Trần Hoàng Blog

Các Văn Bản- Tài liệu Lịch sử…

+Cục Văn Thư  và Lưu Trữ  Nhà Nước

Điện thoại: (84) 04. 37660370   E-mail: tinhoc@archives.gov.vn   

Triển Lãm Tài Liệu Lưu Trữ

Chủ Tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc

nguồn : http://www1.archives.gov.vn/TrienlamTQ/Program/Chude1_8.asp

 
   CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – NGƯỜI XÂY ĐẮP NỀN MÓNG QUAN HỆ HỮU NGHỊ

VIỆT NAM – TRUNG QUỐC (TRƯỚC NĂM 1945)

 
         
         
  Văn phòng Bát Lộ Quân, thành phố Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây nơi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã ở và làm việc cuối năm 1938. Di tích được Nhà nước Trung Quốc xếp hạng cấp quốc gia năm 1988.Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh.

广西省桂林市八路军办事处,阮爱国同志曾经居住和1938年年底工作的地方。1988年得以中国列为国家级文物保护单位。

资料:胡志明博物馆

Ba Lu Jun Office in Xian, Shanxi Province, where President Hochiminh lived and worked in the end of 1938 and was recognized by the State of China as national relic in 1988.

Source: Ho Chi Minh Museum

  Biển xếp hạng di tích văn phòng Bát Lộ quân ở thành phố Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây.Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh.

在广西桂林市的八路军办事处旧址牌匾

资料:胡志明博物馆

The Ba Lu Jun Office’s national relic plate in Xian.

Source: Ho Chi Minh Museum

 

 
         
         
   Ảnh 1       Ảnh 2  
   Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm1939. Hồ Quang – Phụ trách điện đài – 38 tuổi – Quảng Đông – Thiếu tá – tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2)   Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc.

 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员—38岁—-广东—-少校 —-毕业于岭南大学——中学教师。会外语和国语

 资料:中国档案

 Huguang’s curriculum vitae (i.e. President Ho Chi Minh) in training course in Xinan province. 1939. Huguang – In-charge of radio transmission – 38 years old – Guangdong – Majority – graduated from Linh Nam university – teacher of secondary school, ability of foreign languages, national language. 

 Source: Chinese Archives

 
         
         
  Thôn Lộ Mạc, ở ngoại ô thành phố Quế Lâm, nơi Nguyễn Ái Quốc làm việc tại phòng Cứu vong, thuộc Văn phòng Bát Lộ Quân. Năm 1938 – 1939.Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc.

 桂林市郊区 路莫村,1938—1939年阮爱国在八路军办事处的救亡 室工作的地方。

资料:中国档案

Lo mac village at the countryside of Guilin where Nguyen Ai Quoc worked at Jiuwang room, Ba Lujun Office. 1938-1939

Source: Chinese Archives

  Nhà số 77, đường Kim Bích, thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Năm 1940, đồng chí Hồ Quang đã ở đây để liên lạc với Ban Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 中国云南省昆明市金碧路77号1940年胡光同志曾在此居住旨在和印度支那共产党的海外部联系。

资料:胡志明博物馆

The house No.77, Jin Bi street, Kunming city, Yunnam Province, China, where comrade Huquan stayed

in 1940 to contact with oversea Committee under China’s Communist Party

Ho Chi Minh Museum

 
         
         
   Đại Quan lầu ở Côn Minh, nơi Nguyễn Ái Quốc tháng 02/1940 từ Quế Lâm đến Côn Minh liên lạc với Ban ngoài nước của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc

昆 明 大 观 楼,1940年2月阮爱国同志从桂林到昆明与印度支那共产党的海外组织联络的地方。

资料;中国档案提供

Daguan Lou in Kunming where Nguyen Ai Quoc came to Kunming from Guilin to contact with   In February 1940, comrade Nguyen Ai Quoc arrived in Kunming from Guilin to contact with the oversea committee of Indochina Communist Party.

Source: Chinese Archives

 

  Văn phòng Bát lộ quân tại Trùng Khánh. Năm 1940, đồng chí Hồ Chí Minh từ Côn Minh đến Trùng Khánh gặp Chu Ân Lai trao đổi về thời cuộc và nghỉ lại ở một phòng trên tầng 2 của Văn phòng.  Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc.

重庆八路军办事处,1940年胡志明从昆明到重庆会见周恩来讨论时代局势的地方,在办事处2楼的一个房间小住。

 资料:中国档案

 Ba Lu Jun’s office in Chongqing. Ho Chi Minh used to stay in a room at 2nd floor of the Office when he traveled from Kunming to Chongqing to exchange views with Zhou Enlai on situations of that time.

 Source: Chinese Archives

 
         
         
  Bản Ngàn Tấy, thôn Linh Quang, xã Thiện Bàn, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây – nơi ở của học viên lớp học chính trị năm 1940, đồng chí Hồ Quang (tức Nguyễn Aí Quốc) và đồng chí Võ Nguyên Giáp thường đến. Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh.

广西省靖西县善盘乡灵光村万西寨是1940年参加政治训练的学员居住的地方,胡光同志(阮爱国)和武元甲同志经常去的地方。

资料:胡志明博物馆

Ngan tay hamlet, Lingguang village, Shanpan commune, Jingxi district, Guangxi province where stayed traineesof political course in 1940 and frequented comrade Huquan (i.e Nguyen Ai Quoc) and comrade Vo Nguyen Giap.

Source: Ho Chi Minh Museum

  Ngôi nhà trong miếu thờ Đại Hoàng ở khu vực Tiểu Đông Môn, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây là nơi tổ chức lớp huấn luyện cho các học viên Việt Nam vào năm 1940. Đồng chí Hồ Quang thường đến gặp và giao nhiệm vụ cho các học viên. Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh

广西省靖西县小东门区大黄庙的房子是1940年为各越南学员组织各培训班的地方。胡光同志经常到此会见和给学员们交代任务。

资料:胡志明博物馆

The house in a temple worshipping Dahuang at Xiaodongmen area in Jing Xi district, Guangxi province where the training course for Vietnamese trainees was held in 1940 and frequented comrade Huquan in order to meet trainees and entrust them with tasks.

Source: Ho Chi Minh Museum

 
         
         
  Hai ngôi nhà ở phố Bạch Sa, huyện Long Châu, Quảng Tây, là điểm liên lạc bí mật của Đảng Cộng sản Việt Nam vào những năm 30 – 40 của thế kỷ XX. Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc.

广 西 省 龙 州 县 白 沙 街 两 座 房 屋, 是 二 十 世 纪 30至40 年 代, 越 南 共 产 党 的 秘 密 联 络 地 点

资料:中国档案

Two houses on Bach Sa street, Long Chau district, Guangxi province, which are also the secret liaison venue of Vietnam’s Communist Party during the years 1930s and 1940s of the 20th century.

Source: Chinese Archives

 

  Ga Chỉ thôn, nơi đường sắt Vân Nam – Việt Nam chạy qua. Từ tháng 4 đến tháng 5/1940, đồng chí Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí trong Ban ngoài nước của Đảng Cộng sản Đông Dương đã đến Mông Tự, Chỉ thôn, Khai Viễn… dọc theo đường sắt Vân Nam – Việt Nam để chỉ đạo công tác bí mật của Đảng.Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc.

址村车站滇—越铁路经过的地方。1940年4,5月份,阮爱国同志及印度支那共产党海外组织各同志们沿着滇—越铁路到达学自,址村,开远。。。指挥党的秘密工作。

资料:中国档案

Zhi Cun station where the Yun Nan – Vietnam railway go across. From April to May 1940, comrade Nguyen Ai Quoc and other comrades of the oversea committee of Indochina Communist Party went along the Yun Nan – Vietnam railway to Meng Zi, Zhi Cun, Kai Yuan in order to direct the clandestine work of the Party.

Source: Chinese Archives

 

 

Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội)

Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm1939. Hồ Quang – Phụ trách điện đài – 38 tuổi – Quảng Đông – Thiếu tá – tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2) 

Câu trên cho biết: Chủ tịch HCM tên thật là Hồ Quang, là người Trung Quốc, sinh 1901.

Nguồn http://www1.archives.gov.vn/TrienlamTQ/Program/Chude1_8.asp

 

———

ĐỊA CHỦ ÁC GHÊ –  

Đia Chủ Ác Ghê- CB – đăng trên Báo Nhân Dân  ngày 21/7/1953  
 
Địa Chủ Ác Ghê – D.X. – đăng trên báo Cứu Quốc, số 2459 (ngày 2/11/1953) Bảo Tàng HCM  (Trần Hoàng)

Bản copy này xuất hiện lần đầu trên blog của basam.yahoo. 360.com  (2007)

Sau đó xuất hiện trên trang của Ts Nguyễn Xuân Diện. Sau đó blog của NXD bị nhà cầm quyền đánh sập. Và danluan copy về. 

danluan.org . Hiện nay, xuandienhannom.blogspot.com đã repost Địa Chủ Ác Ghê.  

Địa Chủ Ác Ghê – 1953 Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:

Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:
– Giết chết 14 nông dân. – Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.
– Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.
– Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân
– Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.
– Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.
Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào !
Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp.
Thí dụ: – Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.
– Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.
– Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra. – Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.
– Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt. – Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng.
Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.
Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân.
Thật là: Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng, Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể! (21-7-1953)
Tác giả: CB  (tức Hồ Chí Minh) –
Ông đã sử dụng 174 tên và bút hiệu như đã sưu tập ở đây  HCM
——————————————————–
Tài liệu về Hiệp Định Geneve 20-7-1954

QGVN từ chối ký tên và Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phát biểu rõ rệt là Việt Nam chống đối hoàn toàn giải pháp chia cắt đất nước. Vì vậy, mặc dầu Lời Tuyên Bố của Trưởng Phái Đoàn Trần Văn Đỗ không được chính thức ghi vào văn bản, nhưng không ai có thể coi là QGVN /VNCH chấp nhận kết quả của Hội Nghị Genève, kể cả Lời Tuyên Bố Sau Cùng.

Tại Thủ đô Sài Gòn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên tiếng chống đối mạnh mẽ việc đặt nửa phần đất nước dưới chế độ cộng sản và cờ rủ được treo khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam từ phía nam Sông Bến Hải, như là ngày tang cho tổ quốc.”

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/60th-anni-genev-agreem-07212014113041.html

https://anhbasam.wordpress.com/2014/07/12/2756-sau-muoi-nam-hiep-dinh-geneve-1954-va-cuoc-di-cu-vi-dai/

——————————————————–
Tài liệu 2
Văn Kiện Quốc Hội – Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội- 1969

ĐIỀU LỆ TÓM TẮT CỦA
HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 

Ở miền Bắc nước ta, sau cải cách ruộng đất, nông dân đã nghe theo lời Đảng, hăng hái đi vào con đường hợp tác hóa nông nghiệp, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đến nay, phần lớn các hộ nông dân lao động đã vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; phần lớn các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã lên bậc cao. Các tư liệu sản xuất đã tập thể hóa. Công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất đã giành được thắng lợi và đang phát huy tác dụng to lớn. Giai cấp nông dân tập thể đã hình thành. Khối công nông liên minh được củng cố thêm.

Để bảo đảm cho nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, làm cơ sở phát triển công nghiệp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân, phải tiếp tục hoàn thành cách mạng về quan hệ sản xuất, không ngừng củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp.

Vì vậy, cần quy định Điều lệ của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Điều lệ hợp tác xã bậc thấp đã được ban hành năm 1959. Nay Nhà nước ban hành Điều lệ Hợp tác xã bậc cao. Dưới đây là nội dung tóm tắt của bản Điều lệ đó.

CHƯƠNG MỘT

TÍNH CHẤT VÀ NHIỆM VỤ
CỦA HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa của nông dân lao động, xây dựng theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ, được Đảng lãnh đạo và Nhà nước giúp đỡ.

Những tư liệu sản xuất của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đều thuộc quyền sở hữu tập thể. Hợp tác xã phải sử dụng tốt những thứ đó, tổ chức lao động tập thể, phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động trên cơ sở tăng cường giáo dục tư tưởng và cải tiến kỹ thuật, đồng thời thực hiện phân phối theo lao động.

Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, nhằm không ngừng nâng cao mức sống của các xã viên, tăng tích lũy vốn cho hợp tác xã và xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, làm tròn mọi nghĩa vụ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và kháng chiến, cứu nước nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thực hiện thống nhất nước nhà.

CHƯƠNG HAI

XÃ VIÊN

Xã viên phải góp ruộng đất, đóng cổ phần, để lại trâu, bò và các nông cụ chủ yếu (như cày, bừa, guồng nước v.v…) cho hợp tác xã.

Xã viên có nghĩa vụ: ra sức lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, luôn luôn cảnh giác, bảo vệ hợp tác xã, bảo vệ xóm làng, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như con một nhà, chấp hành tốt điều lệ và nội quy của hợp tác xã, làm đúng các chính sách của Đảng, Chính phủ và pháp luật của Nhà nước.

Xã viên có quyền lợi: bàn bạc, kiểm tra mọi công việc của hợp tác xã, bầu cử và ứng cử vào cơ quan quản lý hợp tác xã, hưởng mọi quyền lợi trong hợp tác xã, làm nghề phụ gia đình theo đúng hướng và được hợp tác xã săn sóc, giúp đỡ khi gặp khó khăn, tai nạn hoặc ốm đau.

CHƯƠNG BA

ĐẠI HỘI XÃ VIÊN VÀ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU XÃ VIÊN

Đại hội xã viên hoặc Đại hội đại biểu xã viên (nếu hợp tác xã có đông xã viên) là cơ quan cao nhất của hợp tác xã, có quyền sửa đổi nội quy, bầu cử hoặc bãi chức các cán bộ hợp tác xã, bàn định phương hướng sản xuất, các kế hoạch sản xuất, lao động, tài vụ và phân phối, đồng thời quyết định các vấn đề quan trọng khác của hợp tác xã.

Nội dung kỳ họp của Đại hội xã viên hoặc Đại hội đại biểu xã viên phải được thông báo trước để các xã viên chuẩn bị phát biểu ý kiến. Họp Đại hội xã viên phải có quá nửa số xã viên đến dự và họp Đại hội đại biểu xã viên phải có hai phần ba số đại biểu đến dự thì mới có giá trị. Khi quyết nghị vấn đề gì phải được quá nửa số xã viên hoặc đại biểu xã viên có mặt tại Đại hội tán thành thì mới có giá trị. Việc bầu Ban quản trị và Chủ nhiệm hợp tác xã, Ban kiểm soát và Trưởng ban, và Kế toán trưởng phải do toàn thể xã viên trực tiếp bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín.

Đại hội xã viên hoặc Đại hội đại biểu xã viên muốn đạt kết quả tốt phải được Ban quản trị hợp tác xã chuẩn bị kỹ.

CHƯƠNG BỐN

CƠ QUAN QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ

Ban quản trị hợp tác xã có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh những nghị quyết của Đại hội xã viên hoặc của Đại hội đại biểu xã viên, tổ chức tốt việc thực hiện Điều lệ và nội quy của hợp tác xã; giữ gìn và quản lý tốt ruộng đất và các của cải khác của hợp tác xã; nắm vững tình hình ruộng đất, đẩy mạnh việc phát triển sản xuất; chăm lo đời sống của xã viên; thực hiện tốt các chính sách và làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc các cán bộ của hợp tác xã và các xã viên làm đúng điều lệ, nội quy và nghị quyết của Đại hội xã viên hoặc của Đại hội đại biểu xã viên; giải quyết các việc khiếu nại, ngăn ngừa mọi hành động vi phạm chế độ quản lý của hợp tác xã và vi phạm quyền dân chủ của xã viên.

