Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Đảng mới’ Category

►Đầu Xuân: những điều tồi tệ

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Đầu Xuân: những điều tồi tệ

6-3-2015

*Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

Báo Tiền Phong Online của đảng in hình nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh ngồi trên ngai đầu rồng nạm vàng, giữa phòng khánh tiết gia đình lộng lẫy như giữa cung đình vua chúa ngày xưa.

Chưa có những ngày đầu Xuân nào bộ mặt của Đảng Cộng Sản lại lem luốc, nhọ nhem như ngày Xuân Ất Mùi này. Nó chứng minh cho sự sa sút, suy thoái của đảng không sao kìm hãm.

Báo Tiền Phong Online của đảng in hình nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh ngồi trên ngai đầu rồng nạm vàng, giữa phòng khánh tiết gia đình lộng lẫy như giữa cung đình vua chúa ngày xưa. Vừa sang trọng hào nhoáng vừa quê kệch hãnh tiến của trọc phú học làm sang. Trên mạng tự do Dân làm báo đưa lại hình nội thất của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, xa hoa kiêu kỳ với trống đồng cổ, cả tượng đồng ông ta, nhằm lưu danh thiên cổ. Hai tổng bí thư CS thời thoái trào bi đát của đảng đều lên ngôi do thời thế nhiễu lọan, theo kiểu có người cho là “vơ bèo vạt tép”, để rồi vẫn ngỡ mình là vua.

Triều đình nào, quần thần nấy. Xuân này xuất hiện Quốc sư Vũ Khiêu ôm hôn một cách thô bạo hoa hậu Kỳ Duyên bằng tuổi cháu chắt mình, còn tặng câu thơ lẳng lơ ăn cắp của thơ Đường bên Tàu. Thật đẹp mặt cho đảng CS, khi liều lĩnh phong cho một trí thức dỏm danh hiệu ‘Anh hùng nhân dân’.

Chỉ mấy ngày Tết đã có đến hàng vạn vụ đánh chém nhau, ẩu đả, làm cho 6.200 người phải nhập viện, hàng trăm người chết do ẩu đả và tai nạn giao thông, kỷ lục chưa Tết nào sánh kịp. Nó thể hiện bản chất bạo lực đàn áp nhân dân lương thiện của đảng cầm quyền đã nhiễm sâu vào xã hội, tính hung ác bất lương bao trùm xã hội mất ổn định, khi đảng làm gương, đi đầu trong chà đạp nền pháp quyền và pháp luật.

Có những chuyện tưởng là nhỏ mà thật là tồi tệ đến quái đản, lại cho lên chình ình trên mặt báo. Đó là chiếc bánh chưng nặng 7 tạ, chiếc bánh phồng tôm khổng lồ một tạ rưỡi, chiếc bánh tét dài 18 mét, chậu hủ tíu khổng lồ cho ngàn người ăn, đều được các chức sắc của đảng đến ca ngợi, biểu dương.

Xã hội đảo điên chính là ở đó. Vì đó là bánh chưng không ai cho vào mồm nuốt nổi, một kiểu mù quáng lừa bịp nhau lập thành tích ảo, không có một ly thiết thực nào cho cuộc sống. Đố ai ăn nổi chiếc bánh chưng, bánh tét hay bánh phồng tôm ấy, dù cho chỉ một phần nhỏ. Tất cả sẽ mốc meo rồi đổ xuống cống. Đảng kêu gọi dân lập nên những thành tích kỳ quái, tốn không biết bao nhiêu tiền của, vật dụng, thời gian của dân, không có một ý nghĩa chính trị, kinh tế, nhân văn nào. Hoàn tòan có hại mà không có ai ngăn cản, phản đối. Một xã hội trơ lỳ, vô cảm, a dua theo đảng làm những chuyện vô duyên, khả ố, tồi tệ.

Đến năm Ất Mùi tệ giết lợn để tế thần được quảng cáo rùm beng hơn hẳn mọi năm. Những con lợn béo ú được rước rồi chọc tiết, chặt đầu mổ bụng, máu xổ ra đầy sân cho dân tranh nhau nhúng tiền có hình ông Hồ vào cho dính máu lợn để lấy khước, phát tài, phát lộc. Đó, đảng CS khuyến khich trở về thời mông muội, tín ngưỡng mụng mị, mất vệ sinh, cổ vũ bạo lực trong khi thế giới văn minh đề cao lòng thương súc vật.

Rõ ràng đảng CS, cơ quan tuyên huấn của đảng cố tình ru ngủ nhân dân, nhất là tuổi trẻ, bằng những lễ hội rẻ tiền, thấp kém, phản nhân văn, để họ quên đi những vấn đề chính trị hệ trọng, cấp bách, trong khi bọn bành trướng vẫn đang thực hiện mưu đồ gặm nhấm, mở rộng diện tích các đảo của ta chúng đã chiếm được, cho lao động của chúng xâm nhập khắp mọi vùng, cho các công ty của chúng bao thầu các nhà máy điện, xi măng, hóa chất, bô-xít …, cho hàng hoá kém phẩm chất, có khi có chất độc hại của chúng thâm nhập khắp nơi.

Chính do chính sách ngu dân, đánh lạc hướng xã hội của đảng CS trong những ngày đầu Xuân Ất Mùi này như vừa nêu, toàn dân ta cần hết sức cảnh giác, tập trung chú ý vào các vấn đề chính trị nóng bỏng của đất nước.

Trước mắt, Bộ Chính trị sẽ công bố các văn kiện dự thảo cho Đại hội XII để toàn đảng, từ cơ sở trở lên thảo luận. Đây sẽ có thể trở thành một cuộc đấu tranh mạnh mẽ, dữ dội, nếu nhân dân ta thức tỉnh về quyền tự do của mình. Bộ Chính trị sẽ cố làm mọi cách để toàn đảng từ cơ sở đến Đại hội nuốt trôi 5 cục xương gai góc: kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên trì CNXH; kiên trì giữ tên đảng CS; kiên trì chế độ độc đảng, kiên trì điều 4 trong Hiến pháp; kiên trì kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kiên trì lấy kinh tế Nhà nước làm chủ đạo.

Đó là 5 luận điểm bảo thủ giáo điều, 5 xiềng xích nguy hiểm, 5 bức tưòng thành ngăn chặn Dân chủ và Phát triển, 5 tử huyệt cho nhân dân và dân tộc. Đó cũng là 5 cơ sở của Cương lĩnh đảng CS hiện nay, 5 luận điểm cốt tử của Nghị quyết Đại Hội XII sắp tới.

Tất nhiên tất cả sinh lực sống còn của dân tộc Việt Nam, của trí thức dân tộc, của bà con ta trong và ngoài nước thật lòng yêu nước thương dân phải được tập trung vào việc đương đầu với lãnh đạo của đảng CS trong thời kỳ thoái trào từ tồi đến tệ của nó.

Tất nhiên tất cả sức lực của xã hội dân sự đang ở thế phát triển tự tin phải tận lực hiến mình cho cuộc đấu tranh sống mái này, một cuộc đấu lý bền bỉ dai dẳng suốt năm 2015 này.

Chúng ta có quyền lên tiếng đông đảo bằng lý lẽ, lập luận chặt chẽ bác bỏ triệt để công khai các văn kiện của Đại hôị XII, vì tuy là công việc riêng của đảng CS, nhưng đó lại là tai họa giáng thẳng lên đầu dân ta, là kềm kẹp áp đặt của đảng CS. Chúng ta có đầy đủ cơ sở để bác bỏ triệt để các văn kiện ấy còn là vì các luận điểm ấy đã bị thế giới văn minh lên án là tội ác chống nhân lọai, đã bị thế giới coi là rác rưởi.

Đã đến lúc đông đảo đảng viên CS, nhất là đảng viên thường ở cơ sở nhận ra quá trình suy thoái tệ hại của đảng CS, sự thối nát lạc hậu đến cùng cực của thế lực lãnh đạo để sớm thoát đảng, thoát Trung, thoát Mác – Lê, cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về với dân tộc, với nhân dân, với xã hôị dân sự, với thời đại dân chủ chân chính.

Những điều tệ hại diễn ra ngay từ những ngày Tết Ất Mùi làm dấy lên sự phẫn nộ của toàn dân, là động lực thôi thúc mọi lực lượng lành mạnh của dân tộc trỗi dậy làm chủ vận mệnh của mình, tự mình mở ra Kỷ nguyên Dân chủ của nước ta.

Bùi Tín

————–

Từ Cụ Bùi Bằng Đoàn đến ông Bùi Tín: Tầm nhìn đã bứt qua thế hệ
Phan Châu Thành (Danlambao)Tôi là kẻ hậu sinh, một mặt rất kính trọng ông Bùi Tín (và nhất là Cụ Bùi Bằng Đoàn) vì tất cả những gì ông đã làm, đã sống như một nhà dân chủ tiên phong, một mặt tôi đã ngỗ nghịch nhiều lần tranh luận với ông – như tranh luận với cha mình: có khi hỗn hào, khi căng thẳng và cố chấp, nhưng lúc nào cũng thương yêu trong lòng. Tôi luôn tin nếu thế hệ sau không biết kính trọng và thương yêu cha ông, kính trọng và thương yêu Lịch sử của dân tộc mình thì còn có gì hơn để kinh trọng và yêu thương được nữa chăng? Mà thế hệ không biết kính trọng và yêu thương ai là một thế hệ chết…
*
Tuyên ngôn bứt phá của ông Bùi Tín

Sáng nay, “ngồi Thiền trên mạng”, tôi đã vui mừng đến ngỡ ngàng và reo to lên: “Hoan hô ông Bùi Tín!” khi đọc được bài mới nhất của ông Bùi Tín trên Dân Làm Báo – bài “Đầu Xuân: những điều tồi tệ” có những câu như sau:

“Đã đến lúc đông đảo đảng viên CS, nhất là đảng viên thường ở cơ sở nhận ra quá trình suy thoái tệ hại của đảng CS, sự thối nát lạc hậu đến cùng cực của thế lực lãnh đạo để sớm thoát đảng, thoát Trung, thoát Mác – Lê, cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về với dân tộc, với nhân dân, với xã hội dân sự, với thời đại dân chủ chân chính.”

Đó quả là cái nhìn, tầm nhìn có sự bứt phá ngoạn mục của ông Bùi Tín so với chính ông hôm qua và so với cả thế hệ của ông – thế hệ lỡ nhầm lạc theo cộng sản thứ hai của VN. Cho đến nay, hầu như tất cả các trí thức phản tỉnh trong và ngoài nước thế hệ ông, những nhà đối lập chính trị” thế hệ ông, và cả đa số sau ông (thế hệ tôi) đều chưa có được quan điểm rõ ràng, minh bạch và dứt khoát như vậy để phong trào dân chủ tiến lên: Thoát đảng (cộng sản), cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về vói dân tộc, với nhân dân!

Từ ông tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đến Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày… đều không ai dám có lời kêu gọi thành lập đảng mới như thế, như ông Bùi Tín cả. Điều đó chứng tỏ ông Bùi Tín đã dứt khoát đoạn tuyệt với đảng cộng sản, không còn hy vọng và đề nghị gì với họ nữa, hoàn toàn phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và đại hội 12 của họ sắp tới. Đó chắc chắc sẽ là đại hội cuối cùng của CSVN trong thế độc tài toàn trị.

Từ Cụ Bùi Bằng Đoàn đến ông Bùi Tín

Tôi luôn bùi ngùi với cảm xúc của mình – kính trọng và mến thương – với Cụ Bùi Bằng Đoàn – một nhân tài của đất nước và một nhân vật lịch sử lớn, vì mỗi lần trước và sau những cuộc tranh luận trên mạng với ông Bùi Tín – khi ôn hòa, lúc căng thẳng – tôi luôn cố tìm hiểu kỹ nhất có thể về cuộc đời Cụ Bùi Bằng Đoàn rồi mới đến cuộc đời ông Bùi Tín, để có thể hiểu đúng ông Bùi Tín mà tranh luận.
Vì rất kính trọng và mến thương Cụ Bùi bằng Đoàn, như tôi luôn kính yêu ông nội, ông ngoại mình vậy – những người giống cụ Bùi Bằng Đoàn không phải chỉ vì cùng thế hệ thời cuộc, mà đều có lòng với dân nước và đều đã dâng cả tấm lòng, cuộc đời mình cho dân. Còn việc họ đã làm điều đó thế nào (sai cách), kể cả nội ngoại tôi và Cụ Bùi Bằng Đoàn – đi theo cộng sản, lại là chuyện khác. Đó dường như là giới hạn của thế hệ, và giới hạn đó làm họ bị mắc lừa cộng sản…

Thế hệ cộng sản (và từng là cộng sản) thứ hai của ông Bùi Tín và cha tôi cũng lại vấp vào giới hạn thế hệ của mình- đó là công sản là thứ có thể thay đổi tốt lên hay còn cứu vớt được, và đó lại là điều làm tôi vô cùng đau xót. Cha tôi đã mất, nhưng trước đó ông không nói được một câu nào dứt khoát như câu tuyên bố của ông Bùi Tín hôm nay, ngoài sự ủng hộ và tin cậy vào những gì tôi đã và đang làm. Cả ông tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (mà tôi chọn ra ở đây như biểu tượng hàng đầu hay đại diện của cả giới trí thức cộng sản phản tỉnh thê hệ ông và thế hệ kế sau hiện nay) cũng chưa hiểu và nói được điều gì như thế.

Với tôi, tuyên ngôn hôm nay của ông Bùi Tín đã đặt ông vào đúng vị trí trí thức đối lập cộng sản hàng đầu của thế hệ ông, vượt qua giới hạn thế hệ của mình, xúng đáng là hậu duệ của Cụ Bùi Bằng Đoàn. Có dịp tôi sẽ xin có một bài riêng về cuộc đời và cái chết (có bình thường không?) của Cụ Bùi Bằng Đoàn (và Cụ Nguyễn Văn Tố…), mà tôi đã bỏ công nghiên cứu và suy ngẫm. Hôm nay, tôi tin Cụ Bùi Bằng Đoàn nơi chín suối sẽ mỉm cười nhẹ bước du tiên vì hậu duệ mình cuối cùng đã đoạn tuyệt được với sai lầm nông nổi trong vài năm sóng gió của chính mình và trong bão táp của dân tộc…

Lời chúc mừng và cảm ơn ông Bùi Tín của một kẻ hậu sinh

PCT tôi là kẻ hậu sinh, một mặt rất kính trọng ông Bùi Tín (và nhất là Cụ Bùi Bằng Đoàn) vì tất cả những gì ông đã làm, đã sống như một nhà dân chủ tiên phong, một mặt tôi đã ngỗ nghịch nhiều lần tranh luận với ông – như tranh luận với cha mình: có khi hỗn hào, khi căng thẳng và cố chấp, nhưng lúc nào cũng thương yêu trong lòng. Tôi luôn tin nếu thế hệ sau không biết kính trọng và thương yêu cha ông, kính trọng và thương yêu Lịch sử của dân tộc mình thì còn có gì hơn để kinh trọng và yêu thương được nữa chăng? Mà thế hệ không biết kính trọng và yêu thương ai là một thế hệ chết…

Vì thế hôm nay, đọc được những lời như trên của ông Bùi Tín, tôi như vỡ òa tâm tư: đây mới là ông Bùi Tín mà tôi nhìn thấy, đây mới là hậu duệ của cụ Bùi Bằng Đoàn mà tôi kinh trọng như ông cha minh! Và vì tôi biết, thế hệ ông Bùi Tín, tất cả, đều không sống, nói và làm gì cho mình nữa rồi. Tất cả chỉ vì các thế hệ sau là thế hệ của tôi, và các thế hề mai sau.

Thế cho nên, khi ông Bùi Tín và thế hệ thứ hai đã dứt khoát đoạn tuyệt với cộng sản rõ ràng như thế, thì thế hệ chúng tôi còn gì nữa phải băn khoan mà không tiến lên phía trước:

Cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về vói dân tộc, với nhân dân!

Hôm nay, bẵng những lời chân thành này, PCT tôi xin chúc mừng sự bứt phá ngoạn mục và dứt khoát của ông Bùi Tín, của thế hệ trước chúng tôi, đã vượt qua hạn chế thế hệ của chính mình, Và tôi cũng xin cảm ơn ông Bùi Tín về điều đó. Ông Bùi Tín đã làm được điều ngoạn mục cho cả một thế hệ: một bước nhỏ thôi nhưng vượt qua lằn răn tầm nhìn của thế hệ minh, để thế hệ sau chúng tôi vững tâm hơn với hành trang của cha ông, của lịch sử mà tiến lên thời đại Tự do Dân chủ cho Việt Nam, sạch bóng cộng sản lỗi lầm tàn độc.

Phan Châu Thành
danlambaovn.blogspot.com

PS1: Tôi chưa bao giờ, và chắc sẽ không thể xin lỗi ông Bùi Tín, vì với bậc cha ông mình thật khó mà xin lỗi được – nó giả dối làm sao. Tôi chỉ có thể tạ tội với ông nếu đúng là tôi có tội. Nếu không phải là tội lỗi, tôi tin ông Bùi Tín sẽ bỏ qua sự hỗn hào của tôi, nếu có. Tôi đã từng hỗn hào với cha mình mà có xin lỗi được đâu! PCT.

PS2: Còn một ý quan trọng này nữa tôi xin hỏi và đề nghị với ông Bùi Tín, vì chính ông đã nêu ra, rất đúng: Nên chăng ông Bùi Tín cùng các nhân sĩ khác trong ngoài nước hãy đứng lên hôm nay phất một ngọn cờ mới thay màu cờ máu cộng sản? Thời cơ đã đến rồi chăng, mà thời gian của cá nhân ông Bùi Tín cũng vẫn còn đủ cho việc lớn đó? Vả lại, xã hội Dân chủ là đa nguyên, là rất nhiều là cờ kia mà – chẳng phải bản thân cá nhân, cuộc đời ông Bùi Tín đã là một lá cờ đó sao? PCT.

Advertisements

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng mới | Leave a Comment »

►Hồ Ngọc Nhuận: Nói hết…sau 38 năm sống cùng…

Posted by hoangtran204 trên 01/09/2013

Sau khi sống chung 38 năm dưới chế độ xã hội tốt đẹp và dân chủ nhất mà chính ông cũng từng tiếp tay đóng góp, tham dự và điều hành, nay  ông Hồ Ngọc Nhuận viết cái này và đúc kết thành bài.

Đàng hoàng hơn

Hồ Ngọc Nhuận

http://www.boxitvn.net/bai/18848

26-8-2013

Trên thế giới ai cũng biết: một nền dân chủ pháp trị đích thực, với một Nhà nước pháp quyền đích thực, là một nền dân chủ đặt luật pháp lên trên hết, trên mọi người và trên mọi quyền bính, tất nhiên và trước hết là trên người lãnh đạo cầm quyền, vì phải làm gương. Trừ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, vì Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo ở đây tự vẽ ra Hiến pháp, cầm điều 4 HP làm bùa chủ đạo, để ngồi xổm trên luật pháp.

Trong một nền dân chủ pháp trị ai cũng biết: “Điều gì luật pháp không cấm thì người dân có quyền làm”.

Nhưng trước hết, người dân còn phải làm những điều luật pháp kêu làm.

Như làm ăn thì luật pháp kêu phải đóng thuế. Làm trai thì luật pháp kêu phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Làm người chiến sĩ trong quân đội thì phải trung thành với Tổ quốc… Ở đâu cũng vậy.

Nhưng ở Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì có khác. Ở đây đi lính, nhất là ở cấp chỉ huy, thì phải trung thành với Đảng lãnh đạo. Còn luật pháp vẽ ra để đó chớ không hẳn để thi hành. Hay chỉ thi hành theo các Ban Chỉ đạo của Đảng, có mặt ở mọi cấp mọi nơi, trước hết là ở ngành Tư pháp, đặc biệt tập trung trong tay Ban Nội chính của Đảng, từ trung ương đến cơ sở, để tập trung chỉ đạo không chỉ các bộ phận có liên quan như công an, giám sát hay tòa án, mà cả từng vụ án lớn nhỏ. Với những bản án đã được định sẵn.

