Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín, 2014

►Sinh viên, học sinh Hồng Kông biểu tình cương quyết chống lại “đảng cử, dân bầu” do Bắc Kinh điều khiển

Posted by hoangtran204 trên 30/09/2014

Sinh viên, học sinh, và người dân Hồng Kông đang biểu tình đòi hỏi dân chủ tự do bầu cử và ứng cử. Họ không muốn chính quyền Bắc Kinh can thiệp vào tiến trình lựa chọn ứng cử viên theo kiểu: đảng cử dân bầu (đảng và mặt trận tổ quốc đề cử đề cử ứng cử viên và dân chúng chỉ được lựa phải bầu cho những người này )

Họ đang vùng vẫy đấu tranh để đáp được ước vọng sống trong thể chế dân chủ và tự do. Nếu họ bổng nhiên họ trở nên ngây thơ để nghe lời ru ngũ êm dịu để thỏa hiệp với Bắc Kinh, thì bài học lịch sử ở Việt Nam sẽ tái hiện ở Hồng Kong trong một tương lai rất gần, như miền Nam Việt Nam đã hứng chịu và kết thúc vào ngày 30-4-1975. 

1. Lời tiên đoán cuả Ronald Reagan (khi đang còn là Thống Đốc của tiểu bang California 1967-1975)  về cuộc rút quân đội Mỹ ra khỏi VN năm 1973 có khả năng để lại các thảm họa như thế nào.

Ronald Reagan (1973) ” …Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and coming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generations of VietNam borned .”
[Dịch]: “…Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh ra tại Viêt Nam về sau.”

—————–

Cuộc phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương 1997 tại Paris

«

Năm 1975, nhà văn Dương Thu Hương, (sinh 1-1-1947), khi đó đang ở trong đoàn quân chiến thắng, trong một cuộc phỏng vấn bà đã phát biểu cảm tưởng của bà vào ngày 30-4-1975 như sau:

https://www.youtube.com/watch?v=1HhbiG8YGpE

Phim trên là trích đoạn của cuộc Phỏng vấn  nhà văn Dương Thu Hương ở New York ngày 30-4-2006. Đây là một trong những cuộc phỏng vấn tuyệt vời nhất giữa người đặt câu hỏi, các câu trả lời của bà DTH, và phần phiên dịch chính xác  có thể nói là >98%. Mời các bạn thưởng thức. 

Phần 1   http://www.youtube.com/watch?v=An_oN0N9_6c

Phần 2   http://www.youtube.com/watch?v=p947T7siNxw

Phần 3   http://www.youtube.com/watch?v=7Mqa25l9cT4

Phần 4  http://www.youtube.com/watch?v=wtx3aRcFA58

Phần 5  http://www.youtube.com/watch?v=XQYWA5lNH7U

Phần 6  http://www.youtube.com/watch?v=8qwG4iPzuy0

Phần 7 http://www.youtube.com/watch?v=v-8BpWkHW9E

Live From New York: Duong Thu Huong Part 5 of 7

Tham khảo và các tác phẩm của nhà văn Dương Thu Hương:

Dương Thu HươngWikipedia, the free encyclopedia

Dương Thu Hương (Author of Paradise of the Blind)

Thu Huong Duong – HarperCollins Publishers

Vietnamese Novelist Duong Thu Huong Will be Exiled in

Duong Thu Huong Biography – eNotes.com

http://danchunglambao.blogspot.com/2014/07/phim-viet-nam-viet-nam-bo-phim-cuoi_25.html

Born in central Vietnam in 1947, when that country was still a French colony, Duong Thu Huong (zhung tew huong) started her life with modest beginnings as the daughter of a schoolteacher mother and a father who was a tailor and guerilla fighter for Vietnamese leader Ho Chi Minh. As a teenager in the mid-1960’s, she joined the Communist Party, serving as the leader of a Communist youth brigade that, in part, provided entertainment for Communist troops during the Vietnam War. She was one of only three persons in the brigade of forty to survive the experience. Forever committed to and involved with politics, she also voluntarily joined the Vietnamese army in its brief war against China in 1979; she was the first woman to serve in combat on the front lines of the conflict. She also was a war correspondent and wrote news releases about the war. After the war, she wrote and spoke on behalf of the government and the Communist cause. During this time she supported herself primarily by writing fiction and screenplays.

In the early 1980’s, there was a major shift in her temperament and beliefs about the role of Communism in her country. She began to speak openly against corruption, bribery, chicanery, repression, and bureaucracy at public political events, as well as in her writings. During the decade she wrote three novels. The first two, Hành trình ngày tho âu (1985; journey in childhood) and Bên kia bo oa vong: Tiên thuyêt (1988; Beyond Illusions, 2002), were not problematic for the government. In fact, at this time the government in Hanoi had called for writers in the country to comment about the nation’s social, economic, and political problems.

However, when she published Nhung thiên duong mù: Tiêu thuyêt (1988; Paradise of the Blind, 1993), she ran into trouble with government censors and mainline Communists. While no one thought the work to be overtly anti-Communist or antigovernment propaganda, it was too revealing of problems in its nuances and undertones….

(The entire section is 834 words.)

——-

Advertisements

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ - | Leave a Comment »

►Sinh viên Hong Kong ra tối hậu thư cho chính quyền

Posted by hoangtran204 trên 30/09/2014

Sinh viên Hồng Kông ra tối hậu thư cho chính quyền

29-9-2104

(VTC News) – Nhóm sinh viên biểu tình nói nếu chính quyền Hong Kong không đưa ra phản hồi về yêu cầu 4 điểm, họ sẽ kêu gọi biểu tình không thời hạn.

Nhóm học sinh, sinh viên biểu tình ở Hong Kong đưa ra yêu cầu 4 điểm với chính quyền: Yêu cầu mở cửa quảng trường nhân dân và các tuyến đường cho người biểu tình; yêu cầu Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong Lương Thế Anh và bộ 3 người cải cách trong chính quyền Hong Kong từ chức; thu hồi quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc về thay đổi luật pháp; người dân được tham gia bầu cử.

Chủ tịch liên đoàn sinh viên nói nếu chính quyền Hong Kong không đưa ra phản hồi về yều cầu 4 điểm trên trước 12h trưa nay (giờ địa phương), những sinh viên này sẽ kêu gọi bãi khóa vô thời hạn và biểu tình quy mô lớn khắp Hong Kong.

Tối 29/9, Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong Lương Thế Anh cho biết, những người biểu tình của phong trào ‘Chiếm trung tâm’ rút lui sau khi cảnh sát trấn áp sử dụng hơi cay và đạn cao su.
 
Ông Lương cũng nhấn mạnh, không có hiện tượng nổ súng vào người biểu tình cũng như không sử dụng quân giải phóng trong việc trấn áp.
 
Tuy nhiên, tường thuật của truyền thông phương Tây nói tình hình biểu tình tại hai khu trung tâm lớn của Hong Kong là Trung Hoàn và Kim Chung vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn.
 
“Chúng tôi không muốn tình hình trở nên hỗn loạn, làm ảnh hưởng tới tầng lớp học sinh, sinh viên. Tôi hy vọng các bạn hay rút lui trong hòa bình”, ông Lương nói.
Đại diện bệnh viện Hong Kong cho hay, tính tới 6h sáng nay (29/9), có khoảng 41 người bi thương sau khi đụng độ với cảnh sát.
 
Tuy nhiên, trong bài phát biểu sáng sớm 29/9, ông Lương Thế Anh vẫn chưa có bất cứ phản hồi về yêu cầu 4 điểm của liên đoàn sinh viên Hong Kong. Ông Lương Chấn Anh tuyên bố cuộc bầu cử vào năm 2017 sẽ diễn ra như kế hoạch đã định: “Với 50 triệu người Hong Kong, đây là bước đi mang tính lịch sử. Chúng tôi kiên quyết bảo vệ sự ổn định và nền dân chủ Hong Kong”. 
 
Trước đó, Joshua Wong, nam sinh 17 tuổi được cho là một trong các thủ lĩnh của phong trào học sinh, sinh viên biểu tình ở Hong Kong đã được thả mà không bị cáo buộc tội danh nào. 
 
Tuy nhiên, Wong tuyên bố sẽ tiếp tục quay lại biểu tình cùng các thủ lĩnh khác vừa được thả như Alex Chow và Lester Shum. 
 
Theo tờ Bưu điện Hoa Nam, nhóm biểu tình tuyên bố bắt đầu phong tỏa Trung Hoàn, ‘trái tim’ của đặc khu hành chính này, để phản đối quyết định của chính quyền Bắc Kinh giới hạn ứng viên tranh cử chức trưởng đặc khu vào năm 2017. 
 
Ít nhất 78 người bị bắt vì tham gia biểu tình. Tân Hoa Xã khẳng định việc biểu tình là ‘phạm pháp, gây bất ổn và làm xấu hình ảnh Hong Kong’, trong khi những người biểu tình cho rằng Bắc Kinh đang làm mất đi bản sắc Hong Kong.
 
Hãng tin Reuters dẫn lời những cư dân Hong Kong được phỏng vấn nói họ lo sợ đặc khu hành chính này sẽ ‘mất đi sự dân chủ vốn có từ thời Anh bảo hộ’ nếu Bắc Kinh tổ chức bầu cử chính quyền đặc khu với những gương mặt do họ lựa chọn.
 
Thống kê chưa đầy đủ của báo chí Hong Kong nói hơn 200 tuyến xe bus và 29 ngân hàng phải ngưng hoạt động do ảnh hưởng của các cuộc biểu tình.

Nếu chọn người Lãnh Đạo tôi chọn Trẻ có nhiệt huyết chứ không chon người già nhưng Bù nhìn.

 

Khu trung tâm Hong Kong tê liệt vì biểu tình

 

 

 

 

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ - | Leave a Comment »

►50.000 dân chúng, sinh viên, và học sinh Hồng Kông biểu tình đòi hỏi quyền tự do ứng cử và bầu cử chính quyền thành phố

Posted by hoangtran204 trên 29/09/2014

Tin Chủ Nhật 28-9-2014: Các cuộc biểu tình của sinh viên học sinh Hồng Kông vào các ngày Thứ Sáu và Thứ Bảy đã châm ngòi cho một cuộc khởi động sớm sủa vào sáng Chủ Nhật của Phong Trào Chiếm Đóng Khu Trung Tâm. Phong trào này đã lan rộng tới nhiều khu vực khác của thành phố sau khi cảnh sát sử dụng hơi cay nhằm giải tán sinh viên học sinh. Nhiều chục ngàn người đã tham gia vào các hành động bất tuân dân sự nhằm đòi hỏi các cuộc bầu cử và ứng cử tự do ở thành phố Hongkong, và không có sự chỉ đạo của chính quyền cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kinh. (time.com)

Cảnh sát cho biết Joshua Wong đã được thả lúc 8 giờ tối Chủ Nhật. Hơn 50.000 người đã tham dự biểu tình và tham gia phong trào chiếm đóng các khu vực trung tâm thành phố như công viên và các khoảng đất trống của các công sở. Họ hô to các khẩu hiệu đòi hỏi tự do bầu cử không có sự chỉ đạo của Bắc Kinh. và khi đến giờ ăn, họ ăn uống bánh, chuối, uống nước…do dân chúng đem biếu và họ nằm nghĩ ngơi tại chỗ.

Tin Hongkong: Occupy Central bắt đầu kế hoạch chiếm đóng các khu vực của thành phố

28-9-2014

Theo FB Lê Quốc Tuấn

 

Thousands of protesters take part of a rally outside the Hong Kong government complex on September 27, 2014 in Hong Kong.

Sáng sớm chủ Nhật, tận dụng không khí và nhiệt tình sôi nổi của sinh viên, học sinh, những người thuộc phong trào “Chiếm lấy khu Trung Tâm” đã mở chiến dịch bất tuân dân sự (chiếm đóng các công viên và công sở và ăn ở luôn tại chỗ)  nhằm thúc đẩy phổ thông đầu phiếu các chức vụ cao cấp nhất trong chính quyền thành phố Hồng Kông. Họ đã quyết định khởi động các cuộc biểu tình của họ sớm hơn dự kiến. Quyết định được đưa ra ngay sau khi xảy ra các cuộc đụng độ giữa sinh viên và cảnh sát gần trụ sở chính của chính phủ Hồng Kông.

Chan Kim Man, một trong những nhà tổ chức hướng dẫn: “Trong trường hợp có xung đột, hãy giơ cả hai tay lên để cho thấy rằng bạn không có ý định tấn công người thi hành pháp luật.” Anh nhắc nhở người biểu tình luôn luôn tuân thủ các nguyên tắc hòa bình và bất bạo động.

Cuộc biểu dương ấy đang đi đến những phút căng thẳng nhất. Đã bắt đầu các va chạm bạo lực giữa sinh viên và cảnh sát Hồng Kông khi hàng chục ngàn người ủng hộ dân chủ bắt đầu một kế hoạch làm tê liệt trung tâm tài chính châu Á vào sớm ngày Chủ nhật.

Trong hơn 24 giờ qua, những người lãnh đạo phong trào và các sinh viên nhóm Scholarism đã bị cảnh sát dùng võ lực và bình xịt hơi cay chống trả khi họ phá vỡ rào cản của cảnh sát để xông vào trụ sở chính quyền thành phố.

“Hành động này là cho tương lai của thành phố, những ai yêu thương Hồng Kông hãy đến tham gia với chúng tôi”, Jimmy Lai. ông trùm ngànhh xuất bản, người công khai chỉ trích chính quyền cộng sản Trung Quốc, nói với Reuters.

Đồng thời, Đức Hồng Y Joseph Zen, 82 tuổi, trước đây là Giám Mục Công Giáo của Hồng Kông, nói với Reuters. “Đã đến lúc chúng ta thực sự cho thấy mình muốn được tự do chứ không chịu làm nô lệ, chúng ta phải đoàn kết với nhau,”

Cuộc biểu dương đã thu hút được hàng ngàn người biểu tình trang bị kính bảo hộ, mặt nạ và áo mưa để chuẩn bị cho một cuộc đối đầu bạo lực với cảnh sát, là một trong những hành vi ngoan cường nhất của biểu hiện bất tuân dân sự từng diễn ra trong cựu thuộc địa Hồng Kông.

Wong Kai-keung, một sinh viên biểu tình cho biết, “Chúng tôi không sợ bị tổn thương hay bị bắt giữ. Chúng tôi chỉ cần dân chủ thực sự.”

Trong khi đó, một số tài phiệt thế lực nhất Hong Kong đã tuyên bố chống lại phong trào “Chiếm lấy Trung Tâm”. Họ báo động rằng cuộc biểu dương này sẽ đe dọa đến kinh tế thịnh vượng ổn định của thành phố.

Lai Tung-Kwok,chỉ huy an ninh Hồng Kông, đã bác bỏ những cáo buộc của công chúng cho rằng cảnh sát đã sử dụng vũ lực quá mức và hung bạo với các sinh viên.

“Cảnh sát có trách nhiệm duy trì trật tự trong xã hội theo quy định của pháp luật. Vì vậy họ cần phải được chuẩn bị đầy đủ để đảm bảo rằng những người muốn bày tỏ ý kiến của mình phải thể hiện một cách hòa bình và hợp pháp “, ông nói.

Một số nhà quan sát đã so sánh cuộc biểu tình này với cao điểm của cuộc đàn áp đẫm máu các sinh viên ủng hộ dân chủ ở Quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh vào năm 1989.

Hôm thứ Sáu, cảnh sát bắt giữ hơn 70 người, trong đó Joshua Wong, người lãnh đạo 17 tuổi của nhóm học sinh Scholarism. Anh vẫn còn bị giam cùng với các nhà lãnh đạo học sinh khác là Alex Chow và Lester Shum. Đến 8 giờ tối 28-9, Joshua Wong đã được thả và đã về nhà. 

Một số chính trị gia dân chủ tại Hồng Kông cho biết sức mạnh bất ngờ của những người biểu tình trẻ tuổi, những người đã bao vây trụ sở chính quyền thành phố kể từ tối thứ Sáu, đã thuyết phục thế hệ trước phải nhường lại nhiều ảnh hưởng cho các nhà hoạt động sinh viên, những người dường như ít chịu thoả hiệp với độc tài Bắc Kinh.

Lịch sử đang chứng kiến một bước ngoặc tuyệt vời, thể hiện ý chí khao khát dân chủ mãnh liệt của người Hồng Kông, đặc biệt từ giới trẻ, tham gia biểu tình có những em chỉ vừa đến 12 tuổi.

“Những gì đã xảy ra kể từ ngày hôm qua đã vượt quá sức tưởng tượng của chúng tôi”, Albert Ho, 62 tuổi, một thành viên của Đảng Dân chủ trong cơ quan lập pháp Hồng Kông, cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào cuối ngày thứ Bảy.

“Bây giờ những người trẻ đã nắm quyền kiểm soát và tạo được tình huống bất ngờ của mình”, ông Ho nhấn mạnh: “Đây là những sự việc khiến chính phủ phải quan tâm sâu sắc”

Cảnh sát bao vây những người biểu tình ở Civic Square. Photo: Sam Tsang

 

————————————-

Thứ Sáu và Thứ Bảy 27-9-2014

 

Tình hình đã trở nên hỗn loạn tại Civic Square. Cuối ngày hôm qua (thứ sáu 27/9/2014) hơn 100 sinh viên ủng hộ dân chủ đã tấn công trụ sở chính quyền Hồng Kông và xô xát với cảnh sát.

Theo thông tin được biết, khuôn viên Civic Square vốn là một quảng trường nhỏ ngay tại trung tâm chính phủ Hong Kong và là nơi những người biểu tình hay ngồi để bày tỏ thái độ bất tuân dân sự nhằm phản đối chính phủ trong những lần biểu tình trước.

Lần này, chính phủ Hong Kong lại dùng những hàng rào sắt bao quanh khu vực này lại để các sinh viên không thể bày tỏ thái độ bất tuân dân sự của mình. Một hành động rất phản dân chủ của chính quyền Hong Kong và càng cho thấy sự ảnh hưởng sâu rộng của Bắc Kinh đến thành phố này.

Như ông Benny Tai, một trong ba người sáng lập viên của Phong Trào Occupy Central đã nói vào sáng hôm nay, “các em sinh viên đã dẫn chúng ta lại Civic Square, nơi thuộc về người dân. Hành động leo rào để được vào ngồi trong “Civic Square” – Quảng trường Dân sự được xem như là một biểu tượng của việc đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng các quyền công dân và dân sự của người dân Hong Kong cũng như quyền bày tỏ thái độ bất tuân dân sự đối với chính phủ khi chính phủ không biết lắng nghe ý kiến của người dân.”

Cảnh sát đã dùng bình xịt hơi cay vào những sinh viên biểu tình muốn vượt qua rào cản và hàng rào cao xung quanh khu nhà chính phủ.

Joshua Wong bị cảnh sát áp giải đi một cách thô bạo“Tôi không muốn cuộc đấu tranh cho dân chủ phải truyền lại cho thế hệ sau. Đây là trách nhiệm của chính thế hệ chúng tôi”

Khoảng 100 người biểu tình khoác tay khóa vào nhau khi cảnh sát vây quanh bằng khiên chắn kim loại, một số hô vang “bất tuân dân sự”.

Vào sáng ngày thứ Bảy, khoảng một ngàn sinh viên vẫn ở bên ngoài khu trụ sở chính phủ.

Nhiều sinh viên bị bắt giữ  (Cập nhật: tất cả sinh viên bị bắt giữ đã được thả lúc 8 giờ tối Chủ Nhật 28-9-2014)

Ít nhất có 4 sinh viên đã bị tạm giữ ở Civic Square vào đêm hôm qua, Tin cũng đưa thêm có hai sinh viên thuộc hội Scholarism đã bị thương.

Phát ngôn nhân của Liên hội Sinh viên, hội đã tổ chức chiến dịch bãi khóa tuần này cho biết thêm ngoài Joshua Wong, các thủ lĩnh sinh viên khác, Alex Chow Yong-kang and Lester Shum cũng đã bị bắt giữ.

Tin HONG KONG (AP) sáng nay cho biết — Cảnh sát chống bạo động của Hong Kong đã bắt giữ 50 học sinh cuối cùng chiếm giữ khu vực quảng trường dân sự ở khu trung tâm chính phủ để phản đối sự từ chối của chính quyền Trung Quốc để cho khu tự trị này có được một cuộc cải cách dân chủ thật sự.

Joshua Wong bị bắt


Các giáo sư cùng biểu tình ủng hộ sinh viên


Ông Benny Tai và giáo sư Chan Kin-man đã đến Civic Square sáng thứ Bảy, 27 tháng 9 năm 2014 (giờ địa phương) để đứng chung với các sinh viên

Hôm nay 27/9 tờ South China Morning Post đã đưa tin: Chiến dịch bất tuân dân sự sẽ không thể bắt đầu trước ngày 1 tháng 10, là ngày đã được lên kế hoạch trước, do Phong trào Occupy Central with Love and Peace kêu gọi mặc dù các sinh viên học sinh đã đòi hỏi chiến dịch này phải bắt đầu sớm hơn sau khi đụng độ giữa sinh viên vàcảnh sát đã xảy ra vào đêm thứ sáu, 26 tháng 9 năm 2014 rạng sáng thứ Bảy.

Ông Benny Tai và giáo sư Chan Kin-man đã đến Civic Square sáng thứ Bảy, 27 tháng 9 năm 2014 (giờ địa phương) để đứng chung với các sinh viên. Ông Benny Tai cho biết do kế hoạch bất tuân dân sự Occupy Central đã có những phương án rất rõ ràng và chặt chẽ để tổ chức ngày 1 tháng 10, nên sẽ không bắt đầu trước kế hoạch. Tuy nhiên ông sẽ ở lại Civic Square cho tới khi các cảnh sát giải tán tất cả mọi người. Ông cho biết, cho dù ông có bị bắt thì chiến dịch bất tuân dân sự vẫn xảy ra vào ngày 1 tháng 10.

Các sinh viên đã đòi hỏi chiến dịch được bắt đầu ngay lập tức khi ông Benny Tai và giáo sư Chan Kin-man gặp gỡ họ. Ông Tai cho biết tuy không thể đáp ứng lời yêu cầu đó, nhưng ông hứa sẽ ở lại cùng sinh viên đến giây phút cuối cùng. ông Tai nói: “Các sinh viên đã dẫn chúng ta về lại Civic Square, nơi thuộc về người dân. Hôm nay, chúng tôi đến đây để bảo vệ các em sinh viên.”. Ông cũng chỉ trích cảnh sát đã dùng vũ lực quá mức để đàn áp sinh viên.

Phong trào Occupy Central đã ra thông cáo báo chí chỉ trích chính phủ Hong Kong phải chịu trách nhiệm về cuộc đụng độ giữa cảnh sát và sinh viên khi từ chối lắng nghe nguyện vọng của người dân và thực thi một nền dân chủ đích thực cho Hong Kong. Tuyên cáo báo chí cũng nói thêm các cuộc xuống đường của học sinh sinh viên vốn bất bạo động và không nhắm vào gây tổn thương cho bất kỳ ai.

Nguồn:  anhbasam Vi K. Tran , Con Đường Việt Nam, Lê Quốc Tuấn,

Thông tin bởi Phila Siu, Peter So, Jennifer Ngo, Joyce Ng, Amy Nip, Jeffie Lam, Timmy Sung, Danny Mok, Alice Woodhouse

Theo dõi phong trào sinh viên Hồng Kông tại: https://www.facebook.com/hkfs1958

Joshua Wong: https://www.facebook.com/joshuawongchifung

 

 

————————————-

2012

Thứ Hai, ngày 10 tháng 12 năm 2012

Cậu học sinh 15 tuổi thách thức Bắc Kinh về môn học tẩy não

Thụy My: Mời các bạn đọc lại một bài viết cách đây hai năm, lúc đó Hoàng Chi Phong (Joshua Wong) mới 15 tuổi, nhưng đã xứng đáng là lãnh tụ giới học sinh.

Thông tín viên nhật báo Le Monde tại Hồng Kông hôm nay trong bài viết mang tựa đề « Hoàng Chi Phong, cậu học sinh thách thức Bắc Kinh » đã nói về một sự kiện chưa từng diễn ra tại đây. Phong trào do cậu bé 15 tuổi này lãnh đạo đã khiến chính quyền Hồng Kông phải lùi bước trước ý định áp đặt chương trình « giáo dục lòng yêu nước » của Trung Quốc.

Bài báo mô tả cậu học sinh với cặp kính cận có bề ngoài cũng bình thường như các thiếu niên Hồng Kông cùng độ tuổi 15 với cậu. Nhưng bài diễn văn của Hoàng Chi Phong (Joshua Wong Chifung) với giọng điệu vừa khẩn thiết, lo ngại nhưng vẫn cụ thể, nhắm thẳng vào mục đích, nhất là trước một rừng micro : cậu bé giải thích vì sao phải bằng mọi giá phản đối việc áp đặt « chương trình giáo dục đạo đức ». Đây là môn học mới mà Hoàng Chi Phong khẳng định là nhằm tẩy não, mà chính quyền Hồng Kông định buộc học sinh trung và tiểu học phải theo từ nay cho đến năm 2016.

Cậu bé 15 tuổi đã chiến thắng! Sau nhiều tháng do dự, một cuộc biểu tình khổng lồ với gần 100.000 người hôm 29/7, nhiều vụ tuyệt thực trong đó có cả các học sinh tham gia, 10 ngày cắm dùi trước trụ sở chính quyền hồi tháng Chín, ông Lương Chấn Anh, lãnh đạo đặc khu Hồng Kông hôm 7/10 cuối cùng đành phải thông báo cho ngưng lại chương trình này.

Muốn đẹp lòng Bắc Kinh, nhưng chính quyền Hồng Kông đã thất bại

Theo Le Monde, đây là thất bại cay đắng của tân chính quyền Hồng Kông, vốn hy vọng lấy lòng Bắc Kinh qua việc đưa môn giáo dục ái quốc của Trung Quốc vào giảng dạy. Đây cũng là một thắng lợi vang dội của các thanh thiếu niên thuộc phong trào Scholarism mà Hoàng Chi Phong cùng với một người bạn đã thành lập vào giữa năm 2011. Scholarism là động cơ của phe phản đối chương trình này, đã lan rộng suốt trong mùa hè 2012 khiến chính quyền phải lùi bước.

Mục đích chính thức của môn « giáo dục ái quốc » là « tăng cường lòng yêu nước và tình cảm thuộc về đất mẹ Trung Quốc », tại vùng đất từng là thuộc địa Anh trong 150 năm. Chương trình học gồm chào cờ Trung Quốc, các bài học lịch sử giảng giải tính ưu việt của chính quyền độc đảng, và các buổi trẻ em tiểu học phải đứng hát « Em vui sướng được là người Trung Quốc ». Những nội dung này làm cho bất cứ người Hồng Kông nào từng được giáo dục theo kiểu phương Tây với tinh thần phân tích và phê bình cũng phải nổi giận, mà trong số những người phẫn nộ nhất có cậu bé Hoàng Chi Phong.

Sinh vào tháng 9/1996 trong một gia đình Anh giáo trung lưu, Hoàng Chi Phong là con trai duy nhất, cha mẹ cậu là các nhà đấu tranh dân chủ, ủng hộ đảng đối lập ôn hòa Civic Party. Đối với các bạn học, thì cậu cũng bình thường như bao nhiêu bạn khác trong lớp. Hoàng Chi Phong hết sức lịch sự từ chối trả lời phỏng vấn của Le Monde với lý do bận làm bài và « nói tiếng Anh dở ». Theo cậu, « Nếu một phong trào quần chúng bị hướng về phía tôn sùng cá nhân lãnh đạo, thì đó là vấn đề rất đáng ngại ».

Cho dù còn rất trẻ, nhưng Hoàng Chi Phong đã có nhiều kinh nghiệm đấu tranh. Năm 12 tuổi, cậu theo dõi rất kỹ phong trào phản đối việc xây dựng một xa lộ nối Trung Quốc với Hồng Kông, khiến nhiều người dân phải di dời, và phá hủy nhiều làng mạc, đồng ruộng. Đến năm 2010, là vụ năm dân biểu liên tiếp từ chức, đòi hỏi một cuộc trưng cầu dân ý mini. Cậu bé có thói quen theo cha mẹ đến dự buổi lễ tưởng niệm vụ thảm sát Thiên An Môn hàng năm được tổ chức vào ngày 4/6 tại công viên Victoria.

Hoàng Chi Phong tự xây dựng nên một mạng lưới những người cùng chí hướng đầy kinh nghiệm. Tháng 6/2011, cùng một người bạn lớn tuổi hơn, cậu mở một trang Facebook và khai sinh phong trào Scholarism. Lập tức tình báo Trung Quốc đã nghe lén điện thoại của cậu bé. Heidi Ma, phát ngôn viên của Scholarism, lớn hơn cậu bé chủ tịch hai tuổi, cho biết : « Hoàng Chi Phong nhận thấy có tiếng vọng bất thường trong điện thoại, và tài khoản của Scholarism trên mạng Vi Bác bị phong tỏa ».

Cho dù có được sự ủng hộ của các tổ chức phụ huynh, các nghiệp đoàn giáo viên và các đảng đối lập, nhưng Heidi Ma khẳng định phong trào vẫn giữ được tính độc lập. Scholarism đã tạo được ảnh hưởng, với nhận định việc tạm ngưng chương trình « giáo dục ái quốc » chưa đủ, mà còn phải hủy bỏ hoàn toàn dự án này.

Le Monde nhận xét, đây là lần đầu tiên từ hơn một chục năm qua, mà những yêu sách của xã hội công dân đạt được mục đích. Scholarism cũng cảnh báo công chúng về các chuyến đi Trung Quốc tham quan văn hóa cho học sinh, được Bộ Giáo dục Hồng Kông tài trợ một phần lớn, rất giống như những cuộc hành hương Mao-ít. Về phần Hoàng Chi Phong, cậu hứa hẹn vẫn cảnh giác về vụ « tẩy não », nhưng đang lao vào một nhiệm vụ mới : « Mở rộng phong trào về sự thức tỉnh của xã hội dân sự ».

Theo blog Thụy My:

http://thuymyrfi.blogspot.fr/2012/12/cau-hoc-sinh-15-tuoi-thach-thuc-bac.html

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ - | Leave a Comment »

►Đèn cù soi tỏ u mê – Hà Văn Thịnh

Posted by hoangtran204 trên 28/09/2014

Giáo sư đại học khoa lịch sử HVT viết: “…Càng đọc thì càng phải toát mồ hôi để bụng bảo với dạ rằng thì ra mãi cho đến hôm nay mới biết mình ngu thậm ngu tệ, ngu không cho ai ngu cùng, ngu không biết đường về vì cái lẽ bị dối lừa suốt bấy nhiêu năm, đọc mòn sách mà cứ bán tin bán nghi về những điều xưng xưng hão…”

Đèn cù soi tỏ u mê

Nếu như Bên thắng cuộc đã khẳng định, một lần, dứt khoát rằng hầu như tất cả các nhà sử học chuyên về Lịch sử Việt Nam hiện đại chỉ là những “nhà” được phóng đại từ những cái lều theo nguyên tắc lều vẫn hoàn lều (trong đó có người viết bài này) thì Đèn cù đã đạt đến sự thăng hoa của cảm xúc, của rất nhiều những câu chuyện kể thật như đùa mà bất kỳ ai sau khi đọc cũng phải nghiến răng lại để cho mọi người biết rằng mình đang… cười ra nước mắt!

Cũng xin nhấn mạnh là tôi không dám đoan quyết những gì trình bày trong Đèn cù là hoàn toàn xác thực (lý do sẽ nói ở cuối bài này); do đó, cảm nhận của bài này chủ yếu dựa trên niềm tin vào sự trung thực của tác giả.

Lâu lắm rồi tôi mới được đọc một cuốn Hồi ký – tiểu thuyết giàu chất văn chương hay như thế về đời thường của các quan to, quan nhơ nhỡ, quan bé, quan dựa cột… dềnh dàng. Càng đọc thì càng phải toát mồ hôi để bụng bảo với dạ rằng thì ra mãi cho đến hôm nay mới biết mình ngu thậm ngu tệ, ngu không cho ai ngu cùng, ngu không biết đường về vì cái lẽ bị dối lừa suốt bấy nhiêu năm, đọc mòn sách mà cứ bán tin bán nghi về những điều xưng xưng hão…

Đèn cù kể mà như vẽ, như đẽo gọt một thớ gỗ xù xì để sau mỗi lần bóc tách từng sợi, từng mảnh gỗ, hình hài của những bức tượng nửa người nửa chưa phải…, có tên gọi đích thực là sự trơ tráo tàn nhẫn của dối lừa, tiểu nông, tham lam, thiển cận ngày càng hiện rõ trước cái nhìn tinh tế, sắc sâu của người viết.

Những sự thật từ trong bóng tối của lịch sử hiện nguyên hình là cái lẽ tít mù nó lại vòng quanh, theo sự sai khiến, độ nóng của… cố vấn TQ(!) Ôi chao là đớn đau cho số phận của cả một dân tộc được đặt vào tay của những người không thể làm gì hơn là trao vận mệnh quyền lực của họ vào… tay kẻ khác! Một câu hỏi nhức đến tận cơn đau răng trong… tim là: Tại sao Trung Quốc chỉ đi trước ta có mấy năm đánh du kích – nhưng lại đi sau ta 4 năm về mặt kinh nghiệm quản lý nhà nước, lại có quyền chỉ đạo, áp đặt tất tần tật, kể cả áp đặt cái chết, nỗi đau và vô số những sai lầm? Đến bây giờ, câu hỏi vẫn còn nguyên.

“Đời ta thành con rối/ Cho cuộc đời giật dây” là lời tiên tri có ý nghĩa huyền bí khi ta biết cả một giống nòi, truyền thống, sơn hà xã tắc chỉ gói gọn trong cụm từ vô cảm lạnh lẽo: “Stalin đã phân công Trung Quốc (tức Mao) ‘phụ trách’ Việt Nam”(!) Quả là không đủ ê chề để nghĩ rằng người ta nhân danh Quốc tế Cộng sản (mặc dù ngay cả cái Quốc tế đó cũng đã chết tự lâu rồi) để biến cả một đất nước thành con tin, thành sân chơi quyền lực và, thật thảm hại là trên cái sân chơi đó có quá nhiều kẻ nghiệp dư. Hàng triệu người cứ nhắm mắt chạy theo cái đèn cù đau đớn và nhục nhã ấy mà chẳng biết, chẳng hay rằng 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, hàng vạn người sẽ tìm đến cái chết với những vần thơ tự sướng như là máu thịt của chính mình: “Cầm cành hoa đi giữa loài người/ Vui nào bằng em nhỉ/ Cầm ngọn súng lên đường diệt Mỹ/ Ta đi qua thời gian” (Chế Lan Viên). Chao ôi, thời còn trẻ, tôi tự hào là học sinh thuộc nhiều thơ Tố Hữu, thơ Chế lan Viên nhất… thành phố Vinh (tính so với các bạn cùng khóa gồm 3 lớp 10 năm 1973, không phải vì tôi giỏi mà vì chúng nó chẳng đứa nào học khối C bởi xác tín rằng học khá khối C là một kẻ… ngu hề).

Cách hành văn độc đáo của Đèn cù không dễ gì học được bởi lịch sử, nỗi đau không bị biến thành gạch vỡ, ngói vụn mà như thể nó có hình hài thực sự làm cho ta nhức nhối, ta có cảm giác không phải nỗi đau ám ảnh ta mà thực ra ta đang đuổi theo nó, ta đang được sống cùng, sống thật với nó. Không ít những câu văn kể về cái chết của kẻ thù mà ta lại xót xa, xúc động đến lạ kỳ: “Xác lính Pháp nằm dài suốt hai vệ đường bốc mùi thối rữa. Cỏ lau mầu cốm non rạp xuống làm thảm đỡ mịn nhẵn đến không thể ngờ. Trên đó, trên tấm thảm ngỡ được là ủi đặc biệt công phu đó, những lồng ngực trống rỗng như đắp bằng bùn trộn trấu có những búi ruồi say sưa đánh vòng vo ve tíu tít ở bên trong”. Tác giả đã miêu tả thật độc đáo về thân phận ngu ngơ, thảm hại của những ông quan chỉ biết hoắng lên (từ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nói tại Đại hội Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế năm 1992/có thể tôi nhớ sai năm vì lúc đó mới được kết nạp vào Hội/ nhưng tuyệt đối không nhớ sai từ và ngữ cảnh vì sau phát biểu ấy, bác Tạo bay một nhát ra tận… Hà Nội) với những cái ghế quyền lực: “Hạnh phúc đúng là đang rịn ra ở trên những bộ mặt chợt mềm chảy xuống vì xúc động”. Người trí thức mơ ngủ hay mê ngủ chỉ cần đọc mấy chữ thôi là đủ để biết anh ta được “tôn trọng” đến cấp độ nào trong con mắt của những lãnh đạo vừa ít học, vừa có thân phận… đèn cù: “ngọn đuốc kị lửa trí tuệ”…

Tôi tin rằng, những gì Đèn cù muốn chuyển tải, phải một thời gian lâu nữa mới đủ thấm ít nhiều vào sự tăm tối của tôi bởi đến bây giờ tôi mới thực sự nhận ra mình u mê bền vững quá. Thật ra, tôi cũng như không ít người gọi là có học khác, luôn phải ngụp lặn trong một biển đời thực – hư lẫn lộn do sự lừa dối tinh vi đến mức tài tình, đúng như nhận xét của bác Trần Đĩnh: “Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp hèn trong con người: sợ và tham lam”.

Nhân đây cũng nói luôn rằng, tôi không đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn – mặc dù tôi vô cùng kính trọng GS ít nhất là hơn 10 lần qua hơn 10 bài của GS mà tôi đã đọc, kính trọng ở mức không đủ chữ để khen và cảm phục) khi ông cho rằng Đèn cù là “những câu chuyện cá nhân mang tính vụn vặt” (Quechoa, 23.09.2014).

Theo tôi nghĩ, những “vụn vặt” ấy có sức mạnh lột trần tất cả mọi thần tượng mà không dễ gì dùng cách khác diễn tả nổi. Ví dụ, chỉ cần đưa ra hai chi tiết rất ư là “vụn vặt” (nếu thực sự chính xác): Kể chuyện lãnh đạo cao nhất chỉ đạo Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu xem rau muống luộc hay rau muống xào tốt hơn cho con người và chuyện về một vị tướng ‘nghiện’ sự đồng hành của bộ ba bún, thịt chó, mắm tôm lại đưa ra đề xuất – (và thực hiện thật, tôi còn nhớ rõ) cấm người dân làm bún để tiết kiệm… gạo(?) Trí tuệ của lãnh đạo như thế, đủ để biết rõ cái lý do vì sao đất nước mãi nghèo hèn…

Đèn cù có dăm bảy chỗ sai hoặc trùng lặp. Ví dụ, có cái sai làm người đọc khó hiểu: “tết Quý Dậu, 1957” (câu cuối cùng, chương 4). Bác Trần Đĩnh là người nói tiếng Trung giỏi đến mức người TQ nhầm là… người TQ, làm sao có thể lại sai ở kiến thức tối thiểu: Năm dương lịch có số sau cùng là số 7 phải Đinh (Đinh Dậu, 1957), số 4 là Giáp (Giáp Tý, 1984/Giáp Ngọ 2014), số 8 là Mậu (Mậu Thân, 1968), số 0 là Canh (Canh Ngọ, 1990)…? Ở một chỗ khác, tác giả nói “mưu lật đổ của Đảng cộng sản ở Indonesia rồi bị Sukarno trấn áp thảm sầu” là không đúng. TQ đã đạo diễn cho đảng CS Indonesia (PKI) tiến hành cuộc đảo chính tháng 9.1965 với sự đồng thuận của TT Sukarno và chính Tổng thống Sukarrno đã bị Shuharto (Shuharto được các nhà bình luận trên thế giới gọi là “viên tướng luôn mỉm cười” – The Smiling General) trấn áp. Sukarno đã sai lầm trầm trọng khi liên minh với PKI trong đất nước có tín đồ Hồi giáo đông nhất thế giới(!) để chống Mỹ dưới cái vỏ “trung lập”. Sau khi bị Ngoại trưởng Mỹ J.F. Dulles thẳng thừng cảnh cáo “trung lập là vô đạo đức” (Neutralism is immoral), TT Sukarno hiểu ngay về nguy cơ bị phái hữu lật đổ nên đã manh động… Tướng Shuharto đã tàn sát hơn nửa triệu đảng viên CS và làm tổng thống Indonesia từ 1967 tới tận tháng 5.1998…

Những chỗ thiếu chính xác trong Đèn cù làm cho người đọc có đôi chút băn khoăn về những chi tiết còn lại. Mặc dầu vậy, Đèn cù có lẽ, sẽ mãi là “quả hoả châu dập dềnh tròng (chòng?) ghẹo trên đầu” quan chức nước ta và… nghĩ suy của tất cả chúng ta!

Hà Văn Thịnh

——————–

Trần Hoàng: Tôi thích đọc các bài viết của tác giả Hà Văn Thịnh. Một số ý kiến của ông trong các bài viết trước đây chứng tỏ ông là người khá mặc dù ông ta chưa thoát khỏi ảnh hưởng cộng sản. 

Bài này có thể dẫn chứngcho nhận xét nói trên: Nhà sử học Hà Văn Thịnh nói về HCM (19-5-2010)

http://www.danchimviet.info/archives/8990/nha-s%E1%BB%AD-h%E1%BB%8Dc-ha-van-th%E1%BB%8Bnh-noi-v%E1%BB%81-hcm/2010/05

Nhưng qua Bài Đèn Cù Soi Tỏ U Mê (2014) cho thấy tác giả HVT  ngày càng tiến bộ hơn so với năm 2010.

Giáo sư HVT viết: “…Càng đọc thì càng phải toát mồ hôi để bụng bảo với dạ rằng thì ra mãi cho đến hôm nay mới biết mình ngu thậm ngu tệ, ngu không cho ai ngu cùng, ngu không biết đường về vì cái lẽ bị dối lừa suốt bấy nhiêu năm, đọc mòn sách mà cứ bán tin bán nghi về những điều xưng xưng hão…”

Trong bài về Đèn Cù Soi Tỏ U Mê, có đoạn tác giả Hà Văn Thịnh viết: “Cũng xin nhấn mạnh là tôi không dám đoan quyết những gì trình bày trong Đèn cù là hoàn toàn xác thực (lý do sẽ nói ở cuối bài này); do đó, cảm nhận của bài này chủ yếu dựa trên niềm tin vào sự trung thực của tác giả.”

Vậy thì mời giáo sư Hà Văn Thịnh nghe cảm tưởng của ông Bùi Tín về cuốn Đèn Cù. Ông Bùi Tín (sinh 1927) và ông Trần Đỉnh (sinh 1930) là hai người cùng sống ở miền Bắc, sống cùng giai đoạn lịch sử, cả hai đã từng phục vụ đảng trong giai đoạn đó, từng sống và làm việc với các nhân vật trong cuốn Đèn Cù…

https://www.youtube.com/watch?v=4lR30auiDrQ

 

 

Posted in Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Bùi Tín, cựu Phó TBT nhật báo Nhân Dân, nói về cảm nghĩ sau khi đọc Đèn Cù của Trần Đỉnh

Posted by hoangtran204 trên 27/09/2014

https://www.youtube.com/watch?v=4lR30auiDrQ

 

LINK DOWN LOAD sách ĐÈN CÙ – Trần Đĩnh: https://ia601402.us.archive.org/5/ite…

Ps: Nhằm mục đích giúp các bạn TRONG NƯỚC có thể đọc sách này vì không có nơi để mua và lưu hành sách này tại Việt Nam

 

Chính thức phát hành tác phẩm ‘Đèn Cù’ của Trần Đĩnh

*Số phận Việt Nam dưới chế độ cộng sản

20-8-2014

Báo Người-Việt: ‘Đèn Cù’ là cuốn sách ghi lại những cảm nghĩ, các sự kiện lịch sử, của một một nhà báo từng là Phó trưởng ban tuyên truyền Văn Nghệ báo Nhân Dân, nhằm nói lên sự thật cuộc sống của con người trong chế độ cộng sản tại Việt Nam.

“Đèn Cù, khi đọc xong mới hiểu tại sao tác giả không gọi nó là ‘hồi ký’, là ‘tự truyện’, mà cũng không phải là tiểu thuyết,” theo bình luận gia Ngô Nhân Dụng khi giới thiệu về cuốn sách mới này.

Nội dung cuốn sách không phải là tiểu thuyết vì chứa đầy những sự kiện được tác giả Trần Đĩnh mô tả mà những người đương thời có kinh nghiệm trải qua, biết chắc là sự thật. Cuốn sách ghi lại những nhân vật như Phan Kế An, như Thúy -người vợ nhà thơ Lê Đạt, bà Lợi Quyền -một nhà tư sản, v.v… qua những quan sát, những rung cảm, nhưng vẫn giữ nguyên sự thật của nhân vật và hoàn cảnh xung quanh.

Đọc ‘ Đèn Cù’ để biết về những “tiết lộ về Hồ Chí Minh khi tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bầm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra,” hay “Trường Chinh đeo kiếng đen tới dự, để rút kinh nghiệm mà rèn luyện các đội cải cách cho đúng tiêu chuẩn thù ghét,” hay “các bài của Hồ Chí Minh ký tắt CB trên báo Nhân Dân để cổ động cán bộ học tập kinh nghiệm của Trung Cộng,” đều được tác giả ghi lại khiến người đọc không thể ngừng được.

Sách còn cho thấy tác giả “Trần Đĩnh là nhân chứng đầu tiên cho biết đã nghe Hồ Chí Minh nói thông thạo tiếng Hẹ và đoán rằng nhân vật chóp bu này đã hoạt động cùng các đảng viên cộng sản ở Móng Cái từ trước.”

Tác giả cho biết ông từng được Hồ Chí Minh, Trường Chinh nhờ viết hồi ký. Rồi câu chuyện Nguyễn Đức Thuận, người tù Côn Đảo tranh đấu trong tù, từ Nam ra Bắc và nhiều nhân vật khác và quan hệ  Việt Nam – Trung Cộng, và chứng kiến cảnh các tù binh Mỹ bị bắt, đi diễu trên đường phố Hà Nội.

Sách dày 600 trang do nhà xuất bản Người Việt ấn hành, giá bán $25/cuốn, có thể mua tại tòa soạn nhật báo Người Việt, 14771Moran St., Westminster, CA 92683.

Qua online tại Người Việt Shops hay tại các nhà sách Tự Lực (714) 531-5290, Văn Bút (714) 895-7080, hay Tú Quỳnh (714) 531-4284. (L.N.)

*Sau khi download, nếu có thể được, các bạn ghé nhà Bác Trần Đỉnh gởi lại phong bì để tỏ lòng kính trọng tác giả và chứng tỏ mình là người công chính…

————

Tác giả ‘Ðèn Cù’: Viết để giải thoát gông cùm ‘hận thù và dối trá’

21-8-2014

LTS Tác phẩm Ðèn Cù chính thức ra mắt độc giả sáng 20 Tháng Tám. Từ ba tuần nay, sau khi các trang mạng loan truyền bài viết của Ngô Nhân Dụng và Mặc Lâm, rất nhiều người đến tòa soạn Người Việt hoặc email hỏi mua sách. Ông Trần Ðĩnh năm nay 84 tuổi, sống ở Sài Gòn. Ông vào đảng Cộng Sản từ năm 18 tuổi, làm báo đảng và từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh và nhiều lãnh đạo cao cấp khác như Nguyễn Lương Bằng, Phạm Hùng… Ông đã sáng tác và dịch nhiều tác phẩm Anh, Pháp và Hoa ngữ sang tiếng Việt.

Ông trả lời cuộc phỏng vấn này qua điện thoại sáng ngày 21 Tháng Tám.



Tác giả Trần Ðĩnh. (Hình: Trần Ðĩnh cung cấp)

Người Việt (NV): Thưa ông, Ðèn Cù đã chính thức ra mắt độc giả. Sáng hôm qua, quang cảnh tòa soạn Người Việt nhộn nhịp khác thường vì số đông độc giả đến mua Ðèn Cù. Xin ông cho biết cảm tưởng của ông ra sao khi đứa con tinh thần của mình được chào đón nồng nhiệt như vậy?

Trần Ðĩnh: Xin cảm ơn ông Ðinh Quang Anh Thái vừa phỏng vấn tôi bằng điện thoại và còn gửi hình cho thấy quang cảnh người đọc nhộn nhịp đến mua sách.

Ðèn Cù là một tiếng kêu đau thương dài cả hàng chục năm, ít nhất là của tôi, Hồng Linh (vợ tôi), Trần Châu (anh tôi) và các bạn bè gần gũi của tôi, phần lớn là nạn nhân chính trị như tôi.

Trong Ðèn Cù tôi có dành nhiều trang nói đến số phận bà con trong Nam sau năm 1975 – gồm có bố tôi và các em tôi – vậy thì có thể nói tôi cũng đã kêu hộ cả bà con trong đó, những số phận mà tôi thấy giống số phận tôi. Tại sao kêu? Có lẽ ở giữa sa mạc nếu bị đau con người ta cũng kêu. Kêu cho vợi nỗi đau. Và kêu với Trời. Mong Trời thấu. Nhu cầu nỗi niềm riêng được rọi thấu thực chất là nhu cầu được cứu giúp, chia sẻ, nó chính là nhằm vào cái kho báu sẵn sàng nhạy bén mở ra ban phát ở trong mỗi ai còn có lương tri: Tình thương đồng loại. Tôi cảm ơn nhà xuất bản Người Việt đã bắc một cây cầu nối tiếng kêu của tôi với người đọc. Và khi biết người đọc sẵn sàng chia sẻ, cứu giúp mình thì còn gì bằng được như thế nữa.
 
NV: Hẳn rằng tin tức Ðèn Cù đã về tới Việt Nam; ông có gặp khó khăn nào không với guồng máy an ninh – vì nội dung cuốn sách?

Trần Ðĩnh: Chưa thấy gì. Tôi hy vọng nhà cầm quyền đã thấy được lòng dân đang quá ư bồn chồn chờ thay đổi. Phải nói là dân bất bình lắm rồi. Càng đàn áp thì càng nung sôi lòng bất bình của dân lên.

NV: Trong Ðèn Cù ông viết: “Tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình. Tôi vốn yêu viết. Nhưng đã không viết nổi. Ðứa thủ phạm là tôi bắt tôi viết dưới bóng tối của “Hận Thù và Dối Trá.” Viết Ðèn Cù, ông đã vĩnh viễn thoát khỏi “Hận Thù và Dối Trá”; xin hỏi ông, số người như ông hiện nay tại Việt Nam có nhiều không?

Trần Ðĩnh: Thật ra, từ khi cầm bút viết, tôi chưa kêu gọi hận thù bao giờ. Còn viết Ðèn Cù là tôi đã thoát khỏi hai cái gông cùm kẹp: “Hận Thù và Dối Trá.” Còn câu hỏi của ông Thái là số người như tôi có nhiều không, thì khó trả lời nhỉ. Vì chả lẽ đổ vấy cho người khác cái mà họ không có, thí dụ bảo là họ sợ. Nhưng trong những người viết thực thụ thì động cơ hận thù và dối trá nay có lẽ đã nhạt đi nhiều rồi.

NV: Trong mắt ông, ông Hồ Chí Minh là người “Lòng trung của ông Hồ đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Ðông là vô bờ. Cho nên lòng trung của ông Hồ với nước Việt, dân Việt vơi đi.” Ông có thấy giới lãnh đạo hiện nay tại Việt Nam vẫn giữ nguyên “lòng trung” như ông Hồ đối với Bắc Kinh không?

Trần Ðĩnh: Ý thức hệ Mác xít kêu gọi đoàn kết – với khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại.” Nhưng đến Ðệ tam Quốc tế của Lê-nin thì khẩu hiệu ấy đã cõng thêm nội dung trung thành với Liên Xô, Stalin. Cần nói rõ, với người cộng sản, nguyên tắc tập trung dân chủ và đảng cộng sản của mỗi nước là chi bộ của quốc tế, mà quốc tế là Lê-nin, Stalin, Liên Xô và rồi dần dà thêm cả Mao Trạch Ðông. Người Cộng Sản Việt Nam không chỉ mang có chữ trung này mà phảng phất như còn mang cả chữ hiếu đễ nữa. Vì Cộng Sản Việt Nam vẫn dạy nhau “uống nước nhớ nguồn,” mà nguồn là Liên Xô, Trung Quốc (như câu ca dao “nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”). Ðặc biệt ngoài ý thức hệ đòi phải trung thành lại còn thêm đủ các thứ ràng buộc chung thủy như “môi răng,” “anh em một nhà.” (Tất cả tội nợ là vì chúng ta quá xính ví von, hò vè, hình tượng hóa các phạm trù chính trị.) Chẳng hạn dân vẫn được dạy phải “trăm ơn, nghìn nghĩa, vạn tình” để ghi nhớ và đền đáp lại viện trợ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc. Nhìn chung, có thể nói cho đến trước khi xẩy ra vụ giàn khoan HD 981 mà mới đây Trung Quốc đưa vào lãnh hải Việt Nam, thì giới lãnh đạo Hà Nội còn cố trung thành với Bắc Kinh, nhưng từ sau vụ sấp mặt đáng sợ đó thì Ðảng Cộng Sản bắt đầu có dấu hiệu khác. Nếu họ dám cương quyết “thoát Trung” như thế thì đó là hành động đáng khuyến khích.

NV: Trước tình hình Trung Quốc ngày càng ngang ngược lấn chiếm biển đảo của Việt Nam, đồng bào mình tại quê nhà đang kêu gọi đảng Cộng Sản phái “thoát Trung”; một số người còn cho rằng, muốn “thoát Trung” thì trước hết phải “thoát Cộng.” Xin nghe quan điểm của ông về vấn đề này.

Trần Ðĩnh: Trong những năm 90 của thế kỷ trước, tôi đã nói với anh em an ninh Hà Nội, rằng tôi không theo chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là tôi muốn “thoát Cộng.” Bây giờ, đảng Cộng Sản sắp đại hội, các anh – như Nguyễn Chí Hùng, Lê Tiến, Ðoan, Tuấn. v.v… – hay hỏi tôi nghĩ gì về nhân sự lãnh đạo sắp tới của đảng, thì tôi lại nói tôi không nghĩ gì. Vì sao tôi dửng dưng thế? Vì, một: vẫn cứ là tiến lên chủ nghĩa xã hội, cái mục tiêu tôi không thích; hai: nhân sự vẫn chỉ là con súc sắc do một người tiện, rồi chính lại vẫn người ấy tung ra, ngửa ra số mấy thì số đó trúng.

Thế thôi. Trong Ðèn Cù tôi có viết: “Những ngày Tháng Tám 1945 tưng bừng, đứa thiếu niên 15 tuổi là tôi chỉ thấy đảng là chấp nhận tù đày, máu me, biểu tượng của hy sinh cao quý. Vào đảng để theo vị ‘Chúa Tể Tân Thời’, để được hy sinh, gian khổ chuộc lại những tháng năm nhởn nhơ của của mình. Và tôi đã có một thời đắm chìm trong cuồng ảo xóa bỏ chế độ tư hữu, dựng xây chế độ đại đồng cho loài người sung sướng với công hữu mà chuồng xí khi ấy cũng dát vàng…”

Nhưng rồi tôi bắt đầu thấy vị “Chúa Tể Tân Thời” phát hành bạc giả. Chấp nhận bạc giả thì tôi vinh hoa, từ chối thì tan nát. Hai ngả rõ như ban ngày.

Ðảng nói xây dựng xã hội công bằng, dân chủ nhưng đảng coi dân là quần chúng chỉ có sứ mệnh là tuân theo và vỗ tay hoan hô sự lãnh đạo của đảng mà thôi, bởi thế đảng mới đề ra “ý đảng lòng dân”, tức là dân chỉ có lòng nô nức làm theo ý đảng. Nói một cách dân dã, đảng không nghe “đằng ấy” đâu mà “đằng ấy” mở miệng. Hay thí dụ khẩu hiệu “đảng cử dân bầu,” lãnh đạo cả đến từng lá phiếu của dân thì hỏi ở đâu ra công bằng được nữa chứ. Tôi hy vọng đảng đang nhận ra chỗ so le đáng buồn giữa lời nói và việc làm này, giữa phận dưới đáy của dân và uy cao chót vót của đảng. Vị thế chót vót này tự nó làm cho mục tiêu công bằng đảng nêu ra trở thành trò cười.

NV: Ông có lạc quan vào tương lai Việt Nam không?

Trần Ðĩnh: Xưa nay tôi vẫn có máu lạc quan nhưng tôi luôn tự dặn mình chớ có lạc quan tếu.

NV: Cuối cùng, ông có tâm sự gì muốn nói với độc giả Người Việt.

Trần Ðĩnh: Người ta hay nói gợi hứng cho nhà thơ là một cô gái đẹp. Với tôi, kẻ kêu lên nỗi đau thì người đọc là bến bờ an ủi. Xin chân thành cảm ơn trước những bến bờ chìa tay đón nhận tôi.

NV: Cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của Người Việt.

————–

Đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh

Nguồn anhbasam

30-8-2014

Việt Báo

Trần Đĩnh kể rằng ông Hồ và Trường Chinh tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): ‘Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt’. Cũng như chi tiết áo quan rẻ tiền, không chứa nổi xác bà cụ Nguyễn Thị Năm, nên ‘Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…’ (trang 86)“.

Phan Tấn Hải

30-08-2014

Trần Đĩnh không phải là một tác giả quen tên đối với người đọc sách Miền Nam Việt Nam, và cũng khá lạ với độc giả hải ngoại.

Nhưng ông là người đã từng cầm bút viết lên những trang sách nhiều triệu người đọc, ở Miền Bắc.

Trần Đĩnh là người chấp bút Tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ Chí Minh, năm 1960; và chấp bút các cuốn tự truyện, hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương… trong đó, nổi tiếng với dân Miền Bắc là cuốn “Bất Khuất” (hồi ký tù Côn Đảo của Nguyễn Đức Thuận, 1967). Trần Đĩnh cũng là dịch giả nhiều tác phẩm văn học…

Tại sao dân Miền Nam và hải ngoại ít biết tới Trần Đĩnh? Câu trả lời đơn giản: ông bị bắt, bị cải tạo lao động (trong một xưởng in), bị quản chế nhiều năm vì liên hệ trong “vụ án xét lại” — một vụ án được nhiều người gọi đơn giản là vụ án Hoàng Minh Chính, hay vụ án “tay sai Liên Sô”.

Tại sao ông dính vào “xét lai”?

Nơi trang 561 của “Đèn Cù,” tác giả Trần Đĩnh giải thích:

“Nhiều người không biết gốc tội chúng tôi là muốn đối thoại với bà con trong Nam chứ không xin máu họ. Cộng sản tồn tại nhờ chuyên chính bạo lực nhưng chúng tôi đòi giải vũ trang đảng, đòi đảng phải chụp bạo lực đi hay từ bỏ vai trò “bà đỡ của cách mạng” hay thôi con đường “chính quyền ra từ nòng súng.” Thực chất đòi dân chủ cho muôn người… chúng tôi đã xung phong làm nghịch tử. Không thích đổ máu người nữa. Thích quyền người.”

Cuốn tự truyện của Trần Đĩnh dày 600 trang, đầy những chi tiết về bản thân ông, một chàng trai theo lý tưởng chống Pháp, tham dự tổng khởi nghĩa do Cộng sản lãnh đạo ngày 19-8-1945 khi mới 15 tuổi, và năm 19 tuổi được đưa vào An Toàn Khu để làm báo Sự Thật bên cạnh các lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh…

Tuy là tự truyện, nhưng trước hết đây là một lối viết rất văn học, chú ý tới nhiều chi tiết dễ dàng làm độc giả hình dung ra người và cảnh một cách sinh động.

Thí dụ, nơi trang 84, Trần Đĩnh kể rằng ông Hồ và Trường Chinh tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.”

Cũng như chi tiết áo quan rẻ tiền, không chứa nổi xác bà cụ Nguyễn Thị Năm, nên “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…” (trang 86)

Đó là những chi tiết văn học, làm đôc giả thấy cảnh hiện ra rõ ràng.

Trần Đĩnh vào nghề làm báo và dược Trường Chinh (Tổng Bí Thư Đảng và là Chủ nhiệm bao Sự Thật) hướng dẫn.

Trần Đĩnh cũng kể về “mối tình” của ông Hồ với cô Phương Mai… Cách kể chuyện của Trần Đĩnh rất văn học, với những chữ như: tự nhiên, mang ba lô, chăn chiếu, tớ được xua về sớm, về muộn, máy Cụ…

Trích trang 30:

“Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy P.M. (Phương Mai) đến nữa. Chắc máy cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ”. (hết trích)

Đó là văn học, kiệm lời nhưng đưa sâu vào trí nhớ độc giả.

Phương Mai là ai?

Không rõ có phải Phương Mai đươc Nguyễn Minh Cần (Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội) kể trong bài “Vài mẩu chuyện về cuộc đời HCM”, trích:

“…Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc “giải quyết sinh lý” được điều hòa thì tốt cho sức khỏe. Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người “kháu” nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc “loạn đàm,” chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng. Thế là… việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ thương binh và ở luôn tại Hà Nội.”(hết trích)

Chị Phương Mai đặt vấn đề? Hay là ông Hồ thấy dan díu đã đủ rồi? Dĩ nhiên, không ai có câu trả lời chỗ này…

Trần Đĩnh cũng kể về cô X. người đứng bên cạnh ông Hồ và đươc ông Hồ xem là “con nuôi.” Cô X. Những cảm xúc của Trần Đĩnh với cô X. đươc kể nơi trang 97-98 và:

“Tôi quả đang vút lên chín tầng mây… Mới hôm qua ở suối lên, dốc trơn, tôi giơ tay ra đỡ X. Bàn tay con gái tôi lần đầu nắm lâu trong đời. Và cảm giác rạo rực theo tôi mãi…”

Cô X. lúng túng, rơi chiếc thìa trên cỏ… Cô X. cũng là người làm Trần Đĩnh mơ mộng, có lúc ký tên với bút hiệu Hoàng X. là vì cô.

Nơi trang 375, Trần Đĩnh kể tiếp:

“…rồi cô cho tôi cái thìa, món kỷ niệm tôi đặt lên trên bụi lạc tiên đầy bụi ở giữa Na Sầm và Đồng Đăng, chờ vượt sang Trung Quốc. Tóm lại tình trong như đã, mặt ngoài còn e…”

Nhưng rồi Trần Đĩnh tiêt lộ, cô X. chính là cô Xuân, chết ở Hà Nội vì bị ô tô đè… (trang 183) Nhiều năm sau, người ta mới biết cô Xuân cũng là một phần giường chiếu của ông Hồ.

Đọc “Đèn Cù” của Trần Đĩnh, chúng ta nhìn rõ hơn về cach công an đàn áp những người “xét lại,” và thấy một sự thật nữa: mỗi lần chuyển biến chính sách đối ngoại, sẽ có một thành phần trong Đảng bị thanh trừng.

Bản “Đèn Cù” tôi đọc tuy có vài trang in nhầm, nhưng 600 trang sách đầy những chi tiết lịch sử đã lôi tôi vào một thế giới hiếm người Miền Nam biết tới: từ nơi An Toàn Khu, Trần Đĩnh làm báo với Trường Chinh, rồi đi Bắc Kinh nhiều năm để học, những cảm xúc của anh với cô diễn viên múa Hồng Linh có cha bị giết oan vì nghi là Tàu Tưởng (phe Tưởng Giới Thạch), rồi về nước làm báo tiếp, bị thanh trừng, đẩy vào một góc xưởng in để “lao động cải tạo” nhưng tất cả các thợ in đều thương cảm…

Nhiều chi tiết lịch sử đươc ghi lại mà chính sử sẽ bỏ qua, trong đó có chuyện Lê Duẩn “trình bày về đề cương về vấn đề con người” riêng cho triết gia Trần Đức Thảo nghe (trang 435-441) và khi xin Giaó sư Thảo có ý kiến… thì:

“Ngơ ngác một lát, Thảo nói: – Tôi không hiểu gì cả.”

Thế là, Lê Duẩn vòng ra sau GS Thảo, vòng tay ôm GS Thảo nhấc lên, giộng xuống đất mấy cái cho hả giận… rồi bỏ vào trong nhà.

Sau đó, GS Trần Đức Thảo kể lại với Trần Đĩnh, Duẩn chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác… Rồi Trần Đức Thảo thì thầm vào tai Trần Đĩnh: “Làm sao Duẩn lại Mác-xít được?”

Có một chi tiết cũng đã bị chính sử Hà Nội xóa đi: nhà báo Bùi Tín vào Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Bây giờ, Hà Nội không muốn nhắc tới tên của nhà báo Bùi Tín, người đã vào Dinh Độc Lập và đã tò mò mở cửa một tủ lạnh nơi này…

Đọc cuốn Đèn Cù, sẽ có một số người không hài lòng, vì một số nghi vấn lịch sử không đươc Trần Đĩnh chú ý nhiều.

Người đọc có cảm giác không nghi vấn gì về tập thơ trong tù ký tên ông Hô mà một số học giả nói là của một bạn tù khác, và độc giả cũng không nghi vấn gì về một ông Hồ sau này được nói là gián điệp Hoa Nam giả mạo để càì vàoVN.

Ông Hồ trong “Đèn Cù” là một nhà hoạt động với những tham sân si đời thường, và cũng tội nghiệp khi bị Lê Duẩn lấn ép.

Nhưng Trần Đĩnh viết theo trí nhớ, theo những gì ông thấy, ông nghe. Và khi ông viết (thập niên 1990s) lại chưa cóInternet để tra cứu tài liệu. Và cũng có thể nêu nghi vấn rằng ông nhớ không chính xác một số chi tiết.

Dù vậy, chúng ta không thể đòi như một tác phẩm nghiên cứu. Đây là một hồi ký, một tự truyện và tận cùng là một tác phẩm văn học; “Đèn Cù” đã ngay lập tức có một vị trí đôc đáo trong dòng văn học Việt Nam.

Trần Đĩnh đã cầm bút lên để viết như một chứng nhân của cách mạng, viết như một nạn nhân của vụ án xét lại, viết như một nhà văn trôi nổi với lịch sử dân tộc, và trong tận cùng là viết như một người con rất mực yêu thương đất mẹ.

Sách đề giá 25 Mỹ Kim, xuất bản bởi Người Việt Books. Có thể vào Amazon.com để mua.

Ngắn gọn, những ngươì quan tâm về lịch sử không thể không đọc sách này.

———————-

 

Posted in Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 1 Comment »

►Sinh viên Hồng Kông mang cuộc chiến đấu cho dân chủ đến tận nhà người lãnh đạo thành phố

Posted by hoangtran204 trên 27/09/2014

Sinh viên Hồng Kông mang cuộc chiến đấu cho dân chủ đến tận nhà người lãnh đạo thành phố

Reuters – 26-4-2014

Lê Quốc Tuấn (dịch)

Khi những căng thẳng về tương lai dân chủ của trung tâm tài chính đang nóng dần, hàng ngàn sinh viên và người biểu tình, bất chấp cảnh sát cảnh cáo, đã tuần hành đến tư gia của nhà lãnh đạo của Hồng Kông hôm thứ Năm để yêu cầu được gặp.
Mang theo bức ảnh khổng lồ của Leung Chun-ying với hàm răng ma cà rồng hút máu, những người biểu tình hô vang yêu cầu nhà lãnh đạo được Bắc Kinh hậu thuẫn này phải từ chức trong một cuộc diễu hành ngoằn ngoèo qua những tòa nhà thương mại và đường phố dẫn đến cổng sau tòa nhà chính phủ.
Cảnh sát đã nhiều lần cố gắngngăn chặn dòng người, tay cầm áp phích màu vàng cảnh báo chống lại việc “hành động phạm pháp”, nhưng không làm được gì, những người biểu tình đã vượt qua và tiếp tục tuần hành.
“Đêm nay, CY Leung là tội phạm hình sự nguy hiểm nhất của chúng tôi”, Nathan Law, một trong những sinh viên cho biết.
Hồng Kông được Anh quốc trao trả về cho Trung Quốc trong năm 1997 như là một “đặc khu hành chính” với “một mức độ tự chủ và tự do cao mà Trung Quốc đại lục không được hưởng trong một hình thức gọi tên là “một quốc gia, hai chế độ”.
Nhưng vào tháng trước, Bắc Kinh đã bác bỏ yêu cầu của người dân muốn tự do lựa chọn lãnh đạo kế tiếp của thành phố, khiến dẫn đến việc các nhà hoạt dộng ủng hộ dân chủ đe dọa sẽ đóng cửa khu tài chính Trung ương. Trung quốc muốn hạn chế cuộc bầu cử lãnh đạo Hồng Kông năm 2017 chỉ gồm một số ít ứng cử viên trung thành với Bắc Kinh.
Cuộc tuần hành do sinh viên dẫn đầu, mà ban tổ chức cho biết đã thu hút hơn bốn ngàn người, là sự tiếp nối của bốn ngày hành động bao gồm việc tẩy chay trên toàn thành phố bởi hàng ngàn sinh viên đại học, các nhóm hội công chúng, tuần hành và diễn thuyết.
Những người biểu tình đòi hỏi dân chủ đầy đủ trong một loạt các hành động sẽ gia tăng đến cao điểm “Occupy Central”, phong tỏa đường phố trong khu vực tài chính quan trọng của thành phố vào ngày 1 tháng 10.
Cuộc tuần hành đã diễn ra sau khi ông Leung không trả lời một tối hậu thư đòi phải trả lời trong 48 giờ của các sinh viên. Trong một bản tuyên bố, ông cho biết mình tôn trọng “nguyện vọng, sự kiên trì và cảm hứng về dân chủ của họ cùng lòng sẵn sàng nhận trách nhiệm cho tương lai của Hồng Kông”.
“CY hãy từ chức”, đám đông hô vang bên ngoài căn biệt thự thời thuộc địa của Leung trong những ngọn đồi phía trên khu vực tài chính. Họ cũng hét lên yêu cầu chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hãy “câm mồm” về các vấn đề liên quan đến phát triển chính trị của Hồng Kông.
Từng đoàn cảnh sát dồn đám đông lại bằng rào chắn kim loại và cấm đường. Một phát ngôn viên cảnh sát kêu gọi các sinh viên phải “duy trì trật tự xã hội” và bày tỏ quan điểm “một cách hòa bình và hợp lý”.
Một nhóm nhỏ hơn của các học sinh trung học trẻ tuổi sẽ tham gia tẩy chay vào thứ sáu. Các cuộc biểu tình sinh viên này là một phần của chuỗi hành vi bất tuân dân sự, bao gồm một buổi trưng cầu dân ý không chính thức và một đêm ngồi tọa kháng trong khu thương mại của thành phố vào ngày 02 tháng bảy từng khiến hơn 500 người bị bắt giữ.
Đã có những cuộc đụng độ nhỏ với cảnh sát trong tuần này nhưng các cuộc biểu tình vẫn khá yên bình và chính quyền đã khoan dung trong việc cho phép công chúng tụ họp tại công viên Tamar, nằm giữa trụ sở của chính phủ và cơ quan lập pháp.
Trong các cuộc tụ họp trên một sườn cỏ lớn nhìn ra bến cảng Victoria , dù tâm trạng đám động là thách thức nhưng cho đến nay vẫn bày tỏ ôn hòa và đã có dấu hiệu căng thẳng giữa các phe phái tự do và phe bảo thủ ủng hộ ủng hộ Bắc Kinh của thành phố.
Một thiếu niên bị gãy răng cửa vì bị một người đàn ông trung niên thúc cuì chỏ vào mặt khi anh xử dụng loa phóng thanh kêu gọi ủng hộ việc tẩy chay trường học.
“Tôi thấy choáng với việc họ cáo buộc chúng tôi sử dụng bạo lực và hành động như Hồng vệ binh”, Sau vụ tấn công, nạn nhân Chow Kar-ho 16 tuổi cho biết “Nhưng bây giờ chính họ lại sử dụng loại bạo lực ấy để chống lại chúng tôi.”
Những người tổ chức cuộc “Chiếm lấy khu Trung tâm” – Occupy Central, gần như khẳng định một “bữa tiệc lớn” sẽ diễn ra vào ngày 01 tháng 10 dự kiến thu hút đến 10.000 người tham dự, nhưng không rõ các chi tiết cụ thể cho việc sợ bị bắt trước khi họ có thể hành động.
“Nếu có … 10.000 người ngồi trên đường, và nếu cứ mỗi người phải cần đến bốn cảnh sát khiêng đi, thì điều này sẽ mất thì giờ đấy ” Chan Kin-man, một trong những nhà tổ chức cho biết.
Lê Quốc Tuấn dịch từ tin của Reuters
Hình ảnh lấy từ trang FB của Joshua Wong chi-fung

Lê Quốc Tuấn's photo.
Lê Quốc Tuấn's photo.
Lê Quốc Tuấn's photo.
Lê Quốc Tuấn's photo.