Đội trưởng, đội phó sản xuất có nhiệm vụ đôn đốc, hướng dẫn xã viên và cùng xã viên hoàn thành tốt những chỉ tiêu của kế hoạch do hợp tác xã giao cho, bảo đảm tôn trọng mọi quyền lợi của xã viên và động viên, giáo dục xã viên làm đúng nghĩa vụ của họ.

Cán bộ trong Ban quản trị, Ban kiểm soát và Đội trưởng, đội phó sản xuất phải là những người được xã viên tin cậy và bầu ra phải tôn trọng quyền làm chủ tập thể của các xã viên và phải trực tiếp tham gia lao động theo đúng nội quy của hợp tác xã.

CHƯƠNG NĂM

CÁC CỦA CẢI CỦA HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP

Ruộng đất, trâu bò, nông cụ và các của cải khác của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đều là của chung của các xã viên, phải được bảo vệ, quản lý chặt chẽ và sử dụng tốt, chống mọi hành động tham ô, lãng phí hoặc phá hoại, làm tổn hại đến lợi ích chung của hợp tác xã và của xã viên. Xã viên không được chiếm làm của riêng ruộng đất và các của cải khác của hợp tác xã và có nhiệm vụ bảo vệ những thứ đó. Ban quản trị hợp tác xã không được tự ý nhường hoặc bán ruộng đất và các của cải khác của hợp tác xã, và phải báo cáo rõ với xã viên việc Nhà nước mua hoặc sử dụng một phần ruộng đất của hợp tác xã vào việc xây dựng thuộc lợi ích công cộng.

Phần đất 5% để lại cho xã viên khi vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, nếu xã viên chủ ruộng đất ấy không cần dùng nữa thì phải giao lại cho hợp tác xã; khi nào cần dùng thì hợp tác xã sẽ trả lại.

CHƯƠNG SÁU

SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG

Hợp tác xã phải quản lý sản xuất theo đúng nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Để đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp, hợp tác xã phải có phương hướng sản xuất đúng, đồng thời có kế hoạch và biện pháp cụ thể để thực hiện phương hướng ấy. Phải củng cố các đội sản xuất để bảo đảm thực hiện ba khoán cho các đội đó; các đội sản xuất khoán việc cho các nhóm và các nhóm phân công cho lao động, nhằm sử dụng tốt lao động của các xã viên vào công việc tập thể. Không được đem ruộng đất và các nông cụ chủ yếu của hợp tác xã giao khoán cho từng hộ xã viên.

Kế hoạch lao động phải nhằm phát huy được mọi khả năng lao động của xã viên, tăng năng suất lao động, thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất của hợp tác xã.

Để khuyến khích mọi xã viên hăng hái sản xuất, hợp tác xã phải xếp bậc công việc, định mức lao động và tiêu chuẩn kỹ thuật, tính công, ghi công một cách công bằng, đúng đắn, chú trọng cải thiện điều kiện lao động và bảo đảm an toàn lao động cho xã viên.

Những cán bộ chủ chốt bận làm công việc chung, ngoài công điểm do lao động sản xuất mà có, còn được phụ cấp một số công điểm, bảo đảm thu nhập của họ ngang với mức thu nhập của lao động loại giỏi trong hợp tác xã.

CHƯƠNG BẢY

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN PHỐI THU NHẬP

Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp phải định kế hoạch tài vụ hàng năm. Mọi khoản thu, chi của hợp tác xã phải ghi vào sổ sách rõ ràng và niêm yết cho xã viên xem. Hàng tháng, Ban quản trị hợp tác xã phải thông báo các khoản thu, chi trong tháng để các xã viên đều biết; hàng vụ, hàng năm, phải báo cáo tài chính công khai trước Đại hội xã viên hoặc Đại hội đại biểu xã viên. Tất cả cán bộ hợp tác xã, nhất là các cán bộ tài vụ và kế toán, phải có công tâm, có ý thức tiết kiệm và phát triển sản xuất.

Về sử dụng các khoản thu hàng năm của hợp tác xã, sau khi làm nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và trừ các khoản chi phí kể cả khấu hao tài sản, cần để vào quỹ tích lũy khoảng 5% đến 10% và quỹ công ích khoảng 2% đến 5% thu nhập của hợp tác xã; số còn lại phải chia hết cho xã viên theo công điểm, bảo đảm công bằng, sòng phẳng và niêm yết công khai.

Cần quản lý chặt chẽ thu, chi, sử dụng tốt các khoản thu nhập của hợp tác xã, chống tham ô, lãng phí, chống lợi dụng hưởng riêng hoặc chi phí vào việc liên hoan bừa bãi và biếu xén, đút lót.

CHƯƠNG TÁM

CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG VÀ VĂN HÓA, XÃ HỘI

Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp phải tổ chức việc học tập chính trị, nhằm giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho cán bộ và xã viên; giúp họ nâng cao tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức làm chủ tập thể, ý thức cần kiệm xây dựng hợp tác xã, nâng cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ hợp tác xã, bảo vệ xóm làng, bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.

Hợp tác xã phải đôn đốc cán bộ và xã viên học tập văn hóa, khoa học, kỹ thuật, giúp họ nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật và trình độ quản lý kinh tế tập thể.

Hợp tác xã cần chăm lo mở rộng phúc lợi tập thể, thực hiện nếp sống mới, vui tươi, lành mạnh ở nông thôn; động viên mọi người trong hợp tác xã ra sức thi đua, hăng hái vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

CHƯƠNG CHÍN

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

Ai có công với hợp tác xã đều được khen thưởng. Ai làm trái điều lệ, trái nội quy hoặc trái nghị quyết của hợp tác xã, xâm phạm ruộng đất và các của cải khác của hợp tác xã, vi phạm quyền làm chủ tập thể của xã viên hoặc vi phạm chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước thì phải chịu kỷ luật theo quy định của hợp tác xã và pháp luật của Nhà nước.

CHƯƠNG MƯỜI

ĐIỀU KHOẢN PHỤ

Điều lệ chung của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bao gồm những quy định cơ bản nhằm xây dựng, củng cố và phát triển các hợp tác xã, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của xã viên, đưa các hợp tác xã không ngừng tiến lên. Các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đều phải nghiêm chỉnh chấp hành điều lệ và phải căn cứ vào đó mà xây dựng nội quy của mình.

Các cán bộ hợp tác xã và các xã viên phải làm đúng điều lệ của hợp tác xã.

Các ngành và các Uỷ ban hành chính khu, tỉnh, thành, huyện và xã cần giúp đỡ các hợp tác xã thực hiện đúng điều lệ và nội quy đã định.

Các trường học ở nông thôn phải giảng dạy điều lệ của hợp tác xã cho các học sinh.

– HỢP TÁC XÃ LÀ NHÀ, XÃ VIÊN LÀ CHỦ.

– CẦN KIỆM XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ.

– TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ CỦA CÔNG, CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ.

– ĐOÀN KẾT, GIÚP ĐỠ LẪN NHAU ĐỂ CÙNG TIẾN BỘ.

– THI ĐUA ĐƯA HỢP TÁC XÃ KHÔNG NGỪNG TIẾN LÊN.

Điều lệ này đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 4 năm 1969.

                                                                                                                                                                      UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
                                                                                                                                                               NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
                                                                                                                                                                                         KT. Chủ tịch
Phó Chủ tịch

                                                                                                                                                                                  HOÀNG VĂN HOAN

 

Lưu tại Trung tâm Lưu trữ
quốc gia III, phông Quốc hội.

http://www.na.gov.vn/Sach_QH/VKQHtoantapIII/1969/UBTVQH1969_6.htm

 

——————————————————————————–

http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1160&Itemid=5

1976

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng

ĐCSVN)Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước ta bắt đầu một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên hoà bình thống nhất độc lập và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình thống nhất đất nước diễn ra hết sức khẩn trương, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Về mặt nhà nước, nhân dân cả nước đã tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội nước Việt Nam thống nhất. Quốc hội đã ra những quyết định lịch sử về quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca, xác lập hệ thống bộ máy nhà nước. Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước, các Phó Cchủ tịch nước, chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, thông qua danh sách Hội đồng quốc phòng, Hội đồng Chính phủ và thành lập Uỷ ban của Quốc hội. Các đoàn thể, tổ chức chính trị – xã hội trên cả hai miền đất nước nhanh chóng tiến hành đại hội hợp nhất và đi vào hoạt động.

Trước hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi đồng thời cũng có nhiều khó khăn thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976. 1008 đại biểu thay mặt hơn 1.550.000 đảng viên trong cả nước dự Đại hội. Trong số đại biểu đó có 214 đại biểu vào Đảng trước Cách mạng tháng Tám 1945, 200 đại biểu đã từng bị đế quốc giam cầm, 39 đại biểu là anh hùng các lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 142 đại biểu là nữ, 98 đại biểu đại diện các dân tộc thiểu số… Đến dự Đại hội còn có 29 đoàn đại biểu các Đảng cộng sản, Đảng công nhân, phong trào giải phóng dân tộc và các tổ chức quốc tế.

Đại hội nghe Diễn văn khai mạc của đồng chí Tôn Đức Thắng; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Lê Duẩn trình bày; Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980) do đồng chí Phạm Văn Đồng trình bày; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng do đồng chí Lê Đức Thọ trình bày, tham luận của các đồng chí Trường Chinh, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn… và lời chào mừng các đoàn đại biểu trong nước và quốc tế.

Báo cáo chính trị của Đại hội nêu rõ trong những năm qua nhân dân ta đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược lớn nhất và ác liệt nhất của đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, đã chiến đấu anh dũng và thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất và đi bào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX. Đối với đế quốc Mỹ, đây là thất bại lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Nếu thắng lợi của cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ thì thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ chứng minh sự phá sản hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân mới là không tránh khỏi.

Thắng lợi đó là kết quả tổng hợp của một loạt các nhân tố tạo nên. Đó là sự lãnh đạo của Đảng ta với đường lối, phương pháp cách mạng và chiến tranh cách mạng đúng đắn và sáng tạo; cuộc chiến đấu đầy khó khăn gian khổ, bền bỉ và thông minh của nhân dân, quân đội cả nước, đặc biệt là của các đảng bộ, của cán bộ, chiến sĩ công tác và chiến đấu ở chiến trường miền Nam, của hàng triệu đồng bào yêu nước khắp mọi miền Tổ quốc; sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, của đồng bào miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu để bảo vệ căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, vừa huy động ngày càng nhiều sức người, sức của cho cuộc chiến đấu trên chiến trường miền Nam; sự đoàn kết liên minh chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia; sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Đặc biệt là sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và Trung Quốc. Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đã để lại cho nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm lớn.

1.Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp với sức mạnh chiến đấu của tiền tuyến lớn với tiềm lực của hậu phương lớn, động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân, toàn quân vào cuộc chiến đấu cứu nước.

2.Nắm vững và vận dụng đúng đắn chiến lược tiến công, đẩy lùi địch từng bước. Không ngừng củng cố trận địa cách mạng, tạo thế và lực hơn hẳn địch để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

3.Ra sức xây dựng và tổ chức lực lượng chiến đấu trong cả nước, đặc biệt hết sức coi trọng xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở miền Nam; tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.

4.Tạo ra một phương pháp cách mạng đúng, sử dụng bạo lực cách mạng gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, khởi nghĩa từng phần ở nông thôn phát triển thành chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng; đánh địch trên ba vùng chiến lược, kết hợp ba thứ quân, phát triển và kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài với tạo thời cơ nhằm mở ra những cuộc tiến công chiến lược tiến lên thực hiện tổng công kích và nổi dậy để đè bẹp quân thù giành thắng lợi cuối cùng.

Phân tích tình hình mọi mặt, Báo cáo đã nêu lên ba đặc điểm lớn của đất nước khi bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Một là, sau 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu: xoá bỏ giai cấp bóc lột, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng được cơ sở bước đầu của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên sản xuất nhỏ vẫn là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế miền Bắc. Miền Nam vừa thoát ra từ một xã hội thuộc địa kiểu mới, kinh tế về cơ bản vẫn còn là sản xuất nhỏ. Vì vậy, nước ta vẫn đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Hai là, cả nước hoà bình độc lập, thống nhất đang tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi cơ bản: tinh thần cách mạng đang lên sau khi giành thắng lợi vĩ đại, nhân dân ta cần cù thông minh, sáng tạo, tha thiết với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có Đảng Cộng sản lãnh đạo, có sự ủng hộ chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa và có những điều kiện về lao động, tài nguyên phong phú… Bên cạnh đó cũng gặp nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và các tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra.

Ba là, hoàn cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi, song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa cách mạng và phản cách mạng còn diễn ra rất gay go phức tạp. Các thế lực phản cách mạng quốc tế có nhiều âm mưu, hành động tinh vi thâm độc chống phá phong trào cộng sản quốc tế.

Những đặc điểm đó đã tác động mạnh mẽ đến quá trình biến đổi cách mạng nước ta. Vì vậy, Báo cáo đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

Trên cơ sở đường lối chung, Báo cáo vạch ra đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, két hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc”.

Đó là nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp gay go phức tạp nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh là quá trình thực hiện kết hợp cải tạo với xây dựng, chính trị với kinh tế, hoà bình với bạo lực, thuyết phục với cưỡng bách, giáo dục với hành chính…

Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Trong đó, nắm vững chuyên chính vô sản là nắm vững đường lối của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của tập thể nhân dân lao động, xây dựng nhà nước vững mạnh để tiến hành ba cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật và tư tưởng văn hoá, xóa bỏ chế độ bóc lột, đập tan sự phản kháng của kẻ thù. Xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo.

Báo cáo đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch pháy triển kinh tế và văn hoá (1976-1980) nhằm 2 mục tiêu vừa cơ bản vừa cấp bách là bảo đảm nhu cầu của đời sống nhân dân, tích luỹ để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy, phải ra sức thực hiện các nhiệm vụ: phát triển vượt bậc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giải quyết một cách vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thông dụng, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí, mở mang giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, đẩy mạnh khoa học kỹ thuật; sử dụng hết lực lượng lao động; hoàn thành cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tiến mạnh mẽ công tác thương nghiệp, giá cả, tài chính, ngân hàng; tăng nhanh nguồn xuất khẩu; phát triển giáo dục, văn hoá, y tế, cải cách giáo dục, đào tạo cán bộ, thanh toán hậu quả của chủ nghĩa thực dân mới; xây dựng một hệ thống mới về quản lý kinh tế trong cả nước.

Về đối ngoại, Báo cáo nêu rõ trong giai đoạn mới, chúng ta cần ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, khoa học kỹ thuật, củng cố quốc phòng, cùng các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, chống chủ nghĩa đế quốc. Trong quá trình làm việc, Đại hội đã tập trung phân tích đánh giá tình hình thế giới và khẳng định mạnh mẽ chính sách đối ngoại nhất quán của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới là tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, làm hết sức mình để góp phần làm cho lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng thắng lợi rực rỡ. Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân ta với nhân dân Lào và Campuchia. Ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước vì độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình và tiến bộ xã hội. Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước khác trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi. Ra sức tranh thủ những điều kiện quốc té thuận lợi hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển đất nước về mọi mặt.

Về xây dựng Đảng, Báo cáo đã tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, nêu lên những thay đổi và nhiệm vụ chủ yếu của công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới.

Trong Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng đã trình bày những kinh nghiệm tích luỹ được trong mấy chục năm qua, xác định nhiệm vụ, phương châm và biện pháp công tác Đảng trong giai đoạn mới, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới của Đảng gồm có 11 chương và 59 điều. Điều lệ đã rút gọn 10 nhiệm vụ của đảng viên thành 5 nhiệm vụ, đặt lại chức vụ Tổng Bí thư thay chức Bí thư thứ nhất, quy định nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là 5 năm.