Như về báo chí, miệng thì nói tự do báo chí, luật thì viết báo chí tự do, nhưng đốt đuốc cũng không tìm đâu ra một tờ báo tư nhân, mà toàn là báo của các ban ngành đoàn thể của Đảng và Nhà nước, từ trung ương đến các địa phương. Đứng đầu mỗi tờ báo, mỗi Ban Biên tập báo phải là một đảng viên Cộng sản, có mấy trăm tờ báo là có mấy trăm đảng viên Tổng Biên tập, có bao nhiêu Ban Biên tập là có bấy nhiêu đảng viên trưởng ban, dù là báo cho trẻ con hay người lớn, dù là báo chí văn hóa văn nghệ, thể thao du lịch, làm ruộng,làm ăn buôn bán, hay vui chơi giải trí… Chưa kể hàng trăm đảng viên lớn nhỏ khác trong hàng ngũ các báo. Tất cả làm thành hội nhà báo, chia thành nhiều phân hội nhà báo, đứng đầu là những ông bà đảng viên Cộng sản có vai vế nhất. Còn báo nói và báo hình, đương nhiên cũng là thành viên của Hội Nhà báo, nhưng là thành viên công cụ chuyên chính hàng đầu của Đảng.

Báo chí tự do ở đây là như vậy đó, có thêm mấy chữ “xã hội chủ nghĩa” hay không cũng vậy.

Ở đây luật viết tự do lập hội, nhưng từ hội to hội nhỏ, cả hội làm vườn, nuôi chim nuôi cá, hay hội người mù, người già, người khuyết tật, hay hội đi chơi đi bộ… phần lớn cũng phải do một đảng viên Cộng sản đứng đầu làm hội trưởng. Có ông đảng viên “cỡ bự”, đi đứng đã khó huống hồ chạy bộ, nhưng cũng là hội trưởng hội điền kinh.

Ở đây, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, trên mọi lãnh vực, là “nói một đường làm một nẻo”.

Ở đây Quốc hội, được nói, được viết là nơi đại biểu cho quyền làm chủ của nhân dân, nhưng được Đảng Cộng sản chia nhau làm chủ rất kỹ. Tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội phải là đảng viên. Có đảng viên được cơ cấu chánh thức để được đắc cử, có đảng viên được cơ cấu để lót đường, không chịu cũng phải chịu, không được chạy, không được la, bởi ai biểu làm đảng viên. Các đảng viên lót đường này ngày càng cần, vì các ứng cử viên “tự ứng cử” ngày càng thưa, sau khi bị nhiều áp lực phải tự rút. Phải có đảng viên ứng cử thuộc loại lót đường vì phải có ít nhất hai ứng cử viên cho một ghế đại biểu, hay ba ứng cử viên cho hai ghế đại biểu. Để “coi cho được”, mà vẫn có phiếu “tập trung”. Không như “thuở ban đầu không cần e ấp ấy”, chỉ một ứng cử viên duy nhất cho một ghế đại biểu, để có phiếu tuyệt đối tập trung, nhưng mà “coi không được”. Số ứng cử viên “tự ứng cử”, tức không do Đảng Cộng sản đề cử, thường rất ít ỏi, lại bắt phải qua hai nấc lựa chọn sơ khởi là ở tổ dân phố nơi mình ở, và ở cơ quan nơi mình làm việc. Như vậy người dân hai nơi đó được biến thành cử tri hạng nhất được quyền “tín nhiệm” hay “không tín nhiệm” trước đa số các cử tri khác dựa vào mấy “tiêu chuẩn của người đại biểu Quốc hội” được ghi trong luật bầu cử, như “phải trung thành với Tổ Quốc”, “phải tôn trọng luật pháp”, hay “ phải sâu sát với cử tri”… Đó là những tiêu chuẩn phổ quát cơ bản mà mọi công dân bình thường lương thiện đều đạt, trước khi có những bằng chứng cụ thể ngược lại, chớ không riêng gì của các đại biểu Quốc hội. Còn tiêu chuẩn “sâu sát với cử tri” thì người tự ứng cử đương nhiên phải đạt hơn ai hết, bởi có ai sâu sát hơn khi nhà người ta đang ở đó, khi người ta đang làm việc ở đó? Những điều luật mị dân hết chê nổi. Vậy mà số ứng cử viên “tự ứng cử” cứ rụng như sung bị sâu. Trước hết là tự rút, vì không chịu nổi chuyện nhà chuyện cửa, chuyện con chuyện cái, có khi là chuyện con chó của nhà mình bị người ta đưa ra làm đề tài mổ xẻ… khi bị tổ chức đưa ra bình chọn ở tổ dân phố. Nếu không tự rút thì cũng có người của Mặt trận đến vận động, áp lực để rút.

Nút chặn then chốt là Mặt trận mà luật bầu cử viết hẳn là có quyền lựa chọn trước khi đưa ra cho cử tri bầu cử – một Mặt trận mà một 100% thường trực lãnh đạo, từ cấp trên đến cấp dưới là đảng viên Cộng sản. Kèm bên là một Đảng Đoàn Mặt Trận. Kèm trên là một Ban Dân vận Mặt trận. Rồi Đảng ủy Khối, Đảng ủy cơ quan…cho tới Đảng ủy thành, Đảng ủy tỉnh, Đảng ủy trung ương… Tất cả gộp lại làm thành một “thiên la địa võng” để chận bất cứ ai không là người của Đảng, không do Đảng cắt cử, để Đảng tha hồ một mình một chợ ở Quốc hội.

Cái Quốc hội ”một mình Đảng một chợ” đó được tổ chức như một “Đại hội các loại cán bộ, viên chức của Đảng và Nhà nước”. Trong đó có nhiều hạng, trên hết là hạng đại biểu là thành viên Bộ Chánh trị, hay ủy viên Trung ương Đảng, chót hết là lưa thưa vài cụ thuộc vài tôn giáo lớn được cơ cấu vô Quốc hội để làm đại biểu danh dự. Ngồi yên đó để vỗ yên đồng đạo và bá tánh.

Các thành viên của cái “Đại hội các loại cán bộ viên chức của Đảng và Nhà nước”, được gọi là Quốc hội đó, tất nhiên là không phân chia theo từng khối nhóm đại biểu cho các nhóm quyền lợi hay khuynh hướng chánh trị ngoài xã hôi, mà được phân ra từng đoàn theo các tỉnh thành nơi họ cư trú, ứng cử và đắc cử. Trưởng đoàn đại biểu, nếu không là người đứng đầu đảng hay chánh quyền, thì cũng là một đảng viên có vai vế nhất nhì trong Đảng ở địa phương, để phát ngôn, phát biểu thay đoàn hay chỉ định người phát biểu ở các diễn đàn Quốc hội, hay khi tiếp xúc cử tri được tổ chức định kỳ một năm vài lần. Không ai được phép xé rào, và trên thực tế chưa thấy ai dám xé rào…

Với một Quốc hội như vậy, độc có tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội là đảng viên của một độc đảng, tổ chức có hạng bậc trên dưới chặt chẽ, với kỷ luật thép của Đảng Cộng sản, thì thảo luận ở Quốc hội là gì? Với kỷ luật thép của Đảng, khi một chỉ thị nghị quyết của Đảng đã được ban ra thì mọi phê bình đối với quyết định đó đều bị coi là phá hoại chệch hướng. Các quyết định của Đảng thường là áp đặt từ trên xuống, đặc biệt từ một nhóm nhỏ gọi là Bộ Chánh trị, có khi chỉ từ vài người có thế lực trong Bộ Chánh trị. Vì vậy đại bộ phận các đảng viên có nói gì, bàn gì, cũng không hề ảnh hưởng gì đến quyết định của lãnh đạo Đảng, mà lãnh đạo Đảng cũng không hề biết, không cần biết tâm tư ý kiến của quần chúng đảng viên. Càng không cần biết tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân.

Một Quốc hội như vậy thường được gọi là một “hòm thư”. Nhưng “hòm thư” ở đây bị rỗng, vì nguyện vọng nhân dân đã bị chận từ ngoài cổng. Hoặc bị công an rượt đuổi từ ngoài đường, tận cổng các tòa án.

Trong tình hình như vậy mà lãnh đạo Đảng, cũng là lãnh đạo Quốc hội, lãnh đạo Chánh phủ, ký kết với bất kỳ ai, cả với Bắc Kinh hay với quỷ, bất cứ thứ gì rồi đưa ra cho các đại biểu Quốc hội thông qua thì có trời mà biết đó là cái gì…

Tôi là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1975 đến nay tổng cộng là 38 năm. Trong đó có 24 năm, từ 1975 đến 1999, là không có luật, và 14 năm, từ ngày 12 thang 6 năm 1999 đến nay, là có luật, gọi là “Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”. Nên tôi xin nói một chút về Luật Mặt trận.

Mặc dầu có Luật Mặt trận hay không có Luật Mặt trận thì cũng vậy thôi, cũng không ai thấy Mặt trận làm gì cho dân, ngoài việc cũng có một guồng máy đồ sộ từ trung ương đến địa phương cơ sở, song song với guồng máy đồ sộ của Nhà nước, song song với guồng máy đồ sộ của Đảng, cùng chia nhau xài chung ngân sách nhà nước, tức từ tiền thuế của nhân dân, để cùng làm nhiều việc của các hội đoàn xã hội từ thiện tư nhân, ngoài các việc do Đảng và Nhà nước giao, như lập hồ sơ và sàng lọc các ứng cử viên vào Quốc hội hay các Hội đồng. Và Ban Thường trực Trung ương Mặt trận thì định kỳ ngồi ký các văn kiện gọi là “liên tịch” với Chánh phủ để định kỳ tổ chức mần liên tịch tiếp.

Còn về “nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân” như được ghi ở Điều 2 của Luật Mặt trận thì không ai thấy “mặt ông Mặt trận” ở đâu hết, khi nông dân nhiều nơi bị cướp ruộng kêu cứu, khi công nhân nhiều nơi bị hà hiếp đình công “la làng”, khi người dân kêu gọi biểu tình chống bọn bành trướng Bắc Kinh cướp đảo, rượt bắt ngư dân nước ta, hay khi thanh niên sinh viên học sinh yêu nước đấu tranh bị đàn áp.

Hay về “nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước” cũng được ghi hẳn hòi ở Điều 2 của Luật Mặt trận, cũng không ai thấy tổ chức Mặt trận giám sát được gì từ mấy chục năm nay.

Nếu đã giám sát được ai hay chút gì, trong 38 năm qua, thì đâu đến nỗi ông Tổng Bí thư Đảng lãnh đạo cầm quyền phải “ngậm ngùi”, hay ông Chủ tịch nước phải ngập ngừng không thể nói ra, trước những sai phạm to đùng nào đó trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nứớc?

Tại sao Mặt Trận lại cứ ngó lơ trước những nhiệm vụ của mình được ghi rành rành trong Luật Mặt trận?

Bởi khi khơi khơi nêu hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ khác, mà không giao quyền, không giao phương tiện, thể hiện bằng luật pháp, để thi hành nhiệm vụ, thì chỉ để chơi thôi. Cả khi nêu lên quyền này quyền khác mà không có phương tiện luật pháp đi kèm để thực thi thì cũng như vô quyền. Như những quyền tự do cơ bản của người dân được ghi trong Hiến pháp mà không pháp chế hóa để bảo đảm thi hành thì coi như treo đó để phỉnh người dân mà thôi. Không chỉ phỉnh mà còn ngăn chận, bao vây, đàn áp, như khi người dân sử dụng quyền biểu tình hợp pháp bất bạo động để chống bành trướng Bắc Kinh.

Mặt trận còn làm ngơ một điều cơ bản nữa mà Luật Mặt trận ngay từ điều 1 đã kêu làm.

Tức là “phát huy quyền làm chủ của nhân dân… để góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.

Nhưng điều đặc biệt quan trọng nhất là người ta đã nuốt dần lời hứa “Đánh thắng giặc ta sẽ xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, tốt đẹp hơn”. Mà chỉ nghe thấy kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Cả hai thứ đều không hề thấy ở đâu, cả ở nơi mà cái nôi xã hội chủ nghĩa cũng đã bị vất từ lâu, trừ vài nơi người dân vừa bị đeo gông vừa hô khẩu hiệu “hoan hô lãnh tụ cha, lãnh tụ con, lãnh tụ cháu nội”.

Bởi không thể xây dựng tốt đẹp hơn, nếu không xây dựng đàng hoàng hơn. Và xây dựng đất nước đàng hoàng hơn là xây dựng một nền dân chủ đích thực, tức một hệ thống chánh trị tôn trọng sự công chính trong cạnh tranh quyền lực, tôn trọng tiếng nói, dư luận, tôn trọng phán quyết tối hậu của người dân bằng lá phiếu để có sự luân chuyển hay thay đổi quyền hành trong hòa bình, tôn trọng sự khác biệt chính kiến, sự khác biệt của người khác, có văn hóa tranh luận.

Bịt miệng, chụp mũ, trù úm, đàn áp… là tiếp tục không đàng hoàng, là làm ngược, là phản lại chính ông cha mình…Không thể có xây dựng đàng hoàng mà bóp chết tự do.

Khởi xướng, hay kêu gọi xây dựng dân chủ có đối lập, trong một xã hội dân sự tôn trọng quyền con người, có tình người, chính là tiếp nối lời kêu gọi xây dựng đất nước đàng hoàng hơn.

Đó không chỉ đơn thuần là một tổ chức chính đảng. Đó trước tiên là tinh thần dấn thân nhập cuộc, mở ra một con đường cho dân tộc thoát khỏi vòng xoáy của một hệ thống quyền lực luôn đe dọa mọi ý chí độc lập bằng bạo lực, sớm muộn sẽ đưa đất nước xuống hố diệt vong. Đó là một phong trào tập hợp mọi nỗ lực thiện chí muốn cống hiến cho đại cuộc, vì một nền dân chủ tự do độc lập thật sự cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Từng sống qua mấy chế độ khác nhau của miền Nam, từng biết qua ít nhiều vài chế độ dân chủ đây đó gần xa, tôi không hề có ảo tưởng về một chế độ dân chủ tuyệt đối, một hệ thống chánh trị tuyệt hảo ở bất cứ đâu.

Nhưng không thể không có tiếng la báo động trước sự mất còn của đất nước. Một hệ thống ngày càng chồng chất những cái không lương thiện, lại thêm lồng ghép với những nhen nhóm xã hội đen tối, kể cả mafia, ở đâu đó, là một vòng xoáy tàn khốc khó thoát đối với mọi người, mọi dân tộc.

Cái hệ thống của những điều không đàng hoàng gần như toàn diện hiện nay, nếu không sớm được thay đổi bằng một hệ thống dân chủ đích thực, sớm muộn sẽ đưa đất nước đến hố diệt vong, chắc chắn sẽ sớm đưa đến mất nước vào tay bành trướng Trung Quốc. Cái đáng sợ nhất là nó đánh mất linh hồn con người, linh hồn Việt Nam.

Đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, dân tộc Việt Nam thân yêu của chúng ta đã chịu nhiều “cải biến” quá rồi, đã đổ nhiều máu và nước mắt quá rồi. Và thế giới, trong đó có dân ta, đã kinh qua đủ thứ cách mạng rồi. Nên không có cách nào khác, nếu muốn sống còn, là tổ chức hợp tác bình đẳng giữa những con người tự do biết tôn trọng lẫn nhau./.

26-8-2013

H. N. N.

Hiện là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiệm kỳ 2009-2014

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn/web/vi-vn/print.aspx?cat_id=669&news_id=2884

“Ngày 08/12/2012, ông Hồ Ngọc Nhuận kêu gọi lãnh đạo Đảng và chính quyền thành phố, cùng với các đại biểu của nhân dân tham gia mít tinh trước Nhà hát lớn thành phố để phản đối những hành động gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông. Đây là lần đầu tiên một quan chức đương nhiệm trong chính quyền Việt Nam công khai kêu gọi tập hợp phản đối Trung Quốc[4].

Ông Hồ Ngọc Nhuận, ủng hộ ông Lê Hiếu Đằng kêu gọi thành lập chính đảng mới tại Việt Nam, rằng “chính đảng mới sẽ không nhằm chống đối Đảng CSVN, mà cùng hợp tác để thúc đẩy “xây dựng dân chủ cho nước Việt Nam””[. Trong một bài viết có cái tựa “Phá Xiềng”, ông kêu gọi các đảng viên ĐCSVN bỏ đảng ra nhập đảng mới Dân Chủ Xã Hội.”

Phá Xiềng: http://boxitvn.blogspot.de/2013/08/pha-xieng.html

Lê Hiếu Đằng Kêu gọi thành lập đảng mới ở VN:   http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/08/130816_vietnam_new_party.shtml

 

Posted in Đảng mới | Leave a Comment »

►Các ý kiến chung quanh việc thành lập đảng mới

Posted by hoangtran204 trên 30/08/2013

Baì này chia làm 3 phần. Phần 1 của blogger HNC, phần 2 là bài của ông LHĐ, và phần 3 là các ý kiến về thành lập đảng mới.

Ai Thay Lòng Đổi Dạ

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

Trang Ba Sàm tổng kết, đến hôm nay (29.8) đã có 18 bài viết trên hệ thống truyền thông độc quyền của đảng, phản biện lại việc “tính sổ cuộc đời” của ông Lê Hiếu Đằng và việc ông hô hào lập đảng mới để lành mạnh hóa hoạt động chính trị, để xây dựng xã hội dân sự và tiến đên dân chủ hóa đất nước.

Bài viết thì nhiều nhưng luận điệu phản biện thì giống hệt nhau, nghèo nàn và xơ cứng, đi lại cũng hô các khẩu hiệu: Con đường đi lên CNXH là chọn lựa duy nhất của dân tộc VN, đảng độc quyền lãnh đạo là tất yếu lịch sử, đảng đưa đất nước đi từ thắng lợi nầy đến thăng lợi khác, xương máu của hàng triệu đảng viên (?) góp phần làm nên thắng lợi nên đảng đời đời độc quyền lãnh đạo là đương nhiên, dân chủ VN theo kiểu của VN, dân chủ và nhà nước pháp quyền không cần đa nguyên, đa đảng sẽ đưa đến bất ổn chính trị và rối loạn xã hội…Rồi trên cái nền khẩu hiệu duy ý chí, phản khoa học và ngược ngạo ấy, các tác giả lý luận cung đình lại lặp lại cung cách truyền thống của những người bình dân nơi chợ búa vẫn làm khi muốn “phản biện ” đối thủ của mình: Thóa mạ, quy chụp, chửi bới về nhân thân cũng như động cơ của ông Lê Hiếu Đằng.

Mà xuyên suốt cả cuộc đời chiến đấu và lao động trong sáng vì lý tưởng của mình, ông Đằng đã không để lại chút vẩn cợn nào để họ bấu víu vào đó mà bôi nhọ. Lại thêm, khi viết những lời tâm huyết là lúc ông Đằng đang trong những ngày đối diện với cái chết không còn ham muốn gì với danh lợi cá nhân nên không có lý do để suy diễn và quy chụp động cơ của ông là đen tối. Cuối cùng họ chỉ biết cho rằng ông là người phản bội lại lý tưởng, phản bội đảng, là người thay lòng đổi dạ…

Điều duy nhất mà hàng lô những nhà lý luận cung đình, chuyên hay thời vụ, quy chụp được ông Lê Hiếu Đằng là ông đã thay lòng đổi dạ, phản bội lại lý tưởng mà ông đã theo đuổi.

Nhưng thử hỏi lý tưởng mà ông Đằng đã theo đuổi suốt cuộc đời của mình, từ hồi trai trẻ còn cắp sách đến trường cho đến lúc gần đất xa trời là gì?

Xem xét về những gì ông đã làm, đọc qua những gì ông đã viết, mọi người thấy ngay rằng lý tưởng theo đuổi suốt cả cuộc đời của con người nầy là: đấu tranh chống bất công, chống áp bức, chống xâm lược nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và hạnh phúc. Đó là lý tưởng chung của hàng chục triệu người VN yêu nước, cũng là lý tưởng của các phong trào Đông Du, Duy Tân, Việt Cách, Việt Minh… cũng là lý tưởng của các đảng phái chính trị: Quốc Dân, Đại việt, Cộng Sản…

Nhờ giỏi tuyên truyền, giỏi tổ chức, giỏi lợi dụng thời cơ, đảng CSVN đã vươn lên thu phục được nhiều người rồi đi đầu công trạng trong việc thực thi lý tưởng đã nêu. Lý tưởng đó của đảng CS phù hợp với lý tưởng của bộ phận lớn nhân dân VN, trong đó có người thanh niên Lê Hiếu Đằng cũng như bao thanh niên cùng trang lứa với anh ở miền Nam trước năm 1975. Một bộ phận thanh niên cũng như nhân dân miền Nam đi theo đảng CS là vì có sự phù hợp lý tưởng của nhau hoặc tưởng rằng có sự phù hợp.