 

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: ‘Lời’ vào túi ông lớn, ‘lỗ’ thủng túi ông nào?

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2014

25-09-2014

LTS: Xung quanh chủ đề chống độc quyền, tạo môi trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay, TVN vừa nhận được bài viết của ông Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn về vấn đề mở cửa cho kinh tế tư nhân phát triển. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, TVN xin trân trọng đăng tải bài viết dưới đây. Và hy vọng nhận được các ý kiến tham góp xung quanh chủ đề này của bạn đọc gần xa, nhất là của những doanh nghiệp tư nhân.

 

Cái cách chúng ta vận hành xã hội đã khiến tư duy đó trở nên khó thay đổi. (Lê Kên Thành)

Trong thời kỳ đơn sơ, những người chủ tư bản bao giờ cũng sở hữu toàn bộ nhà máy của mình. Nhưng đến một lúc nào đó, khi quan hệ sản xuất phát triển, họ nhận ra rằng nếu cứ ôm khư khư quyền sở hữu độc nhất đó, thì xí nghiệp của họ sẽ mãi mãi không thể tăng năng suất, không thể lớn mạnh.

Đủ trả giá cho sự trì trệ

Họ hiểu rằng phải cổ phần hóa, phải bán cổ phiếu ra ngoài, phải tập trung vốn và năng lực của nhiều người. Sự tập trung đó sẽ giúp nhà máy của họ lớn gấp 10 lần. Nhà tư bản khi nhận ra điều đó đã sẵn sàng đối mặt với nguy cơ mất vai trò làm chủ.

Nói cách khác, họ sẵn sàng “treo cổ” mình, sẵn sàng làm chủ mình, vì họ nhìn thấy trước mặt là khoản lợi nhuận khổng lồ, là sự phát triển đáng để họ trả giá.

Còn ở nước ta thì sao? Chúng ta đã có đủ bài học và trả giá bởi sự trì trệ trong phát triển, một khi nền kinh tế hoạt động trong sự bất bình đẳng giữa các thành phần, các khu vực kinh tế.  Rõ ràng, hiện tượng độc quyền trong kinh tế là hiện tượng không lành mạnh, và không thể không thay đổi.

Có điều, kể cả khi Nhà nước muốn cổ phần hóa, thì không ít những người lãnh đạo các tập đoàn, DNNN lại không muốn làm việc đó và tìm mọi cách để quá trình đó chậm lại.  Nếu những người lãnh đạo tập đoàn lại bắt tay với những cấp cao hơn họ, thì hiệu ứng tất yếu sẽ xảy ra là quá trình cổ phần hóa sẽ chậm lại, kéo lùi sự tiến bộ của xã hội.

Cần đặt ra một câu hỏi: Tại sao các tập đoàn làm ăn thua lỗ mà những người quản lý các tập đoàn vẫn cố tình kéo chậm lại quá trình cổ phần hóa. Có lẽ ai cũng hiểu, chỉ họ cố tình không hiểu? Vì việc đó có liên quan gì đến sinh mệnh của họ đâu? Lời họ vẫn hưởng nhiều, lỗ họ vẫn hưởng nhiều. Phần lỗ thực sự là nhân dân chịu, đất nước chịu.

Vấn đề là, nếu nhà nước tiến hành cổ phần hóa, và có không ít tư nhân tham gia, trở thành những người đồng sở hữu của những doanh nghiệp đó, thì bức tranh vô lý đó sẽ… không còn. Sẽ không bao giờ có chuyện cả con tàu Vinakhủng bị đắm trước mặt xã hội với khối nợ 80.000 tỷ. Vì những quan chức quản lý tập đoàn sẽ không được phép ngồi yên cho đến lúc đó.

Những người chủ của tập đoàn, những người cùng góp vốn sẽ giám sát sự điều hành của các quản lý, lãnh đạo tập đoàn và buộc họ phải chịu trách nhiệm với sự thua lỗ đó. Họ sẽ không thể phá nát cả một tập đoàn kinh tế, đẩy gánh nợ lên vai những người dân rồi an lành về hưu, hay quá lắm là chịu vài năm tù, trong khi hậu quả họ gây ra là không thể đo đếm.

Nếu không làm được việc đó, thì có nghĩa là chúng ta đã thua kém những nhà tư bản mà Marx nói, những người đã dám “treo cổ” mình vì sự phát triển.

Cách vận hành xã hội khiến tư duy trở nên khó thay đổi?

Nhiều người cho rằng bộ phận kinh tế tư nhân của chúng ta hiện nay không đủ sức gánh vác nền kinh tế nếu như Nhà nước trao cho họ sứ mệnh trong việc xóa bỏ độc quyền. Nhưng có lẽ, trước hết là do tư duy ấu trĩ, xơ cứng, giáo điều và phi thực tiễn của chúng ta, đã dẫn đến cách đối xử với bộ phận này trong suốt một thời gian dài không đúng. Tư duy đó dẫn đến hiện tượng, có một giai đoạn rất dài xã hội đương nhiên phân biệt Nhà nước là chính thống, tư nhân là phụ và …bất hợp pháp. Tư duy đó đã ăn sâu. Hiện nay chúng ta đang có sự thay đổi, nhìn nhận lại cách tư duy đó, nhưng cũng vẫn còn nửa vời.

Ví như tại sao DNNN đi mua gạo để giữ giá cho người nông dân, thì được coi là hành động tốt, cứu giúp người nông dân lúc khó khăn. Còn DNTN cũng đi mua gạo tích trữ, thì bị gọi là… đầu cơ. Tại sao cùng một sự việc, DNNN được coi là người bảo vệ, là người hùng, còn DNTN lại bị nhìn với ánh mắt “xấu xa”?

Đến giờ, trong rất nhiều cuộc họp, không ít các vị lãnh đạo vẫn nói: Tại sao các anh cứ để mấy “thằng tư nhân” làm việc đó? Ngay cả trong ngôn từ đã thể hiện sự định kiến, thiếu tôn trọng. Thực chất “thằng tư nhân” là ai? Hay “thằng tư nhân” cũng chính là nhân dân, là bộ phận chủ yếu của xã hội?

Tư duy coi thường kinh tế tư nhân và những người làm kinh tế tư nhân còn ăn sâu vào cả đa số dân chúng. Là một người làm kinh tế tư nhân từ những ngày đầu như tôi, càng hiểu điều đó rõ hơn ai hết. Không đâu xa, khi ra ứng cử ĐBQH, tôi nhận ra,  luôn đặt một vấn đề “ông tư nhân” sẽ giúp người ta cái gì?  Chẳng gì cả.

Cách mà xã hội đang vận hành sẽ tạo ra cho người ta tư duy như thế. Đặt một ông tư nhân bên cạnh một ông giám đốc, một ông lãnh đạo sở nào đó, thì họ thấy rõ ràng những ông lãnh đạo… quan trọng hơn. Tôi không dùng điều đó để biện minh về việc mình không trúng cử, nhưng tôi cảm nhận được việc đó và tôi hiểu được lý do vì sao họ lại tư duy như thế.

Cái cách chúng ta vận hành xã hội đã khiến tư duy đó trở nên khó thay đổi.

Cái cách tư duy đó đã khiến kinh tế tư nhân lẽ ra phát triển tự nhiên, lành mạnh lại không thể thẳng đường mà bước, vì muốn bước sẽ phải chộp giật, cơ hội, luồn lách. Nó không tạo ra được gốc rễ về văn hóa cho sự phát triển, không tạo ra triết lý cho sự phát triển. Thế nên khu vực này trở nên yếu đuối vô cùng là bởi thế. Giờ đã nhìn thấy ở đâu đó sự khuyến khích dành cho bộ phận này. Nhưng chúng ta chắc sẽ phải mất thêm thời gian để chờ nó phát triển.

Tôi vẫn tin một khi được khuyến khích, một khi được trao cơ hội, những người trẻ của đất nước với trí tuệ của mình, sự nhiệt thành của mình, tầm nhìn rộng lớn của mình, sẽ nắm được cơ hội đó và thay đổi vận mệnh. Thế hệ tôi chẳng qua chỉ là những người mở đường và buộc phải mở đường.
Chúng tôi đột phá, chúng tôi phải trả giá nhưng sự đột phát đó không lâu bền, nếu tư duy kinh tế không thực sự thay đổi. Mà những người như chúng tôi vẫn mong mỏi hơn bao giờ hết, rằng một ngày nào đó, cái mới sẽ được tự do thênh thang tiến bước!
(Còn nữa)
Tô Lan Hương (TuanVietNam)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Chống tư duy độc quyền: Con trai cố TBT Lê Duẩn: Tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2014

Chống tư duy độc quyền:

Con trai cố TBT Lê Duẩn: Tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi

Tô Lan Hương (TuanVietNam)

24-9-2014

Con trai cố TBT Lê Duẩn: Tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi

Tôi thì luôn cho rằng, độc quyền kinh tế chỉ là một hiện tượng, chỉ là hệ quả của cơ cấu tổ chức xã hội mà chúng ta đang vận hành.

LTS: Xung quanh chủ đề chống độc quyền, tạo môi trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Tuần Việt Nam tiếp tục giới thiệu phần ba bài viết của ông Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Như trong các phần trước tôi đã phân tích, nếu chỉ nói về chuyện độc quyền kinh tế thôi, thì chúng ta đã nói quá nhiều trong bao năm qua mà mọi thứ vẫn bộn bề.

Tôi thì luôn cho rằng, độc quyền kinh tế chỉ là một hiện tượng, chỉ là hệ quả của cơ cấu tổ chức xã hội mà chúng ta đang vận hành. Gốc rễ của vấn đề chính là tư duy độc quyền đã được chúng ta chấp nhận một cách hiển nhiên trong mọi mặt của đời sống này. Và chừng nào không thay đổi được gốc rễ đó, chừng đó chúng ta sẽ vẫn cứ loay hoay…

Tình yêu và thói quen nguy hiểm

Thời tôi còn đi học, tôi luôn được dạy rằng cái ưu việt nhất của CNXH là không có sự độc quyền, cái xấu xa nhất của CNTB là sự độc quyền. Chúng ta tưởng rằng xã hội chúng ta xây dựng là xã hội không có độc quyền. Thế nhưng đến thời điểm này, những khiếm khuyết của một cung cách quản lý bộc lộ và thậm chí kéo theo những hệ lụy ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội, lại chính là tư duy độc quyền.

Đến mức, chúng ta “đến” với sự độc quyền một cách hiển nhiên, nhẹ nhàng, không cảm thấy áy náy, cũng không bị sự ràng buộc của pháp luật.

Độc quyền không ở đâu xa. Độc quyền xuất hiện từ những cái rất nhỏ bé thế trong đời sống của xã hội chúng ta.

Đã từng có thời chúng ta độc quyền về cách thể hiện văn hóa, ấu trĩ đến mức cấm đoán cả việc thể hiện tình yêu, vì cho rằng tình yêu làm ủy mị con người. Nhưng tình yêu, suy cho cùng, là khởi điểm của sự sống. Tình yêu vừa vĩ đại, vừa trong sáng, vừa ma mị, vừa của thiên nhiên, vừa thuộc về con người. Sinh con là việc bắt buộc để duy trì nòi giống. Nhưng để có thể kéo được hai con người đến được với nhau là phải nhờ tình yêu. Cuộc sống tinh vi, tinh vi ghê gớm ở chỗ đó.  Và những tồn tại mạnh mẽ, những tồn tại khiến cuộc sống thăng hoa và sáng tạo đều khởi nguồn từ tình yêu.

Tôi yêu vô cùng những bài hát nói về tình yêu của nước Nga. Trong suốt cuộc chiến tranh vệ quốc của họ, họ nói về tình yêu thoải mái, tự do và tràn ngập, không bị cấm đoán. Họ nói về đôi môi, về vóc dáng người yêu… Nếu ở Việt Nam, nói về cái đó, chúng ta bị gọi là xác thịt. Nhưng đã nói đến tình yêu, phải yêu một bờ vai, một làn môi, một ánh mắt nào đó, chứ không thể chỉ yêu một cái bóng. Thế mà tâm lý xã hội ta đã từng có thời phủ định những cái rất thật, rất cuộc sống đó.

Và tâm lý đó có khi còn thể hiện ở những tiêu chí về tổ chức.

Nếu anh không tham gia một tổ chức, anh không thể đảm nhận cương vị nọ kia.  Vì thế, có những người có tài quản lý, có năng lực lãnh đạo nhưng sẽ không bao giờ phát huy, hoặc cống hiến được tài năng của họ cho xã hội. Những điều đó đang phản ánh rất rõ hình ảnh của xã hội hiện nay. Và chừng nào chúng ta còn những kiểu tư duy như thế, chừng đó chúng ta không bao giờ có thể chống độc quyền, dù là độc quyền trong lĩnh vực kinh tế hay bất cứ lĩnh vực khác.

Cái mới hôm qua- cái cũ hôm nay

Thời mới bắt đầu cuộc cách mạng, Lenin có thể sử dụng cả những con người tư sản làm chức vụ cao trong Nhà nước. Ngay cả ở Việt Nam, Bác Hồ cũng thế.

Chức vụ Chính ủy ra đời trong Hồng quân Liên Xô vì rất nhiều nhà lãnh đạo quân sự không phải là đảng viên cộng sản. Những lãnh tụ cộng sản hiểu rằng, con người để điều binh khiển tướng, tiến hành cuộc chiến vẫn phải là nhà quân sự chuyên nghiệp, thế nên mới cần những nhà tư tưởng đứng bên cạnh họ.

Nói thế để thấy rằng thời điểm đó, những ông tổ của tư tưởng mà chúng ta đi theo hoàn toàn không mang tư duy độc quyền. Sau này, Lenin có những chính sách kinh tế mới mang cả màu sắc của xã hội trước, sử dụng sự ưu việt của xã hội đó. Nghĩa là họ – những lãnh tụ cộng sản đã dám sáng tạo ngay từ khởi điểm ban đầu của sự sáng tạo cách mạng, chứ không phải đợi đến mãi sau này, khi sự sáng tạo đó đã biến thành cũ kỹ.

Khi cái mới đã trở nên lạc hậu và bộc lộ nhiều nhược điểm và đòi hỏi buộc phải sáng tạo. Đó là điều mà lớp hậu sinh như tôi khâm phục họ: Những người vừa làm ra một cái mới, một cái mới hãy còn nóng hổi nhưng đã kịp thấy nó cũ và đã kịp thấy cái cần phải thay đổi.

Cuộc sống và quy luật cái chung- cái riêng

Lúc còn sống, cha tôi luôn muốn cắt nghĩa: Cuộc sống là gì, tồn tại là gì? Vì suy cho cùng tất cả những gì chúng ta làm là để cho cuộc sống tốt lên, để cho tồn tại nó lâu dài hơn.  Cha tôi cho rằng suy cho cùng mỗi con người là một tồn tại, hai vợ chồng là một tồn tại, cả xã hội là một tồn tại.

Nhưng 03 là 01 và 01 cũng phải là 03: 01 con người – 02 vợ chồng – cả xã hội là một khối tồn tại thống nhất, nhưng cũng phải là 03 khối tồn tại độc lập trong cái khối thống nhất đó.

Và chúng ta sẽ phải tôn trọng từng cái sự tồn tại đó, phải nhấn mạnh được từng tồn tại đó, để bảo vệ sự tồn tại chung, cũng như chúng ta không thể tách rời một tồn tại nào đó với cái khối tồn tại chung đó. Khi chúng ta đang nói đến tập thể, chúng ta phải nói theo cách đó: Muốn cái chung tồn tại, thì những cái riêng này buộc phải tồn tại.

Còn nếu anh xóa đi một trong những phần đó, nếu anh tìm cách o ép một trong những phần đó, thì tự anh đã xóa đi một sự tồn tại và cũng xóa luôn sự tồn tại của cái chung.  Không cần kiến thức cao siêu, chỉ cần hiểu cuộc sống là hiểu được quy luật này. Nếu không nói được liên kết cốt lõi này, thì không hiểu được cuộc sống.

Chúng ta nói tài sản này là của nhân dân. Nhưng người dân không hiểu điều đó nếu không được sở hữu nó. Khi chúng ta cổ phần hóa và chia cho người dân, họ sẽ hiểu ngay lập tức. Một nhà máy hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước, do một số con người cụ thể điều hành, không nhân dân nào có thể hiểu đó là tài sản của mình.

Người ta phải có quyền thật thì người ta mới cảm nhận được sự sở hữu của mình ở tài sản đó, mới bảo vệ, gây dựng tài sản đó bằng tài năng, mồ hôi lao động của mình.

Quay lại câu chuyện độc quyền, một con người đang sống là đang…. độc quyền chính bản thân mình. Không ai có thể sống thay mình được. Nhưng con người này nếu không biết tiến đến một cuộc sống gia đình, đẻ ra những đứa con của mình là bản thân họ đang kết thúc cuộc sống.

Đó là cách sống phi tự nhiên. Cuộc sống chỉ tiếp tục nếu anh kết hợp với một người khác, sinh ra những đứa con, có trách nhiệm với xã hội đó và nhận những quyền lợi từ mối liên kết này mang lại.

Sẽ vô cùng biến dạng nếu một người nào đó chỉ nghĩ đến cá nhân người ta, một người nào đó chỉ nghĩ đến gia đình người ta, hay một nhóm người nào đó chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhóm mình, và cho rằng mình sống văn minh hơn người khác. Điều đó là rất không đúng. Chúng ta tiếc thay lại đang chứa đựng những sự “biến dạng” đó trong xã hội mình.

Độc quyền kinh tế chỉ là một khía cạnh của tư duy độc quyền, của khối tồn tại đang bị biến dạng đó và không thể tách rời khỏi những tồn tại khác. Nên cái cần sửa chữa không chỉ là chuyện độc quyền trong kinh tế, mà là sửa chữa cả tư duy.

Còn bây giờ nếu chúng ta cứ nhìn ra một vài hiện tượng độc quyền lẻ tẻ và loay hoay tìm cách tháo gỡ nó, thì chúng ta sẽ giống như những người mải mê bắt sâu trên ngọn cây mà không biết rằng con sâu đã đục khoét cái cây đó từ gốc rễ.

Nếu dàn nhạc không có nhạc trưởng đại tài?

Tôi luôn nghĩ ông Karl Marx, ông Lenin nếu còn sống, với những con người trí tuệ như thế, lý luận của họ nhất định sẽ thay đổi. Nếu còn sống, họ sẽ lãnh đạo xã hội theo một cách khác. Bởi trong lúc tăm tối nhất của xã hội, họ đã nghĩ ra những cái rất đúng về quy luật cuộc sống.

Thế thì nếu đang sống ở thời đại này, họ sẽ nhìn ra những cái khác.

Bất cứ thời điểm lịch sử ngặt nghèo nào cũng cần có những nhân tố đặc biệt, những cá nhân kiệt xuất có thể mang đến sự thay đổi. Cái xã hội Việt Nam cần bây giờ là những cá nhân như thế: Những người tìm ra được hướng đi mới, đủ sức mạnh, đủ can đảm tổ chức, sắp xếp lại xã hội theo hướng đi đó. Những người tạo ra hệ thống đó, rồi kiểm soát nó và phát triển nó, xử lý những yếu tố phát sinh trong hệ thống đó.

Một dàn nhạc dù toàn nhạc công giỏi, nhưng không có nghĩa sẽ đánh được một bản giao hưởng hay nếu không có một người nhạc trưởng đại tài, thổi hồn cho bản nhạc. Người nhạc sĩ viết ra bản nhạc hay đã đành, nhưng tạo ra sức sống cho toàn bộ bản nhạc đó phải là người nhạc trưởng, để thính giả cảm nhận được nốt này là lá rơi, nốt kia là gió thổi…

Có những người từng hỏi tôi về sự thay đổi của đất nước và thời điểm của sự thay đổi đó. Sự thay đổi đó có thể là ngày mai, có thể là 100 năm, 200 năm hoặc … không bao giờ. Điều đó tùy thuộc vào ý chí, bản lĩnh và sự dũng cảm của cả một dân tộc. Trong lịch sử từng có những hiện tượng có những dân tộc đã đi đến sự suy tàn, khi dân tộc không thể thay đổi để tiệm cận với cái mới mang ý nghĩa là cái tiên tiến, cái phát triển của thời đại.

Đã có những đế chế hùng mạnh, những nền văn minh rực rỡ trong lịch sử đã bị hủy diệt một cách ghê gớm. Những ví dụ đó chứng tỏ một điều nếu tổ chức xã hội không tốt, dân tộc có thể đi đến suy tàn.

Không độc quyền về chân lý, không độc quyền về mục tiêu, về lợi ích, là bí quyết duy nhất cho sự sinh tồn của dân tộc. Và tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi.
——————-
* bài này của Tô Lan Hương (con gái của Tô Huy Rứa, Ủy viên BCT)
* PCT: Lê Kiến Thành thời sinh viên và NCS nổi tiếng là soái Nga vì đi buôn đôla băng hộ chiếu Đỏ (Ngoại giao, Đặc biệt VIP), mối chuyến buôn đầy cả cặp sansonaise tiền đô và lãi cũng chừng đó rồi ôm đô về HN mua BĐS, kinh doanh, lập ngân hàng Techcombank…

Hồi đó bọn SV hay NCS quèn chỉ có vài ba trăm đô, ai có đến ngàn đo là xưng “tá”, chục ngàn là “tướng” với “soái” rồi, mà Thành đã có hàng triệu đô tiền mặt… xứng danh đại soái con Duẩn. Hồi đó buốn đola ở Nga lãi hơn buôn ma túy. Vợ chồng Văn Tiến Dũng cùng đi buôn cũng thua Thành, vì không thể đi lại nhiều như Thành…

Đi buôn mà qua sân bay Seremenchevo và Nội Bài hải quan Nga và Việt đều chạy theo xách đồ, không được phép kiểm tra gì, Thành ta chỉ xách (và không cho ai xách) cái vali con đầy tiền đôla thôi…

Thành không thèm học hành gì, chỉ đi chơi và đi buôn, mà bọn Nga vẫn phải cho bằng đỏ tiến sĩ rất nhanh gọn. (Có bọn học hộ, làm bằng TS “hộ” nữa…)

Đấy là tôi nghe “Việt cộng” kháo nhau trong SV, NCS khắp nơi như thế… Ai cũng “biết thế” mà không nói ra thôi!. PCT

* Tẽm: Đm, giỏi thật, ngày xưa thấy người ta có của cải chữ nghĩa thì bọn nó ghen ghét, hô hào giết sạch. Bây giờ bọn vô sản đã thâu tóm được của cải kếch xù, có bằng “tiến sĩ”, trở thành trí phú địa hào thời đại mới thì bắt đầu giở triết lý này nọ rất nhân văn nhân bản, chuẩn bị cho cuộc thoát thân tháo chạy. Một cuộc thay tên đổi chủ ngoạn mục, chỉ chết đám dân đen ngu muội muôn đời bị lợi dụng xương máu.

*Hồ báu Tài: Lê Duẩn là một người rất cực kì “kiên định” tiến lên XHCN trong cái đám “đệ tử của ông Hù”. Vì vậy mà quê huơng VN ta đã có công cuộc “Phỏng Giái” làm chết hàng triệu mạng người, hàng trăm ngàn người phải vào tù khổ sai bỏ mạng nơi rừng sâu nước độc. Cũng vì kiên định tiến lên XHCN đó mà ta có nhiều năm đất nước nghèo đói thiếu ăn, bo bo là chính, than bùn và trấu để đốt bếp, áo quần không đủ che cụ Hồ lủng lẳng. Nếu Lê Duẩn còn sống thì chúng ta có thể sẽ có một bài viết khác với tựa đề “Dân tộc VN đã sáng suốt khi chọn (hồi nào?) đảng CSVN lãnh đạo” của cùng một tác giả cũng nên. Lê Kiên Thành có đủ can đảm nói về những cái Sai, những cái Tầm Bậy, những cái Ác mà cha anh đã làm bao giờ chưa nhể??? Can đảm lên một tí xem nào!!!!

*Tự hỏi: Ông Lê Kiến Thành trở thành triệu phú $ bất động sản chỉ do tài năng cá nhân hay có nhờ một chút “độc quyền về lợi ích”?

* Ngô Văn Gạch: Bài này viết quá viển vông, ông Thành mắc cái gène của ông Lê Duẩn là bàn về những chuyện hiển nhiên, rõ nhất là phần có tiêu đề “Cuộc sống và quy luật cái chung- cái riêng.”

Chẳng hiểu ông Thành có biết ai là bố đẻ ra cái “độc quyền” ở nước ta không? Chắc là ông thừa biết vì ông đã du học nước ngoài trong thời kỳ chiến tranh mà lúc ấy chúng tôi đi “đánh MỸ là đánh cho Liên xô”.

Ông Thành viết: “Nếu anh không tham gia một tổ chức, anh không thể đảm nhận cương vị nọ kia.” Sao ông không nói thẳng ra “tổ chức” là Đảng? Nếu ông không là người của “tổ chức” (Đảng) thì chắc chắn việc làm ăn hay kinh doanh của ông không thể phất được như ngày nay. CÁc nước khác thì làm chính trị bàng kinh tế, còn nước CS ta thì muốn làm kinh tế thì phải làm chính trị trước đã, người tàu ngày trước gọi là “buôn vua”. Đó là câu trả lời của Lã Bất Vi, tóm tắt là “muốn lãi ta thì phải buôn to, muốn lãi thật to thì buôn vua.”

Bài này nội dung là của con một ông to đã chết, tác già cũng là còn một quan to còn sống (Tô Lan Hương là con ông Tô Huy Rưá) mà nêu được câu “Không độc quyền về chân lý, không độc quyền về mục tiêu, về lợi ích, là bí quyết duy nhất cho sự sinh tồn của dân tộc. Và tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi” thì là điều đáng mừng. Thế nhưng con đường cũ mà dân tộc ta đã đi do Đảng lãnh dạo thì không sáng suốt nên mới dãn đến tình trạng hiên nay, còn
“con đường sáng suốt nhất để bước đi” thì không thấy ông Thành nêu ra.

Xin nhắc ông Thành là cậu Ủn hậu duệ của Kim Nhật Thành (nhà độc tài lãnh đạo Bắc Triều tiên trước kia) gần đây đã tuyên bố: “Đời ông ta dã sai, đời bố ta đã sai, nay ta không sửa chữa thì có tội với lịch sử.” Mong ông Thành sáng suốt giống như cậu Ủn tuyên bố.

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Bao năm làm đủ cách ‘che chở’ DNNN

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2014

Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Bao năm làm đủ cách ‘che chở’ DNNN

25-09-2014

Phân Tích – Báo Một Thế Giới

LTS: Xung quanh chủ đề chống độc quyền, tạo môi trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay, TNV vừa nhận được bài viết của ông Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn về vấn đề mở cửa cho kinh tế tư nhân phát triển. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, TVN xin trân trọng đăng tải bài viết dưới đây. Và hy vọng nhận được các ý kiến tham góp xung quanh chủ đề này của bạn đọc gần xa, nhất là của những doanh nghiệp tư nhân.

Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Bao năm làm đủ cách 'che chở' DNNN
 

Những sự cố nhỏ, tình cờ, sẽ không khiến bộ máy tàn lụi, mà thậm chí còn tạo ra những kháng thể cho bộ máy, giúp nó hoàn chỉnh dần lên. Một khi ngân hàng phải tự bảo vệ sự sinh tồn của mình, nó sẽ học được cách phản ứng nhanh nhạy, tức thời, phải biết tự bảo vệ mình. (Lê Kiên Thành)

Khi tôi còn trẻ, tôi có đọc được một câu Karl Marx viết: “Nếu lợi nhuận lên đến 300% thì có treo cổ nhà tư bản lên, họ cũng sẽ làm”. Lúc đó tôi cứ hoài nghi mãi. Nói họ sống vì lợi nhuận thì còn được, chứ chết vì lợi nhuận thì nghe có vẻ vô lý quá. Nhưng sau này tôi mới hiểu ra, hình ảnh “treo cổ những nhà tư bản” mà Marx muốn nói là một sự phủ định. Tức là những nhà tư bản sẵn sàng phủ định chính mình vì sự phát triển, và “lợi nhuận” chỉ là một cách nói, một cách ví von về sự phát triển.

Dám nghĩ, dám thay đổi- đúng đắn đến nhường nào

Tôi đi làm kinh tế tư nhân từ khi người ta còn cấm Đảng viên làm kinh tế. Tôi tham gia lĩnh vực kinh doanh tài chính từ những ngày đầu khi các ngân hàng tư nhân mới bắt đầu hình thành. Và tôi muốn bắt đầu câu chuyện từ chính chỗ này.

Ngày xưa khi chúng ta mới mở cửa, thì vẫn có quan niệm cho rằng, tư nhân có thể làm tất cả, trừ kinh doanh tài chính. Thời điểm chưa có ngân hàng tư nhân nào ra đời, tôi nghe các chuyên gia kinh tế nói rằng: Đất nước mở cửa rồi, cho tư nhân bán phở đi, cho tư nhân sản xuất đi, nhưng tài chính là cái cốt lõi để làm nên CNXH và sẽ chi phối tất cả thì tư nhân không được tham gia.

Nhưng rồi đến một thời điểm, đã có những người dám nghĩ rằng với sự kiểm soát chặt chẽ, thì ngay cả một lĩnh vực nhạy cảm như tài chính cũng có thể cho phép tư nhân vào cuộc. Cuối cùng đã có một người dám tư duy theo một cách hoàn toàn khác với tư duy cũ:  Anh tư nhân có thể làm ngân hàng, nhưng tôi sẽ kiểm soát về mặt lãi suất, về mặt con người. Tổng Giám đốc của ngân hàng tư nhân cũng phải do nhà nước chỉ định; chủ tịch HĐQT ngân hàng cũng phải do Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn.

Và cứ nhìn vào những gì mà quyết định đó mang lại trong suốt mấy chục năm qua, thì sẽ thấy việc dám nghĩ, dám thay đổi đúng đắn đến nhường nào.

Tuy rằng hoạt động của các ngân hàng Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm và không tránh khỏi việc bộc lộ những nhược điểm, nhưng những tác động tích cực của sự ra đời các ngân hàng tư nhân vào đời sống là vô cùng rõ ràng.

Khi chúng ta chủ trương để các ngân hàng tư nhân phát triển, toàn bộ tài chính lưu thông mạnh mẽ hơn, kích thích cả bên khối ngân hàng quốc doanh phải kinh doanh hiệu quả hơn nếu muốn tồn tại.

Trước đó, chúng ta chỉ có những quỹ tín dụng nhân dân vì người ta cho rằng mô hình đó dễ kiểm soát, bởi nó rất đơn sơ. Nhưng sự thật là sự đơn sơ đó đã xảy ra thiệt hại khôn lường, khi mà các qũy tín dụng nhân dân đã vỡ nợ tràn lan do cơ chế quản lý quá đơn giản và yếu kém.

Những con châu chấu và những con người

Tôi luôn có sự liên tưởng giữa những doanh nghiệp lớn đã từng “đổ bể” ở nước ta với những quỹ tín dụng nhân dân đơn sơ từng đổ bể năm nào. Hệt như những con châu chấu và những con người.

Con châu chấu dù lớn đến mấy cũng chỉ là con châu chấu: Tim chỉ 02 ngăn, máu vẫn là màu xanh, không có lục phủ ngũ tạng. Cơ chế vận hành của nó đơn sơ như vậy nên chỉ cần trái gió trở trời là nó chết. Con người thì khác, vì con người có một cơ chế vận hành tinh vi vô cùng.

Nói thế không có nghĩa là không có con người chết, không có ngân hàng “thăng trầm”, vì bộ máy nào cũng sẽ có những khiếm khuyết nhất định. Nhưng khi mà anh dám tổ chức ra một ngân hàng hoàn chỉnh, tinh vi như bộ máy của con người, thì những nguy cơ sẽ được hạn chế đến mức tối đa.

Những sự cố nhỏ, tình cờ, sẽ không khiến bộ máy tàn lụi, mà thậm chí còn tạo ra những kháng thể cho bộ máy, giúp nó hoàn chỉnh dần lên. Một khi ngân hàng phải tự bảo vệ sự sinh tồn của mình, nó sẽ học được cách phản ứng nhanh nhạy, tức thời, phải biết tự bảo vệ mình. Đó là bài học quý giá từ thực tiễn. Nó giống như việc chúng ta đi tiêm chủng hàng năm, chúng ta cấy virus vào người để tạo ra kháng thể. Kháng thể đó bảo vệ chúng ta khỏi nguy cơ bệnh tật.

Mỗi khi nhìn lại những gì chúng ta đã mạnh dạn thay đổi ở lĩnh vực ngân hàng, tôi lại băn khoăn không cắt nghĩa nổi tại sao chúng ta lại không làm được việc đó với những bộ phận khác của nền kinh tế? Tại sao chúng ta trong suốt bao năm qua vẫn tìm mọi cách bảo vệ, che chở cho những doanh nghiệp nhà nước như bảo vệ một bào thai trong bụng mẹ, dù chúng ta đã có đủ bài học nhãn tiền khi mà sự che chở vô lý đó đã vô tình tạo ra những hậu quả khôn lường?
————
Trần Hoàng: Sự nghèo nàn của VN là do thể chế đảng CSVN và nhà nước muốn nắm quyền hành chỉ đạo và cai trị. Họ nghĩ rằng làm như thế thì đảng sẽ nắm độc quyền lãnh đạo.
Nền kinh tế VN là do sự chỉ huy của đảng và nhà nước. Đảng và nhà nước kiểm soát tài chánh. 1954-1989, nhà nước thành lập quỹ tín dụng nhân dân vì nó dễ kiểm soát và chỉ có ngân hàng nhà nước. Họ không cho tư nhân tham gia trong lãnh vực thành lập ngân hàng.
Theo Lê Kiên Thành:  ngân hàng tư nhân ra đời 1990s vì sự đổ nợ tràn lan của các quỹ tín dụng nhân dân đã thành lập trước đó.
1. “Trước đó, chúng ta chỉ có những quỹ tín dụng nhân dân vì người ta cho rằng mô hình đó dễ kiểm soát, bởi nó rất đơn sơ. Nhưng sự thật là sự đơn sơ đó đã xảy ra thiệt hại khôn lường, khi mà các qũy tín dụng nhân dân đã vỡ nợ tràn lan do cơ chế quản lý quá đơn giản và yếu kém.”
2. Nhưng rồi đến một thời điểm (khoảng 1990s), đã có những người dám nghĩ rằng với sự kiểm soát chặt chẽ, thì ngay cả một lĩnh vực nhạy cảm như tài chính cũng có thể cho phép tư nhân vào cuộc. Cuối cùng đã có một người dám tư duy theo một cách hoàn toàn khác với tư duy cũ:  Anh tư nhân có thể làm ngân hàng, nhưng tôi sẽ kiểm soát về mặt lãi suất, về mặt con người. Tổng Giám đốc của ngân hàng tư nhân cũng phải do nhà nước chỉ định; chủ tịch HĐQT ngân hàng cũng phải do Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn.Và cứ nhìn vào những gì mà quyết định đó mang lại trong suốt mấy chục năm qua, thì sẽ thấy việc dám nghĩ, dám thay đổi đúng đắn đến nhường nào.(Còn tiếp)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Vốn điều lệ năm sau cao hơn năm trước- Quy định vốn của TT Dũng làm ngân hàng TM loay hoay tìm vốn

Posted by hoangtran204 trên 25/09/2014

Kế họach tăng vốn các ngân hàng thương mại có từ năm 2006, Nghị định 141. Khởi đầu, vốn thành lập ngân hàng thương mại chỉ cần 1000 tỷ, sau đó theo nghị định 141 phải tăng lên 3000 tỷ (2010), kế đó là phải tăng lên 5000 tỷ (2012), và năm 2015 các ngân hàng thương mại phải có vốn 10.000 tỷ; theo báo chí hiện nay thì mục tiêu đã điều chỉnh lên 15.000 tỷ. Ngân hàng nào không theo quy định, phải đóng cửa.  Đấy là chỉ đạo có trước khi có cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới 2008. 

Từ 2008-2013, kinh tế thế giới đi vào vực thẳm và đến nay vẫn còn ở trong vòng yếu kém. Nhưng cộng sản làm kinh tế thì bất chấp vì đã có đảng chỉ đạo rồi thì có chi đàng sợ.  Năm 2013, Thủ tướng đã chỉ đạo xây nhà máy in bạc ở Hà Nội sao cho to hơn để lắp đặt máy in tiền mới của Úc, mục đích là để giữ bí mật chuyện in tiền, và khỏi thuê Úc in rất tốn kém (giá in tiền là 4-6 cents (xu) cho mỗi tờ giấy bạc polymer 500.000 đồng và 200.000 đồng). Đầu năm 2015 nhà máy in bạc sẽ khánh thành. TT 12 tuổi bỏ học đi theo du kích, nay ai xúi gì làm đó. 

“Một đoạn khác, tác giả cho chúng ta biết về quan điểm của Lê Duẩn liên quan đến in tiền. Chuyện kể rằng ông Duẩn phàn nàn với Thành uỷ Hà Nội sao không bán giường tủ cho công nhân viên và trừ lương hàng tháng, nhưng Thành uỷ nói không có tiền, ông Duẩn bèn phán không có tiền thì in tiền. Ông giảng giải thêm: “Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ?”

Kết quả, trong những năm 1980s, lạm phát của VN gia tăng dần và cuối năm 1989, mức lạm phát lên 900%; quá xấu hổ, nhà nước VN chỉ dám báo cáo chừng 435%.

 

Tại sao không thể cho phá sản các ngân hàng  ở VN?

Phan Châu Thành

Thủ tướng và chủ trương rất “dũng” và “cảm”…

Hệ thống gần 40 các NHTM VN năm 2014 đang có nạn dịch ung thư nợ xấu từ nhiều năm nay mà đợt sát nhập các NH yếu kém dạng “ép hôn” với các NH chưa yếu kém” do NHNN đạo diễn “chủ hôn” 2-3 năm nay vẫn chưa “dập” được dịch, dẫn đến những cái chết “tiền lâm sàng” của một số ngân hàng lớn như Agribank và nhỏ như NH Xây dựng…

Hơn thé nữa, nạn dịch đó còn bùng phát trong số các NH “hùng mạnh” lâu nay “nổi danh” với bao nhiêu “danh hiệu và giải thưởng quốc tế” như nhóm 8 NH: Vietinbank, Vietcombank, ACB, Military Bank, Eximbank, BIDV và SHB, cùng Agribank tạo nên Nhóm G(8+1) nổi danh…

Trong tình hình đó Thủ tướng đã “sáng suốt” ra chủ trương rất “dũng” và “cảm” là cho phá sản các NHTM yếu kém. Chủ trương rất “dũng” thì rõ rồi, vì đó là lời Thủ tướng, còn “cảm” (sốt) là vì: việc đó có luật điều tiết chứ, sao lại phải có chủ trương? Nền kinh tế này hóa ra không hoạt động theo luật, mà theo chủ trương thôi ư?

Thế mà, sự “sáng suốt” vừa “dũng” vừa “cảm” đó lại không khả thi, vì mấy nguyên nhân cộm cán sau:

Luật phá sản hay Luật cấm phá sản?

Dù VN đã có Luật phá sản doanh nghiệp (DN) từ lâu, nhưng trong suốt những năm qua mới chỉ có khoảng trên 100 DN phá sản theo luật, trong khi mỗi năm có hàng trăm ngàn DN chết lâm sàng hay “biến mất”… tức là chết không được chôn. Tại sao vậy?

Nguyên nhân đầu tiên là Luật phá sản chí có tác dụng cấm cản phá sản, và trên phương diện đó nó đã rất thành công, xứng đáng được cả thế giới đến VN học hỏi – vì ít DN phá sản tức các DN đều phát triển tốt, kinh tế lành mạnh XHCN!

Với 9 chương và gần 100 điều khoản, Luật phá sản đã dựng lên vô số rào cản và hù dọa thành công (bằng luật hình sự) để những người muốn bảo vệ quyền lợi của mình bằng biện pháp cuối cùng bất đắc dĩ là kiện DN phá sản phải phá sản ý định dùng luật phá sản bảo vệ quyền lợi của mình. Nó, Luật phá sản của VN, cũng thành công trong việc đẩy hoàn toàn hệ thống Tòa án các cấp tỉnh, huyện về phía DN và bảo vệ sự tồn tại của nó, bất cần sự tồn tại đó có lành mạnh cho nền kinh tế hay không.

Nền kinh tế hầu như không có DN phá sản, như là cơ thể không có bài tiết tự nhiên (không đại tiểu tiện) và càng không có phẫu thuật cắt các khối u ung thư di căn?! Nhưng đó chính là hình ảnh “đẹp thơm nhất thế giới” của nền kinh tế Việt Nam hôm nay!

Đối với chủ trương “dũng và cảm” của ông Thủ cũng thế, lấy ai dũng cảm đứng ra nộp đơn phá sản cho các NHTM đã và đang chết đây, và có đủ lực và dũng cảm nhiều hơn nữa để đi qua rừng thủ tục phá sản mà Luật phá sản do chính VPCP của Thủ đã đệ lên cho QH “gật qua”?! Khó! Quá khó! Đó là lý do thứ nhất.

Chính phủ đã đẩy các NHTM đến bệnh dịch ung thư vô phương cứu chữa

Trong khoảng 5-7 năm trở lại đây có ba “chính sánh lớn” để siết chặt và củng cố chất lượng hệ thống NHTM thì hậu quả của cả ba chính sách đó để lại hiện nay làm cho chủ trương “cắt khối u” tức “cho phép” phá sản NHTM trở nên bất khả thi. Nói cách khác, không NHTM nào sẽ được chết, vì nếu thế thì chúng sẽ chết hàng loạt và cả hệ thống mất, tức cả nền kinh tế…

Đó là…

Thứ nhất, chính sách tăng vốn Điều lệ bắt buộc… buộc NH phạm luật

Đã là chính sách thì phải khả thi, và muốn biết có khả thi thì phải khả kiểm. Đầu tiên, chính phủ bắt buộc các NHTM phải có vốn góp trên 1,000 tỷ. Đó là chính sách khả thi, nhưng khả thi rất khó khăn (đã đến giới hạn của các NH và xã hội nếu đó là góp tiền tươi thóc thật…), nhưng các NHTM lại đã hết sức cố gắng và hầu như vượt qua hết, bằng mọi cách, mọi giá…,

Nhưng chính phủ lại không có kiểm tra sâu sát việc thực thi lệnh đó của các NH, xem họ làm nó ra sao, đúng hay sai luật, có khó khăn gì, đã hết sức chưa… nên CP tưởng xã hội VN là mỏ vàng ngon ăn. Ngất ngây với thành công đó, chỉ khoảng 1 năm sau chính phủ đã nâng hạn mức vốn huy động của các NHTM lên ngay 3,000 tỷ đồng.

Lần này thì chỉ có khoảng 30-40% số NHTM có đủ sức thực hiện (đó là các NHTM nhà nước và 1-2 ngân hàng CP tư nhân thôi), nhưng không NH nào muốn chết hay bị sát nhập cả. Họ “bắt buộc” phải tăng vốn ảo, bằng nhiều cách, bằng mọi cách. Và hầu như tất cả cũng đã “đạt yêu cầu CP”…

Ví dụ, một ông bạn tôi có chân trong HĐQT một NHTM CP “nhớn”, có cổ đông là cả tư nhân và các tập đoàn nhà nước như Bảo Việt và tập đoàn NN mà ông bạn tôi là đại diện, đã thật thà tâm sự như sau:”Lấy chó tiền đâu mà nâng vốn “đùng một cái” từ 1,000 tỷ lên 3,000 tỷ! Vẽ cũng không kịp, vì đó là kế hoạch 5 năm, có khi 10 năm của NH, vì vừa mới cố chết nâng vốn lên 1,000 tỷ xong. Thế nên chúng nó – HĐQT NH – đi học các NH khác, chia và giao trách nhiệm cho các cổ đông chính tự nâng vốn của mình lên theo tỷ lệ “được chia” sao cho tổng vốn mới nâng thêm là 2,000 tỷ, ảo! Ví dụ, tập đoàn tớ đã góp 100 tỷ giữ 10% vốn điều lệ NH thì sẽ cử một công ty con đứng ra vay NH 200 tỷ “để kinh doanh”, rồi công ty con đó phải nộp lại ngay cho tập đoàn, rồi tập đoàn “góp vốn bổ sung nâng vốn” vào NH. Bằng cách đó, hàng loạt công ty “khách hàng” khác của các cổ đông khác cũng được chỉ định đứng ra “vay kinh doanh” rồi nộp “góp vốn” lại NH, các cổ đông tư nhân cũng thế – được chỉ định người nhà đứng ra “vay kinh doanh-góp vốn” như thế. Bằng cách đó chúng tớ vẫn giữ nguyên 10% cổ phần NH nay đã có vốn 3,000tỷ mà chả có thêm đồng nào, chỉ ôm thêm một khối nợ ngoài ý muốn và chưa biết bao giờ mới trả được…” Tôi thắc mắc: “Thế người ta không kiểm tra cách các ông lấy tiền đâu ra mà nâng vốn nhanh như… thánh thế à?” “Có chứ, nó kiểm tra sổ sách ở NH thôi, còn các công ty mới góp vốn nó không kiểm tra. Nó thừa biết mẹo lừa vặt của bọn tao, vì hầu như NH nào cũng phải làm thế, nên bọn tao chỉ cần “lót tay” chúng nó – bọn thanh tra NHNN ấy mỗi thàng một phong bì khoảng chục ngàn đô với ba bữa đi nhậu tới bến, là xong!”…

Tóm lại, chính sách tăng vốn điều lệ NHTM bất chấp khả năng thật của thị trường vốn cho NH của chính phủ đã đẩy các NHTM “bắt buộc” phạm luật vì góp vốn ảo và ôm một đống nợ thật cùng hai hệ thống sổ sách đều… ”thật” để theo dõi!

Thứ hai, chính sách nới lỏng hạn mức huy động vốn tín dụng lên 20 lần

Chính sách nới lỏng hạn mức huy động vốn tín dụng lên 20 lần của chính phủ cho các NHTM (từ mức trước đó là 14?) đã giúp các NHTM “phóng tay” cho vay, nhất là cho vay BĐS, vì sợ “dư tiền”, cho DNVVN vay kinh doanh thì “mệt” và đòi lâu, khó đòi… và thành tích tổng tín dụng kém.

Đối tác hàng đầu mà các NHTM “phóng tay” cho vay là chính các cổ đông đã “có công” góp vốn tăng lên 3,000 tỷ, và họ cần thêm vốn để kinh doanh kiếm lời để… nộp vốn thật! Thế là các NHTM hàng 5-7 năm qua đều rất nhàn nhã với hai nhóm khách hàng đó (BĐS và các DN tay trong) mà tăng trưởng tín dụng cao, lợi nhuận cao, lương khủng… cho đến khi các khoản phóng tay cho vay đó nhiều khoản sẽ không bao giờ trở về! Và đó là tình trạng nợ xấu của các NHTM hiện nay.

Đặc điểm chung và xấu của nợ xấu của các NHTM và NHĐT ở VN hiện nay là người cho vay và người vay thường là thân quen, ràng buộc với nhau, hay thậm chí là cùng một chủ, cùng một nhóm chủ đi vay và cho vay đó, còn tiền dùng “tạo nên nợ xấu” là huy động từ dân đen…

Vì thế nợ xấu ở VN đều là cực xấu – người cho vay không muốn đòi và kẻ đi vay không hề muốn trả! Kể cả khi NH cho vay phải phá sản họ cũng vẫn “toàn thắng”…

Thứ ba, chính sách luôn ứng cứu, ép sát nhập các NHTM yếu kém

Chính sách luôn ứng cứu, ép sát nhập các NHTM yếu kém của chính phủ VN những năm qua do NHNN đạo diễn, tạo ra thông lệ và thói quen là các NH khó khăn sẽ được ứng cứu bằng tiền chính phủ.

Tại sao chính phủ luôn làm vậy? Bởi vì trong sô cổ đông của tất cả các NHTM CP của VN đều có các công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước và các nhóm lợi ích của các thế lực trong đảng, chính phủ, quân đội, công an… nên chúng đều không thể chết. Nếu chúng lỡ bị “yếu kém” thì NHNN sẽ ép các NHTM chưa yếu kém khác hành động sát nhập… làm thành các cuộc ép duyên triền miên, nếu không thì… tất cả chúng ta cũng chết! Nếu các NHTM khác không cứu nổi thì chính NHNN sẽ phải cứu, bằng tiền chính phủ in ra…

Tóm lại, lợi ích của chính phủ và NHNN là trong việc ứng cứu các NH yếu kém, không phải để cho chúng phá sản, cho nên chúng càng không thể phá sản!

Cái kết… bị kẹt không muốn nói ra!

Cuối cùng thì ai sẽ phải phá sản ở đây? Dân đen thôi. Vì nếu có vượt qua rừng luật cấm phá sản thì các NH cũng sẽ phải lộ ra hai hệ thống sổ sách phạm pháp “thực” của mình với những đống vốn ảo, cổ đông ảo và con nợ ảo…

Rồi vì phá sản, phải phơi ra hết các “khách hàng thân hữu” là chính cáccổ đông ngân hàng và các nhóm lợi ích trong chính phủ, đảng, quân dội, công an…

Và hơn nữa, một NHTM chết thật sẽ kéo chùm các NH khác phải chết, vì chả lẽ Nh của công an lại chết mà nhân hàng quân đội không sao? Chả lẽ ngân hàng của nhóm lợi ích trong chính phủ đổ bể mà nhân hàng của đảng không vhịu sứt mẻ gì?

Thôi thì chúng ta cũng sống, để “nhân dân Việt nam dũng cảm” chịu chết vậy!

Sao thủ tướng không huỵch toẹt ra là đảng và chính phủ luôn luôn có chủ trương cho phép toàn dân đen tự do phá sản nhỉ?! Chứ các NH thì “cho phép phá sản” làm sao được, vì chúng còn phải cùng chính phủ phục vụ nhân dân tiếp nữa chứ?!

Phan Châu Thành

———

4-9-2010

Tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng: Cuộc đua không cân sức

Báo Mới

(4-9-2010) Trong số 23 ngân hàng thương mại (NHTM) phải tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng thì mới có khoảng 9 NHTM đã hoàn thành lộ trình, số còn lại vẫn đang loay hoay tìm nguồn vốn. Tăng vốn điều lệ, không chỉ là bài toán của những ngân hàng nhỏ, mà những ngân hàng có số vốn vượt xa con số 3000 tỷ đồng cũng đưa ra phương án tiếp tục huy động vốn. Điều đó đã tạo ra một cuộc chạy đua khốc liệt, mà ưu thế thuộc về các ngân hàng lớn

Phóng viên đã trò chuyện cùng ông Vũ Trần Dương – Phó Tổng giám đốc CTCK Đông Dương về vấn đề này.

Từ ngày 31/12/2010 các ngân hàng phải có vốn điều lệ tối thiểu là 3000 tỷ đồng. Nếu không hoàn tất lộ trình, số phận các ngân hàng (NH) này sẽ thế nào, thưa ông?

Ông Vũ Trần Dương: Nghị định 141 ngày 22/11/2006 của Chính phủ ban hành về danh mục vốn pháp định của các NH năm 2010 phải đạt 3000 tỷ đồng đối với các NHTM, các NH đầu tư, các NH liên doanh liên kết, 5000 tỷ đối với các NH phát triển và chi nhánh của các NH nước ngoài tại Việt Nam là 15 triệu USD.

Hiện tại, hầu hết các NH đều đang tiến hành lộ trình tăng vốn để đạt đến con số tối thiểu là 3000 tỷ đồng vào cuối năm, thậm chí là các NH đã có vốn 3000 tỷ cũng có kế hoạch tăng vốn để tăng quy mô hoạt động của mình.

Tôi cho rằng, đây là một bước đi cần thiết để ổn định hệ thống tài chính chung. Nhưng trong bối cảnh hiện tại thì việc tăng vốn lên 3000 tỷ của các NH từ nay đến cuối năm sẽ gặp nhiều khó khăn, do đó, có thể dẫn đến việc một số NH nhỏ sẽ phải sáp nhập. Tuy nhiên, tôi nghĩ NHNN sẽ có những giải pháp linh hoạt hơn để các NHTM có thể hoàn tất lộ trình tăng vốn.

Các NH chủ yếu huy động vốn qua kênh chứng khoán: niêm yết hoặc phát hành thêm cổ phiếu. Ông có cho rằng đây là giải pháp tốt trong thời điểm hiện nay, khi mà cổ phiếu ngân hàng không còn hấp dẫn với nhà đầu tư?

Như chúng ta thấy, TTCK về bản chất là một kênh huy động vốn. Tuy nhiên, diễn biến thị trường ở thời điểm này không được khả quan, nên việc huy động vốn thông qua TTCK cũng không về. Trong khi đó, từ bây giờ đến cuối năm, các NH chỉ còn 4 tháng để tăng vốn lên 3000 tỷ đồng. Hiện tại, trong hệ thống 39 NHTM thì đã có 9 NH có mức vốn trên 3000 tỷ và 30 NH có vốn từ 3000 tỷ trở xuống, do đó, việc tăng vốn qua kênh chứng khoán trong thời gian này sẽ gặp nhiều khó khăn. Có thể thấy, TTCK đang có những diễn biến phức tạp. Đầu năm, VN-Index đạt 500 điểm nhưng đến hiện tại là 450 điểm. Việc huy động vốn trên TTCK của các NH lớn đã niêm yết cũng đang khá vất vả do cổ phiếu ngành NH cũng không tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư (NĐT).

Ngoài kênh chứng khoán, các ngân hàng còn thu hút vốn qua kênh nào mà theo ông thực sự hiệu quả?

Ngoài kênh chính là thu hút vốn qua TTCK, một số NH đang hướng tới một giải pháp là tìm đến các đối tác chiến lược. Đó là các NĐT tổ chức, các đối tác nước ngoài, những đơn vị có thể mua lượng cổ phần lớn. Nhưng để tìm được đối tác đồng hành, có cùng chiến lược phát triển là điều không đơn giản, bởi nó liên quan đến quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần cũng như giá bán cho đối tác. Mặc dù vậy, hiện vẫn có một số NH tiếp cận được với kênh huy động vốn này.

Hiện nay, không chỉ các NH nhỏ chạy đua tăng vốn, mà các NH có vốn điều lệ vượt xa con số 3000 tỷ đồng cũng đưa ra kế hoạch tăng vốn. việc này càng tạo sức ép cho các NH nhỏ. Ông nhận xét thế nào về vấn đề này?

Hiện tại, có hơn 10 NH đang có phương án tăng vốn như: Ngân hàng Á Châu, Đông Á, Techcombank, Sacombank,… Việc các NH lớn tăng quy mô và khả năng tài chính bằng cách huy động thêm vốn sẽ thuận lợi hơn so với các ngân hàng nhỏ. Đây là một cuộc “cuộc đua” không cân sức, mà ưu thế thuộc về các NH lớn. Các ngân hàng ở mức vốn điều lệ dưới 3000 tỷ đồng, 2000 tỷ đồng, và quanh mức 1000 tỷ đồng còn khá nhiều. Cạnh tranh về việc tăng vốn từ giờ tới cuối năm là rất lớn.

Ngày 25/8 vừa qua, NHNN đã thành lập Ban soạn thảo chuẩn bị nội dung cho việc sửa đổi, bổ sung quy định về vốn pháp định các tổ chức tín dụng. Ông có nhận xét gì về vấn đề này?

Ngày 25/8 vừa qua, NHNN đã ban hành Quyết định 2020 về việc thành lập tổ đánh giá bổ sung sửa đổi Nghị định 141, trong đó nội dung quan trọng là nâng vốn pháp định của các NHTM lên 5000 tỷ đồng vào năm 2012 và 10000 tỷ đồng vào năm 2015. Theo tôi, đây là thông điệp Chính phủ muốn hệ thống tài chính ngân hàng ổn định hơn trong những năm tới, nhất là sau đợt khủng hoảng kinh tế vừa qua mà nguyên nhân là từ sự đổ vỡ của các NH lớn trên thế giới.

—————-

Thứ 3, 08/07/2014

Vẫn còn 12 ngân hàng có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng

cafef.vn

(08-07-2014)  

Cuộc chiến” sinh tồn, sáp nhập, hợp nhất giữa ngân hàng với ngân hàng, giữa ngân hàng với các tổ chức tài chính lâu nay vốn đã căng thẳng nay lại càng quyết liệt hơn.

 “Tổng tư lệnh” ngành Ngân hàng đã từng tuyên bố, trong 3 năm tới, số lượng ngân hàng sẽ giảm còn một nửa, từ 35 xuống chỉ còn 14-17 ngân hàng.

“Ông lớn, ông bé” nhà băng nhập cuộc

Báo cáo về triển vọng khu vực ngân hàng Việt Nam năm 2014, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor’s đánh giá, các ngân hàng Việt Nam tiếp tục đối diện với những thách thức về chất lượng tài sản, lợi nhuận thấp và năng lực về vốn còn yếu, nếu không cải thiện được những vấn đề này, mức tín nhiệm đối với các ngân hàng có thể giảm xuống.

Như vậy, trong thời gian tới, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, có thể Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ nâng quy định về vốn điều lệ.

Trước đây, NHNN cũng đã từng xây dựng dự thảo Nghị định về việc ban hành danh mục mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng. Theo đó, năm 2015, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ nâng lên 10.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, do khủng hoảng kinh tế diễn ra, dự định này đã bị dừng lại nhưng chắc chắn, thời gian tới, NHNN sẽ phải nâng quy định về vốn điều lệ. Khi đó, ngân hàng có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng nếu không sáp nhập, sẽ phải đóng cửa!

Trước sức ép đó, các nhà băng như “ngồi trên đống lửa”, đến nay không chỉ các ngân hàng nhỏ và ngay cả các “ông lớn” cũng đã phải rốt ráo, lên kế hoạch xây dựng phương án tăng vốn điều lệ năm sau cao hơn năm trước.

Điển hình như Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã đề xuất phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu (cổ phiếu thưởng) cho cổ đông hiện hữu của ngân hàng với tỷ lệ 15%, theo đó, dự kiến sau khi tăng, mức vốn điều lệ của Vietcombank sẽ là gần 26.650 tỷ đồng.

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển (BIDV) cũng sẽ nâng vốn điều lệ từ 28.112 tỷ đồng hiện nay lên 33.570 tỷ đồng. Để thực hiện được kế hoạch tăng vốn này, ngoài chi trả cổ tức bằng cổ phiếu và phát hành cổ phần cho cổ đông hiện hữu, BIDV sẽ bán 10,5% vốn cho các nhà đầu tư tài chính, tương đương 318,9 triệu cổ phần…

Hiện trên thị trường vẫn còn 12 ngân hàng có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng. Trước sức ép sáp nhập, hợp nhất để tồn tại thì Ngân hàng TMCP Việt Á (VietA Bank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (SaigonBank), Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB)… cũng đều có kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 3.000 – 4.000 tỷ đồng trong kỳ đại hội đồng cổ đông vừa qua.

Sacombank trước khi sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southernbank) cũng đã trình cổ đông phương án tăng thêm vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng từ nguồn chia cổ phiếu quỹ và cổ phiếu thưởng từ quỹ thặng dư vốn cổ phần với tỷ lệ 10% cho cổ đông hiện hữu và từ nguồn cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 8% cho cổ đông hiện hữu. Ngân hàng TMCP Nam Á (NamABank) cũng đưa ra kế hoạch dự kiến tăng thêm vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng trong quý III/2014.

Được biết, trước đó, tại đại hội cổ đông năm 2013, rất nhiều ngân hàng thông qua tờ trình tăng vốn điều lệ như: Ngân hàng TMCP Bắc Á (BacABank), Ngân hàng TMCP Đại Dương (Oceanbank) hoặc như OCB với kế hoạch tăng thêm 766 tỷ đồng vốn điều lệ trong năm 2013… nhưng đến nay vẫn trễ hẹn và chưa hoàn thành được lộ trình tăng vốn điều lệ theo đúng thời hạn đặt ra.

Tuy nhiên, “cuộc chiến” nào cũng phải đến hồi kết! Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cũng đã thẳng thắn, trong 3 năm tới, số lượng ngân hàng sẽ giảm xuống chỉ còn một nửa, từ 35 ngân hàng xuống còn 14-17 ngân hàng. Như vậy, dù có muốn hay không thì các nhà băng đều phải tự thân vận động, trước mắt là phải tự đảm bảo điều kiện về sức khỏe cho mình trong cuộc chiến “sinh tồn” khốc liệt này!

“Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng”, nhấn mạnh điều này, giới chuyên gia tài chính – ngân hàng cho rằng: Khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này, nghĩa là đã tạo được cho mình một tấm lá chắn vững chắc chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ người gửi tiền. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hiện trên thế giới phổ biến ở mức 12% theo tiêu chuẩn của Basel II do Ủy ban giám sát các ngân hàng Basel ban hành.

Đừng quên quản trị rủi ro!

Cảnh báo điều này, giới chuyên gia cho rằng, điều đáng lo lắng nhất hiện nay của hệ thống các ngân hàng chính là vấn đề chủ sở hữu và quản trị rủi ro. Tham gia “cuộc đua” tăng vốn điều lệ lần này, các ngân hàng cần rút kinh nghiệm để không “dẫm lên vết xe đổ” của những “cuộc đua” tăng vốn điều lệ trước đây. Đó là, tạo ra tình trạng sở hữu chéo và trình độ quản trị ngân hàng yếu kém. “Nếu chỉ tăng vốn điều lệ để đối phó với các quy định mà bỏ quên việc cải thiện năng lực quản trị và trình độ nguồn nhân lực thì cho dù ngân hàng có dồi dào về nguồn vốn cũng chưa chắc đã vững mạnh về tài chính”, một chuyên gia tài chính – ngân hàng nêu quan điểm.

Khảo sát thực tế cho thấy, thời gian qua các ngân hàng TMCP mặc dù đã áp dụng nhiều chương trình quản trị, chính sách tín dụng tiên tiến; Tiến hành thực hiện chương trình xếp hạng tín dụng nội bộ; Quy trình thẩm định, phê duyệt và phân cấp phê duyệt đã khá chặt chẽ… tuy nhiên, làm thế nào để triển khai tốt những nguyên tắc đó và tạo được một cách nhìn chung giữa các ngân hàng và các bộ phận về rủi ro tín dụng đang là vấn đề đặt ra cho hệ thống.

Nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Standard Chartered cũng cho thấy, 51-53% rủi ro tín dụng là do chủ quan của những cán bộ trong hệ thống. “Trong các ngân hàng Việt Nam, khẩu vị rủi ro giữa bộ phận bán hàng, thẩm định rủi ro, phê duyệt luôn luôn không nhất quán”, bà Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng quản trị Viện Ngân hàng Tài chính (BTCI) nhận xét.

“Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, cần có một mặt bằng chung chuẩn hoá những quy định, rủi ro về tín dụng. Nhất là phải tạo ra trong xã hội một cách nhìn nhận chung về rủi ro tín dụng để cán bộ ngân hàng hiểu, chấp nhận rủi ro và có phương án dự phòng rủi ro. Theo đó, cần phải quy chuẩn lại khẩu vị rủi ro cho các cán bộ ngân hàng từ người bán hàng, thẩm định, quản lý rủi ro, cho đến người làm chính sách trong toàn hệ thống bằng một chuẩn đào tạo thống nhất”, ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó giám đốc Văn phòng Eximbank khu vực miền Bắc chia sẻ.

“Quan trọng hơn là cần tạo lập một ngôn ngữ chung cho cả hệ thống. Nó sẽ là cơ sở để các ngân hàng soi vào thực tế và tránh rủi ro pháp lý”, nhấn mạnh điều này, bà Phùng Thị Thu Hương, Giám đốc Khối tín dụng của VPBank cho rằng, khi có cùng một ngôn ngữ thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian trong quy trình cấp tín dụng, cũng như giảm thiểu rủi ro không chỉ cho ngân hàng mà còn cho cả khách hàng.

>>> Vì sao DongA Bank tăng vốn bất thành?

08-07-2014

Theo ThS Nguyễn Hoàng Dũng – Tạp chí tài chính

DongA Bank đã lập hồ sơ xin tăng vốn điều lệ lên 6.000 tỷ đồng. Tuy nhiên 23/4/2014, ngân hàng này đã chính thức công bố hủy bỏ kết quả đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng.

Ngân hàng đã được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 6.000 tỷ đồng vào tháng12/2013 từ 5.000 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu với giá 10.000đ/cp cho cổ đông hiện hữu. Tuy nhiên thời hạn tăng vốn đã hết nhưng ngân hàng chưa tăng vốn thành công.

Nguyên nhân được DongA Bank đưa ra là do các cổ đông chưa chuẩn bị được nguồn tiền kịp. Đến cuối năm 2013 (ngày văn bản cho tăng vốn của Ngân hàng Nhà nước hết hiệu lực), tổng số tiền cổ đông đã nộp và cam kết là 700 tỷ đồng. Trong đó, số tiền nộp mới chỉ gần 90 tỷ đồng.

Chính vì vậy, ngày 23/4/2014, ngân hàng này đã chính thức công bố hủy bỏ kết quả đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng nói trên.

Theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, kể từ ngày 15/5/2014, ngân hàng sẽ tiến hành việc hoàn trả tiền cho các cổ đông đã nộp cho đợt tăng vốn này kèm theo cả khoản tiền lãi 7,2%/năm.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Công ty Cổ phần Chứng khoán Hồ Chí Minh (HSC) nguyên nhân chính dẫn tới kế hoạch tăng vốn trên bất thành do cổ đông không mấy mặn mà khi giá cổ phiếu thấp hơn giá phát hành. Cụ thể, giá phát hành bằng mệnh giá trong khi giá giao dịch trên OTC của cổ phiếu Ngân hàng Đông Á gần đây chỉ khoảng 8.500đ/cp và đã không còn ở mức 10.000đ/cp từ 2013.

Thanh khoản của cổ phiếu này trên OTC từ lâu đã ở mức thấp. Ngân hàng không có lựa chọn nào khác vì không có mấy doanh nghiệp phát hành cổ phiếu với giá phát hành thấp hơn mệnh giá. Và việc phát hành không thành công có thể thấytừ trước và không có gì bất ngờ do Ngân hàng Đông Á không thể đưa ra một phương án thay thế.

Thêm nữa, DongA Bank có vốn điều lệ là 5.000 tỷ đồng tại thời điểm cuối 2013. Tương tự các ngân hàng khác, tăng trưởng của ngân hàng Đông Á đã chậm lại và lợi nhuận giảm đặc biệt kể từ 2012.

Tỷ lệ NIM giảm xuống 3,8% vào năm 2013 từ 5,3% năm 2011 nhưng vẫn cao hơn mức 3,5% giai đoạn 2009-2010. Trong khi đó hệ số CIR tăng lên mức cao là 61% trong 2013 từ mức khoảng 44-45% trong 4 năm trước.

Trong năm 2013, với tổng thu nhập hoạt động tăng trưởng kém, do vậy lợi nhuận thuần DongA Bank chỉ đạt 328 tỷ đồng (giảm 43%).

ROA và ROE lần lượt giảm xuống chỉ còn 0,5% và 5,5%; chỉ bằng 1/3 so với 3 năm trước. Trong khi đó tỷ lệ nợ xấu tăng lên 3,9-4% trong giai đoạn 2012-2013 từ mức chưa tới 2% trong những năm trước đó.

Theo HSC, việc lợi nhuận liên tục ở mức thấp cộng với tỷ lệ nợ xấu tăng đã khiến giá cổ phiếu giảm xuống dưới mệnh giá.

Rủi ro tín dụng cao cũng là một vấn đề của Ngân hàng Đông Á. Tại thời điểm cuối 2013, tỷ lệ cho vay lĩnh vực xây dựng & bất động sản là 32%. Tuy nhiên, HSC cho rằng tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng Đông Á thấp hơn nhiều so với tại nhiều ngân hàng quy mô trung bình khác do hầu hết dư nợ trong lĩnh vực này của Ngân hàng Đông Á là cho vay các dự án có chất lượng cao tại TP HCM.

Cho dù vậy ban lãnh đạo cũng đã chậm xử lý vấn đề này và cũng chậm trong việc tìm kiếm đối tác chiến lược và phương án tăng vốn. Tại thời điểm cuối 2013, hệ số CAR của 2013 đạt 10,42% và thu hút thêm vốn mới trong khoảng 12 tháng tới có lẽ là cách duy nhất để lấy lại đà tăng trưởng. Bằng không tăng trưởng của ngân hàng sẽ còn kém trong vài năm nữa.

Posted in Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►Đèn Cù và Những Lời Trăng Trối

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2014

Một cuốn phân tích những sai lầm của chủ thuyết từ cơ bản, và một cuốn thì mô tả sự ứng dụng của chủ thuyết đó bởi những con người cuồng tín, đầy ắp những bất cập và khiếm khuyết (của trí tuệ). Hệ quả là đất nước lâm vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài, và cho đến ngày nay vẫn còn nằm dưới đáy của bậc thang phát triển. (Nguyễn Tuấn)

Đèn cù và Những lời trăn trối

22-9-2-14

Nguyễn Tuấn

.