Sau một tuần làm khẩn trương, đầy trách nhiệm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã thành công tốt đẹp và thu được những kết quả to lớn. Đại hội đã thông qua Nghị quyết đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội nhất trí hoàn toàn Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phương hướng nhiệm vụ mục tiêu phát triển kinh tế – văn hoá từ năm 1976 đến 1980, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 uỷ viên chính thức và 32 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm có 14 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 20/12/1976, Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc diễn văn bế mạc Đại hội

Ban Văn kiện

“Mồng 1 tết mà tôi đến thăm nhà nào cũng thấy luộc sắn. Bà con ta còn nghèo quá! Trong đời hoạt động cách mạng, tôi đã chịu nghèo khổ, nhưng bây giờ đất nước đã được thống nhất, phải lo làm sao để cho dân giàu lên. Phấn đấu để đồng bào ta, các ông bà già, trẻ con mỗi bữa có một quả trứng, một cốc sữa mà rất khó.”[21] ”

Năm 1976, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn tuyên bố:

“ “Chế độ ta là chế độ chuyên chính vô sản. Chuyên chính trước hết phải là đường lối của giai cấp vô sản. Cốt tủy của chuyên chính vô sản là ở đó chứ không phải là ở chỗ sử dụng bạo lực. Đường lối đó là sự kết hợp lý luận Mác – Lê Nin với thực tiễn cách mạng của nước mình. Đường lối đó là khoa học nhất, là đúng quy luật, là bắt buộc. Đường lối đó không hề nhân nhượng với ai, chia sẻ với ai và hợp tác với ai cả. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là: nhất thiết phải xóa bỏ giai cấp bóc lột, xóa bỏ chế độ sản xuất cá thể, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Nhất thiết phải làm thế, không cho phép ai đi ngược lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó nhất thiết phải là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Không ai được chống lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là đường lối của giai cấp công nhân, không ai được chống lại. Ai chống lại những cái đó thì bị bắt. Đó là chuyên chính.” ”

 

(Phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị Trung ương 25, Văn Kiện Đảng Toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 37- 1976, trang 403-404)Ngày 13-3-1977, tại trường Nguyễn Ái Quốc, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói:

“ “Loài người cho đến nay đã có ba phát minh vĩ đại có ý nghĩa bước ngoặt của lịch sử. Thứ nhất là tìm ra lửa. Thứ hai là tìm ra cách sử dụng kim khí. Thứ ba là làm chủ tập thể.” ”
(“Bài nói của đồng chí Lê Duẩn tại lớp chính trị Trung cao cấp ngày 13-3-1977 tại trường Nguyễn Ái Quốc”, “Hồ sơ lãnh tụ Lê Duẩn”, lưu trữ tại kho Lưu trữ Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh)

Làm chủ tập thể:

1958, Nhà nước VNDCCH lấy lại ruộng đất vừa tịch thu của địa chủ trong cuộc cải cách ruộng đất 1951-1956, và bắt nông dân vào nông trường tập thể (gọi là hợp tác xã nông nghiệp). Cả miền Bắc đói meo. Chế độ tem phiếu bắt đầu. 

1976, để phát huy quyền làm chủ tập thể, Lê Duẩn bắt nông dân vào nông trường tập thể (gọi là hợp tác xã nông nghiệp). Nông dân Miênf Nam bỏ ruộng chỉ làm đủ cho gia đình ăn. Cả nước rơi vào nạn đói từ 1976-1986 cho đến khi Lê Duẩn chết (7/1986). . Dấu tich ngày nay là các em sinh trong giai đoạn đó đều LÙN, ỐM YẾU, vì bị suy dinh dưỡng, thiếu ăn. 

Chế độ làm chủ tập thể đã thất bại hoàn toàn. 

 1987, Nguyễn Văn Linh lên làm TBT, cùng với Võ Văn Kiệt trả lại ruộng đất cho nông dân. Và các đảng viên cao cấp của đảng CSVN lọi dụng dịp này chiếm nhiều đất đai công vào trong tay họ và gia đình, tự cấp sổ đỏ, để làm giàu.  

Bên Thắng Cuộc I. ” Giải Phóng ” Danh mục sách tham khảo (#36)

392 Bí thư Lê Duẩn nói: “Tôi đi vào trong đó xem, họ có cái máy trộn nhựa đường, cho đá vào, họ bảo trộn như thế ngay lập tức có thể tráng được 100 lần[?]. Còn ta thủ công, ngồi ngay ngoài đường làm, không được bao nhiêu cả… Tại sao người thợ ở ngoài này không bằng người thợ ở trong kia? Mình trả lời sao? Anh là chủ nghĩa xã hội mà tại sao anh lại không bằng được trong kia, anh trả lời làm sao?… Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột rất dữ mà năng suất vẫn cao?”.

Rồi ông trả lời: “Vì tư bản đã đi đúng theo quy luật của tư bản, nó bóc lột nhưng mà vẫn tiến lên. Còn ta là chủ nghĩa xã hội nhưng ta đã chưa đi đúng theo quy luật xã hội chủ nghĩa của ta. Đúng mặt này nhưng chưa đúng mặt kia, cho nên ta cứ chập chờn mãi, chòng chành mãi”.

Ông Lê Duẩn nói tiếp: “Anh Năm[Trường Chinh] có đề nghị với tôi rằng ở miền Bắc cũng cứ cho những người thợ thủ công làm chủ một số công nhân, cứ cho họ làm đi, chứ không phải chỉ riêng miền Nam đâu. Tôi cho rằng cũng nên làm việc này, cho tự do phát triển… Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết trong giai đoạn bước đầu này… Ở miền Bắc trước đây phải hợp tác hoá ngay lập tức… Nhưng miền nam bây giờ không thể làm như vâỵ được. Miền Nam bây giờ nếu anh không để cho giai cấp tư sản phần nào đấy, mà nông dân thì phần nào hóa tư sản rồi, anh mà làm sai đi thì công nông không liên minh được đâu. Phải có tư sản, phải cho nó phát triển phần nào đã. Phải để kinh tế mấy thành phần thì nông dân mới theo ta, liên minh mới chặt chẽ được. Bây giờ nông dân ở miền nam họ làm rất khá. Bắt hợp tác hoá là không đúng, năng suất thấp xuống thì hỏng hết cả, nó sẽ không theo giai cấp vô sản nữa, không thống nhất được đâu”( Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trung ương 24, lưu trữ tại Văn phòng Trung ương, VK.36.42).

393 Ngày 13-8-1975, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn nói: “Bây giờ nói đến thống nhất đã. Chúng ta đồng tình thống nhất ngay bây giờ đây, đồng tình cả rồi đấy. Nhưng tôi nghĩ, vấn đề này cũng là một vấn đề rất quan trọng: có nội dung lịch sử của nó cơ; có nội dung chính trị, kinh tế, xã hội của nó cơ… Các đồng chí hôm qua nói, thắng lợi trọn vẹn nhất, chữ trọn vẹn ấy, tôi hiểu khác các đồng chí, trọn vẹn nhất có nghĩa là ba mươi năm nay từ khi có Đảng đến giờ, ta xây dựng được một nước Việt Nam Độc lập Xã hội Chủ nghĩa. Độc lập và chủ nghĩa xã hội, trọn vẹn là cái đó cơ” (Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trung ương 24, lưu trữ tại Văn Phòng Trung ương, VK.36.42).

394 Nghị quyết Trung ương 24, khóa III, 1975.

395 Mật danh của chiến dịch “Đánh tư sản” tháng 9-1975.

396 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 24, khóa III: “Phải xoá bỏ tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hóa cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý. Đối với kinh tế tư sản dân tộc, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh, bắt đầu từ những cơ sở sản xuất kinh doanh quan trọng. Cho phép tư sản dân tộc tồn tại và kinh doanh một số ngành nghề nhất định phù hợp với quốc kế dân sinh, với số công nhân hạn chế, dưới sự chỉ đạo của nhà nước và sự giám sát của công nhân” (Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trung ương 24, lưu trữ tại Văn Phòng Trung ương, VK.36.42).

397 Ngày 1-9-1975, Thường Vụ Trung ương Cục đã làm việc với Thành uỷ Sài Gòn-Gia Định để thông qua kế hoạch “Chiến dịch X2”. Mở đầu, ông Nguyễn Văn Trân, phổ biến: “Sau chiến thắng, chúng ta phải tiếp tục đưa cách mạng Miền Nam đi lên. Trước khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, ta phải xác định tồn tại trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ là phải đấu tranh xoá bỏ giai cấp tư sản, giai cấp bóc lột, trước hết là giai cấp tư sản mại bản. Chúng ta đã khẳng định đối tượng của cách mạng như trên thì không bao giờ có ý kiến khác”.

Bí Thư Đảng ủy Đặc biệt Võ Văn Kiệt nói thêm: “Bộ Chính trị đã nhất trí với Trung ương Cục và chỉ đạo chúng ta đánh dứt điểm tư sản mại bản như anh Trân đã trình bày. Bộ Chính trị chỉ thị cho chúng ta thêm: Phải đánh và đánh sớm”. Chủ trì buổi làm việc, Phó Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh, kết luận: “Bước sang giai đoạn mới tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải thanh toán hết giai cấp tư sản. Có nhiều cách thanh toán giai cấp tư sản và nhiều lý do: phải đi vào nhiệm vụ mới, do sự cấp bách phải ổn định tình hình đời sống nhân dân, ổn định sản xuất. Trước mắt phải đánh vào toàn bộ giai cấp tư sản mại bản. Đối với giai cấp tư sản thường [tư sản dân tộc], thì ta có biện pháp để họ làm ăn nhưng phải cải tạo họ. Đợt đầu ta tập trung đánh một số, 60 tên, nhưng cần nghiên cứu sắc lại hơn nữa. Cần nắm đầu sỏ trực tiếp các ngành quan trọng vì nếu không đánh nó sẽ tác động thị trường. Nói đánh 60 tên nhưng thực tế sẽ lan ra cả ngàn tên” (Biên bản cuộc làm việc giữa Thường vụ Trung ương Cục với Thành ủy Sài Gòn-Gia Định ngày 1-9-1975).

403 Theo ông Trần Phương: “Trong một dịp nghỉ dưỡng bệnh dài ngày, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị tôi giúp ông hiểu lại toàn bộ hệ thống kinh tế học của Marx trong bộ Tư Bản mà trước đó ông đã đọc. Từ đó, tôi dành một tuần hai buổi lên nhà ông để trình bày có hệ thống từ quyển I cho đến quyển IV, thời gian ‘giảng dạy’ kéo dài khoảng sáu tháng. Sau đó, ông Giáp có giới thiệu với ông Phạm văn Đồng nên ông Đồng lại mời tôi mở lớp. Lê Duẩn thì khác, ông không yêu cầu tôi giảng giải, ông muốn tự đọc. Chỗ nào cần thì ông trao đổi trực tiếp với tôi. Trên cơ sở đó, nhiều khi ông còn đi giảng giải ở trường Nguyễn Ái Quốc, ở các cơ quan về các tư tưởng kinh tế của Marx” (Đặng Phong, Tư Duy Kinh Tế Việt Nam, Nhà Xuất bản Tri Thức 2008, trang 20).

https://www.facebook.com/note.php?note_id=501614436587624

 

——————

Từ một tài liệu mà ông mới tìm thấy trong kho lưu trữ của đảng CSVN, tác giả đưa ra những chứng cớ, theo ông, về sự khác biệt giữa những suy nghĩ thực của cố tổng bí thư đảng Lê Duẩn những ngày đầu sau chiến tranh, so với những tài liệu chính thức của đảng.

Suy ngẫm từ một bài nói
mới tìm lại được của Lê Duẩn (*)

Đặng Phong 

LTS.

Cố tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn hiển nhiên là một nhân vật đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử Việt Nam nửa thế kỉ vừa qua. Nhưng người ta vẫn chưa thấy được – cả trong và ngoài nước – một cuốn sách, thậm chí một bài viết, nghiên cứu nghiêm chỉnh (không chỉ để ngợi ca hay chê bai một chiều) về ông. Bài viết của tác giả Đặng Phong mà chúng tôi xin giới thiệu dưới đây có lẽ là bài báo duy nhất được đăng trong nước nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông (7.4.1907) không rơi vào loại bài “lược sử các vị thánh (hay quỷ)”. Từ một tư liệu tìm được trong văn khố, tác giả nêu ra được một số câu hỏi cho nhà nghiên cứu. Tất nhiên, người đọc có thể không chia sẻ những phân tích của ông, và đặt ra những câu hỏi khác, nhưng đó cũng là chuyện bình thường…

Trong số các tài liệu tôi tìm thấy trong Phòng lưu trữ của Viện Kinh tế Việt Nam, có một văn bản mang tên: “Đồng chí Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24”. Thời điểm được ghi là : 13/08/1975. Tài liệu được in roneo, dày 14 trang. Căn cứ theo lời văn thì thấy rằng đây là bản gỡ băng trực tiếp từ một bài nói của ông, nhằm chuẩn bị cho những cuộc thảo luận tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24. Câu đầu tiên của bài phát biểu là : “Tôi phát biểu một số ý kiến để các đ/c tham khảo trước khi đi vào thảo luận…”.

Đây là một tài liệu rất thú vị, vì qua đó có thể thấy được những suy nghĩ của nguyên Bí thư thứ nhất Lê Duẩn vào những ngày tháng đầu tiên sau khi giải phóng Miền Nam.

Trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, năm 1975, không thấy có tài liệu này. Có lẽ vì đó là bài văn nói, mà muốn chuyển thành văn viết thì tất nhiên phải được chính ông xem lại. Nhưng đến khi chuẩn bị cho Văn kiện Đảng toàn tập thì ông đã không còn nữa, mà không ai có thể làm thay ông việc này. Vì vậy trong Văn kiện Đảng Toàn tập năm 1975 ( xuất bản năm 2001) chỉ có Báo cáo của Bộ Chính trị trước Hội nghị Trung ương lần thứ 24 và sau đó là có Nghị quyết của Hội nghị, được ghi là: Ngày 29/09/1975. Như vậy bài phát biểu kể trên có lẽ chỉ là bài nói có tính chất gợi ý của ông trước khi đi vào thảo luận tại Hội nghi TƯ 24.

Vì đây là bài phát biểu trực tiếp và được gỡ băng trung thực với văn nói, nên nó chưa được “hoàn chỉnh” về mặt văn vẻ. Nhưng có lẽ chính vì thế nó lại có ưu điểm là phản ảnh khá trung thực những suy nghĩ rất tức thì và cũng rất bộc trực của bản thân ông sau những ngày trực tiếp quan sát thực tế ở Miền Nam.