Vấn đề đặt ra bây giờ là ai rời bỏ lý tưởng đó? Đảng CS hay những người đã và sắp bỏ đảng như ông Lê Hiếu Đằng?

Dưới sự lãnh đạo của đảng CS, nước VN thống nhất trong 38 năm qua đã có được những gì: Độc lập? Tự do? Dân chủ? Hạnh phúc? Công bằng? và Ấm no cho toàn dân? Hãy so sánh một cách biện chứng với chính thời gian 38 năm trong thời đại thay đổi với tốc độ tên lửa chứ đừng ngô nghê so sánh với thời điểm dừng 1975 khi trả lời câu hỏi trên.

Nhìn vào thực trạng đất nước hiện nay, ông Đằng đã đưa ngay câu trả lời. Đảng lãnh đạo hầu như lệ thuộc vào đảng Trung Cộng từ lý luận đến thực tiễn hành động. Đất nước thì bị đe dọa mất chủ quyền bởi vòng kim cô “4 tốt, 16 chữ vàng” để bị kẻ thù phương Bắc bao vây trên nhiều phương diện: Quân sự, ngoại giao, kinh tế và cả văn hóa nữa. Kinh tế thì suy sụp, xã hội thì đảo điên, áp bức bất công khắp mọi nơi, nạn tham nhũng thì càng ngày càng phát triển đến mức không còn cách để ngăn chặn…

Điều gì đã đưa đất nước đi đến thực trạng như vậy? Ông Lê Hiếu Đằng cũng như nhiều trí thức nhân sĩ trong và ngoài đảng đều có chung một nhận định: Do đảng lãnh đạo đã liên tục mắc vào các sai lầm mà không hề đúc kết rút kinh nghiệm để sửa sai. Từ trước đến nay đảng chưa hề có một lời xin lỗi với nhân dân về những sai lầm của mình. Từ đó, những người ấy nghi ngờ rằng đảng đã không còn đi trên con đường lý tưởng như ban đầu đã chọn lựa.

Hai con đường đã không còn phù hợp với nhau. Ông Đằng, giống như nhiều người khác, dù tuổi già sức yếu, lại không nghĩ ngơi vì phải tiếp tục đi theo con đường lý tưởng mà mình đã chọn lựa từ thuở ban đầu.

Ông vẫn trung thành với lý tưởng của mình tại sao lại bảo ông thay lòng đổi dạ?

Bài thứ 17 trên hệ thống truyền thông độc quyền của đảng, phản biện lại việc “tính sổ cuộc đời” của ông Lê Hiếu Đằng và việc ông hô hào lập đảng mới basam.info

►Lê Hiếu Đằng : Những điều nói rõ thêm…và Suy Nghĩ trong những ngày nằm Bịnh (bản có sửa chữa)

Posted in Uncategorized, Đảng mới | Leave a Comment »

►Đảng mới phải xuất hiện cái đã. Nhưng thời cơ đến chưa?

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Đỗ Thúy Hường

Nguồn: boxitvn.net

21-8-2013

Một đảng mới nếu xuất hiện công khai sẽ bị đảng Cộng sản dìm chết sớm nhất.

Đảng CS còn muốn dìm chết cả ý đồ lập đảng mới.

Không thể mơ hồ, ngây thơ chuyện này.

Từ xưa tới nay là thế.

Đảng của cụ Hoàng Minh Chính (bị dìm chết) là như vậy. Nguyên nhân là ra đời quá sớm, tình thế chưa cho phép. Thời cơ chưa chín.

Nhưng từ nay về sau lại chưa hẳn thế.

Vâng, NẾU (phải có “nếu”).

Nếu khủng hoảng phát triển ngày càng toàn diện (như hiện nay)…

Nếu nông dân, công nhân ngày càng bất mãn (như hiện nay)…

Nếu vụ tham nhũng nào cũng lòi mặt những đảng viên CS…

Nếu một số đảng viên CS già, có quá trình sinh hoạt lâu năm, có công trạng với đảng, với số lượng vài trăm, cùng lúc ra Tuyên bố lập đảng mớithì câu chuyện có thể rất khác.

Đây chính là thời cơ.

Sau đó ít tháng, nếu số lượng lên 500 hoặc 1000, đảng mới sẽ không thể chết nữa.

Do vậy, chúng ta đã có trong tay con số trên chưa? Phải là con số thật, chớ tính trên giấy. Cũng chớ tung toàn lực lượng ra quá sớm trong bước khởi đầu.

Người khởi xướng thích hợp nhất?

Hẳn đó là những người đã từng sống với Việt Nam Cộng hòa và thấy chế độ đó chưa đủ dân chủ (đúng vậy đấy), hy vọng chế độ miền Bắc sẽ khá hơn (theo sự tuyên truyền chính thức trước 1975), nhưng nay – sau 40 năm trải nghiệm – đã hoàn toàn thất vọng. Mọi góp ý với thái độ xây dựng, lễ phép, tôn trọng… đều bị vứt bỏ. Đơn giản như khái niệm nhân quyền mà Đảng Đỉnh Cao vẫn cố tình bóp méo. Thử hỏi, con trông mong gì sự phục thiện?

Nếu lợi dụng được Hiến pháp để lập đảng, tính chính danh sẽ càng cao. Đồng thời vạch rõ: Đảng CS cũng chưa thật chính danh. Nếu nó muốn được ghi vào Hiến pháp (như điều 4) trước hết dân ý phải cho kết quả “tán thành” nó lãnh đạo.

Kèm với “tuyên bố lập đảng” phải là một bản Cương lĩnh dễ hiểu, có những mục tiêu thiết thực, khả thi, đúng tâm nguyện nhiều người. Chớ quên nông dân, công nhân, tiểu thương, dân nghèo. Quả là cuộc sống dưới đáy, dân trí thấp, đồng bào chưa quan tâm những quyền lợi tinh thần (như trí thức quan tâm). Trí thức dễ xa dân là do vậy.

Hướng đồng bào vào mục tiêu xây dựng (tạo diễn biến hòa bình) hơn là hướng cái khối đồ sộ này vào mục tiêu căm thù bọn phản bội lời hứa thời xưa.

Được vậy, sẽ đỡ lo hỗn loạn xã hội.

Nội dung Cương lĩnh phải có một ý: Không chống đảng CS, mà thi đua lành mạnh với đảng CS trong thực hiện các mục tiêu mà “chính đảng CS – trên lời nói – cũng đang phấn đấu cho dân”.

Phải xuất hiện đảng mới, mới có thể ra báo và đưa người ứng cử Quốc hội. Đây mới thật là môi trường thi đua và cạnh tranh giữa các đảng chính trị. Một tờ báo, một đại biểu trong QH đủ làm cán cân nghiêng ngả. Tương lai, dân càng tín nhiệm, cán cân còn thay đổi lớn.

Vẫn hoan nghênh các đảng viên CS tiếp tục bỏ đảng, nhưng sinh lực của đảng mới phải trông vào lớp trẻ… Chỉ có đông đảo lớp trẻ mới hoàn thành mục tiêu khai dân trí, chấn dân khí… đặng thực hiện Cương lĩnh, xây dựng xã hội mới.

Mười năm nữa sẽ có lớp lãnh tụ trẻ.

Đây là chuyện dài, điều cần là phải có đột phá.

Nhưng vấn đề là cần có sự xuất hiện một đảng mới trong hệ thống toàn trị độc đảng. Đó là đột phá khẩu. Cửa đột phá chỉ cần duy trì một năm, đủ để nó tự mở toang, không thể ai bịt lại nữa.

Phải nhắc lại: Hãy thực tâm không chống lại đảng CS.

Chỉ cần đảng CS thay đổi căn bản. Nếu nó không thay đổi, đó là nó muốn tự sát. Thế thì, mặc… mẹ nó chết đi. Ai mà cứu nổi nó, một khi tự nó muốn chết?

Nó chết không vì ai giết, mà vì sẽ tới lúc không đảng viên CS nào muốn cùng chìm theo con thuyền chuyên chở Giáo, Mác, Lê.

Đ.T.H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN, Đảng mới | Leave a Comment »

►Các ý kiến về sự kêu gọi thành lập đảng Dân Chủ Xã hội ở Việt Nam của ông Lê Hiếu Đằng

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2013

Đảng của những người bỏ Đảng

21-8-2013

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

Chia sẻ bài viết này

Sau khi thoát cơn bịnh nặng rồi viết “bảng quyết toán” để tính sổ với đảng, người đảng viên có trên 40 năm tuổi đảng là bác Lê Hiếu Đằng được đồng chí của mình là bác chủ tịch nước tặng cho một liều thuốc cực quý để tiếp tục chữa cho dứt bịnh. Nghe nói đó là loại thuốc quý hiếm chỉ được dùng cho các BCT.

Nghe được chuyện ấy, các bạn bè thân thiết của bác Đằng mới khuyên bác đừng nên dùng, hãy gởi lại cho BCT dùng vì hiện nay chỉ các vị ấy mới cần thuốc chữa bịnh.

Riêng tôi thì cho rằng, thuốc ấy cũng chẳng chữa được bịnh của các vị ấy. Bịnh nặng lắm rồi, muốn chữa phải dùng thuốc đặc trị chữa đúng bịnh chứ không phải dùng thuốc quý.

Vậy thuốc đặc trị cho các vị ấy là thuốc gì? Xin thưa đó chính là thang thuốc nam mang tên Lê Hiếu Đằng.

 

Ông Lê Hiếu Đằng trong lần tham gia biểu tình với các bạn trẻ 

Đảng bịnh nặng lắm rồi. Hai vị đứng đầu của đảng là bác Tư Sang và bác Trọng Lú đã công khai công nhận điều đói. Nhiều bịnh lắm nhưng bịnh có tính quyết định cho sự sống còn của đảng là bịnh tham nhũng. Ở đây xin đi lạc đề để bàn chữ “lú” một tí chứ có người chưa biết chuyện lại hiểu nhầm ý tốt của tôi. Gắn chữ lú vào bên cạnh tên bác Trọng, theo như bài báo chính thức trên lề đảng là tỏ ý ca tụng bác là người cực kỳ trong sạch chứ không phải chê bai bác là lú lẫn. Theo bài báo ấy vì bác quá sức trong sạch, trong sạch một cách kỳ lạ, dân gian không còn từ gì để ngợi ca nên phải sáng tạo ra từ mới là “lú” để dùng. Lú nầy đồng âm với lú kia nhưng dị nghĩa.

Qua đó thấy rằng bác Trọng rất rất trong sạch. Bác Tư cũng được xem là trong sạch. Hai bác đều trong sạch nên rất mạnh khỏe. Mạnh khỏe nên chưa nhóm bịnh dù đang sống trong một môi trường rất bịnh. Do vậy không còn ai xứng đáng hơn hai bác ấy trong việc đứng lên phất cao ngọn cờ chống bịnh, đặc biệt là bịnh tham, là căn bịnh trầm kha đang đến hồi phát tác khủng khiếp.

Hai bác ấy rất có tâm, có lòng với đảng, rất nhiệt tình lo chữa trị cho đảng nhưng khổ nỗi hai bác ấy lại dùng các phương thuốc quá cũ để chữa trị. Cái bịnh tham bây giờ nó biện chứng phát triển đến mức siêu việt theo sự phát triển của thời đại rồi. Mỗi lần nó ăn là ăn đến hàng trăm, hàng ngàn tỉ. Và cách ăn của nó cũng rất. ..công khai minh bạch. Ăn qua chính sách, ăn qua cách ra nghị định và thông tư, ăn qua dự án, ăn qua nhóm lợi ích, ăn qua các công ty sân sau, ăn qua các ngân hang, ăn qua đấu thầu công khai…nghĩa là có muôn trùng cách ăn và ăn rất dễ dàng là nhờ vào chính cơ chế vận hành để sinh tồn của đảng.

Vậy mà hai bác trong sạch lại dung liều thuốc phê và tự phê, là cái bài thuốc của ông lang Mao du nhập vào VN cách đây hơn nửa thế kỷ chỉ dùng để bôi ngoài da cho các vết lở gây ra bởi bệnh tham lúc còn sơ khai cho đỡ ngứa tạm thời chứ không dứt được căn nguyên. Ngay với cái bệnh tham thời sơ khai chỉ ăn vài cân thóc, vài lạng thịt, vài tờ tem phiếu thì liều thuốc ấy cũng không chữa dứt được, huống chi là chữa cái bịnh tham đã tiến hóa lên đến mức siêu việt như ngày nay cùng những biến chứng tinh vi của nó.

Để chữa bịnh tham, thế giới đã có bài thuốc mà hầu hết quốc gia tiên tiến đang sử dụng rất hiệu nghiệm. Một nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, một xã hội dân sự, một nền kinh tế thị trường minh bạch là thang thuốc cực tốt để đẩy lùi bịnh tham nhũng.

Thật ra bác Lê Hiếu Đằng không phải là một thang thuốc, nhưng những bước đi của bác đang cùng mọi người góp phần đấu tranh cho sự hình thành một thang thuốc hiện đại để chữa bịnh cho cả quốc gia.

Từ lâu, nhiều đảng viên đã nhìn thấy căn bịnh của đảng đang phát tác và lây lan khắp nơi nên tự cứu mình bằng cách bỏ đảng chạy ra ngoài. Số lượng đảng viên bỏ đảng chưa có thống kê chính thức, nhưng tính từ năm 75 nghe đồn cứ lai rai gộp lai đến bây giờ cũng ra một con số không nhỏ. Hiện nay theo như bác Đằng nói thì có khá nhiều người đang muốn ra và dường như họ muốn rũ rê nhau cùng công khai tuyên bố ra một lúc vào một ngày đẹp trời nào đó.

 

Hai ông Huỳnh Nhật Tấn và Huỳnh Nhật Hải là hai đảng viên bỏ đảng rất sớm 

Ra rồi thì có thể cứu được bản thân mình. Nhưng còn đảng và dân chúng thì sao. Căn bịnh của đảng không chỉ lây lan trong đảng mà còn di căn ra ngoài xã hội. Xã hội hiện nay cũng bịnh quá rồi. Đâm, chém, cướp, hiếp, lừa đảo, mại dâm, ma túy… tràn lan khắp nơi. Các bác ra khỏi đảng nhưng còn thấy mình có trách nhiệm với đảng và quan trọng là với xã hội và đất nước. Phải chăng vì vậy mà các bác ấy muốn làm cái gì đó để cứu đảng, cứu nước, cứu dân?

Vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, những năm cuối cùng của chế độ cộng sản Xô Viết, một nhà văn nào đó của Liên Xô dấy lên chuyện lập đảng cho những người không đảng. Tôi không còn nhớ rõ, đại khái ông nói rằng đất nước Xô Viết với hơn 400 triệu dân mà chỉ có một đảng dành riêng cho 20 triệu đảng viên vì vậy nên có một đảng dành cho những người không đảng còn lại để nhằm vào mục tiêu cứu nước Liên Xô vĩ đại. Nhưng đảng ấy chưa kịp lập ra thì chế độ Xô Viết đã ngã ra đột tử vì bịnh đã quá nặng, hết phương cứu chữa.

Bây giờ thì bác Đằng và bác Nhuận hô hào lập đảng từ những người bỏ đảng. Khi chuyện nầy nổ ra đã tạo nên những phản ứng đa chiều trong dư luận.

Ủng hộ, công kích, nghi ngờ…thôi thì đủ kiểu suy diễn. Có vài chiều ý kiến từ chính những người đã bỏ đảng hoặc chuẩn bị bỏ đảng đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Theo một luồng ý kiến thì thời cơ chưa chín mùi để ra đời một cái đảng như vậy (nhưng không biết khi nào thì chin mùi?). Một luồng ý kiến khác thì cho rằng liệu pháp của hai bác Đằng- Nhuận là quá sốc đối với một cơ thể đã quá già nua và đang bịnh nặng. Gộp từ hai luồng ý kiến đó đã phát sinh ra một luồng ý kiến nữa là nên chăng đưa ra một liệu pháp ít sốc hơn là thay vì lập đảng thì lập một phong trào rộng rãi gì đó để vận động nhiều người tham gia để cùng nhau cứu nước, cứu dân.

Theo Hiến Pháp thì mọi công dân đều có quyền tự do lập đảng, lập hội, lập nhóm. Tuy nhiên từ sau năm 75 đến nay chỉ thấy hai đảng chính trị hợp pháp là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội bị giải tán chứ chưa thấy một tổ chức chính trị nào có đường lối độc lập với đường lối của đảng CSVN được ra đời hợp pháp. Nhiều tổ chức nhen nhóm ra đời đã nhanh chóng bị dập tắt. Từ đảng Dân Chủ phục hoạt của cụ Hoàng Minh Chính đến nhóm 8406… thậm chí đến một câu lạc bộ ngành nghề như câu lạc bộ Báo chí Tự do cũng không thể nào được phép hoạt động và những người khởi xướng là Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn đều đang bị nằm tù như mọi người đã biết.

Từ đó dư luận không tin rằng tổ chức chính trị mà hai bác Đằng- Nhuận hô hào khởi xướng sẽ ra đời được.

Tuy nhiên cũng có một luồng dư luận nhỏ hơn cho rằng, tình hình đang càng ngày càng thuận lợi, có vài tín hiệu cho thấy đã đến lúc phải tỏ ra cởi mở và thay đổi. Miến Điện đã làm được và không gây ra xáo trộn gì, sự xuất hiện của phe đối lập không những không làm cho phe cầm quyền ngã lăn ra đột tử mà còn làm cho họ tăng thêm uy tín trong dân và dưới mắt bạn bè thế giới. Miến Điện làm được thì lý gì Việt Nam anh hùng tài giõi hơn lại không làm được.

Nhưng dù cho đảng của những người bỏ đảng ấy không lập ra được vì lý do nào đó thì tiếng hô hào của họ cũng giúp đánh tan được phần nào nỗi sợ hãi đang bao trùm, cũng là góp tiếp những bước đi cho sự hình thành xã hội dân sự.

—————————

Việc công khai kêu gọi thành lập đảng ở Việt Nam của ông Lê Hiếu Đằng là một bước tiến về chính trị

21-8-2013

Khách Dân Luận

Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi. Tựa đề do BBT Dân Luận đặt.

Chia sẻ bài viết này

Với tôi, như đã nêu lên trong một còm ở đâu đó trên Dân Luận, rằng, bất kể cái đảng mà ông Đằng đang PR là như thế nào, cứu cánh ở đâu, phương thức tiến hành ra sao… tôi vẫn ủng hộ sự ra đời của nó.

Đảng CS hiện đang là đảng DUY NHẤT, các đảng từng có, dẫu là bù nhìn đã bị giải thể. Bây giờ, nếu có cơ hội phục hoạt, hoặc lập một hay nhiều đảng mới để CÓ MẶT (chỉ cần có mặt, khoan hãy nói đến cạnh tranh), đó đã là một bước tiến. Bước tiến nhỏ nhưng quan trọng. Bước tiến từ KHÔNG thành CÓ.

Lúc này còn quá sớm để nói TIN hay KHÔNG TIN ông Đằng, hay ông nào đó phía sau ông ĐẰNG. Lại càng quá sớm để đánh giá hiệu quả của hành động kêu gọi này.

Dĩ nhiên là, ai cũng có quyền nói TIN hay KHÔNG TIN một ai đó, dù chỉ giáp mặt lần đầu, thậm chí chưa kịp gặp. Đó là quyền tuyệt đối riêng tư. Nhưng, liệu có là hành vi đúng đắn hay không, khi mở miệng là ra mùi đấu tranh dân chủ, nhưng lại chăm chăm nghĩ là những người cũng đang (nói) đấu tranh dân chủ khác là ngụy, là giả dối, là cò mồi. Hơn nữa, lại la làng trước thanh thiên bạch nhật chứ không phải trong vòng thân hữu.

Tôi lặp lại, kể cả khi, “lực lượng” phía sau ông Đằng, ông Nhuận là ai (xấu nhất, nguy hiểm nhất, là của Tàu Khựa giả danh), thì việc CÓ MẶT CHÍNH THỨC một chính đảng ngoài đảng CSVN hiện nay, đều là một tiến bộ cho môi trường chính trị ở nước ta.

Việc quan trọng nhất bây giờ là hành động như thế nào để thúc đẩy việc HIỆN DIỆN CHÍNH THỨC càng nhanh càng tốt. Sau đó, đánh giá nó như thế nào mới là việc tiếp theo. Cho là quý vị KHÔNG TIN, thì cứ để cho nó ra đời, thành hiện thực đi đã, rồi lúc đó tha hồ mà phán, chẳng hạn, tôi đã bảo mà, tôi đã biết trước cơ mà…

Quý vị có mất gì đâu, hỡi những người luôn chứng tỏ rằng mình là người đấu tranh cho dân chủ. Những rủi ro sẽ xảy ra cho người khác chứ chắc chắn không xảy ra cho quý vị. Có thể quý vị vì lo lắng cho những thanh niên trẻ trung ngây thơ trong sáng tối mắt vì nông nỗi để bị mắc lừa, đó cũng là một thiện ý. Nhưng,…

Hôm qua tôi vừa đọc một bức tâm thư của Hieu Minh’s blog lên tiếng khuyên nhủ vỗ về cô gái trẻ P.Uyên. Không loại trừ đây là thiện ý đơn thuần của một bậc cha chú. Nhưng, kể cả khi điều đó là sự thật, nó cũng không bào chữa được sự lệch lạc của nội dung bức thư. Xin lặp lại, hãy cố mà tập cho cái thói quen cha chú, trưởng lão đi vào dĩ vãng. Hành động của mỗi cá thể trưởng thành trong xã hội ngày nay hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của chính họ. Họ có thể đúng, có thể sai, và họ thừa bản lĩnh để giơ vai giơ trán ra chịu trách nhiệm. Thời điểm mất còn của nền dân chủ, thậm chí cả sự tồn vong của một dân tộc đang lừ lử tiến đến. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách kia mà. Tại sao một thanh niên đầy đủ năng lực, đầy đủ sự sáng suốt bình thường, lại không có quyền lên tiếng đấu tranh cho cái sự tồn vong ấy?

Thôi đi quý vị ạ. Nghi thì cứ nghi, vẫn có quyền ngờ, nhưng hãy biết mở lòng ra để thấy, có hằng trăm con đường thể hiện lòng yêu nước. Chả phải chỉ có ai cùng chí hướng, cùng phương cách với quý vị mới là người yêu nước.

Tôi cũng chưa chắc đã tin nhiều hơn quý vị đối với ông Đằng, ông Nhuận, nhưng, tôi không muốn làm bất cứ gì, nói bất cứ gì có thể làm thui chột đi cái sức sống còn không nhiều của những ông già 70.

Mấy ngày tới đây, tôi hy vọng nghe được tiếng nói của ông Huỳnh Tấn Mẫm nữa cơ. Người sinh viên đấu tranh nổi tiếng cách đây đã mấy chục năm, người luôn sát cánh với ông Đằng thời gian gần đây trong các cuộc biểu tình chống Tàu khựa. Có vẻ như các ông đã thỏa thuận với nhau từng bước hành động bao giờ, ở đâu, việc gì…

Kể cả khi một hoặc nhiều ông bị TAI NẠN BẤT KỲ.

Hãy để cho các ông ấy được quyền thốt lên câu:

ĐI CHẾT ĐI CÁI ĐẢNG CSVN KIA!

 ———————

Từ đầu năm đến nay đã có rất nhiều người trong đó bao gồm cả những đảng viên cộng sản tỏ chính kiến công khai trên các báo chí chính thống trong nước như Vietnam.net, VnExpress, đề xuất bỏ Điều 4 ra khỏi Hiến Pháp 1992. Chúng ta hãy cùng nhau điểm lại tình hình.

Ngày 14/1/2013, ông Trần Đình Nhã, Uỷ ban quốc phòng-an ninh của Quốc hội nói với báo chí: ”Chưa bao giờ từ tham nhũng xuất hiện với tần số nhiều như ở thời điểm này. Tham nhũng đang thách thức sự kiên nhẫn và sức chịu đựng của nhân dân“.

Ngày 27/2/2012, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài: ”Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng“ đã viết: ”Bây giờ trong Đảng cũng có phân hoá giầu-nghèo. Dư luận xã hội bức xúc nhất là tham nhũng, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm“. Ông Trọng còn nói: ”Về nguyên nhân thì nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Về tính chất của những tệ nạn đó là nghiêm trọng. Về phạm vi là tương đối phổ biến, trong đó có cả một số cán bộ cao cấp. Về xu hướng là diễn biến phức tạp. Về hậu quả là làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng“.

Ông Trương Tấn Sang, đương kim Chủ tịch nước nói về nạn tham nhũng như sau: ”Trước đây chỉ có 1 con sâu làm rầu nồi canh. Nay thì nhiều sâu lắm. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, nay cả 1 bầy sâu thì chết cái đất nước này“.

Từ khi chủ nghĩa Mác được ĐCSVN điều chỉnh, cho phép đảng viên cộng sản kinh doanh, trở thành nhà tư bản tư nhân, thì những thủ đoạn làm giầu bất chính của những người có chức vụ, có quyền, nhằm tích tụ tư bản ban đầu như ở giai đoạn tiền tư bản chủ nghĩa hoang sơ man rợ, không phân biệt trắng trợn hay tinh vi xảo quyệt, ngày càng lan rộng trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ.

Đất nước đang cần nhiều người có đức có tài ra gánh vác việc nước nhưng môi trường tham nhũng, bè phái, lợi ích nhóm không phải là môi trường có khả năng tập họp những người vừa có đức, vừa có tài.

Ông Trần Viết Hoàn, cử tri Hànội đã nói với đại biểu Quốc hội: ”Dân ta coi tham nhũng là giặc nội xâm, là quốc nạn, là giặc nằm trong lòng“.

Ngày 26/2/2013, ông Nguyễn Đăng Tấn nói với báo chí: ”Hiên nay chống tham nhũng là vấn đề cốt tử nhất mà nhân dân quan tâm, nhưng cho đến nay, mỗi lần tổng kết chống tham nhũng, chúng ta vẫn nói chỉ mới đạt được kết quả bước đầu“.

Năm 2011, trong lễ nhậm chức Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: ”Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng thì tôi xin từ chức ngay“. Tuy nhiên cho đến nay tình hình tham nhũng càng nghiêm trọng và phổ biến trong xã hội.

Tại sao nạn tham nhũng có mặt ở tất cả các quốc gia nhưng các quốc gia khác thì diệt được nạn tham nhũng nhưng ở Việt Nam thì không làm được như vậy?

Ngày 01/12/2012, TBT Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri Hà Nội: ”Đảng đã tiến hành tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết trung ương 4 nhưng “nhiều vị không chịu thừa nhận khuyết điểm sai lầm“. Ông Trọng còn nói: ”Chỉ ra bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên đã suy thoái đạo đức là bao nhiêu thì trừu tượng quá và cũng khó tách bạch ai nằm trong bộ phận đó“. Ông Trọng nói thêm: ”Rất khó để ai đó nhận ra khuyết điểm của mình“Như thế có nghĩa là ĐCSVN đã thất bại khi chỉ dựa vào giám sát nội bộ, tự cho phép mình đứng ngoài sự kiểm tra giám sát thực sự của nhân dân và pháp luật.

Ngày 12/6/2010, khi là Phó Thủ tướng, ông Nguyễn Sinh Hùng nói trước Quốc hội: ”Hôm nay thấy sai chỗ này một chút thì xử lý cách chức đi, kỷ luật đi. Ngày mai thấy sai chỗ kia một chút thì xử lý cách chức đi, kỷ luật đi thì lấy ai mà làm viêc, các đồng chí?”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng thì nói: ”Đồng chí Phạm Văn Đồng là người làm Thủ tướng lâu nhất, có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào cả, Chắc là tôi phải học theo đồng chí Phạm Văn Đồng“.

Nhưng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Thắng, Học viện chính trị-hành chính quốc gia TP Hồ Chí Minh ngày 31/1/2013 thì chỉ ra đích danh với báo chí rằng: ”Chỉ những người có chức, có quyền, những cán bộ công chức nắm trong tay quyền, tiền, của cải thì mới có khả năng tham nhũng, mà tuyệt đại đa số là đảng viên“.

Ngày 14/1/2013, Bà Lê Thị Nga, Uỷ ban tư pháp của Quốc hội nói với báo chí: ”Tham nhũng về bản chất là sự lạm dụng quyền lực, là sự tha hoá quyền lực bởi những người có chức, có quyền trong bộ máy Nhà nước nhằm lợi ích riêng. Muốn chống tham nhũng thì phải kiểm soát quyền lực. Quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân. Quyền lực của Nhà nước là quyền lực phái sinh, do nhân dân trao cho. Quyền lực nếu không được kiểm soát sẽ trở thành tha hoá. Để chống tham nhũng, quốc gia nào cũng buộc phải xây dựng cho được thể chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả“.

Ngày 11/1/2013, ông Vũ Oanh, nguyên uỷ viên Bộ chính trị ĐCSVN đã nói với báo chí: ”Khi đặc quyền, đặc lợi quá lớn sẽ dẫn đến hiện tượng mua quan, bán chức, cán bộ suy thoái đạo đức và sẽ dẫn đến tham nhũng. Cơ chế của ta đã tạo ra đặc quyền đặc lợi lớn. Có xử lý được vấn đề này mới có thể chống tham nhũng được“.

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo: ”Đảng cần xem lại cả về tâm và tầm để liệu xem Đảng thật sự có đạo đức, có văn minh, là trí tuệ, là thiên tài chưa?”.

Ngày 23/1/2013, ông Bùi Đức Lại, chuyên gia cao cấp của Ban tổ chức trung ương đã nói với báo chí: ”Chỉ từ Hiến pháp 1980 mới có Điều 4 nói về vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước đó Hiến pháp nước ta chưa có điều khoản nào tương tự nhưng không vì thế Đảng cộng sản Việt Nam mất quyền lãnh đạo. Đảng cộng sản Liên Xô dù vẫn giữ được điều khoản tương tự trong Hiến pháp của họ nhưng vẫn không tránh được thất bại. Các Đảng cộng sản Đông Âu cũng vậy. Vì thế ở đây là vấn đề Chính Đảng lãnh đạo có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương sứ mệnh được nhân dân uỷ thác hay không “. Ông Bùi Đức Lại còn nói: ”Trong Nhà nước pháp quyền của dân và vì dân thì dân là chủ thể quyền lực. Vai trò Đảng cộng sản lãnh đạo Nhà nước về bản chất là do nhân dân uỷ thác cho Đảng. Không thể đặt vấn đề Đảng lãnh đạo đứng trên hay đứng ngoài Hiến pháp và Pháp luật. Đảng không những phải tôn trọng mà còn phải chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp và Pháp luật bình đẳng như mọi chủ thể chính trị khác và chịu sự giám sát của nhân dân.

Ngày 6/2/2013, ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã nói với báo chí: ”Việc Đảng chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình cần được Luật hoá“. Ông nói thêm:

”Tình hình hiện nay rất nguy hiểm. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên trong đó có cả một số cán bộ cao cấp là vô đạo đức, tham nhũng, vơ vét của dân. Đó là điều không thể chấp nhận“.

Các ông Phạm Xuân Hằng nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hoàng Thái và Lê Truyền nguyên uỷ viên trung ương MTTQVN và ông Nguyễn Khánh nguyên Phó thủ tướng đều đã thông qua báo Vietnamnet ngày 19/2/2013 tỏ ý kiến đồng tình với sự cần thiết có Luật về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng.

Nhưng giả sử có Luật về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng thì giám sát bằng cách nào?

Ông Vũ Oanh đã chỉ ra rằng “Cơ chế của ta (do ĐCSVN tạo nên) đã tạo ra đặc quyền đặc lợi lớn. Đó là 1 trong những nguyên nhân quan trọng làm cho cán bộ, Đảng viên suy thoái đạo đức, dẫn đến tham nhũng“.

Thực trạng hiện nay là trong hệ thống cơ chế đó, điều 4 của Hiến pháp 1980 và của Hiến pháp 1992 chính là cái gốc tạo ra đặc quyền đặc lợi, bởi 2 lẽ:

Thể chế chính trị một Đảng cầm quyền vốn thường đẻ ra chuyên quyền độc đoán, dùng quyền lực thay cho chân lý, thay Pháp luật trong chỉ đạo và điều hành. Theo Điều 4 Hiến pháp thì chỉ ai là đảng viên cộng sản mới được cất nhắc lên những vị trí thật sự có chức có quyền, nắm giữ những quyền lực có khả năng chi phối tiền bạc, tài sản công để tham nhũng mà rất khó bị phát hiện và ngăn ngừa. Những kẻ muốn có những đặc quyền đặc lợi đó tất yếu sẽ tìm mọi cách, kể cả những thủ đoạn gian manh, hối lộ, mua chuộc để được vào Đảng và đến lượt họ, bằng chính kinh nghiệm của mình, khi đã vào Đảng, họ không bao giờ thực sự trở thành công bộc của dân. Giám sát họ không dễ dàng.

Ngày 31/1/2013, Tiến sĩ Tống Đức Thảo (Viện chính trị học) nói với báo chí: ”Một trong những quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân là quyền được quyết định chọn lựa các đại diện thể hiện ý chí của mình, đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được uỷ quyền không thi hành đúng ý nguyện của nhân dân“. Nhưng cơ chế nào bảo đảm cho sự thực hiện cái quyền đó?

Ông Đỗ Mười đã có sáng kiến thiết kế ra “Quy chế dân chủ ở cơ sở“ để cho dân được bày tỏ ý kiến của mình trong các buổi họp Tổ dân phố với Tổ trưởng phải là đảng viên, hoặc tham gia biểu quyết trực tiếp bằng cách giơ tay hoặc không giơ tay tán thành. Với những vấn đề “thuộc loại nhạy cảm“ như chống tham nhũng, chắc rằng không ai dại dột sử dụng Quy chế dân chủ cơ sở của ông Đỗ Mười để mang vạ vào thân. Với Quốc hội Việt Nam, 90% Nghị sĩ là đảng viên cộng sản, cũng không người dân nào muốn gửi tiếng nói của mình thông qua Quốc hội về những vấn đề gọi là “nhạy cảm“ như chống tham nhũng.

Ngay ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Sinh Hùng không muốn kỷ luật ai cũng có cái lý của hai ông. Các Bộ trưởng giúp việc và các quan chức đầu Tỉnh, đầu Thành phố trực thuộc trung ương, dưới quyền hai ông đều ít nhất là uỷ viên trung ương Đảng. Làm phật lòng họ, hai ông có thể mất phiếu và do đó mất chức mất quyền. Như vậy, nếu có Luật về Đảng thì cái cơ chế hiện nay không tạo được thuận lợi cho sự giám sát sự thực thi Luật đó.

Những ý kiến trên đây là của những đảng viên cộng sản đã được đăng công khai trên các báo chính thống.

Làm thế nào để có thể giám sát có hiệu quả?

Ngày 19/2/2013 ông Trần Đức Thuận, nguyên phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội nói với báo chí: “Một Đảng cầm quyền nên chấp nhận cạnh tranh. Chấp nhận cạnh tranh chính là chấp nhận sự tự rèn luyện để ngày càng trưởng thành, trong sạch và vững mạnh. Nhân dân sẽ giúp Đảng loại bỏ những phần tử suy thoái tư tưởng, biến chất, tham nhũng“. Chấp nhận cạnh tranh tất yếu phải chấp nhận đa nguyên, đa đảng, phải bỏ điều 4 ra khỏi Hiến pháp 1992 . Như vậy, việc thành lập Đảng mới Dân chủ xã hội ở thời điểm này để giúp Đảng cộng sản rèn luyện ngày càng trong sạch, vững mạnh là việc làm hợp lòng dân, trong đó có rất nhiều Đảng viên cộng sản chân chính, trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng trong 3 yếu tố quyết định sự thành công là “thiên thời, địa lợi và nhân hoà“.

Hoàng Lô Giang

nguồn danluan.org

Posted in Đảng mới | 2 Comments »

►Lê Hiếu Đằng : Những điều nói rõ thêm…và Suy Nghĩ trong những ngày nằm Bịnh (bản có sửa chữa)

Posted by hoangtran204 trên 19/08/2013

19/08/2013

Những điều nói rõ thêm…

 

Lê Hiếu Đằng

clip_image002Sau khi bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh của tôi và bài viết Phá xiềngcủa nhà báo Hồ Ngọc Nhuận đăng tải trên các trang mạng, một số bạn bè, đồng đội, nhân sĩ trí thức, nhà báo…, hoặc qua điện thoại hoặc gặp trực tiếp tôi đặt một số vấn đề, khiến tôi thấy cần làm rõ thêm về những suy nghĩ của mình.

Trong tình hình đặc biệt cần có những biện pháp đặc biệt, những liệu pháp “sốc” để đẩy nhanh quá trình phát triển theo chiều hướng dân chủ, tiến bộ để hội nhập thực sự vào dòng chảy hiện nay trên thế giới.

Tôi còn nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói ý này trong một cuộc gặp gỡ với một số nhân sĩ, trí thức và anh em trong phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh trước năm 1975, được thường xuyên tổ chức vào ngày 30 tháng 4 hàng năm – ngày mà theo cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt “có triệu người vui, có triệu người buồn”.

Thế thì tình hình đặc biệt hiện nay là gì? Có thể nói một cách khái quát là Việt Nam đang rơi vào một cuộc tổng khủng hoảng sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lãnh vực mà nhiều chuyên gia, nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà báo trong cũng như ở nước ngoài đã phân tích. Tôi chỉ xin nêu một số tình hình sau đây.

Nền kinh tế của chúng ta đang trên bờ vực thẳm do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu là do sự lãnh đạo và điều hành yếu kém của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, những tập đoàn, những nhóm lợi ích đang càng ngày lũng đoạn, chi phối nhà nước một cách nghiêm trọng; tệ nạn tham nhũng, lãng phí tràn lan không thể nào ngăn chận, làm thất thoát không biết bao nhiêu của cải, tài sản của nhân dân. Về vấn đề này, nhiều bài báo, nhiều phát biểu của các chuyên gia kinh tế trong nước và ở nước ngoài đã phân tích một cách sâu sắc với những cứ liệu cụ thể, tôi không nói gì thêm.

Đạo đức xã hội, trong đó những giá trị truyền thống của dân tộc, của gia đình bị xoáy mòn dữ dội trước lối sống thực dụng, giả dối, chạy theo chức vụ, đồng tiền của đông đảo cán bộ, đảng viên và một bộ phận nhân dân. Đặc biệt hai lãnh vực liên quan đến sự hình thành nhân cách và thể chất con người là giáo dục và y tế ngày càng bị thương mại hóa một cách tàn nhẫn, nên đã xuống cấp nghiêm trọng và toàn diện, không phương cứu chữa.

Sự phân hóa xã hội giàu nghèo ngày càng dữ dội. Một bộ phận nhỏ giàu lên nhờ tham nhũng, buôn lậu, mua quan bán tước. Còn đại bộ phận nhân dân, nhất là nông dân, công nhân, những người lao động, cuộc sống vô cùng khó khăn, mất đất mất nhà, phải ly hương khắp nơi, đôi lúc phải cho con em đi lao động nước ngoài như một lối thoát cho gia đình. Thậm chí một số nữ thanh niên rơi vào những địa ngục lao động tình dục đầy thương tâm, mất đi phẩm giá, danh dự của những công dân Việt Nam mà nhà nước phải có trách nhiệm bảo hộ.

Đảng Cộng sản Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng về lý luận và đường lối nghiêm trọng, với một nền “chính trị cường quyền” – chữ mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ám chỉ đường lối chính trị của Trung Quốc hiện nay nhưng đau xót thay, lại được áp dụng triệt để cho nhân dân Việt Nam. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng xa dân, mất lòng dân, không có khả năng tự điều chỉnh, thay đổi.

Với kinh nghiệm của một người hoạt động trong hệ thống chính trị hiện nay dưới sự lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều năm, tôi xin chứng minh khả năng tự điều chỉnh, thay đổi của Đảng Cộng sản Việt Nam là không có, hoặc nếu có thì phải có những điều kiện nhất định.

– Lúc tôi còn là Phó Chủ tịch thường trực và là Ủy viên Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM, có buổi làm việc với ông Lê Quang Đạo, lúc đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ông Phạm Văn Kiết (Năm Vận), Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký của Mặt trận Trung ương. Trong cuộc họp, hai ông đặt vấn đề: Trong hệ thống chính trị hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức chính trị xã hội rộng lớn bao gồm nhiều giai cấp, nhiều tôn giáo, dân tộc (theo điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) cần phải giữ vai trò “đối trọng” để giám sát chính quyền, ngăn chận khuynh hướng độc đoán, bè phái, tham nhũng. Hai vị nói rất say sưa về vấn đề này. Tôi và các vị trong Đảng đoàn và Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM rất phấn khích, đồng tình. Nhưng một thời gian sau, được biết chủ trương về vai trò “đối trọng” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã bị phê phán kịch liệt và có lệnh không được phép nhắc lại nữa. Ông Lê Quang Đạo cũng được cho về nghỉ vì đã dám có chủ trương nói trên.

– Cách đây vài năm, lúc ông Phạm Thế Duyệt, nguyên Thường trực Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng có một đề án “Về vai trò giám sát và phản biện xã hội Việt Nam” gởi qua Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đề án này cũng bị xếp xó cùng với luật lập hội…

– Gần đây nhất là qua việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đề nghị 7 điểm và bản dự thảo một hiến pháp mới, Hiến pháp năm 2013 của 72 nhân sĩ trí thức của cả nước đã được hàng vạn người ký tên đồng tình ủng hộ và những ý kiến có thể gọi là “tiến bộ” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng chính phủ đều bị lờ đi và dự thảo lần thứ tư trình trước Quốc hội vừa rồi có những điều còn lạc hậu thụt lùi hơn cả Hiến pháp năm 1992, nhất là quyền sở hữu đất đai, vấn đề lực lượng vũ trang. Về bản dự thảo lần thứ tư này, 40 vị nhân sĩ trí thức đã ra tuyên bố phê phán thẳng thừng, không còn nói một cách tế nhị như trong đề nghị 7 điểm, mà nói thẳng phải bỏ điều 4 Hiến pháp, phải thực hiện chủ trương đa nguyên đa đảng, phải thay đổi thể chế, v.v. Phải nói đây là những ý kiến quyết liệt nhất từ trước đến giờ của các nhân sĩ trí thức trong cả nước. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không nghe, như trước đây họ đã không nghe những ý kiến tiến bộ và rất xây dựng của những người đã từng đảm đương những trọng trách trong Đảng và nhà nước như Trung tướng Trần Độ, Trung tướng Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị và nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, và nhiều người nữa. Họ dùng phương châm làm ngơ, không nghe, không thấy để tiếp tục củng cố Đảng, ngỏ hầu “một mình một chợ” muốn làm gì thì làm, đưa đất nước đến bờ vực thẳm.

– Ngoài những sự kiện trên, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam là tạo ra một tầng lớp cán bộ, một loại “giai cấp mới” với nhiều đặc quyền đặc lợi để vì lợi ích cá nhân và gia đình mà sống chết bảo vệ chế độ. Chủ trương phát triển Đảng trong trường học là minh chứng cho việc này. Cho phát triển Đảng trong các trường trung học, đại học sẽ phá vỡ môi trường sư phạm, làm xấu đi quan hệ giữa thầy và trò. Trong một trường học, một lớp học thầy ngoài Đảng còn trò là đảng viên thì còn thể thống gì trong quan hệ giữa thầy và trò. Đoàn Thanh niên Cộng sản là lực lượng “kềm kẹp” học sinh sinh viên mà việc một số sinh viên trường Đại học Luật lập blog “Bảo vệ công lý cho Đoàn Văn Vươn” bị Đoàn Thanh niên Cộng sản của trường này dùng nhiều biện pháp ngăn cản, đe dọa là một ví dụ.

Hoặc hiện nay con đường tiến thân của thanh niên để leo nên những nấc thang quyền lực, nấc thang xã hội là về phường xã công tác, vo tròn, luồn cúi, vân vân, dạ dạ để được kết nạp vào Đảng – bước đầu tiên để họ tiến thân vào nấc thang danh vọng. Họ biết rằng trong chế độ hiện nay không đảng viên là không được cất nhắc đảm nhận những chức vụ quan trọng cho họ có quyền hành để nhận quà cáp, hối lộ. Nhiều quan chức giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền của TP HCM hiện nay là từ con đường này mà đi lên. Vì vậy trình độ của họ rất kém, thiếu hẳn văn hóa cơ bản, chẳng biết gì về xã hội nhân sự, xã hội công dân, tuyên ngôn Nhân Quyền và các nền văn hóa, triết học của thế giới, nền tảng của tri thức nhân loại hiện nay.

– Điều nghiêm trọng hiện nay là nền Độc lập Dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ mà đồng bào, chiến sĩ chúng ta qua nhiều thế hệ đã hy sinh biết bao xương máu mới giành lấy được, nay bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhà cầm quyền Bắc Kinh mà bản chất bành trướng, xâm lược không hề thay đổi. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhượng bộ nhiều trong hội nghị Thành Đô năm 1990. Đây là cơ sở cho chánh quyền Bắc Kinh mưu toan độc chiếm Biển Đông, thực tế là đã chiếm hẳn Hoàng Sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta và nay vẫn tiếp tục ngang ngược bắt bớ, truy đuổi cướp bóc ngư dân của chúng ta đang đánh bắt trong những ngư trường truyền thống. Thật là khó hiểu khi Đảng và nhà nước Việt Nam cho Trung Quốc triển khai lực lượng, tuy gọi là dân sự dưới chiêu bài các dự án kinh tế, ở các vùng chiến lược trọng điểm như Tây Nguyên, các vùng rừng núi phía Bắc, miền Trung và đến cả Cà Mau của đồng bằng sông Cửu Long. Họ biến những khu vực đó thành vùng riêng của họ, không cho người Việt Nam bén mảng vào. Một khi có biến, “đạo quân thứ 5” này sẽ là một lực lượng làm chúng ta không kịp trở tay mà kinh nghiệm trong những ngày đầu cuộc xâm lược của bành trướng Bắc Kinh năm 1979 ở các tỉnh biên giới phía Bắc là những kinh nghiệm đầy máu và nước mắt của cán chiến sĩ, đồng bào ta. Càng khó hiểu hơn khi Đảng và nhà nước Việt Nam lại cấm hoặc lờ đi trong một thời gian rất dài việc tổ chức các ngày tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc này.

Những điều nêu trên chứng minh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã không còn là đảng cách mạng như trước đây nữa, mà đang trở thành yếu tố ngăn cản sự phát triển của đất nước, đưa đất nước chúng ta vào một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện chưa có lối ra.

Gần 40 năm là thời gian quá đủ cho một nước “cất cánh” như các nước trong khu vực. Chủ trương đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản và chủ nghĩa lý lịch cùng với việc không thực tâm thực hiện chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc, làm hạn chế sức mạnh đoàn kết dân tộc, một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát triển đất nước cũng như để chống lại sự bành trướng của bọn xâm lược Bắc Kinh.

Tôi và nhiều bạn bè đồng đội khác cho rằng nguyên nhân chính là vai trò độc đảng của Đảng Cộng sản, không có những lực lượng xã hội khác thực sự làm đối lập, đối trọng để giám sát, ngăn chận sự lạm quyền, lộng quyền và các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản đi ngược lại lợi ích của quần chúng, của đất nước. Vì vậy đã đến lúc phải đẩy mạnh sự phát triển của xã hội dân sự, xã hội công dân, trong đó có các tổ chức chính trị độc lập và cùng tồn tại với Đảng Cộng sản và đấu tranh qua các cuộc bầu cử công khai hợp pháp có sự quan sát của quốc tế.

Sự ra đời của Đảng Dân chủ Xã hội hay một đảng hợp pháp nào đó là lẽ đương nhiên, phù hợp với sự phát triển hiện nay của một nước dân chủ thực sự. Đây là biện pháp đặc biệt để giải quyết một tình hình đặc biệt dù cho có gây “sốc” đối với đảng cầm quyền hiện nay. Việc rời bỏ hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam của nhiều đảng viên vừa qua cũng như hiện nay là để không còn ràng buộc gì nữa với 19 điều cấm đảng viên, tước đoạt một số quyền công dân cơ bản, mà Đảng Cộng sản đã tùy tiện đặt ra, để trở thành những công dân tự do.

Sau năm 1975 trong giới công giáo có một bài hát rất hay “Trước khi là người công giáo tôi đã là người Việt Nam”. Trước khi trở thành đảng viên Cộng sản, chúng tôi là người Việt Nam. Dù quá khứ như thế nào, khuynh hướng ra sao, chúng ta đều là người Việt Nam, đều có chung một mục đích là đấu tranh để xây dựng một nước VIỆT NAM ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Vậy tình hình đã chín muồi để đặt vấn đề này chưa? Một số người đặt vấn đề với tôi như vậy. Tôi và nhiều người nữa thấy tình hình đã chín muồi, khẩn cấp lắm rồi, nếu không tích cực giải quyết thì Việt Nam sẽ rơi vào cuộc tổng khủng hoảng triền miên, không loại trừ nguy cơ sụp đổ, nhất là trước áp lực ngày càng nặng nề của Trung Quốc, một nước láng giềng rất tráo trở, muốn biến nước ta thành một bộ phận, hoàn toàn phụ thuộc họ. Đây là nguy cơ thực sự.

Còn giả thiết rằng tình hình chưa chín muồi thì lại càng phải đấu tranh để nhanh chóng thay đổi thể chế, từ chế độ độc tài toàn trị sang chế độ Dân chủ Cộng hòa, phát triển xã hội dân chủ, xã hội công dân với những lực lượng chính trị độc lập để qui tụ quần chúng ngõ hầu đấu tranh kềm chế, giám sát đảng cầm quyền một cách có hiệu quả.

Nếu chưa chín muồi thì chúng ta chủ động làm cho nó chín muồi, chứ chẳng lẽ khoanh tay thụ động ngồi chờ cho nó chín muồi sao? Không thể có thái độ ngồi chờ sung rụng như vậy được. Chúng ta đã ngủ một giấc ngủ dài, làm ngơ trước những cái ác, cái xấu, cái bất công. Trước nỗi khổ của những người dân mất tự do, mất nhà, mất đất, chúng ta phải thức tỉnh, không thể chần chừ được nữa. Để đất nước rơi vào tình hình hiện nay có phần trách nhiệm của giới “sĩ phu”. Vậy đã đến lúc giới sĩ phu trong cả nước phải lãnh trách nhiệm đứng lên, dõng dạc và hiên ngang đi đầu trong cuộc đấu tranh này.

Chẳng lẽ chúng ta không thấy xấu hổ trước tấm gương sinh viên Phương Uyên, người con gái 21 tuổi trong phiên xử của tòa án phúc thẩm tại Long An vừa qua hay sao? Trước áp lực của xã hội, của quần chúng, tòa án phúc thẩm buộc phải xem xét lại bản án và Phương Uyên được trả tự do ngay tại tòa. Đây là một kết quả ngoạn mục, ít ai nghĩ đến. Nếu chúng ta cứ thụ động ngồi chờ cho tình hình chín muồi thì chắn hẳn bản án sẽ khác đi. Bất cứ cuộc đấu tranh nào, qui luật chung là đều có những “đột phát khẩu” để phá rào cho quần chúng tiến lên. Sẽ có hy sinh mất mát nhưng chúng ta phải chấp nhận.

Một vấn đề nữa là quá trình ra đời và phát triển một tổ chức chính trị, kể cả một đảng chính trị, không thể một ngày một bữa mà có ngay.

Đọc bài viết Phá xiềng của nhà báo Hồ Ngọc Nhuận, nhiều người hỏi là Đảng Dân chủ Xã hội đã có trên thực tế chưa. Thực ra bài viết của nhà báo Hồ Ngọc Nhuận chỉ nêu ra một ý tưởng để mọi người cùng suy nghĩ. Chứ thực ra việc thành lập một tổ chức chính trị nào, kể cả Đảng Dân chủ Xã hội, đều phải theo một qui trình nhất định. Chúng ta chủ trương đây là một việc làm công khai, hợp pháp nên trước tiên phải thành lập một ban vận động để sơ thảo cương lĩnh, điều lệ để có cơ sở cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ tổ chức này như thế nào, đường hướng ra sao để ủng hộ hoặc không ủng hộ và cũng là cơ sở khi đăng ký với chánh quyền để họ xem đây có phải là một tổ chức khủng bố, phản động, như ngôn ngữ hiện nay họ thường dùng hay không, hay đây là một tổ chức có đường hướng tuy khác với Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không có gì đi ngược lại lợi ích của đất nước, của dân tộc, có thể cùng song song tồn tại với Đảng Cộng sản và các tổ chức chính trị khác.

Chủ trương của chúng ta là ôn hòa  bất bạo động, chống lại các hành động quá khích, khủng bố, vũ trang lật đổ. Chúng tôi tin rằng việc làm đúng đắn của chúng ta sẽ được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp quần chúng, tuy bây giờ là đa số “thầm lặng”, những đến một lúc nào đó có điều kiện sẽ trở thành một lực lượng đấu tranh hùng hậu để xây dựng một nước VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, TIẾN BỘ XÃ HỘI VÀ VĂN MINH, một khát vọng sâu xa mà nhiều thế hệ cha ông chúng ta đã mơ ước.

Cho nên đây là một quá trình vận động. Hiện nay chúng ta đang trong quá trình vận động.

Những điều tôi viết trong bài này cũng như bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh là lời tâm huyết mà tôi đem cả tim óc để bộc bạch cho bạn bè, đồng đội và những người đã cùng nhau chiến đấu trước hoặc hiện nay, cũng như những người chưa quen biết trong và ngoài nước. Bệnh tôi chưa biết sẽ diễn biến ra sao, nhưng tôi hạnh phúc được nhiều người – kể cả có vị lãnh đạo cao của Đảng, Nhà nước – thăm hỏi, chăm sóc, có người còn cho những loại thuốc quý. Trong tình hình bất an hiện nay, nếu biết đâu tôi bị một tai nạn nào đó thì xin mọi người xem đây như những gì tôi để lại cho những người thân trong gia đình, những người mà tôi thương yêu, cho bạn bè, đồng đội và cho đời. Đó là tâm nguyện của tôi, rất mong mọi người hiểu cho.

Sài Gòn, ngày 18 tháng 8 năm 2013

L. H. Đ.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

————————————

17/08/2013

Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…

(bản có sửa chữa)

Lê Hiếu Đằng

 

Sau khi công bố “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…”, tôi nhận được rất nhiều ‎ kiến bạn bè thân hữu động viên, khuyến khích, cũng có những ‎ý‎ kiến muốn tôi nói thêm một vài vấn đề‎ mà khi còn ngồi trên giường bịnh, tôi ghi vội vàng chưa thật rõ ý định nói. Đó là lý do tôi viết thêm vài dòng cho rõ ý mình, nhưng về cơ bản thì giữ nguyên nội dung đã công bố về những suy nghĩ của tôi.

Lê Hiếu Đằng

 

 

Thời gian vừa qua, có dịp vào Sài Gòn, được tin ông Lê Hiếu Đằng phải cấp cứu ở BV Bình dân, tôi và bạn bè đã đến thăm ông. Chúng tôi nhìn nhau khôn xiết bồi hồi. Sờ bàn chân ông thấy có hiện tượng phù nhẹ, nhưng trông khuôn mặt thì vẫn rất linh lợi, nhất là ánh mắt sáng láng, vẫn ngời lên cái khát vọng tha thiết về tương lai dân chủ hóa cho đất nước. Vài ngày sau tôi nhận được điện của ông, giọng rõ từng tiếng: “Thưa anh HC, tôi đã ra viện, đã trở về với đội ngũ. Sẽ sớm có bài viết tính sổ đời mình gửi đến anh”. Bồi hồi sung sướng, tôi vâng lên một tiếng thật to ở đầu dây bên này, và từ đó cứ chờ đợi bài ông. 

Thì hôm nay, bỗng nhận được bài viết dưới đây trong e-mail với lời gửi gắm kèm thêm nói qua điện thoại: “Anh sửa chính tả thật kỹ giúp tôi, bởi đối với một người vừa qua cơn bệnh hiểm nghèo có thể viết còn nhiều lỗi. Nhưng toàn bộ những ý tưởng trong bài là của tôi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”.

Tôi xin vâng theo lời ông. Chợt nhớ tới câu châm ngôn mà chính nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã từng nhắc: “Nhân chi tương tử kỳ ngôn dã thiện”. Người bạn của tôi trong những ngày vừa qua cũng coi như đã một lần xáp mặt với cái chết và may mắn giải thoát khỏi nó, nên những lời ông nói ra là tất cả những gì tâm huyết ông muốn gửi gắm cho đồng bạn và cho lớp trẻ đang tiếp bước mình. Những lời vừa có tính chất ôn lại chuyện cũ để chiêm nghiệm sự đời cho sâu chín hơn, đồng thời cũng là sự kết đọng trong nó một lời tuyên ngôn chắc nịch về con đường nhất thiết phải đi để đưa dân tộc thoát khỏi số phận một chàng Sisyphe suốt đời phải đẩy khối đá khổng lồ chồng trên lưng mình như một định mệnh – mà một thời vẫn cứ mê muội ngỡ đó là trách nhiệm và vinh quang do lịch sử giao phó “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa” – nhưng ở thời điểm hiện tại thì sự quá tải trên mọi phương diện của một cái ách cực kỳ phi lý hầu như bất kỳ ai cũng cảm nhận được rõ ràng. Và câu nói âm thầm từ muôn miệng hình như đang cùng muốn thốt lên: Hãy hất nó xuống khe vực để đứng thẳng dậy, sánh bước cùng nhân loại văn minh. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Nguyễn Huệ Chi

*****

Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trải nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng, thôi thúc tôi phải viết lại những suy ngẫm của mình nhằm “thanh toán”, “tính sổ” lại những việc đã làm, những chặng đường đời đã đi qua, những đúng sai mà mình đã trải.

Trong lúc nằm bịnh tôi đọc quyển Chuyện nghề của Thủy của đạo diễn Trần Văn Thủy, truyện của các nhà văn quân đội như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần và qua tivi xem các chuyến đi thăm Mỹ của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm Hàn Quốc, Myanmar (Miến Điện) lại càng giục giã tôi viết những dòng này.

Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là chủ nghĩa xã hội từng được xây dựng ở Miền Bắc, một xã hội thiếu vắng sự tôn trọng cá nhân, tôn trọng con người và quyền làm người.

Tôi cứ lan man nghĩ mãi về những chuyến công du vừa rồi của các nhà lãnh đạo cao nhất của nước ta như chuyến đi của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang không nhận được những nghi thức đón tiếp dành cho nguyên thủ quốc gia, hay chuyến đi thăm Hàn Quốc, Myanmar của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Nếu đem so sánh các chuyến đi thăm Trung Quốc của các vị thì không khí hoàn toàn khác nhau. Không biết các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với lòng tự trọng dân tộc có “mở mắt” thấy điều đó không? Hẳn nhiên chúng ta không thể đòi hỏi Mỹ làm nhiều điều tích cực hơn bởi vì công bằng mà nói anh không thể “mở lòng” với một nước mà thái độ không rõ ràng, bất nhất.

Tất cả tình cảm của gia đình và bạn bè trong nước cũng như ở nước ngoài làm tôi suy nghĩ miên man trong lúc nằm bịnh, càng khẳng định con đường mà tôi cùng nhiều bạn bè, đồng đội đã lựa chọn, con đường tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng thời trai trẻ và một xã hội công bằng tự do dân chủ. Ở đó con người sống với nhau một cách tử tế, thật sự được giải phóng từ người nô lệ thành người làm chủ của đất nước. Tôi ngày càng hiểu sâu sắc từ “GIẢI PHÓNG” không có nghĩa như ngày nay người ta thường dùng mà là sự thoát xác thật sự làm người tự do dù cho người cai trị là da trắng hay da vàng; điều đau khổ, bi thảm là hệ thống cai trị khắc nghiệt nhất lại là của những người cùng dân tộc, như Việt Nam, như Trung Quốc, v.v.

Nếu hiểu từ giải phóng theo ý thức sâu xa đó thì tôi cũng rất đồng tình với nhận xét của nhiều nhà báo, nhà văn, học giả ở Miền Bắc, trong đó có nhà báo Huy Đức trong cuốn Bên thắng cuộc mới đây. Trên một số lĩnh vực, đặc biệt là sự giải phóng cá nhân, tôn trọng quyền con người, quyền được tự do suy nghĩ, tranh luận, về tập quán tôn trọng pháp luật, về cách quản trị trong thương mại, trong kinh doanh sản xuất thì chính là Miền Nam đã “giải phóng” Miền Bắc... Đấy là chưa nói đến thóc gạo của đồng bằng sông Cửu Long đã giải quyết vân đề lương thực cho cả nước như thế nào…

Vì những lẽ trên tôi nói là cần phải “tính sổ” với Đảng Cộng sản Việt Nam và với bản thân cuộc đời của tôi, tư cách một đảng viên, một công dân ở những điểm cơ bản sau: một cách minh bạch, sòng phẳng để từ đây thanh thản dấn thân vô cuộc chiến mới.

1. Vì sao tôi đi kháng chiến, vào Đảng Cộng sản Việt Nam?

Vào thế kỷ trước, chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đã làm say mê biết bao trí thức, văn nghệ sĩ ở các nước, nhất là ở nước Pháp, cái nôi của khuynh hướng xã hội, dân chủ mà cả thời kỳ ánh sáng với các tên tuổi như Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, v.v. với khát vọng xây dựng một xã hội bác ái, tự do, bình đẳng. Chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản chẳng những lôi cuốn, làm say mê nhiều thế hệ trí thức phương Tây mà ở Việt Nam cũng vậy. Những tri thức văn nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng như Văn Cao, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Thanh Tịnh, Thế Lữ, v.v. hay những trí thức tên tuổi ở nước ngoài như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường.

Thật ra họ theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh mà đi vào chiến khu chứ phần lớn trong họ ít hoặc chưa am hiểu lắm về chủ nghĩa Marx, càng chưa hiểu chủ nghĩa xã hội rồi sẽ ra sao, nhưng họ hy vọng sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng một xã hội dân chủ, tiến bộ xã hội, tự do, hạnh phúc mà trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946 ông Hồ Chí Minh đã trịnh trọng cam kết trước toàn dân tại quảng trường Ba Đình lịch sử.

Lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc đã thúc đẩy mọi người tham gia Cách mạng tháng 8 và sau đó đi kháng chiến. Bạn bè tôi và bản thân tôi cũng được thôi thúc bởi những tình cảm đó: lòng yêu nước, ý chí chống xâm lược, giành độc lập tự do dân chủ cho Tổ quốc để rồi sẽ xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn các chế độ cũ ở đó công nhân, nông dân, người lao động, những người hy sinh nhiều trong chiến tranh có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Tôi vào Đảng cũng rất đơn giản: năm 1966, anh Nguyễn Ngọc Phương (Ba Triết) phụ trách đơn tuyến tôi, hẹn tôi gặp nhau ở một chùa trên đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3-2) để sinh hoạt. Anh Nguyễn Ngọc Phương nghiêm mặt tuyên bố: “Đồng chí Bắc Sơn [bí danh của tôi lúc đó], đồng chí từ nay là Đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng [thực chất là Đảng Lao động Việt Nam ở Miền Nam mà thôi]. Lẽ ra tôi đưa điều lệ để đồng chí nghiên cứu nhưng đồng chí là người hoạt động công khai trong Ban Chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và Đại học Luật Khoa nên tôi bây giờ mới phổ biến một số điều trong điều lệ để đồng chí biết”. Một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả.

Anh Nguyễn Ngọc Phương, người phụ trách tôi trong thời gian đầu, là người lớn lên trong một gia đình khá giả, có em gái lấy nghệ sĩ hài nổi tiếng Bảo Quốc. Thật ra qua một số người hoạt động ở Huế anh ấy đã biết tôi đã từng tham gia phong trào đấu tranh sinh viên học sinh Huế lúc tôi còn học đệ nhị, đệ nhất Quốc học Huế và đã từng bị bắt giam ở lao Thừa Phủ Huế gần một năm với Lý Thiện Sanh (nay là bác sĩ định cư ở Úc) vì chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó nghĩ tôi là thành viên của Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Miền Nam.

Nhắc đến đây tôi có một kỷ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi. Tôi theo ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạoHiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Thuỳ Yên, v.v., kể cả quyển sách viết về Nietzsche của Nguyễn Đình Thi trước năm 1975. Gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều, đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ.

Những ngày ba tôi đến đón tôi ra thi, ông đã đi qua cánh đồng An Cựu trong giá lạnh. Tôi không thể nào quên hình ảnh đó của ba tôi. Bây giờ Người đã mất nhưng tôi không bao giờ quên ông, biết ơn nuôi dạy tôi thành người trưởng thành pha một chút ân hận vì tôi mà ông phải khổ sở. Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?

Trong thời gian đó, lúc nhà tù cho tù nhân làm văn nghệ, tôi thường hát bài “Tình quê hương” thơ Phan Lạc Tuyên, nhạc Đan Thọ, lúc đó là Đại úy Quân đội Sài Gòn. Gia đình của người phụ trách lao Thừa Phủ đứng trên bức tường có đường đi bao quanh nhà tù để xem. Đúng là cái máu lãng mạn của đám sinh viên học sinh chúng tôi lúc đó ngay trong tù cũng nổi dậy đùng đùng và có cô con gái rất thích bài đó. Lý Thiện Sanh đùa: “Nó khoái mày rồi đó”.

Về anh Nguyễn Ngọc Phương – người phụ trách tôi sau này bị địch bắt, đã hy sinh trong tù năm 1973. Năm ngoái, nhân ngày giỗ anh, tôi có kể lại việc mỗi lần sinh hoạt với tôi xong anh đề nghị tôi hát bài “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên. Hát xong tôi hỏi anh: “Anh là bí thư Đảng ủy sinh viên mà sao thích bài hát ướt át quá vậy?”. Anh cười buồn và nói: “Chúng ta chiến đấu xét đến cùng là vì con người. Nhưng bài hát đó viết rất hay về con người thì sao mình không thích được!”.

Nghe anh tôi càng cảm phục người đồng chí phụ trách tôi và hôm giỗ anh tôi hát lại bài “Trăng mờ bên suối” để cúng anh. Sau đó, chị Cao Thị Quế Hương có vẻ trách tôi vì cho rằng anh Phương không thể ủy mị như vậy. Tôi cười buồn và im lặng.

Tôi đã đi theo kháng chiến và vào Đảng như thế đó…

2. Vấn đề đa nguyên, đa đảng

Có thời gian từ 1975 đến 1983 tôi là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Về phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tôi hiểu được, có một điều cơ bản là cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở xã hội, cơ sở kinh tế, v.v.) như thế nào thì phản ảnh lên thượng tầng kiến trúc như thế đó.

Với những sai lầm kéo dài như chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả quy luật tự nhiên, cop-py mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao “thuyền nhân” phải chết tức tưởi trên biển. Trong đó có gia đình nhà báo Trần Triệu Luật, người đã cùng tôi vào chiến khu và đã hy sinh vào ngày 11.10.1968 tại căn cứ Ban Tuyên huấn Tuyên huấn cục Miền Nam cùng với nhà thơ Thảo Nguyên Trần Quang Long sau trận bom ác liệt của F105 của Mỹ. Tất cả điều đó là hệ lụy thảm khốc của chủ thuyết “chuyên chính vô sản” trong tư duy bảo thủ, giáo điều của những người lãnh đạo, nếu không gọi là tội ác thì cũng không thể tha thứ được.

Trước sự rên xiết của người dân, những nhà lãnh đạo còn có tấm lòng và sự gắn bó với dân đã nhận ra được sai lầm dẫn đến chủ trương “Đổi Mới”, chấp nhận kinh tế có nhiều thành phần trong đó có kinh tế cá thể. Thế thì một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ. Đó là quy luật tất yếu: không thể không đa nguyên đa đảng được. Như vậy điều 4 Hiến pháp hiện nay là đi ngược lại với sự vận động của thực tiễn, cản trở sự phát triển của đất nước.

Nếu Đảng cộng sản chấp nhận đa đảng thì sẽ tạo ra cho mình có sức kháng thể, tạo cơ may thoát được tình trạng quan liêu, tham nhũng làm ruỗng nát như hiện nay. Tôi hi vọng sẽ có những vị lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam dám chấp nhận thách thức này: Các Đảng, tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc bầu cử hợp pháp có quan sát viên Quốc tế giám sát như Campuchia đã làm.

Tôi thách bất cứ ai trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trong Ban Tuyên huấn của Đảng mà đứng đầu là ông Đinh Thế Huynh, vừa là Trưởng ban, vừa là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương trả lời luôn một cách công khai, minh bạch với chúng tôi trên các diễn đàn mà không chơi trò “bỏ bóng đá người” như thường sử dụng hiện nay.

Thực tế hiện nay, trong Nam ngoài Bắc đã tập hợp được những khuynh hướng có chủ trương đấu tranh cho một thể chế dân chủ cộng hòa mà tiêu biểu là đề nghị 7 điểm và dự thảo Hiến pháp năm 2013 của nhân sĩ trí thức tiêu biểu ở trong Nam ngoài Bắc như nhà văn Nguyên Ngọc, các giáo sư Hoàng Tụy, Chu Hảo, Tương Lai, Phạm Duy Hiển, những trợ lý Tổng Bí thư, Thủ tướng hoặc Đại sứ nhiều thời kỳ như ông Trần Đức Nguyên, Việt Phương, Nguyễn Trung, v.v.; các nhà kinh tế có uy tín lớn như Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà báo, nhân sĩ trí thức kỳ cựu như Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Đình Đầu, Lữ Phương, Kha Lương Ngãi, Nguyễn Quốc Thái; và các “lãnh tụ” sinh viên trước đây đã có một thời kỳ lẫy lừng trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975 như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Trần Văn Long (Năm Hiền), Huỳnh Kim Báu, Hạ Đình Nguyên, Cao Lập và biết bao con người tâm huyết khác. Trong đó có những người, mặc dầu đời sống kinh tế đã khá giả, có những người là giàu có nhưng không thể yên tâm thụ hưởng tất cả những tiện nghi của đời sống đã dũng cảm chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm cho bản thân mình cũng như gia đình, dấn thân vào cuộc chiến đấu mới để tiếp tục thực hiện lý tưởng thời trai trẻ của họ, cái lý tưởng đang bị phản bội, bị chà đạp, những lời hứa tốt đẹp năm nào trong kháng chiến đã bị vứt bỏ. Ngoài ra còn cả một lớp trẻ hăng hái, nhiệt tình bao gồm những blogger, những sinh viên đang có những hoạt động ở các trường Đại học hoặc nhiều tổ chức khác.

Tình hình trên cộng với thực tế hiện nay tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo).

Vậy tại sao chúng ta, hàng trăm đảng viên, không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ Xã hội, những Đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị Đảng Cộng sản bức tử phải tự giải tán.

Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này? Chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này, mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta.

Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa. Đây là một yếu tố sẽ làm cho xã hội công dân, xã hội dân sự mạnh lên, không có thế lực nào ngăn cản được. Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay. Chẳng lẽ nhà nước này bắt bỏ tù tất cả chúng ta sao? Chúng ta phải đấu tranh với phương châm công khai, minh bạch, ôn hòa, bất bạo động, phản đối tất cả mọi hành động manh động, bạo lực khiêu khích gây chiến tranh. Như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết đại khái trong bất cứ cuộc chiến tranh nào người thất bại đều là nhân dân. Giờ hành động đã đến. Không chần chừ, do dự được nữa.

3. Độc lập dân tộc đang bị thách thức!

Việt Nam đã thống nhất mặc dầu còn nhiều điều chưa hòa hợp, đoàn kết thực sự. Nhưng còn độc lập thì sao? Sau khi hy sinh biết bao xương máu, nay Đảng và Nhà nước Việt Nam đều phải len lén nhìn ông bạn láng giềng Trung Quốc, những kẻ luôn chực nuốt chửng nước ta và vào năm 1979 họ đã xua quân tàn sát người dân Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc mà tên Đặng Tiểu Bình xấc xược gọi là dạy cho Việt Nam một bài học.

Thật ra tổ tiên chúng ta, những tiền nhân thời xa xưa đã cho họ nhiều bài học Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, v.v. Không biết tập đoàn Tập Cận Bình có còn nhớ những bài học đó không? Riêng các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam thì dường như chưa thấy hết sức mạnh của dân tộc Việt Nam nên quá “hiền lành” đối với một nước lớn nhưng rất “tiểu nhân” (chữ nghĩa của các truyện Tàu), miệng thì xoen xoét nói về “bốn tốt, mười sáu chữ vàng” trong lúc hành động thực tế là uy hiếp, săn đuổi, bắt bớ một cách vô nhân đạo các ngư dân Việt Nam đang hành nghề trong ngư trường truyền thống của mình, hoặc hèn hạ cắt đứt cáp các tàu thăm dò dầu khí của chúng ta.

Thế mà phản ứng của lãnh đạo Việt Nam thì quá nhu nhược: chỉ là lời phản đối lặp đi lặp lại nghe quá nhàm tai và khó chịu của người phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Đến nỗi có những vụ việc lớn cũng không dám thực hiện một việc bình thường trong quan hệ quốc tế là triệu tập đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội để trao công hàm phản đối, chứ không chỉ là đưa công hàm đến toà đại sứ. Vậy thì độc lập cái gì? Hẳn nhiên là chúng ta không dựa vào nước này chống các nước khác nhưng thực tế quốc tế hiện nay rất thuận lợi cho chúng ta liên kết với các nước dân chủ để đấu tranh chống thủ đoạn bành trướng của Trung Quốc về Biển Đông.

Tôi rất mừng nghe Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở hội nghị Shangri-La chống lại nền chính trị cường quyền và những đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam. Trả lời phỏng vấn một thiếu tướng Trung Quốc, Thủ tướng đã khéo léo nói nước đó là nước nào ai cũng biết. Rõ ràng đây là cú đấm đích đáng bọn bành trướng Bắc Kinh trong một diễn đàn quốc tế. Tôi càng thấy vui hơn khi được biết đây là ý kiến của cá nhân Thủ tướng dám chịu trách nhiệm để tuyên bố như vậy chứ không có sự chỉ đạo nào của Bộ Chính trị cả. Vì thế mà Hạ Đình Nguyên trong một bài viết về vấn đề này đã hoan hô Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến năm lần.

4. Vấn đề Dân chủ, tự do và hạnh phúc

Thực chất đây là vấn đề dân sinh, dân chủ mà trước đây trong thời kỳ kháng chiến hoặc trước 1975 Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động để đấu tranh giành quyền sống. Đây là vấn đề về con người.

+ Về dân chủ thì đã quá rõ. Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập và kiểm soát lẫn nhau. Phải có một nền tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng hiệu quả. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ để bầu quốc hội lập pháp theo đúng các nguyên tắc mà học giả Jeane Kirkpatrick đã tổng kết: “Phải có các tính chất cạnh tranh, định kỳ, phổ thông, bỏ phiếu kín”. Đảng Cộng sản phải thông qua cuộc bầu cử tự do, bình đẳng như vậy mới trở thành Đảng cầm quyền nhà nước của dân, do dân, vì dân một cách thuyết phục.

Tôi nghĩ trong một thời gian dài Đảng Cộng sản vẫn là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản cần tự tin điều đó. Dần dần các đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập mà cứ duy trì thể chế “toàn trị độc đảng” thì tham nhũng, cửa quyền, xâu xé giữa các nhóm lợi ích đang kết nối với quyền lực thành một thế lực mafia khuynh loát toàn bộ hoạt động xã hội, đẩy đất nước vốn đang lâm vào cơn bạo bệnh trở nên vô phương cứu chữa, chỉ còn chờ chết mà thôi.

+ Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (như cách Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu nói). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí… thật sự. Do đó Hiến pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây chế độ toàn trị đã phản bội lại Hiến pháp đó, tước đoạt tất cả các quyền cơ bản mà Hiến pháp 1946 đã ghi, vất bỏ Tuyên ngôn Nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng để lấp liếm cho sự phản dân chủ, phản tiến hóa của họ. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế hệ mới có được.

Nhà văn Nguyễn Khải đã nói: “Khi đọc cuốn Bàn về tự do của Stuart Mill thì vỡ ra nhiều vấn đề”, và cuốn sách đó khơi nguồn cảm hứng cho ông viết bài tùy bút để đời: Đi tìm cái tôi đã mất. Nguyễn Khải đã nhìn lại những gì mà ông đã trải nghiệm một cách sâu sắc với một giọng văn nhẹ nhàng không hàm hồ nên rất thuyết phục. Đây là quyển sách đã đi sâu vào tim óc của chế độ mà không thấy các vị “phê bình chỉ điểm” (cách gọi mới đây của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, đối với Nguyễn Văn Lưu cùng với một số người trong việc “bề hội đồng” bài viết của Thạc sĩ Nhã Thuyên về nhóm “Mở miệng”) nào dám phê phán, chửi rủa.

Các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản tại sao không suy nghĩ trong chế độ thuộc Pháp lại có một thời báo chí, văn học nghệ thuật phát triển mà cho đến nay chưa có thời kỳ nào có thể so sánh được dù là chế độ gọi là “tự do gấp vạn lần” như bà Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan đã nói một cách hàm hồ, thiếu suy nghĩ, chỉ làm trò cười cho thiên hạ.

Báo chí thì nở rộ Gia Định báo,Phụ nữ tân vănNam PhongPhong hóaNgày nay… với những học giả Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi,… Văn học nghệ thuật thì có cả một trào lưu thơ mới với Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà thơ nổi tiếng khác với nhiều bài thơ bất hủ mà đến nay ai cũng thuộc nằm lòng.

Về tiểu thuyết thì có nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo… Ngoài ra còn có hàng loạt nhà văn tài hoa khác như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Lan Khai, Thanh Tịnh, Nguyên Hồng, v.v. Với Thanh Tịnh, tôi vẫn nhớ bài “Tôi đi học” trong tập Quê mẹ của ông. “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mênh mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Nhạc thì có một thời có nền tân nhạc rực rỡ với các tên tuổi như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Doãn Mẫn, Lê Thương, Nguyễn Văn Thương… Thế mà rồi Thanh Tịnh cũng như một số nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ khác không có nổi những tác phẩm lớn mà họ ấp ủ khi phải sống trong sự ngột ngạt của chế độ toàn trị, bóp nghẹt dân chủ và tự do.

Sau 1975, không khí vui vẻ, sum họp của những ngày đầu đã tạo hứng khởi để nhạc sĩ Văn Cao làm bài “Mùa xuân đầu tiên” với điệu valse dìu dặt. Nhưng tội nghiệp cho Văn Cao đã ngây thơ tin rằng “Từ đây người biết yêu người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết quê người…”. Cũng phải nói thêm rằng bài ca này cũng mấy năm bị cấm hát!

Những năm sau khi vào chơi với Trịnh Công Sơn và các nhạc sĩ Miền Nam, ông đã nói lên nỗi thất vọng của ông. Cảnh chia lìa, vượt biên, đày đọa, tù tội trong đó có người bạn văn chương của các ông đã làm ông chỉ biết trầm ngâm bên ly rượu. Có một điều an ủi ông là vào Nam, vào Sài Gòn ông nghe mọi người từ trẻ đến già đều hát “Mùa xuân đầu tiên”, “Thiên thai”, “Suối mơ”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”, v.v. của ông.

Vấn đề là Đảng Cộng sản Việt Nam cần trả lại những gì của lịch sử, của tiền nhân để lại. Việc đổi tên đường từ Trần Quý Cáp thành Võ Văn Tần, từ Phan Đình Phùng thành Nguyễn Đình Chiểu, v.v. là việc làm thiếu suy nghĩ, nếu không nói là ngu xuẩn, chà đạp lên lịch sử, xúc phạm những chiến sĩ tuy không phải là Cộng sản nhưng đã đấu tranh bảo vệ đất nước trong các phong trào Cần Vương, Duy Tân.

Ngay trong lĩnh vực báo chí, tại sao lại lấy ngày ra đời báo Thanh niên, báo của tổ chức Cộng sản làm ngày báo chí Việt Nam? Quan điểm tôi là phải lấy ngày 15-4 là ngày số báo đầu tiên của Gia Định báo năm 1865 làm ngày báo chí Việt Nam. Năm sau, một số nhà báo cùng chúng tôi sẽ tổ chức ngày báo chí Việt Nam vào ngày 15-4. Còn Đảng Cộng sản và các tổ chức của mình cứ lấy ngày 21-6 làm ngày báo chí Cách mạng cũng không sao. Việc ai nấy làm. Thế thôi.

Tại Miền Bắc gọi là xã hội chủ nghĩa khi hòa bình mới lập lại, các văn nghệ sĩ mà đặc biệt đi tiên phong là các nhà thơ, nhà văn quân đội, tiêu biểu là Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm,… đã gây chấn động trong vụ Nhân văn Giai phẩm. Có lẽ là những người trực tiếp chiến đấu chứng kiến cảnh chết chóc của nhân dân trong chiến tranh nên họ quyết tâm tiếp tục chiến đấu để xây dựng một chế độ xã hội tự do dân chủ và tiến bộ xã hội. Họ đã quy tụ được nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ đấu tranh quyết liệt đòi hỏi tự do sáng tác, đòi hỏi chính trị không được can thiệp vào sáng tác của văn nghệ sĩ.

Nhà nước độc tài Đảng trị trong những năm đó thấy đây là nguy cơ đe dọa của chế độ nên đã ra tay đàn áp, bắt bớ, tù đày một cách không nương tay. Công thần Nguyễn Hữu Đang, người đã làm lễ đài Độc lập năm 1945, bị tù với vụ án ngụy tạo. Hữu Loan  (người viết bài với lòng tự trọng của một người văn nghệ sĩ cương quyết về quê thồ vác đá nuôi vợ con. Nguyên Hồng khảng khái bỏ về Yên Thế nuôi heo để kiếm sống. Nguyễn Hữu Đang sau khi ra tù sống những ngày tủi nhục phải góp nhặt bao thuốc lá làm hàng “đối lưu”  với ếch nhái, rắn rết của bọn trẻ chung quanh. (Nguyễn Hữu Đang dùng vỏ bao thuốc lá để trao đổi lấy ếch nhái, rắn rết mà bọn trẻ em bắt được, để dùng làm thức ăn)

Năm 1989, tôi gặp Tiến sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường ở Pháp, người đã theo Hồ Chí Minh về nước năm 1946. Ông kể lại hoàn cảnh của ông lúc đó, bị cô lập đến nỗi học trò cũng không dám nhìn mặt, phải bán tủ sách quý để sống qua ngày. Còn nhà triết học Trần Đức Thảo, khi tôi còn làm Phó Chủ tịch thường trực Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM đã mời ông đến nói chuyện. Bước xuống xe ông ngó lên liền xem có công an theo dõi ông không.

Tôi còn có những kỷ niệm đau đến xé lòng khi còn nằm trong hệ thống chính trị của nhà nước toàn trị, lúc còn là Phó Chủ tịch thường trực Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM và là đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố khóa 4, khóa 5. Có mấy việc tôi còn nhớ mãi:

+ Đảng Cộng sản Việt Nam ngày trở thành kiêu binh. Đâu đâu cũng vỗ ngực xưng tên là “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Ngay cả Hội trường của cơ quan dân cử như Hội đồng Nhân dân Thành phố mà cũngchẳng thấy đất nước, Tổ quốc đâu cả, chỉ thấy một khẩu hiệu to chần dần [to đùng] “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Một số đại biểu trong Hội đồng Nhân dân trong Đảng cũng như ngoài Đảng thấy chướng mắt nhưng không dám nói. Họ đến nói với tôi. Tôi thông cảm họ. Trong Hội đồng Nhân dân khóa 5, khi lên phát biểu ở Hội trường, tôi trầm giọng nói: “Đây là cơ quan dân cử, đại diện cho nhân dân Thành phố, nhưng tôi không thấy đất nước, Tổ quốc ở đâu mà chỉ có Đảng Cộng sản muôn năm thôi là sao? Đảng chỉ là một bộ phận của nhân dân, không có Tổ quốc, nhân dân thì làm gì có Đảng. Đảng phải đặt Tổ quốc lên trên hết, vì vậy tôi đề nghị thay đổi khẩu hiệu này bằng Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Cả hội trường im phăng phắc. Nhưng ngay kỳ họp sau thì khẩu hiệu Đảng đã thay đổi bằng tên nước.

+ Tôi là Trưởng ban Văn hoá – Xã hội, Hội đồng Nhân dân Thành phố khóa 5. Trong các kỳ họp Hội đồng Nhân dân Thành phố, các ban có bài thẩm định khá công phu. Phải đi thực tế, làm việc với các ngành và sau đó họp toàn ban để thông qua; Trưởng ban là người quyết định cuối cùng. Tôi nhớ trong một kỳ họp, tôi thức suốt đêm sửa chữa, hoàn thiện văn bản để phát biểu trước Hội đồng Nhân dân. Khi lên phát biểu, nhìn xuống thì không thấy vị Phó Chủ tịch nào dự, kể cả Phó Chủ tịch phụ trách Văn hoá – Xã hội. Thấy vậy tôi không đọc mà đề nghị ông Huỳnh Đảm, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, cho các thư ký, trợ lý điện gấp cho các Phó Chủ tịch, nhất là các Phó Chủ tịch phụ trách Văn hoá – Xã hội về dự họp. Ban thẩm định chuẩn bị công phu để phân tích những vấn đề, nhất là những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, các vấn đề xã hội khác – những vấn đề có liên quan thiết yếu đến đời sống nhân dân Thành phố. Khi thấy các Phó Chủ tịch lục tục về họp tôi mới phát biểu bản thẩm định của Ban. Đây là lần đầu tiên các phóng viên báo chí thấy việc này nên rất khoái. Từ đó, kỳ họp nào các Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cũng đều có mặt trừ một số Phó Chủ tịch có lý do chính đáng. Cái bệnh chỉ coi trọng Đảng, Thành ủy, xem thường Hội đồng Nhân dân đã vào máu các vị quan chức của chúng ta.

+ Việc thứ ba là cuộc đấu tranh hay có thể nói là đấu khẩu của Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Võ Viết Thanh và tôi về việc có nên dẹp chợ hoa Nguyễn Huệ hay không? Cuộc đấu khẩu gay gắt đến nỗi Chủ tịch Võ Viết Thanh nói đại ý nếu đồng chí Đằng thấy Đảng chật hẹp quá thì xin ra khỏi Đảng. Tôi liền đốp chát lại: đó là chuyện mà tôi và anh sẽ nói trong Đảng, còn đây là Hội đồng Nhân dân. Giữa lúc có nhiều đại biểu đồng ý với tôi, trong đó có Trần Văn Tạo, Ủy viên Thường vụ Thành uỷ, Phó Giám đốc Công an Thành phố, Phạm Phương Thảo, Ủy viên Thường vụ Thành uỷ, Phó Chủ tịch phụ trách Văn hoá – Xã hội Uỷ ban Nhân dân Thành phố thì chủ tọa kỳ họp lại được tin ban Thường vụ Thành ủy họp và đã đồng ý dẹp chợ hoa Thành phố. Tôi cương quyết đề nghị phải có nghị quyết riêng về vấn đề này, nhưng chủ tọa làm ngơ và thông qua nghị quyết ở Hội đồng Nhân dân Thành phố. Tuy đấu tranh gay gắt như vậy nhưng đối với anh Võ Viết Thanh tôi vẫn tôn trọng tính trung thực, quyết đoán của anh.

Lúc đó tôi với tư cách đại biểu Hội đồng Nhân dân Thành phố có phối hợp với các vị hưu trí Q.6, với Ban quản lý thị trường Thành phố để tố cáo những tiêu cực, sai trái của Giám đốc Đông lạnh Hùng Vương. Phối hợp với cuộc đấu tranh này có anh Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Thường vụ Quận ủy Quận 6, Trưởng ban Tuyên huấn Quận 6. Thắng cũng là dân phong trào sinh viên. Không hiểu sao sau đó có một văn bản có danh sách 12 người gọi là điệp báo của Cục tình báo Trung ương Mỹ trong đó Nguyễn Văn Thắng nằm ở số 7. Lúc ấy anh Nguyễn Minh Triết mới về làm Phó Bí thư thường trực của Trung ương. Tôi gặp anh Nguyễn Minh Triết và trình bày với anh về vấn đề này thì anh đề nghị tôi không can thiệp nữa vì danh sách đã có dấu đỏ của Đặc ủy tình báo Trung ương của Mỹ. Trước đó có người biết chuyện ngụy tạo danh sách này và nói danh sách láo được đánh máy trên giấy Bãi Bằng là giấy sản xuất sau 1975. Anh Nguyễn Minh Triết ghi nhận nhưng Nguyễn Văn Thắng vẫn bị giam ở số 4 Bạch Đằng. (số 4 Phan Đăng Lưu?- TH)

Lúc ấy Quận 6 tính lấy lại nhà của Nguyễn Văn Thắng ở Bà Hom, Quận 6. Tôi gặp Chủ tịch Võ Viết Thanh và đề nghị anh xem xét lại vấn đề này thì anh nói với tôi một cách cương quyết: “Chuyện chính trị của Thắng tôi không biết nhưng chuyện nhà của Thắng tôi bảo đảm không ai lấy được”. Anh giữ lời hứa khi Thắng được giải oan về lại Bà Hom, Quận 6 như cũ. Tôi gặp anh Võ Viết Thanh cám ơn anh. Nhân đó tôi hỏi thăm tại sao anh không đi học Cử nhân, Tiến sĩ như những người khác. Anh cười nói rất Nam Bộ: “Tôi không chơi kiểu đó. Nếu tôi học tôi sẽ xin nghỉ làm để đi học thật sự, không như những vị học giả mà bằng thật như hiện nay”. Từ đó quan hệ giữa anh và tôi rất vui vẻ, không còn nhớ gì trận đấu khẩu nảy lửa ở Hội đồng Nhân dân về vụ chợ hoa Nguyễn Huệ. Sau này anh bị thất sủng vì vụ án Sáu Sứ mà trong quyển Bên thắng cuộc nhà báo Huy Đức có nêu. 

Tôi nêu những trải nghiệm nói trên để chứng minh rằng trong chế độ này không có chỗ cho người trung thực mà chỉ dành cho những người nói láo, tránh né đấu tranh. Giờ đây chúng ta phải phá vỡ nỗi sợ hãi đó đi để thực hiện một chủ trương cực kỳ quan trọng của nhà cách mạng Phan Châu Trinh: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Cuối cùng tôi xác định bài viết này chỉ có mục đích là thanh toán, tính sổ cuộc đời của mình, trang trải những món nợ còn lại để gửi các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, để mong các vị hiểu ra mà có sự lựa chọn con đường sống cho dân tộc. Hiện nay xu hướng chạy theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội đã lạc điệu, không còn phù hợp nữa và đã sụp đổ tan tành ở ngay quê hương Xô Viết. Hiện nay là cuộc đấu tranh trên thế giới về dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nghĩa là đây là cuộc đấu tranh quyết liệt cho con người, vì con người chống lại các thế lực phản động đang âm mưu nô dịch nhân dân, phá hoại môi trường vì những lợi ích kinh tế ích kỷ của các tập đoàn, lũng đoạn nhà nước.

Tôi không tin lắm, nhưng dù sao thì vẫn cố hy vọng một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước sớm thấy tình hình và xu thế phát triển hiện nay để đặt lợi ích của Đất nước, Tổ quốc lên trên hết mà có một giải pháp hợp lý, không vì lợi ích và sự tồn tại của Đảng, của chế độ mà đi ngược lại xu thế phát triển của thời đại hiện nay.

Tôi nghĩ, chúng ta hiện nay cùng có trách nhiệm phải cương quyết đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ, tôn trọng và thực hiện lý tưởng của biết bao thế hệ cha anh chúng ta về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội, văn minh và giàu mạnh. Xã hội công dân một khi mạnh lên sẽ có đủ sức kìm hãm, ức chế các khuynh hướng độc tài của một nhà nước toàn trị. Trước mắt là phải “chấn dân khí” để không còn sợ hãi các thế lực tàn bạo, không sợ bắt bớ, tù đày. Sau đó là “khai dân trí” và “hậu dân sinh”.

Bài viết này cũng là để trải lòng với bạn bè, đồng đội và những nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các bạn thanh niên, sinh viên, học sinh mà tôi đã quen hoặc mới quen, để khẳng định một điều: với lòng tự trọng của một công dân một nước có lịch sử hào hùng chúng ta phải hành động. Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên này hay bên kia. Vì thật ra cả một bộ phận loài người trong đó có người Việt Nam khát khao với một xã hội tốt đẹp hơn, chống lại cái ác, cái xấu nên đã có thời gian dài nuôi ảo tưởng về đường lối xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết Stalin của Đảng Cộng sản.

Trước đây chúng ta chưa có đủ điều kiện, dữ liệu để nhận thức một số vấn đề sống còn của đất nước nhưng hiện nay tình hình trong nước và trên thế giới đã thay đổi, vì vậy chúng ta phải nhận thức lại. Nhận thức lại và dấn thân hành động cho cuộc chiến đấu mới. Đừng loay hoay những chuyện đã qua mà làm suy yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc. Hãy để con cháu chúng ta làm nhiệm vụ đánh giá lịch sử. Còn chúng ta trước mắt là hành động, hành động và hành động. Điều này tôi nói một lần rồi thôi…

Viết trong những ngày nằm bịnh.

L. H. Đ.

-Nguyên phó TTK Ủy ban TƯ LM các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam

-Nguyên phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam Thành phố.HCM (từ 1989-2009)

-Đại biểu HĐND Thành phố khóa 4, khóa 5

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Ông Lê Hiếu Đằng bị ung thư (2013), bị tiểu đường trước đó rất lâu, trong khi nằm viện chuẩn bị chữa hóa trị thì bị biến chứng tim mạch và qua đời 22-1-2014

ndanghung.com/bai-viet/2013/12/16

**

*Trong bài này có nhắc đến Võ Viết Thanh, Chủ tịch UBND Tp HCM cũng là Trung tướng công an Võ Viết Thanh.

Theo blog BS Ngọc  điểm sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) như sau:

3.- Tàn nhẫnSự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

Theo blog BS Ngọc

 ► http://boxitvn.blogspot.de/2013/08/suy-nghi-trong-nhung-ngay-nam-binh_17.html

*  Những đồi hoa sim, nhạc của Dũng Chinh, ca sĩ Phương Dung 

*  ÁO ANH SỨT CHỈ ĐƯỜNG TÀ (nhạc Phạm Duy, thơ Hữu Loan),  ca sĩ Elvis Phương

*  Màu tím hoa sim, Quốc Anh ngâm:  http://www.youtube.com/watch?v=RJswQvblNiM&feature=youtu.be

Hữu Loan: Về Bài Thơ Màu Tím Hoa Sim

———————————

LÊ HIẾU ĐẰNG viết về BS DƯƠNG QUỲNH HOA (2006)

Dương Quỳnh Hoa: Sự chọn lựa của một trí thức yêu nước

05/03/2006 05:07 (GMT + 7)

TTCN – Trong giờ phút cuối tiễn biệt chị, tôi bùi ngùi nhìn mãi di ảnh của chị: mái tóc bạc và đôi mắt đượm buồn. Đôi mắt u uẩn của một con người trí thức có tấm lòng.
Tháng 6-1968, trong chiến khu kháng Mỹ. Từ trái sang: Ông Lê Quang Lộc, bà Dương Quỳnh Hoa, ông Lê Hiếu Đằng – ba thành viên Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam (ảnh tư liệu của ông Phạm Hy Tùng)

Tôi gặp chị trong phong trào của các tầng lớp nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đấu tranh vì quyền dân tộc tự quyết, đòi hòa hình, chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mỹ ở VN. Điều mà cho đến bây giờ tôi không thể nào quên là lần đầu tiên gặp chị vào năm 1965: một nữ bác sĩ nói tiếng Pháp như gió, giọng của người dân Paris thật sự và có một nụ cười giòn giã, sảng khoái, khỏe mạnh.

Sau đó gặp lại chị nhiều lần mới biết được chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước: ba chị là giáo sư Dương Minh Thới, một trí thức nổi tiếng ở Nam bộ; anh chị là luật sư Dương Trung Tín, một trí thức đã bị địch thủ tiêu vì những hoạt động yêu nước. Nhưng có một điều lúc đó tôi chưa từng biết: ngay trong thời gian học tập, hoạt động ở Pháp, chị đã là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và sau này khi về nước chị đã bí mật tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN ngay từ những ngày đầu mới thành lập với bí danh là Thùy Dương.

Nhưng có lẽ thời gian tôi có để hiểu được bản chất tốt đẹp của người trí thức như chị là những năm tháng cùng nhau sống ở chiến khu. Năm 1968, trong khói lửa mịt mù của cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân, chị và nhiều nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, các nhà lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, công thương kỹ nghệ gia, các sinh viên trong ban chấp hành Tổng hội và ban đại diện sinh viên các phân khoa Đại học Sài Gòn đã rời bỏ cuộc sống đầy tiện nghi của đô thị, vào chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình VN.

Tôi vẫn nhớ như in cái đêm chị, tôi và nhiều vị khác âm thầm từ vùng Ba Thu Mỏ Vẹt vượt “đồng chó ngáp” lên địa điểm tổ chức đại hội thành lập liên minh. Là đại biểu nữ duy nhất trong đoàn thế mà chị vẫn đi thoăn thoắt, dường như không biết mỏi mệt dù cái tên gọi quãng đường “đồng chó ngáp” đã nói lên tất cả.

Rạng sáng hôm sau khi đến nơi, vừa quăng balô xuống đất, mặc dù mệt hả họng, tôi vẫn phải hỏi chị: Tại sao chị đi giỏi đến vậy? Chị tươi tỉnh cười phá lên nói nửa đùa nửa thật: Vì lúc ở Paris đi nhảy đầm nhiều nên chân rất khỏe. Cho đến nay, chị đã đi xa, tôi vẫn không hiểu chuyện ấy chị nói đùa hay nói thật.

Ngày 20-4-1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình VN ra đời với một ủy ban trung ương gồm 10 vị do luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch. Vài ngày sau, tòa án mặt trận vùng 3 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn đem ra xét xử khiếm diện 10 vị trong ủy ban trung ương liên minh với bản án tử hình và tịch thu gia sản, trong đó có chị và tôi cùng anh Huỳnh Văn Nghị (sau này là chồng của chị).

Nghe tin trên, chị lại cười phá lên sảng khoái khiến tôi phải giật mình nhắc nhở chị đây là khu căn cứ cần phải bảo mật, không phải như lúc còn ở Sài Gòn. Anh chị em cán bộ công nhân viên cơ quan, từ chị nuôi cho đến các chiến sĩ bảo vệ, ai cũng thương tính tình hồn nhiên, tươi trẻ của chị và sức chịu đựng gian khổ hiếm có trong những lúc khó khăn, ác liệt nhất.

Năm 1970, sau vụ đảo chính của Lon Non ở Campuchia, Đỗ Cao Trí, tư lệnh vùng 3 chiến thuật của quân đội Sài Gòn, đã mở trận càn Đông Dương đánh qua đất Campuchia. Để bảo đảm an toàn, các cơ quan xung quanh Trung ương cục miền Nam phải vượt lộ 7. Và trong cái đêm vượt lộ 7 không bao giờ quên đó, chị đã sinh được một cháu trai xinh xắn trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng lúc bấy giờ. Có lẽ đó là kỷ niệm khó phai đối với những người đã từng tham gia cuộc hành quân vượt lộ 7 và đã chứng kiến cảnh chị sinh con trong hoàn cảnh như thế nào. Nhưng ác nghiệt thay, sau đó vài tháng đứa con thân yêu của chị đã mất sau những cơn sốt rét dai dẳng.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chị đã từ bỏ mọi điều kiện ưu đãi của xã hội lúc bấy giờ để chấp nhận lao vào cuộc chiến đấu trong lòng nội thành Sài Gòn mà nguy cơ bị bắt, tra tấn, tù đày, thủ tiêu rình rập từng ngày, từng giờ và khi cần thiết chị đã dứt khoát thoát ly gia đình vào chiến khu như những chiến sĩ thật sự. Và thực tế chị đã là một chiến sĩ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho đất nước.

Ngày hòa bình lập lại, một lần nữa chị lại chọn lựa cho mình con đường đi mà ít ai trong hào quang của chiến thắng lại chọn lựa: chị âm thầm rời bỏ mọi bả lợi danh, chức quyền để trở về với thiên chức cao quí của người bác sĩ, nhất là bác sĩ nhi khoa. Trong bối cảnh của một đất nước đang bị chế độ quan liêu bao cấp hành hạ, chị đã cùng với một số đồng nghiệp xây dựng nên Trung tâm nghiên cứu nhi.

Với uy tín của chị trong quan hệ quốc tế, có thể nói lúc bấy giờ Trung tâm nghiên cứu nhi là một nơi có đầy đủ phương tiện, thức ăn dinh dưỡng để nghiên cứu, chữa bệnh và nuôi các cháu bé còi cọc, suy dinh dưỡng do hậu quả của chiến tranh hoặc do hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề lúc bấy giờ, trong đó có không ít là con cán bộ, chiến sĩ từ chiến khu về.

Trong lễ tang chị, tôi đã gặp biết bao người ứa nước mắt nhắc lại công lao này của chị và tập thể bác sĩ, cán bộ, công nhân viên của Trung tâm nghiên cứu nhi thời ấy. Bây giờ con cái họ khỏe mạnh, trưởng thành, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Gia đình tôi cũng đã chịu ơn chị. Ở đây tôi cũng cần nói một điều mà có người đã biết nhưng nhiều người chưa biết: đó là vai trò của anh Huỳnh Văn Nghị, chồng chị.

Trong mỗi bước đi của chị đều có sự âm thầm, lặng lẽ đóng góp của anh Nghị. Đây không phải đơn giản là mối quan hệ vợ chồng đầy tình nghĩa mà là một đôi tri âm tri kỷ, đồng điệu, chia sẻ với nhau những quan niệm sống và làm việc mà ít cặp vợ chồng nào có được. Chị mất đi để lại một khoảng trống thương tiếc khôn nguôi cho chồng chị và mọi người.

Con đường mà chị Dương Quỳnh Hoa lựa chọn là tấm gương của người trí thức chân chính đã biết từ bỏ mọi tiện nghi của cuộc sống để trở thành người chiến sĩ bảo vệ đất nước khi Tổ quốc cần và cũng biết âm thầm từ bỏ mọi bả vinh hoa, phú quí, quyền lực để trở thành một người công dân bình thường giúp ích cho đời, cho xã hội. Tất cả đều là phù du khi chúng ta nằm xuống. Cái tồn tại mãi mãi đó là lòng thương yêu, tôn trọng của mọi người. Phải chăng đó cũng là con đường “xuất – xử” của kẻ sĩ ngày nay?

LÊ HIẾU ĐẰNG

Báo Tuổi Trẻ

———————-

Cuộc đời và cái chết rất buồn của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

chauxuannguyen.org  và  by   (30-3-3013)   

image
Cố bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Đăng lần đầu: 31.3.2013

BBT.- Bài viết của Mai Thanh Truyết dưới đây có phần đúng sau ngày MTGPMN bị “chặt đầu”. Bài còn thiếu ở phần cuộc đời bà Hoa, có thể gọi là quan trọng lý do thúc đẩy bà theo CS, từ ngày học tại Pháp cho đến ngày chia tay Bs Trần Kim Tuyến tại quán ăn Thủ Đức đi vào khu. Muốn cho đầy đủ, tác giả nên hỏi lại các nhân vật sau đây: Bs Trần Văn Đỗ, BộTrưởng Ngoại Giao VNCH, người Chị ruột bà Hoa cũng là bác sĩ, làm viện Pasteur Saigon, Bs Nguyễn Văn Thọ, TGĐ Thông Tin Đệ Nhứt CHVN và Bs Trần Kim Tuyến.

*

Cuộc đời và cái chết của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Ts. Mai Thanh Truyết

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25-2-2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2.

Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên.

Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.
Sự im lặng của CS Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trải và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

image
Ông Huỳnh Văn Nghị và vợ – BS Dương Quỳnh Hoa, chụp ở chiến khu năm 1970

(theo bài báo của Lê Hiếu Đằng, người bên trái Bs DQH là …)

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40.
Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự.

LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN.
Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN. (MTDTGPMN) dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu -Mỏ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.
Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS.
Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán.

Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo.

Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

image

.
Bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris 1973.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra.
Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau: “Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”.
Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.
Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ.
Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định…
Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: ”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”.

Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng.
Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước.
Trong thời gian nầy Bà tuyên bố: ”Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân.”
Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9, 10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa.

Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin.

Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc.
Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì …nhân dân (của Đảng!).
Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội : ”Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

.
image
Ký giả Morley Safer

.
Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là:
”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.”

Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói: ” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại.”

 

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

.

image

.
Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đổi lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.
Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003.
Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát.
Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
– Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
– GS, BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: ”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

.

image

.
Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoản. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
– Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
– Những người cùng cảnh ngộ.
Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để
(1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và
(2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và
(3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

image

.
Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề.
Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi.
(Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).
Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.
Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da.
Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ.
Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai.
Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường.
Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu.
Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).
Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

.

image

.
Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn.

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004.
Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. “Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”
Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.
Bà còn thêm rằng: ”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.
Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

.

image

.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương.

Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003.
Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.
Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH.

Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.*
Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Mai Thanh Truyết

 *Ngoài ra, còn có bài của Lê Hiếu Đằng (đăng phía trên)

——————————–

VỤ ÁN NĂM CHÂU, SÁU SỨ: VỤ ĐỘT KÍCH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP…

Posted by ttxcc6 on 06/02/2013

 Phamvietdao

Huy Đức.

Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Trung ương chỉ định về ứng cử đại biểu đi dự Đại hội tại Đảng bộ Nghệ Tĩnh. Cuối tháng 4-1991, ông vào Vinh dự họp với Đoàn đại biểu Tỉnh. Tới nơi thì đã quá trưa. Đợi vị tướng già cơm nước xong, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh Nguyễn Bá mới trao tận tay bức điện “khẩn tuyệt mật” của Ban Bí thư do ông Nguyễn Thanh Bình ký. Không được phép họp với Đoàn, Tướng Giáp bị yêu cầu phải trở ra Hà Nội ngay trong chiều hôm đó.

Năm ấy Tướng Giáp đã 80 tuổi. Đoạn đường Vinh – Hà Nội tuy chỉ hơn 300km nhưng bụi bặm và dằn xóc. Tướng Giáp trở về phòng, viết mấy dòng cáo lỗi gửi Đoàn đại biểu Nghệ Tĩnh rồi lại lên xe về Hà Nội, nơi ông sẽ phải ra trước Hội nghị Trung ương 12, đối diện với những cáo buộc chính trị mà về sau được gọi là vụ “Năm Châu – Sáu Sứ”.

Tại Hội nghị Trung ương 12, Khóa VI, ông Nguyễn Đức Tâm, Trưởng Ban Tổ chức, thay mặt Bộ Chính trị báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương một văn bản tuyệt mật nói rằng: Một vụ bè phái vi phạm nguyên tắc Đảng hòng chi phối vấn đề bố trí nhân sự cấp cao đang diễn ra. Những người tham gia bao gồm Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà, cùng một số cán bộ cao cấp khác.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ phụ trách an ninh, Trung tướng Võ Viết Thanh, nhớ lại: “Nghe ông Tâm nói, có cảm giác như đang có một âm mưu đảo chính để đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên làm chủ tịch nước sau đó thay ông Linh làm tổng Bí thư; đưa Trần Văn Trà lên làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Thời gian trước Hội nghị Trung ương 12, ông Trà bị triệu tập ra Hà Nội và bị giữ lại ở Nhà khách số 8 Chu Văn An. Văn bản tuyệt mật này được phổ biến tới thường vụ các tỉnh, thành, bằng cách cho đọc nguyên văn nhưng bị cấm sao chép”.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên, ủy viên Bộ Chính trị Khóa VI, nói: “Lật đổ là một câu chuyện bịa đặt. Ông Giáp không chỉ là một đại tướng mà xứng đáng là một đại nguyên soái. Một người không chỉ coi trọng sinh mạng binh sỹ mà còn đặt danh dự của tổ quốc lên trên. Ông là một người thận trọng. Nhân vụ Sáu Sứ, họ còn lật lại hồ sơ vụ ‘chống Đảng năm 1967’, đưa ra tài liệu cũ của Lê Đức Thọ, đây cũng là một vụ án được dựng lên”. Ông Võ Viết Thanh kể thêm: “Tại hai Hội nghị

12 và 13 của Ban Chấp hành Trung ương, nhiều vị tướng trong Quân đội hết sức bức xúc, đứng lên phát biểu bảo vệ Tướng Giáp. Cụ Võ Nguyên Giáp cay đắng: Đến một vị tướng đã đánh thắng Điện Biên Phủ mà người ta vẫn vu cho là con nuôi của mật thám Pháp”.

Gần tới ngày Đại hội, một hôm vào khoảng 9 giờ đêm, Bộ trưởng Nội vụ Mai Chí Thọ triệu tập một cuộc họp kín gồm có các thứ trưởng: Cao Đăng Chiếm, Phạm Tâm Long, Bùi Thiện Ngộ, Võ Viết Thanh. Ông Mai Chí Thọ nói: “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giao nhiệm vụ cho Bộ Công an làm rõ sai phạm của anh Giáp và anh Trà để xử lý cả về mặt Đảng và Nhà nước. Bộ chỉ đạo anh Võ Viết Thanh đảm nhiệm việc này”. Cả bốn vị thứ trưởng nghe đều phân vân, lo lắng. Ông Võ Viết Thanh nói: “Đề nghị Bộ trưởng trình bày lại với Tổng Bí thư đây là những người có công với nước, nếu có sai thì Ủy ban Kiểm tra Trung ương xác minh làm rõ còn khi đã chuyển công an thì phải có dấu hiệu phạm tội”. Mai Chí Thọ dứt khoát: “Chúng ta phải thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư”.

Ông Võ Viết Thanh nói tiếp: “Nếu phải điều tra, tôi đề nghị nên giao cho anh Cao Đăng Chiếm hoặc anh Bùi Thiện Ngộ vì hai anh có kinh nghiệm trong ngành hơn tôi. Tôi không từ chối, nhưng tôi biết bản báo cáo của đồng chí Nguyễn Đức Tâm lấy nguồn tin từ một số người không tốt trong Cục II, Bộ Quốc phòng. Tôi cũng biết người đẩy ra vụ này là Đoàn Khuê. Cá nhân tôi với Cục trưởng Quân báo Tư Văn và Cục phó Vũ Chính có ý kiến khác nhau trong một số việc như: lợi dụng nghiệp vụ đi buôn lậu; tổ chức cài đặc tình vào nội bộ… Bây giờ nếu tôi làm vụ này nữa thì rất căng với Cục II”. Mai Chí Thọ gắt: “Ông phụ trách an ninh, không làm thì ai làm”. Võ Viết Thành đành phải: “Tôi xin chấp hành”.

Ông Võ Viết Thanh kể: “Tôi bay vào Sài Gòn. Anh em an ninh đã có đủ tư liệu, vấn đề là tình hình nội bộ rất căng vì có tác động từ cấp cao. Nhiều người khuyên tôi khi điều tra không nên làm khác báo cáo của Nguyễn Đức Tâm. Người gần gũi nhất là Thiếu tướng Trần Văn Danh cũng nói là có người khuyên như vậy. Ông Danh gọi tôi tới, tôi hỏi: ‘Lời khuyên này xuất phát từ đâu anh Ba?’. Ba Trần, tên thường gọi của Tướng Trần Văn Danh, nói: ‘Ở cấp rất cao’. Tôi nói: ‘Tôi đề nghị anh Ba trả lời họ, tôi đang được giao một công việc mà tôi không thể nào làm trái đạo đức và pháp luật’. Ba Trần nghe bắt tay, không ngờ anh chỉ hỏi thế để thăm dò nhưng anh là người ủng hộ tôi làm đúng”.

Ông Võ Viết Thanh kể tiếp: “Ngày 14-5-1991, tôi ra lệnh bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Sứ. Anh em thi hành không bắt tại nhà vì sợ động mà bắt bí mật, đưa về 258 Nguyễn Trãi. Vừa vào trại, Sáu Sứ hỏi: ‘Các anh ở phía nào?’. Anh em dằn mặt:

‘Chị không được phép hỏi như thế, chúng tôi là cơ quan an ninh, yêu cầu chị nói hết’. Sáu Sứ trả lời: ‘Tôi là người Cục II,

yêu cầu được nói chuyện điện thoại với Tư Văn, Vũ Chính’. Anh em An ninh nói: ‘Chị là người phạm pháp, chị không được phép gặp ai cả’. Trong một ngày Sáu Sứ khai hết172”.

Không hề có một tổ chức nào do cụ Giáp đứng đầu như báo cáo của Nguyễn Đức Tâm đề cập. Theo ông Võ Viết Thanh, Sáu Sứ khai bà được Vũ Chính cấp tiền, cấp xe và đi gặp vị tướng nào, nói gì là đều theo chỉ đạo của Cục II. Thông qua một người tên là Năm Châu, từng công tác chung với ông Thanh Quảng, nguyên là thư ký của Tướng Giáp, Sáu Sứ được đưa tới nhà Võ Nguyên Giáp cùng một số cựu chiến binh. Hôm Sáu Sứ đến, cụ Giáp đang ăn, nghe có đoàn Cựu chiến binh, cụ dừng bữa cơm để tiếp. Sáu Sứ mang theo một giỏ trái cây vào tặng rồi xin cụ Giáp cùng chụp ảnh với Đoàn. Toàn bộ cuộc gặp chỉ có vậy nhưng Sáu Sứ báo cáo: “Cụ Giáp đã đồng ý với kế hoạch”. Rồi theo ông Võ Viết Thanh: “Băng ghi âm cuộc nói chuyện của Sáu Sứ ở nhà Tướng Giáp nghe không rõ nhưng Cục II vẫn xào nấu thành một bản báo cáo, theo đó: Đang có một vụ đảo chính, một vụ bè phái trong Đảng hòng chi phối vấn đề bố trí nhân sự cấp cao trước Đại hội VII do Tướng Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà cùng một số cán bộ cao cấp khác tiến hành. Bản báo cáo này trở thành cơ sở để Trưởng Ban Tổ chức Nguyễn Đức Tâm báo cáo trước Hội nghị Trung ương 12 về Tướng Giáp”.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Huyên, Chánh Văn phòng Tướng Giáp, từ Hội nghị Trung ương 12 về nhà nghỉ trưa, Tướng Giáp hỏi: “Cậu có nhớ ai tên là Năm Châu từng ở Nam Bộ ra đây gặp mình không?”. Ông Huyên nhắc lại sự việc xong, Tướng Giáp ăn cơm rồi đi ngủ. Đến cận giờ họp buổi chiều, ông Huyên vào phòng thấy Tướng Giáp vẫn ngáy khò khò, ông Huyên hỏi: “Việc đang thế này mà anh cũng ngủ được à?”. Tướng Giáp cười: “Cây ngay không sợ chết đứng”.

Trong khi đó, ngay sau khi Sáu Sứ bị bắt vào ngày 15-5-1991, theo ông Võ Viết Thanh: Cục II rúng động, Cục trưởng Tư Văn đổ bệnh. Trong ngày ông Võ Viết Thanh cầm bản cung của Sáu Sứ bay ra Hà Nội, 17-5-1991, Tướng Lê Đức Anh viết một bức thư cực ngắn: “Kính gửi: Bộ Chính trị. Tôi xin không ứng cử vào Quốc hội khóa IX. Xin cám ơn Bộ Chính trị. Kính! Lê Đức Anh”. Do căng thẳng, Tướng Lê Đức Anh ngay sau đó bị đột quỵ. Bác sỹ Vũ Bằng Đình, người trực tiếp cấp cứu, nói: “Ông Lê Đức Anh bị xuất huyết dạ dày, huyết áp tụt xuống bằng 0, hồng cầu chỉ còn một triệu. May mà cấp cứu kịp”.

Theo ông Võ Viết Thanh: “Ra Hà Nội, tôi làm báo cáo đưa ông Mai Chí Thọ đề nghị Bộ trưởng ký. Ông Mai Chí Thọ nói:

‘Cậu ký luôn, gửi và trực tiếp báo cáo anh Linh’. Ngay chiều hôm đó, Chánh Văn phòng Trung ương Hồng Hà xếp lịch gặp Tổng Bí thư. Nghe tôi báo cáo xong, ông Linh không nói gì. Nhưng, sáng hôm sau thì nhận được ‘điện mật’ của Văn phòng yêu cầu các nơi ngưng phổ biến và gửi trả văn bản do Nguyễn Đức Tâm ký về Văn phòng Trung ương. Sau đó, Trung ương không có một lời nào nói lại với Tướng Giáp, còn Tướng Trần Văn Trà thì vẫn bị giữ lại ở số 8 Chu Văn An”. Theo ông Võ Viết Thanh: “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã không đưa kết luận về vụ Sáu Sứ ra báo cáo trước Hội nghị Trung ương và ngay cả các ủy viên Bộ Chính trị cũng không mấy ai biết”. Thái độ của Tổng Bí thư như một tín hiệu để ngay lập tức ông Võ Viết Thanh nhận được đòn “đánh dưới thắt lưng” của Cục II.

Theo ông Võ Viết Thanh, ngày 23-6-1991, khi đại biểu đã được triệu tập về Hà Nội: “Trước phiên họp cuối cùng của Hội nghị trù bị, Hồng Hà, Chánh Văn phòng Trung ương đưa tôi miếng giấy, ghi: ‘Đề nghị đồng chí Võ Viết Thanh đến giờ giải lao ra gặp Bộ Chính trị và Ban Bí thư có việc riêng’.

Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII”.

Ông Võ Viết Thanh nói: “Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được173. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận”174. Cho dù giữ mình để bảo vệ Đại hội, tương lai chính trị của ông Thanh đã coi như khép lại. Ông Võ Viết Thanh nói: “Nếu tôi cứ nghe lời khuyên, kết luận giống như bản báo cáo của Nguyễn Đức Tâm, thì tôi sẽ được thăng chức, đề bạt nhưng rồi tôi lại phải dấn vào bước thứ hai là ra lệnh bắt oan Tướng Trà và Tướng Giáp. Làm thế, thì lương tâm sẽ giết dần, giết mòn tôi”175.

Năm ấy, Tướng Giáp vừa tròn 80 tuổi. Ông không nằm trong bất cứ cơ cấu nhân sự nào, vụ “Năm Châu – Sáu Sứ”, nếu thành, chỉ có thể hạ bệ uy tín của ông trong Đảng. Khi Võ Nguyên Giáp đã là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh chỉ mới là một cán bộ ở cấp tiểu đoàn. Sự mặc cảm trước uy danh của Tướng Giáp chỉ có thể được tích tụ thông qua hai người đã cất nhắc Lê Đức Anh: Lê Duẩn và, đặc biệt là, Lê Đức Thọ.     ( Trích từ cuốn Bên thắng cuộc của nhà báo Huy Đức )

—-

Đại tướng Đoàn Khuê ung thư gan

Đỗ Mười từng bị bệnh tâm thần trong 10 năm

Tân UV Bộ Chính Trị, giáo sư vật lý, Nguyễn Đình Tứ bị tai biến mạch máu não và đột ngột chết vào lúc 20 giờ ngày hôm sau, 28-6-1996,

Đào Duy Tùng bị ung thư

Posted in Đảng mới | 4 Comments »