Tôi đọc 2 cuốn “Đèn cù” (của Trần Đĩnh) và ” Những lời trăng trối ” (Trần Đức Thảo) một lúc. Vì đọc chưa xong nên chỉ có thể viết linh tinh vài cảm nhận đầu tiên. Cả hai cuốn sách đều nói về chế độ cộng sản cùng những con người trong chế độ đó, và qua đó chúng ta có thể giải thích tại sao VN bị lệ thuộc vào Tàu suốt mấy mươi năm qua và tại sao VN vẫn còn ở dưới đáy của bậc thang phát triển như hiện nay và có thể cả tương lai.

Nhưng cách tiếp cận hay cấu trúc thì rất khác nhau giữa hai tác phẩm. Đèn cù có vẻ tập trung vào những cá nhân gầy dựng chế độ và những con người yểm trợ chế độ cộng sản ở VN. Tác giả được sống gần các nhân vật đó một thời gian dài và có thể tiếp cận nhiều thông tin có thể nói là thú vị. Chẳng hạn như tác giả được phân công viết một phần tiểu sử ông Hồ và có dịp tiếp cận thông tin về cá nhân ông ở địa phương, và ông cả Khiêm (anh ruột ông Hồ) cho biết ông Hồ sinh năm 1891 (chứ không phải 1890) nhưng tác giả không đào sâu phân tích chi tiết này. Tác giả cũng không viết một cách rạch ròi về gia phả của ông Hồ. Thật ra, hầu như bất cứ nhân vật nào, tác giả chỉ phác hoạ sơ sơ, bề mặt, chứ không hề có đào sâu. Tuy nhiên, cảm nhận của tôi khi đọc những đoạn trong Đèn cù, ông cụ Hồ là một người có vẻ thờ ơ và lạnh lùng với thân nhân, anh em của ông. Ông không hề nhắc đến cha mẹ, anh chị em, và từ ngày ông đạt được quyền lực tột đỉnh, cũng không về thăm và ở lại quê.

Lại có những đoạn mô tả các nhân vật chóp bu trong đảng làm cho độc giả ngạc nhiên về trình độ văn hoá và nhận thức của họ. Chẳng hạn như đoạn tác giả thuật lại chuyện Lê Duẩn hỏi Bs Phạm Ngọc Thạch rằng rau muống luột và rau muống xào cái nào tốt hơn. Một đoạn khác, tác giả cho chúng ta biết về quan điểm của Lê Duẩn liên quan đến in tiền. Chuyện kể rằng ông Duẩn phàn nàn với Thành uỷ Hà Nội sao không bán giường tủ cho công nhân viên và trừ lương hàng tháng, nhưng Thành uỷ nói không có tiền, ông Duẩn bèn phán không có tiền thì in tiền. Ông giảng giải thêm: “Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ?”

Ở một đoạn khác, tác giả thuật lại một chuyện khá bi hài về số phận của ông Trần Đức Thảo (TĐT). Chuyện kể rằng Lê Duẩn mới viết xong một đề cương về con người, và triệu tập TĐT đến để nghe và cho ý kiến. Khi ông Duẩn đọc xong đề cương, ông TĐT im lặng không nói gì, nhưng khi được đốc thúc thì ông Thảo nói ông chẳng hiểu gì cả. Thế là ông Duẩn đùng đùng nổi giận “hai tay quàng ôm lấy ngực triết gia, xốc lên, dội xuống mấy lần, rồi ‘buông thịch’ xuống một cái cho ông giáo sư rơi xuống ghế ngồi.”

Có lẽ điểm làm cho Đèn cù thu hút nhiều độc giả là ở cái tính cá nhân, mà theo đó, tác giả mô tả có vẻ rất thật cá tính của từng người mà ông có dịp tiếp xúc. Thỉnh thoảng trong sách tác giả còn chêm vào những câu chuyện sex hay có màu sắc sex, rất dễ thu hút những người Việt tò mò. Có những chi tiết buồn cười như tác giả chạy theo để dòm ông Hồ Chí Minh … đi tiểu, và khi bị phát hiện, tác giả “liếc nhanh vào chỗ kia của Cụ. Và chỉ thấy vùng ấy hơi tôi tối – nâu nâu hay hồng hồng? Ô, cũng như mọi người?” Đọc đoạn đó chỉ làm cho chúng ta tức cười. Nhưng cũng có vài đoạn làm cho người đọc phẫn nộ về sự dã man của quân du kích khi họ dẫm đạp thi thể bà Nguyễn Thị Năm xuống áo quan vốn quá hẹp so với thân thể của bà. Có lẽ chi tiết quan trọng nhất trong phần “Cải cách ruộng đất” là ông Hồ từng viết bài dưới bút hiệu “CB” tố cáo bà Nguyễn Thị Năm, và ông cũng bịt râu để xem đấu tố bà Năm. Chi tiết này cho thấy ông Hồ hoàn toàn đứng đằng sau vụ đấu tố chứ không phải chỉ làm theo áp lực của cố vấn Tàu như nhiều người nghĩ.

Qua cách mô tả rất sinh động của Trần Đĩnh, độc giả sẽ thấy được những con người trong hệ thống đảng đã và đang được hệ thống tuyên truyền đề cao (hay thậm chí thần thánh hoá) chỉ là những con người rất bình thường và rất tầm thường. Họ không tỏ ra là những người minh triết hay có những phát kiến gì đáng chú ý. Qua ngòi bút của tác giả, ai cũng có thể thấy họ là những người cực kì giáo điều, tin tưởng vào Mao và Stalin gần như tuyệt đối. Họ sẵn sàng chấp nhận “giáo lí” Mao – Stalin, và có vẻ háo hức tình nguyện được làm “tín đồ” của tôn giáo đó. Họ muốn đưa VN thành một thành viên trong cái thế giới đại đồng mà tôn giáo Mao-Stalin vẽ ra. Còn sự tầm thường của họ sẽ làm cho nhiều người hâm mộ cảm thấy thần tượng bị sụp đổ hay khó tin.

Khác với “Đèn cù” có xu hướng tập trung vào nhân vật trong hệ thống, cuốn “Những lời trăng trối” thì tập trung vào phân tích nền móng của chế độ và chủ thuyết cộng sản. Những lời trăng trối cũng có những đoạn mô tả cá nhân, nhưng đó chỉ là một chất liệu để tác giả TĐT phân tích và diễn giải thêm. Chẳng hạn như đoạn mô tả TĐT gặp ông Hồ trong An Toàn Khu (ATK cũng được Trần Đĩnh nhắc đến) đầy kịch tính. Người ta phải đến nói cho ông TĐT biết về qui tắc gặp lãnh tụ ra sao, như phải đứng cách lãnh tụ 3 mét, không được giơ tay bắt tay trước mà phải chờ, không được nói leo, phải xưng là “bác” và “cháu” chứ không được xưng “tôi”, v.v. Đến khi lãnh tụ đến nơi, cuộc diện kiến chỉ có 1-2 phút với chưa đầy 4 câu nói:

– À! Chào chú Thảo! Chú về đây đã được bao lâu rồi?
– Cháu xin kính cháo bác! Cháu về đây được 5 hôm rồi.
– À này chú Thảo! Bác biết ở bên Tây, chú đã đọc nhiều sách vở, nhưng bây giờ về đây, thì chú phải gắng mà học tập nhân dân, nghe không? Thôi bác có hẹn nên phải đi kẻo trễ.

Thế là “bác đi”. Nhưng cái câu “nhưng bây giờ về đây, thì chú phải gắng mà học tập nhân dân, nghe không” được TĐT bỏ ra gần chục trang để phân tích! Ông cảm thấy ông là một đối tượng có vấn đề, và vấn đề là nhiễm tư tưởng phương Tây. Ông cảm thấy mình bị răn đe. Ông phân tích rằng trong cái nhìn của đảng, nhân dân chính là đảng, thành ra học tập nhân dân tức là học tập đảng! Ông TĐT lật đi lật lại cái câu “học tập nhân dân” và lí giải trong bối cảnh của ông. Ông đi đến kết luận rằng ông Hồ là một người rất phức tạp, hành tung bí mật (lúc thì đóng vai tình báo, lúc là sĩ quan mang lon thiếu tá trong Bát bộ quân, lúc vận áo cà sa, v.v.), thái độ khó hiểu, lời nói có khi đầy mâu thuẫn. Ông TĐT kết luận rằng đó là một “con người có tung tích bí ẩn, có tâm thức đa nghi, có phản xạ đa diện, nhạy bén, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội, dù là mâu thuẫn với lí tưởng, với học thuyết, đối nghịch với lương tri, nhưng điều cốt yếu là để đạt tới mục tiêu.”

Trong Những lời trăng trối không có những câu chuyện cá nhân mang tín vụn vặt như Đèn cù. Thay vào đó, Những lời trăng trối có những kiến giải theo tôi là sâu sắc về chế độ và những phân tích tâm lí rất đáng học hỏi. Những kiến giải đó chỉ để tác giả kết luận rằng “Chính ông Marx đã sai”, và “không một ai muốn phấn đấu để trở thành con người vô sản”. Tác giả lặp đi lặp lại 2 khẳng định đó như để nói rằng chủ thuyết cộng sản (mà tác giả từng có thời ủng hộ) là sai, là nguyên do của những thất bại và đau khổ cho một thế giới không nhỏ trong một thời gian dài. Ông giải thích:

“Chính vì lâu đài tư tưởng của Marx, mà từ đó đi ra nhữg lãnh tụ đã thành những ác quỉ tuỳ tiện, lộng hành quyền lực, khiến hàng vạn chiến sĩ cộng sản đã bị hi sinh một cách oan uổng và vô ích … và ở nước ta có hàng triệu người bỏ làng mạc, bỏ mổ mả tổ tiên để di tản vào Nam năm 1954, và rồi đã có hàng triệu người đã liều chết bỏ cửa bỏ nhà chạy ra biển gây thảm cảnh “thuyền nhân” sau 1975 … làm cả thế giới rơi lệ. Thành phần dân chúng khốn khổ ấy, vì đã hiểu, đã nếm mùi lâu đài ‘thế giới đại đồng’ của Marx, nên họ đã liều chết bỏ chạy! Là vì họ muốn đi tìm nơi có công bằng, bác ái, có tự do và hạnh phúc thật sự” (Trang 342).

Một đoạn khác, ông giải thích cái gọi là “quỉ” như sau:

“Quỉ ấy là thứ đầu óc đầy gian sảo, hung bạo của quyền lực. Quỉ ấy là ý thức đấu tranh giai cấp, là thứ cuồng tín bạo lực và hận thù, là những khái niệm sai trái, độc ác ở trong đầu con người, nó thúc đẩy con người lao vào đam mê tìm thắng lợi bằng mọi thủ đoạn của tội ác, bằng đủ thứ quỉ kế, để mưu đồ củng cố cho chế độ độc tài, độc đảng. Những vinh quang độc tài, độc đảng ấy đều là phù phiếm, vì chúng làm khổ con người! Xét như vậy là thấy rõ là quỉ nó vẫn ở với người, vẫn ở trong con người lãnh đạo.”

Còn rất nhiều đoạn như tôi vừa trích để cho thấy TĐT không quan tâm nhiều đến cá nhân, mà chỉ kiến giải hành vi của cá nhân. Một số người cho rằng một điểm yếu của Những lời trăng trối là do người khác ghi lại lời nói của ông TĐT, và nghi ngờ chẳng biết ghi chép có chính xác. Đến nay thì người ghi chép đã công bố cuốn băng có lời nói của ông TĐT:

http://bit.ly/Xe2fTC

Có thể nói rằng Những lời trăng trối có hàm lượng tri thức hơn hẳn cuốn Đèn cù. Nhưng trong thực tế, tôi thấy hai cuốn này bổ sung cho nhau. Một cuốn phân tích những sai lầm của chủ thuyết từ cơ bản, và một cuốn thì mô tả sự ứng dụng của chủ thuyết đó bởi những con người cuồng tín đầy ấp những bất cập và khiếm khuyết. Hệ quả là đất nước lâm vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài, và cho đến ngày nay vẫn còn nằm dưới đáy của bậc thang phát triển.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Hanoi’s War: Cuộc chiến Tranh của Hà Nội (Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên Hằng)

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2014

Nguyễn Mạnh Trinh

Sáng Tạo

30-1-2013

cover-hanoi_warnguyen_thi_lien_hang
Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên-Hằng

Một cuốn sách mới về lịch sử chiến tranh Việt Nam của một nữ giáo sư sử học Hoa kỳ gốc Việt Nam xuất bản trong năm vừa qua đã đoạt giải thưởng Edward M.Coffman năm 2012. Tác phẩm” Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Việt Nam” và tác giả Nguyễn Thị Liên-Hằng.

Giải Edward M. Coffman là một giải thưởng hàng năm về sử học của The Society for Military History cho những tác phẩm đầu tay của những tác gỉa trong nội dung hòa hợp được những vấn đề liên quan với xã hội, chính trị, kinh tế, và lịch sử ngoại giao. Giải thưởng được lấy tên của một Professor Emeritus của đại học University of Wisconsin- Madison, Edward M. Coffman, một quân sử gia nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Nguyễn Thị Liên-Hằng là giáo sư sử học của đại học University of Kentucky, tốt nghiệp Ph.D. tai đại học Yale và đã được nhiều fellow ship trong đó có fellowship Fubright về Việt Nam khảo cứu trong hai năm 2001 và 2002. Cô di tản khỏi Việt Nam khi mới vừa 5 tháng tuổi và trong giờ chót thứ 25 của thành phố Sài Gòn trước khi bị thất thủ.

Cô là giáo sư dạy về lịch sử bang giao quốc tế của Hoa Kỳ đặc biệt là chú trọng vào vùng Ðông nam Á, nhất là thời kỳ chiến tranh lạnh, tác phẩn Hanoi’s War là tác phẩm đầu tiên. Tác phẩm thứ hai đang viết với những khám phá về hệ thống quốc tế của phong trào phản chiến trong thời kỳ chiến tranh cũng như vai trò và vị trí của những khuôn mặt nổi bật của một thời ngoại giao với những tài liệu khảo sát từ văn khố Hoa Kỳ và các nước Âu Châu.

Chiến tranh Việt Nam chiếm một phần quan trọng trong quân sử Hoa kỳ. Một cuộc chiến với nhiều bí ẩn và từ từ được lộ ra từ những văn kiện bí mật của văn khố các quốc gia liên quan đến cuộc chiến. Hàng trăm cuốn sách phân tích về cuôc chiến này với nhiều khuynh hướng đặt trong bối cảnh của quan điểm chính trị riêng biệt. Trong khi hầu như là hầu hết các sử gia nghiên cứu về chiến tranh Việt nam đều chú trọng vào nguyên ủy sự can thiệp của Hoa Kỳ và Mỹ hóa những xung đột tạo ra, Nguyễn Thị Liên-Hằng lại chú ý trước tiên đến những quan hệ quốc tế mà các nhà lãnh đạo Bắc Việt theo đuổi cuộc chiến và Hoa kỳ đã can thiệp vào sau đó. Những chuyện kể đầy tính xác định đã dẫn dắt độc giả đi từ nơi chốn đầy bùn sình của đồng bằng sông Cửu Long đến nơi chốn đã bị bom đạn tàn phá của bình nguyên sông Hồng, từ những hành lang đầy quyền lực ở Hà Nội và từ Sài Gòn đến dinh Bạch ốc của tổng thống Richard Nixon, và từ nơi hòa hội ở Paris đến những hội nghị cao cấp ở Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, tất cả những khám phá cho thấy hòa bình không có một chút hy vọng nào ở Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, những siêu cường đã có ảnh hưởng rất lớn đến chiên tranh và hòa bình ở Việt Nam.

“Chiến tranh của Hà Nội” đã tỏ lộ ra rất hiển nhiên những vận động không chính thức với những người được coi là kẻ thù trong Thời kỳ chiến tranh lạnh và biểu hiện rằng cuôc chiến đấu trong bàn hội nghị để tìm kiếm hòa bình cũng ngập máu và chiều rộng có mực độ lớn hơn điều được tiên liệu. Dùng những tài liệu văn khố mà từ trước tới nay chưa được hé lộ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam sau thời kỳ đổi mới và cùng với những tài liệu từ văn khố các quốc gia khác có liên quan đến chiến tranh Việt Nam trên cả thế giới, tác giả Nguyễn Thị Liên-Hằng đã bộc lộ ra một chính sách chiến tranh của Bắc Việt: gây ra chiến tranh và tạo dựng hòa bình, không những của nhà cầm quyền Bắc Việt mà còn cả của chính phủ Nam Việt Nam, Nga Xô Viết, Trung Quốc và Hoa Kỳ đểtạo thành một bối cảnh toàn diện của cuộc chiến ở mức độ thế giới.

Tác giả đã viết Hanoi’s War như một cách thế để đập tan các huyền thoại về Việt Nam:” Trong nhiều vấn đề rút ra từ những bài học ở Việt Nam và áp dụng vào Afganistan, đó là lịch sử của chiến tranh Việt Nam thường bị hiểu lầm hoàn toàn. Lịch sử của cuộc chiến này liên tục thay đổi khi có bằng chứng mới xuất hiện, đặc biệt từ phía bên kia. Do không chú ý nhiều về việc tìm hiểu động cơ của kẻ thù, các động lực bên trong và các mối quan hệ đối ngoại, chúng ta luôn có một hình ảnh không đầy đủ và thiếu chính xác về cuộc chiến tranh đó.

Người ta thường tin rằng miền Bắc Việt quyết định đi đến chiến tranh trong năm 1959-1960 là để cứu cuộc nổi dậy ở miền Nam khỏi bị diệt trừ và Ðảng Cộng sản có được sự ủng hộ không mệt mỏi của người dân Việt Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Nhưng bằng chứng gần đây tiết lộ rằng quyết định của đảng đi đến chiến tranh ở miềnNam Việt Nam có một mối liên hệ mật thiết với các vấn đề ở trong nước. Chiến tranh cách mạng là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ý về các vấn đề trong nước, gồm một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn phá, một phong trào trí thức bất đồng ý kiến và một kế hoạch của chính phủ không thành công để chuyển đổi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một trong những quan niệm sai lầm nhất của cuộc chiến Việt nam là ông Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo lỗi lạc của Bắc Việt. Thực tế ông chỉ là bù nhìn, trong khi Lê Duẩn, một người đứng bên lề lịch sử, lại là một kiến trúc sư, nhà chiến lược chính và là chỉ huy trưởng của nỗ lực chiến tranh của Bắc Việt. Ông Duẩn nghiêm khắc, không ồn ào, xa lánh sự chú ý, nhưng ông có ý chí sắt đá, có kỹ năng quản trị và tập trung sự cần thiết để thống trị Ðảng Cộng sản.

Cùng với một nhân vật là cánh tay phải của mình, ông Lê Ðức Thọ được coi như là một nhà ngoại giao cứng rắn bất khuất, người mà sau này đấu khẩu với Henry A. Kissinger trong các cuộc đàm phán hòa bình Paris, ông Duẩn xây dựng một đế chế quân phiệt vững chắc, vẫn còn chi phối Hà Nội đến ngày nay. Các chính sách hiếu chiến của họ đã dẫn dắt Bắc Việt vào cuộc chiến chống lại chế độ Sài Gòn và sau đó là Washing ton D.C., với bảo đảm rằng một nền hòa bình được thỏa thuận sẽ không bao giờ thay thế thắng lợi hoàn toàn. Ông Duẩn thống trị đảng với một bàn tay sắt và xem ông Hồ Chí Minh và Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, người nổi tiếng với việc đánh bại Pháp ở Ðiện Biên Phủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền hành của ông ta. Ông ta loại bỏ ông Hồ, tướng Giáp và những người ủng hộ họ khi quyết định gần như hầu hết các quyết định quan trọng…”

Trong phần đầu, tác giả kể lại cuộc chia tay giữa hai nhân vật trọng yếu của cuộc chiến Việt Nam là Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ vào năm 1955 bên dòng sông Ông Ðốc ở Cà Mau. Lê Duẩn thì ở lại miền Nam và Lê Ðức Thọ xuống tàu Liên Xô tập kết ra Bắc nhưng để rồi trong ít năm sau kéo dài đến tàn cuộc, hai người đã cùng nhau lãnh đạo cuộc chiến và là một chìa khóa chính yếu để giải quyết chiến tranh. Thời điểm năm 1955 vẫn còn trong hạn định mà hòa ước Genève cho phép tự do lựa chọn nơi cư trú của cư dân hai miền. Trong lúc ở lại miền Nam, Lê Duẩn lập ra Trung Ương Cục miền Nam với những người đứng đầu như Phạm Hùng, Nguyễn văn Linh, Võ Văn Kiệt sẽ lãnh đạo cuộc chiến trong tương lai. Trở lại Hà Nội, Lê Duẩn quyết định phải thống nhất đất nước bằng võ lực và tiến hành những nỗ lực sửa soạn cho chiến tranh. Nghị quyết 15 của Ðảng Lao Ðông Việt nam (tức Ðảng Công sản VN) đã xác định rõ mục tiêu này. Chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” được xử dụng và tất cả những người bất đồng ý kiến với chủ trương trên bị thanh trừng triệt hạ. Hàng chục ngàn người kể cả những người có công trạng hoặc nổi tiếng bị bắt giam, tra tấn do một chế độ công an trị thi hành. Những tướng tá và nhân vật thân cận với tướng Võ Nguyên Giáp bị giam cầm, bị khai trừ khỏi đảng và nhiều khi bị thanh toán với những cái chết đầy bí ẩn. Do đó , luận cứ cho rằng tất cả Ðảng cộng sản một lòng đoàn kết trong chiến tranh là một luận cứ không tưởng chẳng có một chút nào trong sự thực. Sự đoàn kết chỉ có trong tuyên truyền và chế độ Cộng sản do Lê Duẫn lãnh đạo đã dùng sự khủng bố để đàn áp và bắt buộc mọi người phải tuân theo bằng bạo lực.

nguyen_thi_lien_hang
Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên-Hằng

Tác giả Nguyễn Thị Liên-Hằng viết “Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Việt nam” (Chiến tranh của Hà Nội: lịch sử quốc tế của cuộc chiến cho hòa bình ở Việt Nam) với chủ đích từ những tài liệu văn kiện mới để có nhận định làm sáng tỏ hơn lịch sử của cuộc chiến đã có quá nhiều hỏa mù che phủ từ những nhận định đầy tính chủ quan của những người phân tích. Những tài liệu văn kiện mới mà tác giả đã xử dụng được trong tác phẩm là tài liệu văn khố của bộ Ngoại Giao của chế độ Việt Nam Cộng sản ở Hà Nội. Trả lời tại sao lại có được may mắn xử dụng những tài liệu trên, tác giả trong cuộc phỏng vấn nói:

“Tôi có mặt đúng chỗ đúng lúc. Khi tôi bắt đầu cuộc nghiên cứu trong những năm cuối của thập niên 1990 về cơ bản lúc đó cả văn khố chủ yếu của Việt Nam là văn khố của Ðảng Cộng sản, văn khố của quân đội của bộ Quốc Phòng, văn khố của bộ Ngoại Giao đều cấm không cho các học giả được tham khảo, dù là người Việt Nam hay ngoại quốc. Chỉ có các giới chức làm việc trong các bộ liên hệ mới được tham khảo tài liệu. Nhưng tới những năm 2000 thì đã có một số thay đổi về chính sách đối với người Việt ở hải ngoại. Việt Nam mở cửa rộng hơn để đón các học gỉa từ các cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Họ muốn thu hút Việt kiều và tôi đã nắm ngay lấy cơ hội”

Có nhiều người rất ngạc nhiên vì xử dụng được những tài liệu trong văn khố thuộc hàng tối mật không phải là chuyện dễ dàng mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được. Tác giả đã giải thích là có sự thuận lợi bởi vì giới hữu trách Việt Nam coi thường công trình và khả năng của một sử gia trẻ tuổi người Việt Nam lớn lên và sinh sống ở hải ngoại. Họ nghĩ, với một đề tài có nhiều chất thách đố như chiến tranh Việt Nam có lẽ không thích hợp với một người thuộc nữ giới…

Sử gia George C. Herring, tác giả của “America’s Longest War, The United States in Việt nam” đã nhận xét: “Xử dụng những tài liệu mới mẻ và quan trọng của những văn khố từ khắp thế giới, mà phần đông là từ Việt Nam, Nguyễn Thị Liên-Hằng đã viết và tạo dựng được những điểm son đầu tiên và xác thực của cuộc hòa đàm đã dẫn dắt đến Nghị Hội Paris. Tác phẩm Hanoi’s War là một công trình đặc sắc, là những viên gạch xây dựng không thể bỏ qua cho sự thay đổi tức thì của lịch sử của những xung đột ở Việt Nam”.

Tác gỉa đã phỏng vấn nhiều nhân vật Việt Nam ở cả hai phe như Bùi Diễm, Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Hữu Ngọc, Lưu Đoàn Huỳnh, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Ðình Ước, Nguyễn Khắc Huỳnh, Nguyễn Ngọc Dung, Trần Thị Liên… để có thể xác định rõ ràng hơn tính chính xác của các tài liệu văn bản đã xử dụng trong văn khố. Căn bản của cuốn sách là nhửng tìm kiếm sưu khảo từ hàng ngàn tài liệu, công điện, sách báo và nhửng phần thu thanh ghi lại những cuộc phỏng vấn hàng trăm người có liên hệ đến cuộc chiến, phải nói là một dẫn chứng đồ sộ có nhiều tính thuyết phục.

”Hanoi’s War” gồm 4 phần chia ra làm 8 chương với nội dung: Phần 1 là Con đường của cuộc chiến tranh cách mạng: Lê Duẩn nắm quyền lực và chỉ đạo cuộc chiến cũng như hoach định chính sách ngoại giao trong thời gian chiến tranh; Phần 2: phá vỡ những huyền thoại cũ và nêu lên cuộc chiến tại Hà Nội tranh dành quyền lực mà rõ rệt nhất là trong thời kỳTổng Công Kích tết Mậu Thân và thời kỳ của Hội nghị hòa bình Paris và cả thời gian sau đó; phần 3: Theo đuổi bản hòa âm chiến thắng với những hoạt cảnh từ chiến trường đến bàn hội nghị cũng như cách thế vừa đánh vừa đàm của chế độ Hà Nội; phần 4 : tạo thành một nền hòa bình què quặt với những nỗ lực chống lại khuynh hướng chủ hòa trong nội bộ cũng như việc thúc đẩy cường độ chiến tranh để mưu tìm một hòa bình của kẻ chiến thắng.

Nhân vật chính của “Hanoi’s War” và là nhân vật chủ chốt là Lê Duẩn. Ông ta đã áp lực để làm cho Hồ Chí Minh phải ngưng lại ý kiến không muốn thực hiện leo thang chiến tranh vào những năm 1963-1964 để tìm một chiến thắng nhanh chóng trước khi Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam. Năm 1967- 1968 ở Bắc Việt đã có một cuộc thanh trừng với quy mô lớn nhằm vào những người phản đối chính sách của Lê Duẩn nhắm vào ông Hồ, tướng Giáp và những người thân cận chống lại kế hoạch Tổng công Kích tết Mậu Thân. Mặc dù cuộc chiến ở miền Nam lúc đầu đã tập họp được nhiều người miền Bắc để hỗ trợ đảng nhưng nó nhanh chóng trở thành một vũng lầy. Ông Duẩn và ông Thọ phản ứng bằng cách gán cho những người phản đối phương cách điều hành chiến tranh tội phản quốc. Bằng cách tăng quyền hạn của lưc lượng an ninh nội bộ và an ninh tư tưởng, và Hà Nội chinh phục cuộc chiến ở miền Nam với chiêu bài yêu nước, Lê Duẩn đã có thể tiến hành một cuộc chiến tổng lực theo như đã hoạch định cho đến năm chấm dứt chiến tranh năm 1975.

Hai nước lớn trong phe Cộng sản là Trung Quốc và Liên Xô có những bất đồng sâu sắc cũng gây ra nhiều ảnh hưởng trong cuộc điều hành chiến tranh của Lê Duẩn. Chính sách đu dây lúc đầu ngả theo Trung Quốc để tiến tới một cuộc chiến tranh tổng lực và toàn diện nhưng lúc về sau khi quân đội Mỹ tham chiến trực tiếp thì viện trợ của Liên Xô đổ vào Bắc Việt. Năm 1968, sự tranh dành ảnh hưởng giữa hai nước này đã ở mức căng thẳng tột độ. Lê Duẩn tung ra hai chiến dịch Tổng Công Kích tết Mậu Thân và chiến dịch Xuân Hè năm 1972 mà cả hai Trung Quốc và Liên Xô không chấp thuận. Năm 1972, tổng thống Richard Nixon đi thăm Trung Quốc và Liên Xô nên cả hai nước gây áp lực để làm giảm bớt cường độ của trận chiến và kết thúc dựa trên các điều khoản của Nixon khi họ tranh dành nhau những ân huệ của Washington. Lê Duẩn phát động hai chiến dịch đẫm máu kể trên như một đòn tấn công chí mạng vào việc giảm bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ và hai ngước Cộng sản đàn anh này.

Tác giả “Hanoi’s War” cũng cho rằng chính Hoa Kỳ tự đánh bại mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam là một huyền thoại. Bắc Việt đã chủ ý gây chiến tranh và định hình được các hành động của Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng như trật tự cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới. Chính Lê Duẩn đã dồn hết toàn lực cho chiến thắng trong năm 1964 khiến Hoa kỳ bị thúc đẩy can thiệp trực tiếp vào chiến tranh. Không phải Bắc Việt là một đối thủ thụ động mà chính họ đã gây ra cuôc chiến với sự chấp nhân hy sinh mọi thứ để đạt được chiến thắng.

Vai trò của Hoa Kỳ và đồng minh là Nam Việt Nam đôi khi lỏng lẻo và mỗi phe vì lợi ích riêng của mình nên có những hành động trái ngược nhau và bất lợi cho liên minh Washington DC – Sài Gòn. Làm chậm việc rút quân Mỹ trong năm 1969 và phá tan các cuộc đàm phán hòa bình giữa ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ năm 1972-1973, các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm cho việc Mỹ rút khỏi Ðông Nam Á phức tạp hơn nhiều. Mặc dù Washington DC có những lý do riêng về địa điểm chiến lược và nội bộ để can thiệp và ở lại Việt Nam nhưng các nhà lãnh đạo hai phe Bắc và Nam Việt Nam đã chi phối tính chất và tốc độ can thiệp của Hoa Kỳ.

Hanoi’s War là một cách nhìn lịch sử mới dựa trên những tài liệu thu thập được từ văn khố của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng sản. Trách nhiệm của cuộc chiến tổn hại trên 2 triệu sinh mạng người Việt là trách nhiệm của Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ với chủ trương hiếu chiến không chấp nhận sống chung hòa bình với những người quốc gia. Giải pháp hòa bình bằng thương thuyết cũng bị gạt bỏ và chủ trương trung lập chế cũng bị phê phán. Chủ trương duy ý chí này của Lê Duẩn cũng đã gây ra hai cuộc chiến tiếp theo sau năm 1975 với Trung Quốc năm 1979 và với Khờ me Ðỏ năm 1980. Và cũng với đường lối ngoại giao cứng rắn nên Việt Nam bị cả thế giới cô lập tạo nên một thời kỳ tệ mạt nhất trong cả lịch sử dân tộc.

Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn: Tác giả gửi

Lien-Hang Nguyen: 2012 National Book Festival

 

======

 

“Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam”

by Dr. Lien-Hang Nguyen

youtube.com/watch?v=0hLDfUlzucI    (TheUSAHEC)

 

Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in

youtube.com/watch?v=02nHzaPx5V8   (Robert Strauss)

___________

Một trong các lý do

Vì sao miền Bắc chiến thắng?

  • 22 tháng 1, 2014

Hà Nội đã chủ động đẩy tiến hành cuộc chiến tới cùng

37 năm sau khi chiến tranh kết thúc ở Việt Nam, cuối cùng chúng ta mới có trên tay một công trình nghiên cứu coi trọng vai trò của các lãnh tụ Bắc Việt trong cuộc chiến đó.

Họ là người đã phát động cuộc chiến và đã chiến thắng. Theo nghĩa này tác phẩm ‘Cuộc chiến tranh của Hà Nội’ (nguyên bản – Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam) của tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng, phó giáo sư, khoa Lịch sử, ĐH Kentucky, thực sự có giá trị mở đường.

Mặc dù phần lớn quyển sách tâp trung vào giai đoạn từ 1968 đến 1972, ba chương đầu dành riêng cho chuyện chính trị nội bộ miền Bắc.

Nội dung của ba chương này thuật lại chuyện Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất của Đảng Lao Động Việt Nam (sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam), lên nắm quyền vào cuối thập niên 1950, và sau đó củng cố quyền lực với sự hỗ trợ của Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, và Trần Quốc Hoàn. Phe của Duẩn không chỉ độc chiếm quyền lực của Đảng bằng cách vô hiệu hóa những lãnh tụ khác như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Lê Duẩn và phe nhóm của ông ta còn dựng lên một nhà nước công an trị để bức hại văn nghệ sĩ và giam cầm những ai chỉ trích chính sách hiếu chiến của họ.

‘Con bạc khát nước’

Dưới ngòi bút của TS Hằng, những lãnh tụ của miền Bắc hiện ra như những con bạc khát nước.

Họ thường xuyên đánh giá quá thấp kẻ thù và thua hết trận này đến trận khác. Cuối cùng họ thắng cuộc chủ yếu không phải nhờ thiên tài quân sự hay vì họ giành được con tim khối óc của người miền Nam, nhưng một phần nhờ vào bộ máy công an giữ nhân dân miền Bắc trong khuôn khổ kỷ luật, và một phần nhờ vào việc vận động thành công sự giúp đỡ của phe cộng sản và sự ủng hộ của dư luận thế giới.

Quyển sách này cho thấy Hà Nội kiểm soát rất chặt Mặt trận Giải phóng, qua chi tiết này đóng góp thêm một tiếng nói loại bỏ huyền thoại về một cuộc cách mạng tự phát ở miền Nam.

Bà Hằng có lẽ là tác giả đầu tiên lập luận rằng không phải Tổng thống Mỹ Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara mà chính là chiến lược đánh bạc sát ván của Lê Duẩn dẫn đến việc quân Mỹ vào Việt Nam năm 1965.

Tương tự, không chỉ Tổng thống Mỹ Nixon và Cố vấn Kissinger muốn kéo dài chiến tranh vào năm 1968, mà cả hai chính quyền Sài gòn và Hà nội vì những lý do riêng không muốn đàm phán cho hòa bình.

TS Hằng cũng là học giả đầu tiên viết về những lãnh tụ có vai trò thực sự quyết định ở miền Bắc, đó là phe Duẩn-Thọ. Giới học giả Tây phương cho đến nay đã bị ám ảnh bởi những lãnh tụ bề ngoài có vẻ nổi trội như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp nhưng thực chất những nhân vật này không phải là người quyết định chủ yếu trong cuộc chiến tranh.

Lẽ ra TS Hằng có thể đi sâu hơn vào những toan tính của Lê Duẩn trên cơ sở những tài liệu đã được bạch hóa. Xin mời đọc đoạn trích sau đây từ bài nói của ông ta ở Hội nghị Trung ương 14 và tháng Giêng năm 1968 ngay trước Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân:

“Tôi nghe anh em miền Nam nói tinh thần [quân đội Mỹ ngụy] bạc nhược lắm, nó sợ vô cùng. Sư đoàn 25 của nó cũng yếu đi rồi. Ở Huế ta đánh mạnh là nó tan rã. Mỹ đấy. Còn về quân ngụy, nó yếu vô cùng, nghe anh em nói khi ta đánh nó khóc lóc, bạc nhược vô cùng.”

Dựa vào cách đánh giá kẻ địch như trên, Duẩn tin rằng cuộc Tổng tiến công sẽ chẳng đem lại rủi ro nào: “Ở Hà Nội, lúc đầu một trung đoàn Thủ đô đánh hai tháng ra có việc gì đâu, huống chi bây giờ ta làm chủ, ta vào Sài gòn đánh vài ba tháng ta ra cũng được, không có chuyện gì…”

Chúng ta đều biết các lực lượng cộng sản bị thiệt hại nặng nề trong Tết Mậu thân. Nhưng ít ai biết những toan tính của các lãnh tụ miền Bắc khi họ ném hàng chục ngàn bộ đội vào một chiến dịch mà phần lớn sẽ bị tàn sát.

‘Nhà nước công an trị’

Những lời nói từ chính miệng của Lê Duẩn không chỉ cho thấy những tính toán sai lầm lớn của ông ta mà còn cho thấy ông là một người chỉ huy quân sự liều mạng đến mức điên rồ: đánh giá thấp địch quân một cách quá đáng và tổ chức trận đánh mà không cần tính đến đường rút nếu thất bại.

Việc ông ta kiên trì theo đuổi cùng một chiến lược cho đến năm 1975 cho thấy ông ta cuồng tín đến mức nào. Công bằng mà nói, Lê Duẩn đã “đoán trúng” tinh thần bạc nhược của một bộ phận kẻ địch.

Image copyrightAFP GETTY IMAGES
Image captionNạn nhân của chế độ công an trị bao gồm cả cựu đồng chí của ông Hồ

Nhưng không phải lính “Mỹ ngụy” bạc nhược như ông ta đoán, mà Johnson và McNamara bạc nhược và xuống thang chiến tranh mặc dù chỉ có rất ít người dân Sài Gòn nổi dậy đón mừng quân giải phóng.

Vì một canh bạc rủi ro cao như thế nên chúng ta không ngạc nhiên khi Duẩn và phe cánh của ông ta tung toàn bộ bộ máy Nhà nước công an trị vào cuộc để bắt giữ những người có thể trong quá khứ hay tương lai sẽ chỉ trích chính sách phiêu lưu của họ.

Chi tiết trong sách của TS Hằng về bộ máy khủng bố của công an miền Bắc là một trong những đóng góp quan trọng nhất của công trình này.

Sự tồn tại của một nhà nước công an trị ở miền Bắc Việt Nam có thể ủng hộ lập luận của những người tin rằng Hoa Kỳ đã đúng khi can thiệp để giúp miền Nam thoát khỏi số phận hẩm hiu của miền Bắc.

Sau chiến thắng của Hà Nội, hàng chục ngàn viên chức, trí thức, văn nghệ sĩ, và các lãnh tụ tôn giáo đúng là đã bị cầm tù trong các trại “cải tạo”, nhiều người trong hơn một thập niên, cũng chung số phận với Hoàng Minh Chính và Vũ Đình Huỳnh, những đảng viên cộng sản cao cấp, đồng chí cũ của Lê Duẩn và Hồ Chí Minh bị buộc tội và cầm tù vì theo “chủ nghĩa xét lại”.

Tuy nhiên, quyển sách này không đem đến một kết luận chắc chắn về việc Hoa Kỳ và đồng minh miền Nam có thể chiến thắng hay không.

Đây là một câu hỏi đã gây rất nhiều tranh luận. Trên một bình diện thì câu chuyện về đấu đá phe cánh chính trị ở miền Bắc cho thấy cuộc chiến không phải được tất cả người miền Bắc ủng hộ như nhiều người nghĩ.

Nhiều người dân hay lãnh đạo Đảng miền Bắc chắc chắn không ủng hộ chiến thắng với bất cứ giá nào kiểu Lê Duẩn. Những sai lầm chiến lược của Lê Duẩn trong Tết Mậu thân chỉ ra chỗ yếu của ông ta mà nếu được khai thác đúng mức có thể giúp cho nỗ lực chiến tranh của Sài gòn và Washington.

Một cuộc phản công mạnh mẽ hơn (thay vì xuống thang chiến tranh) sau Tết Mậu thân có thể đã buộc Lê Duẩn phải mất chức.

‘Duẩn-Thọ lấn lướt’

Tuy nhiên, một sự thực khác là phe Duẩn-Thọ trước đó đã rất thành công trong việc bóp nghẹt những chỉ trích kế hoạch Tết Mậu thân của họ. Trước sự lấn lướt của Duẩn-Thọ, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đều tỏ ra hèn nhát không dám bảo vệ những người cộng sự và tay chân thân tín của mình bị họ bắt giam vì tội “xét lại”.

Những việc này làm cho chúng ta khó tưởng tượng được ai sẽ là người có thể loại được Duẩn-Thọ ra khỏi quyền lực.

Mà nếu Duẩn-Thọ vẫn còn đó, sự bướng bỉnh của họ cộng với bộ máy an ninh đầy quyền lực do họ chỉ đạo có nghĩa là miền Bắc sẽ tiếp tục chiến đấu đến người cuối cùng nếu cần.

Image copyrightBBC WORLD SERVICE
Image captionPhe của ông Duẩn được cho là lấn lướt cả ông Hồ Chí Minh

Mặc dù TS Hằng sử dụng những tài liệu có giá trị nhất hiện có, sách của bà không chứa đựng nhiều chi tiết về vai trò của các nhân vật khác trong Bộ Chính trị trong việc đưa ra những quyết định quan trọng, ví dụ như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh và Lê Thanh Nghị.

Có phải những nhân vật này chỉ đơn thuần cam chịu chấp nhận đường lối quân sự hiếu chiến của phe Duẩn-Thọ, hay là họ tích cực ủng hộ đường lối đó? Cũng tương tự như vậy, còn nhiều chi tiết về bộ máy an ninh chưa được biết rõ và cần được nghiên cứu thêm.

Công trình này của TS Hằng cũng cho thấy sự cần thiết nghiên cứu về cách mạng Việt Nam trong đó cuộc chiến tranh chỉ là một giai đoạn. TS Hằng đúng khi cho rằng Lê Duẩn coi cuộc chiến là ưu tiên số một.

Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội cũng quan trọng với Duẩn và tất cả các đồng chí của ông ta, dù họ có hay không xem cuộc chiến là ưu tiên số một. Trong tác phẩm “Đường lối cách mạng miền Nam” viết năm 1956, Duẩn xem cuộc chiến ở miền Nam không chỉ để thống nhất đất nước mà còn để lật đổ ách thống trị của “chủ nghĩa thực dân mới Mỹ” và “chế độ độc tài phong kiến” Ngô Đình Diệm.

Ông ta tin chắc rằng, “Thắng lợi thuộc về sự nghiệp vinh quang thống nhất, độc lập dân tộc của dân tộc ta, thuộc về cộng sản chủ nghĩa vĩ đại của chúng ta.”

Lê Duẩn kêu gọi tiến hành cách mạng ở miền Nam nhưng đồng thời tán thành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Việc xây dựng này cũng được định nghĩa như một cuộc đấu tranh giai cấp chống lại “những giai cấp phản cách mạng” và giai cấp nông dân với nền kinh tế “tiểu nông, lạc hậu.” Duẩn là người đi đầu ủng hộ chính sách hợp tác hóa nông nghiệp vào cuối thập niên 1950 cũng như chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng ở miền Bắc vào đầu thập niên 1960.

Tóm lại, công trình của TS Hằng đã đặt người Việt Nam (chủ yếu là người miền Bắc) vào vị thế trung tâm trong cuộc chiến. Đó là vị trí xứng đáng của họ. TS Hằng giúp chúng ta hiểu thêm miền Bắc đã chỉ đạo và chiến thắng ra sao.

Nhưng công trình của TS Hằng còn có một đóng góp quan trọng khác. Các học giả ngành Việt Nam Học và những nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam thường không quan tâm đến nghiên cứu của nhau. TS Hằng đã dũng cảm đem hai nhóm đến gần nhau và buộc họ phải trả lời những câu hỏi khó.

Bài do tác giả Vũ Tường tự dịch. Nguyên bản bằng tiếng Anh có thể truy cập tại địa chỉ: http://www.h-net.org/~diplo/roundtables/PDF/Roundtable-XV-9.pdf.

Cuộc chiến tranh của Hà Nội là tác phẩm của TS Nguyễn Thị Liên Hằng, phó giáo sư, khoa Lịch sử, ĐH Kentucky. Nguyên bản tiếng Anh: Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2012).

______

Lê Vũ Anh, con gái ông Lê Duẫn bị đầu độc?

http://wp.me/po94e-90w

 

 

 

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Uncategorized | Leave a Comment »

►Đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị Vân (vợ thứ hai của ông Lê Duẩn) về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Posted by hoangtran204 trên 22/09/2014

Nếu các bạn không coi được thư, xin mời click vào Nguồn: Theo FB Ngàn Sâu Trần

THỂ THEO MONG MUỐN CỦA NHIỀU BẠN ĐỌC VỀ NGUYÊN BẢN THƯ KIẾN NGHỊ CỦA VỢ HAI CỐ TBT ĐẢNG CS VN LÊ DUẨN, CHÚNG TÔI XIN ĐĂNG TẢI BẢN GỐC  BỨC THU KÈM CHỮ KÝ CỦA BÀ VÂN.

7437227520120416183900768.jpg

Bà Nguyễn Thị Vân và ông Lê Duẩn

01_10646931_554972321269908_4894910801375793567_n.jpg

02_1613844_554972324603241_7209873396693205808_n.jpg

03_10690175_554972334603240_8465705002521141837_n.jpg

04_10440225_554972371269903_5734465195680714728_n.jpg

05_10670189_554972407936566_146851263838263877_n.jpg

06_10417669_554972431269897_3014046405494644989_n.jpg

07_10380312_554972454603228_6333214327671058745_n.jpg

08_10685414_554972474603226_9013683261112474859_n.jpg

09_10612729_554972501269890_3636361783367029729_n.jpg

10_10653635_554972521269888_4292919817661394966_n.jpg

11_10517551_554972531269887_8507849121236775244_n.jpg

12_10408064_554972547936552_429510872128062418_n.jpg

13_10370351_554972584603215_6715321033051422643_n.jpg

14_10686837_554972621269878_6599781240033363991_n.jpg

15_10696192_554972644603209_8485184228585688196_n.jpg

16_10612832_554972657936541_8685492430199756030_n.jpg

Theo FB Ngàn Sâu Trần

Bài liên quan:

Thế hệ tướng Giáp và bi kịch của dân tộc – Bao nhiêu năm rồi mà vẫn u mê (Trần Hồng Tâm)

Thư viện các bài được đọc nhiều nhất

+ Bà Nguyễn Thị Vân ganh tức vì mộ của ông VNG có bộ đội đứng gác suốt ngày đêm, (24/7), trong khi LD không có tiêu chuẩn này. Bà cũng ghen tức  khi VNG viết nhiều hồi ký và các sách lịch sử đánh bóng tên tuổi của ông ta. Trong khi đó, LD không viết hồi ký. Thật ra, LD  chưa học quá lớp 4 thì làm sao tự viết hồi ký. Qua bài phỏng vấn, bà Vân khẳng định: ông HCM và LD đã gây chiến tranh “giải phóng miền nam”, tức là  trực tiếp  gây ra cái chết cho gần 2 triệu bộ đội. Theo Bộ Quốc Phòng, 1990,  đã từng loan báo số lượng bộ đội chết trong chiến tranh VN 1954-1975 là 1.146.000 liệt sĩ,  780.000 thương binh, 300.000 bộ đội vẫn còn mất tich…Nếu tính luôn cả thường dân, thanh niên xung phong đi tải đạn từ Bắc vô Nam bị chết trên đường Trường Sơn, thì con số người chết phải hơn 4 triệu người. Vì thành tích này, cả hai ông đều có tên trong danh sách 50 ác quỷ của nhân loại do báo chí và đọc giả phương tây bình chọn.

+Bà Vân cần thêm vào phần tái bút của lá thư này: Phim về cuộc đời của VNG thực hiện 2013 tốn 21 tỷ đồng, và mới đem ra chiếu ở rạp tháng 9-2014, nhưng báo chí cho biết phim này đã không bán nổi 1 vé.

+Bà Vân nhắc lá thư của Chánh Mật Thám Tây là bằng chứng làm gián điệp của ông VNG. Nhưng làm sao biết được đây là lá thư của chánh mật thám mà không phải là thư của một người nào khác hay một số người trong đảng viết và vu oan cho ông VNG? Muốn chứng tỏ rằng đây là bằng chứng hợp pháp, phải có nhà chuyên môn độc lập phân tích ký tự của lá thư ấy và chữ viết tay của ông chánh mật thám.

+Lá thư của bà Vân dài hơn 9.000 từ. (40 hàng x 16 (chữ / 1 hàng/1 trang) x 15 trang).

+Bà Vân năm nay 89 tuổi, liệu có đủ sức viết bài dài hơn 9000 từ như bài này không? Liệu có ai đứng sau lưng xúi bà ký tên làm việc này? Một số lỗi chính tả trong bài viết chứng tỏ người viết lá thư này là người miền Bắc, trong khi bà Vân là người miền Nam. 

+Trước năm 2012,  khi ông VNG còn sống, tại sao bà Vân không đưa lá thư tố giác này ra để ông VNG có cơ hội biện hộ?

+“Người vĩ đại nhất trong lịch sử cận đại của dân tộc ta là lãnh tụ HCM chưa hề có một cuốn hồi ký nào về bản thân mình” (trang 11),  Bà Vân từng làm báo SGGP mà không biết cuốn hồi ký của HCM: Vừa Đi Đường vừa Kể Chuyện của Trần Dân Tiên, tức là HCM.

+Trang 13 cho thấy bà Vân cũng là một ác quỷ không kém gì ông chồng LD. Đến thời điểm này mà bà ta coi việc đối xử với quân nhân cán chính VNCH sau 1975 là một hành động nhân đạo! Lê Duẩn và đảng CSVN đã tù đày hàng triệu quân nhân công chức VNCH đưa vào tù, đưa lên rừng giam giữ hàng chục năm, hàng mấy chục ngàn tù cải tạo đã bị bắn chết, bị bỏ đói cho đến chết trong rừng, bị bắt tháo gỡ mìn và bị tai nạn chết,  bị bệnh hoạn không cứu chữa, và có hàng ngàn người đến 1988-1990 mới được thả (mục đích trao đổi để nhận viện trợ tiền bạc của Mỹ 1988-1992.). Bà ta không hối cải cho việc làm của LD và đảng CSVN mà còn cho rằng đây là hành động nhân đạo. Quốc Hội và TT Reagan, TT Bush đã phải thương lượng và trả tiền cho đảng CSVN để nhà nước VN giao trả vài trăm ngàn người tù nhân cải tạo và gia đình được đi định cư ở Mỹ từ 1990-1998. 

+ Những Ác Quỷ Giết Người nhiểu nhất trong Lịch Sử– History’s greatest monsters, trong danh sách nay, HCM đứng thư 10, và Lê Duẩn đứng thứ 28

http://www.jjmccullough.com/monsters.htm

+ Mao- China’s Monster, Second to None, By MICHIKO KAKUTANI

http://www.nytimes.com/2005/10/21/books/21book.html?pagewanted=all&_r=0

Ý kiến của một số bạn đọc sau khi đọc đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị Vân

*  Trần Đình Bá, nguyên phóng viên báo QĐND đã nghỉ hưu.

“Ngay sau khi ông HCM mất, đã có nhiều tin đồn đoán rằng, không riêng gì Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà ngay cả Bác Hồ trong những năm cuối đời cũng bị thế lực Lê Duẩn o ép đủ đường. Điển hình nhất là trước cuộc tổng tấn công Mậu thân 1968, Bác Hồ được đưa đi chữa bệnh ở Trung quốc, “Bộ chính trị đã quyết định đưa ông Giáp đi Hungari” (trang 4 dòng 18 từ dưới lên trong đơn kiến nghị của bà). Nếu cuộc tổng tấn công Mậu thân 1968 thắng lợi tuyệt đối, miền Nam hoàn toàn giải phóng thì công đầu đương nhiên thuộc về ông Lê Duẩn. Rất cảm ơn bà đệ nhị phu nhân cố Tổng bí thư Lê Duẩn, vì qua “đơn kiến nghị” của bà đã kết luận được một điều hệ trọng mà lâu nay dư luận chỉ đồn đóan.” 

…bà viết: “Tôi… đặc biệt là đã nghe trực tiếp nhiều vấn đề liên quan đến ông Giáp từ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chồng tôi nguyên cố Tổng bí thư Đảng cộng sản vIỆT Nam Lê Duẩn. Trưa hôm nay, tại nhà một anh bạn ở Hồ Tây, cũng tình cờ tôi gặp một goá phụ phu nhân của một ông lớn. Trước mặt 10 người bà ta dõng dạc tuyên bố “chồng tôi nhiều năm làm chánh văn phòng Trung ương nên tôi biết được rất nhiều điều bí mật mà không ai biết được”.

Thì ra không ít quý vị quan lớn của chúng ta lúc hú hý với vợ đã từng phun ra những bí mật của Đảng và Nhà nước. Một điều cấm kỵ VỚI BẤT KỲ MỘT ĐẢNG VIÊN NÀO.

* PCT : Có vẻ như bài toán sử VNG đang bắt đầu lộ lời giải.  Có vẻ như, qua những gì bà Vân nói, có thể thấy tại sao đảng ta biết Giáp thế mà không dàm xử đến nơi đến chốn là vị sợ LX?

Bây giờ LX không còn là CS nưã thì CSVN sợ gì? Sợ nếu xử Giáp là gián điệp LX/Nga thì chính quân phe Giáp sẽ bung ra chuyện Hồ, Đồng, Chinh… đều là gián điệp Tàu chăng? Trong khi đảng vẫn ôm chân Tàu thì mới tồn tại được?

* Nguyên thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam và là đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Nhiều điểm xung yếu về quốc phòng đã bán hoặc cho Trung Quốc thuê dài hạn. Họ đã mua được 400. 000 hecta rừng biên giới, đã đứng chân được trên cao nguyên chiến lược Tây Nguyên, đã vào “nuôi cá” trong quân cảng Cam Ranh, đương thực hiện dự án khu luyện thép Formosa và cảng Vũng Áng (ở Hà Tỉnh), thực tế là đương xây dựng căn cứ quân sự, họ thuê cảng Cửa Việt cũng đương thực hiện mục đích ấy; từ Kỳ Anh đến chân đèo Ngang, phía Đông đường quốc lộ 1, khoảng 20 km họ xây tường cao và làm gì trong đó không ai biết, họ mua một đoạn bãi biển Đà Nẵng, xây nhà kín cổng cao tường để làm gì cũng chẳng ai hay. Trung Quốc đã đánh chiếm được cao điểm 1059 trong huyện Vị Xuyên, Hà Giang. Ngoài biển, trên cụm bãi đá Gac Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta mà họ đánh chiếm năm 1988, họ đương xây thành những đảo nhân tạo và thành căn cứ quân sự có sân bay, đường băng. Hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nơi có thể là đội quân thứ 5. Độc lập, chủ quyền của nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng”.

*Bà Nguyễn Thị Vân tên thật là Nguyễn Thụy Nga (1925-     ). Bà gặp ông Lê Duẩn năm 1950, ông Lê Duẩn 48 tuổi, lúc đó bà Vân 27 tuổi. Hai người có 3 con (1 gái, 2 trai).  http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Du%E1%BA%A9n

BBC PHỎNG VẤN BÀ BẢY VÂN, VỢ BÉ THỨ 2 CỦA TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN, 

Cuộc phỏng vấn bà Nguyễn Thị Vân  thực hiện năm 2008

https://www.youtube.com/watch?v=cHH8q-u3uks

*Khi Xuân Hồng (BBC) phỏng vấn bà Vân năm 2008, bà trả lời về tuổi tác và năm khá lẫn  lộn. Bà nói khi bà 27 tuổi, thì LD 48 tuổi, hai người gặp nhau, lúc ấy là  (1950). Vậy bà Vân sinh năm 1923? Theo tiểu sử, Lê Duẩn sinh 1907 và chết 1986. Năm 1955 thì Lê Duẩn mới là 48 tuổi. 

Ngược lại, trong hồi ký của bà Bảy Vân, bà viết: “

“Tôi sinh năm 1925… Tôi lớn lên trong một gia đình có 10 anh chị em, 5 trai, 5 gái, tôi là con thứ 7 (nên gọi là Bảy Vân). Ông già tôi khi còn sống là chủ bút tờ báo tiếng Pháp ở Sài Gòn. Khi ông già con nhỏ, giặc Pháp chặt đầu ông nội tôi vì tội tham gia phong trào Cần vương. Bà nội tôi phải cõng cha tôi chạy lên Bình Tây để tránh nạn… Không có tiền của để sinh sống, bà nội tôi phải đi quét dọn cho nhà máy xay lúa ở Bình Tây để vừa có tiền công quét dọn, vừa thu gom được gạo vương vãi về sàng sảy lại nuôi sống bà và cha tôi.

Khi cha tôi lên 6 tuổi, có phong trào Tây bắt buộc con Cai tổng, địa chủ phải đi học tiếng Tây. Bọn này lười học nên thuê con nhà nghèo đi học thay. Cha tôi nhận đi học thuê để lấy tiền sinh sống và nuôi bà nội tôi. Sau đó ông già tôi đậu hàng nhất Diplome trường Pétrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong). Vì cha tôi học giỏi nên được chọn vào làm thơ ký cho Phủ Toàn Quyền 3 năm…  

Sau 3 năm Pháp bổ ông già đi làm Tri huyện. Ông từ chối, bỏ về viết báo tiếng Pháp và làm lò gạch ở Biên Hòa. Qua chuyện ông già tôi không ra làm Tri huyện, ông ngoại tôi không cho ông già tôi cưới bà già. Bà ngoại tôi lúc đó là một cô gái rất đẹp, đành bỏ cưới xin mà đi theo ông tôi. Nghề chính của ông là viết báo cho nên dân làng Tân Hiệp gọi ông là “Ông chủ Nhựt trình”. Sau này ông làm chủ bút tờ báo La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ). Tính ông ngang, thẳng. Ngoài việc bênh vực quyền lợi của dân nghèo bằng ngòi bút, trong đời sống hễ thấy Tây đi xe ngựa của dân không trả tiền, ông thộp ngực đánh liền.

Ông kịch liệt phản đối chính sách thuộc địa và sưu cao thuế nặng của Pháp bằng cả viết báo lẫn đăng đàn diễn thuyết. Toàn quyền Pháp phải thân chinh gặp ông mua chuộc bằng cách hứa cấp 500 héc ta đất cho vay vốn để trồng cao su. Khi đó nhiều người phất lên bằng nghề này. Nhưng ông nói thẳng: “Thà tôi cạp đất mà ăn chớ không khi nào ngửa tay xin tiền!”…

Năm 1936, ông già chết khi vừa tròn 46 tuổi. Trong làng dân tưởng nhớ ông, họ xây cất một cái miếu nhỏ thờ ông. Họ ghi là thờ ‘Con hổ xám’…

Ông già tôi mất năm đó, tôi còn đi học, bà già tôi lo tần tảo nuôi 8 đứa con, chỉ có anh hai chị ba có vợ, có chồng thì ở riêng…” (Trích đoạn ở mục THUỞ NHỎ, tr 8-12)

———-

Theo cụ Hứa Hoành, bà Nguyễn Thị Vân tên thật là Đỗ Thị Thúy Nga. “Cô Đỗ Thị Thúy Nga là con 1 đại điền chủ quê ở Thác Lác, cháu gọi Đỗ Hữu Vị bằng chú ruột, và gọi Đỗ Hữu Phương, người giàu nhất Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20, bằng ông nội. Số là năm 1900, Toàn quyền Doumer có dịp vào Saigon, không biết Phương nịnh hót thế nào mà Doumer đã cấp cho Phương cả ngàn mẫu ruộng ở Thác Lác.

Đến năm 1945, số đất ấy chỉ còn vài trăm mẫu, do 1 người con của Phương quản lý. Như vậy cô Nga xuất thân từ giai cấp địa chủ, kẻ thù không đội trời chung với CS.” Nếu bà khai họ Đỗ, bà sẽ không thể vào đảng CSVN. 

———-

Bà Vân đã từng là người tình của ông Nguyễn Văn Trấn trong 11 năm, từ khi bà 14 tuổi đến khi bà 25 tuổi (1939-1950). Nguyễn Văn Trấn, tác giả cuốn Viết Cho Mẹ và Quốc Hội (cùng với Trần Văn Giàu được gọi là hung thần Chợ Đệm thời 1940s) được Bà Vân nhắc đến một cách kín đáo ở trong hồi ký của bà Bảy Vân. Đến khi bà gặp Lê Duẩn 1950 thì mối tình của bà với ông Nguyễn Văn Trấn mới chấm dứt. 1954 bà di cư ra Hà Nội và phải ở Hải Phòng vì bị bà vợ cả ghen tương. Khi Bị nền đệ nhất cộng hòa của TT Diệm săn đuổi gắt gao, Lê Duẩn chạy ra Bắc 1957. Bị bà cả làm dữ, bà phải đem 3 con qua Trung Quốc vờ học làm báo chí, và Lê Duẩn ghé thăm khi có dịp. Sau đó, bà trở về Hải Phòng, nhưng lần này bà bị đánh ghen dữ dội bởi bà cả, thế là bà phải bỏ vô nam 1964 và ở lại đó cho đến ngày nay. Hiện nay, theo các nhà báo cho biết, bà Vân ở trong biệt thự khu Phú Mỹ Hưng giá hàng 10 triệu đô la. 

———-

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081214_bay_van_interview.shtml 

Phỏng vấn bà Bảy Vân (21.12.2008)

 Bà Bảy Vân

Việt Nam không có mô hình nào để đi lên, Nga đi lên theo kiểu Nga, Trung Quốc đi lên kiểu Trung Quốc, mà Trung Quốc lại càng xa vời với Việt Nam’, bà Bảy Vân, phu nhân cố Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Lê Duẩn, đã hồi tưởng lại giai đoạn “bao cấp”, trong một cuộc trao đổi với BBC Việt Ngữ hồi tháng Tám 2008.

Bà Bảy Vân, cũng từng giữ chức vụ Phó tổng Biên Tập báo Sàigòn Giải Phóng, nói tiếp: “Trung Quốc chủ trương ‘Đại nhẩy vọt’- con người có thể ngồi trên mặt lúa mà lúa không gãy – nhưng tôi quan sát tận nơi, thì thực tế không phải vậy. Việt Nam cũng không thể áp dụng kiểu quản lý nông thôn của Nga”.

Bà nói tiếp: “Mình thì chỉ mò mẫm thôi, không ai kết luận được kiểu nào đúng, kiểu nào sai, tới chừng nhìn lại thì không thấy phù hợp thôi, làm tới đâu sửa tới đó“.

Khi được hỏi là Việt Nam có nên bỏ hẳn lối phát triển kinh tế cũ kỹ hay không, bà Bảy Vân không trả lời thẳng vào câu hỏi, mà hồi tưởng lại giai đoạn ông Võ Văn Kiệt chủ trương hãng dệt Thành Công, “người dân mượn tiền nhà nuớc, tự đứng ra sản xuất và nuôi công nhân”.

Bà cũng nhắc lại giai đoạn Thành phố HCM không có gạo để ăn, phải ăn bo bo khoai mì sùng, ban lãnh đạo chủ trương mua gạo với giá thị trường theo thể thức ‘mua gối đầu’, và do đó, đời sống tại đô thị bớt khó khăn.

Bà Bảy Vân kết luận: “Giải pháp này là đúng. Dần dần mọi chuyện mở ra. Địa phương này học theo địa phương kia, để sửa sai giai đoạn bao cấp”

Nên bỏ XHCN hay không ?

Bà Bảy Vân khẳng định “Không thể bãi bỏ xã hội chủ nghĩa được vì chỉ một tầng lớp nào chủ trương như vậy thôi, chứ còn cái khoảng cách giàu nghèo còn “nặng lắm” cho nên không thể bỏ được

 (Con trai của bà là đại gia Lê Kiên Thành và Lê Kiên Trung, Trung tướng công an, Phó TC trưởng an ninh nội địa)

Trái lại theo bà Bảy Vân, “nhà nước phải quản lý chặt chẽ hơn”. Bà dẫn thí dụ tình hình lúa gạo vừa qua, chính phủ “nắm” mọi việc mà để cho tin đồn này được loan truyền là “không tốt”.

Theo bà Bảy Vân, chính phủ phải nghĩ tận gốc rễ của vấn đề, từ vấn đề lương bổng sao cho hợp lý để cho công nhân viên chức đủ sống, chứ còn “chân ngoài dài hơn chân trong”, không thể để cho tình trạng này kéo dài mãi được.Bà Bảy Vân nhấn mạnh chỉ có cải thiện đời sống cho người dân mới

mong giải quyết nổi tham nhũng, chứ còn “chống cái này, chống cái kia” chỉ là hình thức thôi.

“Tuyên truyền chống tham nhũng, chỉ là nói miệng qua thôi,” bà nói.

Bà Bảy Vân dẫn chứng là ngành hải quan của Pháp đã dành phân nửa thu nhập để sung vào lương của công nhân viên hải quan, chứ không có ‘nhín nhín’ như Việt Nam đâu, vì như thế thì “họ thế nào cũng tìm cách ăn mà thôi”.

Cơ bản nhất của công cuộc bài trừ tham nhũng là giải quyết đời sống cho cán bộ công nhân viên chứ còn giáo dục chỉ là một biện pháp mà thôi, theo bà Bảy Vân.

Liên hệ với Trung Quốc

Hồi đó, không có ý kiến của ‘Anh Ba’ thì Trung Quốc đã chiếm luôn Trường Sa rồi, bà Bảy Vân, phu nhân của cố Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẩn đã hồi tưởng lại giai đoạn “nóng”.

Trong cuộc trao đổi dành riêng cho Ban Việt Ngữ đài BBC, bà Bảy Vân nhớ lại chồng bà đã nói “Mình phải ra đóng quân ở Trường Sa”.

Bà Bảy Vân nói tiếp: “Trung Quốc lấy cái thế là trước kia ông Phạm Văn Đồng có ký một văn bản cho phép Trung quốc quản lý ở Hoàng Sa vì ‘ngụy’ đã đóng ở đó”.

Và khi đất nước thống nhất rồi, bà Bảy Vân cho biết ông Lê Duẩn đã nói: “Bằng cách nào cũng phải chiếm lại Hoàng Sa”.

Nhìn vào phong trào thanh niên sinh viên phản đối Trung Quốc đã chiếm hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, bà Bảy Vân nói rằng “cái gì lãnh đạo mình hướng dẫn thì nên làm theo, chứ còn thanh niên tự ý đi chống lại cũng không có kết quả gì”

Trong cuộc trao đổi này, bà Bảy Vân cho biết bà cũng có ý tưởng viết một cuốn hồi ký nhưng lo ngại là những đoạn nào có dính líu tới ông Lê Duẩn sẽ làm phật ý giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay.

Ý kiến của các bạn sau khi nghe phỏng vấn bà Bảy Vân do đài BBC thực hiện 21-12-2008

Thanh Bach
Bà Bảy Vân đang ở khu Phú Mỹ Hưng. Theo tôi biết, ở đó những căn nhà không dươí hai triệu đô la cho nên làm sao mà bỏ XHCN được. Than ôi! Giàu nghèo còn chênh lệch quá !!!

Trung Saigon

Có những người như bà vậy nên VN ngày nay mới như vầy!

Trung Saigon
Hy sinh 10 triệu người? mạng người mà bà nói như là 10 triệu cọng cỏ của bà trồng ở sau nhà bà vậy sao?

Conan Sài Gòn

“Một thời mò mẫm”, ông Xuân Hồng này chơi chữ, nghe nó nhục làm sao? Lãnh đạo một quốc gia mà lại “mò mẫm” thì làm sao quốc gia đó phát triển được? Nhân dân VN bị ĐCS dùng “quyền lực trên nòng súng” để ép đi vào con đường nghèo đói, lạc hậu, kém văn minh…để đảng lúc nào cũng được vinh quang & tồn tại muôn năm. Không biết khi nào thì nhân dân cùng khổ VN giành lại được quyền quyết định tương lai của mình & của đất nước VN?

Nguyen quang Hung

Đồng chí Lê Duẩn trước kia kô được lòng nhân dân. Bà Bảy vân kô nên lấy điều ấy làm ảnh hương đến cách suy nghĩ của mình. Tôi nghĩ những ngôn từ bà nói rất chủ quan. P/s: tôi cũng biết rằng BBC sẽ kô đăng tải nối dung của tôi vì ý kiến của tôi đi ngược lại mục đích chính mà BBC đề ra. Xin quý đài đừng giận vì những lời nói thẳng của tôi.

Mai Chi Tho
Ông Đồng không thể lí giải Hoàng sa là do chính phủ Sài Gòn quản lí để mà đem bán được! Còn việc bà tiết lộ ông chồng đã phải mò mẫm mô hình kinh tế gì đó thì cứ mò. Chính lời bà nói ra làm người dân, kể các đảng viên thành tín nhất mất hết sự ngưỡng vọng vào cố TBT Lê Duẩn, tôi nói cả những con người quê hương Quảng Trị.

Kim

CNXH một danh từ cao đẹp của nó đã bị người ta lạm dụng lừa gạt để mưu cầu cho một mục đích của cá nhân hay đảng phái. Chúng ta không còn hoài nghi gì ở từ CNXH của bà bảy Vân- Danh từ “CNXH” ở đây phải hiểu là bất công,tụt hậu, tham nhũng với đủ mọi hình thức không tốt của một xã hội không văn minh. Đề nghị CQVN không nên lạm dụng danh từ CNXH nữa để lừa dân tôc VN mà nên tuyên xưng một danh từ thích hợp với bản chất của nó: Chẳng hạn “chế đô Nông Đức Mạnh” trên chủ thuyết quái thai Mao Trạch Đông cũng như trước năm 75 người CS đã gọi “chế độ Thiệu Kỳ” với chủ thuyết TBCN với MNVN.

Trai Quê

Lời lẽ của bác Lê Duẫn gái là thành thật, không cứ gì đảng CSVN, mà các nước CS trên thế giới cũng vậy chỉ mò mẫm thôi, không ai kết luận được kiểu nào đúng, kiểu nào sai, sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại đa số thấy sai thì quay lại, thiểu số vẫn không cho là sai thì càng đi càng “lạc đường”, chưa biết phải “về đâu”.

anhphamle
Bà Bảy Vân” nói : “Mình thì chỉ mò mẫm thôi, không ai kết luận được kiểu nào đúng, kiểu nào sai, tới chừng nhìn lại thì không thấy phù hợp thôi, làm tới đâu sửa tới đó”. !! Có nghĩa là cứ tiếp tục sửa sái làm sai theo đảng csvn là đúng. NOM DE DIEU ! Còn vấn đề chống tham nhũng mà không có luật pháp được Quốc hội Dân biểu tán thành thuận theo Hiến Pháp để có thể ban hành ấp dụng thì bà nói. rất đúng “Tuyên truyền chống tham nhũng, chỉ là nói miệng qua thôi”. Ngoài ra bà Bảy Vân khẳng định “Không thể bãi bỏ xã hội chủ nghĩa được vì chỉ một tầng lớp nào chủ trương như vậy thôi, chứ còn cái khoảng cách giàu nghèo còn “nặng lắm” cho nên không thể bỏ được” ….thi quá đúng; vì từ bỏ chủ nghĩa XHCN hư không tức là bỏ đảng csvn …thi bỏ mẹ rồi !

nguyenduongcuunuoc bbc
Ý kiến của bà Bảy Vân cũng có sự mâu thuẫn mà bà không nhận thấy. Bà Bảy khẳng định vẫn nên duy trì chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thế nhưng bản thân bà đi chữa bệnh, mổ tim, mổ cột sống ở Singapore, một nước tư bản. Các cháu ngoại của bà đang sinh sống ở Anh, cũng là một nước tư bản. Khi trả lời BBC, bà Bảy không chú ý đến 2 điều tế nhị này.

hlong can tho

Bất kể chúng ta là ai,nếu là nòi giống Lạc Long Quân và Âu Cơ hãy post cách lấy lại Hoàng Sa,Ải Nam Quan và một phần Trường Sa hay bất kì tấc đất nào của cha ông ta, đừng ngồi đó mà chửi bới ai nữa. Nếu nguyền rủa ai đó mà chắc chắn lấy lại đất đã mất thì có lẽ dân Afganistan hay Iraq đã làm rồi.

Theo “tối kiến” của tôi, trước hết ta phải làm giàu, thật giàu đi đã, phải thật giàu có + “đồ chơi” thứ dữ (như Nga, Mỹ, Ấn Độ…) mới bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được bạn à. Bạn chế tạo được hàng “khủng” không? Bạn giàu không? Hãy mua và gửi về đất tổ “đồ chơi xịn” của Nga hoặc Mỹ đi, nhưng chưa đủ đâu bạn,cần phải trang bị cho mình “câu chuyện bó đũa” nữa bạn à. Ý bạn sao?

Lý văn Công
Vừa rồi tôi có nghe qua 2 lần Quý Đài phỏng vấn bà Bảy Vân, vợ của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt nam ông Lê Duẩn (ông nầy đã chết rồi), mà hình như còn một kỳ nữa vào ngày chủ nhật tới (28/12/2008).

Tôi thấy bà Bảy Vân chỉ trả lời một cách huề vốn mà thôi, qua đó tôi thấy kiến thức chính trị của bà đâu có sâu sắc gì đâu. Bà đề cao ông Lê Duẩn (chồng mình), bà nói “ không có ý kiến của Anh Ba thì Trung Quốc đã chiếm luôn Trường Sa rồi, và khi đất nước đã thống nhất rồi, bà Bảy Vân cho biết ông Lê Duẩn đã nói “ bằng cách nào cũng lấy lại Hòang Sa “, bà Bảy Vân nói sao dễ nghe quá nhỉ !? Sao hồi đó ông Lê Duẩn không cản luôn ông Phạm văn Đồng, đừng cho ổng ký công hàm giao Hòang Sa cho Trung Quốc để sau nầy khỏi cần “bằng cách nào” để lấy lại. ?

Trời ơi, lãnh đạo một đất nước, điều hành một đất nước, những bước đi tới, hướng đi tới tòan chỉ là mò mẫm thôi thì chỉ có nước chết thôi, trời ơi những đỉnh cao trí tuệ Việt nam ! ! Quý Đài không hỏi bà Bảy Vân, Đảng Cọng Sản Việt nam trên con đường đi tới bằng cách mò mẩm, lỡ phía trước mặt là cái hố sình lầy đầy chông gai, sâu thăm thẳm, Đảng Cộng Sản Việt nam tiếp tục đi tới hay quay lui.

Ở đây thời gian không bao giờ quay trở lại thì ở đây con đường Đảng Cộng sản đang đi tới đã vở lở. không thể nào quay trở lại được, thế thì có đứng tại chỗ cũng chết mà đi tới là chấp nhận đâm đầu xuống hố, hỏi bà Bảy Vân có thấy như vậy hay không, có thấy Đang Cộng Sản Việt nam đưa dân tộc Việt nam tới thảm họa hay không ? Đầu óc những đỉnh cao trí tuệ đâu mà lãnh đạo một đất nước bằng con đường mò mẩm ? Sao không có một cái nhìn hướng tới, họach định một kế họach sáng sủa trước khi đi tới để khỏi bị lầm lỡ, đất nước Việt nam bây giờ bị tuột hậu, đa số dân tình nghèo đói, phải chăng đầu óc những đỉnh cao trí tuệ u tối ? hay tham nhũng nặng nề ?

Hùng
Chào bạn Abel. Suy nghĩ của bạn là ngụy biện đó, nếu như bạn không cố ý bênh vực cho DCS. Đúng như bạn nói, không phải tất cả các nước theo CNTB đều công bằng hạnh phúc. Nhưng một điều chắc chắn là chưa có một nước nào theo CNCS mà người dân được hưởng công bằng và dân chủ.

Độc giả
Anh Xuân Hồng ơi ! Nếu có rãnh rỗi thì anh cố gắng về Việt nam phỏng vấn các người dân lao động hoặc phỏng vấn các cựu chiến binh đã một thơì cầm súng chiến đấu bảo vệ tổ quốc nay hoàn thành xong nhiệm vụ họ về làm người dân,anh phỏng vấn họ để nắm vững hiện tình đất nước Việt nam hiện nay anh ạ.

Đằng này anh lại đi phỏng vấn một cán bộ cao cấp của đảng CS đã về hưu lại là vợ của một người đã từng giữ chức vụ cao nhất của đảng CSVN , ẽ nào bà ta phủ nhận tất cả hay sao?

Tony USA

Anh Xuân Hồng quên hỏi Bà Bảy Vân là: Ai giàu, ai nghèo? Có phải là ĐCSVN giàu, còn dân thì nghèo phải không? Vậy thì duy trì ĐCS để làm lại sự cân bằng này, hai bên không ai hơn ai, phải không?

Vậy là phải làm cho dân chúng giàu lên, và bên ĐCS nghèo xuống, cho đến đểm cân bằng? Có phải vậy không Bà Bảy ? Nếu đúng vậy, thì làm cách nào Bà chỉ xem!!!

Vi Thanh

Theo bà Bảy Vân là làm sai tới đâu sửa sai tới đó. Chỉ mò mẫm trong bóng đêm. Chúng ta có nên giữ những ông to này để đem đất nước chúng ta đến những ngõ cụt không?

Việt Nam! Một đất nước nhỏ, trong đất nước rất nhỏ đó có một cái thủ đô rất to. Trong cái thủ đô rất to này có những con đường rất nhỏ.

Bên những con đường rất nhỏ lại có những ngôi biệt thự rất to. Trong những ngôi biệt thự rất to có những cô vợ rất nhỏ.

Những cô vợ rất nhỏ dành cho các ông quan rất to. Những ông quan to đeo những cái cặp rất nhỏ, trong những cái cặp rất nhỏ thường có những dự án rất to. Những dự án rất to nhưng hiệu quả lại rất nhỏ. Hiệu quả rất nhỏ nhưng thất thoát thì rất to , những thất thoát đó thường được coi là những lỗi rất nhỏ ….

selfish Japan
Một bài phỏng vấn cho ta thấy cựu phu nhân của một lảnh đạo quá thiếu kiến thức. Cuối cùng thì dân VN cũng cứ mò mẫm, cứ như vậy thì vẫn mãi đi theo sau, cứ làm tới đâu sửa tới đó.

Nói chung là những người điều hành đất nước VN là những người không chuyên nghiệp. Còn chuyện Hoàng Sa thì bà Bảy Vân nên nhớ nó là của Việt Nam Cộng Hoà, một nước có chủ quyền chứ không phải của Bắc Việt. Họ không có quyền gì để công nhận quyền sở hửu cho Trung Quốc .

Và bà quên nói về Ải Nam Quan, không biết nếu bị hỏi thì bà sẽ trả lời ra sao khi vùng đất đó chính do chính quyền hiện nay trao cho Trung Quốc.

Thanh Los Angeles

Xin cảm ơn BBC và anh Xuân Hồng đã làm loạt bài phỏng vấn rất có giá trị. Năm người phụ nữ anh phỏng vấn vừa qua đại diện cho những người cầm quyền, qua đó họ biện minh lại lịch sử.

Tôi mong BBC và anh XH, để cho công bằng với lịch sử, phỏng vấn những vị nữ lưu, những người phía bên kia, những người ở vùng kinh tế mới, người nuôi chồng trong trại và dắt con ra biển, những người từng là cái đích của những chính sách của các vị này mang lại. Qua đó, mọi người có cái nhìn công bằng hơn.

TN
Ai cũng biết vì có ĐCS nên mới có “giai cấp mới” với đầy đủ đặc quyền, đặc lợi dẫn đến khoảng cách giàu nghèo thế mà bà Bảy Vân bảo là không thể bãi bỏ XHCN vì giàu nghèo vẫn còn đó.

Ai đã làm cho dân ta đói khổ. Nhà nước CS phải quản lý chặt chẽ hơn nữa. Hay quá, phu nhân TBT có khác.

BB canada
Bà Bảy đề cao chồng bà như bao đảng viên khác,cái dở của dân mình và nhất là đảng viên là không bao giờ nhận lỗi. Ai cũng cho là lổi của những kẻ khác còn tôi lúc nào cũng trúng nên cho tới bây giờ dân ta không tiến là vậy.

Việt nam đã bao năm rồi cứ tìm kiếm làm sao để củng cố địa vị của một số người nắm quyền, không dám như Đông Đức, họ tự buông ra quyền hành để người dân được hưởng. Đằng này cứ trách cứ lẫn nhau vì dành quyền hoặc nhũng kẻ bị mất quyền lợi mới chỉ trich nhau, chứ không phải là lo cho dân, những kẻ tại quyền thì lo đàn áp để củng cố địa vị vây cánh.

Hơn 30 năm mà vẩn mò đường đi, àm sao thấy được nếu không chịu ra khỏi vòng lẩn quẩn XHCN. Tóm lại những lời nói của bà Bảy chả giúp ích gì cho tình hình hiện tại, chỉ thần thánh hóa anh ba thôi.

Nobody
Trời ơi! Đảng ta lúc nào cũng hô hào dẫn dắt Nhân Dân ra biển lớn. Đi biển mà mò mẫm, dò dẫm tìm đường thì chắc chết đắm. Không biết đường thì nên để cho người biết làm hoa tiêu, cớ sao Đảng lại dành “ghế lái” làm oan uổng cho bao sinh mệnh.

Topgun Hà Nội
Những lời bà Bà Bảy nói rất đúng. Để chống tham nhũng chỉ thì cách tốt nhất là cải thiện đồng lương, đời sống CBCNVC. Để họ đủ sống và có tích lũy, nếu làm được như vậy sẽ không phải hô hào như hiện nay.

Batman Roysett – Hanoi
Vâng, cái gì Đảng CSVN cũng dán thêm cái đuôi “nhân dân” đằng sau, ví dụ quân đội nhân dân dân, công an nhân dân, hội đồng nhân dân, chỉ trừ ngân hàng là … NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC !!! BBC không cho phép nói sự thật lộ liễu. Mời các bạn hãy tự suy nghĩ thêm. Cám ơn.

TỨC ANH ÁCH
Từ ngàn năm giữ nước các Vua đất Việt chỉ đánh và chống Tàu cộng đến cùng để giữ từng tấc đất. Thế mà nước Việt thời nay lại có những tên Vua Cộng sản lại dâng đất, dâng hải phận cho ngoại bang !! Thật không sao hiểu nổi.. chắc cũng vì cái ghế, cái đặc lợi cho băng đảng mà thôi. Nhục nhã cho tổ tông chúng ta đã hoài công.

Tony Canada
Bao nhiêu máu xương của nhân dân đã đổ cho cái sự “mò mẫm” của các nhà lãnh đạo cộng sản VN. Thế mới thấy thì ra các bác lãnh đạo của ta toàn “mò” cả, cuối cùng thì lại mò ra “kinh tế thị trường” của tụi tư bản nó hay hơn cái “quốc doanh” cùa Cộng Sản nên cuối cùng thì dắt dân tộc về vị trí cũ. “Nhờ vậy” mà ta đang thua xa Thái Lan vốn còn thấp hơn miền nam VN rất nhiều (so với miền nam trước 75).

KENNY USA
Đọc xong bài phỏng vấn này tôi cảm thấy buồn cười. Cười cho sự thật được bóp méo và những lời lẽ dối trá của bà Bảy Vân.

Tại sao bà không dám thừa nhận thứ chủ nghĩa xã hội mà chồng của bà theo đuổi đã đưa đất nước VN gần như trở về thời mông muội, mông muội vì đói nghèo và lạc hậu dưới sự lãnh đạo của ông Ba Duẩn chồng bà (ông là Tổng bí thư lâu nhất- gần 20 năm).

Người VN không ít người biết 1 thời khuynh đảo và độc tài dưới sự lãnh đạo và kiềm chế cả Bộ chính trị và trung ương Đảng của bộ ba – Ba Duẩn, Sáu Búa Lê Đức Thọ và thi sĩ (thợ thơ) Tố Hữu, kể cả Chủ tịch Hồ chí Minh cũng không thể ngăn cản bàn tay bọn này thì dân thường làm được gì. Thương thay cho chủ nghĩa xã hội VN.

SGN man
Đọc lại những những cuốn sách do ông Lê Duẫn viết mới thấy ông đúng là một nhà tư tưởng “kiệt xuất” chủ nghĩa Mác-Lê ở tầm “vĩ đại” trong thế giới XHCN! Tiếc rằng ông mất sớm, phải chi ông còn sống đến ngày nay thì đất nước không có chuyện “kinh tế thị trường định hướng XHCN” gì cả, và nhờ đó đất nước tiến nhanh đến CNXH hơn.

Cũng rất tiếc ông mất sớm để không được nhìn thấy được gia đình ông hiện nay sống giàu sang phú quý- nhất là các con ông hiện nay là những doanh nhân thành đạt và giàu có (thành phần mà ông cả đời căm thù và lên án là “tư sản bốc lột”-sản phẩm của CNTB).

Bà Bảy Vân nói rằng ông Lê Duẫn có ý định lấy lại Hoàng Sa? Thật là một người VN yêu nước! Nhưng người ta thắc mắc sao năm 1974, khi TQ đánh lấy HS của ! VN thì ông chỉ khoanh tay đứng nhìn, chỉ biết nỗ lực lo chuyện đánh nhau với anh em Miền Nam của mình mà “quên” không lo giữ nước trước bọn TQ xâm lược? Một điều rất tiếc về vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc, đó là đến giờ này mà Bà vẫn còn gọi những người lính Miền Nam hy sinh tính mạng chống giữ Hoàng Sa lúc đó là “ngụy” thì Bà quả rất xứng đáng là phu nhân của ông trùm “Mác xít” Lê Duẫn!

dongta Saigon

Có vẻ đây là diễn đàn dành riêng cho những người hằn học và hay chửi bới… rất nhiều lần tôi post ý kiến của mình 1 cách thật khách quan lên nhưng chưa bao giờ thấy BBC cho đăng , chắc là vì hơi thiếu tính mạt sát, kích động chăng …đây là lần thử cuối cùng …

tranquangthien HCMC
Rõ khổ cho nhân dân VN. Chẳng phải bây giờ Ba Bảy Vân , phu nhân ông Ba Lê Duẫn nói ra người ta mới biết cái kiểu mò mẫm đuờng đi của các nhà lãnh đạo ĐCSVN. Nhân dân phát hiện các nhà lãnh đạo ĐCSVN bị ngọai bang xỏ mũi dẫn đi từ lâu rồi.

Chua cho dân ta quá. Thế mà các người đó cứ ngồi lỳ ra đó, tuyên bố huênh hoang, rồi báo đài cứ thế hùa vào ca tụng.

Một dàn đồng ca không có một trật tự nào cả. Dân ghe chán cả tai, hết chịu nổi. Các vị lãnh đạo không còn từ chối đổ thừa cho ai nói xấu các vị, nói xấu chế độ nữa nhé mà chính người trong Đảng, người đàn bà của cố Tổng Bí Thư nói ra. Cho nên CP đừng bắt oan những người nói không thuận tai với chế độ nữa, mà hãy chịu khó học hỏi nhân dân. Nhân dân sẽ chỉ cho đường các ngài đi.

SAKURA Nhật Bản
Ngẫu hứng, dễ dãi, mất cảnh giác đến nỗi để Đất nước bị Ngoại bang xâm phạm. Rồi lại muốn”lấy lại bằng mọi giá”? Chao ôi,máu xương nhân dân còn chất như núi trong lòng đất kia, thưa mấy ông lãnh tụ!

BlackJack toyama-Japan
Mỗi người thì có một suy nghĩ ,một nhận thức. Tùy vào trình độ khác nhau nên không có được những comment trung thực nhất.

Đồng ý rằng Lê Duẩn có những sai lầm không chấp nhận được. Nhưng cũng không thể phủ nhận được những sự cứng rắn của Lê Duẩn trong thời kỳ Chống Mỹ. Xin mọi người hãy khách quan hơn trong những comment,đừng để mù mắt bởi những cái tôi ngu dốt. Đó mới là người yêu Việt Nam thực sự.

Quang
Tôi ủng hộ bà Bảy Vân, bà đã nói lên sự thật mà không phải ai cũng dám nói. Đó là sự chính ông Đồng đã dâng hiến Hoàng Sa cho TQ, mô hình kinh tế thời vì không thể “noi gương” theo TQ hay Nga thì phải mò mẫm là đúng. Tôi rất ủng hộ bà Bảy Vân

PPT
Bà Bảy Vân nói chuyện nhờ có ông TBT Lê Duẫn mà cứu Trường Sa. Như thế nghĩa làm sao?

Chẳng lẽ đã bán Hoàng Sa ở gần mà cứu Trường Sa ở xa sao. Bà đừng ngại nếu phải nói thẳng ai đó đã bán Hoàng Sa cho TQ, và bây giờ ai đang dùng công an và tòa án cản dân để bán Trường Sa cho TQ.

Bà nên nhớ đó là mảnh đất của ông cha chúng tôi, không phải của thứ chính kiến Cộng Sản phản quốc.

Ông Đồng không thể lí giải Hoàng sa là do chính phủ Sài Gòn quản lí để mà đem bán được! Còn việc bà tiết lộ ông chồng đã phải mò mẫm mô hình kinh tế gì đó thì cứ mò. Chính lời bà nói ra làm người dân, kể các đảng viên thành tín nhất mất hết sự ngưỡng vọng vào cố TBT Lê Duẩn, tôi nói cả những con người quê hương Quảng Trị.

Đinh Trần, Nam Định
Tôi rất ủng hộ việc BBC phỏng vấn những người như Bà Bảy Vân. Dù sao những người như Bà ấy sẽ ít nhiều để lộ những thông tin mà có thể coi là “người trong cuộc” nói ra.

Nếu nói thẳng thì những người còn đang đương chức hoặc đương sự sẽ không dám. Nếu người nghe tinh ý sẽ hiểu được những ngụ ý của người được phỏng vấn.

Bình Tĩnh
Hoan hô Xuân Hồng đã thực hiện một cuộc phỏng vấn hay và ý nghĩa. Nên tăng cường những cuộc phỏng vấn như thế này để có cái nhìn đa dạng, đa chiều hơn. Giúp bạn đọc thấy toàn cục vấn đề.

Nguyên Thiện
Bà Bảy Vân không hiểu gì về đời sống thực trạng của người dân Miền Tây Nam Bộ ngày nay. Bà được sinh ra ở Miền Đồng bằng sông nước Cửu Long, bà đã trải qua cuộc chiến tranh tương tàn.

Ngày hôm nay người dân trong 9/11 tỉnh Miền Tây Nam Bộ, họ vẫn sống trong một thực trạng nghèo đói và lạc hậu.

Nhiều tệ nạn tham nhũng bất công trong xã hội Việt Nam ngày nay đang làm băng hoại những thế hệ trẻ tương lai.

Những lời nói của bà qua cuộc phỏng vấn với BBC, nó có thực sự là trung thực không? Phải chăng phóng viên của BBC phỏng vấn bà, cố tránh những đề tài gọi là nhạy cảm?

Sự hiểu biết của bà Bảy Vân đối người dân Miền Tây Nam Bộ ra sao? Bà Bảy Vân có đi vào những nơi vùng sâu vùng xa trong 9/11 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long để chứng kiến những gì mà dân đang sống hiện nay?

Đỗ Phạm, USA
Gởi anh Xuân Hồng. Theo tôi không nên phỏng vấn những hâng người như bà Bảy Vân, làm mất đi gía trị của đài BBC lâu nay.

Anh Xuân Hồng có nghe câu trả lời là không nên xóa bỏ XHCN vì giàu nghèo khoảng cách còn nhiều. Đây là một thực tế hiện trạng của xã hội hiện nay. Nó nói lên chỉ có một số ít cán bộ đảng viên cộng sản nòng cốt mới giàu có từ việc ăn cắp của cải nhân dân.

Batman
Đọc bài viết mới thấy kỳ lạ cho những người CS VN. Bất kỳ cái gì người ta cũng đưa dân ra làm bình phong.

Nào là lực lượng cảnh sát giao thông đang ăn của đút trên tuyến đường quốc lộ là …cảnh sát nhân dân. Nào là mấy ông bộ đội vác súng lên xả vào đồng bào mình trong nam là…quân đội nhân dân.

Nơi tiếp dân của Đảng, nơi mà Đảng viên thường vòi vĩnh dân nhất (Ủy ban) thì gọi là ủy ban nhân dân. Cái gì người ta cũng nhân danh nhân dân nhưng họ vì dân như thế nào?

Con đường giàu có và phồn thịnh không phải cái gì đó bí ẩn đâu. Các vị hãy nhìn con đường Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đức, Pháp, Sing người ta đang đi đó thôi.

Giấu tên
Đọc những đòng này mới thấy quý ông Duẫn. Tuy có sắt máu với dân miền Nam sau 75 nhưng vẫn có chí khí hơn nhiều các bác xôi thịt sau này.

Rocket
Các vị lãnh đạo CS nói câu Bằng cách nào cũng phải chiếm lại Hoàng sa hay câu bằng cách nào cũng thắng Mỹ thì quả nhân dân VN mang họa rồi.

Kể mà các vị nên nói câu “làm thế nào để không mất Hoàng sa, làm thế nào để không có chiến tranh với Mỹ” thì dân mình đâu đến lỗi này?

Tôi vẫn cho rằng lãnh đạo cộng sản đã không có con đường khôn ngoan năm 1954 để VN sa lầy vào cuộc nội chiến mà VN bị mất chủ quyền và đói nghèo như hôm nay.

Chuyện bà Bảy nói không nên xóa bỏ chế độ XHCN xem ra bà vẫn chưa nói thực lòng mình. Cái tàn tích của CS này nên xóa bỏ khỏi VN để giải phóng nội lực thực sự của dân VN.

Bà Bảy Vân (giữa) chụp ảnh với các con trước ngày lên Tàu không số vàoNam. Ảnh chụp lại

Ông có hai người vợ:

  1. Bà Lê Thị Sương (25 tháng 12 năm 1910 – 6 tháng 8 năm 2008)[10] kết hôn năm 1929 ở quê. Có bốn người con:
    • Lê Hãn (sinh 1929), tên thường dùng là Lê Thạch Hãn, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý các nhà trường Quân đội, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nghỉ hưu; Ông Lê Hãn cưới bà Nguyễn Khánh Nam (con gái đầu lòng của ông Nguyễn Khánh Mỹ, Vụ trưởng Vụ khu vực I, phụ trách các nước XHCN, Bộ Ngoại thương lúc bấy giờ – NV) và có 3 người con:Ông Lê Khánh Hải hiện là Thứ trưởng thường trực bộ VHTT và Du lịch,Ông Lê Khánh Hưng và Bà Lê Ngọc Hiếu.
    • Lê Thị Cừ có chồng là Lê Bá Tôn (Cán bộ lãnh đạo của Bộ Công nghiệp nặng).
    • Lê Tuyết Hồng có chồng là Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại;
    • Lê Thị Diệu Muội (1940-2008), Phó Giáo sư, Tiến sĩ sinh vật học.
  2. Bà Nguyễn Thụy Nga (tên thường gọi Nguyễn Thị Vân hoặc Bảy Vân)[11], kết hôn năm 1950 tại miền Tây Nam Bộ, do Lê Đức Thọ làm mối, Phạm Hùng làm chủ hôn. Sau 1975, bà Nga làm Phó ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy An Giang, Phó Tổng Biên tập Phụ trách Hành chính trị sự của Báo Sài Gòn Giải phóng. Hiện bà sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có ba người con:
    • Lê Vũ Anh, kết hôn giáo sư toán học Viktor Maslov người Nga ở Moskva, mất năm 1981 do băng huyết khi sinh đứa con thứ ba (là con trai); cả 3 người con của bà sau này đều lớn lên và ăn học ở Nga, nhưng hiện tại đều làm việc tại Anh.
    • Lê Kiên Thành (sinh 1955), học kỹ sư hàng không tại Liên xô, sau đó là phó tiến sĩ vật lý. Khi về nước chuyển ngành sang kinh doanh, từng là Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Kỹ thương Techcombank, hiện là Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển đô thị; Chủ tịch HĐQT Công ty CP Chế biến Thực phẩm Thái Minh; chủ một sân golf và là Phó Chủ tịch thường trực Hội Golf Việt nam. Ông còn là thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam TP Hồ Chí Minh.
    • Lê Kiên Trung (sinh 1958), Cục trưởng Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 12 năm 2007). Hiện là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng Cục An ninh II – Bộ Công an (2011). ( LKT hiện đã lên chức trung tướng)

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Du%E1%BA%A9n

—————–

Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, các hung thần giết người không gớm tay nay đã được làm đền thờ…

Khánh thành khu tưởng niệm nhà cách mạng Lê Đức Thọ

5-10-2014

Sáng nay, tại Nam Định, đã diễn ra lễ khánh thành khu tưởng niệm nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TƯ Đảng, nguyên Trưởng Ban Tổ chức TƯ Lê Đức Thọ.

Về dự lễ có Thường trực Ban bí thư Lê Hồng Anh, Trưởng Ban Tuyên giáo TƯ Đinh Thế Huynh, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Văn An, Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng…

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/200602/khanh-thanh-khu-tuong-niem-nha-cach-mang-le-duc-tho.html

Posted in Nhan Vat Chinh tri | 8 Comments »

►Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Tác giả:

dencu-1

 

Phó-mát và Phở

Cùng thời điểm cuối hè 2014, ở Paris, dư luận ồn ào, Điện Elysée chao đảo vì quyển Hồi ký «Cảm ơn cho lúc đó» của bà Valérie Trierweiler, bồ cũ của Ông Tổng thống François Hollande, độc giả Việt Nam hải ngoại và cả ở trong nước cũng một lúc xôn xao không kém vì quyển «Đèn Cù» của Ông Trần Đĩnh. Một thứ tự truyện mà tác giả gọi là «Chuyện của tôi».

Cái khác nhau của 2 quyển sách, thể loại cùng na ná nhau, là «Cảm ơn cho lúc đó» bán ngay trong mấy ngày hết 200 000 quyển. Và đang in thêm 270 000 quyển nữa. Tác giả tạm đút túi không dưới nửa trìệu euros. Còn «Đèn Cù» chắc in nhiều lắm là 4000 quyển ở 2 nhà xuất bản «Người Việt» ở Californie và «Tiếng Quê Hương» ở Virginie. Tác giả Trần Đĩnh nhận được bản quyền là bao nhiêu, không biết. Nhưng chắc không có tác quyền, mà chỉ có «chút ân tình với nhau». Phía tác giả không đòi hỏi. Phía nhà xuất bản cũng không thể làm «hơn» được. Cả hai bên đều vui lòng viết và in sách là chỉ nhằm phục vụ độc giả đồng bào những thông tin hữu ích.

Buồn cho người viết, mà buồn cho độc giả nhiều hơn vì cho tới nay vẫn chưa biết thương người viết! Cũng buồn không ít cho nửa triệu độc giả Pháp là thích tìm đọc chuyện giường chiếu hơn là những sách mở mang trí tuệ. Bởi sách về tư tưởng hay có giá trị thật thường không bán tới 50 000 quyển!

Cả hai quyển đều nhắc tới lãnh tụ. «Cảm ơn cho lúc đó» đã làm cho Tổng thống Phủ phải chới với, Ông Hollande phải công khai lên tiếng đính chánh. Nhưng đính chánh lại làm cho người ta hiều đó là thừa nhận sách nói đúng. «Đèn Cù» đưa thâm cung cộng sản Hà Nội ra ánh sáng. Hà Nội đã lật đật tổ chức triển lãm Cải Cách Ruộng Đất để nói cho dân chúng biết cái hay chỉ cộng sản mới có, đó là cuộc cách mạng long trời lở đất do Hồ Chí Minh vâng lời Staline và Mao-Trạch-Đông ban hành, nhằm tước đoạt bằng bạo lực ruộng đất của người giàu đem chia cho người nghèo để rồi năm sau, đưa người nghèo địa chủ mới vào Hợp tác xã, trở thành công nhơn nông nghiệp . Lao động tùy sức, hưởng thụ tùy khả năng!

«Đèn Cù» phát hành được nửa tháng. Cả trên internet miễn phí. Lời khen nhiều mà lời phê bình cũng có tuy ít. Có độc giả không đồng ý, nêu lên những điểm mà họ cho rằng làm lợi cho cộng sản. Tây có hơn 300 thứ phó-mát nên khó có được sự nhứt trí. Việt nam mình cũng có lắm thứ phở, tái, nạm, gầu, dòn, béo, …nên nếu vấn đề có được sự đồng ý nhưng cách đưa ra không thích hợp hay không bìết cách đưa vấn đề ra thì vẫn khó có được sự đồng thuận.

Vì vậy nhận xét «Đèn Cù» mà làm hài lòng hết mọi người là việc khó làm. Khó hơn việc đánh đổ được cộng sản hà nội hiện nay nữa.

Giờ đây, Cỏ May chỉ dám lướt qua, ghi lại vài nét về con người Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù .

Đèn cù 

Khi nhận được thông tin, vào cuối tháng 8/2014, nhựt báo Người Việt sẽ phát hành quyển sách «Đèn Cù» của Trần Đĩnh. Cỏ May chưa nghe nói tới tên Trần Đĩnh bao giờ nên chưa biết ông này là ai? Làm gì, ở đâu? Còn «Đèn Cù», Cỏ May ngờ ngợ phải chăng Đèn Cù là Đèn Kéo quân của ngày Tết Trung thu người ta treo trước nhà? Còn đèn ông sao, đèn bươm bướm, …mà trẻ con cầm đi vào tối vừa hát « Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi … Đi khắp phố phường …*» có phải là biến thể của Đèn Cù không?

Khi biết chắc Đèn Cù đúng là Đèn Kéo quân, Cỏ May bỗng nhớ tới một giai thoại về Đèn Kéo quân mà ngày nay đọng lại ở chữ Song Hỉ thường thấy trong lễ cưới.

Vào thế kỷ XI đời nhà Tống ở bên Tàu, có một sĩ tử tên Vương An Thạch, 20 tuổi, sau này làm tới Tể tướng, trên đường đi tới Kinh đô dự thi Trạng Nguyên, dừng chơn lại ở một Thị trấn nghỉ qua đêm . Họ Vương trông thấy trước nhà Mã Viên ngoại có treo một lồng đèn, tức Đèn Cù hay Đèn Kéo quân, với một vế câu đối kẻ trên hông đèn « Tẩu mả đăng, đăng tẩu mã, đăng tức, mã đình bộ » (Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi).

Liếc mắt đọc qua, Vương An Thạch buộc miệng «Câu này dể đối mà!». Nói rồi, ông bỏ đi cho kịp trường thi.

Đèn, Đèn Cù hay đèn gì cũng vậy, phải tỏa ánh sáng. Nhưng Đèn Cù hay Đèn Kéo quân chắc chắn không cho ánh sáng mạnh có thể đẩy lùi xa bóng tối hay làm cho người ta trông thầy rỏ ràng, rành mạch người và vật. Dưới ánh sáng của Đèn Cù, người ta chỉ trông thấy lờ mờ mà thôi. Mà Đèn Cù soi rọi vào chuyện củ, chuyện lịch sử, thì người và vật lại chỉ hiện ra mông lung lắm. Ai muốn nhận diện Hồ Chí Minh, có lẽ chỉ thấy được một con người lung linh mà thôi. Nhưng nếu thấy được con người đó, qua Đèn Cù, mặc dầu có mông lung nhưng đúng hắn, con người thật của hắn, thì cũng hay lắm rồi. Người làm nên Đèn Cù như vậy cũng đã đóng góp rất lớn cho vìệc đẩy lui được phần nào cái bóng đêm dày đặc bao trùm lên đất nước Việt Nam từ gần thế kỷ nay.

Hồ chí Minh dưới ánh sáng Đèn Cù 

Một nét mặt thật khá nổi cộm của riêng Hồ Chí Minh và của nhóm lãnh đạo cộng sản Hà Nội được Trần Đĩnh phơi bày ra trong vụ án Bà Nguyễn thị Năm Cát Hanh Long bị Tòa án Cải Cách Ruộng Đất hành quyết. Khi nghe Hoàng Quốc Việt về Hà nội báo cáo vụ xử tử Bà Nguyễn thị Năm, Hồ Chí Minh bảo; «Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức.’ Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này”.

Nhưng trước đó, Hồ Chí Minh viết bài «Địa chủ ác ghê» cổ vũ tiến hành Cải Cách Ruộng Đất phải triệt để đối với địa chủ, dưới tên tác giả ẩn danh CB, tức «Của Bác», đăng trên báo Nhân Dân. Trong đó, Hồ Chí Minh còn bịa chuyện kể ra số nạn nhân của Bà Nguyễn thị Năm để xách động lòng căm thù của nông dân và giải thích lý do tử hình Bà Nguyễn thị Năm là chánh đáng.

Gian ác hơn nữa là cả hai người đầu não Cải Cách Ruộng Đất, Hồ Chí Minh và Trường Chinh, đều tới dự khán phiên xử án Bà Nguyễn thị Năm. Hồ Chí Minh bịt bộ râu cá chốt ngụy trang. Trường Chinh mang kiếng đen che bớt cái mặt.

Khi sửa sai, Hồ Chí Minh khóc và xin lỗi đã phạm những sai lầm. Nhưng theo kế hoạch, Cải Cách Ruộng đất đã hoàn tất.

Về quan hệ mật thiết với Tàu, Trần Đĩnh kể lại rất chi tiết. Lý Ban có mặt sát cánh và trong nội tình cộng sản Việt Nam ngay từ đầu kháng chiến. Tên này là người tàu 100%, có vợ cũng người tàu, làm Hoa kiều vận của đảng cộng sản Hà Nội, vừa là Tỉnh ủy viên Tỉnh Quảng đông của cộng sản tàu. Hắn ta hướng dẫn Hồ Chí Minh qua Tàu lần đầu tiên với tư cách Chủ tịch nước để yết kiến Mao trạch đông sau khi Mao chiếm được lục địa hai tháng. Cùng với Lý Ban có thêm mấy tên tàu nữa, Tắc Vầy, Trương Đức Duy, …với Tàu là vô danh tìểu tốt nhưng sau đó làm Đại sứ Tàu ở Hà nội và « lời lời vào tai Hà Nội đều nặng cân lạng vô cùng».

Hồ Chí Minh qua Tàu là để làm kiểm thảo với Mao trạch-đông, Lưu Thiếu kỳ và Châu Ân lai vì đảng cộng sản Hà Nội được thừa nhận là một Chi bộ của Quốc tế cộng sản. Được làm Chi bộ Quốc tế cộng sản là nhờ Mao giới thiệu Hồ chí Minh cho Staline và Staline phân công cho Mao phụ trách cộng sản Hà Nội. Hệ lụy của sự phân công này đã nằm sâu trong vô thức của đảng viên Việt Nam nên từ đó, Hà Nội luôn luôn ý thức rỏ địa vị của mình là đàn em, kẻ dưới, yên phận đời đời biết ơn Mao Chủ tịch, đã trở thành nền móng văn hóa cộng sản Hà Nội phục tùng Tàu.

Xuân Trường cho biết «bác nhà mình chủ động khẳng định với bác Mao quan hệ giữa hai nước theo phương châm môi hở răng lạnh».

Tôn ti này, chính Hồ Chí Minh tự đặt ra. Và cũng chính Hồ Chí Minh tự nguyện mình chỉ có thể nêu ra được tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao. Hồ Chí Mình đề cao Mao, đem chủ trương phụ thuộc Tàu  làm bài học giáo dục cho đảng viên. Ông thêm vào Bản Điều lệ đảng câu «Lấy tư tưởng Mao trạch-đông làm kim chỉ nam». Còn gởi đìện văn cho đảng cộng sản tàu «Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập đảng cộng sản trung quốc, học tập tư tưởng Mao trạch-đông, tư tưởng lãnh đạo của nhân dân trung quốc».

Từ 1951, trên báo Nhân Dân, tuần nào cũng có vài mẫu chuyện của CB (Của Bác) phổ biến kinh nghiệm mọi mặt của Tàu. Đảng viên hảnh diện làm đàn em của Liên-xô, Anh Cả, và Tàu, Anh Hai. Sau đó, Việt Nam sẽ làm Anh Ba với các nước cộng sản ở Phi châu và Nam Mỹ.

Trần Đĩnh nói ra vài chi tiết rất thú vị. Từ tên Đảng Cộng sản Đông dương, Đảng Lao động, đều do Staline đặt cho. Mới thấy ở con người Hồ chí Minh, không có cái gì thật tình là của hắn ta, do chính hắn sáng tạo cả, ngoại trừ tình thần tuân phục và bản tánh gian ác cùng cực! Có thể nói trong đời, kẻ đánh cha, chém chú, lắt vú chị dâu, cạo đầu bà thím, cũng phải bái Hồ Chí Minh làm sư phụ!

Nhắc lại 2 tên tàu Lý Ban, sau này có lúc làm Chánh án, quyền uy tột bực, thủ tiêu không biết bao nhiêu đảng viên hà nội và Trương Đức Duy là người thu xếp hướng dẩn Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Nguyễn văn Linh, Phạm văn Đồng tham dự Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Hà Nội lệ thuộc Bắc kinh không phải ở ngày nay, mà đã bắt đầu từ ngày Hồ Chí Minh tự tuyên bố Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Và mối quan hệ «sông liền sông, núi lìền núi» đã ngấm sâu vào tiềm thức của cộng sản Hà Nội. Họ không có ý thức phân biệt Việt Nam là một nước riêng biệt, người Việt Nam là một dân tộc khác hơn người tàu. Nên trong suy nghĩ của người cộng sản Hà Nội không có vấn đề mất nước cho Tàu. Chỉ có những người Việt Nam không cộng sản hay không còn cộng sản nữa mới thấy đất nước bị mất.

Đọc Đèn Cù sẽ gặp nhiều chi tiết về ngôn ngữ lạ hoắc mà Cỏ May vì lúc nhỏ ham chơi, không chịu học kỹ, nên đành ngớ ra. Số những chữ lạ này không ít.

Và khó quên giai thoại về câu đối «Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi» . Và vế đối «Cờ bay hổ, hổ bay cờ, cờ cuộn lại, hổ biến mất».

Không biét lúc nào Đèn Cù tắt để quân cộng sản ngừng đi, đi bán nước, đi cướp giựt tài sản của nhân dân. Và ngày nào lá cờ vẽ hình con hổ bị gió cuộn lại, hổ biến mất? Đảng cộng sản ác ôn sẽ biến mất!

Thi đậu Trạng nguyên và đối được câu đối, Vương An Thạch được vợ. Hai cái vui song song. Song Hỉ!

Hết cộng sản, Việt Nam sẽ có cả ngàn cái vui. Vạn cái Vui. Vạn Hỉ!

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

* Địa Chủ Ác Ghê – tác giả C.B,  nguồn   hoangtran204.wordpress.com/cac-van-ban-tai-lieu-lich-su/

* Để tôn trọng tác giả và chứng tỏ sự sòng phẳng, những ai đọc cuốn Đèn Cù của Trần Đỉnh, dù là đọc trên mạng, cũng nên tìm tìm cách trả tiền sách cho tác giả theo giá sách hoặc theo khả năng. 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Sự tàn bạo của công an Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Nạn đàn áp sách nhiễu trầm trọng hơn nhiều so với việc bỏ tù những người viết blog

.

Helen Clark/Asia Sentinel
Lê Quốc Tuấn (dịch) 

.

 

 

 

Đúng vào thời điểm bất lợi cho Việt Nam khi đang tìm kiếm một thỏa thuận với Mỹ về việc cung cấp vũ khí, bản báo cáo đầy đủ về sự tàn bạo của công an và nỗi bất an của công chúng do tổ chức Human Rights Watch ở New York phát hành, đã soi chiếu vào các lạm dụng sách nhiễu “rộng rãi” trong hệ thống Tư pháp.

Bản báo cáo cho biết có ít nhất là 24 trường hợp tử vong và vô số trường hợp đánh đập khi bị công an giam giữ từ năm 2010 và năm 2014. Trong đó, có 14 trường hợp tử vong mà cơ quan hữu trách nhận trách nhiệm,10 trường hợp đổ lỗi cho bệnh tất hoặc tự sát. Mặc dù không nói chuyện trược tiếp được với các nạn nhân vì sợ họ sẽ gánh chịu các hậu quả khác, Human Rights Watch nói rằng đây là cuộc điều tra quan trọng đầu tiên về loại thông tin này.

Trong tháng Tám, TNS Mỹ John McCain và Sheldon Whitehouse tuyên bố sẽ thúc đẩy Quốc hội Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm về việc bán vũ khí sát thương cho quốc gia Đông Nam Á này. Các tổ chức vận động nhân quyền khác dự kiến sẽ gây áp lực lên cả Việt Nam và Mỹ để ép buộc Hà Nội phải thay đổi cách cư xử với giới bất đồng chính kiến và thường dân. Việc công khai báo cáo của Human Rights Watch đã giúp phần hiệu quả vào các áp lực này.

Rất nhiều thông tin từ bản báo cáo lấy nguồn từ phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát, bản báo cáo cũng ghi nhận là các nhà báo và báo chí cũng đối diện với những khó khan vì tính chất nhạy cảm của chủ đề.

Hà Nội thường xuyên bị tấn công về các thánh tích nhân quyền nghèo nàn. Kể từ khi Myanmar tự do hóa, một số nhà bình luận nước ngoài cho rằng Việt Nam hiện nay là nơi tồi tệ nhất trong lĩnh vực nhân quyền.

Vấn đề nhân quyền luôn được nêu ra trong hầu hết các chuyến viếng thăm của viên chức Mỹ, trọng tâm là các quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin và việc bắt giữ những người bất đồng chính kiến. Các quyền khác chỉ thi thoảng được đề cập đến, ví dụ như quyền không thể bị công an đánh chết khi vi phạm nhẹ về giao thông như lái xe gắn máy không có mũ bảo hiểm.

Nạn công an tham nhũng, tàn bạo và kém hiệu quả là sự thật lập đi lập lại, đôi khi còn tốn kém và thậm chí đẫm máu đối với đại đa số công dân Việt Nam. Bản báo cáo năm 2013 của Bộ Ngoại giao Mỹ về nhân quyền có viết: “Các lạm dụng sách nhiểu nhân quyền cụ thể gồm những việc như công an cảnh sát tiếp tục ngược đãi nghi phạm… bao gồm cả việc sử dụng sức mạnh gây chết người cũng như các bản án tù khắc nghiệt. .. Ảnh hưởng chính trị, nạn tham nhũng và thiếu hiệu quả tiếp tục làm sai lệch đáng kể hệ thống tư pháp.”

Giới bất đồng chính kiến và các blogger thường nêu các vấn đề như thế. Tuy nhiên đối với những người ở bên ngoài đang lên án thành tích nhân quyền của chế độ, quan tâm của họ về các vấn đề ấy thường đứng sau việc họ bị cầm tù. Cựu đảng viên Đảng Cộng sản Vi Đức Hồi ở Lạng Sơn đã tiểu thuyết hoá một vụ bắt giữ, sau đó là việc đánh đập và cái chết của anh Nguyễn Văn Khương 21 tuổi ở Bắc Giang, Hà Nội trong năm 2010. Sự việc anh Nguyễn Văn Khương không phải là một hành vi chống đối liều lĩnh, báo chí truyền thông địa phương đã đưa tin về cái chết của anh và đã có một cuộc phản đối lớn trong đám tang của anh. Vì việc này và những việc khác nữa, ông Hồi bị bản án tám năm tù, sau đó giảm xuống năm năm.

Cái chết gây phẫn nộ của anh Khương không phải là duy nhất trong các tiêu đề trên báo chí chính thống của Việt Nam. Năm 2011, Trịnh Xuân Tùng, 53 tuổi đã dính líu vào một cuộc cãi nhau ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội sau khi công an tìm cách phạt người tài xế xe ôm vì để hành khách không đội mũ bảo hiểm.

Vụ cãi nhau nhanh chóng trở nên nghiêm trọng, khi con gái vào thăm trong trại giam, ông Tùng than là mình bị tê liệt và tám ngày sau thì ông qua đời. Trịnh Kim Tiến, con gái ông đã phản đối và treo biểu ngữ bên ngoài cửa hàng của gia đình để phản đối cho sự vô tội của cha mình và sau đó cô thực hiện cuộc phản dối tiếp tục trên trực tuyến.

Chỉ riêng trong năm qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã báo cáo về chín cái chết trong tù. Trong hầu hết các vụ án, nếu công an có bị truy tố thì thường không phải là tội sát nhân, một tội trọng, mà với tội danh nhẹ để được hưởng án nhẹ hơn.

Một vụ việc khác về quyền chính trị, cưỡng chế và cướp đất, từng khiến giới viết blog, các công dân – và cả các viên chức cao cấp nhất của chính phủ khi ấy – phải quan tâm. Đầu năm 2012 Đoàn Văn Vươn, một nông dân nuôi cá, bằng vụ khí tự chế, đã đẩy lùi một lực lượng công an xông vào đất trại trục xuất ông và gia đình.

Có đến hơn 100 công an trong vụ việc và dù ông Vươn và thân nhân phải ra hầu toà, (các loại súng cầm tay không được công nhận ở VN) nhưng điểm nổi bật ở đây chính là có việc chiếm đoạt đất đai và tham nhũng ở trong nước và các lực lượng công an, đã và được phép thực thi việc chiếm đoạt bất hợp pháp ấy.

Công chúng đông đảo ủng hộ ông Vươn, gây lo lắng đến mức Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải ra lệnh điều tra, cuối cùng đã khám phá ra nhiều hành vi bất thường trong vụ cưỡng chế đất. Một số quan chức địa phương đã bị trừng phạt, nhưng số cá bị thiệt hại khi công an đến san bằng nhà đất của ông Vươn không hề được bồi thường.

Trong một cuộc biểu tình khác về đất đai ở ngoại thành Hà Nội vài tháng sau đó, 1.000 dân làng đã đối mặt với khoảng 3.000 cảnh sát cơ động, nổi tiếng với quân phục màu ô liu đậm của họ cùng trang bị thiết bị chống bạo động và súng AK47. Các cảnh quay nhanh chóng tải lên YouTube và gây phẫn nộ tương tự. Chính phủ cho rằng tất cả đã bị các “thế lực thù địch” (một mô tả gán ghép) dàn dựng nên, điều này cho thấy các nhà hoạt động dân chủ, có thể truy cập đáng kể vào nhiều nguồn thông tin và tốt hơn so với các bộ phận quay phim chính thức của nhà nước.

Tối thiểu là hai trường hợp này cũng đã cho thấy sự liên can của những người rõ ràng là đại diện của nhà nước, ngay cả khi phần lớn họ vẫn còn vô trách nhiệm. Đó là những thanh niên không (hoặc đôi khi hoàn toàn không) chính thức làm việc cho nhà nước, một loại “lực lượng dân phòng” được xử dụng để đe dọa người nông dân canh tác, những ai không chịu giao nộp đất đai hoặc để đánh phá các cuộc biểu tình về đất đai, đòi hỏi lương bổng của công nhân.

Vào tháng Tám năm nay chính phủ đã làm một số việc để thay đổi. HRW và các tổ chức khác đã thận trọng hoan nghênh Thông tư 28, do Bộ Công an ban hành, có tiêu đề là “Quy định về công tác Điều tra Hình sự trong Công an Nhân dân”. Thông tư này được xem là một cải thiện nhưng vẫn còn đôi chút chưa triệt để với những lỗ hổng và bất thường (như việc phân loại người bị tình nghi là tội phạm). Thông tư cấm “việc bức cung. .. hoặc sử dụng các biện pháp trừng phạt”.

Một nguồn chuyên môn, ẩn danh tuyệt đối, từng nói chuyện với Asia Sentinel đã cho biết “Việc tra tấn là tiêu chuẩn hành xử của công an khi những người trẻ tuổi bị bắt vì các tội phạm có thực. Công an thường đánh đập các bị cáo để “khuất phục” và tất cả các đồn công an đều có giữ các vũ khí bằng điện để dọa nạt tù nhân khiến họ phải thú tội – ngay cả dù không làm gì sai trái.”

Tuy nhiên, nguồn tin ấy cũng ghi nhận rằng mặc dù có bạo lực trên diện rộng, Hà Nội đã cho thấy ý nguyện chính trị muốn cải thiện tình hình mặc dù đó là từ “các viên cao cấp của chính phủ”, những người muốn nhìn thấy sự thay đổi.

Dù trong một hệ thống chính trị thứ bậc như ở Việt Nam, các mệnh lệnh từ trên thường đi xuống dưới rất nhanh chóng, tuy nhiên việc thực hiện ở hạ tầng, tại các thành phố nhỏ có thể mất thời gian. Thường thì, như HRW ghi nhận, các công an thấp nhất dưới phường xã, là các thủ phạm và cần phải được huấn luyện đào tạo nhất.

Công dân Việt Nam cùng có chung nỗi sợ hãi phổ biến khi bị công an chú ý. Tất nhiên giới bất đồng chính kiến là đặc biệt rủi ro nhất nhưng hầu như bất cứ ai đi quá giới hạn đều có thể bị tổn thương. Những câu chuyện về sự tàn bạo và tống tiền của công an được lan truyền rộng rãi, và trong những năm gần đây đã nổi bật trên các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát và trở thành một thứ dịch bệnh trong các blog và các bài viết trên phương tiện truyền thông xã hội.

Chính phủ đã phản đối bản báo cáo của HRW trên báo chí anh ngữ của Bộ Ngoại giao. Điều này là không có gì ngạc nhiên; một bản báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt LHQ về tự do tôn giáo tháng trước cũng bị đối xử tương tự. Tuy nhiên, các bản án nghiêm khắc đã được ban ra, một trưởng công an vừa nhận án tù 17 năm trong khi các cấp thấp hơn của ông bị từ 6 đến 12 năm.

Ông Trương Trọng Nghĩa, phó Chủ tịch hội Luật sư Việt Nam nói với phiên điều trần của Ủy ban Tư pháp Quốc hội, “nạn tra tấn vẫn còn tồn tại; [những người điều tra] đối xử với nghi phạm như kẻ thù của họ…Phán quyết sai trái, đe dọa và tra tấn gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đến bản thân chế độ. Con cháu [nạn nhân] sẽ quy trách nhiệm cho chúng ta.”

Bản báo cáo của HRW có hũu ích không ? Giới chuyên môn cho rằng có: “Họ (chính phủ VN) sẽ rất không vui vì bản báo cáo này, nhưng họ sẽ phải lưu ý đến vấn đề”

Tác giả Helen Clark là một cây bút tự do ở Úc, người đã trải qua nhiều thời gian ở VN để nghiên cứu về tình trạng nhân quyền ở đấy.

————–

Công An Ác Là Do Đảng

20/09/2014

Vi Anh 

Ngày 16/9/2014 tổ chức Theo dõi Nhân Quyền quốc tế Human Rights Watch (HRW) mở họp báo tại Câu lạc bộ Ký giả Nước ngoài ở Bangkok (Thái Lan) để công bố phúc trình đầu tiên về tình trạng tra tấn, bạo hành trong ngành công an Việt Nam.

Trong thư mời truyền thông quốc tế, HRW nhấn mạnh, “Bất an công cộng: Những cái chết trong đồn công an và sự tàn bạo của công an Việt Nam”. Phúc trình ghi chép những vụ sát hại và những cái chết không được giải thích trong đồn công an; các trường hợp được giải thích là tự tử đáng ngờ khi bị bắt về đồn công an; và nạn công an tra tấn, đánh đập người bị bắt giữ hay các nghi can, kể cả trẻ em.

Ô. Phil Robertson Phó Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á của HRW, người mở cuộc họp báo nói, HRW đã mất gần 4 năm (từ tháng 08/2010 đến tháng 07/2014) để thu thập dữ liệu, bằng chứng để đúc kết bản phúc trình. Phúc trình cho biết “Nạn bạo hành trong tù xảy ra khắp 44 trên tổng số 58 tỉnh của Việt Nam và ở cả 5 thành phố lớn. Con số những người được cho là chết vì bệnh tật trong khi giam giữ lớn đến mức đáng ngạc nhiên, dù nhiều người trong số họ đang trẻ khỏe, trong độ tuổi 20 và 30. Tình trạng bị chấn thương trong thời gian bị công an giam giữ cũng thường xuyên được ghi nhận ở khắp các địa phương trong cả nước.”

HRW nhận định, nguyên nhân do phía công an đưa ra để giải thích những cái chết của những người bị giam thường khiến người ta nghi ngờ và có cảm tưởng về sự bao che có hệ thống của Đảng Nhà Nước CSVN. Phúc trình nhận thấy báo chí trong nước đưa tin về những sự vụ này “một cách không đồng đều, gây ra những mối quan ngại nghiêm trọng về tác động tiêu cực của tình trạng báo chí bị chính quyền kiểm soát.” Chính công an cho biết là hàng chục người, trước đó khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần, đã tự tử bằng cách treo cổ hoặc bằng những cách khác. HRW đề nghị Việt Nam “nên để cho báo chí làm công việc điều tra và đưa tin về những vụ lạm quyền của chính quyền”. Ông Robertson cho rằng: “Báo chí độc lập có thể giúp đưa ra ánh sáng những vụ việc dễ bị ỉm đi.” Một mặt, HRW kêu gọi nhà cầm quyền VN khẩn cấp đưa ra chính sách không dung thứ đối với hành vi bạo hành của công an, huấn luyện tốt hơn cho công an ở tất cả các cấp, đặc biệt là cấp xã, và lắp đặt hệ thống máy ghi hình ở những nơi thẩm vấn và tạm giam. Mặt khác, HRW kêu gọi nhà cầm quyền cũng cần tạo điều kiện tăng cường vai trò của trợ giúp pháp lý đối với những nghi can và người bị tạm giữ, đồng thời bảo đảm tự do ngôn luận của nhà báo và trên mạng internet. HRW cũng đề nghị Việt Nam thành lập một ủy ban độc lập để xem xét và điều tra tất cả các khiếu tố về bạo hành của công an một cách nhanh chóng, vô tư.

Hầu hết những người theo dỏi thời cuộc và người dân VN lâu nay rất thướng thấy công an của Đảng Nhà Nước CSVN càng ngày càng tàn ác với dân, người dân nào vô phước lọt vào tay công an thì kể như vào cửa tử, từ bị thương tới chết. Trong khi đó Đảng Nhà Nước cũng như toà án của Đảng Nhà Nước không có biện pháp sửa chữa, trừng trị nào tương ứng, trái lại im lặng như thị thiềng cho công an CSVN ngang tàn, độc ác với dân. Mũi vại lái phải chịu đòn, người dân VN nghĩ công an tàn ác với dân là – do Đảng, vì Đảng CSVN.

Công an CS đích thân đánh đập, bắn giết dân bằng nhiều thứ vũ khí như má trắc, súng điện, súng đạn, mà công an còn dùng du đãng, côn đồ người Việt trong nước gọi là “xã hội đen” để hành hung, sách nhiễu, làm nhục dân chúng, nhất là những nhà bất đồng chính kiến. Theo nhận xét của Bộ Ngoại giao Mỹ ghi nhận trong phúc trình Nhân Quyền năm 2010, hành động trái luật, trái đạo lý đó của công an,Đảng Nhà Nước thường bỏ qua, không trừng trị thích đáng.

Sở dĩ công an CS ngang tàn, ác độc với dân như vậy – là do Đảng CSVN. Đảng đã thuần hoá họ với nhiều đặc quyền đặc lợi, quá đầy đủ, sung sướng, và mặc thị dành cho họ một chỗ đứng cao hơn pháp luật, cho họ sữ dụng mọi phương tiện công quyền. Bù vào đó công an phải làm công cụ riêng cho Đảng CSVN, với nhiệm vụ “chủ yếu” là bảo vệ Đảng Cộng sản với bất cứ giá nào.

Chính công an tự hào, hãnh diện về nhiệm vụ và hành động tàn ác này. Nên gần đây nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập đảng CSVN, công an đưa ra khẩu hiệu, treo trước Bộ Công an số 44, Yết Kiêu ở thủ đô Hà nội, “Công an nhân dân chỉ biết còn Đảng, còn mình”.

Mà Đảng CSVN thì lúc này hơn lúc nào hết thấy quyền bính của mình bị người dân thách thức từ hình thức đến nội dung, tận gốc rễ, từ bắc chí nam. Từ khi mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào và chuyển sang kinh tế thị trường, dân bớt cùng khổ, có ăn hơn muốn có được đối xử có nhân vị hơn, muốn “đổi đời” hơn đúng theo qui luật cách mạng dân quyền. Cách mạng thường xảy ra khi người dân khấm khá hơn, muốn tốt đẹp hơn nữa; chớ cách mạng ít xảy ra khi người dân cùng khổ.

Người dân Việt bây giờ hầu hết thành “dân oan”. Dân oan không chỉ trong nông dân, công nhân, thị dân bị CS dùng thủ tục qui hoạch trưng thu đất của dân trả rẻ mạc như cướp của dân rồi lấy đó bán cho các công ty hay làm vốn hùn với công ty ngoại quốc giá mắc hơn cả trăm lần. “Dân oan” bây giờ là toàn dân, ai cũng có thể bị công an sách nhiễu, đánh đập, làm tiền, vu oan giá hoạ.

Đảng CS cố bám lấy quyền hành độc tài đảng trị toàn diện của Đảng trên dân chúng và xã hội VN. Công an là cánh tay mặt của Đảng để làm việc đó, biến chế độ CS không phải thành cảnh sát trị mà siêu cảnh sát trị. Do đó công an, cảnh sát càng hung hăng bảo vệ đảng, tàn ác với dân, Đảng càng bao che cho công an cảnh sát bằng bất hành động. Công an cảnh sát được thế của Đảng càng lộng quyền, lộng hành, phi pháp. Đảng mặc thị cho công an dùng côn đồ tiếp tay trấn áp dân. Đảng bao che cho công an. Hầu hết những trường hợp công an bạo hành tàn nhẫn được ghi nhận, không có tin tức nào thông báo việc một nhân viên cảnh sát nào bị tòa án kết tội vì hành động của họ. HRW ghi nhận hầu hết các trường hợp dân thưa gởi công an, cảnh sát, đều “xử lý nội bộ” thôi. Nên vô phúc ai sa vào tay công an là “ từ bị thương tới chết”, kể cả người có học, luật sư, bác sĩ, nhà báo dân đen, tứ thành thị, chí nông thôn, suốt từ bắc chí nam, qua trung, lên cao nguyên.

Phúc trình của HRW là một báo động toàn cầu về tệ trạng vi phạm nhân quyền của VNCS. Tệ trạng công an CSVN ác với dân, làm chết hay bị thương người dân ngay trong đồn công an, phúc trình về Nhân Quyền trên Thế giới của Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đã nhiều lần lên tiếng./. (Vi Anh)

————–

 

HRW công bố phúc trình đầu tiên về nạn công an VN bạo hành

Human Rights Watch nói phúc trình sắp công bố phơi bày hàng loạt các vi phạm của công an Việt Nam mà Hà Nội muốn che đậy.

Human Rights Watch nói phúc trình sắp công bố phơi bày hàng loạt các vi phạm của công an Việt Nam mà Hà Nội muốn che đậy.

—-

Trà Mi-VOA

15.09.2014

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền quốc tế Human Rights Watch sẽ mở họp báo công bố phúc trình mới về tình trạng tra tấn, bạo hành trong ngành công an Việt Nam.

Phó Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch, diễn giả chính của buổi họp báo, cho hay sự kiện này được tổ chức vào sáng ngày 16/9 tại Câu lạc bộ Ký giả Nước ngoài ở Bangkok, Thái Lan. Ông Phil Robertson nói:

“Ngày mai diễn ra cuộc họp báo của chúng tôi trình bày những ghi nhận trong báo cáo về các vi phạm nhân quyền của công an Việt Nam. Đây là phúc trình đầu tiên của Human Rights Watch phản ánh về nạn tra tấn bạo hành trong ngành công an Việt Nam.”

Ông Robertson cho biết thêm Human Rights Watch đã mất gần 2 năm để thu thập dữ liệu, bằng chứng để đúc kết bản phúc trình.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói các trường hợp thường dân bị hành hung, sát hại ngay trong đồn công an đã trở nên quá phổ biến đến nỗi ngay cả báo chí kiểm duyệt gắt gao của nhà nước cũng đã loan tải các thông tin này.

Tuy nhiên, vẫn theo Human Rights Watch, thế giới bên ngoài vẫn chưa ghi nhận đúng mức độ của vấn nạn đang lan tràn này và báo cáo sắp công bố của tổ chức sẽ hé lộ tình trạng khủng hoảng nhân quyền còn bị che dấu, vốn gây tác hại nghiêm trọng đến đời sống thường nhật của người dân Việt Nam.

Human Rights Watch nói phúc trình sắp công bố phơi bày hàng loạt các vi phạm của công an Việt Nam mà nhà cầm quyền Hà Nội muốn che đậy.

Thư mời Human Rights Watch gửi tới giới truyền thông quốc tế nêu rõ báo cáo nhan đề ‘Bất an công cộng: Những cái chết trong đồn công an và sự tàn bạo của công an Việt Nam’ ghi chép những vụ sát hại và những cái chết không được giải thích trong đồn công an; các trường hợp được giải thích là ‘tự tử’ đáng ngờ khi bị bắt về đồn công an; và nạn công an tra tấn, đánh đập người bị bắt giữ hay các nghi can, kể cả trẻ em.

Báo cáo của Human Rights Watch cho thấy nạn nhân bị công an bạo hành đa số là thường dân bị tố cáo vi phạm các tội vặt vãnh như tranh chấp trong gia đình hay vi phạm luật giao thông.

Phúc trình của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cũng đề ra hàng loạt các khuyến nghị cải cách để giải quyết các vi phạm không bị xử lý ngày càng lan tràn trong ngành công an Việt Nam, trong đó có đề nghị thành lập các tổ chức độc lập chuyên thu thập dữ kiện và lập hồ sơ khiếu nại vi phạm của công an.

HRW công bố phúc trình đầu tiên về nạn công an VN bạo hành
 
  • Tải    (để nghe phúc trình của HRW)

Việt Nam ký Công ước về Chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc từ tháng 11 năm ngoái.

Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên hiệp quốc, nói việc ký Công ước thể hiện cam kết mạnh mẽ của Nhà nước Việt Nam chống lại mọi hành vi tra tấn và đối xử tàn bạo, bảo đảm ngày càng tốt hơn tất cả các quyền cơ bản của con người.

Việc luật hóa Công ước này cũng như các biện pháp xử lý vi phạm trên thực tế vẫn còn mờ nhạt trong khi báo cáo về các trường hợp bị hành hung hay bị chết oan dưới tay công an không ngừng gia tăng.

Posted in Công An | Leave a Comment »

►Phận nghèo lấy chồng Hàn Quốc

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Hoài Vũ, phóng viên RFA
20-9-2014

Co-dau-Viet-305.jpg

Cô dâu Thanh Thảo cùng chồng và con trai ba tháng tuổi.

Hình do Cô Thảo cung cấp

Trong thời đại phụ nữ được tự do tìm bạn đời theo ý muốn, nhiều cô gái Việt Nam phải cất bước ra đi lấy chồng ngoại quốc dù một chữ ngoại ngữ bẻ đôi cũng không biết. Có người may mắn tìm được người chồng hiền lành, tử tế, có người không may tới mức bị chồng đánh chết. Hoài Vũ tìm hiểu các cuộc hôn nhân vợ Việt chồng Hàn trong tạp chí phụ nữ tuần này.

Nghỉ học từ năm lớp 7, Thanh Thảo bỏ nhà ở Kiên Giang đến Buôn Mê Thuột làm việc. Năm 24 tuổi, cô giấu gia đình, đi lên Sài Gòn tìm chồng Hàn Quốc. Cô chỉ nói với bố mẹ về quyết định cưới chồng vào buổi sáng của ngày cưới:

“Ba mẹ em khóc nhiều lắm. Em thì nói không có gì phải khóc cả. Mẹ em bảo đâu có đến nỗi gì mà phải qua tới bên đó. Em bảo ở đâu mà chẳng có chồng nên mẹ đừng có lo.”

Thấm thoắt đã hai năm trôi qua, Thảo trải qua đủ chuyện chìm nổi. Giờ cô định cư ở thành phố Taegu, miền đông nam Hàn Quốc, với người chồng hơn cô 18 tuổi và cậu con trai vừa gần ba tháng tuổi.

Thảo là một trong số hàng chục nghìn phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc. Kể từ năm 2004 tới năm 2009, có tới 40.000 phụ nữ Việt sang đất nước này làm dâu. Con số dâu Việt ở Hàn được cho là cao nhất trong số các phụ nữ xuất thân từ các nước Đông Nam Á.

Cuộc trao đổi tiền-tình

Các cô dâu Việt đa phần trẻ tuổi, sinh ra ở các vùng quê nghèo, còn chồng của họ đều ít nhất 40 tuổi, và làm nghề lao động chân tay. Theo các thống kê từ Hàn Quốc, trong năm 2010, hơn nửa số đàn ông trung niên vẫn còn độc thân, phần lớn là những anh trai nghèo. Thanh Thảo cho biết:

Người ta lớn tuổi, người ta nghèo, người ta không có tiền nên mới về Việt Nam để cưới vợ. Nếu họ giàu, họ đã cưới vợ Hàn Quốc, chứ cưới vợ Việt Nam làm gì. Người ta cưới mình chẳng qua là để duy trì nòi giống thôi.”

Thảo cho biết kể từ khi biết sinh con trai, gia đình đối xử với cô tốt hơn trước:

Sinh con gái thì không được như vậy đâu vì chồng em là con trưởng. Nhà chồng em có 5 anh chị em, trong đó có 2 anh em trai. Cậu út không được thờ cha mẹ, tổ tiên.”

Phần lớn các cô dâu Việt sang Hàn Quốc mong dành dụm được tiền để gửi về cho gia đình. Theo số liệu năm 2010, trung bình các cô dâu này gửi về Việt Nam khoảng 3.000 USD một năm, gấp ba thu nhập trung bình đầu người trong nước khi đó.

Thảo cũng cho hay khi chưa sinh con, cô đi làm 12 tiếng mỗi ngày ở một công ty lắp ráp xe hơi. Mỗi tháng cô gửi về nhà 1.200 đôla, và giữ lại chỉ 300 đôla để tiêu vặt.

Những cô dâu mới, chưa đi làm thì không được như vậy. Phần lớn họ chỉ dành dụm từ số tiền mà chồng cho để chi tiêu hàng ngày. Một cô dâu mới đến Hàn Quốc được 5 tháng cho biết cô dành dụm được khoảng 200 – 300 đôla để gửi về cho gia đình.

Thân gái 12 bến nước

Chân ướt chân ráo sang Hàn Quốc, cô dâu nào cũng gặp đủ khó khăn giống nhau như không hiểu tiếng, không nói chuyện được với chồng, bó buộc trong cuộc sống do chưa được đi làm. Cô Thanh Thảo còn bị cảnh trớ trêu là chồng của cô đổ bệnh sau khi vợ sang đoàn tụ mới được có hai tháng:

“Chồng em bị bệnh đúng mùa tuyết rơi nên cũng buồn lắm. Mẹ chồng đổ lỗi cho em là cưới em mất nhiều tiền quá nên chồng em đổ bệnh. Mình qua đây vì đồng tiền, vì cha mẹ. Bà mẹ chồng nói thì em chỉ biết khóc thôi.”

Gia đình chồng của Thảo gây sức ép quá nhiều, khiến cô phẫn uất, bỏ ra ngoài ở nhờ một người bạn ở một thành phố khác. Sau gần một tháng, chồng cô đến tận nơi đón cô về nhà. Cô nói:

“Cuộc sống của dâu Hàn thì ai cũng khổ hết, không ai có cuộc sống màu hồng đâu.”

Ngoài những mâu thuẫn bình thường do không hiểu ngôn ngữ, nhiều cô dâu Việt cũng cảm thấy bị chính người dân Hàn Quốc phân biệt đối xử, khiến cuộc sống của họ càng thêm ngột ngạt. Thanh Thảo chia sẻ:

“Đa phần là 70% người ta không thích mình chị ạ. Người ta mà không thích mình thì dễ biết lắm: Nhìn ánh mắt, cử chỉ là biết mà. Em cũng cảm thấy hơi ngột ngạt một chút. Em nghĩ cô dâu nào cũng là cô dâu, có khổ thì họ mới qua đây. Họ cũng đi lao động chứ có nằm ngửa mà xin tiền đâu.”

Minh Thu, 29 tuổi, lấy chồng được 5 tháng nay. Cô đã có một con trai với người chồng cũ. Anh chồng của cô qua đời hai năm trước sau tai nạn khiến anh phải nằm liệt giường cả năm trời. Tiền thuốc trị bệnh cho chồng cũ quá lớn khiến Thu và gia đình chồng lâm vào cảnh nợ nần chồng chất.

Thu sang Hàn Quốc với hy vọng đổi đời. Tuy nhiên, người chồng 47 tuổi dù bỏ ra nhiều tiền để cưới cô qua môi giới, không hề đoái hoài đến vợ vì đã có một cô bồ ở bên ngoài. Chồng cô lại rất gia trưởng, thỉnh thoảng quát cô mà mắt “trợn trừng lên” khiến cô “rùng rợn hết cả người”. Minh Thu cho biết:

“Nó coi em như người hầu. Ví dụ như 4 hôm trước, nó bắt em phải lấy khăn lau người cho nó. Mà nó đi chơi về chứ có phải đi làm đâu.”

Thu cũng đã nghĩ tới chuyện bỏ ra ngoài sinh sống và làm việc bất hợp pháp. Tuy nhiên, cô nói rằng cô không thể sống chui lủi ở đất khách quê người. Vì vậy, cô cắn răng chịu đựng để học tiếng Hàn, sau một thời gian sẽ thi quốc tịch và làm việc ở Hàn Quốc. Cô nói sau này nếu có quốc tịch, nếu chồng tốt thì cô sẽ ở lại với anh, còn không cô sẽ ly dị.

Chốn nương náu xa nhà

Nhân viên hỗ trợ cho cô dâu Việt Nam tại Trung tâm Hỗ trợ người nhập cư tỉnh An San. Photo courtesy of PNO.

Dự tính tới năm 2020, các cuộc hôn nhân đa văn hoá ở Hàn Quốc sẽ lên tới 1,5 triệu tới năm 2020, trên tổng dân số 50 triệu người ở quốc gia vốn tự hào với truyền thống đồng chủng. Chính phủ Hàn Quốc mở ra 200 trung tâm gia đình giúp các cặp vợ chồng như thế này. Mục đích là giúp đỡ những cô dâu mới hoà nhập vào đời sống ở Hàn hay hoà giải mâu thuẫn giữa con dâu nước ngoài và gia đình nhà chồng.

Hầu hết các cô dâu Việt khi mới sang đất Hàn đều phải nhờ tới những người phiên dịch tại trung tâm gia đình đa văn hoá. Phương, 25 tuổi, làm phiên dịch viên cho trung tâm ở thành phố Taegu cũng gần hai năm nay. Phương cho hay trung bình mỗi tuần cô cũng đứng ra giúp đỡ cho khoảng 15 vụ hiểu lầm giữa các cặp vợ chồng Việt – Hàn.

Chẳng hạn như trường hợp một cô dâu khi vừa mới sang liên tục gửi tiền về nhà bố mẹ đẻ. Phương giải thích cho cả hai vợ chồng hiểu về hoàn cảnh của hai bên, đồng thời đưa ra một giải pháp là chỉ gửi tiền về Việt Nam trong một thời gian nhất định. Cô khuyên người vợ cũng phải biết chăm lo cho gia đình bên này, chứ không chỉ lo cho nhà vợ.

Phương cho hay trung tâm này cũng được coi như “nhà ngoại” của các cô dâu Việt. Trung tâm có nhà tạm lánh, mỗi khi vợ chồng cơm không lành, canh không ngọt, các cô dâu Việt có chỗ nương náu. Phương kể về trường hợp một cô dâu người miền Tây tới tạm lánh vì bị chồng đánh:

“Hồi đó cô ấy đến nhà tạm lánh. Bố mẹ chồng cũng lên đây, cũng nhận lỗi. Con của cô ấy lúc đó có sáu tháng. Bây giờ thì sống không có chuyện gì cả.”

Phương cho biết trung tâm của cô giúp đỡ cho khoảng 1.000 phụ nữ ngoại lấy chồng Hàn Quốc, trong số đó người Việt là nhiều nhất và cũng kém cỏi nhất:

“Mình kém nhiều vì trình độ kém, nhiều người còn chưa học xong cấp 1. Thành ra sang bên nước tư bản này, nơi mà trình độ phổ cập giáo dục là cấp 3, phụ nữ mình hoà nhập chậm, nắm bắt thông tin kém. Phụ nữ Việt Nam mình còn nhiều thiệt thòi lắm.”

Phương nói cũng có người biết phấn đấu, học hành chăm chỉ và kiếm được việc làm ổn định. Bản thân Phương cũng lấy chồng Hàn Quốc 4 năm trước. Khi đó, cô đang học ngành kế toán ở Đại học Công nghiệp Hà Nội. Mẹ cô đã ở Hàn Quốc cả chục năm nay vì thế cô cũng muốn sang Hàn sinh sống.

Sau hai năm học tiếng, cô tự tìm hiểu về các tiêu chuẩn cho nghề phiên dịch và thi đỗ vào trung tâm hỗ trợ gia đình đa văn hoá của quận. Cô cũng chuẩn bị học thêm về ngành xã hội học, mong có việc tốt hơn. Chồng Phương làm nghề thiết kế cửa nội thất. Bản thân cô được gia đình chồng hết sức coi trọng. Cô chia sẻ:

“Nhà chồng đối xử với em như một người con dâu Hàn thôi. Kinh tế thì em quản lý, mọi việc trong gia đình đều phải có sự đồng ý của hai vợ chồng.”

Còn như Thanh Thảo quê ở Kiên Giang thì cho biết cô chỉ học nói tiếng Hàn chứ không đọc và viết được do cứ nhìn vào chữ là cô “choáng váng”. Cô mong đón bố mẹ sang Hàn Quốc bế cháu hộ để đi làm ca đêm ở công ty điện thoại. Làm như thế, lương sẽ được hơn mức tối thiểu một chút.

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►Nổi buồn xuất khẩu lao động: Giấc mơ không trọn của Trịnh Đăng Trường

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Ca Dao – Lao Động Việt

.

Đài Loan, Nam Hàn, Mã Lai… những cái tên xa lạ dần dần đã trở thành quen thuộc trong các hang cùng, ngõ hẻm, trên các ruộng đồng, làng núi xa xôi. Và những cô bé, những trai làng trẻ tuổi đã tưởng tượng, đã mơ mộng đến một vùng đất hứa. Vùng đất mà ta có thể kiếm ra tiền không mấy cực nhọc, vùng đất sẽ đưa chị, đưa em, đưa cha đưa mẹ ra khỏi cảnh nghèo đói triền miên ở làng mạc xác xơ.

Thế rồi, lần lượt người ta bỏ đất ra đi. Đi với một món nợ kếch xù trên vai, món nợ mà nếu còn ở Việt Nam, chắc không bao giờ người ta dám mượn. Mượn nợ để có ngày thoát nợ, họ nghĩ như thế! Anh đi vào miền Nam kiếm ăn, chị tham gia chương trình xuất khẩu lao động để xóa đói giảm nghèo của nhà nước… Ngôi làng bỗng chốc trở thành hoang vắng, chỉ còn ông bà già và trẻ em ở lại giữ gìn mảnh ruộng đìu hiu.

Chỉ hơn 1 giờ bay, một trong những thiên đường mơ ước đó đã hiện ra trước mắt: Mã Lai!!!. Cũng nắng miền nhiệt đới, cũng hàng dừa, cũng lũy tre, cũng biển mặn như quê hương… và một tương lai đầy hứa hẹn! Sau chuyến bay đầu tiên trong đời, những gương mặt mệt mỏi nhưng hân hoan nghĩ đến ngày mai, đến những cổ máy hiện đại mà nay mai đây mình sẽ là người điều khiển. Được ra nước ngoài đã là một sự kiện lớn trong đời, lại còn kiếm được nhiều tiền cho thằng cu, cái bé, xây lại ngôi nhà, bốc lại nắm mộ. Chỉ nghĩ tới là lòng đã lâng lâng…

Cái lạnh của máy điều hòa trong phi trường KLIA cũng không lạnh bằng cái lạnh trong lòng của họ sau khi ngồi hơn 3 tiếng đồng hồ trong phi trường mà không thấy một ai ra đón. Những gương mặt hân hoan đã biến sang ngỡ ngàng và chuyển nhanh thành sợ hãi. Họ như những con thú xa bầy, đang bơ vơ trước một cánh rừng xa lạ. Họ bám chặt lấy hành lý và bám chặt lấy nhau như tìm chút nương tựa nơi kẻ cùng cảnh ngộ. Trong một thoáng, họ cảm thấy hối hận đã đến đây và sợ hãi nghĩ đến món nợ to còn đợi ở quê nhà…

Sau những giờ phút chờ đợi dài đằng đẵng, thế rồi cũng có người đến đón họ. Không phải là chị Hai, anh Ba nói cùng ngôn ngữ. Mà là những khuôn mặt xa lạ, tiếng nói cũng xa lạ. Họ không hiểu gì hết, chỉ biết răm rắp đi theo. Đi đâu? không biết! đủ xa để họ có thể ngắm một phần xứ sở mà họ sẽ phải làm quen trong 3 năm sắp tới.

Nhóm của họ bị chia ra thành nhiều mảnh, thôi thì phận ai nấy lo. Vẫn là cái ngôn ngữ xa lạ ấy, Họ bảo ký giấy, ừ thì ký, họ bảo đưa hộ chiếu cho họ giữ, ừ thì đưa. Hỏi làm gì, mà biết làm thế nào để mà hỏi. Cái sợ nó đã ngấm vào xương tủy rồi. Từ nhỏ đến lớn, chỉ học mỗi cái vâng lời; Vâng lời là yên chuyện. Vã lại, hỏi han lôi thôi, họ đuổi về nước thì khốn!

Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đấy, những bước bỡ ngỡ lúc đầu cũng qua. Ở quê nhà, ngủ đất đã quen, sang đây chủ cho 8 người ngủ trong 1 container, mỗi người được 1 ngăn khoảng 1 mét ngang 2 mét dài đã là hạnh phúc. Ngày làm việc 12- 14 tiếng, khuya về lọc cọc xách nồi nấu ăn, hôm nào mệt quá thì ngủ luôn đỡ tốn cơm, sáng sớm hôm sau đi làm tiếp. Một tuần làm 6-7 ngày. Chẳng cần biết mặt trời Mã Lai tròn hay méo. Bệnh ư? cứ nghỉ, họ chỉ trừ lương thôi, trừ lương có nghĩa là kéo dài nợ, thế thì đi làm vậy. Nó mắng chửi ư? cứ giả vờ điếc, gục mặt xuống tiếp tục làm như con đà điểu chui đầu vào cát. Ức quá, đình công ư, họ kêu cảnh sát Mã Lai đến bắt và trừ lương. Tìm công ty môi giới để than phiền ư? môi giới đã biến mất như tuyết dưới mặt trời nhiệt đới. Thôi thì tiếp tục đi làm mặc mọi bất công, khốn khó. Ngày lại qua ngày. Cuộc đời công nhân xuất khẩu lao động quả là thần tiên.

Đời công nhân trên đất khách buồn nhiều hơn vui. Cái buồn còn có thể phôi pha, nhưng có nhiều nỗi bất hạnh đã ghi lại những vết thương không thể nào lành bằng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen.

Trong những ngày lang thang trên đất Mã, tôi đã gặp Trường, một trong những công nhân có số phận không may, với Trường là tuyệt cùng bất hạnh. Những vết thẹo kinh khiếp trên người Trường ám ảnh tôi trên suốt chuyến trở về. Câu chuyện thương tâm bắt đầu vào 1 tối giao thừa:

Tết Nguyên Đán năm 2010, Tại Melacca, Trường và các bạn lại ăn thêm 1 cái Tết xa nhà. Đêm giao thừa, trong container nóng bức, các anh em bày biện bánh kẹo, hạt dưa ra ăn uống. Cũng có vài bạn trổ tài nấu thịt đông, tuy không đúng cách nhưng cũng tạm để có 1 món gì đó gọi là hương vị quê hương, hưởng ké tiếng pháo từ xa vọng về để thêm nỗi nhớ gia đình. Rồi cũng xong 1 cái Tết xa quê.

Hơn 1 giờ khuya, khi mọi người chìm vào giấc ngủ, thì bỗng có tiếng la lớn: “cháy, cháy…!!!” Trường chưa kịp hiểu ra chuyện gì đang xảy ra thì đã nhìn thấy những tấm vải treo làm màn trong “phòng” đang phựt cháy. Trường vội chạy ra ngoài. Ra đến ngoài thì đã thấy một số anh em đang ở ngoài sân. Những container nơi hãng sử dụng làm chổ ở cho các công nhân đang tiếp tục cháy dữ dội. Trường sực nhớ mình để quên cái điện thoại di động trong “phòng”. Điện thoại di động là vật bất ly thân của bất cứ công nhân Việt Nam nào, nó là vật cần thiết hơn cả cơm ăn nước uống, mất nó là đứt mọi sợi dây liên lạc, nó đáng giá bằng mấy tháng lương của Trường. Không kịp suy nghĩ Trường lao trở lại chiếc container đang ngùn ngụt lửa để cứu chiếc điện thoại. Khi vào đến bên trong, Trường không biết nơi nào là chổ ở của mình, khắp nơi là lửa, tìm không được, Trường chạy trở ra thì đã quá trễ, lửa đang bao vây tứ phía, những thanh sắt ngã xuống chấm dứt lối thoát của Trường, chấm dứt một đời trai.

Công nhân Trịnh Đăng Trường những ngày mới bị cháyNhững ngày sau đó của Trường là những ngày chịu đựng sự đau đớn khủng khiếp. Sau thời gian ở nhà thương, Trường được về nhà, em của Trường đang làm ở Penang phải nghỉ việc để lo cho Trường. Cách vài ngày, Trường phải vào nhà thương để “tắm”. Một bên lỗ tai bị mất, miệng chưa lành nên Trường không ăn uống và nói chuyện được, tay chân vẫn còn băng kín. Chủ hãng của công ty chỉ trả 1 phần tiền nhà thương. Phần còn lại họ cho Trường nợ. Ngoài ra còn tiền mua những loại băng đặc biệt để băng những vết phỏng, tiền nhà thương, tiền thuốc men, tiền ăn uống cho 2 anh em…v.v Nhưng với tình trạng này, không mong gì Trường có thể hồi phục lại để đi làm, còn mong gì trả nổi nợ???

Trong lúc khó khăn mới thấy tình đồng hương là quý: Anh em công nhân đến thăm hỏi và chia sẻ. Các anh em trong Hội Thánh Tin Lành đến cầu nguyện cho Trường. Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam cho người đến tặng tiền, đóng góp phần nào vào chi phí nhà thương mà hiện giờ đã lên đến hàng chục ngàn tiền Mã.

Cho đến ngày hôm nay, Trường và em của Trường cũng không dám cho gia đình ở Việt Nam biết. Bà mẹ già bị bệnh cao huyết áp của Trường vẫn còn nghĩ con mình đang lao động đâu đó ở Mã Lai.

Công nhân Trường hai tháng sau khi bị cháySau hơn 6 tháng điều trị, vết phỏng đã lành nhưng hậu quả của nó để lại thật rõ nét trên thân thể Trường: Một lỗ tai đã mất, những ngón tay đã rút lại, thịt lồi lên như một tảng băng nổi, những vết thẹo kinh khiếp trên lưng như mảnh ruộng nứt nẻ vào mùa khô.

Như chưa đủ khổ, cái nóng của Mã Lai đã tiếp tay hành hạ người công nhân bạc phước này: do da đã thành thẹo, không có lỗ chân lông nên mồ hôi không thể thoát ra ngoài, do đó cái nóng không giảm đi, nó tồn đọng lại trong người, làm trong người Trường lúc nào cũng bị nóng bức khủng khiếp, suốt ngày Trường phải ngồi trước chiếc quạt máy.

Trịnh Đăng Trường 8 tháng sau khi bị cháy (tháng 10 năm 2010)Rời Việt Nam với ước vọng kiếm tiền giúp đỡ gia đình, nhưng than ôi, ngọn lửa tàn ác đã đốt cháy mộng ước đơn giản của Trường, ngọn lửa đêm giao thừa đã thiêu rụi tương lai của người thanh niên. Bây giờ, bên cạnh nỗi đau thể xác, Trường chỉ quay quắt với ý nghĩ: làm sao để trả món nợ khổng lồ? Nỗi đau của chính mình Trường có thể chịu đựng được, nhưng liệu Mẹ mình có thể chịu đựng được không khi nghe tin con mình bị nạn? Làm sao báo tin cho Mẹ? Làm sao có tiền trả nợ???

———————

Đảng CSVN làm kinh tế quá giỏi nên không thể tạo được công ăn việc làm cho người dân trong nước. Các cán bộ đảng bèn nghĩ cách xuất khẩu lao động, gởi công nhân VN ra nước ngoài làm việc. Những người này nhận lương sẽ gởi tiền ngoại tệ về giúp cho gia đình ở VN, và để trả lại số nợ khi mượn tiền làm thủ tục xuất khẩu lao động…Thân nhân đổi ngoại tệ lấy tiền VN. Thế là nhà nước in tiền polymer và lấy ngoại tệ rất dễ dàng. (Tiền vốn in 1 tờ 500.000 đồng polymer là 4-6 xu Mỹ kim. Tiền công in 20 tờ 500.000 đồng khoảng 1 đô la Mỹ, và đổi lấy gần 500 đô la.).  Đây là cách kiếm tiền nhanh nhất và lời nhất của nhà nước. Theo ngân hàng trong nước cho biết, số tiền ngoại tệ do các công nhân lao động xuất khẩu gởi về là 1,5- 2 tỷ đô la. 

Hiện đang có hơn 700.000 nguời VN đang xuất khẩu lao động tại 40 quốc gia. Họ làm đủ thứ việc gì mà người công nhân ở các nước đó chê lương ít và không muốn làm.

Posted in Nong Dan Viet Nam, xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

►Nhân Scotland đã “từ chối độc lập”, đôi điều nghĩ về Hồ Chí Minh

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2014

Nhân Scotland đã “từ chối độc lập”, đôi điều nghĩ về Hồ Chí Minh

19-9-2014

Không thể so sánh phương thức giành độc lập ở những giai đoạn khác nhau, nhưng quyết định của người Úc 15 năm trước đây và của người Scotland hôm nay cho thấy điều mà Hồ Chí Minh nói năm 1946 là hoàn toàn chính xác: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì”. Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh rõ ràng là một trong những nhà lập ngôn xuất sắc nhất.
Khi thu thập tư liệu cho Sách Bên Thắng Cuộc, tôi phỏng vấn rất nhiều nhân chứng và các nhà nghiên cứu về đời tư của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, tôi quyết định không đưa những chuyện thâm cung của ông vào sách. Đành rằng đạo đức quyết định rất nhiều đến thành công của một nhà chính trị, tôi vẫn cho rằng, đánh giá một nhà lãnh đạo là phải dựa trên những quyết sách dẫn dắt quốc gia. Đừng quan tâm Hồ Chí Minh có con, có người phụ nữ nào hay không mà hãy quan tâm đến di sản mà ngày nay chúng ta đang gánh.Từ cách tiếp cận đó, tuy tôi vẫn tìm hiểu cách đối xử của Hồ Chí Minh với những người ruột thịt như bà Thanh và ông Cả Khiêm; cách ứng xử của Hồ Chí Minh với những người thầy của ông như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần… Nhưng, chủ yếu tôi tìm hiểu cách ông đã ứng xử sau khi nắm quyền (chứ không phải là giai đoạn tuyên truyền để giành chính quyền) với dân, với nhà nước pháp quyền, với Hiến pháp 1946, với mô hình chính trị mà ông lựa chọn.
.
Năm 2004, khi tôi gặp hai người trợ lý thân cận của Lê Duẩn, ông Đống Ngạc và ông Đậu Ngọc Xuân, phỏng vấn vì sao Lê Duẩn lại nôn nóngtiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” như vậy. Cả hai ông đều cho rằng, sao lại trách anh Ba vì đó là “con đường của Bác”.
.
Nhiều thế hệ Việt Nam đã yêu mến Hồ Chí Minh, các bạn cứ tiếp tục yêu mến Hồ Chí Minh, đừng “shock” khi đọc thấy “những người đàn bà của Bác”. Các bạn chỉ nên so sánh di sản của Hồ Chí Minh (là những gì mà Việt Nam đang có ngày nay) với chính chuẩn mực của ông: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì”.
*”Hồ Chí Minh rõ ràng là một trong những nhà lập ngôn xuất sắc nhất.”
Không phải, ông ta là một nhà đạo đức giả đểu cảng nhất của mọi thời đại. Những gì ông HCM nói ra hoàn toàn ngược lại  với bản chất và các việc làm thực tế của ông ta. Dưới đây là câu chuyện cho thấy cái đạo đức giả và giối trá của ông Hồ và ban Tuyên Giáo đảng CSVN. 
 
Đèn Cù, Chương 5, trang 82 và 83:

Để có phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, Trường  Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường  thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm  – Cát Hanh Long.  Tôi nhận nhiệm vụ.  Trường Chinh nói phân công tôi vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố.  Sở dĩ báo chí không dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội có vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt. 

Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB  (Bác Hồ)  gửi đến bài  Địa chủ ác ghê.”

Thánh hiền dạy rằng:  “Vi phú bất nhân.” Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác:  như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa  –  thế thôi.  Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể. 

(Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết Bác không  tán  thành  đấu  Nguyễn  Thị  Năm  nhưng  phải  nghe  cố vấn Trung Quốc, Hoàng Tùng vô tình hay cố tình quên bài báo Bác  gây  căm  thù  cao  độ  này.  Đâm  ra  lại  đổ  cho  Bác  cái  lỗi không kiên định – nghe cả điều sai vốn trái với ý mình.) 

Dăm bữa sau bài  “phóng sự nghe kể lại,”  tôi xuống Đồng Bẩm.  Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây  còn  ở  lại  lo  hậu  sự.  Tôi  hỏi  chuyện  bắn,  anh  lè  lưỡi  lắc đầu mãi rồi mới kể lại. 

“Sợ  lắm,  tội  lắm,  đừng  có  nói  với  ai,  chết  tớ.  Khi  du  kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van”  các anh  làm  gì  thì  bảo  em  trước  để  em  còn  tụng  kinh.”  Du  kich quát:  “đưa  đi  chỗ giam  khác  thôi,  im!.”  Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng.  

Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa  chủ.  Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà.  Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất.  Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt.  Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên  vừa  giẫm  vừa hô:  “Chết  còn  ngoan  cố  này,  ngoan  cố  nổi với các ông nông dân không này?”  Nghe xương kêu răng rắc mà  tớ  không  dám  chạy,  sợ  bị  quy  là  thương  địa  chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”   

Hệ quả của việc “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” của HCM là nhìn thấy các cháu ngoan bác Hồ ngày ấy đến nay đang nắm quyền thành lập các nhóm lợi ích, gầy dựng các hạt giống đỏ vì  làm chủ hết tất cả bất động sản và độc quyền trong 180 ngành nghề dễ kiếm tiền nhất…
.

Thủ tướng Dũng, các nhóm lợi ích và bản thông điệp hoa mỹ

Trần Ngân
 8-1-2014

Mấy ngày gần đây, dư luận báo chí Việt Nam ồn ào về thông điệp đầu năm 2014 của thủ tướng Dũng. Thực ra mỗi đầu năm thủ tướng Dũng đều phát đi một thông điệp nhưng thông điệp năm nay nhận được nhiều sự chú ý vì có nhấn mạnh nhiều lần tới những cụm từ như “đổi mới thể chế” hay “dân chủ”. Hàng loạt báo đài lề phải và các “dư luận viên” từ cấp thấp tới cấp cao vào cuộc tới tấp bốc thơm bài viết của thủ tướng. Ngay cả một ông TS vốn nổi danh vì scandal vừa giảng bài vừa văng tục cũng được huy động để viết một bài được đăng trang trọng trên trang báo điện tử của Chính phủ với những lời có cánh ca ngợi Thông điệp như: “Thứ nhất, rõ ràng và thẳng thắn; thứ hai, chính xác và thuyết phục; thứ ba, nhìn lại toàn bộ thì thấy niềm tin xuất hiện và sự phấn khởi.” (Chinhphu, 2/1/2014). Trên các báo lề trái thì đa số các chuyên gia đều cho rằng ý tưởng trong Thông điệp là tốt nhưng cần phải đợi xem việc làm có đi đôi với hành động hay không. Hiếm hoi mới có người như TS Nguyễn Quang A cho rằng lời lẽ cũng không có gì mới cả (BBC, 3/1/2014) .

Thực ra trong hơn một nhiệm kỳ của mình, thủ tướng Dũng đã có nhiều bài viết lúc mới ra lò thì cũng có tiếng vang nào đó nhưng sau đó thì đều đi vào hư không. Cộng với thành tích điều hành tệ hại của mình, hầu hết người dân Việt Nam chả quan tâm hoặc chả mấy tin vào những bài viết hay diễn văn hoa mỹ của thủ tướng nữa. Tác giả cũng cho rằng bản Thông điệp lần này cũng sẽ có số phận không khá gì hơn những lần trước. Những ý tưởng được coi là “mới” trong bản thông điệp này là đề cao việc “mở rộng dân chủ” và “đổi mới thể chế” sẽ gặp phải vô vàn những lực cản từ chính thủ tướng và những nhóm lợi ích tạm gọi là xấu. Trong bài viết này, tác giả sẽ thử phân tích một vài nhóm lợi ích (xấu) ở Việt Nam hiện nay trong tương quan với bản Thông điệp này.

1. Nhóm lợi ích bảo thủ trong Đảng

Một trong những điểm cốt yếu để duy trì được sự tồn tại bền vững của một thể chế toàn trị là khả năng của nó trong việc “nhồi sọ” các tín điều của thể chế cho các tầng lớp nhân dân ngay từ thuở nhỏ. Về mặt này thì không ai có thể qua mặt được các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa mà đỉnh cao chính là Bắc Triều Tiên. Cũng như các nước XHCN khác, việc nhồi sọ ở Việt Nam được tiến hành từ khi còn nhỏ và khi làm lãnh đạo vẫn bị nhồi sọ thông qua hệ thống trường đảng đã tạo ra một tầng lớp hết sức bảo thủ và trì trệ về tư duy. Do bị nhồi sọ quá lâu nên đối với nhiều người, những khái niệm như “chủ nghĩa xã hội”, “kinh tế nhà nước làm chủ đạo”,… đã trở thành tín điều bất di bất dịch và họ sợ chết khiếp những cụm từ như như “chệch hướng”, “diễn biến hòa bình”, “phản động”…

Trong nhóm bảo thủ ở Việt Nam có một nhóm khá đặc thù thường được gọi là “các cụ về hưu” hay “các cán bộ lão thành”. Đây là những người có thể coi là đã cả đời đi theo đảng, được hưởng lợi từ chế độ ít hoặc nhiều. Rất nhiều người trong nhóm này có lẽ là thành trì kiên cố nhất của tư duy bảo thủ, trì trệ trong xã hội. Cũng rất khó trách họ vì cả đời họ đã đi theo lý tưởng XHCN của đảng. Giờ mà đưa ra những giá trị ngược lại niềm tin của họ thì khác gì nói cả đời họ đã đi sai đường nên họ rất cương quyết chống lại bất cứ sự thay đổi nào có thể dẫn tới “chệch hướng”. Chưa kể, họ luôn muốn ổn định xã hội để giữ được cái “sổ hưu” vì ở bất cứ đâu, nếu xã hội có những biến động lớn thì những người già về hưu chỉ có nguồn thu nhập từ lương hưu bao giờ cũng là những người thiệt thòi nhất [1]. Trong văn hóa chính trị ở Việt Nam thì nhóm “các cụ về hưu” lại có tiếng nói khá quan trọng và họ chính là chỗ dựa đặc biệt quan trọng cho nhóm bảo thủ trong đảng mà đại diện tiêu biểu chính là TBT Trọng. Mục đích chính yếu của nhóm bảo thủ này (gồm “các cụ về hưu”) là duy trì niềm tin, quyền lợi và sổ hưu.

Nhóm những người bảo thủ này được nhồi sọ từ hàng chục năm qua rằng nắm được triết học Mác Lê là nắm được đỉnh cao trí tuệ của nhân loại nên họ luôn tin mình là tầng lớp “tinh hoa” của xã hội, có trách nhiệm lãnh đạo xã hội đi tới tương lai. “Dân chủ” đối với họ cũng chỉ có nghĩa là phải tầng lớp lãnh đạo phải cho họ có tiếng nói trong quá trình làm chính sách chứ không phải là “dân chủ” theo cách hiểu chung của nhân loại. Họ luôn rất dị ứng với từ “dân chủ”, đặc biệt nếu nó tới từ sách báo nước ngoài hay người ngoài Đảng [2]. Đối với họ “dân chủ” là sự ban phát của nhà nước, cho bao nhiêu hưởng bấy nhiêu và phải do Đảng lãnh đạo và định hướng. Không phải ngẫu nhiên mà trong Thông điệp của mình thủ tướng nhấn mạnh: “Quyền làm chủ phải đi đôi với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân mà trước hết là phải tuân thủ pháp luật” và khẳng định: “Từ chế độ nô lệ lên chế độ phong kiến và từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản là những bước tiến dài về dân chủ. Chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng phải ưu việt hơn về dân chủ và Đảng ta phải nắm chắc ngọn cờ dân chủ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước cũng là nhằm phát huy tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân.”

Thực ra, nhiều người trong nhóm bảo thủ, đặc biệt là “các cụ nghỉ hưu” có thể rất bức xúc về tình trạng tham nhũng hay suy thoái kinh tế và có thể viết rất nhiều “tâm thư” kiến nghị lên lãnh đạo đảng, nhà nước. Tuy nhiên, đa số các biện pháp họ đưa ra vẫn chỉ là các biện pháp xưa cũ, sáo mòn như “chấn chỉnh đạo đức, tác phong” hay “học tập gương đạo đức Bác Hồ”, “xử lý nghiêm tham nhũng”… nhưng những giải pháp mà họ đưa ra để giải quyết lại chủ yếu quay trở lại những biện pháp cổ lỗ sĩ như lập lại Ban Nội chính TW hay Ban Kinh tế TW (đã được tác giả phân tích kỹ tại http://viet-studies.info/kinhte/TranNgan_TongBiThuTrong.htm). Đây rõ ràng chỉ là dùng cái sai này để sửa cái sai kia và nó sẽ càng ngày càng tạo ra thêm sự méo mó trong sự vận hành của nhà nước mà thôi.

Sự trỗi dậy gần đây của nhóm bảo thủ như là một phản ứng do tình hình tham nhũng lan rộng và suy thoái kinh tế là một tai họa cho tương lai của Việt Nam. Nó được biểu hiện rõ rệt nhất thông qua lãnh đạo tinh thần của nhóm này là TBT Trọng. Trong những thời điểm quyết định với một quốc gia, vai trò của người đứng đầu cực kỳ quan trọng như vai trò quyết định của TBT Trường Chinh giai đoạn đầu đổi mới. Người ta có thể không thích lãnh đạo Trung Quốc vì tư tưởng bá quyền nhưng không ai dám coi thường trình độ và tầm nhìn của những TBT của Trung Quốc. Nhưng ở Việt Nam, hệ thống bầu cử trong nội bộ đảng ở Việt Nam rõ ràng có vấn đề vì gần đây toàn đưa những người thủ cựu, rất kém chất lượng làm TBT, liên tiếp như ông Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và hiện nay là Nguyễn Phú Trọng. Hệ thống chính trị ở Việt Nam đã thất bại khi vào thời điểm then chốt của đất nước lại đưa một người được mệnh danh là “lú” lên làm TBT và thực tế cho thấy ông TBT này càng ngày càng “lú”, chỉ giỏi đăng đàn thuyết giáo về “suy thoái đạo đức”, “chệch hướng” chứ không thấy làm được gì để đổi mới đất nước cả.

Chính TBT Trọng và nhóm bảo thủ này có trách nhiệm lớn nhất trong việc tiếp tục các chính sách kìm hãm sự phát triển của đất nước như đưa nguyên tắc “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” [3] vào Hiến pháp hay giữ nguyên qui định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” [4]. Lịch sử rồi sẽ đánh giá TBT Trọng như một người có tội lớn trong việc bịt đường tiến lên của đất nước vì niềm tin mù quáng và trí tuệ có hạn của mình.

2. Nhóm lợi ích DNNN (doanh nghiệp nhà nước)

Mục tiêu chính của nhóm này là duy trì những đặc quyền đang có và thu hút thêm được càng nhiều nguồn lực càng tốt từ ngân sách nhà nước. Đây chính là nhóm chống đối mạnh mẽ nhất các chính sách hướng theo thị trường và việc gia nhập các hiệp định thương mại tự do. Đây cũng là nhóm đã lobby mạnh mẽ và kết hợp với nhóm bảo thủ để đưa bằng được tư tưởng “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” vào lại Hiến pháp 2013.

Trong Thông điệp, thủ tướng có viết: “Nhà nước phải tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh”. Tất nhiên nhóm lợi ích DNNN không thích phải sống trong môi trường cạnh tranh nên họ sẽ tìm mọi cách để chống lại việc này và tôi tin là bản thân thủ tướng cũng không tin điều này vì chính thủ tướng đã lập lại nhiều lần sự khen ngợi và đề cao DNNN:

“Trong 3 khối doanh nghiệp, phúc lợi cao nhất là DNNN. Các DNNN gần như không để công nhân thất nghiệp. Trên tổng thể, trong những năm qua, trong giai đoạn thực sự khó khăn, nếu không có lực lượng kinh tế nhà nước, chính phủ không biết điều hành làm sao” (VEF, 17/2/2011)

Những kết quả mà DNNN đã đóng góp là không thể phủ nhận. Nếu không có DNNN thì Nhà nước không thể điều tiết, ổn định vĩ mô” (Vietnamnet, 8/12/2011)

Đề cao DNNN tới mức sùng kính như thế này mà lại nói về việc “tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng” thì quả thật rất khôi hài. Chưa kể từ khi lên nắm quyền tới nay, chính thủ tướng đã đẩy mạnh quá trình độc quyền hóa nền kinh tế bằng cách cho thành lập hàng loạt tập đoàn kinh tế nhà nước lớn, thuộc về những ngành then chốt và nắm giữ nhiều nguồn lực nhất của đất nước. Thủ tướng giành quyền trực tiếp quản lý và bổ nhiệm lãnh đạo các tập đoàn này. Đây chính là cơ sở kinh tế hỗ trợ cực kỳ đắc lực của quyền lực chính trị của thủ tướng. Không phải ngẫu nhiên mà trải qua bao nhiêu “sóng gió chính trường”, vị thế của thủ tướng vẫn vững như bàn thạch. Chắc chắn nếu không có cơ sở kinh tế vững mạnh hỗ trợ thì thủ tướng không thể đạt được những “thành công rực rỡ” như vậy. Sau khi hàng loạt tập đoàn làm ăn thua lỗ thì thủ tướng chơi một nước bài rất “khôn” là cho giải thể hay giáng cấp những “con bệnh” như Vinashin, Tập đoàn Công nghiệp xây dựng VNIC hay Tập đoàn đầu tư và phát triển nhà đô thị HUD… Điều này vừa giải tỏa bớt áp lực của dư luận, vừa bớt tiếng xấu cho thủ tướng và tất nhiên thủ tướng vẫn giữ lại những con gà đẻ trứng vàng khác như Petrolimex hay EVN để làm cơ sở cho quyền lực của mình. Trực tiếp quản lý và hưởng lợi lớn từ những tập đoàn có tính độc quyền cao thế này mà thủ tướng lại nói tới việc “xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp” thì ai mà tin cho nổi???

Một điều cần lưu ý là rất nhiều quan chức cao cấp trong các bộ ngành quản lý hiện nay ở Việt Nam đều có gốc gác từ lãnh đạo DNNN. Những lãnh đạo này qua quá trình làm ở DNNN tích lũy được nhiều tiền của, họ sẽ chạy lên các chức như vụ trưởng hoặc thứ trưởng, lúc đó có quyền lại tiếp tục tích lũy tiền của và dấn thân lên vị trí cao hơn, điển hình như Dương Chí Dũng, Thân Đức Nam hay Đinh La Thăng… Đương nhiên các quan chức này khi có quyền lực chính trị trong tay sẽ phải ưu ái phân bổ nguồn lực cho các doanh nghiệp cũ của mình và sẽ cố gắng tiếp tục bảo vệ lợi ích cho hệ thống cũ. Chừng nào Việt Nam chưa thay đổi được việc tuyển quan chức từ DNNN như hiện nay thì việc cải cách DNNN sẽ cực kỳ khó khăn vì tất nhiên cái hệ thống đó phải bảo vệ sự tồn tại và vận hành của nó.

Một trong những minh chứng cho thấy quyền lực của nhóm lợi ích DNNN đang mạnh lên là việc chính phủ tăng bội chi ngân sách khoảng 170 ngàn tỷ cho năm 2014 để tăng đầu tư mà chắc chắn phần lớn trong số này sẽ rơi và các DNNN cả ở trung ương và địa phương và quyền lực của nó tiếp tục được bảo vệ rất chắc chắn trong Hiến pháp 2013 với chế định “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Quyền lực của nhóm DNNN càng mạnh thì việc phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường của Việt Nam càng khó khăn.

Một xu hướng nguy hiểm nữa gần đây của nhóm lợi ích DNNN là họ cũng học tập các quan chức bằng cách đào tạo các “hạt giống đỏ” là con cháu của mình rồi đưa vào nắm những vị trí then chốt của doanh nghiệp, dần biến tài sản của nhà nước thành tài sản tư nhân. Ví dụ điển hình được báo chí nêu gần đây là ở Vietinbank khi con, cháu, con rể của chủ tịch Phạm Huy Hùng đều nắm những vị trí then chốt của ngân hàng dù tuổi đời còn rất trẻ.

3. Nhóm lợi ích quan chức

Ngoại trừ một số ít tận tâm và trong sạch, đa số các quan chức hiện nay đều cố gắng bảo toàn vị trí và thu lợi nhanh nhất và nhiều nhất từ ghế của mình.

Một trong những vấn nạn lớn là chất lượng và đạo đức công vụ của nhóm lợi ích công chức ở Việt Nam ngày càng xuống dốc không phanh vì nạn mua quan bán chức nở rộ trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây. Trước đây lên vị trí cao chủ yếu là nhờ con ông cháu cha hay lý lịch thì giai đoạn sau này nạn mua bán chức quyền đã làm băng hoại ghê gớm hệ thống công chức ở Việt Nam. Hậu quả của nó tích tụ lại trong nhiều năm thể hiện rất rõ qua tình trạng tham nhũng tràn lan không kiểm soát nổi (để gỡ lại tiền chạy chức) và việc đưa ra hàng loạt các văn bản chính sách trên trời vì chất lượng cán bộ quá kém.

Trong Thông điệp có viết “Nhà nước phải xây dựng cho được bộ máy tinh gọn, hiệu lực hiệu quả với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao. Mọi cơ quan, công chức đều phải được giao nhiệm vụ rõ ràng. Việc đánh giá tổ chức, cán bộ, công chức phải căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Phải hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm soát thực thi công vụ. Người đứng đầu cơ quan hành chính phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao và phải được trao quyền quyết định tương ứng về tổ chức cán bộ”.

Nghe thì rất hay nhưng tất nhiên nhóm lợi ích quan chức không thích điều này và sẽ chống lại nó tới cùng vì lợi ích của họ là bán được càng nhiều “ghế” càng tốt (nên nhớ không phải ngẫu nhiên mà các bộ ở Việt Nam hiện nay rất nhiều thứ trưởng, các vụ thì nhiều vụ phó hay các phòng có nhiều phó phòng). Bản thân thủ tướng cũng đâu có làm tấm gương tốt trong việc xây dựng một bộ máy công vụ có hiệu quả bằng việc bổ nhiệm thẳng con mình từ một anh hiệu phó lên thứ trưởng. Thượng bất chính hạ tắc loạn, học tập thủ tướng, rất nhiều con, cháu các lãnh đạo khác từ con Bí thư thành ủy TP. Hồ Chí Minh, con ông Trưởng ban Nội chính TW Nguyễn Bá Thanh và cựu ủy viên BCT Nguyễn Văn Chi ở Đà Nẵng, con trai và con rể Bí thư tỉnh ủy Hải Dương… cũng được bổ nhiệm vào các vị trí trọng yếu bất chấp mọi tiêu chuẩn do chính họ đề ra.

4. Nhóm lợi ích công an

Đây là một nhóm lợi ích khá đặc biệt ở Việt Nam vì quyền lực của nó tăng lên nhanh chóng trong thời gian gần đây. Trên thế giới, công an được lập ra để bảo vệ trật tự trị an của xã hội nhưng ở các thể chế toàn trị thì một trong những mục đích chính của nó lại là để bảo vệ chế độ. Ở Việt Nam vài năm gần đây, khi kinh tế suy thoái, lòng dân bất an thì khía cạnh “bảo vệ chế độ” (hãy nhớ khẩu hiệu nổi tiếng “Chỉ biết còn Đảng còn mình”) ngày càng được nhấn mạnh và nhóm lợi ích công an cũng lợi dụng điều này để tự làm cho mình ngày càng trở nên mạnh hơn và có vai trò quan trọng hơn.

Dù kinh tế suy thoái, ngân sách nhà nước hụt thu nhưng nhà nước càng ngày càng dành nhiều nguồn lực và ưu đãi cho lực lượng này (như con được đi học miễn phí (Vnexpress, 1/8/2013)) hoặc phong tướng tràn lan tới mức mà ông nghị Đỗ Văn Đương còn phải cảm khái mà thốt lên “Nhà văn, nhà báo, giám đốc thì phong tướng làm gì?” (Motthegioi, 28/10/2013) [5]. Công an Việt Nam ngày càng biến chất và có xu hướng trở nên một lực lượng “kiêu binh”, không biết sợ ai, biểu hiện rõ ràng qua việc sử dụng bạo lực tràn lan khiến nhiều dân thường bị thương tật hoặc chết. Công an cũng đứng hàng đầu trong những ngành tham nhũng trắng trợn, đặc biệt là lực lượng cảnh sát giao thông. Rất nhiều cán bộ cao cấp ngành công an có tài sản khổng lồ không cần giấu giếm (như Thiếu tướng Vũ Hùng Vương – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm bị trộm vào nhà lấy 550 triệu đồng tiền mặt, 9 cây vàng 24K, 1,2 cây vàng tây cùng 1 đồng hồ, 1 dây bạc và một số ngoại tệ… với tổng giá trị trên 1 tỷ đồng (Vietnamnet (17/2/2012)) [6].

Sự biến chất của lực lượng công an còn được thể hiện qua việc họ ngày càng cố khoác lên người ngày càng nhiều bằng cấp và học vị, có lẽ để giải tỏa mặc cảm “Vai u thịt bắp” mà người dân vẫn hay gán cho họ. Tác giả cũng không rõ trên thế giới có nước nào mà lãnh đạo ngành công an lại có nhiều giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ như ở Việt Nam hay không. Bộ trưởng Bộ Công An Trần Đại Quang là GS.TS; trong 7 thứ trưởng hiện nay cũng có 4 người có học hàm học vị cao là: PGS.TS Tô Lâm, TS. Lê Quý Vương, PGS.TS Bùi Văn Nam, PGS. TS Trần Việt Tân. Chưa kể lãnh đạo các tổng cục hay cục trong Bộ CA cũng rất nhiều TS. Điều này cho thấy xu hướng thích bằng cấp trong ngành công an ngày càng lan rộng (ANTD, 25/10/2013)

Khi họ có quyền lực trong tay, để tăng cường quyền lực và ảnh hưởng, họ sẽ cố tạo ra bóng ma về sự “đe dọa” đối với chế độ hiện thời để thu hút được thêm nhiều nguồn lực và có thêm quyền lực. Ví dụ Pháp lệnh Cảnh sát cơ động (là lực lượng chuyên để chống biểu tình, bạo loạn) mới được thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2014 qui định CSCĐ sẽ được trang bị máy bay, tàu thủy và trao cho bộ trưởng Bộ Công An quyền cho phép bắn người biểu tình (Vnexpress, 23/12/2013). Có thể nói quyền lực của nhóm lợi ích công an càng lớn thì việc đổi mới sẽ càng khó khăn hơn vì lợi ích của nhóm này là duy trì bằng được hiện trạng xã hội hiện nay.

Trong Thông điệp có đề cao “dân chủ” và “pháp quyền”: “Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật. Pháp luật phải bảo đảm được công lý và lẽ phải. Mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng và chủ yếu nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và những giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức tốt đẹp của dân tộc”. Lại một lần nữa cũng cần nhắc lại là thủ tướng nói vậy mà không phải vậy. Dưới thời thủ tướng Dũng, số vụ bắt bớ vì bất đồng chính kiến tăng lên đột biến. Nếu trước đây, chỉ những người tụ hợp thành tổ chức hoặc có liên quan tới yếu tố nước ngoài hay hải ngoại hay kêu gọi bạo động mới bị bắt thì thời gian gần đây ngay cả những người cố gắng đứng độc lập, phát biểu ý kiến ôn hòa và tự tin rằng mình không thể bị bắt vì vẫn tuân thủ đúng pháp luật cũng bị bắt như Cù Huy Hà Vũ, nhà báo Phạm Viết Đào hay Trương Duy Nhất. Ngay cả những vụ việc rất nhỏ bé như vụ Nguyễn Phương Uyên ở rải truyền đơn cũng bị làm rùm beng lên và ghép vào tội danh “khủng bố”. Những người phát tài liệu nhân quyền cũng bị ngăn cản và đánh đập [7].

Rõ ràng lực lượng công an sẽ có lợi nhất nếu đứng về phía Đảng, bảo vệ quyền lực cho Đảng để chống lại xu hướng dân chủ hóa và tất cả những vụ đàn áp ở trên đều có bàn tay tích cực của lực lượng công an và không thể loại trừ việc họ cố gắng làm trầm trọng hóa các vụ án để lấy thành tích và nâng cao vai trò của mình [8]. Đối với nhóm lợi ích công an, bảo vệ nguyên trạng thể chế hiện nay là điều sinh tử vừa vì lý do kinh tế vừa vì lý do an toàn vì kinh nghiệm cho thấy ở các nước hậu cộng sản, rất nhiều cán bộ an ninh phải ra tòa vì đã đàn áp người dân.

Trước thời thủ tướng Dũng, người ta hay nói tới phe “đổi mới” và phe “bảo thủ” trong lãnh đạo Việt Nam và các chính sách ở Việt Nam thường đi trên dây, tùy thuộc vào thời điểm đó quyền lực của phe nào mạnh hơn và nếu phe cải cách đưa ra được nhiều chính sách thì đất nước sẽ phát triển nhanh hơn. Hiện nay, Việt Nam lại đang ở một tình thế xui xẻo hơn nhiều. Không còn sự đấu tranh giữa “đổi mới” và “bảo thủ” mà đất nước lại đang là con tin của những nhóm lợi ích (xấu) có quyền lực rất lớn như đã kể ở trên được đại diện điển hình bởi TBT Trọng lú, nhà chính trị gà mờ, nhà thuyết giáo hạng bét và ông thủ tướng Dũng đẹp mã có mái tóc bồng bềnh, một nhà chính trị xuất sắc trong việc đấu đá, tạo vây cánh và duy trì quyền lực nhưng lại hết sức kém năng lực trong việc điều hành nền kinh tế và đất nước. Việt Nam có lẽ đang nằm ở một điểm cân bằng “chết”, tức là không có động lực cho sự đổi mới vì dù bất kể các nhóm này có thỏa hiệp thế nào thì hầu như các chính sách đưa ra đều rất “tồi” vì lợi ích của các nhóm này không phù hợp với lợi ích nói chung của nhân dân là xây dựng một nhà nước phồn vinh, dân chủ và tự do hơn cả trong kinh tế và chính trị.

Tóm lại, lịch sử đã cho thấy khi người lãnh đạo thực tâm muốn tiến hành những cải cách lớn cũng đã khó vì luôn có những nhóm lợi ích muốn chống lại cải cách để giữ nguyên trạng. Trong trường hợp Việt Nam hiện nay thì bản thân lãnh đạo, cụ thể là thủ tướng cũng không muốn cải cách lớn vì điều này chả mang lại lợi ích gì cho họ cả nên làm sao có thể mong đợi có những bước đột phá được. Nhiều ý tứ trong bản Thông điệp nghe có vẻ rất “tiến bộ” nhưng ngoài việc không muốn thực tâm thực hiện nó thì có nhiều lý do để tác giả tin rằng bản thân thủ tướng không đủ trình độ để làm và dù thủ tướng có thực sự muốn làm thì cũng không thể làm được vì những nhóm lợi ích (mà chính thủ tướng cũng có công rất lớn trong việc hình thành và củng cố nó) sẽ chống lại để bảo vệ cho lợi ích của mình. Theo tác giả, không nên phí công vô ích chờ đợi những điều không thể xảy ra tiếp sau bản Thông điệp hoa mỹ nhưng rỗng tuếch này.

_________________

[1] Tuy nhiên, họ không hiểu là nếu đất nước không phát triển được thì cái sổ hưu mà họ cố gắng bảo vệ bằng mọi cách đó có thể trở thành giấy lộn vào khoảng năm 2030 khi quỹ bảo hiểm xã hội bị vỡ do không còn tiền chi trả.

[2] Ví dụ là ở Việt Nam hầu như không được dịch sách về “Chính trị học” từ phương Tây. Một số quyển hiếm hoi được dịch thì đều phải đổi tựa để tránh chữ “dân chủ”. Chẳng hạn quyển sách kinh điển từ thế kỷ 19 của Alexis de Tocqueville “De la démocratie en Amérique” (Nền dân chủ tại Hoa Kỳ) khi in thành sách phải đổi thành “Nền dân trị Mỹ” hay mới nhất là quyển “Models of Democracy” (Các mô hình dân chủ) của David Held khi dịch sang tiếng Việt cũng phải đổi thành:“Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại”. Điều này cho thấy não trạng sợ “dân chủ” đã in quá sâu vào cán bộ nhà nước ở Việt Nam tới mức kỳ quái.

[3] Bước thụt lùi rõ nhất trong tư duy là trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992, chế định “Kinh tế nhà nước giữ chủ đạo” đã được đưa vào trong hiến pháp mới dù bản dự thảo không có. Dù sau đó nhà nước đã phải huy động nhiều “dư luận viên” cao cấp giải thích lòng vòng Kinh tế nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà còn “bao quát toàn bộ cơ cở vật chất – kinh tế thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện và thống nhất quản lý dưới nhiều dạng, thậm chí những cấu thành của chúng không thể tính toán hết bằng tiền; thí dụ, giá trị đất đai, tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, lòng lãnh hải thuộc chủ quyền Việt Nam” (Nhandan, 28/11/2013 ). Càng giải thích càng cho thấy sự vòng vo lòng vòng vì với cách giải thích như thế thì ở nước nào kinh tế nhà nước chả giữ vai trò chủ đạo? Ai cũng thừa hiểu ở Việt Nam, “KTNN” là đồng nghĩa với “DNNN” và khi “KTNN là chủ đạo” đã được ghi thẳng vào Hiến pháp như thế thì đừng mong có sự bình đẳng thực sự giữa các thành phần kinh tế vì nếu bình đẳng thực sự sẽ thành ra vi hiến! Một quốc gia vẫn quyết tâm đặt một thành phần kinh tế có năng suất thấp nhất, tham nhũng nhiều nhất làm chủ đạo, làm rường cột của nền kinh tế thì có thể thấy trước tương lai của nền kinh tế thế nào rồi. Cũng xin nói thêm một sự thực đáng buồn là đây là một lĩnh vực hiếm hoi ở Việt Nam mà “nói đi đôi với làm”. Tức là khi đã khẳng định sẽ ưu tiên khu vực DNNN thì nhà nước đã dành rất nhiều ưu đãi và đổ rất nhiều nguồn lực khan hiếm vào đây chứ không phải nói rồi để đó như nhiều việc khác.

[4] Quan điểm “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” là quan điểm hoàn toàn không có cơ sở khoa học gì mà chỉ đơn thuần là từ ý muốn chủ quan của ông Lê Duẩn từ thời những năm 80. Một quan điểm xa lạ với thế giới hiện đại, chỉ xuất phát từ ý kiến cá nhân của một lãnh đạo bảo thủ cách đây đã gần 40 năm mà vẫn còn có sức sống dai dẳng như vậy ở Việt Nam thì cũng đủ hiểu tư duy của các nhà lãnh đạo hiện nay ở Việt Nam trì trệ và xơ cứng tới mức nào (tất nhiên là tư duy này đã tạo ra một hệ thống thu lợi từ nó bằng việc tham nhũng nên thay đổi nó càng khó hơn)

[5] Như bài trước (http://viet-studies.info/kinhte/TranNgan_BoNaoThapNhat.htm) đã dẫn số liệu thì chỉ trong 6 năm, từ 2007-2012, thủ tướng Dũng đã ký phong hàm cho tổng cộng là 201 thiếu tướng và 50 trung tướng ngành công an. Trong năm 2013 cũng có 2 đợt phong tướng công an nhưng báo chí công khai không đưa số liệu nữa có lẽ vì sợ bị phản ứng (theo tác giả được biết thì mỗi đợt cũng trên dưới 40 thiếu tướng được phong). Ngay cả vị đại tá Đỗ Hữu Ca đầy tai tiếng cũng được phong tướng.

[6] Công an ở Việt Nam có một điểm đặc biệt khác với quân đội là quân đội còn được một nguồn lực bổ sung rất lớn do giữ lại một hệ thống doanh nghiệp rất lớn và rất nhiều đất đai để kinh doanh hay cho thuê. Ngành công an hiện nay không còn các doanh nghiệp và cũng hầu như không có đất đai nên các cán bộ công an càng phải tăng cường “kiếm chác” dựa vào ghế của mình bằng việc bán chức quyền, tham nhũng hoặc bảo kê cho các doanh nghiệp sân sau.

[7] Một điểm đáng lưu ý như nhà báo Huy Đức có viết là những nhiều vụ bắt bớ hay trù dập báo chí gần đây đều có liên quan tới thủ tướng Dũng. Chẳng hạn ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt vì kiện thủ tướng, Trương Duy Nhất cũng có những bài chỉ trích trực tiếp thủ tướng, nhà báo Huy Đức và báo Sài gòn tiếp thị cũng bị gây khó khăn từ sau khi cho đăng bài “Chị Hai của thủ tướng”…

[8] Dù chế độ hiện nay đã tìm mọi cách để đánh bóng tình hình đất nước, kể cả bằng cách chính trị hóa các con số thống kê (đưa GDP bình quân đầu người năm 2013 lền gần 2000USD, cao hơn 23% so với năm 2012 bằng các thủ thuật thiếu minh bạch) nhưng họ vẫn cảm thấy bất an nên thời gian gần đây, nhà nước đã tiến hành hàng loạt cuộc diễn tập chống bạo loạn, biểu tình trên khắp các địa phương từ Kiên Giang (Chinhphu,6/12/2013), Điện Biên (Vnplus,20/10/2012), Hà Nội (Thanhnien, 15/11/2013), Nghệ An (Vnexpress, 18/10/2013) , Đắk Nông (CAND,16/10/2013), Lâm Đồng (Petrotimes, 10/12/2012)), Bình Phước (baobinhphuoc, 20/11/2013) ),… Thực ra ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay, rất khó có khả năng xảy ra những vụ bạo loạn hay biểu tình đông người kiểu này nhưng nhà nước vẫn rất lo lắng. Đây có thể là biểu hiện cho tâm lý sợ hãi và tất nhiên như đã nói ở trên, nó sẽ càng được nhóm lợi ích công an kích động lên để nâng cao vai trò của họ.

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 6-1-14

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► Cuộc triển lãm Cải cách Ruộng đất hôm nay đóng cửa vì thiếu ánh sáng, nhưng rồi có thể sẽ quay lại bằng một ánh sáng khác, một ngày nào đó…

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2014

Vâng, dĩ nhiên chỉ là ánh sáng

.

Tuấn Khanh/ Blog Tuấn Khanh
13-9-2014
.
Bà Nguyễn Thị Năm và các con 
.
Đợt triển lãm “Cải cách Ruộng đất” vừa khai mạc ngày 8 tháng 9/2014 tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Hà Nội, đã đột ngột đóng cửa 2 ngày sau đó, với lời giải thích rằng “trục trặc kỹ thuật về ánh sáng”.
.
Buổi triển lãm ở bảo tàng vào ngày cuối cùng, được mô tả là tràn ngập các nông dân miền Bắc mất đất vào xem, theo một lời mời tinh nghịch và cũng hết sức thông minh từ trang blog Xuân Việt Nam.

 Trong bản video ghi lại, người ta nhìn thấy sự hốt hoảng của các nhân viên bảo tàng khi cố gắng ngăn chận những nông dân này vào xem một cuộc triển lãm công cộng. Rõ là các nhà tổ chức, đang vinh danh cho một chiến dịch về đất đai của Đảng lãnh đạo, đã cảm thấy mắc nghẹn khi bất ngờ gặp phải những hình ảnh đối chiếu sống động và quá sắc cạnh. 
.
Trong lịch sử, Đảng Lao Động Việt Nam dưới quyền chỉ huy của ông Hồ Chí Minh đã tiến hành một cuộc cách mạng điền địa kéo dài 11 năm (từ 1946 đến 1957), tịch thu của cải và vườn tược của hàng trăm ngàn người ở miền Bắc Việt Nam, chuyển qua cho Nhà nước quản lý. Nhưng kể từ cuộc cách mạng đó, người ta chứng kiến đến nhiều thập niên sau, là quan chức và nhiều tầng lớp cán bộ, đảng viên Cộng sản lại giàu có hơn gấp triệu lần những người bị đấu tố trong quá khứ. Họ “địa chủ” hơn, “tư bản” hơn và đáng bị đấu tố hơn bao giờ hết.
.
Vâng, vấn đề chỉ là ánh sáng. Sự có mặt của những nông dân Việt Nam lang thang khắp các cơ quan công quyền, cầm trên tay những xấp đơn rách nát vì mưa gió để cầu xin công lý cho đất đai tổ tiên đã mất vào tay các “nhóm lợi ích” đầy quyền lực từ Đảng, chính là một ánh sáng của sự thật. Ánh sáng đối chiếu đó làm run sợ mọi ngôn luận cực hữu, bao gồm sự thô bỉ mạt hạng như lời phát biểu của ông giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia “không nhất thiết phải phơi bày sai lầm của lịch sử”.
.
Không chỉ sai lầm có tính lịch sử vừa được nhắc tới, mà hiện tại cũng đã đang rầm rộ trình diễn sự tối tăm đang diễn ra trên đất nước Việt Nam. Tháng 5/2012, hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo diễn ra dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các bản báo cáo mở ra một khung cảnh Việt Nam tan nát: trong số hàng triệu các đơn khiếu kiện, kêu oan, tố cáo… Có đến 70% là liên quan về đất đai. Các con số này chưa bao giờ lạc hậu. Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ cho năm 2013, thì trung bình có 120.000 vụ/năm đệ đơn khiếu nại, tố cáo… về đất đai.
.
Chiến dịch Cải cách Ruộng đất đẫm máu trong lịch sử đã được chính quyền miền Bắc tuyên bố nhận sai, sửa sai. Nhưng thông tin minh bạch về một nửa Việt Nam kinh hoàng trong những ngày tháng đó, phần nhiều chỉ tìm thấy trong các bản tin không chính thức. 
.
Việt Nam cũng có một ngày phụ nữ Việt Nam nhưng bao giờ có ai dám nhắc đến tên bà Cát Hạnh Long (Nguyễn Thị Năm) trong ngày Phụ nữ vinh quang ấy – người đã từng nuôi giấu ông Hồ Chí Minh, nhưng cũng là người bị giết đầu tiên trong chiến dịch ghê sợ này. Và cũng nửa thế kỷ trôi qua, người ta chưa bao giờ thấy một Đài tưởng niệm những nạn nhân Cải Cách Ruộng đất được hình thành. So với số lượng những nghĩa trang và đài tưởng niệm lính Trung Quốc ở Việt Nam, những linh hồn đồng bào Việt chắc chắn có quyền hờn tủi. Hãy tự hỏi, phải chăng chúng ta đã có và luôn chấp nhận một đoạn lịch sử tối tăm và thiếu ánh sáng?
.
Trong những ý kiến cực hữu tìm thấy trong các cuộc tranh cãi do cuộc triển lãm này mở ra, có ý cho rằng mọi phản ứng mang tính bất bình về chính sách Cải cách Ruộng đất trong quá khứ chỉ là “phong trào”, và những người lên tiếng không có liên hệ trực tiếp nào đến sự kiện đó cả. Những lập luận này cho thấy thái độ chưa đủ chân thành và thẳng thắn của Nhà nước trong việc nhìn nhận lịch sử, đã tạo cơ hội cho những suy nghĩ giòi bọ vô lương tâm đến đồng bào mình. Loại người mà ngạn ngữ Nga vẫn hay trả lời với đại ý rằng “chỉ có loại heo chết mới không bàn đến nước sôi luộc thịt”.
.
Cuộc triển lãm đóng cửa vì lý do ánh sáng, hay nói một cách khác là vết thương cũ đã hơn nửa thế kỷ lại bộc phát do thiếu minh bạch. 
.
Bóng ma của câu chuyện Cải cách Ruộng đất vẫn còn ám ảnh, một khi cái gọi là sửa sai, nhận sai chưa đủ thuyết phục. Dù đó là giọt nước mắt xin lỗi hay hình thức đền bù theo kiểu chương hồi. Nói ám ảnh là không quá đáng, theo hồ sơ công bố của Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh, hiện tại chỉ trong 4 năm mà miền Nam đã có hơn nửa triệu đơn tố cáo, kêu oan… về đất đai. Có hay không một cuộc Cải cách Ruộng đất với hình thức khác đã chuyển từ Bắc vào Nam?
.
Cuộc triển lãm Cải cách Ruộng đất hôm nay đóng cửa vì thiếu ánh sáng, nhưng rồi có thể sẽ quay lại bằng một ánh sáng khác, một ngày nào đó. Và chúng ta cũng mong những vấn nạn về đất đai hôm qua cũng như hiện tại rồi sẽ được soi chiếu bằng một ánh sáng khác. Vâng, tất cả chỉ là chuyện ánh sáng mà thôi.
.

 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | 1 Comment »

►Cuộc cải cách ruộng đất ở Bình Dương 1997-2000: giúp chủ tịch tỉnh thu nhập 64 tỉ đồng trong 5 năm và sở hữu 100 mẫu cao su

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2014

Thấy gì qua thu nhập 64 tỉ đồng của Chủ tịch tỉnh Bình Dương?

Hưng Long

– Câu chuyện về tài sản của ông Lê Thanh Cung, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương được Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Dương xác nhận. Theo đó, vị lãnh đạo này sở hữu hàng chục hécta cao su gây sửng sốt trong dư luận. Hơn hết, hàng chục hécta đất cao su đã được cấp trái phép.

Hàng chục hécta đất vào tay ông chủ tịch như thế nào?

Ngày 4-9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Dương đã tổ chức họp giao ban báo chí quý III/2014. Ông Nguyễn Minh Giao, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Dương xác nhận, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Thanh Cung hiện đang sở hữu vài chục hécta cao su. Ông Giao đã đưa ra thông tin khiến dư luận như “xóa tan” ngờ vực về việc ông Lê Thanh Cung đang sở hữu lô đất cao su hơn 100ha. Cũng tại buổi giao ban báo chí này, ông Giao còn khẳng định, trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2004, ông Cung có thu nhập 50 triệu đồng/ngày. Đối với người dân Việt Nam, thu nhập của Chủ tịch tỉnh Bình Dương thuộc hàng “khủng”.

Nhưng nếu như vườn cao su ông Cung có được từ thừa kế của người thân hay do lao động bằng năng lực thì chắc hẳn chẳng ai quan tâm. Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó chủ tịch Hội Luật gia TP HCM phân tích: UBND huyện Bến Cát đã có sai phạm khi giao đất nông nghiệp cho Phó chủ tịch nay là Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương sử dụng.


Biệt thự của ông Lê Thanh Cung

Thời điểm từ tháng 1-1997 đến tháng 12-2000, hàng chục hécta cao su bỗng dưng như từ trên trời rơi xuống theo “quyền lực” của lãnh đạo tỉnh. Lô đất của ông Cung lại “nằm gọn” trong 980,137 ha của Công ty Chế biến cây công, nông nghiệp xuất khẩu tỉnh Bình Dương (tên viết tắt: Công ty Sobexco). Hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ cho đến khi công ty này giải thể, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản thu hồi đất của Công ty Sobexco số đất trên. Trong đó, giao cho dân đã nhận khoán trước: 320,24ha; bán thẳng vườn cây cao su cho người sử dụng 306,979 ha; đấu giá vườn cây cao su: 352 ha; đấu giá đất chuyên dùng: 0,918ha.

Ông Cung cũng là “dân” nên được giao phần đất nằm trong diện “giao cho dân đã nhận khoán trước: 320,24 ha” thuộc khu đất lâm trường Long Nguyên tại ấp 8, xã Long Nguyên (huyện Bến Cát). Ngày 9-9-2003, UBND tỉnh có công văn về việc chấp thuận giao 320,7 ha đất trước đây do Công ty Sobexco quản lý cho UBND huyện Bến Cát quản lý và xem xét giao đất sản xuất nông nghiệp cho người dân có nhu cầu theo thẩm quyền.

Căn cứ vào công văn nói trên của UBND tỉnh, UBND huyện Bến Cát đã thực hiện giao đất theo thẩm quyền trên cơ sở sổ xanh đổi sổ đỏ. Không quá ngạc nhiên khi, ông Phó chủ tịch Cung cũng nằm trong danh sách các hộ dân được giao đất. Diện tích đo đạc lại khi cấp sổ đỏ là 320,24ha. Trong đó, cấp sổ đỏ cho 112 hộ dân: 283,53ha; diện tích hành lang đường: 9,61ha; đất khu dân cư ấp 8 Long Nguyên: 24,3ha; đất bãi rác: 2,8 ha.

Trong 112 hộ dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 283,53ha, ông Cung đứng tên hàng chục hécta đất. Một Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương thời bấy giờ từng phải làm giải trình trong việc phân cấp đất của Công ty Sobexco đã để lại bút tích về việc có ít nhất 3 cán bộ được cấp đất trong đợt này. Bản viết tay thể hiện: “Cán bộ: 9 Cung – Phó chủ tịch, Út Đoàn – Phó chủ tịch, Út Tuyền (Ban TC)”. Báo cáo Kết quả Thanh tra của tỉnh Bình Dương có đề cập đến diện tích đất mà ông Cung được giao nhưng không nhắc đến việc thu hồi phần đất của ông Lê Thanh Cung.

Cần làm rõ nguồn gốc đất và thu nhập

Trao đổi với phóng viên Báo Năng lượng Mới, Luật sư Nguyễn Văn Hậu đưa ra dẫn chứng, căn cứ vào thời điểm xảy ra sự việc và các quy định tại Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28-8-1999 của Chính phủ để xác định tính pháp lý của các quyết định giao đất nông nghiệp của UBND huyện Bến Cát đối với ông Lê Thanh Cung. Vị Phó chủ tịch tỉnh được giao hàng chục hécta đất cao su là bất thường, trái với quy định của pháp luật.

Điều 8 Nghị định 85/NĐ-CP quy định: “Đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và bộ đội về hưu hoặc nghỉ mất sức đang hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên, nếu có khả năng sản xuất, có nhu cầu sử dụng đất, thì UBND xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất ở tại địa phương và tùy theo đối tượng cụ thể mà cho họ được thuê có thời hạn một số đất để sản xuất…”.


Vườn cao su của gia đình ông Cung (100 mẫu; 1 mẫu = 10.000 mét vuông)

Căn cứ theo quy định trên, UBND huyện Bến Cát giao đất nông nghiệp cho ông Lê Thanh Cung là vi phạm về đối tượng được giao đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 85/1999/NĐ-CP thì chỉ hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất đó, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận, thì được Nhà nước giao đất trong hạn mức để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và không thu tiền sử dụng đất.

Luật sư Hậu khẳng định: “Khi đó, ông Lê Thanh Cung đang là Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương nên không thể là đối tượng để được giao đất nông nghiệp theo quy định trên”. Quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định 85/1999/NĐ-CP thì các đối tượng là cán bộ, công chức Nhà nước đang sinh sống tại địa phương chỉ được thuê đất từ quỹ đất công ích của UBND xã để sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

Ngoài ra, UBND huyện Bến Cát còn vi phạm về hạn mức giao đất nông nghiệp. Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 85/1999/NĐ-CP thì hạn mức giao đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm là không quá 10ha. Do đó, việc giao 50ha đất nông nghiệp trồng cây lâu năm cho một cá nhân, hộ gia đình là trái quy định pháp luật.

Ngày 26-12-2000, Tổng cục Thuế đã có công văn trả lời về chính sách thu đối với Công ty Sobexco cho Cục Thuế tỉnh Bình Dương. Khi công ty không có nhu cầu sử dụng đất thì diện tích đất nông nghiệp phải được trả lại cho Nhà nước để giao cho các đơn vị khác sử dụng theo hình thức giao đất hoặc cho thuê đất. Công ty chỉ được phép bán giá trị tài sản trên đất như: cây cao su và các cơ sở hạ tầng khác nếu có.

Luật sư Hồ Nguyên Lễ, Trưởng văn phòng Luật sư Luật Tín Nghĩa đưa ra ý kiến về việc thu thuế thu nhập của ông Lê Thanh Cung. Nếu ông Lê Thanh Cung không nộp thuế thu nhập cá nhân là hành vi phạm pháp, cần xử lý!

Luật sư Lễ đánh giá: “Một cá nhân thu nhập trên 64 tỉ đồng trong 5 năm, đây là một khoản thu nhập “khủng” nên theo tôi cơ quan thuế phải kiểm tra chặt chẽ về trách nhiệm nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (trước đây) hoặc nộp thuế thu nhập cá nhân (hiện nay)”. Trách nhiệm của người nộp thuế là kê khai nộp thuế phải rõ ràng, đầy đủ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước và quyết toán thuế đối với mọi khoản thu nhập theo quy định của pháp luật về quản lý thuế (Điều 24 Luật Thuế thu nhập cá nhân).

Nếu cơ quan quản lý thuế phát hiện cá nhân, tổ chức có vi phạm pháp luật về thuế thì có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và kiến nghị cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh tội phạm vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và thông báo tiến độ, kết quả xử lý vụ việc cho cơ quan quản lý thuế. (Điều 9, Điều 13 Luật Quản lý thuế).

—-

Bài liên quan

Chị Hai Tâm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có hộ khẩu ở Kiên Giang. Nhưng đột nhiên chị làm chủ hơn 185 mẫu cao su ở Bình Dương. 

»

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Chính Sách Cải Cách Điền Địa Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2014

CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

 
Trong 20 năm (1955-1975), chính phủ miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện 2 lần cải cách đièn địa:- Cuộc cải cách điền địa lần thứ nhất do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện (1955-1963)
CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT MIỀN NAM
Khác hẳn chính sách cải cách ruộng đất miền Bắc, chế độ miền Nam đặt lên ưu tiên hàng đầu chính sách tư hữu hoá ruộng đất cho tất cả tá điền, mỗi gia đình làm chủ thật sự một mãnh ruộng tư hữu. Trong 20 năm (1955-1975), chính phủ miền Nam đã thực hiện 2 lần cải cách điền địa:
– Cuộc cải cách điền địa lần thứ nhất do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện (1955-1963)
– Cuộc cải cách điền địa lần thứ nhì do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chủ trương (1967-1975)

 
I. CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
Trở thành Thủ tướng dưới chế độ quân chủ của Hoàng đế Bảo Đại (7-7-1955), Ông Ngô Đìhh Diệm khẩn trương, sau Hiệp định Genève được ký kết, ban hành 2 Dụ (số 2 và sổ 7) đánh dấu bước đầu của chính sách cải cách điền địa. Dụ sô’ 2 và Dụ số 7 nầy thiết lập quy chế tá canh (22) gồm các điều khoản chủ yếu như sau:
– Địa tô: Cho đến cuối năm 1955, miền Nam không hề áp dụng thủ tục ký hợp đồng cho thuê mướn ruộng đất canh tác. Thường thường có sự thỏa thuận bằng miệng giữa chủ điền và tá điền. Chiếu theo quy luật cung và cầu, chủ điền áp đặt các điều kiện khắc khe bất lợi cho tá điền. Địa tô chẳng hạn thường thật cao, từ 40% (ở môt số tỉnh miền Tây đồng bằng sông Cửu Long còn thưa đân) đến 60% vụ lúa thu hoạch (ở các tỉnh trung ương thuộc đồng bằng sông Cửu Long, bị áp lực nhân mãn). Từ khi quy chế tá canh được ban hành, địa tô nầy được giảm bớt phân nửa:
* 15% vụ lúa thu hoạch (trường hợp ruộng cho một vụ mỗi năm).
* Từ 15% đến 25% vụ lúa chánh thu hoạch, đối với các ruộng lúa cho 2 vụ mỗi năm.
 
– Thời gian cho thuê ruộng đất. Thời gian cho thuê ruộng đất được quy định là 5 năm (thay vì 2-3 năm hoặc 5 năm truớc kia, tùy theo tỉnh). Hợp đồng đuơng nhiên được tái ký giữa chủ điền và tá điền. Tá điền có thể xin hủy bỏ tái ký hợp đồng, nhưng phải thông băo cho chủ điền biết trước 6 tháng. Chủ điền cũng có thể từ chối, không tái ký hợp đồng, với điều kiện là phải thông báo cho tá điền biết truớc 3 năm.
– Trường hợp ruộng đất bị bỏ hoang. Diện tích ruộng lúa bị bỏ hoang trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập (không có chủ điền hiện diện nhìn nhận quyền sỡ hữu) được ước lượng khoâng 500.000 ha. Những ruộng lúa nầy một phần lớn thuộc quyền sở hữu của các trung điền chủ (từ 5 đến 10 ha) và đại điền chủ (từ 50 ha trở lên). Họ phải rời bỏ nông thôn để tránh quân “kháng chiến” Việt Minh (Cộng sản) khủng bố. Họ sống tỵ nạn ở các thành phố. Một sô’ người thuộc 2 thành phần chủ điền nầy trở thành công chức, và một số khác hành nghề tư do (thuơng nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm, xuất nhập cảng vv…). Nếu họ không có mặt tại chổ, lúc chính quyền địa phuơng kiểm kê ruộng- đất, thì đương nhiên ruộng đất nầy thuộc quyền sở hữu quốc gia. Chính quyền địa phương sẽ cấp phát không cho tá điền.
Một năm, sau khi áp dụng quy chế tá canh, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm (trở thành tổng thống VNCH) ban hành Dụ số 57 ngày 22-10-1956, thiết lập chính sách cải cách điền địa. Sau dây là các điểm chính (23):
– Số diện tích đất tư hữu được quyền giữ lại. Mỗi điền chủ được quyền giữ tối đa 100 ha ruộng lúa, trong số nầy 30 ha được phép trực canh, và 70 ha phải cho tá điền thuê, đúng theo quy chế tá canh.
– Bồi thường thiệt hại. Ðiền chủ bị truất hữu được chính phủ bồi thuờng thiệt hại một cách công bằng và thỏa đáng:
• 10% trị giá ruộng đất bị truất hữu đuợc trả ngay bằng tiền mặt.
• 90% được trả trong thời hạn 12 năm, dưới hình thức là trái phiếu được chính phủ bảo đảm, với lãi suất là 3% mỗi năm. Đương sự có thể sử dụng trái phiếu nầy để trả thuế điền thổ hoặc mua các chứng khoán của các xí nghiệp quốc doanh.
 
– Bán lại truất hữu cho tá điền.  Ruộng bị truất hũu được chính phủ bán lại cho các tá điền (mỗi gia đình được quyền mua lại tối đa 5 ha) và họ phải trả cho nhà nước trong 12 năm (vốn và lãi). Giá tiền ruộng đất bằng với giá tiền thiệt hại mà chính phủ trả cho chủ điền, khi truất hữu ruộng đất của họ.
Theo Bộ Canh Nông, thì có 1.085 đại điền chủ (có trên 100 ha) bị truất hữu bởi Dụ số 57, và số diện tích ruộng đất truất hữu đạt 430.319 ha (24).
Ngoài ra, cần thêm vào đấy 220.813 ha ruộng đất của Pháp kiều (chiếu theo Hiệp Ðịnh Việt-Pháp được ký kết ngày 11-9-1958), như vậy, tổng số diện tích ruộng lúa được truất hữu lên đến 651.182 ha.
Sô’ tá điền được hữu sản hóa ruộng đất (từ 1957-1963) đạt 123.198 nguời, cộng thêm vào đấy 2.857 tá điền khác đã trực tiếp thỏa thuận mua lại các đại điền chủ ruộng lúa của họ, đưa tổng số tá điền được hữu sản hóa ruộng đất lên thành 126.050 tiểu điền chủ (duới 5 ha), với tổng sô’ diện tích truất hữu là 252.218 ha.
Chúng ta có thể đưa ra một vài nhận xét dưới đây:
       – Mặc dù bị truất hữu, giới điền chủ giàu có tỏ ra hài lòng. Thật vậy, trong thời chiến tranh giành độc lập, một phần lớn các trung điền chủ (5-10 ha) và đại điền chủ (50 ha hoặc nhiều hơn nữa) phải rời bỏ nông thôn. Họ phải bỏ hoang ruộng đất, nhà của v.v… Tài sản của họ bị xem như là đã mất. Vì họ vắng mặt, nên Việt Minh xung công ruộng đất của họ, chia ra thành nhiều lô và phân phát không cho các tá điền. Ðịa tô bị hủy bỏ. Quy chê’ tá canh và Dụ số 57 khôi phục lại quyền sở hữu ruộng đất của trung và đại điền chủ, do dó, họ được quyền thu địa tô và lãnh tiền bồi thuờng thiệt hại khi bị truất hữu. Hơn nữa, giới dại điền chủ còn được quyền giữ lại 100 ha, mà lợi tức mỗi năm (nhờ thâu địa tô) thừa nuôi sống họ một cách thoải mái. 
       – Tá điền cũng không chống đối chính sách cải cách điền địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Diệm. Thật vậy, chiếu theo quy chế tá canh, tất cả nông dân đã trồng trên mảnh ruộng do Việt Minh cấp phát trong thời chiến, đều có quyền tiếp tục canh tác trên mảnh ruộng nầy, với điều kiện phải trả địa tô. Như vậy, quyền tá canh của họ vẫn được chính phủ nhìn nhận và bảo đảm.
       – Ðịa tô được giảm hơn 50% so với thời kỳ thuộc địa, như thế rất có lợi cho tá điền. Hơn nữa, Dụ Số 57 tạo cho tá điền một cơ hội tốt để trở thành tiểu điền chủ. Song song với cải cách điền địa, Tống Thống Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách được gọi là “dinh điền” và “khu trù mật”, nhằm mục đích:        
– Giải quyết công ăn việc làm cho 850.000 đồng bào miền Bắc di cư vào Nam tỵ nạn Cộng sản.
– Giải quyết nạn thất nghiệp hoành hành các đồng bằng duyên hải Trung phần Việt Nam.
Nhiệm vụ thực hiện các trung tâm dinh điền và các khu trù mật được giao phó cho Phů Tống ủy Dinh Ðiền. Nhờ sự viện trợ kỹ thuật và tài chánh dồi dào của Hoa Kỳ, Pháp, Tố Chức Sức Khỏe Thê’ Giới (OMS), Phủ Tổng ủy Dinh Điền thực hiện trong một thời gian ngắn ngủi (1957- 1961) 169 trung tâm tái định cư (trong số nầy, có 25 Khu Trù Mật, tất cả đều tập trung trên đồng bằng sông Cửu Long).
Diện tích đất trồng được khai hoang hay được tái canh tác đạt 109.379 ha (26). Các trung tâm tái định cư nầy đã tiếp nhận 50.080 gia đình, tính ra có đến 250.000 người tái định cư ở những nơi nầy.
       • Các Trung tâm Dinh Điền là những làng mạc mới được thành lập để đón nhận đồng bào di cư miền Bắc và giới nông dân nghèo khó- của các đồng bằng duyên hải Trung phần Việt Nam di dân đến đây sinh cơ lập nghiệp.
Mỗi khu dinh điền tập trung từ 1.000 đến 1.500 dân, có chợ trời, một nữ y tá, một cô mụ đở đẻ, một trường tiểu học có 8 lớp.
Trên đồng bằng sông Cửu Long, Phủ Tổng Ủy Dinh Điền cấp phát không từ 1 đến 3 ha cho mỗi gia đình định cư, 1 ha đất khẩn hoang tại miền Ðông Nam Phần và trên Cao nguyên Trung Phần. (1 ha = 1 mẫu = 10.000 mét vuông)
Mỗi gia đình định cư có quyền khẩn thêm đất hoang để đạt đến 5 ha/mỗi gia đình.
Sau đó, chính phů cấp phát cho họ một bằng khoán xác nhận quyền sở hữu ruộng đất nầy.
Ngoài ra, họ còn được chính phủ trợ cấp lương thực, khoảng 1 năm cho đến khi họ bắt đầu thu hoạch mùa màng đầu tiên. Các nông cụ (cuốc, búa, mác, xẻng, phân bón hóa học…), hạt giống, con giống (gà, vịt) được nhà nước cấp phát không.
Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho vay tiền lãi suất thấp, để họ có phương tiện tài chánh canh tác, hoặc để mua một con trâu hay một con bò, một con heo nái hoặc heo nọc giống ngoại quốc cho năng suất cao (Yorkshire, Landrace, Duroc Berkshire).
       • Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đãy sinh sống ở những địa phương nào chưa được bảo đảm”. Các thôn dân sinh sống trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiển tranh xâm lược miền Bắc, Tổng thông Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô lập họ với “Việt Cộng”, giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được. Mỗi Khu Trù Mật có khoàng từ 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tầng cơ sở giống tựa như trường hợp của một thành phố.
       • Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm buôn bán).
       • Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền). Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các trục giao thông).
       • Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đăt trồng có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất mầu mỡ, để trong tương lai, các thể hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.
       • Khu Trù Mật có thể phát triển thuơng nghiệp và các lãnh vực dịch vụ khác, cũng phát triển các tiểu thủ công nghệ liên hệ với nền nông nghiệp địa phương.
       • Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình phục vụ nhân dân, ít dòi hỏi nhiều tư bản đầu tư hơn hình thúc cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v…).
       • Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiển tranh xâm lược của Cộng sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật, chính quyền địa phương còn được trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một “tiền đồn”, ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.
Bởi vậy, các Khu Trù Mật thường được thiểt lập tại các địa điểm có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Ðồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000m2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia dình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh.
– Thành lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc. Ðể yểm trợ chính sách cải cách điền địa, Tổng thống Diệm thành lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc, chiếu theo Nghị định sô’ 65 DTCC (tháng 4-1957). Ðây là một cơ quan quốc doanh tự trị, có nhiệm vụ phát triển mọi lãnh vực kinh tế nông thôn thôn (nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm ngiệp, tiếu thủ côn nghiệp).
Để chổng lại nạn cho vay nặng lãi, Quốc Gỉa Nông Tín Cuộc chẩp thuận cho nông dân vay tiền để làm ruộng một cách dễ dàng, khác hẳn với các cơ quan nông tín của chể độộ thuộc địa trước kia. Căn cứ vào khå năng sản Xuất của nông dân, Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho vay nợ mà không đòi hỏi vật thể chấp hay người bảo lãnh:
• Lãi Suất 1% mỗi tháng, nếu nông dân vay mượn ngắn hạn (dưới 18 tháng).
• Lãi Suất 8%/năm, nếu vay trung hạn (18 tháng đến 5 năm).
• Lãi Suất 6%/năm, nếu vay mượn dài hạn (5 đến 15 năm). • Lãi Suất rất thấp chỉ có 5%/năm dổi với các hợp tác xã nông nghiệp.
Trong 9 năm (1955-1963), Quốc Gia Nông Tín Cuộc đã cho vay trong tất cả các lãnh vực nông nghiệp số tiền trên 4 tỷ 600 triệu đồng được phân chia như sau:
• 85% cho vay ngắn hạn, để tiểu điền chủ (1 đến 5 ha) và tá diền có tiền nông làm ruộng.
• 7% Cho vay trung hạn để trồng các; loại cây đa niên.
• 8% Cho vay dài hạn để thực hiện hạ tầng cơ sở như thủy nông hoặc thiểt lập một cơ sở tiểu thủ công nghiệp chẳng hạn.
Quốc Gia Nông Tín Cuộc cũng cho những người tái định cư vay để mua ruộng đất gần nơi cư ngụ để cạnh tác. Các cán bộ Xây dựng nông thôn có nhiệm vụ cô’ vấn, hướng dẫn nông thôn áp dụng phương pháp đa cạnh. Ngoài ngành trồng lúa, nhà nước khuyến khích họ trồng các loại cây cho lợi tức cao như dừa, đậu phọng, mía, khoai mì, cây ăn trái, để tạo cơ hội tốt cho giới kinh doanh địa phương phát triển các kỹ nghệ chế biến thực phẩm như dầu ăn, đường, bột khoai mì v.v… Những tiểu thủ công nghiệp nầy tạo công ăn việc làm cho dân tại đây, hảm bớt một phần nào hiện tượng di dân cô truyền từ nông thôn ra thành thị. Nhờ an ninh được vãn hồi trong Khu Dinh Ðiền và Khu Trù Mật, Tổng thống Diệm đã thành công cải thiện trong một khoảng thời gian ngắn ngủi diều kiện sinh sống của giới nông dân nghèo khó:
– Gia đình họ được tư hữu hóa một mãnh đất trồng (từ 1 đến 5 ha).
– Con cái họ có cơ hội cấp sách đến trường, mà trước kia, chúng không hề có dịp may để học hành.
– Ðiều kiện sức khỏe của dân chúng được cải thiện rõ rệt. Các nhóm y tế lưu động viếng thăm có định kỳ các Khu Dinh Ðiền. Nhờ viện trợ kỹ thuật và tài chánh của Cơ Quan Y Tể Liên Hiệp Quốc và các nước bạn (Hoa Kỳ, Pháp), nhiều đoàn y tế có nhiệm vụ rải thuốc bột DTT, đào giếng (để cung căp nước uống), lấp bằng các vùng sình lầy nứoc ứ đọng, để diệt trừ các ô phát sinh ra một vài chứng vài chứng bệnh truyền nhiễm như bệnh sốt rét chẵng hạn, hoặc các bệnh tật khác có tính cách giới hạn trong địa phương.
Người ta cũng nhận thấy kỹ thuật cạnh tác và chăn nuôi đạt nhiều tiến bộ ở các Khu Dinh Ðiền và Khu Trù Mật. Nhiều trại nông nghiệp hướng dẫn nông dân. Duới sự chỉ đạo, hướng dẫn của các cán bộ nông thôn, cày, bừa, trục, máy cày được áp dụng. Nông đân cũng được hướng dẫn áp dụng đa canh, lựa chọn giống cho năng suất cao, Sử dụng phân hóa học thích hợp với từng loại đất trồng và khí hậu ở mỗi địa phương v.v… Chăn nuôi heo ngoại quốc, heo lai giống địa phương cho năng suất cạo được phát triện lần lần, kỹ thuật chăn nuôi nầy được nông dân ở các làng bao quạnh các Khu Dinh Ðiền và Khu Trù Mật noi gương theo. Trao đổi thương mãi giữa các Khu Dinh Ðiền, Khu Trù Mật và thành phố lân cận ngày càng phát triển, vượt khỏi hẵn ra ngoài địa phương.
Dần dần, Khu Trù Mật biến đổi, trở thành một thành phố nhỏ. Nhờ tín dụng lãi suất thấp, những nhà tiểu công nghiệp vay tiền thành lập các tiểu xí nghiệp. Nhiều sinh hoạt xưởng chữa xe, máy cày, trạm bán thuôc tây v.v… mọc lên như nấm.
Từ năm 1961, Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định biến đổi tất cå các làng mạc cổ truyền thành “ấp chiển lược”, theo kiểu của các Khu Dinh Điền. Trong bản thông điệp của Tổng Thống Ngôi Đình Diệm được chuyển đến Quốc Hội (1-10-1962), Ông cho biết là “thôn dân sinh sống an toàn trong 5.758 Ấp Chiển Lược, với tổng số dân lên đến 9.253.000 người” (26).
Khi thực hiện quy chế tá canh và cải cách điền địa, kèm theo chính sách dinh điền và khu trù mật Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhắm mục đích xóa bỏ dần chế độ phong kiến về quyền sở hữu ruộng đất, xóa bỏ dần những bất công xã hội thời thuôc địa. Ông cũng tìm cách nâng cạo dần mức sống của giới nông dân, cô lập dân chúng với Việt Cộng.
Trong 9 năm cầm quyền (1955-1956), có 176.130 gia đình nghèo khó thuộc các thành phần tá điền và nông dân tái định cư trở thành tiểu điền chủ từ 1 đến 5 ha ruộng đất trong số nầy:
– 126050 tá điền, với tổng số diện tích là 252.218 ha (chiếu theo Dụ số 57).
– 50.080 gia đình tái định cư với tổng số diện tích là 109.879 ha.
Tổng cộng, 176.180 gia đình nghèo khó, trở thành điền chủ (khoảng gần bằng 20% tổng sô’ tá điền miền Nam)’ với tổng số diện tích là 361.595 ha. Nhờ kỹ thuật cạnh tác tiến bộ và nhờ sử dụng phân bón hóa học, năng suất ruộng lúa gia tăng: từ 1,4 tấn/ha trong những năm 1950-1954, năng suất nầy đã vọt lên 2t/ha năm 1960-1963. Sư kiện nầy rất có ich lợi cho nông dân và lợi tức củ họ không ngớt gia tăng đều, đồng thời VNCH bắt đầu tái xuất cảng gạo và phó sản: 70.000 tấn năm 1955, 323.000 tấn năm 1963 (được xếp hạng nhì, sau các sản phẩm được xuất cảng). (27)
Mặc dầu kinh tế nông nghiệp được cải tiến, chính sách cảí cách điền địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đem lại kết quả khiêm tốn, hạn chế. Số tá điền trở thành chủ điền ít oi. Chỉ có gần 20% được hữu sản hóa, trong khi ấy, trên 80% chưa được thỏa mãn.
Theo nguồn tin chính thức(28), 795.480 gia đình nông dân còn tiếp tục phải trả địa tô cho chủ điền vào năm 1960-1968, với tổng sổ diện tích là 1.331.589 ha (nghĩa là 74% tổng số diện tích ruộng lúa ở đồng bằng sông Cữu Long). Tuy nhiên, nếu ta đặt lại trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thì ta sẽ thấy rằng chính sách cải cách điền địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm rất thích hợp với hoàn cảnh xã hội và kinh tế. Thật vậy, sau Hiệp định Genève (Tháng 7-1954), Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải đối phó với nhiều vấn đề khó khăn:
– Tái xây dựng đất nước sau 9 năm chiến tranh tàn phá.
– Tái định Cư cho 850.000 đồng bào miền Bắc di cư vào nam tỵ nạn Cộng sản.
– Nội chiến vào năm 1955: một vài đảng phái (được lực luợng Bình Xuyên và một vài tôn giáo ( Cao Ðài, Hòa Hảo tích cực ủng hộ) vẫn trung thành với Hoàng để Bảo Ðại, chống đối bằng vũ trang, tìm cách đảo chánh lật đổ chính quyền của Thủ tướng Ngô Ðình Diệm lúc bấy giờ.
– Chiển tranh xâm lược của Cộng sản Hà Nội vẫn đe dọa miền Nam sau Hiệp định Genève.
Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã thắng cuộc nội chiến và hủy bỏ chê’ độ quân chủ của Bảo Đại (sau một cuộc trưng cầu dân ý). Chế độ Cộng Hòa đã được ban hành ngày 26-10-1956. Tổng thống Ngô Đình Diệm được lòng dân và nhân cơ hội hòa bình được vãn hồi vào những năm 1956-1960, Ông tìm cách cũng cố quyền hành và tái phát triển nền kinh tế quốc gia.
Chính sách nầy đi song hành với việc tăng cường quân sự, để đối phó lại hiểm họa xâm lược của Cộng sản miền Bắc. Chính hiểm họa nầy mới là mối ưu tiên nhất của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Để đạt chiến thắng trong cuộc chiến tương lai đầy cam go, ông cần tập hợp, thực hiện sự đoàn kết của toàn dân.
Sinh quán tại Quảng Bình (Trung nguyên Trung phần Việt Nam) năm 1903, Tổng Thống Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình quan lại nổi tiếng ở miền Trung. Ông là người sùng đạo Thiên Chúa, được nhân dân miền Trung và đồng bào Công Giáo miền Bắc đi cư vào Nam triệt để ủng hộ. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng cần đến sự ủng hộ của nhân đân đồng bằng sông Cửu Long. Họ chiếm 2/3 dân số’ VNCH (29).
Bởi Vậy, trong cải cách điền địa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cần phải lưu tâm đến nguyện vọng của nhân dân miền Nam nầy. Trên 4/ 5 diện tích ruộng lúa tập trung trong tay của giới trung điền chủ (5-50 ha) và đại điền chủ (trên 50 ha). Mặc dù thiểu số (72.073 nguời) (30), so với 1 triệu gia đình tá điền, trung điền chủ (65.7 57 người) và đại điền chủ (6.316 nguời) thuộc các thành phần ưu tú của đất nuớc, mà trong số những người nầy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chọn các cộng sự viên. Ða số thuộc những người quốc gia, có khả năng, mà Tổng Thống có nhiều tin cậy. Họ trực tiếp lãnh đạo dân, từ trung ưong (các bộ) đến địa phương (tỉnh, quận, huyện, xã-ấp). Tuy nhiên, Ông không thể lãng quên giới nông dân nghèo khó, bị áp bức dưới thời thuộc địa dẫy đầy bất công xã hội. Việt Minh đã biết cách khai thác khéo léo hoàn cảnh nầy, trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập (hủy bỏ tá cạnh, phát không ruộng đất cho tá điền ở các vùng “giải phóng”). Nhờ chiến thuật nầy, họ đã thành công lấy cảm tình thôn đân và được họ tích cực ủng hộ. Nhờ đó, Việt Minh đã “chiến đấu” đạt đến thắng lợi. Sau khi đất nước chia đôi năm 1954, nông dân miền Nam vẫn còn giữ lại nhiều kỷ niệm, nhiều cảm tình đối với các lãnh tụ miền Bắc, nhất là “Bác Hồ kính yêu”.
Bởi Vậy, nhiệm Vụ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm rất tế nhị. Làm sao đã phá huyền thoại Việt Mính? Họ là những người Cộng sản độc tài, khát máu. Họ không bao giờ tôn trọng nhân quyền, tôn trọng quyền sở hữu ruộng đất, trái ngược hẳn những gì họ đã làm, đã thực hiện, trong suốt 9 năm chiến tranh giành độc lập (19/1.5-1954).
Sau Hiệp định Genève, 850.000 đồng bào miền bắc di cư vào Nam tỵ nạn Cộng Sản (1954-1955) và chính sách cải cách ruộng đất đẫm máu của Hồ Chí Minh (1955-1956) đã gây nhiều tiếng vang ở miền Bắc lúc bấy giờ. Mặc dù thế, chính phů Sàigòn đã không thành công đã phá huyền thoại Việt Minh, không thành công thuyết phục nhân dân miền Nam về hiểm họa Cộng sản. Họ không tin hoặc không muốn tin. Ðể đối phó lại Cộng sản miền Bắc trên phương diện chính trị, Tổng thống Ngô Đình Diệm hành động ngược lại. Nhưng làm thế nào tạo điều kiện thuận lợi để tá điền trở thành chủ điền thật đông đảo, mà không gây nhiều thiệt hại và sự bất mãn của các đại điền chủ, vì ruộng đất họ sẽ bị truất hữu. Họ lại là thành phần quốc gia, là cộng sự viên đắc lực của Tổng thống Ngô Đình Diệm?
Vì đặc biệt lưu tâm đến vấn đề đoàn kết quốc gia, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã áp dụng chính sách cải cách điền địa ôn hoà, một sự chọn lựa thận trọng. Chỉ một thành phần nhỏ bé thuộc giới đại điền chủ bị truất hữu thôi (các đại điền chủ có trên 100 ha): 2.035 bị truất hữu, nghĩa là 82% tổng số đại điền chủ có trên 50 ha. Trong 3 năm cuối cùng cầm quyền (1960-1963), Tổng Thống Ngô Đình Diệm rất khó thi hành chính sách cài cách điền địa, vì chiển tranh du kích không ngớt gia tăng. Bằng nhiều cách khác nhau, Việt Cộng đã tìm cách phá hoại, đánh phá chương trình cải cách điền địa của Tống Thống Ngô Đình Diệm nhằm mục đích ngăn chặn, không để ông cũng cố quyền hành ở miền Nam:
– Cấm tá điền làm đơn xin mua ruộng đất truất hữu.
– Cấm tá điền ký hợp đồng với chủ điền, chiếu theo quy chế tá canh của Tổng thống Diệm.
– Hủy bỏ địa tô.
– Ám sát cán bộ và chuyên viên nông thôn, đặc trách hướng dẫn áp dụng thì hành quy chẽ tá canh và cài cách điền địa.
– Phá hoại các nông thôn kiểu mẫ hướng dẫn nông dân canh tác, phá hoại các trung tâm thí nghiệm trồng tỉa và chăn nuôi v.v…
Dưới sự đe dọa của Việt cộng, nông dân không dám lập thủ tục hành chánh để mua ruộng đất truất hũu, và điền chủ bắt buộc phải từ bỏ quyền địa tô.
Diện tích ruộng lúa truất hữu có sẵn để hữu sản hóa cho các tá điền là 405281 ha [34]
– Diện tích ruộng truất hữu teho Dụ số 57 ngày 22-10-1956 là 651.132 ha.
– Diện tích ruộng truất hữu có sẵn để hữu hóa tá điền là: 631.182 ha -245.851ha : 405281 ha.
Vì không có đơn xin hữu sản hóa ruộng đất, nên số diện tích ruộng đất nêu trên bị bỏ hoang. Như vậy, chính sách cãi cách điền địa của Tổng Tổng thống Ngô Đình Diệm bị gặp nhiều trở ngại, vì nông thôn thiếu an ninh.
Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm qua đời (cuộc đảo chánh ngày l-11-1963), chế độ chính trị miền Nam trở nên bất ổn. Các cuộc đảo chánh thuờng xuyên xảy ra, chính phủ nội các bị thay đổi nhiều lần. Do đó, đường lối, chính sách thiếu liên tục. Chính sách cãi cách điền địa của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị gián đoạn từ năm 1963 đến năm 1967, đồng thời chính sách dinh điền và khu trù mật cũng tạm đình chỉ.
Sau khi trở thành “Chủ tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng”, Tướng Duơng Văn Minh quyết định hủy bỏ “Ấp Chiến Luợc”, không được lòng dân. Chính phủ đổi tên lại gọi là “Ấp Ðời Mới” hay “Ấp Tân Sinh”. Thừa dịp có sự sự tranh chấp quyền hành trong nội bộ của chính quyền miền Nam, “Mặt Trận Giải Phóng” đã tìm cách gây ảnh hưởng và kiểm soát nông thôn, áp dụng chiến thuật cổ điển, lấy nông thôn bao vây thành thị.
Sau khi Tướng Dương Văn Minh xóa bỏ ấp chiến lược, nền an ninh nông thôn bị xuống cấp trong những năm 1963-1967, nên Việt Cộng đã thành công len lỏi xâm nhập vào các trung tâm dinh điền và các ấp đời mới. Họ thành lập các tổ đặc công khủng bố nhằm mục đích gây ra tình trạng thiếu an ninh thường trực ở nông thôn. Họ gia tăng bắt cóc cán bộ nông thôn, ám sát các yếu nhân dịa phuơng, các cán bộ đặc trách an ninh xã-ấp v.v…
– Ở những vùng đặt dưới quyền kiểm soát của họ, họ phân chia ruộng đất thành từng lô và phát không cho các tá điền giống y như họ đã thực hiện trong thời chiến tranh giành độc lập.
Bị mất kiểm soát một phần lớn thôn dân, chính quyền miền Nam khó có thể đơn phương đương đầu lại chiển tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Nhờ sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ và các nước bạn khác (Úc, Thái lan, Phi Luật Tân, Nam Hàn) vào năm 1965, VNCH đã thành công khôi phục lại tình hình quân sự và chính tri, nông thôn dần dần được vãn hồi an ninh. Trật tự ở thành thị cũng được đảm bảo, sau khi Hiến Pháp được ban hành(ngày 1-4-1967).
Tiếp liền theo đó, có cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội mới. Sau khi trở thành Tổng thống của nền Ðệ nhị cộng hòa, Tướng Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục công trình dang dở cải cách điền địa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Nguồn:  Trí Nhân Media
 Ý Kiến bạn đọc
* “Năm 1967, đa số những gia đình nông dân ở Miền Nam đều xây nhà gạch lợp ngói. Gia đình nào cũng mua xe Honda SS-67, Honda Dame, Honda 68, Honda 71, Honda 72, Suzuki,… làm phương tiện di chuyển. Nông dân làm 2 vụ lúa mỗi năm đời sống trở nên khá giả.
Đời sống nông dân rất yên bình và hạnh phúc nhất là dưới đời TT Ngô Đình Diệm. Chứng cớ rõ nhất về đời sống hạnh phúc và an bình ở thôn quê được ghi lại trong lời ca của các bản nhạc được sáng tác trong giai đoạn 1955-1962 của nhạc sĩ như  Anh Bằng, Trần Thiện thanh, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương, Lam Phương, Hoàng Thi Thơ…các bản nhạc của Trịnh Công Sơn trong giai đoạn này cũng thuộc loại truyền cảm êm đềm như Ướt Mi (1958), Biển nhớ (1962)…” – (Lê Văn phỏng vấn Phạm Duy) 
*”Chính sách cải cách điền điạ của chính phủ Ngô Đình Diệm đã thay đôi bộ mặt của thôn quê Miền Nam những năm sau 1954 đến 1960. Chính sách này đã khôi phục, bảo vệ quyền dân sự cơ bản là quyền tư hữu, và tôn trọng quyền lợi của chủ đất. Nó giúp nông dân chưa có đất có cơ hội sở hữu một diện tích đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất của họ. Đời sống người dân quê sung túc hơn. Trong bối cảnh xã hội thịnh vượng ấy, đi dạo trên đồng nương, người ta chợt nghe thoảng vọng đâu đó tiếng hát trêu, hát đố, chòng ghẹo nhau của các cặp trai gái. Thú hơn cả là được nghe các câu dân ca khoan hò đối đáp trong những đêm trăng giã gạo. Phạm Duy đã từng sống, làm ruộng, cày sâu cuốc bẫm như một nông dân, nên trong tác phẩm ông đã cảnh quê tả rất thực và bàng bạc. “
———-

Vâng, lịch sử chẳng phải để hận thù …

Theo blog Vũ Thị Phương Anh

(Bài đã đăng trên IJAVN)
Nhặt được lời dẫn này trên trang blog Phó Nhòm Tây Bắc (http://ngocduonglc.blogspot.com), thấy hay nên chép về đây để lưu. PNTB: Chắc chắn tác giả bài báo “Lịch sử không phải để thù hận” còn trẻ lắm, chị cũng chỉ biết CCRD qua sách báo và một số người già kể lại? Còn ta: “mắt thấy, tai nghe”… Theo ta: “Lịch sử không phải để hận thù”, nhưng nó phải là bài học cho những kẻ hậu thế. Muốn vậy, phải tôn trọng sự thật lịch sử, phải học cho nghiêm túc, mới mong tránh được những điều tàn ác đối với đồng loại, mới mong xây dựng cuộc sống tốt đẹp cho con người….


***

Tôi đã chẳng viết bài này nếu không đọc được phản ứng của “cô ấy” trên facebook.

“Cô ấy” là một phóng viên trẻ, là tác giả của bài viết có tựa đề“Lịch sử không phải để thù hận” vừa đăng trên VnExpress cách đây vài ngày, liên quan đến cuộc triển lãm cải cách ruộng đất vừa mới mở ra đã bị đóng cửa, có lẽ vì … nhạy cảm.

Khi nghe về cuộc triển lãm, tôi đã tự nhủ là sẽ cố tránh, không nói gì hoặc viết gì để gợi thêm những ký ức đau lòng đã tạm lắng nhiều thập niên, nay đang được dịp tuôn ra. Vì tôi đã nghe quá nhiều về những “ông đội” đằng đằng sát khí, những cuộc đấu tố vào ban đêm với đèn đuốc sáng trưng và tử khí ngút trời.

Sinh ra và lớn lên ở miền Nam, từ thời tiểu học tôi đã được xem bộ phim “Chúng tôi muốn sống”, bộ phim mà những người đã trải qua thời cải cách ruộng đất như bố mẹ tôi đánh giá khá cao vì tính chân thực. Tôi nhớ mình chỉ xem được một lúc rồi bỏ dở vì sợ hãi, và mãi đến bây giờ tôi vẫn không bao giờ muốn xem lại dù bộ phim ấy có đầy trên Internet.

Tôi cũng có người thân là nạn nhân trực tiếp của cải cách ruộng đất. Bác họ tôi – chị họ của bố tôi – bị kẹt lại ở Nam Định khi bác trai đưa mấy người con vào Hải Phòng trước, chờ người đưa bác gái ra sau để cùng di cư vào Nam nhưng không được, đành bỏ bác lại ở quê. Bác gái, một người chăm chỉ làm ăn và hà tiện đến “vắt cổ chày ra nước”, bị quy là địa chủ vì có chút của ăn của để hơn người. Hai bác ở vậy chờ nhau suốt 21 năm; luật đạo của Công giáo không cho phép lấy vợ, lấy chồng khác khi người phối ngẫu chưa qua đời. Sau năm 1975, bác gái vào đoàn tụ với gia đình ở miền Nam, và mỗi khi có dịp thì bác lại tuôn ra hàng tràng ký ức của một thời mà bác không bao giờ quên được.

Những ký ức rùng rợn, những hành động bạo tàn, những con người độc ác … tôi nghe mãi cũng nhàm. Tôi chẳng bao giờ kể lại, cũng chẳng bao giờ muốn nhớ. Nhưng, giống như nhân vật trong bài báo, bác tôi không thể quên. Dù bác chẳng có vẻ gì là thù hận với những kẻ đã đấu tố bác ngày xưa. Kể xong, bác chép miệng, “số phận của họ rồi sau cũng chẳng ra gì. Ông trời có mắt”.

“Ông trời có mắt” là đạo đức căn bản của người Việt Nam. Với đạo đức ấy, những người nông dân hiền lành đã sống với nhau hàng nghìn năm trong tình làng nghĩa xóm, và có lẽ đã chỉ (lỡ dại một lần) làm những điều trái đạo lý vì bị cuốn theo cuộc cách mạng trời long đất lở lúc ấy mà thôi.

Người ta cần tha thứ và quên đi để sống. Vì không ai có thể sống an lành với một vết thương sâu hoắm và nhức nhối trong lòng. Vì vậy, dù còn nhiều điều không đồng ý với bài viết của tác giả, tôi đã không tranh luận. Cũng như tác giả, tôi hiểu cải cách ruộng đất là một vấn đề lớn và còn quá nhiều câu hỏi mà một cuộc triển lãm nhỏ không thể trả lời hết. Tôi cũng hiểu có nhiều điều vẫn chưa thể trưng ra, vì nếu không có câu trả lời ổn thỏa thì sẽ xoáy thêm vào một vết thương chưa lành trong lịch sử dân tộc Việt.

Nhưng tôi thật sự ngạc nhiên khi đọc được phản ứng trên facebook của tác giả, mà bạn bè tôi đã chép lại một đoạn[1] và đề nghị tôi bình luận. Đoạn ấy như sau:

“Ôi thế các ông các bà muốn gì ạ? Không cho bày thì bảo bưng bít. Không cho nói thì bảo bị bịt mồm. Giờ người ta bắt đầu cất lời, hé sạp hé mẹt thì các ông các bà chửi xối xả là bày ra cho nhục nhã. Tư liệu đấy, hiện vật đấy, các ông các bà tự hiểu lấy, đừng vin vào mấy nhời phi lộ rất quan phương của nhà chức trách rồi bảo bị bóp méo, bảo ngoan cố tranh công chối tội.”

Tôi đã chẳng ngạc nhiên khi đọc trong bài báo những lời ca ngợi thành quả của CCRĐ. Tôi hiểu tác giả có lẽ phải có phần bênh vực sau khi đã thẳng thắn nhắc đến nỗi đau của nạn nhân. Tôi đã tin dụng ý của tác giả là muốn ủng hộ sự bạch hóa dần dần một vấn đề gai góc và đau thương trong lịch sử Việt Nam. Nhưng khi tác giả khẳng định “tư liệu đấy, hiện vật đấy, các ông bà tự hiểu lấy”, và nhớ lại những gì đã được trưng bày trong cuộc triển lãm, tôi bỗng hiểu rằng tác giả rất chân thành tin cuộc CCRĐ là cần thiết. Chân thành khi nói về niềm vui của các nông dân “dắt con trâu ra đồng với tư cách chủ nhân ông”, “ăn cơm trên bộ tràng kỷ mát lạnh xa lạ mà ba đời cha ông mình không dám mơ ước”. Dù những tài sản này không phải là thành quả của sức lao động của chính họ, mà là kết quả của cuộc cách mạng “đánh đổ giai cấp địa chủ bóc lột”, như những văn kiện của Đảng đã rành mạch chỉ ra.

Thật đau lòng khi giai cấp mà cách mạng cần phải tiêu diệt (trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ) có cả những người như ông bà của tác giả và bà bác của tôi. Từ lúc nào, những người nông dân hiền lương bỗng chốc trở nên độc ác, căm hờn trong những cuộc đấu tố dã man, và làm sao họ vẫn có thể vui mừng hớn hở khi được chia “quả thực”, khi các xác chết máu me của những người mới hôm qua còn là láng giềng vẫn còn nằm phơi ở ngoài kia hoặc chỉ mới được chôn lấp sơ sài ….

Không, tôi không nhắc lại để thù hận. Nhưng tôi và tất cả mọi người Việt Nam có lương tri đều cần trả lời câu hỏi: “Vì sao?”

Vì sao cùng trên một đất nước, cùng một nền văn hóa, cùng là người Việt da vàng máu đỏ, cùng với mục tiêu mang lại sự công bằng về sở hữu ruộng đất, giúp người nông dân làm chủ luống cày, mà ở miền Nam thì mọi việc xảy ra hiền hòa, êm ả, còn miền Bắc thì lại xảy ra những cảnh tượng đau lòng đến vậy? Để mãi đến 60 năm sau, thời gian đủ dài để hầu hết những người đã tận mắt chứng kiến cải cải cách ruộng đất đã không còn tồn tại, mà khi nhắc đến thì cải cách ruộng đất vẫn còn là một sự nhức nhối không nguôi?

Câu hỏi ấy chắc chắn một lúc nào đó phải được trả lời. Những sai lầm của giai đoạn đau thương ấy – và di hại mãi về sau của nó – chắn chắn rồi sẽ phải được phân tích cặn kẽ và sòng phẳng. Để bài học lịch sử được hiểu rõ, chứ không thể mãi né tránh.

Bởi, khi chúng ta không chịu học từ những sai lầm của lịch sử, thì lịch sử sẽ bắt chúng ta trở thành nạn nhân của chính những sai lầm ấy, cho đến khi bài học được học thuộc.

—-

Ý Kiến bạn đọc

*

Khách Le Văn Mọi (danluan.org)

Cuộc triển lãm CCRĐ thu được kết quả vô cùng to lớn ngoài dự kiến của ban tổ chức, đó là làm cho đồng bào miền Nam hiểu và thông cảm với nỗi đau khổ của người dân miền Bắc dưới chế độ CS, qua đó phần nào hiểu tâm trạng của người miền Bắc là nếu người miền Nam căm thù chế độ CS một thì người miền Bắc căm thù chế độ CS mười. Mỗi gia đình, mỗi người dân miền Bắc đều ít nhiều chịu đựng sự bất hạnh do chế độ CS gây ra.

Từ sau 1975, nhiều người miền Nam ít nhiều có cái nhìn kỳ thị đối với người miền Bắc vào Nam sinh sống. Qua triển lãm CCRĐ lần này, chắc rằng đồng bào miền Nam thông cảm với đồng bào miền Bắc nhiều hơn. 

VTPA viết: ” Vì sao cùng trên một đất nước, cùng một nền văn hóa, cùng là người Việt da vàng máu đỏ, cùng với mục tiêu mang lại sự công bằng về sở hữu ruộng đất, giúp người nông dân làm chủ luống cày, mà ở miền Nam thì mọi việc xảy ra hiền hòa, êm ả, còn miền Bắc thì lại xảy ra những cảnh tượng đau lòng đến vậy?”

Có thể nói tóm tắt là những gì man di, mọi rợ, dã man, tàn ác, bất nhân, mất hết tính người nhất thì đã diễn ra trong CCRĐ vào năm thập niên 50 thế kỷ trước ở miền Bắc nước ta.

Qua những gì tôi viết ở trên chắc TS Phương Anh hiểu “vì sao” rồi chứ, đó là do khác ý thức hệ, hay nói một cách dễ hiểu là do CNCS mà lão Minh Côông rước về mienf Bắc đẻ giết hại đồng bào miền Bắc.

VTPA lại viết: “Bởi, khi chúng ta không chịu học từ những sai lầm của lịch sử, thì lịch sử sẽ bắt chúng ta trở thành nạn nhân của chính những sai lầm ấy, cho đến khi bài học được học thuộc.”
Tôi không muốn nhắc lại quá khứ đau lòng trong cuộc CCRĐ trước kia vì nhắc lại chỉ thêm oán thù. Nhiều lần tôi đã nói càn quên đi hơn nhớ lại. Nhiều người chỉ nhắc đến vết thương vật chất, còn những vết thương tinh thần làm đảo lộn luân thường đạo lý nữa thì còn đau đớn hơn nhiều, nhưng cũng phải quên đi. Người con nào đã chửi bố trong CCR Đ: “Đ. m ẹ thằng địa chủ kia, mẹ tao đi ở cho nhà mày, mày đ. mẹ tao đẻ ra tao, rồi mày đuổi tao lên thành phố cho khuất mắt. Đ. mẹ mày…mày đ. mẹ tao… (ông bố gửi con lên thành phố ăn học thì “ông quý tử” được đội cải cách xui là bố “đuổi ra thành phố”). Cả bố và con đều phải quên chuyện này đi chứ.

Nếu nghiêm khắc nhìn thực tế đang điễn ra thì ta thấy lịch sử đang lập lại ở ngay đầu thế kỷ XXI này, trên đất nước ta đang diễn ra “cuộc CCRĐ” mới. Ta chỉ nhận ra sai lầm sau vài ba chục năm, lúc đó muốn hối hận mà sửa chữa cũng không được. Nay thì ta thấy sai lầm trong cuộc CCRĐ thời kỳ 1953-1956. Sau vài chục năm nữa thì ta mới nhận ra sai lầm trong “cuộc CCRĐ” đầu thế kỷ XXI. Sau này con cháu ta được đọc và được biết chuyện cướp ruộng đất của gia đinh ông Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, ở Văn Giang, Hưng Yên để hình thành khu đô thị Ecopark và ở Dương Nội Hà Đông (Hà Nội) cũng như ở nhiều nơi khác trên phạm vi cả nước, thì con cháu ta cũng phải lắc đầu lè lưỡi như ta đã nhìn lại cuộc CCRĐ trong qúa khứ.

Trước kia những trí thức lên án cuộc CCRĐ thì bị chế độ CS kết tội nặng nề, cũng giống như hiện nay những ai vạch ra sai lầm trong những vụ cướp đất thì bọn CS cũng ghép tội tàn nhẫn chẳng kém trước kia.

Chuyện trước mắt là hãy nhìn về tương lai, phải sửa ngay những sai lầm trước mắt. Nếu những nhà lãnh đạo sáng suốt và thực sự yêu nước thương dân, muốn nước mình trở thành văn minh hiện đại thì hãy dừng ngay bàn tay sắt dán mác XHCN gây tội ác thêm nữa. Đừng để lịch sử lặp lại nữa.

*Từ 1976-1981, hơn 1,5 triệu nông dân Miền Bắc đã vào Nam sinh sống trong các tỉnh miền Tây Nguyên và miền Trung. 

 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Đèn Cù, và “Chúng tôi muốn biết tội ác của cải cách ruộng đất”

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2014

“Chúng tôi muốn biết tội ác của cải cách ruộng đất”

Kính Hòa, phóng viên RFA
15-9-2014

.

Bà con dân oan Dương Nội biểu tình trước Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Hà Nội sáng 11/9/2014.

Không hẹn mà gặp, giữa mùa Trung Thu, tác phẩm Đèn Cù của nhà văn Trần Đĩnh xuất hiện và gây xôn xao dư luận. Xin lấy ý của nhà báo Đoan Trang đặt cho phần đầu mục điểm blog kỳ này

Trung thu đốt Đèn Cù

Một trong những người đầu tiên điểm cuốn sách, nhà báo Ngô Nhân Dụng viết rằng hình ảnh của chiếc đèn cù chính là hình ảnh xã hội chính trị Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua với bao nhiêu voi, người, ngựa,… bằng giấy chạy tít mù, chạy vòng quanh.

Với vị trí hiếm có của một người cầm bút đứng rất gần các nhân vật cộng sản Việt Nam hơn 50 mươi năm qua, nhà văn Trần Đĩnh đã mang ra ánh sáng những chân dung đời thực những người cộng sản Việt Nam, cũng như những toan tính chính trị và quyền lực đằng sau những cuộc cách mạng và kháng chiến.

Đi theo những dòng hồi ức của Trần Đĩnh, Dương Hoài Linh viết bài Đèn Cù và Hồng Kong. Tác giả kết nối những bi thương trong lịch sử Việt Nam mà Trần Đĩnh đang kể với hàng triệu người Việt Nam với những đe dọa từ Bắc Kinh cho nền dân chủ mà người dân ở Hồng Kông, nơi cũng có Tết Trung thu và đèn cù, đang phải đối diện.

Trong bài viết đó tác giả nói về một sự giải thiêng cần thiết cho Việt Nam:

Đèn Cù đã đáp ứng những thông tin về một sự giải thiêng. Khi trước đó vẫn còn những đoàn người rồng rắn vào viếng lăng cụ Hồ, viếng mộ cụ Giáp. Đèn Cù đã đưa ra những chi tiết xác thực, có sức thuyết phục hơn về những gì trước đây chỉ là các giai thoại truyền miệng trong dân. Đèn Cù cũng cung cấp cho lớp hậu sinh sau này một cái nhìn trực diện vào “thần tượng” sau khi bóc đi lớp hào quang giả tạo, đưa họ trở về đúng với cái bản chất vốn có của nó.

Còn cây bút Phan Tấn Hải viết trên blog của mình:

Trần Đĩnh đã cầm bút lên để viết như một chứng nhân của cách mạng, viết như một nạn nhân của vụ án xét lại, viết như một nhà văn trôi nổi với lịch sử dân tộc, và trong tận cùng là viết như một người con rất mực yêu thương đất mẹ.

Trong sự trôi nổi đó với lịch sử dân tộc, có độc giả nhận thấy rằng những câu chuyện mà Trần Đĩnh kể lại làm cho lịch sử Việt Nam được công bằng hơn, và người đọc cũng hiểu được nguyên nhân của những hành động phi nhân tính diễn ra trong cuộc đấu tranh giai cấp của những người cộng sản. Độc giả Trần Giao Thủy nói:

Tất cả những chuyện nho nhỏ như vậy mình đọc thì mình sẽ thấy suốt trong quyển sách của Trần Đĩnh, những oral histories (câu chuyện) phần nào làm cho lịch sử cận đại Việt Nam được công bằng hơn một chút.

Ông Hồ ông ấy nhắc nhà to là nước, nhà nhỏ là gia đình riêng, đó là cái cách người cộng sản họ dùng chủ nghĩa dân tộc như thế. Vì có sự tuyên truyền như vậy của những người cộng sản nên mới có chuyện ông Châu Văn Viên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất ở Nghệ Tĩnh đấu tố mẹ mình.”

Suy nghĩ của ông Trần Giao Thủy cũng là ý nghĩ của blogger Ngô Minh:

Tôi không hiểu tại sao họ lại dạy cho con người lấy chuyện điêu toa, dối trá, vu khống trắng trợn người khác làm lẽ sống như thế ?

Và cuộc cải cách ruộng đất, mà người cộng sản hay mô tả là long trời lỡ đất chính là quan tâm của rất nhiều người khi đọc Trần Đĩnh. Trớ trêu thay, ngay sau khi quyển sách ra đời, nhà nước Việt Nam tổ chức cuộc triển lãm Cải cách ruộng đất tại Hà Nội.

Cải cách ruộng đất

Công chúng đến xem triển lãm về Cải cách ruộng đất tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Hà Nội.

Triển lãm cải cách ruộng đất ở Hà Nội như một liều xúc tác làm bùng lên những bài viết trên blog trong không gian Việt ngữ toàn thế giới. Blogger Hiệu Minh viết Vài câu chuyện về cải cách ruộng đất:

Nhưng né tránh, câu chuyện sẽ còn âm ỷ khôn nguôi, dù thế giới đã sang thế kỷ 21. Lãnh đạo quốc gia có tầm, có tâm, nên bạch hóa sai lầm quá khứ, lấy đó làm bài học cho hiện tại và hướng tới tương lai. Đó là một trong những chìa khóa cho phát triển đất nước.

Cùng mảnh ruộng, người biết làm ăn, tính toán thì có của ăn của để. Nhưng người không biết phải chịu đói khát, đành đi làm thuê. Nhưng sau cách mạng, người giỏi hơn thành địa chủ, người kém hơn lên làm chủ, và kết quả thế nào, chẳng cần bàn cãi.

Hàng triệu người bỏ tổ quốc ra đi. Nhiều người thành đạt nơi xứ người nhưng không thể đóng góp cho quê hương vì nhiều lẽ mà trong đó dư chấn của Cải cách ruộng đất mà họ cho là một trong những điều mất mát lớn.

Đã đến lúc đất nước phải thay đổi, lãnh đạo phải thay đổi và mỗi chúng ta phải thay đổi. Sự mù quáng về ý thức hệ sẽ đưa đến một cuộc cải cách khác, máu đổ và thiệt hại mang tầm quốc gia, đau đớn kéo dài hàng thế kỷ.

Và trong phần cuối bài viết Hiệu Minh nhìn cuộc triễn lãm này như là một dấu hiệu rằng xã hội đã cởi mở và có được quyền nói về những chuyện trong quá khứ.

Nhưng có những blogger khác không chia sẻ sự lạc quan của Hiệu Minh.

Mai Tú Ân viết bài “Một nửa sự thật không phải là sự thật”:

Với những gì ta thấy trong cái gọi là triển lãm ảnh Cuộc cải cách ruộng đất, thì đó chỉ là phần nổi nhỏ bé của tảng băng khổng lồ của tội ác, của đại thất nhân tâm… mà với những gì hé mở trong thế giấu diếm thì ta có thể gọi đây chưa phải là sự thật đúng nghĩa, thậm chí đây chỉ là phần bao biện, che giấu và giả dối…

Tác giả Mê Linh viết:

Nghe nói có triển lãm về cải cách ruộng đất, mình hăm hở đi xem, hí hửng tưởng đảng CS đã dám nhận trước nhân dân tội ác diệt chủng và cướp bóc của mình. Không ngờ lại một trò dối trá trắng trợn khi họ chỉ trưng lên những “bằng chứng” giả từ thời đó để một lần nữa kết tội những nạn nhân của họ, lấp liếm đi tội ác của mình, tiếp tục kể công với dân, và lừa mị thế hệ tương lai.

Blogger Nguyễn Hữu Vinh đã thực hiện một phóng sự về buổi triển lãm, anh viết:

Có thể nói, những hiện vật trưng bày trong cái gọi là Triển lãm này là một mô hình đấu tố mới, nhằm lấp liếm, bào chữa cho những tội ác đối với ngay cả những đồng bào của mình, đối với những người có đầu óc và tri thức làm giàu cho quê hương đất nước. Bỗng dưng một ngày đẹp trời họ được hưởng nhờ thành quả Mác – Lenin xếp họ vào “giai cấp bóc lột”. Và họ bị cướp đoạt, bị tra tấn, bị bắn, bị giết và “CCRĐ hoàn thành thắng lợi”.

Việc người ta đến, để xem, để tham quan, tham dự không chỉ là việc xem nó ra sao, mà điều cơ bản là để xem thái độ nhìn nhận với những tội ác đã gây ra như thế nào.

Một điều mà Nguyễn Hữu Vinh cảm thấy khó hiểu là ngay chính những nạn nhân trong sự kiện cải cách ruộng đất thảm khốc ấy vẫn cho rằng họ chịu ơn những người gây ra thảm cảnh. Nguyễn Hữu Vinh kết luận rằng đảng cộng sản đã hoàn tất một công việc ngoạn mục.

Họ vẫn luôn coi “bác Hồ” và đảng vô tội. Đó mới là thành công, mới là ngoạn mục.

Trang blog Dân làm báo không nói về một Cuộc đấu tố mới như Nguyễn Hữu Vinh, nhưng lại so sánh với cuộc diệt chủng mà Đức quốc xã thực hiện trong thế chiến thứ hai:

Thế giới ngày hôm nay chắc chắn sẽ ngạc nhiên đến sửng sốt, khinh bỉ và phẫn nộ nếu một người Đức nào đó tổ chức một cuộc triển lãm về “những thành tựu của Hitler và Đức Quốc Xã trong việc ‘cải cách’ 6 triệu người dân Do Thái trong lò hơi ngạt”.

Một blogger khác lại có một cái nhìn khá thú vị về cuộc triễn lãm này.

JV Loveart viết:

Cuộc triển lãm “Thành Tựu Cải Cách Ruộng Đất” mang rất nhiều ý nghĩa vô cùng to lớn và sâu sắc nhé cô bác:
– Là một lời tự bào chữa vô cùng hài hước.
– Là một lần tự đấu tố rất vụng về.
– Là một sự ủng hộ đối với phong trào Chúng Tôi Muốn Biết của Mạng Lưới Bloggers Việt Nam.
– Là một màn quảng cáo ấn tượng cho sách truyện Đèn Cù.

Chúng tôi muốn biết

Một số bạn trẻ với dòng chữ ‘Tôi muốn biết’ được post lên mạng xã hội hôm 02/9/2014.

Trở lại với tác phẩm Đèn Cù, nhà báo Đoan Trang viết:

Cho đến giờ, với tư cách một độc giả, tôi vẫn thành thật mong có người sẽ phân tích, bình luận một cách chuyên nghiệp, không cảm tính, không định kiến về những cuốn sách thuộc dòng “giải độc, giải thiêng”, có đề tài lịch sử hoặc liên quan đến lịch sử, ở Việt Nam. Với tư cách cá nhân, tôi muốn được biết sự thật, chứ không phải là giai thoại, vì các giai thoại về lãnh tụ, lãnh đạo… người dân Việt Nam chúng ta phải nghe nhiều quá rồi.

Đòi hỏi của nhà báo Đoan Trang trong tư cách một công dân cũng chính là đòi hỏi của một nhóm công dân trẻ cách đây vài tuần đã dấy lên phong trào Chúng tôi muốn biết. Một trong những người chủ trương phong trào này là chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay blogger Mẹ Nấm nói rằng:

Chiến dịch Chúng tôi muốn biết có một mục tiêu cụ thể là muốn nhà nước công bố những mảng tối thông tin. Và quan trọng hơn là nó sẽ thúc đẩy người dân bước ra khỏi bóng đen sợ hãi của chính mình để đòi cái quyền được biết. Thông điệp chúng tôi muốn biết nó rất là ngắn nhưng nó đòi hỏi người tham gia phải hiểu cái gì mình muốn. Vì được biết còn là trách nhiệm nữa, khi biết thì mình sẽ có những hành động đúng đắn hơn.

Trong thời điểm hiện tại với sự xuất hiện quyển Đèn cù của nhà văn Trần Đĩnh và cuộc triễn lãm Cải cách ruộng đất, cho thấy rằng ở cái thời đại này người ta không thể giấu những sai lầm trong quá khứ nữa. Mà cải cách ruộng đất không chỉ là sai lầm mà còn là tội ác có thể xếp ngang với tội ác diệt chủng.

Có thể là một sự trùng hợp, nhưng từ phong trào chúng tôi muốn biết đến các sự việc đang diễn ra thì cho thấy rằng khi mình đòi cái quyền được biết của mình, thì bằng cách nào đó sẽ có những sự thật được phơi bày.

Khi chúng tôi kết thúc bài điểm blog này, thì tin từ các blogger cho biết những nông dân bị mất đất ở Dương nội kéo về Hà nội để xem cuộc triễn lãm Cải cách ruộng đất, thì nhà chức trách bảo rằng triễn lãm phải đóng cửa để bảo trì.

.

còn "dựng lại người " bở hơi tai nhỉ anh Doan Khac Xuyen

 

 

 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | 1 Comment »

►Yêu cầu trả tự do ngay cho anh Nguyễn Hữu Vinh (anh Ba Sàm)

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2014

Kính gửi: Đại tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công An

Anh Nguyễn Hữu Vinh (blogger Anh Ba Sàm), sinh ngày 15-9-1956, đã bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công An bắt khẩn cấp (cùng với Nguyễn Thị Minh Thúy) ngày 5-5-2014 (3 ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan HD-981 trên vùng biển Việt Nam) vì bị cho là đã vi phạm điều 258 của Bộ Luật Hình sự (tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”).

Gia đình anh Vinh đã hai lần khiếu nại, ngày 5-6-2014 và 21-8-2014, về việc chính Cơ quan điều tra đã vi phạm trắng trợn: 1) Điều 81 của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) về bắt người trong trường hợp khẩn cấp và 2) các quy định về khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản nêu tại Chương XII của BLTTHS. Tuy vậy cho đến nay gia đình cho biết vẫn chưa hề có sự hồi âm nào.

Anh Nguyễn Hữu Vinh là người nhiệt thành yêu nước, kiên quyết chống nhà cầm quyền Trung Quốc hung hăng xâm chiếm biển đảo, tin tưởng ở xu thế dân chủ hóa không thể đảo ngược đem lại lợi ích cho toàn thể dân tộc, anh Vinh chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình trên hai phương diện ấy, nhưng đã bị gán ghép cho tội rất mơ hồ theo Điều 258 của Bộ luật Hình sự. Việc làm của Cơ quan điều tra với anh Vinh đã vi phạm nghiêm trọng các quyền con người được ghi trong Hiến pháp Việt Nam và Tuyên ngôn nhân quyền cũng như Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị mà nhà nước Việt Nam cam kết tôn trọng.

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, yêu cầu ông Bộ trưởng đình chỉ việc điều tra và trả tự do ngay cho anh Nguyễn Hữu Vinh và chị Nguyễn Thị Minh Thúy.

Ngày 14-9-2014

Danh sách những người ký tên ban đầu:

1. Nguyễn Quang A, kỹ sư, Hà Nội

2. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà văn, Hoa Kỳ

3. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn, Hà Nội

4. Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn, Hoa Kỳ

5. Bùi Chát, nhà văn, Sài Gòn

6. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Sài Gòn

7. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Văn học Việt Nam, Hà Nội

8. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn, Đà Lạt

9. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, Sài Gòn

10. Nguyễn Xuân Diện, TS, nhà nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội

11. Lê Đăng Doanh, TS, kinh tế gia, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương, Hà Nội

12. Trần Tiến Đức, nhà báo, Hà Nội

13. Phạm Chí Dũng, nhà báo, Sài Gòn

14. Hoàng Dũng, PGS TS Ngôn ngữ học, Sài Gòn

15. Lê Minh Hà, nhà văn, nguyên giáo viên trường Hà Nội Amsterdam, Đức

16. Phan Tấn Hải, nhà văn, Hoa Kỳ

17. Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp

18. Chu Hảo, PGS TS, Giám đốc NXB Tri Thức, Hà Nội

19. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội

20. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội

21. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Pháp

22. Phạm Duy Hiển, kỹ sư, dịch giả, Vũng Tàu

23. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Đà Nẵng

24. Hoàng Hưng, nhà thơ, Sài Gòn

25. Lê Xuân Khoa, sử gia, Hoa Kỳ

26. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội

27. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt

28. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, Sài Gòn

29. Nguyễn Khắc Mai, nhà nghiên cứu, Hà Nội

30. GB Huỳnh Công Minh, Linh mục Chánh sở nhà thờ Chính toà Đức Bà Sài Gòn, Sài Gòn

31. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, Sài Gòn

32. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An

33. Trần Đức Nguyên, nguyên trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội

34. Hà Sĩ Phu, TS, nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt

35. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên Phó Tổng biên tập báo Tuổi trẻ, Sài Gòn

36. Đặng Bích Phượng, blogger, Hà Nội

37. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá công an (hưu), Hà Nội

38. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, Đà Lạt

39. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp

40. Tô Lê Sơn, kỹ sư, Sài Gòn

41. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang

42. Trần Công Thạch, nhà giáo về hưu, Sài Gòn

43. Nguyễn Lân Thắng, blogger, Hà Nội

44. Trần Quang Thành, nhà báo, Slovakia

45. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng

46. Đào Tiến Thi, Thạc sĩ ngữ văn, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội,

47. Nguyễn Tường Thụy, nhà thơ, nhà báo, Hà Nội

48. Phạm Toàn, nhà giáo, nhóm Cánh Buồm, Hà Nội

49. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài Gòn

50. Dương Tườngnhà thơ, dịch giả, Hà Nội

51. J. B. Nguyễn Hữu Vinh, blogger, Hà Nội

Quý vị có thể ký tên vào văn bản này bằng cách ghi rõ họ, tên, chức danh (nếu có), nghề nghiệp, nơi cư trú (tỉnh, thành phố) và gửi vào tratudochoanhbasam@gmail. com. Chúng tôi tiếp tục nhận chữ ký từ chiều 14-9-2014 đến 20 giờ ngày 04-10-2014.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Mẹ tôi trong cải cách ruộng đất (Trần Mạnh Hảo)

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2014

 

Năm cải cách ruộng đất ở làng tôi sau tết 1956-1957, là đợt long trời lở đất cuối cùng của cuộc tắm máu, trời rất rét, nạn rận chấy hành hạ dân chúng khủng khiếp hơn bao giờ, có nguy cơ chết vì rận chấy nhiều hơn là chết vì đảng bác xử bắn oan, (xử bắn, đấu tố toàn người tốt, người nghèo bị quy oan do số phần trăm đảng đội áp đặt lên từng làng từng xã). Nếu không có nạn rận chấy năm đau thương khốn khổ tột cùng ấy, có lẽ ba mẹ con tôi đã chết đói (vì bố tôi đang bị đảng- đội bắt giam tội địa chủ) vì không có hạt gạo nào để nấu cháo…

Các bạn biết tôi hành nghề gì để cứu đói cả nhà trong khi mới chỉ 10 tuổi đầu? Tôi làm nghề bắt rận thuê cho các gia đình cán bộ và gia đình các ông bà ông nông dân bần cố vừa được chia của từ các gia đình phú nông địa chủ. Chẳng là thấy có đứa bạn gái cùng học vỡ lòng với tôi con ông đội trưởng xóm tôi ngồi bắt rận khi tôi đi qua nhà nó, nó hét lên sợ hãi vì rận bám đầy quần áo nhà nó. Thấy tôi đi qua, nó bảo: thằng con địa chủ Hiền kia, mày vào bắt rận giúp tao, tao bảo bố tao cho mày bò gạo về ăn cho khỏi chết đói…

Tôi hăng tiết, bắt rận giúp nó nhanh hơn khỉ, bắt được con nào cũng cho vào miệng cắn cái bép, khiến môi tôi đỏ như ăn trầu. Tôi bắt một buổi sáng hết sạch rận trong đống áo quần hôi như cú của nhà con gái ông cán bộ…Gia đình ông trưởng xóm cho tôi đúng một bò gạo vì công bắt rận tài ba. Tôi mơ ước làm giàu bằng nghề bắt rận. Cầm tí gạo gói trong lá khoai ngứa, đi qua nhà thờ, tôi quỳ xuống làm dấu thánh giá xin với Chúa và Đức Mẹ rằng: con cám ơn Chúa và mẹ Maria, con xin Chúa ban cho làng con, xã con, tỉnh con, nước con mãi mãi tràn ngập rận chấy để con làm giàu bằng nghề bắt rận thuê. Cứ như vậy, thiên tài bắt rận thuê của tôi vang lừng thôn xóm. Ngày nào tôi cũng kiếm được gạo, một hay hai bò (bơ, lon) gạo về nấu cháo cho mẹ và hai em ăn khỏi chết đói…

Hôm đó khoảng gần 12 giờ trưa tôi về nhà sau khi đã được trả công gần hai lon gạo vì bắt rận thuê cho hai gia đình cán bộ thôn thì nghe nhà tôi có biến. Đám người bần cố nông quá đông đúc kéo đến nhà tôi dỡ nhà, dỡ bếp vì họ được đội cải cách chia cho mọi tài sản trong nhà tôi từ cái thìa cái đũa đến cái bát, cái mân, cái nồi con dao cái thớt…

Tôi khiếp đảm thấy mẹ tôi vừa khóc vừa chửi bọn chúng và hai tay cầm hai con dao bầu nhọn hoắt đang xông vào đâm ông Xoan, ông Chúc (hai ông bần cố nông này được chia cái nhà chính của ông nội tôi đã di cư để lại), hai ông tí chết vì hai nhát dao đâm sẩy của mẹ tôi. Hình như mẹ tôi điên rồi, vừa chửi vừa quyết sống mái với bọn đến dỡ nhà cướp của. Mẹ tôi vừa khóc vừa dứ dứ hai con dao quyết lao vào đâm bọn dỡ nhà, khiến một tên vừa leo lên mái sợ quá đã ngã xuống gãy chân. May mà có mấy người bà con hàng xóm đến hỗ trợ mẹ tôi. Tôi bỏ gói gạo trong lá khoai xuống đất, hai tay cầm hai cục gạch đứng bên mẹ nói: tao thề chết bảo vệ mẹ tao, chúng mày ác Chúa phạt liền đó, thấy chưa, ngã xuống đất gãy chân kìa…Mẹ tôi lên cơn rồi, bà quyết sống chết bảo vệ căn nhà chính mà không đủ sức bảo vệ cái bếp đang bị mấy người bần cố nông khác dỡ mất, phá cướp sạch rồi…

Mẹ tôi vừa khóc vừa múa dao kể rằng: bớ bọn ác nhân kia, bố chồng tao đêm nào cũng đi cất vó, ngày nào cũng ra đồng cày bừa với ông Mục cày thuê cho hai mẫu ruộng sao địa chủ được. Chúng mày cứ xông vào cướp, xông vào dỡ nhà đi, tao sẽ đâm chết hết chúng mày rồi có bị Hồ chủ tịch cắt lưỡi, xẻo vú cũng cam lòng…Nào thằng kia, con kia, leo lên mái nhà thử coi, tao đâm chết ngay thằng Xoan, thằng Chúc liền này…

Lão Xoan, lão Chúc gọi dân quân đến với súng ống lên đạn cạch cạch nghe chết khiếp… Tôi nghĩ phen này chúng nó bắn mẹ mình rồi, hai tay tôi vẫn cầm hai cục gạch chạy đến đứng trước bụng mẹ. May mà có ông Bính bí thư làng (người chuyên làm nghề ăn trộm ăn cắp) đến kịp nói nhỏ vào tai lão Thảnh đội trưởng đội dân quân một lúc thì đội dân quân du kích rút đi… Sau này mới biết ông Bính (người từng mê mẹ tôi khi mẹ chưa lấy bố tôi) nói với dân quân rằng: “Nhà thằng Ký Sinh (ông nội tôi đã di cư) và con là thằng Hiền chồng con điên kia đã nằm trong danh sách sửa sai xuống thành phần…”

Lão Xoan, lão Chúc hai tên bần cố nông chuyên ăn trộm thấy tình thế không thể dỡ nhà mang đi được vì sợ con mẹ điên cầm dao đang quyết đâm chúng nếu không có mấy bà con giữ tay can gián, bèn lủi mất… Mẹ tôi gục xuống đống gạch vụn của căn bếp ba gian vừa bị chúng cướp phá dỡ mang đi từ hòn gạch, khóc rồi ngất luôn, không còn thời gian đâu ra ngăn bà Y đang phá cổng nhà tôi lấy gạch…

Chiều đó, mẹ tôi vẫn phải ra đồng bắt cá về cho ba đứa con ăn với cháo do thằng Hảo bắt rận thuê mà có được tí gạo. Khi mẹ về, giỏ cá đã mất, vì bị bọn ông bà ông nông dân chăn trâu cướp mất giỏ cá, lại bị chúng dùng roi trâu quất lên mặt mẹ ba con lươn đỏ như máu vì mẹ quên khoanh tay cúi chào bọn trẻ trâu đang cưỡi trâu trên đường theo quy định của đảng –bác – đội rằng: con vợ địa chủ Hiền, con dâu địa chủ đại gian đại ác Ký Sinh đã theo giặc vào Nam kính chào kính lạy ông bà ông nông dân cưỡi trâu ạ…

Chuyện về mẹ tôi còn dài, viết một cuốn tiểu thuyết về bà cũng không hết, kỳ sau xin kể tiếp…
Sài Gòn 14 – 9 – 2014

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Cải cách ruộng đất và hàng trăm ngàn cái chết oan ức

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2014

Nguyễn Văn Tuấn
.
.
Sự kiện mang tên “Cải cách ruộng đất” xảy ra ở ngoài Bắc và lúc tôi mới sinh, nên tôi cũng như phần lớn các bạn chỉ biết về sự kiện qua báo chí, văn học, phim ảnh. Sự thật kinh hoàng và đau thương là hàng vạn, thậm chí hàng trăm ngàn người bị giết oan. Con số đó chắc chẳng làm ai xúc động, nhưng hãy thử tưởng tượng 120.000 xác người! Bẵng đi một thời gian dài, bây giờ người ta đem ra triển lãm về sự kiện kinh hoàng đó! Thật chẳng khác gì triển lãm thành tích… giết người. Trong bài này, tôi chỉ muốn chia sẻ cùng các bạn vài suy nghĩ cá nhân liên quan đến mục tiêu, con số tử vong, và những câu chuyện tan thương trong vụ Cải cách ruộng đất.Cuộc Cải cách ruộng đất không chỉ xảy ra trong một thời điểm ngắn, mà kéo dài từ 1953 đến 1956, tức khoảng 4 năm qua 5 giai đoạn. Những người chủ trương Cải cách ruộng đất làm có vẻ rất bài bản và có hệ thống. Khởi đầu là vận động và chuẩn bị hậu thuẫn của quần chúng, sau đó là ra sắc lệnh, rồi làm thí điểm, và vào cuộc ồ ạt. Có vài nguồn nói rằng lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn làm Cải cách ruộng đất, nhưng vì Trung Quốc gây áp lực lớn quá nên đành phải làm. Tôi không biết luận điểm này khả tín ra sao, nhưng cảm thấy rất khó chấp nhận, vì nó cho thấy rõ ràng là miền Bắc Việt Nam lúc đó chịu lệ thuộc Tàu quá lớn.

Mục đích

Cải cách ruộng đất để làm gì? Một văn bản có tên là “Luật cải cách ruộng đất” do Chủ tịch Quốc hội Hồ Chí Minh kí (1) ghi rõ:

“Điều 1. Mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là:

Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,

Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân,

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển,

Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến,

Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc”.

Dĩ nhiên, đó là “bề nổi” của mục đích, còn “bề chìm” thì có lẽ hiểu một cách khác. Có thể mục tiêu chính là xóa bỏ sự ảnh hưởng của giới giàu có và có học ở nông thôn. Thời đó, đại đa số nông dân không biết chữ, và giới có học thường là người nhà giàu, và những người này có thể nói là “proxy” lãnh đạo ở nông thôn. Người cộng sản muốn độc quyền lãnh đạo nên phải xóa bỏ thành phần giàu và có học này. Theo tôi nghĩ đó mới là lí do chính họ phát động cuộc Cải cách ruộng đất.

Một lí do quan trọng nữa theo tôi nghĩ là họ muốn làm cho nông dân phải biết sợ sức mạnh của người cộng sản. Nên nhớ rằng phần lớn các cuộc khởi nghĩa hay nổi dậy đều xuất phát từ nông dân. Nông dân tuy không có học nhiều nhưng một khi họ đoàn kết lại thì trở thành một lực lượng rất khó khống chế. Do đó, người cộng sản phải thị uy quyền lực của họ qua Cải cách ruộng đất. Rất có thể mục đích này giải thích tại sao họ xử bắn nạn nhân ngay trước mặt công chúng và người thân của nạn nhân. Có thể lúc đó những người hành xử như thế không thấy họ là dã man hay thú tính, mà họ thấy họ đã thị uy để khuất phục đám đông.

Một lí do khác là hệ quả của hai lí do trên có thể là họ muốn xóa bỏ nền tảng đạo lí vốn đã tồn tại qua hàng ngàn thế hệ của nông thôn Việt Nam. Họ muốn thay vào đó cái nền tảng đạo đức xã hội chủ nghĩa mà họ mới du nhập từ Nga và Tàu vào. Đó chính là lí do tại sao rất nhiều di tích lịch sử, đền đài, chùa chiềng bị đập phá một cách không thương tiếc. Họ muốn đoạn tuyệt với lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Một cách trớ trêu, tôi nghĩ người cộng sản đã đạt được cả 3 mục tiêu chìm trên. Họ đã xóa sạch ảnh hưởng của giai cấp giàu và có học ở nông thôn và biến họ thành những phế nhân của xã hội. Họ đã thành công làm cho nông dân và cả xã hội nói chung phải sợ trước họng súng, đúng như Mao từng nói “chính quyền sinh ra từ họng súng”. Và sau cùng họ đã thành công một phần nào đó đoạn tuyệt với quá khứ và xóa bỏ ảnh hưởng của tôn giáo. Nhưng thành công nào cũng đi kèm theo những hệ quả khôn lường. Cái hệ quả lớn nhất, đau thương nhất, và kinh khủng nhất là giết chết hàng vạn người vô tội.

Bao nhiêu người chết?

Hậu quả kinh khủng nhất của Cải cách ruộng đất là cái chết. Không ai có một con số thống kê chính xác về số người bị xử và số người bị giết, chỉ có ước tính. Những ước tính từ các chuyên gia trong và ngoài nước chênh lệch nhau rất lớn. Nhưng dù chênh lệch, họ đều nhất quán một điều là số người bị giết cao hơn 50.000. Tính trung bình mỗi ngày có gần 70 người bị các đội Cải cách ruộng đất giết chết. Đó là một con số rất lớn, một vết thương dân tộc mang tính lịch sử mà tất cả chúng ta đều không được quên.

Trước hết, chúng ta hãy thử đọc thống kê chính thức của Nhà nước. Giáo sư Đặng Phong, một sử gia về kinh tế Việt Nam, đã dày công làm thống kê về Cải cách ruộng đất và trong một cuốn sách “Lịch sử kinh tế Việt Nam” ông đưa ra con số người bị giết trong thời kì Cải cách ruộng đất là 172.008. Đó là những người bị kết tội là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù của giai cấp (2).

Nhưng chưa hết! Trong số 172.008 người bị kết án và giết chết đó, sau khi tổng kết thì Nhà nước kết luận rằng có đến 123.266 bị kết án oan. Nói cách khác, cứ 10 người bị kết án, thì có 7 người bị oan. Thật ra, “oan” ở đây có nghĩa là theo quan điểm của họ (người cộng sản) chứ trong thực tế có lẽ 100% đều là oan.

Nhưng giả dụ như 7/10 là oan, thử hỏi trên thế giới này có nơi nào mà án oan nhiều đến như thế. Điều này không ngạc nhiên, bởi vì những người gọi là “chánh án” hay ngồi ghế xử tử hình người khác toàn là loại “cóc nhái”. Sau đây là lời nói của một người từng chứng kiến Cải cách ruộng đất: “Ôi! Tôi còn nhớ như thế này, tôi chưa bao giờ thấy lịch sử con người lại ngược đời như thế, đến nỗi phải nói là thời đại trâu bò đi “bí tất”, cóc nhái nhẩy lên làm người, mõ sãi ngày xưa nhẩy lên làm chánh án, làm thẩm phán. Thậm chí ngồi trên tòa đấu bố mình” (3).

Các chuyên gia nghiên cứu ở nước ngoài cũng đưa ra những con số nạn nhân bị giết chết trong Cải cách ruộng đất. Các chuyên gia này dựa vào nguồn từ Việt Nam và suy luận, và kết luận rằng khoảng 50.000 đến 172.000 người bị giết chết (4-6) vì bị kết án là kẻ thù của nhân dân.

Theo Wikipedia, một nguồn từ Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam thì chỉ tiêu tối thiểu là giết 1/1000 người Việt (miền Bắc) trong giai đoạn “giảm tô”. Con số này có nghĩa là tối thiểu 14.000 người bị giết trong thời giảm tô. Dĩ nhiên, con số bị giết chết trong các đợt Cải cách ruộng đất kế tiếp phải cao hơn con số đó nhiều lần.

Một chuyên gia về đất đai của Việt Nam là Lâm Thanh Liêm (miền Nam) người đã phỏng vấn nhiều cán bộ miền Bắc đã hồi chánh cũng đưa ra một ước tính khác. Ông ước tính rằng số người bị giết dao động trong khoảng 120.000 đến 200.000. Con số này có vẻ phù hợp với số nhà và chòi của “địa chủ” được giao cho những người nông dân (những ông chủ mới). Lúc đó, người ta (ai đó?) đặt ra một chỉ tiêu là 5,68% dân số phải là “địa chủ”.

Nói tóm lại, các ước tính trên đây rất chênh lệch nhau, nhưng tất cả đều nhất quán rằng có ít nhất 50.000 người bị giết trong thời kì Cải cách ruộng đất. Con số “trung bình” có lẽ là 120.000 người. Dân số miền Bắc lúc đó là khoảng 12 triệu. Như vậy, có thể ước tính rằng cuộc Cải cách ruộng đất giết chết 1% dân số. Nếu tính trung bình trong 3 năm “cải cách” thì mỗi ngày các đội Cải cách ruộng đất giết chết gần 110 người. Nên nhớ là mỗi ngày có đến ~110 người bị hành quyết. Thật kinh khủng!

Những câu chuyện thương tâm

Có rất nhiều câu chuyện đau thương về hậu quả của Cải cách ruộng đất. Đã có nhiều người viết thành sách, tiểu thuyết. Ngay cả một người sắc máu như Tố Hữu mà còn phát biểu rằng “Không thể tả hết được những cảnh tượng bi thảm mà những người bị quy oan là địa chủ, ác bá (mà trong thực tế là trung nông) phải chịu đựng ở những nơi được phát động”.

Người bị xử bắn đầu tiên trong vụ Cải cách ruộng đất là bà Nguyễn Thị Năm. Bà là một ân nhân lớn của các ông như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, Hoàng Hữu Nhân (Bí thư Thành uỷ Hải Phòng), Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, v.v. Bà từng đóng góp cho Cácn mạng Tháng 8 20,000 đồng bạc Đông Dương (tương đương 700 lượng vàng). Con trai của bà có người làm đến chức trung đoàn trưởng trong quân đội Việt Minh.

Vậy mà khi Cải cách ruộng đất xảy ra, người ta đem bà ra xử và bắn chết! Các ông như Trường Chinh (lúc đó là trưởng ban Cải cách ruộng đất) và Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đâu mà không can thiệp? Họ trả nghĩa bà Năm như thế chăng? Thứ tình nghĩa gì mà quái gở như thế? Trong cuốn “Trần Huy Liệu – Cõi đời”, tác giả Trần Chiến kể lại buổi đấu tố bà Năm như sau:

“Hôm ấy là ngày 22/5/1953, trời nắng chói chang. Để tránh cái nắng nóng nhiều người đã lấy cành cây che đầu, nhưng vì làm như thế thì người ngồi sau sẽ bị che khuất nên Chủ tịch đoàn đã yêu cầu mọi người vứt lá đi. Phiên tòa hôm ấy khoảng 1 vạn người. Cũng như ngày trước, Chủ tịch đoàn lại ra lệnh cho quần chúng hễ thấy địa chủ vào là đả đảo kịch liệt. Khi bà Nguyễn Thị Năm và hai con Hanh, Công (2) cùng đầy tớ là đội Hàm, Chính, Chiêu được Đội dân quân dẫn vào các bần cố nông đã bật dậy hô đả đảo vang trời. Có người còn đòi “bọn địa chủ gian ác” phải đứng lên cao và quay mặt tứ phía cho ai nấy đều trông thấy mặt để đả đảo.

Chủ tịch đoàn giới thiệu từng tên “địa chủ ác ôn” và ngắc ngứ đọc lý lịch, nhưng không nêu tội ác cụ thể. Cứ sau mỗi lần như vậy những người tham dự phiên tòa lại hô vang 3 lần: “Đã đảo, đã đảo, đã đảo!”.

Đám đông đã tỏ ra hết sức phẩn nộ trước thái độ của đội Hàm. Đôi mắt anh này cứ gườm gườm đầy thách thức. Nhiều người đã hét lên yêu cầu lính gác phiên tòa “tát cho nó nảy đom đóm mắt ra để nó cúi gằm mặt xuống mà nhận tội”. Rút kinh nghiệm lần trước, Chủ tịch đoàn tuyên bố đề nghị quần chúng phải giữ vững trật tự và không cần đánh đập tội nhân hay bắt quỳ, bò”…

Cũng có những người lên tố, nhưng do trình độ, học vấn không có nên nói không đạt ý, không rõ việc. Không ai hiểu họ nói gì. Một bà tên là Minh nói việc chẩn bần tại đồn điền Đồng Bẩm năm 1945 đã làm bao nhiêu người chết đói, rồi kết luận bằng những câu: “Mày đừng nhận là chủ đồn điền có được không?”, “Mày chỉ có hình thức thôi” và “Mày nói nhân nghĩa mà mày không nhân nghĩa gì cả” khiến người nghe không hiểu tội bà Năm ở đâu.

Còn một ông tên là Giồng tố cáo bà Năm đã cướp gánh cỏ của ông ta để cho ngựa của bà ăn và cướp cả giỏ củ mài làm cho cả nhà ông ta phải nhịn đói.

Hài hước hơn cả là trường hợp của một chị có tên là Lý. Chị Lý tố cáo rằng, chị ta là con nuôi của bà Năm, được bà Năm trang điểm cho để định gả cho một võ quan Nhật. Nhưng sau khi biết chị chỉ là thân phận tôi đòi, không có tiền của gì thì tên Nhật lại không lấy và chị lại bị bà Năm bắt lột trả lại quần áo, trở lại thân tàn ma dại như trước. Nội dung tố cáo chỉ là thế, nhưng vì chị ta vừa nói vừa khóc nên không ai rõ chị ta nói gì”.

Sau khi bà Năm bị tử hình, một bài báo xuất hiện trên tờ “Nhân dân” có tựa đề là “Địa chủ ác ghê” của tác giả kí tên là C.B. Bút danh này đã được ông Hồ Chí Minh dùng rất nhiều lần trong thời gian đó. Do đó, người ta nghi ngờ rằng chính ông Hồ là tác giả bài viết mang tính đấu tố này.

Đài RFA có hẳn một mục dành cho những câu chuyện mang tính cá nhân về Cải cách ruộng đất. Sau đây là vài câu chuyện thật mà đọc lên chúng ta thấy không biết tại sao con người lúc đó quá tàn ác với nhau.

Về những người tố cáo, qua lời kể của Nhà văn Nguyễn Chí Thiện:

“Họ bị kích động nhiều, bị kích động hơn là bị ép buộc anh ạ. Nhưng số người mà sau này họ hăng say lao theo thì đông, chứ còn số người miễn cưỡng lên thì ít thôi. Nhưng phải nhớ một điều là từ đầu đã có một sự cưỡng bức rồi. Những người hăng say thì không phải là tự họ họ lên đâu, mà họ không lên cũng không được. Qua quá trình kể khổ rồi khơi sâu lòng hận thù thì nhiều người trở thành hận thù thật. Họ lên họ làm việc đó.

Chỉ riêng trong gia đình thôi thì là một sự miễn cưỡng rõ rệt anh ạ. Thí dụ như con dâu mà lên tố bố chẳng hạn, tố là ông ấy hiếp mình thế nọ thế kia thì ăn nói nó có vẻ gượng gạo, không có tinh thần hăng say như những người khác.

Có một điều đặc biệt là, ông ta đã ngoài 60 rồi, mà ông ta vẫn cứ phải xưng cháu hoặc xưng con với bất cứ một người nào lên đấu tố, dù người lên đấu tố chỉ đáng tuổi con ông thôi. Thâm chí tôi còn nhớ một cô con gái lên tố ông ta thì ông ta cũng phải xưng con với người con gái đó – con gái mình đẻ ra đấy ạ”.

Còn người ngồi ghế xử án:

“Bây giờ nói đến tòa án nhân dân mà ngồi xử thì toàn là nông dân thôi, toàn là nông dân họ sắp xếp lên ngồi thôi. Chị làm “chánh án”, tôi còn nhớ chị ấy còn mù chữ nữa anh ạ, không biết viết a,b,c thế mà lại lên làm chánh án.

Sau một ngày đấu tố nhục nhã như thế rồi thì họ bắt đầu họ tuyên án. Họ tuyên án với tất cả những tội ác mà địa chủ đã phạm phải, mà toàn bộ là bịa đặt thôi. Người ta tuyên án ông ấy tử hình. Đặc biệt là trong quá trình đấu tố thì ông địa chủ này không có quyền cãi mà chỉ có quyền bất cứ ai đấu tố thế nào đều chỉ có quyền “nhận tội” – nhận tội lỗi của mình chớ không hề có một lời cãi nào được phép cả”.

Họ làm gì với nạn nhân đã bi tử hình?

“Buổi hôm đó, tôi còn nhớ là sau khi đấu tố xong thì lập tức có 6 anh du kích. 6 anh du kích này đứng cách khoảng độ 2 mét… thế là bắn chết ông ta ngay. Sau khi bắn chết xong thì chặt dây thừng – không phải là cởi nữa mà là chặt dây thừng, lấy con dao chặt dây thừng ra và lôi ông ta ra chỗ cái hố đó. Xin nhớ một điều, không có áo quan anh nhá. Thế là họ vất tụt xuống hố đó là lấp đất ngay lập tức thôi. Lấp đất xong thì đất ấy cũng không được đấp thành mộ mà đấp bằng như bình thường thôi chớ không đấp gồ lên như một khối u như là một mộ phần anh ạ. Đấy là điều mà tôi chứng kiến tận mắt”.

Ông Nguyễn Văn Thủ kể lại vụ xử cha mẹ của vợ nhà thơ Hữu Loan:

“Bà ấy lên, lật ngửa mặt cụ ra, rồi chỉ vào tận mặt và nói: con Ly, tên bà cụ là Ly, vợ chồng mày ép buộc tao, phải gả con gái cho con mày…rồi bà ấy khóc hu hu lên…rồi xin đội cải cách cho đem con gái về… rồi bà ấy bảo là mày dụ dỗ con tao đi Nam để cho bố mẹ lià con…

Lúc ấy, tự nhiên nó như ma quỉ cám dỗ, người ta nhìn thấy nhà tôi, người ta như muốn ăn thịt luôn, họ muốn làm gì thì làm. Lúc ấy, người nào càng hăng hái, càng tốt, càng đấu tố, càng đánh đập, thì càng tốt. Có những người bị tử hình, ông cụ tôi bị kết án tử hình, bắn chết ngay, lôi ra bắn chết ngay, bắn ngay trước mặt mọi người, con cháu… Đấu tố bố mình, bắt phải ra nhìn…Còn những người khác bị tra tấn, bị chết thì cho là họ tự tử, bắn thì rõ ràng rồi, mấy trường hợp…Cuối cùng thì sửa sai, biết là sai lầm, rồi xin lỗi, thế thôi!”.

Đối xử với nạn nhân như là thú vật. Trung tá Trần Anh Kim kể:

“Toàn bộ những cái bố tôi kể thì tôi còn ghi được nguyên cuốn băng. Cứ làm như thế, hàng ngày làm như thế, làm để bắt nhận là Quốc Dân Đảng. Bố tôi không nhận Quốc Dân Đảng, bố tôi bảo rằng bố tôi chẳng biết Quốc Dân Đảng là ai cả, chỉ biết đảng viên đảng cộng sản thôi. Thế người ta không quy được cho bố tôi Quốc Dân Đảng thì người ta lại đưa bố tôi lên địa chủ luôn.

Địa chủ ngày đó là địa chủ “phân” anh ạ. Thí dụ mỗi một thôn là mấy địa chủ thì cứ thế người ta đưa lên thôi. Cuối cùng thì cũng bị tù không án, hai năm. Mà khốn nạn hơn thời tôi tù nhiều. Tức là tay thì trói cánh khuỷu ra đàng sau, chân thì cùm, quần áo thì chẳng có mặc, cứ nằm như thế ở dưới sàn chuồng trâu thôi.

Lúc bấy giờ tôi còn nhỏ, khoảng 10 tuổi, tôi mang cơm cho bố tôi thì khổ thế này: đầu tiên mang ra ngõ thì mình cũng chẳng biết gì cả, lúc bắt bố tôi thì tôi biết nhưng bắt ông tôi thì tôi không biết. Lúc bắt bố tôi thì tôi chỉ biết khóc thôi. Tôi thấy tự nhiên người ta đến nhà mình, 5 người đến, người ta dằn bố mình ra người ta trói mang đi, nói thằng này là Quốc Dân Đảng, trói mang đi thì mình chỉ biết khóc thôi. Không biết làm gì cả.

Ra ngõ thì gặp đội, thế là nó quát ầm lên: “thằng này con nhà Quốc Dân Đảng, cháu địa chủ, tại sao mày gặp chúng tao mày không chào, mày không quì xuống”. Lúc bấy giờ biết đâu được, chỉ khóc thôi. Tôi khóc và bắt đầu quỳ xuống, nó bảo từ nay trở đi mày gặp chúng tao mày phải quỳ xuống, mày lạy các ông đội, xin phép các ông đội, xin phép các ông cốt cán để tôi mang cơm cho ông tôi, cho bố tôi, thế thì chúng tao cho đi. Thế thì cuối cùng từ đấy thì cứ quen như vậy. Cứ ra ngõ gặp người ta là phải quỳ xuống, xong lại xin phép các ông cốt cán để tôi mang cơm cho ông tôi, cho bố tôi. Gọi là cơm nhưng có cơm đâu, chủ yếu là khoai thôi.

Nắm cơm mang xuống thì thế này. Người ta dùng ngay cái trét xúc cứt đấy ông ạ, xúc phân gà, nó xắn vào chén cơm. Tôi cũng chẳng biết gì cả, tôi chỉ biết người ta làm như vậy thôi. Nhưng ông thôi thì rất hăng. Ông tôi bảo tại sao lại phải làm như vậy thì nó bảo là phải kiểm tra xem bọn địa chủ nó có tiếp tế cho nhau không, nó có thông tin cho nhau không, chúng ta phải kiểm tra.

Có hôm thì họ làm như vậy, có hôm thì không có trét, nó rút ngay cái cọc ở chuồng lợn bên cạnh con trâu, thế thì họ chọc vào cơm, chọc luôn vào khoai, bảo chúng tao phải kiểm tra. Năm đó thì có gì đâu, có cái gáo dừa thôi mà. Cái gáo dừa treo hai cái dây lủng là lủng lẳng đem nước vô cho ông – nó đổ đi một nữa xong nó đái vào đấy. Tôi cũng chẳng biết gì, chỉ biết như thế thôi.

Nhưng ông tôi quát rầm lên thì nó bảo rằng cho chúng mày uống để mà sáng mắt ra, cho chúng mày hết tư tưởng bóc lột, hết tư tưởng ức hiếp nhân dân. Nó cứ chửi ông tôi như thế – tôi cũng chỉ biết khóc, chẳng biết làm thế nào cả. Mình chỉ mang đi cho ông, mang đến chỗ thì lại về rồi”.

***

Những câu chuyện thương tâm về Cải cách ruộng đất thì cả bộ sách viết cũng chưa chắc đủ. Nhưng tôi có cảm giác là hình như vẫn chưa có những nghiên cứu hàn lâm về Cải cách ruộng đất và hậu quả của nó, một phần có lẽ do thiếu thông tin (vì Nhà nước Việt Nam không cung cấp), một phần do bản chất “tế nhị” của vấn đề nên các nhà nghiên cứu trong nước không muốn/dám động đến.

Với hàng trăm ngàn người chết mà cho đến nay chẳng ai đứng ra chịu trách nhiệm về những tang thương xảy ra trong thời Cải cách ruộng đất. Ngược lại, người ta còn có vẻ tự hào triển lãm những thành quả của Cải cách ruộng đất! Mà, cuộc triển lãm cũng chỉ là những trưng bài mang tính một chiều, mà không dám trưng bày những góc cạnh tối của sự kiện. Người ta chỉ tuyên bố theo kiểu sáo ngữ như “Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng dân chủ ‘long trời lở đất’, mang lại những giá trị to lớn của một xã hội mới, một chế độ mới, một cuộc sống mới cho người dân Việt Nam”, nhưng không dám nói lên sự thật về hàng trăm ngàn cái chết oan. Thật tình mà nói, tôi không rõ Cải cách ruộng đất đã đem lại cuộc sống mới và giá trị mới gì, nhưng có lẽ đó là sự thành công trong việc xóa bỏ giai cấp “trí hào” ở nông thôn và nền tảng đạo lí của xã hội Việt Nam. Chúng ta đã thấy xóa bỏ giai cấp đó thì dần dần hình thành một giai cấp thống trị mới xem ra còn khắc nghiệt hơn và hệ thống hơn giai cấp trí hào cũ.

Cuộc Cải cách ruộng đất còn làm đảo lộn luân thường đạo lí của xã hội Việt Nam. Có người Việt bình thường nào có thể tưởng tượng nổi con đấu tố cha, con dâu tố cha chồng, vợ đấu tố chồng, v.v. Tất cả đều chỉ là làm theo những vở kịch đã được diễn tập, hoặc bị kích động. Đây phải nói là một đề tài nghiên cứu tâm lí rất độc đáo. Một con người bình thường khi được trang bị cho một thứ chủ thuyết nào đó họ sẽ trở thành những tên sát nhân nguy hiểm. Đó là bằng chứng từ nghiên cứu vào thập niên 1950. Có lẽ những người đứng đằng sau cuộc Cải cách ruộng đất đã rành những chứng cứ đó nên họ áp dụng rất thành thục, và hệ quả là một xã hội bị đảo lộn về tôn ti trật tự. Sự đảo lộn vẫn còn để lại hệ quả cho đến ngày hôm nay.

Một trong những ông tổ cộng sản và cũng là tên đồ tể giết người không gớm tay là Josef Stalin từng nói rằng “một cái chết là một thảm trạng; hàng triệu cái chết là một con số thống kê” (The death of one man is a tragedy; the death of millions is a statistic). Câu nói lạnh lùng hàm ý rằng giết một người thì sẽ có người quan tâm làm lớn chuyện vì họ động lòng, nhưng giết hàng triệu người thì chẳng mấy ai quan tâm vì người ta sẽ mệt mỏi với sự thương tâm (emotional fatigue) và nó chỉ là con số thống kê. Đối với nhà độc tài như Stalin thì mạng sống con người chẳng có nghĩa lí gì vì nó như là một con số thống kê.

Chúng ta thường hay kinh hãi trước những cái chết trong cuộc “cách mạng văn hóa” ở Tàu với hàng chục triệu người bị giết oan. Nhưng trớ trêu thay, ít người trong chúng ta kinh hãi trước 120.000 người hay 1% đồng hương của mình bị giết chết trong thời Cải cách ruộng đất!

Có người nghĩ rằng sự kiện Cải cách ruộng đất là chuyện quá khứ, Đảng và Nhà nước đã chính thức xin lỗi, nhắc lại làm gì. Nhưng tôi nghĩ suy nghĩ đó không đúng. Nhắc lại hay nghiên cứu về sự kiện trong lịch sử không phải để trả thù ai, mà để học hỏi từ những bài học quá khứ. Có triết gia từng nói và tôi đồng ý: Những kẻ nào không học từ lịch sử thì sẽ có ngày lặp lại những sai lầm của quá khứ. Do đó, phải học từ những sai lầm trong quá khứ để không vấp phải chúng một lần nữa.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Triển lãm Cải cách ruộng đất: Làm sao bây giờ?

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2014

Nguồn rfavietnam

Tác giả: Nguyễn Tường Thụy

Chẳng hiểu ai xui khiến thế nào mà Bảo tàng lịch sử quốc gia tự nhiên đi tổ chức phòng trưng bày về cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” cách đây sáu chục năm, mở cửa vào ngày 8/9/2014.

Phàm những gì họ làm đều có mục đích cả, chứ không phải bày ra để chơi.

Vâng, mục đích là đây: theo Ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia thì “Bảo tàng muốn hướng tới là những thành tựu của cuộc cải cách ruộng đất đã mang lại cho nhà nước mới được thành lập, cho người dân Việt Nam nghèo khổ đang từ phận nô lệ mất nước được hưởng thành quả cách mạng đó”. 

Tuy nhiên, mới qua mấy ngày đầu, mục đích của Bảo tàng có vẻ như không đạt được. Dấu ấn kinh hoàng của Cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã ghi quá sâu vào ký ức những người dân Việt Nam. Hẳn là không nhiều người tìm đến phòng trưng bày để xem nông dân Việt Nam được hưởng thành quả của Cải cách ra sao. Có vẻ như người ta không hào hứng về việc này khi chuyện chia ruộng thì ai cũng biết và ai cũng biết sau đó, ruộng đất lại được gom vào HTX. Khi mô hình HTX thất bại, ruộng đất được chia lại để rồi lại tập trung vào quan chức nhà nước và những người giàu có. Người ta đến triển lãm còn vì tò mò, muốn biết xem thái độ của nhà cầm quyền đối với CCRĐ ra sao, họ nhìn nhận thế nào hay hướng người xem nhìn nhận thế nào?

Người xem nhận ra ngay ý đồ của Ban tổ chức (BTC) khi nhìn vào cách sắp xếp hiện vật và số lượng hiện vật cho mỗi khời kỳ. Theo Thanh niên online, trong tổng số 133 hiện vật thì dành cho phần đời sống của nông dân trước cải cách là 45 hiện vật, tức là chiếm 1/3. Điều này cho thấy, bảo tàng muốn nhấn mạnh sự so sánh cuộc sống của nông dân với địa chủ.

Phần đấu tố địa chủ có lẽ là phần khách quan tâm nhất thì Ban tổ chức giấu nhẹm. Được hỏi về cách sắp xếp có chủ ý, ông Cường trả lời đại rằng “Không nhất thiết phải phơi bày toàn bộ những sai lầm của lịch sử” làm cho nhiều phóng viên tỏ ý không hài lòng. Ông đã làm đúng đường lối tuyên truyền của Đảng, nhưng xem ra, lần tuyên truyền này lợi bất cập hại.

Có một điều thú vị là, phần giấu giếm của ban tổ chức đã được báo Vnexpress tìm cách bù đắp bằng bài “Khoảng lặng bên trong triển lãm Cải cách ruộng đất“với việc phỏng vấn khách thăm là những nhân chứng, kể về giai đoạn đau thương ấy và họ “chưa thỏa mãn với những thông tin, hình ảnh, ánh sáng và cách trưng bày. Rất tiếc khi có cơ hội lại không được cung cấp thêm những hiểu biết chân thực về lịch sử, một giai đoạn đau buồn của dân tộc”.

Bài báo cũng dẫn lời nhà sử học Dương Trung Quốc “Với những vấn đề này, chúng ta không nên né tránh để ít nhất nhân dân không nghi ngờ về quá khứ”,

Trên mạng internet, tràn ngập những bài viết kể về một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân tộc, khơi dậy những đau thương mà người ta kìm nén sáu chục năm nay, nay có dịp bùng lên. Phần đấu tố địa chủ – nội dung mà ban tổ chức cố tình ém nhẹm, với lý do như ông Cường đã nói là không cần thiết lại là đề tài bàn luận sôi nổi nhất. Hàng chục bài viết về chủ đề này được đưa lên mạng mỗi ngày. Riêng phần điểm tin sáng trên trang Ba Sàm hôm nay (12/9) đã có tới 34 bài nói về CCRĐ. Blog Tễu còn kỳ công tập hợp đường dẫn tất cả những bài viết về CCRĐ để hầu bạn đọc Những người có cha mẹ ông bà bị đấu tố, bị bắn trong CCRĐ, nỗi uất ức kìm nén bấy lâu nay được dịp bùng lên. Họ kể về nỗi đau mất mát của gia đình, dòng họ, hệ lụy sau đó và không ngần ngại bày tỏ luôn cả lòng căm thù.

Đấu tố, xử tử địa chủ ở Miền Bắc

 

Có người phát hiện ra có những hình ảnh trưng bày được diễn hoặc đóng lại. Nhiều người tinh quái, tìm ngay ra những hình ảnh tương phản để vô hiệu việc tuyên truyền trong phòng trưng bày. Họ đặt bữa cơm của nông dân hồi ấy cạnh bữa ăn của nông dân hiện nay để cho thấy sáu chục năm qua, đời sống của nông dân hóa ra là… thụt lùi. Trưng bày về ngôi nhà lụp xụp của nông dân so với nhà địa chủ thì họ đưa ra hình ảnh nhà nông dân VN bây giờ cũng lụp xụp không kém và nhà quan chức thì nguy nga tráng lệ gấp nghìn lần nhà địa chủ ngày xưa. Những cảnh đấu tố, bắn giết được đưa lên cùng con số hàng trăm nghìn người bị tố oan, hàng vạn người bị giết để minh chứng cho sự “thành công” của CCRĐ. Nói về thành quả chia ruộng đất cho bần cố nông, thì bị phỏng vấn những câu hóc hiểm, như “ông nghĩ gì về việc ruộng đất hiện nay lại tập trung vào tay quan chức nhà nước và đảng cộng sản”, khiến cho người được phỏng vấn chỉ còn cách lảng.

Bữa ăn của nông dân sau cải cách và hiện nay

Tai hại hơn, nhiều người còn đem cải cách điền địa ở Miền Nam ra so sánh để cho rằng, cải cách điền địa ở miền Nam vẫn là mục tiêu người cày có ruộng nhưng không có cảnh tước đoạt, bắn giết. Nhà nước mua ruộng của địa chủ chia cho nông dân. “Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình “Người Cày Có Ruộng” là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất ở các nước hậu tiến. Nó là điểm vàng son của nền Đệ nhị Cộng hòa”. Chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Nông dân hăng hái sản xuất và năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Đời sống của nông dân được cải thiện”

Trái phiếu thu mua đất của địa chủ để cấp cho nông dân trong cải cách điền địa ở miền Nam

Cũng là mục tiêu người cầy có ruộng nhưng công hay tội thành công hay thất bại là ở cách làm. Tại sao nông dân vẫn có ruộng nhưng ở Miền Bắc phải cướp đoạt, phải bắn giết, gieo rắc hận thù, làm đảo lộn gia phong còn ở Miền Nam thì không?

Bất ngờ, ngày 12/9, gần trăm dân oan Dương Nội trong đồng phục dân oan kéo nhau đến đòi xem triển lãm. BTC đối phó bằng cách bắt cởi áo dân oan rồi mới được vào. Ai dè họ cũng cởi phắt ra luôn nhưng cũng không vào được vì BTC thông báo tạm thời đóng cửa do sự cố …ánh sáng.

Được biết, phòng trưng bày sẽ mở cửa đến 31/12/2014, nghĩa là tới 4 tháng lận. Thế nhưng mới mở cửa được mấy ngày đã xảy ra sự cố ánh sáng. Không biết thực hư thế nào nhưng nhiều ý kiến cho rằng chẳng qua BTC tìm cách đối phó mà thôi.

Mới chỉ có mấy hôm mà những thông tin về hiệu ứng của triển lãm xem ra theo xu hướng bất lợi so với mục đích ban đầu. Còn những ba tháng rưỡi nữa, không biết rồi sẽ xảy ra những chuyện gì? Kéo dài đến hết năm có vẻ thật là khó. Còn đóng cửa ư? Giải thích với công luận thế nào đây? Lý do về sự cố ánh sáng, điện đóm không thể đưa ra mãi. Dân oan Dương Nội còn “dọa” sẽ tìm cách vào phòng triển lãm cho bằng được.

Hình như khi triển khai dự án này, Ban tổ chức không lường trước được hệ quả. Hướng tới cho người dân về thành quả của CCRĐ đâu không biết, chỉ thấy những phản ứng bất bình.

Rất khó hiểu về cuộc triển lãm này. Thực sự người ta không hiểu nổi họ tính toán ra sao để cho mục đích đạt được. Trao đổi với tôi về việc này, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải cho rằng, có gì đâu, nó bày ra để lấy tiền dự án thôi mà. Nhưng cũng có người nói tay nào thầy dùi tổ chức triển lãm này nếu không ngu thì cũng là thằng đểu.

12/9/2014

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Nguồn rfavietnam

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Uncategorized | Leave a Comment »

►Những gì diễn ra sau chuyến đi Bắc Kinh của Phái viên Lê Hồng Anh

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2014

Một cán bộ Viện Nghiên cứu Quốc tế (xin được phép dấu tên)

Tác giả gửi đến Dân Luận

Chuyến đi của Lê Hồng Anh gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhằm thương lượng giải quyết việc Trung Quốc đưa giàn khoan 981 hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là đề tài nóng của dư luận trong và ngoài nước trong những ngày qua.

Rất nhiều câu hỏi đáng suy ngẫm của mọi tầng lớp nhân dân: Chuyến đi này thắng gì, thua gì? Có được dư luận ủng hộ không? Rồi đây Trung Quốc còn tiếp tục đưa giàn khoan nào trở lại hay không? Việt Nam liệu có kiện Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam không?…

Hỏi thì nhiều, nhưng vẫn chẳng có một giải đáp nào được xem là chính thống. Điều đó càng nảy sinh nhiều đánh giá xung quanh chuyến đi Trung Quốc của Phái viên Lê Hồng Anh. Có thể có những đánh giá quá lạc quan hoặc quá bi quan, có thể các giới lãnh đạo cũng chẳng để ý gì đến những đánh giá này lắm, nhưng đối với những người quan tâm đến vận mệnh của đất nước thì lại rất cần thiết vì từ đó để xem những người lãnh đạo đất nước đương thời sẽ làm gì sắp tới. Nên phải đưa ra những câu hỏi, những đánh giá để dư luận bình luận.

lehonganh-tapcanbinh.jpgPhái viên Lê Hồng Anh và Chủ tịch TQ Tập Cận BìnhCâu hỏi thứ nhất: Tại sao ông Lê Hồng Anh được cử sang Trung Quốc gặp Tập Cận Bình lại mang danh nghĩa phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (trong khi ông Lê Hồng Anh được coi là Phó Đảng) và cũng không mang danh nghĩa gì về mặt Nhà nước. Như vậy danh nghĩa này được hiểu thế nào?

– Đánh giá: Chuyến đi Bắc Kinh của ông Lê Hồng Anh thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết là vai trò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Họ muốn gửi tới Tập Cận Bình, Đảng là quyết định, chứ không phải Chính phủ. Điều này đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa các phản ứng mạnh của Thủ tướng và các cơ quan của Chính phủ vừa qua có những tuyên bố cứng rắn đối với Trung Quốc.

– Bình luận: Cử được Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh đi Trung Quốc và được Tập Cận Bình chấp nhận và ra lời mời là sự thắng thế của Nguyễn Phú Trọng và những người theo xu hướng“hòa hiếu” với Trung Quốc. Được biết trước đó Bộ Chính trị có nhiều cuộc họp bàn việc kiện Trung Quốc, phải họp Trung ương để quyết định vấn đề này, nhiều ý kiến không đồng tình với chủ trương cử phái viên đi Trung Quốc, nhưng khi Trung Quốc rút giàn khoan 981, Phú Trọng mới dàn xếp dung hòa ý kiến trong nội bộ và cử Lê Hồng Anh làm phái viên của Trọng, điều này đã chứng minh Nguyễn Phú Trọng đã thắng thế, đồng nghĩa thắng thế của xu hướng “hòa hiếu” lệ thuộc vào Trung Quốc.

Câu hỏi thứ 2: Trung Quốc vi phạm chủ quyền của ta, bị thế giới lên án, phê phán; ta phản đối quyết liệt, kiên quyết hành động của họ vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế nhưng sao không mời Trung Quốc sang ta mà lại cử phái viên sang Trung Quốc để hòa giải với họ?

– Đánh giá: Không đủ tầm, bản lĩnh kém, đầu óc mang nặng của kẻ hủ nho, học không thuộc định luật lịch sử “ông cha ta ngày xưa thắng họ cũng phải triều cống họ để được phong tước” và để giữ “hòa hiếu” vì lú lẫn không đánh giá được tương quan thời nay, ta đã là một quốc gia độc lập, có tiềm lực mạnh ở khu vực, được các nước khu vực và cộng đồng quốc tế ủng hộ, vì ta là chính nghĩa, họ là phi nghĩa. Nguyễn Phú Trọng tự biến mình thành bầy chuột để tế lễ con mèo như tranh dân gian của nước ta. Chung quy lại là họ sợ, rất sợ trách nhiệm, sợ không đối phó nổi với Trung Quốc.

– Bình luận: Thể hiện sự bạc nhược của Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của Trọng dẫn đến sớm đầu hàng Trung Quốc. Nắm bắt được tinh thần của Nguyễn Phú Trọng, nhân dịp này Tập Cận Bình được dịp củng cố cho phái viên của Nguyễn Phú Trọng về tình hữu nghị, về đại cục… bằng việc khẳng định muốn xây dựng đoàn kết hữu nghị với Việt Nam, sẵn sàng cùng với Phú Trọng bàn giải quyết tranh chấp xung đột 2 nước. Thực sự đây là liều thuốc hỗ trợ cho Nguyễn Phú Trọng để kiên trì con đường lệ thuộc dưới danh nghĩa “hòa hiếu” và để giải quyết tình hình nội bộ Việt Nam.

Phái viên Lê Hồng Anh luôn phát biểu theo những nội dung đã được soạn sẵn bằng văn bản theo ý của Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông (Nguồn: CNTV)

Câu hỏi thứ 3: Chuyến đi của Lê Hồng Anh đã tác động đến tình hình nội bộ thế nào?

– Đánh giá: Sẽ rất ảnh hưởng đến tình hình nội bộ. Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí có cùng quan điểm sẽ được củng cố niềm tin rằng mọi tranh chấp sẽ được giải quyết qua con đường lãnh đạo giữa 2 Đảng Cộng sản trên tình thần đồng chí anh em. Điều này còn gián tiếp phê phán nhiều đồng chí có quan điểm phản ứng cứng rắn với Trung Quốc. Nội bộ lãnh đạo tiếp tục mâu thuẫn, phân hóa sâu sắc hơn. Trung Quốc nhân cơ hội này tấn công vào nội bộ ta để phá nhân sự Đại hội lần thứ XII, gây áp lực loại những nhân sự có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc.

– Bình luận: Nguyễn Phú Trọng với danh nghĩa Đảng đã giành được lợi thế kiềm chế những đồng chí có quan điểm không lệ thuộc Trung Quốc, cao hơn là thực hiện mục tiêu như Trung Quốc mong muốn là loại những đồng chí không cùng quan điểm ra khỏi nhân sự Đại hội XII sắp tới. Nhưng đây chính là điều bất lợi cho Phú Trọng vì đã bộc lộ vai trò là người bạn thân thiết của Trung Quốc quá sớm. Những cán bộ lão thành cách mạng, trí thức và dư luận trong nhân dân đều nhìn thấy nguy cơ đánh mất chủ quyền đất nước của Nguyễn Phú Trọng nên sẽ hướng vào ủng hộ những người có đủ bản lĩnh thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, bảo vệ được chủ quyền đất nước, đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay.

Câu hỏi thứ 4: Sau chuyến đi Trung Quốc gặp Tập Cận Bình của Lê Hồng Anh phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì quan hệ 2 nước thế nào, những biến động sẽ ra sao?

– Đánh giá: Trong các Ban Đảng và Tổng Bí thư thấy lạc quan hơn, quan hệ 2 nước sẽ tiếp tục củng cố và phát triển. Các biện pháp đấu tranh với Trung Quốc về xâm lấn chủ quyền Biển Đông sẽ được chỉ đạo trên nguyên tắc giữ “hòa hiếu” của Nguyễn Phú Trọng, được thực hiện xuyên suốt. Vì vậy, chủ trương của Chính phủ đấu tranh với Trung Quốc bằng pháp lý nhiều khả năng sẽ chưa thực hiện.

Cũng từ đánh giá này, Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của Trọng tin rằng Trung Quốc sẽ xuống thang ở Biển Đông, các tranh chấp sẽ được giải quyết ở cấp cao của 2 nước sắp tới, tình hình ở Biển Đông sẽ bớt căng thẳng.

– Bình luận: Chuyến đi Trung Quốc của Lê Hồng Anh tới Bắc Kinh được Nguyễn Phú Trọng cho là thành công và đang được lãnh đạo Trung Quốc làm cho mê muội, ảo tưởng có thể thuyết phục được Tập Cận Bình và đang tự sướng, thâm tâm của Trọng cho rằng chỉ có mình mới làm biến đổi tình hình, giữ được hòa khí với Trung Quốc.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí có cùng quan điểm với Trọng quá ngây thơ và mất cảnh giác. Với những gì Trung Quốc đã làm và sẽ làm thì không có chuyện Trung Quốc sẽ xuống thang ở Biển Đông. Tình hình 2 nước được yên ổn với nhau chỉ khi Việt Nam chấp nhận lệ thuộc vào Trung Quốc, trao quyền cho Trung Quốc khai thác Biển Đông và các đảo trên đó. Toàn dân ta kiên trì thêm một thời gian nữa sẽ biết Trung Quốc làm gì với ta!!! Giàn khoan HD981 chắc chắn còn quay lại hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của ta. Trung Quốc không từ bỏ xây dựng cơ sở hạ tầng ở những đảo họ đã chiếm ở Trường Sa vì đó là những căn cứ bàn đạp để chiếm đảo của ta sau này. Họ đều đã có lộ trình rồi.

Câu hỏi thứ 5: Chuyến đi của phái viên Lê Hồng Anh sang Trung Quốc dư luận quốc tế quan tâm như thế nào?

– Đánh giá: Chưa có đủ thông tin về vấn đề này, nhưng chắc chắn là họ sẽ rất quan tâm tới những điều hai nước thông điệp với nhau. Dù chưa biết được nội dung cuộc gặp này, nhưng đã có những đánh giá chuyến đi của Lê Hồng Anh Việt Nam mất nhiều hơn được vì vào thời điểm này Trung Quốc có những lợi thế hơn Việt Nam (giàn khoan HD981 đã rút rồi). Trung Quốc rất ít khi chấp nhận một điều khi điều đó ảnh hưởng tới quyền lợi của họ.

– Bình luận: Nhiều nước tỏ ra thất vọng qua chuyến đi của Lê Hồng Anh sang Trung Quốc gặp Tập Cận Bình. Trước đó, họ coi Việt Nam là điểm sáng, là ngọn cờ đấu tranh chống lại Trung Quốc bành trướng, nay họ cảm thấy bị phản bội. Và họ đang tìm hiểu liệu Việt Nam – Trung Quốc đã thỏa thuận ngầm với nhau điều gì. “Thật là tồi tệ nếu điều đó xảy ra”. Họ trao đổi với nhau điều mà Việt Nam đang làm với Trung Quốc (ý nói là các cuộc gặp cấp cao Việt Nam – Trung Quốc) “đã trở thành luật chơi – Trung Quốc gây sự, Việt Nam phản đối rồi 2 nước đi đêm với nhau, các nước bị đánh lừa”.

Nước ta thoát khoải chiến tranh quân sự mới vài thập kỷ gần đây và đang phải đối phó với những đe dọa từ bên ngoài. Các thế hệ cách mạng dần dần đã ra đi. Tuy vậy, những người còn lại đã chứng kiến thời khắc lịch sử cũng không phải là ít trong đó có một số ít vẫn trong bộ máy của Đảng và Nhà nước. Tất cả những người còn lại từ cuộc chiến tranh nói ở trên đây đều có chung một nhận định các yếu tố đe dọa chủ quyền an ninh của đất nước ta ngày càng tăng lên từ hướng Trung Quốc. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Trung Quốc chống ta kiểu khác; khi bình thường hóa 2 nước sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, Trung Quốc chống ta kiểu khác. Và ngày nay, khi thế và lực của Trung Quốc đã đổi khác, Trung Quốc đã bộc lộ rõ mục tiêu đối với nước ta và họ hành động ngày càng công khai trắng trợn để độc chiếm Biển Đông của ta.

Nhưng không hiểu sao Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí đồng quan điểm với ông Trọng lại nhìn nhận Trung Quốc tĩnh tại của thời kỳ chiến tranh lạnh để rồi cột mình vào những nguyên tắc do giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra cho lãnh đạo Việt Nam làm theo “4 tốt”“16 chữ vàng” từ thời ông Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh để lại. Muốn thoát khỏi sự lệ thuộc theo “định luật lịch sử” thì lúc này là Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phải nhìn nhận lại về Trung Quốc, bản chất đảng và nhà nước Trung Quốc hiện nay là gì, có còn theo Chủ nghĩa Mác – Lênin nữa không, họ có còn là đồng chí anh em của Việt Nam nữa không hay đang là mối đe dọa độc lập chủ quyền của nước ta và an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Chỉ trên cơ sở đánh giá này mới nhận rõ được đối tượng, đối tác của nước ta. Trên cơ sở đó tạo sự thống nhất trong Đảng, trong nội bộ thì mới có chủ trương đối sách nhất quán và đúng đắn.

lekhaphieu-nongducmanh.jpgCác ông Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh là những người đồng chí của ông Trọng đã tạo nên “4 tốt” và “16 chữ vàng” với Trung Quốc

“Hòa hiếu” với Trung Quốc là nguyện vọng của dân tộc ta từ bao đời nay, nhưng mỗi một thời nó có các điều kiện của nó. Ngày nay, nước ta là nước độc lập, biên giới lãnh thổ đã được xác định trên cơ sở luật pháp quốc tế, việc “hòa hiếu” với các nước nói chung và láng giềng nói riêng phải trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng nền độc lập và chủ quyền của nhau và lợi ích của 2 nước phải được tôn trọng và công bằng.

Nhưng đường lối, đối sách của Nguyễn Phú Trọng đưa ra đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông vừa qua đối ngược với nguyên tắc đó, có nhiều sai lầm, biểu hiện của sự nhu nhược, đầu hàng nên đã không đạt được những điều Đảng, Nhà nước và nhân dân mong muốn khiến tình hình tồi tệ thêm. Trung Quốc ngang nhiên hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của ta hơn 2 tháng mà không làm gì được họ. Trong lãnh đạo cấp cao có nhiều bài phát biểu rất bất lợi cho vị thế của Việt Nam, nhân dân rất thất vọng về họ.

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí hãy đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết để gạt bỏ những tính toán cá nhân trong đầu để đoàn kết nhau lại lo việc bằng việc đấu tranh loại bỏ ngay những tư tưởng và con người lệ thuộc đầu hàng ngoại bang ra khỏi bộ máy lãnh đạo của nước ta, ủng hộ những người có bản lĩnh đương đầu với mọi nguy cơ để bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước.

nguyenphutrong.jpgTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người chịu trách nhiệm chính, ông cần nghiêm túc kiểm điểm để thấy rõ trách nhiệm của mình đối với việc đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông và việc ngày càng tránh né Việt Nam của Lào, Campuchia để lệ thuộc sâu hơn vào Trung Quốc.

Mong Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông đọc kỹ các câu hỏi và bình luận của dư luận trong và ngoài nước sau chuyến đi của phái viên Lê Hồng Anh để soi lại mình, vẫn còn đủ thời giờ để điều chỉnh nếu như muốn tranh sự phế truất của Đảng viên và nhân dân.

Một cán bộ Viện Nghiên cứu Quốc tế (xin được phép dấu tên)

 

*

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Phỏng vấn dân oan Dương Nội đi xem triển lãm CCRĐ ngày 11-9-2014

Posted by hoangtran204 trên 12/09/2014

Phỏng vấn dân oan Dương Nội tham quan triển lãm CCRĐ ngày 11-9-2014

11-9-2014

Dân Luận thực hiện

dan_oan_duong_noi.jpgSáng ngày 11-9-2014, dân oan mất đất Dương Nội đã xuống đường biểu tình đòi quyền Tư hữu đất đai, cùng với đó họ cũng ghé bảo tàng lịch sử quốc gia để tham quan triển lãm Cải cách ruộng đất nhưng những người mặc thường phục ở đây đã ngăn cản bà con, không cho dân oan vào xem. Chúng tôi đã liên lạc được với anh Trịnh Bá Phương là người trong đoàn dân oan này để tìm hiểu sự việc.

Dân Luận: Chào anh Trịnh Bá Phương, tôi là phóng viên của Dân Luận. Chúng tôi nhận được tin cho biết anh và bà con dân oan phường Dương Nội sáng nay đã biểu tình đòi quyền tư hữu đất đai và đến tham dự cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ). Anh có thể cho biết diễn tiến sự việc sáng nay thế nào?

Trịnh Bá Phương: Khoảng 11 giờ sáng nay, nhân dân bà con Dương Nội bị mất đất khoảng 60 người có đến bảo tàng quốc gia để tham quan cuộc triển lãm CCRĐ đang diễn ra ở đây. Khi vào đến nơi thì họ bảo hết giờ và hẹn đến chiều. Bà con nghỉ ngơi và ăn cơm trưa ở vườn hoa trước cổng bảo tàng.

Lúc 2 giờ chiều vào trong thì họ bảo phải cởi áo mới được vào (áo phông màu đỏ của bà con hay mặc khi biểu tình – PV). Một lúc thì họ bảo bảo tàng gặp sự cố về “ánh sáng” nên không thể vào xem được. Họ nói ngày mai, ngày kia mới sửa xong. Chừng nào khôi phục được ánh sáng thì bà con mới được đến. Mục đích bà con đến ngày hôm nay chỉ là tham quan triển lãm cuộc CCRĐ, tìm hiểu về cuộc CCRĐ này.

Dân Luận: Anh có thể đánh giá được động cơ nào khiến họ không cho bà con dân oan Dương Nội vào?

Trịnh Bá Phương: Thứ nhất có thể là là có rất đông bà con mất đất đến bảo tàng ngày hôm nay. Nhân viên ở đây bảo là bảo tàng không liên quan đến việc “đất cát”. Chúng tôi chỉ bảo đến đây để tìm hiểu bảo tàng về CCRĐ, tìm hiểu xem tại sao ngày xưa lại cướp đất của địa chủ chia cho dân nghèo. Thế mà đến bây giờ ruộng đất của nông dân, nguồn sống của nhân dân thì họ lại đến để tước đoạt sạch sẽ tư liệu sản xuất (TLSX) của nhân dân. Họ lấy lý do dự án này dự án kia, để thu hồi hết đất đai của nông dân, đẩy nhân dân vào đường cùng. Đấy là nghịch lý của cuộc CCRĐ và bây giờ thì họ lại cướp đất. Khi xưa thì lấy đất của địa chủ chia cho dân nghèo, bây giờ thì bao nhiêu nông dân, dân nghèo lại bị tước đoạt hết TLSX, đó là một nghịch lý.

Thứ hai là có thể họ e ngại điều gì đấy, và không muốn cho nhân dân thấy bằng chứng lịch sử của cuộc CCRĐ và họ đã ngăn cản.

Dân Luận: Vâng thưa anh, anh đã có tìm hiểu gì về cuộc CCRĐ giai đoạn 1946-1957 này chưa, và anh có thể nào so sánh nó với tình trạng hiện nay của bà con dân oan trên khắp cả nước, đặc biệt là bà con dân oan Dương Nội?

Trịnh Bá Phương: Sau khi “giải phóng” (2/9/1945 – PV) thì chính quyền đã có mở ra cuộc CCRĐ, là lấy đất của địa chủ chia cho dân nghèo để cho nhân dân đều có TLSX. Ngay cả hình ảnh để trước cổng của bảo tàng cũng có để biểu ngữ: “Ruộng đất cho dân cày nghèo” mà trước đây khi xảy ra những cuộc chiến tranh thì đảng (Cộng sản) cũng giương cao khẩu hiệu “Ruộng đất cho dân cày”. Thế nhưng đến nay họ lại thu hồi hết đất đai của nông dân, khi nhân dân không chuyển đổi được nghề nghiệp, không hỗ trợ tạo nghề nghiệp hay công ăn việc làm cho nhân dân. Không được sự đồng ý của nhân dân mà hàng nghìn công an bộ đội đến để tước đoạt sạch sẽ TLSX.

Không những thế họ (chính quyền – PV) còn bắt rất nhiều người, trong đó chỉ riêng đoàn nông dân Dương Nội là 7 người vô tội đã bị bắt. Trong đó có bố mẹ tôi (bà Cấn Thị Thêu, ông Trịnh Bá Khiêm – PV) sẽ ra tòa vào ngày 19-9 tới này. Tức là chỉ còn 8 ngày nữa tòa án nhân dân quận Hà Đông sẽ đưa bố mẹ tôi ra xét xử. Thực sự thì nhân dân chúng tôi phản đối bất cứ một hình phạt hay bản án nào đối với những người có tiếng nói đấu tranh, có tiếng nói để giữ lại TLSX của nhân dân.

Dân Luận: Cuộc biểu tình của bà con hôm nay là ngày bao nhiêu trong tháng 9 này, liệu bà con có còn xuống đường để biểu tình đòi quyền con người và đòi quyền tư hữu đất đai?

Trịnh Bá Phương: Từ ngày 25/4 đến nay thì tuần nào, ít nhất là 2 ngày chúng tôi cũng xuống đường biểu tình để đòi quyền con người cho dân oan Dương Nội, đòi thả người vô tội, và đòi TLSX. Chúng tôi không nhớ hết được đã bao nhiêu lần xuống đường để biểu tình nhưng chưa có cơ quan nào đứng ra để giải quyết. Họ cũng chỉ có những lời hứa, mà không có bất cứ giấy tờ nào hết!

Dân Luận: Thông qua Dân Luận, anh có nhắn gởi gì đến bà con trong và ngoài nước yêu chuộng nhân quyền?

Trịnh Bá Phương: Tôi thay mặt dân oan Dương Nội xin có lời đến bà con dân oan trong cả nước, cũng như những người yêu chuộng công lý, sự thật; tất cả những nhân sĩ trí thức, và những người quan tâm đến vấn nạn thu hồi đất tràn lan thời gian qua. Tôi rất mong mọi người hãy cùng đoàn kết và lên tiếng để bảo vệ người nông dân thoát khỏi nạn “bần cùng hóa” của chính quyền.

Cũng mong muốn sắp tới này chính quyền sẽ đưa 7 người vô tội ra xét xử và có thể họ đưa ra những bản án để kết tội oan sai. Rất mong cộng đồng trong và ngoài nước lên tiếng để bảo vệ những người dân oan, những người đã có tiếng nói đấu tranh để giữ lại TLSX.

Dân Luận: Cảm ơn anh đã đến với cuộc phỏng vấn của chúng tôi ngày hôm nay, và chúng tôi sẽ liên tục theo dõi hành trình của bà con dân oan Dương Nội đi đòi công lý, cũng như phiên tòa xử án bà con sắp tới đây. Trân trọng cảm ơn.

 

Xem phim chính quyền Hà Nội ngăn cản dân oan Dương Nội đi xem Triển lãm Cải Cách Ruộng Đất

https://www.youtube.com/watch?v=TVgNUOVhde8

 

———–

 

Bà con dân oan Dương Nội biểu tình trước triển lãm Cải Cách Ruộng Đất

11-9-2014

nguồn Dân Luận 

 

Theo thông tin chúng tôi vừa nhận được, bà con dân oan Dương Nội đã diễu hành tới Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia số 25 phố Tông Đản để tham dự triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất.

Lúc 11h sáng bà con tới nơi, nhưng được bảo vệ bảo tàng nói là đã đóng cửa nghỉ trưa, phải chờ tới 14h mới mở cửa trở lại.

Bà con nông dân đã phải ngồi ở vường hoa Cổ Tân đợi đến chiều để vào, nhưng chính người bảo vệ nói trên cùng với một số an ninh mặc thường phục cho biết phòng triển lãm đã đóng cửa bảo dưỡng, để sửa chữa một số vấn đề về ánh sáng.

Được biết cuộc triển lãm lần này tập trung vào phần “được” của cuộc Cải cách ruộng đất, so sánh tình trạng phân biệt giàu nghèo giữa địa chỉ và nông dân, và những hình ảnh người nông dân cười hạnh phúc khi có ruộng đất trong tay. Phần “chưa được” của CCRĐ không được đề cập đến vì theo ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia: “Chúng tôi chỉ chọn những gì tích cực nhất mà cải cách mang lại”. “Chúng tôi không coi đó là một vết thương mà coi đó là bài học xương máu trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng dân chủ. Bên cạnh đó, chúng ta sử dụng tư liệu của Đảng, Bác Hồ khi sửa sai. Chứ chúng tôi không coi đó là một vấn đề chính trong trưng bày để xoáy sâu vào mất mát hay tổn thất gì. Cái đó Đảng ta đánh giá rồi”.

10653418_10202051301078774_7125516408782233385_n.jpg 

 

 

Trên FB chị Dư A Liên đùa:

“Em có một ước mơ là đảng quang vinh vĩ đại đỉnh cao trí tuệ của chúng ta bây giờ tiến hành cải cách ruộng đất hay nhà đất gì đó phát như hồi xưa. Em ấp ủ hi dọng có đứa nào nó giàu tình thương mến thương, giàu đức hi xinh nó chia cho bần nông như em cái nhà rộng rộng đẹp đẹp của nó. Còn nếu hông đứa nào chịu chia thì đảng phải tổ chức đấu tố để nó nhận ra lỗi lầm của nó là quá giàu, quá nhiều đất đai, tài sản trong khi xung quanh nó nhiều người nghèo không có đất cắm dùi, mờ mắt kiếm miếng ăn. Phải làm triệt để thu hồi toàn bộ tài sản về tay dân vô sản chúng mình như lời bài quốc tế ca mà mỗi lần hát lên là em nghẹn ngào rưng rưng xúc động: “bao nhiêu tài sản ắt qua tay mình”. Lúc đó chắc em đội ơn đảng muôn năm, dà em xin hứa từ nai cho đến cuối cuộc đời ngày nầu em cũng ca bài: “đảng đã cho ta mùa xưng”.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất tại Hà Nội, là một trò tuyên truyền rất vụng về, mạo xưng là “lịch sử, và chẳng có gì mới mẻ đáng coi

Posted by hoangtran204 trên 12/09/2014

 

Nghe tin có cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất tại Hà Nội, tôi đã tìm đọc mấy bài tường thuật trên các báo trong nước và các mạng thông tin.

Cảm tưởng chung: Đây chỉ là một trò tuyên truyền rất vụng về, mạo xưng là “lịch sử;” mà nó lại nhạt phèo, chẳng có gì mới mẻ đáng coi. Người ta trưng bày những sập gụ, tủ chè, bát đĩa dùng trong nhà địa chủ; bên cạnh cảnh sống bần hàn của những nông dân. Những người tổ chức cuộc triển lãm chắc hy vọng mọi người xem xong sẽ kết luận: Xã hội thời xưa thật lắm cảnh bất công. Nếu có bát công tức là có bóc lột, đó là cách suy nghĩ đơn giản, dễ khiến người ta tin.

Nhưng người biết suy nghĩ sẽ nhận ra điều này: Thời nay cũng nhiều cảnh bất công không khác gì 60 năm trước. Chỉ cần nhìn vào ngôi nhà của một ông Bí Thư Huỳnh Đức Hòa, tỉnh ủy Lâm Đồng, người ta cũng có thể thấy ông giàu có gấp ngàn lần các địa chủ thời 1946-1957. Trong khi đó thì bao nhiêu người lao động đang sống trong các ổ chuột ở thành phố vẫn chạy ăn từng bữa. Và cảnh sống của đồng bào nghèo tại các vùng nông thôn xa; nếu so sánh nhà cửa của họ với ngôi nhà tồi tàn của người nông dân nghèo khổ, của các bần cố nông thời cải cách ruộng đất, chắc cũng như nhau. Nếu khá hơn cũng chỉ hơn đến gấp đôi, gấp ba là cùng. Hố cách biệt giàu nghèo ngày nay tăng lên gấp trăm, gấp ngàn lần so với thời 1950! Nếu có bất công tức là có bóc lột, thì ngày nay ai bóc lột ai?

Do đó, cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất sẽ gây tác dụng ngược. Thay vì “gây căm thù” đối với các địa chủ ngày xưa, cuộc triển lãm sẽ khiến người đi coi nghĩ tới các đại địa chủ thời nay. Một điều hiển nhiên ai cũng thấy: Sau khi Đảng Cộng Sản cướp ruộng đất từ tay các địa chủ, thì nông dân Việt Nam bây giờ có được làm chủ ruộng đất hay không? Câu trả lời là: Không! Ngày nay tất cả ruộng đất thuộc quyền của “nhà nước.” Nhà nước là tay đại địa chủ, nắm quyền cho dân “cấy rẽ,” cho ai thì người ấy được “quyền sử dụng,” chỉ là quyền sử dụng chứ không phải quyền sở hữu. Nhà nước là một bộ máy khổng lồ vô hình, nhưng đại diện của nó là các quan chức, cán bộ từ tỉnh xuống huyện, xuống xã. Họ nắm toàn quyền, ban bố quyền sử dụng cho đám dân đen. Họ có thể lấy lại quyền sử dụng của nông dân để ban phát cho các nhà tư bản đỏ, bồi thường dân một đồng thì thu lời hàng trăm đồng. Cả bộ máy nhà nước này nằm gọn trong tay Đảng Cộng Sản. Đảng là tay đại địa chủ thời nay. Đảng đưa ra khẩu hiệu “Người cầy có ruộng,” nhưng cuối cùng chỉ có đảng là có ruộng, nông dân Việt Nam vẫn đóng vay tá điền. Thay vì các địa chủ thu tô, ngày nay nông dân sống dưới chế độ đảng thu thuế. Báo chí trong nước vừa so sánh số thuế má, dưới nhiều hình thức, tại một tỉnh Thanh Hóa ngày nay còn nhiều hơn các món thuế nông dân phải đóng trong thời thuộc Pháp.

Một phản ứng ngược khác, là người đi xem triển lãm sẽ bất mãn thêm khi thấy đây chỉ là một trò tuyên truyền cũ kỹ, hoàn toàn không phải là lịch sử, dù được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia. Người biết suy nghĩ sẽ thấy, như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, tại sao một cuộc triển lãm tự xưng là lịch sử mà lại không được trung thực. Ông nói, “… những sai lầm – tội ác do chính quyền gây ra thời đó không được đưa ra, những việc phá tan chùa, đình, miếu, làng, xã…làm phá vỡ những truyền thống đạo lý – văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam qua ngàn năm …” cũng không được trưng bày ra.

Nhưng việc phá tan những miếu mạo, đình chùa cũng không phải là tội ác văn hóa lớn nhất của Đảng Cộng Sản. Ông Nguyễn Tường Thụy, một người làm blog riêng có tiếng ở Hà Nội đã nhắc đến tội ác khác về văn hóa, là cuộc Cải Cách Ruộng Đất “nó tàn phá luân lý đạo đức lúc bấy giờ” với những cảnh “cha tố con, con tố cha, vợ tố chồng, anh em tố nhau …” Và ông nhấn mạnh rằng, “Cải cách ruộng đất là do người Trung Quốc, các chuyên gia Trung Quốc chỉ đạo và cố vấn…” Một blogger khác, J.B Nguyễn Hữu Vinh đã đi xem triển lãm, kể lại, “Đi bên cạnh, cô thuyết minh viên áo đỏ (nói) liên tục: ‘Cải cách ruộng đất xóa bỏ chế độ người bóc lột người, là cách mạng về quan hệ sản xuất và nông dân đổi đời…’ Tôi quay lại nói, ‘Quan chức Cộng Sản ngày nay thì đất đai, nhà cửa, ăn chơi còn gấp trăm lần địa chủ phong kiến trước đây. Mà tất cả là từ tiền tham nhũng của dân, còn địa chủ phong kiến ngày xưa có ăn chơi cũng là tiền của họ. Bây giờ có ông quan hàng trăm ha đất như chủ tịch Bình Dương thì bọn địa chủ sao so được nhỉ?’”

Nguyễn Hữu Vinh trông thấy một nhiếp ảnh gia đi chụp các vật trưng bày trong phòng triển lãm, khi chụp hình xong, anh ta kết luận, “Thôi, cái hay, là chúng nó đưa ra để dân biết rằng cái giai cấp địa chủ, phong kiến ngày xưa chẳng là cái đ. gì so với bọn quan Cộng Sản tham nhũng hôm nay.” Một di họa văn hóa của thời Cải Cách Ruộng Đất vẫn để lại bóng đen lảng vảng trong xã hội Việt Nam: “Cái gọi là ‘thành phần’ xuất hiện trong thời đó, cho đến nay tròn 60 năm sau vẫn ám ảnh trong từng tờ hồ sơ, lý lịch của các em nhỏ đến trường, dù chúng chẳng hiểu “thành phần” nghĩa là cái gì và từ đâu ra.”

Cuối cùng, chỉ vì Đảng Cộng Sản tổ chức cuộc triển lãm tuyên truyền vô duyên này, những người như các ông J.B Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Xuân Diện có cơ hội bày tỏ những suy nghĩ thật của người dân Việt thời nay. Rõ là chỉ làm cho rách việc thêm!

Tại sao Đảng Cộng Sản lại bày ra một trò tuyên truyền gây phản ứng ngược nhiều như vậy? Có thể chỉ vì các cán bộ trong Viện Bảo Tàng Lịch Sử chẳng có việc gì làm cho qua thời giờ, cho nên họ mới bày vẽ ra cái cuộc triển lãm này. Hay là quý ông bà trong ban văn hóa tư tưởng của đảng đang lo khi chế độ sụp đổ thì mình thất nghiệp, nên cố gắng tô thêm son phấn lên mặt đảng một lần chót? Hoặc có thể đưa ra một giả thuyết táo bạo, rằng có người đã xúi giục họ tổ chức triển lãm để khiêu khích tất cả nông dân miền Bắc, những người đã đi biểu tình đòi ruộng, đòi đất trong những năm qua và bị ông đại địa chủ thời nay đàn áp dã man. Đặc biệt, họ muốn khiêu khích tất cả giới thanh niên, trí thức miền Bắc và đặc biệt là dân Hà Nội, xem có ai dám đứng ra “lật mặt nạ” của Đảng Cộng Sản hay không?

Mà việc lột mặt nạ thì không khó gì cả. Người ta không thể tổ chức một cuộc “phản triển lãm” về những tội ác của Đảng Cộng Sản trong vụ Cải Cách Ruộng Đất. Không thể trưng bày cảnh những người bị gán cho danh hiệu địa chủ bị chôn sống, thò đầu trên mặt đất để nhìn thấy lưỡi cầy kéo qua đầu mình cho tới khi chết. Cảnh này đã có thi sĩ Hữu Loan làm chứng, ông đã kể lại cho con cháu khỏi quên chuyện một địa chủ đã cấp gạo cho trung đoàn của ông trong thời kháng chiến bị hành hạ như vậy. Sau đó, tác giả Màu Tím Hoa Sim đã cưới cô con gái nhà địa chủ này, để đền ơn công cha mẹ cô nuôi dưỡng cả trung đoàn.

Không thể tổ chức triển lãm, nhưng giới thanh niên, trí thức Hà Nội có thể làm một cuộc triển lãm trên mạng. Một cuộc “phản triển lãm” đã xuất hiện trên các mạng ở Việt Nam. Blogger Lê Dũng đã chụp lại các bức ảnh trong phòng triển lãm rồi nêu ra những sai lầm, gian dối. Thí dụ, mấy ông già 60 nhận xét thời 1950 “Đũa nhựa và thìa phíp trắng chưa có!” Hoặc nhìn cái áo của “địa chủ” được trưng bày, có người thấy, “Áo trưng bày này là hàng fake [giả] 100 %. Vì “May bằng máy công nghiệp, viền cứng và thô, thời đó không có máy khâu đó. Đặc biệt áo dài thời đó hoàn toàn khâu tay, mũi khéo và mềm mại.” Đến một bức ảnh, “Bần cố nông làm gì có nồi đồng, có chiếu trải ra hè ăn cơm vậy?” một độc giả của Blog Lê Dũng góp ý “thời đó đã làm gì có modern áo đuôi tôm hả mấy ông giời con?” Một độc giả giấu tên khác nói thẳng: “Nói dối mà không biết ngượng sao, hỡi những kẻ lấy tay che mặt trời? Nạn nhân Cải Cách Ruộng Đất vẫn còn đầy rẫy, hoặc con cháu họ sẽ lên tiếng. Hay đợi đấy!” Một độc giả ký tên Mượt viết, “Chết thật, dối lừa mãi thế sao?”

Lê Dũng kết luận, “Tóm lại tay nào sắp đặt cái ảnh này là dân vớ vẩn, không có tí kiến thức gì về lịch sử, am hiểu về đồ vật.” Và anh viết thêm, “Dù sao thì tôi vẫn nói với mọi người cùng xem rằng: việc có cái triển lãm này cũng hay, bọn trẻ sẽ tìm nốt nửa còn lại qua gúc gồ, thế thôi vì một nửa sự thật không phải là sự thật.”

Nửa thứ hai của sự thật đã được trình bày từ lâu. Bao nhiêu tác giả đã viết về cuộc Cải Cách Ruộng Đất. Những tác phẩm mô tả tai họa Cải Cách sớm nhất là “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, “Ác mộng” của Ngô Ngọc Bội. Tiếp theo có “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên, tiểu thuyết “Ba người khác” của Tô Hoài. Đặc biệt, cuốn “Đèn cù” của Trần Đĩnh gần đây nhất đã cho thấy vai trò của Hồ Chí Minh trong vụ giết bà Nguyễn Thị Năm, chính ông Hồ đã viết bài đăng báo buộc tội bà. Có thể đăng lại những đoạn văn của các tác giả trên, để “triển lãm cho mọi người được thấy sự thật về tội ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhưng trên các mạng đã xuất hiện những câu chuyện thực đau lòng hơn cả những cảnh trong tiểu thuyết. Một độc giả ký tên Lê Tri Điền kể trong Blog Lê Dũng những chuyện xảy ra thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất tại xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; chúng tôi trích vài chuyện: “Có một bà tên Chấn, không hiểu bùa phép nào của đội cải cách mà lên trước ‘ tòa án nhân dân’ nắm râu bố đẻ mà vặt rồi rít lên: Thằng Thể (tên bố bà Chấn)…mày là….mày là…” (bà Chấn sau này ân hận vì tội lỗi với người cha thân yêu của mình nên trở thành người trầm cảm, bà chết vào khoảng năm 1989 trong đói nghèo cô độc). Một chị con gái kể: Tôi thương cha tôi lắm, hắn bắt cha tôi, thúc vô rọ lợn rồi chúc ngược cha tôi đầu cắm xuống đất, tôi lén đem cơm cho cha thấy mặt cha đỏ tím tụ máu sưng tròn như chấy bưởi, cha tôi nói con đi đi! Không du kích biết thì khổ, cha không ăn được cấy chi mô, tôi còn nhỏ quá, chả biết cha có tội chi, thương cha quá mà không dám khóc…” Cuộc phản triển lãm vẫn còn tiếp tục. Dân Hà Nội không để cho người ta khinh thường, bày trò tuyên truyền rẻ tiền trước mắt mình mãi như vậy.

Một người bạn tôi mới trò chuyện với một bà chị lớn tuổi ở Hà Nội qua điện thoại, nhân tiện hỏi, “Chị đi xem cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Đất tại Bảo Tàng Lịch Sử chưa?” Bà chị trả lời, “Xem làm cái gì? Chúng nó hết khôn dồn ra dại hay sao mà lại đi chọc “c…” ra mà ngửi với nhau như thế hở!”

Đúng là hết khôn dồn ra dại cho nên mới đi chọc Cải Cách ra mà ngửi. Khi một chế độ lâm vào bước đường cùng thì nó mới sinh ra những trò dồ dại, ngớ ngẩn, lung tung beng như vậy.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Trần Đức Thảo sống và chết như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 12/09/2014

“Bài viết của tôi mang tính cách tìm hiểu về một Con người…nhân bản của ông. Ông đã sống xứng đáng một con người có nhân cách và trách nhiệm của một người trí thức. Ông sống khổ mà chết đẹp và đã để lại cho mọi người một sứ điệp: chế độ cộng sản và Hồ Chí Minh đã tạo ra một thảm cảnh bất hạnh cho Việt Nam.

Ta phải tiêu diệt cả hai. Tiêu diệt cách nào? Đó không phải là công việc của Trần Đức Thảo mà của những người hiện nay đang sống dưới chế độ bất nhân và vô đạo ấy!!”

© Nguyễn Văn Lục

Trần Đức Thảo sống và chết như thế nào? [1]

Tác giả:

danchimviet.info

7-9-2014

tdthaos.

Tôi đã đọc Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối qua lời ghi chép lại của Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê với nhiều trăn trở, nhiều đêm mất ngủ, buồn cũng có và thương tiếc cũng có và cuối cùng chỉ còn biết thở dài với một thứ triết lý bi quan: Quả đúng là một kiếp người-. Quả đúng là một hành trình chữ nghĩa đầy gian lao và khổ cực phải đối đầu với nỗi sợ thường trực hầu như suốt đời. Cái đói no vốn là thiết thân với sự sinh tồn của con người, vậy mà so với nỗi sợ hãi bị theo dõi và ám hại xem ra còn nhẹ nhàng hơn nhiều.

Đọc từng đoạn, từng trang. Mỗi trang mỗi đoạn là mỗi vấn đề-vấn đề của vấn đề- mà rất khó để tổng kết lại.

Cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo là khổ lụy trăm chiều. Vẫn biết rằng người ta ai cũng khổ, làm sao tránh được. Nhưng nỗi khổ của Trần Đức Thảo là những cặp đối kháng như đen với trắng, giữa lý tưởng và thực tế, giữa nhân cách và quyền lực, giữa bản năng sinh tồn và lý trí, giữa điều thiện và tội ác, giữa dối trá và sự thật, giữa ta và người. Và cuối cùng giữa mình và chính mình.

Cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo phải nói là đầy những năm tháng khốn cùng. Sự khốn cùng ấy bắt đầu từ chính cái nhân cách con người ông. Nếu ông là hạng người chịu uốn lưng, chịu cúi đầu, chịu quỳ gối, chịu uốn lưỡi thì cái khổ chỉ có một phần. Nhưng chết nỗi ông sống thẳng, sống trung thực giữa một xã hội của bầy thú, gian manh, dối trá, lừa bịp, tàn bạo, bất nhân, ác độc, kìm kẹp nên nó đã nghiền nát ông.

Nó không để cho ông có cơ hội làm người sống trung thực. Nhiều lúc, ông cũng đã bị buộc phải nói tiếng nói của người phi nhân cách, phi ngã.( Impersonnalité).

Ở đây, tôi chỉ xin đưa ra một nhận xét của ông Hoàng Hoa Khôi phản ánh đúng con người Trần Đức Thảo, trước đó cũng ở trong nhóm Trôskyt vào những năm 1944-1946 khi ông Thảo còn ngụ ở nhà số 10 Sorbonne, quận 5, Paris, ông Khôi viết:

‘Những ai quen biết ông đều biết ông là người ‘kiêu hãnh’(fier), tự tin, tự trọng. Ông không kiêng sợ ai và không ai làm ông phải khâm phục. Con người ngang tàng và thông minh ấy đã bị bộ máy Stalinien bẻ gẫy, nghiền nát. Con người ấy đã phải sống khuất phục hàng chục năm, dưới một chế độ đầy quyền lực, tôn ti trật tự, sùng bái lãnh tụ’. [1]

Chính cái cá tính con người Trần Đức Thảo đã là nguyên cớ cho những hệ lụy cuộc đời ông. Và đó cũng là cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ của riêng ông với chế độ để sống còn.

Và cuối cùng vào lúc cuối đời, vào lúc mọi hy vọng đều tắc nghẽn, ông đã vượt thắng được tất cả, vật ngã kẻ thù- vật ngã cái trục của điều xấu. Ông đã hối hận vì đã sai lầm, vì đã đồng lõa với điều xấu trong nhiều năm.

Và để chuộc lỗi lầm, ông đã dùng sự thông minh, tài nhận xét, sự lý luận để xô ngã được thần tượng Hồ Chí Minh và chà đạp dưới chân ông chủ nghĩa Mác xít mà ông từng đeo đuổi trong suốt cuộc hành trình chữ nghĩa của ông.

Cuộc sống của ông ngoài chuyện cầm bút, có thể chưa chắc ông đã làm được điều gì ích lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình. Nhưng chết, ông đã chết xứng đáng, để lại cho đời sau một thông điệp rất rõ ràng: Hồ Chí Minh là một tên đại bịp như Tào Tháo và chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa phi nhân, không có con người.

Theo tôi, chừng đó đủ rồi. Đừng đòi hỏi thêm nữa.

Nhưng nhiều lúc tôi tự hỏi một người thông minh trác tuyệt như ông, phải đợi đến cuối đời mới nhận ra mình sai lầm? Ông có bằng một tên thợ nề vô học không? Tôi còn nhớ bản thân tôi khi di cư vào miền Nam, tôi mới chập chững bước vào trung học. Chẳng bị ai tuyên truyền, chẳng bị ai xúi giục, chẳng tôn giáo nào rỉ tai vô Nam.. Vậy mà như một sự thúc đẩy bên trong- không phải bằng sự thông minh- mà bằng một bản năng sinh tồn- thúc dục phải đi thôi. Đi bằng mọi giá. Thầy tôi do dự không muốn đi có thể vì tiếc của. Phần tôi nhủ thầm, nếu gia đình không đi thì tôi sẽ một mình ra đi một mình.

Điều gì khác biệt giữa một trí thức cỡ Trần Đức Thảo và một thằng nhỏ 12-13 tuổi đầu như tôi. Ai là người sáng suốt, ai là người chọn đúng con đường phải đi?

Vào những năm 1950 sống ở bên Tây, lẽ nào ông không biết đến những biến cố chính trị xảy ra giữa Đông Đức- Tây Đức?[2]

Cho đến bây giờ, những câu hỏi ngờ vực này vẫn lẩn quẩn trong đầu chưa có một lời giải đáp thỏa đáng. Phải chăng ông sinh ra nhầm thời đại và chọn nhầm chỗ cư ngụ, nhầm chế độ? Nhiều người cũng hỏi giống như tôi. Tác giả Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê cũng hỏi bác Thảo một câu tương tự. Câu trả lời của ông Thảo thật đơn giản: vì tôi có một lý tường muốn về để phục vụ đất nước.

Đã bao nhiêu trí thức, nhân tài của đất nước hy sinh và chết cả cuộc đời vì hai chữ yêu nước ?

Nói cho cùng, đó là cái dại của ông- chỗ đáng sống ông không chọn như Paris hay Saigon- lại chọn Hà Nội. Chọn Hà Nội là tự chọn vào cái chỗ chết.

Đúng như bố của ông than thở: Về như vậy là mày tự giết mày rồi! Mà cũng là giết cả mẹ mày và tao nữa. Thảo ơi! Phải chi mà mày học được cái nghề như thợ nề, thợ máy, thợ mộc gì.. thì đỡ khổ cho tao biết mấy…(..) Chúng nó đã xúi mày đi vào chỗ chết. Có là điên mới đi theo chúng nó. Mày về đây là mày giết mày giết cả tao đấy Thảo ơi là Thảo ơi! [3]

Chính cái mà ông gọi là lý tưởng đã hại chẳng những mình ông mà hại cả trăm, cả ngàn, cả vạn người sau này. Họ đã viết lên những lời tự thú tội mà danh sách những người này mỗi ngày mỗi dài. Người chót trong danh sách ấy hiện nay là một ông già 85 tuổi tên Trần Đĩnh trong cuốn Đèn Cù. [4]

Giả như ông cứ ở Paris hay về Sài Gòn thì cuộc sống và tương lai chữ nghỉa của ông sẽ như thế nào? Sẽ có 10 cuốn Phénoménologie thay vì chỉ có một cuốn.

Nếu ông ở lại bên Pháp, ông sẽ được chào đón bởi những người trí thức hàng đầu của Pháp về triết học như J.P Sartre và nhóm Les Temps modernes, hay nhóm chủ thuyết Hiện tượng luận như Merleau Ponty hay nhóm cộng sản trong Les enjeux, Révolution và nhất là người học trò đã nhận ông là bậc thầy duy nhất về triết thuyết cộng sản Althusser.

Chữ nếu ấy đã không bao giờ xảy ra mà chỉ vì lòng thương tiếc ông mà ta tự đặt ra thôi.

Và nếu ông về Sài gòn thì sao? Lại nếu. Thật là quá trễ để nói về điều ấy. Nhưng qua vài dòng ông thố lộ sau đây cho thấy Sài Gòn vẫn là mảnh đất dung thân cho đủ loại trí thức của dòng chảy di cư sau 1954.

Thật vậy, khi được Trần văn Giàu và Trần bạch Đằng thu xếp vận động cho ông Thảo vào sống ở Sài Gòn. Ông đã ngạc nhiên không ít khi nhìn thấy Sài Gòn lần đầu- một Sài gòn đã bị bần cùng hóa và tha hóa sau 1975- mà cái ông nhận ra chỉ là những rớt lại như những mảnh ván trôi bập bềnh trên biển sau khi con thuyền đã chìm:

‘Mới đặt chân xuống cái thủ đô của miền Nam này, mọi sự đã làm tôi kinh ngạc. Qua bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ mà sao Sài Gòn nó lại khang trang hiện đại như vậy? Tôi cứ ngỡ cả miền Nam đói khổ vì bị Mỹ-Ngụy bóc lột đến nỗi miền Bắc đã phải ‘cắn hạt gạo làm tư’ để cứu giúp miền Nam cơ mà.. Và mọi người ở đây nói năng cởi mở thoải mái như vậy? Ngay những cán bộ Đảng ở đây cũng có thái độ tự do quá. Họ đãi đằng, giễu cợt tôi, coi tôi cứ như anh mán, anh mường ở rừng mới được về thành phố. Phải nói thẳng ra là có một điều của Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực. Đó là những bài hát của một anh chàng nhạc sĩ trẻ của miền Nam, nói đúng ra là của Mỹ-Ngụy chứ không phải của Đảng. Tên anh ta là Trịnh Công Sơn. Các bài hát của anh ta mang nỗi niềm day dứt, oán trách chiến tranh. Cứ như anh ta khóc than thay cho cả dân tộc ở cả hai miền Nam Bắc. Giữa những năm tháng chiến tranh một mất một còn ác liệt như thế mà sao anh ta dám cất lên tiếng kêu than như vậy. Những lời ca của những bản nhạc đã làm tôi xúc động bồi hồi không cầm được nước mắt. . [5]

Cả một đất nước, cả một dân tộc đã bị nhiễm độc vì những lời tuyên truyền dối trá như thế- trước đây và bây giờ vẫn tiếp tục.- Tội cho con người, tội cho thế hệ mai sau mà chưa biết đến lúc nào, đến bao giờ chúng ta giải trừ được cái nọc độc ấy.

Có thể nói trong toàn bộ cuốn Những lời trăng trối, đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất chỉ một lần thôi, Trần Đức Thảo có những lời khen trân trọng với niềm xúc động đối với miền Nam Việt Nam!!

Miền bắc cộng sản trong toàn bộ cuốn sách hầu như tuyệt đối không có trong mắt của Trần Đức Thảo.

Và nếu sự việc xảy ra chỉ khác một chút thôi- cái giây phút chóng vánh gặp Hồ Chí Minh- nếu ông đã nhận ra được cái dã tâm của con người ấy trong lần tiếp xúc đầu tiên- may ra ông sẽ tránh được những nghịch cảnh đau lòng sau này.

Làm gì sau này ông phải sống cái cảnh giữa chuột và Người. Cả một đàn chuộc đủ loại con lớn con nhỏ đã rúc rỉa ông, sói mòn ông sống như thằng điên, thằng khùng, tiêu tan sự nghiệp, mất cả vợ vào tay ngưới khác.

Ông nhớ lại như một hồi ức đau thương ở Hà Nội vào những năm ấy, họ nhất loạt tố cáo ông như trường hợp Phạm Huy Thông với bài: Mặt thật của Trần Đức Thảo.

Ông Trần Đức Thảo với nhân cách cao vời đã không chấp đám học trò. Nhưng được cật vấn về trường hợp Phạm Huy Thông, ông bất đắc dĩ bày tỏ như sau:

‘Anh chàng ấy hồi ở Pháp thì tôi có biết, nhưng không thân..Sau này nhân vụ đấu tố nhóm Nhân Văn Giai Phẩm thì Phạm Huy Thông đã ngả theo phe Tố Hữu để tố khổ tôi một cách hằn học thật là tồi tệ bất ngờ. Cách thức tố cáo, buộc tội tôi như thế đã làm cho y sau này bị xấu mặt cả đám văn nghệ sĩ cán bộ. Bởi lúc ấy, những gì mà mỗi trí thức đã viết ra, thì đều phơi bầy cái mặt trái, mặt thật xấu xa, hèn kém của họ’. [6]

Hay bội bạc hơn nữa, cảnh trò tố cáo thầy như trường hợp nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến. Nguyễn Đình Chú. Và chua chát nhất là bài của của một môn sinh phản thày: ông Khắc Thành trong bài Quét sạch nọc độc Trần Đức Thảo trong việc giảng dạy triết học.

Cảnh chuột và Người chỉ có thể xảy ra ở Hà Nội. Và chỉ ở Hà Nội. Ai là chuột ai là Người trong những tên tuổi sau đây trong giai đoạn đấu tố Trần Đức Thảo:

Có cả một chiến dịch nhằm đánh phá vào một mình ông với các tên tuổi như: Bác sĩ Hồ Đắc Di, giáo sư Phạm Hữu Tước, giáo sư Nguyễn Lân, giáo sư Nguyên Hoán. Trường Giang, Thiều Quang, Ngô Vi Luật, Chu Thiên, Lê Dân.

Cả một danh sách dài biên niên mà Lại Nguyên Ân đã ghi lại. Nay thì những đàn chuột ấy ở đâu?

Đấy là món nợ của trí thức Hà Nội mà không một ai trả nổi dù đây đó đã gióng lên những lời xin lỗi. Bởi vì ai là kẻ gây ra món nợ này? Cứ hỏi và cứ hỏi đi và câu hỏi cứ ‘ trèo “ lên cao mãi, phải chăng là Tố Hữu? Cũng không phải, Trường Chinh cũng không nốt mà trèo lên đến đỉnh điểm thì còn trơ trọi có một người. Người đó là Hồ Chí Minh- Đẹp mãi tên Người-. Chính con người ấy mới là thủ phạm chính- thủ phạm trù dập Trần Đức Thảo đến tận đất đen-. Hồ Chí Minh có thể tha tội chết cho ông, chứ không tha tội sống. Cũng chính Hồ Chí Minh là người đã dẫn đưa đất nước đến hố sâu của sự bần cùng và tụt hậu, phá sập trật tự pháp luậ, trật tự xã hội và trật tự đạo đức như hiện nay. Sau này, muốn khôi phục lại có thể mất hàng thế kỷ vị tất đã xong.

Trần Đức Thảo là người đã nhân danh con người tố cáo và vạch trần thủ phạm Hồ Chí Minh ngày hôm nay.

Vì thế nay chính quyền cộng sản muốn trả món nợ ấy cho Trần Đức Thảo thì thật không đơn giản và nhẹ nhàng thoải mái như khi trả nợ cho Lê Đạt, Trần Dần, ngay cả Nguyễn Hữu Đang hay bất cứ ai khác. Với Lê Đạt, Trần Dần, có khi chỉ cần cho họ trở lại biên chế, trả lương bổng, cấp cho vài cái bằng khen và cho phép cầm bút trở lại thì họ đủ bằng lòng và xóa nợ tất cả.

Nhưng đối với Trần Đức Thảo khi ông đã nhiều lần gọi tất cả lãnh đạo cộng sản là chúng nó- chúng nó tính từ Hồ Chí Minh trở xuống đến Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn- thì những nhân sĩ, trí thức, nhà văn miền Bắc lấy tư cách gì mà đòi trả nợ cho Trần Đức Thảo? Cho dù nay ông còn sống, ông cũng không cần ai trả vì theo ông những kẻ tố cáo ông thì tự họ làm xấu mặt họ..

Kẻ tố cáo bỗng nhiên trở thành kẻ bị cáo.

Nhưng đối với ông chết là để sống trung thực. Và ông đã làm được điều ấy. Vậy thì có đáng gì một cái huân chương để trên nắp quan tài nhà triết học? Một thứ nghi lễ trang trí, dối trá và bịp bợm. Một thứ văn hóa cộng sản theo nghĩa hôm nay nó giết mình, mai nó cho người mang vòng hoa đến phùng điếu!! Hãy đọc đoạn văn sau đây của nhà văn Phùng Quán về tính bi hài kịch của thứ văn hóa cộng sản. Bài viết với nhan đề: Hành trình cuối cùng của một triết gia.

Lần này triết gia trở về Tổ Quốc trong khoang hành lý máy bay, chiếm một chỗ hết sức khiêm nhường. Triết gia đã hóa thân thành tro nằm trong cái bình bằng kim loại sơn mầu xanh thẫm hơi giống một chiếc cúp bóng đa và cũng to bằng cỡ đó…(..). Về đến Hà Nội vì không có gia đình vợ con, không có cơ quan nào nhận để thờ, hoặc để quàn….nên triết gia phải tạm trú dưới cái gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố 125 , đường Phùng Hưng Hà Nội.

Tôi được biết triết gia là người chiếm kỷ lục thời gian tạm trú ở đây. Năm mươi ngày đêm.Và mỗi ngày đêm tiền thuê phòng là 5000 đồng..Nhưng Trần Đức Thảo thuê phòng mà diện tích tranh thủ chưa đầy một mét vuông..Khách thuê phòng này lại không dùng đến giường, đệm, chăn màn, tivi, tủ lạnh, điện thoại riêng, máy điều hòa nhiệt độ, toa lét, nhân viên phục vụ.. tính chi li theo tôi còn đắt hơn cả khách sạn 5 sao.

Triết gia phải tạm trú lâu như vậy là phải chờ quyết định trên, có được đưa vào Mai Dịch hay phải về Văn Điển..

Sau 50 ngày chờ đợi, tốn mất 250 ngàn tiền phòng, triết gia đã được trên quy định đưa về mai táng tại khu A Văn Điển, khu vĩnh viễn hưởng thụ đúng tiêu chuẩn quy định.

Mộ của ông khá đặc biệt. Bình tro được đặt trong tiểu sành, tiểu sành được đặt dưới khuôn huyệt bên trên có nắp bê tông đậy kín. Như vậy là ông được mai táng theo quy cách các nhà giàu cổ xưa: trong quan ngoài quách.

Đây có lẽ là sự xa xỉ độc nhất trong cuộc đời triết gia quá ư thanh bạch của ông, mà nếu biết được, tôi tin chắc ông sẽ kịch liệt phản đối. [9]

 

Đoạn văn trên của Phùng Quán nói đến hành trình cuối cùng của triết gia- một hành trình được diễn ra với kịch tính, thô bỉ và không thiếu sự đểu cáng.

Nhưng sau đây là Hành Trình khởi đầu cho một cuộc đời bất hạnh với đầy gian khổ.

Con đường Paris-Luân Đôn-Praha-Moscou-Bắc Kinh- Việt bắc là con đường không bằng phẳng-chông gai, gập ghềnh ngay từ đầu- mà Trần Đức Thảo đã tự chọn. Hồ Chí Minh đã từ chối không cho ông về. Ông phải cậy cục đảng cộng sản Pháp đến cả lãnh đạo Liên Xô để được về chiến khu Việt Bắc. Đây là khúc nhạc khởi đầu cho một liên khúc kéo dài trong suốt 40 năm. Chọn ai không chọn lại chọn một người mà sau này chính ông gọi là một thứ gian hùng chẳng khác gì Tào Tháo..

Ông đã sống như thế- sống vất vưởng, tủi nhục- vì chính những chọn lựa của mình. Khó mà trách ai được. Nhiều lúc tưởng ông như một người đi trên mây, dở khùng, dở dại. Nhiều lúc tưởng chừng bộ máy nghiền cộng sản đã bẻ gẫy ông. Trong vụ Nhân Văn Giai phẩm, rõ ràng đảng sai ông đúng. Vậy mà ông cũng đã có lần cúi đầu thú tội: Ông đã xin lỗi trước đảng và trước nhân dân. Ông cũng đã thú nhận là trong nhiều lần học tập, ông cũng đã phải dơ tay như mọi người hô: Nhất trí, nhất trí.

Ông cũng biết nhẫn nhục, cũng biết sợ chết và hầu như cả đời ông bị ám ảnh về nỗi sợ hãi bị ám sát.

Nhưng khi chết, ông đã để lại một di sản tinh thần vô cùng quý báu- không phải những sách như Phénoménologie et matérialisme dialectique(1951)- Sách này đã làm nên danh phận ông- mặc dầu vậy nó có cũng được không có cũng không sao.

Bời vì, thứ chủ nghĩa mà ông đeo đẳng gần như suốt cả cuộc đời nay ông đã rũ sạch. Nó chỉ còn là một món hàng bị phá sản mà chính chủ nhân của nó đã tìm cách bán tống bán táng đi rồi.

Cuối cùng một điều tối quan trọng. Sống có thể ông không làm được gì-.

Ông đã tỏ ra ‘vô ích” khi còn sống.

Nhưng cái chết của ông chỉ đến lúc ông nằm xuống, người ta mới biết được tất cả sự thật. Đảng tưởng rằng đã loại trừ được một tên cộng sản quấy rầy- un communiste dérangeant. -Đảng mới bật ngửa ra là đã không khai trừ nổi được ông.

Lúc ông chết mới thật sự là lúc ông sống thật với ván bài lật ngửa.

Ông đã có thể thất bại suốt cuộc đời dù rất có thể, ngay cả cái cái chết của ông đã bị nghi ngờ là người ta đã ám toán ông bằng thuốc độc. Cứ như đọc diễn tiến mấy ngày cuối đời trong Những lời trăng trối của ông thì phải đi đến kết luận là ông đã bị đầu độc đến thượng thổ, hạ tả và khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu thì ngày hôm sau, ông đã tắt thở.[10]

Mặc dầu vậy, vượt mọi toan tính đê tiện của những kẻ thù, ông đã để lại được chúc thư cuối đời qua cuốn Những lời trăng trối.

Đây là sự bất ngờ vượt mọi dự đoán của kẻ thù ông. Ông đã đánh lừa được tất cả mọi người. Đánh lừa bằng cách gỉả điên, giả ngu ngơ, giả khờ dại, giả câm điếc. Từ những kẻ muốn ám hại ông đến những người quý mến ông, những trí thức ở Paris đều tưởng ông đã hết thời, đã ăn nói lẩm cẩm.

Nhưng mọi người có thể đã lầm. Ông đóng kịch khéo quá, khéo đến như thật.

Nay tất cả mọi người đều ngỡ ngàng về tập sách Những lời trăng trối…

Ngỡ ngàng là phải, vì những lời trăng trối chết người này; những lời tâm huyết có thể quyết định sinh mạng Trần Đức Thảo và cũng có thể trở thành lưỡi liềm phạt cỏ dưới chân của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản.

Đáng nhẽ, những lời trăng trối này phải được trao cho những trí thức thiên tả như Nguyễn Ngọc Giao mới phải. Nguyễn Ngọc Giao là người đã giúp đỡ ông nhiều trong thời gian trước đây ở Sài gòn trong việc in sách. Nguyễn Ngọc Giao cũng là người đã tìm nơi ăn chốn ở và tiền tài trợ mỗi tháng 10.000 fr cho Trần Đức Thảo- một mối giao tình vừa là tình bạn vừa theo nghĩa ‘đồng chí’. Hoặc chị X, cũng thuộc cánh trí thức tả thường đến thăm ông thường xuyên tại phố Le Verrier..

Tôi tự hỏi tại sao ông không chia sẻ tâm sự với các đồng chí của ông?

Không!! Trần Đức Thảo không tin ai cả, nhất là những thành phần cùng phe phái như cánh tả, dù có liên hệ bạn bè. Ông sợ họ và sợ lây lan đến những kẻ cầm quyển.

Trớ trêu và oái ăm thay! Ông lại tin và trút hết tâm sự cho hai người xa lạ, một người kể như chưa hề quen biết ông. Đó là giáo sư Canh và Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê.(Tôi không được rõ Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê là hai người hay một người)

Tôi đã tìm được câu trả lời. Với thói quen quán tính, cả đời ông chỉ gặp những kẻ thù lúc nào cũng sẵn sàng rình mò để sẵn sàng tố cáo ông.

Còn hai người khách lạ này đến với ông bằng một tấm lòng. Và nhất là họ là người Sài Gòn- người quốc gia-.Xin đọc:

‘Canh và tôi –(một người gốc gác ở Quy Nhơn, một người ở Sài Gòn)-đều rất xúc động khi phải chứng kiến cảnh một vị giáo sư từng một thời vang danh ở Paris, mà nay phải hạ mình bàn cách bán tiếng nói, bán chữ để kiếm sống qua ngày(…)Canh cũng bỏ vào túi áo nhà triết học một chút tiền. Chúng tôi rất ngạc nhiên và cũng rất ái ngại khi nhìn thái độ ngượng ngùng của bác Thảo khi tiếp nhận sự trợ giúp ấy. Phải cố cầm nước mắt, để gượng cười với nhau. Những tâm sự u buồn ấy đã làm chúng tôi im lặng khá lâu khi cùng nhau đi ra xe. [11]

Ở một chỗ khác, ‘Bác Thảo lắc đầu mỉm cười tê tái, mắt ngấn lệ. Chúng tôi nhìn bác thấy thảm thương quá, không cười theo được. [12]

Chính ở những tình tự con người xuất phát từ những con tim mà có tương giao con người mà có chia sẻ, có tín cẩn và có chỗ giãi bầy tâm sự mà cả cuộc đời 40 năm ở xã hội cộng sản, bác chưa hề một lần bắt gặp.

Cũng chính ở chỗ đó mà có được tập sách này. Xin cám ơn con người. Cám ơn tác giả gốc gác miền Nam.

Trong khi đó, phần đông trí thức thiên tả ở Paris chỉ muốn tìm lại ở Trần Đức Thảo – một cái hào quang quá khứ như chỗ dựa cho sự suy tàn của cánh tả- hoặc tìm lại một con người thông minh sắc sảo của thập niên 1950 như một đồng chí, như một niềm vinh hạnh.[13]  Nhưng Trần Đức Thảo đã làm họ thất vọng. Họ lẳng lặng bỏ rơi ông như một thứ món hàng bị phế thải. Sau khi nghe ông Thảo thuyết trình về Triết học của Staline ở trường đại học Denis Diderot thì mọi người đều thất vọng. Ông Lê Thành Khôi bỏ về nửa chừng. Nguyễn Ngọc Giao, một người có lòng muốn giúp đỡ ông Thảo nhiều trong việc tìm chỗ ăn, chỗ ở cho ông Thảo than:

‘Ông trình bày xong thì tôi ra về, không ở lại nghe phần hỏi đáp..(…) Nghe ông nói bữa ấy, tôi buồn quá. Dường như tôi không phải là người duy nhất cảm thấy buồn…[14]

Nay nếu có dịp đọc tập sách Những lời trăng trối thì Nguyễn Ngọc Giao sẽ buồn hay vui?

Bẽ bàng hơn cả có thể là viên Đại sứ Trịnh Ngọc Thái ở Pháp đã bị Trần Đức Thảo qua mặt sau cái chết có thể do chính y đạo diễn..tưởng rằng đã tịch thu được mọi tài liệu tại ngôi nhà số 2 Le Verrier ngay sau khi ông Thảo chết vào 2 giờ sáng ngày 24 tháng tư năm 1993. [15]

Y đã nhầm và tính sai một nước cờ. Nước cờ của ông Trần Đức Thảo đi xuất phát từ lòng nhân ái mà y không thể tiên đoán trước được. Y quen thủ đoạn, y quen lừa lọc nên không hiểu thế nào là tình con người.

Và tại Sài gòn, một nhân vật quyền thế nắm sinh mạng Trần Đức Thảo là Sông Trường, y chính là người đã trục xuất Trần Đức Thảo ra khỏi Việt Nam với một vé máy bay có đi mà không có về. Y bị Trần Đức Thảo lừa một cách tủi nhục. Hãy nghe y nói với Trần Đức Thảo:

‘Chúng tôi đã bố trí, đã chuẩn bị cho anh một lối thoát vừa danh dự vừa lý tưởng. Vì anh chưa nghĩ thấu đáo đấy thôi. Tất cả đã sẵn sàng rồi! Nhất định là anh không thể lưu lại cái đất Sài Gòn này như vậy nữa đâu! Đảng đã quyết định, nhất định là anh sẽ phải ra đi thôi!!! [16]

Sự thật theo lời ghi lại của ông Trần Đức Thảo thì ông đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam như một thứ vật dư thừa, thứ đồ phế thải.

Nhưng họ lại gọi đây là một chuyến đi công tác.

Vì thế, mới có bài viết: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo tháng 3- năm 1991- 24 tháng 4 năm 1993 của ông Cù Huy Chử và Cù Huy Song Hà.[17] Chuyến đi công tác này có nhiệm vụ đi giải độc về những gì Georges Boudarel được coi là đã viết sai về Nhân Văn Giai Phẩm tại Việt Nam. Từ ông Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Văn Linh và ông Hồng Hà đều bằng lòng bố trí cho Trần Đức Thảo sang Paris. Chính ông Hồng Hà đã ký công văn số 624-CV-TU cử giáo sư Trần Đức Thảo sang Pháp để nghiên cứu khoa học. Sau đó ông Thảo đã được cấp vé máy bay và ăn ở tại Paris trong thời gian 6 tháng..

Đọc những thông cáo chính thức trên cho thấy tính cách bịp bợm của lãnh đạo cộng sản. Một mặt gọi là chuyến công tác giải độc những điều viết sai trái của G. Boudarel. Nhưng trong công văn chính thức lại ghi là đi nghiên cứu khoa học!!

Khôi hài. Ông Trần Đức Thảo là triết gia biết gì về lãnh vực khoa học- khoa học gì mới được- mà nghiên cứu?

Phần Đức Thảo khi được hỏi về vấn đề này đã giải thích như sau:

– Thế bác không lo làm công tác vận độn sự ủng hộ cho chính sách của đảng và nhà nước à?
– Lúc mới qua thì buộc lòng phải nói thế thôi! Chứ có vận động khỉ gì đâu, Hôm ấy cứ bị chất vấn: vận động cái gì, vận động như thế nào, vận động những ai… làm tôi bối rối.(..). Chẳng lẽ lại nói tôi trở qua Paris là không có mục đích gì sao? Hoặc nói là qua đây để ngồi viết sách, để người ta cười cho à? [18]
Ông tiến sĩ Cù Huy Chử- một cánh tay của đảng-. Ông tự cho mình là người được ông Trần Đức Thảo tín nhiệm và đã trao hết di sản tinh thần cho ông nắm giữ. Và mới đây, vì chưa có cơ hội đọc cuốn Những lời trăng trối, ông đã tổ chức vinh danh Trần Đức Thảo theo kiểu ‘nhổ ra rồi lại liếm’.

Cho đến ngày hôm nay, cuốn sách của ông Trần Đức Thảo gây được tiếng vang lớn trên thế giới thì ở bên nhà, ông Cù Huy Chữ vẫn giữ im lặng.

Nội dung cuốn sách Những lời trăng trối bàng bạc từng chi tiết, từng sự việc, dù là chuyện lớn, chuyện nhỏ, dù là chuyện liên quan đến Trần Đức Thảo hay không chỉ tóm tắt vào hai chủ đề lớn: Hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh bằng chứng minh, bằng lý luận, bằng những nhận xét sâu sắc để vạch trần bộ mặt thật của Hồ Chí Minh.

Về điểm này, từ xưa đến nay, chưa ai có đủ tư cách cũng như can đảm làm được như ông.

Điểm thứ hai, ông chứng minh và cho thấy rằng Marx sai lầm. Staline sai lầm và trong chuỗi lý luận ấy Hồ Chí Minh chỉ là kẻ ăn theo hiển nhiên là sai lầm.

Theo tôi, cho dù có theo đuổi chủ thuyết Mác Xít thì qua những trải nghiệm đau thương về Cải cách ruộng đất, về Nhân Văn Giai Phẩm, Trần Đức Thảo nói cho cùng là một triết gia gia Mác Xít nhân bản( Humanisme Marxiste) theo như một số nhận định của nhiều người.

Với quan điểm nhìn ấy, dù ông không còn nữa, ông đã xóa sổ đảng cộng sản Việt Nam!!

Nói cho cùng sự trả giá của ông không phải là vô ích.

(Còn nữa)

Tác giả:

© Đàn Chim Việt

 

————————————————–

Chú thích:

[1] Hoàng Hoa Khôi, Một nhận định về Trần Đức Thảo, Paris, tháng 8.1993, Thông Luận 64, tháng 10.93

[2] Vào những năm 1950, có  khoảng ba triệu người Đông Đức bỏ trốn sang Tây Đức. Bỏ trốn bằng mọi cách như nhảy lầu, chui đường ống cống, đào đường hầm, chui qua hàng rào thép gai. Chả nhẽ Trần Đức Thảo chỉ chúi đầu vào sách?

[3] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 160

[4]  Trích Trần Đĩnh,  Đèn Cù: Một hôm Trần Ðức Thảo được thư ký của Lê Duẩn là Nguyễn Ðức Bình đến đón, bằng xe hơi, trong khi nhà triết học đang sống trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu, bị cả bạn bè bỏ rơi vì đã tham dự nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, viết những điều ngược lại với chủ trương văn hóa của Ðảng. Nguyễn Ðức Bình nói ông tổng bí thư muốn đọc cho giáo sư nghe để xin ông góp ý kiến về một bài đang viết: “Ðề cương về vấn đề con người.” Ngồi trong phòng khách, chỉ có ba người, Lê Duẩn độc thoại được mấy phút thì Nguyễn Ðức Bình nhắc Trần Ðức Thảo hãy ghi những lời ông tổng bí thư nói. Trần Ðĩnh cho biết một thói quen của các quan chức, cán bộ là khi nghe cấp trên nói gì thì họ cũng ghi chép chăm chú những lời vàng ngọc, chứng tỏ lòng kính cẩn và trung thành. Thấy triết gia cứ ngồi im, Bình chạy đi lấy giấy, bút đến đặt trước mặt. Triết gia vẫn không ghi chép gì cả. Khi Duẩn ngưng, Nguyễn Ðức Bình nhắc: “Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến.” Trần Ðức Thảo ngơ ngác một lát, rồi thú thật: “Tôi không hiểu gì cả.”

Ngay lập tức ông tổng bí thư chạy ra đằng sau Trần Ðức Thảo, hay tay quàng ôm lấy ngực triết gia, xốc lên, dội xuống mấy lần, rồi “buông thịch” xuống một cái cho ông giáo sư rơi xuống ghế ngồi. Lê Duẩn bỏ đi vào phòng trong. Bình trách mắng ông giáo sư tại sao “nói không hiểu gì cả,” rồi cũng đi vào. Trần Ðức Thảo còn một mình, không biết lối ra, phải hỏi mấy người hầu trong nhà đường nào đi ra cổng, rồi về nhà mình.

Trần Ðức Thảo nói thật lòng. Ông không hiểu Lê Duẩn nói cái gì. Trần Ðĩnh hỏi tại sao không hiểu. Triết gia trả lời: “Khái niệm không chuẩn gì cả!”

[5] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối, trang 210

[6] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối, trang 346, Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ.

[7] Hoàng Ngọc Hiến, trong bài viết Cách cho của giáo sư Trần Đức Thảo, phần chót của bài viết, ông thú nhận:Năm 1958, trong đợt  đấu tranh tư tưởng ở trường Đại Học Tổng Hợp, tôi đã phê phán Trần Đức Thảo hết sức gay gắt trong một bài tham luận. Cũng như mọi triết gia, ông Trần Đức Thảo là người độ lượng. Ở nhà trí thức lỗi lạc này, tôi còn cảm nhận một điều gì đó lớn hơn sự độ lượng. Trích trong báo Văn Nghệ, số 1, Bộ mới, tháng 7-1993, trang 2

[8] Lại Nguyên Ân, Món nợ với giáo sư Trần Đức Thảo, 5-5-2013

[9] Bút ký của Phùng Quán, Hành trình cuối cùng của một triêt gia, báo Người Hà Nội, trang 1-2 số 32 ( 332), ngày 8-8 đến ngày 14-8-1993.

[10] Ông Hoàng Hoa khôi viết :Theo lời kể lại của những bạn bè xung quanh ông Thảo, đảng vẫn cảnh giác đề phòng những việc ông làm, những bài ông viết tại quán trọ LeVerrier. Thậm chí nhiều người còn đặt nghi vấn về cái chết bất ngờ và nhanh chóng của ông. Ibid, Thông Luận 64

[11]  Trần Đức Thảo Ibid, trang 38-40

[12] Trần Đức Thảo, Ibid, trang 195

[13] Đám trí thức thiên tả này đã chót bám theo Đảng. Nay biết rõ bộ mặt thật thối tha của Đảng. Bỏ thì không nỡ, chống thì chống nửa vời thành ra một đám người lạc loài, một loại trí thức ‘cánh tả Caviar’ con nhà giàu ngồi nói thánh nói tướng, bất kế thực tại đất nước bên nhà ra sao..

[14] Nguyễn Ngọc Giao, Với Trần Đức Thảo, một chút duyên nợ, Diễn Đàn Xuân Tân Mão

[15] Trong bài Mort d’un philosophe militant, Jean-Paul Jouary tiết lộ cho biết Thảo đã kín đáo chuồn tất cả tài liệu viết bằng tiếng Pháp cho họ mà nay chưa có điều kiện để đăng lại tất cả.

[16] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 236

[17] Cù Huy Chử, Cù Huy Song Hà: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo( tháng 3 năm 1991- 24 tháng tư năm 1993). Viet- Studies ngày 18-9-11

———————————————————————-

 

Tiếp theo phần I

GS Trần Đức Thảo

I- Giải mã bộ mặt thật của Hồ Chí Minh

Ngày 5 tháng sáu, năm 1946 đánh dấu lần đầu tiên ông Trần Đức Thảo được gặp Hồ Chí Minh tại Paris. Trong buổi chiêu đãi ‘phái bộ cụ Hồ’, ông Thảo đã hồn nhiên vội vã thân mật ra nắm chặt tay Hồ chủ tịch và nói:’ Tôi rất hân hạnh gặp cụ chủ tịch. Cụ Hồ cũng vui vẻ đáp: Chào chú Thảo.. Vào cuối bữa ăn, Hồ chủ tịch kêu gọi anh em Việt kiều về nước tham gia kháng chiến. Trần Đức Thảo hăng hái nhận lời ngay và nói ông Hồ: Tôi rất mong ước được về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp tại quê hương ta. Và để đáp lại lời ông Thảo: ông cụ lúc ấy chỉ mỉm cười nhạt, nhưng nét mặt thì vẫn lạnh lùng khi nhìn tôi. Tới lúc Hồ chủ tịch lần lượt bắt tay từ biệt mọi người. Khi bắt tay tôi thì ông cụ nói với tôi một cách nghiêm nghị:

– Còn chú Thảo này thì cách mạng chưa cần tới chú lúc này đâu. Chú cứ ở lại Paris thì có lợi cho cách mạng và cho chú hơn. [19]

 

Và kết quả là có bốn Việt kiều cùng về với ông Hồ là: ba kỹ sư Phạm Quang Lể, Võ Quý Huân, Võ Đình Quỳnh và bác sĩ Trần Hữu Tước.

Sự loại trừ ông Trần Đức Thảo của ông Hồ rõ ràng đến như thế mà xem ra ông Thảo vẫn không nhận ra.

Hồ Chí Minh khi sang Pháp hẳn đã nắm hồ sơ Trần Đức Thảo trong việc ông cộng tác với nhóm Troskyt để thành lập Ủy ban Đại diện Việt kiều( Delégation Générale des Indochinois en France), đại diện cho 20.000 Việt kiều ở Pháp..Và năm 1946, ông cũng là người tuyên bố công khai bất đồng ý kiến với Hiệp Định sơ bộ mà ông Hồ ký. [20]

Số phận ông Thảo không giống số phận của Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu thuộc nhóm cộng sản đệ tứ được kể là điều may rồi. Tạ Thu Thâu còn dại dột vì câu nói: Ngoài bắc có cụ trong Nam có tôi. Trần Đức Thảo cũng dại dột không kém khi nói với Hồ Chí Minh: Tôi rất mong về nước để cùng cụ xây dựng thành công.

Nói như thế là tự cho là ngang hàng với Hồ Chí Minh, một xúc phạm đến lãnh tụ đến không tha thứ được. Anh là cái thá gì mà đòi cộng tác, cùng cụ xây dựng!!

Ông Thảo cũng đã thừa nhận rằng, ông cụ phải là trên tất cả và không cho phép ai tỏ ra ngang hàng với Người.

Trong khi đó TS Cù Huy Chữ đã viết lại kỷ niệm ngày 27-7-1946 trong buổi gặp gỡ giữa ông Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng có phần khác hẳn[21]. Ông không có dù một chữ nói về cuộc gặp vắn vỏi giửa Hồ Chí Minh và Trần Đức Thảo.

Sự che giấu ấy nay trở thành sự thật lộ liễu quá. Điều gì các ông ấy không nói ra, điều đó mới là sự thật.

Sự thật như Trần Đức Thảo tiết lộ là Hồ Chí Minh đã có ác cảm với ông ngay từ buổi gặp gỡ lần đầu tiên với Việt Kiều tại nhà ông Raymond Obrac, người đã có nhã ý cho mượn nhà để làm buổi tiếp tân.

Trần Đức Thảo cảm thức được rằng kể từ nay, thân phận người trí thức như ông sẽ bị bóng ma Bác Hồ phủ lên. Từ đó, Trần Đức Thảo suy luận thêm rằng trên bác Hồ có bóng ma của Mao Trạch Đông, trên Mao Trạch Đông có bóng ma của cụ tổ Marx.

Và dân chúng ở ngoài bắc cùng một lúc chịu bị đè bởi hai bóng ma: Bóng ma Liên Xô và bóng maTrung Quốc. Đấy là thảm cảnh đi căng giây cũng là thảm cảnh của cả dân tộc.

Trần Đức Thảo nói thêm: Vậy mà ông cụ cứ tưởng mình tài giỏi, cứ tưởng mình đã tạo ra những trang sử oai hùng cho dân tộc, cứ tưởng mình có tài khuynh đảo các nước lớn, tưởng mình xoay vần được lịch sử… theo ý mình, nhưng cuối cùng mới nhận ra là nước mình vẫn nằm trong vòng cương tỏa của mấy thế lực nước lớn.[22]

Mặc dù cả đời Trần Đức Thảo, ông chỉ được gặp Hồ Chí Minh một vài lần. Nhưng ông là một trong những người hiếm hoi nhận ra con người thực của Hồ Chí Minh. Chỉ cần một chút quan sát, một chút trải nghiệm, Trần Đức Thảo đã nhìn ra nhiều mặt trái của con người ấy. Đó là một con người tự tôn mình, tự coi là trên hết biến sự sùng bái cá nhân như một thứ giáo điều. Từ cách ăn mặc theo kiểu lãnh tụ áo bốn túi, có cổ, cái mũ đội đầu, chòm râu, cái gậy chống, phong cách đi đứng, nói cười giả lả bề ngoài, mặc cái áo mưa, cách xưng hô bác cháu, cách phát biểu, ngay cả cái phong cách bề ngoài xem ra bình dân đều là có chủ đích, có tính toán rất kỹ càng. Trần Đức Thảo kể lại trong lần gặp ra mắt Hồ Chủ tịch, cán bộ nghi lễ đã dặn kỹ ông, phải đứng cách xa bác ba thước, không được nói, khi nào Bác hỏi mới được nói. Phải xưng hô bác, bác, cháu cháu. Lê Duẩn có thể còn hơn tuổi Hồ Chí Minh cũng không ra ngoại lệ nói chi đến những Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp.

Đó là cả một màn kịch mà đạo diễn chính là Hồ Chí Minh.

Ông tạo ra một phong cách của một lãnh tụ duy nhất, không giống ai và ở trên mọi người. Mọi quyết định lớn nhỏ đều do ông cả. Một việc nhỏ như kê khai lý lịch của Trần Đức Thảo, dưới không dám quyết định cũng phải trình lên lãnh tụ. Kiếm một việc làm cho Trần Đức Thảo, người nọ đùn người kia đến Phạm Văn Đồng cũng phải hỏi ý kiến Bác. Một chân thư ký cho Trần Đức Thảo cũng bị Hồ Chí Minh bác không cho. Cứ để cho nó đói rã họng mới hết kiêu căng. Việc cải cách ruộng đất làm chết hàng vạn người cũng do Hồ Chí Minh quyết định cả. Theo Trần Đức Thảo, Hồ Chí Minh đã che bộ râu, giả dạng làm người dân thường và đi dự những buổi đấu tố để xem xét và đưa những chỉ thị cần thiết như chỉ đấu tố vào ban đêm dưới ánh lửa bập bùng tạo ra không khí huyền bí, sợ hãi, gây được sự căm thù giai cấp, biến những nông dân hiền lành chất phác thành thứ côn đồ của đảng. Cho nên việc bắn một người phụ nữ có công với cách mạng như bà Nguyễn Thị Năm không thể không có sự đồng ý của Hồ Chí Minh. Chính Hồ Chí Minh quyết định giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng sau này cứ đổ thừa cho Tầu cộng sản.

Về điều này, ông Trần Đĩnh trong Đèn cũ cũng đã nói rõ.

Dự những cảnh đấu tố hãi hùng với tiếng hò hét của đám đông, ánh lửa bập bùng, thân người quằn quại sau một loạt súng cộng với tiếng kêu khóc, tiếng cầu kinh, tiếng than van của nạn nhân, Trần Đức Thảo rụng rời tay chân: Bỗng thân xác Thảo run lên lên lập cập vì xúc động, như một cơn sốt rét mãn tính bất ngờ ập tới, mồ hôi lạnh toát ra từ trán tới chân, nước mắt tuôn trào, hàm răng run lập cập..(…) Thật ra thì những tiếng súng chát chúa hạ sát mấy thân xác đồng bào tội nhân ấy đã như bắn vào chính thân xác Thảo, đã vĩnh viễn đập tan tành giấc mộng trở về góp công sức xây dựng một mô hình cách mạng mà nhân loại trông chờ. [23]

Nhưng mọi việc làm của Hồ Chí Minh đều được che đậy và nếu cần đổ trách nhiệm cho người khác. Bác đóng vai một người nhân từ, đóng vai một lãnh tụ hết lòng với đất nước. Bác chơi gái như mọi người- chơi nhiều gái mà phải là gái còn trẻ- nhưng vẫn đóng kịch là Cha già dân tộc, hy sinh cả đời, không vợ con. Đám cận thận từ một tên bảo vệ đến ông Tổng bí thư đều biết rõ con người thật của Bác: Một thứ gian manh, quỷ quyệt, độc ác, mất nhân tính. Nhưng bác vẫn dặn đám bầy tôi phải làm thế này, thế kia. Còn Bác làm cái gì thì kệ Bác.

Rồi tiếp theo từ cách tự đặt tên minh với những ý đồ đầy cao vọng như : Ái Quốc, Tất Thành, Chí Minhvv đến tự viết Hồi ký khen tặng chính mình là một thứ cao ngạo, giả dối cao độ. Khát vọng quyền lực, khát vọng một lãnh tụ được tôn sùng tuyệt đối là có thật noi con người Hồ Chí Minh. Và ông dùng mọi thủ đoạn, nếu cần, để đạt được. Di chúc viết ra thì như thể Bác không muốn bày vẽ tốn kém, xuềnh soàng cho xong. Nhưng trong bụng Bác thì biết rằng chúng nó sẽ làm cho long trọng, ướp xác để đời đời nhân dân nhớ ơn Bác.

Từng chi tiết một, từng lời ăn tiếng nói, từng việc làm, từng lời tuyên bố của Hồ Chí Minh đã bị Trần Đức Thảo bóc trần. Có thể nói, từ trước tới nay, chưa một ai dám viết lột tả hết mọi mọi điều gian dối, nói lên hết những thối tha, những bi kịch làm người như dưới ngòi bút của Trần Đức Thảo. Người đọc chia xẻ ngầm với những con chữ ấy, cho dù đó là một câu chuyện rất bình thường có thể chẳng liên quan gì đến Hồ Chí Minh như sau đây:

Thảo đứng nhìn bữa cơm chỉ có một đĩa rau muống duy nhất, bên cạnh nồi cơm trơ trọi y như bơ vơ, như thiếu vắng, nhớ tiếc một cái gì vừa mất. Y như Hà Nội đang nhớ tiếc một thời chưa xa, nhưng nay không còn nữa! Thảo lớn tiếng:

– Mời bố mẹ dạy xơi cơm.. Ông bố vẫn nằm im không trả lời. Nằm im lặng thêm một lúc, không biết nghĩ sao, ông bố ngồi dậy, từ từ đi sang một góc chiếu trõng che rồi nói:
– Mẹ ăn cháo chứ chưa ăn được cơm. Lát nữa bố sẽ nấu cháo cho mẹ. [24]

 

Câu chuyện bữa cơm trong một gia đình trung lưu như gia đình Trần Đức Thảo, chỉ bằng một vài việc phác họa đã là một lời tố cáo chế độ bất nhân không có cách gì bào chữa được.

Và để chấm dứt phần này, xin trích một đoạn mô tả cái thực trạng miền Bắc những năm sau 54 và ngày nay còn tồi tệ gấp bội phần. Nơi ấy, không còn ai dám nói tới nhân phẩm, đạo đức nữa. Cứ như thể cả một nền văn hóa đểu giả càng ngày càng phát triển đã tạo ra một xã hội tàn nhẫn đến mức thô bạo mà một Hà Nội mới với cảnh vừa bán, vừa chửi, vừa bán vừa xua đuổi khách hàng. Nói năng thô lỗ, giọng ba que xỏ lá:

– Chỉ có vậy thôi, mua thì mua không mua thì cút.

– Ông cút thì ông ‘đ’ mua!

– Mày về mà ‘đ’ mẹ mày ấy..

Đọc đoạn này không khỏi sót sa cho ông. Trần Đức Thảo không còn là một triết gia nữa mà là một nhà văn hiện thực phê phán như một Nam Cao!!

Phần hai: xoá bỏ chủ nghĩa Mac-Xít- Staline

Cái éo le nhất của cuộc đời cầm bút của Trần Đức Thảo là ông được nhìn nhận nơi xứ người như một nhà tư tưởng lớn. J.P. Sartre coi ông là một trong số hiếm hoi những người Mác Xít không chìm đắm trong tụng niệm mà dám xông pha- một thứ Marxiste combattant- để làm thế nào cuộc đời nhất quán với triết lý. Đem triết lý vào hành động như một thứ dấn thân của một người Mác Xít lý tưởng.

Paul Mus, trong Sociologie d’une guerre viết: Ngay từ 1946, không một ai nói hay hơn nhà tư tưởng có tương lai lớn này..(..) mà những phân tích tâm lý của ông trong những bài đăng trong Les temps modernes, dưới mắt tôi, là một thu hoạch hoàn tất.

Sự trở về Việt Nam của ông nằm trong ý nghĩa đó, đem cái hiểu biết, đem cái lý thuyết Mac Xít về áp dụng vào thực tế Việt Nam.

Nhưng tiếc thay, ông đã không được bất cứ lãnh đạo cộng sản cao cấp nào đón nhận vì nhiều lý do, trong đó có lý do trình độ quá thấp kém của họ. May ra có một người là cụ Cao Xuân Huy có thể chia xẻ về những quan điểm về Hiện tượng học Husserl- một chuyên ngành của Trần Đức Thảo- trong một chương nhan đề: Do lai của ý thức. [25]

Mặc dầu vậy, tôi khó chia sẻ với những thuật ngữ triết học có tinh chuyên ngành mà cụ dịch và sử dụng như vật thể kiên xác ( Solides), vật tự nó (en soi), có chỗ cụ dùng vật tự thân, nội chấp (Intentionnel)vv Những thuật ngữ này ở miền Nam trước 1975 hầu hết đã trở thành những chuẩn ngữ quen dùng cũa những người dạy và học triết ở miền Nam.

Thật khó cho Trần Đức Thảo có thể gieo trồng một cây triết học dù là triết học Mác Xít ở một vùng đất mà phần đông giới lãnh đạo đều vừa qua bậc tiểu học.

Ngay như có đủ vốn triết học và thông thạo tiếng Pháp, vị tất đọc đã hiểu được triết học. Tôi chỉ lấy trường hợp triết gia hàng đầu về chủ thuyết Mác Xít ở Paris như một thí dụ,- ông Louis Althusser tự thú như sau, xin lược dịch: Tôi có đọc chút ít về Hégel, đọc chút ít về Aristote. Kant thì không. Còn những Spinoza, Heidegger, Husserl; tôi đã chẳng hiểu họ viết gì. Freud cũng thế cũng như phần đông độc giả của ông ta. Nếu tôi biết chút ít là do suy đoán, tệ hơn nữa cứ nhận đại là mình biết đi.

Trần Đức Thảo lạc lõng giữa đám người ít học ấy. Ngay cả khi ngồi trước đám môn sinh sau 1954 ở Hà Nội, liệu có ai hiểu được ông thày muốn nói gì?

Tuy nhiên, cái khó khăn của Trần Đức Thảo không phải chỉ nằm ở chỗ đọc hiểu hay không hiểu. Một khó khăn đặt ra bây giờ và những thế hệ sau này muốn đọc là ông sử dụng hai thứ tiếng để biểu đạt tư tưởng của mình: Tiếng Pháp và tiếng Việt.

Chính ở chỗ này, cần phân biệt có hai Trần Đức Thảo.

Có một con người Trần Đức Thảo viết tiếng Pháp suôi chảy và con người viết tiếng Việt còn thiếu bộ danh từ triết học. Đã thế viết tiếng Việt lại phải qua hàng rào kiểm duyệt. Viết cây dừa có dấu huyền mà nó bỏ dấu huyền thành cây dưa là đời đi đoong rồi. Lại nữa chỗ nào ông viết thật, chỗ nào ông viết nịnh bợ?

Hai con người ấy phơi bầy hai lối nhìn, nhiều khi hai tư cách trái ngược nhau.

Viết tiếng Việt, có thể Trần Đức Thảo phải viết theo đơn đặt hàng hoặc viết sao để vừa lòng chế độ như các bài về: Tìm Hiểu giá trị văn chương cũ hay Nội dung xã hội truyện kiều. Cái gọi là Tấm biển chỉ đường của Trí tuệ..Bài Hịch Tướng sĩ của Trần Hưng Đạo và xã hội Việt Nam trong thời kỳ thịnh của chế độ phong kiến.

Đặc biệt trong đó có bài viết về Thằng Bờm trong Tìm hiểu giá trị văn chương cũ mà ông yêu cầu mọi người từ nay phải gọi Bờm là anh Bờm. Vì Bờm biểu tượng cho giai cấp nông dân chống lại địa chủ phong kiến. Hóa ra tranh đấu giai cấp đã có từ thời thượng cổ thì cần gì đến ông thầy Mác?

Đọc bài này của ông mà muốn chửi thề!! Hình như đây không phải là Trần Đức Thảo mà là bóng ma Hồ Chí Minh nhập vào Trần Đức Thảo.

Tuy nhiên, số lượng bài viết này không nhiều, cũng chẳng đáng nói tới so với số lượng các đề tài liên quan đến lãnh vực triết học mà ông để lại.

Một cái tuy nhiên nữa là trong số những tài liệu tiếng Việt ấy có cuốn Vấn đề con người và Chủ nghĩa ‘Lý luận không có con người’ được in và xuất bản khi ông vào ở trong Nam. Cuốn sách mỏng chỉ khoảng 140 trang này có thể được xuất bản là nhờ cái không khí chính trị miền Nam tương đối khoáng đạt hơn miền Bắc và nhờ có sự yểm trợ tinh thần của những người như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng. Vậy mà sau này nó cũng bị Hà Nội ra lệnh tịch thu.[27]

Về phần triết học Tây Phương của Trần Đức Thảo, tôi chỉ xin trích dẫn ý kiến của giáo sư H.L Van Breda, người có trách nhiệm bảo quản các tài liệu của nhà Hiện tượng học Husserl ở đại học Louvain bên Bỉ.. Husserl là người Đức, gốc Do Thái nên ông phải tẩu tán tài liệu của ông sang Bỉ  [28] khi Hitler lên nắm quyền. Có bốn trí thức ở Paris có quan tâm đến triết học Hiện tượng luận là Merleau-Ponty, J.Hyppolite, Lm Geigner và Trần Đức Thảo vào những năm 1942-1946. Vì thế, họ phải liên lạc với giáo sư H.L Van Breda để tiếp cận tài liệu Husserl. Chính vì thế mà Trần Đức Thảo mới có điều kiện viết cuốn triết học làm ông nổi tiếng. Đó là cuốn La Phénoménologie et le Matérialisme dialectique.( (Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng). [29]

Nội dung cuốn sách này là Trần Đức Thảo có tham vọng muốn trình bày thuyết Hiện tượng luận đem áp dụng vào chủ nghĩa duy vật biện chứng. Tham vọng này cũng giống như J.P Sartre muốn đem triết thuyết hiện sinh vào thuyết Mác Xít. Và đây cũng là đầu mối việc J.P Sartre mời Trần Đức Thảo trao đổi với J.P Sartre trong năm buổi trao đổi. Việc trao đổi này sau ở miền Bắc nhiều người phóng lên rằng J.P Sartre đã thua Trần Đức Thảo. Đã có mấy ai đủ trình độ và có tài liệu để nói đến chuyện thua được. Vả lại, trao đổi triết học mà nói đến thua được là trẻ con, chưa hiểu gì về tính chất của triết học.

Theo phần đông các triết gia Pháp cho rằng ông Thảo là người hiểu và trình bầy một cách sâu sắc và tương đối dễ hiểu về Hiện tượng luận hay phương pháp hiện tượng luận của Husserl.

Tuy nhiên phần hai của cuốn sách- phần áp dụng Hiện tượng luận vào chủ thuyết biện chứng duy vật biện chứng thì thật bất xứng với ông(indigne de lui), Có thể phần hai ông Thảo đã triển khai chưa đúng mức và có phần vội vã.[30]

Tôi chỉ trích dẫn lại ý kiến của các nhà triết học mà về phần tôi, chưa đủ trình độ để hiểu được đến nơi đến chốn.

Theo ý kiến thô thiển của tôi trong cái hiểu biết có giới hạn về Trần Đức Thảo, tôi vẫn cảm thấy gần gũi với ông mỗi khi ông cho rằng triết học dù là Mác Xít-Lênin đi nữa thì vẫn là thứ triết học về con người và lấy con người làm đối trọng.

Đây là một điều mà tôi cho là đáng trân quý nhất so với những luận thuyết trừu tượng với những thuật ngữ quá chuyên biệt ngoài tầm tay của mình.

Có muốn dựa cột mà nghe cũng không được.

Và phải chăng tôi tự hỏi vì thế ông viết cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người, trong đó ông phê phán nặng nề Louis Althusser. Althusser là một trong những triết gia, nhà tư tưởng cộng sản hàng đầu của Paris vào các năm từ 1965-1980. [31]

Tôi gọi cái phần ưu vượt của triết lý Trần Đức Thảo là một thứ chủ nghĩa nhân bản Mác Xít( Un humanisme marxiste). Một thứ chủ nghĩa hầu như xa lạ và đối nghịch với Staline, với Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh.

Tôi cũng cảm nhận ông có một bước tới gần với các triết gia nhân bản xã hội Âu Châu mặc dầu còn rất nhiều khoảng cách giữa họ.

Nhưng tôi cũng không thể đồng tình với tác giả Cù Huy Chử trong một bài viết Tư Duy triết học Trần Đức Thảo và tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

Đây là một gán ghép có tính áp đặt. Cho đến nay, chưa mấy ai có thể chỉ ra chỗ nào là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh nếu có chỉ là tư tưởng thuộc loại Luân lý Giáo Khoa thư hay tư tưởng công dân giáo dục dạy cho học sinh trong các trường trung-tiểu học.

Xin Tiến sĩ Cù Huy Chử nên từ bỏ những điều nghiên cứu ngoài lãnh vực của ông để xứng danh với danh xưng tiến sĩ của ông. Xin tha cho làm phước.

Nhưng nếu căn cứ vào cuốn sách Những lời trăng trối của ông, tôi nhận thấy Trần Đức Thảo muốn vứt bỏ hầu như toàn cái gia tài triết học của ông- gia tài sùng bái chủ nghĩa Mác Xít. Và Về phần này, xin nhường để ông hiển lộ tất cả những sâu kín đã chôn chặt, đã dấu kín và nỗi lòng của ông. Ông thố lộ :

‘Từ lúc tôi khám phá ra là tôi đã sai lầm, đã một thời đứng trong hàng ngũ tội ác, đã mù quáng cả tin vào ý thức đấu tranh giai cấp của Marx, thì sự tỉnh thức ấy làm tôi sung sướng. Bởi như thế là tôi đã tự giải thoát chính tôi, đã tự giải phóng chính tôi. Tôi đã trở thành con người tự do! Tôi đã đạt tới tâm trí thanh thản trong sáng của con người tự do, tư tưởng không còn bị gông cùm của ý thức hệ.

Và nay dĩ nhiên là tôi phải phủ nhận tất cả những gì đã viết lúc đang sùng bái Marx..

 

Xin tiếp tục đọc những lời trăng trối của ông :

Những gì đã viết mà dựa vào Marx thì vẫn bao hàm một định kiến, một ngộ nhận,một căn bản không tưởng, từ đó có thể dẫn đến những sai lầm khác, có thể phạm vào tội ác. Bởi vì một phần tư tưởng tranh đấu của Marx, lúc nào cũng như cái bóng ma quái, muốn thúc đẩy con người lao vào các hành động quá trớn, quá khích, do hận thù và bạo lực cách mạng, để giải quyết các vấn đề cơ bản của xã hội, của con người.

Thật sự là trong chiều dài lịch sử nhân loại, bạo lực cách mạng xã hội chủ nghĩa đã không hề giải quyết được vấn đề bất công trong xã hỗi loài người.

Và cũng chưa hề giải phóng ai![33]

 

Ông Trần Đức Thảo vốn là một người cầm bút cẩn thận. Đọc một vài trang bản thảo của ông, tôi thấy ông xóa gạch, sửa nhiều chỗ, thêm bớt từng chữ một. Vậy mà trong những dòng tâm sự cuối đời này, giọng văn như vỡ ra, tuôn trào, không kềm giữ được.. Hình như bao nhiêu nỗi oan ức, nỗi buồn, sự câm nín bấy lâu nay giống như một cái cửa đập nước được mở ra. Nó tuôn trào như một dòng thác nước!! Đúng như nhận xét của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê viết :

Nói tới đó, rồi bác Thảo im lặng hồi lâu. Lúc này, chúng tôi thấy bác Thảo nổi bật như một người, lúc cuối đời, đầu óc nặng trĩu tâm tư, đầy ân hận, hối hận rất u buồn, đau đớn, và đang tìm cách gì đó để giải tỏa thảm kịch của chính mình.[34]

Rải rác đó đây trong sách, người đọc thấy đầy những giọng điệu bi phẫn như thế!

Không phải tôi đa mang đâu, sự thật là mình đã tự thân bước vào con đường của sai lầm, bế tắc. Nỗi khổ tâm là mình cũng đã làm cho nhiều người cùng với mình sa vào sai lầm và bế tắc. Nay mình đã tìm ra được lối thoát nên rất ân hận, phải sám hối, phải chuộc tội bằng hành động. Vào lúc hoàng hôn, thấy một ngày bị lãng phí là đáng tiếc, đáng buồn, huống chi bây giờ là hoàng hôn của cả một cuộc đời đã bị lảng phí. Nỗi ân hận, hối hận đang ngùn ngụt thiêu đốt tâm trí tôi… Bây giờ tôi chỉ thấy tội lỗi của cái thời câm nín của mình, đã biến thành một tên trí thức đồng lõa khốn nạn, đáng nguyền rủa..[35]

Còn tôi, đã bao phen biết mình phải nói một câu trái với lương tâm, làm một cử chỉ a dua, ca ngợi tội ác, lúc đó tôi đã ý thức ngay là mình phạm tội, tội giả dối, tội a dua, hoan hô cái xấu, cái ác, tội hèn nhát đã phản bội lý tưởng của mình, phản bội chính mình. Đã biết là tội như vậy mà vẫn cứ nói, cứ làm..[36]

Tôi đã chấp nhận ra đi, lúc tuổi già sức yếu, để có cơ hội thét lớn cùng thế giới rằng : Thủ phạm gây ra đại bi kịch này cho nhân loại, chính là Marx.

Tất cả là do đám trí thức hèn như tôi. Buồn lắm! Hèn lắm! Nhục lắm! Đau lòng lắm.

 

Phần tôi, xin được chấm dứt bài viết ở đây. Bài viết của tôi mang tínhcách tìm hiểu về một Con người, một tưởng niệm hơn là nhận thức. Điều mà tôi tâm đắc nhất khi viết về triết gia này, chính là tính cách nhân bản của ông. Ông đã sống xứng đáng một con người có nhân cách và trách nhiệm của một người trí thức.

Ông sống khổ mà chết đẹp và đã để lại cho mọi người một sứ điệp: chế độ cộng sản và Hồ Chí Minh đã tạo ra một thảm cảnh bất hạnh cho Việt Nam.

Ta phải tiêu diệt cả hai. Tiêu diệt cách nào? Đó không phải là công việc của Trần Đức Thảo mà của những người hiện nay đang sống dưới chế độ bất nhân và vô đạo ấy!!

© Nguyễn Văn Lục

© Đàn Chim Việt

——————————————————–

Chú thích:

[19]Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 280
[20]Xem Hoàng Khoa Khôi, Một nhận định về Trần Đức Thảo IBId
[21]TS Cù Huy Chữ: Về mối quan hệ giữa giáo sư Trần Đức Thảo với ông Phạm Văn Đồng, một vài nét chấm phá.
[22]Trần Đức Thảo IBID, trang 350-352
[23]Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê, Trần Đứ cThảo, Ibid, trang 142
[24]Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 162
[25]Paul Mus: Sociologie d’une guerre, nxb Seuil, Paris, 1951, trang 185.
[26]Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông, Gợi những điểm nhìn tham chiếu, do Nguyễn Huệ Chi soạn và giới thiệu, nxb văn học từ trang 147-174
[27]Trần Văn Giàu: Trần Đức Thảo, nhà triết học, tạp chí Văn Nghệ nguyệt san, số 1, bộ mới, trang 2
[28]H.L Van Breda, Maurice Merleau Ponty et les archives de Husserl à Louvain, Revue de Métaphysique et de morale, 1962
[29]Trần Đức Thảo La phénomologie et le materialisme dialectique, Minh Tan, Paris, 1951
[30]Nguyễn Văn Trung, đôi điều ghi nhận về ông Trần Đức Thảo.
[31]Althusser đã giết vợ là Helene bằng cách bóp cổ vào năm 1980. Ong là tiêu biểu thứ tận cùng của thứ điên loạn triết học. Sau khi giết vợ xong, ông ghi lại như sau . Voila ce que j’ai fait, ce que j’ai pense, ce que je fus ( Đó là nhựng cái gì tôi đã làm, cái gì tôi đã suy nghĩ và đó là cái gì là tôi). và năm sau đến lượt ông chết ngồi trên ghế bành về bệnh tim..
[32]Ts Cù Huy Chử, Tư duy triết học Trần Đức Thảo và tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
[33]Tri Vủ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trabg 385
[34]Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 337
[35]Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Dức Thảo, Ibid, trang 390
[36]Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 391

———————————–

Nguồn  danchimviet.info

  1. Đảng ký các hiệp định dưới mắt triết gia Trần Đức Thảo
  2. Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối
  3. 17-10-1968: Thảo luận giữa Trần Nghị và Lê Đức Thọ
  4. 1968: Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Hùng, Trần Nghị, Xuân Thủy
  5. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trần Nghị
  6. Trần Đức Thảo: Những phủ định trớ trêu

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 1 Comment »