Điều rất có ý nghĩa đối với giới nghiên cứu lịch sử hiện nay là: Khi xem xét những phân tích và đánh giá của Lê Duẩn về tình hình Miền Nam và những chủ trương của ông đối với kinh tế cả nước sau giải phóng, chúng ta thấy rằng nó có nhiều khía cạnh hơi khác so với những văn kiện chính thức của Hội nghị Trung ương 24 hơn một tháng sau đó và càng không giống với những văn kiện chính thức của Đại hội Đảng lần thứ IV/1976 hơn 1 năm sau đó. Ngược lại, nó gần gũi hơn với sự đánh giá tình hình kinh tế của Đại hội Đảng lần thứ VI/1986, trong đó chứa đựng rất nhiều những cách nghĩ về một nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế mở, một nền kinh tế nhiều thành phần, nhấn mạnh tới việc sử dụng tối đa những tiềm lực của mọi thành phần kinh tế để phát triển…

Hiện nay, chúng tôi chưa có điều kiện để tìm hiểu kỹ hoàn cảnh hình thành những tư duy đó của ông và cũng chưa có điều kiện để tìm hiểu những lý do nào đã làm cho những tư tưởng này của ông không được quán triệt đầy đủ, hoặc đã được điều chỉnh, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24, mà phải tới gần 10 năm sau đó nó mới đi vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Như chúng ta biết, Lê Duẩn là con người mà nhiều người cho là “suốt đời suy nghĩ, tìm tòi”. Đúng. Ông có bản tính không thoả mãn với những gì cũ kỹ, có sẵn. Trong tư duy của ông luôn thể hiện những cố gắng cao độ trong sự vận động tìm tòi, phát hiện, phủ định cái cũ, nhiều khi phủ định chính mình, nhằm mở ra những hướng mới (tất nhiên cái mới và cái đúng không phải luôn luôn đồng nghĩa)…

Tài liệu ngắn ngủi này phản ảnh một cung đoạn rất sắc nét trong những dòng suy nghĩ của Lê Duẩn về những vấn đề kinh tế Việt Nam.

Có thể nêu lên mấy suy nghĩ rất quan trọng sau đây trong bài phát biểu của ông:

Thứ nhất, ông thẳng thắn nói lên một sự thật tuy rất bình thường, thậm chí là tất yếu, nhưng không phải ai cũng có thể nói ra: Ông cho rằng trước một thực tế rất mới mẻ của Miền Nam sau ngày giải phóng, thì những cách suy nghĩ, những cách đánh giá, cách phân tích, cách lựa chọn giải pháp của mỗi người tất nhiên không thể một lúc giống nhau. Sự khác nhau đó là bình thường. Đó là phép biện chứng của nhận thức, của tư duy. Nhưng từ lâu chúng ta có thói quen ngại nói ra những cái gì là không giống nhau trong suy nghĩ. Từ cái ngại đó mà đã có thói quen ngộ nhận hoặc cố tình tạo ra ngộ nhận rằng luôn luôn có sự nhất trí cao giữa những bộ óc chủ chốt trong những vấn đề chủ yếu của đất nước. Nhưng sự nhất trí như thế không bao giờ là cái “tự thân”, mà chỉ có thể là kết quả của những gặp gỡ, đối thoại, thuyết phục và điều chỉnh giữa những ý kiến khác nhau. Lê Duẩn đã nói được điều đó ngay trong đoạn mở đầu của bài phát biểu:

“Chúng ta xưa nay tưởng đã nhất trí với nhau, nhưng thực ra chưa phải nhất trí lắm đâu… Chính những cái gì rất chung và rất quan trọng đó mà ta nắm giống nhau, thì khi đi vào cụ thể càng dễ giống nhau hơn”.1

Thứ hai, ngay sau khi giải phóng Miền Nam khoảng 2 tuần, Lê Duẩn đã trực tiếp vào Nam quan sát và tìm hiểu tình hình. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, ông đã có một cách nhìn khá độc lập về thực trạng kinh tế Miền Nam, khong lệ thuộc vào những khung lý thuyết có sẵn. Ông đánh giá khá tích cực về hàng loạt ưu điểm của nền kinh tế thị trường ở Miền Nam. Chẳng hạn: Ông không quá nhấn mạnh vào cái gọi là chủ nghĩa thực dân mới với những tính chất ăn bám, mục nát, phồn vinh giả tạo, với những bản chất phản động của giai cấp tư sản mại bản… Ngược lại ông lưu ý tới những sự thật không thể chối cãi được là cách làm ăn có hiệu quả của kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản, với năng suất lao động cao hơn, dù là bóc lột thì người bị bóc lột cũng có đời sống khá hơn…. Ông nói:

“ Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột người ta dữ, mà năng suất của nó vẫn cao. Vì nó là tư bản nhưng nó đi theo quy luật của nó, nó bóc lột nhưng mà vẫn tiến lên… Bây giờ nông dân ở miền Nam họ làm rất khá, mà nông dân thì phần nào hoá tư sản rồi”.

Thứ ba, qua thực tế của mô hình kinh tế Miền Nam, ông đã so sánh trở lại với mô hình kinh tế Miền Bắc và ông thẳng thắn thừa nhận nhiều nhược điểm của mô hình kinh tế ở Miền Bắc trong thời kỳ xây dựng CNXH. Ông nói:

“Xưa nay ở miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật… Nay có được miền Nam là để chúng ta thấy lại cho rõ hơn nữa. Còn ta chủ nghĩa xã hội nhưng chưa đi đúng quy luật xã hội chủ nghĩa của ta, đúng mặt này nhưng không đúng mặt kia, cho nên ta cứ chập chờn mãi, chòng chành mãi.”2

“Tại sao người thợ ở ngoài này không bằng người thợ ở trong kia? Mình trả lời làm sao? Anh là chủ nghĩa xã hội mà tại sao anh lại không được bằng trong kia, anh trả lời làm sao? Đảng ta phải có trách nhiệm về những điều sai như vậy. Có thể vì chiến tranh, vì nhiều thứ, tôi đồng tình như vậy, nhưng trong đó cũng có khuyết điểm của mình chứ không phải không có khuyết điểm đâu”3.

Thứ tư, từ cách nhìn nhận về kinh tế Miền Nam và nhìn nhận về những nhược điểm của nền kinh tế Miền Bắc, Lê Duẩn đã đưa ra những gợi ý về phương hướng và chính sách kinh tế cho Miền Nam và cho cả nước. Quan điểm của ông lúc đó là không nên vội vã tiến hành cải tạo đối với công thương nghiệp tư doanh. Còn đối với nông nghiệp, chưa nên cưỡng ép nông dân Miền Nam vào các hợp tác xã. Việc đó sẽ tạo ra sự bất mãn của nông dân và sự sa sút của sản xuất nông nghiệp. Ông nói:

“Miền Bắc trước đây phải hợp tác hoá ngay lập tức… Nhưng miền Nam bây giờ không thể làm như vậy. Miền Nam bây giờ phải để cho giai cấp tư sản phần nào đấy, phải cho nó phát triển phần nào đã. Phải để kinh tế gồm mấy thành phần thì nông dân mới theo ta, liên minh mới chặt chẽ. Bắt hợp tác hoá là không đúng, năng suất thấp xuống thì hỏng hết cả, họ sẽ không theo giai cấp vô sản nữa, không thống nhất được đâu. Người nông dân làm ra những sản phẩm, người ta muốn bán, nếu chúng ta không cho bán thì nông dân chọi lại với chúng ta, nguy hiểm lắm, không thể được. Nếu chúng ta không có một hình thức kinh tế để kéo nông dân đi tới thì ta không thống nhất được. Vì vậy Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết trong giai đoạn bước đầu này.”4

Những nhận định đó của ông đã được thực tiễn những năm 1978-1979 chứng minh là đúng: Sau khi vội vàng ép buộc nông dân vào các tập đoàn sản xuất thì nông nghiệp sa sút một cách nghiêm trọng: 13,5 triệu tấn năm 1976 xuống 12,2 triệu tấn năm 1988. Khi áp đặt hệ thống thu mua theo giá kế hoạch thì nông dân phản ứng gay gắt, đã “ chọi lại chúng ta” và sản lượng lương thực huy động đã giảm sút với mức độ còn nghiêm trọng hơn mức giảm sút của tổng sản lượng lương thực: Từ trên 2 triệu tấn năm 1976 xuống 1,6 triệu tấn năm 1978 và năm 1979 chỉ còn 1,4 triệu tấn. Đó chính là lúc mà Tp Hồ Chí Minh phải ăn bo bo thay cho gạo, là điều chưa từng có trong lịch sử thành phố 300 năm trước đó…

Rất tiếc là những ý tưởng kể trên của Lê Duẩn đã không được thực hiện. Đến nay chúng ta vẫn khó hiểu được những lý do nào đã khiến cho chỉ ngay sau đó ít lâu, trước hết là ngay tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24, đã có những nhận định và kết luận khác đi, thậm chí trái ngược với những gợi ý trong bài phát biều khai mạc của Lê Duẩn.

Thí dụ:

Về tình hình quốc tế , Hội nghị TW lần thứ 24 đã nhận định:

“Sự suy yếu toàn diện và địa vị quốc tế giảm sút của chủ nghĩa đế quốc Mỹ là một xu thế không thể đảo ngược được… Hệ thống tư bản chủ nghĩa đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện mới.”5

Chính sách đối ngoại lúc này được xác định là:

“Tư tưởng cơ bản phải thấu suốt trong lĩnh vực đối ngoại là: chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự thống nhất của Đảng ta”6.

Trong việc đánh giá thực trạng kinh tế Miền Nam, văn bản của Nghị quyết 24 đã nhận định rằng:

“ Miền Nam là cái túi tập trung bọn địa chủ, tư sản mại bản, bọn tay sai của đế quốc, bọn chống đối cách mạng ngoan cố nhất …và tầng lớp tư sản quan liêu quân phiệt khá đông đảo nhờ bóc lột nhân dân, lũng đoạn kinh tế, sống giầu có xa hoa trên xương máu của đồng bào ta… Chúng căm thù chế độ mới, ngoan cố không chịu thuần phục chính quyền, một số đang điên cuồng chống lại cách mạng… Chủ nghĩa thực dân mới đã tạo ra một xã hội ăn bám và thối nát…”

Về con đường phát triển của kinh tế Miền Nam, Nghị quyết 24 đã chủ trương:

“Phải xoá bỏ tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hoá cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý.”

“Đối với kinh tế tư sản dân tộc, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh, bắt đầu từ những cơ sở sản xuất kinh doanh quan trọng”.

“Trước mắt cần xây dựng một số hợp tác xã thí điểm để rút kinh nghiệm. ở những nơi chưa đủ điều kiện xây dựng hợp tác xã thì ra sức phát triển các tổ đổi công vần công”.

“Đối với thương nghiệp nhỏ, cần tích cực cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng cách tổ chức đăng ký kinh doanh, có chính sách thuế và chế độ kiểm kê, kiểm soát, chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất, lựa chọn để sử dụng một số người làm kinh tiêu.”7

Dòng tư duy đó tiếp tục đi từ Hội nghị Trung ương lần thứ 24 tới Đại hội Đảng lần thứ IV, với những chủ trương còn toàn diện và triệt để hơn:

“Việc hợp nhất các tính nhỏ hiện nay thành những tỉnh mới là nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước.

“Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư bản tư doanh, đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp và thương nghiệp nhỏ… sử dụng và hạn chế tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp đi đôi với xây dựng huyện, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; cải tạo thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp bằng con đường hợp tác hoá là chủ yếu, cải tạo thương nghiệp nhỏ chủ yếu bằng cách chuyển dần tiểu thương sang sản xuất”8.

“Xây dựng nông trường quốc doanh; gắn liền xây dựng hợp tác xã với xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông – công nghiệp”9

Từ đó Việt Nam sẽ:

“Vươn lên những đỉnh cao của thời đại, biến đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề thành một nước văn minh, giầu mạnh, thành trì bất khả xâm phạm của độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Đông Dương và Đông Nam Á”.10

*

*     *

Đối với sử học, người nghiên cứu cần và có thể khác với người làm công tác tuyên truyền ở chỗ: Mỗi khi có dịp kỷ niệm một nhân vật lịch sử nào đó, không nhất thiết chỉ lựa chọn những gì là hay là tốt để nói. Vừa qua, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, hàng trăm bài viết ca ngợi ông như nhà lý luận kiệt suất, sáng tạo, dường như ông bao giờ cũng đúng, cũng đi đầu… Trong lịch sử làm gì có những nhân vật thần thánh như thế!. Trong các giới nghiên cứu, trong cả những nhà điều hành cùng thời với ông mà tôi được gặp, và cả trong dư luận xã hội mà tôi thường được nghe, không thấy ông được nhìn nhận một cách phiến diện như vậy. Ông được nhiều người kính trọng, thậm chí sùng kính. Đó là sự thật. Ông đã có những nhìn nhận rất sáng trong thời chiến tranh, về cách đánh Pháp, đánh Mỹ. Về mặt đó, quả ông là một nhà chiến lược có tài. Nhưng trong việc định hướng cho kinh tế và cho xã hội, trong việc lượng định những thế cờ quốc tế, và về nhiều mặt khác trong đời sống , về phong cách lãnh đạo…, không phải ông không có những điều mà đến nay thấy là cần được suy ngẫm thêm để rút kinh nghiệmi, và thực tế là đất nước đã làm khác đi để chữa bệnh duy ý chí, để lấy dân làm gốc, nhờ đó mới đi lên như ngày nay.

Tất nhiên văn hóa nghiên cứu không bao giờ cho phép những trò phê phán phi lịch sử. Nhưng sẽ là và chỉ là có ích nếu nói lên được một cách khách quan và công bằng những gì đã đạt được và cả những gì còn hạn chế ở mỗi nhân vật lịch sử, phân tích những nguyên nhân và hoàn cảnh của những suy nghĩ và quyết định của nhân vật đó, cả những cái đúng và những cái chưa đúng. Đó là vẻ đẹp của lịch sử và của các nhân vật lịch sử.

Theo văn hóa nghiên cứu đó, đối với sự nghiệp của Lê Duẩn, con người có tầm ảnh hưởng rất lớn trong suốt nửa sau thế kỷ XX của Việt Nam và của cả một số sự kiện quốc tế, thì tìm hiểu về ông cũng là tìm hiểu bản thân con đường và những bước ngoặt lớn trong lịch sử Việt nam.

Theo nghĩa đó, có nhiều câu hỏi vẫn còn là thách đố đối với giới nghiên cứu. Thí dụ như:

– Một người có vị trí hàng đầu trong Đảng và có uy tín cao nhất nước vào lúc đó như Lê Duẩn, nếu quả đã có sẵn những tư duy kinh tế sáng suốt và đúng đắn như trong bài phát biểu kể trên, thì tại sao vẫn không vượt qua được những rào cản của cả một bề dày tư duy cũ kỹ, bảo thủ, trì trệ, mà chính ông cũng đã coi là “ nguy hiểm lắm”, và thực tế là đã dẫn tới những khó khăn và tổn thất không nhỏ của đất nước trong hàng thập kỷ sau đó?

– Từ bài phát biểu khai mạc tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 cho tới bản thân Hội nghị Trung ương 24 và những kết luận chính thức của Hội nghị đó, đã có những diễn biến hay chuyển biến lịch sử như thế nào? Trong đó bản thân Lê Duẩn có những thay đổi gì trong suy nghĩ không? Nếu có thì thay đổi vì sao và như thế nào? Tại sao ở ông có cả những suy nghĩ khá cấp tiến, nhưng không phải không có những quyết định mà kết quả là ngược lại với ý nguyện của ông? Có thể giả thiết như thế này không: Vào cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, những bức xúc của ông về sự ách tắc của mô hình kinh tế cũ cùng những ý tưởng của ông về một mô hình mới có lẽ cũng mới chỉ là những ý nghĩ đột xuất, như những phản ứng tức thời trước một thực tế còn quá khó khăn, phức tạp, chứ chưa thành cả một hệ thống tư duy chiến lược có tính chất cương lĩnh? Nếu như ở ông đã có được điều đó, thì với uy tín lớn và ở cương vị cao của ông lúc đó, chắc tình hình đã diễn ra khác đi với những gì đã diễn ra trong 10 năm sau giải phóng. Có một lần, giáo sư Trần Phương – một trong những trợ lý kinh tế thân cận nhất của Lê Duẩn – đã dành cho tôi cả một ngày để trao đổi về Lê Duẩn, thì chính giáo sư cũng thừa nhận rằng: Vào thời kỳ đó Lê Duẩn chưa có đủ thời gian để hoàn thiện những suy nghĩ về con đường kinh tế của Việt nam…

– Trong những chủ trương và quyết sách như thống nhất về mô hình kinh tế trên cả nước, về việc tiến nhanh, tiến mạnh lên sản xuất lớn XHCN, về việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, về việc đưa nhanh các HTX lên cấp cao, về việc cải tạo công thương nghiệp Miền Nam một cách ồ ạt và rất phi kinh tế, về tư tưởng làm chủ tập thể, về việc sắp xếp lại giang sơn, về việc sáp nhập hơn 60 tỉnh của cả nước thành 29 tỉnh và thành phố,về việc xây dựng cấp huyện thành những pháo đài kinh tế… , thì Lê Duẩn đã có một vai trò như thế nào?

Trong một bài viết gần đây trên Thời báo Kinh tế (ngày 6/4/07), giáo sư Trần Phương có kể lại rằng một lần tại nhà nghỉ Đồ Sơn, có mặt cả thủ tướng Phạm văn Đồng, vì quá bức xúc trước cảnh kinh tế sa sút và đời sống khó khăn, Lê Duẩn đã nói bằng một giọng gay gắt: “Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi”. Điều đó quả đã thể hiện rõ cả quyền uy, cả tính cách trung thực và tinh thần trách nhiệm của ông, mà giáo sư Trần Phương gọi là “một trái tim nhân hậu”. Nhưng chưa rõ ông quan niệm cái phạm trù “ chúng ta cầm quyền” là gồm những ai ?

– Và sau khi ông qua đời, Đại hội Đảng lần thứ VI đã nghiêm khắc phê phán căn bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh xa rời thực tế, xa rời nhân dân, không coi dân là gốc…, là những căn bệnh được nhìn nhận là đã diễn trong suốt một thời gian khá dài trước đó, cũng tức là chính trong thời Lê Duẩn là Tổng bí thư. Vậy thì Lê Duẩn đã có vai trò thuận hay nghịch và đến mức nào đối với những căn bệnh đó?

– Sau này, khi nghiên cứu kỹ về lịch sử cơ chế khoán Hải phòng, tôi được biết khu nhà nghỉ của Trung ương ở Đồ Sơn là một trong những nơi đã hình thành và phát triển những tư tưởng lớn như làm chủ tập thể, sản xuất lớn, HTX cấp cao… Rất gần đó, có HTX Đoàn Xá (mà theo đường chim bay chỉ cách nhà nghỉ Đồ Sơn có 12 km thôi, từ trên nhà nghỉ có thể nhìn thấy rõ lúc trời quang), sau khi đưa HTX lên cấp cao năm 1977, đã có hơn 50 hộ nông dân xã viên không còn gì để ăn nữa , phải bỏ ra thành phố đi ăn mày… Vậy những gì đã tạo ra sự ngăn cách giữa “trái tim nhân hậu” nơi Lê Duẩn với những nghịch cảnh kinh tế, mà Đoàn Xá là một trong vô vàn ?

– Rồi đến khi Đảng ủy Đoàn Xá phải “ nhắm mắt làm ngơ” cho khoán chui để dân khỏi đói, và do đó mà Đoàn Xá trở thành cái nôi nổi tiếng của khoán Hải phòng, thì khi biết chuyện, Lê Duẩn đã tuyên bố ngay với lãnh đạo thành phố: “ Tôi đồng ý, cứ cho làm ngay đi, không phải hỏi ai nữa cả!”. Lời nói đó là một cú hích góp vào những khởi sắc của phong trào khoán, giúp nó lan toả trên cả nước sau đó, góp phần cứu nông nghiệp và nông dân cả nước khỏi cảnh bần hàn, sa sút. Sự kiện đó hẳn đã khẳng định rõ thêm “ trái tim nhân hậu” và tư duy độc lập của ông. Nhưng mặt khác, phải chăng nó cũng phản ảnh cái dự cảm của ông về khả năng “ chưa nhất trí lắm đâu” trước một vấn đề hệ trọng và nhạy cảm như vấn đề khoán? Và phải chăng cũng vì thế mà trong trường hợp này, rút kinh nghiệm từ khoán Vĩnh Phúc, ông đã phải “ đi trước một bước ” bầy tỏ sự đồng tình triệt để trước khi có thể có một sự cản phá?(**)

Đặng Phong

Tiểu sử Đặng Phong

Chú thích :

1 Đồng chí Lê Duẩn, Bí Thư thứ nhất phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương, ngày 13-8-1975. Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. VK. 36. 42. tr.1.

2 Như trên, tr. 16.

3 Như trên, tr. 16-17.

4 Như trên, tr. 8-9.

5 Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, đd, tr. 385.

6 Như trên, tr. 387.

7 Văn kiện đảng Toàn tập, tập 36, 1975, tr.332, 412 -415.

8 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. NXB Sự thật, HN 1977, tr. 108-109.

9 Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Văn kiện đảng toàn tập. Tập 37, tr. 570.

10 Diễn văn của đồng chí Lê Duẩn trong buổi lễ mừng chiến thắng. Văn kiện đảng Toàn tập, tập 36, 1975, tr 212

(*) Bài đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay, số tháng Tư, ra ngày 15 tháng 4 năm 2007… Bản do tác giả gửi Diễn Đàn có bổ sung và sửa chữa một đôi chỗ.

(**) Theo nhưng người trợ lý thân cận nhất của ông kể lại thì thái độ của ông đối với khoán ở Vĩnh Phúc ( 1966-1968) khác với nhiều người lúc đó. Nhưng ông chưa kịp can thiệp thì đã có lệnh đình chỉ, mà đã có lệnh rồi thì không thể đảo ngược lại được . G/s Trần Phương kể ( cũng trong Thời báo KT kể trên) rằng sau khi có một bài trên Báo Nhân dân phê phán gay gắt khoán của Kim Ngọc, ông đọc xong và cầm tờ báo đi vào phòng các trợ lý, quẳng tờ báo xuống bàn, nói bằng một giọng rất không vui vẻ: “Đấy, các anh đọc đi”, rồi ông nhếch mép cười bỏ đi…Ông Đậu ngọc Xuân là trợ lý của ông kể lai: Khi Khoán Vính phúc đã bị đình chỉ, ông chỉ còn biết lên thăm Kim Ngọc và bày tỏ sự đồng tình với những tìm tòi của Kim Ngọc, an ủi về việc những sáng kiến quá mới như thế thường không dễ đi ngay vào cuộc sống….

 

————–

Trung Quốc dời cột mốc biên giới để lấn chiếm thêm đất đai của Việt Nam, nhưng đảng CSVN không dám lên tiếng phản đối!

Một số ảnh của BBC:
Trung Quốc cho đào cột mốc theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887-1895, trong hình là cột mang dòng chữ Đại Nam Quốc Giới tại Đông Hưng, Quảng Tây.
Được biết, một số cột cả ở Quảng Tây và Vân Nam đều được đào đem về.
Cột mốc thuộc tỉnh Vân Nam còn ghi hai bên là ‘Trung Hoa’ và ‘An Nam’.
Đây là cột mốc biên giới đã được người Trung Quốc đào đem về. Trên cột còn dòng chữ Đại Thanh Quốc, Khâm Châu Giới. (Hình do ban BBC Tiếng Trung cung cấp từ nguồn Tân Hoa Xã).

 

 

——————————————————————————–

RFA
12-17 tháng 8, 2009


Cơ quan Tình báo quân đội Việt Nam
và những dấu hiệu của một đại họa

Trân Văn
Phóng viên RFA

1
“Tổng cục 2” là cách gọi tắt cơ quan đặc trách tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam và kể từ năm 2004 đến nay, ba từ “Tổng cục 2” nhắc nhiều người nhớ đến một scandal, tuy ầm ĩ nhưng vẫn chưa có hồi kết.

Hồi thượng tuần tháng 6, chỉ trong vòng hai ngày, tướng Võ Nguyên Giáp – một nhân vật được xem như “khai quốc công thần” của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay – đã gửi liên tiếp hai lá thư, lặp lại một yêu cầu từng được ông nêu ra từ đầu năm 2004, đó là những nhân vật cao cấp trong Đảng và chính quyền đương nhiệm, cần giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến Tổng cục 2 thuộc Bộ Quốc Phòng.

 

Scandal “Tổng cục 2”

Đã và đang có những dấu hiệu cho thấy “Tổng cục 2” không còn đơn thuần là một scandal về những thủ đoạn tàn độc mà một số cá nhân, phe nhóm trong Đảng CSVN sử dụng để triệt hạ đối thủ của mình, nhằm thâu tóm quyền lực.

Các tình tiết trước, trong và sau scandal “Tổng cục 2” chỉ ra một nguy cơ khác, đáng ngại hơn đối với vận mệnh quốc gia.

Tiền thân của cơ quan tình báo quân đội Việt Nam hiện nay là Phòng Tình báo Quân ủy hội, thành lập vào tháng 10 năm 1945, do ông Hoàng Minh Đạo phụ trách. Sau một sắc lệnh được ban hành vào tháng 3 năm 1946 về tổ chức Bộ Quốc Phòng, tháng 3 năm 1947, Phòng Tình báo Quân ủy hội được chuyển thành Cục Tình báo, còn được gọi là Cục Quân báo hoặc gọi tắt là Cục 2.

Trong 48 năm sau đó, Cục 2 vẫn chỉ là một cơ quan trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thế rồi đến năm 1995, Cục 2 được nâng lên thành Tổng cục 2, với tên gọi chính thức là Tổng cục Tình báo Quốc phòng và từ vị trí phụ thuộc, Tổng cục 2 được chuyển thành cơ quan ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu.

Vai trò của Tổng cục 2, được ông Nông Đức Mạnh, khi ấy đang là Chủ tịch Quốc hội, hợp pháp hoá bằng Pháp lệnh Tình báo ban hành vào tháng 12 năm 1996. Sau đó, pháp lệnh vừa kể được ông Võ Văn Kiệt chi tiết hoá, bằng Nghị định 96, ban hành vào tháng 9 năm 1997.

Pháp lệnh Tình báo đã đưa Tổng cục 2 thoát ra khỏi sự kiểm soát của Bộ Quốc Phòng khi xác định: “Lực lượng tình báo Việt Nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước)”.

Và Nghị định 96 đã phá vỡ mọi giới hạn về vai trò và hoạt động của Tổng cục 2, khi nhấn mạnh: “Đối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe doạ chống lại Đảng CSVN, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”

Cũng vì thế, Tổng cục 2 trở thành một cơ quan, liên tục bị các công thần như: ông Phạm Văn Xô – một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, cựu Phó Ban Tổ chức Trung ương hoặc những cán bộ, sĩ quan cao cấp của Đảng CSVN, chính quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam như:

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, người thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng Chu Huy Mân – cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đại tướng Nguyễn Quyết – cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh – cựu Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Thượng tướng Phùng Thế Tài – cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền – cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo – cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Quân sự. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp – cựu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương. Trung tướng Đồng Văn Cống – cựu Phó Tổng thanh tra Quân đội.

Trung tướng Lê Tự Đồng – cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Phạm Hồng Sơn – cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Nguyễn Hoà – cựu Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự tại Lào.

Thiếu tướng Nguyễn Tài – cựu Thứ trưởng Bộ Công an. Ông Nguyễn Văn Thi – cựu Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền… cùng với rất đông cán bộ lão thành cách mạng, sĩ quan cấp tá, đòi phải kiểm tra toàn diện, xử lý triệt để.

 

Siêu quyền lực

Tổng cục 2 đã hoạt động ra sao và đã làm những gì khiến các công thần, những trụ cột của chế độ phẫn nộ đến như vậy?

Trong nhiều thư được gửi liên tục cho Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, những nhân vật vừa kể đã nêu ra vai trò, ý đồ của một số người tham gia nâng Cục 2 thành Tổng cục 2 và biến Tổng cục 2 thành một cơ quan “siêu quyền lực”, khiến Tổng cục 2 trở thành hiểm họa.

Trong đó, có hai sai phạm bị xác định là “siêu nghiêm trọng” và được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: Vụ Sáu Sứ và vụ T4.

Ông Bùi Tín – cựu Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, người theo dõi rất sát các diễn biến liên quan đến Tổng cục 2, tóm tắt về vụ Sáu Sứ:

“Vụ Sáu Sứ còn gọi là vụ Năm Châu, xảy ra từ Đại hội 7, năm 1991. Vụ đó do bàn tay của Tổng cục 2, bố trí cho một số Đảng viên lâu năm ở miền Nam là Năm Châu và Sáu Sứ ra Hà Nội, mục đích để giăng bẫy ông Võ Nguyên Giáp, rồi từ đó, kết luận là ông Võ Nguyên Giáp bè phái, tham quyền, có ý đồ tập trung một số tay chân của mình để lật đổ Bộ Chính trị và chính quyền hồi đó.

Thế nhưng tất cả những chuyện này là chuyện dựng đứng. Do đó mà ông Giáp yêu cầu phải làm rõ vụ Năm Châu và Sáu Sứ. Lúc ấy, họ cho rằng ông Giáp có ý định giành quyền Tổng bí thư và được ông Trần Văn Trà tiếp sức. Ông Trần Văn Trà định là giành chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Thế nhưng tất cả những cái đó đều là sự bịa đặt của Lê Đức Anh, của Nguyễn Chí Vịnh, của Đỗ Mười, để làm hại ông Võ Nguyên Giáp. Đấy là tóm tắt vụ Sáu Sứ với Năm Châu. Cả ông Năm Châu, bà Sáu Sứ đều đã chết rồi.”

Vụ T4 cũng có tính chất tương tự, ông Bùi Tín kể tiếp:

“Vụ T4 là vụ Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng cục 2 bịa đặt rằng họ đã đặt được một gián điệp của Việt Nam vào cơ quan CIA và điệp viên đó có bí danh là T4. T4 thông báo danh sách những người đã cộng tác với CIA, đã tiếp xúc với CIA, đã làm tay sai cho CIA.

Danh sách đó dài lắm. Nó lên tới hơn 20 người. Trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà rồi những người lúc bấy giờ đang còn tại chức như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,..

Mục đích của họ là gì? Mục đích của họ là bôi nhọ những người đó, rồi Tổng cục 2 cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười được nước láng giềng lớn giúp đỡ làm một cuộc đảo chính, lật đổ hết và dựng lên một chính quyền mới, một Bộ Chính trị mới, một Ban Chấp hành Trung ương hoàn toàn mới và hoàn toàn là tay sai của Bắc Kinh.

Đó là mưu đồ của T4 và cũng đã bị ông Giáp tố cáo, yêu cầu phải giải quyết một cách triệt để.”

Theo nhiều tài liệu, Sáu Sứ và T4 chỉ là hai trong hàng loạt sai phạm đã xảy ra tại Tổng cục 2 và sự phẫn nộ trong hàng ngũ các công thần, những trụ cột của chế độ đã buộc Đảng CSVN phải tính đến việc xem xét toàn diện các sai phạm này vào năm 2005.

Kết qủa xem xét, xử lý ra sao? Chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp và tường trình trong bài kế tiếp

 

2

 

Trong buổi phát thanh trước, Trân Văn đã tóm tắt về sự hình thành Cục Tình báo của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, còn được gọi là Cục Quân báo, hay gọi tắt là Cục 2 và vì sao, năm 1995, Bộ Tổng Tham mưu đồng ý cho Cục 2 tách ra để nâng lên thành Tổng cục Tình báo Quốc phòng, quen được gọi là Tổng cục 2, trước khi Pháp lệnh Tình báo được ban hành vào cuối năm 1996, cũng như một số nguyên nhân khiến cơ quan này bị hàng loạt công thần, trụ cột của chế độ lên tiếng đòi phải kiểm tra toàn diện, xử lý triệt để.

Buổi phát thanh này, Trân Văn trình bày tiếp những diễn biến sau đợt phản ứng đầu tiên, kéo dài trong hai năm 2004 và 2005.

Không chỉ dàn dựng vụ Sáu Sứ và T4 với những tình tiết như ông Bùi Tín đã kể trong bài trước, tại Tổng cục 2 còn xảy ra nhiều chuyện tày trời khác.

 

Phá hoại Đảng một cách có hệ thống

Sau lá thư đề ngày 3 tháng 1 năm 2004 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó ông yêu cầu, Hội nghị Trung ương 9, khoá 9 xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh một tổ chức mà ông nhận định là “siêu đảng, siêu chính phủ, phá hoại Đảng một cách có hệ thống”, ở lá thư viết ngày 17 tháng 6 năm 2004 – một trong những tài liệu được nhận định là quan trọng nhất đối với vụ Tổng cục 2 – Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, một trong những người được Bộ Chính trị phân công theo dõi việc bảo vệ chính trị nội bộ, cho biết: Các vấn đề của Tổng cục 2 còn nhiều như tổ chức thu thập tài liệu và theo dõi cán bộ cao cấp, tổ chức cơ sở làm tài liệu giả, vu cáo nhiều đồng chí là đã làm tay sai cho địch. Người của Tổng cục 2 đã bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài. Người của Tổng cục 2 làm parabol để thu tiền bất hợp pháp, gian lận thuế giá trị gia tăng. Người của Tổng cục 2 còn đưa tài liệu lên mạng Internet nói xấu cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, Tổng cục 2 đã sử dụng một số người phức tạp, cài cắm người vào các cơ quan Đảng, Nhà nước để lấy tin, tung tin, bịa đặt, lừa dối Đảng… Cán bộ tình báo quân sự còn cấp giấy chứng minh quân báo cho tay chân Năm Cam hoạt động và liên hệ chặt chẽ với tay chân Năm Cam…

Khó mà tưởng tượng được những hành động phạm pháp nghiêm trọng ấy lại diễn ra trong một cơ quan làm nhiệm vụ tình báo quân sự cấp chiến lược. Cơ quan tình báo mà bịa ra cơ sở đặc tình “ma” để lừa dối, vu khống chính trị cán bộ cao cấp từ Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, Đại tướng, Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng… là phạm tội ngang với tội phản bội Tổ Quốc, phản bội Đảng.

Cũng theo tướng Nguyễn Nam Khánh: Những bản tin mà Tổng cục 2 đưa ra là nhằm vu khống chính trị, lừa dối, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại Đảng, Nhà nước và quân đội, gây sự phân tâm, lũng đoạn tinh thần cán bộ đảng viên và nhân dân, vi phạm nghiêm trọng pháp luật, nguyên tắc kỷ luật đảng, tạo ra oan trái và đau khổ cho nhiều đồng chí. Với những bản tin mà tôi không thể trích dẫn hết, đã buộc cấp lãnh đạo cao nhất điều tra, thẩm tra, ít nhất là 10 vụ gây ra rất nhiều phức tạp.

Tướng Nguyễn Nam Khánh nhận định: Đó là hành động phá hoại đảng, phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại Tổ Quốc. Đó không phải là chuyện riêng nội bộ Tổng cục 2, nội bộ Bộ quốc phòng. Đó là vấn đề của toàn Đảng, của pháp luật, của chế độ xã hội chủ nghĩa, liên quan đến an ninh của Tổ Quốc, đến đại đoàn kết dân tộc. Đó chính là nguy cơ làm mất sự ổn định chính trị, đã gây hậu quả nghiêm trọng… Nếu không kiên quyết xử lý thì sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị ngày càng tăng, như một ung nhọt làm tan rã Đảng và chế độ.

 

“Thất trảm sớ”

Những ý kiến như thế của tướng Nguyễn Nam Khánh, của ông Phạm Văn Xô, một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi của hàng chục vị tướng và nhiều cán bộ lão thành cách mạng, nhiều sĩ quan cấp tá đã được tiếp nhận thế nào? Việc xem xét, xử lý các sai phạm ra sao?

Ông Bùi Tín kể:  Lá thư của ông Giáp được rất nhiều vị tướng, từ ông Chu Huy Mân đến một số vị thiếu tướng, đặc biệt ông Nguyễn Nam Khánh hết sức ủng hộ. Do đó trước Đại hội 10, năm 2005, Ông Nông Đức Mạnh bị buộc phải tổ chức ra một ban, gọi là Ban Kiểm tra liên ngành đặc biệt, gồm đại diện của: Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Tối cao, Bộ Tư pháp, Ban Bảo vệ Trung ương, Cục Bảo vệ Quân đội, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính,… lên đến hơn 20 người. Ban Kiểm tra liên ngành đã làm việc và đã có một báo cáo-  mà tôi được biết là dày đến 70 trang – hoàn thành trước Đại hội 10.

Trước khi Đại hội 10 họp thì ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh cùng với Bộ Chính trị lúc đó có một sáng kiến là ỉm báo cáo này đi. Họ cho là báo cáo này nguy hiểm quá. Nếu trong Đảng và nhân dân được biết thì có thể tạo ra sự đảo lộn rất lớn về chính trị. Ông ấy viện cớ là nếu phổ biến, trung ương mà biết, đại hội mà biết thì gia đình, bạn bè họ đều biết thì khó có thể giữ được bí mật. Cho nên ông Nông Đức Mạnh mới thuyết phục Bộ Chính trị, thuyết phục Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội 10 là không phổ biến báo cáo tuyệt mật đó.

Ông ấy yêu cầu là do sự ổn định của chế độ, ổn định của Đảng, coi như Bộ Chính trị khoá trước đã xem và coi như đã giải quyết xong xuôi. Hủy báo cáo này đi, coi như báo cáo này không có.

Vì sao những người có trách nhiệm xem xét, giải quyết các sai phạm xảy ra ở Tổng cục 2 đã quyết định như vậy mà câu chuyện về cơ quan này vẫn chưa kết thúc? Ông Bùi Tín giải thích: Vấn đề này không thể ỉm hoàn toàn được, bởi vì nó dai dẳng, bởi vì ngay trong Tổng cục 2 đã có những sĩ quan dũng cảm, có những sĩ quan trung thành với sự thật, trung thành với nhân dân, thấy những việc làm bậy quá nên tiếp tục tố cáo. Trong đó có hai ông là ông Vũ Minh Ngọc và ông Vũ Minh Trí. Ngay từ năm 2005, ông Vũ Minh Ngọc đã có một lá thư gọi là “Thất trảm sớ”, nêu lên 7 tên rất nguy hiểm, cần phải gạt bỏ mới có thể cứu được Đảng, cứu được chế độ. Sau đó, ông Vũ Minh Ngọc viết thư thứ hai và cũng gửi cho cả tướng Giáp. Tướng Giáp rất ủng hộ ý kiến: Phải giải quyết triệt để vụ án siêu nghiêm trọng của Tổng cục 2. Năm nay, thư của ông Vũ Minh Trí hâm lại vụ này và tướng Giáp lại lên tiếng ủng hộ một lần nữa.    

Người gửi “Thất trảm sớ” – Trung tá Vũ Minh Ngọc hiện nay thế nào? Tâm trạng cũng như suy nghĩ của một số cán bộ lão thành cách mạng sau khi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 quyết định ém nhẹm vụ Tổng cục 2 ra sao? Đó sẽ là nội dung bài thứ ba. Mời qúy vị đón nghe.

 

 

Tâm trạng cũng như suy nghĩ của một số cán bộ lão thành cách mạng sau khi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 quyết định ém nhẹm vụ Tổng cục 2 ra sao?

Trong hai bài trước, Trân Văn đã tổng hợp và tường trình về những nội dung có liên quan đến các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại Tổng cục 2, cũng như lối xử lý hết sức khó hiểu của lãnh đạo Đảng CSVN đối với Tổng cục 2.

Ở bài này, Trân Văn phỏng vấn một số nhân vật có liên quan hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến việc tố cáo các sai phạm tại Tổng cục 2.

 

Chờ đợi cho đến chết  

Đến nay, hầu hết những người từng lên tiếng yêu cầu xem xét, xử lý các sai phạm ở Tổng cục 2, trong giai đoạn từ cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000 đến năm 2005 như: ông Phạm Văn Xô, Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Trung tướng Đồng Văn Cống, Trung tướng Nguyễn Hoà,… đều đã qua đời, phần lớn những người còn lại thì già yếu, bệnh tật.

Chúng tôi đã thử gọi điện thoại, phỏng vấn một số người để xin thêm ý kiến của họ về vụ Tổng cục 2, cũng như suy nghĩ, thái độ của họ về cách xử lý vụ này của lãnh đạo Đảng CSVN.

Cuộc phỏng vấn đầu tiên được thực hiện với cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc – nhân vật đã từng gửi “Thất trảm sớ”. Người nhấc điện thoại là vợ cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, bà cho biết:  Bây giờ ông cháu đang bị bệnh cho nên trí nhớ không tốt lắm nhưng mà thôi cũng để ông cháu gặp cho nó khuây khỏa… Có người gọi có phải bác Ngọc không và muốn hỏi chuyện… Đây ông nghe…

Tuy đang trong tình trạng bán thân bất toại kèm nhiều chứng bệnh khác, sức khoẻ rất kém, song khi nghe đề cập đến Tổng cục 2, cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, 82 tuổi vẫn cố gắng xác nhận với chúng tôi qua một cuộc trao đổi ngắn:

Trân Văn: Sau khi bác gửi thư, đến nay có hồi báo gì không ạ?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Chưa có hồi âm gì ạ.

Trân Văn: Từ khi bác gửi thư, các cơ quan chức năng có cử người đến hỏi thăm thêm về những nội dung trong thư không?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Không ạ!

Trân Văn: Hiện nay, vụ Tổng cục 2 cũng vẫn cứ còn như cũ phải không ạ?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Vâng!

Cuộc phỏng vấn thứ hai, theo dự tính sẽ thực hiện với ông Nguyễn Văn Thi, vẫn  được gọi là Năm Thi, Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền giai đoạn trước tháng 4 năm 1975, có 69 tuổi Đảng, người mà từ năm 1986 đã gửi sáu lá thư yêu cầu lãnh đạo Đảng CSVN giải quyết hàng loạt vấn nạn trong Đảng, trong đó có vụ Tổng cục 2.

Đến tháng 2 năm 2006, ông Nguyễn Văn Thi tiếp tục gửi lá thư thứ 7, trực tiếp phê bình Tổng Bí thư, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 vì đã hành xử không dân chủ với ông cũng như những đảng viên khác đã từng gửi các thư tương tự.

Tuy nhiên chúng tôi không thể trò chuyện với ông. Vợ ông giải thích:  Nhà tôi bịnh nặng lắm, đang nằm nhà thương anh ạ!  Đúng ra là ổng không còn tỉnh. Anh hỏi… nó, nó quá muộn rồi. Vấn đề đó anh đừng hỏi nữa vì những vấn đề có liên quan đến ông Cống, ông Xô này kia nọ

Nói chung là người ta đã làm đền thờ ông Đồng Văn Cống này kia nọ rồi… Nói chung, tôi chỉ mong rằng đừng có ai nói thêm về những việc như thế và cũng hổng muốn nghe, cũng hổng được rảnh tâm lắm.

Dù Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, đã từng xác định đóng lại vụ Tổng cục 2 song trong lá thư thứ 7, ghi ngày 3 tháng 2 năm 2006, gửi Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, ông Nguyễn Văn Thi vẫn tiếp tục khẳng định:

Trách nhiệm đó trước hết thuộc về người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, đến Bộ Chính trị mà tôi và nhiều Đảng viên trong cả nước cho rằng, Trung ương Đảng khoá 9 đã tiếp tục duy trì ảnh hưởng của hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh vì nể nang hoặc cố tình để bảo vệ chức danh  do nhờ hai ông này mà có được.

Không đưa ra giải quyết các vụ án này là che giấu khuyết điểm của Trung ương 9 đã tiếp tục kéo dài từ khoá 4 đến nay để bảo vệ quyền lợi cá nhân của một số người, bất chấp uy tín của toàn Đảng và tiếp tục không muốn đổi mới để cải cách hệ thống chính trị và quản lý Nhà nước, không muốn thay đổi nhân sự lãnh đạo Trung ương Đảng bằng những người trong sạch, có đức, có tài, có uy tín trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

Hậu quả sẽ là Đảng viên chân chính cả nước sẽ tiếp tục đấu tranh để chỉ rõ trách nhiệm thuộc về Ban Chấp hành khoá 9 mà người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư. 

 

Vẫn đòi làm rõ

Thực tế cho thấy, điều ông Nguyễn Văn Thi khẳng định hoàn toàn chính xác. Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trung tá Vũ Minh Trí, đang làm việc tại Tổng cục 2 đã gửi  một lá thư dài 13.000 chữ, khẳng định, Tổng cục 2 hiện làm cho “quân đội ta, Đảng ta, Nhà nước ta đang gặp phải hiểm họa vô cùng to lớn ngay từ bên trong, ngay ở bên trên”, cơ quan này hiện “khủng hoảng trầm trọng và toàn diện về lý luận, tư duy nghiệp vụ, phương châm, phương pháp, thủ đoạn, nề nếp, chế độ công tác, tổ chức lực lượng…”.

Theo Trung tá Trí, ngoài ông Nguyễn Chí Vịnh, trung tướng, Tổng cục trưởng, từng bị Đại học Kỹ thuật Quân sự đuổi học khi còn là sinh viên sĩ quan vì hạnh kiểm kém, Tổng cục 2 đang là nơi dung dưỡng nhiều người thiếu kinh nghiệm, kiến thức, tư cách, thậm chí có tiền án, ham danh, hám lợi, song vẫn thăng tiến rất nhanh cả về cấp bậc lẫn chức vụ bởi là thân nhân, thân hữu, hoặc là thủ túc của ông Nguyễn Chí Vịnh.

Trong thư, Trung tá Trí viết: Chúng làm điệp báo nhưng không tổ chức xây dựng điệp viên, tình báo viên mà nghĩ ra khái niệm “cán bộ mật”, “cán bộ diện B” để đưa từ bên ngoài quân đội vào tổ chức điệp báo hàng ngàn người mà nếu xét theo nguyên tắc, yêu cầu của điệp báo chiến lược thì hoàn toàn không có khả năng điệp báo (đặc biệt là về mặt quân sự). Phần lớn số này là người thân quen của chúng.

Với các “cộng tác viên mật” cũng có tình trạng tương tự. Điều kỳ lạ là trong số “cán bộ mật”, “cộng tác viên mật” đó, có rất nhiều người đang làm việc trong các cơ quan quân – dân – chính – đảng của ta, một số người còn là cán bộ cấp cục –vụ – viện trở lên. Trên khắp thế giới, từ xưa tới nay, chỉ có chúng làm điệp báo chiến lược mà không xây dựng điệp viên, tình báo viên.

Chúng dùng tổ chức và hoạt động điệp báo làm bình phong, dùng kế hoạch điệp báo làm công cụ chủ yếu để bòn rút công quỹ. Có thể khẳng định trong 10 năm trở lại đây, tất cả các kế hoạch điệp báo có mức kinh phí đáng kể của Tổng cục 2 đều ít nhiều mắc sai phạm về mặt kinh tế, tài chính.

Nếu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán một cách chặt chẽ, chắc chắn sẽ phát hiện ra nhiều vụ tham nhũng lớn, nhiều tên tham nhũng lớn.

Thư của Trung tá Vũ Minh Trí còn nhiều nội dung đáng chú ý khác và người “hâm” lại vụ Tổng cục 2 – Trung tá Vũ Minh Trí nói gì với Đài Á Châu Tự Do? Mời quý vị xem bài 4.

 

4

 

Trong ba buổi phát thanh trước, quý vị đã nghe Trân Văn tường trình về một số vấn đề liên quan đến Tổng cục 2 mà nhiều công thần của Đảng CSVN, cũng như hàng chục tướng lĩnh của cả Quân đội Nhân dân Việt Nam lẫn Công an Nhân dân Việt Nam cùng nhận định là “sai phạm siêu nghiêm trọng”, cần xử lý triệt để, song cuối cùng vẫn bị lãnh đạo Đảng CSVN làm ngơ.

Quý vị cũng đã nghe một số nhân vật nhắc đến Trung tá Vũ Minh Trí, sĩ quan Tổng cục 2, tác giả lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008, được xem như tác nhân “hâm” lại một scandal từng bị nhấn chìm. Vừa rồi, lá thư này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc đến để lập lại yêu cầu lãnh đạo Đảng và Nhà nước kiên quyết xử lý vụ Tổng cục 2.

Bây giờ, mời quý vị tiếp tục nghe Trân Văn giới thiệu các nội dung đáng quan tâm trong thư của Trung tá Vũ Minh Trí và cuộc trao đổi ngắn giữa Trân Văn và trung tá này…

Hồi đầu tháng này, các diễn đàn điện tử công bố hai lá thư do Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết cách nay hai tháng. Trong cả hai thư, tướng Võ Nguyên Giáp cùng cho biết lý do viết thư là vì đã nhận và đọc thư của Trung tá Vũ Minh Trí.

 

Lề lối lãnh đạo

Ở thư đầu, ghi ngày 8 tháng 6, gửi cho hai cựu Tổng Bí thư là ông Đỗ Mười và ông Lê Khả Phiêu, tướng Giáp cho rằng: “Các anh phải thống nhất độ quan trọng của vấn đề và góp phần cùng Bộ Chính trị và Trung ương giải quyết bằng được”.

Sang thư sau, ghi ngày 10 tháng 6, gửi các thành viên trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tướng Giáp thẳng thắn nêu thắc mắc về lối mà lãnh đạo Đảng và chính phủ hiện nay sử dụng ông Nguyễn Chí Vịnh, sau hàng loạt sai phạm được xem là “siêu nghiêm trọng”: “Đồng chí Nông Ðức Mạnh nói với tôi là (NV: ông Nguyễn Chí Vịnh) không thể lên trung tướng và chưa biết đưa đi đâu để rèn luyện nhưng thực tế lại không làm như vậy mà tiếp tục thăng quân hàm và giao trọng trách Tổng cục trưởng, hiện nay vừa đề bạt là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng làm cho ai cũng ngạc nhiên, lo lắng và nếu không làm rõ thì chắc sẽ còn lên nữa”.

 

Lũng đoạn, phá hoại

Trong bài trước chúng tôi đã giới thiệu một phần nội dung thư tố cáo của Trung tá Vũ Minh Trí, đó là việc ông Nguyễn Chí Vịnh thu nạp thân nhân, thân hữu, tập hợp thủ túc để lũng đoạn Tổng cục 2 và bòn rút công quỹ. Tuy nhiên ông Nguyễn Chí Vịnh và các “chiến hữu” của ông ta còn làm những gì để sau khi đọc thư của Trung tá Trí, tướng Giáp phải lên tiếng cảnh báo: “Tình hình đang cực kỳ nguy hiểm đối với Quân đội, đối với Đảng”?

Trong thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trung tá Vũ Minh Trí kể rằng, ông Nguyễn Chí Vịnh và “phe lũ” đã “lừa dối cấp trên”,gửi nhiều “tin tình báo” không khẳng định được độ xác thực của nội dung thông tin, chiếm tỷ lệ lớn nhất và gây tác hại nhiều nhất là “tin về nội bộ”, gây nên sự nghi kỵ, rối ren. Rất nhiều thông tin là do thêm thắt, ngụy tạo nhằm vu cáo, bôi nhọ, lật đổ.”

Cũng theo Trung tá Trí, Tổng cục 2 đã thu thập, tạo dựng thông tin về hàng ngàn cán bộ quân – dân – chính đảng, trong đó có hàng trăm người từ cấp ủy viên trung ương trở lên, không ít người đang là viên chức cao cấp của Đảng như ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị, của chính phủ như hai phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Hoàng Trung Hải, một số bộ trưởng, thứ trưởng, kể cả hai thứ trưởng Bộ Công an là các ông Nguyễn Văn Hưởng, ông Nguyễn Khánh Toàn. Rồi bí thư các tỉnh, các thành phố lớn như ông Lê Thanh Hải (TP.HCM), ông Nguyễn Bá Thanh (thành phố Đà Nẵng)…

Dù Tổng cục 2 đã tạo ra vô số rắc rối trong quá khứ vì theo dõi, thu thập rồi ngụy tạo thông tin, thế nhưng tình trạng này vẫn tái diễn, Trung tá Trí tiết lộ: “Gần đây Nguyễn Chí Vịnh giao cho một cơ quan trực thuộc Tổng cục trưởng Tổng cục 2 nhiệm vụ tổ chức thu thập thông tin, lập hồ sơ về nhiều cán bộ cấp cao ngoài Tổng cục 2 trong khi Tổng cục 2 không hề có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, bảo vệ chính trị nội bộ, thanh tra, kiểm tra Đảng đối với các tổ chức, cá nhân bên ngoài Tổng cục 2”.

Cũng vì vậy, Trung tá Trí nhận định: Chính Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ mới phá hoại Tổng cục 2 toàn diện nhất, triệt để nhất. Trước sự phá hoại ghê gớm của chúng, trước thực trạng bi đát của Tổng cục 2 hiện nay, có người nêu câu hỏi: Phải chăng chúnglà “điệp viên ảnh hưởng” của các thế lực thù địch? Đánh giá như vậy về Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ có quá mức không?… Hoàn toàn không nếu đã đọc hàng loạt tin tức, tài liệu mà trong đó Tổng cục 2 nhận định: Nguyễn Mạnh Cầm, Phan Diễn, Trần Bạch Đằng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Trương Tấn Sang, Võ Viết Thanh, Phan Văn Trang, Nguyễn Ngọc Trừu,… là có yếu tố địch. Hoàn toàn không nếu đánh giá thực trạng Tổng cục 2 hiện nay một cách khách quan, chặt chẽ theo đúng yêu cầu của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

Thư của Trung tá Vũ Minh Trí còn cung cấp nhiều chi tiết khác được xem là hết sức nhạy cảm như sự hỗ trợ đặc biệt mà các ông Lê Đức Anh – cựu Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, Nông Đức Mạnh – Tổng Bí thư đương nhiệm, Phạm Văn Trà – cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, Nguyễn Huy Hiệu – hiện là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, Lê Văn Dũng – hiện là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị,… dành riêng cho ông Nguyễn Chí Vịnh. Cũng vì vậy, trong thư ghi ngày 10 tháng 6, tướng Giáp yêu cầu Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương “cần chú ý bảo vệ người tố cáo”.

 

Trách nhiệm, dũng cảm

Chúng tôi đã thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn với Trung tá Vũ Minh Trí, tác giả thư tố cáo ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008:

Trân Văn: Thưa ông, tôi được đọc thư của ông về vụ Tổng cục 2 và sau đó là thư của tướng Giáp, tôi muốn hỏi thăm ông về lá thư. Thưa ông, theo ông, với hiện tình của Tổng cục 2 như hiện nay, nó vi phạm những nguyên tắc nào trong tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam ạ?

Trung tá Vũ Minh Trí: Vâng! Thực ra tất cả những thư của tôi, tôi không gửi đến những địa chỉ bên ngoài ông ạ! Cho nên là những nội dung đấy, tôi cũng chỉ trao đổi với những cơ quan hay là những cá nhân có thẩm quyền thôi! Đấy là một, thứ hai là những chuyện này cũng không tiện trao đổi trên điện thoại, cho nên là rất cám ơn ông đã quan tâm nhưng mà xin ông cho kiếu được không ạ?

Trân Văn: Dạ được ạ! Tôi hiểu! Chỉ xin hỏi thêm ông một vài câu.

Trung tá Vũ Minh Trí: Dạ vâng, ông cứ hỏi ạ…

Trân Văn: Thưa ông, cho đến nay, ông có gặp khó khăn từ đồng đội của mình không ạ? Nếu tôi không lầm thì có lẽ ông cũng làm việc trong Tổng cục 2?

Trung tá Vũ Minh Trí: Ông ạ! Nếu đã gọi là đồng đội thì thật sự không gặp khó khăn gì. Nếu là đồng đội thì sẽ giúp đỡ mình thôi. Nếu thật sự là đồng đội của tôi đều rất là ủng hộ tôi, đều rất là giúp đỡ tôi, ông ạ!

Trân Văn: Dạ, trong thư của tướng Giáp, tướng Giáp có nhắc trực tiếp đến ông và tướng Giáp cho rằng, việc mà ông đã làm là việc làm của một người có trách nhiệm cao, dũng cảm. Tôi nghĩ có lẽ là nội tình hết sức phức tạp thì tướng Giáp mới đưa ra nhận định như thế, thành ra tôi muốn hỏi thăm thêm những diễn biến sau việc ông gửi lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008 đi…

Trung tá Vũ Minh Trí: Thực ra để làm đến nơi, đến chốn việc nào, kể cả việc nhỏ cũng đều là phức tạp. Tôi cũng chưa được đọc thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu quả thực đại tướng đánh giá như vậy thì tôi thấy cũng hơi ngượng bởi vì mình cũng chưa được như vậy đâu ông ạ!

Vì sao Tổng cục 2 có thể “lợi dụng tính chất hết sức chuyên biệt của tình báo để mưu cầu lợi riêng, bất chính” như Trung tá Vũ Minh Trí nhận xét trong hàng chục năm mà vẫn vô sự? Điều đó có lợi cho ai? Chúng tôi sẽ tổng hợp và tường trình trong bài cuối. Mời quý vị đón nghe

 

5

 

Trong bốn bài của loạt bài “Cơ quan Tình báo Quân đội Việt Nam: Những dấu hiệu của một đại họa”, Trân Văn đã tóm tắt và tường trình về hàng loạt vấn đề được các công thần, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp của Quân đội, Công an Việt Nam xác định là “sai phạm nghiêm trọng”, xảy ra tại Tổng cục 2 như: lũng đoạn cơ quan tình báo quân đội, bòn rút công quỹ, theo dõi – thu thập thông tin rồi bịa đặt, vu cáo nhiều viên chức lãnh đạo Đảng và chính quyền, gây nghi kỵ, chia rẽ trong nội bộ,…

Đáng chú ý là sau hàng chục năm, những “sai phạm nghiêm trọng” đó vẫn không được xem xét, xử lý thấu đáo nên tiếp tục làm nội bộ Đảng, nội bộ chính quyền, nội bộ quân đội Việt Nam bị phân hóa trầm trọng. Cũng vì vậy, đã có khá nhiều người tự hỏi, có những ai đã và đang đứng phía sau vụ này (?).

Trân Văn tiếp tục tổng hợp và tường trình bài thứ năm của loạt bài này…

 

Ai đứng phía sau?

Tuy không đưa ra câu trả lời cho câu hỏi, ai đã và đang đứng phía sau các “sai phạm nghiêm trọng” xảy ra ở Tổng cục 2 nhưngTrung tá Vũ Minh Trí, người viết lá thư tố cáo ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008 đã cung cấp một số chi tiết, giúp người đọc tự tìm câu trả lời. Đó là: Thời gian qua, Tổng cục 2 bỏ qua tiêu chuẩn, thu hút, tiếp nhận con cháu rất nhiều cán bộ cấp cao của quân đội, Đảng, Nhà nước như: Lê Đức Anh, Lê Văn Dũng, Phùng Khắc Đăng, Nguyễn Huy Hiệu, Vũ Tuyên Hoàng, Bùi Văn Huấn, NôngĐức Mạnh, Phạm Hồng Lợi, Cao Tiến Phiếm, Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Trà, Đỗ Quang Trung… vào đào tạo ở Học viện Khoa học Quân sự, làm việc trong Tổng cục 2 (việc mà thời trước hầu như không có).

Cũng theo Trung tá Vũ Minh Trí: Không phải ngẫu nhiên mà trong Tổng cục 2 có nhiều ý kiến cho rằng, những năm qua, NguyễnChí Vịnh đã “qua mặt”, đã “lừa” được hầu hết lãnh đạo cấp cao của quân đội, Đảng, Nhà nước, thậm chí “bỏ túi” được các vị LêĐức Anh, Nông Đức Mạnh, Phạm Văn Trà, Lê Văn Dũng, Nguyễn Huy Hiệu, Phạm Văn Long,…

 

Vai trò Lê Đức Anh

Nếu lật lại các tài liệu liên quan đến Tổng cục 2, có thể thấy trong hầu hết đơn, thư tố cáo, yêu cầu giải quyết vụ Tổng cục 2, hầu hết công thần cũng như tướng lĩnh cao cấp của chế độ đều cùng đề cập đến một người, giữ vai trò như cha đẻ Tổng cục 2, đồng thời là tổng đạo diễn các vụ việc được gọi là “siêu nghiêm trọng”. Đó là ông Lê Đức Anh.

Ở lá thư viết ngày 17 tháng 6 năm 2004, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh kể: Trước Đại hội 7 (NV: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 7 có nhiệm kỳ từ 1991 đến 1996), tâm trạng cán bộ, cả phía Nam và phía Bắc có nhiều lo lắng, băn khoăn về nhân sự cấp cao của Đảng, nhiều cán bộ không vừa lòng một số đồng chí trong Bộ Chính trị Khóa 6. Nhiều ý kiến muốn thay đổi một sốỦy viên Bộ Chính trị. Trong đó dư luận tập trung không đồng tình đồng chí Lê Đức Anh… và trong thực tế, vụ Năm Châu – Sáu Sứ bùng lên ở thời điểm nhạy cảm đó, đã giúp ông Lê Đức Anh tiếp tục đảm nhiệm cương vị Ủy viên Bộ Chính trị.

Tướng Nguyễn Nam Khánh kể tiếp: Trong khóa 7, đồng chí Lê Đức Anh được bầu vào Bộ Chính trị và sau đó được bầu làm Chủ tịch nước, phụ trách cả an ninh, quốc phòng và đối ngoại… Được sự chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Anh, Pháp lệnh tình báo và Nghị định 96/CP đã được soạn thảo và chuyển qua Quốc hội và Chính phủ… Lợi dụng Nghị định 96/CP, Tổng cục 2 đã có sự lộng quyền nghiêm trọng, sự thao túng nghiêm trọng, phá hoại dân chủ và phá hoại đoàn kết nội bộ, gây chia rẽ và bè phái rất nghiêm trọng trong Đảng. Tổng cục 2 muốn vu khống ai thì vu khống, muốn trừng trị ai thì bày chuyện trừng trị, muốn gài người vào cơ quan nào thì gài, tổ chức kinh doanh tràn lan, lạm dụng các hoạt động gọi là “tình báo” để tiêu tiền, thậm chí tạo ra “cơ sở đặc tình” không có thật để tiêu tiền.

 

Man trá lý lịch

Tiểu sử cá nhân của ông Lê Đức Anh do Đảng và chính quyền Việt Nam công bố, cho biết, ông Lê Đức Anh là Ủy viên Bộ Chính trị trong bốn khóa liên tục, từ khóa 5 đến khóa 8, kéo dài từ 1982 đến 2001. Ông Lê Đức Anh từng là Tổng Tham mưu trưởng, Bộ trưởng Quốc Phòng, Chủ tịch Nhà nước. Năm 2008, ông được tặng huy hiêu “70 năm tuổi Đảng”.

Tuy nhiên theo một thư tố cáo ghi ngày 3 tháng 2 năm 2005 của các ông Phạm Văn Xô (Hai Xô – một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, cựu Phó Ban Tổ chức Trung ương), ông Đồng Văn Cống (Bảy Cống – cựu Phó Tổng thanh tra Quân đội), ông Nguyễn Văn Thi (Năm Thi – cựu Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền) – những người từng là cấp trên của ông Lê Đức Anh thì ông Lê Đức Anh đã man khai cả lý lịch cá nhân, lẫn man khai tư cách Đảng viên: Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người giúp việc thân cận cho chủ đồn điền De Lalant, một sĩ quan phòng nhì của Pháp… Cũng theo các ông này, ông Lê Đức Anh chưa bao giờ được kết nạp vào Đảng CSVN và họ cũng như một số cán bộ cách mạng lão thành khác ở miền Nam, đã lên tiếng tố cáo sự man trá này từ năm 1982.

Trong thư đã dẫn, các ông Phạm Văn Xô, Đồng Văn Cống, Nguyễn Văn Thi nhận định: Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng, xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ Vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng cục 2 với quyền hạn siêu Đảng, siêu Nhà nước, được hợp pháp hóa bằng Pháp lệnh tình báo của Quốc hội và Nghị định 96/CP, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9… đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Cố vấn Lê Đức Anh.

Tại một tài liệu khác là thư của ông Nguyễn Đức Tâm – cựu Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, ghi ngày 3 tháng 1 năm 2001 – với tư cách là một trong những người đã từng nhận các đơn thư tố cáo – ông Tâm phân trần: Về thư đồng chí Năm Thi tố cáo đồng chí Lê Ðức Anh tôi đã trao đổi với anh Lê Ðức Thọ, anh Thọ có ý kiến đại thể như sau: Ðây chỉ là vấn đề cần quan tâm nhưng chưa đủ cơ sở để kết luận, sau này sẽ tiếp tục điều tra (lúc này cũng đang rối lên về nhân sự chủ chốt của Ðại hội 6). Sau Ðại hội 6, tôi cũng đặt ra vấn đề với anh Nguyễn Văn Linh nhưng anh Linh không giao trách nhiệm để tổ chức điều tra (lý do có thể rất phức tạp, tôi không dám viết ra đây, chỉ xin trực tiếp báo cáo với Bộ Chính trị hoặc Ủy Ban Kiểm tra Trung ương.

Tên ông Lê Đức Anh không chỉ xuất hiện trong các thư, đơn tố cáo đòi xử lý triệt để vụ Tổng cục 2. Việc đối chiếu những tài liệu khác có thể góp phần lý giải câu hỏi, vì sao các sai phạm của Tổng cục 2, tuy kéo dài hơn một thập niên nhưng không thể xử lý. Mời quý vị đón nghe bài cuối.

 

6

 

Trong năm bài của loạt bài “Cơ quan Tình báo quân đội Việt Nam và những dấu hiệu của một đại họa”, quý vị đã nghe nhiều ý kiến của các công thần cũng như tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Đảng CSVN, trong chính quyền và trong quân đội cùng cảnh báo rằng, Tổng cục 2 đang làm cho tình hình trở thành cực kỳ nguy hiểm đối với quân đội, đối với Đảng.

 

Sai phạm nghiêm trọng của Tổng cục 2

Phải chăng sự nguy hiểm chỉ đe dọa quân đội và Đảng? Mời quý vị nghe Trân Văn tường trình bài cuối cùng và chúng tôi mong nhận thêm ý kiến phản hồi từ quý thính giả sau loạt bài này…

Trong nhiều thư, đơn tố cáo, yêu cầu giải quyết những sai phạm nghiêm trọng tại Tổng cục 2 suốt từ thập niên 1990 đến nay, tên ông Lê Đức Anh được lập đi, lập lại khá nhiều lần.

Đáng chú ý là tên của ông Lê Đức Anh không chỉ xuất hiện trong những tài liệu liên quan đến Tổng cục 2.

Cũng vì vậy, việc đối chiếu một số tài liệu khác có thể góp phần lý giải câu hỏi, vì sao các sai phạm của Tổng cục 2, tuy kéo dài hơn một thập niên, gây bất bình sâu rộng nơi cán bộ, đảng viên cả trong, lẫn ngoài quân đội nhưng vẫn không thể xử lý đến nơi, đến chốn.

Ở hồi ký “Hồi ức và suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, ông Trần Quang Cơ đã từng kể như thế này về ông Lê Đức Anh, trong phần tường thuật về “Đại hội 7 và cái giá phải trả cho việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc”:

Sau Ðại hội 7, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Ðức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của Tổng Bí thu Ðỗ Mười, quyết định. Những phần công việc vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Ðối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về việc vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể:

Ngày 5 tháng 8 năm 1991, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: “Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Ðức Duy (Ðại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh”. Lê Ðức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Ðối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: “Vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Ðảng xin làm qua Trương Ðức Duy”.

Hoặc thế này: Ðể dọn đường cho cuộc gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8 năm 1991, tối 31 tháng 7 Hồng Hà đảm bảo với Từ Ðôn Tín: “Ðồng chí Lê Ðức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ vì chưa có “tiền sự” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với Bộ Chính trị để có ý kiến chỉ đạo không những về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc.

Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”. Sau khi đã cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, còn hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai trò Liên Hiệp Quốc thì phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt – Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”.

Một thái độ ươn hèn, yếu đuối

Ông Trần Quang Cơ than: Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại!…

Trở lại với nội dung chính của loạt bài này, liệu lần này, vụ Tổng cục 2 và những “sai phạm nghiêm trọng” ở cơ quan này sẽ được giải quyết dứt điểm? Ông Bùi Tín nhận định:  Tất cả mọi vấn đề quy chiếu vào mối quan hệ với Trung Quốc, trong đó nổi bật là thái độ yếu đuối, có thể nói là ươn hèn và phụ thuộc.

Ngay từ năm 1991, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng là Ủy viên Bộ Chính trị đã phải kêu lên là chúng ta lại bước vào thời kỳ Bắc thuộc mới. Chính do những nhận định như thế của Nguyễn Cơ Thạch mà Bắc Kinh yêu cầu Bộ Chính trị phải gạt ngay ông Nguyễn Cơ Thạch ra. Đúng là sau đó, Nguyễn Cơ Thạch bị mất chức.

Tôi nghĩ đấy là một biểu hiện rất rõ, từ vấn đề bauxite, vấn đề Tổng cục 2, vấn đề mất đất, mất biển, vấn đề tàn sát ngư dân đều quy chiếu vào mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Thái độ của Bộ Chính trị hiện nay là một thái độ ươn hèn, yếu đuối. Bởi vì họ nghĩ rằng, muốn tồn tại thì phải dựa vào Trung Quốc, bởi vì họ cho rằng Việt Nam và Trung Quốc cùng theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin, cùng chung chế độ độc đảng, họ nghĩ rằng Trung Quốc lớn như thế thì khó mà có thể chìm, do đó mà bám lấy cái phao này.

Tôi nghĩ là họ đã tính lầm bởi tinh thần tự chủ của dân tộc Việt Nam mạnh lắm. Tôi nghĩ là nhân dân mình đã thức tỉnh. Do đó trong tình hình mới, tôi nghĩ là họ khó có thể bịt được vụ Tổng cục 2.

 

Sư lớn mạnh của các đoàn “tình báo hành động”

Đó là hy vọng của một số người, còn đây là thực tế được một người trong cuộc, Trung tá Vũ Minh Trí tường thuật tại thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008: Nhiều người ở Tổng cục 2 rất lo ngại khi thấy giữa thời bình, khả năng xảy ra chiến tranh đã được Đảng nhận định qua mấy kỳ đại hội là không có mà Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ lại xây dựng lực lượng trinh sát bộ đội nằm trong đội hình Cục quân báo rồi Cục tình báo vốn chỉ ở cấp tiểu đoàn thời chống Pháp, chống Mỹ, cấp trung đoàn thời chiến tranh hai đầu biên giới phía Bắc và phía Tây Nam lên thành 3 đoàn “tình báo hành động” là: K3,74,94.

Cả ba đều có quy mô cấp lữ đoàn (đoàn trưởng được thăng quân hàm tới đại tá), đều do tay chân thân tín nhất của Nguyễn Chí Vịnh nắm, đều đóng ở các đô thị lớn bậc nhất của đất nước, đều triển khai nhiều hoạt động điệp báo và đều được trang bị các vũ khí, trang thiết bị đặc chủng, trong đó có mấy chục xe thiết giáp.

Họ tự hỏi “tình báo hành động” thực chất là gì? Tại sao các đoàn “tình báo hành động” đó lại có quy mô lớn như vậy trong khi quy mô lực lượng trinh sát bộ đội của các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng chỉ ở cấp tiểu đoàn? Chúng nhằm vào đối tượng tác chiến nào? Rõ ràng lo ngại của họ không phải là vô cớ.

Trong thư ghi ngày 10 tháng 6 năm nay, gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, tướng Giáp yêu cầu xem xét vụ Tổng cục 2 và “có chủ trương giải quyết những sai trái một cách kiên quyết, triệt để, đúng nguyên tắc” không chỉ  “để bảo vệ quân đội, bảo vệ Đảng” mà còn nhằm “bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước”.

“Bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước” cũng là ý đã được ông nhắc tới khi yêu cầu xem xét những chủ trương liên quan đến bauxite cách nay vài tháng.

 

Nguồn:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/VN-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part1-TVan-08122009133511.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part-2-08132009165929.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-Part3-08142009103229.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part4-tvan-08152009102020.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part5-tvan-08162009112939.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-military-intelligence-bureau-and-the-signs-of-one-crushing-calamity-part6-08182009135251.html

 

———————————

 

———————————

 

Sự Thật Về Quan Hệ

Việt Nam-Trung Quốc

Trong 30 Năm Qua
Nxb Sự Thật, Hà Nội 10/1979

http://dinhtanluc.wordpress.com/387/

 

————————————-

http://www.basamnews.info/tu-lieu-chien-tranh-viet-nam/

Tư Liệu Chiến Tranh Việt Nam 

1. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng 05-10-1964

2. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh 01-03-1965

3. Thảo luận giữa Lưu Thiếu Kỳ và Lê Duẩn 08-04-1965

4. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Thị Bình 16-05-1965

5. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh 16-05-1965

6. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình và Hồ Chí Minh 17-05-1965

7. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Hoàng Văn Hoan 16-07-1965

8. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 09-10-1965

9. Mao Trạch Đông nói chuyện với đoàn đại biểu của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 20-10-1965

10. Thảo luận giữa Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh 17-12-1965

11. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh 18-12-1965

12. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trần Nghị 19-12-1965

13. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Duẩn 23-03-1966

14. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh 13-04-1966

15. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và Hoàng Tùng 23-08-1966

16. Ba cuộc thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 07-04-1967

17. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 10-04-1967

18. Thảo luận giữa Chu Ân Lai với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 10-04-1967

19. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 10-04-1967

20. Thảo luận giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam 11-04 -1967

21. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp 11-04-1967

22. Chu Ân Lai nói chuyện với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 11-04-1967

23. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 12-04-1967

24. Thảo luận giữa Kiều Quán Hoa, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc và Đại sứ Việt Nam Ngô Minh Loan 13-05-1967

25. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh 07-02-1968

26. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 13-04-1968

27. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 17-04-1968

28. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 19-04-1968

29. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Khang Sinh và Phạm Văn Đồng 29-04-1968

30. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị và Xuân Thủy 07-05-1968

31. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Hùng 19-06-1968

32. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Hùng 29-06-1968

33. Thảo luận giữa Trần Nghị và Lê Đức Thọ 17-10-1968

34. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng 17-11-1968

35. Chu Ân Lai, Khang Sinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái và Phạm Hùng nói chuyện với phái đoàn Trung ương Cục miền Nam 20-04-1969

36. Thảo luận giữa Lý Tiên Niệm và Lê Đức Thọ 29-04-1969

37. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 21-03-1970

38. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hoàng thân Sihanouk – Tháng 3-4/1970

39. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Lê Duẩn 11-05-1970

40. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Nguyễn Thị Bình 17-06-1970

41. Thảo luận giữa của Mao Trạch Đông và Kaysone Phomvihane 07-07-1970

42. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trịnh Đình Thảo 23-07-1970

43. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 17-09-1970

44. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 19-09-1970

45. Thảo luận giữa Vương Ấu Bình, Đại sứ Trung Quốc và Phạm Văn Đồng 20-09-1970

46. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Duẩn

47. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng 03-07-1971

48. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Duẩn 13-07-1971

49. Thảo luận giữa Lê Đức Thọ và Ieng Sary 07-09-1971

50. Chu Ân Lai nói chuyện với Xuân Thủy 07-07-1972

51. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Đức Thọ 12-07-1972

52. Cuộc họp Lê Đức Thọ – Kissinger lần thứ mười bốn 19-07-1972

53. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Nguyễn Tiến (1) 04-12-1972

54. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Nguyễn Thị Bình 29-12-1972

55. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trường Chinh 31-12-1972

56. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Đức Thọ 03-01-1973

57. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hoàng thân Sihanouk 24-01-1973

58. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Pen Nouth 02-02-1973

59. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Lê Đức Thọ 02-02-1973

60. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Thanh Nghị 05-06-1973

61. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 16-08-1973

62. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Thanh Nghị 08-10-1973

63. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Thanh Nghị 03-08-1974

 

(Sự thật Dân cần biết 69) Vụ Tết Mậu Thân, bóng tối lịch sử đã sáng dần ? Nguyễn Đức Cung

https://docs.google.com/document/d/1F8Cpv9cR9fvk02U-ip25N6JZnrsgclQeu6RXit7zeAk/edit?hl=en

http://www.vietcatholic.net/News/Html/63378.htm

 

*Các tài liệu trong nước và bài báo nước ngoài về Chiến tranh Việt Nam đăng trên trang basam.360.yahoo.com  năm 2008 …

http://www.basamnews.info/category/chi%E1%BA%BFn-tranh-vn/page/4/

Quái gở.
Không rõ có nước nào có cái thứ thủ tục này không nhỉ? Thế này có phải là sự tôn trọng quyền con người?
Trong trường hợp nào thì không đủ điều kiện kết hôn? Lý do là thiếu chim hay thiếu bướm thì không được nhỉ?
Ai biết chỉ dùm.

'Quái gở.<br /><br />
Không rõ có nước nào có cái thứ thủ tục này không nhỉ? Thế này có phải là sự tôn trọng quyền con người?<br /><br />
Trong trường hợp nào thì không đủ điều kiện kết hôn? Lý do là thiếu chim hay thiếu bướm thì không được nhỉ?<br /><br />
Ai biết chỉ dùm.'

3 phản hồi to “Các Văn Bản- Tài liệu Lịch sử…”

  1. […] Các Văn Bản- Tài liệu Lịch sử… […]

  2. […] Các Văn Bản- Tài liệu Lịch sử… […]

  3. […] Các Văn Bản- Tài liệu Lịch sử… […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: