Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư, 2011

►Lạm Phát ở Việt Nam: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali, và trên 279 nước

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2011

Chú ý! Các nước khác nên học hỏi. Sau 36 năm giải phóng miền Nam, và hơn 60 năm miền  Bắc trải qua chủ nghĩa xã hôi, các đỉnh cao trí tuệ của loài người đã đưa tiền Đồng VN đạt được các danh hiệu cao quí nầy: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali, và trên 279 nước

Mời các bạn thưởng thức bài dịch sau đây.

Tiền Đồng  Việt Nam có giá trị ra sao trong 5 năm vừa qua

Vào ngày 1 Tháng tám 2006, tiền Đồng Việt Nam đã trở thành đơn vị tiền tệ trị giá thấp nhất trong nhiều tháng của năm 2006 sau khi Zimbabue đánh giá lại  tiền của họ.

Tiếp đó, vào ngày 21 tháng 3 năm 2007,  Zimbabwe đánh giá lại tiền tệ của họ, và trở thành tiền tệ có ít giá trị nhất trên thị trường trao đổi tiền tệ (ở thị trường chợ đen); đến ngày  07 tháng 9 năm 2007 tiền Zimbabue  có giá trị thấp nhất về tỷ giá trao đổi chính thức so với tiền đô la Mỹ.

Nhưng rồi trong khoảng thời gian từ 1-8-2008  đến ngày 11 tháng 9 năm 2008, tiền Đồng Việt Nam lại một lần nữa trở thành đơn vị tiền tệ có ít giá trị nhất thế giới.

Zimbabwe định giá lại của tiền Zimbabwe,  tiền Zimbabwe lại một lần nữa vượt qua mặt tiền Đồng VN và vào khoảng ngày 20 tháng 10, 2008, tiền Zimbabwe  trở thành tiền tệ có ít giá trị nhất thế giới.

Ngày 17 tháng 11 năm 2008, tỷ giá chính thức của tiền Zimbabwe đã giảm xuống thấp hơn tiền Đồng VN.

Ngày 03-2-2009, tiền Đồng VN đã dành lại danh hiệu (khỏi tay Zimbabue) và trở thành đồng tiền có ít giá trị nhất trên thế giới một lần nữa khi tiền Zimbabwe tái đánh giá lại; mặc dù vào tháng ba năm 2009, tiền Đồng VN đã mất danh hiệu nầy trong một thời gian ngắn vào tay 2 đảo quốc São Tomé và Príncipe dobra.

Tính đến 02 -1- 2011, các shilling Somali chiếm danh hiệu tiền có giá trị thấp nhất thế giới, và tiền Đồng Việt Nam hiện nay đứng hạng nhì sau Zimbabue.

nguồn 1

nguồn 2    Lịch sử tiền Đồng Việt Nam, bao nhiêu lần đổi tiền, đổi theo tỉ giá nào…tài liệu rất quí và chính xác.
After the revaluation of the Zimbabwean dollar on 1 August 2006,[12] the đồng became the least valued currency unit for months. Around 21 March 2007, the revalued Zimbabwean dollar regained least valued currency status (in terms of black market exchange rate), and on 7 September 2007 in terms of official exchange rate. Since the revaluation of the Zimbabwean dollar on 1 August 2008 the đồng was again the least valued currency unit until 11 September 2008, when the Zimbabwean dollar once again surpassed it and on about 20 October in terms of cash rate. On 17 November 2008, the official rate of the Zimbabwean dollar fell below the đồng.

On 3 February 2009, the đồng had this title again as Zimbabwean dollar redenominated, although in March 2009 the title was briefly held by São Tomé and Príncipe dobra.

As of January 2, 2011, the Somali shilling holds the title of least valued currency, with the đồng being the second least valued.

Cập nhật 14-8-2013,

Tờ Telegraph của Anh đưa tin:  Tiền tệ có giá trị thấp nhất thế giới – The world’s least valuable currencies.  Tiền đồng VN có ít giá trị ; bạn cần có khoảng 33.000 đồng tiền Việt để đổi một đồng bảng Anh
http://www.telegraph.co.uk/finance/personalfinance/9672926/The-worlds-least-valuable-currencies.html

———-

Các vụ đổi tiền ở Việt Nam sau 30-4-1975. 

Dean Nguyen

Nguồn Vietlandnews.net

Lần 1:

Sau khi xâm chiếm miền nam tháng 4, 1975 thì chỉ sau 4 tháng, bọn Việt cộng đã ăn cướp và tàn sát nền kinh tế miền Nam bằng cách gọi là đổi tiền. Chính xác là vào ngày 21 tháng 9, 1975.

Ngày 6/6/1975. Năm tuần sau ngày xâm lăng, Bọn được gọi là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT – 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Trần Dương làm Thống đốc. Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và Trung Ương đảng lao động Việt Nam, CP Cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam của Việt cộng đã cho phát hành loại tiền gọi là tiền Ngân hàng VN(còn gọi là “tiền giải phóng”) dùng để đổi toàn bộ tiền của miền nam VNCH.

Thông báo đổi tiền có thể tóm tắt như dưới đây:

1. 500 đồng tiền VNCH Sàigon cũ lấy 1 đồng mới Ngân hàng Việt Nam.

2. Mỗi gia đình được đổi 100.000 đồng cũ (200 đồng mới) cho tiêu dùng hàng ngày.

3. Những gia đình có buôn bán được phép làm đơn xin đổi thêm 100.000 đồng cũ

4. Những nhà buôn lớn có thể làm đơn xin đổi thêm tiền từ 100.000 đến 500.000 (tối đa) đồng cũ nếu có nhu cầu thực sự.

5. Tất cả số tiền còn lại từ 100.000 đến 1 triệu đồng cũ phải đến nhà băng đổi và gởi vào trương mục.

6. Cuộc đổi tiền sẽ chấm dứt vào 11 giờ đêm ngày 22 tháng Chín.

7. Vi phạm những điều nêu trên sẽ bị truy tố trước pháp luật.

“Với lý luận ngu xuẩn hàng hóa làm ra ít, kinh tế sẽ không tăng trưởng nhưng nếu in tiền sẽ bị lạm phát. Vì tiền tệ nằm trong tay dân chúng quá nhiều không phải do sản xuất thì ngân sách nhà nước thất thu. Vì thất thu nên buộc phải in thêm tiền để tiêu dùng nhưng sẽ gây lạm phát (vòng lẫn quẫn). Cho nên đổi tiền là cách giải quyết hoàn hão nhứt vì sẽ phân chia đồng tiền của toàn bộ người dân trong xã hội bằng nhau sẽ làm cân bằng ngân sách nhà nước”.

Điều buồn cười là nhà nước Việt cộng “quên” in tiền lẻ nên phải “xài ké” tiền lẻ của miền nam VNCH cho đến đợt II vào tháng 5 hay tháng 6 năm 1978.

Trước tin đổi tiền bị lộ, người dân đã đổ xô đi mua tất cả những gì …có thể mua để tích trữ đã làm giá cả leo thang vô cùng khũng khiếp. Hậu quả cuộc đổi tiền này đã giết chết nền kinh tế miền nam, và toàn bộ người dân miền nam đã rơi vào thãm cảnh vô cùng nghèo khổ một cách tức tưỡi, vô lý đầy uất ức của bao nhiêu năm trời cực khổ làm ăn để dành nay chỉ là 200 đồng.

Việt cộng đã thành công trong công cuộc “vô sãn miền nam 100%” như đúng chủ nghĩa Cộng sản giãng dạy.

Lần 2:
Đổi tiền toàn quốc (thống nhứt tiền tệ) vào ngày 2 tháng 5, 1978.

Mặc dù gọi là đổi tiền toàn quốc nhưng đã có sự khác nhau giữa 2 miền bắc và nam.
Miền bắc đổi 1 đồng tiền củ bằng 1 đồng tiền mới, miền nam đổi 80 xu bằng 1 đồng tiền mới.

Cũng như sự khác nhau về đổi tiền giữa thành thị và nông thôn. Dân thành thị được đổi tối đa:

– 100 đồng cho gia đình 1 người.

– 200 đồng cho gia đình 2 người.

– Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người.

– Tối đa cho mọi gia đình trong thành thị bất kể số người là 500 đồng.

Dân vùng nông thôn được phép đổi tối đa:

– 100 đồng cho mỗi gia đình 2 người (50 đồng mỗi người).

– Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người.

– Tối đa cho mọi gia đình vùng nông thôn bất kể số người là 300 đồng.

Cứ sau mỗi lần đổi tiền là tất cả các loại hàng hóa đều tăng giá ghê gớm, dân đã chết nay càng chết khỏi…đầu thai.

Cả xã hội VN đến TẬN CÙNG của sự bần cùng, tận cùng của nghèo đói đến nỗi nước Nga phải viện trợ thức ăn của ngựa cho người dân Việtnam đếm ăn từng bửa.
Gạo biến mất tiêu, khan hiếm…như vàng. Dân phải ăn cơm độn với khoai mì, khoai lang…hoặc chỉ có ăn…khoai, củ và cây cỏ…

Việt cộng đã “giải phóng” miền Nam từ con người ăn cơm ăn thịt, nay chuyển sang trâu ngựa ăn cỏ, ăn bobo.

Sự “thành công” của cuộc đổi tiền lần này là đám lãnh đạo Việt cộng biết đúng về chính mình hơn là…ngu xuẫn và sai lầm.

“Từ ấy nước tôi tràn lũ lụt
Màn trời, chiếu nước, khắp muôn nơi
Làng tôi là một đồi hoang hoá
Hết sạch lương và bặt tiếng chim ca …” *(dân gian)
………………………… …………

“Từ ấy trong tôi bừng uất hận
Mặt trời nung nóng nỗi hờn căm
Hồn tôi là cả trời mơ ước
Gạo, cá thịt tuơi mỗi bữa đều…” *(Dean Nguyen)

Lần 3:

Lại 1 nỗi kinh hoàng, trời tru đất diệt ập lên cổ nữa cho người VN. Sự đau khổ, tiếc nuối của bao nhiêu dành dụm lại tan theo mây khói với những căm hờn, uất hận đè nén tiếp diễn. Lần đổi tiền kỳ này vào ngày 14 tháng 9, 1985 đã được gọi 1 cách mỹ miều là ” Cải cách giá-lương-tiền”:

– Phát hành tiền mới
– Thu đổi tiền: 10đ tiền cũ=1đ tiền mới

Điều buồn cười nữa là sau khi qui định 10 đồng củ=1 đồng mới thì sau đó nhà nước quyết định nâng giá lên trở lại 10 lần. Cuộc cải cách giá-lương-tiền đã bị thất bại. Không biết đây là cái ngu hay cái mánh khoé gian xão của Việt cộng (?).

[thật ra, khi đổi 10 đồng cũ = 1 đồng mới, thì nhà cầm quyền Hà Nội đã cướp đi những tiền bạc tích lũy do dân chúng đã tiết kiệm. Kế đó, nhà nước quyết định nâng giá đồng tiền mới  lên trở lại 10 lần: nhà nước có rất nhiều đồng tiền mới trong tay, nay tự nâng giá lên gấp 10 lần là để làm cho họ có sức mạnh tài chánh gấp 10 lần để tha hồ mua vàng của dân chúng. Đây là một hình thức ăn cướp tráo trở khác).

Lần đổi tiền này mặc dù có tên gọi khác nhưng vẫn như những lần đổi tiền trước đây là san bằng tất cả sự giàu nghèo, cộng với chủ trương không để ai giàu hơn hoặc có tiền nhiều hơn nhà nước. Không 1 người nào được cho phép có số tiền quá mức qui định do nhà nước chỉ định.

Mặc dù gọi là CC Giá-Lương-Tiền nhưng đám ngu này làm ngược lại là Tiền-Lương-Giá do 3 tên tội đồ dốt nát và hoàn toàn mù tịt về kinh tế là Tố Hữu, Trần Phương, Trần Quỳnh gây ra. Được dân gian móc là Tố Hữu nâng lương-Trần Phương tăng giá.

Trong cương vị Phó Thủ tướng (?), nhà “văn vần” Tố Hữu từng ký vào quyết sách in tờ tiền 30 đồng, tự nó không thành hệ thập phân, gọi là độc nhất vô nhị, hiếm thấy trong lịch sử tiền tệ.

Trong khi mỗi gia đình chỉ được phép đổi 2.000 đồng, phần còn lại nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xem xét, kết quả là mất trắng. Năm 1986, lạm phát đến 774,7%, kinh tế kiệt quệ.

Hiện nay, theo như sự tìm kiểm của tôi thì hình như chưa có tài liệu nào rõ ràng, chi tiết về các cuộc đổi tiền của Việt cộng.
Tất cả tài liệu này được viết từ trí nhớ và thâu thập trên net, nên có thể sẽ có nhiều thiếu sót. Quí vị nào có thêm tài liệu xin vui lòng bổ sung thêm.

Dean Nguyen Nguồn Vietlandnews.net

————-

Advertisements

Posted in Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 4 Comments »

►Có Ai Thích Được Giải Phóng Đâu -Điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2011

Sài Gòn- Công trường Mê Linh 1962

Sài Gòn- Công trường Mê Linh, March 1965  ( FB Nguyễn Trung Hiếu)

300 hình ảnh– Saigon xưa

Có Ai Thích Được Giải Phóng đâu !!!???

Hoàng Dược Sư – X.Cafe.VN

Mon, 05/02/2011 – 02:25

http://www.x-cafevn.org/node/2097


Vậy là đúng 36 năm, kể từ ngày mất miền Nam thân yêu. Mất cả tên Saigon thân thương, mất cả tên những con đường với muôn vàn kỷ niệm. Và rồi còn bao nhiêu thứ mất mát đáng sợ hơn.

Ngày ấy, ngày 30/4/75, ngày mà cả miền Nam sống trong sợ hãi. Những chiếc xe tăng T54 ngênh ngang tiến vào thành phố, nghiến nát những con đường, những bãi cỏ xanh tươi mơn mởn. Ngày ấy dân miền Nam sợ xanh mặt, họ bồng bế nhau chạy trốn loạn lạc. Họ có muốn các anh vào giải phóng đâu!!

Ngày 30/4 là một ngày định mệnh đau buồn cho nước VN. Ngày đánh dấu cho một kiếp ô nhục, ngày mà đánh dấu những tang thương, mất mát, đoạ đày sau này cho con dân VN, ngày tiên đoán cho kiếp bị đô hộ, nô lệ cho giặc Tàu gần kề.

Chúng tôi có mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì đến giải phóng. Các anh mập mờ đánh lận con đen. Các anh dùng mỹ từ giải phóng để che giấu sự ăn cướp trắng trợn và dã man cuả các anh. Nếu các anh thật sự giải phóng chúng tôi thì tại sao chúng tôi lại bồng bế nhau chạy trốn. Chúng tôi chạy bán sống bán chết, chúng tôi bỏ cuả chạy lấy người. Vì sao? Vì chúng tôi ghê tởm các anh.

Các anh còn nhớ sau hiệp định Geneve 1954, tại sao cả triệu người bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả ông bà, bỏ tài sản mà trốn chạy các anh. Vì người ta đã quá biết bộ mặt đểu giả, giả nhân giả nghiã cuả các anh. Nếu các anh không ngăn cản để cho đồng bào miền Bắc tự do di cư vào miền Nam, thì số người di cư phải tới hơn 5 triệu người là ít. Những cảnh chia lià vợ chồng, con cái, chết chóc, thất lạc…là do ai tạo ra?

Sau ngày 30/4, khi nhà văn Dương thu Hương, lúc ấy còn là bộ đội, vào miền Nam thì quá ngỡ ngàng đến té ngửa ra, vì bị lường gạt bao nhiêu năm. Miền Nam văn minh, trù phú và đầy ắp tình người. Bà ta đã ngồi bệt xuống lề đường mà khóc, vì sự thật phũ phàng. Đó chính là tâm sự cuả bà đã được in thành sách. Các anh mới chính là những người cần được giải phóng!!!

Các anh reo vui trong chiến thắng, các anh ca hát “chưa thấy hôm nào đẹp như hôm nay, non nước tưng bừng lòng ta mê say…” Các anh hứa hẹn mang thanh bình cho đất nước.

Thế rồi các anh đánh tư sản, các anh vơ vét vàng bạc, tài sản cuả dân chúng. Các xí nghiệp công xưởng lớn nhỏ thì các anh tịch thu, phá hủy, cả nền công nghiệp cuả miền Nam bị phá sản. Mấy trăm ngàn quân nhân cán chính thì các anh trả thù, cho họ tù đày, với mỹ từ học tập cải tạo. Các anh tạo ra cảnh thê lương chia lià, vợ xa chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Như vậy các anh còn chưa hài lòng, các anh còn đì con cái họ bằng cách phân biệt lý lịch ngụy quan, ngụy quyền…khi họ thi tốt nghiêp, đi học, hay xin việc làm. Chưa hết, các anh còn kiểm soát tự do cuả người dân bằng những công an khu vực, giấy đi đường, bằng những tem phiếu, bằng những bobo, khoai, sắn. Người dân co cụm lại vì sợ hãi, vì đói rách, vì nghi kỵ lẫn nhau, vợ tố chồng, con tố cha…đưa đến một sự suy đồi về đạo đức trầm trọng. Cuối cùng các anh lại đổi tiền, để thừa dịp cướp bóc công khai giữa ban ngày.

36 năm rồi, các anh đã làm gì cho đất nước, hay chỉ thêm hoang tàn đổ nát, nghèo khổ và thất vọng. Các anh đã biến VN thành nước lạc hậu và nghèo nhất thế giới, phải ngửa tay đi xin khắp nơi trên thế giới. Các anh đã bán đất bán biển cuả tiền nhân tổ tiên cho Tàu Cộng, các anh nịnh nọt, đút lót cho kẻ thù, các anh hèn hạ gọi kẻ thù từng đô hộ mình cả ngàn năm là quan thầy, là mẫu quốc. Các anh còn biết xấu hổ hay không?

Các anh sợ mất Đảng, mất chỗ đứng mà không sợ mất nước. 36 năm rồi các anh vẫn còn nguyền ruả Mỹ, Ngụy. Các anh chửi họ là bọn Nguỵ quân, ngụy quyền, bọn Diệm Nhu, Thiệu kỳ…là bọn phản động, tay sai cho ngoại bang…chỉ biết ăn canh thừa, cá cặn cuả đế quốc…Các anh, cũng như các tờ báo lề phải không ngừng đả kích, chửi bới những người mà các anh gọi là phản động, là tàn dư Mỹ ngụy..Như vậy làm sao các anh đòi hoà hợp hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù để xây dựng đất nước được. Ai sẽ tin lời các anh, các anh muốn hoà hợp, hoà giải mà cứ chửi cha, chửi tổ tiên người ra, thì hoà giải cái nỗi gì.

Ngày 30/4 mỗi năm các anh tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng, thì hoà hợp ở đâu? Các anh đâu có thật sự muốn hoà giải. Các anh chỉ thích tiền và đô la cuả họ mà thôi. Các anh sợ 3 triệu Việt kiều Hải ngoại tạo phản, tạo áp lực với thế giới, nên phải vuốt ve, nịnh nọt Việt Kiều như khúc ruột ngàn dặm, để mỗi năm đám phản động đó gởi về cả chục tỷ mỹ kim cho các anh. Các anh hô hào, cổ võ cho Việt kiều về VN làm ăn, quê hương là chùm khế ngọt…Tất cả chỉ là dối trá và lường gạt mà thôi.

Thật vô phước cho đất nước VN. Mấy ngàn năm tổ tiên dựng nước thì tới thời CS là thời mạt kiếp. Tội lớn nhất cuả Hồ chí Minh là mang cái học thuyết CS ngoại lai, láo lếu, phi lý mất tính người vào VN, để rồi con dân VN chịu muôn vàn đau khổ.

Ôi đã 36 năm rồi, quê hương tôi còn đọa dày cho tới bao giờ!!?? Biết đến bao giờ các bạn thanh niên, các trí thức còn u mê, mê man bất tỉnh mở mắt ra nhìn vào sự thật…Giờ phút này có bao nhiêu triệu người đang ăn mừng ngày 30/4 tưng bừng náo nhiệt, và cũng có bao nhiêu người ngậm ngùi làm lễ giỗ cho vợ chồng,cha mẹ, hay anh em cuả họ…Như vậy có nên hoà hợp, hoà giải hay không? Tôi tin rằng 3 triệu người Việt lưu vong sẽ sẵn lòng độ lượng và tha thứ cho tất cả những nỗi nhục nhằn, cay đắng mà họ đã gánh chịu vì CS, nhưng họ không bao giờ quên. Họ nhớ để ôn cố tri tân, để không đi vào vết xe lịch sử cũ.

Hoàng dược Sư
30/4/2011.

Trần Hoàng điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

1./ Nhiều sách báo và tài liệu gần đây cho thấy rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger đã ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris 27-1-1973 kết quả là đã đưa tới sụp đổ miền Nam.

Nay nhiều bí mật khác nữa đã được tiết lộ, việc Mỹ cắt giảm quân viện cho miền Nam mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 cho biết cựu Bộ trưởng quốc phòng Laird, thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

Cụ thể, tiền quân viện của Mỹ dành cho miền Nam đã giảm dần từ sau năm 1973:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ), giảm 33% so với năm trước

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ), giảm 66% so với năm 1973.

Trong thời gian nầy, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng dầu tăng lên gấp bốn lần. Bởi vậy ngân khoản năm 1975 ấy chỉ có giá trị mãi lực trên dưới 350 triệu. Khoản quân viện 350 triệu vào năm 1975 đã thua kém quân viện cho miền Nam hồi năm 1963 là 384 triệu đô la.

Đại tướng  Cao Văn Viên nói: Vào tháng 1 năm 1975, quân đội miền Nam chỉ còn đủ số đạn được để đánh nhau trong 3 tuần. TT Nguyễn văn Thiệu lên truyền hình nói: Vì hết thuốc men và dụng cụ y tế, thậm chí ở các bệnh viện, các bác sĩ và y tá quân đội phải giặt lại các băng bông y tế cho sạch máu, để băng lại cho những chiến sĩ bị thương. Về đạn dược, mỗi khẩu súng đại bác chỉ được bắn mỗi ngày 2 quả.

Trong khi đó, CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự. Và trong giai đoạn 1965-1975, viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn hàng hóa quân sự, tức là viện trợ gia tăng gấp hơn 10 lần.

Trung Quốc và Liên Xô tranh nhau tăng viện trợ để dành ảnh hưởng của CSVN. Trung Quốc viện trợ 2 tỷ đô la mỗi năm, và Liên Xô viện trợ còn hơn thế nữa; tổng viện trợ của Trung Quốc dành cho Miền Bắc là 14 tỷ.

So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt ngầm của các siêu cường.

2./ Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược toàn cầu của Mỹ như sau: ‘Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế ‘sống chung nào đó’ với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần ‘cục kê’ của tụi nó’. Để rồi tướng Đính kết luận: ‘Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của VNCH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết mặc cho nền hoà bình này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội” Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 635, của tác giả Nguyễn Đức Phương.

Nguyễn Đức Phương kết luận.
Như vậy cả hai miền Nam, bắc Việt Nam đều không nhìn thấy được chính sách ngoại giao của Mỹ từ đầu thập niên 70 để tiếp tục cuộc chém giết. Mùa hè năm 1972 không cần thiết phải là một mùa hè rực lửa. Những trận đánh đẫm máu tại Cửa Việt, tại Sa Huỳnh đã hầu như vô nghĩa. Hiệp định Ba lê chỉ là một biên lai để khách hành nhận lại tù binh và đoạn chiến. Số phận của VNCH đã được định đoạt từ lâu và cũng không phải tại chiến trường.” CTVNTT trang 635, 636.

Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng nói.
Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để ‘ngăn chặn làn sóng đỏ’ đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của thế giới Tự Do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi” Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 456, 457.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng các nhà chính trị Mỹ đã bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS.

Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Bắc Việt lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .

Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm.

Tháng 4-1945 , Tướng Paton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân, họ chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Constantin Virgil Gheorghiu trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Một thí dụ nữa về sự phản bội đồng minh mà người Mỹ từng làm. Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.

(Gần đây nhất là vào năm 1979,  người đồng minh Mỹ đã phản bội Đài Loan. Giới chính trị gia và tư bản Mỹ hy vọng rằng họ sẽ  nhiều quyền lợi kinh tế hơn một khi họ giao thiệp được với Trung Quốc, Năm 1979, Mỹ đã đóng cửa tòa đại sứ và ngưng bang giao với Đài Loan, không công nhận Đài Loan trên chính trường quốc tế, rồi đẩy Đài Loan ra khỏi Liên  Hiệp Quốc.  Cùng lúc ấy Mỹ quay sang công nhận và hổ trợ cho Trung Quốc vào  Liên Hiệp  Quốc).

Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có. Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng sản chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung Cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước.

Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kim trong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”


Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho miền Nam VN số tiền khổng lồ ấy, mà tiền chiến phí cho chiến tranh VN là một chi phí tổng gộp bao gồm cả việc trả lương lính Mỹ, nhân viên quốc phòng Mỹ, cố vấn Mỹ, công nhân chế tạo vũ khí người Mỹ, chi phí di chuyển… những khoản tiền ấy lưu hành và chi tiêu trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước Mỵ hơn là ra ngoại quốc.

Chính phủ miền Nam VN chỉ nhận được chừng 2 tỉ đô la mỗi năm. Còn vũ khí thì tính cho đến năm 1971, chỉ trừ 3 sư đoàn TQLC, sư đoàn Nhảy Dù, các liên đoàn Biệt Động Quân là được trang bị súng tự động AR 15 hoặc M 16.

Hơn 10 sư đoàn còn lại chỉ được trang bị súng carbin M1, tiểu liên Thompson, súng trường là các vũ khí thời thế chiến thứ 2 hoặc của thế chiến thứ nhất còn sót lại trong kho, hoặc là các vũ khí mà quân đội Mỹ trang bị mới cho các đơn vị của họ, thải ra và cho quân đội miền miền Nam.

Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã chết tại VN, nhưng họ không hề đoái thương tới hàng mấy triệu người Việt Nam và Đông Dương chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. Người Mỹ cũng không hề thương tiếc cho 4 triệu người dân Miên vô tội đã bị Khmer đỏ tàn sát vì Mỹ đã bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn vào năm 1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng nói Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa.

nguồn: Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh của Trọng Đạt

(còn cập nhật thêm)

Posted in Chien Tranh Viet Nam | 5 Comments »

Diễn từ nhận Giải Tự Do Xuất Bản IPA 2011 của Bùi Chát

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2011

Từ trái qua phải: Youngsuk “Y.S.” Chi (Giám đốc IPA), ông Mauricio Macri (Thị trưởng thành phố độc lập Buenos Aires), và Bùi Chát (với giải thưởng Tự Do Xuất Bản năm 2011

LTS: Buenos Aires, Argentina—Vào 4:30 giờ chiều ngày thứ Hai, 25 tháng 4 năm 2011, trong bối cảnh Hội Chợ Sách Quốc Tế lần thứ 37, Bùi Chát, người sáng lập nhà xuất bản Giấy Vụn, đã nhận giải thưởng Tự Do Xuất Bản trao tặng bởi Hiệp Hội Nhà Xuất Bản Quốc Tế (IPA), một hội đoàn ra đời năm 1896 với sứ mệnh bảo vệ nhân quyền và tác quyền, tranh đấu chống kiểm duyệt, khuyến khích mọi sinh hoạt đọc sách và tôn vinh tinh thần tự do xuất bản.

Theo trang mạng Publishers Weekly của Hoa Kỳ thì tên của Bùi Chát đã được IPA giữ kín cho tới ngày trao giải thưởng để tránh chuyện anh bị gây rắc rối trong lúc làm thủ tục xuất ngoại. Ngoài Giấy Vụn, nhà xuất bản Bách Khoa Chính Trị Từ Điển Nga Rosspen (Rossiiskaia politicheskaia entsiklopediia) cũng ở trên danh sách chung kết của IPA.

Được trao giải thưởng bao gồm 5,000 swiss francs, Bùi Chát tuyên bố anh sẽ dùng số tiền này để tiếp tục sứ mệnh của Giấy Vụn: xuất bản mọi tác phẩm của các nhà văn trong nước hiện phải lẩn trốn sự truy nã của chính quyền, hiện đang ở trong tù hay bị quản thúc tại gia.

Qua buổi nói chuyện với các nhà báo tham dự buổi lễ trao giải thuởng, Bùi Chát cho biết hiện có khoảng 20 nhà xuất bản độc lập, “chui,” hoặc tương tự. Mọi thành viên trong các nhóm này đều có hệ thống phân phối sách hiệu nghiệm và “tốc hành,” và đồng tâm trong chuyện không cần biết rõ nơi cư ngụ hoặc cách tổ chức của các cá nhân nhận việc phân phối sách. “Mọi sinh hoạt đều phải ngấm ngầm,” anh nói. “Không thông báo, không email, chỉ có sách.”

Cũng trong dịp nói chuyện này, Bùi Chát chia sẻ với các nhà báo quốc tế bản tiếng Anh (dịch giả Lê Đình Nhất Lang) bài thơ Cộng sản là cái quái gì cóc cần biết, nhưng chắc chắn… (từ Tập Thơ Một Vần (2009)) của anh:

Sau cộng sản là sự sống chồng sự sống
Sau cộng sản là ngày dài vô tư không
ngã rẽ
Sau cộng sản là ngẩng cao đầu
Sau cộng sản đi không trở lại
Sau cộng sản có người buồn bã không
định hướng
Sau cộng sản là định mệnh
Sau cộng sản tạm thời chưa ai rõ
Sau cộng sản là cộng trừ nhân chia nhiều
cấp độ
Sau cộng sản là em yêu tôi đâu cần chứng
Sau cộng sản là nhà xuất bản Giấy vụn
quang vinh mười lăm năm
Sau cộng sản là niềm tin ơi chào mi
Sau cộng sản ánh sáng cởi mở
Khi đó chúng ta thoải mái làm người

Nguồn:

Diario de La Feria, Bui Chat, el editor clandestino(“Bùi Chát, Nhà xuất bản chui”)
Clarin: Sociedad, Distinguen a un vietnamita que arriesga todo para editar libros(“Vinh danh một người Việt nam đã hy sinh tất cả để xuất bản sách”)
La Nación, Un premio a la lucha por la libertad en vietnam(“Một giải thưởng ghi nhận sự đấu tranh cho tự do ở Việt nam”)

Bùi Chát đọc diễn văn nhận Giải Thưởng Tự Do Xuất Bản tại sảnh đường Jorges Luis Borges, Buenos Aires, Argentina, ngày 25 tháng 4. Nguồn: Ferio del Libro(Nhật Ký Hội Chợ Sách Quốc Tế)

(DAR LA CARA, BUI CHAT, AYER. LA REPERCUSION DEL PREMIO, DICE, PUEDE LLEVARLO A LA CARCEL PERO TAMBIEN PROTEGERLO) (NHẬN LÃNH TRÁCH NHIỆM, BÙI CHÁT, VÀO NGÀY HÔM QUA. HẬU QUẢ CỦA GIẢI THƯỞNG, ANH NÓI, CÓ THỂ ĐƯA ANH VÀO TÙ NHƯNG CŨNG CÓ THỂ BẢO VỆ ANH)

Tôi thật sự vui mừng khi có mặt nơi đây như một nhân chứng về những nỗ lực không mệt mỏi của những nhà hoạt động cho tự do ở Việt Nam.

Kính thưa quí vị!

Ở một nơi mà tự do chỉ có thể tồn tại trong những hành vi tùy tiện của chính quyền thì những cố gắng cho sự hiện diện của công lí và tình người dường như là vô nghĩa, và để hành động cho những điều tưởng như viển vông này chúng tôi đã chọn xuất bản.

Cũng như những anh em đang bị tù đày, quản thúc và tất cả những người đang đấu tranh cho một tương lai tốt đẹp ở Việt Nam, chúng tôi luôn tin tưởng vào lương tri. Thông qua việc xuất bản một cách tự do những điều cần thiết, chúng tôi biết rằng nhiều độc giả của chúng tôi sẽ tìm thấy lại lương tri của mình.

Sách có thể biến thế giới thành tự do, chính vì thế chúng tôi tin rằng tự do sẽ đến, trước hết với những người làm sách, những người đọc sách, và những người bàn luận về những điều mà sách mang lại.

Bằng tất cả tình yêu dành cho sách và dành cho con người, tôi xin đón nhận và san sẻ niềm vinh dự này cho tất cả độc giả, đồng nghiệp, bạn bè, và những người ủng hộ.

Hy vọng giải thưởng sẽ là cú hích đáng kể cho sự phát triển của phong trào xuất bản độc lập, đặc biệt là sự phát triển của xã hội dân sự, tại Việt Nam.

Cảm ơn tất cả mọi người.

Bùi Chát

Nguồn : Tạp Chí Da Màu

nguồn

Posted in Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

Bùi Chát được trao giải ‘Quyền Tự Do Xuất Bản’ của IPA

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2011

Muốn là làm. Sáng tác thơ, đọc sách thấy hay, muốn chia sẽ cho đọc giả thưởng thức…Bùi Chát và bạn bè tự in ấn, phát hành, mà không cần phải xin phép ai hết cho nó lôi thôi mất thời gian…

Ừ! Mà nó là cái thá gì mà mình phải xin phép…Sau mười năm cần cù làm việc, hữu xạ tự nhiên hương, tiếng lành đồn xa …thế rồi có người thán phục về sự can đảm, dám thách thức, và quyết dành lại cho quyền tự do ngôn luận…Bùi Chát được trao giải ‘Quyền Tự Do Xuất Bản’ của Hiệp Hội Các  Nhà Xuất Bản Quốc Tế  IPA

Monday, April 25, 2011 6:53:18 PM

NXB ‘Giấy Vụn’ và phong trào ‘thơ chui’ Việt Nam

BUENOS AIRES, Argentina – Bùi Chát, nhà thơ và cũng là người sáng lập nhà xuất bản Giấy Vụn ở Việt Nam vừa được công bố trúng giải “Quyền Tự Do Xuất Bản” (Freedom to Publish Prize) của hiệp hội nhà xuất bản quốc tế IPA, theo tin của Publishers Weekly.

Bùi Chát. (Nguồn: PublishingPerspectives)

Bùi Chát tên thật là Bùi Quang Viên, sinh năm 1979 ở Biên Hòa và cư ngụ ở Sài Gòn. Là một thành viên của nhóm Mở Miệng nổi tiếng, năm 2004, anh và nhà thơ Lý Ðợi bị bắt giam hai ngày về tội phát tờ rơi tại một buổi đọc thơ bị công an bắt giải tán.

Chủ tịch hội IPA là ông YoungSuk “Y.S” Chi sẽ đích thân trao phần thưởng này cho anh, trong ngày hội chợ sách quốc tế lần thứ 37, tổ chức tại Buenos Aires hôm 25 tháng 4.

Tại Việt Nam Bùi Chát là một nhà xuất bản “chui” và một nhà thơ trong phong trào “thơ chui”. Ông từng cho in và phát hành nhiều tác phẩm của các “nhà thơ ngoài luồng”, tìm cách tránh né sự kiểm duyệt của chính quyền.

Với danh hiệu “nhà xuất bản Giấy Vụn” và in bằng photocopy, Bùi Chát và các nhà thơ “chui” in nhiều tác phẩm bị cấm. Nhiều người trong phong trào “thơ chui” cũng có tên trong “câu lạc bộ nhà báo tự do” bị đàn áp dữ dội, tiêu biểu là blogger Ðiếu Cày.

Bjorn Smith-Simonsen, chủ tịch Ủy ban Quyền Tự Do Xuất bản của IPA nói: “Sau gần 10 năm tranh đấu dai dẳng, nhà xuất bản do ông Bùi Chát thành lập đã giúp tạo được một phong trào phát hành độc lập ở Việt Nam. Trong điều kiện cực kỳ khó khăn, nhà xuất bản Giấy Vụn đã khơi mào một tân phong trào của các nhà tư tưởng, nhà văn, nghệ sĩ tự do, những người nhất định không chịu tuân theo qui tắc sáng tác của chính quyền.”

Tập thơ “47” in bằng photocopy, ấn phẩm của “nhà xuất bản Giấy Vụn”. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)

Bùi Chát nhận định: “Sách có sức mạnh mang lại tự do cho thế giới; tự do cho những ai phát hành sách, đọc sách, và cả cho những người muốn thảo luận sách vở mang lại cho họ những gì. Chúng tôi mong rằng phần thưởng này sẽ là một lực đẩy quan trọng cho sự phát triển của phong trào xuất bản độc lập và xã hội dân sự ở Việt Nam.”

Ngoài Bùi Chát và Lý Ðợi, nhiều nhà thơ “chui” khác vẫn liên tiếp bị công an sách nhiễu, bị mất việc, bị thường xuyên gọi lên làm việc, như Nguyễn Quốc Chánh, Uyên Vũ. (T.P.)

nguồn

Posted in Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

►Trung Quốc phủ nhận chủ quyền Quần Đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 25/04/2011

Chắc chắn vì muốn giữ thế thượng phong, TQ phải nắm cho được hải lộ ở phía Nam hay nói rõ ra là Trung Quốc phải chiếm cho bằng được vùng  Biển Đông, muốn thế họ phải nắm lấy chủ quyền của Quần đảo Trường  sa (sau khi đã chiếm hầu hết Quần đảo  Hoàng  Sa của  VN), và thời gian gần đây TQ muốn luôn cả chủ quyền trong Vịnh  Bắc Bộ, nơi có đão Bạch  Long Vĩ.

Trước những biến chuyển ngoại giao và quốc phòng giữa VN và Mỹ trong vòng vài năm qua, Trung Quốc có thể sẽ có kế hoạch hành động để chiếm thêm các quần đảo và lãnh hải của Việt Nam ở Biển Đông để làm một sự đã rồi. Thời gian 18 tháng sắp tới có thể là thời điểm thích hợp cho Trung Quốc để hành động. Đây là khoảng thời gian mà Mỹ đang có cuộc vận động bầu cử Tổng Thống, và TT Obama không muốn trực tiếp tham chiến ở nước ngoài do nên kinh tế ở Mỹ vẫn còn chưa phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chánh tháng 9 năm 2008.

Bài phỏng vấn tiến sĩ Vật lý Dương  Danh Huy dưới đây cho ta thêm một cái nhìn về ý đồ hiện nay của TQ muốn chiếm đảo Bạch Long Vĩ.

Tiến sĩ Dương Danh Huy trả lời phỏng vấn trên RFA ngày 25 tháng 4 năm 2010

Tiến sĩ Dương Danh Huy, thành viên Quỹ Nghiên cứu biển Đông, trả lời phỏng vấn phóng viên Trần Văn của đài RFA ngày 25 tháng 4 năm 2010.

Trân Văn: Công chúng đang bàn tán sôi nổi về việc Trung Quốc muốn phủ nhận chủ quyền của Việt Nam đối với đảo Bạch Long Vĩ.

Là một người chuyên nghiên cứu về biển Đông, ông thấy Hiệp định phân định vịnh Bắc bộ có đủ cơ sở để minh xác, đảo Bạch Long Vĩ là của Việt Nam hay không?

Ông Dương Danh Huy: Về đảo Bạch Long Vĩ, thứ nhất, mặc dù Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ không nói cụ thể rằng đảo Bạch Long Vĩ là của Việt Nam, chúng ta vẫn có cơ sở để khẳng định rằng theo hiệp định đó, ít nhất có nghĩa rằng đảo Bạch Long Vĩ khó có thể là của Trung Quốc.

Lý do là với Hiệp định Vịnh Bắc Bộ như thế, nếu đảo Bạch Long Vĩ là của Trung Quốc thì sẽ rất bất thường so với các quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, còn nếu là của Việt Nam thì sẽ rất bình thường.

Thứ nhì, nếu trong đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc đã đối xử với đảo Bạch Long Vĩ như của Việt Nam thì đó cũng là cơ sở để khẳng định rằng đảo Bạch Long Vĩ là của Việt Nam.

Theo thông tin chính thức của Việt Nam thì đúng là như thế nhưng trên thực tế, chúng ta không biết biên bản đàm phán đã ghi nhận gì hay không ghi nhận gì.

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể lập luận rằng, việc Trung Quốc trao trả đảo Bạch Long Vĩ cho Việt Nam vào năm 1957 mà Trung Quốc lại không bảo lưu chủ quyền gì thì điều đó có nghĩa là Trung Quốc đã chấp nhận rằng đảo Bạch Long Vĩ là của Việt Nam.

Dằn mặt Chủ tịch Nhà nước Việt Nam?

Trân Văn: Hiện đang có một số ý kiến khẳng định rằng, theo Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ mà Việt Nam đã ký với Trung Quốc năm 2000, đảo Bạch Long Vĩ nằm bên trong đường phân định Vịnh Bắc bộ, nên đương nhiên là thuộc Việt Nam.

Tham khảo bản đồ Vịnh Bắc bộ theo hiệp định vừa kể thì ý kiến đó không sai nhưng về mặt pháp lý, lập luận này đã đủ vững để minh xác rằng, Trung Quốc đã chính thức thừa nhận đảo Bạch Long Vĩ thuộc chủ quyền của Việt Nam hay không?

Ông Dương Danh Huy: Lập luận đó có lẽ là của anh Phạm Phan Long từ nhóm Việt Echology. Lập luận đó chủ yếu là đúng nhưng theo tôi, lập luận đó chưa đầy đủ về chi tiết.

Lý do là giả sử như hiệp định đó có ghi nhận rằng, Trung Quốc bảo lưu chủ quyền đối với đảo Bạch Long Vĩ thì đường phân định đó, không có nghĩa là đảo Bạch Long Vĩ không thể là của Trung Quốc nhưng trên thực tế thì khi ký kết hiệp định, Trung Quốc đã không bảo lưu quyền của họ đối với đảo Bạch Long Vĩ, cộng với sự kiện là đảo Bạch Long Vĩ nằm phía Việt Nam của đường phân định.

Sự không bảo lưu đó có nghĩa Trung Quốc không thể có lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế phía bên Việt Nam của đường phân định. Nếu như vậy thì ý kiến hợp lý nhất là đảo Bạch Long Vĩ khó có thể của Trung Quốc. Bạch Long Vĩ của Việt Nam là hợp lý nhất.

Trân Văn: Thưa ông, qua sự kiện đảo Bạch Long Vĩ, ông nghĩ gì về việc ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ? Vào lúc này, Việt Nam và Trung Quốc đang tiếp tục chuẩn bị ký kết những văn bản khác liên quan đến chủ quyền trên biển Đông, theo ông, phía Việt Nam cần quan tâm đến những yếu tố nào để có thể tránh tình trạng, tuy đã ký các hiệp định phân định lãnh thổ, lãnh hải song chủ quyền quốc gia vẫn là yếu tố mơ hồ, thiếu rõ ràng, không thể loại trừ những tranh chấp, yêu cầu đòi chủ quyền?

Ông Dương Danh Huy: Hiệp định Vịnh Bắc Bộ là một hiệp định có nhiều khía cạnh khác nhau và những khía cạnh này có thể phức tạp. Hiệp định Vịnh Bắc Bộ đã gây ra rất nhiều tranh cãi trong người Việt, kể từ khi đường phân định trong hiệp định đó được công bố.

Tôi có ý kiến riêng của tôi về Hiệp định Vịnh Bắc bộ và ý kiến này có thể khác với ý kiến chính thức của chính phủ Việt Nam và cũng có thể khác với những phê phán về hiệp định này mà chúng ta thường được nghe nhưng có lẽ trong tương lai, tôi sẽ trình bày ý kiến của tôi sau.

Về đảo Bạch Long Vĩ thì trước nhất chúng ta nên nhớ rằng, thật ra không có sự tranh chấp chủ quyền, vì Trung Quốc chưa bao giờ chính thức tranh chấp chủ quyền đối với Việt Nam.

Câu hỏi đặt ra là tại sao Nhân dân Nhật báo lại viết là Trung Quốc không công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với đảo Bạch Long Vĩ? Theo ý kiến của tôi thì đó chỉ là sự ham muốn lãnh thổ một cách quá đáng ở cấp dưới. Câu hỏi là tại sao điều đó lại được đăng trên Nhân dân Nhật báo, vì chúng ta khó có thể tưởng tượng được là báo Nhân dân của Việt Nam đăng một câu nói là Việt Nam không công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với đảo Vị Châu trong Vịnh Bắc bộ?

Tôi nghĩ cấp trên của Trung Quốc đã cố ý dung túng cho Nhân dân Nhật báo. Câu nói đó như một thứ áp lực hay là sự răn đe, dọa nạt, hay là Trung Quốc muốn gửi một thông điệp nào đó cho Việt Nam. Sỡ dĩ họ làm vậy vì đó có thể là một biện pháp để đối phó với lập trường cứng rắn hơn của Việt Nam ở biển Đông.

Về biển Đông và về các hiệp định ở biển Đông, tôi nghĩ hoàn cảnh của biển Đông khác với hoàn cảnh khi đàm phán Hiệp định Vịnh Bắc bộ vì khi đàm phán Hiệp định Vịnh Bắc bộ, các đảo trong Vịnh Bắc bộ không phải là đối tượng của sự tranh chấp.

Giống như chúng ta thường hiểu, Trung Quốc không tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam, cũng như Việt Nam không tranh chấp đảo Vị Châu của Trung Quốc. Trong hoàn cảnh đó thì Hiệp định Vịnh Bắc bộ không cần phải nói tới hai hòn đảo này, trừ khi Trung Quốc muốn cải một cách vô lý.

Dù sao đi nữa, chúng ta vẫn phải cảnh giác. Thí dụ như đường lưỡi bò vô lý nhưng Trung Quốc cũng ngang nhiên đòi và không ngại gửi cho Uỷ ban Ranh giới.Và Trung Quốc cũng dùng phương cách “đòi nhưng không chính thức”đối với đường lưỡi bò.

Hoàn cảnh ở biển Đông thì khác vì các đảo ở biển Đông đang trong tình trạng tranh chấp chủ quyền. Nếu Việt Nam có thoả thuận nào đối với Trung Quốc ở biển Đông thì điều quan trọng là chúng ta phải cẩn thận trong hành động và trong câu chữ, hay là trong đàm phán. Chúng ta phải tuyệt đối tránh những gì mà Trung Quốc có thể nói là Việt Nam đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Deterrence-and-friendship-tvan-04252010145936.html

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Một bài viết đáng đọc để suy ngẫm

Posted by hoangtran204 trên 25/04/2011

Trong khi nhiều trí thức và thanh niên lãng tránh các thực trạng về chính trị và xã hội ở Việt Nam để cầu toàn vì sợ chính quyền đàn áp và trả thù, tiến sĩ Vật lý Nguyễn Đình Đăng và Tiến sĩ Toán Ngô Bảo Châu là hai người đã can đảm viết và phổ biến ý kiến riêng của họ về phiên tòa xử  Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ.

Phiên Tòa Kangaroo

Tiến sỹ Nguyễn Đình Đăng
BVN đã quá sơ suất khi lướt mạng mà không nhìn thấy một bài như thế này. Dù có chậm cũng phải sửa lỗi với bạn đọc. Đó là cách để bạn đọc khỏi đánh đồng nền tảng đạo đức giữa chúng tôi với nhưng bậc tai to mặt lớn hôm nay.Bauxite Việt Nam

Đêm qua lần đầu tiên tôi mơ thấy mình vẽ một bức tranh, nhưng không tuân theo trình tự mà tôi đã đúc kết từ kỹ thuật vẽ nhiều lớp của các bậc thầy cổ điển như vẽ lót, vẽ phủ, vẽ đắp, rồi vẽ láng. Tệ hơn, toile vẽ không căng phẳng, không được lót cẩn thận, khiến sơn dầu thấm loang lổ cả ra phía sau. Kết quả là bức tranh trông chẳng ra gì, vô giá trị, phải vứt đi. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình toát cả mồ hôi. Thật là một cơn ác mộng.

clip_image002_thumb[1].jpg

Kangaroo

Một xã hội của loài cừu cuối cùng sẽ phải sinh ra một nhà nước của loài sói‘ – Bertrand de Jouvenel (1903 – 1987)

Kangaroo (kăng-gu-ru) là tên loài chuột túi sinh sống ở châu Úc, có đầu nhỏ, hai tai to, hai chân trước ngắn ngủn, hai chân sau lực lưỡng với một cái đuôi to và dài dùng làm chỗ dựa.

Kangaroo di chuyển bằng cách dùng hai chân sau làm bàn đạp để nhảy phốc, “đi tắt đón đầu”, nhằm mau chóng rời khỏi vị trí hiện tại để đạt tới một cái đích nào đó. Thuật ngữ phiên tòa kangaroo đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1853 tại Texas, để chỉ kiểu xử án “đốt cháy giai đoạn” tựa như những cú nhảy của con kangaroo. Theo định nghĩa của từ điển Webster, phiên tòa kangaroo là “phiên tòa giả hiệu, bỏ qua hoặc áp dụng sai lạc các nguyên tắc của luật pháp và công lý”, như từ chối những quyền tố tụng cơ bản của bị cáo và luật sư trong đó có quyền triệu tập người làm chứng, quyền loại bỏ bằng chứng sai trái và quyền thẩm vấn, quyền từ chối quan tòa hay luật sư do thiên vị hay mâu thuẫn quyền lợi, quyền không buộc tội chính mình, quyền tự bào chữa, và quyền kháng án. Phiên toà kangaroo nhảy vội đến kết luận với một bản án đã có từ trước khi phiên tòa diễn ra, tiếng Việt gọi nôm na là “án bỏ túi” [1]. Phiên toà xử tiến sĩ luật khoa Cù Huy Hà Vũ ngày 4/4/2011 vừa qua đã hội đủ mọi tiêu chí [2] để trở thành một điển hình sách giáo khoa của một phiên toà kangaroo (hay phiên toà “con cóc nhảy”, nếu thích chuyển ngữ cho “thuần Việt”). Không chỉ các luật sư, mà tất cả những ai đã theo dõi phiên toà cũng có thể nhận thấy điều đó.

* * *Tôi đã từng gặp ông Cù Huy Hà Vũ và phu nhân của ông cách đây khoảng 20 năm trước. Hồi đó ông Vũ bắt đầu thích vẽ và vẽ khá nhiều. Tôi còn nhớ bức tranh đầu tiên ông gửi tham gia triển lãm mỹ thuật thủ đô tại Hà Nội vào tháng 10 năm 1990 hay 1991 gì đó. Trong bức sơn dầu đầu tay này ông Vũ vẽ một người đàn ông mặc một chiếc quần xà lỏn đang chèo một con thuyền độc mộc lênh đênh trên sóng biển. Hôm đó, ông Vũ mời hoạ sĩ Lê Huy Tiếp và tôi tới nhà ông xem tranh. Ông nói ông định đặt tên bức tranh này là “Thuyền nhân” (Boat people). Hoạ sĩ Lê Huy Tiếp đã khuyên ông Vũ nên đổi tên bức tranh, vì “chỉ một cái tên chưa đủ nói lên gì cả mà lại thêm… rách việc”, ông Tiếp nói đại ý như vậy. Cuối cùng bức tranh cũng được nhận treo tại triển lãm với một cái tên gì tôi không nhớ nữa, nhưng không phải là “Thuyền nhân”. Sau đó tôi nghe nói ông Vũ sang Pháp học, đậu tiến sĩ luật khoa và thạc sĩ văn chương tại đại học Sorbonne. Dần dần tôi bắt đầu được đọc về các vụ ông tự ứng cử chủ tịch hội Mỹ thuật VN, bộ trưởng văn hoá VN, các vụ kiện mà ông tham gia như vụ đền Cẩu Nhi, đồi Vọng Cảnh, giáo xứ Cồn Dầu, vụ ông kiện thủ tướng Việt Nam, vụ ông tố cáo cục phó Tổng cục anh ninh, yêu cầu sửa đổi hiến pháp, bào chữa cho tướng công an Trần Văn Thanh, phát biểu quan điểm về chiến tranh Việt Nam, v.v.[3] Tôi cũng đã đọc các bài ông Vũ trả lời phỏng vấn trên internet. Ý tưởng như đốm lửa thấp thoáng trong bức “Thuyền nhân” ông Vũ vẽ năm nào nay đã cháy rực thành bó đuốc. Trong các hoạt động của mình, ông luôn nêu quan điểm rất rõ ràng, nhất quán trước sau như một, không quanh co hay nhập nhằng nước đôi. Việc ông Vũ hành động đơn thương độc mã, dùng chính pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam để đấu tranh bất bạo động là điểm nổi bật của ông so với tất cả các nhà yêu nước trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Thực ra, tất cả những gì ông làm, theo cách diễn đạt của một xã hội văn minh – dân chủ – tự do, chỉ giản dị là thực thi quyền tự do ngôn luận của mình. Quyền này, trên hình thức, cũng được ghi trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam [4].

Thế nhưng ở Việt Nam mọi người đều hiểu sớm muộn ông Vũ sẽ gặp rắc rối, sẽ bị bắt, và sẽ ra toà kangaroo. Ông Vũ chắc cũng hiểu điều đó: Ông từng khẳng định người ta chẳng có lý do gì để bắt ông vì ông vô tội. Buồn thay sự việc lại diễn ra trên một đất nước mà những người yêu nước, khác tư tưởng với nhà cầm quyền, luôn bị ngược đãi hoặc tống giam, thậm chí bị tiêu diệt, trong mọi thời đại từ trước tới giờ. Nhiều người trong giới trí thức cũng như các tầng lớp nhân dân khác tại Việt Nam nín thở chờ đợi thái độ của ông Vũ khi ra toà. Ngày ra toà ông Vũ vận com-lê, thắt cà-vạt đỏ, tóc cắt gọn chải tươm tất, nét mặt bình thản, đầu ngẩng cao, trong lúc những người công an áp giải ông cúi đầu.

clip_image004[4].jpg

TS luật khoa Cù Huy Hà Vũ tại phiên tòa 4/4/2011. Ảnh: VTV1 & TV HN1)Jean de La Fontaine từng viết bài thơ ngụ ngôn “Le Loup et l’Agneau” kể về con chó sói và con cừu non cùng ra suối uống nước. Con sói muốn ăn thịt con cừu bèn tìm đủ cách buộc tội con cừu.

Đầu tiên con sói bảo con cừu làm bẩn nước suối của con sói. Bị con cừu bẻ: “Thưa ông, ông uống ở thượng lưu, tôi uống ở hạ lưu, thì chỉ có ông làm bẩn nước của tôi chứ làm sao tôi có thể làm bẩn nước của ông được?”, con sói nói: “Năm ngoái mày đã phỉ báng tao!” Con cừu trả lời: “Thưa ông, năm ngoái tôi chưa ra đời”. Con sói nói: “Thế thì thằng anh mày đã phỉ báng tao!” Con cừu đáp: “Thưa ông tôi là con một”. Con sói rống lên: “Thế thì một đứa trong lũ chúng mày đã nói xấu tao, thằng chăn chúng mày đã nói xấu tao, con chó chăn chúng mày đã nói xấu, tao phải trả thù!” Thế rồi con sói vồ con cừu nhai ngấu nghiến. La Fontaine kết luận: “Lý lẽ kẻ mạnh bao giờ cũng thắng” (La raison du plus fort est toujours la meilleure).

Tại phiên toà ngày 4/4/2011 vừa qua, nhà cầm quyền đã biểu dương sức mạnh của mình với một dàn công an chìm nổi, rào chắn, dùi cui, xe phun nước, xe cứu thương, xe bus, v.v. Nhân dân bị ngăn cấm vào dự phiên toà, bị nạt nộ, bị xô đẩy, bị bắt bớ. Cả một bộ máy quyền lực với những công cụ ghê gớm của nó đã được giương ra với ý định đè bẹp ý chí của một cá nhân, làm gương cho những kẻ khác. Thế nhưng lần này cá nhân đó – ông Cù Huy Hà Vũ – lại hiểu rất rõ và “tin tưởng tuyệt đối” vào lý tưởng của mình trong khi những người thừa hành nhiệm vụ đàn áp ông lại tỏ ra ngượng ngập, lúng túng, thiếu hiểu biết chuyên môn. Kết cục thì như mọi người đều đã thấy rõ: Ông Vũ đã không bị khuất phục. Ông sẵn sàng chịu bất cứ cái án nào toà phán cho ông. Ông bình tĩnh nói: “Tổ quốc và nhân dân Việt Nam sẽ phá án cho tôi, công dân Cù Huy Hà Vũ!” Trong đoạn video phát trên truyền hình Hà Nội khi những người công an vội vã đưa ông Vũ, tay bị còng, ra xe sau khi phiên toà kết thúc, tôi còn thấy ông Vũ mỉm cười. Những vụ xử án kiểu cóc nhái, chuột túi như thế này diễn ra liên miên tại Việt Nam thường làm tôi tủi hổ. Vậy mà phiên toà kangaroo lần này lại khiến tôi cảm thấy tự hào, vì Việt Nam vẫn còn những người như ông Cù Huy Hà Vũ.

Như thế có nghĩa là đất nước này sẽ có ngày được hưởng Dân Chủ – Tự Do thực sự. Phiên toà xử tiến sĩ luật khoa Cù Huy Hà Vũ dường như đã cho thấy cái ngày đó đang tới gần. “Những con sói sẽ ngừng hú và sẽ chỉ còn tiếng hát của vầng trăng” [5].

Tokyo 8 – 10 /4/2011
N.Đ.Đ

Nguồn: http://nguyendinhdang.wordpress.com

_________________________________

[1] http://en.wikipedia.org/wiki/Kangaroo_court

[2] Theo LS Nguyễn Thị Dương Hà, Tòa án đã từ chối yêu cầu của TS Cù Huy Hà Vũ muốn thay thế toàn bộ Hội đồng xét xử (HĐXX) vì cáo trạng luôn buộc tội ông đòi xóa bỏ độc quyền lãnh đạo của Đảng CSVN, mà tất cả ủy viên HĐXX đều là đảng viên CSVN, có nghĩa là sẽ không khách quan nếu những người này xét xử ông. Còn theo LS Trần Đình Triển – một trong 4 Luật sư bào chữa cho ông Cù Huy Hà Vũ – HĐXX đã từ chối “công bố những chứng cứ, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án để các Luật sư thẩm vấn, đã bỏ qua quy định tại Điều 214 của bộ luật tố tụng hình sự, và kết thúc phần xét hỏi”. Ông Triển cho biết: “Các Luật sư chưa được hỏi, đi sâu vào đánh giá chứng cứ và để chuyển sang phần tranh tụng, có nghĩa là cắt đi cái phần xét hỏi đi vào trực tiếp chứng cứ của vụ án để đánh giá có tội hay không có tội”.

Xem: Nguyễn Thị Dương Hà, Đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm 04/4/2011 đối với TS Cù Huy Hà Vũ.

Xem: Thanh Phương, Thụy Mỹ, và Tú Anh, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bị tuyên án 7 năm tù. Luật sư Dương Hà tố cáo một phiên tòa trái pháp luật, RFI, 4/4/2011.

[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/Cù_Huy_H à_V ũ

[4] Xem điều 69 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992).

[5] George Carlin (1937 – 2008) – nghệ sĩ hài và nhà phê bình xã hội người Mỹ, từng đoạt 5 giải Grammy và Mark Twain Prize for American Humor (Giải Hài cuả Mỹ mang tên đại văn hào Mark Twain).

Posted in Pháp Luật | Leave a Comment »

Mùa Màng Ngày Cũ…Gấp sách lại mà lòng dạ thêm bồi hồi, vương vấn. Ai gọi ai trong giấc mộng trước hiên nhà, sao đã nghe oanh ríu rít hỏi xuân về?

Posted by hoangtran204 trên 23/04/2011

Đọc “Mùa Màng Ngày Cũ” của Lương Thư Trung

Vũ Thất

Cuối tháng 11 năm 2003, Talawas cho đăng một bài của một tác giả có bút danh rất quê mùa là Hai Trầu với cái tựa cũng đầy sắc màu ruộng rẫy: Lá Thư Từ Kinh Xáng. Vốn cũng xuất thân từ ruộng vườn, như trúng tần số, tôi tò mò đọc ngay. Câu mở đầu đã khiến… giật mình. Cái ông nhà quê Hai Trầu nào đây mà lại “dám” gửi thư cho nhà lý luận văn học hàng đầu hải ngoại:

“Thưa thầy Nguyễn Hưng Quốc. Mấy hôm nay sắp nhỏ vừa xuống giống vụ Ðông Xuân xong, có chút thì giờ rảnh, tui bèn viết lá thư này, trước thăm thầy mạnh giỏi, sau xin có lời cảm ơn thầy đã bỏ thì giờ viết về một số con vật có trong con người để ‘đại chúng’ cùng đọc. Thật là thú vị.
Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, tui giở lại bài viết …và những thứ con khác của thầy, mà thằng em tui bên Mỹ nó ‘i-meo’ dìa cách nay vài bữa, tui đọc đi đọc lại năm lần bảy lượt, rồi nhập tâm, không ngủ được. Dù biết mình không rành chữ nghĩa, và cái gốc làm ruộng làm rẫy nó làm mình mê man hết biết đường mò bể thánh rừng nhu bao la trời đất, nhưng có cái vụ này, theo thiển ý của tui thì xin góp chút chút với thầy, ước mong là tô bồi thêm mấy chữ thường xài ở trong bá tánh dân gian, mà nhất là nơi kinh cùn nước cạn như kinh xáng Bốn Tổng miệt Ba Thê, núi Sập này hay xài, cùng kính mong thầy bỏ qua cho sự đường đột”.
Đọc hết lá thư thì mới hay ra rằng ông Hai Trầu đã rất ngại ngùng khi bày tỏ mục đích viết lá thư là chỉ muốn “sửa lại cho đúng” ý nghĩa của vài tiếng lóng mà thầy Quốc đã giải thích không hợp lý. Thế là từ lần đó, tôi đăm ra …ưa Hai Trầu và bắt đầu tìm đọc các Lá Thư Từ Kinh Xáng. Té ra ông đã bắt đầu những lá thư bình dân này từ nhiều năm về trước. Lá thư thứ nhất được khởi viết từ tháng 3 năm 1998. Ở mỗi lá thư, ông… ba điều bốn chuyện về chuyện đồng quê trước khi vào chủ đề… nghiêm túc.

Những lá thư từ Kinh Xáng giúp tôi hiểu … sơ sơ ông là người thế nào. Là người hết lòng gắn bó với đồng quê, mê mẩn với ruộng vườn mà vì thời thế phải bỏ ruộng đồng ra đi. Từ chốn thị thành ngàn trùng xa cách, ông thường tìm về vùng quê thương yêu của mình qua việc ghi lại chuyện … ba đồng bảy đổi ngày xưa hoặc qua sách báo miệt vườn. Thế nhưng qua sách báo, ông thường bắt gặp những bài viết về sinh hoạt quê nhà sao quá lơ mơ, thậm chí cả sai lầm. Chẳng đặng đừng, ông đành mượn hình thức lá thư, một là để khởi ức lòng, hai là với ước mong các sự việc cần được đặt để vào “nguyên vị” của nó và các ngôn từ dân dã cần được sử dụng theo đúng “chính danh”.

Như lá thư ông bàn với thầy Quốc về các chữ “cọp”, chữ “cò”. Như lá thư ông đặt câu hỏi liệu dân làm ruộng ăn cơm trong đồng trong bái một năm mấy lần mà một tác giả lại bảo trong ăn uống họ mang tính hoang dã. Như ở một lá thư khác ông nêu than phiền nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã bôi bác đàn bà ruộng rẩy chơn chất miền Tây khi cho nhân vật trong Cánh Đồng Bất Tận lấy ông Chà bán vải chỉ vì mê lãnh Mỹ A …

Đọc các lá thư, tôi ngạc nhiên về kiến thức nhiều mặt của ông nhà quê Hai Trầu. Tới chừng có dịp diện kiến ông lần đầu ở Boston vào năm 2005 tại tư gia nhà thơ Phan Xuân Sinh, tôi càng ngạc nhiên hơn khi được biết trước cả khi ông gom góp 52 lá thư để in thành tuyển tập Lá Thư Từ Kinh Xáng, ông đã phát hành 2 tập truyện: Bến Bờ Còn Lại (2000) và Tình Thầy Trò (2005), với bút danh mang tên thật Lương Thư Trung.

Qua lời ông giới thiệu, tôi khởi đọc lá thư thứ 53 và những thư kế tiếp xuất hiện đều đều trên thatsonchaudoc.com. Lá thư mới nhất đề ngày 4/11/2010 nhằm góp lời trong dịp thiên hạ bàn nhau “Giã Từ Talawas”. Tôi hy vọng lá thư “Giã Từ Talawas” sẽ không đồng thời là lá thư giã từ… Kinh Xáng!

Hôm nay, sáu năm sau ngày tập sách Lá Thư Từ Kinh Xáng trình làng, quyển thứ tư Mùa Màng Ngày Cũ vừa được phát hành. Quyển Tạp Ghi này được tác giả đề tên thật Lương Thư Trung. Sách do Thư Ấn Quán in ấn, dầy 287 trang. Nhìn cái ảnh bìa đầy hoa sen và hoa súng đang nở, tôi bồi hồi nhớ đến những đầm sen đầm súng bên con đường từ Cần Thơ đi Long Xuyên. Mở xem qua nội dung, điều đáng khen là cả tác giả lẫn nhà xuất bản đã không ngại tốn kém để thực hiện kỹ thuật ảnh màu in chen vào nội dung để làm nổi bật các chủ đề. Cái lạ là mỗi chủ đề lại có lắm… mùa màng!

Trong một năm, thiên nhiên chỉ có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông nhưng với thôn quê thì trong mỗi mùa thiên nhiên đó lại kèm theo… tùm lum mùa màng. Nếu phải kể lẻ tẻ thì hẳn có đến hàng trăm nhưng tác giả đã cố gắng gom các “mùa” có cùng thuộc tính hoặc có cùng thời vụ viết chung thành một mùa “tập thể”. Mùa cày bừa, sạ cấy, gặt lúa. Mùa… trăm cá về đồng. Mùa giăng lưới, đặt lờ. Mùa bắt lịch, bắt lươn. Mùa đặt rù, chận ụ. Mùa chuột, cóc, ếch, nhái. Mùa xoài, mận, dưa leo, dưa hấu, dưa gang. Mùa bắp, đậu, củ co, bông sen, bông súng… Bằng cách đó, quyển Mùa Màng Ngày Cũ được hình thành bởi 19 mùa “tập thể” và hai mùa “đặc biệt”: Một mùa mang cái tựa chung chung là Mùa Màng Tháng Chạp và mùa kia mang cái tựa lửng lơ là Có Những Mùa Chim.

Súng
Nguồn ảnh: OntheNet

Mùa nào nhà văn Lương Thư Trung cũng kể ngọn ngành, rành rọt. Mùa cày bừa phát cỏ thì khởi công lúc nào, cách thức ra sao. Mùa chuột thì làm sao vồ chuột, làm sao tránh đào nhầm hang rắn. Mùa cá thì hàng trăm thứ cá, hàng chục cách bắt và lắm cách làm khô. Mùa cây trái đọc mà phát thèm, mà muốn gieo trồng… Chả ngạc nhiên khi loạt bài này xuất hiện, mới đến bài thứ bảy mà nhà văn Khiêm Cung đã đưa ra những lời khen nồng nhiệt và độc giả Thái Lý, sau khi đọc xong toàn bộ mùa màng đã viết nguyên một bài dài ca ngợi làm tác giả không thể không bày tỏ Lời Cảm Ơn ở cuối sách: “…dù chưa quen, và dù cách nhau khá xa về tuổi đời, dù đang ở một nơi khá xa, xa tận vùng biên giới Miên-Việt, thế mà bạn đã tìm đọc và chia sẻ những nhận xét như đi vào bụng tác giả, thật vô cùng hạnh phúc đối với một người nhà quê già như tôi.”

Sách mở đầu bằng Lời Tựa của nhà văn Tô Thẩm Huy. Ông gốc Bắc mà lại tỏ ra khoái giọng miệt quê của Hai Trầu. Có lẽ không có lời giới thiệu nào chí tình như lời ông viết: “Chao ôi! Gấp sách lại mà lòng dạ thêm bồi hồi, vương vấn. Ai gọi ai trong giấc mộng trước hiên nhà, sao đã nghe oanh ríu rít hỏi xuân về? Gẫm người xưa ghép miệng với lúa mà gọi chữ hòa không phải là không duyên cớ. Lời của kẻ nhà quê mà nghe sao như châu ngọc! Hòa với mưa mà thuận với nắng trời! Tấc lòng cố quốc tha hương, ngậm ngùi cùng mùa xưa ngày cũ…” Lời Tựa có thừa quyến rũ khiến người đọc hứng thú lần dở trang kế tiếp để rồi bị cuốn hút vào lắm thứ mùa màng.

Còn Lời Bạt là của nhà thơ Phan Xuân Sinh, người miền Trung. Ông thổ lộ,

“…đọc Mùa Màng Ngày Cũ tôi rất ngạc nhiên và thích thú. Cái đất miền Nam xa xôi ấy lại chất chứa nhiều điều bí ẩn mà vùng quê miền Trung hay miền Bắc không thấy không nghe. Họ giàu về đất đai đã đành mà họ còn giàu có về mùa màng, mùa nào cũng sung túc…và khi đọc xong Mùa Màng Ngày Cũ tôi mới nghiệm ra được, mới hiểu được tại sao người dân miền Nam họ rộng lượng, hiếu khách, thảo ăn thảo uống, lòng họ chân chất huỵch tẹt cũng chính vì vùng đất đã ưu đãi họ, đã nâng niu họ…Vùng đất ấy đã cưu mang biết bao nhiêu nhọc nhằn của dân tộc, chống đỡ và cứu giúp biết bao nhiêu tai họa của các miền khác.”
Ngoài nhận xét về các sự kiện được nêu lên trong Mùa Màng Ngày Cũ, nhà thơ Phan Xuân Sinh cũng khẳng định về giá trị văn chương của tác phẩm dù ở trang Mời Bạn Vào Mùa nhà văn Lương Thư Trung tự cho rằng tập sách của mình là không có tính văn chương biên khảo, “Mặc dù anh chối từ điều nầy. Ta thử lật xem từ bài viết đầu đến bài viết cuối…với cả tấm lòng anh trang trải, chắt chiu. Người nông dân chân chất ít học, thì làm sao viết được, mà có viết được đi nữa thì làm sao nó sống động, hiện thực như anh viết…”
Tôi không những tán đồng với nhà thơ về mặt giá trị văn chương của tác phẩm mà còn cho rằng Mùa Màng Ngày Cũ còn mang cả giá trị biên khảo.

Cách đây không lâu, tôi có dịp đọc trên các trang mạng hai câu chuyện đồng quê ở miệt Cửu Long Giang; một là “Chuyện Đồng Quê” của Trần Văn nói về mùa màng ở vùng Bà Bài Thất sơn Châu Đốc, hai là “Chuyện Bắt Cá Tôm Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” của Hai Rạch Dừa ở vùng Mỹ Long, Cao Lãnh. Hai câu chuyện được kể bằng giọng văn chân chất, rất hấp dẫn của thể loại hồi ký. Còn Mùa Màng Ngày Cũ của Lương Thư Trung lúc thì như lời tâm tình, khi thì như bản tường trình. Lời tâm tình thì rành rẽ, bản tường trình thì rành nghề. Ấy vậy mà tác giả lại từ chối tính văn chương biên khảo của tập sách thì ông quả là khiêm tốn.

Nếu phải đưa ra đầy đủ các đoạn minh chứng trong cả quyển sách thì bài viết sẽ quá dài, vì vậy, tôi chỉ xin chọn bài cuối cùng Có Những Mùa Chim, tuy cái tựa vừa lửng lơ vừa nên thơ nhưng nội dung lại mang đầy tính biên khảo. Ngay từ các dòng mở đầu, tác giả đã xác nhận tính chất này

“Không hiếm các nhà khảo cứu về chim muông đang đi tìm căn nguyên của sự sinh tồn các loài chim cùng thói quen, tập quán và đời sống của chúng. Người ta len lỏi vào tận các cánh rừng Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu để tìm kiếm và thu hình các loài chim. Từ cách kiếm ăn cho chí cách làm ổ, ấp trứng và nở con, từ cách sống thành đàn cho chí những cuộc đời riêng lẻ, nhà khảo cứu về chim muông không bỏ lỡ một chi tiết nhỏ nhặt nào. Tất cả đều được ghi nhận qua từng chi tiết rất mực chính xác và linh hoạt.”
Từ một lời mở đầu như thế, ông bắt đầu đi vào chi tiết từng loài chim. Ông cho thấy ngoài đặc tính chung là… khôn ngoan, cần mẫn và biết khéo léo sử dụng cái mỏ không thua gì bàn tay các điêu khắc gia tài hoa tuyệt vời, mỗi loài chim có hình dạng, kích cỡ, sắc lông, tiếng hót, tiếng kêu, tính tình khác nhau. Ông còn vạch rõ, tuy chim có cùng giống nhưng lại không hẳn là có cùng màu lông, thậm chí có thể hoàn toàn khác biệt.

Sau phần bàn về các đặc điểm, ông luận về cách đặt tên chim. Ông cho biết người dân quê Việt Nam thường đặt tên chim theo tiếng kêu như ta gọi chim cu, chim cú, chim ụt, khúm núm, se sẻ … hoặc theo hình dáng như gà đãi, gà nước, áo dà, bánh ít, thằng chài… Nhưng với các nhà nghiên cứu thì họ đặt tên theo sách vở khoa học. Những cái tên xa lạ khó đọc, khó nhớ vô cùng! Tôi đã thử cố gắng nhớ vài tên mà rốt cuộc cũng không viết ra được tên nào! Cũng vì vậy mà tôi thích nhất đoạn ông kể về những loài chim ở vùng quê quán của ông. Những cái tên nghe thật quen thân y hệt ở vùng quê của tôi. Trong vô số tên chim quen thuộc, ông có nhắc tới 3 tên chim có từ kép giống nhau. Tôi tẩn mẩn cố moi óc xem có bao nhiêu loài chim có tên như vậy. Và cả loài thú nữa. Tôi tìm thêm được 6 tên: Kên-kên, đa-đa, cào-cào, chuồn-chuồn, ba-ba, thia-thia. Còn ba tên chim ghi trong Mùa Màng Ngày Cũ xin để độc giả tự suy tìm.

Phần nghiên cứu công phu nhất phải nói là về các loại cò, vạc, diệc, sếu, nông. Tôi đã quen nghe tên các loài chim này nhưng quả là không ngờ sao mà có lắm thứ cò, có nhiều thứ vạc đến như vậy. Rồi còn lắm loại diệc, sếu, nông. Không chỉ kể chi tiết về mỗi loại mà ông còn kèm theo nhiều hình ảnh để minh họa sự khác biệt. Riêng phần cò, vạc, sếu… này đã có đến 18 bức ảnh, nói lên sự sưu tập nghiêm túc của ông. Nhờ bài viết của Hai Trầu mà tôi hiểu biết thêm rành rẽ các thứ chim mà nhiều con tai nghe quen mà mắt chưa từng thấy. Lại còn nhờ các lời diễn đạt về triết lý sống của các loài chim mà tôi có dịp suy gẫm về triết lý sống của …riêng mình.

Đọc cái cách ông thiết tha nhắc đến các loài chim vùng quê của ông thuở thiếu thời khiến tôi nhớ đến bài viết của Lê Hoàng Vũ hiện được phổ biến trên không gian ảo. Kể chuyện 50 năm về trước, Lương Thư Trung còn nhớ, cứ đến mùa chim là “rền vang tiếng hót trên những cánh đồng đầy lúa vàng, hay bên vạt rừng tràm vắng vẻ, bên rặng tre làng xanh xanh trầm mặc…Tiếng hót ấy như những khúc nhạc đồng quê lan xa, lan xa vô tận.” Nhưng ngày nay, cứ đọc cái tựa bài của của Lê Hoàng Vũ là thấy ghê hồn, “Đồng bằng sông Cửu Long: Chim, Cò… kêu cứu”. Quả như vậy, tác giả thống thiết báo động về mối đe dọa tuyệt chủng của các loài chim… Theo Lê Hoàng Vũ, vùng đồng bằng vẫn còn rất nhiều khu vườn chim cò nổi tiếng. Riêng khu du lịch sinh thái Bằng Lăng có đàn chim trời đông khoảng 600 ngàn con đến cư trú, thu hút hàng trăm du khách mỗi ngày. Nhưng mỗi ngày vườn cò cũng thu hút vô số “sát thủ” để cung cấp vô số chim cò cho nhu cầu… nhà hàng! Ngoài các “sát thủ”, còn đủ loại “tay nghề”, đủ loại bẩy sập để bắt chim hiếm quý cung ứng cho thú chơi “thời thượng” của giai cấp… đại gia! Tác giả Lê Hoàng Vũ kết luận: “Hành động bắt chim cả đàn, cả tổ như hiện nay không bao lâu nữa sẽ dẫn tới sự mất cân bằng sinh thái, hậu quả không thể lường hết được.” Nghe mà não lòng cho chim cò, cho đất nước!

Bài Có Những Mùa Chim là bài cuối nhưng sách còn thêm 31 trang nữa. Đầu tiên tác giả đưa ra Lời Kết cho công trình hình thành 21 bài về ruộng đồng, chim cá của mình. Ông cho biết những gì ông ghi chép chỉ là các mùa chính miệt quê Long Xuyên Châu Đốc. Còn nhiều mùa phụ khác như mùa ổi, mùa mận, mùa lê, mùa mít, mùa nhãn, mãng cầu, khoai mì, điên điển, mùa thốt lốt, mùa măng le. Lại còn thêm biết bao vùng thuộc miệt Cửu Long giang với các đặc sản riêng như mùa mía, khoai môn, khoai lang, cam quít, khóm thơm, mùa trầu vàng … Tôi coi như đây là một lời hứa hẹn viết tiếp của ông.
<table width="150

Hai Trầu Lương Thư Trung
Nguồn: thatsonchaudoc.com


Sau Lời Kết, nhà văn Lương Thư Trung không quên ngỏ lời cám ơn những người đã ít nhiều giúp ông hoàn thành tuyển tập. Và lời cám ơn đẹp nhất đương nhiên tác giả dành cho người giúp ông với tất cả tấm lòng. “Người ấy” đã giúp ông bằng cách làm ruộng để vừa nuôi hai đứa con thơ dại vừa để tiếp tế lương thực cho ông sống sót suốt 7 năm tù mà trong một lần thăm nuôi bị chìm đò khiến suýt chết đuối cả ba mẹ con. Người ấy giúp ông bằng cách cùng ông làm ruộng, trồng cà, trồng mía, trồng bắp, khoai lang… để tạo dựng lại mái ấm gia đình sau khi ông rời cái gọi là trại cải tạo mà chính kinh nghiệm ruộng rẫy của người phụ nữ đảm đương này đã dự phần hoàn chỉnh Mùa Màng Ngày Cũ. Và quyển sách ra đời cũng để kỷ niệm 41 năm chồng vợ, “như ghi dấu một khoảng đời với biết bao vui buồn cùng xớt chia…”

Trong niềm xúc cảm chia vui cùng ông bà Lương Thư Trung, tôi chợt nhớ đến hai câu ca dao được nhà văn Khiêm Cung nhắc đến trong bài tùy bút Miếng Trầu:

“Trồng trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.”

Thật oái oăm, hai câu ca dao có cả hai từ tạo thành bút danh Hai Trầu mà nội dung trật lất với gia cảnh của chính Hai Trầu. Cho tới khi tôi viết những dòng chữ này, Hai Trầu vẫn chỉ có mỗi một… bà. Không chừng chính từ sự thủy chung như nhất này của ông mà ngày nay không còn ai trồng trầu để khỏi phải khỏi khai mương…

Qua ân tình mặn nồng gắn bó keo sơn của hai ông bà suốt quãng thời gian dài gần nửa thế kỷ, tôi tin chắc nhà văn Lương Thư Trung sẽ tiếp tục cho ra đời những đứa con… tinh thần trong những năm tháng tới.

nguồn ở đây

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »

Công ty nào làm ăn gì cũng lỗ, chỉ có giám đốc là lời

Posted by hoangtran204 trên 22/04/2011

Khi nào cần có giám đốc, cứ giao chức vụ cho các ông dưới đây là ổn. “Hồng tốt hơn Chuyên” làm giám đốc và Phó giám đốc thì công việc trót lọt, làm ăn chỗ nào, thua lỗ chỗ đó; có điều công ty càng thua lỗ, giám đốc và phó giám đốc càng giàu.

Nguồn

Nguyên tổng giám đốc công ty ALC II được “lại quả” 75 tỉ đồng

Tác giả: Lê Minh

Theo nguồn tin của Sài Gòn Tiếp thị, các cơ quan bảo vệ pháp luật đang khẩn trương tổ chức điều tra vụ án đối với bị can Vũ Quốc Hảo, nguyên tổng giám đốc công ty cho thuê tài chính II ( công ty ALC II). Theo kết luận thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước thì công ty này đã để xảy ra tổn thất hơn 1.846 tỷ đồng.

Theo kết quả xác minh ban đầu, ông Vũ Quốc Hảo trong quá trình điều hành công ty ALC II quen biết với ông Đặng Văn Hai, chủ tịch hội đồng thành viên công ty TNHH Xây dựng và thương mại Quang Vinh (công ty Quang Vinh). Ông Hảo đã ký 7 hợp đồng mua bán tài sản do công ty Quang Vinh cung ứng. Nhưng kết quả xác minh cho thấy đây thực chất là các hợp đồng khống để rút tiền Nhà nước, sau đó lại cho chính các công ty “sân sau” của ông Đặng Văn Hai thuê lại. Thực tế, công ty Quang Vinh không có tài sản bán cho công ty ALC II.

Theo cơ quan chức năng, quy định hiện hành thì công ty ALC II có chức năng cho thuê tài chính không được thực hiện nghĩa vụ cho vay. Nhưng ông Hảo đã cho vay và được che giấu dưới hình thức đầu tư mua tài sản để cho thuê. Ông Hảo còn thông đồng với công ty Quang Vinh giải ngân rút trên 587 tỉ đồng. Sau đó, công ty Quang Vinh sau đã chi lại 75 tỉ đồng cho ông Hảo để ông này trả nợ cá nhân.

ALC II đầu tư tiền mua tàu biển cho thuê nhưng thực tế không thấy tàu ở đâu (ảnh minh họa)

Kết quả kiểm tra còn cho thấy, khi đã rút tiền từ công ty ALC II, ông Đặng Văn Hai đã cho nhiều đối tác vay, chi trả việc huy động vốn khoảng 541 tỉ đồng, còn lại 47 tỉ đồng ông Hai sử dụng vào việc riêng đến nay không thu hồi được.

Riêng bị can Tôn Quang Việt, phó phòng cho thuê tài chính của công ty ALC II, cơ quan chức năng cho biết ông này đã thẩm định và đề xuất 7 hợp đồng đầu tư mua bán tài sản của công ty này với công ty Quang Vinh để ông Hảo duyệt. Ngược lại, ông Việt đã nhận gần 1 tỉ đồng “lại quả” từ công ty Quang Vinh.

Được biết, trước đó ngày 16.4, cơ quan cảnh sát điều tra, bộ Công an đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh khám xét, lệnh bắt tạm giam đối với ông Vũ Quốc Hảo, nguyên Tổng Giám đốc công ty ALC II; ông Tôn Quang Việt, nguyên Phó phòng cho thuê của công ty này và ông Đặng Văn Hai, chủ tịch hội đồng thành viên Công ty Quang Vinh về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Sau đó, cơ quan Công an đã đưa các đối tượng từ TP. Hồ Chí Minh ra Hà Nội để phục vụ công tác điều tra.

Trước thời điểm bị bắt, từ tháng 1.2011, công ty ALC II đã phải thuê lực lượng vệ sỹ bảo vệ ông Hảo 24/24 vì sợ các chủ nợ đến đòi nợ.

Trước đó, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã vào cuộc và phát hiện được hàng loạt sai phạm trong hoạt động kinh doanh tại công ty ALC II như: Chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng NN&PTNT đã ký quyết định phê duyệt kế hoạch kinh doanh cho công ty ALC II, hạn mức vay vốn trong năm 2007 là 3.770 tỉ đồng, trong khi tại thời điểm ký quyết định, công ty ALC II đang nợ ngân hàng 2.555 tỉ đồng, vượt 1.325 tỉ đồng hạn mức theo quy định của ngân hàng Nhà nước và ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn .

Kết quả kinh doanh năm 2009 của công ty ALC II đã thua lỗ số tiền gấp 8,5 lần vốn điều lệ và tiềm ẩn lỗ lũy kế đối với khoản tiền đầu tư tài sản cho thuê khác trị giá gần 4.600 tỉ đồng. Trong kinh doanh, ALC II đã không thực hiện quy định kiểm tra chất lượng tài sản cho thuê theo quy định…cũng như một số sai phạm dẫn đến công ty mất cân đối khoảng 7.000 tỉ đồng (kết luận của cơ quan chủ quản).

(Theo SGTT)

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Thua mưu trí khi ký hợp đồng: Mua dầu theo giá thị trường để chạy máy phát điện, nhưng giá bán điện thì…do chính phủ VN qui định…Công ty đành biếu luôn nhà máy điện cho EVN

Posted by hoangtran204 trên 22/04/2011

Lão quỷ vuơng Lê Nin có nói một câu cứ đúng hoài : “Bọn tư bản sẵn sàng bán cả dây thừng cho chúng ta treo cổ bọn chúng.” …

Vì nghe lời dụ dỗ đường mật, 1998 doanh nghiệp Đài Loan đầu tư bỏ vốn 100% xây dựng nhà máy phát điện có tên là Công ty Điện Hiệp  Phước, sản suất 2 tỉ KWh một năm. Theo hợp đồng ký thời hạn 50 năm, công ty mua dầu theo giá thị trường lên xuống để sản suất điện, nhưng giá bán điện thì…do chính phủ VN qui định. Và rằng: công ty không được quyền cúp điện vì bất cứ lý do nào. Và rằng: Công ty Hiệp phước phải bán giá điện “bằng” giá với các công ty cung ứng điện khác. Đây lá mấu chốt của bi kịch về sau.

Khi giá đầu thấp, 30-50 đô 1 thùng, thì công ty có lời. Nhưng khi giá dầu tăng cao 100 – 118 đô/ 1 thùng như hiện nay, công ty làm ra điện với giá thành quá cao, nhưng phải bán điện giá quá rẻ. Kết quả bị lỗ nặng.

“Theo Công ty TNHH Điện Hiệp Phước (HPPC), vì giá dầu thế giới tăng nên đơn vị này đang phải bán điện với giá lỗ. Hiện giá thành sản xuất điện của HPPC là 15 cen/kWh, trong khi đó giá bán ra thị trường theo quy định của Chính phủ chỉ khoảng 5 cent/kWh nên mỗi tháng HPPC lỗ 5 triệu USD.

HPPC đã đề nghị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cung cấp khí gas để thay dầu nhằm giảm giá thành nhưng không được đáp ứng vì Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng thiếu khí gas cung ứng ra thị trường. Vì vậy, HPPC đã đề xuất tăng giá điện lên gấp 3 lần so với giá hiện nay, nhưng đề nghị này đã bị các DN phản ứng. Các DN cũng lập luận rằng điện cho sản xuất phải cùng một giá, bất kể đó là nguồn điện từ đâu.
Giá điện do Chính phủ quyết định và thống nhất trên toàn quốc.

Tuy nhiên, HPPC là nhà máy do DN xây dựng (ký hợp đồng cung cấp điện độc quyền 50 năm) để cung cấp điện cho khu vực này khi lưới điện quốc gia chưa phủ đến. Do HPPC không được bù lỗ như các nhà máy điện của EVN, vì vậy, đơn vị này cho biết nếu không được tăng giá thì từ ngày 1-4 tới sẽ ngừng cung cấp điện ra thị trường vì không thể chịu lỗ hơn nữa.”

Nhưng chưa hết, đòn EVN mua điện của Hiệp Phước nhưng không trả tiền từ tháng 2 và tháng 3 mới  là cú đòn trí mạng, và thật sự làm công ty Điện Hiệp Phước biếu không nhà máy phát điện cho EVN:

“…Còn HPPC cho rằng do EVN chưa thanh toán khoảng 41 triệu USD tổng số tiền điện tháng 2 và 3-2011, đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc HPPC chính thức ban hành thông báo ngưng cấp điện cho KCN Hiệp Phước kể từ ngày 1-5…”
http://nld.com.vn/20110422112352831p…ong-nghiep.htm

Hiệp Phước cần có thu 41 triệu đô la tiền điện của EVN để trả tiền dầu, vì:

“…Theo Petrolimex, hiện HPPC đang còn nợ doanh nghiệp này 21,4 triệu USD tiền mua dầu, đó là lý do dẫn đến việc mới đây Petrolimex quyết định cắt nguồn dầu bán cho Nhà máy Nhiệt điện Hiệp Phước kể từ tháng 4-2011.”

Hóa ra là vậy: EVN mua điện mà không trả tiền hơn 2 tháng rồi, do đó Hiệp Phước cụt vốn và không có tiền mua dầu chạy máy; Petrovietnam nhảy vào nói: không trả tiền dầu trước, thì không bán dầu…cách đây 2 tuần, Petrovietnam cho các ngân hàng mượn 2,7 tỉ đô la.

HPPC đã học được bài học tốt để lần sau ký hợp đồng khôn hơn tí. Đất nước VN càng ngày sẽ càng giàu mạnh vì được các nhà lãnh đạo tính toán giỏi, các công ty VN phối hợp ăn ý nhau , và buộc được một doanh nghiệp nước ngoài tự nguyện biếu luôn cả nhà máy phát điện mà không cần bỏ vốn xây dựng. Làm ăn như thế mới gọi là khôn chứ.

nguồn : HPPC Điện Hiệp Phước

Thua mưu lược của chính phủ VN, công ty điện Hiệp Phước HPPC đành biếu không nhà máy 100 triệu đô la cho EVN

HPPC

Điện lực Hiệp Phước “biếu không” tài sản cho EVN

Thứ Năm, 21/04/2011 23:54

(NLĐ) – Công ty TNHH Điện lực Hiệp Phước (HPPC) ngày 21-4 đã chuyển đến UBND TPHCM công văn yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai ngay việc tiếp nhận bán điện cho khu vực phụ tải của HPPC (KCX Tân Thuận, KCN Hiệp Phước và khu đô thị Phú Mỹ Hưng) từ ngày 1-5

HPPC cam kết sẽ chuyển giao miễn phí cho EVN toàn bộ lưới điện 110, 22, 15 KV cùng các trạm biến áp đang phục vụ cấp điện cho KCX Tân Thuận và KCN Hiệp Phước. Do khu đô thị Phú Mỹ Hưng tự đầu tư mạng lưới điện nội bộ và được phép mua điện trực tiếp từ EVN nên HPPC đề nghị hai bên thỏa thuận. Theo ông Yhang Yin Fu, Tổng Giám đốc HPPC, hiện tình hình tài chính của công ty rất khó khăn. Nếu việc bàn giao lưới điện cho EVN không được thông qua trước ngày 1-5, HPPC không còn khả năng phát điện.
Điện lực Hiệp Phước cam kết chuyển giao miễn phí cho EVN một số lưới điện và trạm biến áp. Ảnh: Tấn THẠNH
Như Báo Người Lao Động đã thông tin, phương án trên đã được UBND TPHCM và Bộ Công Thương đề xuất nhưng vẫn chưa được Chính phủ phê duyệt. EVN cho biết sẽ chấp nhận khi có chỉ thị từ Thủ tướng nhưng sớm nhất phải đến ngày 1-7, tập đoàn này mới có khả năng cấp điện cho 3 khu vực trên.
Q.Lâm
—————-

“Cứu” khẩn cấp 2 khu công nghiệp

Thứ Sáu, 22/04/2011 23:23

Nếu khu chế xuất Tân Thuận và khu công nghiệp Hiệp Phước bị cắt điện sẽ ảnh hưởng đến kinh tế TPHCM và 90.000 công nhân đang làm việc tại đây

Ngày 22-4, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân đã gửi công văn khẩn đến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đề nghị chỉ đạo giải quyết khó khăn trong vụ Công ty TNHH Điện lực Hiệp Phước (HPPC) liên tục đòi ngưng cấp điện cho KCX Tân Thuận và KCN Hiệp Phước do không bảo đảm về tài chính (Báo Người Lao Động đã thông tin).

Theo UBND TPHCM, việc cung cấp điện ổn định cho KCX Tân Thuận và KCN Hiệp Phước nhằm bảo đảm sản xuất là rất cần thiết, bởi nơi đây đang tập trung 160 doanh nghiệp, phần lớn có vốn đầu tư nước ngoài với 90.000 công nhân đang làm việc, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2,5 tỉ USD/năm.
Xác định tầm quan trọng trong vấn đề an ninh năng lượng khu vực này, UBND TP đã chỉ đạo Sở Công Thương yêu cầu HPPC tuân thủ việc cung cấp điện theo các điều khoản đã thỏa thuận trong giấy chứng nhận đầu tư và hợp đồng mua bán điện giữa các bên. Ngoài ra, đề án giá điện mới do HPPC đưa ra với mức 4.000 đồng/KWh cũng không ổn vì không thể tồn tại hai mức giá điện trên cùng một địa bàn.
Trước đó, mặc dù chưa được Bộ Công Thương thông qua, HPPC đã tính đến áp dụng mức giá mới (tính phí phụ thu nhiên liệu) và đưa ra “tối hậu thư” nếu không chấp nhận, doanh nghiệp sẽ bị cắt điện.
Do đó UBND TPHCM kiến nghị Thủ tướng Chính phủ một số giải pháp cấp bách: Chỉ đạo Cục Điều tiết Điện lực tiến hành thẩm định các thông số đầu vào, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong đề án giá bán điện của HPPC; chỉ đạo Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lập tổ công tác làm việc với HPPC về kế hoạch tiếp nhận lưới điện, giao cho Tổng Công ty Điện lực TPHCM triển khai bán điện trực tiếp cho KCX Tân Thuận, KCN Hiệp Phước và khu đô thị Phú Mỹ Hưng; xem xét hỗ trợ về khoản chênh lệch giữa giá bán điện do Bộ Công Thương phê duyệt và giá bán điện do Chính phủ quy định tại Quyết định số 269 ngày 23-2-2011.
Ngoài những nội dung trên, UBND TPHCM cũng đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo EVN ưu tiên thanh toán khoản tiền mua điện còn nợ cho HPPC để công ty này có thể trả tiền dầu cho Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex). Theo Petrolimex, hiện HPPC đang còn nợ doanh nghiệp này 21,4 triệu USD tiền mua dầu, đó là lý do dẫn đến việc mới đây Petrolimex quyết định cắt nguồn dầu bán cho Nhà máy Nhiệt điện Hiệp Phước kể từ tháng 4-2011.
Còn HPPC cho rằng do EVN chưa thanh toán khoảng 41 triệu USD tổng số tiền điện tháng 2 và 3-2011, đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc HPPC chính thức ban hành thông báo ngưng cấp điện cho KCN Hiệp Phước kể từ ngày 1-5.

QUÝ LÂM
—————–

Hiep Phuoc Power Ltd. will continue to supply power with a extra fee in three months starting on April 1st, the Ho Chi Minh City-based sole electricity provider said in a meeting with customers last week.

An electrician is working on power cables on a HCMC street. Power provider Hiep Phuoc will continue to provide customer with stable electricity flow (Photo:Minh Tri)

Hiep Phuoc Power Ltd. Company said in a report that the firm has suffered a heavy loss of US$45.5 million since 2005 due to the surging global crude oil and the government’s cap on the retail power prices.

The Ho Chi Minh City-based sole electricity provider said it asked the HCMC People’s Committee to allow it to raise the retail price, but the request was denied.

Earlier, the government has approved an investment project of gas pipeline worth hundreds of millions of dollars, helping Hiep Phuoc Power Plant to reduce input cost.

The 39-kilometer pipeline, operated by PetroVietnam Gas, a unit of Vietnam Oil and Gas Group, supplies gas to the Hiep Phuoc Power Plant in Nha Be District, according to TuoiTre Newspaper.

The plant transforms 2.7 million cubic meters of the relatively clean alternative fuel into energy for the city each day.

PetroVietnam Gas, however, supplied gas to the plant in seven months only before suspended in last May, asking the electricity provider to wait until 2013.

The Central Trading and Development Group, the parent company of the electricity firm, has had to use their profits from other businesses to keep the Hiep Phuoc Power Plant alive while waiting for PetroVietnam Gas to resupply gas.

Nevertheless, the Taiwan-based group has not been able to subsidize the power firm’s losses since its construction subsidiary Phu My Hung Venture could not sell any products in the last 18 months.

To survive, Hiep Phuoc Power Ltd. submitted three solutions to the government – asking the PetroVietnam Gas to resupply gas, asking the state utility Electricity of Vietnam to sell electricity to the firm or allowing the firm to transfer their electricity business to the state utility.

If the proposed solutions are disapproved, Hiep Phuoc will temporarily charge the fuel fee in three months starting on April 1st.

Unpleasant customers
Hiep Phuoc Power Ltd. is providing power at the price of US 5 cents for one kilowatt per hour (kWh), which includes an extra fee of 12 cents per kWh.

Customers, which are businesses in the Hiep Phuoc Industrial Zone in Nha Be District, said the electricity from the power was very stable, but the extra fee would push up their input costs.

“We have been operational in the industrial zone for two years. Hiep Phuoc Power Ltd. said they lost $45 million in the last five years, and so did we; but we have not asked them to reduce their price. Therefore, we cannot accept the extra fee,” said William Khoury, general director of Saigon Premier Container Terminal.

Pham Van Dung, general director of paper maker Xuan Mai, said “our electricity bill reaches VND350 million ($17,500) monthly. It will surge to VND1 billion in accordance with Hiep Phuoc Power’s new price.”

Responding to customers’ complainant, Zhang Yin Fu, general director of the power firm, said the firm will continue to provide stable electricity flow and wait for the government’s decision on its proposals.

Source: SGGP

———–

Để ý: Tổng giám đốc của Hiệp Phước cũng chính là Tổng giám đôc của tập đoàn phát triển bất động sản Phú Mỹ Hưng

Key Staff of Hiep Phuoc



http://www.taipeitimes.com/News/bizf…/15/2003344924
http://en.www.info.vn/economy/busine…xtra-fee-.html
“…Hiep Phuoc Power Ltd. Company said in a report that the firm has suffered a heavy loss of US$45.5 million since 2005 due to the surging global crude oil and the government’s cap on the retail power prices…”

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Đầu Tư | Tagged: | Leave a Comment »

“Luật lệ hiện hành thất bại không giải quyết được chuyện đình công của công nhân vì luật không bảo đảm quyền lợi của công nhân,” thứ trưởng Bộ Lao động ông Phạm Minh Huân nói

Posted by hoangtran204 trên 21/04/2011

Thật là lời nói không đi với việc làm. Nhà nước viết đủ thứ khẩu hiệu và luôn tuyên bố: “Chính quyền ta là chính quyền của giai cấp công nhân”, nhưng luật pháp thì lại không bảo vệ quyền lợi của người công nhân!

Ai cũng biết ở các nước dân chủ tự do, công đoàn là những người không làm việc trực tiếp và lương của họ là do công nhân ( hay người làm việc) đóng góp. Vì thế công đoàn luôn luôn phải bảo vệ quyền lợi của người công nhân.

Nhưng công đoàn trong các nước XHCN như VN thì lại lãnh tiền trực tiếp từ chính phủ, vì vậy công đoàn không đại diện cho công nhân, mà đại diện cho chính quyền. Khi chính quyền ở VN đồng ý bắt tay với giới chủ doanh nghiệp nước ngoài ở VN để quyết định mức lương của người công nhân (sao cho chủ doanh nghiệp có lợi để mở hảng xưởng tại  VN), thì chính quyền phải thiết lập các thứ luật pháp để không bảo vệ quyền đình công đòi  tăng lương của công nhân.

Việc công nhân đòi tăng lương hiện nay là cuộc đối đầu tranh đấu giữa người công nhân VN và chính quyền VN, chứ không phải là giữa công nhân và chủ hảng xưởng.

—–

Luật lệ hiện hành không giải quyết được nạn đình công

Hà Nội – Luật lệ về lao động hiện hành cần được thay đổi để bảo vệ công nhân vì hệ thống hiện nay không giải quyết được những tranh chấp đưa đến đình công, một viên chức cao cấp cho hay hôm nay thứ Năm ngày 21 tháng Tư.

Luật lệ hiện hành thất bại không giải quyết được chuyện đình công của công nhân vì luật không bảo đảm quyền lợi của công nhân,” thứ trưởng Bộ Lao động ông Phạm Minh Huân nói.

Ông thứ trưởng cho rằng luật lệ lao động không có tính nhất quán và minh bạch.

“Cần thay điều chỉnh luật lệ này theo cách đơn giản hơn,” ông nói. “Luật lệ này phải tôn trọng quyền của người lao động, và chúng ta phải nhắm để đưa những quyền này vào một khung pháp lý.”

Bộ Lao động Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo ở Hà Nội hôm thứ Tư để thảo luận những phương cách giải quyết và hạn chế nhiều tranh chấp lao động hiện nay, theo thông tấn xã Việt Nam cho hay.

Hơn 3.000 công nhân nhà máy sản xuất xe gắn máy Yamaha đình công đòi tăng lương tháng rồi.
Nguồn Ảnh: Thanh Niens


Sự tranh chấp, bất đồng trong lao động đúng ra là được ban hoà giải chính thức của công đoàn thuộc nhà nước đứng ra giải quyết. Tuy nhiên, đa số các cuộc đình công được tổ chức bởi chính công nhân hơn là qua công đoàn của nhà nước. Bởi vậy, những cuộc đình công này là bất hợp pháp, nên ít khi được giải quyết ổn thỏa, theo lời nói của thư ký Ủy ban Phân xử Lao động của Thành phố Hồ Chí Minh ông Hồ Xuân Dụng.

Một viên chức cao cấp của Toà án Lao động ông Phạm Công Bảy nói là nhà nước nên cân nhắc một đạo luật cấm không được sa thải công nhân nếu họ là thành viên của một công đoàn của nhà nước, theo TTX Việt Nam.

Con số Bộ Lao động đưa ra cho thấy những cuộc đình công chính thức giảm xuống từ 650 lần trong năm 2008 xuống còn 216 lần trong năm 2009. Hầu hết những cuộc đình công này xảy ra ở những công ty ngành may mặc.

Không có con số chính thức về những cuộc đình công “tự phát”, nhưng theo báo chí trong nước, có hơn 100 cuộc đình công “không chính thức” đã xảy ra kể từ hôm đầu năm.

Đa số những khiếu nại, bất bình liên quan đến tiền lương, bảo hiểm xã hội, phúc lợi và tiền bồi thường khi bị bệnh phải tạm nghĩ việc, nằm bệnh viện, và bị tai nạn.

Mới tháng rồi, 3.000 công nhân ở nhà máy sản xuất xe gắn máy Yamaha gần Hà Nội đã đình công đòi tăng lương.

Nguồn:

Minister admits regulations failing to tackle strikes in Vietnam. Deutsche Presse-Agentur, 21 April 2011

Minister admits regulations failing to tackle strikes in Vietnam

Hanoi – Changes are needed in Vietnam’s labour regulations to protect workers because the current system has been unable to head off disputes that lead to strikes, a senior official said Thursday.

‘The current regulations have failed to tackle labour strikes because they don’t guarantee the rights of workers,’ Deputy Labour Minister Pham Minh Huan said.

The deputy minister blamed a lack of consistency and transparency in the law.

‘It is necessary to readjust these regulations in a simpler way,’ he said. ‘These regulations must respect the rights of labourers, and we must orient these rights in a legal framework.’

The ministry held a workshop in Hanoi Wednesday to discuss measures to curb the high numbers of labour disputes, according to the state-run newspaper Viet Nam News.

Labour disputes are supposed to be handled by official reconcilement committees under authorized unions. However, most strikes are organized spontaneously by workers rather than through the unions, which are closely linked to the state. Because many strikes are, therefore, illegal, they are rarely handled successfully, secretary of Ho Chi Minh City’s Labour Arbitration Committee, Ho Xuan Dung, was quoted as saying.

A senior official from the Labour Court, Pham Cong Bay, said the government should reconsider a law that prevents workers from being sacked if they are members of an official union, the newspaper said.

Ministry figures showed official strikes dropped from 650 in 2008 to 216 in 2009. Most involved companies in the textile and garment sectors.

There are no official statistics on the number of wildcat strikes, but according to local media, more than 100 unofficial strikes have occurred so far this year.

Most grievances involved wages, social insurance, welfare and compensation.

Last month, 3,000 workers went on strike at a Yamaha motorbike factory near Hanoi to demand better wages.

Posted in Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »