tình thế thái… Hồi ấy các cửa hàng ăn uống Nhà nước đều có bán cà phê nhưng pha không ngon, khách đến xô bồ đủ loại – cán bộ, công nhân, học sinh, sinh viên và cả một số người đạp xích lô hay chữa xe đạp. Quán cà phê tư nhân gọi là cà phê chui vì Nhà nước cấm bán hoặc nếu có ai được ưu tiên mở quán cũng phải tế nhị chọn nơi khuất vắng. Tính ra Hà Nội có khoảng hơn chục quán cà phê chui loại này, nhưng có lẽ nổi tiếng nhất có ba quán với ba đối tượng khác nhau:

Cà phê Lâm ở Nguyễn Hữu Huân có thâm niên bán quán nhiều năm. Ðây là nơi hội tụ của nhiều họa sĩ tài danh như Nguyễn Phan Chánh, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên… Theo đó có lớp họa sĩ đàn em cũng rủ nhau tìm đến quán cà phê Lâm để có cơ hội chiêm ngưỡng những danh họa bậc thầy. Có lẽ nhờ vậy mà ông chủ quán cà phê Lâm đã có cơ hội trở thành nhà sưu tập tranh nổi tiếng Hà Nội. Thời đó, những bậc tài danh trong làng họa thường rất nghèo. Những lúc túng thiếu họ vay tiền rồi gán nợ cho chủ quán bằng tranh!…

Cà phê Tuyên ở gác hai số nhà 28 Trần Hưng Ðạo. Muốn uống cà phê khách phải qua một sân gạch đầy rêu mốc rồi leo lên cầu thang rất hẹp và trơn. Ông chủ quán là chiến sĩ hoạt động nội thành thời chống Pháp nên được ưu tiên. Khách đến quán của ông Tuyên thường là những nhà sử học, triết học, nhà văn, nhạc sĩ và các nhân sĩ cao niên thời Pháp không di cư, ở lại với cách mạng. Ðến đầu năm 1970 không hiểu vì lý do gì khách quen của quán cà phê Tuyên lại rủ nhau tụ tập ở quán cà phê Mậu ở đường Ðiện Biên Phủ.

Cà phê Lý Hảo ở góc cắt nhau giữa ngõ Phất Lộc và đường Nguyễn Hữu Huân. Quán này có đặc điểm mặt tiền cửa hàng ở phố đóng kín, khách muốn uống cà phê phải đi vòng qua cổng sau ở ngõ Phất Lộc, qua một cái sân luôn ướt và trơn vì là nơi giặt giũ của cả 20 hộ trong căn nhà lớn ấy. Ðối tượng khách chủ yếu là công chức lưu dung, các nhà tư sản, các nghệ sĩ cải lương và các võ sĩ, ngôi sao điền kinh. Chủ nhân của quán là hai vợ chồng Hoa kiều làm nghệ sĩ biểu diễn lướt ván ở hồ Hoàn Kiếm từ thời Pháp. Hai cô con gái họ Lý này cũng là nghệ sĩ lướt ván.

Ðặc sản bụi

Vào thời ấy, ở Hà Nội, Nhà nước chỉ đặt các restaurant trong khách sạn dành cho người nước ngoài như Thống Nhất, Dân Chủ, Hòa Bình, Hoàn Kiếm. Ngoài ra còn một vài nhà hàng cao cấp như Mỹ Kinh ở Hàng Buồm, Bodega ở phố Tràng Tiền, Phú Gia ở phố Lê Thái Tổ…

Các cửa hiệu đặc sản của người Hoa mở nhiều ở mấy phố Tạ Hiền, Lương Ngọc Quyến, Hàng Giày, Lương Văn Can (Hà Nội), Cầu Ðất, Phan Bội Châu (Hải Phòng). Gọi là “đặc sản bụi” vì những tiện nghi về phòng ốc, bát đĩa, bàn ghế rất sơ sài, thậm chí có quán tối tăm và thường rất chật hẹp, không hơn gì mấy quán cơm bụi bây giờ. Ở đây bán các món ăn Tàu như chim quay, thỏ, gà, dê, ngỗng, ba ba, ếch… Có những tháng ở quán đặc sản này có bán cả thịt thú rừng. Chất lượng món ăn cao nhưng giá cả không đắt: một con chim quay với sa-lát, nước sốt giá 2,00 đồng; thỏ quay, thỏ sốt vang 1,5 đồng/1 đĩa; ếch tẩm bột 2 đồng/1 đĩa; tái dê hoặc dê nướng, dê hầm thuốc bắc 1,5 đồng/1 đĩa. Nói chung những đĩa thức ăn lớn, cầu kỳ cũng không quá 5 đồng/1 đĩa. Có một điều đáng lưu ý là khách ra vào các quán này đều cảnh giác xem chừng công an theo dõi. Ðiều đó dễ hiểu vì không phải ai cũng sẵn tiền từ 15-20 đồng vào ăn.

Trong các loại mốt sinh hoạt thời đó ở thành phố, thị xã cần kể đến mốt xếp hàng mua báo. Thời đó, có 3 tờ nhật báo Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội Mới (báo Thủ Ðô). Báo cách ngày chỉ có 1 tờ Lao Ðộng. Tuần báo (báo chính trị-xã hội) có 7 tờ là Văn Nghệ, Phụ Nữ Việt Nam, Tiền Phong, Ðại Ðoàn Kết, Ðộc Lập, Cứu Quốc và Người Công Giáo Việt Nam. Giá báo ngày hoặc cách ngày là 5 xu/1 tờ, giá tuần báo là 1 hào đến 2 hào/1 tờ. Tuy nhiên mỗi số báo đều có lượng phát hành lớn hàng chục vạn bản.

Khách nước ngoài đến Hà Nội thời đó thường hay chụp ảnh những dòng người xếp hàng mua báo rất dài. Họ xem đó là biểu hiện của một dân tộc có nền học vấn và văn hóa cao. Ðiều này phải xem xét từ hai mặt: Thứ nhất, cuộc chiến tranh đã thu hút hàng triệu thanh niên ra mặt trận ở ba loại (bộ đội, thanh niên xung phong và các cán bộ chuyên môn y tế, giáo dục, cầu đường…). Hầu như gia đình nào cũng có thân nhân ngoài mặt trận nên họ khao khát xem tin chiến sự, đặc biệt là những số báo tổng kết chiến dịch mùa khô và những bài viết của Trường Sơn, Cửu Long (các cây bút chính luận nổi tiếng thời đó).

Thứ hai, giá báo Nhân Dân 5 xu/1 tờ là giá báo có bù lỗ của Nhà nước. 20 tờ báo trị giá 1 đồng nặng 1kg, trong khi giấy gói bán cho các bà đồng nát là 1,2 đồng/1 kg. Người ta mua báo xem tin tức chiến sự và sau đó bán cho đồng nát vẫn lãi.

Phương tiện đi lại đối với cư dân đô thị trong thời chiến là nỗi vất vả lớn nhất. Xe trong nội thành có hai loại: Xe buýt công cộng, thường rất đông, lèn người như nêm cối, điển hình là tuyến Bờ Hồ – Hà Ðông và tuyến Yên Phụ – Hà Ðông;

Xe điện có 4 tuyến: Bưởi – Chợ Mơ, Yên Phụ – Ngã Tư Vọng, Bờ Hồ – Hà Ðông và Bờ Hồ – Cầu Giấy, giá vé 5 xu hoặc 1 hào nhưng rất chậm do phải chờ tránh nhau hoặc bị mất điện. Có khi từ Bờ Hồ lên Bưởi dài 6 km mà đi tàu điện mất 2-3 tiếng. Cán bộ công nhân viên đi làm chủ yếu bằng phương tiện xe đạp nhưng có đến nửa số gia đình hai vợ chồng chung một chiếc xe, đưa đón nhau rất vất vả. Khi cơ quan sơ tán, những gia đình chia ra, vợ, chồng, con cái, ông bà mỗi người một nơi do hoàn cảnh công tác và học tập. Lúc này phương tiện ô tô chạy đường dài và tàu hỏa Nhà nước vốn đã quá ít, càng thêm quá tải.

Tình hình đi lại của cán bộ, công nhân, học sinh, sinh viên trên các tuyến đường liên tỉnh đặc biệt căng thẳng vào các năm 1969-1971. Tết năm Kỷ Dậu (1969) ở Hà Nội xảy ra vụ “Xô Viết nhà ga” vì những người quê Nghệ Tĩnh phá cửa sắt ga Hà Nội tràn vào đường ray khiến tàu không đi được, một số nhân viên nhà ga bị thương. Nguyên nhân vụ này là do lượng khách quá đông, tàu không thể đáp ứng.

Sau khi Giôn-sơn (Lyndon B. Johnson, tổng thống Hoa Kỳ từ 11/963 đến 1/1969) tuyên bố ngừng bắn từ vĩ tuyến 19 trở ra, những người có quê ở Nghệ Tĩnh nóng lòng muốn về thăm quê xem mức độ tàn phá đến đâu và người thân ai còn ai mất. Họ tạm được sống yên ổn nhưng cha mẹ, họ hàng, bạn bè vẫn đang trong tầm bom đạn giặc ném xuống bất cứ lúc nào. Hơn nữa họ cũng muốn mang một ít quà tết ở Thủ đô về cho người thân trong dịp năm mới.

Giá vé tàu Hà Nội – Vinh chỉ có hơn 3 đồng một chỗ ngồi, nhưng dân “phe vé” bán đắt lên tới 10-15 đồng vẫn không có mà mua. Người ta chen lấn, xô đẩy ở cửa ga, kết quả người không có vé thì lách được vào, kẻ chịu mua vé giá cao lại đang ở ngoài, dẫn đến sự phẫn nộ, đập phá. Tình hình ở bến xe ô tô Kim Liên cũng xảy ra tương tự đối với khách đi tuyến Hà Nội – Thái Bình (theo hồ sơ lưu trữ của ngành giao thông công chính thành phố Hà Nội năm 1969-1970). Tình hình trật tự ở ga Hà Nội và bến xe Kim Liên vào dịp Quốc Khánh (2/9) và Tết âm lịch những năm 1973 và 1974 cũng phức tạp không kém năm 1969.

Vấn đề nhà ở của cư dân thành phố, thị xã, khu công nghiệp trong thời gian chiến tranh có thể chia làm hai thời kỳ: từ năm 1966-1969 do các cơ quan, trường học và các hộ dân phải đi sơ tán về nông thôn nên chỗ ở không còn là nhu cầu bức thiết nữa.

Sau khi Mỹ hạn chế ném bom từ vĩ tuyến 19 thì vào mùa xuân Canh Tuất (1970), các cơ quan và hộ dân bắt đầu chuyển dần về thành phố, thị xã. Mặt khác, tình hình dân số cũng tăng cả hai dạng sinh học và cơ học. Sự tăng dân số cơ học chủ yếu do nguyên nhân các cán bộ, công nhân, sĩ quan quân đội quê ở phía Nam vĩ tuyến 19 tìm cách đưa gia đình, họ hàng của mình ra khỏi tọa độ lửa và an toàn nhất là về sống, làm việc trong cơ quan Nhà nước ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Nhà ở do Nhà nước quản lý vốn đã ít, lại bị chiến tranh tàn phá, nên lúc này sức ép tăng dân số đã trở nên gay cấn. Tâm lý người cán bộ trong biên chế Nhà nước, đặc biệt là những người có chức quyền hoặc học hàm, học vị dù đã có chỗ ở với bố mẹ vẫn muốn được ở nhà lắp ghép do Nhà nước phân. Ðiều này dễ hiểu vì trong cơ chế quản lý thời đó, được ở nhà tầng là biểu hiện trước mọi người về vị thế xã hội của mình. Mặt khác, được phân căn hộ là có thêm một tài sản đáng giá, khi cần có thể “hỏa hồng” cho người khác được một số tiền không nhỏ – tuy hiện tượng này thời đó chưa phổ biến.

Với tất cả những lý do vừa nêu, cho dù là từ năm 1970 Nhà nước cố gắng xây thêm một số khu nhà cao tầng ở Kim Liên, Láng, Nguyễn Công Trứ… ở Hà Nội thì cũng chỉ là muối bỏ bể so với nhu cầu nhà ở ngày một tăng.

Vụ án về một phụ nữ ở quận Lê Chân – Hải Phòng phục ở cửa, chặn đón đường ông phó giám đốc Sở nhà đất trước giờ đi làm để nhét cả gói phân vào mồm ông ta là một điển hình. Các báo lớn năm 1971 tường thuật về phiên tòa xử vụ này đã làm xôn xao dư luận. Người đàn bà khai trước tòa: Căn hộ của bà vốn ở từ trước năm 1954, không có tranh chấp gì; từ năm 1965 gia đình bà đi sơ tán, đến năm 1970 quay về thì căn hộ đã bị ông phó giám đốc Sở nhà phân cho người quen, gia đình bà phải ở trong góc tăm tối gần nhà vệ sinh; đơn từ, thưa kiện nhiều lần không được giải quyết nên bà ta nghĩ mình chịu ngửi phân nhiều rồi nay để ông ấy ngửi một lần trước bàn dân thiên hạ. Tòa xử bà 18 tháng án treo vì tội xúc phạm danh dự và thân thể công dân nhưng bù lại bà được trả lại nhà như cũ.

Vụ thứ hai xảy ra ở khu nhà ký túc xá của học sinh trường Trung cao cơ điện trên đường Nguyễn Trãi, quận Ðống Ða (nay là quận Thanh Xuân). Khi trường này đi sơ tán về thì toàn bộ 6 khối nhà 5 tầng nằm bên phía tay phải cổng trường bị cán bộ công nhân khối nhà máy cao – xà – lá chiếm làm nơi ở. Nhà nước đành phải đề ra phương án: phần còn lại của trường Trung cao cơ điện giao cho trường Ðại học Tổng hợp quản lý, còn trường Trung cao cơ điện phải chuyển toàn bộ lên Thái Nguyên.

Năm 1974 xảy ra vụ tranh chấp giữa giáo viên, học sinh trường Kế toán – Tài chính trung ương với Bệnh viện E…
Nhìn chung tình hình chỗ ở của các thành phố khác như Việt Trì hoặc khu mỏ Quảng Ninh trong thời gian này khá căng thẳng. Tuy nhiên căng thẳng nhất vẫn là Hà Nội.

Kỹ sư LVH quê ở Thanh Hóa, làm việc tại một cơ quan thuộc Bộ công nghiệp nặng sống ở Thanh Xuân kể:

“Tôi lấy vợ năm 1965. Ðến năm 1972 vợ tôi sinh cháu gái thứ hai thì bị băng huyết. Hai vợ chồng được phân một buồng xép ở chiếu nghỉ cầu thang nhà tầng rộng 9m2 đủ kê một cái giường và bộ bàn ghế con vừa uống nước vừa làm việc. Mọi thứ sinh hoạt khác đều ở dưới sàn nhà bé tí teo. Bố vợ tôi thương con gái lặn lội từ Thanh Hóa mang gà, gạo nếp ra thăm. Thấy con trai tôi quấn quýt với ông ngoại nên đêm ấy tôi bố trí cho con ngủ với ông dưới đất còn mình với vợ và đứa bé mới sinh ngủ trên giường. Sáng sớm tôi giật mình thấy ông cụ bỏ ra ga về quê không nói một lời nào. Từ đó tôi mang tiếng với làng mạc, họ hàng khinh bố vợ nhà quê cho ngủ dưới đất còn mình nằm giường. Ðến chết tôi cũng không quên nỗi nhục này.”

Nhà văn Tô Ngọc Hiến xuất thân là thợ mỏ ở Quảng Ninh kể lại một giai thoại thợ mỏ Ðèo Nai mang màu sắc tiếu lâm cười ra nước mắt:

“Ở khu tập thể công nhân mỏ Ðèo Nai mỗi gia đình được chia nửa gian nhà cấp 4 rộng chừng 12m2. Nhà nào đông con thường gặp điều bất tiện trong sinh hoạt vợ chồng vì nghề nghiệp nảy sinh sự éo le. Có nhà chồng làm ca đêm, còn vợ làm ca hành chính. Suốt một tuần vợ chồng chỉ giáp mặt nhau vào bữa cơm chiều, muốn “sinh hoạt” một lúc lại vướng ba đứa con mà nhà thì quá chật. Ðến cuối tuần anh chồng không chịu được nghĩ cách sai con đi làm một số việc. Hai đứa lớn anh sai đi ra phố mỏ vì thiếu gì việc cho chúng chạy chừng 15 phút. Riêng đứa con nhỏ mới 5 tuổi thì anh bí quá vì không dám sai đi ra phố sợ xe cộ cán phải thì nguy, mà trên vùng mỏ vốn nhiều xe đi lại rầm rập. Cuối cùng anh nghĩ ra cách sai đứa con 5 tuổi ra đầu ngõ mua nước mắm nhưng không đựng bằng bát mà đựng bằng… đĩa. Miệng đĩa thì rộng, lòng đĩa thì nông nên đứa bé phải đi rón rén đủ 15 phút…”

5. Phân hóa giàu nghèo trong cư dân đô thị

Phân hóa trong sinh viên, trí thức Trong số gần 8 vạn học sinh chuyên nghiệp, sinh viên đại học thời chiến tranh, có khoảng hơn 6.000 người được du học ở Liên Xô và Ðông Âu. So với những sinh viên ở trong nước rất đói khổ vì phải đi sơ tán, số người này có đời sống tương đối tốt trong 4 hoặc 5 năm học. Khi về nước họ có hai lợi thế so với người học trong nước: Một là trình độ ngoại ngữ hơn hẳn sinh viên tốt nghiệp trong nước. Hai là vì có chút hàng hóa mang về, tuy không nhiều nhưng so với mức sống chung là cả một gia tài lớn thời đó, họ dễ dùng tiền xin việc làm ở thành phố, kiếm được căn hộ lắp ghép. Lấy học sinh đi du học tại Liên Xô (năm 1970-1975) làm ví dụ: “Lương sinh viên 90 rúp/tháng, nghiên cứu sinh 120 rúp/tháng. Các khoản ăn, uống và sinh hoạt phải chi khoảng 50-60 rúp/tháng, còn dư ra khoảng 30-60 rúp/tháng.

Tính ra sau mỗi năm học, họ dành dụm được khoảng 400-500 rúp. Tiểu chuẩn cho phép sinh viên 2 năm về phép một lần, thì khi về họ có khoảng 1.000 rúp. Nếu căn cứ vào giá hàng hóa của Nga thời đó sẽ thấy sinh viên Việt Nam đi học Liên Xô chẳng mua được gì mấy trong lần nghỉ phép. Giá một số mặt hàng mà người Việt Nam hồi đó ưa chuộng như sau: Máy ảnh Kiev (180 rúp), bàn là (7 rúp), máy khâu Minsk (35 rúp), xe đạp Sport (40 rúp), radio-quay đĩa Rigonda (120 rúp), xe máy Java (200 rúp)… Tổng cộng sau 5-6 năm học ở Liên Xô (một lần về phép) sinh viên đi học có thể mua về nước được: 1 xe máy, 1 xe đạp, 1 máy ảnh, 2-3 quạt điện, vài chiếc bàn là, 1 đài rađiô quay đĩa, một máy khâu và một số đồ nhôm, bàn ghế gấp… Ai chịu khó không đi phép giữa kỳ hoặc tham gia lao động ở nông trường vào dịp hè có thể mua được nhiều hàng hơn. Ai mua nhiều sách kỹ thuật, văn học hoặc thích đi nhà hát sẽ gần hết tiền để dành, vì một vé xem opera, ba-lê giá 15-20 rúp. Học sinh, sinh viên đi học ở Ðông Ðức lương 600 mác/tháng, giá hàng hóa rẻ hơn ở Nga nên thường giàu hơn một chút. Học sinh đi học ở Ðức về thường có xe Diamant hoặc Mifa, xe máy Simson hoặc Star, máy ảnh Praktica… (Nguồn: Ngoại thương Việt Nam 1976-1996, phần 11, của tác giả ÐP, Viện Kinh tế học, 5/1999).

Sự phân hóa trong nhóm cán bộ công nhân biên chế Nhà nước khá sâu sắc, mặc dù nó được che đậy bởi vỏ bọc bình đẳng tới mức lương Bộ trưởng chỉ gấp 5 lần lương công nhân quét rác. Trước chiến tranh, sự phân hóa mức sống chỉ thể hiện qua chế độ tem phiếu và sự ưu đãi cung cấp về nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt… theo bậc lương, chức vụ. Bắt đầu từ năm 1967, các biểu hiện trên vẫn còn, nhưng xuất hiện nhiều dạng thức phân hóa khá mạnh mẽ và có nhiều bất hợp lý, trái với quy luật kinh tế.

Khổ nhất trong nhóm này là công nhân xí nghiệp, nhân viên hành chính, giáo viên có bậc lương thấp từ 36 đồng, 45 đồng đến 63 đồng. Người công nhân từ lúc mới vào nghề lương 36 đồng/tháng đến lúc hưởng lương bậc 2/7 là 58 đồng/tháng, được hưởng tem phiếu hạng bét, nếu có con đi học sẽ luôn trong tình trạng thiếu tiền, có lúc phải bán phiếu vải, phiếu thịt đi lấy tiền chi tiêu trong gia đình. Người giáo viên hoặc nhân viên hành chính lương 45-63 đồng có tem phiếu bìa E, bìa D ở mức cung cấp thực phẩm quá ít, lại phải chịu tiêu chuẩn 13 kg/tháng, thường là đói ăn và thiếu đạm nghiêm trọng.

Thầy giáo NQV, sinh năm 1936, hiện nghỉ hưu tại khu tập thể Trung Tự kể:

“Hai vợ chồng tôi đều là giáo viên, gạo 13kg/tháng, lương vợ 56, lương chồng 70, cộng với phụ cấp khu vực 12% và thâm niên (chồng 6%, vợ3%), tất cả nhà trông vào 147 đồng và mấy bìa phiếu nên đói lắm. Ba đứa con đi học, quần áo, giấy bút không đủ. Nhiều bữa vợ chồng thay nhau ra xếp hàng mua “mì không người lái” (loại mì chỉ nấu với nước, muối, mắm không có thịt) 1,5 hào/bát, mỗi lần một người xếp hàng mua được 2 bát, nên 5 lần xếp hàng mới mua được đủ 10 bát cho cả nhà 5 người ăn thay cơm vì hết gạo.”

Ðối với người công nhân viên chức, giáo viên lương thấp, niềm hi vọng có khoản thu nhập thêm là những đợt cơ quan bán hàng căng tin. Người nghiện thuốc lá, mỗi xuất nam giới mua 2 bao thuốc Tam Ðảo, 3 bao Trường Sơn cũng phải đem bán, mua thuốc cuốn hút, lấy tiền chênh lệch phụ thêm vào bữa ăn.

Ông QTT công nhân cơ khí Nhà máy Bóng đèn phích nước kể:

“Thuốc lá tiêu chuẩn được mua 2 bao Tam Ðảo và 3 bao Trường Sơn. Tam Ðảo giá 4 hào/1 bao, bán cho hàng nước được 7-8 hào/1 bao; còn Trường Sơn giá 2,5 hào/1 bao, bán được 4 hào/1 bao, tổng cộng một suất lãi được 1,05-1,25 đồng. Tôi mua nửa lạng thuốc lá cuốn giá 7 hào vẫn thừa ra 3,5-5,5 hào cho con mua vở, mực, ngòi bút… Giấy cuốn thuốc lá thì dùng giấy lịch, giấy đánh máy hỏng của văn thư nhà máy hoặc thậm chí giấy báo…”

Mỗi đợt cơ quan phân phối phụ tùng xe đạp là cả một cuộc cọ xát, bình xét ồn ào. Ðối với người lương thấp, 1 xích líp xe đạp của Trung Quốc mua 4 đồng/chiếc bán được 10 đồng/chiếc, lãi 6 đồng; 1 săm Sao Vàng 5 đồng/chiếc bán được 8-9 đồng/chiếc… Tất cả đều là thu nhập thêm bù đắp vào sinh hoạt vốn rất thiếu thốn. Hiện tượng này được mô tả khá sinh động trong tiểu thuyết Ðám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, với hình tượng nhân vật Tự.

Những người có mức sống no đủ, sung sướng thời chiến tranh, gồm hai loại.

Thứ nhất là những người nắm quyền lực hoặc có lương cao. Số người này thực ra không nhiều và xét cho cùng họ xứng đáng được hưởng. Họ được hưởng tem phiếu từ bìa C1, C2 đến A, B. Họ được Nhà nước cấp nhà rộng, phương tiện đi lại, một số tiện nghi sinh hoạt… và có tiêu chuẩn chữa bệnh ở bệnh viện riêng (Bệnh viện Việt Xô, nay là Bệnh viện Hữu Nghị), bệnh nặng có thể được ra nước ngoài chữa bằng kinh phí Nhà nước đài thọ.

Thứ hai là những người giàu có bằng việc “kinh doanh chức nghiệp”, tuồn hàng ra thị trường tự do, ăn cắp, hối lộ… Loại này chức vụ và bậc lương không cao, chủ yếu là những người nắm nguồn hàng, tiền, phương tiện vận chuyển… của Nhà nước. Họ là cán bộ cấp tem phiếu, cán bộ tuyển sinh đi học nước ngoài và học đại học, trung học chuyên nghiệp trong nước thuộc các sở, ty cấp tỉnh đến Trung ương. Một số lượng đông đảo hơn là nhân viên các cửa hàng bách hóa, thực phẩm, lương thực, lái xe ở tất cả các cấp từ huyện lỵ, tỉnh lỵ đến thành phố Hà Nội, Hải Phòng…

Như đã trình bày ở các phần trên, việc phân chia ra nhiều chế độ đãi ngộ trong cán bộ công nhân viên chức xét về năng lực, sự cống hiến và địa vị xã hội là xứng đáng, không có gì đáng phê phán nặng nề như nhiều nhà nghiên cứu đã thổi phồng lên. Cái đáng phê phán là hình thức phân biệt đãi ngộ lẽ ra chỉ nên quy vào tiền lương một cách rạch ròi, sòng phẳng, thì người ta lại đẻ ra đủ loại tem phiếu phức tạp, tạo kẽ hở cho một số người làm giàu bất chính quá dễ, quá nhanh.

Trước hết nói về loại người giữ và duyệt cấp tem phiếu. Hệ thống này nằm từ cấp huyện, tỉnh, thành lên đến Bộ Nội thương. Vì nó là tiền, lại không phải là tiền, nên sinh ra cấp khống, cấp ẩu và thậm chí tuồn ra thị trường từng tập tem phiếu, mà nếu có bị tố giác thì mức độ tội phạm không nặng như ăn cắp tiền.

Trong thời kỳ này (1974) dư luận xôn xao bởi vụ án Nguyễn Trí Tuyển, Phó giám đốc Sở Thương nghiệp Hà Nội đã cấp khống một lượng lớn tem phiếu, nếu qui đổi giá trị ra tiền có thể xây được nhà máy Trung qui mô (Nhà máy cơ khí Hà Nội). Nhưng ông ta và các cộng sự chỉ thu được 1/10 giá trị quy đổi đó, còn kẻ được lợi nhiều nhất là gian thương “phe tem phiếu” (theo lời kể của luật sư V tham gia phiên tòa, hiện về hưu, sống ở Hà Nội).

Tem gạo là một thứ dễ làm giả, nên ngoài lượng phát khống rò rỉ từ ngành thương nghiệp, trong xã hội xuất hiện bọn tội phạm làm tem gạo giả, loại từ 250 gam đến 5 kg. Năm 1971 tại Viện Ðịa chất và khoáng sản (Thanh Xuân- Hà Nội) có một kỹ sư phạm tội làm tem gạo giả bằng in lưới và chịu ra tòa nhận án phạt 2 năm tù giam. Một loại nữa là phiếu sữa dùng cho sản phụ bị mất sữa, rất khó quản lý. Nhân viên phòng thương nghiệp chỉ cần móc ngoặc với bác sĩ bệnh viện cấp giấy chứng sinh giả và xác nhận mất sữa cho người giả mạo là trót lọt. Hiện tượng này đã gặp ở bệnh viện Hải Phòng, Nam Ðịnh, Việt Trì, Hòn Gai…

Hình thức làm giàu đơn giản nhất, dễ nhất là tuồn hàng nhà nước ra thị trường tự do mà các lỗ rò rỉ là nhân viên bán hàng. Tại các cửa hàng bách hóa thường có qui định bất thành văn là dành một lượng 10% số hàng nhập về như: thuốc lá, đường sữa, bánh kẹo, giấy viết, xoong nồi, bát đĩa… để bán theo lệnh của quan chức địa phương phục vụ hội nghị, khách đến công tác hoặc nhu cầu đột xuất. Theo ông NÐB, cửa hàng phó cửa hàng bách hóa phục vụ công trình khảo sát đập sông Ðà ở phố Ðúng, thị xã Hòa Bình, năm 1970 cô H là nhân viên bán hàng đã thông đồng với một cán bộ Ủy ban trị thủy sông Ðà tuồn hàng ra ngoài từ lỗ rò rỉ này mà kiếm đủ tiền về Hà Nội tậu nhà, mua xe đạp Diamant, đài bán dẫn, quần áo đắt tiền… Nếu chỉ trông vào lương tháng 45 đồng thì cô H phải ăn nhịn để dành 20 năm mới mua được 1 chiếc xe đạp là cùng.

Bà L nhân viên cửa hàng lương thực của một quầy gạo trong quận Ba Ðình (lúc đó là khu Ba Ðình) nói:

“Chúng tôi chẳng cần đến thủ đoạn tham ô mà theo quy định về tỉ lệ gạo, mì bị mốc, chuột ăn, rơi vãi thời đó là 5%-7% cũng đủ cho chị em chia nhau một khoản tiền gấp 4-5 lần lương tháng. Những đợt gạo về chậm, dân xếp hàng dài từ 3-4 giờ sáng, chúng tôi giúp bạn bè bên bách hóa, thực phẩm mua hộ gạo cho người thân của họ, tất nhiên họ sẽ có cách giúp đỡ chúng tôi khoản thịt, cá, thuốc lá, đường, sữa. Ðó cũng là một thứ thu nhập.”

Nói chung, thời đó nhiêu cô gái bán lương thực, thực phẩm, bách hóa đều giàu có. Mốt thời thượng của họ là đi xe đạp Diamant, Mifa màu ngọc bích, đeo hoa tai và nhẫn vàng, đồng hồ Liên Xô loại đắt tiền… Họ là đối tượng chọn vợ của nhiều người, cao giá hơn cả kỹ sư, bác sĩ. Những phụ nữ đứng tuổi làm nghề này thường khôn ngoan hơn, không trưng diện ra ngoài nhưng tiền mặt có hàng nghìn, vàng có hàng vài chục cây.

Lái xe cũng là một thứ nghề hái ra tiền bằng phương tiện Nhà nước. Trong thành phố Hà Nội, tuyến xe Bờ Hồ – Hà Ðông và Yên Phụ – Hà Ðông luôn chật cứng người đứng chen chúc. Trừ số người đi vé tháng chiếm 1/3, còn lại số đi vé ngày không sao kiểm soát được, Nhà nước đành khoán tiền theo chuyến. Ðây là kẽ hở cho lái xe kiếm thêm ngoài lương.

Ông NVM lái xe tuyến đường này kể:

“Trung bình mỗi tuần chúng tôi ăn tiêu xả láng rồi, lái và phụ xe còn chia nhau mỗi người được 100-150 đồng, bằng hai suất lương cả tháng. Lái xe khách đường dài kiếm tiền bằng vé lậu, chở hàng cấm và dân buôn.” Ông HVM ở bến xe thị xã Thái Bình kể: “Hồi đó có khẩu hiệu ‘yêu xe như con, quí xăng như máu’, thật ra chỉ các chiến sĩ lái xe tuyến lửa và một số người là vì Nhà nước mà thực hiện, thật đáng khâm phục tinh thần yêu nước của họ. Cánh tài xế lái xe khách đường dài chúng tôi cũng yêu xe như con, quí xăng như máu nhưng lại vì túi tiền của mình trước hết. Mỗi tháng nếu xe chạy đều bọn tôi kiếm ngoài được 200-300 đồng, xe nghỉ sửa chữa là mất tiền nên có khi tự bỏ tiền túi ra sửa để xe có mặt bon bon trên dặm trường kiếm tiền.”

Lái xe tải cũng có nhiều hình thức kiếm tiền. Tuyến đi Tây Bắc, Nghệ Tĩnh chở gỗ quí. Tuyến đi Yên Bái, Thái Nguyên buôn chè. Bình thường ra cũng có thể buôn củi, sắn, lợn, gà, vịt hoặc ngày tết buôn lá dong gói bánh chưng.

Theo lời ông LÐC, lái xe của Bộ Nông nghiệp:

“Hàng hóa thị trường tự do khan hiếm, phưong tiện vận chuyển ít, cái gì thời đó vứt lên xe từ nơi này đến nơi khác cũng kiếm ra tiền. Ðó là chưa kể nhiều lái xe lưu manh, ăn cắp hàng của Nhà nước bằng cách ‘chọc tiết lợn’ nghĩa là rút ruột các bao tải chở gạo, đường, xi măng…”

Sự phân hóa trong nhóm cư dân ngoài biên chế

Trước chiến tranh, đa số những người trong nhóm này sống ở mức nghèo khổ hơn so với cán bộ công nhân viên chức và nông dân tập thể. Bắt đầu từ năm 1966 thực tế đời sống lại có xu hướng phát triển theo chiều ngược lại vì ba lý do:

Thứ nhất, những người làm nghề tự do nhưng có hộ khẩu chính thức ở đô thị mặc nhiên được Nhà nước bao cấp cho một khoản “lương hiện vật”, đó là tiêu chuẩn gạo, dầu hỏa và một số nhu yếu phẩm tối thiểu. Nếu tất cả những mặt hàng này họ đem bán ra thị trường sẽ có giá trị gấp hai thậm chí gấp năm lần giá mua của Nhà nước. Trong khi đời sống cán bộ công nhân do điều kiện chiến tranh bị tụt thấp đi thì những người làm nghề tự do lại có nhiều cơ hội để tìm kiếm thu nhập. Ðơn giản như mở một quán trà hay bơm vá xe đạp, cắt tóc, bán kem, hàn xoong nồi, chữa khóa… đều đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày một tăng nên thu nhập không tồi. Trong phần mô tả mốt sinh hoạt thời chiến, chúng tôi đã phân tích kỹ thu nhập của một quán trà vỉa hè. Có thể nêu thêm một ví dụ về nghề bơm vá xe đạp. Ðồ nghề của họ rất đơn giản, chỉ là một cái bơm và một chiếc hộp gỗ đựng vài cái cờ lê, mỏ lết, kìm, búa, nhựa dính và vài miếng săm rách. Nhu cầu đi lại bằng xe đạp trong chiến tranh rất cao, mà xe đạp thì cũ nát, săm lốp và phụ tùng khan hiếm, bơm vá xe là việc xảy ra thường ngày trên đường phố. Giá bơm một lốp xe 5 xu, vá săm 3 hào/1 miếng. Một người bơm vá xe đạp ở Hà Nội, Hải Phòng ít nhất trong ngày cũng có khách bơm khoảng 20 lốp xe, vá 3-5 miếng săm, bằng lương một giáo viên cấp 2 hay nhân viên văn thư đánh máy của cơ quan hành chính, lại vẫn có sổ gạo, phiếu dầu!

Thứ hai, do những khó khăn của thời chiến, Nhà nước tuy không khuyến khích nhưng ngầm thả lỏng các hộ tiểu thương buôn bán ở các chợ và mở sạp hàng nhỏ tại nhà. Sơ hở trong quản lý kinh tế – xã hội của Nhà nước trong giai đoạn này là một mặt cấp đăng ký kinh doanh cho họ, mặt khác vẫn bao cấp sổ gạo và chất đốt, nhu yếu phẩm theo đăng ký hộ khẩu. Lẽ đương nhiên, thu nhập của các hộ tiểu thương này, đặc biệt ở các chợ lớn như Ðồng Xuân (Hà Nội), chợ Sắt (Hải Phòng), chợ Rồng (Nam Ðịnh)… thừa đủ để mua gạo, chất đốt theo giá tự do, nhưng Nhà nước đã vô tình cấp thêm cho họ một khoản thu nhập nữa bằng tem phiếu (?).

Bà H bán hàng khô ở chợ Bắc Qua kể:

“Tôi và các chị em bạn hàng trong chợ phần lớn mua ‘gạo bông’ của mậu dịch về đem các thêm tiền đổi lấy gạo quê để con cái ăn có chất mà học hành. Phiếu chất đốt chúng tôi đun nấu nhiều hơn các hộ cán bộ nghèo nên cũng thường phải mua thêm, mỗi nhà thường mua 5-10 lít dầu hàng tháng.”

Bà T có cửa hàng tạp hóa phố Hàng Ðào (Hà Nội) kể:

“Dân phố buôn ở Hàng Ðào chúng tôi thời ấy ai cũng chỉ bày vài thứ lèo tèo trong cái tủ con, nhưng khách mua các tỉnh về cất hàng bao nhiêu cũng có, loại gì cũng chiều. Tiếng là buôn bán nhỏ mà có khi doanh số ngầm của nhiều nhà còn không thua cửa hàng bách hóa mậu dịch ở số nhà 100 cùng phố. Tôi ít vốn nhưng thu nhập cũng khá, các con sống no đủ, không phải ăn gạo mậu dịch bữa nào.”

Thứ ba, cũng từ căn bệnh của mô hình quản lý bao cấp thời chiến đã hình thành trong xã hội đô thị một thứ chợ đen. Hàng hóa Nhà nước càng thiếu thì các kênh rò rỉ từ cán bộ, nhân viên Nhà nước như đã nói ở phần trên càng hoạt động mạnh, đẩy nhanh quá trình phân hóa mức sống trong nhóm cư dân ngoài biên chế ở đô thị, làm cho đội ngũ “dân phe” mỗi ngày thêm đông và trở thành đẳng cấp giàu có rất nhanh. Giàu nhất là “dân phe” các mặt hàng xe đạp, xe máy, kim khí, đồ điện gia dụng. Hoạt động trong lĩnh vực này thường là nam giới ở độ tuổi 30-40. Phương thức hoạt động của họ có hai dạng. Một là nghề môi giới hay còn gọi là “buôn nước bọt”. Hàng hóa trao đổi trong các cuộc buôn bán nước bọt thường là xe máy, đồng hồ, xe đạp và máy thu thanh các loại do Việt kiều từ Tân Ðảo mang về, cán bộ đi công tác ở nước ngoài mua về không có nhu cầu sử dụng, sinh viên đi học Ðông Âu về phép hoặc đã tốt nghiệp. Lối “buôn nước bọt” này có thể ăn chênh lệch giá của cả bên mua lẫn bên bán tùy theo “bản lĩnh” của người môi giới. Hình thức thứ hai là bỏ vốn ra móc ngoặc với nhân viên giữ kho, bán hàng của Nhà nước để đánh từng lô hàng, chủ yếu là phụ tùng xe đạp, xe máy và vật tư, nguyên liệu cho các nhà sản xuất hàng lậu. Kiểu buôn bán này giàu nhanh chóng nhưng nguy hiểm, thường là những đối tượng đã từng có tiền án, tiền sự. Cả hai phương thức trên đã tạo ra một lớp người giàu có gấp nhiều lần các gia đình cán bộ có chức quyền. Mốt sống của họ có thể hình dung qua câu ca dao:

Một yêu anh có Sen-kô
Hai yêu anh có mô tô “cá vàng”
Ba yêu nhà cửa gọn gàng
Bốn yêu hộ tịch đàng hoàng thủ đô…

(Ðồng hồ Sen-kô của Nhật; xe cá vàng là loại xe mobylet của Pháp đời mới thời đó do Việt kiều Tân Ðảo mang về. Những thứ này vào những năm cuối 60 đầu 70 ở Hà Nội còn sang trọng hơn cả chiếc xe ôtô Toyota Nhật bây giờ. Chỉ có “dân phe” mới có tiền mua.)

Lực lượng đông đảo nhất trong số “dân phe” là những người “phe” tem phiếu và các mặt hàng nhu yếu phẩm như thuốc lá, đường, sữa, thịt, cá… Loại này thường là phụ nữ từ 16-50 tuổi. Họ hoạt động ở các chợ, quanh các cửa hàng bách hóa, thực phẩm, lương thực. Biểu tượng phô diễn giàu sang của họ là xe đạp Diamant, Mifa (Ðức), Phượng Hoàng xích hộp (Trung Quốc), vàng trang sức và đồng hồ ngoại (Nhật, Thụy Sĩ). Sự liên kết của đám người này với nhân viên ngành thương nghiệp rất chặt chẽ, làm băng hoại đạo đức nhiều cán bộ có chức quyền.

Lời kết:

Mô hình kinh tế Stalin giai đoạn 1966-1975 là một bước kiện toàn cao hơn của mô hình sơ khởi giai đoạn 1961-1965. Xét về mặt đời sống nhân dân, nó đã phát huy được một số ưu điểm trong điều kiện chiến tranh mà những mô hình khác khó có thể làm tốt hơn. Nhưng những ung nhọt của nó cũng đã bộc lộ rõ, điển hình là sự phân hóa giàu nghèo trong các tầng lớp cư dân một cách dị mọ, trái quy luật. Sự phân hóa đó cũng tạo ra tích lũy và mầm mống của kinh tế thị trường mang tính hoang dã. Một thị trường hoang dã sẽ có sức công phá đất nước sau này còn hơn cả bom đạn chiến tranh của giặc ngoại xâm mà bây giờ người ta hay nói đến khái niệm “giặc nội xâm”. Trong tác phẩm ký Câu lạc bộ các tỷ phú đã dẫn, tôi đã chứng minh đầu những năm 90, Hà Nội có khoảng 70% số tỷ phú thuộc 3 đối tượng: cán bộ Nhà nước mà thời bao cấp là những kẻ ăn cắp hàng, tem phiếu cung cấp, có vốn tích lũy, lại biết luồn sâu leo cao để có quyền lực; những người buôn bán chợ đen cũ, quen thói chụp giật chứ không sản xuất ra sản phẩm; bọn lưu manh vào tù ra tội đã nhiều nên làm ăn liều lĩnh kiểu xã hội đen. Ba loại tỷ phú này câu kết với nhau trong một thứ mafia quyền lực – kinh tế, lợi dụng chính sách nhà đất rất lạ đời và kẽ hở của các ngành ngân hàng, ngoại thương, xây dựng cơ bản… để làm giàu và thao túng nền kinh tế đất nước.

Hà Nội, 5/1999

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4896&rb=0302

*Các bài viết khác có  liên quan tới bài này là

*+ Nông dân và nông thôn là đối tượng bị đánh tàn bạo nhất trong cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam (nên đọc)

+ Tôi khóc cho ngày 30 tháng tư  vì thấy nền văn minh đã thua một chế độ man rợ

—————————————————————————————————————————————————-

Ghi chú của TH (tạm viết để đây, sẽ coi lại và cập nhật sau)

Dưới đây là bản so sánh thu nhập cá nhân của mỗi người dân Nam Hàn và người dân  VNCH dưới thời TT Ngô Đình Diệm. Bối cảnh VN vào năm 1954, khi ấy, TT Diệm  lo định cư nhà cửa, chỗ ăn, chỗ ở, trường học, việc làm cho 1 triệu người dân miền Bắc đã di cư vào miền Nam khi hiệp định chia đôi đất nước Geneve 20-7-1954.

Những năm ấy, dân chúng miền Nam vẫn sống rất sung sướng. Khung cảnh thanh bình, xã hội có trật tự, giáo dục lành mạnh, bác sĩ và y tá cư xử với bệnh nhân như người thân. Đây cũng là bối cảnh  cho các nhạc sĩ trẻ tuổi (Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Trịnh Công Sơn, Nhật Ngân, Phạm Duy, Trịnh Lâm Ngân, Trần Trịnh…) đã sáng tác các bản nhạc tuyệt vời vào thời gian này.

Cần ghi nhớ là TT Ngô Đình Diệm không ký vào hiệp định này, mà chỉ cử quan sát viên đến tham dự. Hiệp định 20-7-1954 do Trung Quốc hổ trợ Miền Bắc ký với Pháp để chia đôi VN.

Hiệp định 1954 do Trung Quốc đứng đàng sau xúi dục và giúp đảng Lao Động VN (thực chất là đảng Cộng Sản VN) đạt được hiệp ước này. Sau khi ký xong, thì trên danh nghĩa, đảng CSVN chiếm được 1/2 nước VN.

Tôi nghi là đảng csvn đã nhường Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc vào năm 1951, để đổi lấy sự giúp đỡ về quân viện, lương thực, vũ khí chống Pháp và  đánh Điện Biên Phủ và tiến tới hiệp định Geneve 20-7-1954, lấy 1/2 Việt nam.

Vì vậy, ngay sau khi đạt được 2 mục tiêu này, Trung Cộng đòi công ngay, và đó là kết quả của Công Hàm 1958 của TT Phạm văn Đồng ký. Nhưng hồi ấy,  Trung Quốc và miền Bắc đều dốt nát về luật pháp, về luật công pháp, nên các hiệp ước ấy tuy được thực hiện, có chữ ký công nhận,  nhưng không hoàn chỉnh về độ chính xác của ngôn ngữ so với các hiệp ước khác. Bởi vậy, công hàm 14-9-1958 không nói lên điều gì rõ ràng khi Trung Quốc tung ra vào năm 2000. Hoặc, đó  chỉ là một phần của các tài liệu hoàn chỉnh hơn, đang được cả  Trung Quốc và đảng CSVN giữ kỷ. Trung Quốc chỉ công bố công hàm 14-9-1958 do Phạm Văn Đồng ký, để dọa dẫm đảng CSVN phải tuân thủ, nhường đất đai, hay phải ký các hiệp định biên giới vào năm 1999 và năm 2000.

Vào năm 1954, TT Diệm mới nắm quyền ở Miền Nam, ông không thể cự lại với 3 cường quốc lúc ấy là Trung Cộng, Pháp, và Mỹ. Cả 3 nước này ép buộc TT Diệm ký hiệp định, nhưng ông Diệm không chịu. Thế là cả 2 nước kia hổ trợ và Pháp tự ý ký với miền Bắc.

Lê Duẫn thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam 1960, và gởi quân từ Bắc vào xâm nhập miền Nam. Khởi đầu là MTGPMN hoạt động ở miền quê, các tỉnh. Người nông dân sợ chiến tranh bắt đầu di chuyển về thị xã và các quận lân cận và các thành phố lớn.

Người dân miền Nam bỏ ruộng đồng,  mức sản suất nông nghiệp suy giảm, được đánh dấu kể từ khi đảng Cộng Sản VN do Hồ Chí Minh và Lê Duẫn lãnh đạo và chính thức xâm lược vào miền Nam vào năm 1960 (xem bản dưới đây).

Điều xảo trá và đểu giả nhất là đảng tuyên truyền: Mỹ xâm lược miền Nam, nên “ta đánh để giải phóng nhân dân miền Nam khỏi tay Mỹ Ngụy đang kềm kẹp”? Mỹ mà có mặt ở miền Nam 1960?

Chính TT Diệm không cho Mỹ đem quân vào miền Nam, nên ông mới bị giết chết 1-11-1963. Trước đó, ông cũng đã bị đảo chánh hụt vào năm 1960 vì lý do ông đã không cho Mỹ đem quân đổ vào miền Nam đánh cộng sản VN. Cuộc đảo chánh 1960 cũng có phần Mỹ nhúng tay vào để cảnh cáo ông Diệm.

Khi ông Hồ Chí Minh, Lê Duẫn và đảng cộng sản VN chính thức đem quân vào miền Nam 1960, kinh tế miền Nam bắt đầu suy yếu. Các cầu cống bị quân cộng sản giựt sập, đường liên tỉnh lộ bị đặt mìn. Hàng ngày, báo chí và đài phát thanh cũng đăng tin nhiều xe đò bị mìn, bao nhiêu người chết, bao nhiêu người bị thương.

Cái giá của cuộc chiến là hơn 1.100.000 bộ đội miền Bắc đã chết (số này là đã nói giảm bớt 3 lần, vì năm 1980s, sau nhiều lần từ chối, cuối cùng, các ký giả nước ngoài đã đăng tin các sĩ quan cao cấp của Bộ quốc phòng nước CHXHCNVN cho biết có 3 triệu bộ đội miền Bắc, MTGPMN đã chết trong chiến tranh VN ).

Kết quả là Nam Hàn bắt đầu vượt qua mức thu nhập cá nhân của người dân miền Nam 1962.

*

-Không Bao Giờ Quên Anh- Nhạc của Hoàng Trang- ca sĩ Cẩm Ly

http://www.youtube.com/watch?v=RrL-nJpbYvQ

-Chuyến Đò Vỹ Tuyến- Nhạc của Lam Phương- ca sĩ Giao Linh

Trong khi dân Hà Nội sống dưới gọng kềm (1954-1975), thì các thi nhân và nhạc sĩ, đã rời khỏi miền Bắc 1954, đang sống ở miền Nam  có các hồi tưởng,  mơ về Hà Nội như sau:  

http://www.youtube.com/watch?v=ElzJGQwYGZk&feature=related

Posted in Miền Bắc trước 30-4-1975- Đời Sống Cư Dân Đô Thị | 2 Comments »

►Lịch sử được viết bởi những kẻ chiến thắng

Posted by hoangtran204 trên 16/05/2012

Tản mạn mùa Hè

Tác giả: Hà Văn Thịnh

Trong tất cả những mùa Hạ, dù có đỏ lửa hay không mà tôi đã biết, chưa có mùa Hạ nào lại nhiều buồn đau và day dứt như năm nay… Có lẽ, không cần nói thì ai cũng biết rằng nguyên nhân chính làm nên những nỗi buồn là những gì tôi và nhiều người khác chứng kiến, ngày một đáng… buồn hơn, giống như giá cả mỗi ngày, càng ngày càng có nhiều nỗi xót xa, uất ức hơn và, càng ngày thì sự chất chứa của những bức bối, càng trở nên ngột ngạt hơn…

Dịp Lễ năm này, tôi về thăm mẹ già và các em, cháu chắt ở Vinh. Đi đâu cũng nghe thấy tiếng ta thán (có khi thầm thì, ngó trước nhìn sau rồi mới lào phào) của người dân. Thậm chí, một người bạn là lãnh đạo cấp Sở nói với tôi rằng, “Nói thật, tôi không biết đang đi về đâu” (!). Anh ấy không nói rõ “cái gì” hay “ai” – kinh tế, văn hóa…, đang “đi”, thành thử tôi cũng chẳng dám đoán mò, bởi thời buổi này viết sai là chết, có khi chưa sai cũng chết.

Anh bạn kể cho tôi nghe một câu chuyện thú vị: Anh ấy viết bài về học tập chính trị, trong đó có câu đại ý – học tập một đàng, làm một nẻo thế này thì ngọn lửa Diên Hồng đã tắt trước khi… học. Tòa soạn báo sửa lại là “ngọn lửa Diên Hồng đang bùng cháy mạnh mẽ”. Kể xong, bạn tôi văng ra một câu: “Thế có chán đời không, biên tập như thế thì viết làm đếch gì nữa” .

Một người bạn khác, cũng ở cấp lãnh đạo thì nói với tôi và vài người khác là nhìn thấy cảnh đập dùi cui vào đầu, vào mặt những nông dân ở Văn Giang, đập cả vào đầu hai phóng viên của VOV, anh không thể cầm lòng được. Khi nói câu ấy, tất cả chúng tôi thấy mắt anh đỏ hoe, còn mắt chúng tôi thì có lẽ cũng hơi cay cay một tẹo gọi là… Anh ấy mơ ước rằng các quan chức địa phương hành xử như thế phải bị kỷ luật, những người dùng dùi cui đập vào mặt dân, vào mặt phóng viên VOV phải bị đuổi khỏi ngành…! Hình như anh bạn tôi là cháu đích tôn của Chử Đồng Tử?

Tại sao chính quyền thực hiện cưỡng chế quyết liệt và tàn bạo thế là câu hỏi của tất cả mọi người khi đề cập đến vấn đề này. Tại sao hai phóng viên, Người Nhà Nước chính hiệu, bị đánh đập dã man mà tất cả đều im gần giống với bồ thóc? Đọc bài của nhà báo Võ Văn Tạo mà đau, mà xót: Nhà báo Việt Nam khổ HƠN… chó! Nhất là, thời điểm của việc cưỡng chế, xét theo ý nghĩa xã hội là phi chính trị và thiển cận vô cùng bởi nó xảy ra chỉ vài ngày trước khi người ta hát khắp nơi “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…”.

Tôi không thể trả lời ngoài cái ý nghĩ giả định (chẳng biết đúng hay sai, nếu sai, nhờ quan chức nào đó dạy bảo dùm): Đó có thể là thông điệp rất rõ ràng rằng những người có trách nhiệm ở Văn Giang không từ bất kỳ thủ đoạn nào, bất kể người dân bị bức bách và đau đớn ra sao, miễn là thực thi được ý chí quyền lực của họ và “thông báo rõ ràng” cho dư luận biết để mà sợ, biết để mà thôi những ngo ngoe…

Lòng dân như thế, cán bộ như kia thì thử hỏi, làm sao mà vui cho nổi? Có một điều đáng mừng là không phải tất cả quan chức đều bịt mắt bưng tai đâu. Họ hiểu và cũng dám nghĩ, dám nói lắm như hai dẫn chứng tôi vừa kể trên, chỉ có điều là cũng chỉ nói ở mức độ… thì thào.

Chẳng bao giờ tôi cắt nghĩa nổi tại sao chính quyền lại tàn nhẫn, trắng trợn và ghê gớm đến thế trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang. Không còn gì để nói về cái thảm thê của mấy chữ khôi hài của dân, vì dân. Coi dân như cỏ rác về địa vị, coi dân như kẻ thù về mặt ý thức quyền lực, coi dân như đối thủ bất cân xứng về quyền lợi, coi dân như một lũ ngu dốt đầy khinh miệt, xét về mặt xã hội và, coi dân như một đám ô hợp không thể nào động đến cái lông chân của vương quyền, xét về mặt tư cách cai trị – là những hình ảnh thật rõ ràng mà các nhà sử học đời sau sẽ nhớ. Ít nhất là nhớ! Nghe đâu người ta đang đổ lỗi cho clip giả (?). Giả mà không bắt được, không tống giam mới tài (!)…

Ngày 30.4, có tin nói rằng máy bay khu trục của Trung Quốc xâm phạm – khiêu khích ngay trên không phận chủ quyền của Việt Nam, rằng TQ chuẩn bị triển khai dàn khoan dầu 30.000 tấn ở Biển Đông… Đến nước này mà còn u mê, nghếch ngốc tin vào sự hữu hảo của bành trướng Trung Hoa thì có họa là bị điên hoặc là mắc chứng bệnh ngu xuẩn bền vững.

Những câu chuyện trong mấy ngày nghỉ lễ bàn rất nhiều về đất đai, về những biệt thự “sống nhờ lương” hoặc là sướng nhờ… của quan chức cao cấp, về những tài sản không thể đo đếm được…

Chợt nhớ trong chuyến đi công tác mới đây ở Phan Rang, tôi nghe mấy vị già cả kể, nào là ngày giải phóng Phan Rang (17.4) – chốt chặn ác liệt nhất trong toàn bộ phòng tuyến Xuân Lộc, hàng vạn con sâu dài từ 5 đến 10 cm bò lổm ngổm đầy đường. Không biết loài sâu ấy có giống với rất nhiều sâu bây giờ (như Chủ tịch nước đã nói) hay không?

Người dân kể chuyện mẹ của ông Thiệu không thèm vào Sài Gòn ở với con trai mà vẫn cứ bán bánh canh ở chợ Phan Rang, rằng ngôi nhà của thân mẫu TT VNCH nhỏ và đơn sơ lắm. Nghe đâu, khi xây cất nhà cho mẹ, ông Thiệu không đồng ý trưng thu –  lấn đất của nhà hàng xóm, bằng chứng là mấy cây dừa trên 50 năm tuổi làm hàng rào giữa hai hộ gia đình vẫn còn nguyên.

Người dân còn kể cho tôi nghe rằng các quan chức địa phương muốn làm đường trải nhựa vào con hẻm có nhà thân mẫu của TT, nhưng ông Thiệu không đồng ý, với câu nói đại ý, nếu rải nhựa thì mọi con hẻm tương tự ở Phan Rang đều phải được rải như nhau…

Mấy chục năm là quãng thời gian không hề ngắn đối với một quốc gia dù đứng dưới bất kỳ góc độ muốn tư biện nào. Mọi ý đồ đổ lỗi cho chiến tranh hay thiên tai, “khủng hoảng chung của thế giới”, thực chất chỉ là muốn khỏa lấp cái trì trệ, kém cỏi của tư duy kinh tế – xã hội hiện đại. Để chứng minh cho điều này, lịch sử nhân loại không hề ky bo: Chỉ cần nhìn vào sự tương phản tàn nhẫn giữa hai miền Nam – Bắc Triều Tiên là đủ để biết sai lầm của quyền lực đã gây ra những hậu quả khủng khiếp và tồi tệ như thế nào!

Những người tự xưng là cộng sản ở Triều Tiên có thể bất chấp tất cả – kể cả số mệnh của đất nước, của hàng triệu người dân miễn là bảo vệ được quyền lợi khổng lồ được sinh ra từ “nguyên tắc” cha truyền con nối.

Tôi ngắm mấy tấm ảnh tôi chụp căn nhà nhỏ (xin nhường sự phân tích, nhận xét cho bạn đọc) của thân mẫu ông Nguyễn Văn Thiệu, ngắm ảnh cái “biệt thự” ven biển của ông, dành cho riêng ông mỗi khi về thăm quê (nghe đâu nguyên trạng đến 90%) trong những ngày hè bức bối để chiêm ngẫm về một cái gì đó thật khó lý giải từ vô thức. Chợt giật mình vì “mới ngộ” (như lời Đức Phật – prajnã) được một trong những điều tối giản của hiểu biết: Lịch sử bị bóp méo cũng nguy hiểm chẳng khác chi tội giết người bởi nó giết chết sự thật, giết chết cả niềm tin của cả một thế hệ.

Tôi chẳng phát hiện được gì nhiều nhưng chắc chắn đã thu được một điều: Căn nhà nhỏ đó không thể mang tính thuyết phục của bằng chứng về sự tham nhũng ghê gớm của ông Thiệu, như tôi đã từng được dạy, không chỉ một lần!

© Hà Văn Thịnh

Nguồn: BVN

 Nhà của thân mẫu ông Nguyễn Văn Thiệu

 Con đường đầy đất đá trước cổng

Biệt thự” – Nhà Mát ở bờ biển Phan Rang (của TT Nguyễn văn Thiệu)

*******************************

Ghi chú của TH:

37 năm qua, số người tỉnh ngộ như giáo sư Hà Văn Thịnh là rất hiếm hoi. Chỉ có những tinh hoa của đất nước có đầu óc tỉnh táo, biết quan sát và so sánh hiện tại và quá khứ, có óc phản biện, biết đúng, biết sai mới tỉnh ngộ và viết ra được các bài tưởng chừng đơn giản như bài ở trên.

Tiếc thay cho lớp người hiện nay, những người đã học xong đại học, bị tuyên truyền, mà không nhận ra, chỉ biết tin theo và nói như vẹt từ những gì đảng dạy trong các giờ học chính trị.  

*Chao ôi! Nhìn tài sản của TT Nguyễn Văn Thiệu để lại (sau 7-8 năm làm tổng thống) mà chỉ có chừng ấy thôi. Nhưng bao nhiêu năm qua, ông đã bị đảng tung tin  “tham nhũng”, buôn lậu, và lấy cắp 16 tấn vàng chở ra ngoại quốc (nguồn). Vậy mà hơn mấy chục triệu người miền Bắc và một số người ở miền Nam đã tin ông Thiệu tham nhũng!

So sánh với tài sản (của nổi)  của các cán bộ đảng cấp tỉnh ủy, quận ủy thời nay thì tài sản của ông Thiệu quá bèo.

Câu lạc bộ Nó Kìa hay clbnokia.wordpress.com có post các hình ảnh của cán bộ cấp tỉnh, huyện, của ủy viên Trung ương đảng của 18 tỉnh và thành phố…như sau

1./http://clbnokia.wordpress.com/2011/01/15/danang_nguyenbathanh/

2./và ở đây  tài sản nổi   

3./Coi ở đây: Nhà bên Hồ Tây của TBT Nông Đức Mạnh

http://phamvietdao2.blogspot.com/2011/09/chuc-mung-ong-nong-uc-manh-sap-khanh.html

4./ và của nổi một ông tổng bí thư khác nữa. Tòa nhà DMC ở  Kim Mã của TBT Đỗ Mười. Năm 2011, Đỗ Mười đã được phong làm Bồ Tát thị hiện.   https://hoangtran204.wordpress.com/2016/02/23/nhung-tam-hinh-h…g-va-ho-phat-gia/

DMC Tower ở 535 Kim Mã, Hà Nội

Hồi còn yahoo.360, một blogger có nhà trong khu vực này cho biết, DMC tower, cao 18 tầng, là do con rễ của ông cựu TBT Đỗ Mười đứng tên làm chủ. Dân ở đó gọi DMC là Đỗ Mười Center.

DMC tower 535 Kim Mã, Hà Nội

5./ Đứng sau lưng mỗi cao ốc (tower) trong website này là tên một đảng viên cao cấp nào đó của bộ chính trị hoặc ủy viên trung ương đảng: duhal.com.vn

Hội nghị Trung Ương lần 5 có lập ra ban thanh tra chống tham nhũng. Ai thành lập gì thì kệ người ta. Các bạn khôn hồn thì đừng tố tham nhũng. “Nếu có tham nhũng”, thì ban thanh tra trong cấp ủy của đảng đã phát hiện rồi, đâu chờ đến phiên các bạn. Số lượng cấp ủy đảng rất là nhiều.

Toàn cả nước có hàng hai ba chục ngàn cấp ủy của đảng. Mỗi cấp ủy đều có ban thanh tra các đảng viên. Nghĩa là hiện có hơn hai ba chục ngàn ban thanh tra cấp ủy đảng.

Với số lượng vài chục ngàn ban thanh tra của cấp ủy đảng, nhưng các bạn có từng nghe ban thanh tra cấp ủy nào đó bỗng nhiên phát hiện đồng chí A, B, C nào đó tội tham ô, vì bất động sản và nhà ở của đồng chí ấy quá nhiều và quá lớn?

Nếu đảng ta không phát hiện được, thì các bạn đừng phát hiện nha.

————

Ghi chú:

Mỗi quận đều có Cấp ủy riêng, cả nước có 698 quận huyện*; mỗi phường, xã có cấp ủy riêng, toàn quốc có  10487 phường xã ủy; có 63 tỉnh ủy, thành ủy. 

Ngoài ra các công sở, bệnh viện, trường học có cấp tủy riêng. Gộp chung lại,  cả nước có hàng hai ba chục ngàn cấp ủy của đảng.

*Danh sách thành phố, quận, huyện, dân số, diện tích

**10487 phường, xã

***danh sách tỉnh, thành phố, dân số, diện tích, số quận huyện

——————————————————————————————————————————————-

“Quan chức“ đua nhau “chơi“ nhà sàn gỗ quý nơi cực Bắc

Cập nhật 26/06/2012 10:26

http://www.phapluatvn.vn/thoi-su/201206/Quan-chuc-dua-nhau-choi-nha-san-go-quy-noi-cuc-Bac-2068269/

Cái sự giàu sang của một số cán bộ ở một tỉnh miền núi nghèo nơi cực Bắc của Tổ quốc – đang phát lộ với hình thức “tậu dựng” nhà sàn bằng các loại gỗ quý hiếm, có lẽ để phòng khi rời chốn “quan trường” có nơi trở về “vui thú điền viên”. Liệu có mấy ai trong số họ đã “minh bạch kê khai tài sản”?.

Cơn mưa rừng ào ào chạy qua ngọn núi Cao Bành để lại một vùng mênh mông quanh thung lũng là 196 nóc nhà sàn cũ kỷ của người Tày, nhấp nhô trong không gian xen từng nương lúa đang chín vàng, uốn bông câu.

Theo hướng tay của trưởng thôn họ Đàm chỉ, chúng tôi được chiêm ngưỡng căn nhà sàn thứ 197 của thôn Lâm Đồng (xã Phương Thiện, huyện Vị Xuyên) đẹp nổi bật trên nền chiều mùa hạ, bởi màu vàng au của gỗ và ngói mới. “Đó là căn nhà sàn của “bác Chủ tịch” đang sở hữu, được làm bằng toàn gỗ quý, dựng xong trong năm 2011”, trưởng thôn họ Đàm nói.

– Làm bằng gỗ gì? – đồng nghiệp tôi hỏi.

Trưởng thôn liệt kê:

– Nghiến này, trai này… Trong nhà sàn còn có cả loại gỗ quý toát ra mùi thơm lạ, khiến thạch sùng, các loại dán và côn trùng chẳng dám bò vào nhà.

“Ục” xong bi thuốc lào, trưởng thôn đưa cái điếu về phía tôi, rồi so sánh: “Căn nhà sàn của vợ chồng mình trị giá khoảng 80 triệu đồng, bán đi may ra chỉ mua được hai cây cột nhà của bác B. thôi”. Câu chuyện đang lõm bõm bên cửa sổ nhà sàn của trưởng thôn họ Đàm thì thấy chiếc ô tô Camry BKS 80A… (màu xanh) chở Chủ tịch B về thăm nhà.

Để đặt lịch công tác, bạn tôi và tôi nhiều lần gọi điện thoại vào số di động của Chủ tịch B. Chuông reo, buông nhiều khúc nhạc trên căn nhà sàn trị giá nhiều tỷ đồng, nhưng có lẽ vì “số lạ” nên chẳng được bác Chủ tịch B trả lời.

Căn nhà sàn hiện đại dựng bằng gỗ quý hiếm, ông B. vẫn thường về nghỉ cuối tuần
Căn nhà sàn hiện đại dựng bằng gỗ quý hiếm, ông B. vẫn thường về nghỉ cuối tuần

Bỏ lại thôn Lâm Đồng dưới chân núi Cao Bành của xã Phương Thiện đang ôm bức tranh loang lổ như tấm da báo trải rộng vào miền sơn cước, chúng tôi tìm về ngoại ô phường Quang Trung, thành phố Hà Giang. Tại tổ 8, căn nhà sàn của ông V (một quan chức cao cấp của tỉnh) cũng không kém phần lộng lẫy. Nó như cung điện nguy nga tọa trên một không gian thoáng đãng, lạ thường. Cháu gọi ông V bằng cậu, có tên là Thắng tiếp đón chúng tôi rất cởi mở.

Ngừng việc lau bậc cầu thang, Thắng lần lượt giới thiệu và đưa chúng tôi đi thăm quan cấu trúc căn nhà sàn. Dừng lại bên khẩu súng kíp của người Mông treo trên đầu con hươu rừng – từng ăn đạn ria của gã thợ săn nào đó – trên bức vách bằng gỗ quý cạnh gian chính để chụp ảnh lưu niệm, Thắng bảo: “Cả tòa nhà sàn này được cậu V làm từ năm 2008, có 32 cột to toàn là gỗ quý hiếm, tọa trên lô đất hơn 1.000 m2, có tổng diện tích sàn khoảng 230 m2. Gia đình cậu V đang sinh sống ở trong trung tâm thành phố Hà Giang, vợ chồng em ở nhờ, trông hộ căn nhà sàn độc đáo này. Khi nào cậu V về hưu, gia đình em trả nhà, rồi kéo nhau về quê cao nguyên đá Đồng Văn sinh sống”.

Căn nhà sàn của ông V. trị giá nhiều tỷ đồng đang được các cháu trông coi
Căn nhà sàn của ông V. trị giá nhiều tỷ đồng đang được các cháu trông coi

Theo như lời của bà con, ông V là người dân tộc H’Mông. Người H’Mông có nhà ở theo lối kiến trúc nhà trình tường hoặc dựng nhà na ná theo nhà 5 gian của người Kinh ở dưới xuôi, nhưng ông V lại rất thích dựng nhà sàn theo kiểu của người Tày vùng Tây Bắc.

Thời điểm ông V dựng nhà sàn, cả năm trời, có tới mấy chục thợ mộc giỏi nghề ở dưới xuôi được ông V mời lên đẽo đục, tạc các họa tiết, bài trí trang điểm hoa văn ở vì, kèo, đòn dông… bằng các loại gỗ quý hiếm cho căn nhà sàn của mình. Tiếng đục, tiếng đe lách cách hỗn độn kéo dài nhiều đêm ngày như ở ngoài một công trường tầm cỡ của địa phương…

Ở thành phố Hà Giang hiện có rất nhiều “quan chức” đã và đang “đua nhau săn lùng” gỗ quý hiếm để dựng nhà sàn. Trong đó, có nhà sàn của một ông Giám đốc Sở rất bề thế, giá trị của nó “đè bẹp” các ngôi nhà sàn khác của người dân trong xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang.

Còn nhà sàn của một vị “quan chức” huyện Vị Xuyên cùng vợ cũng là một quan chức tỉnh thì lại dựng rất to và theo lối kiến trúc cách tân, tọa lạc trong không gian rộng và vô cùng thoáng đãng (có chung tường rào với một Trường Phổ thông Trung học) lọt giữa Tổ 18, phường Minh Khai, thành phố Hà Giang.

Căn nhà sàn của ông P ở Vị Xuyên bằng gỗ quý hiếm to đồ sộ, tọa lạc ở giữa tổ 18 phường Minh Khai, TP.Hà Giang
Căn nhà sàn của ông P ở Vị Xuyên bằng gỗ quý hiếm to đồ sộ, tọa lạc ở giữa tổ 18 phường Minh Khai, TP.Hà Giang.

Theo quan sát của chúng tôi, các loại nhà sàn của các “quan” đương chức đầu tỉnh Hà Giang đều có đặc điểm điển hình, đó là vừa to vừa rộng, có ao, hồ, giả sơn hoặc non bộ, tổng thể có trị giá nhiều tỷ đồng. Các loại nhà sàn này đều được đặt trong một không gian thoáng đãng, được thiết kế hài hòa, dựng công phu toàn bằng các loại gỗ quý hiếm, trong đó có gỗ nghiến và trai có xuất xứ tại các cánh rừng của cao nguyên Hà Giang thuộc nhóm 2A, không được phép khai thác.

Trong số “quan chức” có nhà sàn, có một số trong số họ vừa có nhà cao tầng hiện đại ở trung tâm thành phố Hà Giang vừa có nhà sàn vùng ngoại ô, cho người nhà ở nhờ hoặc có người trông nom hộ, chủ nhà chỉ về nghỉ cuối tuần.

Khác biệt với các “quan” đang đương chức, một “quan chức” cấp cao tại tỉnh này đã “hạ cánh an toàn” lại có phong cách “vui thú điền viên” độc đáo hơn. Tới thăm khu điền viên của vị này, chúng tôi không thể không giật mình về một quần thể không gian kiến trúc Đông – Tây kết hợp hài hòa, cận nhân tình.

Qua cổng chào parapol, bên trái là tòa biệt thự của ông đang xây theo kiến trúc Tây phương, trước nhà có giả sơn non bộ; đi đoạn là đến hồ rộng vài trăm mét vuông. Bên phải hồ có suối. Suối có thành vách và uốn lượn vòng vèo. Cuối hồ là vườn cây. Cây xanh trông thật kỳ quái và cổ kính. Đi đến cầu nhỏ, dừng nghe tiếng nước róc rách dưới cầu. Bên cầu có cái giếng nước giả cổ. Đứng bên giếng nhìn thấy một nhóm thợ (người Nam Định) đang đục đẽo hoa văn trang trí cho tòa nhà 5 gian làm bằng nhiều loại gỗ, trong đó có gỗ quý hiếm, dựng theo kiến trúc của người Việt vùng duyên hải Thái Bình.

Cận cảnh một góc nhà gỗ của một vị quan chức về hưu.
Cận cảnh một góc nhà gỗ của một vị quan chức về hưu.

Ngôi nhà gỗ của nhân vật này có thế tựa lưng vào núi, nhìn ra hồ rộng, tức là có thế phong thủy “tả thanh long, hữu bạch hổ; tiền chu tước, hậu huyền vũ”. Theo cánh thợ gỗ Nam Định cắt nghĩa thì, ngồi trong ngôi nhà gỗ này nhìn qua hồ rộng là thấy căn biệt thự, như thế là có hàm ý “lấy cái cũ để soi vào cái mới” mà ngẫm sự tình…

Đồng nghiệp đi cùng ghé tai thảo luận với tôi về tài sản là những căn nhà sàn toàn là gỗ quý hiếm của những “quan chức” này liệu họ có phải “minh bạch kê khai tài sản” không nhỉ?… Tôi chợt nghĩ đến câu chuyện của Trưởng thôn họ Đàm nói ở chân núi Cao Bành: “Cả thôn Lâm Đồng có 196 nóc nhà sàn cũ kỹ, trong đó có 30% số nhà khi mưa về đã bị dột từ nóc”.

Cao nguyên đá Hà Giang – Hà Nội, tháng 6/2012.

Phóng sự của: Lê Trọng Hùng

.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Cội nguồn của các vụ cướp đất, sự thống khổ của dân chúng, ly tán của gia đình và băng hoại của xã hội…

Posted by hoangtran204 trên 16/05/2012

Bi kịch, đau xót nhìn từ Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản

Phạm Hồng Sơn

Mới hơn 4 tháng đầu năm 2012 ở Việt Nam đã xảy ra ba vụ cưỡng đoạt đất có đổ máu: Tiên Lãng (Hải Phòng): 05/01/2012, Văn Giang (Hưng Yên): 24/04/2012 và Vụ Bản (Nam Định): 09/05/2012.

Đất là một trong những tài nguyên hiếm, nguồn lực cơ bản cần cho sự sinh tồn, phát triển của con người. Đối với Việt Nam, nước có mật độ dân số đứng vào nhóm chật chội trên thế giới[i], thì đất lại càng hiếm và quí giá hơn nữa.

Theo kinh tế học, có hai cách cơ bản để việc phân bổ các nguồn lực hiếm trong xã hội được công bằng, đó là thông qua: thị trường và nhà nước.

Cách phân bổ của thị trường có thể tóm gọn qua cụm từ đầy tính gợi hình của Adam Smith: “bàn tay vô hình” (invisible hand). Bàn tay phân bổ vô hình chính là sự tương tác, tự điều phối, cân chỉnh của vô số những dự định, ước muốn vô cùng đa dạng, luôn biến đổi, không thể biết hết, và không một lực lượng nào có thể kiểm soát được hết của con người trong thị trường, gọi là quan hệ cung-cầu, trên hai nguyên tắc có tính nền tảng là sự tự nguyện (không cưỡng ép) và cùng hưởng lợi (hai bên cùng thấy có lợi).

Bình thường, khi một giao dịch về đất trên thị trường được thực hiện cũng đồng nghĩa với việc cả bên bán (giao) và bên mua (nhận) đều hài lòng vì đều đã thu được lợi ích (hoặc ít ra là họ tự nghĩ rằng đã thu được lợi ích) qua giao dịch trên cơ sở quyết định cuối cùng là của chính họ. Nhưng bản chất của con người là bất định và bất toàn nên sự phân bổ của thị trường sẽ có những khiếm khuyết như lừa đảo, cưỡng ép, nhầm lẫn, bất lực v.v.

Chính những khiếm khuyết đó của thị trường mới làm cho cách phân bổ thông qua nhà nước trở nên cần thiết và quan trọng. Nhưng vai trò quan trọng đó của nhà nước không có nghĩa, như đã từng bị hiểu lầm, rằng nhà nước phải thay thế hoàn toàn thị trường hay phải can thiệp vào tất cả các phân bổ (giao dịch) của thị trường. Bởi nhà nước cũng là những con người cụ thể, nếu lại được hoàn toàn quyết định cho các giao dịch thì cũng sẽ lại phạm vào những khiếm khuyết của thị trường. Nói cách khác sự phân bổ của nhà nước đối với các nguồn lực hiếm trong xã hội để đảm bảo tính công bằng thì phải và chỉ là để trám sửa (bổ khuyết và sửa chữa) các khiếm khuyết của thị trường: giữ cho mọi giao dịch được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, minh bạch.

Nhà nước phải sẵn sàng đứng giữa, chứ không phải đứng trên, các bên có xung đột trong một phân bổ (giao dịch) của thị trường, để lắng nghe các bên, tìm hiểu và cuối cùng là phán xét không thiên vị. Nghĩa là để có thể có được vai trò “trám sửa” đó, nhà nước (dù hiểu theo nghĩa nào) phải ít nhất là một nhà nước không bị khống chế bởi (hoặc không phải của) một cá nhân, một đảng phái hay một nhóm người nào trong xã hội – thị trường.

Việt Nam hiện nay, ngoài yếu tố đất chật người đông, vẫn thuộc những nước đang phát triển, nghĩa là các tiềm năng, nhu cầu và sự gia tăng về kinh doanh còn rất lớn do đó điều chắc chắn là các giao dịch, phân bổ về “đất” (một trong bốn thành tố cơ bản của nguồn lực cần cho kinh doanh: đất, vốn (tiền), nhân công và tinh thần kinh doanh) sẽ còn gia tăng rất mạnh. Và đương nhiên các giao dịch, phân bổ bất thường, bất công về đất trên thị trường cũng sẽ gia tăng và cần phải có tác động, điều chỉnh của nhà nước để lập lại công bằng.

Nhưng đáng tiếc, cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế, nhà nước ở Việt Nam hiện nay chỉ là một cơ quan cấp dưới của một đảng chính trị hiện tồn hợp pháp duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – một nhóm người chỉ chiếm khoảng 03% dân số hoặc chiếm ít hơn nữa nếu chỉ tính 14 người trong Bộ Chính trị. Một hệ thống quyền lực nhà nước từ trung ương tới địa phương và ở mọi ngành quyền lực, từ lập pháp, hành pháp hay tư pháp cho tới cả hệ thống báo chí (“quyền lực thứ tư”) đều chỉ do một tổ chức (đảng) lãnh đạo, bổ nhiệm hay đề cử thì đương nhiên hệ thống nhà nước đó sẽ không thể có vị thế độc lập hay trung gian (dù chỉ là tương đối) trên thị trường-xã hội được. Chưa kể các thành viên, những con người luôn có những ham muốn tự nhiên về kinh tế, của hệ thống nhà nước đó lại rất có thể chính là một chủ thể trong các giao dịch, phân bổ đất trên thị trường.

Do đó, một điều tất yếu là chừng nào Nhà nước Việt Nam hiện nay còn là của một nhóm người (không do toàn dân lựa chọn và bầu ra) và kinh tế còn phát triển thì những giao dịch, phân bổ bất công về đất (và nhiều nguồn lực quí hiếm khác như rừng, biển, đảo, kể cả chủ quyền quốc gia v.v.) sẽ còn tiếp diễn, gia tăng và không thể có cơ chế hữu hiệu để lập lại công bằng. Và xấu hơn nữa là nhà nước hiện nay đương nhiên sẽ nghiêng về phía, hoặc đồng thời là, những chủ thể có sức thao túng về kinh tế hay chính trị (suy cho cùng cũng là kinh tế) trên thị trường, không kể là nội tộc hay ngoại bang.

Trở lại ba vụ cưỡng đoạt đất có đổ máu ở trên, diễn tiến trong cả ba vụ đó đều cho thấy rất rõ ràng Nhà nước Việt Nam đã không chỉ không giữ vai trò độc lập (đứng giữa) cho các bên trong tranh cãi về đất mà còn dùng vũ lực để buộc một bên (những người nông dân) phải từ bỏ quyền sử dụng đất hợp pháp cho phía bên kia (các thành phần kinh doanh đang cần đất).

Thực tế này một lần nữa chứng minh rằng một đảng, bất kể với tên gọi và danh nghĩa gì, khi đã trở thành một tổ chức siêu quyền lực nằm trên hệ thống nhà nước thì việc sử dụng cái quyền lực nhà nước đó vào việc gì ( kể cả để huy động toàn dân chống đế quốc hay cấm toàn dân chống ngoại xâm; để cấm hoàn toàn tư nhân kinh doanh hay tha hồ thao túng, câu kết với giới kinh doanh, v.v.) là hoàn toàn tùy thuộc vào việc đảng đó thấy lợi hay hại cho quyền lực của nó mà thôi.

Việc cướp đất của người này để cấp cho người kia trong những ngày qua chỉ là một trong vô vàn những ý định tự quyết của cái đảng độc quyền đó. Ngay cả lương tâm, nhân phẩm, quyền con người và lòng yêu nước cũng còn bị trấn áp, khinh rẻ, bác bỏ thì còn thứ gì cái đảng đó không dám chiếm đoạt? Cái bi kịch dở khóc dở cười của hai phóng viên chính thống trong vụ Văn Giang vừa qua cũng chỉ là hệ quả nhỏ của cái logic tất yếu trong cướp đoạt. Không bao giờ có kẻ cướp nào lại để cho người khác chứng kiến, ghi lại cảnh cướp đoạt của chúng.

Đương nhiên trong kỷ nguyên thông tin Internet hiện nay, ngoại trừ những kẻ được lợi lộc từ kẻ cướp hoặc có đầu óc không bình thường, không ai lại lên tiếng ủng hộ sự “cướp đoạt”.

Tuy nhiên, sự phản đối cướp đoạt dù căm phẫn, thống thiết đến mấy, cũng khó có thể hơn được mũi tiêm giảm đau cho con bệnh đang đau ruột thừa, nếu cứ mãi tránh né cái nguyên nhân gốc rễ của sự cướp đoạt. Những an ủi, động viên nạn nhân bị cướp đất của ngày hôm nay nếu lại góp thêm phần củng cố cho niềm tin yêu, sự kính trọng vào một đảng, một lãnh tụ đã từng gây ra bao cái chết oan khiên cho nông dân và đã nhón trọn những quyền, những tự do ít ỏi trong tay người dân sang hết tay đảng, thì cũng chẳng khác nhiều việc nói với cả dân làng đang nháo nhác tìm công lý rằng cứ yên tâm vì mọi chuyện đã có mẹ con Lý Thông lo rồi.

Đương nhiên sẽ là hoang tưởng nếu cho rằng phương thuốc cho những căn bệnh của đất nước có thể dễ dàng tìm thấy ngay trong một lần hay có thể đến chỉ từ một lối nghĩ, một cách làm. Nhưng nếu cứ nhất định không chịu tìm, không chịu thừa nhận nguyên nhân gốc của căn bệnh thì ước mong chữa trị bệnh cũng chỉ là một hoang tưởng hoặc một sự lừa dối mà thôi.

Việc tìm ra nguyên nhân sâu xa của bệnh tật, bất kể của con người hay xã hội, luôn phải là việc, là trách nhiệm hàng đầu của giới có học. Vậy khi giới “tinh hoa” của một xã hội đầy bệnh tật lại lảng tránh, lại không chịu nói thẳng ra cái nguyên nhân sâu xa của tình trạng bệnh hoạn của xã hội thì tầng lớp ít học, những nạn nhân chân lấm tay bùn của xã hội còn biết trông cậy vào ai?

Nhưng chính đó lại là một bi kịch, một oái ăm của mọi xã hội bệnh hoạn kiểu toàn trị: sự bệnh hoạn xã hội không chỉ “trùm” lên giới có học mà còn “ăn” cả giới “tinh hoa”. Họ vừa là nạn nhân lại vừa là thủ phạm của xã hội bệnh hoạn. Nhưng đó chưa hẳn đã là bi kịch chua chát nhất. Có bi kịch nào chua chát hơn người phải sống mòn trong chiếc lồng kiên cố lại vẫn nhìn kẻ đã tạo ra chiếc lồng với đôi mắt trìu mến và biết ơn vô hạn?

Nếu thật lắng tâm chúng ta có thể nghe thấy trong không gian thăm thẳm vẫn vẳng lên đâu đó những tiếng kêu, tiếng than da diết, não nề. Nhưng khó có thể biết được đó là những tiếng ai oán của ai, của người nông dân mới bị cướp đất hôm qua ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản hay của những nhà nông chịu khó, giỏi giang của dân tộc đã bị cướp đất, bị nhục mạ, bị cướp cả mạng sống cách đây hơn nửa thế kỷ, hay của ai khác nữa?

Nhưng cái rất đau xót lại là nhiều người trong số họ đến chết vẫn tin, vẫn ngưỡng mộ, tôn kính cái tổ chức, cái con người đã dựng ra cái nhà nước chỉ biết phục vụ cho một đảng, “chỉ biết còn Đảng còn mình”nguyên nhân gốc của những thống khổ, những băng hoại hết sức nan giải từ hơn 60 năm qua.

Người nông dân, kẻ ít học, có mấy ai không nghe, không tin vào lời của những người, những tên tuổi có những bằng cấp, những danh vị, học vị luôn gợi ra sự uyên thâm, lỗi lạc như giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, nhà sử học…Thế mà rút cục những lời đó (nếu) lại không phải là sự thật hoặc chỉ là một nửa sự thật, thì còn đau xót nào lớn hơn?

© 2012 pro&contra

[i] Mật độ dân số của Việt Nam được xếp hạng 46/239 (Theo Contries of the World) hoặc 52/242 (Theo Wikipedia)

nguồn  Theo Pro&contra  và http://danluan.org/node/12596

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Được Đảng bao che, công an lộng quyền: Công an lại đánh người đến chết ở tỉnh Phú Yên

Posted by hoangtran204 trên 16/05/2012

Công an Vn  được đảng bao che, được sự bảo kê của nhà nước, được tòa án và luật pháp che chở, Công an có báo chí riêng, có chương trình trên đài truyền hình. Có bộ trưởng công an và 6 thứ trưởng. Công an có hơn 200 tướng lãnh. Mỗi tỉnh thành phố có 1 tướng công an đứng đầu (vài tỉnh nhỏ chỉ có đại tá công an). Riêng Bộ Công an đã có hơn 100 tướng lãnh hiện đang làm việc.  Chưa từng có một nước nào mà lực lượng công lại có 200 tướng lãnh như ở VN. 

Công an lại đánh người đến chết, luật pháp ở đâu?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok 2012-05-15 Lại thêm một vụ công an tự tiện giam giữ và đánh chết người tại tỉnh Phú Yên trong lúc các vụ án khác vẫn chưa được xét xử rốt ráo.

AFP Hình ảnh quen thuộc, công an ở khắp mọi nơi.Liệu sức chịu đựng của dân chúng còn kéo dài được đến bao lâu?
Mặc Lâm có thêm chi tiết sau đây

Từ tùy tiện bắt giữ đến tùy tiện đánh chết

Nạn nhân mới nhất là anh Ngô Thanh Kiều 31 tuổi ngụ tại xã Hòa Đồng huyện Tân Hòa tỉnh Phú Yên. Theo lời gia đình thuật lại thì đêm 13 tháng 5 vừa qua một toán công an của xã phối hợp với thôn và huyện đến nhà của anh Kiều và nói với gia đình là mượn anh Kiều đi chứ không phải là bắt hay điều tra. Chị Trần Thị Tâm, vợ của nạn nhân hiện mang thai chỉ còn 5 ngày nữa là tới ngày sinh nở cho chúng tôi biết như sau: Công an xã nói là cho mượn người sáng trả lại. Có tất cả 6 hay 7 người. Một công an xã, một công an thôn với mấy ông công an huyện. Mấy ổng không nói gì hết chỉ nói là mượn người chứ không nói là bắt nữa. Lúc 3 giờ rưỡi chiều đánh một giấy mời kêu chồng em tới xã 7 giờ rưỡi sáng làm việc mà không ngờ chưa tới 7 giờ rưỡi chỉ mới 3 giờ sáng là tới nhà bắt chồng em.

» Chị Trần Thị Tâm

Người nhà của anh Trịnh Xuân Tùng (bị công an đánh gãy cổ chết) phản đối trên đường Hai Bà Trưng. Blog Nguyenxuandien

Thân nhân người chết vẫn thắc mắc là khi tới nhà để bắt anh Kiều công an không hề cho biết lý do cũng như không có lệnh bắt giữ nào. Em ruột của anh Kiều là anh Vân cho biết: Chưa biết lý do gì công an xã nó đánh giấy mời là 7 giờ rưỡi ngày 13 tháng 5 nó vô nó bắt đi mà không có lệnh bắt giam chỉ có công an xã và hai người công an huyện mà thôi. Từ lúc bị bắt cho đến lúc nhận được tin công an thông báo cho gia đình lên bệnh viện tỉnh Phú Yên nhận thi thể của anh Ngô Thanh Kiều là 12 tiếng đồng hồ. Chị Tâm vợ nạn nhân kể lại: Chỉ vô tới nhà còng tay bắt đi trong vòng 12 tiếng đồng hồ là giết người. Nó mượn người chớ không phải là bắt người nữa. Khi gia đình anh Kiều tới bệnh viện nhận xác thì phát hiện ra thi thể của anh đã bị bầm nhiều chỗ, có những vết thương trên đầu và vết bầm rất rõ. Anh Vân kể lại công an tự ý tổ chức khám nghiệm tử thi và cho gia đình biết là 15 ngày sau mới có kết quả vì phải gửi đi Hà Nội để làm xét nghiệm, anh Vân nói:

Người dân đem quan tài Anh Nguyễn Văn Khương, người bị công an đánh chết đến biểu tình tại trụ sở UBND tỉnh Bắc Giang hôm 25/07/2010. Photo TTXVA

Xác chết ở bệnh viện nó bỏ vào nhà xác rồi nó nói qua ngày mai nó mới cho khám nghiệm tử thi. Nó nói 15 ngày sau nó gửi cái khám nghiệm. Nó lấy những cái cục máu bầm gửi đi Hà Nội và 15 ngày sau mới biết kết quả. Em chụp trong hình thì thấy những vết bầm ở trên não là bị đánh hay là cái gì đó không biết nhưng nó tác động rất mạnh. Hình ảnh mà gia đình chụp được cho thấy những vết thương nặng nề trên thi hài nạn nhân khiến người nhìn không khỏi phẫn uất, chị Tâm cho biết thái độ của hàng xóm khi nhìn thấy tấm hình này: Ai cũng phản đối và ai cũng chửi công an là ác hết, tại vì người chết mà bầm từ chân lên tới não. Nhà em chụp hình đưa về cho dân chung quanh coi người nào cầm tấm hình cũng khóc và phản đối. Công an mà sao giết người kiểu đó trong vòng 12 tiếng đồng hồ. Vì tin tưởng là công an mượn người nên em mới cho chứ nều biết vậy em ra giằng co liền em mang bầu còn 5 ngày nữa là sinh rồi thì nó dám làm gì em? Một nhân chứng khác chứng kiến thi thể của anh Kiều từ trong bệnh viện và chụp lại một số hình ảnh, tuy nhiên tất cả đều bị công an tịch thu, nhân chứng này nói:

Một vài lối hành xử của công an nhân dân.RFA file

“Công an nó mời anh này xuống điều tra rồi sau đó không biết vì lý do nào mà đánh đập rất dã man. Sau đó chết tại đồn công an rồi nó mang tới bệnh viện. Em là người chụp những tấm hình khi đang mổ tử thi rồi đem về nhà cho người ta coi việc công an đánh đập, nhưng sau đó công an nó mời lên tịch thu những tấm hình đó thôi chứ ngoài ra nó không làm gì hết.”

Phải nghiêm trị sự lộng hành của công an

Đây không biết là cái chết thứ mấy do công an gây ra trong bóng tối của bốn bức tường nhà giam. Hôm 14 tháng 5 gia đình cô Trịnh Kim Tiến một nạn nhân khác của công an đã đến trước tòa án 262 dường Đội Cấn Hà Nội để phản đối bản án sơ thẩm xử viên trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết thân phụ của cô là ông Trịnh Xuân Tùng nhưng chỉ bị xử 4 năm tù giam. Riêng vụ án của anh Nguyễn Công Nhựt tại Bình Dương bị công an huyện Bến Cát mời đi điều tra và sau vài ngày bắt giam, thi thể anh được trả lại cho gia đình với những vết thương nặng nề nhưng cho đến nay vẫn không có thủ phạm. Tòa án xác định là anh tự tử bất kể gia đình nạn nhân kêu oan lên nhiều cơ quan cấp cao của nhà nước. Không một đơn vị tư pháp nào tỏ ra quan tâm tới những vụ công an tự tiện bắt người trái pháp luật ngày một xảy ra nhiều hơn trong thời gian gần đây. Từ thái độ lơ là này làm cho công an ngày một coi thường tính pháp lý của một vụ bắt người buộc phải theo những thủ tục nghiêm ngặt mà hiến pháp đã quy định. Công an đến nhà giữa đêm khuya, dựng nạn nhân dậy và nói là mời đi để rồi vài ngày sau cũng chính công an gọi cho gia đình đến bệnh viện nhận xác nạn nhân đang là cơn ác mộng cho cả xã hội hiện nay. Người dân từ hiền lành cho tới gan góc nếu nghe chuyện đều lo sợ cho chính sinh mạng của mình. Chỉ cần một sự phật ý nhỏ đối với chính quyền là cái chết có thể xảy ra. Trường hợp của anh Ngô Thanh Kiều là một ví dụ điển hình cho sự tự tiện này. Anh Kiều không có tiền án, tiền sự. Anh không hoạt động chính trị hay bất cứ một hành động nào gây tổn hại cho an ninh quốc gia vậy thì tại sao lại bị tra tấn đến chết trong tù? Câu hỏi đặt ra là tỉnh Phú Yên nói riêng và Bình Dương cũng như Bắc Giang hay nhiều thành phố khác nói chung lực lượng công an nhân dân có còn thượng tôn luật pháp như tôn chỉ của ngành đặt ra hay không, và khi có một vụ giết người mờ ám thì tại sao các cấp cao nhất luôn giữ im lặng, bất kể đau khổ của gia đình nạn nhân và phản ứng của dư luận trước sự ngang nhiên xem thường pháp luật của một ngành được đặt ra là để bảo vệ luật pháp? Nếu tận mắt nhìn thấy sự đau khổ của chị Trần Thị Tâm khi một tay bồng con thơ và bụng thì đang mang nặng một hài nhi khác chỉ còn năm ngày nữa chào đời nhưng vĩnh viễn không nhìn thấy cha thì một người có chút lương tâm không thể cầm được nước mắt. Chỉ có cách duy nhất làm dịu đi bớt sự căm hận của gia đình nạn nhân và xã hội là một bản án thích hợp cho những ai tay nhúng vào máu của anh Ngô Thanh Kiều trong cái đêm định mệnh 13 tháng 5 năm 2012 vừa qua.   nguồn Theo RFA và  danluan.org

Posted in Công An | Leave a Comment »

Hội nghị T.Ư. 5:Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân: nghĩa là tất cả đất đai ở VN thuộc quyền sở hữu của đảng và nhà nước

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2012

Vậy là các cuộc cưỡng chiếm đất đai sẽ tiếp tục diễn ra. Hội nghị Trung Ương lần 5 đã phát pháo lệnh cho hơn 600 quận huyện của 63 tỉnh và thành phố hãy tiếp tục cưỡng chế tước đoạt đất đai khỏi tay người dân và nông dân. Đồng thời cũng có nghĩa là tất cả các cuộc khiếu kiện đất đai từ mấy chục năm qua cho đến nay và trong tương lại sẽ không được giải quyết. 

Chỉ có điều là Mác, Lê nin, Stalin, Mao, Hồ, Lê Duẫn chưa bao giờ tiên đoán là có sự xuất hiện của internet, nói đúng ra là sự hiện diện của các blogger đứng về phe của những người nông dân bị cưỡng chế đất đai. Cuộc chiếm đoạt đất đai hiện nay không còn dễ ăn như hồi 1954,…hay ở  thập niên 1980s, 1990s nữa. Các blogger đúng là cứu tinh của những người nông dân bị cưỡng chế đất.

Người VN theo tin theo đảng vì đảng tuyên truyền quá hay. Có người còn ví von: con ve ở trong hốc cây cũng chui ra nghe lời tuyên truyền nữa là người.  Suy nghĩ của các đảng viên lãnh đạo (thiểu số) bao giờ cũng khác hẳn với các khối đảng viên (đa số). Bởi vậy tới giờ này mà các đảng viên lớn tuổi còn ngây thơ nói: hồi xưa đảng khác, đảng tốt lắm, còn bây giờ đảng đã khác xưa! Làm gì có chuyện ấy. Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước đã có từ thời 1945 nếu không muốn nói là đã có ngay từ trước năm ấy.

Đảng rất lắt léo trong cách dùng chữ. Chủ tâm là lập lờ theo kiểu 50/50 để đánh lừa một đại đa số 90-95% của dân số.  Đảng dùng chữ và  cắt nghĩa từ ngữ là rất khác với mọi người. Thí dụ, báo đăng phiên tòa xử công khai (1). Thấy chữ công khai mọi người tưởng rằng: oh, vậy là ai tới xem tòa xử  cũng được. Nhưng khi một số người quan tâm tới tham dự phiên tòa, thì công an sẽ chặn lại hỏi: có giấy triệu tập không? Nếu có thì mới được vào tòa, nếu không thì mần ơn đi chỗ khác chơi, hoặc đứng trước tòa chờ.  Vậy là đa số mọi người không đến dự phiên tòa tiếp tục hiểu lầm chữ công khai, chỉ có một thiểu số hiểu rõ chữ công khai. Sự lầm lẫn cứ thế mà tiếp tục. Tóm lại, chỉ khi đối diện với công an đang canh gác ở tòa thì một số nhỏ người dân trong cuộc mới hiểu ý nghĩa của chữ công khai.

Tương tự như vậy, ai nghe qua hàng chữ: đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân cũng cảm thấy có cảm tình với nhà nước nào nói ra câu ấy. Nhưng truy tầm tới ngọn nguồn thì mới hiểu câu ấy không phải nghĩa như thế, câu ấy không có nghĩa là đất đai do dân làm sở hữu chủ. Theo đảng cắt nghĩa: đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân là đất đai thuộc về nhà nước, do nhà nước làm chủ, và quản lý; khi nào nhà nước cần lấy, thì dân phải giao đất theo giá quy định của nhà nước.

Mấy tháng qua, giới blogger cứ đoán già, đoán non và hy vọng hội nghị Trung Ương lần thứ 5 sẽ có thay đổi lớn về chính sách đất đai. Nhưng nay thì họ đã sáng mắt…thêm lần nữa: không có gì thay đổi hết. Đời nào miếng mở lọt vào miệng con mèo mà bổng dưng nó nhả ra! 

Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân

Phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu – hội nghị TƯ 5 xác định.

Sáng 15/5, hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa XI đã bế mạc sau 9 ngày làm việc.

Đã có hơn 750 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và hội trường; nhiều ủy viên TƯ gửi ý kiến bằng văn bản hoặc sửa trực tiếp vào các dự thảo nghị quyết, kết luận. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất thông qua nội dung các nghị quyết, kết luận của hội nghị.

 

Ảnh: TTXVNPhát biểu bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng mà hội nghị đã đạt được.

Sửa Hiến pháp: Lấy ý kiến nhân dân

Về tổng kết, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, Tổng bí thư nhấn mạnh, đây là một nội dung rất lớn, đặc biệt quan trọng của hội nghị lần này. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là yêu cầu khách quan, cần thiết. Trung ương đã xem xét, thảo luận báo cáo của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, cơ bản tán thành nhiều nội dung; đồng thời tiếp tục nhấn mạnh, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc đặc biệt quan trọng, nhạy cảm, phải có quan điểm và cách nhìn toàn diện, biện chứng, cụ thể, lịch sử, có cách làm khoa học, thận trọng; tránh tư duy tư biện, xa rời thực tiễn.

Các đề xuất sửa đổi, bổ sung phải dựa trên kết quả tổng kết sâu sắc thực tế thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan; quán triệt đầy đủ yêu cầu thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp.

Về quy trình sửa đổi, hội nghị thống nhất, cần thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa XI), tiến hành một cách chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân về các nội dung sửa đổi, để Quốc hội có đầy đủ cơ sở xem xét, quyết định.

Cùng với việc cho ý kiến về định hướng những nội dung cơ bản cần bổ sung, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Trung ương cũng đã góp nhiều ý kiến quan trọng vào các phương án cụ thể, làm rõ hơn những mặt được, mặt chưa được của mỗi phương án để Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp tiếp tục cân nhắc, lựa chọn.

Quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu

Hội nghị nhất trí cho rằng: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn sống của nhân dân; là tài sản, là nguồn lực to lớn của đất nước. Phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; đồng thời quy định rõ ràng, cụ thể hơn và thực thi đầy đủ, đúng đắn hơn các quyền của đại diện chủ sở hữu và quyền thống nhất quản lý của Nhà nước… Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.

Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung luật Đất đai và hoàn thiện pháp luật về đất đai để sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại hiện nay, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phân bổ hợp lý, sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái. Nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững. Phát triển lành mạnh thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.

Tiếp tục thực hiện giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân có thời hạn nhưng có thể kéo dài hơn để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đồng ruộng và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp.

Ban chỉ đạo TƯ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị

Hội nghị nhất trí cho rằng, từ khi Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) được ban hành, các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị đã chủ động, tích cực vào cuộc. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động, nhất là trong phòng ngừa, công khai, minh bạch hoá hoạt động của bộ máy nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, quản lý tài sản công; trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí đã từng bước được kiềm chế. Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng”.

Trung ương nhấn mạnh, phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế, xã hội; tăng cường công tác tổ chức và cán bộ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và công luận.

BCH Trung ương thống nhất chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.

Bảo đảm an sinh xã hội

Về chính sách xã hội, BCH Trung ương yêu cầu, trong thời gian tới phải nghiêm túc quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, coi việc không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người có công và bảo đảm an sinh xã hội là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và là trách nhiệm của toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2015, cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo đảm các gia đình người có công có mức sống tối thiểu bằng mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn; đến năm 2020 cơ bản bảo đảm an sinh xã hội bao phủ toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.

Muốn thế, phải tập trung hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt luật pháp, chính sách và các nhiệm vụ, giải pháp về xã hội với trọng tâm là tạo việc làm, thu nhập; bảo hiểm xã hội; trợ giúp xã hội; bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho toàn xã hội, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn.

Các chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội và khả năng cân đối, huy động nguồn lực của đất nước; ưu tiên cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, bảo đảm công bằng và bền vững, có tính chia sẻ giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Nhà nước bảo đảm thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đồng thời giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia…

Soát lại lương trong doanh nghiệp nhà nước

Về vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã hội, Trung ương yêu cầu, trong năm 2012 – 2013, phải khẩn trương bổ sung, sửa đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục những bất hợp lý nổi cộm hiện nay; ưu tiên điều chỉnh tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang gắn với việc khắc phục tình trạng quá nhiều loại phụ cấp; soát xét lại chế độ tiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục tình trạng bất hợp lý, chênh lệch quá lớn giữa cán bộ quản lý và người lao động; tiền lương, thu nhập không gắn với kết quả sản xuất kinh doanh.

Đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X). Nghiêm túc triển khai thực hiện Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI)… Điều chỉnh trợ cấp ưu đãi người có công, lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cùng với mức tăng và thời điểm điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu của cán bộ, công chức… Đồng thời, khẩn trương nghiên cứu xây dựng Đề án cải cách chế độ tiền lương giai đoạn 2013 – 2020 cùng với các đề án có liên quan, tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách tiền lương, thu được kết quả.

Tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải cách hành chính, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công và các lĩnh vực có liên quan khác; gắn điều chỉnh tiền lương với điều chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị ngay sau hội nghị này, mỗi ủy viên Trung ương phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy và chính quyền lãnh đạo và tổ chức thực hiện thật tốt các nghị quyết, kết luận của hội nghị Trung ương lần này, cùng các nghị quyết khác của Đảng, của Quốc hội và Chính phủ; bảo đảm hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2012.

Theo TTXVN

nguồn danluan.org

———————————-

Ghi chú của TH:

(1) Trích từ chimkiwi.blogspot.com

Sửa Từ điển có khi dễ hơn….

Hôm qua Kim Tiến nhắn: ngày mai xử phúc thẩm…cô đến với con nhé.

Đến chứ sao không đến! Bạn biểu tình với nhau mà lị.

Sáng đến tòa phúc thẩm ở 262 Đội Cấn, mặc dù cổng mở toang hoang nhưng mình vẫn lịch sự rẽ vào phòng thường trực. Cái ô cửa kính đóng im ỉm, nhìn vào thấy ba chú cảnh sát cứ ngồi im trong đó ngó ra. Mình gõ cồng cộc vào miếng kính, ra ý bảo họ mở ra để mình còn hỏi, chứ đóng thế này thì nói ai nghe?

Chợt nhìn thấy một gương mặt quen quen quay ra. Ồ! Hóa ra anh T, chả biết là cảnh sát quận hay thành phố nữa. Biết nhau qua đận biểu tình năm ngoái. Anh ta cũng nhận ra mình, bèn nhoài người mở cửa kính. Chào hỏi một hai câu, rồi anh ta hỏi mình đến có việc gì thế. Thì đến với Kim Tiến chứ còn làm gì nữa. Anh ta bảo có được vào đâu mà đến. Mình ngạc nhiên:

– Ô hay! Sao bảo xử công khai?

– Thì công khai, nhưng mà phải có giấy mời. Đến nhà báo có giấy mời mà còn không được vào kia kìa.

Biết là cái công khai của ngành tư pháp nước ta nó là thế mà vẫn cứ thấy lạ. Lạ quá chứ không phải lạ vừa. Rõ là mồm các ông bảo thế nào thì nó ra thế ấy. Cũng khổ cái anh phải làm phát ngôn bất đắc dĩ, biết là nó trái lè lè ra đấy nhưng cứ phải nói trơn tuột đi, rằng chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ. Nhớ hôm xử phúc thẩm tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, cũng xử công khai nhưng vẫn bị chặn các ngả. Tôi hỏi vặn lại một anh cảnh sát là chỉ biết trả lời như cái máy thế à, thì anh ta chán ngán quay đi bảo: không là cái máy thì là cái gì? Nom vẻ mặt anh ta mệt mỏi lắm nên tôi cũng chả nỡ làm anh ta khổ thêm.

Không cho vào thì đứng ngoài. Tôi và một số anh em vừa đến cứ đi vào trong sân tòa. “…

nguồn:  Sửa Từ điển có khi dễ hơn…

2. Đất đai thuộc Sở hữu toàn dân  đọc ở báo vnexpress.

*Bài này của người trong nước gởi cho BBC đăng cũng rất hay.

Ngô Ngọc Quang

Gửi cho BBCVietnamese.com từ Vũng Tàu

Cập nhật: 10:03 GMT – thứ tư, 9 tháng 5, 2012

Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, đất đai được sở hữu một cách tự nhiên mang tính bản năng, và bởi những con người cụ thể.

Quyền sở hữu một vùng đất được hình thành và ghi nhận thông qua quá trình sống và lao động của con người. Khi con người ta sống ở một vùng đất nào đó, đổ mồ hôi, tranh giành với thú hoang và cỏ dại quyền sở hữu vùng đất đó. Thế rồi, vùng đất có được nhờ mồ hôi và công sức đó được truyền lại, đời này qua đời khác. Dựa trên vùng đất tổ tiên để lại con người ta trồng trọt chăn nuôi, kiếm sống cho bản thân và gia đình. Từ đó hình thành quyền sở hữu đất đai của con người.

Gốc rễ của quyền sở hữu này không tự nhiên mà có, không phải do ai ban phát mà tự nó được khẳng định bằng mồ hôi công sức của người dân, một điều hiển nhiên của công lý, ai cũng phải thừa nhận.

Quyền sở hữu đất đai bị thay đổi

Trải qua biến thiên của lịch sử, rất nhiều vùng đất đã bị tước đoạt bằng bạo lực, bị thay chủ sở hữu sau những cuộc binh đao khói lửa chiến tranh. Điều bất công này xảy ra trong xã hội loài người đã hàng ngàn năm, và nó gây nên điều lầm tưởng cho kẻ có cường quyền bạo lực rằng: Họ xứng đáng là chủ của vùng đất mà họ cướp được bằng bạo lực.

Điều tệ hại này xảy ra khắp nơi trên trái đất này, và từ hàng ngàn năm nay, từ thủa hồng hoang ăn lông ở lỗ, cho tới thời hiện đại văn minh này. Và dường như con người ngày nay không muốn và cũng không thể sửa chữa nó nữa?

Con người văn minh muốn ngưng lại quá trình cướp bóc bất công đó, trả về cho đất đai người chủ đích thực của nó.

Để được sống yên thân, được bảo vệ trước cường quyền của các tộc người khác, con người ta buộc phải cố kết lại, suy tôn một cá nhân mạnh mẽ nhất lên làm thủ lĩnh và chấp nhận phó mặc cho thủ lĩnh quyền định đoạt về đất đai sở hữu của mình. Các vị vua sinh ra từ đó, thời gian trôi, và mặc nhiên dân chúng trong nước chấp nhận, vị vua này có quyền sở hữu toàn bộ đất đai của quốc gia, trong đó có cả những thửa ruộng mà cha ông tổ tiên họ bao đời đổ mồ hôi mới làm nên sự màu mỡ của đất.

Người dân sống nhờ vào sự che trở, răn dạy, và đồng thời cai trị của vua chúa, họ mặc nhiên chấp nhận điều đó (thực ra họ không có sự lựa chọn nào khác): đất đai lãnh thổ thuộc quyền sở hữu của vua. Nhiều khi người dân còn bị ở trạng thái mơ hồ về quyền sử dụng đất đai do cha ông mình khai phá để lại .

Trong chế độ phong kiến, vua có quyền nói rằng mảnh đất này là của ai, và người dân có bổn phận phải chấp hành lời phán truyền đó của vua.

Tâm lý “kẻ cướp”

Để quy tụ sức mạnh của nhân dân, trong đó lực lượng nông dân đông đảo là chính, vào việc chống lại thực dân Pháp để giành độc lập, người Cộng sản đã khôn khéo tuyên truyền để người dân tin rằng: Đánh đuổi thực dân đế quốc, thì người dân sẽ được rất nhiều thứ tốt đẹp trong đó có vấn đề được làm chủ đồng ruộng của mình.

Sau này, những người Cộng sản đã đánh tráo khái niệm sở hữu, và làm cho người dân tin rằng mình đã được làm chủ ruộng đồng thông qua hợp tác xã. Thật ra là nhà nước đã thâu tóm toàn bộ đất đai vào tay mình, người dân thực chất vẫn là kẻ làm thuê chứ không phải là chủ thực sự của đất đai mà cha ông họ truyền lại.

Với quyền lực trong tay, nhà nước đã làm ra các đạo luật về đất đai. Theo đó người dân được nhà nước ban ơn, cho người dân mượn tạm thời đất đai để sử dụng. Khi cần nhà nước lấy lại bất kỳ lúc nào bằng những quyết định thu hồi, mà người dân phải có nghĩa vụ chấp hành.

Cách hành xử như vậy về bản chất, giống hệt vua chúa phong kiến thời xưa. Chúng ta những người Cộng sản, thường tự hào nói rằng: Chúng ta đánh đổ thực dân phong kiến để xây dựng nhà nước công nông của dân, do dân, và vì dân. Vậy mà chúng ta lại hành xử về đất đai y như vua chúa phong kiến thời xưa.

Quyền sở hữu đất đai rõ ràng là phải thuộc về những con người cụ thể – những con người bỏ công sức khai khẩn tranh chấp với thú hoang và cỏ dại.

Ấy vậy mà nhà nước lại sử sự theo lối vua chúa ngày xưa, nắm quyền lực trong tay và phán rằng đất đai là cuả nhà nước, núp dưới mỹ từ mang màu sắc lừa bịp: sở hữu toàn dân. chính vì thủ đoạn như vậy nên mới sinh ra khái niệm thu hồi – một khái niệm hết sức sai trái.

Trong thực tế cuộc sống nhà nước tưởng rằng mình có công trong việc tạo nên tài nguyên đất đai, kể cả trong việc giành lại đất đai từ tay phong kiến thực dân hay mở rộng giang sơn bờ cõi, nhưng thực ra đều là do sức dân làm nên tất cả.

Vậy mà với tâm lý kẻ cướp, nhà nước đã dùng quyền lực, sức mạnh của mình để tước đoạt quyền sở hữu của người dân một cách tinh vi nhất.

Nhà nước đã làm ra những bộ luật về đất đai, mà ở đó quyền sở hữu của người dân bị tước đoạt hoàn toàn, và theo đó người dân luôn ở thế chông chênh bất ổn, do vậy mà ruộng đồng không thể tìm ra được cách sinh lời tốt nhất cho con người. Người dân trở thành kẻ ăn nhờ ở đậu trên mảnh đất do chính mồ hôi công sức của mình khai khẩn hay của cha ông để lại, hoặc mua lại của người khác.

Vì vậy chúng ta cần khẳng định: đất đai là của người dân, người dân không mượn của nhà nước nên nhà nước không có quyền thu hồi!

Trong khái niệm đến bù thì rõ ràng là khi nhà nước muốn lấy đất của dân, hay nói cách khác là xâm hại đến lợi ích của dân thì đương nhiên phải đền bù. đền bù như thế nào? Rõ ràng rằng sự đền bù phải được người dân chấp nhận một cách tự nguyện và thỏa đáng. Còn hiện nay, đền bù theo kiểu kẻ cướp thì thật sự là việc làm thiếu đạo đức.

Khái niệm giải phóng mặt bằng cũng là một khái niệm hết sức bậy bạ sai trái. Đất đai của người dân mà nhà nước lại dùng sức mạnh của mình xua đuổi người dân ra khỏi mảnh đất của họ rồi nói rằng giải phóng. Nguyên nhân của lối tư duy sai lầm này chính là vì nhà nước cho rằng đất đai là của nhà nước nên mới nhìn người dân như những kẻ chiếm hữu bất hợp pháp mà nhà nước cần xua đuổi để giải phóng.

Nhìn nhận và quản lý đất đai như thế nào?

Trong toàn bộ diện tích đất đai của tổ quốc, nhà nước với vai trò quản lý của mình chỉ cần và chỉ nên đưa ra những chính sách quy hoạch làm sao có lợi nhất cho việc xây dựng và phát triển của đất nước. Khi cần đất đai cho các dự án phát triển nào đó thì nhất thiết phải thương thảo với chủ đất là người dân. Nhà nước có quyền vận động nhưng không có quyền cưỡng bức người dân.

Trong công tác quản lý, nhà nước có trách nhiệm cấp giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đất đai cho người dân (nên phân biệt rõ quyền sở hữu chứ không phải quyền sử dụng đât), bất kể thời điểm người dân hay cha ông họ khai khẩn sử dụng từ khi nào, hay mua một cách hợp pháp.

Đối với những vùng đất chưa có người khai khẩn sở hữu, nhà nước chịu trách nhiệm đứng ra quản lý, và phải quy hoạch rõ công năng sử dụng của những vùng đất đó trong hiện tại cũng như tương lai. Đối với những vùng đất này, nhà nước thay mặt dân đứng ra quản lý, khai thác sao cho có lợi nhất cho quốc gia. Nếu người dân có nhu cầu mua một diện tích đất nào đó thì nhà nước phải bán và cấp cho người dân quyền sở hữu.

Nhà nước phải có những chính sách khuyến khích người dân khai khẩn những vùng đất hoang vu mà nhà nước không có đầu tư phát triển được, và ghi nhận quyền sở hữu của người dân sau khi họ khai khẩn.

Mọi hoạt động của xã hội liên quan đến đất đai đều phải được thông qua thương thảo tự nguyện của chủ sở hữu, thể hiện bằng hợp đồng mua bán hay cho tặng quyền sở hữu về đất đai

Chỉ bằng cách ghi nhận quyền sở hữu của người dân về đất đai, nhà nước mới thoát khỏi mớ bòng bong hỗn tạp hiện nay về quản lý và sử dụng đất đai một cách khôn ngoan.

Nhà nước cần dũng cảm nhìn thẳng vào hiện tình đất nước về đất đai hiện nay một cách có trách nhiệm nhất. Nhà nước cũng cần thẳng thắn nhìn ra những yếu kém và cả những sai lầm trong đường lối và chính sách về đất đai trong quá khứ cũng như hiện tại, kể cả những sai lầm về đường lối mang tính bao quát của ý thức hệ. Và phải nhìn nhận những sai lầm này một cách trung thực nhât, trên tinh thần cầu thị. Tất cả vì lợi ích của tương lai dân tộc Việt.

Nhà nước hiện nay cần thay đổi toàn diện tư duy về đất đai, và không được chậm trễ thêm nữa. Chỉ có bằng cách thay đổi tư duy về đất đai thì mới mong chúng ta có được một bộ luật về đất đai mang hơi thở của cuộc sống. Và từ đó Bộ luật đất đai mới phục vụ tốt cho việc quản lý của nhà nước cũng như việc sử dụng đất đai của người dân.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một người đang sống ở thành phố Vũng Tàu.

3. Miếng mở ở trong miệng con mèo thì làm sao đòi được. Đất đai ở trong tay của đảng. Làm gì quốc hội dám cả gan đem chuyện đất đai ra bàn thảo. Những người phát biểu trong bài này chỉ là cái bung xung. Nhưng đâu sẽ hoàn đấy

Quốc hội sẽ không bàn vụ Văn Giang?

Posted in Cướp Đất Đai, Đảng CSVN | Leave a Comment »

987. MỜI KÝ TÊN VÀO THƯ PHẢN ĐỐI CHíNH PHỦ NHẬT BẢN VIỆN TRỢ XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM

Posted by hoangtran204 trên 14/05/2012

CỰC LỰC PHẢN ĐỐI CHÁNH PHỦ NHẬT BẢN VIỆN TRỢ XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM, VÀ YÊU CẦU HỦY BỎ NGAY HÀNH ĐỘNG VÔ TRÁCH NHIỆM VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM.

Sau nhiều kinh nghiệm với các vụ đề nghị, thỉnh nguyện thư, ký tên kiến nghị…không đạt kết quả, người dân trong nước và ngoài nước nay có hướng đi mới. Họ đã nhận ra “chân lý” sáng ngời ngời:

Một khi đảng đã quyết làm việc gì, thì dù ai nói ra, nói vào và phân tích vụ việc lợi, hại, hợp lý đến đâu đảng cũng không nghe. Đảng quyết việc gì là đưa ra nghị quyết, rồi nhà nước cứ thế mà thi hành. Nếu có đưa ra quốc hội bàn bạc, thì chỉ là làm cho có, dù có vì đại biểu quốc hội có ý kiến phản đối thì cũng chẳng ngăn cản được gì. Thí dụ điển hình là vụ khai thác bô xít ở Tây Nguyên, vụ xây nhà máy điện nguyên từ ở Ninh Thuận. Sau nhiều kinh nghiệm cay đắng về các vụ đề nghị, thỉnh nguyện thư, ký tên kiến nghị…không đạt kết quả, người dân trong nước và ngoài nước nay có hướng đi mới. 

Tháng 4-2012, khởi đầu bằng anh Trương Quốc Việt đang yêu cầu quốc hội Úc chú ý đến tình trạng của chính quyền Hà Nội đang thi hành qua bài

Biểu tình đơn Độc: Trương Quốc Việt tọa kháng trước Quốc Hội Úc ngày thứ 8

Kế đó giới chức đại học và chuyên nghiệp cùng dân chúng trong và ngoài nước  viết thư yêu cầu tư bản Anh đang đầu tư vào Ecopark và trường đại học Anh ở VN đang có ý định thuê đất trong khu Ecopark, hãy chú ý đến các hành động tàn bạo, vi phạm hiến pháp, của chính quyền VN trong vụ cưỡng chế đất đai ở huyện Văn Giang ngày 24-4-2012, nơi có dự án Ecopark.

Khiếu nại bị chiếm đoạt đất đai với các nước ngoài, thay vì với chính quyền trong nước, để kêu gọi sự chú ý. 

Hiện nay, các giới chức đại học và chuyên nghiệp cùng dân chúng trong và ngoài nước viết thỉnh nguyện thư phản đối  chính phủ Nhật về vụ xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở  Ninh Thuận.

Sự việc như sau, vài năm qua, giới đại học và chuyên nghiệp cùng dân chúng VN đã nhiều  lần viết kiến nghị  đề nghị đảng và nhà nước VN: đừng xây dựng nhà máy điện nguyên tử vì nguy cơ quá lớn, và việc xây dựng này không có lợi ích về tài chánh so với việc xây dựng các nhà máy điện khác, nhưng họ đều bị chính quyền VN lơ là không trả lời.

Đảng và chính quyền VN thật là ngạo mạn.  Họ đã bất chấp mọi sự phản đối, cứ việc tiến hành việc xây dựng nhà máy điện nguyên từ và gần đây còn đưa ra các kế hoạch về nhà máy điện hạt nhân mà ai có kiến thức đọc qua các kế hoạch ấy cũng phì cười và than trời.  

Để ngăn cản việc làm của “các đỉnh cao trí tuệ của loài người”, giới chứ đại học và chuyên nghiệp cùng dân chúng VN đã và đang viết viết kiến nghị phản đối  chính phủ Nhật với nội dung như sau: 

987. MỜI KÝ TÊN VÀO THƯ PHẢN ĐỐI CHíNH PHỦ NHẬT BẢN VIỆN TRỢ XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM

MỜI THAM GIA KÝ TÊN THƯ PHẢN ĐỐI CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN CHO  VIỆT NAM VAY TIỀN XÂY NHÀ MÁY PHÁT ĐIỆN NGUYÊN TỬ.

Chúng tôi vừa soạn lá thư gởi chính phủ Nhật Bản phản đối việc cho chính phủ hiện nay của Việt Nam vay khoảng 10 tỷ USD xây nhà máy phát điện nguyên tử trong khi đó tại chính Nhật Bản, trước sự chống đối và đòi hỏi của dân chúng Nhật Bản, tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử đều phải ngưng hoạt động và kế hoạch xây thêm nhà máy phát điện hạch tâm mới tại Nhật bị hủy bỏ.

Xin giới thiệu lá thư phản đối tiếng Anh và tiếng Việt với đồng bào có quan tâm sâu xa đến những hậu quả tại hại không lường của việc dùng Uranium trong sản xuất điện tại Việt Nam.

Ngày 21 tháng 05 năm 2012 chúng tôi sẽ gởi thư này đến Thủ Tướng Nhật Bản, Bộ Ngoại Giao Nhật Bản, Toà Đại Sứ Nhật Bản tại Hà Nội và một số cơ quan công tư tại Nhật Bản.

Mời anh chị từ khắp nơi cùng tham gia ký tên với chúng tôi vào lá thư trước khi được chính thức gởi đi.

Xin liên lạc email chúng tôi qua địa chỉ: hungthuoc@yahoo.com

Chúng tôi hân hạnh đón nhận mọi ý kiến đóng góp.

Trân trọng

Giáo Sư Nguyễn Thế Hùng, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Kỹ Sư Nguyễn Hùng

email: hungthuoc@yahoo.com

21 Tháng 5 Năm 2012

Prime Minister Yoshihito Noda

Cabinet Office, Government of Japan

1-6-1 Nagatacho

Chiyoda-ku,Tokyo 100-8914 JAPAN

Email: Kanteihp-info@cas.go.jp

C/c: Minister for Foreign Affairs Koichiro Gemba

Kasumigaseki 2-2-1, Chiyoda-ku, Tokyo100-8919, Japan:

Japanese Ambassador toVietnam Yasuaki Tanizaki

27 Phố Liễu Giai, Hà Nội (soumuhan@vnn.vn)

CỰC LỰC PHẢN ĐỐI CHÁNH PHỦ NHẬT BẢN VIỆN TRỢ XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM, VÀ YÊU CẦU HỦY BỎ NGAY HÀNH ĐỘNG VÔ TRÁCH NHIỆM VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM.

Kính thưa Thủ Tướng,

Ngày 04 tháng 5 năm 2012, công ty Hokkaido Electric Power Nhật Bản cho ngưng hoạt động nhà máy cuối cùng trong tổng số 54 nhà máy điện nguyên tử tại Nhật Bản. Hành động này đã chính thực chấm dứt việc sản xuất điện bằng phương pháp “phân tách hạch nhân” trên toàn nước Nhật.

Quyết định của chính phủ Nhật Bản có được là do hậu quả của tại nạn khủng khiếp nổ gần như “bị tiêu hủy” toàn bộ và phát tán phóng xạ vô cùng nguy hiểm từ nhà máy điện nguyên tử tại Fukushima Daiichi sau trận động đất và cơn sóng thần kinh hoàng tại vùngFukushimanày ngày 11 tháng 3 năm 2011.

Thảm họa kinh hoàng của nhà máy điện nguyên tử Kukushima đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng triệu người dân Nhật Bản sống trong các khu vực chung quanh nhà máy và tỏa rộng trên bán kính rộng gần 100 cây số  trong thời gian trước mắt và sẽ mang hậu quả tai hại kéo dài trong nhiều năm cho cả nước Nhật Bản. Thảm họa kinh hoàng này chỉ thấp hơn vụ nổ kinh hoàng tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl vào năm 1986 đã giết hại hằng ngàn người Nga tại nước Liên Bang Sô Viết trước kia, hủy hoại cuộc sống của nhiều triệu người dân tại Nga, Ukraine kéo dài nhiều thế hệ và gây ô nhiễm các chất phóng xạ chết người trong một vùng đất to lớn tại Bắc Âu kéo dài trong nhiều ngàn năm.

Ngay cả với trình độ kỹ thuật rất tiến tiến của Nhật Bản so với thế giới và những qui định gắt gao về điều kiện an toàn đã được chính phủ và dân chúng Nhật đặt ra đối với cách thức vận hành nhà máy điện nguyên tử, tưởng chừng như sẽ chẳng bao giờ có một trục trặc dù cho rất nhỏ có thể xảy ra tại nhà máy điện nguyên tử, nhưng một thảm họa kinh hoàng đã xảy ra tại khu phức hợp nhà máy sản xuất điện nguyên tử Fukushima. Điều này đã làm cho người dân Nhật Bản lo lắng khôn cùng.

Dân chúng Nhật Bản đã đứng lên đòi tất cả nhà máy điện nguyên tử phải ngưng hoạt động và chấm dứt việc xây thêm nhà máy điện nguyên tử mới.  Chính phủ và quốc hội Nhât Bản đã có hành động nhanh chóng và quyết liệt, với kết quả là toàn bộ các nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động tại Nhật Bản đều ngưng hoạt động. Nhà máy cuối cùng, nhà máy phát điện nguyên tử thứ 54, chính thức ngưng hoạt động ngày 04/05/2012. 

Những hành động tương tự nhằm loại bỏ nhà máy điện nguyên tử đang được thực hiện tại Đức và Thụy Sĩ. Mỹ đã ngừng xây thêm nhà máy phát điện nguyên tử mới ngay cả trước khi thảm họa Kukushima tại Nhật*, và nhiều nước khác đã lần lượt nói lên quyết tâm sẽ không dùng nguyên tử năng để sản xuất điện.

Chính phủ Nhật Bản đã quyết định đóng cửa tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử tại Nhật sau thảm họa kinh hoàng vừa xảy ra tại nhà máy phát điện nguyên tử  Fukushima, như vậy thì chính phủ Nhật Bản không có lý do gì lại giúp tài chính cùng cho phép các công ty Nhật  Bản bán trang thiết bị hay xây dựng nhà máy phát điện nguyên tử cho các nước khác trên thế giới.

Đi ngược với quyết định ngưng hoạt động của toàn bộ những nhà máy điện nguyên tử cùng với quyết định không xây thêm nhà máy mới trong tương lai vì lo ngại tai nạn tại các nhà máy này ảnh hưởng đến sức khỏe và an nguy của dân chúng và những tai hại cho nền kinh tế quốc gia, chính phủ Nhật Bản  lại chấp thuận viện trợ Việt Nam xây dựng một nhà máy điện nguyên tử tại Phan Rang tỉnh Ninh Thuận.

Đây là một hành động vô trách nhiệm nếu không nói một hành động vô nhân đạo và không đạo lý của chính quyền Nhật Bản đối với đất nước và dân chúng Việt Nam nếu đem so sánh với việc làm của chính quyền Nhật Bản lo cho an nguy của dân chúng Nhật Bản, nếu không coi đây là một hành động phi pháp và đi ngược lại đạo lý của loài người. Nếu chính quyền Nhật Bản đã quyết định ngưng hoạt động tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử, thì Nhật Bản không được trợ giúp tài chánh và cùng lúc cho phép các công ty của Nhật Bản xây nhà máy điện nguyên tử tại các nước khác.

Chúng tôi, những người Việt Nam quan tâm từ trong và ngoài nước, viết thư này phản đối chính phủ Nhật Bản quyết định trợ giúp việc xây nhà máy phát điện nguyên tử tại Việt Nam. Chúng tôi  thỉnh cầu ông và chính phủ Nhật Bản lập tức rút lại hành động phân biệt dân tộc, vô trách nhiệm và không đạo lý này.

Trân trọng

Thay mặt người ViệtNamquan tâm

Giáo Sư Nguyễn Thế Hùng, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Kỹ Sư Nguyễn Hùng,

Email liên lạc: hungthuoc@yahoo.com

Danh Sách ký tên:

1. Nguyễn Thế Hùng, Professor, DanangUniversityof Technology,Việt Nam

2. Nguyễn Xuân Diện, PhD, Hà Nội, ViệtNam

3. Nguyễn Hùng, Engineer,Australia

4. Đỗ KhắcHồng, Germany

5. Nguyễn Thi Hoa,USA

6. Trần Hoà iNam, Australia

7. Nguyễn Thiệu Quang, Australia

8. Nguyễn Thị Nhị Em, Germany

9. Trần Ngọc Tiến Dũng, PhD,Canada

10. Nguyễn Thi Thu, Bình Thuận, ViệtNam

11. Lê Bá Thành, Ninh Thuận, ViệtNam

12. Nguyễn Phú Thứ, HoChiMinhCity, ViệtNam

13.Nguyễn Thanh, Australia

14. Nguyễn Thị Châu, Australia

http://tuoitre.vn/The-gioi/490627/Hon-20-truong-hoc-o-Fukushima-nhiem-phong-xa-cao.html

http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-17533398

http://records.photodharma.net/ecology/damage-to-the-nuclear-power-plant-at-fukushima

http://en.wikipedia.org/wiki/Fukushima_Daiichi_nuclear_disaster

——————–

21 May 2012

Prime Minister Yoshihito Noda

Cabinet Office, Government of Japan

1-6-1 Nagatacho

Chiyoda-ku,Tokyo100-8914 JAPAN

Email: Kanteihp-info@cas.go.jp

C/c: Minister for Foreign Affairs Koichiro Gemba

Kasumigaseki 2-2-1, Chiyoda-ku,Tokyo100-8919, Japan:

Japanese Ambassador toVietnamYasuaki Tanizaki

27 Phố Liễu Giai, Hà Nội (soumuhan@vnn.vn)

PROTEST AGAINST THE JAPANESE GOVERNMENT ON PROVIDING FINANCIAL AIDS TO BUILD NUCLEAR POWER PLANTS IN VIETNAM, AND DEMAND AN IMMEDIATE CANCELLATION OF THIS IMMORAL AND DISCRIMINATORY ACT.

Dear Prime Minister,

On 4 May 2012,Japan’s Hokkaido Electric Power Co shut down the last nuclear power plant of the 54 such facilities inJapan. This action has officially ceased the production of electricity by means of nuclear fission from Uranium in all ofJapan.

The decision of Japanese government came as the result of the catastrophic near “meltdown” explosion and emission of deadly radioactive materials from the nuclear power plant in Fukushima Daiichi after the severe earthquake and Tsunami inFukushimaregion in 11 March 2011.

The catastrophic disaster of theFukushimanuclear plant has been affecting millions of Japanese living in the vicinity of this power plant stretching as far as 100km or more from the plant in the short term and the whole ofJapanas well the East Asian region, not to say around the world, for many years to come. This catastrophic disaster was just short of the severity of the scale of catastrophic nuclear power plant explosion in Chernobyl in 1986 which killed hundreds of thousands of  Russian people in the then Soviet Union, ruined the life of many more millions people in Russia, Ukrainian for many generations and contaminated a vast area of Northern Europe with deadly radioactive materials for thousands of years.

Even with the highly advanced Japanese nuclear technology comparing with the rest of the world and the strict safety requirements and controls put in place by the Japanese government and her people upon the nuclear power industries, the seems to be impossible nuclear accident would ever occur, even a small mishap, did happen in catastrophic scales within the Fukushima nuclear complex. This has caused grave concerns from the population ofJapan.

People of Japanstrongly demanded the whole nuclear power plant scheme to cease operation and no more nuclear power plant to be built in Japan. The Japanese government and Parliament have acted promptly and decisively, resulting with all operational nuclear power plants in Japan have now stopped operation. The last plant, the 54th nuclear power plant, ceased operation on 4 May 2012. Similar actions have been taking place to rid off nuclear plants inGermany andSwitzerland. TheUS had stopped building new nuclear power plants even before this terrible accident, and many other countries have since vowed to no longer engage with nuclear power.

The Japanese government have decided to close all their 54 nuclear power plants after the catastrophic disaster of the Fukushima nuclear power plant, therefore they must not give financial assistances as well as allowing Japanese companies to sell or build nuclear power plants to other countries around the world.

On contrary to the decision to stop all existing nuclear power plants as well as any plant to build new plant in the future inside Japan for fear of accidents from those nuclear power plants affecting the health and well-being of its people as well as the country’s economy, the government of Japan recently approved the program of assisting and aiding Vietnam to build a nuclear power plant in Phan Rang, Ninh Thuan Province.

This is an irresponsible action if not an inhuman and immoral action of the Japanese government toVietnamand her people. This is a blatant act of discrimination against the welfare and safety of Vietnamese people in comparing with the people inJapan, if not to be considered as an unlawful act and against human beings, morally. If the government ofJapanhad decided to close all its 54 nuclear power plants, they must not give financial assistance as well as not allow Japanese companies to sell or build nuclear power plants in other countries.

We, the concerned Vietnamese from inside and outside ofVietnam, write this letter to you to protest against your government’s decision on giving aids to the Vietnamese government to build a nuclear power plant inVietnam. We strongly urge you and your government to reverse immediately this discriminative, irresponsible and immoral act.

Sincerely yours

On behalf of concerned Vietnamese

Prof Nguyen The Hung, Dr Nguyen Xuan Dien, Nguyen Hung.

Contact email: hungthuoc@yahoo.com

List of signatories:

1. Nguyễn Thế Hùng, Professor, DanangUniversityof Technology,Việt Nam

2. Nguyễn Xuân Diện, PhD, Hà Nội, ViệtNam

3. Nguyễn Hùng,Engineer,Australia

4. Đỗ KhắcHồng, Germany

5. Nguyễn Thi Hoa,USA

6. Trần HoàiNam,Australia

7. Nguyễn Thiệu Quang,Australia

8. Nguyễn ThịNhị Em,Germany

9. Trần Ngọc Tiến Dũng,PhD,Canada

10. Nguyễn Thi Thu, Bình Thuận, ViệtNam

11. Lê Bá Thành, Ninh Thuận, ViệtNam

12. Nguyễn Phú Thứ,HoChiMinhCity, ViệtNam

13.Nguyễn Thanh,Australia

14. Nguyễn Thị Châu,Australia

http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-17533398

http://records.photodharma.net/ecology/damage-to-the-nuclear-power-plant-at-fukushima

http://tuoitre.vn/The-gioi/490627/Hon-20-truong-hoc-o-Fukushima-nhiem-phong-xa-cao.html

http://en.wikipedia.org/wiki/Fukushima_Daiichi_nuclear_disaster

 

——————————————————————————-

 

*Ghi chú của TH

Trong đơn gởi chính phủ Nhật Bản của tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng có đoạn:

“Mỹ đã ngừng xây thêm nhà máy phát điện nguyên tử mới ngay cả trước khi thảm họa Kukushima tại Nhật,” 

Thực tế như sau: Mỹ đã ngừng xây dựng nhà máy phát điện nguyên tử mới trong hơn 33 năm qua, sau sự cố trục trặt nhà máy điện ở Three Mile Island (tiểu bang Pennsylvania) March 28, 1979. Vụ Chernobyl ở Urkraine năm 1986 chỉ cũng cố thêm cho sự kiên ngưng xây dụng nhà máy điện HN ở Mỹ, dù Mỹ là nước sản suất nhà mày điện hạt nhân lớn nhất thế giới.

Bài dịch ngay dưới đây trích từ  Three Mile Island Accident.

…Sau vụ Three Mile Island, (TMI) 1979,  phía bên mua (the buyers) trong khoảng thời gian từ 1980-1984, đã hủy bỏ đơn đặt hàng của tổng cộng 51 lò phản ứng hạt nhân ở Mỹ mà trước đó họ đã làm khảo sát thực địa nơi đặt nhà máy điện HN và đã đặt hàng muốn mua từ những năm 1960s và 1970s (nguồn )

Tuy vậy, biến cố TMI xây ra năm 1979 đã không khởi đầu cho sự suy thoái kỹ nghệ làm nhà máy điện nguyên tử ở Mỹ. Theo kết quả của cuộc phân tích sau vụ khủng hoảng dầu lửa 1972-1973 và các kết luận về các mức vượt quá khả năng cung cấp điện, 40 nhà máy điện nguyên tử đã bị hủy hợp đồng trước đó trong khoảng thời gian 1973-1979. 

Mãi tới năm 2012, không một nhà máy điện hat nhân nào được giấy phép xây dụng kể từ năm trước khi xảy ra vụ Three Miles Island 1979. Tuy nhiên, vào khoảng thời gian có biến cố TMI, 129 nhà máy điện nguyên từ đã được chấp thuận trước đó; trong số 129 nhà máy điện này, chỉ có 53 nhà máy điện (lúc ấy chưa chạy máy cung cấp điện hat nhân) đã hoàn thành việc xây dựng

Các yêu cầu của chính quyền Liên Bang  Mỹ (tương đương với chính truyền trung ương ở Hà Nội) đã trở nên quá nghiêm ngặt, chặt chẻ, những người phản đối ở địa phương (dự tính xây dựng nhà máy điện hat nhân) đã trở nên lớn tiếng và mạnh mẻ hơn, và thời gian xây dựng đã kéo dài lâu hơn để sửa đổi các đề án an toàn và các khiếm khuyết trong kiểu mẫu nhà máy điện hạt nhân. 

Trên toàn cầu, sự ngừng gia tăng  xây dựng nhà máy điện hạt nhân đã xuất hiện với thảm họa ở ChernoByl, Urkraine năm 1986.  (Bản dịch @ Trần Hoàng 2012)

:” in total, 51 American nuclear reactors were canceled from 1980–1984.[66]
The 1979 TMI accident did not, however, initiate the demise of the U.S. nuclear power industry. As a result of post-oil-shock analysis and conclusions of overcapacity, 40 planned nuclear power plants had already been canceled between 1973 and 1979.

Until 2012[67], no U.S. nuclear power plant had been authorized to begin construction since the year before TMI. Nonetheless, at the time of the TMI incident, 129 nuclear power plants had been approved; of those, only 53 (which were not already operating) were completed.

Federal requirements became more stringent, local opposition became more strident, and construction times were significantly lengthened to correct safety issues and design deficiencies.[citation needed]

 

Globally, the cessation of increase in nuclear power plant construction came with the more catastrophic Chernobyl disaster in 1986
http://en.wikipedia.org/wiki/Three_Mile_Island_accident
http://www.threemileisland.org/
http://www.world-nuclear.org/info/inf36.html

 

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Hoãn vô thời hạn phiên phúc thẩm vụ trung tá C.A đánh chết người

Posted by hoangtran204 trên 14/05/2012

nguồn: danchimviet.info

Ngày 14-5-2012

Lúc 08 giờ sáng nay, 14/05/2012, Tòa án Nhân dân Hà Nội mở phiên phúc thẩm xét xử trung tá CA Nguyễn Văn Ninh đánh chết nạn nhân Trịnh Xuân Tùng (tại số 262, Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội).

Ngay từ sáng sớm, gia đình nạn nhân Trịnh Xuân Tùng cùng người thân, bạn bè đã có mặt để theo dõi diễn biến phiên tòa. Theo thông báo, phiên tòa công khai vào cửa tự do. Tuy nhiên, tin từ hiện trường cho biết đây thực chất là phiên tòa xử kín, không ai được tham dự ngoại trừ người nhà nạn nhân.

Bên ngoài phiên tòa, gia đình và bạn bè của nạn nhân đã căng một băng rôn yêu cầu xét xử nghiêm minh vụ án đánh chết người.

Được biết, lý do hoãn tòa là do “không đủ nhân chứng”. Tuy nhiên, gia đình nạn nhân cho biết, toà án đã không triệu tập các nhân chứng theo đơn kháng cáo của gia đình. Các nhân chứng có liên quan là Bạch Chí Cường, Nguyễn Đức Minh, những người chứng kiến cảnh công an và dân phòng đánh đập ông Tùng và những công an phường Thịnh Liệt trực ban tối hôm xảy ra sự việc. Ngoài ra, những dân phòng tham gia đánh đập nạn nhân Trịnh Xuân Tùng cũng đã bị toà bỏ qua.

Trước phiên xử, cô Trịnh Kim Tiến, con gái ông Trịnh Xuân Tùng tuyên bố, cô không cần luận sư bào chữa mà sẽ tự tranh biện tại tòa. Ở phiên sơ thẩm, các lý cớ mà luật sư đưa ra đã không được tòa quan tâm, xét xử.

Cho tới ngay trước phiên xử, Tòa đã không gửi giấy mời cho Trịnh Kim Tiến cùng mẹ và em gái mà chỉ gửi giấy cho mẹ ông Tùng, một người đã ngoài 90 tuổi.

Tuy vậy, dù có giấy mời hay không, cô Tiến cho biết sẽ đứng trước cửa Tòa. “Đó là quyền cơ bản nhất của thân nhân người bị hại. Cho dù họ không cho con vào phiên tòa thì con vẫn cùng với toàn thể gia đình đứng trước phiên tòa đó và hy vọng là họ sẽ cho vào, nếu không con cũng sẽ đứng đó cho tới khi phiên tòa kết thúc. Con sẽ đi đến cùng đòi lại cái quyền tham gia tố tụng của con.”

Ngay trong phiên tòa, Trịnh Kim Tiến không chấp nhận phiên xử thiếu nhân chứng và kiên quyết đòi tòa phải cho triệu tập các nhân chứng liên quan.

Vụ án trung tá công an Nguyễn Văn Ninh cố ý đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng vào tháng 3 năm 2011 đã được tòa án Nhân Dân Thành phố Hà Nội xử phiên sơ thẩm vào ngày 13 tháng 1 năm 2012 với bản án 4 năm tù giam cho bị cáo đã gây bất bình cho dư luận nói chung và cho gia đình nạn nhân nói riêng.

Ngay sau phiên sơ thẩm, Trịnh Kim Tiến cùng mẹ, em và bà đã gửi đơn kháng án và tuyên bố sẽ tự tay giành lấy công lý.

Trong một diễn biến khác, mới đây phiên xử các blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải đã bị tuyên bố hoãn vô thời hạn.

Việc hoãn vô thời hạn khá hiếm khi xảy ra với tòa án Việt Nam, nơi các phiên tòa ‘nhạy cảm’ thường diễn ra hết sức chóng vánh với một bản án đã có sẵn. Việc liên tục hoãn tòa cho thấy sự lúng túng của ngành tư pháp nói riêng và đảng Cộng sản nói chung trước sức ép dư luận đang gia tăng.

Đàn Chim Việt tổng hợp theo DLB, RFA, Facebook

Bên blog này có nhiều hình ảnh hiện trường trước tòa án. Dân Hà Nội càng ngày càng học thêm được những gì mà cố TT Thiệu đã từng nói hơn 40 năm trước đây: …Nghe,… Nói, Nhìn…, …Làm.  Kệ, tuy muộn màng, nhưng vẫn còn tốt hơn một nhóm người khác vẫn còn u mê tin tưởng nghe theo…

http://danlambaovn.blogspot.com/2012/05/bat-au-phien-phuc-tham-xet-xu-trung-ta.html

Posted in Pháp Luật | Leave a Comment »

Nông dân huyện Văn Giang trở lại trồng cây, rào lại ruộng đất của họ sau vụ chính quyền cưỡng chế 24-4-2012

Posted by hoangtran204 trên 13/05/2012

Văn Giang – sự trở lại của những cánh đồng

Phương Bích

Lần trước rời Văn Giang trong tâm trạng nặng nề, u uất bao nhiêu, thì lần này tôi trở lại đó với tâm trạng phấn khích bấy nhiêu. Thậm chí 3 xe chúng tôi chả kịp chờ nhau, cứ bon bon nhằm hướng Văn Giang mà lướt tới. Tôi bỗng cảm thấy hồi hộp như con nít, khi nghĩ mình sắp được tham gia vào một ngày hội trồng cây thật đặc biệt trong đời.

Nghe tin bà con lại vác cuốc xẻng ra đồng từ mấy hôm trước, ai nấy đều háo hức lắm. Phải thế chứ! Dễ gì mà dập tắt được sự sống trên mảnh đất phì nhiêu màu mỡ, có được do mồ hôi và nước mắt từ bao đời nay rỏ xuống, thấm đẫm từng thớ đất như thế?

Xe lướt qua cây cầu bắc qua con sông Bắc Hưng Hải nổi tiếng, do bàn tay con người đào đắp nên khi tôi còn chưa sinh ra. Dòng nước trong xanh, đẹp như một dải lụa, lóng lánh dưới nắng chiều nhìn thật êm ả, như chưa từng biết đến sự đau thương của những con người sống nhờ nó, mà chết cũng vì nó….

Xe đến đầu dốc dẫn xuống làng, tôi hơi ngạc nhiên khi đón nhận những ánh mắt và nụ cười thân thiện của những người không quen biết hướng về xe chúng tôi. Rồi họ rậm rịch quay đầu, người xe đạp, người xe máy đi theo xe chúng tôi vào làng. Hóa ra bà con ra đón cụ Lê Hiền Đức! Do tôi đi ké, không biết nên mới ngạc nhiên thế.

Chả biết bà con hân hoan hay chúng tôi hân hoan! Lần đầu tiên được hòa mình trong dòng người đổ ra đồng với cuốc xẻng trên vai, tôi sung sướng toét miệng cười hết cỡ. Nhìn cụ bà Lê Hiền Đức nhỏ thó, vác cuốc đi trong dòng người, tôi xúc động khi bà khoe với tôi rằng phải lục tung đồ đạc lên, để tìm bằng được tấm áo nâu đã theo bà từ thời còn ở chiến khu – 60 năm rồi chứ ít gì. Cái áo nâu bà đang mặc đây có tuổi thọ còn hơn cả tuổi đời của tôi đấy.

Đồng đất Văn Giang đây rồi! Những trận mưa mấy hôm trước đã tạo nên một bức tranh loang lổ trên mặt đất. Cỏ dại đã kịp mọc lên. Trong các vũng nước đã kịp phủ đầy bèo tấm. Ừ! Dẫu có là cỏ dại, dẫu có là bèo bọt đấy, nhưng thế mới biết sức sống ở đây mạnh đến thế nào. Chẳng lẽ chịu chết đói khi đất màu để cho cỏ dại mọc thế ư? Đấy là tội ác đấy!

Ôi chao! Đông người quá! Vui quá!

Những cái nón lá lấp loáng, tiếng cười nói xôn xao vang vọng khắp cánh đồng. Có đến hàng trăm người chứ không ít, kể cả từ già trẻ lớn bé…Mới đây thôi còn là những gương mặt căm phẫn cùng cực, khi nhìn con em mình bị công an đánh đập không thương tiếc, nhìn máy xúc cào nát cây cối, ruộng vườn của họ…. nay thì đâu đâu cũng thấy những ánh mắt, những nụ cười rạng rỡ.

Trừ cụ Lê Hiền Đức đã sát cánh bên bà con trong trận”chống càn” đêm 23 rạng ngày 24/4, dân làng thi nhau kể, tố khổ những gì đã diễn ra cho chúng tôi nghe. Họ kể cả những khó nhọc đã bồi đắp lên trên cánh đồng này, để có tiền nuôi con em họ ăn học, để xây dựng nên làng mạc trù phú như ngày hôm nay. Họ bảo đất ở đây tốt lắm, tưới tiêu vô cùng thuận lợi nhờ con sông Bắc Hưng Hải liền kề đây. Họ kể nhiều lắm mà tôi chả nhớ hết được, bởi tâm trí tôi giờ như con ngựa hoang đang chạy khắp cánh đồng. Tôi ngó chỗ này, hóng chỗ kia, chào hỏi tíu tít những người không hề quen biết mà sao thấy gần gũi và thân thương làm vậy. Thương người nông dân lắm, họ mộc mạc, chân chất thế, chỉ biết giành giật lại đất đai của ông bà tổ tiên để lại theo bản năng. Nhưng gậy gộc, gỗ đá làm sao thắng được cường quyền trong một trận càn? Vẫn còn con em họ bị giam giữ giờ chưa được trở về, chỉ vì “chiến đấu” để giữ đất mà bị kết tội là “chống người thi hành công vụ”! Thương vụ chứ công vụ gì ở đây!

Bảo là về trồng cây cùng bà con mà tôi cứ mải chụp, mải hóng chuyện. Nhìn dân xúm xít quanh cụ Lê Hiền Đức, tôi cảm phục cụ quá. Dễ mấy ai được bà con tin yêu, cậy nhờ thế này. Chỉ buồn nỗi từ đám sức dài vai rộng đến trí thức đầy mình, mà bất lực trước nỗi bất hạnh của người dân, phải để một bà cụ 82 tuổi nhỏ bé thế này làm chỗ dựa tinh thần cho dân thì đau thật là đau.

Nhưng tôi không hề cảm thấy lo lắng khi thấy tinh thần của bà con quật cường lắm. Họ luôn khẳng định sẽ bám đất bằng bất cứ giá nào. Cần gì đợi ai phải làm giàu cho họ như mấy ông chính quyền vẫn lòe bịp. Khu du lịch sinh thái, hay sân gôn có chăng chỉ làm làm giàu cho mấy ông quan tỉnh chứ đám dân đen đừng có mà mơ….

Khi chúng tôi vào nghỉ trong nhà dân, bà con bê nước trà đóng chai, “bò húc” ra cho chúng tôi uống. Ngày thường tôi vốn kỹ tính thế mà bây giờ chả câu nệ gì, tôi chỉ xin cốc nước vối, lúc cậy nước đá rơi tung tóe trên nên nhà mà tôi cứ thế bốc lên bỏ đại vào cốc rồi tu một mạch, thế mà chả đau bụng đau bão gì.

Rồi nghe dân nói sẽ đi thăm hai ông nhà báo vì xuống với họ mà bị công an đánh dã man quá, tôi bảo thực ra hai ông ấy bị đánh là gậy ông đập lưng ông thôi chứ đâu phải vì dân. Rốt cuộc là các ông ấy cũng phải thú nhận là “chính nhân dân đã cứu tôi”, mặc dù vẫn khẳng định “cưỡng chế là đúng luật”. Các ông ấy chả biết chỉ vì bênh các ông ấy mà người dân cũng bị đánh đấy. Một chị trạc tuổi tôi kể bị họ túm lấy, quẳng chị ngã lộn nhào qua đống cát khi chị xông vào cứu nhà báo. Dân cứu nhà báo, vậy nhà báo có cứu dân không?

Chia tay bà con, chúng tôi thêm một lần nữa rưng rưng trong lòng, khi những người phụ nữ đã để sẵn hai bao tải ngô mới bẻ ngoài đồng để làm quà cho người thành thị. Cụ Lê Hiền Đức giãy nảy lên ngay lập tức khi nghe thấy nói biếu quà, dứt khoát không nhận. Nài nỉ, thuyết phục mãi không ăn thua. Nước mắt đôi bên đã bắt đầu chực rơi, phải nhờ đến Hiếu nhảy vào khuyên cụ Đức:

–     Thôi bà cứ nhận đi. Bà phải ăn cái bắp ngô được trồng chính trên mảnh đất này, mới cảm nhận được vị ngọt bùi chắt chiu được từ những giọt mồ hôi một nắng hai sương của bà con chứ…

Sao mà cái thằng cha này nói hay thế chứ. Mắt bà Đức đỏ hoe, mắt chị em người làng cũng đỏ hoe. Nào thì bê ngô lên xe! Cảm ơn nhé! Tạm biệt nhé! Hẹn gặp lại nhé! Kẻ đi người ở, đôi bên cứ thế ríu rít chào nhau đầy bịn rịn.

Dọc đường về, ai nấy đều day dứt về việc vẫn chưa giúp được gì cho bà con. Hôm nay mới chỉ là khởi đầu, dẫu còn nhiều gian khổ, nhưng tôi tin rồi sự sống sẽ trở lại từng ngày trên cánh đồng Văn Giang. Hy vọng tinh thần Văn Giang sẽ truyền lửa cho người nông dân mọi miền trong cuộc chiến giữ đất giữ làng này.

 
Mời các bạn ghé qua blog của chị Phương Bích xem hình ảnh ở đấy

*Mời các bạn nghe bản nhạc Nắng Đẹp Miền Nam và Khúc Ca Ngày Mùa của nhạc sĩ Lam Phương. Hai bản nhạc này ghi lại cảnh miền quê miền Nam của  người nông dân được mùa. Tình yêu quê hương của người miền Nam. Nhưng cảnh thanh bình ở  Miền Nam đã biến mất khi đảng CSVN chính thức khởi động cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam 1960, chỉ vì nghe theo lời huấn thị của Trung Cộng và Liên Xô. Suy nghĩ đến tận cùng thì đảng CSVN là cội nguồn của cuộc các chiến tranh, gây cảnh chết chóc của hơn 4 triệu người VN, gia đình ly tán, người người nghi kỵ nhau, mất đất, mất nhà, người dân 3 miền Nam Trung Bắc bị mất đất đai ruộng vườn nhà cửa của những cán bộ cs. địa phương hoặc trung ương

*Và tiếng hát của Hương Thủy và Thế Sơn trong hai nhạc phẩm mô tả  quê ở Miền Nam. 

Trăng Về Thôn Dã- sáng tác của nhạc sĩ Hoài An và Huyền Linh

Rước Tình về với Quê Hương- sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

—————————————————

Lê Hiền Đức: TÔI TRỰC TIẾP QUAN SÁT VỤ CÔNG AN ĐÁNH DÂN

Những clip về việc công an đánh đập hai nhà báo của VOV ngày 24/4/2012 không có gì phải nghi ngờ. Khi hai nhà báo bị đánh, tôi đang đứng ở một vị trí trên cao, nhìn rất rõ ràng từ đầu đến cuối, phân biệt được công an, người đeo băng đỏ hay xã hội đen. Chúng trèo, nhảy qua tường vào khu nghĩa trang liệt sĩ túm lấy một thanh niên đang mặc áo trắng đánh túi bụi. Tôi còn nhìn rất rõ kẻ bám vào tường bên kia để với sang đập vào đầu anh thanh niên áo trắng. Hắn đội mũ sắt, màu tím sẫm, khác với những mũ sắt có màu xanh cứt ngựa.

 

Tôi đã đứng nhìn trực tiếp cảnh này.

Chúng túm vào đánh hội đồng người mặc áo trắng hung hãn như một lũ khát máu, lâu mới được đánh đồng loại.

Uất nghẹn và căm phẫn vô cùng, tôi xăm xăm từ tầng cao chạy xuống định xông ra giằng lấy người thanh niên vô tội đó mà nói rằng: “Hãy đánh tôi đây này. Tôi sẵn sàng thế mạng cho người thanh niên kia bởi họ còn trẻ, họ còn cống hiến được nhiều cho đất nước, cho nhân dân. Còn tôi già rồi, tôi sẵn sàng chết thay cho anh ấy”.

Thấy tôi quyết liệt quá, các bà, các chị và các cháu thanh niên ôm chặt lất tôi. Họ muốn bảo vệ tôi, không cho tôi ra nơi nguy hiểm. Không ra được, tôi ngồi khóc vì tôi không bảo vệ được dân tôi.

Những gì tôi xem trong đoạn clip hoàn toàn khớp với những gì tôi nhìn thấy hôm ấy, Thế mà khi báo cảo thủ tướng trong hội nghị trực tuyến, ông Nguyễn Khắc Hào, phó chủ tịch thường trực tỉnh Hưng Yên dám nói là video này là do bọn phản động làm giả để vu không, bôi nhọ chính quyền.

Xin hỏi ông Hào: “Ông có nhìn thấy cảnh tượng đau lòng đó không? Khi ấy, ông ngồi ở xó xỉnh nào mà dám nói sai sự thật như thế?

Còn tôi, một người đã dành cả cuộc đời cống hiến cho nhân dân, cho Tổ quốc, cho đất nước, cho cách mạng, tôi không thể nào nói khác sự thật được

Sau khi ông báo cáo láo với thủ tướng, tôi có gọi điện nói chuyện trực tiếp với ông Nguyễn Khắc Hào thì ông ấy trả lời tôi rằng: “Bác ơi, con chỉ là phát ngôn thôi, con nói đúng là ý của bí thư, chủ tịch và lãnh đạo tỉnh nói chung”. 

Việc công an đánh đập dã man hai nhà báo là đã rõ ràng. Vấn đề là chính quyền Hưng Yên có muốn xử lý đến nơi đến chốn không hay thôi. Nhưng nếu họ vẫn áp dụng bài bản quen thuộc như làm nửa vời hay đợi thời gian cho chìm xuống là cách làm có hại hơn cả cho sự tồn vong của chế độ.

video vụ đánh đập hai nhà báo đài Tiếng Nói VN (VOV)
Video: Sau vụ cưỡng chế đất ở huyện Văn Giang, Nông dân ra rào lại ruộng của họ.
 
 
 
 
 
 
 


Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Giới nghiên cứu Trung Quốc: Bắc Kinh đuối lý khi đòi chủ quyền ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 13/05/2012

Nguồn: RFI
Bản đồ yêu sách lãnh hải tại biển Đông, trong đó có yêu sách của Trung Quốc mang tên gọi "đường lưỡi bò", hay hình chữ U.

Bản đồ yêu sách lãnh hải tại biển Đông, trong đó có yêu sách của Trung Quốc mang tên gọi “đường lưỡi bò”, hay hình chữ U. eia.doe.gov

Theo một công trình nghiên cứu vừa được Mỹ công bố, chính giới nghiên cứu Trung Quốc thấy rằng lập luận của Bắc Kinh về chủ quyền tại Biển Đông không thể đứng vững.

Chính quyền Trung Quốc luôn luôn khẳng định rằng họ có chủ quyền “không thể chối cãi” trên hầu như toàn bộ Biển Đông. Thế nhưng Bắc Kinh luôn luôn bác bỏ các đề nghị đưa tranh chấp ra trước tòa án quốc tế hoặc mở đàm phán đa phương về vấn đề này. Trong một công trình nghiên cứu vừa được một trung tâm nghiên cứu Mỹ công bố, sở dĩ chính quyền Trung Quốc có lập trường như trên, đó là vì chính các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thấy rằng lập luận của Bắc Kinh không thể đứng vững dưới lăng kính của luật pháp quốc tế.

Ngày 03/05/2012 vừa qua, Trung tâm nghiên cứu về một nền An ninh Mới của Mỹ (Center for a New American Security CNAS), trụ sở tại Hoa Kỳ, đã công bố đồng thời ba bài nghiên cứu của họ về các điểm nóng tại hai vùng biển Hoa Đông và Nam Hải (tức Biển Đông). Đáng chú ý nhất là bài của nữ chuyên gia Tôn Vân (Sun Yun) mang tựa đề : Nghiên cứu Nam Hải : Quan điểm Trung Quốc (Studying the South China Sea: The Chinese Perspective), nêu bật kết quả nghiên cứu của bốn định chế nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc hiện nay về Biển Đông.

Trong bài viết dài 10 trang, bà Tôn Vân đã nêu bật kết luận của một chuyên gia phân tích của chính phủ Trung Quốc, sau khi điểm lại các kết quả nghiên cứu của các định chế được giao phó trách nhiệm đề xuất ý kiến với Nhà nước về chính sách thích hợp cho Biển Đông, nhằm đối phó với Hoa Kỳ và với các quốc gia khác trong khu vực.

Kết luận đó rất rõ ràng : Nếu tôn trọng đầy đủ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Bắc Kinh sẽ phải từ bỏ tấm bản đồ chín đường gián đoạn cũng như “chủ quyền lịch sử” của họ tại vùng biển đang có tranh chấp. Mặt khác, nếu được tiến hành, các cuộc đàm phán đa phương về tranh chấp chủ quyền trên các hòn đảo, bãi đá hay rạn san hô ở Biển Đông “hầu như sẽ dẫn tới kết quả là Trung Quốc sẽ bị mất đi ít ra là một phần” các vùng biển và lãnh thổ mà họ đòi hỏi chủ quyền.

Có điều, theo bà Tôn Vân, những lời thừa nhận kể trên của giới nghiên cứu đã được giữ kín hoàn toàn, không hề tiết lộ ra cho công chúng biết. Đối với bà Tôn Vân, trong cộng đồng nghiên cứu chính sách tại Trung Quốc, có một sự công nhận khá rộng rãi là chính sách Biển Đông căn cứ vào tấm bản đồ “hình lưỡi bò” sẽ tạo ra nhiều vấn đề, tương tự như chủ trương thương thuyết song phương về những tranh chấp mà bản chất là đa phương, hay là việc áp dụng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS.

Bản nghiên cứu của bà Tôn Vân nhận định : “Bắc Kinh không thể cho phép xảy ra tình trạng tựa như là lãnh thổ của mình rơi vào tay ngoại bang. Do đó, giữa cử tọa ngoại quốc và dư luận trong nước, họ đã quyết định bám víu vào những đòi hỏi chủ quyền và những lời khẳng định hiện nay, kể cả khi phải trả giá cao về mặt ngoại giao”.

Vì thế, các chuyên gia Trung Quốc đã đồng loạt đổ lỗi cho Hoa Kỳ về việc khuấy động cho tình hình Biển Đông căng thẳng. Theo họ, Mỹ đã lợi dụng vấn đề này để khai thác phá hoại tình hữu nghị giữa Trung Quốc và các láng giềng, tăng cường liên minh với Philippines và phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam để ngăn chặn ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh và duy trì vị thế siêu cường của Mỹ trong khu vực.

Bản nghiên cứu của bà Tôn Vân ghi rõ : “Các nhà phân tích Trung Quốc đều không tin là các nước nhỏ trong khu vực dám thách thức Trung Quốc trên Biển Đông nếu không có sự can thiệp của Mỹ“.

Tác giả đã trích lời ông Viên Bằng (Yuan Peng), giám đốc của Viện Nghiên cứu Hoa Kỳ của Học viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc cho rằng, chính sự can dự và hậu thuẫn của Mỹ đã nhào nặn phán đoán về chiến lược cũng như quyết định của các nước trong khu vực, thúc đẩy họ ngày càng quyết đoán hơn đối với Trung Quốc.

Xin nói thêm là bà Tôn Vân hiện là một chuyên gia thỉnh giảng tại Trung Tâm Nghiên cứu Chính sách Đông Bắc Á, thuộc Viện Brookings ở Mỹ. Bà nguyên là chuyên gia phân tích của Tổ chức phi chính phủ nổi tiếng International Crisis Group, làm việc tại Bắc Kinh trong đề án Đông Bắc Á của tổ chức này.

Nguồn: RFI

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

Bí thư Quảng Đông: « Đảng Cộng sản Trung Quốc không mang lại hạnh phúc cho dân »

Posted by hoangtran204 trên 13/05/2012

Lời tựa: Ở Trung Quốc, ngày càng gia tăng sự bất mãn giữa chính quyền trung ương ở Bắc Kinh và chính quyền các tỉnh. Sự kiện ông Bạc Hy Lai một ủy viên bộ chính trị bị thất sủng và bị bắt giam vào tháng trước, và vụ ông Trần Quang Thành chạy trốn vào tòa Đại Sứ Mỹ ở Bắc kinh xin tị nạn vì chính quyền tỉnh Sơn Đông đã cô lập ông và không cho ai tiếp xúc với ông trong khi trước đó ông đã tìm cách khiếu nại lên các giới chức chính quyền ở Bắc Kinh.  Nay, ông bí thư của tỉnh Sơn Đông nói thẳng ra như sau. 

Bí thư Quảng Đông: « Đảng Cộng sản Trung Quốc không mang lại hạnh phúc cho dân »

Tú Anh

nguồn RFI

Nói đảng Cộng sản và chính quyền phục vụ nhân dân là một điều sai quấy cần phải dẹp đi”. Lời tuyên bố lịch sử này đã được ông Uông Dương, bí thư tỉnh Quảng Đông đưa ra vào ngày 09/05/2012 nhân đại hội đảng bộ địa phương, trong bối cảnh đảng Cộng sản Trung Quốc chuẩn bị thay đổi lãnh đạo.

Phải chăng một trang sử mới tại Trung Hoa lục địa đang hé mở? Lần đầu tiên một khẩu hiệu tuyên truyền chính thức của đảng Cộng sản bị một quan chức cao cấp thuộc khuynh hướng cải cách xé bỏ. Trong cuộc họp của đảng bộ tỉnh Quảng Đông cách nay hai hôm, Bí thư Uông Dương tuyên bố: “Chúng ta phải vất bỏ đi ý tưởng sai lầm cho rằng hạnh phúc của nhân dân là do đảng và chính phủ mang lại”.

Chưa hết, nhân vật được tiếng thuộc phe cải cách bổ túc thêm: Mưu tìm hạnh phúc là quyền lợi của người dân. Còn vai trò của chính phủ là để cho nhân dân được tự do dũng cảm đi tìm hạnh phúc bằng con đường riêng của mình.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông nhấn mạnh chuyện xây dựng hạnh phúc của người dân và vấn đề cá nhân mà đảng Cộng sản và chính quyền không có vai trò gì cả. Nếu có, thì Đảng và Nhà Nước phải phục vụ cho dân chứ không phải ngược lại.

Quan điểm trên đây thật ra là một ý tưởng bình thường tại các nước dân chủ nhưng nó không bình thường trong chế độ phong kiến “ơn vua lộc nước” và trong chế độ được gọi là cộng sản “nhờ ơn Đảng và nhà nước… ”

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông đã hơn một lần chứng minh ông là một nhà cải cách. Khi dân làng Ô Khảm biểu tình đuổi chính quyền địa phương thì chính ông đã dàn xếp không dùng biện pháp đàn áp, và để cho dân làng tổ chức bầu cử tự do chọn người mới. Tuy tuyên bố “không theo mô hình Tây phương” ông cũng chống lại chủ trương “tân Mao-ít” của cựu lãnh đạo Trùng Khánh, Bạc Hy Lai.

Nhận định về sự kiện độc đáo này vừa xảy ra tại Trung Quốc, hãng tin công giáo Á châu Asia News ghi nhận rằng ông Uông Dương đã tách ra khỏi những tín điều truyền thống: nhờ Đảng mà Trung Hoa được độc lập, hạnh phúc, ổn định và thành công.

Từ khi Mao Trạch Đông cướp được chính quyền tại Hoa lục thì từng thế hệ học sinh được dạy là mang ơn Đảng từ viên kẹo cho đến quyển vở. Mao chủ tịch được tôn vinh như Ngọc Hoàng giáng thế, chăm lo đời sống của nhân dân từ lúc lọt lòng cho đến lúc qua đời. Thế nhưng, từ khi hàng loạt chế độ cộng sản sụp đổ, và Đặng Tiểu Bình phải cải cách kinh tế để tự cứu thì tại Trung Quốc tràn ngập những vụ bê bối, tham ô, những lạm quyền thế, biển thủ công quỹ mà thủ phạm là cán bộ, quan chức. Tệ hại hơn nữa là họ tìm cách đưa con cháu vào các chức vụ quan trọng để tính chuyện thống trị lâu dài.

Trong khi đó thì người dân Trung Quốc được gì? Chỉ cần đơn cử một thống kê của Viện Khoa học Xã hội hồi cuối năm ngoái : trong 20 năm trở lại đây, chính sách cưỡng chế trưng thu đất đai đã làm cho 50 triệu người dân mất nhà, mất đất. Hôm qua, tại Vân Nam, một phụ nữ dân oan bị trưng thu nhà đã cho bom nổ tự sát ngay trong văn phòng chính quyền địa phương. Đó chỉ là một trường hợp thương tâm trong muôn ngàn oan khiên trong chế độ mà trung bình mỗi sáu phút có một cuộc biểu tình chống tham ô và nhũng lạm quyền thế.

Theo Asia News, đối với những cán bộ có suy nghĩ, con đường hạnh phúc của họ là tách dần ra khỏi đảng. Theo thống kê năm 2006, trong số 70 triệu đảng viên, hơn một phần ba chọn theo một tôn giáo. Hơn 20 triệu theo đạo Thiên chúa.

Những lời phủ nhận tín điều truyền thống trên đây được xem là “lịch sử” vì ông Uông Dương tuyên bố công khai, và ông là một nhân vật lãnh đạo cao cấp, rất có thể sẽ là một trong những ủy viên thường trực Bộ Chính trị nhân đại hội Đảng vào cuối năm nay.

Mặc dù báo chí chính thức không tường thuật, nhưng trên mạng internet những lời tuyên bố này đã được loan tải rộng rãi và được dự báo sẽ “đi vào lịch sử”.

Nguồn: Tú Anh/ RFI

nguồn danchimviet.info

————————————————————————————

http://www.voanews.com/vietnamese/news/us/us-china-chen-stearns-05-02-12-149947675.html

Thứ Tư, 02 tháng 5 2012

Vụ Trần Quang Thành và quan hệ Hoa Kỳ, Trung Quốc

Scott Stearns | Washington

Các chuyên viên Mỹ góp ý để xem trường hợp của nhân vật bất đồng chính kiến Trần Quang Thành ảnh hưởng đến quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, tương lai của Trung Quốc như thế nào.

Ông Doug Bandow, thuộc viện nghiên cứu Cato cho biết:

“Các trường hợp giống như ông Trần luôn luôn là một thách thức cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ tượng trưng cho những vấn đề nhân quyền cơ bản nhất. Hoa Kỳ hô hào dân chủ. Khi đối phó một với quốc gia rất quan trọng như Trung Quốc, Hoa Kỳ không thể lảng tránh những vấn đề đó.”

Nhưng ông Bandow nói Hoa Kỳ không thể bắt Trung Quốc phải đối xử với nhân dân họ tốt hơn:

“Nếu Hoa Kỳ xem vấn đề này là trọng tâm các cuộc thảo luận với Trung Quốc thì các vấn đề khác sẽ chẳng bao giờ giải quyết được. Do đó, tôi nghĩ cách khả thi nhất, là các nhà đàm phán của Mỹ nói với phía Trung Quốc rằng thôi thì chúng ta tạm gác vấn đề này lại, khi nào giải quyết các vấn đề khác như Sudan, Bắc Triều Tiên, Iran, kinh tế và những vấn đề khác thì chúng ta sẽ quay lại.”

Nhưng bà Sophie Richardson, Giám đốc của Human Rights Watch nói sẽ là sai lầm khi tách biệt nhân quyền khỏi các vấn đề khác trong quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ:

“Cho dù hai bên bàn về mức an toàn của sản phẩm, cho dù nói về thương mại hoặc các hợp đồng có được giữ đúng hay không, những vấn đề đó về cơ bản cũng có tiền đề là bảo vệ nhân quyền cơ bản.”

Các giới chức Hoa Kỳ đi theo Bộ trưởng Ngoại giao Clinton và Bộ trưởng Tài chính Geithner cho rằng phản ứng của Bắc Kinh đối với vụ ông Trần Quang Thành, nhất là sau khi xảy ra vụ Bạc Hy Lai, cho thấy sự bất mãn giữa trung ương và địa phương ngày càng tăng tại Trung Quốc.

Một giới chức Mỹ nói với các nhà báo tại Bắc Kinh rằng ông Trần “chỉ muốn trung ương giúp đỡ ông giải quyết những quan tâm và khiếu nại, chủ yếu liên quan đến chuyện gia đình ông và gia đình ông bị chính quyền địa phương ngược đãi.”

Còn trung ương “nhấn mạnh thêm rằng họ sẽ điều tra các hành vi bất chấp luật pháp của chính quyền tỉnh Sơn Đông đối với ông Trần và gia đình.”

Bà Richardson của Human Rights Watch nói một số người bị truy bức một cách tàn bạo giống như ông Trần Quang Thành không đòi loại trừ đảng Cộng sản Trung Quốc, họ chỉ mong luật pháp được áp dụng giống như đã ghi trên văn bản:

“Người dân Trung Quốc xem cuộc vượt thoát của ông Trần Quang Thành và cuộc thanh trừng ông Bạc Hy Lai là một cơ hội để tạo thay đổi. Hai vụ này cũng cho người dân thấy cơ chế của Trung Quốc cũng không miễn nhiễm, và lãnh đạo cấp cao phải đáp ứng các đòi hỏi xã hội loại này, cho dù đó là tham nhũng, bất bình đẳng, kế hoạch hóa gia đình. Áp đặt các chính sách từ trên cao xuống, bất chấp hậu quả là gì, bây giờ không còn là một chọn lựa nữa.”

Chuyên viên Bandow của Cato nói lãnh đạo Trung Quốc cực kỳ bồn chồn lo âu về những cuộc nổi dậy ở Trung Đông và Bắc Phi:

“Họ giống như ngồi trên một núi lửa. Ý tôi muốn nói đảng cầm quyền Trung Quốc không có tính cách chính đáng, ngoại trừ sự phồn vinh kinh tế. Chúng ta thấy có những hoàng tử đỏ, những người ăn theo, sống nhờ di sản của đảng Cộng sản. Đây là một đảng Cộng sản hoàn toàn khác trong lúc các vấn đề như tham nhũng làm nhân dân Trung Quốc khó chịu.”

Về ngắn hạn, ông Bandow nói, đảng Cộng sản có thể truy bức những người bất đồng (chính kiến), nhưng về dài hạn, phong trào bất đồng có thể mang lại thay đổi:

“Ít ra cũng có một người như Thủ tướng Ôn Gia Bảo thừa nhận rằng nếu không cho phép người ta bộc lộ những bất mãn, tình hình sẽ càng nguy hiểm hơn.”

Bà Richardson cho rằng chính quyền Trung Quốc không đại diện cho nhân dân và cũng không quan tâm đến chuyện đối thoại một cách có hệ thống với nhân dân nói chung về những gì mà nhân dân muốn.

Bà tin rằng vụ Trần Quang Thành và Bạc Hy Lai là một cơ hội lớn để Hoa Kỳ và các nước khác quan tâm đến nhân quyền không những chỉ nói hoan nghênh sự tăng trưởng của Trung Quốc mà còn hoan nghênh sự trỗi dậy của nhân dân, người dân muốn chính phủ phải chịu trách nhiệm về các hành động của mình.

Bà tin rằng đây là một cơ hội lịch sử để những nước như Hoa Kỳ nghĩ đến chuyện nới rộng quan hệ với nhân dân Trung Quốc, thay vì với một chính quyền mà mọi người đều biết là không đại diện cho tâm tư, tình cảm của đa số.

—-

Những người bất đồng chính kiến Trung Quốc tỵ nạn tại nước ngoài

  • Phương Lệ Chi: Nhà vật lý thiên văn hàng đầu đã tỵ nạn trong đại sứ quán Hoa Kỳ 13 tháng, sau cuộc đàn áp Thiên An Môn năm 1989. Ông rời Trung Quốc vào năm 1990 và vừa qua đời năm nay tại Mỹ.
  • Ngụy Kinh Sinh: Nhà hoạt động dân chủ chạy sang Hoa Kỳ vào năm 1997 sau hơn 14 năm trong tù.
  • Rebiya Kadeer: Sắc tộc Uighur, bị kết tội xâm phạm an ninh quốc gia, hiện sống tại Hoa Kỳ.
  • Ngô Nhĩ Khai Hy: Lãnh tụ sinh viên đào thoát khỏi Trung Quốc với sự giúp đỡ của một mạng lưới bí mật sau các cuộc biểu tình tại Thiên An Môn.
  • Liêu Diệc Vũ: Nổi tiếng về bài phỏng vấn “Xác chết biết đi” với những người sống bên lề xã hội Trung Quốc, ông chạy qua Đức vào năm 2011.
  • Dư Kiệt: Tác giả một cuốn sách chỉ trích Thủ tướng Ôn Gia Bảo, chạy sang Hoa Kỳ năm 2012 sau khi bị bắt giữ nhiều lần và bị đánh đập.

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Khiếu nại bị chiếm đoạt đất đai với các nước ngoài, thay vì với chính quyền trong nước, để kêu gọi sự chú ý

Posted by hoangtran204 trên 13/05/2012

Lời tựa:

Việc gởi khiếu nại, kiến nghị tới đảng và các cấp chính quyền trung ương, tỉnh, công an Việt Nam về bất cứ việc gì… thường rất lâu vì “các đỉnh cao trí tuệ của loài người” có thói quen “tập đánh vần”, bận họp…nếu không muốn nói trắng ra là họ luôn ở trong tâm trạng bất an, sợ hải, không dám tự quyết định, không dám trả lời, không có lòng tự tin để trả lời vì sợ “con ngáo ộp” vô hình sẽ ăn thịt. Với các biểu hiện ấy-theo các nhà phân tâm học- tâm lý của các đỉnh cao trí tuệ của loài người vì vậy thường có khuynh hướng giải quyết các vấn đề bằng bạo lực, như đánh đập, bắt giam, tra tấn, hành hạ, bắn giết, hăm dọa,..để che dấu sự lo lắng, bất an, việc làm ám muội và thiếu chính danh của họ.

Để chuyển hướng khiếu nại việc cưỡng chiếm đất đai, người Việt Nam nay đi theo hướng mới. Ở Úc, anh Trương Quốc Việt, một người Việt ở trong nước, đi du lịch tới Úc, biểu tình một mình hơn 15 ngày qua.  Anh kêu gọi người Úc, chính quyền Úc hãy chú ý tới việc người nông dân Việt Nam và gia đình anh đang bị chính quyến cướp đất đai như bài đưa tin ở đây: Trương Quốc Việt biểu tình đơn độc trước quốc hội Úc.

Với vụ cướp đất ở huyện Văn Giang, nhiều người Việt Nam thuộc giới đại học và chuyên nghiệp, hiện đang ở trong và ngoài nước, đã viết thư khiếu nại,  cùng nhau ký tên, và đã gởi thư hôm 9-5-2012 tới các đối tác chiến lược ở Anh, những công ty có phần hùn trong Ecopark và những cơ sở giáo dục ở Anh, có dự tính thuê đất hay đặt văn phòng trong khu đất Ecopark, thuộc huyện Văn Giang.

Việc khiếu nại có kết quả nhanh chóng. Sau 8 ngày biểu tình đơn độc, đứng trước Quốc Hội Úc, các nghị sĩ và dân biểu trong quốc hội Úc đã đến tận nơi thăm hỏi và tìm hiểu vấn đề với anh Trương Quốc Việt. Với vụ cướp đất ở huyện Văn Giang, sau khi gởi thư vào ngày 8-5-2012, các giới chức đại học và chuyên nghiệp, trong và ngoài nước, do tiến sĩ Phạm Quang Tuấn đại diện  đã nhận được 2 thư trả lời vào ngày 11-5-2012, như sau.

———————

Thư trả lời của Viện Đại Học British

Thư phản hồi của British Universities

Dưới đây là thư  trả lời (phản hồi) của Viện phó Đại học London và của Khoa trưởng Chương trình ĐH Quốc tế sau khi nhận được Lá thư kêu gọi của nhóm các nhà hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và ngành nghề gửi đi vào ngày 08/05/2012 về dự án Ecopark ở Hưng Yên.

Người gửi: Geoff Crossick [Geoff.Crossick@london.ac.uk]
Ngày gửi: 11 Tháng Năm, 2012 6:49AM
Người nhận: Tuan Pham
Đồng kính gửi: Jonathan Kydd

Về việc: Thư gửi Ngài Graem Davies- Khiếu nại dự án Ecopark ở Hưng Yên, Việt Nam

Kính thưa GS Pham Quang Tuan

Viện Đại học chúng tôi vừa nhận được thư của ông đề ngày 08/05/2012 đồng ký tên với 27 vị khác, liên quan đến Dự án Ecopark tại Hưng Yên. Nội dung thư đã đề cập đến một số vấn đề khiến chúng tôi phải xem xét một cách rất nghiêm túc. Nhưng cũng mong ông thông cảm cho rằng chúng tôi cần có chút ít thời gian để nghiên cứu những vấn đề đó và để có thể có giải pháp về sau.

Hiện tại chúng tôi cũng mong ông lưu tâm đến thông tin về Nội quy Chính sách của Viện chúng tôi mà ông có thể tham khảo ở trang nhà Các chương trình Quốc tế của Viện Đại học London.

Ở đây, tôi cần khẳng định rõ rằng Viện Đại học Anh ở Việt Nam (British University Vietnam, BUV) chưa phải là một Trung tâm [đã] được Công nhận trực thuộc Các chương trình Quốc tế của Viện Đại học London như trong Nội Quy Chính sách của Viện xác định. Viện Đại học Anh ở Việt Nam (BUV) chẳng qua cũng mới chỉ là một ứng viên xin được Công nhận mà thôi.

Có lẽ ông nên liên lạc với Giáo sư Jonathan Kydd, Khoa trưởng của Các chương trình Quốc tế Viện Đại học London, là người chịu trách nhiệm trực tiếp trong lĩnh vực này của Viện Đại học London, mà tôi có gửi kèm trong thư này. Tuy nhiên, tôi vẫn sẵn lòng nhận các thông tin mà ông trao đổi với ông ấy để theo dõi tiến trình.

Kính thư,
 
Geoffrey Crossick
Giáo sư Geoffrey CrossickViện Phó*
Viện Đại học London
Senate House | Malet Street | London WC1E 7HU | UK
Tel: +44 (0)20 7862 8004    Web: http://www.london.ac.uk
*Viện Phó, Vice-Chancellor, là một chức danh điều hành cao nhất trong các Viện/Trường Đại học thuộc Anh và Khối Thịnh vượng, được coi như là chức Viện trưởng hay Hiệu trưởng. Mặc dù các Viện Đại học này có chức danh Viện trưởng, Chancellor nhưng vị Viện trưởng này không nắm vai trò điều hành tổng quát (Ghi chú của Bauxite Việt Nam)
________

Thư của GS Khoa trưởng Các chương trình Quốc tế của Viện Đại học London 

Người gửi: Jonathan Kydd [Jonathan.Kydd@london.ac.uk] 
Ngày gửi: 11 Tháng Năm, 2012 5:50PM
 Người nhận: Tuan Pham
Đồng kính gửi: Geoff Crossick; Andrew Bollington; Chris Cobb
Về việc: Khiếu nại dự án Ecopark ở Hưng Yên, Việt Nam

Kính thưa Ô Tuan Pham,

Cám ơn ông đã cho tôi biết thêm thông tin. Tôi muốn khẳng định lại nhận xét của ngài Viện Phó cho rằng những vấn đề ông đã nêu, chúng tôi cần phải nghiên cứu rất nghiêm túc.

Như trong thư của ngài Viện Phó đã đề cập, chúng tôi hiện đang bắt đầu tiếp cận để hiểu sâu hơn tình trạng mà ông và các đồng tác giả ký tên kiến nghị. Tôi cũng biết ông sẽ thông cảm là chúng tôi cần có thời gian để tiến hành các quy trình thu thập thông tin, phân tích dữ kiện để có thể đưa ra các quyết định cuối cùng. Tuy nhiên, chúng tôi bảo đảm là sẽ coi đây là một vấn đề ưu tiên hàng đầu cần phải giải quyết.

Trân trọng,
Giáo sư Jonathan Kydd

Khoa trưởng
Các chương trình Quốc tế của Viện Đại học London
Giám đốc Điều hành Học viện Quốc tế của Viện Đại học London
Stewart House | Russell Square | London WC1B 5DN | United Kingdom
Tel: +44 (0)20 7862 8294    Web: http://www.londoninternational.ac.uk

Hai bản thư gốc:

From: Geoff Crossick [Geoff.Crossick@london.ac.uk]
Sent: Friday, 11 May 2012 6:49 AM
To: Tuan Pham
Cc: Jonathan Kydd
Subject: RE: Sir Graeme Davies – Appeal concerning the Ecopark project in Hung Yen, Vietnam
Dear Professor Pham Quang Tuan
The University has received your letter of 8 May 2012, co-signed by 27 other individuals, concerning the Ecopark Project in Hung Yen. The letter covers matters which we take very seriously.  You will appreciate that it will take a little time to study these issues and to resolve on any subsequent actions. Meanwhile I draw your attention to information about our Institutions Policy Framework which can be found on the website of University of London International Programmes.  
In this regard, I should make it clear that the British University Vietnam (BUV) is not a Recognised Centre of the University of London International Programmes as defined by the Institutions Policy Framework.  The British University Vietnam (BUV) is presently no more than a candidate for Recognised status. It may be helpful if you corresponded with Professor Jonathan Kydd, Dean of University of London International Programmes, who has direct responsibility for this area of work of the University of London, and to whom I am copying this message. I would, nonetheless, be grateful if you could copy me into any messages you send him, so that I am aware of them. Yours sincerely,
Geoffrey Crossick
Professor Geoffrey Crossick
Vice-Chancellor
University of London
Senate House | Malet Street | London WC1E 7HU | UK
Tel: +44 (0)20 7862 8004    Web: http://www.london.ac.uk 
 ————————————————————————————— From: Jonathan Kydd [ Jonathan.Kydd@london.ac.uk]
Sent: Friday, 11 May 2012 5:50 PM
To: Tuan Pham
Cc: Geoff Crossick; Andrew Bollington; Chris Cobb
Subject: RE: Appeal concerning the Ecopark project in Hung Yen, Vietnam Dear Tuan Pham:
Thank you for getting in touch and for the additional information.  I reiterate the Vice Chancellor’s comment that the matters you raise are ones which we take very seriously. As the Vice Chancellor indicated in his email, we have begun to make contacts to deepen our understanding of the circumstances which are of concern to you and co-signatories.  As I am sure you will appreciate, the processes of information gathering, analysis and subsequent decision making will take some time. Nevertheless, be assured that we will give this matter high priority. With best wishes:
Professor Jonathan Kydd
Dean 
University of London International Programmes
Chief Executive  University of London International Academy
Stewart House | Russell Square | London WC1B 5DN | United Kingdom
Tel: +44 (0)20 7862 8294    Web: http://www.londoninternational.ac.uk 
Hoặc, xem ở đây:

Nhân sỹ, trí thức Việt Nam gởi hai thư cho các đối tác quốc tế dự án ECOPARK về vụ Văn Giang

Wednesday, May 09th, 2012
Bức thư thứ nhất: 

Thư gửi cho Giám đốc Đại Học Anh tại Việt Nam và các đối tác tại Anh

Lời kêu gọi về dự án Ecopark tại Hưng Yên, Việt Nam

Kính gửi
Sir Graeme Davies, Hiệu trưởng, British University Vietnam
GS Geoffrey Crossick, Hiệu trưởng, University of London,
TS Keith Sharp, Giám đốc Chương trình Quốc tế của University of London LSE
GS Michael Gunn, Hiệu trưởng, Staffordshire University
TS Antony Stokes LVO, Đại sứ Anh tại Vietnam
 
 
Chúng tôi, một nhóm người quan tâm thuộc giới đại học và chuyên nghiệp, viết thư này để lưu ý quí vị về sự cố đáng ghê sợ ở huyện Văn Giang (Hưng Yên, Việt Nam). Sự cố này liên quan đến dự án phát triển Ecopark nơi mà British University đã thuê một mảnh đất lớn, vì vậy chúng tôi kêu gọi quí vị có hành động thích hợp.
 
Ngày 24/4/2012 khoảng 3.000 cảnh sát đụng độ với dân làng Văn Giang khi những người này tụ tập để phản đối việc cưỡng chế đất đai của họ cho dự án khu dân cư sang trọng Ecopark. Cảnh sát đã dùng gậy đánh đập dã man những người biểu tình rồi bắt giữ hàng mấy chục người. Ở cuối lá thư này chúng tôi xin cung cấp một số tài liệu trên mạng về các sự kiện và tin tức liên quan.
Dự án Ecopark trị giá 8,2 tỷ USD chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km, trong một vùng đang được phát triển thành khu vực ngoại ô cao cấp, dẫn đến tăng giá chóng mặt. Đất sắp phát triển đang được quảng cáo hoặc mua bán với giá 1000 đến 2000 USD/m2 có xây thô, còn đất không thì khoảng nửa giá đó. Rõ ràng chỉ có giới thượng lưu mới đủ khả năng mua. Tuy nhiên, dân làng chỉ được trả có 6 USD/m2. Trung bình mỗi gia đình sống và làm việc trên khoảng 350 m2 đất, tức là họ chỉ được trả khoảng 2000 USD cho mỗi gia đình, một số tiền ít ỏi không thể đền bù cho việc mất nơi cư trú và sinh kế của họ. Số tiền này chỉ đủ cho một gia đình sinh sống một vài tháng.
 
Ngoài sự mất sinh kế, dân làng còn bị mất mát tình cảm sâu đậm vì phải chia lìa mảnh đất tổ tiên của họ, mà nhiều thế hệ đã canh tác và nơi cha ông của họ chôn cất. Thật vậy, ngay sau khi cảnh sát giải tán những người biểu tình, các nhà phát triển lập tức tiến vào đào sới, phá hủy nhiều ngôi mộ. Dân làng chỉ còn cách đi nhặt những mảnh xương của tổ tiên của họ. Cảnh tượng trông như một cơn sóng thần vừa tràn qua.
 
Cách đối xử nhẫn tâm với dân làng Văn Giang của nhà phát triển đất và chính quyền là một cách hành xử mà tất cả những người văn minh không thể chấp nhận được. Xung đột giữa các nhà phát triển đất và chủ đất là chuyện thường có, nhưng chúng phải được giải quyết bằng đàm phán hòa bình và phân xử không thiên vị, theo thủ tục pháp định, không được dùng vũ lực, và người bị giải tỏa đất phải được đền bù thỏa đáng cho sự mất mát vật thể và tình cảm. Nhưng những chuyện đó đã không hề xảy ra trong dự án này.
 
Sự cố Văn Giang đã gây ghê tởm ở khắp trong và ngoài nước. Hàng ngàn người từ mọi tầng lớp đã ký một lá thư ngỏ phản đối (xem liên kết bên dưới). Dưới mắt tất cả những người Việt Nam hiểu biết, Ecopark đã trở thành một biểu tượng của sự tham lam bất nhân và sự đàn áp.
British University, ĐH London và ĐH Staffordshire không có thể thờ ơ với các hành vi nhẫn tâm của nhà chức trách và nhà phát triển. Chúng tôi kêu gọi quí vị làm hết sức mình áp lực Việt Hưng Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Đô thị (VIHAJICO), nhà phát triển Ecopark, để họ xin lỗi và đưa ra một đề nghị bồi thường xứng đáng cho các chủ đất. Một gói bồi thường xứng đáng, ngoài khía cạnh tiền tệ, ít nhất cũng phải quan tâm thích đáng đến sinh kế của dân làng ở ngay trước mắt cũng như trong tương lai lâu dài, và phải lo việc đào tạo nghề nghiệp cho họ và giáo dục con em của họ. Tất cả những điều này có thể làm được mà chỉ cần một tỷ lệ nhỏ của tổng chi phí dự án, miễn là nhắm đúng mục tiêu. Nếu VIHAJICO không có biện pháp thích hợp thì xin quí vị hãy ngay lập tức chấm dứt mối quan hệ với các đối tác Việt Nam của quí vị và rút lui ngay khỏi dự án Ecopark. Trong tất cả các tổ chức trên thế giới, mọi người đều biết đại học Anh là nơi duy trì các tiêu chuẩn cao nhất về đạo đức và trách nhiệm xã hội, và chúng tôi tin tưởng rằng quí vị sẽ thực hiện nghĩa vụ này.
Chúng tôi mong được thư trả lời của quí vị và mong sẽ được được quí vị thông tin về những tiến triển trong vấn đề này.
_____

Nguyên tác tiếng Anh và danh sách các chữ ký cho đến hôm nay 9/5/5012

 
May 8th, 2012
Sir Graeme Davies, President, British University Vietnam
Professor Geoffrey Crossick, Vice-Chancellor, University of London
Dr Keith Sharp, Director, University of London International Programmes at LSE
Professor Michael Gunn, Vice-Chancellor, Staffordshire University
Dr Antony Stokes LVO, British Ambassador to Vietnam

Appeal concerning the Ecopark project in Hung Yen, Vietnam

Dear Sirs,
 
We the undersigned, as a group of concerned academics and professionals from all over the world, wish to draw your attention to the shocking event that recently took place in Van Giang district of Hung Yen province, Vietnam. The incident concerns the Ecopark development project, of which British University Vietnam (a collaboration of the University of London International Programmes and Staffordshire University) is a major lessee, and we therefore appeal to you to take appropriate action.
 
On April 24th 2012 about three thousand riot police clashed with impoverished Van Giang villagers who had gathered to protest against the forced seizure of their land for the luxury residential complex Ecopark. The police used clubs to savagely beat the protesters, dozens of whom were detained afterwards. Some links to the incident and related news are provided at the end of this letter.
 
The 8.2 billion USD Ecopark project is located only about 10 km (6 miles) from the very centre of Hanoi, within a region being developed as a high class suburban area, leading to vertiginous price rises. The developed land is being advertised or traded at rates ranging from 1000 to 2000 USD/m2 with shell buildings, or about half of that for land only. Clearly only the most privileged can afford this. However, the villagers are offered only 6 USD/m2. Since each family lived and worked on an average of 350 m2 of land, their “compensation package” works out to about USD 2000 per family, a meagre sum for the loss of their abode and livelihood. This amount would sustain a family of four for at most a few months.
 
In addition to the physical loss of livelihood, the villagers will suffer deep emotional loss being wrenched from their ancestral land, which generations of their families have cultivated and where many of their forebears were buried. Indeed, after the police dispersed the protestors, developers immediately moved in and dug up the ground, desecrating many graves. All villagers could do was to pick up bits of their forefathers’ bones from the ground, as though a tsunami had passed through their land.
 
The heartless treatment of the Van Giang villagers by developers and authorities alike is unacceptable to all civilised people. While conflicts between developers and landowners often arise, they should be resolved by peaceful negotiation and impartial arbitration, with due process of law and without resort to force, and the dispossessed landowners should be adequately compensated taking into account their physical and emotional losses. None of this has happened here.
 
The Van Giang incidents have caused widespread revulsion in Vietnam and abroad. Thousands of people from all walks of life have signed a public letter of protest (see link below). In the mind of all informed Vietnamese, Ecopark has become a symbol of heartless greed and repression.
British University, the University of London and Staffordshire University cannot remain indifferent to the callous acts perpetrated by the authorities and the developers. We appeal to you to do your utmost to pressure Viet Hung Urban Development & Investment J.S.C (VIHAJICO), the developer of Ecopark, to apologise and offer equitable compensation to the Vietnamese landowners. An equitable compensation package should at the very least, in addition to monetary compensation, have due regard to the villagers’ immediate and long term livelihood, their training for new job skills and the education of their children. All this could be funded with a tiny percentage of the total project cost, provided it is carefully targeted. If VIHAJICO fails to take appropriate measures, we urge you to immediately terminate your relationship with your Vietnamese partners and withdraw forthwith from the Ecopark project. Of all institutions a British university is expected to uphold the highest standards of ethics and social responsibility, and we trust that you will not fail to fulfil your moral obligation.
 
We look forward to your response and would appreciate being kept informed of progress in this matter.
 
Sincerely yours,
On behalf of all signatories (List attached)
Pham Quang Tuan,
Associate Professor, University of New South Wales, Sydney, Australia
Phone: +61-2-93855267
LIST OF SIGNATORIES
(Vietnamese names are written in Vietnamese order, surname first)
  1. Chu Hao, PhD, Director, Knowledge Publishing House, 53 Nguyen Du, Hanoi, Vietnam,
  2. Dang Dinh Thi, PhD, Department of Aerospace Engineering, University of Bristol, UK,
  3. Do Dang Giu, Ancien Directeur de Recherche du CNRS, Université de Paris-Sud, France,
  4. Do Thien, Independent researcher, PO Box 242 Kempsey NSW 2440, Australia,
  5. Ha Duong Tuong, Professor (ret), Université de Technologie de Compiègne, Compiègne, France,
  6. Hoang Tuy, Professor emeritus, Institute of Mathematics, VAST, Hanoi, Vietnam,
  7. Huynh Son Phuoc, journalist, ex Deputy Editor-in-chief  of Tuoi Tre, Vietnam,
  8. Lam Quang Thiep, Professor, Thang Long University, Hanoi, Vietnam,
  9. Le Dang Doanh, PhD, Former President of CIEM, Hanoi, Vietnam, l
  10. Le Xuan Khoa, PhD, President emeritus, Southeast Asia Resource Action Center, Washington, DC & Adjunct professor (ret.), School of Advanced International Studies, Johns Hopkins University,
  11. Nguyen Dang Hung, Professor emeritus, Depatment of Aerospace Engineering, University of Liège, Belgium,
  12. Nguyen Dien, Independent Researcher, Canberra, Australia,
  13. Nguyen Dinh Nguyen, PhD, Garvan Institute of Medical Research, Sydney, Australia,
  14. Nguyen Duc Hiep, PhD, Senior Atmospheric Scientist, Office of Environment & Heritages, NSW, Australia,
  15. Nguyen Duc Tuong, Professor (ret), Ottawa University, Canada,
  16. Nguyen Khoa Thai Anh,
  17. Nguyen Manh Hung, Professor, Department of Economic Science, Université Laval Québec, Canada,
  18. Nguyen Ngoc, Writer, Hanoi, Vietnam,
  19. Nguyen Ngoc Giao, teacher (ret.) Université Denis Diderot (Paris VII), editor Dien Dan Forum,
  20. Nguyen Thi Ngoc Giao (Genie Nguyen), President, Voice of Vietnamese Americans,
  21. Long P. Pham, P.E., Chairman, Viet Ecology Foundation, (http://www.vietecology.org),
  22. Pham Duy-Thoai, Professor, Director Dept. of Ophthalmology, Vivantes Klinikum Neukoelln, Humboldt University of Berlin – Germany,
  23. Pham Quang Tuan, Associate Professor, University of New South Wales, Sydney, Australia, phone: +61-2-93855267, email: tuan.pham@unsw.edu.au (Contact person)
  24. Pham Xuan Yem, PhD, Research Director, CNRS & University Paris VI, France,
  25. Phan Tan Hai, Editor-in-Chief, Viet Bao Daily News (www.vietbao.com),
  26. Tran Nam Binh, Associate Professor, University of New South Wales, Sydney, Australia,
  27. Vo Quy, Professor, Centre for Natural Resources and Environmental Studies (CRES), Vietnam National University, HANOI,
Vu Quang Viet, PhD, UN consultant,
ATTACHMENT: WEBPAGES ON THE VAN GIANG REPRESSION.
Links to on line news and reports:
http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-17844198
http://www.reuters.com/article/2012/04/24/us-vietnam-clash-idUSBRE83N0AV20120424
http://www.ft.com/cms/s/0/320ed7c0-8df7-11e1-b9ae-00144feab49a.html
http://observers.france24.com/content/20120427-vietnam-van-giang-district-villagers-face-against-police-over-land-grab
http://www.rfa.org/english/news/vietnam/protest-04252012182203.html
http://www.rfa.org/english/news/vietnam/land-04242012191739.html
http://www.globalpost.com/dispatch/news/regions/asia-pacific/vietnam/120425/vietnam-arrests-20-after-massive-land-clashes
http://www.eyedrd.org/2012/04/4000-vietnamese-police-agents-were-used-to-seize-lands-dislodging-4000-farming-families.html
http://www.lonelyplanet.com/travelblogs/377/153699/The+Van+Giang+-+Ecopark+LandGrab+%26+The+Crisis+of+Vietnam%27s+Prime+Minister?destId=357846
____

Thư thứ hai: Thư gởi Giám đốc Điều hành Savills Á Châu-Thái Bình Dương

Lời kêu gọi về dự án Ecopark tại Hưng Yên, Việt Nam
Kính gửi ông McKellar,
Văn phòng Giám đốc Điều hành Savills Á Châu-Thái Bình Dương
Kính gửi ban điều hành Savills,
Chúng tôi, một nhóm người quan tâm thuộc giới đại học và chuyên nghiệp, viết thư này để bày tỏ sự phẫn khích với cách đối xử tồi tệ mà các chủ đất nghèo ở huyện Văn Giang (Hưng Yên, Việt Nam) đã phải hứng chịu, liên quan đến dự án phát triển Ecopark mà công ty của quí vị là một đối tác chiến lược. Chúng tôi kêu gọi quí vị có hành động thích hợp, phù hợp với ý thức trách nhiệm xã hội.
Ngày 24/4/2012 khoảng 3.000 cảnh sát đụng độ với dân làng Văn Giang khi những người này tụ tập để phản đối việc cưỡng chế đất đai của họ cho dự án khu dân cư sang trọng Ecopark. Cảnh sát đã dùng gậy đánh đập dã man những người biểu tình rồi bắt giữ hàng mấy chục người. Ở cuối lá thư này chúng tôi cung cấp một số tài liệu mạng về các sự kiện và tin tức liên quan.
Dự án Ecopark trị giá 8,2 tỷ USD chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km, trong một vùng đang được phát triển thành khu vực ngoại ô cao cấp, dẫn đến tăng giá chóng mặt. Đất sắp phát triển đang được quảng cáo hoặc mua bán với giá 1000 đến 2000 USD/m2 có xây thô, còn đất không thì khoảng nửa giá đó. Rõ ràng chỉ có giới thượng lưu mới đủ khả năng mua. Tuy nhiên, dân làng chỉ được trả có 6 USD/m2. Trung bình mỗi gia đình sống và làm việc trên khoảng 350 m2 đất, tức là họ chỉ được trả khoảng 2000 USD cho mỗi gia đình, một số tiền ít ỏi không thể đền bù cho việc mất nơi cư trú và sinh kế của họ. Số tiền này chỉ đủ cho một gia đình sinh sống một vài tháng.
Ngoài sự mất sinh kế, dân làng còn bị mất mát tình cảm sâu đậm vì phải chia lìa mảnh đất tổ tiên của họ, mà nhiều thế hệ đã canh tác và nơi cha ông của họ chôn cất. Thật vậy, ngay sau khi cảnh sát giải tán những người biểu tình, các nhà phát triển lập tức tiến vào đào sới, phá hủy nhiều ngôi mộ. Dân làng chỉ còn cách đi nhặt những mảnh xương của tổ tiên của họ. Cảnh tượng trông như một cơn sóng thần vừa tràn qua.
Cách đối xử nhẫn tâm với dân làng Văn Giang của nhà phát triển đất và chính quyền là một cách hành xử mà tất cả những người văn minh không thể chấp nhận được. Xung đột giữa các nhà phát triển đất và chủ đất là chuyện thường có, nhưng chúng phải được giải quyết bằng đàm phán hòa bình và phân xử không thiên vị, theo thủ tục pháp định, không được dùng vũ lực, và người bị giải tỏa đất phải được đền bù thỏa đáng cho sự mất mát vật thể và tình cảm. Nhưng những chuyện đó đã không hề xảy ra trong dự án này.
Sự cố Văn Giang đã gây ghê tởm ở khắp trong và ngoài nước. Hàng ngàn người từ mọi tầng lớp đã ký một lá thư ngỏ phản đối (xem liên kết bên dưới). Dưới mắt tất cả những người Việt Nam hiểu biết, Ecopark đã trở thành một biểu tượng của sự tham lam bất nhân và sự đàn áp. Chúng tôi chắc chắn đây không phải là mục đích ban đầu của công ty quí vị khi quí vị đồng ý tham gia vào dự án này. Tuy nhiên, là một trong những đối tác chính và đại lý độc quyền bán đất cho Ecopark, Savills không thể làm lơ với những hành vi nhẫn tâm của nhà chức trách và nhà phát triển.
Chúng tôi kêu gọi quí vị, trên cương vị những người điều hành của một công ty toàn cầu có uy tín, hãy cố gắng hết sức mình để gây áp lực lên Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng (VIHAJICO), nhà phát triển Ecopark, để họ xin lỗi và đưa ra một đề nghị bồi thường xứng đáng cho các chủ đất. Một gói bồi thường xứng đáng, ngoài khía cạnh tiền tệ, ít nhất cũng phải quan tâm thích đáng đến sinh kế của dân làng ở ngay trước mắt cũng như trong tương lai lâu dài, và phải lo việc đào tạo nghề nghiệp cho họ và giáo dục con em của họ. Tất cả những điều này có thể làm được mà chỉ cần một tỷ lệ nhỏ của tổng chi phí dự án, miễn là nhắm đúng mục tiêu. Nếu VIHAJICO không có biện pháp thích hợp thì xin quí vị, với tư cách một công ty có ý thức trách nhiệm xã hội, hãy ngay lập tức chấm dứt mối quan hệ với các đối tác Việt Nam của quí vị và rút lui ngay khỏi dự án Ecopark.
Chúng tôi mong được thư trả lời của quí vị và mong sẽ được được quí vị thông tin về những tiến triển trong vấn đề này.
————–
Nguyên tác bức thư bằng tiếng Anh

Nguyên tác tiếng Anh và danh sách các chữ ký cho đến hôm nay 9/5/5012

May 8th, 2012
Mr Robert McKellar,
Savills Chief Executive Office, Asia Pacific,
South Korea
Cc:
Mr Jeremy Helsby, Group Chief Executive, Chief Executive Officer, UK
Mr, Peter Smith, Chairman of Savills plc, UK
Mr Brett Ashton, Managing Director, Savills Ho Chi Minh City, Vietnam
Mr Chris Marriott, Chief Executive Officer – South East Asia, Singapore
Mr Neil MacGregor, Deputy Managing Director, Vietnam
Mr John Gallander, Director, Savills Hanoi, Vietnam
Mr Troy Griffiths, National Director Research & Valuation, Vietnam
UK National Contact Point, Department for Business, Innovation and Skills (BIS), London, UK

Appeal concerning the Ecopark project in Hung Yen, Vietnam

Dear Mr McKellar,
Dear Savills Executives,
 
We the undersigned, as a group of concerned academics and professionals, are writing to you to express our profound shock and anger at the scandalous treatment of impoverished landowners in Van Giang district (Hung Yen province, Vietnam) in relation to the Ecopark development project, in which your company is a strategic partner, and to appeal to you to take appropriate action in line with social responsibility.
 
On April 24th 2012 about three thousand riot police clashed with Van Giang villagers who had gathered to protest against the forced seizure of their land for the luxury residential complex Ecopark. The police used clubs to savagely beat the protesters, dozens of whom were detained afterwards. Some links to the incident and related news are provided at the end of this letter.
 
The USD 8.2 billion Ecopark project is located only about 10 km (6 miles) from the very centre of Hanoi, within a region being developed as a high class suburban area, leading to vertiginous price rises. The developed land is being advertised or traded at rates ranging from 1000 to 2000 USD/m2 with shell buildings, or about half of that for land only. Clearly only the most privileged can afford this. However, the villagers are offered only 6 USD/m2. Since each family lived and worked on an average of 350 m2 of land, their “compensation package” works out to about USD 2000 per family, a meagre sum for the loss of their abode and livelihood. This amount would sustain a family of four for at most a few months.
 
In addition to the physical loss of livelihood, the villagers will suffer deep emotional loss being wrenched from their ancestral land, which generations of their families have cultivated and where many of their forebears were buried. Indeed, after the police dispersed the protestors, developers immediately moved in and dug up the ground, desecrating many graves. All villagers could do was to pick up bits of their forefathers’ bones from the ground, as though a tsunami had passed through their land.
 
The heartless treatment of the Van Giang villagers by developers and authorities alike is unacceptable to all civilised people. While conflicts between developers and landowners often arise, they should be resolved by peaceful negotiation and impartial arbitration, with due process of law and without resort to force, and the dispossessed landowners should be adequately compensated taking into account their physical and emotional losses. None of this has happened here.
 
The Van Giang incidents have caused widespread revulsion in Vietnam and abroad. Thousands of people from all walks of life have signed a public letter of protest (see link below). In the mind of all informed Vietnamese, Ecopark has become a symbol of heartless greed and repression. We are sure this is not the original intention of your company when you agreed to participate in this project. However, as one of the main partners in the Ecopark project and its exclusive sales agent, Savills cannot wash its hands off the callous acts perpetrated by the authorities and the developers.
 
We appeal to you, as executives and officials of a reputable global corporation, to do your utmost to pressure your Vietnamese partner Viet Hung Urban Development & Investment J.S.C (VIHAJICO), the developer of Ecopark, to apologise and offer equitable compensation to the Vietnamese landowners. An equitable compensation package should at the very least, in addition to monetary compensation, have due regard to the villagers’ immediate and long term livelihood, their training for new job skills and the education of their children. All this could be funded with a tiny percentage of the total project cost, provided it is carefully targeted. If VIHAJICO fails to take appropriate measures, we urge you as a socially responsible corporation to immediately terminate your relationship with your Vietnamese partners and withdraw forthwith from the Ecopark project.
 
We look forward to your response and would appreciate being kept informed of progress in this matter.
Sincerely yours,
On behalf of all signatories (List attached)
Pham Quang Tuan,
Associate Professor, University of New South Wales, Sydney, Australia
Phone: +61-2-93855267
 
Nguồn:Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng – Blog.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | 1 Comment »

Biểu tình đơn Độc: Trương Quốc Việt tọa kháng trước Quốc Hội Úc ngày thứ 8

Posted by hoangtran204 trên 12/05/2012

Kêu gọi người dân đóng góp tiền bạc và kêu gọi các nước âu châu, Mỹ giúp đỡ tiền bạc mỗi khi có dịp tiếp xúc…đó là đặc điểm đã có từ khi đảng csvn thành hình 1930 và từ mấy chục năm qua của chính quyền XHCN Việt Nam. 

Trong thời gian từ  2001 tới 2011, Úc đã viện trợ cho Việt Nam 1 tỷ 28 triệu đô la. Đó là một số tiền rất lớn, nhưng Số tiền này đã đi về đâu? đảng và chính quyền đã sử dụng món tiền này vào việc gỉ? xây dựng được đường sá trường học nào  từ số tiền này? Tên trường tên đường đã xây, có hình chụp không?

Thụy Điển cũng đã viện trợ cho Việt Nam hơn 1 tỷ đô la trong giai đoạn từ 1976-2011. Số tiền này đã đi về đâu? Có công trình nào được xây dựng được gì từ số tiền này? Có phải Thụy Điển đóng cửa tòa đại sứ của họ ở Hà Nội năm 2011 vì đã nhận ra rằng tất cả món tiền viện trợ 1 tỷ đô la này đã không được dùng vào việc đầu tư vào xây dựng, mà chui vào túi của các viên chức cao cấp chính quyền? 

Tất cả số tiền này là viện trợ không hoàn lại. Chúng ta tự hỏi: số tiền này được sử dụng vào mục đích gì?

Còn ở địa phương, rất nhiều lần mỗi năm, phường xã công an đến tận nhà yêu cầu quyên góp, nào là : ” đóng góp tiền cho quỹ an ninh quốc phòng”, …nhưng tổng kết số tiền này là bao nhiêu? Để làm gì? kết quả ra sao? Số tiền này được mua cái gì (tàu chiến, súng đạn, máy bay.)? Để chống lại quân thù nào? Không thể gọi là chống Trung Quốc, vì “TQ là nước anh em, là láng giềng hữu nghị, giữa TQ và ta có tình đoàn kết cao hơn bao giờ hết”. Vậy quyên tiền để làm gì, nếu không nói thẳng ra là chui vào túi của các công an viên chức phường xã quận huyện.

Chị Bùi Minh Hằng có bài viết từ chối đóng góp như sau: Bùi Hằng từ chối nộp các khoản tiền phi lý cho chính quyền   và ở đây http://bit.ly/K3ZqFH (danlambao)



Ủy Ban Điều Tra Nhân Quyền của Quốc Hội Úc thăm Trương Quốc Việt
VRNs (10.05.2012) – Canberra, Úc – Sáng qua, 09.05.2012, trời Canberra nắng ấm, anh Trương Quốc Việt không bị ướt lạnh như mấy ngày qua. Nắng ấm đủ để sưởi thêm tinh thần của anh đã tọa kháng đến ngày thứ 8 trước Quốc Hội Úc và ngày thứ 15 kể cả 8 ngày anh tọa kháng trước toà đại sứ VC ở Canberra.
(Anh cảm thấy) Ấm áp hơn khi được hai vị Đại diện của Ủy Ban Điều Tra Nhân Quyền của Quốc Hội Úc, ông Philip Ruddock và Laurie Ferguson đến thăm, (và) hỏi han anh về lý do và nguyện vọng của anh khi tọa kháng trước Quốc Hội Úc. Anh Việt cho biết là căn nhà và đất đai của gia đình anh đã bị VC cướp đi, anh và dì của anh đã bị đánh đập và bỏ tù khi thưa kiện chính quyền địa phương.

Ông Philips đề nghị anh gởi đơn tường trình rõ sự việc cho Hội đồng Nhân Quyền rồi họ sẽ xem xét và yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội giải thích về sự kiện nầy. Cuối cùng anh Việt nói rằng anh tọa kháng ở đây không chỉ là cho anh mà cho rất nhiều người dân Việt Nam cùng cảnh ngộ như anh. Mục đích và nguyện vọng của anh ngồi trước Quốc Hội là anh muốn cho chính phủ Úc biết tình trạng tồi tệ về nhân quyền ở VN và mong chính phủ Úc nên ngưng viện trợ cho VN vì số tiền giúp cho VN không giúp gì được cho người dân nghèo mà chỉ giúp cho sự tồn tại của một chế độ độc tài, một chế độ bất công, tham nhũng đầy bất công.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

Trường hợp của anh Trương Quốc Việt đã cho chúng ta thấy rằng tuy đơn độc nhưng với sự quyết tâm anh đã gây được sự chú ý và quan tâm của chính khách Úc như Dân Biểu Chris Haynes, Nghị Sĩ Laurie Ferguson, Thượng Nghị Sĩ Philip Ruddock, ngoài ra anh Việt còn được giới truyền thông ngoại quốc (Pháp, Anh) tìm đến phỏng vấn. Sự đơn độc và lòng can đảm của anh Trương Quốc Việt, một người chân ướt chân ráo từ Việt Nam mới sang, đã đánh động lương tâm của chính giới Úc. (Điều này nói lên việc làm của một nhân chứng đơn độc đôi lúc còn gây được nhiều tác động hữu hiệu hơn cả ngàn người toạ kháng). Vậy xin mạn phép tạm sửa câu “one picture worth a thousand words” lại thành “one man worth a thousand voices”!  (một tấm hình có giá trị bằng ngàn lời nói) (một người lên tiếng có giá trị bằng hàng ngàn người tiếng nói.)

Nguồn: lytuong.net
This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

Các ký giả gốc Việt nổi tiếng đang làm việc trong cơ quan truyền thông quốc tế liệu có đáng cho chúng ta khâm phục bằng người đàn ông VN không chuyên nghiệp, “vô danh tiểu tốt” này không?
=============================
Trương Quốc Việt tọa kháng trước Quốc Hội Úc vào ngày thứ 8

Sáng nay trời Canberra nắng ấm, anh Trương Quốc Việt không bị ướt lạnh như mấy ngày qua. Nắng ấm đủ để sưởi thêm tinh thần của anh đã tọa kháng đến ngày thứ 8 trước Quốc Hội Úc và ngày thứ 15 kể cả 8 ngày anh tọa kháng trước toà đại sứ VC ở Canberra. Ấm áp hơn khi được hai vị Đại diện của Ủy Ban Điều Tra Nhân Quyền của Quốc Hội Úc, ông Philip RuddockLaurie Ferguson đến thăm, hỏi han anh về lý do và nguyện vọng của anh khi tọa kháng trước Quốc Hội Úc. Anh Việt cho biết là căn nhà và đất đai của gia đình anh đã bị VC cướp đi, anh và dì của anh đã bị đánh đập và bỏ tù khi thưa kiện chính quyền địa phương.

Ông Philips đề nghị anh gởi đơn tường trình rõ sự việc cho Hội đồng Nhân Quyền rồi họ sẽ xem xét và yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội giải thích về sự kiện nầy. Cuối cùng anh Việt nói rằng anh tọa kháng ở đây không chỉ là cho anh mà cho rất nhiều người dân Việt Nam cùng cảnh ngộ như anh. Mục đích và nguyện vọng của anh ngồi trước Quốc Hội là anh muốn cho chính phủ Úc biết tình trạng tồi tệ về nhân quyền ở VN và mong chính phủ Úc nên ngưng viện trợ cho VN vì số tiền giúp cho VN không giúp gì được cho người dân nghèo mà chỉ giúp cho sự tồn tại của một chế độ độc tài, một chế độ bất công, tham nhũng đầy bất công.

Trường hợp của anh Trương Quốc Việt đã cho chúng ta thấy rằng tuy đơn độc nhưng với sự quyết tâm anh đã gây được sự chú ý và quan tâm của chính khách Úc như Dân Biểu Chris Haynes, Nghị Sĩ Laurie Ferguson, Thượng Nghị Sĩ Philip Ruddock, ngoài ra anh Việt còn được giới truyền thông ngoại quốc (Pháp, Anh) tìm đến phỏng vấn. Sự đơn độc và lòng can đảm của anh Trương Quốc Việt, một người chân ướt chân ráo từ Việt Nam mới sang, đã đánh động lương tâm của chính giới Úc. (Điều này nói lên việc làm của một nhân chứng đơn độc đôi lúc còn gây được nhiều tác động hữu hiệu hơn cả ngàn người toạ kháng). Vậy xin mạn phép tạm sửa câu “one picture worth a thousand words” lại thành “one man worth a thousand voices”!

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

Xin hãy ngừng Viện trợ Phát triển của Úc cho chính quyền cộng sản ở Việt Nam, người dân Việt Nam chẳng được hưởng chút gì từ các số tiền ấy, ngoại từ sự nghèo khó, sự tàn bạo, và những vi phạm nhân quyền vẫn tiếp tục diễn ra. This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1200×900.

Dưới đây là thơ ngỏ của ông Nguyễn Thế Phong, chủ tịch Liên Hội Người Việt Úc Châu gởi phóng viên ABC News, một cơ quan truyền thông với tầm cỡ nhất nhì trên thế giới :
Letter from Phong Nguyen to ABC News – www.abc.net.au Re: Response to your inquiry about ODA are used to abuse HR in VN Hi Ms.Puccini,
Thank you for being interested on the lone protester from VN in Canberra Mr. Truong Quoc Viet. I would like to brief you about the AusAID that the Australian Government has been spending to improve poverty and human rights in VN. You can get all of the details of this program and figures of aid moneys spent via the Communist government of VN since 2001 to date on the AusAID website. However, I have listed herewith the amounts of aid Australia has given to VN since 2001 for your perusal: 2001-02 73.3 millions dollars
2002-03 72.2 mil
2003-04 72.1 mil
2004-05 73.7 mil
2005-06 77.3 mil
2006-07 81.5 mil
2007-08 90.8 mil
2008-09 93.1 mil
2009-10 105.9 mil
2010-11 137.9 mil
2011-12 150.4 mil
TOTAL : 1,028.2 million dollars
(1 billion 28 million 200 thousand)
According to the AusAID website, the fundamental purpose of Australian aid is to help people overcome poverty and the strategic goals of the program are:
saving lives
promoting opportunity for all
sustainable economic development
effective government, and
humanitarian and disaster response
The Aid program also aims to support effective governance to:
deliver better services through improved government efficiency and effectiveness
improved security and enhanced justice
enhanced human rights
In a nutshell, if the aim and purpose of Australian aid is to provide the poor Vietnamese people with MORE housing, MORE lands, MORE justice, LESS human rights abuses then it has failed MISERABLY!. VN today after more than 11 years of aid from Australia is moving backward. Ten of thousands of poor farmers and landoweners were stripped of their houses and lands by the corrupted and brutal government officials. Serious human rights abuses are rampaging. One must ask where the money of our Australian aid has gone?
How come the communist party members and government officials are extraordinary rich with billion and million dollar accounts within VN and in overseas Swiss banks whilst Vietnamese ordinary citizens continue to live at or below the poverty line of $2.00 per day? Tens of thousands of people and even independent churches have lost their homes and lands, even sacred burial sites to the government and local corrupted officials without any or extremely little compensations. Mr Truong Quoc Viet is a typical example of these actrocities. Instead of the Vietnamese poor and disadvantaged people benefited from the last 11 years of AusAID, they saw no improvements and continue to suffer in the hands of the regime that received direct aid from Australia but spent most of its money on thugs, riot police and prisons to take away poor people’s lands, houses and brutally supressing human rights. Please also read a letter written to the Foreign Minister Bob Carr by Human Rights Watch on www.hrw.org/nes/2012/04/15/letter-senator-carr-re-australia-s-human-rights-influence-asia to know more about the human rights situation in VN.
Please also visit www.radioaustralia.net.au/international/2012-02-09/302338 and www.rightnow.org.au/writing-cat/article/ausaid-link-to-human-rights-abuse-in-vietnam-labour-camp
You could also peruse our Community’s recent submission to a parliamentary inquiry on the Human rights violations of the SRVN government (please view the attachment)
We hope these information can help you in doing a story on the plight of TRUONG QUOC VIET in Canberra. Please fell free to contact me Phong Nguyen, Federal President of the Vietnamese Community in Australia on 0411 756 552 at any time. Regards, Nguồn: Lyhuong.net

—————————————————————————————————————————————————–

Lời tựa:

Bỉ cũng là một trong những nước viện trợ tiền bạc hàng năm cho Việt Nam, có năm vài trăm triệu, có năm vài chục triệu, viện trợ Bỉ có từ 1978 cho đến nay. Nhưng khi đụng chuyện thì mới hay biết các cán bộ cao cấp của đảng cộng sản VN tham lam và bất lịch sự như thế nào.  Các bạn đọc bản tin sau đây để biết những câu nói dành cho đảng viên như  khi gặp nguy khó:  “Cán bộ đi trước, làng nước theo sau”, tính tình thì phải: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…chỉ là lừa bịp dân đen không biết gì.

Ngoại Trưởng Bỉ Bị CSVN Đẩy Xuống Ghế Hạng Bình Dân Để Dành Chỗ Cho Quan Lớn CSVN Bất Kể Đã Có Vé Hạng Nhất

Việt Báo Thứ Năm, 6/19/2008, 12:02:00 AM

(Hà Nội – VNN) Vì nhu cầu đột xuất cho các quan lớn bay từ Hà Nội vào Sài Gòn dự đám tang ông Võ Văn Kiệt, hãng hàng không của CSVN (Vietnam Airline) hôm thứ Sáu 13-6 đã dồn ông Ngoại trưởng Vương quốc Bỉ quốc xuống ghế hạng bình dân phổ thông trên chuyến bay ở Việt Nam. Tờ báo L’Echo ở Bỉ đã tiết lộ tin này và cho rằng đây là “một sự vi phạm ngoại giao và vô cùng bất lịch sự…” xảy ra ở nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mặc dù ông ngoại trưởng Bỉ không tỏ vẻ gì phản đối.

Theo báo này, trên một chuyến bay Hà Nội – Sài Gòn vào ngày 13-6 của Vietnam Airline, ngoại trưởng Vương Quốc Bỉ, ông Karel De Gucht, bị đuổi xuống hạng ghế phổ thông sau khi hạng ghế dành cho thương gia bị trưng dụng bởi chính quyền CSVN. Ông De Gucht và phái đoàn của ông đã ngồi hàng ghế phổ thông suốt chuyến bay.
Nguồn tin nói rằng, nhà cầm quyền CSVN đã lấy quyết định này để dành chỗ cho các ủy viên Trung Ương Đảng Cộng Sản ở thủ đô Hà Nội đi vào Sài Gòn để tham dự đám tang cựu thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt.
Các quan chức CSVN chiếm các ghế đã được giữ và trả tiền trước bởi Bộ Ngoại Giao Bỉ, khiến cho ông De Gucht và phái đoàn phải ngồi ghế hạng phổ thông, là một sự vi phạm ngoại giao và vô cùng bất lịch sự trong khi đó phía trước máy bay khi cất cánh vẫn còn hai ghế trống.

Ông ngoại trưởng Bỉ đã không phản đối và đành lòng tiếp tục ngồi ghế hạng phổ thông như sự sắp đặt. Sau khi cất cánh, ông cũng không chấp nhận đổi ghế sau khi đại sứ Bỉ là ông Hubert Cooreman lên tiếng phản đối và đòi được ngồi trên hai ghế còn trống. Cuối cùng, ông đại sứ và ông Dirk Achten, chủ tịch ủy ban lãnh đạo bộ ngoại giao, ngồi hai ghế đó.

Các thương gia Bỉ trong phái đoàn mỉm cười trước “sự cố” này. Một thương gia Bỉ nói : “Chuyện này xảy ra cũng là điều hay, như vậy cho ông ngoại trưởng thấy rõ hơn môi trường hoạt động của chúng tôi ở Việt Nam”. Một vị khác phân tích: sự kiện này phản ánh tình hình của cả nước, mặc dù đang nhanh chóng mở mang kinh tế, nhưng Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi một chế độ cộng sản.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | 2 Comments »

Phái đoàn Chính Phủ Úc thăm linh mục Nguyễn văn Lý – Tình hình sức khỏe

Posted by hoangtran204 trên 12/05/2012

Tình hình sức khỏe và tinh thần của Lm Lý

Theo thông tin từ nhóm Phóng viên FNA, chiều ngày 4 tháng 5, anh Nguyễn Công Hoàng – cháu gọi Linh mục Lý bằng chú ruột và cư trú tại huyện Quảng Biên, tỉnh Đồng Nai- đã đến trại giam Nam Hà (còn gọi là trại Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) bằng xe Honda thồ lúc 14g30. Nộp giấy xin thăm nuôi ở cổng, anh vào nhà khách ngồi chờ. Gần 1 giờ sau anh mới được cán bộ phụ trách mời vào hội trường bên trong trại để gặp chú ruột.

Vốn là nơi sinh hoạt, hội họp của cán bộ trại, hội trường này cũng được làm nơi cho thân nhân của Lm Lý thăm gặp từ lúc ông bị bệnh bại liệt tới nay. Ngồi chờ vài phút thì thấy vị tù nhân lương tâm được một cán bộ chở ra bằng xe máy chứ không đi bộ như bao lần trước. Sở dĩ thế là vì trời đã về chiều. Vào phòng, hai chú cháu ngồi đối diện nhau nói chuyện, một cán bộ ngồi đầu bàn làm công tác theo dõi.

Sau phần thông tin về gia đình như thường lệ, Linh mục Nguyễn Văn Lý cho biết:

1- Ngày 27 tháng 4 vừa rồi, có phái đoàn của chính phủ Úc đến thăm linh mục. Đoàn gồm 6 người (chưa kể cô thông dịch viên), trong số đó có vị phó đại sứ ở VN, còn các vị khác phụ trách Nhân quyền đến từ Úc. Được hỏi về tình hình sức khoẻ, vị tù nhân lương tâm cho biết: thời gian sau này, ông khước từ chăm sóc y tế của trại và cũng chẳng dùng thuốc điều trị do gia đình mang ra, nhưng sức khoẻ vẫn tốt, nhất là đã tự quỳ gối được bằng chân phải vốn bị liệt mấy năm rồi. Và từ lúc quỳ gối lại được, thì khi bắt đầu giờ cầu nguyện sáng sớm mỗi ngày, ông đều cúi xuống hôn đất nhà tù như hôn nhiệm sở mà Thiên Chúa gởi ông đến. Rồi vị linh mục đã biểu diễn cho phái đoàn xem. (Cha Lý nói thêm riêng với người cháu: sau này, nếu đoạn phim -mà lúc ấy có nhiều người quay- được ai đó đưa lên mạng với những lời diễn giải theo ý xuyên tạc thì mặc kệ họ). Ông cũng đưa tay phải từng bị liệt lên và viết cho phái đoàn xem.

a/ Phái đoàn có hỏi: Linh mục đã đấu tranh, đòi hỏi tự do tôn giáo suốt mấy chục năm qua, linh mục thấy đã có những tiến bộ nào? Cha Lý trả lời: Chưa có tiến bộ nào cả! Dĩ nhiên lúc này nhiều thánh thất, chùa chiền, nhà thờ được xây to đẹp hơn, lễ hội được tổ chức hoành tráng hơn… nhưng đó là cái mã bên ngoài, chỉ tô đẹp cho chế độ. Tự do tôn giáo đúng nghĩa, đúng bản chất vẫn chưa có, bởi lẽ cho đến nay, các giáo hội vẫn không thể tự do và độc lập đào tạo các chủng sinh hay tu sĩ, các vị hữu trách cao cấp vẫn chưa có quyền thuyên chuyển chức sắc của mình theo nhu cầu cộng đoàn tôn giáo địa phương, các giám mục trong Công giáo vẫn chỉ được tấn phong với phép của chính phủ, trường tư thục của các tôn giáo vẫn chưa được phép thành lập, các giáo hội vẫn chưa được quyền sở hữu nhà in riêng để ấn hành sách đạo của mình…

b/ Về vấn đề nhân quyền dân chủ, Lm Lý phát biểu: Khi nào hội đủ 3 điều kiện sau đây thì thể chế chính trị Việt Nam mới có thể gọi là có dân chủ nhân quyền: + tự do báo chí tư nhân + tự do bầu chọn lãnh đạo + tách bạch độc lập 3 cơ quan: tư pháp, hành pháp và lập pháp. Quý vị cứ nhìn thể chế chính trị tại quý quốc rồi đối chiếu với thể chế chính trị tại nước chúng tôi thì quý vị sẽ rõ. Muốn thế, đề nghị Quý vị mạnh dạn tiếp xúc với mọi tầng lớp, mọi thành phần dân chúng Việt Nam. Quý vị sẽ thấu hiểu vấn đề dân chủ nhân quyền ở đây như thế nào.

2- Dịp 30 tháng 4 mới rồi, để hiệp thông với và cầu nguyện cho nỗi đau thương của dân tộc, cha Lý đã tuyệt thực suốt ngày hôm đó. Ngoài ra ông còn viết cho cán bộ trại: Đừng có rêu rao là “Ngày Giải phóng miền nam” nữa! Nam Hàn đâu cần Bắc Hàn giải phóng mà nền kinh tế và sự phát triển của Nam Hàn như thế nào, quý vị quá biết rõ! Việc cần làm lúc này là phải cùng nhau bất phân chính kiến, thành lập một liên minh Dân tộc để chung tay gìn giữ biên cương, đất biển mà Trung cộng đã và đang xâm chiếm. Bằng chứng là hiệp định lãnh thổ và lãnh hải năm 1999 và năm 2000. Tổ quốc lâm nguy lắm rồi! Giải phóng là giúp người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo, khổ cực, nộ lệ… nhưng mấy mươi năm qua, dân miền Nam được gì từ khi quý vị vào “giải phóng”?

3- Sau cùng, linh mục Lý gởi lời thăm hỏi và cám ơn tất cả bà con, bạn hữu xa gần đã thương mến, cưu mang và hỗ trợ mình từ trước cho đến nay. Ông xin đồng bào luôn hiệp ý hiệp lòng để lo cho quê hương đất nước. Vị tù nhân còn nói thêm trước khi chú cháu giã biệt: Ngoài khách thăm các phái đoàn ngoại quốc và thân nhân ruột thịt, thời gian qua còn có một số linh mục ở Tổng giáo phận Hà Nội và Tổng giáo phận Huế (dĩ nhiên trong số này không thể có hai chiến hữu là linh mục Nguyễn Hữu Giải và linh mục Phan Văn Lợi).

Theo FNA

nguồn danchimviet.info

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

-Đô la và Vàng 2012

Posted by hoangtran204 trên 11/05/2012

Kết nạp USD vào đảng

Trong diễn văn khai mạc Hội nghị TW 5 diễn ra ngày 7-5, tổng bí thư đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến một thành tựu về kinh tế trong giai đoạn vừa qua là: “Dự trữ ngoại hối tăng nhanh”.

Câu hỏi đặt raViệt Nam lấy tiền ở đâu để mua ngoại tệ trong khi đang bội chi ngân sách, thắt chặt tín dụng, tiền tệ và chi tiêu công?

“Việt Nam Đồng Hóa” tiền gửi nhân dân

Theo một nguồn tin khả tín thì từ đầu năm ngoái đến nay, Chính quyền đã in ra hơn 120 ngàn tỷ tiền VND để mua 6 tỷ USD dự trữ.

Vậy in tiền ra tại sao lại không gây lạm phát, không có tiền trong lưu thông ?

Câu trả lời cay đắng này dành cho những ai đang có tiền USD gửi ở Ngân hàng.

Lượng “ngoại tệ” dự trữ mà ông Nguyễn Phú Trọng tự hào không phải là do tích lũy tiền bạc, thặng dư ngân sách mà có rồi đem đi mua đô dự trữ. Mà thực chất là tiền đô la Mỹ của nhân dân gửi trong các Ngân hàng của Nhà nước đã bị “VND hóa”.

Nhà nước đã in tiền giấy ra và bơm vào hệ thống ngân hàng để rút tiền USD của dân về theo một chu trình khép kín. Thực chất dân không còn tiền đô nữa mà đã bị “quốc hữu hóa” toàn bộ số USD của mình trong ngân hàng.

Nhà nước, về mặt kỹ thuật, đã thế chân tất cả các đồng USD của bà con gửi trong Ngân hàng bằng tiền đồng VND. Tuy nhiên về mặt thực tế thì họ có rất nhiều cách để cùng hệ thống ngân hàng đảm bảo là “tiền bà con vẫn là tiền còn trong ngân hàng”.

Nhưng dòng máu USD đó đang hòa trộn vào nền kinh tế và thực chất đã biến thành VND, còn đồng “USD” thực sự đã trở thành “dự trữ ngoại tệ”, cái mà Đảng đang tự hào. Đồng thời làm tăng tiền đồng, gián tiếp tăng tính thanh khoản cho Ngân hàng.

Như vậy kịch bản xấu nhất xảy ra là tất cả những người có tiền USD trong các Ngân hàng có thể đồng loạt đến rút hết ra và nhà nước sẽ lấy tiền đô ở đâu để bù vào? Xin thưa không thể có kịch bản đó vì trước đó Chính phủ ban hành Nghị định số 95/2011/NĐ-CP quản lý USD và vàng thật chặt.

Nghị định này có những chế tài khủng khiếp, tăng đột ngột gấp 17 lần so với những vi phạm trước kia và có những khoản phạt so với dự thảo ở 45 triệu đồng nhưng khi ban hành chính thức đã vọt lên đến 500 triệu đồng, giao dịch USD tự do sẽ bị bắt và tịch thu. Điều đáng ngờ nhất là Nghị định này có hiệu lực ngay lập tức từ ngày ký là 20/10/2011. Ngoài ra hàng loạt các quy định khác nhằm quản lý và siết chặt việc sử dụng tiền USD, tùy thuộc và tình hình, đã và đang được xây dựng.

Tất cả những điều đó là kế hoạch chuẩn bị cho một vụ ăn cướp USD trắng trợn của bất cứ ai đang có tiền USD gửi trong ngân hàng. Họ chỉ được rút ra để làm các công việc “chính đáng” theo luật mà các công việc đó thì khó khăn vô cùng. Bởi vậy một số lượng tiền USD rất lớn đã được nhà nước “kết nạp” vào túi của “Đảng Cộng Sản”. Một số người dám giao dịch đã bị “trấn lột” ngay tại cửa ngân hàng.

Chiêu này của ai? và tại sao?

Thống đốc Nguyễn Văn Bình, Bộ trưởng Vương Đình Huệ cùng những quan chức khác trong hệ thống, với sự tiếp tay của các đại gia ngân hàng vốn đang rất cần sự “ưu ái” của chính phủ là tác giả của chiêu ăn trộm hợp pháp này.

Họ là những người giỏi chuyên môn đến mức tinh quái trong việc sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ. Để tâng công với đảng và để thành công trong ngắn hạn họ đã cố gắng dở hết chiêu cong queo của mình nhằm kết nạp hết các ông Washington và túi của đảng CS.

Điều duy nhất ông Bình và các “cố vấn gia” sợ hãi là sự quanh co và ngắn hạn trong các quyết định của mình. Tuy nhiên niềm an ủi vẫn còn khi các cán bộ đầy “lâm thời” đều đưa đơn vị tính cho nền kinh tế theo “quý”. Các ông đều biết mình tồn tại trong cơ chế tệ hại này thì không thể lập kế hoạch sống dài hạn một cách mạch lạc và đúng lương tâm.

Không biết với lượng ngoại tệ dự trữ mới đầy hình ông “Washington” của dân nằm cựa quậy trong ngân khố của Đảng liệu có giải quyết được sự khủng hoảng thật sự về kinh tế hiện nay hay không. Chắc chắn là không vì đó thực sự không phải là tiền của Đảng mà là tiền “thay máu” của dân.

Đồng thời trên đồng tiền USD có chữ “In God We Trust” nghĩa là “Chúng tôi tin vào Thượng đế” để mách bảo con người những điều thuộc về lương tâm, nó cao quý hơn đồng tiền của loài người. Bây giờ nằm trong ngân khố của một tập đoàn theo chủ thuyết vô thần và duy vật, liệu những chữ đầy duy tâm, tha thiết ghi trên đồng tiền USD có đánh thức được sự khắc khoải trong ai không?

Chắc là không! Và như vậy thì có ai đảm bảo rằng Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đang phấn đấu đi lên CNXH sắp tới lại không ra một quyết định “cấm sử dụng USD”?. Khi đó “lực lượng cưỡng chế” có thể vào bất cứ nhà nào để “phá két hoặc đào nền nhà” lên cướp tiền dân một cách hợp pháp.

Nguồn: Blog Lê Quốc Quân

————————————————————————————————————————————————–

>>>>Bằng chứng sờ sờ đây này. Tung tiền đồng VN cho các ngân hàng, và bảo các ngân hàng đưa tiền đô USD của dân chúng gởi cho TUI = (đảng).

*Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ban hành ngày 20-10-2011 (ở đây)

*Nghị  quyết 11 (ban hành ngày 24-2-2011)  (ở đây)

 

Theo Thông Tấn Xã VN,

Tháng 1, NHNN bơm ròng hơn 59.600 tỷ đồng trên OMO

Lượng tiền bơm ròng trong tháng 1/2012 gấp đôi so với lượng bơm ròng tháng 1 năm 2011.

Cũng như những năm trước, ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm mạnh vốn vào 2 tuần giáp Tết Nguyên đán Nhâm Thìn. Cụ thể, tuần từ 9/1/2012, NHNN bơm ra thị trường 81.257 tỷ đồng, tuần từ 16 – 20/1/2012 bơm ra thị trường hơn 78.800 tỷ đồng.

Trong khi đó, 4 tuần trước Tết Tân Mão 2011, NHNN bơm ra mỗi tuần hơn 100.000 tỷ, đỉnh điểm tuần từ 17- 21/1/2011 bơm ra thị trường 132.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên lượng tiền bơm ròng trong tháng 1/2012 lên tới 59.651 tỷ, gấp đôi so với lượng bơm ròng tháng 1 năm 2011 (chỉ ở mức 30.705 tỷ đồng).

Bơm hút vốn trên OMO tháng 1/2012

 

Bơm hút vốn trên OMO tháng 1/2011
Lý do là năm trước NHNN bơm vốn mạnh trong tuần nhưng cũng hút mạnh tương ứng và chỉ sử dụng kỳ hạn 7 ngày. Năm nay NHNN đã linh hoạt sử dụng các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 21 ngày nên mặc dù lượng tiền bơm ra trong mỗi tuần giáp Tết chỉ ở mức 80.000 tỷ (thấp hơn cùng kỳ năm trước từ 20-40%/tuần) nhưng lượng hút vào thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước.

Việc này để đáp ứng thanh khoản cho các ngân hàng thương mại mà không phải bơm cùng một lúc một lượng vốn lớn ra thị trường.

Theo số liệu của NHNN, tuần từ 7/1-13/1/2012, lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng bằng VND tăng đối với các kỳ hạn từ 1 tuần đến 2 tháng, với các mức tăng từ 0,44% đến 1,92%; kỳ hạn 9 tháng và 12 tháng lãi suất tăng mạnh, lần lượt tăng 6,80% và 3,56% so với tuần trước, đều trên 20%/năm.

TTVN
————————————————————————————————————————————————–

Tin dưới đây quá sốc:

Phát hành vàng giấy để trả cho vàng thật !?

Cho vay vàng mua đất: Hàng trăm ngàn lượng khó thu hồi

Cho vay vàng để đầu tư Bất Động Sản, đến khi BĐS xuống giá, các ngân hàng ôm đống nợ khó đòi hàng trăm ngàn lượng.

Thứ Hai, 07/05/2012

Thông tư 12 nhằm hỗ trợ thanh khoản cho một số ngân hàng khó khăn, tạo thăng bằng với số vàng cho vay chưa thu hồi được nợ và vàng tồn quỹ. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) gia hạn cho các ngân hàng tiếp tục được phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng tới trước ngày 25/11/2012.

Theo các chuyên gia, quyết định này nhằm hỗ trợ thanh khoản cho một số ngân hàng khó khăn, thời gian qua đã mang vàng cầm cố để vay vốn tiền đồng và ngoại tệ của ngân hàng bạn.

Lãnh đạo một ngân hàng lớn ở TPHCM – đơn vị có số dư huy động vàng lên đến 1,3 triệu lượng, tương đương với số vàng huy động của 11 ngân hàng trên địa bàn thành phố – cho biết, nguyên nhân một ngân hàng có số vốn vàng huy động bằng 50% số vàng huy động của các ngân hàng trên địa bàn thành phố do vừa qua các ngân hàng nhỏ mang vàng huy động đến ngân hàng lớn này cầm cố, thế chấp vay tiền đồng ngoại tệ hỗ trợ thanh khoản. Từ đó, đẩy số vàng nắm giữ của ngân hàng này lên cao.

Trong 12 ngân hàng có dư nợ vàng ở TPHCM số vàng tồn quỹ lớn nhất phải kể đến là ACB, DongA Bank… tổng số vốn lên đến gần trăm tỷ đồng.

Ngoài việc huy động vàng làm tài sản đảm bảo vay vốn bằng tiền lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng, dư nợ vàng trong các ngân hàng hơn một năm qua chưa giảm nhiều.

Việc Thông tư 12 cho phép ngân hàng được tiếp tục phát hành chứng chỉ vàng ngắn hạn (có trả lãi suất như tiết kiệm) đến 25/11/2012 sẽ tạo thăng bằng với số vàng cho vay chưa thu hồi được nợ và vàng tồn quỹ.

Tại TPHCM – thị trường vàng lớn nhất nước – tổng dư  nợ cho vay vàng hiện còn hơn 600.000 lượng chưa thể thu hồi. Trong đó, dư nợ cho vay vốn bằng vàng để đầu tư và kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao của các ngân hàng, kế đến là dư nợ cho vay vốn bằng vàng để sản xuất kinh doanh, cho vay chế tác nữ trang…

Trong điều kiện kinh tế khó khăn, bên vay chưa thể trả được những khoản nợ vay vốn bằng vàng từ những năm trước đây nên tỷ trọng nợ khó đòi đang đẩy các ngân hàng vào chỗ khó tất toán dư nợ vàng.

Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay vốn bằng vàng của từng ngân hàng tính đến hết tháng 2/2012 lần lượt: NamABank 18,21%, VietABank 11,62%, SouthernBank 5,4%, OCB 4,97%, Eximbank 4,13%, SCB 3,52%, ACB là 0,98%, DongABank 0,03%.

Bên cạnh đó, quy định cấm ngân hàng huy động vàng trong dân dùng để cầm cố thế chấp, ký quỹ đảm bảo cho việc vay nợ của ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng tại Thông tư 12 cũng sẽ góp phần chấm dứt dây dưa dư  nợ vàng trong các ngân hàng, lập lại trật tự trên thị trường vay mượn vốn của các ngân hàng khi một số ngân hàng thời gian qua đã thao túng kiếm lời trong lúc ngân hàng bạn khó khăn.

Theo Thời báo Ngân hàng

http://vietstock.vn/ChannelID/757/Tin-tuc/222142-cho-vay-vang-mua-dat-hang-tram-ngan-luong-kho-thu-hoi.aspx

————————————————————–

Tin sốc nữa cho những ai đang gởi vàng vào ngân hàng. Thử ra ngoài ngân hàng, rút 10 hay 20 lượng vàng xem họ có cho không nha các bạn. Nếu không cho rút nhiều, tức là thậm nguy rồi.

Phát hành vàng giấy để trả cho vàng thật !?

Thông tư số 12/2012/TT-NHNN | Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Từ nay, khi ra ngân hàng rút tiền đô và vàng, nếu ngân hàng hỏi rút vàng và rút tiền đô để làm gì? các bạn  nói là thích rút đem về nhà coi chơi. Đừng nói rút vàng hay đô ra để trả cho ai đó, để mua cái gì đó…là vi phạm nghị định nha. Nhớ  đọc 2 nghị định này trước khi đi rút tiền đô hoặc vàng.

*Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ban hành ngày 20-10-2011 (ở đây) xử phạt vi phạm đổi tiền đô, thanh toán tiền đô, mua bán, trả nợ, bằng vàng…

*Nghị  quyết 11 (ban hành ngày 24-2-2011)  (ở đây) thắt chặt tiền đô la và kinh doanh vàng miếng

Posted in Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »